Trần Hoàng Blog

Archive for Tháng Sáu, 2011

Hà Sĩ Phu công bố về Cuộc toạ đàm với Sứ quán Hoa Kỳ

Posted by hoangtran204 trên 29/06/2011

“Quan hệ của Hoa Kỳ với Việt Nam thế nào là do phẩm chất của Việt Nam quyết định, Việt Nam ở tầm nào Hoa Kỳ sẽ “chơi” ở tầm đó: Nếu Việt Nam là một dân tộc văn minh, trung hậu Hoa Kỳ sẽ là người bạn lớn tuyệt vời, còn nếu Việt Nam không có phẩm chất ấy thì Hoa Kỳ sẽ đối xử tương xứng. Nếu dân chúng Việt Nam tự khẳng định mình chỉ là đàn vịt để Đảng chăn dắt thì bất cứ nước lớn nào cũng chỉ giao dịch với “ông chủ trại vịt” để cùng hưởng lợi trên lưng đàn vịt với giá rẻ nhất mà thôi.” (Hà Sĩ Phu)

Nhà khoa học Hà Sĩ Phu đúng là một người sáng suốt trong lãnh vực chính trị. Ông chỉ  dùng một thí dụ rất đơn giản để  vạch ra đường lối ngoại giao mà  VN cần phải đi theo trong ít nhất là 30 năm tới đây. Thời gian này đủ để chấn chính, xây dựng lại nền giáo dục, xây dựng lại con người, vạch ra kế hoạch kinh tế khác với đường lối hiện nay, và tăng cường về quốc phòng.

Câu nói ấy chứng tỏ ông nắm vững tình hình bang giao của  Mỹ với các nước trên thế giới trong suốt 60 năm qua và về sau. Cụ thể hơn, ông nắm bắt được tâm lý của các chính trị gia Mỹ dù họ thuộc đảng phải  Dân  Chủ hay Cộng  Hòa.

Ông đã vạch ra đường lối ngoại giao mà đảng CSVN đang cầm quyền cần phải đi theo. Nếu họ không nghe, chắc chắn các đảo còn lại ở Hoàng Sa và  Trường  Sa mà VN đang đóng quân sẽ mất, Trung Quốc sẽ kéo tàu vào khai thác dầu ở Biển Đông, và VN sẽ bị TQ chia bớt tài nguyên dầu hỏa và khí đốt mà VN từng khai thác trong 20 năm qua.

Tư tưởng của ông đúng là tư tưởng của một nhà chính trị kiệt xuất. Vì thế, Bộ chính trị và đảng  CSVN đã phải cô lập, bắt giam, quản chế ông mấy chục năm qua. Đảng cầm quyền quá đa nghi, gian trá, không xứng đáng và nhỏ mọn sẽ không bao giờ ngộ ra những điều chính đang mà Hà  Sĩ phu đã viết. Ông đứng ở một vị trí quá cao,  có một tầm nhìn quá xa, không cần tư lợi, trong khi đám kia vẫn còn đang ở trong vũng bùn chia chác nhau những chiến lợi phẩm, dùng bạo lực và quyền hạn để tước đoạt đất đai, bán tài nguyên, hoặc vạch kế hoạch cho nước ngoài thuê đất đai rồi chia nhau, hoặc tham nhũng.

Tự thuật của Hà Sĩ Phu về một cuộc toạ đàm cùng Sứ quán Hoa Kỳ

Từ trái sang phải: Đặng Thanh Biên, Phó đại sứ V. E. Palmer, Hà Sĩ Phu, Tổng Lãnh Sự Lê Thành Ân. (Ảnh chụp lúc 14 giờ ngày 10-3-2011)

Đã ba năm nay, mỗi năm Sứ quán hoặc Lãnh sự quán Hoa Kỳ đều có nhã ý đến thăm tôi một lần. Trừ năm 2010 cuộc thăm không thực hiện được vì phía Việt Nam không đồng ý, hai năm 2009 và 2011 tuy có đến thăm nhưng sau đó cũng có tín hiệu dị nghị không vui đến với tôi.

Đại loại như: không biết tại sao Phó đại sứ Mỹ lại đến thăm, hay là để cho tiền? (!) (cuối năm 2009 tổ dân phố mời tôi ra kiểm điểm cuối năm vì tôi đã làm cho gia đình không đạt tiêu chuẩn Văn hoá, ảnh hưởng đến thành tích khu phố). Lại có tin nói đến tai tôi rằng cuộc gặp tháng 3 năm 2011 đã được ghi âm lén và băng ghi âm được niêm phong chuyển ra Trung ương! Chà, to chuyện quá, toàn chuyện nực cười.

Sở dĩ tôi không đưa tin gì về những lần gặp gỡ ấy vì đây chỉ là sự thăm hỏi cá nhân tôi, một công dân bình thường, thông báo làm chi to chuyện cho vô duyên. Vả lại có những nhận định cá nhân liên quan đến những vấn đề “tế nhị, nhạy cảm” nên tôi cũng “giữ ý”, không muốn nói rộng ra, chỉ ghi lại chi tiết rồi gửi cho một số bạn bè gần gũi biết (như Phụ lục ở cuối bài).

Nhưng chỉ trong mấy tháng nay, tình hình Biển Đông diễn biến quá nhanh, các phía liên quan đều bộc lộ quan điểm một cách thẳng thừng, không úp mở, sự “giữ ý” trở thành lạc hậu. Nên tôi thấy tốt nhất cứ công khai những ý kiến trao đổi, cũng là cách tốt nhất để tránh mọi sự suy diễn.

Trong quan hệ với Hoa Kỳ hiện còn 2 dòng tâm lý rất trái ngược do lịch sử để lại. Nhiều người vẫn nhìn Hoa Kỳ với con mắt nghi kỵ như kẻ đầu sỏ của những “âm mưu diễn biến hoà bình”. Ngược lại không ít người được xếp vào xu hướng thân Mỹ thì luôn lấy Mỹ làm thần tượng, chờ đợi Mỹ như vị cứu tinh.

Tôi dứt khoát không thuộc về 2 xu hướng cực đoan ấy. Trong các bài viết cũng như trả lời phỏng vấn tôi luôn nhìn Hoa Kỳ trong hai mặt đối lập. Hoa Kỳ là một (trong những) đỉnh cao của Dân chủ và văn minh, có ảnh hưởng lớn đến sinh hoạt nhân loại. Đối nội họ đã có một nền dân chủ pháp trị mẫu mực, nhưng đối ngoại thì diễn biến khôn lường, rất thực dụng vì quyền lợi của quốc gia họ.

Quan hệ của Hoa Kỳ với Việt Nam thế nào là do phẩm chất của Việt Nam quyết định, Việt Nam ở tầm nào Hoa Kỳ sẽ “chơi” ở tầm đó:

Nếu Việt Nam là một dân tộc văn minh, trung hậu Hoa Kỳ sẽ là người bạn lớn tuyệt vời, còn nếu Việt Nam không có phẩm chất ấy thì Hoa Kỳ sẽ đối xử tương xứng. Nếu dân chúng Việt Nam tự khẳng định mình chỉ là đàn vịt để Đảng chăn dắt thì bất cứ nước lớn nào cũng chỉ giao dịch với “ông chủ trại vịt” để cùng hưởng lợi trên lưng đàn vịt với giá rẻ nhất mà thôi. Vì thế trong một bài phỏng vấn tôi mong Hoa Kỳ có quan hệ với Việt Nam không chỉ bằng quan hệ nhà nước mà cần phát triển những quan hệ dân sự. Không biết có phải vì thế mà Sứ quán Hoa Kỳ muốn có những cuộc thăm hỏi dân tình, thăm hỏi dân sự như trường hợp của tôi hay không?

Một khi các vị khách quý nước ngoài đến thăm, vừa là ngoại giao, vừa muốn tìm hiểu tâm tư, thăm dò sự hiểu biết và ý chí của một trí thức Việt Nam, và có nhã ý muốn tham khảo ý kiến phục vụ cho sứ mạng ngoại giao của họ, thì tôi tự nhủ mình phải bộc lộ sao cho xứng đáng. Tôi không ngần ngại nói một cách sơ lược nhưng hệ thống những điều tôi đã viết ra từ hai chục năm nay. Tôi phân biệt những nhận thức thấu đáo tận gốc (mà người trí thức Việt Nam không thể khác những trí thức tiến bộ trên thế giới) nhưng trong hành động thì phải xuất phát từ điều kiện cụ thể của Việt Nam, với cả những nhược điểm xã hội cố hữu khiến cho sự đổi mới ở Việt Nam không thể giống các nơi khác.

Muốn người ta giúp nước mình chân thành, mình phải chân thành trước đã.

Trong quan hệ giữa các nước không có bạn vĩnh viễn hay kẻ thù vĩnh viễn, chỉ có sự phồn vinh của mỗi quốc gia là vĩnh viễn. Trong tình thế của Việt Nam liên tục bị nước khổng lồ xâm lăng một cách hiểm độc, tàn bạo, bài bản, và Việt Nam cũng đã bị sa bẫy quá sâu, thì bên cạnh sự tự cường để thoát ra không thể không thuận theo những tương quan quốc tế, trong đó sự có mặt của các cường quốc khác, nhất là Hoa Kỳ tại Biển Đông là một điều kiện có tính chất quyết định. Tôi thành tâm bộc lộ suy nghĩ ấy và tôi thấy các nhà ngoại giao Hoa Kỳ đã có cảm thụ khích lệ. Tôi hy vọng Nhà nước cũng xúc tiến quốc sự theo hướng ấy, vì không thể khác. Tổ quốc là trên hết.

Đà Lạt ngày 28/6/2011

© H. S. P.

© Đàn Chim Việt

——————————————————————————————–

PHỤ LỤC

CUỘC THĂM HỎI CỦA CÁC VỊ KHÁCH HOA KỲ THÁNG 3-2011

Ngày 10-3-2011, bà Phó Đại sứ Hoa kỳ Virginia E. Palmer cùng ông Tổng Lãnh sự Lê Thành Ân có tới thăm tôi tại nhà riêng ở Đà Lạt. Cuộc chuyện trò vui vẻ xoay quanh việc thăm hỏi sức khỏe và gia đình, cũng mạn đàm quanh những suy tư về Văn hóa – Xã hội hiện nay.

Nội dung cuộc trò chuyện ấy tôi đã tường thuật và gửi ngay hôm đó đển các bạn bè gần gũi (ở trong và ngoài nước), nhưng không công bố rộng rãi vì cũng “giữ ý”: quan hệ Việt Nam với Trung Quốc và Hoa Kỳ là chuyện quốc sự hệ trọng, tôi chỉ nói ý kiến riêng mà có thể các vị khách Hoa Kỳ muốn tham khảo, công bố ra lỡ ý của mình trái ngược với Nhà nước cũng phiền.

Song đến nay, chi sau 3 tháng tình hình đã có đột biến, mọi sự “tế nhị” trước đây đã được các bên hữu quan vứt bỏ, phía Trung Quốc và Hoa Kỳ đều đã có những phát biểu thẳng thừng, không úp mở.

Tôi thấy nên “bạch hóa” cuộc trò chuyện ấy, trước hết để tránh sự nghi ngờ, sau nữa để Nhà nước thấy việc đẩy mạnh quan hệ với Hoa Kỳ là có lợi cho việc phòng thủ đất nước và rất hợp lòng dân, lòng những người dân bình thường như tôi, từ đó mà đẩy nhanh thêm sự liên kết có ý nghĩa chiến lược với Hoa Kỳ thì có lợi cho đất nước biết chừng nào.

Phía Khách đã đặt một số câu hỏi và tôi đã nói ý kiến cá nhân của mình.

Phần I: Tóm tắt những ý kiến trao đổi của tôi (HSP)

1/ Về ba mối lo hiện nay của Việt Nam:

Ba mối lo lớn của xã hội VN hiện nay là:

– Chống ngoại xâm tức chống chính sách bành trướng của nhà cầm quyền TQ (không phải là chống văn hóa TQ hay chống nhân dân TQ)

– Chống nội xâm tức chống độc tài và tham nhũng, lực lượng tiêu cực này phối hợp với ngoại xâm, làm cho nhân dân mất quyền làm chủ đất nước. Đây là cuộc vận động Dân chủ hóa xã hội.

– Đối phó với suy thoái kinh tế tài chính, đồng tiền mất giá, giá sinh hoạt ngày một tăng cao.

Ba vấn nạn này tác động lẫn nhau. Nhà nước VN thường dùng sự phát triển kinh tế để làm dịu hai mâu thuẫn về Dân chủ và Chủ quyền quốc gia. Nhưng khi kinh tế cũng suy thoái thì ý muốn đó muốn thực hiện cũng rất khó khăn.

2/ So sánh Việt Nam với mấy nước Tunisia, Egypt, Libya… đang làm cách mạng ôn hòa

* Giống nhau

– Giống nhau ở chỗ các chính quyền này cũng như ở VN đều được tạo dựng từ ngọn cờ Độc lập dân tộc, nên lúc đầu được dân ủng hộ và vì thế có thể củng cố địa vị một cách hợp pháp, đồng thuận với dân.

– Cũng giống nhau ở chỗ vốn là những nước lạc hậu nên ít nhiều đều sa vào những chủ nghỉa Ảo tưởng với những nhãn hiệu “nhân dân”, “xô viết”, “xã hội chủ nghĩa” nhưng vai trò làm chủ của nhân dân không có thực chất, chỉ sự chuyên chính bất công là có thật.

– Chính do độc quyền nên những bộ máy ấy dần dần tham nhũng, thoái hóa và mâu thuẫn với dân. Giải quyết được nhu cầu Độc lập nhưng không thiết kế được nền Dân chủ thì trước sau cũng mâu thuẫn với dân chúng (đó là mâu thuẫn tự sinh tất yếu, chứ không phải do Hoa Kỳ xúi giục như giải thích ở một bài báo của ĐCSVN: (http://www.cpv.org.vn/cpv/Modules/News/NewsDetail.aspx?co_id=30127&cn_id=448708).

* Khác nhau

– Khác nhau ở chỗ 3 nước kia sự độc tài có thể quy về cho một cá nhân. Còn sự độc tài của một nước CS chính thống như Việt Nam thì luôn là độc tài tập thể, rất khó quy kết cho cá nhân chừng nào “tập thể vua” ấy chưa bị phân hóa.

– Ngoài ra VN có điểm tựa rất hiệu quả là dựa vào một lý thuyết nổi tiếng, từng được ngộ nhận là khoa học, lại có một nhân vật từng có uy tín trong dân làm thần tượng, từng trải qua một thời kỳ “đánh giặc” kéo dài, trong đó ĐCS đồng cam cộng khổ với dân. Đó là những nhân tố để làm dịu bớt những mâu thuẫn nội bộ hiện nay, để mỵ Đảng và mỵ Dân.

– Nhưng điều khác biệt quan trọng hơn cả là “tâm lý dân tộc” hay “tính cách dân tộc”: người Việt (cả giới cai trị và giới bị trị) đều quá khôn ngoan trong những xử lý vặt, gọi tắt là khôn vặt, thích nghi rất giỏi với mọi tình huống để tồn tại, biến hóa giỏi quá nên thường không có ranh giới rành mạch, giữa đen và trắng, giữa ủng hộ hay chống đối, giữa khen hay chê, giữa thật hay giả…, nhiều khi nói vậy mà không phải vậy. Khi mọi mâu thuẫn đều biến hóa nhập nhằng thì khó lòng nổ ra những sự cố thật tốt hay thật xấu, tức là không hòng có cách mạng.

– Người Việt hôm nay còn một nhược điểm là tính cá nhân riêng lẻ, tự do tản mạn, thiếu tinh thần tự chế ngự mình để cùng nhau hợp tác, cộng đồng trách nhiệm. Không ai chịu thua ai, không ai chịu nghe ai, lòng người ly tán, tạo thành một hỗn hợp thiếu chất kết dính, mà chất kết dính trước đây do Đảng CS tạo ra được thì nay hầu như đã hết tác dụng.

Chính những đặc điểm ấy khiến cho việc giải quyết những mâu thuẫn trong lòng xã hội VN sẽ mang những sắc thái rất riêng, mặc dù những nhu cầu về Độc lập, Tự do, Hạnh phúc là chung cho toàn thể nhân loại.

Trước đây, khi các nước CS Đông Âu sụp đổ, đã rộ lên những lời kêu gọi hãy làm như Đông Âu, tôi đã một lần vạch rõ ảo tưởng ấy. Nay trước cao trào cách mạng dân quyền ở Trung Á và Bắc Phi cũng lại rộ lên những lời kêu gọi xuống đường như họ! Chúng tôi vẫn chia sẻ những khát vọng chính đáng ấy, nhưng nếu cứ suy nghĩ nông nổi, hời hợt, cảm tính như vậy thì không thể đạt đến thành công. Ở VN khó lòng xảy ra những cuộc Cách mạng Hoa Lài, Hoa Sen… kiểu như vậy.

3/ Về bốn nhược điểm của Phong trào Dân chủ Việt Nam

Xin không bàn đến những người “dân chủ cuội”, dân chủ để mưu lợi cá nhân. Chính phong trào của những người dân chủ chân thành cũng chứa những nhược điểm, lúc đầu khá nặng, nay đã bớt dần nhưng chưa hết.

Có 4 nhân tố vốn là nhân tố rất tích cực, nhưng đi quá mức nên bị lệch lạc, chệch hướng, đó là:

– Sống nặng với thế giới ảo (thế giới Internet) mà nhẹ với thế giới thật.

– Thấy tôn giáo của mình có sức mạnh, nên tưởng tôn giáo của mình là bao trùm, lấy tôn giáo trùm lên thế tục, quên rằng ở VN (và các nước chịu ảnh hưởng nặng Khổng giáo) thì các tôn giáo không có vị trí chủ đạo như ở nhiều nước khác.

– Gắn với hải ngoại nhiều hơn trong nước.

– Lớp trẻ quá tự tin, không biết lắng nghe những người già từng trải.

Trải qua thực tế bốn điều mất cân bằng này đang dần được khắc phục.

4/ Nhược điểm của giới “CẢI LƯƠNG” (loyal dissidents) trong nước

Họ là những đảng viên hoặc trí thức của hệ chính thống, nhưng có tấm lòng, muốn Đảng mở rộng dân chủ từ quỹ đạo của ĐCS.

– Họ không thấy rõ nguồn gốc những vấn nạn lớn chính là do đã du nhập chủ nghĩa Mác Lê phi khoa học, đã dùng một “phương tiện” chống lại mục đích nên kết quả lộn ngược so với khát vọng. Số đông những người này vẫn cho chủ nghĩa Mác cơ bản là tốt, chỉ vì đời sau không theo được con đường Bác Hồ đi theo chủ nghĩa Mác nên nay cần phải trở về với Bác là giải quyết được cơ bản.

– Vì thế họ tìm cách cải tổ, chỉnh đốn để cho Đảng được dân chủ hơn. Coi những “đảng viên tốt” là nòng cốt, là chủ lực của dân chủ, hy vọng họ sẽ làm Đảng CS tự vỡ tạo nên một Đảng CS mới tốt đẹp. Cuộc cải cách chủ yếu từ trên xuống (tức cải cách cung đình).

– Do nhận thức không triệt để, rất dễ bằng lòng với những cải cách nửa vời nên dễ sa bẫy dân chủ hình thức (ví dụ tin vào một vài cá nhân lãnh đạo, muốn có “luật lãnh đạo” cho Đảng, muốn Quốc hội thể hiện là nơi quyền lực tối cao, muốn dân được “phúc quyết” Hiến pháp như kiểu trưng cầu dân ý, v.v. mà không chú ý đến những quyền TỰ DO làm tiền đề cho những ước muốn Dân chủ ấy. Đó là những chế độ Dân chủ phi Tự do như F.Zakaria đã khuyến cáo).

Nên phê phán sự cải lương trong nhận thức, trái lại phải biết trân trọng và ủng hộ những hoạt động tiến bộ tuy còn “cải lương” vì đó là những chặng đường phải qua để có những tiến bộ sau cùng.

5/ Mấy nhận thức cơ bản cần thiết cho xã hội Việt Nam

– Cần hiểu chủ nghĩa CS thực tiễn như một thể nghiệm không thành công của nhân loại trong một giai đoạn lịch sử, chẳng may VN cũng thuộc một trong các nước rơi vào sự thể nghiệm không thành công ấy. Du nhập chủ nghĩa Mác Lê vào là rước cả nạn NỘI XÂM và NGOẠI XÂM (Tàu Cộng) cùng vào khiến đưa đến hậu quả mất sức mạnh căn cốt truyền thống của dân tộc (dân tộc yếu đi trông thấy trước họa xâm lăng), tiêu vong cả lịch sử (đến một phim về người sáng lập triều đại tự chủ là Lý Thái Tổ cũng phải đội lốt Tàu để thể hiện), và nguy cơ nền độc lập đã giành được lại có có thể mất vào tay nước CS khổng lồ “anh em” (họ lấy danh nghĩa Đảng đàn anh để ép buộc hướng đi mang “tính Đảng” của Đảng thống trị của nước mình).

– Tình hình đất nước bị cả Nội xâm và Ngoại xâm khống chế đến tận hang cùng ngõ hẻm là một thế cờ vô cùng hiểm nghèo, nếu chưa muốn công nhận là ngõ cụt. Phải có ý chí thật mạnh để thoát ra, nhưng đồng thời phải cực kỳ khôn khéo, biết đi đúng cách và kiên nhẫn (đây là điểm khác với Đông Âu, vì chủ nghĩa Mác Lê mọc trên đất phong kiến lạc hậu châu Á mới đúng là mảnh đất bám sâu của nó).

Chủ nghĩa Mác đã nhân danh Nhân dân nhưng dẫn đến kết quả là tước sạch vũ khí vật chất và tinh thần của Nhân dân. Nhân dân bị trắng tay, mất sở hữu, mất tự do tư tưởng, mất sạch xã hội dân sự, không còn đất để đứng lên. Phải nhen nhóm Xã hội dân sự từ đầu, đó là lý do không thể làm ngay một “cách mạng Hoa” như Tunisia, Ai Cập… là những nước ít nhiều vẫn còn xã hội dân sự.

– Chúng tôi nghĩ hãy khoan đòi những tiêu chuẩn dân chủ cao. Khi chưa có quyền Tự do gì mà muốn có Dân chủ sẽ được xơi Dân chủ giả hiệu ngay. Trước hết hãy nâng cao Dân trí trong những nỗ lực giành các quyền Tự do hiến định: Quyền Tự do Thông tin-báo chí, và Quyền Tự do lập các Hội dân sự, nghề nghiệp, Ái hữu… mà tuy trên danh nghĩa đã có, nhưng nay phải giành cho có thực chất. Chúng tôi phải dựa trên thế hợp pháp mà gỡ từng bước, tiến tới quyền làm chủ đích thực của dân. Có hai loại Quyền nói trên mới mong tiến lên đòi Quyền thứ ba là Quyền ứng cử và bầu cử để cải biến dần các cơ quan quyền lực, tiến tới một chính thể mới Dân chủ pháp trị văn minh phù hợp với Dân tộc.

– Khi chưa có khả năng huy động quần chúng để làm “Cách mạng” trực tiếp, thì đây là cung cách duy nhất để thoát khỏi đêm dài toàn trị. Đây chính là con đường HOÀ BÌNH. Kiến tạo Dân trí và xã hội dân sự làm nền tảng, chính là tích cực tạo điều kiện để thời cơ xuất hiện.

Con đường diễn biến như vậy tuy có chậm (không phải ta muốn chậm) nhưng bù lại cũng có ưu điểm là vững bền và hợp với tình tự dân tộc và không thể có sự can thiệp của “thế lực thù địch” mà người cầm quyền lo sợ.

6/ Trên con đường ấy, Hoa Kỳ giúp được gì?

Đã nhiều người mong muốn Hoa Kỳ gây áp lực với Chính phủ VN về Dân chủ – Nhân quyền, thả các tù nhân Chính trị. Tôi muốn lưu ý một vài khía cạnh khác.

Trở lại ba vấn đề lớn của đất nước, chúng tôi: *Chống Nội xâm để xây dựng dân chủ pháp trị, *chống Ngoại xâm để giữ vẹn Độc lập cho Tổ quốc, và *vượt qua suy thoái, phát triển Kinh tế-Văn hoá.

Khó khăn là hai vấn đề trên, trong đó chống Nội xâm tuy là việc cơ bản và lâu dài, nhưng trước mắt nếu bị Ngoại xâm khống chế thì VN cũng khó mà Dân chủ hóa.

– Vì vậy chống xu hướng lệ thuộc Trung Quốc là vấn đề lớn trước mắt, phải đặt lên hàng đầu, mong sự hỗ trợ của Hoa Kỳ phù hợp với yêu cầu số 1 ấy.

Được biết phe Maoism trong lãnh đạo thỉnh thoảng lại làm những động tác bắt bớ chính trị căng thẳng, buộc Hoa Kỳ phải lên tiếng, lên tiếng mạnh thì làm cho quan hệ Mỹ – Việt xấu đi, để VN phải ngả thêm về Trung Quốc. Xử lý mâu thuẫn này cần sự khôn khéo.

Việc hỗ trợ Dân chủ – Nhân quyền thì chủ trương Bảo hộ Internet mà bà Ngoại trưởng H.Clinton tuyên bố là rất trúng, vì tự do Thông tin – Báo chí là điều kiện không thể thiếu của một xã hội dân sự lành mạnh.

– Trong việc mở rộng quan hệ giữa hai nước, bên cạnh quan hệ với Chính phủ, Hoa Kỳ nên mở rộng quan hệ công dân, quan hệ dân sự, giúp thúc đẩy hình thành và hoạt động, tăng cường giao lưu giữa các hội đoàn công dân, hội đoàn nghề nghiệp. Phát triển quan hệ trong Văn hóa và Giáo dục, nhất là đào tạo Đại học và Kỹ thuật bậc cao.

– Giúp và phối hợp với VN trong các dự án kinh tế lớn, nhất là các dự án liên hệ đến môi trường và an ninh, để chống sự lệ thuộc vào Trung Quốc, đặc biệt là kinh tế và quân sự vùng Biển Đông, mà cảng CAM RANH là một điểm quan trọng. Chưa bàn đến mối liên kết về quân sự, chỉ riêng sự có mặt thường trực của Hoa Kỳ tại nơi đây với các lý do hợp tác nhiều mặt đã góp phần quan trọng cho sự ổn định của Biển Đông.

Phần II: Tóm tắt mấy ý kiến của các vị khách Hoa Kỳ

Các vị khách Hoa Kỳ chủ yếu hỏi để biết ý kiến của tôi.

Ngoài các nội dung như trên, Khách có hỏi: Chúng tôi biết trong công cuộc chống Nội xâm và Ngoại xâm các nhà Trí thức có dựa vào uy tín của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, nhưng tướng Giáp đã trên trăm tuổi, nếu vị tướng ấy ra đi thì ai có thể thay vai trò ấy. Tôi trả lời: Gần nhất với vai trò ấy là Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh.

Khách hỏi nhóm Đà Lạt chúng tôi có được gặp nhau thường xuyên để trao đổi ý kiến không? Tôi bảo có thành nhóm gì đâu, bạn bè hợp nhau thì gần gũi, hỗ trợ nhau chặt chẽ. Chúng tôi gặp nhau bình thường, những điều tôi nói hôm nay chính là chúng tôi đã thường trao đổi với nhau.

Khách biểu lộ sự quan tâm và tương đắc nhất với những ý kiến cuối cùng: Hoa Kỳ giúp được gì, làm sao cân đối giữa nhu cầu thúc đẩy Dân chủ hóa xã hội mà không đẩy Hoa Kỳ và Việt Nam xa nhau khiến Việt Nam càng gắn bó với Trung Quốc, làm sao Hoa Kỳ hiện diện ở Biển Đông, nhất là quanh vùng Cam Ranh một cách hòa bình.

Chủ và khách nhất trí: Đây là cuộc thăm hỏi riêng, trước mắt không cần đưa tin chính thức.

10/3/2011

H. S. P.

THEO DÒNG SỰ KIỆN:

  1. Xuân về trên xứ sở mai anh đào
  2. Tổ quốc trên hết
  3. Nhà trên cây (treehouse)
  4. Trên đường đi đến “thiên đàng …” Tản mạn của một người theo Cộng sản (Kết)
  5. Trên đường đi đến “thiên đàng …” Tản mạn của một người theo Cộng sản [2]
  6. Trên đường đi đến “thiên đàng …” Tản mạn của một người theo Cộng sản [1]
Advertisements

Posted in Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa, Chinh Tri Viet Nam | Leave a Comment »

Hội thảo An Ninh Biển Ðông

Posted by hoangtran204 trên 29/06/2011

TQ cô đơn khi VN đơn cử trận Hoàng Sa 1974
Friday, June 24, 2011 7:00:55 PM

Hội thảo An Ninh Biển Ðông (kỳ chót)

nguồn Hà Giang/báo Người Việt

WASHINGTON (NV) – Dù đã kết thúc từ đầu tuần, âm vang của cuộc hội thảo có tên “An Ninh Hàng Hải Biển Ðông” vẫn còn rất rõ trong tâm trí cả những diễn giả lẫn cử tọa của buổi họp – căn cứ trên số lượng các bài báo, tường trình, phỏng vấn, chương trình phát thanh, những khúc phim ngắn, và các bài bình luận hiện vẫn còn đang xuất hiện trên mọi phương tiện truyền thông đại chúng.

 Tiến sĩ Trần Đình Hoành, luật sư về đầu tư quốc tế và một số vấn đề liên hệ đến Việt Nam, trụ sở tại Washington DC; chất vấn Giáo sư Su Hao trong phần hỏi đáp của buổi hội thảo “An Ninh Hàng Hải Biển Ðông” do Trung Tâm Nghiên Cứu Chiến Lược Quốc Tế Hoa Kỳ (CSIS) tổ chức tại Hoa Thịnh Ðốn ngày 20 tháng Sáu, 2011. (Hình: Hà Giang/Người Việt)

Vậy thì qua gần hai ngày liên tục với một thời khóa biểu khá vất vả, những người tham dự buổi hội thảo do Trung Tâm Nghiên Cứu Chiến Lược Quốc Tế Hoa Kỳ (CSIS) tổ chức tại Washington vào hai ngày 20 và 21 tháng 6 đã rút tỉa đúc kết được những gì, và mang theo họ những nhận xét quan trọng nào đáng được phổ biến?

Một điều ai cũng thấy là phần trình bày của Tiến Sĩ Su Hao, phó giám đốc Trung Tâm Nghiên Cứu Quốc Tế, trường Ðại Học Ngoại Giao Trung Quốc, đến từ Bắc Kinh, đã lập tức khiến không khí trở nên căng thẳng, khi mọi diễn giả, cùng nhiều người tham dự cùng cực lực phản bác, khi ông khẳng định chủ quyền của nước mình trên vùng Biển Ðông, cáo buộc một số nước láng giềng (Việt Nam) là trước đây đã thừa nhận chủ quyền không chối cãi được của Trung Quốc, nhưng bây giờ không những đã đổi ý, mà còn tỏ ra hung hăng, làm leo thang sự căng thẳng trong vùng.

Bắt lỗi ứng xử Trung Quốc

Ông Termsak Chalermpalanupap, giám đốc Tổng Cục Chính Trị và An Ninh của Ban Thư Ký ASEAN khẳng định rằng thái độ của Trung Quốc là tất cả Biển Ðông thuộc về Trung Quốc khiến các nước trong vùng không thể yên tâm.

Còn Tiến Sĩ Stein Tonnesson thì đặt câu hỏi: “Dám hỏi Giáo Sư Su Hao là có một tí nào của Biển Ðông thuộc về các nước nào khác trong vùng như Việt Nam, Phi Luật Tân, hay Malaysia không?”

Tiến Sĩ James Clad, thuộc CNA, một cơ quan nghiên cứu và cố vấn chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ, cho rằng “không thể chấp nhận được.” Ông nói ông “kinh ngạc trước ứng xử của Trung Quốc.”

Tiến Sĩ Clad nói: “Khó khăn trong việc giải quyết tranh chấp nằm ở chỗ, đối với Trung Quốc, toàn thể Biển Ðông là của một mình họ, và bất cứ ai muốn khẳng định chủ quyền ở bất cứ phần nào trên vùng biển này thì phải đối phó với quốc gia này.”

Tiến Sĩ Peter Dutton, giáo sư thuộc Học Viện Nghiên Cứu về Hàng Hải Trung Quốc, thì đặt vấn đề là “tự do hàng hải của thế giới không thể sống chung với đường lưỡi bò,” và hỏi rằng “không biết Trung Quốc nghĩ gì khi đưa ra một bản đồ như thế?”

Giáo Sư Carl Thayer, chuyên gia nổi tiếng về các vấn đề Ðông Nam Á của Trường Ðại Học New South Wales và Học Viện Quốc Phòng tại Úc Ðại Lợi thì khẳng định rằng: “An ninh của vùng Biển Ðông ảnh hưởng đến quyền tự do hàng hải của cả những nước không tranh chấp chủ quyền,” và trong lúc tranh luận giữa các bên và Giáo Sư Su Hao đang cẳng thẳng nhất, (GS Carl Thayer) đã thốt lên:

”Thử hỏi, cả thế giới này, có nước nào bênh vực cho các ông không?”

Thượng Nghị Sĩ John McCain, cựu ứng viên tổng thống, cùng nhiều học giả và cố vấn chính trị Mỹ cho rằng đã đến lúc Hoa Kỳ phải đặt lại vấn đề phê chuẩn Công Ước của Liên Hiệp Quốc về Luật Biển (UNCLOS) nhằm mục đích bảo vệ quyền tự do hàng hải.

 

Hải chiến Hoàng Sa chứng minh Trung Quốc cướp đoạt

 

Ba diễn giả phía Việt Nam cùng được đánh giá cao trong việc am tường lịch sử cuộc tranh chấp giữa Việt Nam và Trung Quốc, đã khéo léo trình bày vấn đề và chinh phục được sự ủng hộ của công luận quốc tế.

Ngoài ra trong phần tranh luận, Tiến sĩ Trần Đình Hoành, luật sư về đầu tư quốc tế và một số vấn đề liên hệ đến Việt Nam, trụ sở tại Washington DC, trong phần thuyết phục Giáo Sư Su Hao là Bắc Kinh phải thay đổi chính sách, đã làm cử tọa cảm động, khi ông phân trần:

“Tôi muốn nói với Giáo Sư Su Hao rằng ông phải nhớ là sự chịu đựng của con người có giới hạn, dân chúng VN đã giận dữ từ nhiều năm nay. Nếu muốn có tình hữu nghị lâu dài thì không thể cứ mỗi năm lại cấm ngư dân Việt Nam đánh cá từ tháng 5 đến tháng 8. Khi người dân năm này qua năm khác bị bắt giữ, thuyền bị đâm thủng, thì hậu quả rất nghiêm trọng. Cứ mỗi ngày người dân Việt Nam không được đi đánh cá để kiếm sống, hay phải sống trong sợ hãi, là mỗi ngày họ thêm thù oán ghét bỏ chính sách của Trung Quốc.”

Nhưng điều làm những ai chú ý nghe ngạc nhiên nhất là khi Tiến sĩ Trần Đình Hoành đơn cử cuộc hải chiến Hoàng Sa của Hải Quân VNCH để phản bác lập luận của Giáo Sư Su Hao.

Ông nói:

“Một điều quan trọng cần phải đưa lên ‘record’ để phản bác lời Giáo Sư Su Hao là Việt Nam đã thừa nhận Hoàng Sa là của Trung Quốc, nhưng lại đổi ý. Tôi muốn cho quý vị được rõ là vào năm 1974 khi đất nước chúng còn đang bị phân đôi, trong trận hải chiến Hoàng Sa, quân đội Trung Quốc đã dùng vũ lực để cướp đoạt quần đảo Hoàng Sa trong tay quân đội miền Nam Việt Nam. Một lần nữa, xin nhắc lại, lúc đó Nam Bắc chia đôi.

Chính cuộc chiến này, là minh chứng hùng hồn rằng Việt Nam chưa bao giờ thừa nhận quần đảo Hoàng Sa là của Trung Quốc. Ðây là một dữ kiện vô cùng quan trọng mà chúng tôi muốn ghi vào sử sách (put in the record).

Tiến sĩ Trần Đình Hoành nói rằng sự kiện lịch sử này trước giờ chưa được đề cập.

Mọi người rời khỏi cuộc hội thảo với nhận thức rất rõ ràng rằng tranh chấp Biển Ðông là một vấn đề hết sức phức tạp, đòi hỏi sự hòa hoãn và ứng xử hợp tình hợp lý của mọi bên, và ý chí chính trị mới mong có thể giải quyết một cách thỏa đáng.

Cụ thể, theo quan điểm của đa số, thì Trung Quốc phải bỏ thay đổi chính sách hiếu chiến của mình.

Cụ thể, cũng theo đề nghị của đa số, thì Hoa Kỳ cần phải phê chuẩn Công Ước của Liên Hiệp Quốc về Luật Biển (UNCLOS) mới có “moral ground” để lên tiếng.

Còn về phía Việt Nam, sự kiện trận hải chiến Hoàng Sa giữa VNCH và Trung Quốc năm 1974 lần đầu tiên được nhắc đến phải được đánh giá như thế nào?

Những Bài Liên Quan:

  • Trung Quốc khẳng định chủ quyền, bị chống (Monday, June 20, 2011 7:38:04 PM)
    Cuộc họp quy tụ nhiều nhà nghiên cứu tầm cỡ quốc tế và nhiều viên chức cao cấp diễn ra tại trụ sở Trung Tâm Nghiên Cứu Chiến Lược Quốc Tế Hoa Kỳ (CSIS) với chủ đề “An ninh Hàng hải ở biển Ðông.’
  • ‘Hãy bỏ cái hình Ðường Lưỡi Bò’ (Tuesday, June 21, 2011 7:10:34 PM)
    Trong buổi hội thảo thứ nhì mang tên “An Ninh Hàng Hải Biển Ðông”, không khí buổi họp chuyển từ căng thẳng đến nặng trĩu cảm xúc, nhất là trong phần trình bày của diễn giả các nước liên quan đến cuộc tranh chấp đang ngày càng gay gắt tại Biển Ðông.
  • ‘Trung Quốc rất ngạc nhiên trước phản ứng của Việt Nam’ (Wednesday, June 22, 2011 7:58:35 PM)
    Trả lời phỏng vấn của báo Người Việt tại hội thảo “An Ninh Hàng Hải Biển Ðông” Giáo sư Su Hao của Trung Quốc nói rằng ‘hết sức ngạc nhiên trước phản ứng dữ dội của Việt Nam, hơn hẳn với truyền thống hành xử của họ.’
  • ‘TQ vi phạm lãnh hải của VN rõ ràng và trắng trợn nhất’ (Thursday, June 23, 2011 8:41:15 PM)
    Từ Hà Nội 3 diễn giả đến dự buổi hội thảo mang tên “An Ninh Hàng Hải Biển Ðông” do Trung Tâm Nghiên Cứu Chiến Lược Quốc Tế Hoa Kỳ (CSIS) tổ chức.

—————

Những Bài Liên Quan:

Trung Quốc khẳng định chủ quyền, bị chống (Monday, June 20, 2011 7:38:04 PM)
Cuộc họp quy tụ nhiều nhà nghiên cứu tầm cỡ quốc tế và nhiều viên chức cao cấp diễn ra tại trụ sở Trung Tâm Nghiên Cứu Chiến Lược Quốc Tế Hoa Kỳ (CSIS) với chủ đề “An ninh Hàng hải ở biển Ðông.’

‘Hãy bỏ cái hình Ðường Lưỡi Bò’ (Tuesday, June 21, 2011 7:10:34 PM)
Trong buổi hội thảo thứ nhì mang tên “An Ninh Hàng Hải Biển Ðông”, không khí buổi họp chuyển từ căng thẳng đến nặng trĩu cảm xúc, nhất là trong phần trình bày của diễn giả các nước liên quan đến cuộc tranh chấp đang ngày càng gay gắt tại Biển Ðông.

‘Trung Quốc rất ngạc nhiên trước phản ứng của Việt Nam’ (Wednesday, June 22, 2011 7:58:35 PM)
Trả lời phỏng vấn của báo Người Việt tại hội thảo “An Ninh Hàng Hải Biển Ðông” Giáo sư Su Hao của Trung Quốc nói rằng ‘hết sức ngạc nhiên trước phản ứng dữ dội của Việt Nam, hơn hẳn với truyền thống hành xử của họ.’

‘TQ vi phạm lãnh hải của VN rõ ràng và trắng trợn nhất’ (Thursday, June 23, 2011 8:41:15 PM)
Từ Hà Nội 3 diễn giả đến dự buổi hội thảo mang tên “An Ninh Hàng Hải Biển Ðông” do Trung Tâm Nghiên Cứu Chiến Lược Quốc Tế Hoa Kỳ (CSIS) tổ chức.

————–

Phát biểu của ông John McCain tại hội thảo về an ninh hàng hải trên biển Đông ở Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược Quốc tế (CSIS) tại Washington DC. ngày 20-06-2011.

John McCain
…..Bỏ qua những sự việc không liên quan đến hội thảo

Những năm vừa qua cho thấy sự leo thang nhanh chóng về tình trạng căng thẳng giữa các quốc gia trong khu vực hàng hải đang tranh chấp và hay thay đổi này. Tôi không cần phải nói lại cho các cử tọa ở đây nghe tất cả các sự cố. Dĩ nhiên, điều quan trọng là tất cả các bên thực hiện sự kiềm chế. Và để chắc chắn rằng, các đối tác ASEAN của chúng ta sẽ cần phải thỏa hiệp, đặc biệt là các nước thoả hiệp với nhau, để đạt được một kết quả hòa bình và cùng có lợi, như nhiều nước trong số các nước này thừa nhận.

Điều đó có nghĩa là, tình hình này cần phải nói thẳng một chút: Một trong những lực lượng chính làm cho các căng thẳng trên biển Đông trầm trọng hơn, và làm cho giải pháp hòa bình của các tranh chấp này khó khăn hơn để đạt được, đó là hành vi hung hăng của Trung Quốc và việc đòi chủ quyền lãnh thổ vô căn cứ mà họ tìm cách theo đuổi.

Tôi chẳng vui vẻ gì để nói điều này.Tôi tin rằng một trong những lợi ích quốc gia hàng đầu của Hoa Kỳ là việc duy trì và tăng cường quan hệ nhiều mặt với Trung Quốc. Tôi muốn Trung Quốc thành công và phát triển một cách hòa bình. Và tôi tin rằng không có lực lượng lịch sử nào lên án đất nước chúng ta về xung đột. Thật vậy, phạm vi hợp tác toàn cầu của chúng ta là rộng hơn bao giờ hết, kể cả các vấn đề an ninh hàng hải, rõ ràng để cho mọi người thấy các hoạt động chung của chúng ta ra tận ngoài khơi Sừng châu Phi (Horn Africa).

Điều gây khó khăn cho tôi, và tôi cũng nghĩ rằng nó cũng gây khó khăn cho nhiều quý vị ở đây, đó là các tuyên bố mở rộng của Trung Quốc trên biển Đông. Các lý do căn bản cung cấp cho các tuyên bố này, không có cơ sở luật pháp quốc tế; và những hành động ngày càng quyết đoán mà Trung Quốc đang thực hiện để thực thi các quyền tự nhận của họ, gồm cả ở vùng biển trong vòng 200 hải lý ngoài khơi bờ biển của các nước ASEAN, như trường hợp gần đây trong các sự cố riêng biệt liên quan đến Việt Nam và Philippines.

Bản đồ về cái gọi là chín vạch của Trung Quốc tuyên bố tất cả các đảo trên biển Đông là chủ quyền lãnh thổ Trung Quốc và tất cả các vùng lãnh hải của nó là vùng đặc quyền của Trung Quốc rõ là vô lý. Hơn nữa, những giải thích cụ thể về luật pháp quốc tế của Trung Quốc sẽ làm xói mòn các nguyên tắc lâu dài về tự do hàng hải, bóp méo khái niệm mở rộng cho mọi người đi vào, và sẽ hạn chế sự đi vào vùng biển này. Một số người ở Trung Quốc thậm chí còn đề cập đến học thuyết này như “chiến tranh pháp lý”.

Tại sao điều này quan trọng đối với Hoa Kỳ? Đây là câu hỏi mà nhiều người Mỹ sẽ hỏi, đặc biệt là khi chúng tôi liên quan đến ba cuộc xung đột đã xãy ra, và khi nợ quốc gia của chúng tôi thực sự trở nên không bền vững. Tại sao Mỹ nên quan tâm đến tranh chấp lãnh hải của các nước bên cách xa nửa vòng trái đất?

Chắc chắn có lý do kinh tế để tham gia. Khu vực biển Đông là nguồn quan trọng về công việc làm và tài nguyên thiên nhiên có lợi cho nhiều người Mỹ. Tuy nhiên, có lẽ xét rộng hơn là yếu tố chiến lược. Trung tâm địa chính trị thế giới hấp dẫn đang chuyển sang khu vực châu Á-Thái Bình Dương – một khu vực, trong đó nhiều nước đang trỗi dậy cùng một lúc về sự giàu có và sức mạnh.

Điều này tạo ra sự va chạm giữa các quốc gia, nơi các tranh chấp cũ vẫn chưa được giải quyết. Hoa Kỳ có một lợi ích an ninh quốc gia trong việc duy trì một sự cân bằng chiến lược thuận lợi trong khu vực quan trọng này. Và trọng tâm đó là để bảo vệ sự tự do phổ quát trong việc đi lại và đi vào các vùng biển như một nguyên tắc căn bản của trật tự quốc tế.

Những nỗ lực phủ nhận tự do hàng hải trên biển Đông đặt ra một thách thức nghiêm trọng đến trật tự quốc tế mà, dựa trên luật lệ, Hoa Kỳ và đồng minh của chúng tôi đã duy trì trong nhiều thập kỷ. Nếu những nỗ lực này thành công – sẽ liên tục bắt nạt, cho phép một nước áp đặt tuyên bố chủ quyền lãnh thổ của mình bằng vũ lực và biến biển Đông thành một khu vực không cho các tàu thương mại và quân sự của các quốc gia khác, kể cả Hoa Kỳ, đi vào. Hậu quả sẽ là thảm khốc.

Điều đó có thể thiết lập một tiền lệ nguy hiểm để làm suy yếu luật pháp quốc tế, theo cách mà những người có ý định bệnh hoạn, không còn nghi ngờ gì nữa, sẽ áp dụng ở nơi khác. Điều đó có thể tạo ra sự khuyến khích gia tăng quyền lực gây phiền hà khắp mọi nơi để sử dụng vũ lực, điều mà các phương tiện pháp lý và hoà bình không thể bảo đảm cho họ. Vì thế, nó sẽ đưa chúng ta đến gần thảm hoạ hơn vào một ngày, khi hải quân Mỹ thấy rằng không thể đi vào và hoạt động một cách an toàn ở Tây Thái Bình Dương.

“Vậy thì Hoa Kỳ nên làm những gì? Để tôi cung cấp một vài đề nghị để kết thúc.

“Thứ nhất, về lập trường của Mỹ trên biển Đông, chúng ta nhận thấy rằng, một chính sách rõ ràng có thể ổn định hơn so với một chính sách không rõ ràng. Tôi hoan nghênh Ngoại trưởng Clinton khi tuyên bố rằng các bên tranh chấp trên biển Đông phải được giải quyết thông qua đàm phán đa phương, và chúng ta sẽ tìm cách tạo điều kiện cho các cuộc đàm phán. Đa số các nước châu Á hoan nghênh tuyên bố đó. Trên hết, đây là mối quan hệ của Trung Quốc với các nước láng giềng, không phải giữa Trung Quốc với Hoa Kỳ.

Tuy nhiên, rất hữu ích cho chúng ta tiếp tục nói rõ quan điểm của Mỹ, để các nước khác có thể biết, Hoa Kỳ chấp nhận những yêu sách nào, và những yêu sách nào chúng ta không chấp nhận, và những hành động nào chúng ta chuẩn bị để hỗ trợ các đối tác của chúng ta, đặc biệt là Philippines, một nước đồng minh có ký hiệp ước.

“Thứ hai, Hoa Kỳ nên hỗ trợ các đối tác ASEAN của chúng ta trong việc giải quyết tranh chấp của họ trên biển Đông, như một phương tiện cổ vũ ASEAN đoàn kết hơn để đối mặt với Trung Quốc.

Trung Quốc tìm cách khai thác sự chia rẽ giữa các thành viên ASEAN – làm cho họ chống đối nhau, để phục vụ cho kế hoạch riêng của Trung Quốc. Giải quyết các tranh chấp trên biển giữa các nước ASEAN, như Malaysia và Brunei gần đây đã thực hiện, sẽ cho phép các đối tác của chúng ta thiết lập một mặt trận thống nhất hơn.

“Thứ ba: Hoa Kỳ cần giúp đỡ các đối tác ASEAN của chúng ta tăng cường sự phòng thủ trên biển và khả năng phát hiện – để phát triển và triển khai các hệ thống cơ bản như radar cảnh báo sớm và các tàu an ninh ven biển. Bù đắp sự thiếu thốn này, và tăng cường tập trận chung với chúng ta, sẽ cung cấp một hình ảnh hoạt động phổ biến hơn ở biển Đông và khả năng đối phó tốt hơn với các mối đe dọa.

Thứ tư, Thượng viện Mỹ cần quan tâm hơn đến Công ước LHQ về Luật Biển. Tôi biết điều này không phổ biến ở một số người bảo thủ. Nhưng thực tế là, chính phủ các nhiệm kỳ kế tiếp của cả hai đảng đã tôn trọng những nhận xét cơ bản của Công ước, mặc dù không cần phải ký. Trong khi đó, các nước như Trung Quốc đã ký công ước mà không thực hiện đúng, nhắm tới việc từ chối, không cho các nước đi vào vùng biển quốc tế.

Điều này làm cho Hoa Kỳ dựa vào ân huệ của các nước ngoài cũng như dựa vào sức mạnh lớn hơn của chính mình để bảo đảm quyền đi lại của Mỹ. Nhưng những điều này là đặc ân, không thể được xem như lúc nào cũng có sẵn, đó là lý do Hải quân Mỹ hỗ trợ mạnh mẽ Công ước [LHQ về Luật Biển] và tính pháp lý của nó, để bảo đảm nó phục vụ cho các hoạt động hải quân của chúng ta. Do đó, vì lý do an ninh quốc gia, Thượng viện cần phải quyết định, đã đến lúc phê chuẩn Hiệp ước Luật Biển.

Thứ năm, chúng ta cần phải chuyển sức mạnh của lực lượng Mỹ, chú trọng nhiều hơn vào những khu vực cạnh tranh mới trỗi dậy, đặc biệt là Ấn Độ Dương và Biển Đông. Tôi đã tham gia với các đồng nghiệp của tôi ở Hội đồng Quân sự Thượng viện, Thượng nghị sĩ Carl Levin và Jim Webb, để kêu gọi cho thêm thời gian đánh giá lại kế hoạch về các căn cứ của chúng ta ở Nhật Bản và Guam. Và tôi đã làm như thế để Mỹ không phải rút khỏi châu Á, mà là tăng cường cam kết của chúng ta đối với an ninh trong khu vực này.

Không phải là Quốc hội có ý kiến về các thỏa thuận căn cứ trong khu vực, mà thực tế tình hình mới và chi phí vượt quá mức, đã tạo vấn đề về các kế hoạch hiện tại của chúng ta. Mục tiêu của chúng ta nên chuyển tới nơi có vị thế địa lý hơn, đưa quân đội rải rác ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương, như Bộ trưởng Quốc phòng Gates đã mô tả, và trung tâm của nỗ lực đó sẽ luôn luôn là những cam kết căn bản của chúng ta với các đồng minh lịch sử như Nhật Bản và Nam Hàn.

Cuối cùng, Hoa Kỳ phải tiếp tục các khoản đầu tư cần thiết vào khả năng phòng thủ của chúng ta, đặc biệt là lực lượng hải quân, để duy trì sức mạnh quân sự hàng đầu thế giới. Chúng ta đang phải đối mặt với áp lực rất lớn trong nước để cắt giảm chi tiêu, gồm cả chi tiêu quốc phòng, và một số cắt giảm chắc chắn cần thiết. Những người có lý có thể không đồng ý về việc cắt giảm này, nên cắt thêm bao nhiêu.

Nhưng gần đây, khi Tổng thống cam kết cắt giảm 400 tỷ đô la về chi tiêu quốc phòng trong thời gian 12 năm – không có cơ sở chiến lược hợp lý về lý do tại sao con số này đã được lựa chọn hoặc những gì rủi ro gì nó sẽ gây ra, và Bộ trưởng Quốc phòng chỉ được nói về điều đó một ngày trước khi sự việc xảy ra – tôi nghĩ rằng những người có lý lẽ cũng có thể đồng ý rằng, điều này không có cách nào để lên kế hoạch quốc phòng của chúng ta. Chúng ta phải [lên kế hoạch] dựa vào chiến lược hướng dẫn, không thể [dựa vào] những con số tùy tiện.

Những sự kiện hiện đang xảy ra trên biển Đông sẽ đóng một vai trò quyết định trong việc định hình sự phát triển khu vực châu Á-Thái Bình Dương trong thế kỷ này. Và Hoa Kỳ phải tiếp tục tham gia tích cực vào quá trình đó. Về vấn đề này, tôi gặp rắc rối do các báo cáo gần đây của một số đồng nghiệp của tôi trong Quốc hội và một số ứng cử viên tổng thống thuộc đảng Cộng hòa. Họ mong muốn Hoa Kỳ rút khỏi thế giới và giảm các cam kết của chúng tôi ở nước ngoài.

Hoa Kỳ đã mắc phải sai lầm đó trước đây, và chúng ta nên học bài học lịch sử này, không để nó lặp lại. Cuối cùng, lịch sử cho chúng ta thấy rằng, chính Mỹ được hưởng lợi lớn nhất nhờ trật tự quốc tế dựa trên luật lệ, đó là duy trì bởi quyền lực và sự lãnh đạo của Mỹ. Chúng ta từ bỏ vai trò đó là nguy hiểm cho thế giới và cho chính chúng ta.

Nếu các bạn đến từ khu vực châu Á-Thái Bình Dương, chỉ để mang một thông điệp về nhà với các bạn, thông điệp đó sẽ là: Luôn có xu hướng cô lập ở Mỹ, nhưng người Mỹ đã bác bỏ nó trước đây, và tôi tin rằng bây giờ người Mỹ sẽ bác bỏ nó một lần nữa. Sẽ luôn có một cơ sở vững chắc của Mỹ hỗ trợ cho một chính sách quốc tế mạnh mẽ ở nước ngoài. Chính sách đó sẽ không thay đổi, kể cả ở Mỹ.

Chúng tôi sẽ không rút khỏi hoặc bị đẩy ra khỏi khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Chúng tôi sẽ ở lại đó, [thực hiện] cam kết với bạn bè và đồng minh của chúng tôi, và chúng ta sẽ cùng nhau thành công.

Nguồn: http://www.ustream.tv/recorded/15514848

Nguồn

Posted in Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa | Leave a Comment »

Kinh tế thế giới sẽ còn ở tình trạng yếu kém như thế này trong ít nhất 2-3 năm nữa.

Posted by hoangtran204 trên 28/06/2011

Trong khi Trung Quốc đang gặp vấn nạn nợ không đòi được. Các ngân hàng Trung Quốc cho các công ty và người trong nước vay và họ không thể trả lại được vì làm ăn thất bại, xây đường sá và nhà hàng loạt và đến nay có 60 triệu nhà để trống, bán không ai mua, hạn hán thất mùa kéo dài hơn 8 tháng qua, công nhân thất nghiệp nổi dậy chống lại chính quyền khắp nơi…

Kinh tế Mỹ cũng đang nửa sống, nửa chết. Muốn biết kinh tế Mỹ hiện nay ra sao, ta chỉ cần nhìn chỉ số chứng khoán của các công ty đại diện cho nền kinh tế của  Mỹ, số nhà bán được từng tháng tăng giảm ra sao, và tỉ lệ phần trăm thất nghiệp của dân chúng hiện nay.

Chỉ số chứng khoáng Dow Jones của  Mỹ chỉ nằm quanh quẩn ở mức 12000 (giao động trong khoảng 11 500- 12 400 trong suốt 12 tháng qua). Trước khi khủng hoảng tài chánh, chỉ số chứng khoán là 14 500. Lúc bị khủng hoảng kinh tế, chỉ số chứng khoáng (vào tháng 2-2009) chỉ còn 7 500.

Thất nghiêp của  Mỹ cũng nằm quanh quân ở mức trên 9% trong thời gian suốt 3 năm qua.

Hai chỉ số nói trên cho thấy kinh tế của  Mỹ còn rất yếu kém. Và sẽ còn tiếp tục tình trạng nầy cho đến năm 2013 hoặc 2014.

Trong 2 năm qua, chính phủ Obama đã làm gì để kích thích kinh tế? Chính phủ cho các ngân hàng (cổ phần) vay tiền  ở mức lãi suất gần như  0% để các ngân hàng khỏi phá sản (vì suốt 10 năm trước đây, các ngân hàng đã cho nhiều công ty, nhiều  người vay mượn tiền (xây nhà, mua nhà) rồi sau đó khoảng năm 2008 cho dến nay, các ngân hàng không đòi tiền lại được, và ôm hết các nhà không ai ở).

Chính phủ cho ngân hàng mượn tiền và kỳ vọng các ngân hàng  sẽ cho người dân vay mượn để mua nhà, mua xe, làm ăn. Nhưng thực tế ngân hàng lúc nầy không muốn cho ai mượn một cách dễ dàng, họ cứu xét hồ sơ mượn tiền rất kỹ, kết quả là mua 1 căn nhà mất gần 2-4 tháng, thay vì là 1-2 tháng như hồi trước 2007. Số nhà bán được hàng tháng gần như rất thấp và ngân hàng đang ôm giữ hàng chục triệu căn nhà để trống không ai mua.

Các ngân hàng cũng không dễ dàng cho các doanh nghiệp nhỏ mượn tiền để làm ăn, vì thế số người thát nghiệp vẫn duy trì ở mức trên 9%.

Chính phủ  Mỹ đã làm từ cuối năm 2008 đến nay là:  Tung tiền ra 2 đợt (gọi lại quantitative easing QE 1 và QE 2) cho các ngân hàng mượn tiền, hoặc chính phủ mua lại một phần các công ty đang bị mang nợ để không cho các công ty nầy bị phá sản.

Chính phủ chi tiền vào các công tác sửa chữa nâng cấp cầu đường, cắt giảm các chi phí không cần thiết, giảm bớt công nhân viên biên chế, không tuyển người mới vào làm thế cho người về hưu, mà những người hiện đang làm việc phải cáng đáng việc ấy, giảm bớt cảnh sát, và các chương trình y tế quá rộng lượng, hao tốn…

Tuy kinh tế có lên trong 2 năm qua, nhưng không đủ mạnh. Các công ty không thuê mướn người vì không nhận được hợp đồng mua hàng. Thậm chí, nhiều năm qua, các công ty phải cho công nhân làm 1/2 ngày để lây lất chờ đợi hợp đồng mới. Và nếu tình trạng kinh tế suy yếu tiếp tục như thế nầy trong 16 tháng sắp tới, chắc chắn dân chúng  Mỹ sẽ bầu cho một ứng cử viên của đảng CỘng Hòa lên làm  tổng thống; hay nói cách khác, TT Obama sẽ bị thất cử vào ngày bầu cử TT 06-11- 2012.

@Một số dữ kiện cần biết:

*Mỗi ngày Mỹ tiêu thụ 20 triệu thùng dầu và Trung Quốc tiêu thụ 8 triệu thùng dầu. Nhật và Đức mỗi nước tiêu thu dầu bằng 2,5 đến 3,5 triệu thùng dầu mỗi ngày.

*Việt Nam bán dầu thô năm 2011 sẽ thu được 30 tỉ. (Theo báo cáo của Petro Vietnam cho biết, 6 tháng đầu năm nay, Petro VN bán được gần 15 tỉ đô la dầu thô và 8 triệu mét khối ga). Tuy là nước sản suất dầu thô, nhưng dân chúng  VN phải mua xăng với giá cao còn hơn giá xăng ở Mỹ. Đây là một quốc gia duy nhất mà chính phủ không chia sẽ tài nguyên khoáng sản của đất nước cho nhân dân được hưởng. Trái lại, các quốc gia suất cảng dầu  luôn luôn bán xăng cho dân chúng của họ với giá rất rẻ: 50 cents- 1 đô la Mỹ cho 1 gallon xăng ( tương đương 4 lít). Chính phủ các nước ấy cho rằng tài nguyên khoáng sản của đất nước phải chia cho dân chúng hưởng, phần dư còn lại thì mới bán cho nước ngoài với giá cao hơn.

Kinh tế Mỹ còn chưa lên

Ngày hôm qua giá dầu thô trên thế giới đã giảm, nhưng đó không phải là một tin mừng. Giá dầu hạ thấp một phần vì có 60 triệu thùng dầu được lấy từ các kho dự trữ quốc tế được đưa ra thị trường.

Nhưng 60 triệu thùng dầu không đủ làm cho giá tụt xuống mất 4.4%. Nguyên nhân chính yếu và ảnh hưởng lâu dài là những nhà buôn dầu tiên đoán kinh tế thế giới sẽ giảm tốc độ tăng trưởng, do đó sẽ bớt sử dụng dầu; đặc biệt là hai nền kinh tế dùng nhiều năng lượng nhất là Mỹ và Trung Quốc.

Một ngày trước, Thứ Tư, 22 tháng 6, chủ tịch Hệ Thống Dự Trữ Liên Bang Hoa Kỳ (tức Ngân Hàng Trung Ương Mỹ) báo tin chấm dứt chương trình Q2 kích thích kinh tế bằng tiền tệ; mặc dù ông cũng tiên đoán nỗi khó khăn kinh tế sẽ còn tiếp tục ít nhất qua năm 2012.

Trong ba tháng qua, rất nhiều tin đáng lo, cả số tiêu thụ và các nhà sản xuất công nghiệp đều không gia tăng hoạt động như mọi người trông đợi.

Hai triệu chứng xấu nhất là số nhà cửa mới xây bán được vẫn tiếp tục xuống và tỷ lệ người thất nghiệp vẫn nhấp nhỉnh ở mức 9%. Tại Trung Quốc, chính quyền cố kìm hãm khối lượng tiền tệ để giảm nhiệt độ lạm phát đã lên trên 5%; các ngân hàng bớt đổ tiền ra cho các xí nghiệp vay trong lúc việc xuất cảng cũng trì trệ; cả hai hiện tượng đó khiến cho trong tháng 6 số sản xuất công nghiệp không gia tăng được, một dấu hiệu rất đáng lo cho một nước còn đang phát triển với tình trạng lúc nào cũng có vài trăm triệu công nhân đi tìm việc.

Những tin tức kinh tế từ khu vực Âu Châu cũng không lạc quan, các nhà lãnh đạo đang báo trước sẽ giảm bớt chi tiêu và tăng lãi suất, đặc biệt là Hy Lạp phải tăng thuế để được cho vay thêm nợ. Trận động đất và sóng thần ở Nhật khiến cho sức sản xuất tê liệt cũng là một sức kéo kinh tế thế giới cùng xuống; tất cả cho thấy rất đáng lo ngại. Riêng tại Mỹ, đã có báo động về một hiện tượng kinh tế “Xuống Hai Lần,” theo hình chữ W có thể xẩy ra như những năm 1936, 37.

Kinh tế Mỹ thực sự suy thoái từ cuối năm 2007 khi tổng số sản xuất giảm chứ không tăng; nhưng đến tháng 6 năm 2009 đã chính thức chấm dứt; nghĩa là bắt đầu tăng lên. Nhưng đó chỉ các số thống kê; khi tổng số sản xuất trong nước tăng lên được 1% hay 2% thì coi như cơn suy thoái đã hết rồi. Nhưng trên thực tế, người dân không đọc các con số đó mà chỉ quan tâm đến công việc làm. Cho nên khi thấy trong tháng 5 cả nước Mỹ chỉ tăng thêm được 54,000 công việc làm mới (đáng lẽ phải tăng thêm 200 ngàn), con số này thấp hơn cả 2 tháng trước; đồng thời số người nộp đơn xin trợ cấp bảo hiểm thất nghiệp lần đầu đã tăng lên; thì ai cũng lo lắng. Hệ Thống Dự Trữ Liên Bang đã hạ thấp dự đoán tỷ lệ tăng trưởng cho cả năm 2011, kinh tế Mỹ sẽ chỉ tăng với nhịp độ từ 2.7 đến 2.9% chứ không phải trên 3% như tiên đoán lạc quan trước đây; và tỷ lệ thất nghiệp vào cuối năm nay sẽ vẫn giữ mức 8.9%.

Trong một chu kỳ kinh tế bình thường, một năm sau khi chấm dứt suy thoái thì kinh tế Mỹ đã phải tăng lên với tốc độ 3% trở lên để lấy lại cái đà đã mất. Theo kinh nghiệm, lúc suy thoái xuống càng sâu thì khi lên đà gia tăng càng mạnh. Nhưng điều này đã không xẩy ra trong chu kỳ này. Mặc dù kinh tế Mỹ đã xuống rất nặng nề trong năm 2008, nhưng cho đến nay vẫn chưa có đà lên đủ mạnh. Lý do chính là cuộc suy thoái vừa qua do một cuộc khủng hoảng tín dụng gây nên; không như những cuộc suy thoái phần lớn do chênh lệch cung cầu gây nên.

Phần lớn các vụ suy thoái kinh tế khởi sự khi số cung tăng lên quá so với số cầu, vì các nhà sản xuất hoạt động mạnh hơn trong khi giới tiêu thụ không tăng nhu cầu cùng một tốc độ. Cơn suy thoái bắt đầu khi một số nhà sản xuất phải ngưng hoạt động, gây ra cảnh thất nghiệp khiến giới tiêu thụ càng giảm số cầu xuống nữa. Suy thoái là một hiện tượng tự nhiên để bắt buộc nền kinh tế phải tự điều chỉnh.

Nhưng khi một cơn suy thoái lại do thị trường tín dụng gây ra thì tốc độ điều chỉnh rất chậm chạp. Hệ thống ngân hàng gây nên cơn khủng hoảng vì cho vay bừa bãi không đúng tiêu chuẩn đưa tới cảnh nhiều người vỡ nợ vì sau đó không đủ sức trả tiền lãi và vốn. Các ngân hàng đã tung tiền vào thị trường, và trong một thời gian gánh chịu hậu quả. Hiện tượng này đã diễn ra trong năm 2007, 2008 ở nước Mỹ; chính phủ Gorges W. Bush đã phải dùng 700 tỷ tạm cứu các ngân hàng lớn trên đà phá sản. Nhưng sau đó, hoạt động của cả hệ thống các ngân hàng rơi vào cảnh trì trệ. Những luật lệ mới đặt ra với mục đích buộc các ngân hàng phải làm ăn cẩn trọng hơn để tránh những cuộc khủng hoảng tương lai; nhưng vì thế mà chính các ngân hàng càng trở nên càng dè dặt hơn, không dám cho vay như trước nữa. Cùng trong thời gian này, hệ thống ngân hàng ở nước láng giềng Canada vẫn không bị khủng hoảng, chỉ vì họ theo những quy tắc bảo thủ và dè dặt khi cho vay nợ; nhờ thế cơn suy thoái ở Mỹ lần này không ảnh hưởng tới Canada như thường xẩy ra trong quá khứ.

