Trần Hoàng Blog

Archive for Tháng Hai, 2009

Chính Sách Đối ngoại và 4 bề thọ địch của VN 2009

Posted by hoangtran204 trên 28/02/2009

Hồi tháng 4/ 2008, TH đã dịch 2 bài về
_Thành phố Trung Quốc ở Lào
_và hơn 3000 doanh nghiệp của TQ đang hoạt động tại Kampuchea

link
http://blog.360.yahoo.com/blog-KXmUmB85dKcsZwcjeCxWU1TlGZU-?cq=1&p=113

http://blog.360.yahoo.com/blog-KXmUmB85dKcsZwcjeCxWU1TlGZU-?cq=1&p=84

Lúc ấy, TH có đặt câu hỏi là “chừng nào ở Việt Nam sẽ có thị trấn của người Trung Quốc được xây dựng lên?”

Khi nào Hà Nội, Đà Nẵng, Sài Gòn có dự án mở rộng, có dự án thành phố mới….hãy nghĩ đến bài viết nầy

Câu hỏi nói trên đã được trả lời vì gần một năm sau,tháng 2/2009, báo chí VN đã ào ạt đăng tin chính phủ VN đã đồng ý để cho Trung Quốc đem hàng chục ngàn công nhân TQ (chắc chắn là có quân đội) qua VN xây dựng thành phố để khai thác quặng nhôm (bô-xít) tại 2 địa điểm ở Đắc Nông thuộc tỉnh Đắc Lắc và tỉnh Lâm Đồng.

VN đang tứ bề thọ địch, bị bao vây 4 phía:

Ở phía Tây:

1./Thị trấn người Trung Quốc (China Town in Lao) đang được xây dựng từ năm 2007, diện tích 16 km vuông, China Town được xem là lớn nhất thế giới, nằm sát bên thủ đô Vạn Tượng. Trong khu vực 16 km vuông ấy, dự định sẽ có ít nhất 130 ngàn người TQ làm, và người Lào không được bén mảng vào khu vực ấy.

Vị Phó Thủ Tướng Lào hiện nay có cha là người Lào, mẹ là người Trung Quốc đã giúp đỡ công khai tất cả các dự án với Trung Quốc. TQ xây dựng tất cả các đường sá và cầu cống tại Lào trong hơn 10 năm qua. (xem link ở trên)

Và nếu có xảy ra một cuộc đụng độ với VN trong tương lai, quân đội TQ từ thành phố Nam Vang của Lào sẽ ngồi lên xe và chuyển thẳng đến Thành Phố Vinh của VN chỉ 3-4 giờ xe chạy.

Vùng thượng nguồn sông Cửu Long từ TQ chảy qua Lào hiện cũng đã được TQ khai thông hai bờ cho rộng hơn để thuyền chở “hàng hóa” và người từ TQ đổ vào Lào. (nhấp chuột vào 2 link nói trên)

2./các thị trấn người TQ ỏ khắp Kampuchea : kể từ 1998 cho đến nay, ở Kampuchea đã có hơn 3000 doanh nghiệp người Trung Quốc đang làm cầu đường, nhà máy điện, các hãng sản xuất…nắm hết nền kinh tế Kampuchea. (xem link ở trên)

3./Ở tây nguyên VN, thuộc tỉnh Lâm Đồng (Đà lạt) và Đắc Nông thuộc tỉnh Đắc Lắc, hai thành phố China town chắc chắn rồi sẽ được xây dựng lên cho 10 ngàn-20 ngàn công nhân TQ ăn ở và khai thác mỏ nhôm (Bô-xít). Báo chí VN và blogger trên mạng đăng hàng trăm bài về chuyện chính phủ VN đã đồng ý cho TQ khai thác quặng nhôm ở 2 tỉnh Lâm Đồng và Đắc Lắc từ cuối năm 2008.

Hiện nay, tháng 2, năm 2009, Trung quốc tuyên bố công khai trên báo ngoại quốc là họ sẽ kiếm cách có được hợp đồng xây dựng nhà máy điện hạt nhân ở tỉnh Bình Thuận (vùng Phan Rang, Phan Rí).

Tiến trình xây dựng nhà máy điện nguyên tử ở Mỹ thường mất 5 năm để tìm hiểu, khảo sát địa thế, nghiên cứu nguy cơ hạt nhân ảnh hưởng lên môi trường, và mất thêm 5 năm để xây dựng. Các lãnh tụ của VN hiện nay đang muốn có nhà máy điện hạt nhân hoạt động khoảng năm 2020, nhưng thay vì dùng hợp đồng với Mỹ, Nhật, để được an toàn về quốc phòng, thì họ lại đang có ý chọn TQ. (Có thể TQ gạ cho VN vay tiền lãi suất cực thấp để làm nhà máy điện hạt nhân).

Chắc chắn rồi đây báo chí VN sẽ không được loan tải tin tức về số lượng 10-20 ngàn người TQ nầy. Chắc chắc người VN sẽ không được bén mảng lại gần để dòm ngó. (và những vũ khí quân đội sẽ được đưa sẵn vào đây nằm đó chờ đợi trong 10 năm, đến 2018, hoặc chờ đợi một biến cố gì đó…ở VN)

Ở Phía Đông:

4./TQ dã và đang xây dựng phi trường, căn cứ quân sự ở hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa, và căn cứ tàu ngầm ở đảo Hải Nam chắc chắn chỉ để tấn công VN bên sườn phía Đông

Ở phía Nam:

5./Xây dựng căn cứ hải quân và lục quân nhưng trá hình là doanh nghiệp xuất khẩu hàng hóa từ Kampuchea về TQ. TQ đang đầu tư 500 triệu đô la vào hải cảng Sihanouk Ville vào năm 2008, hải cảng nầy nằm ở phía Nam Kampuchea (ngang mũi Cà Mau, vùng Kiên Giang, Rạch Giá). Kampuchea có sản xuất hàng hóa được cái gì đâu mà cần bỏ tiền vào đâu tư vào hải cảng lớn như thế? từ 1995 đến nay, ai ai cũng biết là kinh tế mạnh nhất của Kampuchea là sản xuất hàng gia công may mặc, vải, áo quần, giày, mũ qua Mỹ và Châu Âu.

Ở phía Bắc:

6./ Hơn 200 ngàn-400 ngàn quân đội của TQ đang ém quân đóng dọc theo các tỉnh Quãng Đông, Quãng Tây và Vân Nam của TQ, sát với biên giới với VN. Họ sẽ xây dựng (rất kiên cố) các đồn bót tại tất cả các cao điểm và các ngọn núi vừa chiếm được trong cuộc hoàn thành cắm cột mốc biên giới tháng 2/2009.

Các cao điểm vừa chiếm được qua hiệp định biên giới 31-12-2008 nầy đã làm cho TQ có ưu thế quân sự rất lớn: chế ngự và nhìn vào các thị trấn VN cách xa đó 20-30 km, nghĩa là tất cả vùng nầy ở phía VN đều nằm trong tầm bắn (30 km) của đại bác 130 mm của TQ đặt trên các cao điểm nầy.

Đây là vùng cao điểm có ý nghĩa chiến lược và chiến thuật rất quan trọng. Một trong các cao điểm ấy là núi Lão Sơn (Lao San) mà bộ đội VN và TQ đã đánh nhau chí tử từ 1988-1992 để thay phiên dành nhau và chiếm giữ các cao điểm nầy. Cuối năm 1991, bộ đội VN còn giữ cao điểm này, nhưng nay thì các nhân vật ngồi
ở Hà Nội đã yêu cầu bộ đội VN rút lui, để nhường toàn bộ vùng núi Lão Sơn (Lao san) nầy cho TQ. Theo báo quân đội của TQ, khoảng 4000-6000 bộ đội VN và cũng khoảng cùng con số đó của quân đội TQ đã nằm lại mãi mãi ở núi Lão Qua trong cuộc chiến kéo dài 4 năm 1988-1992 (theo tài liệu của phía quân đội TQ đăng tải trên tạp chí của họ và được dịch qua tiếng Mỹ.)

Mới đây, tháng 2/ 2009, Trung Quốc đang đệ trình dự án cho để đấu thầu xây dựng 2 NHÀ MÁY ĐIỆN NGUYÊN TỬ công suất mỗi cái là 1000 MW, tại tỉnh Ninh Thuận trung phần Việt Nam,.

Một viên chức cao cấp của Trung Quốc cho biết vào cuối tháng 1/2009, hãng China Guangdong Nuclear Power Group (CGNPG) đã và đang ở trong tiến trình đàm phán nhiều lần với chính phủ VN và đang chờ đợi sự chấp thuận của phía VN để cho xây dựng nhà máy điện nguyên tử.

Thế là xong, VN đang bị 4 phía bị bao vây, nay có thêm 2 trái bom nguyên tử ở khu vực trung phần VN nữa là xong. Không biết người VN sẽ nghĩ sao với những một nhà nước luôn luôn tự xưng là đỉnh cao trí tuệ của loài người.

Một mặt, nhà nước VN khen ngợi ra rả là tình anh em đồng chí với TQ là quí báu, và đã ký thêm hiệp định chia đất đai của VN cho TQ ở vùng biên giới phía Bắc vào cuối tháng 12/ 2008!

Ngộ nghĩnh một điều là hiệp định biên giới 31-12-2008 ngoài mặt nói là bình đẵng, mà thực tế nhìn trên bản đồ do chính phủ VN đưa ra, thì ai cũng thấy chính quyền VN ở Hà Nội đang chia cắt phần đất đai bên trong biên giới của VN cho TQ, còn đất đai phía TQ thì không hề chia cho phía VN!

Hiệp định biên giới kiểu ấy thì chẳng khác gì thằng hàng xóm phía sau nhà mình nhảy qua hàng rào nhà mình, xây một hàng rào mới. Sau đó thằng hàng xóm bảo người nhà của mình ngồi xuống bàn và đòi mình ký xác nhận với nó rằng: kể từ nay, hàng rào mới là hàng rào ngăn cách 2 khu nhà. Điều ngạc nhiên và đau lòng là nhà nước VN vui vẻ và tuyên bố hiệp định 31-12-2008 là một thắng lợi!)

VN đang bị bao vây cả 4 hướng đông, tây, nam, bắc và đang bị TQ xâm nhập vào 2 tỉnh cao nguyên Đắc Lắc và Lâm Đồng, và đang hăm he hiện diện xây nhà máy điện nguyên tử ở tỉnh Bình Thuận (Ninh Thuận). TQ làm được tất cả những điều ấy là do sự yếu hèn, sự tiếp tay và giúp đỡ của nhà nước VN hiện nay. Vận mệnh của VN chỉ còn chờ từng ngày như là vận mệnh của nước Tây Tạng.

Nổi buồn của TH khi đọc và dịch báo chí nước ngoài là lắm lúc mình nhìn thấy trước, tiên đoán trước được các diễn tiến sắp xẩy ra ở VN mà mình chẳng biết làm gì được ngoài chuyện lên tiếng báo động.

*Rồi một ngày nào đó, chính phủ VN sẽ xây thêm nhà mồ, và vinh danh các chiến sĩ TQ đã giải phóng dân tộc ta giống như vậy nè (có 40 chục nghĩa trang vinh danh quân đội Trung Quốc ở các tỉnh phía Bắc, một khách du lịch người TQ đã chụp hình, đăng báo, và được đưa lên mạng trong blog dưới đây

http://blog.360.yahoo.com/blog-KMd8BGwhaa8mtAF4pgc8Gaj7LfT3vm0Y?p=5269

Trước khi chấm dứt entry nầy, chúng ta cùng nhau xem lời kêu cứu của hai vị nầy 2009:

Bauxit Tây Nguyên:

Thư cuả cựu Thiếu Tướng Nguyễn Trọng Vĩnh

Kính gửi: Các đồng chí uỷ viên Bộ Chính Trị,

đồng kính gửi: Thủ Tướng và các Phó Thủ Tướng Chính Phủ.

Đối Thoại: Ông Nguyễn Trọng Vĩnh tác giả lá thư này là cựuThiếu tướng, chính ủy Quân khu 4 miền Bắc trước 1975 và là cựu Đại sứ Việt Nam tại Bắc Kinh giai đoạn 1974 -1989.

Kính thưa các đồng chí,

Lâu nay tôi không có thông tin, mãi đến gần đây được đọc thư của Đại tướng Võ Nguyên Giáp và hàng trăm ý kiến không đồng tình của các nhà khoa học, cán bộ và người dân ở khắp Bắc – Trung – Nam, tôi mới biết ta đồng ý cho Trung Quốc khai thác bauxit ở Tây Nguyên. Nguy hiểm quá! Tôi cũng thấy những nguy hại như mọi người đã phát biểu: tàn phá môi trường sinh thái, xâm hại rừng nguyên sinh, nguy hại cho đời sống của đồng bào dân tộc người Thượng, lưu độc cho các dòng sông phát nguyên hoặc chảy qua Tây Nguyên, ảnh hưởng rất xấu cho đời sống của người dân Nam bộ sống dọc hai bờ sông Đồng Nai, có thể ảnh hưởng đến các công trình thuỷ điện phía Nam. Điều đáng lo hơn cả là an ninh quốc giạ Chúng ta đều biết Trung Quốc xây dựng căn cứ hải quân hùng mạnh ở Tam Á đảo Hải Nam, nói thẳng ra là không phải để chống kẻ thù xâm lược nào, mà là đe dọa Việt Nam và sẵn sàng chờ thời cơ thôn tính nốt Trường Sa của chúng ta, sau khi đã nhanh tay chiếm Hoàng Sa từ tay Chính quyền Sài Gòn. Nay lại để Trung Quốc khai thác bauxit ở Tây Nguyên thì sẽ có năm, bảy nghìn hoặc một vạn công nhân hay quân nhân Trung Quốc đến cư trú và hoạt động tại đây, sẽ hình thành một “thị trấn Trung Hoa”, một “căn cứ quân sự” trên địa bàn chiến lược vô cùng xung yếu của chúng ta (vũ khí đưa vào thì không khó gì). Phía Bắc nước ta, trên biển có căn cứ hải quân hùng mạnh, phía Tây Nam nước ta có căn cứ lục quân trang bị đầy đủ thì độc lập, chủ quyền mà chúng ta đã phải đổi bằng hàng triệu sinh mạng cùng xương máu sẽ như thế nào?!

Về hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, chúng ta có đầy đủ căn cứ lịch sử và pháp lý, còn Trung Quốc thì không. Vậy mà báo chí Trung Quốc dựng ra chứng cứ, luôn công
khai xí hai quần đảo đó là của họ. Quốc vụ viện Trung Quốc (chính phủ) công khai công bố quyết định lập huyện Tam Sa. Trung Quốc có nhiều hành động rất công khai mà lại dỗ chúng ta im lặng không đưa vấn đề ra công khai, thật là vô lý. Chúng ta muốn sống hòa bình hữu nghị với Trung Quốc, tôi cũng muốn thế. Nhưng hữu nghị cũng phải đấu tranh thích hợp để bảo vệ lợi ích chính đáng của Tổ Quốc ta. Nếu lãnh đạo chưa tiện lên tiếng công khai thì cứ để báo chí, các nhà khoa học lịch sử đưa ra chứng lý, cứ để cho quần chúng biểu tình hoà bình, phản đối khi lãnh thổ Quốc gia bị xâm phạm, không nên dập đi tinh thần yêu nước của họ.

Đành rằng các đồng chí có quyền, muốn làm gì cũng được, quyết định thế nào cũng được, nhưng cũng nên quan tâm dư luận, lắng nghe những lời phân tích lợi, hại, phải, trái mà suy nghĩ cân nhắc. Từ xưa đến nay, ở triều đại nào cũng vậy, chủ trương, chính sách ích quốc, lợi dân thì được dân ủng hộ, chủ trương chính sách sai trái tổn quốc, hại dân thì dân oán. Dân oán, mất lòng tin thì khó yên ổn và thịnh vượng được. “Quan nhất thời, dân vạn đại”, “vua cũng nhất thời, dân vạn đại”.

Thưa các đồng chí,

Trên đây là những lời nói thẳng, tâm huyết của một đảng viên già 70 tuổi Đảng, đã gần đất xa trời, mong được các đồng chí xem xét.

Kính chào,

(đã ký)

Nguyễn Trọng Vĩnh

Địa chỉ: Số nhà 23, Ngõ 5, Phố Hoàng Tích Trí, Phường Kim Liên, Quận Đống Đa, Hà Nội

________________________________________________________

nguồn: http://doi-thoai.com/baimoi0209_330.html

Advertisements

Posted in Uncategorized | 4 Comments »

Giáo Dục Thầy Giáo cần Cải Thiện mình trước

Posted by hoangtran204 trên 27/02/2009

Thứ Năm, 26/02/2009, 07:55 (GMT+7)

Người thầy không hoàn hảo

TT- Bài viết của một học sinh có nội dung phê bình thầy giáo nhưng lại được gửi thẳng cho thầy giáo đó. Kết cục như thế nào? Thầy giáo đã rất dũng cảm công nhận: nười xưa có câu “ai khen ta là bạn ta, ai nịnh ta là kẻ thù của ta, còn ai chê ta là thầy ta”…

Thầy Hoàng Đức Huy và HS lớp 9B1 Trường Nguyễn Khuyến (Nguyễn Minh Thắng đứng đầu tiên từ trái sang) – Ảnh: H.HG.

Thầy giáo Hoàng Đức Huy yêu cầu mỗi học sinh phải có một cuốn tập riêng gọi là “tư liệu văn học”. Mỗi tuần, học sinh sẽ có một tiết ngoại khóa để viết văn vào cuốn tập này. Đề tài có thể tự do, có thể do thầy gợi ý. Bài nào hay sẽ được thầy thưởng tập và đưa lên trang web www.hoangduchuy.com.

Ngoài ra, HS muốn viết thêm về những điều mình quan tâm thì gửi email cho thầy, bài nào hay thầy cũng sẽ thưởng tập và đưa lên trang web. Thầy Huy cho biết: thông qua biện pháp trên mà thầy hiểu học sinh của mình hơn, biết trình độ học văn của các em đến đâu để có cách dạy phù hợp. Và hơn thế, kỹ năng viết văn của các em nâng lên rõ rệt.

Gặp Thắng trong phòng thí nghiệm của Trường Nguyễn Khuyến, chúng tôi hỏi về chuyện bức thư, Thắng cho biết:

– Thầy Huy có lập một trang web riêng về việc dạy và học môn văn. Thầy bảo ai cũng có thể học giỏi văn nếu chịu khó viết, viết chuyện gì cũng được. Bài nào hay sẽ được thầy đưa lên trang web và thưởng tập.

* Vậy tại sao em lại chọn đề tài “Người thầy không hoàn hảo”? Em có nghĩ đến hậu quả xấu sau khi thầy Huy đọc được bài viết này?

– Ý nghĩ đó chỉ thoáng qua thôi. Vì trong khi giảng bài, thầy hay căn dặn tụi em phải thật thà, trước mọi vấn đề phải có ý kiến của riêng mình, thấy người ta nói gì đừng hùa theo cái đó. Em đã đọc nhiều bài viết trên trang web: www.hoangduchuy.com; hầu hết các bạn đều khen thầy dạy hay, thầy dạy giỏi mặc dù các bạn cũng nhận ra khuyết điểm của thầy như em. Bởi vậy em mới quyết định viết một bài nói lên suy nghĩ của mình.

* Rồi sau đó…

– Đọc bài của em xong, tiết sau thầy lên lớp kể cho cả lớp nghe là có bài viết đặc biệt của bạn Minh Thắng, các bạn hãy lên mạng đọc đi. Thầy nói: “Nhân vô thập toàn”, ai cũng có khuyết điểm và thầy cũng thế. Thầy xin tiếp thu những ý kiến phê bình của bạn Thắng. Nói rồi thầy thưởng tập cho em.

Sau sự kiện đó, thầy có vẻ quan tâm đến em hơn, đối xử với học sinh vẫn công bằng và khách quan.

* Bây giờ em có còn ghét môn văn nữa không?

– Em không còn cảm thấy áp lực và không ghét môn văn nữa. Bằng chứng là năm lớp 7, lớp 8 điểm bình quân môn văn của em chỉ dừng ở mức 7, 8 thì học kỳ I năm học này (2008-2009) đã nâng lên 9,1.

“Trong suốt những năm học trước đây, việc học văn đối với tôi gần như là bất đắc dĩ. Mặc dù sức học tại môn này không đến nỗi tệ, nhưng tôi không hề có hứng thú để học. Đặc biệt là ở phần tập làm văn, tôi lại càng khó tiếp thu nổi. Những bài văn của tôi tuy chưa bao giờ dưới trung bình nhưng nó cũng không làm tôi có thiện cảm với việc viết và viết. Đỉnh điểm của sự chán chường này là việc sử dụng sách giải như là biện pháp đối phó “tối ưu”. Và những tiết văn luôn bao trùm không khí im lặng (đến nỗi buồn ngủ) kỳ lạ. Điều tất yếu là môn văn được tôi liệt vào danh sách “những môn học mà chỉ cần học cho có”.

Năm nay là năm học cuối cấp II, một năm học vô cùng quan trọng. Vì thế tôi không muốn phải nhờ vào may rủi tôi mới tốt nghiệp được. Tôi quyết tâm cải thiện những môn sở đoản (hay còn gọi là những môn mà trước đây tôi học cho có). Và môn văn là mục tiêu đầu tiên (vì đây là một trong những môn chính). Tôi đã được “các bậc tiền bối” năm trước rỉ tai về thầy dạy văn năm nay, tức thầy Hoàng Đức Huy.

Và theo như những gì các bậc tiền bối “mách nước” thì tình hình có vẻ khả quan. Tôi bắt đầu mừng thầm trong bụng. Nhưng khi học tiết đầu tiên với thầy, “niềm tin chiến thắng” của tôi vơi đi hơn nửa. Thầy dành hơn một tiết để nói về thầy hay ít nhất là những gì liên quan đến thầy. Nào là những cuốn sách thầy viết hay những học trò thành đạt từng “qua tay thầy”. Dù những điều này làm giảm khoảng cách giữa thầy trò (đặc biệt là trong tiết đầu tiên), nhưng nó cũng làm giảm sự kính trọng của trò đối với thầy (hay chỉ mình tôi có suy nghĩ này?). Tuy nhiên phương pháp dạy của thầy khá mới mẻ và hứa hẹn đem lại nhiều lợi ích cho học sinh chúng tôi.

Và điều mới mẻ đầu tiên tôi được học là “bản đồ tư duy”. Với tôi, ấn tượng ban đầu về cái bản đồ này không mấy sáng sủa. Tôi cười khẩy và thực hiện cái bản đồ đầu tiên với sự khinh thường. Mà cũng phải nói đôi chút về cái gì đó gọi là “bản đồ tư duy”. Đây là cách gọi khác của thuật ngữ 5W1H đã được phổ biến từ lâu ở nước ngoài. 5W gồm: what, where, why, who, when và 1H là how. Cách suy luận này không có gì phải chê trách ngoại trừ việc phải học thuộc nó và diễn giải nó qua bút màu. Quay lại với cái bản đồ của tôi. Tôi không cho rằng cứ “phang” càng nhiều màu vào cái bản đồ thì sẽ làm tôi tăng sự sáng tạo cũng như nhớ lâu hơn, đơn giản vì tôi chúa ghét sự màu mè. Nhưng có vẻ tiêu chí của thầy lại không giống tôi. Và hình như tôi trở thành một trong những gương mặt “trong tầm ngắm” của thầy.

Tôi cố chấp là thế, nhưng tôi cũng biết phân biệt đúng sai. Dần dần tôi càng cảm nhận được lợi ích của 5W1H. Tôi viết văn lưu loát hơn. Các bài văn của tôi dần dài
ra. Còn cách dạy của thầy làm giảm áp lực thường thấy trong những tiết văn.Tôi không còn thấy chán nản về môn văn nữa. Thầy giỏi thật đấy. Thầy hiểu học sinh thật đấy. Nhưng tôi vẫn có chút gì đó ác cảm với thầy. Tôi không thích cách thầy khoe khoang về mình (dù tôi biết rằng có câu “tôi giỏi nên tôi có quyền”). Tất nhiên là tôi không có quyền phán xét thầy, nhưng tôi chỉ nói lên sự thật là: nếu khiêm tốn hơn thì thầy sẽ là một người thầy hoàn hảo trong mắt mọi học sinh”.

Nguyên văn bức thư của học sinh Nguyễn Minh Thắng – lớp 9B1Trường THPT tư thục Nguyễn Khuyến, TP.HCM – gửi cho thầy Hoàng Đức Huy, giáo viên giảng dạy môn văn của lớp.

——————————

Khi mới đọc bài viết của em Thắng, tâm lý thông thường của con người khi bị chê là khó chịu, tôi cũng thế. Nhưng tôi đã quen với việc phản biện của học sinh. Càng đọc thư tôi càng mừng vui vì đã có học sinh làm theo những điều mình dạy, làm được điều mình mong muốn. Giáo dục VN hiện nay có một lỗ hổng lớn là khoảng cách quá xa giữa thầy và trò. Trò không hài lòng về cách dạy, cách cư xử của thầy nhưng không dám nói (thế nên nhiều giáo viên không biết mình có nhược điểm nào mà sửa). Với môn văn thì học bài nào cũng hay, tác phẩm nào cũng tuyệt vời, xuất sắc. Tôi dạy các em phải có suy nghĩ độc lập, phải trung thực trong mọi vấn đề. Bài viết “Người thầy không hoàn hảo” nhận xét khá sắc sảo về tôi, tôi đã cảm ơn em Thắng trước lớp 9B1 bằng câu nói: “Người xưa có câu: ai khen ta là bạn ta, ai nịnh ta là kẻ thù của ta, còn ai chê ta là thầy ta. Hôm nay bạn Thắng được xem như thầy của thầy rồi đó”.

Thầy giáo Hoàng Đức Huy

HOÀNG HƯƠNG thực hiện

……………………………………..

Người thầy hoàn hảo là biết lắng nghe

TTO – Tôi đã thật sự đi từ bất ngờ này đến bất ngờ khác khi đọc bài “Người thầy không hoàn hảo” trên báo Tuổi Trẻ. Những lời lẽ của học sinh Nguyễn Minh Thắng – lớp 9B1 Trường THPT tư thục Nguyễn Khuyến, TP.HCM – cho thấy em là một học sinh “có cá tính”. Em đã rất dũng cảm nói đúng những suy nghĩ, tình cảm thật của mình, điều mà hiện nay rất ít HS làm được.

Nhưng điều bất ngờ hơn chính là thái độ tiếp thu rất mực khiêm tốn của nhà giáo Hoàng Đức Huy: thầy đã cảm ơn đứa học trò “dám” phê phán mình (điều mà nhiều giáo viên khác có thể cho là một sự “xúc phạm”)! Thầy Huy đã “học” được từ chính học trò mình, còn tôi, tôi thấy mình đã được học rất nhiều điều từ thầy Huy…

Qua lời kể của em Nguyễn Minh Thắng, tôi thấy nổi bật ở thầy là niềm tin tưởng vào học sinh của mình. “Thầy bảo ai cũng có thể học giỏi văn”. Tôi biết có nhiều thầy cô giáo dạy văn (và không riêng gì môn văn) luôn cảm thấy “thất vọng” trước năng lực của học trò! Sau một tiết được dự giờ, nhiều giáo viên luôn miệng than phiền về trình độ, thái độ học tập của học sinh, trong khi không chịu nhìn thấy sự thất bại của tiết dạy chính là do nội dung bài dạy và phương pháp truyền đạt của mình.

Thầy Huy còn có sự tôn trọng cần thiết đối với học sinh. Thầy đã áp dụng nhiều biện pháp để được lắng nghe ý kiến của học sinh – một cách thật sự dân chủ – với mục đích rút kinh nghiệm về “cách dạy, cách cư xử” đối với học trò. Có lẽ còn nhiều giáo viên, vì nhiều lý do, đã thường xuyên sử dụng “uy quyền” thay cho sự tôn trọng, dân chủ ấy!

Đặc biệt, thầy thường xuyên yêu cầu và khuyến khích học sinh trung thực trong mọi vấn đề, từ việc bình một tác phẩm văn học đến cả việc đánh giá chính bản thân thầy. Chỉ riêng việc thầy mời tất cả học sinh của mình lên mạng đọc bài viết của em Thắng cũng đã thể hiện một nhân cách lớn…

Người thầy sẽ hoàn hảo – nếu luôn học tập, trau dồi những phẩm chất ấy.

HUỲNH MINH CẢNH (Sở GD&ĐT Tiền Giang)

Đọc bài viết của Thắng, tôi thấy em là người có suy nghĩ thật thẳng thắn. Dù là học sinh, nhưng em có cách cảm nhận và góp ý về một vấn đề mà không phải ai cũng có thể đề cập được. Tôi cũng từng có một người thầy, trong mắt tôi thầy cũng là một người có kiến thức rộng, khả năng am hiểu tuyệt vời. Môn học phân tích hệ thống của thầy rất hấp dẫn, phương pháp dạy của thầy lúc nào cũng lôi cuốn, dễ hiểu, có thể nhớ ngay mà không cần học bài (vì chúng tôi là những người đã đi làm nên không có nhiều thời gian để xem bài vở), và đặc biệt nó giúp chúng tôi áp dụng nhiều vào thực tế công việc.

Thế nhưng, một điều mà chúng tôi bực bội nhất và cũng làm giảm những suy nghĩ tốt đẹp của chúng tôi về thầy là lúc nào thầy cũng tự hào mình là người hiểu biết cao, chê bai về cơ chế chính sách, kể về những học trò giỏi của mình, rằng phương pháp dạy của mình là nhất, ở Việt Nam mình chưa ai có, học ở Việt Nam nhưng các bạn như đang được học ở Đại học Harvard…Hầu như buổi học nào chúng tôi cũng nghe những điều tương tự như thế riết rồi đâm… ngán. Nhưng bản thân chúng tôi không dám nói và không có cơ hội để nói ra những điều như em Nguyễn Minh Thắng đã làm.

Rất cảm ơn em vì những gì em đã bày tỏ, và hi vọng qua bài viết các thầy cô giáo cũng sẽ nhận ra được mình đang là ai và sẽ đón nhận những ý kiến đóng góp của các em học sinh để hình ảnh của mình ngày càng đẹp trong mắt các em.

NGUYỄN ĐỨC CỬU

http://www.tuoitre.com.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=303635&ChannelID=13

Posted in Uncategorized | 5 Comments »

Run away from home

Posted by hoangtran204 trên 26/02/2009

Our 15-year-old daughter ran away to be with

a man she met on the internet… I didn’t

think it happened to clever girls

By Angela Carless
Last updated at 8:49 AM on 26th February 2009

A smile spreads across Gill Osborn’s face as she wraps her arms around her teenage daughter, Sammy.

Dramatically reunited just a few weeks ago, the family still can’t believe they have her back.

For two years, 41-year-old Gill hardly dared dream of seeing her daughter again
after she ran away to be with a man she had met on the internet.

Reunited: Sammy and her mother Gill

Reunited: Sammy has finally returned home to be with her mother Gill after running away for two years with an unemployed 21-year-old man she met on the internet

For the first six months, no one knew if she was dead or alive. Then, Gill was forced to
keep her distance, helpless to intervene when Sammy decided to get married at 16.

‘I used to think things like that didn’t happen to clever girls from a loving home,’ says Gill, a retail manager, who has been married to Sammy’s engineer father Bob, 44,
for 20 years, and also has a son Jack, 15.

‘Sammy was doing well at school, had plans for a career and to travel. But all that
counted for nothing after she met that man.’

That man is unemployed David Manning, 21, whom the Osborns claim encouraged
their daughter to leave home. Though it pains Gill to say it, he is Sammy’s husband.

But she is quick to add her daughter has ‘seen sense’ and is starting divorce proceedings.

Speaking for the first time about her ordeal, Sammy comes across as a typical
teenager — wilful and determined at times and yet also shy and naive.

And here is the crux of the matter. Headstrong teenagers are nothing new. But as the
Osborns discovered to their cost, the advent of computers in bedrooms has opened a
terrifying outlet for adolescent emotions.

Davind Manning

Sammy became secretive after meeting David Manning (pictured) in an internet chat room and ran off to marry him in Scotland at the age of 16

Sammy was just 15 when she vanished.

Now, two years on and full of remorse, she is trying to rebuild her life with her parents — and disentangle herself from a relationship that will haunt her for the rest of her life.

Her parents thought she was using her computer for homework when, in fact, she was spending hours on MSN Messenger and the social networking site Bebo.

‘Everyone makes friends on the internet these days. I’m no different,’ she says. ‘I was 13 when a friend I’d met online introduced me to David Manning and we started emailing each other all the time.

‘We’d chat for hours about music and things like that. It wasn’t long before I felt I could talk to him about anything.’

The could not have been more different. Sammy was a diligent grammar school pupil from Buckingham, who had ambitions to be a teacher and enjoyed all the trappings of a middle-class upbringing.

Manning, from Bristol, was the product of a broken home who had fathered a child at 17.

‘I had everything he didn’t. His mother had left when he was little and he had a child of his own he did not see. At school, there were so many high expectations of me. Getting to know David was my escape.’

It wasn’t long before the naive Sammy had convinced herself she was in love with this
hapless individual. The next step was to meet him, without her parents’ knowledge.

A date was arranged in Milton Keynes, where Sammy often went with friends on
Saturdays. She shrugs at the suggestion she might have been putting herself in
danger by meeting a stranger.

‘It wasn’t as if David was some random weirdo in his 40s — I would never have met
someone like that. I’d seen photos, so I knew what to expect and I wasn’t nervous.

‘At 5ft 7in, he wasn’t big or threatening. It was awkward at first — it’s easier talking
on-line than face to face — but I instantly felt the same connection with him.’

After a few furtive dates, Gill started to notice a change in her daughter.

‘Sammy suddenly became secretive,’ she says. ‘She spent hours online and if I asked
who she was talking to, she became moody and sullen. I thought she was going through a phase, but then she began getting long phone calls that left her distressed.

‘We learned she had this older boyfriend who demanded all her attention. We urged
her to break it off. But she wouldn’t listen.’

Four weeks after first meeting Manning, Sammy told her parents she would be
spending half-term with him in Wales.

‘We were horrified and told her “No”,’ says Gill. ‘She was still only 15 and he was nearly 20. “I’ve got to go!” she screamed.

Even though she promised nothing intimate would happen and that Manning “respected” her, we stressed she was too young to be getting into this type of relationship.’

Refusing to listen to reason, Sammy packed a bag of clothes and her homework books and slipped out of the house, leaving a note to say she would be back in a week.

She also left an address in Wales, which turned out to be wrong.

Worried sick, the Osborns alerted the police. Sammy was found with Manning in Bristol, where they were questioned at a police station.

She told the police her mother had hit her, hoping this would stop them from taking her home. But after ten days, the wilful teenager was back home.

‘Sammy was dirty and unkempt  –  she looked as if she hadn’t washed for days,’ says Gill.

‘When I tried to hug her, she pushed me away. She was agitated and hostile. I was so scared something awful had happened, but she would not speak to me. Our daughter had become a stranger who hated us.

‘When we turned to social services for help, we were merely advised to give her condoms so she would not get pregnant. I was furious that they viewed the situation so lightly.

‘I was floundering. When I broached the subject with Sammy, she was enraged. She called me “sick” and a “pervert” for even thinking she may be having a sexual relationship.’

Not long after, Sammy left home again, this time with nothing except the clothes she was wearing.

Her family suspected she was with Manning, but the police could find no trace of her at the terrace house he shares with his jobless father, Cyril, in the Fishponds area of Bristol. So Gill feared the worst.

‘I trawled the websites Sammy had used, looking for clues about where she could be. I was horrified by the messages and films that had been posted by Manning,’ she says.

‘In them, he declared his love for Sammy saying “I can’t live without you” and “I will never leave you”.

‘Suddenly, I understood why Sammy had changed. She’d been bombarded with messages which turned her against the life she knew. I just prayed that wherever she was that she would find the strength to break away.’

But there was not a word. Sammy admits she saw the missing posters that appeared in town centres across the country  –  in one, her face appeared alongside that of Madeleine McCann  –  and yet made no attempt to contact the police or her family to reassure them she was safe and well.

‘I didn’t ring Mum or write because I did not want the police to trace me,’ she says.

‘Then, the longer I’d been away, the more difficult it was to go back and pick up the pieces at home and school.

‘I know it must sound awful, but I didn’t really give my mum’s feelings much thought. I just thought she’d be really mad at me.

‘I decided to stay in hiding until I was 16, when no one could make me go home. I crossed off the months on a calendar.’

Not long after her 16th birthday, Sammy rang a runaway helpline to pass on the message she was safe, but had no plans to return home.

‘I was 16, I could legally live with David and no one could tell me what I should be doing. I just wanted to be left alone,’ she says.

The pair got married in Scotland, where a 16-year-old does not need parental consent. The bride wore jeans, trainers and a hoodie.

‘I knew I was a bit young to be getting married, but I thought it was romantic and would make people accept I was with David,’ she says.

Gill found out about the wedding only when social workers contacted her, after they had been informed by the police.

‘Though I blamed the man she was with for brainwashing her against us, it still felt like a huge betrayal,’ she says.

‘Many of our friends said: “She’s made her choice, just forget about her. Get on with your life.” But I don’t think any parent could. You can’t just forget 15 years of love.’

For a year, while her friends sat and passed their GCSEs, Sammy stuck with the man who had changed her life so drastically. But she was far from happy.

Manning, she says, was unable to work due to health problems, and they survived on benefits and cheap microwave meals in a house which was dirty and unkempt.

‘I spent most of my time in the bedroom I shared with David,’ she says. ‘I didn’t go downstairs much.

‘I started wanting to see my mum, dad and brother again. David and I were becoming distant. I’m convinced he was talking to other girls on the internet. I just couldn’t trust him. Gradually, I began to realise that if I stayed with him, I would never be anyone or have anything.’

Lonely and feeling trapped, Sammy sent her mother an email from a library computer at the end of November. ‘I just want to say hi  –  and I’m sorry,’ she wrote.

Having fallen victim to a number of hoaxes, Gill emailed back: ‘Prove it’s you.’ Sammy replied by listing the names of her childhood pets.

It was a major breakthrough and, on Christmas Eve, when Sammy sent another email confessing she was fed up, Gill told her: ‘I’ve just brought a big turkey for tomorrow  –  would you like to come home?’

Sammy thought about this for an hour and then said: ‘Yes.’ She fled her husband without a word, just as she had run away from her parents, with only the clothes she was wearing and a handbag with a few photos.

‘We’d come full circle and I was elated to get my daughter back,’ says Gill. ‘It was nerve-racking when Sammy’s mobile rang and it was Manning asking her where she was. “I’m with Mum and Dad  –  I’m going home,” she replied.

‘She hung up and he kept ringing. But every time, she told him it was over. It’s a tragedy that she has missed so much of her education. She should be going to university next year like her friends. But she is a determined, intelligent girl and I’m sure she will make up for lost time.

‘I am just pleased she did not come back with a baby in tow. That was my biggest fear. I used to say to Bob: “What if she ends up with six kids, living on benefits?” ‘

Sammy rolls her eyes like a typical teenager. ‘I don’t want children. I’m much too young and that would never have happened,’ she says.

After putting her family through such a terrible ordeal, the teenager is determined to make amends and become a model daughter. Her return is particularly timely as her father has just been diagnosed with chronic myeloid leukaemia.

‘I would not have blamed my parents for turning me away after the way I’ve behaved,’ she says. ‘Before I left, there is nothing they could have done differently. I thought I knew best.

