Trần Hoàng Blog

Archive for Tháng Năm, 2011

►Số Phận của phụ nữ Việt Nam ở thôn quê và trẻ em sơ sanh là như thế nầy đây

Posted by hoangtran204 trên 31/05/2011

Đẻ rơi ngoài đường vì trạm xá “không tiếp”

Thứ Hai, ngày 28/03/2011, 09:23
(Tin tuc) – Một phụ nữ đã đẻ rơi ngoài đường sau khi trạm y tế xã từ chối tiếp nhận vì sinh con thứ ba.

Chiều 27-3, ông Lê Trí Nhân, Trưởng Trạm Y tế xã Vĩnh Thịnh, huyện Hòa Bình, Bạc Liêu cho biết đang xác minh làm rõ thông tin chị Lưu Thị Lụa (trú ấp Vĩnh Lạc, xã Vĩnh Thịnh) đẻ rơi vì trạm y tế từ chối tiếp nhận.

Thông tin cho biết vào khoảng 4 giờ sáng 25.3, chị Lưu Thị Lụa được chồng là anh Ngô Hữu Ái đưa đến trạm y tế xã Vĩnh Thịnh, huyện Hòa Bình để sinh con nhưng nữ hộ sinh trạm y tế từ chối tiếp nhận chị Lụa (do chị sinh con lần thứ ba) và hướng dẫn lên tuyến trên ở trung tâm huyện Hòa Bình (cách xã 30km)

Trong cái lạnh của đêm khuya, do không có tiền và không tìm được xe nên anh Ái đành phải dìu vợ quay trở về nhà. Trên đường đi do chuyển dạ chịu không nổi nên chị Lụa đã đẻ con rơi ngoài đường.

Khi nghe tiếng kêu la thất thanh của vợ chồng chị Lụa, bà con trong xóm chạy ra xem và bồng bé sơ sinh vào nhà để cất dây rốn.

Sự việc như thế đã gây xôn xao dư luận cho người dân ở xã Vĩnh Thạnh cũng như ở nơi khác. Nhiều người cho ý kiến nên làm rõ và minh bạch vụ việc vì sau nữ hộ sinh trạm y tế xã Vĩnh Thạnh lại từ chối việc sinh con cho chị Lụa.

Chiều 27.3 ông Lê Trí Nhân, Trưởng Trạm Y tế xã Vĩnh Thịnh, huyện Hòa Bình, Bạc Liêu cho biết nữ hộ sinh từ chối tiếp nhận và hướng dẫn chị Lụa lên tuyến vì phụ nữ sinh con thứ ba sinh ở trạm y tế sẽ không an toàn (!?)

nguồn

Vụ sản phụ đẻ rơi vì… sinh con thứ 3: Cán bộ y tế cơ sở vô can?

9:22 AM Thứ bảy, ngày 02 tháng tư năm 2011- Chuyên mụcTin tức|Sự kiện hàng ngày |

Liên quan đến vụ việc sản phụ Lưu Thị Lụa (28 tuổi), ngụ ấp Vĩnh Lạc, xã Vĩnh Thịnh, Hòa Bình, Bạc Liêu, đẻ rơi ngoài đường vì bị Trạm Y tế xã Vịnh Thịnh từ chối đỡ đẻ, ngày 31/3, Sở Y tế Bạc Liêu đã có báo cáo giải trình vụ việc.

Báo cáo được gửi đến Bộ Y tế, Thường trực Tỉnh ủy, UBND tỉnh Bạc Liêu, Ban tuyên giáo Tỉnh ủy Bạc Liêu, trong đó có nhiều chi tiết mâu thuẫn với thực tế.

Sản phụ Lưu Thị Lụa cùng đứa con đẻ rớt trước ngôi “nhà” tuềnh toàng của gia đình

Báo cáo nêu rõ: Khi chị Lụa đến Trạm Y tế xã Vĩnh Thịnh, nữ hộ sinh (NHS) Dương Thị Mỹ Viên đã khám ghi nhận dấu hiệu sinh tồn bình thường, tử cung mở 2cm, ối chưa vỡ, cơn co tử cung thưa. NHS Viên thăm hỏi tiền sử sản phụ sinh con thứ ba (sinh lần hai vào tháng 8/2009) có bị băng huyết nhẹ, mang thai lần này không khám thai định kì. NHS Viên giải thích sản phụ phải chuyển lên tuyến huyện sinh cho an toàn. Sản phụ đồng ý (?).

Tuy nhiên, phần báo cáo của sản phụ Lưu Thị Lụa lại cho biết: “Lúc 3 giờ sáng ngày 25/3, sản phụ thấy đau bụng nên nhờ người cô ruột đưa đến trạm y tế. Sau khi thăm khám, cô hộ sinh cho biết “còn hai phân nữa là sanh”. NHS hỏi tôi sanh con lần thứ mấy, tôi nói lần thứ ba. NHS nói chuyển lên bệnh viện Hòa Bình sanh, ở trạm không nhận sanh lần thứ ba”.

Rõ ràng, NHS Viên kiên quyết không nhận đỡ đẻ cho chị Lụa nên chị và người nhà mới phải đi lên bệnh viện tuyến trên để sinh, dẫn đến đẻ rơi ngoài đường. Điều này mâu thuẫn với bản báo cáo: “cả sản phụ và người nhà đều đồng ý chuyển lên bệnh viện huyện để sinh”. Điều đáng nói là NHS Viên kiên quyết không tiếp nhận sản phụ trong tình trạng giữa đêm khuya, gia đình sản phụ không có tiền, không phương tiện di chuyển, trong khi địa hình đi lại ở địa phương rất khó khăn, với khoảng cách gần 30km.
Bản báo cáo của Sở Y tế Bạc Liêu

Bản báo cáo cho biết khi thăm khám cho chị Lụa, cơ quan y tế khẳng định chị Lụa có đủ thời gian đi lên bệnh viện huyện; nhưng thực tế khi chị Lụa vừa rời khỏi trạm y tế xã chưa đầy 200m đã đẻ rớt. Lý giải cho việc này, bản báo cáo cho rằng sau khi được cho chuyển viện, sản phụ không đi ngay mà còn đi tới đi lui ngoài chợ hơn 1 giờ đồng hồ dẫn tới việc đẻ rớt.

Bản báo cáo cũng khẳng định sản phụ Lụa sinh con lúc hơn 5 giờ sáng chứ không phải ngay sau khi rời trạm y tế. Chiều 1/4, trao đổi với PV Dân trí, anh Nguyễn Văn Thống, nhà gần chợ, khẳng định chị Lụa sinh lúc khoảng 4 giờ sáng. Anh Thống nói, gia đình anh luôn phải thức dậy vào lúc 4 giờ 30 sáng hàng ngày để làm việc. Sáng ngày 25/3 hôm đó, khi anh vừa thức dậy đã nghe người dân xung quanh cho biết có một sản phụ vừa đẻ rớt cách đó hơn nửa tiếng.

Một chi tiết nữa có phần mâu thuẫn với thực tế là bản báo cáo khẳng định: “Sở Y tế Bạc Liêu xin khẳng định là ngành y tế không có quy định nào cho trạm y tế tuyến xã không được nhận sanh con thứ ba, mà chỉ có quy định không được giữ lại sanh tại Trạm Y tế đối với những sản phụ có nguy cơ cao lúc sanh”. Vậy trường hợp của sản phụ Lụa là có nguy cơ cao lúc sinh, khi trước đó đã được NHS Viên thăm khám, kết luận bình thường?

Từ những mâu thuẫn trong bản báo cáo này, dư luận địa phương cho rằng Sở Y tế Bạc Liêu đã “bỏ quên” trách nhiệm, y đức của cán bộ y tế cơ sở, nhất là đối với một sản phụ nghèo như chị Lưu Thị Lụa.

Hoa Lữ

nguồn

——————————

Rất nhiều gia đình ở nông thôn miền Nam vẫn còn rất nghèo. Nhiều gia đình không có tiền cất nhà tôn hay nhà gạch nên họ vẫn lợp những căn nhà lá và sống hết năm nầy qua năm khác. Sống nhà lá thì 2 năm phải lợp lại 1 lần. Nếu không có tiền mua lá lợp lại, thì khi trời mưa sẽ bị dột, nước mưa sẽ làm ướt hết bên trong.

Ở thôn quê miền Nam, trong các xã, ấp đa số nhà nào cũng phải làm ruộng để sống. Hàng ngày, không ai làm gì ra tiền và mọi chuyện chi tiêu chỉ trông vào 2 mùa lúa. Gia đình 2 vợ chồng với 2 đứa con mà có 2 công ruộng thì thuộc loại khá và tạm có đủ gạo để ăn cả năm với điều kiện trúng mùa.

Nếu bạn có dịp về miền Tây, biếu người già chừng  100 ngàn đồng  Việt Nam thì họ quí lắm. Đó là một số tiền rất lớn vì dưới quê thường không ai làm gì ra tiền. Nếu muốn thuê ai làm gì và mỗi ngày trả 30 000 đến 40 000 đồng thì dân dưới đó làm ngay. Nhưng ít ai có tiền thuê người khác làm việc cho mình.

Trong 20-25 năm qua, ở các tỉnh, thành tuy có nhiều thay đổi về đời sống, xây dựng nhà cửa mới và đường sá, nhưng dưới thôn quê, nơi có  hơn 70% dân số sinh sống, thì đời sống vẫn còn rất thiếu thốn. Tất cả vẫn còn xài nước giếng, và 4-5 nhà câu điện chung nhau xài chung 1 đồng hồ điện. Nếu bây giờ cho mỗi nhà 1 đồng hồ điện, 1 đồng hồ nước thì họ cũng không có đủ tiền để trả tiền dịch phụ phí và tiền điện nước hàng tháng.

Vì đời sống khó khăn như thế nên người dân quê chi tiêu rất tiện tặn. Khi đau ốm bệnh tật họ đi bệnh viện huyện, nhưng tiền thuốc thì phải trả. Nhiều gia đình phải cầm cố ruộng đất khi có người nhà bị đau ốm. Người dân nông thôn thấp cổ, bé miệng, ai ăn hiếp cũng được nên họ đành chịu đựng. Người dân VN đại bất hạnh nên mới bị cai trị bởi một đám người ngu dốt, độc ác, dối trá và xảo quyệt như chính quyền hiện nay.

Advertisements

Posted in Nong Dan Viet Nam | Leave a Comment »

KÊU GỌI TUẦN HÀNH ÔN HÒA PHẢN ĐỐI Trung Quốc tại Đại Sứ Quán và Lãnh Sự Quán TQ lúc 8 giờ sáng ngày 5-6-2011

Posted by hoangtran204 trên 31/05/2011

Đã có lời kêu gọi trên mạng. 

“KÊU GỌI TUẦN HÀNH ÔN HÒA PHẢN ĐỐI TRƯỚC ĐẠI SỨ QUÁN TRUNG QUỐC TẠI HÀ NỘI VÀ LÃNH SỰ QUÁN TRUNG QUỐC TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH.

Cuộc tuần hành diễn ra với mục đích phản đối tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc và yêu cầu Trung Quốc chấm dứt gây hấn và vi phạm chủ quyền lãnh thổ VN.

Thời Gian 8h sáng ngày 5/6/2011 tại cả hai địa điểm:

Đại sứ quán Trung Quốc tại Hà Nội: 46 Phố Hoàng Diệu.

Lãnh sự quán Trung Quốc tại TP.HCM: 39 Đường Nguyễn Thị Minh Khai, Quận 1.

Xin mọi người gửi giúp để chống lại sự xâm lược của TQ.”

Posted in Tự Do ngôn Luận | 2 Comments »

Obama một ngày ở Ba Lan và những thỏa thuận

Posted by hoangtran204 trên 30/05/2011

Ba Lan nằm cạnh bên Nga và đã từng bị Nga chiếm đóng và đô hộ rất nhiều lần trong suốt lịch sử lập quốc của họ. Lần gần đây nhất là 1948, Ba Lan bị Liên Sô đưa vào quĩ đạo của chế độ cộng sản.
Sau cuộc bầu phiếu quốc hội vào năm 1989, Ba Lan đã có được một quốc hội dân chủ đầu tiên, quốc hội nầy cho tổ chức bầu cử tổng thống năm 1990 và  Chủ tịch Công đoàn  Đoàn  Kết Ba Lan là Lech Walesa đắc cử, xóa bỏ chính quyền do đảng cộng sản Ba Lan cai trị từ 1948.
Và kể từ 1990, Ba Lan đã bắt đầu thay đổi nền kinh tế của mình sang nền kinh tế thị trường. Năm 2010, lợi tức tính trên đầu người dân Ba Lan là trên 12 000 đô la Mỹ/ 1 năm; còn của  VN là 1000 đô la /1 đầu người/1 năm (con số nầy rất đáng nghi ngờ vì do chính quyền CSVN gia tăng lên, để các ngân hàng và tổ chức tín dụng thế giới dựa vào đó mà cho mượn tiền thêm hàng năm, để họ có dịp bòn rút và tham nhũng chia chác nhau chừng 20-30% của số tiền được cho mượn).
Diện tích của  Ba lan bằng diện tích của  Viêt  Nam. Dân số Ba Lan là 38 triêu, dân số VN là 90 triệu. Tổng sản lượng quốc gia của  Ba Lan là 468 tỉ đô la, trong khi của Việt Nam chỉ có 103 tỉ đô la.
Ba Lan và Việt Nam hầu như được Mỹ bang giao chính thức từ 1994 và 1995, Mỹ tin tưởng ở Ba Lan nhiều hơn là tin tưởng chính quyền Việt Nam. Theo bài nấy, ta thấy Mỹ đồng ý bán phản lực cơ chiến đấu F16 cho Ba Lan, nhưng Mỹ không bao giờ bán vũ khí cho Việt  Nam vì họ thừa biết tính tráo trở và hai mặt của chính quyền nầy.

Obama một ngày ở Ba Lan và những thỏa thuận

28/05/11
tác giả: Mạc Việt Hồng

Tổng thống Obama và thủ tướng Donald Tusk. Ảnh AGENCJA GAZETA

Tổng thống Barack Obama vừa kết thúc chuyến thăm 1 ngày tới Ba Lan, đó cũng là chặng dừng chân cuối cùng trong chuyến công du châu Âu 1 tuần của ông. Đây là lần đầu tiên Obama tới Ba Lan. Thực ra, một năm trước, khi Tổng thống Ba Lan tử nạn vì tai nạn máy bay, Obama đã muốn tới dự tang lễ nhưng chuyến bay của ông cũng như của hầu hết các nguyên thủ quốc gia khác đã bị hủy bỏ khi không phận châu Âu phải đóng cửa gần hết vì bụi núi lửa.

Mối quan hệ đặc biệt giữa Ba Lan và Mỹ  từ hơn 2 thập kỷ qua đã rơi vào một khoảng lặng trong mấy năm gần đây và người Ba Lan cảm giác rằng họ đã bị người đồng minh lâu năm bỏ rơi. Chuyến thăm của Obama vì thế mang một sứ mệnh đặc biệt.

Đáp xuống sân bay lúc 17h30′ chiều qua, 27/5/2011, sau những nghi lễ đón tiếp khá giản đơn và đặt hoa tại tượng đài Chiến sĩ Vô danh, Obama đã có bữa ăn tối với nguyên thủ quốc gia của 21 nước thuộc khu vực Trung và Đông Âu. Các vị khách VIP này đã có mặt ở Warsaw từ sáng thứ Sáu để cùng nhau bàn thảo về việc áp dụng những kinh nghiệm chuyển hóa dân chủ của Đông Âu cho khu vực các nước bắc Phi, nơi vừa thoát thai khỏi chế độ độc tài bằng các cuộc cách mạng Hoa Nhài.

Obama và tổng thống Ba Lan, Bronisław Komorowski

Kế tiếp, ngày thứ Bẩy, Obama dành trọn thời gian còn lại cho cuộc hội đàm với tổng thống Ba Lan, sau đó là cuộc gặp gỡ với thủ tướng Donald Tusk và các chính trị gia Ba Lan. Có mặt trong cuộc gặp thân tình này là chủ tịch Thượng viện và Hạ viện Ba Lan cùng hàng chục chính khách có tên tuổi với các khuynh hướng chính trị khác nhau. Người duy nhất vắng mặt, dù được mời, là cựu Tổng thống Lech Wałesa, ông đưa ra thông báo chiều qua vì lý do không muốn hủy bỏ một công việc đã được lên kế hoạch từ trước đó. Trước khi kết thúc chuyến thăm, ông đã gặp gia đình các nạn nhân của thảm họa Smolensk và ông nói sẽ quay lại Ba Lan vào năm 2013 khi khánh thành khu tưởng niệm người Do Thái.

Trong phát biểu của mình, Obama nói, ông luôn cảm thấy trong lòng một phần Ba Lan vì ông sinh sống tại Chicago nơi có đông đảo kiều dân Ba Lan. Ông cũng nói, Ba Lan là một trong những đồng minh gần gũi, thân cận nhất của Mỹ và ông tin rằng, hàng triệu người Mỹ cũng có cảm nhận như vậy. Obama nhấn mạnh rằng, sự phát triển về kinh tế và vững mạnh về quân sự của châu Âu là phù hợp với các lợi ích của Mỹ. Ông ngợi khen những thành tựu về kinh tế và dân chủ mà đất nước Ba Lan đã đạt được và cho rằng đó là một điển hình không chỉ với các nước trong khu vực mà với cả thế giới.

Mặc dù chỉ có mặt ở Ba Lan vỏn vẹn 22 giờ, song những thỏa thuận đôi bên đạt được, được giới bình luận ghi nhận là đáng kể:

Về kinh tế: Mùa thu này, 2 nước dự tính mở một cuộc hội thảo với sự tham dự của đại diện bộ Kinh tế và các cơ quan chính phủ đôi bên nhằm xem xét một số điều luật, thủ tục để thúc đẩy quan hệ thương mại song phương.

Hợp tác về năng lượng: Các quan chức chính phủ cấp cao của 2 nước trong thời gian ngắn tới đây sẽ có cuộc bàn thảo về hợp tác năng lượng, chủ yếu là phía Mỹ đầu tư vào khai thác khí đốt từ đá mà trữ lượng của nó được đánh giá là có thể đủ cho Ba Lan dùng trong vài trăm năm, thoát khỏi sự phụ thuộc vào thị trường khí đốt của Nga.

Hợp tác quân sự: Mỹ sẽ giúp đào tạo phi công lái máy bay F-16 cho Ba Lan và sẽ xây dựng Ba Lan thành trạm trung chuyển và bến đáp cho các máy bay F-16 cũng như máy bay vận tải loại C-130 của Mỹ. Hai bộ trưởng Quốc phòng cũng đã ký một bản thỏa thuận để tạo điều kiện cho sự tiếp cận giữa các công ty sản xuất vũ khí ở 2 quốc gia.

Lá chắn tên lửa: Quyết định từ bỏ hệ thống này của Obama 2 năm trước đây đã ít nhiều làm sứt mẻ tình cảm của dân chúng Ba Lan đối với Mỹ và báo chí Ba Lan đã không tiếc lời đưa ra những bình luận gay gắt. Nay ông Obama cho biết, tới năm 2018 Mỹ sẽ xây dựng hệ thống “phòng chống tên lửa từ mặt đất“.

Xây dựng lực lượng đặc nhiệm: Lầu Năm Góc sẽ hỗ trợ xây dựng lực lượng đặc nhiệm của Ba Lan để tới năm 2014 Ba Lan có thể phối hợp hành động trong các chiến dịch của biệt kích Mỹ.

Mối quan tâm quốc tế chung: Từ những kinh nghiệm chuyển hóa của Ba Lan, hai nước quyết định thành lập một đoàn cố vấn và đội ngũ chuyên gia để giúp Tunesia xây dựng nền kinh tế thị trường và chuyển đổi dân chủ.

Đồng thời, Obama bày tỏ mong muốn Ba Lan hỗ trợ cho các biện pháp trừng phạt của EU đối với chế độ độc tài ở nước láng giềng Belarus (Bạch Nga). Mỹ cũng dự định cung cấp tài chính cho quỹ “Đoàn kết Quốc tế” của Ba Lan với mục đích cổ xúy cho sự hình thành xã hội dân sự ở Belarus. Đài Tiếng nói Hoa Kỳ sẽ hợp tác với Ba Lan để phát các chương trình bằng tiếng Belarus hướng vào lãnh thổ nước này.

Thị thực cho công dân Ba Lan: Sau khi chế độ cộng sản ở Ba Lan sụp đổ, chính quyền dân chủ non trẻ đã đơn phương miễn thị thực cho công dân Mỹ. Nhưng sau nhiều năm chờ đợi và dù đã là thành viên của Liên minh châu Âu, tham gia vào hiệp ước Schengen, công dân Ba Lan vẫn phải xin visa vào Mỹ. Ba Lan là một trong 3 nước cuối cùng còn sót lại ở EU (2 nước kia là Bungaria và Rumani) chưa được miễn thị thực.

Lần này, Obama nói ông sẽ ủng hộ một dự luật đã được đệ trình lên Quốc hội Mỹ từ tháng 3/2011 về việc bãi bỏ thị thực cho công dân của một số nước, trong đó có Ba Lan. Điều luật này quy định, bất cứ nước nào cũng có thể được miễn thị thực vào Mỹ nếu các công dân của nước đó sau khi sang Mỹ không có quá 3% ở lại sinh sống bất hợp pháp khi đã hết hạn visa.

Hợp tác chống khủng bố: Ba Lan và Mỹ đã hoàn thành việc đàm phán hiệp định về trao đổi thông tin phục vụ cho công tác chống khủng bố. Chi tiết của hiệp định hiện không được công bố.

Trao đổi học sinh và sinh viên: Hai bên đã thảo thuận một chương trình dài hạn nhằm trao đổi sinh viên và học sinh trung học giữa 2 nước.

Trong lịch sử quan hệ giữa 2 quốc gia, Barack Obama là Tổng thống thứ 7 của nước Mỹ đã tới thăm Ba Lan nhưng theo bình luận của giới truyền thông, sự đón tiếp dành cho ông dường như nồng hậu, ấm cúng nhất. Không quá rườm rà và cứng nhắc trong các nghi thức ngoại giao, người ta thấy một Obama với phong cách dung dị và cởi mở giữa bầu không khí thân tình của những người chủ nhà.

Đón nhận vị trí chủ tịch Liên minh Châu Âu trong năm nay và với những bước tiến mới trong quan hệ song phương Ba Lan- Mỹ, đất nước của Chopin (Sô- panh) một lần nữa có thể tự hào vì những kỳ tích mà mình đã đạt được sau những năm dài đen tối dưới ách cộng sản.

Bài viết sử dụng tư liệu từ Wyborcza và PAP.

Nguồn

GIÁO-HOÀNG JOHN PAUL II
VÀ SỰ SỤP ĐỔ
CỦA CHẾ ĐỘ CỘNG-SẢN BA-LAN

I/ TỔNG-QUÁT:

Từ sau khi chế độ cộng-sản Ba-Lan sụp đổ, vào tháng 12 năm 1990, có nguồn dư-luận hầu khắp thế-giới cho rằng chính Giáo-Hoàng Gioan PhaoLồ II, vốn là một người Ba-Lan, đã có công lật đổ bộ máy cai-trị vô-thần ấy, để giải-phóng cho quê-hương và đồng-bào mình.
Trước đó, đảng cộng-sản Hung-Gia-Lợi đã bị giải-tán, dân-nhân nước này thoát ách cộng-sản kể từ tháng 10 năm 1989, nhất là các nước Xô-Viết Đông-Âu trong Liên-Xô (USSR=United Soviet Socialist Republics= Liên-Bang Cộng-Hòa Xã-Hội Chủ-Nghĩa Xô-Viết) đã bị giải-thể từ đầu năm.
Chỉ chú-trọng vào Ba-Lan, nguồn dư-luận nói trên cho rằng Giáo-Hoàng Gioan PhaoLồ II cũng là người đã chấm dứt luôn cả các chế-độ cộng-sản khác tại Đông-Âu (?).
Cái công-lao nói đó đã được các giới ủng-hộ Ngài khắp nơi ca-ngợi tối-đa, thậm-chí có một số người Việt-Nam chống-Cộng tin rằng nếu có một Giáo-Hoàng là người Việt-Nam thì cộng-sản Việt-Nam chắc-chắn sẽ sớm tiêu-vong trong một ngày rất gần.

II/ HOẠT-ĐỘNG CHỐNG CS BA-LAN CỦA GIÁO-HOÀNG GIOAN PHAOLỒ II (THEO GIỚI TRUYỀN-THÔNG NGƯỜI VIỆT HẢI-NGOẠI):

1/ Theo nhà báo TÚ GÀN:

“Saigon Nhỏ ngày 8.4.2005
Một cách đấu tranh kỳ lạ của ĐGH John Paul II

Sau khi Đức Giáo Hoàng John Paul II qua đời, nhiều người ở khắp nơi trên thế giới … đều đã bày tỏ cảm tình yêu mến và ca ngợi về những gì ngài đã đem lại cho thế giới trong thế kỷ qua. Các cơ quan truyền thông đã dùng khá nhiều thì giờ và gíấy mực để nói về Đức Giáo Hoàng, trong đó có bàn đến việc Đức Giáo Hoàng đã góp phần vào việc làm sụp đổ các chế độ cộng sản ở Đông Âu. Sự thật như thế nào?
Cho đến nay, các sử liệu liên quan đến vấn đề này vẫn chưa được công bố, nên chúng ta khó có thể bàn đến một cách chính xác được. Chúng ta chỉ biết Đức Giáo Hoàng đã đến thăm hai nước cộng sản là Ba Lan và Cuba. Nhân khi thế giời đang tiển đưa ngài, chúng ta thử tìm hiểu xem Đức Giáo Hoàng đã làm gì ở hai nước này và ảnh hưởng của ngài ở đó ra sao. Tuy nhiên, trước khi đề cập đến hai biến cố đó, chúng tôi xin nói qua về cách nhìn của Đức Giáo Hoàng đối với chủ nghĩa cộng sản.

MỘT CÁI NHÌN VỀ CỘNG SẢN
Đức Giáo Hoàng John Paul II có tên thật là Karol Josef Wojtyla, sinh ngày 18.5.1920 tại Wadowice, Ba Lan…
Từ năm 1948 đến 1951, cha Karol Wojtyla phụ trách giáo xứ Niegowic… Cậu Stanislaw Wyporeck, người thư ký đánh máy của linh mục, cũng được yêu cầu báo cáo cho họ (CS) những điều linh mục đã làm hàng ngày, nhưng cậu từ chối. Một hôm, cảnh sát đến bắt cậu và đưa đến một làng gần đó đánh đập và buộc cậu thú nhận đã tham gia một tổ chức bí mật chống lại chế độ. Sáng hôm sau, Stanislaw trở về đã run rẩy và sợ hải kể lại mọi chuyện cho Linh mục Wojtyla nghe. Ngài đã an ủi cậu: “Stanislaw, đừng lo, họ sẽ tự kết liểu bản thân họ thôi.” Sau đó, ngài đã nói với những người khác trong nhóm: “Chủ nghĩa xã hội không đi ngược lại những lời răn dạy của Giáo Hội, thế nhưng phương pháp của những người cộng sản thì chống lại Giáo Hội…”
Ít năm sau Linh mục Wojtyla về làm cha xứ ở Krakow và cậu Stanislaw đã đến thăm ngài. Thấy trên giá sách của ngài có các tác phẩm của Marx, Lénin và Stalin, cậu đã hỏi: “Cha đã chuyển sang tư tưởng khác rồi sao?” Ngài trả lời: “Stanislaw! Nếu con muốn hiểu kẻ thù, con phải biết họ viết gì.” Ông khuyên cậu nói thật với cảnh sát những gì mà giới trẻ trong giáo xứ đang làm. Stanislaw kể lại: “Ông nói: Những điều xầu xa phải được khắc phục bởi những điều tốt đẹp. Chúng ta cần phải tạo ra một tấm gương tốt. Chúng ta cần thể hiện sự khiêm nhường của mình.” Đây là một cách chống cộng mà Linh mục Wojtyla muốn lưu ý cậu.
Trong cuốn “Bước qua ngưỡng cửa hy vọng”, xuất bản năm 1995, Đức Giáo Hoàng John Paul II đã nói về chủ nghĩa cộng sản như sau:
“Điều mà chúng ta gọi là chủ nghĩa cộng sản thì thực ra đã có lịch sử rồi. Đó là lịch sử phản kháng khi đương đầu với bất công mà tôi đã nhắc đến trong thông điệp Laborem Exercens – Sự phẫn nộ chính đáng của giới thợ thuyền, tiếp theo đã biến thành một ý thức hệ. Những sự phản kháng này cũng đã trở thành một phần trong các giáo huấn của Giáo Hội… Thực tế, chính Đức Giáo Hoàng Leo XIII, theo một nghĩa nào đó, ngài đã tiên đoán chế độ cộng sản sụp đổ rồi, một sự sụp đổ mà nhân loại, nhất là Âu Châu, phải trả một giá quá đắt, bởi vì phương thuốc chữa trị, theo ngài viết từ năm 1891 trong bức thông điệp này, có thể chứng tỏ còn độc hại hơn là chính con bệnh. Đức Giáo Hoàng (Leo XIII) đã nói điều này với tất cả thái độ nghiêm chỉnh và uy quyền của bậc Thầy trong Giáo Hội.”
Trong một đoạn khác, ngài đã viết:
“Vì thế, thật quá giản lược hóa khi cho rằng Thiên Chúa Quan Phòng đã trực tiếp gây ra cuộc sụp đổ chế độ cộng sản này. Theo một nghĩa nào đó, chủ thuyết cộng sản như là một hệ thống đã tự nó sụp đổ. Chế độ đó sụp đổ chính là hậu quả của những lầm lạc và lạm dụng vô độ của chủ nghĩa. Chủ nghĩa cộng sản chứng tỏ là “một phương thuốc còn nguy hiểm hơn chính con bệnh.” Chủ thuyết này đã không thành công khi muốn đem lại một cuộc đổi mới xã hội thật sự, nhưng đã trở thành một mối đe dọa mạnh mẽ và một thách đố kinh hoàng cho toàn thế giới. Chủ nghĩa cộng sản sụp đổ vì những suy yếu nội tại của chính nó.”

TRƯỜNG HỢP CỦA BALAN
Ảnh hưởng của Đức Giáo Hoàng đối với sự sụp đổ của chế độ cộng sản Ba Lan đã được diễn tả khá sinh động trong cuốn “His Holiness John Paul II and The Hidden History of Our Time” (Đức Giáo Hoàng John Paul II và Lịch Sử Bí Ẩn của Thời Đại Chúng Ta) của Carl Bernstein và Marco Politi …
Đức Giáo Hoàng đã đến thăm Balan lần thứ hai vào năm 1983, khi phong trào Công Đoàn Đoàn Kết của Lech Walesa đang dấy lên khắp nơi và chính quyền Cộng Sản Ba Lan đã phải ban hành lệnh thiết quân luật và ra lệnh giải tán Công Đoàn để ngăn ngừa một cuộc nổi dậy. Trong bối cảnh đó, chính quyền cộng sản Ba Lan và Tòa Thánh Vatican đã đạt được một thỏa thuận căn bản để Đức Giáo Hoàng có thể đến thăm Ba Lan: Chuyến viếng thăm này chỉ dành riêng cho vấn đề tôn giáo mà thôi…
Đức Giáo Hoàng đã đến Ba Lan ngày 16.6.1983. Sau khi quỳ xuống hôn đất quê hương, ngài đã lên kêu gọi những người đang bị bắt bớ ở Ba Lan:
“Cha kêu gọi những người bị đày đọa hãy đến đây với cha. Cha kêu gọi lời này thay lời Chúa Jesus: Cha đã bị ốm và các con hãy đến thăm cha. Cha bị giam cầm, các con hãy đến với cha. Bản thân cha không thể tới thăm các con chiên đang bị giam cầm (đám đông xúc động), đến thăm tất cả các con chiên đang bị đày đọa. Nhưng cha kêu gọi họ hãy đến với cha trong tinh thần giúp đỡ cha, như họ vẫn luôn làm.”…
Tướng Jaruzelski nhớ lại: “Đức Giáo Hoàng đã không đưa ra một tối-hậu-thư… Ngài nói về giá trị của con người. Ngài nói rằng nhà nước phải quan tâm đến từng cá nhân con người, rằng đối thoại luôn luôn phải cần đến, và rằng tất cả các Công Đoàn có quyền tồn tại.” Ngài không tranh-luận quyết-liệt, mặc dầu ngay từ đầu hai bên đã có những bất đồng nghiêm trọng. Tướng Jaruzelsk thưa với Đức Giáo Hoàng: “Xin ngài dùng ảnh-hưởng của ngài giúp chúng tôi cô-lập phái quá-khích trong Công-Đoàn Đoàn-Kết, giúp chúng tôi bỏ lệnh cấm-vận của phương Tây, nhất là Mỹ.” Đức Giáo-Hoàng trả lời: “Tôi quan-tâm đến việc đạt tới một tình-trạng bình-thường càng sớm càng tốt”…
Cũng như đa số người Việt, người công giáo Balan muốn Đức Giáo Hoàng lên tiếng chống chế độ cộng sản Ba Lan một cách nào đó để đưa chế độ này đến chỗ sụp đổ. Họ muốn ngài nói tiếng “Solidarity” biểu tượng cho phong trào Công Đoàn Đoàn Kết. Các ký giả Tây phương cũng vậy. Nhưng ngài đã không nói theo cách họ trông đợi mà giảng về một đề tài phức tạp hơn: “Hãy phân biệt rõ cái tốt và cái xấu”… Ngài nói: “Tùy vào các con mà có thể ngăn được sự suy đồi luân lý hay không, mà nói lên sự đoàn kết giữa con người hay không.”
Buổi tối, hàng chục ngàn người đã diễn hành… Khi đi ngang qua tòa nhà của Trung Ương Đảng Cộng Sản Balan, đoàn thanh niên đã hô to: “Solidarity! Solidarity! Walesa! Dân Chủ!.” Khi họ tập trung lại, Đức Giáo Hoàng nói:
“Con người được kêu gọi để chiến thắng chính mình. Chính các vị thánh và các chân phước sẽ chỉ lối cho chúng con đường chiến thắng – sự chiến thắng mà Thiên Chúa đã đạt được trong lịch sử nhân loại.” Sự chiến thắng ấy đòi hỏi “lối sống trong sự thật, nghĩa là biết yêu thương người lân cận, nghĩa là biết đoàn kết giữa con người, nghĩa là trở về với lương tâm, gọi thẳng tên sự lành và sự dữ chứ không mập mờ…, nghĩa là phát triển nơi sự lành và tìm cách sửa sai sự dữ từ chính nơi ta.”
Khi đến tu viện Black Madona ở Czestochova, Đức Giáo Hoàng… nói với giới trẻ Ban Lan:
“Các con đến với Đức Mẹ mang theo trái tim thương tích bởi những sầu muộn, có khi cả những thù hận. Sự hiện diện của các con biểu lộ được một sức mạnh chứng tá khiến cả thế giới phải ngỡ ngàng khi thấy người công dân Balan dùng chính bản thân làm phương tiện tranh đấu, với Phúc Âm trong tay, với lời kinh trên môi. Những hình ảnh ấy vào năm 1980 đã làm cho trái tim và lương tâm thế giới vô cùng xúc động.”
Sau đó, trước sự chứng kiến của khoảng một triệu người, Đức Giáo Hoàng dâng lên Đức Mẹ tấm đai thắt lưng có một lỗ đạn do Ali Agca bắn vào ngài tại Công Trường Thánh Phêrô. Cả một khối người chăm chú, ngất ngất. Họ hô lên: “Xin ở lại với chúng con! Xin ở lại với chúng con!”…
Có người cho rằng các chế độ cộng sản Đông Âu đã sụp đổ là do những mục nát từ bên trong. Nhưng trong thập niên 1980s hai chế độ cộng sản Việt Nam và Cuba còn mục nát hơn các chế độ cộng sản Đông Âu. Hơn nữa, CSVN đã sống bám vào các chề độ cộng sản Đông Âu và đã trở thành một trong những nước nghèo nhất thế giới. Tại sao hai chế độ này đã không sụp đổ?
Tờ “Inside the Vatican” (Bên trong Vatican) số ra ngày 4.4.2005, cho biết trong một cuộc phỏng vấn, Đức Hồng Y Joachim Meisner, Tổng Giám Mục Cologne ở Đức, người đã từng sống dưới thời cộng sản Đông Đức, cho biết người dân Đông Đức ghi ơn Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II vì ngài đã giúp làm sụp đổ chế độ cộng sản…

TRƯỜNG HỢP CỦA CUBA
Năm 1998, Đức Giáo Hoàng đã đến thăm Cuba … (vân vân)”
Tú Gàn

2/ Theo nhà văn TRẦN PHONG VŨ:

“ĐƯỜNG LỐI ĐẤU TRANH CS.
CỦA CÔNG GIÁO & ĐGH JP II

Quả vậy… Với tư cách là con dân đất nước, Đức Gioan-Phaolô 2 đã tranh đấu ôn hòa cho nhân quyền của người dân Ba Lan… Ngài cực lực tranh đấu cho nhân quyền của mọi người dân trên thế giới, trong đó có quyền được sống tự do theo niềm tin tôn giáo của mình trong sự kính trọng mọi tôn giáo anh em.
Rất nhiều người, thiện cảm với Giáo Hội Công Giáo La Mã cũng có mà ác cảm hoặc chống đối cũng có, thường nghĩ như thật rằng: “Vatican là một ổ gián điệp thế giới, đã từng ngấm ngầm cấu kết với đế quốc Mỹ để ‘chống cộng’ đến kỳ cùng. Và cộng sản mà có sụm ba chè là cũng nhờ có bàn tay lông lá của Mỹ và nhất là mật vụ của Vatican nhúng vào”. Đúng hay sai là một chuyện, nhưng quan điểm của vị giáo chủ Vatican thì hoàn toàn khác. Thực vậy, 3 tháng sau khi bức tường Bá Linh sụp đổ, Đức Gioan-Phaolô 2 tuyên bố vào ngày 21/02/1990 trong khi tiếp đoàn người hành hương tại Vatican: “Chính Thiên Chúa đã thắng ở Phương Đông”…
Ngược đời ở chỗ là Lòng Tin cho thấy có bàn tay Thiên Chúa trong những biến cố xảy ra trong trần thế, nơi con người và xã hội loài người, do bởi chính con người chủ động làm ra. Trong quyển “Bước vào ngưỡng cửa hy vọng” xuất bản năm 1994, Đức Gioan-Phaolô 2 giải thích nguyên do trước mắt, có thể kiểm chứng được, của sự tan rã của chế độ cộng sản Liên Xô: “Chính hệ thống cộng sản đã, một cách nào đó, tự nó làm cho nó sụp đổ. Sự sụp đổ của nó là hậu quả của những hành động sai lầm và quá khích của nó. Muốn chữa bệnh, nó lại nguy hại hơn chính con bệnh. Trở thành một đe dọa hùng hậu và một thách đố ghê gớm (đối với xã hội), nó lại không thành công cải tạo thật sự xã hội. Cộng sản tự suy sụp, do bởi nội lực của nó yếu kém.”

Không “chống cộng” và không “dương uy”
Tuy vậy, nhiều người vẫn còn nghĩ rằng Đức Gioan-Phaolô 2 có đóng một vai trò trực tiếp và quan trọng trong vụ này. Họ cho rằng Ngài phải là một người tài trí xuất chúng, đầy mưu lược, “chống cộng cùng mình”, bởi vì Ngài là giáo chủ một tôn giáo không đội trời chung với cộng sản và nhất là vì Ngài đến từ một đất nước mà người công giáo có tiếng là thành phần chống cộng lì nhất thế giới. Không, không hoàn toàn như vậy đâu! Ngài và Giáo Hội Công Giáo ngày nay nhất định không “chống cộng” theo cái nghĩa phe đảng, bè phái, cục bộ, giáo điều, bất bao dung, điên rồ, cố chấp trong thái độ “không đội trời chung”, và càng không theo cái nghĩa “tay sai”, “vụ lợi” hay “bán linh hồn” cho ai cả!”

3/ Theo nhà báo TRẦN ĐẠI HẢI:

“Fri, 24 Feb 2006 15:02:57 +0100
TRAN DAI HAI : Danh Tong Thong Dien
Đánh tổng thống điên?
Ngày 15.2.2006 Ngoại trưởng Mỹ Condoleezza Rice đã đề nghị quốc hội Mỹ chi ngân khoản 75 triệu Mỹ kim để sử-dụng vào việc ‘dân chủ hoá’ Iran.
Ngân sách này sẽ được bổ sung vào ngân khoản 60 triệu mà quốc hội Mỹ đã thông qua cho cho năm tài khoá 2006… Bộ ngoại giao Mỹ hy vọng là sẽ khuấy động lên một phong trào chính trị tại Iran tương tự phong trào Công đoàn Đoàn Kết tại Ba Lan trong thập niên 80.”
*
Theo 2 bài báo tiêu-biểu của 2 tác-giả Ky-Tô-Giáo trích trên, thì:
a) Ông Tú Gàn viết: “Trong cuốn “Bước qua ngưỡng cửa hy vọng”, Đức Giáo Hoàng John Paul II đã nói về chủ nghĩa cộng sản như sau: “thật quá giản lược hóa khi cho rằng Thiên Chúa Quan Phòng đã trực tiếp gây ra cuộc sụp đổ chế độ cộng sản này.
Trước đó, trong bài “Chỉ Làm Công Cụ Thôi” đăng trên “Saigon Nhỏ” ngày 13-8-2004, ông Tú Gàn đã viết: Ðức Giáo Hoàng không hề “lên tiếng chống lại những hành vi chà đạp của nhà nước CS đối với tự do tôn giáo và những phẩm giá khác của con người cũng như những tương quan công lý và đạo đức trong xã hội” như Linh mục Trần Xuân Tâm và nhóm Diễn Ðàn Giáo Dân đã đòi hỏi Ðức Hồng Y Nguyễn Vãn Thuận và HÐGMVN…”
b) Ông Trần Phong Vũ viết: “nhiều người vẫn còn nghĩ rằng Đức Gioan-Phaolô 2 có đóng một vai trò trực tiếp và quan trọng trong vụ này. Họ cho rằng Ngài phải là một người… Không, không hoàn toàn như vậy đâu!”
Cũng như ông Tú Gàn, ông Trần Phong Vũ đã trích dẫn một đoạn văn nổi bật của chính Giáo-Hoàng Gioan PhaoLồ II viết: “Chính hệ thống cộng sản đã, một cách nào đó, tự nó làm cho nó sụp đổ. Sự sụp đổ của nó là hậu quả của những hành động sai lầm và quá khích của nó… Cộng sản tự suy sụp, do bởi nội lực của nó yếu kém.”
Ông Trần Phong Vũ còn ngụ ý nói là cố Giáo-Hoàng không hợp-tác với Hoa-Kỳ trong vụ này.

Trong lúc đó, theo bài báo của ông Trần Đại Hải thì:
“Ngày 15.2.2006 Ngoại trưởng Mỹ Condoleezza Rice… Bộ ngoại giao Mỹ hy vọng là sẽ khuấy động lên một phong trào chính trị tại Iran tương tự phong trào Công đoàn Đoàn Kết tại Ba Lan trong thập niên 80.”
Ông Trần Đại Hải xác-nhận là có bàn tay khuấy-động của Hoa Kỳ trong vụ Ba-Lan.
*
Về sự mâu-thuẫn hoặc khó hiểu này, ông Tú Gàn viết: “Cho đến nay, các sử liệu liên quan đến vấn đề này vẫn chưa được công bố, nên chúng ta khó có thể bàn đến một cách chính xác được.”

III/ BA-LAN KỶ-NIỆM 25 NĂM THOÁT ÁCH CỘNG-SẢN (1990-2005):

Ngày 30-8-2005, Ba-Lan hân-hoan tổ-chức Lễ Kỷ-Niệm 25 Năm Công-Đoàn Đoàn-Kết tại nhiều thành-phố ở Bắc Ba-Lan, địa-điểm chính là Gdansk, cái nôi của phong-trào và lực-lượng chống Cộng do Lech Walesa lãnh-đạo; và chính Lech Walesa (người lật đổ cộng-sản, lên làm Tổng-Thống từ 1990 đến 1995) đến chủ-tọa và thuyết-trình. Đương kim Tổng thống Balan, ông Alexandre Kwasniewski (trước kia là cộng-sản) có đến phát-biểu ở phần khai-mạc…
Trong số quan-khách (có cả phái đoàn Việt-Nam); có ông Dan Fried, phụ tá Ngoại-Trưởng Hoa-Kỳ đặc trách Âu châu và Âu Á sự vụ, và tiến sĩ Zbigniew Brzezinski, cựu cố vấn an ninh quốc gia Hoa-Kỳ, lên thuyết-trình…
Nhà báo ĐÔNG GIANG TỬ đã viết bài tường-thuật tại chỗ.

Điều đáng nói hơn hết là, theo bài tường-thuật, nhân-vật chủ-chốt Lech Walesa, trong suốt buổi lễ, nhất là trong bài nói chuyện, đã không đề-cập gì đến, dù chỉ cái tên, nói gì công-trạng, của cố Giáo-Hoàng Gioan PhaoLồ II trong sự-nghiệp giải-thể chế-độ cộng-sản Ba-Lan.
Không lẽ ông Lech Walesa không nhớ đến cố Giáo-Hoàng, mới chết vào ngày 02-4-2005, trước đó chưa đầy 5 tháng, hoặc giả ký-giả Đông Giang Tử ghi sót?
Nhưng đó là chuyện nhỏ, của cá-nhân. Còn về chuyện lớn, của lịch-sử?
*
* *
Về các sử-liệu liên-quan đến vấn-đề này, tôi sẽ thử tìm hiểu thêm và trình-bày sau, ít nhất là về các điểm sau đây:
— Phần đóng góp của cố Giáo-Hoàng Gioan PhaoLồ II, mà kẻ thì nói là có, người thì nói là không; ngay chính Ngài cũng không nhận công của mình mà nói là do Thiên-Chúa an-bài và do cộng-sản tự-hủy;
— Phần đóng góp của Hoa-Kỳ (đặc-biệt cơ-quan CIA); v.v…

Còn về lý-do tại sao Liên-Xô để yên cho Ba-Lan, là một nước chư-hầu của Liên-Xô, vượt thoát ra khỏi gọng kìm của mình, mà không có một phản-ứng nào cả, thì tôi tạm ghi dưới đây một ít dấu mốc thời-gian, để tự chúng giải-đáp câu hỏi này:

1970: Kinh-tế, huyết-mạch chính của Liên-Xô bắt đầu trì-trệ. Tại Ba-Lan, có Lech Walesa cùng các công-nhân khác tại bến tàu Gdonsk đòi lập công-đoàn tự-do (không quốc-doanh), bị chính-quyền cộng-sản bắt.

1971: Liên-Xô bớt căng-thẳng với Trung-Cộng; đồng-thời Tổng-Bí-Thư Brezhnev mở các cuộc đàm-phán với Hoa-Kỳ.

1972: Tổng-Thống Hoa-Kỳ Nixon viếng Mạc-Tư-Khoa; hai bên ký thỏa-ước hạn-chế vũ-khí chiến-lược (SALT-1), mở đầu thời-kỳ hết căng-thẳng.

1973: Chiến-tranh Việt-Nam chấm dứt, chấm dứt đụng-độ quân-sự giữa hai Khối; Brezhnev viếng Tây-Đức vào tháng 5, viếng Hoa Kỳ vào tháng 6.

1973: bắt đầu tấn-công điệp-báo vào 2 nước cộng-sản Ba-Lan và Hung-Gia-Lợi, từ tháng 9.

1974: Tổng-Thống Nixon lại viếng Liên-Xô; Breznev nhượng-bộ Hoa-Kỳ (triển hạn thỏa-ước SALT-1, cải-thiện sinh-môi, nới rộng thương-mại, v.v…) để hưởng quy-chế tối-huệ-quốc. Các sắc-tộc thuộc Liên-Xô đòi tự-trị.
1975: Kinh-tế Liên-Xô bắt đầu khủng-hoảng trầm-trọng, nhất là vì chạy đua không-gian, ảnh-hưởng xấu trên mọi lãnh-vực. Liên-Xô và Hoa-Kỳ hợp-tác thám-hiểm không-gian.

1978: Walesa cùng các đồng bạn lập nhiều công-đoàn tự-do tại nhiều nơi. Hồng-Y Karol Wojtyla được bầu làm Giáo-Hoàng ngày 16-10, lấy danh-hiệu là John Paul II.

1979: Brezhnev ký thỏa-ước SALT-2 với tổng-thống Hoa-Kỳ Carter vào tháng 6, nhưng (không thông-qua Bộ Chính-Trị Đảng mà tự-ý) can-thiệp vào Afghanistan vào tháng 12, nên bị Hoa Kỳ cấm vận lúa gạo, khiến Liên-Xô suy-yếu thêm.

1979: Đồng-thời, Gorbachev (thuộc thế-hệ mới, sinh sau Cách-Mạng 1917) vào Bộ Chính-Trị Trung-Ương Đảng, coi về Tổ-Chức (Nhân-Sự), có đầu óc phóng-khoáng, lãnh-hội tinh-hoa sinh-hoạt chính-trị Tây-Phương (cầm đầu phái-đoàn đi Tây-Đức năm 1975, đi Canada hội-đàm với thủ-tướng Trudeau năm 1983, đi Anh gặp nữ-thủ-tướng Thatcher năm 1984), chú-trọng nâng-đỡ thế-hệ trẻ.
Giáo-Hoàng John Paul II viếng Hoa-Kỳ lần đầu tiên vào tháng 10 (gặp Tổng-Thống Carter vào ngày 6), sau khi đã về thăm Ba-Lan lần đầu tiên vào tháng 6.

Thời-gian này, Liên-Xô bị khủng-hoảng nội-bộ: Thủ-Tướng Kosygin lủng-củng với Bí-Thư Thứ Nhất Brezhnev từ lâu, nay phải từ-chức vào năm 1980, Brezhnev bệnh nặng rồi chết vào năm 1982, Andropov lên thay rồi chết vào năm 1984, Chernancho lên thay rồi cũng chết vào năm 1985.

1980: Các nước thuộc Liên-Bang Xô-Viết bắt đầu tuyên-bố độc-lập. Hoa-Kỳ ngưng chở ngũ-cốc qua Liên-Xô, tẩy chay Olympic tổ-chức tại Mạc-Tư-Khoa.

1980: Lech Walesa, vốn bị sa-thải vì đòi tăng lương vào năm 1976, được công-nhân tranh-đấu đòi tái-dụng, trở lại bến tàu Gdansk và được bầu làm thủ-lãnh Công-Đoàn, từ nay mang tên “Đoàn-Kết”.

Công-đoàn tranh-đấu bất-bạo-động, ra đời trong bối-cảnh khủng-hoảng nội-bộ của các xã-hội rập khuôn Xô-Viết, đạo-đức suy-đồi, mức sống xuống dốc, chính-quyền Ba-Lan gặp phải khó-khăn kinh-tế hơn 10 năm qua. Có các giới khác kể cả sinh-viên và trí-thức cùng tham-gia.

Nhờ Đài Phát-Thanh Âu-Châu Tự-Do cổ-vũ cùng các màn lưới rỉ tai, công-đoàn dần-dà trở thành phong-trào chính-trị chống-Cộng lan khắp Ba-Lan và các nước đồng-cảnh xung quanh. Các cuộc đình-công phản-kháng gây đình-trệ cho sinh-hoạt chung, nhà cầm quyền phải nhượng-bộ, chấp-thuận quyền đình-công và lập công-đoàn riêng, từ ngày 31 tháng 8.

Walesa được Tổ-Chức Lao-Động Quốc-Tế (International Labor Organization) mời đi du-thuyết tại Ý, Nhật, Thụy-Điển, Pháp, Thụy-Sĩ…

1981: Brezhnev trở nên quá-khích (tài-liệu mới đây cho biết là y đã chủ-mưu vụ ám-sát ‘hụt’ Giáo-Hoàng John Paul II). Cộng-đảng Ba-Lan đàn-áp, giải-tán công-đoàn Đoàn-Kết và bắt Walesa vào ngày 13-12.

1982: Cộng-đồng quốc-tế phản-đối, các tu-sĩ Ky-Tô-Giáo cầu-nguyện, tổng-thống Reagan cấm vận kinh-tế Ba-Lan, và CIA chính-thức tài-trợ cho các hoạt-động bí-mật của công-đoàn Đoàn-Kết, từ nay hòa lẫn trong quần-chúng.
1983: Walesa được trao tặng giải Nobel về Hòa-Bình vào ngày 5 tháng 10 (nhưng không được phép xuất-cảnh, vợ đi lãnh thay). Tổng-Bí-Thư Đảng Gorbachev và Tổng-Thống Hoa-Kỳ Reagan gặp nhau, ký kết cải-thiện quan-hệ Đông-Tây.

1983: Giáo-Hoàng John Paul II về thăm Ba-Lan lần thứ hai, vào tháng 6.

1985: Gorbachev, Tổng-Bí-Thư Liên-Xô, chủ-trương Perestroika (cải-cách kinh-tế và xã-hội, cho phép tư-hữu và ngoại-thương) cùng với Glasnost (cởi-mở tư-duy, cho phép tự-do ngôn-luận, phóng-thích tù chính-trị và đối-lập); mưu-cầu quan-hệ và giao-thương với Tây-Phương; được Tây-Phương hoan-nghênh “Tư-Tưởng Mới”.

1985: Hung-Gia-Lợi bắt đầu phát-động phong-trào giải-thể “Minh Ước Vác Xô Vi” (WARSAW PACT= tổ-chức liên-quân Liên-Xô đặt tại Ba-Lan) và chuyển qua dân-chủ đa-đảng cùng kinh-tế thị-trường.

1986: Gorbachev gặp Tổng-Thống Hoa-Kỳ Reagan vào ngày 11 tháng 10, đàm-phán về việc giảm-thiểu vũ-khí và lực-lượng hạt nhân tại Âu-Châu (sau đó ký-kết thỏa-ước INF). Gorbachev cho tự-do thông-tin. Hằng loạt tù chính-trị Ba Lan được trả tự-do, Walesa thiết-lập cơ-cấu công-đoàn Đoàn-Kết công-khai và hợp-pháp.

1987: Gorbachev phát-động dân-chủ-hóa, cho phép bầu-cử đa-ứng-viên vào guồng máy chính-trị Xô-Viết.

1988: Gorbachev triệt-để đổi mới, rút quân Xô-Viết ra khỏi Afghanistan vào tháng 2, giảm bớt ảnh-hưởng của Đảng trong cơ-cấu Nhà-Nước từ tháng 6, thành-lập Quốc-Hội Đại-Biểu Nhân-Dân, cơ-cấu lập-pháp cho phép tu-chính Hiến-Pháp vào tháng 8; và quan-trọng hơn hết là công-bố từ-bỏ chủ-thuyết bá-chủ của Breznev, cho phép các nước trong Khối cộng-sản Đông-Âu tự-quyền quyết-định mọi việc nội-bộ của mình. Việc này dẫn đến một loạt các cuộc cách-mạng lật đổ các chế-độ cộng-sản tại Đông-Âu từ đó cho đến năm 1989. Kinh-tế Ba-Lan tồi-tệ nhất sau 8 năm liên-tiếp èo-ọp, và Liên-Xô hết muốn, và không còn sức, nâng-đỡ cho chế-độ nhà-nước bù-nhìn Ba-Lan. Cộng-sản nước này phải xin thương-thuyết với Walesa, sau nhiều đợt tranh-đấu quyết-liệt của công-đoàn.

1989: Gorbachev tổ-chức bầu-cử quốc-hội kiểu mới, cho bầu-cử tự-do và cải-tổ tại khắp các nước trong Liên-Bang, chấm dứt chủ-nghĩa công-sản, vào tháng 3 và 4.

Công-đoàn Đoàn-Kết ở Ba-Lan gặp thuận-lợi được hợp-thức-hóa và có ứng-cử-viên vào quốc-hội.

1989: Cộng-sản Hung-Gia-Lợi bị giải-thể vào ngày 23-10. Chính-phủ không cộng-sản nước này mở cửa biên-giới cho dân Đông-Đức chạy qua tị-nạn từ ngày 10 tháng 9. Bức tường Bá-Linh được khai-thông từ ngày 9 tháng 11.

1990: Quốc-Hội Đại-Biểu Nhân-Dân biểu-quyết chấm dứt vai trò lãnh-đạo chính-quyền của đảng cộng-sản vào ngày 14-3, tiếp theo Gorbachev được bầu làm Tổng-Thống Liên-Bang Nga vào ngày 15-3. Ông được tặng giải thưởng Nobel về Hòa Bình ngày 15-10. Bộ bách-khoa từ-điển New “Encyclopaedia Britannica” mệnh-danh Gorbachev là “người khởi-xướng duy-nhất và quan-trọng nhất của một loạt các biến-cố cuối năm 1989 và trong năm 1990 thay-đổi cơ-cấu chính-trị Âu-Châu đồng-thời mở đầu giai-đoạn kết-thúc của cuộc Chiến-Tranh Lạnh”.

1990: Cộng-sản Ba-Lan bị giải-thể vào ngày 25-12, và Walesa được bầu làm Tổng-Thống.

Các hoạt-động, và lời phát-biểu liên-quan, về sau, chỉ là dựa theo kết-quả mà Gorbachev của Liên-Xô nói chung, và Walesa của Ba-Lan nói riêng, đã đạt được trước rồi mà thôi.
Thanh Thanh

LÊ XUÂN NHUẬN

——-

Ba Lan: Bỏ Cộng Sản, và thành công
Tuesday, April 13, 2010
Ngô Nhân Dụng

Trong khi dân chúng Ba Lan trải qua một tuần lễ tang tóc thì chúng ta có dịp nhìn lại thành tựu của nước này trong 20 năm qua, sau khi rũ bỏ chế độ cộng sản. Ông Tổng Thống Lech Kaczinsky, ông Thống Ðốc Ngân Hàng Trung Ương Slawomir Skrzypek, mấy vị tướng lãnh và nhiều nhà lãnh đạo tử nạn trong chuyến máy bay oan nghiệt đã ra đi, nhưng họ để lại cho nước Ba Lan những di sản đáng hãnh diện.

Ba Lan hiện đang là một nền kinh tế phát triển tốt nhất ở Âu Châu; năm ngoái đã tăng trưởng 1.7% trong khi GDP trung bình của 28 quốc gia dùng đồng Euro bị giảm hơn 4%, và tất cả các nước khác đều suy thoái. Sự thành công của Ba Lan là nhờ một hệ thống ngân hàng vững chắc không bị lôi cuốn vào cơn khủng hoảng tài chánh thế giới; ngân sách quốc gia chỉ thâm thủng nhẹ trong khi giới đầu tư quốc tế sẵn sàng mang tiền đến cho chính phủ Ba Lan vay. Và điều đáng hãnh diện nhất là 20 năm sau khi tự giải thoát khỏi chế độ cộng sản, các định chế chính trị dân chủ đã bén rễ ngày càng bền chặt, sau một tai nạn thảm khốc khi nhiều nhà lãnh đạo dân sự và quân sự cùng qua đời một lúc, mà guồng máy chính trị của quốc gia tiếp tục điều hành một cách bình thường theo đúng các thủ tục dự trù trong hiến pháp.

Vị chủ tịch Hạ Viện (Sejm) đã nhận xử lý thường vụ chức quốc trưởng và tuyên bố sẽ tổ chức bầu cử sớm để chọn người làm tổng thống. Phó thống đốc Ngân Hàng Trung Ương đã lên làm quyền thống đốc. Mặc dù có mấy vị tướng lãnh tử nạn nhưng quân đội đã chính thức cải chính tin sẽ có những biện pháp đặc biệt vì tình trạng khẩn cấp, hay hoãn thi hành hiến pháp lấy lý do an ninh bị đe dọa. Năm 1922, một thủ tướng Ba Lan, ông Gabriel Narutowicz cũng chết vì một tai nạn máy bay khó hiểu, sau đó quốc gia đã rơi vào hỗn loạn với các cuộc đảo chính, và đưa tới một chế độ quân phiệt.

Cái chết của gần 100 nhân vật ưu tú nước Ba Lan khiến người ta phải nhớ tới cuộc tàn sát 22,000 sĩ quan quân đội Ba Lan tự do ở Katyn vào năm 1940 do lãnh tụ Cộng Sản Stalin chủ mưu. Lực lượng sĩ quan này quy tụ những thành phần trí thức giường cột của nước Ba Lan lúc đó, với hàng chục ngàn nhà trí thức, giáo sư, luật sư, kỹ sư, bác sĩ, vân vân, đã bị động viên trước đó. Stalin đã tiêu diệt những người con ưu tú của nước Ba Lan để mở đường cho đảng Cộng Sản Ba Lan cướp chính quyền sau này và biến quốc gia thành một chư hầu của Nga. Tai nạn tuần qua cũng làm mất của Ba Lan những đứa con ưu tú nhưng đã khiến cả nước đoàn kết với nhau trong tang tóc. Nhiều người Ba Lan tỏ ý nghi ngờ tai nạn này có vẻ một âm mưu ám sát do mật vụ Nga thi hành; nhưng nói chung cả quốc gia đã cư xử một cách đứng đắn, báo chí không ai đổ tội cho chính quyền Nga.

Ðiều gì đã giúp nước Ba Lan tạo được một hình ảnh ổn định và trưởng thành đáng kính như vậy? Ðó chính là do các vận động chính trị và kinh tế của 38 triệu người dân trong 20 năm qua đã tạo nên những nền tảng vững chắc. Các định chế quốc gia đóng đúng vai trò của mình. Các nhà chính trị tôn trọng “luật chơi dân chủ” và những người dân biết bầy tỏ ý kiến qua lá phiếu tự do. Chủ trương kinh tế thị trường không còn dính đến kinh tế cộng sản cũ đã giúp dân giàu nước mạnh thật sự. Ba Lan là một tấm gương cho thấy khi người dân một nước đã quyết tâm từ bỏ chủ nghĩa cộng sản thì họ xây dựng được một quốc gia vững mạnh về kinh tế và chính trị.

Năm 1989, khi một người thuộc Công Ðoàn Ðoàn Kết đứng ra lập chính phủ đầu tiên không cộng sản vào Tháng Tám, đảng Cộng Sản Việt Nam đã tổ chức biểu tình trước tòa đại sứ Ba Lan ở Hà Nội để hô khẩu hiệu ủng hộ đảng Cộng Sản Ba Lan, chống lại vụ “cướp chính quyền” của “lực lượng thù nghịch” tay sai tư bản! Lúc đó, nhân viên tòa đại sứ đã ra yêu cầu nhóm người biểu tình giải tán, giải thích rằng việc chuyển giao quyền hành này là nguyện vọng của nhân dân Ba Lan chứ không có “thế lực thù nghịch” nào tạo ra cả. Tháng Mười Hai năm đó, Quốc Hội Ba Lan cởi trói cho nền kinh tế khỏi chế độ tập thể quốc doanh; xóa bỏ dấu tích cộng sản trong quốc hiệu, đổi tên nước thành Cộng Hòa Ba Lan. Tháng Giêng năm sau, đảng Cộng Sản Ba Lan đã tự ý giải tán, đổi tên thành một đảng Dân Chủ Xã Hội. Sau đó họ còn hóa thân vài lần nữa biến thành một Liên Minh Tả Phái (SLD). Ðảng SLD đã hai lần được các cử tri tín nhiệm đưa lên cầm quyền trong những năm 1993 và 2001, nhưng rồi lại bị người dân bỏ phiếu gạt ra khỏi chính quyền vào những năm 1997 và 2005.

Nhìn vào kết quả các cuộc bầu cử trên (hai lần nghiêng sang tả, hai lần ngả sang hữu) người ta có thể thấy các cử tri Ba Lan rất dễ thay đổi. Có người sẽ “lo lắng” là nền chính trị xứ này “không ổn định” theo lối cộng sản cũ. Nhưng trái lại, chính trị Ba Lan rất ổn định, nhờ người dân đã trưởng thành trong lối sống tự do. Chính vì người dân được tự do chọn lựa người cầm quyền, và sử dụng quyền tự do đó một cách thẳng thắn, không kiêng dè, họ thay đổi chính quyền một các dễ dàng, cho nên chính trị trở thành ổn định. Nhân dân Ba Lan có thể tự mình thí nghiệm với các chương trình trị quốc khác nhau, với các nhóm chính khách thuộc các đảng khác nhau. Năm 2005, đảng Luật Pháp và Công Lý (PiS) với chủ trương khuynh hữu và bài Nga của anh em cố Tổng Thống Kaczinsky thắng thế, vì dân chúng đã chán chính phủ cánh tả SLD tham nhũng. Nhưng hai năm sau đảng PiS lại thua trong cuộc bầu cử Quốc Hội, vì họ thất bại về kinh tế, đảng Diễn Ðàn Công Dân (PO) lên lập chính phủ mới. Nhiệm kỳ của Tổng Thống Kaxzinsky vẫn kéo dài cho hết năm nay, cho nên trong hai năm qua giữa ông tổng thống PiS và Thủ Tướng Donald Tusk thuộc đảng PO luôn luôn xung đột! Ðây lại là một tình trạng bình thường trong một chế độ dân chủ tự do, mọi người đều tôn trọng hiến pháp và luật pháp. Chính sách kinh tế cởi mở và chủ trương ngoại giao hòa hoãn với lân bang của đương kim Thủ Tướng Tusk thành công, cho nên đảng này hy vọng sẽ đưa được người lên thay thế cố Tổng Thống Kaczinsky trong cuộc bầu cử sắp tới, người đó chính là vị quốc trưởng xử lý thường vụ hiện nay.

Kinh nghiệm Ba Lan cho thấy khi người dân một quốc gia quyết tâm từ bỏ cộng sản độc tài để xây dựng dân chủ, người ta đã thành công. Chính nhờ can đảm dứt khoát bỏ chủ nghĩa cộng sản và chế độ chuyên chế do Stalin lập ra mà các lãnh tụ đảng Cộng Sản Ba Lan năm 1989 đã mở đường cho quốc gia họ bước vào một thời kỳ mới. Năm 1988 khi đảng Cộng Sản đưa kinh tế Ba Lan vào bế tắc, các công nhân Ba Lan theo Công Ðoàn Ðoàn Kết tổ chức đình công và biểu tình suốt từ Tháng Tư, đảng Cộng Sản Ba Lan đã cải tổ luật bầu cử thay vì tham quyền cố vị đến cùng. Họ tự tước bỏ độc quyền của đảng cộng sản, cho dân chúng được tự do bầu Thượng Viện và một phần ba Hạ Viện (Sejm). Chính Quốc Hội mới đó đã đưa Tướng Wojciech Jaruzelski lên làm chủ tịch nước vào Tháng Bảy năm 1989. Một tháng sau, ông đã mời một nhà báo, trong nhóm lãnh đạo Công Ðoàn Ðoàn Kết ra lập chính phủ mới. Ðến nay, ông Jaruzelski vẫn còn được nhiều người dân Ba Lan kính trọng, chứ không bị xử tử hình và bị nguyền rủa như lãnh tụ cộng sản ở Rumani.

Bên cạnh một nền chính trị tương đối ổn định, điều đáng ca ngợi ở Ba Lan là nền kinh tế sinh động. Trong lịch sử nước Ba Lan, người dân chưa bao giờ giàu như hiện nay. Sau 40 năm dưới chế độ cộng sản, kinh tế Ba Lan đã đi tới kiệt quệ, từ 20 năm qua các chính quyền đã thay đổi, thí nghiệm nhiều chính sách khác nhau nhưng đều hướng về thị trường hóa tối đa. Mặc dù có những khúc quanh, nhưng sau cùng người ta vẫn tìm ra con đường tốt nhất. Ông Bộ Trưởng Tài Chánh Jacek Rostowski cho biết trong năm 2009, lợi tức theo đầu người của người Ba Lan đã tiến nhanh vượt bực, từ tình trạng bằng một nửa (50%) tiến lên bằng 56% lợi tức bình quân của Liên Hiệp Âu Châu. Ba Lan hiện là nền kinh tế đứng hàng thứ sáu ở Âu Châu. Ðầu năm nay, trong lúc chính phủ Hy Lạp đang lo phá sản và không đi vay nợ được phải nhờ Âu Châu cứu trợ, thì chính phủ Ba Lan vì được tín nhiệm đã vay được ba tỷ Euro, hơn 4 tỷ đô la Mỹ, với lãi suất thấp.

Nhờ vay nợ dễ dàng, Ba Lan đang cải thiện hệ thống đường xa lộ và hỏa xa, thay thế những di sản hạ tầng cơ sở mục nát thời cộng sản để lại, chuẩn bị cùng Ukraine tổ chức Giải Túc Cầu Âu Châu vào năm 2012. Trong các năm qua, Ba Lan đã bước những bước dài cải tổ hệ thống hành chánh, vì các chính quyền dân chủ không sợ dân mà tin tưởng dân, kính trọng dân. Sau khi chế độ hộ khẩu được bãi bỏ, chính sách gia cư thay đổi đã giúp các công nhân di chuyển, đổi chỗ ở và nơi làm việc trong nước một cách dễ dàng hơn. Chính phủ đã giản dị hóa thủ tục, các công dân có quyền làm bản tự khai các giấy tờ của mình (oswiadczenia) thay vì phải đi xin chưởng khế (giống như công an phường) thị thực công chứng (zaswiadczenia). Nhờ lối làm việc mới đó mà đời sống kinh tế của người dân bình thường được khai thông nhanh chóng hơn. Ông Bộ Trưởng Rostowski nói, “Chúng tôi cứ giả thiết là người dân nói sự thật, cho đến khi nào có bằng chứng là họ nói dối. Trong quá khứ, chế độ cộng sản nghĩ theo lối ngược lại.”

Nếu nước Việt Nam thay đổi chế độ, từ bỏ chủ nghĩa cộng sản như dân Ba Lan đã làm, thì trong vòng mười năm đến 20 năm, chúng ta cũng sẽ tiến không kém gì nước Ba Lan. Bởi vì không có lý gì mà người dân Việt Nam lại thua kém dân Ba Lan.

Ngô Nhân Dụng

*nguồn ở đây

———-

Posted in Chinh Tri Hoa Ky | Leave a Comment »

Bùi Chát và hai cuộc cách mạng (Uyên Vũ)

Posted by hoangtran204 trên 28/05/2011

Những người đi tiên phong, hoặc hành nghề trong những lãnh vực mà mình đam mê, yêu thích thông thường sẽ rất thành công trong vòng 15-20 năm theo đuổi nghề nghiệp ấy.

Bùi Chát tên thật là Bùi Quang Viễn, tốt nghiệp ngành Văn học, khoa Ngữ văn – Báo chí, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Tp HCM vào năm 2001. Ở tuổi 23, 24 Bùi  Chát và các bạn bè cùng trang lứa như nhà thơ Lý Đợi đã can đảm đứng ra chịu trách nhiệm tự xuất bản các tác phẩm do họ sáng tác, và xuất bản luôn các tác phẩm của các tác giả khác mà họ yêu thích (nhưng  chính quyền thì cấm tuyệt đối). Họ không quan tâm đến chuyện xin phép xuất bản vì làm thế là đồng nghĩa với việc bị kiểm duyệt.

Từ năm 1954 cho đến tận bây giờ, hiếm có một cuốn sách nào xuất bản ở VN được phát hành cho bạn đọc mà không bị “biên tập lại”, bị cắt xóa những đoạn văn liên quan đến sự thật, phê phán hay ám chỉ đến các nhân vật lãnh đạo trong chính quyền CSVN trong hơn 60 năm qua. Không được viết hay xuất bản những gì mà đảng và bộ Thông Tin Tuyên Truyền và Văn  Hóa không cho phép.

Từ năm 1954 đến nay, đã có hàng trăm văn sĩ, thi sĩ, nhạc sĩ, họa sĩ ở VN cố tìm cách thể hiện sự tự do ngôn luận trong tác phẩm của mình, nhưng dù tác phẩm đã xuất bản hay chưa xuất bản, thì rồi sớm hay muộn tất cả bọn họ đều bị bắt đi vào một buổi tối nào đó ở nhà, hay bị bắt trên đường, hay nơi làm việc…và vào tù. Không có tòa án, không có xét xử, không có ngày được thả về.

Bùi  Chát và nhóm bạn bè trong nhà xuất bản Giấy Vụn thừa biết các hậu quả nầy, nhưng họ bất chấp và cứ làm theo ý thích. Đó là nhựng người can đảm và sống trọn vẹn với lương tâm.

Bài viết dưới đây của Uyên Vũ viết thêm nhiều điều khác nữa về Bùi  Chát mà các bài viết trước đăng trong blog nầy đã có đề cập tới ở một khía cạnh khác.

Bùi Chát và hai cuộc cách mạng (Uyên Vũ)

“…từ sự gợi hứng của NXB Giấy Vụn đã xuất hiện hàng loạt các nhà xuất bản “ngoài luồng” khác hoặc một số tác giả đã tự xuất bản tác phẩm của mình, hầu hết đều là thân hữu của nhóm Mở Miệng và hầu như đều xuất hiện tại Sài Gòn…”

Ngày 26/4/2011 vừa qua, tại Argentina trong khuôn viên Hội Chợ Sách Quốc Tế Buenos Aires lần thứ 37, và trong khuôn khổ của chương trình Thủ Đô Sách Thế Giới Buenos Aires 2011. Hiệp Hội Xuất bản Quốc tế IPA đã trao Giải Tự Do Xuất Bản cho nhà thơ Bùi Chát, người sáng lập Nhà Xuất Bản Giấy Vụn tại Việt Nam, vì tấm gương can đảm của anh trong việc cổ xúy cho quyền tự do xuất bản.

Được vinh danh giữa cộng đồng tri thức quốc tế, được ghi nhận những nỗ lực to lớn trong nhiều năm gian khó, Bùi Chát và NXB Giấy Vụn xứng đáng thành một biểu tượng cho trí thức trẻ Việt Nam dám dấn thân, dám đặt vấn đề về thời đại mình đang sống. Nhưng nhìn kỹ hành động và công việc Bùi Chát đã làm, tôi đoan chắc anh không hề muốn trở thành một thứ biểu tượng trong tủ kính. Anh chỉ muốn hành động và việc làm của anh trở thành bình thường như phải có.

Trở về nước sau vài ngày nếm trải tự do, vừa đặt chân lên tổ quốc hôm 30/4/2011 anh lập tức bị bắt giữ, bị khám xét nhà, tịch thu bằng tưởng lệ của IPA trao, anh cũng bị tịch thu sách vở, tịch thu phương tiện làm việc và đối diện với hoàn cảnh ngặt nghèo trong tương lai. Điều ấy lại càng chứng tỏ điều mà tại các nước tự do, dân chủ là bình thường thì ngay chính quê hương của Bùi Chát lại là hành vi nguy hiểm đến nỗi phải bắt giam ngay lập tức. Và như thế, thêm một lần nữa Bùi Chát và các bằng hữu trong NXB Giấy Vụn xứng đáng được vinh danh.

Bùi Chát, một nhà thơ Việt Nam nghèo, trẻ, sinh sống tại một nhà trọ bé xíu, sâu hút đằng sau những ngõ ngách nhỏ hẹp của thành phố Sài Gòn. Thế giới hàng ngày của anh là ngập tràn sách vở, là những quán cóc vỉa hè. Láng giềng là những công nhân xanh mặt vì đói, là chuột bọ chạy ngổn ngang, là những cô gái điếm nhạt nhòa son phấn và các bợm nhậu ngồi thâu đêm dọc bờ kênh Nhiêu Lộc đen sì. Lang thang khắp nơi trên chiếc xe “made in China” cũ mèm, anh tất bật tìm mua từng ram giấy, soạn bản thảo, sửa morasse, chăm chút tờ bìa, rồi kiếm chỗ photocopy, đóng xén từng cuốn sách với thái độ kính cẩn… và mang biếu độc giả.