Khi số tiền đổ vào nền kinh tế Mỹ bị ngưng trệ, không lưu hoạt và năng động nữa, thì cả nền sản xuất và hoạt động tiêu thụ cũng trì trệ. Trong những chu kỳ kinh tế bình thường, guồng máy sản xuất tự điều chỉnh nhanh hơn. Còn tốc độ tự điều chỉnh của hệ thống ngân hàng chậm hơn. Chúng ta có thể hiểu là việc thanh toán những kho hàng hóa ế không bán được tương đối dễ dàng hơn việc thanh toán những món nợ không đòi được! Năm 2000, tổng số nợ của dân chúng Mỹ lớn bằng 100% tổng số lợi tức kiếm được của họ trong năm đó; đến năm 2005, tỷ số Nợ trên Lợi tức tăng lên thành 120% và qua năm 2007 vượt lên gần 140%! Cho tới nay, tổng số nợ của dân Mỹ đã giảm xuống nhưng mới xuống tới tỷ số 120% như năm 2005!

Khi tổng số nợ của dân chúng giảm bớt, chính quyền liên bang và Ngân Hàng Trung Ương đã phải đứng ra đóng vai con nợ để thay thế, miễn sao cho đồng tiền tiếp tục lưu thông. Chính phủ Obama đã đưa vào nền kinh tế Mỹ khoảng 1,200 tỷ đô la với các chương trình kích thích kinh tế; Hệ Thống Dự Trữ Liên Bang đã in thêm tiền để bơm vào hệ thống tài chánh tổng cộng 2,300 tỷ đô la, hiện đang chấm dứt chương trình gọi là Q2, mua 600 tỷ công trái từ các ngân hàng trong nửa đầu năm 2011.

Nhưng các nỗ lực “kích thích” của chính quyền Obama và Ngân Hàng Trung Ương Mỹ (độc lập với chính phủ) hiện vẫn chưa thúc đẩy được cho nền kinh tế chạy với một tốc độ nhanh hơn để thoát khỏi cảnh trì trệ. Nhiều người cho rằng đáng lẽ chính phủ Obama phải gia tăng chi tiêu để kích thích kinh tế ngay từ năm ngoái, thay vì giới hạn ở con số 700 tỷ. Tổng số người đang làm việc ở Mỹ đã giảm xuống rất nhanh trong những năm từ 2007 đến 2009; và cho tới nay vẫn chưa tăng lên được trên mức thấp nhất đó. Muốn giảm bớt tỷ lệ thất nghiệp thì phải thêm một chương trình kích thích kinh tế nữa! Nhiều người cũng chỉ trích ông Ben Bernanke, chủ tịch Hệ Thống Dự Trữ Liên Bang, không mạnh dạn tiếp tục với một chương trình Q3 để thúc đẩy tiền tệ lưu hoạt hơn.

Tuy nhiên, trong đời sống kinh tế người ta luôn luôn phải lựa chọn, và phải lựa chọn trong khi không biết chắc chắn hậu quả của các chính sách mà mình theo đuổi.

Trong lúc chính quyền Mỹ có thể gia tăng số chi để kích thích kinh tế thì thế nào cũng phải đồng thời tăng số khiếm hụt ngân sách, tăng số nợ của quốc gia, cả hai sẽ khiến cho mức độ tín nhiệm của thế giới vào nền kinh tế Mỹ giảm bớt. Khi Ngân Hàng Trung Ương Mỹ in thêm tiền đẩy qua cho ngân hàng thì họ cũng biết một hậu quả có thể làm cho giá cả gia tăng, lạm phát sẽ khó tránh được. Khi lạm phát tăng, thí dụ từ 2% lên 4%, tức là toàn thể dân chúng bị “tăng thuế” thêm 2% một cách gián tiếp! Những người quyết định về kinh tế luôn luôn phải lựa chọn, giữa các giải pháp với các hậu quả đối nghịch với nhau. Hiện nay ông Bernanke không đồng ý với một chương trình Q3 nhưng cũng chưa hoàn toàn gạt bỏ đề nghị này.

Ðiều đáng lo là chương trình 700 tỷ kích thích kinh tế của Tổng Thống Barack Obama sẽ chấm dứt vào cuối năm nay và cả hành pháp và các nhà lập pháp Mỹ hiện vẫn chưa thỏa hiệp được về những việc cần làm tiếp. Ðảng Cộng Hòa kêu gọi phải chú ý giảm bớt khiếm hụt ngân sách; đảng Dân Chủ quan tâm đến nạn thất nghiệp hơn. Phó Tổng Thống Joe Biden đang họp bàn với sáu nghị sĩ thuộc cả hai đảng để quyết định việc nâng cao mức trần của tổng số nợ quốc gia lên trên con số 14,300 tỷ đô la. Cuộc mặc cả này là một cơ hội để hai đảng thỏa hiệp. Các đại biểu Quốc Hội cũng như ông tổng thống đều biết rằng sang năm 2012 cử tri sẽ đánh giá họ qua tình hình kinh tế, một thước đo khách quan và giản dị nhất, khi quyết định có bỏ phiếu cho họ nữa hay không.

Trong khi chờ đợi, người ta có thể thấy vài niềm hy vọng. Kinh tế thế giới sẽ không xuống nữa mà có thể vươn lên, khi giá dầu lửa giảm xuống; đồng thời nền kinh tế Nhật Bản sẽ hồi phục lại sau những ảnh hưởng nhất thời của cuộc động đất và sóng thần. Khi giá xăng dầu xuống thì người dân Mỹ thấy có thêm tiền tiêu thụ vào những sản phẩm và dịch vụ khác, thay vì đem tiền nộp cho các quốc gia sản xuất dầu lửa! Khi người tiêu thụ chịu chi tiền ra, tự nhiên các nhà sản xuất sẽ chạy theo, họ sẽ tuyển dụng công nhân, và tỷ lệ thất nghiệp sẽ thấp xuống. Bao giờ sẽ thấy cảnh đó? Theo ông Ben Bernanke nhìn, thì ít nhất chúng ta phải đợi tới nửa cuối năm 2012!

Nguồn: nguoi-viet.com

Huge, Ongoing Wall Street Subsidy Allows Banks to Coin Money Every Day at Savers’ Expense

Posted May 13, 2010 08:27am EDT by Henry Blodget in Investing, Recession, Banking

Related: xlf, ^dji, ^gspc, gs, jpm, bac, c

The latest quarterly reports from the big Wall Street banks revealed a startling fact: None of the big four banks had a single day in the quarter in which they lost money trading.

For the 63 straight trading days in Q1, in other words, Goldman Sachs, JP Morgan, Bank of America, and Citigroup made money trading for their own accounts.

Trading, of course, is supposed to be a risky business: You win some, you lose some. That’s how traders justify their gargantuan bonuses–their jobs are so risky that they deserve to be paid millions for protecting their firms’ precious capital. (Of course, the only thing that happens if traders fail to protect capital is that taxpayers bail out the bank and the traders are paid huge “retention” bonuses to prevent them from leaving to trade somewhere else, but that’s a different story).

But these days, trading isn’t risky at all. In fact, it’s safer than walking down the street.

Why?

Because the US government is lending money to the big banks at near-zero interest rates. And the banks are then turning around and lending that money back to the US government at 3%-4% interest rates, making 3%+ on the spread. What’s more, the banks are leveraging this trade, borrowing at least $10 for every $1 of equity capital they have, to increase the size of their bets.  Which means the banks can turn relatively small amounts of equity into huge profits–by borrowing from the taxpayer and then lending back to the taxpayer.

Why is the US government still lending banks money at near-zero interest rates? Ostensibly, for the same reason that the government bailed out the banks in the first place: So the banks will lend money to small businesses, big businesses, and other participants in the “real economy.”

But the banks aren’t lending money to the real economy: Private sector lending has fallen off a cliff.

And one reason private sector lending has fallen off a cliff is that lending money to the private sector is risky. Lending money to the government, meanwhile, is nearly risk-free. So the banks are just lending money back to the government (by scarfing up US Treasuries), collecting a nearly risk-free 3% spread, and then leveraging up this bet 10-15 times.

THAT’s how the big banks made money 63 days in a row. Importantly, doing this required no special genius: If you had the good fortune of working at a big bank, you would be making money every day, too.  And then you’d get to take half of that money home as a bonus!

No wonder everyone wants to work on Wall Street.

The government’s zero-interest-rate policy, in other words, is the biggest Wall Street subsidy yet. So far, it has done little to increase the supply of credit in the real economy. But it has hosed responsible people who lived within their means and are now earning next-to-nothing on their savings. It has also allowed the big Wall Street banks to print money to offset all the dumb bets that brought the financial system to the brink of collapse two years ago. And it has fattened Wall Street bonus pools to record levels again.

——


As I’ve noted for years, the government has been guaranteeing that the big banks make money at taxpayer expense by loaning money at very low interest rates, and then letting the banks loan the money back to the government at much higher interest rates.

For example, as I pointed out in January:

Bloomberg notes:

“The trading profits of the Street is just another way of measuring the subsidy the Fed is giving to the banks,” said Christopher Whalen, managing director of Torrance, California-based Institutional Risk Analytics. “It’s a transfer from savers to banks.”

The trading results, which helped the banks report higher quarterly profit than analysts estimated even as unemployment stagnated at a 27-year high, came with a big assist from the Federal Reserve. The U.S. central bank helped lenders by holding short-term borrowing costs near zero, giving them a chance to profit by carrying even 10-year government notes that yielded an average of 3.70 percent last quarter.

The gap between short-term interest rates, such as what banks may pay to borrow in interbank markets or on savings accounts, and longer-term rates, known as the yield curve, has been at record levels. The difference between yields on 2- and 10-year Treasuries yesterday touched 2.71 percentage points, near the all-time high of 2.94 percentage points set Feb. 18.

Harry Blodget explains:

The latest quarterly reports from the big Wall Street banks revealed a startling fact: None of the big four banks had a single day in the quarter in which they lost money trading.

For the 63 straight trading days in Q1, in other words, Goldman Sachs (GS), JP Morgan (JPM), Bank of America (BAC), and Citigroup (C) made money trading for their own accounts.

Trading, of course, is supposed to be a risky business: You win some, you lose some. That’s how traders justify their gargantuan bonuses–their jobs are so risky that they deserve to be paid millions for protecting their firms’ precious capital. (Of course, the only thing that happens if traders fail to protect that capital is that taxpayers bail out the bank and the traders are paid huge “retention” bonuses to prevent them from leaving to trade somewhere else, but that’s a different story).

But these days, trading isn’t risky at all. In fact, it’s safer than walking down the street.

Why?

Because the US government is lending money to the big banks at near-zero interest rates. And the banks are then turning around and lending that money back to the US government at 3%-4% interest rates, making 3%+ on the spread. What’s more, the banks are leveraging this trade, borrowing at least $10 for every $1 of equity capital they have, to increase the size of their bets. Which means the banks can turn relatively small amounts of equity into huge profits–by borrowing from the taxpayer and then lending back to the taxpayer.

***

The government’s zero-interest-rate policy, in other words, is the biggest Wall Street subsidy yet. So far, it has done little to increase the supply of credit in the real economy. But it has hosed responsible people who lived within their means and are now earning next-to-nothing on their savings. It has also allowed the big Wall Street banks to print money to offset all the dumb bets that brought the financial system to the brink of collapse two years ago. And it has fattened Wall Street bonus pools to record levels again.

Paul Abrams chimes in:

To get a clear picture of what is going on here, ignore the intermediate steps (borrowing money from the fed, investing in Treasuries), as they are riskless, and it immediately becomes clear that this is merely a direct payment from the Fed to the banking executives…for nothing. No nifty new tech product has been created. No illness has been treated. No teacher has figured out how to get a third-grader to understand fractions. No singer’s voice has entertained a packed stadium. No batter has hit a walk-off double. No “risk”has even been “managed”, the current mantra for what big banks do that is so goddamned important that it is doing “god’s work”.

Nor has any credit been extended to allow the real value-producers to meet payroll, to reserve a stadium, to purchase capital equipment, to hire employees. Nothing.

Congress should put an immediate halt to this practice. Banks should have to show that the money they are borrowing from the Fed is to provide credit to businesses, or consumers, or homeowners. Not a penny should be allowed to be used to purchase Treasuries. Otherwise, the Fed window should be slammed shut on their manicured fingers.

And, stiff criminal penalties should be enacted for those banks that mislead the Fed about the destination of the money they are borrowing. Bernie Madoff needs company.

As Shahien Nasiripour reports, the Congressional Research Service has just confirmed what we’ve been saying:

A newly-released study from the Congressional Research Service bolsters claims that the nation’s largest banks profited off the Federal Reserve’s financial crisis-era programs by borrowing cash for next to nothing, then lending it back to the federal government at substantially higher rates.

The report reinforces long-held beliefs that the banking system in essence engaged in taxpayer-financed arbitrage: They got money for free, then lent it back to Uncle Sam while collecting juicy returns. Left out of the equation are the millions of everyday borrowers, like households and small businesses, who were unable to secure loans needed to tide them over until the crisis ended.

The Fed released records under pressure in December and March that showed the extent of its largesse. The CRS study shows for the first time how some of the most sophisticated financial firms could have taken the Fed’s money and flipped easy profits simply by lending it back to another arm of the government.

***

In all, more than $3 trillion was lent to financial institutions from the Fed, and terms were generous. Junk-rated securities were pledged as collateral for taxpayer-backed loans. The Fed did not provide conditions for how the money was to be used.

***

“Why wasn’t the Fed providing these same sweetheart deals to the American people?” asked Warren Gunnels, senior policy adviser to [Senator] Sanders. “The Fed was practicing socialism for the rich, powerful and the connected, while the federal government was promoting rugged individualism to everyone else.”

At the time, Fed officials said its bailout programs were necessary to restart the flow of credit. If money couldn’t flow to lenders, households and businesses would be next. Even more layoffs and foreclosures could have ensued, officials argued.

Lending, however, decreased, according to Fed and Federal Deposit Insurance Corporation data.

***

Sanders said the spread between firms’ borrowing rates and their lending rates to Uncle Sam amounted to “free money.” For Bank of America during the third quarter of 2009, the spread was nearly 3 percent.

No wonder Bill Gross, Nouriel Roubini, Laurence Kotlikoff, Steve Keen, Michel Chossudovsky, the Wall Street Journal and Bernie Madoff all say that the U.S. economy is a giant Ponzi scheme.

As I noted last year:

The governments of the world have spent trillions trying to paper over the fraud and prop up the big, insolvent banks, instead of forcing them to restructure and forcing bondholders and shareholders to take a haircut.

A study of 124 banking crises by the International Monetary Fund found that propping up banks which are only pretending to be solvent drives up the costs to the country:

Existing empirical research has shown that providing assistance to banks and their borrowers can be counterproductive, resulting in increased losses to banks, which often abuse forbearance to take unproductive risks at government expense. The typical result of forbearance is a deeper hole in the net worth of banks, crippling tax burdens to finance bank bailouts, and even more severe credit supply contraction and economic decline than would have occurred in the absence of forbearance.

Cross-country analysis to date also shows that accommodative policy measures (such as substantial liquidity support, explicit government guarantee on financial institutions’ liabilities and forbearance from prudential regulations) tend to be fiscally costly and that these particular policies do not necessarily accelerate the speed of economic recovery.

***

All too often, central banks privilege stability over cost in the heat of the containment phase: if so, they may too liberally extend loans to an illiquid bank which is almost certain to prove insolvent anyway. Also, closure of a nonviable bank is often delayed for too long, even when there are clear signs of insolvency (Lindgren, 2003). Since bank closures face many obstacles, there is a tendency to rely instead on blanket government guarantees which, if the government’s fiscal and political position makes them credible, can work albeit at the cost of placing the burden on the budget, typically squeezing future provision of needed public services.

The American banks and government have certainly pretended that all of the big banks are solvent. As ABC wrote in October 2009:

The Treasury Department and the Federal Reserve lied to the American public last fall when they said that the first nine banks to receive government bailout funds were healthy, [the special inspector general for the Troubled Asset Relief Program] states in a new report released today.

Similarly, the stress tests were a complete and utter sham.

The government has given the giant banks huge amounts in loans and guarantees based upon their false representations about their financial health. The Fed has larded up its balance sheet with toxic assets from the banks.

***

Throwing trillions at the giant banks – who are mainly using the money to gamble – is not stimulus. It helps the executives of the big banks and their shareholders and bondholders, but not the broader economy.

Indeed, attempting to prop up big, insolvent banks is preventing stimulus from getting out into the economy.

Indeed, the big banks are still insolvent. Moody’s – a mere 3 years too late – just put Bank of America, Citi and Wells Fargo on a downgrade watch. And see this.

The country has been plundered to throw money at the big banks to allow their CEOs to rake in bonuses by playing an extend-and-pretend game (pretending they are solvent). This has driven us from the “wealth of nations” to the “debt of nations”.

As I wrote in 2009:

If the power to create credit were taken away from the Federal Reserve system and its private banks and given back to the [people] (as the Constitution envisioned), then American taxpayers would save hundreds of billions or trillions of dollars in unnecessary interest charges in paying off the national debt, as the government would not have to pay interest to finance its debt (sovereign nations such as the U.S. and England have the power to create credit and money; see this, this, this, and this).

———————–

Is the Chinese Economy Sputtering for the Same Reasons as  the  American Economy

It was tempting to believe that China was different.

With its command and control economy with some of the trappings of free market capitalism, trillions in reserves, and abundant natural resources, many thought that China would “decouple” from the Western world’s problems and sail into a prosperous future.

However, despite its long history, exotic names and seemingly strong position, China cannot avoid the rules of economics which have applied to all countries throughout history.

Corruption and Phony Bookkeeping

Corruption and the failure to follow the rule of law is one of the main factors which has dragged down the American economy.

The fact that – according to the Chinese central bank – Chinese officials stole $120 billion and fled the country does not auger well for China.

Scandals among various Chinese companies are not helping, either.

And then there are the made up statistics. As Warren Hatch of Catalpa Capital Advisors notes:

As Li Keqiang, the vice premier and heir-apparent to Wen Jiabao, laconically remarked to the US ambassador a few years ago, most of the statistics in China are “for reference only.”

And Charles Hugh Smith argues:

Despite their many differences, the economies of China and the U.S. share a number of key traits: both are corrupt, rigged, crony-Capitalist, rely on phony statistics and propaganda and operate with two sets of rules: one for the Elites, and another for the masses.

Despite their many differences, the economies of China and the U.S. share a number of key traits: both are corrupt, rigged, crony-Capitalist, rely on phony statistics and propaganda and operate with two sets of rules: one for the Elites, and another for the masses.

Can We Trust You?

The credit crisis hit in 2008 largely because American banks lost trust in one another. Specifically, top economists say that each bank had so much bad debt on its books (in the form of mortgage backed securities and derivatives which worth the paper they were written on) which made them essentially insolvent that they assumed that all of the other banks must be in a similar situation … so they stopped lending to each other.

This drove the price which banks charged each other for loans (libor) skyrocket, and the whole credit market froze up.

The same thing is now happening in China. As ZeroHedge reports, Chinese interbank lending is freezing up and “shibor” – the prize which Chinese banks charge each other for loans – is skyrocketing.

Bloomberg notes:

China’s money-market rate climbed to the highest level in more than three years as a worsening cash crunch prompted the central bank to suspend a bill sale.

The seven-day repurchase rate, which measures interbank funding availability, has more than doubled since June 14, when the People’s Bank of China ordered lenders to set aside more money as reserves for a sixth time this year. The central bank suspended a sale of bills tomorrow, according to a statement on its website today.

“Banks have to hoard cash to meet the regulator’s capital or loan-to-deposit requirements by the end of every quarter,” said Liu Junyu, a bond analyst at China Merchants Bank Co., the nation’s sixth-largest lender. “So we won’t see the shortage easing.”

(Admittedly, there may have been temporary factors leading to the rise in shibor, which might be smoothed out in the future. But the point is that China is not immune from credit squeezes.)

Less Bang for the Buck

Each dollar of debt incurred by the American government creates less and less benefit. For example, Jim Welsh points out:

Since 1966, each dollar of additional debt has given the economy less of a boost. In 1966, $1 dollar of debt boosted GDP by $.93. But by 2007, $1 dollar of debt lifted GDP by less than $.20.

Karl Denninger notes:

What is this chart? Why, the history of our idiocy. It’s quite simple; this is the multiple that each dollar of debt (anywhere in the economy) has returned in GDP looked at on a quarter-on-quarter basis, net of the debt increase itself. That is, if the multiple is “1” then for each dollar of debt added to the economy there was one dollar of output in the form of GDP added as well during the same period of time. If it’s “0” then the debt itself produced no additional output, but did fund itself. If it’s negative, well, into the black hole you go. Since this is a quarterly number it’s quite noisy but there’s no mistaking what it tells you.

If you pay attention you’ll note that since 1980 this has never been positive – not even for one quarter – and it was only rarely positive before that time!

Similarly, Martin Wolf of notes:

Dwight Perkins of Harvard argued at the China Development Forum that the “incremental capital output ratio” – the amount of capital needed for an extra unit of GDP – rose from 3.7 to one in the 1990s to 4.25 to one in the 2000s. This also suggests that returns have been falling at the margin.

***

The thesis advanced by Prof Pettis is that a forced investment strategy will normally end with such a bump. The question is when. In China, it might be earlier in the growth process than in Japan because investment is so high. Much of the investment now undertaken would be unprofitable without the artificial support provided, he argues. One indicator, he suggests, is rapid growth of credit. George Magnus of UBS also noted in the FT of May 3 2011 that the credit-intensity of Chinese growth has increased sharply. This, too, is reminiscent of Japan as late as the 1980s, when the attempt to sustain growth in investment-led domestic demand led to a ruinous credit expansion.

As growth slows, the demand for investment is sure to shrink. At growth of 7 per cent, the needed rate of investment could fall by up to 15 per cent of GDP. But the attempt to shift income to households could force a yet bigger decline. From being an growth engine, investment could become a source of stagnation.

And if you think that bailouts as an attempt at stimulus are solely a Western game, think again.

China is bailing out local governments, giving cash for clunkers, and trying just about every possible type of bailout.

Consumer Spending Declines

Consumer frugality is obviously slowing the American economy. But the Chinese consumers are picking up the slack, right?

Actually, Bloomberg reports that consumer spending is down:

At the Haiyang Zhuangshi Co. hardware store in Beijing, sales of paint and aluminum window frames are slowing, one sign of a diminished role for consumer spending in China that’s foiling government objectives.

***

Hu’s loss underlines the dilemma for Premier Wen Jiabao: his campaign to control inflation is undermining attempts to make consumers a bigger driver of the world’s second-largest economy. Failure to lessen dependence on exports and investment spending leaves the nation more vulnerable to swings in external demand and subject to asset booms and busts.

Government data this week showed retail sales growth slowed to 16.9 percent in May, less than the average of the past five years and a figure that’s inflated by soaring prices for food. By contrast, spending on fixed assets such as factories and property climbed 26 percent, excluding rural households, in the first five months, the fastest pace in almost a year.

Analysts at Capital Economics, a London-based research group, estimate that private consumption may have fallen to 34 percent of gross domestic product last year, the lowest level since China began opening its economy to market mechanisms more than three decades ago. Just 10 years ago, the share was 46 percent, Capital Economics calculates.

“Just at a time when the government in China and a lot of people elsewhere are hoping to see Chinese consumers step up to the plate, actually they’ve been staying away from shops,” said Mark Williams, an economist in London with Capital Economics and a former adviser on China to the U.K. Treasury. “The trend over the past couple of years has been relentlessly downward.”

All Bubbles Eventually Burst

I noted in July 2009:

One of the top experts on China’s economy – Michael Pettis – has a[n] essay arguing that China is blowing a giant credit bubble to avoid the global downturn.

Pettis documents reports and statistics from modern China, of course. But he ends with a must-read comparison to ancient Rome:

Let me post here a portion of Chapter 15 from Will Durant’s History of Roman Civilization and of Christianity from their beginnings to AD 325

The famous “panic” of A.D. 33 illustrates the development and complex interdependence of banks and commerce in the Empire. Augustus had coined and spent money lavishly, on the theory that its increased circulation, low interest rates, and rising prices would stimulate business. They did; but as the process could not go on forever, a reaction set in as early as 10 B.C., when this flush minting ceased. Tiberius rebounded to the opposite theory that the most economical economy is the best. He severely limited the governmental expenditures, sharply restricted new issues of currency, and hoarded 2,700,000,000 sesterces in the Treasury.

The resulting dearth of circulating medium was made worse by the drain of money eastward in exchange for luxuries. Prices fell, interest rates rose, creditors foreclosed on debtors, debtors sued usurers, and money-lending almost ceased. The Senate tried to check the export of capital by requiring a high percentage of every senator’s fortune to be invested in Italian land; senators thereupon called in loans and foreclosed mortgages to raise cash, and the crisis rose. When the senator Publius Spinther notified the bank of Balbus and Ollius that he must withdraw 30,000,000 sesterces to comply with the new law, the firm announced its bankruptcy.

At the same time the failure of an Alexandrian firm, Seuthes and Son due to their loss of three ships laden with costly spices and the collapse of the great dyeing concern of Malchus at Tyre, led to rumors that the Roman banking house of Maximus and Vibo would be broken by their extensive loans to these firms. When its depositors began a “run” on this bank it shut its doors, and later on that day a larger bank, of the Brothers Pettius, also suspended payment. Almost simultaneously came news that great banking establishments had failed in Lyons, Carthage, Corinth, and Byzantium. One after another the banks of Rome closed. Money could be borrowed only at rates far above the legal limit. Tiberius finally met the crisis by suspending the land-investment act and distributing 100,000,000 sesterces to the banks, to be lent without interest for three years on the security of realty. Private lenders were thereby constrained to lower their interest rates, money came out of hiding, and confidence slowly re-turned.

Except for the exotic names … and the spice-bearing ships, this story has a remarkably contemporary ring to it, as do nearly all historical accounts of financial crisis, by the way. This story is not totally relevant to China today except to the extent that it indicates how difficult it is for banking systems flush with cash to avoid speculative lending, and how the very fact of their speculative lending then creates the conditions that can bring the whole thing crashing down. Hyman Minsky told us all about this kind of thing. There has never been a political or economic system in history that has been able to avoid the consequences of excessive liquidity within the banking system. Even the Romans learned this, and they learned it the hard way, as we always do.

America’s easy credit bubble started in 2001. Rome’s prior to 10 BC. We know the results of both.

Is China now blowing a huge credit bubble which will lead to a giant crash down the line?

Pettis thinks so, and every Austrian economist in the world would agree.

I noted in September of that year:

Lou Jiwei – the chairman of China’s sovereign wealth fund – recently told a forum organized by the Brookings Institution and the Chinese Economists 50 Forum, a Beijing think-tank:

Both China and America are addressing bubbles by creating more bubbles and we’re just taking advantage of that.

While Americans are focused on the bursting of the American housing bubble, the bubble in residential and commercial real estate was global, including China.

Where Did the Surplus Go?

I’ve previously noted :

China’s official daily newspaper – China Daily – writes that China will probably run a trade DEFICIT in March …

It shows that the entire environment everyone assumes we are operating in – China as the giant net exporter with huge trade surpluses – might not continue for much longer. In other words, “Chimerica” is starting to break up.

And those huge Chinese purchase of U.S. treasuries are no longer guaranteed.

Indeed, Warren Hatch of Catalpa Capital Advisors claims:

After hitting record highs in 2009, China’s global trade balance is well below where it used to be and ticked up only modestly in the latest data. However, the headline number can be misleading: the trade surplus with the US continues to hit new highs while China is running massive trade deficits with the rest of the world.

***

When all the math is done, without the US, China is running a trade deficit with the rest of the world (the red line).

***

The renewed strengthening of the yuan against the dollar, however, has lagged the global surge in commodity prices. Because China is paying more for its commodity imports, the deficit with its non-US trade partners continues to grow. China has been buying US Treasuries for many years to finance its trade surplus with the US. China may need to continue doing so for some time to come to offset its trade deficit with the world ex-US and keep its overall trade balance stable.

Debt … In China?

Westerners are also familiar with the debt problems of Western countries like Greece, Spain and the U.S.

But as CNN Money noted in 2009:

On the surface, China presents a fiscal study in contrast with the United States, keeping a remarkably low ceiling on debt even as it spends its way out of the financial crisis.

***The trouble is that excludes local government borrowing, the current surge in loans backstopped by Beijing and bad assets cleared from the banking system but still floating about.

When all are thrown into the pot, analysts estimate that China’s debt may be closer to 60% of GDP, putting it in virtually the same league as the United States, which was at 70% at the end of 2008 before it launched its massive economic stimulus program.

To be sure, Washington is now set on a path of exploding debt that Beijing will largely avoid. [And China is somewhat more shielded from derivatives than the U.S.] The United States budgeted for a federal deficit of 12.9% of GDP this year, whereas China is aiming for just 2.9%. [And to the extent that China practices more public banking than the U.S., it might be able to create more credit without having to pay high interest rates to its private banks in the process.]

But China’s finances are deteriorating more quickly than the government expected, fueling a rise in the stock of both explicit and disguised debt that will constrict its wriggle room.

“It is serious because, one, much of it is hidden and, two, local governments are currently doubling down on their bets,” said Stephen Green, economist at Standard Chartered Bank in Shanghai. “As with all fiscal deficits, it limits space for further stimulus.”…

Above and beyond that are 400 billion yuan in bad loans in banks’ hands and at least 1 trillion yuan in non-performing debt hived off their books and assigned to asset management companies. The buck stops with Beijing on all of these.

The record surge in bank lending this year means that its sum of liabilities is about to swell in size.

MarketWatch noted in May 2010:

China’s economy is teetering on the edge of a major slowdown … according to a noted China strategist.
David Roche, an economic and political analyst who manages the Hong Kong-based hedge fund Independent Strategy, says the world’s third-largest economy is now on the brink, faced with the inevitable reckoning that follows an extended bank-lending binge.

“We’ve got the beginnings of a credit-bubble collapse in China,” said Roche, predicting the economy will likely cool from its stellar double-digit growth rate to a 6% annual expansion as a result.

While that may not sound bad, Roche believes the collateral damage from the cooling will be anything but mild, as the banking sector comes under pressure from cumulative years of bad investment and mispriced capital.

***
As Northwestern University’s Victor Shih points out, the Chinese government will slowly reveal more and more of the true ratio of bad loans to good loans, and raise its figures for local government debt. Shih says that recapitalizing Chinese banks to cover losses for the bad loans will eat up more and more of China’s reserves.

The Telegraph notedlast June:

China’s chief auditor has warned that high levels of local government debt could derail the country’s economy, with some observers suggesting that a number of Chinese provinces are even more fiscally-troubled than Greece.

source

Posted in Kinh Te | Leave a Comment »

Housing in the US 2011

Posted by hoangtran204 trên 28/06/2011

Bank-owned Houses: Curb Appeal Goes Out the Window

By STEVE YODER, The Fiscal Times

June 24, 2011

There’s a new kind of neighbor in town, and they won’t be stopping by for a barbeque anytime soon.

In many communities nationwide, that new neighbor is a bank or other mortgage lender. Since the onset of the housing crisis five years ago, the nation’s lenders have been steadily amassing vast residential real estate empires, by taking back foreclosed homes that don’t sell at auction. The number of homes owned by financial institutions has doubled since 2007 to 872,000, according to real estate data firm RealtyTrac. With 3 million more foreclosures expected in 2011, lenders could end up repossessing several million more in coming years.

So what kind of neighbors do mortgage lenders make? That may depend on where you live: Some legislators and community activists say banks do a better job of maintaining properties in wealthier neighborhoods than they do in middle-income and marginal ones. And four cities — Baltimore, Cleveland, Los Angeles and Memphis — are taking lenders to court in an effort to force them to take better care of their properties. In separate lawsuits, the cities are seeking hundreds of millions in damages from lenders, to cover increased city maintenance costs and reduced property tax revenues.

In the working-class Memphis neighborhood of Burlington, Lynda Whalen is leading a battle against foreclosure blight. After the bank foreclosed on one house and the owners left, it wasn’t long before the front windows had been smashed, and the yard was strewn with debris. Whalen, president of the neighborhood association, and her neighbors boarded up the house; they paid a contractor to clean up the yard. Because the mortgage was federally guaranteed, in mid-May the bank turned the house over to the U.S. Department of Housing and Urban Development (HUD). Maintenance has since improved, according to Whalen. (The bank, which a HUD field service contractor identified as Wells Fargo, did not return a call for comment in time for publication.)

In California cities like Long Beach and Palm Springs where investor Jim Shute buys and sells distressed properties in the $100,000 to $200,000 range, banks’ performance is similar. Big banks tend to do the minimum necessary to avoid being cited for code violations, he says. They usually keep the grass cut and board up broken windows, but they don’t do repairs, plant flowers or make other investments that would improve the sales price. That’s good news for Shute. “It actually does hurt what they can get for it,” he says.

The situation is different in the more affluent enclaves where Las Vegas realtor Ken Lowman works. In high-end Las Vegas markets, such as Southern Highlands, it’s rare to find bank-owned properties that aren’t well taken care of, he says. Banks pay close attention to the condition of these properties because they’ll likely get back the money they put into maintenance and repair — on a $4 million sale, green lawns, clean windows and well-kept pools, have a big impact on the sales price.

In some ways, it makes economic sense for banks to manage the properties they own (often called REO properties, for “real-estate owned”) differently in wealthy versus modest neighborhoods. Because retail buyers tend to look for move-in ready properties, while investors tend to seek fixer-uppers, banks generally invest in maintenance and repairs in the former but not the latter. In Memphis, properties in wealthier neighborhoods are aggressively marketed to retail buyers, says Webb Brewer, one of the lawyers representing the city in its lawsuit. Webb had a researcher look at REO buyers in white, wealthier neighborhoods — 70 percent of them were retail and 30 percent were investors; in lower income, minority neighborhoods, the figures were reversed.

Other data supports the claims that neighborhood demographics influence how well bank-owned homes are maintained. An April report from the National Fair Housing Alliance (NFHA), a national nonprofit that addresses housing discrimination, concluded that maintenance practices were “consistently better” in white  neighborhoods  than in those that were predominantly African-American.  The report analyzed 624 bank-owned properties (also known as “REOs,” for “real estate owned”) in four states.

Mortgage lenders dispute those claims. “All of the homes that we have on our books are treated exactly the same way,” says Philippa Brown, spokesperson for American Home Mortgage Servicing Inc. “They’ve all got to be up to code. Do I think there’s been such a volume of homes that some have fallen through the cracks? Definitely. But in every neighborhood … if they’re brought to our attention we fix them fast because we want to get them sold.”

REOs in marginal and modestly priced communities may end up neglected because lenders often  contract with outside “property preservation” firms, who in turn hire local contractors. Because of the property preservation business is booming as the number of foreclosures grows, many new and inexperienced players are entering the business. Critics say that means the quality of the contractors and subcontractors varies widely. “The problems arose in this industry as the market changed,” says Michael Anz, CEO of property preservation company MGA Services, which has operated since 1999. “There have been so many new players in the industry who don’t understand the business.”

In other cases, banks hire local real-estate brokers to get properties ready to sell. But brokers have to pay for repairs and maintenance out of their own pockets, then get reimbursed, according to Mike Krein, president of the National REO Brokers Association. Some brokers decide to skip repairs, especially for lower-end houses. Krein says there’s often pressure on banks from Fannie Mae and Freddie Mac to spread out contracts to numerous brokers rather than picking the few that specialize in REOs.

But with a glut of foreclosures forcing prices down nationwide, banks simply may not be able to sink money into houses that are losing value, according to Albert J. Sumell, an economist at Youngstown State University who has studied the valuation of foreclosures. He says banks just can’t afford to put thousands of dollars into a property if don’t they expect to get it back.

Some local legislators and community groups are taking steps to change that economic equation.
In Ohio, legislation passed in April 2010 allows some counties to start nonprofit “land banks” that are funded through county-assessed penalties and interest collected on overdue property taxes. Land banks can acquire lenders’ unwanted REOs through donation or purchase; in exchange, the land bank clears the title of liens (fines, back taxes). The county then decides how best to use the property — either rehabilitating and selling it or demolishing it.

And in California, a state foreclosure reform law passed in 2008 allows cities and counties to require banks to register foreclosed properties and levies fines if properties aren’t maintained. An ordinance in Long Beach, for example, allows the city to fine a bank up to $1,000 a day if it doesn’t do basic maintenance like cutting grass and fixing broken windows. Illinois now is considering similar legislation.

In Long Beach, banks have registered 418 properties, and the city hasn’t had to issue a single fine in the two months since the law was enacted. That’s a success, even if the city doesn’t make a dime in fines, according to Rex Richardson, chief of staff to city councilman Steve Neal, who introduced the ordinance. “Good code enforcement should never be a revenue generator,” he says.

Related Links:
Foreclosures: Luxury Homes on the Auction Block (The Fiscal Times)
Investors are Flipping over Low Home Prices (The Fiscal Times)
Housing Double Dip: Why Prices Will Keep Dropping (The Fiscal Times)

————–

Another Blow to Housing: Home Prices at 2002 Levels

By JENNIFER DEPAUL, The Fiscal Times
May 31, 2011

In the latest sign of a weak economy, home prices in March fell to their lowest point since the housing collapse began. Prices are now back to mid-2002 levels as the housing market remains bogged down by an oversupply of inventory and an undersupply of buyers and may not have hit bottom.

Home prices fell 4.2 percent in the first quarter of 2011, the eighth consecutive quarterly drop, according to the Standard & Poor’s/Case-Shiller National Home Price Index, putting the index 5.1 percent below the first quarter of 2010. “This month’s report is marked by the confirmation of a double-dip in home prices across much of the nation,” David Blitzer, Chairman of the Index Committee at S&P indices said in a statement. “Home prices continue on their downward spiral with no relief in sight.”

Consumer confidence also declined, according to a separate report.

Home prices are now 33 percent below their 2006 peak and have fallen by more than the 31 percent decline that took place during the Great Depression. “The current housing crash will further eclipse the one seen during the Great Depression, if not in duration, certainly in size,” said Paul Dales, economist with Capital Economics. He warned that when home prices fell during the Great Depression, it took   19 years for the market to regain its value.

Even more troubling, the bottom has yet to be reached Dales said. Some experts say that home prices will fall another five to 10 percent this year and may bottom out in 2012 at the earliest. Earlier this month, the National Association of Realtors said the pending home sales index, which tracks contracts signed in April, fell by 11.6 percent from March.

“People don’t want to buy homes if house prices are going to fall further,” said Karen Dynan, economist with Brookings Institution. “There can be a negative self reinforcing cycle—house prices are falling because demand is soft, people expect house prices to fall further so they become more reluctant to buy homes and house prices fall further.” Dynan said she can’t predict when the housing market will hit bottom.

Prices plunged in 19 metro areas tracked by the S&P/Case Shiller Index of 20 metro areas compared with last year. Minneapolis posted a 10 percent decline from a year earlier. Washington, D.C. was the only city to show an annual gain.

Twelve cities hit their lowest levels in nearly four years:  Atlanta, Charlotte, Chicago, Cleveland, Detroit, Las Vegas, Miami, Minneapolis, New York, Phoenix, Portland, Ore., and Tampa. The 20-city composite posted an annual rate of decline of 3.6 percent, while prices fell 2.9 percent in the 10-city composite.

A record number of foreclosure sales are forcing home prices down. Sales of bank-owned homes and those in some stage of foreclosure accounted for 28 percent of all residential sales in the first quarter of 2011, according to RealtyTrac, the largest online market for foreclosed properties. High unemployment also has cut into home sales.

But not all housing experts are pessimistic. “The housing market is at a turning point as conditions are beginning to look up,” said Mike Zoller, economist with Moody’s Analytics. “Though job creation–one of housing demand’s key drivers–had been proceeding at glacial pace, the rate of growth is picking up. With hours worked rising and corporate profitability surging, hiring will step up further. This will boost confidence and incomes, fostering growth in the housing market.”

Meanwhile, in a separate report Tuesday, the Conference Board reported that consumer confidence fell steeply in May to a six month low and now stands at 60.8 (on a scale of 100), down from 66 in April.

“Consumers are considerably more apprehensive about future business and labor market conditions as well as their income prospects. Inflation concerns, which had eased last month, have picked up once again,” said Lynn Franco, director of the Conference Board Consumer Research Center in a statement.

The reports come days before the Labor Dept.’s May employment report on Friday. Experts predict the number of new jobs will well below April’s surprisingly strong 244,000 increase. The consensus is for May’s numbers to be around 175,000 new jobs created.

Click Here For Housing Market Coverage

Related Links:
Home Prices Still Falling (Wall Street Journal)
S&P/Case Shiller Signals Double Dip in Housing Economic Report (MarketWatch)
Five Questions on Tuesday’s S&P/Case Shiller (Wall Street Journal)

http://www.thefiscaltimes.com/Articles/2011/05/31/Another-Blow-to-Housing-Home-Prices-at-2002-Levels.aspx

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

Trung Quốc dọa chút xíu là đã sợ…ướt quần

Posted by hoangtran204 trên 27/06/2011

Ngỡ rằng đồ thật hoá đồ chơi!….

Con tầu đồng nát Varyag trước khi thành  “tầu sân bay Thi Lang ” của Trung Quốc
Một tháng sau khi biểu diễn khả năng cô hồn cao độ với việc uy hiếp Đông hải, Bắc Kinh quay ra hăm he Hoa Kỳ.

Chẳng là cuối tuần qua, sau khi họp với Phụ tá Ngoại trưởng Đặc trách Á châu Thái bình dương của Hoa Kỳ tại Hawaii, Thứ trưởng Ngoại giao Trung Quốc lên lớp côn đồ: “có những quốc gia đang đùa với lửa” – xin phiên dịch rằng đó là Phi Luật Tân và Việt Nam. Sau đấy, Thứ trưởng họ Trương liếc qua phía Mỹ: “và tôi mong rằng Hoa Kỳ không bị phỏng tay vì chuyện đó”. Ngon!

Đã đành là ngon rồi, vì tuần tới Bắc Kinh sẽ cho hạ thủy “tầu sân bay” đầu tiên của mình. Gọi là chơi nổi để góp mặt với đời trên biển Đông.

Nhưng chưa ai biết là hàng không mẫu hạm này có… nổi không và việc thử nghiệm là gì. Thử máy xem có chạy không, hay là còn thử cho máy bay cất cánh và hạ cánh?

Trong khi chờ đợi thì hãy nghĩ đến truyện… “hồn Trương Ba, da hàng thịt” với màu sắc Trung Hoa. Rất khôi hài ảm đạm!

***

Năm 1985, Liên Xô cho thiết kế một hàng không mẫu hạm, hạng Admiral Kuznetsov.

Năm 1988, chiến hạm đó được khởi công và sau này đặt tên là Varyag. Đến năm 1992 thì mọi việc bỗng ngưng – vì Liên Xô sụp đổ. Chiến hạm có xác mà không hồn: trông thì rõ là hàng không mẫu hạm mà bên trong chưa có hệ thống điện tử!

Khi Liên Xô tan rã, Cộng hòa Liên bang chia của cho các nước Cộng hoà tách khỏi liên bang, chiếc Varyag được gán cho Cộng hoà Ukraine – như một của nợ. Và được Ukraine kéo lên ụ làm thịt bên bờ Hắc hải! Ruột gan tanh bành, không có máy, chẳng có cánh quạt, chân vịt, hay hệ thống điều dụng vì bị tháo gỡ đem bán lẻ. Nó trở thành khối thép vô dụng, được cho bán đấu giá năm 1998.

Đấy là lúc các đấng con trời đỏ xuất hiện. Dưới dạng con buôn Hong Kong, của một hãng lữ hành.

Họ nhảy vào cò kè mặc cả và đấu giá rồi chi ra 20 triệu đô la để mua về cái vỏ tầu mà xứ Ukraine cho là đồ phế thải. Chẳng sao, năm đó Thiên triều đang chuẩn bị việc Macao “hồi quy cố quốc”. Cho nên lý do chính thức là kéo chiếc Varyag vô hồn này về làm sòng bạc nổi trên mặt nước!

Mà nội một chuyện kéo cái vỏ tầu này qua mấy đại dương và eo biển về Hoa lục cũng mất gần hai năm.

Họ phải thuê một hãng Hoà Lan với thủy thủ đoàn Phi Luật Tân chạy lòng vòng 16 tháng trong Hắc hải qua vịnh Bosphorus rồi xuyên kênh đào Suez không được – không ai cho một con tầu chết đi qua hải lộ hiểm yếu này – nên phải trở qua eo biển Gibraltar, xuống tận mũi Hảo Vọng của Phi Châu mới về đến Châu Á… Một cuộc hành trình lịch sử chỉ kết thúc vào cuối năm 2001, gây tốn kém hơn 30 triệu đô la và rất nhiều giấy mực của báo chí.

Về đến nơi thì chiếc Varyag không ghé Macao mà lên thẳng Liêu Ninh, nằm ụ trong quân cảng Đại Liên.

Nơi đây, chiến hạm Varyag – sản phẩm thuộc diện đồng nát của Liên Xô thời tàn lụi, thuộc diện phế thài của xứ Ukraine thời khủng hoảng – bắt đầu thoát xác. Nó trở thành tàu sân bay đầu tiên của Hải quân Trung Quốc với tên mới là Thi Lang, tên của viên Đô đốc đã “giải phóng” Đài Loan vào thời Mãn Thanh. Mất 10 năm tròn cho việc đỏ da thắm thịt này!

Bây giờ, Trung Quốc có đồ chơi mới, nên hăm Mỹ là coi chừng phỏng tay!

***

Nói về việc thành hình một hàng không mẫu hạm, người ta nhớ trước tiên đến chữ “mẫu hạm”.

Một chiến hạm đầu đàn, chung quanh trên dưới còn rất nhiều võ khí quái dị khác để bảo vệ và khai trển sức mạnh. Khi ra khơi thì đó là một đội quân hoàn chỉnh ngoài đại dương. Sau đấy mới là một sân bay ngoài biển, để phóng ra và thu vào các chiến đấu cơ có cánh cố định – không phải cánh xoay như trực thăng.Một tập hợp như vậy đòi hỏi nhiều điều kiện phối hợp về tổ chức, kỹ thuật, liên lạc, kiểm soát rất phức tạp. Phải mất nhiều thế hệ thiết kế và huấn luyện mới xong.Cho tới nay, những hình ảnh đầu tiên được tiết lộ về chiếc Thi Lang uy dũng này vẫn cho thấy nhiều của nợ ngổn ngang trên sàn bay. Còn việc máy bay lên xuống ra sao thì chưa ai biết… Dù sao, nếu cứ có động cơ để chạy ra chạy vào được vài cây số thì cũng đã là một thắng lợi vĩ đại.

Ngẫu nhiên sao, năm nay Hoa Kỳ lại kỷ niệm 100 năm ngày hạ thủy hàng không mẫu hạm đầu tiên của mình! Và các hàng không mẫu hạm thời nay của Mỹ đều sử dụng năng lượng siêu hạng: hai chục năm mới phải một lần… xạc bình điện!

Phần mình, sau 90 năm của đảng Cộng sản, từ thời “lập quốc” cách nay một vòng hoa giáp 60 năm, quân đội Trung Quốc chủ yếu là một lực lượng lục quân. Chiến pháp xứ này là lấy lượng làm phẩm, lấy quân số làm ưu thế – để trấn áp bên trong! Lục quân Trung Quốc ngày nay vẫn có chừng một triệu 600 ngàn lính, có trang bị áo quần súng ống đầy đủ. Đông lắm, nuôi không xuể, nhưng vẫn hát khúc quân hành cho vui vì là một đội quân cổ điển với võ khí lỗi thời. Mà vẫn vô dụng, vì khi hữu sự bên trong, xứ này vẫn cần tới công an võ trang, cảnh sát đặc biệt, v.v…

Hơn 700 ngàn nhân mạng chứ không ít.Năm qua, việc ngân sách “nội an” cũng cao bằng ngân sách quốc phòng cho thấy ưu tiên của lãnh đạo: dẹp loạn bên trong hơn là bành trướng ra ngoài!Không quân và Hải quân là những quân chủng mới chỉ được Bắc Kinh cho hiện đại hoá từ vài chục năm trở lại. Và hiện đại hóa với võ khí thụ đắc của Liên Xô trên đỉnh cao Xô viết, tức là khi xứ này bắt đầu tan rã hơn hai chục năm về trước! Binh đội của hai quân chủng này chưa tới 600 ngàn lính, còn thua lực lượng nội an. Siêu cường đại bá chưa có khả năng “giải phóng” – một định nghĩa khác của chữ “chiếm đóng” – bất cứ xứ nào nằm ngoài lãnh thổ cố hữu của họ. Muốn tái diễn một cuộc chiến tranh Triều Tiên với chiến thuật biển người thì chỉ can tội… sát sinh: Bắc Kinh rất hiểu điều ấy từ cuộc chiến vùng Vịnh năm 1991 khi Hoa Kỳ không tập và diệt gọn các sư đoàn ưu binh của Saddam Hussein.

Năm đó, Tư lệnh Quân đội Giải phóng là Đô đốc Lưu Hoa Thanh vào tâu với Đặng Tiểu Bình: “Thưa lão đồng chí, Trung Quốc từ nay không còn hệ thống phòng thủ nữa!” Chứng cớ ông trình lên là những hình ảnh về trận “Bão Sa Mạc” của Hoa Kỳ tại Iraq, do hệ thống truyền hình CNN phổ biến!…

Nhưng sức mạnh nào chỉ có quân số, vì còn phải nói đến võ khí và kỹ thuật chiến tranh nữa chứ?

Thưa vâng: ngày nay, hơn 70% võ khí Trung Quốc vẫn lệ thuộc vào đồ nghề cổ lỗ của Nga sản xuất từ thời Xô viết, phần còn lại là học lóm, là ăn cắp và đôi khi còn bị cấy sinh tử phù khi đi ăn cắp mà không biết! Cho đến nay, giấc mơ đại cường hải dương của xứ này mới chỉ thành hình với hai chiến hạm duy nhất có khả năng viễn duyên và quả nhiên là năm ngoái đã… dám đi tuần tra ngoài khơi Somalia để cùng thế giới tham gia tiễu trừ hải tặc.Bây giờ ta lại có Thi Lang!Việt Nam chúng ta sẽ rất lầm khi dựa vào Hoa Kỳ để khiêu khích Trung Quốc, như Bắc Kinh ám chỉ. Nhưng Trung Quốc sẽ rất lầm nếu đòi dằn mặt nước Mỹ để thu gọn Đông Nam Á vào trong túi.

Hãy nói về tương quan hai xứ đó: Hoa Kỳ và Trung Quốc có lãnh thổ tương tự, gần 10 triệu cây số vuông. Nhưng, Trung Quốc hơn Mỹ nhờ dân số nên… phải nuôi nhiều hơn Mỹ khoảng một tỷ người trên cùng một diện tích. Chỉ nội khái niệm “phải nuôi” ấy cũng là điều đáng kể. Hoa Kỳ có dân số hơn 300 triệu mà không bao giờ có chữ “nuôi dân”: người dân tự nuôi lấy mình và còn sản xuất dư thừa nông sản lương thực để nuôi xứ khác. Trung Quốc có một tỷ 350 triệu dân trên một diện tích tương đương mà đất khả canh thì hẹp và chưa bằng một phần ba của trung bình toàn cầu. Vặt mũi bỏ mồm là động tác truyền thống.

Làm sao đòi dọa nạt một quốc gia có truyền thống hải dương từ thời lập quốc và nay vẫn là siêu cường quân sự toàn cầu?

Bây giờ, chuyện dẹp êm nội loạn chưa xong, Trung Quốc còn đòi chinh phục thiên hạ! Bắc Kinh chỉ có thể uy hiếp Hà Nội và mua chuộc đảng Cộng sản Việt Nam mà thôi. Vì sao không kín đáo thi hành việc đó như họ đã từng làm từ hai chục năm nay? Vì sao lại hung hăng dọa nạt và còn muốn cho Hoa Kỳ phỏng tay? Vì ta sắp có tầu sân bay?

Đúng là dịp may hy hữu cho Việt Nam tỉnh ngộ.

Bài phát biểu cuả ông John McCain tại hội thảo về biển Đông ngày 20/6/2011

Posted in Chinh Tri Viet Nam | Leave a Comment »

Bài phát biểu cuả ông John McCain tại hội thảo về biển Đông ngày 20/6/2011

Posted by hoangtran204 trên 27/06/2011

 

 

 

Phát biểu của ông John McCain tại hội thảo về an ninh hàng hải trên biển Đông ở Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược Quốc tế (CSIS) tại Washington DC. ngày 20-06-2011.

John McCain
…..Bỏ qua những sự việc không liên quan đến hội thảo

Những năm vừa qua cho thấy sự leo thang nhanh chóng về tình trạng căng thẳng giữa các quốc gia trong khu vực hàng hải đang tranh chấp và hay thay đổi này. Tôi không cần phải nói lại cho các cử tọa ở đây nghe tất cả các sự cố. Dĩ nhiên, điều quan trọng là tất cả các bên thực hiện sự kiềm chế. Và để chắc chắn rằng, các đối tác ASEAN của chúng ta sẽ cần phải thỏa hiệp, đặc biệt là các nước thoả hiệp với nhau, để đạt được một kết quả hòa bình và cùng có lợi, như nhiều nước trong số các nước này thừa nhận.

Điều đó có nghĩa là, tình hình này cần phải nói thẳng một chút: Một trong những lực lượng chính làm cho các căng thẳng trên biển Đông trầm trọng hơn, và làm cho giải pháp hòa bình của các tranh chấp này khó khăn hơn để đạt được, đó là hành vi hung hăng của Trung Quốc và việc đòi chủ quyền lãnh thổ vô căn cứ mà họ tìm cách theo đuổi.

Tôi chẳng vui vẻ gì để nói điều này.Tôi tin rằng một trong những lợi ích quốc gia hàng đầu của Hoa Kỳ là việc duy trì và tăng cường quan hệ nhiều mặt với Trung Quốc. Tôi muốn Trung Quốc thành công và phát triển một cách hòa bình. Và tôi tin rằng không có lực lượng lịch sử nào lên án đất nước chúng ta về xung đột. Thật vậy, phạm vi hợp tác toàn cầu của chúng ta là rộng hơn bao giờ hết, kể cả các vấn đề an ninh hàng hải, rõ ràng để cho mọi người thấy các hoạt động chung của chúng ta ra tận ngoài khơi Sừng châu Phi (Horn Africa).

Điều gây khó khăn cho tôi, và tôi cũng nghĩ rằng nó cũng gây khó khăn cho nhiều quý vị ở đây, đó là các tuyên bố mở rộng của Trung Quốc trên biển Đông. Các lý do căn bản cung cấp cho các tuyên bố này, không có cơ sở luật pháp quốc tế; và những hành động ngày càng quyết đoán mà Trung Quốc đang thực hiện để thực thi các quyền tự nhận của họ, gồm cả ở vùng biển trong vòng 200 hải lý ngoài khơi bờ biển của các nước ASEAN, như trường hợp gần đây trong các sự cố riêng biệt liên quan đến Việt Nam và Philippines.

Bản đồ về cái gọi là chín vạch của Trung Quốc tuyên bố tất cả các đảo trên biển Đông là chủ quyền lãnh thổ Trung Quốc và tất cả các vùng lãnh hải của nó là vùng đặc quyền của Trung Quốc rõ là vô lý. Hơn nữa, những giải thích cụ thể về luật pháp quốc tế của Trung Quốc sẽ làm xói mòn các nguyên tắc lâu dài về tự do hàng hải, bóp méo khái niệm mở rộng cho mọi người đi vào, và sẽ hạn chế sự đi vào vùng biển này. Một số người ở Trung Quốc thậm chí còn đề cập đến học thuyết này như “chiến tranh pháp lý”.

Tại sao điều này quan trọng đối với Hoa Kỳ? Đây là câu hỏi mà nhiều người Mỹ sẽ hỏi, đặc biệt là khi chúng tôi liên quan đến ba cuộc xung đột đã xãy ra, và khi nợ quốc gia của chúng tôi thực sự trở nên không bền vững. Tại sao Mỹ nên quan tâm đến tranh chấp lãnh hải của các nước bên cách xa nửa vòng trái đất?

Chắc chắn có lý do kinh tế để tham gia. Khu vực biển Đông là nguồn quan trọng về công việc làm và tài nguyên thiên nhiên có lợi cho nhiều người Mỹ. Tuy nhiên, có lẽ xét rộng hơn là yếu tố chiến lược. Trung tâm địa chính trị thế giới hấp dẫn đang chuyển sang khu vực châu Á-Thái Bình Dương – một khu vực, trong đó nhiều nước đang trỗi dậy cùng một lúc về sự giàu có và sức mạnh.

Điều này tạo ra sự va chạm giữa các quốc gia, nơi các tranh chấp cũ vẫn chưa được giải quyết. Hoa Kỳ có một lợi ích an ninh quốc gia trong việc duy trì một sự cân bằng chiến lược thuận lợi trong khu vực quan trọng này. Và trọng tâm đó là để bảo vệ sự tự do phổ quát trong việc đi lại và đi vào các vùng biển như một nguyên tắc căn bản của trật tự quốc tế.

Những nỗ lực phủ nhận tự do hàng hải trên biển Đông đặt ra một thách thức nghiêm trọng đến trật tự quốc tế mà, dựa trên luật lệ, Hoa Kỳ và đồng minh của chúng tôi đã duy trì trong nhiều thập kỷ. Nếu những nỗ lực này thành công – sẽ liên tục bắt nạt, cho phép một nước áp đặt tuyên bố chủ quyền lãnh thổ của mình bằng vũ lực và biến biển Đông thành một khu vực không cho các tàu thương mại và quân sự của các quốc gia khác, kể cả Hoa Kỳ, đi vào. Hậu quả sẽ là thảm khốc.

Điều đó có thể thiết lập một tiền lệ nguy hiểm để làm suy yếu luật pháp quốc tế, theo cách mà những người có ý định bệnh hoạn, không còn nghi ngờ gì nữa, sẽ áp dụng ở nơi khác. Điều đó có thể tạo ra sự khuyến khích gia tăng quyền lực gây phiền hà khắp mọi nơi để sử dụng vũ lực, điều mà các phương tiện pháp lý và hoà bình không thể bảo đảm cho họ. Vì thế, nó sẽ đưa chúng ta đến gần thảm hoạ hơn vào một ngày, khi hải quân Mỹ thấy rằng không thể đi vào và hoạt động một cách an toàn ở Tây Thái Bình Dương.

“Vậy thì Hoa Kỳ nên làm những gì? Để tôi cung cấp một vài đề nghị để kết thúc.

“Thứ nhất, về lập trường của Mỹ trên biển Đông, chúng ta nhận thấy rằng, một chính sách rõ ràng có thể ổn định hơn so với một chính sách không rõ ràng. Tôi hoan nghênh Ngoại trưởng Clinton khi tuyên bố rằng các bên tranh chấp trên biển Đông phải được giải quyết thông qua đàm phán đa phương, và chúng ta sẽ tìm cách tạo điều kiện cho các cuộc đàm phán. Đa số các nước châu Á hoan nghênh tuyên bố đó. Trên hết, đây là mối quan hệ của Trung Quốc với các nước láng giềng, không phải giữa Trung Quốc với Hoa Kỳ.

Tuy nhiên, rất hữu ích cho chúng ta tiếp tục nói rõ quan điểm của Mỹ, để các nước khác có thể biết, Hoa Kỳ chấp nhận những yêu sách nào, và những yêu sách nào chúng ta không chấp nhận, và những hành động nào chúng ta chuẩn bị để hỗ trợ các đối tác của chúng ta, đặc biệt là Philippines, một nước đồng minh có ký hiệp ước.

“Thứ hai, Hoa Kỳ nên hỗ trợ các đối tác ASEAN của chúng ta trong việc giải quyết tranh chấp của họ trên biển Đông, như một phương tiện cổ vũ ASEAN đoàn kết hơn để đối mặt với Trung Quốc.

Trung Quốc tìm cách khai thác sự chia rẽ giữa các thành viên ASEAN – làm cho họ chống đối nhau, để phục vụ cho kế hoạch riêng của Trung Quốc. Giải quyết các tranh chấp trên biển giữa các nước ASEAN, như Malaysia và Brunei gần đây đã thực hiện, sẽ cho phép các đối tác của chúng ta thiết lập một mặt trận thống nhất hơn.

“Thứ ba: Hoa Kỳ cần giúp đỡ các đối tác ASEAN của chúng ta tăng cường sự phòng thủ trên biển và khả năng phát hiện – để phát triển và triển khai các hệ thống cơ bản như radar cảnh báo sớm và các tàu an ninh ven biển. Bù đắp sự thiếu thốn này, và tăng cường tập trận chung với chúng ta, sẽ cung cấp một hình ảnh hoạt động phổ biến hơn ở biển Đông và khả năng đối phó tốt hơn với các mối đe dọa.

Thứ tư, Thượng viện Mỹ cần quan tâm hơn đến Công ước LHQ về Luật Biển. Tôi biết điều này không phổ biến ở một số người bảo thủ. Nhưng thực tế là, chính phủ các nhiệm kỳ kế tiếp của cả hai đảng đã tôn trọng những nhận xét cơ bản của Công ước, mặc dù không cần phải ký. Trong khi đó, các nước như Trung Quốc đã ký công ước mà không thực hiện đúng, nhắm tới việc từ chối, không cho các nước đi vào vùng biển quốc tế.

Điều này làm cho Hoa Kỳ dựa vào ân huệ của các nước ngoài cũng như dựa vào sức mạnh lớn hơn của chính mình để bảo đảm quyền đi lại của Mỹ. Nhưng những điều này là đặc ân, không thể được xem như lúc nào cũng có sẵn, đó là lý do Hải quân Mỹ hỗ trợ mạnh mẽ Công ước [LHQ về Luật Biển] và tính pháp lý của nó, để bảo đảm nó phục vụ cho các hoạt động hải quân của chúng ta. Do đó, vì lý do an ninh quốc gia, Thượng viện cần phải quyết định, đã đến lúc phê chuẩn Hiệp ước Luật Biển.

Thứ năm, chúng ta cần phải chuyển sức mạnh của lực lượng Mỹ, chú trọng nhiều hơn vào những khu vực cạnh tranh mới trỗi dậy, đặc biệt là Ấn Độ Dương và Biển Đông. Tôi đã tham gia với các đồng nghiệp của tôi ở Hội đồng Quân sự Thượng viện, Thượng nghị sĩ Carl Levin và Jim Webb, để kêu gọi cho thêm thời gian đánh giá lại kế hoạch về các căn cứ của chúng ta ở Nhật Bản và Guam. Và tôi đã làm như thế để Mỹ không phải rút khỏi châu Á, mà là tăng cường cam kết của chúng ta đối với an ninh trong khu vực này.

Không phải là Quốc hội có ý kiến về các thỏa thuận căn cứ trong khu vực, mà thực tế tình hình mới và chi phí vượt quá mức, đã tạo vấn đề về các kế hoạch hiện tại của chúng ta. Mục tiêu của chúng ta nên chuyển tới nơi có vị thế địa lý hơn, đưa quân đội rải rác ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương, như Bộ trưởng Quốc phòng Gates đã mô tả, và trung tâm của nỗ lực đó sẽ luôn luôn là những cam kết căn bản của chúng ta với các đồng minh lịch sử như Nhật Bản và Nam Hàn.

Cuối cùng, Hoa Kỳ phải tiếp tục các khoản đầu tư cần thiết vào khả năng phòng thủ của chúng ta, đặc biệt là lực lượng hải quân, để duy trì sức mạnh quân sự hàng đầu thế giới. Chúng ta đang phải đối mặt với áp lực rất lớn trong nước để cắt giảm chi tiêu, gồm cả chi tiêu quốc phòng, và một số cắt giảm chắc chắn cần thiết. Những người có lý có thể không đồng ý về việc cắt giảm này, nên cắt thêm bao nhiêu.

Nhưng gần đây, khi Tổng thống cam kết cắt giảm 400 tỷ đô la về chi tiêu quốc phòng trong thời gian 12 năm – không có cơ sở chiến lược hợp lý về lý do tại sao con số này đã được lựa chọn hoặc những gì rủi ro gì nó sẽ gây ra, và Bộ trưởng Quốc phòng chỉ được nói về điều đó một ngày trước khi sự việc xảy ra – tôi nghĩ rằng những người có lý lẽ cũng có thể đồng ý rằng, điều này không có cách nào để lên kế hoạch quốc phòng của chúng ta. Chúng ta phải [lên kế hoạch] dựa vào chiến lược hướng dẫn, không thể [dựa vào] những con số tùy tiện.

Những sự kiện hiện đang xảy ra trên biển Đông sẽ đóng một vai trò quyết định trong việc định hình sự phát triển khu vực châu Á-Thái Bình Dương trong thế kỷ này. Và Hoa Kỳ phải tiếp tục tham gia tích cực vào quá trình đó. Về vấn đề này, tôi gặp rắc rối do các báo cáo gần đây của một số đồng nghiệp của tôi trong Quốc hội và một số ứng cử viên tổng thống thuộc đảng Cộng hòa. Họ mong muốn Hoa Kỳ rút khỏi thế giới và giảm các cam kết của chúng tôi ở nước ngoài.

Hoa Kỳ đã mắc phải sai lầm đó trước đây, và chúng ta nên học bài học lịch sử này, không để nó lặp lại. Cuối cùng, lịch sử cho chúng ta thấy rằng, chính Mỹ được hưởng lợi lớn nhất nhờ trật tự quốc tế dựa trên luật lệ, đó là duy trì bởi quyền lực và sự lãnh đạo của Mỹ. Chúng ta từ bỏ vai trò đó là nguy hiểm cho thế giới và cho chính chúng ta.

Nếu các bạn đến từ khu vực châu Á-Thái Bình Dương, chỉ để mang một thông điệp về nhà với các bạn, thông điệp đó sẽ là: Luôn có xu hướng cô lập ở Mỹ, nhưng người Mỹ đã bác bỏ nó trước đây, và tôi tin rằng bây giờ người Mỹ sẽ bác bỏ nó một lần nữa. Sẽ luôn có một cơ sở vững chắc của Mỹ hỗ trợ cho một chính sách quốc tế mạnh mẽ ở nước ngoài. Chính sách đó sẽ không thay đổi, kể cả ở Mỹ.

Chúng tôi sẽ không rút khỏi hoặc bị đẩy ra khỏi khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Chúng tôi sẽ ở lại đó, [thực hiện] cam kết với bạn bè và đồng minh của chúng tôi, và chúng ta sẽ cùng nhau thành công.

Nguồn: http://www.ustream.tv/recorded/15514848

Nguồn

 

Posted in Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa, Chinh Tri Hoa Ky | Leave a Comment »

Khi các phụ nữ ở tầng lớp có quyền lực lên tiếng

Posted by hoangtran204 trên 25/06/2011

Trong suốt 36 năm qua, đảng chỉ tin dùng đảng viên và con cháu của các công thần trong đảng. Những người nầy hoặc ở lại trong nước tham gia vào chính quyền, nắm các công ty, tập đoàn, hoặc được cử qua Liên Xô, Đông Âu du học và trở về nắm các ban ngành thông tin văn hóa dùng để tuyên truyền phục vụ đường lối do đảng đề ra, hoặc để tuyên truyền, tung hô, che chở và bảo vệ đảng.

