Trần Hoàng Blog

Archive for Tháng Mười, 2011

Phong Trào Chiếm Ðường Phố đã lan khắp nước Mỹ và thế giới

Posted by hoangtran204 trên 30/10/2011

Trich’:
_phong trào Chiếm Wall Street  không đòi xóa bỏ chế độ dân chủ ở nước Mỹ. Họ cũng không đòi lật đổ hệ thống kinh tế tư nhân ở Mỹ.
_Họ chỉ đòi thay đổi luật lệ để xã hội được công bằng hơn, nói cách khác là đòi cải thiện hệ thống kinh tế tư bản cho nó tốt hơn, hợp đạo lý hơn. 
_Trào Chiếm Wall Street  không là một cuộc “đấu tranh chống chủ nghĩa tư bản”, hay nói cụ thể hơn, “chống hệ thống kinh tế tư bản”.
tac gia: Ngô Nhân Dụng

Phong trào Chiếm Wall Street (Occupy Wall Street) đã lan khắp nước Mỹ và thế giới, và đã đưa một nạn nhân đầu tiên vào bệnh viện trong cảnh mê man.

Anh Scott Olsen, 24 tuổi, cựu thủy quân lục chiến, đã từng dự chiến tranh ở Iraq. Anh bị cảnh sát bắn đạn mã tử trúng đầu, trong cuộc biểu tình “Chiếm Oakland”.

Nhưng cho tới nay, Chiếm Wall Street, Chiếm London, hay Chiếm Roma đều chỉ là những phong trào tự sinh ra và tự phát triển, chưa nơi nào biến thành tổ chức. Các phong trào thanh niên, năm 1968 hay 2011 đều giống nhau: Trước hết, họ đưa ra những khát vọng. Ở nước Mỹ đã có sẵn những tập quán và định chế dân chủ từ 200 năm; các nhà chính trị sẽ phải phải tìm ra câu trả lời. Dân chúng Mỹ sẽ lựa chọn bằng lá phiếu.

Vì Chiếm Wall Street là một phong trào trẻ và bột phát, cho nên chưa thấy ai đứng ra thảo một bản nguyện vọng cụ thể, hoặc một chương trình chính trị. Người ta hỏi: Những người này chống ai? Họ muốn cái gì? Phong trào Chiếm Wall Street đã bị hiểu lầm theo đủ cách khác nhau.

Tiêu biểu cho những người hiểu lầm phong trào Chiếm Wall Street là một nhóm các cụ già tại thành phố Trịnh Châu (Zhengzhou), thủ phủ tỉnh Hà Nam bên Trung Quốc. Các cụ cũng đi biểu tình ủng hộ Occupy Wall Street, mang theo cờ quạt, biểu ngữ, với khẩu hiệu “Vô sản toàn thế giới hãy đoàn kết lại!”

Nhưng hình ảnh đó đưa lên trên mạng Sina.com được hai ngày đã có lệnh bóc xuống. Vì các cụ hoàn toàn lạc điệu! Ðảng Cộng Sản ở Bắc Kinh đang muốn đoàn kết với tư bản thế giới chứ không cần yêu vô sản quốc tế!

Ở nước Zambia, Phi Châu, các ông chủ Tàu, sau khi đầu tư hai tỷ Mỹ kim khai thác các mỏ đồng hoặc than đá, đã đích thân cầm súng bắn vào các công nhân đình công. Năm 2006 họ đã bắn 6 thợ mỏ trọng thương, năm 2010 bắn chết 13 người; và mới tuần trước, ngày 20 tháng 11 năm 2011, đã bắn vào đám biểu tình của một ngàn công nhân đang đình công đòi tăng lương! Chiếm Wall Street có lan sang Trung Quốc. Trên các trang mạng xuất hiện những facebook mang tên “Occupy Beijing” (Chiếm Bắc Kinh), và “Occupy Shanghai” (Chiếm Thượng Hải), nhưng chỉ được vài ngày cũng bị “Trường Thành Lửa” chặn lại.

Không phải chỉ có các cụ già ở Trịnh Châu mới hiểu lầm phong trào Chiếm Wall Street. Các bạn trẻ khắp nơi cũng có thể hiểu lầm rằng phong trào Chiếm Wall Street là một cuộc “đấu tranh chống chủ nghĩa tư bản;” hay nói cụ thể hơn, “chống hệ thống kinh tế tư bản”. Thực ra họ không đòi xóa bỏ chế độ dân chủ ở nước Mỹ. Họ cũng không đòi lật đổ hệ thống kinh tế tư nhân ở Mỹ. Họ chỉ đòi thay đổi luật lệ để xã hội được công bằng hơn, nói cách khác là đòi cải thiện hệ thống kinh tế tư bản cho nó tốt hơn, hợp đạo lý hơn.

Diễn tả dưới hình thức đối kháng, thì khẩu hiệu chính của phong trào Chiếm Wall Street là “99 phần trăm chống 1 phần trăm”. Chống như thế nào? Tuyệt nhiên không ai đòi đấu tố, trả thù những người giầu nhất; cũng không đòi tịch thâu tài sản của họ đem chia cho những người nghèo hơn. Mục tiêu đòi hỏi của phong trào Chiếm Wall Street là thay đổi luật lệ ảnh hưởng tới việc phân bố lợi tức trong nền kinh tế. Nói cách khác, là thay đổi luật về thuế khóa.

Nước Mỹ có Tổng Sản Lượng Quốc Dân (GDP) từ 14 đến 15 ngàn tỷ đô la; tức là trong một năm, tất cả những người làm việc trong nước đã sản xuất ra của cải, hàng hóa và dịch vụ trị giá 14 hay 15 ngàn tỷ. Số giá trị tăng thêm trong một năm như vậy được chia cho mọi người hưởng như thế nào? Ðó là vấn đề phân bố lợi tức. Những người biểu tình Chiếm Wall Street nói rằng có 1% các gia đình giàu nhất vì được chia phần nhiều quá. Phải sửa lại “luật chơi” của nền kinh tế để chia bớt phần cho những người khác.

Phương tiện cụ thể nhất của một guồng máy chính quyền trong việc phân bố lợi tức quốc dân là các đạo luật về thuế và chính sách chi tiêu của nhà nước khi được sử dụng số tiền do dân đóng thuế. Ở các nước theo chế độ dân chủ và kinh tế tự do thì vấn đề chính trị quan trọng nhất trong mỗi cuộc bầu cử, từ các địa phương cho tới cấp tiểu bang, liên bang chỉ xoay quanh hai câu hỏi: Thu thuế ra sao và nhà nước đem số tiền đó chi tiêu như thế nào. Mỗi đảng chính trị có chính sách khác nhau về hai vấn đề thu thuế và công chi. Dù họ hô các khẩu hiệu nào đi nữa, rốt cục vẫn chỉ là hai vấn đề căn bản, thuế và công chi. Dân quyết định bằng cách bỏ phiếu.

Nhưng khi nói những người thuộc giới 1% giầu nhất nước Mỹ, họ giầu hơn người khác như thế nào?

Năm 2007, một gia đình phải kiếm được 424,413 đô la mới được gia nhập câu lạc bộ 1% giầu nhất. Trong năm 2009 vì kinh tế suy thoái, một gia đình chỉ cần có lợi tức $343,927 một năm là đủ thuộc hạng 1% này; tổng cộng có 1.4 triệu người và họ hưởng 17% số lợi tức cả nước tạo ra trong năm đó. Giáo Sư Edward Wolff, Ðại Học New York, cho biết vào năm 2007, nhóm 1% các gia đình giầu nhất ở Mỹ làm chủ 34.6% các tài sản tư toàn quốc. Nhóm 19% giầu hạng dưới làm chủ hơn 50% tài sản. Tức là 20% những người giầu nhất ở Mỹ làm chủ 85% tài sản tư của cả nước; 80% các gia đình còn lại chỉ làm chủ được 15%. Những cuộc nghiên cứu dư luận cho thấy phần lớn dân Mỹ không biết gì về tình trạng thiếu quân bình này.

Nhưng lại phải đặt câu hỏi tiếp theo, là các người 1% giầu nhất đó gồm những ai? Nhờ đâu mà họ được hưởng nhiều như vậy?

Những cuộc nghiên cứu khác cho biết trong số người giầu nhất nước (1%) này, vào năm 2005 giới chuyên gia tài chánh (Wall Street) chỉ chiếm 14%. Số người đông hơn là các vị quản đốc công ty sản xuất hay dịch vụ, chiếm trên 31%. Các bác sĩ chiếm gần 16%, và các luật sư chiếm 8.4%. Khi những người đi biểu tình tự mang tên Chống Phố Wall, họ nhắm vào các nhà tài chánh làm việc trong vùng quanh Wall Street, nơi tập trung nhiều ngân hàng và công ty đầu tư tài chánh của Mỹ. Họ không biểu tình chống các giáo sư đại học Y khoa hoặc các chủ tịch đại công ty như General Electrics hoặc Google; mặc dù đám người này phần lớn cũng thuộc thành phần 1%!

Nguồn gốc lợi tức của đám người 1% khác nhau; hoặc dựa vào công việc làm, hoặc không. Có thể nói, những bác sĩ, luật sư kiếm được tiền đều vì được thân chủ trả tiền do công việc họ làm. Lợi tức của họ do luật cung cầu và thị trường cạnh tranh quyết định. Luật cung cầu nghĩa là: Nếu các thân chủ không hài lòng, họ sẽ đi tìm bác sĩ khác, hoặc sẽ đổi luật sư khác. Các quản đốc xí nghiệp cũng vậy, lương bổng là do hội đồng quản trị các công ty quyết định; trên nguyên tắc dựa theo sự ủy nhiệm của các cổ đông, tức là tập thể các chủ nhân của công ty. Số lương bổng và tiền thưởng (bonus) của những người này cũng theo luật cung cầu, và dựa trên nội quy của các công ty. Hội đồng quản trị các công ty có quyền phế bỏ, tuyển mộ, tăng hay giảm lương các vị quản đốc, dựa trên đóng góp của họ vào lợi nhuận và giá trị cổ phiếu của công ty.

Trong năm 2008 chỉ có 19% trong số 13,480 những người có lợi tức từ 10 triệu trở lên kiếm tiền vì làm việc và lãnh lương. Loại lợi tức cao khác kiếm được hoàn toàn nhờ đầu tư, hoặc trung gian môi giới giữa các ngân hàng và đại công ty. Ðó chính là mục tiêu mà phong trào Chiếm Wall Street nhắm vào: Các nhà trung gian tài chánh.

Nhờ đâu mà ngay trong số 1% những người giầu này có những người giầu sụ hơn kẻ khác. Một phần lớn là do cách đánh thuế. Thuế đánh trên lương bổng theo suất lũy tiến, càng lên cao càng đóng một tỷ lệ lớn hơn. Nhưng, nhờ luật cắt thuế của Tổng Thống Georges W. Bush năm 2003, những lợi tức kiếm được nhờ đầu tư thì chỉ đóng suất thuế 15%, dù là tiền lời được chia (dividend) hay lời nhờ bán chứng khoán (capital gain). Người càng giầu thì số tiền kiếm được nhờ đầu tư càng lớn. Nếu phần lớn lợi tức người ta kiếm được là do đầu tư, thì tự nhiên suất thuế rất thấp. Vì vậy, trong số 1% các gia đình giầu nhất, những người thuộc nửa dưới được hưởng rất ít so với nửa trên.

Thực ra, cả tài sản và lợi tức được tập trung trong số một phần mười của câu lạc bộ này, tức là 0.1% của những người đóng thuế ở Mỹ. Trong số 400 hay 500 gia đình giầu nhất nước, lợi tức nhờ đầu tư chiếm ba phần tư tổng số lợi tức, hay nhiều hơn. Cho nên suất thuế họ đóng thực ra thấp hơn những người cũng giầu nhưng chỉ nhờ (đi la`m) lãnh lương, như các quản đốc xí nghiệp hay các bác sĩ chuyên khoa. Chính vì thế nhà tỷ phú Warren Buffett nói rằng ông chỉ đóng thuế 27% trong khi thư ký của ông phải đóng 35, 36%. Ông Buffett và ông Bill Gates, hai người giầu nhất nước Mỹ đều ủng hộ chủ trương tăng thuế các đại gia như chính họ.

Theo Giáo Sư Edward Wolff, cuộc khủng hoảng tài chánh năm 2007, đưa tới tình trạng kinh tế suy thoái hiện nay, đã làm tài sản của 1% những người giầu nhất giảm mất 11%. Trong khi đó những người có lợi tức đứng giữa (median) thì bị giảm mất 36%. Vào giữa năm 2011, sự chênh lệch về tài sản ở nước Mỹ nặng hơn năm 2007. Không thể nói những nhà trung gian tài chánh và các nhà đầu tư giỏi (như Warren Buffett) đã tham lam tích lũy của cải. Chính luật lệ về thuế khóa đã tạo ra sự chênh lệch ngày càng lớn. Vào năm 2000, trong số các nước giầu thì Mỹ và Thụy Sĩ là hai nước tài sản được tập trung vào 10% dân số cao nhất (gần 70%, và trên 71%). Ở các nước khác, 10% những người giầu nhất làm chủ một phần nhỏ hơn, như 65.0% (Denmark), 61.0% (Pháp), 56.0% (Anh), 53.0% (Canada), 44.4% (Ðức), 42% (Phần Lan).

Phong trào Occupy Wall Street chỉ là một biểu lộ của giới trẻ trước cảnh chênh lệch này. Họ không đòi xóa bỏ hệ thống kinh tế tư bản; cũng không hề muốn lật đổ chính quyền dân chủ. Khi những người trẻ có lý tưởng muốn xã hội công bằng hơn, đó là một điều đáng mừng cho các quốc gia. Các nhà chính trị sẽ phải diễn tả các khát vọng đó bằng cách thay đổi “luật chơi” cho xã hội công bằng hơn.

Advertisements

Posted in Tự Do ngôn Luận | Leave a Comment »

Ý kiến chúng tôi: Cải cách toàn diện để phát triển đất nước

Posted by hoangtran204 trên 30/10/2011

Trich’:

    Văn bản này không phải là một bản kiến nghị, cũng không phải đưa ra để lấy chữ ký, mà cốt chia sẻ suy nghĩ về cải cách toàn diện để phát triển đất nước. Văn bản đã được gửi đến các ủy viên trong Bộ Chính trị cách đây khoảng một tháng và đến Quốc hội cùng Chính phủ gần đây hơn. Nay xin trân trọng gửi đến bạn đọc.

Hồ Tú Bảo, Nguyễn Tiến Dũng, Trần Hữu Dũng, Giáp Văn Dương, Nguyễn Ngọc Giao, Ngô Vĩnh Long, Vĩnh Sính, Nguyễn Minh Thọ, Trần Văn Thọ, Cao Huy Thuần, Nguyễn Văn Tuấn, Hà Dương Tường, Vũ Quang Việt, Phạm Xuân Yêm

Lời giới thiệu

Văn bản dưới đây được soạn thảo trong mùa hè vừa qua, khi Trung Quốc xâm phạm chủ quyền của Việt Nam trên Biển Đông. Là người Việt Nam, không ai không khỏi giật mình tự đặt câu hỏi: làm sao đối phó với hiểm họa ngoại xâm khi nội lực của chúng ta đang có nhiều vấn đề đáng lo ngại: kinh tế bấp bênh, giáo dục và y tế xuống cấp, khoa học và công nghệ non yếu, đạo đức xã hội suy đồi, tham nhũng tràn lan, bộ máy nhà nước thiếu hiệu quả.

Qua trao đổi giữa các đồng nghiệp trong giới đại học và nghiên cứu làm việc ở nhiều nơi trên thế giới, văn bản này được viết ra, nhằm phân tích những yếu kém của nội lực Việt Nam và đề nghị những biện pháp cải cách. Xuất phát từ nhiều chỗ đứng khác nhau, nhưng cùng bức xúc như nhau trước tình hình nghiêm trọng của đất nước, những người soạn thảo đã làm việc trên tinh thần đồng thuận. “Bản Ý Kiến” này là kết quả của vài trăm điện thư trao đổi, đúc kết nhiều quan điểm khác nhau để đi đến một “mẫu số chung”: Sự cần thiết của cải cách thể chế, con đường ngắn nhất và hiệu quả nhất để tăng cường nội lực, thực hiện đoàn kết, bảo vệ đất nước, và phát triển bền vững.

Văn bản này không phải là một bản kiến nghị, cũng không phải đưa ra để lấy chữ ký, mà cốt chia sẻ suy nghĩ về cải cách toàn diện để phát triển đất nước. Văn bản đã được gửi đến các ủy viên trong Bộ Chính trị cách đây khoảng một tháng và đến Quốc hội cùng Chính phủ gần đây hơn. Nay xin trân trọng gửi đến bạn đọc.

Nội dung

Lời giới thiệu

· Tóm tắt

· A. Mở đầu

· B. Việt Nam nhìn từ thế giới bên ngoài

· C. Việt Nam hiện nay: Thực trạng và nguyên nhân

· D. Cải cách vì một nước Việt Nam giàu mạnh và tự chủ

· E. Kết luận

Tóm tắt

Việt Nam chúng ta đang đứng trước một khúc ngoặt lịch sử. Theo dõi những diễn tiến của xã hội Việt Nam, đặc biệt trong những năm gần đây, chúng tôi thật sự lo âu về tương lai của đất nước. Bản ý kiến này không nêu lại những thành tựu Việt Nam đã đạt được, mà tập trung vào vấn đề nội lực Việt Nam đang suy yếu: Kinh tế bấp bênh, giáo dục và y tế xuống cấp, khoa học và công nghệ non yếu, đạo đức xã hội suy thoái, tham nhũng tràn lan, bộ máy nhà nước nhiều bất cập. Trong lúc đó, kinh tế ngày càng lệ thuộc vào Trung Quốc và đe dọa về an ninh từ nước láng giềng phương Bắc ngày càng rõ nét.

Năm 2008 lần đầu tiên thu nhập đầu người của Việt Nam vượt qua ngưỡng 1.000 USD, thoát ra được vị trí của nước thu nhập thấp. Nhưng ta đã mất gần 35 năm kể từ khi đất nước thống nhất, nếu kể từ khi đổi mới cũng gần một thế hệ mới đạt được thành quả còn khiêm tốn này. Trong cùng thời gian đó, nhiều nước ở châu Á đã đạt thành quả được cả thế giới ngưỡng mộ. So với các nước trong vùng và trên thế giới có cùng điều kiện phát triển trước đây, nước ta hiện nay vẫn còn ở vị trí rất thấp trong hầu hết mọi lĩnh vực, từ kinh tế, giáo dục đến khoa học. Mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” mà Đảng Cộng sản Việt Nam đề ra vẫn còn rất xa. Hiện nay chưa có dấu hiệu cho thấy Việt Nam có thể đạt mục tiêu trở thành nước công nghiệp hiện đại vào năm 2020.

Khi phân tích vấn đề, chúng tôi thấy có hai nguyên nhân sâu xa, liên quan đến thể chế nói chung, và cơ chế tuyển chọn người lãnh đạo và quản lý nhà nước nói riêng.

Thứ nhất, thể chế còn thiếu dân chủ. Có thể nói rằng thể chế hiện nay là di sản của thời chiến tranh, bao cấp và chủ nghĩa xã hội kiểu Lênin-Stalin, với đặc điểm cơ bản là hạn chế dân chủ, hạn chế tự do tư tưởng, thiếu tinh thần thượng tôn pháp luật. Hệ quả là xã hội suy giảm tính năng động và hiệu quả, hạn chế sáng tạo trong khoa học và giáo dục, không chống được suy thoái giá trị đạo đức và văn hóa, bất công và cách biệt xã hội tăng lên, và không khuyến khích việc sử dụng hiệu quả các nguồn lực trong và ngoài nước để phát triển. Chế độ tiền lương bất hợp lí trong cơ chế “xin cho” đã đẩy nhiều công chức vào con đường tham nhũng, và làm cho nhiều nhà giáo, bác sĩ, nhà khoa học,… không chuyên tâm với nghề nghiệp và không giữ được đức tính cao đẹp vốn có từ xưa. Hoàn toàn đáng lo ngại khi thể chế hiện nay đang hạn chế sức mạnh của đất nước và làm lung lay nền tảng của xã hội.

Thứ hai, là hệ quả của nguyên nhân thứ nhất, trong thành phần lãnh đạo đất nước chưa có nhiều người tài giỏi, bản lĩnh, chịu trách nhiệm cao và quy tụ được bên mình những trí thức và cộng sự chân chính. Từ trung ương đến địa phương, nhiều quan chức thiếu cả năng lực và đạo đức cần thiết. Tình trạng bằng cấp giả và chạy chức chạy quyền đã trở thành vấn nạn nhức nhối. Việc lợi dụng vị trí công quyền để trục lợi cá nhân đang là hiện tượng phổ biến ở nhiều cán bộ nhà nước.

Theo chúng tôi, phải có một cuộc cải cách mang tính cách mạng về thể chế mới giải quyết được hai vấn đề này. Chúng tôi nghĩ rằng trách nhiệm này trước hết thuộc về đảng cầm quyền và trên thực tế hiện nay cũng chỉ có Đảng Cộng sản Việt Nam mới đảm nhận được vai trò này.

Vì vậy, chúng tôi đề nghị Đảng Cộng sản Việt Nam xem xét thực hiện 8 điểm sau:

1. Kiên quyết xây dựng nhà nước dân chủ pháp quyền.

Không có ai và tổ chức nào đứng trên và đứng ngoài pháp luật. Để thực hiện được điều này, cần triệt để tôn trọng Hiến pháp và đảm bảo sự thực thi Hiến pháp theo tinh thần hiến pháp là trên hết. Đồng thời, cần có cơ chế kiểm soát quyền lực, cần có hệ thống tòa án độc lập để chế tài được các hành vi lạm dụng quyền hành, tham nhũng, làm giàu bất chính và ức hiếp dân chúng.

Triệt để dân chủ hóa, đúng như mục tiêu mà Hiến pháp đề ra. Đảng cần chứng minh bằng hành động thực tế rằng đó không phải là khẩu hiệu mà chính là thao thức thường xuyên của lãnh đạo, của các cơ quan công quyền. Để thực hiện dân chủ trong khuôn khổ pháp lý hiện nay, cần thật sự triển khai và áp dụng nội dung của Hiến pháp. Trước hết, phải thật sự tôn trọng các quyền mà Hiến pháp đã ghi rõ, đặc biệt là quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận, và được quyền lập hội, quyền biểu tình trong khuôn khổ pháp luật, và quyền bình đẳng trước pháp luật.

Pháp luật nhằm bảo đảm quyền tự do của người này không xâm phạm đến quyền tự do của người khác chứ không phải nhằm hạn chế hoặc triệt tiêu tự do. Tất nhiên, tự do cá nhân phải tôn trọng lợi ích tập thể, nhưng không nên viện lợi ích tập thể với mục đích triệt tiêu tự do. Cụm từ “theo quy định của pháp luật” phải được hiểu trong tinh thần đó để các quyền được Hiến pháp công nhận có giá trị thực sự chứ không phải chỉ có tính cách lý thuyết. Hiện nay, không thiếu thí dụ luật được viết nhằm hạn chế quyền công dân được ghi trên Hiến pháp. Thí dụ điển hình là luật bầu cử và Quyết định 97. Luật bầu cử hạn chế quyền ứng cử của công dân vì đòi hỏi người tự ứng cử phải được Mặt trận Tổ quốc thông qua. Quyết định 97 của Thủ tướng nhằm hạn chế quyền phản biện chính sách của trí thức. Thật ra, tất cả các quyền của công dân đều đã nằm trong Hiến pháp Việt Nam, chỉ cần triển khai và thật sự áp dụng.

Cần bảo đảm nền móng của dân chủ: đó là tự do ngôn luận. Quyền tự do ngôn luận mà Hiến pháp đã ghi rõ cần đi vào thực chất với việc bảo đảm tính công khai và minh bạch của các hoạt động công quyền và quyền tranh luận của xã hội và công dân đối với những hoạt động đó. Những hạn chế cần thiết của tự do ngôn luận, như các bí mật quốc gia (thuộc phạm vi hình sự) hay bí mật kinh doanh, đời tư của công dân (dân sự), phải được ghi rõ trong các đạo luật (được quốc hội thông qua) chứ không phải là qua các nghị định, quyết định của hành pháp.

2. Tiếp thu các tư tưởng tiến bộ nhằm thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

Không nên tự ràng buộc vào một ý thức hệ duy nhất. Chủ tịch Hồ Chí Minh nếu chỉ biết học thuyết Mác-Lênin, không tiếp thu mọi tư tưởng tiến bộ của thế giới thì đã không viết được bản Tuyên ngôn độc lập gói ghém những giá trị phổ quát của nhân loại. Mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” là rất hợp lòng dân. Các hệ tư tưởng là công cụ nhằm giúp đạt mục tiêu trên. Kinh nghiệm trên thế giới cho thấy một xã hội muốn phát triển cần có tự do tư tưởng và tự do ngôn luận do đó cần thoát khỏi sự ràng buộc vào một ý thức hệ duy nhất. Ra khỏi sự ràng buộc vào ý thức hệ đó cũng sẽ cho thấy Việt Nam độc lập với Trung Quốc về mặt tư tưởng và đi trước Trung Quốc về cải cách thể chế.

3. Xây dựng một nhà nước vững mạnh bằng cách minh bạch hóa việc bổ nhiệm các chức vụ cao cấp, thực hiện việc tuyển chọn công chức theo qui trình khách quan dựa trên khả năng, cải cách chế độ tiền lương cho hợp lý.

Nêu cao trách nhiệm cá nhân trong hệ thống công quyền. Tất cảcông chức và người lãnh đạo trong hệ thống nhà nước phải chịu trách nhiệm cá nhân về nhiệm vụ của mình, không được ẩn náu dưới danh nghĩa trách nhiệm tập thể. Cơ chế tập trung dân chủ khi đem áp dụng trong việc điều hành chính phủ đã bị nhiều người lợi dụng để bao biện cho thói vô trách nhiệm, ỷ lại, đổ lỗi cho tập thể, cơ hội, bè phái, “cha chung không ai khóc”. Ngoài ra, cần xây dựng cơ chế tách bạch sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước để tránh sự chồng chéo, áp đặt, kém hiệu quả.

Minh bạch hóa trong bổ nhiệm tất cả các chức vụ, kể cả vị trí cao cấp. Tạo cơ chế công khai và dân chủ hóa để có thể tuyển chọn những nhà lãnh đạo tài đức và đáp ứng được đòi hỏi của dân tộc, được dân tin tưởng và được thế giới nể trọng. Không nên tiếp tục cách làm hiện nay là dàn xếp trong nội bộ Đảng rồi đưa ra Quốc hội lấy phiếu tín nhiệm. Những người đủ tài đức nhưng không phải đảng viên cũng cần được xem xét bổ nhiệm vào các vị trí quan trọng. Chính phủ Hồ Chí Minh sau Cách mạng Tháng tám cũng đã có phương châm này.

Xây dựng bộ máy công chức làm việc có trách nhiệm và hiệu quả, và có cơ chế tuyển chọn khách quan dựa trên tài năng chuyên môn. Hiệu suất của bộ máy công quyền là điều kiện tối cần thiết để kinh tế, giáo dục, văn hóa phát triển nhanh và lành mạnh. Cho nên, việc tuyển chọn công chức phải dựa trên tiêu chí chuyên môn và đạo đức, độc lập với quan điểm chính trị ở nhiều loại công việc.

Cải cách chế độ tiền lương nhằm bảo đảm người công chức có thể sống bằng đồng lương của mình. Công chức phải được bảo đảm sống bằng đồng lương để tập trung vào công việc. Chế độ tiền lương cần hợp lí và phù hợp với khả năng, cống hiến thực của công chức để có thể thu hút được những người có khả năng nhất trong xã hội vào bộ máy công quyền. Đây là một trong những vấn đề cốt lõi cần đặt thành mục tiêu ưu tiên phải thực hiện ngay.

4. Phát triển kinh tế theo hướng bền vững trong đó ưu tiên hàng đầu là tạo công ăn việc làm và nhanh chóng cải cách việc điều hành và quản lý doanh nghiệp quốc doanh trong đó có các tập đoàn kinh tế.

Về việc phát triển kinh tế, tạo công ăn việc làm cho người lao động cần được đặt thành ưu tiên hàng đầu. Để phát triển bền vững và hướng tới toàn dụng lao động cần đẩy mạnh công nghiệp hóa theo hướng ngày càng cạnh tranh trên thị trường quốc tế và chú trọng phát triển nông thôn.

Đề nghị lập một hội đồng tư vấn chiến lược phát triển để giúp chính phủ vạch ra chiến lược phát triển có trọng điểm, không dàn trải và dẫm chân lên nhau, kết hợp thỏa đáng lợi ích quốc gia và lợi ích vùng nhằm phát triển nền kinh tế có chất lượng. Hội đồng này tập trung những chuyên gia có trình độ, có chức năng xây dựng và giám sát việc thi hành chiến lược phát triển với đủ thẩm quyền và chế độ đãi ngộ thích hợp. Bộ phận này phải được đặt trên tất cả các bộ ngành liên quan tới lĩnh vực kinh tế, đứng đầu là Thủ tướng hoặc Phó thủ tướng thường trực, có những chuyên viên tài năng, có cơ chế tiếp thu ý kiến của giới doanh nhân và trí thức. Bộ phận chuyên trách này sẽ có tiếng nói quan trọng trong việc quyết định các dự án lớn, trong quy hoạch phát triển và xây dựng kết cấu hạ tầng.

Cải cách chế độ sở hữu ruộng đất và tạo cơ hội có việc làm ngoài nông nghiệp là hai trụ cột để nâng cao mức sống của người dân ở nông thôn. Cần có chiến lược về đất đai, qui hoạch rõ rệt các vùng chuyên canh nông nghiệp và vùng có thể phát triển công nghiệp, cải cách để xác định rõ đâu là đất tư hữu và đâu là đất công hữu, tiến tới xóa bỏ hẳn chính sách coi đất đai là sở hữu toàn dân như hiện nay. Tư hữu hóa sẽ là cơ sở để giải quyết việc tập trung ruộng đất manh mún hiện nay để thực hiện sản xuất lớn nông nghiệp và phục vụ công nghiệp hóa nông thôn. Mặt khác, như nhiều người đã chỉ ra, đất đai là một nguồn tham nhũng rất lớn, gây hàng ngàn vụ khiếu kiện của dân trong những năm qua, tệ nạn này sẽ được hạn chế rất nhiều nếu người dân trên nguyên tắc được toàn quyền sở hữu (thay vì chỉ có quyền sử dụng) đất đai của mình.

Cần xóa bỏ chế độ hộ khẩu để người dân khi đến đô thị làm việc có thể yên tâm với cuộc sống ở đó và không cần giữ lại quyền sử dụng đất ở nông thôn.

Cần nhanh chóng cải cách việc điều hành và quản lý doanh nghiệp quốc doanh đặc biệt là các tập đoàn kinh tế. Thời gian qua tập đoàn kinh tế đã trở thành nơi hội tụ của các nhóm lợi ích và người có quyền chức, gây ra bất ổn cho nền kinh tế và tình trạng tham nhũng bành trướng. Vì thế, cần đặt các doanh nghiệp nhà nước, đặc biệt là các tập đoàn kinh tế, trong khung pháp lý chung của luật pháp; xóa bỏ việc hành pháp trực tiếp lãnh đạo kinh doanh và thay vào đó là Hội đồng quản trị độc lập có nhiệm kỳ, do Quốc hội hay Hội đồng Nhân dân bổ nhiệm, nhằm tránh biến tập đoàn thành một phần của các nhóm lợi ích. Ngoài ra, cần xóa bỏ các ưu đãi đặc biệt (về tín dụng, thuế, bảo lãnh nợ,…) cho doanh nghiệp quốc doanh; và không phân biệt đối xử giữa doanh nghiệp quốc doanh và ngoài quốc doanh.

5. Ngăn chặn sự xuống cấp của văn hóa và đạo đức xã hội.

Văn hóa và đạo đức xã hội đang xuống cấp nghiêm trọng. Kỷ cương phép nước và nhân phẩm của con người đang bị coi thường. Chưa bao giờ cái xấu, cái giả và cái ác, biểu hiện ở nhiều dạng nhiều mặt, lại xuất hiện nhiều như bây giờ. Các giá trị văn hóa tốt đẹp của nhân loại chưa kịp nuôi dưỡng và bén rễ thì đã bị những cái xấu, cái giả lấn át. Thói háo danh, hình thức phô trương, mê tín dị đoan lại càng được dịp lên ngôi. Vì thế, cần quảng bá, khuyến khích những giá trị văn hóa tiến bộ của nhân loại như tự do, bình đẳng, bác ái, pháp quyền… và khôi phục những tinh hoa văn hóa truyền thống để làm nền tảng cho mọi sinh hoạt của xã hội. Cần nghiêm khắc xử lý cán bộ ở các cấp cao khi có hiện tượng sai phạm đạo đức để làm gương. Đặc biệt quan trọng là việc sử dụng hiệu quả vai trò tích cực của công luận để phê phán và ngăn chặn sự suy thoái của đạo đức và văn hóa.

6. Thực sự làm cho giáo dục, y tế, khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu.

Nguồn lực lớn nhất của Việt Nam là con người. Vì thế, chiến lược phát triển cần phải xây dựng theo hướng chủ yếu dựa vào nguồn nhân lực ngày càng có kỹ năng và khả năng làm chủ công nghệ cao. Chiến lược phát triển cũng cần phải vì cuộc sống của đại đa số dân chúng nhiều hơn nữa. Do đó, phải có biện pháp hiệu quả nhằm cụ thể hóa các chính sách về giáo dục, khoa học và công nghệ. Đồng thời, lãnh đạo phải cho thấy quyết tâm chăm lo sức khỏe của người dân qua các cải cách về y tế.

Cần tránh chính trị hóa học đường. Thay vào đó, cần giáo dục đạo đức, khích lệ tinh thần yêu nước, trách nhiệm công dân, và ý chí phấn đấu của tuổi trẻ. Điều tối quan trọng là cần đảm bảo tự do học thuật, tăng tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các cơ sở đào tạo.

Do tầm quan trọng và tình hình ngày càng xuống cấp của giáo dục, chúng tôi đề nghị Thủ tướng trực tiếp chịu trách nhiệm về giáo dục, cụ thể là chỉ đạo nội dung cải cách, theo sát việc triển khai các chiến lược, chính sách, và chịu trách nhiệm về kết quả của các cải cách lớn.

7. Thực hiện đoàn kết dân tộc

Chấp nhận và dung hòa với những người bất đồng chính kiến nhưng cùng mục tiêu phát triển đất nước. Đặc biệt trước những diễn biến phức tạp và nguy hiểm ở biển Đông, hòa hợp hòa giải dân tộc cũng có nghĩa là cổ vũ lòng yêu nước của mọi người dân không phân biệt chính kiến, quá khứ. Chúng tôi đặc biệt đề nghị nên có hình thức ghi nhận và biểu dương sự dũng cảm hy sinh của những quân nhân Việt Nam Cộng hòa bảo vệ Hoàng Sa năm 1974.

8. Triển khai một đường lối ngoại giao độc lập, dựa trên một thể chế dân chủ, chú trọng hơn đến quan hệ chiến lược với ASEAN và Hoa Kỳ, trong khi tiếp tục coi trọng quan hệ hữu nghị và bình đẳng với Trung Quốc.

Quan hệ Việt Nam và Trung Quốc cần được xây dựng trên cơ sở hoàn toàn bình đẳng, nhưng không xem đó là quan hệ đặc biệt, càng không thể coi đó là đồng chí tốt. Việt Nam không thể “hợp tác toàn diện” với một nước lớn và mạnh hơn mình hàng chục lần và có những quan hệ phức tạp về lịch sử và địa chính trị, nhất là đang thể hiện rõ tham vọng và đã có những hành động bành trướng, xâm hại chủ quyền và an ninh quốc gia của Việt Nam.

Về Biển Đông, Quốc hội Việt Nam cần ra một tuyên cáo đặc biệt về Công hàm của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng năm 1958, khẳng định đó không phải là sự thừa nhận chủ quyền của Trung Quốc ở Hoàng Sa và Trường Sa. Công hàm Phạm Văn Đồng chỉ là thiện chí của Việt Nam ủng hộ Trung Quốc trong việc tranh chấp với Mỹ về an ninh ở vùng biển gần Đài Loan. Tuyên cáo này vừa để làm rõ quan điểm của Việt Nam trước dư luận quốc tế, vừa xóa bỏ những ngờ vực của không ít người Việt Nam ở trong và ngoài nước, góp phần tăng thêm tình đoàn kết dân tộc trước hiểm họa ngoại xâm.

Cần đoàn kết với Philippines, Malaysia và Brunei trong việc chống lại tuyên bố “Đường Lưỡi Bò” của Trung Quốc. Chúng tôi đề nghị Việt Nam đưa ra đề án với ASEAN đặt tên vùng biển Đông nước ta (mà Trung Quốc và nhiều nước gọi là biển Nam Trung Hoa) là Biển Đông Nam Á.

Trước bước ngoặt lịch sử của đất nước hiện nay, Đảng Cộng sản Việt Nam mang một trách nhiệm nặng nề đối với tiền đồ dân tộc. Chúng tôi mong thấy một cuộc cách mạng mới về thể chế để Việt Nam có thể phát triển thành một nước giàu mạnh và tự chủ.

Trở về mục lục

A. Mở đầu

Việt Nam chúng ta đang đứng ở đâu trên bản đồ kinh tế và trên cục diện chính trị của khu vực và thế giới? Đất nước chúng ta sẽ thụt lùi về nhiều mặt, hay là sẽ phát triển mạnh mẽ, bền vững, đáp ứng khát vọng của dân tộc là mong thấy một nước Việt Nam giàu mạnh, phát triển hài hòa với thiên nhiên và xã hội, chia sẻ được những giá trị phổ quát của thế giới văn minh và giữ vững độc lập về kinh tế, chính trị, văn hóa? Nền tảng xã hội, văn hóa, giáo dục và thể chế của ta hiện nay có tạo đủ những điều kiện cơ bản để đất nước phát triển theo hướng tích cực không?

Theo dõi những diễn tiến của xã hội Việt Nam, đặc biệt trong những năm gần đây, chúng tôi thật sự lo âu khi thử trả lời những câu hỏi nêu trên.

Từ gần 20 năm nay, Đảng Cộng sản Việt Nam đã đưa ra mục tiêu phát triển đất nước là “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Đây là mục tiêu đúng đắn, có giá trị phổ quát và nước nào cũng muốn nhắm tới. Thế nhưng, hiện thực cho thấy Việt Nam không luôn tiến được theo hướng đó, nếu không nói là trên nhiều mặt Việt Nam đã đi ngược lại. Một bộ phận nhỏ giàu một cách bất hợp pháp, sinh hoạt xa hoa trong khi đa số dân chúng hằng ngày phải vật lộn với cơm áo, với chi phí cho giáo dục, y tế trong cơn lạm phát. Tham nhũng ngày càng trầm trọng, len lách vào mọi ngõ ngách của xã hội làm ảnh hưởng đến ý chí phấn đấu, tinh thần hướng thượng của người dân, và ngày càng có nhiều trường hợp công chức làm mất thể diện quốc gia. Bộ máy công quyền ở các cấp nổi lên quá nhiều người thiếu cả tài lẫn đức đến nỗi một lãnh đạo cấp cao của Đảng phải thừa nhận là bây giờ có quá nhiều “sâu”. Do tham nhũng, thiếu người tài đức gánh vác việc nước nên bộ máy nhà nước có nhiều bất cập. Tiếng nói của trí thức, của các nhà báo chân chính ngày càng mất hiệu quả. Đạo đức xã hội xuống cấp trầm trọng, bắt đầu lan tràn vào cả trong học đường, trong viện nghiên cứu khoa học, là những nơi lẽ ra phải đi đầu về đạo đức.

Năm 1996 Đảng Cộng sản Việt Nam đưa ra mục tiêu công nghiệp hóa – hiện đại hóa, chủ trương phấn đấu làm cho Việt Nam trở thành một nước công nghiệp hiện đại vào năm 2020. Từ đó đến nay đã 15 năm, đã đi gần 2/3 đoạn đường dự định mà cái đích còn quá xa vời. Việt Nam chưa có được một ngành công nghiệp áp dụng công nghệ tiên tiến và cạnh tranh mạnh mẽ trên thị trường thế giới. Chúng ta chủ yếu vẫn còn xuất khẩu hàng công nghiệp gia công, dùng nhiều lao động giản đơn và tùy thuộc sản phẩm trung gian nhập khẩu. Doanh nghiệp nhà nước nhất là tập đoàn kinh tế được dành mọi ưu đãi về vốn và đất nhưng cho đến nay chẳng những không đóng được vai trò chủ đạo như nhà nước chủ trương mà còn gây ra gánh nặng nợ nần và bất ổn cho toàn nền kinh tế.

Nền kinh tế yếu cùng với bộ máy nhà nước nhiều bất cập đã đưa đến một hậu quả nghiêm trọng là Việt Nam ngày càng lệ thuộc vào Trung Quốc. Về kinh tế thì đã quá rõ: Hàng công nghiệp của Trung Quốc tràn ngập thị trường Việt Nam, nhập siêu từ Trung Quốc cao ở mức dị thường, vừa gây bất ổn kinh tế vĩ mô vừa cản trở khả năng chuyển dịch cơ cấu công nghiệp của Việt Nam. Doanh nghiệp Trung Quốc chiếm phần lớn các gói thầu xây dựng, mua quyền sử dụng lâu dài rừng và bờ biển Việt Nam, đưa lao động vào Việt Nam dưới nhiều hình thức – kể cả bất hợp pháp – và nhiều nơi hình thành cộng đồng người Hoa mới… Về chính trị và tư tưởng, tuy không rõ ràng và dễ nhận biết như trong kinh tế, nhưng sự phụ thuộc là có. Cũng vì gắn bó với Trung Quốc về ý thức hệ, về thể chế chính trị mà ta không triển khai được đường lối ngoại giao khôn ngoan hiệu quả, không tận dụng được sức mạnh thời đại để làm cho dân giàu nước mạnh. Chẳng những thế, lệ thuộc về kinh tế và ngoại giao sẽ dễ dàng dẫn đến việc mất chủ quyền. Điều này đưa đến một thực tế nghiêm trọng: An ninh quốc gia bị đe dọa!

Từ tháng 5 năm nay (2011), vấn đề biển Đông trở nên nổi cộm. Ảnh hưởng của Trung Quốc đến an ninh của ta đã thấy rõ. Thật ra, chuyện Trung Quốc gây hấn ở Biển Đông lần này không đáng lo bằng sự thâm nhập của họ ngày càng mạnh và sâu vào kinh tế, chính trị và văn hóa của ta. Khi kinh tế ta yếu, bộ máy nhà nước yếu, nền tảng đạo đức xã hội lung lay, Trung Quốc có thể thực hiện được mục tiêu biến Việt Nam thành một nước lệ thuộc toàn diện vào họ.

Chúng tôi, những người có tên trong danh sách dưới đây, vô cùng lo lắng, bức xúc trước nguy cơ Việt Nam bị thụt lùi trong tiến trình phát triển của thế giới mà hậu quả là Việt Nam có thể mất độc lập và tự chủ dưới hình thức này hay hình thức khác. Để tránh nguy cơ này, Đảng Cộng sản Việt Nam, với trọng trách đối với tiền đồ của đất nước, cần cải cách và triệt để đổi mới thể chế, nhằm củng cố và phát huy cao nhất sức mạnh của dân tộc, tận dụng thời cơ quốc tế, để mở ra con đường phát triển mới cho đất nướcNhững nhận định về thực trạng và đề nghị cải cách dưới đây là xuất phát từ bức xúc về nguy cơ hiện nay đối với Việt Nam và ước vọng của chúng tôi về một nước Việt Nam thực sự giàu mạnh, văn minh và tự chủ. Chúng tôi tin rằng, đây cũng chính là ước vọng của toàn dân Việt Nam nói chung.

Trở về mục lục

B. Việt Nam nhìn từ thế giới bên ngoài

Nhìn kinh tế thế giới trong nửa thế kỷ gần đây ta thấy nhiều nước, nhất là những nước ở châu Á, đã phát triển nhanh, rút ngắn khoảng cách với các nước đi trước, thậm chí có nước đã tiến lên ngang hàng với các nước tiên tiến. Có mấy khi chúng ta xét xem một cách khách quan, nghiêm túc những yếu tố cơ bản, những đặc trưng chung nhất làm cho các nước ấy thành công? Cho đến nay, Việt Nam có nghiên cứu kinh nghiệm các nước nhưng chủ yếu là những chính sách, chiến lược cụ thể, còn những yếu tố thuộc nền tảng thể chế và xã hội, nền tảng văn hóa, giáo dục…, tức là những tiền đề để cho các chính sách, chiến lược cụ thể ấy thành công, thì hầu như không được chú trọng nghiên cứu, hoặc có nghiên cứu nhưng không được thực thi, áp dụng.

Ta thử lấy trường hợp Hàn Quốc làm thí dụ: Hàn Quốc vào đầu thập niên 1960 là nước kém phát triển nhưng sau đó vượt qua giai đoạn phát triển ban đầu và thành công trong giai đoạn phát triển bền vững, trở thành nước tiên tiến trong thời gian rất ngắn. Quá trình công nghiệp hóa của nước này bắt đầu từ năm 1961 nhưng chỉ sau một thế hệ, Hàn Quốc đã trở thành một nước công nghiệp phát triển đáng kể trên thế giới và đến năm 1996 được kết nạp vào Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) là tổ chức của các nước tiên tiến. Từ một nước nhận viện trợ nhiều vào các thập niên 1960 và 1970, Hàn Quốc bắt đầu chuyển sang vị trí của nước đi viện trợ từ cuối thập niên 1980. Hiện nay, nhiều công ty của Hàn Quốc trong các ngành công nghệ cao như điện tử, xe hơi đã vươn lên hàng đầu thế giới.

Tổng hợp các kết quả nghiên cứu về sự thành công của Hàn Quốc ta có thể nêu lên mấy nguyên nhân chính. Thứ nhất là tố chất của người lãnh đạo. Đó là những nhà chính trị mà tinh thần yêu nước vượt qua những niềm tin ý thức hệ, luôn trăn trở về con đường đưa đất nước đuổi kịp các nước tiên tiến. Họ cũng là những người thức thời, biết học hỏi ở đâu, tham khảo thể chế, cơ chế nào và du nhập công nghệ gì để phát triển nhanh. Và họ cũng biết rằng để xây dựng chiến lược phát triển trên cơ sở hiểu rõ nội lực và ngoại lực không thể không dựa vào người tài thật sự. Bởi vậy, chung quanh lãnh đạo toàn người tài giỏi, nhất là nhiều người đã du học và làm việc ở các nước tiên tiến. Thứ hai, với ý thức rằng bộ máy hành chính mạnh, hiệu suất cao mới vạch ra được các chính sách cụ thể và thực thi có hiệu quả các chính sách ấy, Hàn Quốc từ rất sớm đã có cơ chế thi tuyển công chức nghiêm ngặt để có được đội ngũ quan chức tài giỏi, mang trong mình sứ mệnh lo việc nước. Thứ ba, trong quá trình phát triển, Hàn Quốc xây dựng được quan hệ lành mạnh, hiệu quả giữa nhà nước và doanh nghiệp. Nhà nước yểm trợ để doanh nghiệp vươn ra thị trường thế giới nhưng có cơ chế để doanh nghiệp không ỷ lại vào nhà nước như buộc doanh nghiệp phải có thành quả xuất khẩu mới tiếp tục được hỗ trợ. Thứ tư, giáo dục, nghiên cứu khoa học và công nghệ được quan tâm hàng đầu. Vào giữa thập niên 1980, nghĩa là chỉ sau khoảng 25 năm từ khi bắt đầu quá trình phát triển, Hàn Quốc đã có những đại học, những viện nghiên cứu đạt chất lượng thuộc đẳng cấp quốc tế.

Những đặc trưng trên hầu như xuyên suốt trong quá trình phát triển, kể cả giai đoạn đầu, dưới thể chế độc tài chính trị (1961-1987). Hàn Quốc không phải không có tham nhũng, nhưng không tràn lan trong xã hội mà chỉ giới hạn ở một vài chính trị gia và một số ít tập đoàn kinh tế. Đặc biệt hầu như không có hiện tượng bòn rút của công, rút ruột công trình xây dựng, càng không dám lạm dụng, lãng phí tiền viện trợ.

Trong 50 năm qua, những nền kinh tế khác tại châu Á phát triển nhanh trong thời gian dài như Đài Loan, Malaysia, Thái Lan cũng đều có những đặc trưng giống Hàn Quốc, tuy nội dung chi tiết có khác và thành quả ít ấn tượng hơn.

Bây giờ nhìn lại trường hợp Việt Nam. Năm 2008, lần đầu tiên thu nhập đầu người của Việt Nam vượt qua ngưỡng 1.000 USD, thoát ra được vị trí của nước thu nhập thấp theo tiêu chuẩn của Ngân hàng thế giới. Nhưng ta đã mất gần 35 năm kể từ khi đất nước thống nhất, nếu kể từ khi đổi mớicũng gần một thế hệ mới đạt được thành quả khiêm tốn đó. Mặt khác, cơ chế, chính sách trong thời gian qua, đặc biệt trong 4-5 năm gần đây, đã làm cho kinh tế phát triển chủ yếu dựa vào vốn, hiệu quả đầu tư giảm và kéo theo lạm phát, lãng phí. Chất lượng phát triển cũng giảm nghiêm trọng: môi trường xuống cấp, phân hóa giàu nghèo tăng nhanh. Từ thành quả khiêm tốn và chất lượng phát triển thấp này, liệu từ nay Việt Nam có thể bắt đầu giai đoạn phát triển bền vững và kéo dài trong nhiều thập niên để thực sự có dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh, có vị trí xứng đáng trong khu vực châu Á và trên thế giới?

Cũng theo tiêu chuẩn của Ngân hàng thế giới, tính theo giá năm 2009, thu nhập đầu người 4.000 USD là cái mốc của nước thu nhập trung bình cao và 12.000 USD là mốc vượt lên hàng các nước thu nhập cao. Ở châu Á, Hàn Quốc từ một nước nghèo đã vươn lên hàng các nước thu nhập cao chỉ trong 4 thập niên (thu nhập đầu người năm 2009 là 17.000 USD). Malaysia (7.000 USD) và Thái Lan (4.000 USD) đang nỗ lực tạo điều kiện để trở thành nước tiên tiến, có thu nhập cao trong vòng hai thập niên tới.

Chỉ kể từ thời kỳ sau đổi mới, Việt Nam đã nhận viện trợ gần 20 năm rồi mà chưa thấy lãnh đạo Việt Nam đưa ra kế hoạch tới bao giờ sẽ không còn nhận viện trợ. Ngược lại, ở Hội nghị các nhà tài trợ mới đây, chính phủ còn nhấn mạnh Việt Nam vẫn là nước nghèo, cần thế giới tiếp tục quan tâm, giúp đỡ! Sang Seoul gặp sinh viên ta đang du học ở đấy sẽ nghe họ buồn rầu nói về hình ảnh Việt Nam tại Hàn Quốc. Trong khoảng 95.000 người Việt Nam tại đây thì 60.000 là lao động xuất khẩu và 30.000 là phụ nữ sang lấy chồng vì lý do kinh tế. Vậy thì hình ảnh Việt Nam ở đây làm sao tốt được? Trí thức nước ngoài hiện nay khi nói về Việt Nam ít có ai lạc quan về tương lai kinh tế nước ta. Đó là họ mới chỉ thấy tình trạng tham nhũng, trình độ của quan chức mà họ tiếp xúc và những chính sách bất cập mà họ thấy được.

Phân tích trong phần tiếp theo cho thấy thực trạng đáng lo ngại về kinh tế, văn hóa, giáo dục, y tế, khoa học & công nghệ và đối ngoại, cũng như những nguyên nhân chính đã đưa đến trình trạng đó.

Trở về mục lục

C. Việt Nam hiện nay: Thực trạng và nguyên nhân

Phân tích hiện trạng Việt Nam, chúng tôi thấy có quá nhiều vấn đề đang làm cho nền tảng xã hội bị lung lay, đất nước suy yếu. Hầu hết những vấn đề đó bắt nguồn từ thể chế và cơ chế.

1. Về kinh tế

Hiện nay trong cơ cấu xuất khẩu của Việt Nam tuy hàng công nghiệp chiếm khoảng 60% nhưng chủ yếu vẫn là những ngành dùng nhiều lao động giản đơn. Thêm vào đó, sản xuất các mặt hàng này phải phụ thuộc vào nguyên liệu và sản phẩm trung gian nhập khẩu. Các loại máy móc, những sản phẩm có hàm lượng kỹ năng lao động cao chỉ chiếm khoảng 10% tổng xuất khẩu. Xuất khẩu của Việt Nam còn phụ thuộc nhiều vào nông sản, nguyên liệu. Từ năm 2002 nhập siêu của Việt Nam tăng nhanh và gần đây khuynh hướng này càng mạnh hơn. Nhập siêu quá lớn đang gây ra bất ổn vĩ mô.

Trong 5 năm qua, sau khi gia nhập WTO, Việt Nam đã đi theo hướng hầu như mở toang cửa nền kinh tế mà không kèm theo việc thiết lập một hệ thống pháp lý cần thiết nhằm giám sát các mặt trái của nền kinh tế thị trường. Kết quả là Việt Nam đã vô tình xây dựng và củng cố một nền kinh tế tư bản hoang dã phục vụ các nhóm lợi ích (nhất là các tập đoàn kinh tế), phá hoại tài nguyên thiên nhiên, bòn rút của công làm giàu cho cá nhân trong khi lao động chân chính phải khổ sở với đồng lương thấp trước sự leo thang của vật giá.

Từ năm 2006 Việt Nam cho phép lập các tập đoàn kinh tế nhưng không đi kèm quy định giám sát cần thiết cũng như điều kiện buộc phải xác lập hệ thống quản lý doanh nghiệp, minh định rõ trách nhiệm và quyền hạn của lãnh đạo công ty. Điều này đã đưa đến hậu quả nghiêm trọng, trở thành một trong những nguyên nhân chính của cuộc khủng hoảng hiện nay. Sự đổ vỡ của Vinashin cho thấy bản chất của các tập đoàn kinh tế.

Chính sách phân quyền xuống địa phương đã không phát huy được sức sáng tạo và cạnh tranh để phát triển mà ngược lại, mở cửa cho những người có chức có quyền ở địa phương lợi dụng cơ hội đào khoét tài nguyên đất nước để làm giàu cá nhân, kể cả việc giao đất và tài nguyên cho nước ngoài khai thác ở những nơi trọng yếu về an ninh và quốc phòng. Luật Đất đai coi đất đai là sở hữu công, do đó dành cho chính quyền quyền thu hồi đất của bất cứ ai. Luật lại giao quyền này cho Ủy ban Nhân dân ở mọi cấp, xuống tận cấp quận, huyện, với giá do chính Ủy ban Nhân dân quyết định nhằm mục đích “phát triển kinh tế”. Đây chính là lý do nhiều đất đai mầu mỡ của nhân dân bị thu hồi để làm khu phát triển công nghiệp, sân gôn, hay xây nhà kinh doanh. Do được phân quyền, nhiều địa phương giao đất rừng, hầm mỏ cho công ty Trung Quốc khai thác trong 50 năm, kể cả những vùng nhạy cảm về an ninh mà trung ương không biết. Ngoài ra, tình trạng thu hồi đất có tính cách cưỡng chế đã giải thích tại sao có quá nhiều vụ dân oan liên quan đến đất đai.

Chính sách phân quyền hoàn toàn hợp lý để tạo sự chủ động, sáng tạo cũng như nhằm giải quyết các vấn đề riêng của địa phương, kể cả tạo cạnh tranh giữa địa phương này và địa phương khác. Nhưng thực tế các yếu tố tích cực đó đã không phát huy tác dụng, ngược lại chỉ làm nảy sinh các mặt tiêu cực. Tại sao như vậy? Đó là do năng lực yếu kém và thiếu tinh thần trách nhiệm của nhiều lãnh đạo địa phương như sẽ nói dưới đây.

Quy hoạch phát triển cũng là vấn đề đáng lo ngại của ta. Nhìn chung, cho đến nay quy hoạch nặng tính chất áp đặt, nóng vội, duy ý chí, thiếu thiết kế tổng thể và nhiều khi thiếu tính chuyên nghiệp. Những yếu kém này thể hiện ở nhiều lĩnh vực. Trong phát triển đô thị thì đó là việc quy hoạch vội vã, thiếu khoa học dẫn đến tình trạng ùn tắc giao thông liên tục và kéo dài, ngập úng do mưa, đào đường, đắp đường, chắn lô cốt … ở khắp mọi nơi. Trong đầu tư thì đó là tình trạng đầu tư theo phong trào, tràn lan kém hiệu quả như việc đầu tư trong nhiều dự án về kết cấu hạ tầng, về nhiều dự án phát triển công nghiệp và dịch vụ kém hiệu quả. Việc quy hoạch phát triển yếu kém dẫn đến tình trạng khai thác tài nguyên cạn kiệt, ồ ạt, chạy theo lợi nhuận trước mắt mà không tính đến hiệu quả lâu dài; không xét đầy đủ đến tất cả các khía cạnh liên quan đến hiệu quả kinh tế, văn hóa, môi trường, v.v. Nhiều cảnh quan thiên nhiên và di tích văn hóa bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Đặc biệt môi trường bị ô nhiễm nặng nề. Điển hình của việc này là nhiều dòng sông đã và đang bị các công ty đua nhau “bức tử”. Nguồn nước sinh hoạt, nước trong các ao hồ từ các thành phố lớn đến nông thôn cũng bị ô nhiễm ở rất nhiều nơi. Chính do ô nhiễm nguồn nước sinh hoạt, ở nhiều vùng đã xuất hiện những “làng ung thư”. Điều này gióng lên hồi chuông cảnh báo cấp bách và đòi hỏi chính quyền phải có những biện pháp mạnh mẽ hơn nữa trong việc bảo vệ môi trường và chất lượng nguồn nước. Ngoài ra, ô nhiễm không khí cũng ở trạng thái báo động và ô nhiễm ở các làng nghề cũng ở mức nguy hiểm.

Nguyên nhân của tình trạng này là do thiếu nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng của quy hoạch, do khả năng hạn chế của chính quyền địa phương, và không loại trừ những toan tính tư lợi hoặc lợi ích cục bộ của những người có trách nhiệm.

Đâu là nguyên nhân dẫn đến tình hình kinh tế như hiện nay? Chúng tôi cho là có ba nguyên nhân sâu xa.

Thứ nhất, Đảng Cộng sản Việt Nam kiên trì phương châm xây dựng “nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa” trong đó chủ trương vai trò chủ đạo của sở hữu nhà nước, của kinh tế nhà nước. Từ khi có phương châm này (1991), do sự thuyết phục của những người có tư tưởng cải cách, nội dung có thay đổi một phần nhưng cái cốt lõi vẫn giữ nguyên mà hiện thân của nó là các tập đoàn kinh tế do nhà nước lập ra. Nhiều tập đoàn kết nối với một số lãnh đạo làm thành những nhóm lợi ích chi phối chính sách kinh tế. Khi có sai phạm các lãnh đạo đó bám theo phương châm nói trên của Đảng để trốn trách nhiệm.

Thứ hai, trong cơ quan nhà nước, trách nhiệm cá nhân không rõ ràng và thiếu động cơ để quan chức, lãnh đạo các bộ phấn đấu để bộ mình giải quyết các vấn đề lớn của đất nước. Ngược lại, ta thấy nhiều trường hợp họ chạy theo những hoạt động ngoài công việc mình phụ trách, lãng phí thì giờ và công quỹ. Có bộ trưởng phụ trách kinh tế trong lúc kinh tế khủng hoảng lại dành thời gian hướng dẫn nghiên cứu sinh viết luận án tiến sĩ, vốn là việc của giáo sư đại học. Có cục trưởng phụ trách vấn đề giá cả trong lúc lạm phát người dân khốn đốn lại bỏ đi đóng phim! Suốt trong hơn 10 năm qua, ai cũng thấy rõ công nghiệp Việt Nam thiếu sức cạnh tranh, hàng hóa của Trung Quốc ào ạt tràn vào nước ta, doanh nghiệp nhỏ và vừa không phát triển được, v.v. Cũng đã có rất nhiều đề án, chiến lược được trí thức trong và ngoài nước đưa ra, kể cả phân tích của học giả nước ngoài và các cơ quan quốc tế, nhưng tất cả đều bị xếp lại, không được chuyển thành chính sách để thực hiện.

Thứ ba, một phần liên quan đến vấn đề thứ hai vừa đề cập, trình độ, năng lực, tư cách của rất nhiều quan chức các cấp ở trung ương và địa phương không đạt yêu cầu. Rất tiếc chúng ta chưa chứng kiến những hình tượng lý tưởng của nhà cầm quyền “lo trước cái lo của thiên hạ, vui sau cái vui của thiên hạ”, còn người ngược lại thì quá nhiều. Trong cơn bão giá làm dân chúng điêu đứng mà trách nhiệm chính ở những bộ liên quan, nhưng tiền mua xe hơi của quan chức cao cấp được tăng lên và được giải thích đó là chính sách đối phó với giá cả leo thang! Thí dụ tương tự về sự vô cảm, vô trách nhiệm của quan chức thì quá nhiều. Hậu quả tiêu cực của chính sách phân quyền đã nói phần lớn là do trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn và tư chất đạo đức của các chức trách địa phương. Chúng ta nghe nhiều về các hiện tượng tiêu cực ở địa phương hơn là những điển hình tiên tiến, ít thấy những lãnh đạo dấn thân vì dân giàu nước mạnh ở địa phương mình. Hiện tượng đưa người thân quen vào bộ máy công quyền rồi trang bị thêm bằng cấp đạt được bằng con đường bất minh cũng làm suy yếu bộ máy hành chính ở rất nhiều nơi

Trở về mục lục

2. Về văn hóa

Văn hóa, đạo đức xã hội đang suy thoái trầm trọng. Chưa khi nào tin tức về tệ nạn xã hội lại có mật độ dày đặc như hiện nay. Dường như, cái xấu và cái ác đang hoành hành ngoài xã hội và tràn lên mặt báo mỗi ngày. Kỷ cương, phép nước bị coi thường, tính tự giác tôn trọng pháp luật và các quy ước xã hội và văn hóa rất thấp. Mê tín dị đoan lên ngôi, không chỉ ở tầng lớp đại chúng mà ngay ở cả một số cán bộ cao cấp ở các cơ quan công quyền. Hiện tượng “buôn thần bán thánh” trở thành phổ biến. Những chuẩn mực về văn hóa, những giá trị phổ quát như chân-thiện-mỹ đã bị sự giả dối, cái xấu và cái ác bóp nghẹt không nhân nhượng.

Hệ quả của điều này là các thang giá trị trong xã hội bị đảo lộn. Sự tự trọng, danh dự đã bị sự giảo hoạt, gian dối lấn át. Người ta sẵn sàng làm đồ giả để dâng cúng Quốc tổ, Quốc mẫu; sẵn sàng tranh cướp trong các lễ hội hoa; sẵn sàng túc trực chen lấn xô đẩy đến hỗn loạn trong lễ hội phát ấn.

Chưa bao giờ, nhân phẩm của con người có thể bị xúc phạm dễ dàng và tính mạng của con người có thể bị coi rẻ như vậy. Những vụ đánh giết nhau với hung khí xảy ra thường xuyên, nhiều khi chỉ vì những nguyên nhân không đâu. Không chỉ giữa những người dân bình thường với nhau, mà còn cả giữa đại diện của cơ quan công quyền với dân chúng. Vốn văn hóa dân tộc trở nên mỏng manh hơn bao giờ hết trước sự tấn công của văn hóa ngoại, đặc biệt là văn hóa Trung Quốc dưới mọi hình thức, thể loại.

Một điều hết sức đáng băn khoăn là thế hệ thanh thiếu niên đang lớn lên trong một môi trường thiếu hình mẫu cá nhân về lý tưởng và đạo đức, do vậy dễ quen một cách tự nhiên với các thói xấu như quay cóp, gian lận thi cử, đạo văn, hối lộ… Tính vị kỷ được đề cao, đi liền cùng sự thờ ơ với các vấn đề của xã hội, của đất nước.

