Trần Hoàng Blog

Archive for Tháng Hai, 2009

Chính Sách Đối ngoại và 4 bề thọ địch của VN 2009

Posted by hoangtran204 trên 28/02/2009

Hồi tháng 4/ 2008, TH đã dịch 2 bài về
_Thành phố Trung Quốc ở Lào
_và hơn 3000 doanh nghiệp của TQ đang hoạt động tại Kampuchea

link
http://blog.360.yahoo.com/blog-KXmUmB85dKcsZwcjeCxWU1TlGZU-?cq=1&p=113

http://blog.360.yahoo.com/blog-KXmUmB85dKcsZwcjeCxWU1TlGZU-?cq=1&p=84

Lúc ấy, TH có đặt câu hỏi là “chừng nào ở Việt Nam sẽ có thị trấn của người Trung Quốc được xây dựng lên?”

Khi nào Hà Nội, Đà Nẵng, Sài Gòn có dự án mở rộng, có dự án thành phố mới….hãy nghĩ đến bài viết nầy

Câu hỏi nói trên đã được trả lời vì gần một năm sau,tháng 2/2009, báo chí VN đã ào ạt đăng tin chính phủ VN đã đồng ý để cho Trung Quốc đem hàng chục ngàn công nhân TQ (chắc chắn là có quân đội) qua VN xây dựng thành phố để khai thác quặng nhôm (bô-xít) tại 2 địa điểm ở Đắc Nông thuộc tỉnh Đắc Lắc và tỉnh Lâm Đồng.

VN đang tứ bề thọ địch, bị bao vây 4 phía:

Ở phía Tây:

1./Thị trấn người Trung Quốc (China Town in Lao) đang được xây dựng từ năm 2007, diện tích 16 km vuông, China Town được xem là lớn nhất thế giới, nằm sát bên thủ đô Vạn Tượng. Trong khu vực 16 km vuông ấy, dự định sẽ có ít nhất 130 ngàn người TQ làm, và người Lào không được bén mảng vào khu vực ấy.

Vị Phó Thủ Tướng Lào hiện nay có cha là người Lào, mẹ là người Trung Quốc đã giúp đỡ công khai tất cả các dự án với Trung Quốc. TQ xây dựng tất cả các đường sá và cầu cống tại Lào trong hơn 10 năm qua. (xem link ở trên)

Và nếu có xảy ra một cuộc đụng độ với VN trong tương lai, quân đội TQ từ thành phố Nam Vang của Lào sẽ ngồi lên xe và chuyển thẳng đến Thành Phố Vinh của VN chỉ 3-4 giờ xe chạy.

Vùng thượng nguồn sông Cửu Long từ TQ chảy qua Lào hiện cũng đã được TQ khai thông hai bờ cho rộng hơn để thuyền chở “hàng hóa” và người từ TQ đổ vào Lào. (nhấp chuột vào 2 link nói trên)

2./các thị trấn người TQ ỏ khắp Kampuchea : kể từ 1998 cho đến nay, ở Kampuchea đã có hơn 3000 doanh nghiệp người Trung Quốc đang làm cầu đường, nhà máy điện, các hãng sản xuất…nắm hết nền kinh tế Kampuchea. (xem link ở trên)

3./Ở tây nguyên VN, thuộc tỉnh Lâm Đồng (Đà lạt) và Đắc Nông thuộc tỉnh Đắc Lắc, hai thành phố China town chắc chắn rồi sẽ được xây dựng lên cho 10 ngàn-20 ngàn công nhân TQ ăn ở và khai thác mỏ nhôm (Bô-xít). Báo chí VN và blogger trên mạng đăng hàng trăm bài về chuyện chính phủ VN đã đồng ý cho TQ khai thác quặng nhôm ở 2 tỉnh Lâm Đồng và Đắc Lắc từ cuối năm 2008.

Hiện nay, tháng 2, năm 2009, Trung quốc tuyên bố công khai trên báo ngoại quốc là họ sẽ kiếm cách có được hợp đồng xây dựng nhà máy điện hạt nhân ở tỉnh Bình Thuận (vùng Phan Rang, Phan Rí).

Tiến trình xây dựng nhà máy điện nguyên tử ở Mỹ thường mất 5 năm để tìm hiểu, khảo sát địa thế, nghiên cứu nguy cơ hạt nhân ảnh hưởng lên môi trường, và mất thêm 5 năm để xây dựng. Các lãnh tụ của VN hiện nay đang muốn có nhà máy điện hạt nhân hoạt động khoảng năm 2020, nhưng thay vì dùng hợp đồng với Mỹ, Nhật, để được an toàn về quốc phòng, thì họ lại đang có ý chọn TQ. (Có thể TQ gạ cho VN vay tiền lãi suất cực thấp để làm nhà máy điện hạt nhân).

Chắc chắn rồi đây báo chí VN sẽ không được loan tải tin tức về số lượng 10-20 ngàn người TQ nầy. Chắc chắc người VN sẽ không được bén mảng lại gần để dòm ngó. (và những vũ khí quân đội sẽ được đưa sẵn vào đây nằm đó chờ đợi trong 10 năm, đến 2018, hoặc chờ đợi một biến cố gì đó…ở VN)

Ở Phía Đông:

4./TQ dã và đang xây dựng phi trường, căn cứ quân sự ở hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa, và căn cứ tàu ngầm ở đảo Hải Nam chắc chắn chỉ để tấn công VN bên sườn phía Đông

Ở phía Nam:

5./Xây dựng căn cứ hải quân và lục quân nhưng trá hình là doanh nghiệp xuất khẩu hàng hóa từ Kampuchea về TQ. TQ đang đầu tư 500 triệu đô la vào hải cảng Sihanouk Ville vào năm 2008, hải cảng nầy nằm ở phía Nam Kampuchea (ngang mũi Cà Mau, vùng Kiên Giang, Rạch Giá). Kampuchea có sản xuất hàng hóa được cái gì đâu mà cần bỏ tiền vào đâu tư vào hải cảng lớn như thế? từ 1995 đến nay, ai ai cũng biết là kinh tế mạnh nhất của Kampuchea là sản xuất hàng gia công may mặc, vải, áo quần, giày, mũ qua Mỹ và Châu Âu.

Ở phía Bắc:

6./ Hơn 200 ngàn-400 ngàn quân đội của TQ đang ém quân đóng dọc theo các tỉnh Quãng Đông, Quãng Tây và Vân Nam của TQ, sát với biên giới với VN. Họ sẽ xây dựng (rất kiên cố) các đồn bót tại tất cả các cao điểm và các ngọn núi vừa chiếm được trong cuộc hoàn thành cắm cột mốc biên giới tháng 2/2009.

Các cao điểm vừa chiếm được qua hiệp định biên giới 31-12-2008 nầy đã làm cho TQ có ưu thế quân sự rất lớn: chế ngự và nhìn vào các thị trấn VN cách xa đó 20-30 km, nghĩa là tất cả vùng nầy ở phía VN đều nằm trong tầm bắn (30 km) của đại bác 130 mm của TQ đặt trên các cao điểm nầy.

Đây là vùng cao điểm có ý nghĩa chiến lược và chiến thuật rất quan trọng. Một trong các cao điểm ấy là núi Lão Sơn (Lao San) mà bộ đội VN và TQ đã đánh nhau chí tử từ 1988-1992 để thay phiên dành nhau và chiếm giữ các cao điểm nầy. Cuối năm 1991, bộ đội VN còn giữ cao điểm này, nhưng nay thì các nhân vật ngồi
ở Hà Nội đã yêu cầu bộ đội VN rút lui, để nhường toàn bộ vùng núi Lão Sơn (Lao san) nầy cho TQ. Theo báo quân đội của TQ, khoảng 4000-6000 bộ đội VN và cũng khoảng cùng con số đó của quân đội TQ đã nằm lại mãi mãi ở núi Lão Qua trong cuộc chiến kéo dài 4 năm 1988-1992 (theo tài liệu của phía quân đội TQ đăng tải trên tạp chí của họ và được dịch qua tiếng Mỹ.)

Mới đây, tháng 2/ 2009, Trung Quốc đang đệ trình dự án cho để đấu thầu xây dựng 2 NHÀ MÁY ĐIỆN NGUYÊN TỬ công suất mỗi cái là 1000 MW, tại tỉnh Ninh Thuận trung phần Việt Nam,.

Một viên chức cao cấp của Trung Quốc cho biết vào cuối tháng 1/2009, hãng China Guangdong Nuclear Power Group (CGNPG) đã và đang ở trong tiến trình đàm phán nhiều lần với chính phủ VN và đang chờ đợi sự chấp thuận của phía VN để cho xây dựng nhà máy điện nguyên tử.

Thế là xong, VN đang bị 4 phía bị bao vây, nay có thêm 2 trái bom nguyên tử ở khu vực trung phần VN nữa là xong. Không biết người VN sẽ nghĩ sao với những một nhà nước luôn luôn tự xưng là đỉnh cao trí tuệ của loài người.

Một mặt, nhà nước VN khen ngợi ra rả là tình anh em đồng chí với TQ là quí báu, và đã ký thêm hiệp định chia đất đai của VN cho TQ ở vùng biên giới phía Bắc vào cuối tháng 12/ 2008!

Ngộ nghĩnh một điều là hiệp định biên giới 31-12-2008 ngoài mặt nói là bình đẵng, mà thực tế nhìn trên bản đồ do chính phủ VN đưa ra, thì ai cũng thấy chính quyền VN ở Hà Nội đang chia cắt phần đất đai bên trong biên giới của VN cho TQ, còn đất đai phía TQ thì không hề chia cho phía VN!

Hiệp định biên giới kiểu ấy thì chẳng khác gì thằng hàng xóm phía sau nhà mình nhảy qua hàng rào nhà mình, xây một hàng rào mới. Sau đó thằng hàng xóm bảo người nhà của mình ngồi xuống bàn và đòi mình ký xác nhận với nó rằng: kể từ nay, hàng rào mới là hàng rào ngăn cách 2 khu nhà. Điều ngạc nhiên và đau lòng là nhà nước VN vui vẻ và tuyên bố hiệp định 31-12-2008 là một thắng lợi!)

VN đang bị bao vây cả 4 hướng đông, tây, nam, bắc và đang bị TQ xâm nhập vào 2 tỉnh cao nguyên Đắc Lắc và Lâm Đồng, và đang hăm he hiện diện xây nhà máy điện nguyên tử ở tỉnh Bình Thuận (Ninh Thuận). TQ làm được tất cả những điều ấy là do sự yếu hèn, sự tiếp tay và giúp đỡ của nhà nước VN hiện nay. Vận mệnh của VN chỉ còn chờ từng ngày như là vận mệnh của nước Tây Tạng.

Nổi buồn của TH khi đọc và dịch báo chí nước ngoài là lắm lúc mình nhìn thấy trước, tiên đoán trước được các diễn tiến sắp xẩy ra ở VN mà mình chẳng biết làm gì được ngoài chuyện lên tiếng báo động.

*Rồi một ngày nào đó, chính phủ VN sẽ xây thêm nhà mồ, và vinh danh các chiến sĩ TQ đã giải phóng dân tộc ta giống như vậy nè (có 40 chục nghĩa trang vinh danh quân đội Trung Quốc ở các tỉnh phía Bắc, một khách du lịch người TQ đã chụp hình, đăng báo, và được đưa lên mạng trong blog dưới đây

http://blog.360.yahoo.com/blog-KMd8BGwhaa8mtAF4pgc8Gaj7LfT3vm0Y?p=5269

Trước khi chấm dứt entry nầy, chúng ta cùng nhau xem lời kêu cứu của hai vị nầy 2009:

Bauxit Tây Nguyên:

Thư cuả cựu Thiếu Tướng Nguyễn Trọng Vĩnh

Kính gửi: Các đồng chí uỷ viên Bộ Chính Trị,

đồng kính gửi: Thủ Tướng và các Phó Thủ Tướng Chính Phủ.

Đối Thoại: Ông Nguyễn Trọng Vĩnh tác giả lá thư này là cựuThiếu tướng, chính ủy Quân khu 4 miền Bắc trước 1975 và là cựu Đại sứ Việt Nam tại Bắc Kinh giai đoạn 1974 -1989.

Kính thưa các đồng chí,

Lâu nay tôi không có thông tin, mãi đến gần đây được đọc thư của Đại tướng Võ Nguyên Giáp và hàng trăm ý kiến không đồng tình của các nhà khoa học, cán bộ và người dân ở khắp Bắc – Trung – Nam, tôi mới biết ta đồng ý cho Trung Quốc khai thác bauxit ở Tây Nguyên. Nguy hiểm quá! Tôi cũng thấy những nguy hại như mọi người đã phát biểu: tàn phá môi trường sinh thái, xâm hại rừng nguyên sinh, nguy hại cho đời sống của đồng bào dân tộc người Thượng, lưu độc cho các dòng sông phát nguyên hoặc chảy qua Tây Nguyên, ảnh hưởng rất xấu cho đời sống của người dân Nam bộ sống dọc hai bờ sông Đồng Nai, có thể ảnh hưởng đến các công trình thuỷ điện phía Nam. Điều đáng lo hơn cả là an ninh quốc giạ Chúng ta đều biết Trung Quốc xây dựng căn cứ hải quân hùng mạnh ở Tam Á đảo Hải Nam, nói thẳng ra là không phải để chống kẻ thù xâm lược nào, mà là đe dọa Việt Nam và sẵn sàng chờ thời cơ thôn tính nốt Trường Sa của chúng ta, sau khi đã nhanh tay chiếm Hoàng Sa từ tay Chính quyền Sài Gòn. Nay lại để Trung Quốc khai thác bauxit ở Tây Nguyên thì sẽ có năm, bảy nghìn hoặc một vạn công nhân hay quân nhân Trung Quốc đến cư trú và hoạt động tại đây, sẽ hình thành một “thị trấn Trung Hoa”, một “căn cứ quân sự” trên địa bàn chiến lược vô cùng xung yếu của chúng ta (vũ khí đưa vào thì không khó gì). Phía Bắc nước ta, trên biển có căn cứ hải quân hùng mạnh, phía Tây Nam nước ta có căn cứ lục quân trang bị đầy đủ thì độc lập, chủ quyền mà chúng ta đã phải đổi bằng hàng triệu sinh mạng cùng xương máu sẽ như thế nào?!

Về hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, chúng ta có đầy đủ căn cứ lịch sử và pháp lý, còn Trung Quốc thì không. Vậy mà báo chí Trung Quốc dựng ra chứng cứ, luôn công
khai xí hai quần đảo đó là của họ. Quốc vụ viện Trung Quốc (chính phủ) công khai công bố quyết định lập huyện Tam Sa. Trung Quốc có nhiều hành động rất công khai mà lại dỗ chúng ta im lặng không đưa vấn đề ra công khai, thật là vô lý. Chúng ta muốn sống hòa bình hữu nghị với Trung Quốc, tôi cũng muốn thế. Nhưng hữu nghị cũng phải đấu tranh thích hợp để bảo vệ lợi ích chính đáng của Tổ Quốc ta. Nếu lãnh đạo chưa tiện lên tiếng công khai thì cứ để báo chí, các nhà khoa học lịch sử đưa ra chứng lý, cứ để cho quần chúng biểu tình hoà bình, phản đối khi lãnh thổ Quốc gia bị xâm phạm, không nên dập đi tinh thần yêu nước của họ.

Đành rằng các đồng chí có quyền, muốn làm gì cũng được, quyết định thế nào cũng được, nhưng cũng nên quan tâm dư luận, lắng nghe những lời phân tích lợi, hại, phải, trái mà suy nghĩ cân nhắc. Từ xưa đến nay, ở triều đại nào cũng vậy, chủ trương, chính sách ích quốc, lợi dân thì được dân ủng hộ, chủ trương chính sách sai trái tổn quốc, hại dân thì dân oán. Dân oán, mất lòng tin thì khó yên ổn và thịnh vượng được. “Quan nhất thời, dân vạn đại”, “vua cũng nhất thời, dân vạn đại”.

Thưa các đồng chí,

Trên đây là những lời nói thẳng, tâm huyết của một đảng viên già 70 tuổi Đảng, đã gần đất xa trời, mong được các đồng chí xem xét.

Kính chào,

(đã ký)

Nguyễn Trọng Vĩnh

Địa chỉ: Số nhà 23, Ngõ 5, Phố Hoàng Tích Trí, Phường Kim Liên, Quận Đống Đa, Hà Nội

________________________________________________________

nguồn: http://doi-thoai.com/baimoi0209_330.html

Advertisements

Posted in Uncategorized | 4 Comments »

Giáo Dục Thầy Giáo cần Cải Thiện mình trước

Posted by hoangtran204 trên 27/02/2009

Thứ Năm, 26/02/2009, 07:55 (GMT+7)

Người thầy không hoàn hảo

TT- Bài viết của một học sinh có nội dung phê bình thầy giáo nhưng lại được gửi thẳng cho thầy giáo đó. Kết cục như thế nào? Thầy giáo đã rất dũng cảm công nhận: nười xưa có câu “ai khen ta là bạn ta, ai nịnh ta là kẻ thù của ta, còn ai chê ta là thầy ta”…

Thầy Hoàng Đức Huy và HS lớp 9B1 Trường Nguyễn Khuyến (Nguyễn Minh Thắng đứng đầu tiên từ trái sang) – Ảnh: H.HG.

Thầy giáo Hoàng Đức Huy yêu cầu mỗi học sinh phải có một cuốn tập riêng gọi là “tư liệu văn học”. Mỗi tuần, học sinh sẽ có một tiết ngoại khóa để viết văn vào cuốn tập này. Đề tài có thể tự do, có thể do thầy gợi ý. Bài nào hay sẽ được thầy thưởng tập và đưa lên trang web www.hoangduchuy.com.

Ngoài ra, HS muốn viết thêm về những điều mình quan tâm thì gửi email cho thầy, bài nào hay thầy cũng sẽ thưởng tập và đưa lên trang web. Thầy Huy cho biết: thông qua biện pháp trên mà thầy hiểu học sinh của mình hơn, biết trình độ học văn của các em đến đâu để có cách dạy phù hợp. Và hơn thế, kỹ năng viết văn của các em nâng lên rõ rệt.

Gặp Thắng trong phòng thí nghiệm của Trường Nguyễn Khuyến, chúng tôi hỏi về chuyện bức thư, Thắng cho biết:

– Thầy Huy có lập một trang web riêng về việc dạy và học môn văn. Thầy bảo ai cũng có thể học giỏi văn nếu chịu khó viết, viết chuyện gì cũng được. Bài nào hay sẽ được thầy đưa lên trang web và thưởng tập.

* Vậy tại sao em lại chọn đề tài “Người thầy không hoàn hảo”? Em có nghĩ đến hậu quả xấu sau khi thầy Huy đọc được bài viết này?

– Ý nghĩ đó chỉ thoáng qua thôi. Vì trong khi giảng bài, thầy hay căn dặn tụi em phải thật thà, trước mọi vấn đề phải có ý kiến của riêng mình, thấy người ta nói gì đừng hùa theo cái đó. Em đã đọc nhiều bài viết trên trang web: www.hoangduchuy.com; hầu hết các bạn đều khen thầy dạy hay, thầy dạy giỏi mặc dù các bạn cũng nhận ra khuyết điểm của thầy như em. Bởi vậy em mới quyết định viết một bài nói lên suy nghĩ của mình.

* Rồi sau đó…

– Đọc bài của em xong, tiết sau thầy lên lớp kể cho cả lớp nghe là có bài viết đặc biệt của bạn Minh Thắng, các bạn hãy lên mạng đọc đi. Thầy nói: “Nhân vô thập toàn”, ai cũng có khuyết điểm và thầy cũng thế. Thầy xin tiếp thu những ý kiến phê bình của bạn Thắng. Nói rồi thầy thưởng tập cho em.

Sau sự kiện đó, thầy có vẻ quan tâm đến em hơn, đối xử với học sinh vẫn công bằng và khách quan.

* Bây giờ em có còn ghét môn văn nữa không?

– Em không còn cảm thấy áp lực và không ghét môn văn nữa. Bằng chứng là năm lớp 7, lớp 8 điểm bình quân môn văn của em chỉ dừng ở mức 7, 8 thì học kỳ I năm học này (2008-2009) đã nâng lên 9,1.

“Trong suốt những năm học trước đây, việc học văn đối với tôi gần như là bất đắc dĩ. Mặc dù sức học tại môn này không đến nỗi tệ, nhưng tôi không hề có hứng thú để học. Đặc biệt là ở phần tập làm văn, tôi lại càng khó tiếp thu nổi. Những bài văn của tôi tuy chưa bao giờ dưới trung bình nhưng nó cũng không làm tôi có thiện cảm với việc viết và viết. Đỉnh điểm của sự chán chường này là việc sử dụng sách giải như là biện pháp đối phó “tối ưu”. Và những tiết văn luôn bao trùm không khí im lặng (đến nỗi buồn ngủ) kỳ lạ. Điều tất yếu là môn văn được tôi liệt vào danh sách “những môn học mà chỉ cần học cho có”.

Năm nay là năm học cuối cấp II, một năm học vô cùng quan trọng. Vì thế tôi không muốn phải nhờ vào may rủi tôi mới tốt nghiệp được. Tôi quyết tâm cải thiện những môn sở đoản (hay còn gọi là những môn mà trước đây tôi học cho có). Và môn văn là mục tiêu đầu tiên (vì đây là một trong những môn chính). Tôi đã được “các bậc tiền bối” năm trước rỉ tai về thầy dạy văn năm nay, tức thầy Hoàng Đức Huy.

Và theo như những gì các bậc tiền bối “mách nước” thì tình hình có vẻ khả quan. Tôi bắt đầu mừng thầm trong bụng. Nhưng khi học tiết đầu tiên với thầy, “niềm tin chiến thắng” của tôi vơi đi hơn nửa. Thầy dành hơn một tiết để nói về thầy hay ít nhất là những gì liên quan đến thầy. Nào là những cuốn sách thầy viết hay những học trò thành đạt từng “qua tay thầy”. Dù những điều này làm giảm khoảng cách giữa thầy trò (đặc biệt là trong tiết đầu tiên), nhưng nó cũng làm giảm sự kính trọng của trò đối với thầy (hay chỉ mình tôi có suy nghĩ này?). Tuy nhiên phương pháp dạy của thầy khá mới mẻ và hứa hẹn đem lại nhiều lợi ích cho học sinh chúng tôi.