Một số lớn các du-sinh tốt nghiệp từ Liên  Xô, Đông Âu vào những năm 1980s và 1990s đã trở về, và đang làm cố vấn kinh tế, tài chánh, đầu tư, thuế, kế hoạch, công nghiệp, giáo dục…cho các bộ trưởng, chính phủ, và đảng. Tình hình Kinh tế, chính trị, văn hóa, giáo dục và xã hội VN…hiện nay là kết quả của đảng chỉ đạo và sự phụ giúp đắc lực của các du sinh nầy.

Sau một thời gian phục vụ rất đắc lực, có phải họ phản tỉnh và không còn muốn ngũ yên nữa hay sao; hoặc họ đang được chỉ đạo để thi hành một nhiệm vụ mới được đảng giao cho?

 

Sexy tất cả, trừ lòng yêu nước

Thùy Linh
NTT: Nhà Văn Phạm Ngọc Tiến vừa gửi tới tôi bài viết của người đồng nghiệp cùng làm việc tại Hãng phim Truyền hình VN với lời giới thiệu ngắn gọn: “Đây là bài viết của nhà văn Thùy Linh, tác giả truyện ngắn “Mặt trời bé con của tôi” năm nào. Một bài viết hay, trách nhiệm và không hề né tránh”. Xin giơi thiệu cùng bạn.

Bây giờ bạn có thể biết đến tận giường ngủ của những người nổi tiếng, hơi nổi tiếng, nổi tiếng chút chút, tự mình làm nổi tiếng…với căn nhà cỡ triệu đô, hơn triệu đô và nhiều triệu đô. Bởi tất cả được phơi bày trên các trang mạng.

Bạn có thể tưởng tượng hình bóng người đẹp ngâm mình trong các bồn tắm sang trọng của một phần giá trị trong những căn nhà đắt tiền đó. Bởi tất cả được phơi bày trên các trang mạng.

Nhà văn Thùy Linh

Bạn có thể mất ngủ nhiều ngày về sự giàu sang phô trương của các sao và tự hỏi họ kiếm đâu ra ngần ấy tiền giữa lúc một người trí thức (chưa kể dân đen) kiếm được đồng tiền nuôi gia đình hết sức chật vật?

Bạn có thể khó chịu vì hàng ngày mở tờ báo và các trang mạng chỉ thấy chuyện tốc váy, yêu đương, ly hôn, cặp bồ… của những người nổi tiếng và được coi là nổi tiếng. Thậm chí đám cưới của sao nào đó cũng chiếm mất khá nhiều giao diện trên trang mạng với không có thông tin gì cả ngoài các chân dài tới dự lễ thành hôn. Giữa lúc xã hội nơi tôi đang sống có quá nhiều việc cần phải lên tiếng.

Bạn có thể cười nhạt vì một party sinh nhật phù phiếm và hết sức sành điệu của ai đó cũng là người nổi tiếng được tổ chức linh đình và lôi kéo sự chú ý của các phóng viên và nhiều độc giả. Giữa lúc nhiều người dân nước tôi đang thiếu dù chỉ một bữa cơm no bụng.

Bạn có thể kinh ngạc về tội ác diễn ra hàng ngày được “trình diễn” trên các báo và mạng internet như là phần không thể thiếu của cuộc sống trên mảnh đất này. Những vụ án đốt con, đốt chồng, những thây người bị giết cắt rời từng mảnh, những vụ bắn nhau chỉ vì va chạm trên đường, những vụ hiếp dâm trẻ nhỏ và chính con cái mình… Tội ác dường như là chuỵên bình thường khi mọi giá trị nhân văn mang tính người đã bị đẩy ra khỏi cuộc sống.

Bạn có thể bị kinh động bởi những vụ tham ô, thất thoát số tiền lên đến nhiều tỷ tỷ đồng mà người bình thường không biết đó là bao nhiêu chữ số, nhưng vẫn chỉ “rút kinh nghiệm”. Thử hình dung nếu có một Bao Tự thay vì thích xé lụa mà xé tiền thì mất bao nhiêu năm mới xé hết số tiền ấy với mệnh giá 500.000 VND? Nhưng đất nước tôi vẫn bao dung, nhẫn nhịn… cho qua. Trong khi vẫn rất nhiều đứa trẻ phải bỏ học vì không có tiền. Ngày ngày trẻ con vẫn đu dây vượt sông lũ đến trường. Vô vàn đứa trẻ vùng cao phải ở lán dựng tạm trống hoác nơi núi cao rét buốt để nhọc nhằn bám theo con chữ. Vẫn nhiều người phát bệnh tâm thần do nghèo đói, bệnh tật… Chuyện đó ai cũng biết vì tất cả phơi bày trên báo chí.

Bạn có thể thất vọng đau đớn khi thấy thiểu số lãnh đạo cả dân tộc bằng tư duy không thể nói là lạc hậu, mà phải nói là lẩm cẩm, điên khùng. Vậy mà dân tộc tôi vẫn cúi đầu cam chịu, nhẫn nhục cắn răng…Tất cả cũng hiển hiện trên các trang báo và mạng không hề dấu diếm, hàng ngày… Sự thô bỉ, vô liêm sỉ, vô minh, trắng trợn, giả dối, độc ác diễu hành từ mấy chục năm nay và vẫn đang tiếp tục. Sự nhẫn nhục, vụ lợi, bàng quan, lạnh nhạt của triệu triệu người dân cũng chẳng hề dấu diếm…

Có thể phơi bày tất cả, trừ sự thật.

Có thể phơi bày tất cả trừ sự liêm sỉ, tử tế.

Có thể phơi bày tất cả trừ công bằng.

Và đau đớn hơn, có thể phơi bày tất cả trừ lòng yêu nước.

Tôi đã thấy điều đó qua cuộc biểu tình vì Trường Sa – Hoàng Sa – Vịêt Nam vào ngày 12/ 6 / 2011 vừa qua. Nhưng chủng tử của lòng yêu nước trong thời đại mới sẽ gieo mầm vào lòng người từ bây giờ, giây phút này…

Và tôi tin, chỉ một dúm người bày tỏ lòng yêu nước so với gần 90 trịêu dân nước Việt thì cũng đã bắt đầu thổi làn gió dân chủ, tự do vào cuộc sống ngột ngạt hôm nay.

Tôi tin tuổi trẻ, dù là số không nhiều, sẽ truyền năng lượng, nhiệt huyết của họ đến tư duy ù lỳ của rất đông người khác đang bị mắc căn bệnh thời đại “pakinson thể xơ cứng”. Sự thay đổi của cái mới chưa bao giờ bắt đầu từ số đông, thậm chí từ vài con người… Chỉ cần họ tìm ra một điểm tựa là có thể bẩy cả trái đất này.

Nếu có cô gái đẹp nào đã dám khỏa thân vì môi trường (hay vì gì gì đó) thì xin hãy một lần sexy lòng yêu nước để người dân được một lần ngưỡng mộ?

Xin tất cả mọi người hãy sexy lòng yêu nước và sự tử tế, còn những gì thuộc về riêng tư xin hãy kín đáo, lựa lời…

Đừng để các bạn trẻ chỉ thấy sự phồn hoa, phù phiếm mà quên đi hơi thở nặng nhọc của người dân và đời sống nghèo nàn, cực khổ của bao kiếp người đang vật lộn mưu sinh, trong đó có thể là cha mẹ họ.

Đừng để họ bị lóa mắt về tiền bạc, vật chất, đánh mất tính người mà gây tội ác.

Đừng để họ nhiễm sự ích kỉ, vụ lợi, cơ hội để tiếp bước lối sống mặc định trong xã hội: tranh đua học hành; dành giật, mua bán chức quyền; kiếm tiền bằng mọi giá; giàu sang chẳng kém ai; đừng để “giấc mơ con đè nát cuộc đời con”…

Đừng để sự giả dối thoải mái và sexy lên ngôi, thống trị đất nước này.

nguồn

——

Sexy, Sexy và Sexy… thư gửi nhà văn Thùy Linh

Thùy Linh và Hồng Ngát
Nguyễn Thị Hồng Ngát

Mình đã định (và đã viết lời khai mở blog này) rằng chỉ viết cho mình thôi không đụng chạm đến chuyện xã hội bởi… rất mệt.

Nhưng hôm nay đọc được bài viết của nhà văn Thùy Linh (TL) “Sexy tất cả trừ lòng yêu nước” trên blog của Thùy Linh (do trannhuong.com đưa lại) mình thấy rất xúc động và thấy TL nói rất thẳng, rất đúng và rất dũng cảm.

Mình đọc và xem Thùy Linh viết nhiều, bạn hiện lại là Phó GĐ TTSX phim Truyền Hình thuộc VTV, có quyền hành đưa nhiều tập KB (kịch bản) vào SX (sản suất), nhưng từ trước đến giờ hầu như mình và TL rất rất ít chào hỏi trò chuyện dù cả hai đôi khi đều có mặt trong một cuộc họp nào đó.

Ngày trước biết nhau cùng học ở Nga, mình bên VGIK, bạn bên Goorki nhưng cũng chẳng có quan hệ gì… Nói vậy để thấy sự cảm phục bạn, đồng tình với những ý kiến của bạn trong bài viết là rất khách quan. Là xúc động và cảm phục từ đáy lòng mình.

Tất cả những điều bạn nói thực sự đang tràn ngập trên mạng. Cứ vào mục xã hội sẽ thấy thật kinh khủng. Nào vợ đốt chồng, cắt của quí của chồng rồi mẹ ném con xuống giếng, rồi CA đánh cháu 11t toét cả đít, cháu phát sốt lên phải nhập viện, nào cảnh phạm tội tuổi teen bị phạt tù 12 năm, 20 năm… Cảnh trót nhỡ sinh con rồi ném bỏ con ở cửa chùa, bỏ con vào thúng vẫn còn nguyên dây rốn đem đi rao… Nhỡn tiền cảnh bé Thiện Nhân đấy, chỉ vì sự nông nổi dẫn đến vô lương tâm của người mẹ trẻ vứt con sơ sinh ở ngoài vườn để xúc vật ăn mất 1 chân và mất cả bộ phận sinh dục của bé dẫn đến cảnh mấy năm nay mẹ nuôi của bé – chị Trần Kim Anh – một phụ nữ từ bi và dũng cảm đã cùng cả xã hội gồng mình xúm vào chạy chữa cho Thiện Nhân mà cũng chỉ khôi phục cho cháu được phần nào… Những cụ già không nơi nương tựa vẫn phải nhọc nhằn mưu sinh…Mới đây thôi trên Cảnh sát toàn cầu có bài viết cũng rất xúc động và thương tâm về 3 bố con người dân tộc Mông sống nghèo khổ,cơ cực trên núi cao, cháu bé không quần áo, thằng anh 7 tuổi đã phải còng lưng cõng củi xuống núi bán lấy 10,000d mua được 2 gói mì tôm mang về nuôi cả nhà.

Người đọc đặt câu hỏi: Chính quyền nơi đây không có ư? Sao không một chút quan tâm nào đến gia đình khốn khổ đó?

Ủy ban bảo vệ thiếu niên và nhi đồng ở đâu? Họ biến đi đâu hết cả rồi? Hay thành lập ra các ủy ban này cốt để họ kiếm tí chức vinh thân phì gia để lấy cớ leo cao hơn vào những vị trí khác có bổng lộc hơn?

Cũng bao nhiêu cảnh các cô gái trẻ của chúng ta bỏ quê hương đi lấy chồng xứ người. Gặp người tốt thì ít mà đa phần toàn ông già, tâm thần , nghèo kiết ế vợ bên nước họ…Đã vậy còn bị đánh đập, giết chết…Chao ôi, các Hội phụ nữ từ xã, huyện, tỉnh đến T.Ư họ có biết? Họ đã làm được những gì để hạn chế những vấn nạn đó?

Những cảnh đời lầm than ấy nhìn và gặp nhiều lắm ở ngoài xã hội. Sao vậy? Khoảng cách giàu nghèo ngày một nhiều. Thật chua xót.

Nhưng chua xót hơn là sự VÔ CẢM của con người. Giết người – vô cảm (giết người đã kinh, còn có gan ngồi xẻ thịt, chặt từng khúc… thì sự vô cảm , nhẫn tâm còn phaỉ gọi bằng cụ!!). Lấy nhau – vô cảm (lấy là lấy, nhắm mắt nhắm mũi vào lấy, đui què mẻ sứt cũng được, chẳng quen biết gì cũng không sao!). Trước một hiện tượng tham nhũng, làm thất thoát vài chục tỷ đồng của Nhà nước- vô cảm.

Không ai được nói đến, đụng đến để giữ sự yên bình giả vờ cho các vị có chức sắc không bị ảnh hưởng đến uy tín và cái ghế. Vô cảm đến mức sợ cả những kẻ xấu, kẻ có tội vì sợ bị trả thù. Hèn đến mức đã không dám lên tiếng lên án kẻ ăn cắp, mà hèn hơn, còn dám quay lại trách người đã nhìn thấy kẻ ăn cắp và kêu toáng lên nó ăn cắp kìa!? Sao lại kêu? Kêu để làm gì? Người Việt với nhau cả, xấu chàng hổ ai? Nó ăn cắp của Nhà nước chứ có ăn cắp của anh đâu?

Những đảo lộn về đạo đức như thế có được loại vào dạng sexy 100% không hở Thùy Linh? Sexy này còn kinh sợ hơn các em trẻ đẹp lộ hàng một tí để câu móc độc giả ở trên mạng nhiều. Sexy một cách trần trụi về nhân cách, về sự thoái hóa xuống dốc cần báo động cấp số nhân!!!

Mấy ngày liền mình thấy mọi người đi biểu tình biểu thị lòng yêu nước chống TQ xâm phạm chủ quyền ở biển đông.Thấy các anh chị ấy thật dũng cảm. Các bloger đưa tin rất cập nhật. Mình nhìn thấy hình ảnh anh CA mặc thường phục cắp nách bạn trai trẻ vì đi biểu tình đưa về đồn. Trông vừa giận vừa buồn cười. Nói điều này với anh bạn bên ngành CA, anh ấy bảo các anh ấy buộc lòng phải diễn như thế vì còn ngoại giao với bạn!!! Chứ lòng vả có khác gì lòng sung!! Nói thì biết vậy! Ôi, mong sao CA không nên làm như thế với đồng bào mình thì vẫn tốt hơn.

Mình, như đã nói, nhiều lúc cũng muốn yên thân, co mình lại để chỉ làm thơ tình thôi, những bài thơ nặng về thất vọng, trách móc anh anh em em một tí cho đỡ buồn. Nhưng phải nói là bài viết của bạn đã làm mình bừng tỉnh đấy. Các bạn văn xuôi có khác, sắc bén hơn đám làm thơ nhiều. À quên, bác Nguyễn Trọng Tạo tuy làm thơ viết nhạc nhưng cũng hay có ý kiến sắc bén đấy chứ! Âu cũng là do tùy từng tạng người. Mong TL đưa những ý kiến đó vào các bộ phi TH (Truyền Hình) nhiều tập nhé. Mình cũng đang tập viết  KB (Kịch Bản) đây. He he…

24.6.2011

nguồn Nguyễn Thị Hồng Ngát-Blog.

http://danluan.org/node/9162

——-

Mình đã định (và đã viết lời khai mở blog này) rằng chỉ viết cho mình thôi không đụng chạm đến chuyện xã hội bởi… rất mệt. Nhưng hôm nay đọc được bài viết của nhà văn Thùy Linh (TL) Sexy tất cả trừ lòng yêu nước trên blog của Thùy Linh (do trannhuong.com đưa lại) mình thấy rất xúc động và thấy TL nói rất thẳng, rất đúng và rất dũng cảm. Mình đọc và xem Thùy Linh viết nhiều, bạn hiện lại là Phó GĐ TTSX phim TH thuộc VTV, có quyền hành đưa nhiều tập KB vào SX nhưng từ trước đến giờ hầu như mình và TL rất rất ít chào hỏi trò chuyện dù cả hai đôi khi đều có mặt trong một cuộc họp nào đó. Ngày trước biết nhau cùng học ở Nga, mình bên VGIK, bạn bên Goorki nhưng cũng chẳng có quan hệ gì… Nói vậy để thấy sự cảm phục bạn, đồng tình với những ý kiến của bạn trong bài viết là rất khách quan. Là xúc động và cảm phục từ đáy lòng mình.

Tất cả những điều bạn nói thực sự đang tràn ngập trên mạng. Cứ vào mục xã hội sẽ thấy thật kinh khủng. Nào vợ đốt chồng, cắt của quí của chồng rồi mẹ ném con xuống giếng, rồi CA đánh cháu 11t toét cả đít, cháu phát sốt lên phải nhập viện, nào cảnh phạm tội tuổi teen bị phạt tù 12 năm, 20 năm… Cảnh trót nhỡ sinh con rồi ném bỏ con ở cửa chùa, bỏ con vào thúng vẫn còn nguyên dây rốn đem đi rao… Nhỡn tiền cảnh bé Thiện Nhân đấy, chỉ vì sự nông nổi dẫn đến vô lương tâm của người mẹ trẻ vứt con sơ sinh ở ngoài vườn để xúc vật ăn mất 1 chân và mất cả bộ phận sinh dục của bé dẫn đến cảnh mấy năm nay mẹ nuôi của bé – chị Trần Kim Anh – một phụ nữ từ bi và dũng cảm đã cùng cả xã hội gồng mình xúm vào chạy chữa cho Thiện Nhân mà cũng chỉ khôi phục cho cháu được phần nào… Những cụ già không nơi nương tựa vẫn phải nhọc nhằn mưu sinh…Mới đây thôi trên Cảnh sát toàn cầu có bài viết cũng rất xúc động và thương tâm về 3 bố con người dân tộc Mông sống nghèo khổ,cơ cực trên núi cao, cháu bé không quần áo, thằng anh 7 tuổi đã phải còng lưng cõng củi xuống núi bán lấy 10,000d mua được 2 gói mì tôm mang về nuôi cả nhà. Người đọc đặt câu hỏi: Chính quyền nơi đây không có ư? Sao không một chút quan tâm nào đến gia đình khốn khổ đó? Ủy ban bảo vệ thiếu niên và nhi đồng ở đâu? Họ biến đi đâu hết cả rồi? Hay thành lập ra các ủy ban này cốt để họ kiếm tí chức vinh thân phì gia để lấy cớ leo cao hơn vào những vị trí khác có bổng lộc hơn? Cũng bao nhiêu cảnh các cô gái trẻ của chúng ta bỏ quê hương đi lấy chồng xứ người. Gặp người tốt thì ít mà đa phần toàn ông già, tâm thần , nghèo kiết ế vợ bên nước họ…Đã vậy còn bị đánh đập, giết chết… Chao ôi, các Hội phụ nữ từ xã, huyện, tỉnh đến T.Ư họ có biết? Họ đã làm được những gì để hạn chế những vấn nạn đó? Những cảnh đời lầm than ấy nhìn và gặp nhiều lắm ở ngoài xã hội.Sao vậy?Khoảng cách giàu nghèo ngày một nhiều. Thật chua xót. Nhưng chua xót hơn là sự VÔ CẢM của con người. Giết người – vô cảm (giết người đã kinh, còn có gan ngồi xẻ thịt, chặt từng khúc… thì sự vô cảm , nhẫn tâm còn phaỉ gọi bằng cụ!!).Lấy nhau – vô cảm (lấy là lấy, nhắm mắt nhắm mũi vào lấy, đui què mẻ sứt cũng được, chẳng quen biết gì cũng không sao!). Trước một hiện tượng tham nhũng, làm thất thoát vài chục tỷ đồng của Nhà nước- vô cảm. Không ai được nói đến, đụng đến để giữ sự yên bình giả vờ cho các vị có chức sắc không bị ảnh hưởng đến uy tín và cái ghế.Vô cảm đến mức sợ cả những kẻ xấu, kẻ có tội vì sợ bị trả thù. Hèn đến mức đã không dám lên tiếng lên án kẻ ăn cắp, mà hèn hơn, còn dám quay lại trách người đã nhìn thấy kẻ ăn cắp và kêu toáng lên nó ăn cắp kìa!? Sao lại kêu? Kêu để làm gì? Người Việt với nhau cả, xấu chàng hổ ai? Nó ăn cắp của Nhà nước chứ có ăn cắp của anh đâu? Những đảo lộn về đạo đức như thế có được loại vào dạng sexy 100% không hở Thùy Linh? Sexy này còn kinh sợ hơn các em trẻ đẹp lộ hàng một tí để câu móc độc giả ở trên mạng nhiều. Sexy một cách trần trụi về nhân cách, về sự thoái hóa xuống dốc cần báo động cấp số nhân!!!

Mấy ngày liền mình thấy mọi người đi biểu tình biểu thị lòng yêu nước chống TQ xâm phạm chủ quyền ở biển đông.Thấy các anh chị ấy thật dũng cảm. Các bloger đưa tin rất cập nhật. Mình nhìn thấy hình ảnh anh CA mặc thường phục cắp nách bạn trai trẻ vì đi biểu tình đưa về đồn. Trông vừa giận vừa buồn cười. Nói điều này với anh bạn bên ngành CA, anh ấy bảo các anh ấy buộc lòng phải diễn như thế vì còn ngoại giao với bạn!!! Chứ lòng vả có khác gì lòng sung!! Nói thì biết vậy! Ôi, mong sao CA không nên làm như thế với đồng bào mình thì vẫn tốt hơn.

Mình, như đã nói, nhiều lúc cũng muốn yên thân, co mình lại để chỉ làm thơ tình thôi, những bài thơ nặng về thất vọng, trách móc anh anh em em một tí cho đỡ buồn. Nhưng phải nói là bài viết của bạn đã làm mình bừng tỉnh đấy. Các bạn văn xuôi có khác, sắc bén hơn đám làm thơ nhiều. À quên, bác Nguyễn Trọng Tạo tuy làm thơ viết nhạc nhưng cũng hay có ý kiến sắc bén đấy chứ! Âu cũng là do tùy từng tạng người. Mong TL đưa những ý kiến đó vào các bộ phim TH nhiều tập nhé. Mình cũng đang tập viết KB đây. He he…

24.6.2011

———-

Chúng ta có quyền hy vọng họ viết thế và sẽ làm đúng như thế trong một tương lai vài tháng, vài năm sắp tới đây, vì họ là những người rất được tin dùng của đảng và họ có nhiều quyền lực, có khả năng mang lại nguồn gió mới. Nhưng, nếu hai bài viết nói trên của họ chỉ là do một chút bốc đồng hay được chỉ đạo, rồi sau đó họ lại  tiếp tục đường lối cũ như đã làm bao nhiêu năm qua…thì đọc bài viết dưới đây  ta cũng không quá thất vọng…Dẫu sao chúng ta cũng nên có cái nhìn khác về các nhân vật nữ nói trên.

Mối tương quan mất dạy

Blogger Đinh Tấn Lực
23/10/2009

Adolf Hitler không thực sự để lại cho đời một gương sáng nhân bản nào, nhưng vẫn truyền thừa đó đây một vài câu nói bất hủ, lắm khi còn đúng cho cả nửa thế kỷ sau, ở một xứ sở xa lơ xa lắc: “Thật may phước cho nhà cầm quyền nào có đám nhân dân không biết suy nghĩ!”.

Chó Dại Có Mùa

Bà Nguyễn Thị Hồng Ngát phát biểu “Con cái không chê cha mẹ khó…”

Nguyễn Thị Hồng Ngát, nhà thơ, nhà biên kịch, nguyên là lãnh đạo quản lý ngành điện ảnh VN, Giám đốc HondaFilm, tác giả tứ thơ Trái Mùa “Cây đổ lâu rồi, gió vẫn reo”, tác giả kịch bản phim truyện Canh Bạc…, trong một cuộc phỏng vấn của phóng viên Evan Williams đài truyền hình ABC bên Úc (lúc đó Hồng Ngát còn đương chức Cục phó Cục Điện ảnh VN), đã nêu bật một quan niệm chính quy về tương quan dân-đảng là: “Con cái không chê cha mẹ khó…” (cho nên không được hỗn hào phản biện?!).

Trương Ngọc Ninh, nhạc sĩ, tác giả Lời Ru Chia Đôi và Biển Khát, Phó Giám đốc sở VH-TT Hà Nội, vẫn thường xuyên lặp lại trong các hội nghị về văn hóa câu châm ngôn hải đăng của Bộ VH-TT (tiền thân của TT-TT): “Con không chê cha mẹ khó, chó không chê chủ nghèo!”.

Tôn Nữ Thị Ninh, nguyên Đại sứ Đặc mệnh Toàn quyền của VN tại Liên hiệp Châu Âu (EU), Phó Chủ tịch Ủy ban Đối ngoại của Quốc hội Ba Đình, Ủy viên TƯ Hội Liên hiệp Phụ nữ VN, đã từng tuyên bố trong buổi họp báo tại Câu lạc bộ Báo chí Quốc gia Hoa Kỳ hồi tháng 10 năm 2004, khi bị chất vấn về tình trạng vi phạm nhân quyền ở VN, rằng: ”Trong gia đình chúng tôi có những đứa con, cháu hỗn láo, bướng bỉnh thì để chúng tôi đóng cửa lại trừng trị chúng nó, dĩ nhiên là trừng trị theo cách của chúng tôi. Các anh hàng xóm đừng có mà gõ cửa đòi xen vào chuyện riêng của gia đình chúng tôi”.

Nghiện Nhai Giẻ Rách

Bà Tôn Nữ Thị Ninh

Adolf Hitler không được mấy ai đánh giá là người tốt, nhưng riêng trong phạm trù độc tài toàn trị, thì phải nhìn nhận rằng đó là một tay “quen chăn nhẵn rận”. Không chỉ tay ngang, mà còn tay tổ nữa là khác. Cứ đọc lại 3 lời tuyên bố điển hình vừa kể, ắt thấy nhà cầm quyền CHXHCNVN quả là may phước cấp 3: Đám thiểu trí, thiểu năng, lẫn cả thiểu nhân cách, đã/đang/và sẽ còn loi nhoi lúc nhúc ngay ở các cấp lãnh đạo.

Immanuel Kant từng bảo: “Vị thành niên là tình trạng không có khả năng vận dụng trí tuệ của chính mình mà không cần sự chỉ đạo của người khác”. Điều này không thể ứng dụng ở đây. Bởi cả ba tác giả những tuyên bố kể trên hẳn đều là những kẻ từng trải, từng kinh qua, và ắt là phải từng nhập vai “con” đến mức xuất thần, trước khi trịnh trọng khoác chiếc áo lãnh đạo để truyền bá cái ý niệm/định hướng/kết luận/chính sách/mô hình về tương quan chính trị hai chiều giữa đảng và dân, cũng ở mức xuất thần, như vừa dẫn.

Chiều thứ nhất, Cha – Con, là chiều quan điểm/ứng xử khép nép từ phía nhân dân mà chính quyền mong đợi. Nguyên tắc cốt lõi là nhân dân lo sợ nhà nước trừng trị.

Chiều thứ hai, Chủ – Chó, là chiều quan điểm/ứng xử trịch thượng của lãnh đạo (sau khi một bộ phận nhân dân nào đó đã giành/nắm/cướp được chính quyền) đối với đại khối nhân dân còn lại. Cũng là tiền đề của một thể chế gia trưởng chắc bắp: nhà nước có toàn quyền trừng trị nhân dân.

“Trừng trị theo cách của chúng tôi”, ở đây và xưa giờ, bao gồm từ các cách xử lý cá thể lên đến tầm chiến dịch tập thể lớn nhỏ đủ mọi kích cỡ: Bỏ bao bố nhận nước. Mời “đi họp” vĩnh viễn không về. Cuốc chim. Mã tấu. AK47. Đội ám sát. Lưỡi cày Cải cách Ruộng đất. Lưỡi hái Nhân Văn-Giai Phẩm. Lưỡi lê Xét Lại. K54. Thanh trừng. Tuyệt diệt “tư sản mại bản”. Lao cải. Treo bút. Rút thẻ. Tù cải tạo. Đói. Rét. Sốt rét. Đày kinh tế mới. Chèn xe. Ép xuồng. Trộm bản thảo. Dọa tông lật xe giữa đèo. Khai trừ. Bịt miệng linh mục. Xịt hơi cay vào giáo dân. Khám nhà. Còng thép. Cùm mồm. Ném phân. Bắt nguội. Bắt khẩn cấp. Lệnh triệu tập. Quản chế. Tịch thu máy vi tính. Cắt điện thoại. Cắt đường truyền nhập mạng. Phá sập nhà nguyện. Cởi truồng bóp dế mục sư. Bao vây kinh tế gia đình. Án “tuyên truyền chống nhà nước”. Tội “lội dòng nước ngược”. Tội viết blog “xuyên tạc, nói xấu lãnh đạo”. Án đập tường, “phá hoại tài sản”. Án thiếu thuế. Dọa đâm kim tiêm HIV. Án tuần hành cầu nguyện “gây rối trật tự”. Tội tụ tập trước đại sứ quán “lạ”. Cưỡng hành. Trục xuất. Tội “ném đá gây thương tích”. Tội đòi đất. Tội kêu oan. Cô lập. Khủng bố thân nhân/gia đình. Huy động xã hội đen hành hung. Đặt hàng bài viết mạ lị. Nghị định 31CP. Chỉ thị 37Ttg. Pháp lệnh Tôn giáo. Điều luật 88. Quyết định 97. Tội “phát biểu thiếu tinh thần xây dựng”. Tội yêu nước…

Còn “đóng cửa lại trừng trị chúng nó”, bao gồm các lập luận cà lăm cà lặp lắm lần là “chuyện nội bộ của VN”. Nhưng cụ thể và chính yếu là các biện pháp cấm cửa phóng viên nước ngoài; từ chối cấp visa; hủy bỏ ngay tại sân bay hiệu lực visa đã lỡ cấp; dựng ngựa sắt, bảng cấm chụp ảnh, và khóa trái bên ngoài cổng rào/cửa cái tư gia các nhân vật đấu tranh dân chủ hóa mà ký giả nước ngoài có thể tìm gặp; lệnh cho người phát ngôn ngoại giao chối tất mọi câu hỏi về việc vi phạm nhân quyền; thậm chí, đập máy ảnh vào gáy phóng viên nước ngoài lọ mọ đi săn ảnh nhà nước đàn áp giáo dân…

Hãy nghiệm thử: “những đứa con, cháu hỗn láo, bướng bỉnh” mà Tôn Nữ Thị Ninh (và cả đảng đang tự coi là cha chú) bảo cần phải đóng cửa trừng trị theo cách riêng đó là những ai? Người hỏi là các nhà báo, các tổ chức quan trắc nhân quyền quốc tế hoặc hiệp hội ký giả không biên giới… Câu hỏi bộc lộ sự quan tâm sâu sắc đến tình trạng vi phạm nhân quyền ở VN. Vậy thì, câu trả lời của phái đoàn công cử đi Mỹ “giải độc” ắt hẳn là phải nhắm tới những người đang bị trù dập trong nước (mà dư luận thế giới quan tâm), cả trong tù nhỏ lẫn tù lớn, tức là bao gồm gần hết cả nhân dân ngoài đảng, kể cả cha mẹ ông bà chú bác cô dì cậu mợ của đảng viên. Tất cả đều là con cháu của đảng, và từng được phân loại hỗn láo, bướng bỉnh… dựa trên độ mở miệng hay lý phản biện.

Giàu Chó – Khó Con

Phải chăng tương quan Cha-Con/Chủ-Chó đó chính là lý do mà các phần tử đảng tha hóa/cường hào/nhũng lạm đến mức không thể bao che nữa thì tất yếu bị khai trừ, hạ tầng từ cấp cha chú xuống hàng con cháu, hoặc con chó, và trả về cho nhân dân?

Phải chăng tương quan Cha-Con/Chủ-Chó đó cũng là nền tảng của nguyên tắc/quy luật Xin-Cho truyền thống, ngay trong cơ chế đảng và nhà nước CHXHCNVN, và đương nhiên được áp dụng tăng cấp lũy thừa mọi kiểu nhũng nhiễu/cửa quyền khi ra đến dân?

Phải chăng tương quan Cha-Con/Chủ-Chó đó cũng chính là động lực chủ yếu xây dựng nên thể chế gia trưởng, giữa thủ trưởng với thuộc cấp/gia nô trong mọi cơ quan, lan ra ngoài thành phong cách “phụ mẫu chi dân” giữa đảng viên/cán bộ/công chức với nhân dân?

Phạm Quang Nghị, Tiến sĩ, Bí thư Thành uỷ Hà Nội, Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Bộ trưởng VH-TT, tay đạo văn bài “Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên – Định hướng bảo tồn và phát huy”, đã từng đứng trên ý niệm nền móng của tương quan Cha-Con/Chủ-Chó đó mà phán một kết luận về trận mưa/lụt lịch sử ở Hà Nội rằng: “Nhân dân ta bây giờ so với ngày xưa ỷ lại Nhà nước lắm”.

Nguyễn Thế Thảo, Thạc sĩ kinh tế, Kiến trúc sư, Chủ tịch UBND Hà Nội, Ủy viên TƯ đảng, đang bức xúc về tính vô hiệu của Pháp lệnh Thủ đô, và đang tự phấn đấu tại chức trước đề nghị nâng cấp quy hoạch quan chức Hà Nội lên mức 100% tiến sĩ, cũng từng dựa vào tương quan Cha-Con/Chủ-Chó đó mà hăng tiết đập bàn đòi thuyên chuyển Đức Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt ra khỏi tòa Tổng Giám Mục Hà Nội hồi năm ngoái.

Cũng chính cái tương quan Cha-Con/Chủ-Chó đó mà giới lãnh đạo CHXHCNVN quen thói trịch thượng/xấc xược/vô phép/vô tắc/vô nghì/vô trách nhiệm trong mọi tiếp cận. Điển hình xưa là một Ủy viên Bộ chính trị từng vỗ ngực: “Luật là Tao”. Điển hình gần là Đoàn Văn Kiển, Chủ tịch HĐQT Tập đoàn Than-Khoáng sản Việt Nam, và Nguyễn Xuân Hiển, TGĐ Vietnam Airlines… Điển hình gần nữa là: Nguyễn Tấn Dũng, Thủ tướng, nổi tiếng ba miền về một nhà thờ họ hoành tráng, tác giả một cụm từ giản đơn nhưng trị giá 150 triệu đô là “Chủ Trương Lớn”, tác giả bản kết luận về việc triển khai thực hiện Quyết định 97 và xử lý việc tự giải thể của Viện nghiên cứu phát triển (IDS).

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng

Ngay cả một tay lướt/kiểm mạng, dù không hiển thị chức tước/hàm vị trên Net, chỉ ghi nick là nguyen huy tuong, cũng gắng sức chứng tỏ bản chất trung thành với giẻ rách trong một câu còm về bài viết của người khác: “Cha Ông ta có câu : Con không chê cha mẹ khó, Chó không chê chủ nghèo. Nếu ai đó hoàn cảnh nhà nghèo, có đứa con trai quý tử chạy sang nhà hàng xóm nói rằng : ‘Tôi rất nhục nhã khi là con trai ông bà ấy’ thì họ sẽ nghĩ sao? và hàng xóm sẽ nghĩ sao?. Và con chó đang tự nhiên quay lại sủa vào mặt chủ thì số phận con chó ấy sẽ như thế nào chắc mọi người đều có thể đoán ra…!”.

Chó Đá Vẫy Đuôi

Không ai rõ anh hàng xóm của gia đình cậu quý tử đó phản ứng ra sao. Người ta chỉ có thể, nhân chuyện “con chó đang tự nhiên quay lại sủa vào mặt chủ”, mà liên tưởng ngay đến một anh hàng xóm lựa khựa to xác từng tận tâm tận lực dạy cho VN một bài học Giáo Trừng, với biết bao “Chiến Hữu Trùng Phùng” trong lửa đạn, đã chớp nhoáng san bằng 6 tỉnh biên giới của ta chỉ vỏn vẹn trong vòng 1 tháng để chuẩn bị di dời cột mốc. Bấy giờ, những tiếng gầm gừ của ta càng vang dội, đến nay vẫn còn âm vọng như những tiếng rên.

Mãi hơn chục năm sau, sau khi Quốc Tế III tan rã, giới lãnh đạo anh hùng và thần thánh không thua gì Lê Văn Tám của ta… bỗng dưng muốn khóc, vì chỉ trong nháy mắt mà mất hết kinh viện lẫn quân viện từ Mát-xcơ-va, cũng không còn một điểm chống lưng nào cho ra hồn, mới lật đật điều chỉnh các sách giáo khoa sử địa, rồi đàn đúm nhau qua Bắc Kinh khấu kiến, bái lãnh một hơi 16 chữ vàng, tăng cường phụ trội thêm cả 4 chữ tốt.

Hóa ra, cái mối tương quan Cha-Con/Chủ-Chó đó không chỉ giới hạn ở tầm đảng-dân trong nước, mà còn vượt cả biên cương, vươn ra biển rộng, như một ngọn hải đăng tư tưởng chỉ đạo đối ngoại có ảnh hưởng sâu sắc và sinh tử đến vận mệnh cả đảng.

Lại có người nghĩ ngược. Chính cái tâm thức Cha-Con/Chủ-Chó có sẵn trong lòng lãnh đạo (theo dòng sự kiện) từ đận nhập cảng chủ nghĩa, rập đúng quy luật mà dân Tây vẫn gọi là “đứa nào trả tiền, kẻ đó chỉ huy”, cộng thêm một mớ “Khổng trộn Lão” (chư hầu lệ thuộc vương triều/thần dân lệ thuộc vua quan/nhân viên lệ thuộc thủ trưởng…) nhặt nhạnh trên đường về, nó mới biến tướng/quay ngược/cô đọng/kết tủa lại một cách sáng tạo và đậm đà màu sắc dân tộc thành bản đề cương vắn tắt về mối tương quan Cha-Con/Chủ-Chó cực kỳ tiện dụng cho một nền chính trị “chăm lo – tuân phục” vô cùng cần thiết cho quy trình thống trị trong nước.

Không tin ư? Cứ đọc lướt một vài chương đầu của bộ lô-can toàn tập (do Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia ấn hành năm 2000), tất rõ cái tâm thức đội trên đạp dưới đó rời Bến Nhà Rồng khi nào và bằng cách nào.

Vẫn chưa tin ư? Xin chịu khó đọc thêm quyển tự truyện duy nhất và để đời của tác giả Trần Dân Tiên (xuất bản lần đầu năm 1948 tại TQ, lần gần nhất vào tháng 4 năm 2005 bởi nhà xuất bản Trẻ, kích thước: 14×20 cm, trọng lượng: 170 gram, số trang: 159 trang, giá bán 18.500 đồng/cuốn), nhớ đặc biệt chú ý các trang 56, viết về mẫu quốc, và trang 113-114, viết về bối cảnh của một bài diễn văn lịch sử. Hoặc đọc thêm đoạn giữa Phần Năm của một quyển sách mỏng phiếm bình quyển tự truyện vừa nói, khắc biết.

Hệ quả ra sao? Chí ít đã có 7 sách lược được đề ra (nhưng không nhất thiết là… thất sách):

Một là: Cụm từ “con dân”, lẽ ra phải tương ứng với “tổ quốc” hay “đất nước”, thì đã bị bóp méo đi cho đúng theo định hướng cần thiết là phải tương ứng với “lãnh tụ” (cá nhân), với “lãnh đạo” (nhóm cá nhân), hoặc là với “đảng và nhà nước” (tập thể).

Hai là: Nhân dân không được chọn chính quyền/nhà nước, theo đúng quy luật vĩnh hằng của tạo hóa là không một con cái nào được quyền chọn cha mẹ, cũng không một chú chó nào có quyền được chọn chủ nhà.

Ba là: Chính quyền không có chức năng phục vụ nhân dân, nên chẳng có trách nhiệm gì. Ngược lại, nhân dân có đầy đủ nghĩa vụ phải tuân thủ chính quyền vô điều kiện, nếu không muốn bị trừng trị. Bởi vì: Nòng súng đẻ ra quyền lực, còn chính quyền thì đẻ ra nhân dân. Không có chính quyền XHCN này thì không thể có nhân dân XHCN này!

Bốn là: Yêu nước là yêu CNXH, tất yếu là phải yêu luôn cả tập đoàn có công lao thần thánh nhập khẩu CNXH. Muốn yên thân, hãy yên chí và yên lặng mà yêu tất. Cấm cãi! Đồng chí sống sót của những liệt sĩ thời chiến, cho dù có trở thành các kẻ cướp thời bình, vẫn còn nguyên đó mọi hào quang xương máu của đám đông đồng đội liệt sĩ. Phải yêu họ. Kể cả bố mẹ liệt sĩ cũng phải yêu họ. Cấm cãi!

Năm là: Phải bảo vệ đảng và nhà nước XHCN như bảo vệ con ngươi của chính mình/cha mẹ mình (luận văn tốt nghiệp, đề tài học tập các cấp, trên mặt báo, trên truyện tranh, trên loa phường, trên truyền hình…).

Sáu là: Bất kỳ ai đòi có ý kiến, đòi quyền kiến nghị, đòi minh oan, đòi nhà, đòi đất, đòi trường sở, đòi chỗ tu hành, đòi nơi thờ phượng, thậm chí đòi làm người… đều đương nhiên và đích thị là thuộc thành phần con, cháu hỗn láo, bướng bỉnh. John Stuart Mill từng bảo “sự tệ hại của việc dìm nhốt một ý kiến chính là sự đánh cắp đối với loài người và với nhiều thế hệ…”. Đảng ta từng tự hào đã cướp chính quyền, thì sá gì tiếng ăn cắp?

Bảy là: Như Voltaire từng nói: “Con người, càng hiểu biết thì càng tự do”, cho nên, đối sách với trí thức tất yếu có khác với thành phần công nông vốn dĩ ít chịu suy nghĩ sâu xa. Tuy nhiên, vẫn phải khẩn cấp xử lý thích hợp/thích đáng/thích nghi đối với mọi trí thức “lợi dụng chức năng phản biện” và có những phát biểu ngoài lề/ngoài luồng/thiếu tinh thần xây dựng/hỗn láo/bướng bỉnh, bất kể là ở Viện nào, bất kể là đã bị giải thể hay tự giải thể.

Đầu Dê – Móng Chó

“Lấy theo ý riêng của một người hay là của một triều đình mà trị nước, thì cái nước ấy không khác nào một đàn dê, được no ấm vui vẻ hay là phải đói rét khổ sở chỉ tùy theo lòng của kẻ chăn”. Cụ Phan Chu Trinh, từ thế kỷ trước, đã từng tiên liệu/mường tượng/hình dung ra một VN đổi mới như thế.

Nay, vẫn Tôn Nữ Thị Ninh, trong một dịp hỏi-đáp khác, đã trần tình: “Điều mà chúng tôi biết, chúng tôi đang tìm một nền kinh tế thị trường với bộ mặt nhân bản, chú tâm đến chuyện công bằng xã hội, văn hóa và phát triển về mặt nhân văn… Còn chuyện khi nào chúng tôi mới tìm đến đó được, tôi cũng không rõ”.

Chẳng phải chỉ mình người trần tình không rõ. Cả cái đang tìm mặt mũi ra sao còn chưa biết, giống như loại thuốc tiên trường sinh bất lão mà các đạo sĩ Tàu mãi miết đi tìm hàng nghìn năm qua chưa thấy, thì sao lại hỏi khó nhau là chừng nào tìm ra? Đã bao lần đại hội ngũ niên rồi mà các TBT lẫn ủy viên các thứ của đảng ta vẫn còn vò đầu bứt tai thì sá gì Thị Ninh với chả Thị Nở!

Cụ Tây Hồ lỡ mà sống lại, có thắc mắc “bao giờ cho đến tháng Mười”, thì cũng sẽ bị khẩn cấp xử lý thích hợp/thích đáng/thích nghi, và lắm khi là thích thú nữa, y hệt như tình hình các trí thức thuộc đẳng cấp cây đa cây đề cả nước trong cái think-tank IDS vừa Tự Giải Thể và sắp sửa chuyển sang chế độ chính thức và chính xác Bị Giải Thể, căn cứ theo kết luận triển khai QĐ97 vừa mới đưa vào sử dụng.

Lý do?

1. Nhân dân không có quyền đặt câu hỏi về đường đi, điểm đến hay bao giờ đến. Nhân dân Liên Xô và Đông Âu cũ có bao giờ đặt những nghi vấn hoàn toàn thiếu tinh thần xây dựng thế đâu?

2. Think-tank các loại, dù ở cấp chiến lược cũng vậy, cũng chỉ được nghiên cứu trong lề, theo đúng những quy hoạch ưu việt của trên, và thể hiện rõ tính minh họa, sao cho có tiềm năng đẻ ra/chiêu dụ/khuyến mãi/thu hút các đề án nhiều tỷ USD, chứ không phải là để thực thi/lạm dụng/vượt ngưỡng quyền phản biện để làm rõ hay nêu cảnh báo mọi điểm ưu/khuyết/đúng/sai/lợi/hại của đường đi/điểm đến/khi nào đến. Nguyên tắc cốt lõi của mọi nghiên cứu là phải đề cao ưu tiên ổn định chính trị lên trên các tiêu chí khác. Phản biện cần ký duyệt là bởi thế! Còn ngoài ra, đất nước có đi thụt lùi, hay mọi thiệt hại đường dài chỉ là những thách thức đen của các thế hệ sau này, không liên can gì đến các nghị quyết đậm tính thời cơ vàng hôm nay.

3. Mọi phản biện lớn/nhỏ/trắng/xám/đen/vàng/đỏ… đều phải được đảm bảo trọng thị sự an toàn của tiến trình “công bố công khai”, tức là, trước khi qua khâu xét duyệt, không một ai được dựa trên sự thật cùng kết quả nghiêm chỉnh mà tùy tiện tuyên bố ngang ngược/ngang ngửa/ngang dọc/ngang nhiên/ngang phè/ngang bướng/ngang tàng/ngang ngạnh… Quan trọng nhất là phải đảm bảo cho chúng nằm gọn trong khuôn khổ đạo đức cách mạng. Nguyên tắc cốt lõi của đạo đức XHCN là không được phạm húy/phạm thượng/phạm giới. Đặc biệt là không được làm hoen ố/nhòe nhoẹt/vấy bẩn/rạc rài 16 chữ vàng và 4 chữ tốt trời ban.

4. Không có bất kỳ một Viện nghiên cứu nào, hay bất kỳ một cá nhân ở trong hay ở ngoài bất kỳ Viện nghiên cứu nào, có quyền/có thể công khai/kê khai/phân tích/vạch trần/phê phán/phơi bày/thách đố mọi đặc tính vi hiến/vi luật/sỉ nhục quốc thể đối với mọi văn bản của bộ chính trị, TƯĐ, ban bí thư, ban tuyên giáo, các ban ngành khác của đảng, chính phủ, văn phòng chính phủ, các bộ hay các cấp dưới bộ, không loại trừ nội dung các trang mạng của đảng hay của các bộ, nhất là bộ Công Thương. Kể cả việc chỉ trích những lỗi nặng/nhẹ các cỡ của các “cậu đánh máy”, “cậu chỉnh hình”, hay các “cậu pốt bài”.

5. Không một cá nhân/tổ chức/đoàn thể/câu lạc bộ/hiệp hội/hội/nhóm/viện nào có quyền đặt lãnh đạo đảng/chính phủ/mặt trận/đoàn/ủy ban/hội đồng… vào tình trạng đuối lý/mất mặt/sỉ diện/nhục nhã… bằng những phản biện/ý kiến/tranh luận/phát biểu bất kể là đủ hay thiếu tinh thần xây dựng. Lại càng không thể tự ý/tự tiện cướp/đoạt/giành/chiếm/xóa mất cơ hội trừng trị của lãnh đạo đảng/chính phủ/mặt trận/đoàn/ủy ban/hội đồng… bằng cách tự giải thể.

6. Không một tổ chức/đoàn thể/câu lạc bộ/hiệp hội/hội/nhóm/viện nào, kể cả trong hay ngoài quốc doanh, kể cả nội vi hay ngoại vi, có quyền tự giải thể/giải tán/giải nhiệm. Bởi trong chính thể bao cấp/bao biện/bao che của CHXHCN, hành động tự giải thể/giải tán/giải nhiệm đó đích thực và dứt khoát là một sự sỉ nhục toàn diện/toàn thời/toàn phương vị cho toàn đảng từng được lịch sử giao phó sứ mệnh lãnh đạo toàn quân/toàn dân với niềm tự hào là quang vinh muôn năm.

7. Mọi cá nhân/tổ chức/đoàn thể/câu lạc bộ/hiệp hội/hội/nhóm/viện đều phải nhất thiết quán triệt, hãnh diện và nhiệt liệt hoan hô nền “dân chủ độc đảng” ưu việt của ta. Qua đó, đảng ưu việt quang vinh muôn năm của ta đã/đang/sẽ cáng đáng toàn bộ hoạt động chìm/nổi mọi ban ngành ưu việt về lập pháp, hành pháp và tư pháp một cách có hệ thống, có liên hệ hữu cơ và thống nhất xuyên suốt. Có nghĩa là không một ai có quyền đặt vấn đề về những hệ thống độc lập, kể cả một hệ thống pháp luật độc lập hay những Viện Nghiên Cứu độc lập.

Xuống Chó – Lên Voi

Rõ ràng, các thứ Nghị định 31CP, Chỉ thị 37Ttg, Pháp lệnh Tôn giáo, Điều luật 88, Quyết định 97… đều tự thân là những bước thụt lùi tụt hậu của đất nước và con người VN, nhưng lại cực kỳ cần thiết cho sự ổn định của một chính thể độc tài toàn trị như chế độ CHXHCNVN.

Nó càng cần thiết hơn bao giờ hết trong thời đại liên mạng toàn cầu ngày nay. Bởi qua đó, lượng thông tin thời đại tràn như lũ, nhanh như chớp, đã giúp mọi người cùng rõ từ đâu nãy nòi cái mối tương quan mất dạy Cha-Con/Chủ-Chó đó.

Người ta hiểu do đâu nó được kéo dài, tất nhiên, sẽ nắm bắt ngay vì sao nó cần được chấm dứt. Nếu muốn đất nước VN cất cánh và con người VN thăng hoa.

Và người ta mừng là nó được xóa bỏ, chính thức và chính xác kể từ ngày Hội Đồng Viện Nghiên Cứu Chiến Lược IDS tuyên bố giải thể.

Người ta mừng là nó còn xóa cả cái dấu chấm hết mà đảng và nước đã từng ưu ái cài tặng vào nhân cách của người VN, thông qua việc tiếp thu thụ động cái mối tương quan mất dạy Cha-Con/Chủ-Chó đó trong nhiều thập kỷ qua.

Người ta mừng là bởi biết rằng từ nay phải chủ động xóa sạch cái mối tương quan mất dạy Cha-Con/Chủ-Chó đó còn sót lại trong mọi sinh hoạt đời thường hàng ngày, kể cả trên truyện phiếm hay trong chuyện diễu.

John Gardner từng bảo: “Chính những người Công Dân phải đưa thể chế chính trị và bộ máy Chính Quyền lại gần với thực tại cuộc sống, buộc nó có trách nhiệm và phải chịu trách nhiệm, đồng thời giữ cho nó trung thực. Không ai khác có thể làm được điều này”.

Những Công Dân của IDS cũ đã đi được bước đầu của những chuyển đổi, để khởi động cho cả nước cùng nhau làm được điều này.

Có thể không có nhiều người nhớ đến ngày hội tụ khai trương IDS. Nhưng 14/9/2009, với quyết định của IDS tự giải thể, để biểu thị thái độ dứt khoát của Hội Đồng Viện trước QĐ 97, quả xứng đáng được tuyên dương là Ngày lịch sử minh định mối tương quan Công Dân-Chính Quyền.

23/10/2009 – chuẩn bị 1 tuần tạc bia mừng sinh nhật kép 30-10 của cả Hồng Ngát lẫn Thị Ninh.

Blogger Đinh Tấn Lực

Posted in Chinh Tri Xa Hoi | Leave a Comment »

Việt Nam đang lo lắng vì: Cam Bốt và Trung Quốc muốn tăng cường hợp tác quốc phòng

Posted by hoangtran204 trên 23/06/2011

Thứ tư 22 Tháng Sáu 2011

Trong bối cảnh căng thẳng trên Biển Đông đang có chiều hướng gia tăng. Ngày hôm qua, Bộ trưởng Quốc phòng Cam Bốt, Tea Banh đã có chuyến thăm Trung Quốc kéo dài một tuần. Trong khi đó, đảng đối lập Samrainsy ra thông cáo tỏ rõ thái độ ủng hộ Trung Quốc trong các tranh chấp tại Biển Đông.

Tại Bắc Kinh, ông Tea Banh đã được nhân vật số 2 của chính quyền Trung Quốc tiếp và đề nghị đưa hợp tác quân sự lên tầm cao hơn so với hiện nay. Còn trước việc đảng Samrainsy ủng hộ Trung Quốc trene hồ sơ Biển Đông, dư luận báo chí và chính giới đã phản ứng mạnh mẽ với lập trường của đảng này. Nhiều dấu hiệu cho thấy Trung Quốc đang muốn kéo Cam Bốt xích lại gần hơn trong quan hệ quân sự. Thông tín viên Phạm Phan từ Phnom Penh tường trình.

Bộ Trưởng Quốc Phòng Cam Bốt viếng thăm Bắc Kinh và bày tỏ ước muốn được hợp tắc chặt chẽ với Trung Quốc trong lúc đang nổi lên tranh chấp chủ quyền tại vùng Biển Đông, đặc biệt giữa Việt Nam và Trung Quốc…
Hôm qua, Phó Thủ Tướng kiêm Bộ Trưởng Quốc Tea Banh đã rời Phnom Penh bay đi Bắc Kinh thực hiện chuyến viếng thăm không chính thức kéo dài một tuần.

Trong buổi tiếp xúc, Phó Chủ Tịch Nước kiêm Phó Chủ Tịch Quân Ủy Trung Ương Tập Cận Bình tán dương mối quan hệ thân hữu truyền thống giữa Trung Quốc –Cam Bốt, đồng thời họ Tập cũng nhấn mạnh đến sự hợp tác chiến lược toàn diện giữa hai quốc gia nên được nâng cao hơn nữa.

Chính quyền Trung Quốc đánh giá cao mối quan hệ hiện thời với Phnom Penh và tỏ ý sẳn sàng giúp Cam Bốt ổn định kinh tế và phát triển thịnh vượng. Trung Quốc nói họ là một láng giềng tốt và sẽ ủng hộ hết lòng để Cam Bốt duy trì sự đoàn kết trong nước.

Một chi tiết quan trọng trong buổi tiếp ông Tea Banh là ý kiến phát triển sự hợp tác quân sự do ông Tập Cận Bình đưa ra. Theo ông Tập Cận Bình, Trung Quốc và Cam Bốt nên đưa sự hợp tác quân sự lên một mức mới cao hơn so với hiện nay. Họ Tập cho rằng đây là một sự hợp tác quan trọng.

Đáp lại, Bộ Trưởng Tea Banh tán thưởng sự hỗ trợ kinh tế và quân sự từ lâu của Trung Quốc cho Cam Bốt và hứa hẹn rằng quân đội Cam Bốt sẽ tiếp tục hợp tác với Trung Quốc trong nhiều lĩnh vực. Ngoài việc gặp mặt nhân vật cao cấp hàng thứ nhì của chế độ Bắc Kinh, ông Tea Banh còn tiếp xúc với ông Lương Quang Liệt, Bộ Trưởng Quốc Phòng Trung Quốc.

Trong một diễn văn cách đây không lâu, Thủ Tướng Hun Sen than thở là Trung Quốc và Việt Nam, hai người bạn thân của Phnom Penh đã không nhiệt tình giúp đỡ khi Cam Bốt có chuyện tranh chấp lãnh thổ với Thái Lan, bởi vì hai nước này đã có mối quan hệ hợp tác kinh tế với Thái. Chuyến đi của ông Tea Banh được tiến hành vào lúc mà Đảng Samrainsy vừa đưa ra thông báo ủng hộ Trung Quốc trong vấn đề Biển Đông. Một thông báo gây lúng túng cho đảng cầm quyền ở Cam Bốt.

Đảng Samraisy ủng hộ quan điểm của Trung Quốc về Biển Đông

Trong thông báo đưa lên website Đảng Samrainsy ngày 17/6/, đảng đối lập lớn nhất tại Cam Bốt có quan điểm từ lâu chống độc tài toàn trị, đã thẳng thắn bày tỏ quan điểm ủng hộ Trung Quốc trong vấn đề Biển Đông. Ngay từ tiêu đề, Đảng Samrainsy viết: “Cam Bốt ủng hộ Trung Quốc bảo vệ chủ quyền trên vùng Biển Hoa Nam.”

Thông báo ghi rằng: “26 Dân Biểu và 2 Thượng Nghị Sĩ của Đảng Samrainsy nhân danh dân tộc Khmer bày tỏ sự ủng hộ và đoàn kết với nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa vào lúc mà người bạn vĩ đại này và cũng là một đồng minh của Cam Bốt đang khẳng định một cách chính đáng chủ quyền của mình tại vùng Biển Hoa Nam bao gồm cả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.”

Đảng Samrainsy “tố cáo và lên án chính quyền Việt Nam đã ngang ngược và tuyên bố vô căn cứ về chủ quyền trên lãnh thổ của nước láng giềng”. Bản thông báo cũng đề cập đến quan hệ Việt Nam – Cam Bốt khi viết rằng: “Sự tiếp tục vi phạm chủ quyền trên lãnh thổ Cam Bốt của bọn bành trướng Việt Nam và lập trường hiếu chiến của chính quyền Hà Nội được thực thi tại Đông Nam Á và vùng Biển Hoa Nam đã tạo ra một mối đe dọa cho nền hòa bình và sự ổn định trong khu vực này.”

Đảng Samrainsy “khẩn gọi chính quyền Việt Nam ngưng ngay hành động gây căng thẳng qua cuộc tập trận bắn đạn thật của hải quân Việt Nam ngày 13/6 mang tính chất khiêu khích và đòi hỏi Việt Nam không được sử dụng chiếc ghế Chủ Tịch ASEAN để quốc tế hóa bất cứ cuộc xung đột nào mà Hà Nội muốn làm trầm trọng thêm tại vùng Biển Nam Trung Hoa.”

Riêng ở chi tiết Việt Nam làm Chủ Tịch ASEAN thì Đảng Samrainsy quên vai trò này đã được chuyển giao cho Indonesia vào tháng 1 năm nay. Và từ ngữ “Biển Hoa Nam” thay vì Biển Đông đã mặc nhiên xác nhận đây là lãnh hải của Trung Quốc.

Bản thông báo của Đảng Samrainsy đưa ra khi Trung Quốc tỏ thái độ ngạo mạn, hiếu chiến trong lãnh hải Việt Nam. Phản ứng đầu tiên ghi nhận được tại Phnom Penh là báo mạng Phnom Penh Post ngày 21/6 đã dùng từ “chưởi rủa” để nói tới nội dung của thông báo khi đề cập đến Việt Nam.

Kế tiếp, nội dung thông báo cũng nói lên được sự bất mãn của cá nhân lãnh đạo Đảng Samrainsy là ông Sam Rainsy đang phải chịu sống cảnh lưu vong tại Pháp để trốn án tù 12 năm khi ông dám nhổ 6 cây cọc do phía Việt Nam cắm tại đường ranh giới tỉnh Svay Rieng và Long An hồi tháng 10 năm 2009.

Điều nữa khi đứng trên lập trường dân tộc, ông Sam Rainsy cũng rất oán hận chính quyền Việt Nam hiện nay vì ông cho rằng đã xâm chiếm lãnh thổ quốc gia ông. Vì thế khi Việt Nam bị Trung Quốc lấn chiếm lãnh hải ở Biển Đông thì đây là dịp ông Sam Rainsy có cơ hội rửa hận. Mặc dù ông phải làm ngơ trước thực tế lịch sử là Trung Quốc chính là bọn bành trướng xâm chiếm lãnh hải nước láng giềng.

Quan điểm của chính quyền Cam Bốt về tình hình Biển Đông

Không đầy một tuần sau thông báo của Đảng Sam Rainsy cùng một lúc các cuộc biểu tình hiếm có của dân chúng tại Hà Nội và Sài Gòn tỏ rõ thái độ và lập trường chống hành động xâm lược của Trung Quốc được loan truyền trên thế giới thì chính quyền Phnom Penh chính thức lên tiếng bộc lộ quan điểm của họ về tình hình tại Biển Đông.

Người phát ngôn Bộ Ngoại Giao ông Koy Kuong nói Cam Bốt mong muốn vấn đề tại Biển Đông được giải quyết một cách hòa bình theo Bản Tuyên Bố Chung Về Ứng Xử Của Các Bên Tại Biển Đông do Trung Quốc và các thành viên ASEAN ký tại Hội Nghị Thượng Đỉnh ASEAN năm 2002 ở Phnom Penh.

Dân Biểu Cheam Yeap thuộc Đảng Nhân Dân đương quyền vào ngày 21/6 phát biểu rằng: Trung Quốc là một người bạn “gần gũi” nhưng Việt Nam còn “thân cận hơn”. Ông lên tiếng tố cáo Đảng Sam Rainsy “thiếu sự trung thành” khi bày tỏ sự ủng hộ Trung Quốc. Theo ông Chem Yeap, hai người bạn của Cam Bốt nên dùng các bản đồ hợp pháp và tuân thủ luật pháp quốc tế. Trong trường hợp Việt Nam và Trung Quốc không thể giải quyết sự khác biệt và sử dụng võ lực tất nhiên sẽ ảnh hưởng đến an ninh của toàn vùng.

Vào tháng 10 năm 2010, Thủ Tướng Hun Sen đã tuyên bố ngã theo Trung Quốc trong hồ sơ Biển Đông. Trong tình hình đang căng thẳng hiện nay, công luận chưa thấy ông tuyên bố gì. Chuyến đi của Bộ Trưởng Quốc Phòng Tea Banh đến Bắc Kinh trong bối cảnh hiện nay là một sự kiện khiến cho nhà cầm quyền Việt Nam phải lưu ý.

Ngày 25 tháng 12 năm 1979 nhân ngày Lễ Giáng Sinh, Hà Nội tung 14 sư đoàn quân chủ lực tiến đánh Khmer Đỏ và lật đổ chế độ này khi thấy Khmer Đỏ ngã hẳn về Trung Quốc và đánh phá biên giới Tây Nam của Việt Nam. Cuối năm 1981, Thủ Tướng Pen Sovann kiêm Tổng Bí Thư đảng do Hà Nội dựng lên nhưng có quan điểm kinh tế, chính trị độc lập đã bị Hà Nội bắt giải giao về Miền Bắc và giam cầm suốt 10 năm trời. Ông Pen Sovann quê ở tỉnh Ta Keo, nói rành tiếng Việt, hiện nay sống tại Phnom Penh và hoạt động chính trị đối lập nhưng không có lực.

Điểm lại ít nhất hai sự kiện trên cho thấy, Cam Bốt là một vùng địa chính trị mà cả Trung Quốc và Việt Nam đều muốn tranh giành ảnh hưởng. Trong 3 thập niên qua, các quá khứ lịch sử chứng minh cho thấy nhà cầm quyền Việt Nam thành công trong việc sử dụng xứ Chùa Tháp làm “phên giậu” cho họ. Và vì thế trong thời điểm đang nóng lên dần dần hiện nay, nếu những người cầm đầu chính quyền Cam Bốt tuyên bố lập trường đứng về phía Trung Quốc trong vấn đề Biển Đông là một điều có thể gây nguy hiểm cho họ.

nguồn

Posted in Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa, Trung Quốc xâm nhập Kamphuchea | 2 Comments »

Để đối phó với Trung Quốc, chỉ nên dùng các biện pháp như thế nầy mới có hiệu quả

Posted by hoangtran204 trên 20/06/2011

Đọc bài dưới đây của blogger Lê Diễn Đức mới thấy dân chúng và báo chí Ba Lan có những nhận định sáng suốt và thúc ép chính quyền loại bỏ các hãng xây dựng Trung Quốc một cách cương quyết. Được vậy là bởi vì đất nước Ba Lan theo chế độ dân chủ, có bầu cử và ứng cử tự do, dân chúng và báo chí có quyền tự do ngôn luận…thì mới loại bỏ được TQ.

Còn ở Việt Nam, đất nước do đảng cộng sản VN cai trị thì báo chí và người dân chẳng ai dám đụng đến bọn thầu Trung Quốc. Đảng CSVN coi dân Trung Quốc là thần thánh, ai dám đụng vào là có đảng và công an binh vực tới cùng. Cứ xem từ 2007 đến 2011,  mỗi lần dân chúng VN đi biểu tình phản đối  TQ, thì đảng sai công an ra chận bắt, đánh đập, bỏ tù dân chúng  VN một cách không thương tiếc.

Bởi vậy 95% công trình xây dựng ở VN trong nhiều năm qua đều do các công ty Trung Quốc trúng thầu. Cách làm việc của các hãng TQ thì chỉ cần đọc báo nầy là biết. Nhưng đảng CSVN và công an xưa nay đã coi tụi TQ như thánh thần, thì chuyện các hãng xây dựng Trung Quốc trúng thầu ở Việt Nam và gây nhiều thiệt hại là việc đương nhiên sẽ xẩy ra.

Hai đoạn đường và những công trình bất hạnh

tác giả: Lê Diễn Đức

Vào ngày 19/6, người Ba Lan đã quyết định chia tay hay đúng hơn, “tống cổ” nhà thầu Covec, làm vỡ tan giấc mộng xâm nhập thị trường Liên minh châu Âu (EU) của Trung Quốc.

Đây là câu chuyện thú vị. Thái độ của người Ba Lan và chính phủ Ba Lan trước những bê bối của công ty Trung Quốc, hy vọng ít nhiều giúp người Việt nên ứng xử thế nào với “người bạn 4 tốt” trên đất nước mình.

Thị trường lôi cuốn

Covec (China Overseas Engineering Group), công ty con của Crec (China Railway Engineering Corporation), là công ty xây dựng nhà nước lớn nhất của Trung Quốc, đã và đang thực hiện nhiều dự án tại châu Phi và châu Á. Làm đường cao tốc A2 ở Ba Lan được xem là dự án lớn đầu tiên của Covec tại Liên Minh châu Âu (EU), được xem như cánh cửa mở ra cho các công ty Trung Quốc tiến sâu vào lãnh thổ EU.

Bắt đầu trở thành thành viên của EU từ năm 2005, các nước cựu cộng sản đã được EU tài trợ rất lớn trong lĩnh vực xây dựng cơ sở hạ tầng, bảo vệ môi sinh, nhất là hệ thống giao thông tồi tệ và lạc hậu.

Số tiền dành cho Ba Lan 67 tỷ Euro, Tây Ban Nha 35 tỷ Euro, Cộng hòa Czech 25 tỷ Euro, v.v… trong tài khoá 2007-2013 của EU thực sự là con số vô cùng hấp dẫn với mọi nhà thầu. Đặc biệt cả đất nước Ba Lan vài năm nay trở thành một công trình xây dựng lớn chuẩn bị cho giải vô địch bóng đá châu Âu mà Ba Lan và Ukraine đồng đăng cai tổ chức vào mùa hè năm 2012.