Nguyên nhân trực tiếp của hiện tượng suy thoái đạo đức, văn hóa này là sự thiếu trách nhiệm của các cơ quan chức năng; sự băng hoại, tha hóa của nhiều công chức qua việc tham nhũng và hối lộ; và sự kiểm soát báo chí và truyền thông, – vũ khí mạnh nhất để chống lại tham nhũng, bất công, giả dối, ác độc – đã làm cho công luận bị hạn chế và vô hiệu hóa.

Trở về mục lục

3. Về giáo dục

Giáo dục là vấn đề được toàn xã hội Việt Nam quan tâm nhất từ nhiều năm nay. Từ cuối thập niên 1990 nhà nước đã đưa giáo dục lên quốc sách hàng đầu, nhưng thực tế thì tình hình giáo dục ngày càng tụt hậu, sa sút, nhất là trong những năm gần đây. Một vài điểm nổi bật dễ thấy của giáo dục Việt Nam trong những năm qua như sau.

Một là chất lượng đào tạo sút kém, từ bậc phổ thông đến đại học và càng lên cao chất lượng càng yếu. Nhìn tổng thể, giáo dục Việt Nam chưa đào tạo đủ những người có kiến thức và năng lực để đáp ứng nhu cầu của phát triển đất nước. Nhân lực đào tạo ra ở cuối bậc đại học, cao đẳng và dạy nghề còn ở khoảng cách xa với đòi hỏi thực tế của các ngành nghề và xã hội.

Hai là hệ thống giáo dục phổ thông gây ra nhiều hiện tượng làm bức xúc trong xã hội như tổ chức quá nhiều kỳ thi, lãng phí sức người, sức của; dạy thêm, học thêm tràn lan; chương trình giáo dục và sách giáo khoa luôn thay đổi nhưng chất lượng không được cải thiện. Ngoài ra, bệnh thành tích và các tệ nạn tham nhũng trong giáo dục hết sức phổ biến.

Ba là giáo dục đại học có chất lượng nói chung còn thấp, gần đây lại phát triển hỗn loạn với nhiều trường tư chạy theo lợi nhuận lại được cấp phép bừa bãi, không đáp ứng một quy hoạch có cân nhắc nào. Tình trạng nói trên dẫn đến hiện tượng “tị nạn giáo dục”, khi những người giàu có ở Việt Nam, kể cả các quan chức trong Đảng và chính phủ, đều tìm cách cho con em ra nước ngoài học, thậm chí từ cấp phổ thông.

Bốn là bằng cấp trở thành mục đích, là cứu cánh của cả xã hội, và các tệ nạn học vẹt, học tủ, bằng giả, gian lận trong thi cử, … không hề được bài trừ một cách kiên quyết. Nhiều quan chức bị tố cáo trên báo chí về việc dùng bằng giả hay gian lận thi cử rồi cũng được bỏ qua, thậm chí được bổ nhiệm chức vị cao hơn. Hiện tượng mua bằng, sao chép luận án, thuê viết luận án, v.v. đang ảnh hưởng nghiêm trọng đến đạo đức học đường nói riêng và toàn xã hội nói chung.

Năm là chế độ phong chức danh phó giáo sư và giáo sư ở đại học còn nhiều bất cập. Các tiêu chuẩn phong chức danh hiện nay không khuyến khích nhà giáo đại học hướng đến những nghiên cứu khoa học đích thực, có ý nghĩa mà thường làm những việc để dễ có “điểm” theo quy định không đâu có của việc phong chức danh. Ngoài ra, các chức danh này lẽ ra chỉ dành cho người giảng dạy đại học hoặc nghiên cứu khoa học, nay được phong ở nhiều ngành cho nhiều người vốn không có vị trí giảng dạy đại học hay nghiên cứu ở cơ quan khoa học, làm cho nhiều quan chức hành chính nhảy vào tham gia công việc của đại học một cách không thích đáng.

Trong nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng sa sút của giáo dục đã được bàn luận rộng rãi, chúng tôi cho rằng các nguyên nhân sau đây là chính yếu.

Một là giáo dục của Việt Nam trong những năm qua thiếu một tầm nhìn chiến lược tổng thể; thiếu kiên quyết theo đuổi một triết lý giáo dục xác định; thiếu kế hoạch đồng bộ từ cơ cấu tổ chức đến triển khai các hoạt động giáo dục; ở rất nhiều nơi, sự cứng nhắc và áp đặt của hệ thống chính trị đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động giáo dục. Thêm nữa là nội dung giáo dục nặng nề, phương pháp dạy và học lạc hậu, chậm đổi mới; và trên hết là thiếu những người lãnh đạo ngành giỏi cùng một đội ngũ quản lý giáo dục hiệu quả. Những cố gắng thay đổi của ngành giáo dục trong những năm qua thường mang tính vụn vặt, chắp vá, nhiều khi do quyết định vội vã của một vài cá nhân và càng làm tình hình thêm rối.

Hai là lương của giáo viên quá thấp làm họ không thể vô tư toàn tâm toàn ý với công việc. Do giáo viên phải tự bươn chải trong một xã hội cha mẹ sẵn sàng làm mọi việc cho sự học của con cái, nhiều tiêu cực đã nảy sinh, ảnh hưởng đến tư cách và hình ảnh người thầy, vốn là điều kiện tiên quyết cho thành bại của giáo dục.

Trở về mục lục

4. Về y tế

Tình trạng bệnh tật và y tế của nước ta thật hết sức đáng lo.

Số người chết vì tai nạn giao thông làm nhức nhối xã hội, nhưng nguyên nhân tử vong trong các bệnh viêm phổi, viêm họng, viêm phế quản và viêm tiểu phế quản cấp, tiêu chảy, viêm dạ dày, ruột non có nguồn gốc nhiễm khuẩn, cúm, sốt rét còn cao hơn nhiều. Mẫu số chung của các bệnh này là tình trạng thiếu dinh dưỡng vì nghèo khó, là môi trường bị ô nhiễm trầm trọng, là sự bất cập trong chính sách về y tế và thiếu đạo đức nghề nghiệp của người thầy thuốc.

Dịch vụ y tế ở Việt Nam có phát triển trong những năm vừa qua (số lượng cán bộ nhà nước làm về y tế tăng xấp xỉ 40% trong giai đoạn 1995-2009, và có thêm nhiều cơ sở y tế tư nhân xuất hiện), nhưng tình trạng quá tải ở các bệnh viện công, với hiện tượng 2-3 người phải nằm chung một giường bệnh ở nhiều nơi, không giảm đi mà thậm chí có phần tăng lên. Lý do là, tuy dịch vụ y tế tăng lên, nhưng bệnh tật ở Việt Nam còn tăng nhanh hơn. Ví dụ, nếu năm 2000 cứ 100 nghìn người có 242 ca ung thư, thì đến năm 2010 con số này đã tăng lên thành 315 ca, so với trung bình trên thế giới là dưới 200 ca. Nếu như trong giai đoạn 2002-2006 cứ 100 người thì có 9 lượt nhập viện trong năm, thì đến năm 2009 con số đó đã tăng hơn 30% thành 12 lượt nhập viện, thuộc loại cao nhất trên thế giới. Tỷ lệ bệnh tật tăng nhanh là cái giá mà Việt Nam đang phải trả cho kiểu phát triển kinh tế thiếu bền vững, thói làm ăn giả dối dẫn đến môi trường bị ô nhiễm và thực phẩm độc hại.

Tương tự như đối với ngành giáo dục, nhà nước ở trung ương và địa phương chưa chú tâm đầu tư đúng mức đến ngành y tế, trong khi tiếp tục lãng phí trong việc xây dựng nhiều công trình không hoặc chưa cần thiết. Tỷ lệ chi phí mà nhân dân phải tự bỏ ra cho dịch vụ y tế tăng lên nhanh. Nhiều người nghèo có bệnh không được nhập viện, hay phải trốn viện vì không có tiền đóng viện phí. Lương chính thức trả cho các y bác sĩ không đủ sống và không xứng đáng với địa vị của họ. Những điều này góp phần làm cho các tệ nạn tiêu cực, sự suy đồi về đạo đức lan tràn vào trong ngành y tế. Người thầy giáo và người thầy thuốc vốn là những người được xã hội ta tôn trọng từ xưa, nhưng sự suy thoái về đạo đức đã làm phai nhạt đi truyền thống tốt đẹp này.

Trở về mục lục

5. Về khoa học và công nghệ

Có thể nói những đặc điểm chính của khoa học và công nghệ (KH&CN) Việt Nam trong mấy chục năm qua là sự đóng góp còn rất hạn chế của KH&CN vào công cuộc phát triển đất nước; lực lượng làm KH&CN được đào tạo nhiều nhưng không làm việc hiệu quả; các chính sách và cách thức tổ chức hoạt động KH&CN còn nhiều bất cập.

Có thể tóm tắt những điểm nổi bật của bức tranh tổng quát về tình trạng khoa học và công nghệ của Việt Nam hiện nay, như sau:

Thứ nhất, có thể nói hoạt động nghiên cứu và ứng dụng KH&CN ở Việt Nam còn mờ nhạt: hoạt động nghiên cứu KH&CN có chất lượng thấp và KH&CN chưa có những đóng góp xứng đáng cho sự phát triển đất nước.

Chất lượng thấp này có thể thấy rõ qua các thước đo khách quan như số lượng các công trình công bố trên các tập san khoa học quốc tế uy tín và số bằng phát minh sáng chế. Trong 10 năm qua, số lượng công bố của các nhà khoa học Việt Nam chỉ bằng 1/3 của Thái Lan và 2/5 của Malaysia. Hơn nữa, ở nhiều lĩnh vực, phần lớn những nghiên cứu này là do hợp tác với nước ngoài, tức còn phụ thuộc vào “ngoại lực” quá nhiều. Trong giai đoạn 2000-2007, các nhà khoa học Việt Nam chỉ đăng kí được 19 bằng phát minh, trong khi cùng thời gian này Malaysia có 901 bằng phát minh. Thái Lan (310), Philippines (256) và Indonesia (85) cũng đều có số bằng phát minh nhiều hơn Việt Nam nhiều lần.

Ứng dụng và sáng tạo KH&CN trong sự phát triển của Việt Nam còn mờ nhạt, chưa tương xứng với lực lượng đông đảo cán bộ KH&CN được đào tạo và chưa đáp ứng được đòi hỏi của xã hội. Kinh phí đầu tư, chính sách và cách quản lý chưa cho thấy KH&CN khó có thể trở thành yếu tố quyết định để Việt Nam thoát ra khỏi nhóm quốc gia chủ yếu chỉ sản xuất sản phẩm đơn giản hay gia công hàng hóa. Hiện tại, phần lớn doanh nghiệp làm ăn chưa dựa trên KH&CN và hầu hết không có liên kết chặt chẽ với các cơ sở KH&CN.

Thứ hai là số người được đào tạo để hoạt động KH&CN tuy rất đông với nhiều bằng cấp, nhưng phần lớn không thật sự hoạt động KH&CN, mà lay lắt hoặc “chân trong chân ngoài” với danh nghĩa làm KH&CN.

Có thể nêu ra một số nguyên nhân chính của tình trạng trên:

Một là, Việt Nam thiếu một chiến lược KH&CN thích hợp nên chưa xác định được lộ trình của KH&CN, và tập trung vào những hướng quan trọng rất cần cho phát triển đất nước và có thể tạo ra thành quả ý nghĩa. Hạn chế này có phần do việc thiếu các chuyên gia đầu đàn ở mức độ am hiểu sâu sắc lĩnh vực chuyên môn, có kinh nghiệm và uy tín quốc tế, có thể lãnh đạo được những tập thể khoa học. Một nguyên nhân của tình trạng trên là: Tuy số lượng cán bộ KH&CN của ta được đào tạo nhiều, nhưng hầu hết chỉ ở mức vừa xong giai đoạn học việc (như có bằng tiến sĩ mới là xong giai đoạn học để thành người làm nghiên cứu), thường không được rèn luyện thêm trong môi trường KH&CN phát triển để thành nhà khoa học trưởng thành.

Hai là, các nhà khoa học Việt Nam chưa có được môi trường KH&CN thích hợp để có thể làm việc và sáng tạo. Môi trường này gồm ba yếu tố cơ bản: điều kiện làm việc đủ tốt, lương đủ sống để tập trung cho công việc, các chính sách hợp lý có tác dụng kích thích tinh thần sáng tạo, dấn thân vì khoa học. Điều kiện làm việc ở phần lớn các đại học và các viện nghiên cứu của Việt Nam nói chung còn thiếu thốn, chưa đủ để tiến hành nhiều đề tài quan trọng và tiên tiến trong khoa học. Một số nơi có trang thiết bị tốt, lại không giải quyết được vấn đề tiền lương. Tiền lương của người làm khoa học thấp vừa ảnh hưởng đến nội dung, chất lượng nghiên cứu vừa gây ra nhiều hiện tượng tiêu cực, người có năng lực nghiên cứu cũng không chuyên tâm với nghề mà phải xoay xở tìm thêm thu nhập ngoài lương.

Nhiều chính sách và cách quản lý đề tài KH&CN chưa hợp lý cũng góp phần làm ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng của nghiên cứu. Thí dụ tiêu biểu như cách tổ chức đề tài khoa học còn nặng tính xin-cho, làm nhiều người làm nghiên cứu mất nhiều thì giờ chạy dự án; việc tuyển chọn và nghiệm thu đề tài thiếu nghiêm túc nên rất nhiều đề tài không có ý nghĩa và giá trị khoa học. Những quy định, tiêu chuẩn hiện nay về việc phong các chức danh giáo sư, phó giáo sư không khuyến khích các nhà khoa học hướng đến những nghiên cứu quan trọng và thách thức, có giá trị khoa học cao hoặc cần cho sự phát triển, mà dễ hướng đến những nghiên cứu dễ làm, những nơi dễ công bố để có đủ “điểm” thỏa mãn các tiêu chuẩn phong chức danh, vốn không có ở bất kỳ nước nào khác. Đây thật sự là những điều rất không hợp lý đã được nhiều nhà khoa học góp ý gần hai chục năm, nhưng không được thay đổi.

Người làm nghiên cứu trong ngành khoa học xã hội còn luôn nỗi ám ảnh sợ “chệch hướng”, mất lập trường, nên nói chung sáng tạo bị hạn chế, khoảng cách so với cộng đồng khoa học thế giới càng lớn. Ngoài ra, ngược với yêu cầu rất cao về sự bình đẳng, sự tự do tư duy của môi trường khoa học, việc mất dân chủ ở các cơ quan khoa học thường rất lớn, nhiều trường hợp nội bộ mâu thuẫn, giành giật địa vị, hoàn toàn không xứng đáng với phẩm vị của người làm khoa học.

Trở về mục lục

6. Về quan hệ đối ngoại

Sau khi gia nhập ASEAN và bình thường hóa quan hệ với Mỹ, Việt Nam mở rộng quan hệ ngoại giao, kinh tế và giao lưu văn hóa với hầu hết các nước. Sau năm 2000, quan hệ đó được đẩy mạnh thêm một bước bằng Hiệp định thương mại Việt Mỹ và gia nhập WTO. Cùng với trào lưu toàn cầu hóa, kinh tế Việt Nam hội nhập mạnh mẽ vào dòng chảy của thế giới, các quan hệ đối ngoại khác cũng nhộn nhịp hơn trước.

Có thể ghi nhận nhiều mặt tích cực của hiện tượng đó. Chẳng hạn xuất khẩu sang thị trường lớn nhất thế giới (Mỹ) được đẩy mạnh, cơ hội du học của sinh viên Việt Nam tăng nhanh, giành được vị trí trong các tổ chức khu vực và quốc tế như ASEAN, APEC, WTO. Nhưng nhìn kỹ ta thấy những mặt tiêu cực lớn hơn nhiều, rất đáng lo ngại.

Theo chúng tôi, so với thời mới đổi mới, mở cửa (đầu thập niên 1990), hình ảnh Việt Nam trên thế giới xấu đi nhiều. Tham nhũng lan ra cả trong các quan hệ quốc tế. Chỉ kể những sự kiện lớn (như dự án ODA của Nhật, vụ in tiền polymer ở Úc,…) cũng thấy thể diện đất nước bị tổn thương nhiều. Các vụ nhỏ hơn thì nhiều vô kể, chỉ cần gặp những doanh nhân nước ngoài có kinh nghiệm làm việc ở Việt Nam là biết rõ. Điều đáng nói là nhà nước Việt Nam đã không có thái độ thích đáng, không xử lý nghiêm những sự kiện bị nước ngoài chỉ trích. Điển hình là vụ in tiền polymer, báo chí nước ngoài nhiều lần nêu tên thật của cựu thống đốc ngân hàng nhà nước mà cả đương sự và chính phủ đều giữ im lặng. Là người Việt Nam có ý thức dân tộc ai cũng thấy hổ thẹn về sự kiện này.

Nhìn sang lĩnh vực đầu tư nước ngoài, ta thấy nổi bật lên sự hiện diện rất lớn của Đài Loan, Hồng Kông, Hàn Quốc, Singapore và gần đây là Trung Quốc. So với các nước tiên tiến như Mỹ, Nhật, Pháp,.. thì những nước mới nổi, mới phát triển chưa có nhiều những công ty đa quốc gia tầm cỡ; chưa có công nghệ cao; chưa coi trọng sự minh bạch, hoạt động đúng theo luật và nhất là giữ thanh danh đã được xác lập của mình. Không ít trường hợp các công ty của những nước mới nổi tạo những quan hệ bất chính với quan chức nhà nước Việt Nam, nhất là với chính quyền địa phương, để được cấp các dự án béo bở. Chúng tôi rất lo ngại khi thấy nhà nước Việt Nam quá dễ dãi để cho tư bản nước ngoài đầu tư ồ ạt vào việc xây dựng các khu nhà ở quy mô lớn, các khu du lịch, sân gôn, v.v. và hình thành những cộng đồng người Hàn, người Hoa trên đất nước mình. Trong khi giới doanh nhân trong nước còn non yếu, chưa có khả năng làm chủ đất nước và cuộc sống của tuyệt đại đa số người dân còn nhiều khó khăn, liệu có nên để cho nước ngoài xây dựng những vùng đặc biệt như vậy? Trong nhiều năm qua, đầu tư nước ngoài triển khai ồ ạt ở Việt Nam mà cơ cấu công nghiệp không chuyển dịch lên cao hơn, không tạo ra được những mặt hàng xuất khẩu có hàm lượng công nghệ cao.

Trong chiều hướng chung ấy, quan hệ với Trung Quốc là đáng lo nhất. Đầu tư của Trung Quốc chưa nhiều bằng những nước nói trên nhưng sự hiện diện của Trung Quốc trong những hình thái khác đang làm Việt Nam mất dần chủ quyền trong nhiều lĩnh vực. Nếu tình hình hiện tại không thay đổi thì đầu tư trực tiếp từ Trung Quốc sẽ tăng nhanh, không bao lâu sẽ chiếm vị trí số một tại Việt Nam.

Hiện nay, quan hệ ngoại thương Việt Trung gây ra bất ổn kinh tế vĩ mô của Việt Nam, tiềm ẩn nguy cơ về an ninh kinh tế và gây khó khăn trên con đường công nghiệp hóa của ta. Mậu dịch giữa hai nước tăng nhanh từ năm 2000 nhưng ngày càng mất quân bình. Do nhập khẩu tăng nhanh, nhập siêu của Việt Nam đối với Trung Quốc ngày càng mở rộng. Hiện nay nhập siêu của Việt Nam đối với thế giới chủ yếu là nhập siêu với Trung Quốc.

Nhìn cơ cấu xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường Trung Quốc ta thấy nguyên liệu và nông sản phẩm chiếm vị trí áp đảo. Cơ cấu này hầu như không thay đổi trong 10 năm qua. Nhập khẩu của Việt Nam từ Trung Quốc thì hầu hết là hàng công nghiệp. Các loại máy móc và các sản phẩm trung gian như sắt thép, thậm chí các loại vải để dệt may là những mặt hàng nhập khẩu chính. Theo Hiệp định thương mại ASEAN – Trung Quốc, đến năm 2015 Việt Nam sẽ bãi bỏ hàng rào quan thuế trên hầu hết các mặt hàng nhập khẩu từ Trung Quốc, tình hình sẽ càng bi đát hơn nữa. Con đường công nghiệp hóa của Việt Nam sẽ rất khó khăn. Nhưng chính phủ Việt Nam không thấy nguy cơ đó dù đã được trí thức trong và ngoài nước cảnh báo nhiều lần. Ngược lại nhà nước còn cho tiến hành khai thác bô-xit để xuất khẩu sang Trung Quốc làm cho cơ cấu ngoại thương hiện nay đã bất lợi càng trở nên bất lợi hơn. Cần nói thêm rằng tính chất của ngoại thương Việt Trung hiện nay là quan hệ của một nước tiên tiến với một nước chậm phát triển. Tính chất này vừa tạo ra khó khăn cho kinh tế Việt Nam vừa làm hình ảnh Việt Nam trên thế giới xấu đi nhiều.

Thách thức từ Trung Quốc không chỉ trong ngoại thương. Các công ty Trung Quốc thắng thầu phần lớn các dự án trọng điểm quốc gia của Việt Nam. Trung Quốc với lối làm ăn không minh bạch, sẵn sàng mua chuộc, lại quả, nên dễ thắng phần lớn các gói thầu lớn ở Việt Nam. Theo ước tính, Trung Quốc chiếm khoảng 50% giá trị thầu trong vòng 10 năm nay, đặc biệt Trung Quốc thắng thầu tới 90% các dự án trọng điểm về điện, dầu khí, viễn thông, cơ khí, hóa chất và 100% dự án khai khoáng. Trong việc thực hiện các dự án này, Trung Quốc đưa nhiều lao động đi theo, kể cả các hình thức bất hợp pháp, thậm chí hình thành những khu cư trú đặc biệt cho người Hoa. Ngoài ra, nhiều chính quyền địa phương còn cho công ty Trung Quốc thuê rừng, thuê bờ biển hàng nửa thế kỷ, kể cả những nơi nhạy cảm nhìn từ góc độ an ninh quốc gia.

Một vấn đề nữa là Việt Nam ngày càng vay nợ từ Trung Quốc. Theo số liệu chính thức của Bộ Tài chính Việt Nam, nợ từ Trung Quốc tăng rất nhanh, gấp 10 lần trong 4 năm gần đây (1,4 tỉ USD năm 2009). Nếu khuynh hướng này tiếp tục, chẳng bao lâu Trung Quốc sẽ trở thành chủ nợ lớn nhất và lớn áp đảo đối với Việt Nam.

Quan hệ Việt Trung cũng ảnh hưởng nhiều đến đường lối đối ngoại của Việt Nam. Vấn đề này sẽ được bàn riêng trong một mục ở phần D.

Trong thời đại hội nhập, quan hệ đối ngoại của Việt Nam như được trình bày trên đây hoàn toàn không lành mạnh, ảnh hưởng đến con đường phát triển sắp tới của Việt Nam và tiềm ẩn nguy cơ mất chủ quyền. Yếu tố nào gây ra tình trạng đáng lo này? Có thể kể hai nguyên nhân chính:

Thứ nhất, nội lực của Việt Nam quá yếu nên khi hội nhập với thế giới không hoặc ít tranh thủ được thời cơ từ ngoại lực để phát triển, ngược lại bị ngoại lực chi phối. Thị trường Trung Quốc lớn và rộng nhưng hàng hóa của Việt Nam không chen vào được. Nội lực yếu vì sao? Vì trình độ của nhiều lãnh đạo và quan chức có hạn, không ít trường hợp họ không vì dân vì nước mà vì lợi ích riêng, sẵn sàng tạo điều kiện thuận lợi cho nước ngoài dù thấy bất lợi cho xã hội, cho đất nước. Mở tung cửa thị trường cho hàng hóa và tư bản nước ngoài mà không định hướng để phát triển những ngành mới và có sức cạnh tranh trên thị trường thế giới, không đi kèm các luật lệ, quy định cần thiết để giám sát cũng là một biểu hiệu yếu kém của nội lực.

Thứ hai, trong lúc nội lực của Việt Nam còn quá yếu, quan hệ “đặc biệt” với Trung Quốc càng làm cho Việt Nam ngày càng lệ thuộc vào nước này. Kinh tế Trung Quốc lớn, mạnh áp đảo, phát triển nhanh, và lại ở cận kề Việt Nam, trong khi kinh tế Việt Nam nhỏ yếu, phát triển chậm hơn mà Việt Nam lại sẵn sàng đồng ý “hợp tác toàn diện” (4 trong 16 chữ vàng), tạo mọi điều kiện để hợp tác toàn diện thì dẫn đến kết quả như đã thấy.

Trở về mục lục

7. Tổng kết: Đâu là những nguyên nhân sâu xa?

Trên đây chúng tôi đã điểm qua thực trạng kinh tế, văn hóa, giáo dục, y tế, nghiên cứu khoa học và đối ngoại của Việt Nam hiện nay và trình bày một số nguyên nhân chính dẫn tới tình trạng đó. Nổi lên trên hết là hai nguyên nhân cơ bản, chung cho tất cả các mặt của xã hội:

Thứ nhất, thể chế còn thiếu dân chủ. Có thể nói rằng thể chế hiện nay là di sản của thời chiến tranh, bao cấp và chủ nghĩa xã hội kiểu Lênin-Stalin, với đặc điểm cơ bản là hạn chế dân chủ, hạn chế tự do tư tưởng, thiếu tinh thần thượng tôn pháp luật. Hệ quả là xã hội suy giảm tính năng động và hiệu quả, hạn chế sáng tạo trong khoa học và giáo dục, không chống được suy thoái giá trị đạo đức và văn hóa, bất công và cách biệt xã hội tăng lên, và không khuyến khích việc sử dụng hiệu quả các nguồn lực trong và ngoài nước để phát triển. Chế độ tiền lương bất hợp lí trong cơ chế “xin cho” đã đẩy nhiều công chức vào con đường tham nhũng, và làm cho nhiều nhà giáo, bác sĩ, nhà khoa học, … không chuyên tâm với nghề nghiệp và không giữ được đức tính cao đẹp vốn có từ xưa. Hoàn toàn đáng lo ngại khi thể chế hiện nay đang hạn chế sức mạnh của đất nước và làm lung lay nền tảng của xã hội.

Thứ hai, là hệ quả của nguyên nhân thứ nhất, trong thành phần lãnh đạo đất nước chưa có nhiều người tài giỏi, bản lĩnh, chịu trách nhiệm cao và quy tụ được bên mình những trí thức và cộng sự chân chính. Từ trung ương đến địa phương, nhiều quan chức thiếu cả năng lực và đạo đức cần thiết. Tình trạng bằng cấp giả và chạy chức chạy quyền đã trở thành vấn nạn nhức nhối. Việc lợi dụng vị trí công quyền để trục lợi cá nhân đang là hiện tượng phổ biến ở nhiều cán bộ nhà nước.

Trở về mục lục

D. Cải cách vì một nước Việt Nam giàu mạnh và tự chủ

1. Cải cách thể chế là quan trọng nhất

Có thể nói Việt Nam chúng ta đang đứng trước một bước ngoặt lịch sử. Phải có cuộc cách mạng về thể chế mới tránh được nguy cơ này và đưa đất nước phát triển bền vững. Ai sẽ đảm nhận cuộc cách mạng mới này và nội dung cốt lõi của cuộc cách mạng là gì?

Chúng tôi cho rằng ở thời điểm này chỉ có Đảng Cộng sản Việt Nam mới thực hiện được cuộc cách mạng này. Đảng Cộng sản Việt Nam cần tự thay đổi để lãnh đạo dân tộc bước vào một thời đại mới, thời đại củng cố và phát huy sức mạnh của toàn dân tộc để đất nước trở nên giàu mạnh, tự chủ. Đó cũng chính là sức mạnh to lớn mà Đảng cộng sản Việt Nam (trước đây là Đảng Lao động Việt Nam) đã phát huy, đã phấn đấu, hy sinh trong suốt lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc. Cuộc cách mạng thể chế này, theo chúng tôi, bao gồm những khía cạnh sau:

Thứ nhất, không áp đặt một hệ tư tưởng, một ý thức hệ duy nhất vào thể chế chính trị, vào đời sống của dân, vào các hoạt động kinh tế – giáo dục – văn hóa – báo chí, để tạo điều kiện cho người dân, nhất là giới trẻ tiếp cận được những tinh hoa, những tiến bộ của thế giới. Chủ tịch Hồ Chí Minh nếu chỉ biết Mác-Lênin, không tiếp thu mọi tư tưởng tiến bộ của thế giới thì đã không viết được bản Tuyên ngôn độc lập gói ghém những giá trị phổ quát của nhân loại. Trên thực tế, chính Đảng Cộng sản đã từ bỏ nhiều khẩu hiệu phi lý một thời đã được cường điệu. Chẳng hạn “Yêu nước là yêu chủ nghĩa xã hội” từng là một trong những khẩu hiệu được phổ biến rộng rãi (sau năm 1975) nhưng đã dần dần biến mất. Đó là một sự thay đổi tích cực cần ghi nhận. Mong rằng Đảng Cộng sản tiến thêm một bước tránh dùng các cụm từ như “nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”, “nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa” để các thế lực bảo thủ vì lợi ích riêng không thể dựa vào đó để làm cho đất nước trì trệ, lạc hậu. Chúng tôi cho rằng Đảng Cộng sản chỉ giữ mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” là hợp lòng dân.

Ra khỏi sự ràng buộc vào một ý thức hệ cũng sẽ giúp cho Việt Nam độc lập với Trung Quốc về mặt này và đi trước Trung Quốc về cải cách thể chế. Làm được điều này, Đảng Cộng sản vừa được lòng dân vừa tạo được uy tín trên thế giới.

Thứ hai, phải triệt để thực hiện dân chủ, đúng như quy định của Hiến pháp và đúng như trong Cương lĩnh mà Đảng Cộng sản Việt Nam đề ra. Đảng phải làm thế nào để nhân dân thấy rằng đó không phải là khẩu hiệu mà chính là khát khao, trăn trở thường xuyên của lãnh đạo, của nhà cầm quyền để mọi người dân thật sự được tham gia bàn bạc và quyết định việc chung. Để thực hiện dân chủ trong khuôn khổ pháp lý hiện nay, chỉ cần triển khai và thật sự áp dụng nội dung của Hiến pháp.

Trước hết, phải thực sự tôn trọng các quyền mà Hiến pháp đã ghi rõ, đặc biệt là quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận và quyền bình đẳng trước pháp luật. Đầu tiên là quyền tự do báo chí. Muốn biết một nước có dân chủ hay không, chỉ cần nhìn tình trạng báo chí là thấy. Mà tình trạng báo chí trong nước ta thì nhân dân thấy rõ là chưa làm được nhiệm vụ thông tin trung thực và soi sáng được dư luận. Tiếp theo là quyền bình đẳng trước pháp luật. Bình đẳng trước pháp luật có nghĩa rằng luật pháp là ở trên cao nhất, tối thượng, ai cũng ngang nhau và đều ở dưới pháp luật. Vậy mà nhân dân thấy quá nhiều người có quyền chức tự cho mình quyền đứng cao hơn người khác, thậm chí cao hơn cả pháp luật. Như vậy là ta chưa tiến được bước nào, thậm chí còn đi lùi, trên con đường “nhà nước pháp quyền” mà chính Hiến pháp đã đề xuất. Bình đẳng trước pháp luật bao hàm bình đẳng trước công vụ như một hệ quả tất nhiên. Do đó, những phân biệt đối xử như lý lịch, đảng viên hay không, đều là trái với Hiến pháp. Bình đẳng trước công vụ, ai cũng có quyền bầu cử, ứng cử như nhau, ai cũng phải được tuyển dụng vào các cơ quan hành chính trên cơ sở duy nhất là năng lực và tinh thần trách nhiệm. Chỉ với biện pháp đó, thực hiện triệt để, nền hành chính của ta, từ trung ương đến địa phương, mới có thể tuyển dụng được người tài giỏi xứng đáng.

Thứ hai, triệt để tôn trọng nguyên tắc “Quốc hội là cơ quan quyền lực cao nhất”. Đảng Cộng sản phải thực sự thực hiện nguyên tắc đó để làm nhân dân tin rằng lá phiếu của mình chắc chắn góp phần vào việc xây dựng một cơ quan xứng đáng là đại diện toàn dân.

Thứ ba, bảo đảm có hệ thống tòa án độc lập là sự phân quyền vô cùng quan trọng. Để có được sự độc lập và bảo đảm khả năng chuyên môn về luật pháp, các thẩm phán cần phải được tuyển dụng như công chức, được bổ nhiệm theo một quy chế riêng có mục đích bảo vệ tính độc lập của họ. Thẩm phán ở cấp cao có trách nhiệm bổ nhiệm thẩm phán cấp dưới, cần có nhiệm kỳ dài, chỉ bị truất quyền giữa nhiệm kỳ nếu vi phạm luật pháp.

Cần nhấn mạnh điều này: Nếu Đảng đứng trên hiến pháp và quyết định thay cho Quốc hội và tòa án thì tình trạng mãi kéo dài như hiện giờ: Nhiều sai phạm lớn của cán bộ, đảng viên chỉ được xử lý nội bộ, được bao che, nên không phòng chống được tham nhũng, và kết quả là mất lòng dân và bộ máy nhà nước kém hiệu lực.

Thứ tư, cần tạo cơ chế công khai, minh bạch, thực sự dân chủ, trước hết là trong Đảng để có thể chọn lựa và làm xuất hiện những nhà lãnh đạo xứng tầm với trí tuệ của dân tộc, được dân tin tưởng và được thế giới kính trọng. Không nên tiếp tục cách làm hiện nay là dàn xếp trong nội bộ Đảng rồi đưa ra Quốc hội lấy phiếu tín nhiệm.

Chúng tôi thẳng thắn nêu những vấn đề này chỉ với mong muốn Đảng Cộng sản Việt Nam xứng đáng là tổ chức lãnh đạo đất nước, không bị trói buộc bởi những giáo điều, những mô hình đã bị thực tế lịch sử loại bỏ. Những giấc mơ, những lý tưởng tốt đẹp cần được chứng minh từng bước bằng thực tế, bằng kết quả hiện thực chứ không chỉ bằng duy ý chí, và bị lợi dụng bởi một nhóm người cầm quyền, dùng giáo điều, dùng khẩu hiệu để củng cố quyền lực và lợi ích phe nhóm mà hậu quả là đất nước tụt hậu và tha hóa…

Nếu bốn điểm nói trên được thực hiện, dân chúng sẽ tin tưởng ở Đảng Cộng sản, tin tưởng ở người lãnh đạo và hy vọng về một đất nước tốt đẹp hơn. Do đó dân chúng nếu có bất mãn và phê phán lãnh đạo hay quan chức thì chỉ là đối với cá nhân chứ không phải đối với Đảng Cộng sản. Ngược lại, dân chúng được tự do sử dụng các quyền chính đáng của mình thì chính là giúp Đảng phát hiện ra những người không đủ tư chất đảm trách công việc lãnh đạo hay quản lý. Thực hiện dân chủ cũng là biện pháp hữu hiệu để phòng chống tham nhũng.

Ngoài ra, Đảng Cộng sản cần quan tâm hơn đến vấn đề đoàn kết dân tộc. Nếu những điểm nói trên được thực hiện thì kết quả là gắn bó được dân với Đảng và thực hiện được đoàn kết. Tuy nhiên, cần đưa ra các chính sách cụ thể, chẳng hạn nghiêm cấm việc lạm dụng quyền lực để đề bạt người thân, có quy chế luật lệ nghiêm khắc để xử lý các trường hợp sai phạm. Việc cất nhắc, đề bạt không dựa trên lý lịch chính trị mà theo năng lực và tư chất đạo đức. Đảng và Nhà nước cần nghiêm chỉnh thực hiện chính sách hòa hợp hòa giải dân tộc đối với cựu quan chức và quân nhân của chế độ cũ ở Miền Nam, nhất là trong bối cảnh cần đoàn kết dân tộc trước yêu cầu tăng nội lực để phát triển đất nước và trước nguy cơ ngoại xâm. Đặc biệt trong tình hình phức tạp ở biển Đông, để cổ vũ lòng yêu nước của mọi người dân không phân biệt chính kiến, quá khứ, chúng tôi đề nghị nên có hình thức biểu dương sự dũng cảm hy sinh của quân đội Việt Nam Cộng hòa ở Hoàng Sa năm 1974.

Trong việc thúc đẩy sự hòa giải và hòa hợp dân tộc, cần có biện pháp hữu hiệu để người Việt ở nước ngoài hợp tác với các cơ sở trong nước, nhất là trong nghiên cứu khoa học, trong giáo dục và phát triển kinh tế, để cùng làm cho đất nước giàu mạnh.

Trở về mục lục

2. Củng cố bộ máy nhà nước.

Một chính phủ mạnh và hiệu quả là điều kiện tối cần thiết để kinh tế phát triển nhanh và có chất lượng cao. Để củng cố bộ máy nhà nước, cần cải cách chế độ tiền lương và thực hiện việc thi tuyển quan chức. Đây là vấn đề cốt lõi của nhiều vấn đề.

Cải cách chế độ tiền lương là một việc tuy khó nhưng cấp bách và không thể trì hoãn, vì nếu không sẽ không thể giải quyết được vấn đề nào khác. Thiết nghĩ, đây là vấn đề nan giải nhưng không hẳn là không có giải pháp nếu nhà nước thực lòng quyết tâm. Trước mắt, chúng tôi đề khởi một số nội dung cải cách như sau:

Thứ nhất, hiện tượng phổ biến hiện nay là tiền lương chỉ chiếm một phần nhỏ trong thu nhập của quan chức, công chức, thầy giáo, v.v.. Do đó, trước tiên phải minh bạch hóa các nguồn thu nhập này và lần lượt đưa vào lương.

Thứ hai, cải cách thuế để tăng thu ngân sách. Đặc biệt cần đánh thuế lưu thông bất động sản, đánh thuế suất cao đối với những người sở hữu nhiều bất động sản, và đánh thuế thừa kế tài sản.

Thứ ba, tăng tỉ lệ tiền lương trong tổng thu ngân sách. Trước mắt giảm tỉ lệ đầu tư công lấy từ ngân sách, hoãn những dự án đầu tư lớn cần nhiều vốn nhưng chưa thật cần thiết..

Thứ tư, tinh giảm bộ máy công quyền ở trung ương và địa phương.

Chúng tôi đề nghị nhà nước lập ra ngay một ban chuyên trách về cải cách tiền lương gồm các chuyên gia kinh tế, tài chính, hành chánh. Ban chuyên trách này sẽ khẩn trương nghiên cứu, xem xét 4 nội dung cải cách nói trên, để trong thời gian ngắn đưa ra đề án cải cách khả thi.

Quan chức, công chức phải là những người được tuyển chọn nghiêm túc qua các kỳ thi định kỳ và cuộc sống của họ và gia đình họ phải được bảo đảm bằng tiền lương. Tiền lương cũng phải đủ sức hấp dẫn người có năng lực vào bộ máy công quyền. Nội dung các kỳ thi tuyển cho quan chức cấp trung trở xuống cũng cần chú trọng trình độ văn hóa và sự hiểu biết về luật pháp và cơ cấu hành chánh. Quan chức cấp trung ương, cũng với nội dung ấy nhưng ở trình độ cao cấp hơn và thêm các chuyên môn cần thiết. Trình độ văn hóa và sự khó khăn phải vượt qua các cửa thi tuyển sẽ nâng cao khí khái và lòng tự trọng của quan chức, tránh hoặc giảm được tệ nạn tham nhũng. Việc thi tuyển quan chức còn có tác dụng tạo niềm tin và động lực học tập trong giới trẻ vì ai cũng có cơ hội bình đẳng thi thố tài năng cho việc nước. Chế độ tiền lương và việc thi tuyển quan chức cần được thực hiện trong vòng 3-4 năm tới.

Trở về mục lục

3. Về chiến lược, chính sách phát triển kinh tế

Đây là vấn đề khá rộng và lớn, ở đây chỉ xin nói đến mấy điểm chúng tôi cho là quan trọng nhất.

Nguồn lực lớn nhất của Việt Nam là con người. Chiến lược phát triển phải vì cuộc sống của đại đa số dân chúng và chủ yếu dựa vào nguồn nhân lực ngày càng có kỹ năng cao qua giáo dục và đào tạo, qua khả năng làm chủ công nghệ.

Hiện nay xuất khẩu lao động và phụ nữ lấy chồng nước ngoài vì lý do kinh tế đang là hiện tượng làm bức xúc người dân và ảnh hưởng đến uy tín của Việt Nam trên thế giới. Chúng tôi đề nghị nhà nước đưa ra mục tiêu đến năm 2020 phải thực hiện toàn dụng lao động, không còn ai phải miễn cưỡng ra nước ngoài chỉ vì sinh kế.

Để phát triển bền vững và hướng tới toàn dụng lao động cần đẩy mạnh công nghiệp hóa theo hướng ngày càng cạnh tranh trên thị trường quốc tế và chú trọng phát triển nông thôn. Cho đến nay trí thức trong và ngoài nước đã đề xuất nhiều chiến lược, chính sách về các vấn đề này nhưng không được nhà nước quan tâm thực hiện. Để giải quyết vấn đề này, chúng tôi đề nghị nhà nước cần tập trung những chuyên gia có trình độ, thành lập một bộ phận chuyên trách để xây dựng và giám sát việc thi hành chiến lược phát triển với đủ thẩm quyền và chế độ đãi ngộ thích hợp. Bộ phận này phải được đặt trên tất cả các bộ ngành liên quan tới lĩnh vực kinh tế, đứng đầu là Thủ tướng hoặc Phó thủ tướng thường trực, có những chuyên viên tài năng, có cơ chế tiếp thu ý kiến của giới doanh nhân và trí thức. Việt Nam hiện nay cũng có những cơ quan như Bộ Kế hoạch & Đầu tư hay Bộ Công thương nhưng quyền hạn liên quan tới vấn đề này bị phân tán, ràng buộc bởi nhiều mối quan hệ với cơ quan hay doanh nghiệp nhà nước, vì vậy thường khó có thể đề xuất được những chính sách hiệu quả, hoặc do phải cân nhắc lợi ích của quá nhiều đối tượng nên những nội dung thống nhất được cũng mang tính thỏa hiệp, chung chung.

Về xây dựng kết cấu hạ tầng, chúng tôi đề nghị hoãn kế hoạch xây dựng đường sắt cao tốc vì chưa cần thiết, tốn kém lớn và đã được chứng minh bằng các phân tích khoa học là không có hiệu quả. Thay vào đó, cần tu bổ nâng cấp đường sắt Thống Nhất, mở rộng mạng lưới đường sắt phổ thông đến vùng đồng bằng sông Cửu Long và các tỉnh miền Bắc, đồng thời xây dựng đường bộ cao tốc Bắc Nam và xây dựng các tỉnh lộ, huyện lộ nối nông thôn với đường sắt và đường cao tốc này, nhất là nối nông thôn với các đô thị gần đường cao tốc. Kết cấu hạ tầng như vậy mới thúc đẩy công nghiệp hóa nông thôn.

Liên quan đến phát triển nông thôn, việc cải cách chế độ hạn điền, tư hữu hóa sở hữu ruộng đất cần được đẩy mạnh. Chế độ hộ khẩu đã được cải thiện nhiều nhưng mỗi đô thị lại có các quy chế riêng, cần cải cách theo hướng tự do hóa việc thay đổi chỗ ở hơn nữa để người dân khi đến đô thị làm việc có thể yên tâm với cuộc sống ở đó và không cần giữ lại quyền sử dụng đất ở nông thôn. Với sự phân tán, manh mún của ruộng đất hiện nay, việc tăng năng suất nông nghiệp gặp khó khăn. Tăng năng suất nông nghiệp và công nghiệp hóa nông thôn là hai trụ cột để nâng cao mức sống của người dân ở nông thôn nói riêng và phát triển kinh tế nói chung.

Đối với hoạt động của doanh nghiệp, thị trường lao động hiện nay có vấn đề không ăn khớp giữa cung và cầu: Ở các khu công nghiệp tại các thành phố lớn bắt đầu có hiện tượng thiếu lao động, doanh nghiệp khó tuyển dụng số lao động cần thiết, mặc dù ở nông thôn vẫn còn lao động dư thừa. Nguyên nhân là do thị trường lao động chưa phát triển, cung và cầu không gặp nhau. Một nguyên nhân nữa là chất lượng lao động (trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn, khả năng tiếp thu tri thức về hoạt động của doanh nghiệp,…) không đáp ứng nhu cầu của doanh nghiệp. Biện pháp để cung cấp lao động một cách ổn định phải bao gồm chính sách ngắn hạn (phát triển thị trường lao động) và chính sách trung dài hạn (nâng cao chất lượng lao động, tăng cường giáo dục nghề nghiệp). Chính quyền địa phương ở nông thôn cần tích cực hơn nữa trong lĩnh vực này.

Nhà nước cần lắng nghe chuyên gia, trí thức về việc quyết định các dự án lớn. Đặc biệt, chúng tôi đề nghị tạm ngưng kế hoạch xây dựng nhà máy điện hạt nhân ở Ninh Thuận vì những lý do chúng ta đã biết và các chuyên gia của ta cũng đã có những phân tích cho thấy dự án này quá tốn kém và chứa nhiều rủi ro tiềm ẩn. Nhiều người trong chúng tôi cũng đã đề nghị ngưng kế hoạch khai thác bô-xit ở Tây nguyên vì các lý do về môi trường, an ninh, hiệu quả kinh tế, và sự lệ thuộc vào nước ngoài.

Vấn đề cuối cùng là cải cách doanh nghiệp quốc doanh trong đó có các tập đoàn. Cần đặt các doanh nghiệp đó trong khung cảnh chung của luật pháp, xóa bỏ việc để hành pháp trực tiếp lãnh đạo kinh doanh – dù dưới dạng Thủ tướng quản hay Bộ trưởng quản – và thay vào đó là Hội đồng quản trị độc lập và có nhiệm kỳ, do Quốc hội hay Hội đồng Nhân dân bổ nhiệm, nhằm hạn chế sự thao túng của các nhóm lợi ích. Doanh nghiệp quốc doanh dùng tiền của dân và nhằm phục vụ dân, do đó phải có tiếng nói của đại diện nhân dân. Hội đồng quản trị có đại diện của dân do các tổ chức hội chuyên nghiệp và Mặt trận Tổ quốc đề cử, có đại diện của người tiêu dùng chính do các ngành sử dụng đề cử, có các chuyên gia đầu ngành trong lĩnh vực hoạt động doanh nghiệp do các hội chuyên gia đề cử. Hội đồng quản trị sẽ bổ nhiệm chủ tịch công ty hay tập đoàn. Để cho doanh nghiệp nhà nước hoạt động có hiệu quả và thực sự phục vụ nhân dân thì phải có các tổ chức chỉ đạo, kiểm tra nghiêm túc. Ngoài ra, số lượng doanh nghiệp phải hạn chế, không thể để cho chính quyền các cấp tự do lập ra như hiện nay. Đặc biệt, phải công khai, minh bạch trong việc cấp vốn, việc cấp và sử dụng các nguồn lực quốc gia cho các doanh nghiệp nhà nước. Ngoài những trường hợp đặc biệt ưu tiên cho doanh nghiệp nhà nước đã được công khai, minh bạch, chính sách cần bảo đảm công bằng cơ hội, bảo đảm hiệu quả sử dụng và không phân biệt giữa các thành phần kinh tế, không phân biệt giữa các công ty, kiểm soát và hạn chế việc hỗ trợ các nguồn lực quốc gia theo kiểu chủ nghĩa tư bản thân hữu.

Trở về mục lục

4. Về văn hóa, giáo dục, y tế, nghiên cứu khoa học và công nghệ

Chúng tôi có mấy đề nghị cụ thể sau:

a) Cần có chính sách ngăn chặn sự xuống cấp của văn hóa và đạo đức xã hội. Tăng cường quảng bá và khuyến khích những giá trị phổ quát, tiến bộ của nhân loại như tự do, bình đẳng, bác ái, dân chủ, quyền con người,… Đồng thời, phục hồi những giá trị văn hóa truyền thống tích cực để làm nền tảng cho các ứng xử văn hóa, các chuẩn mực đạo đức trong sinh hoạt xã hội. Song song với việc này cần tích cực bảo tồn các di tích văn hóa, lịch sử của dân tộc và ngăn chặn sự xâm thực không chọn lọc của văn hóa ngoại lai, đặc biệt là từ Trung Quốc.

b) Cần giảm các hình thức thi đua, tuyên dương, trao huân chương như hiện nay: Các cơ quan, các đoàn thể tổ chức quá nhiều lễ kỷ niệm những mốc hoạt động (20 năm, 30 năm, v.v.) và vận động để được nhận huân chương. Đây là hình thức tốn kém thì giờ, ngân sách mà không có hiệu quả, chưa kể đến những tiêu cực trong quá trình xin-cho vốn rất phổ biến. Phong trào học tập đạo đức Hồ Chí Minh cũng không thật sự hiệu quả vì dân chúng thấy tình trạng tham nhũng ngày càng trầm trọng, người cần học tập đạo đức Hồ Chí Minh (cần kiệm liêm chính chí công vô tư, …) trước hết phải là những người ở cấp lãnh đạo và quản lý nhà nước. Tổ chức học tập nghị quyết của Đảng sau các kỳ đại hội như cách làm hiện nay cũng tốn kém và làm ảnh hưởng đến việc quản lý nhà nước ở trung ương và địa phương. Thay vào đó nên áp dụng các hình thức khác thích hợp và ít tốn kém thì giờ, ngân sách.

c) Việc cải tổ giáo dục được bàn quá nhiều trong thời gian qua nhưng không đưa lại kết quả. Do tầm quan trọng và tình hình ngày càng xuống cấp của giáo dục, chúng tôi đề nghị Thủ tướng trực tiếp chịu trách nhiệm về giáo dục, cụ thể là chỉ đạo nội dung cải cách, theo sát việc triển khai các chiến lược, chính sách, và chịu trách nhiệm về kết quả của các cải cách lớn.

Một trong những nội dung cải cách cấp bách phải là nâng cao vị thế của người thầy, bắt đầu từ đồng lương đủ sống và nuôi gia đình. Từ đó tiến đến việc thiết lập lại sự trung thực trong học tập và thi cử, trả lại tính trong sáng của tuổi trẻ cho học trò, tạo điều kiện cho những tài năng nảy nở.

Một nội dung nữa là tôn trọng quyền tự do học thuật và tư tưởng ở đại học cũng như trong các hoạt động trí thức, văn hoá nghệ thuật, tạo ra sức thu hút đối với tuổi trẻ và qua đó giúp thế hệ trẻ có động lực phấn đấu mạnh mẽ, có ý thức công dân cao và hoài bão phát triển đất nước. Nhân đây chúng tôi cũng đề nghị Thủ tướng hủy bỏ Quyết định 97 đòi hỏi trí thức chỉ được góp ý riêng với các cơ quan có thẩm quyền.

d) Cụ thể hóa các biện pháp làm cho giáo dục, đào tạo là quốc sách hàng đầu.

Triệt để thực hiện miễn phí bậc tiểu học và trung học cơ sở (chậm nhất là đến năm 2015) và trung học phổ thông (đến năm 2020). Song song với việc nâng cấp các đại học đang có, cần có ngay kế hoạch xây dựng một hoặc hai đại học chất lượng cao, trong đó nội dung giảng dạy, cơ chế quản lý, và trình độ giáo sư cũng như tiêu chuẩn đãi ngộ tương đương với các đại học tiên tiến ở châu Á. Về các đại học và trường cao đẳng ngoài công lập, cần có biện pháp chấn chỉnh giải quyết ngay những nơi không đủ chất lượng và có quy chế để ngăn ngừa hiện tượng kinh doanh giáo dục hiện nay. Ngoài ra, cần ban hành các sắc thuế khuyến khích doanh nghiệp và những cá nhân có tài sản đóng góp vô vị lợi (chủ yếu là tặng không) cho sự nghiệp giáo dục. Những vấn đề này cũng cần có kế hoạch thực hiện cụ thể trước năm 2015.

Cần tăng cường mở rộng và xây dựng thêm các trường, các khoa liên quan khoa học tự nhiên và công nghệ, xây dựng nhiều trường cao đẳng công nghệ để cung cấp đủ lao động cho công nghiệp hoá trong giai đoạn tới. Hiện nay, một mặt, trong nhiều ngành, sinh viên tốt nghiệp ra truờng không có việc làm, trong khi một số ngành về công nghệ tin học, điện tử, hoá học, kế toán, nông cơ, v.v.. thì nguồn cung cấp thiếu hoặc không đủ chất lượng. Chính sách sắp tới cần chú trọng đầu tư xây dựng thêm các ngành ở các lĩnh vực này và cải thiện chương trình, nội dung giảng dạy để nâng cao chất lượng. Mặt khác, nhu cầu về lao động có trình độ trung cấp và cao đẳng kỹ thuật, cao đẳng kế toán,… đang và sẽ tăng nhanh nhưng khả năng cung cấp còn rất hạn chế. Tâm lý coi thường bậc trung cấp và cao đẳng trong xã hội Việt Nam rất lớn. Cần có chính sách khuyến khích học tập trong các bậc học này, chẳng hạn tăng cường chế độ cấp học bổng và quan tâm giới thiệu việc làm cho học viên sau khi ra trường. Tóm lại, cần đổi mới thể chế giáo dục và đào tạo hiện nay mới có thể thực hiện toàn dụng lao động và đẩy mạnh công nghiệp hoá trong thập niên 2010.

Nhiều cải cách trong giáo dục cũng nên được áp dụng trong y tế: tăng đầu tư xây dựng bệnh viện, xây dựng các cơ sở y tế ở nông thôn và phổ cập bảo hiểm y tế để người nghèo có thể tiếp cận dịch vụ y tế với phụ phí thấp. Nên có chính sách miễn phí khám bệnh và phí nhập viện cho người dân nghèo hoặc cận nghèo.

e) Tăng cường đầu tư và cải thiện việc sử dụng ngân sách cho nghiên cứu khoa học: Một trong những lý do thành quả nghiên cứu khoa học của ta còn khiêm tốn là do thiếu đầu tư. Đầu tư cho nghiên cứu khoa học và công nghệ năm 2006 chẳng hạn chỉ có 428 triệu USD, chiếm khoảng 0,17% GDP. Trong cùng năm, Thái Lan đầu tư 1,79 tỉ USD (0,3% GDP) và Malaysia 1,54 tỉ (0,5% GDP). Đáng chú ý là Trung Quốc đầu tư 1,4% GDP cho khoa học và công nghệ trong năm 2010 và đặt mục tiêu đầu tư 4% GDP vào năm 2015. Ngân sách đầu tư cho khoa học công nghệ ở Việt Nam có đặc tính là tập trung vào việc xây dựng cơ sở vật chất thay vì chi tiêu cho việc thực hiện các dự án nghiên cứu khoa học. Ngoài việc tăng đầu tư, cần phải xem xét lại việc sử dụng ngân sách khoa học. Theo cách làm hiện nay thì chúng ta có thể có những thiết bị khoa học tinh vi, nhưng không có người sử dụng hiệu quả những thiết bị này. Trong thực tế, tình trạng “thiết bị trùm chăn” đó đã trở nên phổ biến. Như đã phân tích ở trên, nền khoa học nước ta hiện nay còn lệ thuộc quá lớn vào các đồng nghiệp nước ngoài vì thiếu chuyên gia có trình độ cao. Do đó, thay vì đầu tư xây thêm phòng thí nghiệm, cần chú trọng đầu tư vào đào tạo chuyên gia có trình độ chuyên sâu.

Chẳng những cần tăng đầu tư cho khoa học và công nghệ, chúng ta cần phải cải cách hệ thống phân phối ngân sách cho nghiên cứu khoa học và quản lý khoa học. Hiện nay, các đề tài nghiên cứu cơ bản ở cấp nhà nước do các nhà khoa học xây dựng đã được quản lý khá tốt bởi Quỹ KH&CN quốc gia (Nafosted). Nhưng với các loại đề tài nghiên cứu ứng dụng và phát triển sản xuất ở các cấp – do cơ quan chủ quản ra đề tài, kêu gọi các nhà nghiên cứu nộp đơn xin và các cơ quan chủ quản xét duyệt và thẩm định – lại chưa có sự tham gia đúng mức của các nhà chuyên môn. Vì lý do này nhiều đề tài nghiên cứu của các bộ ngành, địa phương đề ra không theo kịp trào lưu và định hướng của khoa học quốc tế và nhu cầu thực tế.

Trở về mục lục

5. Chiến lược đối ngoại

Trong chiến lược đối ngoại của Việt Nam hiện nay, Trung Quốc, Mỹ và ASEAN có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.

“Đường lối ngoại giao của Việt Nam là thân thiện với mọi nước”: nguyên tắc đó luôn luôn là lý tưởng. Nhưng lý tưởng đó cũng luôn luôn va chạm với một thực tế mà không nước nào tránh khỏi: đó là thực tế chiến lược mà vị trí địa dư là yếu tố then chốt.

Chẳng hạn quan hệ của ta với Trung Quốc. Dù Việt Nam muốn chân thành làm bạn với Trung Quốc đến đâu đi nữa, vị trí địa dư của Việt Nam cũng bắt buộc ta phải đồng thời nhìn Trung Quốc như một vấn đề an ninh cốt tủy và thường xuyên. Không việc gì ta phải giấu diếm quan tâm sinh tồn đó bằng 16 chữ vàng. Càng giấu, ngôn từ và hành động ngoại giao của ta lại càng để lộ yếu kém, sợ hãi, khiếp nhược. Chỉ bằng cách nói thẳng với Trung Quốc: “Nam quốc sơn hà nam đế cư”, ta mới có thể làm bạn với Trung Quốc trên một vị thế không phải là khúm núm, thần phục. Ngày xưa, chỉ có ta với Trung Quốc thôi, ngoài trứng với đá không có ai khác, vậy mà tổ tiên ta vẫn có thể hiên ngang nói thẳng như thế, huống hồ bây giờ, thế giới đổi khác, quan hệ chiến lược có thể mở rộng với nhiều nước khác, cho phép Việt Nam lập hàng rào chiến lược bằng những quan hệ đặc biệt với nhiều nước.

Trung Quốc chắc phải hiểu cái thế tất yếu đó của Việt Nam. Cho nên họ vừa dụ dỗ, vừa uy hiếp để Việt Nam không thiết lập quan hệ đặc biệt với Mỹ và ngay cả không mơ tưởng đến một sách lược cân bằng lực lượng như nhiều nước trong khối ASEAN công khai áp dụng. Việt Nam có gì khác với các nước ASEAN khác khiến Trung Quốc có thể uy hiếp được? Không phải vì cái vị thế “núi liền núi sông liền sông” trong địa dư mà chính vì “núi liền núi sông liền sông” trong tư tưởng. Chẳng có ai phản đối: văn hóa Trung Quốc đã từng sáng chói cả một vùng trời Đông Á, ta chịu ảnh hưởng không phải là chuyện lạ, chuyện dở. Chuyện dở là chịu ảnh hưởng mà không biết sáng tạo như Nhật Bản. Chuyện dở là chịu ảnh hưởng đến cái mức phải làm cho giống nguyên bản để khỏi bị xem là man di. Từ trong tư tưởng, Trung Quốc đã là cái khuôn để rập theo. Họ Khổng giáo thế nào, ta Khổng giáo thế ấy. Họ Mao, ta cũng đã từng Mao. Họ đang là gì, ta cũng đang thế ấy. Suốt cả thế giới châu Á, có lẽ ngoài Việt Nam và Bắc Triều Tiên, không có nước nào làm cái bóng dưới mặt trời tư tưởng của họ. Trung Quốc biết rõ như thế, việc gì họ chẳng nắm cái điểm yếu đó để dụ và đe? Họ biết rõ ta sẽ không nghĩ đến cái thế cân bằng lực lượng, vì từ trong tư tưởng ta đã không có ý niệm cân bằng, đã lựa chọn nghiêng về một phía, đã nhượng bộ họ trên khắp lĩnh vực.

Họ lại còn tha hồ nắm cái điểm yếu đó vì biết chắc rằng không ai muốn sát cánh với ta thực sự khi quan hệ thân sơ của ta không rõ ràng. Về ngoại giao, dĩ nhiên ta cần giao hảo thân thiết với Trung Quốc như với Nhật, với ASEAN, nhưng về chiến lược, cả lịch sử lẫn thực tế ngày nay không cho phép ta xây dựng an ninh trường kỳ trên tư tưởng trụ cốt “Trung Quốc là bạn đặc biệt”. Ta không minh bạch trên điểm đó, ai sẽ tin ta? Ai sẽ liên minh chiến lược với ta để ngăn chận kẻ mà ta vẫn nhận là “bạn đặc biệt”? Thế nhưng trên thực tế ta lại không thể minh bạch được vì một đằng quyền lợi quốc gia đòi hỏi ta phải cảnh giác Trung Quốc, một đằng tư tưởng chính thống lại xem Trung Quốc là bạn đặc biệt. Mâu thuẫn đó phải chấm dứt thì quan hệ chiến lược mới phân minh.

Vậy ai là đồng minh chiến lược với ta? Đồng minh ở đây không có nghĩa là gia nhập vào một liên minh quân sự mà bao gồm các trường hợp những nước có cùng quan tâm chiến lược trong các quan hệ ngoại giao. Trong định nghĩa rộng đó, thực tế ngày nay cho thấy dù muốn dù không chỉ có Hoa Kỳ mới có thể trở thành đối tác chiến lược của Việt Nam trong việc thiết lập thế cân bằng lực lượng để ta giữ nước. Câu hỏi duy nhất còn có thể đặt ra là: nước Mỹ có sát cánh với ta để cùng ta bảo vệ những quyền lợi thiết thân nhất của ta? Cụ thể, nước Mỹ có thể cùng ta ngăn chận bành trướng của Trung Quốc ở Biển Đông?

Nước Mỹ không dại gì trả lời câu hỏi đó rành rọt và công khai. Câu hỏi đó, chính ta phải trả lời, và chỉ ta mới trả lời rành rọt được mà thôi. Nếu ta làm cho người Mỹ thấy rằng quyền lợi của họ và quyền lợi của ta là một, không những chỉ trên Biển Đông mà cả trong chiến lược lâu dài của họ ở Đông Á và cả Á châu thì hai nước sẽ sát cánh với nhau. Hơn nữa, nếu ta giúp củng cố các thể chế ASEAN để vừa tăng đoàn kết và ổn định trong khu vực vừa tạo cho Mỹ cơ hội vận động nhân dân Mỹ và nhân dân thế giới ủng hộ sự hiện diện của Mỹ tại Đông Nam Á thì ta lại càng thắt chặt quyền lợi của Mỹ với quyền lợi của ta hơn.

Nhưng quyền lợi mà thôi chưa đủ để xây dựng một quan hệ chiến lược bền vững, trường kỳ. Bởi vì đe dọa của Trung Quốc là trường kỳ, giải pháp đối phó cũng phải trường kỳ để quan hệ đồng minh (theo nghĩa rộng nói trên) không phải là quan hệ giai đoạn, chiến thuật. Cái gì tạo ra chất lượng cho một quan hệ chiến lược bền vững? Địa-chính trị ngày nay nói rõ: tư tưởng, văn hóa là yếu tố chiến lược cùng với vị trí địa dư. Chính thể dân chủ ở Đài Loan là yếu tố chiến lược gắn kết thêm với yếu tố quyền lợi trong quan hệ giữa Mỹ và xứ ấy. Nước Nhật quân phiệt phải dứt khoát viết lại hiến pháp để trở thành đồng minh chiến lược bền vững nhất của Mỹ trên thế giới. Do đó, cải cách thể chế theo hướng dân chủ hóa như đã trình bày ở trên ngoài mục đích tăng nội lực còn là điều kiện để mở rộng chiến lược ngoại giao.

