Trần Hoàng Blog

Archive for the ‘Biên Giới’ Category

►Nghịch cảnh nước ta

Posted by hoangtran204 on 28/10/2016

FB Thái Bá Tân

NGHỊCH CẢNH NƯỚC TA – 16

28-10-2016

1
Nhà nước ngân khố cạn,
Rục rịch tăng tuổi hưu.
Không thèm hỏi dân chúng,
Vì dân chỉ là cừu.

Cừu thì không cần hỏi.
Không ai thèm bận tâm.
Cừu đi vào lò mổ,
Kêu “Be be, Muôn Năm!”

Ngu thì chết cũng đáng.
Nhưng cái thằng chăn cừu
Kể làm thế là láo
Tự mình nâng tuổi hưu.

2
Với Việt Nam, Trung Quốc
Là “bạn vàng” muôn đời.
Còn thằng đế quốc Mỹ
Là kẻ thù muôn đời.

Thế mà lạ, dân chúng
Cái xứ An Nam ta
Ai cũng thích giặc Mỹ
Và ghét bạn Trung Hoa.

Vậy thì phải xem lại
Khẩu hiệu đúng hay sai.
Chính dân mới quyết định
Bạn và thù là ai.

3
Ngân hàng, khi có lãi,
Chia nhau ăn một mình.
Lỗ, được nhà nước cứu
Bằng tiền của dân tình.

Nhà nước làm ăn kém,
Tích một núi nợ công.
Giờ nhà nước đề nghị
Dân phải gánh nợ công.

Đề nghị là bắt buộc.
Dân không trốn được đâu.
Và đó là nghịch cảnh –
Thằng nghèo nuôi thằng giàu.

4
Mười lăm nghìn cây số
Đất hương hỏa xưa nay,
Được ông cha để lại,
Không cánh mà biết bay.

Tổ tiên để đất ấy
Cho người dân Việt Nam
Chứ không phải cho đảng
Muốn làm gì thì làm.

Dân đóng thuế nuôi đảng
Để bảo vệ biên thùy.
Giờ đảng để mất đất,
Thì nên nhận tội gì?

5
Ta, giáo sư, tiến sĩ
Đông còn hơn quân Nguyên.
Hội thảo rồi cải cách,
Tiêu tốn cả núi tiền.

Thế mà rồi rốt cục
Mấy cuốn sách trẻ con
Dân giao cho họ viết,
Mà viết chẳng ra hồn.

Vì sao? Vì lần nữa,
Nước ta không giống ai.
Càng giáo sư, tiến sĩ,
Càng dốt và bất tài.

6
Cho một miếng khi đói
Bằng một gói khi no.
Dân được giúp con vịt,
Dù mất cả con bò.

Thế mà con vịt ấy
Bị bí thư, trưởng thôn
Tức chính quyền và đảng
Lấy mất của bà con.

Tởm, chính quyền và đảng
Không giúp được thì thôi,
Còn giở cái trò khỉ.
Thương người dân nước tôi.

7
Thế đấy, ta là thế,
Toàn chuyện buồn, chuyện lo
Mà đem kể cho hết
Phải đến Tết Công Gô.

Bảy mươi, đáng được hưởng
Chút thư thái tuổi già,
Vậy mà buồn, phải viết
Về nghịch cảnh nước ta.

 

Nằm trong vùng chuyển tiếp giữa miền Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ, Thành phố Hồ Chí Minh ngày nay bao gồm 19 quận và 5 huyện, tổng diện tích 2.095 km².

 

Posted in Biên Giới, Chinh Tri Viet Nam, Chinh Tri Xa Hoi | Leave a Comment »

►15.420 km vuông đất của Việt Nam đã mất vì hiệp ước biên giới trên đất liền do đảng CSVN chỉ đạo nhà nước ký với TQ ngày 30-12-1999

Posted by hoangtran204 on 27/10/2016

FB Tèo Ngu Khìn

26-10-2016

Nếu truy cập vào trang dữ liệu của Ngân Hàng Thế Giới (World Bank) để tìm thông tin về diện tích đất liền của Việt Nam, bạn sẽ nhận ra diện tích đất liền của nước mình vào năm 1999 World Bank được ghi nhận là: 325.490 (km2). [Xem hình số 1].

h1

Thế nhưng, chỉ cần rà con chuột nhích qua một năm, tức vào năm 2000, bạn sẽ sửng sốt khi thấy số liệu bỗng tụt đi một cách rõ rệt: 311.060 (km2)! [Xem hình số 2].

Năm 2002 diện tích giảm tiếp xuống còn: 310.550 (km2).

h1

 

Và từ 2003 trở đi, diện tích đất liền của Việt Nam chỉ còn: 310.070 (km2).

Xin truy cập vào trang dữ liệu của ngân hàng thế giới để kiểm chứng.

Vì sao có chuyện lạ lùng này?

Vì sao diện tích của Việt Nam đột ngột giảm vào năm 1999, từ 325,490 km2 xuống còn 311,060 km2? 14.430 (km2) bỗng nhiên mất tích chỉ trong một năm, trong khi 1999 là năm chẳng hề có đại thiên tai hay đại hồng thủy để có thể nghĩ rằng do thiên nhiên “gặm” mất đất liền.

Vậy là từ 325.490 (km2) năm 1999 giảm xuống còn 310.070 (km2) từ năm 2003 trở đi. ‘Bay” mất 15.420 (km2)!

Bạn sẽ nghĩ rằng 15.420 (km2) chắc không lớn lắm, chả đáng để “tâm tư”. Nhưng nếu bạn biết quốc đảo giàu có hùng cường Singapore chỉ có 719,10 (km2), lại chẳng có tài nguyên gì ngoài muối mặn biển sâu, bạn sẽ giật mình khi phần diện tích nước Việt mất đi bằng 21 lần nước Singapore cộng lại!

Israel, một quốc gia hùng cường khác nằm lọt thỏm giữa vùng Trung Đông, bao nhiêu năm nay vẫn bị bủa vây bởi các quốc gia Hồi giáo thù địch, cũng nghèo nàn tài nguyên, đất đai phần lớn là sa mạc hoang hóa, thiếu thốn nước ngọt trầm trọng. Diện tích của Do Thái là bao nhiêu? 20.770 km2, vâng, chỉ có 20.770 (km2) thôi. Và diện tích đất liền nước mình bị mất gần bằng 75% diện tích nước Israel!

Nếu năm 1999 không có thảm họa thiên nhiên nào làm mất đất thì phải có sự kiện chính trị – xã hội nào đấy là tác nhân. Đến đây, bạn sẽ cay đắng nhận ra: năm 1999 là năm Việt Nam ký kết Hiệp ước Biên giới trên đất liền với Trung Quốc! Một đoạn dài biên giới phía bắc, phần cương thổ của tổ quốc khoảng 15.420 (km2) đã mất từ đây.

Chuyện Việt Nam mất đất về tay Trung Quốc từ năm 1999 không mới vì nhiều tin liên quan đến chuyện này đã râm ran từ mười mấy năm qua. Chuyện ông cựu Tổng Bí Thư Lê Khả Phiêu – một trong những nhân vật chính liên quan đến cái hiệp ước này – phải rời ghế giữa nhiệm kỳ và về hưu sớm, rồi ông Tiến Sĩ Trần Công Trục – nguyên trưởng ban biên giới chính phủ rất nhiều lần đăng đàn cả báo trong nước lẫn hải ngoại để “thanh minh” rằng Việt Nam không bán nước, không mất đất…đều liên quan đến cái hiệp định đau lòng kia.

Nhiều năm trước, tôi cố công đi tìm nguyên văn bản hiệp định biên giới 1999 này để đọc kỹ nhưng đều thất bại. Chuyện nước non quốc sự, đáng lẽ người ta phải để “dân biết, dân bàn, dân kiểm tra” trước khi thay mặt nhân dân đặt bút ký. Thế nhưng, người ta đã làm chuyện ấy sau lưng nhân dân nên việc tôi thất bại khi truy tìm bản gốc hiệp định thì cũng dễ hiểu. Con mèo nó còn biết phải che dấu những thứ thối tha khi vùi phân vào tro thì chuyện hiệp định biên giới nhiều năm nằm trong vòng bí mật có gì lạ đâu.

Vài năm gần đây, trước sức ép dư luận đòi hỏi minh bạch, người ta đã dần dần hé mở cái hiệp định ấy khi sự đã rồi, đất đã mất. Bạn có thể đọc tham khảo bản hiệp định này trên trang của Biên phòng Việt Nam tại đây.

Mười năm sau hiệp định biên giới 1999, chính quyền hiện nay của Việt Nam và Trung Quốc còn ký thêm một bản hiệp ước khác để cụ thể hóa thêm chuyện quản lý, hợp tác, phân định cắm thêm mốc biên giới, dựa trên cơ sở hiệp định 1999. Hiệp định ấy có tên “Hiệp Định Về Quy Chế Quản Lý Biên Giới Trên Đất Liền Việt Nam – Trung Quốc”, kèm theo 18 phụ lục về sửa chữa cột mốc, khôi phục xây dựng cột mốc, quản lý xuất nhập cảnh, giao lưu biên giới, v.v. Ai quan tâm có thể tìm đọc tại đây: HIỆP ĐỊNH  VỀ QUY CHẾ QUẢN LÝ BIÊN GIỚI TRÊN ĐẤT LIỀN VIỆT NAM – TRUNG QUỐC GIỮA CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HÒA NHÂN DÂN TRUNG HOA.

Lần giở lịch sử sẽ thấy: năm 41 sau Công Nguyên, vua Quang Vũ nước Đông Hán sai Mã Viện (tức Phục Ba Tướng Quân) sang đánh Giao Chỉ của Hai Bà Trưng. Quyết tâm chiến đấu ngoan cường của Đô Dương bộ tướng của Trưng Vương, Mã Viện phải tạm ký hòa ước và cắm trụ đồng làm mốc đánh dấu biên giới cực nam của Đông Hán ở động Cổ Sâm thuộc Khâm Châu. Trên trụ đồng Mã Viện cho khắc 6 chữ: “Đồng trụ chiết, Giao Chỉ diệt”, nghĩa là đồng trụ gãy thì Giao Chỉ mất.

Như thế, biên giới cực nam của nước Hán kể từ thời Đông Hán đầu công nguyên cho tới tận gần đây vẫn được đánh dấu rõ ràng bằng cột mốc biên giới ở Khâm Châu (Khâm Châu trước thuộc tỉnh Quảng Đông nay được Trung Quốc điều chỉnh thuộc về tỉnh Quảng Tây).

Sách “Lĩnh Ngoại Đại Đáp” của Trung Quốc (đời Đường) và “An Nam Chí Lược” của Lê Tắc, đều chép cột này được dựng ở Khâm Châu, trong vùng hang động Cổ Sâm. Sách “Vân Đài Loại Ngữ” của Lê Quế Đường (tức Lê Quý Đôn) có ghi: “Giữa đỉnh núi Phân Mao ở Khâm Châu có cột đồng to độ hai thước. Có lẽ đây là Mã Tống dựng lên”.

Núi Phân Mao ở đâu? Sách “Dư Địa Chí” của Nguyễn Trãi viết: “Vân Cừ, Kim Tiêu, Phân Mao ở về Yên Bang (sau tránh húy đổi làm Yên Quảng). Vân Cừ là tên sông, tên khác của sông Bạch Đằng, Tiền Ngô Vương bắt Hoằng Tháo, Hưng Đạo Vương bắt Ô Mã Nhi đều ở đây. Phân Mao là tên núi, Kim Tiêu là cột đồng. Ở phía Tây lộ Hải Đông 300 dặm có đèo Phân Mao, ở nửa đèo có cột đồng của Mã Viện dựng…” (Dư Địa Chí, Nguyễn Trãi toàn tập, bản dịch của Nhà xuất bản Khoa Học Xã Hội – Hà Nội, trang 202).

Sách “Gia Khánh Trùng Tu Nhất Thống Chí” của Nhà Thanh cho biết: núi Phân Mao ở phía Tây Khâm Châu. Năm Tuyên Đức thứ 2 (1427) thời Minh, núi ấy thuộc vào châu Tân An của Giao Chỉ. Đến năm Gia Tĩnh thứ 21 (1542) Mạc Đăng Dung hàng, mới thuộc về nước Tàu.

Cái gọi là ranh giới phía Nam của nước Hán tưởng đã quá rõ, vậy mà rất nhiều bậc học giả (không học thật) người Trung Quốc vẫn đang gân cổ cố cãi về một vùng biển lịch sử của Trung Quốc có từ thời nhà Hán!

Chuyện xưa thì thế. Còn gần đây là thời đường biên giới các quốc gia đã được “thế giới văn minh” công nhận.

Sau nhiều lần thương lượng gay cấn, kể cả dùng sức mạnh quân sự, ngày 9/6/1885 nhà cầm quyền Pháp và Trung Hoa đã ký Công Ước Thiên Tân về biên giới Việt – Trung được gọi là “Hiệp Ước Hòa Bình, Hữu Nghị và Thương Mại” (Traité de Paix, d’Amitié, et de Commerce). Công ước này đã được bổ túc thêm bởi công ước ngày 26/6/1887 và công ước ngày 20/6/1895.

Thế nhưng, bất kể công ước của loài người văn minh thời hiện đại nói trên thì chuyện tưởng không thể xảy ra vẫn xảy ra. Hãy xem những tấm ảnh chụp người Trung Quốc đào cột mốc biên giới theo hiệp ước Pháp – Thanh 1885 – 1895 (hình ảnh đính kèm, từ hình số 3 trở đi) để đem về trưng bày ở nhà bảo tàng sai khi có Hiệp định biên giới Việt – Trung 1999 đề cập bên trên. Nhìn kỹ, trên cột đá khắc hàng chữ “Đại Nam Quốc Giới”. Đại Nam quốc giới sao nay lại nằm trong lãnh thổ Trung Quốc?

Trong một ảnh khác là cột mốc ở tỉnh Vân Nam. Trên cột còn ghi rõ một bên là lãnh thổ Chine (Trung Hoa) và một bên là Annam (Việt Nam). Rõ ràng như thế tại sao giờ lại nằm hẳn trong lãnh thổ Trung Quốc?

Cột đá tưởng vô tri vô giác nhưng hàng chữ “Đại Thanh Quốc Khâm Châu giới” làm rúng động lòng người. Lịch sử 2000 năm bỗng hiện ra: Khâm Châu, Cổ Sâm, Mã Viện, Quang Vũ, ranh giới cực nam nước Đông Hán… rõ mồn một. Sao “Khâm Châu giới” nay lại nằm bên trong lãnh thổ Trung Quốc?

“Đại Nam quốc giới”? Cột mốc “Chine (và) Annam”? Sao lại nằm sâu trong lãnh thổ Tàu? Chả lẽ đường biên giới liên tục từ Vân Nam phía tây cho tới Quảng Đông phía đông đều bị thế hết ư?

Khi tòa quốc tế PCA ra phán quyết lịch sử bác bỏ cái gọi là đường 9 đoạn (đường “lưỡi bò”, U-line) sau khi Philippines kiện, Trung Quốc vẫn ngang nhiên bác bỏ, tiếp tục tôn tạo bãi đá, đưa vũ khí ra củng cố thì làm sao lại có thể thơ ngây như ông cựu cố vấn Lê Đức Thọ (Sáu Búa) nói khi Trung Quốc chiếm trọn quần đảo Hoàng Sa từ tay chính thể Việt Nam Cộng Hòa vào năm 1974: “Họ có giải phóng Hoàng Sa giúp ta thì sau này họ cũng trả lại thôi”. Niềm tin của ông Thọ đã được Trung Quốc “củng cố” mạnh mẽ thêm vào năm 1988 khi Trung Quốc cho hải quân ra Trường Sa thảm sát 64 người lính, Việt Nam mất đi Gạc Ma và nhiều đảo khác từ đấy.

Viết đến đây, bùi ngùi nhớ lời vua Lê Thánh Tông trong sắc dụ năm 1473 gửi cho Lê Cảnh Huy – viên quan trấn thủ biên giới: “Một thước núi, một tấc sông của ta lẽ nào lại nên vứt bỏ? Ngươi phải kiên quyết tranh biện, chớ cho họ lấn dần. Nếu họ không nghe, còn có thể sai sứ sang Bắc triều bày tỏ phải trái. Nếu ngươi dám đem một thước, một tấc đất của Thái Tổ làm mồi cho giặc thì tội phải tru di” (Lê Thánh Tông- Đại Việt Sử Ký Toàn Thư).

Lòng tự hỏi: Bao nhiêu tấc thước núi sông đã rơi vào tay giặc? Và ai sẽ phải trả lời cho toàn dân biết rõ vì sao cương thổ Việt Nam lại mất đi 15.420 (km2) vào năm 1999?

h1

Người Trung Quốc đào bỏ cột mốc biên giới Việt Trung (cột mốc cũ) đem về trưng bày ở viện bảo tàng của họ! Cột mốc biên giới mà giờ lại nằm sâu trong đất Trung Hoa? Ảnh: internet/ FB TNK

h1Cột mốc biên giới mà giờ lại nằm sâu trong đất Trung Hoa? Chữ Chine (Trung Hoa) & An Nam (Việt Nam) còn rành rành thế kia! Đau lòng. Ảnh: internet/ FB TNK

h1“Đại Thanh Quốc Khâm Châu Giới”, “Đại Nam Quốc Giới”, cột mốc biên giới mà giờ lại nằm sâu trong đất Trung Hoa? Ảnh: internet/ FB TNK

h1Cột mốc biên giới mà giờ lại nằm sâu trong đất Trung Hoa? Ảnh: internet/ FB TNK

_____

14-3-1988 Trung Quốc Tấn Công Và Tàn Sát Đẩm Máu Hải Quân Việt Nam tại Trường Sa (Lần đầu tiên TQ thừa nhận đem 320.000 quân TQ qua VN đóng quân tại Miền bắc 1965-1968; TQ giúp HCM 20 tỷ và Liên Xô giúp 11 tỷ (4-1-2013); Đảng CSVN bán nước qua việc ký Hiệp ước 30-12-1999, VN mất hơn 15.000 km vuông cho TQ theo tài liệu của Worldbank và sự xác nhận trên website của nhà cầm quyền Hà Nội về Hiệp định 1999 (27-10-2016)

1) Bài Học Bị Đánh Cắp:
https://www.facebook.com/TeoNguKhin/videos/10205388868666456/

2) Trung Quốc đã cho nhổ cột mốc biên giới tại các tỉnh lân cận Việt Nam.

3) Trung Quốc nhổ cột mốc lịch sử ở biên giới phía Bắc

4) Chiến dịch thủ tiêu các cột mốc biên giới Việt Trung

5) Trương Nhân Tuấn: Tìm hiểu các mô hình mốc giới được cắm trên đường biên giới Việt Trung theo các công ước Pháp-Thanh 1887 và 1895

6) Dương Danh Huy: Biên giới Việt-Trung: bản đồ nói gì? (BBC).

7) Việt Nam có nhượng bộ Trung Quốc về biên giới không?

8) Chứng Minh Lịch Sử Ải Nam Quan Là Của Việt Nam

9) Mai Thái Lĩnh: ẢI NAM QUAN TRONG LỊCH SỬ (1) (Talawas)

10) ẢI NAM QUAN TRONG LỊCH SỬ (2)

11) ẢI NAM QUAN TRONG HIỆN TẠI (3)

12) Thác Bản Giốc của Việt Nam hay của Trung Quốc (Phần I) (VOA).

13) Thác Bản Giốc của Việt Nam hay của Trung Quốc (Phần II) (VOA).

14) Việt Nam có bị mất đất ở khu vực Ải Nam Quan cho Trung Quốc? (RFA).

15) Sách Giáo Khoa dứt khoát không được né tránh cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc (VNE).

16) Thác Bản Giốc còn hay đã mất?

_______

FB Phạm Quang Tuấn

26-10-2016

Trên mạng có tin diện tích Việt Nam giảm đáng kể (5%) theo tài liệu của Ngân hàng Quốc tế (World Bank). Tôi bèn tới trang của World Bank (http://data.worldbank.org/country/vietnam ) lấy dữ liệu từ năm 1975 tới nay.

Theo dữ liệu này, từ năm 1999 trở về trước diện tích VN là 325.490 km vuông (km2). Từ năm 2000 tới nay là 310.070 (dao động một chút trong 3 năm đầu). Như vậy là 15.420 km2 đã “bay hơi”, tính ra là gần 5% lãnh thổ.

Diện tích mất đi này xấp xỉ với diện tích tỉnh Nghệ An, tỉnh lớn nhất của VN (16.490 km2). “Hiện tượng” này, theo tôi biết, chưa hề được giải thích. (Xem hình).

Trang mạng chính thức của chính phủ VN, khi nói về địa lý VN, không cho con số nào về diện tích VN. Tuy nhiên, trang mạng của vài tòa đại sứ, lãnh sự VN cũng như Wikipedia cho con số 331.690 km2, và Tổng cục Thống kê liệt kê diện tích cả nước năm 2011 là 330.958 km2.

Tóm lại:

* Theo World Bank, diện tích VN trước 2000 là 325.490 km2 và từ năm 2000 là 310.070 km2, khác biệt hơn 15 ngàn km2.

* Theo chính phủ VN, diện tích VN hiện nay là khoảng 331 ngàn km2.

Chuyện gì đã xảy ra năm 1999? Năm đó VN và Trung Quốc ký kết hiệp định phân định biên giới. Vậy sự thay đổi hầu như chắc chắn là do sau khi tọa độ chi tiết biên giới mới được công bố, World Bank đã tính toán lại diện tích VN.

Có người cho là tại “nước biển dâng” (!) Dĩ nhiên nước biển không thể dâng trong vòng một năm như vậy. Hơn nữa, với bờ biển dài khoảng 3000 km, bờ biển VN phải thụt vào trung bình 5 km, ngập hết các đô thị duyên hải, thì mới giải thích được diện tích đất đã biến. Hơn nữa, cũng theo dữ liệu World Bank, các nước duyên hải khác không giảm diện tích đáng kể trong những thập kỷ vừa qua.

Có thể diện tích cũ (trước 2000) có sai số? Con số đó chắc là lấy từ thời Pháp thuộc. Khó tin rằng các nhà đo đạc Pháp có thể sai tới 5%. Hơn nữa, dữ liệu từ tất cả các nước không nước nào có sai số lớn như vậy (xem bảng của World Bank:http://data.worldbank.org/indicator/AG.LND.TOTL.K2)

Như vậy có phải là hơn 15 ngàn km2 đã vào tay TQ? Dữ liệu của World Bank cho thấy diện tích của TQ không thay đổi đáng kể sau năm 1999 (chỉ giảm vài chục km2 – xem hình) (http://data.worldbank.org/country/china). Tuy nhiên, điều này không chứng tỏ rằng VN không mất đất vào tay TQ. Nếu trước 1999 có những vùng tranh chấp và chồng lấn, thì diện tích mà mỗi nước công bố (tức là đòi cho mình) sẽ kiêm cả những vùng chồng lấn đó (tức là tổng số hai diện tích sẽ lớn hơn diện tích thật của cả hai nước). Vậy kết luận hợp lý nhất, nếu tài liệu World Bank chính xác, là tất cả những vùng tranh chấp hay chồng lấn đã về tay Trung Cộng, và do đó diện tích VN đã giảm đi 5% còn diện tích TQ thì y nguyên.

h1

h1

h1

Posted in Biên Giới | 2 Comments »

► Thi Sĩ Nguyễn Du Qua Ải Nam Quan (năm 1813): “hai nước Việt Hoa đã chia đều mặt ải nầy”- Năm 2000, năm 2000, đảng CSVN đã ngang nhiên ký giấy dâng Ải Nam Quan cho Trung Quốc!

Posted by hoangtran204 on 17/08/2016

>>>Năm 1813, phụng lệnh Vua Gia Long (trị vì 1802-1819), cụ Nguyễn Du (1765-1820) đi sứ qua Trung Hoa. Dịp nầy, cụ đã sáng tác 120 bài thơ, trong đó có hai bài thơ cụ viết về tâm sự của mình khi tiến qua ải Nam Quan để vào đất Trung Hoa.  Đó là bài “Nam Quan đạo trung” và “Trấn Nam Quan.” …từ sau thời Lý Trần cho đến lúc Nguyễn Du đi sứ (năm 1813), có hơn 300 năm: “Lý Trần cựu sự yểu nan tầm,/Tam bách niên lai trực đáo câm (Việc cũ đời Lý, Trần xa xôi mờ mịt khó tìm,/ Suốt từ ba trăm năm thẳng tới bây giờ), hai nước Việt Hoa đã chia đều mặt ải nầy, Lưỡng quốc bình phân cô luỹ diện” (Hai nước [Việt Hoa] chia đều từ mặt luỹ lẻ loi).

Nhưng dưới thời cộng sản, năm 2000, đảng CSVN đã ngang nhiên dâng Ải Nam Quan cho Trung Quốc!

Trích: “Theo lời kể cuả ông Lê Công Phụng, thứ trưởng Ngoại giao Hà Nội về những “kẻ đi sứ” đăng trên Tạp chí Cộng Sản số tháng 1-2001, “Hai nước đã ký “Thỏa thuận về các nguyên tắc cơ bản giải quyết vấn đề biên giới – lãnh thổ giữa Việt Nam và Trung Quốc” ngày 19-10-1993… Thực hiện thỏa thuận đó,…Trong các chuyến thăm Trung Quốc vào năm 1997 của đồng chí tổng bí thư Đỗ Mười và tháng 2-1999 của đồng chí tổng bí thư Lê Khả Phiêu, lãnh đạo cao cấp hai nước đạt được thỏa thuận là khẩn trương đàm phán để giải quyết vấn đề biên giới trên đất liền trước năm 2000 và hoàn thành việc phân định để ký hiệp định vịnh Bắc Bộ trong năm 2000″

Kết quả của hành động bán nước của đảng CSVN, Ải Nam Quan nay thuộc về Trung Quốc! Cửa Hữu Nghị Quan hiện nay lấn sâu vào nội địa Việt Nam, và cách Ải Nam Quan 300 mét!

Đảng CSVN đã tự ý ký kết và bán Ải Nam Quan cho Trung Cộng (để đổi lấy cái gì đó), và sự mất đất đai này là bằng chứng bán nước mà đảng CSVN cố tình giấu diếm cả nước. Thậm chí, chúng không dám trưng bày bản đồ VN với chi tiết các cột mốc biên giới cho dân chúng VN biết rõ tình trạng vùng đất biên giới hiện nay ra sao.