Và điều mới mẻ đầu tiên tôi được học là “bản đồ tư duy”. Với tôi, ấn tượng ban đầu về cái bản đồ này không mấy sáng sủa. Tôi cười khẩy và thực hiện cái bản đồ đầu tiên với sự khinh thường. Mà cũng phải nói đôi chút về cái gì đó gọi là “bản đồ tư duy”. Đây là cách gọi khác của thuật ngữ 5W1H đã được phổ biến từ lâu ở nước ngoài. 5W gồm: what, where, why, who, when và 1H là how. Cách suy luận này không có gì phải chê trách ngoại trừ việc phải học thuộc nó và diễn giải nó qua bút màu. Quay lại với cái bản đồ của tôi. Tôi không cho rằng cứ “phang” càng nhiều màu vào cái bản đồ thì sẽ làm tôi tăng sự sáng tạo cũng như nhớ lâu hơn, đơn giản vì tôi chúa ghét sự màu mè. Nhưng có vẻ tiêu chí của thầy lại không giống tôi. Và hình như tôi trở thành một trong những gương mặt “trong tầm ngắm” của thầy.

Tôi cố chấp là thế, nhưng tôi cũng biết phân biệt đúng sai. Dần dần tôi càng cảm nhận được lợi ích của 5W1H. Tôi viết văn lưu loát hơn. Các bài văn của tôi dần dài
ra. Còn cách dạy của thầy làm giảm áp lực thường thấy trong những tiết văn.Tôi không còn thấy chán nản về môn văn nữa. Thầy giỏi thật đấy. Thầy hiểu học sinh thật đấy. Nhưng tôi vẫn có chút gì đó ác cảm với thầy. Tôi không thích cách thầy khoe khoang về mình (dù tôi biết rằng có câu “tôi giỏi nên tôi có quyền”). Tất nhiên là tôi không có quyền phán xét thầy, nhưng tôi chỉ nói lên sự thật là: nếu khiêm tốn hơn thì thầy sẽ là một người thầy hoàn hảo trong mắt mọi học sinh”.

Nguyên văn bức thư của học sinh Nguyễn Minh Thắng – lớp 9B1Trường THPT tư thục Nguyễn Khuyến, TP.HCM – gửi cho thầy Hoàng Đức Huy, giáo viên giảng dạy môn văn của lớp.

——————————

Khi mới đọc bài viết của em Thắng, tâm lý thông thường của con người khi bị chê là khó chịu, tôi cũng thế. Nhưng tôi đã quen với việc phản biện của học sinh. Càng đọc thư tôi càng mừng vui vì đã có học sinh làm theo những điều mình dạy, làm được điều mình mong muốn. Giáo dục VN hiện nay có một lỗ hổng lớn là khoảng cách quá xa giữa thầy và trò. Trò không hài lòng về cách dạy, cách cư xử của thầy nhưng không dám nói (thế nên nhiều giáo viên không biết mình có nhược điểm nào mà sửa). Với môn văn thì học bài nào cũng hay, tác phẩm nào cũng tuyệt vời, xuất sắc. Tôi dạy các em phải có suy nghĩ độc lập, phải trung thực trong mọi vấn đề. Bài viết “Người thầy không hoàn hảo” nhận xét khá sắc sảo về tôi, tôi đã cảm ơn em Thắng trước lớp 9B1 bằng câu nói: “Người xưa có câu: ai khen ta là bạn ta, ai nịnh ta là kẻ thù của ta, còn ai chê ta là thầy ta. Hôm nay bạn Thắng được xem như thầy của thầy rồi đó”.

Thầy giáo Hoàng Đức Huy

HOÀNG HƯƠNG thực hiện

……………………………………..

Người thầy hoàn hảo là biết lắng nghe

TTO – Tôi đã thật sự đi từ bất ngờ này đến bất ngờ khác khi đọc bài “Người thầy không hoàn hảo” trên báo Tuổi Trẻ. Những lời lẽ của học sinh Nguyễn Minh Thắng – lớp 9B1 Trường THPT tư thục Nguyễn Khuyến, TP.HCM – cho thấy em là một học sinh “có cá tính”. Em đã rất dũng cảm nói đúng những suy nghĩ, tình cảm thật của mình, điều mà hiện nay rất ít HS làm được.

Nhưng điều bất ngờ hơn chính là thái độ tiếp thu rất mực khiêm tốn của nhà giáo Hoàng Đức Huy: thầy đã cảm ơn đứa học trò “dám” phê phán mình (điều mà nhiều giáo viên khác có thể cho là một sự “xúc phạm”)! Thầy Huy đã “học” được từ chính học trò mình, còn tôi, tôi thấy mình đã được học rất nhiều điều từ thầy Huy…

Qua lời kể của em Nguyễn Minh Thắng, tôi thấy nổi bật ở thầy là niềm tin tưởng vào học sinh của mình. “Thầy bảo ai cũng có thể học giỏi văn”. Tôi biết có nhiều thầy cô giáo dạy văn (và không riêng gì môn văn) luôn cảm thấy “thất vọng” trước năng lực của học trò! Sau một tiết được dự giờ, nhiều giáo viên luôn miệng than phiền về trình độ, thái độ học tập của học sinh, trong khi không chịu nhìn thấy sự thất bại của tiết dạy chính là do nội dung bài dạy và phương pháp truyền đạt của mình.

Thầy Huy còn có sự tôn trọng cần thiết đối với học sinh. Thầy đã áp dụng nhiều biện pháp để được lắng nghe ý kiến của học sinh – một cách thật sự dân chủ – với mục đích rút kinh nghiệm về “cách dạy, cách cư xử” đối với học trò. Có lẽ còn nhiều giáo viên, vì nhiều lý do, đã thường xuyên sử dụng “uy quyền” thay cho sự tôn trọng, dân chủ ấy!

Đặc biệt, thầy thường xuyên yêu cầu và khuyến khích học sinh trung thực trong mọi vấn đề, từ việc bình một tác phẩm văn học đến cả việc đánh giá chính bản thân thầy. Chỉ riêng việc thầy mời tất cả học sinh của mình lên mạng đọc bài viết của em Thắng cũng đã thể hiện một nhân cách lớn…

Người thầy sẽ hoàn hảo – nếu luôn học tập, trau dồi những phẩm chất ấy.

HUỲNH MINH CẢNH (Sở GD&ĐT Tiền Giang)

Đọc bài viết của Thắng, tôi thấy em là người có suy nghĩ thật thẳng thắn. Dù là học sinh, nhưng em có cách cảm nhận và góp ý về một vấn đề mà không phải ai cũng có thể đề cập được. Tôi cũng từng có một người thầy, trong mắt tôi thầy cũng là một người có kiến thức rộng, khả năng am hiểu tuyệt vời. Môn học phân tích hệ thống của thầy rất hấp dẫn, phương pháp dạy của thầy lúc nào cũng lôi cuốn, dễ hiểu, có thể nhớ ngay mà không cần học bài (vì chúng tôi là những người đã đi làm nên không có nhiều thời gian để xem bài vở), và đặc biệt nó giúp chúng tôi áp dụng nhiều vào thực tế công việc.

Thế nhưng, một điều mà chúng tôi bực bội nhất và cũng làm giảm những suy nghĩ tốt đẹp của chúng tôi về thầy là lúc nào thầy cũng tự hào mình là người hiểu biết cao, chê bai về cơ chế chính sách, kể về những học trò giỏi của mình, rằng phương pháp dạy của mình là nhất, ở Việt Nam mình chưa ai có, học ở Việt Nam nhưng các bạn như đang được học ở Đại học Harvard…Hầu như buổi học nào chúng tôi cũng nghe những điều tương tự như thế riết rồi đâm… ngán. Nhưng bản thân chúng tôi không dám nói và không có cơ hội để nói ra những điều như em Nguyễn Minh Thắng đã làm.

Rất cảm ơn em vì những gì em đã bày tỏ, và hi vọng qua bài viết các thầy cô giáo cũng sẽ nhận ra được mình đang là ai và sẽ đón nhận những ý kiến đóng góp của các em học sinh để hình ảnh của mình ngày càng đẹp trong mắt các em.

NGUYỄN ĐỨC CỬU

http://www.tuoitre.com.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=303635&ChannelID=13

Posted in Uncategorized | 5 Comments »

Run away from home

Posted by hoangtran204 trên 26/02/2009

Our 15-year-old daughter ran away to be with

a man she met on the internet… I didn’t

think it happened to clever girls

By Angela Carless
Last updated at 8:49 AM on 26th February 2009

A smile spreads across Gill Osborn’s face as she wraps her arms around her teenage daughter, Sammy.

Dramatically reunited just a few weeks ago, the family still can’t believe they have her back.

For two years, 41-year-old Gill hardly dared dream of seeing her daughter again
after she ran away to be with a man she had met on the internet.

Reunited: Sammy and her mother Gill

Reunited: Sammy has finally returned home to be with her mother Gill after running away for two years with an unemployed 21-year-old man she met on the internet

For the first six months, no one knew if she was dead or alive. Then, Gill was forced to
keep her distance, helpless to intervene when Sammy decided to get married at 16.

‘I used to think things like that didn’t happen to clever girls from a loving home,’ says Gill, a retail manager, who has been married to Sammy’s engineer father Bob, 44,
for 20 years, and also has a son Jack, 15.

‘Sammy was doing well at school, had plans for a career and to travel. But all that
counted for nothing after she met that man.’

That man is unemployed David Manning, 21, whom the Osborns claim encouraged
their daughter to leave home. Though it pains Gill to say it, he is Sammy’s husband.

But she is quick to add her daughter has ‘seen sense’ and is starting divorce proceedings.

Speaking for the first time about her ordeal, Sammy comes across as a typical
teenager — wilful and determined at times and yet also shy and naive.

And here is the crux of the matter. Headstrong teenagers are nothing new. But as the
Osborns discovered to their cost, the advent of computers in bedrooms has opened a
terrifying outlet for adolescent emotions.

Davind Manning

Sammy became secretive after meeting David Manning (pictured) in an internet chat room and ran off to marry him in Scotland at the age of 16

Sammy was just 15 when she vanished.

Now, two years on and full of remorse, she is trying to rebuild her life with her parents — and disentangle herself from a relationship that will haunt her for the rest of her life.

Her parents thought she was using her computer for homework when, in fact, she was spending hours on MSN Messenger and the social networking site Bebo.

‘Everyone makes friends on the internet these days. I’m no different,’ she says. ‘I was 13 when a friend I’d met online introduced me to David Manning and we started emailing each other all the time.

‘We’d chat for hours about music and things like that. It wasn’t long before I felt I could talk to him about anything.’

The could not have been more different. Sammy was a diligent grammar school pupil from Buckingham, who had ambitions to be a teacher and enjoyed all the trappings of a middle-class upbringing.

Manning, from Bristol, was the product of a broken home who had fathered a child at 17.

‘I had everything he didn’t. His mother had left when he was little and he had a child of his own he did not see. At school, there were so many high expectations of me. Getting to know David was my escape.’

It wasn’t long before the naive Sammy had convinced herself she was in love with this
hapless individual. The next step was to meet him, without her parents’ knowledge.

A date was arranged in Milton Keynes, where Sammy often went with friends on
Saturdays. She shrugs at the suggestion she might have been putting herself in
danger by meeting a stranger.

‘It wasn’t as if David was some random weirdo in his 40s — I would never have met
someone like that. I’d seen photos, so I knew what to expect and I wasn’t nervous.

‘At 5ft 7in, he wasn’t big or threatening. It was awkward at first — it’s easier talking
on-line than face to face — but I instantly felt the same connection with him.’

After a few furtive dates, Gill started to notice a change in her daughter.

‘Sammy suddenly became secretive,’ she says. ‘She spent hours online and if I asked
who she was talking to, she became moody and sullen. I thought she was going through a phase, but then she began getting long phone calls that left her distressed.

‘We learned she had this older boyfriend who demanded all her attention. We urged
her to break it off. But she wouldn’t listen.’

Four weeks after first meeting Manning, Sammy told her parents she would be
spending half-term with him in Wales.

‘We were horrified and told her “No”,’ says Gill. ‘She was still only 15 and he was nearly 20. “I’ve got to go!” she screamed.

Even though she promised nothing intimate would happen and that Manning “respected” her, we stressed she was too young to be getting into this type of relationship.’

Refusing to listen to reason, Sammy packed a bag of clothes and her homework books and slipped out of the house, leaving a note to say she would be back in a week.

She also left an address in Wales, which turned out to be wrong.

Worried sick, the Osborns alerted the police. Sammy was found with Manning in Bristol, where they were questioned at a police station.

She told the police her mother had hit her, hoping this would stop them from taking her home. But after ten days, the wilful teenager was back home.

‘Sammy was dirty and unkempt  –  she looked as if she hadn’t washed for days,’ says Gill.

‘When I tried to hug her, she pushed me away. She was agitated and hostile. I was so scared something awful had happened, but she would not speak to me. Our daughter had become a stranger who hated us.

‘When we turned to social services for help, we were merely advised to give her condoms so she would not get pregnant. I was furious that they viewed the situation so lightly.

‘I was floundering. When I broached the subject with Sammy, she was enraged. She called me “sick” and a “pervert” for even thinking she may be having a sexual relationship.’

Not long after, Sammy left home again, this time with nothing except the clothes she was wearing.

Her family suspected she was with Manning, but the police could find no trace of her at the terrace house he shares with his jobless father, Cyril, in the Fishponds area of Bristol. So Gill feared the worst.

‘I trawled the websites Sammy had used, looking for clues about where she could be. I was horrified by the messages and films that had been posted by Manning,’ she says.

‘In them, he declared his love for Sammy saying “I can’t live without you” and “I will never leave you”.

‘Suddenly, I understood why Sammy had changed. She’d been bombarded with messages which turned her against the life she knew. I just prayed that wherever she was that she would find the strength to break away.’

But there was not a word. Sammy admits she saw the missing posters that appeared in town centres across the country  –  in one, her face appeared alongside that of Madeleine McCann  –  and yet made no attempt to contact the police or her family to reassure them she was safe and well.

‘I didn’t ring Mum or write because I did not want the police to trace me,’ she says.

‘Then, the longer I’d been away, the more difficult it was to go back and pick up the pieces at home and school.

‘I know it must sound awful, but I didn’t really give my mum’s feelings much thought. I just thought she’d be really mad at me.

‘I decided to stay in hiding until I was 16, when no one could make me go home. I crossed off the months on a calendar.’

Not long after her 16th birthday, Sammy rang a runaway helpline to pass on the message she was safe, but had no plans to return home.

‘I was 16, I could legally live with David and no one could tell me what I should be doing. I just wanted to be left alone,’ she says.

The pair got married in Scotland, where a 16-year-old does not need parental consent. The bride wore jeans, trainers and a hoodie.

‘I knew I was a bit young to be getting married, but I thought it was romantic and would make people accept I was with David,’ she says.

Gill found out about the wedding only when social workers contacted her, after they had been informed by the police.

‘Though I blamed the man she was with for brainwashing her against us, it still felt like a huge betrayal,’ she says.

‘Many of our friends said: “She’s made her choice, just forget about her. Get on with your life.” But I don’t think any parent could. You can’t just forget 15 years of love.’

For a year, while her friends sat and passed their GCSEs, Sammy stuck with the man who had changed her life so drastically. But she was far from happy.

Manning, she says, was unable to work due to health problems, and they survived on benefits and cheap microwave meals in a house which was dirty and unkempt.

‘I spent most of my time in the bedroom I shared with David,’ she says. ‘I didn’t go downstairs much.

‘I started wanting to see my mum, dad and brother again. David and I were becoming distant. I’m convinced he was talking to other girls on the internet. I just couldn’t trust him. Gradually, I began to realise that if I stayed with him, I would never be anyone or have anything.’

Lonely and feeling trapped, Sammy sent her mother an email from a library computer at the end of November. ‘I just want to say hi  –  and I’m sorry,’ she wrote.

Having fallen victim to a number of hoaxes, Gill emailed back: ‘Prove it’s you.’ Sammy replied by listing the names of her childhood pets.

It was a major breakthrough and, on Christmas Eve, when Sammy sent another email confessing she was fed up, Gill told her: ‘I’ve just brought a big turkey for tomorrow  –  would you like to come home?’

Sammy thought about this for an hour and then said: ‘Yes.’ She fled her husband without a word, just as she had run away from her parents, with only the clothes she was wearing and a handbag with a few photos.

‘We’d come full circle and I was elated to get my daughter back,’ says Gill. ‘It was nerve-racking when Sammy’s mobile rang and it was Manning asking her where she was. “I’m with Mum and Dad  –  I’m going home,” she replied.

‘She hung up and he kept ringing. But every time, she told him it was over. It’s a tragedy that she has missed so much of her education. She should be going to university next year like her friends. But she is a determined, intelligent girl and I’m sure she will make up for lost time.

‘I am just pleased she did not come back with a baby in tow. That was my biggest fear. I used to say to Bob: “What if she ends up with six kids, living on benefits?” ‘

Sammy rolls her eyes like a typical teenager. ‘I don’t want children. I’m much too young and that would never have happened,’ she says.

After putting her family through such a terrible ordeal, the teenager is determined to make amends and become a model daughter. Her return is particularly timely as her father has just been diagnosed with chronic myeloid leukaemia.

‘I would not have blamed my parents for turning me away after the way I’ve behaved,’ she says. ‘Before I left, there is nothing they could have done differently. I thought I knew best.

‘Now I realise that, at 15, you are not ready to make those choices and I was certainly too young to marry at 16. I’m determined to move on and make something of my life.’

The Osborns have their daughter back, but how many other families will be torn apart by the men who prey on teenage girls, reaching into their bedrooms and turning them against their parents  –  thanks to the dangerous power of the internet?

http://www.dailymail.co.uk/femail/article-1155687/Our-15-year-old-daughter-ran-away-man-met-internet–I-didn-8217-t-think-happened-clever-girls.html

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

Entry for February 24, 2009

Posted by hoangtran204 trên 24/02/2009

Post thêm cái nữa lấy ngày rồi tính sau. 🙂

Đây nè. Mới dịch xong

Nạn tham nhũng đang

phá hoại chương trình

kích thích kinh tế của Việt Nam

Martha Ann Overland từ Hà Nội

Thứ Hai, ngày 23-2-2009

Trong khi nhiều chính phủ khắp nơi trên thế giới đang đổ hàng ngàn tỉ đô la vào việc kích thích tiêu dùng để chiến đấu với tình trạng suy thoái toàn cầu, thì cuộc tranh luận đang nổ ra ầm ĩ quanh vấn đề liệu cơn lụt tiền tệ như thế nầy sẽ cung cấp nhiều hơn là một sự thúc đẩy kinh tế trong ngắn hạn hay không, và liệu nhiều khoản tiền như thế rốt cục có bị hoang phí đi hay không.

Việt Nam, nơi giống với hầu hết các quốc gia châu Á đang bị đánh bằng búa vì cơn suy thoái, đang khám phá ra rằng ngay cả hình thức kích thích tiêu dùng trực tiếp nhất – phát tiền mặt cho dân chúng – có khả năng lọt vào tay của những kẻ không đúng đối tượng.

Với số người nghèo đang ngày càng gia tăng và những tin tức về một số trường hợp sẽ bị đói, các giới chức cộng sản ở Hà Nội mới đây đã quyết định phân phát 12 triệu đô la cho những người Việt Nam nghèo khổ vào ngày lễ quan trọng nhất của đất nước, dịp Tết nguyên đán. Ở Việt nam Tết là lễ tương đương với ngày Giáng sinh; đó là ngày lễ dành cho sự sum họp của gia đình và tiêu xài rộng rải vào quà cáp. Thế nhưng vào năm nay, thời điểm được biếu tặng lại trở thành thời điểm bị tước đoạt. Dường như rằng nhiều khoản tiền phân phát đã bị rơi vào túi các viên chức tham nhũng ở địa phương.

Trong một số trường hợp, tiền đã bị khấu trừ bằng các thứ lệ phí, hoặc các quà tặng đã bị đóng thuế tới mức chỉ còn lại một chút ít, theo công an địa phương cho hay. Nhiều gia đình ở tỉnh Quảng Bình đã khiếu nại rằng họ bị buộc phải ký vào những tờ biên lai thừa nhận rằng họ đã nhận tiền cứu trợ nầy, thế nhưng một số dân làng đang nói rằng hơn 90% các khoản tiền nầy đã bị bòn rút bởi các quan chức bẩn thỉu.

Tại tỉnh Quảng Ngãi, nhiều người cho biết họ bị ép cúng tặng cho một quỹ được gọi là giao thông nông thôn. Những người nông dân nghèo khổ khác thì nói rằng họ đã phải đóng góp cho một quỹ xóa đói giảm nghèo. Các cuộc điều tra về những trường hợp này và rất nhiều trường hợp tương tự đã và đang bắt đầu được thực hiện trên khắp cả nước.

Theo qui định về món quà tặng có tính chất khác thường này, mỗi người Việt Nam đang sống dưới mức nghèo khổ (được xác định bởi chính quyền với mức thu nhập chưa tới 15 đô là một tháng) hội đủ tiêu chuẩn để nhận một xuất quà trị giá 200.000 đồng, hoặc tương đương 12 đô la. Cả gia đình thì được nhận tối đa 57 đô la.

Mặc dù đó có lẽ là một khoản tiền quá nhỏ để được xem là quan trọng, món tiền nầy là một món tiền không mong đợi đối với 10 triệu dân nghèo nhất ở Việt Nam. Món tiền ấy là một cách giúp đỡ những người dân thực sự đang phải chịu đựng khổ sở từ cơn khủng hoảng kinh tế và một loạt những thảm hoạ thiên tai đã đánh vào quốc gia nầy vào năm ngoái, theo lời ông Ngô Trường Thi, phó cục trưởng Cục Bảo trợ Xã hội thuộc Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, nơi giám sát chương trình này. “Tặng tiền cho người nghèo cũng là một phần của những biện pháp kích thích nền kinh tế,” ông Thi nói.

Sự trì trệ của nền kinh tế toàn cầu mới đây đã và đang làm chậm lại thập niên phát triển của Việt Nam. Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) đang dự đoán rằng mức tăng trưởng GDP của Việt Nam từ một mức thuộc loại cao, 8,5% năm 2007, sẽ giảm xuống ở mức 5% vào năm nay.

Cú đòn gây thiệt hại một cách đặc biệt nầy là ở khu vực sản xuất của đất nước này, khu sản xuất đã từng giúp nhiều triệu người thoát khỏi nghèo đói bằng cách cung cấp những công việc với mức lương tương đối cao. Tình trạng giảm sút đơn đặt hàng của nước ngoài đã và đang buộc nhiều nhà máy mới xây dựng phải đóng cửa, đẩy nhiều công nhân trở về làng quê của họ.

Chương trình kích thích kinh tế của Việt Nam (12 triệu đô là) chỉ là mờ nhạt khi so sánh với khoản kích thích cả gói 787 tỉ đô la đã được chấp thuận bởi các nhà lập pháp Hoa Kỳ vào tuần trước, thế nhưng đất nước này đang làm những gì mà họ có thể nhằm đ
cố khởi động lại nền kinh tế của họ. Khoảng quà tặng bằng tiền mặt nầy đi theo sau lời loan báo vào tháng Mười một năm ngoái về một kế hoạch chi 1 tỉ đô la để hỗ trợ lãi suất cho các doanh nghiệp và cắt giảm thuế để thúc đẩy sự đầu tư và tạo ra công ăn việc làm.