Ai cũng biết: thực chất của ý thức hệ hiện nay ở Trung Quốc là chủ nghĩa dân tộc nước lớn. Dưới lớp áo xã hội chủ nghĩa, trái tim của Trung Quốc ra lệnh cho dân tộc họ phải trả thù nhục nhã của thế kỷ 19, nhanh chóng chiếm lĩnh địa vị đại cường, ngự trị như bá chủ trên vùng Đông Á. Làm sao ta đồng chí với họ được? Ngược lại, đó là tư tưởng mà ta phải triệt để chống như một đe dọa đè nặng trên sự sống còn của dân tộc. Tư tưởng chính trị của Việt Nam là tư tưởng Hồ Chí Minh, xây dựng trên quan tâm duy nhất là độc lập của dân tộc. Vì độc lập, ta phải đoàn kết dân tộc, lấy đoàn kết làm tư tưởng, lấy dân tộc làm mục tiêu chứ không phải một lý thuyết nào xa lạ với thực tế mà người dân đang thấy trước mắt. Vì yếu tố tư tưởng quan trọng như vậy, chúng tôi đề nghị Việt Nam hãy dứt khoát cắt rốn tư tưởng với Trung Quốc. Ta đã có một Hồ Chí Minh đặt nền móng dân chủ cho một nước Việt Nam độc lập khác hẳn nền móng mà Mao đã đặt cho Trung Quốc năm 1954. Ta đã lấy tư tưởng Hồ Chí Minh làm tư tưởng chỉ đạo. Tư tưởng độc lập đó cần phải được vun xới sâu hơn trong bối cảnh ngày nay. Cần suy nghĩ rằng: một phần lớn tư tưởng đó đã được thoát thai từ tình trạng chiến tranh, hết chiến tranh thuộc địa đến chiến tranh chia cắt trong một thế giới chia hai theo lằn ranh ý thức hệ. Bây giờ nước ta không còn chiến tranh nữa, đã bắt đầu phát triển lên công nghiệp hóa, hiện đại hóa, lại hội nhập vào một thế giới hoàn toàn đổi khác trong đó ý thức hệ tranh chấp ngày xưa đã biến mất rồi. Bối cảnh hoàn toàn đổi khác, tất nhiên tư tưởng của lãnh tụ cũng phải được hiểu theo một tinh thần mới, phải được chắt lọc lại, chỗ nào là tinh túy trường kỳ, chỗ nào là chiến thuật giai đoạn, chỗ nào thích hợp cho dân chủ ngày nay, chỗ nào đã đáp ứng xong rồi những nhu cầu trong quá khứ. Toàn dân sẽ tham gia thực hiện nền móng dân chủ mà lãnh tụ đã đặt viên gạch đầu tiên từ thuở khai sinh nhà nước. Ngôi nhà sẽ xây kết hợp hài hòa tư tưởng Hồ Chí Minh với những tư tưởng dân chủ của thế giới, vạch ra một mô hình dân chủ thích hợp với hoàn cảnh hiện nay của Việt Nam. Mô hình đó cũng sẽ không chối bỏ nguyên tắc căn bản của chính thể hiện nay là “đảng lãnh đạo”. Vấn đề là phải thiết lập cho kỳ được dân chủ thật sự trong đảng và định nghĩa lại cho minh bạch thế nào là “lãnh đạo” theo ý kiến của toàn dân.

Không khó khăn gì để thể chế hóa hai vấn đề đó. Nhân dân và trí thức Việt Nam không thiếu óc sáng tạo. Thách thức là có ý muốn hay không. Từ lâu, vấn đề đã được đặt ra, nhưng chẳng bao giờ giải quyết. Thời cuộc ngày nay không cho phép trì hoãn nữa. Không những lòng tin của nhân dân có hạn mà an ninh của đất nước bắt buộc phải thế. Đe dọa từ phương Bắc buộc ta phải từ giã con đường cụt trong tư tưởng. Hoặc ta không có đồng minh, hoặc có đồng minh thì phải minh bạch, không ai hứng đạn cho ta nếu không tin ta.

Tất nhiên ai cũng có thể chất vấn: đồng minh (trong ý nghĩa cùng một quan tâm chiến lược) với Mỹ, ta có mất độc lập chăng? Trong lịch sử thế giới từ sau 1945, có hai kinh nghiệm đồng minh trong đó một bên là siêu cường, một bên là nước bại trận, mất cả chủ quyền, mất cả tiềm năng kinh tế, mất cả quân đội: đó là nước Đức và nước Nhật. Cả hai nước đều trở thành cường quốc. Nước Đức liên minh chiến lược với Mỹ nhưng không mất độc lập ngoại giao với Liên Xô. Nước Nhật liên minh với Mỹ nhưng không mất độc lập ngoại giao với Trung Quốc. Quan hệ chiến lược có ảnh hưởng trên quan hệ ngoại giao, nhưng không trùng hợp. Ngay cả Hàn Quốc, liên minh với Mỹ, họ có mất độc lập ngoại giao với ai đâu?

Tại sao họ không mất? Tại vì hai lẽ. Thứ nhất, họ biết vận dụng nội lực, xây dựng ở bên trong một thể chế lành mạnh, hữu hiệu, đưa đất nước họ từ tình trạng lệ thuộc, độc tài, lên tình trạng dân chủ, cường quốc. Sức mạnh bên trong là yếu tố không thể không có để độc lập với thế giới. Chính vì vậy mà toàn thể nhân dân ta khát vọng một cải cách toàn diện để lãnh đạo cùng với toàn dân đưa đất nước lên địa vị độc lập, độc lập với Trung Quốc, dĩ nhiên, và độc lập với cả Mỹ.

Thứ hai, họ biết vận dụng thời cuộc quốc tế để không trở thành chư hầu của một cực. Hiện nay, ai cũng tưởng chừng như Mỹ và Tây Âu đang trên đà đi xuống, Trung Quốc đang ở thế thượng phong bất khả cưỡng. Đúng vậy. Nhưng tình hình đó lại có một mặt tích cực khác cho ta mà chính ta cần phải thấy rõ: cái thế thượng phong trịch thượng, ngạo mạn, thủ đoạn của Trung Quốc hiện nay là vấn đề của cả thế giới dân chủ, hòa bình, tự do, chứ không phải riêng gì của ta. Việt Nam đang có một cái thế rất lớn, lớn hơn cả thời 1945, là đứng chung với cả thế giới đó trong một mặt trận chung. Chúng tôi nói “đồng minh” hoặc “quan tâm chiến lược” là nói trong ý nghĩa đó. Việt Nam “đồng minh” với cả thế giới đó chứ không phải với riêng ai. Việt Nam “đồng minh” với cả những lực lượng tiến bộ, dân chủ, trong lòng xã hội Trung Quốc. Vấn đề là ta có đủ quyết tâm làm như thế hay không, thế giới có xem ta như vậy hay không mà thôi. Đây là cơ hội ngàn năm một thuở, là quốc sách để cứu nước, chưa bao giờ có.

Việt Nam sẽ không bao giờ là chư hầu của ai nếu ta vận dụng được sức lực của toàn dân. Chọn dân tộc và chọn thế giới dân chủ, hòa bình, tự do, tôn trọng môi trường thì mới thoát ra được cái ách của Trung Quốc, hiện nay và mai sau.

Dĩ nhiên, dù đẩy mạnh quan hệ với Mỹ, ta vẫn coi trọng quan hệ với Trung Quốc trên nguyên tắc bình đẳng. Vì là láng giềng gần, sự giao lưu mật thiết giữa các tầng lớp dân chúng, nhất là giữa giới trí thức và lớp trẻ để tạo sự tương kính, hiểu biết nhau. Đó cũng là yếu tố góp phần gìn giữ hòa bình. Tuy nhiên, Việt Nam là nước nhỏ hơn nhiều về nhiều mặt, không thể theo phương châm “hợp tác toàn diện”, mà phải chọn lựa lĩnh vực và mức độ.

Riêng về vấn đề Biển Đông, chúng tôi có hai đề nghị: Một là, Quốc hội Việt Nam cần ra một tuyên cáo, một nghị quyết đặc biệt về Công hàm Phạm Văn Đồng năm 1958, khẳng định đó không phải là sự thừa nhận chủ quyền của Trung Quốc ở Hoàng Sa và Trường Sa mà chỉ là thiện chí của Việt Nam ủng hộ Trung Quốc trong việc tranh chấp với Mỹ về an ninh ở vùng biển gần Đài Loan. Trung Quốc đã phản bội Việt Nam khi dùng công hàm đó để chủ trương chủ quyền của mình ở Hoàng Sa và Trường Sa. Tuyên cáo này vừa để thanh minh trước dư luận quốc tế vừa xóa bỏ những ngờ vực trong không ít người Việt Nam ở trong và ngoài nước, tăng thêm tình đoàn kết dân tộc trước hiểm họa ngoại xâm. Thứ hai, trên thực tế Việt Nam không làm chủ hết cả quần đảo Trường Sa nên cần đoàn kết với Philippines, Malaysia và Brunei trong việc gìn giữ quần đảo này và chống lại Đường Lưỡi Bò của Trung Quốc. Chúng tôi đề nghị Việt Nam chủ động đưa ra đề án với ASEAN đặt tên Biển Đông nước ta (mà Trung Quốc và nhiều nước khác gọi là biển Nam Trung Hoa) là Biển Đông Nam Á.

Trở về mục lục

E. Kết luận

Trên đây là phân tích sơ lược về thực trạng của Việt Nam và đại cương về các giải pháp nhằm cải cách toàn diện để phát triển đất nước. Những nội dung chi tiết hơn không được đề cập để tránh loãng thông tin. Tuy nhiên, qua đó cũng có thể rút ra kết luận:

Việt Nam chúng ta đang đứng trước một khúc ngoặt lịch sử. Kinh tế, văn hóa giáo dục, khoa học đều suy thoái, nền tảng đạo đức xã hội lung lay và trên nhiều mặt ngày càng lệ thuộc vào nước láng giềng phương Bắc. Vì thế, Đảng Cộng sản Việt Nam cần làm một cuộc cách mạng mới để cứu đất nước khỏi nguy cơ này và mở ra con đường mới để dân tộc tiến nhanh về phía trước, để đất nước phát triển nhanh chóng, giàu mạnh và tự chủ. Cốt lõi của cuộc cách mạng mới là dứt khoát từ bỏ sự ràng buộc của một chủ nghĩa, một học thuyết đã không còn sức sống ở cả Việt Nam và trên thế giới. Gắn chặt với học thuyết ấy, chủ nghĩa ấy cũng làm nước ta ngày càng lệ thuộc vào quỹ đạo của phương Bắc ngày càng nặng.

Trí tuệ, khí khái, bản lĩnh và lòng yêu nước của tiền nhân ta là những bài học vô cùng phong phú, quý giá. Bây giờ là lúc phải học lại, học hơn nữa tầm nhìn chiến lược “khoan thư sức dân” của Trần Hưng Đạo, “khai dân trí, chấn dân khí” của Phan Châu Trinh, tư tưởng dân chủ, đoàn kết dân tộc và tinh thần học tập phóng khoáng của Hồ Chí Minh. Và hơn bao giờ hết chúng ta phải kế thừa khí phách Nguyễn Trãi “… Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên hùng cứ một phương, tuy mạnh yếu có lúc khác nhau, song hào kiệt đời nào cũng có”.

Mong rằng với sự sáng suốt của Đảng Cộng sản Việt Nam, đất nước chúng ta sẽ nhanh chóng ra khỏi thời kỳ khó khăn nghiêm trọng hiện nay và bước vào một kỷ nguyên phát triển mới./.

Trở về mục lục

Đồng ký tên:

Hồ Tú Bảo Giáo sư Tin học, Viện Khoa học và Công nghệ Tiên tiến Nhật Bản, Nhật Bản.
Nguyễn Tiến Dũng Giáo sư Toán học, Đại học Toulouse, Pháp.
Trần Hữu Dũng Giáo sư Kinh tế học, Đại học Wright State, Hoa Kỳ.
Giáp Văn Dương Nhà nghiên cứu (Vật lý), Đại học Quốc gia Singapore.
Nguyễn Ngọc Giao Nhà báo, nguyên Giảng viên Toán, Đại học Paris VII, Pháp.
Ngô Vĩnh Long Giáo sư Sử học, Đại học Maine, Hoa Kỳ.
Vĩnh Sính Giáo sư danh dự (Sử học), Đại học Alberta, Canada.
Nguyễn Minh Thọ Giáo sư Hóa học, Đại học Leuven, Bỉ.
Trần Văn Thọ Giáo sư Kinh tế học, Đại học Waseda, Nhật Bản.
Cao Huy Thuần Giáo sư danh dự (Chính trị học), Đại học Picardie, Pháp.
Nguyễn Văn Tuấn Giáo sư Y khoa, Đại học New South Wales, Úc.
Hà Dương Tường Giáo sư danh dự (Toán học), Đại học Công nghệ Compiègne, Pháp.
Vũ Quang Việt Chuyên gia tư vấn Thống kê Kinh tế cho Liên Hiệp Quốc, Myanmar, Philippines và Lào; nguyên chuyên viên cao cấp Liên Hiệp Quốc, Hoa Kỳ.
Phạm Xuân Yêm Nguyên Giám đốc nghiên cứu Vật lý, Đại học Paris VI và Trung tâm Quốc gia Nghiên cứu Khoa học, Pháp.

Nguồn: boxitvn

Nguồn: Diễn đàn: diendan.org

Viet-studieshttp://viet-studies.info/kinhte/BanYKien.htm

Blog Nguyễn Văn tuấnnguyenvantuan.net

Posted in Chinh Tri Xa Hoi, Đề nghị ĐCSVN đổi mới để phát triển | Leave a Comment »

Có hai anh Ba Đua

Posted by hoangtran204 trên 28/10/2011

DCVOnline: Ba Đua trong bài viết này có thể là một nhân vật có thật ngoài đời, hiện làm phó bí thư thành ủy thành phố HCM… Nhưng cũng có thể, Ba Đua này là một nhân vật tượng trưng cho muôn ngàn Ba Đua “một mặt hai lòng” trong xã hội Việt Nam hôm nay.  DCVOnline xin mời bạn đọc theo dõi bài viết này của tác giả Đỗ Trung Quân, đã được đăng trên blog Quê Choa hôm Chủ Nhật tuần này.
                                            **************************

Tạm “tị nạn rượu” nằm nhà, chợt nhớ lâu ngày anh em chưa gặp nhau. Gọi điện cho thằng em ruột mời cà phê. Nó cười trong điện thoại, “Ông anh mà cà phê à?”

Quán lề đường. Thằng bộ đội của năm 1979 giờ thất nghiệp, vợ nuôi. Tôi bảo, “chú có số ‘thân cư thê’ sướng hơn tôi”. Thằng em thua tôi 6 tuổi, năm 1979 nó ở quận 4.

Khi Trung Quốc đánh Việt Nam nó lang bang vào cuộc mít tinh ở ngã tư Hoàng Diệu – Đoàn Nhữ Hài nghe anh Bí thư Quận đoàn 4 đọc một bài hiệu triệu nảy lửa “đánh cho để răng đen… đánh cho để tóc dài… đánh cho chích phản bất phục hoàn…”(2) gì gì đấy.
Sôi máu thanh niên, nó về thưa mẹ tôi “Cho con đi bộ đội”. Nghe kể lại mẹ tôi khi ấy rưng rưng nước mắt, “Thằng anh mày còn ở bên K chưa về, mày đi có chuyện gì thì mẹ sống với ai …” Nhưng nó cứ đi, đăng ký quân đội. Chuyển quân ra phía bắc. 4 năm sau vác ba lô giải ngũ, đen kịt lầm lì nhưng mẹ tôi hạnh phúc. Hai đứa con trai đều trở về bình an, lành lặn. Tôi đi làm công nhân in 8 năm, nó chạy xe ôm. Khi tôi về Tuổi Trẻ làm báo. Nó vẫn chạy xe ôm, tình thật nó chưa học xong lớp 6.“Cái anh đọc diễn văn hiệu triệu hồi ấy tên gì em quên rồi anh nhỉ?
“Anh Ba Đua – Nguyễn Văn Đua!” Tôi trả lời, nó là thường dân chả để ý gì đến cán bộ lãnh đạo. Nhưng tôi biết chắc nó vào lính vì lời hiệu triệu chống bọn bành trướng Bắc Kinh của anh ngày ấy.
Có hai anh Ba Đua? Hay chỉ một Ba Đua mà “một mặt hai lòng”? Nguồn: On the net


Anh Ba Đua. Thằng em tôi không biết anh bây giờ làm gì nhưng tôi thì đương nhiên biết. Anh là Phó bí thư thường trực Thành ủy thành phố này. Người không thích thanh niên Sài Gòn xuống đường, không thích cái áo U No – đường lưỡi bò mà ngay đến cả tạp chí Nature nổi tiếng thế giới cũng đã có bài lật tẩy bọn học giả Trung Quốc về cái đường lưỡi bò nhảm nhí ấy.

Anh không thích những cuộc hội thảo của giới trí thức việt nam về những vấn liên quan đến chủ quyền biển đảo, cho dù hôm nay họ cũng như anh ngày xưa đầy lòng yêu nước. “Sao lại thế, hồi ấy ổng hùng biện, quyết liệt lắm kia mà. Em sôi máu đi lính vì bài diễn thuyết của Ổng đấy!”

Tôi cười buồn, biết giải thích thế nào chuyện “ổng” nhỉ. Nó hỏi, “thế anh xuống đường ông Ba Đua có cấm, cản, làm khó gì không? Mà chẳng lẽ có hai anh Ba Đua. Có đúng là ông Đua ấy không?”

Tôi lại cười buồn, “Hình như là có hai anh Ba Đua chú ạ!”

Nó châm thuốc thắc mắc, “Vậy nếu anh Ba Đua Quận đoàn 4 hồi đó giờ xuống đường chống ngoại xâm thì sao?”

Tôi bật cười thành tiếng “Thì anh Ba Đua Thành ủy bây giờ sẽ bắt anh Ba Đua Quận đoàn 4 hồi đó chớ sao!”Buổi cà phê bờ kè dừng ở đấy. Anh em tạm biệt nhau. Nhìn cái bóng khắc khổ của người lính biên giới 1979 năm xưa, thằng em ruột của mình, tôi bỗng khẽ thở dài mà chẳng rõ tại sao mình lại thở dài.

Chắc tại buổi chiều Sài Gòn cũng đang sầm cơn mưa lớn…

DCVOnline

Nguồn:

(1) Có hai anh Ba Đua. Đỗ Trung Quân, bài đã được đăng trên blog Quê choa của nhà văn Nguyễn Quang Lập
(2)Bài hịch  “Đánh cho để dài tóc / Đánh cho để đen răng / Đánh cho nó chích luân bất phản / Đánh cho nó phiến giáo bất hoàn/ Đánh cho sử tri nam quốc anh hùng chi hữu chủ,” của vua Quang Trung Nguyễn Huệ.

*Người xông pha

++++++++++++++++++++++

Những người sống sót sau trận Gạc Ma

Quỳnh Chi, phóng viên RFA
2011-10-25

Trận hải chiến trên đảo Gạc Ma năm 1988 diễn ra chỉ trong vòng hơn một giờ đồng hồ đã giết chết 64 hải quân Việt Nam.

Họ vẫn còn sống

Chín người sống sót bao gồm anh Lê Văn Đông, Nguyễn Văn Thống, Trần Thiện Phụng, Phạm Văn Nhân, Nguyễn Tiến Hùng, Trương Văn Hiền, Lê Minh Thoa, Mai Văn Hải và Dương Văn Dũng. Số phận của họ sau cuộc chiến như thế nào?

Anh Thống cho biết: “Tàu chìm lúc khoảng 7 giờ 30 sáng. Sau đó tôi bị thương và vớt được một miếng gỗ và trôi đến khoảng 4 giờ chiều thì bị bắt. Tôi bị thương nặng nhưng lại ôm được tấm gỗ mang ra làm nhà. Tôi ôm và cứ để mặc nó trôi thế nào thì trôi. Lúc bị họ kéo khỏi mặt nước thì tôi đau lắm. Tôi biết rằng có vài người cũng bị bắt lên khoang tàu rồi nhưng không nhìn rõ ai cả vì tôi bị thương ở mắt”.

Đó là lý do anh Thống còn sống sót sau trận chiến. Nếu không nhờ những tấm gỗ mà các chiến sĩ hải quân Việt Nam dự định dùng làm nhà trên đảo, có lẽ cũng chẳng ai còn sống sót kể chuyện của họ ngày hôm nay. Trong số những người không tử thương trong trận chiến, có lẽ anh Thoa là người tỉnh táo nhất. Anh còn nhớ rõ cảm xúc của mình khi thấy tàu Trung Quốc xuất hiện trở lại:

“Đến 6 giờ chiều thì tôi nhìn thấy một con tàu từ hướng đông chạy đến. Lúc ấy tôi rất mừng và nghĩ là tàu Việt Nam. Nhưng khi tàu này dừng lại và chuyển hướng gió thì tôi nhìn thấy hai chữ “Trung Quốc”. Lúc đó tôi đã xác định rằng cuộc đời tôi đến đây là hết rồi. Họ bắt từng người lên tàu. Tôi là người bị bắt cuối cùng và khi lên tàu thì đã thấy tám anh em trên tàu rồi.”

Tất cả những người bị bắt lên tàu đều bị thương, đều bị yêu cầu cởi bỏ hết quần áo ngoài và đều bị bỏ cùng một khoang tàu chở về nhà tù Trung Quốc ở Quảng Đông. Lúc đó, tất cả nghĩ rằng đời họ đến đây là hết. Mọi người đều im lặng, chỉ nhìn nhau nhưng không nói được lời nào.

Trong số chín người trên khoang tàu, anh Thống là người bị thương nặng nhất. Theo lời anh kể, lúc lên tàu, anh không phân biệt được ngày đêm và bất tỉnh ngay sau đó. Khi tỉnh lại, anh chỉ biết kêu than và xin quần áo mặc vì lạnh. Anh Thoa nói tiếp:

“Lúc bị bắt lên tàu Trung Quốc thì suốt ba ngày ba đêm cũng không ai ăn uống gì cả. Có lúc tôi khát nước, nhìn thấy một người nữ trên tàu và xin cô ấy chút nước vì cô ấy đang ăn dưa hấu. Nhưng cô ấy còn không cho, còn dùng giày đá vào chân tôi đau điếng. Lúc đó, người thì bị thương. Trời thì lạnh, chúng tôi chỉ mặc quần đùi và áo lót.

Tôi bị thương nặng nhưng lại ôm được tấm gỗ mang ra làm nhà. Tôi ôm và cứ để mặc nó trôi thế nào thì trôi.

Anh Nguyễn Văn Thống

Tất cả đều bị thương và mệt mỏi vì phải bơi gần một ngày trên biển. Tất cả những người bị bắt lên khoang tàu đều không được băng bó gì cả. Sau 3 ngày 3 đêm, chúng tôi về đến đảo Lôi Châu, tỉnh Quảng Đông, thì những người bị thương nặng mới được băng bó. Lúc đó thì những vết thương đã bốc mùi lên rồi”.

Sau 3 ngày 3 đêm, chín hải quân Việt Nam bị đưa về làm tù binh ở bán đảo Lôi Châu. Tại đây, mỗi người nuôi một niềm hy vọng riêng. Tuy nhiên, không ai dám hy vọng sẽ lại bước chân trên mảnh đất quê hương lần nữa. Anh Dũng tâm sự:
“Lúc ấy tôi không hề nghĩ có ngày mình được trở về. Bởi vì các loại tù khác thì còn có án, còn có ngày về. Còn tù như chúng tôi thì không thể biết được ngày về”.

Bị bắt làm tù binh

Họ vẫn còn sống – là sự thật. Họ bị bắt làm tù binh tại Trung Quốc – là sự thật. Tất cả không hề hoài nghi gì về điều ấy. Điều duy nhất họ chưa biết rõ lúc ấy là việc Trung Quốc có chiếm đảo Gạc Ma hay không. Chính vì thế mà họ hy vọng. Anh Thoa thở dài nhớ lại:

toquoc.net-250.jpg
Anh Lê Văn Đông (P) và anh Trần Thiện Phụng (T) chụp trước ngày xảy ra trận hải chiến đẫm máu. Photo courtesy of toquoc.net

“Vì đảo Gạc Ma rất dài, nên lúc ấy tôi hy vọng là Trung Quốc không chiếm hết đảo. Nhưng sau này khi trở về Việt Nam thì tôi cũng biết là Trung Quốc chiếm đảo ấy luôn rồi.”

Cũng tại đây, họ bắt đầu một cuộc đấu mới: cuộc đấu trí với cai ngục Trung Quốc. Theo lời kể, trong năm đầu tiên bị giam, cứ cách vài ngày họ bị gọi đi cung một lần để tìm hiểu về những người giữ chức vụ quan trọng trong hải quân Việt Nam. Họ còn phải đấu trí với những bài báo được viết bằng tiếng Việt được đưa vào ngục mà theo họ là “của những người phản quốc”. Thậm chí, các anh đã xé bỏ những tờ báo xuyên tạc ấy. Anh Dũng nói:

“Khi cai ngục đưa cho chúng tôi những bài báo ấy thì chúng tôi không đọc, thậm chí xé, đốt trước mặt cai ngục luôn. Có lúc đánh với cai ngục, tôi cũng không sợ. Tôi nghĩ mình cá đã nằm trên thớt, tôi không sợ gì nữa. Họ muốn chặt con cá lúc nào cũng được, nhưng họ có dám chặt không?”

Trong số những người còn sống sót, có lẽ anh Dũng là người kiên cường và mạnh mẽ nhất. Thậm chí, có lần anh đã cãi nhau với thông dịch viên Trung Quốc vì anh không khuất phục. Anh nói tiếp:

“Tôi tuyên bố rằng ‘Mày nhốt tao thì mày phải mang cơm cho tao ăn. Mày dám không đem cơm cho tao ăn không?’. Tôi đã nói câu đó thì tôi không bao giờ sợ chết.”

Cuộc đấu trí lớn nhất có lẽ là việc trình bày về việc bên nào nổ súng trước khi một năm sau đó, Hội chữ thập đỏ quốc tế vào trại giam thăm các hải quân Việt Nam. Anh Dũng nói:

“Khi hội chữ thập đỏ quốc tế đến thì họ yêu cầu mình phải viết tường trình rằng ai nổ súng trước. Tôi trả lời là Trung Quốc là phía nổ súng bởi Việt Nam súng đâu mà nổ? Hành động và nổ súng là chỉ có Trung Quốc thôi. Nhưng Trung Quốc lại không chấp nhận là họ nổ súng trước.”

Một năm sau khi ngày trận chiến xảy ra, đại diện Hội chữ thập đỏ quốc tế đến thăm các tù binh Việt Nam, đó cũng là lúc gia đình nhận được tin báo các anh còn sống. Trước đó, báo Nhân dân đăng ngày 28 tháng 3 năm 1988 đăng tin rằng tất cả các chiến sĩ tử trận trong trận hải chiến Trường Sa. Anh Thoa nói:

“Trong một năm đầu ở tù, chúng tôi hoàn toàn không có tin tức về Việt Nam. Sau đó, Hội Chữ thập đỏ quốc tế vào tù thăm chúng tôi thì họ cho phép viết mỗi người một lá thư dài 24 chữ để họ chuyển về gia đình. Tôi báo cho gia đình là tôi vẫn còn sống và hiện đang ở tù tại Trung Quốc”.

Và đó là lá thư duy nhất các anh được gởi về nhà trong gần 4 năm ở nhà tù Trung Quốc. Họ ở trong nhà tù Trung Quốc, tồn tại trong sự lo lắng với những nỗi niềm riêng. Anh Thống lo cho cha mẹ già cùng bảy anh chị em khác. Anh Phụng lo cho đứa con vừa mới chào đời được một năm. Anh Hải lo cho cảnh nhà túng quẫn… Anh Thoa lại có

“Ở trong tù, nhớ nhà kinh khủng, nhất là vào những đêm giao thừa. Nhớ gia đình, cha mẹ, em út…không biết họ sống như thế nào. Ở trong tù thì làm sao mà thoải mái được. Lúc đó, đầu óc tôi suy nghĩ rất nhiều. Lao động thì vất vả. Tôi cứ suy nghĩ về gia đình và cuộc đời của mình. Lúc ấy tôi còn trẻ, chỉ mới 20-21 mà thôi. Tôi là con cả trong gia đình có 4 người con, đứa em út tôi lúc ấy mới 7 tuổi thôi nên tôi lo cho nó lắm.”

Giấc mơ hồi hương

Và họ cứ sống như thế với những lo toan, mong mỏi cho đến một ngày vào tháng 11 năm 1991, sau chuyến công du Trung Quốc của Đại tướng Lê Đức Anh vào tháng 9. Anh Thoa nhớ lại:“Chiều hôm ấy chúng tôi được đãi một bữa ăn tươi mà họ cũng không nói gì cả. Đến khoảng 4 giờ sáng họ bảo chúng tôi thu xếp quân trang. Khi lên xe, họ đọc lệnh phóng thích tù binh”.

Anh Thoa còn cho biết, khi nghe lệnh được phóng thích, anh vừa mừng vừa sợ. Mừng vì mình có hy vọng được về với gia đình, với tổ quốc thân yêu; nhưng lo vì không biết thực hư như thế nào. Ngồi trên xe, chín người lại nhìn nhau mà im lặng, như lúc họ im lặng trên khoang tàu khi bị bắt mang về Trung Quốc cách đó gần 4 năm. Mỗi người một suy nghĩ, một nỗi lo. Anh Thống nói:

“Sau hơn 3 năm rưỡi, họ đọc lệnh cho về là tất cả đều mừng rỡ, mừng mà không ngủ được. Cứ đợi đến sáng để được lên xe qua biên giới. Được về, dĩ nhiên là vui, nhưng buồn vì mình bị thương nặng thì không biết cuộc sống sẽ thế nào”.

Không khí im lặng, hồi hộp kéo dài trong suốt 2 ngày đường đi, để khi họ nhìn thấy được lá cờ Việt Nam bay phất phới phía bên kia biên giới, họ mới tin là mình được tái sinh. Anh Thoa tâm sự:

“Lúc ấy vừa vui vừa sợ nên mọi người đều nhìn nhau im lặng. Đến khi được qua bên kia biên giới Việt Nam rồi, chúng tôi rất mừng. Nhìn trong bản đồ tôi thấy Quảng Đông và Cao Bằng rất gần, nhưng không hiểu sao khi ngồi lên xe thì thấy đi lâu lắm. Chúng tôi đi 2 ngày mới đến biên giới Việt Nam.”

Vậy là họ được trả về Việt Nam sau gần 4 năm chịu cảnh tù đày nơi đất khách. Bây giờ nhớ lại, cái cảm giác sung sướng và hạnh phúc vẫn còn dâng trào trong từng con tim, từng chân tóc, thớ da của họ. Họ sung sướng cảm nhận từng bước chân mình trên con đường đất quê hương, mở rộng lồng ngực hít thật sâu mùi cao nguyên xanh thẫm và ngửa mặt như đón lấy cái nắng gió trên bầu trời. Lòng họ hân hoan, nôn nao và hạnh phúc như được sống lại lần thứ hai.

Sau một tháng sống tại khu an dưỡng dành cho hải quân tại vịnh Hạ Long, chín người lính còn sống sót trong trận hải chiến tại Gạc Ma được cho về nhà. Trừ anh Phụng được gia đình lên tận khu an dưỡng đón, tám người còn lại không thể báo tin về nhà. Để rồi khi thấy họ xuất hiện, gia đình chỉ biết khóc và không nói nên lời. Anh Dũng cho biết:

“Cả làng thấy tôi về họ đến thăm. Lúc ấy vì vui quá mà không biết nói gì nữa, mừng quá mà khóc thôi. Gia đình tôi rất mừng, không thể tượng tượng được con mình trở về như thế.”

Rồi trong số họ, có người về nhà và thấy chính ảnh của mình trên bàn thờ. Cho đến bây giờ, anh Thoa vẫn nhớ như in cái ngày đặc biệt ấy:

“Tôi ngồi tàu đi từ Hà Nội về đến Qui Nhơn khoảng 4 giờ sáng. Không biết lúc ấy gia đình vì sao gia đình tôi lại có linh tính. Chiếc xe ôm chở tôi vừa dừng trước nhà thì gia đình mở cửa ra. Lúc ấy tôi mặc trang phục hải quân. Gia đình thấy tôi thì khóc òa lên. Tôi cũng khóc luôn bởi vì lúc ấy bố mẹ, anh em, bác của tôi ai cũng khóc cả. Khóc vì quá mừng.

Lúc tôi trở về nhà thì thấy nhà vẫn còn thờ tôi. Đó là bức hình tôi chụp khi chưa vào quân đội. Lúc ấy tôi mới 15-16 tuổi thôi. Gia đình phóng lớn tấm hình ấy và để trên bàn thờ. Bây giờ tôi vẫn còn giữ tấm hình ấy.”

Cho đến bây giờ, anh Thoa vẫn còn giữ tấm ảnh thờ của chính mình. Anh Dũng vẫn giữ những tấm hình của đồng đội. Anh Phụng, anh Hải, anh Nhân, anh Đông, anh Thống, anh Hiền vẫn còn giữ những tấm huân chương chiến sĩ… như để khép lại một quá khứ nhưng không chối bỏ nó. Có lẽ hơn ai hết, họ hiểu rằng: họ đã sống thay cho 64 đồng đội mãi mãi nằm lại Gạc Ma ngoài kia.

Chương trình “Câu chuyện hàng tuần” xin được tạm dừng tại đây. Thưa quý vị, trở về cuộc sống bình thường, họ có chấm dứt được những gian truân? Mời quý vị đón nghe kỳ tới.

RFA

Posted in Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa, Chien Tranh Bien Gioi Viet Trung 1979 | Leave a Comment »

Ngân Hàng đốt tài liệu vào ngày chủ nhật, dân phát hiện tri hô, Giám đốc Ngân Hàng tuyên bố tài liệu cũ 1999, Dân nói: Nhìn thấy nhiều bộ hồ sơ liên quan vay vốn trong những năm gần đây! Phóng Viên loan tin: chi nhánh Ngân Hàng mới được thành lập…2006!

Posted by hoangtran204 trên 26/10/2011

Trích:

“Ngày 10-10, làm việc với Tiền Phong, ông Nguyễn Huy Hoàng, GĐ Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Bắc Quảng Bình cho biết, việc tiêu hủy tài liệu hết thời hạn lưu trữ nằm trong kế hoạch hằng năm của đơn vị. Hơn tấn tài liệu được mang đi tiêu hủy lần này đều có trước năm 1999 (tức là đã sau 20 năm, theo đúng quy định), không có chuyện tiêu hủy hồ sơ vay vốn sau năm 1999 như phản ánh của người dân…”

…Mặt khác, theo một cán bộ thanh tra Ngân hàng Nhà nước Chi nhánh Quảng Bình, việc tiêu hủy tài liệu ngân hàng được quy định rất nghiêm ngặt, thời hạn lưu trữ rất cụ thể với từng loại hồ sơ. Tài liệu phải được cắt xén, đánh nhuyễn bằng máy trước khi đưa đi tiêu hủy.

Song, nhiều người dân có mặt tại hiện trường phản ánh, hầu hết số tài liệu trên còn nguyên vẹn trước khi bị đốt. Họ cũng vẫn nói là đã thấy nhiều bộ hồ sơ liên quan vay vốn trong những năm gần đây? (theo quy định loại hồ sơ này phải lưu trữ sau 20 năm mới được tiêu hủy – PV).

Được biết, Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Bắc Quảng Bình được thành lập từ năm 2006.”

Náo loạn vì ngân hàng hủy tài liệu cũ

Thứ Tư, ngày 12/10/2011, 09:33
(24h) – Một cột khói và lửa bốc cao từ phía nghĩa địa trong sáng sớm khiến người dân náo loạn, không hiểu chuyện gì đang xảy ra.

Sự việc hy hữu trên xảy ra lúc 7 giờ sáng Chủ nhật (9-10), tại nghĩa trang xã Quảng Long (huyện Quảng Trạch, Quảng Bình). Anh Nguyễn Văn Son, một người dân xã Quảng Long, cho biết, anh vừa ngủ dậy thì tá hỏa thấy phía nghĩa trang có một cột lửa bốc cao ngùn ngụt, khói bụi mù mịt. Anh Son gọi thêm mấy người hàng xóm tức tốc chạy ra xem.

“Tôi và mấy anh em chạy đến nơi, thấy có gần chục người đang đốt một đống giấy to. Họ nói là người của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Bắc Quảng Bình, đang hủy tài liệu. Thấy họ đốt giấy ngay cạnh mồ mả ông bà, sợ bị ảnh hưởng, tôi và mấy người xông vào dập lửa thì bị ngăn lại, họ dọa là sẽ bắt đi tù nếu đụng vào tài liệu mật của nhà nước” – Anh Son nói.

Nhận tin báo, sau đó Công an xã Quảng Long và Công an huyện Quảng Trạch đã có mặt, lập biên bản sự việc, yêu cầu phía ngân hàng dừng ngay việc đốt tài liệu và phải vận chuyển đến bãi rác để đốt, tránh gây ô nhiễm… Theo ghi nhận của PV, lúc này còn khoảng 1/5 số tài liệu chưa kịp cháy hết, trong đó có nhiều hồ sơ vay vốn, thậm chí có cả kết luận thanh tra của ngân hàng cấp trên…

Chiếc công nông này được thuê đến để chở số tài liệu còn lại ra bãi rác cách đó 4km

Nhiều nghi vấn

Ngày 10-10, làm việc với Tiền Phong, ông Nguyễn Huy Hoàng, GĐ Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Bắc Quảng Bình cho biết, việc tiêu hủy tài liệu hết thời hạn lưu trữ nằm trong kế hoạch hằng năm của đơn vị. Hơn tấn tài liệu được mang đi tiêu hủy lần này đều có trước năm 1999 (tức là đã sau 20 năm, theo đúng quy định), không có chuyện tiêu hủy hồ sơ vay vốn sau năm 1999 như phản ánh của người dân…

Ông Hoàng cũng cho biết, phía ngân hàng đã báo cáo với chính quyền xã Quảng Long về việc tiêu hủy tài liệu tại địa điểm trên, nhưng do người dân không biết nên có sự hiểu lầm. Sau khi công an giải thích cho người dân, việc tiêu hủy được tiếp tục và hoàn thành ở địa điểm nói trên. Còn việc tiêu hủy vào ngày nghỉ là do ngân hàng nhiều việc nên tranh thủ…

Tuy nhiên, ông Trần Thế Hiền, Phó trưởng Công an xã Quảng Long lại khẳng định, công an xã đã lập biên bản, yêu cầu phía ngân hàng vận chuyển ra bãi rác cách đó 4 km để tiêu hủy tài liệu. Ông Ngô Văn Năm, người lái xe công nông được thuê, cho biết được phía ngân hàng trả 300 ngàn đồng tiền công chở số tài liệu còn lại ra bãi rác.

Mặt khác, theo một cán bộ thanh tra Ngân hàng Nhà nước Chi nhánh Quảng Bình, việc tiêu hủy tài liệu ngân hàng được quy định rất nghiêm ngặt, thời hạn lưu trữ rất cụ thể với từng loại hồ sơ. Tài liệu phải được cắt xén, đánh nhuyễn bằng máy trước khi đưa đi tiêu hủy.

Song, nhiều người dân có mặt tại hiện trường phản ánh, hầu hết số tài liệu trên còn nguyên vẹn trước khi bị đốt. Họ cũng vẫn nói là đã thấy nhiều bộ hồ sơ liên quan vay vốn trong những năm gần đây? (theo quy định loại hồ sơ này phải lưu trữ sau 20 năm mới được tiêu hủy – PV).

Được biết, Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Bắc Quảng Bình được thành lập từ năm 2006.

Theo Hoàng Nam (Tiền Phong)

nguồn

Posted in Tài Chánh-Thuế | 1 Comment »

►Các ngân hàng Việt Nam đang có nguy cơ phá sản- Khó khăn vốn: Ngân hàng đang ngồi trên lửa

Posted by hoangtran204 trên 25/10/2011

Lãi suất ngân hàng tiếp tục tăng lên, tỷ giá tiền đô la quy đổi ra tiền Việt Nam đang ở mức 1 đô la Mỹ = 21500 đồng Việt Nam. Cuối năm nay chắc chắn sẽ lên 22000 đồng= 1 đô la.

Các ngân hàng hiện nay đều gặp khó khăn vì thiếu tiền mặt.  Các khó khăn về thanh khoản và lãi suất gia tăng đang quay trở lại.  Việc các ngân hàng sáp nhập với nhau trong các tuần sắp tới là do có nhiều  ngân hàng đang sắp bị phá sản. Phá sản vì ngân hàng không còn tiền và đang bị lỗ vốn hàng ngày. Các vụ ngân hàng cho tư nhân và các công ty vay để mua bất động sản và các con nợ này không còn tiền trả góp hàng tháng nữa, ngân hàng đành tịch biên các bất động sản thế chấp, nhưng rồi ngân hàng cũng không bán được các bất động sản nầy được vì giá xuống và không có người mua.  Vì phải trả tiền điều hành và trả tiền cho công nhân viên,  mà ngân hàng hiện nay không có tiền mặt thì chắc chắn là phải phá sản. Do đó, trong thời gian ngắn vài tuần hay vài tháng tới, các ngân hàng lớn sẽ mua các ngân hàng nhỏ, hoặc hai ngân hàng nhỏ sáp nhập vào nhau để tồn tại.

Có nguồn tin cho biết chính phủ  VN lại sắp bán trái phiếu ra để lấy tiền trang trải cho các khoản nợ đến hạn phải trả vào cuối năm 2011.  Nguồn tin cho biết chính phủ đang huy động 50-80 ngàn tỷ đồng thông qua việc bán trái phiếu. Bán trái phiếu chính là một hình thức cần tiền nên phải mươn thêm nợ.

Tỷ giá và lãi suất liên ngân hàng căng thẳng

Khó khăn thanh khoản và căng thẳng lãi suất trên thị trường liên ngân hàng đã chính thức trở lại, sau một thời gian khá dài tương đối ổn định.

Trên thị trường liên ngân hàng, lãi suất và tỷ giá USD/VND tiếp tục có dấu hiệu căng thẳng khi cùng tăng mạnh, dù Ngân hàng Nhà nước có can thiệp.

Hôm nay (18/10), lần thứ tám liên tiếp trong khoảng hai tuần trở lại đây Ngân hàng Nhà nước điều chỉnh tỷ giá bình quân liên ngân hàng giữa VND với USD. Sau mức tăng 20 VND cuối tuần qua, mức tăng hôm nay ghi nhận là 15 VND.

Hiện tỷ giá bình quân liên ngân hàng đã lên mức 20.723 VND. Giá USD bán ra sáng nay của các ngân hàng thương mại cũng bám theo mức trần với 20.930 VND bán ra, 20.925 VND mua vào.

Theo cập nhật của Công ty Chứng khoán Tp.HCM (HSC), tỷ giá liên ngân hàng ngay hôm qua (17/10) đã tăng 47 VND lên 21.487 VND (tỷ giá giữa mua và bán); tỷ giá tự do tăng 15 VND lên 21.425 VND. Như vậy, tỷ giá liên ngân hàng đã cao hơn hẳn tỷ giá trên thị trường tự do.

Những diễn biến trên đang mở ra đấu hiệu căng thẳng tỷ giá USD/VND vào những tháng cuối năm, như nhiều dự báo đưa ra thời gian qua. Trong khi đó, Ngân hàng Nhà nước buộc phải liên tiếp tăng tỷ giá bình quân liên ngân hàng và giới hạn định hướng “không quá 1%” đến cuối năm đang thu hẹp rõ rệt.

Bên cạnh đó, theo tin từ Thời báo Ngân hàng (cơ quan trực thuộc Ngân hàng Nhà nước), trong tuần đầu tiên của tháng 10, nhà điều hành đã bán ra 150 triệu USD để bình ổn thị trường. Điều này cũng khớp với khẳng định “sẵn sàng bán ra” để hỗ trợ nhu cầu ngoại tệ của thị trường mà Ngân hàng Nhà nước mới đưa ra trước đó.

Như vậy, với 1,5 tỷ USD bán ra trong 3 tuần của tháng 8, thêm 150 triệu USD trong tháng 9 và tuần vừa qua thêm 150 triệu USD, tổng cộng Ngân hàng Nhà nước đã phải bán ra trên dưới 1,8 tỷ USD chỉ trong thời gian ngắn. Dự trữ ngoại hối theo đó có thể bị giảm, sau khi liên tục mua ròng từ cuối tháng 4/2011. Tuy nhiên, hiện chưa có thông tin chính thức từ Ngân hàng Nhà nước về con số trên dưới 1,8 tỷ USD này, mà chủ yếu được tập hợp từ các kênh kinh tế nước ngoài, từ một số tổ chức đầu tư tính toán…

Cùng với diễn biến của tỷ giá, đầu tuần này thị trường tiếp tục ghi nhận sự leo thang của lãi suất trên thị trường liên ngân hàng. Theo HSC, lãi suất VND kỳ hạn ngắn (qua đêm đến 1 tháng) đã vọt lên từ 18,5% – 25%/năm. Trong khi đó, một số kênh thông tin khác đề cập đến mức lãi suất “khủng khiếp” khi có thời điểm lên tới 30%/năm ở kỳ hạn 1 tháng.

Trước diễn biến trên, Ngân hàng Nhà nước cũng có động thái hỗ trợ khi bơm ròng vốn ra thị trường. Tuy nhiên, khó khăn thanh khoản và căng thẳng lãi suất trên thị trường liên ngân hàng đã chính thức trở lại, sau một thời gian khá dài tương đối ổn định.

Posted in Tài Chánh-Thuế | Leave a Comment »

Tấm Hình Cũ

Posted by hoangtran204 trên 25/10/2011

Tấm hình cũ

Vậy là hắn đã đi vào cõi vĩnh hằng. Hắn nằm thẳng rẵng trong quan tài kính, xung quanh chất đầy hoa, và những mảnh giấy bạc do các con hắn cắt với những dòng chữ yêu thương, và không bao giờ quên hắn( PaPa, Wir lieben Dich und werden Dich nie vergessen). Bốn cây đèn cầy cao lêu nghêu được đặt hai bên. Hắn nằm đó mặc kệ sự đời, mặc kệ những tiếng gào khóc xót thương của vợ con, gia đình và bạn bè. Khuôn mặt hắn vẫn thản nhiên vô tư như vốn có.

Vợ hắn lúc nhoài người về phía quan tài, có lúc mềm oặt như chực đổ. Thấy vậy, hai bà bạn đến xốc nách, kẹp chặt vợ hắn vào giữa. Bà Ba mẹ vợ hắn, ôm chặt hai đứa cháu ngoại, bờ vai đang rung lên. Ông Ba (nguyên là sĩ quan Việt Nam Cộng Hòa-bố vợ hắn) thỉnh thoảng lấy khăn lau kính, hai mắt đỏ hoe. Ông An (đồng chí Sáu An nguyên là sĩ quan quân đội) bố hắn, đứng cạnh ông Ba, hai má tóp lại, đôi mắt đờ đẫn khô khốc, thỉnh thoảng ông lại đưa tay lên bóp vào mặt. Tôi cầm tay ông, một bàn tay lạnh ngắt, cảm tưởng người ông đang run lên như bị sốt rét rừng.

Người ta từ từ đẩy chiếc xe chở hắn về hướng nhà hỏa táng. Những chiếc lá vàng đầu thu đã trải vàng lối đi. Hai ông già dìu nhau xuống cuối con dốc, ánh nắng nhạt cuối chiều làm bóng họ đổ xuống thành những vệt dài. Sau lưng họ có một vài cơn gió xoáy nhẹ cuốn ngược những chiếc lá vàng lên rồi rơi xuống như những quân bài được ai đó tung ra.

Vài tuần trước, tôi tạt vào quán của hắn, thấy hắn đang xóc chảo hùng hục trong bếp. Vợ hắn khoe, ông nội (tức bố hắn) mới từ Việt Nam sang chơi. Tôi không phải là bác sỹ, và là người không tin tướng số, nhưng trong lòng dường như có một linh cảm nào đó không ổn khi nhìn hắn. Tôi buột miệng hỏi:

– Vẫn khỏe đấy chứ, nhìn ông hôm nay, tôi thấy kỳ kỳ, thế nào ấy!

Hắn cười hơ hớ, nhìn xéo sang vợ:

– Lại đến lúc bác phải đến bác sỹ đổi kính rồi, bảo đảm với bác tuần nào em cũng phải bắn bốn, năm phát.

Vợ hắn đỏ mặt, buông dao thái, chạy đến đấm vào lưng hắn thùm thụp.

Vậy mà tuần sau nghe tin, chỉ một cơn đau thắt ngực trong đêm đã quật ngã hắn. Hắn bỏ lại vợ con, gia đình, bỏ lại bạn bè và rất nhiều những dự định chưa làm được. Hắn ra đi còn quá trẻ vào cái độ chín nhất của một đời người.  (Tính đến nay tôi quen hắn gần hai mươi năm rồi. Ngày ấy…)*

Ở Việt Nam đang thời kỳ đói vàng mắt, quanh năm chỉ cạp khoai, củ mì khô, sang đến Đức được vào làm việc ở xí nghiệp liên hiệp thực phẩm, nghe nói ai mà chả thích, đúng là chuột sa chĩnh gạo. Nhưng liên hiệp có nhà máy giết mổ gia súc lớn nhất nước Đức, tôi được xếp vào dạng to cao đen hôi, nên điều về làm ở dây chuyền giết mổ lợn, công việc vô cùng nặng nề (người Việt ta quen gọi: lò mổ). Cứ đến cuối tuần chỗ tôi nhộn nhịp lắm, các tay bợm nhậu khỏi nói, từ các bác Tiến sỹ, các ông du học sinh đến anh em lao động và cả các em chân ngắn, chân dài ở đội bên cạnh, nguyên là các diễn viên, ca múa nhạc của Hà Nội, Sài Gòn cũng dập dìu đến với cái khoản tiết canh cổ hũ của tôi. Mệt thì mệt nhưng  vui, sinh nhật, cưới xin, hội hè nào cũng có tôi. Có lẽ lúc đó tôi còn quan trọng và nổi tiếng hơn nhà văn Đoản mắm ở Đức hiện nay cũng không chừng.

Tôi quen hắn trong một lần như vậy. Hôm đó đang ngồi lai rai với mấy ông bạn đội dệt ở ngoài hành lang ký túc xá, thấy có tay chơi mặt lạ hoắc, ăn mặc luộm thuộm, tay cầm can 3 lít đến thẳng chỗ tôi:

– Em ở đội tầng trên, mới sang được mấy tháng, nhớ tiết canh quá, thứ sáu này đại ca cho em đầy can được không?

Tôi bảo:

– Tuần này nhiều người xin quá, tuần sau nhé.

Hắn nhăn nhó:

– Khó mà cưỡng được sự thèm khát, đại ca xem bớt của thằng nào đó cho em nửa can cũng được, nhớ cho thằng em mấy cái cổ hũ.

Thấy tôi gãi đầu, hắn bỏ can lại, cười cười văng tục:

-Đại ca đ. cho tuần này, tối buồn buồn, em xuống chọc bánh xe đấy!

Hắn nguyên là sinh viên đại học bách khoa Hà Nội, vì can tội đánh người gây thương tích trong sân bóng, nên bị đuổi. Hắn bảo: Sự việc không như vậy, hai thằng đánh nhau, thằng nào cũng bị sứt mẻ, nhưng bố thằng đánh nhau với hắn là cán bộ to ở Hà Nội, trên hàng cấp tỉnh của bố hắn, nên hắn chịu thua, ôm hận trở về quê. Mẹ hắn bắt năm tới phải thi lại đại học, chiều theo ý mẹ, hắn chuẩn bị cho kỳ thi. Nhưng gần đến ngày thi, mẹ hắn lăn đùng ra chết. Buồn chán hắn đề nghị với bố hắn cho sang Đức lao động.

Mấy năm sau ngày hắn sang, bức tường Berlin sụp đổ, báo hiệu nước Đức thống nhất đã đến gần. Người Việt ở ký túc xá phân tán khắp nơi, cuối tuần lại càng trở nên vắng vẻ. Lúc này ở trong nước, phe cứng rắn của bố hắn đang trỗi dậy và ông đã đoạt chiếc ghế phó chủ tịch thường trực tỉnh trở lại. Hắn dồn dập nhận được thư của ông yêu cầu phải về nước ngay. Nhưng hắn dứt khoát không chịu, mặc dù nhà máy hắn đã đóng cửa, một số bạn bè đã nhận tiền đền bù về nước. Lò mổ vẫn còn ngắc ngứ hoạt động, nên tôi còn ở trong ký túc. Hắn ôm quần áo xuống phòng tôi xin ngủ ké. Tôi hỏi:

– Bố làm phó chủ tịch, con một, sao không về?

Hắn bảo:

– Bố em rất muốn vậy, em về ông sẽ cài cắm, sau này ông có về hưu, em đã có vị trí ổn định. Nhưng em đ. muốn như thế.

Một hôm thấy hắn tha ở đâu đó về mấy thùng thuốc lá các loại. Thấy tôi trợn mắt nhìn, hắn cười:

– Vừa mua ở chỗ mấy thằng lính Nga về, nó bán có 10 DM một cây, mai mang ra chợ, thế nào cũng được 30 DM, nằm mãi em cũng chán rồi.

Qủa thật hắn là con người của công việc, sáng sáng thấy hắn khoác đầy balô thuốc lên đường, chỉ mấy tiếng sau hắn đã bán sạch trơn. Thời kỳ này hắn rủng rỉnh lắm, tối nào tôi không phải làm ca đêm, hắn cũng rủ ra quán ngồi. Hắn bảo thời kỳ này thuế vụ bắt đầu quần thảo rồi, có lẽ phải mua ô tô, để giấu hàng. Mấy hôm sau hắn mua đâu đó được cái giấy phép lái xe của Việt Nam, và mang lên sở công chánh đổi sang giấy phép lái xe của Đức. (Cái giấy phép lái xe của Việt Nam hai năm sau bị sở công chánh kiểm tra lại, phát hiện ra là giả, nên đã thu hồi lại giấy phép lái xe của Đức, buộc hắn phải học lại. Cũng may hắn không bị truy tố ra tòa.)

Hôm mua xe ngoài chợ, tôi phải lái về cho hắn. Điếu đóm cho tôi một tuần, hắn cũng tự lái được xe. Chỗ đứng bán thuốc của hắn trước cửa Konsum, hay khu chợ ngoài trời. Thỉnh thoảng có đoàn kiểm tra, hắn vơ vội thuốc chạy chối chết, có nhiều lần mất hết cả thuốc. Triết lý của hắn, không bị bắt là may rồi. Một hôm thấy hắn thất thểu đi về, tôi chưa kịp hỏi, hắn đã bảo, có lẽ giải nghệ bán thuốc. Thì ra buổi sáng hắn vừa ra chợ, chưa bán đã bị kiểm tra liên ngành, thuế vụ, công an đuổi bắt. Bọn hắn chạy tứ phía. Người cảnh sát trẻ  đuổi theo hắn. Chạy khá xa, nhưng người cảnh sát hình như không buông tha hắn thì phải. Đang mùa đông âm dưới chục độ, ấy vậy mồ hôi đã đổ ròng ròng, hai mắt nổ đom đóm, mệt quá không thể chạy tiếp, hắn chui vào bụi cây, co ro ngồi. Đợi cho mấy người thuế vụ chạy vụt qua, người cảnh sát từ từ tiến về chỗ hắn:

– Anh đừng sợ, hãy ra đây!

Sợ quá, hắn không dám quay lại, cứ chúi đầu rúc sâu vào bụi.

– Cứ ra đây, tôi không bắt anh đâu.

Chần chừ một lúc, hắn mới lồm cồm bò ra.

– Anh hãy thật bình tĩnh, đưa túi thuốc cho tôi.

Đưa vội túi thuốc cho người cảnh sát, hắn định chạy tiếp, người cảnh sát nắm chặt tay hắn, bảo:

– Tôi chỉ thu túi thuốc này thôi. Tôi sẽ không lập biên bản, nếu làm biên bản buộc phải truy tố ra tòa, ảnh hưởng đến việc gia hạn thẻ cư trú của anh. Đừng bán thuốc lậu thuế nữa, nguy hiểm lắm. Tôi đã từng sống ở Việt Nam quê anh. Tôi tên Bernd Wittenberg, nhà khu lắp ghép Grünau … phòng 703 nhà số 3. Nếu anh cần sự giúp đỡ có thể đến tôi bất cứ lúc nào.

Hắn cảm ơn, vội bước đi thật nhanh trong tâm trạng sợ người cảnh sát đổi ý.

Tuần sau, hắn rủ tôi đến nhà người cảnh sát nói tiếng cảm ơn, nhưng thật tình muốn thăm dò người cảnh sát có thể giúp cho hắn cái giấy phép bán hàng rong hay không, vì thẻ cư trú của hắn ghi không được phép hành nghề.

Bernd xuống tận cầu thang đón chúng tôi. Có lẽ chạc tuổi nhau, nên chúng tôi nói chuyện rất cởi mở. Trong nhà đồ dùng, trang trí hầu như xuất xứ từ Việt Nam. Thấy chúng tôi ngạc nhiên nhìn, Bernd kể, cha tôi trước làm ở hội chữ thập đỏ, nên khi còn nhỏ tôi được theo ông đi khắp nơi. Tôi đã sống ở Hà Nội và Sài Gòn khá lâu, kể cả trong thời kỳ chiến tranh. Tôi còn rất nhiều kỷ niệm về quê hương các anh. Chúng tôi ngồi chơi đến khuya, men đã ngấm, người cũng đã khật khừ. Bernd hứa dứt khoát sẽ giúp hắn có cái giấy bán hàng rong (Reisegewerbekater) vì có người bạn cũng vừa từ Hannover sang tăng cường cho sở ngoài kiều thành phố này. Thật tình, chúng tôi cứ tưởng lời hứa của rượu, bia nhưng không ngờ mấy ngày sau thấy Bernd đến bảo hắn, ra sở ngoại kiều (gặp người bạn Bernd) để xóa đi dòng chữ cấm hành nghề ở thẻ cư trú.

Chuyển sang bán hàng rong, hắn vất vả, thu nhập thấp hơn đi bán thuốc lá lậu rất nhiều, nhưng không phải lo nghĩ, chạy trốn khi có đoàn kiểm tra. Lò mổ của tôi cũng bắt đầu đóng cửa, sau tết âm lịch tôi phải chuyển sang làm việc tại nhà máy thịt gần thành phố Bremen.

Chưa có tết năm nào buồn thảm như năm đó, bạn bè tản mát mỗi người một nơi, ký túc xá vắng hoe. Ngoài sân những hàng cây trơ trụi, khẳng khưu, nhọn  như những vết dao chọc thẳng lên bầu trời,  tuyết không rơi nhưng trong lòng buốt lạnh.

Sáng mùng một, Bernd đến chúc tết. Tôi với chai rượu định mở, Bernd xua tay:

– Không uống, hai ông lên xe tôi chở về chùa người Việt ở Hannover, hôm nay trên chùa tổ chức đón tết cho bà con phật tử. Ngày tôi còn làm việc ở Hannover, tết nào cũng cùng đoàn của bộ nội vụ đến thăm chùa.

Chẳng biết chúng tôi có đồng ý hay không, Bernd kéo phắt tôi và hắn ra xe.

Chùa Viên Giác lúc này còn ở địa chỉ cũ, tuy chưa được khang trang nhưng bà con khắp nơi đổ về khá đông. Mùi hương thơm ngào ngạt, tiếng chuông, tiếng mõ như tiếng vọng hồn quê, làm lòng người thấy nao nao, đôi lúc như ấm lại. Có rất nhiều các bạn học sinh, sinh viên đang làm công quả ở trong và khu vực ngoài chùa. Bernd rủ tôi lên thăm thầy trụ trì, còn hắn mắt trước mắt sau biến mất tiêu. Lúc tôi quay trở ra, thấy hắn đang bưng bê, phụ dọn dẹp với một cô sinh viên. Hắn mồm miệng liên hồi, thao thao bất tuyệt, cô gái cười ngặt ngẽo.

Đã ba giờ sáng, tôi và Bernd mấy lần giục hắn ra xe, hắn và cô gái mới chịu dứt câu chuyện. Ngồi trên xe thấy hắn thỉnh thoảng tủm tỉm cười một mình. Bernd nháy mắt:

– Cô gái tên Vân, sinh viên năm cuối phải không?

– Sao ông biết! hắn hỏi lại.

– Không những tôi biết cô ấy, mà biết cả bố mẹ cổ. Dân Nam kỳ chính cống, hình như ông bố không khoái dân Bắc kỳ lắm đâu. Ông hãy cẩn thận.

Cuối tuần, thấy hắn không đi bán hàng, lau chùi xe rất sạch, một sự lạ chưa từng thấy. Gần trưa hắn biến mất. Không hỏi, nhưng tôi đoán hắn mò sang Hannover, nơi hẹn Vân. Có tuần quá nửa đêm hắn dẫn Vân về, làm tôi đang ngủ phải lồm cồm bò dậy, tìm nơi sơ tán.

Mấy tháng sau, lúc này tôi đang làm việc ở Bremen, hắn gọi điện báo, Vân muốn hắn về trình diện phụ huynh, và muốn tôi đi cùng, vì hắn hơi bị rét. Tôi không tìm ra lý do gì để từ chối,  vì “ái tình đã đánh vỡ trái tim“ hắn lẩm bẩm như vậy.

Ông Ba ăn nói oang oang, nhưng ông lại có cái tính bụng để ngoài da. Gặp nhau lần đầu ông  mày tao tuốt tuồn tuột, làm cho chúng tôi ngỡ như được về lại nhà của mình. Trong bữa ăn, tôi và hắn cứ tì tì nhấc lên nhấc xuống cùng ông, làm cho ông vỗ đùi đen đét… được…được, hai thằng bắc kỳ bay chơi được. Hắn đang định chơi tiếp nhưng bị Vân nháy mắt, kéo áo. Hắn đành lùa vội bát cơm, lủi ra phòng khách. Ông Ba ngớ người…Cái thằng này … mày định chạy hả.. Bà Ba liếc mắt lườm, ông quay sang tôi thì thào: Có các bà vào là rách việc …nào chúng ta chiến đấu tiếp.

Ông Ba rất mê bóng đá. Tất cả các câu chuyện của ông, rốt cuộc thế nào cũng được so sánh hoặc qui về bóng đá. Với ông ở Việt Nam biết đá bóng chỉ có Tam Lang và Phạm Văn Kiểm thời Việt Nam Cộng Hòa. Ông còn trách tôi, viết lách gửi bài đăng thường xuyên trên Hướng Việt, Diễn Đàn Forum do bác Phạm Văn Kiểm Phụ trách, không biết bác trước đây là cầu thủ tài danh, thật là quá xoàng. Rượu đã bốc lên đầu, tôi chống chế:

– Trước đây con không biết, nhưng bố đồng ý cho hai đứa cưới, con sẽ mời bác Kiểm làm đại diện cho họ nhà trai, vì bác Kiểm cũng gốc Bắc.

Ông cười ha hả:

– Chuyện đó mày phải hỏi bà ấy.. còn tao..

Ông Ba nói chưa hết câu, Vân cầm bức ảnh đã cũ của ông chạy vào, nói như reo lên:

– Ba! Tấm ảnh này ba có chụp chung với bố anh Sơn (tức hắn) nè.

Ông Ba vội đặt bát cơm xuống, với chiếc kính đeo, hỏi giật:

– Ai là ba thằng Sơn?

Khi ông đã nhận ra Sáu An, người phụ trách đơn vị thời ông còn ở trong rừng là bố của Sơn, miếng cơm đang nhai dở chợt tuột ra khỏi miệng. Một lúc ông mới lấy được bình tĩnh, gọi Sơn vào hỏi:

– Thế bố con bây giờ làm gì và ở đâu?

– Sau năm 1975 bố con chuyển ra làm giám đốc, rồi phó chủ tịch thường trực một tỉnh miền tây Nam Bộ. Sau này hết nhập rồi lại chia tách tỉnh, nội bộ đấu đá, nên bố con được điều về Bắc làm phó chủ tịch tỉnh quê nhà. Bây giờ ông sống một mình vì mẹ con mất đã lâu. Còn bức ảnh này…Ba có phải đã từng là bạn của bố con?

Ông Ba thẫn thờ, miệng nhệu nhạo:

– Bố con là bạn của ba…nhưng..

Bỏ lửng câu, ông Ba lảo đảo vào giường nằm, trước sự ngơ ngác của mọi người.

Sáng, khi tía nắng sớm đầu hè còn chưa kịp mang hơi nước còn đọng trên những trồi non của hàng cây trong vườn đi, ông Ba đã kê ghế ngồi nhâm nhi caffe dưới gốc táo. Có lẽ cả đêm không ngủ, nên nhìn người ông xọm hẳn đi. Tôi kéo ghế ngồi xuống cạnh ông, đột nhiên ông hỏi:

– Này Trường! Mày có tin vào số mạng, và qui luật nhân quả không?