‘Now I realise that, at 15, you are not ready to make those choices and I was certainly too young to marry at 16. I’m determined to move on and make something of my life.’

The Osborns have their daughter back, but how many other families will be torn apart by the men who prey on teenage girls, reaching into their bedrooms and turning them against their parents  –  thanks to the dangerous power of the internet?

http://www.dailymail.co.uk/femail/article-1155687/Our-15-year-old-daughter-ran-away-man-met-internet–I-didn-8217-t-think-happened-clever-girls.html

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

Entry for February 24, 2009

Posted by hoangtran204 trên 24/02/2009

Post thêm cái nữa lấy ngày rồi tính sau. 🙂

Đây nè. Mới dịch xong

Nạn tham nhũng đang

phá hoại chương trình

kích thích kinh tế của Việt Nam

Martha Ann Overland từ Hà Nội

Thứ Hai, ngày 23-2-2009

Trong khi nhiều chính phủ khắp nơi trên thế giới đang đổ hàng ngàn tỉ đô la vào việc kích thích tiêu dùng để chiến đấu với tình trạng suy thoái toàn cầu, thì cuộc tranh luận đang nổ ra ầm ĩ quanh vấn đề liệu cơn lụt tiền tệ như thế nầy sẽ cung cấp nhiều hơn là một sự thúc đẩy kinh tế trong ngắn hạn hay không, và liệu nhiều khoản tiền như thế rốt cục có bị hoang phí đi hay không.

Việt Nam, nơi giống với hầu hết các quốc gia châu Á đang bị đánh bằng búa vì cơn suy thoái, đang khám phá ra rằng ngay cả hình thức kích thích tiêu dùng trực tiếp nhất – phát tiền mặt cho dân chúng – có khả năng lọt vào tay của những kẻ không đúng đối tượng.

Với số người nghèo đang ngày càng gia tăng và những tin tức về một số trường hợp sẽ bị đói, các giới chức cộng sản ở Hà Nội mới đây đã quyết định phân phát 12 triệu đô la cho những người Việt Nam nghèo khổ vào ngày lễ quan trọng nhất của đất nước, dịp Tết nguyên đán. Ở Việt nam Tết là lễ tương đương với ngày Giáng sinh; đó là ngày lễ dành cho sự sum họp của gia đình và tiêu xài rộng rải vào quà cáp. Thế nhưng vào năm nay, thời điểm được biếu tặng lại trở thành thời điểm bị tước đoạt. Dường như rằng nhiều khoản tiền phân phát đã bị rơi vào túi các viên chức tham nhũng ở địa phương.

Trong một số trường hợp, tiền đã bị khấu trừ bằng các thứ lệ phí, hoặc các quà tặng đã bị đóng thuế tới mức chỉ còn lại một chút ít, theo công an địa phương cho hay. Nhiều gia đình ở tỉnh Quảng Bình đã khiếu nại rằng họ bị buộc phải ký vào những tờ biên lai thừa nhận rằng họ đã nhận tiền cứu trợ nầy, thế nhưng một số dân làng đang nói rằng hơn 90% các khoản tiền nầy đã bị bòn rút bởi các quan chức bẩn thỉu.

Tại tỉnh Quảng Ngãi, nhiều người cho biết họ bị ép cúng tặng cho một quỹ được gọi là giao thông nông thôn. Những người nông dân nghèo khổ khác thì nói rằng họ đã phải đóng góp cho một quỹ xóa đói giảm nghèo. Các cuộc điều tra về những trường hợp này và rất nhiều trường hợp tương tự đã và đang bắt đầu được thực hiện trên khắp cả nước.

Theo qui định về món quà tặng có tính chất khác thường này, mỗi người Việt Nam đang sống dưới mức nghèo khổ (được xác định bởi chính quyền với mức thu nhập chưa tới 15 đô là một tháng) hội đủ tiêu chuẩn để nhận một xuất quà trị giá 200.000 đồng, hoặc tương đương 12 đô la. Cả gia đình thì được nhận tối đa 57 đô la.

Mặc dù đó có lẽ là một khoản tiền quá nhỏ để được xem là quan trọng, món tiền nầy là một món tiền không mong đợi đối với 10 triệu dân nghèo nhất ở Việt Nam. Món tiền ấy là một cách giúp đỡ những người dân thực sự đang phải chịu đựng khổ sở từ cơn khủng hoảng kinh tế và một loạt những thảm hoạ thiên tai đã đánh vào quốc gia nầy vào năm ngoái, theo lời ông Ngô Trường Thi, phó cục trưởng Cục Bảo trợ Xã hội thuộc Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, nơi giám sát chương trình này. “Tặng tiền cho người nghèo cũng là một phần của những biện pháp kích thích nền kinh tế,” ông Thi nói.

Sự trì trệ của nền kinh tế toàn cầu mới đây đã và đang làm chậm lại thập niên phát triển của Việt Nam. Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) đang dự đoán rằng mức tăng trưởng GDP của Việt Nam từ một mức thuộc loại cao, 8,5% năm 2007, sẽ giảm xuống ở mức 5% vào năm nay.

Cú đòn gây thiệt hại một cách đặc biệt nầy là ở khu vực sản xuất của đất nước này, khu sản xuất đã từng giúp nhiều triệu người thoát khỏi nghèo đói bằng cách cung cấp những công việc với mức lương tương đối cao. Tình trạng giảm sút đơn đặt hàng của nước ngoài đã và đang buộc nhiều nhà máy mới xây dựng phải đóng cửa, đẩy nhiều công nhân trở về làng quê của họ.

Chương trình kích thích kinh tế của Việt Nam (12 triệu đô là) chỉ là mờ nhạt khi so sánh với khoản kích thích cả gói 787 tỉ đô la đã được chấp thuận bởi các nhà lập pháp Hoa Kỳ vào tuần trước, thế nhưng đất nước này đang làm những gì mà họ có thể nhằm đ
cố khởi động lại nền kinh tế của họ. Khoảng quà tặng bằng tiền mặt nầy đi theo sau lời loan báo vào tháng Mười một năm ngoái về một kế hoạch chi 1 tỉ đô la để hỗ trợ lãi suất cho các doanh nghiệp và cắt giảm thuế để thúc đẩy sự đầu tư và tạo ra công ăn việc làm.

Thế nhưng Hà Nội tự mình không thể thay đổi được diễn biến của các sự kiện trên toàn cầu, theo lời ông Alex Warren-Rodriguez, cố vấn về chính sách kinh tế cho Chương trình Phát triển của Liên hiệp quốc [UNDP] tại Hà Nội. Việt Nam đang quá lệ thuộc vào những gì đang xảy ra tại Hoa Kỳ và Âu châu. “Thậm chí nếu như bạn giảm lãi suất để khuyến khích đầu tư, thì chuyện đầu tư cũng sẽ không xảy ra bởi vì (ở VN) chẳng có gì để mà đầu tư cả,” ông nói. “Họ có thể chỉ làm rất ít để kích thích kinh tế.”

Tuy nhiên, sự nhận thức của công chúng về mức độ đúng đắn mà chính phủ đang xử lý đối với cơn khủng hoảng mới là quan trọng chủ yếu. Ông Vũ Thành Tự Anh, giám đốc nghiên cứu của Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fullbright tại Thành phố Hồ Chí Minh, cho rằng việc chi tiền này rõ ràng là vì những lý do chính trị, chứ không phải chỉ kinh tế. “Điều rất quan trọng cho chính phủ là họ được (người dân) nhìn thấy đang làm gì,” ông nói. “Sức ép chính trị hiện nay là rất lớn.”

Cho đến lúc này Hà Nội có vẻ đang thiếu những cố gắng của họ để khích động niềm tin nơi công chúng. Bộ Tài chính đã loan báo rằng khoản kích thích cả gói cách đây nhiều tháng trước, thế nhưng các giải pháp chỉ vừa mới được thực hiện có vài tuần trước, ông Tự Anh cho hay. Giờ đây hình ảnh của chính phủ đã bị hoen ố đi thêm nữa bởi vì các giới chức địa phương đã và đang ăn cắp những khoản tiền của chính những người dân mà Hà Nội đang cố gắng trợ giúp.

Có thể không bao giờ biết được có bao nhiều tiền dành cho người nghèo đã bị phân phát sai lạc. Một cán bộ ở tỉnh Lâm Đồng miền trung Việt Nam đã bị bắt vào tuần trước, và hàng tá cán bộ khác trên khắp cả nước đã bị giáng cấp hoặc sa thải do vụ bê bối nầy. Hàng trăm cuộc điều tra ở cấp tỉnh đang được tiến hành.

Thế nhưng ít ai ngạc nhiên về tầm mức của những trò cướp bóc này, theo nhận xét của ông Tương Lai, cựu viện trưởng Viện Khoa học Xã Hội của nhà nước tại Hà Nội.

Cán bộ nhà nước Việt Nam ở mọi cấp (thấp, trung, cao cấp) đều nổi tiếng về những trò ăn cắp vặt. Vào năm ngoái 2008, một cuộc khảo sát về tình trạng tham nhũng trong khu vực nhà nước bởi tổ chức Minh bạch Quốc tế [Transparency International] đã xếp Việt Nam đứng thứ 121 trong 180 quốc gia tham nhũng nhất thế giới. “Trò ăn cắp của người nghèo không có gì là mới lạ,” ông Tương Lai cho biết. “Nhưng sau một năm với những khó khăn kinh khủng như vậy, thì việc biếu quà Tết đã được cho là một hành động giúp cải thiện niềm tin nơi dân chúng Việt Nam.” Thế mà thay vào đó, ông Tương Lai nhấn mạnh, nó lại bị phá hỏng.

Hiệu đính: Trần Hoàng

Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2009

——————————————————————–

TIME

————–

Corruption Undermines Vietnam‘s Stimulus Program

By Martha Ann Overland / Hanoi

Monday, Feb. 23, 2009

As governments around the world roll out trillions of dollars in stimulus spending to combat the global recession, debate is raging over whether the flood of money will provide much more than a short-term economic boost and whether much of the cash will ultimately be wasted. Vietnam, which like most Asian countries is being hammered by the downturn, is discovering that even the most direct form of stimulus spending — cash giveaways to citizens — can wind up in the wrong hands.

With the number of poor growing and reports of some going hungry, communist officials in Hanoi recently decided to hand out $12 to millions of impoverished Vietnamese on the eve of the nation’s most important celebration, Tet, the Vietnamese New Year. Tet is Vietnam’s equivalent of Christmas; it’s a holiday of family gatherings and lavish spending on gifts. But this year, a time for giving turned out to be a time for taking. It appears that many of the cash handouts were pocketed by corrupt local
officials.(See pictures from the 1979 border war between Vietnam and China.)

In some cases, fees were deducted or the gifts were taxed to the point there was little left, according to local police. Families in Quang Binh province complained that they were required to sign receipts acknowledging they had received the handouts, but some villagers say more than 90% of the funds were siphoned off by petty bureaucrats. In the province of Quang Ngai, dozens say they were forced to donate to a so-called rural traffic fund. Other destitute villagers reported they had to contribute to a fund for the poor. Investigations of these and scores of similar cases have begun across the country.

Under the unusual giveaway, Vietnamese living below the poverty line (defined by the government as those earning less than $15 a month) qualified to receive a gift of 200,000 Vietnamese dong, or about $12. Families were entitled to a maximum of $57. Though it may seem a paltry sum, the cash was a windfall for Vietnam’s 10 million poorest. It was a way of helping people truly suffering from the economic crisis and a series of natural disasters that hit the country last year, says Ngo Truong Thi, the deputy director of social welfare at the Ministry of Labor, Invalids and Social Affairs, which oversaw the program. “Giving out cash to the poor was also part of measures to stimulate the economy,” Thi says.

The recent global economic slowdown has put the brakes on Vietnam’s decade of growth. The International Monetary Fund forecasts that Vietnam’s GDP growth will slow to 5% this year from a high of 8.5% in 2007. Hit particularly hard has been the country’s manufacturing sector, which helped lift millions out of poverty by providing relatively high-paying jobs. Declining orders from abroad have forced newly built factories to close, sending workers back to their villages.

Vietnam‘s stimulus program pales in comparison to the $787-billion package approved by U.S. lawmakers last week, but the country is doing what it can to jumpstart its economy. The cash giveaway followed November’s announcement of a plan to spend $1 billion to subsidize interest rates for businesses and to lower taxes in order to boost investment and create jobs.

But Hanoi on its own can’t change the course of global events, says Alex Warren-Rodriguez, economic policy advisor at the United Nations Development Program in Hanoi. Vietnam is too dependent upon what is happening in the U.S. and Europe. “Even if you reduce interest rates to stimulate investment, that’s not going to happen because there is nothing to invest in,” he says. “They can do very little to stimulate the economy.”

Still, public perception of how well the government is handle ing the crisis is crucially important. Vu Thanh Tu Anh, director of research at the Fulbright Economics Teaching Program in Ho Chi Minh City, says the cash payments were clearly made for political, not just economic, reasons. “It’s very important for the government to be seen as doing something,” he says. “The political pressure is huge.”

So far, Hanoi appears to be falling short in its efforts to inspire public confidence. The Ministry of Finance announced the stimulus package months ago but the measures have only just been implemented in the last few weeks, says Tu Anh. Now the government’s image has been further tarnished because local officials have been stealing from the very people Hanoi was trying to help.

It may never be known how much of the cash meant for the poor has been diverted. One official from Lam Dong Province in central Vietnam was arrested last week, and dozens of others across the country have been demoted or sacked due to the scandal. Hundreds of provincial-level investigations are ongoing.

But few are surprised at the scope of the looting, says Tuong Lai, former director of the government-run Institute of Sociology in Hanoi. Vietnamese officials at all levels have a reputation for sticky fingers. Last Year, a survey on public-sector corruption by Transparency International ranked Vietnam 121st most corrupt out of 180 countries. “Stealing from the poor is nothing particularly new,” says Lai. “But after a year of terrible difficulties, the Tet gift was supposed to be a gesture to help improve the trust of the Vietnamese people.” Instead, Lai notes, it sabotaged it.

Posted in Uncategorized | 2 Comments »

Entry for February 22, 2009

Posted by hoangtran204 trên 22/02/2009

Lấy ngày rồi copy bài vào sau. Đây rồi 🙂

Nói chung, các cô giáo và thầy giáo nên làm như vầy với các thế lực phản động thân Trung Quốc

Sướng lạ

Posted in Uncategorized | 4 Comments »

Hypothermic treatment: Hạ thân nhiệt xuống 93 độ F trong 4-20 ngày giúp hồi phục não bộ…

Posted by hoangtran204 trên 21/02/2009

(Dịch sau)

Đọc tiếp »

Posted in CPR is the most helpful, Uncategorized | Leave a Comment »

Entry for February 20, 2009

Posted by hoangtran204 trên 20/02/2009

Ngày Năm: Thứ Bảy, 10 Tháng Giêng

Bến Xe Ðò Puduraya
Dân số KL lên tới 6.9 triệu người, sống trong một diện tích 244 kílô mét vuông. Ðất đai trở thành chật hẹp. Nhưng bến xe đò đưa khách đi khắp các thành phố và tiểu bang khác, lại được đặt ngay trung tâm thành phố, rất tiện lợi cho mọi người mà không chiếm quá nhiều diện tích đất. Chính phủ qui hoạch thành phố khá hay! Ðó là bến xe đò Puduraya, được đặt ngay dưới hầm của một thương xá. Cả chục hãng xe đò tư nhân, tranh nhau giành khách. Tranh nhau trong vòng trật tự. Mỗi hãng có một quầy bán vé riêng, với hai nhân viên quảng cáo, họ tha hồ rao la, lớn tiếng mời gọi khách. Tôi đi ngang qua, họ rao nổ như một tràng bắp rang. Tôi chỉ biết nhe răng cười. Có hiểu gì đâu mà không chịu cười. Toàn là tiếng Mã, nghe rất vui tai!

Tiểu Bang Melaka
Sau 2 tiếng ngồi trên xe đò, thật là thoải mái vì có máy lạnh và ghế ngồi rộng rãi. Chuyến đi tốn mất 9.5 RM cho một bận. Xa lộ rất tốt, ba “lanes” mỗi chiều, tiêu chuẩn không kém gì Âu-Mỹ. Du khách có thể thăm viếng Melaka, sáng đi chiều về một cách dễ dàng.

Cảm nghĩ đầu tiên về thành phố này là dân chúng sống có nề nếp. Cảnh đầu tiên là thấy thiên hạ đứng xếp hàng mua vé rất trật tự, giống y như ở trên KL. Trước sau gì cũng tới phiên mình, không cần phải chen lấn. Nghe nói Melaka ngày xưa có nhiều dân ăn cướp, rất khó trị. Nhất là đám cướp biển (pirates of Malacca Straits). Melaka (kiểu Mã), còn được viết dưới dạng Malacca (kiểu Anh), là tên của một thành phố lịch sử và cũng là tên của tiểu bang. Ðây là một thành phố quan trọng mà vào thế kỷ 17 tới 19, các đế quốc Bồ-đào-nha, Hà-lan, và Anh-quốc đã tranh giành lấy làm thuộc địa từ thổ dân Mã. Người Hoa và Nhật cũng có mặt tại đây rất sớm. Khi Malaysia (hoặc Malaya) được độc lập, tây-phương lùi bước và để lại rất nhiều nhà thờ thiên-chúa-giáo. Bà Marie, một người-Mã-gốc-Hoa, sanh trưởng tại bang Johor, bạn của bạn tôi, hướng dẫn chúng tôi đi thăm các nhà thờ. Ðầu tiên là St. Peter‟s Church được thiết lập từ năm 1710. Tiếp theo là St. Francis Xavier Church, được xây dựng bởi ba linh mục người Pháp vào năm 1849. Mấy vị này chết vào tuổi trung niên vì bịnh sốt rét, và xác được chôn ngay dưới hầm của thánh đường. Trong khuôn viên của nhà thờ còn có tượng của linh mục San Francisco Xavier (người Bồ) và của Yajiro Angero (người Nhật), đệ tử của Xavier, và sau này cũng trở thành linh mục.

Kế đến là đi thăm Malim Church, được cất vào năm 1850. Nhà thờ này rất giản dị, không có gì gọi là công trình đồ sộ, nhưng lại là một di tích lịch sử tôn giáo đặc biệt. Vào thời đó, người Hà-lan theo đạo Tin-lành, đang cai trị đất Melaka, còn người Bồ theo đạo Ca-tô-lích phải ẩn núp để thờ phượng. Người Bồ tạc dựng được một cây thánh giá (the Holy Cross) để phụng kính một cách bí mật. Chính căn nhà đơn sơ này đã che dấu được cây thánh giá quí báu và trở nên di tích lịch sử giữa hai tôn giáo Tin-lành và Ca-tô-lích. Tôi lại chú ý đến hai điểm khác, chung quanh nhà thờ Malim, bên trái là vườn cao-su và bên phải là nghĩa địa của người Tàu. Bà Marie cho biết: vào đầu thế kỷ 20, khi người Anh chiếm được Melaka, thì họ tạo dựng vườn cao-su và thuê mướn nhân công Mã và Tàu để khai thác đất thuộc địa mới. Thiên-địa-nhân quyện lại thành một, trong ý nghĩ của tôi. Này nhé: bên trái là vườn cao-su (địa), ở giữa là nhà thờ thiên-chúa (thiên), và bên phải là nơi an nghĩ cuối cùng của người lao động (nhân). Một sự kết hợp loạn xà-ngầu!

Và nhà thờ cuối cùng mà chúng tôi đi thăm là Christ Church Melaka, được xây dựng vào năm 1753. Nó tọa lạc trong công trường Hà-lan (Dutch Square) là nơi được nhiều du khách đến thưởng lãm. Có thể ngồi xe xích-lô đạp để dạo quanh khu phố nhỏ. Kế bến công trường là khu Phố Cổ, mà người tây-phương, người Mã, người Tàu, người Nhật đã một thời chung sống. (Nghe giống như phố cổ Hội-An của bên Việt-Nam). Dân tây rất thích viễn du vào Á-đông trong thế kỷ 17, 18, và 19: đất mới, người mới, và của mới. Phố Cổ ngày nay được bảo trì kỹ lưỡng với hàng quán sang trọng, đẹp đẽ, để hấp dẫn du khách ngoại quốc hằng năm, phát triển ngành du lịch cho xứ Mã.

Kỹ nghệ du lịch của Mã phải cạnh tranh nhiều với Singapore và Thái-Lan. Năm 2007, chính phủ Mã đã chọn phù hiệu “Visit Malaysia 2007” để phất cờ kỷ niệm 50 năm độc lập. Sòng bài và hang động sex-dục là cặp bài trùng chiêu dụ khách thập phương. Ba bức hình tiếp theo mà tôi muốn gửi đến bạn đọc là hình ảnh chiếc xe đò tối tân của thế kỷ 21 và chiếc xích-lô đạp cũ kỹ từ thế kỷ 20. Chiếc xe đò hiện đại với máy lạnh làm mát cơ thể người viễn khách. Còn chiếc xích-lô lỗi thời với cây dù che đầu và vòng hoa sặc sỡ, làm ấm lòng người lữ khách. Hai phương tiện chuyên chở, một cuộc đời:

Em ơi có bao lâu?
Mấy trăm năm cuộc đời!

Không phải cuộc đời của một cá nhân, mà cuộc đời của cả dân tộc Mã. Hết Hà-lan tới Bồ-đào-nha, hết Bồ-đào-nha tới Ăng-lê, thay phiên nhau đè đầu đè cổ dân lành đến mấy trăm năm. Dân Mã không cần chiến tranh đổ máu gì nhiều, cũng không có cảnh nồi da xáo thịt, mà sao họ hay quá! Họ không có nhiều thần tượng anh hùng bằng bên ta. Họ vẫn đòi/giành được độc lập mà không tốn nhiều xương máu như ta. Tôi đi du lịch thấy được dân tình Mã-Lai như vậy nên chạnh lòng nhớ đến quê hương mình. Thấy cuộc sống xã hội của Việt-Nam còn thua xa các bạn Mã. Thành thật ngã nón chào nhân dân Mã: gốc-Mã, gốc-Tàu, và gốc-Ấn; họ đã chung nhau xây dựng một đất nước công bằng và phúc lợi. Ða số, thiểu số gì, sống cũng được: mình sống và để cho người khác cùng sống.

Ngày Sáu: Chủ Nhật, 11 Tháng Giêng

Người Lao Ðộng Việt-Nam
Tôi nghe ở đây có cả chục ngàn nhân công Việt-Nam đang làm việc tại Melaka, chúng tôi nhờ/được các người Mã địa phương làm công tác thiện nguyện đưa đi thăm. Hôm nay là ngày chủ nhật, hãng nghỉ làm, công nhân nghỉ việc, rất thuận tiện cho việc thăm viếng. Chúng tôi muốn đến ba ký-túc- xá khác nhau, nơi tạm trú của công nhân, để hàn huyên cùng các bạn lao động. Ðàn ông ở riêng, đàn bà ở riêng. Ði thăm nhà các anh trước, các chị sau. Không có gì là kỳ thị phái tính. Chỉ vì nhà của phái nam ở đầu đường, còn nhà phái nữ ở cuối đường.

Trên trăm ngàn dân lao động Việt-Nam thích đến đất Mã để làm ăn kể từ năm 2003 đến nay. Họ là những công dân khỏe mạnh, đã được khám sức khỏe đầy đủ, và được chính phủ Việt-Nam chứng nhận có hành vi tốt trước khi ra nước ngoài làm việc. Trước khi đi, họ được ký một Hợp Ðồng Lao Ðộng với công-ty của Mã-Lai qua những lời hứa hẹn ngọt ngào, như có thể lãnh được 800 RM một tháng trong vòng 3 năm, và các điều kiện làm việc lý tưởng như bảo hiểm, giờ giấc, cách đối xử của chủ, vân vân. Song song, họ cũng phải ký một Hợp Ðồng Ðưa Lao Ðộng Ði Làm Việc Có Thời Hạn Ở Malaysia với một công-ty môi-giới ở Việt-Nam; các điều khoản trong hợp đồng nầy rất gò bó, luật lao động bị cột chặt một cách bất công và bất nhân như: (1) không được đi ra ngoài mà không xin phép, (2) không được kêu nài hay đình công với chủ, (3) bị sự kềm chế của đại-sứ-quán, vân vân. Luật lao động quốc tế thì người dân bình thường chưa biết đến, còn luật lao động của Mã-Lai lại không áp dụng cho giới công nhân ngoại quốc. Công nhân Việt-Nam: một cổ hai tròng. Ðược xem qua hai văn bản hợp đồng, tôi có cảm tưởng như người lao động Việt-Nam sống trong chính sách cai trị bằng củ-cải-và-cây-gậy của đầu thế kỷ thứ 20. Củ cải để chiêu dụ và cây gậy để dọa hù. Nhưng khoan đã! Ðợi đến thăm, nhìn tận mắt, nói tận mặt, mới biết được thật giả, đá hay vàng.

Tôi thấy tận mắt 10 người sống chung nhau trong một ký-túc-xá. Tuy chật chội nhưng họ vui vẻ lắm. Họ cho biết: vài năm trước, có khi cả trăm mạng ở chung trong một biêu-đinh chật hẹp và thiếu tiện nghi. May nhờ các hội đoàn thiện nguyện địa phương như Tenaganita Sdn Bhd của Mã, và của người Việt hải ngoại như Ủy Ban Bảo Vệ Người Lao Ðộng tại Ba-Lan, CAMSA tại Mỹ can thiệp, nên các chủ nhân Mã-Lai đã tỏ vẻ biết điều hơn! Chủ trả tiền thuê các ký-túc-xá gần hãng, khoảng 500 RM một tháng, và đưa công nhân từ 8 đến 12 người vào ở chung một chỗ. Tận mặt hàn huyên mới được biết kết quả cụ thể là: 90% công nhân lao động thất vọng với những gì mình tin tưởng, và 10% được xem là mãn nguyện. Chỉ dấu của thành công là thời gian làm việc tại Mã lên quá ba năm, nghĩa là hợp đồng lao động được gia hạn thêm một lần nữa; chứ không phải ở số tiền dành dụm được. Trước khi đi, công nhân hy vọng với sức cần lao của mình họ có thể lãnh tiền gấp đôi hay gấp ba lần tại Mã-Lai so với tại Việt-Nam, để có thể trợ giúp cho cha mẹ, vợ/chồng, và con cái tại quê nhà. Nhưng dù cho đầu tắt mặt tối, phần đông, họ vẫn chưa trả nổi các chi phí đã ứng trước cho các công-ty môi-giới Việt-Nam, lên đến gần 2,000 đôla Mỹ mỗi đầu người, tuy đã gắng sức làm việc tại Mã hơn hai năm qua. Tại sao lại có nghịch cảnh như thế nầy? Bởi vì được hứa hẹn với 800 RM mỗi tháng trên hợp đồng, nhưng thực tế may lắm mới được chủ trả 400 RM. Kêu nài với ai? Ðã bảo là luật Mã không áp dụng cho dân Việt mà. Nhờ cậy vào công-ty môi-giới ở Việt-Nam làm trung gian, thì họ đã cao bay xa chạy mất rồi; cả đám biến thành thợ lặn: điện thoại cắt đứt, tuyệt đường liên lạc. Viết thơ cho đại-sứ-quán Việt-Nam tại KL thì được trả lời là không phải nhiệm vụ can thiệp của chính phủ. Sứ quán chỉ có hai nhiệm vụ chính. Một là canh chừng để người lao động khỏi trở thành phản động. Hai là làm kinh tài qua các dịch vụ giấy tờ. Ðủ loại giấy tờ dân lao động cần được chứng nhận, để được xem như sống hợp lệ, hợp pháp. Ðúng như câu thành ngữ của Mỹ: “no job is done until paper works are done!” (Không việc gì làm xong, cho đến khi giấy tờ đã xong). Ðược một lần chứng nhận là mất đi một phần tiền. Các bạn đọc tại hải ngoại nếu không thích tôi dùng từ “đại-sứ-quán” (vì đề cao nhà nước) thì ráng chịu khó đại một chút nghen! Tôi biết, thói quen các bạn hay dùng là “tòa đại sứ”, nhưng bà con lao động mình ở đây, ai cùng gọi bằng đại-sứ-quán, thì tôi cũng viết ra như
thế. Dùng “đại” cho nó có vẻ to lớn hơn. (Trung-cộng thích/đã sử dụng từ “đại sứ quán”, nên Việt-Nam xài theo cho tiện). Ðại-sứ-quán xem đồng bào Việt-Nam sống ở xứ ngoài là khúc-ruột-ngàn-dặm, làm ta liên tưởng đến câu người xưa hay nói: đồng-tiền-liền-với-khúc-ruột. Ở đâu có khúc-ruột-ngàn-dặm là đại-sứ-quán tìm đủ mọi cách moi móc cho ra tiền!

Hiện nay, với tình hình suy thoái kinh tế toàn cầu, lao động Việt-Nam chỉ còn lãnh khoảng 250 đến 300 RM một tháng nhưng tháng nào cũng phải nộp cho chính phủ Mã thuế ngoại-nhân là 100 RM; vị chi chỉ còn dư từ 150 đến 200 RM, đủ tiền để mua thực phẩm sống tạm qua ngày.

Chưa hết đâu! Vì tình hình kinh tế của Mã cũng đang xuống dốc nên ở bang Penang, tổng trưởng Lim Guan Eng đã kêu gọi các hãng xưởng Mã-Lai hãy mướn người Mã thay vì người ngoại quốc (theo tin của Seberang Jaya, Jan 2009). Hiện nay, công ty Mã đang mướn khoảng 27% nhân lực ngoại quốc gồm Bangladesh, Miến-Ðiện, Indonesia, và Việt-Nam. Do đó, trong những ngày sắp tới, tương lai của người lao động Việt-Nam ở Mã sẽ bi đát hơn nữa!
Vậy sao không chịu trở về quê hương sống gần gia đình cho đỡ khổ hơn?

Chưa chắc đỡ khổ hơn, họ cho biết. Ðủ mọi thứ lý do bao gồm nhiều mặt về tâm-sinh-lý. Thứ nhất, vì không muốn mất mặt. Khi ra đi, đâu phải chỉ có một mình người công nhân mang hy vọng mà cả gia đình nuôi hy vọng, hơn nữa bà con lối xóm trông ngóng người đi xa. Vác xác không đi về, ôi tủi hổ lắm! Thứ nhì, vì không đủ tiền mua vé máy bay mà về. Bộ muốn về là về hay sao? Chưa hết hợp đồng ba năm thì chủ chưa cho về. Khi nào chủ đồng thuận cho về mới được phép về. Chủ sẽ đài thọ cho vé máy bay bận về.

Nhiều khi không có việc, chủ bắt lên câu-lạc-bộ trong hãng ngồi chờ, vừa ngủ vừa đợi công việc làm. Có kêu thì có làm. Có làm thì mới có tiền. Không làm thì đi ngủ tiếp. (Ngủ gà ngủ gật ở câu-lạc-bộ, chứ không phải được ngủ ở nhà). Thứ ba, tôi ngạc nhiên nhất điều nầy, dù rất cực nhọc và không dư dã như mong ước, nhưng họ vẫn không muốn trở về Việt-Nam khi chưa hết hạn; đại đa số đều cho biết là họ thích sống ở đây. Ở tại Mã. Vì ở đây, họ được sống một cách thoải mái và tinh thần được tự do hơn. Lạ thật! Chúng tôi trò chuyện với tổng cộng 52 người lao động: 25 vị phái nam và 27 vị phái nữ, tuổi từ 18 đến 37, họ xuất ngoại từ khắp mọi miền Nam, Trung, Bắc của đất nước. Tôi lại đi từ ngạc nhiên nầy, đến ngạc nhiên khác. Dân lao động Việt-Nam qua Mã đi làm không kiếm được nhiều tiền mà vẫn thích ở lại đây, chỉ vì cuộc sống được tự do và thoải mái hơn quê nhà.

Cây Nhà Lá Vườn: Kinh Tế Tự-Túc-Tự-Cường
Không đủ đồng lương để sống, mấy anh đi đập cá-rô-Phi (đập chứ không phải câu hay lưới), và bắt ốc bươu vàng ngoài bờ lạch để thêm thực phẩm qua ngày. Ðó là những món đặc sản mà các anh ưa thích. Lại nhờ bè bạn nào biết chút đỉnh tiếng Anh, nhờ gửi mua nấm men ngoài chợ đem về nấu cơm rượu. Và cất lên thành “rượu Đế” để cùng nhau cụng ly cạn chén. (Rượu Đế là rượu của vua uống, vì “Đế” có nghĩa là vua). Tôi phục mấy cô, mấy chị, hơn là mấy chú, mấy anh. Hãy lại ký-túc-xá của mấy cô mà xem cho biết. Chỉ một mảnh đất nho nhỏ sau nhà, mấy cô vun trồng đủ loại. Nào là rau thơm tươi tốt cho đến đu-đủ, chuối, mía thật hấp dẫn.

Mấy cô cho ăn mấy lóng mía tươi ngọt giữa buổi trưa hừng nóng nực, thật là mát miệng, mát lòng. Bây giờ tôi mới hiểu được phần nào cái mà nhiều người lao động gọi là “thoải mái” và “tự do”. Các bạn công nhân tha hồ bàn chuyện thời sự đất nước một cách thoải mái vì không sợ bị ai theo dõi và cảm thấy tự do hơn ở tại xứ người, một cách tâm lý, so sánh với cuộc sống đầy áp bức tại quê nhà. Nhưng ở đây cũng có vài ba trường hợp rất đau lòng, khó cho người lao động tự mình tìm được cách giải quyết. Công-ty môi-giới chỉ biết hốt tiền rồi đem con bỏ chợ. Ðại-sứ-quán thì làm ngơ, vô trách nhiệm. Chủ nhân Mã tha hồ bóc lột. Anh bạn tôi ở Úc đã phỏng vấn và thu thập mọi sự kiện để lập thành hồ sơ pháp lý.

Những Trường Hợp Ðau Lòng!
Trường Hợp 1: “Con chỉ xin trở về lại Sài-Gòn!” Cô Thoa, 18 tuổi, quê Tiền-Giang, mới đi làm được ba tháng thì bị chủ cho nghỉ việc (layoff). Không hiểu tại sao công-ty môi-giới lại chịu ký hợp đồng với cô bé nầy khi cô ta còn mấy tháng nữa mới đầy 18 tuổi. Không tiền, không vé máy bay, phải sống nhờ vào các bạn cùng phòng. Lúc nào cô cũng than khóc, cầu Trời khẩn Phật cho có ngày về đoàn tụ với mẹ cha. Mặt cô có vẻ cương nghị, tuy miệng nói ao ước: “Con chỉ xin trở về lại Sài-Gòn!” nhưng nước mắt cứ tuôn tràn.

Trường Hợp 2: “Thanh niên Việt-Nam hãy cẩn thận trước khi ra đi!” Em Luyện, 22 tuổi, quê Vĩnh Phú, bị tai nạn lao động gãy tay mà không được bồi thường; ngược lại, còn b
ị chủ bắt đi làm thêm để trả lại tiền nhà thương. Em rất phẩn uất, tự xem như mình bị lường gạt, vì chủ nhân cũng như pháp luật không đoái hoài tới công nhân; môi-giới không dám can thiệp, còn đại- sứ-quán thì bình-chân-như-vại, không phải chuyện của mình. Cứ vô tư! Em nhắn nhủ với giọng uất ức cùng các bạn thanh niên đồng lứa tuổi đang ở quê nhà mà mong đi làm xa xứ: “Thanh niên Việt-Nam hãy cẩn thận về môi- giới trước khi ra đi!”. Rất dễ bị lừa.

Trường Hợp 3: “Chúng tôi mong ước gặp lại chồng và con!” Hai cô: Lịch, 32 tuổi, và Vị, 37 tuổi, hết tiền, sống lậu quá sáu tháng, phải đi làm ôsin, lượm rau cải hư/thừa ngoài tiệm để lây lất qua ngày. Hai cô nầy đã có gia đình ở Việt-Nam, hy vọng ra xứ ngoài để cứu giúp chồng con. Nhưng than ôi! giờ đây, thân mình còn lo chưa nổi, làm sao giúp được cho ai! Nhiều lần viết thư cho đại-sứ-quán thì hầu như họ nghỉ lễ dài hạn, im hơi lặng tiếng. Hai cô ước ao có cuộc sống bình thường: “Chúng tôi mong ước gặp lại chồng và con!”. Phần chúng tôi, chỉ biết thu nhận sự kiện, trao hồ sơ lại cho các tổ chức NGO (Non-Governmental Organization) Tenaganita và CAMSA là những cơ quan xã hội thiện nguyện, chuyên môn giúp đỡ về nhân đạo cho những người lao động Việt-Nam cô thế. Hy vọng cô Thoa, em Luyện, cô Lịch và cô Vị trong ba trường hợp kể trên được tai qua nạn khỏi. Mấy người bạn Mã còn cho biết thêm những trường hợp giết người, đĩ điếm ở dưới bang Jahor, gần Singapore, được phát sinh từ những người lao động bị dồn vào đường cùng – Tôi không hiểu – Vì đâu nên nỗi?

Người lao động Việt-Nam được tuyển chọn, khám sức khỏe kỹ càng, huấn luyện đàng hoàng, và ra đi với mục đích trong lành, mà phải tận cùng cuộc đời u tối như thế nầy?

Vì Ðâu Nên Nỗi?
Trên mạng báo điện tử của VietNam Net ngày 25.12.2008, phóng viên Phương Loan đã phỏng vấn cựu thứ trưởng ngoại giao Trần Quang Cơ về sinh hoạt ngoại giao đối ngoại của chính phủ Việt-Nam; ông cho biết như sau: “Khi bạn thấy người Việt cướp bóc lẫn nhau, buôn rượu lậu, cờ bạc thì đó là hình ảnh rất xấu về con người Việt Nam. Người Việt ở nước ngoài, chưa nói tài năng, công việc như thế nào, nhưng lối sống như thế khó được chấp nhận. Mà việc này là do chúng ta chưa chuẩn bị kĩ, thiếu sự giáo dục từ trong nước. Đây là vấn đề thuộc về “nội trị”. Chữ “nội trị” được viết đậm là do tôi muốn nhấn mạnh ý nghĩa của nó. Bạn đọc đã nghe tôi tường thuật, một cách chủ quan và bán phần, về hoàn cảnh sinh sống khó khăn của đồng bào Việt-Nam tại Mã-Lai. Những hình ảnh thương tâm về con người Việt-Nam như đĩ điếm và ở lậu, bị bóc lột và ức hiếp, không thiếu thứ chi cả. Anh bạn tôi còn biết đích xác về trường hợp của một người lao động, vì sa cơ thất thế nên biến thành tay sát nhân, hiện lẫn tránh và bị cảnh sát Mã truy lùng để tống khứ về lại Việt-Nam. Tenaganita của Mã và CAMSA của Mỹ đều nắm vững tất cả những trường hợp trên. Bạn nào chưa tin, thì tôi bắt chước bác tài-xế Aru thách thức, “Không tin tôi, thì quí vị cứ đi xem thử!”. Trách nhiệm yêu thương và bảo vệ người dân lành hay công nhân lao động là do sự dạy bảo, cách chuẩn bị, và phương sách cải tạo nếp sống xã hội của đảng lãnh đạo từ Việt-Nam mà ra. Vấn đề thuộc về “nội trị” là như thế. Ðó là lý do tại sao cựu phó chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình đã phải bay qua Singapore để hợp tác với cảnh sát địa phương dẫn độ 7,000 chị-em-ta về lại quê xưa chốn cũ. Tuy chưa phải là cách giải quyết rốt ráo, nhưng phần nào bà Bình đã đem đến một hy vọng ngoại giao tốt.