Thế nhưng Hà Nội tự mình không thể thay đổi được diễn biến của các sự kiện trên toàn cầu, theo lời ông Alex Warren-Rodriguez, cố vấn về chính sách kinh tế cho Chương trình Phát triển của Liên hiệp quốc [UNDP] tại Hà Nội. Việt Nam đang quá lệ thuộc vào những gì đang xảy ra tại Hoa Kỳ và Âu châu. “Thậm chí nếu như bạn giảm lãi suất để khuyến khích đầu tư, thì chuyện đầu tư cũng sẽ không xảy ra bởi vì (ở VN) chẳng có gì để mà đầu tư cả,” ông nói. “Họ có thể chỉ làm rất ít để kích thích kinh tế.”

Tuy nhiên, sự nhận thức của công chúng về mức độ đúng đắn mà chính phủ đang xử lý đối với cơn khủng hoảng mới là quan trọng chủ yếu. Ông Vũ Thành Tự Anh, giám đốc nghiên cứu của Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fullbright tại Thành phố Hồ Chí Minh, cho rằng việc chi tiền này rõ ràng là vì những lý do chính trị, chứ không phải chỉ kinh tế. “Điều rất quan trọng cho chính phủ là họ được (người dân) nhìn thấy đang làm gì,” ông nói. “Sức ép chính trị hiện nay là rất lớn.”

Cho đến lúc này Hà Nội có vẻ đang thiếu những cố gắng của họ để khích động niềm tin nơi công chúng. Bộ Tài chính đã loan báo rằng khoản kích thích cả gói cách đây nhiều tháng trước, thế nhưng các giải pháp chỉ vừa mới được thực hiện có vài tuần trước, ông Tự Anh cho hay. Giờ đây hình ảnh của chính phủ đã bị hoen ố đi thêm nữa bởi vì các giới chức địa phương đã và đang ăn cắp những khoản tiền của chính những người dân mà Hà Nội đang cố gắng trợ giúp.

Có thể không bao giờ biết được có bao nhiều tiền dành cho người nghèo đã bị phân phát sai lạc. Một cán bộ ở tỉnh Lâm Đồng miền trung Việt Nam đã bị bắt vào tuần trước, và hàng tá cán bộ khác trên khắp cả nước đã bị giáng cấp hoặc sa thải do vụ bê bối nầy. Hàng trăm cuộc điều tra ở cấp tỉnh đang được tiến hành.

Thế nhưng ít ai ngạc nhiên về tầm mức của những trò cướp bóc này, theo nhận xét của ông Tương Lai, cựu viện trưởng Viện Khoa học Xã Hội của nhà nước tại Hà Nội.

Cán bộ nhà nước Việt Nam ở mọi cấp (thấp, trung, cao cấp) đều nổi tiếng về những trò ăn cắp vặt. Vào năm ngoái 2008, một cuộc khảo sát về tình trạng tham nhũng trong khu vực nhà nước bởi tổ chức Minh bạch Quốc tế [Transparency International] đã xếp Việt Nam đứng thứ 121 trong 180 quốc gia tham nhũng nhất thế giới. “Trò ăn cắp của người nghèo không có gì là mới lạ,” ông Tương Lai cho biết. “Nhưng sau một năm với những khó khăn kinh khủng như vậy, thì việc biếu quà Tết đã được cho là một hành động giúp cải thiện niềm tin nơi dân chúng Việt Nam.” Thế mà thay vào đó, ông Tương Lai nhấn mạnh, nó lại bị phá hỏng.

Hiệu đính: Trần Hoàng

Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2009

——————————————————————–

TIME

————–

Corruption Undermines Vietnam‘s Stimulus Program

By Martha Ann Overland / Hanoi

Monday, Feb. 23, 2009

As governments around the world roll out trillions of dollars in stimulus spending to combat the global recession, debate is raging over whether the flood of money will provide much more than a short-term economic boost and whether much of the cash will ultimately be wasted. Vietnam, which like most Asian countries is being hammered by the downturn, is discovering that even the most direct form of stimulus spending — cash giveaways to citizens — can wind up in the wrong hands.

With the number of poor growing and reports of some going hungry, communist officials in Hanoi recently decided to hand out $12 to millions of impoverished Vietnamese on the eve of the nation’s most important celebration, Tet, the Vietnamese New Year. Tet is Vietnam’s equivalent of Christmas; it’s a holiday of family gatherings and lavish spending on gifts. But this year, a time for giving turned out to be a time for taking. It appears that many of the cash handouts were pocketed by corrupt local
officials.(See pictures from the 1979 border war between Vietnam and China.)

In some cases, fees were deducted or the gifts were taxed to the point there was little left, according to local police. Families in Quang Binh province complained that they were required to sign receipts acknowledging they had received the handouts, but some villagers say more than 90% of the funds were siphoned off by petty bureaucrats. In the province of Quang Ngai, dozens say they were forced to donate to a so-called rural traffic fund. Other destitute villagers reported they had to contribute to a fund for the poor. Investigations of these and scores of similar cases have begun across the country.

Under the unusual giveaway, Vietnamese living below the poverty line (defined by the government as those earning less than $15 a month) qualified to receive a gift of 200,000 Vietnamese dong, or about $12. Families were entitled to a maximum of $57. Though it may seem a paltry sum, the cash was a windfall for Vietnam’s 10 million poorest. It was a way of helping people truly suffering from the economic crisis and a series of natural disasters that hit the country last year, says Ngo Truong Thi, the deputy director of social welfare at the Ministry of Labor, Invalids and Social Affairs, which oversaw the program. “Giving out cash to the poor was also part of measures to stimulate the economy,” Thi says.

The recent global economic slowdown has put the brakes on Vietnam’s decade of growth. The International Monetary Fund forecasts that Vietnam’s GDP growth will slow to 5% this year from a high of 8.5% in 2007. Hit particularly hard has been the country’s manufacturing sector, which helped lift millions out of poverty by providing relatively high-paying jobs. Declining orders from abroad have forced newly built factories to close, sending workers back to their villages.

Vietnam‘s stimulus program pales in comparison to the $787-billion package approved by U.S. lawmakers last week, but the country is doing what it can to jumpstart its economy. The cash giveaway followed November’s announcement of a plan to spend $1 billion to subsidize interest rates for businesses and to lower taxes in order to boost investment and create jobs.

But Hanoi on its own can’t change the course of global events, says Alex Warren-Rodriguez, economic policy advisor at the United Nations Development Program in Hanoi. Vietnam is too dependent upon what is happening in the U.S. and Europe. “Even if you reduce interest rates to stimulate investment, that’s not going to happen because there is nothing to invest in,” he says. “They can do very little to stimulate the economy.”

Still, public perception of how well the government is handle ing the crisis is crucially important. Vu Thanh Tu Anh, director of research at the Fulbright Economics Teaching Program in Ho Chi Minh City, says the cash payments were clearly made for political, not just economic, reasons. “It’s very important for the government to be seen as doing something,” he says. “The political pressure is huge.”

So far, Hanoi appears to be falling short in its efforts to inspire public confidence. The Ministry of Finance announced the stimulus package months ago but the measures have only just been implemented in the last few weeks, says Tu Anh. Now the government’s image has been further tarnished because local officials have been stealing from the very people Hanoi was trying to help.

It may never be known how much of the cash meant for the poor has been diverted. One official from Lam Dong Province in central Vietnam was arrested last week, and dozens of others across the country have been demoted or sacked due to the scandal. Hundreds of provincial-level investigations are ongoing.

But few are surprised at the scope of the looting, says Tuong Lai, former director of the government-run Institute of Sociology in Hanoi. Vietnamese officials at all levels have a reputation for sticky fingers. Last Year, a survey on public-sector corruption by Transparency International ranked Vietnam 121st most corrupt out of 180 countries. “Stealing from the poor is nothing particularly new,” says Lai. “But after a year of terrible difficulties, the Tet gift was supposed to be a gesture to help improve the trust of the Vietnamese people.” Instead, Lai notes, it sabotaged it.

Posted in Uncategorized | 2 Comments »

Entry for February 22, 2009

Posted by hoangtran204 trên 22/02/2009

Lấy ngày rồi copy bài vào sau. Đây rồi 🙂

Nói chung, các cô giáo và thầy giáo nên làm như vầy với các thế lực phản động thân Trung Quốc

Sướng lạ

Posted in Uncategorized | 4 Comments »

Posted by hoangtran204 trên 21/02/2009

OCEANSIDE: ‘Miracle’ recovery astounds

man’s family

Hypothermic treatment contributes to revival

This story has been corrected since its original posting

By PAUL SISSON – Staff Writer | Wednesday, February 18, 2009 5:02 PM PST

OCEANSIDE —- Mike Connolly’s family and many of his nurses are calling him a miracle man —- and doctors are hard-pressed to disagree.

The 56-year-old Vista man’s heart stopped in late January and he lay in a coma for 96 hours before his family tearfully gave the OK for physicians at Tri-City Medical Center to disconnect life support.

That’s when Connolly woke up.

His stepson, Mike Cooper, was reading Scripture beside Connolly’s hospital bed last week when he saw a tear slide down the man’s cheek.

Cooper said he didn’t think that was significant until he left the room and started walking down the hallway, only to hear shouts from a family member still at Connolly’s side.

“He said Mike was responding,” Cooper said. “I didn’t believe him, but I went back in there, and it was true. You would say his name, and he would turn his head toward you. It was a miracle.”

Though doctors had pronounced Connolly’s case hopeless and said his brain would never recover, today he is showing steady progress. Those same doctors say Connolly seems headed for a full recovery.

Martin Nielsen, Connolly’s pulmonary doctor, said it is not a stretch to call the sudden recovery miraculous.

“When we get a guy like Mike Connolly, it’s almost like a miracle,” Nielsen said. “I’ve never seen anybody come back like he has.”

Connolly’s ordeal started at his home around 6 a.m. Jan. 31, when he developed an arrhythmia —- an electrical short circuit in the heart muscle that causes the vital organ to stop beating, usually with no warning.

Connolly’s wife, Loris, said she awoke to the sound of choking.

She found her husband slumped forward in his easy chair, a half-eaten bowl of Raisin Bran in his lap, in the living room of the couple’s Vista apartment.

At 6 feet 8 inches and more than 250 pounds, Connolly is not easy to move.

His wife was unable to get him out of his chair and onto the floor by herself.

“I found him totally unconscious,” she recalled Monday. “I couldn’t find a pulse. I couldn’t find any air. He wasn’t breathing.”

Fearing her husband was dead, Loris Connolly called 911. According to NorthComm fire dispatch records, the call came in at 6:10 a.m. and paramedics arrived at the apartment on Shadowridge Drive at 6:16 a.m.

Nielsen said that when paramedics arrived, Connolly’s heart had stopped beating.

He said an electrocardiogram tape recorded during resuscitation efforts showed that paramedics performed CPR and delivered multiple shocks with a portable defibrillator for about 35 minutes before they were able to get the man’s heart beating again.

Although no one knows exactly how long Connolly’s brain went without oxygen, Nielsen said it had to be at least 10 minutes. That length of time, he said, usually results in severe brain damage if a patient ever regains consciousness.

“Generally, the rule of thumb is if you go for more than four minutes without oxygen, you will see severe damage to the brain,” Nielsen said.

Paramedics drove the unconscious man to Tri-City Medical Center, where doctors decided that inducing hypothermia was Connolly’s best chance for survival.

They used special cooling blankets to drop his temperature from the normal 98.6 degrees Fahrenheit to about 93 degrees.

The cold, Nielsen explained, helps keep the brain from swelling and has been shown in clinical studies to reduce brain damage.

After 24 hours of cooling, doctors tried to bring Connolly out of an induced coma, but every time they did, he suffered seizures.

Seizures, Nielsen said, are usually a sign that a patient is not going to recover. The family prepared for the worst, but prayed nonetheless.

Connolly woke up a few days later.

Sitting in his hospital room Monday, Connolly conversed with family members and joked with nurses, some who have taken to calling him the “miracle man.”

He said his chest aches from the CPR.

“Judging by the way my sternum feels, I’m pretty lucky,” he said. “This is all still sinking in, and I think it will be for a long time.”

In the 12 days since he awoke, Connolly has suffered muscle spasms —- some violent —- that have only recently begun so subside, his wife said.

Loris Connolly said she will always cherish the moment she saw her husband come around.

“When I finally heard the word ‘hope,’ that’s the best word I ever heard,” she said.

Family friends set up a “miracle man” trust fund at Wells Fargo Bank to help the Connollys defray the cost of his long hospital stay.

Donations can be made care of Marilyn Cipriani, 1075 Shadowridge Drive. Unit 70, Vista, CA 92081.

Contact staff writer Paul Sisson at (760) 901-4087 or psisson@nctimes.com.

CORRECTION: ‘Miracle man’s’ name misspelled

In a story in Tuesday’s North County Times about a Vista man who made what some have called a miraculous recovery after four days in a coma, the man’s name was misspelled. His name is Mike Connolly. We apologize.

Mike Connelly is greeted by his wife, Loris, at Tri-City Medical Center on Monday. (Photo by Bill Wechter – staff photographer

http://www.nctimes.com/articles/2009/02/16/news/coastal/oceanside/z2c380328ce6aed428825755f007dcc90.txt

—————————————–

On Saturday Nite, January 17th., church members and friends were enjoying a Christian concert with the rock band ‘Etify’ at Rushing Wind Church in Oceanside.

The band was playing when suddenly, the drummer, Johnny Miller passed out and fell off the stool at the drum kit!

The room went into panic mode. People were scurrying to help each other and trying to figure out what to do.

Thankfully, a few people actually knew what to do. Pastor Denver of Rushing Wind Ministries in the Inland Empire, and Johnny’s wife, who had “just” completed EMT training, jumped into action.
They started CPR on Johnny and traded their duties, just trying to keep Johnny alive until the paramedics arrived.

At this time Johnny had no pulse, was not breathing, and was turning blue. About 10 minutes later the Emergency Technicians showed up. They took out the defibrillator and began shocking him.

After the third time they shocked him, one technician said “we’re done.” A few seconds went by and another technician said “Let’s try one more time.”

Thank God that this young man gave it one more try. Johnny came back, breathing and with a pulse. They quickly got him to the ER. Then began a series of operations: angioplasty. stints, and most recently open heart surgery.

He will have a long rehabilitation period, but he is very happy to be alive. His wife and family are blessed that he is still with them !
A miracle? I’m sure some will call it that, while others will disagree.

Pastor Fred Z, Rushing Wind Oceanside say of the hundreds of concerts he arranged, none ended like this one

http://www.nctimes.com/articles/2009/02/16/news/coastal/oceanside/z2c380328ce6aed428825755f007dcc90.txt

———————————

Doctors transplant windpipe with stem cells Posted document.write(niceDate(’11/19/2008 1:58 PM’));11/19/2008

LONDON — Doctors have given a woman a new windpipe with tissue grown from her own stem cells, eliminating the need for anti-rejection drugs. “This technique has great promise,” said Dr. Eric Genden, who did a similar transplant in 2005 at Mount Sinai Hospital in New York. That operation used both donor and recipient tissue. Only a handful of windpipe, or trachea, transplants have ever been done.

If successful, the procedure could become a new standard of treatment, said Genden, who was not involved in the research.

The results were published online Wednesday in the medical journal, The Lancet.

The transplant was given to Claudia Castillo, a 30-year-old Colombian mother of two living in Barcelona, suffered from tuberculosis for years. After a severe collapse of her left lung in March, Castillo needed regular hospital visits to clear her airways and was unable to take care of her children.

Doctors initially thought the only solution was to remove the entire left lung. But Dr. Paolo Macchiarini, head of thoracic surgery at Barcelona’s Hospital Clinic, proposed a windpipe transplant instead.

Once doctors had a donor windpipe, scientists at Italy’s University of Padua stripped off all its cells, leaving only a tube of connective tissue.

Meanwhile, doctors at the University of Bristol took a sample of Castillo’s bone marrow from her hip. They used the bone marrow’s stem cells to create millions of cartilage and tissue cells to cover and line the windpipe.

Experts at the University of Milan then used a device to put the new cartilage and tissue onto the windpipe. The new windpipe was transplanted into Castillo in June.

“They have created a functional, biological structure that can’t be rejected,” said Dr. Allan Kirk of the American Society of Transplantation. “It’s an important advance, but constructing an entire organ is still a long way off.”

So far, Castillo has shown no signs of rejection and is not taking any immune-suppressing drugs, which can cause side effects like high blood pressure, kidney failure and cancer.

“I was scared at the beginning,” Castillo said in a press statement. “I am now enjoying life and am very happy that my illness has been cured.”

Her doctors say she is now able to take care of her children, and can walk reasonable distances without becoming out of breath. Castillo even reported dancing all night at a club in Barcelona recently.

Genden said that Castillo’s progress needed to be closely monitored. “Time will tell if this lasts,” he said. Genden added that it can take up to three years to know if the windpipe’s cartilage structure is solid and won’t fall apart.

People who might benefit include children born with defective airways, people with scars or tumours in their windpipes, and those with collapsed windpipes.

Martin Birchall, who grew Castillo’s cells at the University of Bristol, said that the technique might even be adapted to other organs.

“Patients engineering their own tissues is the key way forward,” said Dr. Patrick Warnke, a surgeon at the University of Kiel in Germany. Warnke is also growing patients’ tissues from stem cells for transplants.

Warnke predicted that doctors might one day be able to produce organs in the laboratory from patients’ own stem cells. “That is still years away, but we need pioneering approaches like this to solve the problem,” he said.

Doctors transplant windpipe with stem cells Updated document.write(niceDate(’11/20/2008 7:23 PM’));11/20/2008

ONDON (AP) — Doctors have given a woman a new windpipe with tissue grown from her own stem cells, eliminating the need for anti-rejection drugs.

“This technique has great promise,” said Dr. Eric Genden, who did a similar transplant in 2005 at Mount Sinai Hospital in New York. That operation used both donor and recipient tissue. Only a handful of windpipe, or trachea, transplants have ever been done.

If successful, the procedure could become a new standard of treatment, said Genden, who was not involved in the research.

The results were published online Wednesday in the medical journal, The Lancet.

The transplant was given to Claudia Castillo, a 30-year-old Colombian mother of two living in Barcelona, wh suffered from tuberculosis for years. After a severe collapse of her left lung in March, Castillo needed regular hospital visits to clear her airways and was unable to take care of her children.

Doctors initially thought the only solution was to remove the entire left lung. But Dr. Paolo Macchiarini, head of thoracic surgery at Barcelona’s Hospital Clinic, proposed a windpipe transplant instead.

Once doctors had a donor windpipe, scientists at Italy’s University of Padua stripped off all its cells, leaving only a tube of connective tissue.

Meanwhile, doctors at the University of Bristol took a sample of Castillo’s bone marrow from her hip. They used the bone marrow’s stem cells to create millions of cartilage and tissue cells to cover and line the windpipe.

Experts at the University of Milan then used a device to put the new cartilage and tissue onto the windpipe. The new windpipe was transplanted into Castillo in June.

“They have created a functional, biological structure that can’t be rejected,” said Dr. Allan Kirk of the American Society of Transplantation. “It’s an important advance, but constructing an entire organ is still a long way off.”

So far, Castillo has shown no signs of rejection and is not taking any immune-suppressing drugs, which can cause side effects such as high blood pressure, kidney failure and cancer.

“I was scared at the beginning,” Castillo said in a press statement. “I am now enjoying life and am very happy that my illness has been cured.”

Her doctors say she is now able to take care of her children and can walk reasonable distances without becoming out of breath. Castillo even reported dancing all night at a club in Barcelona recently.

Genden said that Castillo’s progress needed to be closely monitored. “Time will tell if this lasts,” he said. Genden added that it can take up to three years to know if the windpipe’s cartilage structure is solid and won’t fall apart.

People who might benefit include children born with defective airways, people with scars or tumours in their windpipes, and those with collapsed windpipes.

Martin Birchall, who grew Castillo’s cells at the University of Bristol, said that the technique might even be adapted to other organs.

“Patients engineering their own tissues is the key way forward,” said Dr. Patrick Warnke, a surgeon at the University of Kiel in Germany. Warnke is also growing patients’ tissues from stem cells for transplants.

Warnke predicted that doctors might one day be able to produce organs in the laboratory from patients’ own stem cells. “That is still years away, but we need pioneering approaches like this to solve the problem,” he said.

received from email

Claudia Castillo

Claudia Castillo, 30, suffered from tuberculosis for years.

Posted in CPR is the most helpful, Uncategorized | Leave a Comment »

Entry for February 20, 2009

Posted by hoangtran204 trên 20/02/2009

Ngày Năm: Thứ Bảy, 10 Tháng Giêng

Bến Xe Ðò Puduraya
Dân số KL lên tới 6.9 triệu người, sống trong một diện tích 244 kílô mét vuông. Ðất đai trở thành chật hẹp. Nhưng bến xe đò đưa khách đi khắp các thành phố và tiểu bang khác, lại được đặt ngay trung tâm thành phố, rất tiện lợi cho mọi người mà không chiếm quá nhiều diện tích đất. Chính phủ qui hoạch thành phố khá hay! Ðó là bến xe đò Puduraya, được đặt ngay dưới hầm của một thương xá. Cả chục hãng xe đò tư nhân, tranh nhau giành khách. Tranh nhau trong vòng trật tự. Mỗi hãng có một quầy bán vé riêng, với hai nhân viên quảng cáo, họ tha hồ rao la, lớn tiếng mời gọi khách. Tôi đi ngang qua, họ rao nổ như một tràng bắp rang. Tôi chỉ biết nhe răng cười. Có hiểu gì đâu mà không chịu cười. Toàn là tiếng Mã, nghe rất vui tai!

Tiểu Bang Melaka
Sau 2 tiếng ngồi trên xe đò, thật là thoải mái vì có máy lạnh và ghế ngồi rộng rãi. Chuyến đi tốn mất 9.5 RM cho một bận. Xa lộ rất tốt, ba “lanes” mỗi chiều, tiêu chuẩn không kém gì Âu-Mỹ. Du khách có thể thăm viếng Melaka, sáng đi chiều về một cách dễ dàng.