Tôi chưa kịp trả lời, ông đã tiếp: – Đến bây giờ tao đã tin, mỗi con người đều có số phận riêng. Có những sự việc, những con người, tưởng chừng như đã đi vào dĩ vãng, nhưng chẳng hiểu sao nó lại như bóng ma hiện về. Những đau thương, thù hận đã được chôn chặt bấy lâu, đang bị cầy xới lên….

Sông nước Miền Tây đã nuôi dưỡng ông Ba và ông Quân trưởng thành. Họ là đôi bạn thân từ thưở thiếu thời. Tuổi thơ của họ đã trải qua những ngày bắt tôm đánh cá, và cùng nhau cắp sách tới trường. Vừa thi xong tú tài, hai ông nghe lời người anh họ của ông Quân trốn gia đình vào bưng theo bộ đội. Sống ở bưng có ít ngày, hai ông đã bị hụt hẫng, nó không giống như sự tưởng tượng trước đây. Hai ông muốn quay về thành phố, nhưng không được.

Sau khi học chính trị, huấn luyện ngắn ngày, hai ông được điều về đơn vị do ông Sáu An là dân Bắc kỳ nằm vùng phụ trách. Ngày mới về đơn vị, mấy tay lính mới người thị xã có mang theo máy ảnh (trước khi giao máy cho đơn vị quản lý) đề nghị đơn vị chụp một tấm hình làm kỷ niệm. Ông Ba khoác vai ông Quân đứng cạnh ông Sáu An, đó là bức hình cuối cùng của hai ông.

Trận đánh đầu tiên của hai ông với quân đội VNCH phải nói là trận đánh không cân sức. Pháo của của quân chủ lực VNCH nã ầm ầm, đơn vị các ông đã bị thương khá nhiều. Ông Sáu An tìm đường dẫn lính xông lên, nhưng không một ai bò lên được. Một lúc sau trực thăng của quân đội VNCH chở lính dù đến. Biết không xong, ông Quân kéo ông Ba rút lẹ. Hai ông men theo đầm, chạy sâu vào vùng đước thoát nạn. Ông Sáu An lúc này gần như bất lực, anh em tản mát chạy mỗi người một nơi. Lẩm bẩm chửi bới một hồi, ông Sáu An cũng men theo đầm lặn sâu vào vùng đước.

Hôm sau, mọi người cũng tìm được về nơi đóng quân, nhưng hầu như đều bị thương. Cơn tức giận của ông Sáu An trút cả lên đầu hai ông Ba, và ông Quân vì can tội cầm đầu chạy trốn. Đơn vị mang hai ông ra kiểm điểm. Ông Ba chịu không nổi văng tục:

– Tiến cái con mẹ gì, pháo nó nã ầm ầm, trang bị đầy đủ, có máy bay và lính dù. Đ.m không chạy chết cả lũ.

Sau cú phản ứng này của ông Ba, ông Sáu An hét cảnh vệ bắt nhốt ông Ba lại.

Đêm đó ông Quân lừa cảnh vệ, tháo cũi cho ông Ba:

– Tao rất ân hận rủ mày cùng vào khu cứ này. Như thế này trước sau cũng chết, tháo cũi cho mày, chúng ta chuồn về thành thôi.

Hai ông lần mò ra đến bờ kênh. Nghe tiếng chân lõm bõm, cảnh vệ đuổi theo quát đứng lại, nhưng hai ông cắm đầu chạy. Biết hai ông trốn, ông Sáu An lùa lính đi tìm bắt lại, vì nếu để hai ông thoát nguy cơ lộ đơn vị. Qúa nửa đêm ông Sáu An đuổi kịp, gọi hai ông đứng lại. Nhưng hai ông vẫn tiếp tục chạy, phát đạn đầu tiên của ông Sáu An làm ông Quân gục xuống, đưa bọc quần áo cho ông Ba, ông chỉ kịp hét: chạy nhanh lên, rồi tắc thở. Ông Ba lại vùng lên chạy. Có lẽ đêm đó ông Ba chạy bằng cả nghị lực, sức mạnh của ông Quân nên gần sáng ông cũng trốn được vào nhà của một người dân. Từ đây họ đưa ông về thành. Mối hận thù với Sáu An cứ day dứt trong lòng ông.

Về nhà được một thời gian, ông Ba đi lính, sau đó đi vào học sỹ quan Thủ Đức. Ra trường, ông được điều về chỉ huy một đơn vị công binh đóng quân tại Bình Định. Sau đó ông lấy vợ người Hoài Nhơn, nên thỉnh thoảng ông mới về quê Bạc Liêu.

Trung tuần tháng 4- 1975, ông Ba cùng đơn vị chạy vào Sài Gòn, vợ con còn kẹt ngoàiTrung. Bạn bè kêu ông cùng di tản, nhưng ông quyết tâm chờ vợ con. Khi Sài Gòn thất thủ, ông không ra trình diện. Ông bảo: cũng nhờ có một thời gian sống với người anh  em bên kia, nên ông hiểu khá rõ họ. Ông thay tên đổi họ, ra vùng kinh tế mới ngoài Cứ ba, gần ngã ba Dầu Dây làm nông phu.Ẩn dật một thời gian, ông tìm cách liên lạc với vợ con.Vợ ông đã móc nối đưa cả nhà xuống thuyền vượt biên. Sau đó gia đình được chính phủ Đức tiếp nhận.

Lúc đó tôi buộc miệng hỏi:

-Đã là sỹ quan VNCH, còn giữ tấm hình chụp ngày còn ở cứ, bố không sợ dị nghị sao?

Có lẽ cho là câu hỏi có vẻ ngớ ngẩn, ông Ba cười khật:

– Sao phải sợ! trong hồ sơ quân nhân tao khai cả thời gian vào cứ đàng hoàng, bức ảnh này tao cũng chụp lại để trong hồ sơ, tất cả đều minh bạch. Mày nên nhớ, rất nhiều tướng tá VNCH trước đó là bộ đội, hoặc có dính dáng đến Việt cộng.Tao không phải là trường hợp cá biệt.

Ly caffe nguội lạnh, giọng ông Ba đã khàn đục, lộ rõ nỗi dầy vò và mâu thuẫn trong ông. Nhìn vào mắt ông, tôi những vòng quầng đen của thời gian, nhưng lành và ấm vô cùng. Tôi cảm thấy, dù ông có quyết định như thế nào đi chăng nữa, cũng mang lại không ít khó khăn cho Vân và hắn. Nhưng tôi vẫn tin vào tình người, lòng vị tha sẽ xóa bỏ hết mọi hận thù.

Sau cái giỗ một trăm ngày của hắn, ông Sáu An đòi về Việt Nam, vợ hắn và vợ chồng ông Ba cố giữ. Nhưng ông khóc bảo, đời ông coi như đã hết, nhưng dù sao còn mồ mả gia tiên, và của vợ ông vẫn cần sự chăm sóc của ông.

Hôm lái xe đưa ông ra sân bay, tôi có nhắc lại chuyện xưa giữa ông và ông Ba, ông không trả lời, nhưng mắt ông nặng trĩu ưu tư. Trước lúc lên máy bay, ông nắm chặt tay tôi bảo:

Cả cuộc đời, tôi chỉ thấy đưa thằng Sơn đi lao động ở Đức là việc làm có ý nghĩa nhất.

Rồi ông vội bước … Và trong dòng người đông đúc ấy, tôi thấy dáng đi của ông, liêu xiêu trong cái nắng quái của chiều hôm chạng vạng.

Đức Quốc ngày 23-10-2011 

© Đỗ Trường

nguồn danchimviet

Posted in Truyện Ngắn | Leave a Comment »

Nguy Cơ Sụp đổ tài chánh đang diễn ra: Tái cơ cấu ngân hàng: Cấp bách lắm rồi’

Posted by hoangtran204 trên 23/10/2011

Dấu hiệu của sự sụp đổ ngân hàng vì nợ  xấu (không đòi lại được) của các vụ cho vay bất động sản và thế chấp  trong nhiều năm qua đã làm các ngân hàng thiếu tiền. Vì lý do đó, các ngân hàng phải tìm cách huy động vốn bằng cách tranh nhau  kêu gọi dân chúng gởi tiền vào ngân hàng, và nâng lãi suất tiền gởi lên rất cao, 14-22%.

Với lãi suất nầy, các doanh nghiệp muốn vay tiền của ngân hàng phải trả với lãi suất cao hơn nữa. Không một doanh nghiệp nào dám đi vay ngân hàng với lãi suất trên 20%.

Thế  là mọi chuyện đều tắt nghẽn. Sự tắt nghẽn của ngân hàng và doanh nghiệp kéo dài trong 3-4 năm qua và nay đã tới mức không còn chịu đựng nổi, nhiều ngân hàng tư nhân hay ngân hàng thương mại cổ phần chuẩn bị bị phá sản.

Nhằm tránh sự phá sản theo lối dây chuyền, mà hậu quả sẽ giống như bên các nước châu âu hiện nay, chính phủ đang tính nhảy vào cứu nguy.

‘Tái cơ cấu ngân hàng: Cấp bách lắm rồi’

Sáp nhập, thậm chí giải thể là yêu cầu bắt buộc khi một ngân hàng quá ốm yếu, nguy cơ lây bệnh cho cả hệ thống, tiến sĩ Trần Hoàng Ngân, Ủy viên Ủy ban Kinh tế trao đổi với VnExpress.net bên hành lang Quốc hội sáng nay.

Tiến sĩ Trần Hoàng Ngân hiện là Hiệu phó Đại học Kinh tế TP HCM, thành viên Hội đồng Tư vấn tài chính tiện tệ Quốc gia. Ảnh: Hoàng Hà

– Theo ông tại sao chúng ta lại đặt vấn đề tái cơ cấu ngân hàng vào lúc này mà không phải từ trước đó hoặc muộn hơn?

– Nói tới chuyện đó lúc này chưa muộn, nhưng cấp bách lắm rồi, đã đến lúc cần thiết tái cấu trúc toàn bộ hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam. Chưa bao giờ quá trình tái cấu trúc ngân hàng lại được đồng thuận như lúc này. Hội nghị Ban chấp hành Trung ương khóa XI vừa rồi đã kết luận phải ưu tiên hàng đầu cho việc đó.

Một trong những gánh nặng lớn nhất cho nền kinh tế lúc này nằm ở lãi suất cho vay. Điều đó thể hiện hiệu quả trong hoạt động ngân hàng đang rất kém, nên họ mới dồn hết chi phí lên doanh nghiệp. Tái cấu trúc là việc phải làm, nhằm hướng tới hiệu quả hoạt động ngân hàng và an toàn hệ thống.

– Tại sao ông lại nói tái cấu trúc ngân hàng là vấn đề cấp bách?

– Thời gian qua thanh khoản của các ngân hàng thương mại có vấn đề. Vì thế mà họ liên tục cạnh tranh với nhau trong việc huy động vốn, giành vốn trên thị trường, đến mức phải hạ thấp mình xuống để mà thương lượng với người gửi tiền, có thể dẫn tới những bất trắc trong rủi ro hoạt động. Nợ xấu ngân hàng cũng đang tăng nhanh. Nếu chúng ta làm chậm, khoản nợ xấu này sẽ ăn hết vào vốn tự có của ngân hàng, đe dọa an toàn hệ thống.

Cuộc khủng hoảng tài chính kinh tế thế giới kéo dài từ 2007 và đến nay vẫn còn để lại hậu quả nặng nề ở nhiều nước châu Âu, Mỹ có nguyên nhân chính là sự yếu kém của hệ thống ngân hàng thương mại. Chúng ta nên lấy đó làm bài học kinh nghiệm và đẩy nhanh hơn nữa tái cấu trúc hệ thống ngân hàng thương mại chứ không thể chần chừ bất cứ phút giây nào. vì nó đe dọa tới an toàn hệ thống.

– Vậy chúng ta nên bắt đầu tái cơ cấu từ đâu?

– Theo tôi, tái cấu trúc là hướng tới việc sắp xếp, nâng cao khả năng quản trị điều hành của ngân hàng thương mại để đảm bảo an toàn hệ thống. Tổng tài sản của ngân hàng thương mại Việt Nam hiện nay rất lớn, gấp đôi GDP của Việt Nam, một tỷ lệ rất cao. Dư nợ của toàn hệ thống ngân hàng chiếm trên 125% GDP. Ai cũng nhìn thấy kết quả đó, nhưng thực chất bên trong chất lượng của chúng ra sao? Chúng ta hoàn toàn không biết và dẫn tới chỗ nghi ngờ. Nợ xấu do các ngân hàng báo cáo là trên 3% nhưng các tổ chức nước ngoài đánh giá ít nhất là 10%.

Chúng ta cần nhìn thẳng sự thật, cần những phân tích, đánh giá độc lập về chất lượng tài sản có của hệ thống ngân hàng Việt Nam. Trên cơ sở đó chúng ta có những bài thuốc cụ thể để sắp xếp lại hệ thống ngân hàng thương mại. Anh nào cần thiết cho tồn tại thì tồn tại, anh nào cần đưa vào bệnh viện để chăm sóc, điều trị. Và có thể là có vài sự hợp nhất sáp nhập diễn ra sau đó.

– Phương án sáp nhập giải thể đã được nhắc tới từ lâu, nhưng không ngân hàng nào muốn làm việc này, ngân hàng nhỏ muốn tự chủ không thích sáp nhập vào ngân hàng khác, còn ngân hàng lớn lại không thích nhận một ngân hàng đang ốm đau, bệnh tật. Vậy phải giải quyết vấn đề này thế nào?

– Tâm lý ai cũng muốn mình độc lập tự chủ. Nhưng chúng ta cần thấy, khi chính phủ phát hiện ra ngân hàng bệnh thì không nên để họ tự do nữa. Vì họ đã bệnh hoạn rồi, cho nên chúng ta phải ép lại, đưa vào vòng điều trị để tránh lây lan. Đó là nguyên tắc.

Tôi xin nhắc lại bây giờ không còn là tự nguyện nữa, nếu anh bệnh tôi không quản lý anh, không bóp anh lại, không kiểm soát anh thì anh trở thành dịch bệnh của nền kinh tế. Cho nên phải đi vào điều trị, giám sát đặc biệt một hai ngân hàng.

– Quá trình đó nên diễn ra như thế nào để tránh gây sốc cho nền kinh tế, cho hệ thống ngân hàng?

– Lãi suất trên thị trường liên ngân hàng tuần rồi quá cao. Chính đó là dấu hiệu lâm sàng để chúng ta phát hiện ngân hàng nào bệnh, vì anh không thể nào cho doanh nghiệp vay 17-18% mà phải huy động trên thị trường liên ngân hàng qua đêm, qua tháng hay qua ngày với lãi suất trên 30%.

Nhìn thấy dấu hiệu bệnh này, chúng ta sẽ đưa bác sĩ vào, thanh tra vào để giám sát đặc biệt các ngân hàng này. Để đảm bảo an toàn hệ thống, chúng ta có thể hỗ trợ cho các ngân hàng đó, tức là bơm thuốc, nhưng phải cô lập nó lại để điều trị, không cho tăng thêm dư nợ, từng bước thanh lý dần tài sản của ngân hàng này và tránh lây lan ra hệ thống.

– Vậy quyền lợi của người gửi tiền cũng như các cổ đông sẽ được giải quyết như thế nào?

– Người gửi tiền của chúng ta có bảo hiểm tiền gửi. Kinh nghiệm các lần chúng ta sắp xếp trước đây thì Ngân hàng Nhà nước thường đứng ra đảm bảo chi trả cho người gửi tiền. Nhưng qua đây cũng lưu ý người gửi tiền phải thận trọng trong việc lựa chọn ngân hàng tốt, hiệu quả để gửi tiền, tránh chạy theo các hình thức khuyến mãi lãi suất cao. Lãi suất cao luôn luôn đi kèm với rủi ro rất cao, đó là bài học vỡ nợ tín dụng chợ đen đang diễn ra gần đây.

– Trong bối cảnh lãi suất của các ngân hàng như nhau, nay lại có thêm việc tái cơ cấu khiến người gửi tiền có tâm lý tìm đến các ngân hàng lớn, gây thiệt thòi cho ngân hàng nhỏ. Ông nghĩ sao về điều này?

– Không phải nhỏ là xấu. Và như GDP của Việt Nam mình có 100 tỷ USD cũng đâu phải xấu. Chính phủ cũng như Ngân hàng Nhà nước đã thông báo rõ ràng quá trình tái cấu trúc ở đây là hướng về hiệu quả trong hoạt động chứ không phải hướng về ngân hàng đó lớn hay nhỏ. Trên thế giới hiện nay ngân hàng Indonesia, Phillippines hay cả Mỹ cũng có nhiều ngân hàng nhỏ. Nhiệm vụ của chúng ta là phải tổ chức làm sao để ngân hàng nhỏ làm việc nhỏ, nhỏ không làm việc lớn.

– Với nền kinh tế Việt Nam hiện nay thì bao nhiêu ngân hàng là đủ?

– Số lượng như hiện nay là đủ. Chứ không nhiều lắm đâu, mà vấn đề là sắp xếp tái cấu trúc sao cho hiệu quả.

– Nhưng Ngân hàng Nhà nước nói thời gian tới Việt Nam sẽ có ít ngân hàng hơn. Thông điệp này ông hiểu theo hướng nào?

– Ít hơn không có nghĩa là giảm đi một phần ba hay hai phần ba so với trước. Có thể chỉ là giảm một hoặc hai ngân hàng yếu kém hoàn toàn chúng ta mới phải cắt bớt thôi

Song Linh thực hiện

                                          ***********************************************************

Nhà băng Việt trước cuộc ‘đại tu’ lớn

Thông điệp được phát đi liên tiếp trong những ngày qua của Ngân hàng Nhà nước báo hiệu một cuộc thanh lọc trong các tổ chức tín dụng sẽ diễn ra rốt ráo trong năm 2012.
> ‘Tái cơ cấu ngân hàng: Cấp bách lắm rồi’
> Khuyến khích sáp nhập, hợp nhất ngân hàng

Là một trong 3 nội dung chính của tái cơ cấu nền kinh tế, câu chuyện thanh lọc ngân hàng, tuy không mới, nhưng luôn nhận được xem là đề tài nóng hổi bởi tầm ảnh hưởng của nó đến thị trường tài chính, cộng đồng doanh nghiệp cũng như mỗi người dân.

Nói như Tiến sĩ Võ Trí Thành, Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương, ở Việt Nam đang diễn ra tình trạng vừa thừa, vừa thiếu ngân hàng. “Nếu xét về góc độ tiếp cận vốn của người dân, (của) doanh nghiệp thì thiếu (số lượng ngân hàng ở VN rất ít chi nhánh và phân phối tập trung ở các thành phố lớn), nhưng nếu xét về những nhiễu nhương mà các ngân hàng gây ra cho nền kinh tế thì quá nhiều”, Tiến sĩ Thành phân tích.

Theo số liệu của Ngân hàng Nhà nước, tính đến cuối năm 2010, Việt Nam có tổng cộng 52 ngân hàng thương mại được cấp phép hoạt động. Nếu tính cả chi nhánh ngân hàng nước ngoài (50), thì con số này lên tới trên 100. Đó là chưa kể đến hệ thống các công ty tài chính, quỹ tín dụng trung ương và cơ sở…

Bài toán thanh lọc ngân hàng yếu, “bồi bổ” cho những cá thể khỏe vốn đã được đặt ra vào giữa năm 2007 khi hàng chục bộ hồ sơ xin thành lập nhà băng tới tấp bay về Ngân hàng Nhà nước. Vấn đề này một lần nữa được xới xáo lại vào đầu năm 2010 khi các ngân hàng bước vào lộ trình tăng vốn theo yêu cầu của Chính phủ.

Tuy vậy, câu chuyện chỉ thực sự lên đến đỉnh điểm trong những ngày này, khi Quốc hội bước vào kỳ họp với những toan tính cho kế hoạch 2011 – 2015, trong đó tái cấu trúc nền kinh tế, tái cấu trúc ngân hàng được đặc biệt quan tâm.

Báo cáo trong phiên khai mạc Quốc hội ngày 20/10, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng khẳng định ngay trong năm 2012, Chính phủ sẽ tiến hành tái cơ cấu hệ thống ngân hàng, theo hướng giảm nhanh số lượng các ngân hàng và tổ chức tín dụng yếu kém, đồng thời tăng hợp lý về quy mô, tạo điều kiện cho các ngân hàng có khả năng phát triển.

Tuyên bố này, cùng với thông điệp tái cơ cấu, khuyến khích mua bán, sáp nhập nhà băng được Ngân hàng Nhà nước liên tiếp phát đi trong những ngày gần đây đang báo hiệu những thay đổi lớn trong hệ thống ngân hàng trong năm tới.

Nếu căn cứ vào những phác thảo được đại diện Chính phủ nêu ra thì việc tái cơ cấu sẽ bắt đầu từ việc giảm nhanh số lượng những ngân hàng mà cơ quan quản lý cho là yếu kém. “Giảm số lượng không phải là mục tiêu mà Ngân hàng Nhà nước đặt ra nhưng sẽ là hệ quả tất yếu khi thanh lọc ngân hàng hiện nay”, Tiến sĩ Lê Xuân Nghĩa – Phó chủ tịch Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia nhận định. Tuy nhiên, ông Nghĩa cũng cho biết, ở góc độ cá nhân, ông ủng hộ quan điểm giảm nhanh số ngân hàng bởi “lượng đổi thì chất đổi”.

Trong khi đó, theo Tiến sĩ Võ Trí Thành, bên cạnh vấn đề số lượng, trong quá trình tái cơ cấu cần đặt yếu tố an toàn hệ thống lên hàng đầu, cùng với việc đề ra phương án cụ thể nhằm giải quyết các khoản nợ, tài sản xấu. “Người gửi tiến rất nhạy cảm với những thông tin thay đổi. Do đó, dù tái cơ cấu như thế nào thì vẫn phải đảm bảo cho toàn bộ hệ thống hoạt động ổn định, bình thường”, Tiến sĩ Thành khẳng định.

Nguyên Thống đốc Lê Đức Thúy cho rằng vấn đề quan trọng nhất của tái cơ cấu ngân hàng là không để xảy ra đổ vỡ ngoài tầm kiểm soát. Ảnh: Nhật Minh
Nguyên Thống đốc Lê Đức Thúy cho rằng vấn đề quan trọng nhất của tái cơ cấu ngân hàng là không để xảy ra đổ vỡ ngoài tầm kiểm soát. Ảnh: Nhật Minh

Chia sẽ qua điểm này, nguyên Thống đốc Ngân hàng Nhà nước – Lê Đức Thúy cho rằng, tái cơ cấu ngân hàng là cần thiết được bàn đến. Tuy vậy, đây cũng là một việc nhạy cảm, cần những bước đi khôn ngoan. Theo ông, không nên ảo tưởng gì nhiều về việc cần tạo ra các ngân hàng lớn hơn mạnh hơn.

Vấn đề trước mắt là giải quyết sự lành mạnh về tài chính, ngăn chặn tình trạng nợ xấu đang diễn ra trong hệ thống để nó không đổ vỡ ngoài tầm kiểm soát. “Một số ngân hàng có thể được cứu vì lợi ích chung”, chuyên gia này gợi ý. Cũng theo ông Thúy, từ cơ sở này, các ngân hàng sẽ được đặt lên bàn cân cân độ yếu mạnh, xấu tốt để có cách quản lý phù hợp, sau đó, mới tính đến sáp nhập hay mua bán.

Bên cạnh việc quản lý ở tầm vĩ mô, theo nguyên Chủ tịch Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia, quá trình tái cơ cấu ở mỗi ngân hàng phải đi liền với tăng cường quản trị nội bộ. “Không có chuyện khoán cho cấp dưới huy động được một tỷ thì cho bao nhiêu tiền, rồi lãi suất cưa đôi với người gửi tiền… Kiểm soát được cái đó mới tránh được những rủi ro về đạo đức, mới lành mạnh hóa được chất lượng tín dụng”, chuyên gia này nêu ý kiến.

Về phần mình, các ngân hàng thương mại – đối tượng chịu ảnh hưởng chính của tái cơ cấu hiện vẫn khá “kín tiếng” xung quanh câu chuyện này. Tiếp xúc với VnExpress.net, đa số ý kiến cho biết sẽ chấp hành nghiêm túc nếu đây là chủ trương của cơ quan quản lý, nhưng hy vọng quá trình này sẽ diễn ra một cách minh bạch, rõ ràng và công bằng.

Chủ tịch Hội đồng quản trị một ngân hàng thương mại thuộc nhóm G12 tại Hà Nội cho rằng, việc để tồn tại khoảng 100 ngân hàng, tổ chức tín dụng đến hôm nay là không bình thường. Những hoạt động không đồng nhất của các đơn vị này phần nào làm náo loạn thị trường, ảnh hưởng đến chính sách điều hành từ Nhà nước. “Việc sắp xếp lại lẽ ra phải tiến hành từ cách đây vài năm và chỉ nên để cho 18 – 20 ngân hàng tồn tại là vừa”, vị chủ tịch này nói.

Nhật Minh – Tuệ Minh

Posted in Tài Chánh-Thuế | Leave a Comment »

Y Tế Việt Nam: Thực Trạng ở Bệnh Viện, ý kiến của Bác Sĩ và Bệnh Nhân

Posted by hoangtran204 trên 22/10/2011

Bác sĩ của ta không kém bất cứ ai ?

bsngoc

21-10-2011

Một đồng nghiệp nổi tiếng, thuộc nhóm đàn anh của tôi, mới đây tuyên bố trên báo chí rằng trình độ bác sĩ VN chẳng thua các đồng nghiệp nước ngoài. Đọc những phát biểu của anh tôi phải thốt lên câu nói quen thuộc. Đó là “ấu trĩ”.

Trẻ con là những đứa hay thích khoe khoang. Nếu nghe qua những tranh cãi trong sân trường chúng ta dễ dàng nhận ra một điểm chính. Đó là so sánh hơn thua. Chúng không bao giờ chịu thua ai và lúc nào cũng tự nâng mình cao lên. Chúng tìm mọi cơ sở so sánh để làm cho mình cao hơn bạn bè. Đứa thì dựa vào cái xe đạp mới mua để lên mặt. Đứa dựa vào sự thành đạt của cha mẹ để hạ thấp bạn bè. Chúng ta gọi những so sánh đó là ấu trĩ, là chuyện trẻ con.

Dĩ nhiên, không ai đánh giá cao những so sánh của trẻ con. Những so sánh đó không có ý nghĩa nhiều vì tác giả của chúng là trẻ con. Trẻ con là những đứa “trẻ người non dạ” hay “ăn chưa no, lo chưa tới” nên có những so sánh thiếu suy nghĩ. Thiếu suy nghĩ xuất phát từ đầu óc còn non nớt của chúng, chưa đặt vấn đề trong cái khung rộng lớn hơn và chưa xem xét hết những tình huống chung quanh. Tuy nhiên, cái hay của những so sánh trẻ con cũng có ích bởi vì qua đó chúng ta biết tác giả chúng đích thực là trẻ con.

Chúng ta thử đọc một so sánh sau đây xem có phải là trẻ con hay không?

Trình độ điều trị của các bác sĩ trong nước không thua bất cứ quốc gia nào. Riêng về K, thậm chí bác sĩ Việt Nam tiếp xúc với nhiều loại ung thư hơn nên còn có nhiều kinh nghiệm hơn trong chữa trị, điển hình là điều trị ung thư vú

Ai là tác giả của câu nói ấn tượng đó? Xin thưa, đó là câu nói của một đồng nghiệp đàn anh, một người rất nổi tiếng đình đám trong y giới. Ông là giáo sư. Ông còn được phong hàm “thầy thuốc nhân dân”. Một loại phẩm hàm chỉ có ở các nước xã hội chủ nghĩa. Là bác sĩ lăn lộn trong nghề gần 40 năm trời, nghe câu nói đó tôi cũng thấy vui lắm. Bây giờ tôi mới biết mình là một cá nhân trong tập thể bác sĩ xuất sắc ở Việt Nam, một tập thể bác sĩ “không thua bất cứ quốc gia nào”, thậm chí còn “có nhiều kinh nghiệm hơn trong chữa trị”. Ôi, những lời nói quá ư ấn tượng, nó có hiệu quả chẳng khác gì liều thuốc ngủ cho người đau đầu.

Đau đầu vì tình hình y tế vẫn còn quá ngổn ngang. Bệnh viện quá tải. Hai ba bệnh nhân nằm chung giường. Hệ thống đào tạo lăng nhăng, thầy không ra thầy, thợ chẳng phải thợ. Loạn chuẩn mực dẫn đến một thế hệ thầy cô bất tài. Thầy cô bất tài đào tạo ra vài thế hệ “bác sĩ” càng bất tài. Hậu quả là người dân lãnh đủ. Tiền chi cho dịch vụ sức khỏe không đem lại lợi ích như mong muốn. Lãnh đạo cao cấp và những người giàu có bỏ chạy ra nước ngoài điều trị. Họ không còn tin tưởng vào hệ thống y tế mà chính họ có phần trách nhiệm dựng nên. Trong điều kiện như thế mà có người tự tin tếu nói rằng chúng ta chẳng thua kém ai! Thế có phải là ấu trĩ hay không?

Tôi cảm thấy câu tuyên bố của vị đồng nghiệp hoàn toàn trống rỗng. Vì nó không có ý nghĩa gì cả. Vì nó chẳng có chứng cứ gì cả. Dựa vào chứng cứ gì để nói rằng chúng ta – tập thể bác sĩ Việt Nam – không thua kém các đồng nghiệp ở nước ngoài? Dựa vào tiêu chuẩn gì để nói rằng chúng ta không thua kém đồng nghiệp nước ngoài? Chẳng lẽ chúng ta tiếp xúc nhiều với ung thư là chúng ta hơn đồng nghiệp nước ngoài hay sao? Ôi, thật là một quan niệm hết sức trẻ con. Chẳng khác gì cách nói “tôi biết bắt cá bằng cách lặn dưới bùn nên tôi giỏi hơn anh”. Người bắt cá không biết rằng mình còn đi bắt cá trong bùn là vẫn còn ở vị trí dưới đáy giếng. Ngồi dưới đáy giếng nên không thấy trên mặt giếng, chẳng thấy ai ngoài mình, và thế là tự khen mình tài giỏi! Thật là tội nghiệp. Anh bạn đồng nghiệp ơi! Anh hãy nói cho đồng nghiệp quốc tế biết tỷ lệ tử vong do bệnh ung thư là bao nhiêu. Anh hãy nói cho đồng nghiệp quốc tế biết bao nhiêu bệnh nhân anh đã chữa thành công và bao nhiêu anh đã thất bại để lại di chứng cho người ta. Anh hãy nói cho đồng nghiệp quốc tế biết tỷ lệ nhiễm trùng bệnh viện là bao nhiêu. Hãy nhìn kỹ và nhìn thẳng vào bệnh viện K của anh!

Theo tôi, đó là câu nói phản ảnh trình độ cá nhân. Anh đồng nghiệp tôi trong thâm tâm có lẽ muốn nói rằng “Trình độ điều trị của TÔI không thua bất cứ đồng nghiệp nào trên thế giới. Riêng về K, TÔI thậm chí tiếp xúc với nhiều loại ung thư hơn nên TÔI có nhiều kinh nghiệm hơn trong chữa trị, điển hình là điều trị ung thư vú”. Anh lộng hình ảnh của anh cho tất cả bác sĩ Việt Nam, kể cả bác sĩ chuyên tu và tại chức. Vì anh thấy anh giỏi nên anh nghĩ các bác sĩ khác cũng giỏi như anh. Anh chỉ nhìn thấy ung thư, nhưng anh cố gắng phóng đại cho các chuyên ngành khác. Nhưng bình tâm suy nghĩ, tôi phải hỏi có thật sự anh giỏi không? Trên đời này có bác sĩ nào so sánh trình độ của mình với đồng nghiệp khác một cách công khai trên báo chí. Ngày nay, phần lớn chương trình điều trị đều nương theo những phác đồ mà đồng nghiệp phương tây soạn thảo dựa vào những nghiên cứu của họ. Người bác sĩ vừa là một nghệ sĩ vừa là một nhà khoa học. Chúng ta có thể đo lường khía cạnh khoa học, nhưng làm sao đo lường được khía cạnh nghệ thuật của người bác sĩ. Nếu đo lường khoa học thì tôi chắc rằng anh đồng nghiệp đàn anh của tôi chỉ là một hạt cát trong sa mạc chuyên ngành ung thư học. Điều này tôi biết rõ. Hãy đọc sách của vị đồng nghiệp đó thì biết. Còn thành tựu của anh trong điều trị ung thư thì tôi không có ý kiến gì nhưng tôi cũng chưa thấy bất cứ chứng cứ nào để nói anh kém, bằng hay hơn đồng nghiệp khác, nhất là hơn các đồng nghiệp nước ngoài. Ai dám mở miệng để nói như thế phải là người có suy nghĩ khá trẻ con.

Tôi tự hỏi có phải đó là một câu nói của những kẻ mắc bệnh tự ti. Đó là một căn bệnh tâm lý. Người với bệnh tự ti có mặc cảm rằng mình thấp kém hơn người khác. Từ mặc cảm đó, người mắc bệnh tự ti muốn san bằng sự thấp kém bằng cách phóng đại những thành công của mình qua những phát ngôn ấn tượng. Cách nói của anh đồng nghiệp theo tôi thể hiện tâm lý tự ti, vì thấy mình kém cỏi nên mới “nổ” để tự sướng. Tự sướng cũng là một tâm lý của trẻ con.

Tôi thấy đó cũng là một câu nói an ủi của những kẻ thấp kém. Điển hình là câu này “Gần đây, tại Hà Nội cũng như TPHCM, nhiều bệnh viện như Việt Đức, Nhi trung ương, Bạch Mai, Chợ Rẫy, ĐH Y dược, Từ Dũ… còn giảng dạy cho nhiều khóa các bác sĩ nước ngoài trong lĩnh vực phẫu thuật nội soi, hiếm muộn …” Xin hỏi dạy cho ai? Dạy cho đồng nghiệp Thái Lan, Lào, Campuchea, hay Pháp, Mỹ? Thế nào là “dạy”? Chỉ mổ minh họa một vài ca cho đồng nghiệp nước ngoài xem mà gọi là “dạy” thì thật là lộng ngôn. Được mời nói chuyện 10 phút trong một hội thảo của một nước láng giềng gồm 50 người tham dự, vậy mà về nước thì “nổ” là “dạy” là “giảng” thì đúng là quá trẻ con. Trẻ con vì không hiểu được bản chất và cái tầm của buổi hội thảo. Đúng là “khôn nhà dại chợ”. Đồng nghiệp được mời đi giảng thật sự không ai khoe một cách trẻ con như thế.

Đó còn là một nhận xét nguy hiểm. Tự cho rằng chúng ta hơn người, đã dạy người, làm cho chúng ta tự mãn. Tự mãn nên không thèm học hỏi ai. Không học hỏi người thì trình độ chuyên môn sẽ dần dần lùn theo thời gian và theo sự phát triển của chuyên ngành. Tự mãn là một căn bệnh kinh niên trong các đồng nghiệp của tôi. Chính vì căn bệnh này mà kiến thức của bác sĩ Việt Nam còn rất kém, rất thấp và rất lạc hậu. Không tin thì thử vào các hội thảo khoa học do các công ty dược tổ chức sẽ thấy các bác sĩ ta làm gì trong đó? Họ ngủ gục vì họ không hiểu bài giảng. Nhưng họ rất nhanh nhẩu khi đến giờ ăn trưa và đi thu lượm các quà cáp của công ty dược!

Riêng cá nhân tôi thì không dám nói mình hơn ai. Thật ra, tôi thú nhận tôi kém hơn đồng nghiệp ngoại quốc. Nhất là kém về kiến thức. Những kiến thức tôi gặt hái được trong trường y sau hai mươi năm bao cấp XHCN không có CME thì làm sao tôi dám nói hơn ai! Những chữ cái A C T G tôi học lõm bõm 40 năm về trước nay chỉ là kiến thức của trẻ con trung học. Sách giáo khoa 40 năm trước đến nay không còn phù hợp nữa. Do đó, tôi dốt. Tôi càng thấy mình dốt hơn khi đi nghe các giáo sư nước ngoài giảng trong các hội thảo của công ty dược tổ chức vì có khi tôi không hiểu họ nói gì cả. Nhìn những bức ảnh histo của họ tôi càng không biết ý nghĩa là gì. Những giáo sư ngoại quốc đó chắc chắn không điều trị nhiều bệnh nhân hơn tôi. Họ có thể còn lạ lẫm với những ca bệnh tôi từng có kinh nghiệm trong gần 4 thập niên qua. Nhưng tôi không bao giờ dám nói mình không kém hơn họ, càng không dám nói mình hơn họ. Tôi chấp nhận tôi kém hơn họ. Tôi chấp nhận như thế để tôi còn có dịp đi học, đi nghe họ giảng.

Tôi nghĩ không ai đi so sánh trình độ bác sĩ giữa các nước. Nước nào cũng có một vài bác sĩ nổi tiếng. Nổi tiếng trên báo chí chứ chưa hẳn trong thực hành. Không ai ngu xuẩn để đi so sánh trình độ bác sĩ A với bác sĩ B chỉ qua sự nổi tiếng. Lấy gì để nói bác sĩ A tài giỏi hơn bác sĩ B? Nếu phải so sánh, người ta so sánh về hệ thống y tế giữa các nước chứ không ai so sánh giữa các cá nhân. Nếu tập thể bác sĩ chúng ta tài giỏi và thông minh, tại sao chúng ta không tổ chức được một hệ thống y tế như Thái Lan? Tài giỏi gì mà để hàng vạn bệnh nhân tiền mất tật mang? Tại sao phải gửi một mẫu da qua Mỹ để xét nghiệm nếu chúng ta quả thật tài giỏi? Nếu ta quả thật tài giỏi, tại sao phải để các lãnh đạo đi ra nước ngoài điều trị, như ông Võ Văn Kiệt phải đi Singapore? Lãnh đạo bỏ đi điều trị nước ngoài có nghĩa là họ không tin vào khả năng của hệ thống y tế Việt Nam.

Tôi hỏi một anh bạn đồng nghiệp cùng lớp đang hành nghề ở California rằng bên ấy có đồng nghiệp nào mạt sát người khác trên báo không, anh cười lớn nói: coi chừng hầu tòa. Ấy vậy mà ở cái xứ CHXHCN Việt Nam của tôi, có đồng nghiệp viết trên giất trắng mực đen như sau:

Việc điều trị cho cháu phải cẩn thận hơn với người khác bội phần! Theo tôi được biết, trình độ về tâm thần của thành phố Hồ Chí Minh còn thua kém Hà Nội nhiều lắm”, và “… tôi không phục anh về chuyên môn nên không thể tin tưởng mù quáng đến mức mà tin vào những lời anh hứa hẹn được”.

Chưa hết, vị “tiến sĩ” này còn không quên quảng cáo cho … chính anh ta:

Nếu cần một người có chuyên môn rất cao về tâm thần, nói giỏi, làm hay và có nhiều nhiệt tình, hãy tìm đến tôi-Tiến sỹ Bùi Quang Huy, chủ nhiệm khoa Tâm thần-Bệnh viện 103.

Đó là phát biểu của một người tự xưng là tiến sĩ Bùi Quang Huy. Đó là câu phát biểu hội đủ tất cả điều kiện của một người với bộ não chưa trưởng thành. Ấu trĩ. Một con người tự khoe mình có “chuyên môn rất cao”, “nói giỏi”, “làm hay”, “có nhiều nhiệt tình”. Thật chưa thấy ai trơ tráo hơn. Càng chưa thấy một người có học vị “tiến sĩ” nào hợm hĩnh như thế. Đây đúng là một loại sinh vật hiếm cần phải bảo vệ để cho hậu thế trên thế giới chiêm ngưỡng.

Người tự tin không ai khoác lác và “nổ”. Người Việt có câu “thùng rỗng kêu to” để chỉ những người khả năng thật thì kém mà nói thì cứ như nổ tạt đạn. Người có tự tin và khả năng thật cân nhắc biết người biết ta. Biết cái hay của người và biết cái kém của ta. Biết cái hay của ta nhưng cũng nhận ra cái kém của người. Công chúng Việt Nam không cần những bác sĩ nổ; họ cần những bác sĩ có y đức và có thực tài. Nếu không chịu khiêm tốn học hỏi mà cứ liên tục nổ như vị đồng nghiệp đàn anh kia hay như sinh vật hiếm với bằng “tiến sĩ” tôi vừa đề cập, tôi e rằng đồng nghiệp nước ngoài sẽ nhìn chúng ta như là những đứa trẻ mắc bệnh tự ti.

******************************************

Thừa trình độ, bệnh viện nội vẫn ‘thua trên sân

nhà’

“Dù biết mười mươi mất một khoản tiền lớn nhưng các bệnh viện nội vẫn không thể lôi kéo được những người muốn chạy ra nước ngoài điều trị, khi mà 3 bệnh nhân 1 giường, 100 người chung nhau cái toilet…”, một bác sĩ thẳng thắn thừa nhận.
> Chê ‘hàng nội’, dân đổ ra nước ngoài chữa bệnh

Khẳng định ngành y Việt Nam có vị thế không kém các nước trong khu vực, nhưng các bác sĩ cũng thừa nhận, không có cách gì giữ chân những người bệnh ra nước ngoài điều trị vì bệnh viện công có quá nhiều cái thiếu.

Giáo sư Nguyễn Chấn Hùng, nguyên Giám đốc Bệnh viện Ung Bướu TP HCM cho rằng, trình độ điều trị của các bác sĩ trong nước không thua bất cứ quốc gia nào. Riêng về K, thậm chí bác sĩ Việt Nam tiếp xúc với nhiều loại ung thư hơn nên còn có nhiều kinh nghiệm hơn trong chữa trị, điển hình là điều trị ung thư vú.

Gần đây, tại Hà Nội cũng như TPHCM, nhiều bệnh viện như Việt Đức, Nhi trung ương, Bạch Mai, Chợ Rẫy, ĐH Y dược, Từ Dũ… còn giảng dạy cho nhiều khóa các bác sĩ nước ngoài trong lĩnh vực phẫu thuật nội soi, hiếm muộn…

Trong khi đó, những quảng cáo rầm rộ, thậm chí sai sự thật của các bệnh viện nước ngoài, đã khiến người bệnh Việt Nam bị nhầm. Ông Hùng dẫn chứng một trường hợp bệnh viện ở Trung Quốc quảng cáo trên báo ở Việt Nam là có thể trị ung thư bằng một phương pháp ưu việt, nhưng thực tế không đúng như vậy.

“Tại hội nghị toàn châu Âu, phương pháp này hoàn toàn không được đề cập đến bởi nó quá nhỏ và không mang tính chính quy. Vậy mà tôi không hiểu sao mẫu quảng cáo vẫn được cấp phép. Điều này khiến người dân dễ bị nhầm và xuất cảnh điều trị, vừa tốn kém vừa không hẳn đã khỏi bệnh”, ông Hùng nói.

Tiến sĩ Nguyễn Thanh Liêm, Giám đốc Viện Nhi trung ương đã thực hiện thành công một ca phẫu thuật nội soi phức tạp tại Đài Loan và được các đồng nghiệp Châu Á khâm phục. Ảnh: Đinh Hồng Kỳ.

Ngoài lý do “chưa tin vào y tế nội” của bệnh nhân, hầu hết các bác sĩ đều cho rằng nạn quá tải chính là nguyên nhân gây thất thoát bệnh nhân.

Về điều này, tiến sĩ Dương Đức Hùng, Viện tim mạch quốc gia (Hà Nội) cho rằng, với điều kiện hiện nay, dù biết mười mươi mất một khoản tiền lớn nhưng các bệnh viện trong nước cũng không thể lôi kéo được những người muốn chạy ra nước ngoài, khi mà 3 bệnh nhân một giường, 100 bệnh nhân chung nhau một toilet…

[Thống kê của Bệnh viện Ung bướu TP HCM, mỗi năm có vài chục ca ra nước ngoài điều trị phải quay trở về. Còn tại Bệnh viện Bình Dân, chỉ riêng khoa Nam học cũng có không ít ca sau khi đi nước ngoài phẫu thuật chỉnh sửa “của quý”, cuối cùng phải quay về để sửa sai vì biến chứng. Các bác sĩ khuyên, người bệnh trước khi ra nước ngoài cần tìm hiểu kỹ về bệnh, nơi sẽ tới, cũng như khả năng tài chính. ]

“Chúng ta không thể đòi ăn một bát phở thật ngon mà trả có 1.000 đồng. Đầu tư y tế của ta quá thấp. Giờ nếu người bệnh có chấp nhận trả tiền thì cũng chẳng ai thu, bởi cơ chế đã vậy rồi”, bác sĩ phát biểu.

Theo ông, như hiện tại, cả người có tiền và không tiền khi đi chữa bệnh, dù bệnh khỏi thì vẫn không thấy hài lòng khi ra viện bởi “anh nghèo, có thể được giảm viện phí, chi trả bảo hiểm nhưng ấm ức vì bị hành đủ loại giấy tờ, thủ tục, còn anh giàu bực tức bởi phải vật vờ, chầu chực, đổ bô cho người nhà…”.

Cũng theo nhiều chuyên gia, việc các bệnh viện công quên không quảng cáo mình, bỏ mặc “lãnh địa” này cho các cơ sở y tế nước ngoài đã góp phần không nhỏ khiến bệnh nhân bỏ đi.

Tiến sĩ Huỳnh Nghĩa, Trưởng khoa Huyết học Nhi 2, Bệnh viện Truyền máu huyết học thừa nhận, việc thiếu cập nhật thông tin cho người bệnh thấy được khả năng của bác sĩ trong nước và thiếu quảng cáo là một trong những nguyên nhân khiến nhiều người bệnh vẫn chưa tin tưởng.

“Thật sai lầm khi đến nay trong suy nghĩ của nhiều người bệnh vẫn xem trình độ và máy móc thiết bị của ta hiện nay như 10 năm trước. Điều sai lầm này khiến không ít người sau một thời gian điều trị ở nước ngoài rồi quay lại bệnh viện trong nước đã tỏ rõ sự ngạc nhiên bởi ta không hề thua kém”, ông Nghĩa nói.

Cũng bác sĩ Nghĩa, chỉ riêng bệnh bạch cầu cấp ở trẻ, sau nhiều năm điều trị, kết quả cho thấy tỷ lệ thành công tương đương với Singapore. Trong khi đó, chi phí điều trị trong nước chỉ bằng một nửa hoặc một phần ba.

Khi phóng viên VnExpress.net đặt câu hỏi “Vì sao bệnh viện lại không quảng cáo các thành tựu mới, dù biết nhiều người Việt ra nước ngoài vì chưa tin tưởng vào tay nghề của bác sĩ trong nước”, ông Nguyễn Tiến Quyết, giám đốc Bệnh viện Việt Đức bày tỏ: “Chúng tôi cũng muốn đưa thông tin, nhưng lấy tiền đâu ra mà làm. Tôi muốn đăng quảng cáo trên một trang tạp chí nhỏ thì cũng tốn hàng chục triệu, đủ tiền chữa cho hai bệnh nhân rồi”.

Ông Quyết cũng cho biết, hiện nay Bệnh viện Việt Đức có đủ khả năng mổ những ca phức tạp nhưng không có đủ phòng mổ để đáp ứng nhu cầu của người bệnh.

“Chúng tôi cũng muốn xây dựng các khu có chất lượng cao để hút người bệnh có điều kiện nhưng tiền đâu mà xây, ai dám bỏ ra? Mỗi năm bệnh viện tiêu tốn khoảng 750-800 tỉ đồng, trong khi nhà nước chỉ cấp có 17 tỉ, không đủ trả lương 2 tháng cho nhân viên. Bao nhiêu khoản cần ưu tiên, sao chúng tôi dám nghĩ bỏ tiền ra quảng cáo”, ông nói.

Tuy nhiên, khác xa so với suy nghĩ của các bác sĩ, nhiều người dân khẳng định họ ngán bệnh viện nội vì lý do hoàn toàn khác: Y đức và thái độ bác sĩ.

Theo một khảo sát nhanh mới đây trên Vnexpress.net, trong số hơn 700 người tham gia, có tới gần 60% khẳng định họ không muốn điều trị ở bệnh viện trong nước vì điều này. Chỉ có 1/4 số người được hỏi trả lời lý do là ngại cảnh chen chúc, đợi chờ, và chưa đầy 1/10 lo lắng về trình độ bác sĩ.

Theo Tiến sĩ Trần Minh Điển, phó giám đốc Viện Nhi, khi vào viện, người bệnh không chỉ cần khám, chữa mà còn muốn được tư vấn về sức khỏe, chuyện trò… để thực sự cảm thấy an toàn, thoải mái. Thế nhưng, rất nhiều bác sĩ đã không hiểu được điều này hoặc hiểu mà không thể đáp ứng, vì nhiều lý do, trong đó một phần do họ được đào tạo chuyên môn tốt nhưng chưa được học về giao tiếp.

Ý thức được điều này, mấy năm gần đây, Bệnh viện Nhi trung ương thường xuyên tổ chức các khóa đào tạo kỹ năng giao tiếp, tuy nhiên, trong số hơn 1.600 nhân viên cũng có những người chưa thực hiện tốt. Viện từng chuyển một điều dưỡng sang công việc khác, không được tiếp xúc với bệnh nhân sau khi nhận phản ánh nhiều lần người này có thái độ không tốt với người bệnh.

Vì những lý do cả khách lẫn chủ quan này, các bệnh viện công của Việt Nam đang bỏ rơi nhóm người giàu, người có tiền cho các bệnh viện tư và bệnh viện ở nước ngoài, tự mình đánh mất một tiềm năng sinh lợi rất lớn.

Theo ước tính sơ bộ của Bộ Y tế, mỗi năm Việt Nam đang bị “chảy” khoảng 1 tỷ đôla do khoảng 40.000 người ra nước ngoài chữa bệnh.

Một bác sĩ Bệnh viện Nhi trung ương (Hà Nội) thừa nhận chúng ta đang “thiệt đơn thiệt kép” khi để mất số bệnh nhân lớn cho các bệnh viện nước ngoài. “Chẳng hạn, những bệnh nhân sang Singapore chữa trị phải trả chi phí rất cao, mà không biết riêng khoản chi cho bên môi giới đã chiếm 30% tổng số tiền, trong khi không phải lúc nào cũng chọn được bệnh viện và bác sĩ uy tín ở nước đó. Ngay tại viện nhi chúng tôi, cứ mỗi cuối tuần lại có hai bác sĩ được mời sang một viện Singapore phẫu thuật và nhận được số thù lao nhỏ”, vị này cho biết.

Trong thử nghiệm mới đây, bệnh viện này đã mở một khu điều trị tự nguyện, có chất lượng dịch vụ ngang với các bệnh viện tư hoặc quốc tế tại Việt Nam, nhưng giá chỉ bằng 1/10 ở Singapore.

“Khoa có 38 giường bệnh và mong muốn thu hút 100 bệnh nhân tới khám mỗi ngày. Nhưng hiện nay, sau chưa đầy hai năm, trung bình mỗi ngày có 200 bệnh nhân tới khám và trên 40 người nằm điều trị. Nhu cầu của dân là cực lớn. Không chỉ là người có tiền, mà cả dân ngoại tỉnh cũng sẵn sàng chi trả cao để con được khám, chữa tốt nhất”, Thạc sỹ Trần Thanh Tú, trưởng khoa Điều trị tự nguyện A, cho biết.

Nhận thấy tính hiệu quả của mô hình này, bệnh viện đang có kế hoạch tiếp tục mở rộng khu điều trị tự nguyện chất lượng cao.

Minh Thùy – Thiên Chương

*****************************************

Quá Tệ

Thai độ và y đức của người thày thuốc là yếu tố tinh thần đầu tiên giúp người bệnh. Vậy mà tỷ lệ khảo sát lại cao nhất. Quá tệ

( Phuong )


BV noi thua trên san nha

Quá đúng. Nếu phục vụ tốt, hạ tầng tốt, y đức cao thì đúng là Nhà Thương – không ai muốn tìm nơi khác chữa bệnh. 3 người 1 giường, 100 người 1 WC – cứ nghĩ khi đau ốm phải nằm viện là rùng mình.

( Thu0956 )


Phai keu goi dau tu y te

Phải kêu gọi đầu tư y tế. Tình trạng quá tải hiện nay cho thấy cầu đã vượt cung+ nhu cầu chất lượng y tế cao hơn trước đây ==> cần nghiêm túc làm các luận chứng khả thi cho việc đầu tư mới các khu y tế kỹ thuật cao và nâng cấp các bệnh viện hiện hữu, đây chắc chắn là khoản đầu tư sinh lợi lớn về nhiều mặt: + Giải quyết nhu cầu y tế quá tãi và đang ngày càng đòi hỏi chất lượng cao tư người dân + Tránh tình trạng chảy ngoại tệ sang nước ngoài khi người dân sang nước ngoài điều trị như các bài viết đã nêu + Thu được ngoại tệ từ nước ngoài, nhất là bệnh nhân từ các nước lân cận như: Campuchia, Lào..(dân Campuchia thường chọn Thái Lan hoặc Việt Nam để trị bệnh và lượng bệnh nhân này hiện nay ngày càng đông tại các bệnh viện Việt nam) + Y tế phát triển kéo theo các ngành khác phát triển, đặc biệt là các ngành hướng ngoại như du lich (người nước ngoài thông thường có chế độ y tế cao sẽ yên tâm khi đi du lịch tại Viêt Nam). Bên cạnh đó, có được các khu y tế kỹ thuật khuyến khích đầu tư các ngành khác phát triển: dich vụ ăn uống, khách sạn…(đối tượng cần chữa bệnh kết hợp du lịch), Việt Kiều và khách nước ngoài an tâm khi quyết định định cư sinh sống lâu dài tại Việt Nam. Bên cạnh việc đầu tư cơ sở hạ tầng, máy móc thiết bị ngành y, con người cần phải thay đổi phong cách phục vụ và cần phải có các qui định cần thiết (Tôi được biết, một trong những qui định ở Úc là, bác sĩ không được phép hoàn tất phần khám bệnh dưới 30 phút, nếu đã khám xong cũng phải ngồi nói chuyện với bênh nhân để tìm hiểu kỹ càng về bệnh đến hết giờ mới thôi tránh tình trạng khám chữa bênh qua loa).

( Thanh Binh )


Bộ Y tế nên xem lại

Tôi cũng đã từng là bệnh nhân bị bệnh hiểm nghèo và đã được chữa khỏi. Tôi đồng ý với nhận định: bệnh nhân kéo nhau ra nước ngoài điều trị vì ngành y của ta thiếu y đức và thái độ quá kém. Tôi bệnh sắp chết mà một quan chức y tế người Nghệ Tĩnh còn hỏi: thế đã bồi dưỡng bác sĩ chưa? Buồn hết chỗ nói!

( trần huy )


Đúng thế !

Nguyên nhân vì sao thì ai cũng biết chính các y bác sỹ cũng biết nhưng vẫn “chứng nào tật nấy “. Vào bệnh, thay vì bệnh nhân và gia đình an tâm thì phần nhiều là bức xúc với thái độ và cách làm việc của nhân viên y tế.

( Duc Trung )


Bác sĩ của ta giỏi mà.

Tôi từng đưa rất nhiều lần người bệnh đến các bệnh viện lớn của nước ta để khám và chữa bệnh. Như BV Bạch Mai, BV K, BV E…Tôi tự thấy rằng Bác sĩ ở các BV tuyến Trung Ương của mình khá là giỏi về chuyên môn. Nhưng mà nói thật chỉ ở tuyến Trung Ương thôi. Chứ ở các tỉnh vẫn còn kém. Và còn nữa thực trạng như lời BS ở trên nói đó là: “…khi mà 3 bệnh nhân 1 giường, 100 người chung nhau cái toilet…” là hoàn toàn chuẩn xác. hic hic. Mong rằng nhà nước sẽ đầu tư nhiều hơn nữa cho ngành y của nước nhà.

( haibg1980 )


Hãy vì bệnh nhân

Ở VN nếu ai phải đến bệnh viện mà không sợ thì mới là chuyện lạ.Nguyên nhân của vấn đề xuất phát từ nhiều lí do,trong đó có đạo đức nghành y,cơ sở vật chất quá kém…Để đảm bảo công tác chăm sóc sức khoẻ cộng đồng được tốt chúng ta cần nhìn thẳng vào sự thật qua nhiều vấn đề đang tồn tại để đưa ra những chính sách hợp lí trong mô hình khám chữa bệnh ở VN.

Cụ thể hơn chúng ta hãy đặt các câu hỏi này cho những người lãnh đạo nghành y, thậm chí là những người điều hành đất nước.Vì sao tình trạng này mãi không được khắc phục???Các nhà lãnh đạo có thực sự quan tâm tới sức khoẻ của người dân hay không???

Theo tôi dù kinh tế có phát triển tới mức nào đi chăng nữa khi mà vấn đề sức khoẻ cộng đồng cũng như vấn đề giáo dục không được quan tâm đúng mức thì chúng ta sẽ không thể có được một xã hội văn minh, lành mạnh được.Khi mà ở VN nghành y vẫn chưa thực sự hợp tác toàn diện với các nghành bảo hiểm như ở nhiều nước ở Châu Âu về vấn đề thanh toán khám chữa bệnh cho bệnh nhân, thì chúng ta nên có biện pháp thu các loại lệ phí theo hình thức tiên tiến hơn.

Cụ thể là việc tách biệt riêng các phòng thu lệ phí theo hoá đơn của bác sỹ, thậm chí lắp đặt hệ thống máy tự động thu lệ phí để bệnh nhân có thể trả tiền qua máy. Điều này vừa giải quyết được thất thoát , vừa làm minh bạch được phương thức thanh toán, vừa giúp được các Y Bác Sỹ không bị rơi vào con đường suy thoái đạo đức.

Ngoài ra cần phải mở rộng mạng lưới khám chữa bệnh,đặc biệt là các phòng khám đa khoa và chuyên khoa. Bệnh viện chỉ nên dành cho những bệnh nhân cần có sự giám sát của y bác sỹ hoặc những trường hợp cấp cứu .Điều đặc biệt nữa là các bệnh viện phải có hệ thống y tá điều dưỡng chuyên môn phục vụ bệnh nhân để người nhà bệnh nhân chỉ được thăm hỏi bệnh nhân chứ không phải hầu hạ bệnh nhân như hiện tại. Điều này cũng giúp chống quan liêu tham nhũng,đồng thời hạn chế lây lan bệnh tật sang người khác.

( Hoàng Sơn )


Cần được đầu tư nhiều vào y tế

Vì sao có thể bỏ hàng chục tỷ, hàng trăm tỷ xây dựng tượng đài? Vì sao có thể bỏ ra những khoảng đất trống mênh mông để xây sân goft? Mà không dùng đầu tư vào y tế.

Theo mình biết thì một y bác sĩ, muốn tốt nghiệp và chính thức làm việc ở bệnh viện phải trải qua thời gian rất lâu, được giảng dạy trên nhà trường. Vậy trong trường dạy gần chục năm đó có bao nhiêu giờ dạy về y đức nhỉ?

( Peid_Cogn )


Xin góp ý

Tôi cung như nhiều ý kiến phản hồi đều nhận thức được trình độ Y học của nước nhà. Xong một lần vào bệnh viện (bất cứ một bệnh viện nào ở tuyến trung ương) thì mỗi người, mỗi gia đình có bệnh nhân đều phải cảm nhận sự hãi hùng và khiếp đảm đó là sự chờ đợi, thiếu thốn mọi dịch vụ chỗ ăn chỗ ngủ và cả chỗ ngồi cho người đi chăm sóc bệnh nhân chưa nói đến quá tải chỗ nằm, chỗ điều trị kể cả người giàu và người nghèo. Đặc biệt là những bệnh nhân ở tỉnh xa Hà Nội dù có tiền thì vẫn phải khốn khổ chịu cảnh vật vờ trong khuôn viên bệnh viện.

Đất nước đã phát triển hơn 20 năm dân số tăng vọt xong thực tế số lượng bênh viện hầu như không tăng, lương cán bộ ngành y không đủ sống, thực tế hiện nay đã có tình trạng nhiều trường trung học chuyên không có học sinh có nguyện vọng thi vào các trường đại học y, niềm tin của người dân bắt đầu đã đến lúc bị xói mòn. Mong rằng Bộ Y tế cần có cơ chế thúc đẩy sự phát triển của Y học trong nước, lấy lại niềm tin của nhân dân, những việc khó hơn chúng ta con làm được.

( TRIEU THONG )


Chia se voi ban doc

Tôi đã từn sang nước ngoài chữa bệnh. Nói thật cũng vô cùng vất vả vì đi lại và lo kinh tế. Điều mong ước để người dân có niềm tin và nhà nước kêu gọi đầu tư bệnh viện cho dân đỡ khổ. Không biết người ta có biết không hay biết mà phớt lờ một thực trạng phải nhìn nhận một cách nghiêm túc về sức khỏe và đạo đức con người.

( Ngoc Lan )


Phải biết thông cảm cho đội ngũ y bác sỹ!

Ai cũng bảo BV ở VN thì đông, trang thiết bị cơ sở vật chất kém không thể chữa trị lâu dài được chỉ mong mau chóng để xuất viện và cầu trời không phải quay trở lại. Vậy đã ai nghĩ rằng đó là môi trường làm việc của hàng nghìn bác sỹ y tá VN hiện nay không. Họ đã và sẽ phải làm việc trong môi trường đó trong 10, 20 năm, thử hỏi giả sử các bác sỹ, y tá ở Sing, Thái phải làm việc trong môi trường như vậy 1 tháng liệu họ có còn nhã nhặn lịch thiệp với bệnh nhân được nữa không?

Người bệnh phải biết thông cảm cho đội ngũ bác sỹ, y tá. Ai cũng ca thán y đức bác sỹ VN kém. Nhưng chính họ cũng là một phần gây ra tệ lót tay ở bệnh viện. Ai cũng muốn được khám trước được điều trị tốt nên ai cũng sẵn sàng lót tay BS , tình trạng này có khác gì tình trạng hối lộ CS giao thông không. Tình trạng quá tải xuống cấp của các BV trung ương là tất yếu khi các BV địa phương không được chú trọng đầu tư cả về cơ sở vật chất đến con người. Đã có ai thống kê bao nhiêu % sinh viên tốt nghiệp trường Y ở các thành phố lớn quay về địa phương công tác. Ai cũng đổ lỗi do BV xuống cấp, y đức kém mà không ai biết thông cảm cho đội ngũ y bác sỹ đang phải làm việc cật lực trong điều kiện thiếu thốn để cứu bao sinh mạng con người.

( Anh Hoang )


Chuyện cũ nhưng chưa bao giờ chấm dứt.

Tất chỉ là do y đức bác sĩ, ví như vợ tôi đi khám thai trong bệnh viện công thì chẳng được lời nào giải thích dặn dò nhưng ra tư nhân thì nói nhiều đến nỗi ko thể nhớ hết. Tóm lại vẫn là cái y cái đức người bác sĩ thôi… không biết trong trường có dạy hay ko mà hầu như bác sĩ VN đều thiếu…

( sơn )


Bệnh viện Việt Nam

Y đức của BS va nhân viên y tế quá kém nên người bệnh rất ngại khi đến BV. Họ là những người có trình độ (học vấn, không phải văn hoá) nhưng hành xử với bệnh nhận rất kém nếu không muốn nói là kém văn hoá. Ngành y tế VN nên xem lại mình trước khi trách bệnh nhân, nêu lý do này nọ trong khi đó cái sờ sờ trước mắt ai cũng thấy lại không nhắc đến.

( Hau )


Bộ nên xem lại

Bộ nên xem lại sao không hình thành dạng công ty cổ phần, vị bác sĩ nào có trình độ chuyên môn, y đức khả năg tài chính thì mời làm và Nhà nước phải tạo điều kiện lâu dài cho họ.

( huynh de )


Bắt nạt bệnh nhân

Tôi đã từng đưa vợ đi đẻ mổ ở sản C, thật kinh khủng. Ở đó ai cũng có thể làm ông bà người khác, từ bảo vệ trông xe cho đến lao công, y tá, điều dưỡng. Thử hỏi y đức ở đâu ra. Quát người cứ xơi xơi. Thật không biết mình là ai. Vậy mà lãnh đạo bệnh viện làm ngơ. Bác Hồ dạy rồi: có tài mà không có đức là vô dụng.