Rõ ràng, hành vi ấy là bất bình thường với một thanh niên Việt, càng bất thường với một cử nhân văn chương tại Việt Nam. Thay vì kiếm một chân biên tập viên cho một nhà xuất bản “chính thống” hay xông pha làm một nhà báo “chân trong chân ngoài” như hàng vạn nhà báo Việt đang làm và có thể kiếm “bẫm”. Chát dường như thích vẩn vơ bên lề và không dấu giếm niềm ngưỡng mộ thế giới vỉa hè. “Thơ rác, thơ nghĩa địa, thơ vỉa hè” ra đời từ đấy. Và đấy được coi như là một cuộc cách mạng thơ ca Việt

  Bùi Chát nhận giải thưởng ngày 25/4/2011

Nam. Đã có nhiều bình luận về thứ thơ này, tất nhiên là sự dè bỉu, khinh miệt từ vài mục văn học của mấy tờ báo to; từ những búa rìu nặng nề lẫn khoa trương trịch thượng của vài ông ngự sử văn chương tự phong. Chát đã đạp đổ quá nhiều đền đài miếu mạo văn chương Việt bằng thái độ cà rỡn, hoạt kê. Nhưng để điểm lại thơ Việt khoảng 10 năm gần đây, không thể không nhắc đến Bùi Chát và nhóm Mở Miệng mà anh cùng với những người bạn khai sinh năm 2001 (dù đôi lúc phải viết tắt tên các nhà thơ nhóm này trong những bài bình luận thơ trên báo chí và sách).

Mở Miệng. Tại sao lại là Mở Miệng? Đơn giản là vì những vần điệu giả tạo “nên thơ” của thơ Việt trong một thời gian dài đã mòn vẹt khuôn sáo, nhất là thứ thơ tụng ca đã bị xã hội tẩy chay từ lâu. Sống giữa những ngột ngạt của ý thức hệ và những giáo điều áp đặt lên xã hội và văn chương nghệ thuật, tự do suy nghĩ và biểu đạt đã trở thành món hàng xa xỉ, thơ Việt như những vũng ao dày đặc rong rêu. Mở Miệng là một nhu cầu bứt phá, là tuyên ngôn tôn vinh cá tính, là đòi hỏi tự do sáng tạo, khai phóng khỏi trì trệ. Suốt chiều dài văn học sử Việt Nam, văn chương thi phú luôn gánh trên vai sứ mạng to lớn “văn dĩ tải đạo”, vì lẽ đó, người cầm bút vừa tự đặt mình vào vị trí cao cả, vừa gồng mình chịu đựng nó. Mở Miệng thay đổi quan niệm đó bằng cách bông đùa, tung hứng với văn chương nghiêm nghị và xóa lằn ranh giữa văn chương bác học và văn chương bình dân. Mở Miệng để phản ảnh cách chân thực cuộc sống chung quanh, dẫu chọn cách phóng túng nhất để biểu đạt vẫn còn hơn tự dìm thơ trong giả trá. Chát nói:  “Khi khai sinh Mở Miệng, chúng tôi muốn cổ xuý một cách tiếp cận khác đối với thơ Việt, và khi phong trào lớn mạnh, tất cả chúng tôi vẫn tiếp tục bày tỏ khát vọng này trong các tác phẩm và đạo đức lao động của mình”. Với những độc giả bình thường, thơ của Bùi Chát và Mở Miệng có thể gây sốc nặng vì cách thể hiện và những ngôn từ mà họ sử dụng, họ không ngần ngại dùng những câu chửi thề, những từ ngữ đầy dục tính. Thơ của họ như một lời thách thức, ném thẳng vào mặt các nhà “đạo đức”. Họ vứt bỏ không thương tiếc các quy ước, luật lệ trong thơ. Tác phẩm của họ có thể thoải mái dùng nhiều thủ pháp cài – đặt – lắp – ráp và phỏng nhại ngay cả những bài thơ lừng lẫy của tiền bối. Họ bày tỏ thái độ bằng cách nhổ toẹt vào các taboo. Nhưng như vậy liệu có thể gọi những gì Chát và Mở Miệng viết ra là “thơ” không? Thực sự thì họ đã thẳng thừng tuyên bố họ không làm thơ: “So với thẩm mỹ của quý vị, trong thẩm mỹ của quý vị, từ lâu rồi chúng tôi không làm thơ. Nhưng chúng tôi vẫn làm đấy, và ngày một đông những người cầm bút trẻ không làm thơ như các vị muốn; đúng hơn, không còn làm thơ trong cách nghĩ mà thẩm mỹ đã cũ nát và ấu trĩ, mà nhiều khi chẳng thuộc về ai, dù quý vị muốn ra sức níu giữ.” .

Cách thức mà Bùi Chát cùng với Mở Miệng “làm thơ” như thế đã được coi lời là tuyên chiến với một xã hội đang ra sức bảo vệ sự “ổn định chính trị”; thái độ của họ được xem như một hành vi chính trị dù chắc chắn họ không làm chính trị chút nào. Hãy thử đọc một đoạn của Bùi Chát xem thơ và chính trị biểu lộ ra sao:

Cộng sản là cái quái gì cóc cần biết, nhưng chắc chắn… 

Sau cộng sản là sự sống chồng sự sống
Sau cộng sản là ngày dài vô tư không ngã rẽ
Sau cộng sản là ngẩng cao đầu
Sau cộng sản đi không trở lại
Sau cộng sản có người buồn bã không định hướng
Sau cộng sản là định mệnh
Sau cộng sản tạm thời chưa ai rõ
Sau cộng sản là cộng trừ nhân chia nhiều cấp độ
Sau cộng sản là em yêu tôi đâu cần chứng
Sau cộng sản là nhà xuất bản Giấy Vụn quang vinh mười lăm năm
Sau cộng sản là niềm tin ơi chào mi
Sau cộng sản ánh sáng cởi mở
Khi đó chúng ta thoải mái làm người…”

(Trích trong tập Bài Thơ Một Vần của Bùi Chát, NXB Giấy Vụn 10/2009)

Lý Đợi, người cùng với Bùi Chát khai sinh NXB Giấy Vụn và các nhà thơ khác trong nhóm Mở Miệng đều đầy cá tính, có thể họ bị ảnh hưởng lẫn nhau khi sử dụng những thủ pháp, nhưng mỗi người sở hữu một giọng thơ, mỗi giọng thơ ấy lại phản ánh thân phận từng người vốn đầy ắp nỗi nghi hoặc về cuộc đời, cuộc sống chung quanh.

Bùi Chát cùng với nhóm Mở Miệng gồm Lý Đợi, Khúc Duy, Nguyễn Quán… qua sáng tác của mình đã làm một cuộc cách mạng trong thơ Việt, chí ít họ đã dám công khai mở miệng không úp mở, không đắn đo lẫn không cần xin phép, giữa một thời thơ Việt tẻ nhạt đang rụt rè cách tân và loay hoay tự cắt bỏ suy nghĩ.

Mở Miệng gây ra những cuộc tranh luận sôi nổi, mạnh mẽ trên nhiều diễn đàn vào đúng lúc cuộc cách mạng Internet tràn ngập không gian Việt Nam và đã khiến giới văn chương, nghệ thuật Việt Nam chột dạ.

Tháng 6/2005 Viện Goethe ở Hà Nội mời nhóm Mở Miệng giao lưu và đọc thơ nhưng phải hủy bỏ vì áp lực của nhà cầm quyền. Mở Miệng khiến nhiều người liên tưởng đến các trào lưu văn học underground tại một số nước, các tác phẩm của Mở Miệng luôn gây sóng gió cách này hay cách khác từ hướng nhìn của nhà cầm quyền lẫn từ các bình luận văn học (không công khai) của các nhà văn, nhà thơ, nhà báo Việt Nam.

Trong khoảng thời gian trước sau năm 2002 đó, cũng đã có những ngòi bút thử nghiệm những cách tân văn học, song thái độ quyết liệt của Mở Miệng đã góp phần chính trong cung cách hành văn. Ta có thể thấy, những nhà văn, nhà thơ hiện nay có thể thoải mái sử dụng ngôn từ câu chữ “bụi bặm” mà chẳng ai thắc mắc, hoặc xét nét như lúc Mở Miệng xuất hiện đã phải hứng chịu. Phải chăng khuynh hướng thẩm mỹ văn học Việt đã dần thay đổi do chịu ảnh hưởng bởi nhóm Mở Miệng và những cây bút đồng quan điểm khai phá?

Dĩ nhiên, những tác phẩm của Chát và Mở Miệng không bao giờ được phép đăng báo hoặc in ấn từ những cơ quan báo chí, xuất bản chính thống. Bùi Chát và nhóm Mở Miệng đã chọn một phong cách tự do, hoàn toàn phù hợp với lý tưởng và phong cách mà họ theo đuổi. Đó là tự tuyển chọn, biên tập, in ấn, xuất bản, phát hành để mỗi tác phẩm đều được ra mắt như ý muốn không qua bất cứ sự trung gian hay kiểm duyệt nào.

Và như thế, nhà xuất bản Giấy Vụn ra đời, đây cũng có thể là một cuộc cách mạng. Một cuộc cách mạng về xuất bản và cũng có thể nói là một cuộc cách mạng về sự tự do thể hiện trong các thể chế cộng sản.

Ai cũng biết, văn học nghệ thuật cùng với truyền thông luôn được xếp vào vị trí trọng yếu tại các quốc gia cộng sản, ban văn hóa tư tưởng của các đảng cộng sản vạch ra đường lối, kế hoạch chi li ở từng thời điểm hầu chi phối mọi mầm mống tư tưởng “phi chính thống”. Từ cuộc cách mạng vô sản tháng 10 Nga cho đến thời tư bản đỏ đại Hán đã có biết bao văn nhân, nghệ sĩ bị tra tấn, lưu đày và tận diệt; có biết bao nhiêu bản thảo phải lén lút gửi ra hải ngoại hoặc ngậm ngùi đút vào ngăn kéo…

Năm 2002, Nhà xuất bản Giấy Vụn tại Việt Nam ra đời từ khát vọng tự do, từ tình yêu vô hạn đối với tư tưởng và sách vở của Bùi Chát cùng các bạn bè. Từ ấn phẩm đầu tiên là tập thơ Vòng tròn sáu mặt của sáu tác giả (Bùi Chát, Khúc Duy, Lý Đợi, Trần Văn Hiến, Hoàng Long và Nguyễn Quán) cho đến tác phẩm mới nhất Việt Nam – hành trình một dân tộc của Philippe Papin (do Nguyễn Khánh Long dịch, 2011), NXB Giấy Vụn đã ấn hành 30 đầu sách nhiều thể loại: thơ, văn xuôi, dịch phẩm. Trong số đó có cả tác phẩm lừng danh Trại Súc vật của Geogre Orwell.

Dù không được phép của nhà cầm quyền, ngay từ khi ra đời, NXB Giấy Vụn đã thực hiện rất đầy đủ và bài bản các quy ước xuất bản như một nhà xuất bản chuyên nghiệp. Các thông tin như: nhóm thực hiện, người chịu trách nhiệm xuất bản, người phát hành, người trình bày, nơi nộp lưu chiểu… đều được in trang trọng trong mỗi ấn phẩm.

Cách thức ấy cũng nói lên nhóm thực hiện muốn công việc của họ là một công việc hết sức nghiêm chỉnh, chu đáo và có trách nhiệm đàng hoàng.

Tuy là một nhà xuất bản không phép, những ấn phẩm của Giấy Vụn luôn được chăm chút về hình thức. Chính Bùi Chát đi lùng sục khắp nơi để mua loại giấy độc đáo nhất, đẹp nhất để in, đồng thời luôn tìm cách đổi mới hình thức trình bày. Ấn phẩm “Bài thơ một vần” của Bùi Chát đã khiến dịch giả và nhà phê bình văn học Cao Việt Dũng nhận định trên blog Nhị Linh của mình: “một quyển sách đủ đẹp để làm ghen tị toàn bộ hệ thống xuất bản Việt Nam từ trong nước đến ngoài nước, từ chính thống đến ngoài luồng”.

Có thể nói, từ sự gợi hứng của NXB Giấy Vụn đã xuất hiện hàng loạt các nhà xuất bản “ngoài luồng” khác hoặc một số tác giả đã tự xuất bản tác phẩm của mình, hầu hết đều là thân hữu của nhóm Mở Miệng và hầu như đều xuất hiện tại Sài Gòn. Ta có thể thấy,

NXB Tùy Tiện của Bỉm,

Lề Bên Trái của nhà văn Đào Hiếu,

Cửa của họa sĩ Trịnh Cung,

Da Vàng của Huỳnh Lê Nhật Tân…

rồi Tan Hinh Thuc Publishing Club, Minh Châu,

Một Mình, Mũi Tên, Kông Kốc, Dieu Cay Books .v.v..

Hẳn nhiên, tất cả đều không thể so sánh với Giấy Vụn về quy mô và cách thức thực hiện. Rõ ràng, một cuộc cách mạng xuất bản mới đã hình thành, cuộc cách mạng không ầm ĩ nhưng đủ đánh dấu về sự biến chuyển nơi thái độ của một số nhà văn, nhà thơ của Việt Nam hiện đại.

Cũng cần nhắc thêm, năm 2008 nhạc sĩ Tuấn Khanh đã tự hát, hòa âm, thu và mixed rồi biên tập, trình bày, phát hành album Bụi Đường Ca gồm các sáng tác của chính anh mà không cần xin phép bất cứ ai, sau đó anh đưa lên mạng internet, anh cho phép mọi người thoải mái bình luận và tải xuống miễn phí, như một cách thể hiện sự TỰ DO phải có của nghệ sĩ, một công dân thế giới, như bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền đã ghi rõ.

Trở lại việc Hiệp hội Xuất bản Thế giới IPA vinh danh Bùi Chát và NXB Giấy Vụn đó là vinh dự vô giá cho Bùi Chát, Mở Miệng, NXB Giấy Vụn và các ngòi bút độc lập. Công việc thầm lặng mà Bùi Chát làm nhiều năm nay đã được quốc tế công nhận, đó là niềm khích lệ cho những tiếng nói can đảm, là nguồn cổ vũ để bất cứ người viết nào cũng biết rằng vượt qua sợ hãi, mở miệng cất tiếng, vững chí can trường đều có thể gặt hái những thành quả lớn lao.

Khi tôi viết những dòng này, nhà thơ Bùi Chát tuy đã được tạm thả, nhưng vẫn đang bị thẩm vấn đâu đó tại một đồn công an Việt Nam. Có lẽ anh đang phải trả lời các cuộc thẩm vấn bất tận về giải thưởng của IPA, về hoạt động của NXB Giấy Vụn, về nhóm Mở Miệng, về ảnh hưởng của anh trên văn giới và xã hội. Không ai biết khi nào anh được trao trả tự do hoàn toàn. Dù sao đi nữa, tôi tin chắc Bùi Chát cùng với NXB Giấy Vụn, nhóm Mở Miệng đã ghi một dấu ấn nơi lịch sử văn học, lịch sử ngành xuất bản Việt Nam.

Uyên Vũ

nguồn 1

nguồn 2

 

Tech mogul pays bright minds not to go to college

By MARCUS WOHLSEN, Associated Press Marcus Wohlsen, Associated Press Sun May 29, 2011

SAN FRANCISCO – Instead of paying attention in high school, Nick Cammarata preferred to read books on whatever interested him. He also has a gift for coding that got him into Carnegie Mellon University’s esteemed computer science program despite his grades.

But the 18-year-old programmer won’t be going to college this fall. Or maybe ever.

Cammarata is one of two dozen winners of a scholarship just awarded by San Francisco tech tycoon Peter Thiel that comes with a unique catch: The recipients are being paid not to go to college.

Instead, these teenagers and 20-year-olds are getting $100,000 each to chase their entrepreneurial dreams for the next two years.

“It seems like the perfect point in our lives to pursue this kind of project,” says Cammarata of Newburyport, Mass., who along with 17-year-old David Merfield will be working on software to upend the standard approach to teaching in high school classrooms.

Merfield, the valedictorian of his Princeton, N.J., high school class, is turning down a chance to go to Princeton University to take the fellowship.

Thiel himself hand-picked the winners based on the potential of their proposed projects to change the world.

All the proposals have a high technology angle but otherwise span many disciplines.

One winner wants to create a mobile banking system for the developing world. Another is working to create cheaper biofuels. One wants to build robots that can help out around the house.

The prizes come at a time when debate in the U.S. over the value of higher education has become heated. New graduates mired in student loan debt are encountering one of the toughest job markets in decades. Rising tuitions and diminishing prospects have led many to ask whether college is actually worth the time and money.

“Turning people into debt slaves when they’re college students is really not how we end up building a better society,” Thiel says.

Thiel made his fortune as a co-founder of online payment service PayPal shortly after graduating from Stanford Law School. He then became the first major investor in Facebook. In conversation and as a philanthropist, Thiel pushes his strong belief that innovation has stagnated in the U.S. and that radical solutions are needed to push civilization forward.

The “20 Under 20” fellowship is one such effort. Thiel believes that the best young minds can contribute more to society by skipping college and bringing their ideas straight to the real world.

And he has the shining example of Facebook to back up his claim. Thiel’s faith in the world-changing potential of Harvard dropout Mark Zuckerberg’s idea led him to invest $500,000 in the company, a stake that is now worth billions.

Still, the Zuckerbergs of the tech industry are famous because they are the exceptions. Silicon Valley is littered with decades-worth of failed tech startups.

Vivek Wadhwa, director of research at Duke University’s Center for Entrepreneurship and a writer for TechCrunch and Bloomberg Businessweek, has assailed Thiel’s program for sending what he sees as the message that anyone can be Mark Zuckerberg.

“Silicon Valley lives in its own bubble. It sees the world through its own prism. It’s got a distorted view,” Wadhwa says.

“All the people who are making a fuss are highly educated. They’re rich themselves. They’ve achieved success because of their education. There’s no way in hell we would have heard about Peter Thiel if he hadn’t graduated from Stanford,” he says.

Thiel says the “20 Under 20” program shouldn’t be judged on the basis of his own educational background or even the merits of his critique of higher education. He urges his critics to wait and see what the fellows achieve over the next two years.

According to data compiled by the Georgetown University Center on Education and the Workforce, workers with college degrees were laid off during the Great Recession at a much lower rate than workers without degrees. College graduates were also more likely to be rehired.

But for fellowship recipients like John Burnham, 18, such concerns pale next to the idealism of youth. At his prep school in western Massachusetts, Burnham started an alternative newspaper to compete with the school’s official publication.

The entrepreneurial experience of creating something out of nothing captured his imagination. Now his ambitions have grown.

Burnham believes that the world’s growing population will put an unsustainable strain on the planet’s natural resources. That’s why he’s looking to other worlds to meet humanity’s needs.

Specifically, he believes that mining operations on asteroids could hold the key. For the next two years, he’ll be studying rocket propulsion technology and puzzling through the economics of interplanetary resource extraction.

“This fellowship is so much of a better fit for my personality than I think college would be,” Burnham says. “When you get an opportunity of the magnitude of this fellowship, I couldn’t see myself being able to wait.”

 

Comments

*College is needed for many positions, medical, biological, earth sciences, business etc., . but it misses a niche for talented people who fall into thinking outside of the box, inventors, writers who fail college admittance because of things required, foreign language, higher math. If a person excels in a certain field, I believe they should be allowed to pursue that dream without taking algebra, calculus, foreign language,(the reason I didn’t go to college), I didn’t have those skills, some people do naturally.

So I became a cook, and through the years became a renowned chef, nice, but not what I could have been.

*Well Im in school thanks to the GI bill and have small payments for school,I served my country and got an award for it. If we don’t do something to make school affordable,our youtfhs will find other things more interesting than an education. I for one do not want to see my kids struggle and work somewhere for 10 yrs just to make 10 dollars an hour. Soon employers like walmart will require and in some cases now to have a degree.

*OK – not everybody should go to college, but they had better be extremely bright, like the ones mentioned in this article, or get some other kind of post-secondary education or they’ll be looking for nonexistent unskilled work. Let’s remember, the guy, who is giving these $100,000 entrepreneurial scholarships “to not go to college”, went to college, got a degree and went on to get a law degree.

BTW, only about 25% of Americans have college degrees (not “everyone”).

*College is good for some but for entrepeneurs it can be a waste of time. As someone who has ben self-employed most of my life, working on your own projects is time much better spent.

*I’ve never met anyone who went to college and later regretted it. However, I have met a lot of people who never went but wish they had.

*I went to college and I’m pretty well off but my dad who only had a 3rd grade education when he came into this county (1970) starting out with $20 in his pocket is doing pretty good compared to people with college degrees.he has several properties and a 50 unit apartment complex. he went to a small school to learn how to read and write English and then started to read business books and real estate books. that is how he started; he educated himself. what I’m saying is it depends on the person, some can do it his way and others need an external structure for learning like going to college.

*I’ve met some non-traditional people who became very successful and never regretted going to college. These are the musician/artists and creative entrepreneur-type of people. College is only one of life’s tools to get somewhere; it’s not the *only* tool to get somewhere.

*That is what I am thinking as well. I hope people don’t read this and just go “sweet I don’t need to go to college”

Well you know what? You DO need to go to college if you don’t plan on opening up a business, inventing something, or being an entrepreneur in general. This article is for people gifted or lucky enough or a mix of both that are able to find something marketable to do that does not require a formal education.

For the rest of us… College is the way to go, especially if it is not in that Business realm. I mean if you dream of being a Marine Biologist, chances are the school of hard knocks is not going to work, but a degree is going to work.

*You have to be wary when not only a college graduate, but a professional school graduate tells you a college education is not important.

George Forbes, lawyer and former infamous Cleveland City council President spent much of his political career telling black people not to get an education, that he (George Forbes) would take care of them and he was all they needed. He did insist his daughter get an education, she is a lawyer as well. Now look at the economic and political situation in Cleveland OH, it is dismal, look at the plight of black people in Cleveland, it is dismal; they listened to a politician and avoided college, now look at the mess.

Seriously do not be dependent on your local politician, get your education then do with it what you want. A college degree shows a certain discipline and still opens employment doors.

For example, out of millions of high school graduates, 20 got this opportunity. Also, I guarantee Mr Thiel will get a serious piece of their accomplishments.

*

Posted in Tự Do ngôn Luận | 1 Comment »

Người Trung Quốc mua đất nông nghiệp ở Brazil làm cho chính phủ nước nầy lo sợ

Posted by hoangtran204 trên 27/05/2011

Trần Hoàng (dịch thuật)

URUAÇU, Brazil – Khi người Trung Quốc đến Brazil để tìm kiếm mua đậu nành ở đây vào năm ngoái, họ đã hỏi han về việc mua đất – rất nhiều người TQ hỏi về chuyện mua đất.

Các giới chức chính quyền trong khu vực nông nghiệp sẽ không bán hàng trăm ngàn mẫu đất mà người TQ đang cần mua.

Không nao núng, người Trung Quốc theo đuổi một chiến lược khác: cho nông dân Brazil mượn tiền và yêu cầu họ tăng gấp ba lần việc trồng đậu nành ở đây để thương lái TQ mua đậu nành và chở về bên TQ để nuôi gà và heo.

“Họ cần đậu nành nhiều hơn bất cứ nước nào hết”, ông Edimilson Santana, một nông dân ở thị trấn nhỏ của Uruaçu. “Đây có thể là một khởi đầu mới cho người nông dân ở nơi đây.”

Các thỏa thuận $ 7 tỉ đô la ký vào tháng trước – để sản xuất 6 triệu tấn đậu nành một năm – là một trong số nhiều cú đòn trong những tuần gần đây khi Trung Quốc đang vội vã hỗ trợ an ninh lương thực của họ và sửa đổi lại (nhằm tránh) sự phụ thuộc ngày càng tăng trên các cây trồng từ Hoa Kỳ bằng cách theo đuổi những khu rộng lớn của vùng đất trung tâm nông nghiệp của Châu Mỹ La tinh.

Ngay cả như Brazil, Argentina và các nước khác đang thay đổi để áp đặt những giới hạn về mua đất nông nghiệp cảu người nước ngoài, người Trung Quốc đang tìm cách để tự họ kiểm soát trực tiếp việc sản xuất hơn bao giờ hết, lấy nhiệt tình của họ dành cho tự túc nông nghiệp ở nước ngoài.

“Người Trung Quốc đang di chuyển vào đây sống”, ông Carlo Lovatelli, chủ tịch của Hiệp hội người Brazil của ngành Công nghiệp Dầu Thực Vật. “Họ đang tìm kiếm đất đai, tìm kiếm đối tác đáng tin cậy. Nhưng điều mà họ muốn nhất là thích tự mình điều hành công việc. ”

Trong lúc nhiều người nông dân Brazil chào đón các những món tiền đầu tư của người Trung Quốc, và trong khi nổ lực mạnh mẽ nầy đang xẩy ra thì các quan chức Brazil đã bắt đầu đặt câu hỏi về “quan hệ đối tác chiến lược” với Trung Quốc đã từng được khuyến khích của cựu Tổng thống Luiz Inácio Lula da Silva.

 

Người Trung Quốc đã và đang trở nên quan trọng đối với nền kinh tế của Brazil đến nổi rằng Brazi không thể làm gì mà không có Trung Quốc – và đó là chính xác những gì đang làm cho Brazil ngày càng khó chịu.

“Một điều mà thế giới có thể tin chắc là: không thể nào quay trở lại được,” Cựu Tổng thống da Silva đã cho biết trong chuyến thăm Bắc Kinh vào năm 2009.

Trung Quốc đã và đang trở thành một đối tác thương mại lớn nhất của Brazil, Trung Quốc mua ngày càng tăng khối lượng đậu nành và quặng sắt, trong khi đầu tư hàng tỷ vào ngành năng lượng của Brazil. Nhu cầu buôn bán nầy đã và đang giúp một sự bùng nổ kinh tế ở đây đã nâng cuộc sống của hơn 20 triệu người Brazil ra khỏi nghèo khổ cùng cực và mang lại sự ổn định kinh tế cho một quốc gia đã quen với các cuộc khủng hoảng định kỳ. (1)

Tuy nhiên, một số chuyên gia cho rằng quan hệ đối tác đã phân cấp thành một mối quan hệ tân-thực-dân, trong đó Trung Quốc có lợi thế hơn.

 

Gần 84 phần trăm hàng xuất khẩu của Brazil sang Trung Quốc năm ngoái là nguyên liệu thô (quặng sắt, và đậu nành), tăng từ 68 phần trăm trong năm 2000.

 

Trái lại, khoảng 98 phần trăm hàng xuất khẩu của Trung Quốc tới Brazil là những sản phẩm đã chế tạo – bao gồm gần đây nhất là xe hơi giá thấp cho tầng lớp trung lưu mới nổi của Brazil – chuyện nầy đang đánh gục lãnh vực công nghiệp của Brazil.

“Mối quan hệ giữa 2 nước rất không cân bằng”, ông Rubens Ricupero, một cựu bộ trưởng tài chính và nhà ngoại giao người Brazil. “Có một sự thiếu thốn rõ ràng về chiến lược bên phía Brazil.”

Trong khi đến thăm Trung Quốc tháng trước, tổng thống mới của Brazil, bà Dilma Rousseff, nhấn mạnh sự cần thiết phải bán những sản phẩm có giá trị cao hơn cho Trung Quốc, và bà có giọng điệu gần gũi hơn với Hoa Kỳ. “Không phải là tình cờ mà hiện đang có một loạt nỗ lực để tái đánh giá lại mối quan hệ với Hoa Kỳ,” ông Paulo Sotero, giám đốc Viện Brazil tại Trung tâm Quốc tế Woodrow Wilson dành cho các Học giả.  “Trung Quốc đang phô bày ra những bất lực của Brazil hơn bất kỳ quốc gia nào trên thế giới.”

Người Trung Quốc chuyển sang mua đất đã làm cho những giới chức trong chính quyền Brazil lo lắng.

 

Cuối tháng Tám, Luís Inácio Adams, Bộ trưởng Tư Pháp của Brazil, tái giải thích lại  một đạo luật vào năm 1971, làm cho nó đặc biệt khó khăn hơn cho người nước ngoài mua đất đai tại Brazil.

 

Tổng thống Argentina, Cristina Fernández de Kirchner, đã đi theo bước chân của đạo luật nầy vào tháng trước, ông gởi một đạo luật tới cho Quốc hội để hạn chế kích thước đất và số lượng đất mà người nước ngoài có thể sở hữu ở nông thôn.

Bộ trưởng Tư Pháp của Brazil ôngAdams nói rằng quyết định của ông không phải là một kết quả trực tiếp của việc mua đất của Trung Quốc, nhưng ông lưu ý rằng “việc nắm lấy quyền sở hữu đất” lớn ở Châu Mỹ Latinh và châu Phi cận Sahara, bao gồm cả nỗ lực của Trung Quốc để cho thuê khoảng ba triệu mẫu Anh tại Philippines, đã cảnh báo các giới chức chính phủ Brazil.

“Không có gì ngăn chặn cho việc đầu tư khỏi xảy ra, nhưng việc đầu tư sẽ được quy định”, ông Adams nói.

Ngân hàng Thế giới WB nghiên cứu năm ngoái cho rằng, giá thực phẩm biến động đã mang lại một “làn sóng đang dâng lên” của việc mua đất nông nghiệp quy mô lớn ở các nước đang phát triển, và rằng Trung Quốc là một trong số vài ba nước mua đất nhiều nhất.

Theo ước tính người nước ngoài sở hữu 11% phần trăm đất sản xuất tại Argentina, theo Liên đoàn Nông nghiệp Argentina. Tại Brazil, một nghiên cứu ước của chính quyền đã ước tính rằng những người nước ngoài đang làm chủ khoảng 20 phần trăm đất đai của tiểu bang São Paulo  (tiểu bang nầy rộng 248 200 Km vuông)

Các nhà đầu tư quốc tế đã chỉ trích các hạn chế nầy. Ít nhất là $ 15 tỉ đô la trong các dự án nông nghiệp và lâm nghiệp tại Brazil đã bị đình chỉ kể từ khi có các giới hạn việc mua bán của chính phủ, theo Agroconsult, một hãng tư vấn nông nghiệp của người Brazil.

Ông Charles Tang, chủ tịch Phòng Thương mại Brazil-Trung Quốc, nói rằng “Việc thắt chặt các hợp đồng mua đất của người nước ngoài thực sự là một bước thụt lùi vào bên trong trạng thái tâm lý của thời đại Jurassic” (thời đại của khủng long, chim, chuột, cách đây 140 triệu năm), ông nói rằng các nông dân Mỹ đã mua nhiều lô đất khá lớn ở Brazil trong những năm gần đây, mà ít có phản ứng nào gây ồn ào hết.

Đáp ứng với những lời chỉ trích này, Bộ trưởng Nông nghiệp Brazil cho biết trong tháng này rằng Brazil có thể bắt đầu cho thuê đất nông nghiệp cho người nước ngoài, thiết lập các hàng rào ngăn cản đối với quyền sở hữu.

Ngay chính nước Trung Quốc cũng không cho phép quyền sở hữu tư nhân đất đai nông nghiệp, và Trung Quốc cảnh báo chính quyền địa phương các cấp của họ chống lại việc cho thuê đất trên quy mô lớn, và dài hạn cho các công ty trong một chỉ thị (của đảng Cộng Sản TQ) vào năm 2001.

Trung Quốc cũng cấm các công ty nước ngoài không được mua mỏ dầu và các mỏ khác.

Tuy nhiên, khi mà nhiều người dân Trung Quốc ngày càng ăn thịt nhiều hơn, Trung Quốc đang dự kiến ​​sẽ tăng nhập khẩu đậu nành (chủ yếu là dành để nuôi súc vật) vào khoảng hơn 50 phần trăm vào năm 2020, theo Hoa Kỳ Sở Nông nghiệp.

Tháng trước, Ngũ cốc Trùng Khánh đã ký một thỏa thuận $ 2,5 tỉ đô la để sản xuất đậu nành ở tiểu bang Bahia của Brazil.

Tháng Mười năm ngoái, một nhóm người Trung Quốc nhất trí phát triển khoảng 500.000 mẫu anh đất nông nghiệp ở tỉnh Río Negro thuộc nước Argentina.

Trong cả hai trường hợp, các quan chức Trung Quốc đề nghị mua những vùng rộng  đất đai rộng lớn trước khi các quan chức địa phương chỉ đạo cho họ (không có chuyện mua bán đất đai mà chỉ có) hướng tới việc ký các thỏa thuận sản xuất mà thôi.

“Chúng tôi sẽ không bao giờ bán đất”, ông Juan Manuel Accatino, Bộ trưởng Sản xuất của tỉnh Río Negro.

Brian Willott, một nông dân người Mỹ đến Brazil vào năm 2003, cho biết người Trung Quốc quan tâm đến việc mua các trang trại đã không giảm bớt. “Ở khắp mọi nơi bạn đi xem một trang trại người Brazil nói, ‘Chúng tôi đang xem xét bán cho người Trung Quốc,'” ông nói.

Trong tiểu bang Goiás, vào năm ngoái có gần 70 phần trăm đậu nành được trồng đã vào trong tay của người Trung Quốc, và người Trung Quốc đang tìm kiếm để sử dụng khoảng 20 triệu hecta đồng cỏ đã không được canh tác trong nhiều thập kỷ.

“Đối với họ, càng nhanh càng tốt”, Antônio de Lima, bộ trưởng nông nghiệp tỉnh Goiás đã phát biểu.

Nông dân ở đây nói rằng họ chia sẻ mục tiêu của các viên chức Trung Quốc về việc phá vỡ vòng vây của các công ty kinh doanh quốc tế như Cargill và Archer Daniels Midland (2 đại công ty của Mỹ đã được thành lập cách nay hơn 100 năm).

Nhưng Tân Lin, một nhà quản lý của một công ty Trung Quốc ở tỉnh Goiás, nói rằng ông nghi ngờ công ty Trung Quốc đã sẵn sàng để thay thế các đại công ty của Mỹ.

“Tôi không thấy rằng các công ty Trung Quốc làm việc ở đây có chuyên môn trong lãnh vực đó”, ông Tân nói. Nhưng “nếu bạn có thể làm điều đó, việc ấy là tốt, tất nhiên.”

Bài báo nầy đã có sự đóng góp của Myrna Domit từ São Paulo, Brazil, Charles Newbery từ Buenos Aires, David Barboza từ Thượng Hải và Keith Bradsher từ Hong Kong.

Bản dịch @2011  cuả Trần Hoàng

*Trong khi Brazil ở cách xa Trung Quốc hơn 14 ngàn km, mà chính phủ của họ biết sợ khi người  TQ đến  Brazil mua đất đai làm nông nghiệp.   Còn Bộ quốc phòng Việt  Nam không sợ hải gì Trung Quốc, trái lại đại công ty Becamax hay Tổng công  ty Thái Sơn trực thuộc Bộ Quốc Phòng Việt Nam lại  đang xây dựng  China Town ở Bình  Dương cho người Trung Quốc.

(1) (1) Brazil là một thuộc địa của Bồ Đào Nha từ năm 1500. Người Bồ đã đem nhiều người châu phi đến đây sinh sống và cày trên các ruộng đồng mênh mông và phì nhiêu ở Brazil. Sau một thời gian làm việc, những người da đen coi như đã trả hết tiền vé tàu thủy từ Phi Châu tới đây lập nghiệp và họ được trả tự do. Ngày nay, có đến hơn 80 triệu người gốc Phi Châu (tây đen) hiện đang ở nơi Brazil. Người Bồ Đào Nha đã từng chiêu mộ hơn 8 triệu người da trắng châu âu đến đây lập nghiệp, và số người nầy sống với người da đen và tạo ra một nhóm người có da sáng hơn.

China’s Interest in Farmland Makes Brazil Uneasy

Daniel Kfouri for The New York Times

A farmer working in his soybean field in Uruaçu, Brazil. Demand for soybeans in China has brought Chinese investors here.

By
Published: May 26, 2011

URUAÇU, Brazil — When the Chinese came looking for more soybeans here last year, they inquired about buying land — lots of it.

Officials in this farming area would not sell the hundreds of thousands of acres needed. Undeterred, the Chinese pursued a different strategy: providing credit to farmers and potentially tripling the soybeans grown here to feed chickens and hogs back in China.

“They need the soy more than anyone,” said Edimilson Santana, a farmer in the small town of Uruaçu. “This could be a new beginning for farmers here.”

The $7 billion agreement signed last month — to produce six million tons of soybeans a year — is one of several struck in recent weeks as China hurries to shore up its food security and offset its growing reliance on crops from the United States by pursuing vast tracts of Latin America’s agricultural heartland.

Even as Brazil, Argentina and other nations move to impose limits on farmland purchases by foreigners, the Chinese are seeking to more directly control production themselves, taking their nation’s fervor for agricultural self-sufficiency overseas.

“They are moving in,” said Carlo Lovatelli, president of the Brazilian Association of Vegetable Oil Industries. “They are looking for land, looking for reliable partners. But what they would like to do is run the show alone.”

While many welcome the investments, the aggressive push comes as Brazilian officials have begun questioning the “strategic partnership” with China encouraged by former President Luiz Inácio Lula da Silva. The Chinese have become so important to Brazil’s economy that it cannot do without them — and that is precisely what is making Brazil increasingly uneasy.

“One thing the world can be sure of: there is no going back,” Mr. da Silva said while visiting Beijing in 2009.

China has become Brazil’s biggest trading partner, buying ever increasing volumes of soybeans and iron ore, while investing billions in Brazil’s energy sector. The demand has helped fuel an economic boom here that has lifted more than 20 million Brazilians from extreme poverty and brought economic stability to a country accustomed to periodic crises.

Yet some experts say the partnership has devolved into a classic neo-colonial relationship in which China has the upper hand. Nearly 84 percent of Brazil’s exports to China last year were raw materials, up from 68 percent in 2000. But about 98 percent of China’s exports to Brazil are manufactured products — including the latest, low-priced cars for Brazil’s emerging middle class — that are beating down Brazil’s industrial sector.

“The relationship has been very unbalanced,” said Rubens Ricupero, a former Brazilian diplomat and finance minister. “There has been a clear lack of strategy on the Brazilian side.”

While visiting China last month, Brazil’s new president, Dilma Rousseff, emphasized the need to sell higher-value products to China, and she has edged closer to the United States. “It is not by accident that there is a sort of effort to revalue the relationship with the United States,” said Paulo Sotero, director of the Brazil Institute at the Woodrow Wilson International Center for Scholars. “China exposes Brazil’s vulnerabilities more than any other country in the world.”

China’s moves to buy land have made officials nervous. Last August, Luís Inácio Adams, Brazil’s attorney general, reinterpreted a 1971 law, making it significantly harder for foreigners to buy land in Brazil. Argentina’s president, Cristina Fernández de Kirchner, followed suit last month, sending a law to Congress limiting the size and concentration of rural land foreigners could own.

Mr. Adams said his decision was not a direct result of land-buying by China, but he noted that huge “land grabs” in Latin America and sub-Saharan Africa, including China’s attempt to lease about three million acres in the Philippines, had alarmed Brazilian officials.

“Nothing is preventing investment from happening, but it will be regulated,” Mr. Adams said.

A World Bank study last year said that volatile food prices had brought a “rising tide” of large-scale farmland purchases in developing nations, and that China was among a small group of countries making most of the purchases.

Foreigners own an estimated 11 percent of productive land in Argentina, according to the Argentine Agriculture Federation. In Brazil, one government study estimated that foreigners owned land equivalent to about 20 percent of São Paulo State.

International investors have criticized the restrictions. At least $15 billion in farming and forestry projects in Brazil have been suspended since the government’s limits, according to Agroconsult, a Brazilian agricultural consultancy.

“The tightening of land purchases by foreigners is really a step backwards into a Jurassic mentality of counterproductive nationalism,” said Charles Tang, president of the Brazil-China Chamber of Commerce, saying that American farmers had bought sizable plots in Brazil in recent years, with little uproar.

Responding to the criticism, Brazil’s agriculture minister said this month that Brazil might start leasing farmland to foreigners, given the barriers to ownership.

China itself does not allow private ownership of farmland, and it cautioned local governments against granting large-scale or long-term leases to companies in a 2001 directive. China also bans foreign companies from buying mines and oil fields.

But as more of its people eat meat, China is expected to increase its soybean imports, mostly for animal feed, by more than 50 percent by 2020, according to the United States Department of Agriculture. Last month, Chongqing Grains signed a $2.5 billion agreement to produce soybeans in the Brazilian state of Bahia. Last October, a Chinese group agreed to develop about 500,000 acres of farmland in Río Negro Province in Argentina.

In both cases, Chinese officials proposed buying large tracts of land before local officials steered them toward production agreements.

“We are never going to sell the land,” said Juan Manuel Accatino, the minister of production in Río Negro.

Brian Willott, an American farmer who came to Brazil in 2003, said Chinese interest in buying farms had not abated. “Everywhere you go to look at a farm they say, ‘We are considering selling to the Chinese,’ ” he said.

In Goiás State, nearly 70 percent of the soy grown went to the Chinese last year, and the Chinese are seeking to use about 20 million acres of pastureland that has not been cultivated for decades.

“For them, the faster the better,” said Antônio de Lima, Goiás’ agriculture minister.

Farmers here say they share Chinese officials’ goal of breaking the stranglehold of international trading companies like Cargill and Archer Daniels Midland.

But Tan Lin, a manager at the Chinese company involved in Goiás, said he doubted Chinese companies were ready to replace them.

“I don’t see that the Chinese companies working here have that expertise yet,” Mr. Tan said. But “if you can do that, it is good, of course.”

Reporting was contributed by Myrna Domit from São Paulo, Brazil, Charles Newbery from Buenos Aires, David Barboza from Shanghai and Keith Bradsher from Hong Kong.

nguồn

URUAÇU, Brazil – Khi người Trung Quốc đến Brazil để tìm kiếm mua đậu nành ở đây vào năm ngoái, họ đã hỏi han về việc mua đất – rất nhiều người TQ hỏi về chuyện mua đất.

Các giới chức chính quyền trong khu vực nông nghiệp sẽ không bán hàng trăm ngàn mẫu đất mà người TQ đang cần mua.

 

Không nao núng, người Trung Quốc theo đuổi một chiến lược khác: cho nông dân Brazil mượn tiền và yêu cầu họ tăng gấp ba lần trồng đậu nành ở đây để thương lái TQ mua đậu nành và chở về bên TQ để nuôi gà và heo.

“Họ cần đậu nành nhiều hơn bất cứ nước nào hết”, ông Edimilson Santana, một nông dân ở thị trấn nhỏ của Uruaçu. “Đây có thể là một khởi đầu mới cho người nông dân ở nơi đây.”

Các thỏa thuận $ 7 tỉ đô la ký vào tháng trước – để sản xuất 6 triệu tấn đậu nành một năm – là một trong số nhiều cú đòn trong những tuần gần đây khi Trung Quốc đang vội vã hỗ trợ giữ an ninh lương thực của họ và sửa đổi lại (nhằm tránh) sự phụ thuộc ngày càng tăng trên các cây trồng từ Hoa Kỳ bằng cách theo đuổi những vùng rộng lớn của vùng đất trung tâm nông nghiệp của Châu Mỹ La tinh.

Ngay cả như Brazil, Argentina và các nước khác đang thay đổi để áp đặt những giới hạn về mua đất nông nghiệp do người nước ngoài, người Trung Quốc đang tìm cách để tự họ kiểm soát trực tiếp việc sản xuất hơn bao giờ hết, lấy tính nhiệt tình của họ dành cho tự túc nông nghiệp ở nước ngoài.

“Người Trung Quốc đang di chuyển vào đây sống”, ông Carlo Lovatelli, chủ tịch của Hiệp hội người Brazil của ngành Công nghiệp Dầu Thực Vật. “Họ đang tìm kiếm đất đai, tìm kiếm đối tác đáng tin cậy. Nhưng điều mà họ muốn nhất là thích tự mình điều hành công việc. ”

Trong lúc nhiều người nông dân Brazil chào đón các những món tiền đầu tư của người Trung Quốc, và trong khi nổ lực mạnh mẽ nầy đang xẩy ra thì các quan chức Brazil đã bắt đầu đặt câu hỏi về “quan hệ đối tác chiến lược” với Trung Quốc đã từng được khuyến khích của cựu Tổng thống Luiz Inácio Lula da Silva.

 

Người Trung Quốc đã và đang trở nên quan trọng đối với nền kinh tế của Brazil đến nổi rằng Brazi không thể làm gì mà không có Trung Quốc – và đó là chính xác những gì đang làm cho Brazil ngày càng khó chịu.

“Một điều mà thế giới có thể tin chắc là: không thể nào quay trở lại được,” Cựu Tổng thống da Silva đã cho biết trong chuyến thăm Bắc Kinh vào năm 2009.

Trung Quốc đã và đang trở thành một đối tác thương mại lớn nhất của Brazil, Trung Quốc mua ngày càng tăng khối lượng đậu nành và quặng sắt, trong khi đầu tư hàng tỷ vào ngành năng lượng của Brazil. Nhu cầu buôn bán nầy đã và đang giúp một sự bùng nổ kinh tế ở đây đã nâng cuộc sống của hơn 20 triệu người Brazil ra khỏi nghèo khổ cùng cực và mang lại sự ổn định kinh tế cho một quốc gia đã quen với các cuộc khủng hoảng định kỳ. (1)

Tuy nhiên, một số chuyên gia cho rằng quan hệ đối tác đã phân cấp thành một mối quan hệ tân-thực-dân, trong đó Trung Quốc có lợi thế hơn.

 

Gần 84 phần trăm hàng xuất khẩu của Brazil sang Trung Quốc năm ngoái là nguyên liệu thô (quặng sắt, và đậu nành), tăng từ 68 phần trăm trong năm 2000.

 

Trái lại, khoảng 98 phần trăm hàng xuất khẩu của Trung Quốc tới Brazil là những sản phẩm đã chế tạo – bao gồm gần đây nhất là xe hơi giá thấp cho tầng lớp trung lưu mới nổi của Brazil – chuyện nầy đang đánh gục lãnh vực công nghiệp của Brazil.

“Mối quan hệ giữa 2 nước rất không cân bằng”, ông Rubens Ricupero, một cựu bộ trưởng tài chính và nhà ngoại giao người Brazil. “Có một sự thiếu thốn rõ ràng về chiến lược bên phía Brazil.”

Trong khi đến thăm Trung Quốc tháng trước, tổng thống mới của Brazil, bà Dilma Rousseff, nhấn mạnh sự cần thiết phải bán những sản phẩm có giá trị cao hơn cho Trung Quốc, và bà có giọng điệu gần gũi hơn với Hoa Kỳ. “Không phải là tình cờ mà hiện đang có một loạt nỗ lực để tái đánh giá lại mối quan hệ với Hoa Kỳ,” ông Paulo Sotero, giám đốc Viện Brazil tại Trung tâm Quốc tế Woodrow Wilson dành cho các Học giả.  “Trung Quốc đang phô bày ra những bất lực của Brazil hơn bất kỳ quốc gia nào trên thế giới.”

Người Trung Quốc chuyển sang mua đất đã làm cho những giới chức trong chính quyền Brazil lo lắng.

 

Cuối tháng Tám, Luís Inácio Adams, Bộ trưởng Tư Pháp của Brazil, tái giải thích lại  một đạo luật vào năm 1971, làm cho nó đặc biệt khó khăn hơn cho người nước ngoài mua đất đai tại Brazil.

 

Tổng thống Argentina, Cristina Fernández de Kirchner, đã đi theo bước chân của đạo luật nầy vào tháng trước, ông gởi một đạo luật tới cho Quốc hội để hạn chế kích thước đất và số lượng đất mà người nước ngoài có thể sở hữu ở nông thôn.

Bộ trưởng Tư Pháp của Brazil ôngAdams nói rằng quyết định của ông không phải là một kết quả trực tiếp của việc mua đất của Trung Quốc, nhưng ông lưu ý rằng “việc nắm lấy quyền sở hữu đất” lớn ở Châu Mỹ Latinh và châu Phi cận Sahara, bao gồm cả nỗ lực của Trung Quốc để cho thuê khoảng ba triệu mẫu Anh tại Philippines, đã cảnh báo các giới chức chính phủ Brazil.

“Không có gì ngăn chặn cho việc đầu tư khỏi xảy ra, nhưng việc đầu tư sẽ được quy định”, ông Adams nói.

Ngân hàng Thế giới WB nghiên cứu năm ngoái cho rằng, giá thực phẩm biến động đã mang lại một “làn sóng đang dâng lên” của việc mua đất nông nghiệp quy mô lớn ở các nước đang phát triển, và rằng Trung Quốc là một trong số vài ba nước mua đất nhiều nhất.

Theo ước tính người nước ngoài sở hữu 11% phần trăm đất sản xuất tại Argentina, theo Liên đoàn Nông nghiệp Argentina. Tại Brazil, một nghiên cứu ước của chính quyền đã ước tính rằng những người nước ngoài đang làm chủ khoảng 20 phần trăm đất đai của tiểu bang São Paulo  (tiểu bang nầy rộng 248 200 Km vuông)

Các nhà đầu tư quốc tế đã chỉ trích các hạn chế nầy. Ít nhất là $ 15 tỉ đô la trong các dự án nông nghiệp và lâm nghiệp tại Brazil đã bị đình chỉ kể từ khi có các giới hạn việc mua bán của chính phủ, theo Agroconsult, một hãng tư vấn nông nghiệp của người Brazil.

Ông Charles Tang, chủ tịch Phòng Thương mại Brazil-Trung Quốc, nói rằng “Việc thắt chặt các hợp đồng mua đất của người nước ngoài thực sự là một bước thụt lùi vào bên trong trạng thái tâm lý của thời đại Jurassic” (thời đại của khủng long, chim, chuột, cách đây 140 triệu năm), ông nói rằng các nông dân Mỹ đã mua nhiều lô đất khá lớn ở Brazil trong những năm gần đây, mà ít có phản ứng nào gây ồn ào hết.

Đáp ứng với những lời chỉ trích này, Bộ trưởng Nông nghiệp Brazil cho biết trong tháng này rằng Brazil có thể bắt đầu cho thuê đất nông nghiệp cho người nước ngoài, thiết lập các hàng rào ngăn cản đối với quyền sở hữu.

Ngay chính nước Trung Quốc cũng không cho phép quyền sở hữu tư nhân đất đai nông nghiệp, và Trung Quốc cảnh báo chính quyền địa phương các cấp của họ chống lại việc cho thuê đất trên quy mô lớn, và dài hạn cho các công ty trong một chỉ thị (của đảng Cộng Sản TQ) vào năm 2001.

 

Trung Quốc cũng cấm các công ty nước ngoài không được mua mỏ dầu và các mỏ khác.

Tuy nhiên, khi mà nhiều người dân Trung Quốc ngày càng ăn thịt nhiều hơn, Trung Quốc đang dự kiến ​​sẽ tăng nhập khẩu đậu nành (chủ yếu là dành để nuôi súc vật) vào khoảng hơn 50 phần trăm vào năm 2020, theo Hoa Kỳ Sở Nông nghiệp.

 

Tháng trước, Ngũ cốc Trùng Khánh đã ký một thỏa thuận $ 2,5 tỉ đô la để sản xuất đậu nành ở tiểu bang Bahia của Brazil.

 

Tháng Mười năm ngoái, một nhóm người Trung Quốc nhất trí phát triển khoảng 500.000 mẫu anh đất nông nghiệp ở tỉnh Río Negro thuộc nước Argentina.

Trong cả hai trường hợp, các quan chức Trung Quốc đề nghị mua những vùng rộng  đất đai rộng lớn trước khi các quan chức địa phương chỉ đạo cho họ (không có chuyện mua bán đất đai mà chỉ có) hướng tới việc ký các thỏa thuận sản xuất mà thôi.

“Chúng tôi sẽ không bao giờ bán đất”, ông Juan Manuel Accatino, Bộ trưởng Sản xuất của tỉnh Río Negro.

Brian Willott, một nông dân người Mỹ đến Brazil vào năm 2003, cho biết người Trung Quốc quan tâm đến việc mua các trang trại đã không giảm bớt. “Ở khắp mọi nơi bạn đi xem một trang trại người Brazil nói, ‘Chúng tôi đang xem xét bán cho người Trung Quốc,'” ông nói.

Trong tiểu bang Goiás, vào năm ngoái có gần 70 phần trăm đậu nành được trồng đã vào trong tay của người Trung Quốc, và người Trung Quốc đang tìm kiếm để sử dụng khoảng 20 triệu hecta đồng cỏ đã không được canh tác trong nhiều thập kỷ.

“Đối với họ, càng nhanh càng tốt”, Antônio de Lima, bộ trưởng nông nghiệp tỉnh Goiás đã phát biểu.

Nông dân ở đây nói rằng họ chia sẻ mục tiêu của các viên chức Trung Quốc về việc phá vỡ vòng vây của các công ty kinh doanh quốc tế như Cargill và Archer Daniels Midland (2 đại công ty của Mỹ đã được thành lập cách nay hơn 100 năm).

Nhưng Tân Lin, một nhà quản lý của một công ty Trung Quốc ở tỉnh Goiás, nói rằng ông nghi ngờ công ty Trung Quốc đã sẵn sàng để thay thế các đại công ty của Mỹ.

“Tôi không thấy rằng các công ty Trung Quốc làm việc ở đây có chuyên môn trong lãnh vực đó”, ông Tân nói. Nhưng “nếu bạn có thể làm điều đó, việc ấy là tốt, tất nhiên.”

Bài báo nầy đã có sự đóng góp của Myrna Domit từ São Paulo, Brazil, Charles Newbery từ Buenos Aires, David Barboza từ Thượng Hải và Keith Bradsher từ Hong Kong.

Posted in Ở Châu Mỹ | Leave a Comment »

►Bình Dương: ĐÔNG ĐÔ ĐẠI PHỐ “CHINA TOWN” do Công Ty của Bộ Quốc Phòng Việt Nam xây dựng tại Thành Phố Mới BÌNH DƯƠNG

Posted by hoangtran204 trên 25/05/2011

Lời tựa của Trần Hoàng:

Ngày 6-4-2008, ký giả DENIS D. GRAY, thông tấn xã AP, đã viết bài  “Lào Lo Sợ Bước Chân của Trung Quốc” Ông tường thuật chi tiết về nổi lo sợ của người Lào đối với dự án xây dựng Thành Phố Mới hay khu phố Tàu hay China Town ở ngay thủ đô Vạn Tượng. Dân chúng Lào chống đối và kết quả chính phủ Lào đã hủy bỏ dự án nầy. Bài báo nầy được copy và post ở cuối bài nầy.

Tháng 4-2011, Thành Phố Mới Đông Đô Đại Phố hay China Town ở tỉnh Bình  Dương đã lên dự án và được xây dựng bởi Tổng  công ty Thái  Sơn, thuộc Bộ Quốc Phòng của Việt Nam.

BECAMEX IJC hay TỔNG CÔNG TY THÁI SƠN – BỘ QUỐC PHÒNG.

Hãy nhìn kỹ kiến trúc trang hoàng trên bản vẽ dưới đây sẽ thấy ngay kiến trúc TQ: các chữ Tàu, lồng đèn, và đoàn múa lân; thêm vào đó Chùa Bà Thiên Hậu là một chùa Tàu.

Mới ngày nào đó 2 bộ quốc phòng TQ và VN đưa quân đội đánh nhau trối chết, quân lính hai bên tổn thất hơn 200 ngàn người chết, hàng trăm ngàn người bị thương trong cuộc chiến 1979, 1988, 1991. Nay thì thằng em (Bộ Quốc Phòng của VN) đi xây China Town cho Trung Quốc; mối tình hữu nghị như thế cũng hữu hảo.

Tỉnh Bình Dương là nơi có người nói tiếng Hoa rất đông đảo. Họ là dân Trung Quốc hay Đài  Loan thì người Việt Nam cũng không phân biệt được. Nhưng khi có vụ chìm tàu ở Bình Dương ngày 20-5-2011,  “tổng cộng 16 người đã chết, trong đó có 4 người nước ngoài, toàn bộ đều mang quốc tịch Trung Quốc“. Tổng lãnh sự Trung Quốc có mặt ngay tại hiện trường và “Ngay sau khi tai nạn xảy ra, toàn bộ lãnh đạo của tỉnh Bình Dương có mặt kịp thời để chỉ đạo công tác cứu hộ, cứu nạn.

Ngành chức năng Bình Dương đã phong tỏa toàn bộ hiện trường và huy động toàn lực lượng hàng trăm người để khẩn trương cứu nạn.”  Hai sự kiện được trích dẫn trên báo cho ta thấy: thân thế của các nhân vật Trung Quốc bị tai nạn nầy chắc không phải là nhỏ.

Sự xuất hiện của Khu Phố Đông Đô ở Bình Dương là một điều đáng chú ý. Từ Kampuchea qua Chơn Thành, An Lộc và theo quốc lộ 13 về Sài Gòn chỉ có 8 giờ đồng hồ. Kampuchea thì đã lọt vào tay Trung Quốc rồi, hơn 3000 doanh nghiệp Trung Quốc đã có mặt ở đó từ năm 2008, và có trên 700 000 người Trung Quốc đã di cư vào ở đấy kể từ 1992. Không ai biết họ là thường dân hay quân đội Trung Quốc trá hình đang nằm chờ đợi thời cơ thích hợp.

Bị bao vây dí vào sườn như thế nầy là chí nguy. Quân đội miền Bắc VN đánh vào Sài  Gòn cũng dùng mũi tấn công theo hướng nầy và đã dẫn đến ngày 30-4-1975.

Trước đó, bộ đội miền Bắc VN cũng đã tấn công vào  An Lộc và Chơn ThànhChiến trường An Lộc 1972 , nhưng họ đã thất bại hoàn toàn. Bộ đội học cái gương của người  pháp vì người Pháp cũng nắm giữ Bình  Dương từ hồi 1920-1930 và trồng cao su ở đó. Bình Dương là một vị trí chiến lược rất quan trọng. Đạo quân nào nắm được Bình Dương thì nắm được Sài Gòn.

 

Bình Dương sắp có ‘China town’

Monday, May 23, 2011

BÌNH DƯƠNG (NLÐ) – Không nói chừng nào sẽ hoàn thành nhưng công trình xây dựng một ‘China town’ đầu tiên của Việt Nam đã được khởi công sáng 22 tháng 5 tại tỉnh Bình Dương.

Báo Người Lao Ðộng cho biết công trình này là một trung tâm thương mại có tên Ðông Ðô được xây dựng tại thành phố Bình Dương trên một diện tích hơn 8,000 m2, cao 3 tầng, “mang đậm nét kiến trúc truyền thống của người Hoa”.

Cũng theo báo Người Lao Ðộng, Trung Tâm Thương Mại Ðông Ðô là trung tâm điểm của dự án “Ðông Ðô Ðại Phố” – khu thương mại đầu tiên dành cho người Hoa tại Bình Dương, rộng 26 ha với tổng vốn đầu tư lên hơn 6,000 tỉ đồng, tương đương 300 triệu đô la Mỹ.

Mặc dù chưa xác định chừng nào thì công trình xây dựng hoàn thành nhưng nguồn tin này nói trước rằng Ðông Ðô Ðại Phố sẽ là “khu thương mại phồn thịnh và sung túc nhất của thành phố Bình Dương và là cầu nối thương mại giữa tỉnh Bình Dương và thế giới”.

Lâu nay, Chợ Lớn được coi là vùng đất qui tụ đông đảo người Việt gốc Hoa đến sinh sống, làm ăn từ trước năm 1975. Sau cuộc chiến tranh giữa Trung Quốc và Việt Nam hồi năm 1979 tạo ra một thảm cảnh “nạn kiều – bài Hoa” và các chiến dịch “bài trừ tư sản mại bản” của chế độ Cộng Sản Việt Nam đã đẩy hàng vạn người Hoa cùng với người Việt ào ạt xuống tàu vượt biên.

Gần đây, người Hoa từ Trung Quốc tràn xuống Việt Nam làm ăn sinh sống ngày một đông dần. Người ta ước tính tại tỉnh Bình Dương hiện có khoảng 120,000 “người Hoa mới” đến làm ăn sinh sống, đông nhất là vùng Lái Thiêu, thị xã Thuận An, thị xã Thủ Dầu Một, Tân Uyên… (P.L.)

nguồn

—— 

Nguồn

Thành phố mới Bình Dương – Thành phố mới Bình Dương – Thành Phố mới Bình Dương – Thành phố mới Bình Dương

—————————————————————–

DỰ ÁN MỚI SẮP CÔNG BỐ

KHU THƯƠNG MẠI ĐÔNG ĐÔ ĐẠI PHỐ

 “CHINA TOWN”

PHỐ NGƯỜI HOA TẠI TRUNG TÂM TP MỚI BÌNH DƯƠNG

TÂM ĐIỂM THU HÚT ĐẦU TƯ TẠI THÀNH PHỐ MỚI BÌNH DƯƠNG

Chủ đầu tư : BECAMEX IJC

DỰ ÁN HOT ĐÔNG ĐÔ ĐẠI PHỐ – KHU CHỢ LỚN MỚI ĐỐI DIỆN CHÙA BÀ TẠI TP MỚI BÌNH DƯƠNG – GIÁ GỐC BECAMEX TRẢ GÓP 5 NĂM KHÔNG LÃI SUẤT

THÀNH PHỐ MỚI BÌNH DƯƠNG NĂM 2015 ( NHẤN VÀO XEM CLIP)

THÔNG TIN DỰ ÁN (NHẤN VÀO ĐÂY ĐỂ XEM)

Đông Đô Đại Phố

image008.jpg

image010.jpg

TIỆN ÍCH XÃ HỘI : 

 CHÙA BÀ THIÊN HẬU:

 


Chùa Bà được xây dựng gần trung tâm văn hoá thuộc Thành Phố Mới Bình Dương, có diện tích gấp 3 lần chùa Bà ở tại Thị Xã Thủ Dầu Một. Chùa Bà Thiên Hậu Thánh Mẫu sẽ đáp ứng được nhu cầu văn hóa tín ngưỡng ngày càng cao của nhân dân, xứng đáng với tầm vóc hiện đại của Thành Phố Mới Bình Dương.


Sau lễ động thổ xây dựng trung tâm Hành Chính – Chính Trị cuối năm ngoái, lễ động thổ xây dựng chùa Bà vào dịp đầu xuân năm 2011 làm cho đất dự án nóng lên. Sự kiện này tạo ra sức mua mới, nhà đầu tư tin tưởng vào một thành phố hiện đại bậc nhất sớm được hoàn thiện. Là một bước đột phá về cải cách hành chánh của nước ta.

Từ Dự Án Đông Đô Đại Phố đến các tiện ích trên chưa đến 5 phút

 

VUI LÒNG LIÊN HỆ ĐỂ BIẾT THÔNG TIN CHI TIẾT :

BECAMEX IJC

TỔNG CÔNG TY THÁI SƠN – BỘ QUỐC PHÒNG

CTY BĐS AN CƯ LẠC NGHIỆP

HOT LINE : 0933.2111.68

                   0906.611.369

Nguồn

http://www.vatgia.com/raovat/2590/3063777/du-an-dong-do-dai-pho-khu-pho-thuong-mai-chinh-thuc-nhan-dat-cho-|-mua-ban-nha.html

http://vneconomy.vn/2010042208386179p0c17/binh-duong-se-co-thanh-pho-moi.htm

——————-

Xây khu đô thị dành riêng cho người Hoa

Xây trung tâm thương mại dành cho người Hoa

Sáng 22-5, Công ty Becamex IJC đã khởi công xây dựng trung tâm thương mại Đông Đô tại TP mới Bình Dương (tỉnh Bình Dương) trên diện tích 8.146 m2.
Trung tâm có 3 mặt tiền giáp với đường lớn rộng 35 m, cao 3 tầng được thiết kế hài hòa giữa phong cách hiện đại và mang đậm nét kiến trúc truyền thống của người Hoa.

Trung tâm Thương mại Đông Đô là tâm điểm nổi bật của dự án Đông Đô Đại Phố – khu đô thị thương mại đầu tiên dành cho người Hoa tại TP mới Bình Dương được xây dựng trên tổng diện tích 26 ha với tổng vốn đầu tư hơn 6.000 tỉ đồng. Sau khi hoàn thành, Đông Đô Đại Phố sẽ là khu thương mại phồn thịnh và sung túc nhất TP mới Bình Dương, là cầu nối thương mại giữa Bình Dương và quốc tế.

http://landtoday.net/vn/tintuc/29002…inh-duong.aspx

Đông Đô Đại Phố Vị trí: TP mới Bình Dương, Thủ Dầu Một, Bình Dương

Đông Đô Đại Phố, khu trung tâm thương mại sầm uất bậc nhất dành cho Hoa kiều giữa lòng thành phố mới Bình Dương, một thiên đường mua sắm, giải trí và ẩm thực đặc sắc, góp phần tạo dựng và gìn giữ vẻ đẹp văn hóa đa sắc màu của dân tộc Việt Nam cho thế hệ mai sau.

—————-

Bài dưới đây do tác giả By DENIS D. GRAY, Associated Press Writer đưa lên báo ngày 6 tháng 4, 2008

Trần Hoàng dịch và post vào 6-4-2008 trên blog 360 Yahoo.

Lào Lo Sợ Vết Chân của Trung Quốc

By DENIS D. GRAY, Associated Press Writer

Chủ Nhật 6 tháng 4, 2008

Vạn Tượng, Lào – Một thành phố Trung quốc hiện đại đang nổi lên kế bên thủ đô uể oải của nước Lào đang bùng lên những nổi lo sợ rằng nước láng giềng vỉ đại phía bắc của Lào đang nuốt dần dần quốc gia nhỏ bé nầy.

Những người Lào hoảng hốt quá đến nổi chính quyền của đảng cộng sản Lào (một chính quyền hiếm khi nào cắt nghĩa việc làm của họ với dân chúng) buộc lòng phải lên tiếng giải thích hành động của họ với công luận; Chiến dịch cắt nghĩa cho quần chúng về hành động của chính phủ là một chuyện chưa từng xẩy ra từ trước.

“Thị trấn của người Trung quốc” (ở giữa thủ đô nước Lào) là một đề tài nóng hổi trong các câu chuyện kèm theo những lời đồn đại, phần lớn những câu chuyện nầy đã xen lẫn với những lo ngại và giận dữ mà chế độ cộng sản Lào đã bưng bít, che dấu, giữ bí mật không cho dân chúng biết một thỏa thuận thuộc vào hàng quan trọng nhất.

Nhiều viên chức của chính phủ Lào và những tổ chức của các quốc gia đang hoạt dộng ở Lào đang bàn tán ầm ỉ về chuyện nầy thì được chính phủ Lào nhắc nhở cho họ biết đây là một ” Dự án Phát triển Thành phố Mới” chứ không phải là “thị trấn của người Trung quốc”

Phó thủ tướng Lào Somsavat Lengsavad nhấn mạnh cuộc hợp tác với Trung quốc không để lại những đe dọa. ” Điều này là bình thường. Hầu hết nước nào trên thế giới cũng có một thi trấn của người Trung quốc, thế thì tại sao Lào lại không nên có một thị trấn như thế?” Ông ta nói với những phóng viên người Lào.

Theo hình ảnh được ghi nhận từ một nghệ sĩ làm việc trong báo của chính phủ, dự án thành phố mới nầy sẽ có cao ốc cao chọc trời giống như khu Manhattan ở New York. Vẫn chưa có văn kiện nào nói rằng có bao nhiêu người Trung quốc sẽ sống ở trong thành phố nầy. Con số 50 ngàn gia đình người Trung Quốc sẽ đến sinh sống trong thành phố mới được mọi người suy đoán rộng rãi, nhưng phó thủ tướng Lào Somsavat phủ nhận không có chuyện đồng ý trước là sẽ có bao nhiêu người Hoa kiều sẽ đến đây sinh sống.

Ý tưởng về 50 ngàn người Trung quốc đến sống trong một thành phố có 460 ngàn người Lào là một yếu tố làm người Lào không an tâm và thoải mái. Thêm vào đấy là yếu tố vị trí: thành phố mới sẽ được xây dựng trên đầm lầy That Luang, đầm lầy nầy nằm kế bên một vùng di tích lịch sử (Parliament monument có từ thế kỷ 15) tượng trưng cho chủ quyền của quốc gia và vùng đầm lầy nầy cũng là một vùng sinh thái quan trọng (cho động vật và thực vật trong tự nhiên.)

Hiện nay là lúc mà Trung quốc đang nhanh chóng trở thành quốc gia có quyền lực về chính trị và kinh tế hàng đầu ở Lào. Khi những di dân người Hoa, với túi tiền đầy ắp, và phong tục tập quán của họ vượt tràn qua miền biên giới (giữa Lào và Trung quốc), thì những miền đất phía Bắc của Lào hiện nay đang bắt đầu trở thành giống như một tỉnh lỵ của Trung quốc.

Theo phó Thủ tướng Lào Somsavat (một người Lào gốc Trung quốc), một công ty Trung quốc đã có được hợp đồng mướn đất dài hạn 50 năm (có thể tái ký kết) để biến 4000 mẫu tây “ruộng lúa thành một thành phố hiện đại”, mục đích là kích thích bầu không khí đầu tư và doanh nghiệp của một trong những quốc gia nghèo nhất thế giới
(4000 acres = 16 triệu 200 ngàn mét vuông = 16 km vuông =1 miếng đất chiều dài 8 cây số và chiều rộng 2 km- lời người dịch TH)

Somsavat, một người Lào gốc Trung quốc với nhiều liên hệ gần gủi với nhà cầm quyền Bắc kinh đã cắt nghĩa chuyện làm ăn nầy như sau, khi Lào thiếu những món tiền để xây dựng một sân vận động cho Đông Nam Á vận hội mà quốc gia này sẽ đăng cai tổ chức vào năm 2009, Lào đã liên lạc với Ngân hàng Phát triển Trung quốc. Ngân hàng này đề nghị cho một công ty Trung quốc, tên là Suzhou Industrial Park Overseas Investment Co, mượn tiền để xây dựng sân vận động, và đổi lại, chính quyền Lào phải cho ngân hàng phát triển Trung quốc thuê mướn miếng đất nói trên.

Hợp đồng nầy đã được ký kết vào tháng 9 – 2007, theo như nguồn tin hành chánh, mà dân chúng Lào không hề hay biết trước gì hết. Khi báo chí liên lạc với công ty này ở Suzhou, công ty này từ chối không trả lời các câu hỏi.

Tại một cuộc họp báo, Thị trưởng thủ đô Vạn tượng Sinlavong Khoutpahythoune nói rằng có 3 công ty người Trung quốc làm việc trong dự án nầy.

Ngay cả những cán bộ cách mạng lão thành của Lào cũng lên tiếng chỉ trích, họ nói rằng họ đã chiến đấu để không cho Mỹ và các quốc gia khác vào đóng quân ở Lào suốt chiến tranh Việt nam (1954-1975) và bây giờ họ đang nhìn thấy chính quyền Lào mở rộng cửa cho những quốc gia ngoại quốc đến đây (ám chỉ Trung quốc và Việt nam).

“Người Lào không có cá tính mạnh mẻ , vì thế họ sợ rằng những người Trung quốc sẽ đến ở và rồi sẽ và gia tăng dân số và biến quốc gia của chúng tôi thành nước Trung quốc,” ông Sithong Khamvong nói thế, ông là một người dân thuộc giới trung lưu của thủ đô Vạn tượng và cũng là cựu đảng viên đảng cộng sản Lào.Chưa có văn bản hành chánh nào nói rõ là những người Trung Quốc phải hội đủ điều kiện nào mới được cho phép để định cư trong vùng ngoại ô của phố Tàu. Theo một đánh giá không chính thức, hơn 300,000 người Trung quốc đang sống ở Lào, nhưng con số thật sự thì không thể nào biết được vì nhiều người Tàu đã làm giấy tờ giả giống như họ đang dùng các loại giấy giả nầy để sống trong các nước láng giềng vùng Đông nam Á châu, Miến điện. Vùng đất phía bắc của quốc qia Miến điện nay đầy rẫy những biểu tượng về văn hóa, kiến trúc, và ngôn ngữ của Trung quốc (và thực tế đã trở thành một vùng đất của người Trung quốc.)Cũng làm chướng tai gai mắt nhiều người Lào là vùng đất mà thành phố nầy được lên kế hoạch nằm gần một dinh thự họp hành của nhà Vua Lào và các quan lại trong quá khứ và một tháp vàng, vương triều That Luang của thế kỷ 16, một biểu tượng quan trọng nhất của chủ quyền quốc gia và cũng là nơi thánh địa của phật tử.Theo một nghiên cứu thực hiện bởi Quỹ Tài Nguyên Thiên nhiên của thế giới đặt căn cứ ở Tân Tây Lan cho biết vùng đầm lầy này là nơi nước lụt trong thành phố rút ra đây, “một cái cống lớn ” cho một thành phố không có hệ thống đào thoát nước thải, và một nguồn cung cấp cá và cây cối cho người dân nghèo.“Điều quan tâm chính của tôi là dự án thành phố mới này sẽ phá vỡ cả ba yếu tố ấy,” Pauline Gerrard, tác giả của cuộc nghiên cứu vùng đất nầy, nóiThị trưởng Vạn Tượng (bệnh vực cho dự án ấy) đã phản đối rằng thì là: cánh đầm lầy nầy đã bị ô nhiễm và sự phát triển đúng đắn sẽ cải thiện môi trường. Một số báo cáo tường thuật rằng khu vực nầy đang được thiết kế để khuyến dụ những người giàu có và sẽ được làm kiểu mẫu dựa trên thành phố Suzhou, nổi tiếng về hệ thống kênh rạch và cây xanh.Nhưng những người ngoại quốc sống lâu năm ở Vạn tượng không thể nhớ được là có lần nào trong quá khứ mà giai cấp trung lưu Lào lại tỏ ra giận dữ như hiện nay.“Nhiều ký giả Lào đã rất thích viết về những phẩn uất này, nhưng họ không thể nào làm được. Không có những cuộc biểu tình ngoài đường phố ngoại trừ là những phản đối trong những quán cafe– trong những cuộc bàn bạc của chúng tôi,” ông Sithong nói.Martin Stuart – Fox, một tác giả của nhiều cuốn sách về người lào, nói rằng thế hệ của người Lào lớn tuổi đã biết cách làm thế nào để quân bình ảnh hưởng của người Trung quốc và Việt nam, và tránh bị đè bẹp giữa những nước láng giềng hùng mạnh nầy. Nhưng thế hệ lớn tuổi này đang chết dần dần, và hiện nay ” dường như sự thăng bằng ấy đang bị mất đi.” Stuart đã phát biểu trong cuộc phỏng vấn từ Úc.*******************************************************

Asia Finest Discussion Forum _

Lao Chat _ Laos fears China’s footprint

Posted by: hygrozyme Apr 7 2008, 11:25 AM

Sun Apr 6, 2008

By DENIS D. GRAY, Associated Press Writer
VIENTIANE, Laos – A high-rise Chinatown that is to go up by Laos’ laid-back capital has ignited fears that this nation’s giant northern neighbor is moving to engulf this nation.

So alarmed are Laotians that the communist government, which rarely explains its actions to the population, is being forced to do just that, with what passes for an unprecedented public relations campaign.

Lào Lo Sợ Vết Chân của Trung Quốc

———-

Chính Sách Đối Ngoại Trung Quốc Tại Lào

China Town lớn nhất thế giới đang được xây ở Lào 2008

Khi nào Hà Nội, Đà Nẵng, Sài Gòn có dự án mở rộng, có dự án thành phố mới….hãy nghĩ đến bài viết nầy

1. Trung Quốc đang xâm lấn đất đai và di cư những người Hán vào biên giới phía bắc của Miến điện trong hơn 20 năm qua. TQ hậu thuẩn chính phủ độc tài Miến điện từ 1962. Vì vậy, chính phủ Miến Điện để yên cho dân TQ di dân vào Miến Điện, lập ra các khu buôn bán của người Hoa, nói tiếng  Hoa và mở trường học dành cho người Hoa.