Cảm nghĩ đầu tiên về thành phố này là dân chúng sống có nề nếp. Cảnh đầu tiên là thấy thiên hạ đứng xếp hàng mua vé rất trật tự, giống y như ở trên KL. Trước sau gì cũng tới phiên mình, không cần phải chen lấn. Nghe nói Melaka ngày xưa có nhiều dân ăn cướp, rất khó trị. Nhất là đám cướp biển (pirates of Malacca Straits). Melaka (kiểu Mã), còn được viết dưới dạng Malacca (kiểu Anh), là tên của một thành phố lịch sử và cũng là tên của tiểu bang. Ðây là một thành phố quan trọng mà vào thế kỷ 17 tới 19, các đế quốc Bồ-đào-nha, Hà-lan, và Anh-quốc đã tranh giành lấy làm thuộc địa từ thổ dân Mã. Người Hoa và Nhật cũng có mặt tại đây rất sớm. Khi Malaysia (hoặc Malaya) được độc lập, tây-phương lùi bước và để lại rất nhiều nhà thờ thiên-chúa-giáo. Bà Marie, một người-Mã-gốc-Hoa, sanh trưởng tại bang Johor, bạn của bạn tôi, hướng dẫn chúng tôi đi thăm các nhà thờ. Ðầu tiên là St. Peter‟s Church được thiết lập từ năm 1710. Tiếp theo là St. Francis Xavier Church, được xây dựng bởi ba linh mục người Pháp vào năm 1849. Mấy vị này chết vào tuổi trung niên vì bịnh sốt rét, và xác được chôn ngay dưới hầm của thánh đường. Trong khuôn viên của nhà thờ còn có tượng của linh mục San Francisco Xavier (người Bồ) và của Yajiro Angero (người Nhật), đệ tử của Xavier, và sau này cũng trở thành linh mục.

Kế đến là đi thăm Malim Church, được cất vào năm 1850. Nhà thờ này rất giản dị, không có gì gọi là công trình đồ sộ, nhưng lại là một di tích lịch sử tôn giáo đặc biệt. Vào thời đó, người Hà-lan theo đạo Tin-lành, đang cai trị đất Melaka, còn người Bồ theo đạo Ca-tô-lích phải ẩn núp để thờ phượng. Người Bồ tạc dựng được một cây thánh giá (the Holy Cross) để phụng kính một cách bí mật. Chính căn nhà đơn sơ này đã che dấu được cây thánh giá quí báu và trở nên di tích lịch sử giữa hai tôn giáo Tin-lành và Ca-tô-lích. Tôi lại chú ý đến hai điểm khác, chung quanh nhà thờ Malim, bên trái là vườn cao-su và bên phải là nghĩa địa của người Tàu. Bà Marie cho biết: vào đầu thế kỷ 20, khi người Anh chiếm được Melaka, thì họ tạo dựng vườn cao-su và thuê mướn nhân công Mã và Tàu để khai thác đất thuộc địa mới. Thiên-địa-nhân quyện lại thành một, trong ý nghĩ của tôi. Này nhé: bên trái là vườn cao-su (địa), ở giữa là nhà thờ thiên-chúa (thiên), và bên phải là nơi an nghĩ cuối cùng của người lao động (nhân). Một sự kết hợp loạn xà-ngầu!

Và nhà thờ cuối cùng mà chúng tôi đi thăm là Christ Church Melaka, được xây dựng vào năm 1753. Nó tọa lạc trong công trường Hà-lan (Dutch Square) là nơi được nhiều du khách đến thưởng lãm. Có thể ngồi xe xích-lô đạp để dạo quanh khu phố nhỏ. Kế bến công trường là khu Phố Cổ, mà người tây-phương, người Mã, người Tàu, người Nhật đã một thời chung sống. (Nghe giống như phố cổ Hội-An của bên Việt-Nam). Dân tây rất thích viễn du vào Á-đông trong thế kỷ 17, 18, và 19: đất mới, người mới, và của mới. Phố Cổ ngày nay được bảo trì kỹ lưỡng với hàng quán sang trọng, đẹp đẽ, để hấp dẫn du khách ngoại quốc hằng năm, phát triển ngành du lịch cho xứ Mã.

Kỹ nghệ du lịch của Mã phải cạnh tranh nhiều với Singapore và Thái-Lan. Năm 2007, chính phủ Mã đã chọn phù hiệu “Visit Malaysia 2007” để phất cờ kỷ niệm 50 năm độc lập. Sòng bài và hang động sex-dục là cặp bài trùng chiêu dụ khách thập phương. Ba bức hình tiếp theo mà tôi muốn gửi đến bạn đọc là hình ảnh chiếc xe đò tối tân của thế kỷ 21 và chiếc xích-lô đạp cũ kỹ từ thế kỷ 20. Chiếc xe đò hiện đại với máy lạnh làm mát cơ thể người viễn khách. Còn chiếc xích-lô lỗi thời với cây dù che đầu và vòng hoa sặc sỡ, làm ấm lòng người lữ khách. Hai phương tiện chuyên chở, một cuộc đời:

Em ơi có bao lâu?
Mấy trăm năm cuộc đời!

Không phải cuộc đời của một cá nhân, mà cuộc đời của cả dân tộc Mã. Hết Hà-lan tới Bồ-đào-nha, hết Bồ-đào-nha tới Ăng-lê, thay phiên nhau đè đầu đè cổ dân lành đến mấy trăm năm. Dân Mã không cần chiến tranh đổ máu gì nhiều, cũng không có cảnh nồi da xáo thịt, mà sao họ hay quá! Họ không có nhiều thần tượng anh hùng bằng bên ta. Họ vẫn đòi/giành được độc lập mà không tốn nhiều xương máu như ta. Tôi đi du lịch thấy được dân tình Mã-Lai như vậy nên chạnh lòng nhớ đến quê hương mình. Thấy cuộc sống xã hội của Việt-Nam còn thua xa các bạn Mã. Thành thật ngã nón chào nhân dân Mã: gốc-Mã, gốc-Tàu, và gốc-Ấn; họ đã chung nhau xây dựng một đất nước công bằng và phúc lợi. Ða số, thiểu số gì, sống cũng được: mình sống và để cho người khác cùng sống.

Ngày Sáu: Chủ Nhật, 11 Tháng Giêng

Người Lao Ðộng Việt-Nam
Tôi nghe ở đây có cả chục ngàn nhân công Việt-Nam đang làm việc tại Melaka, chúng tôi nhờ/được các người Mã địa phương làm công tác thiện nguyện đưa đi thăm. Hôm nay là ngày chủ nhật, hãng nghỉ làm, công nhân nghỉ việc, rất thuận tiện cho việc thăm viếng. Chúng tôi muốn đến ba ký-túc- xá khác nhau, nơi tạm trú của công nhân, để hàn huyên cùng các bạn lao động. Ðàn ông ở riêng, đàn bà ở riêng. Ði thăm nhà các anh trước, các chị sau. Không có gì là kỳ thị phái tính. Chỉ vì nhà của phái nam ở đầu đường, còn nhà phái nữ ở cuối đường.

Trên trăm ngàn dân lao động Việt-Nam thích đến đất Mã để làm ăn kể từ năm 2003 đến nay. Họ là những công dân khỏe mạnh, đã được khám sức khỏe đầy đủ, và được chính phủ Việt-Nam chứng nhận có hành vi tốt trước khi ra nước ngoài làm việc. Trước khi đi, họ được ký một Hợp Ðồng Lao Ðộng với công-ty của Mã-Lai qua những lời hứa hẹn ngọt ngào, như có thể lãnh được 800 RM một tháng trong vòng 3 năm, và các điều kiện làm việc lý tưởng như bảo hiểm, giờ giấc, cách đối xử của chủ, vân vân. Song song, họ cũng phải ký một Hợp Ðồng Ðưa Lao Ðộng Ði Làm Việc Có Thời Hạn Ở Malaysia với một công-ty môi-giới ở Việt-Nam; các điều khoản trong hợp đồng nầy rất gò bó, luật lao động bị cột chặt một cách bất công và bất nhân như: (1) không được đi ra ngoài mà không xin phép, (2) không được kêu nài hay đình công với chủ, (3) bị sự kềm chế của đại-sứ-quán, vân vân. Luật lao động quốc tế thì người dân bình thường chưa biết đến, còn luật lao động của Mã-Lai lại không áp dụng cho giới công nhân ngoại quốc. Công nhân Việt-Nam: một cổ hai tròng. Ðược xem qua hai văn bản hợp đồng, tôi có cảm tưởng như người lao động Việt-Nam sống trong chính sách cai trị bằng củ-cải-và-cây-gậy của đầu thế kỷ thứ 20. Củ cải để chiêu dụ và cây gậy để dọa hù. Nhưng khoan đã! Ðợi đến thăm, nhìn tận mắt, nói tận mặt, mới biết được thật giả, đá hay vàng.

Tôi thấy tận mắt 10 người sống chung nhau trong một ký-túc-xá. Tuy chật chội nhưng họ vui vẻ lắm. Họ cho biết: vài năm trước, có khi cả trăm mạng ở chung trong một biêu-đinh chật hẹp và thiếu tiện nghi. May nhờ các hội đoàn thiện nguyện địa phương như Tenaganita Sdn Bhd của Mã, và của người Việt hải ngoại như Ủy Ban Bảo Vệ Người Lao Ðộng tại Ba-Lan, CAMSA tại Mỹ can thiệp, nên các chủ nhân Mã-Lai đã tỏ vẻ biết điều hơn! Chủ trả tiền thuê các ký-túc-xá gần hãng, khoảng 500 RM một tháng, và đưa công nhân từ 8 đến 12 người vào ở chung một chỗ. Tận mặt hàn huyên mới được biết kết quả cụ thể là: 90% công nhân lao động thất vọng với những gì mình tin tưởng, và 10% được xem là mãn nguyện. Chỉ dấu của thành công là thời gian làm việc tại Mã lên quá ba năm, nghĩa là hợp đồng lao động được gia hạn thêm một lần nữa; chứ không phải ở số tiền dành dụm được. Trước khi đi, công nhân hy vọng với sức cần lao của mình họ có thể lãnh tiền gấp đôi hay gấp ba lần tại Mã-Lai so với tại Việt-Nam, để có thể trợ giúp cho cha mẹ, vợ/chồng, và con cái tại quê nhà. Nhưng dù cho đầu tắt mặt tối, phần đông, họ vẫn chưa trả nổi các chi phí đã ứng trước cho các công-ty môi-giới Việt-Nam, lên đến gần 2,000 đôla Mỹ mỗi đầu người, tuy đã gắng sức làm việc tại Mã hơn hai năm qua. Tại sao lại có nghịch cảnh như thế nầy? Bởi vì được hứa hẹn với 800 RM mỗi tháng trên hợp đồng, nhưng thực tế may lắm mới được chủ trả 400 RM. Kêu nài với ai? Ðã bảo là luật Mã không áp dụng cho dân Việt mà. Nhờ cậy vào công-ty môi-giới ở Việt-Nam làm trung gian, thì họ đã cao bay xa chạy mất rồi; cả đám biến thành thợ lặn: điện thoại cắt đứt, tuyệt đường liên lạc. Viết thơ cho đại-sứ-quán Việt-Nam tại KL thì được trả lời là không phải nhiệm vụ can thiệp của chính phủ. Sứ quán chỉ có hai nhiệm vụ chính. Một là canh chừng để người lao động khỏi trở thành phản động. Hai là làm kinh tài qua các dịch vụ giấy tờ. Ðủ loại giấy tờ dân lao động cần được chứng nhận, để được xem như sống hợp lệ, hợp pháp. Ðúng như câu thành ngữ của Mỹ: “no job is done until paper works are done!” (Không việc gì làm xong, cho đến khi giấy tờ đã xong). Ðược một lần chứng nhận là mất đi một phần tiền. Các bạn đọc tại hải ngoại nếu không thích tôi dùng từ “đại-sứ-quán” (vì đề cao nhà nước) thì ráng chịu khó đại một chút nghen! Tôi biết, thói quen các bạn hay dùng là “tòa đại sứ”, nhưng bà con lao động mình ở đây, ai cùng gọi bằng đại-sứ-quán, thì tôi cũng viết ra như
thế. Dùng “đại” cho nó có vẻ to lớn hơn. (Trung-cộng thích/đã sử dụng từ “đại sứ quán”, nên Việt-Nam xài theo cho tiện). Ðại-sứ-quán xem đồng bào Việt-Nam sống ở xứ ngoài là khúc-ruột-ngàn-dặm, làm ta liên tưởng đến câu người xưa hay nói: đồng-tiền-liền-với-khúc-ruột. Ở đâu có khúc-ruột-ngàn-dặm là đại-sứ-quán tìm đủ mọi cách moi móc cho ra tiền!

Hiện nay, với tình hình suy thoái kinh tế toàn cầu, lao động Việt-Nam chỉ còn lãnh khoảng 250 đến 300 RM một tháng nhưng tháng nào cũng phải nộp cho chính phủ Mã thuế ngoại-nhân là 100 RM; vị chi chỉ còn dư từ 150 đến 200 RM, đủ tiền để mua thực phẩm sống tạm qua ngày.

Chưa hết đâu! Vì tình hình kinh tế của Mã cũng đang xuống dốc nên ở bang Penang, tổng trưởng Lim Guan Eng đã kêu gọi các hãng xưởng Mã-Lai hãy mướn người Mã thay vì người ngoại quốc (theo tin của Seberang Jaya, Jan 2009). Hiện nay, công ty Mã đang mướn khoảng 27% nhân lực ngoại quốc gồm Bangladesh, Miến-Ðiện, Indonesia, và Việt-Nam. Do đó, trong những ngày sắp tới, tương lai của người lao động Việt-Nam ở Mã sẽ bi đát hơn nữa!
Vậy sao không chịu trở về quê hương sống gần gia đình cho đỡ khổ hơn?

Chưa chắc đỡ khổ hơn, họ cho biết. Ðủ mọi thứ lý do bao gồm nhiều mặt về tâm-sinh-lý. Thứ nhất, vì không muốn mất mặt. Khi ra đi, đâu phải chỉ có một mình người công nhân mang hy vọng mà cả gia đình nuôi hy vọng, hơn nữa bà con lối xóm trông ngóng người đi xa. Vác xác không đi về, ôi tủi hổ lắm! Thứ nhì, vì không đủ tiền mua vé máy bay mà về. Bộ muốn về là về hay sao? Chưa hết hợp đồng ba năm thì chủ chưa cho về. Khi nào chủ đồng thuận cho về mới được phép về. Chủ sẽ đài thọ cho vé máy bay bận về.

Nhiều khi không có việc, chủ bắt lên câu-lạc-bộ trong hãng ngồi chờ, vừa ngủ vừa đợi công việc làm. Có kêu thì có làm. Có làm thì mới có tiền. Không làm thì đi ngủ tiếp. (Ngủ gà ngủ gật ở câu-lạc-bộ, chứ không phải được ngủ ở nhà). Thứ ba, tôi ngạc nhiên nhất điều nầy, dù rất cực nhọc và không dư dã như mong ước, nhưng họ vẫn không muốn trở về Việt-Nam khi chưa hết hạn; đại đa số đều cho biết là họ thích sống ở đây. Ở tại Mã. Vì ở đây, họ được sống một cách thoải mái và tinh thần được tự do hơn. Lạ thật! Chúng tôi trò chuyện với tổng cộng 52 người lao động: 25 vị phái nam và 27 vị phái nữ, tuổi từ 18 đến 37, họ xuất ngoại từ khắp mọi miền Nam, Trung, Bắc của đất nước. Tôi lại đi từ ngạc nhiên nầy, đến ngạc nhiên khác. Dân lao động Việt-Nam qua Mã đi làm không kiếm được nhiều tiền mà vẫn thích ở lại đây, chỉ vì cuộc sống được tự do và thoải mái hơn quê nhà.

Cây Nhà Lá Vườn: Kinh Tế Tự-Túc-Tự-Cường
Không đủ đồng lương để sống, mấy anh đi đập cá-rô-Phi (đập chứ không phải câu hay lưới), và bắt ốc bươu vàng ngoài bờ lạch để thêm thực phẩm qua ngày. Ðó là những món đặc sản mà các anh ưa thích. Lại nhờ bè bạn nào biết chút đỉnh tiếng Anh, nhờ gửi mua nấm men ngoài chợ đem về nấu cơm rượu. Và cất lên thành “rượu Đế” để cùng nhau cụng ly cạn chén. (Rượu Đế là rượu của vua uống, vì “Đế” có nghĩa là vua). Tôi phục mấy cô, mấy chị, hơn là mấy chú, mấy anh. Hãy lại ký-túc-xá của mấy cô mà xem cho biết. Chỉ một mảnh đất nho nhỏ sau nhà, mấy cô vun trồng đủ loại. Nào là rau thơm tươi tốt cho đến đu-đủ, chuối, mía thật hấp dẫn.

Mấy cô cho ăn mấy lóng mía tươi ngọt giữa buổi trưa hừng nóng nực, thật là mát miệng, mát lòng. Bây giờ tôi mới hiểu được phần nào cái mà nhiều người lao động gọi là “thoải mái” và “tự do”. Các bạn công nhân tha hồ bàn chuyện thời sự đất nước một cách thoải mái vì không sợ bị ai theo dõi và cảm thấy tự do hơn ở tại xứ người, một cách tâm lý, so sánh với cuộc sống đầy áp bức tại quê nhà. Nhưng ở đây cũng có vài ba trường hợp rất đau lòng, khó cho người lao động tự mình tìm được cách giải quyết. Công-ty môi-giới chỉ biết hốt tiền rồi đem con bỏ chợ. Ðại-sứ-quán thì làm ngơ, vô trách nhiệm. Chủ nhân Mã tha hồ bóc lột. Anh bạn tôi ở Úc đã phỏng vấn và thu thập mọi sự kiện để lập thành hồ sơ pháp lý.

Những Trường Hợp Ðau Lòng!
Trường Hợp 1: “Con chỉ xin trở về lại Sài-Gòn!” Cô Thoa, 18 tuổi, quê Tiền-Giang, mới đi làm được ba tháng thì bị chủ cho nghỉ việc (layoff). Không hiểu tại sao công-ty môi-giới lại chịu ký hợp đồng với cô bé nầy khi cô ta còn mấy tháng nữa mới đầy 18 tuổi. Không tiền, không vé máy bay, phải sống nhờ vào các bạn cùng phòng. Lúc nào cô cũng than khóc, cầu Trời khẩn Phật cho có ngày về đoàn tụ với mẹ cha. Mặt cô có vẻ cương nghị, tuy miệng nói ao ước: “Con chỉ xin trở về lại Sài-Gòn!” nhưng nước mắt cứ tuôn tràn.

Trường Hợp 2: “Thanh niên Việt-Nam hãy cẩn thận trước khi ra đi!” Em Luyện, 22 tuổi, quê Vĩnh Phú, bị tai nạn lao động gãy tay mà không được bồi thường; ngược lại, còn b
ị chủ bắt đi làm thêm để trả lại tiền nhà thương. Em rất phẩn uất, tự xem như mình bị lường gạt, vì chủ nhân cũng như pháp luật không đoái hoài tới công nhân; môi-giới không dám can thiệp, còn đại- sứ-quán thì bình-chân-như-vại, không phải chuyện của mình. Cứ vô tư! Em nhắn nhủ với giọng uất ức cùng các bạn thanh niên đồng lứa tuổi đang ở quê nhà mà mong đi làm xa xứ: “Thanh niên Việt-Nam hãy cẩn thận về môi- giới trước khi ra đi!”. Rất dễ bị lừa.

Trường Hợp 3: “Chúng tôi mong ước gặp lại chồng và con!” Hai cô: Lịch, 32 tuổi, và Vị, 37 tuổi, hết tiền, sống lậu quá sáu tháng, phải đi làm ôsin, lượm rau cải hư/thừa ngoài tiệm để lây lất qua ngày. Hai cô nầy đã có gia đình ở Việt-Nam, hy vọng ra xứ ngoài để cứu giúp chồng con. Nhưng than ôi! giờ đây, thân mình còn lo chưa nổi, làm sao giúp được cho ai! Nhiều lần viết thư cho đại-sứ-quán thì hầu như họ nghỉ lễ dài hạn, im hơi lặng tiếng. Hai cô ước ao có cuộc sống bình thường: “Chúng tôi mong ước gặp lại chồng và con!”. Phần chúng tôi, chỉ biết thu nhận sự kiện, trao hồ sơ lại cho các tổ chức NGO (Non-Governmental Organization) Tenaganita và CAMSA là những cơ quan xã hội thiện nguyện, chuyên môn giúp đỡ về nhân đạo cho những người lao động Việt-Nam cô thế. Hy vọng cô Thoa, em Luyện, cô Lịch và cô Vị trong ba trường hợp kể trên được tai qua nạn khỏi. Mấy người bạn Mã còn cho biết thêm những trường hợp giết người, đĩ điếm ở dưới bang Jahor, gần Singapore, được phát sinh từ những người lao động bị dồn vào đường cùng – Tôi không hiểu – Vì đâu nên nỗi?

Người lao động Việt-Nam được tuyển chọn, khám sức khỏe kỹ càng, huấn luyện đàng hoàng, và ra đi với mục đích trong lành, mà phải tận cùng cuộc đời u tối như thế nầy?

Vì Ðâu Nên Nỗi?
Trên mạng báo điện tử của VietNam Net ngày 25.12.2008, phóng viên Phương Loan đã phỏng vấn cựu thứ trưởng ngoại giao Trần Quang Cơ về sinh hoạt ngoại giao đối ngoại của chính phủ Việt-Nam; ông cho biết như sau: “Khi bạn thấy người Việt cướp bóc lẫn nhau, buôn rượu lậu, cờ bạc thì đó là hình ảnh rất xấu về con người Việt Nam. Người Việt ở nước ngoài, chưa nói tài năng, công việc như thế nào, nhưng lối sống như thế khó được chấp nhận. Mà việc này là do chúng ta chưa chuẩn bị kĩ, thiếu sự giáo dục từ trong nước. Đây là vấn đề thuộc về “nội trị”. Chữ “nội trị” được viết đậm là do tôi muốn nhấn mạnh ý nghĩa của nó. Bạn đọc đã nghe tôi tường thuật, một cách chủ quan và bán phần, về hoàn cảnh sinh sống khó khăn của đồng bào Việt-Nam tại Mã-Lai. Những hình ảnh thương tâm về con người Việt-Nam như đĩ điếm và ở lậu, bị bóc lột và ức hiếp, không thiếu thứ chi cả. Anh bạn tôi còn biết đích xác về trường hợp của một người lao động, vì sa cơ thất thế nên biến thành tay sát nhân, hiện lẫn tránh và bị cảnh sát Mã truy lùng để tống khứ về lại Việt-Nam. Tenaganita của Mã và CAMSA của Mỹ đều nắm vững tất cả những trường hợp trên. Bạn nào chưa tin, thì tôi bắt chước bác tài-xế Aru thách thức, “Không tin tôi, thì quí vị cứ đi xem thử!”. Trách nhiệm yêu thương và bảo vệ người dân lành hay công nhân lao động là do sự dạy bảo, cách chuẩn bị, và phương sách cải tạo nếp sống xã hội của đảng lãnh đạo từ Việt-Nam mà ra. Vấn đề thuộc về “nội trị” là như thế. Ðó là lý do tại sao cựu phó chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình đã phải bay qua Singapore để hợp tác với cảnh sát địa phương dẫn độ 7,000 chị-em-ta về lại quê xưa chốn cũ. Tuy chưa phải là cách giải quyết rốt ráo, nhưng phần nào bà Bình đã đem đến một hy vọng ngoại giao tốt.