( manh ha )


Không thể trách bác sĩ được

Đúng là cần phải xem lại việc đầu tư vào y tế. Thử hỏi bác sĩ được đào tạo bao lâu mới tốt nghiệp và được vào làm ở bệnh viện theo đúng năng lực? Chế độ đãi ngộ là bao nhiêu? Trong khi áp lực công việc luôn căng thẳng, số lượng bệnh nhân so với các bệnh viện nước ngoài nhiều gấp bao nhiêu lần? Bác sĩ cũng chỉ là con người thôi. Với tình trạng quá tải của bệnh viện như hiện nay thì việc y đức và thái độ của nhân viên y tế kém là không thể tránh khỏi.

( Hoa )


Khong yen tam trinh do BS

Trình độ bác sỹ ở bệnh viện trung ương tuỳ người lắm, đúng là có nguời giỏi nhưng người dở cũng không thiếu. Vô bệnh viện TW là hên xui mà thôi. Tôi có người thân đến bệnh viện M là một bệnh viện công có tiếng, thế mà vẫn bị mổ thủng giác mạc mặc dù chỉ là lột mộng mắt mà thôi.
Chỉ trường hợp bất đắc dĩ tôi mới ghé vào BVTW

( Ha )


HÃI HÙNG

Đi bệnh viện là nỗi hãi hùng của bệnh nhân và người nhà bệnh nhân. Quá tải trầm trọng. 3 bệnh nhân một giường, 100 người một toa lét, bác sĩ không tư vấn bệnh cho bệnh nhân( Chỉ khám, kê đơn, viết bệnh án…) Bệnh nhân được uống được tiêm thuốc gì, điều trị như thế nào đừng hòng được biết. Có nhiều trường hợp phải rất vất vả mới xin được cái bệnh án đấy thôi. Tất cả những người có tiền sẽ k vào bệnh viện của VN . Cầu trời tôi đừng có ốm phải vào viện!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!

( Ngọc Lan )


Trễ nhưng không muộn…

Đáng lẽ thì bài báo này phải được đăng sớm hơn thì mới đúng lẽ… Tình trạng bệnh viện quá tải và tư cách phục vụ bệnh nhân của các nhân viên y tế trong các bệnh viện công của chúng ta quả thật rất tệ…

Đơn cử mình cũng đã từng nhiều lần đi nuổi bệnh cho người thân ở nhiều bệnh viện khác nhau, tuy nhiên so sánh giữa cách phục vụ của các bệnh viện tư (chưa kể bệnh viện nước ngoài) thì họ hơn xa so với các bệnh viện công về mọi mặt như cơ sở hạ tầng, trang thiết bị, thái độ của bác sĩ và nhân viên y tế…

Và mình cũng nhận thấy rằng hầu hết các bác sĩ này cũng xuất phát từ các bệnh viện công của chúng ta, họ tranh thủ ra làm thêm ở các bệnh viện tư, tuy nhiên khi đến với các bệnh viện này thái độ của họ hoàn toàn khác.

Vậy lý do nằm chỗ nào? mình cũng đã từng cố gắng nghiên cứu tìm ra câu trả lời cho câu hỏi này, và theo mình câu trả lời là tính kỷ luật của bệnh viện và mức lương họ nhận được từ việc họ làm…ví dụ: bệnh viện tư họ các hình thức kỷ luật với các cán bộ y tế của họ, khi phạm phải sai lầm hay làm mất lòng người bệnh, bệnh viện có thế sẽ đuổi việc hoặc cắt lương hay trừ lương họ hoặc họ sẽ không nhận được một đồng tiền thưởng nào…về điều này thì ở bệnh viện công chúng ta chưa có thì phải?

Ngoài ra, tình trang quá tải ở các bệnh viện công đã tái diễn hàng mấy năm nay, và theo như mình thì bài báo này cũng hơi “muộn”, chúng ta cần phải hành động và tìm giải pháp cho vấn đề này, ngày trước nước ta còn nghèo còn khổ, tuy nhiên bây giờ tình hình đã khá hơn thì mong các vị lãnh đạo hãy cố gắng quan tâm chăm sóc cho sức khoẻ nhân dân hơn…

( Vũ Đức Bảo )


Chính xác là do y đức của bác sỹ

Đúng là do y đức của bác sỹ: thái độ hống hách, không thân thiện với bệnh nhân, mãi lộ phong bì tràn lan. Giả dụ người ta chữa bệnh cũng mất chừng ấy tiền nhưng đóng tiền chính đáng, không phải phong bì, đút nọ đút kia, người bệnh còn thấy thoải mái hơn. Đằng này nào là bác sỹ, y tá ai cũng đòi mình phải có phần, không có thì xị mặt, làm mình làm mẩy… mà nếu bác sỹ kia nhận, bác sỹ này không nhận thì người bệnh lại sợ mình chưa đút được thì có tội, sẽ bị gây khó khăn… Tóm lại là nếu ngành Y tế không cải thiện được y đức thì khi đời sống của người dân đã được nâng cao hơn. họ sẽ chọn nơi nào có dịch vụ tốt hơn.

( Vũ Trưởng )

______________________________________________________________________________

Chảy ngoại tệ ra nước ngoài: Đâu phải chỉ ngành y tế

Ở nước ta giáo dục và y tế là hai ngành có một nhóm ít chuyên gia không thua kém đồng nghiệp của các nước trong khu vực về trình độ chuyên môn, thậm chí có phần còn hơn. Tuy nhiên chúng ta vẫn không tận dụng được trình độ chuyên môn của nhóm ít người này. Đi khám bệnh người dân đâu có được bác sĩ giỏi khám. Chất lượng dịch vụ rất kém do tình trạng quá tải và y đức của bác sí, hộ lý, y tá.

Vậy người dân thấy đi khám, chữa bệnh ở nước ngoài thì yên tâm hơn, xứng đáng với đồng tiền bỏ ra lại không cần người nhà phải vật vờ đêm ngày chăm sóc.

Giáo dục đại học cũng vậy. Chất lượng giáo dục đại học của nhiều nước trong khu vực đâu có hơn nước ta. Chất lượng giáo dục của nước ta thực sự là thua kém nếu so với nền giáo dục đại học của châu Âu và Bắc Mỹ mặc dù các nước trong khu vực mỗi nước có một vài trường có thành tích cao về nghiên cứu. Thế nhưng người dân vẫn gửi con em của họ (chủ yếu là thi trượt đại học trong nước) sang các nước khu vực đề theo học đại học. Lý do các nước đó họ có những chính sách ‘thông thoáng’ đối với học sinh quốc tế, không thi tuyển sinh, chất lượng đầu ra ‘linh hoạt’, giá học phí chấp nhận được, điều kiện ăn, ở, học tập, thư viện tốt. Thậm chí nhiều trường của khu vực thậm chí những trường chất lượng thấp của châu Âu hay Bắc Mỹ cũng sang Việt Nam thực hiện chương trình ‘liên kết đào tạo’. Phía đối tác chẳng phải đầu tư gì chỉ cần cử vài giảng viên sang Việt Nam, mỗi giáo sư giảng vài môn. Học sinh học hết số môn là lấy bằng Cử nhân, Thạc sĩ. Là người giảng dạy tại một trường đại học, tôi biết chất lượng của các lớp liên kết này còn thua chất lượng các trường trong nước.

Như vậy mỗi năm chỉ riêng hai lĩnh vực này nhà nước đã mất một khoản ngoại tệ rất lớn.

Nên chăng nhà nước cần có đầu tư xây dựng những bệnh viện, trường đại học có chất lượng phục vụ cao và mức thu cũng cao để khỏi bị chảy máu ngoại tệ và động viên được cán bộ trong nước nâng cao trình độ chuyên môn và thái độ phục vụ? Những người giỏi về chuyên môn được khách hàng đánh giá cao phải được hưởng phần lương cao hơn chứ tránh tình trạng quân bình như hiện nay. Phần lợi nhuận thu được từ các cơ sở này sẽ được dùng quay trở lại để nâng cấp chất lượng dịch vụ và dành một phần phục vụ người nghèo bằng các chính sách xã hội. Đồng thời nên có chính sách quản lý chặt các chương trình liên kết đào tạo đại học và Thạc sĩ, tránh sự lộn xộn như hiện nay.

( Lê Văn )


Nhìn nhận khách quan từ người trong ngành

Tôi là người trong ngành. Tôi xin có vài ý kiến gửi tòa soạn…

Muốn thay đổi được nền y tế hiện nay cần phải thay đổi từ ở những tuyến cơ sở vì đa số nguời dân đều không hài lòng và tin tưởng ở tuyến dưới kết quả là làm tăng gánh nặng cho các Bệnh viện tuyến trên trong đó có nhiều bệnh có thể giải quyết một cách tốt ở tuyến dưới. tôi nghĩ nó có nhiều lý do:

1. Người dân không được biết là ở tại trạm y tế, bệnh viện quận/huyện, tỉnh có gì và điều trị được gì nên có bệnh là cứ chạy lên tuyến trên.( phải có chính sách tuyên truyền …)

2. Cơ sở y tế còn chưa đầu tư dúng mức nhu cầu. tôi được học tại trường y lớn và đã đi thực tập hầu như rất nhiều BV tại miền nam từ lớn tới nhỏ với những bệnh viện từ tuyến tỉnh trở lên dường như không nơi nào Bệnh nhân không phải chờ hàng giờ để được khám bênh.

3. Thái độ phục vụ của nhân viên trong bệnh viện kể cả những người làm công việc không liên quan đến chuyên môn còn rất kém từ những người bảo vệ, trông xe, hô lý, …..khi bước vào bệnh viện công khi tiếp xúc với nhân viên gửi xe đã thấy “mất cảm tình” về thái độ.

4. Đội ngũ NV y tế: số lượng NV y tế tại các tuyến dưới thật sự còn rất thiếu. Tại sao?

1. lương quá thấp biết rằng làm ngành y là vì y đức nhưng không thể nhịn đói mà làm. Lương của một điều dưỡng tại BV tỉnh loại I ở Miền Tây là <1,5tr, bs <2,5 tr–>thua lương một công nhân thô sơ.

Với chính sách nhu vậy các anh không thể lôi kéo dược lượng người trẻ về phục vụ cho quê hương được trong khi ở lại thành phố lớn làm cho các Phòng khám hoặc bệnh viện tư thì gấp vài lần có khi hàng chục lần mà có cơ hội học hành thuận tiện…….

.2. môi trường làm việc: các bênh viện tuyến dưới đa số không tạo được môi trường làm việc năng động, trao dồi chuyên môn nâng cao tay nghề, không cởi mở đón nhận những cái mới

Thái độ phục vụ với BN không chỉ phụ thuộc vào BS mà còn những người xung quanh.muốn lôi kéo được Bn thì mong các nhà lãnh đạo bệnh viện không chỉ quan lâm về mặt chuyên môn mà hãy quan tâm tới tất cả các khâu của BV từ việc gửi xe, vệ sinh, ăn uống, thái độ, và những góp ý chân thành của người bệnh…..

Đa phần các bác sĩ đều là những người thông cảm và hiểu được BN tuy nhiên để một bs tiếp có thời gian tiềp xúc và giải đáp mọi thắt mắc cho 1 BN thì không thể phục vụ, với số lượng bệnh khám mỗi buổi, không còn cách nào khác Bs chỉ biết tập trung vào vấn đề cần thiết nhất cho người bệnh để đỡ tốn thời gian. Thật sự những bác sĩ như chúng tôi cũng không muốn khám quá nhiều người một buổi vì chất lượng không có nhưng biết làm sao…..

Muốn thu hút được bệnh nhân tại sao minh không tư nhân hóa một phần trong bệnh viện công. BV công thiều kinh phí thiếu đất đai tại sao không kêu gọi những nhà đầu tư một phần mà cứ ôm mãi cái thiếu đó. Nếu nhà nước kêu gọi sẽ có rất nhiều nhà đầu tư sẵn sàng nhảy vào như thế có phải sẽ tốt hơn không?….

Tại sao các BV tư nhân xây lên là đa số thành công mà lượng nhân viên đó ở đâu ra cũng chính là những nhân viên của BV công (người làm ngoài giờ, người chịu không nổi cảnh khắc khổ của BV công, ..) Tại sao lực lượng đã có sẵn mà không kêu gọi đâù tư …….

( nguyễn anh việt )


Dân mình khổ quá ta

Tôi cũng đồng ý với bạn trên đây. Sao mà xây nhiều sân golf thế? Sao không dành những chỗ đất đẹp để mà xây thêm bệnh viện, chỉ thấy nhiều dự án sân golf, nhiều dự án chung cư cao cấp… như thế thì bao giờ người dân mới được hưởng phúc lợi công cộng tốt, bao giờ mới được chăm sóc sức khỏe tốt… Không biết các bác lãnh đạo nhà nước, lãnh đạo Bộ y tế có “dạo bước” tới thăm bệnh viện Chợ Rẫy, bệnh viện Nhi Đồng… để chia sẻ cái cảnh người dân ngồi, nằm la liệt khắp trên sân, dưới gầm giường, gầm cầu thang, để xem cái cảnh người dân chen lấn nhau chờ xét nghiệm, thử máu hay là để thanh toán tiền. Không biết có ở nước nào xung quanh ta có cảnh như vậy không? Sao dân mình khổ quá ta!

( Hương vũ )


Ngại nhất khi vào viện phải đợi

Thỉnh thoảng bị sổ mũi hoặc sốt vào viện phải chờ cả buổi sáng,vừa chen vừa thở nghĩ cảnh đấy nhiều lần diễn ra từ năm này qua năm khác nên chán.Cứ vào buổi sáng ai đấy qua bệnh viện thì biết thôi

( trần đạt )


Tại sao?

Chả biết các vị lãnh đạo có đọc ý kiến của anh em ko?. Mà đọc được thì có biện pháp gì ko? Hay là đấy là việc của người khác, không phải việc của mình.

( Khi vang )


Không biết bao giờ thay đổi

Khảo sát như vậy la đúng đấy. Tất cả các bệnh viện ở VN đều có rất nhiều bác sĩ muốn ăn tiền, nhất là các y tá (vô cùng buồn nhưng chưa làm gì được), mặc dù theo thu nhập của VN họ không thấp. Nếu có điều kiện tôi cũng ra nước ngoài chữa bệnh, dù đắt hơn nhưng thấy thoải mái và có lòng tin vào bác sĩ.

( nguyen gia le )


Quan trong la thai do nguoi tiep don

Mình cũng đã vào bệnh viện nhiều và nhiều bệnh viện khác nhau. Mình thấy thái độ tiếp đón của nhân viên các bệnh viện còn yếu lắm. Thực chất bệnh viện chật chội, người bệnh có thể thông cảm, nằm chung giường bệnh được. Nhưng khi họ gặp các bác sỹ hoặc nhân viên có thái độ gắt gỏng là họ bực mình bởi tư tưởng phải cầu cạnh. Mình hy vọng trong thời gian tới Nhà nước sẽ quan tâm đầu tư cho ngành tốt hơn.

( Invman )


Gửi bạn Thanh Bình

Bạn Thanh Bình ơi nếu ở Việt Nam mà so sánh với ở Uc thì sai lầm lớn bạn ạ. Nếu ở VN mà quy định như ở ÚC thì từ lúc bạn đi đăng ký khám tới lúc được khám chắc là một tuần đấy.

( BS TPHCM )


Y đức bác sĩ

Các ý trên đã nói lên tất cả thực trạng của ngành y tế, cũng như một số bộ phận đội ngủ bác sĩ hiện nay. Tôi nói thẳng: Vấn đề tiền bạc đã lấn át lương tâm của một số bác sĩ, làm lu mờ đi hình ảnh lương y như từ mẫu. Ai mà không đau ốm, nhưng khi đau ốm, thành phần có tiền thì chọn dịch vụ tư, còn lại dân nghèo phải vô bệnh viện công để chữa, vào đây và đón nhận 1001 kiểu thái độ (thái độ tiêu cực chiếm phần đa). Năng lực bác sĩ có , nhưng cách điều trị của họ thì thật là phiền. Nếu không có tiền thì chao ôi người nhà bệnh nhân thì lo sôt vó còn thái độ bác sĩ thật dửng dưng.

( linhkha )


Cẩu thả và ửng dưng với nỗi đau của người nhà bệnh nhân

Một bộ phận Bác Sỹ rất cảu thả trong công tác chẩn đoán bệnh, đây là một yếu tố đáng kể gây nên cái chết của bệnh nhân. Bác sỹ và phần lớn các y tá dửng dưng với nỗi đau của người bệnh.

Mặc dù là người trong nghề, việc tiếp xúc và chứng kiến nỗi đau và cái chết của bệnh nhân là thường xuyên, nhưng thái độ đối với bệnh nhân và người nhà bệnh nhân không có một chút thân thiện, không mang lại cảm giác an toàn cho bệnh nhân và người nhà khi đến khám chữa bệnh.

Cảnh chen lấn, chờ đợi và nín nhịn nhu cầu vệ sinh cá nhân vì không dám tới gần nhà vệ sinh là những cảnh quen thuộc của các bệnh viện.

Nói chung là : nói hoài, nói mãi vẫn thế, không có gì tiến triễn.

( Blackchicken )


Bệnh nhân cần được tôn trọng

Những người giầu, có học thức và vị trí thì không thể chịu được cung cách phục vụ tại các bệnh viện nhà nước: hách dịch, chậm trễ, coi thường người bệnh… nên người ta sẵn sàng bỏ tiền để khám chữa tại các bệnh viện, phòng khám tư nhân. Vì họ cảm giác được sự tôn trọng và chăm sóc dặn dò cẩn thận, tận tình. Mặc dù chi phí cao.

( Nguyễn Hữu Văn )


Góp ý

Một số bác sĩ đã có thái độ làm cho người dân bức xúc, người bệnh không còn tin vào lương tâm của bác sĩ . Đã đến lúc những người có trách nhiệm phải làm cuộc cách mạng: ” Cải tổ lương tâm bác sĩ “.

( linhkha )


Thực tế ai cũng biết

Tôi không hiểu tại sao Nhà nước cho phép đầu tư hơn 400 tỷ để xây dựng tượng đài trong khi Bệnh viện và Trường học thì kém chất lượng, bôi bác, khổ dân….

( lin )


Cũng nên thông cảm cho bác sĩ, hãy xem xét lai mình

Cũng nên thông cảm cho thầy thuốc, đừng nghĩ bác sĩ là sung là sướng. Áp lực công việc là quá nặng. Hãy tính xem một bác sĩ phải lo chữa trị cho bao nhiêu con người trong môi trường làm việc thiếu thốn như hiện nay, trong viện chỉ ngửi mùi thuốc đã đủ mệt mỏi. Nhìn những khuôn mặt đau buồn không khí ảm đạm nữa (vào viện có ai được vui)… trong khi những chính sách ưu đãi của nhà nước quá kém (bạn có tin một ca trực cả đêm chỉ đc bồi dưỡng 20k không?).

Trong điều kiện như hiện nay, 1 bác sĩ phải lo cho bao nhiêu con ngươi. Bản thân bạn – người đi khám thử hỏi có ai không muôn khám nhanh ko? Vậy còn bao nhiêu lượt nữa mới đến mình, và tất nhiên bạn sẽ có chút quà cho họ. Và chính bạn là người đã làm suy thoái đạo đức của người bác sĩ… Vậy nên đừng trách họ mà hãy xem xét lại bản thân mình. Cũng mong nhà nước quan tâm đầu tư thêm cho ngành Y nữa.

( sontung )


Phản ánh đúng thực trạng

Là người đứng đầu nghành Y tế của Việt Nam, ông Triệu có suy nghĩ gì trước số liệu khảo sát trên???

( nguyen tuan thanh )


Trình độ BS nội rất tốt, hơn cả Thái Lan.

Tôi nhớ cách đây gần 3 năm, vợ chồng đứa em vợ làm việc bên Lào, cô vợ mới có thai nên đi khám bên Lào. Bệnh viện Lào khám không ra, thế là sẵn gần với biên giới Thái Lan nên qua Thái khám.

Đó là bệnh viện công nhưng thái độ phục vụ của bệnh viện còn hơn bệnh viện tư ở VN, họ cử người theo và chuẩn bị mọi giấy tờ giúp bệnh nhân, rất tận tình và chu đáo (cái này ở VN thèm dữ lắm). Chỉ có điều kết quả khám chuyên môn lại sai, chuẩn đoán có thai ngoài tử cung.

Sợ quá, 2 vợ chồng xin xuất viện cấp tốc về VN, vô BV Từ Dũ khám thì được chuẩn đoán có thai bình thường, một tuần sau quay lại tái khám để theo dõi.
Cô con gái kháu khỉnh giờ đã hơn 2 tuổi.

Tôi dài dòng kể lại câu chuyện này cũng muốn nói rằng: Trình độ BS Việt Nam rất tốt, gia đình tôi rất tin tưởng. Chỉ có điều mấy cô điều dưỡng cộc cằn quá!

( Phạm Văn Trước )


Thái độ

Không chỉ BV ta vì thái độ. Chúng ta quen cái cơ chế xin cho nhờ vả, chúng ta chưa coi khách hàng là thượng đế

( ttp )


Trình độ không kém quốc gia nào?

“…Giáo sư Nguyễn Chấn Hùng, nguyên Giám đốc Bệnh viện Ung Bướu TP HCM cho rằng, trình độ điều trị của các bác sĩ trong nước không thua bất cứ quốc gia nào. Riêng về K, thậm chí bác sĩ Việt Nam tiếp xúc với nhiều loại ung thư hơn nên còn có nhiều kinh nghiệm hơn trong chữa trị, điển hình là điều trị ung thư vú”

===> Nói phét! Các bạn nên nhớ là đa số những người có điều kiện ra nước ngoài khám bệnh đều là những người có trình độ học vấn, khả năng nhận thức, vv… Cái đó cũng phản ánh phần nào về sự thành đạt (về mặt tiền bạc) của họ, vì vậy họ không dốt nát và nghe những lời tuyên truyền kiểu tự sướng như trên đâu. Nếu trình độ bác sỹ trong nước ngon thì chẳng đã có xảy ra hiện tượng người giàu ra nước ngoài ồ ạt chữa bệnh đâu ạ. Hay là các bạn sẽ nói rằng họ chưa nhận thức đầy đủ? Uh, thiếu nhận thức đấy, vậy mà họ làm ra một đống tiền, họ thành đạt như thế đấy ạ. Tôi rất ngán kiểu tự sướng như trích dẫn ở trên, hết ở lĩnh vực y cho tới bóng đá, rồi giáo dục.

Kính mong Quý báo đăng giùm!

( Tú Anh )


trình độ bác sĩ ?

Tôi lại có ý kiến khác. Sao các bạn luôn xem thường BS tuyến Tỉnh thế ? Thật là bất công. Ở đâu cũng có BS giỏi, không giỏi. Chỉ khi nào VN không còn dạng BS học chuyên tu lên, từ 1 người không tốt nghiệp được phổ thông, vào làm y tá, học lên y sĩ, học lên Bác sĩ,…thử hỏi các BS này như thế nào. Nhưng mà nói thật, những người này thường làm lãnh đạo của các BV, vậy thì bs chính quy, những người giỏi về chuyên môn, ngoại ngữ,..luôn bị “đì”, thế thì y tế VN làm sao phát triển từ cơ sở ?

( nam )


Cần cải tổ lại nghành y

Tôi đã từng mang con vào bệnh viện nhiều lần. Và bây giờ vẫn là ác mộng. Cảnh các mấy cháu nằm trung giường, bác sĩ hời hợt, thái độ điều dưỡng không tốt. Ngoài cơ sở vật chất yếu kém như toilet và giường bệnh thì có một điều là vào những ngày cuối tuần các bác sĩ chính được nghỉ còn các bác sĩ nội trú trực, khoa thần kinh trực chéo khoa hô hấp và phải dài cổ chờ đến tận đầu tuần mới được bác sĩ chuyên khoa khám. Khi có trường hợp khẩn cấp các bác sĩ kia không xử lý được và chứng kiến rất nhiều các cháu đã ra đi và con tôi không là ngoại lệ.
Bây giờ lại chứng kiến cảnh bệnh Tây Chân Miệng từ đầu năm đến nay đã hơn 100 cháu tử vong. Vẫn chưa dứt được dịch. Tội quả thật là đau xót xa khi nghe và chứng kiến cảnh như vậy. Không biết bao giờ nghành y của Viêtnam mới đổi mới được.

( Lê Hiền )

______________________________________________________________________________

Thừa trình độ……. thiếu TÂM+ĐỨC

Bài viết có 1 câu rất lạ: Mỗi năm bệnh viện tiêu tốn khoảng 750-800 tỉ đồng, trong khi nhà nước chỉ cấp có 17 tỉ, không đủ trả lương 2 tháng cho nhân viên. Vậy xin hỏi số tiền chênh lệch trên thì Bệnh viện lấy ở đâu ra? Câu trả lời chỉ có người nhà bệnh nhân là biết rõ nhất. Giờ người bệnh khi vào viện không khác gì bị hành xác. Bác sỹ thì nạt nộ, chi chăm chăm hướng dẫn khám tự nguyên và nhận phong bì. Thật chán cho cái gọi là: LƯƠNG Y NHƯ TỪ MẪU của 1 số bộ phận bác sỹ VN. Với cung cách như hiện nay thì dân nghèo còn khổ, sẽ không bao giờ được khám chữa bệnh theo đúng nghĩa của từ này.

( Ha Thanh )


Cơ sở vật chất chưa đầy đủ, trách nhiệm bác sĩ điều trị chưa cao

Đọc bài viết này tôi thấy nhà nước cần đầu tư cho ngành y tế nhiều hơn, đầu tư về cơ sở vật chất, cách phục vụ và tinh thần trách nhiệm của cán bộ y tế. Tôi đã đi bệnh viên khám chữa bệnh một vài lần, bác sĩ làm nhiệm vụ khám chữa bệnh rất qua loa, nhiều lúc không coi trọng tình trạng sức khoẻ của bệnh nhân. Mới đây, bố tôi đi bệnh viện, ông bị sơ gan giai đoạn cuối rất nặng, hôm trước khi bố tôi mất đã phải cấp cứu, tôi nhớ mãi hình ảnh cấp cứu cho bệnh nhân mà chỉ có 2 bác sĩ và 1 hộ lý phục vụ. Người hộ lý là sinh viên thực tập, làm điện tim mà mãi không được. Đến khi bố tôi tỉnh lại thì các bác sĩ về phòng cả, một lúc sau lại cử hộ lý thực tập khác đến điệm tim, người hộ lý này loay hoay đến 20 phút. Bố tôi mất sau đó 2 giờ đồng hồ. Tôi biết tình trạng bệnh của bố tôi rất nặng nhưng nhìn cách phục vụ, điều trị như vậy thì không biết những người đứng đầu ngành y tế nghĩ gì?

( khang )


CẦN NGƯỜI CÓ TÂM VÀ CÓ NĂNG LỰC THẬT SỰ

Muốn thay đổi cần người đủ năng lực, có tầm nhìn và dám làm. Sao Bộ y tế không làm một dự án bệnh viện thí điểm, theo chuẩn của các nước trong khu vực (vì hồi trước giờ chuẩn Việt Nam không mang tính khả thi): cung cấp cho người dân dịch vụ y tế đạt chuẩn hiện đại, ân cần, hỏi thử xem có ai muốn đi ra nước ngoài chữa bệnh nữa không ?! Thế mới có câu “Tiên trách kỉ hậu tránh nhân” !!!

( Mít Tơ )


Bệnh nhân có nhu cầu được tư vấn

Đúng là khi phải vào viện, tôi muốn hỏi han và nhận được sự tư vấn về bệnh tình từ bác sĩ, vì dù sao đó cũng là thông tin chuyên môn có nguồn gốc cơ sở từ người đã được đào tạo. Vậy mà mỗi lần vào viện, mới hỏi được 1 câu đã bị bác sĩ “dập” ào ào bằng những câu chung chung “hỏi làm gì, biết là không có gì được rồi, cứ theo hướng dẫn mà khám…” và hỏi ngược lại những câu hỏi như hỏi cung khi khám bệnh “tôi hỏi em bé nhà chị mấy tháng?”, mình chỉ được trả lời đúng câu hỏi và không được hỏi thêm gì, không được mô tả thêm gì các triệu chứng khác… Không chỉ bác sĩ mà cả những nhân viên hành chính bán thuốc, ngồi quầy tiếp tân cũng trả lời bốp bốp “sẵn giọng”, mặt lạnh tanh. -> Vậy tất cả nhân viên làm trong bệnh viên đều thiếu năng lực giao tiếp? Bệnh nhân không mệt vì bệnh nhiều bằng vì cảm giác “phải vào bệnh viện”.

( Trinh Tram )


Nơi có trình độ có thể yên tâm thì tồi về y đức và quá đông hoặc là ngược lại

Việt nam chỉ có một số bệnh viện Trung ương là có “Người chữa bệnh” có trình độ chuyên môn cao thậm chí thế giới phải công nhận. Nhưng số đó quá ít theo nghĩa “Thầy thuốc” trong khi đại bộ phận người bệnh là dân nghèo. Bộ y tế xác định mục tiêu chăm sóc sức khỏe nhân dân ̣(Tức là số đông là người nghèo) để hành động chứ đừng vì một vài cái danh hão để so sánh với các nước trên thế giới. Có trình độ cao nhưng cơ sở vật chất thiếu thốn cả về chất lẫn lượng và Y đức kém thì bao giờ số đông người bệnh mới được hưởng cái mà thế giới người ta đã qua lâu rồi. Mong sao cái mơ ước bình dị của người bệnh và cả người nhà bệnh nhân trở thành hiện thực.

( Sông Bung )


Thua trên sân nhà

Nếu bac sĩ mà có thu nhập trung bình thì không có ai nghĩ đến phong bì của bệnh nhân đâu, ở nước ngoài như Hàn Quốc thu nhập bs là 40.000usd một tháng vậy ở Việt Nam là bao nhiêu? Đừng đặt vấn đề y đức khi cái bụng nó rỗng tếch và vợ con phải thua thiệt, có trách hãy trách chế độ và kinh tế nước ta còn khó khăn thôi

( bui viet lam )


Quá tải thì sẽ tiêu cực…

Vấn đề là sự đầu tư cho các Bệnh viện công còn quá ít. Nhìn các nước phát triển trên thế giới sẽ thấy Bộ Y tế, Bộ giáo dục gần như là top các Bộ quan trọng nhất và được quan tâm nhất. Còn ở ta thì sao? Luôn là tâm điểm kiện cáo. Đòi đổi mới…Trong khi hạ tầng cơ sở cũ kỹ, đầu tư quá thấp…Cường độ làm việc của các y bác sỹ quá tải do bệnh nhân vượt tuyến và thiếu các cơ sở KCB tại địa phương. Theo thống kê ở trên ta thấy thay vì 1người/1giường thì 3người/1giường…Như vậy BS có còn tươi cười ân cần được nữa không…!? Một vấn đề nữa là chảy máu chất xám (BS giỏi bỏ ra ngoài làm tư nhân do hậu đãi NN thấp…) Một BS để có thể đứng đc 1 ca mổ sẽ phải có 1 hành trình học vấn khá dài…hơn các ngành khác! Tôi biết có những BS thu nhập khá cao nhưng quả thật cường độ làm việc kinh khủng bởi đặc thù ngành. Thậm chí đêm ngủ mà vẫn có bệnh nhân gọi hỏi, tư vấn, rồi kiện cáo…

Hệ thống giao thông hỗn loạn như hiện nay thì ai cũng lao lên vỉa hè khi tắc đường… Nói chung quá tải thì sẽ tiêu cực mà!!!

( TìnhTrạngChung )


Nhà nước cần đầu tư cho BV và cho đội ngũ y bác sỹ

Nghề y là một nghề cực kỳ vất vả và đòi hỏi cần phải học hỏi không ngừng, những bs giỏi thực sự ở VN không ít và hầu hết đều tâm đắc với nghề, nhưng để họ toàn tâm toàn ý với nghề đòi hỏi nhà nước cần phải nâng cao mức sống cho họ, chứ còn để họ phải bươn chải lo mưu sinh cho bản thân và gia đình như hiện nay thì khó cho họ lắm, bệnh nhân cũng cần phải đạt mình vào hoàn cảnh họ mà hỗ trợ (Nếu là những bệnh nhận có điều kiện một chút). Còn nhà nước thì đúng như các ý kiến trên phản ánh, bỏ ra rất nhiều tiền đốt pháo hoa, xây tượng đài, kỷ niệm linh đình như năng Long … Nhưng cái cần nhất là sức khỏe và mạng sống của người dân thì lại không.

( Nguyễn Thị Mai )


Đạo đức của bác sỹ cũng góp phần

Tôi thấy ngoài sự không tin tưởng trình dộ của bác sỹ nội, còn một lý do nữa đó là đạo đức của bác sỹ VN đang bị một số người làm vấy bẩn trong ngành. Tôi đã từng đưa nhiều người đi cấp cứu (Do tôi làm bên công đoàn của công ty). Mặc dù bệnh nhân đang nguy hiểm nhưng y bác sỹ vẫn phớt lờ coi như không có chuyện gì. Thái độ hách dịch kênh kiệu, khiến cho người nhà bệnh nhân thêm bực. Tôi thiết nghĩ muốn cho bệnh nhân chọn bệnh viện để chữa bệnh thì các bác sỹ cũng cần phải được đào tạo qua lớp “nhân cách người bác sỹ”.

( nguyenquocvy )


Y đức không tự nhiên mà có

– Y đức không tự nhiên mà có. Đầu tiên, nó cũng giống như “trời sinh tính”. Sau đó là trách nhiệm của những người tuyển lựa, khi mà muốn vào trường Y chỉ cần học giỏi, mà không cần chú ý đến tư cách đạo đức, các hoạt động xã hội tích góp trong thời gian học phổ thông. Còn học y đức vài giờ trên giảng đường chẳng có tác dụng gì. Sau cùng, quan trọng nhất vẫn là chế độ đãi ngộ, trả công cho xứng đáng với những gì mà nhân viên nghành Y bỏ ra. Người dân cứ ca thán, nhưng cứ thử vào BV trực 01 đêm sẽ thấm được bao nhiêu nỗi cực khổ, áp lực.

– Người dân cần biết rõ: sức khỏe quý hơn vàng, không có sức khỏe thì không làm được gì. Vì vậy, cái giá phải trả để có được sức khỏe tốt không thể rẻ rúng như bây gờ. Để rồi nhà nước không có tiền tái đầu tư cho cơ sở vật chất, tái đầu tư sức lao động cho nhân viên Y tế. Vào BV trả tiền giường 10.000 đồng /ngày, trong khi BV phải giặt quần áo, drap giường hàng ngày, còn tiền điện, nước, vệ sinh, chưa kể còn nhiều thứ tiền khác… Đó là cái vòng lẩn quẩn mà ta cần mạnh dạn cắt đi 01 đoạn của cái vòng này để cho nó có thể trở thành 01 đường thẳng.

(Tèo )


Hãy chờ đợi!

Trình độ bác sĩ của Việt Nam tiến bộ rất nhanh trong khoảng 10 năm trở lại đây. Hiện nay chúng ta còn có tiếng nói và vị thế trên thế giới trong một số lĩnh vực như Nhi khoa, Ngoại khoa, hồi sức cấp cứu… Việc thái độ của nhân viên y tế chưa đúng mực cũng rất dễ hiểu khi ngành y phải đào tạo nghiêm túc, bài bản trong thời gian dài nhưng mức lương quá thấp so với thực tế cống hiến. Câu chuyện thứ hai là bệnh viện nhà nước đuổi bệnh nhân đi không hết thì chuyện thái độ là đương nhiên. Mức cầu thì rất cao nhưng cung thì không đủ. Vì vậy chúng ta cần chờ đợi trong thời gian tới ngành y tế được đầu tư nhiều hơn mới đáp ứng đủ nhu cầu chăm sóc sức khoẻ ở mọi cấp độ.

( MD.Xoay )


Liệu có thể trách được bác sỹ

Nhiều người nói rằng là do thái độ của bác sỹ là không tốt. Theo bản thân tôi nghĩ quả là có thật nhưng liệu mọi người có hiểu hết những khó khăn của mỗi bác sỹ phải trải qua không. Để được làm một bác sỹ phải dùi mài 6 năm cơ bản, sau đó kiểu gì cũng phải học thêm cao học, ít nhất cũng mất thêm 3 năm. Ấy vậy mà ra trường lương lại rất thấp.

Hôm vừa rồi mình có gặp một bác sỹ ở khoa hô hấp bênh viên Bạch Mai, năm nay đã hơn 50 tức là cũng đã có khoảng 30 năm công tác trong nghề vậy mà lương cũng chỉ được 5 triệu. Lương đã thấp nhưng áp lực công việc thì lớn vô cùng vì mỗi quyết định đều ảnh hưởng trực tiếp tới sinh mạng của con người vì vậy phải rất căng thẳng đã thế thì lượng bệnh nhân lại rất đông, mệt vô cùng….

( ngọc anh )


Nói đi cũng phải nói lại

Tôi mang con đi khám bệnh ở bệnh viện công, cảm thấy vô cùng oải với chất lượng dịch vụ. Bác sĩ rất giỏi nhưng đông quá làm sao mà ngồi đó cặn kẽ giải thích được. Y tá phải hét lên khi gọi tên bệnh nhân. Nhìn phát chán nhưng suy nghĩ lại thấy cơ sở vật chất đã vậy, cơ chế đã vậy, nên mình cũng không trách được.

Có một điều mọi người cũng nên nhìn vào thực tế rằng bác sĩ ở ta hiện nay rất giỏi, không hề thua kém so với bác sĩ trong khu vực. Chỉ mong chính phủ có thể cho xây thêm bệnh viện, đặc biệt là bệnh viện nhi và chú ý tới vấn đề đào tạo chất lượng phục vụ và vệ sinh trong bệnh viện.

( T.A )


Do cái cơ chế này này

Tại sao bác sĩ y tá không kiên nhẫn với bệnh nhân ? vì họ quá tải. Nhà tôi có 3 người làm bác sĩ đều than một buổi sáng khám mấy trăm người bệnh thì bác sĩ cũng mệt phờ ra, và làm gì có thời gian nghe từng người bệnh kể lể để an ủi. Bệnh viện quá tải, thiếu phòng, thiếu giường thiếu bác sĩ là căn bệnh trầm kha của ngành y tế. Vì sao? các bệnh viện đều không thiếu diện tích để xây thêm. Ở TPHCM, ngoài BV Chợ Rẫy các bệnh viện còn lại đều không cao quá 3-4 tầng. Chỉ cần mỗi bệnh viện thêm vài tầng thì gần như công suất tăng gấp đôi. Các bệnh viện hoàn toàn không thiếu tiền để phát triển. Trong xã hội cũng không thiếu các nhà đầu tư sẵn sàng tham gia hoặc các mạnh thường quân sẵn sàng tài trợ. Nhưng trên thực tế các bệnh viện muốn mở mang rất khó khăn. Gần đây nhất TPHCM còn ngưng cấp phép xây bệnh viện mới. Vì sao các quan chức y tế lại làm khó xã hội như vậy ? Đó là chuyện của ngành y tế mà người ngoài chả bao giờ hiểu.

( Phương )


Phải xây dựng hệ thống/cơ chế bài bản

Mọi tổ chức muốn tốt thì hệ thống phải xây dựng tốt: -Tránh nhiệm được phân công rõ ràng, một người chịu trách nhiệm một đầu việc, sai hỏng gì truy ra trách nhiệm tại ai được ngay. -Phải đãi ngộ xứng đáng để người ta yên tâm và chuyên tâm với công việc -Phải có đào tạo đội ngũ và chuyên môn và dịch vụ khách hàng -Tổ chức phải được tự chủ về tài chính và nhân sự Nếu ko có những điều kiện này thì e khó thay đổi được gì.

( Luca )


Tại sao ai cũng phàn nàn y đức của bác sĩ

Mình đi đến nhiều bệnh viện để khám bệnh cùng người nhà, kể cả tuyến tỉnh hay trung ương, nhưng đi đến đâu cũng thấy y tá, bác sĩ có thái độ tốt. Tất nhiên do có quá đông bệnh nhân nên họ không thể tận tình, chu đáo hỏi thăm tỉ mỉ được. Nói chung là họ cũng tận tụy và niềm nở, một số bác sĩ còn rất gần gũi nữa. Mình chỉ ghét cái cảnh chen lấn để nộp tiền, đợi nộp tiền xong mới được khám mà mất cả buổi sáng. Chị mình đến viện E khám còn được bác sĩ khen xinh cơ mà

( Vũ thị Tuyết Mai )


Góp ý

Không nên nhầm lẫn mấy điểm sau:

1-Về trình độ chuyên môn của bác sĩ Việt nam chỉ có một số ít thật sự giỏi, xong nhìn tổng thể thì kém và yếu hơn rất nhiều so với thế giới. Người bệnh cần số đông giỏi chứ không cần số ít tập trung ở các bệnh viện lớn. Đây là vấn đề của cả một thế hệ.

2-Có những bệnh viện 5 người bệnh chung một giường, cả khoa có một nhà vệ sinh. Đó là hình ảnh của y tế trung cổ.

3-Người giàu, người nghèo cố gắng chạy chọt để có đủ tiền, họ sẽ ra nước ngoài chữa bệnh, đó là nguyên tắc sống còn của chon lọc xã hội, hãy để người bệnh tự chon con đường sống sót của họ.

4- Nhân cách và lương tâm của ngành y là câu chuyện muôn thuở không có hồi kết thúc. Nhân viên y tế cũng bị dồn đến đường cùng.

Trước đây 20 năm, nghành y tế và giáo dục là hai nghành chìm đắm nhất, nay ngành giáo dục khá lên, có lẽ nghành y tế vần chìm đắm Vài dòng của một bác sĩ trong nghành để các bạn cùng suy nghĩ.

( Mai )


Chưa chắc thừa trình độ, chúng ta cứ hay tự khen mình !

Tôi đang bị viêm họng hay amydan cắt bị sót gì đó, nhưng đi nhiều bệnh viện nhưng mỗi nơi nói một kiểu, nơi nói viêm họng mãn, nơi nói amydal hốc mỹ. Nói thật nếu tôi có số tiền 100tr sẵn sàng đi nước ngoài trị ngay, vì tôi là con người cần được chữa trị kịp thời, không phải là cái gì mà để họ cứ đoán già đoán non (đoán bệnh). Đừng có tư tưởng cứ là bác sỹ là họ giỏi, còn cần phải có năng khiếu nữa, mà nhà trường chúng ta lại hay đào tạo theo kiểu ai thuộc bài và làm bài tốt thì đậu

( Niem )


Thật vậy sao?! Sống lâu lên lão làng

“Chỉ khi nào VN không còn dạng BS học chuyên tu lên, từ 1 người không tốt nghiệp được phổ thông, vào làm y tá, học lên y sĩ, học lên Bác sĩ,…thử hỏi các BS này như thế nào. Nhưng mà nói thật, những người này thường làm lãnh đạo của các BV.”. Thật vậy sao?! Sống lâu lên lão làng kiểu này nếu không giết bệnh nhân cũng làm sập bệnh viện! Nguyên nhân chính là đây!

( HP )


Cần nhân điển hình tại Trung tâm tim mạch – BViện E

Quả thực nghe rất nhiều câu chuyện buồn về y đức, thái độ phục vụ của nhân viên, bác sỹ, điều dưỡng tại nhiều bệnh viện từ tuyến dưới lên tới tuyến TW. Nhưng để thay đổi ngay là điều không thể dễ, nó đòi hỏi sự nỗ lực từ rất nhiều hướng, đặc biệt là cần sự thấu hiểu, quyết liệt và không khéo từ người đứng đầu cơ sở đó.
Một ví dụ điển hình đó là Lãnh đạo của Trung tâm Tim mạch – BV E đã làm được điều đó. Cách đây 1,5 tháng gia đình tôi có người nhà bị hẹp động mạch vành và chỉ định phải phẫu thuật. Sau khi cân nhắc qua nhiều nguồn tin, gia đình tôi đã quyết định đưa người nhà điều trị ở đây. Quả thực khi nhập viện cũng còn nhiều ngờ vực, nhưng nay sau khi đã được trải nghiệm thực tế vấn đề Y đức của đội ngũ bác sỹ, nhân viên ở đây, tôi cảm nhận một sự khác biệt thật sự tại trung tâm này so với nhiều BV lớn khác. Tôi chưa từng nghĩ sẽ được tiếp đón ân cần như thế từ ngay tại sảnh của Ttâm, chưa bao giờ nghĩ sẽ được thăm hỏi chu đáo của bác sỹ, điều dưỡng tới bệnh nhân như vậy. Qua tìm hiểu, để đạt được những nét chỉnh chu như vậy, PGS.TS Phạm Ngọc Thành – Giám đốc TT Tim mạch BV E đã có những biện pháp quyết liệt và khéo léo trong việc đào tạo cán bộ, giữ gìn và nâng cao tính tuân thủ nội quy đã đề ra….
Tôi mong rằng mô hình đang có được tại TT Tim mạch BV E này cần được nhân rộng hơn nữa!

( Mai Quý Khải )

_____________________________________________________________________________

Chưa chắc thừa trình độ, chúng ta cứ hay tự khen mình !

Tôi đang bị viêm họng hay amydan cắt bị sót gì đó, nhưng đi nhiều bệnh viện nhưng mỗi nơi nói một kiểu, nơi nói viêm họng mãn, nơi nói amydal hốc mỹ. Nói thật nếu tôi có số tiền 100tr sẵn sàng đi nước ngoài trị ngay, vì tôi là con người cần được chữa trị kịp thời, không phải là cái gì mà để họ cứ đoán già đoán non (đoán bệnh). Đừng có tư tưởng cứ là bác sỹ là họ giỏi, còn cần phải có năng khiếu nữa, mà nhà trường chúng ta lại hay đào tạo theo kiểu ai thuộc bài và làm bài tốt thì đậu

( Niem )


Thật vậy sao?! Sống lâu lên lão làng

“Chỉ khi nào VN không còn dạng BS học chuyên tu lên, từ 1 người không tốt nghiệp được phổ thông, vào làm y tá, học lên y sĩ, học lên Bác sĩ,…thử hỏi các BS này như thế nào. Nhưng mà nói thật, những người này thường làm lãnh đạo của các BV.”. Thật vậy sao?! Sống lâu lên lão làng kiểu này nếu không giết bệnh nhân cũng làm sập bệnh viện! Nguyên nhân chính là đây!

( HP )


Cần nhân điển hình tại Trung tâm tim mạch – BViện E

Quả thực nghe rất nhiều câu chuyện buồn về y đức, thái độ phục vụ của nhân viên, bác sỹ, điều dưỡng tại nhiều bệnh viện từ tuyến dưới lên tới tuyến TW. Nhưng để thay đổi ngay là điều không thể dễ, nó đòi hỏi sự nỗ lực từ rất nhiều hướng, đặc biệt là cần sự thấu hiểu, quyết liệt và không khéo từ người đứng đầu cơ sở đó.
Một ví dụ điển hình đó là Lãnh đạo của Trung tâm Tim mạch – BV E đã làm được điều đó. Cách đây 1,5 tháng gia đình tôi có người nhà bị hẹp động mạch vành và chỉ định phải phẫu thuật. Sau khi cân nhắc qua nhiều nguồn tin, gia đình tôi đã quyết định đưa người nhà điều trị ở đây. Quả thực khi nhập viện cũng còn nhiều ngờ vực, nhưng nay sau khi đã được trải nghiệm thực tế vấn đề Y đức của đội ngũ bác sỹ, nhân viên ở đây, tôi cảm nhận một sự khác biệt thật sự tại trung tâm này so với nhiều BV lớn khác. Tôi chưa từng nghĩ sẽ được tiếp đón ân cần như thế từ ngay tại sảnh của Ttâm, chưa bao giờ nghĩ sẽ được thăm hỏi chu đáo của bác sỹ, điều dưỡng tới bệnh nhân như vậy. Qua tìm hiểu, để đạt được những nét chỉnh chu như vậy, PGS.TS Phạm Ngọc Thành – Giám đốc TT Tim mạch BV E đã có những biện pháp quyết liệt và khéo léo trong việc đào tạo cán bộ, giữ gìn và nâng cao tính tuân thủ nội quy đã đề ra….
Tôi mong rằng mô hình đang có được tại TT Tim mạch BV E này cần được nhân rộng hơn nữa!

( Mai Quý Khải )


Cac bac cu dau tu cho thai do

Cac bac sy hay cu dau tu cho thai do va y duc cua minh truoc di da.

( Dinh thanh linh )


Sống bằng lương ư ?

Đơn giản thôi. Việc trả lương như hiện nay là bất cập. Lương bác sỹ hơn lương Y tá cùng mức có 200.000 ( trong khi bác sỹ học tới 10 năm mới cứng nghề). Nếu so với bảo vệ thì còn chán hơn. Lương bác sỹ với nhau cũng không hợp lý. Nhất là người có trình độ chuyên khoa với bác sỹ bình thường cũng bằng nhau. Nói chung là bác sỹ hiện tại không ai sống bằng lương cả. Có thưc mới vực được đạo, mà không có đạo thì Loạn , loạn thì sinh ra giặc . Hiện tại chúng ta vừa có loạn vừa có giặc. Dẹp cái nào trước đây và như thế nào. Đáp án sẽ là vòng luẩn quẩn. Bởi chẳng ai muốn tăng lương cho bác sỹ đâu. Nhất là vào thời điểm như thế này.

( Bác sỹ Quái dị )


thac mac

Tại sao ko giành nhiều quỹ hơn để nâng cấp, xây mới trường trạm, đặc biệt là Bệnh Viện, để đáp ứng nhu cầu, phục vụ nhân dân, để dần nâng tầm dịch vụ với các nước phát triển như Sing, theo tôi nghĩ điều đó cần phải làm ngay, vì như thế sẽ đảm bảo sức khoẻ cho mỗi người dân, có sức khoẻ mới làm ra tiền chứ, mới có tiền đóng thuế hàng tháng……….., mỗi lần có người đau ốm mà phải vào bệnh viện VIệt Nam thì thôi rồi, đến người khoẻ vào chăm sóc người bệnh không khéo cũng bệnh luôn.

Con người ta khi bị bệnh là ai ai cũng muốn lấy lại sức khoẻ, khi BV có dịch vụ tốt, có đội ngũ Y bác Sĩ giỏi, có Y có Đức thì người bệnh cũng an tâm và cũng coi như đã lành bệnh một phần rồi, nhưng đằng này mỗi khi vào bệnh viện cứ lo nơm nớp, phải làm tiền như thế nào để có được sự quan tâm một chút của bác sĩ, nếu có ko chu đáo thì thôi coi như xong, người bệnh lại bệnh thêm một phần rồi.

( truong )


Tâm huyết của thầy thuốc

Trước khi nói tới điều này tôi xin không nói tới những lương y tận tâm trong nghề. Thực tại của ngành y tế của nước ta còn quá kém về cơ sở vật chất, trang thiết bị, sinh hoạt, phục vụ bệnh nhân. Đặc biệt coi trọng là thái độ phục vụ của y bác sĩ. Tôi đã cùng người bạn vào một bệnh viện quốc tế ở Việt Nam đã thấy rõ được sự khác biệt. Chúng ta vẫn còn coi nặng đồng tiền quá, chúng ta chưa biết nghĩ cho bệnh nhân mà thậm chí một trong số còn lợi dụng tình cảnh của người bệnh để trục lợi. Thử hỏi như vậy có đáng làm nghề mà luôn được xã hội tôn trọng này hay ko? Việc đầu tư là cần thiết, nhưng chính lương tâm của y bác sĩ mới mang lại lòng tin cho người bệnh. Từ đó các bệnh viện mới có được sự tin cậy của họ.

( Son Dang )


Y tế tư nhân vẫn bị chèn ép !

Thực tế là không thể chỉ trông chờ vào hệ thống y tế công. Như các nước phát triển thì hệ thống y tế tư nhân giải quyết phần lớn nhu cầu khám chữa bệnh của người dân. Nhưng tại Việt Nam y tế tư nhân còn chưa được đối xử công bằng như y tế công. Luật y tế mới đã ra đời và có hiệu lực từ ngày 1/1/2010 nhưng cả năm nay hệ thống y tế tư nhân không được phát triển mà phải chờ cái gọi là “hướng dẫn” của bộ y tế ! Các phòng khám không được phép mở mới, bác sĩ đủ năm ko được lấy chứng chỉ hành nghề… tất cả mọi việc cứ phải chờ , chờ ….và chờ. Máy móc trang thiết bị đã nhập về không được cấp phép sử dụng ! Bao nhiêu tâm huyết và tiền bạc cứ mai một dần đi. ĐÂY LÀ MỘT THỰC TẾ KHÓ HIỂU ! KHÔNG BIẾT BAO GIỜ MỚI ĐƯỢC GIẢI QUYẾT ?!?

( Bac sy )


Can giai quyet tinh trang qua tai

Bài viết rất hay, tôi cũng là bệnh nhân thường xuyên lui tới nhiều bệnh viện nên cũng cảm nhận được những điều như trên..điều bệnh nhân cần không chỉ là được khám, chữa bệnh mà còn trên những cái đó chính là sự tư vấn chính xác , động viên, quan tâm từ đội ngũ y bác sĩ..dẫu biết là bệnh viện này thiết bị kỹ thuật, phương pháp điều trị hiện đại, bệnh viện kia quy tụ nhiều bác sỹ giỏi..nhưng vì số lượng bệnh nhân quá đông mà mỗi người bệnh không được tư vấn, không được thăm khám kỹ càng cũng như hưởng một chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh tốt thì bệnh nhân cũng rất lấy làm e ngại khi phải tốn nhiều thời gian, tiền bạc để thường xuyên lui đến khám chữa bệnh…

( tien_nguyen )


Vẫn là thái độ

Đồng ý là cơ sở vật chất của ta còn kém, nhưng vấn đề y đức không thể vì thế mà kém được….

( phamhunken )


Vấn đề này bàn nhiều rồi

Những vấn đề mọi người nêu ra đều đúng cả. Ai cũng biết từ nhiều năm nay rồi. Trách là việc quản lí y tế còn đi sau trình độ chuyên môn nhiều. Ở nước tôi đang làm việc không ai là bác sĩ lại làm giám đốc bệnh viện cả. Bác sĩ giỏi nên dành làm chuyên môn. Bác sĩ đào tạo 11 năm là cao nhất trong bậc thang đào tạo, không ai để làm ở phòng kế hoạch tổng hợp. Và như thế thì quản lí cũng không tốt được. Giám đốc bệnh viện tôi mà cần thì chỉ mất 10 phút là có bảng thống kê về hoạt động chuyên môn của tôi trong một năm, cần thì qui ra tiền. Nếu có hiệu quả thì tăng lương. Không hiệu quả thì ra đường. Bộ máy sở, bộ y tế của ta cũng toàn bác sĩ.
Trình độ kinh tế, xã hội nước mình chưa quá cao đâu mà đòi hỏi bệnh viện tiện nghi cho tất cả mọi người. Cách tư duy của cả cán bộ y tế và người dân văn còn ảnh hưởng của thời bao cấp. Bảo hiểm còn chưa đủ mạnh. Dân giàu thì mới có dịch vụ y tế tốt được.
Cám ơn những bác sĩ yêu nghề và nhiều người khác.

( NGUYEN )


Cũng Chỉ Là Vấn Đề Cũ!!

Cũng cái vòng lẩn quẩn! Lương lậu BS va Nhân viên Y Tế thấp nên BN mới bị hoạnh hoẹ! Thử coi lương Y tá và BS nước ngoài thế nào. Lương họ rất cao nên họ phải phục vụ chu đáo, nếu không chu đáo thì mất việc, mất nhà, xe, bảo hiêm và hàng trăm thứ nhờ vào lương của họ mất theo. Thật là vòng lẩn quẩn!!!!

( Yến Xuân )


Nỗi buồn của người bệnh về thầy thuốc vô cảm

Tôi ở Hải Phòng. Tôi bị một cơn đau thắt ngực, đi cấp cứu. Sau 2 ngày ra viện, tôi lên cơn khó thở và mệt , tôi có nhờ người trưởng khoa, khoa tim mạch, ĐỒNG NGHIỆP, khám xét cho tôi, liệu tôi có khả năng bị nhồi máu cơ tim không? Đáp lại là một sự vô cảm và thờ ơ của đồng nghiệp về bệnh tật và sự hỏi thăm nhiệt tình về hoàn cảnh gia đình tôi, trong lúc đó cái tôi cần là sự thiết tha được CỨU GIÚP về bệnh tật. Bước ra khỏi nhà người thầy thuốc đó, người CÙNG NGÀNH, tôi buồn vô cùng, một cảm giác của người bệnh không được thầy thuốc giúp đỡ, một cảm giác XẤU HỔ…..Tôi quyết định gọi xe cấp cứu đi lên bệnh viện Việt Pháp Hà Nội. Tại bệnh viện Việt Pháp, một thầy thuốc điều trị cho tôi nói: Ủa, sao chị là bác sỹ không điều trị ở dưới Hải Phòng, tôi thở dài và im lặng.

( LA )


Thừa trình độ, bệnh viện nội vẫn ‘thua trên sân nhà’

trình độ có hay không vẫn còn là dấu hỏi, nhưng bác sĩ việt nam có rất nhiều cái thừa : kiêu căng, hách dịch , quạo quọ, cau có, không tế nhị, vô lễ ….. mỏi tay quá

( thanh )


chat luong y te VN

da 36 nam giai phong, chi duy nhat 01 BV Cho ray khong hon khong kem. Hang tram san golf va khach san sang trong moc len nhung van chua thay co mot BV Cho ray 02 duoc xay dung de giam tai bot cho Cho Ray 01. Day la dieu don gian ma bat cu mot nha lanh dao nao cung nhin thay. Vay ma… Lai con co y kien bao rang bo ra may tram ty lam tuong dai… Vay BV voi tuong dai cai nao cap bach hon? Neu toi co tien thi du yeu nuoc cach may toi cung se ra nuoc ngoai chua benh.

( tri nguyen )


Hãy nhìn nhận khách quan

-Bạn đòi hỏi cơ sở vật chất, phục vụ tốt, bác sĩ phải trò chuyện với bệnh nhân …. nhưng khi đề nghị tăng lên 20.000 đ/ 1 lần khám thì kêu ca. Ai cũng so việt nam với các nước khác mà có bao giờ so sánh tiền trị bệnh của họ gấp bao nhiêu lần so với ta không.

-Nếu 1 bác sĩ chỉ cấp cứu 1 người/ 1 ngày thì sẽ thế nào với 1 người cấp cứu 100 ca/ ngày.

Bạn phải lựa chọn người nào nguy hiểm nhất để dành thời gian cho họ. Tâm lý người nhà bị bệnh bao giờ cũng sốt ruột. Tôi đã chứng kiến chỉ có một ca đau ruột thừa mà người nhà bệnh nhân la ó ầm ĩ bệnh viện vì bác sĩ không túc trực ở đó. Họ có hiểu là nếu túc trực ở đó thì nhiều người khác sẽ rất nguy hiểm.

( Lee )


Y đức

Cái đức tính tốt đẹp này hình như không có trong bộ nhớ của các điều dưỡng của các bệnh viện VN?! Còn các bác sĩ thì chỉ làm việc một cách qua loa, không sâu sắc khi bệnh nhân cần biết bệnh tình của mình. Tôi bị bệnh nhưng khi đi khám thì điều duỡng và các bác sĩ nói: ” Đang ăn cơm, chờ đến chiều quay lại khám” Cho toi hỏi: bệnh có chờ đến chiều mới phát bệnh không? Câu hỏi này để trả lời cho câu hỏi: tại sao mà nguời VN mình phải qua nuớc ngoài để khám bệnh mặc dù biết là tốn tiền hơn??!

( Quyle )

———————————————————————————————————————————————

 

Posted in Y te | Leave a Comment »

Mỹ đã tháo khoán 37 tỉ đô la (trong số 150 tỉ) và đã giao 700 triệu đô la cho chính quyền lâm thời Lybia mới ngay trước khi Nhà độc tài Libya, ông Moammar Gadhafi chết

Posted by hoangtran204 trên 21/10/2011

  1. Revolutionary fighters celebrate the capture of Sirte, Libya, Thursday, Oct. 20, 2011. Officials in Libya's transitional government said Moammar Gadhafi was captured and possibly killed Thursday when
  2. Libyans celebrate Moammar Gadhafi's death in front of the Libyan Embassy in Amman, Jordan, Thursday, Oct. 20, 2011. Moammar Gadhafi, who ruled Libya with a dictatorial grip for 42 years until he was o
  3. Libyans celebrate Moammar Gadhafi's death in front of the Libyan Embassy in Amman, Jordan, Thursday, Oct. 20, 2011. Moammar Gadhafi, who ruled Libya with a dictatorial grip for 42 years until he was o

Mauricio Lima for The New York Time

Đại tá Moammar Gadhfi đã bị thương ở lưng, tay và đã chết sau 42 năm nắm giữ chế độ  độc tài, dùng công an và quân đội để cai trị dân chúng.

Giờ phút cuối cùng của Gadhafi được mô tả như  sau. Khi Dân quân bao vây địa điểm chống cự  của Gadhafi nơi thị trấn quê nhà của ông, thì vào buổi sáng sớm lúc 8 giờ, có khoảng 15 xe truck nhỏ chạy thoát khỏi vòng vây. Nhưng rồi sau đó, cả 15 chiếc xe nầy đã bị bắn cháy, hỏa lực nầy có thể là do máy bay trực thăng, vì hỏa lực của cuộc tấn công đoàn xe quá mạnh, và đã làm cho 50 xác chết trong 15 xe nầy đã bị cháy thành than. Gadhafi không bị chết trong cuộc truy kích  nầy, ông và một số cận vệ chạy thoát. Nhưng sau đó,  dân quân nổi dậy đã đuổi theo kịp và nhìn thấy ông và một nhóm nhỏ núp trong 1 cống thoát nước.  Người cận vệ của Gadhafi buộc một 1 mảnh khăn trắng vào cây súng tỏ ý đầu hàng, anh ta la lên: lãnh tụ ở đây…lãnh tụ ở đây…nhưng khi anh ta nhìn thấy những dân quân chạy tới với vẻ rất hung dữ, anh ta đã cố bắn để ngăn chặn những người truy bắt.

Tiếp đó, dân quân tràn ngập khu vực nầy, và kéo đại tá Gadhafi ra khỏi ống cống. Ông ta nói: đừng bắn ta, các con.  Bên trong cống có xác 4 người lính trung thành với ông đã chết. Một người bị cụt đầu và 3 người kia bị bắn chết.  Gadhafi bị thương và sau đó, Gadhafi vẫn còn sống gần 1 giờ nữa,  ông đứng đó người đầy máu, và rồi đã ngã xuống. Và về sau được biết là ông đã chết.

Chưa có nguồn tin nào cho biết là ông ta đã bị thương và chết vì máu ra quá nhiều, hay ông ta đã bị nhóm dân quân bắn chết khi đang bị kéo ra từ miệng cống. (TH dịch tin từ video của hãng AP và các nguồn tin trên mạng)

Chính Quyền Lâm Thời Lybia đang sắp xếp để tiếp nhận lại số tiền 37 tỷ đô la do Mỹ trả lại

Theo tin của hảng CNN

Ngay cả trước khi Gadhafi chết, Bộ Tài Chánh Mỹ đã tháo khoán 37 tỉ đô la trong số 150 tỉ, là số tiền mà chính quyền Mỹ đã nắm giữ  và phong tỏa tài sản của Lybia trong ngân hàng nước ngoài và những bất động sản của Gadhafi rải rác khắp thế giới.  Liên Hiệp Quốc đã đồng ý cho phép Mỹ tháo khoán 1,5 tỉ đô la để trao lại cho Hội  Đồng Quốc Gia Lâm Thời của Lybia để trợ giúp nhân đạo cho dân chúng Lybia vào tháng 9-2011.

Mỹ cũng tháo bỏ lệnh cấm vận và đã cho phép các công ty Mỹ vào Lybia để làm ăn với Công Ty Dầu Hỏa Quốc  Gia Lybia và thực hiện các hoạt động kinh doanh khác. Chính quyền mới cũng đã đồng ý dùng số tiền 150 tỷ đô la nói trên để trả lại chiến phí cho Mỹ  khoảng 1,2  tỷ đô la (và quân đội của các nước Châu Âu);  các nước nầy đã trợ giúp quân sự  để lật đổ chế độ độc tài Gadhafi; tin nầy do Thượng Nghị Sĩ John Mc Cain cho biết trong chuyến viếng thăm Tripoli và gặp gỡ Hội Đồng Quốc  Gia Lâm Thời Lybia cách đây 3 tuần.