Về biển đảo và lãnh hải, ngày 8/6/2014, Trung Quốc trưng 5 bằng chứng cho thấy đảng CSVN công nhận Hoàng Sa và Trường Sa là của TQ! (Xem link cuối bài).

 

Thi Sĩ Nguyễn Du Qua Ải Nam Quan

Trần Gia Phụng

16-4-2002
Năm 1813 (quý dậu), Nguyễn Du (1765-1820) vừa được phong hàm Cần chánh điện học sĩ, (1) vâng lệnh vua Gia Long (trị vì 1802-1819), làm chánh sứ sang nhà Thanh (Trung Hoa).  Trên đường đi sứ, ông sáng tác nhiều bài thơ chữ Nho và sau tập hợp lại thành sách Bắc hành tạp lục.

Bắc hành tạp lục gồm 110 đề mục, và vì có nhiều đề mục thi sĩ  Nguyễn Du sáng tác hai bài thơ, nên có tất cả 120 bài thơ chữ Nho, trong đó có hai bài Nguyễn Du viết về tâm sự của mình khi tiến qua ải Nam Quan để vào đất Trung Hoa.  Đó là bài “Nam Quan đạo trung” và “Trấn Nam Quan.”     

NAM QUAN ĐẠO TRUNG
“Ngọc thư phủng há ngũ vân đoan,
Vạn lý đan xa độ Hán quan.
Nhất lộ giai lai duy bạch phát,
Nhị tuần sở kiến đãn thanh san.
Quân ân tự hải hào vô báo,
Xuân vũ như cao cốt tự hàn.
Vương đạo đãng bình hưu vấn tấn,
Minh Giang bắc thướng thị Trường An.”
(2) 

Dịch nghĩa:

GIỮA ĐƯỜNG NAM QUAN
“Thư ngọc [cuả vua] giao xuống từ năm sắc mây,

Muôn dặm xe đơn côi đi ngang qua cửa người Hán.

Suốt đường cùng tới chỉ có mái tóc bạc,

Trong 20 ngày [3] cái nhìn thấy chỉ núi xanh.

Ơn vua như biển chẳng báo đáp được bao nhiêu,

Mưa xuân bám chặt buốt vào xương.

Đường vua thênh thênh chớ thắc mắc, [4]

Sông Minh đi lên phía bắc là Trường An.” [5]

           

TRẤN NAM QUAN

“Lý Trần cựu sự yểu nan tầm,

Tam bách niên lai trực đáo câm (kim).

Lưỡng quốc bình phân cô lũy diện,

Nhất quan hùng trấn vạn sơn tâm.

Điạ thiên mỗi vị truyền văn ngộ,

Thiên cận tài tri giáng trạch thâm..

Đế khuyết hồi đầu bích vân biểu,

Quân thiều nhĩ bạn hữu dư âm.”(6)

Dịch nghĩa:

TRẤN NAM QUAN

“Việc cũ đời Lý, Trần xa xôi mờ mịt khó tìm,

Suốt từ ba trăm năm thẳng tới bây giờ.

Hai nước [Việt Hoa] chia đều từ mặt luỹ lẻ loi,

Một cửa ải oai hùng trấn đóng giữa lòng muôn núi.

Đất xa xôi thường nghe lời đồn sai,

Gần trời mới biết ơn mưa móc cao dày.

Cửa khuyết ngoái đầu ngoài mây biếc,

Nhạc vua bên tai còn nghe văng vẳng.”  

Cả hai bài thơ trên cho thấy lúc đó Nam Quan rất hoang vắng, “Nhất lộ giai lai duy bạch phát,/ Nhị tuần sở kiến đãn thanh san.”  (Suốt đường cùng tới chỉ có mái tóc bạc,/ Trong 20 ngày cái nhìn thấy chỉ núi xanh.)  Chính nơi chốn hoang vắng đó “Nhất quan hùng trấn vạn sơn tâm” (Một cửa ải oai hùng trấn đóng giữa lòng muôn núi); và từ sau thời Lý Trần cho đến lúc Nguyễn Du đi sứ, trong hơn 300 năm: “Lý Trần cựu sự yểu nan tầm,/Tam bách niên lai trực đáo câm (Việc cũ đời Lý, Trần xa xôi mờ mịt khó tìm,/ Suốt từ ba trăm năm thẳng tới bây giờ), hai nước Việt Hoa đã chia đều mặt ải nầy, “Lưỡng quốc bình phân cô luỹ diện” (Hai nước [Việt Hoa] chia đều từ mặt luỹ lẻ loi).

Hai bài thơ nầy mô tả tâm trạng cuả Nguyễn Du trên bước đường đi sứ, nói lên nỗi lòng trung quân ái quốc cuả ông, “Quân ân tự hải hào vô báo,/ Xuân vũ như cao cốt tự hàn./ Vương đạo đãng bình hưu vấn tấn,/ Minh Giang bắc thướng thị Trường An.” (Ơn vua như biển chẳng báo đáp được bao nhiêu,/ Mưa xuân bám chặt buốt vào xương./ Đường vua thênh thênh chớ thắc mắc,/ Sông Minh đi lên phía bắc là Trường An.”  Hoặc “Điạ thiên mỗi vị truyền văn ngộ,/Thiên cận tài tri giáng trạch thâm../Đế khuyết hồi đầu bích vân biểu,/ Quân thiều nhĩ bạn hữu dư âm.” (Đất xa xôi thường nghe lời đồn sai,/ Gần trời mới biết ơn mưa móc cao dày./ Cửa khuyết ngoái đầu ngoài mây biếc,/ Nhạc vua bên tai còn nghe văng vẳng.”

Đặc biệt, trong lúc cảm tác, thi sĩ Nguyễn Du nắm rất vững hoàn cảnh lịch sử nước nhà và cả lịch sử chiếc ải bằng hai câu thơ mở đầu bài “Ải Nam Quan”: “Lý Trần cựu sự yểu nan tầm,/Tam bách niên lai trực đáo câm (Việc cũ đời Lý, Trần xa xôi mờ mịt khó tìm,/ Suốt từ ba trăm năm thẳng tới bây giờ). 

Thực vậy, ải Nam Quan nguyên có tên là ải Pha Lũy, được sử sách nói đến nhiều khi xảy ra cuộc chia tay bi hùng giữa hai cha con Nguyễn Phi Khanh và Nguyễn Trãi.  Nguyên khi nhà Minh đem quân đánh nước ta và bắt gia đình Hồ Quý Ly về Trung Hoa vào năm 1407, có một đại thần của Hồ Quý Ly cũng bị bắt đem theo là Nguyễn Phi Khanh, phụ thân của Nguyễn Trãi.  Nguyễn Trãi đã theo tiễn thân sinh của mình lên tận ải Nam Quan.  Chính tại đây, Nguyễn Phi Khanh đã khuyên Nguyễn Trãi: “Con yêu quý! chớ xuôi lòng mềm yếu/ Gác tình riêng, vỗ cánh trở về Nam!/ Con về đi!  Tận trung là tận hiếu/ Đem gươm mài bóng nguyệt dưới khăn tang.” (Thơ Hoàng Cầm).  Thế là Nguyễn Trãi lên đường trở về nam, thực hiện những điều mà ông đã hứa với cha: “Gạt nước mắt, con nguyện cùng thiên địa/  Một ngày mai, con lấy lại sơn hà.”(Thơ Hoàng Cầm).

Trở lại với thi sĩ Nguyễn Du, có thể trên đường đi sứ, khi ngang qua ải Nam Quan, nhà thơ đã đọc kỹ và nắm vững nội dung bài văn bia của quan đốc trấn (đầu tỉnh) Lạng Sơn là Nguyễn Trọng Đang đã lập vào năm 1785 (ất tỵ).  Tấm  văn bia nầy được đặt ngay tại cửa ải Nam Quan, có thể ngày nay không còn, nhưng may mắn được một nhà văn và là một học giả nổi tiếng dưới thời vua Tự Đức (trị vì 1847-1883) ghi lại.

Nguyên sau khi Nguyễn Du đi sứ 36 năm, vua Tự Đức đã cử ông Nguyễn Văn Siêu,(7) sang giao thiệp với nhà Thanh (Trung Hoa) năm 1849

Nguyễn Văn Siêu học bác uyên thâm, nghiên cứu rộng rãi.  Tương truyền rằng vua Tự Đức đã sắp ông là người đứng đầu trong bốn văn tài lỗi lạc nhất dưới triều đại mình: “Văn như Siêu Quát vô Tiền Hán,/ Thi đáo Tùng Tuy thất thịnh Đường” (Văn chương mà như cuả các ông Nguyễn Văn Siêu, Cao Bá Quát làm cho văn học đời Tiền Hán không còn [làm khuông mẫu nữa],/ Thơ mà đến mức cuả các vị Tùng Thiện Vương, Tuy Lý Vương làm cho thơ đời thịnh Đường mất luôn giá trị.) (8)

Trên đường đi sứ, ngang qua ải Nam Quan, Nguyễn Văn Siêu không cảm tác thành thơ như Nguyễn Du, mà ghi lại toàn cảnh Nam Quan và bài văn bia của  Đốc trấn Nguyễn Trọng Đang  lưu lại đời sau trong quyển sách về điạ lý nổi tiếng cuả ông là Phương Đình dư điạ chí (có sách viết là Phương Đình địa loại chí). 

Phương Đình dư địa chí được đề tựa vào năm 1865, gồm 5 quyển.  Trong quyển thứ 5, mục viết về tỉnh Lạng Sơn, Nguyễn Văn Siêu (1799-1872) đề cập đến ải Nam Quan như sau:

“… ở địa phận hai xã Đồng Đăng và Bảo Lâm châu Văn Uyên, phía bắc giáp điạ giới châu Bằng Tường tỉnh Quảng Tây Trung Quốc, hai bên tả hữu núi đá cao ngất, ở giữa mở một cửa quan, có cánh cửa có khoá, chỉ khi có việc sứ mới mở, tên là cửa Nam Quan (một tên là Đại Nam Quan, một tên là Trấn Di Quan, lại có tên là Trấn Nam Quan.  Sử ký chép: năm thứ 8 niên hiệu Nguyên Hoà nhà Lê [1540], (9) Mạc Đăng Dung cùng với bầy tôi là lũ Nguyễn Như Quế qua cửa lò Trấn Nam Quan, đến mạc phủ nhà Minh dâng biểu xin hàng, cái tên Trấn Nam mới thấy từ đây.)  Có Ngưỡng Đức Đài, khi trước lợp cỏ, năm thứ 34, niên hiệu Cảnh Hưng quan Đốc trấn là Nguyễn Trọng Đang sửa lại có văn bia như sau đây:

Khi nước ta có cả đất Ngũ lĩnh, cửa quan ở nơi nào không xét vào đâu được, sau nầy thay đổi thế nào không rõ, gần đây lấy châu Văn Uyên, trấn Lạng Sơn làm cửa quan, có đài gọi là Vọng Đức, không biết dựng từ năm nào, hình như mới có từ khoảng niên hiệu Gia Tĩnh [9] nhà Minh (ngang với khoảng niên hiệu Nguyên Hoà nhà Lê nước ta) [10] đài không có quán, hai bên tả hữu lợp bằng cỏ, sửa chữa qua loa, vẫn theo cũ vậy.  Nhà Lê ta trung hưng đời thứ 14, vua ta kỷ nguyên năm thứ 41 [1780], là năm canh tý, ngang với năm thứ 44 niên hiệu Càn Long nhà Thanh, Đang tôi làm giữ chức Đốc trấn qua 5 năm là năm giáp thìn [1784], sửa chữa lại, đổi dùng gạch ngói, đài mới có vẻ hoành tráng.  Trước kia Đang tôi đi sứ về, được lĩnh trấn nầy, tạ sứ trở về một lần, hạ sứ, cống sứ tiến quan hai lần, tôi thường phải đón tiếp.  Từ nghĩ nước ta, dùng lễ văn thông với Trung Quốc, hiện nay đức Đại hoàng đế, sủng mạnh thường ban, ngoài việc tuế cống sứ thần thời thường phụng mạng đi lại, nên sửa sang đài quán cao rộng cho được xứng đáng với tình nghi, đem việc tâu về triều, đã được phê chuẩn, mới ủy cho thập nhị hiệu phiên thuộc, tính toán tài liệu phí dụng, bắt dân làm việc, có bốn dịch trưởng trông nom công việc, khởi công từ mùa hạ năm giáp thìn[1784], đài cũ rồi, được cao rộng mới từ đấy, việc làm phải theo với thời thế, không dám làm hơn người trước.  Mùa đông năm ấy, Đang tôi được triệu về kinh, sau nhân sứ sang Trung Quốc khánh hạ trở về, mùa xuân năm ất tỵ [1785], vâng mệnh đón tiếp, phó sứ Nguyễn Đường Chi là cháu tôi vậy, đã may được vâng hưu mệnh, làm vinh dự cho cả chú và cháu.  Kịp đến cửa quan, thì đài cũng vừa hoàn thành, các phiên thuộc xin đem công việc khắc vào bia đá, nên mới kể ngạnh khái như trên.  Sau nầy kẻ giữ đất và kẻ đi sứ, sẽ có thể xem xét ở bia nầy vậy.

Chức Đặc tiến kim tử vinh lộc Đại phu, Hàn lâm viện Thị giảng, tước Lạp Sơn Bá, Nguyễn Trọng Đang, hiệu là Thanh Chương, tự là Chú Du ký tên.

Vua ta kỷ nguyên năm thứ 46 [1785là năm ất tỵ, mùa xuân, trước ngày vọng [ngày 15]  ba ngày.” (11)

Tuy không phải là nhà phân định biên giới, nhưng do kinh nghiệm thực tế trong khi đi sứ, Nguyễn Du đã viết rõ, “Lưỡng quốc bình phân cô luỹ diện” (Hai nước [Việt Hoa] chia đều từ mặt luỹ lẻ loi), tức mặt Ải Nam Quan chính là biên giới giữa hai nước Việt Nam và Trung Hoa

Quan đốc trấn Nguyễn Trọng Đang, sau khi mô tả cửa ải và các công trình kiến trúc do chính ông đã đứng ra trông coi xây dựng tại đây, đã ghi lại một câu vàng đá trong tấm bia lưu lại cho hậu thế đặt ở Nam Quan năm 1785: “Sau nầy kẻ giữ đất và kẻ đi sứ, sẽ có thể xem xét ở bia nầy vậy.” 

Dùng bia nầy để xem xét, có nghĩa là bia nầy là chứng tích cho đời sau biết rằng cửa ải Nam Quan chính là biên giới giữa hai nước Việt Hoa, và biên giới nầy đã đi vào lịch sử dân tộc trước thời Nguyễn Trọng Đang khoảng 250 năm:

“…Gần đây lấy châu Văn Uyên, trấn Lạng Sơn làm cửa quan, có đài gọi là Vọng Đức, không biết dựng từ năm nào, hình như mới có từ khoảng niên hiệu Gia Tĩnh nhà Minh (ngang với khoảng niên hiệu Nguyên Hoà nhà Lê nước ta  [1533-1548]. 

Trước thời Nguyễn Trọng Đang khoảng 250 năm còn có nghĩa là từ khi ải được chính thức biết đến trong lịch sử cho đến nay (2002) đã gần 500 năm nay.

Tiếc thay, tiếc thay, mới chỉ hơn 200 năm sau Nguyễn Trọng Đang, những kẻ giữ đất và những kẻ đi sứ Việt Nam vào cuối thế kỷ 20, (12) đã bỏ qua không cần xem xét tấm bia đó nữa, và đang tâm nhượng đứt vùng đất ải Nam Quan và các công trình kiến trúc Việt Nam tại ải Nam Quan cho quân Tàu phương Bắc. 

 

Chẳng những quên đi những lời vàng đá ghi khắc trên bia, chắc chắn những kẻ vô tâm nầy cũng đã thủ tiêu luôn tấm bia Nguyễn Trọng Đang, như chính họ đã thủ tiêu lịch sử tranh đấu gian lao để bảo vệ vùng đất thiêng liêng đó của tổ tiên dân tộc Việt.  Một câu ca dao phổ thông của người Việt đã nhắc nhở rằng dù bia đá bị mòn đi hay bị mất đi, nhưng ngàn năm bia miệng, vâng, “ngàn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ”….

TRẦN GIA PHỤNG

(Toronto, 16-4-2002)

 

CHÚ THÍCH:

Cần chánh điện học sĩ không phải là một chức quan, mà là một hàm tước, phong cho những người có công với triều đình. (Trần Thanh Tâm, Tìm hiểu quan chức nhà Nguyễn, Nxb. Thuận Hoá, 1996, tr. 71.)

Bài thơ nầy trích từ mục “Bắc hành tạp lục (1813-1814)”, đăng trong Nguyễn Du toàn tập, do Mai Quốc Liên chủ biên, Nguyễn Quảng Tuân, Ngô Linh Ngọc, Lê Thu Yến hợp soạn, Nxb. Văn Học, Hà Nội, 1996, tr. 293.

Ngày xưa chia 1 tháng thành 3 tuần: thượng tuần, trung và hạ tuần.  Vì vậy nhị tuần là 20 ngày.

Vương đạo: nghĩa đen là đường cuả vua, nghĩa bóng là đạo trị nước cuả vua hoặc đạo trị nước dựa trên nhân nghĩa.

Trường An: chỉ kinh đô nhà Thanh ở Yên Kinh tức Bắc Kinh ngày nay.

Nguyễn Du toàn tập, sđd. tr. 295.

Nguyễn Văn Siêu (1799-1872), tự Tốn Ban, hiệu Phương Đình, người thôn Dũng Thọ, huyện Thọ Xương, tỉnh Hà Nội, đỗ cử nhân trường thi Thăng Long năm 1825, đỗ phó bảng tại kinh đô Huế năm 1838, làm quan đến chức án sát, rồi cáo quan về quê dạy học.  Ông được vua Tự Đức cử đi sứ sang Trung Hoa năm 1849.  (Theo Dương Quảng Hàm, Việt Nam văn học sử yếu, in lần thứ 7, Bộ Quốc Gia Giáo Dục, Sài Gòn, 1960, tt. 341, 354.)

Cao Bá Quát (? – 1854), hiệu là Chu Thần, người xã Phù Thị, huyện Gia Lâm, Bắc Ninh, đỗ cử nhân năm 1831, làm Giáo thụ Quốc Oai (Sơn Tây).  Ông là người tài ba và rất tự hào về sở học cuả mình nên thường bị các quan trên đè nén.  Ông không bằng lòng và cáo quan về hưu trí.  Năm 1854, Cao Bá Quát tham gia cuộc nổi dậy cuả Lê Duy Cự ở Sơn Tây, bị thất bại và bị bắt giết.  Cuộc nổi dậy cuả Lê Duy Cự thường được gọi là “giặc châu chấu”, nhân vì trong năm đó ở Bắc Ninh và Sơn Tây bị nạn châu chấu phá hoại muà màng, nên người ta gọi như thế. 

Tùng Thiện Vương (1819-1870) tên là Nguyễn Phúc Miên Thẩm, con trai thứ 10 cuả vua Minh Mạng (trị vì 1820-1840), em cuả vua Thiệu Trị (trị vì 1840-1847), và là chú cuả vua Tự Đức (trị vì 1847-1883).

Tuy Lý Vương (1820-1897) tên thật là nguyễn Phúc Miên Trinh, con trai thứ 11 cuả vua Minh Mạng, em cuả vua Thiệu Trị và Tùng Thiện Vương, chú cuả vua Tự Đức.

Gia Tĩnh:  niên hiệu duy nhất của vua Trung Hoa là Minh Thế Tông (trị vì 1522-1566). 

Nguyên Hoà:  Sau khi Mạc Đăng Dung đảo chánh, lật đổ nhà Lê, giết vua Lê Chiêu Tông năm 1526 và em Lê Chiêu Tông là vua Lê Cung Hoàng năm 1527, lập ra nhà Mạc, thì một cựu thần nhà Lê là Nguyễn Kim (1468-1545) bỏ trốn qua Lào.  Nguyễn Kim tìm được người con út cuả Lê Chiêu Tông tên là Lê Duy Ninh, lập lên làm vua tức Lê Trang Tông (trị vì 1533-1548), trung hưng nhà Lê.  Lê Trang Tông lấy niên hiệu là Nguyên Hoà.  Vì các nhà viết sử ngày trước xem nhà Mạc là ngụy triều, nên không dùng niên hiệu cuả nhà Mạc mà chỉ dùng niên hiệu cuả nhà Lê.

Nguyễn Văn Siêu, Phương Đình dư điạ chí, bản dịch cuả Ngô Mạnh Nghinh, Nxb. Tự Do, Sài Gòn, 1960, tt. 268-269.  Phương Đình dư điạ chí đề tưạ năm 1862, gồm 5 quyển: quyển đầu trích lục các sách Trung Hoa viết về nước ta, quyển 2 viết về điạ lý chí nước ta thời Hậu Lê, quyển 3 đến quyển 5 chép về thời cận kim.  [Dịch giả Ngô Mạnh Nghinh, sinh năm 1893, đỗ cử nhân Nho học năm 1915, cùng khoa với hai em là Ngô Trọng Nhạ (sinh 1897) và Ngô Thúc Địch (sinh năm 1900).  Về sau, ông Ngô Mạnh Nghinh đã dạy Hán văn ở Đại học Văn khoa Sài Gòn từ 1954 đến 1960.]

Sau đây là lời kể cuả ông Lê Công Phụng, thứ trưởng Ngoại giao Hà Nội về những “kẻ đi sứ” trên tạp chí Cộng Sản số tháng 1-2001 và đã được CSVN đưa lên mạng lưới thông tin quốc tế: “Vào các năm 1957, 1961 và 1963 hai nước có ký các thỏa hiệp cho phép thuyền buồm của hai bên được đánh bắt trong vịnh… Trong các năm 1974 và 1977-1978, hai nước tiến hành 2 vòng đàm phán về phân định… Hai nước đã ký “Thỏa thuận về các nguyên tắc cơ bản giải quyết vấn đề biên giới – lãnh thổ giữa Việt Nam và Trung Quốc” ngày 19-10-1993… Thực hiện thỏa thuận đó, từ 1993 đến năm 2000, hai bên đã triển khai 7 vòng đàm phán cấp chính phủ, 3 cuộc gặp giữa hai Trưởng đoàn đàm phán cấp chính phủ và 18 vòng đàm phán cấp chuyên viên… Trong các chuyến thăm Trung Quốc vào năm 1997 của đồng chí tổng bí thư Đỗ Mười và tháng 2-1999 của đồng chí tổng bí thư Lê Khả Phiêu, lãnh đạo cao cấp hai nước đạt được thỏa thuận là khẩn trương đàm phán để giải quyết vấn đề biên giới trên đất liền trước năm 2000 và hoàn thành việc phân định để ký hiệp định vịnh Bắc Bộ trong năm 2000

Về biển đảo và lãnh hải, Trung Quốc trưng 5 bằng chứng đảng CSVN công nhận Hoàng Sa và Trường Sa là của TQ! >>> ►Bộ ngoại giao Trung Quốc công bố 5 bằng chứng bán nước của ĐCSVN

Posted in Biên Giới, Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa, Hội nghị Thành Đô 3-9-1990, Đảng CSVN | Leave a Comment »

►Khẩn cấp gởi Võ Văn Thưởng, tân trưởng ban Tuyên Giáo: Nhà xuất bản tái bản sách ca ngợi kẻ thù…”Đặng Tiểu Bình, Một Trí Tuệ Siêu Việt”

Posted by hoangtran204 on 23/02/2016

Nhà xuất bản của đảng CSVN lại tái bản sách ca ngợi kẻ thù…”Đặng Tiểu Bình, Một Trí Tuệ Siêu Việt”, tái bản 2016
Theo một bạn đọc cho biết, cuốn sách này đã từng được xuất bản năm 2003, dày 600 trang. Nay được tái bản 2016, dày 800 trang, giá 100.000 đồng. Được tái bản ngay sau khi Đại hội đảng CSVN lần thứ XII, họp từ ngày 20 đến 28/ 1/2016

KHẨN CẤP GỬI ÔNG VÕ VĂN THƯỞNG, TÂN TRƯỞNG BAN TUYÊN GIÁO

22-2-2016

 

Văn Giá Ngô
(PGS.TS Nhà văn Ngô Văn Giá) 
22-2-2016

ĐỒNG BÀO CHÚ Ý!!!

Tôi xin đăng lại thông tin trên trang FB của một facebooker mà vì lý do nào đó chỉ ít phút sau, facebooker này lại xóa đi.
Ý kiến của tôi: Phản đối kịch liệt lối xuất bản nhắm mắt làm liều (hoặc chạy theo đồng tiền bằng mọi giá, hoặc một chiêu PR muốn được ném đá để nổi tiếng…) này, bất chấp lòng tự trọng (quốc sỉ) dân tộc. 
Phản đối! Phản đối! Phản đối! (VG)
                    ***********

ĐẶNG TIỂU BÌNH LÀ KẺ CÓ NỢ MÁU VỚI VIỆT NAM. QUYẾT ĐỊNH ĐÁNH VIỆT NAM, GIẾT HẠI HÀNG CHỤC NGHÌN NGƯỜI, BÊNH VỰC CHẾ ĐỘ ĐỒ TỂ POL POT PHẢI CHĂNG LÀ “TRÍ TUỆ SIÊU VIỆT”?