Ngày Bảy: Thứ Hai, 12 Tháng Giêng

Gốc-Mã, Gốc-Việt Có Dính Dáng Gì Với Nhau?
Tôi đọc sách khảo-cổ-học, được biết là Mã-Lai cũng có trống đồng, một loại quốc bảo như của ta. Để được toại nguyện tôi phải đi thăm bảo tàng viện quốc gia của Mã-Lai xem họ có chứa trống đồng hay không. Biết đâu gốc-Mã và gốc-Việt có họ hàng với nhau! Viện bảo tàng cách xa trung tâm thành phố chừng 15 phút xe bas (bus) với vé vào cửa quá rẻ, chỉ có 2 RM một người. Viện bảo tàng cao hai tầng, chia thành bốn gian rất rộng và sang trọng. Một gian chứa các di vật thời cổ sử; một gian chứa các kỹ vật thời cận đại, khi Mã còn là thuộc địa của tây-phương; và hai gian còn lại, đặc biệt chuyên về thời hiện tại, nói về sự độc lập, liên lập, và phát triển của Mã-Lai trong giai đoạn toàn cầu hóa. Dĩ nhiên, tôi dành nhiều thời giờ cho gian cổ vật hơn. Ðúng vậy! 15 ngàn năm về trước, đất Việt-Nam, Thái-Lan, Malaya, Sumatra, Kalimantan (Borneo), và Jawa dính chùm thành một mảng to, được giới khảo cổ gọi là Pentas Sunda (tiếng Anh là Sundaland). Từ 12 đến 8 ngàn năm về trước, nước biển dâng tràn, chia cắt lục địa Sundaland thành nhiều mảng, làm cho đại gia đình các dân tộc cổ của Ðông-Nam-Á phải tách rời đôi bờ đôi ngã. Do đó, dân Mã và dân Việt vào thời xa xưa, cả chục ngàn năm về trước, phần nào, có thể liên hệ bà con với nhau! Giống Rồng của Lạc-Long-Quân đã nhập quốc tịch Malaya hết rồi!

Trống đồng Malaya, tìm được ở bang Terengganu phía bắc, gần giáp ranh giới đất Thái-Lan. Ở ngoài khơi của Terengganu có Pulau Bidong (Pulau là cù-lao), một địa danh rất quen thuộc với thuyền-nhân (boat people) người Việt. Ðường thẳng từ mủi Cà-Mau của Việt-Nam đến đảo Bidong củ
a Terengganu là đoạn đường đi ngắn nhất. Cổ nhân ta chắc cũng đã đi lại nhiều lần trên con đường định mệnh nầy: Trãi qua một cuộc bể dâu Những điều trông thấy mà đau đớn lòng (Nguyễn Du) [Bể dâu: ngày xưa khi biển chưa tiến thì là ruộng trồng dâu, giờ đây bể cả đã tràn ngập, khiến con người đau khổ]. Trống Terengganu bị hư hại nhiều, chỉ còn lại mặt trống, tang và đáy đã bị tiêu hủy. Các hoa văn trên mặt trống đồng như hình nai và chim giống y hệt như trên các loại trống đồng Ðông-Sơn (Ngọc-Lũ, Hoàng-Hạ, Sông Ðà, …) của tiền nhân ta. Người Mã trân trọng mặt trống Terengganu lắm, họ giữ trong tủ kính để người xem không thể sờ được.

Bóng Mờ Cộng Sản
Sẵn dịp, tôi cũng xin nói qua đôi chút về gian bảo tàng thời cận đại, vì trong đó có chứa nhiều tài liệu về phong trào cộng sản Mao-ít, do Trung-cộng chủ mưu. Dân tộc Mã không thích hợp và không chấp nhận chủ nghĩa cũng như lối sống cộng sản, nên đã từ bỏ chúng rất sớm. Chỗ đứng còn lại của cộng sản là dăm ba quyển sách tuyên truyền, nhập cảng từ Trung-cộng, và hai cái nón đảng viên màu xanh lục với ngôi sao đỏ. Chúng được cất giữ rất kỹ lưỡng trong hai lồng kính trong sáng để người đời sau xem biết mà chừa.

Tôi nghĩ thầm: giá mà cộng sản thành công ở Mã-Lai thì bảo tàng viện ngày nay chứa đầy cả bốn gian về hình ảnh các lãnh tụ anh hùng cộng sản, và chắc chắn, nền kinh tế cũng như nếp sống của Mã sẽ tụt hậu, thua xa của Việt. Không chừng Việt-Nam cũng có thể nhập cảng lao động Mã-Lai vào giúp việc! Nhưng thực tế đã xảy ra một cách ngược lại. Càng nghĩ càng thấy mắc cở!

Nhảy-Lên-Nhảy-Xuống: Vòng Một Tua Kuala Lumpur
Hôm nay là ngày cuối ở KL, tôi quyết định ôn/xem lại 22 địa điểm nổi danh của thành phố trong vòng 2 tiếng đồng hồ. Dễ thôi! Dùng chuyến xe bus đặc biệt hai tầng, tên là “KL Hop-On Hop-Off”, tốn 38 RM, có thể xài trong vòng 24 giờ. Thích ở đâu, xuống trạm ở đó; chơi xong rồi, nhảy lên đi tiếp. Mỗi chuyến cách nhau chỉ có 30 phút; xe bắt đầu từ 8:30 sáng và ngừng chạy lúc 8:30 tối mỗi ngày.

Chào tạm biệt Mã-Lai. Tạm biệt KL. Tạm biệt Melaka. Tạm biệt các bạn Mã nhân từ. Tạm biệt các đồng bào lao động thân thương người Việt! Tôi còn giữ tất cả địa chỉ của các bạn. Hy vọng một ngày nào đó được gặp lại các bạn trong một bối cảnh tự do và thoải mái hơn. Không phải tại đất Mã, mà ở ngay tại quê hương yêu dấu Việt-Nam của chúng mình!

Mồng Một, Xuân Kỷ-Sửu (2009)

Posted in Uncategorized | 2 Comments »

Chiến Tranh Biên giới Việt Trung -1979 bài 4

Posted by hoangtran204 trên 18/02/2009

Việt Nam căng thẳng

trước ngày kỷ niệm

cuộc chiến

với Trung Quốc

Phạm Nga, BBC News

Thứ Hai, ngày 16-2-2009

Việt Nam đang đánh dấu ngày kỷ niệm cuộc chiến tranh bên giới với Trung Quốc bằng một sự im lặng không dễ chịu, khi các kênh thông tin nhà nước tránh không đề cập tới những sự kiện xảy ra 30 năm trước.

Thế nhưng những tình cảm của dân tộc chủ nghĩa đang bị dồn nén ngấm ngầm trào lên bề mặt bởi những kỹ niệm đớn đau.

Bà Hoàng Thị Lịch, 72 tuổi, nhớ như in cái buổi sáng ngày 17-2-1979 trong miền núi Cao Bằng, khi bà cùng gia đình thức giấc với một cảm giác nghẹt thở do hoảng hốt.

Khi bình minh vừa ló dạng, Trung Quốc đã phát động các cuộc tấn công tại một loạt vị trí của các tỉnh cực bắc Việt Nam với một màn phô trương đáng kinh ngạc về cái gọi là “làn sóng biển người” và hỏa lực pháo binh.

Gia đình bà Lịch phải vội vã sơ tán từ ngôi làng ngỏ thuộc huyện Hòa An, cùng với mười mấy gia đình dân tộc Tày khác.

Bà nhớ lại: “Chúng tôi được thông báo là phải chạy xuôi hướng nam… Tôi có thể nghe được tiếng súng ầm ĩ. Tôi đã sợ phát cứng cả người trong một lúc lâu mà không biết chuyện gì để làm.”

Gia đình bà Lịch đã chạy thoát an toàn.

Chỉ 18 ngày sau, cũng tại huyện Hòa An, theo tin tức thông báo thì quân Trung Quốc khi rút lui đã dùng dao rìu chém đến chết 43 người – hầu hết là phụ nữ và trẻ em.

Những hy vọng ngây thơ

Những cuộc tấn công của Trung Quốc đã nhắm vào lúc không chuẩn bị của người Việt Nam, bất chấp những tin đồn đại về một cuộc chiến được khởi xướng bởi nhà lãnh đạo khi đó của Trung Quốc Đặng Tiểu Bình được lan truyền đi mấy tháng trong phạm vi giới chính trị Việt Nam.

Một cựu viên chức ngoại giao hàng đầu tại tòa đại sứ Việt Nam ở Bắc Kinh, ông Dương Danh Dy, đã cảnh báo từ đầu năm 1978 rằng mối quan hệ song phương giữa Hà Nội và Bắc Kinh đang xấu đi từng ngày.

Vào tháng 7-1979, sau cái điều mà Bắc Kinh xem là hành động ngược đãi đối với người Hoa đang sinh sống tại Việt Nam, Trung Quốc đã ngưng những trợ giúp cho người láng giềng của mình, thúc đẩy Hà Nội ký kết một hiệp ước “hợp tác và hữu nghị” với Moscow ngay liền sau đó.

Cùng khoảng thời gian đó, Hà Nội tăng cường những nỗ lực của họ để lật đổ người đồng minh của Bắc Kinh, chế độ Mao-ít của Khmer Đỏ.

Cuộc xung đột đẫm máu giữa Việt Nam và Cambodia đã đánh dấu cuộc chiến tranh lần đầu tiên giữa hai quốc gia cộng sản.

Nhà lãnh đạo họ Đặng đã thề sẽ “dạy cho Việt Nam một bài học”.

Ông Dương Danh Dy, ám chỉ tới một bản tin trên truyền hình của nhà lãnh đạo Trung Quốc (Đặng TB) vào tháng 12-1978, đã nhớ lại: “Tôi không bao giờ quên được vẻ mặt của ông ta khi ông ta mô tả Việt Nam như là một “tên cồn đồ”.

“Vào giai đoạn đó, tất cả chúng tôi đều nghĩ rằng ‘thế là xong, một cuộc chiến tranh không thể nào tránh được nữa’, ông Dy nói.

“Nhưng sâu thẳm bên trong chúng tôi vẫn hy vọng, có lẽ do ngây thơ, rằng kể từ khi Việt Nam và Trung Quốc trước đó rất gần gũi nhau và như thể anh em, họ [người Trung Quốc] sẽ không trở mặt đối với chúng tôi quá nhanh và quá mạnh mẻ như vậy.”

Bị cô lập

Thay vào đó, Bắc Kinh đã huy động hàng trăm ngàn binh lính và quân tình nguyện vào một chiến dịch quân sự lớn nhất của họ kể từ cuộc Chiến tranh Triều Tiên.

Trong khi đó, Việt Nam đã bị rơi vào một tình thế khó khăn, phải đối phó với cuộc xung đột với người Cambodia và tái xây dựng lại một nền kinh tế gần như sụp đổ.

Vị cựu thứ trưởng bộ ngoại giao Việt Nam, ông ta đang tại chức khi cuộc chiến tranh biên giới bắt đầu, đã nói rằng thứ chủ nghĩa biệt lập của đất nước ông (trước đó) đã làm cho quốc gia dễ bị tổn hại.

“Chúng tôi đã quá lệ thuộc vào những bạn đồng minh ý thức hệ của chúng tôi, và vào thời đó người đồng minh duy nhất mà chúng tôi có là Liên Xô,” ông Trần Quang Cơ nói.

“Là một nước nhỏ cận kề một nước lớn, chúng tôi cần phải có nhiều bạn hơn. Chúng tôi cần mở rộng các mối quan hệ của mình và đa dạng hóa các mối quan hệ của chúng tôi.” [1]

“Cuộc chiến để dạy dỗ” của Trung Quốc đã kéo dài chỉ hơn hai tuần, với cả hai phía Việt Nam và Trung Quốc đều tuyên bố chiến thắng.

Mặc dù còn phải bàn cãi, song những ước tính hiện đang cho thấy rằng có tới 60.000 người đã thiệt mạng của cả hai bên.

Cũng như những mất mát về sinh mạng, sự tin cậy và tình nghĩa anh em mà hai đảng cộng sản này từng tranh đấu để xây dựng trong suốt nửa thế kỷ trước đã phải chịu một cú đấm dữ dội.

Trong cuốn hồi ký Nhớ lại và Suy Nghĩ của mình, ông Trần Quang Cơ đã trích dẫn lời nói của nhà lãnh đạo vừa qua đời của Việt Nam ông Võ Văn Kiệt khi phát biểu vào năm 1991 – là năm mà hai nước nầy bình thường hóa quan hệ — rằng Trung Quốc “luôn luồn là một cái bẫy”.

‘Thỏa hiệp quá đáng’

Thái độ nghi ngờ lẫn nhau đã lay lắt qua nhiều năm, đôi lúc lại loé lên khi những cuộc tranh cãi giữa đôi bên diễn ra.

Việt Nam đã nhìn thấy những cuộc phản kháng đông đảo vào tháng 12-2007, khi được tin Trung Quốc loan báo những kế hoạch thiết lập một đơn vị hành chính để quản lý các quần đảo Trường Sa và hoàng Sa – những vùng lãnh thổ đã được tuyên bố quyền bởi Việt Nam.

Một cuộc biểu tình nhỏ hơn đã xảy ra khi ngọn đuốc Olympic Bắc Kinh đến Thành phố Hồ Chí Minh.

Tuy nhiên, những phản kháng như vậy là chuyện không thường xuyên.

Nội đang cố gắng rất nhiều để không làm nguy hiểm những quan hệ nồng ấm với người láng giềng khổng lồ của họ. Cả Việt Nam và Trung Quốc dường như không muốn lặp lại những kinh nghiệm cay đắng của năm 1979.

Với tăng trưởng thương mại song phương nhanh chóng phát triển và một hiệp định biên giới trên đất liền được mong đợi sẽ sớm thông qua lần cuối sau 35 năm thương thảo, một số người cho rằng các mối quan hệ giữa hai quốc gia này hiện tốt đẹp chưa từng thấy.

Chính quyền Việt Nam bởi vận đang theo dõi chặt chẽ những gì mà các phương tiện truyền thông viết về các mối quan hệ Việt nam-Trung Quốc – đặc biệt là những vấn đề nhạy cảm như chủ quyền về biên giới và lãnh thổ.

“Trung Quốc đang ngày càng mạnh hơn nên Việt Nam cần học cách khôn ngoan hơn để làm sao cùng tồn tại được với họ,” theo lời nhà ngoại giao cao cấp Lê Công Phụng.

Vào tuần trước, tờ báo Sài Gòn Tiếp Thị đã cho đang tải trên trang web của mình một bài báo của nhà báo nổi tiếng Huy Đức về cuộc chiến biên giới năm 1979. Bài báo đã bị gỡ xuống chỉ trong vòng có vài giờ [nhưng nó vẫn còn nguyên trên tờ báo giấy – Ba Sàm chú thích].

“Chúng tôi đã và đang thủy chung với lời hứa của chúng tôi là không đưa ra những sự kiện cũ vì lợi ích của mối quan hệ giữa hai nước,” theo lời ông Dương Danh Dy, người giờ đây là một trong những chuyên gia hàng đầu của Việt Nam về Trung Quốc.

Lập trường chính thức của nhà nước đã và đang bị công chúng chỉ trích là quá nhu nhược và quá thỏa hiệp.

Các diễn đàn trên mạng Internet và những blog cá nhân tràn ngập những lời bình luận chống Trung Quốc khi ngày kỷ niệm cuộc chiến biên giới tới gần.

Trên tờ tạp chí Du Lịch, một bài tiểu luận gần đây vướt qua khỏi hệ thống kiểm duyện nhà nước, đã ca ngợi “lòng yêu nước trong sáng và tinh thần tự hào” của những người tham gia biểu tình chống Trung Quốc tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí minh.

Khi ngọn lửa dân tộc chủ nghĩa này bùng cháy lên, câu hỏi là liệu nó có lan tỏa như ngọn lửa hay không sẽ phụ thuộc vào những ch
ính sách của cả hai nhà nước đối với nhau.


Hiệu đính: Trần Hoàng


Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2009

[1] Các bạn suy nghĩ xem cán bộ ta luôn luôn gọi Mỹ là bọn xâm lược, đúng không? Rất nhiều bạn nghe vậy cứ nói theo y chang “đế quốc Mỹ là bọn xâm lược “… nhưng các bạn ấy không hề suy nghĩ điều ấy có đúng hay không. Các bạn đọc xem đoạn dưới đây rồi suy nghĩ để luyện tập tính phản biện của mình và viết comment trả lời xem sao :)

Canada dân số 33 triệu người, ở sát bên “đế quốc Mỹ xâm lược” có dân số là 320 triệu người. Như vậy Canada có dân số bằng 1/10 của Mỹ. Mexico có 106 triệu người ở sát nách với đế quốc Mỹ xâm lược, với dân số gần bằng 1/3 của Mỹ.

Nếu Mỹ là bọn chuyên đi xâm lược thì Mỹ sẽ chiếm đất đai, tài nguyên, dầu mỏ …của 2 nước nầy cho gần gủi, đúng không? Vậy thì tại sao 50 năm qua, Mỹ không xâm lược chiếm đất đai của 2 nước nầy mà chạy qua VN làm gì cho xa xôi?

Thêm một cái cớ để cho Mỹ tìm cách gây hấn và xâm lược là nhân dân Mỹ bị mất 4 triệu việc làm bởi “chính sách thâm độc” của Canada và Mexico như sau: Thực tế 50-60 năm qua, Canada đưa ra chính sách chính phủ bảo hiểm sức khỏe cho toàn dân, các công ty không phải trả tiền bảo hiểm sức khỏe cho công nhân và gia đình. Biết vậy, nên 3 hãng xe hơi của Mỹ (Ford, GM, Chrysler, kế cả Toyota, Honda, Nissan, Mazda…) và hàng ngàn công ty Mỹ đã đóng cửa hãng ở Mỹ, cho công nhân Mỹ nghĩ việc, và gom đồ đạc máy móc chở qua Canada thuê nhân công Canada và trả lương ít hơn cở chừng 10%, đã vây lại không cần trả tiền bảo hiểm sức khỏe cho công nhân (lợi được khoảng $6000-7.500/1 người/ năm).

Mexico thì không bảo hiểm cho ai hết, đau ốm cứ vào nhà thương tư, không có tiền ráng chịu…hàng ngàn hãng xưởng của Mỹ dời qua Mexico và lấy đi của Mỹ khoảng 1,5- 2 triệu nhân công.

Nếu Mỹ là bọn xâm lược, thì tại sao không nhân cơ hội công nhân Mỹ bị mất việc làm và sẵn 2 nước nầy có nguồn tài nguyên rất nhiều…tại sao Mỹ không tìm cách lấn đường biên giới, dời cột mốc, và gây hấn chiếm 2 nước Canada và Mexico nầy cho gọng?

Điều quan trọng là chọn bạn mà chơi. Ai mà chơi với quĩ dữ thì bản thân của người ấy cũng là ma bùn chứ không tốt lành gì đâu.

Việt Nam có cái tài nguyên gì quí giá quá đến nổi Mỹ cần phải xâm lượt chiếm lấy miền Nam cho bằng được, nên trung bình Mỹ phải bỏ ra hơn 22 tỉ đô la / 1 năm (số tiền tổng cộng Mỹ đã bỏ ra trong chiến cuộc Việt Nam là 550-600 tỉ đô la theo thời giá ngày nay) và thiệt hại 58 ngàn người và hàng trăm ngàn người bị thương tật?

—————————————————

BBC

———–

Vietnam tense as China war is mark ed

By Nga Pham
BBC News

Monday, 16 February 2009

Vietnam is marking the anniversary of its border war with China with an uneasy quiet, as official channels avoid mentioning the events of 30 years ago.

But simmering nationalistic emotions are being brought to the surface by painful memories.

Hoang Thi Lich, 72, remembers vividly the morning of 17 February 1979, when she and her family woke to a suffocating sense of panic in the mountains of Cao Bang.

As dawn broke, China launched attacks on a number of positions in Vietnam’s northernmost provinces with a staggering display of so-called “human waves” and artillery power.

Mrs Lich’s family was quickly evacuated from her small hamlet in Hoa An district, along with a dozen other ethnic Tay families.

She recalls: “We were told to run southwards… I could hear loud gunfire. I was so frightened I froze for a long while, I did not know what to do.”

Mrs Lich’s family escaped to safety.

Just 18 days later, in the same Hoa An district, retreating Chinese soldiers reportedly hacked to death 43 people – mostly women and children.

Naive hopes

The Chinese attacks caught the Vietnamese off-guard, despite rumours of a war initiated by China’s then-leader Deng Xiaoping circulatin
g for months within Vietnamese political circles.

A former top official at Vietnam’s embassy in Beijing, Duong Danh Dy, warned from early 1978 that the bilateral relationship between Hanoi and Beijing was worsening by the day.

In July 1978, after what Beijing considered mistreatment of ethnic Chinese living in Vietnam, China halted assistance to its neighbour, prompting Hanoi to sign a “co-operation and friendship” pact with Moscow soon after.

Around the same time Hanoi intensified its efforts to topple Beijing’s ally, the Khmer Rouge’s Maoist regime.

The bloody Vietnam-Cambodia conflict marked the first ever war between two communist nations.

Chairman Deng vowed to “teach Vietnam a lesson”.

Vietnam’s Duong Danh Dy, refer ring to a televised news briefing by the Chinese leader in December 1978, recalled: “I would never forget his face when he described Vietnam as a ‘hooligan’.

“At that stage, we all thought ‘that’s it, a war is no longer avoidable’,” Mr Dy said.

“But deep down inside we still hoped, perhaps naively, that since Vietnam and China had been so close and brotherly, they [the Chinese] wouldn’t turn on us so fast and so strongly.”

Isolation

Instead, Beijing mobilised hundreds of thousands of troops and volunteers in its largest military operation since the Korean War.

Vietnam, meanwhile, was in a difficult situation having to deal with its Cambodian conflict and reconstructing a near-collapsed economy.

Vietnam’s former first deputy foreign minister, who was in office when the border war began, said his country’s isolationism had left it vulnerable.

“We were too dependent on our ideological allies, and by that time the only ally we had was the Soviet Union,” said Tran Quang Co.

“Being a small country living next to a big country, we needed more friends. We needed to expand our ties and diversify our relations.”