Các nhà phân tích cho rằng việc này có thể lấy Iraq ra làm thí dụ, Mỹ sẽ cố gắng thật nhanh để  trả lại các món tiền để thực hiện công việc tái thiết ở Lybia.

TNS Mc Cain và các nhà chính trị của đảng Cộng Hòa muốn dùng một phần của số tiền đó để trợ giúp 30000 dân quân đã bị thương trong chiến dịch triệt hạ chế độ Gadhafi.

Nhà độc tài Libya ông Moammar Gadhafi đã chết

TRIPOLI, Lybia – “Nhà độc tài Libya ông Moammar Gadhafi đã chết,” Thủ tướng lâm thời Mahmoud Jibril tuyên bố hôm nay thứ Năm ngày 20 tháng Mười.

Sự xác định này đến sau nhiều giờ có những tường thuật về tình trạng của ông Gadhfi vẫn chưa thống nhất. Con của ông Gadhafi, là ông Mutassim và chỉ huy trưởng tình báo, ông Abdullal al-Senussi, cũng đã chết, theo ông Anees al-Sharif, phát ngôn viên cho hội đồng quân sự Tripoli.
<table width=”500
Dân Lybia ở Tripoli đón mừng tin Đại tá Gaddafi đã bị giết chết
Nguồn: Reuters: Ismail Zitouny


Quân cách mạng đã tấn công căn nhà nơi ông Gadhafi đang trốn, Bộ trưởng Thông tin Mahmoud Shammam nói cho hãng thông tấn CNN hay. Ông Gadhafi đã bị bắn trong lúc cố tẩu thoát, theo ông Mahmoud.

Tấm hình chết của ông Gadhafi thừa nhận “Đại tá Gadhafi giờ là lịch sử”, nhưng ông Mahmoud nói chủ tịch hội đồng lâm thời hay ông thủ tướng cần xác định cái chết của ông Gadhafi một cách chính thức.

Có một số hình ảnh chụp từ máy điện thoại cầm tay đi trên truyền hình của hãng thông tấn Al-Jazeera cho thấy tấm hình đẫm máu của ông Gadhafi với vết thương trên đầu. Một tấm hình chụp từ máy điện thoại cầm tay khác cho thấy ông Gadhafi bị thương trầm trọng đã được hãng thông tấn AFP đăng tải, nhưng CNN hiện chưa kiểm chứng được nguồn gốc của những tấm hình này.

Bộ trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ bà Hillary Clinton đang thăm viếng Tripoli tuần này, đã không thể xác nhận được việc ông Gadhafi bị bắt hay bị giết, nhưng bà nói nguồn tin trên sẽ “giúp cho tính hợp pháp và giảm đi niềm lo âu cho việc thành lập một chính phủ mới.”

Ông Gadhafi đã cầm quyền Libya với bàn tay sắt trong suốt 42 năm qua, qua một cuộc đảo chánh không đổ máu lật đổ nhà vua Idris năm 1969, khi ông chỉ là một đại úy lục quân.

Vào cuối đời lãnh đạo của ông, ông cho mình tước vị “Vua của những vị Vua” khi ông tụ tập những nhà lãnh đạo bộ tộc để phong cho ông trong năm 2008.

Nhưng một cuộc nổi dậy của quần chúng quay quanh một cuộc nội chiến đã lật đổ nhà độc tài này khỏi quyền lực mà ông nắm giữ trong 42 năm qua.

nguồn

——

Libya set to get back $37 billion from U.S.

By Jennifer Liberto @CNNMoney October 20, 2011

WASHINGTON (CNNMoney) — Even before Moammar Gadhafi’s death Thursday, the Treasury Department was already starting to thaw some $37 billion worth of frozen Libyan assets to make them available to the new government in Tripoli.

The new Libyan government will get all the money. Eventually.

Earlier this year, the United States froze its piece of what some analysts believe to be as much as $150 billion in assets that had been available to the Gadhafi regime around the world.

Outside of the United States, those assets range from real estate to stakes in the Italian bank UniCredit, the British publisher Pearson, which owns the Financial Times, and Italy’s soccer club Juventus.

In September, the United Nations gave the United States the green light to release $1.5 billion in U.S.-held Libyan assets as humanitarian aid to the Transitional National Council, which was recognized as the new government of Libya in July. So far $700 million has been distributed, according to Treasury.

“We remain in close contact with the TNC, the State Department and our international partners, and are committed to releasing assets frozen worldwide in a manner consistent with the wishes of the Government of Libya,” a Treasury spokeswoman said.

Last month, Treasury also partially lifted some Libya sanctions. That opened the door for U.S. companies and individuals to do business with the Libyan National Oil Corp. and other companies in Libya, as long as the transactions don’t benefit anyone affiliated with the Gadhafi regime.

The question of what to do with the frozen assets has been a big talker in Congress, especially in the wake of mounting budget deficits that have only widened with years of navigating conflict in the Middle East and Africa.

Some lawmakers want to use frozen Libyan assets to reimburse NATO countries for military operations. Others want to link frozen assets to Libyan cooperation with investigations into Gadhafi-era terrorist attacks, according to a Congressional Research Service report released Sept. 29.

Sen. John McCain told CNN on Thursday that, during his visit to Tripoli a few weeks ago, new government officials told him they’re willing to reimburse the United States for its role in helping end the Gadhafi regime. So far, that tab has run about $1.2 billion, according to Pentagon and State Department officials.

“Obviously, it’s their money,” said McCain, in Arizona Republican on the Senate Armed Services Committee. “They are willing to reimburse us and our allies. They’re obviously are going to be a very wealthy country.”

The Transitional National Council has been lobbying for months for a broader release of frozen funds for its use.

And international financial analysts say that, using Iraq as an example, the United States will try to release those funds, which will likely go first to reconstruction, as soon as possible.

“It’s anyone’s guess on how quickly we can free that up, but they’ll probably move pretty quickly,” said Glenn Simpson, a senior fellow in corruption and transnational crime at the International Assessment and Strategy Center.

The Congressional Research Service report said the Transitional National Council will be under pressure to maintain order and support for the new regime.

“While a lively political atmosphere has emerged in opposition-controlled areas, political support for the TNC among the broader population may be contingent on the council’s ability to provide basic services and financial support via salaries and subsidies,” the report stated.

Indeed, the report suggested that the transition period will require “sustained attention and resources beyond the scope of the current fighting.”

McCain and other Republicans want the United States to use whatever funds are available to help some 30,000 wounded in the effort to take down the Gadhafi regime. He called it a “key requirement,” saying the new Libyan government has told him it would reimburse the United States when it gets access to frozen funds.

“They don’t know how to care for these kinds of wounds, we could create enormous goodwill in helping out in that respect,” McCain said.

– CNN’s Jennifer Rizzo and Jamie Crawford contributed to this report

Posted in Chiến Tranh, Chinh Tri | Leave a Comment »

Tàu Cộng là một nước sản sinh ra những con người vô nhân tính, nhưng đảng CSVN rất ca ngợi, tôn sùng Tàu Cộng và muốn toàn thể dân tộc VN nên xem nước ấy như là một xã hội kiểu mẫu để đi theo

Posted by hoangtran204 trên 18/10/2011

Trung Quốc là một xã hội tạo ra lớp người vô cảm và tàn bạo. Điển hình  là hai tên tài xế lái xe vận tải và những người đi đường. Ngoài ra, khán giả còn dễ dàng nhận ra nữ xướng ngôn viên đài truyền hình mặt áo màu trắng cũng vô cảm không kém. Khi cô ta đọc bản tin và giới thiệu phim ghi lại  các hành động quá ư man rợ, tàn bạo, và nhẫn tâm của hai tên tài xế, và hình ảnh em bé bị thương nằm trên đường… khán giả nhìn thấy  miệng và ánh mắt của cô ta lộ vẻ vui mừng; vẻ mặt, ánh mắt, và miệng  của cô ta không hề lộ ra sự kinh khiếp, bất đồng, kinh hoàng về tai nạn, hay xót xa cho em bé.  Làm sao mà một phụ nữ nói về vụ đụng xe kinh khiếp, đáng bị nguyền rủa, lên án về mặt đạo đức và cảnh tượng đáng thương tâm của em bé,  mà cô ta lại có được vẻ mặt bình thản vui vẻ như vậy! Đúng là chỉ có những nước cộng sản mới tạo ra một lớp người tàn bạo,  vô cảm, coi tai nạn đáng thương tâm của một em bé mà không chút mũi lòng. Kinh thật!

(Bản thân tôi chỉ dám coi đoạn đầu của phim trên youtube, lúc nữ xướng ngôn viên đài truyền hình nói và lúc chiếc xe tải nhỏ chạy hướng về phía em bé, rồi bấm cho phim stop. Tôi không dám coi tiếp phim vì không muốn nhìn chiếc xe cán qua em bé. Hình ảnh ấy quá sức tàn nhẫn.)  

Lưu ý: bạn nào quá nhạy cảm, xin đừng coi phim có các hình ảnh nhẫn tâm dưới đây. 

 


                                            Người Trung Quốc quá Nhẫn Tâm ?

Vụ việc xảy ra hôm thứ Năm khiến nhiều người lên án xã hội Trung Quốc.
Gần hai chục người đi ngang qua đã bỏ mặc một bé gái hai tuổi bị thương nặng vì tai nạn giao thông nằm ngay giữa lòng đường phố, hãng tin Tân Hoa Xã của Trung Quốc loan tin hôm thứ Hai.

Vụ việc xảy ra hôm thứ Năm đã làm dấy lên một làn sóng tức giận trên các trang mạng xã hội ở nước này.
Các camera an ninh cho thấy cảnh hàng loạt người thờ ơ đi ngang qua bé gái Vương Duyệt Duyệt sau khi bé bị một chiếc xe tải nhỏ đâm ngã ra đường, rồi sau đó lại bị một chiếc xe tải lớn hơn chạy ngang qua người lần nữa ngay bên ngoài cửa hàng của gia đình bé tại thành phố Phật Sơn, thuộc tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc.

Hình ảnh video công bố cho thấy chiếc xe tải thứ nhất đâm ngã và chạy bánh trước đè qua người bé gái rồi dừng lại. Thay vì xuống xe cứu giúp nạn nhân, tài xế ngập ngừng ít giây rồi quyết định cho xe chạy đi, khiến nạn nhân bị bánh sau nghiến tiếp ngang người.

Gần hai chục người khác đi ngang qua, gồm cả người đi bộ, đi xe đạp, xe máy và xe ba-gác, đều đi vòng qua và phớt lờ nạn nhân, còn chiếc xe tải thứ hai, tương đối kềnh càng trong con phố nhỏ, đã chọn cách chạy thẳng qua đôi chân của bé gái thay vì dừng lại hoặc né tránh.

Tân Hoa Xã nói cuối cùng một nhân viên vệ sinh đã tới đưa cháu bé vào vỉa hè và gọi mọi người tới giúp, nhưng vẫn bị nhiều người qua lại phớt lờ. Cuối cùng, bà tìm được mẹ nạn nhân, và bé gái được mẹ đưa vào viện.

Các bác sỹ nói bé Duyệt Duyệt bị hôn mê và trong tình trạng nguy kịch, khó lòng qua khỏi những chấn thương nghiêm trọng.

Phát ngôn viên bệnh viện nơi đang chữa trị cho bé nói với hãng tin AFP: “Bé không thể sống sót sau bất kỳ cuộc phẫu thuật nào. Não bé hầu như đã chết.”

Cảnh sát đã bắt giữ hai tài xế lái hai chiếc xe gây tai nạn, hãng tin Tân Hoa Xã nói.

Tại con người hay tại pháp luật?

Trước tin trên, một công dân mạng trên mạng xã hội Sina Weibo rất phổ biến ở Trung Quốc, với mô hình hoạt động tương từ như Twitter, viết: “Xã hội này thật là vô cùng bệnh hoạn. Đến con chó con mèo cũng không đáng bị đối xử một cách nhẫn tâm như vậy.”

Nhiều người phản ứng giận dữ, và nói vụ việc càng cho thấy xã hội Trung Quốc đã trở thành một “thế giới vô đạo đức”.

“Mọi người đều ca ngợi người phụ nữ thu dọn vệ sinh đã cứu giúp bé, nhưng phải chăng việc giúp một người bị thương hay đang hấp hối là điều không bình thường?” Johnny Yao đặt câu hỏi trên Sina Weibo, “Chuyện này cho thấy sự bất thường tới mức nào trong tình huống cần cư xử với cái tâm trong xã hội này! Những người Trung Quốc đáng buồn, đất nước Trung Quốc đáng thương, chúng ta liệu có thể được cứu thoát khỏi cảnh này không?”

Tuy nhiên, có những người khác lại liên hệ vụ việc với một trường hợp tai nạn khác từng xảy ra trước đó, khi một người đàn ông tìm cách cứu giúp nạn nhân là một phụ nữ lớn tuổi bị ngã, nhưng sau đó ông bị truy tố với lý do sự can thiệp của ông vào thời điểm đó là vi phạm các quy định của chính phủ về việc trình tự xử lý nạn nhân trong các vụ tai nạn.

Tờ China Daily cũng từng loan tin về các vụ tai nạn hồi tháng Giêng, khi các cụ già ngã trên đường phố đã bị bỏ mặc bởi không ai muốn bị phiền hà nếu giúp đỡ.

Câu chuyện về vụ tai nạn thương tâm của bé Duyệt Duyệt đã thu hút sự theo dõi của hàng triệu người chỉ vài giờ sau khi những hình ảnh camera an ninh được phát đi trên các mạng tin tức online ở Trung Quốc.

*nguồn: http://www.bbc.co.uk/vietnamese/worl…ccidents.shtml

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

Nông dân: 44 người chết do lũ ở các tỉnh Đồng Bằng Sông Cửu Long

Posted by hoangtran204 trên 18/10/2011

44 người chết do lũ ở các tỉnh Đồng Bằng Sông Cửu Long

Người đàn ông ‘cứu’ một khóm lúa

Hơn 10 năm, người dân ĐBSCL mới chứng kiến cảnh nước lũ dâng cao, nhiều nơi còn vượt đỉnh lũ năm 2000. Đây là điều khiến các cấp chính quyền địa phương và cả người dân có phần bất ngờ trước những diễn biến phức tạp của lũ.

Điêu đứng

Trước vụ thu đông (vụ 3) năm nay, giá lúa ở khu vực ĐBSCL đứng mức khá cao. Nông dân hy vọng sẽ có một mùa lúa bội thu vì trúng mùa, trúng giá. Hiện tại, một số vùng xuống giống sớm, nông dân thu hoạch xong bán lúa khô với giá từ 7.200 – 7.500 đồng/kg. Theo tính toán, với giá lúa này, trừ hết chi phí thì nông dân cầm chắc có lãi từ 20 – 24 triệu đồng/ha.

Chính vì vậy ngay từ mùa vụ, bất chấp khuyến cáo của các chuyên gia, nhà khoa học…, hàng ngàn hecta lúa ngoài vùng quy hoạch hoặc có đê bao nhưng chưa chắc chắn vẫn mọc lên theo kiểu “5 ăn 5 thua” với lũ. Hậu quả là hàng ngàn hộ dân ở 2 tỉnh An Giang và Đồng Tháp phải ngậm ngùi nhìn thành quả lao động của mình bị dìm sâu trong biển nước.

Rất nhiều hộ nông dân sẽ phải đối mặt với khó khăn, thiếu gạo ăn trong thời gian tới và cạn vốn để xuống giống vụ mới sau lũ. Không lâu sau khi mất trắng 52 công lúa trên tuyến đê bao bị vỡ tại ấp Chiến Thắng (kênh Cả Mũi), đến ngày 2-10, gia đình ông Trần Văn Huệ ở xã Tân Thành A, huyện Tân Hồng – Đồng Tháp lại mất tiếp 3 công lúa cuối cùng dành để lấy lúa giống và lúa ăn tại ấp Thi Sơn (kênh Bắc Viện). “Hết sạch rồi! Nợ cũ trả chưa xong, nợ mới lại tới. Kiểu này nếu không được Nhà nước hỗ trợ, chỉ còn đường bỏ xứ ra đi” – ông Huệ than.

Vỡ đê hàng loạt

Do mưa lũ thất thường, nhiều địa phương đã chi hàng tỉ đồng để xây dựng những tuyến đê bao vô cùng chắc chắn nhưng vẫn bị lũ cuốn phăng. Vụ vỡ đê ngày 3-10 trên tuyến kênh Cà Vàng thuộc xã Thông Bình, huyện Tân Hồng – Đồng Tháp khiến hơn 800 ha lúa bị mất trắng không ai ngờ tới. Ông Nguyễn Chi Lăng, Trưởng Phòng NN-PTNT huyện Tân Hồng, cho biết chính ông cũng không ngờ đê bao này được bảo vệ bằng một vách tường gạch khá kiên cố dài đến 7 km, với tổng kinh phí lên đến 4 tỉ đồng lại bị nước lũ đánh sập. Tính ra, tổng số thiệt hại về lúa và kinh phí đầu tư đê bao của xã Thông Bình khoảng 14 tỉ đồng.
Còn trên địa bàn tỉnh An Giang, hàng loạt vụ vỡ đê liên tiếp xảy ra trong thời gian qua khiến hơn 4.000 ha lúa mất trắng. Hiện hàng chục ngàn lượt dân quân ở An Giang, Đồng Tháp thường xuyên túc trực kiểm tra, đề phòng các sự cố có thể xảy ra. Tuy nhiên, ngay trong lúc dốc sức cứu đê, khoảng 11 giờ ngày 16-10, lại thêm tuyến đê bao Long Thạnh – Long Hòa – Long Hưng (thuộc xã Long Thuận, huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp) sạt lở khiến hàng chục hecta hoa màu, ao cá của người dân bị nhấn chìm. Trước đó, ngày 14-10, đoạn đê dài hơn 30 m ở khu vực kênh 10, xã Vĩnh Châu, thị xã Châu Đốc bị vỡ, nước lũ nuốt chửng 250 ha lúa. Sau sự cố này, gần 1.000 ha lúa ở các vùng lân cận thuộc xã Vĩnh Tế đang tiếp tục bị nước lũ uy hiếp và có nguy cơ mất thu hoạch.

Thiệt hại nặng nề

Theo báo cáo, đến ngày 16-10, có 44 người ở các tỉnh ĐBSCL chết do mưa lũ gây ra, trong đó nhiều nhất là Đồng Tháp: 17 người, An Giang: 12 người; trên 1.200 km đường, đê bao bị sạt lở; 7.400 ha lúa hư hại do ngập… Tổng thiệt hại ước tính trên 1.200 tỉ đồng.

Nguồn: Báo Người Lao Động

++++++++++++++++++++++++++++++++++++++

*”Khi chủ trương thiết lập đê bao khép kín để người dân có thể canh tác thêm một vụ ngay trong mùa nước nổi ở đồng bằng sông Cửu Long được thực hiện, giới khoa học đã cảnh báo sớm là thay đổi thiên nhiên, xả hết lũ ra biển sẽ khiến nước không được lưu giữ trong đất, đồng ruộng không được tẩy rửa và không được bồi đắp phù sa sẽ ảnh hưởng lâu dài.”

Nông dân trắng tay vì vỡ đê bao hàng loạt

Lũ lớn làm vỡ hàng loạt đê bao khép kín ở đồng bằng sông Cửu Long, hàng ngàn héc ta lúa thu đông đã ngập dưới nước, nông dân trông đợi thêm thu nhập nhờ vụ ba nay trắng tay trong nợ nần.

Hai tỉnh đầu nguồn sông Cửu Long là An Giang và Đồng Tháp đang chịu thách thức vì những ý tưởng muốn thay đổi thiên nhiên từ cách nay gần 1 thập niên, đó là ngăn lũ kiểm soát lũ để có thể làm thêm một vụ lúa thứ ba trong năm. Con người đã tìm cách ngăn dòng nước lũ với hệ thống đê bao khép kín dài hàng trăm cây số, mỗi ô bao rộng hàng trăm héc ta.
8 ngàn héc-ta lúa ngập trong lũ

Tính đến sáng 29/9 An Giang đã bị vỡ đê ở 7 nơi. Theo Tuổi Trẻ và Thời báo Kinh tế Saigon Online nhiều nơi đã vượt đỉnh lũ lịch sử năm 2.000 gây vỡ đê, khiến 8 ngàn héc-ta lúa thu đông ở An Giang đã ngập chìm trong lũ. Trong khi hơn 400km đê bao khác đang bị đe dọa cùng với 10.000 ha lúa chưa gặt, tức gần 1/10 diện tích lúa thu đông ở An Giang.

Bên cạnh đó tỉnh Đồng Tháp cũng đã vỡ hai tuyến đê bao ở Hồng Ngự và Tân Hồng, thiệt hại ban đầu khoảng gần 1 ngàn héc-ta lúa thu đông. Trả lời Nam Nguyên ông Dương Nghĩa Quốc, Giám đốc Sở Nông nghiệp Phát triển Nông thôn tỉnh Đồng Tháp phác họa tình hình:

“Lũ đầu nguồn hiện nay đe dọa nghiêm trọng sản xuất lúa thu đông tỉnh Đồng Tháp cũng như tỉnh An Giang. Về phía chủ trương, tỉnh huy động mọi nguồn lực để làm sao bảo vệ được tính mạng và tài sản của nhân dân cũng như diện tích lúa thu đông chuẩn bị thu hoạch nhưng tình hình cũng có một số diễn biến phức tạp.”

Trong khi An Giang có 500 hộ dân cần di dời khỏi vùng nguy hiểm, thì số lượng này ở Đồng Tháp gấp 10 lần là 5.000 hộ. Ông Dương Nghĩa Quốc cho biết tỉnh Đồng Tháp đã lập 500 đội cứu nạn với hơn 4.200 thành viên. Đề cập tới vụ lúa thu đông, vụ lúa thứ ba mà Đồng Tháp xem như vụ chính, ông Dương Nghĩa Quốc cho biết:

Đối với tỉnh Đồng Tháp diện tích lúa thu đông khoảng 100.000 ha nhưng thời gian vừa qua tính đến ngày hôm nay đã thu hoạch được 73.000 ha như vậy còn lại trên 25.000 ha chưa thu hoạch…Mực nước đang dâng cao, hiện nay trên tinh thần quyết tâm bảo vệ diện tích lúa còn lại. Nếu có thiệt hại thêm một số nữa thì thực ra cũng không ảnh hưởng lớn đến chỉ tiêu về sản lượng lương thực của tỉnh Đồng Tháp nhưng sẽ ảnh hưởng tới kinh tế và thu nhập của người nông dân. Chính vì vậy Ủy ban Nhân dân Tỉnh Đồng Tháp huy động mọi nguồn lực cố gắng không để lũ tiếp tục ảnh hưởng nhưng việc này còn tùy thuộc vào diễn biến mưa lũ bão lụt trong thời gian tới đây.”

Một đoạn đê bao ở ĐBSCL bị sạt lở. Photo courtesy of khoahoc.vn

Theo các nhân chứng tại chỗ, vài năm qua nước lũ về rất thấp, riêng năm ngoái thể nói là không có lũ, nhờ đó hệ thống đê bao khép kín dày dặc ở đồng bằng sông Cửu Long mới không xảy ra sự cố nào nghiêm trọng. Một nông dân vùng Tứ giác Long Xuyên phát biểu:

“Cứ tính đi, dù cho đê bao nó lớn, chân đê bao chừng 5-6 mét cũng không chịu nổi với áp lực nước cao như vậy đâu…Có những đoạn chỉ  vỡ chừng 30 mét, nhưng mỗi ngày nó sẽ rộng ra thêm, coi như cả một vùng đó sẽ mất lúa, vụ ba này lúa sẽ mất trắng hết…không cưỡng lại được phải chịu bó tay thôi. Hiện nay có những vùng lúa đang sắp chín, có những khu như ở Tịnh Biên, một số vùng ở An Giang lúa đang thời ngậm sữa, tôi thấy tình hình chắc khó chống cự với lũ.”

Khó chống cự với thiên nhiên?

Ngay từ ngày 26/9 trước khi một số tuyến đê bao bắt đầu vỡ, ông Vương Bình Thạnh Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh An Giang đã công bố tình trạng lũ khẩn cấp trên địa bàn An Giang. Quân đội, dân quân tự vệ được huy động ở An Giang cũng như Đồng Tháp để cứu đê dù sức người khó chống cự với thiên nhiên, có điểm vỡ phải gia cố nhiều lần mà nước lũ vẫn xé toác ra. Tất cả các trường từ tiểu học tới trung học cơ sở trên địa bàn Hồng Ngự thuộc tỉnh Đồng Tháp được lệnh đóng cửa từ 29/9 đến 8/10, học sinh được nghỉ học để tránh lũ.

Báo mạng Saigon Tiếp Thị trích lời ông Nguyễn Minh Giám, trưởng phòng dự báo khí tượng thủy văn, đài khí  tượng thủy văn khu vực Nam Bộ phân tích: “Tính chất và diễn biến lũ năm nay khác lũ năm 2.000. Thứ nhất lúc đó chưa có hệ thống đê bao nên lũ lớn tràn cả đồng bằng, năm nay hệ thống đê bao khép kín, dòng lũ chảy mạnh theo sông ngòi. Sau 10 năm vùng này chưa có lũ lớn, hệ thống đê bao không được gia cố để chống lũ trong khi diễn biến lũ hết sức phức tạp, nếu lũ mạnh lên trùng với bão lớn, mưa to thì nhiều đoạn trong hệ thống đê bao sẽ bị lũ nhấn chìm.

Khi chủ trương thiết lập đê bao khép kín để người dân có thể canh tác thêm một vụ ngay trong mùa nước nổi ở đồng bằng sông Cửu Long được thực hiện, giới khoa học đã cảnh báo sớm là thay đổi thiên nhiên, xả hết lũ ra biển sẽ khiến nước không được lưu giữ trong đất, đồng ruộng không được tẩy rửa và không được bồi đắp phù sa sẽ ảnh hưởng lâu dài. TS Lê Văn Bảnh Viện trưởng Viện lúa vùng đồng bằng sông Cửu Long nói với chúng tôi:

Năm rồi không có lũ, năm nay lũ rất lớn so với 8 năm trước. Đồng bằng sông Cửu Long người ta không nói lũ mà nói lụt, nước dâng tự nhiên bà con quen với quan niệm là sống chung với lũ. Trong lũ sẽ mang lại phù sa cho đồng bằng để bồi đắp các vụ sau. Rồi cá tôm phát triển cái đó là thắng lợi, cũng có một số thiệt hại một phần do chủ quan trong sản xuất, ở những vùng đê bao khép kín làm vụ thu đông người ta rất cẩn thận nhưng mà chủ quan vụ trước lũ thấp thành ra đợt này làm bị thiệt hại.”

Một nông dân đồng bằng sông Cửu Long có nhận xét về vấn đề làm vụ thu đông tức vụ thứ ba bên trong những vùng đê bao khép kín, điều mà ông gọi là lợi bất cập hại, nhưng người dân phải làm theo chính sách của địa phương:

Thí dụ trong một vùng đê bao người ta không muốn làm vụ ba, số người không muốn làm khoảng 50%, nhưng chính vì ông chính quyền xã bắt buộc phải làm, gây áp lực phải làm, thành thử người ta phải làm thôi. Nói rằng làm vụ ba sẽ có lợi thế này thế nọ, nếu làm vụ ba thu đông này mình phải đóng tiền như hình thức hợp tác xã, tiền bơm nước ra chi phí này nọ đóng cho đầu công để người ta lo cho mình, người dân thấy là không có lời cho mấy nên không muốn làm. Ở An Giang họ nói không muốn làm nhưng bị bắt buộc phải làm, ý người ta nói cộng đồng đã làm rồi bắt buộc anh phải theo. Nếu mà tình hình vỡ đê kiểu này chừng một hai vụ nữa thì có thể phải bỏ luôn không làm vụ thu đông nữa.”

Giá gạo trên thị trường thế giới tăng cao trong những năm gần đây khiến các nhà hoạch định chính sách đề nghị chính phủ cho tăng sản lượng thêm 1 triệu tấn lúa trong năm nay, do vậy mới dự báo xuất khẩu hơn 7 triệu tấn gạo. Báo Kinh tế Saigon Online đặt vấn đề “chưa thấy ai nói về bài học ngành nông nghiệp đã chỉ đạo nông dân tăng hơn 500.000 héc ta lúa vụ ba năm nay trong khi không dự báo được tình hình lũ lên nhanh như hiện tại.

Theo RFA 

+++++++++++++++++++++++++++++++

 

Trong suốt hơn 10 năm qua, nhiều chuyên gia nông nghiệp khuyến cáo không nên làm lúa vụ Hè Thu (lúa vụ 3), mục đích là để cho ruộng lúa đón nhận phù sa từ mùa nước nổi (5-5 âm lịch tơi 10-10 âm lịch). Nước lũ từ thượng nguồn sông Cưu Long (Mêkong) chảy từ Trung Quốc, qua Thái, Miến, Lào Kamphuchia, và tràn về các tỉnh miền Tây, mang theo các chất phù sa, đất mịn, về trải một lớp phủ trên hằng triệu mẫu đất và ruộng vườn, là phân bón thiên nhiên cho đồng bằng sông Cửu Long. Mùa nước nổi  còn có thêm tác dụng diệt côn trùng và sâu bọ. Nước lủ nhấn chìm và cuốn trôi tất cả  các trứng của côn trùng,  ấu trùng, côn trùng và chuột đồng…phá hại mùa màng.  Nhờ có nước lũ, mà việc thu hoạch hai vụ lúa chính được tăng năng suất; có khi mỗi năm làm hai vụ còn thu hoạch nhiều lúa hơn làm lúa 3 vụ.  Khi không làm lúa vụ 3, nông dân được nghĩ ngơi, hoặc mùa nước lũ hàng năm cũng là mùa cá linh để nông dân đánh bắt làm nước mắm và mắm ăn cả năm.  Nhờ có phù sa của nước lũ, nông dân không cần mua nhiều phân bón và ít dùng thuốc trừ sâu  trong 2 vụ mùa chính,

Nhưng vì Hà Nội cần đô la nên trung ương luôn phát động trồng lúa vụ 3. Xuất khẩu lúa gạo của mùa nầy giúp Hà Nội có đô la để trả tiền lãi suất các món nợ hơn 57 tỉ đô la và dịp cuối năm. Trung ương luôn kêu gọi các tỉnh, huyện, xã phát động đắp đê bao để ngăn chận nước lũ, và bên trong đê bao nông dân sẽ trồng lúa, gọi là vụ  làm lúa vụ 3.

Nếu nông dân gặp nạn vì nước lũ như bài báo dưới đây, Hà Nội cũng không quan tâm. 10 ngày trước, TT Nguyễn Tấn Dũng sau khi bay một vòng thị sát nước lũ, đã tuyên bố là cứ làm lúa vụ 3 vào năm tới. Không thấy loan báo gì về cứu trợ cho nông dân đang bị sạt nghiệp vì đắp đê bao làm lúa vụ 3, nay đê bị vỡ, cuốn trôi hết lúa trong các cánh đồng sau đê bao, và nhà cửa bị lũ cuốn trôi, và hơn 44 người dân miền  Tây bị thiệt mạng vì nước lũ năm nay.

 

 

“Năm ăn, năm thua” với lũ

Chủ Nhật, 23/10/2011 23:16

Bất chấp khuyến cáo của các chuyên gia nên nông dân 2 tỉnh An Giang và Đồng Tháp phải ngậm ngùi nhìn thành quả lao động chìm trong biển nước

Không lường trước lũ lớn là nguyên nhân khiến hàng chục ngàn căn nhà bị ngập, hàng ngàn hecta lúa mất trắng, hàng ngàn học sinh không thể đến trường, con số thiệt hại về người cũng tăng dần theo thời gian ở khu vực ĐBSCL.

Kỳ vọng bất thành

Trước vụ thu đông (vụ 3) năm nay, giá lúa khu vực ĐBSCL ở mức khá cao. Nông dân 2 tỉnh An Giang và Đồng Tháp hy vọng sẽ có một mùa bội thu vì được mùa, trúng giá.

Tại một số vùng xuống giống sớm, nông dân thu hoạch xong bán lúa khô với giá 7.200 đồng/kg – 7.500 đồng/kg. Theo tính toán của nông dân, với giá lúa này, trừ hết chi phí thì cầm chắc có lãi từ 20 triệu đồng đến 24 triệu đồng/ha. Vì vậy, ngay từ đầu vụ, bất chấp khuyến cáo của các chuyên gia, nhà khoa học…, hàng ngàn hecta lúa ngoài vùng quy hoạch hoặc có đê bao nhưng chưa chắc chắn đã tự phát mọc lên theo kiểu “5 ăn, 5 thua” với lũ. Tuy nhiên, trong thời gian gần đây, hàng ngàn hộ dân ở 2 tỉnh trên phải ngậm ngùi nhìn thành quả lao động của mình bị dìm sâu trong biển nước. Con số hơn 7.000 ha lúa mất trắng tuy không đáng là bao so với tổng diện tích hơn 600.000 ha của cả vùng nhưng đối với dân nghèo, cứ một vụ mùa thất thu là chồng chất khó khăn mà đến vài ba năm sau vẫn chưa thể trả hết nợ.

Nông dân tỉnh Đồng Tháp là những người gánh chịu thiệt hại đầu tiên sau vụ vỡ đê vào rạng sáng 23-9 tại xã Tân Hội, thị xã Hồng Ngự, nhấn chìm hơn 200 ha lúa. Bây giờ, mỗi khi nhìn ra cánh đồng lúa nằm sâu dưới nước lũ, ông Lê Văn Hiền vẫn còn ứa nước mắt. Bao nhiêu tiền bạc và hy vọng đều đổ dồn vào 8 công ruộng đang chờ ngày thu hoạch nên khi nghe tin vỡ đê, gia đình ông rụng rời cả chân tay. “Mấy ngày liền, vợ chồng tôi đâu ăn uống gì được vì lúa mất trắng hết rồi. Mùa sau, không biết lấy vốn liếng đâu mà làm tiếp?” – ông Hiền rầu rĩ.

Khốn khổ hơn có lẽ là trường hợp của ông Trần Văn Huệ ở xã Tân Thành A, huyện Tân Hồng – Đồng Tháp. Không lâu sau khi mất trắng 52 công lúa tại ấp Chiến Thắng (kênh Cả Mũi), ngày 2-10, gia đình ông Huệ tiếp tục nhận hung tin toàn bộ 3 công lúa cuối cùng dành để lấy giống và ăn tại ấp Thi Sơn (kênh Bắc Viện) cũng bị nước lũ nhấn chìm. “Hết sạch rồi! Nợ cũ trả chưa xong, nợ mới lại tới. Nếu không được Nhà nước hỗ trợ thì chắc tụi tôi bỏ xứ mà đi” – ông Huệ than thở.

Không chịu nổi lũ lớn

Trong khi đó, nhiều địa phương đã chi ra hàng tỉ đồng để xây dựng những tuyến đê bao chắc chắn nhưng vẫn bị vỡ tung trước áp lực của nước lũ. Đơn cử, vụ vỡ đê ngày 3-10 trên tuyến kênh Cà Vàng (xã Thông Bình, huyện Tân Hồng) đã khiến hơn 800 ha lúa bị mất trắng.

Ông Nguyễn Chi Lăng, Trưởng Phòng NN-PTNT huyện Tân Hồng, không thể ngờ đê bao kiên cố này lại bị nước lũ đánh sập. “Đê được bảo vệ bằng một vách tường khá kiên cố dài đến 7 km với tổng kinh phí lên đến 4 tỉ đồng nhưng rồi cũng đành bất lực trước sức mạnh của nước lũ” – ông Lăng lo lắng. Theo ông Lăng, tổng thiệt hại về lúa, tường và đê bị vỡ tròm trèm 14 tỉ đồng.

Trên địa bàn tỉnh An Giang, hàng loạt vụ vỡ đê liên tiếp xảy ra khiến hơn 4.000 ha lúa mất trắng. Mặc dù hiện tại nước lũ đầu nguồn tạm thời lên chậm nhưng các ngành chức năng và người dân không dám lơ là. Tuy nhiên, trong lúc mọi người nỗ lực gia cố một đoạn đê dài hơn 30 m ở khu vực kênh 10 (xã Vĩnh Châu, thị xã Châu Đốc) thì sáng 14-10, đoạn đê này cũng không chịu nổi áp lực nước nên 250 ha lúa của nông dân đã chìm dần…

THỐT NỐT – CA LINH

Posted in Nong Dan Viet Nam | Leave a Comment »

Nông Dân và Lúa Gạo: Doanh nghiệp Nhà Nước ép giá để mua rẻ lúa của nông dân

Posted by hoangtran204 trên 18/10/2011

Xuất khẩu gạo thắng lớn, nông dân thua

Nam Nguyên, phóng viên RFA
2011-10-02

Các doanh nghiệp Việt Nam hưởng lợi vì lượng gạo xuất khẩu lớn giá cao. Câu hỏi đặt ra là nông dân trồng lúa thu nhập ra sao, chưa kể vụ thu đông bị thiệt hại vì lũ đồng bằng sông Cửu Long.

AFP photo/Hoang Dinh NamNông dân phơi lúa trên một cánh đồng lúa ở tỉnh Tiền Giang hôm 06 tháng 7 năm 2010.

Bán lúa giá thấp

Từ ngày 7/10/2011 chính phủ Thái Lan thực hiện cam kết mua lúa của nông dân với giá 15.000 baht/tấn tức tăng 50%, giá này tương đương 10.000đ/kg lúa theo tiền Việt Nam, mức giá làm kinh ngạc người trồng lúa đồng bằng sông Cửu Long.

Hơn một tuần trước thời điểm 7/10, giá gạo xuất khẩu trên thị trường Đông Nam Á cũng đã tăng khá cao, cụ thể doanh nghiệp Thái Lan chào giá gạo trắng 100% B khoảng 630-660 USD/tấn so với mức 595 USD một tuần trước. Gạo 5% tấm của Việt Nam cũng tăng khoảng 20USD lên 570 USD/tấn.

Chuyện doanh nghiệp xuất khẩu gạo bán được với giá cao hơn, nhưng nông dân có bán được giá lúa cao tương ứng lại là câu chuyện khác. Hè Thu vụ lúa lớn thứ hai trong năm ở đồng bằng sông Cửu Long đã hoàn tất với sản lượng 9 triệu tấn lúa. Một người trồng lúa vùng Tứ Giác Long Xuyên phát biểu:

“Nếu như gạo đã lên giá thì trong dân cũng không còn, có ai còn nhiều lúa đâu. Thường là vậy, khi sắp hết lúa thì giá gạo tăng giá lúa tăng. Thời điểm tôi bán lúa ướt giá 6.100đ-6.200đ/kg, vừa rồi có một số người thu hoạch thật muộn, họ mới bán chỉ được 5.500đ-5.600đ/kg thôi.”

Nếu như gạo đã lên giá thì trong dân cũng không còn, có ai còn nhiều lúa đâu. Thường là vậy, khi sắp hết lúa thì giá gạo tăng giá lúa tăng.

Không thể phủ nhận tác động giá gạo Thái Lan đã giúp thị trường lúa gạo Việt Nam nhộn nhịp hơn, chưa có năm nào vụ Hè Thu ở đồng bằng sông Cửu Long lại được giá như vậy, trước đây lúa Hè Thu luôn khó bán hoặc bị ép giá vì thu hoạch trong mùa mưa chất lượng thấp. Người nông dân nói chuyện lời lỗ thực tế của mình:

“Tính trong ba tuần lễ, giá lúa lên xuống nhưng vẫn nằm ở mức cao, theo tôi thấy lợi nhuận từ 50% tới 60%. Lý do lợi nhuận cao là vì vụ rồi mình mua phân bón lúc giá còn rẻ. Hiện tại giá phân bón lên gần gấp rưỡi hồi đầu vụ Hè Thu lúc tôi mua, giá phân đạm Phú Mỹ bây giờ đến 13.000đ/kg tức hơn 600.000đ một bao 50Kg, còn phân DAP lúc trước tôi mua 600.000đ/ bao bây giờ gần 1 triệu rồi. Trước mắt vụ Đông Xuân tới rất khó khăn nếu giá lúa ướt 5.500đ-6.000đ/kg mà giá phân như vậy thì lợi nhuận sẽ không được bằng vụ Hè Thu này.”

Đê vỡ trắng tay

Ngày 27/9 Bộ Nông nghiệp Phát triển Nông thôn dự báo sản lượng lúa của Việt Nam trọn năm 2011 đạt kỷ lục 42 triệu tấn, tăng 5% so với năm 2010 do tăng diện tích trồng lúa, đặc biệt tăng gần 3% diện tích lúa vụ ba trên toàn quốc. Thông tin này được đưa ra trong bối cảnh vỡ đê bao hàng loạt ở Đồng bằng sông Cửu Long, nơi người dân được khuyến khích làm lúa vụ ba ngay trong mùa lũ bên trong những vùng đê bao khép kín.

TS Lê Văn Bảnh, Viện trưởng Viện lúa vùng đồng bằng sông Cửu Long đưa ra một nhận định chung về sản xuất lúa ở khu vực này:

“Hiện nay vụ Hè Thu đã hoàn thành rất thắng lợi, giá tương đối cao ở mức 6.000đ-7.000đ/kg lúa, bà con nông dân rất phấn khởi, còn vụ Thu Đông dự kiến năm nay 500.000 hec-ta, một số nơi đang thu hoạch, đúng ra một số nơi ở Đồng Tháp An Giang, làm vụ Hè Thu người ta thu hoạch sớm để tránh lũ đầu vụ, nhưng do chủ quan vụ rồi nước thấp và giá lúa tương đối cao cho nên bà con một số nơi cố làm, chứ thực chất từ trước tới nay những vùng đó không làm vụ Thu Đông.”

Nếu có thiệt hại thêm một số nữa thì thực ra cũng không ảnh hưởng lớn đến chỉ tiêu về sản lượng lương thực của tỉnh Đồng Tháp, tuy nhiên sẽ ảnh hưởng tới kinh tế và thu nhập của người nông dân.

Ông Dương Nghĩa Quốc

An Giang và Đồng Tháp là hai tỉnh đầu nguồn sông Cửu Long có diện tích lúa vụ ba Thu Đông khá lớn và được sản xuất bên trong các đê bao khép kín. Do 10 năm không có lũ cao, nên hệ thống đê bao không được gia cố và đã xảy ra vỡ đê hàng loạt trong những ngày cuối tháng 9. An Giang có 130.000 héc ta lúa Thu Đông và mới chỉ thu hoạch 3.000 héc-ta, nhưng ông Đỗ Vũ Hùng, Phó giám đốc Sở NN-PTNT An Giang nói với Thời Báo Kinh Tế Saigon rằng, trong tình huống xấu nhất cả vụ Thu Đông mất trắng thì cũng không ảnh hưởng nhiều đến an ninh lương thực của tỉnh. [Một câu phát biểu nhẫn tâm, coi sự thiệt hại tiền bạc của người nông dân là không nghĩa lý gì.]

Tỉnh Đồng Tháp đỡ hơn vì với diện tích Thu Đông 100.000 héc ta thì đã thu hoạch 75.000 hécta còn lại 25.000 héc-ta. Ông Dương Nghĩa Quốc, Giám đốc Sở Nông nghiệp-Phát triển Nông thôn Đồng Tháp phát biểu với chúng tôi:

“Mực nước đang dâng cao, hiện nay trên tinh thần quyết tâm bảo vệ diện tích lúa còn lại. Nếu có thiệt hại thêm một số nữa thì thực ra cũng không ảnh hưởng lớn đến chỉ tiêu về sản lượng lương thực của tỉnh Đồng Tháp, tuy nhiên sẽ ảnh hưởng tới kinh tế và thu nhập của người nông dân.”

Gần đây, hãng thông tấn Reuters trích lời giới thương nhân nói rằng, xuất khẩu gạo của Việt Nam có thể không bị ảnh hưởng bởi thiệt hại vụ Thu Đông là vụ thứ ba ở đồng bằng sông Cửu Long. Theo đó vụ này sản lượng nhỏ và dành cho tiêu dùng trong nước.

Cuối tháng 9, VFA Hiệp hội Lương thực Việt Nam nói rằng đang tồn kho 1,5 triệu tấn gạo, cộng với 800.000 ngàn tấn gạo hàng hóa dự kiến của vụ Thu Đông và vụ mùa, như thế có đủ gạo đáp ứng nhu cầu xuất khẩu trong quí IV và tồn kho gối đầu năm sau.

Việt Nam dự kiến xuất khẩu 7,3 triệu tấn gạo trong năm 2011, mức cao nhất từ trước tới nay và đến 30/9 đã giao hàng gần 5 triệu 900 ngàn tấn, như vậy trong quí IV chỉ còn xuất thêm khoảng 1,4 triệu tấn.

Gạo đã tồn kho, giá xuất khẩu tăng cao các doanh nghiệp hưởng phần chênh lệch lớn, còn nông dân đã bán lúa cũng được một ít lợi nhuận nhất định. Đáng thương là những người làm lúa Thu Đông trong đê bao khép kín ở đồng bằng sông Cửu Long, vì dù có mất trắng thì chỉ có họ là nạn nhân chứ  an ninh lương thực và kế hoạch xuất khẩu của Việt Nam chẳng bị ảnh hưởng gì.

Posted in Nong Dan Viet Nam | Leave a Comment »

Chuyện tòa Đại Sứ Mỹ ở Syria và Tòa Đại Sứ Trung Quốc ở Việt Nam

Posted by hoangtran204 trên 17/10/2011

Trên Facebook của tòa đại sứ Mỹ ở Damascus (Syria), cô Leslie Ordeman đã viết một bài nhận xét về cuộc biểu tình chiếm phố Wall của nhiều người Mỹ bắt đầu từ 17-9-2011. Phố  Wall Street là nơi tập trung nhiều ngân hàng lớn nhất nước Mỹ và thế giới, là tổng hành dinh của nhiều  tập đoàn đầu tư tài chánh, chứng khoán, bảo hiểm, cơ sở của thị trường chứng khoán NY, báo Wall Street Journal….

Cuộc biểu tình ở New York đã bắt đầu  xảy ra vào ngày 17-9, diễn ra hàng ngày, và kéo dài cho tới nay. Những người tổ chức biểu tình đã kêu gọi và được sự hưởng ứng tại 5 thành phố thủ đô của 5 tiểu bang khác của Mỹ (Boston, Detroit, Denver, Seattle, New York, Washington DC… ). Các cuộc biểu tình còn được sự ủng hộ của một vài nghiệp đoàn của công nhân, của nghiệp đoàn thầy cô giáo ở Boston, của vài nhóm tôn giáo. Thêm vào đó, có nhiều người cũng ủng hộ những người biểu tình. Đó là những người đi làm việc đi ngang qua đó, các du khách, nhiều cư dân… đã ủng hộ những người biểu tình bằng cách tiếp tế thức ăn, nước uống.  Họ đã mua thức ăn, đồ hộp, trái cây, bánh mì, nước uống…đem đến giao tận tay cho những người biểu tình trước mặt các cảnh sát. Các cảnh sát cũng nói chuyện thân thiện với những người biểu tình. You do your job, I do mine. Các bạn cứ biểu tình, còn tôi làm nhiệm vụ bảo vệ an ninh trật tự của tôi.

Các bạn vào youtube.com, rồi gõ chữ protest in New York 2011, và các bạn sẽ thấy nhiều video nói về chuyện này).

Truyền hình khắp thế giới đưa tin nhiều về vụ này. Nhưng ở các nước có chế độ độc tài như Syria và Việt Nam, ban tuyên giáo của đảng đã viết lại bản tin nầy, thêm mắm thêm muối, nói 50% sự thật,còn 50% kia là nói láo, nhằm đánh lạc hướng dư luận của dân chúng trong nước.

Để nói lên sự thật về các cuộc biểu tình này, nhân viên  tòa đại sứ Mỹ là cô Leslie Ordeman đã viết bài dưới đây. Trong bài báo này, cô vừa đưa tin, vừa dùng các sự kiện, và dùng lối  so sánh để vạch rõ cho dân chúng Syria biết của cuộc biểu tình ở New York. Tác giả rất khéo léo, ngầm  nói sơ về luật pháp nước Mỹ, về quyền tự do biểu tình và tự do ngôn luận…để người dân Syria tự  suy nghĩ thêm, hòng nhận ra các quyền tự do của những người dân sống trong  một nước dân chủ khác hẳn với dân chúng sống trong chế độ độc đảng và độc tài, và thông qua đó tố cáo chế độ công an trị, dùng bạo lực và chết chóc để đàn áp dân chúng,và sự tuyên truyền của nhà nước độc đảng, độc tài.

Mời các bạn đọc bài dịch. Phần trong ngoặc người dịch thêm vào cho dễ đọc. Bài tiếng Anh để ở cuối bài dịch.

                 ******************

Một Ghi Nhận từ trang Face Book

Gần đây chúng tôi đã đưa lên một bài báo viết về các cuộc biểu tình Chiếm Đóng Phố Wall ở Mỹ– hiện đang có nhiều tin tức về cuộc biểu tình này trên các đài truyền hình ở Syria.

Chắc chắn là có nhiều điều lo buồn ở nước Mỹ về tình hình kinh tế hiện nay. Nạn thất nghiệp tương đối cao, 9%. Giá nhà đang tiếp tục giảm sút, đang làm thiệt hại nhiều gia đình. Đang có nhiều cuộc tranh cải nhau giữa hai chính đảng lớn của Mỹ về cách làm thế nào để sửa sai nền kinh tế của Mỹ.

Chúng tôi không biết chính xác chuyện gì sẽ xảy ra sắp tới. Nhưng điều chúng tôi biết rõ, là:

* Nước Mỹ sẽ có các cuộc bầu cử toàn quốc vào tháng 11 năm 2012, những cuộc bầu cử nầy không do sự sắp xếp của cơ quan tình báo Mỹ, mà do một ủy ban bầu cử độc lập, không lệ thuộc dưới quyền chỉ đạo của Tổng thống hay Quốc hội;

* Những người tổ chức các cuộc biểu tình Chiếm Đóng Phố Wall sẽ có toàn quyền tự do ra tranh cử như những ứng cử viên khác, hoặc tổ chức phối hợp để ủng hộ các ứng cử viên (mà họ ưa thích).

* (tuy nhiên khi đi biểu tình, những người trong) các nhóm Chiếm Đóng Phố Wall (theo luật) sẽ không được phép phá hoại tài sản công cộng hay của tư nhân, nhưng họ được quyền tổ chức nhiều cuộc biểu tình ở các thành phố khác, và những người biểu tình  muốn nói gì về chính quyền Mỹ cũng được mà không bị bắt, hay bị bắn.

* Cảnh sát Mỹ sẽ không được quyền nã súng vào hàng ngàn người biểu tình.

* Một số người tổ chức biểu tình chiếm đóng Phố Wall đã bị bắt vì làm xáo trộn trật tự (chặn đường xe cộ), nhưng họ sẽ không bị đánh đập tra tấn, và sẽ không có gia đình nào nhận xác con em mình đi biểu tình với các vết tích tra tấn trên thi thể; (ở Syria và “xứ thiên đường”, đi biểu tình mà bị bắt bớ là nhừ đòn)

* Báo chí quốc tế và các tổ-chức-vô-vụ-lợi đang theo dõi và tường thuật về các cuộc biểu tình Chiếm Đóng Phố Wall mà không bị chính quyền can thiệp (ngăn cấm);

* Những người tổ chức Chiếm Đóng Phố Wall được tự do trò chuyện với bất kỳ người Mỹ hay người ngoại quốc nào muốn nói chuyện với họ mà không sợ bị bắt; (ở Syria và “xứ thiên đường” là sẽ bị bắt hoặc bị công an theo dõi đến tận nhà )

* Chính quyền Mỹ có thể than phiền là các chính sách tiền tệ của một số nước nào đó (như Trung Quốc chẳng hạn) đang làm tổn hại nền kinh tế Mỹ, nhưng chính quyền Mỹ sẽ không thèm kêu ca với thế giới là có một thế lực thù địch ngoại quốc nào đó, mà họ không nêu chi tiết hay bằng chứng, nhưng chính quyền Mỹ nói rằng họ khuyến khích nhóm Chiếm Đóng Phố Wall hay các phong trào phản đối nào đó (cứ đi biểu tình để thể hiện quyền tự do ngôn luận và quyền biểu tình mà hiến pháp và luật pháp đã quy định).

Tác giả là cô Leslie Ordeman, nhân viên phụ trách trang Facebook của tòa đại sứ Mỹ tại Syria.

***************************************

Phim về các cuộc biểu tình ở  New York

****************************************************************

 

Sứ quán hay là dinh thái thú?

Đại sứ quán TQ tại Hà Nội

Sứ quán Trung Quốc chiếm một vị trí đặc biệt giữa thủ đô Hà Nội.

Đây là sứ quán nước ngoài ở gần bộ Ngoại giao nhất, cũng ở gần Phủ chủ tịch nước, gần trụ sở Trung ương đảng CS, trên đường Hoàng Diệu, ngay giữa quận Ba Đình là quận trung tâm của Hà Nội.

Tòa nhà cổ, bề thế, được sửa chữa mở rộng nhiều đợt, nhìn ra vườn hoa mang tên Điện Biên Phủ, nơi có tượng Lenin từ những năm 1950.

Phía sau là đường Khúc Hạo có nhiều biệt thự, bể bơi, sân quần vợt dành riêng cho các quan chức sứ quán Trung Quốc và gia đình họ.

Hơn tháng nay, sứ quán Trung Quốc ở Hà Nội đổi chủ. Đại sứ Tôn Quốc Tường lên đường về nước. Đại sứ mới Khổng Huyễn Hựu sang thay. Lễ trình quốc thư diễn ra ngày 25-8-2011, ông Khổng là đại sứ Trung Quốc thứ 16, kể từ 62 năm nay.

Khổng Huyễn Hựu, ông là ai?

Có một điều hơi lạ, là các đại sứ Trung Cộng ở Hà Nội trước đây thường là người từng quen biết rõ Việt Nam trước khi nhậm chức, trưởng thành từ nhân viên phiên dịch, hay bí thư, tham tán của đại sứ quán, có người từng qua trường đại học Văn, Sử, ở Hà Nội. Họ am hiểu khá sâu tiếng Việt, hiểu cả đến tiếng lóng, thổ âm Trung Nam Bắc, cả những từ ngữ dân gian.

Vậy mà đại sứ mới Khổng Huyễn Hựu khác hẳn. Ông Khổng chỉ mới làm việc ở nước ngoài tại Nhật Bản, với chức vụ tùy viên lãnh sự tại Tổng lãnh sự quán ở Thành phố Đại Bàn, từ năm 1985 đến năm 1989. Sau đó ông về lại Bắc Kinh, làm bí thư thứ ba tại Vụ Á châu, Bộ Ngoại giao, từ năm 1989 đến 1995.

Từ năm 1995 đến 1999, ông lại sang Nhật Bản, làm cán bộ nghiên cứu tại Sứ quán Trung Quốc ở Tokyo.

Từ năm 2000 ông trở về Bắc Kinh để tu nghiệp tại trường đại học Ngoại giao. Năm 2002 ông được bổ nhiệm làm tham tán Viện Nghiên cứu chính sách của Bộ Ngoại giao. Năm 2003 ông là phó Vụ trưởng vụ Á châu, Bộ Ngoại giao. Từ cuối tháng 8-2011 ông là đại sứ đặc mệnh toàn quyền tại Việt Nam.

Về xuất xứ, khác hẳn với các người tiền nhiệm, thường quê quán từ các tỉnh phía Nam hay miền Trung Trung Quốc, ông Khổng Huyễn Hựu quê ở tỉnh Hắc Long Giang, ở cực Bắc Trung Quốc, giáp giới với Triều tiên, và ông cũng thuộc dân tộc thiểu số Triều Tiên (Cao Ly).
Ông sinh tháng 7 năm 1959, năm nay 52 tuổi.

Tóm lại, đại sứ mới của Trung Quốc chưa hề quen biết với Việt Nam, với Đông Nam Á, là người từ rất xa tới, cũng là người chưa trực tiếp hiểu biết gì về nước ngoài trừ Nhật Bản, chưa tu nghiệp hay làm việc tại các nước phát triển và Liên Hiêp Quốc. Đây là điều khó hiểu.

Cứ theo tin tức được phổ biến trên mạng internet của sứ quán Trung Quốc, tuy mới nhậm chức có hơn 1 tháng, đã có vài chục quan chức cấp cao phía Việt Nam đã gặp và chào đón ông đại sứ mới rất nồng nhiệt.

Không kể những buổi ông Khổng đến trình quốc thư Chủ tịch nước, chào Tổng bí thư, Thủ tướng, Chủ tịch Quốc hội, có hàng loạt quan chức cao cấp đã đến sứ quán Trung Quốc trên đường Hoàng Diệu để chào tân Đại sứ.

Đó là:

– Thứ trưởng Ngoại giao Hồ Xuân Sơn và Phó trưởng Ban Đối ngoại Trung ương Nguyễn Mạnh Hùng (ngày 17-8-2011);

– Trung tướng Nguyễn Chí Vịnh, Thứ trưởng Quốc phòng (ngày 23);

– Bộ trưởng Bộ Công thương Vũ Huy Hoàng, rồi Thứ trưởng Bộ Công an Trung tướng Đặng Văn Hiếu (ngày 29-8-2011);

– Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân, rồi Bộ trưởng Tài chính Vương Đình Huệ (ngày 31-8-2011);

– Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh (12-9-2011);

– Bộ trưởng Giáo dục và Đào tạo Phạm Vũ Luân (16-9-2011);

– Trưởng ban Đối ngoại Trung ương Hoàng Bình Quân, rồi Bộ trưởng Thông tin – Tuyên truyền Nguyễn Bắc Sơn (21-9-2011);

– Bí thư Thành ủy Hà Nội Phạm Quang Nghị (27-9-2011);

– Bộ trưởng Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hoàng Tuấn Anh, rồi Trưởng Ban Tổ chức Trung ương Tô Huy Rứa (29-9-2011);

– Thường trực Ban Bí thư Lê Hồng Anh, rồi Chủ tịch Ủy ban Kiểm tra Trung ương Ngô Văn Dụ (3-10-2011);

– Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương Đinh Thế Huynh (4-10-2011).

Sứ quán Trung Quốc cho biết tân Đại sứ Trung Hoa chỉ trong thời gian ngắn đã có dịp hội kiến với quá nửa số ủy viên Bộ Chính trị của phía Việt Nam, chưa kể một loạt ủy viên Trung ương đảng, bộ trưởng, thứ trưởng và các loại cán bộ cấp cao khác.

Sứ quán Trung Quốc quên không nói rõ là sứ quán và đại sứ mới được canh gác, bảo vệ và hộ tống rất nghiêm mật, công an, cảnh sát, mật vụ rất mẫn cán không cho công dân Việt Nam đến gần sứ quán, nhất là vào các Chủ nhật, như Hà Nội đã long trọng cam kết với Bắc Kinh.

Quả có vậy nên viên giáo sư Long Đạo mới dám viết trên mạng Hoàn Cầu những lời ngạo mạn đến láo xược, gọi người Việt là những con muỗi.

Theo ý đó, một đàn muỗi cao cấp nhất vừa sang Bắc Kinh rước về 6 bản Hiệp định – 6 xiềng xích buộc chặt nước ta với thiên triều bành trướng.

Blog Bùi Tín (VOA)

 

 

A Note from Facebook

moderator Leslie OrdemanWe recently put up an article about the Occupy Wall Street protests in the USA — there is lots of news about it on Syrian television stations.For sure there is a lot of unhappiness in America about the economic situation. Unemployment is relatively high – nine percent. Housing prices keep falling, hurting more families. There is much debate between the two main American political parties about how to fix the U.S. economy.We don’t know exactly what will happen next. What we do know is:

* the US will have national elections in November 2012 that are not under the control of the American intelligence establishment but rather an independent election authority not controlled by the President or Congress;

* the Occupy Wall Street organizers will be entirely free to run as election candidates or to organize to support candidates;

* Occupy Wall Street groups will not be allowed to destroy public or private property, but they can organize more protests in other cities and they can say whatever they want about the U.S. government without being arrested or shot;

* the police will not shoot thousands of protesters;

* some Occupy Wall Street organizers have been arrested for disturbing public order (blocking traffic) but they won’t be tortured, and no family will receive the body of a protester bearing torture marks.

* the international media and NGOs are watching and reporting on the Occupy Wall Street protests without interference from the government;

* the Occupy Wall Street organizers will be free to talk to any American or foreigner who wants to talk to them without fear of arrest;

* the U.S. government may complain that some countries’ currency policies are hurting the U.S. economy, but the US government will not tell the world that there is a vague foreign conspiracy for which it lacks any specifics or evidence but that it says is encouraging the Occupy Wall Street or other protest movements.

Something to think about…

Posted in Chinh Tri Viet Nam, Tự Do ngôn Luận, Đảng CSVN | Leave a Comment »

Cuộc Vận động Tranh cử và Đề cử vào Chức vụ TT Mỹ 2012 – Người dân Mỹ đang ủng hộ đảng nào – Hiện nay, Kinh tế nước Mỹ như thế nào-

Posted by hoangtran204 trên 16/10/2011

Buổi hòa nhạc sống (A Decade of Difference) đang diễn ra ở Hollywood, lúc 9 giờ 30 sáng (giờ VN) Chủ Nhật 26-10-2011).

Với sự trình diễn của các ca sĩ nổi danh như: Steve Wonder, Kenny Chesney,  K’naan,  Juanes, Usher, Lady Gaga, The edge and Bono và nhiều ca sĩ khác…

Chương trình nhạc rất hay, các bạn có thể vào nghe ngay bây giờ.

http://news.yahoo.com/decade-difference-concert/live/

*Trong quý 3 vừa qua, TT Obama đã gây quỷ tranh cử được 70 triệu đô la. Trong quý 2 năm nay, TT Obama đã gây quỹ được 86 triệu đô la. Các cố vấn của TT muốn gây quỹ vượt quá mức 745 triệu đô la của năm 2008.  Trong 3 tháng qua, đã có 606,027 đóng góp tiền vào quỹ vận động tranh cử cho TT Obama, số người này cao gấp 2 lần số người đã đóng góp cho TT Obama vào cùng thời điểm năm 2008, và vượt quá mức kỷ lục về số người đã đóng góp cho ông ta vào quý 2 của năm nay.  Tông cộng đã có  982,967 người đã đóng góp tiền cho TT Obama ra tranh cử vào năm tới, con số nầy rất gần tới số 1 triệu người mà ban vận động tranh cử đã trông đợi về một sự hậu thuẩn rộng rải trong dân chúng.

Thống đốc tiểu bang Texas  Rick Perry chỉ gây quỹ được 18 triệu đô la trong 3 tháng qua. Cựu thống đốc Mitt Romney chỉ gây quỹ được 17 triệu đô la vào tháng 4, 5 và 6 và  ông ta chưa công bố số tiền gây quỹ vào 3 tháng vừa qua.

Ủy ban vận động tranh cử toàn quốc của đảng  Cộng  Hòa đã gây quỹ đạt mức kỷ lục 60 triệu đô la vào năm nay, là năm không có bầu cử.

———————–

Có thể chiến lược sau cùng của TT Obama là: cứ để cho những người của đảng Cộng  Hòa ra tranh cử   tiếp tục nói…

(sẽ dịch tiếp sau)

Obama, Democrats raise $70 million in quarter

By Kim Dixon and Patricia Zengerle

October 13, 2011

WASHINGTON (Reuters) – President Barack Obama and the Democratic National Committee raised more than $70 million from July to September for his re-election bid, the campaign said on Thursday, topping a $55 million target.

The campaign contribution report shows that Obama’s money train did not stall in the third quarter, despite protracted summer debt talks and complaints from his base that he lacks the fervor to push a Democratic agenda.

Obama raised a record $745 million in cash during the 2008 campaign, and his advisers want to raise even more for 2012.

In the second quarter, the campaign raised $86 million, besting the record set by former President George W. Bush, a Republican. The Obama campaign had said it would raise $60 million in that period.

The campaign said that 606,027 people donated during the third quarter, which it said surpassed the record set in the previous quarter and was more than twice as many donations as the campaign had at this point in 2008.