SỬNG SỐT VÀ BUỒN NÔN KHI THẤY CUỐN SÁCH NÀY

Thời công nghệ thông tin, dễ dàng tìm thấy trên mạng đầy ắp thông tin, tư liệu, tác phẩm văn học, tác phẩm nghiên cứu… Vậy mà đến bây giờ tôi vẫn còn giữ thói quen hàng tháng dành một buổi cuối tuần ghé vào nhà sách chọn mua vài cuốn để làm bộ sưu tập cho tủ sách của mình. Lần này, vào nhà sách, tôi đã phải sửng sốt không tin ở mắt mình khi thấy một cuốn sách dày gần 800 trang, như cuốn tự điển, với tựa “Đặng Tiểu Bình – Một trí tuệ siêu việt”, trên bìa in trang trọng ảnh chân dung Đặng Tiểu Bình.
Không sửng sốt sao được, vì người được suy tôn có trí tuệ siêu việt và được Nhà xuất bản Lao động trân trọng in sách phát hành rộng rãi cho độc giả Việt Nam ngưỡng mộ, tôn sùng đó chính là một lãnh tụ của Trung Quốc trực tiếp có nợ máu với đất nước và nhân dân Việt Nam. Nhà xuất bản Lao động và người duyệt cho lưu hành cuốn sách này chắc đã quên lời phát biểu ngông cuồng của kẻ có “trí tuệ siêu việt” này hồi tháng 12-1978 trong chuyến thăm các nước Đông Nam Á, chửi bới, đe dọa, xúc phạm nặng nề đất nước và con người Việt Nam, được Trung Quốc truyền hình trực tiếp cho cả thế giới: “Việt Nam là côn đồ, phải dạy cho Việt Nam bài học!”.
Và rồi chỉ 2 tháng sau đó, ngày 17-2-1979, chính kẻ này đã ra lệnh xua hơn 600.000 quân Trung Quốc mở cuộc tấn công xâm lược toàn tuyến biên giới phía Bắc Việt Nam, thực hiện kế hoạch chiếm 5 tỉnh – thành lớn của Việt Nam sau một tuần. Để rồi quân xâm lược Trung Quốc buộc phải rút lui một cách thảm hại. Thay vì dạy cho Việt Nam một bài học, thì Đặng Tiểu Bình đã nhận được bài học đắt giá cho chính mình, hơn 62.000 quân xâm lược Trung Quốc bỏ mạng sau 3 tuần động binh.
Chẳng làm sao kể xiết mưu đồ và tội ác của Đặng Tiểu Bình đối với nước ta, vậy mà trong cuốn sách này, Đặng Tiểu Bình được tán dương bằng những ngôn từ có cánh: “nhãn quan thế giới”, “người mác xít chân chính”, “thống soái đại quân”, “nhà chiến lược lớn”, “cầm cương chỉnh đốn bằng bàn tay sắt”, “bậc thầy lớn trong nghệ thuật lãnh đạo”…
Cũng không lạ, bởi đây là sách dịch của Trung Quốc. Nhưng vấn đề là trong bối cảnh nhà cầm quyền Trung Quốc ngày càng lộ rõ bộ mặt trâng tráo, lòng dạ hung ác, hành động ngang ngược với Việt Nam, có cần và có nên dịch, phát hành rộng rãi cuốn sách này cho người Việt Nam hay không?
Việc dịch, phát hành rộng rãi cuốn sách này ở Việt Nam nhằm mục đích gì và để cho ai?
Biết là sách dịch, nhưng việc trong sách liên tục dùng các cụm từ “Đảng ta”, “quân đội ta” để nói về đảng và quân đội của Trung Quốc, làm độc giả Việt Nam phải buồn nôn, vì tưởng như đất nước Việt Nam đã về tay Trung Quốc.
Sách ghi tên Nhà xuất bản Lao động, nhưng lại kèm theo tên Công ty Sách Panda, và bìa trong có ghi rõ “Bản quyền tiếng Việt thuộc Công ty TNHH Sách Panda”.
Cuốn sách gần 800 trang, giá chỉ 100.000 đồng, thật đáng ngờ. Có “nhà tài trợ lạ” nào không cho việc dịch và xuất bản, tái bản cuốn sách này?
(Facebooker)
*  Ý kiến bạn đọc: 

Tôi cũng có một cuốn, dùng làm tư liệu về TQ “Đặng Tiểu Bình một trí tuệ siêu việt”, nhà xuất bản Văn hoá-Thông tin, Hà Nội, 2003, khổ 14,5×20,5cm, dày ngót 600 trang, của tác giả Lưu Cường Luân và Uông Đại Lý, dịch giả Tạ Ngọc Ái và Nguyễn Viết Chi. Bìa 4 có viết: “… Trí tuệ siêu việt của Đặng Tuểu Bình là một khoa học rất sâu sắc, là một nghệ thuật rất phức tạp, chúng ta phải đào sâu nghiền ngẫm mới lĩnh hội được phần nào và vận dụng nó vào công tác thực tế của mình, bất cứ ai cũng có thể thu được lợi ích không nhỏ”.

Posted in Biên Giới, Chien Tranh Bien Gioi Viet Trung 1979, Chinh Tri Xa Hoi, Sách- Báo- Hồi Ký | Leave a Comment »

►Quan hệ Xô -Trung từ 1950-1978 và cuộc chiến tranh biên giới Việt-Trung tháng2/1979

Posted by hoangtran204 on 15/02/2016

Những điều chưa biết về cuộc chiến biên giới VN-TQ năm 1979

BBC 

17-2-2006

Đúng 27 năm trước đây, ngày 17-2-1979, Trung Quốc đưa quân tràn qua biên giới Việt Nam sau nhiều tuần căng thẳng.

Trong nhiều năm, nguồn tư liệu của phía Trung Quốc về cuộc chiến vẫn thuộc vào hàng danh sách mật, và thông tin chính thức chỉ có lẻ tẻ.

Tuy vậy, gần đây nhiều tư liệu lưu hành nội bộ về cuộc chiến năm 1979 đã được công bố, cộng thêm một số hồi ký của các sĩ quan cao cấp.

Một trong những câu hỏi chưa có lời giải đáp chi tiết là khi nào và làm thế nào Bắc Kinh đã ra quyết định có hành động quân sự chống Việt Nam.

Những tư liệu mới

Trong hồi ký của Zhou Deli, tham mưu trưởng của Quân khu Quảng Châu, nhớ lại rằng vào tháng Chín 1978, một cuộc họp về “cách giải quyết vấn đề lãnh thổ bị quân Việt Nam chiếm đóng” đã diễn ra tại văn phòng tham mưu trưởng quân đội nhân dân Trung Quốc.

Sự tập trung ban đầu là nhắm vào cuộc xung đột biên giới, và đề xuất đầu tiên muốn có một cuộc tấn công nhỏ vào một trung đoàn Việt Nam ở Trùng Khánh, ráp gianh Quảng Tây.

Quân%20đội%20Việt%20Nam%20ở%20Campuchia
Tư liệu mới đặt giả thiết Trung Quốc ra quyết định trước khi Việt Nam tấn công Campuchia

Nhưng theo hồi kí của Zhou Deli, sau khi nhận được tin tình báo cho biết Việt Nam sẽ tấn công Campuchia, đa số người dự họp cho rằng một cuộc tấn công cần có tác động lớn đến Hà Nội và tình hình Đông Nam Á.

Họ đề nghị tấn công vào một đơn vị quân chính quy Việt Nam ở một khu vực địa lý rộng hơn.

Mặc dù cuộc họp kết thúc mà không đưa ra quyết định nào, nhưng nó tạo tiền đề cho kế hoạch chiến tranh sau đó.

Tháng 11-1978, Đặng Tiểu Bình công du Thái Lan, Malaysia và Singapore. Trong chuyến đi, ông Đặng nói với các vị chủ nhà rằng Trung Quốc sẽ dùng vũ lực nếu Việt Nam tấn công Campuchia.

Ngày 7-12, Ủy ban quân ủy trung ương có cuộc họp và quyết định mở một cuộc chiến hạn chế ở vùng biên giới phía nam của Trung Quốc.

Ngày hôm sau, họ ra lệnh cho các Quân khu Quảng Châu và Côn Minh tiến hành chiến dịch và chuẩn bị quân đầy đủ trước ngày 10-1-1979.

Chỉ thị nói rằng cuộc chiến sẽ tiến hành một cách hạn chế, trong phạm vi 50 cây số từ biên giới và kéo dài hai tuần.

Trong một nghiên cứu có thể nói là mới nhất về cuộc chiến Việt Trung 1979, vừa ra mắt tháng 12 năm ngoái, tác giả Xiaoming Zhang bình luận rằng thời điểm ra lệnh này chứng tỏ Trung Quốc phản ứng trước cuộc tấn công sắp xảy ra của Việt Nam vào Campuchia. Nhưng việc mở chiến dịch quân sự cả trước khi quân Việt Nam vượt qua sông Mêkông cũng cho thấy phản ứng của Bắc Kinh xuất phát từ nhiều năm bực bội vì hành vi của Việt Nam mà họ cho rằng đã “vô ơn” trước sự giúp đỡ trước đây.

Quyết định cụ thể

Tư liệu mới cho biết trong một cuộc họp vào ngày cuối năm 1978, Đặng Tiểu Bình chính thức đề nghị một cuộc chiến chống Việt Nam.

Tại cuộc họp này, ông Đặng bổ nhiệm Xu Shiyou lãnh đạo quân từ Quảng Tây, Yang Dezhi lãnh đạo quân từ Vân Nam. Quyết định này đã bỏ qua Wang Bicheng, lãnh đạo Quân khu Côn Minh.

Không có một sự lãnh đạo tập trung, hai quân khu này sẽ tác chiến độc lập, gần như không có sự hợp tác.

Cuộc họp cũng nhắc lại rằng cuộc xâm lấn phải nhanh, và toàn bộ quân phải rút về sau khi hoàn tất mục tiêu chiến thuật.

Ngay sau cuộc họp, Đặng Tiểu Bình gửi hai sĩ quan cao cấp đến Vân Nam và Quảng Tây kiểm tra tình hình.

Lo lắng trước sự trễ nải của quân lính, người kiểm tra ra đề nghị hoãn cuộc tấn công thêm một tháng.

Người kiểm tra này, Zhang Zhen, viết trong hồi kí năm 2003 rằng cấp trên đồng ý hoãn cuộc tấn công đến giữa tháng Hai 1979.

Ngày 23-1, Bộ Tổng tham mưu Trung Quốc họp và quyết định quân đội phải sẵn sàng hành động trước ngày 15-2.

Hai ngày sau khi ông Đặng trở về sau chuyến thăm Mỹ và Nhật, hôm 11-2-1979, ông ra quyết định sẽ tấn công Việt Nam vào ngày 17-2.

Lệnh này được gửi đến Quảng Tây và Vân Nam.

Nhiều nhà quan sát trước đây đã phân tích vì sao Trung Quốc chọn thời điểm này.

Có vẻ nó liên quan đến yếu tố thời tiết: sẽ khó khăn nếu đưa quân tác chiến vào mùa mưa, thường bắt đầu từ tháng Tư, và cũng không ổn nếu tấn công quá sớm khi quân Liên Xô có thể vượt dòng sông băng dọc biên giới Xô – Trung.

———-

Sự xâm lược của Trung Quốc vào Việt Nam – tháng Hai 1979

Bruce Elleman

Các mối quan hệ giữa Trung Quốc và Việt Nam bắt đầu xấu đi nghiêm trọng vào giữa thập niên 1970. Sau khi Việt Nam gia nhập Hội đồng tương trợ Kinh tế (Comecon) do Liên-xô chi phối và ký kết Hiệp ước hữu nghị và hợp tác với Liên Xô năm 1978, Trung Quốc đính cho Việt Nam cái danh “Cuba phương Đông” và gọi Hiệp ước nầy là một liên minh quân sự. Các biến cố dọc theo biên giới Trung-Việt Nam tăng lên thường xuyên và dữ dội hơn. Tháng mười hai 1978 Việt Nam xâm lược Campuchia, nhanh chóng lật đổ chế độ Pol Pot do Bắc Kinh ủng hộ, và chiếm đóng nước nầy.

Cuộc tấn công bất ngờ 29 ngày của Trung Quốc vào Việt Nam trong tháng Hai 1979 là một phản ứng lại với cái mà Trung Quốc coi là một loạt hành động và chính sách khiêu khích của phía Hà Nội.  Những điều nầy bao gồm sự thân mật của Việt Nam với Liên Xô, sự kỳ thị Hoa kiều sống tại Việt Nam, “giấc mơ đế quốc ” có tính bá quyền tại khu vực Đông Nam Á và khước từ nổ lực của Bắc Kinh trong việc hồi hương Hoa kiều ở Việt Nam về Trung Quốc.

Vào tháng Hai 1979 Trung Quốc tấn công hầu như toàn tuyến biên giới Việt -Trung trong một chiến dịch ngắn ngày và giới hạn với lực lượng trên bộ. Trung Quốc tấn công vào rạng sáng ngày 17/02/1979 với bộ binh, xe tăng và pháo binh. Không lực đã không tham gia lúc đó cũng như trong suốt cuộc chiến. Trong vòng một ngày, Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc (PLA) đã tiến sâu vào Việt Nam khoảng 8 km trên toàn mặt trận.  Sau đó bước tiến chậm lại và hầu như sa lầy bởi sự kháng cự mạnh mẽ của Việt Nam và do những khó khăn trong hệ thống hậu cần của Trung Quốc.

Vào ngày 21/02/1979, có một bước tiến ở Cao Bằng vùng cực bắc và ở các nơi khác, đặc biệt là khu vực trung tâm Lạng Sơn.  Quân Trung Quốc đã tiến vào Cao Bằng ngày 27/02, nhưng thành phố này chưa thất thủ cho đến ngày 02/03. Lạng Sơn thất thủ hai ngày sau đó.  Ngày 05/03, Trung Quốc nói rằng Việt Nam đã bị trừng trị đích đáng, và họ thông báo rằng chiến dịch đã hoàn tất. Bắc Kinh tuyên bố “bài học” đã kết thúc và QGPNDTQ rút hoàn toàn vào ngày 16/03.

sau cuộc tấn công biên giới bất ngờ, Hà Nội miêu tả là Bắc Kinh đã thất bại về quân sự nếu không nói là thất bại hoàn toàn. Hầu hết các nhà quan sát hoài nghi rằng Trung Quốc sẽ mở một cuộc chiến khác với Việt Nam trong tương lai gần. Gerald Segal, trong cuốn sách Trung Quốc xuất bản 1985 đã kết luận rằng cuộc tấn công Việt Nam năm 1979 của Trung Quốc đã thảm bại: “Trung Quốc không ép được Việt Nam rút quân [từ Campuchia về], không thành công trong việc kết thúc xung đột biên giới, không loại được mối nghi ngờ về sức mạnh của cường quốc Xô-viết, không xóa được hình ảnh Trung Quốc chỉ là con hổ giấy, và không lôi kéo được Hoa Kỳ vào một liên minh anti-Xô-viết. Tuy nhiên, Bruce Elleman cải lại rằng, “một trong những điểm cơ bản về ngọại giao đằng sau cuộc tấn công của Trung Quốc là đã phô ra cho thấy: những lời bảo đảm của Xô viết về quân sự cho Việt Nam chỉ là dối trá. Theo lăng kính nầy, chính sách của Bắc Kinh đã thực sự thành công về ngoại giao, một khi Moscow không can thiệp tích cực, và như vậy nó cho thấy cái hạn chế thực tế của Hiệp ước Xô-Việt 1978. Trung Quốc đã đạt được một thắng lợi có tính chiến lược trong tương lai bằng cách giảm thiểu khả năng về một cuộc chiến hai mặt trận với Liên-xô và Việt Nam. “

Sau chiến tranh, cả hai phía Trung Quốc và Việt Nam tái tổ chức  bảo vệ biên giới của mình. Năm 1986 Trung Quốc triển khai 25 đến 28 sư đoàn  và Việt Nam có 32 sư đoàn đóng dọc theo đường biên giới chung.

Cuộc tấn công 1979 đã xác nhận sự sáng suốt của Hà Nội khi cho rằng Trung Quốc là một mối đe dọa. QĐNDVN kể từ đó có một yêu cầu cao, dự trù kế hoạch, mà theo đó Trung Quốc có thể tấn công lần nữa và lần nầy không phải hành quân bộ mà là có thể lái xe vào đến Hà Nội. Các cuộc chiến tranh biên giới đã làm tăng cường các quan hệ Việt-Xô. Vai trò quân sự của Liên-Xô tại Việt Nam trong năm 1980 tăng lên, như họ cung cấp vũ khí cho Việt Nam; hơn nữa, tàu Xô viết hay cập các cảng Đà Nẵng và vịnh Cam Ranh, và máy bay trinh sát Liên-xô hoạt động bên ngoài không phận Việt Nam. Việt Nam đáp trả chiến dịch của Trung Quốc bằng cách biến các huyện dọc theo biên giới Trung Quốc thành “pháo đài thép” do các đội quân trú đóng có trang bị đầy đủ và huấn luyện tốt. Tổng cộng, ước lượng có khoảng 600.000 quân đã được bố trí để đối phó với các hoạt động của Trung Quốc và sẵn sàng chặn đứng một cuộc xâm lược khác Trung Quốc. Khó xác định chính xác qui mô hoạt động ở biên giới, nhưng các chi phí của Việt Nam là khá lớn.

Cho đến trước năm 1987 Trung Quốc đã bố trí chín quân đoàn (khoảng 400.000 quân) trên khu vực biên giới Việt-Trung, kể cả dọc theo bờ biển. Họ cũng tăng cường hạm đội và định kỳ diễn tập đổ bộ ở đảo Hải Nam đối diện với Việt Nam, do đó cho thấy một cuộc tấn công trong tương lai có thể là từ biển.

Sự xung đột ở mức độ thấp tiếp tục dọc theo biên giới Trung-Việt như hai bên tiến hành pháo kích và do thám cao điểm trong khu vực núi non biên giới.  Các vụ chạm súng ở biên giới gia tăng dữ dội trong suốt mùa mưa khi Bắc Kinh nổ lực giảm thiểu áp lực của Việt Nam đối với quân kháng chiến Campuchia.

Từ đầu năm 1980, Trung Quốc theo đuổi những điều mà một số nhà quan sát mô tả như là một chiến dịch nửa bí mật chống lại Việt Nam, đó là mức gia tăng cao hơn trong một loạt các cuộc quấy rối ở biên giới nhưng ở mức dưới quy mô một chiến tranh có giới hạn. Việt Nam gọi nó là “chiến tranh phá hoại nhiều mặt.” Các quan chức Hà Nội đã mô tả các cuộc tấn công bao gồm quấy rối thường xuyến bằng cách pháo kích, cho các phân đội bộ binh nhỏ xâm nhập vào nội địa, xâm nhập hải phận, gài mình và thả thủy lội trên đất liền và dưới biển. Hoạt động bí mật của Trung Quốc (về mặt “phá hoại”) đa phần hướng đến các dân tộc thiểu số ở khu vực biên giới. Theo báo chí Hà Nội, các nhóm thám báo Trung Quốc phá hoại có hệ thống những nơi sản xuất nông nghiệp tập trung miền núi cũng như các cảng đường sông, giao thông vận tải, phương tiện thông tin liên lạc. Các hoạt động tâm lý chiến là một phần tất yếu của chiến dịch. Việt Nam gọi là “phá hoại kinh tế” bao gồm – khuyến khích dân làng Việt Nam ở dọc biên giới đi buôn lậu, đầu cơ tiền tệ, và tích trữ hàng tiêu dùng.

————-

Quan hệ Xô Trung và cuộc xung đột Trung-Việt tháng 2/1979

Bruce Elleman

20/4/1996

Ngưòi dịch: Đỗ Thúy

 

Trong cuốn Defending China (Bảo vệ Trung Quốc) phát hành năm 1985, Gerald Segal kết luận rằng cuộc chiến tranh chống Việt Nam của Trung Quốc năm 1979 là một thất bại hoàn toàn: “Trung Quốc đã không thể buộc Việt Nam phải rút quân khỏi Campuchia, không chấm dứt được các cuộc đụng độ ở biên giới, không tạo được sự nghi ngờ về sức mạnh của Liên Xô, không xua đi được hình ảnh về Trung Quốc là một con hổ giấy, và không kéo được Mỹ vào một liên minh chống Liên Xô.

Với mục đích phản bác quan điểm nêu trên rằng chính sách của Bắc Kinh là một sai lầm, bài viết này sẽ đánh giá lại vai trò trung tâm của mối quan hệ Trung-Nga đối với quyết định tấn công Việt Nam của Trung Quốc. Quan trọng nhất, bài viết sẽ chỉ ra việc chọn thời điểm 17/2 của Trung Quốc để tấn công Việt Nam là có liên hệ với dấu mốc 29 năm ký Hiệp ước Hữu nghị, Liên minh và Tương trợ Xô-Trung năm 1950.

Cần nhớ lại rằng ngày 14/2/1950, Bắc Kinh và Mátxcơva ký một hiệp ước 30 năm trong đó có những điều khoản bí mật ủng hộ Liên Xô đóng vai trò lãnh đạo của phong trào cộng sản thế giới. Khi Mátxcơva sau đó từ chối đàm phán trở lại các tranh chấp lãnh thổ Xô-Trung, việc này đã dẫn tới các vụ đụng độ ở biên giới hai nước, mà quan trọng nhất là thời kỳ cuối thập kỷ 1960.

Các học giả phương Tây thường không thấy được rằng kể cả trong thời kỳ diễn ra những căng thẳng này trong quan hệ Xô-Trung, Hiệp ước Hữu nghị, Liên minh và Tương trợ năm 1950 vẫn có đầy đủ hiệu lực trong suốt toàn bộ thời kỳ bất ổn này. Ít nhất từ quan điểm của Bắc Kinh, Hiệp ước Xô-Trung 1950 vẫn là một công cụ chính để cho Mátxcơva tìm cách áp đặt bá quyền đối với Trung Quốc.

Mátxcơva rõ ràng quan ngại điều gì sẽ xảy ra khi hiệp ước Xô-Trung không còn hiệu lực sau 30 năm. Bắt đầu từ năm 1969, Liên Xô thường xuyên hối thúc Trung Quốc thay thế hiệp ước năm 1950 bằng một hiệp ước mới. Năm 1978, các lực lượng Liên Xô được tăng cường dọc theo biên giới Xô-Trung và Trung Quốc-Mông Cổ. Mátxcơva cũng tìm cách buộc Bắc Kinh phải chấp nhận các điều kiện do mình đặt ra bằng cách tăng cường quan hệ ngoại giao với Hà Nội, ký hiệp ước phòng thủ có giá trị 25 năm với Việt Nam vào ngày 3/11/1978.

Tuy nhiên, thay vì xuống nước, Trung Quốc tuyên bố ý định tấn công Việt Nam vào ngày 15/2/1979, ngày đầu tiên mà Trung Quốc có thể kết thúc một cách hợp pháp Hiệp ước Xô-Trung 1950 và tấn công Việt Nam ba ngày sau đó. Khi Mátxcơva không can thiệp, Bắc Kinh tuyên bố công khai rằng Liên Xô đã không thực hiện nhiều lời hứa trợ giúp Việt Nam. Việc Liên Xô không trợ giúp Việt Nam đã khiến Trung Quốc mạnh dạn tuyên bố vào ngày 3/4/1979 ý định chấm dứt Hiệp định Hữu nghị, Liên minh và Tương trợ Xô-Trung năm 1950.

Thay vì chấp nhận ý kiến rằng cuộc tấn công Việt Nam năm 1979 của Trung Quốc là một thất bại hoàn toàn, bài viết này sẽ chỉ ra rằng một trong các mục tiêu ngoại giao chính đằng sau cuộc tấn công của Trung Quốc là để người ta thấy rằng việc đảm bảo trợ giúp quân sự của Liên Xô đối với Việt Nam chỉ là dối trá. Dưới góc độ này thì chính sách của Bắc Kinh là một thành công thực sự, do Mátxcơva đã không tích cực can thiệp, và do đó thể hiện những hạn chế trên thực tế của hiệp ước quân sự Xô-Việt. Kết quả là, bài viết này sẽ chỉ ra rằng Trung Quốc đã đạt được một chiến thắng chiến lược bằng việc giảm thiểu khả năng trong tương lai của một cuộc chiến tranh trên hai mặt trận chống Liên Xô và Việt Nam, và cũng là một thằng lợi ngoại giao bằng việc chấm dứt Hiệp ước Xô-Trung năm 1950.

Bài viết này cũng sẽ đánh giá lại tuyên bố của Bắc Kinh rằng việc Liên Xô đã không can thiệp chống Trung Quốc đã cho thấy Liên Xô thực chất chỉ là “một con gấu giấy.” Các tư liệu được giải mật gần đây của Liên Xô có xu hướng phù hợp với tuyên bố của Trung Quốc, nó đưa đến một câu hỏi quan trọng là liệu BắcKinh đã xác định được chính xác những dấu hiệu ở Viễn Đông về sự suy yếu trong nội bộ của Mátxcơva – chính sự suy yếu cuối cùng đã dẫn đến sự sụp đổ của Liên Xô năm 1991 – hay chưa vào năm 1979 – nhiều năm trước khi bằng chứng về sự suy yếu này trở nên rõ ràng trên vũ đài châu Âu. Nếu như vậy thì tồn tại khả năng rằng “sự bắt đầu kết thúc” của Chiến tranh Lạnh thực sự diễn ra ở châu Á.

Sơ lược lịch sử quan hệ Xô-Trung cuối những năm 1960

Quan hệ Xô-Trung cuối những năm 1960 xấu đi không chỉ bởi sự bất đồng sâu sắc về quy chế của vùng Ngoại Mông (Outer Mongolia), mà còn bởi rất nhiều tranh chấp chủ quyền dọc theo biên giới Xô-Trung. Thực tế, những xung đột này đã mang mầm mống ung nhọt bên dưới bề mặt của mối quan hệ Xô-Trung trong hơn một thế kỷ, kể từ khi Đế chế Nga buộc Trung Quốc phải ký một loạt các hiệp ước nhượng lại nhiều phần lãnh thổ rộng lớn của mình. Theo tác giả S. C. M Paine trong cuốn Imperial Rivals (Các đế quốc đối thủ) sắp phát hành: “Đối với Trung Quốc, những phần lãnh thổ bị mất là rất lớn: một vùng rộng hơn cả phần phía đông sông Mississipi của nước Mỹ đã trở thành lãnh thổ của Nga, hoặc, như trong trường hợp Ngoại Mông, đặt dưới sự bảo hộ của Nga.”

Trên thực tế, các bản được công bố của hiệp ước Xô-Trung đã không đưa vào các nghị định thư bí mật. Ấn bản Mùa đông 1995 của Bản tin Dự án Nghiên cứu Lịch sử Quốc tế thời Chiến tranh Lạnh (Cold War International History Project Bulletin) có trích một đoạn lời của Mao Trạch Đông nói về các cuộc đàm phán bí mật Xô-Trung:

Trong các cuộc đàm phán, theo sáng kiến của Stalin, Liên Xô đã tìm cách chiếm quyền sở hữu chính đối với Railway Changchun (tức Harbin). Tuy nhiên, sau đó một quyết định được đưa ra về việc khai thác chung … Railway, bên cạnh đó Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa trao cho Liên Xô căn cứ hải quân ở Cảng Arthur, và bốn công ty cổ phần được mở ở Trung Quốc. Theo sáng kiến của Stalin, … Manchuria và Xinjiang trên thực tế được đưa vào phạm vi ảnh hưởng của Liên Xô.

Do đó, mặc dù phần công khai của Hiệp ước Xô-Trung 1950 đã được biết đến từ lâu, nhưng cũng không rõ có bao nhiêu nghị định thư bí mật đã được ký kết. Cho đến nay, các nghị định thư này chưa bao giờ được công bố. (Bruce Elleman, “Sự kết thúc của Đặc quyền Ngoại giao ở Trung Quốc: Trường hợp của Liên Xô, 1917-1960,” Nước Trung Hoa Cộng hòa (sắp phát hành, Spring 1996).