2. Trung Quốc di dân Trung quốc vào Kamphuchea và hổ trợ tiền bạc đầu tư vào tất cả dự án kinh tế, xây dựng đường sá, cầu cống, điện lực, văn hóa, hải cảng, doanh nghiệp thương mại và xuất khẩu …của Kamphuchea từ 1992 đến nay. Vào năm 2008, đã có hơn 3000 doanh nghiệp của người  Hoa đóng tại thủ đô Nam Vang và các tỉnh. Đặc biệt TQ đã đầu tư 500 triệu đô la vào cảng Shihanoukville ở không xa tỉnh Kiên Giang của  Việt Nam

3./ Trung quốc chiếm ải Nam Quan, chiếm Thác  Bản  Giốc như một món hàng trao đổi viện trợ súng đạn cho miền Bắc với sự thỏa thuận của chính phủ Hà Nội; TQ đã chiếm một phần của quần đảo Trường Sa 1988, chiếm núi Lão Qua ở phía Bắc Việt Nam năm 1991.

Và chiếm dần quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt nam từ 1974, 1988, 1992, 2007, và 2008.

Từ 2008 cho đến nay, TQ chiếm vùng biển Đông của Việt Nam và cấm ngư phủ VN không còn được quyền đánh bắt cá ở vùng nầy và vịnh Bắc bộ nữa.

4./ và bây giờ 2008 đang xâm nhập Lào bằng cách xây dựng thành phố China Town giữa thủ đô Lào. Nhưng được gọi tên là Dự án Phát triển Thành phố Mới. Dự án nầy cho 50,000 ngàn người Trung quốc di dân đến làm việc trong thị trấn China Town nầy. Nguồn tin cho biết là 50 ngàn nhân viên người Trung quốc sẽ đem theo vợ chồng con cái..nên tổng số dân Trung quốc trong thành phổ mới nầy là 130,000 người

Chừng nao chính phủ VN và đảng CSVN  MỞ MẮT ?

—————-

Bài nầy đã được phổ biến bởi các blogger sau đây vào năm 2008 và 2009

http://doanchithuy.multiply.com/journal/item/25

http://bauvinal.info.free.fr/songngu/Laolosovetchantq.htm

http://kichbu.multiply.com/journal/item/98

—————

Bài viết đáng chú ý

Tưởng nhớ Đặng Phong, một trí tuệ và một tấm lòng

Posted in Chiến lược xâm nhập của Trung Quốc vào Viet Nam | Tagged: , | 7 Comments »

Bầu cử quốc hội khóa 13 “Mọi cái đã được sắp xếp trước. Chả có gì thay đổi bất luận ai được bầu.”

Posted by hoangtran204 trên 24/05/2011

Bầu cử quốc hội khóa 13 ngày 22-5-2011 đã qua đi và chỉ là một trò chơi của đảng đặt ra. Mục đích của đảng cho việc bầu cử là bầu một đám người ra để “làm vì” và cho có quốc hội với người ta. Và đám người của quốc hội chỉ biết đưa tay trước tất cả các quyết định đã có sẵn của đảng chỉ đạo.

Người dân tham gia vào cuộc bầu cử vì họ bị bắt buộc. Nhiều sinh viên cho biết họ phải đi bầu và đem phiếu có đóng dấu “Đã Bầu  Cử” về nộp lại cho trường, nếu ai không nộp thì sau nầy sẽ không cho tốt nghiệp ra trường. Ai không đi bầu cử thì địa phương tới tận nhà nhắc nhở. Một người đại diện đi bầu cho 3-4 người trong gia đình cũng được.

“Một cách thành thật, tôi chẳng thiết tha lắm chuyện bầu cử này vì tôi không tin cuộc bầu cử này sẽ tạo nên một sự khác biệt,” giám đốc Viện Nghiên cứu Phát triển Xã hội ở Hà Nội ông Lê Bạch Dương nói. “Mọi cái đã được sắp xếp trước. Chả có gì thay đổi bất luận ai được bầu.” Hôm nay là ngày bầu cử Quốc hội và Ủy ban Nhân dân cho bốn năm tới. Quốc hội trên danh nghĩa làm luật và kiểm soát ngân sách nhà nước. Tuy nhiên, trong thực tế Quốc hội nhà nước Việt Nam là con bù nhìn của đảng Cộng sản Việt Nam.”

Hầu hết tất cả ứng cử viên Quốc hội được viên chức nhà nước đề cử, và đều được xét duyệt bởi đảng Cộng sản trước khi sự ứng cử của họ được phê chuẩn. Trên lý thuyết, quốc hội có thể bác bỏ ứng cử viên, nhưng thực tế hiếm khi xảy ra. Cũng theo lý thuyết, những người ứng cử viên độc lập được phép ra tranh cử, và đã có 83 người đã cố ra tranh cử trong năm này. Nhưng chỉ có 15 người lọt qua được sự xét duyệt của người đại diện cho đơn vị địa phương của họ.”

Ngày bầu cử quốc hội 22-5-2011 đã qua rồi. Tốn kém 700 tỉ đồng  VN (khoảng 35 triệu đô la) cho bầu cử quốc hội năm nay. Tiền tốn kém chủ yếu là tiền dùng để mua cờ quạt, biểu ngữ.

“Cử tri sẽ đi bỏ phiếu để bầu ra 500 đại biểu Quốc hội, hơn 3.200 đại biểu cấp tỉnh, thành phố, hơn 21.000 đại biểu cấp huyện và hơn 280.000 đại biểu cấp xã.”

“Trong đợt bầu cử ngày 22/5, cả nước có 599 Ủy ban bầu cử đại biểu Hội Đồng Nhân Dân cấp huyện, và 10.630 Ủy ban bầu cử HĐND cấp xã. Theo dự kiến của 63 tỉnh, thành phố, cả nước sẽ có hơn 91.000 khu vực bỏ phiếu bầu cử đại biểu Quốc hội và HĐND các cấp.”

“Ông Nguyễn Quốc Thước là đại biểu Quốc hội tỉnh Nghệ An ba khóa 8, 9 và 10 (từ năm 1987 đến năm 2002), …ng Thước bảo: “Khóa 8 thì đã bắt đầu Đổi Mới rồi nhưng mọi sự vẫn chưa vào guồng, bàn trên nghị quyết thế thôi chứ thực tế chưa có gì. Nhất là hoạt động của cơ quan lập pháp thì lúc bấy giờ chỉ là để hợp thức hóa nghị quyết của Đảng. Không bàn cãi gì cả. Đảng quyết rồi thì cứ thế mà giơ tay. Đại biểu nhiều lúc băn khoăn lắm nhưng không giơ tay không được”.

“Ông Thước cũng cho rằng, số đại biểu không dám phát biểu vì không hiểu biết về một vấn đề nào đó thật ra không nhiều; số biết nhiều mà im lặng không nói mới thật sự đông đảo.”

“Một số người hoạt động cổ xúy dân chủ đã tự ra ứng cử, dù họ biết rằng chắc chắn sẽ bị loại, với một thái độ phản đối có cân nhắc thận trọng. Trong số những người này là luật sư Lê Quốc Quân, một cựu nghiên cứu sinh của National Endowment for Democracy có trụ sở ở Hoa Kỳ. Một luật sư khác, ông Cù Huy Hà Vũ, người bị kết án bảy năm tù vì tội “tuyên truyền chống nhà nước,” trong cuộc bầu cử trước đây ông Vũ cũng đã từng đứng ra ứng cử nhưng không được phép tranh cử.

Những người tự ứng cử nhưng bị loại khác trong qúa khứ bao gồm luật sư Lê Công Định, một người chỉ trích công khai việc khai thác mỏ bô-xít ở Cao nguyên Trung phần Việt Nam, hiện đang bị tù vì tội hăm dọa “nền an ninh quốc gia,” và thầy giáo trung học Đỗ Việt Khoa, người đứng ra vận động bầu cử nhắm vào việc chống tham nhũng trong hệ thống giáo dục.

Cuộc bầu cử Quốc hội năm nay xảy ra cùng lúc với cuộc bầu cử Hội đồng Nhân dân trên toàn cả nước. 4.000 người của hội đồng nhân dân này được người dân trực tiếp bầu, và sau đó hội đồng này sẽ bổ nhiệm Ủy ban Nhân dân, là cơ quan nắm quyền lực hành chánh cho những vấn đề của địa phương.

Nhà nước đã bỏ ra 35 triệu để chi cho cuộc bầu cử này, bao gồm 91.000 cơ sở bỏ phiếu và chiến dịch tuyên truyền ồn ào, sặc sỡ. Nhưng không rõ chuyện tuyên truyền bầu phiếu này có tác động nhiều đến cử tri hay không.

“Tôi nhận thẻ đi bầu hôm Chủ Nhật tuần rồi, nhưng tôi không biết bất cứ cái tên ứng cử viên nào trong khu vực của mình,” một nhân viên của một công ty in ấn ở Hà Nội cô Nguyễn Thu Nga nói. “Bầu cử Quốc hội rất là hình thức, nặng phần trình diễn.”

“Tôi chưa quyết định là tôi có nên đi bỏ phiếu vào hôm Chủ Nhật hay không,” cô ta nói.

“Tuy nhiên, tôi vui vì công ty tôi nhận được nhiều đơn đặt hàng in tờ rơi quảng cáo và bích chương,” cô nói.

Một quan sát gia ngoại quốc đồng ý. “Khi tôi thấy những bích chương vận động quảng cáo lần đầu, tôi nghĩ cuộc bầu cử rất là dân chủ,” một nhà ngoại giao Á châu đã sống ở Hà Nội ba năm qua nói. “Nhưng sau khi nói chuyện với người địa phương, tôi thấy là cảm nghĩ thoạt đầu của mình sai,” ông ta nói. “Người Việt Nam chú ý đến sự lạm phát hơn là chọn người đại diện cho họ.”
Hình ảnh các  đại biểu quốc hội VN đang thiêm thiếp giấc nồng:

nguồn

Posted in Đảng CSVN | Leave a Comment »

Vì lo ngại, Đức quyết định sẽ loại bỏ hết các nhà máy điện hạt nhân trước năm 2022-Việt Nam mua nhà máy điện hạt nhân của Nga

Posted by hoangtran204 trên 23/05/2011

Đức sẽ loại bỏ tất cả các nhà máy điện hạt nhân hiện đang xử dụng trước năm 2022 và dự tính sẽ không xây dựng nhà máy điện hạt nhân nữa, thay vì đó họ sẽ mua điện hạt nhân của Pháp và Cộng  Hòa Sec trong tương lại gần và xây dựng các nhà máy điện chạy bằng năng lượng mặt trời và sức gió.

Thật là một quyết định khôn ngoan của chính phủ Đức đã làm theo ý muốn của dân Đức. Người dân Đức rất bảo vệ môi trường và không chấp nhận đất nước của họ có nguy cơ bị các thảm họa rò rĩ tia phóng xạ như ở Nhật và Liên Xô.. Các khoa học gia về nguyên tử của Đức không thua kém gì các đồng nghiệp của họ ở Mỹ và Pháp. Nhưng họ dành chấp nhận không dám xây các nhà má điện hạt nhân thế hệ mới, vì họ hiểu rằng dùng các nguồn năng lượng tái tạo khác như Gió và ánh sáng mặt trời để phát sinh điện sẽ an toàn hơn cho đất nước và người dân của họ.

Trái lại, PGS.TS. Vương Hữu Tấn, Viện trưởng Viện Năng lượng Nguyên tử Việt Nam (VAEC) cho biết: “Nhà máy điện nguyên tử ở Việt Nam: Sẽ an toàn hơn. ” dù hiện nay chưa xây.

Vậy xem ra trình độ khoa học hạt nhân của nước  VN ta hiện nay cao hơn các khoa học gia nguyên tử của Đức.

Đọc xong bài báo chí phỏng vấn ông tiến sĩ Tấn nầy ở đây mới tá hỏa ra là đảng và bộ chính trị chỉ đạo làm nhà máy điện hạt nhân. Đảng bảo thì ông tiến sĩ phải  làm dưới sự chỉ đạo ấy.

Nhưng trong một blog của các nhà khoa học VN trong nước thì nói rằng ông tiến sĩ Vương Hữu Tấn  nầy hầu như chưa viết được bài báo nào đăng trên các tạp chí nghiên cứu ở nước ngoài.

13 nhà máy điện hạt nhân của Đức đang bị ngắt khỏi lưới

điện toàn quốc để được kiểm tra lại

BERLIN – Công ty điện đã cho biết rằng hơn 75% các nhà máy điện hạt nhân của Đức đã cắt điện vào thứ bảy 22-5-2011, vì công việc bảo trì hoặc tắt máy phát điện theo lệnh của chính phủ Đức sau vụ thảm họa ở nhà máy điện hạt nhân ở Fukushima của Nhật.
Chỉ có 4 trong tổng số 17 nhà máy điện hạt nhân đang nối vào mạng điện toàn quốc sau khi Công Ty Điện RWE AG đã ngắt dòng điện của nhà máy điện Emsland ra khỏi lưới điện vào hôm thứ Bảy.

Các nhà môi trường cáo buộc rằng các công ty điện đã dàn dựng việc tắt máy điện cùng một lúc để vừa bảo trì vừa đe dọa cắt điện để gây áp lực lên chính phủ của Thủ tướng Angela Merkel, chính phủ nầy hiện đang quyết định loại bỏ hẳn các nhà máy điên hạt nhân trong vòng một thập niên sắp tới vì thảm họa tại nhà máy điện hạt nhân Dai-ichi Fukushima của Nhật.

“Chúng tôi sợ rằng các công ty điện lực có khả năng đạo diễn vụ mất điện để gây ảnh hưởng đến người dân trong một cuộc tranh luận về chuyện loại bỏ hẳn các nhà máy điện hạt nhân”, ông Jochen cho biết, ông nầy ở nhóm của Ausgestrahlt chống các nhà máy điện hạt nhân.

Một phát ngôn viên của công ty điện RWE đã bác bỏ các cáo buộc nầy, tuy nhiên, họ nói với hãng tin Đức DAPD rằng việc bảo trì nhà máy điện hạt nhân ở Emsland đã được lên kế hoạch ngay cả trước khi có thảm họa các nhà máy điện hạt nhân tại Nhật Bản.

Các chuyên gia nói rằng tình hình nầy rất đáng lo ngại, vì điện thấp ở đầu vào có thể làm thay đổi điện áp chung của lưới điện và trong trường hợp xấu nhất dẫn đến mất điện.

“Tình hình có thể sẽ được quản lý,” Matthias Kurth, người đứng đầu cơ quan lưới điện DeNA của Đức, đã trả lời trên nhật báo Sueddeutsche Zeitung vào hôm thứ Bảy. “Tình hình có thể tồi tệ hơn nếu chúng ta không có nhiều ánh sáng mặt trời tại thời điểm nầy” – ông ta hàm chỉ đến số lượng điện ngày càng tăng được tạo ra bởi các tấm pin mặt trời trên khắp cả nước.

Để bù đắp sự thiếu hụt điện, Đức có thể sẽ phải nhập khẩu điện nhiều hơn từ các nước láng giềng, chủ yếu là từ Pháp và Cộng hòa Séc, cả hai nước nầy phụ thuộc rất nhiều vào các nhà máy điện chạy bằng năng lượng hạt nhân.

Đức, nền kinh tế lớn nhất châu Âu, là quốc gia duy nhất trong số các quốc gia có nền công nghiệp hàng đầu thế giới, có quyết tâm xóa bỏ hẳn các nhà máy điện chạy bằng năng lượng hạt nhân và thay thế vào đó bằng các nguồn năng lượng tái tạo (mặt trời, gió, sóng biển).

Trong khi chính phủ Đức đang dự kiến sẽ ​đưa ra quyết định chính thức, vào tháng sáu nầy, là sẽ xóa bỏ công nghệ hạt nhân, thì liên minh bảo thủ của bà Merkel từ tiểu bang Bavaria đã đi trước vào khuya thứ Sáu vừa qua và bỏ phiếu ủng hộ lệnh cấm các nhà máy điện chạy bằng năng lượng hạt nhân kể từ năm 2022 trở đi.

Vào ngày Thứ Bảy hôm sau, Thủ Tướng Merkel đã chấp thuận ý kiến của liên minh Bảo Thủ, bà nói rằng mục tiêu năm 2022 là “rất tham vọng”, nhưng là khoảng thời gian rất đúng, thông tấn xã Đức DAPD đã tường thuật.

Điện hạt nhân thường tạo ra khoảng 23 phần trăm điện của Đức – vào mức độ tương tự như ở Mỹ – nhưng bây giờ với sự tắt hơn 75% các nhà máy điện hạt nhân, thì luồng điện nầy hiện nay góp phần ít năng lượng hơn nguồn năng lượng điện tái tạo (từ ánh sáng mặt trời và gió), hai nguồn điện nầy đang cung cấp 17 phần trăm năng lượng của Đức.

Sau khi trận động đất và sóng thần ngày 11 tháng ba 2011 làm tê liệt các nhà máy điện hạt nhân ở Fukushima, Nhật Bản, chính phủ của bà Merkel đã quyết định đóng cửa 7 lò phản ứng hạt nhân đã được xây dựng trước năm 1980 và các lò phản ứng nầy đang chờ đợi các cuộc kiểm tra an toàn. Các nhà máy điện hạt nhân khác đã được cắt khỏi lưới điện toàn quốc trong tuần qua để bảo trì theo lịch trình.

Hai lò phản ứng được lên kế hoạch để nối vào lưới điện vào cuối tuần tới, việc nầy sẽ làm nhẹ bớt sự thiếu hụt về cung cấp điện trong nước.

Năng lượng hạt nhân đã không còn được ưa chuộng ở Đức kể từ khi có phóng xạ từ thảm họa Chernobyl ở Nga vào năm 1986 đã tràn lan qua khắp nước Đức.

Bản dịch 2011@TranHoang

Most German nuclear power plants off the grid

Published May 21, 2011

| Associated Press

BERLIN – More than three-quarters of Germany’s nuclear power plants were offline Saturday due to maintenance work or shutdowns ordered by the government after Japan’s Fukushima nuclear power plant disaster, utility companies said.

Only four of the country’s 17 nuclear power plants were online after the energy utility RWE AG took its Emsland plant off the grid Saturday.

Environmentalists accused the utilities of staging simultaneous maintenance shutdowns while threatening blackouts to put pressure on Chancellor Angela Merkel’s government, which appears determined in the wake of the Fukushima Dai-ichi catastrophe to phase out nuclear power within a good decade.

“We are afraid that the utilities could intentionally stage a blackout to influence people in the debate on phasing out nuclear power,” said Jochen Stay of anti-nuclear group Ausgestrahlt.

A spokesman for RWE rejected the allegation, however, telling German news agency DAPD the maintenance at Emsland had been scheduled even before the disaster in Japan.

Experts said the situation was potentially worrisome, since a significantly lower electricity input could change the grid’s overall voltage and in the worst case lead to blackouts.

“The situation will probably be manageable,” the head of Germany’s DENA electricity grid agency, Matthias Kurth, was quoted as saying in Saturday’s Sueddeutsche Zeitung newspaper. “The situation would be worse if we didn’t have that much sun at the moment” — a reference to the growing amount of electricity generated by solar panels across the country.

To compensate, Germany is likely to import more electricity from its neighbors, chiefly from France and the Czech Republic, which both rely heavily on nuclear power.

Germany, Europe’s biggest economy, stands alone among the world’s leading industrialized nations in its determination to ditch nuclear power and replace it with renewable energies.

While the government is expected to officially decide how quickly it wants to abolish the technology in June, Merkel’s conservative allies from Bavaria state went ahead late Friday and voted in favor of a ban on nuclear power from 2022 onward.

Merkel on Saturday embraced their decision, saying the 2022 target is “very ambitious” but is in the right timeframe, DAPD news agency reported.

Nuclear power usually generates about 23 percent of Germany’s electricity — about the same level as in the U.S. — but with the shutdowns it is now contributing less power than renewable energies, which normally provide 17 percent of Germany’s power.

After the March 11 earthquake and tsunami crippled Japan’s Fukushima plant, Merkel’s government decided to shut down seven reactors built before 1980 pending thorough safety checks. Other plants have been taken off the grid in past weeks for scheduled maintenance.

Two reactors are scheduled to go back online by the end of next week, which should ease the tight domestic electricity supply.

Nuclear power has been very unpopular in Germany ever since radioactivity from the 1986 Chernobyl disaster drifted across the country.

Posted in Năng Lượng và Mỏ | Leave a Comment »

Quản thúc Tại Gia cựu Giám Đốc Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế quá mắc mỏ và xa xỉ

Posted by hoangtran204 trên 22/05/2011

NEW YORK – Căn hộ nơi ông Dominique ở được các nhân viên có vũ trang của 1 hãng tư nhân canh gác 24 giờ mỗi ngày. Nhiều máy quay phim thâu hình ghi lại mọi chuyển động, và những giám thị sẽ báo cho chính quyền sở tại biết nếu người tù nhân nầy cố gắng trốn thoát.

Đây là nhà tù mới của Dominique Strauss-Kahn cách xa nhà tù cũ, sau khi cựu lãnh đạo IMF bị buộc tội tấn công tình dục một người giúp việc rời khỏi một nhà tù thuộc thành phố New York để về ở một căn hộ sang trọng và đắt tiền và bị giám sát.

Các kế hoạch này bị trở ngại vào ngày thứ Sáu khi ban quản lý của khu nhà cao tầng gồm nhiều căn hộ thuộc khu phía Thượng-Đông (phố Manhattan) đã không chấp nhận cựu ứng cử viên tổng thống Pháp cư ngụ ở nơi đây bởi vì không muốn sự chú ý của giới truyền thông. Thay vào đó, ông Strauss-Kahn đã được cư ngụ ở khu vực có nhiều cao ốc ở khu Hạ-Manhattan vào sáng thứ Bảy trong vòng khu vực của sở Cảnh Sát New York, nơi có một mạng lưới các máy thu hình của tư nhân và cảnh sát.

Ông Dominique được bảo vệ bởi Stroz Friedberg, một công ty an ninh đã từng canh giữ nhà tài chính phạm tội Bernard Madoff bị giám sát ở căn hộ rất sang trọng của ông ta.

Hiện thời vẫn chưa biết rõ ràng đến lúc nào và nơi nào ông Dominique sẽ được di chuyển đến ở trong một căn nhà nào đó để bị quản thúc tại gia trong một thời gian lâu hơn; vào hôm thứ Bảy (giới báo chí đã thực hiện) các cuộc gọi phone tới hỏi văn phòng luật sư của ông Dominique và công ty an ninh Stroz Friedberg nhưng đã không có ai trả lời.
Ngay cả với những hạn chế nghiêm trọng, sự giàu có của gia đình Strauss-Kahn đã chu cấp cho ông ta những thỏa thuận bảo lãnh thoải mái nhất. Nhưng các điều kiện tại ngoại sẽ không rẻ. Chi phí để bảo đảm cho cựu giám đốc Quỹ Tiền Tệ Quốc tế ước tính khoảng 200.000 đô la một tháng – và ông Dominique phải trả các chi phí nầy.

Trong khi đó, chi phí thành phố New York trả khoảng 6.500 đô la một tháng cho mỗi một tù nhân bị giam giữ tại một cơ sở như nhà tù Rikers Island, nơi ông đã bị giam giữ gần một tuần. (nhà tù nầy có chừng 14 000 đến 17 000 tù nhân).

Các chi phí để trả gồm có trả tiền cho các nhân viên giám sát có vũ trang, tiền lắp đặt các máy quay phim và một vòng đeo ở cổ chân đặc biệt, vòng nầy sẽ phát ra một tín hiệu báo động nếu ông Dominique đi quá xa.
Hiện giờ, ông không được phép ra khỏi nhà , nhưng sau khi ông Dominique được chuyển đến một nơi ở lâu dài hơn, ông ta có thể rời khỏi nhà để đi tới tòa án, hoặc đi khám bác sĩ và đi lễ nhà thờ hàng tuần. Các công tố viên phải được thông báo ít nhất sáu giờ trước khi ông đi bất cứ nơi nào. Ông không thể ra khỏi nhà giữa 10:00 tối và 6 giờ sáng.
Và ông sẽ không cô đơn: Dominique Strauss-Kahn có thể tiếp nhiều khách đến thăm – nhiều nhất là bốn người khách một lúc, không tính người trong gia đình.

Ông Dominique, năm nay 62 tuổi, đã bị truy tố bởi một bồi thẩm đoàn tuần này về tội lạm dụng tình dục và toan tính hiếp dâm  trong một cáo buộc tấn công tình dục vào cuối tuần qua tại khách sạn Sofitel thuộc  phố Manhattan gần quãng trường Times Square.

Lúc đầu, ông đã bị giam giữ tại nhà tù (của thành phố) bởi vì một quan tòa đứng về phe công tố viên; công tố viên tin rằng ông Dominique có khả năng trốn thoát rất cao, vì sự giàu có của ông ta và địa vị quốc tế, và công tố viên lo ngại rằng nếu phóng thích ông Dominique một cách đơn giản (không có điều kiện), thì ông ta sẽ đào tẩu sang Pháp, quốc gia nầy có luật dẫn độ thường có lợi cho người Pháp.

Các luật sư của ông Dominique ban đầu  yêu cầu tòa án cho ông Dominique được tại ngoại với tiền thế chân là 1.000.000 đô la, (thường là đưa tiền mặt 10% của số tiền nầy mà thôi), nhưng sau đó các luật sư đã xem xét và sửa đổi kế hoạch trong tuần này để thêm vào đó các giới hạn quản thúc tại gia có tính chất chặt chẽ hơn.

Chánh án Tòa án Tối cao của tiểu bang New York, Michael J. Obus, đã ký và ra lệnh phóng thích Strauss-Kahn khỏi nhà tù Rikers Island vào thứ sáu 19-5-2011.
Một phát ngôn viên của Stroz Friedberg không có bình luận về khách hàng mới nhất của họ.

Nhưng sự tự do được ra khỏi nhà tù có nghĩa là phải đối phó với báo chí – và các luật sư của ông Dominique Strauss-Kahn cho biết, sự phấn khích điên cuồng của giới truyền thông quốc tế về chuyện ông Dominique đã làm thay đổi kế hoạch quản thúc tại gia.

Dominique Strauss-Kahn đã quyết định không di chuyển về phía khu sang trọng thuộc khu Thượng-Đông của khu phố Manhattan  vì “tôn trọng người dân của vùng nầy” những người nầy phản đối các giới truyền thông quốc tế hội tụ về khu vực nầy, luật sư William Taylor của ông Dominique cho biết như thế.

Hôm thứ Sáu, Donna Mancino nói bà không thể dùng một thang máy để lên căn hộ của bà trong khi ông Dominique Strauss-Kahn đang di chuyển vào tòa nhà nầy. Nhưng bà và các cư dân khác nói rằng khía cạnh làm náo loạn duy nhất về sự hiện diện của ông Dominique là giới báo chí cứ đeo bám ông ta.

“Ông ta nên sống ở một nơi nào đó – và hiện có rất nhiều tội phạm ở phố Wall,” cô nói.

Dominique Strauss-Kahn bị buộc tội tấn công (tình dục) một nữ nhân viên, 32 tuổi, lau chùi phòng khách sạn  ở trong 1 căn phòng giá 3.000 đô một đêm. Người nữ nhân viên gốc Tây Phi  nói rằng ông Dominique đã rượt đuổi cô ta dọc theo một hành lang trong căn buồng có nhiều phòng này, buộc cô phải thực hiện khẩu dâm và cố cởi vớ chân của cô. Ông Dominique đang được sắp xếp ra tòa cho sự cáo buộc  nầy vào ngày 6 tháng 6, 2011.

Associated Press Writer David B. Caruso đóng góp cho bài báo này.

Bản dịch@tranhoang

nguồn báo

Posted in Nhan Vat Chinh tri | Leave a Comment »

Dominique S. Kahn – Bản copy đơn xin tại ngoại hầu tra- và Chánh Án tòa án Tối Cao N.Y. trả lời…

Posted by hoangtran204 trên 21/05/2011

Đúng là luật sư và chánh án Mỹ có học hành đàng hoàng, họ vận dụng luật pháp dựa trên các nguyện tắc và các án lệ đã có sẵn trong quá khứ để giải quyết các trường hợp tương tự nhau, mục đích là để bảo vệ nhân quyền.

Sau khi tòa án hình sự của  New York từ chối cho Dominique tại ngoại hầu tra vào ngày 16-5-2011, luật sư của Dominique liền nộp đơn lên tòa án  Tối cao New York xin cho Dominique được hưởng quyền tại ngoại  hầu tra dựa trên nguyên tắc sau:

Một người chưa bị xét xử thì được xem là vô tội. Theo luật pháp của  Mỹ, nếu người ấy đang bị bắt giữ về một khinh tội, tội hình sự loại nhẹ, thì tòa án phải cho người ấy được quyền tại ngoại hầu tra.

Trong đơn nộp cho tòa tối cao ngày 18-5-2011, luật sư viện dẫn nguyên tắc như đã nói ở trên và trích dẫn các án lệ tương tự của các nghi can khác cũng ở New York, có cùng cảnh ngộ giống như của Dominique, và tòa án New York đã từng cho phép họ được tại ngoại hầu tra như thế nào…để rồi vin vào đó xin cho Dominique S. Kahn được tại ngoại. Bên cạnh đó luật sư còn nói qua tiểu sử của Domonique, quá khứ học hành, các nơi làm việc của Dominique, mục đích để cho chánh án (và bàn dân thiên hạ) thấy Dominique là 1 con người tràn đầy tinh thần trách nhiệm phục vụ không chỉ riêng nước Pháp mà cho cả thế giới, quá khứ của Dominique là đảm nhiệm các chức vụ quan trọng, là người rất đáng tin cậy, là một công dân ngoan hiền, có gia đình hẳn hoi…và đáng được hưởng quyền tại ngoại hầu tra.

Bên cạnh đơn luật sư còn có đơn của Domnique cam kết và tôn trọng tuân theo điều kiện nếu được hưởng quyền tại ngoại, cả 2 đơn nầy đã được gởi lên tòa án Tối Cao New York ngày 18-5-2011, và chỉ trong vòng 2 ngày sau, đến ngày 19-5-2011, Tòa An Tối cao NY đã có quyết định trả lời và cho phép Dominique được hưởng quyền tại ngoại với các điều kiện liệt kê rất rõ ràng.

Strauss-Kahn tastes freedom under house arrest
Dominique S. Kahn được ra khỏi nhà tù, được trở về nhà sống với gia đình kèm theo
các điều kiện qui định của tòa án vào ngày 19-5-2011

Vụ nầy chấn động toàn địa cầu, khởi đầu là Dominique bị bắt giữ ngày 14-5, kế đó luật sư xin tòa hình sự cho nghi can được tại ngoài và đóng tiền thế chân ngày 16-5, nhưng rồi bị tòa hình sự từ chối, luật sư bèn kháng cáo lên tòa án tối cao ngày 18-5, và được tòa nầy chấp thuận cho tại ngoại hầu tra ngày 19-5 …tất cả tiến trình nầy diễn ra đúng 5 ngày. Thật là nhanh chóng.  So với tòa án  VN, với các trường hợp tương tự, người dân hầu như không có được nhân quyền, không được luật pháp che chở, từ đó ta có thể hiểu chuyên môn và nghiệp vụ của các chánh án, viện kiểm sát ở VN thiệt là rất bết bát và kém cỏi.  Họ hoàn toàn lệ thuộc các quyết định giựt dây vào đảng ủy, dựa vào các thứ vớ vẫn rác rưởi khác để xử án, bất chấp luật pháp do chính họ làm ra, tuyên truyền và vận động mọi người sống theo luật pháp! Đúng là nói một đường, làm một nẻo.

———————

 SUPREME COURT OF THE STATE OF NEW YORK, COUNTY OF NEW YORK,
 CRIMINALTERM, PART 1
THE PEOPLE OF THE STATE OFNEW YORK,
-against-
DOMINIQUE STRAUSS-KAHN, Defendant
– – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – ~
)
Docket No.: 2011NY035T73
AFFIRMATION OF SHAWN P. NAUNTON  IN SUPPORT OF MOTION FOR ORDER FIXING BAIL FOR THE
RELEASE OF DOMINIOUE  STRAUSS-KAHN
SHAWN  P. NAUNTON, affirms the following to be true under penalty of perjury:
1. I am an attorney for Dominique Strauss-Kahn herein and am familiar with the facts and circumstances surrounding this action.
2. This affidavit is being made, pursuant to N.Y. Crim. Proc. Law § 530.30, for an Order of bail pending disposition of the felony charges herein, now pending in the Criminal Court of the City of New York, County of New York.
3. On May 16, 2011, Mr. Strauss-Kahn was arraigned on a felony complaint,charging Mr. Strauss-Kahn with two counts of criminal sexual acts in the first degree, underPL130.50(1), a class B felony; one count of attempted rape in the first degree, underPL1301130.35(1), a class C felony; one count of sexual abuse in the first degree, underPL130.65(1), a class D felony; one count of unlawful imprisonment in the second degree, underPL135.05, a class A misdemeanor; one count of sexual abuse in the third degree, underPL130.55, a class B misdemeanor; and one count of forcible touching, under PL130.52, a class A misdemeanor.
Since May 14,2011, Mr. Strauss-Kahn has been confined at various locations in the custody of the New York City Police Department. Currently, upon information and belief,since his arraignment on May 16, 2011, he is in the custody of the New York City Department of Corrections confined at the West Facility of the Rikers Island jail.
5. On May 16,2011, the Criminal Court of the City of New York, County of NewYork (the “Criminal Court”), made and entered
an order denying Mr. Strauss-Kahn’s application for bail and directing that Mr. Strauss-Kahn be remanded in custody.
6. This application sets forth additional bail conditions that were not before the Criminal Court, including agreement that
Mr. Strauss-Kahn will be confined to home detention at an address in Manhattan 24 hours per day, with electronic monitoring. We respectfully submit that these additional bail conditions eliminate any concern that Mr. Strauss-Kahn would or could leave this Court’s jurisdiction. No previous application has been made to this Court for the relief requested herein.
7. “The policy of our law favors bail because of the presumption that the prisoner is innocent.
“People ex rei. Lobell v. McDonnell, 71 N.E.2d 423, 296 N.Y. 109, 111 (1947);
see People v. Keeper o/City Prison, 49 N.E.2d 498,501,290 N.Y. 393,298 (1943)
(“Denial of bail is no light matter, and needs to be buttressed by a real showing of reasons therefore.”);
People v. Mohammed, 653 N.Y.S.2d 492, 496 (Sup. Ct. Kings Co. 1996)
(“[P]ublic policy favors release pending a determination of guilt or innocence.”);
People v. Bach, 306 N.Y.S.2d 365, 368 (Co.Ct. Dutchess Co. 1970) (“The right to bail is one of our most cherished rights, and the policy of our law from time memorial has always favored it.”);
cf People ex re
I. Klein v. Krueger, 255 N.E.2d 552, 554-55, 25 N.Y.2d 497, 499-501 (1969)
(recognizing that denial of bail presentsissues of constitutional dimension)
page .2
8.
Consideration of the factors set forth in N.Y. Crim. Proc. Law § 510.30
(2) strongly supports an Order of release on bail pending disposition of the felony complaint herein.
See People ex reI. Ryan
v.
Infante, 108 A.D.2d 987, 988, 485 N.Y.S.2d 852, 853 (3rd Dept.1985)
(bail determination “must be upon a rational basis delineated by the criteria listed underCPL 510.30.”);
People
v.
Mohammed, 653 N.Y.S.2d 492,497 (Sup. Ct. Kings Co. 1996)
(“The general principle is that the only matter of legitimate concern is whether any bail or the amount fixed is necessary to ensure a principal’s future appearances in court.”) (citing Matter of Sardino
v.
State Comm In on Judicial Conduct, 448 N.E.2d 83, 58 N.Y.2d 286, 289 (1983)); id
(“NewYork has consistently rejected preventative detention as a bail policy consideration.”);
People exrei. Bauer
v.
McGreevy,
555 N.Y.S.2d 581,
583
(Sup. Ct. Rensselaer Co. 1990)
(“A court cannot deny bail solely for the reason that it wishes to protect the community from any possible future criminal conduct of the defendant.”); People ex rei. Bryce
v.
Infante, 144 A.D.2d 898, 899, 535 N.Y.S.2d 215,216 (3rd Dept. 1988)
(holding that “probability of conviction and the severity of sentence” did not justify denial of bail when weighed against “petitioner’s reputation,employment and financial resources, lack of prior criminal record and previous record of responding to court appearances”);
\
People ex
rei.
Benton
v.
Warden, 118 A.D.2d 443, 445, 499N.Y.S.2d 738 (1st Dept. 1986)
(holding improper for trial court to increase bail “exclusively on its conviction that petitioner would be found guilty of serious crimes entailing a lengthy term of imprisonment”).
Mr. Strauss-Kahn’s History and Background
9. Mr. Strauss-Kahn’s history and background weigh strongly in favor of an Order of release on bail. N.Y. Crim. Proc. Law
§ 51O.30(2)(a)(i).
Mr. Strauss-Kahn is a loving husband and father, and a highly regarded international diplomat, lawyer, politician, economist,
                                                                                  page 3
and professor, with no prior criminal record. He has been married for over ten years to Ms. Anne Sinclair, and has four children from a prior marriage, including a daughter who resides inNewYork City.
10. Since November 2007, Mr. Strauss-Kahn has been the Managing Director of theInternational Monetary Fund (the”IMF”). The IMF, which is headquartered in Washington,D.C., is  a specialized agency of the United Nations that works to foster international monetary cooperation. The IMF has 187 member countries.
11. Prior to taking his position at the IMF, Mr. Strauss-Kahn was a member of theFrench National Assembly and a Professor
of Economics at the Institut d’Etudes Politiques deParis. From 2001to 2007, he was reelected three times to the National Assembly.
Mr. Strauss Kahn has taught economics at the Institut d’Etudes Politiques de Paris and has been named a visiting professor at Stanford University.
12. From 1991 to 1999, Mr. Strauss-Kahn held various high-level Minister positions in the French government, including Minister of Economy, Finance and Industry, and Minister of Industry and International Trade. Mr. Strauss-Kahn was entrusted with substantial responsibility and authority in these positions, and achieved important political milestones, including managingthe launch of the Euro and participating in the Uruguay Round of trade negotiations.
13. Between 1993 and 1997, Mr. Strauss-Kahn practiced law in the private sector as a corporate lawyer.
Mr. Strauss-Kahn began his career as assistant professor, then professor of economics at the University
of Paris where he was tenured in 1978.He was then appointedDeputy Commissioner of the Economic Planning Agency (1981-1986). Mr. Strauss-Kahn was  elected Deputy (Member of Parliament) to the National Assembly in
1986, where he chaired theFinance Commission from 1988 to 1991.
                                                                                                     page 4
Sau khi đọc đơn của luật sư và của Dominique, Chánh án tòa New York đã đồng ý cho bail và viết lệnh bail như sau:

Posted in Nhan Vat Chinh tri | Leave a Comment »

Chưa Tới Ngày Bầu cử 22-5, mà hôm nay đã có danh sách người trúng cử rồi

Posted by hoangtran204 trên 20/05/2011

Một tài liệu như sau được thân hữu gửi ra từ trong nước liên quan tới bầu cử quốc hội và Hội đồng Nhân dân hôm 22/5 này.

Tài liệu ghi rõ: “Quán triệt đắc cử: Việc bầu cử, chọn ai, bầu ai là lựa chọn của cử tri. Tuy nhiên, các cấp ủy Đảng đã chỉ đạo để cử tri của trường đại học Vinh biết sự chỉ đạo của Đảng về bầu cử như sau”.

Bên dưới câu hướng dẫn này là danh sách những người nên bầu.

Posted in Chinh Tri Viet Nam | Leave a Comment »

Sống Bám trên Lưng của cả một Dân Tộc…

Posted by hoangtran204 trên 19/05/2011

Đó là một nhóm người, họp lại thành một đảng, họ chuyên nói những điều đạo đức giả, chẳng hạn như: cán bộ đi trước, làng nước theo sau…cán bộ là đầy tớ của nhân dân…làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu! Đại loại là những điều như thế.

Ta hãy xem họ sống…ưu tiên…miễn phí và cưỡi trên lưng của đám dân nghèo như thế nào.

Tàn nhẫn

Đăng bởi: bsngoc | 18/05/2011

Tôi không có dịp đi nước ngoài nhiều, nên không biết ở ngoài người ta có hệ thống chăm sóc sức khỏe cho lãnh đạo hay không. Nhưng nhìn từ góc độ y đức tôi thấy chuyện dành ra một tài khoản và ban bệ chỉ để lo chuyện sức khỏe cho lãnh đạo thật là vô minh.

Thời còn làm trong bệnh viện nhà nước tôi chứng kiến nhiều cảnh đau lòng. Thường dân không có thuốc phải nằm chờ chết. Cán bộ cao cấp thì được lệnh mua thuốc ngoại, giá bao nhiêu cũng được duyệt. Thường dân nằm la liệt hành lang bệnh viện. Cán bộ nằm phòng có máy lạnh. Đó là thời 79-85. Nhưng thời nay cũng chẳng có gì khác. Cũng như giữa giàu và nghèo, khoảng cách giữa dân và quan càng ngày càng lớn. Quan thì giàu, dân thì nghèo.

Người ta nói một chuyện làm một chuyện khác. Nói xóa bỏ giai cấp, nhưng lại tạo nên một giai cấp ăn trên ngồi trước. Nói là đầy tờ nhân dân, nhưng trong thực tế là cha mẹ nhân dân. Ngôn ngữ dưới thời XHCNVN không còn ý nghĩa thật của nó nữa.

Sài Gòn có bệnh viện Thống Nhất dành cho lãnh đạo. Nhưng ít ai biết rằng bất cứ tỉnh nào cũng có một khu trong bệnh viện chỉ dành cho lãnh đạo. Phải bao nhiêu tuổi đảng mới được nằm ở các khu đặc trị đó. Tôi không có vinh dự điều trị cho các vị lãnh đạo vì tôi đoán lý lịch của mình không “sạch” mấy (do học y thời trước 75). Nhưng tôi được biết đồng nghiệp điều trị cho các lãnh đạo than trời lắm. Họ nói các vị lãnh đạo coi bác sĩ chẳng ra gì, đối xử với bác sĩ như là cấp trên và cấp dưới. Chán lắm. Bực tức lắm. Nhưng nhiệm vụ và y đức thì phải làm, chứ chẳng ai ham làm trong các khu đặc trị cho lãnh đạo cả.

Thật ra, mấy khu đặc trị là những khu nguy hiểm trong bệnh viện. Dù trang bị tốt hơn các khu khác, nhưng tử vong vẫn cao trong mấy khu đặc trị. Lý do đơn giản là bác sĩ chẳng dám quyết định gì cả. Cái gì cũng hỏi cấp trên. Có lẽ nhiều người không biết, nhưng có ca phải hỏi ý kiến … cấp ủy. Không có hệ thống y khoa nước nào quái đản như nước ta, bác sĩ xin ý kiến cấp ủy để điều trị! Có cụ bị để nằm cho đến chết vì chẳng ai dám quyết định, ai cũng sợ trách nhiệm. Có lần tôi tham dự hội chẩn về một trường hợp và bị ám ảnh lâu dài về hệ thống y tế dưới thời XHCN. Ông cụ không phải là cán bộ cao cấp, nhưng là bố của một ông thứ trưởng, nên cũng được nằm khu dành cho lãnh đạo. Ông cụ bị cao huyết áp và tiểu đường, bệnh rất hay gặp. Người ta hội chẩn mãi, xin ý kiến mãi, thậm chí ông thứ trưởng bay vào Sài Gòn thăm bố. Chẳng ai dám làm gì! Ba tuần sau, ông cụ qua đời. Chính cái hệ thống phân biệt đối xử và giai cấp làm cho ông cụ chết.

Chính cái hệ thống đó đang giết người dân nữa. Đọc blog thấy có tin Thanh Hóa “đầu tư xây dựng trụ sở Ban Bảo vệ – Chăm sóc sức khỏe cán bộ tỉnh Thanh Hóa“. Có cái gì ghê tởm ở đây. Chúng ta biết rằng người dân Thanh Hóa đang đói. Gần 250.000 người đói. Vậy mà người ta thản nhiên xây tập trung tiền bạc vào việc chăm sóc sức khỏe cán bộ!

Thử nhìn qua hai hình dưới đây để thấy bản chất của chế độ:

https://i0.wp.com/images.yume.vn/buzz/20110216/image/2.jpg

Đâu chỉ Thanh Hóa mới lo chăm sóc sức khỏe cán bộ. Trung ương cũng thế. Chẳng những huy động, mà còn huy động toàn hệ thống. Thử đọc bản tin Huy động sức mạnh của toàn hệ thống trong công tác bảo vệ, chăm sóc sức khỏe cán bộ thì biết người ta muốn gì. Đọc bản tin đó gần chục lần tôi vẫn không giải thích được tại sao người ta lại vô cảm, ngạo mạn, ngang nhiên, trắng trợn như thế.

Trong khi bệnh viện các cấp quá tải, trong khi hai ba bệnh nhân phải nằm chung giường, trong khi bệnh nhân nằm ghế bố la liệt ngoài hành lang, mà có một giai cấp ngang nhiên huy động toàn hệ thống để chăm sóc cho một nhúm cán bộ đảng viên. Họ xem bệnh viện, bác sĩ, y tá, chuyên gia như là tài sản của riêng họ, muốn làm gì thì làm. Không hiểu trong lịch sử nước nhà, đã có một giai cấp thống trị nào chẳng những bất tài mà còn tàn nhẫn với người dân như hiện nay. Tìm hoài trong cổ sử mà chưa thấy. Tạm thời có thể nói đảng viên là giai cấp tàn nhẫn nhất với người dân trong lịch sử Việt Nam?

Posted in y tế

Nguồn: 24h

Nguồn: http://bsngoc.wordpress.com/2011/05/18/tan-nh%E1%BA%ABn/ 

ở đây

ý kiến của bạn đọc trên Dân  Luận:

1.

Khách PCT (khách viếng thăm) gửi lúc 13:38, 18/05/2011 – mã số 33646

Vâng, tác giả đã rất đúng!

Một khi CS đã giai cấp hoá các quyền lợi chính trị của dân vào tay giai cấp CS (bằng Điều 4 Hiến pháp và nhiều điều luật khác), thì họ cũng đã giai cấp hoá mọi quyền lợi khác như y tế, giáo dục, kinh doanh, văn hoá, thể thao, cả đối ngoại, quốc phòng…

Mọi quyền lợi “thơm ngon” nhất, to lớn nhất đều trong tay giai cấp CS và con em họ, một cách ngang nhiên: công bằng của kẻ mạnh, kẻ thắng!

Trong ngành y có tới ba hệ thống dịch vụ:
– môt, cho người nghèo: thiếu thốn, yếu kém…
– một, cho người có tiền: cao cấp, chất lượng – phải trả tiền;
– và một, cho người có tiền và có quyền (CS): cao cấp, miễn phí!
thì y đức và y thuật bị đảo lộn méo mó là tất yếu!

Chỉ có đa số dân nghèo là mãi phải chịu chết trong lầm than mà CS hứa sẽ phá đi nhưng thực tế CS lại làm nó tệ hại hơn gấp bội mà thôi!

2. giaicapmoi (khách viếng thăm) gửi lúc 18:31, 18/05/2011 – mã số 33655

Đó là Giai Cấp mới. CNCS hay CNXH được xây dựng trên lý thuyết là đấu tranh san bằng giai cấp, giải phóng người nghèo. Thực tế ngày hôm nay cho thấy: giai cấp mới (tư bản đỏ) ngày hôm nay còn kinh hoàng hơn dưới thời VNCH. Họ tiếp tục rao giảng chủ nghĩa Mác-Lê cho nhân dân, nhưng bản thân thì đã biến thành tư bản hơn cả tư bản thứ thiệt. Đặc quyền, đặc lợi trong tất cả mọi lãnh vực, chia chác tài sản Quốc Gia, ăn cướp của dân. Ta phải gọi họ là gì?

3. Phan BA (khách viếng thăm) gửi lúc 19:23, 18/05/2011 – mã số 33657

Cám ơn tác giả, hàng 700 tờ báo, cả đống đài TV, hàng ngàn người ăn lương viết thuê: Không ai dám đăng một bài như bài này!

4. visitor (khách viếng thăm) gửi lúc 23:24, 18/05/2011 – mã số 33670

Ơ những xứ ‘tư bản’ mà tôi biết thì không có khái niệm đội y tế chăm sóc sức khỏe riêng cho các quan lớn như ở VN. Tôi còn tận mắt thấy một ông cấp to nhất một quận hàng ngày đi làm bằng xe bus.

5. CB (khách viếng thăm) gửi lúc 09:04, 19/05/2011 – mã số 33678

Nhà nước ta là nhà nước “của dân, do dân, vì dân”, cán bộ nhà nước là “công bộc” của nhân dân. Như vậy, lẻ ra nhân dân phải được chăm sóc, bảo vệ sức khỏe hơn hẳn cán bộ chứ sao lại có chuyện ngược đời vậy? Lẻ nào “đầy tớ” mà hưởng quyền lợi hơn “người chủ”, “người chủ” phải quỵ lụy, cung phụng cho “đầy tớ”?

6. Khách that nghiep (khách viếng thăm) gửi lúc 10:37, 19/05/2011 – mã số 33686

Tôi muốn làm cán bộ lãnh đạo ở Việt Nam để ăn cắp và được chăm sóc như thế, còn bọn dân ngu thì mặc chúng nó. Chúng nó cứ tiếp tục cầm búa và liềm cung phụng chúng tôi, còn khi chúng nó bệnh thì… mặc chúng nó vì chúng nó không có quyền hưởng những thứ như thế, hỡi bọn cầm búa và liềm ngu ngốc.

7.

Posted in Đảng CSVN | Leave a Comment »

Có trên 1 triệu 100 ngàn người VN đang được phát gạo cứu đói trong tháng 5-2011

Posted by hoangtran204 trên 19/05/2011

Theo bài báo dưới đây thì có 2 lần chính phủ phát gạo cứu đói trong tháng 5/ 2011.

Lần ngày 17/5/ 2011

11 600 tấn gạo = 11 600 000 kg gạo. Một người ăn 15 kg/ 1 tháng.

Chia số gạo nói trên cho 15 kg/ 1 người/ 1 tháng. Vậy có tối thiểu trên 773 377 người bị đói.

Lần ngày 12/5/2011

4.995 tấn gạo cho 5 địa phương gồm Kon Tum,  Hà Giang, Lào Cai, Yên Bái và Gia Lai.

Số gạo nầy tương đương với 4 995 000 kg. Đem chia cho 15 kg/ 1 đầu người/ 1 tháng, thì số người được cứu đói là 333 000 người.

Tổng cộng cả 2 lần cứu đói kể trên, thì phải có 1 triệu 100 ngàn người đang được cứu đói

Chính phủ cấp thêm 11.600 tấn gạo cứu đói

Chính phủ cấp thêm 11.600 tấn gạo cứu đói

Tổng cộng Chính phủ đã xuất gần 17.000 tấn gạo từ nguồn dự trữ quốc gia cho người dân 11 tỉnh bị đói dịp giáp hạt năm nay.

Ngày 17/5, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng quyết định giao Bộ Tài chính xuất cấp 11.657 tấn gạo hỗ trợ 6 địa phương để cứu đói nhân dân trong dịp giáp hạt và cứu đói cho hộ nghèo thiếu đói do bị hạn hán.
Số gạo trên được phân bổ như sau: Tỉnh Quảng Bình 2.000 tấn, Thừa Thiên Huế 1.500 tấn, Thanh Hóa 2.049 tấn, Nghệ An 3.908 tấn, Quảng Trị 1.800 tấn và Gia Lai 400 tấn.

Đây là lần thứ 2 trong tháng 5 Thủ tướng quyết định hỗ trợ gạo cho các địa phương. Lần đầu là vào ngày 12/5, Thủ tướng quyết định hỗ trợ 4.995 tấn gạo cho 5 địa phương gồm Kon Tum,  Hà Giang, Lào Cai, Yên Bái và Gia Lai.

Nguồn Chinhphu.vn

http://gafin.vn/2011051808032858p0c33/chinh-phu-cap-them-11600-tan-gao-cuu-doi.htm

Posted in Thực Phẩm và sức khỏe | 1 Comment »

Rise and Fall of IMF Chief DSK

Posted by hoangtran204 trên 18/05/2011

1 of 18

IMF head Dominique Strauss-Kahn is seen at Manhattan Criminal Court, in New York, May 16, 2011. A New York judge denied IMF chief Dominique Strauss-Kahn bail on Monday, despite an offer from his defense team to put up $1 million in cash and surrender all his travel documents.The judge ordered the IMF chief detained, two days after he was pulled off a plane and accused of trying to rape a Manhattan hotel chambermaid.

(EMMANUEL DUNAND/AFP/Getty Images) Hide caption

IMF head Dominique Strauss-Kahn is seen at Manhattan Criminal Court, in New York, May 16, 2011.

A New York judge denied IMF chief Dominique Strauss-Kahn bail on Monday, despite an offer from

his defense team to put up $1 million in cash and surrender all his travel documents.The judge

ordered the IMF chief detained, two days after he was pulled off a plane and accused of trying to

rape a Manhattan hotel chambermaid.

French socialist party MP and national secretary for economics Dominique Strauss-Kahn, flanked by former minister of finance Pierre Beregovoy, left, and former labor minister Michel Delebarre, right, gives a press conference on the economic and social situation in France on June 19, 1986, in Paris.

(EMMANUEL DUNAND/AFP/Getty Images) Hide caption

(Bộ trưởng Kinh Tế Dominique S. Kahn (giữa), Cựu Bộ Trưởng Tài Chánh Pierre Beregovoy (trái),

và cựu Bộ Trưởng Lao Động Michel Delebarre (phải) June 19, 1986 ở Pháp)

French socialist party MP and national secretary for economics Dominique Strauss-Kahn,

flanked by former minister of finance Pierre Beregovoy, left, and former labor minister Michel Delebarre,

right, gives a press conference on the economic and social situation in France on June 19, 1986, in Paris.

French socialist candidate Dominique Strauss-Kahn is pictured during his campaign for the next municipals elections on March 15, 1990 in Sarcelles.

Ứng cử viên đảng xã hội Pháp Dominique S. Kahn trong cuộc vận động của cuộc tranh cử ngày 15-3-1990 ở

Sarcelle.

French socialist candidate Dominique Strauss-Kahn is pictured during his campaign for the

next municipals elections on March 15, 1990 in Sarcelle

French junior minister in charge of industry Dominique Strauss-Kahn and his wife, journalist Anne Sinclair, pose during the inauguration of Eurodisneyland on April 11, 1992, in Marne-la-Vallee.

Bộ Trưởng Kỹ Nghệ Dominique S. Kahn và vợ là ký giả Anne Sinclair, 11 -4-1992

French junior minister in charge of industry Dominique Strauss-Kahn and his wife, journalist
Anne Sinclair, pose during the inauguration of Eurodisneyland on April 11, 1992, in Marne-la-Vallee

French Labor Minister Martine Aubry and French Industry and Foreign Trade Minister Dominique Strauss-Kahn take part in the TV broadcast show "Audition Publique" on France 2 channel for the legislative election on February 11, 1993, in Paris.
(PIERRE VERDY/AFP/Getty Images) Hide caption

Bộ trưởng Lao động Martine Aubry và Bộ Trưởng  kỹ Nghệ và Thương  Mại Dominique S. Kahn

tham dự trong chương trình Audition Publique trên đài số 2 trong cuộc bầu cử  giới lập pháp

vào 11 tháng 2, 1993

French Labor Minister Martine Aubry and French Industry and Foreign Trade Minister Dominique

Strauss-Kahn take part in the TV broadcast show “Audition Publique” on France 2 channel for

the legislative election on February 11, 1993, in Paris.

French Minister of Economy, Finance and Industry, Dominique Strauss-Kahn, left, speaks with his wife, Anne Sinclair, before the start of a luncheon on Nov. 10, 1997, at the New York chapter of the French-American Chamber of Commerce where he was the guest speaker..

Bộ Trưởng Kinh tế, Tài chánh, và Kỹ Nghệ Dominique S. Kahn, trái, đang nói chuyện với vợ là bà

Anne Sinclair, trước buổi ăn trưa ở New York vào ngày 10-11-1997, tại Phòng Thương

Mại Mỹ Pháp, ông là diễn giả trong buổi họp nầy.

French Minister of Economy, Finance and Industry, Dominique Strauss-Kahn, left,

speaks with his wife, Anne Sinclair, before the start of a luncheon on Nov. 10, 1997,

at the New York chapter of the French-American Chamber of Commerce where he

was the guest speaker.

A photo dated June 2, 1997, in Paris, shows former French Finance Minister Dominique Strauss-Kahn. Strauss-Kahn looked set for an early return to frontline politics as the charges against him in a forgery trial in Paris fell to pieces October 10, 2001. Strauss-Kahn is being tried for allegedly back-dating bills for some 600,000 francs (91,470 euros) (USD 83,613) which will be paid by the students' insurance fund MNEF.

(PIERRE VERDY/AFP) Hide caption

A photo dated June 2, 1997, in Paris, shows former French finance minister Dominique Strauss-Kahn.

Mr. Strauss-Kahn looked set for an early return to frontline politics as the charges against him in

a forgery trial in Paris fell to pieces October 10, 2001. Strauss-Kahn is being tried for allegedly

back-dating bills for some 600,000 francs (91,470 euros) (USD 83,613) which will be paid

by the students’ insurance fund MNEF.

Dominique Strauss-Kahn shakes hands with Japanese Finance Minister Hiroshi Mitsuzuka on June 21, 1997, before bilateral meetings in conjunction with the Summit of Eight in Denver, Colo.

(GERARD FOUET/AFP/Getty Images) Hide caption

Dominique S. Kahn đang bắt tay với Bộ Trưởng  Tài chánh Nhật Hiroshi Mitsuzuka vào ngày

21-6-1997, trước các cuộc họp song phương bên lề cuộc Họp Mặt 8 quốc gia kỹ nghệ hàng đầu

ở Denver, tiểu bang Colorado (Mỹ)

Dominique Strauss-Kahn shakes hands with Japanese Finance Minister Hiroshi Mitsuzuka on

June 21, 1997, before bilateral meetings in conjunction with the Summit of Eight in Denver, Colo.

US Treasury Secretary Robert Rubin(C) poses for a group photograph April 15, 1998, with (L-R) Gordon Brown, Chancellor of the Exchequer of the United Kingdom, Theo Waigel, German Minister of Finance, Dominique Strauss-Kahn, French Minister of Economy and Finance, Rubin, Carlo Ciampi, Italian Minister of the Treasury, Hikaru Matsunaga, Japanese Minister of Finance, and Paul Martin, Canadian Minister of Finance at Blair House in Washington, DC. The meeting takes place before the start of meetings of the finance minister and bank governors from the Group of Seven (G-7) industrial nations.
(CHRIS KLEPONIS/AFP) Hide caption

15-41998, Bộ Trưởng Tài Chánh Mỹ Robert Rubin (giữa), từ trái qua phải, Bộ Trưởng Ngân Khố Anh

Gordon Brown, Bộ trưởng  Tài Chánh Đức Theo Waigel, Bộ Trưởng Kinh Tế và Tài Chánh Pháp

Dominique S. Kahn, BT Tài Chánh  Mỹ Robert Robin, BT Tài Chánh Ý  Carlo Ciampi,

BT Tài Chánh  Nhật Hikaru Matsunaga, và BT Tài Chánh Canada PaulMartin ở

Washington D.C.

US Treasury Secretary Robert Rubin(C) poses for a group photograph April 15, 1998,

with (L-R) Gordon Brown, Chancellor of the Exchequer of the United Kingdom, Theo Waigel,

German Minister of Finance,Dominique Strauss-Kahn, French Minister of Economy and Finance, Rubin,

Carlo Ciampi, Italian Minister of the Treasury, Hikaru Matsunaga, Japanese Minister of Finance,and Paul

Martin, Canadian Minister of Finance at Blair House in Washington, DC.  The meeting takes placebefore

the start of meetings of the finance minister and bank governors from the Group of Seven (G-7) industrial

nations.

Dominique Strauss-Kahn grimaces while leaving Elysee Palace after a cabinet meeting on Sept. 2, 1998.

Dominique Strauss-Kahn grimaces while leaving Elysee Palace after a cabinet meeting on Sept. 2, 1998.

Treasury Secretary Robert Rubin, center, poses with foreign economic ministers in Washington Monday, April 26, 1999. From left, are: Canadian Finance Minister Paul Martin, Japanese Finance Minister Kiichi Miyazawa, Italian Treasury Minister Carlo Azeglio Ciampi, Rubin, British Chancellor of the Exchequer Gordon Brown, German Finance Minister Hans Eichel, and French Finance Minister Dominique Strauss-Kahn.

(Ron Edmonds/AP) Hide caption

Treasury Secretary Robert Rubin, center, poses with foreign economic ministers in Washington

Monday, April 26, 1999. From left, are: Canadian Finance Minister Paul Martin, Japanese Finance

Minister Kiichi Miyazawa, Italian Treasury Minister Carlo Azeglio Ciampi, Rubin,

British Chancellor of the Exchequer Gordon Brown, German Finance Minister Hans Eichel,

and French Finance Minister Dominique Strauss-Kahn.

German Chancellor Angela Merkel talks to Dominique Strauss-Kahn, Managing Director of the International Monetary Fund (IMF), after a news conference in Berlin, December 19, 2007.

(Tobias Schwarz/Reuters) Hide caption

Thủ Tướng  Đức Angela Merkel nói chuyện với Dominique S. Kahn, Giám Đốc Quỹ Tiền Tệ Quốc tế (IMF)

sau một cuộc họp báo tại Bá Linh 19-12-2007

German Chancellor Angela Merkel talks to Dominique Strauss-Kahn, Managing Director of the International

Monetary Fund (IMF), after a news conference in Berlin, December 19, 2007.

Managing Director of the International Monetary Fund (IMF) Dominique Strauss-Kahn addresses The International Economic Forum of the Americas in Montreal, Canada on Monday June 9, 2008.

Graham Hughes/THE CANADIAN PRESS) Hide caption

Giám Đốc  Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế IMF, Dominique S. Kahn đọc diễn văn tại Diễn Đàn Kinh Tế

Quốc  Tế của các nước Châu Mỹ họp tại Montreal, Canada vào thứ Hai, 9-6-2008

As managing director of the International Monetary Fund, Dominique Strauss-Kahn addresses

The International Economic Forum of the Americas in Montreal on Monday June 9, 2008.

Ben Bernanke, the chairman of the Federal Reserve, center left, and Dominique Strauss-Kahn, the managing director of the International Monetary Fund, at an IMF meet, in Washington, Oct. 12, 2008.

(Jim Lo Scalzo/The New York Times) Hide caption
Tổng  Giám Đốc Ngân  Hàng  Dự Trữ Liên Bang Mỹ Ben Bernanke (16), và Giám Đốc QuỹTiền Tệ Quốc tế
Dominique S. Kahn,  tại 1 cuộc họp của IMF, ở Washington ngày 12-10-2008.

Ben Bernanke, the chairman of the Federal Reserve, center left, and Dominique Strauss-Kahn,

the managing director of the International Monetary Fund, at an IMF meet, in Washington, Oct. 12, 2008.

International Monetary Fund Managing Director Dominique Strauss-Kahn (R) speaks with France's President Nicolas Sarkozy before a family photo during the G8 summit in L'Aquila, Italy July 9, 2009.

Alessandro Bianchi/Reuters) Hide caption

Giám Đốc  Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế (IMF) Dominique S. Kahn (phải) đang nói chuyện với Tổng Thống

Pháp Nicolas Sarkozy trước lúc chụp hình cả nhóm trong buổi họp 8 quốc gia Kỹ Nghệ ở Ý,

9-7-2009.

International Monetary Fund Managing Director Dominique Strauss-Kahn (R) speaks with

France’s President Nicolas Sarkozy before a family photo during the G8 summit in L’Aquila, Italy July 9, 2009.

U.S. President Barack Obama (C) and first lady Michelle Obama greet IMF Managing Director Dominique Strauss-Kahn as they arrive at the Phipps Conservatory for an opening reception and working dinner for heads of delegation, at the Pittsburgh G20 Summit in Pittsburgh, Pennsylvania September 24, 2009.

(Chris Wattie/Reuters) Hide caption

Tổng Thống Mỹ Obama và đệ nhất phu nhân Michelle Obama chào Giám Đốc Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế

Dominique S. Kahn tại cuộc họp 20 cường quốc Kỹ nghệ ở Pittsburgh, Pennsylvania  24-9-2009.

U.S. President Barack Obama (C) and first lady Michelle Obama greet IMF Managing Director Dominique

Strauss-Kahn as they arrive at the Phipps Conservatory for an opening reception and working dinner for heads

of delegation, at the Pittsburgh G20 Summit in Pittsburgh, Pennsylvania September 24, 2009.

Dominique Strauss-Kahn appears in court with his lawyer, Benjamin Brafman, for an arraignment over allegations that he had sexually assaulted a maid in New York. Strauss-Kahn was ordered on Monday to be held without bail after being formally arrested Sunday on charges of criminal sexual act, attempted rape, and unlawful imprisonment in connection with a sexual assault on a hotel chambermaid.

(MICHAEL APPLETON/NYT) Hide caption
Dominique S. Kahn ỏ trong tòa án với luật sư Benjamin Brafman, May 16, 2011

Dominique Strauss-Kahn appears in court with his lawyer, Benjamin Brafman, for an arraignment over

allegations that he had sexually assaulted a maid in New York. Strauss-Kahn was ordered on Monday to be held

without bail after being formally arrested Sunday on charges of criminal sexual act, attempted rape, and

unlawful imprisonment in connection with a sexual assault on a hotel chambermaid.

IMF head Dominique Strauss-Kahn is seen at Manhattan Criminal Court, in New York, May 16, 2011. A New York judge denied IMF chief Dominique Strauss-Kahn bail on Monday, despite an offer from his defense team to put up $1 million in cash and surrender all his travel documents.The judge ordered the IMF chief detained, two days after he was pulled off a plane and accused of trying to rape a Manhattan hotel chambermaid.

(EMMANUEL DUNAND/AFP/Getty Images) Hide caption

IMF head Dominique Strauss-Kahn is seen at Manhattan Criminal Court, in New York, May 16, 2011. A New York

judge denied IMF chief Dominique Strauss-Kahn bail on Monday, despite an offer from his defense team to put

up $1 million in cash and surrender all his travel documents.The judge ordered the IMF chief detained, two days

after he was pulled off a plane and accused of trying to rape a Manhattan hotel chambermaid.

Nafissatou Diallo, the lady involved with Dominique Straus  Kahn in the

hotel in New York .

Nafissatou Diallo, người đàn bà có liên quan với Dominique S. Kahn trong

khách sạn ở New York.

  • IMF head Dominique Strauss-Kahn is seen at Manhattan Criminal Court, in New York, May 16, 2011. A New York judge denied IMF chief Dominique Strauss-Kahn bail on Monday, despite an offer from his defense team to put up $1 million in cash and surrender all his travel documents.The judge ordered the IMF chief detained, two days after he was pulled off a plane and accused of trying to rape a Manhattan hotel chambermaid.
    (EMMANUEL DUNAND/AFP/Getty Images) Hide caption

    IMF head Dominique Strauss-Kahn is seen at Manhattan Criminal Court, in New York, May 16, 2011. A New York judge denied IMF chief Dominique Strauss-Kahn bail on Monday, despite an offer from his defense team to put up $1 million in cash and surrender all his travel documents.The judge ordered the IMF chief detained, two days after he was pulled off a plane and accused of trying to rape a Manhattan hotel chambermaid.

  • French socialist party MP and national secretary for economics Dominique Strauss-Kahn, flanked by former minister of finance Pierre Beregovoy, left, and former labor minister Michel Delebarre, right, gives a press conference on the economic and social situation in France on June 19, 1986, in Paris.
    (PIERRE VERDY/AFP/Getty Images) Show caption

    French socialist party MP and national secretary for economics Dominique Strauss-Kahn, flanked by former minister of finance Pierre Beregovoy, left, and former labor minister Michel Delebarre, right, gives a press conference on the economic and social situation in France on June 19, 1986, in Paris.

  • French socialist candidate Dominique Strauss-Kahn is pictured during his campaign for the next municipals elections on March 15, 1990 in Sarcelles.
    (GILLES LEIMDORFER/AFP/Getty Images) Show caption

    French socialist candidate Dominique Strauss-Kahn is pictured during his campaign for the next municipals elections on March 15, 1990 in Sarcelles.

  • French junior minister in charge of industry Dominique Strauss-Kahn and his wife, journalist Anne Sinclair, pose during the inauguration of Eurodisneyland on April 11, 1992, in Marne-la-Vallee.
    (AFP/Getty Images) Show caption

    French junior minister in charge of industry Dominique Strauss-Kahn and his wife, journalist Anne Sinclair, pose during the inauguration of Eurodisneyland on April 11, 1992, in Marne-la-Vallee.

  • .

  • Dominique Strauss-Kahn shakes hands with Japanese Finance Minister Hiroshi Mitsuzuka on June 21, 1997, before bilateral meetings in conjunction with the Summit of Eight in Denver, Colo.
    (GERARD FOUET/AFP/Getty Images) Show caption

    Dominique Strauss-Kahn shakes hands with Japanese Finance Minister Hiroshi Mitsuzuka on June 21, 1997, before bilateral meetings in conjunction with the Summit of Eight in Denver, Colo.

  • (CHRIS KLEPONIS/AFP) Show capt

Posted in Nhan Vat Chinh tri | 1 Comment »

513 Di dân lậu vào Mỹ bị bắt

Posted by hoangtran204 trên 18/05/2011

Migrants from Latin America and Asia are seen ...
Di dân lậu vào Mỹ (May 17, 2011) đứng trong xe tải, tay nắm dây.
Migrants from Latin America and Asia leave a ...
Migrants from Latin America and Asia leave a trailer truck after being detected by police X-ray equipment, near Tuxtla Gutierrez, in Mexico’s state of Chiapas, in this photo released by Chiapas State Attorney General on May 18, 2011. Two trailer trucks heading to the U.S and containing about 513 migrants were discovered at a checkpoint on early Tuesday. REUTERS
This photo released by Chiapas state Attorney ...
Migrants wait outside the Attorney Generals ...
Nhật, Trung Quốc, Ấn  Độ, Latinos…
May 18, 2011

Posted in Pháp Luật | Leave a Comment »

Ai, lực lượng nào đang đánh phá “đảng ta” ?

Posted by hoangtran204 trên 17/05/2011

Tác giả: Song Chi


 

Có một điều mà rất nhiều người, kể cả tôi, đều không thể hiểu nổi: đó là vì sao đảng và nhà nước cộng sản VN lại thiếu lòng tin và có quá nhiều nỗi sợ hãi, nghi kỵ đến thế khi hành xử đối với chính nhân dân của họ? Cứ tưởng sau 66 năm kể từ ngày giành được chính quyền ở miền Bắc và 36 năm kể từ ngày nắm trọn quyền lãnh đạo trên toàn quốc, thời gian càng dài thì mối quanh hệ giữa đảng, nhà nước và nhân dân phải ngày càng hiểu biết, gắn bó, tin cậy lẫn nhau chứ nhỉ? Cứ tưởng từ xưa đến nay đảng ta vẫn một mình nắm trọn tất cả quyền lực trong tay, từ chính phủ, quốc hội, luật pháp, quân đội, công an cho tới giới truyền thông, thậm chí kể cả mạng sống của gần 90 triệu dân VN, như vậy thì còn phải sợ hãi ai, cái gì?

Ấy vậy mà đảng ta ngày đêm lo sợ. Từ đảng viên cho đến mọi người dân đều được thường xuyên nhắc nhở, giáo huấn, rằng phải giương cao tinh thần cảnh giác trước mọi “âm mưu diễn biến hòa bình, âm mưu phá hoại của các lực lượng thù địch”. Nguy cơ “diễn biến hòa bình” và sự tồn vong của chế độ được đặt lên hàng đầu, chứ không phải là nguy cơ lệ thuộc nặng nề vào nước láng giềng Trung Quốc hay sự độc lập, toàn vẹn lãnh thổ.

Đảng ta nhìn đâu cũng thấy kẻ thù. Một anh cựu bộ đội, blogger như Điếu Cày với mấy người bạn cùng nhau viết blog, bày tỏ mối quan tâm đến xã hội hoặc biểu tình phản đối Trung Quốc xâm lược Hoàng Sa Trường Sa. Một gái yếu đuối trói gà không chặt như Phạm Thanh Nghiên, ngồi tọa kháng tại nhà, cũng chỉ để phản đối Trung Quốc, chứng tỏ tinh thần yêu nước. Những thanh niên chỉ có ý muốn bảo vệ cho quyền lợi của giai cấp công nhân như Nguyễn Hoàng Quốc Hùng-Đỗ Thị Mỹ Hạnh-Đoàn Huy Chương. Những trí thức bạch diện thư sinh khao khát tự do dân chủ cho đất nước như bác sĩ Phạm Hồng Sơn, luật sư Nguyễn Văn Đài, Lê Thị Công Nhân…Hay tiến sĩ luật Cù Huy Hà Vũ, thuộc hàng con cái của các bậc công thần của chế độ, với những việc làm thực tế là sự thể hiện quyền công dân, đòi hỏi một nền pháp lý minh bạch, rõ ràng …Những con người như vậy thì làm sao lật đổ được chính quyền, vũ khí đâu, quân đội đâu…Vậy mà đảng và nhà nước cộng sản VN đã dành cho họ những bản án rất nặng và đối xử vô cùng phi nhân trong thời gian họ bị thẩm vấn, hay khi bị giam giữ.

Ngay cả khi đã ra khỏi tù như luật sư Lê Thị Công Nhân, cô cũng không thể tìm được công ăn việc làm, đi đâu cũng bị theo dõi, hở chút lại bị bắt đưa về đồn công an “làm việc”. Hoặc như blogger Điếu Cày, đã chịu đủ 30 tháng tù theo bản án nguỵ tạo tội “trốn thuế” nhưng vẫn bị giam tiếp về cái tội “tuyên truyền chống nhà nước xã hội chủ nghiã”. Suốt hơn 6 tháng trời nay gia đình không được thăm nuôi tiếp tế, chả biết Điếu Cày sống chết ra sao.

Nếu một chính quyền có đủ lòng tin vào tính chính danh của mình, có được sự đồng thuận từ sâu xa bên trong lòng nhân dân hẳn đã không cư xử như thế.

Vì sợ hãi, đảng đã bóp nghẹt mọi quyền tự do dân chủ tối thiểu của người dân VN như tự do ngôn luận, báo chí, tự do ứng cử và bầu cử, tự do hội họp, biểu tình, đình công, tự do khiếu kiện các cơ quan nhà nước hay các cá nhân có quyền lực cao nếu các cơ quan/cá nhân đó sai trái, tự do bày tỏ lòng yêu nước và phẫn nộ trước mối hiểm hoạ từ phương Bắc v.v…

Vì sợ hãi, đảng khước từ mọi cơ hội thay đổi toàn diện, để đồng hành cùng nhân dân lựa chọn con đường đi đúng đắn nhất cho đất nước, cho dân tộc. Đảng chỉ đổi mới nửa vời, đổi mới “một chân” kiềng là kinh tế nên đất nước cứ như con tàu chòng chành, một ngày nào đó sẽ chìm lỉm luôn như con tàu Vinashin vậy.

Lẽ ra, thay vì sợ hãi và nghi kỵ nhân dân của mình, dùng sức mạnh của bạo quyền, công an, quân đội và nhà tù để khống chế và đàn áp nhân dân, đảng và nhà nước cộng sản VN nên bình tâm ngồi nghĩ xem: ai, lực lượng nào mới chính là kẻ thù của họ, đang phá nát cái đất nước này, phá nát lòng tin của người dân dành cho họ?

Đó chính là vô số những ông quan to quan nhỏ bất tài nhưng nhờ chạy bằng, chạy chức mà ngồi vào được những vị trí ngon lành ở mọi lĩnh vực trong khi năng lực không có, làm đâu hỏng đấy, khiến cho xã hội nát bét. Hàng loạt tập đoàn kinh tế quốc doanh đưa nhau vỡ nợ, phá sản.