The campaign said at last count 982,967 people have donated to the campaign, within striking distance of the 1 million donors it seeks to show a wide base of support.

Republicans, still in the process of picking a nominee to take on Obama, are behind in fundraising.

Texas Governor Rick Perry, once a front-runner whose support has been falling in the polls, raised $17 million in the third quarter, giving him fuel to keep the campaign going despite concerns over recent stumbles in debates.

Former Massachusetts governor Mitt Romney has not released third-quarter figures yet, but he raised more than $18 million in the second quarter.

The Republican National Committee has been raising record amounts for a non-election year, hauling in about $60 million so far this year.

(Reporting by Kim Dixon and Patricia Zengerle; Editing by Eric Walsh and Vicki Allen)

——————-

Republicans’ Overexposure

Oct 14, 2011

Matt latimer

Maybe President Obama has an election strategy after all: let the others guys keep talking.

What have those of us who have endured the endless televised GOP debates over the past several months gathered about the men (and woman) seeking the highest office in the land?

Michele Bachmann has 135 foster children…

_Ron Paul has an issue with volume control

_Newt Gingrich bought his wife some pretty nice jewelry…

_ Mitt Romney says things like “gee whiz” and “golly”

_and Rick Perry needs to sleep longer before engaging in forensic exercises.

This week, Tuesday, Oct 11, 2011, the Bloomberg TV people sought to shake things up by giving the candidates a chance to talk to one another (a revolutionary concept).  The trouble is, they have nothing useful to say.

*Each of these self-proclaimed conservatives supposedly believes that governments, and therefore presidents, do not create jobs.

Yet they simultaneously take credit for being some of the greatest job creators in history. No one asks them how this can be. Almost no one puts forward a step-by-step action plan that wanders close to the controversial or practical.

*Herman Cain deserves tremendous credit for at least offering something people can actually discuss and debate—his 9-9-9 plan (a 9 percent tax on income, a 9 percent tax on corporations, and a 9 percent national sales tax.) Mr. Cain has not explained how such a sweeping, ambitious, and massive overhaul of our entire system of taxation will be passed in a closely divided Congress.  Nor has he explained how long it would take to implement. Nor has he discussed what his “Plan B” is in the (likely) event that Congress, lobbyists, the press, and special-interest groups bring his program to a halt.  (A 10-10-10 plan, anyone?) Leave it to Michele Bachmann (who else) to make the most memorable critique: that the Cain plan when turned upside down is the “mark of the beast.”

None of the truly difficult questions were asked in Tuesday’s debate, of course, because none of the candidates really takes Cain seriously. Nor for that matter do most of them take the voters seriously. And, one can ask, why should they? America has the campaign and the candidates we deserve.

*Consider: If any candidate dares to offer a proposal or idea that departs from orthodoxy, the media and their opponents quickly pounce. Governor Perry, for example, once noted that the nearly bankrupt Social Security program is a Ponzi scheme, language used by any number of people, including leading Democrats. Yet he was lashed for his impolitic gaffe. Newt Gingrich’s entire campaign was mortally wounded when he challenged the feasibility of the Paul Ryan budget plan (which by the way has been all but abandoned by the GOP leadership anyway). Mitt Romney will never be totally forgiven for his health-care proposal as governor of Massachusetts. But Romney, the perfect politician for a superficial era, continues to get away with a non-position, neither fully embracing his own plan nor completely repudiating it.

Witness Tuesday night: Rick Perry tried to question Romney on his health-care proposal, noting that one of Romney’s own supporters said it was identical to Obamacare.

Romney responded with several self-congratulatory sentences while totally avoiding Perry’s original query.  This was considered the perfect answer; no reporter pressed Romney on substance—nor did any other candidate. The entire discussion of health care in these debates is limited to what platitudes a candidate can utter in under two minutes.

_But why pick on only Romney? Has any candidate explained what exactly he or she would do to pass economic legislation through a divided Congress? Or explained why they will get things accomplished more effectively than Presidents Bush or Obama, who both promised to change the tone in our nation’s capital and “get things done”?

*The candidates have learned the perils of independent thinking.  They are on the lookout for “gaffes.” What more can one say about the status of our political system when a candidate can say “It’s time for America to be America again” as if it were high-minded discourse.

-And therein lies Obama’s opportunity—at this point, maybe his only one.  The president’s already talked the country to death with endless “major speeches” and a multitude of “major press conferences”—now it’s the Republicans’ turn.  Let the country take a long, hard look at the bland, uberpolitical talking heads pretending to be contenders for the most important office in the land. Let the other side issue their canned talking points, their unimaginative, simplistic policy positions (“create jobs” “cut taxes” “help our kids”) and their “gotcha” attacks, on every cable channel in America.  Then maybe a bored-out-of their-minds electorate will take a look at President Obama and realize he ain’t that much worse.  Come to think of it: If the White House can manage it, they ought to sponsor the next GOP debate themselves.

http://news.yahoo.com/republicans-overexposure-problem-044900804.html

—————————————-

TIME Poll: Obama Still Ahead of GOP Rivals, Voters

Side With Dems on Taxes

Oct 15, 2011

By ALEX ALTMAN

The poll, conducted for TIME by Abt SRBI, surveyed 1,001 adults — 83% of whom described themselves as likely voters — between Oct. 9-10.

Despite sweeping pessimism about the nation’s fortunes and his own sliding approval ratings, President Obama leads potential Republican rivals Mitt Romney and Rick Perry in hypothetical general-election match-ups, according to a new TIME poll.

Obama leads Romney, the former Massachusetts governor who sits atop the GOP presidential field, 46% to 43% among likely voters. The President has opened a double-digit lead over Perry, 50% to 38%, highlighting concerns percolating through the GOP that the Texas governor would face a steep uphill climb should he capture the nomination. Obama also boasts a 49% to 37% edge over businessman Herman Cain, whose strong Tea Party support has propelled him toward the top of Republican ranks in recent weeks. In each case, the President was buoyed by his performance among female voters. Women prefer Obama over Romney by eight percentage points (49% to 41%), by 17 points over Perry (53% to 36%) and by 21 points over Cain (53% to 32%). (See photos of Republicans taking over New Hampshire.)

Obama’s strength in head-to-head match-ups with potential Republican rivals belies his own shaky footing with a weary electorate. Just 44% of voters approve of the President’s performance, a slip of four points since a similar poll was conducted in June. Four out of five respondents say the U.S. has veered off track, and 71% think the country’s clout in the world is waning. A scant 5% report feeling positive or unconcerned about the state of the nation.

The President’s positive personal qualities have cushioned voters’ frustration with the sagging U.S. economy, the exodus of capital to overseas markets and the declining value of the dollar. Most voters see Obama as tough enough to shepherd the U.S. through this rough patch (50% to 44%), and empathetic (59% to 37%) to the concerns of Americans like themselves. By a 48% to 37% margin, respondents consider him a better President than his predecessor, George W. Bush, who won a hard-fought battle for a second term amid falling approval ratings and an opposition galvanized by the war in Iraq.

For Democrats, the silver lining in a gloomy series of electoral rebukes and legislative setbacks is that voters remain partial to their chief economic principles, at least compared to the alternatives. Forty-two percent of respondents say they place greater trust in the Democratic Party to deal with the nation’s problems, compared to the 31% who side with Republicans. In particular, some two-thirds of those surveyed say they prefer the Democrats’ blueprint for trimming the federal deficit — a mix of spending cuts and tax hikes — to the GOP prescription, which would solely slash spending. At the same time, more voters think reducing spending is a better way to juice the moribund economy than an additional round of stimulus, the approach advocated by liberal economists. (See “Obama’s Tax Plan: ‘Fair Share’ vs. ‘Class Warfare.'”)

The survey also revealed that respondents have a better impression of the left-leaning protest movement known as Occupy Wall Street than they do of the Tea Party movement. Fifty-four percent of respondents harbor a positive view of the burgeoning protest movement, well above the 23% with a negative opinion. By contrast, just 27% of those surveyed have favorable views of the Tea Party, while 65% say its impact on U.S. politics since its inception in 2009 has been negative or negligible.

Those results reflect a strain of economic populism common to the new movement’s backers. Among those respondents familiar with Occupy Wall Street, nearly 80% argue the wealth disparity in the U.S. has grown too large and 68% say the rich should pay more taxes. Even so, this cohort is aware of the challenges facing the movement. Fifty-six percent predict Occupy Wall Street will have little impact on American politics, and another 9% say its effect will be negative.

The poll, conducted for TIME by Abt SRBI, surveyed 1,001 adults — 83% of whom described themselves as likely voters — between Oct. 9-10.

—————————————-

JPMorgan Q3 net slips; shares lower in premarket

By David Henry

(Reuters) – JPMorgan Chase & Co’s third-quarter earnings fell 4 percent as the European debt crisis pushed investment banking clients to the sidelines, but results were helped by an accounting gain the bank can take when markets are in turmoil.

Excluding that gain, JPMorgan’s earnings dropped about 25 percent. Shares of the second-biggest U.S. bank fell 1.5 percent to $32.70 in premarket trading Thursday.

The results are the first for the quarter from a major U.S. bank and underscore how market turmoil has clobbered investment bank revenue. With stock markets plunging, companies are more reluctant to issue securities or acquire rivals.

“The underlying trends are quite subdued for JPMorgan, and I don’t see any reason to think they’d be different for Goldman or Morgan Stanley,” said Nancy Bush, a bank analyst and contributing editor at SNL Financial.

JPMorgan said earnings were $4.3 billion, or $1.02 per share, down from $4.4 billion, or $1.01 per share, in the same quarter last year. The bank’s outstanding share count fell 3 percent because the company bought back stock.

“All things considered, we believe the firm’s returns were reasonable given the current environment,” Chief Executive Jamie Dimon said in a statement.

The results were muddied by adjustments for the market value of the bank’s debt, which gave it a $1.9 billion pre-tax gain. When the bank’s debt weakens relative to U.S. Treasuries, it can record an accounting gain.

Wall Street analysts had estimated on average that the bank earned 91 cents a share. It was not clear if the bank’s results were comparable with that estimate.

JPMorgan bought back $4.4 billion of stock during the quarter.

“They are putting their money where their mouth is” with the buybacks, said David Dietze, chief investment strategist at Point View Wealth Management in Summit, New Jersey.

“It shows a degree of confidence. They don’t see a cash crunch. The takeaway here is to be more optimistic about regional bank results but not be jumping up and down about the prospects of Morgan Stanley and Goldman Sachs.”

Morgan Stanley and Goldman Sachs Group Inc are due to report third-quarter results next week.

JPMorgan’s investment banking fees were down 31 percent from a year earlier to $1 billion. Revenue from stock and bond trading was down 14 percent, not counting the accounting gain from the weakening of the bank’s debt.

(Reporting by David Henry in New York, additional reporting by Clare Baldwin; editing by John Wallace)

———————————–

Why The Economy Looks Like Expansion, Feels Like Recession

Oct 14, 2011

There’s a great mismatch between the way people feel about the economy and many of the underlying trends. The sentiment says recession, but much of the underlying data suggest growth.

The Thomson Reuters/University of Michigan measure of consumer sentiment, released Friday morning, showed consumer confidence fell and that consumers’ expectations for the future are at their lowest level in 30 years. They’re not the only ones worried. Lakshman Achuthan of Economic Cycle Research Institute, perhaps the most reliable forecaster on changes in the business cycle, recently told the Daily Ticker he believes a recession is unavoidable.

And yet the numbers continue to tell the story of a grinding, continuing recovery that, in some ways, appears to be accelerating. Amid the rising gloom, the data flow in recent weeks has generally been positive. Retail sales, reported this morning, were up strongly in September, up 1.1 percent from August; August’s figure was revised upwards. Compared with a year ago, retail sales are up 8 percent. They were led by strong car sales. After putting up a bagel in August, the economy added 103,000 payroll jobs in September, including 137,000 private sector positions. Overall GDP growth, which fell dangerously close to flatlining in the first quarter, in which it grew at just a .4 percent annual rate, grew at a 1.3 percent rate in the second quarter. Macroeconomic Advisers, which tracks and continually updates estimates in real time with each new data point, currently has the third quarter expanding at a 2.7 percent rate. The Conference Board Leading Economic Index pushes higher every month.

So what’s going on? Is all the data fudged? Is it simply backward-looking information telling us a positive story? I think of it as follows: The grind-it-out recovery continues. The underlying trends are moving in a positive direction, in many instances better than most people think and expect. But there’s an overwhelming sense of fragility due to three significant factors.

First and foremost, there’s the weak labor market. Go back and look at the Bureau of Labor Statistics’ depressing monthly employment market update. It’s not simply that the unemployment rate is at an elevated 9.1 percent, or that the U-6, a broader measure of un- and underemployment, is at 16.5 percent. Rather, the equation between management and labor has shifted drastically in the past several years. Simply put, capital is beating the living daylights out of labor. Personal income fell in August from July. Corporate profits bounced back impressively since 2009, but between June 2009 and June 2011, real household median income fell 6.7 percent. Workers’ share of income has fallen to historic lows. (Check out this chart, courtesy of Mark Thoma at Economists’ View).

Second, call it muscle memory, or post-traumatic stress disorder, or the new normal. But Americans remain shocked and traumatized by the events of the fall of 2008 and the deep recession of 2008-2009. A dog that’s been repeatedly abused cowers the minute someone — even someone with good intentions — raises his hand. The American public is like a dog that’s been kicked one too many times. The cascade of failures, the massive job loss, and the huge declines in home equity, have altered sentiment, psychology and actual behavior. Each time there’s a new trauma — a month in which there is no jobs growth brinksmanship that almost results in default, a downgrade by Standard & Poor’s, a damaging hurricane — Americans suffer flashbacks.

Third, beyond imagined threats, the world is a pretty dangerous place, full of potential shocks that can harm the U.S. economy. And because consumers and companies were caught unawares by the 2008 credit shock, they continue to take preventative action and be on the lookout for warning signs. Many companies in 2008 suffered near-death experiences in 2008 due to a lack of cash; so today they stockpile it, and hesitate to invest or boost dividends. Meanwhile, there are plenty of potential shocks for which people should prepare: a Greek default, a new recession in the heart of Europe, instability in the Middle East, a sharp slowdown in China.

As the mood sours, the U.S. economy continues to grind its way, slowly, out of the deep hole of 2009. At present, the economic data we have points to a continuation of the current expansion, now in its 30th month, even if many people feel as if the recession never ended.

Daniel Gross is economics editor at Yahoo! Finance.

Email him at grossdaniel11@yahoo.com; follow him on Twitter @grossdm.

********************************************

Warren Buffett would likely pay no income taxes under Cain’s 9-9-9 plan

By Zachary Roth

If the “9-9-9” tax plan promoted by Herman Cain, a leading Republican presidential candidate, had been the law of the land last year, Warren Buffett would very likely have paid no income taxes, according to an analysis prepared for Yahoo News and The Lookout by the American Institute of Certified Public Accountants. At most, Buffett would have paid taxes on just 1 percent of his income.

Cain, a Georgia businessman, has risen to the top of several polls for the 2012 presidential campaign. A centerpiece of his platform is his 9-9-9 tax plan. Devised by Rich Lowrie, an Ohio wealth manager for Wells Fargo, the plan would scrap the current tax system–including payroll taxes, capital gains taxes and estate taxes–and replace it with a tax code that imposes a 9 percent personal income tax, a 9 percent national sales tax, and a 9 percent corporate income tax.

If the plan is to impose a 9 percent tax, why would Buffett pay only 1 percent–or zero percent? Why so little?

Using information Buffett has released about his total taxable income and his effective tax rate under the current system, Melissa Labant, an accountant with the American Institute of CPAs, said that the bulk of Buffett’s taxable income came from capital gains. Cain’s 9-9-9 plan would eliminate taxes on capital gains.

According to Labant’s rough calculation, Buffett’s ordinary income, outside of capital gains, comes to around $4.9 million. At Cain’s proposed rate of 9 percent, Buffett would pay around $440,000 in income tax–1.1 percent of the approximately $40 million in taxable income, after deducting for charitable giving and local taxes, Buffett earned last year.

Buffett’s returns show he made $62.9 million last year, but his taxable income was around $39.8 million. He has said the roughly $23 million difference is thanks to charitable contributions and local taxes.

“Last year my federal tax bill—the income tax I paid, as well as payroll taxes paid by me and on my behalf—was $6,938,744,” Buffett wrote in an op-ed article in the New York Times in August. “That sounds like a lot of money. But what I paid was only 17.4 percent of my taxable income—and that’s actually a lower percentage than was paid by any of the other 20 people in our office. Their tax burdens ranged from 33 percent to 41 percent and averaged 36 percent.”

A tax rate of 17 percent is significantly higher, of course, than a tax rate of 1 percent. But even a tax rate of 1 percent is likely too high of an estimate, Labant’s calculations suggest. Cain’s 9-9-9 plan allows individuals to deduct charitable contributions, and Buffett’s charitable giving almost certainly exceeded $4.9 million.

If that’s the case, as it appears, then Buffett would have paid no income taxes at all last year under the plan, Labant said.

Labant stressed that her calculation required her to make several assumptions, because Buffett hasn’t released his full tax returns and because Cain’s plan lacks specifics in some areas. Several factors, she said, make it impossible to calculate with certainty the exact portion of Buffett’s income that’s derived from capital gains, and therefore the exact figure he’d pay under a 9-9-9 tax code. For instance, Buffett may or may not be subject to the alternative minimum tax, and he may or may not have foreign tax credits created by taxes he paid in other countries. We also don’t know the exact amount of his charitable giving. Nor do we know whether Cain’s plan would exempt all such giving, or make distinctions between different types of contributions, as some tax systems do.

Income taxes aren’t the only taxes Buffett would pay under Cain’s plan. There’s also that 9 percent sales tax. But this, too, would likely hit him less hard than it would hit less affluent Americans. We can’t calculate the exact effect of the sales tax on Buffett without knowing how much he spends each year. But as a general rule, shifting the tax system away from income and toward sales shifts more of the burden onto lower-income Americans. The poor spend a larger share of their earnings than do the rich, because they don’t have the luxury of having extra money to save. (Also, Buffett is said to live quite modestly.)

So, if Buffett thinks he’s getting off easy under the current tax system, he should try life under Cain’s plan. Then he’d really be complaining.

Posted in Chinh Tri Hoa Ky | 1 Comment »

Hàng ngàn người ở N.Y và nhiều thành phố khác của Mỹ đang biểu tình để phản kháng lại sự không công bình trong kinh tế, sự tham lam của các đại công ty và yêu cầu chính phủ quan tâm tới đời sống của 99% người dân thay vì 1% các nhà đại tư bản

Posted by hoangtran204 trên 14/10/2011

Thành phần biểu tình là ai? Những người biểu tình là những người thất nghiệp đã lâu và đang nộp đơn nhiều nơi để kiếm việc làm, hoặc là người có tài chánh cá nhân và gia đình bị túng quẩn, hoặc là người đã bị mất việc làm rồi không có đủ tiền đóng trả góp tiền vay nợ mua nhà, kết quả là họ đã bị ngân hàng tịch thu nhà cửa, hoặc là những sinh viên ra trường 3, 4 năm nay không kiếm được việc làm, hoặc là những người đã bị mất mát tài sản vì sự  sụp đổ của hệ thống tài chánh 2008 và chứng khoán 2009 đã kéo theo sự  mất mát tiền bạc để dành mấy chục năm qua trong các trương mục đầu tư…

Họ đã làm gì và phản đối điều gì? Những người biểu tình đã chiếm ngự  các công viên hơn 4 tuần qua. Họ che các túp lều trong công viên và ngồi chơi sinh hoạt trong công viên, ban đêm đốt lửa trại ăn uống trò chuyện, ca hát;  ban ngày họ đi biểu tình mang theo các biểu ngữ phản đối sự tham lam của các ngân hàng và các tập đoàn đầu tư ;  họ phản đối luôn cả chính phủ đã không đánh thuế quá ít  đối với những người có lợi tức quá cao trong xã hội; họ phản đối chính quyền và quốc hội đã không có biện pháp  gì có hiệu quả nhanh để hồi phục lại nền kinh tế đã suy yếu kéo dài 3, 4 năm nay…

Ai ủng hộ những người biểu tình? Các tổ chức nghiệp đoàn của công nhân, nghiệp đoàn của các thầy cô giáo ở Boston, những bạn bè và khách qua đường, những người sống trong khu vực của thành phố nơi có biểu tình. Những người ủng hộ đã mang thức ăn, nước uống, áo quần, đồ dùng cá nhân,…đến giúp người biểu tình và tham gia vào các cuộc tuần hành. Những người đang có việc làm cũng đóng góp tiền bạc và mua thức ăn quyên tặng người biểu tình, hoặc làm vệ sinh quanh các khu vực công viên…

Chiến lược của người biểu tình là gì?  Họ cố gắng tuân thủ hiến pháp và luật pháp, đa số những người biểu tình rất ôn hòa, sử dụng đúng luật pháp đã quy định về quyền tự  do ngôn luận và quyền biểu tình, tránh đụng chạm với cảnh sát.

Thái độ của chính quyền là gì?  Cảnh sát chỉ giữ trật tự, còn người biểu tình cứ việc biểu tình. Vì luật pháp cho phép người dân được quyền biểu tình, được quyền tự do ngôn luận, phản đối, nên chính quyền thành phố và cảnh sát không thể vi phạm quyền của người biểu tình bằng cách bắt giam người biểu tình.  Các cảnh sát vẫn nói chuyện ôn hòa với người biểu tình trừ phi có vài người biểu tình tỏ ra hùng hổ. Tất cả các cảnh sát đều mặc đồng phục và theo luật pháp thì họ không được mặc thường phục để bắt giữ người biểu tình, không được trà trộn vào người biểu tình để làm cò mồi gây rối nhằm mục đích khuyến dụ cảnh sát đàn áp người biểu tình (giống như  công an ở  Việt Nam đã làm ở Hà Nội). Chính quyền địa phương chỉ biết  tìm các sơ hở  mà người biểu tình vi phạm để lấy cớ bắt giữ  tạm thời trong 24 giờ  và truật xuất người biểu tình ra khỏi công viên. Các sơ hở của người biểu tình là: xả rác trong công viên, ngồi giữa đường cản trở xe cảnh sát, cản trở dòng lưu thông của xe cộ…

Nơi xảy ra  các cuộc biểu tình là ở đâu?  Là các thủ đô của 6 tiểu bang và các thành phố lớn như ở New York, Boston, Detroit, Seattle, Denver,…

Walesa hứa hẹn sẽ tới N.Y để ủng hộ phong trào chiếm

đóng phố Wall

Lech Wałęsa. Ảnh TVN 24

Người đoạt giải Nobel về Hòa bình, lãnh tụ nổi tiếng của Phong trào Đoàn kết (Solidarność), Lech Wałęsa vừa cho Radio Zet biết ông sẽ bay tới New York để ủng hộ  phong trào chiếm đóng phố Wall. Tuy vậy, lịch trình của Wałęsa vẫn chưa được công bố cụ thể, mà chỉ biết là “trong tháng này”.

Lời mời từ N.Y

Phong trào chiếm phố Wall bắt đầu từ giữa tháng Chín và đang có xu hướng lan rộng ở Mỹ. Những người biểu tình đã gửi lời mời tới cựu Tổng thống Wałęsa vài ngày trước đây như sau:

Thay mặt cho hàng ngàn người đang chiếm đóng phố Wall, chúng tôi thỉnh cầu tới ngài, lãnh tụ của Solidarność, hãy đoàn kết với chúng tôi, những sinh viên và những người đang kiếm sống trong các ngành nghề khác nhau của nước Mỹ để phục hồi nền kinh tế nước Mỹ và khôi phục đạo đức trong kinh doanh…”

Hiện hàng ngàn người ở N.Y và nhiều thành phố khác của Mỹ đã biểu tình để phản kháng lại sự bất bình đẳng trong kinh tế, sự tham lam của các đại công ty và yêu cầu chính phủ quan tâm tới đời sống của 99% người dân thay vì 1% các nhà đại tư bản. Họ kêu gọi sự có mặt của Wałęsa.

“Trách nhiệm của giải Nobel”

Hai ngày sau khi nhận được lời mời, Lech Wałęsa nói rằng, việc tới phố Wall là “trách nhiệm của giải Nobel” và ông cho biết sẽ tới N.Y tuy không nói cụ thể là ngày giờ nào.

Ông cũng nói thêm rằng, ông luôn sẵn sàng giúp đỡ những phong trào như vậy.

Từ một công nhân, tranh đấu cho quyền sống của người lao động, ông là người đã lập ra công đoàn độc lập đầu tiên trong khối cộng sản. Ông giành giải Nobel năm 1983 và phong trào Công đoàn Đoàn Kết của ông đã có lúc có tới 10 triệu người tham gia.

Wałęsa là Tổng thống của nước Ba Lan dân chủ từ 1990 tới 1995.

Theo Dziennik Bałtycki và TVN 24

 

*************************************************************

Nhiều cuộc biểu tình đã bùng nổ khắp châu âu nhằm chống lại các ngân hàng và tập đoàn tài chánh ở Rome, thủ đô của nước Ý vào ngày 15-10-2011. Những người biểu tình ở nhiều nước đã chọn lựa ngày thứ  Bảy 15-10-2011 để phản đối chống lại các ngân hàng, các tập đoàn tài chánh và các chính trị gia mà họ đã đổ lỗi là đang làm tàn rụi nền kinh tế toàn cầu và đẩy hàng nhiều triệu người tới nghèo khổ và khó khăn xuyên qua sự tham lam.  Các người biểu tình đang có kế hoạch xuống đường  từ  Sidney của Úc, Frankfurt của Đức, Alaska,  Washington và New York của  Mỹ.

 

Posted in Biểu Tình và Lập Hội, Tự Do ngôn Luận | Leave a Comment »

Hồ sơ Wikileaks: Video LS Lê Công Ðịnh “nhận tội” bị cắt xén

Posted by hoangtran204 trên 14/10/2011

Ðỗ Dzũng/Người Việt

WESTMINSTER (NV)Ðoạn video dài 20 phút về Luật Sư Lê Công Ðịnh “nhận tội” đã bị chính quyền cắt xén rất nhiều, và được chiếu trên đài truyền hình nhà nước Việt Nam VTV vào lúc 7 giờ tối ngày 19 Tháng Tám, 2009, theo công điện ngoại giao do Ðại Sứ Hoa Kỳ Michael Mikhalak gởi từ Hà Nội về Washington D.C.

DANLUAN0100088.jpgLuật Sư Lê Công Ðịnh tại một buổi họp ở Sài Gòn hồi Tháng Năm, 2009, trước khi bị bắt. (Hình: AFP/AFP/Getty Images)

Ðây là một trong bốn đoạn video về bốn người bất đồng chính kiến bị an ninh Việt Nam bắt trước đó hơn hai tháng và bị tố cáo tội “âm mưu lật đổ chính quyền” hoặc “tuyên truyền chống nhà nước.”

Những người bị bắt gồm Luật Sư Lê Công Ðịnh, thạc sĩ Nguyễn Tiến Trung, doanh gia/kỹ sư Trần Huỳnh Duy Thức và cựu trung tá quân đội nhân dân Việt Nam, Trần Anh Kim.

“Cắt xén”

“Ðây là một trong những đoạn video chiếu toàn quốc vào buổi tối, cho thấy nhiều nhà hoạt động địa phương, làm việc với một số người ngoại quốc, nhằm ‘lật đổ chính quyền Việt Nam,’” bản công điện viết.

“Chương trình cho chiếu đoạn video thứ tư của buổi tối hôm đó, một đoạn dài 20 phút, dài một cách bất bình thường đối với một bản tin. Trong tất cả những đoạn phim này – bị cắt xén rất nhiều – khán giả thấy những cá nhân bị bắt trong thời gian từ Tháng Năm đến Tháng Bảy, nhận tội với công an, trong đó có cả Luật Sư Lê Công Ðịnh.”

“Theo nhiều nguồn tin báo chí, những đoạn phim và lời đọc này do Bộ Công An sản xuất, và được Ban Tuyên Giáo Trung Ương gởi tới đài VTV một ngày trước đó, và không giải thích gì cả,” bản công điện viết tiếp.

Bản công điện còn mở ngoặc, rằng: “Ủy ban này do ông Tô Huy Rứa đứng đầu, và ông là ủy viên mới nhất của Bộ Chính Trị.”

Chương trình được phát hình vào lúc có nhiều người xem nhất trong ngày, ban đầu trên đài VTV3, sau đó phát lại trên đài VTV lúc 10 giờ tối và được đưa lên trang web của đài sau đó.

Ðại sứ Hoa Kỳ nhận xét: “Ðoạn phim cuối cùng chiếu phần nhận tội của người được chú ý nhiều nhất, Luật Sư Lê Công Ðịnh, cư dân thành phố Hồ Chí Minh. Ðoạn phim bắt đầu với một tuyên bố hơi khó hiểu từ người đọc, cho rằng đây là ‘một trong nhiều’ mô tả về hoạt động của Luật Sư Lê Công Ðịnh.”

Bản công điện viết tiếp: “Ông Ðịnh nói rằng đã gặp Trần Huỳnh Duy Thức và Nguyễn Sỹ Bình tại Thái Lan, và từng là thành viên đảng Dân Chủ Việt Nam và ‘tuyên truyền chống lại chính quyền Việt Nam.’ Phần lớn đoạn phim bị cắt xén tập trung vào chuyện ông Ðịnh thường xuyên gặp quan chức chính phủ và ngoại giao Mỹ.”

Những người ông Ðịnh nêu tên trong đoạn phim là Thứ Trưởng Ngoại Giao John Negroponte, Ðại Sứ Ủy Ban Tự Do Tôn Giáo Quốc Tế John Hanford, Ðại Sứ Michael Michalak, Tổng Lãnh Sự Ken Fairfax, Tùy Viên Kinh Tế Tổng Lãnh Sự tại TP HCM Douglas Sonnek và Tùy Viên Chính Trị Tổng Lãnh Sự tại TP HCM Katia Bennett.

Bản công điện mở ngoặc: “Một cách lạ lùng, ông Ðịnh không nhắc tới cuộc gặp gỡ với Phó Phụ Tá Ngoại Trưởng đặc trách Ðông Á Thái Bình Dương Scot Marciel hồi Tháng Hai, cũng như Phó Ðại Sứ Virginia Palmer và Tùy Viên Chính Trị Tòa Ðại Sứ Christian Marchant.”

Chi tiết nhất là vụ ông Ðịnh gặp ông Negroponte vào Tháng Chín, 2008, theo bản công điện. Ông Ðịnh nói vị cựu thứ trưởng ngoại giao nói với ông rằng chính phủ Hoa Kỳ quan tâm rất nhiều đến sự phát triển chuyên nghiệp của luật sư ở Việt Nam, bởi vì, nếu không có luật sư tốt thì không thể có một chính phủ tốt làm việc dựa trên luật pháp, bản công điện cho biết.

“Ông Ðịnh nói ông nhận thức rằng – dựa trên quan tâm của Hoa Kỳ để có sự hợp tác giữa hệ thống tòa án và tư pháp của Mỹ và Việt Nam – chính phủ Hoa Kỳ muốn khuyến khích một nền tư pháp độc lập tại Việt Nam, một hệ thống mà không bị đảng Cộng Sản kiểm soát.”

Ðại Sứ Mikhalak nhận xét: “Ông Ðịnh cũng mô tả cuộc gặp gỡ giữa ông Negroponte và lãnh đạo Ðoàn Luật Sư TP HCM. Nếu tách riêng việc này ra, phát biểu của ông Ðịnh là trung lập – và chúng ta chắc chắn không phủ nhận khuyến khích một nền tư pháp độc lập – nhưng khi bị cắt xén, họ (Bộ Công An) làm cho cuộc gặp gỡ giống như là một âm mưu đầy nham hiểm.”

Bị đẩy khỏi Ðoàn Luật Sư

Một bản công điện khác do Tổng Lãnh Sự Ken Fairfax chuyển đi đề cập đến chuyện Ðoàn Luật Sư TP HCM bị ép phải khai trừ Luật Sư Lê Công Ðịnh sau khi ông bị bắt và chuyện giằng co giữa Ðoàn Luật Sư TP HCM với Bộ Tư Pháp Việt Nam trong việc bổ nhiệm nhân sự đứng đầu Liên Ðoàn Luật Sư Việt Nam.

Ông Ken Fairfax nhận xét rằng: “Cuộc đấu đá giữa Bộ Tư Pháp và Ðoàn Luật Sư TP HCM chấm dứt bằng một cuộc giống như ‘đình chiến,’ trong đó Luật Sư Nguyễn Ðăng Trừng vẫn làm chủ tịch Ðoàn Luật Sư và Phó Chủ Tịch Lê Công Ðịnh phải từ chức. Vụ dàn xếp chính trị này, do ông Trừng và Bộ Trưởng Tư Pháp Hà Hùng Cường thỏa thuận, dọn đường công việc thành lập Liên Ðoàn Luật Sư Việt Nam mà người đứng đầu là Luật Sư Lê Thúc Anh, do đảng Cộng Sản bổ nhiệm, và bị Ðoàn Luật Sư TP HCM phản đối vì thiếu kinh nghiệm tư pháp.”

Công điện trích lời Luật Sư Nguyễn Ðăng Trừng cũng nói rằng cuộc “đấu tranh kiên quyết” của ông với Hà Nội qua vấn đề chính trị hóa Liên Ðoàn Luật Sư Việt Nam chấm dứt, ông tiếp tục làm chủ tịch, và các cuộc điều tra về tài chánh và hoạt động doanh nghiệp của ông được chấm dứt. Ðổi lại, ông Trừng chấm dứt chuyện ngăn cản việc bổ nhiệm ông Lê Thúc Anh.

Tuy nhiên, ông Trừng bác bỏ việc “trao đổi” này và nói rằng trong khi luật sư nhân quyền Lê Công Ðịnh từ chối tái ứng cử Ban Chấp Hành Ðoàn Luật Sư TP HCM, ông đã bổ nhiệm ông Ðịnh đứng đầu một trung tâm nghiên cứu tư pháp mới, bản công điện viết.

Trong cuộc thảo luận với tùy viên chính trị Mỹ hôm 6 Tháng Ba, vài ngày trước khi bị bắt, Luật Sư Lê Công Ðịnh có vẻ hài lòng với cuộc tương nhượng và cảm thấy vai trò mới của ông tương đối thoải mái hơn cũng như cảm thấy nhẹ nhõm khi Luật Sư Nguyễn Ðăng Trừng tiếp tục làm chủ tịch, theo bản công điện.

Ông Ðịnh cũng nói rằng Phó Chủ Tịch TP HCM Nguyễn Văn Ðua – con cưng của thành phần bảo thủ trong đảng lúc đó – là người thương thuyết với ông Trừng, bản công điện cho biết tiếp. Sự can dự của ông Ðua cho thấy ông Trừng được sự ủng hộ của “thành phố” trong cuộc đấu tranh của ông với Bộ Trưởng Cường qua vụ bổ nhiệm ông Lê Thúc Anh.

Một trong những lý do ông Trừng “rất thất vọng” với ông Anh, theo bản công điện, vì ông này thiếu kinh nghiệm của một luật sư chuyên nghiệp và thiếu kiến thức về luật quốc tế liên quan đến Việt Nam.

Ðây chính là lý do mà Ðoàn Luật Sư TP HCM từ chối nhận ông Lê Thúc Anh làm hội viên, làm ông phải gia nhập Ðoàn Luật Sư Bà Rịa-Vũng Tàu, một thủ tục bắt buộc để có thể đứng đầu Liên Ðoàn Luật Sư Việt Nam mới thành lập, bản công điện cho biết tiếp.

Trong khi làm việc để thành lập Liên Ðoàn Luật Sư Việt Nam, bản công điện viết, ông Trừng kiên quyết không nhượng bộ và nói rằng, nếu Hà Nội ép, ông sẽ từ chức và không để tổ chức này “trở thành một công cụ” vì hơn một nửa luật sư Việt Nam sống tại và làm việc tại TP HCM.

Bản công điện trích lời ông Trừng nói tương lai thuộc về những luật sư “giỏi và thông minh” như Luật Sư Lê Công Ðịnh, và hy vọng ông Ðịnh sẽ thăng chức khi thời cơ đến, và nói thêm rằng “can đảm không có nghĩa là liều lĩnh một cách không cần thiết.”

Trong khi đó, cũng theo bản công điện, ông Ðịnh rất phấn khởi về trung tâm pháp lý mới mà ông định biến nó trở thành một nơi nghiên cứu và cố vấn pháp luật. Trung tâm này sẽ nghiên cứu luật mới và cải tổ hành chánh cũng như cách gia tăng sự công khai và hiệu quả trong hệ thống hành chánh đối với người dân, một phương cách sẽ có ảnh hưởng lớn đối với chính sách đất đai của chính phủ.

Ông Ðịnh cũng hy vọng trung tâm này sẽ kết hợp với các trung tâm tư pháp quốc tế và khu vực để trao đổi ý kiến và học hỏi kinh nghiệm liên quan đến luật hiến pháp, một đề tài mà ông nghĩ rất quan trọng trong cố gắng cải tổ hệ thống tư pháp Việt Nam.

______________________________

Liên lạc tác giả: DoDzung@nguoi-viet.com

Nguồn: Danluan

 

Posted in Nhan Vat, Tự Do ngôn Luận | Tagged: | Leave a Comment »

Miến Điện ân xá 200 tù chính trị

Posted by hoangtran204 trên 14/10/2011

Miến Điện ân xá hàng trăm tù chính trị

Hôm qua, 12/10/2011 Miến Điện bắt đầu đợt ân xá tù chính trị lớn nhất từ trước tới nay. Trong số 2oo tù nhân chính trị, có lãnh tụ nổi tiếng của phong trào phản kháng 4 năm trước và người nghệ sĩ hài được mệnh danh là Charlie Chaplin của Miến Điện.

Diễn viên hài Zarganar. Ảnh AFP

Diễn viên hài Zarganar bị bắt năm 2008 sau khi công khai chỉ trích việc ứng phó chậm trễ của chính phủ với cơn bão Nargis, khiến hơn 140.000 người thiệt mạng. Ông lĩnh án 59 năm tù giam, sau đó được giảm xuống còn 35 năm!

Ông Zarganar cho hay ông đã cảm thấy như bị bọn hải tặc Somalia bắt cóc. Ông nói ông không mừng về việc được thả ngày hôm nay mà còn buồn bã vì nhiều tù nhân lương tâm vẫn còn bị giam cầm. Ông hối thúc các nhà hoạt động chính trị hãy làm nhiều hơn nói, phải có hành động thật sự, và chính phủ cần thực hiện những cam kết đã đưa ra để xây dựng lại đất nước.

Người tù nổi tiếng khác là nhà sư Aszin Gambir, 27 tuổi, bị kết án 68 năm tù trong phiên tòa hơn 4 năm trước.

Đám đông công chúng đầy phấn kích đã có mặt trước các cửa nhà tù, sân bay, nhà ga… để chào đón các tù nhân chính trị.

Đây là đợt ân xá hơn 6000 tù nhân Miến Điện nhưng đa số là tù hình sự, chỉ có 200 người là tù nhân chính trị. Theo tổ chức Ân xá Quốc tế còn rất nhiều tù nhân chính trị đang bị giam giữ ở Miến Điện.

Theo Wyborcza và VOA

Posted in Tù Chính Trị | Leave a Comment »

►Nợ Công năm 2010, và 2011 – Nợ của các Tập đoàn và Tổng Công Ty do nhà nước bảo lãnh 2010

Posted by hoangtran204 trên 12/10/2011

Nhà nước dấu rất kỷ số nợ công và nợ của doanh nghiệp nhà nước. Các nhà kinh tế và tài chánh trong nước cứ phải dựa vào các nguồn tin do quốc hội, bộ tài chánh đưa ra mỗi lần một mảnh nhỏ, và đúc kết thành các bài báo sau đây:

Đài BBC năm 2006 có bài viết như sau:  Suốt hơn thập kỷ qua, năm sau cao hơn năm trước, các nước cấp viện trợ  đã dành cho Việt Nam nguồn vốn cam kết hàng  chục tỷ đô la. (nguồn)

5 năm sau, vào 28-11-2011, báo chí quốc tế tiếp tục cho biết:
CHXHCN Việt Nam là 1 trong 5 nước lâu nay nhận viện trợ nhiêù nhất thế giới
(nguồn)
Vietnam is one of five countries receiving the biggest ODA (Official Development Assistance) capital in the world.

Các nhà tài chánh và kinh tế trong nước gần đây có viết chút ít về nợ nần của Việt Nam. 5-6 bài báo dưới đây nói về nợ công, và nợ của các tập đoàn và tổng Công Ty do nhà nước bảo lãnh… Mời các bạn đọc và tìm hiểu.

“Ông (Bùi Kiến) Thành nói: Theo báo cáo của Bộ Tài chính vừa công bố, nợ nước ngoài của Việt Nam tính đến tháng 12-201032,5 tỷ USD, tăng từ 27,9 tỷ USD cuối năm 2009; trong đó, nợ trực tiếp của Chính phủ là 27,9 tỷ USD, còn lại là nợ của doanh nghiệp được Chính phủ bảo lãnh (4,6 tỷ đô la).

Năm 2009, nợ trực tiếp của Chính phủ là 23,9 tỷ USD,  nợ của doanh nghiệp được chính phủ bảo lãnh là 3,98 tỷ USD, tổng cộng là 28 tỷ USD, chiếm 41,9% GDP;  (GDP của VN năm 2009 là 90 tỷ. (nguồn)  và ở đây

Theo Bộ Tài chính dự kiến, nợ công năm 2011 khoảng 58,7% GDP.

————————————————————————-

*Theo số liệu từ Ủy ban Giám sát tài chính Quốc gia,

Nợ công năm 200733,8% của GDP, hay 21 tỷ USDGDP của VN vào năm này là 61 tỷ  (nguồn)

2008 nợ công là 36,2% của GDP, hay 29 tỷ USDGDP của VN vào năm này là 85 tỷ

2009 nợ công là 41,9%  của GDP, hay 37 tỷ USD; và GDP của VN vào năm này là 91 tỷ (nguồn)

2010 nợ công là 56,7% của GDP, hay 54 tỷ USD ; GDP của VN vào năm này là 97 tỷ

Dự kiến nợ công năm 2011 khoảng 58,7%của GDP, hay 61 tỷ USD; GDP của VN vào năm 2011 là 104 tỷ (nguồn).

Những con số này cho thấy tỷ lệ nợ công tăng cao và tốc độ tăng nợ công mỗi năm khoảng 5%.”

Các con số trên là chưa tính đến nợ Doanh Nghiệp Nhà Nước, do chính phủ bảo lãnh. 

Trích: Nếu tính cả nợ của Vinashin, theo báo cáo của Bộ Tài chính là 86.000 tỷ, thì nợ của khu vực DNNN đến cuối năm 2009 (không kể chín tập đoàn, tổng công ty chưa có số liệu) đã lên tới 54,2% GDP năm 2009.

++++++++++++++++++++++++++++

Nợ công năm 2011 của Việt Nam tiếp tục tăng

(Dân trí) – Thứ Bẩy, 09/07/2011.  Theo báo cáo của Cục Quản lý nợ và Tài chính đối ngoại, tính đến ngày 31/12/2010, tổng số dư nợ công ở mức 1.122 nghìn tỷ đồng (= 56,1 tỉ đô la Mỹ), tương đương 56,7% GDP năm 2010, và dự kiến tổng số nợ công sẽ ở mức khoảng 1.375 nghìn tỷ đồng (69 tỷ  US đô la) , bằng khoảng 58,7% GDP năm 2011.

Cũng theo báo cáo này, ước tổng số dư nợ nước ngoài của quốc gia ở mức 835 nghìn tỷ đồng (42 tỷ US đô la), bằng 42,2% GDP năm 2010 và dự kiến nợ nước ngoài của quốc gia sẽ ở mức 44,5% GDP năm 2011.

Như vậy, các chỉ số trên vẫn trong giới hạn an toàn như theo Quyết định số 211/2004/QĐ-TTg ngày 14/12/2004 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt định hướng phát triển tài chính Việt Nam đến năm 2010.

Ngoài ra, theo khuyến cáo của một số nhà kinh tế và kinh nghiệm của một số nước thì nợ công ở mức 60% GDP là giới hạn an toàn.

Mặc dù vậy, xu hướng gia tăng các khoản nợ công và nợ nước ngoài của quốc gia là đáng lưu ý ( gần13 tỷ  US đô la), đặc biệt khoản vay nước ngoài của các doanh nghiệp trong những tháng đầu năm 2011 do chính sách tiền tệ, tín dụng trong nước thắt chặt, huy động vốn trong nước khó khăn… ( theo Sơn Ngọc)

***************************************

Trong bài báo 3 Rủi Ro Lớn từ  Nợ Công của Việt Nam (ở cuối bài nầy)

Nếu như vào năm 2001, nợ Chính phủ mới chỉ là 11,5 tỉ USD, thì đến 2010 đã lên tới 55,2 tỉ USD. Trong giai đoạn này nợ Chính phủ tăng trung bình khoảng 20%/năm, gấp ba lần tăng trưởng GDP. Nợ của Doanh Nghiệp Nhà Nước (100 tập đoàn và tổng công ty)  còn tăng nhanh hơn, nhất là trong vòng 5 năm trở lại đây, từ khi hàng loạt tập đoàn nhà nước ra đời.”

Trong một bài báo khác có tựa để Cảnh Báo Nợ của Doanh Nghiệp Nhà Nước, tác giả Vũ Thành Tự An, nguồn  Theo Thời Báo Kinh Tế Sài Gòn

“…Trong năm 2009, theo báo cáo của Chính phủ gửi Quốc hội ngày 1/11/2010 thì nợ của 81/91 tập đoàn, tổng công ty nhà nước (chưa tính Vinashin) là 813.435 tỷ đồng (41 tỉ đô la), tương đương với 49% GDP.

Theo Uỷ Ban Tài Chính quốc gia, nợ của DNNN năm 2009 có hơi khác một chút. Trích: Nếu tính cả nợ của Vinashin, theo báo cáo của Bộ Tài chính là 86.000 tỷ (4,3 tỉ đô la), thì nợ của khu vực DNNN đến cuối năm 2009 (không kể chín tập đoàn và tổng công ty chưa có số liệu) đã lên tới 54,2% GDP năm 2009.”, GDP của năm 92 tỷ USD, vậy nợ DNNN năm 2009 là 50 tỷ USD.  (bài của Vũ Thành Tự An)

Tổng cộng   Nếu như vào năm 2001 nợ Chính phủ mới chỉ là 11,5 tỉ USD, thì đến 2010 đã lên tới 55,2 tỉ USD +  nợ DNNN năm 2009 là 50 tỷ USD  = 105,2 tỷ USD 


*********************************


3 rủi ro lớn từ nợ công của Việt Nam

Tác giả: Nguyên Hằng (thực hiện)

Bài đã được xuất bản: 03/10/2011

Nợ công của Việt Nam hiện có nhiều rủi ro: do chi tiêu và đầu tư công kém hiệu quả; một bộ phận rất lớn nợ công của các DNNN chưa được thống kê và nợ công tăng quá nhanh, trong khi thâm hụt ngân sách luôn ở mức rất cao – TS. Vũ Thành Tự Anh, cảnh báo.

Chi tiêu quá mức nhưng đầu tư lại kém hiệu quả đã khiến nợ công của VN tăng nhanh. Tiến sĩ Vũ Thành Tự Anh (ảnh), Giám đốc nghiên cứu của Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright, trao đổi với báo giới.

– Tăng trưởng giảm nhưng nợ công của Việt Nam vẫn tăng liên tục trong những năm qua, ông lý giải thế nào về nghịch lý này?

TS. Vũ Thành Tự Anh: Khi đầu tư của Chính phủ vượt quá sức chịu đựng của ngân sách thì sẽ phải đi vay. Tỷ lệ đầu tư của VN trong những năm qua trung bình từ 40-42% GDP, trong đó khu vực công chiếm khoảng 45%. Tỷ lệ đầu tư lớn, tăng liên tục nhiều năm trong khi ngân sách luôn ở tình trạng thâm hụt “báo động đỏ” (trên 5% GDP) khiến Chính phủ phải đi vay nợ. Điều đó là nguyên nhân khiến tỷ lệ nợ công ngày càng tăng.

Nhiều ý kiến cho rằng con số thống kê nợ công của ta chưa đầy đủ, quan điểm của ông về việc này?

Cái gọi là nợ công ở ta hiện thực chất mới chỉ là nợ của Chính phủ. Theo thông lệ quốc tế, nợ công phải bao gồm cả nợ của doanh nghiệp nhà nước (DNNN). Sở dĩ nhiều nước có nợ Chính phủ và nợ công gần như đồng nhất vì khu vực DNNN của họ rất nhỏ. Còn ở VN, nợ của DNNN có quy mô xấp xỉ với nợ của Chính phủ nên không được phép loại nó ra khỏi nợ công. Vì suy cho cùng, nếu DNNN không trả được nợ thì ngân sách cũng phải gánh.

Ví dụ, theo báo cáo của Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương, đầu tư dự kiến của 22 trên tổng số gần 100 tập đoàn, tổng công ty nhà nước trong năm này là 350.000 tỉ đồng, tương đương 17% GDP. Nếu tính tất cả gần 100 tập đoàn, tổng công ty thì quy mô đầu tư là khổng lồ, mà một tỷ lệ lớn trong số này là đi vay. Có nghĩa là số liệu nợ công theo công bố thấp hơn thực tế.

– Vậy nếu thống kê đầy đủ, nợ công của ta có nằm trong vùng rủi ro?

Theo tôi, nợ công của ta hiện nay có nhiều rủi ro. Rủi ro lớn nhất xuất phát từ việc chi tiêu và đầu tư công kém hiệu quả. Rủi ro thứ hai là một bộ phận rất lớn nợ công của các DNNN chưa được đưa vào trong các thống kê về nợ công. Khi không đo lường được và không hiểu hết “tảng băng chìm” này thì cũng không thể quản lý rủi ro mà nó có thể gây ra. Rủi ro thứ ba là nợ công tăng quá nhanh, trong khi thâm hụt ngân sách luôn ở mức rất cao. Điều này vi phạm một nguyên tắc cơ bản của quản lý nợ công, đó là nợ ngày hôm nay phải được trang trải bằng thặng dư ngân sách ngày mai.

– Nhưng không thể phủ nhận vai trò quan trọng của vay nợ với một nước đang phát triển như Việt Nam?

Một nước đang phát triển thường có nhu cầu đầu tư rất lớn, trong khi tỷ lệ tiết kiệm lại hạn chế nên việc vay nợ là điều bình thường. Vấn đề là đầu tư như thế nào để phát huy hiệu quả, đồng thời không ảnh hưởng tiêu cực tới ổn định vĩ mô.

Về ổn định vĩ mô, có thể nói chính sách tài khóa của chúng ta trong một thời gian dài đã mắc vào một sai lầm cơ bản, đó là “thuận chu kỳ”. Nghĩa là khi cả nền kinh tế hào hứng đầu tư, thay vì điềm tĩnh giảm bớt đầu tư công thì Chính phủ cũng lại hào hứng theo. Vì thế, khi kinh tế suy giảm, Chính phủ không có đủ nguồn lực để kích thích vì túi đã thủng quá sâu. Khi ấy, kích thích kinh tế phải trả cái giá rất đắt, đó là nền kinh tế lún sâu vào thâm hụt ngân sách, đồng tiền mất giá, lạm phát rình rập.

Ví dụ, lượng hàng thực tế qua hệ thống cảng Thị Vải – Cái Mép hiện chưa đến 20% công suất thiết kế nhưng Nhà nước vẫn đầu tư tới bốn cảng, trong đó ba cảng là liên doanh của Saigon Port, cảng còn lại do PMU 85 của Bộ Giao thông vận tải làm đại diện chủ đầu tư với vốn vay ODA khoảng 330 triệu USD. Câu hỏi đặt ra là, khi tư nhân hào hứng bỏ tiền vào cảng, Nhà nước có cần thiết phải đầu tư xây cảng để cạnh tranh? Lẽ ra, thay vì cạnh tranh với tư nhân, Nhà nước nên xây đường dẫn và hệ thống logistic.

– Vậy ông đánh giá thế nào về kết quả của việc cắt giảm đầu tư công tính đến thời điểm này?

Chính phủ đã có chủ trương kiên quyết cắt giảm đầu tư công, nhưng trên thực tế đầu tư công vẫn tăng cao. Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách nhà nước trong 9 tháng đầu năm 2011 là 131.364 tỉ đồng, tăng gần 24% so với cùng kỳ năm trước. Điều này cho thấy, kỷ luật đầu tư công hiện đang rất lỏng.

Một vấn đề nữa là cắt giảm trong nhiều trường hợp không đúng ưu tiên. Có những dự án rất quan trọng, sắp hình thành nhưng lại bị cắt giảm đột ngột. Ví dụ như dự án xây dựng bệnh viện cấp vùng ở Tiền Giang để giảm tải cho bệnh viện trung ương.

– Tại sao có tình trạng cái cần cắt thì ưu tiên, cái cần đẩy nhanh tiến độ lại bị cắt?

Vấn đề là ưu tiên thường chạy theo mối quan hệ lợi ích hay ưu ái người có tiếng nói. Trong trường hợp vừa kể trên thì tiếng nói của người nông dân hay doanh nghiệp ở ĐBSCL không thể so được với các tập đoàn nhà nước hay các nhóm khác. Cần hiểu, nếu để xảy ra và tồn tại mối quan hệ chặt chẽ giữa các nhóm đặc quyền đặc lợi và những người làm chính sách thì sẽ dẫn đến các hành vi tham nhũng hoặc trục lợi.

– Vậy làm thế nào để cắt giảm đầu tư công hiệu quả, và rộng hơn, làm thế nào để chính sách tài khóa thực sự đóng góp vào chống lạm phát?

Đầu tiên là cần phải thiết lập lại kỷ luật tài khóa. Thứ hai, giảm thâm hụt ngân sách không phải bằng việc tăng thu (hay tận thu) như hiện nay mà là giảm chi trên cơ sở tăng hiệu quả chi tiêu. Thứ ba, các khoản thu vượt dự toán không được dùng để tăng chi tiêu mà phải được dùng để bù thâm hụt ngân sách. Thứ tư, cần kiên quyết thu hồi các khoản đầu tư ra ngoài ngành của các tập đoàn, tổng công ty nhà nước.

Về lâu dài, phải tiến hành cải cách cơ cấu và thay đổi mô hình tăng trưởng vốn đã trở nên lạc hậu, cản trợ các động lực tăng trưởng mới của nền kinh tế.

(Theo Thanh Niên)

***************************************

Cảnh báo nợ của doanh nghiệp nhà nước

Vũ Thành Tự Anh

Theo báo cáo của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, tính đến 31/12/2008, tổng dư nợ nội địa của các tập đoàn, tổng công ty nhà nước là 287.000 tỷ đồng. Nếu tính cả nợ nước ngoài thì đến cuối 2008, tổng nợ của khu vực doanh nghiệp nhà nước (DNNN) xấp xỉ 23,9% GDP.

Trong năm 2009, theo báo cáo của Chính phủ gửi Quốc hội ngày 1/11/2010 thì nợ của 81/91 tập đoàn, tổng công ty nhà nước (chưa tính Vinashin) là 813.435 tỷ đồng, tương đương với 49% GDP.  (813.435 tỉ đồng VN = 41 tỷ đô la Mỹ)

Nếu tính cả nợ của Vinashin, theo báo cáo của Bộ Tài chính là 86.000 tỷ, thì nợ của khu vực DNNN đến cuối năm 2009 (không kể chín tập đoàn, tổng công ty chưa có số liệu) đã lên tới 54,2% GDP năm 2009.

(ghi chú của TH:  tạm cho hối suất 1 đô la Mỹ = 20000 đồng VN, thì  86.000 tỷ đồng VN = 4,3 tỉ đô la Mỹ. Như vậy, đến năm 2009,  nợ của các tập đoàn và tổng công ty nhà nước là 41 tỷ + 4,3 tỷ  = 45,3 tỷ đô la Mỹ)

Rõ ràng là nợ của cả DNNN và Chính phủ đều tăng rất nhanh trong một thời gian rất ngắn, trong đó mức tăng nợ của khu vực DNNN thật sự đáng lo ngại.

Nếu nhìn vào con số tuyệt đối, sau khi trừ đi các khoản nợ nước ngoài và với những tính toán thận trọng nhất thì trong năm 2009, khu vực DNNN chiếm không dưới 60% trong tổng tín dụng nợ nội địa tăng thêm của toàn nền kinh tế. Đây là bằng chứng cho thấy các DNNN là đối tượng được hưởng lợi nhiều nhất từ chương trình hỗ trợ lãi suất và kích cầu của Chính phủ năm 2009.

Việc nợ của DNNN và nợ của Chính phủ đang ở mức khá cao, đồng thời tăng rất nhanh đòi hỏi phải sớm có những biện pháp quản lý nợ công hiệu quả.

85530_91.jpg

GDP của năm 2008 là  85 tỷ USD  ;   GDP của năm 92 tỷ USD

Nợ của doanh nghiệp nhà nước từ 23,9 %  (20 tỷ USD), lên 54,2% (50 tỷ USD);  2008 đến 2009.

Nợ công, hay nợ của chính phủ từ 36,2% (38 tỷ USD), lên 44.75%  (41 tỷ USD)

——————————————————————————————————–

Tổng cộng nợ trong năm 2008 là 58 tỷ USD  và qua đến  2009 là    91 tỷ USD
Nội dung quan trọng nhất trong quản lý nợ công là quản lý rủi ro.

Đầu tiên là rủi ro thị trường – chủ yếu liên quan đến sự thăng giáng thất thường của thị trường. Với viễn cảnh phục hồi đầy bất trắc, cộng thêm sự lan tỏa khủng hoảng nợ trên thế giới, thị trường có thể không mặn mà với trái phiếu chính phủ, đặc biệt là đối với những quốc gia có mức tín nhiệm tín dụng thấp và triển vọng tiêu cực. Phương pháp chủ yếu để hạn chế rủi ro thị trường là đảm bảo sự linh hoạt về thời điểm, cấu trúc, và các điều khoản của việc phát hành nợ.

Thứ hai là rủi ro lãi suất. Rủi ro này chủ yếu xảy ra đối với các khoản nợ có lãi suất thả nổi hoặc không được phòng vệ. Vì tỷ lệ nợ chính phủ với lãi suất thả nổi của Việt Nam còn thấp nên rủi ro lãi suất không phải là điều lo ngại trước mắt. Tuy nhiên, vì Việt Nam đã trở thành một nước thu nhập trung bình nên tỷ trọng các khoản vay thương mại sẽ tăng. Vì lãi suất thương mại thường cao và biến động mạnh hơn lãi suất ưu đãi nên trước khi phát hành nợ, Chính phủ và các doanh nghiệp sẽ ngày càng phải cân nhắc nhiều hơn tới rủi ro lãi suất.

Thứ ba là rủi ro về dòng tiền. Cho đến nay, nợ ngắn hạn chiếm chưa tới 15% trong tổng nợ chính phủ của Việt Nam. Tuy nhiên, việc tỷ lệ nợ ngắn hạn trên dự trữ ngoại tệ đang tăng lên sẽ đòi hỏi Bộ Tài chính phải hết sức thận trọng trong hoạt động quản lý nợ của mình.

Thứ tư là rủi ro về tỷ giá. Hiện nay khoảng một phần ba nợ chính phủ của Việt Nam là bằng đồng yen, vì vậy nếu đồng yen vẫn tiếp tục xu thế lên giá như hiện nay thì gánh nặng nợ nần cũng gia tăng theo. Tương tự như vậy, với sức ép của Mỹ và EU, xu thế đồng nhân dân tệ tăng giá là khó tránh khỏi.

Trong khi đó, tín dụng thương mại bằng nhân dân tệ, đặc biệt là trong các dự án cơ sở hạ tầng và công nghiệp nặng ở Việt Nam đang tăng lên một cách nhanh chóng. Chính phủ cũng như doanh nghiệp vì vậy cần rất thận trọng khi đi vay bằng nhân dân tệ.

Cuối cùng, rủi ro lớn nhất có lẽ nằm ở hoạt động… quản lý rủi ro nợ công! Cho đến nay, từ Bộ Tài chính cho đến các DNNN đều chưa coi trọng đúng mức việc phân tích, đánh giá, và có biện pháp hiệu quả nhằm hạn chế rủi ro khi phát hành nợ.

Cần lưu ý rằng vì nợ của DNNN và nợ của Chính phủ có tính chất và cấu trúc khác nhau nên cần có những biện pháp quản lý rủi ro thích hợp. Tuy nhiên, dù nợ ở cấp độ nào thì cũng phải tuân thủ một số nguyên lý cơ bản: không nên chấp nhận rủi ro khi không có biện pháp hữu hiệu để thấu hiểu và quản lý nó; không nên chấp nhận một mức độ rủi ro vượt quá một ngưỡng an toàn; và không nên chấp nhận rủi ro nếu không có một sự đền bù thỏa đáng.

Khi bỏ qua những nguyên lý hết sức giản dị nhưng cơ bản này, một doanh nghiệp có thể rơi vào tình trạng khó khăn, thậm chí mất khả năng trả nợ, từ đó ảnh hưởng tiêu cực đến các doanh nghiệp khác cũng như toàn bộ nền kinh tế. Trường hợp Vinashin mới đây là một ví dụ điển hình. Tương tự như vậy, một nền kinh tế cần có chiến lược quản lý rủi ro nợ tốt để tránh đưa đất nước rơi vào gánh nặng nợ nần.

___________________________________

(*) Chương trình Giảng dạy kinh tế Fulbright

http://danluan.org/node/8129

—–

Việt Nam xếp thứ 9 trong danh sách 18 quốc gia có khả năng vỡ nợ cao nhất thế giới

Bất ổn chính trị ở Trung Đông đang làm thay đổi khẩu vị của các nhà đầu tư, buộc họ tăng cường nghiên cứu và mua bảo hiểm tại các quốc gia có mức độ rủi ro lớn.

Khảo sát mới nhất của Business Insider dựa trên dữ liệu lấy từ hãng CMA Datavision và Bloomberg, cho thấy các nước châu Âu vẫn còn nằm trong tầm ngắm của các nhà đầu tư. Tuy nhiên, họ bày tỏ rất ít sự tin tưởng vào việc lãnh đạo các nước Eurozone sẽ tìm ra được giải pháp ổn định tình hình cho khu vực.

Trong khi châu Âu và Trung Đông đang là tâm điểm chú ý tại thời điểm này, thì một vài nguy cơ vẫn còn hiện hữu ở các quốc gia khác, bao gồm cả các đại gia vùng Nam Mỹ.

Các quốc gia trong danh sách này được sắp xếp theo phí đảm bảo cho các hợp đồng hoán đổi rủi ro tín dụng (Credit Default Swap – CDS). CDS là một dạng chứng khoán phái sinh, tương tự với một hợp đồng bảo hiểm. Khi tham gia vào CDS, người mua CDS trả cho người bán một khoản phí để được bảo hiểm cho rủi ro vỡ nợ tín dụng xảy ra khi một bên thứ ba rơi vào trường hợp vỡ nợ. Thị trường giao dịch CDS dựa trên những gói quy chuẩn là 10 triệu USD cho một hợp đồng.

18. Tây Ban Nha

Phí bảo hiểm vỡ nợ cho hợp đồng 5 năm: 245,91 (điểm)

Sự việc gần đây nhất: Tây Ban Nha tiếp tục là trung tâm của cuộc khủng hoảng nợ công tại châu Âu và hiện đang trong quá trình tái cơ cấu hệ thống ngân hàng.

17. Bungary

Phí bảo hiểm vỡ nợ cho hợp đồng 5 năm: 248,28

Sự việc gần đây nhất: Bungary vừa phải áp dụng các biện pháp thắt lưng buộc bụng trong một cuộc chiến nhằm chống lại thâm hụt tài chính.

16. Iceland

Phí bảo hiểm vỡ nợ cho hợp đồng 5 năm: 254,46

Sự việc gần đây nhất: Iceland vẫn còn đang vật lộn với cuộc khủng hoảng tài chính gây ra bởi cuộc khủng hoảng ngân hàng.

15. Lithuania

Phí bảo hiểm vỡ nợ cho hợp đồng 5 năm: 260,00

Sự việc gần đây nhất: Sau sự suy thoái tồi tệ trong cuộc khủng hoảng tài chính, Lithuania đã bắt đầu tăng trưởng trở lại với tốc độ 4,8% trong quý 4/2010.