Ngày15/2/1950, Mao miễn cưỡng đồng ý công nhận “quy chế độc lập” của Cộng hòa Nhân dân Mông Cổ. Tuy nhiên, việc này không hề có nghĩa là công nhận sự độc lập hoàn toàn của Mông Cổ đối với Trung Quốc, vì Mao tin chắc rằng chính phủ Liên Xô trước đó đã hứa trả Mông Cổ về cho Trung Quốc. Dựa trên những phàn nàn sau này của Mao, có thể thấy hẳn Mao đã nhận được sự đảm bảo từ Stalin rằng tình trạng của Mông Cổ, cũng như vị trí đích xác của các đường biên giới Trung Quốc-Mông Cổ và Trung Quốc-Liên Xô, sẽ được bàn thảo trong các cuộc gặp trong tương lai. Do đó, chính việc Mátxcơva từ chối mở các cuộc đàm phán với Bắc Kinh cuối cùng đã dẫn đến những cuộc đụng độ trong các thập kỷ 1950 và 1960. Dù vấn đề biên giới Trung Quốc-Mông Cổ đã được giải quyết năm 1962, Mao vẫn công khai lên án những hành động xâm lấn của Liên Xô vào lãnh thổ Trung Quốc và phản đối việc Liên Xô kiểm soát Mông Cổ rằng: “Liên Xô, với lý do đảm bảo sự độc lập của Mông Cổ, trên thực tế đã đặt đất nước này dưới sự thống trị của mình.”

Cuối những năm 1960, trong một loạt các sự cố ở biên giới dọc theo các con sông Ussuri và Amur, Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc (PLA) đã thể hiện sự kiên cường đáng ngạc nhiên trước Hồng Quân Liên Xô. Các cuộc xung đột này tuy nhỏ về phạm vi và không có kết cục rõ ràng, nhưng đã dẫn đến các cuộc xung đột lãnh thổ sau này ở Xinjiang dọc biên giới Trung Quốc với Liên Xô.

Mặc dù căng thẳng trong quan hệ Xô-Trung lớn đến mức nhiều học giả phương Tây gọi đó là “chia rẽ”, nhưng Hiệp ước Xô-Trung 1950 vẫn tiếp tục có hiệu lực. Trên thực tế, hiệp ước này, gồm cả các nội dung được công bố công khai lẫn các phần bí mật, vẫn là nền móng làm cơ sở cho quan hệ Xô-Trung. Tuy nhiên, nền móng này không vững chắc ngay từ ban đầu, do Liên Xô đã từ chối trả lại các phần lãnh thổ mà Sa Hoàng đoạt được trước đây về cho Trung Quốc. Có thể cho rằng chính vấn đề này chứ không phải điều gì khác đã kiến các nhà lãnh đạo Trung Quốc lên án “bá quyền” của Liên Xô ở vùng Viễn Đông. Và cũng chính vấn đề này đã gây ra căng thẳng trong quan hệ giữa Trung Quốc và Việt Nam trong những năm 1970.

Quan hệ Xô-Trung trong những năm 1970

Những tranh chấp biên giới Xô-Trung cuối những năm 1960 làm Mátxcơva và Bắc Kinh lo lắng, vì cả Liên Xô và Trung Quốc đều là các cường quốc hạt nhân; dường như có một sự đồng thuận không chính thức là không bên nào dùng đến sức mạnh không quân. (Christian F. Ostermann, “New Evidence on The Sino-Soviet Border Dispute,” Cold War International History Project Bulletin, Issue 5 (Spring 1995), 186-193.)

Tuy nhiên, các xung đột biên giới Xô-Trung này đã để lại những hậu quả rất lớn về xã hội, khiến cả hai quốc gia phải sử dụng những nguồn lực hiếm hoi để chuẩn bị cho một cuộc chiến tranh hạt nhân có thể xảy ra hoặc cho sự leo thang quân sự trong tương lai dọc theo các đường biên giới chung. Sự vững tin mới có được của PLA về khả năng có thể chống chọi được Hồng Quân Liên Xô cũng cho phép Bắc Kinh có cơ hội trong năm 1971 thực hiện chính sách đối ngoại mới thúc đẩy quan hệ thân thiện với Mỹ.

Ngoài ra, Trung Quốc cũng nỗ lực để cải thiện quan hệ với Nhật Bản, ký kết một hiệp ước vào tháng 8/1978 với nội dung dường như có tính chất chỉ trích chính sách đối ngoại của Liên Xô ở châu Á bằng việc lên án đích danh “chủ nghĩa bá quyền”. Cuối cùng, những căng thẳng Xô-Trung cũng đưa đến một số cuộc chiến tranh qua tay người khác ở Đông Nam Á, chẳng hạn như cuộc xung đột cuối những năm 1970 giữa Việt Nam và Campuchia, cũng như khiến Trung Quốc phải chấp nhận vai trò cường quốc khu vực của mình, trong đó thể hiện rõ nhất bằng cuộc tấn công Việt Nam năm 1979 nhằm cản trở ảnh hưởng đang tăng lên của Liên Xô.

Trong suốt những năm 1970, những căng thẳng Xô-Trung vẫn ở mức cao. Trong thời kỳ này, Mátxcơva cố gắng thuyết phục Bắc kinh đàm phán một hiệp ước mới hỗ trợ, hoặc thay thế, Hiệp ước Xô-Trung năm 1950. Bắt đầu từ năm 1969 và 1970, Mátxcơva đề xuất rằng hai bên cam kết không tấn công lẫn nhau, và đặc biệt là không dùng đến vũ khí hạt nhân. Tuy nhiên, khi Bắc Kinh không thể hiện bất cứ sự quan tâm nào đến thỏa thuận này, năm 1971 Mátxcơva đề xuất việc hai nước kí một hiệp ước mới cùng nhau từ bỏ việc sử dụng vũ lực. Sau đó, năm 1973 Mátxcơva thể hiện sự quan tâm bằng đề xuất cụ thể rằng hai nước ký một hiệp ước không tấn công lẫn nhau; Bắc Kinh tiếp tục phớt lờ các bước đi của Mátxcơva.

Khi thời hạn 30 năm của Hiệp ước Xô-Trung sắp kết thúc, các nỗ lực của Liên Xô nhằm thay thế hiệp ước này tăng lên đáng kể. Thí dụ, ngày 24/2/1978, Mátxcơva công khai đè xuất hai chính phủ ra một tuyên bố về các nguyên tắc cho quan hệ Xô-Trung. Các nguyên tắc này bao gồm: 1) bình đẳng; 2) tôn trọng chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau; 3) không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau; 4) không sử dụng vũ lực. Mátxcơva rõ ràng hy vọng rằng một tuyên bố như vậy có thể được sử dụng để thay thế cho Hiệp ước Xô-Trung 1950 nhằm điều chỉnh các quan hệ Xô-Trung. Tuy nhiên, mục tiêu cao nhất trong các đề xuất của Liên Xô rõ ràng là nhằm hạn chế, hoặc thậm chí là làm giàm, ảnh hưởng đang lên của Trung Quốc ở châu Á. (Theo Chang Pao-min, khía cạnh này trong chính sách của Liên Xô đối với Trung Quốc là điều hấp dẫn nhất đối với Việt Nam, thậm chí còn trích lời một quan chức Việt Nam nói rằng: “Rõ ràng lợi ích của Liên Xô có sự song trùng rất lợi với lợi ích của Việt Nam – giảm ảnh hưởng của Trung Quốc trong phần này của thế giới.” Chang Pao-min, Kampuchea Between China and Vietnam (Singapore, Singapore University Press, 1985), 46-47.)

Tuy nhiên, Bắc Kinh từ chối mọi lời đề nghị của Mátxcơva và trong suốt những năm 1970 Trung Quốc lên án Liên Xô bằng những lời lẽ mạnh bạo hơn. Thí dụ, tháng 2/1974, Mao Trạch Đông công khai kêu gọi thành lập một liên minh “thế giới thứ ba” chống lại cái gọi là “thế giới thứ nhất”, trong trường hợp này bao giồm cả Liên Xô và Mỹ. Tuy nhiên, sau khi Mao chết, tờ Nhân dân Nhật báo ra ngày 1/11/1977 có bài viết coi Liên Xô là kẻ thù nguy hiểm nhất của Trung Quốc trong khi Mỹ được coi là một đồng minh. Tất cả các nước xã hội chủ nghĩa – trong đó đặc biệt là Việt Nam (“Sự đổ vỡ trong quan hệ giữa Việt Nam với Trung Quốc sau năm 1975 và liên minh hiện tại của Việt Nam với Liên Xô có thể xuất phát từ sự phản kháng của Việt Nam trước sức ép của Trung Quốc đòi Việt Nam phải chọn một trong hai bên.” Ramesh Thaku and Carlyle Thayer, Soviet Relations with India and Vietnam (New York, St. Martin’s Press, 1992), 287) – cũng được coi là các đồng minh tiềm năng trong một “mặt trận thống nhất” chống Liên Xô. Cuối cùng, ngày 26/3/1978, Bộ Ngoại giao Trung Quốc yêu cầu Mátxcơva, ben cạnh việc thừa nhận sự tồn tại của “các khu vực tranh chấp” dọc đường biên giới Xô-Trung, phải rút hoàn toàn quân đội của mình khỏi Cộng hòa Nhan dân Mông Cổ, cũng như rút khỏi đường biên giới Xô-Trung.

Đáp lại trước những đòi hỏi của Trung Quốc, đầu tháng 4/1978 Tổng Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô Leonid Brezhnev đi thăm Siberia và thông báo rằng các thiết bị mới, tân tiến hơn đã được cung cấp cho các đơn bị tên lửa đóng dọc theo biên giới Xô-Trung. Theo Brezhnev, các vũ khí mới sẽ là phương tiện để “tự bảo vệ chúng tôi và những người bạn xã hội chủ nghĩa chống lại sự xâm lược có thể xảy ra từ bất cứ quốc gia nào.” Ngay sau đó, ngày 12/4/1978, Ulan Bator cũng công khai phản đối những đòi hỏi của Bắc Kinh, tuyên bố rằng Liên Xô đã bổ sung quân đội tới các bị trí dọc theo đường biên giới Mông Cổ-Ấn Độ theo đề nghị của Mông Cổ nhằm đối phó với việc Trung Quốc tăng quân ở vùng phía nam biên giới.

Đúng như những gì mà các sự kiện này cho thấy một cách khá rõ ràng, đến năm 1978 những căng thẳng biên giới Xô-Trung đã tăng lên đáng kể, chủ yếu là do việc Liên Xô tăng cường điều quân đóng dọc theo biên giới Xô-Trung và tại Mông Cổ. Ở phạm vi lớn hơn, tình trạng này có thể được giải thích bằng những nỗ lực không ngừng của Mátxcơva nhằm ép Bắc Kinh không chấm dứt Hiệp ước Xô-Trung 1950, điều đã diễn ra trong năm 1979, hoặc tốt hơn là đàm phán một hiệp ước mới với những nguyên tắc làm cơ sở cho quan hệ Xô-Trung trong tương lai. Tuyên bố của Brezhnev rằng ông có ý định sử dụng các lực lượng Xô Viết chống lại Trung Quốc vì “những người bạn xã hội chủ nghĩa” của Mátxcơva cũng là một lời cảnh báo tới Bắc Kinh để họ phải buông Mông Cổ cũng như các đồng minh của Mátxcơva ở Đông Nam Á.

Trung Quốc không những không khuất phục dưới sức ép ngoại giao và quân sự của Liên Xô mà còn tìm cách gây áp lực ngoại giao lại với Mátxcơva bằng việc củng cố quan hệ với cả Mỹ và Nhật Bản. Có thể nói rằng chính sách của Bắc Kinh đã thành công hơn và kết quả là việc Bắc Kinh ký các thỏa thuận quan trọng với cả Oasinhtơn và Tôkiô. Đối với Mátxcơva, rõ ràng các thỏa thuận mới này của Trung Quốc là nhằm chống Liên Xô, do – ít nhất trong trường hợp hiệp ước Trung-Nhật – cả hai bên trực tiếp lên án “chủ nghĩa bá quyền”, thuật ngữ mà Trung Quốc thường dùng để chỉ sự bành trướng của Liên Xô. Đối sách của Liên Xô là tăng cường quan hệ ngoại giao với tất cả các nước Đông Nam Á có biên giới chung với Trung Quốc, trong đó quan trọng nhất là Việt Nam.

Quan hệ Xô-Trung và Việt Nam tháng 2/1979

Mặc dù Trung Quốc có thể không phải là một bên tham gia trong cuộc xung đột Việt Nam những năm 1960 và 1970, nhưng sự giúp đỡ về kinh tế và vật chất của Trung Quốc cho Việt Nam đóng một vai trò hết sức quan trọng. Trung Quốc không chỉ cử binh lính sang giúp Việt Nam duy trì các đường tiếp tế, mà ước tính sự giúp đỡ về vật chất của Bắc Kinh cho Hà Nội từ năm 1950 đến 1978 đã vượt quá 20 tỉ USD (King C. Chen, China’s War with Vietnam, 1979 (Stanford, CA, Hoover Institution Press, 1987), 27). Do vậy, không mấy khó hiểu tại sao Bắc Kinh cảm thấy phật ý trước quan hệ ngày càng gần gũi giữa Mátxcơva và Hà Nội cuối những năm 1970.

Điều này đặc biệt đúng sau khi hai nước ký một hiệp ước phòng thủ chung vào ngày 3/11/1978 mà rõ ràng nhằm vào Trung Quốc. Theo một học giả, liên minh Xô-Việt đã khiến Việt Nam trở thành chiếc “trục” trong “cỗ xe kiềm chế Trung Quốc” của Liên Xô. (Robert A. Scalapino, “The Political Influence of the USSR in Asia,” in Donald S. Zagoria, ed., Soviet Policy in East Asia (New Haven, Yale University Press, 1982), 71) Do đó, dưới cách nhìn của Trung Quốc, nỗ lực của Mátxcơva nhằm bao vây Trung Quốc về mặt ngoại giao dường như đã sắp thành công. Nhận thức này đã dẫn đến việc Trung Quốc tấn công Việt Nam tháng 2/1979.

Mặc dù quan hệ ngoại giao giữa Bắc Kinh và Hà Nội trong những năm 1960 và đầu 1970 nhìn chung là tốt, nhưng những khác biệt về chính sách giữa Trung Quốc và Việt Nam trở nên lớn hơn sau khi chế độ Sài Gòn sụp đổ tháng 4/1975. Tháng 9 năm đó, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Lê Duẩn đi Bắc Kinh và trong một loại các cuộc gặp trong chuyến đi đó, rõ ràng rằng Trung Quốc rất lo ngại về quan hệ gần gũi giữa Việt Nam với Liên Xô. Mặc dù quan hệ tiếp tục xấu đi trong những năm tiếp theo, nhưng bất đồng giữa Trung Quốc với Việt Nam chỉ trở nên rõ ràng khi hàng nghìn người Hoa bắt đầu rời Việt Nam vào mùa xuân và mùa hè năm 1978. Ngoài ra, những tranh chấp lãnh thổ đối với quần đảo Trường Sa, cũng như việc Việt Nam đánh Campuchia, cũng làm gia tăng căng thẳng Việt-Trung.

Trong khi đó, những dấu hiệu gia tăng về quan hệ hợp tác Xô-Việt cũng xuất hiện vào mùa hè năm 1978, khi Việt Nam tỏ ý muốn trở thành thành viên của khối COMECON. Bên cạnh đó, các nguồn tin của chính phủ Mỹ nói rằng đến tháng 8/1978 đã có tới 4,000 chuyên gia Liên Xô ở Việt Nam. Tháng 9/1978, Liên Xô bắt đầu tăng cường các chuyến hàng chở vũ khí tới Việt Nam, cả bằng đường biển và đường không, bao gồm “máy bay, tên lửa, xe tăng và đạn dược.” Cuối cùng, tất cả các dấu hiệu của việc tăng cường quan hệ Việt-Xô lên đến đỉnh điểm ngày 3/11/1978 với việc Việt Nam và Liên Xô ký Hiệp ước Hữu nghị và Hợp tác. Rõ ràng hiệp ước này là nhằm vào Trung Quốc, bởi tại điều 6 nên rằng Việt Nam và Liên Xô sẽ “tham vấn nhau ngay lập tức” nếu một trong hai nước “bị tấn công hoặc đe dọa tấn công … nhằm loại bỏ mối đe dọa đó.” Có tin rằng hiệp ước này còn bao gồm một thỏa thuận bí mật cho phép lực lượng quân đội Liên Xô tiếp cận với các “sân bay và bến cảng” của Việt Nam (Ramesh Thaku and Carlyle Thayer, Soviet Relations with India and Vietnam (New York, St. Martin’s Press, 1992), 61).

Mặc dù Việt Nam tuyên bố rằng việc ký hiệp ước này với Nga là nhằm ngăn chặn những hành động “phiêu lưu” của Trung Quốc, nhưng các nhà lãnh đạo ở Bắc Kinh rõ ràng coi đây là một phần trong các nỗ lực của Mátxcơva nhằm gây áp lực buộc Trung Quốc xuống nước và gia hạn các điều khoản bất bình đẳng của Hiệp ước Xô-Trung 1950. Nếu Liên Xô tạo được một chỗ đứng vững chắc ở Đông Nam Á thì có thể đe dọa Trung Quốc từ cả hai bên sườn phía bắc và phía nam. Nếu thành công, chính sách này sẽ tạo cho Mátxcơva sức mạnh đủ để buộc Bắc Kinh gia hạn, hoặc ít nhất là đàm phán lại, Hiệp ước Xô-Trung 1950 theo cách có lợi cho Mátxcơva. Một biểu hiện sớm của mối quan ngại từ Bắc Kinh về Hiệp ước Việt-Xô đã được Nhân dân Nhật báo lên tiếng, trong đó cảnh báo rằng Mátxcơva đang sử dụng Việt Nam để chống Trung Quốc như đã từng làm trước đây, và thất bại, là sử dụng Trung Quốc để gây áp lực với Mỹ. Bắc Kinh cũng cảnh báo rằng mục tiêu cuối cùng của Mátxcơva là “kiểm soát toàn bộ Đông Dương.”

Với việc ký hiệp ước phòng thù Việt-Xô ngày 3/11/1978, Liên Xô hy vọng sẽ sử dụng mối quan hệ với Việt Nam để giành ưu thế chiến thuật và thọc sườn Trung Quốc. Mối lo ngại chính của Trung Quốc là nếu các chính sách của Liên Xô ở Việt Nam thành công thì chính quyền Xô Viết có thể đạt được sự kiểm soát chặt chẽ về chiến lược và quân sự đối với Trung Quốc. Từ khi diễn ra sự bất hòa giữa Trung Quốc và Liên Xô, đặc biệt là khi xảy ra những xung đột biên giới Xô-Trung cuối những năm 1960, mục tiêu chính của Bắc Kinh là xây dựng tiềm lực quân sự nhằm đối phó với Hồng Quân Liên Xô, điều mà Bắc Kinh đã hầu như đạt được trong khoảng giữa đến cuối những năm 1960 và đầu những năm 1970, khi Trung Quốc có trong tay 3,6 triệu quân theo như báo cáo. Về mặt ngoại giao, Bắc Kinh tiếp tục tìm cách gây sức ép với Mátxcơva bằng việc chính thức bình thường hóa quan hệ với Oasinhtơn ngày 1/1/1979. Ramser Amer kết luận rằng các liên minh mới của Liên Xô và Trung Quốc có mối liên hệ chặt chẽ với nhau: “Vậy là hai liên minh chiến lược đã được thành lập vào những tháng cuối của năm 1978, một liên minh Việt-Xô và một liên minh Trung-Mỹ, và các liên minh này duy trì trong khoảng một thập kỷ.”

Do việc nối lại quan hệ giữa Trung Quốc và Mỹ đầu năm 1979, Liên Xô ngày càng lo ngại về một cuộc chiến tranh trên hai mặt trận với các lực lượng NATO do Mỹ đứng đầu ở phía tây và các lực lượng Trung Quốc ở phía đông. Điều này có thể đã thuyết phục Mátxcơva tăng cường sự ủng hộ đối với cuộc tấn công Campuchia của Việt nam đang diễn ra, một sự kiện mà Robert Ross đã liên hệ chặt chẽ với cuộc tấn công Việt Nam sau đó của Trung Quốc khi ông lập luận rằng việc lật đổ đồng minh thân cận của Trung Quốc ở Campuchia làm Bắc Kinh đặc biệt lo ngại. Trong khi Bắc Kinh không muốn can thiệp trực tiếp vào Campuchia để chặn đứng cuộc tấn công của Việt Nam, cuộc tấn công bằng quân sự của Trung Quốc vào vùng lãnh thổ tranh chấp Việt-Trung có một “mối liên hệ hữu cơ”, khi mà các nhà lãnh đạo Trung Quốc cảnh bảo Việt Nam không nên nghĩ sai lầm rằng Trung Quốc đang “yếu và dễ bị bắt nạt.”

Tuy nhiên, trong phân tích cuối cùng, Việt Nam là một quốc gia khá nhỏ kể cả về dân số và sức mạnh quân sự, và có lẽ sự gia tăng đột ngột số lượng chuyên gia Liên Xô đến Việt Nam – khoảng 5,000 đến 8,000 vào giữa năm 1979 –  và việc cung cấp số lượng lớn các phương tiện quân sự là một cảnh báo nguy hiểm đối với an ninh chiến lược trực tiếp của Trung Quốc. Vì vậy, theo King C. Chen: “Nếu không có liên minh Việt-Xô, cuộc chiến tranh mười sáu ngày giữa Trung Quốc và Việt Nam có thể đã không xảy ra.” Trong một lần thừa nhận rõ ràng rằng hợp tác quân sự giữa Trung Quốc và Việt Nam đã làm Trung Quốc lo ngại sâu sắc, Đặng Tiểu Bình công khai thừa nhận rằng “liên minh quân sự” mới giữa Liên Xô và Việt Nam thực chất là một phần trong mục tiêu lâu dài của Liên Xô muốn “bao vây Trung Quốc”.

Sau khi ký Hiệp ước Việt-Xô ngày 3/11/1978, Bắc Kinh phải tìm ra phương sách để phá vỡ âm mưu bao vây Trung Quốc này của Liên Xô. Do vậy, chính nỗi lo bị Mátxcơva đánh thọc sườn đã đẩy Trung Quốc vào thế phải hành động. Rõ ràng, bước đi đầu tiên của Trung Quốc là thử thách mức độ quyết tâm của Liên Xô xem nước này sẽ đứng bên Việt Nam theo đúng tinh thần hiệp ước hay sẽ xuống nước và chấp nhận thất bại. Thậm chí còn có tin nói rằng Đặng Tiểu Bình nói với Tổng thống Mỹ Carter vào tháng 1/1979 rằng một cuộc chiến tranh giữa Trung Quốc và Việt Nam sẽ “phá vỡ những tính toán chiến lược của Liên Xô…” Do đó, thậm chí Ross còn kết luận rằng trong bối cảnh Việt Nam đã đánh chiếm thành công Campuchia, chính “việc Liên Xô bao vây Trung Quốc như một hệ quả” dẫn tới sự cần thiết phải có một cuộc tấn công hạn chế nhằm vào Việt Nam.”

Chiến tranh Trung-Việt 1979

Các lực lượng Trung Quốc tấn công Việt Nam ngày 17/2/1979. Mặc dù các động cơ chính xác phía sau cuộc tấn công của Trung Quốc vẫn còn bỏ ngỏ cho mọi sự diễn giải, nhưng mối lo ngại của Bắc Kinh rằng hiệp ước phòng thủ có giá trị 25 năm của Mátxcơva với Hà Nội có thể dẫn đến việc quân sự hóa của Liên Xô đối với đường biên giới Việt-Trung hiển nhiên là một nhân tố chính. Mátxcơva cũng có thể đã hy vọng rằng hiệp ước ký với Hà Nội sẽ khiến Trung Quốc phải điều bớt quân khỏi phía bắc, do đó làm yếu sự phòng thủ quân sự của Trung Quốc dọc theo biên giới Xô-Trung.

Tuy nhiên, những hy vọng của Mátxcơva đã đổ vỡ khi Trung Quốc quyết định tấn công Việt Nam. Chỉ sau ba tuần đánh nhau, Trung Quốc rút quân và những tranh chấp biên giới Việt-Trung vẫn chưa được giải quyết. Đối với hầu hết những người quan sát từ bên ngoài, hành động quân sự của Bắc Kinh có vẻ như là một thất bại. Nhưng nếu mục tiêu thực sự đằng sau cuộc tấn công của Trung Quốc là nhằm để cho mọi người thấy việc đảm bảo giúp đỡ về quân sự của Liên Xô đối với Việt Nam chỉ là dối trá, thì việc Liên Xô từ chối can thiệp đã chấm dứt trên thực tế hiệp ước phòng thủ Việt-Xô. Do vậy, Bắc Kinh đã đạt được một chiến thắng chiến lược rõ ràng với việc phá vỡ vòng vây của Liên Xô và loại bỏ mối đe dọa của Liên Xô về một cuộc chiến tranh trên hai mặt trận.

Vào ngày 15/2/1979, không chỉ là ngày đánh dấu 29 năm thỏa thuận giữa Mao và Stalin về Mông Cổ mà còn là ngày đầu tiên Trung Quốc có thể chính thức tuyên bố chấm dứt Hiệp ước Hữu nghị, Liên minh và Tương Trợ Xô-Trung, Đặng Tiểu Bình tuyên bố rằng Trung Quốc có kế hoạch thực hiện một cuộc tấn công hạn chế vào Việt Nam. Nhằm ngăn chặn sự can thiệp của Liên Xô hòng giúp Việt Nam, Đặng cảnh báo Mátxcơva ngày hôm sau rằng Trung Quốc đã chuẩn bị cho một cuộc chiến tranh tổng lực với Liên Xô. Để chuẩn bị cho cuộc xung đột này, Trung Quốc đã đặt tất cả quân đội dọc theo biên giới Xô-Trung trong tình trạng báo động khẩn cấp, thiết lập một bộ chỉ huy quân sự mới ở Tân Cương, và thậm chí còn sơ tán khoảng 300,000 dân thường khỏi vùng biên giới Xô-Trung. (Chang Pao-min, Kampuchea Between China and Vietnam (Singapore, Singapore University Press, 1985), 88-89.)