China’s “pedagogical war” lasted just over a fortnight, with both Vietnam and China claiming victory.

Though disputable, estimates suggest that up to 60,000 lives were lost on both sides.

As well as the loss of life, the trust and fraternity that the two communist parties had struggled to build during the previous half a century suffered a severe blow.

In his memoir Memories and Thoughts, Tran Quang Co cited Vietnam’s late leader Vo Van Kiet as saying in 1991 – the year the two countries normalised their relationship – that China “was always a trap”.

‘Too compromising’

The mutual distrust has lingered through the years, occasionally flaring when bilateral disputes occur.

Vietnam saw mass protests in December 2007, when China reportedly announced plans to establish an administrative unit to govern the Spratly and Paracel islands – territories claimed by Vietnam.

A smaller demonstration took place when the Beijing Olympic torch reached Vietnam’s Ho Chi Minh City.

However, such protests are uncommon.

Hanoi is trying hard not to jeopardise the warming ties with its giant neighbour. Neither Vietnam nor China seem to wish to repeat the bitter experience of 1979.

With bilateral trade rapidly growing and a land border agreement expected to be finalised soon after 35 years of negotiations, some say relations between the two are the best they have ever been.

The Vietnamese government is therefore keeping a close eye on what the media write about Vietnam-China relations – especially sensitive issues such as border or territorial claims.

“China is getting stronger so Vietnam needs to learn more [cleverly] how to co-exist with it,” said senior diplomat Le Cong Phung.

Last week, the newspaper Saigon Tiep Thi published an article by well-known journalist Huy Duc on the 1979 border war on its website. The story was removed within hours.

“We have been faithful to our promise not to bring up old events for the sake of the relationship between the two countries,” said Duong Danh Dy, who is now one of Vietnam’s leading China experts.

The official stance has been condemned by the public as too soft and too compromising.

Internet forums and personal blogs are flooded with anti-China comments as the anniversary of the border war approaches.

In the Du Lich newspaper, a recent essay slipped past the state censors, praising the “pure patriotism and proud spirit” of the anti-Chinese protesters in Hanoi and Ho Chi Minh City.

As this nationalistic flame burns, the question of whether it will spread like wildfire depends on both governments’ policies towards each other.


Posted in Uncategorized | 4 Comments »

Du Lịch Mã Lai Á 2009 (bài 2)

Posted by hoangtran204 trên 16/02/2009

Một chuyến nghỉ đông [2]

Tác Giả Trương Như Thường 12-2-2009
Ghé Tới Phố Tàu (China Town)
Chật chội, đông đúc, kém vệ sinh là đặc điểm của các khu phố Tàu trên toàn thế giới. Phố Tàu của KL không là một ngoại lệ. Chưa hết, thêm đặc điểm “trả giá” nữa. Không trả giá là sẽ bị mua lầm!

Anh bạn tôi dặn rằng chỉ trả 1/3 là đúng giá. Tôi chưa tin lắm. Cái áo ngắn tay họ đòi 45 RM, tôi trả 20, họ bán ngay! Thế là mình mua hố mất 5 RM. Ðúng lý, chỉ phải trả 15 RM mà thôi. Ðể chứng minh, bạn tôi hỏi giá một cái áo ngủ bằng lụa cho đàn bà; họ thách 95 RM, bạn tôi trả giá 30 RM, tới lui một vài câu, qua lại một vài giá, rồi bỏ đi, họ kêu lại chịu bán. Anh bạn của tôi hay thật! Ảnh mua luôn hai cái, vừa rẻ lại vừa tiện. Ðặc biệt ở đây là dù mình trả giá thật thấp, họ không chịu bán, mình cười trừ rồi đi luôn mà vẫn bình an vô sự. Ở Việt-Nam phải cẩn thận hơn nhiều! Lạng quạng là bị nghe chửi!

Vật dụng hằng ngày được bày bán đầy đủ như áo quần, dày dép, máy móc, vật dùng gia chánh, đồ chơi con trẻ. Phẩm chất mới xem qua, tưởng chừng là hàng nhập cảng của Made in China. Giá cả rất phải chăng. Hỏi kỹ ra, mới biết là được sản xuất chính hiệu tại Malaysia.

Hàng Mã có thể cạnh tranh ngang cơ với hàng Tàu. Nguyên nhân xa và nguyên nhân gần, được tóm tắt như vầy: (1) lực lượng lao động thiện nghệ, giá thành rẻ; (2) giới sản xuất đa số là người-Mã-gốc-Hoa, có chí làm giàu; (3) giới nhân công lại được chính quyền bảo vệ bằng luật pháp nghiêm minh; và nhất là có (4) các công đoàn độc lập rất hữu ích, giúp cho người lao động tránh cảnh bị chủ bóc lột. Hậu quả là, hàng sản xuất của Mã còn có thể xuất khẩu ra ngoài, cạnh tranh cùng khắp thế giới.

Lực lượng lao động của Mã vào năm 2007 có 10.94 triệu nhân lực, với tỉ số 3.6% thất nghiệp, mang đến 186.5 tỉ đôla Mỹ cho tổng sản lượng quốc nội (GDP) với độ tăng trưởng là 6.3%. Ðây là những chỉ dấu phát triển kinh tế rất hiệu năng, nâng xứ Malaysia thành một trong những con rồng nhỏ, lượn dưới vòm trời Ðông-Nam-Á.

Kể từ năm 2005, nhân lực Mã chia ra 51% làm dịch vụ, 36% cho kỹ nghệ, và chỉ còn 13% dựa vào nông nghiệp. Giới kỹ nghệ đang cần thêm một số nhân công để có thể phát triển lớn mạnh trong tương lai. Do đó, các nhà sản xuất Mã-Lai có nhu cầu nhập cảng nhân công ngoại quốc, vì nhân công rẻ, đặc biệt là cho các ngành may mặc, điện tử, và xây cất.

Một số hãng với chủ nhân và ban giám đốc, thường là người Mã-gốc-Tàu, rất chuộng nhân công nhập cảng người Việt để làm công việc, chỉ vì giá nhân công khá rẻ, và nhất là không bị ràng buộc bởi luật pháp Mã-Lai, không theo lương bổng tối thiểu, cũng như không bị các tổ chức lao động địa phương can thiệp. Các hãng xưởng ở những bang xa như Malacca, Johor ở miền nam; và Kedah, Perak, và Terengganu ở miền bắc là những trung tâm sử dụng đến cả trăm ngàn nhân lực lao động người Việt.

Ðây cũng chính là các món quà béo bở cho chính quyền Việt-Nam xuất cảng: bán lao động người Việt sang Mã-Lai, qua trung gian của các công ty môi-giới (chủ của các công ty môi giới nầy là con cái của đám cán bộ cao cấp ở Hà Nội và Sài Gòn — theo báo chí VN), ở giữa lấy tiền huê hồng. Sản phẩm bày bán tại thương trường hào nhoáng bao nhiêu, một phần, do công khó của người lao động Việt-Nam bấy nhiêu (Made-in-Malaysia-by-imported-Vietnamese-labors).

Ngày Bốn: Thứ Sáu, 9 Tháng Giêng

Bác Tài-xế Teksi Người-Mã-gốc-Ấn
Mấy ngày qua, tôi đã thử nhiều loại xe công quản chuyên chở khác nhau. Hôm nay làm sang, chúng tôi lấy teksi dạo phố chơi thử. Một chuyến taxi (teksi) không nên trả quá 20 RM, vừa phải là 10 RM. Ðây là lời khuyến cáo của bác tài-xế, tên Aru, người Mã-gốc-Ấn, dặn anh bạn tôi như thế, trong những lần đi trước.

Nhờ vào kinh nghiệm này mà anh bạn tôi rất sành điệu trong việc đối phó với các bác tài-xế teksi. Lên xe, bảo chỗ mình muốn đến, và đừng bao giờ mở miệng hỏi “how much”. Tại sao lại phải hỏi giá cả? Bởi vì tài-xế teksi ở KL, đại đa số, cố ý không bao giờ mở máy đồng hồ; cho đến khi xuống xe, mình hỏi họ tốn bao nhiêu, thì tha hồ họ chém. Lắm khi, tốn đến gấp đôi ba lần của giá đúng (giá tính theo đồng hồ được mở). Trong thành phố KL, từ bắc xuống nam, từ đông sang tây, cao tay lắm là khoảng 10 đến 15 RM là cùng, khi đồng hồ được mở. Khi xuống xe, cứ đưa cho tài-xế 10 RM. Nếu họ đòi 20 RM, thì hỏi họ ngược lại: sao anh không mở máy đồng hồ? Nếu họ không chịu giá mình trả, bảo họ mời cảnh sát đến. Thế là êm ngay! Không chịu mở máy đồng hồ thì sao tính giá chính xác được. Chịu êm với giá 10 RM là phải!

Dân Mã, tương đối tuân thủ kỷ luật, theo gương Singapore, ngoại trừ các bác tài-xế teksi: không chịu mở đồng hồ. Nhưng mấy bác cũng biết sợ cảnh sát lắm! Một lần nữa, đây là lời khuyến cáo quí báu của bác tài-xế Aru! Anh bạn tôi đã chứng minh một cách tài tình bằng chuyến đi teksi, từ Jalan Alo đến Beach Club: tốn chỉ có 10 RM.

Beach Club: Thiên Ðàng Ðịa Ngục Hai Bên! Bác tài-xế Aru cũng cho biết: tại bar Beach Club ở trên đường Jalan Sultan Ismal, có nhiều gái giang-hồ từ Việt- Nam sang làm ăn lắm. Mỗi đêm có
tới mấy chục cô. Rất trẻ, độ 20, 30 tuổi mà thôi. “Thật vậy sao anh Aru?” bạn tôi hỏi. “Không tin tôi, thì mấy anh cứ đi xem thử!”, Aru trả lời liền một cách thách đố. Lâu lắm rồi, có một lần ở bên Mỹ, mấy anh học trò trong lớp tôi ăn liên hoan mãn khóa, chúng rủ/đãi tôi đi quán bia ôm. Ði một lần cho biết. Tôi tỡn tới già luôn! Nay có người thách đố đi thăm “chị-em-ta”, trong lòng tôi cũng hơi nao núng; nhưng có gì đâu mà sợ! Biết đâu thâu thập được nhiều chuyện hay, về kể lại cho bà con nghe chơi! Qua Mã du lịch, lại nghe đến vụ “chị-em-ta”, chưa biết thực hư như thế nào. Nếu mình vững tin, không ngán lời thách thức, đi thử một lần. Bụng bảo dạ, vào bar làm quen, tà tà nói chuyện, hỏi rõ ngọn ngành đầu đuôi. OK, cứ vào Beach Club xem thử! Bar khá rộng rãi, có chừng năm, sáu chục khách đang ngồi uống nước. Chung quanh quán không có vách ngang, đèn đuốc mơ-mơ-huyền-huyền, khoảng 30 chục bàn vây quanh một sàn nhảy. Quầy rượu đủ loại, chạy dài từ hành lang ngoài đường, lấn sâu vào tới vách bên trong. Một vài cặp nam thanh nữ tú đứng ngồi hàn huyên bên quầy rượu một cách êm thắm. Thấy có vẻ đầm ấm lắm! Rãi rác đó đây, từng nhóm dăm ba cô gục gật đầu trò chuyện. Cô nào cô nấy, ngực mông đồ sộ, lộ khoe hương sắc. Ðồ sơn đồ thiệt, khó lòng phân biệt, vì đèn đuốc tối thui, lờ mờ chừng 60 watts.

Giờ nầy còn hơi sớm, mới 9 giờ tối, thiên hạ vào cửa miễn phí. Giá nước uống gấp đôi bên ngoài. Tiếp đãi viên toàn là phái nam. Sau 10 giờ, bar sẽ được dựng rào bao quanh bằng dây vải với cổng ra vào, đàn ông vào cửa giá 10 RM một mạng, đàn bà tự do tung tăng thả giàn. Ðiều nghiên tình thế kỹ càng, ba anh em chúng tôi chững chạc bước vào bar. “Ðừng ngồi gần quầy rượu, nhạc ồn lắm, ra xa xa ngoài nầy, dễ nói chuyện hơn!” anh bạn tôi nói hơi lớn, nói bằng tiếng Việt, để chúng tôi nghe cho rõ. (Cố ý cho người chung quanh, nếu là người Việt, nghe cũng rõ luôn). Ba cô từ xa rà tới. Ráp vô liền. “Ủa, mấy anh là người Việt hả?”, giọng một cô lộ vẻ mừng rỡ. Cô thứ nhì, độ trên dưới 30, lặng thinh, không nói năng chi cả, kéo ghế tự động ngồi xuống. Cô thứ ba xổ một tràng tiếng Hoa, nhưng thấy cả đám xài tiếng Việt, cô ta bẻn lẻn bỏ đi. Dù sao, cùng một ngôn ngữ cũng dễ bắt mối hơn. Cô thứ nhất, quay đầu vào một hướng tối vẩy tay, hai cô khác đứng trong góc chạy tới, toàn là bà con Việt-Nam cả. Chúng tôi mời vào ngồi bàn sâu phía bên trong để hỏi chuyện. Bốn bà và ba ông, người Việt tứ xứ, không đếm xỉa gì đến chuyện người mua kẻ bán, chỉ dùng tiếng Việt để thổ lộ cảnh đời ngang trái. Vừa uống nước sinh tố, đủ loại trái cây miền nhiệt đới, lại nghe chuyện tha phương cầu thực của người đồng hương với những chi tiết éo le như được đi xem một vở kịch chứa đầy đủ những yếu tố bi-hài-ái-ố. Bốn mẩu chuyện đời, từ bốn người đẹp, được kể lại khác nhau, nhưng tựu trung đều hướng về một mối: đất nước nghèo túng, chính phủ không thể cung ứng bối cảnh sinh sống thích đáng, khiến người dân phải tìm đường bung ra ngoài biển làm ăn. Thứ nhất, cô TR. trẻ nhất, mới 25 tuổi, đã có bằng đại học nhưng kiếm không ra việc, bạn rủ qua Singapore tìm việc tốt, dính chấu! Cô PH., thứ nhì, có hai con, chồng thất nghiệp lại thêm bịnh; cô phải chạy băng qua cốc bên Thái-Lan (Bangkok), thoát ly tìm đường cứu gia đình. Cô TH., thứ ba, lấy/theo chồng Ðại-Hàn được hai năm, không chịu nổi xứ lạnh: lạnh khí hậu chỉ một, nhưng lạnh thế thái nhân tình tới mười, bèn ly dị đổi nghiệp mới; may mắn chưa có mụn con nào để lo, đã có kinh nghiệm hành nghề hai năm tại Singapore. Thứ tư, cô H. lớn nhất, được 34 tuổi, có một con, có nhà cửa nhưng vừa mới ly thân; buôn bán nhà đất thất bại, bon chen thương trường lỗ vốn; nghe theo lời cô TH. rủ rê tìm cách phá vòng vây túng quẩn vì không còn gì để mất; mới qua KL được một tháng, tối ngày vái van rồi than khóc!

“Ðang sống ngon lành ở Singapore, chạy qua đây chi vậy?”, anh bạn tôi nóng lòng, nhắm vào cô TH. hỏi thẳng. “Tụi em làm ăn khá lắm…”, cô TH. đáp lời ngay, “… mỗi tuần có thể kiếm được năm, sáu trăm đôla dễ dàng; nhưng bị con mẹ Bình chạy qua Singapore a-tòng với bọn cảnh sát bố ráp, làm tụi em chạy thụt mạng!”. Cô TR., có vẻ ăn học hơn, giải thích: “Bị chính phủ Singapore làm áp lực dữ lắm, nên bả (ám chỉ bà Nguyễn Thị Bình) tuyên bố không bắt đủ 5,000 gái chơi thì không về”; cô H. cười nhạo: “Mới có ba tuần, mà bả hốt được 7,000 gái VN, chắc con mẻ đem về Sài-Gòn làm nem cho chồng nếm thử”. Cô TH. kết luận: “Tụi em bị động ổ, nên chạy qua KL lánh nạn!”.

Mấy cô than lắm! Cả hai ba tuần rồi mà mối vô ít quá, không đủ tiền sống; bốn cô phải tụ lại ở chung một chỗ, tiền nhà là 600 RM một tháng. Sáng nào, cô H. cũng đốt nhang, cúng vái ông bà cho mọi việc hanh thông lợi lộc; nhưng cả tuần qua không có mối vô, con gái 9 tuổi từ Sài-Gòn lại gọi qua nhớ mẹ than khóc.

Cô H. vừa kể vừa cúi gầm mặt, nhưng với giọng nói không lộ vẻ hối tiếc. Không thể ngờ được, cô H. nói rặt giọng Nam, tuy sinh từ Bắc nhưng lớn ở trong Nam, lại có cha làm thiếu tướng gốc Nghệ-An, đánh trận Kăm-pu-chia, sau đó về hưu và hiện nay tối ngày lo kinh kệ. Cô cho biết, ông bố cô ta buồn phiền và hối hận về quá khứ lắm, nhưng không biết vì lý do gì; ổng bỏ lại con cháu trong Nam và về miền Bắc lo chuyện tu hành, không tha thiết gì với cảnh trần tục nữa!

Nói chuyện với mấy cô nầy, càng khuya càng thấy ấm lòng. Phần nào, nó phá bỏ được thành kiến về chị-em-ta trong đầu óc thanh giáo của tôi. Nếu mình không hiểu rõ hoàn cảnh xã hội của đất nước, chưa thấy được sự bất xứng của chính phủ và bất lực của lãnh đạo, thì rất dễ hiểu lầm và khó thứ tha nỗi đau khổ của người dân. Tôi ngáp dài vài cái, bạn tôi hiểu ý. Anh ta tặng cho mỗi cô một số tiền “bo” rất hậu hỉnh (“bo” từ chữ pour boire của Pháp, có nghĩa là tiền trà nước, giống như tiền “tip” của tiếng Anh). Các cô vui vẻ, cám ơn, và chào từ giã. Thật là một bài học sáng mắt cho tôi tối nay, mặc dù mắt nhắm mắt mở vì buồn ngủ. Ngày mai chúng tôi định đi chơi xa để thăm bang Melaka.

(Còn tiếp)

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

►Chiến Tranh Biên Giới Việt Trung 17/2/1979 (bài 3)

Posted by hoangtran204 trên 16/02/2009

Tiết lộ mới về cuộc chiến 1979

Đúng 27 năm trước đây, ngày 17-2-1979, Trung Quốc đưa quân tràn qua biên giới Việt Nam sau nhiều tuần căng thẳng.

Trong nhiều năm, nguồn tư liệu của phía Trung Quốc về cuộc chiến vẫn thuộc vào hàng danh sách mật, và thông tin chính thức chỉ có lẻ tẻ.

Tuy vậy, gần đây nhiều tư liệu lưu hành nội bộ về cuộc chiến năm 1979 đã được công bố, cộng thêm một số hồi ký của các sĩ quan cao cấp.

Một trong những câu hỏi chưa có lời giải đáp chi tiết là khi nào và làm thế nào Bắc Kinh đã ra quyết định có hành động quân sự chống Việt Nam.

Những tư liệu mới

Trong hồi ký của Zhou Deli, tham mưu trưởng của Quân khu Quảng Châu, nhớ lại rằng vào tháng Chín 1978, một cuộc họp về “cách giải quyết vấn đề lãnh thổ bị quân Việt Nam chiếm đóng” đã diễn ra tại văn phòng tham mưu trưởng quân đội nhân dân Trung Quốc.

Sự tập trung ban đầu là nhắm vào cuộc xung đột biên giới, và đề xuất đầu tiên muốn có một cuộc tấn công nhỏ vào một trung đoàn Việt Nam ở Trùng Khánh, ráp gianh Quảng Tây.

Nhưng theo hồi kí của Zhou Deli, sau khi nhận được tin tình báo cho biết Việt Nam sẽ tấn công Campuchia, đa số người dự họp cho rằng một cuộc tấn công cần có tác động lớn đến Hà Nội và tình hình Đông Nam Á.

Họ đề nghị tấn công vào một đơn vị quân chính quy Việt Nam ở một khu vực địa lý rộng hơn.

Mặc dù cuộc họp kết thúc mà không đưa ra quyết định nào, nhưng nó tạo tiền đề cho kế hoạch chiến tranh sau đó.

Tháng 11-1978, Đặng Tiểu Bình công du Thái Lan, Malaysia và Singapore. Trong chuyến đi, ông Đặng nói với các vị chủ nhà rằng Trung Quốc sẽ dùng vũ lực nếu Việt Nam tấn công Campuchia.

Ngày 7-12, Ủy ban quân ủy trung ương có cuộc họp và quyết định mở một cuộc chiến hạn chế ở vùng biên giới phía nam của Trung Quốc.

Ngày hôm sau, họ ra lệnh cho các Quân khu Quảng Châu và Côn Minh tiến hành chiến dịch và chuẩn bị quân đầy đủ trước ngày 10-1-1979.

Chỉ thị nói rằng cuộc chiến sẽ tiến hành một cách hạn chế, trong phạm vi 50 cây số từ biên giới và kéo dài hai tuần.

Trong một nghiên cứu có thể nói là mới nhất về cuộc chiến Việt Trung 1979, vừa ra mắt tháng 12 năm ngoái, tác giả Xiaoming Zhang bình luận rằng thời điểm ra lệnh này chứng tỏ Trung Quốc phản ứng trước cuộc tấn công sắp xảy ra của Việt Nam vào Campuchia. Nhưng việc mở chiến dịch quân sự cả trước khi quân Việt Nam vượt qua sông Mêkông cũng cho thấy phản ứng của Bắc Kinh xuất phát từ nhiều năm bực bội vì hành vi của Việt Nam mà họ cho rằng đã “vô ơn” trước sự giúp đỡ trước đây.

Quyết định cụ thể

Tư liệu mới cho biết trong một cuộc họp vào ngày cuối năm 1978, Đặng Tiểu Bình chính thức đề nghị một cuộc chiến chống Việt Nam.

Tại cuộc họp này, ông Đặng bổ nhiệm Xu Shiyou lãnh đạo quân từ Quảng Tây, Yang Dezhi lãnh đạo quân từ Vân Nam. Quyết định này đã bỏ qua Wang Bicheng, lãnh đạo Quân khu Côn Minh.

Không có một sự lãnh đạo tập trung, hai quân khu này sẽ tác chiến độc lập, gần như không có sự hợp tác.

Cuộc họp cũng nhắc lại rằng cuộc xâm lấn phải nhanh, và toàn bộ quân phải rút về sau khi hoàn tất mục tiêu chiến thuật.

Ngay sau cuộc họp, Đặng Tiểu Bình gửi hai sĩ quan cao cấp đến Vân Nam và Quảng Tây kiểm tra tình hình.

Lo lắng trước sự trễ nải của quân lính, người kiểm tra ra đề nghị hoãn cuộc tấn công thêm một tháng.