Năm 2006, trong bài viết cho BBC “Dân chủ là lối làm kinh tế hiệu quả nhất” tôi nhấn mạnh những cái mà người Ba Lan “được”, không chỉ trong phạm trù nhân quyền và còn cả về tiền bạc. Ngay sau khi chế độ cộng sản sụp đổ, các Câu lạc bộ Tài chính Paris và London đã xoá cho Ba Lan phân nửa số nợ trị giá hơn 20 tỷ đôla, còn EU đã và đang chi viện cho Ba Lan một số tiền khổng lồ để phát triển kinh tế. [1]

Đường cao tốc A2 dài 90 km từ thành phố Lodz đến thủ đô Warsaw được chia thành 5 đoạn.

_Covec thi công một đoạn 29,2 km với giá (bỏ thầu) 745 triệu Zloty (ZLtiền Ba Lan), tức là khoảng hơn 250 triệu đôla, mặc dù theo ước tính (chi phí xây dựng đoạn đường nầy tốn kém) ở mức 1,7 tỷ ZL (khoảng 566 triệu đôla), và

_một đoạn khác dài 20 km với 535 triệu ZL (khoảng 180 triệu đôla), ước tính (chi phí xây dựng đoạn đường nầy tốn kém) ở mức 1,1 tỷ ZL (khoảng 366 triệu đôla).

_Ba đoạn khác do các công ty Ba Lan đảm nhận.

Bê bối mọi nơi

Với giá bỏ thầu chỉ bằng phân nửa mức dự toán và những lời quảng cáo, cam kết có cánh, Covec đã thắng hai gói thầu trước nhiều đối thủ.

Đặt ra nhiều nghi vấn, báo chí truyền thông Ba Lan ầm ĩ cho rằng, để đạt được chỗ đứng trên thị trường EU, công ty Trung Quốc đã sẵn sàng phá giá để giành hợp đồng. Các chuyên gia Ba Lan tiên liệu những khả năng xấu có thể xảy ra.

Khi sự việc vỡ lỡ, nhật báo Pháp luật Ba Lan (Gazeta Prawna) viết rằng vấn đề xây dựng đường cao tốc tại Ba Lan của Covec chỉ là đỉnh của tảng băng ngầm. Khó khăn với các nhà thầu phụ, lỡ hẹn, không giữ đúng thời hạn bàn giao công trình dường như là “tiêu chuẩn” cho bất kỳ dự án nào được thực hiện bởi Covec. – “Công thức cho sự thành công của các nhà thầu Trung Quốc rất đơn giản: giá thấp cộng với hỗ trợ tài chính của chính phủ ở Bắc Kinh. Tuy nhiên sau đó giá thấp biến thành khả năng dự báo cũng rất thấp” – Sven Grimm từ Center for Chinese Studies (CCS) nói với nhật báo.

Theo ghi nhận của nhật báo, Covec thường xuyên bê bối ở châu Phi. Tại Angola, Covec đã xây dựng một bệnh viện, nhưng bị sụp đổ ngay sau khi đưa vào sử dụng. Ở Nam Phi Covec xây dựng hệ thống thủy lợi cho chính phủ với giá thành 61 triệu đôla, ít hơn 14 triệu đôla so với đối thủ cạnh tranh rẻ nhất. Chính điều này đã dẫn đến khó khăn tài chính của công ty. Trả công cho kỹ sư chỉ bằng một nửa số tiền cần thiết, Covec không tìm nổi người làm việc, cuối cùng phải kéo từ Trung Quốc qua, làm công trình bị đình trệ nhiều tháng trời. Tương tự tại Kenya, Covec bàn giao sân bay chậm một năm. Ở Zambia, Covec phá vỡ hợp đồng xây dựng một tổ hợp của chính phủ, vì người chào hàng là đảng UNIP không còn cầm quyền.

Ngoài châu Phi, năm 2005 Covec thi công đường cao tốc tại Fiji. Sau gần 5 năm xây dựng mới thực hiện được 35% dự án. Chính quyền Fiji đã huỷ hợp đồng, mất đứt 34 triệu đôla thiệt hại!

Theo tính toán của CCS, 70% đầu tư nước ngoài của Covec nằm ở châu Phi. Công ty này là công cụ mạnh mẽ của Trung Quốc cho mục tiêu củng cố ảnh hưởng kinh tế trong khu vực. Bản đồ đầu tư trùng với danh sách ưu tiên địa chính trị của Bắc Kinh. Covec đầu tư vào Angola, nơi Trung Quốc mua các nguồn tài nguyên năng lượng. Nam Phi, là đối tác thương mại lớn nhất Trung Quốc ở Lục Địa Đen, còn với Botswana Bắc Kinh là nhà nhập khẩu kim cương lớn thứ nhì.

Qua châu Âu, Covec quyết định khởi đầu hoạt động tại một quốc gia nghèo nhất châu lục – Moldova. Trong năm 2009, Trung Quốc cám dỗ chính phủ Moldova bằng số tiền cho vay trị giá 1 tỷ đôla, kèm theo điều kiện bảo đảm cho Covec vị trí đặc quyền trên thị trường địa phương. Thế nhưng, người Trung Quốc đã thất bại. Nhưng rồi trên chân trời hy vọng xuất hiện Ba Lan. Và như nhật báo viết, chính phủ Ba Lan cũng vì ham rẻ nên bị lùa vào rọ!

“Hai đoạn đường bất hạnh”…

Báo chí Ba Lan trong những ngày qua đã nói như thế về hai đoạn đường cao tốc A2 của Ba Lan do Covec thi công.

Ở đất nước Ba Lan với thể chế dân chủ pháp trị, cộng với báo chí tự do, khi xuất hiện các vần đề nan giải liên quan đến thực hiện hợp đồng, thói quen của người Trung Quốc là tìm cách mua chuộc viên chức chính quyền, gây sức ép với người lao động đã không dễ như ở châu Phi.

Chỉ sau một thời gian ngắn, Covec đã gặp khó khăn tài chính, đòi nâng cao mức kinh phí thi công. Trong khi đó, vì thanh toán không đúng hạn nhiều triệu đôla cho các công ty thầu phụ, người Ba Lan biểu tình phản đối Covec bằng cách đi bộ chặn các trục đường giao thông, gây áp lực lên chính phủ Ba Lan và dư luận. Công trình bị ngừng trệ. Để tiến độ kịp phục vụ giải chung kết bóng đá Euro 2012, phía Ba Lan không có cách nào hơn là chọn đơn vị khác thay thế.

Cũng có nguồn tin rằng, ghét cách vào cuộc không trong sáng của Covec, đồng thời bảo vệ thị trường nội địa trước thủ đoạn thiếu lương thiện của Trung Quốc, dân chúng Ba Lan đã phản kháng, chủ ý gây khó khăn trong việc cung cấp người làm việc, phương tiện chuyên chở, nguyên vật liệu…

Người Ba Lan trong các công ty thầu phụ biểu tình phản đối Covec không thanh toán tiền lương – Ảnh: TVN24

Trong khi đó, đảng “Luật pháp và Công lý”, đảng đối lập lớn nhất trong quốc hội Ba Lan đã đề nghị Công tố viện mở điều tra xem tiến trình đấu thầu có vi phạm thủ tục hay không và đòi Bộ trưởng Bộ Xây dựng Cơ sở hạ tầng từ chức.

Tờ báo tiếng Anh China Daily ngày thứ Bảy 18/6 trích dẫn từ bài “Trung Quốc gặp sự chào đón khó chịu tại Ba Lan” của tờ Renmin Ribao, được xem là phát ngôn của Bắc Kinh, rằng “bất chấp những nỗ lực của phía Trung Quốc, phía Ba Lan cố tình can thiệp vào việc chuyên môn, thậm chí tận dụng cả phương tiện ngoại giao để chính trị hóa vấn đề”. Tờ báo còn cáo buộc báo chí Ba Lan đã quan trọng hoá và phóng đại các vấn đề.

Thủ tướng Ba Lan Donald Tusk nói rằng, để Covec tham gia đấu thầu là điều tốt, tăng thêm tính cạnh tranh, nhưng Covec đã đánh giá quá cao khả năng của mình vì nghĩ dựa vào nguồn tài trợ của chính phủ. Ông nhấn mạnh Covec dường như không chịu được sự cạnh tranh thực sự trong một môi trường cụ thể và minh bạch, khác hẳn với Trung Quốc, nơi mà thủ tục không đóng vai trò lớn.

Kế hoạch xâm nhập và bành trướng của Bắc Kinh vào thị trường EU, bắt đầu từ Ba Lan, coi như bị phá sản. Người Ba Lan đã ý thức rõ ràng về một đối tác khó tin. Phía Ba Lan sẽ xúc tiến các biện pháp đòi Covec bồi thường thiệt hại 741 triệu ZL (khoảng 250 triệu đôla), trong đó đã có số tiền 10% hợp đồng của Trung Quốc đặt cọc khi trúng thầu.

… đến những công trình bất hạnh

Không chỉ ở châu Phi, vòi bạch tuộc của Bắc Kinh cũng thả sức vươn dài và rộng khắp tại Việt Nam.

Tràn ngập lãnh thổ đủ các chủng loại hàng hoá phẩm chất kém, rẻ tiền, lôi cuốn người tiêu thụ nghèo, làm bức tử nhiều ngành công nghiệp địa phương; tuồn hàng hoá độc hại huỷ diệt môi sinh và sức khoẻ; mua vét nguyên liệu làm tê liệt sản xuất; tung tiền giả làm rối loạn thị trường; phổ biến văn hoá phẩm làm mê muội tinh thần dân tộc Việt; v.v… là những thủ đoạn mà Trung Quốc áp dụng triệt để ở tầng dưới của xã hội Việt Nam từ hai thập niên nay.

Trên thượng tầng, từ thành quả hợp thức hoá sự bành trướng qua hiệp định biên giới Trung-Việt năm 2009, bằng phép mầu, Bắc Kinh đã đạt được bước chiến lược cho mục đích lũng đoạn, khống chế nền kinh tế và an ninh quốc phòng của Việt Nam: thuê rẻ mạt 300 ngàn hécta rừng đầu nguồn trong 50 năm, hiện diện trên vùng cao chiến lược Tây Nguyên bằng các dự án khai thác bauxite, nắm trọn hơn 90% gói thầu EPC (thiết kế, cung cấp thiết bị, vật tư và xây lắp) bao gồm những dự án kinh tế quan trọng bậc nhất.

Một điều đáng chú ý là dường như toàn bộ các hợp đồng nêu trên được ký kết với sự chuẩn thuận của ông Nguyễn Tấn Dũng, giữ chức Thủ tướng Chính phủ từ năm 2006, mặc dù đã có không ít tranh cãi, thậm chí bị phản đối quyết liệt từ giới trí thức, từ nhiều đại biểu Quốc hội và các nhà cách mạng lão thành. Không hề thấy nhà nước công bố công khai tiến trình đấu thầu. Cũng không thấy nói tới số tiền bảo đảm bắt buộc nhà thầu phải đặt cọc cho các dự án.

Trong bài “Tất cả các dự án điện đều bị chậm tiến độ” ngày 25/04/2007, tờ Việt Báo cho hay nhà máy điện Uông Bí xây dựng không đúng tiến độ, nguyên do chậm từ khâu duyệt thiết kế, cung cấp bản vẽ, giải phóng mặt bằng, đến cung cấp thiết bị công nghệ… [2]

Báo Lao Động  ngày 24/9/2010  với bài “Chủ đầu tư nhiều dự án nhiệt điện: Ăn ‘quả đắng’ nhà thầu Trung Quốc“, viết các chủ đầu tư đều rơi vào tay các nhà thầu Trung Quốc, trong khi “chính chủ đầu tư thừa nhận chất lượng các thiết bị xuất xứ từ Trung Quốc thấp” và “nhiều công trình, sau khi trúng thầu, nhà thầu Trung Quốc thi công chậm, dẫn tới bị đội vốn”.

Bài báo dẫn lời của giáo sư Bùi Huy Phùng thuộc Viện Khoa học Năng lượng, rằng, “Việc hiện 90% dự án nhiệt điện hiện nay đều do Trung Quốc thắng thầu sẽ dẫn tới sự phụ thuộc, có nguy cơ mất an ninh năng lượng khi có sự cố xảy ra, vì khi đó chúng ta có cái gì làm đối trọng. Đây là điều đáng nghĩ”. [3]

Nêu cụ thể những công trình bàn giao chậm từ 10 tháng, đến 28 tháng, tờ Sài Gòn Đầu Tư ngày 06/06/2011 với bài “Nhiều gói thầu EPC lớn chậm tiến độ” viết: “Theo thống kê mới nhất của Hiệp hội Nhà thầu Việt Nam, hầu hết các dự án nhiệt điện than, khai khoáng, hóa chất, luyện kim, xi măng triển khai từ năm 2005 đến nay do các nhà thầu nước ngoài làm tổng thầu EPC, với tỷ lệ trúng thầu rất lớn. Đơn cử, tỷ lệ trúng thầu của các nhà thầu Trung Quốc lên tới 90%. Chất lượng đấu thầu thấp đã dẫn đến một thực trạng đáng báo động là, phần lớn các dự án do nhà thầu nước ngoài làm tổng thầu EPC bị kéo dài thời gian xây dựng và chậm tiến độ bàn giao so với hợp đồng”. [4]

Ngạc nhiên hơn là trước bi kịch như vậy, chưa thấy nhà thầu Trung Quốc nào bị xử phạt hoặc bị buộc đình chỉ thi công, bồi thường thiệt hại như người Ba Lan đã xử lý Covec. Tại sao?

Vài lời kết

Cựu Chủ tịch quốc hội Nguyễn Văn An, dù muộn màng nhưng đã vạch ra nguyên nhân của mọi nguyên nhân: sai lầm từ hệ thống.

Hệ thống sai lầm tạo ra một guồng máy đặc quyền, đặc lợi, tham nhũng từ dưới lên trên, mọi cấp, mọi ngành, ngày mỗi nghiêm trọng. Tất cả thông tư, nghị quyết, thành lập uỷ ban nọ, thanh tra kia, đều chỉ là những vở diễn nhằm che đậy một thực trạng không thể cứu vãn. Tham nhũng đã trở thành văn hoá phổ cập, “dường như người chống tham nhũng ngày càng ít đi. Tham nhũng ngày càng lớn hơn và tinh vi hơn nhiều”. [5]

Hệ thống chính trị sai lầm cho phép Đảng Cộng sản Việt Nam độc quyền bổ nhiệm những người tệ hại điều hành đất nước. Ông Thủ tướng xuất thân từ y tá miệt vườn, nhưng là người quyết định số phận của 20 tập đoàn lớn nhất, từ dầu khí, điện lực, thép, than, xi măng, viễn thông, hàng không, hàng hải… cho đến lương thực, cà phê – xương sống của cả nền kinh tế. Được vũ trang bằng chủ nghĩa thân hữu, cộng với công cụ an ninh và tình báo, Thủ tướng có quyền lực vô song, có thể qua mặt, khuynh loát cả Tổng bí thư, Chủ tịch nước và Quốc hội. Chỉ trong vài năm chỉ đạo trực tiếp một tập đoàn Vinashin, ông Dũng đã có thể vứt xuống biển theo “những con tàu nát” 4,5 tỷ đôla. Thế nhưng, không những ông Dũng vẫn bình chân như vại mà còn làm thêm một nhiệm kỳ nữa!

Ngoài ra, cũng nên kể đến thái độ đáng buồn của người Việt, kém xa sự dấn thân và hy sinh của người Ba Lan trong cuộc tranh đấu xoá bỏ chế độ cộng sản, cũng như trong xây dựng dân chủ. Ý thức phản kháng trước bất công và trách nhiệm với tương lai của đất nước chỉ còn lại ở số ít người Việt. Số người xuống đường trong ngày xử án tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ hôm mồng 4 tháng 4, cũng như số người tham gia biểu tình chống Trung Quốc xâm phạm chủ quyền trong các ngày 5, 12, 19 tháng 6 vừa qua, tuy là bước vượt qua nỗi sợ khởi đầu rất khích lệ, nhưng thực tế chưa được sự hưởng ứng của đông đảo quần chúng. Lẽ ra con số phải nhiều hơn gấp bội.

Nhà nước như thế, người dân như thế, dân tộc Việt còn tiếp tục bất hạnh thì chúng ta chỉ có thể tự trách mình mà thôi!■

© 2010 Lê Diễn Đức – RFA Blog

—————————————————————-

Chú thích:

[1]: http://www.bbc.co.uk/vietnamese/forum/story/2006/02/060213_ledienducngtrung.shtml

[2]: http://vietbao.vn/Kinh-te/Tat-ca-cac-du-an-dien-deu-bi-cham-tien-do/65090227/87

[3]: http://laodong.com.vn/Tin-Tuc/An-qua-dang-nha-thau-Trung-Quoc/14182

[4]: http://www.saigondautu.com.vn/Pages/20110606/Nhieu-goi-thau-EPC-lon-cham-tien-do.aspx

[5]: http://bee.net.vn/channel/1988/201106/Nguoi-chong-tham-nhung-ngay-cang-it-di-1802576

http://www.danchimviet.info/archives/37170

Posted in Hồng Tốt hơn Chuyên, Tham Nhung-Hoang Phí- Ăn Cắp | 2 Comments »

Vẫn chưa tỉnh ngộ, hành động còn thua xa tổng thống Phillippines (mới 50 tuổi)

Posted by hoangtran204 trên 20/06/2011

Hầu như tất cả những người nào có blog và viết bài trên mạng đều nhìn thấy được các hoạt động của Trung Quốc nhằm lấn chiếm Biển Đông và lãnh thổ vùng biên giới  Phía  Bắc của VN…xảy ra rất có hệ thống, nhịp nhàng, rõ ràng, và nhất quán từ 1945 cho đến nay. Cứ như là TQ đã viết rõ kế hoạch chiếm đất, chiếm đảo, chiếm lãnh hải ra giấy, và các lảnh đạo đảng kế tục của CSTQ cứ tuân theo đó mà làm, tùy theo từng giai đoạn.

Các cán bộ cao cấp của đảng  CSVN biết rõ chuyện nầy trong gần 60 năm qua, nhưng họ cứ tiếp tục ngoan ngoãn đi theo TQ như những con nghiện thuốc phiện; biết thuốc phiện là độc hại, nhưng vẫn cứ hút, cứ chích. Như một con nghiện, họ đã bị thuần hóa, thu phục và không bao giờ từ bỏ Trung Quốc.

Bài xã luận của nhà báo Ngô Nhân Dụng và bài đăng trên blog của nhạc sĩ Tô Hải rất xuất sắc gột tả được thủ đoạn của Trung Quốc và thái độ của các lãnh đạo đảng  CSVN trước các vấn đề lãnh thổ, lãnh hải, và chủ quyền.

Ðược đằng đầu lân đằng chân

Vào giữa thế kỷ 19, quân Pháp bắt đầu việc đánh chiếm Việt Nam bằng cách tạo áp lực buộc triều đình nhà Nguyễn phải nhượng bộ từng bước một: Mở cửa Ðà Nẵng xong, đem quân chiếm ba tỉnh miền Ðông Nam Phần; rồi chiếm nốt ba tỉnh miền Tây; mươi năm sau tấn công tới Bắc Hà; cuối cùng nuốt gọn cả nước bằng cách quyết định người nào sẽ lên làm vua phần nước Việt Nam còn lại! Chiến lược đó, tục ngữ Việt Nam gọi là “Ðược đằng chân lân đằng đầu!” Nắm được cái đầu là ông vua rồi, họ tiếp tục lấn từng bước một, đặt các đại diện của Pháp ở miền Bắc, miền Trung, từ từ xuống tới các tỉnh. Dần dần những người “đại diện ngoại giao” của Pháp lấn lướt các quan lại triều đình để cuối cùng cả guồng máy cai trị lọt vào tay người Pháp.

Quan sát hành vi của Trung Quốc lấn chiếm biên giới và hải phận Việt Nam, ta thấy Trung Quốc theo một chiến lược cao hơn người Pháp. Có thể gọi tên ngược lại, là “Ðược đằng đầu lấn đằng chân!” Nắm cái đầu tức là nắm những người cầm quyền ở nước Việt Nam. Nắm được cái đầu rồi thì sau đó mới lấn dưới chân, và lấn từng bước một, nhẹ nhàng sao cho nó không giẫy giụa! Mỗi lần lấn một bước dưới chân, đôi chân muốn cựa quậy nhưng cái đầu không cho cựa, đau đớn cũng không cho kêu, thì cuối cùng cả thân thể cũng đành chịu! Những cái chân không chạy được nữa, cái miệng của người dân không được nói nữa mà chính quyền muốn nói thì há miệng mắc quai; nắm được cái đầu trong tay, những vụ cướp đất, cướp biển chỉ là những chi tiết chiến thuật.

Nhiều nhà trí thức trong nước cũng nhìn thấy như vậy: Chiến thuật của Trung Quốc khi chiếm các vùng đất và vùng biển nước ta là lấn từng bước một, đặt mọi người trước những “sự đã rồi,” lâu ngày thành quen đi, cái gì cũng “thành bùn” được hết!

Trên đất liền, là những vụ “cắm cọc biên giới.” Nhà báo Huy Ðức mới lục đống báo cũ, nhắc lại rằng trong các báo Nhân Dân và Sài Gòn Giải Phóng, ngày 19 tháng 3, 1979, Bị Vong Lục của Bộ Ngoại Giao Việt Nam đã nói: “Phía Trung Quốc đã ủi nát mốc biên giới số 18 nằm cách cửa Nam Quan 100 mét để xóa vết tích đường biên giới lịch sử rồi đặt cột Km Zero sâu vào lãnh thổ Việt Nam trên 100m.” Cũng Bị Vong Lục năm 1979 viết: “Năm 1955, khi giúp Việt Nam khôi phục đoạn đường sắt từ biên giới tới Yên Viên, phía Trung Quốc đã đặt điểm nối ray (đường sắt) vào vào sâu trong lãnh thổ Việt Nam 300m so với đường biên giới lịch sử.” Bị Vong Lục 1979 cũng tố cáo, “toàn bộ thác Bản Giốc và cồn Pò Thoong là của Việt Nam, Trung Quốc chỉ mới đưa 2,000 người sang cưỡng chiếm từ ngày 29 tháng 2, 1976.”

Trên mặt biển, Trung Quốc đã toan đánh quần đảo Hoàng Sa năm 1958; nhưng khi Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa đem tầu chiến ra chống cự thì họ rút lui. Cũng năm đó, chính phủ Bắc Kinh đưa ra một tuyên bố về vấn đề hải phận, thì lại được ông thủ tướng Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ở miền Bắc là Phạm Văn Ðồng gửi thư ủng hộ. Năm 1974, Trung Quốc đánh chiếm Hoàng Sa, bao chiến sĩ hải quân nước ta đã hy sinh trong lúc bảo vệ đất đai của tổ tiên. Chính quyền miền Bắc cũng không hề nói một lời nào để phản đối hành động xâm lăng đó! Lý do chỉ vì với lá thư của Phạm Văn Ðồng năm 1958 thì há miệng mắc quai. Năm 1988, Trung Quốc lại tấn công chiếm các đảo ở Trường Sa, nhưng người kế vị Lê Duẩn đành nuốt hận vì không được Nga Xô cứu giúp; mặc dù chính ông ta đã công nhận Nga là“tổ quốc thứ hai” của mình khi quay mặt chống Trung Quốc.

Gần đây, chiến thuật lấn từng bước lại diễn ra một cách hung tợn hơn. Ðánh đuổi các ngư dân Việt Nam không cho đánh cá; dân Việt không sợ thì tấn công, cướp tầu, cướp máy, đánh đập, bắt cóc, giam cầm, đòi tiền chuộc. Nhiều người Việt đã nhìn thấy chiến thuật lấn chân mới trong vụ Bình Minh 2 và Viking 2, là biến các vùng biển hoàn toàn thuộc Việt Nam thành một vùng xung đột. Sau khi đã biến một vùng không tranh chấp thành vùng có tranh chấp, gây nên tình trạng căng thẳng ngày càng cao hơn khiến thế giới lo ngại, thì lúc đó Trung Quốc sẽ yêu cầu thảo luận, và cuối cùng thì đề nghị “cắt đôi” phần biển của Việt Nam, chia mỗi bên một nửa!

Và tình trạng căng thẳng đang tăng lên thật. Trong tuần này, báo chí khắp thế giới loan tin Hải Quân Việt Nam tập trận bằng súng đạn thật, hỏa tiễn thật, và thông báo cho tầu thuyền các nước khác hãy tránh xa. Ðây là lần đầu tiên một cuộc tập trận trên biển được công bố, như để quảng cáo cho mọi người đều biết! Hà Nội lại nhắc nhở lại trên báo chí luật tổng động viên, làm cho không khí ngột ngạt hơn! Nhưng ngay sau đó, Trung Quốc đã thản nhiên gửi tầu Hải Tuần 31, một trong những chiến hạm tuần tiễu lớn nhất tiến vào vùng biển Ðông, nói đó là một hoạt động bình thường! Thế là cả thế giới theo dõi! Không phải chỉ có những nhật báo quốc tế như Le Monde, New York Times, Independent, Japan Times, hay các báo ở vùng Ðông Nam Á cho tới Ðại Hàn đăng tin này, mà cả những tờ báo ở Pakistan, ở Dubai cũng loan tin, rồi thuật tiếp những phản ứng của chính phủ Mỹ! Và Mark Toner, phát ngôn viên bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ đã chính thức than phiền rằng những biến cố gần đây gây thêm lo ngại đối với an ninh đường biển, và đã làm cho tình hình thêm căng thẳng!

Ðiều đáng ngạc nhiên là tại sao Ðảng Cộng Sản Việt Nam lại chọn cách bày tỏ thái độ như vậy?

Lâu nay, những người cầm quyền trong nước vẫn nói họ sẽ chỉ dùng các biện pháp ngoại giao cho các xung đột ở biển Ðông. Nhưng, sau khi các tầu Bình Minh và Viking liên tiếp bị tấn công một cách ngang ngược, đảng cộng sản lại không hề đưa ra một sáng kiến ngoại giao nào cả! Họ không hề xác định lại một cách chính thức với Bắc Kinh bằng cách phủ nhận lá thư của Thủ Tướng Phạm Văn Ðồng năm 1958 một cách minh bạch và công khai! Họ cũng không mời đại diện các nước Ðông Nam Á và Á Châu tới họp để tìm một chính sách chung đối với sự bành trướng của Trung Quốc!

Tình hình hiện nay đã chín mùi để tổ chức một hội nghị vùng bàn về vấn đề này. Tại hội nghị về an ninh vùng gần đây, một nhân viên an ninh Ấn Ðộ đã nhận xét: “Chúng tôi rất vui mừng trước các lời lẽ hòa hoãn của ông Lương Quang Liệt (Trung Quốc) nhưng cảm tưởng chung hiện nay là các cường quốc Á Châu là họ tiến đền gần nhau hơn chỉ vì thấy phải tìm cách đối phó với chính quyền Bắc Kinh. Một viên chức ngoại giao Nhật Bản cũng đồng ý. Nhật, Nam Hàn và Úc Châu đã đến gần nhau hơn, và đều liên kết với Mỹ. Một cố vấn của tổng thống Nam Hàn, ông Lee Chung-Min, đã nhận xét: “Trung Quốc đang đẩy chúng tôi tiến đến gần nhau hơn. Nước đó lớn quá khó ngăn họ được, nhưng hầu như chúng tôi đã thấy đến lúc phải hành động để ngăn bớt (sự bành trướng của) Trung Quốc.”

Việt Nam là nạn nhân trực tiếp do sự bành trướng của Trung Quốc gây ra. Ðáng lẽ Việt Nam phải đứng ra vận động việc liên minh giữa các quốc gia trong các miền Ðông và Nam Á Châu, về kinh tế, tài chánh và an ninh, để có tiếng nói và hành động chung trước sự bành trướng của Trung Quốc. Và đó là một hoạt cuộc tấn công ngoại giao, không thể coi là khiêu khích về quân sự hay xâm phạm chủ quyền của nước nào cả.

Nhưng đảng Cộng Sản Việt Nam đã không chọn những hành động ngoại giao kể trên, sau khi Trung Quốc leo thang với những vụ cắt dây cáp tầu dò đấy biển. Ngược lại, họ đã “biểu diễn” những màn quân sự, như công bố việc diễn tập hải quân bằng đạn thật, và khoe khoang thêm về luật tổng động viên.

Ai cũng biết rằng hai hành động trên không hề có ảnh hưởng nào trên tương quan lực lượng và không hề thay đổi ngôi vị tương đối giữa hai nước Việt Nam và Trung Quốc. Không một chiếc tầu nào của Trung Quốc bị sứt mẻ. Trong khi đó họ cũng không hề thấy phải nhận lỗi về những vụ leo thang trong ba tuần qua. Hầu như Bắc Kinh hoàn toàn làm ngơ trước những hành động mà người ngoài có thể coi là gây cho tình hình thêm căng thẳng.

Những người lãnh đạo ở Bắc Kinh có thể đã đọc được những ý nghĩ trong đầu giới lãnh đạo đảng Cộng Sản Việt Nam. Họ đã nắm chắc cái đầu đó rồi. Họ đã biết, hoặc đã được báo trước về những hành động sắp diễn ra trong tuần này. Họ hiểu rằng chính quyền cộng sản cần một số màn biểu diễn; bề ngoài như thể đang làm dữ, nhưng trên thực tế không gây ra một hiệu quả nào hết. Những hành động đó hoàn toàn không thay đổi cục diện ở biển Ðông, nhưng có thể cho người dân Việt nhìn thấy là bọn cầm quyền có làm, đang làm một cái gì đó! Mục đích duy nhất là làm nguội bớt không khí đấu tranh của người dân Việt Nam

Ðây là một sách lược đảng Cộng Sản đã theo từ hơn nửa thế kỷ nay. Họ không muốn dân chúng lên tiếng, không được tham dự, không được quyết định. Mọi vấn đề ngoại giao là độc quyền của đảng. Dân Việt Nam chỉ việc ký ngân phiếu trắng, “ký khống” cho các lãnh tụ đảng quyết định mọi chuyện! Từ mấy tuần qua, sách lược này vẫn được sử dụng. Như một ông hiệu trưởng ngăn không cho sinh viên biểu tình, với lý luận rằng việc ngoại giao khó khăn lắm, phải để yên cho nhà nước từ từ giải quyết! Một ông giáo sư bài nêu lên toàn những “quyết tâm” của người Việt Nam, mà không đưa ra một hành động cụ thể nào cả; nhưng ông ta không quên nêu lên một quyết tâm, là “hoàn toàn đoàn kết với đảng và nhà nước!”

Nhưng nếu đảng và Nhà nước lại không đoàn kết với dân mà chỉ đoàn kết với người khác, với những đồng chí, anh em của họ thì sao? Như nhà báo Huy Ðức kể, trước cuộc ký kết về biên giới năm 1993, Hà Nội cử những phái đoàn tới quan sát vùng biên giới. Họ đi coi các nơi, rồi họp bàn với các đồng chí Trung Quốc. Nhưng đối với dân thì các phái đoàn này làm việc hoàn toàn trong vòng bí mật. Huy Ðức thuật: “Theo các chiến sĩ biên phòng, thay vì huy động sự góp sức của nhân dân, không hiểu vì lý do gì công việc này đã được tiến hành bí mật.” Một vị đồn trưởng Biên phòng ở Hà Giang nói: “Chúng tôi thuộc địa hình đến từng mili mét nhưng các đoàn khảo sát đã bí mật luôn cả với chúng tôi!” Ðây là một kinh nghiệm cay đắng khi cái đầu của một nước tự tách rời khỏi thân thể!

Khi một chính quyền hành động minh bạch, công khai trước mọi người dân, khi người dân được tự do hội họp, tự do phát biểu, tự do bỏ phiếu chọn những người nắm quyền, thì không ngoại bang nào có thể nắm cái đầu dân nước đó được! Ngược lại, thì bất cứ cường quốc nào cũng chỉ cần nắm lấy cái đầu một nước, rồi từ từ sẽ lấn chân giành đất, giành biển, quốc gia sẽ rơi vào vòng nô lệ khi nào không biết!

Nguồn: Nguoi-viet.com

—–

Bình  Luận

Nguy cơ của việc TQ dùng vũ lực chiếm Biển Đông đã lộ hẳn ra từ 1958, nhưng đảng CSVN vẫn không nhận ra được các sự kiện diễn ra trong 20 qua, sau khi họ chiếm thêm quần đảo Trường Sa năm 1988. Chỉ đến năm nay, khi quân TQ đe dọa một  cách lộ liễu muốn chiếm các mỏ dầu của công ty quốc doanh Petro Vietnam đang khai thác, tức là đụng tới túi tiền 10 tỉ/ 1 năm của đảng, thì đảng chạy đôn chạy đáo kêu cứu khắp nơi, và quơ trúng …thằng xâm lược Mỹ.

Việc liên minh giữa VN và Mỹ (nếu có) sẽ mâu thuẩn với khẩu hiệu: “giải phóng miền Nam chống quân xâm lược Mỹ, đánh Mỹ cứu nước trong chiến tranh VN 1954-1975” làm chết hơn 3 triệu bộ đội Miền Bắc vào giải phóng miền Nam. Hóa ra, đảng đang cầu cứu Mỹ bảo vệ chủ quyền Biển Đông cho Việt Nam. (vậy mà cứ dạy mấy đứa học sinh VN bằng cách huênh hoang tuyên bố: ta đánh thắng Mỹ!)

Trong khi đó, tại Liên  Hiệp Quốc, sau 36 năm không dám hó hé, đây là lần đầu tiên VN tố cáo  Trung Quốc về Biển  Đông.

Blogger Tô Hải viết như sau:

1-//Tại Liên Hiệp Quốc ông Lê Lương minh ,đại sứ đã được phép lên án công khai và chính thức trứớc toàn thế giới những hành động vi phạm  chủ quyền biển của Việt Nam..
2-/Lần đầu tiên một vũ khí tối tân chưa từng được biết bao giờ :Tên lửa S-300PMU1 được công khai đua lên báo và giới thiệu “vô tư” mọi tĩnh năng ưu việt của nó,tiếc rằng không có một câu “khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng !
Tớ không dám vỗ ngực mà nói rằng :Tớ đã “gợi ý” cho báo ta những gì báo ta chưa được phép nói  nhưng ít nhất ,tớ cũng có chút tự hào vì đã đi trước một ngày đề ra các vấn đề khó mà lờ tịt đi mãi được!

nguồn

—–

Mỹ-Việt ra thông cáo chung về Biển Đông

18-6-2011

Hoa Kỳ và Việt Nam vừa ra thông cáo chung kêu gọi tự do lưu thông hàng hải và phản đối việc dùng vũ lực tại Biển Đông.

Thông cáo chung này được đưa ra sau vòng Đối thoại về chính trị-an ninh-quốc phòng Việt- Mỹ lần thứ tư diễn ra hôm thứ Sáu 17/06 tại Washington D.C., trong đó các diễn biến mới nhất tại Biển Đông đã được hai bên thảo luận.

Sau cuộc họp, hai bên thống nhất rằng “việc duy trì hòa bình, ổn định, an toàn và tự do lưu thông hàng hải tại Biển Đông là lợi ích chung của cộng đồng quốc tế”.

Thông cáo chung cũng viết: “Tất cả các tranh chấp lãnh thổ ở Biển Đông cần phải được giải quyết thông qua tiến trình hợp tác ngoại giao, không sử dụng vũ lực”.

Văn bản thông cáo đăng tải trên website của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ cho hay: “Hai bên ghi nhận rằng các tuyên bố chủ quyền lãnh thổ và hàng hải cần phải tuân thủ các nguyên tắc đã được luật pháp quốc tế công nhận, trong đó có Công ước LHQ về Luật Biển 1982″.

“Hai nước tái khẳng định tầm quan trọng của Tuyên bố chung về cách hành xử của các bên ở Biển Đông ký kết giữa Asean và Trung Quốc năm 2002 và khuyến khích các bên đạt thỏa thuận về Bộ quy tắc ứng xử.”

Căng thẳng gia tăng

Thông cáo được đưa ra vài ngày sau khi Trung Quốc điều tàu Hải Tuần 31 qua Biển Đông, và Philippines cũng quyết định điều tàu chiến lớn nhất tới khu vực này.

Trung Quốc chuẩn bị tập trận ba ngày, trong khi Việt Nam đã bắn đạn thật hôm thứ Hai 13/06.

Bản thông cáo ra hôm 17/06 tại Washington D.C. có đoạn: “Mỹ nhấn mạnh rằng các vụ việc gây quan ngại trong những tháng gần đây không có lợi cho hòa bình và ổn định trong khu vực”.

Cuộc đối thoại chính trị-an ninh-quốc phòng Việt Mỹ lần thứ tư do Thứ trưởng thường trực Bộ Ngoại giao Việt Nam Phạm Bình Minh và Trợ lý Ngoại trưởng Hoa Kỳ phụ trách các Vấn đề Chính trị và Quân sự Andrew Shapiro chủ trì.

Trung Quốc đã nhiều lần tỏ tức giận về việc “một bên thứ ba” tham gia vào tranh chấp Biển Đông, nhất là sau khi giới chức Hoa Kỳ, kể cả Ngoại trưởng Hillary Clinton, tuyên bố rằng tự do lưu thông ở Biển Đông là “quyền lợi quốc gia” của Mỹ.

Thời gian gần đây, Việt Nam tỏ ra nỗ lực trong việc kêu gọi và tranh thủ dư luận nước ngoài, nhất là Hoa Kỳ, trong vấn đề Biển Đông.

Thượng Nghị sỹ Jim Webb, trong một cuộc họp báo hôm thứ Hai tuần rồi, nói: “Tình hình chủ quyền tại Biển Đông thực ra lại giúp quan hệ giữa hai bên (Việt Nam và Hoa Kỳ) bằng cách nó khiến cả hai hiểu rõ điểm chung trong quyền lợi của mình”.

Ông Webb, người từng tham chiến ở Việt Nam, cũng kêu gọi chính phủ Mỹ cứng rắn hơn trong vấn đề Biển Đông.

Một điểm đáng chú ý là trong thông cáo chung sau cuộc đối thoại, không có điểm nào đề cập tới vấn đề nhân quyền, vẫn được cho là chủ đề mà Việt Nam và Hoa Kỳ còn nhiều khác biệt.

Tin BBC
——-

Trong khi các hoạt động của các chính trị gia TQ và các cuộc gây hấn trên  Biển Đông bao năm qua của Hải quân TQ đều nhất quán, nhằm đạt được mục tiêu là chiếm đảo, chiếm lãnh hải, đe dọa ngư dân  VN. Thì từ năm 2005, TQ đã khóa tay khóa chân Quân đội NDVN bằng các hoạt động như thế nầy.

Lý lẽ của Trung Quốc là thế này: Lãnh hải và lãnh thổ của TQ thì không ai được nhòm ngó đến.

Còn lãnh hải và lãnh thổ của VN thì Trung Quốc nói: chúng ta thảo luận trong hoà bình. TQ cứ lấn tới, thấy đảng CSVN không phản ứng công khai trên quốc tế, thấy dân chúng VN không phản đối,  thì TQ lấn tới nữa…đó là chuyện xảy ra từ 1974-2011 và sẽ còn tiếp tục xẩy ra.

TQ chờ cơ hội cho đến khi VN có một lãnh đạo đảng  CSVN yếu kém và sơ hở, thì TQ kêu VN ngồi vào bàn hội nghị, thương thuyết cù chầy cù mài 10-20 năm như chuyện ký hiêp định biên giới tháng 12/2000, và 2008, cuối cùng VN lấy đất của mình chia cho TQ càng nhiều bao nhiêu hay bấy nhiêu.  Đấy là ổn định, là hợp tác chân thành với tình hữu nghị của 16 chữ vàng và 4 tốt!

Hai tàu Hải quân Quân đội nhân dân Việt Nam lên đường đi tuần tra liên hợp và thăm Trung Quốc

QĐND Online – Chiều 18-6, hai tàu HQ375 và HQ376 thuộc Đoàn M62 (Vùng D hải quân) được Bộ tư lệnh Quân chủng Hải quân giao nhiệm vụ đại diện Hải quân Quân đội nhân dân Việt Nam rời bến đến địa điểm tập kết để cùng với tàu của Hải quân Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc tham gia chuyến tuần tra liên hợp trên vùng biển vịnh Bắc Bộ. Đây là đợt tuần tra chung lần thứ 11 kể từ khi hải quân hai nước ký kết thỏa thuận về Quy chế tuần tra liên hợp tháng 10-2005

Đại tá Nguyễn Văn Kiệm, Phó Tham mưu trưởng Quân chủng Hải quân chỉ huy tuần tra phía Việt Nam và làm Trưởng đoàn Hải quân nhân dân Việt Nam đến thăm Trung Quốc. Tham gia đoàn tàu quân sự Việt Nam thăm Trung Quốc có cán bộ chỉ huy các cơ quan Quân chủng Hải quân và thủy thủ hai tàu HQ375 và HQ376.

Theo lịch trình, Hải quân hai nước thực hiện chuyến tuần tra liên hiệp bắt đầu từ 8 giờ ngày 19-6 và kết thúc lúc 10 giờ 15 phút ngày 20-6-2011 (theo giờ Hà Nội). Quãng đường tuần tra 306 hải lý, từ điểm 1 đến điểm 10 của tuyến tuần tra cơ bản. Sau khi kết thúc tuần tra liên hợp, tàu của Hải quân Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc tiến hành dẫn đường cho hai tàu của Hải quân Quân đội nhân dân Việt Nam hành quân qua eo biển Quỳnh Châu vào cảng Trạm Giang thực hiện chuyến thăm, giao lưu hữu nghị với Hải quân Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc.

Chuyến tuần tra này nhằm tiếp tục phát triển mối quan hệ hợp tác láng giềng hữu nghị truyền thống, tăng cường hiểu biết, tin cậy lẫn nhau giữa quân đội và hải quân hai nước. Khu vực tuần tra là vùng biển giáp ranh giữa hai nước trên vịnh Bắc Bộ đã được phân định. Chuyến tuần tra còn nhằm duy trì an ninh, trật tự trên vùng biển; thúc đẩy thực thi Hiệp định nghề cá,duy trì trật tự ổn định các hoạt động sản xuất bình thường của nhân dân hai nước trên vùng biển vịnh Bắc Bộ; trao đổi kinh nghiệm hoạt động của hải quân hai nước.

Tin, ảnh: Đình Xuân

——

Trong khi đó, quân đội và hải quân của  Philippines rất ít và rất yếu, nhưng chính phủ của họ rất mạnh. Tổng thống Phillippines bà Benigno Aquino hôm 14 tháng 6 đã lên tiếng kêu gọi sự giúp đỡ từ một đồng mình lâu năm của mình là Mỹ để giải quyết tranh chấp với Trung Quốc. Trước đó, bà ra lệnh cho hải quân Phillippines nhổ bỏ các cọc do TQ dựng lên  trên các đảo của Phillipines. TQ dựng các cột để có cơ sở đòi hỏi chủ quyền khi có thương thuyết diễn ra. Một người đàn bà đứng đầu một quốc gia mà đã có hành động cương quyết, chuẩn mực như thế, còn bộ chính trị đảng  CSVN 14 người, hết đời nầy qua đời khác, nhu nhược như một con giun. Thái độ ấy đã được ột blogger khác nhận xét một cách chính xác  “Hung dữ ở nhà, hèn hạ ở chợ

Philippines nhổ cọc lạ ngoài Biển Đông

Việt Hà, phóng viên RFA
2011-06-16

Hôm 15 tháng 6, Philippines cho biết đã nhổ một số cọc lạ tại 3 bãi đá trong khu vực đang tranh chấp ở biển Đông.

AFP photoBản đồ khu vực trong vùng biển Đông, nơi Chính phủ Philippines cho rằng các tàu quân sự Trung Quốc đã đổ vật liệu xây dựng trái phép.

Thông báo này được đưa ra vào lúc các tranh chấp trong khu vực đang trở nên căng thẳng thời gian gần đây. Các cọc này được đóng ở đây nhằm mục đích gì? Liệu hành động nhổ cọc của Philippine có tạo thêm căng thẳng cho vấn đề biển Đông?

Không phải lần đầu

Trong khi những căng thẳng trên biển Đông chưa có dấu hiệu dịu bớt thì vào hôm 15 tháng 6, Philippines cho biết vào tháng 5 vừa qua hải quân nước này đã nhổ một số cọc lạ tại các bãi đá ngầm trong khu vực tranh chấp.

Phát ngôn viên Hải quân nước này, thiếu tá Omar Tonsay, nói với báo giới là các cọc gỗ này được gọi là cọc lạ vì không có dấu hiệu hay chữ đề thuộc nước nào, và Philippine cũng không dựng các cọc này.

Giáo sư môn quan hệ quốc tế thuộc trường đại De La Salle, Philippine, ông Renato Cruz De Castro cho biết thực ra việc nhổ các cọc gỗ này không phải là mới. Ông nói:

“Những cọc này có thể đã được dựng ở đây khoảng 2 năm trước. Philippine cũng đã nhổ những cọc từ giữa những năm 1990 cho nên có thể là những cọc này đã có ở đó một thời gian. Hải quân Philippine nhổ các cọc này từ năm 1990 vì quan niệm rằng các cọc này có nghĩa là xác nhận chủ quyền. Mục đích nhổ cọc là để ngăn chặn bất cứ việc xây dựng có thể trong tương lai tại khu vực tranh chấp đó.”

Trước đó, tại diễn đàn đối thoại Shangri La ở Singapore vào đầu tháng 6, Bộ trưởng Quốc phòng Philippine Voltaire Gazmin cho biết Philippine đã phát hiện một tàu hải giám của Trung Quốc đổ vật liệu xây dựng và thả phao ở vùng gần Amy Douglas Bank phía tây nam bãi Cỏ Rong thuộc đặc quyền kinh tế của Philippines.

Giáo sư Castro cho biết việc đổ vật liệu xây dựng này có thể báo hiệu là sẽ có xây dựng trong tương lai:

Hải quân Philippine nhổ các cọc này từ năm 1990 vì quan niệm rằng các cọc này có nghĩa là xác nhận chủ quyền. Mục đích nhổ cọc là để ngăn chặn bất cứ việc xây dựng có thể trong tương lai tại khu vực tranh chấp đó.

Giáo sư Castro

“Những gì mà hải quân Philippine nhìn thấy là những cái tàu chở theo vật liệu đến nhưng không thấy xây dựng. Nhưng những gì mà chúng tôi quan sát cho thấy là việc xây dựng có thể sẽ được bắt đầu.”

Tiến sĩ Ian Storey thuộc viện nghiên cứu Đông Nam Á nhận xét nếu đúng là có việc xây dựng hay đổ cọc tại các khu vực đang tranh chấp thì đây là hành động vi phạm tuyên bố của các bên về ứng xử trên biển Đông nghiêm trọng nhất từ trước tới nay:

“Tuyên bố chung của các bên về ứng xử trên biển Đông hồi năm 2002 chỉ rõ là cấm các bên chiếm đóng các đảo và bãi chưa chiếm đóng. Từ năm 2002, tất cả các bên đều tuân thủ điều này. Nhưng nếu đúng là Trung Quốc đã đổ vật liệu và có dự định xây dựng trên đó thì cho đến giờ đó là hành động vi phạm DOC nghiêm trọng nhất kể từ năm 2002.”

Gia tăng căng thẳng?

Việc nhổ các cọc lạ của hải quân Philippine được thông báo vào lúc này theo giáo sư Castro có thể sẽ làm những nước đã cắm các cọc này không hài lòng:

“Có thể những nước đã cắm các cọc ở đó sẽ không thoải mái khi biết các cọc đã bị nhổ đi. Tôi không biết là liệu việc này có làm tăng thêm căng thẳng hay không nhưng đây đã là chính sách của hải quân Philippine kể từ những năm 1990.”

000_Hkg3888213-250.jpg
Một chiếc tàu kéo dẫn chiếc USS Blue Ridge của Hải quân Mỹ vào cảng Nam Manila hôm 04/8/2010. AFP photo

Căng thẳng trong khu vực biển Đông đã gia tăng trong thời gian gần đây sau một loạt các sự kiện liên quan đến những đụng độ giữa tàu hải giám Trung Quốc và các tàu thăm dò của Philippines và Việt Nam.

Vào tháng 3 năm nay, tàu hải giám Trung Quốc đã xua đuổi một tàu thăm dò của Philippine tại gần khu vực quần đảo Trường Sa. Tiếp theo đó, vào ngày 26 tháng 5 và 9 tháng 6, tàu hải giám Trung Quốc đã cắt cáp của hai tàu thăm dò khác của Việt Nam.

Cả Philippine và Việt Nam đều đã lên tiếng phản đối các hành động này của Trung Quốc. Việt Nam còn yêu cầu Trung Quốc bồi thường. Phía Trung Quốc thì nói rằng tàu Trung Quốc chỉ làm việc bảo vệ chủ quyền của mình.

Tổng thống Philippine, Benigno Aquino hôm 14 tháng 6 đã lên tiếng kêu gọi sự giúp đỡ từ một đồng mình lâu năm của mình là Mỹ để giải quyết tranh chấp với Trung Quốc.

Tổng thống Aquino nói rằng lực lượng quốc phòng của Philippine còn quá yếu để có thể đối đầu với Trung Quốc. Sự có mặt của Mỹ sẽ đảm bảo quyền tự do đi lại trong khu vực cho các bên và theo đúng luật quốc tế.

Trong cùng ngày, phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Trung Quốc Hồng Lỗi cảnh báo các nước không liên quan đứng ngoài những tranh chấp về chủ quyền trên biển Đông.
Thượng nghị sĩ Jim Webb trong buổi nói chuyện về an ninh khu vực Đông Á Thái Bình Dương hôm 13 tháng 6 tại Washington cho rằng phản ứng của Hoa Kỳ trước căng thẳng trên biển Đông là quá yếu và Mỹ cần phải có những tham gia tích cực hơn nữa. Ông nói:

Tôi không biết là liệu việc này có làm tăng thêm căng thẳng hay không nhưng đây đã là chính sách của hải quân Philippine kể từ những năm 1990.

 Giáo sư Castro

“Tôi nghĩ chính phủ đã có những phản ứng quá yếu trước vấn đề này khi chúng ta nói là chúng ta không đứng về bên nào trong vấn đề chủ quyền. Không đứng về bên nào có nghĩa là chúng ta đã tỏ rõ lập trường rồi. Chúng ta nên làm việc trong một diễn đàn đa phương để giải quyết vấn đề. Đây không chỉ là vấn đề chủ quyền mà còn nhiều tương lai kinh tế ở đó. Vì vậy chúng ta cần phải tham gia như là môt lực lượng cân bằng để đưa vấn đề này ra thảo luận. Việc Mỹ đứng lên cho thấy khả năng lãnh đạo của mình để đưa vấn đề ra bàn thảo là hết sức quan trọng.”

Thượng nghị sĩ Jim Webb cũng cho rằng đã đến lúc Hoa Kỳ phải gửi ra những tín hiệu rõ ràng hơn với Trung Quốc bởi các hành động gần đây của Trung Quốc trên biển Đông là không hợp lý.

Trong khi đó, cũng vào ngày 13 tháng 6 vừa qua, hải quân Việt Nam đã diễn tập bắn đạn thật ở bờ biển miền Trung Việt Nam. Còn Bắc Kinh thì trước đó đã tuyên bố là sẽ tiến hành các cuộc tập trận hải quân tại biển Đông vào cuối tháng này. Cả Việt Nam và Trung Quốc đều nói rằng đây là các cuộc tập trận theo lịch trình thường niên của hai nước này.

Posted in Biên Giới, Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa | Leave a Comment »

Luôn bị lừa gạt, nhưng 95% các công trình ở VN vẫn do các nhà thầu Trung Quốc trúng thầu và xây dựng

Posted by hoangtran204 trên 17/06/2011

Thì ra kế hoạch cải tạo kinh Nhiêu Lộc ở quận 2, quận Phú Nhuận, quận 3, quận 10,  là do Ngân Hàng Thế Giới cho mượn tiền khoảng 470 triệu đô la. Và nay, khi công việc bị dỡ dang, bị thầu  Trung Quốc lừa gạt lấy tiền thì không ai chịu trách nhiệm. Đúng là: cha chung nên không ai khóc.

Đọc qua bài báo dưới đây ai cũng thấy cốt lõi của vấn đề: chính quyền đã đề cử những người bất tài, thiếu trình độ chuyên môn, thiếu tinh thần trách nhiệm …đại điện cho chính quyền để gọi thầu, và quản lý giám sát công trình do các nhà thầu Trung Quốc thực hiện và cuối cùng họ đã bị Trung Quốc lừa đảo như những đứa ngốc có chút tiền bị gạt. Kết quả là thất thoát tiền bạc rất nhiều, thời gian hoàn tất công trình bị trể hạn, và nợ đi vay ngân hàng  Thế giới cho mỗi công trình gia tăng tối thiểu 30-40% so với giá gốc hoàn thành công trình.

Khi Ngân  Hàng  Thế Giới (World Bank) phát hiện Tổng công ty xây dựng công trình Trung Quốc (CSCEC) liên quan đến hối lộ trong một dự án cũng do W.B. tài trợ ở Philippines, thì họđã yêu cầu phía  VN loại bỏ nhà thầu nầy ngay lập tức, không cho nhà thầu nầy tiếp tục thi công cải tạo Kinh Nhiêu Lộc. Kết quả là lòi ra những sự thiếu chuyên môn, thiêu trách nhiệm, bê bối và sơ hở của các viên chức chính quyền của Việt Nam trong dự án cải tạo  Kinh Nhiêu  Lộc.

Nếu có một công trình cần gọi nhà thầu làm, thì phía chủ nhà phải có trình độ chuyên môn về xây dựng. Nếu không, họ cần phải thuê riêng một đội 10-15 kỹ sư và cán sự kỹ thuật chuyên ngành về thiết kế, công trình và thi công để cố vấn cho chủ nhà. Nhiệm vụ của đội kỹ sư và cán sự kỹ thuật nầy là theo dõi tiến độ công việc hoàn thành, đánh giá vật liệu làm công trình có khớp với hạng mục đã viết trong văn bản khi bỏ thầu hay không, đánh giá việc thi công đúng tiêu chuẩn trong xây dựng hay không, đánh giá mức độ khó khăn của từng công việc đã được thực hiện và qui thành tiền để trả từng phần theo mức độ công việc được hoàn thành.

Bên cạnh đó, chủ nhà còn phải có một hãng luật có kinh nghiệm điều tra về uy tín, thanh danh của các công ty bỏ thầu, trúng thầu, để có tiếng nói cho công ty nầy trúng thầu hay loại bỏ ngay từ đầu. Tổ hợp luật sư  chuyên về xây dựng còn có khả năng góp ý, giám sát toàn bộ tiến độ thi công của công trình, giám sát việc trả tiền theo phương cách trả từng phần công việc được hoàn thành và nghiệm thu từng phần trước khi qua công đoạn mới.

Chủ nhà, hay người trả tiền cho chủ thầu thi công công trình, trả tiền từng phần theo mức độ công việc khó dễ đã được hoàn thành và đã được nghiệm thu đúng tiêu chuẩn xây dựng và tuân theo bản thiết kế. Việc trả tiền phải dựa vào các ý kiến chuyên môn của đội kỹ sư, cán bộ kỹ thuật và nhóm luật sư cố vấn mà họ thuê mướn.

Việc trả tiền theo từng công đoạn khó dể của công việc thường giúp chủ nhà kiểm soát được chủ thầu. Cụ thể, nếu có một công đoạn khó khăn của một công trình đã hoàn thành, thì chủ nhà phải đánh giá xem công việc ấy được thi hành đng tiêu chuẩn xây dựng không, rồi các kỹ sư và cán sự kỹ thuật (của chủ nhà) nghiệm thu, rồi mới trả tiền. Chủ nhà phải có chuyên môn để nắm được các văn bản kế hoạch của chủ thầu, công việc nào khó thì trả tiền nhiều hơn các công việc dễ đã được thi công và hoàn tất. Nếu không có chuyên môn, thì chủ nhà phải thuê mướn một đội kỹ sư thiết kế, thi công công trình, và cán sự kỹ thuật đủ trình độ và kinh nghiệm để đánh giá bản thiết kế, đánh giá vật liệu có đủ tiêu chuẩn hạng mục để thi công,

Ai là người duyệt kế hoạch để cho đơn vị Trung Quốc nầy trúng thầu, thì người đó phải chịu trách nhiệm một phần nào về công trình nếu có chuyện sơ suất xẩy ra. Tối thiểu là họ phải bị các chức vì không đủ bản lãnh và tài năng nên để chủ thầu Trung Quốc gạt và làm thất thoát nhiều tiền bạc.

Đọc xong bài báo dưới đây ta thấy chính quyền đã trao trách nhiệm cho những người rất khờ khạo và ngu ngốc, những người hoàn toàn không có hiểu biết về chuyên môn, lại thiếu kinh nghiệm trong việc quản lý, giám sát nghiệm thu từng phần công trình của các công ty thi công của chủ thầu. Nói tóm lại là họ  là những người thiếu kinh nghiệm và trình độ tối thiểu để cáng đáng công việc được giao cho. Họ nên bị điều tra, nếu cần, họ sẽ bị đưa ra tòa để chịu trách nhiệm về sự tắc trách, và nên bị sa thải.

Một chế độ tung hô, tuyên truyền và tự phong là “các đỉnh cao của trí tuệ”, nhưng thi hành thì cứ như bài báo dưới đây tường thuật.

http://www.thanhnien.com.vn/Pages/20110616/Bay-thau-gia-re.aspx

Bẫy thầu giá rẻ

Dù bẫy thầu giá rẻ đã được các chuyên gia cảnh báo, song nhiều chủ đầu tư thừa nhận rất khó đối phó các chiêu thức của nhà thầu Trung Quốc.

Giá thấp đến vô lý

Gói thầu cải tạo kênh Nhiêu Lộc – Thị Nghè vẫn chưa thể hoàn thành do đang giải quyết hậu quả do nhà thầu Trung Quốc để lại – Ảnh: D.Đ.M

Một trong những dự án chịu ảnh hưởng nặng nề bởi sự chây ì, bê bối của nhà thầu Trung Quốc là dự án Vệ sinh môi trường (VSMT) TP.HCM. Trong đó, gói thầu số 10 (cải tạo kênh Nhiêu Lộc – Thị Nghè) do Tổng công ty xây dựng công trình Trung Quốc (CSCEC) thi công đáng lẽ phải hoàn thành từ năm 2009 nhưng ì ạch suốt một thời gian dài. Tháng 2.2010, CSCEC bị cắt hợp đồng do Ngân hàng Thế giới (WB – đơn vị tài trợ ODA cho dự án) phát hiện CSCEC liên quan đến hối lộ trong một dự án cũng do WB tài trợ ở Philippines .

Tuy vậy, vào thời điểm bị cắt, nhà thầu này đã kịp “gặm” gần hết phần việc dễ dàng mà có giá trị cao nhất của gói thầu, chỉ chừa lại các hạng mục khó khăn nhưng có giá trị thấp. Theo Ban Quản lý dự án VSMT, ngay sau khi cắt hợp đồng với CSCEC, ban đã phải tập trung lực lượng thống kê phần việc còn lại và tách ra làm 5 gói thầu để ráo riết đấu thầu lại. Đến nay, phải mất hơn 1 năm, tiến độ gói thầu số 10 mới khả quan trở lại, và thực tế cho thấy, cùng một công việc nhưng các nhà thầu VN và Mỹ trúng thầu sau này đã thi công hiệu quả hơn hẳn nhà thầu Trung Quốc.

Theo phân tích của một cán bộ ban quản lý dự án, ngay từ giai đoạn đấu thầu, CSCEC đã có sự toan tính để trúng thầu và hưởng lợi lớn nhất từ gói thầu. Cụ thể, (Tổng công ty xây dựng Trung Quốc) CSCEC trúng thầu gói số 10 (gồm 7 hạng mục) với tổng giá trị là 60 triệu USD.

Trong đó, hạng mục “ngon” nhất là xây tường cừ dọc kênh Nhiêu Lộc – Thị Nghè được CSCEC bỏ thầu tới gần 50 triệu USD (chiếm 82,5% giá trị toàn bộ gói thầu). Còn lại 6 hạng mục chỉ được bỏ giá hơn 10 triệu USD, trong đó, hạng mục “khó xơi” nhất là di dời đường ống cấp nước phi 2.000 mm ở chân cầu Điện Biên Phủ chỉ được bỏ giá 200.000 USD, thấp hơn giá chào thầu của các nhà thầu khác đến 80 – 90%. Việc CSCEC đưa ra cái giá thấp một cách vô lý cho hạng mục “xương xẩu” nhất của toàn gói thầu cho thấy ngay từ đầu nhà thầu đã không có ý định thực hiện phần việc này.

Nhận thấy sự bất hợp lý, tư vấn giám sát CDM (Mỹ) đã yêu cầu CSCEC chứng minh với mức giá đó nhà thầu có thể đảm bảo chất lượng và tiến độ hạng mục. Tuy nhiên, nhà thầu vẫn khẳng định có thể làm được và chủ đầu tư đã không thể loại CSCEC (bởi theo quy định của VN, một khi đã đạt điểm kỹ thuật thì nhà thầu nào bỏ giá thấp nhất sẽ trúng thầu). Thực tế đến nay, sau khi đấu thầu lại, giá trị hạng mục di dời đường ống cấp nước (được tách ra thành gói 10A) đã tăng gấp 10 lần, lên 2 triệu USD. Có thể thấy, CSCEC không chỉ tìm cách hạ giá gói thầu xuống thấp để trúng thầu, mà còn tính toán phân bổ giá trị trong từng hạng mục, sao cho hạng mục “dễ xơi” có giá trị cao nhất, nhưng tổng giá trị gói thầu vẫn là thấp nhất.

Bê bối ở nhiều dự án

Không chỉ dự án VSMT, mà CSCEC từng gây ra nhiều hậu quả tương tự ở các dự án hạ tầng khác trong khu vực ĐBSCL. Chẳng hạn, tại dự án xây mới 16 cây cầu trên QL1 đoạn Cần Thơ – Cà Mau, CSCEC đã nghiễm nhiên trúng thầu đến 9 cây cầu cũng với chiêu giá rẻ. Ngay từ khi ký hợp đồng vào tháng 1.2007, giá trúng thầu 586 tỉ đồng của CSCEC được đánh giá là thấp so với giá thị trường. Vậy nên dù khởi công rầm rộ từ đầu năm 2007, song sau hơn 3 năm thi công, CSCEC chỉ hoàn thành được 3 cầu, còn lại 6 cầu không nhúc nhích do càng thi công càng đuối vốn. Đến giữa 2010, chủ đầu tư là Tổng cục Đường bộ VN buộc phải làm một cuộc “giải cứu” chật vật bằng cách tách 6 cây cầu để đấu thầu lại.

Ở một dự án trọng điểm khác là cầu Cần Thơ, CSCEC cũng lọt vào gói thầu số 3 thi công đường dẫn phía bờ Cần Thơ (dài 7,69 km) và tiếp tục kiểu thi công chây ì, lựa phần việc nhẹ nhàng để làm. Đến tháng 8.2009, nhà thầu này chỉ hoàn thành hơn 70% (trong khi phần đường dẫn phía bờ Vĩnh Long do nhà thầu VN thi công hoàn thành đến 90%) nên chủ đầu tư buộc phải cắt hợp đồng.

Ông Phan Phùng Sanh – Phó chủ tịch thường trực Hội Khoa học kỹ thuật xây dựng TP.HCM – cho rằng việc một nhà thầu Trung Quốc bị loại khỏi dự án vì bê bối sau đó vẫn thoải mái tham gia đấu thầu và tiếp tục bê bối ở các dự án khác cho thấy sự thiếu chặt chẽ trong cơ chế phối hợp giữa chủ đầu tư các công trình xây dựng. Để kiểm soát, cần lập danh sách “đen” gồm những nhà thầu kém năng lực, khi đó chủ đầu tư có đủ cơ sở để từ chối cho những nhà thầu này tham gia đấu thầu. Mặt khác, cần sửa Luật Đấu thầu theo hướng khống chế giá sàn, bởi thực tế cho thấy giá bỏ thầu chấp nhận được là giá chỉ chênh lệch 5% so với dự toán gói thầu.

Còn theo ông Hoàng Đức Hậu (Hội Cầu đường VN), trách nhiệm của chủ đầu tư trong việc chọn “nhầm” nhà thầu là không nhỏ. “Bởi, có thể chấp nhận anh mắc bẫy 1 – 2 lần, chứ đến lần thứ n thì không thể đổ thừa là lọt bẫy được nữa. Ngoài ra, chủ đầu tư hiện nay có đầy đủ “gậy” để giám sát, đôn đốc nhà thầu và nếu cứ căn đúng hợp đồng mà xử phạt theo tiến độ và chất lượng thì có lẽ không nhà thầu nào dám bê bối – bởi phạt theo hợp đồng rất nặng” – ông Hậu nói.

*Việc CSCEC đưa ra cái giá thấp một cách vô lý cho hạng mục “xương xẩu” nhất của toàn gói thầu cho thấy ngay từ đầu nhà thầu đã không có ý định thực hiện phần việc này

* Vay 470 triệu USD cho dự án vệ sinh môi trường giai đoạn 2

Văn phòng UBND TP.HCM ngày 16.6 thông báo TP vừa đề nghị Bộ Kế hoạch – Đầu tư xem xét trình Thủ tướng Chính phủ chấp thuận đưa dự án Vệ sinh môi trường TP – giai đoạn 2 vào danh mục tài trợ ODA trong năm tài khóa 2011 từ nguồn tài trợ của Ngân hàng Thế giới và Ngân hàng Phát triển châu Á.

Dự án này có tổng vốn đầu tư dự kiến 470 triệu USD, với mục tiêu lâu dài là cải thiện môi trường, điều kiện sống của người dân TP, khôi phục và bảo tồn hệ sinh thái sông Sài Gòn và hạ lưu sông, thúc đẩy phát triển bền vững cho TP.HCM và khu vực lân cận.

Mục tiêu trước mắt của dự án là xây dựng hoàn chỉnh toàn bộ dự án Vệ sinh môi trường TP, xử lý triệt để nguồn nước thải sinh hoạt trong lưu vực Nhiêu Lộc – Thị Nghè và Q.2 trước khi bơm ra sông Sài Gòn hoặc sông Đồng Nai. Thời gian thực hiện dự án dự kiến từ năm 2013-2017 (Nguyễn Đình  Mười).

*

Nhà thầu Trung Quốc tạo nhiều tiền lệ xấu

– Năm 2007, UBND TP.HCM đã chấp thuận tách một phần gói thầu số 7 dự án VSMT ra thành gói 7A để tổ chức đấu thầu lại nhằm giảm thiểu công việc cho nhà thầu Trung Quốc TMEC CHEC 3.

Nguyên nhân, TMEC CHEC 3 đã bỏ thầu thấp hơn giá dự toán đến 20 – 30% nên càng thi công càng thua lỗ dẫn đến chây ì.

Sau đó một hạng mục khác của gói 7 lại tiếp tục phải tách ra thành gói 7B. Bốn gói thầu thi công mở rộng hệ thống cống thoát nước cấp hai và ba thuộc các khu vực tây bắc, tây nam, đông bắc và đông nam TP.HCM cũng tách thành 8 gói thầu để đẩy nhanh tiến độ.