Ngày Bảy: Thứ Hai, 12 Tháng Giêng

Gốc-Mã, Gốc-Việt Có Dính Dáng Gì Với Nhau?
Tôi đọc sách khảo-cổ-học, được biết là Mã-Lai cũng có trống đồng, một loại quốc bảo như của ta. Để được toại nguyện tôi phải đi thăm bảo tàng viện quốc gia của Mã-Lai xem họ có chứa trống đồng hay không. Biết đâu gốc-Mã và gốc-Việt có họ hàng với nhau! Viện bảo tàng cách xa trung tâm thành phố chừng 15 phút xe bas (bus) với vé vào cửa quá rẻ, chỉ có 2 RM một người. Viện bảo tàng cao hai tầng, chia thành bốn gian rất rộng và sang trọng. Một gian chứa các di vật thời cổ sử; một gian chứa các kỹ vật thời cận đại, khi Mã còn là thuộc địa của tây-phương; và hai gian còn lại, đặc biệt chuyên về thời hiện tại, nói về sự độc lập, liên lập, và phát triển của Mã-Lai trong giai đoạn toàn cầu hóa. Dĩ nhiên, tôi dành nhiều thời giờ cho gian cổ vật hơn. Ðúng vậy! 15 ngàn năm về trước, đất Việt-Nam, Thái-Lan, Malaya, Sumatra, Kalimantan (Borneo), và Jawa dính chùm thành một mảng to, được giới khảo cổ gọi là Pentas Sunda (tiếng Anh là Sundaland). Từ 12 đến 8 ngàn năm về trước, nước biển dâng tràn, chia cắt lục địa Sundaland thành nhiều mảng, làm cho đại gia đình các dân tộc cổ của Ðông-Nam-Á phải tách rời đôi bờ đôi ngã. Do đó, dân Mã và dân Việt vào thời xa xưa, cả chục ngàn năm về trước, phần nào, có thể liên hệ bà con với nhau! Giống Rồng của Lạc-Long-Quân đã nhập quốc tịch Malaya hết rồi!

Trống đồng Malaya, tìm được ở bang Terengganu phía bắc, gần giáp ranh giới đất Thái-Lan. Ở ngoài khơi của Terengganu có Pulau Bidong (Pulau là cù-lao), một địa danh rất quen thuộc với thuyền-nhân (boat people) người Việt. Ðường thẳng từ mủi Cà-Mau của Việt-Nam đến đảo Bidong củ
a Terengganu là đoạn đường đi ngắn nhất. Cổ nhân ta chắc cũng đã đi lại nhiều lần trên con đường định mệnh nầy: Trãi qua một cuộc bể dâu Những điều trông thấy mà đau đớn lòng (Nguyễn Du) [Bể dâu: ngày xưa khi biển chưa tiến thì là ruộng trồng dâu, giờ đây bể cả đã tràn ngập, khiến con người đau khổ]. Trống Terengganu bị hư hại nhiều, chỉ còn lại mặt trống, tang và đáy đã bị tiêu hủy. Các hoa văn trên mặt trống đồng như hình nai và chim giống y hệt như trên các loại trống đồng Ðông-Sơn (Ngọc-Lũ, Hoàng-Hạ, Sông Ðà, …) của tiền nhân ta. Người Mã trân trọng mặt trống Terengganu lắm, họ giữ trong tủ kính để người xem không thể sờ được.

Bóng Mờ Cộng Sản
Sẵn dịp, tôi cũng xin nói qua đôi chút về gian bảo tàng thời cận đại, vì trong đó có chứa nhiều tài liệu về phong trào cộng sản Mao-ít, do Trung-cộng chủ mưu. Dân tộc Mã không thích hợp và không chấp nhận chủ nghĩa cũng như lối sống cộng sản, nên đã từ bỏ chúng rất sớm. Chỗ đứng còn lại của cộng sản là dăm ba quyển sách tuyên truyền, nhập cảng từ Trung-cộng, và hai cái nón đảng viên màu xanh lục với ngôi sao đỏ. Chúng được cất giữ rất kỹ lưỡng trong hai lồng kính trong sáng để người đời sau xem biết mà chừa.

Tôi nghĩ thầm: giá mà cộng sản thành công ở Mã-Lai thì bảo tàng viện ngày nay chứa đầy cả bốn gian về hình ảnh các lãnh tụ anh hùng cộng sản, và chắc chắn, nền kinh tế cũng như nếp sống của Mã sẽ tụt hậu, thua xa của Việt. Không chừng Việt-Nam cũng có thể nhập cảng lao động Mã-Lai vào giúp việc! Nhưng thực tế đã xảy ra một cách ngược lại. Càng nghĩ càng thấy mắc cở!

Nhảy-Lên-Nhảy-Xuống: Vòng Một Tua Kuala Lumpur
Hôm nay là ngày cuối ở KL, tôi quyết định ôn/xem lại 22 địa điểm nổi danh của thành phố trong vòng 2 tiếng đồng hồ. Dễ thôi! Dùng chuyến xe bus đặc biệt hai tầng, tên là “KL Hop-On Hop-Off”, tốn 38 RM, có thể xài trong vòng 24 giờ. Thích ở đâu, xuống trạm ở đó; chơi xong rồi, nhảy lên đi tiếp. Mỗi chuyến cách nhau chỉ có 30 phút; xe bắt đầu từ 8:30 sáng và ngừng chạy lúc 8:30 tối mỗi ngày.

Chào tạm biệt Mã-Lai. Tạm biệt KL. Tạm biệt Melaka. Tạm biệt các bạn Mã nhân từ. Tạm biệt các đồng bào lao động thân thương người Việt! Tôi còn giữ tất cả địa chỉ của các bạn. Hy vọng một ngày nào đó được gặp lại các bạn trong một bối cảnh tự do và thoải mái hơn. Không phải tại đất Mã, mà ở ngay tại quê hương yêu dấu Việt-Nam của chúng mình!

Mồng Một, Xuân Kỷ-Sửu (2009)

Posted in Uncategorized | 2 Comments »

Chiến Tranh Biên giới Việt Trung -1979 bài 4

Posted by hoangtran204 trên 18/02/2009

Việt Nam căng thẳng

trước ngày kỷ niệm

cuộc chiến

với Trung Quốc

Phạm Nga, BBC News

Thứ Hai, ngày 16-2-2009

Việt Nam đang đánh dấu ngày kỷ niệm cuộc chiến tranh bên giới với Trung Quốc bằng một sự im lặng không dễ chịu, khi các kênh thông tin nhà nước tránh không đề cập tới những sự kiện xảy ra 30 năm trước.

Thế nhưng những tình cảm của dân tộc chủ nghĩa đang bị dồn nén ngấm ngầm trào lên bề mặt bởi những kỹ niệm đớn đau.

Bà Hoàng Thị Lịch, 72 tuổi, nhớ như in cái buổi sáng ngày 17-2-1979 trong miền núi Cao Bằng, khi bà cùng gia đình thức giấc với một cảm giác nghẹt thở do hoảng hốt.

Khi bình minh vừa ló dạng, Trung Quốc đã phát động các cuộc tấn công tại một loạt vị trí của các tỉnh cực bắc Việt Nam với một màn phô trương đáng kinh ngạc về cái gọi là “làn sóng biển người” và hỏa lực pháo binh.

Gia đình bà Lịch phải vội vã sơ tán từ ngôi làng ngỏ thuộc huyện Hòa An, cùng với mười mấy gia đình dân tộc Tày khác.

Bà nhớ lại: “Chúng tôi được thông báo là phải chạy xuôi hướng nam… Tôi có thể nghe được tiếng súng ầm ĩ. Tôi đã sợ phát cứng cả người trong một lúc lâu mà không biết chuyện gì để làm.”

Gia đình bà Lịch đã chạy thoát an toàn.

Chỉ 18 ngày sau, cũng tại huyện Hòa An, theo tin tức thông báo thì quân Trung Quốc khi rút lui đã dùng dao rìu chém đến chết 43 người – hầu hết là phụ nữ và trẻ em.

Những hy vọng ngây thơ

Những cuộc tấn công của Trung Quốc đã nhắm vào lúc không chuẩn bị của người Việt Nam, bất chấp những tin đồn đại về một cuộc chiến được khởi xướng bởi nhà lãnh đạo khi đó của Trung Quốc Đặng Tiểu Bình được lan truyền đi mấy tháng trong phạm vi giới chính trị Việt Nam.

Một cựu viên chức ngoại giao hàng đầu tại tòa đại sứ Việt Nam ở Bắc Kinh, ông Dương Danh Dy, đã cảnh báo từ đầu năm 1978 rằng mối quan hệ song phương giữa Hà Nội và Bắc Kinh đang xấu đi từng ngày.

Vào tháng 7-1979, sau cái điều mà Bắc Kinh xem là hành động ngược đãi đối với người Hoa đang sinh sống tại Việt Nam, Trung Quốc đã ngưng những trợ giúp cho người láng giềng của mình, thúc đẩy Hà Nội ký kết một hiệp ước “hợp tác và hữu nghị” với Moscow ngay liền sau đó.

Cùng khoảng thời gian đó, Hà Nội tăng cường những nỗ lực của họ để lật đổ người đồng minh của Bắc Kinh, chế độ Mao-ít của Khmer Đỏ.

Cuộc xung đột đẫm máu giữa Việt Nam và Cambodia đã đánh dấu cuộc chiến tranh lần đầu tiên giữa hai quốc gia cộng sản.

Nhà lãnh đạo họ Đặng đã thề sẽ “dạy cho Việt Nam một bài học”.

Ông Dương Danh Dy, ám chỉ tới một bản tin trên truyền hình của nhà lãnh đạo Trung Quốc (Đặng TB) vào tháng 12-1978, đã nhớ lại: “Tôi không bao giờ quên được vẻ mặt của ông ta khi ông ta mô tả Việt Nam như là một “tên cồn đồ”.

“Vào giai đoạn đó, tất cả chúng tôi đều nghĩ rằng ‘thế là xong, một cuộc chiến tranh không thể nào tránh được nữa’, ông Dy nói.

“Nhưng sâu thẳm bên trong chúng tôi vẫn hy vọng, có lẽ do ngây thơ, rằng kể từ khi Việt Nam và Trung Quốc trước đó rất gần gũi nhau và như thể anh em, họ [người Trung Quốc] sẽ không trở mặt đối với chúng tôi quá nhanh và quá mạnh mẻ như vậy.”

Bị cô lập

Thay vào đó, Bắc Kinh đã huy động hàng trăm ngàn binh lính và quân tình nguyện vào một chiến dịch quân sự lớn nhất của họ kể từ cuộc Chiến tranh Triều Tiên.

Trong khi đó, Việt Nam đã bị rơi vào một tình thế khó khăn, phải đối phó với cuộc xung đột với người Cambodia và tái xây dựng lại một nền kinh tế gần như sụp đổ.

Vị cựu thứ trưởng bộ ngoại giao Việt Nam, ông ta đang tại chức khi cuộc chiến tranh biên giới bắt đầu, đã nói rằng thứ chủ nghĩa biệt lập của đất nước ông (trước đó) đã làm cho quốc gia dễ bị tổn hại.

“Chúng tôi đã quá lệ thuộc vào những bạn đồng minh ý thức hệ của chúng tôi, và vào thời đó người đồng minh duy nhất mà chúng tôi có là Liên Xô,” ông Trần Quang Cơ nói.

“Là một nước nhỏ cận kề một nước lớn, chúng tôi cần phải có nhiều bạn hơn. Chúng tôi cần mở rộng các mối quan hệ của mình và đa dạng hóa các mối quan hệ của chúng tôi.” [1]

“Cuộc chiến để dạy dỗ” của Trung Quốc đã kéo dài chỉ hơn hai tuần, với cả hai phía Việt Nam và Trung Quốc đều tuyên bố chiến thắng.

Mặc dù còn phải bàn cãi, song những ước tính hiện đang cho thấy rằng có tới 60.000 người đã thiệt mạng của cả hai bên.

Cũng như những mất mát về sinh mạng, sự tin cậy và tình nghĩa anh em mà hai đảng cộng sản này từng tranh đấu để xây dựng trong suốt nửa thế kỷ trước đã phải chịu một cú đấm dữ dội.

Trong cuốn hồi ký Nhớ lại và Suy Nghĩ của mình, ông Trần Quang Cơ đã trích dẫn lời nói của nhà lãnh đạo vừa qua đời của Việt Nam ông Võ Văn Kiệt khi phát biểu vào năm 1991 – là năm mà hai nước nầy bình thường hóa quan hệ — rằng Trung Quốc “luôn luồn là một cái bẫy”.

‘Thỏa hiệp quá đáng’

Thái độ nghi ngờ lẫn nhau đã lay lắt qua nhiều năm, đôi lúc lại loé lên khi những cuộc tranh cãi giữa đôi bên diễn ra.

Việt Nam đã nhìn thấy những cuộc phản kháng đông đảo vào tháng 12-2007, khi được tin Trung Quốc loan báo những kế hoạch thiết lập một đơn vị hành chính để quản lý các quần đảo Trường Sa và hoàng Sa – những vùng lãnh thổ đã được tuyên bố quyền bởi Việt Nam.

Một cuộc biểu tình nhỏ hơn đã xảy ra khi ngọn đuốc Olympic Bắc Kinh đến Thành phố Hồ Chí Minh.

Tuy nhiên, những phản kháng như vậy là chuyện không thường xuyên.

Nội đang cố gắng rất nhiều để không làm nguy hiểm những quan hệ nồng ấm với người láng giềng khổng lồ của họ. Cả Việt Nam và Trung Quốc dường như không muốn lặp lại những kinh nghiệm cay đắng của năm 1979.

Với tăng trưởng thương mại song phương nhanh chóng phát triển và một hiệp định biên giới trên đất liền được mong đợi sẽ sớm thông qua lần cuối sau 35 năm thương thảo, một số người cho rằng các mối quan hệ giữa hai quốc gia này hiện tốt đẹp chưa từng thấy.

Chính quyền Việt Nam bởi vận đang theo dõi chặt chẽ những gì mà các phương tiện truyền thông viết về các mối quan hệ Việt nam-Trung Quốc – đặc biệt là những vấn đề nhạy cảm như chủ quyền về biên giới và lãnh thổ.

“Trung Quốc đang ngày càng mạnh hơn nên Việt Nam cần học cách khôn ngoan hơn để làm sao cùng tồn tại được với họ,” theo lời nhà ngoại giao cao cấp Lê Công Phụng.

Vào tuần trước, tờ báo Sài Gòn Tiếp Thị đã cho đang tải trên trang web của mình một bài báo của nhà báo nổi tiếng Huy Đức về cuộc chiến biên giới năm 1979. Bài báo đã bị gỡ xuống chỉ trong vòng có vài giờ [nhưng nó vẫn còn nguyên trên tờ báo giấy – Ba Sàm chú thích].

“Chúng tôi đã và đang thủy chung với lời hứa của chúng tôi là không đưa ra những sự kiện cũ vì lợi ích của mối quan hệ giữa hai nước,” theo lời ông Dương Danh Dy, người giờ đây là một trong những chuyên gia hàng đầu của Việt Nam về Trung Quốc.

Lập trường chính thức của nhà nước đã và đang bị công chúng chỉ trích là quá nhu nhược và quá thỏa hiệp.

Các diễn đàn trên mạng Internet và những blog cá nhân tràn ngập những lời bình luận chống Trung Quốc khi ngày kỷ niệm cuộc chiến biên giới tới gần.

Trên tờ tạp chí Du Lịch, một bài tiểu luận gần đây vướt qua khỏi hệ thống kiểm duyện nhà nước, đã ca ngợi “lòng yêu nước trong sáng và tinh thần tự hào” của những người tham gia biểu tình chống Trung Quốc tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí minh.

Khi ngọn lửa dân tộc chủ nghĩa này bùng cháy lên, câu hỏi là liệu nó có lan tỏa như ngọn lửa hay không sẽ phụ thuộc vào những ch
ính sách của cả hai nhà nước đối với nhau.


Hiệu đính: Trần Hoàng


Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2009

[1] Các bạn suy nghĩ xem cán bộ ta luôn luôn gọi Mỹ là bọn xâm lược, đúng không? Rất nhiều bạn nghe vậy cứ nói theo y chang “đế quốc Mỹ là bọn xâm lược “… nhưng các bạn ấy không hề suy nghĩ điều ấy có đúng hay không. Các bạn đọc xem đoạn dưới đây rồi suy nghĩ để luyện tập tính phản biện của mình và viết comment trả lời xem sao :)

Canada dân số 33 triệu người, ở sát bên “đế quốc Mỹ xâm lược” có dân số là 320 triệu người. Như vậy Canada có dân số bằng 1/10 của Mỹ. Mexico có 106 triệu người ở sát nách với đế quốc Mỹ xâm lược, với dân số gần bằng 1/3 của Mỹ.

Nếu Mỹ là bọn chuyên đi xâm lược thì Mỹ sẽ chiếm đất đai, tài nguyên, dầu mỏ …của 2 nước nầy cho gần gủi, đúng không? Vậy thì tại sao 50 năm qua, Mỹ không xâm lược chiếm đất đai của 2 nước nầy mà chạy qua VN làm gì cho xa xôi?

Thêm một cái cớ để cho Mỹ tìm cách gây hấn và xâm lược là nhân dân Mỹ bị mất 4 triệu việc làm bởi “chính sách thâm độc” của Canada và Mexico như sau: Thực tế 50-60 năm qua, Canada đưa ra chính sách chính phủ bảo hiểm sức khỏe cho toàn dân, các công ty không phải trả tiền bảo hiểm sức khỏe cho công nhân và gia đình. Biết vậy, nên 3 hãng xe hơi của Mỹ (Ford, GM, Chrysler, kế cả Toyota, Honda, Nissan, Mazda…) và hàng ngàn công ty Mỹ đã đóng cửa hãng ở Mỹ, cho công nhân Mỹ nghĩ việc, và gom đồ đạc máy móc chở qua Canada thuê nhân công Canada và trả lương ít hơn cở chừng 10%, đã vây lại không cần trả tiền bảo hiểm sức khỏe cho công nhân (lợi được khoảng $6000-7.500/1 người/ năm).

Mexico thì không bảo hiểm cho ai hết, đau ốm cứ vào nhà thương tư, không có tiền ráng chịu…hàng ngàn hãng xưởng của Mỹ dời qua Mexico và lấy đi của Mỹ khoảng 1,5- 2 triệu nhân công.

Nếu Mỹ là bọn xâm lược, thì tại sao không nhân cơ hội công nhân Mỹ bị mất việc làm và sẵn 2 nước nầy có nguồn tài nguyên rất nhiều…tại sao Mỹ không tìm cách lấn đường biên giới, dời cột mốc, và gây hấn chiếm 2 nước Canada và Mexico nầy cho gọng?

Điều quan trọng là chọn bạn mà chơi. Ai mà chơi với quĩ dữ thì bản thân của người ấy cũng là ma bùn chứ không tốt lành gì đâu.

Việt Nam có cái tài nguyên gì quí giá quá đến nổi Mỹ cần phải xâm lượt chiếm lấy miền Nam cho bằng được, nên trung bình Mỹ phải bỏ ra hơn 22 tỉ đô la / 1 năm (số tiền tổng cộng Mỹ đã bỏ ra trong chiến cuộc Việt Nam là 550-600 tỉ đô la theo thời giá ngày nay) và thiệt hại 58 ngàn người và hàng trăm ngàn người bị thương tật?

—————————————————

BBC

———–

Vietnam tense as China war is mark ed

By Nga Pham
BBC News

Monday, 16 February 2009

Vietnam is marking the anniversary of its border war with China with an uneasy quiet, as official channels avoid mentioning the events of 30 years ago.

But simmering nationalistic emotions are being brought to the surface by painful memories.

Hoang Thi Lich, 72, remembers vividly the morning of 17 February 1979, when she and her family woke to a suffocating sense of panic in the mountains of Cao Bang.

As dawn broke, China launched attacks on a number of positions in Vietnam’s northernmost provinces with a staggering display of so-called “human waves” and artillery power.

Mrs Lich’s family was quickly evacuated from her small hamlet in Hoa An district, along with a dozen other ethnic Tay families.

She recalls: “We were told to run southwards… I could hear loud gunfire. I was so frightened I froze for a long while, I did not know what to do.”

Mrs Lich’s family escaped to safety.

Just 18 days later, in the same Hoa An district, retreating Chinese soldiers reportedly hacked to death 43 people – mostly women and children.

Naive hopes

The Chinese attacks caught the Vietnamese off-guard, despite rumours of a war initiated by China’s then-leader Deng Xiaoping circulatin
g for months within Vietnamese political circles.

A former top official at Vietnam’s embassy in Beijing, Duong Danh Dy, warned from early 1978 that the bilateral relationship between Hanoi and Beijing was worsening by the day.

In July 1978, after what Beijing considered mistreatment of ethnic Chinese living in Vietnam, China halted assistance to its neighbour, prompting Hanoi to sign a “co-operation and friendship” pact with Moscow soon after.

Around the same time Hanoi intensified its efforts to topple Beijing’s ally, the Khmer Rouge’s Maoist regime.

The bloody Vietnam-Cambodia conflict marked the first ever war between two communist nations.

Chairman Deng vowed to “teach Vietnam a lesson”.

Vietnam’s Duong Danh Dy, refer ring to a televised news briefing by the Chinese leader in December 1978, recalled: “I would never forget his face when he described Vietnam as a ‘hooligan’.

“At that stage, we all thought ‘that’s it, a war is no longer avoidable’,” Mr Dy said.

“But deep down inside we still hoped, perhaps naively, that since Vietnam and China had been so close and brotherly, they [the Chinese] wouldn’t turn on us so fast and so strongly.”

Isolation

Instead, Beijing mobilised hundreds of thousands of troops and volunteers in its largest military operation since the Korean War.

Vietnam, meanwhile, was in a difficult situation having to deal with its Cambodian conflict and reconstructing a near-collapsed economy.

Vietnam’s former first deputy foreign minister, who was in office when the border war began, said his country’s isolationism had left it vulnerable.

“We were too dependent on our ideological allies, and by that time the only ally we had was the Soviet Union,” said Tran Quang Co.

“Being a small country living next to a big country, we needed more friends. We needed to expand our ties and diversify our relations.”

China’s “pedagogical war” lasted just over a fortnight, with both Vietnam and China claiming victory.

Though disputable, estimates suggest that up to 60,000 lives were lost on both sides.

As well as the loss of life, the trust and fraternity that the two communist parties had struggled to build during the previous half a century suffered a severe blow.

In his memoir Memories and Thoughts, Tran Quang Co cited Vietnam’s late leader Vo Van Kiet as saying in 1991 – the year the two countries normalised their relationship – that China “was always a trap”.

‘Too compromising’

The mutual distrust has lingered through the years, occasionally flaring when bilateral disputes occur.

Vietnam saw mass protests in December 2007, when China reportedly announced plans to establish an administrative unit to govern the Spratly and Paracel islands – territories claimed by Vietnam.

A smaller demonstration took place when the Beijing Olympic torch reached Vietnam’s Ho Chi Minh City.

However, such protests are uncommon.

Hanoi is trying hard not to jeopardise the warming ties with its giant neighbour. Neither Vietnam nor China seem to wish to repeat the bitter experience of 1979.

With bilateral trade rapidly growing and a land border agreement expected to be finalised soon after 35 years of negotiations, some say relations between the two are the best they have ever been.

The Vietnamese government is therefore keeping a close eye on what the media write about Vietnam-China relations – especially sensitive issues such as border or territorial claims.

“China is getting stronger so Vietnam needs to learn more [cleverly] how to co-exist with it,” said senior diplomat Le Cong Phung.

Last week, the newspaper Saigon Tiep Thi published an article by well-known journalist Huy Duc on the 1979 border war on its website. The story was removed within hours.

“We have been faithful to our promise not to bring up old events for the sake of the relationship between the two countries,” said Duong Danh Dy, who is now one of Vietnam’s leading China experts.

The official stance has been condemned by the public as too soft and too compromising.

Internet forums and personal blogs are flooded with anti-China comments as the anniversary of the border war approaches.

In the Du Lich newspaper, a recent essay slipped past the state censors, praising the “pure patriotism and proud spirit” of the anti-Chinese protesters in Hanoi and Ho Chi Minh City.

As this nationalistic flame burns, the question of whether it will spread like wildfire depends on both governments’ policies towards each other.


Posted in Uncategorized | 4 Comments »

Du Lịch Mã Lai Á 2009 (bài 2)

Posted by hoangtran204 trên 16/02/2009

Một chuyến nghỉ đông [2]

Tác Giả Trương Như Thường 12-2-2009
Ghé Tới Phố Tàu (China Town)
Chật chội, đông đúc, kém vệ sinh là đặc điểm của các khu phố Tàu trên toàn thế giới. Phố Tàu của KL không là một ngoại lệ. Chưa hết, thêm đặc điểm “trả giá” nữa. Không trả giá là sẽ bị mua lầm!

Anh bạn tôi dặn rằng chỉ trả 1/3 là đúng giá. Tôi chưa tin lắm. Cái áo ngắn tay họ đòi 45 RM, tôi trả 20, họ bán ngay! Thế là mình mua hố mất 5 RM. Ðúng lý, chỉ phải trả 15 RM mà thôi. Ðể chứng minh, bạn tôi hỏi giá một cái áo ngủ bằng lụa cho đàn bà; họ thách 95 RM, bạn tôi trả giá 30 RM, tới lui một vài câu, qua lại một vài giá, rồi bỏ đi, họ kêu lại chịu bán. Anh bạn của tôi hay thật! Ảnh mua luôn hai cái, vừa rẻ lại vừa tiện. Ðặc biệt ở đây là dù mình trả giá thật thấp, họ không chịu bán, mình cười trừ rồi đi luôn mà vẫn bình an vô sự. Ở Việt-Nam phải cẩn thận hơn nhiều! Lạng quạng là bị nghe chửi!

Vật dụng hằng ngày được bày bán đầy đủ như áo quần, dày dép, máy móc, vật dùng gia chánh, đồ chơi con trẻ. Phẩm chất mới xem qua, tưởng chừng là hàng nhập cảng của Made in China. Giá cả rất phải chăng. Hỏi kỹ ra, mới biết là được sản xuất chính hiệu tại Malaysia.

Hàng Mã có thể cạnh tranh ngang cơ với hàng Tàu. Nguyên nhân xa và nguyên nhân gần, được tóm tắt như vầy: (1) lực lượng lao động thiện nghệ, giá thành rẻ; (2) giới sản xuất đa số là người-Mã-gốc-Hoa, có chí làm giàu; (3) giới nhân công lại được chính quyền bảo vệ bằng luật pháp nghiêm minh; và nhất là có (4) các công đoàn độc lập rất hữu ích, giúp cho người lao động tránh cảnh bị chủ bóc lột. Hậu quả là, hàng sản xuất của Mã còn có thể xuất khẩu ra ngoài, cạnh tranh cùng khắp thế giới.

Lực lượng lao động của Mã vào năm 2007 có 10.94 triệu nhân lực, với tỉ số 3.6% thất nghiệp, mang đến 186.5 tỉ đôla Mỹ cho tổng sản lượng quốc nội (GDP) với độ tăng trưởng là 6.3%. Ðây là những chỉ dấu phát triển kinh tế rất hiệu năng, nâng xứ Malaysia thành một trong những con rồng nhỏ, lượn dưới vòm trời Ðông-Nam-Á.

Kể từ năm 2005, nhân lực Mã chia ra 51% làm dịch vụ, 36% cho kỹ nghệ, và chỉ còn 13% dựa vào nông nghiệp. Giới kỹ nghệ đang cần thêm một số nhân công để có thể phát triển lớn mạnh trong tương lai. Do đó, các nhà sản xuất Mã-Lai có nhu cầu nhập cảng nhân công ngoại quốc, vì nhân công rẻ, đặc biệt là cho các ngành may mặc, điện tử, và xây cất.

Một số hãng với chủ nhân và ban giám đốc, thường là người Mã-gốc-Tàu, rất chuộng nhân công nhập cảng người Việt để làm công việc, chỉ vì giá nhân công khá rẻ, và nhất là không bị ràng buộc bởi luật pháp Mã-Lai, không theo lương bổng tối thiểu, cũng như không bị các tổ chức lao động địa phương can thiệp. Các hãng xưởng ở những bang xa như Malacca, Johor ở miền nam; và Kedah, Perak, và Terengganu ở miền bắc là những trung tâm sử dụng đến cả trăm ngàn nhân lực lao động người Việt.

Ðây cũng chính là các món quà béo bở cho chính quyền Việt-Nam xuất cảng: bán lao động người Việt sang Mã-Lai, qua trung gian của các công ty môi-giới (chủ của các công ty môi giới nầy là con cái của đám cán bộ cao cấp ở Hà Nội và Sài Gòn — theo báo chí VN), ở giữa lấy tiền huê hồng. Sản phẩm bày bán tại thương trường hào nhoáng bao nhiêu, một phần, do công khó của người lao động Việt-Nam bấy nhiêu (Made-in-Malaysia-by-imported-Vietnamese-labors).

Ngày Bốn: Thứ Sáu, 9 Tháng Giêng

Bác Tài-xế Teksi Người-Mã-gốc-Ấn
Mấy ngày qua, tôi đã thử nhiều loại xe công quản chuyên chở khác nhau. Hôm nay làm sang, chúng tôi lấy teksi dạo phố chơi thử. Một chuyến taxi (teksi) không nên trả quá 20 RM, vừa phải là 10 RM. Ðây là lời khuyến cáo của bác tài-xế, tên Aru, người Mã-gốc-Ấn, dặn anh bạn tôi như thế, trong những lần đi trước.

Nhờ vào kinh nghiệm này mà anh bạn tôi rất sành điệu trong việc đối phó với các bác tài-xế teksi. Lên xe, bảo chỗ mình muốn đến, và đừng bao giờ mở miệng hỏi “how much”. Tại sao lại phải hỏi giá cả? Bởi vì tài-xế teksi ở KL, đại đa số, cố ý không bao giờ mở máy đồng hồ; cho đến khi xuống xe, mình hỏi họ tốn bao nhiêu, thì tha hồ họ chém. Lắm khi, tốn đến gấp đôi ba lần của giá đúng (giá tính theo đồng hồ được mở). Trong thành phố KL, từ bắc xuống nam, từ đông sang tây, cao tay lắm là khoảng 10 đến 15 RM là cùng, khi đồng hồ được mở. Khi xuống xe, cứ đưa cho tài-xế 10 RM. Nếu họ đòi 20 RM, thì hỏi họ ngược lại: sao anh không mở máy đồng hồ? Nếu họ không chịu giá mình trả, bảo họ mời cảnh sát đến. Thế là êm ngay! Không chịu mở máy đồng hồ thì sao tính giá chính xác được. Chịu êm với giá 10 RM là phải!

Dân Mã, tương đối tuân thủ kỷ luật, theo gương Singapore, ngoại trừ các bác tài-xế teksi: không chịu mở đồng hồ. Nhưng mấy bác cũng biết sợ cảnh sát lắm! Một lần nữa, đây là lời khuyến cáo quí báu của bác tài-xế Aru! Anh bạn tôi đã chứng minh một cách tài tình bằng chuyến đi teksi, từ Jalan Alo đến Beach Club: tốn chỉ có 10 RM.

Beach Club: Thiên Ðàng Ðịa Ngục Hai Bên! Bác tài-xế Aru cũng cho biết: tại bar Beach Club ở trên đường Jalan Sultan Ismal, có nhiều gái giang-hồ từ Việt- Nam sang làm ăn lắm. Mỗi đêm có
tới mấy chục cô. Rất trẻ, độ 20, 30 tuổi mà thôi. “Thật vậy sao anh Aru?” bạn tôi hỏi. “Không tin tôi, thì mấy anh cứ đi xem thử!”, Aru trả lời liền một cách thách đố. Lâu lắm rồi, có một lần ở bên Mỹ, mấy anh học trò trong lớp tôi ăn liên hoan mãn khóa, chúng rủ/đãi tôi đi quán bia ôm. Ði một lần cho biết. Tôi tỡn tới già luôn! Nay có người thách đố đi thăm “chị-em-ta”, trong lòng tôi cũng hơi nao núng; nhưng có gì đâu mà sợ! Biết đâu thâu thập được nhiều chuyện hay, về kể lại cho bà con nghe chơi! Qua Mã du lịch, lại nghe đến vụ “chị-em-ta”, chưa biết thực hư như thế nào. Nếu mình vững tin, không ngán lời thách thức, đi thử một lần. Bụng bảo dạ, vào bar làm quen, tà tà nói chuyện, hỏi rõ ngọn ngành đầu đuôi. OK, cứ vào Beach Club xem thử! Bar khá rộng rãi, có chừng năm, sáu chục khách đang ngồi uống nước. Chung quanh quán không có vách ngang, đèn đuốc mơ-mơ-huyền-huyền, khoảng 30 chục bàn vây quanh một sàn nhảy. Quầy rượu đủ loại, chạy dài từ hành lang ngoài đường, lấn sâu vào tới vách bên trong. Một vài cặp nam thanh nữ tú đứng ngồi hàn huyên bên quầy rượu một cách êm thắm. Thấy có vẻ đầm ấm lắm! Rãi rác đó đây, từng nhóm dăm ba cô gục gật đầu trò chuyện. Cô nào cô nấy, ngực mông đồ sộ, lộ khoe hương sắc. Ðồ sơn đồ thiệt, khó lòng phân biệt, vì đèn đuốc tối thui, lờ mờ chừng 60 watts.

Giờ nầy còn hơi sớm, mới 9 giờ tối, thiên hạ vào cửa miễn phí. Giá nước uống gấp đôi bên ngoài. Tiếp đãi viên toàn là phái nam. Sau 10 giờ, bar sẽ được dựng rào bao quanh bằng dây vải với cổng ra vào, đàn ông vào cửa giá 10 RM một mạng, đàn bà tự do tung tăng thả giàn. Ðiều nghiên tình thế kỹ càng, ba anh em chúng tôi chững chạc bước vào bar. “Ðừng ngồi gần quầy rượu, nhạc ồn lắm, ra xa xa ngoài nầy, dễ nói chuyện hơn!” anh bạn tôi nói hơi lớn, nói bằng tiếng Việt, để chúng tôi nghe cho rõ. (Cố ý cho người chung quanh, nếu là người Việt, nghe cũng rõ luôn). Ba cô từ xa rà tới. Ráp vô liền. “Ủa, mấy anh là người Việt hả?”, giọng một cô lộ vẻ mừng rỡ. Cô thứ nhì, độ trên dưới 30, lặng thinh, không nói năng chi cả, kéo ghế tự động ngồi xuống. Cô thứ ba xổ một tràng tiếng Hoa, nhưng thấy cả đám xài tiếng Việt, cô ta bẻn lẻn bỏ đi. Dù sao, cùng một ngôn ngữ cũng dễ bắt mối hơn. Cô thứ nhất, quay đầu vào một hướng tối vẩy tay, hai cô khác đứng trong góc chạy tới, toàn là bà con Việt-Nam cả. Chúng tôi mời vào ngồi bàn sâu phía bên trong để hỏi chuyện. Bốn bà và ba ông, người Việt tứ xứ, không đếm xỉa gì đến chuyện người mua kẻ bán, chỉ dùng tiếng Việt để thổ lộ cảnh đời ngang trái. Vừa uống nước sinh tố, đủ loại trái cây miền nhiệt đới, lại nghe chuyện tha phương cầu thực của người đồng hương với những chi tiết éo le như được đi xem một vở kịch chứa đầy đủ những yếu tố bi-hài-ái-ố. Bốn mẩu chuyện đời, từ bốn người đẹp, được kể lại khác nhau, nhưng tựu trung đều hướng về một mối: đất nước nghèo túng, chính phủ không thể cung ứng bối cảnh sinh sống thích đáng, khiến người dân phải tìm đường bung ra ngoài biển làm ăn. Thứ nhất, cô TR. trẻ nhất, mới 25 tuổi, đã có bằng đại học nhưng kiếm không ra việc, bạn rủ qua Singapore tìm việc tốt, dính chấu! Cô PH., thứ nhì, có hai con, chồng thất nghiệp lại thêm bịnh; cô phải chạy băng qua cốc bên Thái-Lan (Bangkok), thoát ly tìm đường cứu gia đình. Cô TH., thứ ba, lấy/theo chồng Ðại-Hàn được hai năm, không chịu nổi xứ lạnh: lạnh khí hậu chỉ một, nhưng lạnh thế thái nhân tình tới mười, bèn ly dị đổi nghiệp mới; may mắn chưa có mụn con nào để lo, đã có kinh nghiệm hành nghề hai năm tại Singapore. Thứ tư, cô H. lớn nhất, được 34 tuổi, có một con, có nhà cửa nhưng vừa mới ly thân; buôn bán nhà đất thất bại, bon chen thương trường lỗ vốn; nghe theo lời cô TH. rủ rê tìm cách phá vòng vây túng quẩn vì không còn gì để mất; mới qua KL được một tháng, tối ngày vái van rồi than khóc!

“Ðang sống ngon lành ở Singapore, chạy qua đây chi vậy?”, anh bạn tôi nóng lòng, nhắm vào cô TH. hỏi thẳng. “Tụi em làm ăn khá lắm…”, cô TH. đáp lời ngay, “… mỗi tuần có thể kiếm được năm, sáu trăm đôla dễ dàng; nhưng bị con mẹ Bình chạy qua Singapore a-tòng với bọn cảnh sát bố ráp, làm tụi em chạy thụt mạng!”. Cô TR., có vẻ ăn học hơn, giải thích: “Bị chính phủ Singapore làm áp lực dữ lắm, nên bả (ám chỉ bà Nguyễn Thị Bình) tuyên bố không bắt đủ 5,000 gái chơi thì không về”; cô H. cười nhạo: “Mới có ba tuần, mà bả hốt được 7,000 gái VN, chắc con mẻ đem về Sài-Gòn làm nem cho chồng nếm thử”. Cô TH. kết luận: “Tụi em bị động ổ, nên chạy qua KL lánh nạn!”.

Mấy cô than lắm! Cả hai ba tuần rồi mà mối vô ít quá, không đủ tiền sống; bốn cô phải tụ lại ở chung một chỗ, tiền nhà là 600 RM một tháng. Sáng nào, cô H. cũng đốt nhang, cúng vái ông bà cho mọi việc hanh thông lợi lộc; nhưng cả tuần qua không có mối vô, con gái 9 tuổi từ Sài-Gòn lại gọi qua nhớ mẹ than khóc.

Cô H. vừa kể vừa cúi gầm mặt, nhưng với giọng nói không lộ vẻ hối tiếc. Không thể ngờ được, cô H. nói rặt giọng Nam, tuy sinh từ Bắc nhưng lớn ở trong Nam, lại có cha làm thiếu tướng gốc Nghệ-An, đánh trận Kăm-pu-chia, sau đó về hưu và hiện nay tối ngày lo kinh kệ. Cô cho biết, ông bố cô ta buồn phiền và hối hận về quá khứ lắm, nhưng không biết vì lý do gì; ổng bỏ lại con cháu trong Nam và về miền Bắc lo chuyện tu hành, không tha thiết gì với cảnh trần tục nữa!