Trong bài “Rùng mình với những vụ thua lỗ bạc tỷ của “ông lớn” đăng trên Đất Việt ngày 20.4.2011, ngoài những vụ phá sản, hoặc thua lỗ đình đám dư luận của tập đoàn đóng tàu Vinashin, tập đoàn điện lực Việt Nam EVN, tổng công ty xăng dầu VN Petrolimex, Công ty cho thuê tài chính 2 (ALCII)-một công ty con của Agribank…bài báo viết:

“Ngoài những doanh nghiệp Nhà nước lớn kể trên, rất nhiều doanh nghiệp hoặc công ty con của các doanh nghiệp Nhà nước khác cũng đã và đang rơi vào tình trạng thua lỗ nặng. Theo số liệu Kiểm toán Nhà nước công bố vào cuối năm 2010, kết quả kiểm toán 183 trong số 242 doanh nghiệp hạch toán độc lập thuộc 20 tổng công ty nhà nước cho thấy, chỉ 88% (161/183) doanh nghiệp có lãi…”.

Làm ăn như thế chả trách gì 25 năm sau đổi mới, khi thế giới đã xếp VN vào ngưỡng thu nhập trung bình, nhưng tại Hội nghị Thường niên ADB lần thứ 44 ngày 5.5.2011 tại Hà Nội, ông Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng vẫn cứ phải kêu lên “VN vẫn là một nước nghèo” để tiếp tục kêu gọi sự hỗ trợ của cộng đồng quốc tế. Nghĩa là tiếp tục đi vay, và đi ăn mày!

Và ngay chính ông Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, cũng là một nhân vật ngồi vào cái chỗ cao hơn trình độ, năng lực của mình, nên sau 5 năm điều hành, quản lý đất nước của ông Dũng, bức tranh kinh tế lẫn xã hội của VN thật là ảm đạm!

Những ông quan to quan nhỏ ấy không chỉ háo danh, bất tài, thiếu đức, thiếu tầm mà còn tham lam vô độ, ăn được cái gì là ăn, vơ vét được cái gì là vơ vét theo kiểu “tư duy nhiệm kỳ”, sống chết mặc bay. Tham nhũng đã trở thành quốc nạn ở đất nước này. Càng hô hào chống tham nhũng thì tham nhũng càng phát triển, sinh sôi nảy nở rễ cái rễ con, hút sạch từ rừng vàng biển bạc khoáng sản đất đai…cho đến các công trình, dự án, lễ hội…

Càng bày lắm trò thì càng ăn nhiểu. Ăn không kể gì đến thể diện quốc gia, ăn không chừa phần cho con cháu mai sau. Nên những công trình bạc tỷ như đại lộ Thăng Long mới vừa hoàn thành xong đã nứt, sân bay quốc tế Nội Bài thì bục hầm cầu phân người trôi lênh láng, mùi xú uế nồng nặc…Vậy mà họ còn đòi khai thác bauxite, xây tàu cao tốc, làm nhà máy điện hạt nhân. Và cam đoan đã nghiên cứu kỹ, độ an toàn hơn cả những quốc gia nhiều năm kinh nghiệm chế biến nhôm như Hungary hay quốc gia có kỹ thuật cao về công nghệ điện hạt nhân như Nhật Bản! Lại rùng mình nghĩ đến tương lai, khi một cái bể chứa bùn đỏ bauxite bị vỡ hay một nhà máy điện hạt nhân bị nổ, thì tai họa sẽ đến mức nào?

Cùng với đội ngũ quan tham bất tài là những kẻ được gọi là “công an nhân dân”, nhưng hành xử với dân không khác kẻ thù. Chỉ vì một lỗi nhỏ như chạy xe quên đội mũ bảo hiểm hay vì bất kỳ lý do nào khác, đám công an “chỉ biết còn đảng còn mình” nảy sẵn sàng thượng cẳng chân hạ cẳng tay, hành hung dân đến chết. Ai còn chưa tin, xin vào google search mấy chữ “công an đánh chết dân” là sẽ cho ra hàng loạt kết quả. Khi nạn nhân đã chết, những kẻ thủ ác này bèn dựng hiện trường giả, quy cho nạn nhân tự tử hoặc đột quỵ. Có bao nhiêu người dân đã chết oan ức như vậy nhưng ngoại trừ một vài vụ như vụ tay thiếu úy Nguyễn Thế Nghiệp đánh chết anh Nguyễn Văn Khương ở Bắc Giang bị 7 năm tù, còn lại bao nhiêu tay công an đánh chết dân khác vẫn ung dung, chả hề hấn gì! Chính bọn này với cách hành xử côn đồ, coi tính mạng người dân như cỏ rác, mới chính là lực lượng đang góp phần phá đảng, phá nát lòng tin của người dân!

Còn nữa, những ông thẩm phán xử án bôi bác trong những phiên tòa bỏ túi làm trò hề cho chế độ, khiến cho cả thế giới phải chỉ trích.

Còn nữa, đội ngũ những cây bồi bút, văn nô, thỉnh thoảng lại viết bài xuyên tạc sự thật, nịnh hót để lập công với đảng nhưng từ lập luận cho đến phương pháp tranh luận đểu sai, lý luận cùn, tấn công vào đời tư, cố tình đánh tráo khái niệm hoặc chụp mũ người khác…Hoặc nói lấy được những điều mà cả thế giới lẫn người dân đều không còn tin nữa…Những bài viết loại này vô tình lại trở thành phản tác dụng, làm cho người đọc càng thấy rõ ai đúng ai sai!

Còn nữa, cái loa Nguyễn Phương Nga cứ luôn luôn lập đi lập lại “VN không có cái gọi là tù nhân lương tâm, VN không có tù chính trị, tôn giáo, ở VN quyền con người được tôn trọng”…Nhưng vừa nói xong thì sự thật lại trái ngược với bao nhiêu bằng chứng, tư liệu được các đài, báo quốc tế, các tổ chức phi chính phủ trên thế giới trưng ra…Khiến cho ta lại tự vả vào mồm ta!

Còn nữa…

Còn nữa…

Đấy chính là những lực lượng đang đánh phá đảng từ trong ra ngoài, đang phá nát đất nước này, phá nát lòng tin của người dân. Những nhân vật bất đồng chính kiến đơn lẻ, không một tấc sắt trong tay làm sao có thể gây nguy hiểm, làm sụp đổ chế độ cho bằng những lực lượng âm binh này?

Nếu bình tâm suy xét, “đảng ta” hãy cấp tốc sửa sai bằng cách:

Cách chức ngay tất cả những vị quan ngồi nhầm chỗ, đưa những người có thực tải thực lực lên điều hành quản lý đất nước. Xử án thật nghiêm tất cả những kẻ tham nhũng, bất kể đó là ai, thì nạn tham nhũng chắc chắn phải vơi bớt. Giáo dục lại giới công an, và đưa ra xét xử tất cả những tay công an nào đánh chết dân hay có hành vi nhũng nhiễu, đe dọa dân lành. Nâng cao trí tuệ cho những cây bồi bút, thay vì đánh dưới thắt lưng thiên hạ, nói không thành có, nói có thành không, hãy đi học lại về lập luận, các phương pháp tranh luận và tranh luận đàng hoàng với đối phương…

Và thay vì đảng cứ cãi chày cãi cối, chối biến mọi việc trước dư luận quốc tế thì thay đổi cách hành xử với dân, dừng tất cả những vụ bắt bớ người bất đổng chính kiến, cho dân được mở mồm mà nói; dừng tất cả những vụ đàn áp tôn giáo, vi phạm nhân quyền…thì thế giới có lý do gì mà chĩa vào ta?

Nhưng nghĩ cho cùng, đó cũng chỉ là sửa được ngọn mà không sửa được gốc vấn để.

Vả lại, nếu làm được thế thì đảng ta hẳn đã là một đảng nào khác rồi, đâu có còn là cái đảng mả từ xưa đến nay dân ta vẫn quá biết ấy ?

Nguồn: Blog Song Chi

và ở đây

—–

Sự thật đàng sau của việc “diễn tập chống gây rối”, là lo sợ  Hơn 240.000 dân Thanh Hóa đang bị nạn đói sẽ đi biểu tình đòi hỏi quyền được có đất đai để canh tác. Một đảng độc tài ăn hại tự xem là quang vinh, nắm quyền kiểu gì mà năm nào dân chúng ở tỉnh Thanh Hóa cũng đói khát hàng trăm ngàn người trong suốt mấy chục năm qua.

Nạn đói năm 2011 ở Thanh Hóa không phải là lần đầu tiên, mà Thanh Hóa bị đói mỗi năm trong suốt mấy chục năm qua nên mới có từ  “thiếu đói mùa giáp hạt”. Năm 1988, dân tỉnh Thanh Hóa đã bị đói kinh hoàng, rất nhiều người chết đói trong suốt 3 năm 1985-1988, lợi dụng lúc ấy Lê Duẫn nằm trên giường bệnh chờ chết, nhóm cố vấn kinh tế miền Nam đã xúi ông Võ Văn Kiệt và Đỗ Mười  thay đổi đường hướng kinh tế chuyển qua tư bản chủ nghĩa nếu không thì cả nước sẽ không còn gạo, không còn xăng, không còn thuốc men, không có điện…đảng đành phải đổi mới kinh tế nhưng đảng quá mắc cở, nên phải gọi trại đi là: Kinh tế thị trường theo định hướng XHCN.

Hà Sĩ Phu nói về nạn đói ở Thanh Hoá từ năn 1988.

Anh bộ đội ấy người Thanh Hóa
Từ Cămpuchia về thăm nhà.
Ba-lô bết bụi đường xa
Dừng bên một quán nước trà nghỉ chân.
Mới ba năm
xa nhà
Quê hương anh
sao mà
đổi khác
Cơn gió lạnh thổi về
xao xác
Đàn trẻ gầy
nhao nhác
quanh sân.
Chợt anh bộ đội đăm đăm
Nhìn đứa bé đang cầm chổi quét.
Sao mà giống con anh y hệt
Gọi chủ quán ra sau nhà, anh hỏi:
– Thằng bé quét nhà, con ông đấy ư?
Chủ quán trước còn ậm ừ
Sau phải nhận… đã mua ngoài chợ!
“Tôi, hôm ấy, thương tình người mẹ
Nách bốn con, gánh mớ dây lang.
Dây bán trăm đồng, mà cân gạo tám trăm
Sao đủ cháo ăn cầm hơi được?
Phải bán con, chị như đứt ruột
Tôi nhận đứa bé con, đưa trước hai nghìn
Hẹn bao giờ có, sẽ cho thêm…”
Anh xin chuộc đứa con
Nhưng túi không đủ tiền.
Người chủ quán không cho
Bảo đã tốn công phu nuôi nấng.
Cực chẳng đã, người cha
Rút súng…
Rồi, … dắt con đi về hướng… làng bên.
Người lính hôn con
Lệ cha chảy xuống.
Con đòi khẩu súng
Đeo lệch ngang hông
Cha con người lính
Đi qua cánh đồng…

Công an Thanh Hóa diễn tập chống gây rối

Tin cho hay Công an Thanh Hóa vừa diễn tập thực binh quy mô lớn để xử lý tình huống ‘gây rối, bạo loạn và phá hoại bầu cử’.

Báo Thanh Hóa nói cuộc diễn tập diễn ra hôm 14/05 tại thành phố Thanh Hóa, do công an tỉnh kết hợp với Bộ đội Biên phòng và Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh kết hợp thực hiện.

Đây là cuộc diễn tập thực binh quy mô, nhằm “xử lý tình huống gây rối, giải cứu con tin, bảo vệ bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIII và HĐND các cấp”.

Được biết Trung tướng Đặng Văn Hiếu, Thứ trưởng Bộ Công an, đã có mặt để chỉ đạo cuộc diễn tập.

Báo Thanh Hóa tường thuật các lực lượng tham gia buổi diễn tập đã “xử lý tình huống giả định về một vụ gây rối, gây bạo loạn tại điểm bầu cử”.

Xe thiết giáp

Các bức ảnh cho thấy người dân đứng ngoài quan sát cảnh các nhân viên cứu hỏa đang tìm cách dập lửa, trong khi cảnh sát cơ động dàn hàng để thực hiện chống bạo loạn.

Lực lượng xe thiết giáp của quân đội cũng được điều tới tham gia diễn tập.

Các lực lượng tham gia cũng tập dượt việc giải cứu con tin trong trường hợp xảy ra bắt cóc.

Tại cuộc diễn tập, công an tỉnh Thanh Hóa đã huy động các phương tiện, trang thiết bị chuyên dụng hiện đại nhất.

Đây có lẽ là cuộc diễn tập chống khủng bố đầu tiên được thực hiện trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa, nơi hiện đang phải đối diện với tình trạng mất mùa khiến hàng trăm nghìn người dân lâm vào cảnh thiếu đói.

Thông thường, trước khi có các sự kiện lớn và quan trọng như các hội nghị quốc tế, cơ quan chức năng của Việt Nam lại tổ chức diễn tập chống khủng bố, đề phòng trường hợp xấu nhất có thể xảy ra.

Tháng 11 năm ngoái, một cuộc diễn tập chống khủng bố quy mô quốc gia được thực hiện trên sông Hồng với sự kết hợp của hai ngành công an và quân đội.

Tin BBC

“Diễn tập ‘chống bạo loạn’ ở Thanh Hóa trong lúc dân đói
16 tháng 5, 2011

Tỉnh Thanh Hóa, hôm Thứ Bảy, 14 tháng 5, 2011, đã tổ chức một cuộc “diễn tập phương án xử lý tình huống gây rối, gây bạo loạn, đánh bắt khủng bố, giải cứu con tin” qui mô.

Cuộc diễn tập có cả xe thiết giáp của quân đội

Cuộc diễn tập quy mô này được cho là lần đầu tiên diễn ra tại tỉnh Thanh Hóa, nơi mà gần 1/4 triệu người ở các huyện dọc theo miền biển đến miền núi, hiện đang phải đối mặt với cái đói vì mùa màng thất bát và người nông dân mất đất.

Sự đói khổ quá sức chịu đựng vì sưu cao thuế nặng hoặc sự đàn áp tôn giáo dễ dẫn tới bạo động  có thể là nguyên nhân thúc đẩy Hà Nội luôn luôn nghĩ tới các bài bản diễn tập quận sự để đối phó với quần chúng.

Hồi cuối tháng 2, 2011, một cuộc diễn tập tương tự cũng được tổ chức tại thành phố Phan Thiết của tỉnh Bình Thuận với 500 sĩ quan và binh lính tham gia.

Trước đó, ngày 10 tháng 11, 2010, một cuộc diễn tập qui mô có cả tàu, máy bay trực thăng với hơn một ngàn cán bộ nhiều ngành khác nhau tập luyện “chống khủng bố, giải cứu con tin” ngay ở sông Hồng


Posted in Đảng CSVN | Leave a Comment »

►VietNam War: Tóm tắt cuộc chiến…Số người VN đã chết trong chiến tranh VN cao Khủng Khiếp!

Posted by hoangtran204 trên 17/05/2011

Lưu lại đây để rồi có dịp sẽ dịch sau.

1. Mặc dù Nhật chịu trách nhiệm chính, nhưng ông Hồ chí Minh và đảng Cộng Sản VN khi chiếm miền Bắc đã thay đổi  kinh tế và chính trị của miền nầy và  gây ra nạn đói ở miền Bắc vào năm 1945, làm cho 400.000- 1.000.000 người VN bị chết đói.

Trong khi ở miền Nam đã không có ai bị chết đói. Ông Hồ chí Minh luôn cải rằng đảng CSVN không chịu trách nhiệm về nạn đói, và nói rằng cần phát động cuộc chiến tranh toàn diện để đi tới thắng lợi. Ông đã từ  chối Pháp và miền Nam gởi gạo ra Bắc để giúp đỡ.

http://www.conservapedia.com/Vietnam_War#The_North_Vietnamese_Terror

Vietnam War

The Vietnam War, also known as the Second Indochina War or The American War (in Vietnam), was fought principally between North Vietnamese Communist troops and South Vietnamese forces supported by American soldiers. The war was basically a fight over whether South Vietnam should have a Communist government, part of the ongoing Cold War between the US and the Soviets.

The war was in progress more or less continuously since the surrender of Japan, which occupied Vietnam during World War II, in 1945. Ho Chi Minh, an operative of the Comintern (the Soviet organization charged with promoting Marxist-Leninist revolution around the world),[1] led the movement for a unified, Communist Vietnam from 1941 on.

He served as the dictator of North Vietnam until the late fifties, though he remained the figurehead president. He remained a popular icon of the New Left around the world, despite heading a totalitarian dictatorship and supporting the slaughter of millions of people.

Prelude

During World War II the Japanese occupied Vietnam and disarmed the French. With the vacuum caused by the defeat of Japan, an opportunity arose for the Communists to declare the “independence” of Vietnam in 1945. No nation recognized the new regime and the French returned and swept it away, with remnants hiding in the mountains.

The United States backed France and its puppet emperor Bao Dai. Ho Chi Minh began a campaign to fight a weakened France and seize independence through force. France’s economy was shattered by the war and so by 1953, 80% of the money and material used by Bao Dai’s troops came from the United States.

Nonetheless, in early 1954 French were defeated at the Battle of Dien Bien Phu over many months when the fortress was overrun by a well-forged Vietnamese fighting force. More than 500,000 Vietnamese died in this conflict with France (the First Indochina War).

The French sued for peace at talks in Geneva, the upshot of which was the creation of four independent countries in their former colony of Indochina: Cambodia, Laos, North Vietnam and South Vietnam.

North Vietnam was run by Ho Chi Minh as a totalitarian Communist dictatorship, while the South was run based on the Western model. Neither side respected the legitimacy of the other; as a consequence, the division was widely regarded as temporary. A British diplomat suggested that free elections be held in the North and South to determine the future of a unified Vietnam.

Contrary to commonly repeated myths; it was North Vietnam, not South Vietnam, that was the most extreme and steadfast in its efforts to prevent any such election from taking place.

Nevertheless, it is true that South Vietnam consistently opposed all such arguments, claiming that the majority of South Vietnamese wanted independence, but that those North Vietnamese who wanted conquest should not be allowed to veto their just demands.

The United States was willing to accept free elections and a reunified Vietnam, Communist-led and hostile to China. Indeed, US officials favored such a default outcome; they listed it in secret communications never intended for public consumption (but released in the Pentagon Papers) under the heading “advantages.”[2] The US gradually intervened, due to the insistence of the North on a campaign of military aggression, as part of its wider Cold War strategy of containment.

Unwilling to accept or even consider free elections, and with the South’s economy growing rapidly and its prospects looking brighter by the day, Ho Chi Minh was up against a wall. A unity government was established in Laos, and the US was firmly committed to defending South Vietnam from conquest.

Huge numbers of North Vietnamese desperately fled to the South for freedom. Cambodia was neutral and united behind the rule of Sihanouk. Despite repeated diplomatic efforts by the US to bring about a peaceful regional settlement; Hanoi became increasingly convinced that the revolution could be spread throughout Indochina only by force.

The North Vietnamese Terror

During the twenties and thirties, Communist forces waged an insurrection of mass murder and terrorism in an effort to seize power in Vietnam. The communist Viet Minh collaborated with French colonial forces to massacre supporters of the Vietnamese nationalist movements in the forties. When the Viet Minh went to war against France they continued their campaign to wipe out the nationalist groups. (America refused to back the French against the communists until 1950.)[3]

The Japanese invasion of French Indochina proved to be a catalyst for Vietnamese independence, as it united the Vietnamese people behind the Communist resistance to imperial domination. Both Japan and France controlled different parts of Indochina for a time, and the Japanese supported the 1945 August Revolution that led to a Communist take-over in North Vietnam. The Communists killed untold thousands throughout this struggle, and their victory led to a brief incursion into Vietnam by Nationalist China.

Ho Chi Minh arrived in Vietnam in 1941, and had seized control of all of North Vietnam by 1945. North Vietnam received massive supplies of arms from Josef Stalin and Mao Tse-Tung, enabling it to escalate its conflict with France into a full-blown, and bloody, war for independence. The Communists enacted drastic reforms that brought about a total collapse of whatever remained of the North Vietnamese economy; as a result, harvests declined by 20% in just one year. North Vietnam’s Communist rulers rejected food aid from South Vietnam and France in order to escalate their guerilla war; they exported food despite the obvious failure of their economic policies; and they indiscriminately massacred the top producers in society. Massive bombing by all sides during World War Two had destroyed much of Vietnam’s infrastructure; a drought in 1944 made conditions even more deadly and desperate. Although Japan bears primary responsibility, the Communist take-over turned this volatile situation into an outright catastrophe, as political and economic changes in the North caused the mass death by starvation of 400,000 to 1,000,000 North Vietnamese.[4] South Vietnam was virtually untouched by the famine. (This is even more remarkable when one considers the massive aid given to North Vietnam by the USSR and China, all of which was diverted for war). Inflating the scale of the famine for propaganda purposes, and heaping all of the blame on France; Ho Chi Minh absolved the Communists of any responsibility for the tragedy. He argued that war against France was the only way for the country to make a full recovery.[5]

Most of the food aid given to Imperial Japan or Vichy France came from their colony, South Vietnam; the Vietnamese Communists deliberately diverted American, Soviet, and Chinese aid sufficient to avert a famine towards their guerilla war against France and South Vietnam while forcing farmers to give up their harvets and exporting rice. To the extent the Communist North supplied food to the Japanese, it was largely part of a deliberate strategy: The Communists alternatively played the French, Vietnamese Nationalists, and Japanese against each other during their consolidation of power. The August 1945 formal Communist take-over (they had already controlled most of the country for years) of North Vietnam was, in fact, orchestrated in large measure by Japan: On August 14, 1945, the Japanese surrendered to the Allies. In Indochina, the Japanese officials took advantage of the situation to cause additional problems for the Allies. Violating their surrender agreements, they helped Vietnamese nationalist groups, including the Việt Minh, take over public buildings in various cities. On August 25, 1945, Bảo Ðại was forced to abdicate in favor of Hồ and the Việt Minh. Although Japan must share responsibility for the death toll, it would be hard to argue that the Communists were not responsible for at least part of it.

Further, Ho’s collaboration with Japanese war criminals continued long after World War Two. Hundreds of Japanese soldiers trained or commanded Vietnamese forces during the war with France.[6] According to Bernard Fall, both France and the Việt Minh were ready to come to terms by late 1947, but peace talks broke down due to Ho’s refusal to hand over Japanese military officers for trial in France. Ho praised them as friends and comrades whose loyalty could not be disabused, and then stormed out. Hundreds of thousands died as a result.[7]

The survival rate for French soldiers in Communist POW camps was comparable to the rates of survival in the Dachau concentration camp during the Holocaust.

From 1953 to 1956, the North Vietnamese Communists embarked on a ruthless “land reform” in which landowners, dissidents, and French collaborators were slaughtered en masse in a “genocide triggered by class discrimination.”[8] Early estimates as to the number killed varied from 50,000 to 1,000,000.[9] Although far-left activists such as Gareth Porter, Edwin Moise, Marilyn Young, and Edward Herman have for years denied that the bloodbath ever took place (by relying entirely on official North Vietnamese Communist propaganda, which Moise claimed was “extremely informative” and showed “a fairly high level of honesty”),[10] there is now a substantial literature available documenting the incredible scale of the mass killings.[11][12][13]

The North Vietnamese bloodbath began innocuously enough with an innocently named “rent reduction” campaign ostensibly designed to aid the poor. The slaughter escalated in 1954, with the beginning of “land reform” proper, which saw an award of more than 800,000 hectares of land and rice paddies, plus 100,000 cows and water buffalo, redistributed to 2 million farmers.[14] The killing soon spread in a frenzy across the entire country in an outburst of societal madness.[15] Neighbors turned on neighbors in a paranoid attempt to satisfy government quotas specified as to the number that had to be killed per village. Anyone accused of being “bourgeois” would be executed immediately after a Stalinist show trial; children were forced to witness and applaud the slow torturing of landowners.[16] Rebellions were crushed through mass deportations; scores of thousands were sent to camps; streets were filled with bodies. The entire population joined in, convinced that killing was necessary to “purify” society. Anyone deemed “too wealthy” was socially ostracized to such an extent that they could not acquire basic food or shelter, and thus starved to death along with their entire families.[17]

Domestic repression escalated dramatically, and the only free paper in North Vietnam was shut down after writing: ‘If somebody tells me to keep my mouth shut in case the Americans and Diem should make capital out of what I say, I reply: “Diem has a very good case when he refuses to hold joint consultations with us on the ground that there is no freedom in North Vietnam.”‘[18]

Official Vietnamese government records smuggled out of the country and authenticated document some 172,000 executions of victims named as landowners excluding summary executions of Communist cadre,[19] which are estimated at 40-60,000.[20] This is in line with democide analyst R.J. Rummel’s estimate of 152,000 executed.[21] The lowest widely accepted estimate of executions is a conservative figure of 56,000 from historian Bernard Fall.

Lam Thanh Liem, a major authority on land issues in Vietnam, estimates the number of executions as being potentially in the hundreds of thousands:

In South Vietnam, Nguyen Van Canh, a former Deputy Minister of the Ministry of Information and Amnesty (1969-70), sought an answer to this problem by interviewing returnees from Chieu Hoi programs and interrogating POWs, including communist cadres, soldiers, and officers from the North. These interviews and interrogations produced a great deal of valuable and reliable information. Ultimately Nguyen Van Canh was able to generate an estimate of 200,000 victims, which he divided into 2 main categories:

— 100,000 accused and murdered during the period before 1955, excluding another 40,000 victims who were sent to various concentration camps in the mountain areas. Here most of them died of malaria or other epidemic diseases. Those who were able to survive and were released became crippled mentally as well as physically. They have led a dog’s life ever since.

— 100,000 killed during phase 5, the last phase of the reform campaign, known as the Dien Bien Phu General Offensive, which ended in summer 1956. Thousands of others, most of them rich farmers and land owners, were sent to concentration camps for “reeducation.”

Of more than 200,000 victims executed, 40,000 (20%) were communist cadres, according to Nguyen Van Canh.

During work visits to the Mekong Delta (assigned by Ho Chi Minh City’s agriculture department), we had opportunities to talk to a number of Northern cadres working in scientific and technological areas as part of the “agricultural collectivization policy” in 1978-9. The discussions eventually touched on the land reform campaign in the North. Two of the cadres admitted that they were participants in the campaign in 1955-6.

— One estimated that 120,000 victims were falsely accused and executed. This number included 40,000 communist cadres.

— The other gave a larger figure: 150,000-160,000 victims killed, among them 60,000 communist cadres.

In general, the conclusions and estimates are similar; especially the number of communist cadres, which ranged from 20-30% of the total number of victims. Though the numbers of victims falsely accused may be different, the acceptable figure is 120,000-200,000 (including cadres and Party members).[22]

Virtually all contemporary scholars accept a figure of at least 150,000 executions, an estimate backed up by the some 150,000 houses and huts allocated to new occupants during the “reform”.[23] But this does not convey the full scale of the slaughter in this 4-year period alone. Rummel estimates a total of 250,000 dead; counting summary executions of party cadre, killings of dissidents and political prisoners, undocumented massacres, and forced starvation/suicides,[24] a figure roughly identical to that extrapolated from official Vietnamese government records.[25]

Beyond this quarter of a million, however, many more were killed in democide by the government of North Vietnam. By conservative estimates, 10-15,000 were killed by the state through its suppression of various uprisings.[26] At least 60,000 were killed in camps from 1945-75,[27] and as many as 40,000 died of epidemics caused by state policy during deportations.[28] There is only one estimate of the democide associated with the “rent reduction” campaign, and for it the source (Hoang Van Chi, a Vietnamese nationalist with firsthand experience) cites Professor Gerard Tongas, who was in Hanoi during these years (he left in 1959). The estimate suggests that approximately 100,000 were killed in the early fifties during this prelude to the land reform.[29] However, based on Nguyen Van Canh’s research, as well as statements from Tongas and Rummel; it is not clear whether or not this number is included in the estimates for the total number of executions during the “land reform” period.

Throughout this entire period, various political struggles/revolts were accompanied by government retaliation. Although estimates are less clear for the number killed during these conflicts, Chi cites a figure of 3-5 killed in every village in the country in the 1953 “political struggle” campaign alone,[30][31] which adds up to at least 45-75,000 dead. Other independent estimates suggested 70,000 were killed in 1956 through political repression and massacres,[32] and from this scholars have attempted to determine a rough overall total. Though most of these deaths do not cover recorded executions of landowners and none slave labor, camps, starvation, or suicides; assuming a sensible overlap between these estimates and other estimates of dead for the period and considering the estimated total dead from all causes during this time; Rummel estimates some 70-150,000 additional deaths.[33] North Vietnam also killed tens of thousands in anti-Nationalist terror during the forties[34], and committed democide in the war with France.

Rummel estimates that Hanoi killed 195,000-865,000 North Vietnamese from 1953-57,[35] with a “most-likely” figure of 365,000 dead. One way of assessing this figure is by comparing it to the total number of executions documented in official Vietnamese government records smuggled out the country by defectors and authenticated: 172,000. It would be expected that the total number of deaths from all causes throughout this whole period would be at least twice this sum.

A US intelligence report estimated 500,000 were killed in North Vietnam in the fifties.[36]

Up to 200,000 were executed in purges from 1957 on (Rummel estimates 50,000[37]) and at least 50,000 more were killed through other means.[38]

Radio Free Asia reported that unofficial estimates of those killed by Ho Chi Minh’s Vietnam Labor Party, which later become the Vietnamese Communist Party, range from 200,000 to 900,000 for its entire reign.[39] Taking every available estimate for deaths by cause under North Vietnam and averaging them out; Rummel arrived at a low of 242,000 and a high of 922,000 killed from 1945 to 1957.[40]

President Nixon claimed that 500,000 were massacred and 500,000 killed in concentration camps during the “land reform” period alone; but there are no independent estimates of camp deaths that are anywhere near that high a total.[41] However, if one assumes that the lethality of these camps can be determined by comparison to those established in South Vietnam after 1975–where 16.5% of 1,000,000 prisoners died–then 240,000 North Vietnamese were killed in camps from 1945 to 1975 if the North Vietnamese camps were slightly less than half as lethal.[42] If one assumes a more likely and conservative figure of 5% dead annually (in line with Rummel’s mid-estimate); this still adds up, over 30 years, to some 150,000 dead in concentration camps. This number can further be checked by comparison to the range: at least 2% of prisoners died per year, or 60,000 in three decades; the average between this and the high of 240,000 is exactly 150,000.

In 1959, Hanoi’s politburo received a series of reports indicating that even though the North had been directing a phase one guerrilla insurgency in the South for two years, the South was socially and economically out-pacing the North. “By Tet of 1959,” William Colby writes in his book, Lost Victory, “it was plain that a nationalist and non-Communist Vietnam was firmly established. It was also becoming apparent that its future was, if anything, more promising than the gray and regimented society in the North.”[43]

In response, the North decided to rapidly escalate the campaign to conquer South Vietnam, Laos, and Cambodia using the Ho Chi Minh trail. To “hide” the fact that “there had been an invasion from the North,” as one North Vietnamese commander openly admitted, seemingly indigenous forces were deployed in the initial phases of the conflict. Originally part of the Vietminh and honorary branches of the North Vietnamese army; groups of Cambodian (the Khmer Rouge), Laotian (the Pathet Lao), and South Vietnamese (the Vietcong) Communists were dispatched by the North to overthrow the governments of their respective countries. Thousands of North Vietnamese troops overtly aided them by providing arms and training, and by invading and occupying large chunks of Cambodia and Laos to assist them. By 1961 northern Communists were assassinating one hundred southern hamlet, village, and/or district officials each month. By 1962 that figure had grown to one thousand per month.[44]

The atrocities escalated rapidly with no end in sight. By 1965, the guerilla war was largely over, and the army of North Vietnam was using conventional warfare to try and overrun Cambodia and South Vietnam. The US began sending military advisors to South Vietnam in 1950. By 1965, it reluctantly decided to commit combat troops to prevent a Communist takeover.

The Viet Cong massacres were described as follows:

The village chief and his wife were distraught. One of their children, a seven-year-old boy, had been missing for four days. They were terrified, they explained to Marine Lt. Gen. Lewis W. Walt, because they believed he had been captured by the Vietcong. Suddenly, the boy came out of the jungle and ran across the rice paddies toward the village. He was crying. His mother ran to him and swept him up in her arms. Both of his hands had been cut off, and there was a sign around his neck, a message to his father: if he or any one else in the village dared go to the polls during the upcoming elections, something worse would happen to the rest of his children. The VC delivered a similar warning to the residents of a hamlet not far from Danang. All were herded before the home of their chief. While they and the chief’s pregnant wife and four children were forced to look on, the chief’s tongue was cut out. Then his genital organs were sliced off and sewn inside his bloody mouth. As he died, the VC went to work on his wife, slashing open her womb. Then, the nine-year-old son: a bamboo lance was rammed through one ear and out the other. Two more of the chief’s children were murdered the same way. The VC did not harm the five-year-old daughter — not physically: they simply left her crying, holding her dead mother’s hand. General Walt tells of his arrival at a district headquarters the day after it had been overrun by VC and North Vietnamese army troops. Those South Vietnamese soldiers not killed in the battle had been tied up and shot through their mouths or the backs of their heads. Then their wives and children, including a number of two- and three-year-olds, had been brought into the street, disrobed, tortured and finally executed: their throats were cut; they were shot, beheaded, disemboweled. The mutilated bodies were draped on fences and hung with signs telling the rest of the community that if they continued to support the Saigon government and allied forces, they could look forward to the same fate. These atrocities are not isolated cases; they are typical. For this is the enemy’s way of warfare, clearly expressed in his combat policy in Vietnam. While the naive and anti-American throughout the world, cued by communist propaganda; have trumpeted against American “immorality” in the Vietnam war — aerial bombing, the use of napalm, casualties caused by American combat action — daily and nightly for years, the communists have systematically authored history’s grisliest catalogue of barbarism. By the end of 1967, they had committed at least 100,000 acts of terror against the South Vietnamese people. The record is an endless litany of tortures, mutilations and murders that would have been instructive even to such as Adolf Hitler.

In 1960, some 1,500 South Vietnamese civilians were killed and 700 abducted. By early 1965, the communists’ Radio Hanoi and Radio Liberation were able to boast that the VC had destroyed 7,559 South Vietnamese hamlets. By the end of 1967, 15,138 South Vietnamese civilians had been killed, 45,929 kidnapped. Few of the kidnapped were ever seen again.[45]

The War

In 1958, North Vietnam launched an invasion of Laos.[46]

In 1959, by its own admission, North Vietnam decided on war in South Vietnam. North Vietnam created the Viet Cong and sent 20,000 men to attack the South. In 1961, North Vietnam used 30,000 troops to build invasion routes via Laos and Cambodia. North Vietnam later admitted that it “played a decisive role” in bringing to power the Pathet Lao in Laos and the Khmer Rouge in Cambodia.[47]

The Kennedy administration, which had repeatedly intervened to halt right-wing coups, acquiesced in 1963 to the overthrow of South Vietnam’s Diem by a coalition of generals. President Nixon would later characterize this decision as a catastrophic betrayal of an ally that contributed to the ultimate disintegration of South Vietnam. The casus beli for the United States intervention was an alleged attack on a US ship by North Vietnam, the Gulf of Tonkin Incident. The US responded with a massive bombing campaign called Operation Rolling Thunder. Although a swift victory over North Vietnam would have taken a matter of months, the risk of Chinese intervention was considered too great to accept. Thus, Vietnam was fought to avoid “another Korea”.

President Johnson, a tormented but deeply sincere and good man, could not bear the burden of the war. His incoherent war policy, combined with the lies and deceptions he employed to sell it, resulted in a loss of public faith in his honesty. He began to doubt himself, while his wildly incompetent administration, exemplified by Robert McNamara, began to have doubts about the morality of US policy. Many of them would join the anti-war movement.

Richard Nixon was subsequently elected President on a pledge to end the war by prosecuting it. His shrewd diplomacy, backed with the immense intellect of his National Security Advisor and Secretary of State, Henry Kissinger, hoped to negotiate an end to the war through a show of force.

Although Sihanouk designated all insurgents “red Khmers,” or “Khmer Rouge,” in reality there were two main indigenous insurgent groups. One was the Khmer Viet Minh, modeled on the Pathet Lao, that Hanoi held total political authority over. The other was called the Khmer Krahom, a fanatical Maoist cult that would soon be led by one Saloth Sar, who would later become infamous for his genocidal brutality under his assumed name, Pol Pot. Both traced their roots back to a common cadre trained by Ho Chi Minh in China from 1925-30. At Geneva, Hanoi had attempted to secure a KVM “zone” in northeastern Cambodia that would have been modeled on the Pathet Lao zone they secured in Laos. This amounted to an attempt to divide Cambodia into Communist and non-Communist halves, like Vietnam.

By 1968, the KK had 14-15,000 fighters, while the KVM had 12,000. North Vietnam had invaded and occupied large chunks of Cambodia. Nearly half of the country was faced with North Vietnamese or other Communist occupation. The Viet Cong was active in the country with about 30,000 troops, and worked with the KVM to launch invasions of Cambodia from North Vietnam. The North Vietnamese had 60,000 troops on Cambodian soil. This would be the equivalent in the United States of nearly 4 million armed and organized troops from Mexico and Canada overrunning most of the country. These figures are from 10 months prior to the start of any US bombing, which began in late 1968 under President Johnson.

By 1969, the North had accelerated its long-term plan, dubbed “Campaign X,” to conquer Cambodia. By 1970, it had the supply lines, troops, and logistical support necessary to force the collapse of Cambodia. Sihanouk had long done little to disguise his support for the North Vietnamese Communists, but now he grew afraid. “Hanoi,” he said, “could easily force the collapse of both Cambodia and what is left of Laos if it was not faced with American opposition.” Therefore, he encouraged the Americans to bomb KK, KVM, VC, and North Vietnamese “sanctuaries” in Cambodia so as to send Hanoi a message that it had better back down immediately. Demographic evidence indicates that the US bombings of Cambodia, especially the Menu bombings, ultimately killed about 40,000 Cambodian combatants and civilians.[48] Some estimates go as high as 100,000 killed by the bombing.[49] Many leftists opposed to the war considered the bombing to be a war crime. The Khmer Rouge claimed that 600-800,000 died in the war,[50] which is about three times the real figure,[51] and far-left activists such as Noam Chomsky have not only embraced these numbers but also attributed all of the deaths to American bombing and thus implied that the Khmer Rouge underestimated the full toll from the war[52]–despite the demographic impossibility of their assertions.

In 1970, North Vietnamese troops invaded and attempted to overrun the entire country of Cambodia at the request of the KVM, who had surrounded the capital and hoped one small push would be enough to overthrow the weak Lon Nol regime. Nixon responded forcefully with an incursion and bombing campaign to force the North Vietnamese out. Justifying his actions, he stated:

“Cambodia, a small country of 7 million [actually 8 million] people, has been a neutral nation since the Geneva agreement of 1954 – an agreement, incidentally, which was signed by the Government of North Vietnam.

American policy since then has been to scrupulously respect the neutrality of the Cambodian people. We have maintained a skeleton diplomatic mission of fewer than 15 in Cambodia’s capital, and that only since last August. For the previous 4 years, from 1965 to 1969, we did not have any diplomatic mission whatever in Cambodia. And for the past 5 years, we have provided no military assistance whatever and no economic assistance to Cambodia.

North Vietnam, however, has not respected that neutrality.

For the past 5 years – as indicated on this map that you see here – North Vietnam has occupied military sanctuaries all along the Cambodian frontier with South Vietnam. Some of these extend up to 20 miles into Cambodia. The sanctuaries are in red and, as you note, they are on both sides of the border. They are used for hit and run attacks on American and South Vietnamese forces in South Vietnam.

These Communist occupied territories contain major base camps, training sites, logistics facilities, weapons and ammunition factories, airstrips, and prisoner-of-war compounds.

For 5 years, neither the United States nor South Vietnam has moved against these enemy sanctuaries because we did not wish to violate the territory of a neutral nation. Even after the Vietnamese Communists began to expand these sanctuaries 4 weeks ago, we counseled patience to our South Vietnamese allies and imposed restraints on our own commanders.

In contrast to our policy, the enemy in the past 2 weeks has stepped up his guerrilla actions and he is concentrating his main forces in these sanctuaries that you see on this map where they are building up to launch massive attacks on our forces and those of South Vietnam.

North Vietnam in the last 2 weeks has stripped away all pretense of respecting the sovereignty or the neutrality of Cambodia. Thousands of their soldiers are invading the country from the sanctuaries; they are encircling the capital of Phnom Penh. Coming from these sanctuaries, as you see here, they have moved into Cambodia and are encircling the capital.”[53]

Although North Vietnam would invade and annex South Vietnam and invade, occupy, force the collapse of and establish total political control over Laos; it would ultimately fail to meet this objective in Cambodia. Though it supported, or rather offered support to, the KK; its goal of directly establishing political control over Cambodia would not be reached until 1979. Some commentators, like William Shawcross, have controversially argued that the US bombing, by forcing out the North Vietnamese, helped to create the conditions that allowed Pol Pot to come to power. Shawcross and others have also claimed that the US bombing was the main propaganda tool used to recruit members for the KK, and that it helped radicalize the Cambodian populace and swell the ranks of the Communists.

Documents uncovered from the Soviet archives after 1991 reveal that the North Vietnamese invasion of Cambodia in 1970 was launched at the explicit request of the Khmer Rouge and negotiated by Pol Pot’s then second in command, Nuon Chea.[54]

When Nixon came into office, there were more than 500,000 U.S. troops in Vietnam, and their number was increasing. Hanoi insisted that to obtain a cease-fire, the U.S. had to meet two preconditions: First, the U.S. had to overthrow the South Vietnamese government, disband its police and army and replace it with a communist-dominated government. Second, it had to establish an unconditional timetable for the withdrawal of its forces, to be carried out regardless of subsequent negotiations or how long they might last. The presence of North Vietnamese troops in Laos and Cambodia was declared not an appropriate subject for negotiations. Between 1969 and 1972, he withdrew 515,000 American troops, ended American ground combat in 1971 and reduced American casualties by nearly 90%. According to Kissinger, “a breakthrough occurred in 1972 because the administration’s strategic design finally came together in its retaliation for the North Vietnamese spring offensive. When the U.S. mined North Vietnam’s harbors, Hanoi found itself isolated because, as a result of the opening to China in 1971 and the summit in 1972, Beijing and the Soviet Union stood aside. Hanoi’s offensive was defeated on the ground entirely by South Vietnamese forces assisted by U.S. air power. Faced with a military setback and diplomatic isolation, Le Duc Tho, Hanoi’s principal negotiator, abandoned Hanoi’s 1969 terms in October 1972. He accepted conditions publicly put forward by Nixon in January 1972 — and decried as unachievable in the U.S. domestic debate. The terms of the resulting Paris peace agreement were an unconditional cease-fire and release of prisoners; continuation of the existing South Vietnamese government; continued U.S. economic and military help for it; no further infiltration of North Vietnamese forces; withdrawal of the remaining U.S. forces; and withdrawal of North Vietnamese forces from Laos and Cambodia.”[55]

Nixon brought about the first peace agreements between Israel and Egypt, and dramatically lessened the scale of the bloodshed in Indochina. For a time, it seemed peace might be within our reach. Nixon was re-elected by a landslide in 1972.

Meanwhile, in 1973, the Khmer Krahom fell under the control of its most fanatical members, led by Pol Pot and Ieng Sary. They were beyond the control of Hanoi and sought to completely annihilate Cambodian society and restart from scratch. When they besieged the capital again, the US again launched a bombing raid against Communist forces. The US Seventh Air Force argued that the bombing prevented the fall of Phnom Penh in 1973 by killing 16,000 of 25,500 Khmer Rouge fighters besieging the city.

The communist leaders had expected that the ceasefire terms would favor their side. But Saigon, bolstered by a surge of U.S. aid received just before the ceasefire went into effect, began to roll back the Vietcong. The communists responded with a new strategy hammered out in a series of meetings in Hanoi in March 1973, according to the memoirs of Tran Van Tra.

As the Vietcong’s top commander, Trà participated in several of these meetings. With U.S. bombings suspended, work on the Ho Chi Minh Trail and other logistical structures could proceed unimpeded. Logistics would be upgraded until the North was in a position to launch a massive invasion of the South, projected for the 1975–1976 dry season. Trà calculated that this date would be Hanoi’s last opportunity to strike before Saigon’s army could be fully trained.

In 1974, Congress voted not to enforce the commitments agreed to in the Paris Peace Accords. Air support for Cambodia, South Vietnam, and Laos was cut off. The military aid promised was scaled back or never materialized, and the North was allowed to resume support for the Khmer Rouge. “After Nixon stepped down over Watergate,” said one Communist commander, “we knew we would win.”[56] Without the logistical support provided by the Ho Chi Minh trail, the North would not have been able to launch an invasion of South Vietnam by 1975, which it predicted would be its “last chance” before the South was self-sufficiently able to defend itself.[57] The US canceled the bombing of Communist positions on the trail. In Cambodia, last minute efforts on the part of the US to arrange for a peace settlement involving Sihanouk ended in failure. When the US Congress vetoed Ford‘s call for a resumption of air support in Cambodia, panic and a sense of doom filled the capital, which was mercilessly shelled for more than a year by the Communists. President Ford openly predicted a “bloodbath” and stated that the Congress’s decision to abandon Cambodia to the Khmer Rouge, in particular, would lead to “an unbelievable horror story”.[58] The US frantically abandoned Saigon, and the Pathet Lao advanced throughout Laos.

Aftermath

Professor R.J. Rummel calculates that Communist Vietnam directly killed 1.7 million people from 1945 to 1987 in democide alone (not counting war casualties),[59] from a total range of 700,000 to 3.7 million murdered.[60] Some 400,000 to 2.5 million of these were killed after 1975. These figures include Laotians and Cambodians killed by Hanoi.

Phnom Penh, the capital of Cambodia, fell to followers of the Communist Party of Kampuchea, commonly known as the Khmer Rouge, on April 17, 1975. Over the next four years, the Khmer Rouge enacted a genocidal policy that would kill over one-fourth of all Cambodians, or more than 2 million people. Investigators have uncovered and examined the remains of 1,386,734 Cambodians found in mass graves near Khmer Rouge execution centers whose cause of death has been determined to have been virtually exclusively execution by the former Khmer Rouge regime. [61] Because only about one-half to a third of those who died during the Khmer Rouge years were executed (the rest having died from other causes like state-created famine, the deliberate withholding of basic necessities by the state, the refusal by the state to allow foreign aid, the abolishing of medicine and hospitals by the state, systematic overwork and slave labor by the state, brutal mistreatment by the state, and normal mortality), the Documentation Center of Cambodia estimates that the former regime killed or otherwise caused the unnecessary deaths of, between 2.0 and 2.5 million Cambodians, with a most likely estimate of 2.2 million.[62] This is because 2.5 to 3 million Cambodians died from 75-79, and 500,000 deaths over this time would have represented normal mortality–subtracting these “expected” deaths from the total, we derive the total number of “unexpected,” “excess” deaths attributable to the regime. A UN investigation reported 2-3 million dead, while UNICEF estimated 3 million had been killed.[63] Even the Khmer Rouge acknowledged that 2 million had been killed—though they attributed those deaths to a subsequent Vietnamese invasion.[64] By late 1979, UN and Red Cross officials were warning that another 2.25 million Cambodians faced death by starvation due to “the near destruction of Cambodian society under the regime of ousted Prime Minister Pol Pot,”[65][66][67] who were saved by American and international aid.

The victorious Communists perpetrated a huge bloodbath in South Vietnam, murdering hundreds of thousands of South Vietnamese men, women, and children in cold blood. The victorious Communist troops entering South Vietnam massacred around 100,000 civilians who attempted to flee the “Highlands” offensive.[68] The most exact study documented 70,000 executions in the first ninety days of the fall of Saigon;[69] while a total of 100-250,000 South Vietnamese were executed by the Communists altogether (the mid-value, 150,000, is exactly what you would expect–double the number killed in the first-ninety-day reprisals).[70][71][72] (Jacqueline Desbarats and Karl Jackson, cited by the State Department for their figure of 65,000 executions; later concluded that this figure was absurdly low and that the real number was probably twice as large;[73] no independent sources estimate a toll lower than 100,000). One to two million were sent to concentration camps, of whom some 165,000-230,000 were never seen again;[74] another million were deported to the North, and it is estimated that 50-150,000 died in the process due to epidemics, mistreatment, starvation, and the slave labor that they were made to perform in the “New Economic Zones” to which they were sent.[75][76] Half a million Chinese citizens were forcibly deported from Vietnam. Tens of thousands more were killed through other means. Based on the total number of refugees who fled from Vietnam–more than 3 million–an absolute minimum of 200-300,000 boat people died at sea, since the lowest estimate ever put forward as to how many died was 10%.[77] The highest possible figure, based on the number who arrived to freedom, would probably be on the order of Rummel’s 500,000. A mid-value estimate would thus be on the order of 400,000 dead, in line with UN estimates,[78] but far lower than the estimates of the Vietnamese government (and US intelligence).[79] In sum, then, about 500-600,000 South Vietnamese were killed by the Communists after the US withdrawal (i.e., 200,000 in concentration camps; 150-200,000 executed; 50-150,000 killed through slave labor; 100,000 massacred trying to escape the Communist victory after the “Highlands” assault; and—based on the hundreds of thousands sent to prisons, camps, and slave labor zones through the eighties, nineties, and more recent years—undoubtedly many tens of thousands since)[80]—with the victims beheaded, eviscerated or buried alive[81]—, and another 300-500,000 were drowned. This can be checked by a comparison of how many refugees fled the slaughter—and what this implies about its scale—and how many South Vietnamese fled the war itself. These considerations give us no reason to adjust this total. Finally, some 171,500 were killed in the invasion of South Vietnam,[82] putting the total number of Vietnamese dead after 1973 at over one million.

The Pathet Lao overthrew the Royalist Government of Laos in December 1975. They established a Communist dictatorship known as the Lao People’s Democratic Republic. The Pathet Lao waged a campaign of genocide, exterminating an estimated over 100,000 Hmong tribespeople. They inflicted massacres, terror bombing, concentration camps, and mass rape.[83] The Communists killed over 184,000 people in Laos altogether.[84]

More than 3 million people fled Vietnam, Cambodia, and Laos as “boat people,” about half of whom have been resettled by the United States.

After repeated border clashes in 1978, Vietnam invaded Cambodia and ousted the Khmer Rouge, installing a puppet government headed by Khmer Rouge defector Heng Samrin. From January until July 1979, according to CIA estimates, more than 350,000 Cambodians were massacred by all sides, primarily by the Vietnamese and their allies;[85] some 250,000 were specifically identified as having died as a result of Vietnam’s deliberate continuation of the 1979 famine.[86] The toll from the entire famine over the years 1979-81 is estimated at about 500,000 dead (according to Etcheson).[87] Some 25-50,000 Vietnamese died in combat,[88] while perhaps 100,000 Cambodian combatants and civilians died in the war itself.[89][90] Tens of thousands more were killed by the Khmer Rouge, which controlled parts of the country late into 1979 and waged a guerilla war against the Vietnamese-backed government.[91] The total number of people killed by the Samrin regime in democide has never been clearly documented. Rummel estimates 230,000;[92] but this is mere guesswork. Given the doubling of famine-dead by 1981, according to Etcheson’s demographic analysis; one could extrapolate from the CIA study a very conservative estimate of 700,000 dead from 1978 until the Vietnamese withdrawal–and this in democide and famine outside of actual combat in the war (which would have killed at least 50,000 Cambodians). Assuming, then, that at least half the famine was democidal, and that 2/3 of the democide was the responsibility of Vietnam (1/3 of Samrin); we would arrive at a total of 300,000 democides by Vietnam, 150,000 by Samrin, and 250,000 dead in non-democidal famine. As noted, scores of thousands more were killed in the civil war that followed the invasion and by Khmer Rouge guerillas. Rummel believes that the full toll from this period could be in excess of one million.[93]

In response to the Soviet-backed Vietnamese invasion, China invaded Vietnam in 1979. The two countries fought a brief border war, known as the Third Indochina War, which cost over 200,000 casualties, including some 30,000 deaths.

In 1981, Pol Pot made his famous declaration denying guilt for the brutalities committed by the organization he led:

Pol Pot said that he knows that many people in the country hate him and think he’s responsible for the killings. He said that he knows many people died. When he said this he nearly broke down and cried. He said he must accept responsibility because the line was too far to the left, and because he didn’t keep proper track of what was going on. He said he was like the master in a house he didn’t know what the kids were up to, and that he trusted people too much. For example, he allowed [one person] to take care of central committee business for him, [another person] to take care of intellectuals, and [a third person] to take care of political education…. These were the people to whom he felt very close, and he trusted them completely. Then in the end … they made a mess of everything…. They would tell him things that were not true, that everything was fine, that this person or that was a traitor. In the end they were the real traitors. The major problem had been cadres formed by the Vietnamese.

Communist Vietnam’s refusal to allow international food aid into Cambodia after 1979 so as to starve out whatever remained of the Khmer Rouge resistance nearly led to the mass death of millions of people from starvation and disease.[94]

Vietnam fought three more wars after 1975 and armed Communist insurgencies with billions of dollars in an attempt to overrun Thailand and Malaysia.[95] In South Vietnam, a nightmarish police state was established based on the Stalinist model: Political parties were outlawed; all music, books, literature, movies, and other media published prior to 1975 were banned completely; rationing, malnutrition, and famine ensued; ongoing class discrimination, xenophobic ethnic cleansing, and religious persecution continue to this day.[96][97][98][99][100]

The US and other Western countries covertly armed the non-Communist forces of Son Sann and Prince Sihanouk in an attempt to force out the Vietnamese troops occupying Cambodia. These brave guerillas also engaged in extensive fighting with the Khmer Rouge.[101] (See Reagan Doctrine)

In 1988, parts of Vietnam suffered famine, with millions of people on the brink of death.[102] Hundreds of thousands died before emergency international aid relieved the suffering.

Far from bringing peace, American defeat vastly increased the scale of the bloodshed in Indochina, as 4-5 million people were slaughtered in a bloodbath far surpassing the expectations of even the most fervent supporters of the war. Although North Vietnam agreed to “peace” in 1973; no one protested its subsequent invasion of South Vietnam, let alone Vietnam’s wars with China, Laos, and Cambodia. The campuses were silent on the Holocaust in Cambodia, despite their hysterical response to the limited US incursion in 1970. The bloodbath received little media coverage at the time.

Failure of US campaign to help the South

Military, political, and social historians have ever after debated why the United States was unable to defeat the North Vietnamese.

James Q. Wilson wrote: “First, Presidents Kennedy and Johnson both wanted to avoid losing Vietnam without waging a major war in Asia.” [103]

Another factor was careerism of the officer corps. The number of officers in the US army grew disproportionately from the end of WWII, with a 1-in-15 ratio dropping to 1 in 6. Competition for promotions was handled badly by General Westmoreland, who permitted a six month tour of duty for officers. This was hardly enough time to learn how to engage the enemy successfully, and gave rise to resentment among the largely working-class enlisted men.[Citation Needed]

America at first operated on the assumption that victory by body count was possible and would eventually bring the North Vietnamese to the peace table. There were in fact peace negotiations following Operation Linebacker II in December 1972, but these succeeded mostly in giving the United States its prisoners back and time to withdraw from the fight. It was simply impossible for the North Vietnamese leadership, which had been fighting in some form for 30 years, to imagine the indefinite existence of South Vietnam apart from unification under their rule.

Cost of the War

The war exacted a huge human cost, including an estimated one to two million North and South Vietnamese,[104] 100,000 to 600,000 Cambodians[105][106] and 30-50,000 Laotians.[107] The most comprehensive and detailed demographic survey ever conducted on casualties during the war, from Population and Development Review, estimated that nearly one million Vietnamese were killed throughout the two decades of conflict.[108] R.J. Rummel originally put the total at 1.2 million Indochinese killed on all sides.[109] Rummel later revised the estimate to over 2 million in all of Indochina, including 1.7 million in North and South Vietnam.[110] Communist propaganda claimed that 3-6 million died in the war, and a small minority of radical anti-war protestors and Chomsky cultists endorsed these figures, although they are not demographically possible.

The most widely cited/accepted estimate, and the middle value of the plausible range (1-2 million Vietnamese) is 1.5 million. This figure is often used in US school textbooks. Keeping in mind that there was not a 50/50 split for casualties between Hanoi and Saigon, and that North Vietnam suffered losses far heavier than the South, we could put the casualty ratio at 60/40. This would yield a rough estimated total of 875,000 North Vietnamese soldiers and civilians killed in the war compared to 625,000 soldiers and civilians killed in South Vietnam. If, on the other hand, the more recent demographic studies of Charles Hirschman and others are correct, then the real figures were probably closer to 500,000 South Vietnamese and 700,000 North Vietnamese, and even that may be slightly too high. This estimate is substantiated by US intelligence, which estimated that 200-250,000 South Vietnamese soldiers, and a smaller number of civilians, were killed in the war.[111] Further, this includes the 171,500 South Vietnamese killed in the massive invasion of South Vietnam made possible by the American withdrawal.

US intelligence and available demographic evidence suggest that Hanoi’s official figure[112] of 3 million Vietnamese dead in the war was an exaggeration.[113] Its figures for both military and civilian deaths are about double the accepted numbers, and they further claim that 1 million soldiers died and 600,000 were wounded–even though wounded is typically three times the number of dead.[114] No other independent sources arrive at such a high number.

During the peak war years, almost a third of civilian deaths were the result of Viet Cong atrocities.[115]

Somewhere between 50,000 and 100,000 North Vietnamese civilians died in the war.[116]

Demographic analysis indicates that the commonly cited figure of 600,000 dead in the Cambodian civil war may have been invented by Pol Pot himself and is more than the twice the real number of war-related deaths.[117][118][119]

Over the course of the war, the United States suffered 46,226 battle deaths with 153,311 wounded 5,486 missing and 10,326 non-battle deaths. 3.3 million troops fought over the course of the war, with the largest number of 625,866 reached on March 27th, 1969. As of 2010, more veterans of the war have died from suicide than killed on the battlefield. [120] This shows a largely unaddressable or poorly administered health issues persist and the U.S. Government has failed in its obligation to care for traumatized Vietnam veterans. The North Vietnamese claimed to have lost 1 million men.[121] Such a casualty rate, if applied to the United States, would have meant 13 million Americans killed and 3.9 million missing in action.[122]

They were quite a group, the boys of Vietnam — boys who fought a terrible and vicious war without enough support from home, boys who were dodging bullets while we debated the efficacy of the battle. It was often our poor who fought in that war; it was the unpampered boys of the working class who picked up the rifles and went on the march. They learned not to rely on us; they learned to rely on each other. And they were special in another way: They chose to be faithful. They chose to reject the fashionable skepticism of their time. They chose to believe and answer the call of duty. They had the wild, wild courage of youth. They seized certainty from the heart of an ambivalent age; they stood for something.And we owe them something, those boys. We owe them first a promise: That just as they did not forget their missing comrades, neither, ever, will we. And there are other promises. We must always remember that peace is a fragile thing that needs constant vigilance. We owe them a promise to look at the world with a steady gaze and, perhaps, a resigned toughness, knowing that we have adversaries in the world and challenges and the only way to meet them and maintain the peace is by staying strong. President Ronald Reagan, 1986

The US bombing and invasion of Cambodia killed 40,000 combatants and civilians, while US forces in Vietnam killed over 70,000 (higher estimates go to over 100,000) Vietnamese.

The death toll from US defeat arguably surpassed that exacted by the war itself.

Controversies about the War

Max Boot wrote:

Numerous bits of conventional wisdom have accreted around the Vietnam War. It is commonly held that Ho Chi Minh was a Vietnamese nationalist above all, not a true communist, and that his victory was inevitable. That Ngo Dinh Diem was an unpopular and repressive reactionary. That the United States had no vital strategic interest in defending South Vietnam. That the ‘domino theory’ was a myth. That the U.S. was right not to invade North Vietnam or Laos for fear of triggering Chinese intervention. Mark Moyar, a young, bold, and iconoclastic historian, takes a sledge hammer to these hoary beliefs. [His book] is ‘revisionist’ in the best sense of the word.” [3]

Jeffrey Record contends that the military was relegated, as a result of its constitutional position, to the role of an accomplice in what Records states was the most strategically reckless American enterprise of the 20th century. He charge President Lyndon B. Johnson and Defense Secretary Robert S. McNamara with harshly suppressing their military advisers, with Johnson believing that his hawkish Joint Chiefs of Staff were out to destroy his Great Society by their wild-eyed schemes.[123]

Media Bias

Charges of western media bias in favor of the Communist side have often been made by critics,[124] who see such alleged bias as being crucial in turning military victories by America into a loss of the war, much by means of propaganda. Underlying the importance of such is the often quoted exchange between Colonel Harry G. Summers, Jr. and his North Vietnamese counterpart, Colonel Tu. During one of his liaison trips to Hanoi, Colonel Harry told Tu, “You know, you never beat us on the battlefield,” Colonel Tu responded, “That may be so, but it is also irrelevant.”[125]

The success of the propaganda war has seemed enigmatic to many. “If there is to be an inquiry related to the Vietnam War, it should be into the reasons why enemy propaganda was so widespread in this country, and why the enemy was able to condition the public to such an extent that the best educated segments of our population (that is, media and university elite) gave credence to the most incredible allegations.” (Final Report – Chief of Military History – U.S. Government)

British “Encounter” journalist Robert Elegant stated,

For the first time in modern history, the outcome of a war was determined not on the battlefield but on the printed page and television screens – never before Vietnam had the collective policy of the media sought, by graphic and unremitting distortion, the victory of the enemies of the correspondents own side.[126]

Some journalists have admitted that their reporting was decidedly biased, and had profound effects on history. West German correspondent Uwe Siemon-Netto confessed, “Having covered the Viet Nam war over a period of five years for West German publications, I am now haunted by the role we journalists have played over there.” In relation to not reporting the true nature of the Hanoi regime and its actions resulting from the American withdrawal, he asked,

What prompted us to make our readers believe that the Communists, once in power in all of Viet Nam, would behave benignly? What made us, first and foremost Anthony Lewis, belittle warnings by U.S. officials that a Communist victory would result in a massacre?… Are we journalists not in part responsible for the death of the tens of thousands who drowned? And are we not in part responsible for the hostile reception accorded to those who survive?…However, the media have been rather coy; they have not declared that they played a key role in the conflict. They have not proudly trumpeted Hanoi’s repeated expressions of gratitude to the mass media of the non-Communist world, although Hanoi has indeed affirmed that it could not have won “without the Western press.”[127]

CBS Evening News with Walter Cronkite regularly carried news reports from its Moscow Bureau Chief, Bernard Redmont. When peace negotiations commenced with North Vietnam in Paris, Redmont became CBS News Paris Bureau Chief. What Redmont never reported during the ten year conflict was, Redmont had been a KGB operative since the 1930s, and member of the notorious Silvermaster group. [128] Redmont was the only journalist to whom his fellow Comintern party member, and North Vietnamese chief negotiator, Mai Van Bo, granted an interview to bring the Communist point of view into American living rooms in what has been called, “the living room war.”

The most manifest example of such biased reporting is held to be the portrayal of the TET offensive, in which western media was charged with inspiring and aiding the propaganda war of the communists.

Truong Nhu Tang stated years later,

The Tet Offensive proved catastrophic to our plans. It is a major irony of the Vietnam War that our propaganda transformed this debacle into a brilliant victory. The truth was that Tet cost us half our forces. Our losses were so immense that we were unable to replace them with new recruits. (Truong Nhu Tang – Minister of Justice – Viet Cong Provisional Revolutionary Government – The New York Review, October 21, 1982)

In addition to his biased reporting, FBI documents, obtained through a Freedom of Information Act by Yahoo news, evidence that legendary CBS News anchor Walter Cronkite collaborated with anti-Vietnam War activists in the 1960s, going so far as to offer advice on how to raise the public profile of protests and even promising that CBS News would rent a helicopter to take liberal Senator Edmund Muskie to and from the site of an anti-war rally.[129]

The extreme left-wing propagandist and genocide-denier Marilyn Young’s work on Vietnam is required reading in many universities, even though she denies the North Vietnamese “land reform” bloodbath by relying entirely on official Communist press releases (as well as Moise and Porter, who in turn rely entirely on official North Vietnamese press releases). According to her, Communist Vietnam killed only 15,000(!) people at most during the “reform” and all other accounts of its atrocities were fabrications made up by the Western media (hence North Vietnamese media is a more reliable source than any in the West—a point she quite explicitly argues); even though official North Vietnamese government records smuggled out of the country document over 172,000 recorded executions of individuals named as landowners during the 1954-6 period alone[130][131] (these exclude starvation, suicides, deportations, concentration camps, slave labor, Viet Cong atrocities, suppression of uprisings, the “rent reduction” campaign, the 1953 “wave of terror,” the killing of Communist cadre and all the other decades of mass murder from the forties through the seventies).

Young ignores the testimony of former North Vietnamese government officials like Hoang Van Chi, as well as foreign witnesses like Gerard Tongas; she denies the irrefutable demographic evidence of the “disappearance” of at least 150,000 landowners from 1953-6[132]; she dismisses US intelligence; accuses Vietnamese experts like Lam Thanh Liem of lying; and mocks the survivors of Communist genocide as CIA propagandists. She endorses Noam Chomsky‘s nonsensical lies, supports the North Vietnamese invasion of South Vietnam, paints a glowing picture of the concentration camps, and reduces the role of Khmer Rouge atrocities to 500-1,000,000 by citing the obscure and unknown Pol Pot apologist Michael Vickery–despite the 1,386,734 victims of execution in the mass graves!

Young further blames America for Pol Pot’s rise, attributes all of the deaths in the entire war solely to the United States, and (on page 310) argues that the “boat people” really fled Vietnam not due to Communist repression, but rather the US trade embargo. She also simply denies the Hue Massacre.

Finally, Young claims that South Vietnam was the aggressor and that its imaginary “violation” of the 1973 cease-fire prompted the invasion from the “peace-loving” North–which is not surprising in the light of her reliance on official Communist sources, although it suggests quite a chasm between their claims and reality.[133]

Notably, all of Young’s sources on North Vietnamese crimes come from the North Vietnamese government itself, and she fails to cite a single dissident Vietnamese publication independent of that government in her entire work, while casting suspicion on the honesty of Vietnamese refugees. That she is a respected Professor indoctrinating American youth is consistent with the overall liberal propaganda that has come to characterize American higher eduction.

Paul Bogdanor notes: “The bloodbath deniers simply ignore or dismiss the evidence from dissident publications, communist defectors and foreign witnesses. They rely on official North Vietnamese publications, which they take at face value. This is what passes for scholarship on the ‘anti-imperialist’ left.”[134] And Young is but one gulag-denying professor out of many.

Young’s denial of the “land reform” bloodbath is not unique. Gareth Porter, an investigative historian and journalist on U.S. national security policy, wrote the key bloodbath-denial work, titled simply “The Myth of the Bloodbath.” Professor Robert F. Turner, drawing on his knowledge of thousands of captured Viet Cong documents, scores of interviews with Communist defectors, and extensive research on the “land reform;” carefully refuted all of Porter’s charges, demonstrating that they could not withstand any serious critical scrutiny and that some 300,000 people were, in fact, killed during the genocide.[135]

Porter is shown repeatedly contradicting himself, lying, making judgments that lack evidence and credibility, and accusing others of mistranslating a language he could barely speak. Although Porter’s work was apparently sufficient to convince Young, ignore his work’s manifest sloppiness is contrary to honest scholarship. Vietnamese scholar Hoang Van Chi (1913-1988), who worked as a revolutionary and diplomat writing history and political science, also responded to Porter, who accused him of being a CIA propagandist in a ridiculous ad hominem attack.[136] Porter would later deny the Cambodian genocide and express admiration and outspoken support for Pol Pot in the infamous Cambodia: Starvation and Revolution.

Many US reporters admired the Khmer Rouge, while prominent intellectuals openly denied the Cambodian genocide. During the genocide, human rights abuses in Chile and South Korea got more coverage than Cambodia. Some journalists, mocking the claims of a bloodbath, were so bold as to sing the following lyrics to the tune of “She Was Poor But She Was Honest”: “Oh will there be a dreadful bloodbath/ When the Khmer Rouge come to town?/ Aye, there’ll be a dreadful bloodbath/ When the Khmer Rouge come to town.”[137]

Vietnam War in Popular Culture

The war and its aftermath were the inspiration for several films, including The Green Berets, The Deer Hunter, Platoon, Hamburger Hill, and We Were Soldiers.

The TV series Tour of Duty was about a U.S. Army platoon in country around the time of the Tet Offensive. The series Magnum, P.I, Night Court, Airwolf, and Area 88 all had Vietnam veterans as main or major characters. In the military drama series JAG, the main character’s father was a US Navy pilot lost over North Vietnam, and the main character’s desire to find out what happened to him is the focus of a major story arc over the first few seasons.