Và mới đây nhất, gói thầu số 10 phải tách thành 5 gói thầu. Tương tự, dự án xây mới 16 cầu trên QL1 cũng phải cắt tới 60% khối lượng gói thầu 2A của CSCEC để chuyển giao cho nhà thầu khác thi công được xem là việc chưa từng có tiền lệ trong ngành GTVT.

– Hai gói thầu thuộc dự án VSMT do 2 nhà thầu Trung Quốc thi công quá ì ạch buộc TP.HCM phải liên tục xin (Ngân  Hàng Thế Giới) WB gia hạn thời gian hoàn thành và vay thêm vốn. Cụ thể, dự án đáng lẽ xong cuối năm 2007, song WB phải gia hạn lần 1 đến cuối năm 2009, lần 2 đến tháng 6.2010 và lần 3 đến cuối 2011. Đồng thời, vốn vay cho dự án cũng đội từ 200 triệu USD lên khoảng 320 triệu USD.

– Năm  2008, do TMEC CHEC 3 thiếu vốn thi công, UBND TP.HCM đã quyết định tạm ứng ngân sách cho nhà thầu 1 triệu USD để khởi động lại gói thầu. Theo TS Tô Vân Trường – nguyên Viện trưởng Viện Quy hoạch thủy lợi miền Nam, thực tế chủ đầu tư đã tự quyết định mà không hỏi ý kiến tư vấn giám sát đối với vấn đề liên quan đến khoản tiền lớn như vậy. Sau đó, WB đã có phản ứng vì cho rằng không thể dùng vốn vay của WB để cho nhà thầu vay lại. Điều này sẽ tạo tiền lệ xấu là các nhà thầu cứ bỏ giá rẻ để trúng thầu, rồi sau đó xin vay lại của chủ đầu tư, chỉ riêng phần tiết kiệm tiền lãi ngân hàng cũng kiếm được đáng kể.

Việc CSCEC đưa ra cái giá thấp một cách vô lý cho hạng mục “xương xẩu” nhất của toàn gói thầu cho thấy ngay từ đầu nhà thầu đã không có ý định thực hiện phần việc này

Posted in Hồng Tốt hơn Chuyên, Tham Nhung-Hoang Phí- Ăn Cắp | 4 Comments »

Bác sĩ, nữ Văn sĩ, ông Tướng, nhà Khoa Học nói gì về Biển Đông

Posted by hoangtran204 trên 15/06/2011

4 bài báo sau đây cùng nói về Biển Đông. Mời các bạn đọc và suy nghĩ.

Bài 1

Tình đồng chí sâu nặng hơn tình non sông

BS Ngọc

Sáng nay đọc báo thấy có một nhúm chữ quen quen nhưng đủ làm tôi tò mò. Đó là hai chữ “giai cấp”. Nghe đến hai chữ này chắc nhiều người thấy run. Gia đình tan hoang, vợ mất chồng, con mất cha cũng vì hai chữ này. Vậy mà bây giờ chúng lại xuất hiện trong tình hình chúng ta chống sự xâm lăng của Trung Quốc.

Trả lời phỏng vấn của VNexpress.net, ông cựu tướng công an Lê Văn Cương nói: “Với Trung Quốc, ở tầm cao chiến lược, ta phải minh định 2 vấn đề: Dân tộc và giai cấp. Khi làm việc với lãnh đạo Việt Nam, Trung Quốc bao giờ cũng đưa vấn đề giai cấp lên trên hết, nhưng trong hành xử, Trung Quốc sử dụng chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi”. Thoạt đầu tôi không hiểu tại sao lại có vấn đề giai cấp ở đây. Hồi nào đến giờ, nói đến “giai cấp” ai cũng nghĩ đến “đấu tranh giai cấp”. Đấu tranh giai cấp theo tôi hiểu là chống bọn có đặc quyền đặc lợi, bọn áp bức dân chúng, bọn ăn bám, là cuộc đấu tranh của người không có chống kẻ có. Bọn này thì nhan nhản ở nước ta. Vậy thì giai cấp trong bối cảnh mà ông Lê Văn Cương có dính dáng gì đến chuyện chúng ta đấu tranh bảo vệ chủ quyền đất nước? Thật không thể nào hiểu nổi.

Nhưng nếu chịu khó tìm hiểu thì câu nói trên sẽ trở nên dễ hiểu. Trong bài viết “Các rủi ro của VN trong vấn đề Biển Đông?” trên BBC, giáo sư Nguyễn Tiến Dũng thuật lại một câu nói của ông cựu tổng bí thư Đảng CSVN Đỗ Mười: “tuy Trung Quốc nó đánh ta nhưng nó cùng là cộng sản”. Lãnh đạo Trung Quốc nghe câu này chắc vui lắm, vì họ không ngờ có một đồng chí em trung thành đến như thế. Nghe nói ông này nổi tiếng học giỏi và thông minh. Ông có rất nhiều câu để đời. Câu nói đáng để đời trên của ông tôi hiểu rằng tuy bọn Tàu nó đánh chiếm đất, chiếm biển Việt Nam, nhưng dù sao chúng nó cũng là đồng chí anh em. Đồng chí hướng cộng sản. Lý tưởng cộng sản không có biên giới. Anh cộng sản. Em cũng là cộng sản. Núi liền núi, sông liền sông. Của em cũng là của anh, là của cộng sản. Câu nói của ông Đỗ Mười cũng có thể hiểu rằng thà để người Trung Quốc cộng sản đánh chiếm đất chiếm đảo của Việt Nam còn hơn là để cho bọn Ngụy chúng nó chiếm miền Nam. Tình đồng chí cộng sản của ông Đỗ Mười đúng là sâu nặng hơn tình cảm ông dành cho những người con Việt Nam ngã xuống bảo vệ quê hương.

Có lẽ tư duy đó cũng chính là tư duy của ông Phạm Văn Đồng khi ông ký cái công hàm nổi tiếng. Có thể xem phụ lục dưới đây để thấy ông đã viết những gì trên giấy trắng mực đen. Ông là một người cộng sản nổi tiếng. Ông còn nổi tiếng với cái công hàm mà có người cho là “công hàm bán nước”. Nhưng cũng có người cho rằng cái công hàm ấy chẳng có giá trị bởi vì Trường Sa và Hoàng Sa lúc đó là do chính quyền miền Nam quản lý. Nhưng nói gì thì nói, tôi nghĩ rằng cái công hàm ấy rõ ràng thể hiện ý chí của người cộng sản muốn chiếm miền Nam cho dù phải cho (hay dâng) Trung Cộng hai đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Ông cựu thủ tướng Phạm Văn Đồng xem tình đồng chí cộng sản sâu nặng hơn tình cảm ông dành cho mảnh đất của tiền nhân để lại.

Ngay cả khi Trung Quốc bắt, bắn, giết ngư dân Việt Nam, vẫn có một ông tướng biện minh cho tình đồng chí. Trong tình hình dân của mình bị ngoại bang sát hại mà ông Đồng Sĩ Nguyên vẫn có thể thốt lên rằng “đảng ta và đảng bạn” nên “ngồi lại thảo luận”! Tình đồng chí cộng sản của ông tướng còn sâu đậm hơn hơn tình cảm ông dành cho những người ngư dân Việt Nam khốn khổ.

Ngày 5/6 vừa qua, hàng ngàn người tham gia biểu tình chống Trung Quốc đã ngổ ngược phá hoại công cụ của tàu Bình Minh 02. Các hãng thông tấn quốc tế đưa tin. Vậy mà Thông tấn xã Việt Nam chỉ loan một bản tin ngắn với dòng chữ “có một số ít người đã tự phát tụ tập, đi ngang qua Đại sứ quán Trung Quốc ở Hà Nội và Tổng Lãnh sự quán Trung Quốc ở Thành phố Hồ Chí Minh” và bác bỏ tin từ các hãng quốc tế một cách chắc nịch: “đó là thông tin sai sự thực”. Ai cũng biết TTXVN viết cho bọn đầu não ở Bắc Kinh và tay chân của chúng ở Hà Nội đọc, chứ không phải viết cho người Việt đọc. Tôi ngạc nhiên không hiểu tại sao họ viết bằng tiếng Hoa cho tiện. Mà viết bằng tiếng Việt hay tiếng Hoa thì bản tin đó một lần nữa cho thấy thái độ khiếp nhược của những người cầm quyền cấp cao nhất. Tất cả cũng vì tình đồng chí cộng sản đó thôi. Người ta chấp nhận chịu nhục để đổi lấy tấm thịnh tình đồng chí của những tên kẻ thù truyền kiếp.

Tại sao lãnh đạo ta không dám có một lời nào phản đối bọn bành trướng Bắc Kinh, trong khi lãnh đạo Philippines rất hùng hồn tố cáo chúng trước công luận quốc tế? Tại sao thay vì có những hành động thiết thực để bảo vệ hải đảo và lãnh hải của ta, giới lãnh đạo lại khuyến khích những trò yêu nước cải lương như tiếp nhận đá từ Trường Sa, ký tên vì Hoàng Sa thân yêu. Tôi nghĩ chỉ có tình đồng chí cộng sản mới có thể trả lời những câu hỏi đó thích hợp.

Đến đây thì các bạn đã có đủ chất liệu thật để hiểu hai chữ “giai cấp” trong câu nói của ông Lê Văn Cương đề cập đến cái gì. Dĩ nhiên “giai cấp” trong câu nói của ông chẳng dính dáng gì đến đấu tranh giai cấp. Nó dính dáng đến tình đồng chí cộng sản. “Giai cấp” ở đây là giai cấp cộng sản. Giai cấp là “nó cùng là cộng sản” như ông Đỗ Mười nói. Vì tình giai cấp ông Phạm Văn Đồng vui vẻ ký tên vào “công hàm bán nước”. Giai cấp là “đảng ta, đảng bạn” như cách nói của ông Đồng Sĩ Nguyên. Giai cấp là bản tin thanh minh thanh nga của TTXVN. Ý ông Cương là trong khi đàm phán, Trung Quốc luôn ru ngủ phía Việt Nam bằng tình đồng chí cộng sản, nhưng khi hành động thì họ đặt quyền lợi dân tộc của họ lên trên. Câu nói của ông cựu tổng thống Nguyễn Văn Thiệu rất thích hợp ở đây: Đừng tin những gì cộng sản Tàu nói, hãy nhìn kỹ những gì cộng sản Tàu làm.

Một thực tế không thể chối cãi là bọn Tàu chúng nó khinh thường Việt Nam và rất khinh thường lãnh đạo Việt Nam. Báo chí Tàu ra rả hầu như hàng ngày nói xấu Việt Nam. Nói xấu bằng những chữ hết sức đê tiện. Nói xấu một trịch thượng như cha gõ đầu con. Họ còn xấc xược bảo Việt Nam nên đọc lại sử! Tôi tưởng chính chúng mới là người cần đọc lại sử. Nhưng vấn đề là tại sao bọn lãnh đạo Tàu chúng nó khinh miệt lãnh đạo Việt Nam như thế? Rất có thể Tàu chúng nó biết rằng lãnh đạo Việt Nam ngày nay không có khả năng cao, chức quyền đều mua bán, bằng cấp dỏm nhiều hơn thật, tham nhũng tràn lan, dân chúng đã mất niềm tin, kinh tế lệ thuộc vào Tàu, v.v. Những người như thế thì dù có những danh hiệu cao quý nào cũng vẫn bị người đời cười chê và khinh bỉ. Bọn Tàu cũng biết rằng giới trí thức Việt Nam không bao giờ có tiếng nói phản biện được. Một đất nước như thế thì phải nói là một đất nước yếu, hèn.

Hiện nay, có một lập luận rất phổ biến của những quan chức không tham gia biểu tình. Họ nói rằng việc quốc gia đại sự đã có Đảng và Nhà nước lo, nên tin tưởng vào Đảng và Nhà nước. Tôi nghĩ rằng những người có tư duy loại này là loại người thiếu đầu óc, không chịu làm thể thao trí tuệ, những người sẵn sàng làm nô lệ. Thủ tướng Pháp Georges Clemenceau có lần nói rằng chiến tranh là chuyện quá quan trọng để cho mấy ông tướng lo. Mượn cách nói đó, chúng ta cũng có thể nói vận mệnh đất nước quá quan trọng để giao trọn vào tay của của Đảng và Nhà nước. Hãy nhìn lại! Với những gì xảy ra trong thực tế trước đây và hiện nay, chúng ta khó có thể nào an tâm tin tưởng vào Đảng CSVN. Làm sao chúng ta có thể tin khi họ đặt tình đồng chí cộng sản lên trên lợi ích của đất nước và dân tộc?

Xin nhớ rằng đất nước này là của dân tộc Việt Nam, chứ đâu phải của riêng ba triệu đảng viên Đảng CSVN. Đối với dân tộc Việt Nam, quyền lợi của người Việt Nam và tình yêu đất nước đứng trên tất cả, và chắc chắn đứng trên mối tình đồng chí cộng sản núp dưới hai chữ “giai cấp”.

BSN

Phụ lục

DECLARATION OF THE GOVERNMENT OF THE PEOPLE’S REPUBLIC OF CHINA ON THE TERRITORIAL SEA(Approved by the 100th Session of the Standing Committee of the National People’s Congress on 4th September, 1958)

The People’s Republic of China hereby announces:

(1) This width of the territorial sea of the People’s Republic of China is twelve national miles. This provision applies to all Territories of the People’s Republic of China, including the mainland China and offshore islands, Taiwan (separated from the mainland and offshore islands by high seas) and its surrounding islands, the Penghu Archipelago, the Dongsha Islands, the Xisha islands, the Zhongsha Islands, the Nansha Islands and other islands belonging to China.

(2) The straight lines linking each basic point at the mainland’s coasts and offshore outlying islands are regarded as base lines of the territorial sea of the mainland China and offshore islands. The waters extending twelve nautical miles away from the base lines are China’s territorial sea. The waters inside the base lines, including Bohai Bay and Giongzhou Strait, are China’s inland sea. The islands inside the base lines, including Dongyin Island, Gaodeng Island, Mazu Inland, Baiquan Island, Niaoqin Island, Big and Small Jinmen Islands, Dadam Island, Erdan Island and Dongding Island, are China’s inland sea islands.

(3) Without the permit of the government of the People’s Republic of China, all foreign aircrafts and military vessels shall not be allowed to enter China’s territorial sea and the sky above the territorial sea.

Any foreign vessel sailing in China’s territorial sea must comply with the relevant orders of the government of the People’s Republic of China.

(4) The above provisions (2) and (3) also apply to Taiwan and its surrounding islands, the Penghu Islands, the Dongsha Islands, the Xisha Islands, the Zhongsha Islands, the Nansha Islands and other islands belonging to China.

Taiwan and Penghu are still occupied with force by the USA. This is an illegality violating the People’s Republic of China’s territorial integrity and sovereignty. Taiwan and Penghu are waiting for recapture. The People’s Republic of China has rights to take all appropriate measures to recapture these places in due course. It is China’s internal affairs which should not be interfered by any foreign country.

Trích từ nguồn: http://law.hku.hk/clsourcebook/10033.htm


Tuyên Bố của Chính Phủ Nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc về Lãnh Hải

(Ðược thông qua trong kỳ họp thứ 100 của Ban Thường Trực Quốc Hội Nhân Dân ngày 4 tháng 9 năm 1958)

Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc nay tuyên bố:

(1) Bề rộng lãnh hải của nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc là 12 hải lý. Ðiều lệ này áp dụng cho toàn lãnh thổ nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc, bao gồm phần đất Trung Quốc trên đất liền và các hải đảo ngoài khơi, Ðài Loan (tách biệt khỏi đất liền và các hải đảo khác bởi biển cả) và các đảo phụ cận, quần đảo Penghu, quần đảo Ðông Sa, quần đảo Tây Sa, quần đảo Trung Sa, quần đảo Nam Sa, và các đảo khác thuộc Trung Quốc.

(2) Các đường thẳng nối liền mỗi điểm căn bản của bờ biển trên đất liền và các đảo ngoại biên ngoài khơi được xem là các đường căn bản của lãnh hải dọc theo đất liền Trung Quốc và các đảo ngoài khơi. Phần biển 12 hải lý tính ra từ các đường căn bản là hải phận của Trung Quốc. Phần biển bên trong các đường căn bản, kể cả vịnh Bohai và eo biển Giongzhou, là vùng nội hải của Trung Quốc. Các đảo bên trong các đường căn bản, kể cả đảo Dongyin, đảo Gaodeng, đảo Mazu, đảo Baiquan, đảo Niaoqin, đảo Ðại và Tiểu Jinmen, đảo Dadam, đảo Erdan, và đảo Dongdinh, là các đảo thuộc nội hải Trung Quốc.

(3) Nếu không có sự cho phép của Chính Phủ Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc, tất cả máy bay ngoại quốc và tàu bè quân sự không được xâm nhập hải phận Trung Quốc và vùng trời bao trên hải phận này.  Bất cứ tàu bè ngoại quốc nào di chuyển trong hải phận Trung Quốc đều phải tuyên thủ các luật lệ liên hệ của Chính Phủ Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc

(4) Ðiều (2) và (3) bên trên cũng áp dụng cho Ðài Loan và các đảo phụ cận, quần đảo Penghu, quần đảo Ðông Sa, quần đảo Tây Sa, quần đảo Trung Sa, quần đảo Nam Sa, và các đảo khác thuộc Trung Quốc.

Ðài Loan và Penghu hiện còn bị cưỡng chiếm bởi Hoa Kỳ. Ðây là hành động bất hợp pháp vi phạm sự toàn vẹn lãnh thổ và chủ quyền của Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc. Ðài Loan và Penghu đang chờ được chiếm lại. Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc có quyền dùng mọi biện pháp thích ứng để lấy lại các phần đất này trong tương lai. Các nước ngoại quốc không nên xen vào các vấn đề nội bộ của Trung Quốc.

CHÍNH PHỦ NƯỚC VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ CÔNG NHẬN QUYẾT ĐỊNH VỀ HẢI PHẬN CỦA TRUNG-QUỐCSáng ngày 21.9.1958, đồng chí Nguyễn-Khang, Đại sứ nước Việt-nam dân chủ cộng hoà tại Trung-quốc, đã gặp đồng chí Cơ Bàng-phi, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao nước Cộng hoà nhân dân Trung-hoa và đã chuyển bức công hàm sau đây của Chính phủ ta:

Thưa đồng chí Chu Ân-lai,

Tổng lý Quốc vụ viện nước Cộng hoà nhân dân Trung-hoa,

Chúng tôi xin trân trọng thông báo tin để đồng chí Tổng lý rõ:

Chính phủ nước Việt-nam dân chủ cộng hoà ghi nhận và tán thành bản tuyên bố, ngày 4 tháng 9 năm 1958, của Chính phủ nước Cộng hoà nhân dân Trung-hoa, quyết định về hải phận của Trung-quốc.

Chính phủ nước Việt-nam dân chủ cộng hoà tôn trọng quyết định ấy và chỉ thị cho các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung-quốc trong mọi quan hệ với nước Cộng hoà nhân dân Trung-hoa trên mặt biển.
Chúng tôi xin kính gửi đồng chí Tổng lý lời chào rất trân trọng.

Hà Nội, ngày 14 tháng 9 năm 1958

PHẠM VĂN ĐỒNG

Thủ tướng Chính phủ

nước Việt-nam dân chủ cộng hòa

——

Bài 2

*Đọc bài viết của blogger Trang hạ dưới đây mới biết: Trong khi đài truyền hình và các website của  Trung Quốc bóp méo sự thật, thông tin có lợi cho họ, nhằm kích động dân  TQ và chỉ nói về những gì họ muốn dân TQ nghe, thì Bộ Thông  Tin Tuyên Truyển của VN không dám thông tin trên truyền hình, truyền thanh, cho tất cả người  Việt Nam trong nước biết chuyện người  VN đi biểu tình chống lại Trung Quốc ở Hà Nội và Sài Gòn. Bộ TTTT cũng không dám sai người vào các website tiếng  Hoa comment hay viết bài tường thuật mọi chuyện đang xảy ra trên  Biển Đông, nhằm mục đích nói cho người dân Trung Quốc biết sự thật ra sao.

Trái lại, bao năm qua, Bộ TTTT và Bộ Công An chỉ biết ức hiếp người  Việt trong nước. Hai bộ nầy có công an mạng, an ninh mạng theo dõi các blogger trong nước và các website của Việt kiều ở nước ngoài để đánh phá, tuyên truyền… sai người đi theo dõi, rình mò, đi phá các trang mạng cảu người  Việt, bắt bớ các blogger trong nước, ăn cắp mật mã của các blogger, giam cầm, đánh đập và tù đày những người  Việt nào mà cấp trên chỉ đạo là phản động, bọn xấu,  diễn biến hòa bình…bởi vậy có blogger viết bài: hung dữ trong nhà, hèn hạ ngoài chợ…thật là chí lý.

Cuộc chiến thông tin

Trang Hạ

Những hoạt động của Trung Quốc trên biển Đông gần đây đã gây lo ngại cho dư luận châu Á và ảnh hưởng nghiêm trọng tới quyền lợi hợp pháp của người Việt Nam đang sinh sống làm ăn trong lãnh hải Việt Nam, như ngăn cản tàu cá Việt Nam đánh bắt cá hợp pháp trong lãnh hải Việt Nam, nhiều lần gây sự với tàu thăm dò của công ty dầu khí nước ngoài (BP) và tàu thăm dò của Việt Nam (26/5 và 9/6/2011), bắt cóc và tống tiền ngư dân Việt Nam, xua đuổi ngư dân tránh bão và bắn giết vô cớ ngư dân trên biển, đỉnh điểm là thành lập khu vực hành chính bao trùm trên những đảo bị tranh chấp quốc tế tại Hoàng Sa (thành phố Tam Sa – 2007) thậm chí gần đây triển khai những kế hoạch quân sự và hành vi leo thang quân sự gây căng thẳng tại Biển Đông. Đó là hành vi bề ngoài.

Nhưng cuộc chiến tranh về thông tin và tư tưởng của Trung Quốc dấy lên trong hơn 1 tỷ người Hoa trong và ngoài biên giới Đại Lục mới thực sự nguy hiểm cho Việt Nam. Trung Quốc luôn cung cấp những thông tin bóp méo và vô căn cứ cho dân chúng (có thể đọc được trên mọi báo chí và diễn đàn TQ hàng ngày) để chuẩn bị cho dân chúng lòng căm thù lũ “khỉ Việt Nam” cao độ, làm mọi người TQ tin rằng “đường lưỡi bò – đường chữ U đứt khúc 9 đoạn” là lãnh thổ thiêng liêng của Trung Quốc đã bị Việt Nam bành trướng, chiếm đóng lâu năm, mọi bài báo điện tử của Trung Quốc đều nói rõ, Việt Nam đã khai thác trái phép hàng triệu tấn dầu và thu lời hàng tỷ USD trên lãnh hải Trung Quốc, nên TQ không thể nhẫn nhịn thêm được nữa. Về vụ BM2, trong số gần 1.000 lời bình luận trên mạng Trung Quốc mà tôi đọc được, có 999 lời căm thù VN cao độ và đòi sử dụng vũ lực giành lại công bằng cho TQ, đòi ra trận giết người VN, chỉ có đúng 1 review duy nhất (của 1 người TQ duy nhất) nói, địa điểm xảy ra xung đột hình như có vẻ hơi sát Việt Nam thì phải.

Cuộc chiến Biên giới 2/1979 cũng từng được TQ chuẩn bị tư tưởng và thông tin chu đáo, như đó là cuộc chiến TQ bảo vệ lãnh thổ TQ bị VN gây hấn xâm hại trước. Đó là cuộc chiến mà VN vô ơn bội nghĩa, dùng chính vũ khí được TQ tài trợ và kỹ thuật quân sự do TQ huấn luyện để đánh trả lại TQ, gây bao tang tóc cho những gia đình chiến sĩ vô tội của TQ (có thể đọc trong cuốn “Ma chiến hữu” của Mạc Ngôn do Công ty sách Phương Nam dịch và bán tại VN). Nguy hại hơn là qua truyền thông, sự căm thù của người Trung Quốc thế hệ đó đã kéo dài sang thế hệ mới, cư dân mạng TQ hiện nay.

Cuộc chiến thông tin này được TQ dấy lên một cách có chủ ý, để nhiều thế hệ người TQ giữ vững và nêu cao chủ nghĩa dân tộc bành trướng vốn có lịch sử lâu đời của TQ, bảo vệ và bào chữa cho mọi hành vi (nếu có và đã có) của chính phủ TQ khi muốn thôn tính quyền lợi của VN. Qua đài báo và mạng tiếng Hoa, Việt Nam là một nước bành trướng, hiếu chiến, tham lam tàn ác, xấu thói lươn lẹo, vô ơn với Trung Quốc.

Cuộc chiến thông tin mới thực sự là một cuộc chiến khốc liệt, và nó là cốt lõi, tinh thần cho cuộc chiến quân sự đang nhăm nhe xảy ra. Theo phán đoán cá nhân thì cuộc chiến quân sự leo thang để chờ xung đột quân sự xảy ra trên biển sẽ tấn công một số đảo Trường Sa bằng vũ lực, chứ không phải là nhằm tiến tới cuộc chiến trên lãnh thổ đất liền.

Sự thật có thế không? Tôi không rõ trong lịch sử VN đã thực sự chịu ơn TQ những gì, nhưng tôi tin người VN và hành xử của VN không phải là kiểu vô ơn bội nghĩa.

Tôi tin vào lương tri của hàng trăm triệu người Trung Quốc vẫn còn. Chỉ là họ chưa biết sự thực của lịch sử, chưa biết đến lý lẽ của Việt Nam, và họ chưa được đọc thông tin chính xác trong lĩnh vực địa lý chính trị châu Á của ngày hôm nay. Tôi tin rằng hàng trăm triệu người Trung Quốc sẽ nghi ngờ tính chính nghĩa của hải giám Trung Quốc đã làm ngày 26/5/2011, nếu họ được đọc những bản tin thời sự không bị TQ che giấu những thông tin về kinh độ – vĩ độ – địa điểm chính xác của vụ đụng độ Trung Việt này.

Chúng ta đang lên án cho… chính chúng ta nghe mà thôi, chúng ta phẫn nộ cho… chính chúng ta hả dạ mà thôi. Một khi chẳng ai hiểu người Việt Nam đang nói gì, đang có chứng cứ lịch sử gì, đang giải quyết tranh chấp bằng tinh thần gì.

Thậm chí, người TQ không hề biết kinh độ vĩ độ của địa điểm xung đột vụ BM2 liệu có nằm trong vùng đang bị tranh chấp hay không. Trừ vài giáo sư nghiên cứu nắm rõ. TQ không chỉ đánh tráo khái niệm “vùng biển tranh chấp – lãnh hải TQ” với VN, họ còn bịt mắt người dân của chính họ về điều đó.

Kêu gọi được sự ủng hộ Việt Nam ngay từ chính trong người TQ mới khó, còn khó hơn việc lôi TQ ra tòa án quốc tế. Và việc này, chỉ nhà văn hoặc nghệ sĩ, âm nhạc, phim ảnh, những thứ đánh vào tình cảm con người, mang giá trị nhân văn và thân thiện mới làm được.

Một vài tin mới: (truyền hình Tiếng Hoa)

http://www.youtube.com/watch?v=2aEQ73gL1ZI

13/6: Truyền hình vệ tinh Vân Nam (mà truyền hình cáp Hà Nội đang tiếp sóng) đưa tin về biểu tình chống Tàu tại Việt Nam.  (truyền hình Tiếng Hoa)

http://www.youtube.com/watch?v=Ixe5kTqZMLo

http://www.youtube.com/watch?v=ltgKdqzZaWw

Truyền hình vệ tinh Vân Nam hội luận về các nước nhỏ trong đó có Việt Nam thi nhau khai thác trái phép dầu khí và chiếm đảo của TQ.

Nguồn

———-

Bài 3

Dưới đây là bài của một ông tướng công an, nguyên Viện trưởng Viện Chiến lược Bộ Công An. Ông nầy phát biểu: …”Hệ thống quản lý nhà nước trên biển Trung Quốc hùng mạnh như vậy trong khi tương quan Việt Nam chỉ có lực lượng cảnh sát biển mới thành lập.”

Ông nầy là viện trưởng viện chiến lược, vậy suốt 10-20 năm qua, ông đã vạch ra chiến lược gì trong khi còn đang tại chức? Chả lẻ ông nầy không biết Trung Quốc chiếm Thác Bản Giốc, chiếm Hoàng Sa 1974, chiếm Trường Sa 1988, bắn giết ngư dân VN trong 10 năm, suốt từ 2000 đến nay? Trong vòng 10 năm qua, có 382 ngư dân bị Trung Cộng tịch thu tàu và cầm tù đòi tiền chuộc, báo chí trong nước đăng tin đầy ra, sao ông không thành lập cảnh sát biển 10 năm qua, mà bây giờ mới có “lực lượng cảnh sát biển mới thành lập”.

Điều buồn cười là khi công nhân  Việt  Nam biểu tình đòi các công ty nước ngoài tăng lương, thì chính ông và các đàn em tuân lệnh đảng đi đàn áp bắt nhốt công nhân, giữ cho công nhân có được mức lương thấp chừng 60-100 đô mỗi tháng, để tụi chủ được lợi, và chia chác tiền bảo kê cho công an, và đảng.

Nói cách khác, chính ông, nhà nước và đảng của ông đã có chủ trương làm cho người công nhân VN nghèo đi trong suốt 20 năm qua kể từ khi họ đi làm việc cho các công ty nước ngoài vào VN mở hảng. Vì muốn được ăn tiền cò, Đảng và Nhà nước của ông đã yêu cầu các hảng xưởng ngoại quốc hãy  trả lương cho công nhân  VN thật thấp, chỉ hơn được mức lương của công nhân Bangladesh, và lương cong6 nhân  VN  thấp hàng thứ 2 ở Châu  Á.  “Việt Nam, nơi 60% trong tổng dân số 87 triệu dân đang dưới 35 tuổi và mức lương tối thiếu ở mức khoảng 85USD/tháng (tính theo ngang giá sức mua), thấp thứ 2 tại châu Á. Chỉ duy nhất Bangladesh có mức lương lao động thấp hơn. Lương lao động tối thiểu tại Trung Quốc hiện là 173USD/tháng.”

Bây giờ, ông nói “Theo tôi tính thì mỗi người Việt Nam bỏ ra khoảng 30 USD thì đã đủ để có hệ thống tên lửa bảo vệ vùng biển”.

Hihi tiền bán dầu thô mà nhà nước và của ông bỏ túi năm nay sẽ hơn 31 tỉ đô la. Mời ông đọc con số 31 tỉ đô la ở cuối bài báo nầy thì sẽ biết thôi. Sao không lấy tiền đó mà mua tên lửa, chi tiêu cho quốc phòng trong hơn 20 năm qua? Còn tiền bán 8,5 tỉ mét-khối ga hàng năm, dùng làm chất đốt và nấu ăn, tiền bán ra chưa bao giờ nghe nói tới?.

‘Nếu dùng hải quân, Việt Nam sẽ mắc mưu Trung Quốc’

“Trong quan hệ Việt – Trung cần nhớ một điều cốt tử: Khi Việt Nam lùi thì Trung Quốc tiến, khi chúng ta đứng vững thì họ không làm gì được”, nguyên Viện trưởng Viện chiến lược Bộ Công an nhận xét.
> Cận cảnh trường đào tạo sĩ quan hải quân Việt Nam/ ‘Việt Nam cần tỉnh táo trước khiêu khích của Trung Quốc’

Thiếu tướng Lê Văn Cương, nguyên Viện trưởng Viện chiến lược (Bộ Công an), trao đổi với VnExpress về ý đồ của Trung Quốc và những việc Việt Nam cần làm khi vùng đặc quyền kinh tế bị xâm lấn.

Chỉ trong 2 tuần, các tàu của Trung Quốc liên tục phá cáp tàu thăm dò dầu khí Việt Nam. Thiếu tướng nhận định như thế nào về những hành động này?

– Tôi cho rằng, Trung Quốc sẽ không dừng lại. Sau vụ 26/5 tôi đã nói là sẽ còn tái diễn và quả thực đúng như vậy. Nếu Việt Nam không có phản ứng thích đáng thì chỉ trong tuần tới sẽ lại xảy ra những sự kiện nghiêm trọng hơn.

Tàu Bình Minh 02 bị một trong 3 tàu hải giám Trung Quốc (ảnh dưới) phá hoại.

Trung Quốc khôn ngoan ở chỗ các vụ việc này đều thuộc chủ trì của cơ quan hành chính nhà nước, quân đội không nhúng tay. Tàu hải giám và ngư chính đều thuộc cơ quan nhà nước Trung Quốc, làm nhiệm vụ quản lý và xua đuổi. Hệ thống quản lý nhà nước trên biển Trung Quốc hùng mạnh như vậy trong khi tương quan Việt Nam chỉ có lực lượng cảnh sát biển mới thành lập.

– Vậy theo thiếu tướng, với tình hình hiện nay, lời giải nào dành cho Việt Nam khi các lực lượng dân sự, cảnh sát biển quá mỏng, trang bị thiếu?

– Nếu ta dùng hải quân đối phó thì mắc mưu của Trung Quốc, sa ngay vào bẫy mà họ giăng sẵn. Họ sẽ hô hoán với cả thế giới cũng như 1,3 tỷ dân Trung Quốc rằng Việt Nam gây xung đột trước.

Sau Hội nghị Shangri La 10, Trung Quốc thấy phản ứng không đủ độ của các nước ASEAN nên lập tức làm tới. Vụ tàu Viking II ngày 9/6 là hậu quả tất yếu. Để ngăn chặn và phòng ngừa hành động tiếp theo của Trung Quốc, Việt Nam phải thông báo cho người dân biết rõ âm mưu và hành động cụ thể của Trung Quốc; thông báo thế giới thông qua các kênh song phương đa phương, kể cả Liên Hợp quốc. Chúng ta không kích động chủ nghĩa dân tộc, nhưng Hiến pháp quy định người dân có quyền được biết thông tin và nhà nước phải có trách nhiệm thông báo rõ khi Tổ quốc bị xâm lấn.

Trong quan hệ Việt – Trung cần nhớ một điều cốt tử: Khi Việt Nam lùi thì Trung Quốc tiến, khi Việt Nam đứng vững thì Trung Quốc không làm gì được. Với Trung Quốc, ở tầm cao chiến lược, ta phải minh định 2 vấn đề: Dân tộc và giai cấp. Khi làm việc với lãnh đạo Việt Nam, Trung Quốc bao giờ cũng đưa vấn đề giai cấp lên trên hết, nhưng trong hành xử, Trung Quốc sử dụng chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi.

Tàu Viking II và tàu ngư chính Trung Quốc (ảnh dưới).

– Thường xuyên theo dõi những tuyên bố và hành xử của Trung Quốc, điều ông lo ngại là gì?

– Trong khoảng 10 năm nay, từ cấp lãnh đạo cao nhất tới các chính khách học giả Trung Quốc luôn tận dụng mọi cơ hội để quảng bá cái gọi là “Chiến lược phát triển hòa bình” mà lúc đầu họ gọi là chiến lược “Trỗi dậy hòa bình”. Họ gửi thông điệp tới toàn thế giới rằng Trung Quốc phát triển nhanh, mạnh nhưng không đe dọa ai mà chỉ tạo cơ hội phát triển cho các nước khác. Họ ký Tuyên bố về ứng xử trên Biển Đông DOC 2002 với ASEAN trong đó quy định rõ ràng các bên không làm gì gây căng thẳng trên khu vực Biển Đông. Chỉ cách đây vài tháng, lãnh đạo cấp cao của họ cũng vừa nhắc lại thông điệp khẳng định Trung Quốc cam kết hợp tác với các nước đảm bảo Biển Đông hòa bình, phát triển.

Nhưng trên thực tế, họ liên tục có những việc làm phi lý như đối với tàu Bình Minh 02, Viking II, bắt giữ tàu cá của Việt Nam và các nước… Điều đó chứng tỏ họ có chủ đích, nằm trong kế hoạch độc chiếm Biển Đông.

Hai tuần nay tôi theo dõi cả đài truyền hình và phát thanh Trung Quốc, kể cả các trang mạng. Hàng trăm tờ báo, cơ quan phát thanh Trung Quốc nói rằng Việt Nam xâm phạm, gây hấn thậm chí xâm lược trên Biển Đông. Người phát ngôn Bộ Ngoại giao của họ vu cáo Việt Nam trong hai vụ cắt cáp vừa qua. Đây là những hành động không chấp nhận được. Nhà cầm quyền Trung Quốc vừa gây hấn, xâm phạm chủ quyền độc lập Việt Nam vừa vu cáo Việt Nam. Họ bất chấp luật pháp quốc tế, đi ngược lại lời tuyên bố của chính mình.

– Có ý kiến lo ngại quan hệ hợp tác Việt – Trung sẽ bị ảnh hưởng, đặc biệt về lĩnh vực kinh tế nếu tình hình biển Đông tiếp tục căng thẳng?

– Chúng ta không nên nhầm lẫn cũng như lo ngại về quan hệ các mặt hiện có của hai nước. Cần phải lấy chủ quyền quốc gia làm cốt lõi. Chủ quyền là tối thượng, trường tồn, thiêng liêng bất khả xâm phạm. Không ai được có quyền mặc cả chủ quyền quốc gia cả.

Có người đã nói với tôi nếu ta làm căng, Trung Quốc có thể dùng đòn cấm vận kinh tế với Việt Nam. Tôi không loại trừ khả năng này, song cần phải thấy rằng, Trung Quốc cũng có lợi ích kinh tế lớn từ việc hợp tác Việt Nam.

Ảnh: Nguyễn Hưng.
“Trung Quốc bất chấp luật pháp quốc tế cũng như chính những tuyên bố của họ” Ảnh: Nguyễn Hưng.

– Về lâu dài, theo ông, đâu là vấn đề cốt lõi để Việt Nam bảo vệ vững chắc chủ quyền biển?

– Trong quá trình phát triển sức mạnh bảo vệ chủ quyền biển thì lực lượng vũ trang cần củng cố. Nhưng cái cần thiết hơn là tổ chức lại hệ thống quản lý nhà nước trên biển, trong đó có kiểm ngư, quản ngư, tổ chức lại cảnh sát biển. Điều này chúng ta có thể học tập ngay từ Trung Quốc. Chúng ta cũng cần đẩy mạnh chiến lược phát triển kinh tế biển, đầu tư cho ngư dân để tăng số lượng tàu cá, đẩy mạnh đánh bắt xa bờ.

Còn về đầu tư cho quốc phòng theo tôi dù vẫn phải làm song không phải là thượng sách. Chúng ta ít tiền, cần đầu tư có trọng điểm. Theo tôi tính thì mỗi người Việt Nam bỏ ra khoảng 30 USD thì đã đủ để có hệ thống tên lửa bảo vệ vùng biển. Trên biển, ta nên lựa chọn trang bị phương tiện cần thiết nhất như tàu siêu tốc, ngư lôi. Tất cả trang bị nhằm tạo sức mạnh trước sự gây hấn.

Nguyễn Hưng thực hiện

Bài 4

Hà Sĩ Phu là một nhà khoa học, nhưng ý kiến chiến lược của ông ta đáng là bậc thầy của cựu Viện  Trưởng Viện  Nghiên  Cứu  Chiến Lược Bộ Công  An.

Hà Sĩ Phu
Ta là nước yếu hơn, nhưng ta có lý lẽ, hợp công pháp quốc tế, nên phải tận dụng mọi thuận lợi để đương đầu với kẻ khổng lồ tham lam bất chấp. Trong lĩnh vực này Bộ Quốc phòng đã có những chủ trương rất khó hiểu. Dứt khoát không để mình bị đơn độc trước anh khổng lồ, nên cần những cuộc đàm phán đa phương và quốc tế hóa (chỉ sợ ai đó đã bán cho họ thật rồi thì về pháp lý khó mà đảo ngược).

(Suy nghĩ nhân một bài mới đăng trên báo Đảng)

Biển Đông cuộn sóng, quân xâm lăng truyền kiếp lại đang táo tợn, dồn dập, thách thức sự tồn vong của đất nước và thách thức nhân phẩm mỗi người Việt Nam chúng ta.

Trong không khí vừa sục sôi sục căm giận vừa lo âu của dân chúng, bài báo Những bước đi có tính toán…, (ký tên Tấn Vũ) xuất hiện trên Báo điện tử của ĐCSVN có thể xem là một bước ngoặt rất mới, rất có ý nghĩa trong quan điểm và thái độ của Đảng đối với sự xâm lấn của Trung quốc và với toàn bộ mối quan hệ Việt – Trung.

NẾU (xin được nhấn mạnh chữ nếu) những lời này là nhận thức và quyết tâm thật sự của Đảng để biến thành hành động trong thời gian tới thì biết đâu đây chẳng là một tín hiệu đáng mừng về một sự chuyển đổi, cho thấy khả năng hồi sinh hiếm thấy của Đảng trong cuộc hồi sinh của Dân tộc, sẽ kết lại thành dinh lũy phòng thủ kiên cường khi Dân tộc đã đứng bên bờ vực.

Tại sao việc nói đúng sự thật và có dũng khí của một bài báo thôi lại đáng quan tâm đặc biệt như thế? Vì đó là báo Đảng, một Đảng mà cách xử sự trước họa xâm lăng từ phương Bắc lâu nay cứ mềm yếu triền miên, bưng bít sự thật, tôn kẻ xâm lăng làm láng giềng tốt, đồng thời đã có những bằng chứng về sự không song hành, không đồng bộ giữa lợi ích của Đảng và lợi ích Dân tộc. Tình hình đã đến nước khẩn trương như hiện nay thì thiết tưởng không gì tốt hơn là phải nói thẳng, nói thật với nhau mong góp phần làm sáng tỏ nhận thức chung trước những thời cơ và hiểm họa của đất nước.

1/ Sự khiếp nhược trường kỳ gây đau thương vĩnh viễn cho Dân tộc

Tình hình xã hội lâu nay bị dồn nén đáng ngai. Anh láng giềng phương Bắc to xác nhưng tham lam và xấu thói bao năm nay cứ đeo cái mặt nạ “láng giềng hữu nghị” để xục xạo khắp đất nước ta, cài cắm khắp nơi, bủa vây tứ phía, xiết gọng kìm toàn diện…, nay đã đến lúc hắn chuyển thế trận, vứt phăng cái mặt nạ thân yêu giả tạo ấy cho đỡ vướng, để tiện việc hành xử một cách côn đồ cấp tập.

Dân đã nhìn thấy nguy cơ từ lâu và nóng lòng chờ đợi, trong khi những người cầm quyền thì đi đâu cũng đội lên đầu 16 chữ vàng, hớn hở tuyên truyền về hữu nghị và thắng lợi, nhộn nhịp phát triển nhiều hợp đồng, gia tăng nhiều mối quan hệ rất nguy hiểm, có ai lên tiếng báo động thì bảo “an ninh vẫn ổn định, chẳng có gì mới”, ai biểu tình giữ nước thì đuổi học, cho Công an bắt bớ, nhốt vào nhà tù…Quân đội không bảo vệ được ngư dân nghèo đánh cá trên lãnh hải của mình, lại bảo quân đội không can thiệp vào chuyện dân sự, quân đội trốn ở đâu khi tàu nước ngoài ngang nhiên xâm nhập hải phận nước mình để đánh phá, cướp bóc? Tất cả sự đầu hàng khiếp nhược ấy được núp dưới chiêu bài “chiến thuật mềm”, kiên trì đàm phán song phương, ngoại giao hòa bình, giữ tình hữu nghị làm vốn quý(!)…

Vẫn biết cách ứng xử ở đời phải có cương có nhu, không quên ta là nước nhỏ. Nhưng điều khôn ngoan ấy không đồng nghĩa chút nào với sự khiếp nhược, đầu hàng.

Ông cha ta, thuở xưa nước ta còn nhỏ bé và nghèo lắm, nhưng đối với anh “kẻ thù truyền thống” phương Bắc ta đã biết phối hợp cương – nhu rất đúng quy luật. Bình thường thì xã giao hữu nghị, song cứ “kính nhi viễn chi”, chứ không được chui hẳn vào vòng tay của họ. Nhưng khi họ giở thói xâm lăng thì ta phải đổi ngay cách ứng xử, đi thẳng từ cấp độ 1 lên cấp độ 3 của sự kiên cường:

– cấp độ 1: dám đánh
– cấp độ 2: đánh thắng
– cấp độ 3: đánh thắng đến mức quân thù phải khiếp vía, phải trọng ta và phải sợ không dám bén mảng nữa. Ta chỉ trở lại giao hảo (đúng với tầm một nước nhỏ) sau khi đã đánh tan ý đồ xâm lược.

Nay xem ra sự ứng xử vừa qua của nhà nước ta (hãy nói từ sau cuộc chiến 1979 trở lại đây) thì thấy độ “kiên cường” luôn nằm ở dưới “cấp độ 1”, nên kết quả thật đáng buồn, đã không dám thắng thì không có chiến thắng đã đành, lại cứ thua từng phần. Kẻ địch tât nhiên chẳng những không sợ, không trọng mà còn khinh ta hèn, họ càng nuôi chí xâm lấn, mỗi ngày một táo tợn hơn. Kinh nghiệm của ông cha bị một lớp con cháu thời Cộng sản vận hành ngược lại nên kết quả cũng lộn ngược.

Còn hèn và nhục nào hơn khi báo chí “lề phải” không dám đưa tin biểu tình một cách xứng đáng mà còn bôi nhọ rằng đây là sự “tụ tập” chỉ đi ngang qua cơ quan của Trung Quốc (như vô tình hoặc vì sợ sệt), và khi được giải thích thì đã tự giải tán? Người đưa tin như thế thật không xứng đáng là một công dân nước Việt chứ nói gì danh hiệu cao quý của một nhà báo? Còn hèn và nhục nào hơn mang danh Hiệu trưởng một trường mà cấm và đuổi học sinh viên đi biểu thị lòng yêu nước? Họ định “giáo dục” cho thanh niên điều gì đây, định dạy môn “cừu học” thay cho môn “công dân giáo dục” chăng? Tấm hình chụp em bé biểu tình chống Trung quốc ngày 12-6-2011 chẳng biết có gây cho các nhà giáo dục ấy một chút cảm xúc?

Sự nhu nhược quá mức chẳng những làm mình bị thua thiệt biên cương, tài nguyên, chẳng những làm nhục nhân dân, mà điều nguy hiểm hơn cả là sự khiếp nhược của nạn nhân đã nuôi dưỡng ý chí xâm lược của đối phương ngày một lớn hơn.

Chịu thua một lần là trút thêm khó khăn cho lần sau, và cứ thế ngày càng thêm khó. Khi sự leo thang lên đến nấc cuối cùng, thì mọi sự thương lượng đều đã muộn. Nếu để họ dồn đến đường cùng chẳng còn gì mà thương lượng, thì còn cách gì ngoài cách làm chiến tranh để tự vệ? Khi ấy kẻ hèn sẽ bị giết chết nhưng chết trong tư thế là kẻ tội phạm gây chiến. Hiện nay một mặt họ vu cáo “Việt Nam xâm lược”, một mặt khiêu khích ở Biển Đông chính là cái bẫy như vậy, vừa thôn tính ta vừa đổ được tiếng ác cho ta. Bài báo nói trên của tác giả Tấn Vũ trên trang mạng ĐCSVN đã vạch rõ được mưu mẹo rất hiểm ác này. Thế là đã tỉnh. Tóm lại chính sự nhu nhược cũng góp phần vào nguy cơ nổ ra chiến tranh. Muốn ngăn chiến tranh không gì bằng phải cứng rắn ngay từ đầu.

Trung Quốc đang tiến tiến hành một chế độ Thực dân kiểu mới cực kỳ hiểm độc. Chiến thuật của họ là cứ lao thẳng vào nơi ta hoàn toàn có chủ quyền (cả trên đất liền và lãnh hải), thế là biến nơi không tranh chấp thành nơi có tranh chấp. Có tranh chấp thì thương lượng song phương. Song phương thì họ dùng sức mạnh ép chia đôi vùng tranh chấp ấy, hoặc cùng khai thác. Cưa đôi 50-50 là công bằng nhá! Cứ thế vết dầu loang sẽ dần dần biến tất cả biển trời của ta thành biển trời của họ.

Ta là nước yếu hơn, nhưng ta có lý lẽ, hợp công pháp quốc tế, nên phải tận dụng mọi thuận lợi để đương đầu với kẻ khổng lồ tham lam bất chấp. Trong lĩnh vực này Bộ Quốc phòng đã có những chủ trương rất khó hiểu. Dứt khoát không để mình bị đơn độc trước anh khổng lồ, nên cần những cuộc đàm phán đa phương và quốc tế hóa (chỉ sợ ai đó đã bán cho họ thật rồi thì về pháp lý khó mà đảo ngược).

Nước nhỏ muốn chống sự chèn ép của nước lớn buộc phải liên kết, nhất là liên kết với nước lớn khác. Tuyên bố “không liên kết với nước này để chống nước khác” thì nghe có vẻ hợp đạo lý nhưng là thứ đạo lý tự diệt, khác nào dâng đất nước cho kẻ thù. Liên kết để phòng thủ, để tự vệ chứ không tấn công ai, đó là quyền của mỗi dân tộc. Nếu dùng thứ đạo lý ngụy biện tự diệt ấy để khước từ liên kết với Hoa Kỳ thì sao lại chấp nhận “hợp tác chiến lược” với Trung Quốc, tức hợp tác chiến lược với chính kẻ xâm lược? Chính vì có mối liên kết chiến lược với Trung Quốc nên Trung Quốc mới tuyên bố “Ai xâm phạm Việt Nam cũng tức là xâm phạm Trung quốc, Trung quốc có nghĩa vụ can thiệp”! Sao Đảng ta lại gửi trứng cho Ác như thế? Nếu lời tuyên bố kia là của Hoa Kỳ từ một hiệp ước phòng thủ thì Trung Quốc dễ gì dám gây hấn như hiện nay?

Đâu có phải cứ liên kết là nghĩa là hiếu chiến, là không yêu hòa bình, trái lại có liên kết đúng mới đề phòng được chiến tranh. Nếu có sự hợp tác chặt chẽ với Hoa Kỳ trong lĩnh vực kinh tế – kỹ thuật – văn hóa – du lịch quanh vùng Cam Ranh thôi thì sẽ chặn được bàn tay gây hấn của Trung quốc mà chưa cần động đến súng đạn. Như vậy mới là yêu hòa bình và yêu nước, và giữ gìn được mọi tình hữu nghị nữa. Tại sao cứ tìm chính kẻ xâm lược để trao thân gửi phận? Đã tự gài nước mình vào thế kẹt đó thì có tuyên bố mạnh mẽ nghìn lần cũng vứt đi. Đến đây tôi thấy ý kiến của Cù Huy Hà Vũ mới là cứu nước và chính xác: liên kết với Hoa Kỳ là mệnh lệnh của thời đại! Chẳng trách Hà Vũ bị bắt ngay!

Nói ta phải tự kiềm chế để khỏi mắc mưu khiêu khích thì chỉ đúng một phần, còn như nói thế để bó tay thì không chấp nhận được. Họ dùng những phương tiện bán vũ trang hoặc vũ trang trá hình như “hải giám, ngư chính…”, những hình thức dân sự trá hình để gây thiệt hại về người và của cho ta, thì ta chưa thể chính thức dùng hải quân can thiệp là đúng, nhưng chẳng lẽ ta là kẻ bị hại lại không nghĩ được hình thức đối phó nào hữu hiệu tương xứng hay sao? Khi đối chọi với những kẻ thù ngắn hạn như Pháp và Mỹ những tố chất biến hóa tài tình ấy trong ta có thừa, nay trước “kẻ thù lịch sử” Trung Quốc, vừa là đồng chí vừa là anh em, thì những ưu điểm ấy biến đi đâu hết cả, để quanh đi quẩn lại cứ bắt bà Nguyễn Phương Nga quay mãi một điệu hát cũ? (câu trả lời xin xem phần sau). Khi “nắn gân” thì hai bên phải nắn gân lẫn nhau, ăn thua ở sức mạnh tinh thần hay sự bạc nhược chứ đâu nhất thiết phải dùng súng đạn?

Thực tiễn đã quá đủ để nhà giáo Hà Văn Thịnh kết luận: hãy vứt vào sọt rác cái tình “hữu nghị” vẫn rêu rao với 16 chữ vàng. Tôi xin thêm: Và vứt luôn vào sọt rác cả cái “chiến lược mềm” đầu hàng, khiếp nhược mà một thế lực trong Đảng lâu nay vẫn viện ra để trấn áp mọi tiếng nói yêu nước tỉnh táo trong và ngoài Đảng!

Đối mặt với chủ nghĩa bành trướng bá quyền ngông cuồng, kiên định và ác hiểm của Trung Quốc thì đối sách gọi là “khôn ngoan”, đặt hữu nghị lên trên, mềm dẻo trường kỳ… giữa hai đảng Cộng sản, chưa biết vô tình hay hữu ý, chỉ tiếp tay cho kẻ xâm lược, dẫn đến nỗi nhục nghìn đời, đau thương vĩnh viễn cho Dân tộc.

2/ Đồng hành cùng lợi ích Dân tộc

2a/ Mấy lời xin thưa trước:

– Chủ nghĩa bành trướng hung hãn và hiểm độc ở tầm thế giới, như bài báo của Tấn Vũ vừa mạnh dạn phân tích, đã đặt đất nước Việt Nam ta trước một thử thách muôn ngàn khó khăn. Muốn thoát khỏi mối hiểm họa có thể làm tiêu tán Dân tộc thì yếu tố tiên quyết không gì thay thế được là SỰ CỐ KẾT TOÀN DÂN TỘC THÀNH MỘT KHỐI ĐOÀN KẾT VỮNG CHẮC, giữa những khối quần chúng đa dạng trong Dân tộc với bộ máy đang cầm quyền đất nước mà thực chất là đảng Cộng sản.

– Muốn có sự đồng thuận vững bền để cùng lo một việc quá lớn thì LỢI ÍCH CỦA ĐẢNG PHẢI HOÀN TOÀN NẰM TRONG LỢI ÍCH DÂN TỘC nếu Đảng còn muốn tồn tại, hơn thế tồn tại như một lực lượng lãnh đạo.

– Yếu tố quyết định tiếp theo của sự đoàn kết là phải thành thực để TIN CẬY nhau, không thể nghĩ một đằng nói một nẻo, rồi nói một đằng lại làm một nẻo khác nữa.

– Vì hiểu nhu cầu sinh tử của một khối đoàn kết là phải thật thà trung thực nên tôi xin mở lòng mình bằng sự nói thật, mặc dù tôi biết rõ mình đang sống trong một môi trường mà sự NÓI THẬT hoặc là điều cấm kỵ, điều liều mạng, điều ảo tưởng, điều điên rồ mất trí, hoặc là một kẻ bất thường đáng nghi, một kẻ ngớ ngẩn đáng chê cười!

Khó mà tìm ra một người nói thật, nhất là nói thật chính trị, nói nửa câu cũng phải uốn lưỡi, lựa lời. Những sự thật tôi viết ra đây có điều đã thành nhận thức chung, có điều mới là lượm lặt chưa thể sàng lọc kỹ càng, chỉ như một gợi ý tham khảo, nhưng tất cả đều là sự thật.

Mỗi người đọc tôi đây coi tôi là loại gì tùy ý, chỉ một câu tôi tự nhủ lòng: Sống mà không còn nói thật nữa thì sống làm gì? Cứ nói quanh co suốt một đời thì khổ lắm, Một dân tộc không thể cố kết nhau bằng sự nói thật thì dù đông đến trăm triệu người cũng chỉ là một đám hỗn độn, rời rạc. lừa đảo lẫn nhau, làm mồi cho chủ nghĩa lưu manh cơ hội hủy diệt. Cú nói thật đi, vượt qua cơn vật vã nói thật nhất định sẽ đến một thế giới tốt đẹp hơn.

2b/ Về lòng tin hiện nay:

– Dân tin Đảng không? Khi chưa cầm quyền, Đảng ở một phía với dân, dân tin lắm, và yêu nữa. Từ khi nắm quyền, người có quyền cứ triển khai các mục tiêu “xây dựng Chủ nghĩa Xã hội” đến đâu là khổ dân đến đấy. Con SÂU tham nhũng nào càng bự thì càng ca ngợi Mác Lê, càng nói đạo đức Bác Hồ. Đảng viên bên dưới còn nhiều người tốt nhưng càng lên cao sự tốt càng giảm đi. Nhà văn Phạm Đình Trọng cứ mở Tivi nhìn thấy ông Tổng Bí thư hoa chân múa tay là phải nhìn thấy “nỗi ngán ngẩm ngày thường”, dân chúng cứ nhìn thấy mặt quý vị lãnh đạo là muốn tắt Tivi. Vậy là có tình trạng Dân rất ngán Đảng.

– Đảng tin Dân không? Người dân giải thích vì sao Đảng bị Trung quốc o ép mà khi Dân đứng về phía Đảng biểu tình chống Trung quốc thì Đảng cho Công an bắt bớ, chính vì Đảng đề phòng Dân hơn đề phòng kẻ thù xâm lược, để cho chúng biểu tình lỡ chúng chống Đảng thì sao? Giữa hai cái xấu Đảng phải chọn cái ít xấu hơn là bá quyền Trung quốc.

– Xã hội hiện nay đang chịu 2 áp lực lớn: Trong nước thì kinh tế suy thoái, giá cả leo thang, tài chính kiệt quệ. Ngoài Biển Đông thì Bành trướng o ép. Người ta lo sợ khả năng Đảng sẽ bán bớt Biển Đông để lấy tiền vực kinh tế trong nước, thế là “lấy khó khăn giải quyết khó khăn”, phải đề phòng bọn bán nước dám tán tận lương tâm thế lắm!

– Trước cảnh tượng hàng ngàn dân chúng vược qua nỗi sợ Công an để biểu thị lòng yêu nước chống quân bành trướng, có người thì hồ hởi, mong cho số người tham gia đông hơn nữa cho bọn bành trướng biết lòng dân Việt nam. Nhưng có người thủng thẳng đưa lời can: Đông vừa vừa thế thôi, đông quá Đảng sợ Dân chủ, sợ bạo loạn, sợ mất chủ nghĩa Xã hội, Đảng lại mời các đồng chí Trung Quốc sang dẹp loạn thì xe tăng nó nghiền dân mình ra bã! Nghe mà đau lòng.

Khi sự nghi kỵ đến mức như thế thì việc xây dựng một khối đoàn kết “vững như thép gang” đủ sức chống xâm lăng từ nước khổng lồ quả thực không đơn giản. Nhưng tôi dám nói hết những sự thật này vì tôi không tuyệt vọng trước những tâm trạng ấy, xin có lời bàn ở cuối bài.

2c/ Những liên kết do lợi ích

Tại sao Bành trướng Trung Quốc xâm lấn đất nước mình mà đảng CSVN cứ phải bám lấy Trung quốc? TS Nguyễn Thanh Giang thì giải đáp bằng cả một một bài viết dài giải thích: vì theo Tàu tuy mất nước nhưng còn hơn theo Mỹ thì mất ghế! Ghế quan trọng vì gắn với lợi quyền.

Dân quán nước thì chẳng cần lý luận chỉ đọc Bút Tre:

Từ hồi sụp đổ Đông Âu
Đảng Ta không bám Đảng Tàu thì… toi!

Đề tài cái ghế Chuyên chính Mác Lê gắn với lợi quyền thống trị thế nào thì đã quá phong phú, đầy những dẫn liệu từ thâm cung bí sử, chẳng cần nói lại ở đây.

Tôi chỉ xin nói thêm một điều là nạn NGOẠI XÂM (bành trướng Trung Quốc) và NỘI XÂM (đàn SÂU tham nhũng, độc tài, cửa quyền, áp bức dân chúng) ở nước ta vốn cùng một nguyên nhân phát sinh.

Ảo tưởng Mác – Lê ở quy mô một nước là “chủ nghĩa tập thể”, ở quy mô quốc tế thì sinh ra “thế giới đại đồng”, tất thẩy cứ muốn tập trung vào một khối lớn để tự quản lý lẫn nhau, và tin như thế là chẳng còn kẻ thống trị nữa, quyền lực sẽ tự tiêu vong.

Nhưng tập thể hóa mà không có cơ chế Dân chủ và Pháp trị thì kẻ cầm đầu là Đảng của vùng ấy sẽ tự tung tự tác, lạm quyền mà sinh ra “một bầy SÂU nhỏ SÂU to”, rồi thành kẻ những NỘI XÂM chiếm mất quyền làm chủ của dân, dân có nước mà cũng như mất nước.

Ở quy mô “quốc tế đại đồng” mà coi nhẹ biên giới quốc gia (trong gia đình đại đồng Xã hội chủ nghĩa Việt Nam vẫn gọi Anh cả Liên Xô và Chị hiền Trung Quốc), thì nước lớn sẽ nuốt nước bé sinh ra nạn bá quyền Cộng sản như Liên Xô, Trung Quốc. Việt Nam bị chui tụt vào vòng tay của bà “chị hiền Trung Quốc” chính vì bị mê hoặc bởi cái ảo tưởng đại đồng phi quốc gia ấy, nay đã ngập sâu từ mấy chục năm, “chị hiền” tham lam đâu có chịu nhả “thằng em” ra.

Ai cũng biết một câu tuyên ngôn cơ bản nhất của đảng Cộng sản là: Ngoài lợi ích của nhân dân, của dân tộc, Đảng không có lợi ích gì khác! Và quả thực đã có thời kỳ lý tưởng, có những nhân vật lý tưởng đã trung thành với đạo đức ấy, nhưng suốt dặm đường dài mấy ai thoát khỏi sự nhào nặn của con quái vật Lợi Quyền?

Ngày nay lực lượng Công An thì nêu khẩu hiệu “Chỉ biết còn Đảng còn mình”! Lực lượng Quân đội thì trước hết phải trung với Đảng rồi mới đến Dân, coi Quốc hội trước hết của Đảng rồi mới “cũng là của Dân”! Chỉ chừng ấy thôi đủ minh họa cho độ chênh giữa giữa dòng ưu tiên Lợi ích của Đảng và dòng ưu tiên Lợi ích của Dân. Dân tộc là thể ổn định và trường tồn, lợi ích Dân tộc là mặc nhiên khách quan. Đáng lẽ lợi ích của Đảng phải theo đó mà phù hợp, nếu có phù hợp cũng ở vị trí thứ hai, phát sinh. Nhưng cả hai lực lượng vũ trang đều đưa yếu tố thứ hai thành thứ nhất, xép lợi ích Dân tộc thành yếu tố thứ hai phải thích nghi theo! Chừng nào lợi ích của Đảng còn xếp lên trên thì không bao giờ có khối đoàn kết dân tộc chân chính, nếu có cũng chỉ là khiên cưỡng, áp đặt, buông sự áp đặt ra là vỡ. Chính vì thế Đảng luôn tự hào tuyên bố về khối đoàn kết do Đảng lãnh đạo mà thực chất trong lòng vẫn sợ, vẫn không dám tin vào lời tuyên bố bố ấy của mình, cứ phải nuôi một bộ máy khổng lồ để giám sát dân.

Ảo tưởng “đại đồng” nơi quốc tế hay “tập thể hóa” nơi quốc nội của Mác-Lê đều là một cơ chế phi dân chủ, à uôm, phi luật pháp, là cái ổ phát sinh nạn độc tài và tham nhũng ở những cấp độ khác nhau. Muốn giải phóng nhân dân khỏi độc tài quốc nội hay giải phóng nước Cộng sản nhỏ Việt Nam ra khỏi bá quyền Cộng sản Trung quốc đều cần dùng đến DÂN CHỦ và PHÁP TRỊ (cả luật quốc tế) mới “giải nô” được. Riêng Trung quốc gốc gác đã có máu bá quyền Đại Hán, sau lại được sự tiếp tay của tư tưởng bá quyền Cộng sản nên thành bọn bá quyền bình phương, nó đang bành trướng nhanh như thổi, trở thành hiểm họa cho cả thế giới.

Bầy SÂU trong nước và bá quyền Cộng sản Trung hoa chính là chị em sinh đôi, cùng một mẹ đẻ ra, mang cùng dòng máu gia trưởng Mác xít phi dân chủ và duy lợi, gắn kết với nhau cũng là tự nhiên. Chỉ cần khảo sát mấy năm gần đây, những hiện tượng cho thấy Lợi ích của Đảng không phù hợp với Lợi ích Dân tộc cũng không ít. Tuy vậy những con SÂU nào chưa nguội hẳn dòng máu Dân tộc thì máu của nó còn là máu pha, vẫn còn cơ hội tìm về lợi ích Dân tộc, nhất là có lúc nó nhận ra có bám theo “chị hiền” thì cũng cam phận tôi đòi vong bản.

Trong hai đợt biểu tình chống Trung quốc xâm lược năm 2007 và 2011, những người có tư tưởng dân chủ đều mừng vì nhân dân đã thức tỉnh trước nguy cơ bị xâm lăng và thức tỉnh nhận ra vai trò công dân phải làm chủ đất nước của mình, các anh em đó coi cuộc biểu tình là sự hồi sinh của dân tộc sau bao năm im ắng, chìm đắm. Họ tiếc rằng cơ hội ấy không phát triển tiếp được để đẩy mạnh những tiến bộ xã hội. Nhưng lực lượng “chỉ biết còn Đảng còn mình” lại coi các cuộc biểu tình ấy là điều xấu cần trấn áp, và họ mừng là đã trấn áp được để nó không phát triển ra. Cùng một sự việc nhưng người của Dân thì gọi nó là cơ hội và tiếc rằng chưa phát triển, người của Đảng thì coi nó là tiêu cực và mừng rằng đã dẹp được yên. Vậy “cơ hội vàng” của bên này lại chính là “thảm họa đen” của bên kia và ngược lại. Ước vọng ngược nhau bởi quyền lợi trái ngược nhau. Nếu còn như vậy thì không thể có những thời cơ hay thảm họa chung cho cả Đảng và cho Dân tộc. Hai dòng lợi ích trái chiều nhau làm sao có thể tạo nên khối đoàn kết để chống xâm lăng. Sự bất hòa ấy chính là thời cơ vàng cho kẻ xâm lược.

Xem như vậy đủ thấy bức tranh liên kết lợi quyền còn nhiều dằn vặt vô cùng phức tạp.

2d/ Mấy lời tóm lại

Chủ đề mà tác giả Tấn Vũ qua bài Những bước đi có tính toán…, đã gợi cho tôi dòng suy nghĩ miên man về số phận dân tộc mình, trước hiểm họa của mưu đồ bá quyền Cộng sản – Đại Hán quá ư tàn bạo và nham hiểm, mà nguy thay, họ đã đi được một bước khá dài.

Làm gì đây để cứu Dân tộc ra khỏi nguy cơ? Muốn làm gì trước hết cũng phải tìm sức mạnh ở khối đoàn kết toàn dân tộc. Đảng thì bảo khối đoàn kết ấy luôn luôn có rồi, dưới sự lãnh đạo của Đảng. Nhưng theo tôi một khối đoàn kết vững chắc, đồng tâm, đủ sức đương đầu với hiểm họa hiện nay chưa có. Chẳng những chưa có mà muốn hình thành được cũng còn muôn vàn khó khăn.