Nói chuyện với mấy cô nầy, càng khuya càng thấy ấm lòng. Phần nào, nó phá bỏ được thành kiến về chị-em-ta trong đầu óc thanh giáo của tôi. Nếu mình không hiểu rõ hoàn cảnh xã hội của đất nước, chưa thấy được sự bất xứng của chính phủ và bất lực của lãnh đạo, thì rất dễ hiểu lầm và khó thứ tha nỗi đau khổ của người dân. Tôi ngáp dài vài cái, bạn tôi hiểu ý. Anh ta tặng cho mỗi cô một số tiền “bo” rất hậu hỉnh (“bo” từ chữ pour boire của Pháp, có nghĩa là tiền trà nước, giống như tiền “tip” của tiếng Anh). Các cô vui vẻ, cám ơn, và chào từ giã. Thật là một bài học sáng mắt cho tôi tối nay, mặc dù mắt nhắm mắt mở vì buồn ngủ. Ngày mai chúng tôi định đi chơi xa để thăm bang Melaka.

(Còn tiếp)

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

►Chiến Tranh Biên Giới Việt Trung 17/2/1979 (bài 3)

Posted by hoangtran204 trên 16/02/2009

Tiết lộ mới về cuộc chiến 1979

Đúng 27 năm trước đây, ngày 17-2-1979, Trung Quốc đưa quân tràn qua biên giới Việt Nam sau nhiều tuần căng thẳng.

Trong nhiều năm, nguồn tư liệu của phía Trung Quốc về cuộc chiến vẫn thuộc vào hàng danh sách mật, và thông tin chính thức chỉ có lẻ tẻ.

Tuy vậy, gần đây nhiều tư liệu lưu hành nội bộ về cuộc chiến năm 1979 đã được công bố, cộng thêm một số hồi ký của các sĩ quan cao cấp.

Một trong những câu hỏi chưa có lời giải đáp chi tiết là khi nào và làm thế nào Bắc Kinh đã ra quyết định có hành động quân sự chống Việt Nam.

Những tư liệu mới

Trong hồi ký của Zhou Deli, tham mưu trưởng của Quân khu Quảng Châu, nhớ lại rằng vào tháng Chín 1978, một cuộc họp về “cách giải quyết vấn đề lãnh thổ bị quân Việt Nam chiếm đóng” đã diễn ra tại văn phòng tham mưu trưởng quân đội nhân dân Trung Quốc.

Sự tập trung ban đầu là nhắm vào cuộc xung đột biên giới, và đề xuất đầu tiên muốn có một cuộc tấn công nhỏ vào một trung đoàn Việt Nam ở Trùng Khánh, ráp gianh Quảng Tây.

Nhưng theo hồi kí của Zhou Deli, sau khi nhận được tin tình báo cho biết Việt Nam sẽ tấn công Campuchia, đa số người dự họp cho rằng một cuộc tấn công cần có tác động lớn đến Hà Nội và tình hình Đông Nam Á.

Họ đề nghị tấn công vào một đơn vị quân chính quy Việt Nam ở một khu vực địa lý rộng hơn.

Mặc dù cuộc họp kết thúc mà không đưa ra quyết định nào, nhưng nó tạo tiền đề cho kế hoạch chiến tranh sau đó.

Tháng 11-1978, Đặng Tiểu Bình công du Thái Lan, Malaysia và Singapore. Trong chuyến đi, ông Đặng nói với các vị chủ nhà rằng Trung Quốc sẽ dùng vũ lực nếu Việt Nam tấn công Campuchia.

Ngày 7-12, Ủy ban quân ủy trung ương có cuộc họp và quyết định mở một cuộc chiến hạn chế ở vùng biên giới phía nam của Trung Quốc.

Ngày hôm sau, họ ra lệnh cho các Quân khu Quảng Châu và Côn Minh tiến hành chiến dịch và chuẩn bị quân đầy đủ trước ngày 10-1-1979.

Chỉ thị nói rằng cuộc chiến sẽ tiến hành một cách hạn chế, trong phạm vi 50 cây số từ biên giới và kéo dài hai tuần.

Trong một nghiên cứu có thể nói là mới nhất về cuộc chiến Việt Trung 1979, vừa ra mắt tháng 12 năm ngoái, tác giả Xiaoming Zhang bình luận rằng thời điểm ra lệnh này chứng tỏ Trung Quốc phản ứng trước cuộc tấn công sắp xảy ra của Việt Nam vào Campuchia. Nhưng việc mở chiến dịch quân sự cả trước khi quân Việt Nam vượt qua sông Mêkông cũng cho thấy phản ứng của Bắc Kinh xuất phát từ nhiều năm bực bội vì hành vi của Việt Nam mà họ cho rằng đã “vô ơn” trước sự giúp đỡ trước đây.

Quyết định cụ thể

Tư liệu mới cho biết trong một cuộc họp vào ngày cuối năm 1978, Đặng Tiểu Bình chính thức đề nghị một cuộc chiến chống Việt Nam.

Tại cuộc họp này, ông Đặng bổ nhiệm Xu Shiyou lãnh đạo quân từ Quảng Tây, Yang Dezhi lãnh đạo quân từ Vân Nam. Quyết định này đã bỏ qua Wang Bicheng, lãnh đạo Quân khu Côn Minh.

Không có một sự lãnh đạo tập trung, hai quân khu này sẽ tác chiến độc lập, gần như không có sự hợp tác.

Cuộc họp cũng nhắc lại rằng cuộc xâm lấn phải nhanh, và toàn bộ quân phải rút về sau khi hoàn tất mục tiêu chiến thuật.

Ngay sau cuộc họp, Đặng Tiểu Bình gửi hai sĩ quan cao cấp đến Vân Nam và Quảng Tây kiểm tra tình hình.

Lo lắng trước sự trễ nải của quân lính, người kiểm tra ra đề nghị hoãn cuộc tấn công thêm một tháng.

Người kiểm tra này, Zhang Zhen, viết trong hồi kí năm 2003 rằng cấp trên đồng ý hoãn cuộc tấn công đến giữa tháng Hai 1979.

Ngày 23-1, Bộ Tổng tham mưu Trung Quốc họp và quyết định quân đội phải sẵn sàng hành động trước ngày 15-2.

Hai ngày sau khi ông Đặng trở về sau chuyến thăm Mỹ và Nhật, hôm 11-2-1979, ông ra quyết định sẽ tấn công Việt Nam vào ngày 17-2.

Lệnh này được gửi đến Quảng Tây và Vân Nam.

Nhiều nhà quan sát trước đây đã phân tích vì sao Trung Quốc chọn thời điểm này.

Có vẻ nó liên quan đến yếu tố thời tiết: sẽ khó khăn nếu đưa quân tác chiến vào mùa mưa, thường bắt đầu từ tháng Tư, và cũng không ổn nếu tấn công quá sớm khi quân Liên Xô có thể vượt dòng sông băng dọc biên giới Xô – Trung.

http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/story/2006/02/060217_borderwar_1979.shtml

—————–

Số thương vong trong cuộc chiến 1979

Tư liệu của Trung Quốc nói rằng từ đầu, Bắc Kinh hạn chế mục tiêu và cách tiến hành cuộc chiến để không vượt quá một cuộc xung đột biên giới với Việt Nam.

Kế hoạch của Trung Quốc gồm ba giai đoạn.

Giai đoạn đầu từ 17 đến 25-2, khi quân Trung Quốc, theo kế hoạch, sẽ phá vỡ hàng phòng thủ đầu tiên của Việt Nam và cướp lấy Cao Bằng, Lào Cai, cùng hai thị trấn Cam Đường và Đồng Đăng, cửa ngõ dẫn vào Lạng Sơn.

Giai đoạn hai là tấn công Lạng Sơn và khu vực bao quanh ở phía đông, Sa Pa và Phong Thổ ở mạn tây bắc, từ 26-2 đến 5-3.

Giai đoạn cuối là bình định và phá hủy các căn cứ quân sự ở khu vực biên giới với Trung Quốc trước khi rút về vào ngày 16-3.

Diễn biến cuộc chiến

Theo nhận định của Xiaoming Zhang trong một nghiên cứu đăng trên tạp chí China Quarterly tháng 12-2005, cuộc tấn công có vẻ đã làm Việt Nam bị bất ngờ.

Mặc dù có căng thẳng trong nhiều tháng, nhưng dường như các nhà lãnh đạo Việt Nam không tin rằng một “nước anh em” sẽ lại thật sự xâm lấn.

Khi quân Trung Quốc tràn qua biên giới, thủ tướng Phạm Văn Đồng và tổng tham mưu trưởng Văn Tiến Dũng đang ở Phnom Penh.

Trong lúc gửi điện khẩn nhờ Moscow giúp đỡ, phản ứng ban đầu của Việt Nam là “chống đỡ bằng mọi biện pháp, cốt sao làm chậm bước tiến quân của Trung Quốc.”

Đến ngày 20-2, các cố vấn Liên Xô kết luận quân Việt Nam thiếu sự điều phối và rằng các phòng thủ du kích sẽ không thể ngăn được quân đối phương.

Tuy nhiên, mặc dù có ưu thế lúc đầu, nhưng địa hình hiểm trở và sự chống cự quyết liệt của quân chính quy và dân quân Việt Nam khiến quân Trung Quốc lâm vào tình trạng khó khăn.

Tác giả Xiaoming Zhang phân tích một trong những vấn đề nằm trong cách nghĩ truyền thống của các tướng lĩnh Trung Quốc.

Nhiều lần, quân tiền phương kêu gọi không quân hỗ trợ, nhưng Bộ tổng tham mưu Trung Quốc không chịu mà lại yêu cầu hãy dựa vào pháo binh.

Các tướng lĩnh Trung Quốc thuộc về một truyền thống quen với cuộc chiến pháo binh và sử dụng biển người, và hạ thấp vai trò của không quân. Đây là một trong những lý do khiến số binh sĩ chết nơi trận địa lên rất cao.

Cuộc xâm lấn của Trung Quốc cũng phụ thuộc vào việc nhanh chóng chiếm được Cao Bằng.

Nhưng hai mũi tấn công không đến được mục tiêu trong vòng 24 tiếng. Khu vực đồi núi cùng kháng cự của dân quân Việt Nam tạo ra khó khăn lớn.

Việc đi chậm khiến Xu Shiyou, lãnh đạo cánh quân Quảng Tây, phải hoãn cuộc tấn công vào Cao Bằng, mặc dù phó tướng Wu Zhong đã đến sát thành phố này ở mạn phía đông và nam.

Đến ngày 23-2, Trung Quốc chiếm được Cao Bằng sau khi nhận ra nơi này chỉ có một số lượng nhỏ quân Việt Nam cố thủ.

Nhưng sự chậm chân khi chiếm Cao Bằng ngáng trở kế hoạch ban đầu của Trung Quốc, vốn nhấn mạnh việc tác chiến nhanh và quyết liệt.

Quân đội Việt Nam phân nhỏ thành nhiều đơn vị, và phản công theo lối du kích.

Bắc Kinh ngày càng trở nên lo ngại về tiến trình cuộc chiến, và hối thúc tư lệnh Quảng Tây mở cuộc tấn công vào Lạng Sơn càng sớm càng tốt.

Trận đánh Lạng Sơn bắt đầu ngày 27-2, và khu vực mạn bắc của thành phố này bị Trung Quốc chiếm được vào ngày 2-3. Đây cũng là ngày mà theo kế hoạch Trung Quốc sẽ dừng hoạt động quân sự.

Vì bộ máy tuyên truyền của Hà Nội không thừa nhận thất bại ở Lạng Sơn, Xu quyết định tiếp tục tấn công, với mục đích chiếm toàn bộ Lạng Sơn rồi hướng về Nam, tạo thành vị trí đe dọa Hà Nội.

Mặc dù Bắc Kinh đồng ý với quyết định của Xu, nhưng họ loan báo rút quân vào hôm 5-3, ngay sau khi quân Trung Quốc chiếm phần phía nam của Lạng Sơn và tuyên bố đã hoàn thành mục tiêu mà họ đặt ra.

Số thương vong

Cuộc chiến năm 1979 là hoạt động quân sự lớn nhất của Trung Quốc kể từ chiến tranh Triều Tiên.

Theo số liệu của nước này, họ đã huy động chín đội quân chính quy cùng các đơn vị địa phương quân, tổng cộng tương đương 300.000 quân.

Cho đến nay, Việt Nam công bố không nhiều các tư liệu liên quan cuộc chiến, và các con số về thương vong cũng khác nhau ở nhiều cuốn sách.

Phía Trung Quốc có tiết lộ một phần nào. Ban đầu Bắc Kinh nói 20.000 lính Trung Quốc đã bị chết hoặc bị thương.

Một số nguồn học thuật hiện thời ước tính có thể có đến 25.000 lính trung Quốc bị chết và 37.000 bị thương.

Những nguồn tài liệu gần đây hơn của chính Trung Quốc thì nói 6900 lính nước này đã chết và 15.000 bị thương.

Dù thế nào, số thương vong của Trung Quốc trong một cuộc chiến ngắn ngày vẫn là cao, thể hiện một trong những truyền thống quân sự của nước này: sẵn sàng chịu tổn thất nhân mạng khi nó được xem là cần thiết.

Các nhà lãnh đạo Trung Quốc xem thương vong là một tiêu chí tương đối không quan trọng miễn là họ tin rằng họ chiếm ưu thế trong tình hình chiến lược chung.

—————————–

Phần Ba: Trung Quốc rút ra bài học sau 1979

Đúng 27 năm trước đây, ngày 17-2-1979, Trung Quốc đưa quân tràn qua biên giới Việt Nam sau nhiều tuần căng thẳng.

Sau khi cuộc chiến ngắn ngày kết thúc, tất cả các đơn vị Trung Quốc tham chiến phải viết tường trình về kinh nghiệm chiến trường.

Trong vấn đề tổng kết cuộc chiến, Trung Quốc ở trong tình thế khó xử.

Một mặt, họ tuyên bố mình đã chiến thắng, nhưng đồng thời cũng phải thừa nhận những tổn thất mà quân Trung Quốc đã hứng chịu.

Ban lãnh đạo Trung Quốc cảm thấy cần phải có sự đánh giá khách quan tình hình. Tuy nhiên, tinh thần ái quốc và thành kiến văn hóa cũng khiến họ không đưa ra được những kết luận hoàn toàn khách quan.

Trong bài viết mới nhất về chủ đề này đăng trên tạp chí China Quarterly tháng 12-2005, tác giả Xiaoming Zhang cho biết quân đội Trung Quốc đã rút ra sáu bài học từ cuộc chiến 1979.

Thứ nhất, họ kết luận mọi chiến lược và quyết định quân sự đúng đắn phụ thuộc việc nắm bắt mọi khía cạnh của tình hình.

Cuộc chiến biên giới 1979 cho thấy Trung Quốc không mấy chú ý đến chiến thuật và học thuyết quân sự của Việt Nam trước khi tấn công. Vì thế, họ đánh giá thấp khả năng của đối phương.

Mặc dù chê Việt Nam thiếu khả năng tấn công và phòng thủ, nhưng văn bản chính thức của Trung Quốc cũng thừa nhận chiến thuật du kích và dân quân Việt Nam đã khiến Trung Quốc bị bất ngờ.

Bài học thứ hai là phải thu thập đầy đủ thông tin về tình báo.
Sự đánh giá địa hình địa vật của Trung Quốc thường dựa theo các bản đồ đã quá cũ, trong khi khả năng dò thám trên chiến trường lại cũng hạn chế.

Ngoài ra, Trung Quốc cũng tính nhầm số lượng các dân quân Việt Nam. Ban đầu, Bắc Kinh nghĩ tỉ lệ quân đội tham chiến giữa hai bên sẽ là 8-1.

Nhưng kết quả, riêng tại Cao Bằng có tới 40.000 – 50.000 dân quân Việt Nam, khiến tỉ lệ giảm chỉ còn 2-1.

Nâng cao khả năng

Bài học thứ ba Trung Quốc rút ra từ cuộc chiến liên quan đến khả năng tác chiến.

Đây là lần đầu tiên quân đội Trung Quốc thực hiện tác chiến với sự kết hợp của xe tăng, pháo binh, cộng với không quân và thủy quân.

Nhưng sự lạc hậu trong học thuyết và chiến thuật khiến quân đội không có sự phối hợp cần thiết.

Thành kiến đối với khả năng của không quân khiến binh chủng này không có đóng góp gì vào cuộc chiến ngắn ngày. Trên mặt đất, quân đội cũng chứng tỏ khả năng hợp tác kém giữa bộ binh, xe tăng và pháo binh.

Kinh nghiệm năm 1979 dạy cho Trung Quốc những bài học về kỹ năng điều phối và hợp tác giữa các binh chủng.

Bài học thứ tư là vấn đề về chỉ huy và kiểm soát.

Quan hệ cá nhân giữa các sĩ quan và quân đoàn vẫn đóng vai trò lớn hơn các quan hệ dựa trên những định chế.

Vì thế sau này lãnh đạo Quân khu Quảng Châu thừa nhận họ không thoải mái khi chỉ huy số quân được chuyển từ Vũ Hán và Thành Đô trong chiến dịch.

Bài học thứ năm là việc chứng tỏ Trung Quốc phải cải thiện hệ thống cung cấp hậu cần để hỗ trợ cho một chiến dịch xa nhà.

Vì thiếu kho bãi và thiết bị vận chuyển, hai Quân khu Quảng Châu và Côn Minh phải tự lập ra một hệ thống hậu cần mà không bao giờ hoạt động thật hiệu quả.

Khi quân đội tiến sâu vào lãnh thổ Việt Nam, các sĩ quan hậu cần cũng thấy rằng phải nhờ thêm viện quân để bảo vệ tuyến đường liên lạc.

Bài học cuối cùng liên quan tầm quan trọng của việc tuyên truyền và vận động nhân dân hỗ trợ cuộc chiến.

Kinh nghiệm năm 1979 cho thấy một số lượng khổng lồ lính chính quy Trung Quốc gần như không thể tác chiến ở nước ngoài nếu không có sự ủng hộ của thường dân trong nước.

Bộ máy tuyên truyền của Bắc Kinh đã cổ vũ tinh thần yêu nước và lòng tự hào trong nhân dân. Kết quả, chỉ riêng ở Quảng Tây, hơn 215.000 thường dân được huy động để khuân vác, bảo vệ hàng hóa chở ra trận địa.

Dĩ nhiên, ngày hôm nay không ai nghĩ rằng quân đội Trung Quốc sẽ lặp lại những gì đã làm trong cuộc chiến năm 1979 với Việt Nam.

Tuy vậy, một số điểm từ cuộc chiến này vẫn có thể có ích để nhìn nhận và đánh giá những chiến lược của quân đội Trung Quốc.

Một kinh nghiệm rút ra là các lãnh đạo Trung Quốc tính toán rất kỹ về việc khi nào cần dùng sức mạnh quân sự, nhưng họ không ngần ngại mở cuộc chiến nếu họ nghĩ rằng quyền lợi quốc gia bị đụng chạm.

http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/story/2006/02/060220_1979_lessons.shtml

Nhìn lại nhân vật Hoàng Văn Hoan

Ông Hoàng Văn Hoan-ảnh tư liệu Quốc hội khoá I Việt Nam dân chủ Cộng hoà (www.na.gov.vn)
Ông Hoàng Văn Hoan (ngoài bìa phải) với Hồ Chí Minh và các lãnh đạo Việt Nam
Một sự kiện quan trọng trong giai đoạn xung đột Trung – Việt hồi năm 1979 là vụ bỏ trốn của ông Hoàng Văn Hoan mà đến nay vẫn ít được nói đến.

Không chỉ với chính quyền Việt Nam và cả với dư luận quốc tế, việc một nhân vật cao cấp, công thần của chế độ bỏ đi theo kẻ thù của Hà Nội hồi đó là chuyện ‘động trời’.

Báo Time 20/08/1979 có bài đặc biệt về cuộc bỏ trốn của ông Hoàng Văn Hoan sang Trung Quốc.

Bài ‘Hanoi’s Push’ cho rằng vụ ông Hoàng Văn Hoan (1905-1991), nguyên phó chủ tịch Quốc hội, một đồng chí cũ của Hồ Chí Minh bỏ đi vào tháng 7/1979 và tố cáo chế độ là ‘cú giáng thứ nhì vào hình ảnh của họ’.

Cú giáng thứ nhất, như tờ báo Mỹ, là ‘cuộc tháo chạy của 900 nghìn người’ trong vòng bốn năm trước đó, nhắc đến các đợt thuyền nhân bỏ nước ra đi.

Về với Trung Quốc

Time đưa tin rằng tuần trước đó, ông Hoàng Văn Hoan, 74 tuổi, phát biểu tại Bắc Kinh cáo buộc Hà Nội đối xử với người Hoa ‘tệ hơn Hitler đối xử người Do Thái’.

Ông Hoan, cựu ủy viên Bộ Chính trị cho đến 1976, cũng cho rằng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của ông Lê Duẩn, đã ‘trở thành tay sai ngoại bang’, ám chỉ Liên Xô.

Bỏ trốn sang Trung Quốc, ông Hoan như trở về với những đồng chí chia sẻ quan điểm cộng sản kiểu Trung Quốc của ông.

Các tài liệu của Phương Tây từ 1966 đã xác định ông, cùng những ủy viên BCT khác như Lê Đức Thọ, Nguyễn Chí Thanh là ‘phái thân Trung Quốc’ (pro-Chinese).

Đại tá Bùi Tín, cựu Phó Tổng biên tập báo Nhân Dân, người cũng bỏ Việt Nam nhưng sang Phương Tây để vận động cho dân chủ, thì quan điểm ‘đặc sệt thân Tàu’ của ông Hoan đã được biết đến từ trước năm 1979.

Ông Bùi Tín nói ông Hoan xuất thân từ một gia đình Hán học, hoạt động nhiều
̀ năm ở Hoa Nam và ‘tiếp thu văn hóa, tư tưởng Trung Quốc trực tiếp từ nguồn’:

“Ông không đồng tình với quan điểm đứng giữa Liên Xô và Trung Quốc, ông theo phái nghiêng hẳn về Trung Quốc”.

“Ông không thấy Trung Quốc có hai mặt: cách mạng và bành trướng”.

Từng sang Trung Quốc hoạt động với bí danh Lý Quang Hoa cùng các ông Võ Nguyên Giáp và Phạm Văn Đồng, Hoàng Văn Hoan trở thành nhân vật cao cấp phụ trách ngoại giao của Việt Minh.

Lê Duẩn đã phản bội đường lối Hồ Chí Minh và làm hại tình hữu nghị với Trung Quốc
Quan điểm của Hoàng Văn Hoan

Sau đó ông được Hồ Chí Minh, người đồng hương Nghệ An, cử làm đại sứ đầu tiên của VNDCCH tại Bắc Kinh.

Các tài liệu nước ngoài mô tả ông Hoan có vị trí hơn một đại sứ bình thường vì thường được Mao Trạch Đông tiếp riêng để bàn thảo các vấn đề hai nước, kể cả chiến lược đánh miền Nam của Ban lãnh đạo Hà Nội.

Số phận của ông sau khi sang Trung Quốc qua ngả Pakistan vào tháng 7/1979 cùng gia đình cũng phản ánh thái độ của Trung Quốc với Việt Nam và quan hệ hai bên.

Xuất bản cuốn ‘Giọt nước trong biển cả’, ông đưa ra quan điểm ‘tố cáo tập đoàn Lê Duẩn’ đã phản bội đường lối Hồ Chí Minh và làm hại đến ‘tình hữu nghị với Trung Quốc’.

Cuốn sách được dịch sang tiếng Anh ‘A Drop in the Ocean: Hoang Van Hoan’s Revolutionary Reminiscences’ do Bắc Kinh xuất bản năm 1988, xác định tư cách của ông như một nhân vật Mao-ít đến cùng.

Ông cũng đưa ra cáo buộc rằng Trung ương Đảng ở Việt Nam từ 1982 đã chỉ đạo việc trồng nha phiến để bán ra quốc tế lấy đôla. [Chuyện trồng và bán thuốc phiện để lấy đô la của đảng CSVN khởi đầu từ năm 1954 và chấm dứt năm 1986. Người đứng đầu hệ thống kinh tài thuốc phiện để đảng có ngoại tệ là tướng Chu Huy Mân. Ông tướng này sau ngày về hưu thì bị đảng cô lập giam lỏng tại gia ở Hà Nội (để ông ta khỏi tiết lộ bí mật) cho đến khi qua đời –đây là chuyện khá phổ biến theo các blogger ở ngòai miền Bắc thuật lại].

‘Không giống Hồ Chí Minh’

Ông Bùi Tín, hiện sống tại Paris cho hay ông Hoan khá đơn độc trong đường lối thân Trung Quốc và bác bỏ cách tuyên truyền của Trung Quốc rằng ông Hoan là người duy nhất ‘trung thành với đường lối Hồ Chí Minh’.

Ông nói:

“Ông Hồ khéo léo với Trung Quốc hơn nhiều và luôn cố gắng cân bằng giữa Liên Xô và Trung Quốc”

Đặng Tiểu Bình và Hồ Chí Minh-ảnh tư liệu

Ông Hồ khéo léo với Trung Quốc hơn nhiều và luôn cố gắng cân bằng giữa Liên Xô và Trung Quốc.
Đại tá QĐNDVN Bùi Tín

“Một lần ra đón ông Hồ tại sân bay chúng tôi thấy ông mặc áo khoác có huy hiệu Mao sau chuyến đi thăm Trung Quốc về. Ông hiểu ý và cười rằng ‘chỉ đeo ở áo ngoài thôi đấy nhé”.

Trái lại, theo ông Tín, Hoàng Văn Hoan hoàn toàn theo đường lối Maoist, ủng hộ Trung Quốc trong cuộc chiến 1979, chế độ Pol Pot và phái bảo thủ tại Trung Quốc.

Ở Việt Nam, ông bị tuyên án tử hình vắng mặt và trở thành biểu tượng của sự phản bội.

Đài báo so sánh Hoàng Văn Hoan với Lê Chiêu Thống và dùng hình ảnh ông để nói về các kẻ thù bên trong.

Đảng cộng sản đã thực hiện một cuộc thanh lọc nội bộ để loại bỏ tất cả những ai bị nghi là có dính líu đến ông Hoàng Văn Hoan.

Trong khi đó, Trung Quốc quyết tâm bảo vệ ông Hoan và coi việc đối xử với ông như một điều kiện để bình thường hóa quan hệ.

Năm 1991, Trung Quốc tổ chức lễ tang cấp nhà nước dành cho ông Hoàng Văn Hoan tại nghĩa trang Bát Bảo Sơn, nơi an nghỉ của nhiều cố lãnh tụ cao cấp nhất của Đảng, Nhà nước, và quân đội Trung Quốc.

Việc chấp nhận vị trí của ông Hoan trong lịch sử đầy biến động của Việt Nam xem ra vẫn còn là điều khó khăn ở trong nước dù gần đây, nhà chức trách đã có động tác để hình ông trên trang web của Quốc hội.

Nhưng cho đến nay, số phận của gia đình ông (xem bài đi kèm) cũng là câu chuyện đáng nói và phản ánh cách giải quyết chuyện nội bộ với những người bị coi là ‘phản bội’ trong lòng một hệ thống đóng kín.

http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/story/2009/02/090216_hoangvanhoan_profile.shtml

———————

Quốc PhươngBBC Việt ngữ

ông Hoàng Văn Hoan đeo kính, đứng bên tay phải bức hình

Sau 30 năm kể từ Chiến Tranh Biên Giới, Trung Quốc và Việt Nam đã bình thường hoá quan hệ trên nhiều lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá… sau một cuộc xung đột vũ trang được cho là lần đầu tiên xảy ra giữa hai quốc gia cùng ý thức hệ cộng sản.

Nhưng câu chuyện về ông Hoàng Văn Hoan, cựu ủy viên Bộ Chính trị, Đại sứ đầu tiên của Việt Nam tại Trung Qu�
�c, người bỏ trốn theo Trung Quốc vào tháng 7/1979 vẫn chưa được bàn đến công khai.

Trong cuộc trao đổi dành riêng cho BBC hôm 13/2/2009, một trong những người cháu của ông Hoàng Văn Hoan xin không nêu tên, đã kể nhiều chi tiết ‘đầy sóng gió’ về số phận của họ.

‘Bình phản án tử hình’

Người cháu ông Hoan cho biết:

“Ông Hoan có một người con trai duy nhất là ông Hoàng Nhật Tân, năm nay đã ngoài 80 tuổi, sức khoẻ đã rất kém, mà do mới đột quỵ hồi Tết, hiện không nghe, nói được. Trước đây, năm nào ông Tân cũng đề nghị Nhà nước bình phản lại án tử hình với cha ông nhưng đều không được.”

“Hồi cụ Đồng (Phạm Văn Đồng) còn sống, ông đến kêu cụ Đồng, hồi cụ Trường Chinh còn sống, thì kêu với cụ Trường Chinh. Bây giờ các ông khác già hết rồi, chẳng biết kêu ai.”

“Trước đây, các ông Trường Chinh, Phạm Văn Đồng có hứa với gia đình rằng ‘Để rồi bác sẽ bàn, đề nghị với Bộ Chính trị’, nhưng cũng nói rằng khó lắm vì đó là tương quan với ông Lê Duẩn”.

Cuộc chạy trốn bí mật

Cuốn sách ‘Giọt nước trong biển cả’ của ông Hoan, có đoạn, nói rằng ông đã không theo quyết định của Bộ Chính trị vốn quyết rằng ông bị ung thư phổi và phải bay đi Đức để chữa bệnh.

Người cháu nay thuật lại ông Hoan tin rằng “nếu bay đi Đức thì chắc rằng chỉ một liều thuốc là xong”.

Vì thế ông quyết định khi tới Karachi, tìm cách trốn sang sứ quán Trung Quốc và được đưa tới Trung Quốc. Trung Quốc đã mổ thành công và ông đã sống thêm 12 năm nữa. Trong 12 năm này, ông đã viết nhiều công trình mà một trong đó là cuốn ‘Giọt nước trong biển cả.’

Trong cuốn sách, ông Hoan cũng nói rằng việc làm của ông là ‘thiên thu định luận’, tức một nghìn năm sau thì sẽ rõ. Sau đó, ông Hoàng Nhật Tân có viết một cuốn là ‘Thiên thu định luận’, 500-600 trang, thuyết minh rằng cha ông là một nhà yêu nước vĩ đại, nhưng cuối cùng cũng không được phát hành.

Ông Lê Duẩn, đầu tiên từ phải
Ông Lê Duẩn là nhân vật quyền lực thứ hai sau Hồ Chí Minh

Vẫn theo lời chứng̉, vào năm 1991, khi gia đình được phép sang thăm ông trong vòng bốn tháng liền tại khu Ngọc Trường Sơn, trong Di Hoà Viên, nơi trước đây ông Lâm Bưu từng sống, khi ông già yếu và sắp mất, thì ông vẫn còn rất tỉnh táo, tỉnh táo cho đến phút chót.

“Người nhà cứ hai, ba ngày thay phiên nhau vào chăm sóc ông. Ông hỏi về tình hình Liên Xô, Trung Quốc, Việt Nam vào thời điểm đó. Ông rất tỉnh táo, câu hỏi sắc sảo. Ông không bình luận gì nhưng chịu khó nghe. Ông hỏi về so sánh Liên Xô đang cải tổ, Trung Quốc đang cải cách và Việt Nam đang đổi mới lúc đó, có gì giống nhau, khác nhau,”

“Sự chăm sóc của Trung Quốc đối với ông không có gì để bàn. Lúc đó, ông Giang Trạch Dân là Tổng bí thư kiêm Chủ tịch nước, ông Lý Bằng là Thủ tướng Quốc vụ Viện, các ông coi ông Hoan là người bạn lớn của nhân dân Trung Quốc.”

Nghĩa tử, nghĩa tận

Lễ tang của ông Hoan được coi như một lễ tang cấp cao của Đảng và của Nhà nước Trung Quốc vì ông được coi như một lãnh tụ của Đảng Cộng sản TQ. Không có chuyện Đại sứ quán Việt Nam tham dự.

Theo lời kể, khi đó do quan hệ hai bên còn căng thẳng, khi gia đình đi thăm ông Hoan, đều có an ninh của Việt Nam đi cùng.

“Lý do Việt Nam lúc đó đồng ý cho gia đình sang thăm là dàn xếp quan hệ cấp cao và nghĩa tử là nghĩa tận theo truyền thống, cho nên họ phải đồng ý. Khi đi, gia đình hứa là sẽ quay về.”

“Gia đình cũng cam kết đảm bảo là không làm điều gì liên quan tới chính trị khi sang Trung Quốc mà đây chỉ là chuyện gia đình. Do đó không có vấn đề gì,”

Bảo ông ta về nước đi, không hỏi những chuyện linh tinh đó làm gì!.
Lời Hoàng Văn Hoan được thuật lại

“Ông Hoan không bao giờ dặn dò gì gia đình về chuyện chính trị hay sự nghiệp. Cùng thời gian đó, có việc Việt Nam chuẩn bị kỷ niệm 100 năm sinh Hồ Chí Minh. Một nhà nghiên cứu có tiếng của Việt Nam đã sang Trung Quốc và đề nghị gặp trực tiếp ông Hoàng Văn Hoan để tìm hiểu về Hồ Chí Minh, đặc biệt tìm hiểu các chi tiết đời tư chứ không phải với tư cách một chính khách.”

Người cháu của ông kể tiếp:

“Khi ấy, ông Hoan đã cho thư ký là một cựu sinh viên người Hoa gốc Việt từng tốt nghiệp Đại học Tổng hợp ở Hà Nội, giỏi cả tiếng Việt và tiếng Trung, tiếp. Thư ký sau đó thuật lại việc nhà nghiên cứu này định hỏi ông Hoan về chuyện ‘cụ Hồ có con riêng’ có đúng hay không,”

Yêu đảng, yêu nước

Ông Hoan bảo: “Bảo ông ta về nước đi, không hỏi những chuyện linh tinh đó làm gì!.” Ông Hoan là người rất kín kẽ, ông không bao giờ tuỳ tiện cho ai biết những chuyện quan trọng. Ông thường chỉ làm việc ở cấp cao, còn gia đình thì cứ đi thăm, nói chuyện vui vẻ thôi, không nói chuyện gì về chính trị cả.

Vẫn theo lời thân nhân của ông, “Tuyệt đối không có chuyện họp gia đình, bàn chuy�
�n này, chuyện kia, như là người ta đồn ông Hoan có cả quân đội, đài phát thanh. Đó là xuyên tạc! Ông Hoan ông không làm thế. Ông là nhà yêu nước đứng đắn, ông không làm chuyện gì khuất tất.”

Ông Đặng và ông Hoan gặp nhau rất đơn giản vì ông Hoan có khả năng nói tiếng Trung trực tiếp không qua phiên dịch. Quan hệ rất tốt, vừa là đồng chí, vừa là anh em
Lời kể của thân nhân

Ông Hoan muốn giải thích trong sách rằng ông vẫn yêu Đảng, yêu nước và ông muốn sống thêm để chứng minh rằng đã có người phản bội, nhưng ở Việt Nam vẫn không nhận ra, hoặc nhận thức lầm. Có vẻ ông đã cố chứng minh bằng những dữ liệu, số liệu, bằng chứng, quan điểm.

Người cháu kể ông có sự hỗ trợ của Trung Quốc, họ cung cấp mấy người thư ký, văn phòng làm việc, ô tô đi lại, điều kiện rất tốt.

“Phản biện lại những dư luận từ nhà nước Việt Nam, trong đó nhiều ý nói rằng ông là Trần Ích Tắc, Lê Chiêu Thống v.v…, ông đã chứng minh trong công trình của mình rằng ông không phản bội lợi ích của nhân dân mà chính người khác đã phản bội. Nhưng ông nói chuyện của ông 1.000 năm sau mới định được, còn định ngay lúc đó thì khó,” người cháu ông Hoan kể.

‘Chính trị phải thế’

“Ông nói rằng bản thân rơi vào tình trạng rắc rối và phải đi, mà bây giờ người ta gọi là bất đồng quan điểm. Ông không thể đi một nước thứ ba, như là Liên Xô, vì quan điểm của ông với Liên Xô không gần nhau,”

“Đúng là Trung Quốc tiếp đãi ông Hoan như thế vì ông thân Trung Quốc và có lợi cho Trung Quốc vào thời điểm bấy giờ. Chính trị phải thế! Trung Quốc coi ông có lợi cho họ. Nhưng đồng thời họ cũng nuôi dưỡng nhiều lực lượng cách mạng thực sự cho Việt Nam,” người cháu nhận xét.

Nixon thăm Trung Quốc năm 1972
Chuyến thăm của tổng thống Nixon tới Trung Quốc năm 1972 ấn định số phận cuộc chiến Việt Nam

Về câu hỏi rằng liệu Việt Nam có thể tránh được cuộc chiến tranh năm 1979 với Trung Quốc, nếu quan điểm, đường lối của ông Hoan trong quan hệ với Trung Quốc được Việt Nam lắng nghe hoặc điều hoà như thế nào đó, người nhà ông Hoan cho rằng cục diện trước đó quá rõ ràng. Hoàn toàn có thể tránh cả hai cuộc chiến Tây Nam và cuộc chiến 79.

“Đường lối của ông Hồ là sau hoà bình, sau cuộc chiến quá dài với Mỹ, mọi người kiệt quệ, là phải an dân, phải tránh chiến tranh, phải khoan sức dân, phải giảm thuế v.v… Ông Hoan rất phản đối và phê bình việc dẫn đến sự thể phải phát động cả hai cuộc chiến.”

Người cháu ông Hoan cho BBC biết quan hệ giữa ông Đặng Tiểu Bình và ông Hoàng Văn Hoan rất tốt. “Cả hai ông Giang Trạch Dân và Lý Bằng đều là người của ông Đặng. Trong đám tang ông Hoàng Văn Hoan ông Giang Trạch Dân và ông Lý Bằng đều đến viếng. Ông Đặng Tiểu Bình có gửi vòng hoa, viết rất nhiệt tình, đề cao ông Hoan.”

“Ông Đặng và ông Hoan gặp nhau rất đơn giản vì ông Hoan có khả năng nói tiếng Trung trực tiếp không qua phiên dịch. Quan hệ rất tốt, vừa là đồng chí, vừa là anh em.”

Bi kịch cha con

Về quan hệ giữa hai cha con mà có dư luận rằng có sự mâu thuẫn, theo đó, ông bố thì được cho là thân Trung Quốc, ông con, Hoàng Nhật Tân, thân Nga Xô, trường hợp ông Tân được cho là một bi kịch.

Thân nhân ông Hoan kể rằng ông Tân học giỏi, ông được cử đi Nga học tập. Sang Nga, ông thấy đường lối của Khrushchev hay, ông có những phát biểu. Vì thế ông Hoan gọi về Việt Nam, thi hành kỷ luật, cho ‘đi đầy’ một năm, hai năm gì đó, xong rồi cho phục hồi.

“Vừa được phục hồi, nghe đâu đang làm thủ tục làm Phó Viện trưởng Viện Sử học, thì ông Hoan lại bỏ đi Trung Quốc (1979), cho nên người ta ép ông con ra khỏi Đảng, rồi ép đủ thứ. Nghe nói ông Tân đến tận bây giờ vẫn còn có người theo dõi,”

“Trong nhà hiện nay, chỉ có ông Tân là người bị theo hàng ngày, về lý do thì có thể là do họ sợ rò rỉ thông tin hoặc thế nào đó,”

“Thời các năm 1991, 1992 cho tới 1996, 1997, nhiều lúc con cháu của ông Hoan trong gia đình ở Hà Nội đi đâu, cũng có ít nhất một nhân viên công an đi theo sau. Bây giờ thì cũng thoáng rồi vì họ sống cũng đứng đắn, sống đúng theo tư cách công dân.”