Ngoài ra, phần lớn các lực lượng chiến đấu của Trung Quốc (lên tới khoảng một triệu rưỡi quân) được triển khai dọc theo các đường biên giới với Nga. (Robert A. Scalapino “Asia in a Global Context: Strategic Issue for the Soviet Union,” in Richard H. Solomon and Masataka Kosaka, eds., The Soviet Far East Military Buildup (Dover, MA. , Auburn House Publishing Company, 1986), 28)

Như đã báo trước, cuộc tấn công quân sự của Trung Quốc nhằm vào Việt Nam bắt đầu ngày 17/2/1979, chỉ trong vòng ba ngày sau dấu mốc 29 năm Hiệp ước Xô-Trung 1950. Đúng như Đặng tuyên bố ngay từ đầu, Trung Quốc thực hiện một hành động hạn chế đối với Việt Nam. Không chỉ các lực lượng tinh nhuệ nhất của Trung Quốc được triển khai dọc theo biên giới Trung-Việt, Bắc kinh còn quyết định không sử dụng khoảng 500 máy bay tiêm kích và ném bom đã đóng tại khu vực này trước đó. Phản ứng trước cuộc tấn công của Trung Quốc, Liên Xô đưa nhiều tàu hải quân và thiết lập một cầu không vận chuyển vũ khí cho Việt Nam. Ngày 22/2/1979, đại tá N. A. Trarkov, tùy viên quân sự Liên Xô tại Hà Nội, thậm chí còn đe dọa Liên Xô sẽ “thực hiện nghĩa vụ theo hiệp ước Việt-Xô”; tuy nhiên các nhà ngoại giao Xô Viết ở những nơi khác lại thể hiện rõ rằng Liên Xô sẽ không can thiệp chừng nào cuộc xung đột vẫn còn hạn chế. (John Blodgett, “Vietnam: Soviet Pawn or Regional Power?” in Rodney W. Jones and Steven A. Hildreth, eds., Emerging Powers Defense and Security in the Third World (New York, Praeger Publishers, 1986), 98). Liên Xô rõ ràng không có ý định mạo hiểm với một cuộc chiến tổng lực với Trung Quốc vì Việt Nam.

Sau ba tuần giao tranh căng thẳng, Trung Quốc có thể tuyên bố đã chiếm được ba trong số sáu thủ phủ cấp tỉnh của Việt Nam – Cao Bằng, Lạng Sơn và Lào Cai – có biên giới chung với Trung Quốc. Mặc dù các lực lượng Trung Quốc có hơn 250 nghìn quân, phía Việt Nam vẫn sử dụng chiến thuật đánh du kích để Trung Quốc không có được một chiến thắng nhanh chóng. Do vậy, khi Bắc Kinh thông báo ý định rút quân vào ngày 5/3/1979, có vẻ như các mục tiêu cơ bản của cuộc tấn công này vẫn chưa đạt được; cụ thể là tiềm lực quân sự của Việt Nam vẫn chưa bị tổn hại nghiêm trọng bởi Trung Quốc. Sau đó, biên giới Việt-Trung tiếp tục căng thẳng khi Trung Quốc rút quân khỏi Việt Nam sau ba tuần giao tranh.

Đối với nhiều nhà quan sát bên ngoài, cuộc tấn công của Trung Quốc vào Việt Nam là một thất bại hoàn toàn. Tuy nhiên, như Banning Garrett nhận xét chính xác, “người Trung Quốc chứng tỏ rằng họ có thể tấn công một đồng minh của Liên Xô mà không bị trả đũa từ ‘con gấu giấy’. (Banning Garrett, “The Strategic Triangle and the Indochina Crisis,” in David W. P. Elliott, ed., The Third Indochina Conflict, (Boulder, CO, Westview Press, 1981), 212.)

Trên thực tế, với việc chứng tỏ rằng Liên Xô sẽ không can thiệp tích cực vì Việt Nam, Trung Quốc tin rằng việc chấm dứt Hiệp ước Xô-Trung 1950 cũng sẽ không dẫn đến chiến tranh. Kết quả là ngày 3/4/1979, Bắc Kinh thông báo ý định chấm dứt Hiệp ước Hữu nghị, Liên minh và Tương trợ Xô-Trung năm 1950. Sau đó, mặc dù các cuộc đàm phán Xô-Trung được mở chính thức vào tháng 10/1979, việc Liên Xô đưa quân vào Afghanistan đã tạo cho Trung Quốc lý do để dừng lại các cuộc gặp trong tương lai, và do đó xóa đi bất cứ sự cần thiết nào cho việc đàm phán một hiệp ước ngoại giao mới giữa Liên Xô và Trung Quốc.

Do các động cơ thực sự phía sau cuộc tấn công năm 1979 của Trung Quốc nhằm vào Việt Nam vẫn còn chưa rõ ràng, các học giả nghiên cứu về cuộc xung đột này đã đưa ra nhiều giả thuyết ấn tượng. Có lẽ giả thuyết thường thấy nhất là Trung Quốc muốn “trừng phạt” Việt Nam vì đưa quân vào Campuchia, nơi trước đó được coi là một quốc gia chư hầu của đế chế Trung Hoa. Các vấn đề khác trong quan hệ Việt-Trung, như tranh chấp lãnh thổ ở quần đảo Trường Sa hay việc di tản ồ ạt người Hoa khỏi Việt Nam, cũng được coi là đóng vai trò quan trọng. Tuy nhiên, thuyết phục nhất là một số nhỏ học giả cho rằng quyết định của Việt Nam đi gần hơn với Liên Xô mới là lý do chính đằng sau cuộc tấn công của Trung Quốc.

Trong số các học giả có quan điểm cho rằng những hành động của Trung Quốc là để đối phó với hiệp ước phòng thủ Xô-Việt ngày 3/11/1979, có nhiều cách diễn giải xung quanh việc chính sách của Trung Quốc là thành công hay thất bại. Thí dụ, theo Gerald Segal, chính sách của Trung Quốc đã thất bại vì không đặt được hiệp ước phòng thủ Xô-Việt tới “thử thách cao nhất.” Robert Ross cũng kết luận rằng chính sách của Trung Quốc là một thất bại, mặc dù ông tích cực hơn Segal ở chỗ cho rằng cuộc chiến tranh Trung-Việt là lần đầu tiên kể từ năm 1949 Trung Quốc sử dụng vũ lực khi lãnh thổ không trực tiếp bị đe dọa, và do đó chứng tỏ Trung Quốc nay có khả năng “hành động như một cường quốc khu vực với những quyền lợi khu vực.” Cuối cùng, Banning Garrett và Nayan Chanda tích cực hơn, ít nhất cũng thừa nhận tuyên bố của Trung Quốc rằng cuộc chiến tranh hạn chế Trung-Việt là một thành công vì đã chứng tỏ rằng Liên Xô là một “con gấu giấy” bởi Mátxcơva đã từ chối thực hiện nghĩa vụ theo hiệp ước phải can thiệp vì Hà Nội.

Có lẽ quan điểm tích cực nhất về cuộc xung đột Trung-Việt là của Chang Pao-min. Theo Chang, nếu nhìn nhận cuộc xung đột từ quan điểm của Bắc Kinh thì hiệp ước phòng thủ Việt-Xô năm 1978 là một mối đe dọa rõ ràng đối với an ninh của Trung Quốc. Không chỉ Liên Xô hy vọng sử dụng hiệp ước này để thiết lập một “Hệ thống An ninh Tập thể Châu Á” nhằm vào Trung Quốc, mà quan hệ quân sự của Liên Xô với Việt Nam còn được coi là một nỗ lực nhằm “đe dọa và âm mưu bóp nghẹt Trung Quốc từ phía nam.” Dưới góc độ này, Việt Nam sau này được tả trong các tuyên bố của Trung Quốc là “con dao của Liên bang Xô Viết đặt sau lưng Trung Quốc.” Do đó, đúng như Chang nhận xét, cuộc xung đột Trung-Việt phải được coi là một phản ứng trước nỗ lực của Liên Xô nhằm sử dụng Việt Nam để “kiềm chế và bao vây Trung Quốc ở Đông Nam Á … [do đó tạo ra] một mối đe dọa nghiêm trọng ở sườn phía nam của Trung Quốc.”

Các lập luận đưa ra trong bài viết này có xu hướng ủng hộ quan điểm rằng cuộc chiến tranh Trung-Việt tháng 2/1979 là một thành công. Một khi Bắc Kinh tin rằng Mátxcơva sẽ không can thiệp vì Hà Nội, việc này sẽ khuyến khích Bắc Kinh dứt hẳn với Mátxcơva. Việc này thể hiện rõ nhất trong tuyên bố ngày 3/4/1979 của Bắc Kinh rằng họ muốn chấm dứt Hiệp ước Xô-Trung năm 1950. Nêu ra bằng chứng cuối cùng rằng các chính sách của Trung Quốc ở Việt Nam có mối liên hệ chặt chẽ với Liên Xô, Amers đã nhận xét chính xác rằng quyết định năm 1988 của Trung Quốc không gắn quan hệ biên giới với Việt Nam với vấn đề Campuchia đã tương hợp gần như chính xác với các nỗ lực của Gorbachev nhằm bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc và cải thiện quan hệ của Liên Xô với các quốc gia ASEAN. Do vậy, bằng việc phá vỡ vòng vây của Liên Xô và loại bỏ mối đe dọa của Mátxcơva về một cuộc chiến tranh trên hai mặt trận, Trung Quốc đã đạt được một chiến thắng chiến lược quan trọng trước Liên Xô.

Liên Xô phải chăng là “gấu giấy”?

Hầu hết các học giả phương Tây đều có một kết luận chung rằng cuộc tấn công Việt Nam năm 1979 của Trung Quốc là một thất bại. Thí dụ, theo Gerald Segal, “cuộc chiến Trung-Việt năm 1979 là thất bại quan trọng nhất về chính sách đối ngoại của Trung Quốc kể từ năm 1949.” Ở một phạm vi rộng, Robert Ross đồng tình và cho rằng: “Thất bại trong chính sách của Trung Quốc cho thấy rõ vai trò không rõ ràng của cường quốc khu vực này trong chính trị quốc tế đương đại.” Gần đây nhất, Ellis Joffe, một chuyên gia về PLA tại đại học Hebrew University of Jerusalem, kết luận rằng: “Trung Quốc đã chuốc vạ bởi các biện pháp hạn chế chống Việt Nam năm 1979. Trung Quốc định dạy cho Việt Nam một bài học, nhưng Việt Nam đã dạy cho Trung Quốc một bài học.” (“Strait of Uncertainty Taiwan braves increased pressure from China,” Far Eastern Economic Review, 8 February 1996, 20-21.)

Các đánh giá tiêu cực này của phương Tây ngược lại hoàn toàn với tuyên bố của Bắc Kinh rằng cuộc chiến chống Việt Nam năm 1979 là một thành công, do quyết định không can thiệp của Mátxcơva đã chứng tỏ rằng Liên Xô chỉ là một “con gấu giấy”. Bắc Kinh có lẽ sẵn sàng chứng tỏ tuyên bố này bằng hành động, khi họ không chỉ công bố việc chấm dứt Hiệp ước Xô-Trung năm 1950 mà sau đó còn đặt ra cho Mátxcơva ba điều kiện để cải thiện quan hệ Xô-Trung. Ba điều kiện này bao gồm: 1) rút quân đội Liên Xô khỏi biên giới Xô-Trung và Mông Cổ; 2) rút quân đội Liên Xô khỏi Afghanistan; 3) chấm dứt sự ủng hộ của Liên Xô đối với việc Việt Nam chiếm đóng Campuchia. (Yao Wengin, “Soviet Military Deployments in the Asia-Pacific Region: Implications for China’s Security,” in Richard H. Solomon and Masataka Kosaka, eds., The Soviet Far East Military Buildup (Dover, MA., Auburn House Publishing Company, 1986), 103.)

Do đó, bên cạnh việc thể hiện một tư thế cứng rắn hơn trong quan hệ với Liên Xô, các nước láng giềng ở phía nam cũng phải cư xử với Trung Quốc một cách tôn trọng hơn. Theo một báo cáo năm 1986, do Hà Nội đã thua trong ván bạc năm 1979 khi cho rằng Bắc Kinh sẽ không bao giờ tấn công, Việt Nam, “với kinh nghiệm của năm 1979, đã triển khai 700,000 quân ở phía bắc.” (Karl D. Jackson, “Indochina, 1982-1985: Peace Yields to War,” in Richard H. Solomon and Masataka Kosaka, eds., The Soviet Far East Military Buildup (Dover, MA., Auburn House Publishing Company, 1986), 206.)

Vai trò có tính chất khẳng định hơn của Trung Quốc ở châu Á trong những năm 1980 cho thây Bắc Kinh thực sự tin rằng họ đã giành chiến thắng trong cuộc chiến Trung-Việt năm 1979. Vì thế, mặc dù Nayan Chanda và những người khác đã cnảh báo rằng những tuyên bố của Trung Quốc rằng Liên Xô chỉ là “con gấu giấy” có thể chỉ là luận điệu tuyên truyền, nhưng những hành động của chính Bắc Kinh cho thấy rằng họ tin chắc vào quan điểm này. Chính vì lý do này mà các cuộc tranh luận gần đây xung quanh thời điểm Chiến tranh Lạnh thực sự kết thúc có vẻ như liên quan trực tiếp tới tuyên bố của Trung Quốc năm 1979 rằng Liên Xô đã quá yếu và không thể tham chiến. Thực tế, theo quan điểm của Trung Quốc, việc Liên Xô không can thiệp để giúp Việt Nam năm 1979 là bằng chứng chứng tỏ Mátxcơva không còn ý định tham gia một cuộc chiến tranh lớn. Nói cách khác, thời kỳ nguy hiểm nhất của Chiến tranh Lạnh đã qua đi.

Cho tới nay, cuộc tranh luận thường thấy về việc liệu Chiến tranh Lạnh có kết thúc trên thực tế trước khi Bức tường Berlin sụp đổ năm 1989 hay không đã diễn ra xung quanh những tuyên bố của tướng bốn sao về hưu của Liên Xô là Anatoly Gribkov, nguyên tham mưu trưởng của khối Hiệp ước Warsaw trong đầu những năm 1980. Gribkov lập luận dựa trên việc đến tháng 12/1981, Bộ Chính trị Liên Xô rõ ràng đã mất ý chí chính trị sử dụng vũ lực để duy trì đế chế mở rộng của họ trong vòng kiểm soát. Đánh giá này dựa trên việc Bộ Chính trị từ chối gửi quân tới Ba Lan để ngăn chặn một cuộc thay đổi dân chủ, một dấu hiệu của sự suy yếu mà Gribkov coi là bằng chứng cho thấy Liên Xô thực sự đã “thua” trong cuộc Chiến tranh Lạnh ngay từ năm 1981.(“The Two Trillion Dollar Mistake,” Worth, (February 1996), 78-83/128-129. )

Các biên bản được giải mật gần đây của một cuộc họp Bộ Chính trị Xô Viết ngày 10/12/1981 có xu hướng chứng tỏ cho các luận điểm của Gribkov, vì chúng cho thấy rằng lựa chọn gửi quân chống lại đảng “Đoàn kết” của Ba Lan đã bị Mátxcơva bác bỏ với sự đồng thuận rằng rủi ro là quá lớn. (Cold War International History Project Bulletin, Issue 5 (Spring 1995), 135-137) Ngoài ra, các biên bản này còn cho thấy Bộ Chính trị Liên Xô đã cân nhắc một cách nghiêm túc việc nhượng bộ ở Viễn Đông bằng việc ra lệnh rút quân khỏi Mông Cổ; nếu Mátxcơva thực hiện kế hoạch này trên thực tế thì coi như đã chấp nhận một trong ba điều kiện tiên quyết của Bắc Kinh cho việc cải thiện quan hệ Xô-Trung.

Các tài liệu này của Liên Xô, cũng như các tài liệu khác giống như thế, dường như chứng tỏ cho luận điểm của Gribkov rằng đến năm 1981, giới lãnh đạo Liên Xô đã mất khả năng sử dụng vũ lực nhằm củng cố lại đế chế Liên Xô đang lung lay. Cách suy luận này cũng có thể áp dụng cho cuộc xung đột Trung-Việt năm 1979, do việc Trung Quốc tấn công Việt Nam rõ ràng tạo ra một mối đe dọa thực tế đối với an ninh và ổn định cho không gian ảnh hưởng của Liên Xô ở Đông Nam Á. Chính việc Bộ Chính trị Liên Xô từ chối thực hiện các nghĩa vụ theo hiệp ước đối với Việt Nam và không can thiệp chống Trung Quốc cho thấy lập luận của Gribkov rằng Bộ Chính trị Liên Xô đã mất ý chí chính trị để củng cố đế chế của mình bằng vũ lực có thể được áp dụng tương đương – nếu không tốt hơn – cho kết quả của cuộc chiến Trung-Việt năm 1979.

Sự sụp đổ của Bức tường Berlin năm 1989 và sự sụp đổ bất ngờ của Liên Xô năm 1991 đòi hỏi phải có một đánh giá khác về tác động của mối quan hệ Xô-Trung đối với cuộc xung đột Trung-Việt tháng 2/1979. Một khía cạnh cần có trong đánh giá này là xem xét liệu tuyên bố năm 1979 của Trung Quốc rằng Liên Xô chỉ là “gấu giấy” là có căn cứ hơn hay không nếu xét việc Liên Xô tan rã sau đó. Mặc dù khẳng định của Gribkov rằng Chiến tranh Lạnh đã kết thúc từ năm 1981 có thể sớm hơn rất nhiều so với thời điểm mà hầu hết các học giả phương Tây có thể chấp nhận, nhưng vẫn còn muộn hơn mấy năm so với quan điểm của Trung Quốc. Do đó, khẳng định về thời điểm của Trung Quốc không những có vẻ hợp lý, mà đối với các học giả sau này thì năm 1979 một ngày nào đó sẽ chứng tỏ còn chính xác hơn năm 1981. Nếu như vậy, Bắc Kinh phải được đánh giá đúng vì đã xác định chính xác những dấu hiệu ở Viễn Đông về sự yếu kém trong nội bộ Mátxcơva từ hơn hai năm trước khi những dấu hiệu tương tự trở nên rõ ràng ở phương Tây. Điều này sẽ lại làm xuất hiện câu hỏi liệu “sự bắt đầu kết thúc” của Chiến tranh Lạnh có phải đã thực sự diễn ra vào năm 1979 hay không, do việc Mátxcơva đã không đương đầu với thách thức rắn mặt của Bắc Kinh đối với sự thống trị quân sự của Liên Xô ở Viễn Đông.

Kết luận

Các nghiên cứu trước đây về cuộc xung đột Trung-Việt ngày 17/2/1979 nhìn chung đều coi những hành động của Trung Quốc là một thất bại hoàn toàn. Ngược lại, bài viết này đã cố gắng đánh giá lại cuộc chiến Trung-Việt từ góc độ quan hệ Xô-Trung bằng việc liên hệ cuộc xung đột này với dấu mốc 29 năm ngày ký Hiệp ước Hữu nghị, Liên minh và Tương trợ 14/2/1950. Như một kết quả trực tiếp từ quyết định của Liên Xô không can thiệp giúp Việt Nam, Trung Quốc tin rằng Liên Xô không có đủ ý chí chính trị để dùng chiến tranh nhằm duy trì không gian ảnh hưởng của mình ở châu Á. Kết luận này đã khiến Bắc Kinh thông báo cho Mátxcơva ngày 3/4/1979 rằng Trung Quốc muốn chấm dứt Hiệp ước Xô-Trung năm 1950 khi hết thời hạn 30 năm vào năm 1980.

Từ 1950 đến 1979, Hiệp ước Hữu nghị, Liên minh và Tương trợ là nền móng cho quan hệ Xô-Trung. Mặc dù phần được phổ biến của hiệp ước này đã được công khai từ lâu, nhưng nội dung chính xác của các thỏa thuận bí mật đi cùng với hiệp ước này vẫn hầu như chưa được biết đến. Tuy nhiên, một điều khá rõ là các thỏa thuận bí mật này có liên quan đến các tranh chấp lãnh thổ Xô-Trung và trong những năm 1950, 1960, các cuộc tranh chấp biên giới thường xuyên giữa Liên Xô và Trung Quốc phản ánh mức độ căng thẳng mà các thỏa thuận bí mật này đưa đến. Mặc dù các xung đột biên giới Xô-Trung đều không được phép leo thang thành chiến tranh tổng lực, nhưng Bắc Kinh đã liên tục thử thách quyết tâm của Liên Xô xem có sẵn sàng sử dụng vũ lực để duy trì Hiệp ước Xô-Trung 1950 hay không. Do vậy, từ quan điểm của Bắc Kinh, Hiệp ước Xô-Trung 1950 là một công cụ chính cho Mátxcơva áp đặt “bá quyền” đối với Trung Quốc và phần còn lại của châu Á.

Ngược lại, Mátxcơva rõ ràng lo ngại điều gì có thể xảy ra khi Hiệp ước Xô-Trung kết thúc thời hạn 30 năm. Bắt đầu từ năm 1969, Liên Xô thường xuyên thúc giục Trung Quốc thay thế hiệp ước này bằng một thỏa ước mới. Để buộc Bắc Kinh phải xuống nước, Mátxcơva không những củng cố các đường biên giới Liên Xô-Trung Quốc và Mông Cổ-Trung Quốc, mà còn gây áp lực đối với Trung Quốc từ phía nam, bằng việc ký một hiệp ước liên minh với Việt Nam. Do vậy, việc cải thiện mối quan hệ Việt-Xô, đỉnh điểm là việc ký hiệp ước phòng thủ Việt-Xô ngày 3/11/1978, có thể được liên hệ trực tiếp tới mối quan hệ đang xấu đi giữa Trung Quốc với Liên Xô vào cuối những năm 1970. Tuy nhiên, thay vì xuống nước, Trung Quốc đã tấn công Việt Nam ngày 17/2/1979, chỉ ba ngày sau dấu mốc 29 năm ngày ký Hiệp ước Xô-Trung 1950. Khi Mátxcơva từ chối can thiệp giúp Hà Nội, Bắc Kinh quyết định rằng Bộ Chính trị Liên Xô sẽ không sử dụng chiến tranh để buộc Trung Quốc tiếp tục Hiệp ước Xô-Trung 1950 và củng cố quyết tâm để thông báo ngày 3/4/1979 ý định chấm dứt hiệp định này.

Một trong những mục tiêu chính của Bắc Kinh khi tấn công Việt Nam là để đảm bảo rằng Trung Quốc không bị bao vây cả ở phía bắc và phía nam bởi các lực lượng Liên Xô. Cuộc tấn công Việt Nam năm 1979 của Trung Quốc, với tất cả những khiếm khuyết rõ ràng của nó, đã thực sự đạt được mục tiêu chiến lược này do việc Liên Xô từ chối can thiệp giúp Việt Nam đã làm mất đi mối đe dọa về một cuộc chiến tranh trên hai mặt trận với Liên Xô và Việt Nam. Về mặt ngoại giao, Trung Quốc cũng giành được một chiến thắng rõ ràng trước các nỗ lực của Liên Xô muốn gây sức ép buộc Trung Quốc ký một hiệp ước mới thay thế hoặc củng cố Hiệp ước Hữu nghị, Liên minh và Tương trợ Xô-Trung ngày 14/2/1950. Cuối cùng, nhìn lại, khẳng định của Trung Quốc rằng Liên Xô chỉ là “gấu giấy” có vẻ như khác chính xác, và do đó cho thấy có lẽ là dấu hiệu đầu tiên từ bên ngoài rằng đế chế Liên Xô đang bị đe dọa bởi sự sụp đổ từ bên trong, một sự sụp đổ phải mười năm sau mới diễn ra với sự kiện bức tường Berlin năm 1989 và sự tan rã của Liên Xô năm 1991.

Nguồn Lên trang viet-studies ngày 4-5-09

———-
Quan hệ Trung-Xô và Việt Nam từ 1950 cho đến tháng hai 1979

Mặc dù Trung Quốc có thể không phải là người tham gia cuộc xung đột tại Việt Nam trong những năm 1960 và năm 1970, sự hỗ trợ kinh tế và các vật chất của Trung Quốc cho Việt Nam phát một vai trò rất quan trọng.  Trung Quốc không chỉ đã gửi quân đến Việt Nam để giúp duy trì hệ thống tiếp vận, mà Bắc Kinh ước tính các khoảng hỗ trợ cho Hà Nội những năm 1950-1978 là hơn 20 tỷ USD.  (King C. Chen, Cuộc chiến của TQ với Việt Nam, 1979 (Stanford, CA, nxb Hoover Institution, 1987, tr 27). Do đó không gì khó hiểu, vì sao Bắc King có thể phật lòng trước sự cải thiện các mối quan hệ giữa Moscow và Hà Nội hồi cuối thập niên

Điều này đặc biệt đúng sau khi hai nước Việt- Xô đã ký kết một hiệp ước tương trợ tháng 11 năm 1978 mà cụ thể là nhằm vào Trung Quốc.  Theo nhận định của một nhà nghiên cứu, khối liên minh Xô-Việt nầy biến Việt Nam thành “cái chốt” trong “nổ lực kiềm chế Trung Quốc” của Liên bang Xô-viết  (Robert A. Scalapino, “Các ảnh hưởng chính trị của Liên bang Xô-viết ở Châu Á”, Donald S. Zagoria, Chính sách Xô viết ở Đông Á (New Haven, nxb Yale University, 1982), 71.) Từ nhãn quan nầy của Bắc Kinh, do đó , việc cố gắng bao vây Trung Quốc của Moscow về mặt ngoại giao là khá thành công. Thực tế nầy làm bùng phát cuộc xâm lược Việt Nam của Trung Quốc trong tháng hai 1979.

Mặc dù các mối quan hệ ngoại giao giữa Bắc Kinh và Hà Nội trong những năm 1960 và đầu những năm 1970 nói chung là tốt, sự khác nhau giữa chính sách của Trung Quốc và Việt Nam tăng lên tháng tư 1975 sau khi Sài Gòn sụp đổ. 

Tháng Chín của năm 1975, Lê Duẩn, TBT Đảng Cộng sản Việt Nam, đã công du Bắc Kinh và trong một loạt các cuộc họp sau khi Lê Duẩn đến, sự việc trở nên rõ ràng là Trung Quốc đã rất quan tâm về các quan hệ chặc chẻ của Việt Nam với Liên bang Xô-viết.  Mặc dù quan hệ tiếp tục xấu đi trong những năm tiếp theo, sự rạn nứt giữa Trung Quốc và Việt Nam đầu tiên đã trở nên rõ ràng khi hàng ngàn Hoa kiều thiểu số bắt đầu chạy trốn khỏi Việt Nam trong mùa xuân và mùa hè năm 1978. 