Quotes

“… we had to make the people suffer, suffer until they could no longer endure it. Only then would they carry out the Party’s armed policy.” – Senior Viet Cong defector (Jeffrey Race, War Comes to Long An [University of California Press, 1972], p. 112)
“We’ve been worse than Pol Pot, but the outside world knows nothing.” – Vietnamese communist boast (Nguyen Van Canh, Vietnam Under Communism, 1975-1982 [Hoover Institution Press, 1983], p. 207)
“Ho Chi Minh may have been an evil man; Nixon may have been a great man. The Americans may have had the just cause; we may not have had the just cause. But we won and the Americans were defeated because we convinced the people that Ho Chi Minh is the great man, that Nixon is a murderer, and the Americans are the invaders… The key factor is how to control people and their opinions. Only Marxism-Leninism can do that.” – Mai Chi Tho, Vietnamese communist politician (New York Times Magazine, March 29, 1981)
“In the new Kampuchea, one million is all we need to continue the revolution. We don’t need the rest. We prefer to kill ten friends rather than keep one enemy alive.” – Khmer Rouge slogan (Pin Yathay, Stay Alive, My Son [Touchstone, 1987], p. 148)
“[If every soldier kills 25 Vietnamese], we will need only 2 million troops to crush the 50 million Vietnamese; and we still would have 6 million people left.” – Khmer Rouge broadcast (Stephen J. Morris, Why Vietnam Invaded Cambodia [Stanford University Press, 1999], p. 104)
“I saw the extreme horror, and I wondered what kind of regime this was, that had no other method than to repress and annihilate its people. It took them to ‘people’s courts’ and shot them on the scene without a fair trial and even without any evidence. The land reform campaign was a crime of genocide like that of Pol Pot.” – North Vietnamese dissident Tran Manh Hao
“Suppose that their [i.e., American] postwar estimates [that more than one million people will be killed by the Khmer Rouge in Cambodia] are correct. Since the situation at the war’s end is squarely the responsibility of the United States, so are the million or so deaths that were predicted as a direct result of that situation.” – Far-left anti-war activist and genocide-denier Noam Chomsky (After the Cataclysm (South End Press, 1979), p162)
“No event in American history is more misunderstood than the Vietnam War. It was misreported then, and it is misremembered now. Rarely have so many people been so wrong about so much. Never have the consequences of their misunderstanding been so tragic.” – President Richard Nixon in No More Vietnams
“When I was a young professor in the fifties at Harvard, where 99.9% of the people on the faculty were Democrats—I can remember only one Republican that I knew—the people in political science had faculty meetings…No one ever attacked the government for being a criminal activity. Nobody said, ‘they like to go to war; they’re blood-dripping!’ Sometime in the sixties, the idea developed that the government itself was an evil enterprise, that they lied professionally to the American people, and that the purpose of intellectuals was to negate the government rather than be constructive….Everybody working in government goes through the long hours and all the other pressures [associated with the job] because he or she would like to make a contribution to a better world.” – Secretary of State Henry Kissinger[138]
“Vietnam appears determined to expel virtually all the members of its ethnic Chinese minority.” – “Hanoi Regime Resolved to Oust Nearly All Ethnic Chinese”[139]
“Kill all the rich people. Break up their cars and apartments. Bring the revolution home, kill your parents, that’s where it’s really at.” – Left-wing “anti-war” terrorist Bill Ayers in 1969
“I’m not so much against the war as I am for a Vietnamese victory. I’m not so much for peace as for a U.S. defeat.” – Ayers
“I was very frightened when I saw the Khmer Rouge saw off the neck of a civilian with the sharp edge of sugar palm leaves. They spent three days cutting his head off. They sawed a little one morning, and then in the evening, and finally the following day in the morning and night. They made the victim stand up while they were cutting in front of hundreds of people living in the Khmer Rouge area. Then they held him up when he could stand no longer.” – Cambodian refugee from the civil war[140]
“[This Council condemns Vietnam for] its acts of aggression against Democratic Kampuchea, … acts which cause serious damage to the lives and property of the Kampuchean people.” – The UN on the “illegal,” unilateral Vietnamese invasion of Cambodia
“The atrocities in Cambodia are a direct and understandable response to the violence of the imperial system.” – Chomsky, After the Cataclysm, p191
“Once the evidence of Indochinese Communist behavior began to accumulate, there were three possible responses for those in the West who had been helping to give history a push: the first was to admit the facts and hence the error of their past political position, and work to eradicate the evil they had mistakenly contributed to; this has been the response of most of the democratic left in France. The second possible response to the evidence was to admit what was going on, but to try and justify it, usually with some form of bizarre moral relativism. This was the response of America’s new political liberals. The third possible response was to deny evidence of repression, either totally or in part, and thereby retain one’s pride and prejudice. The American radical left, with Professor Noam Chomsky in the vanguard, has taken this third course.” – Stephen Morris, Harvard International Review, Dec-Jan 1981[141]
“Just consider how the Khmer Rouge controlled personal relations. They made showing love to a relative or laughing with them dangerous, since they might perceive this as showing less dedication to, or poking fun at, the Great Revolution. It was even dangerous to use some term of endearment, such as “honey,” “sweetheart,” or “dearest,” for a loved one. The doctor Haing Ngor tried to so refer to his wife, for example, and a spy overheard and reported him for this, as well as the fact that he had eaten food he picked in the forest, instead of bringing it into the village for communal eating. The local head cadre interrogated him about these sins, and told him, “The chhlop [informers] say that you call your wife ‘sweet.’ We have no ‘sweethearts’ here. That is forbidden.” Soldiers then took him to a prison where cadre severally tortured him, cut off his finger, and sliced his ankle with a hatchet. He barely survived. This deadly communist revolution created pitiful human dilemmas. Think about what this same doctor Haing Ngor went through when his wife suffered life-threatening complications during childbirth. To help her deliver her baby would mean death, since the Khmer Rouge forbid husbands from delivering their wive’s babies. In any case, to use his medical skills to save her would in effect tell the cadre that he was a doctor, and would result in his death, and possibly that of his wife and newborn child. To do nothing might mean their death anyway; still, if he did nothing, the wife might pull through. He chose to do nothing, and perhaps he could do nothing anyway since he had no proper medical instruments. Mother and baby soon both died, then, leaving a gaping wound in his heart that never healed.” – Rummel[142]
“It was. . . of Tan Samay, a high schoolteacher from Battambang. The Khmer Rouge accused him of incompetence. The only thing taught the children at the village was how to cultivate the soil. Maybe Tan Samay was trying to teach them other things, too, and that was his downfall. His pupils hanged him. A noose was passed around his neck; then the rope was passed over the branch of a tree. Half a dozen children between eight and ten years old held the loose end of the rope, pulling it sharply three or four times, dropping it in between. All the while they were shouting, “Unfit teacher! Unfit teacher!” until Tan Samay was dead. The worst was that the children took obvious pleasure in killing.” – Buddhist monk Hem Samluat’s description of an execution he witnessed in the village of Do Nauy[143]
“Not only did the Khmer Rouge run amok massacring their people, but also everywhere the Khmer Rouge tried to destroy the very heart of peasant life. Hinayana Buddhism had been a state religion, and the priesthood of monks with their saffron robes was a central part of Cambodian culture. Some 90 percent of Cambodians believed in some form of Buddhism. Many received a rudimentary schooling from the monks, and many young people became monks for part of their lives. The Khmer Rouge could not allow so powerful an institution to stand and therefore set out with vigor to destroy it. They exterminated all leading monks and either murdered or defrocked the lesser ones. One estimate is that out of 40,000 to 60,000 monks only 800 to 1,000 survived to carry on their religion. We do know that of 2,680 monks in eight monasteries, merely seventy were alive in 1979. As for the Buddhist temples that populated the landscape of Cambodia, the Khmer Rouge destroyed 95 percent of them, and turned the few remaining into warehouses or allocated them for some other degrading use. Amazingly, in the very short span of a year or so, the small gang of Khmer Rouge wiped out the center of Cambodian culture, its spiritual incarnation, its institutions. This was an act of genocide within the larger Cambodian democide, and it was not the only one. In most if not all the country, simply being of Chinese, Vietnamese, Thai, or Lao ancestry meant death. As part of a planned genocide campaign, the Khmer Rouge sought out and killed other minorities, such as the Moslem Cham. In the district of Kompong Xiem, for example, they demolished five Cham hamlets and reportedly massacred 20,000 that lived there; in the district of Koong Neas only four Cham apparently survived out of some 20,000. The cadre threw the Cham Grand Mufti, their spiritual leader, into boiling water and then hit him on the head with an iron bar. They beat another leader, the First Mufti, to death, tortured and disemboweled the Second Mufti, and murdered by starvation in prison the Chairman of the Islamic Association of Kampuchea (Cambodia). Overall, the Khmer Rouge annihilated nearly half–about 125,000–of all the Cambodian Cham. As to the other minorities, the Khmer Rouge also slaughtered about 200,000 ethnic Chinese, almost half of those in Cambodia–a calamity for ethnic Chinese in this part of the world unequaled in modern times–additionally, they murdered 3,000 Protestants and 5,000 Catholics; around 150,000 ethnic Vietnamese (over half); and 12,000 ethnic Thai out of 20,000. One Cambodian peasant, Heng Chan, whose wife was of Vietnamese descent, lost not only his wife, but also five sons, three daughters, three grandchildren, and sixteen of his wife’s relatives. In this genocide, the Khmer Rouge probably murdered 541,000 Chinese, Chams, Vietnamese, and other minorities.” – Rummel[144]
“I questioned this bitch who came back from France…my activity was that I set fire to her ass until it became a burned-out mess. Then I beat her to the point that she was so turned around I couldn’t get any answer out of her; she [finally] croaked, ending her answers….” – A Khmer Rouge “interrogator”[145]
“Along with Vickery’s theory of a ‘peasant revolution’, we can now dismiss Thion’s assertion that in Democratic Kampuchea, ‘The state never stood on its feet.’ Despite its underdeveloped economy, the regime probably exerted more power over its citizens than any state in world history. It controlled and directed their public lives more closely than any government had ever done.” – Ben Kiernan, The Pol Pot Regime (1996)
“The Khmer Rouge were tipping out patients [from the hospitals] like garbage into the streets…. Bandaged men and women hobbled by the embassy. Wives pushed wounded soldier husbands on hospital beds on wheels, some with serum drips still attached. In five years of war, this is the greatest caravan of human misery I have ever seen.” – Description of the evacuation of Pnohm Penh
“The Cambodian communists’ economic plans were, at times, utterly surreal. Scholar David Chandler notes that, in a Democratic Kampuchea report on General Political Tasks of 1976, there are three lines devoted to education, and six devoted to urine. The document states that, regarding human urine, “We collect thirty per cent. That leaves a surplus of 70%.” These were indicative of the types of policies that Chomsky and Herman claimed had lifted Cambodia out of the ashes of war.” – Bruce Sharp, “Averaging Wrong Answers”[146]
“The Khmer Rouge took children away from their parents and made them live and work in labor brigades. If the children died of fatigue or disease, the cadre were good enough to inform their parents; then, what emotion the parents showed could mean their life or death. If they wept or displayed extreme unhappiness, this showed a bourgeois sentimentality–after all, their children had sacrificed themselves for the Great Revolution and the parents should be proud, not unhappy. Similarly, a wife expressing grief over an executed husband–an enemy of the Great Revolution–was explicitly criticizing the Khmer Rouge. This unforgivable act of bourgeois sentimentality could mean her death.” – Rummel
“Everyone knows about the war waged by the United States in Cambodia from 1970 to 1975. But very few people know about or understand the war that it is waging today against that country, which now calls itself Democratic Kampuchea. The war is being fought on many fronts. But it is mainly a propaganda war, a consciously organized, well-financed campaign to spread lies and misinformation about Kampuchea since the victory of its revolution in 1975. … The most slanderous of all charges leveled against Kampuchea is that of ‘mass genocide,’ with figures often cited running into the millions of people. I believe this is a lie, which certain opinion-makers in this country believe can be turned into a ‘fact’ by repeating it often enough.” – The New York Times, November 21, 1978
“In Chomsky’s condescending view, if the media was right about the Khmer Rouge, it was only because their “lies” happened to match the truth by pure coincidence.” – Sharp, “Averaging Wrong Answers”
“Barron and Paul…rely on ‘specialists’ at the State and Defense Departments…Elsewhere in the media, similiar figures are bandied about, with equal credibility.” – Chomsky, 1977[147]
“You might recall, perhaps, that we were probably the only commentators to rely on the most knowledgeable source, State Department intelligence.” – Chomsky, 2002, on Znet[148]
“Once, I was in a boat steaming up a narrow river, just off the Great Lake. I was being taken to see a fishery in one of the richest of the fishing areas. Along with rice, fish is a staple food in Cambodia and the most important source of protein. Long before our old boat came around the bend of the river, an extraordinary smell came wafting out to greet us. The river was jammed with hundreds of thousands of dead fish, packed tight as ice floes. What had happened? I asked. ‘Pol Pot’ came the reply. It turned out that the Khmer Rouge had built a huge dam just upstream from here and the water in this ancient fishing village was now far shallower than it had ever been before. In the heat of the dry-season sun the fish had, quite simply, cooked.” – William Shawcross, in The Quality of Mercy, p.283
“… it is not only because I once argued for the victory of this very regime, and feel myself partially guilty for what is happening under it, that I believe I can say: there is a time, when a great crime is taking place, when it is better to speak out, in whatever company, than to remain silent.” – Jean Lacouture on Cambodia
“I shall never forget one cripple who had neither hands nor feet, writhing along the ground like a severed worm, or a weeping father carrying his ten-year old daughter wrapped in a sheet tied around his neck like a sling, or the man with his foot dangling at the end of a leg to which it was attached by nothing but skin.” – Description of the death march from Pnhom Penh (Cambodia Year Zero, pp.6-7)
“The object of this disgraceful exercise cannot be to convince the reader that the arguments offered are actually true. Rather, the goal is to affect the reader’s emotional attitude, by dulling his or her sense of outrage on contemplating millions of tortured and mutilated corpses brought about by the radical movement that campaigned for a communist victory in Indochina. In this task, the book is eminently successful, not unlike the works of Holocaust denial that serve as its echo and mirror image.” –Paul Bogdanor, reviewing Chomsky’s After the Cataclysm[149]
“On Cambodia, Chomsky and Herman quietly abandon their earlier view that the Khmer Rouge had killed only 25,000, that its crimes had been inflated by “a factor of 100” and that Pol Pot’s brutality had “saved many lives”. Now they try to equate American bombing with communist genocide, arguing that “the responsibility of the United States and Pol Pot for atrocities” in Cambodia is “roughly in the same range”. They generate this conclusion by a remarkable sleight of hand. First, they give estimates of 500,000-600,000 dead in the civil war (1970-5) (p. 263), more than twice the real figure. Second, they attribute the civil war deaths – all deaths, both military and civilian, on all sides – to American bombing (p. 260), in truth only a minor factor. Third, they reduce the toll of Khmer Rouge atrocities (1975-9) to 750,000-1 million (p. 263), only half of the actual number. Finally, they maintain that the starvation component of this toll “must be attributed to the conditions left by the US war” (p. 263), and not to the Khmer Rouge policy of enslaving the whole population while abolishing medicine and hospitals and rejecting food aid in the midst of a government-created famine. Doubtless unfairly, I am reminded of the techniques of Holocaust deniers, who exaggerate the cost of Allied bombing and then attribute Jewish deaths in the camps to starvation and disease caused by the war against the Nazis.” – Bogdanor reviewing Chomsky’s Manufacturing Consent[150]
“After many years, I came to the conclusion that everything he says is false. He will lie just for the fun of it. Every one of his arguments was tinged and coded with falseness and pretense. It was like playing chess with extra pieces. It was all fake.” – Paul Postal on Chomsky (The New Yorker, March 31, 2003)
“Speaking on this occasion, Noam Chomsky, Douglas Dowd and Richard Fernandez vehemently condemned the U.S imperialists’ crimes against the Vietnamese people in both zones and demanded that the U.S. authorities bring immediately all U.S. troops home. They paid profound tribute to President Ho Chi Minh and expressed their admiration for the Vietnamese people engaged in a ‘just struggle’ for independence and freedom, and their confidence in the latter’s certain victory.” – Official North Vietnamese press release, 1970.[151]

Nixon: Isn’t a person a person, …? You know, they talk about Vietnam, ‘these people far away that we don’t know,’ and you remember Chamberlain talking about the Czechs, that they’re far away and we don’t know them very well? Well,… people are people! … I’m getting tired of this business of letting these Africans beat a hundred thousand people to death and do nothing about it.

Kissinger: And all these bleeding hearts in this country who say we like to kill yellow people…

Nixon: That’s right!

Kissinger: There haven’t been as many killed [by the US military] in eight years of the war than were killed in three months in Burundi.

Nixon: …They’re talking about how many we have bombed in the North. And I told your staff to get the figures for me: How many South Vietnamese or anti-Communist North Vietnamese have been killed by the North Vietnamese government? Civilians! How many? It’s unbelievable! Nobody gives a damn! … We need a new African policy. We shouldn’t have 42 ambassadors to these [expletive] countries. Looking at Uganda, of course we have to help those 7,000 people! – President Nixon and Henry Kissinger discussing current events, September 24, 1972, from The Nixon Tapes[152]

“…The evidence is that in Cambodia the much-heralded blood bath that was supposed to follow the fall of Phnom Penh has not taken place. As for Vietnam, reports from Saigon indicate exemplary behavior, considering the situation. ‘There has been no evidence of a blood bath…as [was] so freely predicted abroad,’ writes George Esper of the A.P.” – The Nation, editorial, June 14, 1975[153]
“If, indeed, postwar Cambodia is, as he believes, similar to Nazi Germany, then his comment is perhaps just, though we may add that he has produced no evidence to support this judgement. But if postwar Cambodia is more similar to France after liberation, where many thousands of people were massacred within a few months under far less rigorous conditions than those left by the American war, then perhaps a rather different judgement is in order. That the latter conclusion may be more nearly correct is suggested by the analyses mentioned earlier.” – The Nation, “Distortions at Fourth Hand,” 1977[154]
“During the rule of the Khmer Rouge, some three million people were terminated with extreme prejudice.” – The Nation, movie review of The Killing Fields, 1984
“Even before the fall of Saigon, the Vietnamese had to think about life in South Vietnam under Hanoi’s rule and act accordingly. They were the ones who had to pay with their lives and liberties for any error of judgment. If they bet on a “bloodbath” and exiled themselves and there was “peace” and “reconciliation” they would have lost a home and a homeland for nothing. If they believed in the Communist promise of “reconciliation” and stayed in Vietnam, they might find themselves in a concentration camp today. It was a matter of life and death for thousands of South Vietnamese, not for comfortable democratic armchair intellectual speculation.” – Le Thi Ahn, “Let the Vietnamese Speak for Themselves”[155]
“Mr. President, putting it bluntly, wouldn’t we just be continuing a bloodbath that already exists in Cambodia if we voted the 222 million [in aid]?” – Reporter to US President Gerald Ford, 1975[156]
“You know the John Lennon song ‘Imagine’? ‘Imagine no possessions, no religion’? That’s what it was like in Cambodia. The only thing people had was a spoon, for eating the daily pourridge. And that pourridge was grossly insufficient for the work they were made to do in the fields.” – Sophal Ear
“Ear reminds us of all the Western intellectuals who loved — loved, loved, loved — the Khmer Rouge. … Ear shows us pictures of the “Kampuchea Conference” that took place in Stockholm, in 1979. The purpose of the conference was to promote the restoration of the Khmer Rouge to power! Jan Myrdal was the keynote speaker — the famous intellectual who is the son of Gunnar and Alva. Ear also quotes Noam Chomsky, and others. Chomsky is still making moral and political pronouncements today, and so is Myrdal. Being on the left means never having to say you’re sorry. They just glide on…” – Jay Nordlinger, National Review Online, 2010[157]
“The revolution in Kampuchea marks the beginning of the greatest and most necessary change beginning to convulse the world in the latter 20th century to shift it from a disaster-bound course to one holding out the promise of a better future for all.” – Malcolm Caldwell, Kampuchea, p.45.
“The forethought, ingenuity, dedication and eventual triumph of the liberation forces in the face of extreme adversity and almost universal foreign skepticism, detachment, hostility and even outright sabotage ought to have been cause for worldwide relief and congratulation rather than the disbelief and execration with which it was in fact greeted. . . But if manipulators have a very good reason to distort and obscure the truth we do not. Indeed we have a clear obligation to establish and propagate it with every resource at out command.” – Caldwell, Kampuchea, p.46
“The conclusions which Caldwell draws are so distanced from reality as to make them unrecognizable.” – Ear, The Khmer Rouge Canon[158]
“Irvine derived from the Television News Index and Abstracts a statistical table on media coverage of human rights in Chile, South Korea, North Korea, Cuba and Cambodia. The news organizations covered were the New York Times, the Washington Post, and the three television networks, ABC, CBS, and NBC in 1976. The findings were startling. In table 4.1, the reader will see that, contrary to the Porter-Hildebrand-Chomsky-Herman claims, the New York Times and Washington Post published four and nine stories on human rights in Cambodia, respectively. According to table 4.1, Chile received more than eight times the coverage “on human rights problems” as did Cambodia. South Korea was covered merely 5.6 times more often. The total allocation of media resources to Cambodia paled in comparison to the massive campaign against Chile and South Korea, two non-communist countries. Perhaps the reason why Chomsky and Herman used anecdotal evidence to prove their theories was because they knew that aggregate analysis would show they were wrong.” – Ear, ibid.
“To the contrary, if Nixon blamed himself for anything, it was for having left Cambodia to the Khmer Rouge partly because of Watergate.” – Ear, ibid.
“If you don’t do what they say, you die.” – Former Tuol Sleng guard[159]
“The shame, alone, would have justified that this book be written–which is firstly a cry of horror. The shame of having contributed, even as little as it was, as weak as its influence could have been on the mass media, to the establishment of one of the most oppressive powers history has ever known.” – Lacouture, Survive le peuple cambodgien! (1978), p.5
“Nothing could be more natural than that the press should rise up to denounce violations of human rights in Spain, Latin America, and South Africa. But nothing could be less justifiable than that so few voices should be raised in protest against the assassination of a people. How many of those who say that are unreservedly in support of the Khmer revolution would consent to endure one hundredth of the present suffering of the Cambodian people?” – Ponchaud, 1976
“How much blood makes a ‘bloodbath’?” – Morton Kondracke, New Republic, October 1, 1977, p.22
“This [deceit] was apparent to anyone listening closely to his [Pol Pot’s] speeches and press conferences in 1977 and 1978 and to the unsettling propaganda broadcast every day over Radio Phnom Penh by the Kampuchean Communist Party (meaning Pol Pot himself) from 1975 until January 7, 1979, when Vo Nguyen Giap’s blitzkrieg brought down Phnom Penh. Never in the human memory has a leader (be he an emperor or dictator), government, or a political party in power sung its own praises in such a dithyrambic, insolent, deceitful, shameless, and immodest way as the Pol Pot-Ieng Sary regime did. As Radio Hanoi has since stated, Messers. Pol Pot and Ieng Sary outstripped even their guru, the late Joseph Goebbels, when it came to propaganda!” – King Norodom Sihanouk, 1980
“Le Duc Tho used to tell me that their ambition was all of Indochina after which they would proceed to take over South East Asia.” – Kissinger, 1975[160]

Suharto: At Camp David, we discussed the question of unification of Vietnam. That seems now to be moving ahead. Laos and Cambodia seem already under Vietnamese influence. Does the United States believe the three will be incorporated into one country?

Ford: The unification of Vietnam has come more quickly than we expected. There is, however, resistance in Cambodia to the influence of Hanoi. We are willing to move slowly in our relations with Cambodia, perhaps to slow down the North Vietnamese influence. … The situation in Laos is disturbing.

Kissinger: It is interesting that in Laos Souvannavong is now in a subordinate position. The Chinese want to use Cambodia to balance off Vietnam and are keeping troops in connection with road building in the north. We don’t like Cambodia, for in many ways the government is worse than Vietnam, but we would like it to be independent. We don’t discourage Thailand or China from drawing closer to Cambodia.” – Ford, Kissinger, and Suharto, 1975[161]

“Kissinger: What is the Cambodian attitude?

Thai Foreign Minister: The Cambodians want salt and fish. They wanted to barter for these items.

Kissinger: Did Ieng Sary impress you?

Thai Foreign Minister: He is a nice, quiet man.

Kissinger: How many people did he kill? Tens of thousands?” – Kissinger to Thailand’s Foreign Minister, 1975[162]

“The North Vietnamese have to be the meanest people in the world. The North Koreans and Albanians are pretty difficult, but the North Vietnamese are by far the worst. They can lie to you effortlessly. … The Vietnamese in Paris used to make the same speech every morning. They used to say that if we would make a major effort, they would make a major effort. One morning the leader of the Vietnamese delegation said that if we would make a major effort, they would make an effort. At the end of the speech, I asked whether I had understood or whether he had in fact dropped an adjective. He explained that yesterday they had made a major effort, but we had made only an effort. So today we would have to make a major effort and they in turn would only make an effort.” – Kissinger, ibid.
“I am, personally, embarrassed by the Vietnam War. I believe that if you to go war, you go to win and not to lose with moderation. … You must act firmly. That’s the only way to deal with the Communists.” – Kissinger, ibid.
“We don’t mind Chinese influence in Cambodia to balance North Vietnam. As I told the Chinese when we last met when we were discussing the Vietnamese victory in Indochina, it is possible to have an ideological victory which is a geopolitical defeat. The Chinese did not disagree with me.” – Kissinger, ibid.
“You should also tell the Cambodians that we will be friends with them. They are murderous thugs, but we won’t let that stand in our way. We are prepared to improve relations with them. Tell them the latter part, but don’t tell them what I said before.” – Kissinger, ibid.
“The events that followed our withdrawal from Vietnam, including the plight of the boat people and the more than 1 million slaughtered by the new communist rulers of Cambodia, showed that media critics who said we were on the wrong side were mistaken.” – Nixon, “I Could See No Reason to Live,” Time, April 2, 1990.
“Yes, I wish I’d done it sooner.” – Nixon, recounting his response to the question of if he had any regrets about the 1970 invasion of Cambodia; “Paying the Price,” Time, April 2, 1990.
“I came to carry out the struggle, not to kill people. Even now, and you can look at me, am I a savage person?” – Pol Pot, quoted in “The Top 100 Asians of the Century,” Time, August 1999
“He [Ho Chi Minh] has become the Strategist, the Theoretician, the Thinker, the Statesman, the Man of Culture, the Diplomat, the Poet, the Philosopher. All these names are accompanied with adjectives like “legendary” and “unparalleled.” He has become Ho the Luminary, Ho the Visionary. Peasants in the South build shrines to him. In the North old women bow before his altar, asking miracles for their suffering children. Others–[such as] anti-communist fanatics…see him in a negative light.” -Time, ibid.
“Some typical tortures [in North Vietnam] were:

-The victim was compelled to kneel down, supporting on his head a basket filled with heavy stones.

-He was forced to hang by his thumbs or feet from a rope thrown over a rafter. In this position he could be either beaten or, by pulling on the rope, jerked violently up and down.

-His thumbs were wrapped in a cloth soaked in oil which was then ignited.

These tortures were widely used throughout the whole country.” – Former North Vietnamese government official Hoang Van Chi, quoted in US intelligence report, “The Human Cost of Communism in Vietnam”[163]
“Two years earlier, in 1951, heavy bombing by the French had annihilated the entire irrigation network in the communist-controlled zone. The party now saw in this military disaster a possible solution to its present problem. Its leaders revealed that the idea of destroying the irrigation system had been suggested to the French by these very traitors whom the angry masses had denounced. It was even said that they had provided the French with accurate maps giving the location of dams and lock-gates. The absurdity of this accusation was immediately apparent to all but the blindest followers of the party, since all Vietnamese knew perfectly well that it was the French who had built the dams, and that all the ordnance maps of Vietnam and of Indochina had been compiled by the French. To suppose that they had forgotten the whereabouts of these gigantic constructions, and needed map references from local spies to locate them again, was patently ridiculous. But communists, in their propaganda, have never considered absurdity to be a serious obstacle to mass persuasion. It was their habit when dealing with peasants constantly to repeat simple statements, and their propagandists knew from past experience that the villagers would believe without question any story, however fanciful, about the French and the Americans; many of them had probably never met a Frenchman or an American in the whole course of their lives. One communist officer, who had valiantly fought at Dien Bien Phu, was heard to enquire whether or not Americans had red skins. Obviously, he had confused Americans with American Indians, the Redskins–a name introduced into the Vietnamese Language by its French equivalent, Peauro Rouges. Clearly, an ignorant man; all the same, he typifies the abysmal ignorance which was so widespread. Thus, the simpler the argument, the more suited it was to the peasants’ understanding.” –Chi, ibid.
“I want to be sure…that nothing is done on these veterans. Is that understood?…Is the word out? That they are not to touch ’em, they are not to do a thing?…Get a hold of the district police; they’re not to touch them, they’re to do nothing: Just let ’em raise Hell.” – Nixon, telling John Dean to make sure that anti-war protestors–especially veterans—are left alone by police, from The Nixon Tapes[164]
“On September 23, 2001, Cambodians in Chicago celebrated Pchum Ben at Truman College. This year, coming less than two weeks after the attacks which claimed thousands of American lives, the atmosphere was different. There were American flags everywhere: on shirts, on walls, on car windows, on antennas. Toward the end of the ceremony, volunteers began to walk through the crowd. They carried small cardboard boxes, with American flags printed on the sides, ready to accept donations for the victims of the attacks in New York, Washington, and Pennsylvania. The response was instantaneous. Within seconds there were people crowded around every one of the volunteers. Within minutes the boxes were overflowing with currency. I was seeing something that I had never expected to see: Cambodians, rushing to the aid of American victims of war. Few people on Earth understand war and suffering as well as the Cambodians. In the face of insurmountable odds, they have preserved their culture. Now, the strength and resilience that withstood the Khmer Rouge forms another individual thread, woven into the fabric of America. With every new thread, the fabric grows stronger.”[165]
“…the most cruel mistake occurred with the failure to understand the Vietnam war. Some people sincerely wanted all wars to stop just as soon as possible; others believed that there should be room for national, or communist, self-determination in Vietnam, or in Cambodia, as we see today with particular clarity. But members of the U.S. anti-war movement wound up being involved in the betrayal of Far Eastern nations, in a genocide and in the suffering today imposed on 30 million people there. Do those convinced pacifists hear the moans coming from there? Do they understand their responsibility today? Or do they prefer not to listen?” – Aleksandr Solzhenitsyn[166]

References

  1. Triumph Forsaken, book by Mike Moyar
  2. The Pentagon Papers (Beacon Press, 1971), vol. 3, p661.
  3. Robert F. Turner, Vietnamese Communism: Its Origins and Development (Hoover Institution Press, 1975), pp57-9, 67-9, 74 and “Myths of the Vietnam War,” Southeast Asian Perspectives, September 1972, pp14-8
  4. A la barre de l’Indochine. Decoux, Jean. A French government report documented some 400,000 deaths, which may have been 50% too low. Others suggested an even higher toll. Rummel counts famine as non-democidal, but it would be hard to argue that the Communists were not responsible for at least 50% of the death toll
  5. http://coombs.anu.edu.au/~vern/van_kien/declar.html
  6. Stanley Karnow, Vietnam: A History, (New York: Penguin Books Ltd., 1997), pp. 146.
  7. Fall, Bernard, Last reflections on a War, pp. 88. New York: Doubleday, 1967.
  8. http://www.rfa.org/english/news/vietnam_landreform-20060608.html
  9. http://www.vietnam.ttu.edu/events/1996_Symposium/96papers/story.htm
  10. http://chss.montclair.edu/english/furr/Vietnam/portermyth73.pdf
  11. http://www.hawaii.edu/powerkills/SOD.CHAP6.HTM
  12. http://www.rand.org/pubs/papers/2008/P4416.pdf
  13. http://www.paulbogdanor.com/left/vietnam/landreform.html
  14. http://www.paulbogdanor.com/left/vietnam/landreform.html
  15. For more on this, see Hoang Van Chi, From Colonialism to Communism
  16. http://www.rfa.org/english/news/vietnam_landreform-20060608.html
  17. http://www.rand.org/pubs/papers/2008/P4416.pdf
  18. http://www.vietnam.ttu.edu/events/1996_Symposium/96papers/story.htm
  19. http://www.rfa.org/english/news/vietnam_landreform-20060608.html
  20. http://www.paulbogdanor.com/left/vietnam/landreform.html
  21. http://www.hawaii.edu/powerkills/SOD.TAB6.1A.GIF
  22. http://www.paulbogdanor.com/left/vietnam/landreform.html
  23. http://www.paulbogdanor.com/left/vietnam/landreform.html
  24. http://www.hawaii.edu/powerkills/SOD.TAB6.1A.GIF
  25. http://www.rfa.org/english/news/vietnam_landreform-20060608.html
  26. http://www.hawaii.edu/powerkills/SOD.TAB6.1A.GIF
  27. http://www.hawaii.edu/powerkills/SOD.TAB6.1A.GIF, extrapolated from at least 2,000 per year; assuming at least 100,000 imprisoned and at least 2% dead annually
  28. http://www.paulbogdanor.com/left/vietnam/landreform.html
  29. http://www.hawaii.edu/powerkills/SOD.TAB6.1A.GIF
  30. http://www.vietnam.ttu.edu/star/images/239/2390710003A.pdf
  31. http://www.hawaii.edu/powerkills/SOD.TAB6.1A.GIF
  32. http://www.hawaii.edu/powerkills/SOD.TAB6.1A.GIF
  33. http://www.hawaii.edu/powerkills/SOD.TAB6.1A.GIF
  34. http://www.hawaii.edu/powerkills/SOD.TAB6.1A.GIF
  35. http://www.hawaii.edu/powerkills/SOD.TAB6.1A.GIF
  36. http://www.vietnam.ttu.edu/star/images/239/2390710003A.pdf
  37. http://www.hawaii.edu/powerkills/SOD.TAB6.1A.GIF
  38. http://www.hawaii.edu/powerkills/SOD.TAB6.1A.GIF, this is likely an extremely conservative figure
  39. http://www.rfa.org/english/news/vietnam_landreform-20060608.html
  40. http://www.hawaii.edu/powerkills/SOD.CHAP6.HTM#3
  41. http://www.hawaii.edu/powerkills/SOD.CHAP6.HTM#3
  42. This assumes at least 100,000 prisoners.
  43. http://www.vietnam.ttu.edu/events/1996_Symposium/96papers/story.htm
  44. http://www.vietnam.ttu.edu/events/1996_Symposium/96papers/story.htm
  45. http://www.paulbogdanor.com/left/vietnam/hochiminh.html
  46. http://countrystudies.us/laos/24.htm
  47. The Economist, February 26, 1983; Washington Post, April 23, 1985.
  48. Marek Sliwinski, Le Génocide Khmer Rouge: Une Analyse Démographique (L’Harmattan, 1995), pp41-8.
  49. http://www.yale.edu/cgp/Walrus_CambodiaBombing_OCT06.pdf
  50. http://www.paulbogdanor.com/200chomskylies.pdf
  51. Marek Sliwinski, Le Génocide Khmer Rouge: Une Analyse Démographique
  52. http://www.paulbogdanor.com/200chomskylies.pdf
  53. http://www.mekong.net/cambodia/nixon430.htm
  54. Dmitry Mosyakov, “The Khmer Rouge and the Vietnamese Communists: A History of Their Relations as Told in the Soviet Archives,” in Susan E. Cook, ed., Genocide in Cambodia and Rwanda (Yale Genocide Studies Program Monograph Series No. 1, 2004), p54ff. Availible online at: http://128.36.236.77/workpaper/pdfs/GS20.pdf “In April-May 1970, many North Vietnamese forces entered Cambodia in response to the call for help addressed to Vietnam not by Pol Pot, but by his deputy Nuon Chea. Nguyen Co Thach recalls: “Nuon Chea has asked for help and we have liberated five provinces of Cambodia in ten days.””
  55. http://articles.latimes.com/2007/may/31/opinion/oe-kissinger31/2
  56. http://www.grunt.com/scuttlebutt/corps-stories/vietnam/north.asp
  57. http://www.grunt.com/scuttlebutt/corps-stories/vietnam/north.asp
  58. http://www.paulbogdanor.com/left/cambodia/bloodbath1.pdf
  59. http://www.hawaii.edu/powerkills/SOD.CHAP6.HTM
  60. http://www.hawaii.edu/powerkills/COM.TAB1.GIF
  61. http://www.mekong.net/cambodia/deaths.htm
  62. http://www.mekong.net/cambodia/deaths.htm
  63. William Shawcross, The Quality of Mercy: Cambodia, Holocaust, and Modern Conscience (Touchstone, 1985), p115-6
  64. Khieu Samphan, Interview, Time, March 10, 1980
  65. New York Times, August 8, 1979.
  66. http://www.time.com/time/magazine/printout/0,8816,947511,00.html
  67. http://www.time.com/time/magazine/printout/0,8816,912511,00.html
  68. Phan (1988, p.xiv); Wiesner (1988, pp.318-19); Rummel acknowledges this but does not count it as democidal
  69. http://www.vietnam.ttu.edu/events/1996_Symposium/96papers/story.htm
  70. http://www.hawaii.edu/powerkills/SOD.TAB6.1B.GIF
  71. Human Events, August 27, 1977; Al Santoli, ed., To Bear Any Burden (Indiana University Press, 1999), pp272, 292-3
  72. http://www.paulbogdanor.com/chomsky/manufacturing.html
  73. http://www.hawaii.edu/powerkills/SOD.TAB6.1B.GIF
  74. Orange County Register (29 April 2001)
  75. http://worldview.carnegiecouncil.org/archive/worldview/1977/06/2881.html/_res/id=sa_File1/v20_i006_a014.pdf Based on the lethality of past North Vietnamese deportations, the toll from the population transfer alone could have been well over 100,000 dead; but Rummel chose not to estimate any deaths from the deportation, apparently because no published estimates as to the dead are available and thus any figure would be highly uncertain. However, deaths from slave labor in the “new economic zones” to which they were deported are counted by Rummel, and certainly overlap with the total number of deaths caused by the deportation. With this in mind, his high estimate of 155,000, applied to both slave labor and mass deportation, seems about exactly right–if anything, it would be conservative: More than half those deported died in previous deportations, counting the effects of slave labor.
  76. http://www.hawaii.edu/powerkills/SOD.TAB6.1B.GIF
  77. http://www.hawaii.edu/powerkills/SOD.TAB6.1B.GIF
  78. Associated Press, June 23, 1979.
  79. http://www.hawaii.edu/powerkills/SOD.TAB6.1B.GIF
  80. Others have independently calculated an equivalent toll: Rummel estimates conservatively that 493,000 South Vietnamese, and 547,000 Laotians and Cambodians, were killed by Hanoi after 1975 outside of an additional 250,000 “boat people.” This does not count the death toll from the invasion of South Vietnam or those civilians killed escaping the “Highlands” offensive. Victor Davis Hanson refers to “half a million killed, and more than a million in boats;” US intelligence estimated that several hundred thousand were killed (and a high-ranking US official estimated 300-600,000 drowned trying to escape); Del Vecchio uses similar figures. Few count the 100,000 massacred trying to escape the final Communist offensive by the victorious Communist troops.
  81. Jacqueline Desbarats and Karl D. Jackson, “Research Among Vietnamese Refugees Reveals a Bloodbath,” Wall Street Journal, April 22, 1985. Here Desbarats and Jackson raise their estimate to at least 100,000 or more executions.
  82. http://users.erols.com/mwhite28/warstat2.htm#Vietnam
  83. Forced Back and Forgotten (Lawyers’ Committee for Human Rights, 1989); and Jane Hamilton-Merrit, Tragic Mountains: The Hmong, the Americans, and the Secret Wars for Laos (Indiana University Press, 1999)
  84. http://users.erols.com/mwhite28/warstat5.htm#Lao75
  85. http://www.mekong.net/cambodia/demcat.htm
  86. http://www.mekong.net/cambodia/demcat.htm
  87. http://www.hawaii.edu/powerkills/SOD.TAB4.1A.GIF
  88. http://users.erols.com/mwhite28/warstat3.htm
  89. http://users.erols.com/mwhite28/warstat3.htm
  90. http://www.hawaii.edu/powerkills/SOD.TAB4.1A.GIF
  91. http://www.hawaii.edu/powerkills/SOD.TAB4.1A.GIF
  92. http://www.hawaii.edu/powerkills/SOD.TAB4.1A.GIF
  93. http://www.hawaii.edu/powerkills/SOD.CHAP4.HTM
  94. http://www.time.com/time/magazine/printout/0,8816,947511,00.html
  95. http://www.paulbogdanor.com/left/vietnam/hoan1.pdf
  96. http://www.paulbogdanor.com/left/vietnam/toai.pdf
  97. http://www.paulbogdanor.com/left/vietnam/hoan.html
  98. http://www.paulbogdanor.com/left/vietnam/morris.pdf
  99. http://www.ocf.berkeley.edu/~sdenney/Vietnam-Reeducation-Camps-1982
  100. http://www.ocf.berkeley.edu/~sdenney/SRV-Discrimination-1990
  101. Far Eastern Economic Review, December 22, 1988
  102. http://archive.frontpagemag.com/readArticle.aspx?ARTID=13485
  103. When Richard Nixon became president, he wanted to end the war by pulling out American troops, and he did so. None of the three presidents wanted to win, but all wanted to report “progress.” All three administrations instructed military commanders always to report gains and rely on suspect body counts as a way of measuring progress. [1]
  104. http://www.digitalhistory.uh.edu/modules/vietnam/index.cfm
  105. http://www.mekong.net/cambodia/deaths.htm
  106. http://www.mekong.net/cambodia/demcat.htm The high is extrapolated from UN figures. The Khmer Rouge reduced the expected 1979 population from 8.4 to 6.2 million; the UN estimated an expected 1979 population of 8.7 to 9 million in the absence of the war. Cambodia’s actual population in 1975 was roughly 8.2 million
  107. http://www.vietnamgear.com/casualties.aspx
  108. Charles Hirschman et al., “Vietnamese Casualties During the American War: A New Estimate,” Population and Development Review, December 1995
  109. http://www.hawaii.edu/powerkills/WSJ.ART.HTM
  110. http://www.hawaii.edu/powerkills/DBG.TAB11.1.GIF
  111. http://www.britannica.com/EBchecked/topic/628478/Vietnam-War
  112. Associated Press, April 3, 1995, “Vietnam Says 1.1 Million Died Fighting For North”
  113. http://www.paulbogdanor.com/200chomskylies.pdf
  114. http://web.archive.org/web/20071222122211/http://scholar.lib.vt.edu/VA-news/VA-Pilot/issues/1995/vp950404/04040331.htm
  115. Guenter Lewy, America in Vietnam (Oxford University Press, 1978), pp272-3, 448-9.
  116. http://www.hawaii.edu/powerkills/SOD.TAB6.1A.GIF
  117. Marek Sliwinski, Le Génocide Khmer Rouge: Une Analyse Démographique (L’Harmattan, 1995)
  118. Heuveline, Patrick (2001). “The Demographic Analysis of Mortality in Cambodia.” In Forced Migration and Mortality, eds. Holly E. Reed and Charles B. Keely. Washington, D.C.: National Academy Press.
  119. Banister, Judith, and Paige Johnson (1993). “After the Nightmare: The Population of Cambodia.” In Genocide and Democracy in Cambodia: The Khmer Rouge, the United Nations and the International Community, ed. Ben Kiernan. New Haven, Conn.: Yale University Southeast Asia Studies.
  120. On Veteran’s Day: Some Grim Statistic, Beliefnet, November 11, 2010
  121. Encyclopedia of Military History, Dupuy & Dupuy, 1979, Chart Page 1221
  122. Who Lost Vietnam?, by Joseph L. Galloway, a senior writer for U.S. News & World Report
  123. The wrong war. Why We Lost in Vietnam, by Jeffrey Record.
  124. Leonard Magruder, “I was there and that’s not the way it was”
  125. On Strategy: A Critical Analysis of the Vietnam War, Harry G. Summers
  126. How to Lose A War: The Press and Viet Nam; Encounter (London), vol. LVII, No. 2, August 1981, pp. 73-90
  127. Uwe Siemon-Netto in the International Herald Tribune, reprinted in Encounter, October 1979
  128. KGB file 43173 vol. 2 (v) pp. 46-55, Alexander Vassiliev, Notes on A. Gorsky’s Report to Savchenko S.R., 23 December 1949. Original document from KGB Archives [2].
  129. http://news.yahoo.com/s/ynews/ynews_ts2067/print
  130. http://www.rfa.org/english/news/vietnam_landreform-20060608.html
  131. http://www.paulbogdanor.com/left/vietnam/landreform.html
  132. http://www.paulbogdanor.com/left/vietnam/landreform.html
  133. Vietnam Wars, 1945-90 by Marilyn Young.
  134. http://www.paulbogdanor.com/left/vietnam/landreform.html
  135. http://www.paulbogdanor.com/deniers/vietnam/turner.pdf
  136. http://www.paulbogdanor.com/deniers/vietnam/chi.pdf
  137. http://jim.com/canon.htm#ch2
  138. http://www.youtube.com/watch?v=D9vsCD0j3Ys
  139. http://www.paulbogdanor.com/left/vietnam/boatpeople1.pdf
  140. http://www.paulbogdanor.com/left/cambodia/kirk2.pdf
  141. http://www.paulbogdanor.com/chomsky/morris.pdf
  142. http://www.hawaii.edu/powerkills/WF.CHAP6.HTM
  143. John Barron and Anthony Paul, Peace With Horror: The Untold Story of Communist Genocide in Cambodia. London: Hodder and Stoughton, pp. 148-149. American Edition titled Murder of a Gentle Land. New York: Reader’s Digest Press–Thomas Y. Crowell.
  144. http://www.hawaii.edu/powerkills/WF.CHAP6.HTM#4
  145. Arch Puddington, “The Khmer Rouge File,” The American Spectator (July): pp. 18-20.
  146. http://www.mekong.net/cambodia/chomsky.htm
  147. http://www.jim.com/chomsdis.htm
  148. http://www.mekong.net/cambodia/chomsky.htm
  149. http://www.paulbogdanor.com/chomsky/cataclysm.html
  150. http://www.paulbogdanor.com/chomsky/manufacturing.html
  151. http://www.vietnam.ttu.edu/star/images/215/2150806025.pdf
  152. http://www.youtube.com/watch?v=9kph0lygo40
  153. http://www.paulbogdanor.com/deniers/cambodia/nation.pdf
  154. http://www.chomsky.info/articles/19770625.htm
  155. http://worldview.carnegiecouncil.org/archive/worldview/1977/06/2881.html/_res/id=sa_File1/v20_i006_a014.pdf
  156. http://www.paulbogdanor.com/left/cambodia/bloodbath1.pdf
  157. http://www.nationalreview.com/articles/229666/oslo-journal-part-iv/jay-nordlinger
  158. http://jim.com/canon.htm
  159. http://articles.cnn.com/2008-11-13/world/sbm.cambodia.himhuy_1_political-prisoners-choeung-ek-tuol-sleng?_s=PM:WORLD
  160. http://www.gwu.edu/~nsarchiv/NSAEBB/NSAEBB62/doc4.pdf
  161. http://www.gwu.edu/~nsarchiv/NSAEBB/NSAEBB62/doc4.pdf
  162. http://www.mekong.net/cambodia/kissinger_chatichai.htm
  163. http://www.vietnam.ttu.edu/star/images/239/2390710003A.pdf
  164. http://www.youtube.com/watch?v=A7k9Uj7frQ8
  165. http://www.mekong.net/cambodia/sept11.htm
  166. http://www.columbia.edu/cu/augustine/arch/solzhenitsyn/harvard1978.html

Further reading

  • Prados, John. Vietnam: The History of an Unwinnable War, 1945–1975 (2009) 704 pages
  • Jennings, Phillip. America’s victory in Vietnam 244 pages “A well-researched, brisk review of the central myths of the Vietnam War, set in historical context.” (James S. Robbins, Washington Times)

External links

  • This page was last modified on 14 May 2011, at 18:33.
  • This page has been accessed 31,690 times.

——————————

http://www.archives.gov/research/pentagon-papers/

Posted in Chien Tranh Viet Nam | Leave a Comment »

Đài phát thanh VN trên làn sóng 1503 KHz, vào buổi tối lúc 9:30 -10:00

Posted by hoangtran204 trên 17/05/2011

Buổi Phát Thanh Đầu Tiên Về Việt Nam của Đài ĐÁP LỜI SÔNG NÚI

Đài ĐÁP LỜI SÔNG NÚI phát thanh từ 9 giờ 30 đến 10 giờ tối, giờ Việt Nam, mỗi đêm, trên tần số trung bình (AM) 1503 ký lô chu kỳ (kHz).

(có thể nghe đài nầy trên Internet)

Với chủ trương luôn đề cao “Sự Thật”, Đài phát thanh ĐÁP LỜI SÔNG NÚI mong mỏi là tiếng nói trung thực của những người Việt còn tha thiết đến tiền đồ của đất nước và hạnh phúc của toàn dân. Đài mở rộng đón nhận sự cộng tác, yểm trợ của đồng bào khắp nơi để góp phần mau chóng đẩy mạnh công cuộc dân chủ hóa đất nước.

http://www.lldtcntq.org
http://www.cuuquoc.org

LỰC LUỢNG DÂN TỘC CỨU NGUY TỔ QUỐC
P.O. Box 6005, Torrance, CA 90504, USA
187 The Horsley Drive, Fairfield, NSW 2165, AUSTRALIA
Website: http://www.lldtcntq.org – Email: vpll.llcq@gmail.com

THÔNG CÁO BÁO CHÍ
Ngày 15 tháng 5 năm 2011
về
Buổi Phát Thanh Đầu Tiên Về Việt Nam
của Đài ĐÁP LỜI SÔNG NÚI

Như đã công bố trong Thông Cáo Báo Chí ngày 5 tháng 5 năm 2011, Đài phát thanh ĐÁP LỜI SÔNG NÚI (ĐLSN) do LỰC LƯỢNG DÂN TỘC CỨU NGUY TỔ QUỐC (LLCQ) thực hiện đã phát buổi đầu tiên về Việt Nam, từ 9 giờ 30 đến 10 giờ tối, hôm nay, Chúa Nhật, 15 tháng 5, 2011, giờ Việt Nam, tức 7 giờ 30 đến 8 giờ sáng cùng ngày tại Los Angeles, Hoa Kỳ, trên làn sóng trung bình (AM), tần số 1503 kí lô chu kỳ (kHz).
Sau phần đài hiệu trích từ bản nhạc Đáp Lời Sông Núi của nhạc sĩ Trúc Hồ, buổi phát thanh mở đầu với lời chào mừng của ông Ngô Quốc Sĩ, giám đốc Đài. Tiếp đó là các phần phát biểu của ông Trần Quốc Bảo, chủ tịch Hội Đồng Điều Hợp Trung Ương và Linh mục Nguyễn Hữu Lễ, chủ tịch Hội Đồng Cố Vấn & Yểm Trợ LLCQ nhân buổi phát thanh đầu tiên của Đài.

Trong phần trình bày cảm tưởng khi biết tin Đài phát thanh ĐLSN phát về Việt Nam, lần lượt nhà báo Nguyễn Minh Cần, từ Mạc Tư Khoa, LS Lê Thị Công Nhân từ Hà Nội, GS Nguyễn Ngọc Bích từ Hoa Thịnh Đốn, và Tu sĩ Phật Giáo Hòa Hảo Huỳnh Huệ Thọ từ Bạc Liêu, đã lên tiếng biểu tỏ sự vui mừng và ủng hộ Đài. Buổi phát thanh đầu tiên của Đài ĐLSN kết thúc với bài quan điểm “Tương lai nào cho Dân tộc Việt Nam”.

Cùng lúc phát trên làn sóng điện trước đây đài BBC Luân Đôn đã từng phát (nhưng đã ngưng hoạt động từ cuối tháng 3 năm nay), toàn bộ chương trình buổi phát thanh này đã được đặt trên trang nhà của Đài ĐLSN tại địa chỉ:http://www.radiodaploisongnui.org/ để đồng bào khắp nơi theo dõi.

Kể từ 16 tháng 5, 2011, các buổi phát thanh của Đài ĐLSN sẽ gồm phần tin tức, bình luận và các chuyên mục về chính trị, văn hóa, xã hội, … nhằm trình bày sự thật về những gì đang xẩy ra liên quan đến người Việt trong nước và hải ngoại. Muốn biết thêm chi tiết về Đài, xin liên lạc ông Ngô Quốc Sĩ, Phó Chủ Tịch Ngoại Vụ Hội Đồng Điều Hợp Trung Ương, kiêm Giám đốc Đài phát thanh ĐLSN, địa chỉ: PO Box 612882, San Jose, CA 95161, USA, email: lienlac.dlsn@gmail.com, điện thoại: (408)663-9860.

Trong thời gian tới, LLCQ sẽ tổ chức các buổi tiếp xúc đồng hương trình bày về LL và đài ĐLSN tại các thành phố quan trọng trên thế giới. Lịch trình sơ khởi gồm: San José, Bắc Cali, vào Chúa Nhật, 29 tháng 5; tại Little Saigon, Nam Cali, Chúa Nhật 5 tháng 6; tại Dallas, TX, Thứ Bảy, 11 tháng 6; tại Houston, TX, Chúa Nhật, 12 tháng 6. Chi tiết các buổi sinh hoạt này được liệt kê trong trang nhà của LLCQ địa chỉ:http://www.lldtcntq.org./.

——————————————————————————–

LỜI CHÀO MỪNG
CỦA ÔNG NGÔ QUỐC SĨ
GIÁM ĐỐC ĐÀI PHÁT THANH ĐÁP LỜI SÔNG NÚI

Kính thưa qúy vị lãnh đạo tinh thần và đại diện các tôn giáo
Kính thưa qúy vị đại diện các đảng phái , các tổ chức đấu tranh, và đặc biệt là các chiến sĩ dân chủ trong nước Kính thưa các cơ quan truyền thông
Kính thưa toàn thể đồng bào tại hải ngoại và tại nội địa Việt Nam

Hôm nay, nhân ngày phát thanh đầu tiên của Đài Phát Thanh Đáp Lời Sông Núi, tiếng nói đấu tranh hướng về quốc nội, do Lực Lượng Dân Tộc Cứu Nguy Tổ Quốc thực hiện, chúng tôi xin thay mặt toàn thể đoàn viên Lực Lượng khắp 5 châu, kính gới đến toàn thể qúy vị lời chào thân thương nhất, quyết tâm nhất và hy vọng nhất vào sự thành công của công cuộc đấu tranh dân chủ hóa Việt Nam.

Kính thưa qúy vị,

Nói đến đấu tranh cách mạng, người ta thường nói tới sức mạnh võ trang. Hẳn nhiên, không thể loại bỏ sức mạnh của súng đạn ra khỏi tiến trình cách mạng. Nhưng trong bối cảnh thế giới văn minh tiến bộ hôm nay, công cuộc đấu tranh cách mạng đang thiên về chính trị hơn là quân sự. Thật vậy, một quốc gia hùng mạnh hôm nay, thiết yếu phải có một nền chínhh trị ổn định, một nền kinh tế phồn thịnh và một đời sống xã hội an lạc. Nhưng nói tới tranh đấu chính trị, nói tới cách mạng xã hội, và văn hóa, là phải nói tới sức mạnh của truyền thông, của tin học, của điện toán, tiêu biểu như cuộc cách mạng Hoa Lài tại Bắc Phi và Trung Đông hôm nay.

Đặc biệt, đối với công cuộc đấu tranh dân chủ hóa Việt Nam, sức mạnh truyền thông lại càng quan trọng hơn trong sứ mệnh chọc thủng bức tường bưng bít và che đậy sự thật của cộng sản Việt Nam, vốn mang bản chất bạo lực và dối trá. Cộng sản thành hình và còn tồn tại được một thời gian khá dài, và hiện nay, cũng còn tiếp tục hiện diện ở một số nước như Trung Quốc, Bắc Hàn, Cuba và Việt Nam, chính là nhờ bàn tay sắt được bọc nhung với nhữngt mỹ từ phỉnh gạt như Bình Đẳng, Đại Đồng, làm theo khả năng, hưởng theo nhu cầu, hay những huyền thoại và chiêu bài giả trá như Giải Phóng, Độc Lập và Thống Nhất…

Trong ý hướng phơi bày bộ mặt thật của Đảng cộng sản Việt Nam, Lực Lượng Dân Tộc Cứu Nguy Tổ Quốc đã dồn nghị lực, khả năng và tâm huyết để thực hiện Đài Thanh Đáp Lời Sông Núi, tiếng nói đấu tranh hướng về Viêt Nam, được thực hiện bởi những con dân đất Việt yêu chuộng sự thật, và còn tha thiết với Tổ Quốc và Dân Tộc.

Kể từ ngày 15 tháng 5 năm 2011, đồng bào trong nước sẽ được nghe tiếng nói Đáp Lời Sông Núi mổi tối nửa giờ, từ 9.30 đến 10.00 giờ Việt Nam, trên tần số 1503 Kilô chu kỳ, nghĩa là cùng tần số, cùng giờ với đài BBC trước đây.

Xin thưa với qúy vị rằng, đây quả là một nỗ lực đầy ý nghĩa, nhưng đồng thời cũng là một thách đố lớn đối với Ban Điều Hợp đài Đáp Lời Sông Núi nói riêng và Lực Lượng Dân Tộc Cứu Nguy Tổ Quốc nói chung. Thật vậy, các chương trình Việt Ngữ phát thanh về Việt Nam như đài Tiếng Nói Hoa Kỳ VOA, đài Á Châu Tự Do RFA, đài Pháp Quốc RFI, và đài BBC đều do chính quyền sở tại tài trợ. Trong khi đài Đáp Lời Sông Núi hoàn toàn do tự lực cánh sinh, do sự đóng góp nhân vật lực của các đoàn viên Lưc Lượng , với sự yểm trợ của một số mạnh thường quân, của các thân hữu và đặc biệt là của cộng đồng. Thế nên có thể khẳng định rằng, đài phát thanh Đáp Lời Sông Núi là đài của chúng ta, là đài của dân tộc Việt. Lực Lượng chỉ đứng ra quy tụ tim óc và phối hợp mà thôi!

Trong tinh thần cởi mở và phối hợp đó, chúng tôi hoan hỉ đón nhận sự tham gia và yểm trợ của toàn thể qúy vị, về tinh thần cũng như vật chất, nhất là góp ý cải tiến xây dựng để tiếng nói đấu tranh này mỗi ngày một hữu hiệu hơn, phong phú hơn và đa dạng hơn, chứng tỏ khả năng đáp lời sông núi, đầy mạnh công cuôc cứu nguy Tổ Quốc, đáp ứng niềm mong đợi của toàn dân Việt hôm nay.

Trân trọng kính chào toàn thể qúy vị.

Ngô Quốc Sĩ

——————————————————————————–

Lời phát biểu của Ông Trần Quốc Bảo
Chủ tịch Hội Đồng Điều Hợp Trung Ương – LLCQ

Kính thưa quý thính giả trong và ngoài nước

Nhân buổi phát thanh đầu tiên của đài phát thanh ĐLSN, với tư cách Chủ Tịch HĐDHTƯ của LLDTCNTQ, tôi thay mặt toàn thể đoàn viên của LL trân trọng kính chào thân ái và cám ơn quý thính giả đang theo dõi chương trình hôm nay.

Như ông Ngô Quốc Sĩ, giám đốc Đài vừa trình bày, đài phát thanh ĐLSN là cơ quan ngôn luận của LLDTCNTQ, gọi tắt là LLCQ. Đây là một tổ chức chính trị thành lập ngày 28 tháng 2 năm 2010 tại Sydney, Úc Châu và chính thức ra mắt đồng bào vào tháng 11 vừa qua. LL quy tụ một số đoàn thể chính trị và cá nhân có quá trình tranh đấu lâu dài, cùng theo đuổi mục đích tối hậu là vận dụng sức mạnh của đại khối dân tộc để phá vỡ những chướng ngại đang cản đà tiến của dân tộc, xây dựng một nước Việt Nam dân chủ, hiến định, pháp trị và đa nguyên, và ngăn chặn hiểm họa Bắc thuộc đang đe dọa Dân tộc.

Để có thể đạt tới mục tiêu đó, LL coi việc phục hồi niềm tin trong lòng dân tộc là kim chỉ nam của mọi hoạt động. Phải nói thẳng rằng niềm tin là yếu tố vô cùng cần thiết để khơi dậy được sức mạnh vô song của dân tộc. Niềm tin này đã bị hao mòn, suy xuyển vì các thế lực bất chính tuyên truyền lừa đảo làm cho lòng dân tan tác. Đồng thời, chế độ chính trị độc đảng, độc tài đã kiềm hãm và phá hủy niềm tự hào của dân tộc, biến một dân tộc có truyền thống anh hùng chống ngoại xâm trở thành một dân tộc đang bị thành phần cai trị trói tay trước hiểm họa mất nước đang cận kề, do một kẻ thù truyền kiếp nằm sát ngay địa đầu giới tuyến nước ta. Đó là chưa kể đến hiểm họa mất văn hóa vì một chủ thuyết ngoại lai áp đặt lên đất nước mấy chục năm qua, đã làm hủy hoại bao truyền thống tốt đẹp của dân tộc!

Kính thưa qúy thính giả,
Muốn phục hồi được niềm tin trong lòng dân tộc, LLCQ đặt yếu tố lương thiện của các đoàn viên lên hàng đầu. Bên cạnh những đoàn viên tích cực dấn thân, LL còn có những thân hữu, những người có lòng hỗ trợ, ủng hộ các hoạt động của LL. Trong phần tiếp theo, Linh mục Nguyễn Hữu Lễ, chủ tịch HĐCV&YT, là cơ cấu bao gồm những thành phần yểm trợ này, sẽ trình bày cùng quý thính giả đôi nét về vai trò của Hội Đồng này.

Thưa quý thính giả, nỗ lực đấu tranh chính yếu của LL trong giai đoạn hiện tại là đẩy mạnh chiến dịch SỰ THẬT, nhằm trình bày cho nhân dân Việt Nam biết rõ được thực trạng của đất nước, ý thức rõ những hiểm họa mà dân tộc Việt đang phải đối đầu. Bên cạnh đó, chiến dịch Sự Thật cũng để giải thích rõ các quyền căn bản mà một cá nhân bắt buộc phải có để sống xứng đáng với nhân phẩm, và trình bày tường tận trách nhiệm mà con dân của một quốc gia phải hành xử để bảo vệ giang sơn mà tổ tiên đã gây dựng và truyền thụ lại. Đài phát thanh ĐÁP LỜI SÔNG NÚI chính là phương tiện quan trọng và chính yếu để tiến hành chiến dịch Sự Thật nêu trên.

Kính thưa qúy thính giả,
Trong thời đại thông tin điện tử và toàn cầu hóa ngày nay, thế giới đã thu hẹp, các dân tộc năm châu bốn bể xích lại gần nhau, nhìn rõ nhau, thông tin lưu chuyển tự do như không khí! Nhưng tiếc thay, hiện tại vẫn còn sót một số nước đang sống dưới chế độ độc tài, trong đó người dân chỉ được nghe những gì kẻ cầm quyền muốn cho nghe, chỉ được thấy những gì kẻ cầm quyền muốn cho thấy, chỉ được nói những gì kẻ cầm quyền cho phép nói . Thật là đáng thương cho các dân tộc bất hạnh này, trong đó có chính dân tộc Việt Nam yêu quý của chúng ta.

Kính thưa đồng bào, trong hoàn cảnh đó, một đài phát thanh không do bộ máy tuyên truyền của chính phủ kiểm soát như đài phát thanh ĐLSN là một cố gắng lớn lao và rất cần thiết mà LLDTCNTQ cố gắng thực hiện để chuyển tải, chia sẻ những sự thật cho mọi người cùng am tường. Để được vậy, LL mong mỏi quý thính giả, đồng bào khắp nơi hãy xem Đài ĐLSN là tiếng nói của chính mình, phát xuất từ chính lương tâm của mình, để cùng góp sức duy trì Đài, phát triển Đài, hầu góp phần mau chóng đem lại tự do, dân chủ và hạnh phúc đích thực cho dân tộc VN.

Trân trọng kính chào quý thính giả và đồng báo khắp nơi./.
——————————————————————————–

Lời phát biểu của Lm Nguyễn Hữu Lễ

Kính thưa quý thính giả

Tôi rất hân hạnh được hầu chuyện với đồng bào trong nước ngay trong buổi phát thanh đầu tiên trên là sóng điện của ĐPT. ĐLSN. Tôi xin gởi lời chào thân ái đến tất cả qúy thính giả đang ngồi trước radio trong lúc này.

Lúc nãy Ô. Trần Quốc Bảo, chủ tịch HĐDHTƯ của LLDTCNTQ , trong phần giới thiệu về LL có đề cập tới HĐCV&YT với chức năng đóng góp ý kiến và hỗ trợ cho LLDTCNTQ về nhiều phương diện. Với tư cách chủ tịch HĐCV&YT tôi xin chia sẻ vài lời với quý thính giả nói riêng và với toàn thể đồng bào VN trong và ngoài nước nói chung về vai trò của hội đồng này.

Kính thưa quý thính giả và đồng bào trong và ngoài nước, LLDTCNTQ là một tổ chức chính trị sanh sau đẻ muộn, đến nay mới vừa tròn 15 tháng tuổi. Vì mới ra đời nên LL đang phải đương đầu với rất nhiều khó khăn, như câu người ta thường nói: “trâu chậm uống nước đục!” Chính vì đang trong tình trạng trâu chậm uống nước đục đó mà LLDTCNTQ, ngoài các thành viên chính thức của buổi ban đầu đang hoạt động một cách hăng say trong mọi lãnh vực, LL cũng cần phải có sự hỗ trợ của những người thành tâm thiện chí và có uy tín, mặc dù không phải là thành viên của LL, nhưng sẽ đóng góp, hỗ trợ mặt này mặt khác cho LL, đó chính là vị trí và chức năng của của HĐCV&YT bên cạnh HĐDHTƯ của LLDTCNTQ.

Chúng ta có thể so sánh HĐCV&YT là những người làm công việc đắp đường cho chiếc xe chạy, làm công việc khai kinh cho dòng nước chảy, tìm phương tiện hỗ trợ cho các công tác của LL được tồn tại và đạt được hiệu quả. Cụ thể như công tác thiết lập và điều hành đài phát thanh ĐLSN, mà hôm nay là buổi phát thanh đầu tiên nghe được tại quê nhà. Đối với một tổ chức non trẻ như LLDTCNTQ thì việc điều hành và nuôi dưỡng đài phát thanh ĐLSN quả là một thử thách lớn lao, như lời Ô. Ngô Quốc Sĩ, Giám đốc ĐPT . ĐLSN đã trình bày trong phần mở đầu của chương trình hôm nay. Dù vậy phải nói ĐPT . ĐLSN là một nhu cầu khẩn thiết để theo đuổi và quảng bá chiến dịch Sự Thật, mà Ô. Trần Quốc Bảo lúc nãy đã nói chiến dịch Sự Thật là một đại công tác của LLDTCNTQ hiện nay. Một lý do rất dễ hiểu là người Việt Nam chúng ta đã bị các thế lực độc tài và bất chính tuyên truyền dối gạt, lừa đảo quá nhiều.

Kính thưa quý thính giả. Nói như vậy không có nghĩa là LLDTCNTQ không có lợi thế của một tổ chức sinh sau đẻ muộn. Vì sanh sau đẻ muộn nên LLDTCNTQ học những bài học qúy giá từ những tổ chức đi trước, để trang bị cho mình một hành trang căn bản trong việc tạo dựng niềm tin và vận dụng được sức mạnh của dân tộc. Vì chỉ có niềm tin và sức mạnh của dân tộc mới giải quyết được những vấn đề đang cản bước tiến của dân tộc Việt Nam hiện nay.
Cá nhân tôi rất vinh dự được mời trong vai trò Chủ Tịch HĐCV&YT của LLDTCNTQ và hiện tại các thành viên trong HĐCV&YT đang hoạt động sát cánh với HĐDHTƯ để phát triển sự lớn mạnh và đi đúng đường hướng của LLDTCNTQ.
Là một người Việt Nam tôi có bổn phận làm hết mọi cách để yểm trợ cho LLDTCNTQ là một tổ chức chân chính, trong cố gắng vận dụng sức mạnh của dân tộc chống ngoại xâm trước tai hoạ mất nước đang gần kề.

Là một Linh mục, tôi có bổn phận cố vấn trong việc gìn giữ tính trong sáng, đề cao tính lương thiện để tạo được niềm tin trong lòng dân tộc đúng như tên gọi của tổ chức: LLDTCNTQ. Tôi ước mong sẽ có nhiều người thành tâm thiện chí ở khắp nơi, hãy vì quyền lợi tối thượng của dân tộc mà đóng góp vào cuộc vận động lớn lao này. Việc làm đơn giản trước tiên là hãy đón nghe và giới thiệu ĐPT. ĐLSN cho những người chưa biết.

Xin trân trọng kính chào quý thính giả và đồng bào trong và ngoài nước.
——————————————————————————–

Phát biểu của LS Lê Thị Công Nhân ngày 15.05.2011

Khi tôi biết được thông tin này thì thật sự có Chúa chứng giám, tôi vui mừng khôn xiết bởi vì tôi thấy làm người trong nước thì tôi thấy họ quan tâm nhât là vấn đề về thông tin. Ở trong nước, quý vị biết có 700 tờ báo nhưng chúng tôi gần như không biết một cái gì, toàn những thông tin lề trái. Trừ khi những thông tin nào đó ở một mức độ nào đấy được ban Tuyên giáo trung ương tức là nhà cầm quyền CSVN người ta cho phép đăng thì may ra chúng tôi mới biết, còn nếu không thì hoàn toàn không có. Tôi dám khẳng định như vậy vì nhà tôi có đặt 3 tờ nhật báo, đó là Pháp Luật thành phố, tờ Sức Khỏe Đời Sống của bộ Y tế và một tờ là Tuổi Trẻ của là những tờ báo đỏ mà hàng ngày nhà tôi đọc.

Đọc nhật báo thì rất hiếm có những thông tin như vậy mà nếu có thì viết một cách rất là hạn chế và tôi cảm thấy mình hoàn toàn mù thông tin và thiếu thông tin.

Và khi trong công cuộc đấu tranh dân chủ này, đây là một phê bình nhưng chúng ta phải nhắc lại phê bình này, thì những câu chuyện về truyền thông, thông tin là cực kỳ quan trọng. Quan trọng ở tính chính xác, về sự kịp thời và đặc biệt là nó liên quan đến an ninh của từng cá nhân từng tổ chức cũng như toàn bộ phong trào đấu tranh dân chủ Việt Nam nói chung, cũng như đối với người dân Việt Nam. Lòng tôi cảm thấy rất là biết ơn, rất là vui mừng khi có những người con Việt Nam xa tổ quốc và cuộc sống của họ có thể cũng còn nhiều khó khăn nhưng họ đã hy sinh thời gian, công sức và tiền bạc để mua được một làn sóng như vậy và tổ chức thu thập thông tin, làm phóng viên, rồi biên tập, làm phát thanh đưa đến người dân những thông tin những tiếng nói đứng về lẽ phải, về sự thật và góp phần mang đến một tương lai tốt đẹp hơn cho phong trào đấu tranh dân chủ nói riêng cũng như cho người dân Việt Nam nói chung.

Và những điều như vậy đối với tôi là vô cùng quý giá. Tôi xin phép được gọi các anh chị, những ngươi chủ sở hữu làn sóng, những người biên tập, những người phát thanh là những người yêu nước thật sự, những người đấu tranh thật sự và vô cùng có ý nghĩa. Trước nhất là đối với cá nhân của tôi và tôi tin rằng đối với rất nhiều người khác cũng như vậy.

Và vì thế ngày hôm nay tôi kính chúc quý đài, quý anh chị em và tất cả mọi người sức khỏe tốt, một tin thần, ý chí kiên định để chúng ta làm việc tốt hơn đưa được những thông tin chính xác, kịp thời và góp phần chia sẻ để làm cho chúng tôi có thêm sự hiểu biết, có thêm sự chia sẻ, có thêm sự an toàn.

Và giống như mỗi người ở một mặt trận và một nơi thì chúng ta có một mối quan hệ rất khắn khít, một sự liên đới rất lớn. Trong công việc của chúng ta làm, những người trong một số phận như chúng ta về mặt chính trị và đối với quê hương Việt Nam.

Tôi mong rằng làn sóng sẽ tồn tại thật là lâu và gặt hái được nhiều sự thành công. Mà thành công trước nhất, nói một cách nôm na và hơi buồn cười đó là đây sẽ là một trong những làn sóng mà bị nhà cầm quyền Việt Nam chú ý đến thật là nhiều. Bởi vì thật sự thì họ sẽ quan tâm rất nhiều đến những làn sóng, những đài mà gây cho họ nhiều khó khăn. Điều này thì tôi dám công nhận là ở Việt Nam có kiểu như vậy. Còn nếu mà các bạn được ve vuốt, các bạn được tạo mọi điều kiện thì e rằng đôi khi chúng ta cũng phải xem xét lại một chút.

Một lần nữa xin cám ơn quý đài và quý thính giả đã dành thời gian cho tôi.

——————————————————————————–

Phát biểu của nhà báo Nguyễn Minh Cần

Dân tộc ta hiện đang đứng trước hiểm họa mất nước, thế mà những người cầm quyền nước ta vì muốn duy trì sự thống trị của họ nên cứ thi hành chánh sách nhu nhược, dựa dẩm, thậm chí thuần phục ngoại bang đang lấn chiếm nước ta. Chẳng những thế, họ còn ra sức đàn áp giới trẻ yêu nước đứng lên bảo vệ tổ quốc, đàn áp phong trào đòi tự do, dân chủ, đàn áp các tín đồ đòi tự do tôn giáo, đàn áp công nhân đòi quyền lợi và các dân tộc thiểu số đòi quyền sống như vụ đàn áp dân tộc Hmong vừa vùng lên hôm 30/4 vừa rồi .

Các nhà cầm quyền che dấu sự thật, lừa bịp dân chúng, cho nên đài Đáp Lời Sông Núi bắt đầu phát thanh từ hôm nay là một tin mừng cho những ai quan tâm đến vận mệnh nước nhà vì đài sẽ góp thêm một tiếng nói sự thật xua tan lừa bịp và dối trá

——————————————————————————–

Phát biểu của ông Nguyễn Ngọc Bích

Chúng tôi là Nguyễn Ngọc Bích thuộc Tổ Chức Nghị Hội Toàn Quốc Người Việt tại Hoa Kỳ , như một người đã đấu tranh nhiều năm cho dân chủ, tự do và nhân quyền ở Việt Nam thì chúng tôi xin hoan nghênh và chúc mừng đài phát thanh Đáp Lời Sông Núi đã có sáng kiến phát thanh ở trong nước đưa những tin tức chính xác về đất nước cũng như là đưa ra lý tưởng tự do, dân chủ và nhân quyền là con đường bắt buộc sẽ phải đi của một nước Việt Nam trong tương lai .

Như chúng ta thấy kinh nghiệm của Đông Âu, cũng như kinh nghiệm của Bắc Phi và của Trung Đông thì làn gió dân chủ tất yếu sẽ đến với Á Đông dù như là muộn màng, thành thử ra dân tộc Việt Nam sau bao nhiêu năm bị nằm dưới sự chính quyền bạo tàn của người cộng sản thì thế nào tuổi trẻ Việt Nam cũng sẽ đứng lên đáp lời sông núi để đem lại tự do, dân chủ và nhân quyền trong tương lai cho toàn dân, nghĩa là khoãng 100 triệu dân Việt Nam không những ở trong nước mà cũng sẽ được sự tham gia của đồng bào ở hải ngoại vì lúc bấy giờ thì lòng dân sẽ được thống nhất hoàn toàn

——————————————————————————–

Phát biểu của Tu Sĩ Huỳnh Huệ Thọ tại Bạc Liêu
Nói chung là ở Việt Nam thông tin hai chiều không có cho nên ở đây việc thông tin bị bưng bít, những thông tin sự thật thì người ta rất là khao khát, cho nên nếu được nguồn thông tin của đài phát thanh Đáp Lời Sông Núi …. thì người dân ở nơi đây nói chung rất là khao khát và nói riêng người tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo cũng như tất cả các giới thì tôi nghĩ rằng đây là một hân hoan, phấn khởi của họ khi mà được có đài phát thanh Đáp Lời Sông Núi như thế này,

Còn riêng bản thân tôi nếu được có đài phát thanh như thế này thì ở đây mình sẽ nghe được thông tin hai chiều cho nó rõ rệt sự thật cho đúng với lời Phật dạy là mình nghe cái gì phải nghe chính tiết, nên đây là niềm vui của toàn dân nói chung và nói riêng ở đây là bản thân chúng tôi

Đáp lời sông núi
Nhạc và lời: Trúc Hồ
Ban hợp ca Asia

Chương trình phát thanh

Chủ nhật 15-05-2011

Xin nhấn vào đây để nghe

http://www.lldtcntq.org

sau khi vào được website nầy,  xuống phía dưới và nhấn vào các nút có hình TAM GIÁC để nghe.

Quan điểm
15-5-2011

TƯƠNG LAI NÀO CHO DÂN TỘC VIỆT?
Ngày Chủ nhật 15/5 hôm nay là ngày tưởng niệm 66 năm chấm dứt trận đệ nhị thế chiến. Cả nhân loại đã reo hò mừng rỡ khi nghe tin đó…

©2011 Lực Lượng Dân Tộc Cứu Nguy Tổ Quốc website:http://www.lldtcntq.org

Posted in Chinh Tri Xa Hoi | Leave a Comment »

Công Nhân Đình Công đòi tăng lương, đòi nghĩ 2 ngày mỗi tuần

Posted by hoangtran204 trên 17/05/2011

Lương công nhân khu CN không đủ sống

16/05/2011 09:24:16

Thu nhập bình quân của công nhân lao động tại các doanh nghiệp trong các khu công nghiệp đạt khoảng 2 triệu đồng/tháng,

Đời sống vật chất của gần 1,6 triệu công nhân, lao động  trong 260 khu công nghiệp, 15 khu kinh tế đang gặp rất nhiều khó khăn, thiếu thốn, đồng lương eo hẹp không đủ chi trả cho những chi tiêu tối thiểu.

Đó là thông tin được đưa ra tại báo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư vừa công bố tại hội thảo về vấn đề lao động và điều kiện sống, làm việc của công nhân trong khu công nghiệp, khu kinh tế.

 Hơn 4000 công nhân cty TNHH Pioneer đình công đòi tăng lương (IE)

Theo báo cáo này, mức thu nhập của công nhân lao động tại các doanh nghiệp trong các khu công nghiệp đạt bình quân 2 triệu đồng/tháng, bao gồm cả các khoản phụ cấp như tiền xăng xe, chuyên cần, nhà trọ, làm thêm giờ…

Trong khi đó, với mức độ lạm phát, giá cả hàng hóa dịch vụ tăng nhanh, nhất là tại các khu đô thị tập trung đông người, cuộc sống của công nhân lao động không những không được cải thiện mà đang có chiều hướng giảm xuống. Tiết kiệm chi phí trong bối cảnh lạm phát tăng cao dẫn đến việc họ phải chấp nhận những điều kiện sống thấp kém hơn. Đặc biệt là vấn đề dinh dưỡng và nhà ở.

Ông Đặng Quang Điều, Viện trưởng Viện công nhân – công đoàn ( thuộc Tổng liên đoàn lao động Việt Nam) phân tích, phần lớn công nhân tại các khu công nghiệp là lao động nhập cư. Với nhóm đối tượng này, cơ cấu chi tiêu của họ đã phải dành một khoản chi phí khá lớn cho nhà trọ, lưu trú.

Chị Lý Thị Huệ, công nhân làm việc tại Công ty Yamaha Việt Nam, đóng tại Khu công nghiệp Thăng Long cho biết, tổng thu nhập của chị là 3 triệu đồng/tháng không đủ trang trải cho tiền ăn và tiền thuê nhà.

Giá cả tăng cao khiến cho việc chi tiêu của chị Huệ và những công nhân ở đây vô cùng khó khăn. Ngoài việc chi trả mua lương thực, thực phẩm và các hàng hóa trong điều kiện tăng giá như mọi người dân bình thường khác ở đô thị, chị Huệ và những lao động nhập cư còn phải chi phí thêm các khoản như thuê nhà đã tăng khoảng 20 đến 30%, trả tiền điện, nước với giá cao hơn 2 đến 4 lần so với người dân địa phương.

Còn chị Nguyễn Thị Thủy làm tại dây chuyên sản xuất linh kiện điện tử, dây cáp của Công ty Nissei của Nhật Bản thì cho rằng, nếu như trước đây, doanh nghiệp nào phải bố trí công nhân làm thêm giờ sẽ rất khó thu hút lao động vì công nhân sợ vất vả, không đủ sức làm thêm thì hiện đang có xu hướng ngược lại. Công nhân sẽ sẵn sàng “nhảy việc” sang các doanh nghiệp có việc làm thêm để tăng thêm thu nhập nếu doanh nghiệp họ đang làm không có việc làm ngoài giờ.

“Với công nhân khu công nghiệp, có lẽ cách duy nhất để “chống chọi” với “bão giá”hiện nay là làm thêm giờ”, chị Thủy nói.

Thống kê của Bộ Kế hoạch và Đầu tư cũng cho thấy, hiện có tới 48,2% lao động có mức thu nhập thấp nên phần lớn phải làm thêm giờ hoặc chấp nhận sống thiếu thốn. Tuy nhiên, 30,7% số công nhân cho rằng tiền công, phụ cấp doanh nghiệp trả cho họ chưa được thỏa đáng so với công sức bỏ ra. Số tiền công mà họ nhận được đang không đủ để trang trải cho những chi tiêu tối thiểu

Vũ Quỳnh (theo VnEconomy)

TIN LIÊN QUAN

http://bee.net.vn/channel/4541/201105/Luong-cong-nhan-khu-CN-khong-du-song-1799282/

Lạm phát đang khoét sâu vào đói nghèo

Tác giả: Phạm Huyền
Bài đã được xuất bản.: 16/05/2011 06:00 GMT+7
(VEF.VN) – Một nghiên cứu của Bộ KH&ĐT mới đây đã chỉ ra rằng, khi lạm phát bao trùm xã hội, thiếu đói và đình công ở Việt Nam tăng cao. Thu nhập thực của người lao động sụt giảm vì không đuổi kịp nổi tốc độ tăng giá. Mục tiêu giảm nghèo 2% năm nay có thể bị phá vỡ.

Thu nhập đuổi không kịp với giá sinh hoạt

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tăng cao đang trở thành nỗi lo ngại lớn nhất không chỉ cho các nhà quản lý chính sách ổn định kinh tế vĩ mô. Vòng xoáy của lạm phát có thể sẽ nhấn chìm các nỗ lực cải thiện chất lượng sống của người dân nghèo.

Theo nghiên cứu gần đây của bộ KHĐT, nhóm hộ nghèo ở Việt Nam đa số là những người nông dân ở vùng nông thôn, người làm công ăn lương, người hưu trí, hoặc kinh doanh nhỏ lẻ. Nguồn thu nhập chính của người nghèo chủ yếu là từ nông, lâm, thủy sản, chiếm 55,5% tổng thu nhập, tiền lương tiền công chiếm 23,8% tổng thu nhập.