– Làm sao đặt lợi ích của Đảng nằm dưới và hoàn toàn phù hợp với lợi ích Dân tộc?

– Làm sao để ngày càng nhiều người biết thành tâm và dũng cảm nói sự thật, sống với sự thật?

– Làm sao toàn dân biết thức tỉnh nhìn nhận đúng nguy cơ và sức mạnh của Dân tộc mình?

– Làm sao biết tạm gác lại mọi khác biệt để tập trung đối phó với lực lượng ngoại bang xâm lược?

Chưa thể một lúc giải quyết hết mọi nguyên nhân tận gốc. Nhiều việc còn phải gỡ dần. Tự nhiên tôi thấy hai chữ”đồng bào” thật quá thiêng liêng, người trong một nước…

Để đất nước lần này rơi vào tay kẻ Bành trướng phương Bắc thì mọi việc đánh dấu chấm hết, không chỉ những chiến công gần đây mà những trang sử vàng chống Bắc thuộc suốt 4000 năm cũng đổ xuống sông xuống bể, những Hưng Đạo Vương, Nguyễn Huệ… sẽ khóc giống nòi, dân tộc này sẽ mất hết quyền tự chủ, “mỗi việc mỗi lời” cũng để cho người ta “dắt tựa trâu bò”!

Nạn Bắc thuộc mới do bá quyền Đại Hán và bá quyền Cộng sản chập lại thì muôn đời không thoát khỏi.

Lời cuối tôi khẩn thiết đề nghị các cấp chính quyền hãy trả lời sự “nắn gân” dân tộc anh hùng chúng ta bằng sự biểu dương truyền thống đoàn kết giữ nước, để khỏi làm nhục cha ông chúng ta. Ít nhất là tiếng nói xứng đáng của báo chí, là sự bình đẳng xứng đáng của quý vị mỗi khi làm việc với đối tác Bắc phương, là sự dừng ngay việc xâm lấn kinh tế, văn hóa, dân cư…của họ đang triển khai trên khắp đất nước, và một sự trả lời rất có ý nghĩa là thả ngay, ít nhất 2 người: Cù Huy Hà Vũ và Điếu Cày mà tinh thần yêu nước chống xâm lược của họ đã thành tiêu biểu. Nếu được trả tự do trong tình thế này tin chắc họ hiểu ý nghĩa thiêng liêng của nghĩa cử , và biết phải làm gì để đáp ứng xứng đáng lòng yêu nước, bảo vệ đất nước mà mọi người mong đợi.

Bài viết của Tấn Vũ trên báo Đảng, cùng với những phát biểu mới mẻ gấn đây của ông Lê Đức Anh, ông Nguyễn Tấn dũng…về tinh thần chống xâm lấn, giữ vững chủ quyền, bảo vệ đất nước liệu có thể báo hiệu một bước chuyển gì chăng?

* * *Có thể tôi đã mở lòng ra như một kẻ vô duyên, hay như “gái góa lo việc triều đình”.

Nhưng từ đêm nay tôi không còn xấu hổ với dòng máu đang chạy trong huyết quản tôi, không còn phải cúi mặt mỗi khi nghĩ đến những thế hệ sẽ ra đời sau tôi mấy chục năm, mà số phận họ thế nào tôi chưa thể hình dung được.

Chỉ biết, xin các bạn hãy cùng tôi cầu chúc cho những thế hệ Việt hậu sinh ấy được muôn ngàn lần tự do và hạnh phúc.

Nguồn Dân Luận

 

Posted in Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa, Chinh Tri Xa Hoi | 1 Comment »

Các bậc thức giả trong nước đã làm gì, nghĩ gì trong tuần qua?

Posted by hoangtran204 trên 14/06/2011

Kỳ vọng về những gì không có trong hiện thức là một hiện tượng rất phổ biến từ 1986 của các bậc trí giả đã từng là công nhân viên làm việc cho nhà nước CH XHCN VN. Họ quan sát một số phản ứng của giới cầm quyền về một sự kiện nào nào đó (có tính chiến lược) đang xẩy ra, rồi họ trông đợi rằng: nhà cầm quyền  Hà Nội có thể đang thay đổi chiến lược chăng?

Có một số người khác thì kêu gọi bộ Thông Tin Tuyen Truyền phải tường thuật cuộc biểu tình theo nghĩa tôn trọng sự thật.

Một số khác tỏ ra nãn chí vì vẫn còn quá nhiều người vô cảm, sợ hải, lo an nguy cho bản thân hơn là chuyện Trung Quốc đang gây hấn ngoài Biển Đông.

Một bước chuyển thật chăng?

Hà Sĩ Phu
HSP
nguồn  danluan.org
—-
Tống Văn Công

Trong bài “Trước họa xâm lăng, làm gì để Chính phủ và nhân dân cùng một ý chí”, tôi có phê phán bản tin của Thông tấn xã Việt Nam (TTXVN) viết về cuộc biểu tình sáng Chủ nhật ngày 5-6-2011.

Sáng nay, 13-6-2011, tôi nóng lòng tìm xem bản tin mới của TTXVN và các báo Việt Nam đưa tin về hai cuộc biểu tình ở Thủ Đô Hà Nội và TP Hồ Chí Minh sáng 12-6-2011 với hy vọng sẽ thấy sự thay đổi tích cực. Lạ quá! TTXVN và tất cả các báo Việt Nam không có một dòng nào cho sự kiện đáng trân trọng và ghi nhớ này!

Tôi nhớ có một ông thày dạy rằng, báo chí ngoài việc thông tin kip thời còn có giá tri một biên niên sử. E rằng, thế hệ mai sau đọc lại báo nước nhà sẽ lầm tưởng rằng vụ Trung Quốc gây hấn tàu Viking 2, cả Việt Nam không có cuộc biểu tình nào như lần chúng cắt cáp Bình Minh 2?

Lại nhớ những ông thày dạy các nhà báo hiện đại rằng, dù có hiện đại đến đâu thì có những điều từ truyền thống vẫn không bao giờ được thay đổi: đưa sự thật một cách chính xác, công bằng và khách quan. Báo chí Việt Nam là một biệt lệ chăng khi tất cả im phăng phắc trước một sự thật không lồ có quan hệ đến tồn vong của đất nước? Vì lý do gì vậy ? Vì không dám nhìn chính xác sự thật? Vì không biết ủng hộ biểu tình hay chống lại biểu tình là công bằng? Vì không thể tường thuật sự thật một cách khách quan?

Dù bởi một lý do nào hay vì cả ba lý do thì việc coi như không hề có sự thật khổng lồ đã xảy ra sáng 12-6-2011 là một thái độ vô trách nhiệm đối với bạn đọc. Báo chí Việt Nam lại còn được giao nhiệm vụ “định hướng thông tin theo quan điểm của Đảng”, vậy thì sự im lặng này phải chăng là buông lỏng định hướng trong một tình thế nước sôi lửa bỏng đang nung nấu tâm can của toàn dân Việt Nam.giữa làn sóng thông tin tàn độc từ phía Bắc Kinh?

Vì vậy tôi làm một việc bất đắc dĩ là thử viết thay TTXVN bản tin hai cuộc biểu tình chống Trung Quốc xâm lược. Làm thay cho ai là một việc khó, nói thay lại càng khó hơn, cho nên tôi sẽ cố viết rất ngắn và xin chân thành lắng nghe TTXVN phản ứng những điều tôi viết ra trái với ý của quý vị.

LẠI BIỂU TÌNH CHỐNG TRUNG QUỐC GÂY HẤN

Thủ đô Hà Nội – Từ 7 giờ sáng 12-06-2011, lực lượng an ninh đã đông đặc trên các đường phố dẫn đến Sứ quán Trung Quốc. Xe cành sát đậu đầy từ ngã tư Hoàng Diệu đến ngã tư Trần Phú, Điện Biên Phủ. Những người đeo băng bảo vệ ngồi kín các góc phố, các vệ đường. Cảnh sát cơ động rải dọc theo công viên, các mối đường để đối phó với cuộc biểu tình sẽ xảy ra để phản đối Trung Quôc lại cắt cáp tàu Viking 2.

Người biểu tình đi lác đác tìm những quán cà phê chờ nhau. Hơn 8 giờ những nhóm lác đác bắt đầu tụ lai thành đoàn lớn. Các vị trí thức nổi tiếng xuất hiện: Giáo sư Nguyễn Huệ Chi, giáo sư Phạm Duy Hiển, giáo sư Chu Hảo, giáo sư Hoàng Xuân Phú, giáo sư Nguyễn Yên Đông, nhà văn Phạm Xuân Nguyên, tiến sĩ Nguyễn Xuân Diện, nhà báo Trần Nhương, nhạc sĩ Nguyễn Trọng Tạo, đạo diễn điện ảnh Đỗ Minh Tuấn… Nhiều đoàn khác cũng cùng lúc xuất hiện. Trên tay nhiều người giơ cao cờ đỏ sao vàng, hình Đại tướng Võ Nguyên Giáp và các khẩu hiệu: Việt Nam-Hoàng Sa; Việt Nam-Trường Sa; Đả đảo Trung Quốc xâm chiếm lãnh hải; Đả đảo Trung Quốc gây hấn; Việt Nam muôn năm. Đoàn biểu tình đến ven Hồ Gươm, cô dâu chú rể đã ngưng chụp hình xin gia nhập…

Các đội cảnh sát cơ động ngăn không cho đoàn biểu tình đi về hướng sứ quán Trung Quốc. Giáo sư Nguyễn Huệ Chi nói với anh em cảnh sát: ”Nhân dân ta biểu dương lực lượng để bọn xâm lược biết quyết tâm sắt đá của cả nước ta. Nếu ngăn cản đoàn biểu tình thì các cháu đứng về phía nào? Các cháu có thấy chống nhân dân biểu tình phản đối xâm lược là nhục hay không?” Anh em cảnh sát lắng nghe nét mặt nhẹ nhõm, tỏ ý đồng tình với vị giáo sư đáng kính. Tuy vậy đến đoạn cuối đạo điễn Đỗ Minh Tuấn đã bị bắt đưa vào đồn công an một lúc lâu mới được trả tự do.

Theo bản tin của RFI ngày 12-6-2011 số người tham gia ở Hà Nội lần này có thể tới 1000 người, đông hơn cuộc biểu tình ngày chủ nhật 5-6-2011…

Cuộc biểu tình ở TP Hồ Chí Minh bắt đầu trễ hơn, khoảng 9 giờ 30 sáng. Nhiều người cho rằng số người tham gia biểu tình lần này đông hơn lần trước, nhưng số cảnh sát cũng đông hơn, các đoàn biểu tình bị xé lẻ ra thành nhiều nhóm nhỏ. Cảnh sát ngăn chắn mọi ngã đường dẫn đến lãnh sự quán Trung Quốc. Các đoàn tiểu tình phải chia ra kéo đi tập trung ở nhiều nơi như trước dinh Thống nhất, lãnh sự quán Hoa Kỳ, lãnh sự quán Anh… Cảnh sát đã “manh tay” với người biểu tình hơn lần trước, đã có 3 người bị bắt, có người bị đưa lên xe bít bùng. Theo nhiều người biểu tình thì kinh nghiệm để bảo vệ an toàn cho nhau là phải cố bám sát trong hàng, tránh đi lẻ xa đoàn dễ bị bắt!

Nhận xét chung là cả Hà Nội và TP Hồ Chí Minh, anh em cảnh sát đều tỏ ra thông cảm với nhân dân đi biểu tình. Anh em tỏ ra miễn cưỡng khi phải ngăn chặn chỗ này chỗ khác theo lệnh cấp trên.

Ngày 13-6-2011
TVC

Nguồn: danluan.org

——-

Nguyễn Thông

Trưa nay tôi uể oải lầm lũi chạy xe về, khác hẳn với một tuần trước đầy phấn chấn. Nỗi buồn cứ quay quắt, ồn ào khiến mình mệt mỏi. Chả dám than trách bởi đã xác định trước rồi, đường đời lắm nỗi gian nan. Không thể viết ngay được, mà mình lại vốn chậm chạp, viết cũng chậm. Nhưng không thể không viết.

Người xưa khi cần tăng tính thuyết phục cho điều gì đó thường quả quyết “mắt thấy tai nghe”. Những gì tôi biên ra đây là qua con mắt của tôi, còn bạn có tin hay không thì tùy.

Điểm lại một chút: 6 giờ 30 sáng bà xã chưa dậy, tôi ghi vội mấy chữ để trên bàn rồi xách xe đi. Đi về có báo cáo, tuy hơi mất tự do nhưng trong trường hợp này có cái hay của nó. Đến cơ quan gặp đồng nghiệp Mr. Do cũng vừa tới. Nó trẻ, nhanh hơn mình, bỏ xe máy lại, lủng lẳng chiếc máy ảnh ống kính dài, thoắt cái đã ngoắc xe ôm vù mất. Mình cũng kêu một chiếc, bảo bác tài nhẩn nha dọc đường để xem nhân tình thế thái. Sài Gòn vẫn ồn ã nhộn nhịp, chả ai biết sau những gương mặt kia là những suy nghĩ gì. Tới Nhà hát thành phố, dòng đời thường vẫn như hôm qua hôm kia hoặc có thể ngày mai nên mình bảo bác tài quành về nhà thờ lớn. Kia rồi sự khác lạ. Người đông hơn, đứng đầy trên vỉa hè đường Hàn Thuyên, Quảng trường Công xã Paris và vườn cây trước dinh Độc Lập, càng ngày càng đông. Và dù chỉ là tay mơ, mình rất dễ dàng nhận ra nhan nhản công an, an ninh chìm nổi, rồi đủ loại sắc phục dân phòng tự vệ làm xanh mặt nhân dân. Họ chả cần giấu diếm, oai vệ vác dùi cui, cứ vài ba anh lại có một anh tay cầm bộ đàm, lúc líu lo lúc thầm thì ngó trước ngó sau rất chi là bí mật. Thôi tí nữa mình sẽ kể kỹ hơn về mấy “đồng chí” này bởi họ là nhân vật chính của ghi chép hôm nay.

Tới ngã ba Alexandre de Rhodes – Phạm Ngọc Thạch nhìn sang quán cà phê tầng trệt Diamond còn gọi là cà phê Đá, lối trông sang Nhà văn hóa Thanh niên thấy Mr. Do và bạn bè đứng đó tự bao giờ. Trò chuyện vài câu, gặp thêm bạn đồng nghiệp cũ Phạm Thương. Thương chỉ một anh chàng nhỏ con đẹp trai đeo chiếc máy ảnh bảo ông xã em đây. Mọi người vui vẻ nhưng dường như trong ánh mắt có điều gì lo toan. Mình hiểu. Mọi người theo tiếng gọi của trái tim, tình yêu đất nước mà tụ họp về đây nhưng nó cứ tự phát, tản mát thế nào ấy, không khéo lại chỉ là cuộc vi vu vô nghĩa. Kim phút kim giờ cứ nhích dần. Ai nấy sốt ruột mà chẳng dám nói ra, sợ làm nhụt chí kẻ khác. Mình tranh thủ đi tìm Duy Ngọc bởi hắn có khuôn mặt rất dễ nhận ra, vả lại lần trước mình thích mấy cái ảnh của hắn quá, hầu như các báo mạng kể cả trong ngoài nước đều dùng ảnh của hắn. 8 giờ hơn, đang đếm bước trên lề đường Phạm Ngọc Thạch thì có bước chân chạy rầm rập. Mình nép vào tường, một thanh niên cầm tấm biểu ngữ chỉ kịp đọc thoáng chữ China stop… chạy trước, dăm sáu anh lực lưỡng mặc thường phục đằng đằng sát khí bám sát. Lúc mình quay lại chỗ quán cà phê Đá thì Mr. Do bảo công an vừa bắt một người trong quán, là con trai nhà thơ Đynh Trầm Ca, mình chắc là cái cậu hồi nãy.

Len qua trùng điệp lực lượng chức năng, tôi tới cổng Nhà văn hóa Thanh niên, nơi một tuần trước ông Ba Đua đã test các vị nhân sĩ trí thức. Lần này đến giờ vẫn chưa thấy ai, kể cả phe này phe kia. Trông sang trại Tàu, bức tường màu vàng nhơn nhơn thách thức. Chả biết đằng sau những ô cửa sổ khép hờ kia có ai, chúng nó đang làm gì nghĩ gì. Công an đủ sắc phục kín đặc như bức thành lũy thép kiên cố bảo vệ trại Tàu, cần chi mấy chiếc hàng rào sắt. Chỗ này có lẽ là điểm nóng nhất nên anh nào cũng dùi cui hoặc máy bộ đàm. Để ý thấy mấy anh cảnh sát trật tự thì dùi cui, còn anh an ninh thì bộ đàm. Cầm máy đàm oai hơn nên rất ra vẻ ta đây, lộ liễu. Số công khai còn đông đặc như thế thì số chìm biết đường nào mà lần. Tôi có cảm giác hai anh mặc thường phục đứng gần hai bên tôi đều là dạng này, thỉnh thoảng liếc tôi rất khó hiểu rồi một anh biến mất. Linh cảm không sai. 5 phút sau một anh an ninh có vẻ gộc đến thân tình vỗ vai hỏi nhỏ anh ở bộ phận nào, tôi bảo gì cơ, lại hỏi như cũ, bèn đáp rằng tôi ở bộ phận nhân dân. Cái mặt thoắt lạnh tanh, đề nghị anh đi, đây không phải chỗ của anh. Mình bảo tôi chẳng thèm, nhân dân chúng tôi làm gì có chỗ trên cái nước này, anh nhìn xem, toàn người của anh đó thôi. Anh ta đuổi được mình xong liền đưa cái bộ đàm lên mồm lèo nhèo điều gì không rõ rồi ra đuổi tiếp một bác cứng tuổi phía sau.

Kể đến đây, phải trữ tình ngoại đề một chút. Cách nay hơn chục năm thằng cu nhớn nhà mình làm hồ sơ thi vào Đại học An ninh. Mình cũng xăng xái giúp nó, hồ sơ đã được duyệt, sức khỏe đạt yêu cầu, chỉ còn chờ thi. Nhưng cứ lăn tăn thế nào ấy. Mình gặp ông anh, bạn đồng môn, khi đó Trưởng khoa Ngữ văn ĐH KHXH-NV, anh ấy chả ngẫm ngợi gì khuyên ngay rằng nếu em cho nó đi công an sau này có hối cũng không kịp. Thằng con mình biết nghe nhời, làm hồ sơ khác thi vào Công nghệ thông tin. Sáng nay nó cũng đi, khi về nó bảo bạn con làm ở công an Quận 1 nhắc rằng phải cẩn thận nhưng con cứ đi, sợ gì! Được.

Tôi trở lại chỗ cà phê Đá đứng chờ, lòng cứ không thể hiểu nổi tại sao công an lại có thể hành động rất xăng xái, tích cực, mẫn cán để ngăn chặn những người dân yêu nước biểu tình chống Trung Quốc xâm lược. Họ là ai? Họ có thể có lý của họ nhưng gần như có một số người mất hết cả trí khôn, danh dự, liêm sỉ, lòng tự trọng, không còn biết mình là ai trên cõi đời này. Thử hỏi các anh, nhìn những con người đang ôn hòa khuôn mặt trong sáng kia, với cờ tổ quốc quấn quanh mình, biểu ngữ đòi Hoàng Sa-Trường Sa cho Việt Nam trên tay, có sự mờ ám, âm mưu, côn đồ, phản động gì không mà siết người ta đến thế. Không có dân – những con người ấy, mai này nếu bọn Tàu gây chiến các anh có dám kêu họ cùng đi?

Có chút lý do cá nhân, khoảng 8 giờ 30 tôi bắt xe ôm về cơ quan. Anh xe ôm ngự trên đường Đồng Khởi chẳng thèm biết tôi là ai, chửi đù mẹ nó cứ thế này thì dân chịu sao nổi. Tôi hỏi anh chửi bọn Trung Quốc hay chửi ai, anh bảo chửi tuốt. Tôi nói lát nữa tôi ra xem người ta biểu tình anh có đi với tôi không, anh gằn giọng đi xem thì đừng rủ tôi đi. Trả thêm chút tiền cho bác tài thẳng thắn.

9 giờ, nhận được thông tin qua mạng từ Phạm Thương “đã bắt đầu”. Phải công nhận Thương nhanh nhẹn thật, “up” lên liên tục. Nhỏ người, trông yếu đuối, vậy mà sức lực đâu giúp Thương bám theo suốt mọi chặng đường, cứ dăm phút lại có tin mới. Hồi Thương mới về cơ quan tôi, cùng lúc hai cô, trong đó có Thương, tôi rất quý Thương về sự thẳng thắn, đâu ra đấy, không nịnh bợ. Có lần tôi nói với đạo diễn Lê Phong Lan điều này, chị Lan cũng đồng ý như vậy.

Tôi vội vàng lấy xe quay trở lại. Đoàn người mỗi lúc đông thêm nhưng bị công an khéo léo chia cắt thành từng nhóm. Tuy vậy còn hơn không, bởi trước đó đến tận 8 giờ 30, được sự trợ giúp của cả một bộ máy khổng lồ, tòa lãnh sự Tàu vững như bàn thạch. Thiếu những người đi đầu như cụ Nguyễn Đình Đầu, ông Lê Hiếu Đằng, Hồ Cương Quyết… nên sức mạnh quần chúng vẫn chỉ là sức mạnh tiềm ẩn. Giờ thì đã có lá cờ đỏ sao vàng do một bạn trẻ phất lên, nhiều người đồng loạt đứng dậy rời ghế quán cà phê, ra khỏi vỉa hè để nhập vào. Ôi các bạn trẻ, lần này hầu hết là học sinh sinh viên, nhiều bạn ăn mặc rất giản dị, thậm chí áo quần cũ kỹ nhưng trông họ thật đáng mến, đáng khâm phục. Họ kéo một tốp khoảng hơn trăm người ra lề đường Lê Duẩn vừa phất cờ, giương cao khẩu hiệu vừa hô “Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam”…, từng nhóm công an chìm nổi lẽo đẽo theo sau. Người đi đường dừng lại xem như xem một sự lạ, không ai có vẻ muốn gia nhập với họ. Ôi nhân dân. Tôi nhìn các bạn trẻ mà trào nước mắt.

Lòng càng thấy nặng nề buồn hơn khi tôi chạy qua đường Nguyễn Du, quẹo vào Nguyễn Trung Trực, ra Lê Thánh Tôn. Hai bên đường suốt từ sáng sớm đã kín người là người, già có trẻ có. Họ thản nhiên cà phê cà pháo, chơi game bằng điện thoại di động, cãi cọ nhau ồn ào, cứ ngồi đồng thế suốt mấy tiếng đồng hồ, dường như chẳng biết gì đang xảy ra ngoài kia, chỉ cách có vài trăm bước chân. Buồn.

Viết đến đây tôi không muốn viết tiếp nữa.

8:22 pm, 12.6.2011

N. T.

Tác giả gửi trực tiếp cho BVN

—-

Thư ngỏ của ông Lê Hiếu Đằng gửi ông Đinh Thế Huynh

Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

TP.HCM ngày 12 tháng 6 năm 2011,

Kính gửi: Ông Đinh Thế Huynh, Ủy viên Bộ Chính trị, Trưởng ban Tuyên Giáo Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch Hội nhà báo Việt Nam

Thưa ông,

Tôi là LÊ HIẾU ĐẰNG, nguyên là Phó Tổng thư ký Hội Sinh viên Sài Gòn nhiệm kỳ 1966-1967, nguyên Phó Tổng thư ký Ủy ban Trung ương Liên minh các Lực lượng Dân tộc Dân chủ và Hòa bình Việt Nam trong thời kỳ chống Mỹ, là Phó Chủ tịch Ủy ban Mặt trận tổ quốc Việt Nam trong 20 năm (từ 1989-2009), là đại biểu Hội đồng nhân dân TP.HCM khóa IV và khóa V. Sở dĩ tôi giới thiệu hơi dài dòng với ông như vậy để ông thấy rằng là lá thư này gởi ông không phải là của một kẻ xấu, càng không phải là của một kẻ phản động như bộ máy tuyên truyền thường hay hô hoán, mà là của một người có đầy đủ tư cách để viết lá thư này cho ông.

Thưa ông,

Đã một tuần qua sau cuộc biểu tình tuần hành của nhân dân Hà Nội, nhân dân Sài Gòn – TP. HCM lên án hành động hiếu chiến, ngang ngược của nhà cầm quyền Trung Quốc tại vùng lãnh hải thuộc chủ quyền của Việt Nam bất chấp luật pháp quốc tế, bôi bẩn và xé toang mười sáu chữ vàng mà lãnh đạo hai nước thường xuyên nhắc đến. Tôi đợi một tuần qua để cơn giận dữ, lòng phẫn nộ và khinh miệt của tôi lắng xuống để ngồi bình tĩnh viết thư này cho ông để kịch liệt lên án và phê phán cách thức và nội dung đưa tin sai sự thật hoặc nói cách khác tránh né sự thật một cách trắng trợn của TTXVN về các cuộc biểu tình tuần hành của nhân dân TP Hà Nội và nhân dân TP Sài Gòn – Hồ Chí Minh, mà xét đến cùng là trách nhiệm của ông với tư cách người lãnh đạo cao nhất của bộ máy thông tin tuyên truyền của Đảng và Nhà nước hiện nay. Hơn nữa, ông còn là chủ tịch Hội Nhà báo Việt Nam chắc hẳn ông hiểu rõ thiên chức (tôi không dùng chữ chức năng) của nhà báo là phải thông tin trung thực, chính xác và khách quan về các sự kiện đã xảy ra, thực hiện quyền được thông tin chính đáng, một quyền cơ bản của người dân. Tôi không hiểu các hội viên Hội Nhà báo Việt Nam suy nghĩ như thế nào về việc làm này của ông chủ tịch của họ? TTXVN thông tin rằng chỉ có những cuộc “tụ tập” của “một số ít người” trong sáng ngày 05-6 ở Hà Nội và Sài Gòn – TP.HCM, vậy thì tôi xin mời ông, các vị lãnh đạo Ban Tuyên Giáo Trung ương, Bộ Thông tin – Truyền thông, TTXVN hãy xem các hình ảnh chụp được, các đoạn video clip trên các trang mạng (chắc hẳn các ông đều có phương tiện và khả năng sử dụng được) và nhất là vào hỏi nhân dân đang cư ngụ ở chung quanh tòa lãnh sự Trung Quốc, trước nhà thờ Đức Bà, Dinh Thống Nhất (Dinh Độc Lập cũ) và các đường Đồng Khởi, Lê Lợi, chợ Bến Thành, v.v. xem đó chỉ là cuộc tụ tập của một số ít người hay biểu tình tuần hành của đông đảo quần chúng? Hoặc có thể hỏi lực lượng công an, cảnh sát chìm nổi phải mướt mồ hôi mà vẫn không cản được làn sóng người như nước vỡ bờ sáng hôm ấy. Cái tai hại nhất là việc thông tin sai sự thật trắng trợn của TTXVN, biến các cuộc biểu tình tuần hành thật sự trở thành chỉ là những cuộc tụ tập đông người, đã làm cho nhân dân trong nước, nhất là ở hai thành phố Hà Nội và Sài Gòn – TP.HCM cũng như dư luận nước ngoài càng tin rằng những thông tin chính thức từ TTXVN, cơ quan thông tin chính thức của Nhà nước, đều là nói láo, đổi trắng thay đen. Nói như cách khá tế nhị tuy đầy tính phê phán của GS Ngô Bảo Châu về việc xử án TS Cù Huy Hà Vũ: “Có cố tình làm mất thể diện quốc gia, chắc cũng khó mà làm hơn mấy ông bà này”. Trong vụ việc thông tin sai sự thật này, “mấy ông bà này” là ai ông cũng hiểu rồi. Nếu không phải là ông trực tiếp chỉ đạo việc này thì với vai trò lãnh đạo cao nhất của công tác thông tin – truyền thông của Đảng-Nhà nước, dù sao ông cũng phải chịu trách nhiệm.

Tôi cho rằng việc làm này là phá hoại uy tín, thanh danh của Đảng và Nhà nước nghiêm trọng nên tôi đề nghị cần có sự kiểm điểm nghiêm túc để về sau không còn những sự việc đáng tiếc, đáng xấu hổ này xảy ra nữa. Ông thấy không, dù các ông cố làm giảm nhẹ qui mô, mức độ các cuộc tuần hành biểu tình để làm yên lòng Trung Quốc nhưng họ có thèm để tâm đến đâu. Việc tàu thăm dò dầu khí Viking II bị tấn công càng chứng minh thái độ hung hãn, bất chấp dư luận của Trung Quốc trong việc xâm phạm vùng biển Việt Nam.

Tôi hy vọng ông có đủ lương tâm và trí tuệ để chỉ đạo Thông tấn xã Việt Nam không lặp lại sai lầm cũ khi đưa tin về cuộc biểu tình sáng hôm nay, 12/6/2011, của nhân dân Hà Nội và Sài Gòn – TP. HCM, phản đối Trung Quốc cưỡng chiếm Hoàng Sa và một phần Trường Sa, lên án việc Trung Quốc xâm nhập lãnh hải Việt Nam, đe doạ ngư dân Việt, phá hoại cáp thăm dò địa chấn của các tàu Bình Minh 2 và Viking 2.

Dù sao tôi cũng ghi nhận mặt tích cực của bản tin TTX là đã xác nhận đây là một hành động biểu thị lòng yêu nước, trong hòa bình và trật tự của nhân dân TP Hà Nội và Sài Gòn – TP.HCM.

Do quá bức xúc nên lời lẽ trong thư này có thể làm ông và một số vị lãnh đạo khác không hài lòng, mong ông và các vị thứ lỗi và thông cảm cho.

Trân trọng,

Lê Hiếu Đằng

nguồn boxitvn.blogspot.com

——

Có phải chế độ XHCN ở VN sau 36 năm qua đã hoàn thành một cách xuất sắc việc đào tạo các CON NGƯỜI  MỚI của XHCN? Con người mới mà đảng CSVN muốn trông thấy là những người biết nghe lời đảng và nhà nước chỉ bảo. Đảng bảo ăn thì ăn, bảo uống thì uống, bảo ngồi thì ngồi, bảo là không nên đi biểu tình vì đã có chính phủ và nhà nước lo rồi…thì con người mới XHCN ấy phải tuân theo. Con người mới của đảng muốn trông thấy chẳng khác gì là những con vật đã được thuần hóa. Và nổi thất vọng để thấy  loại người mới ấy được xuất hiện trong bài dưới đây.

Ta được gì?

Phong_07

Cuộc xuống đường ngày hôm nay đã kết thúc và chúng tôi lại trở về nhà. Buồn vui lẫn lộn đang chiếm lấy tâm hồn chúng tôi và bao người con đất Việt khác.

Trước sự bành trướng của Trung Cộng tại Biển Đông và trước thái độ thiếu cứng rắn của nhà cầm quyền, chúng tôi, những người con nước Việt, phải làm gì đây?

Xuống đường – phản đối!

Hành động đó rồi được gì? Tại sao phải xuống đường?

Đó là những câu hỏi mà những người bạn của tôi đặt ra cho tôi và bao người con nước Việt khác. Họ cho rằng có đi cũng chẳng giúp được gì. Không! Suy nghĩ đó hoàn toàn sai lầm. Chúng ta xuống đường phản đối Trung Cộng không phải là để phô trương lòng yêu nước của bản thân chúng ta hay bất cứ một cá nhân nào khác mà là vì Tổ quốc đang lâm nguy trước những hành động đe dọa vừa qua từ Trung Cộng.

Chúng ta cần xuống đường phản đối để thể hiện chính kiến, nguyện vọng của chúng ta đối với cách hành xử của những người có trách nhiệm. Chúng ta xuống đường để cho thế giới biết con người Việt Nam không hèn nhát, sẵn sàng đứng lên chống lại trước bất cứ những hành động thiếu hòa bình nào. Tất cả những ai là con người Việt Nam, yêu Tổ quốc Việt Nam tôi nghĩ đều cần làm như thế. Hôm nay chỉ là Biển Đông nhưng ngày mai sẽ là đất liền. Tôi không muốn những thế hệ tiếp nối sau này khi được sinh ra, chúng không biết Tổ quốc là gì? Quê hương là gì? Và cho rằng tổ tiên của chúng vì hèn nhát đã để mất nước.

Những ngày qua, hai cuộc xuống đường phản đối Trung Cộng đã nổ ra trên những đường phố Sài Gòn và Hà Nội. Đối với thế giới đây là hiện tượng lạ của Việt Nam, nhưng là dấu hiệu cho thấy một thời kì mới sắp sửa nổ ra, một tương lai mới cho đất nước. Tôi thật sự rất khâm phục những con người đang gào thét ở ngoài kia, già có, trẻ có, trai có, gái có nhưng tất cả đều vì sự toàn vẹn lãnh thổ của đất nước, vì tự do, độc lập của dân tộc.

Tiếc thay lại có một phận là những con người được lớn lên và sinh ra trong đất nước này họ bị trơ trước nỗi đau của đất nước, không những vậy còn dè bỉu, khinh khi những con người đang đứng ngoài kia, bất chấp mưa nắng đòi lại lợi ích không chỉ cho đất nước mà còn cho cá nhân của bọn họ nữa.Tôi đã tự hỏi “cái gì đã làm cho họ trở nên như vậy?”, họ sống ích kỷ, cá nhân, lãnh cảm trước nỗi đau của đất nước. Họ là những con người trí thức, là những trụ cột tương lai của đất nước, nhưng suy nghĩ cua họ thật nông cạn, thua cả một người ăn xin mà tôi từng nghe kể, anh ta ngưng hẳn cái sự ăn xin của mình lại để lắng nghe tình hình đất nước, vì trong sâu thẳm tâm hồn anh ta cũng biết rằng “không còn đất nước thì cũng không còn chỗ xin ăn”.

Dưới sự lãnh đạo như hiện nay thì bao nhiêu năm nữa con người Việt Nam mới hết khổ? Đó là câu hỏi mà đến cả thượng đế cũng không trả lời được, máy tính cũng phải “treo” vì tính không ra. Đó là nỗi trăn trở của biết bao nhiêu con người vì tự do – dân chủ cho đất nước, để rồi phải trả giá bằng những ngày tháng trong ngục tù. Hãy thức tỉnh, thức tỉnh đi hỡi người dân Việt Nam, chúng ta chìm trong cơn mê quá lâu rồi.

P.07

Tác giả gửi trực tiếp cho BVN.

—–

Trung Cộng sửa soạn dư luận để xua quân đánh VN.
Sau đây là nội dung bài báo Tàu đã được dịch :
Quần đảo Nam Sa (Việt Nam gọi là Trường Sa) vốn dĩ là chuỗi ngọc trai lấp lánh của đất mẹ Trung Hoa, nhưng lại bị nhiều kẻ trộm cắp, muốn chiếm đoạt, giành giật, việc này chỉ làm phân tán đi ánh hào quang của chuỗi ngọc trai mà thôi. Trong số các đảo bị các nước chiếm đoạt, bọn Việt Nam kiêu ngạo, vong ơn bội nghĩa đã ráo riết chiếm đóng quần đảo với số lượng nhiều nhất.
Nghĩ lại mà xem, Việt Nam vốn xưa là phiên thuộc của nước ta. Năm 1885, theo Thỏa ước Pháp – Thanh, Việt Nam đã bị nhượng lại cho Pháp, dần trở thành thuộc địa của Pháp. Sau hai cuộc chiến tranh, Trung Quốc đã giúp Việt Nam đánh đuổi thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, hai miền Nam Bắc đã được thống nhất. Nhưng thật không ngờ bọn Việt Nam không những không biết ơn Trung Quốc, mà trái lại đã lấy oán báo ân, tự vỗ ngực xem mình là nước có tiềm lực quân sự lớn thứ ba thế giới, liên tiếp khiêu khích Trung Quốc. Mặc dù qua hai bài học, là cuộc chiến tranh biên giới Trung – Vi ệt và chiến tranh Bãi đá ngầm, nhưng Việt Nam vẫn không nhận ra được bài học, càng ra sức chiếm đoạt nhiều đảo hơn.
Do bọn Việt Nam bắt tay thực hiện khai thác đảo sớm nên điều kiện chiếm cứ thuận lợi hơn, hơn nữa lại có nguồn nước ngọt nên bọn chúng có thể thi công trên đảo, xây dựng sân bay, kiến tạo hạ tầng kỹ thuật thông tin di động, di dân ra đảo, tổ chức du lịch quốc tế, thiết lập phân chia ranh giới khu hành chính cấp huyện hòng vĩnh cửu hóa, thực tế hóa, quốc tế hóa, hợp pháp hóa hành vi bá chiếm. Tiếp đó các nước khác cũng lần lượt theo đuôi Việt Nam, như Philipin, Malaysia, Indonesia, Bruney… xâu xé vùng biển Nam Sa của Trung Quốc, xây dựng căn cứ quân sự hoặc khoan dầu mỏ. Tất cả bọn chúng đều không coi Trung Quốc ra gì.
Các nước xung quanh xâm chiếm quần đảo Nam Sa đúng vào thời kỳ đất nước Trung Quốc chúng ta tiến hành cải cách mở cửa, thực hiện chiến lược đối ngoại hòa bình, tập trung xây dựng kinh tế trong nước, duy trì hòa bình phát triển với bên ngoài. Cùng là những nước đang phát triển đáng ra Việt Nam và các nước lân cận phải có thiện ý giải quyết hài hòa những tranh chấp. Đất nước chúng ta đề xướng ra mục tiêu “gác lại chiến tranh, cùng nhau phát triển”.
Tuy nhiên, 30 năm qua, lòng tốt của chúng ta lại không hề được báo đáp, mà trái lại các nước còn không ngừng tăng cường lấn chiếm khu vực biển của nước ta, ngang nhiên chiếm lãnh hải, lãnh thổ nước ta. Không khó khăn lắm, chúng ta cũng có thể nhận ra rằng, lòng tốt của chúng ta không được báo đáp tử tế; danh dự, lãnh thổ và lãnh hải quốc gia nếu chỉ dựa vào giao thiệp hòa bình thì khó mà giữ gìn, bảo vệ được.
Ủy ban thềm lục địa của Liên Hiệp Quốc quy định, 12/5/2009 là kỳ hạn cuối cùng cho các quốc gia có liên quan phải hoàn thành việc gửi những bản giải trình các luận cứ khoa học về chủ quyền thềm lục địa và khu kinh tế đặc quyền. Tình hình phát triển còn làm phức tạp hóa vấn đề, sự xoay chuyển của thời gian sẽ làm cho chúng ta càng thêm bất lợi, nếu cứ tiếp tục kéo dài sự khoan dung của chúng ta thì kẻ khác sẽ cho rằng chúng ta đã chấp nhận, bằng lòng với việc đó. Vì thế, biện pháp có hiệu quả là phải dùng lực lượng quân sự chiếm đoạt lại Nam Sa, và phải đưa việc này vào chương trình nghị sự.
Chúng ta phải thấy một thực tế rằng, mức độ xâm phạm của các nước có liên quan đối với lợi ích của nước ta là khác nhau, do điều kiện môi trường và địa vị quốc tế khác nhau nên sẽ có những phản ứng khác nhau đối với hoạt động quân sự của nước ta, vì vậy mà chúng ta cần phải có những cách đối xử khác nhau, giải quyết tốt những mâu thuẫn chủ yếu, thúc đẩy giải quyết những mâu thuẫn thứ yếu. Không còn nghi ngờ gì nữa, mục tiêu tấn công chủ yếu của chúng ta phải là Việt Nam.
Chúng ta có đầy đủ lý do để tấn công Việt Nam, Việt Nam cũng có đầy đủ điều kiện để trở thành vật tế của trận chiến thu hồi Nam Sa :
1. Việt Nam xâm chiếm nhiều đảo nhất, có nguy hại lớn nhất, hơn nữa có thái độ kiêu ngạo nhất, ảnh hưởng xấu nhất. Trước tiên ta thu hồi lại những đảo mà Việt Nam chiếm đóng là có thể thu hồi lại hầu hết các đảo bị chiếm, khống chế được toàn bộ. Lấy gương xua đuổi thành công quân Việt Nam để răn đe các nước khác buộc chúng phải tự mình rút lui.
2. Trước đây, Việt Nam đã nhất nhất thừa nhận Tây Sa và Nam Sa thuộc chủ quyền của Trung Quốc. Những bài phát biểu của các quan chức, bản đồ quân sự, tài liệu địa lý đều là những bằng chứng xác thực, cho đến sau khi thống nhất đất nước thì Việt Nam có những thái độ bất thường, có yêu cầu về lãnh thổ lãnh hải đối với Tây Sa và Nam Sa. ViệtNam ngấm ngầm thọc lưng Trung Quốc, tiền hậu bất nhất, đã làm mất đi cái đạo nghĩa cơ bản, khiến quân đội của chúng ta phải ra tay, với lý do đó để lấy lại những vùng biển đảo đã mất.
3. Việt Nam có lực lượng quân sự lớn nhất Đông Nam Á. Hơn nữa lại đang tăng cường phát triển lực lượng hải quân, không quân để đối đầu với ta. Quân đội của ta có thể phát động cuộc chiến Nam Sa, cho dù quân đội Việt Nam đã có chuẩn bị. Với chiến thắng trong cuộc chiến này, hoàn toàn có thể làm cho các nước khác thua chạy, không đánh mà lui. Đây là cách để loại trừ Việt Nam, làm cho Việt Nam ngày càng lụn bại.
4. Hai nước Trung – Vi ệt xích mích đã lâu, đã từng nảy sinh tranh chấp lãnh thổ và lãnh hải, lần này lại xảy ra xung đột quân sự. Đây là điều mà thế giới đã dự đoán và đã sớm nghe quen tai với việc này, chắc chắn phản ứng sẽ nhẹ nhàng hơn. Trái lại, nếu tấn công vào các nước như Philipin thì phản ứng quốc tế nhất định sẽ rất mạnh mẽ.
5. Các nước khác tuy cùng trong khối ASEAN nhưng chế độ xã hội và ý thức hệ khác với Việt Nam, các nước khác lại ủng hộ Mỹ trong chiến tranh Việt Nam, thời gian đó đã sinh ra những khúc mắc. Là liên minh ASEAN, khi chúng ta phát động chiến tranh thu hồi lại Nam Sa ắt sẽ gặp phải sự phản đối của ASEAN, nhưng hậu quả của cuộc tấn công Việt Nam sẽ tương đối nhỏ, vì Việt Nam đã từng có ý đồ thiết lập bá chủ khu vực, việc này đã làm cho các nước láng giềng có tinh thần cảnh giác, việc làm suy yếu lực lượng quân sự của Việt Nam cũng là điều tốt cho các nước ASEAN.
6. Tình hình quốc tế gần đây có lợi cho việc giải quyết vấn đề Nam Sa. Quan hệ Trung – M ỹ ; Trung – Nga đang ở thời kỳ tốt nhất, không phải vì thế mà dẫn đến sự đối đầu về quân sự giữa các nước lớn. Quân đội Mỹ đang sa lầy vào chiến trường Afganistan, Iraq và vẫn phải chuẩn bị ứng phó với chiến tranh có thể xảy ra với Iran, chưa rảnh tay để quan tâm tới chiến sự Nam Sa. Hơn nữa tranh chấp đảo giữa Nhật Bản và Hàn Quốc, tranh chấp giữa Campuchia và Thái lan đều sẽ làm phân tán sự chú ý của cộng đồng quốc tế.
7. Quần đảo Nam Sa là một vị trí chiến lược không thể thiếu của Trung Quốc trên trận tuyến kéo dài từ Trung Đông đến Viễn Đông, tuy eo biển Malacca là con đường yết hầu nhưng quần đảo Nam Sa không phải là không có vị trí chiến lược. Có được Nam Sa sẽ uy hiếp được Malacca, yểm trợ các đường ống dẫn dầu, Nam Sa là một trong những vùng hiểm yếu, Trung Quốc quyết không ngần ngại chiến đấu để thu hồi Nam Sa.
8. Lấy chiến tranh để luyện tập quân đội, lấy việc thực hiện chiến tranh để kiểm nghiệm và nâng cao năng lực chiến đấu của quân ta, tình hình phát triển của hai bờ Đài Loan – Hải Nam có thể đảm bảo để hai bên bờ sẽ không xảy ra chiến tranh trong tương lai gần, giải quyết triệt để vấn đề Nam Hải, trong khi thực hiện chiến tranh trên biển phải khảo sát những thiếu sót của hải quân, không quân của Trung Quốc để kịp thời nhận diện những khiếm khuyết, cải thiện, nâng cấp, nhằm phát triển càng nhanh càng tốt lực lượng hải quân không quân của ta, để chứng tỏ rằng quân đội ta là lực lượng quân đội theo mô hình mới, có kinh nghiệm chiến đấu hiện đại, chuẩn bị sẵn sàng cho chiến sự Đài Loan – Hải Nam hoặc để đối phó với những thách thức khác có thể phát sinh. Lực lượng hải quân, không quân của Việt Nam không thể xem là quá mạnh cũng không thể xem là quá yếu, chúng phù hợp với việc luyện tập quân đội của ta.
9. Việc thiết lập hợp tác quân đội với Đài Loan có thể còn nhiều khó khăn, sự bất đồng giữa hai bờ Đài Loan – Hải Nam có thể tồn tại, nhưng việc thu hồi Nam Sa thì haibên lại có chung một lập trường. Mặc dù không thể mời quân đội Đài Loan cùng tham chiến, nhưng trước và sau trận chiến đều cùng nhau tiến hành các hoạt động như : cung cấp nguyên vật liệu, thiết bị bảo trì, nhân viên xử lý, máy bay, tàu chiến do nhu cầu cần thiết hạ cánh hoặc cập bến trong chiến tranh, chắc chắn rằng sự phối hợp hai quân đội sẽ góp phần vào đoàn kết, thống nhất quốc gia.
10. Việt Nam là bọn tham lam, kiêu ngạo, vô lễ, tuyệt đối không thể thông qua đàm phán để chiếm lại quần đảo Nam Sa, không chiến đấu thì không thể thu hồi lại biên cương quốc thổ. Như vậy, cuộc chiến Nam Sa là không thể tránh khỏi, đánh muộn không bằng đánh sớm, bị động ứng phó không bằng chủ động tấn công.
Vẫn còn rất nhiều lý do nhưng không tiện để nêu ra cụ thể từng lý do được.
Mặc dù nói chúng ta đánh Việt Nam như đánh bạc nhưng việc thu hồi Nam Sa quả thực không phải chuyện nhỏ. Hải quân và không quân Việt Nam cũng đang dần hiện đại hóa cho nên ta quyết không đánh giá thấp đối phương, bắt buộc phải làm tốt công tác chuẩn bị, không đánh thì thôi, đã đánh là phải thắng nhanh.
Trong khi bàn việc lấy lại Nam Sa vấn đề không phải là xét xem có thể thành công hay không mà phải xét xem thắng lợi có triệt để hay không, những tổn thất, rủi ro có phải là nhỏ nhất hay không và kết quả cuối cùng có phải là tốt đẹp nhất không… Vì thế cần phải xác định 4 mục tiêu rõ ràng. Đó phải là, xuất một đường quyền đẹp mắt về chính trị, quân sự, kinh tế, ngoại giao.
Trên lĩnh vực quân sự, đáng tiếc rằng Việt Nam đã làm những việc gây phản ứng mãnh liệt như xâm chiếm nhiều đảo mới, giam giữ ngư dân và tàu đánh cá Trung Quốc. Ta tuyên bố rằng lãnh thổ lãnh hải nước ta không dễ dàng xâm chiếm, bắt buộc Việt Nam trả lại những đảo đã xâm chiếm, nhanh chóng hoàn thành việc triển khai quân sự tại Nam Hải. Nếu quân đội Việt Nam không chịu thì Trung Quốc sẽ tiến hành tấn công xua đuổi, kẻ nào dám phản kháng ta kiên quyết diệt trừ, nếu tăng viện trợ máy bay tàu chiến cho Việt Nam thì sẽ bắn hạ, bắn chìm hết. Quân đội Việt Nam đã trang bị một số lượng nhất định máy bay, tàu chiến và tên lửa tiên tiến do Nga sản xuất.
Quân đội của ta sẽ huy động tiềm lực hải quân, không quân để phong tỏa những căn cứ hải quân, không quân của chúng. Quân đoàn pháo binh thứ hai cần làm tốt việc che giấu những cứ điểm chiến lược hiểm yếu, không quân và chiến hạm cần làm tốt công tác dự báo; cung cấp nhiên liệu cho kế hoạch tấn công lâu dài ở căn cứ phía Nam. Lực lượng trên mặt đất phải luôn luôn sẵn sàng ứng phó với các cuộc tấn công quấy nhiễu của quân đội Việt Nam ở khu vực biên giới bất kỳ lúc nào; phải thực hiện phá hủy các căn cứ hải quân không quân ở miền Bắc. Tóm lại, ta sẽ lấy việc tấn công Việt Nam như là cuộc diễn tập để giải phóng Đài Loan, một khi tình hình đã lan rộng thì sẽ triệt để phá hủy lực lượng hải quân, không quân Việt Nam.
Trên lĩnh vực chính trị, vạch trần việc các nước như Việt Nam xâm chiếm lãnh thổ, lãnh hải nước ta, nhắc lại rằng nước ta muốn duy trì phương châm hòa bình, nhưngchúng ta không thể hòa bình với những kẻ xâm hại đất nước ta. Cho dù xảy ra rồi thì chúng ta không mong nhìn thấy xung đột quân sự. Trung Quốc hy vọng rằng các bên liên quan nên ngồi lại tiến hành đàm phán hòa bình để nhanh chóng kết thúc chiến tranh. Nếu các nước như Việt Nam chịu khuất phục trước sức ép quân sự to lớn của nước ta thì nước ta sẽ không sử dụng biện pháp vũ lực nữa, sẽ mở rộng tiếng nói quốc tế của nước ta.
Trên lĩnh vực ngoại giao, một khi chiến sự xảy ra, cộng đồng thế giới chắc chắn sẽ đưa ra bốn chữ “phê phán, phản đối”. Chúng ta cần nhanh chóng tranh thủ sự thông cảm của Mỹ, Nga, Liên minh Châu Âu, nhiệm vụ quan trọng nhất của hoạt động ngoại giao là nắm được mục tiêu của các nước ASEAN, cố gắng bình tĩnh trước sự phẫn nộ và hoảng hốt của họ, khiến họ tin tưởng rằng Trung Quốc vô cùng coi trọng quan hệ với ASEAN, tuyệt đối không làm tổn hại đến lợi ích của các quốc gia ASEAN ngoại trừ Việt Nam, Trung Quốc sẽ làm cho mức độ phản ứng của họ giảm xuống mức tối thiểu.
Trên lĩnh vực kinh tế, để chung sống hòa bình cần thực hiên chiến lược “Dùng đất đai đổi lấy hòa bình”. Để hòa bình phát triển thì cần thực hiện chiến lược “Dùng tiền bạc đổi lấy đất đai”. Đối với quần đảo Nam Sa thì lại phải thực hiện phương châm “chủ quyền thuộc về tôi, cùng nhau phát triển, thỏa hiệp hòa bình, chia sẻ lợi ích” thiết lập một số khu vực cùng phát triển ở giáp giới các nước ASEAN gần quần đảo Nam Sa. Lấy nước ta làm chủ, lần lượt cùng hợp tác phát triển với Philipin, Malaysia, Bruney… giúp các đối tác cùng có lợi. Mục đích của các nước này muốn chiếm đảo là vì muốn đạt được lợi nhuận dầu mỏ, giúp cho họ kiếm được tiền mà họ muốn, làm cho nó dễ dàng đồng ý chủ quyền Trung Quốc.
Nếu Việt Nam đồng ý với chính sách này thì có thể cũng nhận được một phần nào đó.
Với ý đồ lấy phương thức hòa bình để giải quyết tranh chấp Nam Sa thì kết quả cuối cùng Nam Sa quần đảo ắt bị chia cắt. Tất cả những đảo bị chiếm giữ là do ban đầu lực lượng quân đội của nước ta không đủ, khi có đủ năng lực thì không cần phải do dự mà không quyết định, việc sử dụng vũ lực chắc chắn sẽ dẫn đến có sự phản đối.
Cùng năm đó, Anh ra sức tranh đoạt đảo Falklands cũng đã bị lên án chỉ trích nhiều, nhưng khi đảo Falklands đã nằm trong tay nước Anh, ai đã có thể làm gì họ. Nếu Việt Nam nguyện làm đầu têu thì phải đánh cho chúng không kịp trở tay.
Hãy giết chết bọn giặc Việt Nam để làm vật tế cờ cho trận chiến Nam Sa. 
Gs. Vũ Cao Đàm dịch theo nguyên bản tiếng Tàu trên điện báo “Trung quốc Binh khí Đại toàn”

Posted in Biểu Tình và Lập Hội | Leave a Comment »

Biểu Tình ở Việt Nam – Báo của đảng Cộng Sản Trung Quốc cảnh cáo chính quyền Việt Nam

Posted by hoangtran204 trên 12/06/2011

 

Chú ý ở phút 8:15  trong video dưới đây, sẽ nhìn thấy gương mặt của 1 công an sắp sửa bắt 1 thanh niên tên là Phan Nguyên.

 

1 công an mặc thường phục, đội nón đang bắt Phan Nguyên  (nguồn Dânluận.org)

 

http://basam1.files.wordpress.com/2011/06/ba-sam2.jpg

nguồn     Một góc khác của tấm hình cho thấy gương mặt của công an mặc thường phục đi bắt người biểu tình chống TQ.

nguồn ảnh       Bên phải hình là 1 công an đội nón trắng, mặc áo xanh, hoa trắng, đứng quay lưng, đang chụp hình người biểu tình.

(up date 16-6-2011)

Trong 2 tuần qua, sau khi các tàu Trung Quốc quấy nhiễu cắt cáp tàu Bình  Minh II và  Viking II của công ty nhà nước Petro Vietnam, các báo nhà nước như  Nhân  Dân, Quân Đội ND, Công An ND giả vờ  im lặng như không biết gì hết…Thậm chí các báo nầy còn không dám loan tin các cuộc biểu tình của người  Việt Nam ở Hà Nội và Sài  Gòn trước Tòa Đại Sứ và Tổng  Lãnh Sự Trung Quốc.

Các nhà theo dõi tình hình nhận xét “các báo VN bổng nhiên  im lặng một cách đáng sợ. Trong khi đó Báo  Tàu hăng thêm”.

…tờ nhật báo của đảng Cộng Sản Trung Quốc hôm Thứ Bảy, cảnh cáo Việt Nam phải tỏ ra tự chế, nếu không thì sẽ rước lấy thảm hại về vụ tranh chấp chủ quyền ở biển Ðông.”  À, thì ra thế. Hai đảng biết rơ của nhau quá. Bị ăn hiếp quá đáng, biết thân nên không dám la, cố im thin thít gần 3 tuần qua. Vậy mà giờ đây nó còn chửi xối xả.

“…bài xã luận đã tố cáo Hà Nội đã “sử dụng hình thức hạ cấp nhất của chủ nghĩa dân tộc để tạo thêm thù địch giữa nhân dân hai nước.

Báo Trung Cộng viết tiếp: “Hà Nội có vẻ muốn xả xì bớt căng thẳng quốc nội và động viên tinh thần trong nước, trong khi cùng lúc ấy lại muốn lôi kéo sự quan tâm của quốc tế vào vụ tranh chấp ở biển Ðông.”

Rồi kết luận  với giọng cảnh cáo: “Nếu Việt Nam nhất định gây rối với ý nghĩ rằng, càng gây rối càng có lợi, thì chúng tôi thành thật nhắc nhở những ai hoạch định chính sách ở Việt Nam hãy vui lòng đọc lại lịch sử của mình.”  Hihi. Thằng Tàu viết bài nầy hình như chưa từng học lịch sử thì có.

Báo đảng Trung Quốc cảnh cáo Việt Nam

Saturday, June 11, 2011

Mỹ quan ngại tranh hấp biển Ðông leo thang

BEIJING (NV) – Global Times, một tờ nhật báo của đảng Cộng Sản Trung Quốc hôm Thứ Bảy, cảnh cáo Việt Nam phải tỏ ra tự chế, nếu không thì sẽ rước lấy thảm hại về vụ tranh chấp chủ quyền ở biển Ðông.

Trước đó một ngày, hôm Thứ Sáu, Việt Nam công bố cuộc tập trận bằng đạn thật, rõ ràng là để đáp lại đòi hỏi của Trung Quốc buộc Việt Nam phải ngưng thăm dò khai thác dầu khí trong khu vực biển Ðông, nơi cả hai đều nhận có chủ quyền.

 

Việt Nam lần đầu tiên công khai tuyên bố sẽ tập trận bắn đạn thật trên biển Ðông khiến Trung Quốc nổi giận. (Hình: LSQSVN)

 

Tờ Global Times do Nhân Dân Nhật Báo Trung Quốc xuất bản, trong một bài xã luận đã tố cáo Hà Nội đã “sử dụng hình thức hạ cấp nhất của chủ nghĩa dân tộc để tạo thêm thù địch giữa nhân dân hai nước”.

Tờ nhật báo tiếp: “Hà Nội có vẻ muốn xả xì bớt căng thẳng quốc nội và động viên tinh thần trong nước, trong khi cùng lúc ấy lại muốn lôi kéo sự quan tâm của quốc tế vào vụ tranh chấp ở biển Ðông.”

Global Times nói thái độ thách thức của Việt Nam đã gây tổn hại thiện ý của công luận Trung Quốc, và đe dọa tạo nên áp lực lên giới lãnh đạo Trung Quốc khiến họ phải có phản ứng mạnh.

Bài báo kết luận: “Nếu Việt Nam nhất định gây rối với ý nghĩ rằng, càng gây rối càng có lợi, thì chúng tôi thành thật nhắc nhở những ai hoạch định chính sách ở Việt Nam hãy vui lòng đọc lại lịch sử của mình.”

Bài xã luận có đoạn nói, mặc dù to lớn và hùng mạnh nhưng Trung Quốc “chưa bao giờ hăm dọa một nước bé hơn. Nhưng khi một nước nhỏ muốn gây hấn Trung Quốc thì người dân Trung Quốc sẽ vừa nổi giận nhưng lại vừa tức cười”.

 

Bộ Trưởng Quốc Phòng Trung Quốc Lương Quang Liệt trong cuộc gặp gỡ Tổng Thống Phi Benigno Aquino ở Manila về tranh chấp ở biển Ðông. Những lời Trung Quốc nói thường không đi đôi với việc họ làm. (Hình: Noel Celis/AFP/Getty Images)

 

Việt Nam công bố hải quân của mình sẽ tiến hành hai cuộc thực tập trong ngày Thứ Hai, tại khu vực đảo Hòn Ông, cách bờ biển tỉnh Quảng Nam 150 km, tức hoàn toàn nằm trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam. Ðịa điểm này cách Hoàng Sa 250 km và Trường Sa 1,000 km.

Theo RFI, hôm Thứ Sáu, Phát Ngôn Viên Bộ Ngoại Giao Nguyễn Phương Nga tuyên bố: “Ðây là hoạt động huấn luyện thông thường hằng năm tại khu vực mà Hải Quân Việt Nam vẫn thường huấn luyện theo chương trình và kế hoạch của Quân Ðội Nhân Dân VN.”

Ðây là lần đầu tiên Việt Nam loan báo trước về một cuộc tập trận trên biển như thế. Việc này gây thêm căng thẳng giữa hai nước, sau khi Trung Quốc hai lần xâm nhập hải phận Việt Nam và cắt dây cáp của tàu thăm dò dầu khí Bình Minh 02 và Viking 02.

Các hành động của Trung Quốc ở biển Ðông gây phẫn nộ trong dư luận Việt Nam. Chủ Nhật tuần trước, hằng ngàn thanh niên đã biểu tình phản đối Trung Quốc ở Hà Nội và Sài Gòn, theo lời kêu gọi được phổ biến trên các trang mạng xã hội.

Một lời kêu gọi mới cho cuộc biểu tình vào ngày 12 tháng 6 đang được phát tán trên Internet nhưng không rõ lần này thái độ của chính quyền Việt Nam sẽ như thế nào.

 

Hoa Kỳ lên tiếng

 

Hôm Thứ Sáu, phát ngôn viên Bộ Ngoại Giao Mỹ, Mark Toner, nói Hoa Kỳ kêu gọi các bên giải quyết căng thẳng biển Ðông bằng giải pháp hòa bình. Hoa Kỳ không ủng hộ hành động làm tăng thêm căng thẳng.

Ông Toner nói, “Hoa Kỳ quan ngại trước các diễn biến ở khu vực biển Ðông, chúng chỉ làm tăng căng thẳng chứ không giúp gì cho hòa bình và an ninh khu vực.”

Còn Thượng Nghị Sĩ Jim Webb, chủ tịch tiểu ban Ðông Á-Thai Bình Dương thuộc Ủy Ban Ðối Ngoại Thượng Viện Hoa Kỳ thì chỉ đích danh Trung Quốc.

Ông Webb nói với Reuters: “Cung cách hăm dọa của Trung Quốc là mối quan ngại nghiêm trọng”.

Trong tuần này Hoa Kỳ vừa đưa vào biển Ðông khu trục hạm có trang bị hỏa tiễn tên USS Chung-Hoon để kiểm tra việc thực hiện quyền tự do lưu thông hàng hải tại các vùng biển này.

Nguồn tin từ Yahoo News Online cho biết: “Tàu chiến này sẽ đi ngang qua những vùng biển mà Hoa Kỳ xem là hải phận quốc tế để giám sát quyền tự do lưu thông và chứng tỏ là cộng đồng quốc tế không chấp nhận những đòi hỏi của các quốc gia trái với quyền tự do lưu thông ấy.” (T.P.)

Nguồn   nguoi-viet.com

Posted in Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa, Biểu Tình và Lập Hội | Leave a Comment »

Trung Quốc tố ngược lại Việt Nam về chuyện vừa xảy ra trên Biển Đông

Posted by hoangtran204 trên 11/06/2011

Thằng đàn anh của đảng CSVN cũng thuộc loài gian ác không kém. Nó tố ngược lại chuyện xảy ra ở Biển Đông như vầy: Phát ngôn viên Bộ  Ngoại  Giao Trung Quốc “Ông Hong Lei nói rằng tàu đánh cá của Trung Quốc bị tàu võ trang của Việt Nam rượt đuổi hôm sáng thứ Năm ngày 9 tháng Sáu. Trong lúc sự việc này đang xảy ra thì lưới đánh cá của một trong những chiếc tàu đánh cá Trung Quốc bị quấn vào những sợi dây cáp của tàu khai thác dầu khí của Việt Nam, mà Trung Quốc cho là đang hoạt động bất hợp pháp trong khu vực này.”
Nhưng lời nói của nó không có bằng chứng vì không có hình ảnh lưới đánh cá của tàu Trung Quốc bị rách.
—————-

Trung Quốc tố ngược lại Việt Nam về chuyện vừa xảy ra trên Biển Đông

DCVOnlineTin AFP

Bắc Kinh – Trung Quốc cảnh cáo Việt Nam nên ngưng ngay tất cả hoạt động mà Trung Quốc cho là vi phạm chủ quyền ở những vùng biển đang tranh chấp trong vùng biển Nam Hải sau một sự cố liên quan đến tàu của hai nước cộng sản.

Hà Nội đã phản đối Bắc Kinh sau những gì xảy ra mà Hà Nội cho là một cuộc tấn công “có chủ tâm” lên chiếc tàu thăm dò dầu khí của Việt Nam.

Việt Nam nói một chiếc tàu đánh cá của Trung Quốc “đã cố tình chạy đâm ngang qua” những sợi dây cáp của chiếc tàu Việt Nam hôm qua thứ Năm ngày 9 tháng Sáu, chiếc tàu này vốn được công ty dầu khí PetroVietnam thuê và sử dụng để tiến hành thăm dò địa chấn trong vòng đặc khu kinh tế nằm trong 200 hải lý tính từ bờ biển Việt Nam.

Nhưng rõ ràng là qua cùng một sự việc, Trung Quốc đã trình bày khác hẳn những gì đã xảy ra qua một bài tường thuật đi trên thông tấn xã Xinhua của nhà nước hôm nay thứ Sáu ngày 10 tháng Sáu.

Hình chụp từ tàu khảo sát Viking 2, là tàu Việt Nam thứ hai bị cắt dây cáp sau chiếc Bình Minh 2. Nguồn hình: PetroTimes


Phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Trung Quốc ông Hong Lei cho hay Trung Quốc có chủ quyền không thể tranh cãi được lên quần đảo Nansha, được biết đến như quần đảo Spartly bên ngoài Trung Quốc, và vùng biển qquanh đó, theo thông tấn xã Xinhua.

Ông Hong Lei nói rằng tàu đánh cá của Trung Quốc bị tàu võ trang của Việt Nam rượt đuổi hôm sáng thứ Năm ngày 9 tháng Sáu. Trong lúc sự việc này đang xảy ra thì lưới đánh cá của một trong những chiếc tàu đánh cá Trung Quốc bị quấn vào những sợi dây cáp của tàu khai thác dầu khí của Việt Nam, mà Trung Quốc cho là đang hoạt động bất hợp pháp trong khu vực này.

Theo sự giải thích của Bắc Kinh, tàu khai thác dầu Việt Nam tiếp tục lôi chiếc tàu đánh cá Trung Quốc đi hơn cả giờ sau đó.

Ngư dân Trung Hoa buộc lòng phải cắt lưới đánh cá trước khi hai chiếc tàu này tách ra được khỏi nhau, theo thông tấn xã Xinhua.

“Điều này gây nguy hiểm nghiêm trọng cho sự an toàn của ngư dân Trung Hoa,” ông Hong nói.

Ông Hong còn nói khai thác dầu trong khu vực này và những hành động của tàu Việt Nam đã vi phạm chủ quyền của Trung Quốc một cách nghiêm trọng, và ông kêu gọi Hà Nội chấm dứt tất cả những hành động trên.

Quan hệ giữa Bắc Kinh và Hà Nội đã trở nên căng thẳng trong những ngày qua vì chuyện tranh chấp lâu dài tính chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Phi Luật Tân, Brunei, Mã Lai Á và Đài Loan cũng cho là họ có chủ quyền toàn phần hay chỉ một phần trong vùng này, và sự căng thẳng bùng lên lần này đã làm Hoa Kỳ lên tiếng cảnh cáo hôm thứ Bảy ngày 4 tháng Sáu  (ở Singapore tại cuộc hội nghị an ninh vùng Á châu) là sự tranh chấp này có thể đưa đến sự xung đột võ trang.

© DCVOnline


Nguồn:

(1) China hits back in Vietnam sea spat. AFP, 10 June 2011

Posted in Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa | Leave a Comment »

Mỹ Tái Khẳng định Vai trò của họ ở châu Á

Posted by hoangtran204 trên 11/06/2011

US Reaffirms Asia Role

By Damien Tomkins

June 8, 2011

Sự tham dự từ trung đến dài hạn của Hoa Kỳ trên toàn châu Á, đặc biệt là vùng Đông Nam Á, tiếp tục bị tra hỏi bởi các quốc gia ở châu Á.