‘Chăm sóc đặc biệt’

Cuộc sống gia đình rất phức tạp và là một câu chuyện dài với việc mỗi thành viên phải tự lo công việc của mình. Một người con gái của ông Hoàng Nhật Tân, cháu nội ruột của ông Hoan, tốt nghiệp Đại học Sư phạm, ra không có việc làm. Bà phải xin mãi mới về được Viện Triết học làm thư viện.

Theo người nhà ông Hoan thì ông Phạm Như Cương, Phó Chủ tịch Hội hữu nghị Việt – Trung và Viện trưởng, phải đứng ra bảo lãnh thì bà mới về làm việc được, chứ không phải tự nhiên mà vào làm nhà nước được, đó là ngay sau khi cụ Hoan ra đi (1979).

Về lý do người ta đưa ông con trai cả của ông Tân ra khỏi quân đội thì chắc có thể là để cho an toàn gì đó
Cháu ông Hoàng Văn Hoan

Người con trai cả của ông Hoàng Nhật Tân, là đảng viên, phải ra khỏi quân đội. Trong nhà có mấy người là đảng viên đó là bà Tân và ông con cả. Có một người con dâu của ông Tân mới kết nạp mấy năm nay. Còn lại đều không là đảng viên.

Về lý do người ta đưa ông con trai cả của ông Tân ra khỏi quân đội, người nhà ông Hoan tin rằng đó có thể do lý do ‘an toàn’ nào đó. “Có một sự chăm sóc đặc biệt. Như ông Tân bị ép ra khỏi đảng. Ông phải chủ động viết đơn để ra khỏi đảng.”

“Về kinh tế, tài chính thì những năm đó rất khó khăn, mọi người phải tự lo lấy mà sống. Nhưng có một việc không biết ở các gia đình khác ra sao, còn tại gia đình mình, ông Hoan có một đạo đức rất rõ ràng, tức là không ai được sống dựa vào ông ấy.”

“Cho nên mọi người phải tự lực từ lâu. Khi ông đi, thì mọi người chẳng làm sao cả.”

Ông bà Tân đều là cán bộ nhà nước. Các con cháu về sau cũng dần có được việc làm, với mức lương tối thiểu sống được. Bà Tân, con dâu cụ Hoan, từng làm ở Đảng uỷ Quận Hoàn Kiếm và làm cho đến lúc về hưu.

Khi ông Hoan đi, ông không hề cho ai trong gia đình biết, sau đó ông Tân gần như bị bắt.

Một cảnh ở Trung Quốc
Ông Hoan sống ở một căn nhà trong khu Di Hoà Viên nhiều năm

“Nhưng người ta cứ nghĩ là ông Tân biết. Thực ra ông không hề biết và cũng chẳng ai biết. Nếu biết là rắc rối ngay. Khi tới Karachi (thủ đô Pakistan), ngay cả ba người tháp tùng ông Hoan là bảo vệ, thư ký và y tá đều không biết,” người cháu ông Hoan kể tiếp.

Ở khách sạn tại Karachi, ông Hoan đi ra ngoài đi dạo, ông gọi xe taxi và đi về sứ quán của Trung Quốc. Ba người này về sau bị bắt, và vẫn theo lời kể, nhóm thư ký của ông Hoan đã bị tù mấy năm.

‘Không có bản án?’

Đến tận hôm nay, có một điều gia đình vẫn không rõ. Đó là vì sao khi hai nước Trung Quốc, Việt Nam đã bình thường hoá quan hệ, thậm chí hai Đảng và hai Nhà nước đã hữu hảo hơn, mà bản án tử hình của nhà nước Việt Nam dành cho ông Hoan chưa được huỷ bỏ.

“Hình như năm ngoái, khi còn khoẻ, ông Hoàng Nhật Tân có tới Toà án để xin một bản sao bản án ‘xử tử vắng mặt’ đối với cha mình. Mục đích là để làm bằng chứng khi đi trình bày với các nơi và xin được hết án này với ông Hoan, thì được họ trả lời rằng không có văn bản nào cả.”

Năm nào ông Tân cũng viết thư, viết đơn, đề nghị phản bình lại bản án
Cháu ông Hoàng Văn Hoan

“Nhưng đây không phải là Toà án Tối cao hoặc Toà án nhà nước nào khác, mà dường như đây liên quan tới Toà Án Nhân dân TP Hà Nội. Nhưng họ nói là chẳng có văn bản gì cả. Sau đó, ông Tân cũng thôi không làm nữa. “

“Hồi đó người ta cũng không thông báo gì về bản án tử hình vắng mặt đó. Chỉ là thông báo, công bố trên đài báo, không có thông báo gì cho gia đình cả. Còn về kế hoạch có làm tiếp việc xin huỷ bỏ bản án trong tương lai, thì trong gia đình chỉ có một mình cụ Tân làm. Ngoài ra, không có ai nghĩ làm việc đó cả.”

Trong lòng quê hương

Theo di chúc, hài cốt hoả táng của ông Hoan được chia thành ba phần. Một phần để ở nghĩa trang Bát Bảo Sơn, tương tự nghĩa trang Mai Dịch ở Hà Nội. Đó là một nghĩa trang dành cho các quan chức cao cấp của Đảng và Nhà nước Trung Quốc.

Ở đó, họ xây một cái mộ, hàng năm họ vẫn cho tiền gia đình, ít nhất hai người, sang đó để viếng thăm. Ông Hoan được để ở một chỗ rất long trọng. Một phần tro cốt được đưa đi Côn Minh để rắc trên đầu nguồn sông Hồng. Vì ông Hoan muốn về nước bằng con đường sông Hồng.

Vẫn theo lời kể của người cháu, một hộp tro nữa sau khi mang về nhà thờ mấy năm, nay được đưa về quê ở làng Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An. Trung Quốc cho một ít tiền để xây một cái mộ tương đối lịch sự. Tất nhiên là mộ đó không bằng mộ của ông Hồ Tùng Mậu, mà nhà nước xây rất lớn. Ở đó có hai dòng họ là họ Hồ, lớn nhất, rồi đến họ Hoàng.

Chăm sóc ruộng rau ở Quỳnh Đôi, Quỳnh Lưu, Nghệ An
T
rên quê hương Quỳnh Đôi của ông Hoan ngày nay

Hàng năm con cháu về đây viếng thăm. Trong nhà thờ họ Hoàng, đã có thờ ông Hoan. Họ không thờ ông là uỷ viên bộ chính trị, phó chủ tịch quốc hội mà tấm bia thờ chỉ đề ông Hoàng Ngọc Ân (tên tục của ông Hoan) là nhà yêu nước lớn.

Kết luận, người cháu của ông Hoan nói:

“Gần đây có một diễn biến và biểu hiện mới, mà chính sứ quán Trung Quốc nói với gia đình, là một vài hình ảnh của ông Hoan hồi làm Phó Chủ tịch ở Quốc hội, trước đây bị xoá hoặc bỏ đi, nay đã được phục hồi. Còn các hình ảnh ông Hoan bên cạnh ông Hồ thì họ xoá sạch.”

Bài viết dựa trên lời kể của thân nhân ông Hoàng Văn Hoan. Quý vị có ý kiến về bài viết này, xin gửi thư cho BBC ở địa chỉ vietnamese@bbc.co.uk hoặc dùng hộp tiện ích bên phải.


Linh, Yokohama

Phong trào phe cánh trong Đảng đã có từ hơn nửa thế kỷ trước. Ngày nay cũng vậy, một số rất ít theo Nga, còn lại thì chia đôi theo Trung Quốc và Hoa Kỳ.

Tears, Sài Gòn

Ông Hoàng Văn Hoan được TQ đối đãi tử tế chẳng qua họ muốn moi được nhiều tin tức quý báu về Việt Nam từ ông. Đồng thời ông Hoan trở thành cái ‘loa tuyên truyền’ quá tốt cho họ. Nếu ông thực sự yêu nước và bất mãn với chế độ hay đảng Cộng sản, ông có thể làm như bậc anh hùng Nguyễn Trãi về quê ở ẩn.

Như vậy vẫn giữ được tấm lòng yêu nước với dân tộc chứ đâu cần phải chạy qua TQ, lại còn ủng hộ TQ nuôi dưỡng Khomer đỏ, lấn chiếm biên giới Viêt Nam, thật là sai lầm. Nói 1000 năm sau nhân dân mới hiểu ra, tôi ngờ đó có thể là sự ngụy biện.

Nam

Không phải ông Đặng Tiểu Bình đã từng nói: ‘người TQ làm gì cũng có tính toán’ sao? Tôi năm nay 24 tuổi nhưng có đến nhắm mắt cũng không tin là Trung Quốc thật lòng cư xử với ông Hoan vô vị lợi. Ông Hoan nói rằng chiến tranh phần lớn do ông Lê Duẩn. Nhưng liệu không có chiến tranh 1979, chắc gì TQ đã từ bỏ dã tâm của mình không?

Họ cũng có thể kiếm cớ khác thôi. Lịch sử tới nay, dù có thể thay đổi, nhưng cũng không thấy có sự thay đổi nào đáng kể trong dã tâm của ‘người anh cả’ này. Đừng tin những gì TQ nói mà hãy coi những gì họ làm với đất nước ta, nhân dân ta.

Không tên, Cần Thơ

Tôi là người Việt Nam, có gia đình theo Việt Nam cộng hòa, tôi không thích Đảng Cộng Sản, nhưng tôi ủng hộ phán quyết và phê phán của Việt Nam đối với ông Hoan, hành động đó phải được nghiêm trị.

Cu Ti, Việt Nam

Trung Quốc từ xưa đến nay có tốt với Việt Nam bao giờ? Cái gì có lợi lớn cho họ thì họ làm, còn không thì thôi. Đó là tâm địa của mấy anh hay đi bắt chẹt mọi người. Họ nuôi cụ Hoan có lẽ vì cụ cung cấp nhiều thông tin mà họ có thể dùng được. Nói chung cụ theo Trung Quốc thời đó, thì tội “phản quốc” là nặng hơn sang Mỹ nhiều.

Trần Tiến

Trung Quốc cố vấn cho Việt Nam giết hại dân lành trong cải cách ruộng đất, năm 1974 xâm lược Hoàng sa của VN. Trung Quốc đâu phải là bạn của nhân dân Việt Nam. TQ cũng cố vấn tiếp tay cho Khme đỏ gây thảm họa diệt chủng cho Nhân dân Camphuchia, giết hàng chục ngàn dân VN ở biên giới tây nam. Ngày 17/2/1979 TQ xâm lược VN, ngày 11/6/1979, ông Hoàng Văn Hoan chạy sang TQ quy hàng giặc, tránh sao khỏi bị cho là có hành động như Lê Chiêu Thống ngày xưa?

Conan Sài Gòn

Hồ Chí Minh thì cân bằng giữa Stalin & Mao. Lê Duẩn thì theo hẳn Stalin. Còn Hoàng Văn Hoan thì theo hẳn Mao. Xem ra cả ba ông này đều mang lại cùng một kết quả cho đất nước và nhân dân Việt Nam. Có lẽ số phận của dân tộc VN là phải chịu nhiều đau khổ.

http://blog.360.yahoo.com/blog/compose.html?msgid=MeJ70ZJmI_A-

Posted in Chien Tranh Bien Gioi Viet Trung 1979, Đảng CSVN | 4 Comments »

►Chiến Tranh Biên Giới Việt Trung 17/2/1979 (bài 2)

Posted by hoangtran204 trên 15/02/2009

Bài này bị mất đang cố gắng tìm lại. Xin cáo lỗi cùng bạn đọc.

Posted in Uncategorized | 1 Comment »

Một chuyến nghỉ đông [1]

Posted by hoangtran204 trên 15/02/2009

Tác Giả Trương Như Thường

Vào cuối năm giữa hai khóa học, tôi được phép nghỉ dạy một tháng, và sẵn dịp có một bạn đã rủ đi thăm viếng thủ đô Kuala Lumpur của xứ Malaysia từ cả năm trước. Tôi quyết định tìm đến vùng đất ấm để tránh mùa đông lạnh lẽo (Chúa-sinh-ra-đời) ở Hoa-Kỳ. Ngoài ra, bạn tôi cho biết, có đủ mọi hạng người Việt-Nam hiện đang sinh sống tại đất Mã-Lai. Cuộc sống có vẻ dễ chịu hơn, công ăn việc làm thoải mái hơn, nên con số người Việt làm ăn tại Mã tăng lên cả trăm ngàn người từ nhiều năm nay.

Trước năm 1975, trên bình diện kinh tế, đất Mã cũng bình thường thôi. So với đất nước Việt-Nam Cộng-Hòa ngày trước, Mã-Lai chưa có gì lạ. Nhưng nay nghe khác quá xa! Ðây cũng là một đề tài nghiên cứu về lao động khá hấp dẫn. Nhân chuyến đi nầy, tôi ghi vội mấy hàng tận mắt để gửi đến các bạn đọc một vài hình ảnh và cảm nghĩ của tôi về cuộc du lịch và của một số người Việt đi làm ăn tại đất khách quê người.

Tôi mê sầu-riêng hơn xoài và ổi! Ảnh: Tác giả.

Ngày Một: Thứ Ba, 6 Tháng Giêng.

Selamat Datang, tiếng Mã-Lai nghĩa là “chào mừng”, rất được thông dụng cho các hàng quán khi được biết khách là người xứ ngoài đến viếng thăm. Tôi đã nghe thành ngữ này lần đầu tiên khi bước qua cổng quan thuế của xứ Mã, khiến lòng người vui vẻ, mặc dầu cơ thể đang mỏi mệt vì chuyến bay xa. Khí hậu ở đây quá nóng nực, Normal 0 90ºF (32ºC), nhưng không oi bức vì hôm qua trời mới đổ mưa. Mồ hôi trán ra nhễ nhại vì tôi mặc áo quần quá dày. Ðang ở mùa đông xứ lạnh, nay lại mò về miền nhiệt đới gần đường xích đạo, nên mới ra nông nỗi!

Ðường xá khu Sentul tương đối sạch sẽ và có nhiều cây xanh, khiến kẻ lữ hành cũng thấy dễ chịu. Nhớ tới đường xá quê nhà mà lòng bùi ngùi.

Tôi đi rất gọn nhẹ, chỉ đem theo có 3 bộ quần áo, một cái laptop, một máy ảnh digital (để ghi lại tất cả hình chụp trong hồi ký này), và cuốn Applied Statistics dày cộm (chuẩn bị để dạy lớp thống-kê-học khóa mùa xuân sau khi trở về Mỹ; tuy đang nghỉ xả hơi nhưng không quên nhiệm vụ).

Từ phi trường Kuala Lumpur (còn gọi là KL; dân địa phương thích gọi tắt như vậy), lấy xe điện cao tốc KLIA Ekspress về đến trung tâm thành phố chỉ mất có 28 phút, với giá 35 RM. Hệ thống công quản chuyên chở (public transportation) của Mã-Lai khá tốt, bao gồm sáu loại tuyến xe khác nhau để phục vụ cho dân chúng. Thiên hạ, thiệt tình, không cần phải sắm/lái xe hơi riêng.

Xe Ekspress về đến bến Stesen Sentral thì dừng lại. Ðây là một cái bến rất to, Stesen Sentral nghĩa là “bến trung tâm”, tôi nghĩ tiếng Anh là Station Central, nhưng dân Mã ký âm ra như thế. Từ bến trung tâm, tôi lại lấy xe điện thường KTM Komuter với giá chỉ có 1 RM để về trạm Putra độ 15 phút; rồi từ đó, đi bộ thêm 15 phút nữa là tới khách sạn mười tầng, loại bốn sao, trả khoảng $45/đêm. Từ trên lầu bảy có thể nhìn thấy Tháp Ðôi (Twin Tower Building) nổi tiếng và phố xá chung quanh, rất thú vị.

Đuờng phố KL từ khách sạn nhìn xuống.

Tháp Ðôi (Twin Tower Building). Ảnh: Tác giả

Từ phi trường về đến khách sạn thật ra chỉ tốn chừng 70 RM ($21), nếu đi bằng teksi (taxi) với hai người. Tôi có hẹn với anh bạn từ Âu-châu là đợi nhau tại phi trường để cùng nhau về khách sạn vì giờ đáp của cả hai, trên giấy tờ xê xích chỉ có một tiếng đồng hồ. Nhưng thực tế vì trễ chuyến bay, nên hồn ai nấy lo, mạng ai nấy giữ. Tôi đã giữ địa chỉ của khách sạn. Ði tới đâu, hỏi đường tới đó, và có bản đồ trong tay là xong ngay.

Ba người bạn: một từ Úc, một từ Âu, và một từ Mỹ ước hẹn gặp nhau lúc 3 giờ chiều tại Jalan Munshi Abdullah (Jalan nghĩa là “đường cái”, đọc theo âm Việt là “da-lăn”). Thay vì gặp nhau lúc 3 giờ chiều, phải đến 7 giờ tối mới tụ hội được với nhau. Tôi mãi mãi vẫn là người đến sau. Trễ mất 4 tiếng!

Ba người cùng nhau dùng 3 món cơm bình dân: canh-xào-mặn. Canh chua đồ biển, rau muống xào, và cá chiên, tốn gần 70 RM (RM là Ringgit Malaya; với hối suất 3.4 RM = $1). Quán ăn là tiệm cơm Tàu-Mã tại góc Lorong Haji Taib (Lorong nghĩa là “đường hẻm”) lúc 8 giờ tối. Bữa cơm tối thật là ngon miệng, để đền bù lại sau 23 tiếng đồng hồ ngồi trên máy bay và chờ đợi đổi chuyến tại các phi trường. Tôi khởi hành từ San Francisco lúc 12:05 AM thứ hai, ghé Hongkong, rồi Singapore, và tận cùng là dừng chân tại KL.

Ngày Hai: Thứ Tư, 7 Tháng Giêng.

Thăm Chợ Trong Xóm
7:30 sáng thức dậy đi chợ sớm. Ðây là loại chợ bình dân, len trong xóm nhỏ, với các đường con (lorong), được chính phủ qui hoạch đặt kế bên những biệt thự cao sang ngoài đường cái (jalan). Ðủ mọi loại người: người M
ã, người Tàu, người Ấn, người Tây; chen đủ mọi thứ tiếng: tiếng Mã, tiếng Quảng-Ðông, tiếng Ấn, và tiếng Anh (rất thông dụng).

Tuy trong quá khứ, đã từng xảy ra những vụ tranh chấp sắc tộc một cách đẵm máu. Nhưng hiện nay, mọi giống dân chung sống thật hài hòa. Xem cảnh bình an của chợ xóm nhỏ thì ta thấy rõ. Ðường con được đóng lại từ 6 giờ sáng đến 12 giờ trưa, không cho xe hơi vào, để mở chợ xóm. Chợ được nhóm họp hằng ngày.

Dân số Mã-Lai khoảng 25 triệu người, chung sống trên một diện tích 330 ngàn cây số vuông. Thành phần sắc tộc: Mã 50.4%, Tàu 23.7%, thổ dân 11%, Ấn 7.1%, các giống khác 7.8% (theo ước tính năm 2004 của tài liệu CIA). Chính trị theo hệ thống liên bang, gồm 13 bang nhỏ hợp lại.

Chợ Mã không ồn ào và náo nhiệt bằng chợ Việt. Nhưng lại có những hình ảnh thân thương như bàn thờ dưới gốc cây trong làng, không thua gì chợ Việt thời xa xưa. Mà sạch sẽ và vệ sinh hơn hẳn chợ Việt vì hệ thống nước xài và cống rãnh hữu hiệu hơn. Xen kẽ các khu gia/chung cư của giới bình dân là một vài căn nhà phong lưu với cổng sắt và cây kiểng. Trông khá đẹp mắt!

Chợ trong xóm nầy, bày bán đủ mọi thứ đồ ăn và đồ dùng, giống như kiểu chợ trời (flea market) ở Mỹ. Ðầy các gian hàng thực phẩm, từ rau cải, trái cây, heo, gà, cá sống làm thịt ngay tại chỗ; đến mấy món ăn chơi, ăn thiệt, kẹo bánh, dưa mứt, không thiếu thứ chi. Xóm nầy có vẻ chịu nhiều ảnh hưởng của Khổng-giáo. Nhưng các người theo giáo khác cũng có mặt, cùng trong một chợ. Tôn giáo của Mã-Lai được phân bố như sau: Hồi-giáo 60.4%, Phật-giáo 19.2%, Thiên-chúa-giáo 9.1%, Ấn-độ-giáo 6.3%, Khổng-Lão độ 2.6%, các giáo khác 1.5%, và vô thần 0.8% (theo thống kê năm 2000 của chính phủ Mã). Mã-Lai gần nghĩa với Indo-China (Ấn-Ðộ & Trung-Hoa) hơn Việt-Nam.

Ði ngang quầy bánh đang chiên trong chảo, do một ông người Ấn đang thủ đài, tôi vói lấy liền một cái bánh tiêu và một cái dầu-chá-quẩy với giá 1 RM (độ 25 xu Mỹ). Ăn thử: vừa nóng, vừa thơm, và vừa ngon. Ngon, nhưng không dám ăn nhiều. Chỉ ăn lấy vị, chứ không lấy bị mà ăn. Còn anh bạn tôi thì ghé tới quầy chôm-chôm, măng-cụt, mận, ổi, mỗi thứ lấy một kí, cộng thêm một trái sầu-riêng đầy gai góc; chưa hết, dấn thêm ba trái xoài tượng cho đúng câu “dách cô xường-tì xực xám cô xường-toại” (dịch sát nghĩa là: một người đàn ông ăn ba trái xoài tượng, xường-toại là xoài tượng).

Tôi lại mê sầu-riêng hơn xoài và ổi! Sầu-riêng có nhiều loại khác nhau. Có tới 10 loại thượng hạng, được đánh mã-số khác nhau, thí dụ D-24, 101, vân vân; giá bán loại ngon khoảng từ 8 đến 10 RM cho một kí, còn loại bình thường thì chỉ có 3 RM một kí. Tôi thử loại D-24 thật là thơm và ngon, nên làm luôn 4 múi; còn loại 101 thì mùi vị rất đậm đà, nhưng nếm hơi đăng đắng, nên tôi chỉ ráng nổi 1 múi mà thôi.

Trong đời, tôi đã thử nhiều loại sầu-riêng của 3 xứ Ðông-Nam-Á: Việt, Thái, và Mã. Theo tôi, của Mã, là ngon nhất thế gian. Còn của Việt-Nam thì “sầu riêng” hết rồi, chỉ còn có một niềm “sầu chung” cho cả xứ: dân tộc ta còn nhiều khó khăn và vẫn nghèo khổ lắm! Ði hết một vòng chợ trong xóm, giống như mình tập thể dục nhẹ ban sáng. Tôi về khách sạn tịnh dưỡng một chút, để trưa lấy sức ra thăm chợ ngoài phố, lớn hơn, và sang trọng hơn.

Ði KL Monorail
Trưa nay, chúng tôi đi thăm chợ ngoài phố bằng loại xe monorail, chạy trên một đường rầy chỉ với giá 1.60 RM một bận đi. Ðợi 5 phút, đi 10 phút, tốn chưa đầy 15 phút cho một khoảng cách độ 10 cây số. Xe dừng ở trạm Bukit Bintang, thuộc khu sang trọng ngay tại trung tâm thành phố KL.

Viếng Chợ Ngoài Phố

Thương Xá Pavilion Thành phố Kuala Lumpur có chừng 16 khu thương xá. Chúng tôi chọn thương xá Pavilion nằm trong khu Bukit Bintang Plaza. Khu này tương đối ngon lành đối với dân địa phương. Tuy nườm nượp người đi xem/chơi, nhưng tiệm lại vắng khách mua bán. Pavilion cao gần chục tầng, xây dựng đúng tiêu chuẩn quốc tế, chứa đủ mọi mặt hàng sang trọng của Âu-Mỹ, và rất sạch sẽ. Có khu gian hàng ăn uống quốc tế ở tầng cuối.

Chúng tôi dừng chân lại quán ăn Việt-Nam, tên VietNam Kitchen, do chủ Mã mướn đầu bếp Việt nấu. Làm một tô phở, giá 11.50 RM ($3,3 = 60.000 đồng); thêm một dĩa bánh cuốn (7 RM/dĩa = 36.000 đồng). Ăn phở đở ghiền, ngon khoảng hạng 1 sao, so với hạng 5 sao của San José ở Mỹ, và hạng 3 sao của Sydney bên Úc (lẽ dĩ nhiên, theo cái lưỡi chủ quan chấm điểm của tôi).

Ðặc biệt nhà cầu của thương xá Pavilion rất vệ sinh, luôn luôn có hai công nhân túc trực để lau dọn. Tại sao phải dùng tới 2 công nhân? Tôi thấy họ đứng canh, nhiều hơn là làm công việc! Nhưng trong nhà cầu, đâu có gì giá trị mà phải canh gác? Hơn nữa, bên ngoài, cũng đã có nhiều người bảo vệ (security guard) mặc đồng phục làm nhiệm vụ rồi! Bạn tôi giải thích: chính sách nhà nước muốn tạo ra công ăn việc làm thêm cho nhiều người. Nên số dân thất nghiệp của Mã vẫn còn thấp, chỉ khoảng 5%, thấp hơn so với toàn vùng Ðông-Nam-Á. À, đơn giản là như thế!

Bình quân lợi tức đầu người (GDP per capita) của dân Mã lên đến 15,700 đôla Mỹ (ppp = purchasing power parity), nên tương đối sống dễ thở hơn ở Việt-Nam nhiều. Tôi đang so sánh với 2,900 đôla (ppp) lợi tức hằng năm của dân Việt, tính theo thời điểm năm 2008. Nhiều người Việt-Nam, do đó, mong sao được đi sang Mã-Lai để làm việc, hy vọng kiếm đồng lương khá hơn cuộc sống ở quê nhà.

Khu Ăn Nhậu Jalan Alor

Từ khu thương xá Pavilion, chúng tôi cuốc bộ tới khu ăn nhậu chừng 15 phút. Ði bộ mỏi cẳng rồi, kiếm món gì ăn chơi! Dĩa sò huyết sốt chua cay chỉ với giá 15 RM. Ðây là khu ăn nhậu Jalan Alor, nổi tiếng bình dân, thức ăn ngon miệng. Thiên hạ ngồi ăn trên các bàn được đặt sát đường lộ. Không thể phân biệt được lằn ranh của lề đường, vì có một chiếc xe hơi, chạy rề rề, lọt qua giữa khu bàn ăn; khiến người ăn không biết đâu là đường, đâu là quán. Thật là:

Bước tới A-lo bóng xế tà

Người đi kẻ lại chốn phồn hoa

Cô đơn lữ khách dừng chân nghỉ

Một dĩa chua cay rất đậm đà!

Ðang thưởng thức món ăn ngon, bỗng có một cháu gái đi ngang bàn ăn mời mua kẹo và khăn giấy. Ðiều làm tôi giật mình là nó mời bằng tiếng Việt. Con cái nhà ai mà phải đi bán dạo vào lúc 9 giờ tối như vầy? Tôi tự hỏi.

Hai Bé Bán Dạo Rất Dễ Thương
“Cháu tên gì? Có thể nói chuyện với bác một chút được không?”, tôi yêu cầu đứa bé. “Dạ được, cháu tên là Thanh-Thủy, 12 tuổi, người Việt-Nam, từ bên Thái-Lan qua sống ở Mã-Lai được hơn hai năm rồi”, đứa nhỏ trả lời rất rõ ràng, một cách lễ độ. Tự nhiên, có một bé gái khác chạy ào tới, “cháu cũng là người Việt-Nam nữa nè!”. À! thì ra có tới hai đứa bé bán dạo. Từ ngạc nhiên nầy dẫn đến ngạc nhiên khác. “Còn cháu tên là Xậy-Niên, 11 tuổi”, đứa bé thứ nhì trả lời.

Hai đứa con nít nầy là con nhà ai mà phải đi bán dạo trên xứ người như vầy? Tôi lại tự hỏi một lần nữa. Thấy tôi vui vẻ, chúng cũng trở nên dạn dĩ hơn, kể cho chúng tôi nghe về thân thế, hoàn cảnh gia đình, và cuộc sống hằng ngày của chúng.

Cháu Thanh-Thủy là con cả, có má làm người ở, còn ba làm công nhân; cuộc sống rất chật vật, nên phải đi bán dạo để giúp đỡ cho gia đình gồm bốn người con. Còn cháu Xậy-Niên có bố là người Kăm-pu-chia, mẹ là người Việt vùng Châu-đốc, bố mẹ mất hết; bà ngoại dắt chui qua Thái-Lan, sống không nổi, nên băng trốn qua Mã; cháu biết được tiếng Việt là do mẹ và bà ngoại chỉ dạy. Xậy-Niên nói được bốn thứ tiếng: Việt, Miên, Thái, và bập bẹ tiếng bồi Ăng-lê (để có thể bán kẹo dạo cho khách tây-phương). Cả hai gia đình nầy đều là dân ở lậu.

Chính phủ Mã cho biết, hiện có khoảng 1.2 triệu dân lậu ngoại quốc sống trên đất nước nầy. Chúng tôi không biết có bao nhiêu là dân lậu Việt-Nam. Lậu qua bằng hai ngả: Singapore và Thái-Lan. Hai đứa bé bán dạo Việt-Nam không thể vô trường đi học được, vì không có giấy tờ hợp pháp. Không biết có cách nào giúp được cho chúng! Nếu qua sống được ở Âu-Mỹ, khi lớn lên, chắc chúng cũng không đến nỗi cảnh trôi sông lạc chợ như bây giờ; và biết đâu, cũng có thể trở thành ông-nầy-bà-nọ như ai! Lại nghĩ tới các em thanh thiếu niên qua được Âu-Mỹ rồi, mà cứ chơi bời lêu lõng, trộm cắp hư hỏng, thật là đáng tiếc! Ðêm cũng hơi khuya, chúng tôi vội lấy xe monorail (ngừng chạy lúc 12 giờ khuya) trở về khách sạn để dành sức ghé tới Phố Tàu ngày mai.

Nguồn: click vào tên của tác giả

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

Entry for February 14, 2009

Posted by hoangtran204 trên 14/02/2009

Chúc Các Bạn và Gia Đình Vui Vẻ và Hạnh Phúc

vào Ngày Lễ Tình Yêu

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

Entry for February 10, 2009

Posted by hoangtran204 trên 10/02/2009

TIME

————————————————————————————————————

Một cuộc chiến

của những người

anh em họ hàng

cáu giận nhau

Thứ Hai, ngày 2-3-1979

Đồng Đăng. Lạng Sơn. Những địa danh Việt Nam từ đó đến nay vẫn nghe du dương mà êm ái, gợi lại lịch sử, đẫm máu và chết chóc.

Tại thành phố Đồng Đăng có nhà ga đầu mối, một chiếc cổng màu vàng cao 10 mét đánh dấu cuộc xâm lăng của Nhật Bản vào Đông Dương năm 1940, gợi lại lời tuyên hứa không biết có chính xác hay không của Tổng thống Franklin Roosevelt rằng “chúng ta sẽ không tham chiến về chuyện Đinh Đông chết tiệt nào hết.” [1] Tại Lạng Sơn, một thị trấn đông đúc cách 15 km về phía đông bắc, một ngọn núi hình mào gà mà những đội quân thực dân đặt tên là “bộ ngực của nữ nam tước” trông xuống những tàn tích của một pháo đài bị phá huỷ thậm chí trước khi nổ ra cuộc chiến đấu của Việt Minh chống lại người Pháp.

Tuần trước Đồng Đăng và Lạng Sơn đã trở thành những vùng chiến địa khổ đau một lần nữa. Trong một cuộc chiến leo thang giữa hai nước láng giềng Cộng sản đầy giận dữ, họ đã và đang đối nghịch nhau suốt 2.000 năm qua, ba sư đoàn Trung Quốc xâm lược đã tràn xuống Đồng Đăng và vùng đồng bằng ven biển phía đông Việt Nam theo thế một gọng kìm khổng lồ nhắm vào Lạng Sơn.

Các tiểu đoàn quân chính quy Việt Nam kéo theo những vũ khí hạng nặng vội vã lên hướng bắc để gặp gỡ đối đầu với các toán quân Trung Quốc và thúc đẩy một cuộc chạm trán có thể là trận chiến chính thức đầu tiên trong cuộc chiến tranh kéo dài một tuần.

Được chuẩn bị từ trước, Trung Quốc đã ném ba sư đoàn chống lại các lực lượng phòng thủ tiền phương của Việt Nam. Vào cuối tuần, các lực lượng của Việt Nam đã mở một cuộc phản công tại ba tỉnh biên giới.

Trong khi đó các tàu vận tải của Liên Xô tại Hải Phòng đang bốc dỡ xuống các hàng hóa tái cung cấp các loại vũ khí hạng nặng hiện đại, bao gồm những tên lửa và thiết bị rada. Hệ thống do thám của Liên Xô đã tiếp tục xem xét những trận địa tiền phương với các chuyến bay ở những tầm cao so với mặt biển trên Vịnh Bắc Bộ. Một đội tàu nhỏ gồm 13 chiếc đã thực hiện tuần tra trên Biển Đông, chờ đợi sự góp mặt của tàu chỉ huy của Hạm đội Thái Bình Dương Sô Viết, tàu nầy mang tên đô đốc Senyavin có trọng tải 16.000 tấn.

Tại Moscow, Bộ trưởng Quốc phòng Liên Xô Dmitri Ustinov công kích dồn dập “hành động khiêu khích nguy hiểm” của Trung Quốc và buộc tội Bắc Kinh đang cố “nhấn chìm thế giới vào một cuộc chiến tranh.” Hội đồng Bảo An Liên hiệp quốc đã chuẩn bị tổ chức một cuộc họp khẩn cấp, theo lời đề nghị của Washington, để đối phó với hành động xâm lăng của Trung Quốc cũng như việc xâm chiếm Cambodia của Việt Nam trước đó.

Cuộc đột kích của Trung Quốc vào Việt Nam đã được mong đợi và quãng cáo rất rõ ràng. (qua các sự kiện dưới đây)

_Những căng thẳng trước đó đã tích tụ lại kể từ khi có hành động cưỡng bức trục xuất của Hà Nội đối với nhóm người Hoa thiểu số tại Việt Nam vào mùa xuân năm 1978, và

_một cuộc chiến thắng nhanh chóng của VN (đánh vào) chế độ thân Bắc Kinh ở Cam Bốt vào tháng Giêng 1979,

_một loạt những biến cố ngày càng tăng trên vùng biên giới Việt-Trung.

_Phó Thủ tướng Đặng Tiểu Bình đã gửi điện tín nhiều lần và công khai nói về cú đấm trừng phạt trong suốt thời gian diễn ra chuyến viếng thăm của ông tới Hoa Kỳ, xỉ vả những tham vọng “bá quyền” của “con gấu bắc cực” Liên Xô và chống lại “hành động xâm lược” của Việt Nam tại Đông nam Á. Hà Nội “phải được dạy cho một bài học cần thiết,”

_ông cảnh báo. Tại Tokyo trên đường về nước của mình, ông Đặng một lần nữa đã nói rõ về “hành động trừng phạt” chống lại “những tên Cuba ở phương Đông.”

Nhận ra được những lời tuyên bố công khai có giá trị thật đó của Bắc Kinh, các chuyên gia tình báo phương Tây đã tiên đoán rằng cuộc tấn công của Trung Quốc sẽ có tính chất giới hạn trong một “bài học trừng phạt,” và một khi sự trừng phạt đã đượ
c đưa ra từng phần theo kế hoạch, các đơn vị chiến đấu của TQ sẽ rút lui.

Thế nhưng tại các thủ đô trên khắp thế giới đã có những sự run sợ ám chỉ toàn cầu đang bị hăm dọa nếu như cuộc chiến tranh nầy không được kiểm soát trong giới hạn và nhanh chóng chấm dứt, nếu như cuộc chiến nầy khiêu khích sự can thiệp trực tiếp hoặc hành động trả đũa của Liên Xô với tư cách khách hàng Việt Nam của họ. Đã từng có thời hoàng kim cho những nhà chuyên môn về báo động: “Tôi đánh cuộc rằng nó sẽ không xảy ra – nhưng chúng ta đang ở rất gần trong một hiểm họa về một cuộc chiến tranh thế giới thứ ba. Chiến tranh thế giới lần III có thể bắt đầu vào thời điểm này,” Thượng nghị sĩ New York Daniel Moynihan đã cảnh cáo. Các cố vấn của chính phủ và các chiến lược gia quân sự thì ít lo ngại hơn, song không một ai sẵn sàng phủ nhận rằng cuộc chiến mới nhất của thế giới đã chứa đựng tiềm năng rộng lớn hơn nhiều, và thậm chí những dấu hiệu rõ ràng của sự bùng nổ không thể kiểm soát được,.

Cuộc giao tranh, diễn ra trên những ngọn đồi có cây cối rậm rạp và những thung lũng nhiều ruộng nương của một vùng có thắng cảnh đẹp được gọi là Việt Bắc, vùng nầy đã bị che dấu đàng sau các bí mật quân sự của cả hai bên và bởi một đám mây che phủ ngăn trở việc quan sát của vệ tinh.

Nội đã đưa ra những thông báo chỉ dùng trong nội bộ như thường lệ;

các thông cáo của Bắc Kinh thì ý nghĩa rất huyền bí, thiếu rõ ràng đến độ có vẻ như vô nghĩa.

Một nhà quan sát ở Hong Kong phát biểu: “Cứ như thể đang nghe một cặp mèo gào thét và la khóc với nhau giữa đêm khuya – chúng đang tạo ra những âm thanh ồn ào quái quỉ, thế nhưng bạn không thể biết là chúng đang đánh nhau hay là làm tình đâu nhé.”

Tuy vậy, từ lúc bắt đầu những hành động chiến tranh, tất cả đều rất rõ ràng rằng các đơn vị ở tuyến đầu thuộc về 3 phần trăm của lực lượng bộ binh có hàng triệu người nầy [1] và các đơn vị thuộc lực lượng 615.000 quân, ít ỏi hơn, nhưng dạn dày hơn của Việt Nam đã không ôm ấp nhau gì cả.

Vào rạng sáng thứ Bảy, ngày 17 tháng Hai 1979, các lực lượng người Trung Quốc, tập trung hơn 300.000 tại các tỉnh Vân Nam và Quảng Tây, phía cực bắc của Việt Nam, đã bắn một loạt đại pháo dày dặt vào các vị trí then chốt ở vùng biên giới (trước khi dùng bộ binh tấn công).

Cú đánh mạnh mẽ nhất là vào những nơi tập trung nhiều người thường dân Việt Nam quanh các thị xã thị trấn như Lào Cai, Mường Khương, Cao Bằng, Lạng Sơn và Móng Cái. Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc, chưa từng được thử thách trong cuộc chiến tranh dàn trận với đội hình lớn kể từ khi họ vượt qua sông Áp Lục vào tháng Mười năm 1950 để gây bất ngờ và đánh tan tác các đơn vị quân đội của Liên hiệp quốc tại Triều Tiên, đã dội bão lửa qua biên giới vào 26 điểm khác nhau [trên lãnh thổ Việt Nam].