Khi lạm phát xảy ra, tiền lương tối thiểu thường tăng không đủ bù đắp mức tăng giá. Nguồn thu từ nông nghiệp không “lại” được với tăng giá đầu vào như thuốc trừ sâu, phân bón, thức ăn chăn nuôi, xăng dầu cho vận chuyển, chưa kể, còn chịu rủi ro từ thiên tai, dịch bệnh. Hồi năm 2008, khi thu nhập người dân chỉ tăng 10-20% thì giá các sản phẩm hàng hóa, dịch vụ đã tăng tới 30-50%.

Khác với người giàu, tổng thu nhập eo hẹp khiến cho việc chi tiêu cho những nhu cầu tối thiểu của người nghèo là duy trì sự sống, mua lương thực thực phẩm, chất đốt luôn chiếm tỷ trọng cao nhất, tới 65,1%. Còn chi cho những nhu cầu thuộc về chất lượng sống như nhà ở, điện, nước, vệ sinh, y tế, giáo dục, giải trí… chỉ chiếm 34,9%. Với người giàu, việc ăn uống chỉ tiêu khoảng 45,9% tổng thu nhập, còn lại 54,1% là dành cho các nhu cầu về sức khỏe, giải trí và điều kiện sống khác.

Do đó, khi giá cả tăng cao, người nghèo sẽ phải dồn khoản tiền kiếm được chỉ để duy trì cuộc sống, như phải tăng thêm 0,5% tiền để mua thực phẩm, lương thực, thêm 0,5% tiền cho thuốc chữa bệnh và 1,4% cho đi lại (giai đoạn 2006-2008). Các nhu cầu may mặc, giáo dục, mua sắm đồ dùng, nhà ở bị co lại từ 0,2- 0,7%, dù nhóm người nghèo luôn được hưởng nhiều chính sách miễn giảm của Nhà nước.

Đặc biệt, với những người lao động nhập cư, nhóm này còn phải chi thêm tiền thuê nhà thường tăng từ 20-30%, tiền điện, tiền nước thường cao hơn 2-4 lần so với dân địa phương.

Cũng do tác động lạm phát, thu nhập bình quân của người lao động năm 2008 dù tăng lên 15,3% so với năm 2007 song vẫn thấp hơn tới 4,6% so với tốc độ tăng giá. Tương tự, thu nhập bình quân của người lao động năm 2010 dù tăng lên 10,3% so với năm 2009 thì vẫn bị sụt giảm tới 1,45% so với tốc độ giá cả.

Các chuyên gia của bộ này nhận định rằng, phản ứng chung của những hộ nghèo trước lạm phát là tiết kiệm mọi chi phí có thể, từ việc chọn nhà thuê rẻ hơn, điều kiện điện, nước, vệ sinh kém hơn, cắt giảm dinh dưỡng…, đồng nghĩa chất lượng sống bị giảm sút.

Thu nhập thực của người lao động sụt giảm vì không đuổi kịp nổi tốc độ tăng giá.  Ảnh: VFEJ.

Xoáy sâu vào đói nghèo

Thực tế 2 tháng đầu năm nay và năm 2007-2008 cho thấy, lạm phát đã để lại những những hệ lụy rất xấu tới an sinh xã hội.

Biểu hiện đáng ngại nhất là tình hình thiếu đói đã tăng cao trong tháng 1 và 2 vừa qua. Số lượt nhân khẩu nông nghiệp thiếu đói đã tăng gần gấp 2 lần so với cùng kỳ năm 2010 với 838,6 nghìn lượt. Đây cũng là số lượng nhân khẩu thiếu đói nhiều nhất kể từ năm 2007 đến nay.

Nguyên nhân có thể do thiên tai, mất mùa… nhưng trong đó, giá lương thực tăng cao được coi là một yếu tố tác động mạnh nhất. Trong tháng 1, giá lương thực đã tăng 2,28%, thực phẩm tăng 2,74%, đến tháng 2, lần lượt các nhóm hàng này tăng 1,51% và 4,53%.

Mối liên hệ hữu cơ mật thiết giữa lạm phát và đói nghèo đã được minh chứng ở năm 2008. Đây là năm mà CPI có mức tăng kỷ lục tới 19,9% và khi đó, số lượt nhân khẩu thiếu đói cả năm đã lên tới hơn 4 triệu lượt, cao nhất của giai đoạn 2006-2010. Tình trạng này diễn ra nặng nề ở vùng miền núi phía Bắc, Bắc Trung Bộ, duyên hải miền Trung và Tây Nguyên, là những vùng không sản xuất lúa gạo, vốn có tỷ lệ hộ nghèo cao nhất nước.

Tiền lương, tiền công tăng lên chỉ là danh nghĩa, không đủ bù đắp mức tăng giá sinh hoạt. Trong khi đó, đây lại là nguồn thu nhập chính của công nhân, lao động tự do, lao động phổ thông. Nghịch lý này đã đẩy quan hệ lao động ở các nhà máy, khu công nghiệp trở nên căng thẳng.

Bộ KHĐT cho biết, năm 2008, số vụ tranh chấp lao động và đình công đã tăng 30% so với năm 2007. Năm 2009, chỉ số giá “âm”, đình công chỉ bằng 30% của năm 2008 nhưng đến năm 2010, chỉ số giá vượt 2 con số thì mọi sự lại có vẻ bất ổn như cũ. Đình công đã xảy ra ở 19 tỉnh, thành cả nước và tăng tới…93% so với năm 2009.

Khi mức sống bị kéo lùi, lạm phát trở thành bóng ma tác động tiêu cực tới tâm lý của người dân, đặc biệt là người có thu nhập thấp. Vì lẽ đó, lạm phát không đơn giản tạo ra sự bất ổn kinh tế vĩ mô mà còn làm gia tăng sự bất bình đẳng, phân hóa giàu nghèo trong xã hội.

Tính thêm trượt giá, nghèo vẫn hoàn nghèo

Các phân tích của Tổng cục Thống kê còn cho thấy, lạm phát đẩy người nghèo càng nghèo hơn. Các chuẩn nghèo của Việt Nam bỗng dưng bị mất tính chân thực.

Khi tính các chuẩn nghèo mới của Việt Nam cho giai đoạn 2011-2015, lạm phát năm 2010-2011 được giả định là 8- 8,5% cho khu vực thành thị, 7-7,5% cho khu vực nông thôn. Tuy nhiên, thực tế, CPI bình quân năm 2010 ở 2 khu vực này đã cao hơn lần lượt là 1,92% và 0,58%.

Dự báo năm 2011, CPI bình quân năm sẽ cao hơn tới 5,4- 6,4% so với mặt bằng trên. Các chuyên gia của Tổng cục này cho biết khi đó, giá trị thực tế của chuẩn nghèo 5 năm tới sẽ bị mất khoảng 7-8% giá trị, tức khoảng 30.000- 40.000 đồng/người/tháng. Vì thế, số hộ nghèo vừa vươn lên… ngưỡng hộ cận nghèo về bản chất, vẫn hoàn nghèo như cũ.

Một phép tính logic đã được cơ quan này nêu rõ, khi lạm phát tăng cao thì tỷ lệ giảm nghèo sẽ bị giảm.

Giả sử như CPI tháng 12/2011 tăng 7%, CPI bình quân là 11,9%, tỷ lệ hộ nghèo ở Việt Nam có thể giảm được 1,5 điểm %. Nhưng khi CPI tháng 12 năm nay tăng 9%, CPI bình quân năm tăng 13,1% thì tỷ lệ hộ nghèo bị giảm đi 1,3 điểm %. Còn nếu CPI tháng 12 năm nay tăng tới 12%, CPI bình quân tăng 13,9% thì tỷ lệ hộ nghèo sẽ giảm 1 điểm %.

Như vậy, mục tiêu giảm nghèo của Việt Nam theo Quốc hội đặt ra là giảm 2% sẽ khó đạt được.

Với những nghiên cứu trên, không thể không lo ngại rằng, một kịch bản về thiếu đói, đình công và bất ổn xã hội nói chung sẽ tái diễn nếu lạm phát năm nay không được kiềm chế tốt. Bên cạnh nhưng giải pháp “đánh trực diện” vào lạm phát như tài khóa, tiền tệ, giảm đầu tư công, giảm bội chi, bộ KHĐT cho rằng, các chương trình giảm nghèo cần phải được rà soát lại.

Những chính sách hỗ trợ trực tiếp cho người nghèo phải được tăng cường thay vì qua trung gian. Giai đoạn năm 2011-2015 là dịp để nhìn lại sâu sắc hơn việc xã hội cần chia sẻ với Nhà nước, gánh vác các chính sách an sinh xã hội như thế nào và sự chủ động vươn lên của các hộ nghèo đến đâu?

Theo chuẩn nghèo giai đoạn 2011-2015, hộ nghèo ở nông thôn có thu nhập bình quân từ 400.000 đồng/người/tháng trở xuống, hộ nghèo ở thành thị có thu nhập bình quân từ 500.000 đồng/người/tháng trở xuống. Hộ cận nghèo ở 2 khu vực này lần lượt có thu nhập từ khoảng 401.000 đồng- 520.000 đồng/người/tháng và 501.000- 650.000 đồng/người/tháng.

Hiện, cả nước có 3,1 triệu hộ nghèo, chiếm 14,42% và 1,65 triệu hộ cận nghèo, tỷ lệ 7,69%. Các tỉnh có hộ nghèo nhiều nhất là Lào Cai, Điện Biên (trên 50%), Lai Châu, Hà Giang (trên 40%), Tuyên Quang, Cao Bằng, Bắc Kạn, Sơn La, Hòa Bình, Kon Tum (trên 30%).

Chỉ số giá tiêu dùng tháng 1 tăng 1,75%, tháng 2 tăng 2,09%, tháng 3 tăng 2,17% và tháng 4 tăng 3,32% so với tháng liền kề trước. So với tháng 12/2010, chỉ số giá tháng 4 tăng 9,64%. Bình quân 4 tháng năm 2011 so với cùng kỳ năm 201, CPI tăng 13,95%.


Posted in Cong Nhan Viet Nam | Leave a Comment »

Khi các nhân vật Hành pháp và Tư pháp nhảy vào làm Đại biểu quốc hội hay làm luật

Posted by hoangtran204 trên 17/05/2011

Chết cười vì những suy nghĩ và làm việc không giống ai. Chưa từng có nước nào mà các nhân vật hành pháp, xử án, lại kiêm luôn nhiệm vụ làm luật.

Tại sao lần này đảng ta phải đưa toàn thể Bộ Chính Trị vào Quốc Hội?

Đặng Kim Tân (đã tốt nghiệp sư phạm)

Hy hữu chưa từng có

Đến nay, tất cả mọi uỷ viên BCT đã có mặt trong danh sách ứng cử đại biểu QH.

Điều lạ lùng này nghe nói chưa từng gặp trong suốt cả 12 lần bầu cử trước đây và cũng là trong cả 66 năm đảng CS cầm quyền ở Việt Nam. Lạ hơn nữa, trên thế giới cũng chưa có nước CS nào từng một lần làm như vậy.

Tóm lại đây là điều hi hữu duy nhất mà thế hệ chúng ta may mắn chứng kiến để kể lại cho con em mình.

Dư luận “chửi” đảng ta đã từ quá lâu và đã quá nhiều về chuyện đảng viên chiếm dụng 90% ghế QH – vốn là cơ quan mang tính đại diện rộng rãi nhất cho toàn dân. Sự ngang ngược ngày càng lộ liễu tới mức hết cần che dấu thế giới.

Dân ngày càng không tin Đảng

Do vậy, đảng cũng ngày càng ít tin dân tới mức rất khó kiếm ra cho đủ số 10% người ngoài đảng để đưa vào QH, mặc dù những người loại này đang chiếm tới 96% dân số cả nước.

Trong số khoảng 500 đại biểu, thì 50 người ngoài đảng được lựa chọn hết sức kỹ càng, bằng cách:

a) có sẵn một số nhân sĩ (được thử thách qua thời gian) mà đảng đã túm chặt được tóc;

b) một số sư sãi, cố đạo, từ lâu đã được đảng lắp cho một cái lưỡi khác;

c) một số người đang phấn đấu vào đảng (để có cơ hội tiến thân). Hõ sẽ vào đảng ngay trong nhiệm kỳ mà họ vừa được bầu;

d) một số đồng bào dân tộc ít tuổi, trình độ rất thấp, “nói sao biết vậy”…

Khó mà bớt số đại biểu ngoài đảng hơn nữa.

Sự trỗi dậy của QH khoá XII

Điều này khiến cho đảng thấy rõ: Dù đảng viên có chiếm tuyệt đa số trong QH, nhưng ngày càng nhiều người trong số họ vẫn không thể quá trơ tráo – bất chấp nguyện vọng nhân dân – để mà muối mặt bỏ phiếu thông qua những chủ trương “ích đảng, hại dân”.

Dẫu bị giáo huấn về “ý thức đảng” thì những đảng viên già trong QH vẫn bất chấp lời nhắc nhở của cấp trên (tuổi đời, tuổi đảng và quá trình đều thấp hơn họ) mà cứ bỏ phiếu theo ý riêng. Các ông Nguyễn Minh Thuyết, Lê Văn Cuông, Nguyễn Văn Thuận… là những người như thế.

Chính vì vậy, đảng ngày càng bị bó tay khi muốn QH thông qua (cho hợp lệ) những chủ trương lớn. Số phiếu tán thành cứ ngày càng thấp trước các ý đồ mở rộng thủ đô, khai thác bôxit, đường sắt cao tốc, đường Hồ Tây – Ba Vì, điện nguyên tử… hoặc gần đây nhất là ý đồ làm chìm lấp vụ Vinashin…

Phản ứng của QH khi ông phó thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng thông báo chủ trương của Bộ Chính Trị “không cần thiết kỷ luật ai” trong vụ này, khiến không những ông Hùng mà toàn thể bộ chính trị tự thấy lo lắng và bẽ mặt. Họ càng lo khi nhân dân nhận ra chính quý vị cao cấp nhất trong đảng đang bao che tội lỗi cho nhau.

Vậy, các “ông vua tập thể” này sẽ đối phó thế nào?

Khó mà bớt số đại biểu ngoài đảng hơn nữa. Thế thì, chỉ còn 2 cách (mà là một thôi). Và đã thực hiện xong khi lập danh sách ứng cử viên.

a) Tăng số đảng viên quyền lực tối cao vào quốc hội. Và tăng tới tối đa, với mục đích thật sự là… đe nẹt!

b) Giảm số đảng viên già (cứng cổ) để tăng tới mức tối đa có thể số đảng viên trẻ (biết sợ, vì còn muốn tiến thân). Để dễ đe nẹt.

Chúng ta thử nghĩ coi:

1- Bộ Chính Trị có biết bao việc phải làm hàng ngày, làm sao có thể dành ra mỗi năm tới 4 tháng lận chỉ để họp quốc hội? Vậy mà, một tiêu chuẩn để ứng cử là “đủ điều kiện (sức khoẻ, năng lực và thời gian) hoạt động quốc hội”. Rõ ràng, mỗi vị trong Bộ Chính Trị không thể đủ thời gian để không vắng mặt ngày nào trong mỗi đợt họp QH?.

Ấy vậy mà, mỗi người cứ ứng cử, lại còn hè nhau đồng loạt ứng cử toàn bộ nữa chứ (!). Thế, gọi là gì? trơ trẽn? hay là liều? hay là bất chấp luật? hay là muốn chửi toàn dân?…

Chưa nói đến nhân cách. Cái ông tướng công an Trần Đại Quang khai man tuổi (cho thấp đi) và khai man bằng cấp (cho cao lên) có thể gian dối với đảng để được bầu vào BCT, nhưng làm sao dám gian dối với dân để lần này cũng ra ứng cử QH? Hẳn là BCT chủ trương bao che cho ông này trước dân.

Cứ xem QH khoá vừa qua thì rõ: Có lẽ trừ ông Nguyễn Phú Trọng ra, những uỷ viên BCT khác – dù chính thức kiêm đại biểu QH – đều chỉ có mặt trong những giờ phút quan trọng nhất trong đợt họp QH mà thôi. Ngoài ra, là trốn biệt.

Đố ai tưởng tượng nổi khi nào và ở bất cứ đâu, toàn thể Bộ Chính Trị sẽ không làm gì khác, mà dành toàn bộ thời gian họp QH suốt cả 4 tháng mỗi năm.

2- Để chọn người ứng cử đại biểu QH thì cần gì phải nhấn mạnh quá nhiều tới chuyện hạn chế tuổi tác, mà sao lần này họ lại nhấn mạnh quá mức như vậy? Và trên thực tế, họ đã chọn người như vậy.

Tới nay, đã thành quá phổ biến, tới mức giấu không nổi và không cần giấu nữa: Người trẻ vào đảng chỉ có một nguyện vọng, vừa duy nhất, vừa tối đa: là mong tiến thân nhanh hơn năng lực thực có. Chỉ có một cách: Vào Đảng.

Họ rất biết trung thành là tiêu chuẩn tối cao, chứ không phải là trung thực.

Họ càng biết, nếu nói năng ở QH mà trái ý “14 ông vua” thì con đường tiến thân sẽ tịt ngay lập tức. Vậy mà thân xác hoặc hình bóng 14 ông này đang hiện diện lù lù trong QH, như muốn nhắc nhở họ: “lũ bay cứ liệu cái thần hồn đấy!”.

Nguồn

http://danluan.org/node/8815

——

Nguyễn Hòa Ngọc

Sau nhiều ngày băn khoăn, trăn trở, chúng tôi, những thẩm phán già quyết định lên tiếng, bày tỏ nỗi lòng của đông đảo công nhân viên chức ngành tòa án, nhưng vì miếng cơm, manh áo mà đồng nghiệp chúng tôi không dám nói ra. Đó chính là tư cách đạo đức, năng lực, trình độ của đồng chí Trương Hòa Bình, Chánh án tòa án nhân dân tối cao.

Bất kỳ ai đọc bản lý lịch tự khai của đồng chí Trương Hòa Bình đều băn khoăn, thắc mắc, không hiểu tại sao đồng chí Bình lại có thể có bằng thạc sỹ luật. Từ một kỹ sư cầu đường, đồng chí Trương Hòa Bình đã phù phép, biến thành thạc sỹ luật. Và từ tấm bằng thạc sỹ luật “giả cầy” ấy, đồng chí Trương Hòa Bình tiếp tục “biến” thành tiến sỹ luật. Ai cũng biết, không một quốc gia nào trên thế giới cho phép kỹ sư cầu đường đi học thạc sỹ luật, phải là cử nhân cùng chuyên ngành mới được theo học thạc sỹ luật. Và ai cũng biết, đồng chí Trương Hòa Bình chưa một ngày nào làm nghiên cứu sinh “tiến sỹ luật” và cũng không làm “nghiên cứu sinh” ở bất kỳ một trường đại học nào. Ấy vậy mà, đồng chí Trương Hòa Bình vẫn trở thành “thạc sỹ luật”, “tiến sỹ luật”. Phải chăng đồng chí Trương Hòa Bình tự cho mình cái quyền ngồi trên các quy phạm pháp luật về giáo dục của Việt Nam và của thế giới?! Chỉ điều đó thôi cũng đủ để mọi người hiểu rõ về nhân cách, đạo đức của đồng chí Trương Hòa Bình. Khi lừa dối tổ chức, lừa dối Đảng được một lần thì người ta có lừa dối hàng nghìn lần, đặc biệt những vấn đề liên quan đến lợi ích của bản thân. Chỉ thỏa mãn tính háo danh thôi, mà đồng chí Trương Hòa Bình đã sổ toẹt vào nền giáo dục Việt Nam thì để thỏa mãn lợi ích vật chất, chức quyền, đồng chí Trương Hòa Bình sổ toẹt vào điều gì đây?! Xin mọi người tự trả lời. Nhưng điều đáng buồn nhất chính là ai cũng biết điều đó, nhưng không hiểu vì sao Ủy ban Kiểm tra Trung ương Đảng không biết, Bộ Công an không biết, Bộ Giáo dục và Đào tạo không biết và Ban Cán sự Đảng Tòa án nhân dân tối cao không biết?! Thực ra Ủy ban kiểm tra trung ương cũng đã vào cuộc xác minh, nhưng chính đồng chí Trương Hòa Bình nói, thì mọi việc đều được lo lót ổn thỏa, ổn đến mức chính đồng chí Bình sửa bản kết luận kiểm tra, xác minh. Quả là kỳ tài! có lẽ cần xem lại thành ngữ “bàn tay không che được mặt trời”, có thể không còn đúng nữa, bởi đồng chí Trương Hòa Bình đã che được mọi thứ rồi.

2_dong2023-480.jpg
Đồng chí Trương Hoà Bình (comple đen, đứng giữa ảnh), Bí thư Trung ương Đảng, Chánh án TAND tối cao và các đồng chí lãnh đạo Tổng cục Xây dựng lực lượng CAND (Ảnh: Soha.vn)Khi đồng chí Trương Hòa Bình sang làm Chánh án, Tòa án nhân dân tối cao đã đưa đồng chí Hà ở Bộ Công an sang làm thư ký theo chế độ biệt phái. Nếu chỉ dừng ở điều đó thì cũng không có gì để nói, nhưng đồng chí Trương Hòa Bình đã gây áp lực, buộc bổ nhiệm đồng chí Hà làm Vụ phó Vụ tổ chức, rồi hàm vụ trưởng và mới đây nhất là chánh văn phòng Ban Cán sự Đảng Tòa án nhân dân tối cao. Đây là việc làm vi phạm nghiêm trọng quy định biệt phái của ngành công an và của quy định của Đảng. Gần đây, đồng chí Trương Hòa Bình còn tự nhân danh Ban cán sự Đảng và lãnh đạo Tòa án nhân dân tối cao, dù không hỏi ý kiến bất kỳ đồng chí lãnh đạo nào để ký công văn gửi Đảng ủy Công an Trung ương đề nghị phong tướng cho đồng chí Hà. Thật đáng nực cười, chẳng lẽ một thiếu tướng công an làm thư ký cho Chánh án Tòa án nhân dân tối cao. Cán bộ, công chức, thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đang đặt câu hỏi, vì lợi ích của người thư ký, đồng chí Trương Hòa Bình sẵn sàng đứng trên, ngồi trên các quy định của Đảng thì liệu rằng vì lợi ích của bản thân, đồng chí Trương Hòa Bình có bán Đảng, bán Tổ quốc không?! Thiết nghĩ mọi người đã có câu trả lời.

Chúng tôi, những người thẩm phán già đang chờ đợi câu trả lời của các đồng chí trong Bộ Chính trị.

Nơi nhận:

– Các đồng chí trong Bộ Chính trị;
– Các đồng chí lãnh đạo Đảng, Chính phủ, Quốc hội
– Bà Lê Hiền Đức, công dân chống tham nhũng.

Thay mặt các thẩm phán nghỉ hưu
Nguyễn Hòa Ngọc

___________________________

Một bức thư tố cáo nặc danh đã được đưa lên mạng năm 2007 về vấn đề này:

Thẩm Phán, Cán Bộ Tòa Án Tối Cao CSVN Viết Thư Ngỏ: Tố Chánh Án Mới bổ Nhiệm Trương Hòa Bình Xài Bằng Giả

Việt Báo Thứ Năm, 8/23/2007, 12:02:00 PM

Một Số Thẩm Phán, Cán Bộ TAND Nhân dân Tối Cao CSVN Nêu Vấn Đề Về Văn Bằng Thạc Sỹ Luật Của Chánh Án Mới Trương Hoà Bình trong thư ghi “Những lời chân tình gửi lãnh đạo Đảng, Nhà nước” như sau.

Kính gửi:

– Đ/c Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh
– Đ/c Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết
– Đ/c Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng
– Đ/c Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng
– Đ/c Chủ nhiệm Uỷ ban KTTW Nguyễn Văn Chi

Ngành Toà án vừa có Chánh án mới, đ/c Trương Hoà Bình, nguyên Thứ trưởng Bộ Công an. Ban đầu, khi nghe tin đ/c Trương Hoà Bình sang làm Chánh án, đại đa số anh em thẩm phán, cán bộ ở Toà án nhân dân tối cao đều vui mừng với hy vọng đ/c Bình sẽ mang sức sống mới, là sự kết hợp hài hoà giữa hiểu biết sắc sảo về pháp luật và đạo đức, kỷ luật của một tướng lĩnh công an cho ngành. Ngay trong buổi ra mắt với cán bộ trong Toà, đ/c Trương Hoà Bình cũng đã phát biểu rất mạnh mẽ, sẽ kiên quyết đấu tranh chống tiêu cực, tham nhũng, xây dựng cán bộ Toà án tinh thông pháp luật, đạo đức trong sáng. Nhưng thật thất vọng!

Điều mà mọi cán bộ có tâm huyết trong ngành Toà mòn mỏi mong đợi nhiều năm qua về một người chánh án có đủ tài, đủ đức đã không thể có. Chúng tôi đã tận mắt đọc bản lý lịch đ/c Trương Hoà Bình do chính đ/c Bình khai trong đó có ghi trình độ là kỹ sư, thạc sỹ luật, nhưng không hề có thời gian nào học cử nhân luật. Xét theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo muốn học thạc sỹ luật thì phải học, có bằng cử nhân luật chính quy, không thể dùng bằng cử nhân hệ tại chức và càng không thể từ kỹ sư học thành thạc sỹ luật được. Không hiểu đ/c Trương Hoà Bình phù phép kiểu gì mà biến cái không thể thành có thể và công khai ghi trong lý lịch mà không có bất kỳ ý kiến cán bộ cấp cao nào đề nghị xem xét (?). Điều trớ trêu là, đ/c Trương Hoà Bình khi ở Bộ Công an phụ trách công tác xây dựng lực lượng và cũng đã nhiều lần tuyên bố đấu tranh với tiêu cực trong công tác giáo dục, đào tạo, tệ nạn sử dụng bằng giả trong ngành Công an!

Một điều đáng chú ý nữa được thể hiện rõ ràng trong lý lịch của đ/c Trương Hoà Bình là đ/c Bình luôn chuyển công tác và mỗi lần chuyển là đảm nhiệm chức vụ cao hơn. Từ phó cục trưởng, sang làm Phó giám đốc Công an TP. Hồ Chí Minh, rồi Viện trưởng Viện kiểm sát TP. Hồ Chí Minh, lại quay vê Công an làm Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Xây dựng lực lượng, Thứ trưởng và nay là Chánh án Toà án Nhân dân tối cao. Mỗi một chức vụ đ/c Trương Hoà Bình đều đảm nhiệm trong một thời gian khá ngắn.

Thông thường một người lãnh đạo phải mất một đến hai năm để đánh giá được năng lực, sở trường của cán bộ, đưa bộ máy trong đơn vị vận hành tốt đúng như ý tưởng của người lãnh đạo. Điều đó có nghĩa đ/c Trương Hoà Bình không hiểu sâu bất cứ lĩnh vực gì mà đồng chí đã từng làm, công an không giỏi, kiểm sát chưa hay, còn toà án thì… Đ/c Trương Hoà Bình còn có bước tiến “thần kỳ”, từ thiếu tướng lên trung tướng chỉ có một năm. Vẫn biết rằng lên tướng không có hạn định, nhưng cũng cần có một thời gian để thử thách. Lên tướng kiểu đ/c Trương Hoà Bình thì các danh tướng như Nguyễn Chí Thanh, Lê Trọng Tấn, Hoàng Văn Thái, Phùng Thế Tài, Chu Huy Mân… cũng phải ngả mua chào thua. Chúng tôi nghe nói có một số đồng chí lãnh đạo cao cấp nâng đỡ đ/c Trương Hoà Bình, nhưng nâng đỡ kiểu như vậy thì làm sao đ/c Bình thành người giỏi đươc.

Cả xã hội ta nói chung và toàn ngành giáo dục nói riêng đang nói không với tiêu cực trong giáo dục do đồng chí Nguyễn Thiện Nhân, Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ Giáo dục – Đào tạo khởi xướng. Đã lâu lắm rồi, chúng ta mới có một kỳ thi phổ thông trung học tương đối thực chất. Dư luận xã hội đánh giá cao và ủng hộ mạnh mẽ việc chấn chỉnh công tác giáo dục, đào tạo của Chính phủ vừa qua. Mặt khác, công tác cải cách tư pháp cũng là một nhiệm vụ cấp bách, quan trọng của Đảng, Nhà nước ta trong giai đoạn hội nhập quốc tế hiện nay. Nhiều lần đ/c Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết đã khẳng định điều này khi họp với ngành Toà án và tỏ ý sẽ quyết tâm đẩy mạnh tốc độ cải cách tư pháp trong nhiệm kỳ này. Nhưng liệu việc nói không với tiêu cực trong giáo dục của Chính phủ và đẩy mạnh cải cách tư pháp của Chủ tịch nước có thực hiện được không khi mà người đứng đầu ngành Toà án vẫn đang sử dụng bằng giả (cần hiểu bằng giả gồm hai loại: một là giả hoàn toàn; hai là bằng thật, nhưng học giả).

Trong thời đại bùng nổ công nghệ thông tin và toàn cầu hoá mạnh mẽ như hiện nay, những thông tin liên quan về năng lực, trình độ, bằng cấp của cán bộ cao cấp dù không đăng lên báo chí, nhưng được lan truyền rất nhanh trong quần chúng nhân dân và sẽ chẳng có cơ quan, người nào có thể kiểm soát được. Nên việc đ/c Trương Hoà Binh sử dụng tấm bằng thạc sỹ luật giả thì mọi cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân sẽ đều biết. Và rồi đây ai sẽ còn tin vào những phán quyết của toà án khi người đứng đầu không hiểu biết gì về luật pháp. Đ/c Trương Hoà Bình làm sao có thể trả lời chất vấn của đại biểu Quốc hội, hay lại bước vào lối mòn đọc bản báo cáo có sẵn do cấp dưới viết và hẹn trả lời sau bằng văn bản

Tất cả các câu hỏi và điều băn khoăn, trăn trở nói trên xin được gửi đến đ/c Tổng Bí thư, đ/c Chủ tịch nước, đ/c Thủ tướng Chính phủ, đ/c Chủ tịch Quốc hội, đ/c Chủ nhiệm Uỷ ban Kiểm tra Trung ương giải đáp.

Hà Nội, ngày 13/8/2007

Một số thẩm phán, cán bộ Toà án Nhân dân Tối cao.

Nguồn

Posted in Chinh Tri Viet Nam | Leave a Comment »

“Kỳ vọng – hy vọng! Thất vọng?”

Posted by hoangtran204 trên 15/05/2011

“Chúng ta có 300 ngàn Việt Kiều có tri thức có công nghệ cao đang ngồi chờ ở hải ngoại quốc đang hành nghề tại những trung tâm nghiên cứu, những công ty tiên tiến Âu Mỹ nhưng ta vẫn chưa có quốc sách hữu hiệu lôi kéo họ về Việt Nam. Singapo ngày nay đã trở thành nước giàu như vậy vì họ đã có chính sách tốt hướng những chất xám người Hoa thành đạt từ bên Mỹ và Cannada về.

Từ 1980 đến nay, Trung Quốc đãgởi 1,2 triệu du học sinh ra các nước phương  Tây để học tất cả các ngành nghề. Chỉ có 650 000 người trở về lại Trung Quốc và họ đã góp phần rất quan trọng để làm cho TQ phát triển như hiện nay.

Hãy đọc lại lịch sử từ ngày có đảng. Ngay từ thời 1945 rồi qua tới thời 1954 và cho đến sau năm 1975, đã có chỉ thị rành mạnh trong đảng CSVN là: không tin vào tất cả những ai đã từng học hành, sống làm việc ở Miền Nam VN và các nước trong khối tư bản về làm việc ở VN. Nếu họ về, thì sẽ không giao các nhiệm vụ quan trọng, không đề xuất vào các vị trí then chốt của bất cứ cơ quan nào của nhà nước; họ có thể làm cố vấn cho các cơ quan, nhưng không phải là người lãnh đạo đứng đầu ngành để đưa ra quyết định về  điều hành và chính sách.
(Phạm Xuân Ẩn, Trần Đình Ngọc, Đinh Bá Thi…là 3 thí dụ nổi bật cho đường hướng không được tin dùng ấy.)

Đảng CSVN và các đảng viên luôn luôn tin rằng:Những thành phần nói trên có sự móc nối và làm gián điệp cho nước ngoài, nếu đưa họ vào các vị trí lãnh đạo then chốt, họ sẽ có các quyết định gây hại cho đảng và đảng sẽ dần dần mất quyền lãnh đạo.

Chính sách ấy là nhất quán và xuyên suốt trong đảng CSVN. Hầu như rất hiếm ai hưởng được sự ngoại lệ đã được đặt ra. Họ đặt sự an toàn của đảng, quyền lợi và quyền lãnh đạo của đảng CAO HƠN quyền lợi của dân tộc, cho nên số lượng 300 000 Việt kiều có tri thức và công nghệ cao sẽ về hưu, chết già ở nước ngoài, và sẽ không bao giờ được dùng.

Do đó, những thạc sĩ do GSTS Nguyễn Đăng Hưng đưa ra nước ngoài đào tạo từ 1995 đến nay, cũng chẳng có ai nắm được các vị trí then chốt trong nền kinh tế và khoa học kỹ thuật nước nhà. Dẫu sao, các đóng góp của GS thật là to lớn, đầu tư được một nguồn nhân lực cho tương lai.

Đây là lời tôi phát biểu tại buổi tọa đàm của “Diễn Đàn Doanh nghiệp phát triển” do Báo Điện tử Tầm Nhìn và Ban thời sự Đài truyền hình Việt Nam (VTV1) tổ chức tại TP HCM ngày 23/11/2010.

Bài này do Tamnhin.net ghi lại và đăng tải ngày thứ sáu, 17/12/2010,  13:13 GMT+7) :

http://www.vp.tamnhin.net/Diendan/7277/-Ky-vong–hy-vong–that-vong-.html

Kỳ vọng – hy vọng! Thất vọng?

Giáo sư Nguyễn Đăng Hưng

Là một người làm khoa học ứng dụng tôi đã từng thực hiện những hợp đồng tính toán với công ty Framatome (Pháp) nay là công ty EREVA, chuyên về thiết kế xây dựng lò nguyên tử, hay các công ty hàng không như Aérospatiale nay là European Aeronautic Defence and Space Company (EADS)

Tôi đã cố gắng đem công nghệ quốc tế về Việt Nam, từ năm 1977, hai năm sau ngày hòa bình lặp lại. Ngày ấy tôi đã được Ủy Ban Khoa học Kỹ thuật Nhà nước mời về giảng dạy theo công văn của Thủ tướng Phạm Văn Đồng. Thời thỉnh giảng kéo dài 15 ngày tại Hà Nội tại trường ĐH Giao thông Vận tải. Chúng tôi đã sử dụng chương trình tính toán vạn năng SAMCEF do khoa LTAS (Hàng không Không gian), ĐH Liège thiết kế và lập trình.

Chúng tôi đã bay về Sài Gòn, lên Tân Sơn Nhất sử dụng thành công máy tính IBM 360 của Mỹ để lại ở Việt Nam để chạy chương trinh tính toán vạn năng này. Máy tính của Nga ở ngoài Bắc không thể chịu nổi chương trình tính toán này.

Sau năm 1979 vì chế độ bao cấp, tôi không thể triển khai được dự định. Tôi buộc phải ngưng việc hợp tác với Viêt Nam khoảng 10 năm đến sau khi chính sách đổi mới ra đời. Năm 1989 tôi lại trở về và tôi hăm hở làm tiếp công việc mình bỏ dở suốt 10 năm và có thể nói công việc chuyển giao công nghệ của tôi bắt đầu có hiệu quả rõ nét từ năm 1995.

Bởi vì công việc chuyển giao công nghệ cần nhất là con người, trí tuệ, nhân sự bởi vậy tôi đã xây dựng ở Đại học Bách Khoa TpHCM một lớp đào tạo thạc sĩ đầu từ năm 1995 kéo dài cho đến

năm 2008 ngày tôi về hưu. Một chương trình tương tự như vậy ở trường đại học Bách Khoa Hà Nội kéo dài tư 1998 đến 2008 cũng được triển khai về công nghệ tính toán mô hình các môi trường liên tục, trong đó có một trường thủy khí thủy văn…

Ở Việt Nam chúng tôi không tính máy bay hay lò nguyên tử mà tính nhà cao tầng, cầu giây, tính phương kế làm kè, các kết cấu phức tạp mà liên quan tới dân sinh, dân dụng.  Suốt hơn 13 năm, chúng tôi đào tạo khoảng 350 thạc sĩ mà không tốn tiền của Việt Nam, mọi chi phí chính phủ Bỉ hay Liên Hiệp Châu Âu tài trợ. Chúng tôi gửi những thạc sĩ này đi đào tạo ở nhiều nước trên thế giới trong đó có khoản 40 người đã bảo vệ thành công.

Buổi lễ Khánh thành lớp EU-EMMD và phát bẳng của khóa MCMC I tại Đại học Bách Khoa, Hà Nội
Có thể nói không có trường đại học nào ở Sài Gòn là không có cựu học trò của chúng tôi giảng dạy. Những cựu học viên khác làm giám đốc hay cán bộ cao cấp cho những xí nghiệp tư nhân, công sở nhà nước.

Năm 2006 ngày lấy hưu trí, tôi kéo một công ty Đức về Việt Nam thành lập một công ty tên là Hưng Việt Technology chuyên về thiết kế xe hơi. Khách hàng của chúng tôi là Mercedes, BMW, Volwagen, Skoda, Tata. Chúng tôi chưa có khách hàng Việt Nam nào, tìm mãi từ ấy tới nay vẫn chưa có khách hàng Việt Nam nào cả.

Năm 2008, chúng tôi được biết Tổng công ty đóng tàu Vinashin được nhà nước giao cho gần 800 triệu đô la để triển khai công nghệ. Chúng tôi vội vàng gõ cửa Sở Koa học Công nghệ thành phố và họ giới thiệu chúng tôi chi nhánh của Vinashin tại bến tàu Sài Gòn.

Tôi tìm gặp ông giám đốc và ông cho tôi đi tham quan phòng tính toán thiết kế. Tôi đã ngỡ ngàng trước sự lạc hậu của phòng này, trực thuộc một công ty tầm cỡ quốc gia như Vinashin. Họ chưa có khả năng thiết kế không gian ba chiều. Đóng tàu thủy mà chưa biết dùng những phần mềm cao cấp và hiện đại như CATIA để thiết kế không gian ba chiều thì khó mà tự động hóa những công đoạn sản xuất, nhanh chóng hình thành sản phẩm có hàm lượng trí tuệ cao.

Tôi rất có nhiều bức xúc về vấn đề này. Ta chưa có những chính sách vĩ mô đồng bộ cho cả nước để nhập về những công nghệ tiên tiến, nâng cao hàm lượng trí tuệ của sản phẩm. Chủ yếu ta vẫn tiếp tục làm kinh tế xuất khẩu nông sản, xuất khẩu dầu khí rồi bây giờ lại đi đào đất tìm bôxit. Chúng ta vẫn chưa rút ra bài học là đã xuất khẩu than đá quá nhiều để bây giờ không còn than nữa cho công nghệ Việt Nam và sẽ phải nhập than đá từ ngoài với giá thành gấp đôi gấp ba.

Bài học đắng cay như vậy mà chúng ta chưa đúc kết để có một tầm nhìn mới. Chúng ta chưa có chính sách thuế để kích thích phát triển công nghệ sạch, công nghệ xanh, công nghệ tiết kiệm năng lượng.

Việc thất bại trong việc nội địa hóa công nghệ xe hơi cũng nói lên sự bất cập của các chính sách công nghệ. Công nghệ làm xe mô tô gặp khó khăn vì ta đã cho nhập tràn lan xe Trung Quốc vào Việt Nam.

Một vấn đề thiết yếu là triển khai công nghệ mới cần nhân sự mới và đạo tạo nhân sự cho công nghệ mới là một điều rất tốn kém. Các trường Đại học Việt Nam chưa có điều kiện để đào tạo lớp người này.

Xin đơn cử một ví dụ mà tôi đã trải qua. Công ty Hưng việt của chúng tôi đã phải gửi các kỹ sư Việt Nam sang Đức đào tạo vì các trường đại học hay cao đẳng Việt Nam chưa đào tạo được những kỹ sư biết thiết kế xe hơi. Việc đào tạo chuyên môn là rất tốn kém đầy rủi ro. Cũng chưa có chưa có quy chế bảo hiểm hay chính sách nhà nước nào có mục đích hỗ trợ những doanh nghiệp làm công nghệ tiên tiến, hàm lượng trí tuệ của sản phẩm cao.
Phải biết đây chính là việc mấu chốt cho công việc hiện đại hóa được đất nước.

Chúng ta có 300 ngàn Việt Kiều có tri thức có công nghệ cao đang ngồi chờ ở hải ngoại quốc đang hành nghề tại những trung tâm nghiên cứu, những công ty tiên tiến Âu Mỹ nhưng ta vẫn chưa có quốc sách hữu hiệu lôi kéo họ về Việt Nam. Singapo ngày nay đã trở thành nước giàu như vậy vì họ đã có chính sách tốt hướng những chất xám người Hoa thành đạt từ bên Mỹ và Cannada về.

Làm thế nào để tranh thủ được Việt kiều về tham gia đóng góp trí tuệ và công sức xây dựng đất nước? Tôi xin đề xuất những hướng đi chính yếu như sau:

1.   Trước hết phải xây dựng cho được một môi trường xã hội công bằng minh bạch, một môi trường Đại học hay Viện nghiên cứu tự do dân chủ thông thoáng và thân thiện. Công bằng minh bạch có nghĩa là người đứng đầu phải có thực tài và đức độ. Thông thoáng và thân thiện có nghĩa là không gò bó, không quan liêu mệnh lệnh, không kỳ thị lý lịch phiền hà.

Muốn có trí thức Việt kiều đông đảo về giúp nước, trước hết phải đối đãi tốt với trí thức trong nước, tạo điều kiện thông thoáng cho họ phát huy như tự do phản biện, tự do thành lập các hội chuyên ngành, bảo đảm tính độc lập khách quan của sinh hoạt trí thức….   Sau đó là phải có chính sách lương tiền, điều kiện ăn ở đi lại hợp lý không quá xa với điều kiện thông thường ở các nước mà người Việt kiều đang công tác.

Con người Việt Nam có tinh thần yêu nước nồng nàn. Chúng ta cần phải có một lòng tin ở con người Việt Nam mới có thể đoàn kết phát triển đất nước.

http://www.ndanghung.com/bai-viet/2010/12/20/loi-phat-bieu-tai-buoi-toa-dam-23112010-do-bao-dien-tu-tam-nhin-va-vtv1-to-chuc-%E2%80%9Cky%CC%80-vo%CC%A3ng-hy-vo%CC%A3ng-tha%CC%81t-vo%CC%A3ng%E2%80%9D.html/#comments”

 

———

Giáo dục Việt Nam Cộng hòa

nguồn ở đây

 

Posted in Giao Duc | Leave a Comment »

“Khoa học kỹ thuật của chúng tôi là khoa học kỹ thuật phát suất từ chân lý Mác – Lênin, khoa học kỹ thuật xã hội chủ nghĩa, áp dụng qua điều kiện cụ thể Việt Nam soi sáng bởi tư tưởng và lý luận của các nhà lãnh đạo Đảng và nhà nước!”

Posted by hoangtran204 trên 15/05/2011

 “Khoa học kỹ thuật của chúng tôi là khoa học kỹ thuật phát suất từ chân lý Mác – Lênin,”  Khoa học này kéo dài từ 1917-1989, và kết quả là thảm bại của 18 nước theo chủ nghĩa xã hội.  Các nước này này đã bị vứt bỏ thứ khoa học vớ vẫn ấy vào sọt rác vì nó làm cho tất cả người dân đều nghèo đói, các chính phủ của các nước XHCN đã buộc lòng phải thay đổi chế độ chính trị năm 1989-1990 tại Châu Âu, nơi  mà Mác và Lê Nin đã gầy dựng lên năm 1917. 

Chính cựu Tổng Thống Nga Boris Yeltsin, người đã dắt đất nước ông ta, từ Liên bang Sô Viết sang Liên bang Nga, đã nói: “chủ nghĩa Cộng Sản không thể nào sửa chửa được, mà cần phải đào thải nó”.   

Tổng Bí Thư đảng Cộng Sản Liên Xô Mikhail Gorbachev nói: “Tôi đã bỏ một nửa cuộc đời cho lý tưởng Cộng Sản. Ngày hôm nay tôi phải đau buồn mà nói rằng: Đảng Cộng Sản chỉ biết tuyên truyền và dối trá ..”

Và sau cùng hết là đương kim Tổng Thống Nga Vladimir Putin: “Kẻ nào tin những gì Cộng Sản nói, là không có cái đầu. Kẻ nào làm theo lời của Cộng Sản, là không có trái tim”.

“Khoa học kỹ thuật của chúng tôi là khoa học kỹ thuật phát suất từ chân lý Mác – Lênin, khoa học kỹ thuật xã hội chủ nghĩa, áp dụng qua điều kiện cụ thể Việt Nam soi sáng bởi tư tưởng và lý luận của các nhà lãnh đạo Đảng và nhà nước!”

… áp dụng qua điều kiện cụ thể Việt Nam soi sáng bởi tư tưởng và lý luận của các nhà lãnh đạo Đảng và nhà nước!”

Hihi chỉ có những đảng viên đảng cộng sản mới đi học tập “tư tưởng và lý luận của  các nhà lãnh đạo đảng và nhà nước” để đi cướp đất đai của nông dân. Tất cả các lãnh đạo đảng CSVN đều có học lực rất kém cõi vì thế họ chẳng có tư tưởng và lý luận gì để mà học hỏi. Tất cả những gì mà họ có được ngày hôm nay là thành quả của sự lừa gạt, nói láo, và lấy giết chóc, tù đày, quản lý hộ khẩu, chế độ lương thực… làm phương tiện để thu đoạt quyền lực. 

Ông HCM chỉ học lớp 7, Lê Duẫn học lớp 3 ; (“Những gì Lê Duẩn viết đều gần như sao y từ Stalin, chỉ sửa lại đôi chữ cho phù hợp với Việt Nam. Ngay cả cái viết ra tưởng như từ sự xúc động chân thành tận đáy lòng là điếu văn đọc trước linh cửu HCM của Lê Duẩn cũng hao hao giống điếu văn của Staline đọc trước Lê nin…thần tượng Hồ Chí Minh cũng sụp đổ trong tôi khi tôi phát hiện ra tác giả Trần Dân Tiên ca ngợi bác Hồ hết lời trong tác phẩm “Những mẫu chuyện về cuộc đời hoạt động của bác Hồ” chính là Hồ Chí Minh…”  (Tôi và Việt Cộng).

Còn các lãnh đạo của đảng CSVN hiện nay thì các bạn thừa biết từ Đỗ Mười cho đến Nguyễn Tấn Dũng thì ngang bậc tiểu học. Thử hỏi học lực của họ như vậy thì tư tưởng của họ có cái gì? Nếu tư tưởng của họ hay ho chắc họ không cần công an nhiều đến thế, không cần có hộ khẩu, không cần nắm hết báo chí, đài truyền truyền thanh, truyền hình, và không có các cái loa phường…Cái mà họ rành rẻ nhất là bạo lực, giết người, bắt bớ, bỏ tù bất cứ ai phản đối chính sách của họ.  

Đảng CSVN thay đổi và viết lại lịch sử VN  theo quan điểm của “giai cấp vô sản”, họ triệt hạ phê phán tất cả các anh hùng liệt nữ của lịch sử theo quan điểm Mác- Lê, rồi thay vào chỗ của các vị ấy là tên của các đảng viên cộng sản từ 1930 cho đến 1975…thay đổi tên đường sá bằng tên của các đảng viên CS đã chết trong chiến tranh, thay đổi tên địa phương đã có từ hàng trăm năm nay…tất cả các việc làm ấy là nhằm bịt mắt các thế hệ trẻ cho mất hết cội nguồn dân  Việt để đi theo con đường XHCN… Kết quả của các việc làm ngu muội đó là đào tạo được các kỹ sư, cử nhân không hiểu biết lịch sử và văn hóa VN. Khi họ được thi và tuyển chọn vào các chương trình thạc sĩ, thì được các vị giáo sư đánh giá họ như sau:

BÚT KÝ CỦA GS NGUYỄN ĐĂNG HƯNG NHÂN NGÀY 30 THÁNG TƯ

April 29, 2011

nguồn ở đây

phat-bang-khoa-11

Một góc nhìn về các giá trị tri thức đại học

qua kinh nghiệm triển khai các chương trình đào tạo cao học

Nguyễn Đăng Hưng

Thế là bắt đầu từ đầu năm 1996, tôi lao vào việc khai trương và triển khai chương trình hợp tác đào tạo cao học Bỉ-Việt trên diện qui mô hơn những năm trước.

Mỗi khoá tuyển sinh tôi tổ chức làm hai đợt liên tiếp. Đợt thi viết bao gồm những câu hỏi ôn tập về học trình của kỷ sư xây dựng hay cơ khí. Đợt hai thi vấn đáp do chính tôi phỏng vấn từng thí sinh. Vì đông thí sinh ghi danh, tôi đã phải bỏ ra ròng rã 3 ngày liên tiếp sáng chiều cho việc tuyển sinh khoá đầu tiên để có thể trao đổi với mỗi thí sinh ít nhất 15 phút. Năm nào cũng vậy, trong 12 năm dài tại Sài Gòn 12 khoá rồi Hà Nội 8 khoá, tôi đều giữ nguyên phương án tuyển sinh này. Tính trung bình mỗi khoá có chừng 50 người dự thi, như vậy tôi đã tiếp xúc trực tiếp được gần 1000 kỷ sư, cử nhân trẻ Việt Nam có yêu cầu theo học các lớp đào tạo thạc sỹ quốc tế tại chỗ do chúng tôi tổ chức. Đây có thể coi là sỹ số người dân đạt chuẩn của kỷ thuật thăm dò ý kiến người dân trong những dịp bầu cử hay trưng cần dân ý ở các nước tiên tiến phát triển.  Thành phần các thí sinh cũng rất rộng rãi và tiêu biểu cho xã hội Việt Nam. Thật vậy, phí dự thi rất thấp và những thí sinh nhà nghèo tham gia rất nhiệt tình vì họ được thông báo trước là sẽ có 15 học bỗng tại chỗ dành cho các thí sinh đỗ đầu, học bổng do dự án đào tạo chi trả.

Bỡi vậy, tôi có thể khẳng định là sau 12 năm, những chiêm nghiệm mà tôi đúc kết nói lên, với một độ sai lệch không cao, về học lực, khả năng ngoại ngữ, phong cách giao tiếp và nhất là trình độ văn hoá, hiểu biết của các sinh viên có bằng tốt nghiệp đại học tại Việt Nam, ít ra về cánh theo học các ngành công nghệ, kỹ thuật. Trong các cuộc phỏng vấn, tôi chú ý trực tiếp đến việc kiểm tra ngoại ngữ, đặc biệt khả năng nghe và nói tiếng Anh hay tiếng Pháp, khả năng tiêu hoá khoa học công nghệ (học viên có thực hiểu được những gì đã học không, học viên có suy nghĩ phản biện được gì về những gì mình đã học không?) và cuối cùng trình độ văn hoá hiểu biết chung bậc tú tài: lịch sử, địa lý, thời sự, quốc tế và Việt Nam…. Tôi cho rằng những hiểu biết chung cơ bản không thể thiếu được ở một người kỹ sư, vốn được đào tạo để chỉ huy nhà máy hay xí nghiệp.

Chín năm sau ngày ra mắt chương trình (tháng 12/2004) trong một bài phỏng vấn trên báo mạng Vietsciences (Paris) tôi đã phát biểu đúc kết như sau:

“… Tôi và phần đông các giáo sư ngoại quốc rất khổ tâm về trình độ ngoại ngữ, sự yếu kém về thực tập nhất là tư duy thực tiển, thói quen ỷ lại, tính thụ động của học viên, và cuối cùng là sự giới hạn của kiến thức phổ thông của học viên… Ta đang trả giá cho những chọn lựa sai lầm trong các quốc sách về giáo dục và đào tạo bắt đầu đã gần nhiều thập kỹ qua ! Tôi có cảm tưởng đã có những phản ứng ngược không ngờ được mà nguyên do là các chương trình dạy nhồi nhét hiện nay tại Việt Nam. Năm nào tôi cũng tổ chức phỏng vấn trực tiếp, kiểm tra ngoại ngữ nói và nghe, kiểm tra cách ứng xử nhất là hiểu biết phổ thông cần thiết cho một thanh niên tốt nghiệp đại học… Tôi đã thấy khá phổ biến là họ không quan tâm đến lịch sử dân tộc Việt Nam, không để ý các danh nhân đất Việt… Có em bảo với tôi là Trần Hưng Đạo đã chiến thắng quân Minh, Lê Lợi đã đại thắng quân Thanh, Nguyễn Huệ đã phá tan quân Mông Cổ !!!… Tôi lấy làm lạ là ngay cả lịch sử hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ họ cũng rất lờ mờ…  Hiểu biết về địa lý, lịch sử các nước khác thì khỏi phải nói… Gần 15% học viên đã bảo với tôi là Canada là thành viên của Liên hiệp châu Âu, gần 40% cứ nghĩ Thuỵ Sỹ đã là thành viên từ lâu và chỉ chừng 5% kể đúng tên các thành viên sáng lập. Tôi có cảm tưởng họ không thích đọc lịch sử, học địa lý nữa. Hay là các giáo viên dạy sử địa quá tồi hay đây là hiệu quả của sự xuống cấp kinh khủng của trình độ giáo chức trung học?”

Đã thêm sáu nữa, bây giờ chương trình đào tạo đã thuộc về quá khứ, được đứng xa ra để kiêm nghiệm sự việc, tôi vẫn thấy những đúc kết trên là chính xác.

Cũng nên nói thêm là tình trạng không những bớt đi qua năm tháng mà ngày càng trầm trọng hơn. Trình độ chung của các khoá cuối cùng thấp hơn các khoá ban đầu bội phần. Đã từng đi thỉnh giảng ngắn hạn tại các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu như Hungary, Tiệp Khắc, Ba Lan, Romania…, đã từng thỉnh giảng thường trực dài hạn đến gần 4 năm tại Phi Châu (Congo, Bỉ 1981-1984), không nơi nào tôi phải ngỡ ngàng, chứng kiến bước đi xuống như vậy về chất lượng đào tạo. Giảng dạy tại Việt Nam nhiều năm, tôi có cảm tưởng như đi lạc vào một xứ sở mà các giá trị tri thức như bị đứt đoạn, các giá trị học vấn như đi ngược chiều

Hai khoá đầu có một số học viên đứng tuổi đã tốt nghiệp trước 75 lúc bấy giờ đã ra đời hành nghề. Họ có vốn liếng ngoại ngữ khá tốt nhất là họ giữ được cái tư duy bình thường của người đi học. Học là để hiểu biết, học là tạo điều kiện cho có trình độ chuyên môn để hành nghề. Họ rất mừng bắt gặp chương trình cao học Bỉ-Việt, dù phải ngồi chung lớp với học trò cũ của mình, tuổi đáng con cháu mình.  Nhưng kỹ sư trẻ được đào tạo sau 75 lại khác.  Họ học vì bằng cấp, học để có bằng quốc tế cho oai, giá trị hiểu biết căn bản thực là thứ yếu. Ngay đợt phỏng vấn đầu tiên một thí sinh được phỏng vấn đã dám đề nghị với tôi:

“Thầy ơi, thầy cho em vào học đi, rồi cấp bằng Bỉ cho em nghe. Em sẽ chi tiền nâng cấp cơ sở làm việc của thầy sang đẹp hơn nhiều!…”.  Và sau này, càng ngày nạn sao chép luận văn thạc sỹ càng hoành hành! Tôi sẽ nói nhiều về việc này lần sau.

Giáo sư Lars-Erik Lingren, trường Đại Học Luleå về tham gia giảng dạy tại chương trình MCMC (Modelling and Computation of Mechanics of Continuum) tại ĐH Bách khoa Hà Nội  đã tâm sự với tôi sau này:

“Lạ thật, học trò Việt Nam có tật xin điểm. Vài em mời tôi đi ăn để sau đó xin thêm điểm. Không lo học đàng hoàng để đương nhiên có điểm tốt mà cứ cò kè năn nỉ xin điểm, không biết xấu hỗ là gì!”.

Như tôi đã nói trong bút ký 14, lúc ban đầu, ngay cả đại diện ban Giám hiệu nhà trường còn muốn chúng tôi “tự diễn biến” trở thành người ban phát bằng của Bỉ cho cán bộ giảng dạy của trường mình thì làm sao sinh viên có được một quan niệm đứng đắn về bằng cấp ?

Sau những buổi liên hoan lúc thi xong, tôi thử hỏi trực tiếp những học trò giỏi :

“Tại sao như vậy, tại sao các em không học để biết lịch sử của nước mình, tại sao các em lười đọc sách báo đến vậy ?. Câu trả lời chân thật làm tôi không thể không thông cảm:

– “Chán lắm thầy ơi, học sử chán lắm. Cái gì cũng hay, đánh đâu cũng thắng, lúc nào cũng sáng suốt, biết trước như vậy thì còn học làm gì cho mệt. Còn báo đài thì đâu cũng nói một chiều, tường thuật một kiểu làm sao hấp dẫn được chúng em”.

Đấy đó là cái giá phải trả, là kết quả của việc nhồi nhét tư tưởng phải đạo, lấy học đường làm địa bàn tuyên truyền ý thức hệ nhất thời.

Sự đứt đoạn của các giá trị tri thức, nguồn gốc của tình trạng “mất gốc” mà nhà sử học Dương Trung Quốc nói đến gần đây đã xảy ra từ lâu. Từ lâu đến nỗi thế hệ vàng của trí thức, thế hệ tuy do chính thực dân Pháp đào tạo, mà đã đóng góp vô vàn cho văn hoá, học thuật  nước nhà một thời, đã không thấy xuất hiện trong giai đoạn lịch sử hiện đại để nhà lý luận phê bình Hoàng Ngọc Hiến đã phải thốt ra một câu nói bình dị mà nay thành châm ngôn của thời đại : “Cái nước mình nó như thế!”.

Tôi đã thấy ngay cái sai lầm này từ lâu, năm 1977 ngày tôi về Hà Nội một tháng thỉnh giảng. Thật vậy, có một thời gian dài tại Việt Nam quan điểm bao trùm là có một nền khoa học xã hội chủ nghĩa, một hệ giá trị tri thức xã hội chủ nghĩa cao hơn, đối lập với hệ giá trị tư sản. Và trí thức chân chính có trình độ phản biện, có tâm huyết với nền học thuật nước nhà một thời đã bị hoàn toàn vô hiệu hoá, đã không còn chỗ đứng.

Xin chép lại đây sự kiện mắt thấy tai nghe ngày ấy:

“Có buổi rảnh tôi đi thăm Thư viện trung ương Hà Nội. Ông giám đốc thư viện hướng dẫn tôi tham quan. Tôi chú trọng đến khu sách khoa học, kỹ thuật. Kệ sách nào cũng bắt đầu bằng những cuốn kinh điển của Mác, của Lênin, của Stalin, của Bác Hồ, của đồng chí Tổng bí thư Lê Duẩn, của đồng chí Trường Chinh, của Thủ tướng Phạm Văn Đồng, của các nhà lãnh đạo rồi mới vào chuyên môn. Đồng chí giám đốc thư viện giải thích :

– Khoa học kỹ thuật của chúng tôi là khoa học kỹ thuật phát suất từ chân lý Mác – Lênin, khoa học kỹ thuật xã hội chủ nghĩa, áp dụng qua điều kiện cụ thể Việt Nam soi sáng bởi tư tưởng và lý luận của các nhà lãnh đạo Đảng và nhà nước ! Không có chân lý Mác – Lênin thì không có khoa học kỹ thuật xã hội chủ nghĩa, không có khoa học chân chính. Cái ưu việt của khoa học xã hội chủ nghĩa phát xuất từ quan điểm cơ bản ấy. Các nước xã hội chủ nghĩa phát triển nhanh và vượt qua các nước tư bản cũng nhờ nắm được nguyên lý ấy ! Vân vân …

Phải nói lời giải thích của đồng chí giám đốc làm tôi lạnh cả người hôm ấy! Có một cái gì rất là trầm trọng đã bị va chạm ở tôi đến mức cao độ. Tôi bắt đầu thấy sợ. Còn gì đáng ngại hơn sự trói buộc của tri thức, của khoa học, của kỹ thuật, của chuyên môn, trói chặt bằng những sợi dây vô hình nhưng cứng như thép, hồng như máu !”

2-emmc111

Thế nhưng giới trẻ không thiếu người được mặc nhiên miễn dịch, không bị lây lan bỡi chứng bịnh “ta nó như thế”. Đó là những thành phần xuất sắc nhất mà tôi đã gặp. Tôi bảo:

“Thế các em đến với chương trình cao học Bỉ Việt làm gì? Nó đòi hỏi khá cao, giáo trình dài, thi cử lại khó mà phải biết sử dụng tiếng Anh…”.

Họ thường trả lời tôi như sau, Bắc cũng như Nam:

“Chúng em chọn lựa chương trình thạc sỹ Bỉ-Việt vì ở đây chính là học thực, chính là học để hiểu biết. Đây là chương trình có giáo trình mới mẽ hấp dẫn hiện đại mà nếu phấn đấu tốt, nếu hiểu được, đạt được nội dung thì có cơ may đi cao hơn, xa hơn một cách chắc chắn. Chúng em khỏi phải chạy chọt linh tinh”.

Thành ra tôi vẫn nghĩ là muộn còn hơn không bao giờ. Mọi thay đổi theo hướng khử trừ các lỗi hệ thống, thay đổi triệt để tư duy để vượt qua cái bóng của chính mình sẽ được toàn dân đặc biệt các bạn trẻ hưởng ứng tích cực, trước tiên là thành phần tinh hoa, trí thức.

Sau 30 tháng tư năm 1975, nếu không có những sai lầm đáng tiếc, xuất phát từ quan điểm hẹp hòi thế giới lưởng cực, từ cái nhìn phiến diện và lệch lạc về quan điểm ta địch, nếu để bộ phận tinh hoa của dân tộc Việt còn lại ở Miền Nam được tham gia tích cực vào công cuộc tái thiết đất nước, thì có lẽ nền giáo dục, trình độ khoa học kỹ thuật Việt Nam sẽ khác nhiều so với hôm nay.  Cứ nhìn Hàn Quốc ngày nay ta sẽ nghiệm ra bài học đắng cay này.

Sau đây, tôi xin giới thiệu một bức thư của PGS.TS Nguyễn Thiện Tống, một trong hai giảng viên ít ỏi còn ở lại sau 30/4/1975. Thư vừa gởi cho tôi hôm qua. PGS Tống, là nhân chứng sống về sự đứt đoạn nhân sự ở trường Đại học Bách khoa thành phố Hồ Chí Minh sau ngày tiếp quản của chính quyền mới, nay đã nghỉ hưu.

Liège ngày 28/4/2011

_____________________________________________________________________

Anh Hưng thân,

1. Từ giữa năm 1974 thì Học Viện Quốc Gia Kỹ Thuật đã trở thành Trường Đại Học Kỹ Thuật, một khoa thuộc Viện Đại Học Bách Khoa Thủ Đức. Ông Đặng Lương Mô là Viện trưởng Học Viện Quốc Gia Kỹ Thuật năm 1974 và đã bàn giao lại cho ông Đỗ Bá Khê, Viện trưởng Viện Đại Học Bách Khoa Thủ Đức, rồi ông Đỗ Bá Khê bàn giao nội bộ lại cho ông Nguyễn Thanh Toàn, Khoa Trưởng Trường Đại Học Kỹ Thuật. Giữa năm 1974 anh Lưu Tiến Hiệp là Phó Trưởng khoa, phụ trách về học vụ. Đầu năm 1975 tôi (Nguyễn Thiện Tống) là Phụ tá Trưởng khoa, phụ trách về nghiên cứu phát triển và sinh viên vụ.

Ông Nguyễn Thanh Toàn đi “di tản” vào cuối tháng 4 năm 1975. Vào tháng 5 năm 1975, anh Lưu Tiến Hiệp và tôi bàn giao Trường Đại Học Kỹ Thuật cho Ban Quân quản lúc đó mà Trưởng Ban là ông Đặng Hữu (và 4 người nữa trong Ban Quân quản là Huỳnh xuân Đình, Huỳnh Văn Hoàng, Võ Thị Ngọc Tươi và Lê Ngọc Quý), sau này ông Đặng Hữu là Trưởng Ban Khoa Giáo Trung ương Đảng.

Trong khuôn viên Phú Thọ lúc đó còn có Trường Đại học Cao cấp (Post-graduate School) của Viện Đại Học Bách Khoa Thủ Đức, Trường Đại học Chuyên nghiệp Trung cấp (với chương trình đào tạo cán sự 2 năm), Trường Cao đẳng Thương Mại.

2. Số giảng sư trình độ Tiến sĩ được đào tạo từ các nước Pháp, Mỹ, Úc, Tân Tây Lan, Canada, Nhật khoảng 20 người. Hầu hết đều đi “di tản” và vượt biên hay nghỉ dần nên đến 1983 chỉ còn lại anh Hiệp và tôi. Sau đó có anh Trần Xuân Danh từ Huế chuyển vào mà đến 1989 anh Danh cũng vượt biên. Năm 1992 thì anh Hiệp nghỉ và làm Phó Hiệu trưởng Trường Hoa Sen (lúc đó chỉ là trường có chương trình đào tạo 2 năm, chưa phải là bậc cao đẳng). Như thế tôi là giáo chức cũ trình độ Tiến sĩ duy nhất làm việc cho đến năm 2008 và “về hưu”.

3. Trường có tên là Trường Đại Học Bách Khoa Thành Phố Hồ Chí Minh từ 1976. Năm 1996 thì tổ chức lễ 20 năm xây dựng và phát triển Trường Đại Học Bách Khoa Thành Phố Hồ Chí Minh. Đến 2002 mới có lễ kỷ niệm 45 năm thành lập Trường. Năm 2007 trong buổi lễ kỷ niệm 50 năm thành lập trường thì tất cả những người điều hành nhà trường sau 30-4-1975 đều được giới thiệu đầy đủ mà những người điều hành nhà trường trước 30-4-1975 thì không biết vô tình hay cố ý quên đi, chỉ trừ anh Đặng Lương Mô có được mời và giới thiệu là “Hiệu trưởng” cũ, còn anh Lưu Tiến Hiệp là người bàn giao Trường năm 1975 thì không được giới thiệu gì cả (Trường quên mời anh Hiệp cho đến khi tôi nhắc họ).

4. Năm 1989 khá nhiều trường đại học tổ chức bầu Hiệu trưởng, kể cả Bách Khoa Hà Nội. Anh Trần Phước Đường được bầu làm Hiệu trưởng Đại học Cần Thơ. Ở Đại học Bách Khoa TpHCM có 4 ứng cử viên và kết quả phiếu vòng 1: Bùi Song Cầu 191, Trương Minh Vệ 190, Nguyễn Thiện Tống 189, Huỳnh Văn Hoàng 118. Vào vòng 2 thì anh Vệ thắng anh Cầu. Năm 1989 là năm duy nhất tổ chức bầu Hiệu trưởng các trường, sau đó thì bỏ và chỉ tổ chức thăm dò bằng phiếu tín nhiệm mà không công bố kết quả. Có khi số người đưa vào danh sách để thăm dò nhiều hơn 50 người.

Nguyễn Thiện Tống

 

Posted in Chinh Tri Xa Hoi | Leave a Comment »

Đối diện với rắn rết và sói

Posted by hoangtran204 trên 15/05/2011

Đối mặt[kết]

Tiếp theo các phần: I, II, III, IV, V, VI, VIIVIII

Vi Đức Hồi bị kết án 5 năm tù, 3 năm quản chế theo điều 88

Ngày 30 tháng 5 năm 2008, đúng 6h30, hai cán bộ công an huyện cùng phó công an thị trấn gõ cửa nhà tôi và trao cho tôi một giấy triệu tập lên đồn công an huyện làm việc do trưỏng công an huyện ký. Họ túc trực chờ tôi đánh răng rửa mặt và tranh thủ ăn sáng rồi áp giải tôi đi luôn. Tôi tranh thủ vào nhà tắm gọi điện cho anh em hỏi xem Hà Nội có sự kiện gì mà công an triệu tập tôi. Người thì nói không biết, người thì khẳng định không có gì. Vậy là hôm nay chắc chắn có sự kiện lớn đối với tôi, nhưng là vấn đề gì thì tôi vẫn chưa nghĩ ra.

Kể từ tháng 2 năm 2008 đến nay(tháng7/2009), lúc nào cũng có công an túc trực cạnh nhà tôi canh giữ, bình thường thì một người, thỉnh thoảng họ tăng cường thêm 2 người, cao điểm có lúc lên đến 5 người, nếu biện pháp tăng cường người mà vẫn chưa yên tâm thì họ tiến hành triệu tập lên làm việc để giữ chân, đó là những ngày mà đất nước có sự kiện trọng đại như quốc khánh 2/9, ngày 30/4, 1/5 hoặc những ngày mang tính nhạy cảm khác như: quốc khánh trung quốc;ngày thủ tướng Việt Nam Phạm Văn Đồng ký công hàm cống nạp lãnh hải cho Trung Quốc;những ngày khách quốc tế thăm và làm việc với chính quyền Việt Nam tìm hiểu về vấn đề nhân quyền, tôn giáo;những ngày chính quyền cộng sản tổ chức xét xử những nhà đấu tranh dân chủ, nhân quyền và tôn giáo;những ngày đồng bào công giáo tổ chức cầu nguyện. . . mới đầu họ canh chừng rất nghiêm túc, nhật ký hàng ngày tôi đi đâu, ai đến nhà, biển số xe những người đến, họ chụp ảnh từ xa, khi về họ đi theo xác định người ở đâu, tên tuổi gì…mãi sau họ nhàm chán, nhất là thời gian gần đây, các cán bộ, chiến sỹ được giao nhiệm vụ canh giữ tôi tỏ ra chán trường, trừ những ngày mang tính nhạy cảm nêu trên, còn lại họ canh gác tôi theo giờ hành chính, sáng cứ 7h30 họ đến, trưa 11h họ về, chiều 1h30 đến, 16h30 về cứ thế diễn ra trong suốt thời gian qua. Có lẽ họ đã nhận ra một sự thật đối với tôi chẳng có gì nguy hiểm, bởi suốt hơn hai năm qua họ không phát hiện được tôi có những hoạt động gì mang tính gây an nguy cho chế độ. Ngay mới đây thôi, khi phái đoàn nghị viên châu âu đến thăm Việt Nam, lập tức lực lượng công an được tăng cường thành một tổ ba người, họ vẫn chểnh mảng việc canh giữ tôi, thấy vậy buổi trưa khi tốp công an này đi ăn trưa, tôi đi về quê, chiều hôm sau mới về. Về đến nhà, vợ con tôi nói làng xóm cho biết chiều qua bọn công an đi uống rượu về, buổi chiều cả nhà tôi đi vắng, hết ngó nhìn lại đến gõ cửa, rồi  một thằng hung hăng lắm, mặt nó đỏ văng do uống quá nhiều rượu đến đạp chân ầm ầm, định phá cửa nhà tôi, nghe mà tức nhưng cố nén chịu. Khi thấy tôi về tốp công an ba người xông thẳng vào nhà tôi hạch sách.

– Hôm qua ông đi đâu?

– Tôi đi đâu phải báo cáo các anh!
– Gìa rồi, ở nhà mà chăm sóc con cái cho nó thành người, ra đường nhiều sẽ không an toàn đâu đấy!

– Cậu này  hôm qua phá cửa nhà tôi phải không? Hôm qua tôi ở nhà thì chắc chắn ít nhất cũng gãy chân trước cửa nhà tôi, các cậu thử nghĩ xem, nhiệm vụ của các cậu là canh giữ tôi, mỗi việc ấy mà không hoàn thành, độ này tôi thấy các cậu chểnh mảng với nhiệm vụ được giao, thế là thế nào! trong khi làm nhiệm vụ thì đi uống rượu bát ngát, say xỉn, khi về không thấy tôi ở nhà lại tức tối, đập phá cửa nhà tôi thế là sao? làm cán bộ bỏ luôn thái độ côn đồ đi, chuyên tâm công việc vào. Canh giữ tôi, tôi đi đâu, làm gì phải biết chứ! Cả tốp đứng dậy lập tức ra khỏi nhà tôi.

– Được rồi. Rồi ông sẽ biết! cậu  đạp cửa nhà tôi lầu bầu.

Từ đó không ai dám gõ cửa, đạp cửa nhà tôi nữa. Tuy nhiên công việc canh giữ tôi lại càng lỏng lẻo, hàng ngày gọi là có mặt để đối phó với trên rồi hàng tháng lĩnh lương vậy thôi. Chắc chắn hơn ai hết, họ hiểu những việc làm của tôi chẳng có gì khác ngoài những khát khao cháy bỏng mong mỏi đất nước có tự do, dân chủ, nhân quyền  đích thực. Những cuộc gặp gỡ với mọi người ở mọi tầng lớp khác nhau đối với tôi chỉ là có những chia sẻ về những tâm tư, nguyện vọng của cá nhân, thông tin cho nhau để hiểu biết thêm về những quyền cơ bản của  con người, những vi phạm quyền tự do, dân chủ, nhân quyền của bộ máy độc tài Đảng trị…Một mạng lưới công an từ tổng cục an ninh cho tới công an viên ở thôn, khu phố ra sức rò la tin tức về tất cả các mối quan hệ của tôi, đến giờ này họ chẳng tìm kiếm được gì ở tôi về những hành động được gọi là “chống phá nhà nước” . Một già làng trong quê tôi hỏi mấy cậu công an thường xuyên lẽo đẽo theo tôi mỗi khi tôi về quê:

– Chúng mày cứ bám theo nó đến bao giờ mới thôi?

– Đến khi nào nó chết thì mới thôi ông ạ.

– Không khéo chúng mày còn chết trước nó! già làng cười.

– Lại có người khác ông ạ.

Hôm gặp tôi, ông kể tôi nghe rồi hỏi:

– Cả nước này có bao nhiêu thằng như mày?

– Nhiều lắm chú ạ. Nhưng chú thấy cháu có hành vi nào phản dân, hại nước?

– Ai bảo mày là thằng phản động! dân người ta biết cả đấy, đừng coi thường dân! nó cứ làm như người ta sắp đi khủng bố, sắp đi lật đổ chính quyền không bằng! nhưng mà không thế lấy việc gì mà làm! không thế làm sao tiêu được tiền của nhân dân.

– Vâng, Họ tìm cách khai khống sự việc lên để báo cáo Đảng, Chính Phủ nhằm quan trọng hoá của ngành mình lên, mặt khác và quan trọng hơn cả là xin chính phủ cấp tiền tiêu xài. Đây là hành vi tham nhũng trắng trợn chú ạ.

– Chả thế còn gì nữa! thằng nào cũng ranh ma tìm cách đục khoét. xã hội hết chỗ nói! thôi không nói nữa, không khéo mắc tội bây giờ!

Trở lại cuộc làm việc với công an sáng ngày 30/5/2008. Mở đầu, trưởng phòng PA38 quán triệt:

– Hôm nay chúng tôi mời anh lên làm tiếp một số việc mà hôm trước làm chưa xong. Một là tiếp tục làm rõ một số nội dung của các bài viết, bài trả lời phỏng vấn của anh với đài nước ngoài gần đây; hai là chúng tôi sẽ ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với anh về những hành vi phát tán trên mạng những thông tin trái với quy định của pháp luật; ba là trao trả lại anh một số tài sản mà chúng tôi đã tạm giữ. Đề nghị anh có thái độ hợp tác với chúng tôi. Anh có ý kiến gì không?

– Tôi không có ý kiến gì! anh cứ thực thi nhiệm vụ của mình.

Tiếp tục nhai lại cái bài cũ rích, đưa mấy bài viết, mấy bài trả lời phỏng vấn của tôi ra đọc, rồi lại chất vấn.