Rõ ràng, những lựa chọn mà Hoa Kỳ thực hiện hôm nay cũng như các chính sách có liên quan đến Hoa Kỳ của các nước châu Á vào lúc nầy sẽ có những hậu quả trong tương lai. Tuy vậy, trong khi nhiều quốc gia châu Á rõ ràng đánh giá cao các công ích và hứa hẹn về an ninh mà Hoa Kỳ đang mang lại cho các nước nầy, câu hỏi còn lại là liệu Hoa Kỳ có thể tiếp tục tham dự như vậy trong bao lâu nữa.

Tại cuộc đối thoại Shangri-La tổ chức tại Singapore vào cuối tuần qua, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Robert Gates đã vạch ra nhiều kế hoạch về các hợp tác nhiều hơn nữa của Mỹ trên khắp Đông Nam Á. Các sáng kiến trải rộng từ việc triển khai đội tàu chiến đấu Littoral Combat của Mỹ đến Singapore như một phần của Thỏa thuận Chiến lược Nền tảng Mỹ-Singapore, đến những kế hoạch bao gồm việc gia tăng các chuyến ghé cảng, các cuộc thao dượt quân sự của hải quân, các hợp tác đa phương với các đồng minh và đối tác trong khu vực.

Tại cuộc họp nầy, Gates đã giải thích rõ ràng bốn nguyên tắc tương tác quốc tế mà Hoa Kỳ hình dung cho khu vực Đông Nam Á, 4 nguyên tắc nầy hiện nay đang được lặp đi lặp lại: thương mại tự do và mở cửa; Luật pháp, quyền hạn và trách nhiệm của các quốc gia trong khu vực, mở rộng cửa ngỏ ở các khu vực chung của toàn cầu như hải phận, không phận, không gian, không gian mạng; và giải quyết xung đột bằng đường lối hoà bình.

Sự kiện đông đảo các quốc gia châu Á chào đón, và hợp tác với sự hiện diện của quân đội Mỹ trên khắp Châu Á là ấn tượng. Tất cả các nước như Úc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Thái Lan, Philippines, Ấn Độ, Indonesia, Singapore, Malaysia, New Zealand, Việt Nam và ngay cả Mông Cổ đều trông đợi sự hiện diện hoặc hợp tác ngày càng gia tăng của quân đội Mỹ để ngầm chống lại khả năng thống trị của Trung Quốc trong khu vực nầy.

Không may, vẫn có một số khó khăn liên quan đến khả năng duy trì ưu thế quân sự của Hoa Kỳ trong khu vực nầy, xét  những tai họa kinh tế gần đây của  Hoa kỳ, dự kiến cắt giảm ngân sách trong nước Mỹ và các cam kết quân sự khác ở nước ngoài của họ.

Các câu hỏi mà những bạn bè và đồng minh của Hoa Kỳ nên hỏi chính mình là về cấu trúc của trật tự quốc tế mà họ mong muốn cho tương lai. Đây đã từng là một câu hỏi dễ dàng đối với nhiều quốc gia trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh (1946-1991): Ở mức độ xã hội và kinh tế, những quốc gia nầy muốn hệ thống chính quyền như của  Kennedy, của Mao hay của Stalin? (ý nói: những quốc gia nầy muốn đi theo thế giới tự do như của chính quyền Kennedy hay đi theo chế độ cộng sản theo kiểu Mao hay Stalin – Người dịch)

Ngày nay, mọi việc không rõ ràng lắm, nhất là vì các kế hoạch của Trung Quốc cho vai trò của họ trên trường quốc tế, và quan trọng hơn là về vai trò quân sự của Trung Quốc tại khu vực châu Á-Thái Bình Dương vẫn còn chưa rõ ràng. Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc, tướng Lương Quang Liệt, cũng có tham dự cuộc đối thoại Shangri-La, vẫn cứ nói rằng Trung Quốc cam kết hòa bình và ổn định của miền Đông Nam Á,  phi hạt nhân hóa bán đảo Triều Tiên, và ổn định ở Biển Đông.

Nhưng người ta không thể không tự hỏi rằng, nếu những tuyên bố của Lương là những gì tương tự như câu chuyện ngụ ngôn của tác giả Hans Christian Anderson, “Bộ y phục mới của nhà Vua” . Trong câu chuyện đó, nhà vua và các cận thần của ông cùng tin rằng bộ quần áo vô hình của vua là có thật, và họ muốn những người trung thành với vua cũng tin như vậy mà không thắc mắc gì cả. Chỉ đến khi nhà vua xuất hiện trong một cuộc diễu hành ở nơi công cộng, một đứa bé quá ngạc nhiên đã phải kêu lớn rằng “Nhưng ngài chẳng mặc quần áo gì cả”.

Theo cách đó, chính sách ngoại giao công khai của Trung Quốc xung quanh sự tăng trưởng trong “hài hòa và hòa bình” của họ cũng tương tự như câu chuyện cổ tích này. Bằng chứng tự nói ra sự thật, với vụ việc biển Đông là một ví dụ rõ ràng nhất.

Trong mấy tuần qua, cả Việt Nam và Philippines đều tố cáo Trung Quốc về các hành vi gây hấn xâm phạm quyền lợi của họ và vi phạm tinh thần của Bản Tuyên bố năm 2002 về Quy tắc ứng xử trên Biển Đông. Sự khẳng định chủ quyền của Trung Quốc về vùng lãnh hải  này mải mải là một điểm chính của cuộc tranh chấp, chưa có một cách giải quyết nào trước mắt, nhưng làm gia tăng các lo ngại trong khu vực.

Các bằng chứng khác gắn liền với sự thiếu minh bạch trong các chương trình quân sự của Trung Quốc. Cho đến nay, không một ấn phẩm nào của Bộ Quốc Phòng Trung Quốc từng công bố, thảo luận về các kế hoạch triển khai hàng không mẫu hạm, phát triển máy bay tàng hình, thử nghiệm tên lửa chống vệ tinh vào năm 2007, hoặc phát triển các tàu chống tên lửa đạn đạo. (Trong khi đó, các phương tiện truyền thông trong nước của Trung Quốc lại tiếp tục báo cáo về những phát triển ấy). Các bằng chứng khác bao gồm việc đơn phương hỗ trợ về kinh tế và các mặt khác của Trung Quốc dành cho Bắc Triều Tiên giữa những gì tiếp tục là một tình huống rất căng thẳng và bất ổn.

Từ quan điểm của Hoa Kỳ, thật hết sức rõ ràng rằng khu vực châu Á-Thái Bình Dương vô cùng quan trọng trong các ý nghĩa về thương mại và phúc lợi kinh tế. Sự hiện diện của Quân đội Mỹ đang hỗ trợ một cách tích cực về hòa bình và ổn định trong khu vực nầy, về ngăn chặn (các hành vi lấn lướt của  TQ) và trợ giúp nhân đạo là một lợi ích chung mà tất cả mọi nước đều hưởng được. Chính sách rõ ràng của Hoa Kỳ về việc tiếp tục tham gia trong miền nầy và sự tham gia của Mỹ vào các tổ chức trong miền nầy, tiên đoán những điều tốt đẹp cho tất cả mọi quốc gia.

Tuy nhiên, mặc dù các cam kết của quân đội Mỹ trong khu vực vẫn đều đặn, công cuộc tái cấu trúc nền kinh tế đang diễn ra bên trong nước Mỹ mang ý nghĩa của một cuộc tranh cãi về vai trò trong tương lai của Mỹ ở châu Á-Thái Bình Dương đang diễn ra. Theo kiểu cách dân chủ thực sự, việc này vẫn chưa được giải quyết xong, nhưng đó là một đề tài mà rõ ràng không thể bị người dân Mỹ hay các nhà hoạch định chính sách Mỹ bỏ qua.

Trong lúc nầy, các quốc gia châu Á đang băn khoăn tự hỏi Hoa Kỳ sẽ hỗ trợ và tham dự như thế nào để giữ được bốn điểm trong ý định của Gates: thương mại, luật pháp, mở rộng cửa và theo đuổi một giải quyết các cuộc xung đột bằng đường lối hòa bình.

Damien Tomkins là trợ lý chính sách tại East-West Center ở Washington (thuộc Quốc Hội Hoa kỳ), ông chuyên môn về khu vực Đông-Bắc châu Á.

Bản Dịch @Trần Hoàng

Nguồn: The Diplomat

US Reaffirms Asia Role

The United States’ medium- to long-term engagement throughout Asia, especially Southeast Asia, continues to be questioned by Asian nations. Clearly, the choices that the United States makes today have consequences for the future, as do the policies of Asian countries regarding the United States. Yet while many Asian nations obviously value the public goods and security commitments that the United States brings to Asia, questions remain over just how long the US can continue to do so.

At the Shangri-La dialogue held in Singapore at the weekend, US Defence Secretary Robert Gates outlined plans for more US cooperation throughout Southeast Asia. These initiatives range from deployment of US Littoral Combat Ships to Singapore as part of the US-Singapore Strategic Framework Agreement, to plans that include increased port calls, naval exercises, and multilateral cooperation with allies and partners throughout the region.

At the same venue, Gates explicitly explained the four principles for international interaction that the United States envisions for the region, and which bear repeating now: Free and open commerce; rule of law and the rights and responsibilities of nations therein; open access to the global commons of sea, air, space, and cyberspace; and peaceful resolution of conflict.

The plethora of Asian states that welcome, and interact with, the United States military presence throughout Asia is impressive. Australia, Japan, South Korea, Thailand, the Philippines, India, Indonesia, Singapore, Malaysia, New Zealand, Vietnam and even Mongolia all look to increased US military presence and/or cooperation to quietly hedge against possible Chinese domination throughout the region. Unfortunately, there are a number of troublesome questions concerning the capacity of the United States to remain a dominant military force throughout the region, taking into consideration its recent economic woes, projected domestic budget retrenchment, and other overseas military commitments.

The question that these friends and allies of the United States should ask themselves is over the structure of the international order that they wish for the future. This was an easy question for many during the Cold War: Did they want the system of Kennedy, Mao or Stalin at an economic and societal level.

Today, things aren’t so clear, not least because China’s intentions for its role on the global stage, and more importantly for its military in the Asia-Pacific region, remain unclear. Chinese Defence Minister Gen. Liang Guanglie, also attending the Shangri-La dialogue, maintained that China is committed to regional peace and stability, denuclearization of the Korean Peninsula and stability in the South China Sea.

But one can’t help but wonder if these pronouncements from Liang are somewhat akin to Hans Christian Anderson’s fable ‘The Emperor’s New Clothes.’ In that tale, the Emperor and his courtiers believe his non-existent clothes are real, and expect his loyal subjects to also do so without question. It’s only when the King goes out on a public parade that a young boy states the obvious in his exclamation ‘But he hasn’t got anything on.’

In some ways, Chinese public diplomacy surrounding its ‘peaceful and harmonious’ rise is similar to this fairy tale. The evidence speaks for itself, with the South China Sea being the most explicit example. Vietnam and the Philippines have both accused China within the past few weeks of aggressive behaviour that violates their interests and which is against the spirit of the 2002 Declaration on the Code of Conduct on the South China Sea. Chinese claims over this waterway have persistently been a regional bone of contention, with no resolution yet in sight, but regional concern growing.

Other examples are tied to the lack of transparency over Chinese military programmes. To date, no Chinese National Defence publication has discussed plans for deployment of an aircraft carrier, development of stealth aircraft, the anti-satellite missile test in 2007, or the development of anti-ship ballistic missiles.  (The Chinese domestic media, meanwhile, continues to report on these developments).  Other examples include China’s unilateral economic and other support of North Korea, amidst what continues to a very tense and unstable situation.

From the perspective of the United States, it’s abundantly clear that the Asia-Pacific region is of paramount importance in terms of its trade and economic well-being. The US military presence that actively supports peace and stability throughout the region, in terms of deterrence and humanitarian assistance, is a public good that all benefit from. The clear US policy of continuing to engage throughout the region, and its involvement in regional institutions, bodes well for everyone.

However, although the US military commitment to the region remains steadfast, ongoing economic restructuring within the United States means a debate over the future US role in the Asia-Pacific is taking place. In true democratic fashion, it isn’t yet resolved, but it’s an issue that clearly isn’t being ignored either by the American people or US policy makers.

In the meantime, Asian states wondering how best support and engage with the United States would do well to keep in mind Gates’ four points: trade, rule of law, open access and the pursuit of peaceful resolution of conflicts.

Damien Tomkins is a Project Assistant at the East-West Center in Washington, where he specializes in Northeast Asia.

Posted in Chinh Tri Hoa Ky | Leave a Comment »

Công Nhân và Nông Dân hiện nay Sống ra sao?

Posted by hoangtran204 trên 10/06/2011

Trong khi đảng của giai cấp tiền phong chia chác nhau tiền bạc  vay mượn của ngoại quốc hàng năm( nợ đến nay chắc phải hơn 55-70 tỉ đô la), và tiền bán tài nguyên dầu hỏa (mỗi năm thu được từ bán dầu thô là 6-12 tỉ đô la, tùy theo giá dầu lên xuống).

Hơn 15 năm qua, vì  mượn được tiền quá nhiều, 8 tháng trước, tờ tạp chí The Economist đưa ra số liệu cho rằng  nợ công của Việt  Nam  khoảng 51 tỉ đô la.

Có tiền quá nhiều, chính phủ VN bèn giao tiền cho các cán bộ đảng viên của gia đình và phe phái họ thành lập các công ty và tập đoàn, mà năm nào thì các công ty cũng thua lỗ. Nhưng các tổng giám đốc cùng giám đốc được chia tiêu chuẩn đi xe không trả tiền, và xăng thì miễn phí.

Theo “Quy định của Thủ tướng Chính phủ tại Quyết định số 122/1999/QĐ-TTg ngày 10/5/1999, chức danh Tổng giám đốc đối với doanh nghiệp nhà nước…được sử dụng tiền của Doanh Nghiệp để mua loại xe có mức giá tối đa 450 triệu đồng (khoảng 28 ngàn U.S. dollars thời 2007)…Nếu thuê xe…mức giá cũng chỉ khoảng 15-20 triệu đồng/xe/tháng (đã có thuế VAT).”

“Đã có quy định như vậy, nhưng theo kết quả xác minh của Cục Quản lý công sản-Bộ Tài chính, từ tháng 5/2003 đến tháng 9/2006, Ban lãnh đạo Tổng Cty VTNN đã không mua xe theo tiêu chuẩn mà đi thuê 3 ôtô Mercedes loại 5 chỗ ngồi để phục vụ Tổng Giám đốc và các thành viên Hội đồng quản trị (HĐQT) với giá từ 45-48 triệu đồng/tháng (chưa có VAT và chi phí xăng dầu, bảo dưỡng, sửa chữa) với tổng số tiền thuê xe đã thanh toán lên tới 3,7 tỉ đồng. ” (tương đương 225 000 U.S. dollars!)

Trong khi các đảng viên chểm chệ trong các xe hơi, thì giai cấp công nhân, mà đảng là đại diện, lãnh lương mỗi tháng từ 1,6 triệu- 3 triệu. Giá tiền 1 dĩa cơm rẻ nhất là 20 000 đồng. Lương 1 công nhân chỉ đủ ăn 2 bữa cơm và trả tiền thuê phòng trọ để ở.

Quá túng thiếu, hoặc khi đau ốm, họ phải đi vay mượn, và câu chuyện như sau:

Công nhân khốn đốn vì vay nặng lãi

Ngày cập nhật 08/06/2011

Đời sống khó khăn, thiếu trước hụt sau đang khiến nhiều công nhân rơi vào bẫy cho vay nóng với lãi suất “cắt cổ”.

2082535414_ImageView_aspx_ThumbnailID_50
Một chủ nợ gần KCN Vĩnh Lộc ghi tên, số tiền cho công nhân vay nóng với mức lãi suất cho vay 10%/tháng – Ảnh: Hoàng Lộc

Trưa 30-5, trong vai những công nhân cần đóng tiền thuê phòng trọ, chúng tôi vào một điểm chuyên cho công nhân vay nặng lãi ở ấp Tiền Lân, xã Bà Điểm, huyện Hóc Môn, gần Khu công nghiệp (KCN) Vĩnh Lộc, TP.HCM. Ném ánh mắt dò xét, bà chủ tên Thi nói thẳng: “Ở đây chỉ cho khách quen vay thôi, lãi suất khá cao đó”.

Lãi suất “cắt cổ”

Nhưng khi biết có người quen giới thiệu, bà Thi niềm nở: “Thế muốn vay bao nhiêu? Tiền lãi 10% mỗi tháng nhe. Vay một ngày rồi trả cũng tính một tháng tiền lãi”. Thắc mắc về khoản lãi suất quá cao, bà Thi gằn giọng: “10% có gì mà cao, ở đây ai cũng vay như thế cả”.

Hỏi về thủ tục, bà ta liền gạt tay bảo: “Không cần, chỉ cần ký tên xác nhận thôi. Đã có người quen giới thiệu, tui sẽ nắm được chỗ ở, quê quán, công ty của em làm mà”.

Sau khi điện thoại cho người giới thiệu, bà Thi đưa 1 triệu đồng cho khách và lấy ra một cuốn sổ cũ dày cộp trong đó ghi rất chi tiết tên, số tiền vay nóng và phía dưới là chữ ký xác nhận của nhiều con nợ. Bà ta nhanh chóng ghi ngày tháng cho vay, tên và số tiền… rồi bảo chúng tôi ký xác nhận. “Lo mà trả gốc lẫn lãi cho đúng thời hạn nhe, đừng để khó xử cho nhau” – bà dặn.

Quanh KCN Vĩnh Lộc có tới bốn điểm cho vay nặng lãi với lãi suất 10-12%/tháng. Chị Ngọc Trinh, công nhân KCN Vĩnh Lộc, nói: “Phần lớn người vay là công nhân, vay tính tiền lãi theo tuần và theo tháng. Những người không quen biết phải có người quen đứng ra bảo lãnh và thủ tục cực kỳ đơn giản là chỉ cần ký tên xác nhận là xong”.

Tương tự, chị Thu Hồng – công nhân may ở Q.Tân Phú, TP.HCM – cho biết quanh khu vực công ty, gần KCN Tân Bình có 4-5 điểm cho vay nóng sẵn sàng cho công nhân vay 24/24 giờ từ vài triệu đến 10 triệu đồng, lãi suất thấp nhất là 10%, còn cao lên đến 30%/tháng.

“Biết nhiều công nhân rất cần tiền, kiểu gì cũng phải vay nên có chỗ bắt chẹt bằng cách nâng mức lãi suất kinh hoàng đến 30% mỗi tháng và bắt trả tiền lãi mỗi tuần một lần. Sợ công nhân không có tiền trả, chủ nợ còn canh đúng ngày phát lương để chặn lấy bằng được tiền” – chị Hồng nói.

Trưa 29-5, chúng tôi liên hệ với ông Hùng, một “cò” cho vay nặng lãi gần KCN Bình Đường (Bình Dương). Ông Hùng là người chuyên móc nối làm khâu trung gian cho công nhân có nhu cầu vay vốn. Qua điện thoại, ông cho biết: “Muốn vay nóng bao nhiêu cũng có nhưng phải là người quen biết và phải có giấy cam kết”.

Mức lãi mà ông Hùng môi giới cho công nhân các KCN tại đây vay là 15%/tháng và số tiền vay tối đa là 20 triệu đồng/người kèm giấy cam kết sẽ trả gấp ba lần vốn nếu không trả lãi đúng hẹn trong ba tháng.

Theo tìm hiểu của chúng tôi, khu vực quanh KCN Bình Đường là “lãnh địa” của các nhóm cho vay nặng lãi khét tiếng gồm Vương, Lĩnh “trắng”, Linh “Hà Nội” và Tính “chó”… Lãi suất cho vay lên đến 15%/tháng và đều do ông Hùng làm mối ăn tiền hoa hồng. “Con mồi” công nhân nào có nhu cầu sẽ thông qua ông bảo lãnh để giới thiệu đến một trong những nhóm này thì mới được vay tiền.

“Nói thiệt nhé, không cần thiết lắm hoặc còn xoay xở được ở đâu thì cố mà xoay chứ bọn này toàn những đứa mới ra tù nên léng phéng là nó xử ngay” – người giới thiệu chúng tôi với ông Hùng cho biết.

Không chỉ có các đường dây cho vay nặng lãi xuất hiện khá nhiều quanh các KCN, “cò” còn len lỏi vào cả trong các công ty, nơi công nhân làm việc để hoạt động. Chị Nguyễn Thị Hoa, công nhân Công ty may Nam Yang (KCN Sông Mây, Đồng Nai), cho biết thời gian gần đây trong công ty xuất hiện nhiều điểm “ngầm” cho vay nóng với lãi suất 10%/tháng của một số công nhân “có điều kiện” đứng ra tổ chức. Tiền được huy động từ bên ngoài, công nhân muốn vay chỉ cần thế chấp thẻ ATM.

“Công nhân cần tiền vay nóng theo dạng này nhiều lắm. Sợ con nợ “chẹn” tiền nên đến kỳ lĩnh lương, công nhân phải đọc mật khẩu ATM cho người cho vay để họ kiểm tra, rút giùm rồi lấy cả tiền gốc lẫn lời, xong việc họ trả thẻ” – chị Hoa nói.

Thế thân vì vay nóngTheo tìm hiểu của chúng tôi, hiện nay có hơn 20 đường dây, đầu mối lớn chuyên cho công nhân vay nóng với lãi suất khá cao 10-30%/tháng, tập trung gần các KCN Vĩnh Lộc, Tân Tạo, Sóng Thần, Bình Đường, Tân Bình, Khu chế xuất Linh Trung… Số tiền cho vay bình quân tối đa 10 triệu đồng/người và thường buộc các con nợ phải hoàn trả đầy đủ tối đa trong vòng sáu tháng vì sợ công nhân bỏ trốn. Nếu không trả đủ lãi định kỳ thì phải hoàn trả gấp 3-5 lần số tiền đã mượn. Nếu con nợ bỏ trốn, chủ nợ cho đàn em về tận quê truy lùng. Cách đây ba tháng, một nam công nhân ở KCN Tân Tạo vì nợ 10 triệu đồng không có khả năng chi trả lãi lẫn vốn nên định bỏ trốn về quê ở Rạch Giá, Kiên Giang thì bị chủ nợ là ông H. “đen”, một chủ đường dây cho vay khét tiếng gần KCN này, cho người truy đuổi. Anh này đã bị đàn em ông H. đánh gãy tay khi vừa ra khỏi nhà. Sau đó, người thân của anh phải vay mượn khắp nơi để hoàn trả gấp ba lần tiền vốn cộng với tiền lãi còn nợ mới được chủ nợ bỏ qua.Gần KCN Sóng Thần còn có ba đường dây cho vay nóng “ưu đãi” cho nữ công nhân vay do bà L.T., bà M. “xoăn”, bà H. “đen” làm chủ. Sau một thời gian không có khả năng chi trả, một số nữ công nhân đành phải chịu thế thân trả nợ bằng cách vào phục vụ tại các quán cà phê ôm, karaoke ôm, matxa… do chủ nợ giới thiệu, “sang tay” lại cho các quán. T.M.H., tiếp viên của quán karaoke D trên xa lộ Hà Nội, cho biết vì vay 8 triệu đồng không có khả năng trả nên cô bị chủ nợ yêu cầu phải xin nghỉ việc tại công ty để vào làm cho quán karaoke do bà ta giới thiệu nếu không muốn bị hành hung.

Hằng tháng cô phải trích tiền “bo” (vì làm không lương) trả lại cho bà ta tiền nợ cùng tiền lãi, còn số tiền hoa hồng chủ nợ được hưởng khi “sang tay” con nợ cho quán là bao nhiêu thì H. không được biết.

Nước mắt công nhân

Tháng 6-2010, chị Đ.Y.N. (công nhân tại KCN VSIP, Bình Dương) vay nóng 5,5 triệu đồng với lãi suất 10,5%/tháng (đóng tiền lãi 600.000 đồng/tháng). Trả tiền lãi được hai tháng, chị N. không có khả năng chi trả tiếp nên nhiều lần bị chủ nợ tìm gặp đòi nợ. Tháng 11-2010, chủ nợ yêu cầu chị N. phải thanh toán cả tiền vay gốc lẫn lãi và ra điều kiện: “Nếu không trả đủ số tiền như đã hẹn thì phạt gấp đôi số tiền gốc”.

Sợ bị phạt nên chị N. đã mượn bạn bè được 2 triệu đồng đưa trước cho chủ nợ và hứa sẽ trả số tiền còn lại trước Tết Nguyên đán. Nhưng không ngờ dịp tết công ty không phát thưởng nên chị N. đành một lần nữa khất nợ và sợ bị hành hung nên tìm cách lánh mặt.

Ngày 4-4-2011, chị N. đang điều khiển xe gắn máy trong KCN thì bị chủ nợ gọi lại nói chuyện. Chủ nợ thông báo số tiền mà chị N. phải trả cả gốc lẫn lãi là 14 triệu đồng (tính cả tiền phạt gấp đôi) và viết giấy nợ yêu cầu chị phải ký xác nhận. Sau đó, chị N. tiếp tục bị đe dọa: “Nếu không trả đủ số tiền như đã hẹn sẽ bị cắt tai để nhớ đời”. May mắn là vụ việc sau đó đã được Công an phường Bình Hòa, thị xã Thuận An, Bình Dương bắt quả tang, xử lý.

Anh Tường – công nhân may ở Q.Tân Phú, TP. HCM – kể hai tháng trước, bạn của anh làm việc tại một công ty trong KCN Tân Tạo, do thiếu tiền trả phòng trọ nên được giới thiệu vay nóng 1 triệu đồng với mức lãi suất 10%/tháng tại một điểm cho vay nặng lãi gần KCN. Lương bấp bênh, chưa đủ chi trả tiền lãi nên sau đó bạn anh đành khất nợ và hứa hoàn trả số tiền sớm.

Sau vài lần khất nợ, chủ nợ “nổi khùng” thuê hẳn một nhóm “đầu gấu” chặn ngay trước cổng công ty, đợi lúc bạn anh vừa tan ca để “tính sổ”. Vừa ra khỏi công ty, đang trên đường về phòng trọ, người bạn này đã bị chặn đường đánh túi bụi, kèm theo đó là lời cảnh báo: “Nếu không trả sớm thì tụi tao sẽ chặt chân mày”.

Anh Đức Trường, công nhân may ở KCN Vĩnh Lộc, cho biết những tháng công ty không có hàng, chậm phát lương thì buộc nhiều công nhân phải vay nóng với lãi suất “cắt cổ” để trang trải cuộc sống.

“Lãi suất 10% là quá cao so với mức lãi suất bình thường nhưng tụi tui vẫn phải vay. Vì nếu không thì làm sao có tiền lo cho cuộc sống, đành nhắm mắt đánh liều. Một khi đã dính vào vay nặng lãi thì cứ phải mượn chỗ này trả chỗ kia cho đúng thời hạn, chứ dây dưa dễ bị đánh lắm. Cuối cùng, rất nhiều công nhân cuốn vào vòng xoáy nợ nần không gỡ ra được” – anh Trường tâm sự.

Tràn lan các tờ rơi cho vay tín chấp

Nhiều công nhân tại các KCN ở TP.HCM, Đồng Nai, Bình Dương… phản ảnh: gần đây xuất hiện rất nhiều tờ rơi cho vay tín chấp với số tiền rất lớn từ 10 triệu đồng đến vài chục triệu đồng mà không cần thế chấp, bảo lãnh. Thủ tục đơn giản, giải ngân trong vòng vài ngày, ưu đãi về lãi suất…

Nhiều công nhân liên hệ một vài số điện thoại trên các tờ rơi thì phát hiện chủ một số đầu mối cho vay này cũng là chủ các đường dây cho vay nặng lãi với mức lãi suất cao do các “cò” cho vay tổ chức “tiếp thị” trong giới công nhân.

986637251_ImageView_aspx_ThumbnailID_50
Nhiều dạng tờ rơi cho vay tín chấp không cần thế chấp, bảo lãnh được rải tràn lan tại các KCN ở TP.HCM, Bình Dương, Đồng Nai…  – Ảnh: HOÀNG LỘC

———–

70% dân chúng Việt Nam vẫn còn ở dưới thôn quê. Con của những người nông dân, mà đảng CS là đại diện cho giai cấp công-nông, một số lên thành thị làm công nhân, số khác ở nhà làm ruộng, và đây là cuộc đời của họ.

LẤY CHỒNG XA XỨ

tác giả Võ Đắc  danh

CUỐI NĂM NGOÁI, TÔI CÓ VIẾT LOẠT BÀI “LẤY CHỒNG XA XỨ” ĐĂNG TRÊN SGTT, LÚC ẤY, VỪA CHÁN BLOG, VỪA MỚI BỊ BỌN TRỘM LẤY CẮP DÀN MÁY TÍNH NÊN KHÔNG POST LÊN. SÁNG NAY, TÌNH CỜ LÊN MẠNG TUỔI TRẺ, GẶP MỘT CÂU CHUYỆN BUỒN CỦA CÔ DÂU VIỆT “LẤY CHỒNG XA XỨ” NÊN POST LÊN LOẠT BÀI NẦY NHƯ MỘT SỰ SẺ CHIA.

Hàn Quốc sẽ điều tra sớm vụ cô dâu Việt bị sát hại

TT – Vụ việc xảy ra lúc 1g10 sáng 24-5 (23g10 ngày 23-5, giờ VN), tại quận Cheong Do, tỉnh Gyeong Buk, Hàn Quốc. Thông tin ban đầu cho biết người chồng tên Lim Chae Won, 37 tuổi, đã dùng dao đâm chết vợ mình là người VN.

Theo TTXVN, ngay chiều 24-5, Đại sứ quán VN tại Hàn Quốc đã cử đại diện đến Cheong Do để chứng kiến việc khám nghiệm tử thi, phối hợp với chính quyền sở tại lo việc hậu sự cũng như xác minh nhân thân, quê quán của nạn nhân.

Theo đó, nạn nhân tên Hoàng Thị Nam, 23 tuổi, quê xã Thắng Hải, Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận. Chị Nam kết hôn với ông Lim vào tháng 4-2010, sang Hàn Quốc ngày 3-8-2010 và mới sinh con trai được 19 ngày.

Báo cáo khám nghiệm tử thi của cảnh sát địa phương cho biết chị Nam bị chồng đâm tổng cộng 53 nhát dao và chết ngay tại nhà riêng. Cảnh sát đã tìm thấy hung khí cách nhà riêng của hai vợ chồng chị Nam khoảng 200m.

Đêm qua, PV Tuổi Trẻ đã có một cuộc trao đổi với bà Kang Hye Suk, đại diện Trung tâm nhân quyền phụ nữ di trú Tae Gu. Bà Kang đã có mặt tại hiện trường và cho biết: ”Việc khám nghiệm tử thi đã kết thúc và kết quả từ cảnh sát cho thấy người chồng sử dụng đến hai con dao để đâm chết vợ mình”. Bà Kang nói: “Chúng tôi được biết Đại sứ quán VN tại Hàn Quốc đã liên lạc với gia đình của nạn nhân tại VN. Theo thông tin Đại sứ quán cho hay thì đã liên lạc được với cha mẹ của nạn nhân và đang làm thủ tục cấp visa cho cha mẹ nạn nhân sang Hàn Quốc nhận thi thể con gái”.Cũng theo bà Kang, Lim Chae Won không có tiền sử mắc bệnh tâm thần. Ông ta là một người làm việc bình thường. Và cháu bé, con trai của họ, hiện đang được chăm sóc tại một trại trẻ mồ côi trong khu vực.

Báo chí Hàn Quốc hôm qua đã đưa nhiều thông tin về vụ án này.

Tờ Yeonhap ở Cheong Do cho biết: Hàng xóm trình báo với cảnh sát rằng sau khi gây án, ông Lim đã ra ngoài, đến nhà hàng xóm đá chân vào cửa và la lên “Tôi giết người rồi”.

Sau khi nghe trình báo về vụ việc, cảnh sát khu vực đã bắt Lim tay cầm hung khí đang đi loanh quanh khu vực căn hộ. Cảnh sát cũng cho hay tại hiện trường, thi thể người vợ chảy máu lênh láng, bên cạnh là đứa con trai 19 ngày tuổi đang nằm khóc.

Được biết sau khi đến Hàn Quốc, ban đầu nạn nhân sống tại nhà chồng, nhưng từ ngày 5-10 đến 22-11-2010 thì đến sống ở khu Simthow (nơi dành cho những người vợ nước ngoài bị ngược đãi).

Người đại diện Simthow cho biết sau đó ông Lim đến đón vợ và hai người ở với nhau trong một căn nhà thuê.

Cảnh sát còn cho biết thêm bước đầu Lim khai nhận trong lúc vợ chồng cãi nhau, chị Nam đề cập đến chuyện ly hôn và y đã nổi nóng đánh vợ rồi dùng dao đâm chết vợ.

Tối qua, tin từ PV TTXVN tại Seoul cho biết: chiều cùng ngày, ông Park Hae Yun, cục trưởng Cục Nam Á – Thái Bình Dương, Bộ Ngoại giao và thương mại Hàn Quốc, đã đến Đại sứ quán VN tại Hàn Quốc chia buồn.

Quan chức trên nhấn mạnh Chính phủ Hàn Quốc rất lấy làm tiếc về vụ việc và khẳng định sẽ tiến hành điều tra, xác minh, thông báo kết quả cho phía VN.

Hiện nay, cộng đồng người VN ở Hàn Quốc khá đông.

Trước những vụ việc xảy ra đối với phụ nữ VN lấy chồng Hàn Quốc gần đây, trong các cuộc tiếp xúc, lãnh đạo các cấp của VN đã đề nghị phía Hàn Quốc tăng cường biện pháp bảo vệ công dân VN tại Hàn Quốc.

Đáp lại đề nghị này, Chính phủ Hàn Quốc đã chỉ đạo thành lập tổ công tác gồm đại diện các bộ, ngành liên quan nhằm rà soát, chấn chỉnh và lành mạnh hóa hoạt động môi giới kết hôn quốc tế, bảo vệ cô dâu người nước ngoài và tiến hành nghiên cứu, sửa đổi, xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến vấn đề này.

N.TUYỀN – H.ĐIỆP – OANH K


LẤY CHỒNG XA XỨ


Kỳ 1: Một túp lều tranh, hai trái tim vàng

Về Cà Mau, tình cờ đi dự một đám cưới, đám cưới tổ chức tại gia đình chú rể ở vùng quê nhưng có dịch vụ lo trọn gói: che rạp, nấu ăn, nhân viên phục vụ, đờn ca tài tử. Chúng tôi ngồi nhắc lại chuyện xưa, đám cưới được chuẩn bị trước một ngày, đám con trai được phân công nhau, nhóm đi mượn cây lá che rạp, nhóm đi đốn tàu cau, đủng đỉnh, bẹ chuối về trang trí, nhóm đi mượn bàn ghế, nhóm gánh nước, nhóm bửa củi. Đám con gái thì lo làm phụ bếp cho mấy bà già, nhóm lặt rau, nhóm gọt củ cải, nhóm nhổ lông vịt… Chiều tối, gọi là đêm nhóm họ, con trai con gái quây quần lại, ăn nhậu lai rai và đờn ca vọng cổ.

Một đám cưới Việt – Hàn. Ảnh: New York Times

Nhắc lại chuyện xưa, một anh bạn ngậm ngùi nói: “Cái thời ấy đã hết rồi, bây giờ cái gì cũng có dịch vụ, vả lại thanh niên bây giờ đâu còn những sinh hoạt giống như tụi mình ngày xưa, con trai thì lớp đi làm công nhân, lớp thì lang thang đi làm thợ hồ tứ xứ, con gái bây giờ cũng bỏ quê mà đi, lên Sài Gòn làm công nhân cũng có, ra chợ bán bia ôm cũng có, đi lấy chồng Hàn Quốc, Đài Loan cũng có. Làng xóm bây giờ, đến người chết cũng thuê dịch vụ lo chôn cất…

Rồi câu chuyện bắt đầu chuyển sang đề tài lấy chồng ngoại, trong đó có câu chuyện về anh Phong – một người bạn cũ của chúng tôi. Cách nay ba mươi năm, Phong làm công nhân cho một nhà máy giấy, rồi nhà máy giấy phá sản, Phong thất nghiệp. Từ một nông dân không ruộng đất, làm xong nghĩa vụ quân sự, Phong đi làm công nhân rồi bị thất nghiệp, bị đẩy sang “lớp nghèo thành thị”. Và rồi như một ngả rẽ vô tình, ba mươi năm sau Phong gả đứa con gái đầu lòng sang Đài Loan, con gái Phong sinh được đứa con trai, được chồng thương yêu hết mực. Chú rể ấy đã rước cha vợ sang Đài Loan và cấp cho mảnh đất làm rẫy. Bây giờ, Phong đã trở thành ông chủ nhỏ ở xứ người.

Kết thúc câu chuyện của Phong, chị Hà chen vào bằng giọng nuối tiếc pha chút giận hờn: “Bởi vậy, tui tức cho con gái tui, nó đã trúng tuyển rồi mà lại vặn nài bẻ ống, nó không biết thương cha thương mẹ. Phải nó nghe lời tui thì bây giờ tui đâu có khổ thế này…”.

Tôi quen chị Hà cách nay gần ba mươi năm. Thời con gái, chị thuộc hạng hoa khôi của xứ Cái Tàu. Dòng họ chị ngày xưa cũng có tiếng là khá giả. Ông Tư Khương, ông cố chị khẩn hoang hơn 1.000 công ruộng ở bìa rừng U Minh, ông đào một con kinh dài hơn hai cây số, phân đất ra mười lô chia cho mười người con, mỗi người 100 công.

Riêng ông nội chị Hà là con trai út, được hưởng thêm 30 công đất hương hoả. Ông nội chị Hà lại sinh ra mười người con, ông chia đều cho mỗi người 13 công đất. Ba chị Hà sinh ra chín người con, 13 công đất không thể chia đều cho con cái, ông chỉ chia phần đất thổ cư, còn lại gần mười công ruộng, ông dành cho người con trai út với điều kiện là phải phụng dưỡng cha mẹ và thờ cúng ông bà.

Con kinh Đứng mà ông Tư Khương đào hơn hai cây số ngày xưa, đến đời ông nội chị Hà có mười ngôi nhà, mỗi nhà cách nhau hơn 200 mét, toàn nhà “chữ đinh”. Bây giờ đến đời chị Hà, nó đã mọc lên hàng trăm căn nhà lá ọp ẹp chen chúc nhau. Thế hệ của chị Hà, tức cháu cố của ông Tư Khương, và thế hệ con chị Hà, tức cháu sơ của ông Tư Khương giờ phân chia tứ tán, có người trở thành bác sĩ, kỹ sư, nhà giáo, doanh nghiệp, công nhân, viên chức, lớp nghèo thành thị… nhưng phần lớn vẫn là “những nhà nông không đất”.

Tôi còn nhớ cách nay gần ba mươi năm, anh Quang từ một vùng quê lân cận kéo một đám thợ đến xây nhà cho ba chị Hà, suốt ngày chị Hà quần quật với ba bữa cơm cho đám thợ hồ. Và đám cưới của chị Hà với anh Quang đã xảy ra khi ngôi nhà vừa xây xong mấy tháng. Anh Quang không rước dâu vì nhà anh quá nghèo, em đông, lại mồ côi cha, nhà không đủ chỗ chứa một cô dâu. Ba chị Hà cũng không bắt rể vì nhà ông cũng không có chỗ chứa thêm chàng rể.

Sẵn có đất đai, dừa nước, tràm, tre, trúc… chị Hà với anh Quang cất một căn nhà nhỏ dưới bờ kinh, hai phần nền đất, một phần lót sàn, chị Hà mở cái tiệm tạp hoá nho nhỏ, vừa làm cái bến đò ngang đưa rước học sinh qua lại, anh Quang tiếp tục đi làm thợ hồ. Vài năm đầu, họ sống khá ổn định, nhưng rồi sáu đứa con lần lượt ra đời.

Bây giờ – chị kể – đứa con gái lớn tốt nghiệp đại học kinh tế, đi làm trên tỉnh, đã có chồng con, ba đứa con trai kế đều bỏ học sớm, theo anh Quang làm thợ phụ, một đứa đã có vợ con, còn hai đứa con gái, đứa út đang học lớp chín, đứa chị học hết cấp 3, không có khả năng vào đại học, đang thất nghiệp ở nhà.

“Cách nay mấy tháng, tui đưa nó lên Sài Gòn dự tuyển lấy chồng Đài Loan, nó không chịu, tôi thuyết phục mãi nó chịu đi, lên đó nó được chọn ngay vòng đầu, tui mừng quýnh, ai dè khi đi phỏng vấn nó bị đánh rớt. Tôi hỏi nó tại sao, nó nói người ta hỏi vì sao lấy chồng Đài Loan, nó nói tại má nó ép chớ nó không muốn. Anh nghĩ coi có tức không, tui khóc muốn hết nước mắt… mình chỉ mong cho con có cơ hội đổi đời, nhưng nó lại không biết nhìn xa trông rộng”.

Tôi hỏi vì sao con bé không chịu lấy chồng Đài Loan, chị Hà nói: “Nó thương một thằng trong xóm nhưng tui không chịu, không phải tui chê người ta nghèo, nhưng tui nói với con, mình đã nghèo đã khổ, lấy một thằng chồng không nghề, không vốn, không ruộng đất, suốt ngày lêu têu ăn nhậu rồi sinh con ra lấy gì nuôi, lấy gì cho con ăn học, cuộc đời này đừng có mơ mộng “một túp lều tranh hai trái tim vàng”. (còn tiếp)

Võ Đắc Danh

Kỳ 2: Ảo vọng phương xa

SGTT.VN – Hàng chục cô gái ngồi theo vòng tròn hoặc hình chữ U, một hoặc hai chàng trai Đài Loan hay Hàn Quốc rảo tới rảo lui, xem mặt, xem tướng từng cô, giống như người ta lựa rau, lựa cá. Khi chọn được một cô vừa ý, anh ta ra hiệu cho người môi giới và dắt cô gái đi làm thủ tục kết hôn. Sau đám cưới, gia đình nhà gái được chú rể cho năm ba triệu đồng gọi là tiền thuê xe, tiền khách sạn và các chi phí từ quê lên Sài Gòn làm đám cưới.

Những cô gái xếp hàng tại các cuộc môi giới lấy chồng Hàn Quốc, bị công an phát hiện.

Đó là diễn biến của một cuộc hôn nhân giữa cô dâu Việt với chú rể Hàn Quốc hoặc Đài Loan. Trong cuộc hôn phối này, thường thì người môi giới và luật sư đóng vai trò chính. Họ hưởng lợi bao nhiêu không ai biết. Mới đây, Công an thành phố Cần Thơ khởi tố một vụ án sau khi bắt quả tang một cán bộ ngành tư pháp nhận hối lộ 500 USD để làm thủ tục kết hôn cho chú rể Hàn Quốc với cô dâu Việt. Anh này khai nhận rằng, mỗi một bộ hồ sơ kết hôn với người nước ngoài, luật sư hoặc người môi giới trả cho anh từ 500 đến 900 USD. Con số này cho thấy rằng, số tiền của chú rể ngoại quốc bỏ ra để “mua” một cô dâu Việt không phải ít, nhưng người hưởng lợi trước hết là công ty môi giới nước ngoài đến những người môi giới ở Việt Nam, luật sư và cán bộ ngành tư pháp, cuối cùng thì “đàng gái” chỉ được năm ba triệu đồng gọi là chi phí đi lại để gả con.

Tổng hợp số liệu từ các sở tư pháp cho thấy, từ năm 2006 đến nay, đồng bằng sông Cửu Long có đến 70.000 cô gái lấy chồng Đài Loan và Hàn Quốc. Và, theo điều tra mới đây của sở Lao động – thương binh và xã hội tỉnh Vĩnh Long thì trong 3.000 cô gái Vĩnh Long hiện đang làm dâu ở hai xứ sở này thì chỉ có 10% là tìm được hạnh phúc, có nghĩa là 2.700 cô gái Vĩnh Long đã và đang gặp bất hạnh ở quê chồng, trong đó có hơn 200 cô đã về nước, mỗi cô mang về một bi kịch khác nhau.

Trong lá đơn xin ly hôn gởi TAND tỉnh Vĩnh Long, chị Trần Thị Ngọc Nga trình bày: năm 2007, qua một người môi giới, chị lên Sài Gòn tham dự cuộc tuyển chọn cô dâu, kết quả là chị được kết hôn với ông H.S.Y và theo ông về thành phố Gia Nghĩa, Đài Loan sinh sống. Nhưng chỉ một tuần sau, một người đàn ông lạ đến rước chị về làm việc trong một tiệm massage. Biết mình bị lừa, chị tìm cách bỏ trốn nhưng cuối cùng cũng phải trở lại nhà chồng, nhưng chồng chị không đón nhận mà đưa chị trở lại tiệm massage. Chị cắn răng làm việc một thời gian rồi lại bỏ trốn, nhờ cảnh sát Đài Loan giúp đỡ, đưa

chị về nước. Trong cảnh không tiền, một hãng hàng không cho chị nợ vé máy bay nhưng với điều kiện giữ chị lại sân bay Tân Sơn Nhất, gọi điện về cho gia đình mang tiền lên trả.

Theo quy trình pháp lý, TAND tỉnh Vĩnh Long tiến hành uỷ thác tư pháp yêu cầu cơ quan có thẩm quyền ở Đài Loan triệu tập ông H.S.Y để lấy lời khai theo đơn xin ly hôn của chị Nga, nhưng mọi sự chìm trong im lặng. Đến nay – đã hơn hai năm – chị Nga đã lấy chồng, sinh con và sống hạnh phúc tại quê nhà, nhưng câu chuyện lấy chồng xa xứ của chị vẫn còn như cơn ác mộng.

Cô Bảo Linh ở Bình Minh cũng vừa trốn thoát trở về, cô kể: ở quê không có việc làm, theo bạn bè lên Sài Gòn làm tiếp viên cho một quán karaoke, thu nhập thì ít mà cay đắng thì nhiều. Buồn chán và bế tắc, cứ nghĩ lấy chồng ngoại là sang, lại theo bạn bè đi xếp hàng cho người ta lựa. Được trúng tuyển, lòng cô chập chờn sung sướng với một giấc mộng đổi đời. Nhưng khi đặt chân đến nhà chồng mới hay rằng chồng cô đã có hai đứa con riêng, nhà cửa cheo leo ở một vùng nông thôn hoang vắng. Sáng sớm thức dậy cô phải chăm sóc cho hai đứa con chồng trước khi chúng đến trường, dọn dẹp nhà cửa xong, cô phải cùng chồng ra đồng làm cỏ, bón phân, tưới rẫy và trông coi cả một đàn bò hàng chục con. Mặc dù sinh ra, lớn lên giữa vùng đất miệt vườn nổi tiếng trồng cây ăn trái nhưng chưa bao giờ Linh biết lao động chân tay, giờ đây, bỗng dưng trở thành nông dân giữa xứ người, trở thành mẹ của hai đứa con ngỗ nghịch, trở thành dâu của người mẹ chồng luôn luôn hà khắc. Cứ mỗi lần nghịch ý hai đứa con ghẻ, chúng “tâu” với bà nội là Linh phải ăn đòn. Cuối cùng Linh phải trốn về nước, tiếp tục cuộc đời “kỹ nữ” ở Sài Gòn.

Con số trên 200 nàng dâu xa xứ trở về Vĩnh Long chỉ là con số mà người ta biết được, bởi phần lớn các cô trở về đều âm thầm bỏ xứ đi Hải Phòng, Sài Gòn “làm ăn” hoặc đi làm công nhân ở các khu công nghiệp, trong khi những cô gái quê khác tiếp tục theo đường dây môi giới lên Sài Gòn để xếp hàng ra mắt các chàng trai ngoại với giấc mộng đổi đời.

Ở Trà Ôn có một cái cù lao nhỏ nằm trên nhánh sông Tiền mà mới đây người ta đặt cho nó cái tên là “Đảo Đài Loan”, ở đây có 60 hộ dân thì đã có trên 30 hộ trở thành “thông gia” với Đài Loan và Hàn Quốc. Nhưng theo chị Út Anh cho biết thì đa số đã trở về! Chị Anh tự cho mình là người may mắn vì chị có ba đứa con gái lấy chồng sang Đài Loan, chỉ một đứa trở về, hai đứa còn lại đang sống hạnh phúc, một đứa làm nhân viên nhà hàng với mức thu nhập hàng tháng tương đương 12 triệu đồng Việt Nam, một đứa lấy chồng nông dân, nhà có hai vườn cau, chị nói ở nông thôn Đài Loan mà có vườn cau là thuộc hàng khá giả. Chị tự hào vì hai đứa con gái biết làm dâu, hai chàng rể hiếu thảo, năm nào cũng mời cha mẹ vợ sang du lịch một chuyến. Chính những chuyến đi này đã giúp cho chị có nhiều thông tin về thực trạng cô dâu Việt ở xứ Đài, chị nói lấy chồng ngoại là nhắm mắt đánh liều, ai có phước thì được phần, ai vô phước thì mất phần. Xưa nay, ai cũng xem hôn nhân là chuyện quan trọng nhất của đời người, người ta hiểu nhau, yêu nhau rồi mới cưới nhau mà chưa chắc gì có hạnh phúc, huống chi mình đưa thân cho người ta lựa chọn, mà được chọn cũng chẳng qua nhìn cái dáng bên ngoài, vậy là thành vợ thành chồng. Chuyện bất đồng ngôn ngữ là cái bất lợi đầu tiên, rồi phong tục tập quán, tính ăn nết ở khác nhau thì làm sao mà dễ hoà hợp được. Cũng đừng vội trách bên chồng ngược đãi, bởi con gái xứ mình cũng lắm chuyện lôi thôi, thậm chí có cả sự mưu toan lợi dụng, mánh khoé đủ trò… Ngay đứa con gái thứ ba của chị, vừa sang bên ấy mấy tháng thì nói dối với chồng là về quê làm đám gả đứa em út, anh chồng tưởng thiệt chuẩn bị quà cáp, tiền bạc theo vợ về quê, về tới Sài Gòn, vô khách sạn được vài tiếng đồng hồ thì nó trốn mất, bỏ anh chồng bơ vơ giữa xứ lạ quê người.

Võ Đắc Danh

Kỳ cuối: Nhật ký làm dâu xứ người.

Hai mẹ con bà Huỳnh Kim Anh và Trần Thanh Lan sống trong căn nhà chỉ 10 mét vuông trong con hẻm nhỏ ở phường Lê Bình, quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ. Học xong lớp 6 thì Lan bỏ học, ngày ngày gánh khoai mì nướng đi bán trong khu phố. Không chịu nổi cảnh nghèo, năm 22 tuổi, Lan theo bạn lên Sài Gòn dự tuyển lấy chồng Hàn Quốc. Không muốn xa con, bà Kim Anh ngăn cản, Lan nói: “Không lẽ suốt đời cứ sống như thế nầy, mẹ cho con đi, nếu may mắn được lấy chồng Hàn, con sẽ về mua đất cho mẹ xây nhà, sẽ gởi tiền về nuôi mẹ”. Sau hơn hai tháng, qua nhiều vòng tuyển chọn, không được chàng trai nào để ý, Lan buồn chán muốn bỏ về, nhưng ngặt nỗi không có tiền trả nợ cho môi giới nên đành phải tiếp tục cầu may. Không biết đến vòng tuyển chọn thứ mấy thì “vận may” đã đến với Lan: Ông Ha Jang Su đã gật đầu với số phận của cô.

 

Tiệc cưới diễn ra trong chớp nhoáng và sau đó bà Kim Anh nhận được một phong bì từ chàng rể với số tiền là 3 triệu đồng.

 

Tiễn con ra sân bay về quê chồng, bà Kim Anh trở về sống quạnh hiu trong căn chòi nhỏ và ngày ngày ngóng đợi điện thoại của con. Nhưng rồi 25 ngày sau, bà nhận được điện thoại từ lãnh sự quán Hàn Quốc báo tin : Lan đã nhảy lầu tự tử ! Ba tuần sau, trong khi bà nằm liệt giường chưa ngồi dậy nổi thì có một cuộc điện thoại từ trạm xe khách bảo bà mang giấy chứng minh ra nhận hàng. Hỡi ơi, đó là số tiền 48 triệu đồng và một hộp gỗ chứa mớ tro hài cốt của Lan, được gởi từ lãnh sự quán Hàn Quốc !

 

Sau khi sức khỏe bình phục, bà Kim Anh quyết định sang Hàn Quốc để tìm hiểu sự thật về cái chết của con. Trong những vật chứng mà cảnh Sát Hàn Quốc trao lại cho bà, có một quyển nhật ký viết trên tập học trò của Lan ghi lại 25 ngày làm dâu trong nước mắt.

Ngày 17-1: Suốt buổi sáng, mẹ chồng tôi cứ chửi mắng tôi. Bà còn lấy cây muỗng gõ vào cái hộp đựng đồ ăn dằn mặt tôi… Chồng tôi vẫn ngồi đó. Hai người nói gì tôi không hiểu.

 

 Ngày 18-1: Như thường lệ, ăn sáng xong, tôi đưa chồng tôi đi làm. 8 giờ, mẹ chồng tôi bắt tôi học tiếng Hàn Quốc. Tôi ra dấu cho bà hiểu: Tôi đã ký đơn ly dị nên chờ ngày về Việt Nam. Bà lấy cây viết ra chỉ vào cuốn tập ý nói, tôi không được ở đây. Tôi khóc. Bà ta ra dấu, Hàn Quốc không được khóc… Mỗi khi thấy bà ta vô phòng là tôi phát sợ không dám lại gần. Trời nắng, tôi kéo màn lại cũng bị bà ta la… 19 giờ, Tôi không biết bà ta nói gì với chồng tôi, ổng vào phòng kéo tay tôi ra ngoài. Ổng lấy hai tay nhấn vào vai tôi buộc quỳ xuống xin lỗi bà ta. Chưa hả giận, chồng tôi còn đánh và nhéo vào mặt tôi nữa…. 19 giờ 50, cả nhà đang ăn tối. Bà ta nói với chồng tôi chuyện gì. Bất ngờ, chồng tôi đánh vào mặt tôi. Bà ta tiếp tục diễn tả, chồng tôi lấy 2 ngón tay định móc mắt tôi… Tôi khóc, chồng tôi không cho. Tôi ăn vội chạy vào phòng.

 

 Ngày 29-1: Ăn tối xong, tôi định đi vào phòng nhưng bị bà ta ngăn lại. Chồng tôi đang xem tivi đi đến gần tôi đưa hai bàn tay ra dấu định quấu vào mặt tôi. Sau đó, anh ta lấy ngón tay bóp lỗ mũi tô imuốn ngẹt thở. Tôi cố nhịn nhưng sao không cầm được nước mắt. Tôi khóc nhớ ngoại nhớ mẹ, nhớ dì… Họ ra dấu bảo tôi câm. Mẹ ơi…

 

 Ngày 23-1: Mối nguy hiểm đang tăng lên từng ngày. Không chỉ tôi vối bà ta mà thêm chồng tôi nữa. Sau buổi ăn sáng, bà ta tiếp tục chửi tôi. Thấy chưa hả giận, bà đến gần tôi và ngửi bộ quần áo tôi đang mặc. Bất ngờ, bà ta la gầm lên rồi cầm cái ca múc nước định đánh tôi nhưng không làm như vậy. Chồng tôi nghe theo cầm chai nước hoa xịch khắp người tôi… Tôi không được nói, không được khóc. Họ không cho tôi tắm rửa, gội đầu… Tôi có miệng cũng như câm… Họ chỉ biết chửi bới, đánh đập những điều mà họ không hài lòng. Họ khinh tôi sao họ lại cưới tôi.

 

 Ngày 27-1: … 19 giờ 50 phút, chồng tôi đi làm về. Chẳng hiểu bà ta nói gì với chồng tôi, ổng nóng giận chạy vào phòng. Tôi cố ra giấu cho chồng hiểu nhưng bất lực. Tấm hình cưới của tôi cũng bị bà ta và chồng tôi đập trước mặt tôi. Tôi ước ly dị xong, về Việt Nam tôi sẽ trả lại cho họ tất cả. Tuy nhà tôi nghèo thiệt nhưng đừng xem thường tôi. Tôi cầu mong mình sớm trở về Việt Nam. Ngày nào tôi còn ở đây là tôi sống trong nỗi sợ hãi, không biết chuyện gì sẽ xảy ra với tôi nữa.

 

 Ngày 28-1: Khoảng 8 giờ 50 phút, bà ta đang ở ngoài vườn nhìn tôi la hét, giận dữt. Tôi không hiểu nhưng nói đại oke. Nếu tôi biết tiếng Hàn Quốc, họ sẽ không ăn hiếp tôi đâu. Tôi chịu cực, vất vả quen nên tôi không ngại chỉ sợ họ bắt nạt tôi. Tôi khóc nhiều vì tức và không nói được nên mới khóc… Từ lúc có chồng lên sân bay sang Hàn Quốc, tâm hồn của tôi không còn niềm vui nữa. Tôi lo gia đình, lo cho tương lai sẽ ra sao… Khi hồ sơ ly dị xong, tôi sẽ trở về Việt Nam gặp lại gia đình, tôi mừng lắm. Tôi sẽ ôm mà khóc với ngoại tôi, mẹ tôi, dì tôi… Tôi sẽ gặp lại bạn bè trong xóm. Tôi sẽ nói như thế nào để họ hiểu tôi. Tôi không sợ bạn bè không hiểu tôi. Tôi chỉ sợ mẹ tôi biết sự thật, mẹ tôi sẽ đau buồn mà sinh bệnh… Hàng ngày, tôi chỉ biết im lặng chờ ngày về Việt Nam.

 

 Ngày 29-1: … Khi tôi đang nằm trên giường, bà mẹ chồng đi vào phòng tay cầm con dao để trước ngực. Bà ta ngồi xuống giường yêu cầu tôi ngồi dậy. Tôi sợ hãi và bắt đầu khóc. Bà ta đánh vào người tôi buộc tôi nín…. Một lát sau, bà ta lại vào phòng và đi khắp phòng. Chồng tôi nằm trên giường xem cuốn nhật ký của tôi. Bất ngờ, chồng tôi ném cuốn sổ trúng vào gót chân của tôi. Tôi khóc vì đau. Hắn tức giận lấy hai ngón tay  bóp mũi tôi đến ngẹt thở. Cả hai người quát tháo buộc tôi phải câm lặng. Họ cư xử với tôi thật thậm tệ như một con vật. Họ đâu biết rằng, những lần họ nhéo mặt, bóp mũi tôi thì vài ngày sau mặt tôi mới hết sưng, mũi tôi mới hết đau…”

 Tôi định gởi mấy trang nhật ký của Lan cho chị Hà và viết mấy dòng khuyên chị không nên giận, không nên trách đứa con gái của mình. Nhưng chị vừa gọi điện cho tôi, mời tôi về dự đám gả con gái chị – người con trai hàng xóm mà nó đã yêu. Qua điện thoại, tôi vẫn nghe chị thở dài: “Duyên của con thì biết làm sao, tôi chỉ lo cho tương lai của nó, thằng chồng không nghề, không vốn, không ruộng đất, suốt ngày lêu têu ăn nhậu rồi sinh con ra lấy gì nuôi”.

Nghe xong, tôi cũng chỉ biết thở dài như chị .

Võ Đắc Danh

—————

Nông dân vượt biên đánh bạc: Nỗi ám ảnh Heng Heng

Posted in Cong Nhan Viet Nam, Nong Dan Viet Nam | Leave a Comment »

Lại tìm cách che dấu sự thật…

Posted by hoangtran204 trên 09/06/2011

Blog mới :   http://basam1.wordpress.com/

Blog cũ,      http://anhbasam.wordpress.com/,    đã bị cướp password.

Posted in Tự Do ngôn Luận | Leave a Comment »

Vì Sao cuộc Biểu Tình hôm Chủ Nhật 5-6-2011 vẫn diễn ra ở Hà Nội và Sài Gòn đã không có chạm trán giữa công an và dân chúng?

Posted by hoangtran204 trên 05/06/2011

Sáng 26-5-2011, 3 tàu hải giám Trung Quốc đã vi phạm vùng đặc quyền kinh tế của VN, gây thiệt hại lớn về kinh tế và cản trở hoạt động của Tập đoàn Dầu khí quốc gia VN

Ngày 1-6-2011, các blogger Việt Nam liền kêu gọi một Cuộc tuần hành ôn hòa phản đối Trung Quốc vào sáng chủ nhật 5-6-2011

và( ở đây)

Thì ngày 2-6-2011, tờ Báo Mới ở Hà Nội đăng tin: Sớm triển khai xây dựng Cung hữu nghị Việt – Trung. Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải vừa giao UBND TP. Hà Nội chỉ đạo các cơ quan liên quan của thành phố hoàn tất thủ tục về đất đai để Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam sớm triển khai Dự án tổng thể xây dựng Cung hữu nghị Việt – Trung tại xã Mễ Trì, huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội.

Mặc dù một số người có ý kiến là không nên đi biểu tình, vì cho rằng chính quyền sẽ ra lệnh cho công an chụp hình, quay phim, và sau đó sẽ đến nhà để bắt bớ như vụ biểu tình năm 2007.

Nhưng một số khác thì vẫn cứ đi tuần hành ôn hòa như ở đã được tường thuật  Tin Chủ nhật, 5-6-2011 ở Hà Nội

Và ở Sài Gòn thì cuộc biểu tình được tường thuật ở đây, Cuộc đối thoại trước Lãnh sự quán Trung Quốc và trong trụ sở thành đoàn TNCS TP Số 1 Phạm Ngọc Thạch, với sự có mặt của nhân vật như Lê Hiếu  Đằng, Huỳnh Tấn Mẫm, Cao Lập, và Đỗ Trung Quân (viết bài tường thuật)

Rất nhiều người ở Sài Gòn vẫn tự tin và đi biểu tình một cách ôn hòa vào sáng Chủ Nhật 5-6-2011.

Sự kiện đảng  CSVN và chính phủ VN ra lệnh cho công an không được hung hăng và đàn áp người biểu tình vào ngày 5-6-2011 là vì 2 lý do sau đây:

1./ Tình trạng lạm phát gia tăng,chính phủ VN phải xuất gạo để cứu đói vì nạn đói đang hoành hành khắp các tỉnh miền  Trung (Thanh Hóa, Nghệ An, Quãng trị, Thừa thiên, Kon Tum và Gia Lai), chính quyền VN phải phát gạo cứu đói cho hơn 1 triệu 100 ngàn dân trong tháng 5-2011. Kinh tế và tài chánh VN hiện đang ở bên bờ vực thẳm, [chứng khoán VN (từ 1100 năm 2008)  xuống còn 400 vào tuần trước; thị trường mua bán bất động sản gần như đóng băng; các ngân hàng không có tiền đồng để cho các doanh nghiệp mượn, còn các doanh nghiệp không dám đầu tư làm ăn nữa vì lãi suất đi vay ngân hàng quá cao, trên 20%…Lạm phát trên 20%, giá xăng, giá điện, giá thực phẩm lên cao 25-30% ]

2./Sau cuộc viếng thăm của Bộ Trưởng  Quốc Phòng Trung Quốc tới Mỹ vào tháng 5, 2011, Mỹ tuyên bố vào

tháng 5-2011, về tình hình Biển Đông. “Mỹ không đứng về bên nào trong một cuộc tranh chấp

Sở dĩ Mỹ thẳng thừng nói vậy vì nhiều nguồn tin lâu nay nói rằng: sau 10 năm ve vãn VN, nay Mỹ đã quá thất vọng vì đường lối ngoại giao của chính quyền VN (tuyên bố sẽ quan hệ và đối xử các nước như nhau, nhưng thân TQ nhiều hơn).

(Trong khi Mỹ muốn lập trường ngoại giao của VN phải rõ ràng như Nhật và Nam Hàn. Cụ thể ở trường hợp của Nhật, Mỹ  tuyên bố sẽ bảo vệ Nhật nếu có tranh chấp bằng quân sự với Trung Quốc hôm tháng 2-2011,  “Ngoại trưởng Mỹ từng nói quần đảo mà Trung Quốc gọi là Điếu Ngư nằm trong phạm vi liên minh an ninh Mỹ – Nhật“. Hiện nay, ở Nhật và Nam Hàn đều có các căn cứ quân sự của Mỹ, và có 37-50 ngàn binh sĩ Mỹ đóng quân ở 2 nước nầy từ 1945 và 1953 cho tới nay.  Hàng năm, Nhật và Nam Hàn đều có tham gia vào cuộc tập trận chung với Mỹ ở vùng biển tranh chấp).

Hiện nay chính quyền  VN đang đối diện với nhiều bất lợi về kinh tế và tài chánh ở trong nước; và ở quốc ngoại,  nếu có chiến tranh với Trung Quốc thì không một nước nào muốn bênh vực Việt Nam. Nhận thức được nguy cơ đó,  nên chính phủ Hà Nội đang run sợ và đã không dám sai công an ra tay đánh đập, bắt bớ, đàn áp dân chúng VN xuống đường biểu tình như họ đã từng làm vào năm 2007.

Mời các bạn hãy đọc bài báo của chị Song Chi, một phụ nữ xinh đẹp mảnh khãnh, còn rất trẻ ở tuổi ngoài 40s, nhưng đầu óc thật minh mẫn, bén nhạy và sáng suốt. Đầu óc của các cố vấn về chính trị và kinh tế của chính phủ VN (suốt 36 năm qua và) hiện nay so ra chỉ đáng khoanh tay trước chị SC để học hỏi. Còn các đỉnh cao trí tuệ xưa nay đang cai trị VN thì…thôi rồi Lượm ơi!

Thật là đáng kính phục các blogger ở VN và nước ngoài đang ngày đêm miệt mài gõ những dòng chữ đầy tâm huyết để gởi đến các bạn đọc hầu góp phần cho chế độ cai trị độc tài ở VN sớm được chấm dứt.

Thật là đáng xấu hổ cho đám đàn ông  đã được THUẦN HÓA để được chia sẻ quyền lực, để kiếm miếng ăn, và được cấp nhà ở tốt…chạy theo và thỏa hiệp với TQ mà bất kể quyền lợi của đất nước bị xâm phạm và sự nghèo đói bần cùng của hơn 80% dân chúng ở VN.

Biển Đông sẽ không bao giờ yên tĩnh nếu…

Sự kiện ba chiếc tàu hải giám Trung Quốc ngang nhiên vào sâu trong vùng lãnh hải của Việt Nam, cắt cáp thăm dò dầu khí của một chiếc tàu thuộc một tập đoàn dầu khí lớn nhất VN, hoành hành suốt hơn 3 tiếng đồng hồ trước khi rút lui mà không gặp bất cứ trở ngại gì khiến lòng người Việt trong và ngoài nước nổi sóng ba đào!

Một tàu giám hải của Trung Quốc. Ảnh: seasfoundation.org.

Báo chí “lề trái”, “lề phải”, các diễn đàn độc lập, các trang blog cá nhân…đồng loạt lên tiếng. Người dân trong nước từ thành thị đến nông thôn nói với nhau về chuyện này tại nơi làm việc, tại những quán café, quán nhậu, ngoài cánh đồng làng và cả trong phòng ngủ gia đình. Người dân xa xứ nói với nhau qua điện thoại, internet. Những trái tim sôi sục, phẫn nộ. Trước sự ngang ngược quá đáng của Trung Quốc và trước sức ép từ người dân, cuối cùng Bộ Ngoại Giao VN, các websites và tờ báo đại diện cho tiếng nói chính thức của Đảng, quân đội và nhà nước CSVN như website ĐCSVN, website Chính phủ, báo Quân Đội Nhân Dân… cũng phải lên tiếng. Thế đã là…tiến bộ lắm! Nhưng cái trò phản đối bằng mồm này rõ ràng là chẳng ăn thua gì với TQ!