Hành động tuyên chiến đã đến trong một thông cáo rõ ràng là không thành thật của Bắc Kinh rằng các đơn vị quân đội của họ đã tham dự vào một cuộc “phản công” chống lại các hành động khiêu khích của Việt Nam. “Các lực lượng quân đội ở biên giới Trung Quốc đã hành động khi tình thế trở nên không thể nào chịu đựng nổi nữa và không còn giải pháp thay thế nào khác,” hãng thông tấn nhà nước Tân hoa xã loan báo. “Chúng tôi không muốn một tất đất đai nào của Việt Nam. Điều mà chúng tôi mong muốn là một vùng biên giới ổn định và hòa bình. Sau khi đánh trả những kẻ gây hấn lùi xa tới mức cần thiết, các lực lượng biên phòng của chúng tôi sẽ trở lại canh giữ chặt chẻ các vùng biên giới của tổ quốc chúng tôi.”

Vào 9 giờ sáng ngày thứ Bảy, 17-2-1979, đạn súng cối đã rơi xuống gần Lạng Sơn, theo một thông tín viên hãng thông tấn Pháp AFP tại hiện trường cho hay. Ở phía bắc, đạn trọng pháo có thể nghe được cách khoảng nhau từ 10 tới 30 giây một loạt. “Các toán lính Trung Quốc đã phát động một cuộc tấn công đều khắp, tất cả các cứ điểm biên giới đều bị dội những loạt đạn trọng pháo nặng nề,” một viên chức cấp tỉnh của Việt Nam thông báo. “Các trận đánh đẫm máu đang diễn ra, số người thương vong chắc chắn là nặng nề.” Theo lời kể của một thương binh Việt Nam 18 tuổi tên là Trần Văn Miên, anh lảo đảo chạy vào thị trấn và ngã xuống con đường: “Bọn Trung Quốc đang ở gần đây, chúng nó có mặt ở khắp nơi.”

Sau khi rải thảm một đợt hỏa lực đại pháo để làm yếu đi lực lượng phòng thủ của Việt Nam, một đoàn quân Trung Quốc ượng ước khoảng 60.000 người đã tiến lên mạnh mẻ dọc theo vùng biên giới núi non hiểm trở rộng 772 km. Bộ binh, được sự yểm trợ của các xe tăng T-59, đã lao qua những con đường đồi núi chật hẹp gồ ghề, đánh tràn vào và chiếm các tiền đồn của Việt Nam và m
rộng ra (như hình cái quạt) một cuộc tiến- quân- có-phối- hợp tiến sâu vào khoảng 10 km. Theo sự tự thừa nhận của Hà Nội, người Trung Quốc sau hai ngày đã chiếm được mười một thị trấn và làng bản và đã bao vây Đồng Đăng bằng xe tăng và các súng được gắn trên xe.

Thế rồi họ dường như dừng lại.

Tại Bắc Kinh, ông Đặng đã quả quyết với một nhà ngoại giao Argentine đang viếng thăm rằng cuộc xâm lấn đã được “xem xét rất thận trọng” và “sẽ không được kéo dài hoặc mở rộng trong bất cứ tình huống nào.” Phát biểu đó có vẻ như xác nhận lại sự phiên dịch của phương Tây từ ban đầu về mục tiêu khả thi của Trung Quốc là: một cuộc di chuyển (quân) rất nhanh, tấn công đánh rồi bỏ chạy, và tiếp đó là rút (quân) về.

Thế nhưng người Trung Quốc vẫn chưa sẵn sàng để rút lui. Tại thời điểm nầy những toán quân phản ứng nhanh của Trung Quốc, được chỉ huy bởi Tướng Yang Teh-chih, phó tư lệnh chiến trường của Trung Quốc trong cuộc chiến tranh Triều Tiên 1953, đã không trực tiếp đánh nhau với lực lượng chính quy tinh nhuệ của Việt Nam – từng được thử sức trận mạc bằng những chiến dịch liên tiếp chiến thắng tại Nam Việt Nam, Lào và Cambodia và được trang bị bằng những vũ khí tối tân mới nhất của Liên Xô.

Được cảnh báo trước, người Việt Nam đã để cho các lực lượng biên phòng khu vực và dân quân địa phương làm mũi nhọn chính trong các cuộc tấn công ban đầu.

Theo ước tính có từ ba cho tới năm sư đoàn chính quy VN (ít nhất là 30.000 quân) đã được giữ lại phía sau. Các đơn vị này rõ ràng được dàn trận trong một tuyến phòng thủ hình trăng lưỡi liềm trải dài từ Yên Bái cho tới Sông Hồng tại phía tây Quảng Yên thuộc bờ biển phía đông. Nhiệm vụ của họ là: bảo vệ vùng đồng bằng ven biển bao quanh Hà Nội và Hải Phòng, và chờ đợi người Trung Quốc xuất hiện.

Vào hôm thứ Ba (20-2-1979), ngày thứ tư của cuộc chiến, cuộc tiến quân của quân đội Trung Quốc đã tiếp tục trở lại bằng một cách hung bạo hơn. Một mặt trận tiền phương dường như không có hình dáng rõ rệt đã nhanh chóng phát triển thành hai gọng kềm tấn công chính và rất bài bản:

_một nằm ở phía tây bắc trên con đường xe lửa hướng về phía nam tới Hà Nội,

_một gọng kềm khác nằm ở phía đông trên mối nối của tuyến đường sắt chính song song với Quốc lộ 1, con đường huyết mạch xuất phát từ Hữu nghị Quan. Cả hai mũi tấn công bằng lực lượng bộ binh nầy xem ra đều nhắm trực tiếp vào thủ đô của Việt Nam.

_Cùng lúc ấy, một lực lượng quân trừ bị của Trung Quốc, gồm các đơn vị tấn công chính (trong chiến thuật gọng kềm) của hơn ba sư đoàn theo ước tính, đã lục soát hướng về vùng bờ biển cho một cuộc rút lui có thể xảy ra được nhắm vào việc chia cắt Quốc lộ 4 tới Lạng Sơn và sau đó, chắc có lẻ, cả quân tăng viện chính của Việt nam và tuyến đường tiếp tế của Quốc lộ 1, nơi mà mấy năm trước đã nhận được biệt danh đau buồn là “đường phố không có niềm vui.”

Tại phía tây, khi mà phần chính yếu trong cuộc tấn công của Trung Quốc đã được nhân lên gấp đôi về mức độ xâm nhập tới 16 hoặc 24 km, bộ binh QGPND Trung Quốc đã chiếm được Lào Cai, một thị trấn có 100.000 người có nhà ga chính nằm bên Sông Hồng. Để chống lại mối đe doạ này đối với Hà Nội, quân đội Việt Nam đã tiến đến sát phía bắc để giao tranh với quân Trung Quốc tại Lạng Sơn và Đồng Đăng.

“Vài ngàn quân bao gồm cả các đơn vị chính quy và địa phương của Việt Nam với vũ khí hạng nặng đang di chuyển về phía các vị trí của quân Trung Quốc,” một thông tín viên của tờ Asahi Shimbun ở Tokyo đã tường thuật từ Lạng Sơn. Ông đã miêu tả những đoàn xe tải Việt Nam với những khẩu súng 105 mm tiến lên phía bắc trên Quốc lộ 1; những chiếc xe khác chở theo các toán quân, vũ khí, quân trang quân dụng và xăng dầu lên hướng lên vùng biên giới. Trong khi đó, dưới hỏa lực trọng pháo tầm xa 130mm, nhiều đoàn người lánh nạn chạy về phía nam, bỏ lại thị xã Lạng Sơn cho những toán quân, lực lượng an ninh và viên chức nhà nước tràn ngập quanh các khu vực đóng quân.

Hà Nội đã la om sòm rằng lực lượng phòng thủ của Việt Nam ở Lạng Sơn đã gây thương vong cho hơn 3.000 quân Trung Quốc, và rằng chỉ trong một trận chiến bên bờ biển cách 80 km về phía đông nam, các lực lượng Việt Nam “đã đánh bại 3 tiểu đoàn và quét sạch 700 kẻ xâm lược Trung Quốc.” Tổng cộng, theo phía Việt Nam loan báo, lực lượng của họ đã tiêu diệt từ 5.000 đến 8.000 quân Trung Quốc trong năm ngày, trong khi họ chỉ tổn thất chưa tới một nửa số đó.

Những tuyên bố thiên vị một chiều đó làm ta nhớ lại “những vụ đếm xác” kẻ thù được thổi phồng một cách
trơn tru mỗi ngày qua các bản tin tóm tắt của Hoa kỳ trong cuộc Chiến tranh Việt Nam. Các nguồn tin phương Tây tại Bắc Kinh đánh giá rằng phía Việt Nam đã phải chịu đựng tổn thất nhiều nhất trong cuộc giao tranh ban đầu: 10.000 người chết hoặc bị thương, so với 2.000 tới 3.000 thương vong của Trung Quốc.

Người Việt Nam rõ ràng giỏi hơn Bắc Kinh trong chiến thuật chiến tranh tuyên truyền nếu không phải là trên chiến trường. Họ đã đưa ra những lời tố cáo hiểm độc về lối đối xử của người Trung Quốc, bao gồm những hành động tàn ác man rợ có tính cáo buộc và chiến tranh sinh học. Đài Hà Nội khẳng định rằng các chiến đấu cơ Trung Quốc đã bỏ bom vào những xí nghiệp, các nhà máy điện và các trung tâm liên lạc viễn thông (điện thoại), gây ra những tổn hại “ghê gớm” và thương vong cho dân thường, và rằng pháo binh Trung Quốc đã nã “đạn hóa học” vào các mục tiêu ở biên giới.

Ủng hộ cho đồng minh của mình, Liên Xô đã cáo buộc các lực lượng quân sự Trung Quốc về hành động đốt cháy bừa bãi các làng mạc và bắn vào các phụ nữ và trẻ em. Tờ Pravda, trong một bản tin phát đi từ Lạng Sơn, đã khẳng địng rằng một đơn vị Trung Quốc đã chặn một chiếc xe buýt chở dân thường trên một tuyến quốc lộ và hành quyết tất cả các hành khách đi trên xe.

Nội cũng khẳng định rằng họ có bằng chứng vững chắc về kế hoạch từ lâu của Bắc Kinh cho cuộc xâm lăng này. Những nhà báo trú đóng tại thủ đô Hà Nội, được hướng dẫn qua một chuyến đi tới vùng biên giới, đã được trưng ra những cuốn sách có những câu được in bằng tiếng Việt tìm thấy trong xác của các binh lính Trung Quốc tử trận. Trong những vật dụng khác, có những tập sách nhỏ tám trang, chứa đựng những chỉ dẫn cho các tù binh Việt Nam (”Bạn sẽ được đưa tới nơi an toàn và được phép nghỉ ngơi … Đừng lo lắng. Vết thương của bạn sẽ được chữa trị ngay.”)

Ngòi nổ trong mối quan hệ Trung Quốc-Việt Nam trước đó đã nói ra bằng lời giận dữ trong gần một năm nay.

+Vào mùa xuân năm ngoái, 1978, tập trung vào chuyện củng cố cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa làm cho con người thanh khiết hơn, các giới chức Việt Nam đã quyết định nhổ tận gốc các nhà “thương mại tư bản” và “những nhân tố nguy hiểm,” cụ thể là người Hoa từng sống nhiều năm ở những vùng mỏ phía bắc, tại Đà Nẵng và trong khu vực Chợ Lớn đông đúc của Sài Gòn (giờ là Thành phố Hồ Chí Minh). Một con số ước khoảng 160.000 người Hoa tị nạn đã chạy trốn khỏi đất nước này, trên những con thuyền đánh cá hoặc chạy bộ qua Cửu khẩu Hữu nghị, tái định cư tại các xã thuộc tỉnh Quảng Đông và Quảng Tây. Trong khi đó, hàng loạt các cuộc đột kích và giao tranh nhỏ lác đác đã gia tăng cường độ lên trong những tháng kế tiếp đã bùng lên các cuộc cải vả không ngừng xuyên qua biên giới.

+Nổi giận về hành động ngược đãi người Hoa ở Việt Nam, Bắc Kinh – trước đó đã từng cung cấp cho Hà Nội với một lượng viện trợ ước tính 14 tỉ đô la trong hai chục năm qua – đã đột ngột cắt giảm 21 dự án trợ giúp hiện thời.

+Vào tháng Sáu 1978, khi những cán sự kỹ thuật Trung Quốc cuối cùng trở về nước, Hà Nội đã chấp thuận trước những lời tán tỉnh từ lâu của Liên Xô và chính thức nhảy bổ vào quỹ đạo kinh tế của Moscow như là một thành viên của khối liên minh thương mại Cộng sản COMECON.

+Vào tháng Mười một 1978, Moscow và Hà Nội đã chính thức hóa mối liên kết của họ trong một hiệp ước hữu nghị Liên Xô-Việt Nam kéo dài 25 năm, được ký kết với nhiều cuộc lễ lạc tại Moscow bởi [Tổng bí thư] Leonid Brezhnev, Thủ tướng Aleksei Kosygin và người đứng đầu Đảng Cộng sản Việt Nam, Lê Duẩn, cùng với Thủ tướng Phạm Văn Đồng. Bên trong lời chúc tụng thông thường cho những thỏa thuận thương mại và văn hóa, không có nhầm lẫn gì nữa là một vài chữ vắn tắt hiển nhiên về quân sự: một mức độ hỗ trợ phòng thủ lẫn nhau có vẻ mơ hồ, trong phạm vi “những bàn bạc tham khảo và những biện pháp có hiệu quả thích hợp để đảm bảo hòa bình và an ninh cho các quốc gia của họ.” Đối với Bắc Kinh hiệp ước này là một lời trách cứ chính trị rất nhức nhối.

+Tiếp theo là đến cuộc chinh phục chớp nhoáng Cambodia của Việt Nam. Trong vòng một tháng với cuộc xâm lăng trên quy mô lớn của họ vào ngày lễ Giáng Sinh 1978, quân nổi dậy thiên về Hà Nội được hậu thuẩn bởi quân đội chính quy Việt Nam đã đánh tan chế độ Khmer Đỏ Pol Pot tàn bạo được Trung Quốc trợ giúp. Chỉ một ít giọt nước mắt từ các nước trên thế giới đã nhỏ xuống khi Pol Pot và những tàn dư rải rác còn sót lại trong quân đội của ông ta bị lùa vào những hang hốc trong rừng rậm phía tây. Từ những vị trí cố thủ này, quân Khmer Đỏ đã và đang kháng cự mạnh mẽ chống lại chính quyền mới, một chính phủ ủng hộ Việt Nam được lãnh đạo bởi một cựu thành viên Khmer Đỏ đào ngũ, ông Heng Samrin, và được yểm trợ bởi một lực lượng Việt Nam ước
khoảng 130.000 quân.

Đối với Trung Quốc, thất bại ở Cambodia có nghĩa là một sự mất mặt ghê gớm. Kể từ đó, khi ông Đặng được chấp thuận viếng thăm Washington, Trung Quốc đã hướng các loại vũ khí và quân dụng cung cấp sang cho quân nổi dậy của Pol Pot trong một nỗ lực nhằm lật ngược lại những gì đang xẩy ra và báo thù cho tình trạng bẽ mặt của chính họ.

(còn tiếp)

Hiệu đính: Trần Hoàng

Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2009

TIME

——————————————————

A War of Angry Cousins

Monday, Mar. 05, 1979

Dong Dang. Lang Son. Blunt yet musical Vietnamese place names, redolent of history, blood and death. At the railhead city of Dong Dang, a 30-ft. yellow gate marks Japan’s invasion of Indochina in 1940, which prompted President Franklin Roosevelt’s perhaps apocryphal vow that “we will not go to war over any damn Ding Dong.” At Lang Son, a crowded market town nine miles to the southeast, a nipple-crested mountain that colonial troops named the “baroness’s breast” overlooks the ruins of a fort demolished even before the Viet Minh’s war against the French.

Last week Dong Dang and Lang Son had been turned into tormented battlegrounds again. In an escalating war between angry Communist neighbors and cultures that have been antagonistic for 2,000 years, three divisions of invading Chinese troops descended on Dong Dang and on the Vietnamese coastal plain to the east in giant pincers aimed at Lang Son. Battalions of the Vietnamese regular army hauling heavy weapons rushed north to meet them head-on and force a confrontation that could be the first major battle of the week-long war. In preparation, China threw three fresh divisions against forward Vietnamese defenses. At week’s end Vietnamese forces launched a counter attack in three border provinces.

Meanwhile Soviet freighters at Haiphong were unloading resupplies of sophisticated hardware, including missiles and radar equipment. Soviet reconnaissance kept watch on the battlefronts with high-altitude sorties over the Gulf of Tonkin. A flotilla of 13 Soviet ships cruised the South China Sea, awaiting the arrival of the flagship of the Soviet Pacific Fleet, the 16,000-ton cruiser Admiral Senyavin.

In Moscow, Soviet Defense Minister Dmitri Ustinov assailed China’s “dangerous provocation” and accused Peking of try ing to “plunge the world into a war.” The U.N.’s Security Council prepared to meet in urgent session, at Washington’s request, to deal with the Chinese invasion as well as the earlier Vietnamese invasion of Cambodia.

China’s assault on Viet Nam was expected and well advertised. Tensions had been building up ever since Hanoi’s forced expulsion of ethnic Chinese last spring, Viet Nam’s lightning rout of Peking’s client regime in Cambodia last month, and an intensifying series of incidents on the China-Viet Nam border. Vice Premier Teng Hsiao-p’ing repeatedly and publicly telegraphed the punch during his U.S. visit this month, railing against the “hegemonistic” ambitions of the Soviet “polar bear” and against Vietnamese “aggression” in Southeast Asia. Hanoi “has to be taught a necessary lesson,” he warned. In Tokyo on his way home, Teng again pointedly talked of “punitive action” against “those Cubans of the Orient.”

Taking Peking’s avowals at face value, Western intelligence experts predicted that the Chinese offensive would be limited to a “punitive lesson,” and once the punishment had been meted out, the troops would withdraw. But in capitals around the world there were shudders at the ominous global implications if the war were not contained and short-lived, if it were to provoke direct Soviet intervention or retaliation on behalf of their Vietnamese client. It was a heyday for alarmists: “I would bet that it won’t happen—but we are very much in danger of a third world war. It could be starting at this moment,” warned New York Senator Daniel Moynihan. Administration advisers and military strategists were less worried, but no one was prepared to deny that the world’s newest war contained the potential for much wider, and even uncontrollable, conflagration.

The fighting, in the wooded hills and tilled valleys of a scenic region called the Viet Bac, was shrouded behind military secrecy on both sides and by a cloud cover that thwarted satellite observation. Hanoi issued regular self-serving communiques; Peking’s announcements were so cryptic as to be meaningless. Said one Hong Kong observer: “It’s like hearing a couple of cats squawling in the middle of the night —they’re making a helluva racket, but you don’t know if they are fighting or making love.” From the start of hostilities, however, it was all too obvious that the front-line units of China’s huge, 3% million-man land army and those of Viet Nam’s leaner but highly honed 615,000 troops were not embracing. At dawn on Saturday, Feb. 17, Chinese forces, massed more than 300,000 strong north of Viet Nam in Yunnan and Kwangsi provinces, loosed a massive artillery barrage on key border positions. Hardest hit were Vietnamese concentrations around the cities of Lao Cai, Muong Khuong, Cao Bang, Lang Son and Mong Cai. The People’s Liberation Army, untested in major formation warfare since it crossed the Yalu River in October 1950 to surprise and rout the U.N. forces in Korea, stormed across the border at 26 different points.

The declaration of war came in a transparently disingenuous Peking announcement that its forces were engaged in a “counterattack” against Vietnamese provocations. “The Chinese frontier forces took the action when the situation became intolerable and there was no alternative,” said the official Hsinhua News Agency. “We don’t want a single inch of Vietnamese soil. What we want is a stable and peaceful frontier. After hitting back at the aggressors as far as necessary, our frontier forces will turn to guard strictly the frontiers of our motherland.”

B.y 9 a.m. on Saturday, mortar shells descended near Lang Son, according to an Agence France-Presse correspondent on the scene. To the north, heavy artillery shells could be heard every ten to 30 seconds. “Chinese troops have launched a general attack, all the frontier posts are being shelled by heavy artillery,” a Vietnamese provincial official announced. “Bloody fighting is taking place, human casualties are certainly heavy.” Said a wounde
d 18-year-old Vietnamese soldier named Trien Van Mien, who staggered into town and fell in the road: “The Chinese are close by, they are everywhere.”

After laying a carpet of artillery fire to soften Vietnamese defenses, an estimated 60,000 Chinese troops advanced in a broad surge along the jagged 480-mile border. Infantry, supported by T-59 tanks, spurted through the passes of the rugged, hilly terrain, bowled over Vietnamese outposts and fanned out in a broad, coordinated advance about six miles deep. By Hanoi’s own admission, the Chinese after two days had occupied eleven towns and villages and had surrounded Dong Dang with tanks and self-propelled guns.

Then they appeared to pause.

In Peking, Teng assured a visiting Argentine diplomat that the invasion would be “circumspect” and “will not be extended or expanded in any way.” That statement seemed to confirm the initial Western interpretation of the possible Chinese objective: a swift, hit-and-run offensive, and then go home. But the Chinese were not yet ready to withdraw. At this point the Chinese shock troops, led by General Yang Teh-chih, China’s deputy field commander in the Korean War, had not tangled directly with Viet Nam’s crack regular army— battle-tested by victorious successive campaigns in South Viet Nam, Laos and Cambodia and equipped with the latest sophisticated Soviet hardware.

Abundantly forewarned, the Vietnamese let regional border forces and local village militia take the brunt of the initial attack. An estimated three to five regular divisions (at least 30,000 troops) were held back. They were apparently arrayed in a crescent-shaped defense line that stretched from Yen Bai on the Red River in the west to Quang Yen on the east coast. Their mission: to defend the coastal plain surrounding Hanoi and Haiphong, and wait for the Chinese to show their hand.

On Tuesday, the fourth day of the war, the Chinese advance resumed with a vengeance. A seemingly formless front rapidly developed two main, logical prongs of attack: one in the northwest on the railroad line leading south to Hanoi, the other in the the east on the major rail link that parallels Highway 1, the jugular thoroughfare from Friendship Pass. Both thrusts appeared to aim directly at Viet Nam’s capital. At the same time, an auxiliary Chinese force, spearhead units of an estimated three more divisions, probed toward the coast for a possible end run aimed at cutting off Highway 4 to Lang Son and later, perhaps, the main Vietnamese reinforcement and supply route of Highway 1, which years ago gained the dolorous nickname “street without joy.”

In the west, as the bulk of the Chinese offensive doubled its penetration to ten or 15 miles, PLA infantry captured Lao Cai, a rail center of 100,000 on the Red River. To counter this threat to Hanoi, the Vietnamese marched north to engage the Chinese at Lang Son and Dong Dang.

“Several thousand men of both regular and regional Vietnamese units with heavy arms are advancing toward Chinese positions,” a correspondent for Tokyo’s Asahi Shimbun reported from Lang Son. He described Vietnamese trucks with 105-mm. guns rolling north on Highway 1; other vehicles carried troops, weapons, ammunition and fuel toward the border. Meanwhile, under the fire of long-range 130-mm. howitzers, columns of refugees fled south, leaving Lang Son to the troops, security cadres and government officials who teemed around staging areas.

Hanoi radio blared that Viet Nam’s defense of Lang Son had inflicted more than 3,000 Chinese casualties, and that in just one coastal battle 50 miles southeast, Vietnamese forces had “trounced three battalions and wiped out 700 Chinese aggressors.” In all, Viet Nam announced, its forces had killed 5,000 to 8,000 Chinese in five days, while losing less than half as many. The lopsided claims were remindful of the inflated enemy “body counts” reeled off each day by U.S. briefers during the Viet Nam War. Western sources in Peking estimated that the Vietnamese had suffered the most in the early fighting: 10,000 killed or wounded, compared with 2,000 to 3,000 Chinese casualties.

The Vietnamese easily outmaneuvered Peking in the propaganda war if not on the battlefield. They issued virulent denunciations of Chinese conduct, including alleged atrocities and biological warfare. Radio Hanoi claimed that Chinese warplanes bombed factories, power plants and communications centers, inflicting “terrible” damage and civilian casualties, and that Chinese artillery fired “chemical shells” at border targets. Backing up its ally, the Soviet Union accused Chinese troops of indiscriminately burning down villages and shooting women and children. Pravda, in a dispatch from Lang Son, alleged that a Chinese unit intercepted a civilian bus on a country road and executed all the passengers.

Hanoi also claimed that it had firm evidence of Peking’s long planning for the invasion. Newsmen based in the capital, taken on a guided tour of the front, were shown printed Vietnamese phrase books found on the bodies of dead Chinese soldiers. Among other things, the eight-page pamphlets contained instructions to be given Vietnamese prisoners (”You will be taken to a safe place and allowed to rest … Don’t worry. Your wound will be treated immediately.”)

The fuse under the China-Viet Nam explosion had been sputtering for nearly a year. Last spring, intent on consolidating their purer-than-thou socialist revolution, the Vietnamese authorities decided to root out “bourgeois trade” and “dangerous elements,” namely ethnic Chinese who had lived for years in northern mining areas, in Danang and in the bustling Cholon district of Saigon (now Ho Chi Minh City). An estimated 160,000 Chinese refugees fled the country, aboard fishing boats or on foot across Friendship Pass, to resettle on communes in Kwangtung and Kwangsi provinces. Meanwhile, a sporadic series of raids and skirmishes that were to intensify in the next months flared back and forth across the border.

Irate at the maltreatment of the Chinese, Peking—which had provided Hanoi with an estimated $14 billion in aid over the past two decades— abruptly cut off 21 current assistance projects. In June, as the last Chinese aid technicians went home, Hanoi yielded to long standing Soviet blandishments and formally jumped into Moscow’s economic orbit as a member of the Communist trade alliance, COMECON.

In November Moscow and Hanoi formalized their alliance in a 25-year Soviet-Vietnamese treaty of friendship, which was signed with much ceremony in Moscow by Leonid Brezhnev, Premier Aleksei Kosygin and the Vietnamese Communist Party head, Le Duan, as well as Premier Pham Van Dong. Inside the usual bouquet of trade and cultural agreements there was no mistaking the glaring military nutshell: an ambiguous degree of mutual defense, to the extent of “consultations and appropriate effective measures to ensure the peace and security of their countries.” For Peking the treaty was a stinging political rebuke.

Then came Viet Nam’s lightning conquest of Cambodia. Within a month of its full-scale invasion on Christmas Day, pro-Hanoi insurgents backed by Vietnamese regulars routed the barbarous China-supported Khmer Rouge regime of Pol Pot. Few international tears were shed as Pol Pot and the stragg
ling remnants of his army were driven into western jungle pockets. From these redoubts, the Khmer Rouge has carried on vigorous resistance against the new regime, a pro-Vietnamese government headed by a former Khmer Rouge defector, Heng Samrin, and propped up by an estimated 130,000 Vietnamese troops. For China the fall of Cambodia meant an enormous loss of face. Ever since, as Teng admitted in Washington, China has steered weapons and supplies to Pol Pot’s insurgency in an effort to reverse its fortunes and avenge its own humiliations.

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

Entry for February 07, 2009

Posted by hoangtran204 trên 07/02/2009

Hình ảnh rộng của thành phố Saigon

Mời các bạn xem các hình ảnh của nhiếp ảnh viên Nick Út (Huỳnh Công Út) của hãng tin Associated Press (AP) chụp 2 tấm hình dưới đây tại cùng một điểm chụp, hình 1 chụp 1972 và hình 2 chụp năm 2000, cách nhau 28 năm.

Hình 1: Saigon, tháng 11 năm 1972

Hình 2: SaiGon, tháng 4 năm 2000.

Sự thay đổi lớn nhất giữa hình 1 và hình 2:
1./Những tòa nhà nhiều tầng mọc lên ở chân trời, nơi mà trước kia chỉ có những cái đỉnh tháp của nhà thờ Đức Bà nhô lên.
2./Trên đỉnh của tòa nhà Eden, tâm điểm của hình, một bức chân dung của ông Hồ Chí Minh đã thế chỗ một bảng quãng cáo dành cho Pan Am, tên hãng máy bay (cũng cùng trên tòa nhà nầy, phía trái là dấu Sanyo đã bị lấy ra rồi, nhưng phần khung viền bên ngoài của chữ Sanyo vẫn còn đó).
3./Nhà Hát Lớn, bên tay phải của hình 2, phô bày tuổi của tòa nhà năm 1972, nay Nhà hát Lớn đang được phục hồi. Cả hai hình ảnh nầy được chụp đứng trên cánh (chái nhà) của Khách Sạn Caravelle

*Các bạn nhận xét có gì khác nhau giữa 2 bức hình không? Đường phố, xe cộ trên đường phố, các tòa nhà…

*Chú ý: con đường chạy từ trái qua phải là đường Lê Lợi (hướng 10 giờ – 4 giờ); con đường chạy từ trên xuống dưới là đường Tự Do (hướng 1 giờ-7 giờ) nay gọi là đường Đồng Khởi.

    ——————————————————–

Hình 3

    Hình 4

Những hình ảnh nầy làm chỗ dựa cho một tác phẩm lãng mạn. Cách đây gần 50 năm, ông Grahma Green đã viết cuốn tiểu thuyết Người Mỹ Trầm Lặng, một tác phẩm mà tình tiết xếp đặt ở Saigon. Trong tác phẩm nầy, một nhân viên tình báo Mỹ được tìm thấy đã chết. “Ông ta ở trong nước, dưới cầu Dakao,” Green đã viết thế. Tác phẩm nầy đã tiên đoán về một cơn bão đang tiến đến gần ( ý nói chiến tranh Việt Nam).

Nick Út đã chụp Hình Cầu Sắt Dakao năm 1972 (hình 3) và chụp lại khu vực nầy tháng 4 năm 2000. Các người đạp xe xích lô vẫn còn đang gọi nó là Cầu Sắt, mặc dầu việc tái xây dựng sau chiến tranh đã thay thế sắt bằng bê tông. 2 tấm hình nầy được chụp với những vị trí hơi khác biệt nhau một tí. Mũi tên trên hình 2 chỉ cho thấy cùng một khu nhà. Cây cầu cùng ở phía trái trong 2 bức hình.

    —————————————————

Các comment dưới đây được các tấm hình trên làm minh họa là hợp quá đi mất.
Nghĩ vậy nên TH post lên đây cho bà con đọc để luyện tập tính phản biện (critical thinking 🙂
Trích từ một comment của bác Baphihailua 🙂

“Bản thân những thành viên Hai Lúa club toàn bộ được sinh ra sau 1975, sống trong “mái trường xã hội chủ nghĩa”, gia đình cách mạng “đầy mình”, hoạt động đoàn đội không thua đồng chí nào trên MB. Và Hai Lúa club rất tự hào vì mình nói được những gì mình nghĩ (phải nói một phần là nhờ ẩn danh), làm được những gì mình thấy đúng. Trước là cho bản thân gia đình, sau là cho những người xung quanh.

Những cô chú trong gia đình của Hai Lúa club đều là những cán bộ “gộc”, vào ra khám Chí Hòa, Côn Đảo vì một lý tưởng cao đẹp, có người còn thờ bác Hồ kính yêu hơn thờ Cha Mẹ mình. Vậy mà bây giờ họ còn hiểu được sự thối nát của giới lãnh đạo và cán bộ nhà nước. Không lẽ họ là những người vì hận thù và đui mù? Nói thiệt, nhờ họ mà Hai Lúa có được những tư liệu quý báu và hiểu nhiều hơn về những tuyên truyền của đcs. Hai Lúa đọc được một câu rất hay “Phản động là gì? Là làm những gì đảng nói và nói những gì đảng làm”

Sau 34 năm, không những tiếng nói của người dân trong nước bị hạn chế, ngay cả sinh viên du học sang nước ngoài đều bị làm “công tác tư tưởng”. Hạnh phúc thay cho người nào sớm tìm được tiếng nói của riêng mình.

……

(Baphihailua) “Tôi hỏi mà chẳng có nhà cách mạng lão thành nào trả lời nổi.

1) “Trên thế giới có thằng nào nghèo mạt rệp mà đòi đi giải phóng cho một thằng văn minh giàu có. Sau khi gp rồi thì cả 2 thằng cùng ăn…bo bo”

2) “Trên tg có thằng nào dốt mà đòi đi gp và cải tạo thằng thông minh không”

3) “Trên tg có thằng nào quê mùa mà đòi gp và chỉnh sửa lại phong cách của một thằng văn minh không?” Chắc ông còn nhớ mấy cái vụ i ngắn y dài, hoặc cấm áo dài. Cũng nhờ ơn trời mà có thay đổi chứ không bây giờ mấy em nó vẫn còn mang dép và đội nón cối làm thời trang.

4) Cập nhật thêm thông tin. Vừa rồi ông đại sứ Việt Nam bên Canada tới trường đại học Guelph University và phát biểu nghe muốn té giếng “Nếu quý vị đến VN vào thời 70, 80 thì thấy toàn xe đạp. Bây giờ nếu quý vị đến VN thì sẽ thấy toàn xe…gắn máy”. Má ơi, ở dưới hội trường người ta tưởng VN chạy Harley Davidson. Cả nước VN gần 30 năm trời chỉ mong có được lên từ xe đạp tới gắn máy thôi sao? Mà ông này nói rất là hùng hồn, nghe giống như một thành tích vĩ đại lắm.

Nhờ ông này mà Hai Lúa ra thêm một câu “Có thằng nào đi xe đạp mà đòi giải phóng thằng đi xe gắn máy và xe hơi không (hình 1)? Sau khi giải phóng rồi thì 2 thằng cùng nhau đi xe đạp (hình 2). Để rồi sau 30 năm thằng k
ia khoe là đã đưa được mọi người lên xe gắn máy” (Hình 4 🙂

Nói thiệt nha, mỗi lần cứ nghe cái kiểu lý luận của mấy bác lão thành MB nói rằng kinh tế miền Nam ngày xưa là do Mỹ nuôi, người VN lệ thuộc rồi blabla nghe chán bỏ xừ. Mấy bác đó một là dek biết gì, hai là làm cái loa mà kêu không hay tí nào.

Thử nhìn lại VN ngày nay, mỗi năm “ăn” ODA cả 4-5 tỉ, nhận kiều hối của kiều bào yêu nước gởi về giúp thân nhân cả 5-8 tỉ, nợ như chồm hổm (32 tỉ đô la, theo World Bank báo cáo là VN tổng số nợ của VN tính đến cuối năm 2008 là 40% của GDP-TH), đào dầu lên xài gần hết, bây giờ chơi qua tới quặng mỏ mà ông đại sứ khoe là “bây giờ VN toàn xe gắn máy”.

Rồi sang tới chuyện lý luận về việc phải dành “độc lập” tự chủ. Đó là cái khẩu hiệu tuyên truyền (nhưng khá thành công khi vẫn còn nhiều “lão thành” lên đây hô). So sánh nhẹ nhàng. Hàn Quốc và Nhật Bản, tính luôn Đài Loan là 3 “đại ca” hùng mạnh nhất châu Á. Đại ca nào cũng hợp tác với anh cả Hoa Kỳ. Quân đội Hoa Kỳ đi ra đi vào tự do thoải mái mà dân họ phải è cổ ra nuôi. Ngày trước thì chắc các bác bảo rằng 3 thằng này lệ thuộc Mỹ, ăn bám Mỹ…Chưa nói thêm về Singapore và Thái Lan với những hiệp ước ràng buộc với Hoa Kỳ về quân sự và kinh tế. Ngoài ra còn HongKong ăn bám Anh Quốc cả gần 100 năm. Rất may cho họ là không có ai vào giải phóng. Nếu không thì…chết chắc.

Ngày trước dân miền Nam đi ra nước ngoài danh chánh ngôn thuận, ngẩng cao đầu. Ngày nay dân VN phải bôn ba xứ người làm cô dâu cho trăm họ. Nếu ai đọc cái post gần đây của tôi thì có câu của bà hội trưởng hội liên hiệp phụ nữ dặn thêm mấy cô dâu là “phải phát huy tinh thần chịu khó chịu thương của người phụ nữ VN”. Bà này sao không nói thẳng ra là tinh thần “nô lệ”. Độc lập ư? Biểu tình chống ngoại bang xâm lấn cũng không được, viết blog chống ngoại xâm thì bị cho là phản động, người nước ngoài vào đầu tư để rồi đánh đập công nhân VN, ô nhiễm môi trường, xem mặt các cô dâu xếp hàng…

Nếu chọn giữa những quốc gia “ăn bám” thịnh vượng, tiếng nói người dân được coi trọng, kinh tế hùng mạnh, quân sự tối tân vừa nêu trên (Nhật, Nam Han, Đài Loan) và một quốc gia độc lập với hàng ngàn cô dâu nơi xứ người, (hơn 500 ngàn công nhân VN không có việc làm ở trong nước đang phải đi xuất khẩu lao động và làm lương bằng 1/2 lương của người công nhân bản xứ ở các nước ngoài -TH) hàng triệu người bỏ xứ ra đi và hàng năm phải nhận hàng tỉ đô la viện trợ từ những quốc gia “ăn bám” thì bạn thấy như thế nào.”

    —————————————————

A panorama…then and now

The panoramic image of downtown Saigon above was made in November 1972, the one below in April 2000. The biggest change: Tall buildings sprout from the horizon where before only spires of the Saigon Cathedral rose. Atop the venerable Eden Building, center, a portrait of Ho Chi Minh has replaced a billboard for Pan Am (the Sanyo sign was removed but the outline remains). The City Opera, right, showed its age in 1972. Now it is restored. Both images were made from atop the old wing of the Caravelle Hotel.


Mr. Graham Green and Dakao Bridge

In 1972 (above) and again in April 2000 (below). Trishaw drivers still call it the Iron Bridge, although post-war reconstruction replaced iron with concrete. The two panoramic images were taken from somewhat different locations. The arrows indicate the same building. The bridge is at left in both photographs.

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

Cuộc Chiến tại Kampuchea 1979

Posted by hoangtran204 trên 06/02/2009

Những thời điểm khó khăn

cho chính quyền Hà Nội

Thứ Hai, ngày 5-3-1979

Các nhà lãnh đạo ở Hà Nội vẫn thường khoác lác với những vị khách ngoại quốc có cảm tình với họ rằng dân chúng Việt Nam sẵn sàng “chịu đựng với tinh thần cống hiến.” Thế nhưng, những đoàn xe tải vào tuần trước chất đầy xác chết và người bị thương từ biên giới Trung Quốc và từ Cambodia trở về đã chứng tỏ rằng sức chịu đựng đó vẫn còn lâu mới vượt qua được. Một câu hỏi không được trả lời, và có thể không thể trả lời được là mức độ cống hiến của 51 triệu công dân nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam còn lại là bao nhiêu đối với một ban lãnh đạo không có khả năng tạo nên một đất nước ổn định và thịnh vượng thậm chí sau bốn năm tương đối hòa bình.

Tình trạng suy dinh dưỡng, thiếu ăn và thậm chí là nạn đói tràn lan khắp Việt Nam. Mức sản xuất nông nghiệp sụt giảm 15% vào năm 1978, trong khi những triển vọng cho năm nay là rất kém quá đến nổi Hà Nội đã phải giảm định mức đánh giá cho vụ mùa so với các mục tiêu công bố ban đầu.

Tiếp theo sau nạn lụt lan rộng trên các đồng lúa vào tháng 9 năm 1978, khẩu phần lương thực bình quân đầu người đã bị cắt giảm từ 15 kg (33 lb) xuống còn 13kg. Với mức đó, những nông dân và công nhân bình thường chỉ được cấp phát hơn 0,9kg gạo chút xíu, gạo là món thực phẩm cơ bản hàng ngày của người Việt.