Ngoài ra, các tranh chấp lãnh thổ về quần đảo Hoàng Sa, cũng như sự xâm lược Cam-pu-chia của Việt Nam ngay trước đó cũng tác động đến sự căng thẳng Trung-Việt.

Trong khi đó, mùa hè năm 1978 đã xuất hiện thêm nhiều dấu hiệu về sự hợp tác Xô-Việt Nam, như  Việt Nam đề nghị trở thành một thành viên của Comecon.

Ngoài ra, các nguồn chính phủ Hoa Kỳ báo cáo rằng tháng tám 1978 độ hơn 4000 cố vấn Liên-xô đã có mặt tại Việt Nam.  Trong tháng 9 năm 1978, Liên bang Xô-viết bắt đầu xúc tiến vận chuyển vũ khí sang Việt Nam, cả bằng đường không và đường biển, bao gồm “máy bay, tên lửa, xe tăng, và đạn dược”. 

Cuối cùng, tất cả các dấu hiệu cải thiện quan hệ Xô-Việt đưa đến kết quả vào 3 tháng 11 năm 1978, khi Việt Nam và Liên bang Xô-viết ký kết một Hiệp ước Hữu nghị Hợp tác.  Không nghi ngờ gì nữa hiệp ước này là nhắm tới Trung Quốc, khi điều sáu của hiệp định nêu rằng Việt Nam và Liên bang Xô-viết sẽ “ngay lập tức có sự tham khảo ý kiến với nhau”, nếu một trong hai bên bị “tấn công hay bị đe dọa tấn công … nhầm loại bỏ mối đe dọa đó.”  Được biết, hiệp ước cũng bao gồm một mật ước chính thức cho phép lực lượng vũ tranh Xô-viết sử dụng các phi trường và hải cảng quân sự của Việt Nam”  (Ramesh Thaku và Carlyle Thayer, Quan hệ của Liên-xô  với Ấn Độ và Việt Nam (New York, nxb St Martin’s, 1992, tr 61.)

Mặc dù Việt Nam cho rằng họ ký hiệp ước này với Liên-xô nhầm chặn đứng chủ nghĩa phiêu lưu của Trung Quốc, các nhà lãnh đạo Trung Quốc ở Bắc Kinh rỏ ràng thấy hiệp ước này như là một phần nỗ lực của Moscow tạo áp lực Trung Quốc xuống nước và khôi phục các điều khoản bất bình đẳng của Hiệp ước Trung-Xô 1950.  Nếu Liên-xô có thể tạo một thế đứng ở ĐNÁ, họ có thể đe doạ Trung Quốc cả hai phía bắc và phía nam biên giới.  Nếu thành công, chính sách này có thể cung cấp cho Moscow một đòn bẩy đủ mạnh để Bắc Kinh phục hồi, hoặc ít nhất tái thương thuyết Hiệp ước Trung-Xô 1950 theo những điều kiện của Moscow.  Một chỉ báo sớm về mối lo của Bắc Kinh đối với Hiệp ước Xô-Việt đã được Nhân Dân Nhật báo (Renmin Ribao) lên tiếng cảnh báo rằng Moscow đang dùng Việt Nam chống lại Trung Quốc như trước đây  (và không thành công)  từng làm với  Cuba để tạo áp lực ngoại giao đối với Hoa Kỳ.  Bắc Kinh cũng cảnh báo mục tiêu tối hậu của Moscow là “đặt toàn bộ Đông Dương dưới sự kiểm soát của họ.”

Bằng cách ký hiệp ước phòng thủ Xô-Việt ngày 3 tháng 11 năm 1978, Liên-xô hy vọng sử dụng các quan hệ của họ với Việt Nam để tạo thế vượt trội và lấn ép Trung Quốc. Sự quan tâm chính của Trung Quốc là, nếu các chính sách của Liên-xô ở Việt Nam thành công, thì chính phủ Xô viết có thể tạo một cái thòng lọng về chiến lược và quân sự đối với Trung Quốc.  Kể từ khi có sự rạn nứt Trung-Xô, và đặc biệt là từ khi có các xung đột biên giới Trung-Xô viết cuối thập niên 1960, là mục tiêu cơ bản của Bắc Kinh là xây dựng tiềm năng quân sự riêng của mình để đối mặt với the Hồng quân Liên Xô, mục tiêu mà họ gặt hái được nhiều từ giữa đến cuối thập niên 1960, đầu thập niên 1970, khi quân số TQ theo báo cáo tăng mạnh đến 3,6 triệu người.  Về ngoại giao, Bắc Kinh, tiếp tục cố gắng lấn Moscow bằng cách chính thức bình thường hóa quan hệ của họ với Washington vào ngày 1 tháng giêng 1979.  Ramses Amer đã kết luận rằng các đồng minh mới của Liên-xô và Trung Quốc đã được liên kết chặt chẽ: “Vì vậy, liên minh chiến lược này đã hình thành trong những tháng cuối cùng của năm 1978, một liên minh Xô-Việt, và một liên minh Trung-Mỹ, và họ sẽ thành công trong khoảng một thập kỷ”.

Do mối quan hệ Trung-Mỹ vào đầu năm 1979, mối quan tâm của Moscow về một cuộc chiến tranh hai mặt trận với Mỹ -nước lãnh đạo  lực lượng NATO ở phía tây và lực lượng Trung Quốc ở phía đông đã được tăng cường.  Điều này có thể đã thuyết phục Moscow để tăng các hỗ trợ cho Việt Nam tiếp tục xâm lược Cam-pu-chia, một sự kiện mà Robert Ross đã liên kết chặt chẽ với việc tấn công của Trung Quốc vào Việt Nam, khi ông tranh luận rằng sự bất ổn của đồng minh thân cận của Trung Quốc ở Cam-pu-chia liên quan mật thiết tới Bắc Kinh. Trong khi Bắc Kinh không sẳn lòng can thiệp trực tiếp vào Cam-pu-chia để chặn đứng sự xâm lặng của Việt Nam, sự xâm lược quân sự của Trung Quốc, cộng với tranh chấp lãnh thổ Trung-Việt Nam trong thực tế hòan tòan “trùng khớp” với việc Việt Nam xâm lược ở Cam-pu-chia.  Ross kết luận thêm rằng việc tiếp tục tranh chấp đối với Cam-pu-chia và biên giới Trung-Việt Nam có một “liên quan hữu cơ,” như các nhà lãnh đạo Trung Quốc cảnh báo Việt Nam: đừng suy nghĩ sai lầm rằng Trung Quốc là “yếu và dễ bắt nạt.”

Tuy nhiên, trong phân tích cuối cùng,  Việt Nam là một quốc gia tương đối nhỏ về cả hai mặt dân số và sức mạnh quân sự, rồi hầu như chắc chắn việc các cố vấn Xô-viết đột ngột đến Việt Nam với số lượng lớn – một ước tính giữa 5000-8000 người vào năm 1979 – và một số lượng rất lớn hàng quân sự đã báo điềm gở ngay lập tức cho chiến lược an ninh của Trung Quốc; như vậy, theo King C. Chen: “Không có được liên minh Xô-Việt, không thể có chiến tranh mười sáu ngày giữa Trung Quốc và Việt Nam”. Trong lời thú nhận rằng của hợp tác quân sự của Liên-xô với Việt Nam can hệ chặc chẻ đếnTrung Quốc, Đặng Tiểu Bình công bố công khai công nhận rằng việc “liên minh quân sự” mới Xô-Việt này thực sự là một phần của mục tiêu dài hạn của Liên-Xô nhằm “bao vây Trung Quốc.”

Sau sự việc ký kết Hiệp ước Xô-Việt ngày 3 tháng 11, 1978, Bắc Kinh đã tìm cách bẻ gãy cố gắng này của Xô viết nhằm bao vây Trung Quốc. Vì vậy, nỗi sợ hãi bị Moscow đánh thọc sường  là cú hích đưa Bắc Kinh đến hành động.  Rõ ràng, bước đầu tiên của Trung Quốc là nhằm thử thách để quyết tâm của Liên-xô để xem họ có giữ vững lập trường của hiệp ước với Việt Nam hay cho xuống nước và chấp nhận thất bại.  Đặng Tiểu Bình thậm chí đã báo Tổng thống Carter hồi tháng một 1979 rằng một cuộc chiến tranh giữa Trung Quốc và Việt Nam sẽ “phá vỡ các tính toán chiến lược của Xô viết…” Từ đó, thậm chí Ross còn kết luận rằng trong sự phấn khích xâm lược thành công của Việt Nam ở Campuchia, nó là hệ quả phá vòng vây Liên-xô của Trung Quốc [điều nầy] đã giới hạn sự xâm lược của Việt Nam. “

—————-

*Quan hệ Việt – Trung bắt đầu rạn nứt năm 1968 khi Việt Nam đồng thời giao hảo với cả Liên Xô và Trung Quốc trong bối cảnh mối quan hệ 2 nước này xuất hiện nhiều xung đột căng thẳng. Năm 1972, Tổng thống Mỹ Nixon tới thăm Bắc Kinh và đạt được thỏa thuận với Trung Quốc. Ba năm sau đó, 1975, Việt Nam từ chối tham gia liên minh chống Liên Xô của Trung Quốc.

*1979: China invades Vietnam

http://news.bbc.co.uk/onthisday/hi/dates/stories/february/17/newsid_2547000/2547811.stm

 

Posted in Biên Giới, Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa, Chien Tranh Bien Gioi Viet Trung 1979 | Leave a Comment »

►Trong Bị Vong lục 14/2/1979, Bộ Ngoại giao VN đã biết trước và tố cáo TQ chuẩn bị tấn công VN ngày 17-2-1979

Posted by hoangtran204 on 14/02/2016

Đảng CSVN và Nhà Nước VN đã biết trước chuyện TQ sắp tấn công tràn qua biên giới VN vào ngày 17-2-1979, do đó, Bộ Ngoại Giao VN đã chuẩn bị trước tài liệu trước đó rất lâu, và ngày 14 tháng 2 năm 1979, họ đã họp báo tại Hà Nội đưa ra Bị Vong lục sau đây, báo Quân Đội Nhân Dân đã đăng tin ngày 15-2-1979. Và 3 ngày sau, 17-2-1979, quân TQ chính thức tấn công bằng cách xua mấy trăm ngàn quan tràn qua biên giới VN.

Bộ Ngoại giao Việt Nam tố cáo nhà cầm quyền Trung Quốc 37 năm trước

Ngọc Thu

anhbasam

14-2-2016

Bài báo Quân Đội Nhân Dân, số 6345, ngày 15 tháng 2 năm 1979 có tựa đề:

“Bị vong lục của Bộ Ngoại giao ta về việc nhà cầm quyền Trung Quốc tăng cường những hoạt động vũ trang ở biên giới Việt Nam và ráo riết chuẩn bị chiến tranh chống Việt Nam“.

Trong văn bản này, Bộ Ngoại giao CSVN, mãi tới năm 1979,  mới  lên án Trung Quốc đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa năm 1974. 

  • Sau khi đọc Bị Vong lục, Trần Hoàng nhận xét rằng: Khi ông Hồ Chí Minh đang ở đỉnh cao quyền lực trong thập niên 1950s và 1960s, và khi Lê Duẫn đang cầm quyền ở Miền Bắc 1960s và 1970s, cả hai đều đã im lặng và không công khai lên tiếng phản đối Trung Quốc đã lấn chiếm biên giới VN. Trích Từ năm 1957 đến năm 1977, bằng nhiều thủ đoạn xấu xa, họ đã lấn chiếm lãnh thổ Việt Nam ở hơn 50 điểm trên toàn tuyến biên giới gồm 6 tỉnh: Quảng Ninh, Lạng Sơn, Cao Bằng, Hoàng Liên Sơn, Hà Tuyên và Lai Châu. Đó là chưa kể những vùng đất mà từ trước 1957 họ đã quản lý vượt quá đường biên giới lịch sử.

Ngọc Thu đánh máy và chụp lại toàn bộ nội dung văn bản ngoại giao này để độc giả có thêm thông tin về những gì đã diễn ra trên đất nước ta 37 năm trước:

***

Ngày 14-2, Bộ Ngoại Giao ta đã tổ chức họp báo công bố “Bị vong lục của Bộ Ngoại giao ta về việc nhà cầm quyền Trung Quốc tăng cường những hoạt động vũ trang ở biên giới Việt Nam và ráo riết chuẩn bị chiến tranh chống Việt Nam“

Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Hoàng Bích Sơn đã giới thiệu nội dung vơ bản Bị vong lục đó trước đông đảo phóng viên các báo thông tấn xã, đài phát thanh, vô tuyến truyền hình trong nước và nước ngoài.

Toàn văn như sau:  

“Đường biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc đã được hoạch định trong các Công ước ký kết giữa Chính phủ Pháp và triều đình nhà Thanh (Trung Quốc) trong những năm 1887, 1895 và đã được chính thức cắm mốc.

Xuất phát từ tình hữu nghị truyền thống giữa nhân dân hai nước, trong những năm 1957-1958, Trung ương Đảng Lao động Việt Nam đã thỏa thuận với Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc giữ nguyên trạng đường biên giới do lịch sử để lại, coi việt giải quyết mọi vấn đề về biên giới và lãnh thổ là thuộc thẩm quyền của Chính phủ hai nước, và chủ trương giải quyết mọi tranh chấp có thể xảy ra bằng thương lượng.

Theo tinh thần của sự thỏa thuận đó, đại diện chính quyền các cấp ở vùng biên giới hai bên Việt Nam và Trung Quốc đã tiến hành nhiều cuộc hội đàm về các vấn đề liên quan đến biên giới trong phạm vi quyền hạn của địa phương. Đại diện Chính phủ hai nước cũng đã tiến hành nhiều cuộc tiếp xúc và đàm phán về vấn đề biên giới giữa hai nước.

Từ trước đến nay, phía Việt Nam luôn luôn giữ đúng sự thỏa thuận giữa Trung ương hai Đảng, cố gắng hết sức mình góp phần làm cho đường biên giới Việt- Trung trở thành một đường biên giới hữu nghị.

Song, do những ý đồ đen tối, từ lâu nhà cầm quyền Trung Quốc đã vi phạm sự thỏa thuận năm 1957-1958 giữa Trung ương hai Đảng, từng bước gây ra những sự kiện biên giới ngày càng phức tạp và nghiêm trọng.

Từ năm 1957 đến năm 1977, bằng nhiều thủ đoạn xấu xa, họ đã lấn chiếm lãnh thổ Việt Nam ở hơn 50 điểm trên toàn tuyến biên giới gồm 6 tỉnh: Quảng Ninh, Lạng Sơn, Cao Bằng, Hoàng Liên Sơn, Hà Tuyên và Lai Châu. Đó là chưa kể những vùng đất mà từ trước 1957 họ đã quản lý vượt quá đường biên giới lịch sử.

Những hoạt động của họ vi phạm chủ quyền lãnh thổ Việt Nam, quấy rối, khiêu khích ở vùng biên giới trên bộ, cho đến năm 1973, đã diễn ra ở một số nơi, và từ năm 1974 trở đi, đã tăng lên nhiều và mỗi năm lại tăng nhanh:

Năm 1974: 179 vụ

Năm 1975: 294 vụ

Năm 1976: 812 vụ

Năm 1977: 873 vụ

Trong tổng số 2.158 vụ nói trên, có 568 vụ xâm canh, 1.355 vụ tuần tra vũ trang, 61 vụ đánh và bắt cóc người Việt Nam trên đất Việt Nam.

Cần lưu ý là từ năm 1955, phía Trung quốc đã lợi dụng việc giúp Việt Nam khôi phục đoạn đường sắt từ Hữu nghị quan đến Yên Viên, đã đặt điểm nối ray đường sắt giữa hai nước sâu vào đất Việt Nam hơn 300 m và coi đó là đường quốc giới giữa Việt Nam và Trung Quốc.

Cũng trong thời gian từ năm 1975 đến năm 1977, tàu thuyền Trung Quốc đã xâm phạm vùng biển Việt Nam trên 1.500 lần chiếc, có vụ vào sâu chỉ cách các đảo của Việt Nam từ 2-5 km. Sự kiện nghiêm trọng là ngày 20 tháng 1 năm 1974, Trung Quốc đã dùng quân đội đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam. Họ còn đưa ra những đòi vô lý về những hòn đảo khác của Việt Nam ở biển Đông.

Từ năm 1978 đến nay, đẩy mạnh chính sách thù địch đối với Việt Nam, nhà cầm quyền Trung Quốc đã tăng cường những hoạt động quấy rối, những hành động vũ trang ở biên giới Việt Nam và ráo riết chuẩn bị chiến tranh chống Việt Nam.

a) HỌ KÍCH ĐỘNG NGƯỜI HOA GÂY RỐI Ở VÙNG BIÊN GIỚI VIỆT NAM

Đầu năm 1978, phía Trung Quốc thi hành một kế hoạch có tổ chức, rất thâm độc, đã dụ dỗ và cưỡng ép đi Trung Quốc hàng chục vạn người Hoa, hòng gây cho Việt Nam những rối loạn về chính trị, xã hội và kinh tế. Lợi dụng những đặc trưng về địa lý và dân cư vùng biên giới, bằng nhiều thủ đoạn chiến tranh tâm lý, họ bắt đầu tác động trực tiếp đến số người Hoa ở vùng biên giới phía bắc Việt Nam, rồi lan dần ra các tỉnh và thành phố khác của Việt Nam có người Hoa làm ăn sinh sống. Trong tổng số 17 vạn người Hoa đã chạy đi Trung Quốc, thì riêng tỉnh Quảng Ninh giáp giới với khu tự trị Quảng Tây của Trung Quốc đã có gần 10 vạn người.

Độc ác hơn nữa, sau khi dụ dỗ, cưỡng ép được người Hoa từ các tỉnh kéo lên vùng biên giới, nhà cầm quyền Trung Quốc đã cho đóng các cửa khẩu, để mặc cho người Hoa bị nghẽn lại phải sống cảnh màn trời chiếu đất, rồi họ cho bọn tay sai từ bên kia biên giới lẻn sang trà trộn với bọn côn đồ trong người Hoa, quấy phá, hành hung cán bộ, nhân dân Việt Nam ở địa phương, làm rối loạn an ninh chính trị và trật tự xã hội Việt Nam ở vùng biên giới. Nghiêm trọng là sự kiện ở cửa khẩu Hữu nghị ngày 25 tháng 8 năm 1978: trong khi cán bộ Việt Nam đang giải thích, vận động người Hoa bị nghẽn lại ở đây trở về nơi ở cũ làm ăn, thì phía Trung Quốc đã dùng loa chỉ huy bọn côn đồ trong người Hoa và cho hàng trăm lính và công an mặc quần áo dân thường tràn san lãnh thổ Việt Nam, dùng thanh sắt, gậy gộc, dao quắm… đánh chém cán bộ, nhân viên và công an biên phòng Việt Nam, làm hai người chết tại chỗ và 25 người khác bị thương, trong đó có 7 người bị thương nặng.

b) NHÀ CẦM QUYỀN TRUNG QUỐC NGÀY CÀNG TĂNG CƯỜNG NHỮNG HOẠT ĐỘNG VŨ TRANG XÂM PHẠM LÃNH THỔ VIỆT NAM

– Số vụ xâm phạm vũ trang của phía Trung Quốc vào lãnh thổ Việt Nam ngày càng tăng. Năm 1978: 583 vụ. Sang năm 1979, mới trong tháng 1 và tuần lễ đầu của tháng 2, đã có tới 230 vụ.

– Quy mô các vụ xâm phạm ngày càng mở rộng trên toàn tuyến biên giới của Việt Nam từ Quảng Ninh đến Lai Châu. Tính chất của nó ngày càng nghiêm trọng: từ những hoạt động quấy nhiễu việc làm ăn bình thường của nhân dân vùng biên giới, bao vây khiêu khích lực lượng công an vũ trang và dân quân Việt Nam đang làm nhiệm vụ trên lãnh thổ của mình, đến những hoạt động phục kích bắn giết, bắt cóc người của Việt Nam đưa về Trung Quốc, tập kích vào các trạm gác của dân quân và các đồn biên phòng của Việt Nam.

– Các lực lượng vũ trang Trung Quốc ngày càng vào sâu trong lãnh thổ Việt Nam, có nơi cách đường biên giới đến 5.000 mét, như vụ tập kích vào trạm gác của dân quân Việt Nam ở Bản Lầu, tỉnh Hoàng Liên Sơn ngày 14 tháng 1 năm 1979.

– Lực lượng xâm nhập trong từng vụ ngày càng đông hơn. Có nơi, họ đã dùng cả nghìn người, gồm có lính chính quy, công an và dân binh, như vụ đánh chiếm đồi Chông Mu, tỉnh Cao Bằng ngày 1 tháng 11 năm 1978; hoặc có nơi họ dùng hàng tiểu đoàn lính chính quy tiến sâu vào lãnh thổ Việt Nam trên 2.000 mét, đánh chiếm các trạm gác của dân quân Việt Nam ở khu vực phía sau mốc 25 xã Thanh Lòa, huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn ngày 10 tháng 2 năm 1979.

– Họ sử dụng ngày càng nhiều loại vũ khí, từ súng bộ binh đến đại liên và súng cối. Trong vụ tập kích vào trạm gác Xá Hồ của công an nhân dân vũ trang Việt Nam ở xã Ma L Chải, huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu ngày 6 tháng 2 năm 1979, lính Trung Quốc đã sử dụng súng cối 82 và súng 12 ly 7 trong vụ tập kích vào trạm biên phòng Hồ Pả và các vùng lân cận thuộc khu vực Bản Máy, tỉnh Hà Tuyên ngày 8 tháng 2 năm 1979, họ đã sử dụng súng DKZ 75 và 85.

– Lực lượng vũ trang Trung Quốc cũng đã nhiều lần dùng súng lớn từ bên kia biên giới bắn bừa bãi vào xe cộ, dân cư đi lại trên các đường giao thông ở vùng biên giới bên phía Việt Nam, vào các trạm gác, làng bản, thị xã, công trường, lâm trường… của Việt Nam. Như vụ bắn đại liên vào thôn Phai Lầu, xã Đồng Văn, huyện Bình Liêu, tỉnh Quảng Ninh ngày 14 tháng 1 năm 1979; vụ bắn súng lớn vào thị xã Lao Cai, tỉnh Hoàng Liên Sơn cũng ngày đó; vụ bắn súng 12 ly 7 vào đồn biên phòng Tà Lùng, nhà máy đường Phục Hòa và xóm Hưng Long, xã Quy Thuận, huyện Quảng Hòa, tỉnh Cao Bằng ngày 2 tháng 2 năm 1979. Thậm chí, có lúc việc bắn phá này kéo dài nhiều ngày liên tục ở một địa điểm như vụ dùng cối 82 và các loại súng bộ binh khác bắn vào trạm biên phòng Trà Lĩnh, tỉnh Cao Bằng và các thôn xóm xung quanh từ 10-1 đến cuối tháng 1 năm 1979. 

– Họ gây cho nhân dân Việt Nam thiệt hại về người và của ngày càng nhiều. Riêng tháng 1 và những ngày đầu tháng 2 năm 1979, lực lượng vũ trang Trung Quốc đã giết hại hơn 40 dân thường, dân quân và chiến sĩ công an vũ trang Việt Nam, làm bị thương hàng trăm người khác và bắt đưa về Trung Quốc hơn 20 người. Nhiều nhà cửa của nhân dân bị thiệt hại. Ở nhiều nơi trên vùng biên giới, việc làm ăn bình thường của nhân dân Việt Nam bị cản trở nghiêm trọng.

– Cùng với những hoạt động vũ trang trên vùng biên giới đất liền với quy mô ngày càng lớn, nhịp độ ngày càng tăng, nhà cầm quyền Trung Quốc còn cho máy bay chiến đấu xâm phạm vùng trời, cho tàu thuyền xâm phạm vùng biển của Việt Nam. Trong năm 1978, họ đã cho trên 100 lượt chiếc máy bay xâm phạm vùng trời và 481 lượt tàu thuyền hoạt động khiêu khích trên vùng biển Việt Nam.

c) NHÀ CẦM QUYỀN TRUNG QUỐC TẬP TRUNG QUÂN ĐỘI VỚI QUY MÔ LỚN Ở VÙNG SÁT BIÊN GIỚI TRUNG QUỐC – VIỆT NAM, RÁO RIẾT CHUẨN BỊ CHIẾN TRANH CHỐNG VIỆT NAM

Sau khi đơn phương đình chỉ cuộc đàm phán về vấn đề người Hoa (tháng 9 năm 1978), nhà cầm quyền Trung Quốc ngày càng đẩy mạnh các hoạt động chuẩn bị chiến tranh ở vùng biên giới hai nước. Họ đã điều một lực lượng lớn quân đội, gồm hàng chục sư đoàn bộ binh và nhiều sư đoàn gồm không quân, bộ đội cao xạ, pháo binh, bộ đội đánh ở rừng núi; đưa nhiều vũ khí, dụng cụ chiến tranh, kể cả máy bay chiến đấu, xe tăng, đại bác tới vùng biên giới Trung – Việt.

Theo tin AFP từ Bắc Kinh ngày 21 tháng 1 năm 1979 thì “đã có các cuộc chuyển quân quan trọng tại các khu vực biên giới mà theo các nguồn tin quân sự phương Tây ở Bắc Kinh, có khoảng 15 đến 17 sư đoàn quân Trung Quốc, tức 150.000 người”.

Tạp chí Kinh tế Viễn Đông ngày 9 tháng 2 năm 1979 cho biết “dọc biên giới Trung – Việt, Trung Quốc đã triển khai khoảng 160.000 quân, 700 máy bay chiến đấu, trong đó có cả máy bay ném bom F9 do Trung Quốc chế tạo”.

Đồng thơi Trung Quốc đã điều tới biên giới Trung – Việt nhiều viên chỉ huy quân sự cao cấp, mà tờ Ngôi sao Oa-sinh-ton nhận xét: “Tướng Dương Đắc Chi được cử làm tư lệnh các lực lượng Trung Quốc dọc biên giới với Việt Nam vốn là một viên tướng có kinh nghiệm nhất của Trung Quốc và được Bắc Kinh tín nhiệm về chính trị”.