– Tôi không có gì để nói thêm. Tôi trả lời.

– Tôi mệt với anh lắm rồi. Anh ký nhận vào đây khẳng định tài liệu này do anh làm ra để kết thúc luôn phần này.
Tôi ký theo yêu cầu của viên sỹ quan trưởng phòng. Hết việc, quay sang nói chuyện tào lao.

– Bây giờ chúng tôi làm thủ tục trao trả lại anh chiếc đồng hồ đeo tay; chiếc điện thoại di động mà công an Hà Nội tạm giữ hôm trước. Đội trưởng Lê Duy Thực nói.

– Vâng.

– Bộ dàn vi tính của anh, tôi sẽ trả lại anh với điều kiện anh viết cam đoan sẽ không dùng nó để soạn thảo, lên mạng phát tán tài liệu chống đối chế độ. Anh thấy thế nào?

– Tôi chỉ nhận lại tài sản của tôi không kèm theo bất cứ điều kiện gì!

– Anh vẫn giữ thái độ bất hợp tác với chúng tôi!

– Nó là tài sản của tôi, các ông thu của tôi, bây giờ các ông trả lại tôi, lại bắt tôi phải cam kết thực hiện
các điều kiện của các ông đưa ra, các ông thấy thế nào? có vô lý không?

– Tôi không làm việc với anh nữa. Tôi mời vợ anh lên nhận.

Nói rồi anh ta đi ra ngoài gọi điện cho vợ tôi. Lát sau viên đội trưởng vào vẻ mặt tức tối. Tôi biết vợ tôi không bao giờ chấp nhận đề nghị vô lý này.

– Anh nói với chị lên nhận máy về để soạn thảo giáo án, cam đoan với chúng tôi là không để anh dùng vào việc khác.

– Anh đi mà nói với vợ tôi!

– Nói rồi, vợ  anh nói: ” làm sao đi cấm được ông ấy”. Cả vợ, cả chồng không ai dám nhận, chúng tôi sẽ ra quyết định tịch thu xung công quỹ.

– Quyền của các ông, các ông muốn làm gì thì làm!

Hết buổi làm việc, về nhà vợ tôi kể lại:

– Chị lên công an làm thủ tục nhận máy về.

– Thủ tục gì?

– Chị lên viết cam đoan khi nhận máy về chỉ để soạn giáo án, không được cho ông Hồi dùng vào việc soạn thảo tài liệu.

– Tôi còn đi làm, làm sao mà đi cam với đoan được! mà có ở nhà cũng chẳng cấm được ông ấy, các anh thừa biết điều đó.

– Chị cứ lên đây ta bàn!

– Các ông định đưa tôi vào tròng đấy à! tôi không dễ gì mắc lừa đâu! các ông lấy ở nhà tôi đi thì các ông phải đem trả tại nhà tôi, bằng không các ông thấy cướp được thì cướp, tôi không bao giờ lên đó nhận. Thế rồi anh ta tắt máy.

– Đây là máy in của vợ anh, chúng tôi trả về cho chị, anh ký vào biên bản bàn giao rồi cầm về.

– Anh lấy ở nhà tôi ra, anh phải cho người mang trả lại tại nhà tôi. Tôi không nhận ở đây!

– Chúng tôi chỉ có trách nhiệm trả lại tại cơ quan điều tra.

– Thế thì anh đập nát nó đi, cả giàn vi tính nữa, tôi không bao giờ khuân từ đây về nhà tôi, dù nó có giá trị đến mấy!

Đội trưởng, đội an ninh công an huyện đi vào thông báo cho tôi:

– Trưởng công an huyện ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với anh. Anh nghe đây, anh ta bắt đầu đọc: “Cộng Hoà… quyết định xử phạt vi phạm hành chính về lĩnh vực an ninh, trật tự. Căn cứ…Quyết Định. . . phạt tiền với mức phạt là: 1 500 000đồng. Lý do phạt: đưa vào mạng, máy tính những thông tin trái với quy định của pháp luật” . Anh Hồi ký vào đây!

Tôi cầm tờ quyết định ghi luôn vào chỗ giành cho người nhận ký: “Tôi không chấp nhận quyết định này” . Ký tên Vi Đức Hồi, rồi đưa lại cho viên đội trưởng công an huyện. Tôi nhắc lại thành lời:

– Tôi không chấp nhận quyết định này!

Ba viên sỹ quan công an bàng hoàng nhìn tôi ngơ ngác, không ai nói gì. Viên đội trưởng công an huyện cầm lại tờ quyết định đi ra báo cáo sếp. Trưởng phòng và đội trưởng PA38 cũng đứng dậy ra theo. Mãi sau một chiến sỹ công an huyện đến thông báo cho tôi:

– Hết giờ rồi, chú Hồi về đi.

Kết thúc một buổi làm việc đầy thú vị.

Rồi đến sáng ngày 12/6/2008, một tốp công an huyện, thị trấn lại đến xộc vào nhà khi còn tinh mơ trao giấy triệu tập rồi lại áp giải đi làm việc. Một cán bộ an ninh huyện đến pha nước chè mời tôi, đưa cho tôi hai tờ báo an ninh rồi bỏ ra ngoài cầu thang ngồi canh giữ. Hơn một tiếng sau, trưởng phòng PA38 Hoàng Anh và đội trưởng Lê Duy Thực đến.

– Hôm nay chúng tôi mời anh đến với mục đích chính là ngăn chặn anh đi Hà Nội. Hôm nay ở Hà Nội có khách nước ngoài sẽ gặp một số đối tượng, trong đó có thể có anh. Chúng tôi theo lệnh trên phải áp dụng biện pháp này. Trưởng phòng Hoàng Anh quán triệt.

– Tôi biết các ông sẽ giở trò gì đối với tôi! Hà Nội hôm nay không có sự kiện gì, cũng chẳng có khách nước ngoài nào đến liên quan đến vấn đề dân chủ, nhân quyền.

– Chúng tôi chỉ biết thi hành theo chỉ đạo của trên.

Nói rồi họ bỏ ra ngoài. Một mình ngồi uống nước, đọc báo cho đến hết buổi sáng, họ đưa cho tôi xuất cơm hộp. Tôi điện khắp nơi hỏi mọi người, ai cũng khẳng định rằng không có sự kiện gì hôm nay. Thế là đã rõ, mục đích họ giam lỏng tôi hoặc là có nhân vật nào đó gặp tôi, hoặc là họ đưa tôi ra đấu tố vào chiều nay. Buổi chiều 14h30, một cán bộ phòng PA38 vào phòng, anh ta cầm theo một tập tài liệu, đặt trên bàn, tôi hiểu ngay đó là bản cáo trạng của tôi do công an vừa soạn thảo, in ấn để phân phát phục vụ cho cuộc đấu tố. Tôi bắt đầu chuẩn bị cho mình tinh thần chủ động để bước vào cuộc đối mặt mới.
Đúng 15h, đội trưởng Lê Duy Thực vào thông báo cho tôi:

– Bây giờ anh Hồi xuống làm việc với thị trấn!

– Tôi biết các anh thể nào cũng giở trò này. Tôi cười đáp.
Họ đưa tôi lên xe, hai sỹ quan, một thiếu tá, một đại uý ngồi áp hai bên sườn tôi làm nhiệm vụ canh giữ, phòng tôi “tẩu thoát” .

Một khung cảnh náo nhiệt tại trụ sở khu An Thịnh, thị trấn Hữu Lũng, Lạng Sơn (nơi tôi cư ngụ), tại nơi đây như đang diễn ra một cuộc mít tinh trọng thể mà có nguyên thủ quốc gia đến dự. Bên ngoài hội trường có đến 100 cán bộ chiến sỹ thuộc đồn công an huyện và phòng PA38 công an  tỉnh Lạng Sơn, từ trưởng, phó công an huyện cho đến trưởng, phó phòng an ninh PA38 cùng với đầy đủ các lực lượng: cánh sát hình sự, lực lượng an ninh, cảnh sát giao thông đứng, ngồi, đi lại, choán ngập cả một khu vực trung tâm thị trấn. Hội trường khu có sức chứa gần 300 chỗ ngồi đã chật ních, một số phải kê ghế ra hành lang hai bên để ngồi. Hai chiếc loa được chõ ra ngoài để không những phục vụ người ngồi ngoài hành lang nghe mà còn để phục vụ cho hàng 100 người đang có mặt tại chợ trung tâm huyện lỵ được nghe. Đưa mắt quan sát trong hội trường, thấy một góc sáng hẳn lên bởi những những sắc phục bảnh bao, hào nhoáng, những cặp kính sáng loáng, những khuôn mặt màu mỡ đang hướng về phía tôi, nhìn kỹ mới sửng sốt nhận ra các gương mặt: Bí thư, phó bí thư huyện uỷ, cùng hầu hết các vị trong ban thường vụ huyện uỷ, các ban Đảng của huyện uỷ, các đoàn thể của huyện có mặt đông đủ. Cấp thị trấn bao gồm sự có mặt của toàn thể ban chấp hành Đảng uỷ, thường trực hội đồng nhân dân, uỷ ban nhân dân, các ban ngành, đoàn thể, cùng toàn thể cán bộ, nhân dân khu phố An Thịnh.

Hai máy camera, một của công an tỉnh, một của đài truyền thanh và truyền hình của huyện trực tiếp chõ vào mặt tôi quay đi, quay lại ở mọi góc khác nhau để ghi hình ảnh tôi. Họ bố trí cho tôi ngồi hàng ghế đầu để tiện cho việc xỉ vả, đấu tố. Tôi vừa ổn định chỗ ngồi thì cuộc đấu tố được bắt đầu. Bác trưởng khu tuyên bố lý do: ” Hôm nay toàn khu phố chúng ta họp để tiến hành kiểm điểm anh Vi Đức Hồi, cư trú tại khu An Thịnh chúng ta. Thời gia qua anh Vi Đức Hồi đã có nhiều hoạt động chống Đảng, Nhà Nước ta, phản bội lợi ích của nhân dân ta…” . Bác trưởng khu bắt đầu đọc bản cáo trạng do công an phòng PA38 soạn thảo dài có đến 20 trang. Cáo trạng bới móc toàn bộ quá trình cuộc đời tôi từ khi còn nhỏ cho đến hôm nay, đặc biệt cáo trạng kết tội tôi viết nhiều bài phát tán trên mạng chống Đảng, Nhà Nước, phản bội lợi ích của nhân dân, của dân tộc;kết tội tôi đi gặp cụ Hoàng Minh Chính, một trong những kẻ phản động hàng đầu trong việc chống Đảng, chống nhân dân và các đối tượng phản động khác;trả lời phỏng vấn nhiều đài nước ngoài xuyên tạc đường lối của Đảng, Nhà Nước …cáo trạng cũng bới móc họ tên, tuổi, nghề nghiệp, thái độ chính trị, quá trình công tác. làm ăn, sinh sống của bố, mẹ, anh chị em ruột, vợ, con tôi. Hơn tiếng đông hồ, bác trưởng khu mới đọc xong bản cáo trạng. Chuyển sang mục đấu tố, Bác trưởng khu đề nghị:

– Bây giờ đến mục các đại biểu phát biểu ý kiến!

Chưa rứt lời, một cựu chiến binh có tên Miến, đeo trên ngực một huy hiệu gì tôi cũng không để ý, ông ta hung hăng xông lên bục vừa nói, vừa khua chân, múa tay vào mặt tôi. Ông ta nói tràng giang đại hải, kể về thành tích của mình tham gia kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Người chủ trì phải nhắc ông ta đi vào trọng tâm, lúc này hình như ông ta mới sực nhớ ra những nội dung cần nói mà đã được chuẩn bị kỹ. Ông ta bắt đầu sỉ vả, xông đến trước mặt tôi chỉ tay vào mặt tôi định gây gổ, hành hung. Tôi cười, cứ ngồi yên để xem ông ta làm gì!

– Mày là thằng ngu! mày ngu lắm Hồi ạ! không biết mày học hành thế nào! Tao thấy mày ngu lắm!
Mấy người bên dưới nhắc nhở ông ta bình tĩnh, ông ta quay lại bục rồi yêu cầu:

– Tôi đề nghị phải bắt nó lên đây đứng trước mọi người, không thể để nó ngồi như thế được. Thu toàn bộ đồng hồ, điện thoại và các tư trang của nó. Biết đâu bây giờ nó đang  truyền thông trực tiếp ra nước ngoài thì chết chúng ta!

Phía dưới hội trường bắt đầu có người phản đối.

– Nói thế mà cũng nói được! Nói thế hoá ra là mình làm sai! Càng nói càng ngu. Mình làm đúng, nó đưa lên đến đâu cũng chẳng sợ, phải không?

– Thiếu gì người mà đi bồi dưỡng cho ông này lên phát biểu, dạy đời. Bản thân ông thì có tốt đẹp gì mà đi dạy người khác! Đầy các ông có tư cách tốt ở đây sao không cho người ta phát biểu!

– Người ta phải dùng những người không bình thường như thế mới đạt được mục đích chứ!
– Làm thế chỉ tội người ta coi thường! mà ông Hồi ông lạ gì ông này, ai người ta đi nghe ông này, khổ lắm!

– Trật tự! đề nghị bà con trật tự!

– Nói thế được rồi, để cho người khác phát biểu. Mấy người chủ trì ngồi ở dưới yêu cầu.

– Tôi tạm dừng phát biểu ở đây, có gì tôi sẽ nói thêm. Rồi ông ta đi xuống.

Hôm sau tôi gặp ông ta ở chợ huyện, tôi nhìn ông ta cười vẻ coi thường, ông ta nghoảnh mặt đi coi như không có chuyện xảy ra. Tối hôm sau có ông anh vợ của ông ta biết chuyện, ông đến nhà tôi chia sẻ và thông tin cho tôi biết về bản chất con người này. Vì ông anh đi làm xa, ở nhà ông em rể có những hành vi gây chuyện “động trời” mà tôi chẳng tiện kể ra đây.

– Em lạ gì ông này, nhưng ông ta được phân công, được giao nhiệm vụ. Người ta tìm nhưng người như ông ta mới được việc! chỉ có ông ta mới làm được mũi nhọn để xỉ vả em trước đám đông, nhưng đó lại là việc làm của một kẻ ngu, vì họ không biết lường nó lại phản tác dụng đến mức nào!
Ở thị trấn này ai mà chẳng biết nó người thế nào! thế mà bọn họ đi mớm cho nó để tiên phong đấu tranh trên nghị trường, nghe thật buồn cười. Ừ thì những người có nhân cách hẳn hoi thì không nói, đằng này một cái thằng như thế đòi lên mặt, đúng là trò hề!

Trở lại cuộc đấu tố, những người khác lần lượt phát biểu. Tôi đếm có thêm 6 ý kiến, toàn là những cựu chiến binh, các cán bộ nghỉ hưu. Các ý kiến chủ yếu nêu quá trình công tác của bản thân rồi khẳng định tôi là thế hệ sau ngày thống nhất đất nước mới tham gia công tác nên chẳng có công cán gì đóng góp cho đất nước. Được Đảng, Nhà Nước ưu ái đào tạo, bồi dưỡng hẳn hoi thế mà lại quay lưng phản bội Đảng, phản bội nhân dân. Mọi ý kiến đều yêu cầu tôi từ bỏ hành động chống Đảng, chống Nhà Nước, quay trở lại sống lương thiện, chấp hành tốt chính sách của Đảng. Cuối cùng đến lượt họ bố trí cho tôi phát biểu. Đột ngột điện mất. Tôi không hiểu do ngẫu nhiên hay có sự sắp đặt. Mấy hôm sau có người cho tôi biết:

– Họ có sự sắp đặt đấy anh ạ. Hôm ấy anh mà ăn năn hối cải, xin lỗi trước bà con khối phố, xin hứa với bàn dân thiên hạ sẽ chấm dứt mọi hành vi chống đối thì lập tức họ bật điện lên ngay để đông đúc mọi người nghe và chứng kiến. Họ nhận định anh sẽ phát biểu chống lại nên họ có phương án phong toả tiếng nói của anh để khỏi lan rộng và lập tức họ cắt ngang anh ngay, đúng không!

– Đúng vậy.

Bác trưởng khu, người được giao nhiệm vụ đứng ra chủ trì quán triệt:

– Đề nghị anh Hồi phát biểu xin hứa trước bà con khối phố thế nào! Nói ngắn gọn, đi vào trọng tâm!

Tôi biết họ sẽ chỉ cho tôi nói cùng lắm đến 5 phút nếu tôi không chịu xin lỗi trước mọi người. Tôi đứng lên.

– Tôi yêu cầu công an đến đây để đối mặt với tôi! công an đâu hết rồi?
Mọi người ngơ ngác theo rõi tôi. Tôi quay lại quan sát trong hội trường, ngoài hiên không có một bóng giáng công an nào, vừa nẫy mọi người phát biểu, một số gương mặt công an có chức sắc đứng, ngồi từ trong hội trường ra ngoài hành lang để xem diễn biến cuộc đấu tố, vậy mà tự dưng họ biến mất. Quan sát ra ngoài sân thì ra họ đã lảng ra ngoài đó tụ tập với nhau từ lúc nào!

– Công an biến đâu hết rồi? không dám ra đây để tranh luận với tôi sao!

Bác trưởng khu, người chủ trì đứng sát tôi với tư thế sẵn sàng bắt tôi ngừng nói.

– Tôi xin được tuyên bố với mọi người rằng: Tôi: Vi Đức Hồi, từ trước đến nay và mãi mãi về sau chưa bao giờ và sẽ không bao giờ phản bội Tổ Quốc;không bao giờ phản bội Nhân Dân;không bao giờ phản bội lợi ích của Dân Tộc.

– Thôi anh Hồi không nói nữa! bác trưởng khu ngắt lời tôi.

Tôi cũng nhận thấy nói thế là đủ, có nói nữa thì họ cũng không cho. Tôi ngồi xuống ghế. Người cựu chiến binh có tên Miến lao sang tôi chỉ tay vào mặt tôi, định hành hung, tôi ngồi yên để xem ông ta có dám đánh tôi không!
Phía dưới có tiếng quát:

– Miến! mày thôi ngay đi không!
Tôi ngoảnh lại xem ai thì ra ông là bí thư chi bộ khu phố, một sỹ quan quân đội nghỉ hưu. Tôi hiểu Ông mới là ngươì có trách nhiệm cao nhất chỉ đạo cuộc đấu tố này, nhưng ông có nhiệm vụ đứng đằng sau chỉ đạo, suốt cuộc đấu tố, ông không có ý kiến gì, nhưng ông là người bảo đảm cho cuộc đấu tố không chệch hướng, càng không để xảy ra chuyện gì đáng tiếc.

Người cựu chiến binh này đang lồng lộn như con gà cắt tiết, đột ngột hạ nhiệt quay về chỗ ngồi. Tiếng ồn ào trong hội trường như một chợ phiên cao điểm.

– Trật tự! đề nghị bà con chúng ta trật tự để chuyển sang mục khác. Bác trưởng khu quán triệt. Bây giờ tôi thông qua nghị quyết của cuộc họp hôm nay: (xin được nói đại ý)
…Một là đề nghị Đảng, Nhà Nước phải xử lý nghiêm khắc, đưa đi cải tạo, giáo dục đối với ông Vi Đức Hồi. Hai là yêu cầu ông Vi Đức Hồi phải chấm dứt ngay những hành vi chống Đảng, chống Nhà Nước, chống nhân dân. Nếu không chúng tôi sẽ trục xuất ra khỏi địa phương nơi cư trú. Ba là đề nghị Nhà Nước cắt ngay chế độ hưu trí đối với ông Vi Đức Hồi. Toàn thể bà con chúng ta ai có ý kiến gì không? nếu không có ý kiến thì cho biểu quyết. Một trăm phần trăm đã biểu quyết, hội nghị chúng ta kết thúc tại đây, xin mời bà con nghỉ.

Trời đổ mưa sầm sập, lực lượng công an chạy toán loạn tìm nơi trú ẩn, bà con người giăng ô, người chùm ni lông đội mưa ra về, số đông vẫn ở lại vì không đem theo đồ che mưa. Xe ô tô công an lùi vào sân, hai sỹ quan công an áp giải tôi lên xe về đồn. Họ lại đưa tôi vào phòng làm việc mà tôi đã quen thuộc.

Ngồi trong phòng, tôi đã chuẩn bị ý kiến để “trao đổi” thẳng thắn với họ, nếu còn được làm việc tiếp. Tôi sẽ thông báo với họ rằng: đối với tôi, việc tổ chức đấu tố như hôm nay, tôi chẳng có gì đáng sợ, trái lại tôi còn mừng là đằng khác, tôi mong cứ mỗi tháng các ông tổ chức một lần để quần chúng nhân dân có cơ hội hiểu thêm về tôi. Tôi cam đoan lần sau chỉ cần các ông thông báo cho tôi là tôi tự đi, không việc gì phải lừa lọc, giam hãm tôi cả ngày như hôm nay. Chỉ cần sau một tuần hay sau một tháng các ông đến địa phương này điều tra xem người dân họ nói gì! tác dụng của cuộc đấu tố này đấn đâu! cái sai lầm lớn nhất của các ông là các ông quá coi thường người dân, các ông nghĩ người dân ai cúng ủng hộ các ông, các ông đã nhầm. Chắc hẳn sẽ có nhiều người ủng hộ các ông do họ thiếu thông tin;do chính sách mị dân của chế độ;do họ có con em đang nằm trong bộ máy Đảng, chính quyền, họ đang được hưởng lợi từ chế độ này. Cũng sẽ có nhiều người họ chẳng quan tâm đến vấn đề này. Cũng có nhiều người họ nhận thức được đâu là đúng, đâu là sai, tôi chỉ cần 1/3 hoặc1/10 họ hiểu tôi, chia sẻ với tôi là tôi đã quá thành công. Vì trước đây các ông bưng bít, các ông vu khống, bịa đặt cho tôi, người dân họ chưa hiểu rõ vấn đề, có thể người ta tin ở các ông, cho tôi là tên phản động, qua cuộc đấu tố này, trắng đen phần nào đã sáng tỏ, tội của tôi đến đâu họ biết. Tôi chỉ lấy một ví dụ: tôi viết bài phát tán trên mạng chống Đảng, Nhà Nước, chống nhân dân, tại sao các ông không đem ra đọc cho mọi người nghe để mọi người phán xét, các ông lại cho đây là điều tối mật, không cho dân biết, trong khi đó các ông bắt dân phải thừa nhận tôi là tên phản động, vậy các ông coi người dân là gì? . Tôi cho các ông nói cả ngày, cả buổi, nhưng tôi chỉ cần nói năm, mười phút như hôm nay, đối với tô là  cũng đã thành công. Tôi thành thật mong muốn các ông tổ chức nhiều cuộc đấu tố như thế này.

Việc các ông chỉ đạo cho dân thông qua nghị quyết vừa rồi đúng là một trò hề, không hơn, không kém. Các ông tưởng làm thế rồi tôi sợ các ông! xin lỗi! các ông quá nhầm. Tôi không những không sợ mà tôi còn được phấn trấn lên. Bất cứ một công dân nào phạm tội đều bị bộ luật  hình sự điều chỉnh, tôi phạm tội đến đâu, đã có chế tài của luật xử lý. Tôi nghỉ hưu, do luật bảo hiểm xã hội điều chỉnh. Là một công dân, tôi có quyền được cư trú ở mọi miền đất nước theo đúng quy định của luật cư trú. Bắt người dân ở cấp khu phố yêu cầu nhà nước bắt tôi đi tù;doạ trục xuất ra khỏi dịa phương;yêu cầu cắt chế độ hưu trí của tôi là việc làm không thể. Việc làm đó thể hiện sự thiếu hiểu biết về pháp luật, mặt khác đó là hành vi coi thường pháp luật, chà đạp lên pháp luật, là thể hiện coi thường người dân.

Đang miên man suy nghĩ thì một cán bộ công an huyện vào thông báo:

– Anh Hồi về đi.

– Công an tỉnh đâu rồi?

– Các ông ấy về rồi.

– Họ không dám gặp tôi!

– Em không biết.

– Thôi bác về đi cho sớm!

Thế là mọi sự chuẩn bị của tôi đã không còn cơ hội để phát  ra. Tôi mong mãi có cuộc làm việc tiếp, nhưng chẳng thấy diễn ra nữa, bởi từ ngày đó đến nay, công an không có buổi nào làm việc thẩm vấn tôi. Thay vào đó, họ áp dụng chế độ cho lính canh gác, theo rõi tôi một cách nghiêm ngặt.
Trở về nhà, dân làng kháo nhau:

– Tối nay truyền hình huyện sẽ phát đi toàn bộ diễn biến cuộc đấu tố của dân khu phố An Thịnh đối với ông Vi Đức Hồi. Mọi người ngóng chờ đến giờ phát để xem, vì nhiều người không được tham gia trực tiếp cuộc đấu tố lịch sử này. Cả nhà tôi vừa ăn cơm vừa chờ đón xem chương trình đặc biệt này.

– Họ đưa lên ti vi thì chả nhục lắm à? vợ tôi hỏi.

– Làm sao mà nhục! anh còn mong chúng nó cho chiếu càng rộng càng tốt, vì mình có tội tình gì mà phải sợ, phải xấu hổ! nó làm thế tự chúng nó vạch mặt nó, chúng nó mới là kẻ xấu hổ. Thời đại văn minh, tiến bộ mà chúng đi tổ chức đấu tố một người chỉ là bất đồng quan điểm thì tự nó làm nhục nó, mình không việc gì phải nhục! đến giờ truyền hình của huyện, không thấy gì! lại chờ đón xem chường trình truyền hình của trung ương, rồi của tỉnh cũng không thấy gì! dân làng khu phố tôi mất hứng!

Sáng sớm hôm sau, tôi ra chợ ăn sáng, mục đích chính là để cho mọi người trong  khu phố tôi vẫn thấy tôi bình thường. Tôi trở thành tâm điểm của sự chú ý  mọi người.

– Tưởng hôm qua công an đưa đi rồi cơ mà? một anh bạn làm trong ban quản lý chợ hỏi.

– Tôi có tội gì mà bắt!

– Dân kháo nhau là sau khi đấu tố xong, xe công an đưa đi Hà Nội ngay. Đúng là mồm thiên hạ!

Ngồi vào quán phở, mọi người tỏ vẻ ngạc nhiên.

– Ơ, anh Hồi! anh vẫn bình an vô sự! cô chủ quán hỏi.

– Em nghĩ anh gặp nạn lớn chắc!

– Vâng. Các cụ kháo nhau từ sau cải cách ruộng đất đến nay mới có cuộc đấu tố thế này đấy. Tất nhiên là chưa bằng đấu địa chủ ngày xưa!

– Em hỏi thật anh, anh viết những gì đấy? một cô làm nghề gội đầu cùng ăn sáng với tôi hỏi.

– Anh viết tố cáo độc đoán chuyên quyền, tố cáo tham những, đòi dân chủ và công bằng cho dân. Em thích đọc, hôm nào đến anh cho đọc.

– Hôm nào em phải đến xem mới được.

– Một mình anh chẳng làm gì được họ đâu! một người đàn ông cùng ăn sáng với tôi khẳng định.

Ăn sáng xong, tôi vòng quanh thị trấn rồi vào một số nhà người thân quen nghe ngóng tình hình. Vào một gia đình, cả hai vợ chồng đon đả tiếp tôi kể cho tôi nghe.

– Ban đầu, mọi người tưởng tội của anh khủng khiếp lắm nên họ mới tổ chức hội nghị lớn như vậy để đấu anh. Nhưng khi nghe đọc bản luận tội thì chẳng thấy có gì ghê ghớm, chỉ là viết bài đăng trên báo mạng, có nội dung chống Đảng, Nhà Nước, chống nhân dân, chỉ nói thế thôi chứ họ có đọc cho dân nghe đâu! thế mà làm rầm rộ cứ như người ta đi khủng bố không bằng! rỗi việc, tốn tiền, tốn thời gian. Các cụ hưu trí quan tâm lắm, ngồi đâu cũng bàn tán xôn xao, có mấy cụ nói là: cán bộ cấp trên truyền đạt xuống, hiện nay các thế lực thù địch đang chống phá cách mạng nước ta, mọi người phải nêu cao cảnh giác, đập tan mọi âm mưu của chúng, mọi người phải bảo vệ chế độ, phải ra sức bảo vệ Đảng, nếu cái Đảng này mất quyền lãnh đạo thì những người có công lao với đất nước sẽ là nạn nhân, tất cả phải ra đứng đường, rồi chẳng có nơi mà ẩn náu…nên các cụ bức xúc lắm.

– Em thấy họ tuyên truyền có đúng không?

– Bọm em làm sao biết được!

– Liên xô và các nước đông âu khi chế độ cộng sản sụp đổ, em có thấy những người cộng sản bị truy lùng không? ở Nga, Ba Lan chủ tịch Đảng cộng sản đương thời là đương kim chủ tịch Quốc Hội đấy, hàng triệu người làm việc với chế độ cộng sản hiện nay họ vẫn hưởng chế đô hưu trí như mọi người khác, đó là thực tế. Chỉ có chế độ cộng sản lên cầm quyền thì mới truy lùng, bắt bớ, đem cải tạo, rồi phân biệt đối xử với những người theo chế độ cũ. Chế độ dân chủ không bao giờ có thái độ hận thù và phân biệt đối xử như cộng sản đâu. „ Suy bụng ta, ra bụng người” !

Câu chuyện tôi bị đấu tố được loan truyền khắp mọi nơi, một thời là tâm điểm, là đề tài bàn luận, tranh cãi của nhiều người, ít nhất là ở địa phương tôi. Người thì cho rằng phải vạch mặt tôi giữa đám đông quần chúng nhân dân như thế là đúng;người thì cho rằng làm thế là vi phạm nhân quyền;người thì cho rằng tội đấy đáng gì mà đem đấu tố, đầy tội tày trời sao không đếm xỉa đến, các ông cứ cường điệu lên là nguy hiểm cho chế độ, nhưng đọc bản luận tội lên thì không chứng minh được sự nguy hiểm ở chỗ nào! nó viết thế nào thì các ông không dám đọc lên cho dân nghe. Theo tôi ông Hồi nó nói gì, viết gì, làm gì phải cho dân biết hết để dân chúng tôi còn nhận xét chứ, đằng này các ông lại đi nói với dân là” bí mật quốc gia” các ông làm thế chứng tỏ các ông coi thường dân chúng tôi quá!

Tại một cuộc họp chi bộ của một khu phố được tổ chức họp ngay sau khi cuộc đấu tố tôi, trong đó có nội dung thông báo về trường hợp của tôi, một đảng viên tham dự bức xúc:

– Tôi đề nghị các ông bỏ ngay cái nội dung này đi ra ngoài cho chúng tôi nhờ, nói quá nhiều rồi, mất thì giờ, tốn giấy bút ghi biên bản. Nó có tội thì xử lý theo pháp luật, pháp luật không xử lý được thì thôi, lúc nào cũng nói đến nó, nghĩ đến nó, bàn về nó, cuối cùng thì giải quyết được vấn đề gì? từ nay chấm rứt nội dung này đi. Một đảng viên sau khi họp về kể cho tôi nghe.

Thời gian sau, cục an ninh bộ công an cho người đến địa phương nghiên cứu, thăm dò dư luận của cán bộ, đảng viên, nhân dân về trường hợp của tôi sau khi diễn ra cuộc đấu tố lịch sử này. Chẳng biết họ thu thập được những gì thì tôi không biết vì là “bí mật quốc gia” . Họ đến phỏng vấn cậu em ruột tôi xem phản ứng của gia đình, dòng họ tôi ra sao! cậu em tôi nói:

– Tôi lại càng không biết gì về ông anh tôi, vì tôi cũng chẳng bao giờ dám hỏi, chẳng bao giờ giám khuyên nhủ. Người ngoài nghĩ tôi là em ruột nên họ cũng ít tâm sự với tôi.

– Nguyện vọng của gia đình thế nào? chúng tôi muốn phối hợp với gia đình để khuyên ngăn anh ấy?

– Tôi chẳng có nguyện vọng gì, cả họ hàng không ai khuyên nổi ông ấy.

– Tới chúng tôi sẽ có biện pháp cứng rắn đối với anh ấy, gia đình có ý kiến gì?

– Tôi chẳng biết có ý kiến gì, các anh cứ chiểu theo pháp luật mà làm!

– Chiểu theo pháp luật thì nói làm gì! chúng tôi muốn gia đình cũng phải lên tiếng cùng với chúng tôi khuyên ngăn để anh dừng lại trong lúc còn có thể.

– Tôi chịu, các ông đi mà làm!

Ngày 01 tháng 8 năm 2008, lúc 7h30, một cán bộ công an huyện cùng phó công an thị trấn lại đến nhà, giao cho tôi giấy triệu tập vẫn do trưởng công an huyện ký. Nội dung giấy triệu tập yêu cầu đúng 8h cùng ngày có mặt tại cơ quan công an huỵên làm việc. Nhận được giấy triệu tập, tôi rất mừng vì lại có cơ hội để làm việc với công an, có dịp để bày tỏ nỗi bức xúc qua cuộc đấu tố vừa qua. Tôi chuẩn bị cho mình khá kỹ để gửi lại cho họ những thông điệp cần thiết. Nhưng lại một lần nữa thất vọng vì họ không làm việc với tôi như mọi lần. Viên đội trưởng Lê Duy Thực “tiếp” tôi và thông báo gọn lỏn:

– Hôm nay chúng tôi mời anh lên để giao: ” quyết định tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính”, (bộ giàn vi tính của anh) và “quyết định cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính”, (vì anh không chấp hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính trước, buộc chúng tôi phải ra quyết định cưỡng chế thi hành bằng biện pháp khấu trừ lương hưu của anh). Nói rồi phó đội trưởng đội an ninh công an huyện giao cho tôi hai quyết định trên.

Tôi xem qua hai quyết định rồi nói với họ:

– Quyết định tịch thu tang vật, tôi không có ý kiến gì, vì các ông có nhiều quyền lực trong tay, muốn làm thế nào mà chả được. Còn quyết định cưỡng chế, các ông về đọc lại các quy định của pháp luật đi! các ông đã vi phạm pháp luật rồi đấy!

– Chúng tôi chỉ có làm đúng quy định của pháp luật!

– Vậy hả? tôi nói cho các ông biết về những vi phạm của các ông: theo quy định của pháp luật, việc khấu trừ vào thu nhập của người phải thi hành quyết định, phải đảm bảo cho họ duy trì được mức sống tối thiểu, đó là nguyên tắc thứ nhất. Nguyên tắc thứ hai, nếu mức thu nhập của người phải thi hành quyết định chỉ đảm bảo mức sống quân bình tại địa phương đó thì mức khấu trừ không được quá 30% mức thu nhập của người phải thi hành quyết định. Lương hưu non của tôi chỉ vẻn vẹn có 1 triệu 8 trăm ngàn đồng/tháng, vậy mà các ông khấu trừ tôi một lần, 1 triệu 5 trăm ngàn đồng, còn 3 trăm ngàn đồng tôi sống bằng cái gì cả một tháng trời. Các ông về đọc lại đi. Tiện đây tôi cũng nói cho các ông biết: quyết định số 01 ngày 30/4/2008 về việc “quyết định khám nơi cất giấu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính” do trưởng công an huyện ký, bản mà các ông giao cho tôi không có chữ ký phê chuẩn của chủ tịch uỷ ban nhân dân cùng cấp, đó là việc làm vi phạm pháp luật nghiêm trọng. Quyết định đó hiện tôi vẫn giữ, nếu không tin, đến tôi cho xem.

– Chúng tôi dám khẳng định: chúng tôi làm đúng các quy định của pháp luật hiện hành.
Sáng hôm sau, cậu công an vẫn làm nhiệm vụ canh gác tôi có tên là Cát vào nhà  đưa cho tôi một “quyết định cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính” khác, nội dung quyết định y hệt quyết định hôm qua họ vừa chao cho tôi, chỉ khác là hình thức khấu trừ vào lương hàng tháng là 500 ngàn đồng, thay vì khấu trừ một lần vào lương tháng là 1 triệu 5 trăm ngàn đồng. Giao quyết định xong, cậu ta đề nghị:

– Chú cho cháu xin lại quyết định hôm qua!

– Chú để đâu không nhớ nữa. Mà lấy lại làm gì? hôm qua các bố khẳng định làm  đúng pháp luật cơ mà!

– Việc này cháu không biết! việc này không liên quan gì đến cháu! chú đừng đưa cháu vào cuộc này!
Bây giờ tôi vẫn giữ hai quyết định, cùng ngày, cùng số, cùng tiêu đề, nhưng khác về hình thức khấu trừ vào lương tháng. Hôm về quê lĩnh lương(tôi đã chuyển khẩu và sổ hưu trí về quê), cậu chủ tịch uỷ ban nhân dân xã mời  tôi vào phòng tâm sự:

– Trên họ gửi giấy xuống xã yêu cầu khấu trừ lương anh về việc cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt hành chính, em khó nghĩ quá!

– Sao mà khó nghĩ? cậu sợ tớ không chấp hành sao? tớ chống gì các cậu!

– Vâng, được thế bọn em mừng quá! anh sang bên này lĩnh tiền đi!

– Trừ cho chú một lần cho xong, tháng này nhịn vậy!

– Vâng, thế thì tốt quá, cháu khỏi phải lên kho bạc huyện nộp nhiều lần, cám ơn chú nhiều. Cô thủ quỹ mừng rỡ.

Tôi vào nhà cậu em họ gần trụ sở uỷ ban xã quê tôi, thấy tôi vào cậu ta mừng đon đả.

– Anh ăn cơm đây, lâu ngày không ngồi với nhau rồi!

– Bắt con gà về thịt đi! tớ mời mấy anh bạn đến uống rượu, mới lính lương xong, được truy lĩnh nhiều nhiều đấy.

Mấy anh em ngồi với nhau, trong đó có cả một vài anh là cán bộ chủ chốt xã, biết chuyện một anh phàn nàn:

– Công an ra quyết định xử phạt hành chính mà lại phải đi nhờ địa phương khấu trừ lương thì quá dở! Đây là biện pháp cực chẳng đã, phải làm thôi!

– Đây là biện pháp thể hiện sức mạnh của “chuyên chính vô sản” và là sự “sáng tạo” của Đảng, Nhà Nước ta! tôi trả lời.

– Dân giã người ta gọi đây là biện pháp “cùn”, nhân danh Đảng, Nhà Nước, ai lại đi làm thế!
Từ đó đến nay(tháng 8/2008- tháng 7/2009) tôi chưa có cơ hội nào để được đối mặt với công an vì chẳng thấy họ triệu tập tôi nữa.

Ngày xưa Các Mác có câu nói nổi tiếng: “hạnh phúc là đấu tranh”, tôi không dám đặt mình vào vị trí như vậy, nhưng quả thật tôi cảm thấy hẫng hụt, buồn tẻ từ khi họ loại tôi ra khỏi vòng chơi này.

***

Ai đó đã có câu: “Ở Việt Nam, 20 tuổi không vào Đảng, người không có trái tim;40 tuổi vẫn theo Đảng, người  không có lương tâm” .

Lớp người như tôi, sinh ra và lớn lên trong lòng chế độ cộng sản, ai cũng “một thời trẻ trai”, cũng muốn đem sức lực của mình cống hiến cho đất nước, và Đảng cộng sản là “hiện thân” cho sự hy sinh, cống hiến đó. Được đứng trong hàng ngũ của Đảng, được thực hiện những nhiệm vụ thiêng liêng, cao cả như những thông điệp của Đảng gửi tới toàn dân, đó là niềm tự hào, niềm kiêu hãnh của mỗi người.
Là người khá sớm được đứng trong hàng ngũ của Đảng, để rồi có điều kiện học tập, tìm hiểu về bản chất của Đảng nên vào cái tuổi 40, tự mình nhận thấy:

Trót vì tay đã nhúng chàm,
dại rồi nhưng biết khôn làm sao đây! „

Rồi  đã phải đi tìm lối thoát cho mình, cầu mong đoạn đường còn lại của cuộc đời được vợi đi những nỗi ân hận. Đây là một quyết định khó khăn, khó khăn nhất trong đời.
Một danh nhân nào đó đã nói: ” tạo hoá con người khi sinh ra là bằng nhau, ít nhất cũng gần bằng nhau” . vì vậy sẽ không có ai sinh ra mang  phận hèn, chỉ có những người  cam chịu phận hèn. Cũng như “không có người phụ nữ xấu, chỉ có người phụ nữ không biết làm đẹp” . Thời trẻ tôi hay đọc thơ Các Mác, lúc đó Các Mác luôn là thần tượng đối với tôi. Các Mác chỉ ra rằng:

Thế giới cứ đảo điên,
Vì ta không biết dựng,
thế giới trôi bất động,
vì ta hằng lãng quên”

Cái mất mát lớn nhất của con người chính là mất đi quyền làm người;Kẻ có tội lớn nhất là kẻ đi tước đoạt  quyền con người;kẻ đáng thương nhất, là kẻ chưa hiểu biết  về quyền con người;kẻ đáng trách nhất là kẻ quên đi quyền con người;kẻ hèn hạ nhất là kẻ cam chịu mất quyền con người. Tôi là kẻ đáng trách và cũng có lúc trở thành kẻ hèn hạ.

Thế giới hoà nhập, thông tin bùng nổ, đã làm cho tôi thức tỉnh sau đêm dài “dòng đời trôi quằn quại hắt hiu” . Và lúc này khi đã thức tỉnh, nhìn lại những người xung quanh mình, than ôi! tuyệt đại đa số họ là  những” kẻ” đáng thương. Đáng thương bởi họ không  biết họ có những quyền cơ bản gì! Đáng thương vì họ không biết được ai đã tước đoạt những quyền cơ bản về con người của họ! đáng thương vì suốt cuộc đời của họ từ khi sinh ra cho đến khi nhắm mắt xuôi tay, con người họ không được tiếp nhận một thông tin nào khác ngoài thông tin chính thống của Đảng.

Ai cũng vậy, khi mà mình nhận ra, nhìn thấy  những hành vi tội lỗi của người khác, mà không lên tiếng cảnh báo cho người đó dừng lại, hoặc cũng không báo cho mọi người biết để tránh;để đề phòng; để lên tiếng; để nhăn chặn…thì đó cũng là tội lỗi. Từ lối suy nghĩ mộc mạc như vậy, nên việc tôi đến với phong trào dân chủ như một lẽ tự nhiên. Và cũng từ suy nghĩ chất phác như trên, tôi mạnh dạn ghi chép và gửi bạn đọc vài suy nghĩ về quá trình chuyển hoá mà theo cách gọi của Đảng cộng sản là “thoái hoá” của tôi;về một số cuộc  làm việc, đấu tranh với bộ máy công an cộng sản. Với mong muốn gửi đến những ai quan tâm đến vận mệnh của đất nước, nhất là các bạn trẻ một số thông điệp nho nhỏ để các bạn hiểu thêm những âm mưu, thủ đoạn, lối hành xử và bản chất của chế độ hiện hành;về vài kinh nghiêm ít ỏi trong quá trình đối mặt với bộ máy công an.

Lúc đầu dự định chỉ viết vài bài, ghi chép một số cuộc làm việc với bộ máy của Đảng(tỉnh uỷ). Nhưng được sự cổ vũ, động viên của một số bạn bè thân hữu gần xa, đặc biệt là tổng biên tập báo Thông Luận, anh Đoàn Xuân Kiên;tổng biên tập báo Đối Thoại, anh Võ Văn Minh đã nhiệt tình chỉnh sửa, bổ xung các bài viết của tôi trước khi đăng tải. Mỗi lần tôi đọc lại, tự rút được nhiều kinh nghiệm và nhận thấy mình trưởng thành lên. Nhân dịp này tôi xin được bày tỏ biết ơn các bạn đọc và cá nhân anh Đoàn Xuân Kiên, anh Võ Văn Minh đã giành cho tôi sự ưu ái hiếm có này.

Các bài viết mang tựa đề: “Đối Mặt” của tôi xin được tạm dừng tại đây, có thể tôi sẽ còn viết tiếp vì các cuộc đối mặt với bộ máy chính quyền cộng sản chưa thể chấm dứt ở đây.

Rất mong bạn đọc trên mạng lượng thứ cho tôi về những gì sơ xuất, những gì khiếm khuyết.

Lạng Sơn, ngày 20 tháng 7 năm 2009

Trân Trọng

© Vi Đức Hồi

nguồn

Posted in Đảng CSVN | Leave a Comment »

Giá xăng gia tăng tới 4 đô/3,89 lít, Obama gia tăng thời hạn cho thuê vùng lãnh hải cho các công ty tìm kiếm dầu

Posted by hoangtran204 trên 14/05/2011

Giữa lúc dân chúng  Mỹ không vui vì giá xăng lên cao, TT Obama ra lệnh cho gia tăng việc sản suất dầu mỏ bằng cách gia tăng thời hạn thuê mướn vùng lãnh hải ở vịnh  Mexico, ở ngoài khơi của tiểu bang Alaska và tổ chức các cuộc đấu giá cho thuê thuê các lô đất ở vùng dự trử dầu ở vùng Alaska.

Khi xảy ra vụ dầu nổ dầu và gây ra vụ dầu loang ở vùng vịnh Mexico 2010, đã làm ô nhiễm môi trường nước, đất hoang, bờ biển thuộc các tiểu bang Louisiana, Florida, Texas. Trước tình thế đó,  chính phủ Obama đã ra lệnh ngưng khoang dầu 1 năm nay, phạt tiền công ty dầu hỏa BP của Anh rất nặng; công ty dầu BP đang tiến hành bồi thường hơn 20 tỉ đô la cho dân chúng và các doanh nghiệp đánh cá, kỹ nghệ du lịch bị thiệt hại, và chịu trách nhiệm thuê mướn các công ty khác cải tạo làm sạch các vùng bị dầu làm ô nhiễm, đồng thời buộc các công ty dầu tìm ra biện pháp nào an toàn hơn khi khai thác dầu trên biển để tránh tai nạn trong tương lai.

Nhưng khi giá dầu hiện nay lên cao 1 lít = 1 đô = 21 000 đồng VN, dân chúng Mỹ không vui vì giá dầu tăng và nạn thất nghiệp vẫn còn rất cao, khoảng 484 000 người thất nghiệp đã điền đơn xin trợ cấp thất nghiệp trong tháng 4, nên TT Obama đã đổi ý, và cho gia tăng thời hạn thuê mướn vùng lãnh hải cho các công ty tìm kiếm và khai thác dầu.

Tuy quyết định của TT Obama sẽ làm gia tăng công việc làm cho dân chúng Mỹ, nhưng giá xăng dầu sẽ không hạ xuống trong thời gian sắp tới.

Nhưng dẫu sao, điều nầy cho thấy sự uyển chuyển của chính phủ của TT Obama, biết thay đổi chính sách khi cần thiết để phục vụ và làm vui lòng dân chúng. Khi vụ dầu loang xẩy ra vào năm 2010, dân chúng yêu cầu ngưng khoang dầu mặc cho các công ty dầu phản đối. TT Obama liền ra lệnh ngưng khoang dầu, giảm thời hạn cho thuê vùng lãnh hải…Nay giá xăng dầu lên cao 1 lít = 1 đô, dân chúng khong vui, lời than thở khắp nơi trên báo chí, và TT Obama liền cho các công ty trở lại khoang tìm kiếm dầu hỏa,  gia tăng thời hạn cho thuê mướn vùng lãnh hải…

Theo thống kê, Mỹ sản suất chỉ 5% dầu thô của thế giới, nhưng tiêu dùng tới lên 20% dầu của thế giới; cụ thể, Mỹ tiêu thụ khoảng 20 triệu thùng dầu mỗi ngày. Trung Quốc chỉ tiêu thụ khoảng 1/3 số lượng dầu so với Mỹ và Nhật tiêu thụ 1/4 so với  Mỹ. Một năm trước đây, vào tháng nầy, giá xăng là $2,88/1 gallon (3,89 lít).

Hôm nay, TT Obama cũng yêu cầu 2 đảng Dân Chủ và Cộng Hòa hãy cắt giảm tiền trợ cấp 4.4 tỉ đô la hàng năm cho các công ty dầu. Các công ty dầu thì nói rằng nếu cắt giảm tiền trợ cấp, thì chi phí tìm kiếm dầu có thể sẽ gia tăng, và như thế, sẽ kéo theo việc chi phí tiền tìm kiếm dầu hỏa và sản suất dầu gia tăng, và hậu quả là giá xăng sẽ gia tăng.

Được biết 41 công ty dầu hỏa đã trả thuế doanh nghiệp  tổng cộng là 5,7 tỉ đô la trong năm 2010, nhiều hơn bất cứ ngành kỹ nghệ nào khác, và trong đó công ty dầu hỏa Exxon Mobil trả 1,3 tỉ tiền thuế doanh nghiệp. Các công ty dầu có thể sẽ có lời trước khi trả thuế là 200 tỉ đô la vào năm nay.

With gas costs high, Obama to speed oil production

WASHINGTON – Amid growing public unhappiness over gas prices, President Barack Obama is directing his administration to ramp up U.S. oil production by extending existing leases in the Gulf of Mexico and off Alaska’s coast and holding more frequent lease sales in a federal petroleum reserve in Alaska. But the moves won’t calm spiraling prices at the pump any time soon.

“There is practically nothing that Washington can do that would materially change the price of fuel in this country,” said Raymond James analyst Pavel Molchanov, noting that the United States produces about 5 percent of the world’s petroleum while consuming about 20 percent. “Given that imbalance, there is simply no policy shift that could plausibly come from the federal government that can significantly change that dynamic.”

Sen. Robert Menendez, D-N.J., who is opposed to drilling off the Atlantic coast, expressed concern about possible dangers to the environment. “I think it is disappointing he would pursue a strategy that comes with considerable risk while offering no hope of driving down gas prices,” Menendez said in a statement.

The moves come as Americans head into the summer driving season and gas prices remain high. A gallon of regular cost $3.97 on average nationwide Saturday (May 14, 2011), according to the AAA, Wright Express and Oil Price Information Service. That’s up from $3.81 a month ago and $2.88 a year ago, but it’s about a penny less than a week ago.

The White House had announced its opposition to all three bills, which are unlikely to pass the Democratic-controlled Senate, saying the measures would undercut safety reviews and open environmentally sensitive areas to new drilling.

New safety requirements put in place since the BP spill also have delayed drilling in Alaska, so Obama said he would extend lease terms there for a year as well. An oil lease typically runs 10 years.

Lease sales in the western and central Gulf of Mexico that were postponed last year will be held by the middle of next year, the same time period required by the House. A sale off the Virginia coast still would not happen until 2017 at the earliest. But Obama said he would speed up environmental reviews so that seismic studies to determine how much oil and gas lies off the Atlantic Coast can begin.

Philip Johnson, a petroleum engineer and University of Alabama professor noted that while there are about 3,000 producing wells in the Gulf of Mexico in U.S. waters, about 50,000 wells have been drilled including many that have been emptied.

Obama on Saturday also reiterated his call on Democrats and Republicans to vote to eliminate $4.4 billion in taxpayer subsidies to oil and gas companies. Industry advocates, including most Republicans in Congress, have argued that doing away with the tax breaks will raise companies’ cost of doing business, crimp their investment in exploration and production and lead to higher gas prices.

The 41 U.S. oil and gas companies that break out their federal taxes said they paid Uncle Sam $5.7 billion in 2010, more than any other industry, according to data compiled by Compustat. Exxon alone paid $1.3 billion.

The industry’s federal tax bill would rise 70 percent without the subsidies, but it would remain highly profitable: Oil companies’ combined pre-tax profits could hit $200 billion this year.

Posted in Chinh Tri Hoa Ky | Leave a Comment »

Bất chấp các khuyến cáo là không nên làm, nhà máy điện Hạt Nhân ở Ninh Thuận đang được xây dựng

Posted by hoangtran204 trên 14/05/2011

Được sự cố vấn của 1 nhóm du sinh VN tốt nghiệp từ các nước XHCN từ 1980, bộ chinh trị và chính phủ VN đã điều hành và thi hành các chính sách kinh tế, tài chánh và các dự án điên rồ trong mấy chục năm qua, kết quả đã đưa cả nước ngày càng mắc nợ nhiều hơn, các hạ tầng cơ sở như đường sá, cầu cống, điện lực được xây dựng rất ít so với chiều dài 36 năm qua. Mục đích của nhóm có bằng cấp XHCN nầy và nhóm nắm quyền trong chính phủ là hút tiền cò 20% từ tất cả các dự án ở VN mà các nước ngoài đầu tư vào, hoặc cho VN mượn tiền để xây dựng.

Gần đây các kế hoạch do nhóm du sinh XHCN nầy đã đề ra như: xây dựng Đường sắt Cao tốc, dự án khái thác Boxit, và nay là xây dựng 14 nhà máy Điện  Hạt Nhân đã làm tất cả những người có lòng với đất nước đều quan ngại và đưa ra ý kiến chống đối.

Tuy thế, dự án khai thác boxit hiện vẫn đang làm và nhà máy điện hạt nhân vẫn đang được xây dựng. Không cần thông qua thời hạn 3 năm khảo sát môi trường như tất cả các công ty xây dựng điện hạt nhân Mỹ, Pháp, Nhật đang làm. (Cũng cần biết là chính phủ của 3 nước nầy đã ngưng xây dựng nhà máy điện hạt nhân kể từ 20-30 năm qua sau tại nạn hạt nhân rò rỉ tại nhà máy điện ở Chernobil của Liên  Sô 1979, và vụ nhà máy điện hạt nhân ở Three Miles Island ở Mỹ. Pháp và các nước Châu âu vì đã xâ dựng các nhà máy điện hạt nhân từ năm 1966-1980, thì nay đang tính từ bỏ các nhà máy ấy, nhưng chưa biết cách nào làm cho an toàn nên dăng chuyển qua dùng phong điện và điện mặt trời dần dần).

Nhà máy điện hạt nhân ở Ninh Thuận hiện nay ĐANG được xây dựng, bất chấp các chuyên gia VN hiện đã, và đang làm việc trong lãnh vực nầy từ hơn 20-30 năm qua, khuyến cáo là VN không nên làm điện hạt nhân, mà nên tiếp tục xây các nhà máy nhiệt điện chạy bằng dầu thô, hoặc đốt bằng than đá, vì 2 nguồn nguyên liệu nầy đang sẵn có ở VN.

Thay vì mượn tiền mua máy móc và nhờ nước ngoài lắp đặt, tính toán, xây dựng tốn kém hàng 4-5 tỉ đô la cho mỗi nhà máy điện, hãy đầu tư vào các lãnh vực điện mặt trời và điện từ gió (photo-voltaic and wind power) hiện đang càng ngày càng được cải thiện hiệu quả và giá thành ngày càng thấp hơn 3-4 năm trước đây.

Xây dựng 1 nhà mấy điên hạt nhân cần tối thiểu 3-5 năm để điều tra về môi trường, các yếu tố địa lý trong vùng, sự ảnh hưởng đến con người chung quanh…và nếu các yếu tố đều thuận lợi, thì việc xây dựng nhà máy điện hạt nhân sẽ tốn thêm 3-4 năm nữa mới hoàn thành.

Cách đây 1 tuần, chúng ta đã nhìn thấy phân người từ các hầm cầu, trong phi trường Nội Bài ở Hà Nội, (do thiết kể sai lầm, đường cống dẫn bị nghẹt, và phân tràn đầy mà không chịu hút) phân người đã nổi lên ở khắp các mặt đường,trên phi đạo và các cơ xưởng trong phi trường. Cái hầm cầu tiêu mà còn thiết kế và bảo trì còn không xong và để mất vệ sinh như thế chỉ sau  1 cơn mưa, thì nói gì đến nhà máy điện hạt nhân.

Việt Nam vẫn tiếp tục theo đuổi tham vọng điện hạt nhân

M Goonan/Asia Times
nguồn:  Lê Quốc Tuấn. X CafeVN chuyển ngữ.

Tin từ TP.Hồ Chí Minh – Tình trạng thiếu điện đang xảy ra có lẽ tiêu biểu cho trở ngại lớn nhất đến việc duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam và sức thu hút như một cơ sở sản xuất cho các nhà đầu tư ngoại quốc. Theo ước tính của chính phủ, chỉ để cung ứng đủ cho nhu cầu, mỗi năm đất nước này sẽ cần phải thêm 4.600 MW công suất điện từ nay đến năm 2016.

Trong khi, nhờ thức tình từ trận động đất và sóng thần ngày 11 tháng Ba đã hủy diệt các nhà máy hạt nhân ở Nhật, những nước khác trong khu vực đã suy nghĩ lại về chương trình điện hạt nhân của họ, Việt Nam vẫn bám chắc vào những kế hoạch đầy tham vọng của mình. Trong hai thập niên tới, với các trợ giúp từ Nga, Mỹ và Nhật, Việt Nam dự định sẽ xây dựng 14 lò phản ứng hạt nhân. Lò phản ứng đầu tiên, trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận, đang được xây dựng.

Quyết định theo đuổi năng lượng điện hạt nhân của Hà Nội đã có từ giữa những năm 1990 khi những cải cách về thị trường bắt đầu bén rễ. Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã đưa mục tiêu công nghiệp hóa vào năm 2020 trở thành một điểm đến chính trong lịch trình phát triển kinh tế của mình, nhưng nạn hạn hán tại các đập thủy điện và sự suy giảm nguồn cung cấp than đá đã gây nên nạn cúp điện thường xuyên và đặt tham vọng công nghiệp của ông Dũng vào sự ngờ vực.

Nạn cúp điện là căn bệnh kinh niên đặc hữu ở Việt Nam. Các tin tức địa phương năm ngoái đã cho thấy những trường hợp khách du lịch bị kẹt trong thang máy khách sạn giữa thời gian mất điện. Các máy phát điện tại những khu nghỉ mát sang trọng phục vụ cho khách ngoại quốc và tại các doanh nghiệp cao cấp khác cũng thường xuyên bị quá tải. Bloomberg đã trích lời ông Mattias Duehn, giám đốc điều hành Phòng Thương mại Châu Âu, nói rằng “việc cắt điện ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của Việt Nam và có thể hướng các đầu tư đi nơi khác”.

Trong khi những áp lực này đã thúc đẩy các kế hoạch hạt nhân của chính phủ, vẫn còn đó những lo ngại cả ở trong và ngoài nước về khả năng quản lý an toàn cơ sở hạt nhân của Việt Nam. Theo Carl Thayer, một chuyên gia về Việt Nam tại Học viện Quốc phòng Úc, tình trạng thiếu hụt cán bộ kỹ thuật sẽ là một trở ngại chính.

Một khó khăn khác là việc xử lý thiên tai. Vào tháng Mười năm ngoái, một tai nạn khai thác bauxite ở Hungary đã châm lại ngọn lửa tranh luận và chỉ trích về các kế hoạch xây dựng mỏ bauxite ở Việt Nam trong khu vực Tây Nguyên. Trước khi cơn sóng bùn đỏ độc hại gần tràn đến dòng Danube của Hungary, nhiều giới chức, gồm cả một số vị cao niên hưu trí và các viên chức Việt Nam vẫn còn phục vụ đã kêu gọi hãy tạm hoãn kế hoạch bauxite này.

Không rõ là các quan chức ấy có phản ứng tương tự như thế sau sự kiện gần đây ở Nhật Bản đã dẫn đến một cuộc khủng hoảng hạt nhân và mối lo ngại về an toàn trên toàn thế giới về điện hạt nhân hay không. Thật vậy, cuộc tranh luận trong nội bộ về lợi hại của điện hạt nhân đã được tổ chức sau cánh cửa đóng kín và chúng ta không hề có nhiều thông tin trên báo chí địa phương.

Kể từ sau thảm họa hạt nhân của Nhật Bản, báo chí Việt Nam do nhà nước kiểm soát đã đăng tải những bản tin có nội dung tái khẳng định kế hoạch phát triển năng lượng hạt nhân của chính phủ, và nhấn mạnh đến sự khác biệt giữa các nhà máy “cũ kỹ” ở Nhật Bản với công nghệ hiện đại an toàn hơn sẽ được triển khai ở xứ sở này.

Điều này có nguyên nhân từ việc được biết là các báo chí địa phương đã xem các kế hoạch hạt nhân của chính phủ là vấn đề “nhạy cảm”, nghĩa là các nhà báo sẽ phải chấp nhận rủi ro nếu đưa tin lạc đường lối của chính phủ. Tuy nhiên, các tin tức đã có gây ra một số hoảng loạn. Vào tháng ba, một số bản tin sai trái cho rằng mưa phóng xạ từ thảm họa ở Nhật Bản đã rơi xuống thành phố Hà Nội khiến các bậc cha mẹ phải đổ xô đến trường để đón con cái của họ về.

Vương Hữu Tấn, viện trưởng viện Năng lượng hạt nhân của Việt Nam, đã tái khẳng định trong một cuộc phỏng vấn rằng các tai nạn ở Nhật Bản không làm thay đổi kế hoạch xây dựng một số lò phản ứng hạt nhân ở Việt Nam. “Chúng tôi hiểu được bản chất của vấn đề ở Nhật Bản”, ông Tấn cho biết. “Họ sử dụng các loại lò phản ứng cũ, được xây dựng cách đây 40 năm … các thiếu sót ấy đã được cải thiện ở các lò phản ứng thế hệ mới”.

Ông nói thêm rằng những mối đe dọa tiềm năng từ các trận động đất, sóng thần và biến đổi khí hậu sẽ được tính đến trong thiết kế của các lò phản ứng.

Biến đổi khí hậu là một vấn đề đặc biệt cấp bách, với việc các nhà khoa học về môi trường đổ lỗi cho một loạt các khó khăn mới xuất hiện, bao gồm sự gia tăng các cơn bão và thời tiết khắc nghiệt như hạn hán, mực nước biển dâng cao dọc theo bờ biển dài của đất nước và việc nước mặn xâm nhập vào khu vực đồng bằng sông Cửu Long nơi gieo trồng phần lớn các vụ mùa của đất nước.

Tất cả các cơ quan quốc tế, bao gồm cả Ngân hàng Thế giới, Oxfam và Chương trình Phát triển của Liên Hiệp Quốc, đã dự đoán Việt Nam sẽ là một trong những nước bị ảnh hưởng nhất bởi sự biến đổi khí hậu. Có thể cho rằng điều này đã góp thêm tai ương trong việc gia tăng điện năng của đất nước này.

Theo Cơ quan Quản trị Thông tin về Năng lượng của Mỹ, các trận hạn hán năm ngoái và các sự kiện này đã hạ thấp đáng kể mức nước trong các đập thủy điện, vốn chiếm 20% – các tính toán khác còn tính cao đến 40% – tổng cung cấp điện năng của đất nước. Trong khi đó, nguồn cung cấp than trong bản địa đang suy yếu, buộc đất nước phải bắt đầu nhập khẩu điện từ kẻ thù lịch sử của mình là Trung Quốc.

Tất cả những yếu tố này đã đưa đến sự cương quyết của các quan chức và việc thiếu vắng các cuộc tranh luận công khai về phát triển điện hạt nhân. Tuy nhiên các nhà phân tích còn cảnh báo rằng hiện nay Việt Nam không có cơ sở hạ tầng hoặc khả năng chuyên môn để đảm bảo một cuộc chuyển tiếp hạt nhân êm thắm. Bên cạnh việc cung cấp điện không thống nhất, họ còn lưu ý đến việc nhiều tuyến đường trên cả nước vẫn còn trong trạng thái cổ quái và hệ thống thoát nước không thể xử lý được những cơn mưa lớn.

Các chuyên gia về an toàn công nghiệp cho biết, trên khắp đất nước, tai nạn tại các cơ xưởng lọc dầu, hầm mỏ và nhà máy là phổ biến hơn so với mức chấp nhận được. Đồng thời, Việt Nam là một trong những nước bị ảnh hưởng bão nhất trong khu vực; riêng các khu vực Trung Bộ đã bị bão nhiều và lớn hơn trong những năm gần đây.

Trong khi chính quyền có xu hướng phản ứng nhanh chóng với các mối đe dọa bão, cơ chế đáp ứng tổng quan của đất nước đối với các thảm họa chẳng những không tập trung mà còn thiếu phối hợp nữa. Ví dụ như, các trận động đất thì do một cơ quan chính phủ đảm trách, trong khi sự cố tràn dầu khí lại được một cơ quan khác xử lý. Cũng không có một cơ chế trung ương hoặc một chiến lược thống nhất để xử lý các thảm họa về công nghiệp.

Tiềm năng về tai nạn hạt nhân và khả năng đáp ứng với rủi ro của chính phủ đã bắt đầu khiến các nước láng giềng phi hạt nhân – chưa kể đến các công dân của họ – phải lo lắng. Một cuộc biểu tình chống hạt nhân đã được tổ chức bên ngoài Đại sứ quán Việt Nam tại Bangkok vào tháng Tư, với việc một người phản đối đã đệ trình một lá thư trình bày nỗi lo sợ vì nhà máy hạt nhân đầu tiên được xây dựng tại Ninh Thuận sẽ chỉ cách biên giới Thái Lan 800 km.

Nhưng với tương lai tăng trưởng kinh tế và giấc mơ công nghiệp của ông Dũng đang bị hiểm nghèo, các mối lo lắng ấy sẽ phải rót vào những lỗ tai điếc.

M Goonan, là bút hiệu của một nhà báo tự do tại Việt Nam.

Nguồn: Asia Times

Posted in Đảng CSVN | Leave a Comment »

Khi có những dấu hiệu thế giới sẽ đưa Việt Nam ra khỏi danh sách các nước nghèo, ông Thủ tướng đã phát biểu và giải thích với thế giới rằng “Việt Nam vẫn còn là nước nghèo”, nhằm để thế giới tiếp tục giữ nước mình trong danh sách các nước nghèo…để tiếp tục nhận viện trợ

Posted by hoangtran204 trên 12/05/2011

Hoàng Ngọc Diệp là một người Việt ở nước ngoài. Ông về Việt Nam sống và mong cống hiến tâm sức để xây dựng đất nước đã gần 20 năm nay. Đây là những dòng tâm sự về hiện tình đất nước mà ông viết cho con trai của mình trên facebook.

Chúng tôi thấy sự xác đáng, chân thành và đau đớn trong bài viết này. Xin giới thiệu đến quý độc giả mục Đối Thoại.

Tiền Vệ

đây

________

Lòng trắc ẩn và sự hổ thẹn

(Những tâm sự gửi đến các con ruột và con nuôi của bố)

Như những lần trước đây, ở những nơi chốn, diễn đàn khác, bố sẽ tâm sự và gửi gắm tới các con những gì bố ưu tư và đau buồn! Bố đưa lên diễn đàn này không những để các con đọc mà còn để các bạn trẻ khác của bố và của các con cũng chia sẻ. Nhân, con giúp bố dịch cho chị Amy của con nhé!

Một câu chuyện nhỏ về lòng trắc ẩn.

Vào các năm cuối thập niên 1990 và đầu thập niên 2000, bố có dịp cùng đi hoặc tổ chức đưa các phái đoàn cấp lãnh đạo nhà nước thăm và làm việc ở các nước trong khu vực. Có lần đến Hong Kong cùng một số vị bên Bộ Lao Động và Bộ Kế Hoạch Đầu Tư, bố cố tình sắp xếp để sáng Chủ Nhật, ngày cuối của chuyến đi, đưa họ đi ăn sáng; để đến nhà hàng, mọi người phải đi bộ qua hai công viên nhỏ từ khách sạn.

Khi đi ngang qua hai công viên này, phái đoàn thấy lạ vì sao có quá nhiều phụ nữ da ngâm đen, như họ đến từ Việt Nam hay Philippines, đang tụ tập tại đó với nhau. Phái đoàn dừng lại chụp hình với những người này, hỏi ra thì quả là họ đến từ Philippines để làm người ở đợ (còn gọi một cách nhẹ nhàng là người giúp việc nhà) cho các gia đình tại Hong Kong.

Trong khi ăn sáng, bố kể cho phái đoàn biết hoàn cảnh của những người đi làm người giúp việc nhà này, bố cho biết họ may mắn hơn những phụ nữ Việt Nam đi làm người ở đợ tại các nước khác, vì Hong Kong, qua gần một thế kỷ dưới sự quản lý của Anh Quốc, đã xây dựng được hệ thống theo dõi và quản lý những người giúp việc tại Hong Kong; tất nhiên vẫn xảy ra một số vụ hành hạ và xâm phạm tình dục, nhưng ít hơn rất nhiều so với các nước khác như Hàn Quốc hay Đài Loan. Bố còn cho họ biết, qua nghiên cứu của Hiệp Hội Bảo Vệ Phụ Nữ Thế Giới, thì hầu hết những phụ nữ này sẽ không thể tìm được một gia đình hạnh phúc nếu họ đi ra khỏi nước và trở về khi còn trẻ, và gia đình sẽ đổ vỡ chia ly, hoặc không thể lập gia đình nếu họ đi và về khi ở tuổi trên 30.

Sau đó bố hỏi họ một loạt câu hỏi như “Tại sao chúng ta xuất khẩu những người đi ở đợ mà báo chí ca ngợi các kỷ lục xuất khẩu lao động?, “Quý vị có sẵn sàng đưa chị em gái hay con gái của mình đi làm người giúp việc nhà tại Đài Loan không”, “Nhà nước và quý vị có thấy việc xuất khẩu phụ nữ Việt Nam đi ở đợ là một sự hổ thẹn của đất nước không?” v.v… mọi người đều tỏ ra rất buồn; vài người thì giận dữ với bố vì cho rằng bố không biết gì về hoàn cảnh đất nước và đã xúc phạm họ! Tất nhiên, bữa ăn sáng không còn vui, rồi mọi người ra về trong im lặng.

Mười mấy năm qua, số người đi xuất khẩu lao động theo diện này vẫn cứ tiếp tục, mặc dù những bài báo nói về chuyện này đã giảm, nhưng vẫn chưa có một kế hoạch gì để bảo vệ cho họ; mặc dù như vậy, bố vẫn hằng mong nhà nước sớm xây dựng được các kế hoạch đào tạo và tìm công việc làm cho họ tại chính đất nước Việt Nam mình.

Cho đến nay bố vẫn cứ lo lắng, băn khoăn, thỉnh thoảng mất ngủ về những số phận này! Bố tin chắc trong mấy trăm ngàn người đang đi ở đợ, hay lao động chân tay cấp thấp nhất, ở nước ngoài, phải có những người bà con của bố và của các con trong số này!

Với bố, đây là một trong vô vàn điều trắc ẩn cần phải có trong mỗi công dân Việt Nam, từ cấp lãnh đạo cao nhất xuống tới ngay những người có số phận đen tối này! Các con có lòng trắc ẩn cho những số phận này hay những số phận khác còn đáng thương hơn nữa đang sống ngay tại đất nước mình không? Có đủ lòng trắc ẩn để chuyển nó thành năng lực để nhắc nhở, thúc đẩy các con phát triển và dấn thân mỗi ngày không? Các con phải luôn nhắc nhở bản thân mình nhé!

Một câu chuyện về sự hổ thẹn

Tại các thành phố lớn trên khắp nước, giờ đây, nơi nào cũng nhiều nhà lầu, nhiều chung cư trung bình hay cao cấp; hầu hết các công chức nhà nước từ cấp trưởng phòng trở lên, nhất là các cấp phó giám đốc sở trở lên, đều có nhà riêng, cho con đi du học nước ngoài, có vài cái nhà hay miếng đất thêm để làm của cho con. Trên đường phố thì đầy xe hơi các loại, trong đó có khá nhiều xe vô cùng đắt tiền, nhất là ở Hà Nội, Sài Gòn, và vài thành phố lớn khác. Có luôn cả những chiếc xe mà chính các bạn nước ngoài của bố phải ngạc nhiên là người Việt Nam mình làm sao mua nổi, vì ngay cả chính họ, những doanh nhân triệu phú USD, cũng chưa dám nghĩ tới!

Mỗi ngày chi tiêu của rất nhiều “thiếu gia”, “trung gia” hay “đại gia” thường lên đến vài chục triệu đồng, nhưng hình như họ không phải làm gì vất vả hay nặng nhọc hết!

Quả thật đời sống của người dân nói chung ở chừng mức nào đó rất phát triển, nhất là so với thập niên 1980s hay đầu thập niên 1990s. Còn đời sống của các vị lãnh đạo cấp quốc gia thì khỏi phải bàn! Bố đã gặp nhiều trường hợp kinh lắm. Cái cách họ cho con đi học, cách mua sắm nhà cửa, xe hơi để phục vụ cho các con của họ ở nước ngoài, thì các gia đình trung lưu, và ngay cả thượng lưu từ các nước khác cũng gửi con đi du học cùng trường không thể nào sánh nổi!

Mặt khác, nhìn chung xã hội Việt Nam mình thì những người nghèo lại còn quá nhiều! Sự cách biệt giữa những gia đình giàu có, chức quyền và đại đa số người dân còn lại càng ngày càng xa! Chỉ cần một trong những chiếc xe hơi của một gia đình giàu có là dư sức để cho cả một đại gia đình nghèo đang sống trong cùng thành phố có thể có nhà ở và con cái được đi học cả đời! Các con có bao giờ thắc mắc về điều này không? Các con có nhìn thấy sự vô tâm hay vô tình và bất bình đẳng của tầng lớp cao, tầng lớp lãnh đạo, đối với đa số nhân dân không?

Điều làm cho bố hổ thẹn nhất, phẫn nộ nhất, đó là chuyện xảy ra cách đây vài ngày!

Khi có những dấu hiệu thế giới sẽ đưa Việt Nam mình ra khỏi danh sách các nước nghèo, thì ngay lập tức lãnh đạo nhà nước, ông Thủ tướng, đã phát biểu, giải thích với thế giới rằng “Việt Nam vẫn còn là nước nghèo”,[*] nhằm để thế giới tiếp tục giữ nước mình trong danh sách các nước nghèo.

Lý do là vì họ muốn vẫn tiếp tục được nhận viện trợ!

Hình như họ cho rằng Việt Nam mình làm ăn mày thế giới là chuyện tốt chăng? Trời ạ, hay còn tệ hơn nữa, có khi họ cho việc cố gắng thuyết phục thế giới để Việt Nam mình nằm trong danh sách các nước ăn mày là một công lao lớn của họ đối với đất nước?

Các con hãy cùng bố thử đánh giá đất nước mình vào thời điểm 2011 này nhé:

Việt Nam đã thống nhất hơn 36 năm, không còn phân tranh, chia rẽ, nội chiến hay bị xâm lược nữa nhé, ngoại trừ một cuộc chiến nhỏ ngắn ngày với Trung Quốc (cái đất nước láng giềng mà ngày nay người ta còn gọi một cách giễu cợt, để cười ra nước mắt, là Nước Lạ) vào năm 1979, nhưng cuộc chiến đó cũng đã 32 năm rồi. Như thế không thể lấy mãi lý do vì chiến tranh mà nước mình nghèo đói, phải không nào?

Việt Nam hiện là một trong vài nước xuất khẩu nông thuỷ sản dẫn đầu thế giới. Việt Nam còn có các nguồn tài nguyên quan trọng khác đang được khai thác. Như vậy, trên nguyên tắc Việt Nam không thể đói và nghèo được!

Ai cũng biết chúng ta có rất nhiều người tài giỏi trong gần 90 triệu người Việt ở trong nước và ở nước ngoài, từ chiến lược gia cho EU, các khoa học gia trong gần như mọi lĩnh vực làm việc tại các trung tâm khoa học thế giới, các nhà quản trị, kinh tế, giáo sư đại học, bác sĩ, luật sư… v.v…, nhiều vô số kể. Như vậy, trên nguyên tắc, không thể bảo Việt Nam không có nguồn nhân lực nòng cốt để tiếp tục nằm trong tình trạng lạc hậu và quản lý quốc gia yếu kém nữa.

Như vậy tại sao Việt Nam mình vẫn còn lạc hậu, vẫn còn có thể — theo lời ông Thủ tướng — được chứng minh là nghèo đói?

Vì tham nhũng chăng?
Đúng!

Nhưng gốc của tham nhũng từ đâu ra?

Do trời sinh, do người dân thiếu lòng tự trọng và tham lam, hay do tính đặc quyền từ một lối “cơ cấu” và “cơ chế” bởi guồng máy quyền lực?