Đường, thịt và bột mì là thứ hiếm có và rất đắt đỏ. Các công nhân nhà máy đã trở nên mất khả năng lao động vì thiếu ăn và suy dinh dưỡng, theo các giám đốc phương Tây của những nhà máy do nước ngoài xây dựng cho biết.

Các cơn bão, hạn hán và những thảm hoạ thiên nhiên khác đã góp phần vào những vấn nạn nông nghiệp của Việt Nam, song sự bất tài của chính phủ đã là nguyên nhân chủ yếu. Những xáo trộn trong bộ máy quan liêu gây trở ngại cho việc gieo trồng các giống lúa mới có sức kháng cự tốt hơn với hạn hán, và việc phân phát thuốc trừ sâu trong những vùng bị tàn phá bởi các giống côn trùng gây hại đã bị đình hoãn. Sản lượng lúa gạo đang sút giảm trong vùng Châu thổ sông Mekong đã từng một thời thịnh vượng. Hà Nội trước đó đã loan báo rằng họ sẵn sàng trao đổi các loại hàng tiêu dùng như quạt máy chạy bằng điện để lấy gạo, hy vọng khuyến khích nông dân bán sản phẩm vụ mùa của họ cho chính phủ thay vì bán ra chợ đen. Khi chính phủ thất bại trong việc phân phát các hàng tiêu dùng như đã hứa, những người nông dân thất vọng bắt đầu sản xuất kém đi. Tờ báo của đảng cộng sản Việt Nam, tờ Nhân Dân, đã than phiền rằng nhiều nông dân bỏ ruộng đồng không chịu cày cấy hoặc dùng gạo nấu rượu hoặc cho lợn ăn.

Cuộc sống đặc biệt khó khăn ở miền bắc. Các gia đình ở Hà Nội được cấp chỗ ở chỉ 7 mét vuông cho một người – xấp xỉ mức đề nghị được cấp cho những tù nhân trong trại tù liên bang Hoa Kỳ. Các công nhân trong công xưởng phải làm việc sáu ngày một tuần, và sử dụng ngày thứ bảy của tuần cho các cuộc hội họp chính trị hoặc “lao động tình nguyện” trong các dự án xây dựng. Xe hơi cá nhân không còn tồn tại nữa, và các phụ tùng thay thế cho xe đạp thì bị thiếu hụt. “Có sự bất mãn rất lớn,” một nhà ngoại giao ở Hà Nội nhận xét. “Dân chúng bắt đầu kêu ca ở những chốn riêng tư. Một trong những câu hỏi xì xào to nhỏ thường nghe được là một câu châm biếm: ‘Chúng ta đang làm cái quái gì ở Căm-pu-chia thế?’ “

Trong nam vẫn còn tương đối khá thịnh vượng hơn. Phụ nữ vẫn mặc những chiếc áo dài màu sắc sáng sủa, tương phản với những chiếc quần dài đen và sơ mi trắng phù hợp cho cả nam lẫn nữ vẫn thường được mặc ở phía bắc. Thức ăn thì phần nào có sẵn sàng nhưng ít ai có đủ khả năng để mua, kể từ khi tỉ lệ lạm phát vượt trên 100% mỗi năm. Nhìn chung, kinh tế của miền nam đã phải chịu đựng quyết định từ bỏ “thương mại tư bản” và đưa vào sử dụng một loại tiền chung trong cả nước của Hà Nội vào năm ngoái (đổi tiền lần thứ 2 vào năm 1978). Công nghiệp ở miền Nam hiện đang chạy chậm lại ở mức độ chỉ vào khoảng 40% của mức khả năng của nó. Khoảng 20% trong 3 triệu cư dân Thành phố Hồ Chí Minh (Sài Gòn) bị thất nghiệp. Thừa nhận rằng tình trạng quản lý tồi tệ lan rộng trong công nghiệp và nông nghiệp, báo Nhân Dân giải thích: “Trong những cuộc chiến đấu dài lâu chống chủ nghĩa đế quốc, chúng ta đã trở nên dạn dày trong đấu tranh chính trị và vũ trang và có kỹ năng tổ chức các trận đánh lớn. Thế nhưng chúng ta vẫn còn chưa quen thuộc với việc tổ chức sản xuất và kinh doanh trên quy mô lớn.”

Những vấn nạn kinh tế của Việt Nam đã gia tăng trầm trọng thêm đáng kể do việc đuổi 200.000 người Hoa trong chín tháng trước. Những người Hoa nầy đã trở thành mục tiêu bởi vì sự dính líu phổ biến và rộng rãi của họ trong thị trường chợ đen; thế nhưng họ tạo nên cả một tầng lớp thương lái chính ở Việt Nam. Họ kiểm soát việc buôn bán lúa gạo, các hải cảng lớn, các hệ thống phân phối và một số ngành công nghiệp chủ chốt – đáng chú ý là than đá.

300.000 người tị nạn đã và đang trốn thoát khỏi Việt Nam kể từ sự sụp đổ của chính quyền ông Thiệu năm 1975 cũng đã làm suy giảm nguồn nhân lực của đất nước này. Theo các giới chức tại Thái Lan và Hong Kong, nơi mà nhiều người tị nạn đã tới, các cán bộ Việt Nam đang kiếm lợi riêng từ cuộc di tản của những công dân nước của họ những người tị nạn nầy đang tìm kiếm thức ăn và tự do nơi xứ người. Sau khi phỏng vấn những người tị nạn, các nhân viên điều tra tin rằng có tới 50% số tiền mà những người tị nạn này trả để rời khỏi Việt Nam sau cùng đã rơi vào túi của các đảng viên Cộng sản địa phương.

Theo những người tị nạn cho biết, một trong những thay đổi nổi bật nhất thấy rõ gần đây ở Việt Nam là khả năng tham nhũng của các cán bộ đảng cấp trung. Nhiệt tình cách mạng đã nhường chỗ cho một tâm trạng hoài nghi trước những vấn đề kinh tế của Việt Nam. Các cán bộ Cộng sản tham nhũng đã tham gia vào thị trường chợ đen từng được điều hành bởi người Hoa. Tất cả các tuyến giao thông huyết mạch chính của vùng châu thổ Sông Hồng ở phía nam Hà Nội đều đặc trưng cho tình trạng “thả nổi thị trường” do những người Cộng sản điều hành cung cấp những hàng hóa bị ăn cắp từ các chuyến tàu biển hoặc trực tiếp từ các bến cảng ở Hải Phòng. Lối tiêu xài đáng nghi giữa các cán bộ Cộng sản đã trở nên quá trắng trợn đến nỗi Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã thấy cần thiết phải phát ra một mệnh lệnh chung:Vào thời điểm khi mà người dân tại một số vùng đang phải trải qua tình trạng thiếu thốn và đói kém, tuyệt đối cần thiết hạn chế tổ chức các lễ kỷ niệm và tiệc tùng hoang phí. Tất cả các ngành các cấp cần phải nêu cao tinh thần gương mẫu trong sản xuất kinh tế và một lối sống tiết kiệm tránh lãng phí.”

Hiệu đính: Trần Hoàng

Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2009

——————————————————————

TIME

————————————————————————————————————

Cán cân quân sự

Thứ Hai, ngày 5-3-1979

Hai lực lượng giao tranh trên vùng núi đá lởm chởm, không người ở, trong những điều kiện không thuận lợi của miền bắc Việt Nam là đối tượng của việc khảo sát rất kỹ lưỡng bởi các chuyên gia quân sự vào tuần trước. Tại Washington, một lực lượng đặc nhiệm đã được thành lập từ cộng đồng tình báo Hoa Kỳ đã bắt đầu họp lại trong nhiều giờ về cuộc xâm lăng của Trung Quốc, đánh giá xem dữ liệu nào có thể thu được từ các thông báo chính thức của quân đội và bởi việc quan sát qua vệ tinh về quang cảnh trận đánh. Tại Moscow, các chiến lược gia đã chú ý tới những mối liên hệ rộng lớn hơn của cuộc chiến. Quân Giải phóng Nhân dân [QGPND] TQ đang đánh nhau ra sao trong cuộc thử nghiệm chiến trận thực sự đầu tiên kể từ cuộc Chiến tranh Triều Tiên cách đây gần 30 năm có thể cung cấp những manh mối về khả năng của họ chống lại quân đội Sô Viết trên vùng biên giới phía bắc Trung Quốc. Trận tuyến được dàn ra để chống lại QGPND là một công cụ quân sự ghê gớm được tôi luyện của Bộ trưởng Quốc phòng Võ Nguyến Giáp, người chiến thắng tại Điện Biên Phủ, mà các lực lượng của ông ta đã đánh bại quân đội của người Pháp và Mỹ trong hơn ba thập kỷ chiến đấu. Sức mạnh và những yếu kém của cả hai lực lượng, như đã được đánh giá bởi các nhà phân tích quân sự vào tuần trước, có vẻ như đang trong thế cân bằng mong manh.

Với 3,5 triệu người, đội quân đông nhất thế giới, Bắc Kinh có một lợi thế áp đảo về số lượng đối với 615.000 quân của Hà Nội. Trong một đòn tấn công trừng phạt có giới hạn, quân đội Trung Quốc chắc có lẻ đã không tung ra hơn 200.000 bộ đội, mặc dù những cánh quân trừ bị sẵn sàng của QGPND đang ở tại phía nam Trung Quốc vẫn đông đảo nếu như cuộc xung đột có thể lan rộng. Hiện Trung Quốc có khoảng 1,6 triệu quân đóng dọc theo biên giới với Liên Xô – một lực lượng mà Bắc Kinh có thể quyết định tăng thêm nếu như Moscow gia tăng hành động chuẩn bị chiến đấu của đội quân 1 triệu người của họ trên vùng biên giới để đáp trả lại cơn khủng hoảng (tại biên giới Việt – Trung). Một lợi thế chiến thuật thêm nữa cho QGPND là phần đông các lực lượng của Hà Nội đang bị mắc kẹt tại Cambodia và Lào và không thể di chuyển nhanh chóng tới tham chiến tại phía bắc.

Mặc dù người Trung Quốc không “bị đổ máu” qua kinh nghiệm trận mạc, song các nhà phân tích ở Ngũ Giác Đài tin rằng họ là những chiến binh giỏi. Một bộ đội của QGPND chưa từng đánh nhau, giống như người chỉ huy của anh ta, có thể háo hức hơn với trận mạc – và một cơ hội hiếm có để thăng chức. Kinh nghiệm mà người trưởng phòng hành quân các trận đánh của họ, Tướng Yang Teh-chin, 68 tuổi, đã thu được tại cuộc Chiến tranh Triều Tiên có thể đang dùng vào việc nâng cao niềm tin cho bính lính. Việc tấn công trước cũng mang lại một lợi thế tinh thần nội tại. Tuy nhiên, QGPND đang bị khó khăn trong nhiều năm trời vì dính líu quá mức vào tình hình chính trị trong nội bộ Trung Quốc. Trong một thời gian dài, nhiệm vụ khó khăn nhất của quân đội TQ là ngăn chặn các sự thái quá của cuộc Cách mạng Văn hóa.

Đối với quân đội Việt Nam, họ có được lợi thế từ thực tế rằng họ đang bảo vệ đất nước của họ chống lại một kẻ thù đáng ghét theo truyền thống lịch sử. Họ đã chứng tỏ là những bộ đội với sức mạnh bền bỉ không thể chối cãi. “Bây giờ vẫn còn quá sớm để nói quân đội nào có ưu thế hơn,” theo nhận xét của một chuyên gia Bộ Quốc phòng Hoa kỳ. “Nếu so sánh về tương quan giữa các cá nhân, thì cán cân kinh nghiệm sẽ nghiêng về phía Việt Nam.”

Nội có một ưu thế rõ ràng hơn hẳn Bắc Kinh trong các loại vũ khí tinh vi. Mặc dù cả hai lực lượng này đều đang chiến đấu với những vũ khí sản xuất tại Liên Xô hoặc với những phiên bản của Liên Xô, nhưng nhiều vũ khí của QGPND kiếm được từ trước cuộc xung đột chia rẽ Trung Quốc-Liên Xô vào những năm cuối 1950. Người Việt Nam cũng có một số thiết bị thu giữ được của Mỹ, đáng chú ý là loại đại bác 177mm, có thể đè bẹp hỏa lực của bất cứ khẩu pháo nào trong kho vũ khí của Trung Quốc. Một trong những vũ khí nổi tiếng và hiệu quả nhất của Hà Nội, mà người Mỹ từng được biết đến tại Khe Sanh, là trọng pháo 130mm. Theo lời một nhà phân tích quân sự tại Hong Kong: “Người Việt Nam ưa thích loại 130mm và thực sự biết cách sử dụng nó. Chắc chắn họ thích có tầm bắn xa hơn người Trung Quốc.”

Người Trung Quốc có khoảng 10.000 xe tăng, so với 900 chiếc của Việt Nam. Thế nhưng địa thế miền núi của cuộc chiến tuần qua đang ngăn chặn việc sử dụng các xe tăng trong ngoại trừ trong những tuyến đường rất chật hẹp, và loại xe tăng T-34 cũ kỹ của Trung Quốc là rất dễ bị tổn hại trước những tên lửa chống tăng Sagger vô cùng chính xách được Liên Xô cung cấp cho người Việt Nam trong ba năm qua. Quân đội Trung Quốc không có thứ gì có thể so sánh được với loại Sagger này. “Đây là một trong những khiếm khuyết lớn trong chiến trận mà họ đang cố hiệu chỉnh bằng cách mua những tên lửa (chống tăng) HOT từ người Pháp,” một chuyên gia của Hoa Kỳ lưu ý.

Không quân Việt Nam thua kém nhiều so với Trung Quốc về số lượng, song chất lượng thì lại cao hơn hẳn. Hà Nội có tất cả 300 chiến đấu cơ; khoảng 700 phi cơ của Trung Quốc thì đang trong tầm truy kích Việt Nam. Mặc dù, hầu hết trong số các máy bay sẵn sàng lâm trận là những chiếc MiG-17 và MiG-19 đã cổ lỗ, trong khi đón quân đội Việt Nam không chỉ có những chiếc MiG-21 tiên tiến hơn mà họ còn có cả những “chiến đấu cơ” F-5 chiếm được từ người Mỹ.

Quân đội Việt Nam cũng có một lợi thế trong tiếp viện và vận chuyển. Vì những thiếu hụt của xe tải và xe chở hàng, quân đội Trung Quốc theo tin tức cho hay đã phải chuyên chở một số hàng quân nhu với khu vực chiến sự bằng xe có ngựa kéo. Trong khi quân đội Trung Quốc di chuyển chủ yếu bằng đi bộ, thì các đơn vị của Việt Nam có nhiều phương tiện chuyên chở hiện đại, một số lượng lớn trong đó được tịch thu từ (sự bỏ lại của) quân đội Hoa Kỳ.

Thêm vào đó, quân đội Trung Quốc có những phương tiện liên lạc chiến trường cổ lỗ; đôi lúc họ vẫn sử dụng người hoặc xe đạp. Người Việt Nam được trang bị điện đài và điện thoại dã chiến hiện đại, nhiều loại trong số đó được sản xuất tại Mỹ.

Mặc dù thế mạnh của Hà Nội là về kinh nghiệm, các loại vũ khí và hậu cần, song tinh thần chiến đấu thấp trong quân đội Việt Nam có thể làm cùn đi lợi thế của họ. Tổn thất nặng nề ở Cambodia đã làm tổn hại ghê gớm ý chí chiến đấu của một số binh lính Việt Nam. Các tân binh đã hối lộ sĩ quan của mình để được về nhà. Tỉ lệ vắng mặt không phép là rất cao đến nổi một quân lệnh được loan báo cho kế hoạch tái tổ chức hai năm để hợp nhất tốt hơn với các toán quân phía nam vốn bị mất tinh thần thành một lực lượng chiến đấu hăng hái hơn. Mao Trạch Đông có lẽ đã đúng

khi ông ta nói, “Vũ khí là một yếu tố quan trọng trong chiến tranh song không phải là yếu tố quyết định; Chính con người chứ không phải thứ gì khác mới là có tính chất quyết định.”

Hiệu đính: Trần Hoàng

Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2009

—————————————————————————-

Từ đồng chí thành kẻ thù

Vì sao cuộc chiến biên giới Việt – Trung 1979 xảy ra? Một số nhà phân tích nhấn mạnh vai trò của những tranh chấp trên bộ và trên biển giữa hai nước; xung đột Việt – Trung tại Campuchia; và vai trò của người Hoa trong quan hệ Việt – Trung.

Những người khác thừa nhận tầm quan trọng của những yếu tố này, nhưng đặt chúng trong bối cảnh xung đột lớn hơn giữa Liên Xô và Trung Quốc (TQ). Phân tích của tôi dựa trên cái nhìn sau để xem lại những sự kiện lớn xảy ra trước cuộc chiến 1979.

Quan hệ Việt – Trung sau 1975

Những người cộng sản TQ xem quan hệ với cộng sản Việt Nam (VN) chủ yếu qua lăng kính của mâu thuẫn Xô – Trung gia tăng sau khi quan hệ đồng minh Xô – Trung sụp đổ đầu thập niên 1960.

Từ cái nhìn này, những diễn biến trong 10 năm trước 1975 thật làm họ lo ngại. Trong cuộc chiến Đông Dương lần Hai (1965-75), Liên Xô thay thế TQ, trở thành nhà cung cấp chính về quân sự và kinh tế.

Sau 1975, TQ không rõ về ý định chiến lược của Hà Nội đối với Moscow. Sự triệt thoái của Mỹ khỏi Đông Nam Á sau Hiệp định Paris 1973 giúp gỡ bỏ một đối trọng của Liên Xô trong vùng, và làm phức tạp cố gắng phản kích Liên Xô của Trung Quốc.

Tháng Tám 1975, trong chuyến đi quan trọng nhờ giúp đỡ kinh tế, Phó Thủ tướng và Chủ tịch Ủy ban Kế hoạch Nhà nước Lê Thanh Nghị đã thăm Bắc Kinh trước khi sang Moscow. Họ không thể đạt thỏa thuận về gói viện trợ của TQ cho VN.

Những người cộng sản TQ xem quan hệ với cộng sản Việt Nam chủ yếu qua lăng kính của mâu thuẫn Xô – Trung

Sang tháng Chín 1975, VN lại thử tìm viện trợ. Mặc dù lần này có thỏa thuận về gói kinh tế, nhưng TQ không giúp về quân sự. Trong dấu hiệu chứng tỏ họ lo ngại về quan hệ Việt – Xô, một chủ đề quan trọng được thảo luận trong chuyến thăm là về mục tiêu của LX ở Biển Đông. Đáng chú ý, vào cuối chuyến thăm, hai bên không ra tuyên bố chung.

Có vị thế kinh tế tương đối mạnh hơn TQ, Liên Xô hào phóng hơn với VN. Trong chuyến thăm Moscow tháng Mười của Tổng Bí thư Lê Duẩn, Liên Xô đồng ý viện trợ 3 tỉ đôla từ 1976 đến 80.

TQ hẳn cũng để ý lời ngợi ca dạt dào dành cho Liên Xô trong tuyên bố chung cuối chuyến thăm của lãnh đạo VN. Đáng nói, tuyên bố chung ủng hộ chính sách hòa hoãn (detente) của Liên Xô, vốn bị TQ chống đối.

Tháng 12.1976.

Một bước ngoặt quan trọng trong quan hệ Việt – Xô là Đại hội Đảng Lao động Việt Nam lần Bốn tháng 12.1976. Những nhân vật gắn bó với TQ bị cô lập. Hoàng Văn Hoan, Ủy viên Bộ Chính trị từ 1956 và Đại sứ ở TQ từ 1950-57, mất hết chức vụ trong đảng. Ba cựu đại sứ tại TQ cũng mất chức Ủy viên Dự khuyết Trung ương Đảng.

Ngày 7.6.1977, Thủ tướng Phạm Văn Đồng ghé Bắc Kinh trước lúc sang Moscow. Khi gặp Phó Thủ tướng Lý Tiên Niệm hôm 10.6, hai bên thẳng thắn bàn nhiều chủ đề, kể cả cáo buộc một số viên chức VN có tuyên bố chống Tàu, bất đồng về biên giới đất liền và biển, và sự ngược đãi người Hoa ở VN. TQ nói họ vẫn sẵn sang cho việc cải thiện quan hệ.

Hơn ba tuần sau, Lê Thanh Nghị thăm Moscow để ký nhiều thỏa thuận kinh tế. Trên đường về, ông ghé Bắc Kinh nhưng không tìm thêm được gói kinh tế nào.

Ngày 30.7.1977, hai tuần sau khi VN và Lào ký hiệp ước đồng minh, Ngoại trưởng TQ Hoàng Hoa có bài diễn văn nhắc nhiều tới sự nguy hiểm của “chủ nghĩa xét lại Sô Viết”, và công khai cảnh cáo VN về hậu quả của một cuộc xâm lấn Campuchia.

Vấn đề Campuchia

Càng lúc Campuchia càng trở thành trường đấu cho xung đột Xô – Trung và Việt – Trung. TQ kiên quyết chính sách bảo đảm sự tồn tại của một Campuchia độc lập, cai trị bởi chính thể Khmer Đỏ thân cận với TQ.

LX thì bảo trợ cho VN, trong khi VN thì muốn Campuchia và Lào nằm gọn trong vòng ảnh hưởng của mình. Đã thắng Pháp, Mỹ và nay làm đồng minh của Liên Xô, VN sẽ không để ảnh hưởng với Lào và Campuchia bị TQ và Khmer Đỏ đe dọa.

Cuối tháng Chín 1977, xung đột nổ ra tại biên giới VN – Campuchia, cùng với nó là sự xấu đi trong quan hệ Việt – Trung. Lê Duẩn thăm Bắc Kinh tháng 11.1977, muốn có thêm viện trợ kinh tế.

Nhưng lấy cớ gặp khó khăn mấy năm qua, TQ cho hay họ không thể cấp viện trợ. VN cũng không làm bữa tiệc đãi chủ nhà như thông lệ. Ngày hôm sau, Tân Hoa xã đăng bài lên án COMECON, khối tương trợ kinh tế Sô Viết mà VN mới nộp đơn gia nhập.

Sau chuyến thăm của Lê Duẩn, TQ bày tỏ sự gắn bó với Campuchia. Ngày 3.12.1977, Phó Thủ tướng TQ Trần Vĩnh Quý dẫn phái đoàn tới Campuchia. Không lâu sau đó, các đợt đánh phá của Khmer Đỏ vào VN khiến VN mở cuộc tấn công lớn.

Đến ngày 18.1.1978, để chứng tỏ cam kết bảo vệ, quả phụ của Chu Ân Lai, Đặng Dĩnh Siêu, thăm Phnom Penh.

TQ thấy có bàn tay của Liên Xô đằng sau hành động của VN. Trong lúc xảy ra các va chạm ở biên giới Việt – Cambodia, ngày 19.1.1978, Tân Hoa xã khẳng định Moscow hy vọng lợi dụng thù địch giữa VN và Campuchia để tăng ảnh hưởng ở Đông Á.

Những diễn biến sau đó trong chính sách của VN với người Hoa làm TQ càng tin Hà Nội theo đuổi chính sách gắn kết với Liên Xô chống TQ.

Tại hội nghị của Đảng tháng Hai 1978, Hà Nội quyết định đánh tư sản mại bản ở miền Nam. Ngày 23.3, Hà Nội loan báo quốc hữu hoa toàn bộ doanh nghiệp tư.

Trong một chiến dịch dùng bạo lực, đến giữa tháng Tư, chính quyền đã thu gom hơn 30.000 doanh nghiệp tư ở miền Nam, mà đa số do người Hoa sở hữu. Nó đã tạo ra cuộc trốn chạy lớn cả ở biên giới Việt – Trung phía bắc và ra đến Biển Đông.

Ngày 30.4, Bắc Kinh chính thức có tuyên bố, bày tỏ lo ngại cho người tị nạn và nói họ đang theo dõi tình hình. Cùng ngày hôm đó, đảo chính ở Afghanistan đã đưa lãnh đạo thân Xô, Nur Mohammed Taraki, lên nắm quyền. Nó được VN thừa nhận ngày 3.5.

Nhìn từ Bắc Kinh, đây là thêm một bước bao vây của Liên Xô. Ngày 26.5, TQ loan báo gửi tàu đến VN để đón về những người Hoa đang trốn chạy. Ngày 7.6, Đặng Tiểu Bình nói thẳng “VN đang ngả về Liên Xô, kẻ thù của TQ.”

Ngày 16.6, TQ loan báo sẽ đóng cửa tòa lãnh sự ở TP. HCM và lãnh sự quán VN ở Quảng Châu, Côn Minh và Nam Ninh.

Tháng Sáu năm đó, VN chính thức gia nhập COMECON. Ngày 3.7, Bắc Kinh dừng mọi viện trợ cho Hà Nội. Hội đàm song phương về người Hoa cũng bế tắc.

VN quyết tâm chống lại cố gắng hạn chế ảnh hưởng của họ tại Campuchia. Trong một cuộc gặp tại Hà Nội giữa Lê Duẩn và đại sứ Nga, ông Duẩn bày tỏ ý định “giải quyết cho xong vấn đề [Campuchia] trước đầu năm 1979.” Hiệp ước Việt – Xô được ký ngày 3.11.1978.

Phản ứng của TQ là chuẩn bị tâm lý cho quốc tế cho một đáp trả mạnh mẽ chống lại trục Hà Nội – Moscow.

TQ tìm cách thắt chặt quan hệ với Nhật và ASEAN. Đặng Tiểu Bình thăm Tokyo tháng Tám 1978, ký hiệp định hữu nghị và hòa bình. Đáng chú ý, nó có đoạn “chống sự độc bá” mà được xem là nhắm vào Liên Xô.

Rồi đến tháng 11, sau khi Thứ trưởng Ngoại giao VN Phan Hiền (tháng Bảy) và Thủ tướng Phạm Văn Đồng (tháng Chín) thăm Đông Nam Á, Đặng Tiểu Bình cũng công du Malaysia, Singapore, Thái Lan.

Sau khi đã mở màn công tác ngoại giao, Trung Quốc bày tỏ thái độ cứng rắn với VN. Bức điện Bắc Kinh gửi Hà Nội ngày 13.12 cảnh báo “sự kiên nhẫn và kiềm chế của TQ có giới hạn”.

Ngày 25.12.1978, quân VN bắt đầu đánh Campuchia. TQ phản ứng bằng cách lên kế hoạch cho cuộc chiến biên giới. Trong khi đi thăm Mỹ, Đặng Tiểu Bình thông báo cho chính quyền Carter rằng VN sẽ trả giá.

Theo Cố vấn An ninh của Tổng thống Carter, Zbigniew Brzezinski, Đặng nói với chủ nhà rằng TQ “xem là điều cần thiết khi kiềm hãm tham vọng của VN và cho chúng bài học hạn chế thích hợp”.

Đúng như lời Đặng, ngay sau khi ông trở về nhà, TQ mở cuộc chiến chống VN trong tháng Hai và Ba 1979. Các cựu “đồng chí và anh em” (lời của Hồ Chí Minh) nay hóa ra là kẻ thù.

…………………………………………………………………………………………………………………

Về tác giả:Ông Nicholas Khoo lấy bằng tiến sĩ ở Đại học Columbia, Mỹ với luận án về quan hệ giữa Trung Quốc với Liên Xô và Việt Nam thời Chiến tranh Lạnh. Quyển sách của ông, dựa trên luận án, dự kiến sẽ được NXB ĐH Columbia in. Ông hiện dạy tại ĐH Liverpool, Anh.


Vinh, Sài Gòn
Trung quốc ủng hộ Pôn Pốt để nhân dân chỉ còn là những cái xác không hồn và ai sẽ là người bạn thống trị. Trung quốc hỗ trợ Miến điện để nhân dân Miến điện như thế nào qúy vị cũng đã nhìn thấy rồi.

Cho nên cái khéo léo của Chính Phủ Việt Nam ở cạnh Trung quốc không phải dễ. Đường lối làm bạn với tất cả các nước một cách nhất quán đã giúp Việt Nam đạt nhiều kết quả tốt hơn.

Dĩ nhiên chúng ta còn quá nhiều việc không thể chấp nhận; có thể thay đổi được nhưng Chính phủ VN chưa đủ bản lĩnh thay đổi. Xu thế thế giới tiến bộ người rồi cũng sẽ biết thay đổi. Ai chơi xấu với ta dè chừng, nhưng thái độ của ta là luôn đối xử tốt với họ thì thời gian và xu thế chung của vùng, của khu vực và của thế giới tiế bộ buộc ng! ười ta sẽ thay đổi.

Thuần Việt
Việt Nam cũng chỉ là nạn nhân của xung đột Trung – Xô và cuộc chiến Việt nam – Cambodia là kịch bản mà TQ muốn thử thách ảnh hưởng của minh ở á châu mà thôi.

Thận trọng là nguyên tắc cốt lõi trong mọi quan hệ với TQ. Lịch sử sẽ phán xét những ai đã và sẽ đặt quan hệ với TQ lên cao hơn những thách thức mà Việt Nam sẽ phải đối mặt.

Mr.Neo
Khác với các bài bình luận khác, tôi cảm thấy hợp lý trước bài viết này của tiến sĩ. Đúng là người ngoài cuộc bao giờ cũng có cái nhìn sáng suốt và công tâm.

Nhưng chỉ muốn bổ sung 1 điều: Việt Nam chẳng có tham vọng gì khi đưa quân sang đánh Campuchia, vì ngay cả Mỹ chỉ cần thấy người Irag ho 1 tiếng là họ tràn quân sang đánh ngay, trong khi đó chế độc Pol Pot thường xuyên tràn sang biên giới cướp bóc, bắn giết, không đánh trả thì sao được.

Rõ ràng ở đây chỉ  vì quyền lợi và mâu thuẫn kiểu giận cá chém thớt với Liên Xô mà người Trung Quốc đã trở mặt. Buồn thay cái kẻ thù mình lại ở sau lưng mình, vậy mà Đảng và Chính Phủ bây giờ cứ theo mà vuốt đuôi riết.

Chủ tịch Hồ Chi Minh gặp Chủ tịch Mao Trạch Đông
Hồ Chủ tịch từng ví quan hệ Việt – Trung như ‘đồng chí và anh em’
Khmer Đỏ
Chính thể Khmer Đỏ dựa vào Trung Quốc để chống Việt Nam
———————————

TIME

———————————————————–

Hard Times for Hanoi

Monday, Mar. 05, 1979

Hanoi‘s leaders have often boasted to sympathetic foreign visitors that the Vietnamese people were willing to “suffer with dedication.” Last week truckloads of war-wounded and dead returning from the Chinese border and from Cambodia testified that the suffering was far from over. One unanswered, and perhaps unanswerable, question is how dedicated the 51 million citizens of the Vietnamese Socialist Republic remain to a leadership that has been unable to create a stable or prosperous country even after four years of relative peace.

Malnutrition and even hunger prevail throughout Viet Nam. Agricultural output declined 15% in 1978, while prospects for this year are so poor that Hanoi has already scaled down its crop estimates from the stated targets. Following widespread flooding of rice lands last September, the monthly ration of food per person was cut from 33 Ibs. to 29 Ibs. Of that, ordinary peasants and workers are allowed only a little over 2 Ibs. of rice, the staple of the Vietnamese diet.

Sugar, meat and flour are rare and prohibitively expensive. Factory workers have become inefficient because of malnutrition, according to the Western managers of foreign-built plants.

Typhoons, droughts and other natural disasters have contributed to Viet Nam’s agricultural problems, but government incompetence has been the principal cause. Bureaucratic foul-ups hindered the planting of new strains of rice that are more resistant to drought, and the distribution of pesticides in areas infested by plant pests has been delayed. Rice production is declining in the once prosperous Mekong Delta. Hanoi had announced that it was willing to trade consumer goods such as electric fans for rice, hoping to induce peasants to sell their crops to the government instead of on the black market. When the government failed to deliver the promised consumer goods, disappointed farmers began producing less. The Vietnamese party newspaper Nhan Dan has complained that many peasants leave paddyfields uncultivated or use rice to distill alcohol or feed pigs.

Life is especially hard in the north. Families in Hanoi are permitted only 75 sq. ft. of living space per person— roughly the recommended allowance for prisoners in U.S. federal penitentiaries. Factory hands must work six days a week, and spend the seventh at political meetings or on “volunteer” construction projects. Privately owned automobiles are all but nonexistent, and spare parts for bicycles are in short supply. “There is a great deal of unhappiness,” says a Hanoi-based diplomat. “People are starting to complain privately. One of the whispered questions heard most often is an ironic one: ‘What the hell are we doing in Cambodia?’ “

The south remains relatively more prosperous. Women there still wear the brightly colored ao dai, in contrast to the unisex black pants and white shirt commonly worn in the north. Food is somewhat more available but less affordable, since the inflation rate exceeds 100% a year. In general, the economy of the south has suffered from Hanoi’s abolition last year of “bourgeois trade” and the introduction of a uniform currency throughout the country. Southern industry is currently running at 40% of capacity. About one-fifth of the 3 million residents of Ho Chi Minh City (Saigon) are unemployed. Conceding widespread mismanagement of industry and agriculture, Nhan Dan explained: “In the long struggles against imperialism, we became well versed in political and armed struggles and skilled in organizing major battles. But we are still unfamiliar with the organization of large-scale production and business.”

Viet Nam‘s economic problems were greatly aggravated by the expulsion of 200,000 ethnic Chinese in the past nine months. The Chinese were targeted because of their wide spread involvement in the black market; but they constituted Viet Nam’s major entrepreneurial class. They managed the rice trade, the major ports, the distribution systems and several key industries—notably coal.

The 300,000 refugees who have fled Viet Nam since the fall of the Thieu government in 1975 have also cut into the country’s human resources. According to officials in Thailand and Hong Kong, where many of the refugees arrive, Vietnamese officials are privately profiting from the exodus of their citizens who are seeking food and freedom abroad. After interviewing refugees, investigators believe that as much as 50% of the money would-be refugees pay to leave Viet Nam ends up in the pockets of local Communists.

According to the refugees, one of the most striking recent changes apparent in Viet Nam is the corruptibility of middle-level party officials. Revolutionary zeal has given way to a cynical exploitation of Viet Nam’s economic problems. Corrupt Communist officials have moved into the black market trade once operated by the ethnic Chinese. All of the Red River delta’s major arteries south of Hanoi feature Communist-run “floating markets” that offer goods stolen from ships or directly off the docks at Haiphong. Conspicuous consumption among Communist officials has become so flagrant that Premier Pham Van Dong felt it necessary to issue a prevailing order: “At a time when the people in several areas are experiencing privations and hunger, it is absolutely necessary to refrain from organizing wasteful celebrations and feasts. All sectors and all levels should uphold an exemplary spirit by practicing economy in production and a way of life that avoids all waste.”

———————————————————————–

TIME

———————————-

The Military Balance

Monday, Mar. 05, 1979

The two forces engaged on the rugged, inhospitable terrain of northern Viet Nam were the object of intense scrutiny by military analysts last week. In Washington, a task force raised from the U.S. intelligence community began meeting within hours of the Chinese invasion, evaluating what data could be obtained from military communiques and by satellite observation of the battle scene. In Moscow, strategists were equally attentive to the broader implications of the war. How well the People’s Liberation Army does in its first real combat test since the Korean War nearly 30 years ago could provide clues to its capability against Soviet armies on China’s northern border.

Arrayed against the PLA was a formidable military instrument forged by Defense Minister Vo Nguyen Giap, the conqueror of Dien Bien Phu, whose forces had defeated French and U.S. armies in more than three decades of fighting. The strengths and weaknesses of both forces, as evaluated by the analysts last week, appeared to be in delicate balance.

With 3.5 million men, the world’s largest standing army, Peking has an overwhelming numerical advantage over Hanoi’s 615,000 troops. In a limited punitive strike, the Chinese would probably not deploy more than 200,000 men, though the PLA’s available reserves in southern China are immense if the conflict should widen.

China currently has about 1.6 million men along the Soviet border—a force that Peking may decide to augment if Moscow raises the combat readiness of its own 1 million troops on the frontier in response to the crisis. One tactical plus for the PLA is that many of Hanoi’s forces are tied down in Cambodia or Laos and cannot be readily transferred to the war in the north.

Although the Chinese are not “blooded” by battle experience, Pentagon specialists believe that they are good fighters. The untried PLA soldier, like his commander, may be eager for combat—and a rare chance for promotion.

The experience that their operations chief, General Yang Teh-chin, 68, gained in the Korean War may have served to boost the troops’ confidence. Being on the attack also confers an intangible morale advantage. The PLA, however, is troubled by years of excessive involvement in China’s internal politics.

For a long time its most arduous duty has been curbing the excesses of the Cultural Revolution.

As for the Vietnamese, they benefit from the fact that they are defending their own country against a historically hated enemy. They are proven fighters with undeniable staying power. “It’s too early to tell who is better,” says a U.S. Defense Department expert. “Man for man, the weight of experience would be on the Vietnamese side.”

Hanoi has a clear superiority over Peking in sophisticated weaponry. Although both forces are fighting with arms made in the U.S.S.R. or with copies of Soviet models, many of the PLA’s weapons were acquired before the Sino-Soviet split in the late 1950s. The Vietnamese also have some captured American equipment, notably the 177-mm howitzer, which outguns any artillery piece in the Chinese inventory.

One of Hanoi’s favorite and most effective weapons, as Americans learned at Khe Sanh, is the 130-mm howitzer. Says one military analyst in Hong Kong: “The Vietnamese love the 130 and really know how to use it. They must love to have the Chinese outranged.”

The Chinese have about 10,000 tanks, compared to Viet Nam’s 900. But the mountainous terrain of last week’s fighting precludes the use of tanks except in very narrow corridors, and China’s aged T-34 tanks are vulnerable to the extremely accurate Sagger antitank missiles supplied to the Vietnamese by the Soviet Union in the past three years. The Chinese have nothing comparable to the Sagger. “This is one of their major combat deficiencies, which they are trying to correct by buying HOT (antitank) missiles from the French,” notes one U.S. expert.

The Vietnamese air force is vastly inferior to the Chinese in quantity, but the quality is vastly superior. Hanoi has 300 combat aircraft in all; about 700 Chinese planes are within striking range of Viet Nam. Most of those ready for combat, however, are outdated MiG-17s and MiG-19s, whereas the Vietnamese have not only the slightly more advanced MiG-21s but also the versatile F-5 “freedom fighters” captured from the Americans.

The Vietnamese also have an advantage in supply and transport. Because of shortages of trucks and freight cars, the Chinese are reported to have brought some supplies to the combat area by horse-drawn vehicles. While the Chinese army moves primarily on foot, the Vietnamese forces have plenty of modern transport, much of it seized from the U.S.

Army. The Chinese, moreover, have primitive battlefield communications; they still sometimes use runners and bicyclists. The Vietnamese are equipped with modern radio and field telephones, many of them American-made.

Despite Hanoi’s superiority in experience, weaponry and logistics, low morale in the Vietnamese forces could blunt their advantages. Heavy casualties in Cambodia have severely impaired some Vietnamese soldiers’ will to fight. Recruits have bribed their officers to let them return home.

The AWOL rate is so high that the army command has announced a two-year reorganization plan that will better integrate the demoralized southern troops into a more aggressive fighting force. Mao Tse-tung may have been right when he said, “Weapons are an important factor in war but not the decisive factor; it is people not things that are decisive.”