Áp sát biên giới Việt Nam, có nơi lấn vào lãnh thổ Việt Nam, lực lượng vũ trang Trung Quốc đào hầm hào, xây công sự; đồng thời họ tăng cường diễn tập quân sự với quy mô lớn, bắt dân Trung Quốc ở vùng biên giới sơ tán vào sâu trong nội địa, họ gây không khí bất cứ lúc nào cũng có thể bùng nổ chiến sự ở vùng biên giới hai nước.

Cùng với những hành động chuẩn bị chiến tranh, nhà cầm quyền Trung Quốc đã huy động bộ máy tuyên truyền đồ sộ của mình từ trung ương đến địa phương, hàng ngày tiến hành xuyên tạc, vu cáo thô bạo đối với Việt Nam.

Trong những ngày gần đây, một số người lãnh đạo Trung Quốc đã trắng trợn đe dọa chiến tranh chống nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam với những lời lẽ hết sức ngang ngược.

Phó thủ tướng Trung Quốc Đặng Tiểu Bình trong chuyến đi thăm Hoa Kỳ và Nhật Bản vừa qua đã ngang nhiên xác nhận những tin tức về việc Trung Quốc tập trung quân với quy mô lớn ở sát biên giới Việt Nam và không ngớt tung ra những lời ngạo mạn nước lớn và rất hiếu chiến.

Ngày 31 tháng 1 năm 1979, trả lời các phóng viên Mỹ, ông ta nói: “Cần phải cho Việt Nam một bài học cần thiết”.

Ngày 7 tháng 2 năm 1979, tại Tô-ky-ô, ông ta tuyên bố “cần phải trừng phạt Việt Nam”.

Việc tập trung quân đội và vũ khí, dụng cụ chiến tranh với quy mô lớn đi đôi với những hành động vũ trang xâm nhập lãnh thổ Việt Nma và những lời đe dọa chiến ranh của nhà cầm quyền Trung Quốc đang làm cho tình hình trên toàn tuyến biên giới giữa Trung Quốc và Việt Nam hết sức nguy hiểm.

Theo tin hãng ANSA từ Niu Y-oác, ngày 23 tháng 1 năm 1979, “các chuyên gia Viễn Đông của chính quyền Mỹ cho rằng, có khả năng các lực lượng lớn của Trung Quốc có kế hoạch mở một cuộc xâm lăng vào Việt Nam”.

Tạp chí Tuần tin tức Mỹ số ra ngày 28 tháng 1 năm 1979 dẫn một nguồn tn từ bộ ngoại giao Mỹ nói rằng: “Việc tăng cường bố trí quân sự của Trung Quốc ở biên giới với Việt Nam có thể làm người ta dự đoán một cuộc can thiệp quan trọng hơn là một cuộc biểu dương lực lượng đơn thuần”.

Mọi người đều thất rõ tính chất cực kỳ nghiêm trọng của những hành động vũ trang và những lời đe dọa ngang ngược của nhà cầm quyền Trung Quốc đối với Việt Nam. Những người lãnh đạo Bắc Kinh công khai đe dọa chiến tranh chống một nước độc lập, có chủ quyền, tự cho mình có quyền dùng vũ lực chống nước Cộng  hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Họ đã phơi bày dã tâm thù địch Việt Nam và tham vọng của chủ nghĩa bành trướng dân tộc lớn của họ ở Đông Nam châu Á.

Nhân dân Việt Nam và Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam cực lực tố cáo và nghiêm khắc lên án những hành động đe dọa chiến tranh của nhà cầm quyền Trung Quốc. Những hành động phiêu lưu đó chứa đựng những hậu quả nguy hiểm không thể lường hết được đối với hòa bình và ổn định ở Đông Nam Á và trên thế giới. Những hành động đó trái với Hiến chương Liên hợp quốc, vi phạm các nguyên tắc sơ đẳng của luật pháp quốc tế, và là sự thách thức nghiêm trọng đối với nhân dân và các nước yêu chuộng hòa bình, công lý trên thế giới.

Nhân dân Việt Nam và Chính phủ Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tin chắc rằng nhân dân và Chính phủ các nước bầu bạn và dư luận rộng rãi trên thế giới, tăng cường đoàn kết và ủng hộ nhân dân Việt Nam, sẽ kịp thời ngăn chặn âm mưu và hành động chiến tranh của nhà cầm quyền Bắc Kinh, không để họ đụng đến Việt Nam.

Nhân dân Việt Nam luôn luôn coi trọng tình hữu nghị lâu đời giữa nhân dân Việt Nam và nhân dân Trung Quốc và kiên trì chủ trương giải quyết các vấn đề tranh chấp giữa hai nước bằng thương lượng, nhưng quyết bảo vệ độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc và thành quả lao động hòa bình của mình.

Nhà cầm quyền Trung Quốc thi hành chính sách thù địch với Việt Nam, gây ra tình hình căng thẳng trên biên giới hai nước, họ phải chịu hoàn toàn trách nhiệm về những hành động phiêu lưu nguy hiểm do họ gây ra.

Hà Nội, ngày 14 háng 2 năm 1979

Ngọc Thu sưu tầm, đánh máy và chụp ảnh từ Thư viện Quốc gia Việt Nam

anh ba sàm

H1

H1

H1

H1

H1

H1

Posted in Biên Giới, Chien Tranh Bien Gioi Viet Trung 1979 | Leave a Comment »

►Biệt khu Trung Quốc ở Đà Nẵng- Đông đô đại phố ở Bình Dương do Quân Đội Nhân Dân VN xây dựng cho Trung Quốc…Nhân ngày kỷ niệm thành lập QĐNDVN 22-12-2013

Posted by hoangtran204 on 22/12/2013

Nhóm phóng viên tường trình từ VN

2013-12-20

Đài Á Châu Tự Drfa.org

Khách sạn Trung Quốc tại bờ biển Đà Nẵng.

Đà Nẵng là một thành phố mà ông Nguyễn Bá Thanh, cựu chủ tịch Đà Nẵng từng tuyên bố là thành phố không có người ăn xin, không có trộm cắp, không có xì ke ma túy và không có người nghèo… Thế nhưng, không có quan điểm nào đưa ra nhằm khẳng định Đà Nẵng không bị Trung Quốc xâm thực. Chính vì thế, ngay trên hai con đường có tên Hoàng Sa và Trường Sa chạy dọc theo bờ biển Đà Nẵng, các biệt khu của người Tàu cùng với hàng trăm quán sá mang biển hiệu Tàu mọc lên dày đặc.

Đâu rồi Đà Nẵng xưa?

Đó là chưa muốn nói rằng hai con đường với bãi cát vàng trải dài, rừng dừa xanh miên man theo gió biển đã hoàn toàn không còn mang dáng dấp nguyên sơ của nó bởi mùi hôi thối nồng nặc của cống rãnh cộng với mùi thức ăn Tàu vốn chặt to kho mặn bốc ra từ các nhà hàng Tàu đã khiến cho bất kì người Việt nào đi qua hai con đường này cũng phải bụm mũi và ngỡ ngàng không biết mình đang đi lạc vào khu phố ổ chuột nào đó ở nước Trung Quốc xa xôi.

Một người dân Đà nẵng bức xúc nói: “Chuyện cũ thời xưa, tối tối ra đường, nó đi đầy đường. Tất cả các quán ven ven đều có bảng hiệu Tàu hết rồi mà, thực đơn cũng chữ Tàu hết mà!”

Vào vai những du khách xứ Bắc ghé thăm xứ Quảng, chúng tôi dạo một vòng trên đường Hoàng Sa, con đường mà theo một người dân sống lâu năm ở đây nói rằng ông Nguyễn Bá Thanh thời còn làm chủ tịch thành phố đã dành riêng cho việc tiếp đón và lưu trú của khách cấp nhà nước Trung Quốc nhằm khẳng định Hoàng Sa thuộc chủ quyền Việt Nam, có riêng tên đường và có riêng đơn vị hành chính hẳn hoi. Chuyện này hư thực ra sao chưa rõ.

Thế nhưng chưa đầy một năm sau khi ông Nguyễn Bá Thanh rời chức vị chủ tịch thành phố Đà Nẵng để ra Hà Nội nhậm chức Trưởng Ban Nội Chính Trung Ương thì mọi việc đã hoàn toàn thay đổi, con đường này trở thành biệt khu của người Tàu, mọi hoạt động ở đây đều mang dáng dấp của một thành phố Trung Hoa thu nhỏ.

Biệt khu Trung Quốc ở Đà Nẵng. RFA PHOTO.

Một người dân khác, tên Oanh, sống ở Đà nẵng lâu năm, chia sẻ với chúng tôi thêm về người Tàu ở thành phố này, bà Oanh cho biết, những năm trước 1980, thành phố Đà Nẵng vốn có rất nhiều người Tàu sống ở đây, họ là hậu duệ của những vị tướng Tàu “phản Thanh phục Minh”, xuôi thuyền sang Thuận Hóa, tức Huế bây giờ để xin triều đình nhà Nguyễn cho họ lưu trú, tránh nạn diệt vong trên quê hương của họ. Sống lâu năm, họ tổ chức thành hội, đoàn, có tổ chức Minh Hương hẳn hoi. Thế nhưng, chiến tranh Việt – Trung năm 1979 đã khiến họ đồng loạt quay về Trung Hoa theo lời hiệu triệu của chính phủ Trung Hoa thời bấy giờ.

Điều này cho thấy người Tàu dù đã sống lâu năm ở đất Việt Nam, họ vẫn tôn thờ Mao Trạch Đông, vẫn đau đáu về cố quốc và chưa bao giờ xem Việt Nam là quê hương, là tổ quốc thứ hai của họ giống như người Việt sang Mỹ lưu vong đã xem đất Mỹ là ân nhân, là quê hương yêu dấu thứ hai của mình. Chính vì thế, khi người Tàu xuất hiện dày đặc ở Đà Nẵng, điều này khiến cư dân Đà Nẵng cảm thấy lo ngại và bất an bởi chính sách bành trướng của họ.

Thả con tép câu con tôm

Một người dân Đà Nẵng khác tên Dũng, chia sẻ với chúng tôi rằng ông thấy người Tàu quá nguy hiểm, họ đã dễ dàng qua mặt nhà cầm quyền cũng như qua mặt nhân dân ở đây. Ông này nói thêm là thực ra, người Tàu trở lại Đà Nẵng không phải mới mẽ gì, họ sang đây đã ngót nghét mười năm trên danh nghĩa đi đầu tư kinh doanh, và hệ quả là những mảnh đất vàng, những điểm trọng yếu dọc bờ biến Đà Nẵng nhanh chóng trở thành khu xây dựng bí mật của họ, có hẳn tên mới China Beach. Không có người Việt Nam nào được đến gần khu vực xây dựng của họ.

Theo ông Dũng phân tích, để có được những diện tích trọng yếu này, chắc chắn họ đã lót tay cho các quan chức không phải ít. Vì nhiều người dân Đà Nẵng mong mỏi được mua ở khu vực này nhưng không bao giờ có đủ cơ hội để mua. Nhưng người Trung Quốc đã khéo bỏ tiền ra để lấy trọn một khu vực đẹp nhất, trọng yếu nhất của Đà Nẵng để biến thành biệt khu của mình.

Khách sạn thuộc một doanh nghiệp nhà nước của Việt Nam tại Đà Nẵng. RFA PHOTO.

Và việc mua được những diện tích đất vàng ở Đà Nẵng cũng nhanh chóng kéo theo hệ quả là người dân ở khu vực này bị Tàu hóa vì động cơ kiếm tiền, không ít các cô gái ở đây sẵn sàng làm phục vụ ở các bar, nhà hàng của người Tàu vì theo họ, các ông chủ người Tàu trả tiền rất mát tay và xài rất sang. Hơn nữa, nếu không chọn làm việc cho các ông chủ người Tàu vốn sống gần nhà mình, các cô gái này phải đi làm việc trong khu công nghiệp cách nơi họ ở quá xa và đồng lương cũng còm cỏi.

Thuyền, biệt danh là “Thuyền Ba đờ ghe”, từng làm việc lâu năm với người Tàu trên đường Hoàng Sa, cho chúng tôi biết: “Họ qua mình họ ở thì đầu tiên cũng thiện cảm với mình. Nhưng khi mình đã làm việc cho họ rồi thì mình cũng không khác chi người ở cho họ thôi. Cái cách của họ với mình không thiện cảm lắm đâu. Không giống như người mình với người mình, có nghĩa là mình làm lấy lương nhưng người ta quý trọng mình. Còn họ mình làm được thì làm, không làm được thì họ nói khó chịu lắm! Không dễ đâu! Riêng ở Đà Nẵng đây thì nhiều lắm!”

Hiện tại, Thuyền không còn làm việc với người Tàu ở đây nữa, và cô cũng ngậm ngùi nhận ra rằng người chủ Trung Quốc chưa bao giờ đối xử tốt với nhân viên Việt Nam cả, một đồng xu của họ bỏ ra, bao giờ cũng ngầm chứa một phép toán bên trong mà ở đó, nếu là con gái, phải cộng trừ nhân chia cho ra đáp số bằng xác thịt, nhục dục và tiết hạnh. Còn nếu là con trai, cái giá phải trả là những đường dây ma túy, xã hội đen, làm kẻ bưng bô cho ông chủ, phải trả giá bằng sự vong nô tuyệt đối.

Điều này cho thấy các ông chủ Trung Quốc bao giờ cũng biết sử dụng đồng tiền và tùy từng tình huống mà kinh doanh nó, chiêu thức thả con tép để lấy con tôm của họ luôn đắc địa, luôn mang về cho họ phần thắng lợi. Và trên một mảnh đất, một quê hương mà kẻ ăn không hết, người làm không ra, thì những “kẻ ăn không hết” sẽ dễ dàng trở thành những tên Việt gian để đưa kẻ ngoại bang vào làm chủ, còn những “người làm không ra” sẽ rất dễ sa ngã vào những đồng tiền mị dân của kẻ thực dân mới với vỏ bọc nhà đầu tư, ông chủ tốt bụng.

Tạm biệt thành phố Đà Nẵng, chúng tôi ra thẳng sân bay và mua vé quay trở về miền Bắc, một cảm giác buồn xâm chiếm đến nghẹt thở, một nỗi bất an và trĩu nặng khi nghĩ đến chuyện trước đây, Bình Dương, Hà Tĩnh đã dày đặc người Tàu. Không ngờ, chưa bao lâu sau đó, Đà Nẵng cũng dày đặc người Tàu, rồi đây, không biết sẽ đến thành phố nào trở thành phố Tàu trên đất nước Việt Nam nữa đây?

Đương nhiên là người Trung Quốc đã có mặt trên khắp ba miền đất nước! Thật là buồn khi mơ hồ nhận ra rằng mình đang lưu vong trên quê cha đất tổ của mình!

———————————————

Chỉ cần đặt cờ nước VN, cờ của đảng csvn, và cờ của quân đội NDVN cạnh bên cờ của Trung Quốc , cờ đảng, cờ quân đội TQ thì ngay cả em bé lớp mẫu giáo, lớp 1 cũng biết là có sự liên hệ mật thiết giữa hai nước này. 

Hèn chi, QĐND VN đã tiếp tay cho Trung Quốc chiếm dần VN.

Bình Dương: ĐÔNG ĐÔ ĐẠI PHỐ “CHINA TOWN” do Công Ty của Bộ Quốc Phòng Việt Nam xây dựng tại Thành Phố Mới BÌNH DƯƠNG   25-5-2011

 15-6-2009

  9-6-2009

►Lào cung cấp bệ phóng hoàn hảo cho tham vọng khu vực ngày một lớn của Trung Quốc? Tỉnh Hà Tĩnh đầy ắp người Trung Quốc định cư   07/12/2013

►Biệt khu Trung Quốc ở Đà Nẵng– Đông đô đại phố ở Bình Dương do Quân Đội Nhân Dân VN xây dựng cho Trung Quốc…22-12-2013

 https://www.youtube.com/watch?v=qmXieC4EVvE&feature=youtu.be

Bà Dương Thu Hương, cựu Phó Thống đốc NHNN VN: “Láng giềng chúng ta sang đây xây dựng làng xã, thành phố rồi!

20-11-2013
Bà Dương Thu Hương

 Tin Không Lề: Đây là nội dung phát biểu của bà Dương Thu Hương, cựu Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước VN, tại Hội thảo Góp ý văn kiện Đại hội 11. Do nội dung phát biểu này vẫn còn tính thời sự, nên mình đã nhờ một CTV đưa lên YouTube để chia sẻ cùng bà con. 

Bà Dương Thu Hương đã phát biểu như sau:

“Đi vào cụ thể thì tôi thấy rằng, thí dụ như trong cương lĩnh viết thì rất hay nhưng mà tôi nghĩ đưa rất nhiều cái khái niệm mà tôi chẳng hiểu được. Như cái khái niệm mà chúng ta vẫn cứ lúng ta lúng túng là ‘một nền kinh tế thị trường có định hướng xã hội chủ nghĩa’. Mà cũng báo cáo với các anh là riêng ngân hàng thì không biết ‘định hướng XHCN’, kinh tế thị trường có ‘định hướng XHCH’ trong hoạt động ngân hàng, nó là cái gì? Thì chúng tôi cũng khó có thể là cụ thể hóa ra được. Ngoài ra lại còn ‘phát triển công nghiệp hiện đại, trở thành một nước công nghiệp hiện đại theo định hướng XHCN’. Thế không biết ‘công nghiệp hiện đại theo định hướng XHCN’ là cái gì? Thế công nghiệp của XHCN nó khác với công nghiệp tư bản à? Thế thì tại sao lại cứ có cái đuôi ‘theo định hướng XHCN’? Thế rồi ‘xây dựng một nền dân chủ XHCN’. Thì đúng ra ngày xưa học về Mác – Lênin có cái câu là ‘dân chủ của CNXH thì dân chủ gấp trăm lần tư bản’.

Thế nhưng mà với cái thiển cận, tôi nghĩ dân chủ ở đâu cũng giống nhau thôi, là người dân được phép nói, đấy là dân chủ. Xã hội tạo điều kiện cho dân được nói, pháp luật tạo điều kiện cho dân được nói, thì đó là dân chủ, xã hội nào cũng thế. Lại còn cái dân chủ XHCN nữa! Cho nên từ công nghiệp hiện đại cũng theo định hướng XHCN, thì phát triển kinh tế thị trường cũng theo XHCN, rồi xây dựng nền dân chủ cũng theo XHCN thì tôi không hiểu nó là cái gì cả.

Trong cái cương lĩnh thì có một ý nữa, tức là vấn đề hệ thống chính trị và vai trò lãnh đạo của Đảng thì trong đó có ghi là: Đảng cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam. Như vậy là tôi đọc cái này tôi thấy rằng, Đảng vẫn đặt dân tộc sau quyền lợi của giai cấp và của nhân dân lao động, đặt dân tộc thứ ba. Thì tôi thấy cái này rõ ràng là tại sao Đảng không vì quyền lợi của dân tộc là thiêng liêng trên hết, mà lại đặt quyền lợi của giai cấp lên trên hết?

Và tôi cũng đang muốn hỏi các anh, là hiện nay chúng ta còn giai cấp công nhân như ngày xưa không? Còn giai cấp vô sản như ngày xưa không? Hay là bây giờ tất cả các vị hữu sản hết rồi mà lại còn giàu có hơn cả những nhà tư bản mà nó phát triển hàng trăm năm nữa? Vậy tại sao chúng ta cứ phải có cái lý thuyết này? Cho nên tôi thấy điều này lợi ích của giai cấp đã được đặt đứng trên lợi ích dân tộc, thì tôi nghĩ rằng cương lĩnh thế thì không thể nào kêu gọi được đại đoàn kết dân tộc.

Thế rồi về văn hoá, xã hội, môi trường gì gì đấy v.v… Nhận định là ‘cuộc vận động đoàn kết toàn dân xây dựng đời sống văn hoá từng bước đi vào chiều sâu, môi trường và bảo vệ môi trường đã được nâng cao’, nhưng nó mâu thuẫn hoàn toàn với thực tế, là tệ nạn xã hội tăng, an toàn xã hội không đảm bảo, văn hoá thì tôi nói thật là chưa lúc nào văn hoá Việt Nam đồi truỵ đến như thế. Bật TV ra, phim Việt Nam ngay cả quảng cáo cũng là mầu sắc sexy rất là mạnh. Tôi không hiểu là, nó [chẳng] có một cái thuần phong mỹ tục gì cả mà tôi xem tôi phát ngượng. Rồi ô nhiễm môi trường, an toàn vệ sinh thực phẩm v.v… Cho nên cái nhận xét này, đánh giá này với cái thực tế tôi nghĩ rằng nó không trúng một tí nào cả.

Thế rồi, nhận xét về dân chủ xã hội có tiến bộ, sức mạnh đại đoàn kết dân tộc được nâng cao, dân chủ trong đảng được mở rộng. Tôi không biết dân chủ trong Đảng được mở rộng kiểu gì, nhưng mà tôi vẫn cảm nhận rằng là cái dân chủ trong đảng vẫn là mất dân chủ nhất so với Quốc hội. Và đấy, tôi nghĩ rằng mình là Đảng viên, mà mình cũng không được đi bầu Tổng bí thư của mình, chẳng được cái quyền gì cả ngoài cái quyền họp chi bộ hàng tháng để ngồi kể lể cho nhau nghe thôi. Cho nên tôi nghĩ rằng đánh giá như thế này vẫn không đúng với thực tế.

Thế rồi ‘xây dựng nhà nước pháp quyền, Quốc hội tiếp tục được kiện toàn về tổ chức’. Cái vấn đề này cũng là một đại sự. Tôi rất xấu hổ khi nói rằng Quốc hội là cơ quan quyền lực cao nhất, có quyền gì đâu ạ mà bảo là cơ quan quyền lực cao nhất. Thế rồi ĐBQH và nếu ĐBQH là đảng viên thì lại không dám phát biểu cái gì theo chính kiến của mình mà lại phải giơ tay đúng với chủ trương của Đảng và Nhà nước. Cho nên nếu là một ĐBQH mà là vừa là đảng viên vừa là ĐBQH thì trong con người đó hoàn toàn mâu thuẫn, tức là không đảm bảo được quyền lợi của cử chi mà phải thực hiện vai trò đảng viên của mình và có thể lúc ấy là phải hy sinh cái quyền lợi của cử tri đi.

Cho nên là cái nhận định về xã hội pháp quyền và Quốc hội được tiếp tục hoàn thiện thì tôi cho rằng là, tất nhiên tuy có tiến bộ hơn nhưng mà nó vẫn đầy rẫy những cái gì đấy làm cho Quốc hội không thực quyền được, không thể thực quyền được. Và nhất là cái cơ cấu Quốc hội như hiện nay thì rõ ràng người ĐBQH là đảng viên, thì rõ ràng là người đó phải hy sinh quyền lợi của cử tri, chứ không phải là người đó bảo vệ quyền lợi của cử tri nữa.

….

Các anh thấy đại hội của những nhà chống tham nhũng mà được có lèo tèo vài người, có ai dám chống đâu, mà tham nhũng nghĩa là đầy ra. Là các anh cứ nói, tôi nói thật với các anh về kinh tế hai chữ ‘dự án’ nó thiêng liêng vô cùng, người ta cố gắng phải tìm ra được ‘dự án’, vì có dự án thì mới có tiền, có phần trăm. Cho nên cái đó là cái mà chúng ta cứ nói rằng thế nọ thế kia thì tôi nghĩ rằng nó cũng không thực tế, mà thấy cái tham nhũng và cái lãng phí của Việt Nam quá lớn. Rồi cũng nhận định là xử lý nghiêm những tổ chức, đảng viên sai phạm. Không đúng. Tôi nghĩ không đúng, không nghiêm. Tôi đặt câu hỏi là có thực sự nghiêm không hay là không muốn xử lý? Thì lúc nghỉ buổi trưa, tôi cũng có nói chuyện, tâm sự với các anh có những phi vụ cực lớn nhưng cuối cùng cũng im luôn. Nếu phi vụ đó ở Trung Quốc chắc bị bắn rồi. Nhưng ở Việt Nam bây giờ coi như chẳng có chuyện gì cả. Thế nhưng mà bây giờ vẫn cứ… Đã thế nó lại còn cứ thích lên DẠY CHO MỌI NGƯỜI VỀ ĐẠO ĐỨC, tôi rất khó chịu ở cái chuyện đó.

Về hạn chế trong báo cáo chính trị, thì tôi thấy rằng cái hạn chế mà chúng ta thấy rất rõ nhất mà trong này không đề cập đến, đó là cái khoảng cách giữa người giàu và người nghèo ngày càng giãn rộng ra, ngày càng trầm trọng, chứ không phải là cái đó được thu hẹp lại. Cho nên, không phải là chênh lệch giữa các vùng các miền còn lớn đâu, mà trong này không hề nói tới khoảng cách chênh lệch giàu nghèo. Và bây giờ hình thành nên những nhà gọi là tư sản nhưng mà cộng sản, những nhà tư sản cộng sản: Tư sản đỏ. Còn dân nghèo thì, tôi cũng được vinh dự vào mấy năm Quốc hội được tiếp cận với nông dân, tôi thấy họ quá khổ luôn, họ quá bị áp bức bóc lột luôn. Hơi một tí bị tù, hơi một tí thì bị thế nọ thế kia và đất đai bị cướp đoạt luôn và cướp xong thì…

Ba mươi Tết tôi nhớ, có một ông thương binh gọi điện đến cho tôi là đến giờ này họ còn đuổi tôi ra khỏi nhà để họ giải phóng mặt bằng. Tôi phải gọi điện lên cho đồng chí bí thư dưới tỉnh mà tôi làm đại biểu: ‘Anh ơi, có gì đấy anh để qua tết đi. Anh đừng làm như thế này, đến Tết, mà người ta thương binh, người ta ăn Tết ở đâu?’ Thì như vậy, ông ta không nói gì cả, nhưng mà sáng hôm sau cái anh thương binh gọi điện cho tôi: ‘Chị Hương ơi, NÓ TRÓI TÔI NHƯ MỘT CON CHÓ, NÓ ĐÃ QUẢNG RA GIỮA ĐƯỜNG, và đất đai của tôi nó đã tịch thu’. Tôi nói thật, mà người ta thương binh chứ không phải là một dân thường, cái điều đó tôi rất là đau. Và tôi cảm nhận rằng cái bao nhiêu năm, bao nhiêu người hy sinh chiến đấu để được cái ngày hôm nay nhưng mà bây giờ người ta cư xử với những người cống hiến cho xã hội, cho nền độc lập của đất nước này như thế. Tôi đau vô cùng nhưng tôi không làm cái gì được. Mà Tết nhất đến nơi rồi mà còn làm như vậy. Cho nên tôi thấy cái này là cái mà trong cái hạn chế này không nói hết được những cái đó.