Đừng đổ cho ông Trời nhé! Cũng đừng đổ cho nhân dân, vì người dân của hầu hết mọi quốc gia đều rất đơn giản, họ chỉ làm theo những gì guồng máy lãnh đạo làm và chính quyền cho phép hay lỏng lẻo trong quản lý mà thôi!

Thế thì còn lại là vấn đề “cơ cấu” và “cơ chế” của guồng máy lãnh đạo!

Vì thiếu nhân tài chăng?

Sai, nhưng thực tế thì Đúng!

Sai là vì mình có rất nhiều nhân tài, nhưng Đúng trên thực tế vì guồng máy lãnh đạo chỉ sử dụng những người trong “cơ cấu” cho dù họ yếu kém, bất tài hơn những người bên ngoài cơ cấu!

Phải chăng guồng máy quyền lực hiện nay không có ý định thay đổi để tận dụng nguồn lực bên ngoài này cho dù họ đã cho thấy sự bất lực của “cơ cấu” mà họ tạo ra?

Vì thiếu sản phẩm sản xuất trong nước chăng?

Sai, nhưng thực tế thì có khác! Sai vì mình là một trong vài nước dẫn đầu sản xuất và xuất khẩu nông thuỷ sản và nhiều mặt hàng khác, nhưng trên thực tế hầu hết đều chỉ là cung cấp ở mức nguyên liệu thô hay gia công với giá thành thấp nhất!

Phải chăng là vì các công ty không có khả năng? Hay guồng máy nhà nước không biết quản lý để giúp họ khắc phục và nâng cao giá trị sản phẩm?

Như vậy, nếu ta nghiêm túc đặt Việt Nam mình là nước nghèo đói và lạc hậu, thì phải tự mình nghiêm túc tìm hiểu tạo sao và tự khắc phục nó!

Ngay sau khi chiến tranh, thế giới cho nước mình là nghèo đói thì có thể chấp nhận được. Nhưng sau mấy chục năm thống nhất, khi thế giới dự tính đưa nước mình ra khỏi danh sách các nước nghèo đói, thì lãnh đạo nước lại đại diện cho đất nước tự biện giải để tiếp tục nằm trong danh sách các nước nghèo đói, hầu tiếp tục làm một đất nước ăn mày!

Như vậy thì làm sao công dân Việt Nam mình có thể có một niềm tự tin, niềm hãnh diện để góp sức và tận lực phát triển?

Đúng ra, khi nhận được dự tính đưa nước mình ra khỏi danh sách các nước nghèo đói, chúng ta nên xem nó là một tin vui; mọi người dân Việt Nam mình phải hoan nghênh và hãnh diện về khả năng tự phát triển thoát nghèo để tiếp tục thay đổi, tiếp tục chuyển mình! Như vậy mới là một quốc gia có danh dự, có lòng tự trọng và có khả năng tự lực phát triển, phải không nào?

Trong lịch sử nước Việt Nam mình đã có nhiều lần chịu nhục! Nhưng những lần đó đều là vì sự áp chế của bọn xâm lăng nước ngoài.

Nhưng lần này thì khác, các con nhớ dùm bố, đây sẽ là lần nhục nhã nhất trong lịch sử của Việt Nam!

Vì lãnh đạo nước mình tự nguyện chịu nhục với thế giới bằng cách tự nguyện xin làm một đất nước ăn mày, một dân tộc ăn mày, chứ không chịu chấp nhận sự kiện Việt Nam đã có khả năng thoát nghèo đói, hay chấp nhận sự kiện guồng máy lãnh đạo yếu kém trong khả năng lãnh đạo đất nước!

Họ đã chứng tỏ rằng họ không còn lòng tự trọng để là những đại diện và lãnh đạo đất nước Việt Nam mình!

Và bố, thế nào đi nữa, bố vẫn xem mình là một người Việt Nam, một con dân của dân tộc Việt Nam trong huyết thống, thì bố đau khổ và nhục nhã quá!

Nay bố già rồi, không còn nhiều sức lực và thời gian nữa; bố cũng không còn là công dân Việt Nam về mặt pháp lý, để đóng góp nhiều như mong muốn và khả năng cho phép, nhưng các con là công dân Việt Nam, các con còn cả một tương lai lâu dài, các con phải hứa với bố là khi trưởng thành các con sẽ luôn có lòng trắc ẩn cho những người dân đen, và đóng góp hết sức mình làm thay đổi guồng máy đần độn, thối nát và vô liêm sỉ này, để Việt Nam mình không còn là dân tộc ăn mày thế giới nữa nhé!

Bố thương các con lắm!

Hoàng Ngọc Diệp

[*]

Thủ tướng: ‘Việt Nam vẫn là nước nghèo’

Việt Nam đã bước vào ngưỡng thu nhập trung bình, nhưng Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cho rằng đất nước còn nghèo và tiếp tục cần hỗ trợ của cộng đồng quốc tế, trong đó có ADB và các nước thành viên.
> Việt Nam trước bẫy thu nhập trung bình
> Việt Nam cần 300 tỷ USD

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tại phiên khai mạc Hội nghị thường niên ADB ngày 5/5. Ảnh: PV
Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tại phiên khai mạc Hội nghị thường niên ADB ngày 5/5. Ảnh: PV

Phát biểu tại phiên khai mạc Hội nghị Thường niên ADB lần thứ 44 trưa nay tại Hà Nội, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cho biết Việt Nam đang tập trung ổn định kinh tế vĩ mô, đổi mới mô hình tăng trưởng và cơ cấu lại nền kinh tế… thông qua việc thực hiện Chiến lược Phát triển Kinh tế xã hội giai đoạn 2011-2020. Riêng 5 năm tới sẽ là giai đoạn kinh tế Việt Nam tiếp tục phục hồi, với mục tiêu tăng trưởng bình quân 7% một năm và tỷ lệ hộ nghèo giảm 2% qua các năm. Việt Nam cũng đặt mục tiêu thu nhập khu vực nông thôn 5 năm tới sẽ tăng gấp đôi 2010.

10 năm qua, kinh tế Việt Nam tăng trưởng bình quân 7,26% mỗi năm, tỷ lệ đói nghèo giảm từ 58% năm 1993 xuống dưới 10% năm 2010.

“Tuy đạt được nhiều thành tựu, Việt Nam vẫn là một nước nghèo, chặng đường phát triển phía trước còn rất nhiều khó khăn. Việt Nam sẽ huy động và sử dụng tốt nhất nội lực của mình, đồng thời mong muốn tiếp tục nhận được sự hỗ trợ, giúp đỡ có hiệu quả hơn nữa của cộng đồng quốc tế, của các nhà tài trợ, trong đó có ADB và các nước thành viên”, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nói.

Tính đến tháng 3 năm nay, ADB đã cam kết cung cấp cho Việt Nam gần 10 tỷ USD cho Việt Nam, với hơn 100 chương trình và dự án, tập trung vào các lĩnh vực phát triển cơ sở hạ tầng, nông nghiệp, nông thôn, năng lượng và giáo dục.

“Chúng tôi cam kết sẽ tiếp tục sử dụng đúng mục đích và có hiệu quả cao nhất nguồn vốn quý báu này. Việt Nam tin tưởng vững chắc vào con đường hướng tới mục tiêu giảm nghèo và phát triển bền vững, và rất vui mừng vì luôn có một người bạn đồng hành thực sự là ADB”, Thủ tướng nhấn mạnh.

Chủ tịch ADB Kuroda. Ảnh: TTXVN
Chủ tịch ADB Kuroda. Ảnh: TTXVN

Chúc mừng Việt Nam đã bước vào ngưỡng quốc gia có thu nhập trung bình, Chủ tịch ADB Haruhiko Kuroda cho biết Việt Nam cũng như nhiều nước khác trong khu vực còn đối mặt với nhiều thách thức, cho dù châu Á đang gia tăng vị thế của mình trong nền kinh tế toàn cầu.

Theo ông Kuroda, trước mắt, các nước châu Á sẽ chịu ảnh hưởng ngắn hạn của thảm họa sóng thần tại Nhật Bản. Sau khi tăng trưởng bình quân 9% trong năm ngoái, các nước đang phát triển ở châu Á sẽ tăng trưởng chậm lại với tốc độ dự kiến 7,8% năm nay và 7,7% trong năm tới. Lạm phát sau khi duy trì ở mức thấp 4,4% trong năm ngoái, năm nay sẽ bùng phát trở lại do sự tăng trưởng nóng ở một số nền kinh tế và cú sốc giá lương thực, nhiên liệu.

“Các nhà hoạch định chính sách cần cân nhắc cẩn trọng các biện pháp kiểm soát lạm phát bởi những công dân nghèo nhất trong các quốc gia sẽ là đối tượng chịu ảnh hưởng nhiều nhất bởi điều này”, Chủ tịch ADB khuyến cáo và không quên nhắc lại thực tế là châu Á hiện còn hàng trăm triệu người thuộc diện nghèo nhất thế giới. Vấn đề lạm phát đã được ông Kuroda và nhiều diễn ra khác đề cập tại nhiều phiên thảo luận trước đó của ADB, như một trong những thách thức lớn nhất của châu Á hiện nay.

Chia sẻ quan điểm này, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cho rằng kinh tế thế giới vẫn biến động khó lường do tác động của cuộc khủng hoảng còn kéo dài, trong khi nguy cơ trì trệ và suy thoái vẫn tiềm ẩn. Theo Thủ tướng, đây là những hệ quả không mong muốn của chính sách kích thích kinh tế ở nhiều nước và lạm phát cao đang xảy ra tại nhiều quốc gia trên thế giới, nợ công và thâm hụt tài khóa ở Châu Âu, nguy cơ thất nghiệp và phục hồi kém bền vững của một số nền kinh tế lớn, sự tàn phá nặng nề của các thảm họa thiên nhiên, bất ổn chính trị ở một số nước Bắc Phi và Trung Đông….

“Trong bối cảnh đó, chúng tôi mong muốn ADB đóng vai trò chủ động và tích cực hơn nữa trong việc hỗ trợ phát triển, giảm nghèo bền vững, thúc đẩy hội nhập, hợp tác thương mại và đầu tư ở khu vực; đóng góp thiết thực vào phục hồi và tăng trưởng kinh tế toàn cầu”, Thủ tướng nói.

Trong bài phát biểu của mình, ông Kuroda đã gợi ý 5 vấn đề chủ chốt đóng vai trò thiết yếu nhằm khai thông tiềm năng phát triển của khu vực như: nâng cao vai trò lãnh đạo và cam kết quản trị điều hành hợp lý, tìm kiếm nguồn vốn đầu tư khổng lồ, cải tổ hệ thống tài chính, chia sẻ kinh nghiệm phát triển, đồng thời gia tăng hợp tác và hội nhập khu vực.

Theo tính toán của ông Kuroda, từ nay đến 2020, mỗi năm châu Á cần khoảng 750 tỷ USD cho đầu tư phát triển hạ tầng, kể cả phần cứng lẫn phần mềm. Trước đó, Việt Nam cho biết sẽ cần 300 tỷ USD vốn đầu tư trong 5 năm tới, trong khi Ấn Độ cho biết số vốn cần trong 10 năm là 3.000 tỷ USD.

“Đầu tư phát triển hạ tầng đang thiếu hụt hiện nay là chìa khóa để đạt được sự tăng trưởng bền vững”, ông nhấn mạnh.

Phiên khai mạc chính thức Hội nghị Thường niên lần thứ 44 Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) diễn ra trưa nay, hai ngày sau hàng loạt sự kiện và các phiên thảo luận trong khuôn khổ của sự kiện quan trọng này. Sau 45 phút văn nghệ chào mừng của nước chủ nhà, là các diễn văn khai mạc của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Văn Giàu và Chủ tịch ADB Haruhiko Kuroda. Trước bài phát biểu của mình, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và Thống đốc Nguyễn Văn Giàu đều bày tỏ sự cảm thông và chia sẻ với đất nước và nhân dân Nhật Bản sau thảm họa sóng thần vừa qua. Chủ tịch Kuroda và nhiều nhân viên khác trong ADB có quốc tịch Nhật Bản.

Song Linh

Lạ mà quen: Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nói “Việt Nam vẫn là nước nghèo”

Phan Đình Minh Hùng
Đừng tự hào vì nước Việt Nam nghèo nhưng có lắm người giỏi. Hãy tự hỏi vì sao lắm người giỏi mà Việt Nam vẫn nghèo? – Song of Hope’s blog

Trong bối cảnh chúng ta đạt được nhiều thành tựu vượt bậc, kinh tế tăng trưởng trung bình 7.26%/ năm trong 10 năm qua thì những câu nói như trên của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng được xem là hơi lạ.

Lạ:

Một đất nước anh hùng, một đất nước trải qua hai cuộc chiến thần thánh chống Pháp và chống Mỹ, sau 36 năm: “vẫn là nước nghèo”.

Một đất nước đỉnh cao trí tuệ, một đất nước với chỉ số IQ cao với vô số Tiến sĩ: “vẫn là nước nghèo”.

Một đất nước với rừng vàng biển bạc, con người cần cù, chăm chỉ, thông minh: “vẫn là nước nghèo”.

Quen:

Nước ta là nước nghèo điều này ai cũng biết. Nhưng mỗi lần đem Việt Nam ra so sánh với các nước khác chúng ta thường nghe: Việt Nam chịu nhiều thiệt hại mất mát trong chiến tranh; đạt được những thành tựu như hiện tại là nhờ sự lãnh đạo tài tình sáng suốt của Đảng và Nhà Nước.

Xin lấy một vài con số để làm rõ vấn đề trên:

clip_image00232.jpgNăm 1987, hơn 10 năm sau khi chiến tranh kết thúc GDP của Việt Nam là 36,65 tỷ USD trong khi đó của Philippines thậm chí còn thấp hơn của Việt Nam với chỉ 33,19 tỷ USD. Ba năm sau tức vào năm 1990 GDP của ta chỉ còn 6,47 tỷ USD trong khi của Philippines là 44,31 tỷ USD. Đến thời điểm hiện tại thì Philippines đã vượt khá xa Việt Nam. Xuất phát điểm của Việt Nam tính từ năm 1987 hoàn toàn cao hơn Philippines vậy tại sao chúng ta bị tụt lại quá xa? Ta có thể loại bỏ yếu tố chiến tranh tàn phá vì thời gian này Việt Nam đang trên đường tiến lên XHCN, hoàn toàn không có chiến tranh.

Nước Nghèo:

Trong khi ADB (Asian Development Bank) đưa chúng ta vào danh sách các nước có thu nhập trung bình thì Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng lại khăng khăng “Việt Nam vẫn là nước nghèo”. Nghe có vẻ nghịch lý nhưng nếu nhìn vào các khoản vay ưu đãi nhận được hàng năm chúng ta có thể hiểu được tại sao Thủ tướng lại hạ thấp mình như vậy. Chịu nhục, chịu bắt bớ chịu tù đày cho sự phát triển của đất nước người ta gọi là kẻ sĩ. Còn cố chịu nhục để duy trì sự lãnh đạo, duy trì một nền kinh tế yếu kém, duy trì một nền hành chánh quan liêu và một xã hội đầy rẫy những bất công thì không biết nên gọi là gì.

P. Đ. M. H.

Tác giả gửi trực tiếp cho BVN.

Nguồn dẫn liệu:

google.com

adb.org

nguồn

———-

Sân bay quốc tế Nội Bài bục tất cả bể bồn,hầm cầu

Cơn mưa lớn xảy ra chiều nay (11/5) khiến cho những bể phốt,(hầm cầu) trên sân bay Nội Bài (Hà Nội) bật nắp, các chất thải,phân ở đây phun trào và chảy lênh láng ra bãi đỗ máy bay, thậm chí cả bánh xe máy bay cũng dính phân,hành khách quốc tế bịt mũi chạy lẹ vào nhà ga với đôi chân dính phân.

( Ảnh do hành khách cung cấp)

Một độc giả phản ánh qua đường dây nóng, sân bay Nội Bài lúc 5h chiều chứng kiến cảnh kinh hoàng. Cơn mưa lớn xảy ra trong vòng 20 phút đã khiến bể phốt đặt tại sân bay bật nắp. Các loại chất thải chảy ra khiến cho mùi hôi thối bốc lên nồng nặc khắp nơi trong và ngoài sân bay

Các chất thải và phân này tràn ra sân sát chỗ máy bay đỗ tại Nội Bài, lúc chiều ngày 11/5. Ảnh do độc giả cung cấp.

Một độc giả cho biết một chiếc máy bay chưa đến giờ cất cánh đã phải đóng cửa khoang sớm hơn thường lệ để tránh mùi hôi thối ở sân bay. Chiếc bể phốt này đặt ở vị trí cầu 9 của sân bay. Khi nắp bể phốt bị bục, các loại chất thải, gồm cả phân người đã bị nước mưa cuốn trôi chảy ra tận vị trí của cầu 7, cầu 19 và cầu 20. Trao đổi với VnExpress.net, đơn vị quản lý sân bay Nội Bài thừa nhận có sự cố bật nắp bể phốt xảy ra chiều nay do mưa lớn.

Một góc khác ở sân bay Nội Bài cũng tràn ngập chất thải,phân người và bốc mùi hôi thối. Ảnh do độc giả cung cấp.

Ông cho biết cơn mưa xảy ra chỉ trong vòng 20 phút nhưng khá lớn khiến cho áp lực nước mạnh. Hệ thống đường cống bị bục, kèm theo nắp bể phốt cũng bị bật, khiến các chất thải,phân tràn ra ngoài. Các nhân viên môi trường đang sử dụng máy để hút cạn nước và đậy tất cả nắp hầm cầu lại. Vị lãnh đạo này cho biết rất nhiều trận mưa lớn xảy ra nhưng đây là lần đầu tiên, bể phốt bị bục. “Chúng tôi rất ngạc nhiên về điều này, có thể là hệ thống đường ống xuống cấp và đã đến lúc cần sửa chữa”, vị lãnh đạo này nói. Đây không phải là lần đầu tiên sân bay Nội Bài chứng kiến cảnh chất thải bị trào ra khi mưa. Theo phản ánh của một số nhân viên làm việc tại đây rất nhiều lần họ phải chịu cảnh cả sân bay bốc mùi hôi thối. “Mỗi lần mưa đến là chúng tôi lại chịu trận. Thậm chí cả những ngày nắng thì mùi hôi cũng bốc ra từ hệ thống đường ống và bể phốt”, nhân viên ở đây phản ánh. Cứ mỗi lần trời mưa, nhà ga, sảnh trước khu ăn uống và nhiều địa điểm khác tại Sân bay Quốc tế Nội Bài (Hà Nội) lại xuất hiện những chiếc xô, chậu đủ các màu làm nhiệm vụ… hứng nước. Nhiều hành khách cho rằng, việc một sân bay quốc tế có tầm cỡ trong khu vực bị dột là điều khó chấp nhận. Một hành khách tên Cương ở Hà Nội kể: “Tuần trước tôi đưa khách ra sân bay Nội Bài, một hình ảnh chướng mắt đập vào mắt là cảnh nhà ga bị dột mặc dù trời mưa không lớn. Các nhân viên đã sử dụng một loạt xô, chậu ra để hứng nước”.

Hình ảnh xô chậu xuất hiện ở nhiều nơi trong sân bay Nội Bài. Ảnh: Quốc Cương.

Nhiều người có mặt ở sân bay lúc bấy giờ gồm cả khách nước ngoài đều cảm thấy khó chịu. “Tôi không hiểu nổi một sân bay mang tầm cỡ như Nội Bài là điểm dừng chân đầu tiên của khách quốc tế đến Hà Nội lại để tình

trạng này xảy ra”, anh Cương nói.

Trời không mưa, những chiếc xô này vẫn nằm ở vị trí sẵn sàng hứng nước,hành khách bị vấp nhiều lần

Nhiều hành khách đứng chờ hơn một giờ liền cũng không thấy đồ của mình ra vì mưa nhân viên không đem vào được.

(Asiad) trở về.

Khói trắng, kèm theo mùi hôi của phân khiến hành khách bỏ chạy ra bên ngoài, nhà chức trách hàng không phải cho dừng băng chuyền để sửa chữa.
Không thể nhận đồ trực tiếp tại băng chuyền, hành khách ra cửa phụ để nhận trực tiếp.
============================================================
Tiền tỷ về đâu
Tiền tỷ đầu tư vào đây mà hệ thống thoát nước cơ bản không chịu nổi trận mưa lớn ???HH


Posted in Đảng CSVN | Leave a Comment »

►Việc truy lùng…đốt sách ở VN đã xảy ra 3 lần, năm 1414, 1954 và 1975

Posted by hoangtran204 trên 10/05/2011

Lời tựa của Trần Hoàng: Nước ta có hơn 4000 năm văn hiến, nhưng sách vở của ông bà tổ tiên để lại thì rất ít. Đó là một thiệt thòi to lớn nhất của người VN so với người dân của các quốc gia khác. Nguyên nhân của việc có rất ít sách xưa để lại là vì quân nhà Minh, trong những ngày đầu đô hộ nước ta thời 1414, đã ra lệnh tịch thu hết sách vở, và đốt hết để làm cho dân ta quên hết cội nguồn lịch sử, văn hóa để dễ bề cai trị.

Cũng với mục đích làm quên hết nguồn gốc để dễ bề cai trị, trong khoảng thời gian 56 năm qua, người dân nước ta đã bị giới cầm quyền VN hiện nay (tiếp tay với quân Minh và chạy theo cuộc CM Văn  Hóa ở Trung Quốc 1953-1966) ra lệnh tịch thu hết sách vở và đốt sách thêm 2 lần nữa. Hai lần đốt sách nầy gây nhiều thiệt hại nghiêm trọng không kém lần đốt sách thứ nhất hồi năm 1414. Đốt sách để không cho ai biết sự thật, che dấu hết các sự kiện lịch sử, và kể từ đó chủ nghĩa cộng sản hoành hành ở VN suốt hơn 60 năm qua.

Tại sao phải tịch thu và đốt sách sau năm 1954 và 1975?

Đốt sách là để che dấu những  sự thật bất lợi cho đảng, để các sử nô của đảng viết lại lịch sử VN sao theo ý muốn của họ, nhằm che dấu các việc làm tàn ác, đảng CSVN thích mọi nguời phải ca tụng công lao của họ, những gì cs làm phải là quan trọng nhất trong lịch sử…

Mục đích là để kể công lao của đảng, để cán bộ đảng có quyền cai trị VN muôn đời mà không ai có thể tranh dành quyền của họ. Họ phải nắm quyền cai trị ở Hà Nội, 63 tỉnh và thành phố, để 175 ủy viên trung ương đảng cs có quyền nắm hết mọi nguồn lợi kinh tế và tài chánh của cả nước. Họ độc quyền nắm hết 200 ngành nghề có lời nhất trong xã hội và chia chác cho phe nhóm của họ làm chủ quản lý và không cho bất cứ ai cạnh tranh, như: ngân hàng, khai thác dầu và khí đốt.

Nhưng điều dễ thấy nhất là đảng CSVN và cán bộ đảng viên cao cấp nắm hết quyền làm chủ và buôn bán đất đai.

Họ tịch thu đất đai của nông dân, tịch thu các đất đai có giá trị cao giá nhất trong các thành phố lớn để phe đảng và bạn bè của họ xây dựng cao ốc cho thuê, bán kiếm lời

() ( New – Công An dã man đánh phụ nữ trong vụ Văn Giang & 2 phóng viên VOV) ( Phỏng Vấn nhà báo VOV bị công an dã man hành hung trong vụ Văn Giang)

Họ cố tình không đề cập, hoặc đề cập qua loa các sự kiện lịch sử trọng đại sau đây:

Chính phủ đầu tiên của nước Việt Nam là do Thủ Tướng  Trần Trọng Kim thành lập vào ngày 17 tháng 4, năm 1945, tuyên bố nước Việt  Nam Độc Lập và thống nhất.

Nội các của chính phủ Trần Trọng Kim cũng đã được thành lập và ra mắt quốc dân vào ngày 19-4-1945 và có tên của 16 người. Lời tuyên bố Việt Nam độc lập cũng được đưa ra trong tháng 4/1945

Nói tóm lại là các sự kiện lịch sử nầy có trước ngày 23-8 và 2-9-1945 và đã làm cho ĐCSVN tức giận vô cùng. Họ thích mọi cái mà họ làm là NHẤT, là lần đầu tiên trong lịch sử…Và nếu người dân VN biết được các sự kiện lịch sử về TT Trần Trọng Kim, thì chẳng khác gì các đảng phái quốc gia đã lập công đầu! Việc nầy đã làm cho ông HCM và các nhân vật của đảng CSVN tức giận điên lên, tìm cách dìm hàng, che dấu sự thật bằng cách tịch thu hết sách vở, và đốt sách vào 1946-1954, gọi là “Tiêu thổ Kháng chiến” (đốt hết chùa chiền, đình miếu, sách vở, gia phả họ hàng…). Để rồi kể từ đó, ai ai ở miền Bắc cũng chỉ biết: ngày 2-9-1945 là ngày tuyên ngôn độc lập, là ngày có chính phủ đầu tiên của nước VNDCCH ra đời!

Thêm 1 biến cố lịch sử nữa mà người miền Bắc thường không biết đó là hiệp định Geneve 20-7-1954. Hiệp định chia đôi đất nước chỉ có 3 phe thỏa thuận. Pháp, Trung Quốc và miền Bắc Việt Nam nước VNDCCH đã ký. (Nên nhớ 1 điều là Pháp không đại diện cho miền nam VN.)

Miền Nam VN hay chính phủ VNCH do Thủ tướng Ngô Đình Diệm đại diện đã không ký vào hiệp định 20-7-1954. Họ phản đối hiệp định chia đôi đất nước, nhưng không thể làm gì được vì lúc đó sức lực còn quá yếu, chính phủ của  TT Diệm mới được thành lập chỉ một thời gian quá ngắn.

Sự kiện lịch sử là những gì đã xảy ra vào thời điểm ấy và không thể nói khác đi được. Các suy đoán, phiên dịch chung quanh vấn đề nầy chỉ là do tuyên truyền của đảng CSVN ở ngoài miền Bắc.

Đốt sách, viết lại lịch sử, và tìm cách tuyên truyền cho người dân hiểu sai sự thật là những gì mà nhà cầm quyền hiện nay đã và đang làm. Blogger Tô Hải, 85 tuổi, là người biết hết các sự kiện nầy. Những bài viết phanh phui sự thật của bác Tô Hải đăng trên nhiều blog và đã bị các tin-tặc phá hoại xóa sạch rất nhiều lần.

Những ai từng lên mạng đều có thể biết các sự kiện lịch sử nầy bằng cách vào google.com và viết vài chữ như chính phủ Trần Trọng  Kim, hay hiệp định Geneve 1954 đều có thể đọc các bài viết liên quan tới đề tài nầy.

1954 – Trích Hồi Ký Của Một Người Hà Nội (ông Nguyễn Văn Luận, bút hiệu tựdo):

“Chơi vơi trong Hà Nội, tôi đi tìm thầy xưa, bạn cũ, hầu hết đã đi Nam. Tôi phải học năm cuối cùng, Tú tài 2, cùng một số ‘lớp Chín hậu phương’, năm sau sẽ sáp nhập thành ‘hệ mười năm’.

Số học sinh ‘lớp Chín’ này vào lớp không phải để học, mà là ‘tổ chức Hiệu đoàn’, nhận ‘chỉ thị của Thành đoàn’ rồi ‘phát động phong trào chống văn hóa nô dịch!’. Họ truy lùng… đốt sách! Tôi đã phải nhồi nhét đầy ba bao tải, Hiệu đoàn ‘kiểm tra’, lục lọi, từ quyển vở chép thơ, nhạc, đến tiểu thuyết và sách quý, mang ‘tập trung’ tại Thư viện phố Tràng Thi, để đốt.

Lửa cháy bập bùng mấy ngày, trong niềm ‘phấn khởi’, lời hô khẩu hiệu ‘quyết tâm’, và ‘phát biểu của bí thư Thành đoàn’: Tiểu thuyết của Tự Lực Văn Đoàn là… ‘cực kỳ phản động!’. Vào lớp học với những ‘phê bình, kiểm thảo… cảnh giác, lập trường’,

“Tiêu diệt văn hóa đồi trụy Mỹ-Ngụy” là một phiên bản của quân Minh trong những ngày đầu đô hộ nước ta thời 1414, lại có phần tinh vi/hiện đại hơn.

1975 – Công tác “bình định” đầu tiên ở miền Nam vừa mới bị cưỡng chiếm là niêm phong, tịch thu sách vở của các thư viện, các nhà in, các nhà xuất bản và các nhà sách lớn (Khai Trí/Sống Mới/Độc Lập/Đồng Nai/Nam Cường/Trí Đăng…) để chuyển về Bắc. Còn khối nhân dân vừa mới được “giải phóng” thì được lệnh từ phường xã quận huyện thành phố: tập trung hết sách vở các loại, từ tiểu thuyết, biên khảo đến sách giáo khoa… để đốt sạch.

Thêm vào chuyện đốt sách, các tên đường ở Sài  Gòn và 18 tỉnh ở miền Nam cũng đã bị thay đổi tên để quét sạch dấu tích còn sót lại. Lịch sử Việt Nam do…đảng viết. Nước VN được khai sinh…năm 1945. Ông HCM và đảng CSVN khai sinh ra nước Việt Nam. Ông HCM trở thành “cha già của dân tộc”!

Chúng ta hãy xem học sinh lớp 6 năm 2014 đã viết luận văn  đề tài: Con hãy tả hình ảnh vị lãnh tụ kính yêu cuả dân tộc Việt Nam là Bác Hồ Chí Minh. ” … con rất yêu quý Bác, vì Bác Hồ là người sinh ra dân tộc Việt Nam mình”.  Khi mới vừa tập nói, đi học mẫu giáo, em bé VN đã được dạy là phải nghĩ về Bác Hồ ngay cả trong cơn mơ: “Đêm qua em mơ gặp Bác Hồ…”. Cấp tiểu học phải vào đội thiếu nhi tiền phong, phải học về “Bác”…

Trước 1975, đường phố ở miền Nam đã từng được đặt theo tên của các nhân vật lịch sử, các danh nhân văn hóa có công với đất nước kể từ thời vua Hùng  Vương, Đinh, Lê, Lý, Trần, Nguyễn và các nhà lãnh đạo các cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Tàu. 

Sau năm 1975, để làm cho thanh niên quên hết tên các nhân vật lịch sử, quên hết các danh nhân văn hóa, quên các hiền nhân có liên hệ tới lịch sử VN, đảng ra lệnh đổi tên các đường phố và dân chúng từ đây chỉ biết tên của các cán bộ đảng CSVN.  Dân chúng dần dần quyên tên các vị anh hùng trong lịch sử. Đảng chuẩn bị bán nước VN cho Tàu nên cần phải phá bỏ nền văn hóa VN, phá bỏ lăng miếu, đánh phá các tôn giáo.

Quốc hội của các đảng viên làm luật, thủ tướng ký nghị định thông qua luật pháp, ban quyền cho các chủ tịch UBND tỉnh và các Bí thư tỉnh ủy có quyền cho tư nhân và tổ chức nước ngoài thuê đất 50 năm, 70 năm, 99 năm, 120 năm, 210 năm. Các sự kiện này là có thật và báo chí VN đăng rất công khai qua các bài báo sau đây:

Theo Bí thư Thành ủy Quảng Ninh Phạm Minh Chính, các doanh nghiệp đầu tư trong lĩnh vực dịch vụ có thể thuê quyền sử dụng đất tới 120 năm khi trả tiền một lần.”

Dự án cho các nước ngoài thuê đất từ 50-210 năm của Bộ Chính Trị 

Quảng Nam cho 1 công ty Trung Quốc thuê đất trong thời gian 50  năm, giá thuê 1 mét vuông là 2 đồng 75 xu/ 1 năm

 

Mục đích của việc cấm xuất bản sách, đốt sách, thay đổi tên đường phố…là làm cho thanh niên VN quên hết cội nguồn để dễ bề cai trị và cũng là sự lập lại cách làm mà quân nhà Minh (hay nói rõ hơn là Trung Quốc) đã thực hiện ở VN cách đây gần 600 năm. Cũng đúng thôi vì từ xưa đến nay, đảng nầy đã và đang có các nhà lãnh đạo (nói đúng hơn là các thái thú) lấy tư tưởng, chính sách, đường lối cai trị xuất phát từ Trung Quốc để áp dụng vào VN.

(Mới đây, ai nhập cảnh vào VN đều chỉ được mang theo 7000 đô là xuất phát từ đây cho giống với mẫu quốc.)

Sách của ông Bộ Trưởng bộ Ngoại Giao Nhất Linh Nguyễn Tường Tam (Tự Lực Văn Đoàn) sáng tác xuất bản cũng bị đốt.

Mời các bạn đọc click nhấp chuột vào link duới đây để đọc một bài rất dài của blogger Đinh Tấn Lực.

Vinh Danh Nguồn Sáng

Theo blog Đinh Tấn Lực

Posted in Đảng CSVN | 3 Comments »

Mới kỷ niệm chiến thắng 30-4 tuần trước, rồi chiến thắng Điện Biên Phủ hôm 7-5, thì hôm nay có tin dân ĐÓI

Posted by hoangtran204 trên 10/05/2011

Thanh Hoá: thiếu đói từ miền xuôi lên miền ngược

71.395 hộ (136.574 nhân khẩu) đang thiếu đói lương thực thời kỳ giáp hạt…

SGTT.VN – Đã lâu lắm rồi bà con nông dân nghèo ở các huyện từ miền biển, trung du đến các huyện vùng cao, biên giới của tỉnh Thanh Hoá mới phải đối mặt với cái đói trên diện rộng như năm nay. Hàng chục ngàn hộ dân nơi đây đang thiếu đói lương thực.

Chạy ăn từng bữa

Thiếu gạo trầm trọng, nhiều hộ dân ở thôn Đông Tân, xã Đa Lộc, huyện Hậu Lộc, Thanh Hoá phải đào khoai ăn độn hàng ngày. Ảnh: An Bình

Chúng tôi về xã ven biển Đa Lộc – điểm nóng trong mùa đói giáp hạt của huyện Hậu Lộc vào những ngày này. Cánh đồng lúa chiêm xuân thời điểm này lẽ ra đang vào thời kỳ làm đòng, nhưng giờ chỉ còn lơ thơ vài gốc rạ. Đồng lúa cằn cỗi bởi vùng đất này nhiễm mặn nặng. Trên nhiều thửa ruộng, đến cỏ cũng không mọc được.

Ông Vũ Văn Đỉnh, phó chủ tịch UBND xã Đa Lộc cho biết: vụ chiêm xuân năm 2011, toàn xã gieo cấy được 250ha lúa, nhưng đến thời điểm này đã chết và mất trắng 150ha. Đất nhiễm mặn nặng một phần lớn, còn thêm đợt gieo cấy tết Tân Mão gặp rét đậm, rét hại.

Từ năm 2008 đến nay, năm nào Đa Lộc cũng bị mất trắng gần một nửa diện tích lúa nước và cây màu các loại do đất nông nghiệp bị nhiễm mặn nặng. Độ mặn trên diện tích đất nông nghiệp của xã nhiều nơi đã lên tới 5‰. Do bị mất mùa nhiều năm qua, nên hiện nay Đa Lộc có tới 1.500 hộ/2.300 hộ dân đang bị thiếu đói lương thực gay gắt, cần sự cứu trợ của Nhà nước.

Đến thôn Đông Tân, xã Đa Lộc, chúng tôi bắt gặp nhiều gia đình đang phải đào khoai lang non để ăn độn vì thiếu gạo. Gia đình ông Vũ Văn Bản, 64 tuổi cũng hết gạo ăn nhiều tháng nay, do gieo cấy một sào lúa nhưng bị mất mùa hoài. Hàng ngày, ông Bản và vợ phải lăn lộn ở ven biển đi bắt con cáy bán lấy tiền đong gạo. Đã lâu lắm rồi vợ chồng ông Bản không biết đến ăn bữa sáng. Chật vật kiếm tiền cả ngày chỉ đủ mua vài ống gạo. Hai bữa chính, mỗi bữa ông bà chỉ ăn cơm độn khoai lang với canh rau và mắm cáy. Nhiều hôm, hai ông bà phải bấm bụng đi ký nợ gạo ở các đại lý. Có lúc ký nợ nhiều, các chủ đại lý gạo e ngại, vợ chồng ông Bản đành nhịn đói.

Gia đình bà Vũ Thị Thuận (54 tuổi) cũng ở thôn Đông Tân còn cám cảnh hơn. Ba năm mất mùa triền miên vì hai sào ruộng cấy lúa không có thu hoạch. Không may, năm ngoái chồng bà là ông Nguyễn Văn Minh lại bị tai biến mạch máu não, liệt nửa người, hiện không còn khả năng lao động. Ba đứa con của bà Thuận phải bỏ học giữa chừng, ra Hà Nội làm thuê kiếm tiền thuốc thang cho bố và mua gạo ăn hàng ngày cho gia đình. “Cả năm nay gia đình tôi phải chạy gạo ăn từng bữa”, bà Thuận nói. Cảnh đong gạo ăn từng bữa, bấp bênh đang là nỗi lo thường trực của bà con nông dân ở xã nghèo ven biển Đa Lộc.

Tại các huyện vùng biển khác như Nga Sơn, Hậu Lộc, Quảng Xương, Tĩnh Gia, các loại cây trồng như lúa, bắp, đậu các loại đều bị chết, hoặc giảm năng suất cũng do đất bị nhiễm mặn nặng. Bên cạnh đó, do giá xăng dầu và vật tư đầu vào tăng cao, nhiều tàu thuyền đánh bắt hải sản nằm bờ, nên bà con ngư dân thiếu gạo ăn là điều khó tránh khỏi.

Còn tại huyện vùng cao Mường Lát – địa phương trọng điểm của thiếu đói lương thực ở Thanh Hoá, ông Lương Văn Bường, chủ tịch UBND huyện cho biết: “Trên địa bàn hiện có tới 1.878 hộ (9.049 nhân khẩu, chiếm gần 1/3 số người của huyện) đang thiếu đói gay gắt. Nguyên nhân chính là đồng bào ở đây thiếu đất sản xuất lúa nước, đất nương rẫy để có thể tự túc lương thực. Toàn huyện hiện chỉ có 560ha đất nông nghiệp cấy được lúa nước, trên tổng số hơn 30.000 nhân khẩu ở nông thôn.

Còn diện tích nương rẫy gieo trồng bắp, lúa nương trong năm 2010 lại bị hạn hán kéo dài, mất mùa trên diện rộng. Chúng tôi đến xã Mường Lý (huyện Mường Lát) – xã nghèo nhất tỉnh Thanh Hoá với tỷ lệ hộ đói nghèo còn trên 80% khi mùa đói giáp hạt đang ở diện rộng. Bữa cơm trưa của gần 300 em học sinh địa phương trọ học ngay cạnh trường THCS Mường Lý chỉ có cơm gạo xấu ăn với măng rừng, chan nước trắng. Thầy Trần Văn Hào – hiệu trưởng trường THCS Mường Lý cho biết: “Các em học sinh trọ học cạnh trường chủ yếu thuộc diện hộ nghèo, nhiều em thiếu gạo ăn…”

Xin cứu trợ

Nhiều thửa ruộng ở xã Đa Lộc, huyện Hậu Lộc, Thanh Hoá bị nhiễm mặn, lúa chiêm xuân chết hết.
bài và ảnh: An Bình

Trao đổi với chúng tôi, ông Trịnh Văn Chiến, phó bí thư Tỉnh uỷ, chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hoá cho hay, đối với huyện Mường Lát, UBND tỉnh đã giao cho sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn thành lập đội công tác đặc biệt để giúp Mường Lát phát triển kinh tế – xã hội.

Đội công tác này sẽ triển khai ngay việc giúp Mường Lát tập trung khai hoang để mở rộng diện tích đất cấy lúa nước, trồng bắp, lúa nương; lựa chọn các loại cây màu phù hợp, con giống phù hợp hỗ trợ cho đồng bào các dân tộc thiểu số trong huyện phát triển kinh tế, từng bước đảm bảo an ninh lương thực và ổn định đời sống.

Đối với các huyện ven biển có diện tích đất nông nghiệp bị nhiễm mặn nặng, ảnh hưởng lớn đến cây trồng, UBND tỉnh đã và đang tích cực đầu tư xây dựng hệ thống thuỷ lợi, với tổng số vốn đầu tư lên đến hàng trăm tỉ đồng, nhằm dẫn nước ngọt về thau chua, rửa mặn để trong những vụ tới bà con nông dân các huyện Nga Sơn, Hậu Lộc có thể gieo cấy lúa, trồng các loại cây màu trên diện tích đất nông nghiệp lâu nay bị nhiễm mặn. Hiện nay, nhiều hệ thống thuỷ lợi ở huyện Nga Sơn, Hậu Lộc đã hoàn thành.

Ngày 5.5, phó chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hoá Vương Văn Việt đã ký công văn số 2592/UBND-DTMN gửi Thủ tướng Chính phủ xin hỗ trợ gạo cứu trợ nhân dân Thanh Hoá trong thời kỳ giáp hạt năm 2011. Đợt này, tỉnh Thanh Hoá xin Trung ương hơn 2.048 tấn gạo để cứu trợ cho 71.395 hộ (136.574 nhân khẩu) đang thiếu đói lương thực thời kỳ giáp hạt. Bên cạnh đó, UBND tỉnh cũng đã chỉ đạo các địa phương trích ngân sách mua gạo cứu đói cho nhân dân.

“Sở Lao động – thương binh và xã hội tỉnh Thanh Hoá cho biết, hiện nay tại 21/27 huyện, thị xã, thành phố của tỉnh có tới 93.283 hộ (241.558 nhân khẩu) đang thiếu đói lương thực, gồm huyện: Bá Thước 14.072 nhân khẩu, Cẩm Thuỷ 12.671 nhân khẩu, Mường Lát 9.049 nhân khẩu, Quan Sơn 8.200 nhân khẩu, Quảng Xương 21.940 nhân khẩu, Thạch Thành 19.906 nhân khẩu, Ngọc Lặc 16.667 nhân khẩu, Nga Sơn 16.284 nhân khẩu, Tĩnh Gia 15.915 nhân khẩu…”

——–

Posted in Nong Dan Viet Nam | Leave a Comment »

Những công nhân trẻ tuổi và tràn đầy can đảm…

Posted by hoangtran204 trên 09/05/2011

Nội dung của lá thư nầy cho thấy là đã được gởi cách đây 6 năm. Thật là những công nhân trẻ tuổi và tràn đầy can đảm. Họ viết như sau:

_Trả lương cho chúng tôi theo đúng hợp đồng của nhà nước Việt Nam với các nhà đầu tư, thương gia nước ngoài có công ty xí nghiệp tại Việt Nam theo mức giá đồng USD thị trường.

_Mức lương phải ngang bằng các công nhân các nước trong khu vực như Singapore, Thái Lan, Hàn Quốc, Indonesia …

_Dẹp bỏ Công đoàn do đảng (CS) xây dựng đưa vào các công ty xí nghiệp.


Nguyên văn lá thư nầy như sau:

Kính Gửi: Tổng Bí Thư Nông Đức Mạnh Đảng CSVN
Bộ Chính Trị Trung Ương (TW) Đảng CSVN

Bộ Lao Động Thương Binh và Xã Hội do Đảng CSVN cầm quyền.

Chúng tôi có tên dưới đây:

Huỳnh Ngọc Cảnh, đại diện một số anh chị em công nhân khu công nghiệp AMATA Đồng Nai.
Nguyễn Tấn Hoành, đại diện một số anh chị em Khu Công nghiệp Điện Bàn Quảng Nam.
Nguyễn Tấn Dung, đại diện một số anh chị em công nhân khu công nghiệp Biên Hoà II
Dương Thái Phong, Huỳnh Tiến, Trương Long, Vũ Hà, Trần Tá, Võ Hải, Nguyễn thị Tuyết, thuộc khu công nghiệp Tân Bình và khu chế xuất Vĩnh Lộc.
Hoàng Anh Tuấn, Công Ty Giày da Gia Định, quốc lộ 13 Thủ Đức, Tp. Saigon

Thưa quý Ngài lãnh đạo Bộ Chính Trị TW Đảng CSVN

Ngày trước miền Nam 1975, gia đình chúng tôi chưa được cách mạng giải phóng. Cha mẹ chúng tôi có nhà, có đất làm ăn khấm khá chưa biết làm thuê làm mướn là gì. Trong thời đó những nhà thương gia Ấn Độ, kỹ sư người Nhật, Hàn Quốc vào miền Nam làm thuê và mua bán. Họ hoàn toàn lệ thuộc vào người dân Việt Nam.

Sau năm 1975, miền Nam được cách mạng giải phóng khỏi ách nô lệ, Đảng hô hào nâng đỡ và đấu tranh cho hai giai cấp công nhân và nông dân. Chính lá cờ Đảng CSVN thể hiện biểu tượng búa, liềm.

Sự thật có phải như vậy không?

Thưa, sự thật rất phũ phàng! Sau khi chiếm được miền Nam là cải tạo công thương nghiệp, đánh tư sản mại bản thì gia đình chúng tôi bị mất nhà, mất đất. Trước kia chúng tôi có tiền dư thóc để, thì nay chúng tôi bị lấy nhà và bị đuổi đi vùng sâu nước độc để khai phá đất hoang làm ăn. Bị những cơn sốt rét vàng da, có những gia đình chết phân nửa, có những gia đình phải chết hết. Khi trở về thành phố thì nhà cao cửa rộng, ruộng vườn của mình đã bị cán bộ đảng viên tịch thu. Điều này chúng tôi có nói sai đâụ.  Những villa nhà lầu hiện nay là nhà của đảng viên, thì thử hỏi cha ông của mấy ông này mua nhà đất từ thời nào để lại cho mấy ông đảng viên này, nếu không phải cướp của chúng tôi thì từ đâu mà có. Cuộc đời chúng tôi còn sống thì vẫn còn bị cướp. Đời Cha tôi bị cướp, đời tôi cũng bị cướp. Những gia đình chúng tôi lên vùng kinh tế mới khai hoang được vài ba mẫu đất làm ăn, cuộc sống chưa ổn định thì trò cướp bóc lại theo đuổi theo người dân nghèo chúng tôi, kế đến là chiêu thức kêu gọi đầu tư rước ngoại bang vào, lại tiếp tục lấy đất của chúng tôị bằng nhiều chiêu thức gạt gẫm lừa bịp gian manh quỷ quyệt, trù dập vu khống chụp mũ.

Mọi thủ đoạn lấy cho bằng được đất của chúng tôi. Thế thì chúng tôi người nông dân mà không có ruộng cày, ruộng mình bị lấy trắng tay, lấy giữa ban ngày. Ông Bà ta có câu “cướp đêm là giặc, cướp ngày quan tham!”. Sự tính toán nham hiểm của Đảng, mà người dân chúng tôi sống không được mà chết cũng không xong. Chúng tôi có đất mà mất cả hai lần, thế thì muốn được sống phải đi làm thuê cho những ông chủ mà trước năm 1975, đất nước họ kinh tế thấp kém, họ phải tới Việt Nam làm mướn. Đó là sự lãnh đạo tài tình của Đảng ta đã đưa dân tộc làm nô lệ cho ngoại bang!??

Thưa quý vị,

Đất nước ta là đất nước cộng sản theo chủ thuyết Lênin chuyên chính vô sản, giải phóng cho hai tầng lớp nông dân và công nhân. Nhưng nay ta có đảng lãnh đạo suốt 30 năm mà người dân chúng tôi phải è cổ, cho bọn thương gia bóc lột là sao? Sự tính toán của đảng ta là đẩy tầng lớp nông dân và sức trẻ thanh niên làm tôi mọi. Bản thân chúng tôi bị vắt cạn kiệt sức lao động, mà nhà nước và đảng đã chủ mưu tính toán lấy sạch đất đai của dân, thì buộc chúng tôi phải làm nô lệ…

Nhưng chúng tôi không phải làm nô lệ cho một ông chủ, một bản thân, mà phải chia ra làm tôi mọi bị bóc lột từ nhiều phía, nhiều cơ quan. Như tôi, Nguyễn thị Tuyết, người con gái nhỏ bé 21 tuổi cũng như anh chị em khác, bị những khâu chia chác mồ hôi, sức lao động như sau: Tôi ở Kiên Giang đi cùng chúng tôi là bốn chị em khác lên tại Saigon xin vào công ty. Trước khi đi, địa phương đã thu của tôi bốn mươi lăm nghìn đồng (VN$45,000) tiền lao động công ích, tiền an ninh là hai mươi lăm nghìn (VN$25,000). Mức thuế thân này chúng tôi phải đóng trước khi rời khỏi địa phương, như mỗi năm tôi phải đóng hai lần, cộng cả thảy là một trăm năm mươi nghìn đồng, chưa tính tiền xe đi lại hầu hạ mấy ông cán bộ cấp Xã.

Vào xin được việc làm, phải mướn phòng trọ mỗi tháng hai trăm năm mươi ngàn đồng (VN$250,000) ; tiền điện, tiền nước là sáu mươi nghìn đồng (VN$60,000). Như vậy, tính ra tôi phải bắt buộc chi tiêu tối thiểu là bốn trăm sáu mươi nghìn đồng (150,000+250, 000+60,000= VN$460,000). Trong khi lương của tôi chỉ được một triệu, là mức lương đã làm được ba (3) tháng, tay nghề tương đối đã rành. Còn mới vào làm sáu (6) tháng đầu, lương chỉ có bảy, tám trăm ngàn, tính ra ăn uống và phương tiện đi lại thì không mua nỗi áo quần để mặc. Những lúc bệnh nhẹ cũng không có tiền mua vài liều thuốc. Mấy chị em cùng đi với tôi có người thì bỏ về cào tôm, lượm sò. Số còn lại họ không làm nổi vì công việc quá cực. Thức đêm tăng ca không tăng tiền, họ đành vào những quán café ôm, rồi sau đó họ sa vào lưới của xã hội tạo ra, bán rẻ trinh tiết cho những tay có tiền.

Ở Việt Nam hiện nay ai là những kẻ có lắm tiền? Chỉ có những kẻ quan chức cán bộ mới có nhiều tiền mà thôi. Chính họ dồn ép tuổi thanh xuân chúng tôi vào đường cùng để cướp của người này, đem mua những thứ khác, có phải vậy không Ngài Tổng Bí Thư. Chúng tôi phân tích không sai, mong ông hãy nghĩ tới người Việt Nam máu đỏ da vàng, không phân biệt Kinh hay Thượng. Cha ông đã nói nước Việt Nam là Một, dân tộc Việt Nam là Một. Vậy quý vị còn có chút lương tâm con người không?

Hiện nay chúng tôi vẫn bám víu vào công việc tại nhà máy bao bì cho ông chủ Đài Loan. Ở đây thật đau lòng, chúng tôi như người bị tù, vì công đoàn là bộ phận an ninh của Đảng và an ninh nội bộ luôn bám sát chúng tôị. Bộ phận công đoàn sẵn sàng lợi dụng những người nhẹ dạ không biết thương nhau trong đám công nhân, để phát triển thành đoàn viên, là cánh tay hậu bị của đảng làm công cụ cho công đoàn, sẵn sàng đàn áp chúng tôi bằng những tờ báo cáo mật hay chỉ trích một khi chúng tôi có sự đòi hỏi chính đáng. Chúng tôi là những công nhân có tên trên đây đại diện cho một số anh chị em công nhân trong nước có tiếng nói chung, yêu cầu và đề xuất những điều kiện sau đây với Bộ Chính Trị và TW Đảng CSVN như sau:

Trả lương cho chúng tôi theo đúng hợp đồng của nhà nước Việt Nam với các nhà đầu tư, thương gia nước ngoài có công ty xí nghiệp tại Việt Nam theo mức giá đồng USD thị trường.

Mức lương phải ngang bằng các công nhân các nước trong khu vực như Singapore, Thái Lan, Hàn Quốc, Indonesia …

Dẹp bỏ Công đoàn do đảng (CS) xây dựng đưa vào các công ty xí nghiệp. Không được phát triển đoàn, đảng trong hệ thống công nhân chúng tôi, để rồi quay lại đàn áp chúng tôi. Vì chúng tôi chỉ là những người đi làm mướn làm thuê bình thường, không muốn tham gia chính trị, chúng tôi không muốn hệ thống độc tài độc quyền đeo đẳng chúng tôi, vì chúng tôi đã quá khổ rồi.

Chúng tôi có quyền tự hợp đồng lao động cá nhân và tập thể khi đã dẹp bỏ hệ thống công đoàn, vì tổ chức công đoàn không đem lại quyền lợi thiết thực cho chính người công nhân chúng tôi, mà chính họ lại ăn theo phần trăm sản xuất của chúng tôi, và mỗi khi chúng tôi muốn đòi hỏi quyền lợi chính đáng phải được sự đồng ý của công đoàn là phi lý. Chúng tôi không phải đóng góp những khoản tiền như xoá đói giảm nghèo và các loại tiền do Công đoàn phát động và trừ thẳng vào lương của chúng tôi như trước đây đã có.

Chúng tôi phải được quyền lợi như: bảo hiểm y tế, tiền lương hưu sau khi hết độ tuổi lao động, bảo hiểm tai nạn lao động rủi ro …

Chúng tôi có quyền hội họp riêng tư, có quyền lập hội, gây quỹ, có quyền đấu tranh, có quyền đình công đòi hỏi các quyền lợi chính đáng, phù hợp mức lương, tương xứng với công sức lao động.

Những đòi hỏi ước vọng này nếu được thực hiện cũng không gây ảnh hưởng kinh tế thị trường và nền an ninh, như nhà nước và bộ phận công an thường cho là thế lực thù địch gây ảnh hưởng kinh tế quốc gia. Nếu nhà nước không thực hiện 8 điểm yêu cầu trên, chúng tôi sẽ chọn một điểm phát động đấu tranh giành quyền làm chủ các nhà máy, xí nghiệp công ty của những tay tư bản ngoại quốc, như trước đây chủ nghĩa CS đã làm. Và chúng tôi làm đúng chính sách chủ trương của đảng cộng sản Việt Nam, là nơi nào có bóc lột, áp bức, nơi đó phải vùng lên đồng loạt giành quyền làm chủ; đánh đổ các tập đoàn tư bản, giành quyền làm chủ cho dân nghèo. Vậy chúng tôi mong bộ Chính Trị TW Đảng, Bộ Công An xem xét cho người công nhân chúng tôi được những quyền lợi mà đảng đã từng hô hào là chống bóc lột, chống tư bản, chống nghèo đói, mà nay đảng và nhà nước đang làm ngược lại. Chúng tôi đã có tên và địa chỉ, mong quý Ngài quan tâm. Yêu cầu các giới truyền thông hải ngoại, các cơ quan quốc tế đấu tranh cho quyền lợi dân nghèo bị đàn áp bóc lột, trong đó có tầng lớp công nhân Việt Nam chúng tôi đang bị bóc lột tận xương tuỷ.

Kính mong CLB Hoa-Mai, Đài Hoa-Mai truyền thanh trực tiếp về Việt Nam.

Trân trọng kính chào.

Ngày này 9 tháng Năm, 1957 (54 năm trước)

The magnitude of the ceremonial welcome accorded to Diem was unseen since the visit in 1954 by Queen Elizabeth II.[19] According to Peter Edwards, a military historian at the Australian War Memorial specialising in the Vietnam War,[1] “Everywhere he was feted as a man of courage, faith and vision”,[1] and he noted that Diem was received with “more ceremony and pageantry” than the visit of Queen Elizabeth II in 1954.[1]

Mức trang trọng của các nghi lễ đón tiếp ông Diệm đã chưa từng được nhìn thấy kể từ khi có chuyến viếng thăm vào năm 1954 của Nữ hoàng Elizabeth II [19] Theo Peter Edwards, một nhà sử học quân sự tại Australian War Memorial chuyên về chiến tranh Việt Nam,. [1] “Ở khắp mọi nơi ông được vinh danh như là một người can đảm, có niềm tin, và viễn kiến “, [1] và ông cho biết là ông Ngô đình Diệm đã được nghênh đón với “nhiều lễ nghi và hoành tráng” hơn so với chuyến thăm của Nữ hoàng Elizabeth II năm 1954.
Eisenhower said “President Ngo Dinh Diem stands for the highest qualities of heroism and statesmanship … The president of Vietnam, by his inspiring leadership, is opening up vast new areas for the peaceful progress of mankind.”[34] In a nationally-televised speech, Secretary of State Dulles said “I am very much impressed by Prime Minister Diem. He is a true patriot and dedicated to independence,”[35] referring to his defeat of the Binh Xuyen in the 1955 Battle for Saigon. The Assistant Secretary of State for Far Eastern Affairs Walter Robertson said “Asia has given us in President Diem another great figure, and the entire Free World has become the richer for his example of determination and moral fortitude.”[35]

TT Eisenhower nói ” Tổng Thống Ngô đình Diệm là biểu tượng cho các đặc tính cao quí nhất về nét anh hùng và tài trí kinh bang… Vị tổng thống của dân tộc Việt Nam, bằng tài lãnh đạo gây cảm hứng, đã đang mở ra những cánh đồng tiến bộ mới cách hoà bình cho nhân loại.”[34] Trong một bài phát biểu được truyền hình toàn quốc, Bộ trưởng Ngoại giao Dulles nói ” Tôi rất thán phục Thủ tướng Ngô đình Diệm. Ông là ngưòi yêu nước chân chính và tận lực cho nền độc lập (cho Việt Nam) khi đề cập đến việc dẹp tan nhóm Bình Xuyên trong trận đánh tại Sài Gòn trong năm 1955. Thứ trưởng Ngoại giao đặc trách sự vụ vùng Viễn Đông nói ” Á Châu đã cho thế giới một vị vĩ nhân nữa nơi Tổng thống Ngô đình Diệm, và toàn thể Thế Giới Tự Do trở nên giàu có hơn từ mẫu mực về tính quả quyết và đức hạnh của ông.”[35]. (Tâm Việt dịch)
NGÔ ĐÌNH DIỆM [www.youtube.com]

South Vietnam’s Diem addresses Congress, May 9, 1957. Andrew Glass, 9 May 2011

Posted in Cong Nhan Viet Nam | 2 Comments »

►Sau ngày 30-4-1975 những chuyện gì xảy ra ở miền Nam?

Posted by hoangtran204 trên 07/05/2011

Đối với lịch sử, 36 năm là khoảng thời gian rất ngắn, nhưng khi hỏi các bạn miền Nam ở lứa tuổi 24-36 đã học xong đại học ở VN rằng: chuyện gì đã xảy ra tại miền Nam sau ngày 30-4-1975?

Đa số bọn họ đều không biết, hay không thể kể rõ được các nét chính của sự biến đổi sau năm 1975 ở miền Nam. Nhưng nghĩ lại, thì không ai có thể trách móc lứa tuổi 24-36 gì hết. Vì sách, báo và sử cận đại đều do những người miền Bắc nắm trong tay, họ đã cố tình viết lại lịch sử có lợi cho họ, bất chấp sự thật như thế nào trong 36 năm qua.

Phải dùng chữ cai trị vì người miền Nam không được quyền có ý kiến, không được quyền bất đồng ý bất cứ chính sách nào mà đảng cộng sản hay người miền  Bắc đưa ra. Bất cứ ai phản đối, thì buổi tối sẽ có công an đến tận nhà, bắt đi, bỏ tù 3-10 năm, hoặc không bao giờ trở lại.

Trở lại chuyện gì đã xảy ra ở miền  Nam sau ngày 30-4-1975.  Bài báo dưới đây tóm gọn được những nét chính để biết thêm 1 giai đoạn lịch sử, hiểu được chính quyền hiện tại, và sẽ hoạch định cho mình một hướng đi cho tương lai.

Chuyện Sau Này Mới Kể

Đinh Tấn Lực

Ngày 1/5/2011, tức đã qua ngày hôm sau của lễ Quốc Tế Lao Động ở đây, TT Hoa Kỳ Barack Obama ngắn gọn thông báo trên truyền hình Mỹ là tay trùm khủng bố Osama bin Laden đã vĩnh viễn …nghỉ chơi. Các hãng thông tấn quốc tế bình luận tới tấp, vạch trần cả sự tốn kém bao nhiêu tỷ đô la và bao nhiêu nghìn sinh mệnh cho 2 cuộc chiến ở A Phú Hãn và Iraq.

Rõ là bọn Mỹ này chống khủng bố cực đoan quá mạng!

Non 10 năm trước đó… Nhân cơ hội Việt Nam và Cuba quên đổi gác canh chừng nền hòa bình thế giới, ngày 11/9/2001, hai tòa cao ốc thương mại ở New York đã bị chảy thép và tan thành đống gạch vụn, dưới sức nung của 2 quả bom xăng to đùng, khi mấy chiếc máy bay phản lực chở khách đâm sầm vào tựa hồ đám quân cảm tử ôm bom tự sát lao đầu vào mục tiêu. Sau khi ngắm cảnh tượng kinh hoàng lịch sử đó qua truyền hình, vào ngày 7/10/2011, ngài Bin Ladin chủ xị đã ôn tồn phán rằng: “Ở bên Mỹ, đầy tràn sự sợ hãi, khắp từ Bắc xuống Nam, khắp từ Tây qua Đông. Cảm ơn Thượng đế về điều đó”.

Thiệt tình! Đám quân cảm tử có lỡ leo lên máy bay đâm đầu đốt cháy cao ốc của bọn đế quốc Mỹ là bởi vì nó không còn chọn lựa nào khác cho anh hùng và “ngoạn mục” hơn, chứ nào phải vì bởi chúng cực đoan?

Ngược lại, chỉ dăm chiếc phi cơ hàng không dân dụng, cộng với hai tòa nhà tháp tài chánh, cùng một góc nhỏ của Lầu năm góc và chưa tới 4000 thường dân ngừng thở… thì có đáng gì so với một quốc gia giàu mạnh đứng đầu thế giới, mà cả nước Mỹ lại phản ứng hận thù/cực đoan đến mức tốn người tốn của làm vậy trong suốt 2 cuộc chiến dai dẳng, kể từ trận Tora Bora mở màn bằng loại bom nhiệt tới nay? Thậm chí, còn nhân đôi giải thưởng bắt sống Osama bin Laden lên mức 50 triệu USD (tức là tương đương với 50 giải Nobel Hòa Bình gộp lại)?

Lạ một điều là bọn truyền thông khắp nơi của bọn tây chỉ cắm đầu vô bàn chuyện công đạo, chẳng thấy ai bên đó nêu bật câu hỏi đậm tính triết lý của bậc trí giả đông phương rằng: Cực đoan (như bọn Mỹ) đến thế là lợi hay hại, lợi hay hại chứ???

Nghĩa là, vin theo nền tảng lý luận đạo đức kách mệnh chủ đạo cực kỳ ôn hòa của bộ chính trị nhà ta, thì cho dù cái thảm họa của nhân loại có ghê gớm đến mấy, cũng chẳng nên đột ngột chấm dứt nó bằng cái phương thức …cực đoan như thế!

Hầy, đại bộ phận người Việt hải ngoại (NVHN) mắc chứng cực đoan mãn tính, chính là bởi bị lây bệnh từ đấy chăng?

Lắm kẻ suy già đoán non là …ắt phải thế. Chứ không thì bộ chính trị/dàn tuyên huấn/hệ báo đài nhà ta ở đây đã chẳng phải tốn ròng 36 năm chỉ làm mỗi việc phân tích/tổng hợp/đúc kết mức độ cực đoan của (“bọn đĩ điếm lưu manh tự cải giống thành bò sữa!”) NVHN.

Không riêng gì hệ 4T chính quy, thỉnh thoảng, chen lẫn với tính hào hùng đến kinh hồn bạt vía của các câu “chuyện bây giờ mới kể”, như vụ ám sát vị giáo sư sắp sửa nhậm chức thủ tướng Nguyễn Văn Bông hồi trước 1975, chẳng hạn… là đây đó một vài bài phê bình thật sát (và thật tinh vi) về tính cực đoan ngoan cố nói trên.

Như một thứ toa thuốc Cực Đoan Trị Liệu Pháp của những người bạn đồng điệu “tương lân/tương cầu” tặng nhau.

Vâng.

Nếu không đồng điệu thì đã chẳng ai phí sức khuyên “phe ta” đừng “giận quá mất khôn” mà tần ngần đứng đó sau 36 năm cực đoan ôm lấy “con số không tròn trĩnh”.

Nếu chẳng tương lân/tương cầu thì đã chẳng ai toi công phân tích khuyết điểm của “phe ta” ở hải ngoại là “những kẻ ít học” và “do hiểu biết về chính trị chưa đủ”, trong lúc thành tích của “bọn nó” chỉ cần 15 năm là cướp xong chính quyền, thêm 20 năm nữa là đạp nát đường mòn dọc biên để đốt cháy Trường Sơn mà dứt điểm quân đội miền Nam, và đã liên tục hoàn thành biết bao “kỳ tích phi thường” đến trời long đất lở trên toàn quốc suốt 36 năm sau đó!

Chứ không à?

Chỉ cần vài tuần sau khi quân đội miền Nam thi hành lệnh buông súng của lãnh đạo chế độ cũ, (vào ngày 13-6-1975) hầu hết sĩ quan (VNCH được gọi là) “ngụy” đã tự đốn tre/nứa xây dựng cho họ những trại tù lao cải.

Chỉ cần vài tháng sau khi chính quyền miền Nam sụp đổ, gia đình/cha mẹ/vợ con của lính tráng miền Nam đã có ngay cái đuôi “ngụy quân/ngụy quyền” rạch ròi trong lý lịch.

Chỉ trong vòng một năm sau mùa Xuân đại thắng, lãnh đạo ta đã úm ba la toàn bộ miền Nam cho bình đẳng với cái hệ thống tem phiếu thực phẩm của miền Bắc.

Chỉ cần đúng một năm sau khi “giải phóng” miền Nam, bộ chính trị ta đã giật nước cuốn trôi toàn bộ Mặt trận Giải phóng Miền Nam và Thành phần Thứ ba. (xem (1) và (2) cuối bài)

Chỉ cần vài năm sau chiến công lẫy lừng thế giới lưỡng cực, VN ta đã vang danh về cách phân loại nhân dân từng là chiến sĩ và mẹ chiến sĩ: thiếu đói, đói, và đói gay gắt.

Chỉ cần vài năm sau ngày hòa bình, VN ta đã thu vàng, bẻ cổ gần hết tượng Phật xứ Kamphuchea 1978-1990 và đẩy lùi hàng chục vạn quân bá quyền phương Bắc (1979).

Chỉ cần vài năm sau thống nhất, lãnh đạo ta đã bán bãi tiễn đưa hàng triệu nhân dân đẩy ghe ra biển để bỏ phiếu bằng mạng người mà chọn lấy tự do hay là chết. (thuyền nhân boat people)  1975-1991

Chẳng cần bao năm sau khi ủi sập cổng dinh Độc Lập, VN ta đã thay da đổi thịt với những nhà thơ làm kinh tế, còn các kinh tế gia trước đó thì làm thơ mà gắng thở.

Chẳng cần bao năm sau lệnh đầu hàng của chính quyền miền Nam, VN ta đã tháo cũi cho mọi người, ai ai cũng có thể làm chính sách, luật pháp, văn chương và giáo dục.

Chẳng cần bao năm sau chiến thắng, VN ta đã tiến vững chắc lên một nền ngoại thương ăn xin và một nền nội thương “ôm” toàn phương vị.

Chẳng cần bao năm sau ngày đại thành công, VN ta đã chạm ngưỡng phát triển ở mức “còn cái lai quần cũng …bán”, với cả một hệ gái gọi của riêng giới ăn mày.

Chẳng cần bao năm sau thắng lợi/thắng lợi/đại thắng lợi, mà VN ta có khả năng đong đếm các lãnh vực chưa xuống cấp dễ dàng hơn phần đã xuống cấp tận cùng.

Chẳng cần bao năm sau khi giai cấp tiên tiến nhất của công nhân nắm quyền, thì bất kỳ ai lên tiếng bảo vệ quyền lợi cho công nhân xứ ta đều bị vô tù.

Chẳng cần bao năm sau khi thống nhất đất nước, lãnh đạo ta đã thống nhất ngay tiến trình khấu bái dâng đất/biển/đảo cho thiên triều hảo hán ân nhân thời chiến.

Chẳng cần bao năm sau khi lãnh đạo hoàn tất sứ mệnh “giải phóng” nửa nước, thì nhân dân cả nước đều có cùng cái khả năng bị gãy cổ vì chạm phải dùi cui của công an.

Chẳng cần bao năm sau thời đoàn kết/đoàn kết/đại đoàn kết, VN ta đã nhanh chóng quá độ từ khẩu hiệu vì mọi người sang chủ nghĩa makeno.

Chẳng cần bao năm sau khi dứt điểm bọn tham nhũng cũ của miền Nam thì VN ta được xếp hạng đầu bảng thế giới, và bất kỳ ai tố cáo tham nhũng cũng đều xộ khám.

Chẳng cần bao năm sau khi tóm gọn quyền bính, lãnh đạo ta cũng tiện tay tóm gọn tài nguyên cả nước, và toàn quyền/tùy tiện chia chác nhau tới hàng chục ngàn tỷ đồng.

Chẳng phải đấy là những kỳ tích phi thường đó ru?

Mình đồng da sắt gì mà NVHN dám lên tiếng đua đòi?

Dân miền Nam, đặc biệt là đám trôi dạt ra hải ngoại, thiệt là tầm bậy quá!

Kẻ thắng có toàn quyền tàn bạo. Biển một chiều đã giăng khắp mọi nẻo đường.

Người thua thì nào có quyền gì, sao còn mở miệng đòi thay cũ đổi mới, để bị nhét vào đó hai từ cực đoan?

Rõ lắm rồi! Chế độ này sẽ tiếp tục phát huy và chào mừng những kỳ tích phi thường như kể trên hoặc hơn thế nữa, ngày nào người trong nước còn giữ cái chủ nghĩa makeno, và cái nhãn mác “cực đoan” còn dính trên lưng của NVHN.

Suy rộng ra, công tác kín đáo trà trộn vào hàng ngũ “địch” để nhân danh “vì một ngày mai hẹn hò với dân chủ” mà tiếp tục dán nhãn cực đoan vào mặt nó, chính là những nỗ lực đã được bộ chính trị nhà ta xếp vào hạng mục “chuyện sau này mới kể”.

Kỳ tích phi thường kế tiếp là cái lằn ranh gữa nhân dân trong/ngoài nước còn cao hơn tường thành, chắc hơn tường đá, nóng hơn tường lửa và kín hơn tường trình.

Không lý nào BBT blog RFA không rõ là bộ chính trị ta đã từng điều một Phạm Xuân Ẩn nhiều năm tiêu lòn trong lòng địch khi xưa?

Nguồn: Blog Đinh Tấn Lực

copy từ đây

Phụ lục của Trần Hoàng

22-9-1975, chính quyền của Hà Nội cho đổi tiền lần thứ nhất. 1 đồng giải phóng= 500 đồng tiền VNCH. Mỗi gia đình chỉ được đổi và lãnh tối đa  200 đồng giải phóng. Nếu ai đem 5 triệu hay 10 triệu tiền VNCH đến đổi, cũng chỉ được lãnh 200 đồng. Số tiền còn dư coi như mất trắng. Nếu ai chỉ có 100 000 đồng VNCH thì được đổi 200 đồng giải phỏng. Ai có 50 000 đồng  VNCH, thì được đổi thành 100 đồng giải phóng.Với cách đổi tiền nầy, người giàu có ở miền Nam và những gia đình biết tiết kiệm đã bị mất trắng hết tiền bạc dành dụm được.

Ngày 13 đến ngày 16-6-1975, tất cả các sĩ quan từ thiếu úy trở lên, kể các các sĩ quan về hưu, tất cả các cảnh sát viên không cần biết chức vụ, và các nhân viên hành chánh cấp phường xã quận tỉnh, thành phố, và các vị dân biểu đại biểu hội đồng tỉnh, hội đồng quận, xã đều phải đăng ký đi học tập 3 ngày.

(Hàng chục ngàn binh sĩ bị bắt ngoài mặt trận ở miền Trung, miền Tây, miền Cao Nguyên đều bị giam tù 6 năm). Nhưng đó chỉ là lời nói dối của chính phủ Hà Nội.

Tất cả gần 300 000 quân dân cán chính của miền Nam đều bị tù sau ngày ấy, họ bị nhốt trong rừng, tự túc ăn uống, và ở tù từ 3 năm-17 năm sau mới được về. Hơn 165 000  người đã chết trong tù vì đói khát, bệnh tật, hoặc bị bắn chết.

*Chiến tranh giữa bộ đội  VN với Kampuchea vào tháng 12-1978 và kéo dài đến 1991. Kết quả có hơn 70 000 bộ đội  VN bị chết và trên 200 000 người bị thương, trong đó số người bị cụt tay, cụt chân vì mìn rất nhiều.

Chiến tranh với Trung Quốc vào tháng 1-1979 và kéo dài đến 1991. Kết quả là có hơn 80 000 người VN và bộ đội VN đã chết.

Hơn 1 triệu người miền Nam ở thành thị bị xua đi Kinh tế Mới từ 1976-1980, và cán bộ miền Bắc vào cướp nhà. Trong khi chồng/vợ của các quân nhân,cán bộ, và chính quyền miền Nam đang ở tù, thì chính quyền giải phóng đến từng nhà dụ đi kinh tế mới, nếu gia đình nào không chịu đi vùng kinh tế mới thì cắt sổ lương thực, hăm dọa. Vùng kinh tế mới là các vùng đất ven rừng, xa thành phố, quận huyện, không có nước, không có điện, không có nhà cửa, chính quyền chở dân đi kinh tế mới lên đây bằng xe, bỏ xuống, chỉ cho họ biết 1 đám đất để họ tự cất nhà, mà không có vật liệu xây dựng, không có búa, không có đinh, không có tôn lợp mái nhà, không có cây để làm cột và sườn nhà…chỉ chở tới, bỏ dân xuống vậy là xong phần việc của chính quyền, và gọi đó là chính sách kinh tế mới!

Trước chính sách hà khắc nầy, từ 1975-1991, có hơn 2,5 triệu người miền Nam đã bỏ trốn, đi vượt biên ra nước ngoài, với hơn 500 000 ngàn người đã bị chết vì thuyền chìm dưới biển, bị hải tặc giết, bị bắn bởi công an VN, bộ đội  Kampuchea.

Cuộc đổi tiền lần 2 vào ngày 3-5-1978, 1 đồng tiền mới = 1 đồng tiền miền Bắc = 0,8 tiền Giải Phóng (tiền mới ở miền Nam được dùng từ 1976).

Đổi tiền lần thứ 3 vào ngày 14-9-1985. Tỉ giá là 1 đồng mới của năm 1985 = 10 đồng tiền của năm 1978. Vậy là những người nào có nhiều tiên, đều bị tước đoạt hết của cải thêm lần thứ 3. ( Tính cho tới năm 1985, chưa có quốc gia nào trong số các nước á châu mà chỉ trong vòng 10 năm đã đổi tiền 3 lần).

Việc đổi tiền năm 1985 đã khởi đầu cho một chu kỳ “lạm phát mãn tính” kéo dài cho đến 2011, sẽ còn tiếp tục trong nhiều năm sắp tới. Khi tất cả vật giá đều gia tăng, mà giá gạo thì cứ giữ y như năm 2007, thì kể như là người nông dân bị thiệt thòi và nghèo đi rất nhiều.

Chú thích:

Tù cải tạo sau ngày mãn tù đối phó cuộc sống ra sao?

Tù cải tạo lâu nhất trong lịch sử VN vừa mới qua đời trong nhà tù ngày 12-9-2011

 1. Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam

2. Những người đi theo Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam

3. Bất cứ ai đấu tranh cho quyền lợi công nhân VN đều bị bỏ tùđây

4. Những người sống sót của trại Z30-D (Tiếng Anh: Camp Z30-D: The Survivors)

5.  Các sĩ quan của quân đội VNCH hiện nay vẫn còn bị giam giữ trong tù

(Những quan điểm về kiến nghị đại xá toàn bộ cựu viên chức VNCH)

Posted in Chien Tranh Viet Nam | Leave a Comment »