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

Kinh Tế, Tài chánh và Quy Định của chính phủ

Posted by hoangtran204 trên 04/02/2009

Kinh Tế, Tài chánh và Quy Định của chính phủ Mỹ

Thứ Ba 4 tháng 2, 2009

Hôm qua là một ngày nhiều biến động và đầy lo lắng trong thị trường kinh tế, tài chánh và doanh nghiệp.

Các hãng xe hơi của Mỹ và Nhật cho biết tình hình buôn bán xe vào tháng 1/2009 với số lượng xe bán ra giảm bớt như sau:

Chrysler giảm 55%, GM giảm 51%, Ford giảm 40% và Toyota giảm 32%.

Huyndai của Nam Hàn gia tăng 16% vì trong nhiều tháng qua, Huyndai quãng cáo là nếu khách mua xe nào đã mua xe rồi, và sau đó bị mất việc, Huyndai sẽ chấp nhận cho khách hàng trả xe lại

(Hãng Panasonic của Nhật cho nghĩ việc 15.000 công nhân viên)
—————————————-

Hôm thứ Ba, 3-2-2009, TT Obama tuyên bố là sẽ đưa ra thực hiện quy định mới nhằm giảm lương của ban giám đốc các đại công ty tư nhân, các tổng giám đốc các ngân hàng tư nhân, tổng giám đốc các công ty tài chánh tư nhân…

Theo quy định sẽ được tuyên bố vào ngày mai thứ Tư, bất cứ công ty lớn, các hãng tài chánh và các ngân hàng nào đang xin chính quyền CHO MƯỢN TIỀN để tiếp tục hoạt động, thì ban giám đốc phải nhận lương dưới $500.000 một năm.

Obama cho biết vì đây là tiền thuế của người dân cho mượn, và các hãng phải có một số trách nhiệm nào đó chứ không phải sống ích kỷ trên đồng lương thừa thải. Đồng thời các hãng phải trả lại số tiền sẽ được cho mượn nầy trong một thời gian quy định, và hàng tháng phải đóng tiền trả lại cho nhà nước hẳn hoi.

Theo quy định mới nầy, sau khi các hãng tài chánh, ngân hàng, các công ty lớn trả hết tiền mượn của chính phủ xong, thì họ muốn trả lương cho ban giám đốc ra sao là quyền của ban quan trị các hãng đó. Riêng hiện nay và trong thời gian 5-20 năm sắp tới, ban giám đốc phải nhận mức lương theo quy định.

Cũng theo quy định mới sắp được ban hành ngày mai, các cổ phiều hay stock mà ban giám đốc, nếu được công ty ban thưởng, phải giữ hết cho riêng họ, không được trao đổi mua bán và chỉ được quyền bán ra sau khi trả hết nợ của chính phủ (10- 20 năm sau?)

Và qui định nầy cũng cho phép những người thường dân đang nắm giữ cổ phiếu của một công ty nào đó hàng năm họp lại biểu quyết về mức lương bổng, và có tiếng nói quyết định về lương bổng của ban giám đốc (không còn kiểu cách ban giám đốc và hội đồng quản trị tự đặt ra và tự thăng thưởng lương bổng của họ như mấy chục năm qua nữa).

Đề nghị giới hạn về lương bổng của ban giám đốc của các hãng muốn mượn tiền thuế của người dân để tiếp tục làm ăn được nữ thượng nghị sĩ đảng Dân Chủ tiểu bang Missouri đệ trình là bà Claire McCaskill đệ trình, đã được Thượng viện hoan nghênh trong thời gian qua, và sẽ được TT Obama công bố vào ngày mai thứ Tư.

Những công ty nào đã nhận được tiền cho mượn dưới chương trình 700 tỉ đô la (roubled Asset Relief Program) vào các tháng trước ĐÃ THI HÀNH quy định tương tự vào các tháng trước: lương ban điều hành cao cấp của các hãng phải ít hơn mức $400.000 một năm.

Nhưng nay, các nhân vật trong giới lập pháp và hành pháp được dân bầu ra (dân biểu, nghị sĩ, tổng thống) đang muốn đặt ra nhiều giới hạn chặt chẻ hơn nữa để bảo vệ tiền thuế của người dân đang được chính phủ đại diện đứng ra cho các công ty, các ngân hàng, các hãng tài chánh mượn. Và quy định mới sắp được ban hành ra đời vào ngày mai là nhằm bổ sung thêm cho qui định cũ đã ban hành vào tháng 1 vừa rồi.

http://news.yahoo.com/s/ap/20090204/ap_on_go_pr_wh/bailout_executive_pay

————————————————————————

Lương Chủ tịch nước chưa tới 3,8 triệu đồng/tháng

Thứ ba, 11 Tháng một 2005, 00:00

Hôm qua 10/1 tại TP Hồ Chí Minh, Ban Chỉ đạo nghiên cứu cải cách chính sách tiền lương nhà nước đã tổ chức hội nghị triển khai thực hiện các quy định chế độ tiền lương, bảo hiểm xã hội và trợ cấp ưu đãi người có công cho các tỉnh, thành phía Nam.

Các thông tin được công bố cho thấy mặc dù lương đã tăng, nhưng mức lương của các cấp lãnh đạo cao nhất trung ương hiện cũng chưa đến 3,8 triệu đồng/người.

Cụ thể:

Lương của Tổng bí thư và Chủ tịch nước (có cùng hệ số lương 13,000) là 3,770 triệu đồng và

Thủ tướng Chính phủ và Chủ tịch Quốc hội (hệ số 12,50) là 3,625 triệu đồng;

Ủy viên Bộ Chính trị thường trực Ban Bí thư: 3,480 triệu đồng;

Ủy viên Bộ Chính trị: 3,393 triệu đồng; Chủ tịch Ủy ban T.Ư MTTQ Việt Nam: 3,393 triệu đồng;

Bí thư T.Ư Đảng: 3,190 triệu đồng;

các bộ trưởng và thủ trưởng cơ quan ngang bộ: từ 2,813 – 2,987 triệu đồng;

bảng lương sĩ quan quân đội và Công an: đại tướng là 3,016 triệu đồng, thượng tướng 2,842 triệu đồng, trung tướng 2,668 triệu đồng…

Nguyên Thuỷ

Việt Báo // (Theo_Thanh_Nien)

http://vietbao.vn/Xa-hoi/Luong-Chu-tich-nuoc-chua-toi-3,8-trieu-dong-thang/45113129/157/

Posted in Uncategorized | 7 Comments »

Nhảy Dù

Posted by hoangtran204 trên 03/02/2009

Trong chuyến nhảy dù lần đầu tiên, người lính hướng dẫn dù rơi xuống đất trong lúc người huấn viên đang hấp hối

By JEFFREY COLLINS, Associated Press Writer Jeffrey Collins, Associated Press Writer Monday Feb 2, 2009

Bị buộc dây chung cùng với người huấn luyện viên của mình khoảng hơn vài km cách mặt đất trong chuyến nhảy dù lần đầu tiên, Daniel Pharr đã nhận ra mình đang trôi bồng bềnh hướng về một căn nhà và một vài cây cối. Quân đội đã dạy người lính trẻ 25 tuổi nầy không được hoảng hốt, và huấn luyện viên đã từng dạy anh ta kéo cái vòng dây (điều khiển) để lái dù hướng (vào điểm đáp) .
Thế là Pharr đã nắm lấy vòng dây bên phải và kéo để tránh căn nhà (ở phía dưới) và kéo mạnh hơn nữa để tránh những cây, đáp xuống một cách an toàn trong một bãi đất vào khoảng 500 mét cách xa điểm đáp dù.

Pharr cho biết anh ta đã vật lộn để thoát ra khỏi cái đai nối dính anh ta và người huấn luyện viên nhảy dù, George “Chip” Steele, và anh đã bắt đầu làm hô hấp nhân tạo (CPR) cố gắng cứu người huấn luyện viên dường như đang bị nhồi máu cơ tim (công tim).

Huấn luyện viên Steele về sau được báo tin là đã chết, nhưng bi kịch nầy có thể tồi tệ hơn: Những huấn luyện viên tại trường nhảy dù đã nói với Pharr rằng nếu như anh ta kéo “cái vòng” lái dù quá mạnh, cái dù sẽ quay vòng vòng và không còn điều khiển được nữa, và nếu chuyện ấy xẩy ra, anh ta có thể bị chết nữa. “Các HLV nói với tôi: thật là tuyệt diệu rằng tôi đã biết cách làm thế. Đó là trực giác sống còn của tôi ngay vào lúc đó. Tôi chỉ biết làm những gì mà tôi phải làm,” Pharr đã cho biết như thế vào giờ nghĩ ở hãng làm việc vào ngày thứ Hai ở trại Fort Gordon gần thành phố Augusta, thuộc tiểu bang Georgia.

Vụ nhảy dù này là món quà Giáng Sinh từ người bạn gái của Pharr. (cô ta đã mua 1 vé nhảy dù, giá khoảng vài trăm đô, tặng Pharr). Cặp nầy đã tới một trường tư chuyên dạy về nhảy dù Skydive Carolina ở thành phố Chester để nhảy từ độ cao 4000 mét trong lúc buộc dính liền nhau với huấn luyện viên nhảy dù.

HLV Steel, 49 tuổi, đã đưa ra lời hướng dẫn khi máy bay lên cao. Ông ta từng nói với Pharr rằng ông ta rất thích nhảy dù, và đã nhảy hơn 8000 lần. Cả hai người nầy là cặp cuối cùng của khoảng 10 người nhảy dù nhảy ra khỏi máy bay vào ngày hôm đó. Pharr thưởng thức được 1 phút rơi tự do (chưa bung dù ra) vừa khi đó một cơn gió lạnh ùa tới.

“Steel đã kéo cho cánh dù mở ra,” Pharr cho biết. ” Bầu trời rất là yên tỉnh. Thật là quá yên tỉnh một cách đáng sợ ở trên cao. Tôi đã nói với huận luyện viên Steele rằng, ” Thật là đáng ngạc nhiên bầu trời yên lặng làm sao ấy.” Và HLV trả lời dường như là: ‘ Chào mừng bạn đã tới thế giới của tôi.'”

Một vài giây trôi qua, và Pharr lại hỏi người HLV một câu hỏi nữa. Lần nầy, Steele đã không trả lời. Pharr lập lại câu hỏi của anh ta. (Nhưng vẫn) không có tiếng trả lời.

“Và rồi sau đó tôi quay qua nhìn ông ta và ông ta dường như là đang còn tỉnh táo, nhưng ông ta đang nói lầm bầm một mình cái gì đó. Tôi đã nhận ra rằng có chuyện không ổn rồi,” Pharr kể lại. “Thế là ngay vào thời điểm ấy tôi nhận ra mình sẽ làm những gì cần phải làm để đáp xuống mặt đất và cố gắng giúp đỡ huấn luyện viên Steel “

Cặp nhảy dù nầy sau cùng đã xuống cách xa khoảng 500 mét từ trạm nơi mà họ dự định đáp xuống, chỗ nầy che khuất những khán giả đang đứng xem bởi những hàng cây. Việc làm hô hấp nhân tạo của Pharr đã không làm sống lại HLV Steel.

“Điều duy nhất đã mất mát là tôi ước gì tôi đã có thể cứ giúp được ông ta,” Pharr nói. “Tôi đã ráng hết sức mình để làm được điều gì — tất cả việc huấn luyện về CPR của tôi , tôi đã làm tất cả những gì tôi đã có thể làm.”

Sau đó, các nhân viên y tế đã đến và chẩn đoán Steel, Pharr đã yêu cầu họ gọi cho người bạn gái của anh ta, Jessica Brunson, và người mẹ, bà nầy đang đứng nhin ở sân bay.

(còn tiếp)

Soldier on 1st skydive leads dying instructor down

COLUMBIA, S.C. – Strapped to his dying instructor a few thousand feet from the ground on his first skydive, Daniel Pharr found himself floating toward a house and some trees.

The military taught the 25-year-old soldier not to panic. And TV taught him to pull the toggles on the already-deployed parachute to steer.

So Pharr grabbed the right handle and pulled to avoid the house and tugged again to miss the trees, landing safely in a field about a third of a mile from their intended landing spot.

Pharr said he wrestled out of the harness binding him to his instructor, George “Chip” Steele, and started CPR trying to save him from an apparent heart attack.

“He pulled the chute,” Pharr said. “It got super quiet. It’s eerily quiet up there. I made the comment to him, ‘It’s surprising how quiet it is.’ And he’s like: ‘Welcome to my world.'”

A few seconds passed, and Pharr asked his instructor another question. This time, Steele didn’t answer. Pharr repeated his question. No answer.

“And then I just looked up at him and he looked like he was conscious, but just talking to him, I realized something was wrong,” Pharr said. “So at that point I realized I was just going to have to do what I had to do to get down to the ground and try to help him.”

The pair ended up about a third of a mile from the airstrip where they were supposed to land, blocked from the spectators by trees. Pharr’s CPR failed to revive Steele.

“My only thing walking away is that I wish I could have helped him,” Pharr said. “I tried as hard as I could — all my training, I did everything I could.”

After paramedics arrived and stepped in to diagnose Steele, Pharr asked them to call his girlfriend, Jessica Brunson, and mother, who was watching from the air strip.

Pharr’s mother said all they knew at the time was from a brief message on another staffer’s radio: A tandem pair was down and it didn’t look good.

“It was an eternity,” Darlene Huggins said, when asked how long it took her to hear her son’s message he was safe. “No, really, it could have been 10, 15 minutes.”

After talking to authorities, Pharr got to see his girlfriend, who he said kept her composure. “Once she saw me, she was in tears,” he said.

Huggins said she asked the Lord to keep her son safe. “I just give the glory to God. He was just covered with that hedge of protection that us mamas pray for,” she said.

Initial indications are Steele died of a heart attack. Chester County Coroner Terry
Tinker said he would wait for a written report from Monday’s autopsy before releasing an official cause of death.

Skydive Carolina General Manager James La Barrie released a statement saying it appeared Steele, a test jumper and instructor, died from a medical problem. No one answered the phone Monday at a listing for Steele in Sumter.

Pharr had to work Sunday, so he immediately went back to Fort Gordon, which is home of the Signal Corps, the communications nerve center of the Army, and deals heavily in military intelligence.

He joined the Army a year ago, leaving his job in Columbia selling alarm systems because he wanted to serve the country like his two grandfathers and get money to go to college. When asked what he does, Pharr laughed and said “can’t tell you.”

Fellow soldiers have been asking him about his jump for the past two days. “It’s a once-in-a-lifetime story, and I told them I hope I never have to top it,” Pharr said.

Pharr wants to jump again, but it looks like his first skydive will be his last.

“My family has told me I have to keep my feet on the ground,” he said.

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

Nông Dân VN Khóc vì phải đổ bỏ Sữa

Posted by hoangtran204 trên 02/02/2009

Global Post

————————————————————————————————————

Nông Dân VN Khóc than vì phải đổ bỏ sữa

Vụ bê bối sữa nhiễm melamine của Trung Quốc đã chuyển sang những chiều hướng khó hiểu

Matt Steinglass – GlobalPost

Lên mạng ngày 29-1-2009

Cập nhật ngày 1-2-2009

PHÙ ĐỔNG, Việt Nam – Ông Hoàng Trọng Thuyên, 69 tuổi, đứng trên cái bình bằng inox đựng 2 tấn sữa với vẻ mặt dữ tợn.

“Nó đã nằm ở đây hai ngày rồi,” ông Thuyên nói. “Nếu như công ty sữa không tới mua vào ngày mai, thì chúng tôi sẽ phải đổ bỏ đi.”

Ông Thuyên là chủ nhiệm Hợp tác xã Thu mua Sữa Phù Đổng. Những người nông dân trong cái thị trấn nhỏ bé cách Hà Nội 10 dặm về phía đông nam này thông qua hợp tác xã để bán sữa của họ cho những công ty sữa lớn. Kể từ khi những nông dân ở đây bắt đầu tăng cường nuôi bò sữa vào những năm 1990, sữa đã đưa nhiều gia đình thoát khỏi cảnh nghèo đói và làm cho ông Thuyên trở thành một triệu phú.

Thế nhưng trong hai tháng qua, những nông dân ở Phù Đổng và một số địa phương sản xuất sữa khác trên khắp miền bắc Việt Nam đã và đang phải đổ bỏ sữa bò của mình xuống sông, suối, ruộng, và ra đường. Nhu cầu sữa sụt giảm đột ngột vào mùa thua năm ngoái, sau khi có những tin tức cho biết có một lượng lớn sữa tươi và sữa bột từ Trung Quốc bị hư hỏng do có chất hóa học công nghiệp melamine.

Vào tháng Chín, một lượng melamine rất nhỏ được phát hiện có trong sữa bán trên thị trường của Hanoimilk, một công ty sữa lớn của nhà nước chuyên trộn sữa tươi trong nước với sữa Trung Quốc nhập khẩu trong một vài sản phẩm của họ. Khi hải quan phát hiện ra, lượng sữa bán ra của Hanoimilk sụt giảm nhanh chóng, và công ty này đã cắt giảm một nửa hoặc quá nửa lượng sữa mua trong nước.

Các công ty sữa khác, những nơi chưa từng bị phát hiện sữa nhiễm độc qua kiểm nghiệm, đã phục hồi lượng tiêu thụ, và những người nông dân từng cung cấp sữa cho các công ty này đang làm ăn thuận lợi. Thế nhưng những nguồn cung cấp cho Hanoimilk lại bị mắc kẹt với lượng sữa dư thừa của mình.

“Lúc đầu nông dân chỉ biết đổ sữa ra đồng ngay cạnh trạm thu mua này, nhưng giờ thì họ phải đi tìm một con mương hay một cái ao để đổ,” ông Thuyên kể. “Nó đang làm ô nhiễm ruộng đồng.”

Người nông dân đang phải chịu hậu quả từ vụ bê bối melamine của Trung Quốc, mặc dù nông dân ở Việt Nam chưa từng sử dụng melamine. Lý do là sự thiếu tin cậy. Trong một quốc gia với tình trạng hàng giả lan rộng, những vụ tham nhũng là phổ biến, và báo chí thì thường không đáng tin cậy, nên công chúng Việt Nam không tin tưởng vào bất cứ ai đảm bảo với họ lần nữa rằng các sản phẩm của Hanoimilk là an toàn.

Sự thiếu tin tưởng vẫn tiếp tục tồn tại mặc dù chính phủ và các công ty sữa đã hướng dẫn một chiến dịch kiểm tra melamine đầy ấn tượng. Bắt đầu vào cuối tháng Chín, Bộ Công nghiệp [Công thương] đã tổ chức 15 đoàn và 22 phòng thí nghiệm tới toàn bộ các điểm bán lẻ sản phẩm sữa trên khắp cả nước. Chất melamine đã bị phát hiện trong một số sản phẩm sữa nhập khẩu từ Singapore, Australia và Trung Quốc, và các sản phẩm này đã bị thu hồi khỏi kệ hàng hóa. Báo chí tại đây đã đưa tin rộng rãi về việc thu hồi này.

Các công ty sữa trong đó có công ty Vinamilk của nhà nước và Dutch Lady của nước ngoài, một công ty con của Unilever, đã nhanh chóng đảm bảo rằng các nguồn cung cấp của họ đều không sử dụng melamine. Họ chưa từng phải giảm bớt lượng mua vào tại địa phương được khống chế bởi các hợp đồng dài hạn với các nông dân cá thể.

Nhưng nhiều nông dân bán hàng cho Hanoimilk đã không có các hợp đồng dài hạn. Đó là lý do chính làm cho họ đang phải chịu khốn khó, theo ông Raf Somers, một cố vấn của Dự án sản xuất Sữa của Bỉ tại Việt Nam. Dự án này, với nguồn viện trợ phát triển của chính phủ Bỉ, đã trợ giúp hiện đại hóa công nghiệp sữa của Việt Nam bằng việc thuyết phục các công ty như Vinamilk ký các hợp đồng dài hạn trực tiếp với các nông dân cá thể, hơn là cậy nhờ vào những người trung gian ví như ông Thuyên chủ nhiệm hợp tác xã.

“Theo những bài báo mà chúng tôi đã được đọc trong phần tin tức trong nước thì nông dân đã không có được một bản hợp đồng,” ông Somers cho biết. “Thực ra chỉ có một tỉ lệ nhỏ nông dân là không thể bán được sữa của họ.”

Theo ông Somers, các c
ông ty sữa của Việt Nam đã đề nghị có những hợp đồng cá nhân với nông dân cốt để đảm bảo nguồn cung cấp cho riêng mình, họ đảm bảo với nông dân rằng sữa của họ sẽ được mua, và giám sát việc kiểm tra chất lượng. Trong hệ thống hợp tác xã trước đây, những người trung gian như ông Thuyên thực hiện việc kiểm soát chất lượng – kiểm nghiệm lượng protein trong sữa – và tiếp đến là cất trữ để bán cho các công ty sữa. Không có việc khuyến khích các nông dân cá thể nâng cao chất lượng, bởi vì sữa của họ sẽ được gộp vào với sữa của mọi nông dân khác trong làng.

“Đó thật sự là một vấn đề đối với chất lượng,” ông Somers nói. Các công ty như Vinamilk và Dutch Lady có thể đảo bảo rằng họ sẽ tự kiểm nghiệm sữa của nông dân bán cho mình. Và việc làm đó đang dần dần tạo dựng nên cho họ điều quý báu nhất cho tất cả các sản phẩm tại một thị trường đầy gian dối và dịch bệnh của Việt Nam này: đó là lòng tin.

Tại một siêu thị của Hà Nội, một số khách hàng đã cho biết là họ hiện giờ đang mua nhiều sữa hơn cả trước khi vụ bê bối melamine bộc phát. Thế nhưng họ đang mua sữa Vinamilk, hoặc các thương hiệu sữa nước ngoài như Dutch Lady và Milo của Nestle.

Nguyễn Ngọc Vân, đang đi mua hàng cho hai đứa con gái tuổi thiếu nên của mình, đã cho biết chị đang gắn bó với sữa Vinamilk kể từ khi đọc được những tin tức là sữa Hanoimlik đã bị phản ứng dương tính khi kiểm nghiệm melamine.

“Tôi chỉ là một người bình thường,” chị Vân nói, “Tôi không thể đảm bảo hoàn toàn là báo chí nói đúng sự thật.” Thế nhưng những đứa con chị đã dùng Vinamilk, và các báo cho biết là loại này an toàn.

Các quan chức Bộ Nông nghiệp [và Phát triển Nông thôn] đã phản ứng giận dữ trước các bài báo nói rằng sữa đang phải bán phá giá. Ông Hoàng Kim Giao, lãnh đạo Cục Vật nuôi [Cục Thú y] của bộ này, đã nói là ông coi chuyện bán phá giá này là một “tội ác”.

Vào giữa tháng Một, chính phủ đã triệu tập một cuộc họp giữa Hanoimilk và một số nhà chế biến sữa khác, và đã đạt được một thỏa thuận rằng Vinamilk và các công ty nhà nước khác sẽ mua hết toàn bộ sữa dư thừa trên cả nước.

Thế nhưng hoạt động ứng cứu có thể trở nên quá chậm đối với nhiều nông dân tại Phù Đổng. Thậm chí vài ngày sau thỏa thuận do chính phủ làm trung gian để mua hết số sữa dưa thừa được loan báo, một số nông dân ở khu vực Hà nội đã phải đổ hàng tấn sữa do quá thời hạn bán được.

Ông Thuyên chủ nhiệm hợp tác xã sữa cho biết chi phí cho việc nuôi một con bò sữa mỗi ngày hết khoảng 6 đô la, và hầu hết nông dân ở Phù Đổng đang trong tình trạng thua lỗ. Nếu như mọi việc không tiến triển sớm, ông nói, thì những nông dân nghèo của Phù Đổng sẽ chỉ còn một con đường là bỏ nghề.

“Họ phải bán bò đi,” ông Thuyên bảo. “Một con bò từng có giá trên 20 triệu đồng (1.200 đô la). Giờ thì chỉ được 7 triệu đồng (400 đô la). Nhiều người đã bán bò của mình đi rồi. Họ gửi bò của mình tới cho những người bán thịt.”


Hiệu đính: Trần Hoàng


Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2009

————————————————————————————————————————–

A Vietnamese farmer tends to a cow in a rice field in Ha Tay province, 14 miles south of Hanoi, Vietnam in 2006. (Nguyen Huy Kham/Reuters)

Global Post

——————————————————————————-

Crying over spilled milk in Vietnam

China’s melamine scandal moves in mysterious ways.

By Matt Steinglass – GlobalPost

Published: January 29, 2009 17:12 ET
Updated: February 1, 2009 08:41 ET

PHU DONG, Vietnam — Hoan Trong Thuyen, 69, stood over the 2-ton stainless steel milk storage vat with a grim expression.

“It’s been here two days already,” Thuyen said. “If the dairy company doesn’t come to buy it tomorrow, we’ll have to pour it out.”

Thuyen is the chairman of the Phu Dong Dairy Collective. Farmers in this small town 10 miles southeast of Hanoi use the collective to sell their milk to large dairy companies. Since farmers here began raising dairy cows in the 1990s, milk has lifted dozens of families out of poverty and made Thuyen a millionaire.

But for the past two months, farmers in Phu Dong and some other dairy regions across northern Vietnam ha
ve been pouring their cows’ milk away — in streams and rivers, on fields and roads. Demand for milk fell sharply in Vietnam last fall, after reports that vast quantities of fresh and powdered milk from China were tainted with the industrial chemical melamine.

In September, tiny amounts of melamine turned up in milk marketed by Hanoimilk, a large state-owned dairy company that mixed fresh local milk with imported Chinese milk in some of its brands. When customers found out, Hanoimilk’s sales plummeted, and it cut its local milk purchases by half or more.

Other milk companies, whose milk never tested positive, have seen demand recover, and farmers who supplied milk to those companies are doing well. But Hanoimilk’s suppliers were stuck with their surpluses.

“At first the farmers just poured it out in the field next to the collection station here, but now they have to go find a stream or a pond,” Thuyen said. “It was polluting the field.”

The farmers are suffering the consequences of the Chinese melamine scandal, even though farmers in Vietnam have never used melamine. The reason is lack of trust. In a country where counterfeit goods are widespread, corruption scandals are common, and the press is often unreliable, the Vietnamese public does not trust anyone to assure them that Hanoimilk products are safe again.

The lack of trust persists even though the government and dairy companies have conducted an impressive melamine inspection campaign. Beginning in late September, the Ministry of Industry organized 15 teams and 22 laboratories to go through the country’s entire retail supply of dairy products. Melamine was found in several dairy products imported from Singapore, Australia and China, and they were pulled from the shelves. The press here reported widely on the recalls.

Dairy companies including state-owned Vinamilk and foreign-owned Dutch Lady, a Unilever subsidiary, quickly ensured that their suppliers were not using melamine. They never reduced their local purchasing levels, which are governed by long-term contracts with individual farmers.

But many of Hanoimilk’s farmers had no long-term contracts. That is the main reason they are suffering, according to Raf Somers, an adviser with the Vietnam Belgium Dairy Project. The project, funded with Belgian government development aid, has helped modernize the Vietnamese dairy industry by convincing companies like Vinamilk to sign long-term contracts directly with individual farmers, rather than relying on intermediaries such as dairy collective chairman Thuyen.

“The stories that we’ve seen in the local news are farmers that did not have a contract,” Somers said. “It’s only a really small percentage of the farmers that cannot sell their milk.”

Somers said Vietnamese dairy companies had moved to individual contracts with farmers in order to guarantee their own supplies, guarantee to farmers that their milk would be bought, and to oversee quality testing. In the old collective system, intermediaries like Thuyen do quality control — testing milk for protein content — and then store it for sale to dairy companies. There is no incentive for individual farmers to improve quality, because their milk will be lumped in with that of every other farmer in the village.

“It is really a matter of quality,” Somers said. Companies like Vinamilk and Dutch Lady can guarantee that they test their farmers’ milk themselves. And that is gradually building them the most precious of all commodities in Vietnam’s deception-plagued market: trust.

At one Hanoi supermarket, several customers said they were now buying as much milk as they had before the melamine scandal started. But they are buying Vinamilk, or foreign brands such as Dutch Lady and Nestle’s Milo.

Nguyen Ngoc Van, shopping for her two teenage daughters, said she was sticking to Vinamilk since seeing the news that Hanoimilk had tested positive for melamine.

“I’m just a regular person,” Van said. “I can’t be completely sure that the media are telling the truth.” But her children are used to Vinamilk, and the newspapers say it is safe.

Agriculture Ministry officials reacted angrily to media reports of milk dumping. Hoang Kim Giao, head of the ministry’s Livestock Department, said he considered the dumping a “crime.”

In mid-January, the government convened a meeting between Hanoimilk and several other dairy processers, and secured an agreement that Vinamilk and other state-owned companies will buy up all of the surplus milk in the country.

But the rescue operation may come too late for many farmers in Phu Dong. Even several days after the government-brokered agreement to buy up surplus milk was announced, some farmers in the Hanoi area were forced to dump tons of milk that had passed the sell-by date.

Dairy collective chairman Thuyen said it costs about $6 a day to feed a dairy cow, and most farmers in Phu Dong are operating at a loss. If things do not improve soon, he said, Phu Dong’s poorer farmers would only have one way out.

“They have to sell the cow,” Thuyen said. “A cow used to cost over 20 million dong ($1200). Now it’s just 7 million ($400). A lot of people have sold their cows already. They sent their cows to the butcher.”

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

Entry for February 01, 2009

Posted by hoangtran204 trên 01/02/2009

Chết đuối vào dịp Tết:

Rất là xui xẻo

Matt Steing

Ngày 26-1-2009

matt-steinglassMatt Steinglass đã và đang tường thuật tin tức ở Việt Nam cho tờ GlobalPost. Steinglass đã viết về Việt Nam từ năm 2003 và đã phục vụ như là một thông tín viên từ Hà Nội cho Thông Tấn Xã của Đức [DPA] phần tiếng Anh, như là một thông tín viên bán thời gian tại Hà Nội của tờ Boston Globe, và như một nhà báo chuyên bán các bài viết về Việt Nam cho Đài tiếng nói Hoa Kỳ (VOA). Ông cũng đã làm việc tại Tây Phi và Hà Lan, và các bài báo của ông đã được đăng tải trên các báo và tạp chí Washington Post, the Nation, the New York Times Magazine và the New York Times, nơi ông từng viết về một loạt các đề tài về: ngành truyền thông mới ở Amsterdam, Hồi giáo cực đoan ở Nigeria, và công nghiệp điện ảnh ở Nigeria. Được đào tạo kỹ lưỡng trong lĩnh vực truyền thông, ông đã có một bằng tốt nghiệp của Đại học Harvard với một học vị văn học và lịch sử Nga, và ông đang tiếp tục theo đuổi học vị tiến sĩ tại Đại học New York về phương tiện truyền thông tương tác. Steinglass nói được tiếng Anh, Nga, Pháp, Đức và Việt Nam.

Global Post

——————————————————————————————————————————————————————

Chết đuối vào dịp Tết:

Rất là xui xẻo

Matt Steing

Ngày 26-1-2009

Hôm qua, một chuyến đò chở quả tải những người đi mua sắm trong dịp Tết đã lật nhào xuống một con sông ở tỉnh Quảng Bình. Ít nhất 40 người đã chết đuối, hầu hết là đàn bà con gái.

Tôi đọc tin này trên Internet vào chiều qua và đã cố gọi điện cho công an địa phương để có được sự xác nhận và thêm thông tin chi tiết. (Tôi hiện ở Nha Trang cách đó hàng trăm dặm.) Thế nhưng tôi không thể gặp được bất cứ ai qua điện thoại, bởi vì đang là … ngày nghỉ Tết. Thậm chí đặc biệt hơn, đó là buổi chiều ngày đầu tiên của Tết.

Người trợ lý tin tức của tôi, ở tận Hà Nội, đã có may mắn hơn. Anh ta đã xoay xở để gặp được một vài viên chức qua điện thoại vào lúc đêm muộn. Thế nhưng họ đã từ chối nói chuyện hoặc xác nhận bất cứ điều gì bởi vì sẽ cực kỳ xui xẻo nếu như trao đổi về một tai nạn khủng khiếp như vậy vào thời khắc đầu tiên của năm mới. Vào dịp Tết, mọi thứ được cho là phải diễn ra hoàn hảo, để đảm bảo một năm mới giàu có và thuận lợi. Người Việt Nam bắt đầu lên kế hoạch công phu từ đầu chí cuối để đảm bảo rằng người đầu tiên bước vào ngưỡng cửa của ngôi nhà họ phải là ai đó báo trước điềm tốt lành – người nào đó có địa vị cao sang hay giàu có hoặc nếu không thì phải là nhân vật có triển vọng. Nếu bạn trông có vẻ như là một người mua hàng rất được yêu thích, bạn sẽ được giảm giá vì mua mở hàng đầu tiên cho một thương gia vào năm mới.

Tình trạng giao thông tại Việt Nam vào chiều ngày Tết là một phiên bản thu nhỏ của chứng điên loạn vẫn xảy ra bất thường ở Trung Quốc, như thông tín viên Josh Chin của GolbalPost mới đây đã cho biết. Vé tàu hỏa và máy bay được bán hết sạch từ trước khi khởi hành nhiều ngày; thậm chí vé xe buýt có thể cũng khó mà kiếm được, khi dường như mọi dân cư ngụ nơi thành thị trên đất nước này đều giành giật nhau trở về quê quán của họ để thăm viếng mồ mả cha ông và tiếp xúc với cội nguồn qua đại gia đình của mình. Cho nên không ngạc nhiên rằng những tai hoạ giống như vụ chìm đò ở Quảng Bình đã xảy ra như vậy. Nó cũng là một phần của một tỉ lệ chết đuối nói chung là rất cao ở Việt Nam, một đất nước có những con sông chảy siết bắt nguồn từ những rặng núi cao đổ xuống những cánh đồng lúa bằng phẳng tạo nên những dòng nước nguy hiểm, và là nơi nhiều người dân không biết bơi lội. Chết đuối là nguyên nhân hàng đầu dẫn tới những cái chết do tai nạn cho trẻ nhỏ; các số liệu của chính phủ cho thấy 10 trẻ em dưới 15 tuổi chết đuối ở Việt Nam mỗi ngày. (Tuy nhiên theo Tổ chức Y tế Thế giới WHO, thì việc dạy bơi cho trẻ nhỏ lại không nhất thiết là một biện pháp tốt đối với vấn nạn này, khi mà nó chỉ làm cho các em liều lĩnh hơn trước những tình huống sông nước nguy hiểm, và làm cho cha mẹ chúng ít thận trọng hơn.)

Có một vài bài học mang tính thể nghiệm mà mỗi người có thể rút ra. Một là: một phương pháp viện trợ nước ngoài mà ở Việt Nam gọi là “giảm nhẹ tai hoạ,” một trong những tiêu đề ít hấp gợi tò mò nhất đối với một chương trình viện trợ của nước ngoài mà một người nào đó có thể hình dung được. D
ân chúng tại các nước giàu nhắm tới muốn cấp vốn cho những chương trình có tính cách đe doạ nhiều, như dịch bệnh AIDS, hơn là những vấn đề ít gây ấn tượng như “giảm nhẹ tai hoạ.” Nhưng nếu bạn là một đứa trẻ tại Việt Nam, bạn sẽ có nhiều khả năng bị chết đuối hơn là nhiễm HIV. Cho nên có lẽ tốt hơn cả là nếu chúng ta chi nhiều tiền hơn để giúp Việt Nam xây dựng những bức tường chắn [con đê] dọc theo các con sông hay xảy ra ngập lụt, cải tiến việc kiểm tra điều kiện vận tải trên sông nước và huấn luyện cho các đội cứu hộ trên sông, v.v..

Và một điều khác nữa là, hãy quên đi việc có bất cứ tin tức nào từ Việt Nam cho tuần tới hoặc những thời điểm tương tự. Mọi người đều ở nhà để thăm viếng gia đình, và nếu như có bất cứ điều xui xẻo nào xảy ra, bạn sẽ không được nghe về nó bởi vì sẽ là không có lợi cho sự may mắn nếu như đề cập tới nó.

Hiệu đính: Trần Hoàng

Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2009

—————————————————————————————————————-

Matt Steinglass covers Vietnam for GlobalPost. Steinglass has reported from Vietnam since 2003 and has served as Hanoi correspondent for the German-based, English-language wire service Deutsche Presse-Agentur, as a Hanoi-based stringer for the Boston Globe, and as a freelance Vietnam correspondent for the Voice of America. He also has worked from West Africa and the Netherlands, and his articles have appeared in the Washington Post, the Nation, the New York Times Magazine and the New York Times, where he’s written about a wide range of subjects including: new media in Amsterdam, radical Islam in Nigeria, and Nigeria’s movie industry. Accomplished in the field of new media, he’s a graduate of Harvard College with a degree in Russian literature and history, and he holds a master’s degree from New York University’s interactive media program. Steinglass speaks English, Russian, French, Dutch and Vietnamese.

————————————-

Drowning on Tet: very bad luck

January 26, 2009 08:26 ET

Yesterday a ferry overloaded with Tet holiday shoppers overturned in a river in Quang Binh province. At least 40 people drowned, most of them girls and women.

I saw this on the Internet yesterday afternoon and tried to call the provincial police to get confirmation and more details. (I’m currently hundreds of miles away in Nha Trang.) But I couldn’t anybody on the line, because it was…the Tet holiday. Actually the eve of the first day of Tet, to be more specific.

My news assistant, up in Hanoi, had better luck. He managed to get a few officials on the phone, late at night. But they refused to talk or confirm anything because it’s extremely bad luck to discuss such a horrible accident as the first occasion of the new year. On Tet, everything is supposed to go perfectly, to assure a wealthy and prosperous new year. Vietnamese go through elaborate planning to ensure that the first person who steps over the threshold of their house in the new year is someone who augurs well — someone of high status or wealth or otherwise auspicious character. And you get discounts for making the first purchase from a merchant in the new year, if you look like someone who would be a high-value buyer.

The transportation situation in Vietnam on the eve of Tet is a miniature version of the madness that overtakes China, as GlobalPost correspondent Josh Chin recently reported. Train and plane tickets are sold out long in advance; even bus tickets can be hard to come by, as seemingly every urban resident in the country scrambles to travel back to their ancestral villages to visit the graves of their ancestors and touch base with their extended family. So it’s not surprising that disasters like the ferry sinking in Quang Binh happen. It’s also a part of an extremely high overall drowning rate in Vietnam, a country where fast-moving rivers coming out of mountain ranges onto flat rice plains create risky water situations, and where many people don’t know how to swim. Drowning is the leading cause of accidental death for children; government statistics show 10 children under 15 drown in Vietnam every day. (Though according to the WHO, teaching kids to swim isn’t necessarily a good approach to the problem, as it just leads them to be more daring in dangerous water situations, and leads parents to be less cautious.)

There are a couple of tentative lessons one might draw. One is: there’s a foreign aid line in Vietnam called “disaster mitigation,” which is one of the least sexy titles for a foreign aid program one could possibly imagine. People in rich countries tend to want to fund programs on big scary threats, like AIDS, rather than such dull-sounding issues as “disaster mitigation.” But if you’re a kid in Vietnam, you’re much more likely to drown than you are to get HIV. So it might be better if we were spending more money to help Vietnam build retention walls along flood-prone rivers, improve inspection of water transport and train water rescue teams, etc.

And the other thing is, forget about getting any news out of Vietnam for the next week or so. Everybody’s at home visiting their families, and if anything bad does happen, you won’t hear about it because it’s bad to luck to mention it.

Posted in Uncategorized | 1 Comment »