Thế giới mạng của người Việt nóng hẳn lên mấy bữa nay. Người ta cùng nhau đọc lại bản tuyên cáo đanh thép của chính quyền Miền Nam Cộng Hòa khi Trung Quốc đánh chiếm Hoàng Sa năm 1974. Người ta nhớ lại những hình ảnh sôi sục của những ngày cuối năm 2007, đầu năm 2008 khi hàng trăm, hàng ngàn sinh viên, học sinh, văn nghệ sĩ biểu tình chống Trung Quốc xâm lược Hoàng Sa Trường Sa tại Hà Nội và Sài Gòn.

Đã có những lời kêu gọi nhà nước VN hãy để cho người dân được tự do lên tiếng, phản đối hành động ngang ngược của Trung Quốc, cũng như những lời kêu gọi xuống đường ôn hòa để biểu lộ thái độ đối với Bắc Kinh.

Hơn bất cứ dân tộc nào khác, người Việt từ xưa đến nay đã có quá nhiều kinh nghiệm cay đắng khi sống bên cạnh người láng giềng khổng lồ và xấu chơi Trung Quốc. Người Việt quá hiểu rằng với Trung Quốc, đâu phải cứ lùi bước, cứ nhân nhượng là Trung Quốc để yên cho. Đối sách của đảng và nhà nước cộng sản VN từ nhiều năm nay là nín nhịn, Trung Quốc muốn gì đáp ứng nấy! Thế nhưng kết quả là gì?

Trung Quốc đã tấn công Việt Nam năm 1979, 1984, xâm chiếm Trường Sa năm 1988. Trung Quốc đã lấn lướt được của Việt Nam hàng trăm kilomet vuông lãnh thổ dọc biên giới phía Bắc và hàng trăm dặm vuông lãnh hải, thông qua Hiệp ước biên giới trên đất liền năm 1999, Hiệp định Phân định Vịnh Bắc Bộ VN-TQ năm 2000, bởi sự nhân nhượng của nhà nước Việt Nam. Hiện tại, Trung Quốc có thể chưa vội dùng vũ lực trên đất liền với Việt Nam, nhưng họ chắc chắn sẽ đánh chiếm nốt những hòn đảo thuộc quần đảo Trường Sa mà Việt Nam đang nắm giữ để thực hiện âm mưu chiếm trọn 80% khu vực biển Đông này. Bởi đó là lợi ích cốt lõi của họ. Là chiến lược và tham vọng lâu dài tiến tới xưng hùng xưng bá trên cả khu vực này, đối trọng với Mỹ. Đã là chiến lược, là tham vọng lâu dài của “kẻ khác” thì chúng ta có nín nhịn, có ngoan ngoãn phục tùng cũng chẳng được yên.

Đảng và nhà nước cộng sản VN chắc cũng không đến nỗi tối dạ gì mà không hiểu điểu đó.

Nhưng khốn thay, chính họ đã tự trói tay mình, tự làm khó mình để bây giờ rơi vào thế kẹt tứ bề và càng lúc sẽ càng khó khăn hơn!

Với thế giới, do khăng khăng bảo vệ mô hình của một chế độ độc tài chuyên chế, Việt Nam đã không thể có được sự ủng hộ mạnh mẽ từ các nước láng giềng trong khối ASEAN cho tới các nước tự do dân chủ phương Tây và Hoa Kỳ. VN cũng không có đồng minh chiến lược. Thêm vào đó là chính sách ngoại giao theo kiểu đu dây giữa các nước lớn, lúc thế này lúc thế khác, tiếng là “bạn với tất cả” cũng có nghĩa chẳng có ai thực sự là bạn khi cần thiết!

Với Trung Quốc, chính nhà nước VN đã tự đút đầu vào thòng lọng của anh bạn láng giềng khi quay đầu lại bám víu lấy TQ sau sự kiện Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu sụp đổ. Từ đó, VN cứ mãi không sao thoát khỏi vòng kềm tỏa của TQ. Lại thêm nạn tham nhũng, dốt nát, điều hành quản lý kinh tế quá kém khiến kinh tế càng lúc càng bết bát, đất nước càng lúc càng ngập trong nợ nần, khoảng cách tụt hậu mỗi lúc mỗi xa so với các nước. Tài lực, nội lực không mạnh thì làm sao trụ vững một mình , thoát khỏi sự phụ thuộc nặng nề vào nước khác?

Với nhân dân, sau bao nhiêu năm đảng và nhà nước tích cực bóp nghẹt mọi quyền tự do dân chủ, mọi tiếng nói phản biện, dập tắt mọi biểu hiện yêu nước của người dân, hậu quả là ba phần tư số người Việt trong nước hôm nay đã sống theo kiểu “chuyện chính trị, chuyện nước là của… nhà nước lo”. Người dân phần vì sợ hãi, muốn yên thân, phần vì quanh năm quay cuồng với cơm áo gạo tiền nên chẳng mấy ai thực sự thấy hết hiện trạng của đất nước cũng như hiểm họa từ phương Bắc. Làm nhụt nhuệ khí của dân tộc, đảng và nhà nước cộng sản VN hôm nay cũng đồng thời phải lãnh hậu quả: khi cần đến tinh thần công dân, sự quật cường của người dân để chống lại kẻ thù nếu có một cuộc xâm lăng xảy ra, liệu phải mất bao lâu để gầy dựng lại cái tinh thần, nguyên khí, nội lực đó?

Rút cục, đảng và nhà nước VN cứ loay hoay như đèn cù: đối ngoại vừa muốn chơi với Hoa Kỳ nhưng lại sợ mất đảng, vừa muốn bám lấy TQ làm chỗ dựa kinh tế và chỗ dựa cho chế độ nhưng lại sợ mất nước! Khi quan hệ với TQ “cơm không lành canh không ngọt” vừa muốn lên tiếng cho thế giới hay vừa sợ nếu làm căng quá thì TQ lại “dạy cho một bài học” nữa thì không có ai cứu. Vừa muốn để cho người dân phản ứng hộ mình nhưng lại sợ “các thế lực thù địch” lợi dụng chuyển hướng thành cuộc cách mạng hoa nhài hoa cúc…Nên cứ thậm thà thậm thụt, hành xử bất nhất, từ người dân cho đến thế giới cũng chả biết rõ đảng và nhà nước cộng sản VN muốn cái gì!

Chưa kể, kinh tế thì đang lao đao, xã hội thì quá nhiều vấn đề, lòng dân oán thán.

Hiểu rõ cái thế yếu, sự khó khăn đó của Hà Nội, Bắc Kinh càng ngày càng lấn tới.

Từ việc chọn lựa sai mô hình, thể chế chính trị, chọn bạn mà chơi cho đến vô vàn những sai lầm trong đường lối chính sách về kinh tế, xã hội, đối nội, đối ngoại…nhưng lại khư khư không muốn thay đổi, chỉ muốn giữ quyền lực đến cùng, đẩy đất nước và dân tộc đến tình thế khó khăn ngày hôm nay, là trách nhiệm của các thế hệ lãnh đạo đảng và nhà nước cộng sản VN.

Tổ tiên VN đã bao đời chiến đấu chống lại họa ngoại xâm, đặc biệt là từ phương Bắc, đồng thời mở mang bờ cõi về phương Nam để trao lại cho họ, các thế hệ lãnh đạo đảng và nhà nước VN một tổ quốc như ngày hôm nay. Nhưng các thế hệ lãnh đạo đảng và nhà nước VN trong nhiều năm qua đã không xứng đáng với tổ tiên. Chưa bao giờ VN bị mất đi một rẻo đất chỉ đến khi dưới “triều đại” của họ. VN cũng chưa bao giờ phải hèn hạ đến thế trước nước lớn, chỉ dưới “triều đại” của họ. Họ cũng chẳng xứng đáng với một dân tộc yêu nước như dân tộc VN. Điều cuối cùng mà họ có thể làm được để tạ lỗi với tổ tiên và với nhân dân là hãy thức tỉnh, kịp thời chọn lựa một con đường đi khác- tự do dân chủ pháp trị đa nguyên đa đảng, để đưa đất nước tiến lên giàu mạnh, thoát khỏi vòng kềm tỏa và cả cái họa bành trướng từ nước láng giềng khổng lồ.

Còn nếu họ nhất định bám giữ quyền lực, trách nhiệm cứu nước tùy thuộc vào lương tri sáng suốt của người VN.

Biển Đông sẽ không bao giờ yên tĩnh và Việt Nam cũng sẽ chẳng bao giờ được yên ổn nếu TQ không thay đổi thành một quốc gia dân chủ, biết tôn trọng luật pháp, các công ước quốc tế. Hoặc chính VN phải thay đổi trước để tự cứu mình.

Nếu không, rồi sẽ đến một ngày, cả vùng biển này là của kẻ khác, ngư dân VN chỉ còn biết ngồi đó mà khóc. Ông bạn láng giềng chiếm hết đảo, xây căn cứ sân bay, căn cứ tàu ngầm, rồi tàu chiến ngày đêm ngang dọc tuần tra, VN sẽ chẳng còn nhúc nhích cục cựa vào đâu được nữa.

Tương lai đất nước này, dân tộc này chẳng lẽ lại bi đát đến thế?

Nguồn: Blog Song Chi (RFA)

nguồn

Posted in Tự Do ngôn Luận | Leave a Comment »

Tại sao Trung Cộng lấn chiếm tại Biển Đông ?

Posted by hoangtran204 trên 04/06/2011

Một trong những đặc điểm chính của các nước có đảng cộng sản nắm quyền cai trị là: đi xâm chiếm đất đai (biển đảo) của các quốc gia khác, và chiếm đất đai của dân chúng trong nước, giành chiếm đất đai công để làm của riêng cho gia đình và cá nhân họ. Trung Quốc và Việt Nam là 2 nước điển hình cho các đặc điểm nói trên.

Thêm vào đó, đảng viên đảng CS luôn đặt đảng của họ CAO hơn cha me và gia đình của họ. Thà hy sinh cha mẹ và gia đình để giữ thẻ đảng còn hơn là bỏ đảng.

Người cộng sản (VN) sẵn sàng nhượng bộ, nhường bớt đất đai, biển đảo cho 1 nước cộng sản khác mạnh hơn chiếm đoat (TQ), để đổi lại là họ được tiếp tục nắm quyền cai trị đất nước của họ.

 

Tại sao Trung Cộng lấn chiếm tại Biển Đông ?

Ngô Nhân Dụng

Vụ tàu hải giám của Trung Cộng cắt dây cáp của tầu Bình Minh 2 của PetroVietnam không phải là một biến cố lẻ loi, đơn giản, mà có thể là một bước nằm trong một chiến lược lâu dài của các nhà lãnh đạo Bắc Kinh. Có những lý do chiến lược khiến Bắc Kinh muốn bảo đảm quyền hành động tự do của họ trong vùng Biển Đông nước ta. Họ có thể đạt được mục đích này bằng nhiều cách, nhưng đứng trước những phản ứng yếu ớt của chính quyền Việt Nam từ hàng chục năm qua mỗi lần phải đương đầu với nước láng giềng thì họ đã chọn chiến thuật lấn chiếm từng bước một, để đặt thế giới trước những sự đã rồi.

Vụ Bình Minh 2 tuy không đổ máu, không giết người, nhưng quan trọng hơn hẳn những vụ cướp, chiếm tầu đánh cá trước đây. Bằng cớ là Hoàn Cầu Thời báo, một cơ quan ngôn luận của Cộng sản Trung Hoa đã lên tiếng về biến cố này với những lời lẽ đe dọa nặng nề, một hiện tượng trước đây chưa bao giờ thấy. Nhật báo Asahi, Nhật Bản, cũng nói rằng Trung Quốc ngày càng cứng rắn trong tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông; vì Cục Quản lý Đại dương của Bắc Kinh mới đây đưa ra một phúc trình khuyến cáo sử dụng vũ lực quân sự để đạt mục tiêu trong các cuộc tranh chấp lãnh thổ với các nước láng giềng.

Tạp chí Hoàn Cầu Thời báo ở Bắc Kinh ngày 30 tháng Năm 2011 đã viết bài bình luận nói đến vụ cắt dây cáp tầu Bình Minh 2. Bài viết không ký tên tác giả nào, cho thấy đây là lập trường chung của đảng Cộng sản Trung Quốc. Họ nhấn mạnh rằng vụ này là biến cố “nghiêm trọng nhất trong những năm gần đây.” Hoàn Cầu Thời báo, thuộc nhật báo Nhân Dân, Bắc Kinh, là cơ quan ngôn luận của đảng Cộng sản Trung Quốc.

Điều đáng chú ý là bài báo này không hề nhắc đến những khẩu hiệu êm ái như “đồng chí, anh em, hợp tác toàn diện, 16 chữ vàng,” vân vân mà các ông Nông Đức Mạnh, Nguyễn Tấn Dũng, Nguyễn Phú Trọng gần đây đã nhắc đi nhắc lại nhiều lần. Trái lại, tờ báo cảnh cáo bằng những lời đe dọa rất cứng rắn. Thí dụ, họ viết rằng việc tầu Bình Minh 2 đi khảo sát địa chấn là “thách thức lòng kiên nhẫn của Trung Quốc… Nếu như Việt Nam cứ tiếp tục hoạt động trong vùng biển chủ quyền của Trung Quốc, thì sẽ phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình.”

Chúng ta biết rằng Bình Minh 2 chỉ hoạt động trong khu vực thuộc phạm vi “đặc quyền kinh tế” của nước ta, mà mỗi quốc gia đều có quyền đó trên vùng ven biển của mình. Khu vực này nằm hoàn toàn bên ngoài, ở về phía Tây của “đường chín đoạn” mà Trung Cộng đã vẽ trên bản đồ, coi Biển Đông nước ta như là “ao nhà” của họ. Cả thế giới phủ nhận “vùng lưỡi bò” của Trung Cộng. Cho nên họ gây xung đột với Việt Nam, là để nhân cơ hội đó xác nhận “vùng biển chủ quyền của Trung Quốc,” đặt thế giới trước một sự đã rồi nếu mỗi lần bị họ lấn áp Việt Nam không phản đối mạnh mẽ, công khai, ra trước các cơ quan tài phán quốc tế.

Hoàn Cầu Thời báo đã đe dọa rằng “tình trạng tự kiềm chế của Trung Quốc không phải là không có giới hạn,” sau khi tố cáo tầu Bình Minh 2 vi phạm vùng chủ quyền của họ. Và họ còn nhắc nhở, “Trung Quốc là nước lớn, sức mạnh hơn hẳn Việt Nam!” Báo này đã đăng thêm những lời “góp ý kiến” của độc giả, và tất cả biểu lộ tinh thần đề cao Hán tộc, khinh thường người Việt Nam.

Liệu Trung Cộng có sẵn sàng tấn công Việt Nam để thực hiện quyền làm chủ vùng Biển Đông hay không? Chắc họ sẽ không gây chiến tranh nếu có thể đạt được cùng một mục tiêu một cách hòa bình, theo lối tầm ăn dâu.

Nhưng đối với Trung Quốc, hoạt động tự do trong vùng Biển Đông nước ta là một điều kiện thiết yếu về cả kinh tế lẫn quân sự. Chiếm được vùng này là bảo đảm an ninh cho Trung Quốc nếu xẩy ra chiến tranh với các cường quốc khác. Liệu những người cầm quyền ở Bắc Kinh có trù liệu sẽ có ngày lâm chiến với Mỹ, hay Ấn Độ, hoặc Nhật Bản hay không? Trong một tương lai gần thì chắc chiến tranh khó xẩy ra vì Trung Quốc còn quá yếu. Nhưng không ai tiên đoán được 50 năm đến 70 năm nữa thế giới sẽ như thế nào. Đối với Bắc Kinh thì tốt nhất là hãy chuẩn bị sẵn sàng để nếu có chiến tranh thì Trung Quốc không bị phong tỏa kinh tế trên mặt biển, như Nhật Bản thời Đại chiến Thứ Hai.

Các nhà chỉ huy quân sự ở Trung Quốc chắc hẳn đã nghiên cứu lịch sử để thấy bài học Nhật Bản thất trận. Hiện nay hơn ba phần tư số nhập cảng về dầu khí, nguyên liệu của Trung Quốc đang phải chuyển qua eo biển Malacca giữa Indonesia và Mã Lai Á, rồi đi qua ngang vùng Biển Đông của nước ta để tiếp tế cho các nhà máy hoạt động trong lục địa. Tình trạng này không khác gì Nhật Bản trước cuộc Đại chiến Thứ Hai.
Quân đội thiên hoàng thua năm 1945 không phải vì những người lính Nhật và cấp chỉ huy của họ yếu kém. Lý do khiến Nhật gây chiến với Mỹ, rồi thua trận, đều vì kinh tế bị phong tỏa.

Trước Chiến tranh, Nhật Bản là quốc gia xuất cảng đứng hàng thứ tư trên thế giới; hàng hải thương thuyền có trọng tải đứng hàng thứ ba; trong thập niên 1930 kinh tế Nhật phát triển nhanh chóng, bành trướng sang Mãn Châu, Cao Ly, rồi vào Trung Quốc trong khi cả thế giới lâm vào cảnh đại khủng hoảng. Số sản xuất công nghiệp Nhật lớn hơn tất cả các nước Á châu khác cộng lại. Số công nhân trong các công nghiệp tăng từ 5.8 triệu năm 1930 lên tới 9.5 triệu năm 1944.

Sau khi quân Nhật tiến vào Việt Nam với sự thỏa thuận của chính quyền thuộc địa Pháp, năm 1941 hải quân Mỹ đã bắt đầu ngăn cản các tầu chở dầu lửa của Nhật đi qua vùng biển Đông Nam Á. Nhật đã tấn công Pearl Harbor vì nghĩ rằng có thể làm tê liệt lực lượng hải quân Mỹ ở Thái Bình Dương, để buộc Mỹ phải đứng ngoài. Giới tướng lãnh Nhật đã tính lầm vì hoàn toàn không biết gì về tiềm năng kinh tế của Mỹ. Trong những năm từ 1942 đến 1945, Mỹ sản xuất hơn 2000 triệu tấn than đá, Nhật chỉ có dưới 200 triệu tấn; Mỹ sản xuất 6,660 triệu thùng dầu, Nhật dưới 30 triệu; Mỹ chế tạo 280,000 máy bay, Nhật chỉ có 65,000. Những năm sau cùng 1944, 45, sức mạnh của quân đội Nhật tàn dần vì kinh tế suy yếu, càng ngày càng yếu, khi lực lượng tầu ngầm, không quân và hải quân Mỹ tấn công các tầu chở hàng của Nhật trong Đông Nam Á, trong đó có vùng biển Đông nước ta.

Nên nhớ đến năm 1945 Nhật vẫn chiếm đóng Mãn Châu, Hàn Quốc, Đài Loan, các vùng duyên hải Trung Quốc, cùng Miến Điện, Việt Nam, chính phủ Nhật tự do bóc lột tài nguyên các nước này, phục vụ guồng máy chiến tranh. Nhưng bấy nhiêu vẫn chưa đủ. Nhật Bản cần ít nhất mỗi năm 6 triệu tấn dầu mua từ Miến Điện, từ Borneo và các đảo thuộc Indonesia bây giờ, vì trong nước chỉ sản xuất được 250,000 tấn. Dầu nhập cảng về Nhật phải đi qua vùng Biển Đông nước ta, cũng như tình trạng Trung Quốc bây giờ.

Chỉ tới tháng Ba năm 1945 máy bay Mỹ mới đánh bom vào các thành phố Nhật một cách quy mô; nhưng kinh tế Nhật đã co cụm vì bị phong tỏa trên mặt biển khi tầu ngầm Mỹ bắt đầu tấn công các thương thuyền chở hàng hóa, nguyên liệu và dầu lửa từ năm 1944. Năm đó, Nhật Bản tiêu thụ gần 20 triệu thùng dầu nhưng chỉ nhập cảng được 5 triệu vì bị tầu ngầm Mỹ ngăn cản. Riêng tầu ngầm Flasher đã đánh đắm 21 chiếc tầu thủy Nhật, trong đó có 4 tầu chở dầu chở mỗi chiếc 100,000 thùng dầu; trong tháng Mười Hai năm 1944 tầu ngầm này đã làm cho số dầu lửa về đến nước Nhật giảm bớt 2 phần ba. Trong năm đó, tầu ngầm Mỹ đánh hư hơn 600 thương thuyền Nhật tổng cộng trọng tải 2.7 triệu tấn. Số hàng nhập cảng vào nước Nhật giảm 40%. Vào lúc cuối cuộc chiến, kinh tế Nhật chỉ bằng 10% của Mỹ, mà một lý do chính là không đủ nguyên liệu và dầu lửa, nhiều nhà máy bỏ trống không dùng đến. Từ đầu năm 1945 Nhật Bản không còn sức tiếp tế cho các đạo quân viễn chinh, vũ khí không sản xuất đủ, trang bị kỹ thuật cho quân sĩ như máy radar, máy truyền tin, không tân tiến bằng quân Đồng minh vì các ngành khoa học, kỹ thuật và việc sản xuất trong nước bị tê liệt.

Thua kém vì kỹ thuật tiến chậm là một yếu tố thua trận. Ở Miến Điện, quân Nhật đã bị quân Anh đánh lừa bằng kế dương Đông kích Tây; đánh vào hai địa điểm ở phía Tây Mandalay để nhử quân Nhật, nhưng cuối cùng tấn công vào yếu điểm ở phía Nam để chặn đường tiếp tế từ Rangoon lên. Quân Nhật bị lừa vì hệ thống truyền tin quá cổ lỗ! Tháng Ba 1945, Tướng Masaki Honda tại mặt trận Meiktila, Miến Điện báo cáo lên cấp chỉ huy: “Trong 2 sư đoàn của tôi, không tới 20 khẩu súng còn hoạt động bình thường… Súng chống xe tăng của chúng ta bắn trúng xe địch nhưng đạn bị văng ra!” Tháng 5 năm 1945, phi công Nhật Masashiko Ando bay thám thính khám phá một tầu ngầm Mỹ ở ngoài khơi Cam Ranh. Ando bay trên cao 2000 mét, quay đầu để đuổi theo phía sau chiếc tầu ngầm, xuống thấp, tới 200 mét thì thả loại bom chìm sâu chống tầu ngầm xuống mục tiêu, nơi chiếc tầu mới lặn. Ando về Cam Ranh, báo cáo đã thành công. Nhưng chiếc tầu ngầm Mỹ đã thoát nạn, vì kỹ thuật “lặn nhanh” của tầu Mỹ đã tiến xa hơn Nhật. Chỉ trong 35 giây đồng hồ là tầu đã lặn rất sâu, trong khi bom Nhật không xuống được sâu như vậy!

Không một quốc gia nào có thể nhắm mắt không nhìn thấy bài học thất trận của Nhật Bản trong cuộc Đại chiến Thứ hai, sau khi kinh tế bị phong tỏa. Nếu những người lãnh đạo Trung Quốc lo xa có ngày nước họ phải lâm chiến, thì họ sẽ phải lo bảo đảm các con đường tiếp liệu. Trên đất liền, Trung Quốc đang thiết lập những ống dẫn dầu từ các nước vùng Trung Á, từ Iran, vân vân, qua miền Tây nước họ; và cả dự án ống dẫn dầu từ bờ biển Miến Điện đi lên Vân Nam. Đồng thời, họ thiết lập đầu cầu cho các căn cứ hải quân ở bờ biển Miến Điện, trong khi nhòm ngó cả Campuchia. Bộ tham mưu chiến lược của họ chắc phải đặt câu hỏi: Tại sao không nhắm tới bờ biển Việt Nam? Năm 1945, máy bay diệt tầu ngầm của Nhật đã xuất phát từ phi trường Cam Ranh đi tìm bắn các tầu ngầm Mỹ.

Trung Cộng có cần phải chiếm để sử dụng các hải cảng của Việt Nam hay không? Chắc họ không cần. Vì các hòn đảo ở Hoàng Sa và Trường Sa cũng đủ để thiết lập các phi trường và căn cứ bảo vệ con đường hàng hải trong vùng Đông Nam Á. Nhưng Trung Cộng nhất thiết phải được tự do hoạt động, nếu có thể thì làm chủ cả vùng Biển Đông, để bảo đảm con đường tiếp liệu này. Hiện nay Phi Luật Tân, Indonesia và Singapore đều thân Mỹ, eo biển Malacca bị Mỹ kiểm soát. Chỉ còn có một nước Việt Nam có thể là nơi Trung Cộng có thể dùng để củng cố thêm cho hàng rào bảo vệ đường tiếp tế cho họ.

Giờ đây Trung Cộng không thể gây chiến rồi chiếm Việt Nam, vì cả thế giới sẽ ngăn cản. Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ đang tới dự một Hội nghị Shangri-La về an ninh vùng ở Singapore; từ năm ngoái các nước Đông Nam Á đã yên tâm vì chính phủ Mỹ không bỏ rơi vùng này. Nhưng dù không gây chiến, Trung Quốc vẫn có thể tìm lý do để “cho Việt Nam một bài học” rồi lại rút về ngay, như Đặng Tiểu Bình đã làm trước đây. Nói cho cùng thì ngày nay một cường quốc cũng không cần chiếm đóng một nước khác mà vẫn thiết lập được một chính quyền hoàn toàn nghe theo lời của họ, bằng những phương pháp mua chuộc, dọa nạt!

Vì vậy, chúng ta cần phải chứng tỏ cho cả thế giới thấy nhân dân Việt Nam không chấp nhận quyền bá chủ của Trung Quốc bằng cách phản đối mạnh mẽ những vụ xâm phạm hải phận nước ta. Chính quyền Việt Nam phải bầy tỏ thái độ một cách cứng rắn hơn, không khiếp nhược trước những lời đe dọa của Hoàn Cầu Thời báo. Một cách cụ thể, Đảng Cộng sản Việt Nam phải chính thức rút lại một lá thư mà ông Phạm Văn Đồng đã ký năm 1958, trong đó ông nhân danh một chính phủ Việt Nam tỏ ý hoàn toàn ủng hộ bản “Tuyên bố của Chính phủ Nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa về Lãnh hải” ngày 4 tháng 9 năm 1958. Vì bản Tuyên bố này công nhiên nói Hoàng Sa và Trường Sa thuộc về Trung Quốc. Lá thư trên là một hành động phản quốc, mà hậu quả là từ đó Bắc Kinh coi Việt Nam như một nước do họ bảo hộ. Phải chấm dứt tình trạng đó!

Chú Thích: Các con số và chi tiết về Đại chiến Thứ Hai trong bài này dẫn từ sách Retribution: The Battle for Japan 1944-45, của Max Hastings, in năm 2009.

Nguồn: Diễn Đàn Thế Kỷ

Nguồn ở đây

Posted in Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa, Đảng CSVN | Leave a Comment »

Sau khi không trả được nợ vào tháng 4-2011, Vinashin đang yêu cầu các chủ nợ xóa bớt 90% các khoản nợ

Posted by hoangtran204 trên 03/06/2011

Ha Ha các công ty tài chánh của nước ngoài đã và đang bắt đầu nếm mùi Công  Ty Quốc Doanh của nhà nước VN là gì.

Năm 2007, Vinashin mượn tiền (qua việc bán trái phiếu cho các công ty nước ngoài), và nay thì đã đên lúc trả nợ 9% của 3000 tỉ đồng, tức khoảng 270 tỉ (= 13,5 triệu đô la). Nhưng Vinashin đã không trả được món tiền nầy vào tháng 4 vừa qua. Nay thì Vinashin đành nói thật là xin các công ty xóa bỏ hết 90% các khoảng nợ. Nếu các chủ nợ đồng ý, thì coi như họ sẽ bị mất 90% số tiền mà họ đã cho Vinashin mượn qua việc mua trái phiếu.

Năm 2010, Vinashin cũng không trả nổi 60 triệu đô la tiền trả góp trong khoản tiền bán trái phiếu 600 triệu đô la cũng vào năm 2007. Sau khi bị chủ nợ thúc hối, Vinashin đã khất đến cuối năm sẽ trả. Đến 22-12-2010, Vinashin cũng không trả được số tiền nói trên, nên Vinashin đã khất đến mùa Hè năm nay.   Món nợ nhỏ (13,5 triệu đô la) nói trên mà không trả được, thì chắc Vinashin cũng sẽ xù đẹp món nợ (60 triệu đô la) đến hạn phải trả vào mùa hè nầy cho mà xem.

Vậy mà phó thủ tướng  Nguyễn Sinh Hùng lên truyền hình hôm 23-11-2010, xoen xoét: đến năm 2013, Vinashin sẽ có lời.

Quả là một sự rối loạn giữa các lời tuyên bố mâu thuẩn nhau khi nói về sự thua lỗ của công ty đóng tàu Vinashin.

Vào 7-4-2011, báo chí ở Việt Nam đưa tin TT Nguyễn Tấn Dũng đang ra lệnh điều tra coi có tham nhũng trong công ty Vinashin hay không.

Nhưng điều tra để làm gì vì  chỉ 1 tháng trước đó, hôm 11-3-2011, báo lại đăng:  Vụ Vinashin: Bộ Chính trị quyết định không xử lý kỷ luật

(Dân trí) – Căn cứ kết quả kiểm phiếu và theo quy định của Điều lệ Đảng, Bộ Chính trị đã quyết định không xử lý kỷ luật đối với các tập thể và cá nhân, yêu cầu nghiêm túc rút kinh nghiệm, tiếp tục chỉ đạo tái cơ cấu Vinashin.

Được lời như cởi tấm lòng, bởi vậy công ty Vinashin họp báo tuyên bố: không có tiền trả đâu, xóa nợ 90% đi...Thử hỏi trên cõi đời ô trọc nầy, vào thời đại của internet, có ai bỏ ra 10 đồng cho mượn, mà nay người đi mượn lại bảo: nè, tui chỉ trả lại 1 đồng thôi, còn 9 đồng thì cứ việc coi như đã mất gồi. Ông  Phạm Việt Bắc và các chủ nợ khác bây giờ mới thấm thía: Bắt thang lên hỏi ông trời, đem tiền cho gái có đòi được không.

Thử hỏi có một tổ chức nào mà các thành viện của nó tự viết báo, viết khẩu hiệu dán đầy đường, tự đi ca ngợi mình, tự xưng nào là “quang vinh”, nào là “bách chiến bách thắng”, nào là “còn đảng, còn mình”, chưa hết “quân đội là để bảo vệ đảng”…nghe nổ nhiều quá mà ngay cả đến vợ thằng Đậu giờ đây cũng thấy phát mệt. Nghe nhiều qua đến nổi các chị em bán buôn ngoài chợ nhỏ ví von rằng: các nhân vật ấy cứ như một đám phường tuồng, ra bãi đất trống hươ tay, múa chân, và mồm lải nhải phát biểu như đang diễn tập.

Số khác nói thẳng không cần ví von gì cho mệt: không thể điều hành nền kinh tế theo kiểu chụp giựt, ngắn hạn, theo kiểu “đi tắt đón đường”, rồi cho rằng “làm công tác điều hành cũng như người ra trận. Đánh lâu cũng thắng…”, hoặc: nhờ ơn đảng, ơn bác, ơn chính phủ, em làm y tá lâu năm nên bây giờ đã lên bác sĩ.

——-

Sau khi không trả được nợ vào tháng 4-2011, Vinashin đang yêu cầu các chủ nợ xóa bớt 90% các khoản nợ

Bởi Bloomberg News – 2 tháng 6, 2011 02:24 ET
Tập đoàn Vinashin, công ty của nhà nước đang mắc nợ hơn 4 tỷ đô la, đã yêu cầu  những chủ trái phiếu nội tệ- mà Vinashin đã không thể trả tiền vào tháng 4 vừa qua- xóa 90 phần trăm của số tiền mà Vinashin đã mắc nợ, theo tin của một người đang nắm giữ trái phiếu đã gặp mặt với các giới chức của vinashin tại Hà Nội vào tuần trước đã cho biết.

Các giới chức của Vinashin đã nói với chủ nợ của nhà máy đóng tàu này rằng họ không thể thực hiện bất kỳ khoản tiền thanh toán nào cho đến năm 2015 là sớm nhất, Phạm Việt Bắc, Tổng giám đốc của Quỹ quản lý Sabeco có văn phòng ở tp. HCM, đang nắm giữ 30 tỷ đồng (1,5 triệu USD) trái phiếu của Vinashin, đã cho biết trong một cộc điện thoại phỏng vấn vào ngày hôm qua.

Các khó khăn tài chính của Vinashin  đã đấy lên các câu hỏi về mức độ mà chính phủ Việt Nam sẽ hỗ trợ các doanh nghiệp nhà nước ở mức độ nào, và đang đe dọa làm suy yếu lòng tin của nhà đầu tư  vào VN, khi quốc gia nầy đang có nhằm mục đích vào việc thúc đẩy tư nhân hoá (các công ty).

Vinashin đã không thanh toán được khoản tiền ma lẻ ra nó phải trả góp cho những nhà cho vay quốc tế vào tháng Mười Hai (2010) đã cho thấy rằng việc chính phủ VN hỗ trợ cho các công ty quốc doanh là không có gì được bảo đảm, Moody’s Investors Service (Công ty dịch vụ đánh giá trị tài chánh dành cho các nhà  đầu tư) đã cho biết trong một  báo cáo ra ngày 20 tháng 4, 2011.

“Chính phủ Việt Nam phải mất một thời gian rất lâu để khôi phục lại uy tín của họ với các nhà đầu tư”, ông Christian de Guzman, một phụ tá cho phó chủ tịch của Moody có trụ sở tại Singapore. “Những biến chuyển nầy cho thấy rằng các nhà đầu tư nước ngoài sẽ phải cảnh giác để đối phó với chính phủ Việt Nam và các doanh nghiệp nhà nước.”

Tổng Giám đốc Trương Văn Tuyên của Vinashin đã từ chối bình luận về lời chỉ trích nầy khi công ty truyền thông Blooberg gọi điện thoại đến văn phòng của ông ngày hôm qua. Các cuộc gọi điện thoại đến Chủ tịch công ty Vinashin Nguyễn Ngọc Sự cũng không được trả lời.
Các món nợ của Vinashin

Công ty Vinashin, có đại bản doanh đặt tại Hà Nội, đã gần như sụp đổ với khoản nợ 86 ngàn tỷ đồng vào Tháng Sáu năm 2010, Chính phủ Việt Nam đã cho biết ngày 4 tháng 8.

Chính phủ VN đã cho biết công ty Vinashin hiện nay cần phải thu hẹp lại trọng tâm làm ăn của nó. Trong các năm trước đây Công ty Vinashin đã đa dạng hóa các lãnh vực làm ăn vượt ra ngoài việc đóng tàu để nhảy vào các việc kinh doanh như buôn bán chứng khoán và du lịch.

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã yêu cầu cảnh sát điều tra xem có bất kỳ dấu hiệu tham nhũng nào tại công ty, báo Tuổi Trẻ đã tường thuật vào tháng tư, 2011. Vinashin hiện chiếm tới 80 phần trăm của năng lực đóng tàu trong nước Việt Nam.

Vào ngày 13-4-2011, Vinashin đã không trả được 9% (khoảng 270 tỉ) của món tiền 3000 tỉ đồng, thuộc trái phiếu đáo hạn 10 năm, được phát hành vào  năm 2007, theo lời ông Bắc, tổng giám đốc của công ty tài chánh Sabeco cho biết.

Công ty đóng tàu Vinashin đã yêu cầu các nhà cho vay nước ngoài gia hạn một năm sau khi Vinashin đã không trả nổi 60 triệu đô la vào tháng 12 -2010, đây là tiền trả góp của một khoản vay vốn 600 triệu USD, Chủ tịch Vinashin Nguyễn Ngọc Sự đã cho biết trong tháng Hai.

Kiểm toán “Đã phân loại”

Công ty đóng tàu Vinashin đã tích lũy được tổng số nợ  96,7 ngàn tỉ đồng, trong khi tổng tài sản 92,6 ngàn tỉ đồng, tính tới 31 tháng 12 năm 2009, báo Lao Động đã đăng tin ngày hôm nay, báo nầy trích lời một kiểm toán của Thanh tra Chính phủ.

Vinashin đã nói với sở hữu trái phiếu tại cuộc họp rằng Vinashin sẽ không cung cấp một bản sao của kiểm toán mới nhất của nó như là tài liệu được “phân loại”, ông Bắc cho biết.

Ông Bắc, đã tham dự cuộc họp tại trụ sở của Vinashin cùng với khoảng 20 chủ nợ khác, nói “Tôi rất lấy làm thất vọng. Tôi muốn công ty Vinashin minh bạch (chuyện nầy) cho các chủ nợ của họ. Chúng tôi có quyền được biết. ”

Trái phiếu của Việt Nam đã giảm mạnh vào cuối năm 2010 khi công ty đánh giá tài chánh Moody’s và Standard & Poor’s cắt giảm xếp hạng tín dụng của Việt Nam vào tháng 12 năm ngoái, với một viễn cảnh tiêu cực. Moody’s, đánh giá Việt Nam tụt bốn cấp dưới ở vào hạng B1, Moody trích dẫn các nguy cơ của một cuộc khủng hoảng cán cân thanh toán (thiếu tiền trả nợ), và dự trữ ngoại tệ của VN đã giảm trong khi lạm phát gia tăng và tiền đồng VN đang bị mất giá.

S & P đã lo ngại về hệ thống ngân hàng Việt Nam và xếp hạng Việt Nam vào hạng BB-, mức thứ ba bậc cao nhất không đầu tư.

Nợ chính phủ tăng điểm khi chính phủ chấp thuận một kế hoạch trong tháng hai để chặn đứng lạm phát đang gia tăng nhanh chóng bằng việc  gia tăng lãi suất cao hơn, và thực hiện các biện pháp khác để làm gia tăng giá trị tiền đồng. Tỷ lệ lạm phát của Việt Nam (năm này qua năm khác) vào tháng 5-2011 đã đạt tới 19,78 phần trăm, cao nhất trong hơn hai năm gần đây, theo Tổng cục Thống kê ở Hà Nội.

Trái phiếu của Việt Nam được đăng trên các báo tài chánh là  tốt nhất ở châu Á năm nay, lời 6,1 phần trăm, theo các chỉ số đã được ghi nhận của ngân hàng HSBC Holdings Plc.

Để liên hệ với phóng viên bài báo này: K. Oanh Ha tại Hà Nội tại oha3@bloomberg.net

Để liên lạc với chủ bút chịu trách nhiệm về bài báo này: Edward Johnson tại ejohnson28@bloomberg.net

Bản dịch 2011@Tran Hoang

Báo Mới ở Hà Nội cũng đăng ở đây

*Nguồn tích dẫn:

Thứ Tư, 24/11/2010, 08:07 (GMT+7)

Tái cơ cấu để Vinashin phục hồi và phát triển

TT – Phó thủ tướng thường trực Nguyễn Sinh Hùng đã khẳng định như trên trong phần giải trình về vấn đề Vinashin trước Quốc hội chiều 23-11.

Phó thủ tướng thường trực Nguyễn Sinh Hùng – Ảnh: Việt Dũng

Phó thủ tướng thường trực Nguyễn Sinh Hùng khẳng định đến thời điểm này, “tư tưởng của toàn bộ công nhân Vinashin đã ổn định từ trên xuống dưới”. Ông cho biết: hiện Ủy ban Kiểm tra trung ương đang tiếp tục làm rõ trách nhiệm của Thủ tướng, các phó thủ tướng, các bộ trưởng trong vụ việc ở Vinashin và kết quả kiểm điểm trách nhiệm sẽ công bố trước công luận.

“Chúng ta sẽ thành công”

Phó thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng nói như vậy khi kết thúc phần giải trình. Theo ông, VN phát triển ngành công nghiệp đóng tàu là phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế biển và Vinashin đã phát triển nhanh chóng về quy mô trong giai đoạn 2005-2006 – là thời kỳ hoàng kim của ngành hàng hải và ngành đóng tàu, nhưng “không ngờ rằng đến năm 2008-2009 Vinashin lâm vào tình trạng phá sản”.

“Khi Vinashin lâm vào tình trạng phá sản và chúng ta chọn phương án tái cơ cấu, đây là thời điểm hết sức khó khăn. Nhưng nếu không tái cơ cấu thì có nghĩa là cơ bản cơ sở vật chất đó trở thành đống sắt vụn, còn nếu tái cơ cấu thì nó sẽ phục hồi, phát triển và tự trả được nợ” – ông Hùng nói. Sau nửa năm tái cơ cấu và đặc biệt là ba tháng gần đây – theo Phó thủ tướng – các hợp đồng được hồi phục và công nhân đã có việc làm trở lại với thu nhập từ 2,8 triệu đồng/tháng trở lên.

“Năm nay sẽ đóng được 66 con tàu, doanh thu khoảng 600 triệu USD, cộng với thu từ công nghiệp phụ trợ nữa là có doanh thu khoảng 14.000 tỉ đồng. Sang năm có thể ký thêm được 110 hợp đồng đóng tàu. Tất cả 26 con tàu chuyển sang Vinalines thì 23 con đã hoạt động, có thể thu được 1.400 tỉ đồng trong năm nay. Còn lại ba tàu nữa, một con đã tháo dỡ và bán một phần rồi, một con sẽ sửa chữa được, còn tàu Hoa Sen đang cho thuê mỗi năm thu được khoảng 4 triệu USD vì nếu bán bây giờ sẽ lỗ nặng” – ông Hùng sơ bộ tình hình.

Về khả năng trả nợ, Phó thủ tướng nói: “Sản xuất kinh doanh phục hồi, đóng được tàu, tàu bán được thì có tiền trả nợ, trả nợ ngắn hạn, trả nợ dài hạn… Còn lại khoảng 20% các công ty phải tái cơ cấu bằng nhiều phương pháp, hoặc là cổ phần hóa, hoặc là bán, hoặc là bán nợ, hoặc là cho thuê để thu hồi vốn nhưng không bán đổ bán tháo. Tôi tin là có khoản sẽ mất, có khoản sẽ có lời nhưng về tổng thể là có lời. Nếu thị trường vận tải biển phục hồi, giá vận tải tăng lên, giá đóng tàu tăng lên thì phục hồi nhanh. Nếu chúng ta quản trị tốt và làm ăn có hiệu quả thì trước mắt năm nay lỗ, năm sau lỗ ít, năm 2012 có thể giảm lỗ và không lỗ nữa, năm 2013 có thể có lãi. Như vậy Vinashin có khả năng trả nợ. Con số 104.000 tỉ đồng tài sản và 86.000 tỉ đồng nợ thì đường đi của nó là như thế”.

Đối với những sai phạm và trách nhiệm trước vụ việc Vinashin, ông Hùng nêu rõ người làm trái, vi phạm sẽ phải xử lý theo quy định của pháp luật, cơ quan điều tra đang làm.

Sẽ xem lại cơ chế quản lý tập đoàn

Trước đó, trả lời các chất vấn về vụ Vinashin nợ 86.000 tỉ đồng, Bộ trưởng Bộ Tài chính Vũ Văn Ninh và Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải Hồ Nghĩa Dũng cho biết trước năm 2007 Vinashin hoạt động vẫn hiệu quả, ký được hợp đồng đến 12 tỉ USD. Hai bộ trưởng đều dẫn các quy định pháp luật, khẳng định tập đoàn được tự chủ trong huy động vốn dưới hình thức phát hành trái phiếu và phải tự chịu trách nhiệm hoàn trả, đảm bảo hiệu quả sử dụng vốn.

Luật cũng khẳng định nhiều quyết định đầu tư tập đoàn không phải báo cáo với bộ chủ quản, bộ chức năng. Vì vậy trả lời việc đầu tư dàn trải của Vinashin, ông Ninh và ông Dũng cùng cho rằng “Bộ không phải là người duyệt phương án đầu tư nên quyết định cụ thể về đầu tư, vay vốn của doanh nghiệp không phải thẩm quyền của chúng tôi”.

Ông Ninh cho hay Bộ Tài chính đã phát hiện, lập biên bản yêu cầu thực hiện kiến nghị thanh tra nhưng “có việc Vinashin thực hiện, có việc chỉ thực hiện một phần, cũng có những việc chưa hoặc không thực hiện”. Nhận thấy đã làm đúng với Luật thanh tra, nhưng Bộ trưởng Vũ Văn Ninh cũng khẳng định luật này có bất cập vì “phát hiện nhưng không thể buộc doanh nghiệp phải thực thi kiến nghị. Chúng tôi đang nghiên cứu để kiến nghị bổ sung”.

Sáng nay, Thủ tướng trả lời chất vấnTheo chương trình làm việc của Quốc hội, sáng nay (24-11) Quốc hội sẽ nghe Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng làm rõ thêm một số vấn đề trong các phiên chất vấn bốn bộ trưởng hai ngày qua, đồng thời Thủ tướng sẽ trực tiếp trả lời chất vấn các đại biểu Quốc hội. Trước đó, theo tổng hợp của đoàn thư ký kỳ họp, đã có gần 30 câu hỏi chất vấn Thủ tướng. Phiên chất vấn sẽ được truyền hình và phát thanh trực tiếp, bắt đầu từ 8g.Về phiên chất vấn, trả lời chất vấn hôm 23-11, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng nhận định các bộ trưởng nắm được rất kỹ, chắc và trả lời các câu hỏi cặn kẽ, tỉ mỉ, chu đáo “nhưng Bộ trưởng Vũ Văn Ninh trả lời hơi dài”. Ông đánh giá “Bộ trưởng Hồ Nghĩa Dũng trả lời rất chân thành”. Riêng về phần của Phó thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng khi giãi bày kế hoạch phục hồi Vinashin, ông Trọng nói “nếu được làm như vậy thì rất tốt”.Nói chung về việc điều hành của các bộ trưởng, ông bày tỏ: đương nhiên Quốc hội cũng như nhân dân hết sức chia sẻ, thông cảm những khó khăn chung của cả nước cũng như của các ngành.

K.H. – V.V.T.

LÊ KIÊN – CẦM VĂN KÌNH

——–

—-

Vinashin Asks Bondholders to Write Off 90% of Debt After Default in April

By Bloomberg News – Jun 2, 2011 2:24 AM ET

Vietnam Shipbuilding Industry Group, the state-owned company with more than $4 billion of debt, asked holders of a local-currency bond it defaulted on in April to write off as much as 90 percent of the money owed, according to a bondholder who met with company officials inHanoi last week.

Officials told creditors the shipyard is unable to make any payments until 2015 at the earliest, Pham Viet Bac, general director of Ho Chi Minh City-based Sabeco Fund Management, which holds 30 billion dong ($1.5 million) of Vinashin bonds, said in a phone interview yesterday.

The shipbuilder’s financial difficulties have raised questions about the extent Vietnam’s government will support state-owned enterprises, threatening to undermine investor confidence in the nation as it aims to accelerate privatization. A missed payment by Vinashin to international lenders in December showed government support for state companies isn’t guaranteed, Moody’s Investors Service said in an April 20 report.

“The Vietnamese government has a long way to go in terms of restoring its credibility with investors,” said Christian de Guzman, a Singapore-based assistant vice president at Moody’s. “Investors will be wary of dealing with the government and state-owned enterprises, given these developments.”

Vinashin Chief Executive Officer Truong Van Tuyen declined to comment when reached by phone at his office yesterday. Calls to Chairman Nguyen Ngoc Su weren’t answered.

Vinashin Debts

The Hanoi-based company almost collapsed with debts of 86 trillion dong as of June last year,Vietnam’s government said Aug. 4. The government has said the company needs to narrow its focus after diversifying beyond shipbuilding into businesses including securities and tourism.

Vietnam's Prime Minister Nguyen Tan Dung

Nguyen Tan Dung, Vietnam’s prime minister, has asked police to investigate whether there are any signs of corruption at the shipbuilder. Photographer: Nelson Ching/Bloomberg

Prime Minister Nguyen Tan Dung asked police to investigate whether there are any signs of corruption at the company, Tuoi Tre newspaper reported in April. Vinashin accounts for as much as 80 percent of Vietnam’s domestic shipbuilding capacity.

Vinashin failed to pay a 9 percent coupon due April 13 on a 3 trillion dong, 10-year bond issued in 2007, according to Sabeco’s Bac.

The shipbuilder asked foreign lenders for a one-year extension after missing a $60 million principal payment in December on a $600 million syndicated loan, Chairman Su said in February.

‘Classified’ Audit

The shipbuilder has amassed total debts of 96.7 trillion dong, while total assets were 92.6 trillion dong as of Dec. 31, 2009, Lao Dong newspaper reported today, citing an audit by the Government Inspectorate.

Vinashin told bondholders at the meeting it wouldn’t provide a copy of its latest audit as the document is “classified,” said Bac.

“I’m very disappointed,” said Bac, who attended the meeting at Vinashin’s headquarters along with about 20 other creditors. “I want the company to be transparent to its creditors. We have the right to know.”

Vietnam’s bonds slumped at the end of 2010 as Moody’s and Standard & Poor’s cut the nation’s credit rating in December with a negative outlook. Moody’s, which rates Vietnam four levels below investment grade at B1, cited the risk of a balance of payments crisis and a drop in foreign reserves as inflation accelerates and the currency weakens.

S&P has concerns over Vietnam’s banking system and ranks the country at BB-, the third highest non-investment grade level.

Government debt rallied as the government approved a plan in February to tackle quickening inflation with higher interest rates and implemented measures to boost the local currency’s value. Vietnam’s year-on-year inflation rate in May reached 19.78 percent, the highest in more than two years, according to the General Statistics Office in Hanoi.

Vietnam’s dollar bonds are posting the best performance in Asia this year, returning 6.1 percent, according to indexes compiled by HSBC Holdings Plc.

To contact the reporter on this story: K. Oanh Ha in Hanoi at oha3@bloomberg.net

To contact the editor responsible for this story: Edward Johnson at ejohnson28@bloomberg.net

Posted in Nợ của các Tập Đoàn quốc doanh, Đảng CSVN | 9 Comments »

Tổng Giám Mục Saigon kêu gọi Nhà cầm quyền tôn trọng tự do tôn giáo

Posted by hoangtran204 trên 01/06/2011

Philip Blairmythanh dịch

Hồng y Pham Minh Mẫn viết cho Thủ tướng, lên án sự suy đồi từng bước trong các quyền hạn về tín ngưỡng. Luật chính phủ ban hành quy định sự kiểm soát của nhà nước cao hơn, đóng một vai trò độc đoán trong việc cho phép hành đạo. Đó là mối quan tâm của hàng giám mục Việt Nam.

HCM City (AsiaNews) – Hồng y Jean Baptise Phạm Minh Mẫn của giáo phận Sài Gòn đã gửi một lá thư lên Thủ tướng Việt Nam với nhận xét như sau: “Tổng quát, các sửa đổi cho sắc lệnh 22/2005 của chính phủ là một bước thụt lùi lớn so với nguyên bản của nó, Sắc lệnh về Tín ngưỡng và Tôn giáo, và hiến pháp.” Lá thư, được đăng trên VietCatholic News vào ngày 20 tháng Năm, sau khi vị giám mục nhóm họp với các đại diện của tất cả các giáo xứ trong hàng linh mục giáo phận Sài Gòn, bàn về dự luật một tuần trước đó.

Vị giám mục tiếp: “Chủ yếu, các sửa đổi được đề nghị của đạo luật phản ảnh ý định của chính quyền muốn thiết lập lại cơ chế Xin-Cho trong các sinh hoạt tôn giáo. Cơ chế Xin-Cho biến các quyền hợp pháp của công dân thành những đặc ân nằm trong tay các viên chức nhà nước, những người có quyền ban phát qua các thủ tục hành chánh quan liêu.”

Giám mục cảnh giác: “Cơ chế Xin-Cho, vì thế, không những giới hạn quyền tự do của người dân, mà còn biến “nhà nước của dân, do dân và vì dân” thành “một Ông Chủ của đất Nước”, ông chủ nầy nắm trong tay tất cả các quyền hành, phân phát hay giữ lại với dân chúng một cách tuỳ hứng.”

Hàng Giám Mục Việt Nam đã liên tục bày tỏ sự lo ngại rằng tính chất không nhượng bộ của tự do tôn giáo tại Việt Nam còn rất xa rời thực tế vì một “rừng luật” đầy những nhập nhằng và mâu thuẫn. Sự việc chỉ có lợi cho ý đồ khắc chế, giới hạn, và dựa vào đó kiểm soát các cộng đồng tôn giáo.

Thực tế, điều 70 Hiến pháp 1992 của nước CHXHCNVN xác nhận rằng: “Công dân được hưởng tự do về tín ngưỡng và tôn giáo, có thể theo bất cứ đạo nào hoặc không theo đạo. Tất cả mọi tôn giáo là bình đẳng trước luật pháp. Nơi thờ phượng của mọi niềm tin và tôn giáo được luật pháp bảo vệ. Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng và tôn giáo, cũng không ai được lạm dụng tín ngưỡng và tôn giáo để đi ngược lại luật pháp và chính sách của Nhà nước.”

Cụm từ “lạm dụng niềm tin và tôn giáo” là mập mờ và dễ bị điều khiển bằng nhiều cách định nghĩa. Thật vậy, các hoạt động thông thường của tôn giáo, như là việc Thiên Chúa Giáo tham gia vào công bằng xã hội và cổ vũ cho nhân quyền, đã có biết bao lần được xem là “lạm dụng niềm tin và tôn giáo” theo như điều luật.

“Rõ ràng, điều khoản không cho biết bất cứ tiêu chuẩn như thế nào là “lạm dụng”, cũng không nói ai là người có thẩm quyền phán xét một hoạt động cụ thể nào đó có rơi vào định nghĩa này không,” theo lời linh mục Peter Hansen gốc Melbourne, “Sự mập mờ gây tranh cãi, là chủ ý của người viết luật, rằng, quyền quyết định là do ở nhà nước Việt Nam, Giáo hội chính nó không có vai trò gì cả. Đây là lối ngầm cho phép Nhà nước rộng đường hạn chế những sinh hoạt hợp hiến của tôn giáo, và một cách hiển nhiên, đặt ngoài vòng pháp luật bất cứ chuyện gì không ưng ý,” nhà diễn thuyết về Giáo Hội tại Á châu của Australian Catholic Theological College cảnh báo. Hơn nữa, những điều khoản, như luật được tìm thấy trong một lô những điều luật, sắc lệnh về tín ngưỡng và tôn giáo, điển hình là sắc lệnh chính phủ 22/2005 công bố vào ngày 1/3/2005, sắc lệnh chính phủ 26/1999, ban hành ngày 19/4/1999 được dựa theo chỉ thị của Đảng Cộng sản (số 37 CT/TW), phổ biến vào ngày 2/7/1998, có những phân nhánh xa hơn cho sinh hoạt tôn giáo và quyền tín ngưỡng của công dân. Nhiều trong số điều khoản này đã bị chỉ trích là lập ra các trở ngại không chính thức cho tự do tôn giáo thật sự.

Giáo dân Thái Hà làm chứng cho Công lý và Sự thật
Nguồn: TMNNCTH


Cơ bản, những điều khoản như-luật này khẳng định rẳng tất cả các tôn giáo và các giáo phái phải được chính quyền trung ương công nhận để hành đạo một cách hợp pháp.

Nhưng, “Nhà nước chỉ công nhận sự hiện hữu của các tôn giáo chứ không phải vị thế hợp pháp của chúng và quyền trên luật pháp của hàng giáo sĩ. Các giáo sĩ, vì thế, không có quyền công dân như người thường cũng không thể đại diện tôn giáo họ trên luật pháp. Các tổ chức tôn giáo không được đối xử công bằng như các nhóm xã hội khác theo Hiến pháp và luật … Thay vì được vui hưởng các quyền hợp pháp của họ, họ phải xin xỏ phép tắc để tổ chức các lễ hội, để rao giảng về đức tin, để thực hiện lễ khánh thành hay tấn phong,” Hồng Y than vãn.

Thật sự, theo biên bản của hội nghị, do linh mục Maria Lê Quốc Thanh ký, chủ tịch của Uỷ Ban Tổng giáo phận Công Lý và Hoà Bình (Archdiocesan Justice and Peace Commission) mới ra đời, đã bày tỏ nỗi tức giận của những người tham dự bên trong khi mà các sinh hoạt tôn giáo bao gồm các nghi thức tế lễ, phục vụ cầu nguyện, bài thuyết pháp, các lời dạy giáo lý phải có giấy phép thường niên, hoặc được cho phép đặc biệt từng lần một, như việc thu nhận tu sinh phải chấp hành theo quy định của Uỷ ban Sự vụ Tôn giáo Quốc doanh. Các buổi tĩnh tâm và “các hoạt động tôn giáo tương tự” phải theo đúng định chế của nhà nước; các hội họp tôn giáo phải được nhà nước chấp thuận. Báo chí, in ấn, và các xuất bản quan trọng, đặc biệt “các bài báo văn hoá tôn giáo”, là do nhà nước quy định.

Với sự liên hệ cố hữu giữa Vatican và Giáo hội Công giáo toàn cầu nói chung, các điều khoản quy định về liên hệ tôn giáo ngoài nước đặc biệt quan trọng đối với Giáo hội Cộng giáo Việt Nam. Chính phủ Việt Nam đòi hỏi việc thụ phong các chức vị tôn giáo (đặc biệt là Giám mục và Hồng y phải được nhà nước chấp thuận, như vậy trên thực tế nhà cầm quyền có quyền phủ quyết việc phong bổ giám mục. Trong quá khứ đã có rất nhiều lần họ đã xử dụng quyền hạn này để bác bỏ các linh mục do Vatican đề cử.

Dự luật xác nhận rằng các sinh hoạt đối ngoại của các tổ chức tôn giáo phải tuân theo các chính sách và mệnh lệnh của Nhà nước, và các tổ chức này phải thông báo với Uỷ ban Sự vụ Tôn giáo về bất cứ bài bản chỉ dẫn nào nhận được từ “các tổ chức và các nhân vật tôn giáo ngoại quốc”, và rồi tuân thủ với bất cứ điều lệnh nào do Uỷ ban ban hành. Những thư mời từ “các cá nhân và tổ chức tôn giáo ngoại quốc” phải được chấp thuận của Uỷ ban Sự vụ Tôn giáo. Người ngoại quốc muốn tham dự các sinh hoạt tôn giáo tại Việt Nam phải đăng ký với các Uỷ ban Nhân dân tại địa phương, và bất cứ trợ giúp nào từ các tổ chức tôn giáo nước ngoài phải được Uỷ ban Sự vụ Tôn giáo cho phép.

Đạo luật về Tín ngưỡng và Tôn giáo ban hành vào 18/6/2004 xác minh rằng “các tài sản hợp pháp của tất cả các tôn giáo đều được luật pháp bảo vệ”. Tuy nhiên, “trên thực tế, không có bất cứ một văn bản pháp luật nào đặt điều khoản rõ ràng những tài sản này được bảo vệ như thế nào và chủ quyền của các cộng đoàn này được bảo vệ ra sao,” vị giám mục đặt vấn đề. “Đó là nguyên nhân hàng loạt cơ sở và đất đai đã bị cưỡng chiếm một cách bất công,” ông thêm. Phản ánh quan điểm của các giám mục Việt Nam trong tuyên bố ngày 25/9/2008, vị Hồng y nhận định rằng luật đất đai và tài sản là lỗi thời và mâu thuẫn, chúng cần phải được điều chỉnh. Chính phủ Việt Nam cần phải tôn trọng quyền tư hữu như đã được minh định trong bản Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền: “Mọi người đều có quyền làm chủ tài sản riêng một mình cũng như là liên kết chủ quyền chung với người khác.” và “Không ai bị tước đoạt tài sản của họ một cách độc đoán.”

Tóm lại, điều Hồng y Jean Baptise Phạm Minh Mẫn chỉ trích tu chính án 5 của sắc lệnh 22/2005 là trong khi vẫn duy trì tất cả những cấm đoán nghiêm ngặt trước đó về tự do tôn giáo, nó còn đòi hỏi thêm các thủ tục hành chánh của cơ chế “Xin-Cho.”

Để kết thư, Hồng y đã nhấn mạnh rằng Cộng đồng Công giáo Việt Nam “tha thiết mong mỏi việc xây dưng hệ thống pháp luật hướng đến sự thăng tiến của dân, vì dân để đất nước có thể phát triển được bền vững.” Ông cẩn trọng nhắc nhở nhà cầm quyền Việt Nam rằng, “Tương tự, để luật pháp được tôn trọng, cần dũng cảm thay đổi định kiến, tôn trọng sự thật khách quan, và thay đổi từ những căn bản của luật pháp, chứ không chỉ dựa trên các qui định hay nghị định của chính phủ.”

Nguồn


05/23/2011 13:26
VIETNAM
Archbishop of Saigon calls on government to respect religious freedom
by Philip Blair
Cardinal Phnam Minh Man writes to the Prime Minister, denouncing a gradual deterioration in the rights of the faithful. Draft government legislation stipulates greater State control, acting in an arbitrary manner in granting of the practice of worship. The concern of the Vietnamese bishops.Ho Chi Minh City (AsiaNews) – ““Overall, the fifth draft amendments for the Government Decree 22/2005 is a huge retrograde step compared to the original one, the Ordinance on Beliefs and Religions, and the Constitution,” remarked Cardinal Jean Baptise Pham Minh Man of the Archdiocese of Saigon in a letter to the Vietnamese Prime Minister. The letter, published on VietCatholic News on May 20, was issued after the prelate had convened representatives of all dioceses in the Ecclesiastical Province of Saigon to a conference on the draft bill a week earlier.

“Essentially,” the prelate went on, “the proposed amendments of the decree reflect the desire of the government to re-establish the mechanism of Asking and Granting in religious activities. The Asking and Granting process turns the legitimate rights of citizens into privileges in the hands of government officials who would grant or withheld them to people through bureaucratic procedures.”

“The mechanism of Asking and Granting, hence, does not only eliminate the freedom rights of people, but also turns a ‘government of people by people and for people’ in to a ‘Master of the country’ who holds in his hands all the rights, and grants or withholds them to people at his random mood swings,” he warned.

Bishops in Vietnam have repeatedly voiced their concerns that the uncompromised nature of religious freedom in Vietnam is still very far from reality due to a ‘jungle of law’ full of ambiguities and contradictions which serves mainly for intents of regulating, circumscribing, and hence controlling religious communities.

Indeed, Article 70 of the 1992 Constitution of the Socialist Republic of Vietnam provides that “the citizen shall enjoy freedom of belief and religion; he can follow any religion or follow none. All religions are equal before the law. The places of worship of all faiths and religions are protected by the law. No one can violate freedom of belief and of religion, nor can anyone misuse beliefs and religions to contravene the law, and State policies.”

The phrase ‘misuse of beliefs and religions’ is indeterminate and susceptible of many interpretations. In fact, ordinary religious functions, such as the Catholic engagement in social justice and advocacy for human rights, have had every chance to be regarded as a ‘misuse of beliefs and religions’ under the Article.

“Certainly, the Article provides no criteria as to what is considered a ‘misuse’, nor does it state who is to be the arbiter of whether a particular activity falls within the definition,” said Melbourne based Fr. Peter Hansen, “Arguably, it was the constitutional drafters’ intent that the determinative power rest with the Vietnamese state, with the Church itself having no role to play. This potentially grants to the state the effective capacity to circumscribe what constitutes legitimate religious activity, and axiomatically, to place outside the bounds of legitimacy whatever it finds displeasing,” the lecturer on history of the Church in Asia of Australian Catholic Theological College warned. Moreover, quasi-legislative provisions found in a series of ordinances, and decrees on Beliefs and Religions, typically the Government Decree 22/2005 promulgated on March 1, 2005, Government Decree 26/1999, issued on 19 April 1999 which is based on a directive of the Communist Party (No.37 CT/TW), circulated on 2 July 1998, have further ramifications for the practice of religion and citizens’ religious rights. Many of these provisions have drawn criticism as constituting a de facto impediment to true religious freedom.

Fundamentally, these quasi-legislative provisions state that all religions and religious denominations must seek the recognition of the central government in order to operate legally.

But, “the state only recognises the existence of religions not their legal status and their clergy’s legal rights. Religious clergy, therefore, are neither entitled to citizen’s rights as others nor able to legally represent their religion. Religious organisations are not entitled to a legal status as other social groups according to the Constitution and the law… Instead of being able to enjoy their legitimate rights, they have to beg for permissions to held religious ceremonies, to preach their beliefs, to carry out formation and ordination,” lamented the Cardinal.

Indeed, the attached minute of the conference, signed by Fr. Joseph Maria Le Quoc Thanh, the president of the newly born Archdiocesan Justice and Peace Commission, showed the forum participants’ frustration that religious activities including liturgies, prayers services, sermons, catechetical teachings must be licensed annually or given specific permission per event whilst admission into monastic life must conform to the stipulations of the State Religious Affairs Committee. Retreats and ‘similar religious activities’ must be in accordance with government regulations; religious conferences must have state approval. The printing, publication, and the importation of publications, especially ‘religious cultural articles’, are regulated by the state.

Given its particular connection to the Vatican and the universal Catholic Church in general, the provisions regulating foreign religious involvement are of particular importance to the Vietnamese Catholic Church. Vietnam government requires that the bestowal of religious titles (bishop, cardinal, in particular) must have its approval, thus providing a de facto government veto over episcopal appointments. It has on many occasions in the past exercised that veto in rejecting candidates proposed by the Vatican.

The draft bill maintains that religious organisations’ international activities must comply with state policies and precepts, and such organisations must advise the Religious Affairs Committee of any instructions received from ‘foreign religious organisations’, and then comply with any instructions issued by the committee. Invitations to ‘foreign religious organisations and individuals’ must be approved by the Committee for Religious Affairs. Foreigners wishing to undertake religious activities in Vietnam must register with local People’s Committees, and any aid received from foreign religious organisations must be approved by the State Religious Affairs Committee.

The Ordinance on Beliefs and Religions promulgated on June 18, 2004 states that “legitimate properties of all faiths and religions are protected by the law”. However, “in reality, there has been no single legal document stipulating clearly how they are protected and how the ownership rights of religious communities are protected,” the prelate challenged. “That’s why a series of premises and land has been unjustly seized,” he added. Echoing the viewpoints of Vietnamese bishops in their statement on Sep. 25, 2008, the Cardinal stated that the land and property laws are out-dated and inconsistent, they ought to be revised. Vietnamese government needs to take the right to own private property into consideration as stated in the Universal Declaration of Human Rights: “Everyone has the right to own property alone as well as in association with others.” and “No one shall be arbitrarily deprived of his property.”

In brief, the fifth draft amendments for the Government Decree 22/2005, as criticised by Cardinal Jean Baptise Pham, whilst maintaining all harsh previous restrictions on religious freedom, requires more administrative procedures of ‘request for permission’.

The Cardinal concluded his letter by asserting that the Vietnamese Catholic community “earnestly want to see the construction of a legal system that is progressing for the advancement of the people, by the people in order for the country to develop with stability” He cautiously reminded Vietnam government that “By the same token, for the law to be respected, it requires one’s courage to change their mind-set, to respect the objective truth, and change from the fundamentals of the rule of law, rather than just the regulations or the decrees”.

Posted in Tôn Giáo | Leave a Comment »