Người kiểm tra này, Zhang Zhen, viết trong hồi kí năm 2003 rằng cấp trên đồng ý hoãn cuộc tấn công đến giữa tháng Hai 1979.

Ngày 23-1, Bộ Tổng tham mưu Trung Quốc họp và quyết định quân đội phải sẵn sàng hành động trước ngày 15-2.

Hai ngày sau khi ông Đặng trở về sau chuyến thăm Mỹ và Nhật, hôm 11-2-1979, ông ra quyết định sẽ tấn công Việt Nam vào ngày 17-2.

Lệnh này được gửi đến Quảng Tây và Vân Nam.

Nhiều nhà quan sát trước đây đã phân tích vì sao Trung Quốc chọn thời điểm này.

Có vẻ nó liên quan đến yếu tố thời tiết: sẽ khó khăn nếu đưa quân tác chiến vào mùa mưa, thường bắt đầu từ tháng Tư, và cũng không ổn nếu tấn công quá sớm khi quân Liên Xô có thể vượt dòng sông băng dọc biên giới Xô – Trung.

http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/story/2006/02/060217_borderwar_1979.shtml

—————–

Số thương vong trong cuộc chiến 1979

Tư liệu của Trung Quốc nói rằng từ đầu, Bắc Kinh hạn chế mục tiêu và cách tiến hành cuộc chiến để không vượt quá một cuộc xung đột biên giới với Việt Nam.

Kế hoạch của Trung Quốc gồm ba giai đoạn.

Giai đoạn đầu từ 17 đến 25-2, khi quân Trung Quốc, theo kế hoạch, sẽ phá vỡ hàng phòng thủ đầu tiên của Việt Nam và cướp lấy Cao Bằng, Lào Cai, cùng hai thị trấn Cam Đường và Đồng Đăng, cửa ngõ dẫn vào Lạng Sơn.

Giai đoạn hai là tấn công Lạng Sơn và khu vực bao quanh ở phía đông, Sa Pa và Phong Thổ ở mạn tây bắc, từ 26-2 đến 5-3.

Giai đoạn cuối là bình định và phá hủy các căn cứ quân sự ở khu vực biên giới với Trung Quốc trước khi rút về vào ngày 16-3.

Diễn biến cuộc chiến

Theo nhận định của Xiaoming Zhang trong một nghiên cứu đăng trên tạp chí China Quarterly tháng 12-2005, cuộc tấn công có vẻ đã làm Việt Nam bị bất ngờ.

Mặc dù có căng thẳng trong nhiều tháng, nhưng dường như các nhà lãnh đạo Việt Nam không tin rằng một “nước anh em” sẽ lại thật sự xâm lấn.

Khi quân Trung Quốc tràn qua biên giới, thủ tướng Phạm Văn Đồng và tổng tham mưu trưởng Văn Tiến Dũng đang ở Phnom Penh.

Trong lúc gửi điện khẩn nhờ Moscow giúp đỡ, phản ứng ban đầu của Việt Nam là “chống đỡ bằng mọi biện pháp, cốt sao làm chậm bước tiến quân của Trung Quốc.”

Đến ngày 20-2, các cố vấn Liên Xô kết luận quân Việt Nam thiếu sự điều phối và rằng các phòng thủ du kích sẽ không thể ngăn được quân đối phương.

Tuy nhiên, mặc dù có ưu thế lúc đầu, nhưng địa hình hiểm trở và sự chống cự quyết liệt của quân chính quy và dân quân Việt Nam khiến quân Trung Quốc lâm vào tình trạng khó khăn.

Tác giả Xiaoming Zhang phân tích một trong những vấn đề nằm trong cách nghĩ truyền thống của các tướng lĩnh Trung Quốc.

Nhiều lần, quân tiền phương kêu gọi không quân hỗ trợ, nhưng Bộ tổng tham mưu Trung Quốc không chịu mà lại yêu cầu hãy dựa vào pháo binh.

Các tướng lĩnh Trung Quốc thuộc về một truyền thống quen với cuộc chiến pháo binh và sử dụng biển người, và hạ thấp vai trò của không quân. Đây là một trong những lý do khiến số binh sĩ chết nơi trận địa lên rất cao.

Cuộc xâm lấn của Trung Quốc cũng phụ thuộc vào việc nhanh chóng chiếm được Cao Bằng.

Nhưng hai mũi tấn công không đến được mục tiêu trong vòng 24 tiếng. Khu vực đồi núi cùng kháng cự của dân quân Việt Nam tạo ra khó khăn lớn.

Việc đi chậm khiến Xu Shiyou, lãnh đạo cánh quân Quảng Tây, phải hoãn cuộc tấn công vào Cao Bằng, mặc dù phó tướng Wu Zhong đã đến sát thành phố này ở mạn phía đông và nam.

Đến ngày 23-2, Trung Quốc chiếm được Cao Bằng sau khi nhận ra nơi này chỉ có một số lượng nhỏ quân Việt Nam cố thủ.

Nhưng sự chậm chân khi chiếm Cao Bằng ngáng trở kế hoạch ban đầu của Trung Quốc, vốn nhấn mạnh việc tác chiến nhanh và quyết liệt.

Quân đội Việt Nam phân nhỏ thành nhiều đơn vị, và phản công theo lối du kích.

Bắc Kinh ngày càng trở nên lo ngại về tiến trình cuộc chiến, và hối thúc tư lệnh Quảng Tây mở cuộc tấn công vào Lạng Sơn càng sớm càng tốt.

Trận đánh Lạng Sơn bắt đầu ngày 27-2, và khu vực mạn bắc của thành phố này bị Trung Quốc chiếm được vào ngày 2-3. Đây cũng là ngày mà theo kế hoạch Trung Quốc sẽ dừng hoạt động quân sự.

Vì bộ máy tuyên truyền của Hà Nội không thừa nhận thất bại ở Lạng Sơn, Xu quyết định tiếp tục tấn công, với mục đích chiếm toàn bộ Lạng Sơn rồi hướng về Nam, tạo thành vị trí đe dọa Hà Nội.

Mặc dù Bắc Kinh đồng ý với quyết định của Xu, nhưng họ loan báo rút quân vào hôm 5-3, ngay sau khi quân Trung Quốc chiếm phần phía nam của Lạng Sơn và tuyên bố đã hoàn thành mục tiêu mà họ đặt ra.

Số thương vong

Cuộc chiến năm 1979 là hoạt động quân sự lớn nhất của Trung Quốc kể từ chiến tranh Triều Tiên.

Theo số liệu của nước này, họ đã huy động chín đội quân chính quy cùng các đơn vị địa phương quân, tổng cộng tương đương 300.000 quân.

Cho đến nay, Việt Nam công bố không nhiều các tư liệu liên quan cuộc chiến, và các con số về thương vong cũng khác nhau ở nhiều cuốn sách.

Phía Trung Quốc có tiết lộ một phần nào. Ban đầu Bắc Kinh nói 20.000 lính Trung Quốc đã bị chết hoặc bị thương.

Một số nguồn học thuật hiện thời ước tính có thể có đến 25.000 lính trung Quốc bị chết và 37.000 bị thương.

Những nguồn tài liệu gần đây hơn của chính Trung Quốc thì nói 6900 lính nước này đã chết và 15.000 bị thương.

Dù thế nào, số thương vong của Trung Quốc trong một cuộc chiến ngắn ngày vẫn là cao, thể hiện một trong những truyền thống quân sự của nước này: sẵn sàng chịu tổn thất nhân mạng khi nó được xem là cần thiết.

Các nhà lãnh đạo Trung Quốc xem thương vong là một tiêu chí tương đối không quan trọng miễn là họ tin rằng họ chiếm ưu thế trong tình hình chiến lược chung.

—————————–

Phần Ba: Trung Quốc rút ra bài học sau 1979

Đúng 27 năm trước đây, ngày 17-2-1979, Trung Quốc đưa quân tràn qua biên giới Việt Nam sau nhiều tuần căng thẳng.

Sau khi cuộc chiến ngắn ngày kết thúc, tất cả các đơn vị Trung Quốc tham chiến phải viết tường trình về kinh nghiệm chiến trường.

Trong vấn đề tổng kết cuộc chiến, Trung Quốc ở trong tình thế khó xử.

Một mặt, họ tuyên bố mình đã chiến thắng, nhưng đồng thời cũng phải thừa nhận những tổn thất mà quân Trung Quốc đã hứng chịu.

Ban lãnh đạo Trung Quốc cảm thấy cần phải có sự đánh giá khách quan tình hình. Tuy nhiên, tinh thần ái quốc và thành kiến văn hóa cũng khiến họ không đưa ra được những kết luận hoàn toàn khách quan.

Trong bài viết mới nhất về chủ đề này đăng trên tạp chí China Quarterly tháng 12-2005, tác giả Xiaoming Zhang cho biết quân đội Trung Quốc đã rút ra sáu bài học từ cuộc chiến 1979.

Thứ nhất, họ kết luận mọi chiến lược và quyết định quân sự đúng đắn phụ thuộc việc nắm bắt mọi khía cạnh của tình hình.

Cuộc chiến biên giới 1979 cho thấy Trung Quốc không mấy chú ý đến chiến thuật và học thuyết quân sự của Việt Nam trước khi tấn công. Vì thế, họ đánh giá thấp khả năng của đối phương.

Mặc dù chê Việt Nam thiếu khả năng tấn công và phòng thủ, nhưng văn bản chính thức của Trung Quốc cũng thừa nhận chiến thuật du kích và dân quân Việt Nam đã khiến Trung Quốc bị bất ngờ.

Bài học thứ hai là phải thu thập đầy đủ thông tin về tình báo.
Sự đánh giá địa hình địa vật của Trung Quốc thường dựa theo các bản đồ đã quá cũ, trong khi khả năng dò thám trên chiến trường lại cũng hạn chế.

Ngoài ra, Trung Quốc cũng tính nhầm số lượng các dân quân Việt Nam. Ban đầu, Bắc Kinh nghĩ tỉ lệ quân đội tham chiến giữa hai bên sẽ là 8-1.

Nhưng kết quả, riêng tại Cao Bằng có tới 40.000 – 50.000 dân quân Việt Nam, khiến tỉ lệ giảm chỉ còn 2-1.

Nâng cao khả năng

Bài học thứ ba Trung Quốc rút ra từ cuộc chiến liên quan đến khả năng tác chiến.

Đây là lần đầu tiên quân đội Trung Quốc thực hiện tác chiến với sự kết hợp của xe tăng, pháo binh, cộng với không quân và thủy quân.

Nhưng sự lạc hậu trong học thuyết và chiến thuật khiến quân đội không có sự phối hợp cần thiết.

Thành kiến đối với khả năng của không quân khiến binh chủng này không có đóng góp gì vào cuộc chiến ngắn ngày. Trên mặt đất, quân đội cũng chứng tỏ khả năng hợp tác kém giữa bộ binh, xe tăng và pháo binh.

Kinh nghiệm năm 1979 dạy cho Trung Quốc những bài học về kỹ năng điều phối và hợp tác giữa các binh chủng.

Bài học thứ tư là vấn đề về chỉ huy và kiểm soát.

Quan hệ cá nhân giữa các sĩ quan và quân đoàn vẫn đóng vai trò lớn hơn các quan hệ dựa trên những định chế.

Vì thế sau này lãnh đạo Quân khu Quảng Châu thừa nhận họ không thoải mái khi chỉ huy số quân được chuyển từ Vũ Hán và Thành Đô trong chiến dịch.

Bài học thứ năm là việc chứng tỏ Trung Quốc phải cải thiện hệ thống cung cấp hậu cần để hỗ trợ cho một chiến dịch xa nhà.

Vì thiếu kho bãi và thiết bị vận chuyển, hai Quân khu Quảng Châu và Côn Minh phải tự lập ra một hệ thống hậu cần mà không bao giờ hoạt động thật hiệu quả.

Khi quân đội tiến sâu vào lãnh thổ Việt Nam, các sĩ quan hậu cần cũng thấy rằng phải nhờ thêm viện quân để bảo vệ tuyến đường liên lạc.

Bài học cuối cùng liên quan tầm quan trọng của việc tuyên truyền và vận động nhân dân hỗ trợ cuộc chiến.

Kinh nghiệm năm 1979 cho thấy một số lượng khổng lồ lính chính quy Trung Quốc gần như không thể tác chiến ở nước ngoài nếu không có sự ủng hộ của thường dân trong nước.

Bộ máy tuyên truyền của Bắc Kinh đã cổ vũ tinh thần yêu nước và lòng tự hào trong nhân dân. Kết quả, chỉ riêng ở Quảng Tây, hơn 215.000 thường dân được huy động để khuân vác, bảo vệ hàng hóa chở ra trận địa.

Dĩ nhiên, ngày hôm nay không ai nghĩ rằng quân đội Trung Quốc sẽ lặp lại những gì đã làm trong cuộc chiến năm 1979 với Việt Nam.

Tuy vậy, một số điểm từ cuộc chiến này vẫn có thể có ích để nhìn nhận và đánh giá những chiến lược của quân đội Trung Quốc.

Một kinh nghiệm rút ra là các lãnh đạo Trung Quốc tính toán rất kỹ về việc khi nào cần dùng sức mạnh quân sự, nhưng họ không ngần ngại mở cuộc chiến nếu họ nghĩ rằng quyền lợi quốc gia bị đụng chạm.

http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/story/2006/02/060220_1979_lessons.shtml

Nhìn lại nhân vật Hoàng Văn Hoan

Ông Hoàng Văn Hoan-ảnh tư liệu Quốc hội khoá I Việt Nam dân chủ Cộng hoà (www.na.gov.vn)
Ông Hoàng Văn Hoan (ngoài bìa phải) với Hồ Chí Minh và các lãnh đạo Việt Nam
Một sự kiện quan trọng trong giai đoạn xung đột Trung – Việt hồi năm 1979 là vụ bỏ trốn của ông Hoàng Văn Hoan mà đến nay vẫn ít được nói đến.

Không chỉ với chính quyền Việt Nam và cả với dư luận quốc tế, việc một nhân vật cao cấp, công thần của chế độ bỏ đi theo kẻ thù của Hà Nội hồi đó là chuyện ‘động trời’.

Báo Time 20/08/1979 có bài đặc biệt về cuộc bỏ trốn của ông Hoàng Văn Hoan sang Trung Quốc.

Bài ‘Hanoi’s Push’ cho rằng vụ ông Hoàng Văn Hoan (1905-1991), nguyên phó chủ tịch Quốc hội, một đồng chí cũ của Hồ Chí Minh bỏ đi vào tháng 7/1979 và tố cáo chế độ là ‘cú giáng thứ nhì vào hình ảnh của họ’.

Cú giáng thứ nhất, như tờ báo Mỹ, là ‘cuộc tháo chạy của 900 nghìn người’ trong vòng bốn năm trước đó, nhắc đến các đợt thuyền nhân bỏ nước ra đi.

Về với Trung Quốc

Time đưa tin rằng tuần trước đó, ông Hoàng Văn Hoan, 74 tuổi, phát biểu tại Bắc Kinh cáo buộc Hà Nội đối xử với người Hoa ‘tệ hơn Hitler đối xử người Do Thái’.

Ông Hoan, cựu ủy viên Bộ Chính trị cho đến 1976, cũng cho rằng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của ông Lê Duẩn, đã ‘trở thành tay sai ngoại bang’, ám chỉ Liên Xô.

Bỏ trốn sang Trung Quốc, ông Hoan như trở về với những đồng chí chia sẻ quan điểm cộng sản kiểu Trung Quốc của ông.

Các tài liệu của Phương Tây từ 1966 đã xác định ông, cùng những ủy viên BCT khác như Lê Đức Thọ, Nguyễn Chí Thanh là ‘phái thân Trung Quốc’ (pro-Chinese).

Đại tá Bùi Tín, cựu Phó Tổng biên tập báo Nhân Dân, người cũng bỏ Việt Nam nhưng sang Phương Tây để vận động cho dân chủ, thì quan điểm ‘đặc sệt thân Tàu’ của ông Hoan đã được biết đến từ trước năm 1979.

Ông Bùi Tín nói ông Hoan xuất thân từ một gia đình Hán học, hoạt động nhiều
̀ năm ở Hoa Nam và ‘tiếp thu văn hóa, tư tưởng Trung Quốc trực tiếp từ nguồn’:

“Ông không đồng tình với quan điểm đứng giữa Liên Xô và Trung Quốc, ông theo phái nghiêng hẳn về Trung Quốc”.

“Ông không thấy Trung Quốc có hai mặt: cách mạng và bành trướng”.

Từng sang Trung Quốc hoạt động với bí danh Lý Quang Hoa cùng các ông Võ Nguyên Giáp và Phạm Văn Đồng, Hoàng Văn Hoan trở thành nhân vật cao cấp phụ trách ngoại giao của Việt Minh.

Lê Duẩn đã phản bội đường lối Hồ Chí Minh và làm hại tình hữu nghị với Trung Quốc
Quan điểm của Hoàng Văn Hoan

Sau đó ông được Hồ Chí Minh, người đồng hương Nghệ An, cử làm đại sứ đầu tiên của VNDCCH tại Bắc Kinh.

Các tài liệu nước ngoài mô tả ông Hoan có vị trí hơn một đại sứ bình thường vì thường được Mao Trạch Đông tiếp riêng để bàn thảo các vấn đề hai nước, kể cả chiến lược đánh miền Nam của Ban lãnh đạo Hà Nội.

Số phận của ông sau khi sang Trung Quốc qua ngả Pakistan vào tháng 7/1979 cùng gia đình cũng phản ánh thái độ của Trung Quốc với Việt Nam và quan hệ hai bên.

Xuất bản cuốn ‘Giọt nước trong biển cả’, ông đưa ra quan điểm ‘tố cáo tập đoàn Lê Duẩn’ đã phản bội đường lối Hồ Chí Minh và làm hại đến ‘tình hữu nghị với Trung Quốc’.

Cuốn sách được dịch sang tiếng Anh ‘A Drop in the Ocean: Hoang Van Hoan’s Revolutionary Reminiscences’ do Bắc Kinh xuất bản năm 1988, xác định tư cách của ông như một nhân vật Mao-ít đến cùng.

Ông cũng đưa ra cáo buộc rằng Trung ương Đảng ở Việt Nam từ 1982 đã chỉ đạo việc trồng nha phiến để bán ra quốc tế lấy đôla. [Chuyện trồng và bán thuốc phiện để lấy đô la của đảng CSVN khởi đầu từ năm 1954 và chấm dứt năm 1986. Người đứng đầu hệ thống kinh tài thuốc phiện để đảng có ngoại tệ là tướng Chu Huy Mân. Ông tướng này sau ngày về hưu thì bị đảng cô lập giam lỏng tại gia ở Hà Nội (để ông ta khỏi tiết lộ bí mật) cho đến khi qua đời –đây là chuyện khá phổ biến theo các blogger ở ngòai miền Bắc thuật lại].

‘Không giống Hồ Chí Minh’

Ông Bùi Tín, hiện sống tại Paris cho hay ông Hoan khá đơn độc trong đường lối thân Trung Quốc và bác bỏ cách tuyên truyền của Trung Quốc rằng ông Hoan là người duy nhất ‘trung thành với đường lối Hồ Chí Minh’.

Ông nói:

“Ông Hồ khéo léo với Trung Quốc hơn nhiều và luôn cố gắng cân bằng giữa Liên Xô và Trung Quốc”

Đặng Tiểu Bình và Hồ Chí Minh-ảnh tư liệu

Ông Hồ khéo léo với Trung Quốc hơn nhiều và luôn cố gắng cân bằng giữa Liên Xô và Trung Quốc.
Đại tá QĐNDVN Bùi Tín

“Một lần ra đón ông Hồ tại sân bay chúng tôi thấy ông mặc áo khoác có huy hiệu Mao sau chuyến đi thăm Trung Quốc về. Ông hiểu ý và cười rằng ‘chỉ đeo ở áo ngoài thôi đấy nhé”.

Trái lại, theo ông Tín, Hoàng Văn Hoan hoàn toàn theo đường lối Maoist, ủng hộ Trung Quốc trong cuộc chiến 1979, chế độ Pol Pot và phái bảo thủ tại Trung Quốc.

Ở Việt Nam, ông bị tuyên án tử hình vắng mặt và trở thành biểu tượng của sự phản bội.

Đài báo so sánh Hoàng Văn Hoan với Lê Chiêu Thống và dùng hình ảnh ông để nói về các kẻ thù bên trong.

Đảng cộng sản đã thực hiện một cuộc thanh lọc nội bộ để loại bỏ tất cả những ai bị nghi là có dính líu đến ông Hoàng Văn Hoan.

Trong khi đó, Trung Quốc quyết tâm bảo vệ ông Hoan và coi việc đối xử với ông như một điều kiện để bình thường hóa quan hệ.

Năm 1991, Trung Quốc tổ chức lễ tang cấp nhà nước dành cho ông Hoàng Văn Hoan tại nghĩa trang Bát Bảo Sơn, nơi an nghỉ của nhiều cố lãnh tụ cao cấp nhất của Đảng, Nhà nước, và quân đội Trung Quốc.

Việc chấp nhận vị trí của ông Hoan trong lịch sử đầy biến động của Việt Nam xem ra vẫn còn là điều khó khăn ở trong nước dù gần đây, nhà chức trách đã có động tác để hình ông trên trang web của Quốc hội.

Nhưng cho đến nay, số phận của gia đình ông (xem bài đi kèm) cũng là câu chuyện đáng nói và phản ánh cách giải quyết chuyện nội bộ với những người bị coi là ‘phản bội’ trong lòng một hệ thống đóng kín.

http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/story/2009/02/090216_hoangvanhoan_profile.shtml

———————

Quốc PhươngBBC Việt ngữ

ông Hoàng Văn Hoan đeo kính, đứng bên tay phải bức hình

Sau 30 năm kể từ Chiến Tranh Biên Giới, Trung Quốc và Việt Nam đã bình thường hoá quan hệ trên nhiều lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá… sau một cuộc xung đột vũ trang được cho là lần đầu tiên xảy ra giữa hai quốc gia cùng ý thức hệ cộng sản.

Nhưng câu chuyện về ông Hoàng Văn Hoan, cựu ủy viên Bộ Chính trị, Đại sứ đầu tiên của Việt Nam tại Trung Qu�
�c, người bỏ trốn theo Trung Quốc vào tháng 7/1979 vẫn chưa được bàn đến công khai.

Trong cuộc trao đổi dành riêng cho BBC hôm 13/2/2009, một trong những người cháu của ông Hoàng Văn Hoan xin không nêu tên, đã kể nhiều chi tiết ‘đầy sóng gió’ về số phận của họ.