Về an ninh quốc phòng thì sáng nay các anh cũng ít nói đến nhưng quả thật tôi đang rất là lo sợ về cái việc này. Vì cũng dính dáng đến Quốc hội, cho nên tôi cũng thấy rằng những vấn đề về bauxite Tây Nguyên, vấn đề về cho thuê rừng, vấn đề về lao động nước ngoài không được giải quyết triệt để. Tất cả những vấn đề kinh tế này nó dẫn đến, nó dính đến vấn đề an ninh quốc phòng mà hiện tại không được giải quyết dứt điểm. Không rõ ràng, không dứt khoát, còn chần chừ và e ngại.

Thôi bauxite thì các anh cũng biết rồi không nói nữa. Nhưng rừng, cho thuê rừng: Xin báo cáo các anh là các đoàn ĐBQH ở những địa phương mà có rừng cho thuê người ta nói rằng sau khi cho thuê nó rào hết tất cả lại, nội bất xuất, ngoại bất nhập, không biết bên trong nó làm cái gì. Mà cho thuê tối thiểu là 50 năm. Mà tôi rất buồn là một đồng chí Phó chủ tịch tỉnh một tỉnh cho thuê rừng này lại tuyên bố rằng: ‘50 năm sau có người thực hiện, sẽ có người kiểm soát giám sát’. Sao mà ngây thơ thế!

Thế rồi lao động nước ngoài, thưa anh rằng nước ngoài láng giềng chúng ta sang đây xây dựng làng xã thành phố rồi, mà nó không mang tên China Town đâu, chưa mang tên thôi nhưng mà nó sẽ mang tên. Rồi Quốc hội hỏi thì Bộ trưởng Lao động Thương binh Xã hội chần chừ, không dám nói. Giả sử nhà tôi có phúc tôi được ở vị trí đó thì tôi sẽ trả lời Quốc hội một câu rằng: “Tôi sẽ về kiểm soát, kiểm tra và nếu mà không đúng theo pháp luật Việt Nam tôi sẽ trục xuất ngay”. Nhưng mà không dám nói câu đó mà lại phát biểu trước Quốc hội rằng “khó lắm, tế nhị lắm”. Thế thì thôi, đặt họ vào, họ chiếm đất của mình hết rồi.

Và các anh cứ đi từ Bắc Ninh lên Lạng Sơn xem, tất cả các dự án, những chỗ nào đất đai màu mỡ nhất là ở đấy các dự án của đồng chí bạn lớn của chúng ta hết. Mà người ta đã mang dự án sang, người ta mang công nhân sang, công nhân Trung Quốc sang, lấy vợ Việt Nam cắm đất đây luôn, sát ngay Hà Nội luôn. Tôi lo cái chuyện này vô cùng tận, nhưng mà không biết rằng trong báo cáo, trong cương lĩnh chính trị cũng như trong báo cáo chính trị, tôi thấy cái vấn đề này quá mờ nhạt luôn, quốc phòng an ninh chép đúng như những ngày xưa viết. Cái đó là cái rất đáng lo ngại.

Tôi có đọc cái quyển sách … của Thông tấn xã Việt Nam, họ nói trong cái quyển sách đó nó nói rằng tại sao Liên Xô sụp đổ? Liên Xô sụp đổ chẳng phải vì diễn biến hoà bình từ bên ngoài, mà Liên Xô sụp đổ từ lòng tin của người dân Liên Xô tan rã. Vậy thì Việt Nam chúng ta đang trên con đường đó, nhưng chúng ta vẫn rất chủ quan. Vẫn vẽ cho chúng ta một cái màu hồng vô cùng lớn, vô cùng đẹp, để [không] thấy rằng cái lòng tin với Đảng, với chính quyền này rất là sa sút rồi. Mà cái điều đó rất là nguy hiểm, nhưng mà trong này đánh giá rất là nhẹ nhàng.

Về nguyên nhân thì quả thật đánh giá cũng rất sơ sài, rất sơ sài, đổ cho khách quan, đổ cho khủng hoảng, đổ cho suy thoái, đổ cho thiên tai dịch bệnh, đổ cho yếu kém vốn có của nền kinh tế. Tôi hỏi rằng nền kinh tế nó có tội tình gì mà tự nhiên nó yếu kém? Có phải cái yếu kém đó tự nó phát sinh ra không hay là do cơ chế chính sách của mình tạo ra để cho nó yếu kém?

Ngày xửa ngày xưa còn bảo đất nước lạc hậu bao năm gì gì đấy, nhưng bây giờ 35 năm rồi, 40 năm rồi làm sao còn cái chuyện đất nước nông nghiệp lạc hậu, yếu kém nữa. Nó là do chúng ta, do cơ chế chính sách chúng ta làm cho cái nền kinh tế này yếu kém. Chứ đừng nói nó vốn có, cái vốn có này nó xa xưa lắm rồi. Cho nên cái nhận định này tôi cho là không đúng.

Thế rồi nhận định nữa là do ‘sự chống phá của các thế lực thù địch’. Tôi thấy chưa tìm đâu thấy cái chống phá bên ngoài, nhưng cái niềm tin của dân đã giảm, thì còn nguy hiểm hơn cả thế lực bên ngoài. Cái điều đó là cái mà tôi cho rằng cần phải đánh giá như thế, chứ còn ba cái thằng Việt kiều nó về lọ mọ vớ vẩn, không thèm chấp. Tất nhiên chúng ta vẫn cảnh giác nhưng chưa thấy ai chống phá chúng ta những cái gì mà gọi là để cho đất nước này đổ cả. Mà tôi chỉ sợ cái lòng dân này làm cho chúng ta sụp đổ. Nó như là một toà nhà mà bị mối, mặt bên ngoài toà nhà vẫn rất đẹp nhưng mà nó bị mối hết rồi”.

Mời nghe toàn bộ audio tại đây: https://www.youtube.com/watch?v=qmXieC4EVvE&feature=youtu.be

►Ai là Anh Cả Quânđội Nhânzân Xứ Lừa?

————————————————

Nhà Bí thư Huyện Đoàn Tân Trụ, Long An

Nhà trưởng ấp treo cờ Trung Quốc

Báo Lao Động

Thứ Ba, 24/12/2013 21:24

(NLĐO)- Tối 24-12, ông Nguyễn Thanh Chánh, tỉnh ủy viên, bí thư huyện ủy Tân Trụ (Long An) xác nhận hai lá cờ Trung Quốc treo trước cổng nhà trưởng ấp của xã Đức Tân. 

Liên tục trong hai ngày 22 và 23-12, nhà chất phế liệu phía trước của ông trưởng ấp Bình Lợi, xã Đức Tân, huyện Tân Trụ Nguyễn Văn Chương xuất hiện lá cờ Trung Quốc treo song hành với cờ tổ quốc Việt Nam.

Nhà trưởng ấp treo cờ Trung Quốc

Theo ông Chánh, bí thư huyện ủy, sự việc có tính nghiêm trọng, huyện ủy và công an tỉnh đang làm rõ việc giữ cờ và đem cờ Trung Quốc về nhà rồi cho người khác treo của ông Trí.

Đếnn tối 23-12, một người dân làm ruộng về đi ngang nhìn thấy hai lá cờ lạ. Về nhà người này nói lại với con cháu trong gia đình, mọi người chạy đến xem mới vỡ lẽ đó là cờ của nước Trung Quốc.

Nhận tin, UBND xã Đức Tân khẩn trương tới xác minh thì được biết lá cờ trên là do cháu Bùi Đức Thái, 11 tuổi, ngụ ấp Bình Lợi, con cháu gia đình trưởng ấp treo lên. Gia đình cháu Thái cho biết cháu bị bệnh thiểu năng từ nhỏ và đang học lớp 2. Cháu Thái cho biết lúc đầu treo lá cờ lên vài giờ rồi lấy xuống, sau đó tiếp tục treo lên nhưng không thấy ai ngăn cấm hay thu hồi lại lá cờ.

Bước đầu xác định, nguồn gốc lá cờ Trung Quốc là từ ông Trương Minh Trí, Bí thư huyện Đoàn Tân Trụ, trước đây là chủ tịch UBND xã Đức Tân.

Sau lần tham dự hoạt động giao lưu Đoàn với nước bạn Trung Quốc, ông Trí  giữ lại mấy lá cờ Trung Quốc đem về nhà. Dịp lễ 22-12, ông đem tặng cho cháu Thái. Cháu Thái lại mang treo cùng với cờ tổ quốc Việt Nam.

Theo ông Chánh, bí thư huyện ủy, sự việc có tính nghiêm trọng, huyện ủy và công an tỉnh đang làm rõ việc giữ cờ và đem cờ Trung Quốc về nhà rồi cho người khác treo của ông Trí.

Posted in Biên Giới, Chiến lược xâm nhập của Trung Quốc vào Viet Nam | 3 Comments »

►Những vấn đề của Việt Nam – Đâu là sự thật của thác Bản Giốc ?

Posted by hoangtran204 on 26/10/2013

Chuyện bây  giờ mới kể. 

Theo lịch sử đảng CSVN và nhiều sách do ông Hồ Chí Minh viết đã kể rằng sau khi ông qua TQ cầu viện 1950, Mao đã viện trợ vũ khí, tướng lãnh, và quân đội TQ cho ông Hồ và đảng CSVN từ cuối 1950. Và nhờ đó, ông Hồ và đảng đã chiếm được Điện Biên Phủ và miền Bắc qua Hiệp định Geneve 20-4-1954. (Chú ý: Miền Nam VN  do Thủ tướng Ngô Đình Diệm lãnh đạo đã không ký vào HĐ này vì đã biết rõ đây là âm mưu chia cắt của TQ giúp ông Hồ và đảng CSVN chiếm một nửa nước VN. Trước tháng 7-1954, miền Bắc VN vẫn còn thuộc về một nước VN thống nhất do Vua Bảo Đại và Thủ tướng của nhà vua lãnh đạo. Đó là sự thật, nhưng lịch sử được viết bởi những kẻ chiến thắng.)

Theo mật ước đươc ký kết giữa hai bên vào năm 1950, Mao Trạch Đông giúp đỡ ông HCM và đảng CSVN là có điều kiện chứ không phải giúp không công. Bởi vậy,  sau khi ông HCM và đảng CSVN chiếm một nửa nước VN vào tháng 7-1954, Trung Quốc lập tức đòi công trạng và chiếm Hoàng Sa 1956, và viết thư yêu cầu HCM thi hành lời hứa. 

Ông HCM và Trung ương đảng CSVN liền ra lệnh cho ông Phạm Văn Đồng ký Công Hàm 14-9-1958, công nhận lãnh hải chung quanh Hoàng Sa và Trường Sa là của TQ.  Về khoảng cách đất liền, quần đảo Hoàng-Sa nằm gần Việt Nam nhất. Hoàng Sa cách Cù lao Ré (đảo Lý Sơn) của Việt Nam khoảng 200 km và cách đảo Hải Nam của Trung Quốc khoảng 230 km.

Mật ước giữa ông HCM còn nhường hay bán cho TQ quần đảo Trường Sa, bởi vậy, khi TQ bắn chết 64 hải quân của QĐNDVN và chiếm TS năm 1988, đảng CSVN không dám lên tiếng, báo chí VN cho đến giờ này khi đưa tin cũng chỉ dám ghi “các tàu lạ của nước lạ” chứ không dám gọi đích danh tàu TQ và hải quân TQ đã bắn giết 64 hải quân VN. Phim này do quân TQ ghi hình và đưa lên mạng internet, nhờ đó mà người dân VN mới biết rõ nội vụ, chứ đảng CSVN và nhà nước bưng bít tin tức và không dám tường thuật lên truyền hình hay báo chí. 

Phim quân TQ bắn giết 64 hải quân VN năm 1988.  Hải quân VN dàn hàng ngang lên đảo, tự làm bia cho quân TQ bắn thỏa sức, và đã không dám bắn trả một phát súng nào. Gần đây, nhiều nguồn tin từ mạng internet cho biết các hải quân VN đã được lệnh dàn đội hình, đổ bộ chiếm đảo, nhưng không được mang theo súng!  Vì trước đó đảng CSVN ra lệnh không được bắn; hoặc đây là một vụ nửa chính thức, nửa bán chính thức để TQ chiếm Trường Sa thi hành mật ước 1950  http://www.youtube.com/watch?v=s68oL9k1MjI

Và dẫn tới hậu quả ngày hôm nay: http://www.youtube.com/watch?v=3X02LysqZmA

Ngay khi Trung Quốc đánh chiếm biên giới và nhiều tỉnh VN tháng 2 năm 1979, đảng CSVN và Nhà Nước in tài liệu Bị Vong Lục 1979, trong đó có đoạn sau:

“Năm 1955-1956, Việt Nam đã nhờ Trung Quốc in lại bản đồ nước Việt Nam tỉ lệ 1/100.000. Lợi dụng lòng tin của Việt Nam, họ đã sửa ký hiệu một số đoạn đường biên giới dịch về phía Việt Nam, biến vùng đất của Việt Nam thành của Trung Quốc. Thí dụ : họ đã sửa ký hiệu ở khu vực thác Bản Giốc (mốc 53) thuộc tỉnh Cao Bằng, nơi họ định chiếm một phần thác Bản Giốc của Việt Nam và cồn Pò Thoong. »

Tài liệu « Bị Vong Lục 1979 » như sau :

« Tại khu vực cột mốc 53 (xã Ðàm Thủy, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng) trên sông Qui Thuận có thác Bản Giốc, từ lâu là của Việt Nam và chính quyền Bắc Kinh cũng đã công nhận sự thật đó. Ngày 29 tháng 2 năm 1976, phía Trung Quốc đã huy động trên 2.000 người kể cả lực lượng vũ trang lập thành hàng rào bố phòng dày dặc bao quanh toàn bộ khu vực thác Bản Giốc thuộc lãnh thổ Việt Nam, cho công nhân cấp tốc xây dựng một đập kiên cố bằng bê tông cốt sắt ngang qua nhánh sông biên giới, làm việc đã rồi, xâm phạm lãnh thổ Việt Nam trên cồn Pò-Thoong và ngang nhiên nhận cồn nầy là của Trung Quốc

“Năm 1955-1956, Việt Nam đã nhờ Trung Quốc in lại bản đồ nước Việt Nam tỉ lệ 1/100.000. Lợi dụng lòng tin của Việt Nam, họ đã sửa ký hiệu một số đoạn đường biên giới dịch về phía Việt Nam, biến vùng đất của Việt Nam thành của Trung Quốc. Thí dụ : họ đã sửa ký hiệu ở khu vực thác Bản Giốc (mốc 53) thuộc tỉnh Cao Bằng, nơi họ định chiếm một phần thác Bản Giốc của Việt Nam và cồn Pò Thoong. »

Nhà nghiên cứu Trương Nhân Tuấn viết: Tài liệu « Bị Vong Lục 1979 » của nhà nước VN là một tài liệu được đúc kết từ các dữ kiện lịch sử và pháp lý giữa hai nước Việt-Trung, đưa ra quốc tế nhằm tố cáo phía TQ lấn đất của VN. Tài liệu này có giá trị pháp lý. Vì có giá trị pháp lý, nó phải « đúng ».

Bài báo của tác giả Trương Nhân Tuấn: Những  vấn đề của Việt Nam – Đâu là sự thật của thác Bản Giốc ?

được post ở đây:

http://nhantuantruong.blogspot.com/2013/10/au-la-su-that-cua-thac-ban-gioc.html#comment-form

Posted in Biên Giới | Leave a Comment »

Tàu Trung Quốc áp sát giàn khoan và kho nổi chứa xuất dầu thô của Việt Nam

Posted by hoangtran204 on 15/03/2012

Một nguồn tin đáng tin cậy cho Bauxite Việt Nam biết lúc 3 giờ chiều ngày 9 tháng 3 vừa qua, hai tàu hải giám Trung Quốc áp sát kho nổi chứa xuất dầu thô FPSO Lewek Emas của Việt Nam đang neo đậu tại vị trí giàn khoan mỏ Chim Sáo, ở lô 12W, thềm lục địa Việt Nam.

Một tàu tiến gần đến mức có thể thấy rõ số đăng ký 75 và dòng chữ Chinese Marine Surveillance (Tàu Hải giám Trung Quốc) ở mạn tàu (xem ảnh bên dưới). Tàu Trung Quốc không trả lời dù phía Việt Nam cố gắng bắt liên lạc trên các kênh VHF 16, 14, 12, 72. Phải đến khi Việt Nam đưa tàu Sapa (tên một chiếc tàu kéo dịch vụ dầu khí) tiến về hướng tàu hải giám Trung Quốc, thì chúng mới bỏ đi, lúc 3g40.

Điều đáng chú ý là cho đến nay toàn bộ vụ việc hoàn toàn không được công khai.

Nguồn: Bauxite.

danchimviet.info

                                                                                 ***

Nam Hàn là một nước nhỏ bé, dân số 48 triệu dân và diện tích chỉ có 100 000 km vuông; nhỏ hơn VN rất nhiều. Nam Hàn nằm cạnh Trung Quốc, có vị trí tựa như miền Nam Việt Nam; còn Bắc Triều Tiên có chung đường biên giới với Trung Quốc. Nhưng hơn 60 năm qua, trên sách báo và truyền thông, không ai đã từng nghe các lãnh đạo của Bắc Triều Tiên và Nam Triều Tiên  sợ hải, cụp vó, khép nép, với Trung Quốc. Thỉnh thoảng, Trung Quốc xớ rớ phát biểu điều gì, thì lập tức bị chính quyền Nam Hàn  mắng phủ đầu như bài báo dưới đây.

So với thứ chính quyền hèn với giặc, ác với dân, tối ngày khúm núm nịnh bợ Trung Quốc, tâng bốc còn hơn tớ nịnh chủ nhà, và không quên dạy dân chúng: Trung Quốc là nước lớn , ta sống cạnh bên nên phải khôn khéo…Đất đai vùng biên giới phía bắc bị Trung Quốc lấn chiếm mà không dám hé môi la. Trung Quốc đưa hiệp định biên giới ép buộc ký kết nhằm chia đất đai ở ngay trong sân sau của nhà mình, mà cũng hèn nhát không dám phản đối, chỉ biết đặt bút ký kết vào các năm 1999 và 2008.  Từ thời vua Gia Long (1802) đến vua Bảo Đại (1945) và cho đến năm 1974, đất đai và biển đảo của VN chưa từng bị mất vào tay Trung Quốc.  Biển đảo và biên giới phía Bắc của Việt Nam chỉ bị mất dần dần vào tay Trung Quốc kể từ khi có đảng cộng sản VN rước Trung Quốc vào làm thầy.

Nam Hàn bác bỏ chủ quyền của Trung Quốc ở vùng biển đang còn tranh chấp

Hán Thành (Seoul) – Nam Hàn hôm thứ Hai ngày 12 tháng Ba nói khu vực đá nằm ngầm dưới lòng biển có nhô lên một phần trên mặt biển ở vùng duyên hải phía nam là một phần “lãnh thổ tự nhiên” của Nam Hàn, chỉ vài ngày sau khi báo chí tường thuật lại lời của một viên chức Trung Hoa cao cấp khi ông ta cho rằng vùng biển đang tranh chấp này thuộc Trung Quốc.

Ieodo – một vùng đá ngầm khoảng năm mét dưới mặt biển – nằm trong vùng đặc khu kinh tế chồng chéo lên giữa Nam Hàn và Trung Quốc và cũng là nguồn căng thẳng trong mối quan hệ ngoại giao giữa hai nước.

Tổng thống Nam Hàn ông Lee Myung-Bak cho vùng này là một lãnh thổ tự nhiên của Nam Hàn từ mọi phương diện, ông nói vùng này gần quần đảo Marado nằm phía cực nam của Nam Hàn hơn là quần đảo gần nhất thuộc Trung Hoa khoảng 100 cây số.

Đại sứ Trung Quốc ông Zhang Xinsen sau khi đến họp để nghe thứ trưởng Ngoại giao Nam Hàn phản đối lời tuyên bố của ông Liu. Nguồn: AFP/Yonhap


“Nhà nước Trung Hoa sẽ biết, dự vào lẽ thường, là vùng đá ngầm Leodo này thuộc về Nam Hàn,” ông Lee nói với các phóng viên, ông còn nói thêm là mất cả hằng bao năm trời cho thương thảo song phương nhưng không đạt được kết quả khả quan nào.

Lời tuyên bố của ông Lee đến sau khi ông Liu Cigui, trưởng Ngành Đại dương Quốc gia Trung Quốc nói là vùng đá ngầm Leodo thuộc về vùng biển nằm trong vòng kiểm soát của Trung Hoa và nên được tuần tra bởi máy bay và tàu tuần tra của Trung Hoa.

Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Nam Hàn ông Kim Jae-Shin đã mời Đại sứ Trung Quốc ông Zhang Xinsen đến hôm thứ Hai để đưa đơn phản đối lời tuyên bố của ông Liu, nhân viên bộ ngoại giao Nam Hàn cho hay.

Việc Bắc Kinh tái xác định chủ quyền của mình lên vùng này được xem như là một cách giành thế thượng phong với Hán Thành trong những cuộc thương thảo về lãnh hải trong tương lai, các nhà phân tích thời cuộc nói.

Tổng thống Nam Hàn ông Lee Myung-Bak cảnh cáo là bất kỳ tranh chấp nào trong vùng giàu tài nguyên này – là con đường mậu dịch đường biển chính của Hán Thành – đều có thể gây nên một ảnh hưởng nghiêm trọng cho nền kinh tế dựa vào mậu dịch của quốc gia này.

Nam Hàn trong năm 2003 đã cố gắng tăng cường sự kiểm soát của mình lên vùng biển đang còn tranh chấp này bằng cách xây một trạm nghiên cứu hàng hải trên đó bất chấp sự phản kháng của Bắc Kinh.

© DCVOnline

Posted in Biên Giới, Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa | Leave a Comment »

Nam Hàn bác bỏ chủ quyền của Trung Quốc ở vùng biển đang còn tranh chấp

Posted by hoangtran204 on 13/03/2012

Nam Hàn là một nước nhỏ bé, dân số 48 triệu dân và diện tích chỉ có 100 000 km vuông; nhỏ hơn VN rất nhiều. Nam Hàn nằm cạnh Trung Quốc, có vị trí tựa như miền Nam Việt Nam; còn Bắc Triều Tiên có chung đường biên giới với Trung Quốc. Nhưng hơn 60 năm qua, trên sách báo và truyền thông, không ai đã từng nghe các lãnh đạo của Bắc Triều Tiên và Nam Triều Tiên  sợ hải, cụp vó, khép nép, với Trung Quốc. Thỉnh thoảng, Trung Quốc xớ rớ phát biểu điều gì, thì lập tức bị chính quyền Nam Hàn  mắng phủ đầu như bài báo dưới đây.

So với thứ chính quyền hèn với giặc, ác với dân, tối ngày khúm núm nịnh bợ Trung Quốc, tâng bốc còn hơn tớ nịnh chủ nhà, và không quên dạy dân chúng: Trung Quốc là nước lớn , ta sống cạnh bên nên phải khôn khéo…Đất đai vùng biên giới phía bắc bị Trung Quốc lấn chiếm mà không dám hé môi la. Trung Quốc đưa hiệp định ký kết chia đất đai

Nam Hàn bác bỏ chủ quyền của Trung Quốc ở

vùng biển đang còn tranh chấp

Hán Thành (Seoul) – Nam Hàn hôm thứ Hai ngày 12 tháng Ba nói khu vực đá nằm ngầm dưới lòng biển có nhô lên một phần trên mặt biển ở vùng duyên hải phía nam là một phần “lãnh thổ tự nhiên” của Nam Hàn, chỉ vài ngày sau khi báo chí tường thuật lại lời của một viên chức Trung Hoa cao cấp khi ông ta cho rằng vùng biển đang tranh chấp này thuộc Trung Quốc.

Ieodo – một vùng đá ngầm khoảng năm mét dưới mặt biển – nằm trong vùng đặc khu kinh tế chồng chéo lên giữa Nam Hàn và Trung Quốc và cũng là nguồn căng thẳng trong mối quan hệ ngoại giao giữa hai nước.

Tổng thống Nam Hàn ông Lee Myung-Bak cho vùng này là một lãnh thổ tự nhiên của Nam Hàn từ mọi phương diện, ông nói vùng này gần quần đảo Marado nằm phía cực nam của Nam Hàn hơn là quần đảo gần nhất thuộc Trung Hoa khoảng 100 cây số.

Đại sứ Trung Quốc ông Zhang Xinsen sau khi đến họp để nghe thứ trưởng Ngoại giao Nam Hàn phản đối lời tuyên bố của ông Liu. Nguồn: AFP/Yonhap


“Nhà nước Trung Hoa sẽ biết, dự vào lẽ thường, là vùng đá ngầm Leodo này thuộc về Nam Hàn,” ông Lee nói với các phóng viên, ông còn nói thêm là mất cả hằng bao năm trời cho thương thảo song phương nhưng không đạt được kết quả khả quan nào.

Lời tuyên bố của ông Lee đến sau khi ông Liu Cigui, trưởng Ngành Đại dương Quốc gia Trung Quốc nói là vùng đá ngầm Leodo thuộc về vùng biển nằm trong vòng kiểm soát của Trung Hoa và nên được tuần tra bởi máy bay và tàu tuần tra của Trung Hoa.

Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Nam Hàn ông Kim Jae-Shin đã mời Đại sứ Trung Quốc ông Zhang Xinsen đến hôm thứ Hai để đưa đơn phản đối lời tuyên bố của ông Liu, nhân viên bộ ngoại giao Nam Hàn cho hay.

Việc Bắc Kinh tái xác định chủ quyền của mình lên vùng này được xem như là một cách giành thế thượng phong với Hán Thành trong những cuộc thương thảo về lãnh hải trong tương lai, các nhà phân tích thời cuộc nói.

Tổng thống Nam Hàn ông Lee Myung-Bak cảnh cáo là bất kỳ tranh chấp nào trong vùng giàu tài nguyên này – là con đường mậu dịch đường biển chính của Hán Thành – đều có thể gây nên một ảnh hưởng nghiêm trọng cho nền kinh tế dựa vào mậu dịch của quốc gia này.

Nam Hàn trong năm 2003 đã cố gắng tăng cường sự kiểm soát của mình lên vùng biển đang còn tranh chấp này bằng cách xây một trạm nghiên cứu hàng hải trên đó bất chấp sự phản kháng của Bắc Kinh.

© DCVOnline

Posted in Biên Giới, Chinh Sach doi ngoai | Leave a Comment »