‘Bình phản án tử hình’

Người cháu ông Hoan cho biết:

“Ông Hoan có một người con trai duy nhất là ông Hoàng Nhật Tân, năm nay đã ngoài 80 tuổi, sức khoẻ đã rất kém, mà do mới đột quỵ hồi Tết, hiện không nghe, nói được. Trước đây, năm nào ông Tân cũng đề nghị Nhà nước bình phản lại án tử hình với cha ông nhưng đều không được.”

“Hồi cụ Đồng (Phạm Văn Đồng) còn sống, ông đến kêu cụ Đồng, hồi cụ Trường Chinh còn sống, thì kêu với cụ Trường Chinh. Bây giờ các ông khác già hết rồi, chẳng biết kêu ai.”

“Trước đây, các ông Trường Chinh, Phạm Văn Đồng có hứa với gia đình rằng ‘Để rồi bác sẽ bàn, đề nghị với Bộ Chính trị’, nhưng cũng nói rằng khó lắm vì đó là tương quan với ông Lê Duẩn”.

Cuộc chạy trốn bí mật

Cuốn sách ‘Giọt nước trong biển cả’ của ông Hoan, có đoạn, nói rằng ông đã không theo quyết định của Bộ Chính trị vốn quyết rằng ông bị ung thư phổi và phải bay đi Đức để chữa bệnh.

Người cháu nay thuật lại ông Hoan tin rằng “nếu bay đi Đức thì chắc rằng chỉ một liều thuốc là xong”.

Vì thế ông quyết định khi tới Karachi, tìm cách trốn sang sứ quán Trung Quốc và được đưa tới Trung Quốc. Trung Quốc đã mổ thành công và ông đã sống thêm 12 năm nữa. Trong 12 năm này, ông đã viết nhiều công trình mà một trong đó là cuốn ‘Giọt nước trong biển cả.’

Trong cuốn sách, ông Hoan cũng nói rằng việc làm của ông là ‘thiên thu định luận’, tức một nghìn năm sau thì sẽ rõ. Sau đó, ông Hoàng Nhật Tân có viết một cuốn là ‘Thiên thu định luận’, 500-600 trang, thuyết minh rằng cha ông là một nhà yêu nước vĩ đại, nhưng cuối cùng cũng không được phát hành.

Ông Lê Duẩn, đầu tiên từ phải
Ông Lê Duẩn là nhân vật quyền lực thứ hai sau Hồ Chí Minh

Vẫn theo lời chứng̉, vào năm 1991, khi gia đình được phép sang thăm ông trong vòng bốn tháng liền tại khu Ngọc Trường Sơn, trong Di Hoà Viên, nơi trước đây ông Lâm Bưu từng sống, khi ông già yếu và sắp mất, thì ông vẫn còn rất tỉnh táo, tỉnh táo cho đến phút chót.

“Người nhà cứ hai, ba ngày thay phiên nhau vào chăm sóc ông. Ông hỏi về tình hình Liên Xô, Trung Quốc, Việt Nam vào thời điểm đó. Ông rất tỉnh táo, câu hỏi sắc sảo. Ông không bình luận gì nhưng chịu khó nghe. Ông hỏi về so sánh Liên Xô đang cải tổ, Trung Quốc đang cải cách và Việt Nam đang đổi mới lúc đó, có gì giống nhau, khác nhau,”

“Sự chăm sóc của Trung Quốc đối với ông không có gì để bàn. Lúc đó, ông Giang Trạch Dân là Tổng bí thư kiêm Chủ tịch nước, ông Lý Bằng là Thủ tướng Quốc vụ Viện, các ông coi ông Hoan là người bạn lớn của nhân dân Trung Quốc.”

Nghĩa tử, nghĩa tận

Lễ tang của ông Hoan được coi như một lễ tang cấp cao của Đảng và của Nhà nước Trung Quốc vì ông được coi như một lãnh tụ của Đảng Cộng sản TQ. Không có chuyện Đại sứ quán Việt Nam tham dự.

Theo lời kể, khi đó do quan hệ hai bên còn căng thẳng, khi gia đình đi thăm ông Hoan, đều có an ninh của Việt Nam đi cùng.

“Lý do Việt Nam lúc đó đồng ý cho gia đình sang thăm là dàn xếp quan hệ cấp cao và nghĩa tử là nghĩa tận theo truyền thống, cho nên họ phải đồng ý. Khi đi, gia đình hứa là sẽ quay về.”

“Gia đình cũng cam kết đảm bảo là không làm điều gì liên quan tới chính trị khi sang Trung Quốc mà đây chỉ là chuyện gia đình. Do đó không có vấn đề gì,”

Bảo ông ta về nước đi, không hỏi những chuyện linh tinh đó làm gì!.
Lời Hoàng Văn Hoan được thuật lại

“Ông Hoan không bao giờ dặn dò gì gia đình về chuyện chính trị hay sự nghiệp. Cùng thời gian đó, có việc Việt Nam chuẩn bị kỷ niệm 100 năm sinh Hồ Chí Minh. Một nhà nghiên cứu có tiếng của Việt Nam đã sang Trung Quốc và đề nghị gặp trực tiếp ông Hoàng Văn Hoan để tìm hiểu về Hồ Chí Minh, đặc biệt tìm hiểu các chi tiết đời tư chứ không phải với tư cách một chính khách.”

Người cháu của ông kể tiếp:

“Khi ấy, ông Hoan đã cho thư ký là một cựu sinh viên người Hoa gốc Việt từng tốt nghiệp Đại học Tổng hợp ở Hà Nội, giỏi cả tiếng Việt và tiếng Trung, tiếp. Thư ký sau đó thuật lại việc nhà nghiên cứu này định hỏi ông Hoan về chuyện ‘cụ Hồ có con riêng’ có đúng hay không,”

Yêu đảng, yêu nước

Ông Hoan bảo: “Bảo ông ta về nước đi, không hỏi những chuyện linh tinh đó làm gì!.” Ông Hoan là người rất kín kẽ, ông không bao giờ tuỳ tiện cho ai biết những chuyện quan trọng. Ông thường chỉ làm việc ở cấp cao, còn gia đình thì cứ đi thăm, nói chuyện vui vẻ thôi, không nói chuyện gì về chính trị cả.

Vẫn theo lời thân nhân của ông, “Tuyệt đối không có chuyện họp gia đình, bàn chuy�
�n này, chuyện kia, như là người ta đồn ông Hoan có cả quân đội, đài phát thanh. Đó là xuyên tạc! Ông Hoan ông không làm thế. Ông là nhà yêu nước đứng đắn, ông không làm chuyện gì khuất tất.”

Ông Đặng và ông Hoan gặp nhau rất đơn giản vì ông Hoan có khả năng nói tiếng Trung trực tiếp không qua phiên dịch. Quan hệ rất tốt, vừa là đồng chí, vừa là anh em
Lời kể của thân nhân

Ông Hoan muốn giải thích trong sách rằng ông vẫn yêu Đảng, yêu nước và ông muốn sống thêm để chứng minh rằng đã có người phản bội, nhưng ở Việt Nam vẫn không nhận ra, hoặc nhận thức lầm. Có vẻ ông đã cố chứng minh bằng những dữ liệu, số liệu, bằng chứng, quan điểm.

Người cháu kể ông có sự hỗ trợ của Trung Quốc, họ cung cấp mấy người thư ký, văn phòng làm việc, ô tô đi lại, điều kiện rất tốt.

“Phản biện lại những dư luận từ nhà nước Việt Nam, trong đó nhiều ý nói rằng ông là Trần Ích Tắc, Lê Chiêu Thống v.v…, ông đã chứng minh trong công trình của mình rằng ông không phản bội lợi ích của nhân dân mà chính người khác đã phản bội. Nhưng ông nói chuyện của ông 1.000 năm sau mới định được, còn định ngay lúc đó thì khó,” người cháu ông Hoan kể.

‘Chính trị phải thế’

“Ông nói rằng bản thân rơi vào tình trạng rắc rối và phải đi, mà bây giờ người ta gọi là bất đồng quan điểm. Ông không thể đi một nước thứ ba, như là Liên Xô, vì quan điểm của ông với Liên Xô không gần nhau,”

“Đúng là Trung Quốc tiếp đãi ông Hoan như thế vì ông thân Trung Quốc và có lợi cho Trung Quốc vào thời điểm bấy giờ. Chính trị phải thế! Trung Quốc coi ông có lợi cho họ. Nhưng đồng thời họ cũng nuôi dưỡng nhiều lực lượng cách mạng thực sự cho Việt Nam,” người cháu nhận xét.

Nixon thăm Trung Quốc năm 1972
Chuyến thăm của tổng thống Nixon tới Trung Quốc năm 1972 ấn định số phận cuộc chiến Việt Nam

Về câu hỏi rằng liệu Việt Nam có thể tránh được cuộc chiến tranh năm 1979 với Trung Quốc, nếu quan điểm, đường lối của ông Hoan trong quan hệ với Trung Quốc được Việt Nam lắng nghe hoặc điều hoà như thế nào đó, người nhà ông Hoan cho rằng cục diện trước đó quá rõ ràng. Hoàn toàn có thể tránh cả hai cuộc chiến Tây Nam và cuộc chiến 79.

“Đường lối của ông Hồ là sau hoà bình, sau cuộc chiến quá dài với Mỹ, mọi người kiệt quệ, là phải an dân, phải tránh chiến tranh, phải khoan sức dân, phải giảm thuế v.v… Ông Hoan rất phản đối và phê bình việc dẫn đến sự thể phải phát động cả hai cuộc chiến.”

Người cháu ông Hoan cho BBC biết quan hệ giữa ông Đặng Tiểu Bình và ông Hoàng Văn Hoan rất tốt. “Cả hai ông Giang Trạch Dân và Lý Bằng đều là người của ông Đặng. Trong đám tang ông Hoàng Văn Hoan ông Giang Trạch Dân và ông Lý Bằng đều đến viếng. Ông Đặng Tiểu Bình có gửi vòng hoa, viết rất nhiệt tình, đề cao ông Hoan.”

“Ông Đặng và ông Hoan gặp nhau rất đơn giản vì ông Hoan có khả năng nói tiếng Trung trực tiếp không qua phiên dịch. Quan hệ rất tốt, vừa là đồng chí, vừa là anh em.”

Bi kịch cha con

Về quan hệ giữa hai cha con mà có dư luận rằng có sự mâu thuẫn, theo đó, ông bố thì được cho là thân Trung Quốc, ông con, Hoàng Nhật Tân, thân Nga Xô, trường hợp ông Tân được cho là một bi kịch.

Thân nhân ông Hoan kể rằng ông Tân học giỏi, ông được cử đi Nga học tập. Sang Nga, ông thấy đường lối của Khrushchev hay, ông có những phát biểu. Vì thế ông Hoan gọi về Việt Nam, thi hành kỷ luật, cho ‘đi đầy’ một năm, hai năm gì đó, xong rồi cho phục hồi.

“Vừa được phục hồi, nghe đâu đang làm thủ tục làm Phó Viện trưởng Viện Sử học, thì ông Hoan lại bỏ đi Trung Quốc (1979), cho nên người ta ép ông con ra khỏi Đảng, rồi ép đủ thứ. Nghe nói ông Tân đến tận bây giờ vẫn còn có người theo dõi,”

“Trong nhà hiện nay, chỉ có ông Tân là người bị theo hàng ngày, về lý do thì có thể là do họ sợ rò rỉ thông tin hoặc thế nào đó,”

“Thời các năm 1991, 1992 cho tới 1996, 1997, nhiều lúc con cháu của ông Hoan trong gia đình ở Hà Nội đi đâu, cũng có ít nhất một nhân viên công an đi theo sau. Bây giờ thì cũng thoáng rồi vì họ sống cũng đứng đắn, sống đúng theo tư cách công dân.”

‘Chăm sóc đặc biệt’

Cuộc sống gia đình rất phức tạp và là một câu chuyện dài với việc mỗi thành viên phải tự lo công việc của mình. Một người con gái của ông Hoàng Nhật Tân, cháu nội ruột của ông Hoan, tốt nghiệp Đại học Sư phạm, ra không có việc làm. Bà phải xin mãi mới về được Viện Triết học làm thư viện.

Theo người nhà ông Hoan thì ông Phạm Như Cương, Phó Chủ tịch Hội hữu nghị Việt – Trung và Viện trưởng, phải đứng ra bảo lãnh thì bà mới về làm việc được, chứ không phải tự nhiên mà vào làm nhà nước được, đó là ngay sau khi cụ Hoan ra đi (1979).

Về lý do người ta đưa ông con trai cả của ông Tân ra khỏi quân đội thì chắc có thể là để cho an toàn gì đó
Cháu ông Hoàng Văn Hoan

Người con trai cả của ông Hoàng Nhật Tân, là đảng viên, phải ra khỏi quân đội. Trong nhà có mấy người là đảng viên đó là bà Tân và ông con cả. Có một người con dâu của ông Tân mới kết nạp mấy năm nay. Còn lại đều không là đảng viên.

Về lý do người ta đưa ông con trai cả của ông Tân ra khỏi quân đội, người nhà ông Hoan tin rằng đó có thể do lý do ‘an toàn’ nào đó. “Có một sự chăm sóc đặc biệt. Như ông Tân bị ép ra khỏi đảng. Ông phải chủ động viết đơn để ra khỏi đảng.”

“Về kinh tế, tài chính thì những năm đó rất khó khăn, mọi người phải tự lo lấy mà sống. Nhưng có một việc không biết ở các gia đình khác ra sao, còn tại gia đình mình, ông Hoan có một đạo đức rất rõ ràng, tức là không ai được sống dựa vào ông ấy.”

“Cho nên mọi người phải tự lực từ lâu. Khi ông đi, thì mọi người chẳng làm sao cả.”

Ông bà Tân đều là cán bộ nhà nước. Các con cháu về sau cũng dần có được việc làm, với mức lương tối thiểu sống được. Bà Tân, con dâu cụ Hoan, từng làm ở Đảng uỷ Quận Hoàn Kiếm và làm cho đến lúc về hưu.

Khi ông Hoan đi, ông không hề cho ai trong gia đình biết, sau đó ông Tân gần như bị bắt.

Một cảnh ở Trung Quốc
Ông Hoan sống ở một căn nhà trong khu Di Hoà Viên nhiều năm

“Nhưng người ta cứ nghĩ là ông Tân biết. Thực ra ông không hề biết và cũng chẳng ai biết. Nếu biết là rắc rối ngay. Khi tới Karachi (thủ đô Pakistan), ngay cả ba người tháp tùng ông Hoan là bảo vệ, thư ký và y tá đều không biết,” người cháu ông Hoan kể tiếp.

Ở khách sạn tại Karachi, ông Hoan đi ra ngoài đi dạo, ông gọi xe taxi và đi về sứ quán của Trung Quốc. Ba người này về sau bị bắt, và vẫn theo lời kể, nhóm thư ký của ông Hoan đã bị tù mấy năm.

‘Không có bản án?’

Đến tận hôm nay, có một điều gia đình vẫn không rõ. Đó là vì sao khi hai nước Trung Quốc, Việt Nam đã bình thường hoá quan hệ, thậm chí hai Đảng và hai Nhà nước đã hữu hảo hơn, mà bản án tử hình của nhà nước Việt Nam dành cho ông Hoan chưa được huỷ bỏ.

“Hình như năm ngoái, khi còn khoẻ, ông Hoàng Nhật Tân có tới Toà án để xin một bản sao bản án ‘xử tử vắng mặt’ đối với cha mình. Mục đích là để làm bằng chứng khi đi trình bày với các nơi và xin được hết án này với ông Hoan, thì được họ trả lời rằng không có văn bản nào cả.”

Năm nào ông Tân cũng viết thư, viết đơn, đề nghị phản bình lại bản án
Cháu ông Hoàng Văn Hoan

“Nhưng đây không phải là Toà án Tối cao hoặc Toà án nhà nước nào khác, mà dường như đây liên quan tới Toà Án Nhân dân TP Hà Nội. Nhưng họ nói là chẳng có văn bản gì cả. Sau đó, ông Tân cũng thôi không làm nữa. “

“Hồi đó người ta cũng không thông báo gì về bản án tử hình vắng mặt đó. Chỉ là thông báo, công bố trên đài báo, không có thông báo gì cho gia đình cả. Còn về kế hoạch có làm tiếp việc xin huỷ bỏ bản án trong tương lai, thì trong gia đình chỉ có một mình cụ Tân làm. Ngoài ra, không có ai nghĩ làm việc đó cả.”

Trong lòng quê hương

Theo di chúc, hài cốt hoả táng của ông Hoan được chia thành ba phần. Một phần để ở nghĩa trang Bát Bảo Sơn, tương tự nghĩa trang Mai Dịch ở Hà Nội. Đó là một nghĩa trang dành cho các quan chức cao cấp của Đảng và Nhà nước Trung Quốc.

Ở đó, họ xây một cái mộ, hàng năm họ vẫn cho tiền gia đình, ít nhất hai người, sang đó để viếng thăm. Ông Hoan được để ở một chỗ rất long trọng. Một phần tro cốt được đưa đi Côn Minh để rắc trên đầu nguồn sông Hồng. Vì ông Hoan muốn về nước bằng con đường sông Hồng.

Vẫn theo lời kể của người cháu, một hộp tro nữa sau khi mang về nhà thờ mấy năm, nay được đưa về quê ở làng Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An. Trung Quốc cho một ít tiền để xây một cái mộ tương đối lịch sự. Tất nhiên là mộ đó không bằng mộ của ông Hồ Tùng Mậu, mà nhà nước xây rất lớn. Ở đó có hai dòng họ là họ Hồ, lớn nhất, rồi đến họ Hoàng.

Chăm sóc ruộng rau ở Quỳnh Đôi, Quỳnh Lưu, Nghệ An
T
rên quê hương Quỳnh Đôi của ông Hoan ngày nay

Hàng năm con cháu về đây viếng thăm. Trong nhà thờ họ Hoàng, đã có thờ ông Hoan. Họ không thờ ông là uỷ viên bộ chính trị, phó chủ tịch quốc hội mà tấm bia thờ chỉ đề ông Hoàng Ngọc Ân (tên tục của ông Hoan) là nhà yêu nước lớn.

Kết luận, người cháu của ông Hoan nói:

“Gần đây có một diễn biến và biểu hiện mới, mà chính sứ quán Trung Quốc nói với gia đình, là một vài hình ảnh của ông Hoan hồi làm Phó Chủ tịch ở Quốc hội, trước đây bị xoá hoặc bỏ đi, nay đã được phục hồi. Còn các hình ảnh ông Hoan bên cạnh ông Hồ thì họ xoá sạch.”

Bài viết dựa trên lời kể của thân nhân ông Hoàng Văn Hoan. Quý vị có ý kiến về bài viết này, xin gửi thư cho BBC ở địa chỉ vietnamese@bbc.co.uk hoặc dùng hộp tiện ích bên phải.


Linh, Yokohama

Phong trào phe cánh trong Đảng đã có từ hơn nửa thế kỷ trước. Ngày nay cũng vậy, một số rất ít theo Nga, còn lại thì chia đôi theo Trung Quốc và Hoa Kỳ.

Tears, Sài Gòn

Ông Hoàng Văn Hoan được TQ đối đãi tử tế chẳng qua họ muốn moi được nhiều tin tức quý báu về Việt Nam từ ông. Đồng thời ông Hoan trở thành cái ‘loa tuyên truyền’ quá tốt cho họ. Nếu ông thực sự yêu nước và bất mãn với chế độ hay đảng Cộng sản, ông có thể làm như bậc anh hùng Nguyễn Trãi về quê ở ẩn.

Như vậy vẫn giữ được tấm lòng yêu nước với dân tộc chứ đâu cần phải chạy qua TQ, lại còn ủng hộ TQ nuôi dưỡng Khomer đỏ, lấn chiếm biên giới Viêt Nam, thật là sai lầm. Nói 1000 năm sau nhân dân mới hiểu ra, tôi ngờ đó có thể là sự ngụy biện.

Nam

Không phải ông Đặng Tiểu Bình đã từng nói: ‘người TQ làm gì cũng có tính toán’ sao? Tôi năm nay 24 tuổi nhưng có đến nhắm mắt cũng không tin là Trung Quốc thật lòng cư xử với ông Hoan vô vị lợi. Ông Hoan nói rằng chiến tranh phần lớn do ông Lê Duẩn. Nhưng liệu không có chiến tranh 1979, chắc gì TQ đã từ bỏ dã tâm của mình không?

Họ cũng có thể kiếm cớ khác thôi. Lịch sử tới nay, dù có thể thay đổi, nhưng cũng không thấy có sự thay đổi nào đáng kể trong dã tâm của ‘người anh cả’ này. Đừng tin những gì TQ nói mà hãy coi những gì họ làm với đất nước ta, nhân dân ta.

Không tên, Cần Thơ

Tôi là người Việt Nam, có gia đình theo Việt Nam cộng hòa, tôi không thích Đảng Cộng Sản, nhưng tôi ủng hộ phán quyết và phê phán của Việt Nam đối với ông Hoan, hành động đó phải được nghiêm trị.

Cu Ti, Việt Nam

Trung Quốc từ xưa đến nay có tốt với Việt Nam bao giờ? Cái gì có lợi lớn cho họ thì họ làm, còn không thì thôi. Đó là tâm địa của mấy anh hay đi bắt chẹt mọi người. Họ nuôi cụ Hoan có lẽ vì cụ cung cấp nhiều thông tin mà họ có thể dùng được. Nói chung cụ theo Trung Quốc thời đó, thì tội “phản quốc” là nặng hơn sang Mỹ nhiều.

Trần Tiến

Trung Quốc cố vấn cho Việt Nam giết hại dân lành trong cải cách ruộng đất, năm 1974 xâm lược Hoàng sa của VN. Trung Quốc đâu phải là bạn của nhân dân Việt Nam. TQ cũng cố vấn tiếp tay cho Khme đỏ gây thảm họa diệt chủng cho Nhân dân Camphuchia, giết hàng chục ngàn dân VN ở biên giới tây nam. Ngày 17/2/1979 TQ xâm lược VN, ngày 11/6/1979, ông Hoàng Văn Hoan chạy sang TQ quy hàng giặc, tránh sao khỏi bị cho là có hành động như Lê Chiêu Thống ngày xưa?

Conan Sài Gòn

Hồ Chí Minh thì cân bằng giữa Stalin & Mao. Lê Duẩn thì theo hẳn Stalin. Còn Hoàng Văn Hoan thì theo hẳn Mao. Xem ra cả ba ông này đều mang lại cùng một kết quả cho đất nước và nhân dân Việt Nam. Có lẽ số phận của dân tộc VN là phải chịu nhiều đau khổ.

http://blog.360.yahoo.com/blog/compose.html?msgid=MeJ70ZJmI_A-

Posted in Chien Tranh Bien Gioi Viet Trung 1979, Đảng CSVN | 4 Comments »