14. Rumani

Phí bảo hiểm vỡ nợ cho hợp đồng 5 năm: 285,00

Sự việc gần đây nhất: Suy thoái kinh tế tại Rumani vẫn còn tiếp tục trong năm 2010 với GDP giảm 1,3%.

13. Croatia

Phí bảo hiểm vỡ nợ cho hợp đồng 5 năm: 286,32

Sự việc gần đây nhất: Croatia đang phải hứng chịu làn sóng biểu tình chống chính phủ trong khi vẫn còn đang phải vật lộn với cuộc khủng hoảng tài chính.

12. Hungary

Phí bảo hiểm vỡ nợ cho hợp đồng 5 năm: 304,19

Sự việc gần đây nhất: Hungary đã bị hạ mức tín nhiệm vào tháng 12/2010 và vẫn đang phải đấu tranh với các vấn đề tài chính. Chính phủ Hungary cũng vừa tuyên bố những kế hoạch mới vào tuần trước.

11. Bahrain

Phí bảo hiểm vỡ nợ cho hợp đồng 5 năm: 313,65

Sự việc gần đây nhất: Bahrain cũng đang phải hứng chịu các cuộc biểu tình phản đối như các nước Trung Đông và phải giải quyết với số đông cộng đồng người Shiite lãnh đạo phong trào biểu tình này.

10. Li-băng

Phí bảo hiểm vỡ nợ cho hợp đồng 5 năm: 360,00

Sự việc gần đây nhất: Li-băng hiện cũng đang chứng kiến nhiều vụ biểu tình chống đối và chính biến.

9. Việt Nam

Phí bảo hiểm vỡ nợ cho hợp đồng 5 năm: 365.00 (điểm)

Biến động gần đây nhất: Việt Nam đã buộc phải phá giá tiền đồng của mình trong một nỗ lực giải quyết các vấn đề nợ của mình.

8. Ai Cập

Phí bảo hiểm vỡ nợ cho hợp đồng 5 năm: 370,00

Sự việc gần đây nhất: Người dân Ai Cập vừa lật đổ tổng thống và hiện nước này đang được lãnh đạo bởi lực lượng quân đội.

7. Dubai

Phí bảo hiểm vỡ nợ cho hợp đồng 5 năm: 455,00

Sự việc gần đây nhất: Nguồn cung bất động sản thừa thãi tại Dubai hiện đang đe dọa nghiêm trọng đến sự ổn định của toàn quốc gia này.

6. Ukraine

Phí bảo hiểm vỡ nợ cho hợp đồng 5 năm: 460,75

Sự việc gần đây nhất: Ukraine tăng trưởng chậm chạp trong quý 4/2010 nhưng dự kiến mức này sẽ đạt 4 – 5% trong năm 2011.

5. Bồ Đào Nha

Phí bảo hiểm vỡ nợ cho hợp đồng 5 năm: 460,88

Sự việc gần đây nhất: Bồ Đào Nha có lẽ sẽ thiếu đến 20 tỉ euro để trả cho các chi phí năm 2011.

4. Ireland

Phí bảo hiểm vỡ nợ cho hợp đồng 5 năm: 569,88

Sự việc gần đây nhất: Ireland tiếp tục phải vật lộn với cuộc khủng hoảng hệ thống ngân hàng với hệ quả là gánh nặng về những khoản vay không phát huy được hiệu quả và gói cứu trợ của EU-IMF đang đè nặng lên chính phủ.

3. Argentina

Phí bảo hiểm vỡ nợ cho hợp đồng 5 năm: 646,47

Sự việc gần đây nhất: Nhiều năm sau khủng hoảng, Argentina vẫn còn đang phải chịu mức lạm phát cao (gần 11% cho tháng 12/2010).

2. Hy Lạp

Phí bảo hiểm vỡ nợ cho hợp đồng 5 năm: 956,27

Sự việc gần đây nhất: Hy Lạp gần đây lại chịu thêm một làn sóng phản đối nữa do các chính sách thắt lưng buộc bụng của chính phủ.

1. Venezuela

Phí bảo hiểm vỡ nợ cho hợp đồng 5 năm: 1.170,92

Sự việc gần đây nhất: Sản xuất dầu mỏ tại Venezuela đang bị suy giảm và đe dọa đến khả năng trả nợ của chính phủ nước này.

(Ghi chú: Bài viết trên đây có nguồn từ báo VnExpress trong nước, dịch lại từ Business Insider, nhưng VnExpress đã bỏ tên nước Việt Nam ra khỏi danh sách 18 nước. Dân Luận đã dịch bổ sung đoạn về Việt Nam.)

—-

Xem bài viết http://www.businessinsider.com/count…ch-2011-3?op=1

Link trên là bài gốc, tựa: The 18 Countries Most Likely To Default, trong bài đó, nước CHXHCNVN chình ình ở vị trí thứ 9, với minh họa là rừng cờ đỏ và hình bác kính yêu.

Còn đây là bài dịch của vnexpress:

coi ở đây :

Những quốc gia có khả năng vỡ nợ cao nhất thế giới

http://vnexpress.net/gl/kinh-doanh/q…nhat-the-gioi/ (link nầy đã bị xóa)

Trong bài báo gốc có 18 nước có khả năng vỡ nợ, sau khi VNExpress  xào nấu, thì chỉ còn 17 quốc gia có khả năng vỡ nợ;  nước Việt Nam không nằm trong danh sách đó!

trích   http://www.x-cafevn.org/forum/showthread.php?t=358&page=1081

*Việc bỏ bớt tên nước VN ra khỏi danh sách có thể  là cách luồn lách của một số báo chí VN nhằm đưa các tin quan trọng đến bạn đọc mà không bị kiểm duyệt. Xin nhớ rằng báo chí trong nước đang nằm dưới sự kiểm duyệt và chỉ đạo của bộ Thông Tin và Tuyên Truyền. Một số nhà báo VN rất có lòng, nhưng họ cần có tiền để nuôi gia đình. Làm công việc lọc bỏ như vậy là không lương thiện, họ cũng biết đó là việc làm đáng xấu hổ lắm, nhưng dịch đúng sự thật thì bài báo sẽ không được đăng. Tổng Biên Tập sẽ loại ngay bài ấy.

Có người nói rằng: Muốn nhận ra sự thật trên báo chí, chỉ cần tin ngược lại với những gì báo chí đang viết…và cố gắng tìm bài báo gốc (ở báo nước ngoài).

——–

Bổ Sung:

Việt Nam nợ nước ngoài bao nhiêu? In Email
Thứ hai, 14 Tháng 3 2011 09:16

Phải nói ngay rằng bài này không có mục đích bàn về kinh tế, nhưng chỉ mượn bài viết của bác Vũ Thành Tự Anh để bàn về cách trình bày con số thống kê kinh tế và ý nghĩa của những con số đó.  Đọc bài của Tự Anh mấy lần, nhưng tôi không cách gì hiểu được bởi vì những con số trong đó cứ nhảy nhót tứ tung cả.

Giới kinh tế gia là bậc thầy của thống kê. Họ nói cái gì cũng có con số kèm theo.  Họ rất thích con số phần trăm.  Phần trăm tăng trưởng.  Phần trăm GDP.  Nhưng thú thật, nhiều khi đọc qua những con số quá lớn, tôi không có cảm giác gì cả.  Chẳng hạn như có con số nói rằng các doanh nghiệp Nhà nước Việt Nam đang nợ 300,000 tỉ đồng (chỉ là ví dụ), thì làm sao tôi có thể hình dung ra qui mô đó lớn như thế nào.  Thành ra, phải qui ra con số phần trăm của GDP thì dễ hiểu hơn.  Hóa ra, con số tỉ trọng nợ trên GDP là một chỉ tiêu quan trọng để đánh giá nguy cơ một quốc gia sẽ vỡ nợ.  Do đó, con số của nhà kinh tế rất quan trọng, cần phải xem xét cho thật kĩ để hiểu vấn đề.

Theo báo chí thì Việt Nam là nước có nguy cơ cao bị vỡ nợ vì các doanh nghiệp thuộc Nhà nước quản lí thiếu nợ nhiều quá.  Một cách để biết qui mô thiếu nợ là thể hiện số tiền thiếu nợ nước ngoài như là một tỉ lệ của GDP. Tuy nhiên, đọc bài báo trên Thời báo Kinh tế Sài Gòn thì tôi vẫn chẳng biết Việt Nam thiếu nợ bao nhiêu, vì cách trình bày con số quá rối rắm, và có khi không hợp lí.  Dưới đây là vài lí giải tại sao có những con số không hợp lí:

1.  Chúng ta thử đọc xem năm 2008, các doanh nghiệp Nhà nước nợ bao nhiêu.  Vào đầu, Tự Anh viết “[…] tính đến 31-12-2008, tổng dư nợ nội địa của các tập đoàn, tổng công ty nhà nước là 287.000 tỉ đồng. Nếu tính cả nợ nước ngoài thì đến cuối 2008, tổng nợ của khu vực doanh nghiệp nhà nước (DNNN) xấp xỉ 23,9% GDP.”  Câu này thì tôi hiểu như sau: đến cuối năm 2008, số tiền mà các DNNN nợ chiếm xấp xỉ 24% GDP của Việt Nam.  Nhưng 24% là bao nhiêu USD?  Theo nguồn này thì GDP của Việt Nam năm 2008 là 84.98 tỉ USD.  Như vậy, tính đến cuối năm 2008 các DNNN nợ 20.31 tỉ USD.

2.  Bây giờ chúng ta xem qua con số của năm 2009.  Bài báo cho biết: “Trong năm 2009, theo báo cáo của Chính phủ gửi Quốc hội ngày 1-11-2010 thì nợ của 81/91 tập đoàn, tổng công ty nhà nước (chưa tính Vinashin) là 813.435 tỉ đồng, tương đương với 49% GDP. Nếu tính cả nợ của Vinashin, theo báo cáo của Bộ Tài chính là 86.000 tỉ, thì nợ của khu vực DNNN đến cuối năm 2009 (không kể chín tập đoàn, tổng công ty chưa có số liệu) đã lên tới 54,2% GDP năm 2009.”

Tôi hiểu câu này như sau: đến cuối năm 2009, số tiền mà các tập đoàn DNNN nợ là 813,435 + 86,000 = 899,435 tỉ đồng, chiếm 54.2% GDP của Việt Nam.  Suy ra, GDP của Việt Nam trong năm 2009 là 1,659,474 tỉ đồng (hay khoảng 83 tỉ USD, tính theo 1 USD = 20,000 đồng), thấp hơn 2008 (84.98 tỉ USD)!

Con số GDP [83 tỉ USD] này xem ra không hợp lí, bởi vì chúng ta biết rằng kinh tế Việt Nam tăng trưởng hàng năm từ 6 đến 8%. Thật vậy, theo số liệu của Bộ Ngoại giao Mĩ GDP của VN năm 2009 là 92.6 tỉ USD. Con số có vẻ hợp lí hơn là 83 tỉ USD, vì nó thể hiện tăng 9% so với 2008. Nhưng chúng ta vẫn phải dè dặt vì con số này không xuất phát từ nguồn chính thức của Việt Nam.

Vấn đề do đó đặt ra là con số nợ là đúng hay con số GDP sai? Giả dụ như con số về nợ là đúng thì tính đến năm 2009, các doanh nghiệp Nhà nước nợ 44.97 tỉ USD.  Thử đặt vào một bảng số liệu để dễ hiểu:

  2008 2009 Tỉ lệ tăng trưởng
GDP (tỉ USD) 84.98 92.60 9 %
Nợ của DNNN (tỉ USD) 20.31 44.97 122 %

Như vậy, chỉ trong vòng 1 năm mà số tiền nợ của DNNN tăng hơn 2 lần. Có lẽ chính vì thế mà giới tài chính quốc tế đánh giá Việt Nam là một trong 18 nước có nguy cơ vỡ nợ cao.

3.  Bài báo có kèm theo một biểu đồ để minh họa, nhưng cách trình bày dữ liệu thì rất rối rắm.  Trục tung của biểu đồ là phần trăm (tỉ trọng GDP).  Trục hoành là năm.  Mỗi bar có 2 phần: phần dưới thể hiện nợ của DNNN, và phần trên là “Nợ của chính phủ”. Con số nợ của DNNN trong năm 2008 và 2009 (23.9% và 54.2%) được đề cập trong bài viết. Nhưng con số nợ của Chính phủ (36.2% bà 44.7%) thì hoàn toàn không được đề cập trong bài viết! Trình bày con số trong biểu đồ mà không có diễn giải là một “đại kị” trong khoa học.

 

Tôi không hiểu được biểu đồ này nói lên điểm gì.  Con số 36.2% và 44.7% đề cập cụ thể đến cái gì?  Nếu cộng 2 con số nợ của DNNN và nợ của chính phủ lại thì năm 2009, tổng số nợ chiếm 98.9% GDP sao? Nợ đến mức đó thì vỡ nợ rồi!  Khó hiểu quá.

Ngoài ra, đường nối giữa hai con số có nghĩa là gì?  Cần nói thêm rằng một qui ước chung trong khoa học là không ai dùng biểu đồ để thể hiện những con số đã đề cập trong văn bản cả, vì làm như thế là thừa.

Bài viết còn có một thông tin mà tôi không cách gì hiểu nổi.  Đó là đoạn “Nếu nhìn vào con số tuyệt đối, sau khi trừ đi các khoản nợ nước ngoài và với những tính toán thận trọng nhất thì trong năm 2009, khu vực DNNN chiếm không dưới 60% trong tổng tín dụng nợ nội địa tăng thêm của toàn nền kinh tế”.  Phần tô đậm là phần tôi không hiểu nổi.  “Tổng tín dụng nợ nội địa” là gì?  Chắc chắn phải có một cách viết để thường dân có thể hiểu, chứ đâu cần đến cái cụm từ dài như thế.  Ngoài ra, mới nói ở phía trên rằng trong năm 2009 nợ của các doanh nghiệp Nhà nước chiếm 54.2% tổng GDP, vậy mà đoạn này nói rằng “không dưới 60% tổng tín dụng nội địa tăng thêm của toàn nền kinh tế”.  Mẫu số của 60% là cái gì?

Nói tóm lại, một bài báo ngắn có nhiều ảnh hưởng, nhưng thông tin thì quá mù mờ.  Mù mờ là do cách trình bày và cách dùng những thuật ngữ kinh tế làm cho thông tin càng thêm khó hiểu.  Tuy nhiên, nói gì thì nói, Việt Nam nợ quá nhiều.  Chỉ riêng doanh nghiệp của Nhà nước mà đã nợ gần 45 tỉ USD, chưa biết doanh nghiệp tư nhân nợ bao nhiêu.  Điều đáng chú ý hay quan tâm hơn là chỉ trong vòng 12 tháng mà số nợ của DNNN tăng hơn 2 lần.  Có thể xem đó là khủng hoảng?

*****************************************************

10-2011

Nợ công thành đại họa, nếu…

Báo Tiền Phong  phỏng vấn ông Bùi Kiến Thành, chuyên gia kinh tế

TP – “Nếu nợ công tăng cao mà không có khả năng trả nợ thì có thể dẫn đến vỡ nợ như Hy Lạp bây giờ. Quản lý yếu kém không những khiến nợ công thất thoát, không phát huy hiệu quả mà còn đẩy quốc gia đến nguy cơ mất chủ quyền vì phụ thuộc bên ngoài”, chuyên gia kinh tế Bùi Kiến Thành nhận định.

Chuyên gia kinh tế Bùi Kiến Thành.

Nợ tăng, khó trả

Nợ công tăng cao và tăng nhanh gần đây. Điều đó nói lên vấn đề gì, thưa ông?

Điều đó nói lên Việt Nam muốn đầu tư phát triển kinh tế và những dự án đầu tư vượt ngân sách của Nhà nước. Mỗi năm Việt Nam đầu tư 42-43% GDP, trong khi tiết kiệm nội địa chỉ khoảng chừng 30% GDP, có nghĩa là mình đầu tư trên khả năng tiết kiệm 13-14%. Muốn có phương tiện để đầu tư cao hơn tiết kiệm nội địa thì một là vay nước ngoài, hai là vay trong nước.

Nhà nước đi vay để đầu tư vào những vấn đề mà người dân không thể đầu tư như phát triển hạ tầng mềm như giáo dục, y tế… hay hạ tầng cứng như đường sá, cầu cống, bến cảng… Mỗi ngày kinh tế của mình phát triển mạnh, đòi hỏi nhu cầu về vốn tăng cao để đầu tư vào những lĩnh vực mà người dân không thể đầu tư được nên nợ công tăng nhanh cũng là dễ hiểu.

Nợ công đang ở mức độ nào và đã đến mức cảnh báo chưa?

Nợ công hiện nay của Việt Nam ở mức hơn 52% GDP, nhưng điều đó không nói lên vấn đề gì. Vay về để làm gì và có đủ khả năng trả nợ hay không mới là vấn đề đáng nói. Nếu mình vay 52% GDP mà GDP của mình mỗi năm tăng 5-7% và tạo ra các nguồn thu ngân sách, và trả được nợ công thì không thành vấn đề.

Chúng ta phải xem xét nợ công đang được đầu tư vào lĩnh vực gì và hiệu quả tới đâu thì mới biết 52% là nhiều hay ít. Nếu đầu tư vào những Cty phát triển tốt và chỉ số ICOR thấp thì hiệu quả kinh tế cao sẽ không có vấn đề gì. Nhưng nếu đầu tư vào những doanh nghiệp Nhà nước bị lỗ ICOR là 8, 9 thậm chí 14, tức là không có hiệu quả kinh tế và như vậy thì rất nguy hiểm.

Theo ông, khả năng trả nợ công của nền kinh tế hiện nay như thế nào?

Chúng ta đang rất khó khăn. Báo cáo của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam cho thấy, 30% doanh nghiệp đứng trước tình trạng phá sản và 50% doanh nghiệp đứng trước tình trạng khó khăn. Nếu tình hình kinh tế cứ đình đốn thế này thì lấy đâu nguồn thu để trả nợ công.

Tham nhũng, rút ruột kéo dài

Ngoài việc sử dụng vào mục đích đầu tư, nợ công còn được đem cho vay lại?

Thì đấy, Nhà nước phát hành trái phiếu vay hàng trăm triệu USD về cho các doanh nghiệp nhà nước sử dụng. Mỗi năm, Nhà nước đều cấp tiền cho các doanh nghiệp Nhà nước, một là dưới hình thức cấp vốn, hai là dưới hình thức cho vay lại. Nhiều trường hợp cho vay xong rồi lỗ thì khoanh nợ, khoanh xong rồi xóa nợ…

Theo ông, việc sử dụng nợ công hiệu quả tới đâu?

Ở Việt Nam đang có vấn đề cực kỳ nghiêm trọng, đó là nạn tham nhũng và rút ruột các công trình đầu tư từ nợ công. Ví dụ mình vay tiền về xây dựng xa lộ với mục đích là bền vững, hiện đại, nhưng vì rút ruột công trình nên nền móng của con đường không có chất lượng, mới mấy năm đã trồi lên trụt xuống.

Một lần làm không xong, không đủ chất lượng phải phá ra làm lại, nhưng làm lại vẫn bị rút ruột. Một công trình bị rút ruột ba, bốn lần. Nếu cứ tiếp tục như thế thì nợ công chồng chất.Theo báo cáo của Quốc hội, công trình nào cũng bị rút ruột 5, 10, 20%, thậm chí đến 30%. Theo tôi được biết từ báo cáo của Chính phủ, tình trạng rút ruột công trình rất nhiều mà không giải quyết được. Một mặt, mình đầu tư vào những dự án không có hiệu quả kinh tế; mặt khác do quản lý kém nên để xảy ra tiêu cực, tham nhũng và rút ruột các công trình đầu tư từ nợ công.

Mình sử dụng nợ công vào việc có ích, nhưng hiệu quả rất thấp. Chẳng hạn, mình làm con đường thì là có ích chứ, bởi nó giúp cho việc thông thương hàng hóa, đời sống kinh tế, xã hội hai bên con đường đó phát triển. Nhưng lẽ ra hiệu quả phải gấp 2-3 lần. Tức là hiệu quả không xứng với đồng tiền bỏ ra và chỉ hiệu quả tức thời. Ví như con đường người ta làm chạy được 20-30 năm thì mình làm chỉ chạy được 3-4 năm đã phải đào lên sửa chữa.*

“Những người đại diện Nhà nước sử dụng tiền Nhà nước vay nước ngoài về để làm những việc ích nước lợi dân mà không làm, mà làm thất thoát nghiêm trọng nợ công thì tội rất lớn.Những người có trách nhiệm mà rút ruột công trình thì không phải chỉ mắc tội ăn cắp mà còn là tội làm mất chủ quyền quốc gia vì khiến quốc gia bị lệ thuộc nước ngoài. Tội đó là cực kỳ nghiêm trọng.Không phải chỉ 5, 10 hoặc 20 năm nữa các thế hệ sau phải trả những khoản nợ đó mà khiến quốc gia rơi vào nguy cơ mất chủ quyền như bài học của Hy Lạp thì cái đấy mới là nguy hiểm”- Chuyên gia kinh tế Bùi Kiến Thành

Theo ông, làm thế nào để giảm nợ công?

Trước nhất, Nhà nước phải xem lại tất cả các công trình đầu tư, cái nào cần và cái gì chưa cần. Vừa qua phân cấp, phân quyền cho các địa phương nhưng địa phương làm vì quyền lợi của địa phương chứ không phải vì quyền lợi của toàn quốc gia. Dẫn đến mỗi địa phương lại có một cái cảng, địa phương đua nhau làm sân bay…

Anh nào cũng muốn làm nhà máy xi măng, nhà máy đường kể cả làm nhà máy đường ở nơi không có mía, làm xong để đó cho hư hỏng hoặc xin ngân sách để chuyển đi nơi khác có mía… Mình phải rà soát lại và muốn nợ công được sử dụng tốt thì phải xem lại nợ công dùng để làm gì. Nếu thật sự cần thiết thì phải làm hết sức tốt, nếu không cần thiết thì dứt khoát cắt giảm.

Có thể vỡ nợ như Hy Lạp

Nợ công liên tục tăng cao sẽ dẫn đến hệ lụy gì?

Nếu nợ công tăng cao mà không có khả năng trả nợ thì có thể dẫn đến vỡ nợ như Hy Lạp bây giờ. Hệ lụy của nợ công, nếu không trả được sẽ dẫn đến lệ thuộc nước ngoài, lệ thuộc các quốc gia hay những tổ chức tài chính nào đó, bởi mình không có quyền kiểm soát mà phải nghe theo họ. Thậm chí phải chấp nhận những việc mà bình thường một quốc gia không thể chấp nhận được.

Hiện Việt Nam không có lý do gì phải đi vay nợ công 100%, thậm chí 200% GDP như một số nước, nhưng nếu cần thiết để phát triển kinh tế thì nợ công ở mức 50, 60 hay 70% GDP mà mình có khả năng để hoàn trả thì không có vấn đề gì.

Theo ông vấn đề quan trọng là phải giảm nợ công hay quản lý nợ công có hiệu quả?

Theo tôi, vấn đề quan trọng nhất vẫn là quản lý có hiệu quả, và quản lý cái gì thì phải xem lại đầu tư vào những cái gì, chứ không phải đầu tư vào những công trình mà mình chưa cần dùng. Mình có chừng đó tiền thì phải làm những cái gì cho nó tốt nhất chứ không phải là cắt giảm.

Mục đích không phải là giảm nợ công mà là sử dụng hiệu quả để đất nước phát triển. Mà muốn sử dụng cho tốt thì phải rà soát lại tất cả dự án đầu tư công và phải có những nhân sự cần thiết để quản lý cho hiệu quả.

Ông Thành nói: Theo báo cáo của Bộ Tài chính vừa công bố, nợ nước ngoài của Việt Nam tính đến tháng 12-2010 là 32,5 tỷ USD, tăng từ 27,9 tỷ USD cuối năm 2009, trong đó nợ trực tiếp của Chính phủ là 27,9 tỷ USD, còn lại là nợ của doanh nghiệp được Chính phủ bảo lãnh. Năm 2009, nợ trực tiếp của Chính phủ là 23,9 tỷ USD, bảo lãnh là 3,98 tỷ USD.Theo Bộ Tài chính dự kiến, nợ công năm 2011 khoảng 58,7% GDP.

Theo số liệu từ Ủy ban Giám sát tài chính Quốc gia, nợ công năm 2007 là 33,8% GDP, 2008 là 36,2%, 2009 là 41,9% và 2010 là 56,7% GDP. Những con số này cho thấy tỷ lệ nợ công tăng cao và tốc độ tăng nợ công mỗi năm khoảng 5%.

Đại Dương

nguồn

Nợ công năm 2011 của Việt Nam tiếp tục tăng
(Dân trí) – Theo báo cáo của Cục Quản lý nợ và Tài chính đối ngoại, tính đến ngày 31/12/2010, tổng số dư nợ công ở mức 1.122 nghìn tỷ đồng, tương đương 56,7% GDP năm 2010 và dự kiến tổng số nợ công sẽ ở mức khoảng 1.375 nghìn tỷ đồng, bằng khoảng 58,7% GDP năm 2011.

Cũng theo báo cáo này, ước tổng số dư nợ nước ngoài của quốc gia ở mức 835 nghìn tỷ đồng, bằng 42,2% GDP năm 2010 và dự kiến nợ nước ngoài của quốc gia sẽ ở mức 44,5% GDP năm 2011.

Như vậy, các chỉ số trên vẫn trong giới hạn an toàn như theo Quyết định số 211/2004/QĐ-TTg ngày 14/12/2004 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt định hướng phát triển tài chính Việt Nam đến năm 2010.

Ngoài ra, theo khuyến cáo của một số nhà kinh tế và kinh nghiệm của một số nước thì nợ công ở mức 60% GDP là giới hạn an toàn.

Mặc dù vậy, xu hướng gia tăng các khoản nợ công và nợ nước ngoài của quốc gia là đáng lưu ý, đặc biệt khoản vay nước ngoài của các doanh nghiệp trong những tháng đầu năm 2011 do chính sách tiền tệ, tín dụng trong nước thắt chặt, huy động vốn trong nước khó khăn.

Cũng theo Cục Quản lý nợ và Tài chính đối ngoại,  đơn vị này đã và đang chủ động nghiên cứu để xây dựng khuôn khổ pháp lý, có các đề xuất về hoạt động quản lý rủi ro nhằm kiểm soát nợ công và nợ nước ngoài một cách hiệu quả.

Sơn Ngọc

—————————————————————————————————————————————–

Thứ Hai, 24/10/2011, 14:31 (GMT+7)

Cuối năm 2011, nợ nước ngoài khoảng 41,5% GDP

* Cần đầu tư vùng kinh tế động lực

TTO – Sáng 24-10, 2011,  Quốc hội thảo luận ở tổ về tình hình thực hiện dự toán ngân sách nhà nước năm 2011, dự toán ngân sách nhà nước và phương án phân bổ ngân sách trung ương năm 2012.

>> Quốc hội thảo luận về kinh tế – xã hội

Miền Trung được xem là một trong những vùng kinh tế động lực. Trong ảnh: Nhà máy lọc dầu Dung Quất, Quảng Ngãi – Ảnh: KH.NGỌC

Tại đoàn đại biểu Quốc hội TP.HCM, nhiều ý kiến đề nghị bên cạnh việc bảo đảm chi cho an sinh xã hội, cần quan tâm đầu tư cho các vùng kinh tế động lực có khả năng thu ngân sách lớn. Đại biểu Trần Hoàng Ngân nói: “Các đô thị lớn là nơi có khả năng đóng góp cho GDP, vì vậy cần có sự đầu tư thỏa đáng, từ đây mới có nguồn thu để thực hiện các nhu cầu chi khác”.

Đại biểu Đỗ Văn Đương cho rằng một trong những điều quan trọng nhất của chi tiêu ngân sách là “bỏ đồng tiền đúng địa chỉ để phát huy hiệu quả”.

Theo ông Đương, vừa qua có tình trạng nhiều sân bay, bến cảng rất ít máy bay, tàu thuyền qua lại, chợ xây xong không có người mua bán, làm đường rộng lớn nhưng không có người qua lại, trong khi đó “có những nút giao thông nhỏ ở thành phố gây ùn tắc lâu nay thì không được tháo gỡ, tạo nên điểm nghẽn trong phát triển”.

Đại biểu Trần Du Lịch đề nghị nên tránh cách phân bố ngân sách giống như: “Tôi có từng đó dầu, nếu cấp cho một chiếc tàu thì đủ chạy ra Côn Đảo, nhưng vì tôi có ba chiếc tàu nên phải cấp cho ba chiếc. Tàu nào cũng chạy nhưng không ra được đến Côn Đảo mà phải chờ năm sau được cấp dầu để chạy tiếp”.

Bí thư Thành ủy TP.HCM Lê Thanh Hải đặt vấn đề chi ngân sách năm 2012 cũng như năm năm 2011-2015 cần quán triệt và thể hiện được nhiệm vụ chính trị trong thời gian tới, trong đó có việc tái cấu trúc nền kinh tế. Trong cơ cấu chi ngân sách thì chi cho tái cấu trúc nền kinh tế chưa được làm rõ. “Chúng ta nêu quan điểm, chủ trương nhưng không thể hiện trong chi đầu tư này thì không ra vấn đề được. Muốn tái cấu trúc nền kinh tế thì phải có đầu tư và cơ chế chính sách đi kèm” – ông Lê Thanh Hải nói.

Chính phủ dự kiến mức bội chi ngân sách nhà nước năm 2012 là 140.200 tỉ đồng (bằng 4,8% GDP), tuy nhiên ông Trần Hoàng Ngân cho rằng cần quyết liệt cắt giảm bội chi hơn nữa. Ông Ngân nói: “Bội chi ngân sách liên tục nhiều năm đã dẫn đến nợ công, trong đó có nợ nước ngoài ở mức báo động. Ước tính đến cuối năm 2011 nợ công54,6% GDP, nợ nước ngoài 41,5% GDP.

Nếu so với dự trữ ngoại hối của nước ta hiện nay thì nợ nước ngoài lớn hơn nhiều. Nhìn sang các nước trong khu vực, ví dụ như Thái Lan nợ công là 44,1% GDP, nhưng dự trữ ngoại hối của Thái Lan là 176 tỉ USD. Nhiều nước xuất siêu, nghĩa là có dư để trả nợ, còn mình nhập siêu liên tục. Do đó, Quốc hội và Chính phủ cần tiếp tục các chính sách để đảm bảo ổn định vĩ mô thật bền vững”.

V.V.THÀNH

Tập trung vào chất lượng đầu tư

Phát biểu tại tổ (đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Bình Định), Bộ trưởng Bộ Tài chính Vương Đình Huệ nói: “Sở dĩ trong các năm 2010, 2011 nợ công tăng nhanh như vậy thì ngoài nhu cầu phải huy động vốn để phát triển kinh tế – xã hội còn có yếu tố về chênh lệch tỉ giá. Ví dụ năm 2011 khi chúng ta điều chỉnh tỉ giá thì có nghĩa là nợ nước ngoài cũng tăng lên như thế. Tức là không có một đồng ngoại tệ nào vay thêm thì bản thân tổng nợ công đã tăng.

Thứ hai nữa là bản thân mức GDP của chúng ta trong mấy năm vừa rồi không được như mong muốn. Nếu tổng GDP tăng khá thì tổng nợ trên GDP sẽ giảm. Nợ công của chúng ta hoàn toàn là để bổ sung vốn cho đầu tư phát triển, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Chúng ta vay để tập trung vào các dự án cơ sở hạ tầng, ví dụ như quốc lộ 1A… Nhờ các khoản vay để đầu tư như vậy nên GDP năm năm vừa rồi chúng ta tăng cao. Tất nhiên là chúng ta nói tăng trưởng GDP dựa vào tăng trưởng vốn đầu tư.

Thế nên từ năm 2012 chúng ta mới xác định tập trung vào chất lượng đầu tư, năng suất lao động. Không phải là mình tự khen mình đâu, các tổ chức quốc tế như WB, IMF… họ nói riêng với mình, rồi nói trên các diễn đàn thông tin đại chúng rằng VN là một trong những nước sử dụng ODA tốt nhất thế giới.

Theo tính toán của Chính phủ thì nợ nước ngoài sau năm 2015 sẽ xuống mức 64 hoặc 63,5% GDP”.

L.KIÊN ghi

http://tuoitre.vn/Chinh-tri-Xa-hoi/461911/Cuoi-nam-2011-no-nuoc-ngoai-khoang-415-GDP.html

                              —————————————————————————————

Ngân Sách

Duyệt chi 59.000 tỷ đồng để tăng lương năm 2012

Trích:

Cùng với việc nâng lương tối thiểu hơn 200.000 đồng theo đề xuất của Chính phủ, Quốc hội cũng chốt việc nâng phụ cấp công vụ với cán bộ, công chức lên 25%. Lương hưutrợ cấp ưu đãi người có công cũng tăng bằng tốc độ tăng lương tối thiểu.

Ngân sách dành chi cho việc tăng lương là 59.300 tỷ đồng/903.100 tỷ đồng tổng chi ngân sách được duyệt cho năm sau. Tổng số thu cân đối ngân sách Quốc hội giao ở mức 740.500 tỷ đồng.

Hết trích.

-Tăng 200.000 đồng, làm gia tăng ngân sách dành chi cho việc tăng lương là 59.300 tỷ đồng. Vậy số người nhận được sự tăng lương là khoảng  24.708.334 người (?), bao gồm những  công nhân viên nhà nước có mức lương ít hơn 830 000 đồng tháng, những người lãnh lương hưu, và diện trợ cấp ưu đãi người có công) sẽ được hưởng thêm 200 000 đồng/ 1 tháng, hay 2.400.000 đồng/ 1 năm.

-Ngân sách 903.100 tỷ đồng cho năm 2012, với hối suất năm 2012 sẽ là 22000 đồng/ 1 đô la, ngân sách chính phủ là 41 tỷ đô la Mỹ.

Posted in Nợ công và Nợ doanh nghiệp, Nợ của các Tập Đoàn quốc doanh | 1 Comment »

Ngân hàng VN: nợ xấu của hệ thống NH đã lên đến 75.000 tỉ đồng, vượt quá sức chịu đựng và can thiệp của ngân sách Nhà nước

Posted by hoangtran204 trên 10/10/2011

Sau gần một năm đổ thừa cho các ngân hàng thương mại cổ phần (NHTMCP) là nguồn gốc gây ra bất ổn nền kinh tế, làm xáo trộn bất động sản, gây việc tăng lãi suất từ 14-22%, gây lạm phát (đồng tiền mất giá, vật giá leo thang)…để rồi có kế hoạch dẹp bớt các ngân hàng này.

(Trong thời gian qua, các ngân hàng TMCP tăng lãi suất lên 22% để thu hút người dân bỏ tiền vào ngân hàng, vì các ngân hàng cần có vốn đạt đủ mức 3000 tỉ để tiếp tục đăng ký hoạt động chiếu theo nghị định của chính phủ  141/2006. )

Nay có tin:

Nợ xấu của hệ thống ngân hàng đã lên đến 75.000 tỷ đồng, vượt quá sức chịu đựng và can thiệp của ngân sách Nhà nước” – ông Nghĩa nói.

Ngân hàng Việt Nam chỉ bảo hiểm 50 triệu đồng. Ai gởi vào ngân hàng dưới số tiền nầy (thí dụ gởi 30 triệu đồng) và sau đó nếu ngân hàng có bị sụp đổ, thì người ấy chỉ được bồi hoàn 30 triệu đồng. Có người khác gởi vào ngân hàng 80 triệu đồng, nếu ngân hàng này bị phá sản, thì người này chỉ được bồi hoàn 50 triệu, và mất trắng tay 30 triệu đồng. Có dư tiền, cứ  mua đô la Mỹ và vàng để giữ là an toàn.

********************************************

Sẽ mở sàn vàng quốc gia

Thứ Sáu, 07/10/2011

Ông Lê Xuân Nghĩa, Phó Chủ tịch Ủy ban Giám sát Tài chính quốc gia, cho rằng giải pháp kinh doanh vàng tài khoản sẽ rút ngắn khoảng cách chênh lệch giá

Ngày 7-10 tại Hà Nội, đã diễn ra hội thảo về triển vọng thị trường chứng khoán Việt Nam.

Liên thông với thị trường quốc tế

Quan điểm chính thức của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) là chỉ cho phép một số NH có lựa chọn huy động vốn bằng vàng và NHNN sẽ quản lý số vàng này. NHNN cho phép các NH trên phát hành chứng chỉ vàng, chứng chỉ này được mua bán trên thị trường. NHNN cũng có thể trả phí nhất định để sử dụng vàng của các NH thương mại nhằm phục vụ mục đích dự trữ, can thiệp thị trường khi cần thiết.

Ông Lê Xuân Nghĩa cho biết cơ quan này đang mắc kẹt với nhiệm vụ cân bằng giá vàng trong nước với quốc tế, trong khi không có nguồn vàng sản xuất trong nước.

Theo ông Nghĩa, giải pháp cho kinh doanh vàng tài khoản sẽ có hiệu ứng tốt, phù hợp xu thế hiện nay vì tạo được sự liên thông giữa thị trường vàng trong nước với thế giới một cách nhanh nhất, rút ngắn khoảng cách chênh lệch giá.
Bên cạnh đó, cho mở lại vàng tài khoản cũng có nhiều lợi ích như không tốn thêm ngoại tệ cho việc nhập vàng nhưng vẫn có thể đáp ứng nhu cầu của dân; tiết kiệm được chi phí xã hội khi tận dụng nguồn lực vàng trong dân; triệt tiêu cơ hội làm giá, đầu cơ của giới kinh doanh vàng; hạn chế tình trạng nhập lậu vàng; kiểm soát được số lượng vàng xuất, nhập thông qua hạn mức giao dịch trên tài khoản…

“Lãnh đạo của NHNN đã trình bày các giải pháp trong đề án quản lý, kinh doanh vàng với Chính phủ. Theo đó, sẽ cho mở sàn vàng quốc gia để mua bán vàng chứng chỉ và vàng tài khoản” – ông Nghĩa nói.

Thanh lọc ngân hàng: Không dọa!

TS Lê Xuân Nghĩa cho biết Chính phủ đã đồng ý với đề xuất của Ủy ban Giám sát Tài chính quốc gia về việc lập kế hoạch tái cấu trúc hệ thống NH để có thể triển khai ngay trong những tháng cuối năm.
Nhiệm vụ này được xem là cấp thiết vì nợ xấu của hệ thống NH đã lên đến 75.000 tỉ đồng, vượt quá sức chịu đựng và can thiệp của ngân sách Nhà nước. Hiện nay, Ủy ban Giám sát Tài chính quốc gia đang gấp rút xây dựng đề án này” – ông Nghĩa nói.
Đây là đợt tái cấu trúc lần thứ 2 của hệ thống NH Việt Nam. Theo đề án của Ủy ban Giám sát Tài chính quốc gia, tái cấu trúc NH lần này vẫn như trước nhưng nhấn mạnh vấn đề giám sát và quản trị rủi ro.
Đây là điểm yếu nhất của hệ thống NH vì hiện nay, nhiều hệ thống giám sát rủi ro của các NH thương mại chỉ là “hàng mã”, lập ra để đối phó với quy định của NHNN.
NHNN chủ trương tăng trưởng tín dụng trong những năm tới không quá 20%, tổng phương tiện thanh toán không quá 16% nên chắc chắn các NH nhỏ sẽ gặp khó khăn và có nguy cơ lặp lại hiện tượng xé rào đi đêm lãi suất.
“Tôi đã đề nghị Chính phủ phải làm thật chứ không dọa. Muốn kinh tế đi lên vững chắc, dứt khoát phải có hệ thống NH sạch. Giai đoạn trước đã loại bỏ 16 NH yếu kém, lần này số lượng chắc chắn sẽ không dừng ở con số đó” – ông Nghĩa nói.

Ông Lê Xuân Nghĩa cho biết Thanh tra Ủy ban Giám sát Tài chính quốc gia đã nhận thấy có dấu hiệu vốn ảo, một cá nhân sở hữu đến 70% cổ phần tại một NH trong khi luật chỉ cho phép 5%. “Việc này vượt quá quyền hạn của thanh tra ủy ban nên sẽ đề nghị công an điều tra” – ông Nghĩa nói.

*

Khu vực ngân hàng đang yếu đi

TS Lê Xuân Nghĩa cho biết khu vực NH đang yếu đi với tỉ lệ nợ xấu tính đến hết tháng 6-2011 là 75.000 tỉ đồng, ở mức 3,13%, cao hơn nhiều so với mức 2,16% vào cuối năm 2010 và đang tiếp tục tăng nhanh.

Đáng lo ngại là nợ nhóm 5 (nợ mất vốn) chiếm tới 47%. Gần đây, NH có tổng tài sản lớn là NN-PTNT đã công bố số nợ xấu 6,7%, các NH lớn khác cũng đều báo cáo con số nợ xấu cao.*

                                                                          ***********************************************

Mạnh tay loại bỏ ngân hàng yếu kém

29-7-2011

*TS Cao Sỹ Kiêm, đại biểu Quốc hội, thành viên Hội đồng Tư vấn Chính sách tài chính-tiền tệ quốc gia, cho rằng “các ngân hàng thương mại yếu kém là tác nhân gây ra cuộc đua lãi suất và bất ổn trên toàn hệ thống“. Hóa ra, lãi suất ngân hàng gia tăng tới 14% rồi 20% là do các ngân hàng thượng mại không có vốn( hay vốn ảo) đã cần tiền của người dân, nên đã nâng cao lãi suất.

Khi được hỏi: * Ông có cho rằng các NH thương mại yếu kém là tác nhân gây ra cuộc đua lãi suất và bất ổn trên toàn hệ thống hiện nay? ông Khiêm trả lời như sau

_Đúng vậy. Đua lãi suất phần lớn do các NH đua với nhau chứ bên ngoài làm sao có thể đua được. Khi các NH thương mại yếu kém sẽ dẫn tới mất khả năng thanh khoản. Khi mất thanh khoản lại bị khống chế bởi mức dự trữ bắt buộc thì những NH này không còn cách nào là phải ra thị trường huy động. Huy động vốn bằng bất cứ giá nào sẽ đẩy mặt bằng lãi suất lên cao, dẫn tới cuộc đua lãi suất tiền gửi thời gian qua.

* Theo ông, NH Nhà nước đã đủ mạnh tay để loại bỏ những NH thương mại yếu kém?

– Đã làm đâu mà biết mạnh tay hay không! Muốn NH hoạt động có kỷ cương cần phải làm rõ ràng và dứt khoát, không thể nói mà không làm, hay làm nửa vời.

*Vốn ảo: vào tháng 10, 2011, “Ông (Nghĩa) cũng cho biết Thanh tra Ủy ban Giám sát Tài chính quốc gia đã nhận thấy có dấu hiệu vốn ảo, một cá nhân sở hữu đến 70% cổ phần tại một ngân hàng trong khi luật chỉ cho phép 5%. Theo ông Nghĩa, việc này vượt quá quyền hạn của thanh tra ủy ban nên sẽ đề nghị công an điều tra.”

*hệ thống ngân hàng thương mại cổ phần 2010

—————

Không “nuông chiều” các ngân hàng yếu kém

Nguyễn Hoài

20-4-2010

Một chuyên gia nhận định, nếu thực hiện nghiêm Nghị định 141/CP thì qua 2010, chỉ còn 20 ngân hàng thương mại cổ phần được phép tồn tại với mức vốn điều lệ trên 3.000 tỷ đồng.

Đó là cơ hội tốt để gạt bỏ những cơ thể ốm yếu, nhưng liệu Nhà nước có “làm nghiêm”?

Tại hội thảo “Tái cấu trúc khu vực tài chính, ngân hàng sau khủng hoảng – Xu  thế thế giới và những vấn đề đặt ra với Việt Nam” do Viện Kinh tế và Chính trị thế giới phối hợp với Thời báo Ngân hàng tổ chức tuần trước, các chuyên gia đã gióng lên những cảnh báo về nguy cơ gây mất an toàn hệ thống của những ngân hàng nhỏ, tiềm lực yếu nhưng không chịu sáp nhập hoặc mua bán lại (M&A).

Chỉ thích “riêng một góc trời”

Tiến sĩ Vũ Đình Ánh, Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu Thị trường giá cả (Bộ Tài chính), cho biết, tính đến tháng 3/2010, trong số 39 ngân hàng thương mại cổ phần, nếu xét theo quy mô vốn điều lệ thì có 21/39 ngân hàng thương mại cổ phần dưới 2.000 tỷ đồng; 30/39 dưới 3.000 tỷ đồng và chỉ 9/39 có vốn trên 3.000 tỷ đồng.

Đứng đầu “câu lạc bộ trên 3.000 tỷ đồng” là Vietcombank với 12.100 tỷ đồng (650 triệu USD) nhưng có thể bị VietinBank “qua mặt” vì vốn điều lệ của ngân hàng này đang là 11.252 tỷ đồng và dự kiến hết 2010, VietinBank sẽ phát hành thêm 3 đợt, nâng vốn điều lệ lên mức 18.731 tỷ đến 19.833 tỷ đồng. Tiếp theo là Eximbank (8.800 tỷ đồng), ACB (7.814 tỷ đồng), Sacombank (6.700 tỷ đồng), LienVietBank (3.300 tỷ đồng)…

Tuy nhiên, nếu theo quy định tại Nghị định 59/2009/NĐ-CP ngày 16/7/2009 thì cả Vietcombank lẫn VietinBank không được xếp vào “nhóm cổ phần” vì nhà nước vẫn nắm giữ trên 50% vốn điều lệ và số ngân hàng có mức vốn trên 3.000 tỷ đồng rất ít. “Rõ ràng, quy mô các ngân hàng thương mại cổ phần quá nhỏ bé trong khi số lượng lại tương đối nhiều so với quy mô nền kinh tế chỉ khoảng 100 tỷ USD của năm 2009”, ông Ánh nhận xét.

Trở lại với Nghị định 141/2006/NĐ-CP, ngay từ 2006, Nhà nước đã sớm nhìn thấy tình trạng “nhiều nhưng yếu” trong ngành ngân hàng nên đã đưa ra rào cản vốn điều lệ nhằm mục tiêu nâng cao tiềm lực tài chính cho số ngân hàng quy mô nhỏ.

Theo đó, hết năm 2008, các ngân hàng thương mại cổ phần phải đạt mức vốn điều lệ tương đương mức vốn pháp định được quy định tại nghị định này là 1.000 tỷ đồng và hết 2010 là 3.000 tỷ đồng. Tuy nhiên, hết năm 2008, mới chỉ có 28 đơn vị vượt “ba rie” và có tới gần 10 đơn vị mới đạt mức vốn điều lệ 1.000 tỷ đồng vào cuối 2009, muộn hơn một năm so với quy định tại Nghị định 141.

Ngân hàng Nhà nước nói gì?

Đáng lẽ, về nguyên tắc, nếu không đảm bảo mức vốn này thì phải giải thể, hoặc thực hiện các thương vụ M&A, nhưng xem ra, điều này là chưa thể và cội nguồn của vấn đề lại xuất phát từ cả hai phía: ngân hàng và cơ quan quản lý.

Trước hết, quan điểm “riêng một góc trời” vẫn còn ngự trị rất lớn trong cách hành xử của nhiều ngân hàng. Điều này được nhận thấy rất rõ, hiện có gần 40 ngân hàng thương mại cổ phần nhưng yếu tố “ngoại” mới chỉ có ở một số ngân hàng như Techcombank, ABBank, SeABank…, trong khi chưa hề có một vụ M&A nào trong ngành ngân hàng trong nhiều năm gần đây.

Thứ hai là vấn đề liên quan đến trách nhiệm của cơ quan quản lý. Mặc dù gần 10 ngân hàng bị chậm trễ tăng vốn điều lệ theo lộ trình gần một năm như nói trên, nhưng cơ quan quản lý vẫn nương tay và liệu điều này có tiếp tục đối với mức vốn 3.000 tỷ đồng hay không thì vẫn là dấu hỏi.

Đem vấn đề này trao đổi với Ngân hàng Nhà nước, Thống đốc Nguyễn Văn Giàu thẳng thắn: “Nếu không tăng được vốn theo quy định thì phải xử lý thôi, vì đã là pháp luật thì phải chấp hành. Ngân hàng Nhà nước sẽ có nhiều biện pháp xử lý theo pháp luật hiện hành và không nuông chiều những trường hợp này. Không phải khi giá cổ phiếu gấp 10 lần thì hăng hái nhảy vào lập ngân hàng, còn khi thị trường chững lại thì lại kêu khó”.

Một điểm đáng lưu ý khác, theo Nghị định 59/2009/NĐ-CP ngày 16/7/2009 về “tổ chức và hoạt động của ngân hàng thương mại” thì tỷ lệ góp vốn của thể nhân và pháp nhân lần lượt là 10% và 20% vốn điều lệ. Từ 2010, vốn điều lệ tối thiểu mỗi ngân hàng được nâng lên 3.000 tỷ đồng và có ý kiến rằng, nếu chất lượng hoạt động của một ngân hàng nào kém cỏi thì mức độ ảnh hưởng đến hệ thống sẽ rất khó lường.

Đã có một tình huống được giả định rằng, một “đại gia” nào đó gửi vốn cho các thể nhân đứng tên ở vài ba ngân hàng. Sau đó, “đại gia” này dùng các cổ đông “hờ” gây áp lực cho hội đồng quản trị và ban điều hành phải giải ngân cho các dự án của mình. Trong điều kiện thị trường ổn định thì có thể “chưa làm sao” nhưng chẳng may “đại gia” mất thanh khoản thì thử hỏi hậu họa sẽ như thế nào?

Cũng theo Thống đốc thì mức vốn góp theo Nghị định 59 sẽ giảm còn một nửa khi Luật Ngân hàng nhà nước và Luật Các tổ chức tín dụng được thực thi. Cùng đó, Ngân hàng Nhà nước sẽ bắt buộc cổ đông ngân hàng phải chứng minh nguồn gốc vốn góp, thay vì chỉ chung chung “không vi phạm pháp luật” như lâu nay. Những cổ đông có tỷ lệ vốn góp nhiều hơn mức luật cho phép thì phải rút bớt hoặc sang nhượng lại.

Như vậy, mức vốn điều lệ tối thiểu 3.000 tỷ đồng, sự minh bạch và giảm tỷ lệ đối với nguồn vốn góp được coi là cơ hội tốt để nhà nước sàng lọc, loại bỏ những cơ thể ốm yếu trong hệ thống ngân hàng.

Nhưng giả sử, hết năm 2010, có ngân hàng không đủ khả năng tăng vốn điều lệ lên 3.000 tỷ đồng thì cơ quan quản lý có thêm một lần “nới tay” như năm ngoái?

———-

Ngân hàng yếu kém, xử lý thế nào?

4-10-2011

Chuyên gia kinh tế Bùi Kiến Thành

Chuyên gia kinh tế Bùi Kiến Thành cho rằng, để tái cấu trúc ngân hàng nên được bắt đầu từ việc thanh lọc những ngân hàng quản lý rủi ro không tốt.

– Thưa ông, thực tế cho thấy hiện nay số lượng ngân hàng trong nước quá nhiều, trong đó nhiều ngân hàng năng lực yếu kém làm ảnh hưởng đến hoạt động của hệ thống ngân hàng và nền kinh tế?

Theo báo cáo của NHNN sau khi họp với 12 ngân hàng lớn cho biết, 12 ngân hàng này chiếm 85% tổng số tín dụng ở Việt Nam. Như vậy, còn khoảng hơn 30 ngân hàng Việt Nam và gần 50 ngân hàng nước ngoài ở Việt Nam chỉ chiếm có 15% tổng dư nợ trên thị trường. Do vậy, có thể thấy, hơn 30 ngân hàng trong nước của chúng ta ở quy mô rất nhỏ.

Các ngân hàng nhỏ này do không huy động được nhiều vốn trong dân, buộc phải tìm cách đẩy lãi suất huy động lên để thu hút người gửi tiền. Vì ngân hàng này không có dịch vụ đặc biệt, không có phương pháp quản lý tốt cho khách hàng, nên đem lãi suất ra để làm dụng cụ huy động vốn. Do vậy, chính những ngân hàng nhỏ khởi động cho cuộc đua tăng lãi suất huy động. Ngân hàng lớn do lo sợ khách hàng rút vốn để gửi sang nơi có lãi suất cao hơn nên cũng phải tăng lãi suất để giữ khách hàng.

Việc cạnh tranh bằng lãi suất thế này sẽ khiến dòng vốn chạy vòng quanh, từ nơi có lãi suất thấp sang nơi có lãi suất cao rồi lại tiếp tục chạy sang nơi có lãi suất cao hơn nữa… chứ không có tác dụng huy động thêm được nguồn vốn trong nhân dân. Hậu quả là lãi suất cao đẩy chi phí, giá tiêu dùng lên, đẩy lạm phát lên… Đó là vấn đề ở Việt Nam, nó trái ngược với một số chuyên gia nước ngoài cho rằng, ở Việt Nam lạm phát cao nên phải đẩy lãi suất cao để kìm chế lạm phát. Theo tôi, chính lãi suất cao đã góp phần đẩy giá tiêu dùng tăng lên, làm tăng lạm phát.

– Tái cơ cấu hệ thống ngân hàng nên được xem xét bắt đầu từ đâu?

Trong số hơn 30 ngân hàng nhỏ cần sàng lọc ra ngân hàng nào quản lý tốt, ngân hàng nào quản lý không tốt. Nếu ngân hàng quản lý tốt, phải giúp đỡ cho họ lớn mạnh hơn về công nghệ, con người, năng lực quản lý… Vấn đề còn lại là những ngân hàng quản lý không tốt, cần phân tích xem không tốt chỗ nào? Ví dụ như cho vay bất động sản quá nhiều, gây rủi ro cao, thu hồi tiền không được, thiếu thanh khoản thanh toán cho các chủ tài khoản…

Ngay cả trường hợp một số ngân hàng chưa thể tăng vốn điều lệ lên 3.000 tỷ đồng cũng cần lưu ý, nếu như vận động ít rủi ro, thanh khoản tốt thì vẫn là ngân hàng hoạt động tốt, nhưng cho dù ngân hàng có vốn điều lệ 5.000 hay 6.000 tỷ đồng mà hoạt động nhiều rủi ro có thể đi đến tình trạng không đủ thanh khoản để giải quyết hoạt động thì vẫn nguy hiểm như thường. Cho nên cần phải thanh lọc những ngân hàng quản lý rủi ro không tốt.

Vậy với những ngân hàng hoạt động kém hiệu quả, quản lý rủi ro không tốt nên tái cấu trúc lại theo hướng nào?

NHNN cần phải tăng cường thanh kiểm tra xem ngân hàng nào khó khăn đến đâu để có hướng giải quyết đến đó.

Trước hết, cần giải quyết với những ngân hàng không có khả năng để thu hồi nợ. Tôi được biết, các nước trên thế giới, trong khi thanh tra, kiểm tra phát hiện ngân hàng đang đứng trên bờ phá sản, không đủ thanh khoản để giải quyết vấn đề hoạt động hàng ngày, ví dụ như ở Mỹ, ngân hàng trung ương đến đóng cửa ngân hàng và cơ quan bảo hiểm tài khoản sẽ trả cho mỗi chủ tài khoản 200.000 USD. Ở Việt Nam thì mỗi chủ tài khoản được chi trả 50 triệu đồng. Trường hợp này, NHNN là cơ quan quản lý nhà nước áp dụng luật bảo hiểm ngân hàng để thanh toán cho các chủ tài khoản được bảo hiểm theo luật pháp.

Nếu ngân hàng nhỏ cho những nhà vay nợ có đủ tài sản và có khả năng thanh toán được, nhưng tạm thời không có tiền mặt thì NHNN có thể cho ngân hàng nhỏ này vay tiền để giải quyết thanh khoản. Sau này, những khoản nợ thu lại được đem trả lại cho Nhà nước.

Để tái cấu trúc lại hệ thống ngân hàng, giải pháp cho ngân hàng nhỏ sát nhập với các ngân hàng lớn có là giải pháp khả thi?

Việc để các ngân hàng nhỏ sát nhập vào ngân hàng lớn không phải là điều dễ làm. Các ngân hàng lớn nếu muốn sát nhập các ngân hàng nhỏ thì cũng sẽ lựa chọn những ngân hàng đang hoạt động tốt để sát nhập. Họ không việc gì phải sát nhập những ngân hàng đang ở mức nguy hiểm để mang cục nợ vào mình. Bởi sát nhập những ngân hàng này nghĩa là ngân hàng lớn phải lãnh cả những khoản nợ khó đòi và nợ xấu của ngân hàng nhỏ. Cho nên, rất khó để nói đến vấn đề sát nhập đối với các ngân hàng đang ở mức nguy hiểm vào ngân hàng lớn đang hoạt động tốt.

Trường hợp phải sát nhập là các ngân hàng nhỏ không còn con đường nào khác, nếu không sát nhập thì cũng tự chết. Lúc đó, các ngân hàng đang hoạt động xấu thương lượng với các ngân hàng lớn khác, nhưng sẽ là với mức giá thực chất hiện tại. Ví dụ như ngân hàng này có vốn là 5.000 tỷ nhưng cho vay không đòi được, nợ xấu… chỉ còn đáng giá vài tỷ đồng thôi. Hoặc không muốn bị hậu quả về hình sự trong khi hoạt động có sai phạm…  lúc đó thương lượng với ngân hàng lớn, nếu có lợi thì có thể các ngân hàng lớn có thể sát nhập theo hướng có lợi cho mình.

Thưa ông, vậy thì có nên để các ngân hàng nhỏ sát nhập lại với nhau?

Hiện nay, chúng ta đang có hơn 30 ngân hàng nhỏ, nếu ngân hàng nào tự đứng một mình phát triển được thì cứ tự đứng mà phát triển. Còn nếu các ngân hàng nhỏ, mặc dù hoạt động còn tốt nhưng lường trước những khó khăn sắp tới có thể hội nhau lại tạo thành lực lượng mạnh hơn thì cũng nên sát nhập với nhau.

Tuy nhiên, những ngân hàng đang khó khăn, ốm yếu như nhau mà lại sát nhập với nhau thì lại càng khó khăn hơn. Tuy nhiên, vấn đề này, NHNN cần phải có sự thanh tra, giám sát khách quan, nếu ngân hàng nào không thể hoạt động được nữa thì không nên để tồn tại làm ảnh hưởng đến hệ thống ngân hàng và nền kinh tế. Còn những trường hợp ngân hàng sát nhập lại mà có thể mạnh hơn thì NHNN cần có sự tư vấn, giúp đỡ cho các ngân hàng này sát nhập.

Theo tôi, có một số ngân hàng cần phải ngồi với nhau bàn bạc xem nợ xấu, nợ tốt sau khi cân đối có còn sống được hay không? NHNN sẽ là người tư vấn cho nhóm ngân hàng đó nhập lại với nhau, xem xét xem nhiều chi nhánh quá thì bỏ bớt, nhiều nhân viên quá thì giảm bớt nhân viên, nhiều nợ xấu quá thì tìm cách đòi. Trong lộ trình 5 năm, 10 năm, nếu ngân hàng mới này thiếu thanh khoản nhưng vấn có nợ tốt thì NHNN có thể cho vay thanh khoản để hoạt động…

Có ý kiến cho rằng, NHNN có thể bỏ vốn mua cổ phần của ngân hàng nhỏ đang trong tình trạng nguy hiểm để nắm quyền quản lý?

Tôi cho rằng, NHNN không nên mua lại các ngân hàng kiểu này. Bởi không việc gì NHNN phải bỏ vốn ra để mua ngân hàng yếu. NHNN nên đi giám sát “sức khỏe” của các ngân hàng thương mại. Nếu ngân hàng nào yếu kém thì NHNN có biện pháp xử lý  theo luật định để giúp các ngân hàng trở nên mạnh khỏe. Còn nếu ngân hàng quá yếu kém không “cứu chữa” được thì NHNN xử lý theo theo cách cho phá sản, đóng cửa…

Xin cảm ơn ông!

————————

Mạnh tay loại bỏ ngân hàng yếu kém

Thứ Sáu, 29/07/2011

TS Cao Sỹ Kiêm, đại biểu Quốc hội, thành viên Hội đồng Tư vấn Chính sách tài chính-tiền tệ quốc gia, cho rằng các ngân hàng thương mại yếu kém là tác nhân gây ra cuộc đua lãi suất và bất ổn trên toàn hệ thống

* Phóng viên: Ông bình luận gì trước đánh giá rằng hệ thống ngân hàng (NH) thương mại đang đối diện với nhiều rủi ro như: rủi ro thanh khoản, rủi ro nợ xấu, rủi ro chéo… trong 10 kiến nghị ổn định kinh tế vĩ mô mà Ủy ban Kinh tế của Quốc hội (QH) khóa XII gửi QH khóa XIII?– TS Cao Sỹ Kiêm: Đúng là có hiện tượng này nhưng không phải tất cả các NH đều như vậy. Những rủi ro này chủ yếu rơi vào các NH mới, phát triển nghiệp vụ chưa cao và công nghệ kém, chất lượng và nguồn lực thấp… Khả năng huy động và sử dụng vốn kém sẽ làm cho thanh khoản luôn báo động và khi ra thị trường vốn sẽ làm rối loạn thị trường này. Những rủi ro trên chưa tới mức báo động nhưng đối với một số NH thương mại là thật sự khó khăn. Hiện có khoảng 7-8 NH luôn trong tình trạng khó khăn, nếu không được củng cố kịp thời sẽ rất phức tạp.

Kiến nghị mạnh tay loại bỏ những NH thương mại yếu kém của Ủy ban Kinh tế của QH khóa XII là chuẩn xác. Trong kế hoạch tái cấu trúc nền kinh tế cũng có nội dung sắp xếp lại hệ thống ngân hàng, đặc biệt là với những NH thương mại thời gian vừa qua đã bộc lộ khả năng yếu kém. Việc sắp xếp lại này vừa bảo đảm sự lành mạnh của từng NH, đồng thời giải quyết mối quan hệ giữa NH với các lĩnh vực trong thị trường vốn như thị trường bất động sản, chứng khoán, các nghiệp vụ tiền gửi… để bảo đảm sự an toàn của hoạt động hệ thống.

* Ông có cho rằng các NH thương mại yếu kém là tác nhân gây ra cuộc đua lãi suất và bất ổn trên toàn hệ thống hiện nay?

– Đúng vậy. Đua lãi suất phần lớn do các NH đua với nhau chứ bên ngoài làm sao có thể đua được. Khi các NH thương mại yếu kém sẽ dẫn tới mất khả năng thanh khoản. Khi mất thanh khoản lại bị khống chế bởi mức dự trữ bắt buộc thì những NH này không còn cách nào là phải ra thị trường huy động. Huy động vốn bằng bất cứ giá nào sẽ đẩy mặt bằng lãi suất lên cao, dẫn tới cuộc đua lãi suất tiền gửi thời gian qua.

* Nhưng cũng có ý kiến cho rằng nếu loại bỏ những NH thương mại yếu kém có thể dẫn tới phản ứng dây chuyền?

– Mỗi NH yếu kém phải có cách xử lý khác nhau. Như vậy sẽ không xảy ra phản ứng dây chuyền mà còn làm cho hệ thống NH lành mạnh hơn. Muốn vậy, cần tiến hành rà soát lại toàn hệ thống, để nếu NH nào yếu thì có sự trợ giúp; NH nào yếu kém quá, mất khả năng thanh toán lâu dài thì cũng cần sắp xếp lại, thậm chí phải xóa sổ.

* Ông nghĩ sao trước ý kiến cho rằng quy mô nền kinh tế nước ta còn nhỏ nhưng có quá nhiều NH thương mại ?

– Số lượng NH hiện nay so với yêu cầu nền kinh tế và sự phát triển chưa phải là nhiều. Tuy nhiên, điều quan trọng là chất lượng phục vụ, như chất lượng tín dụng, chất lượng thanh toán và tính an toàn chưa cao, vốn cũng chưa lớn. Cần sắp xếp lại hệ thống NH để giảm thiểu tối đa rủi ro và đủ sức cạnh tranh.

* Theo ông, NH Nhà nước đã đủ mạnh tay để loại bỏ những NH thương mại yếu kém?

– Đã làm đâu mà biết mạnh tay hay không! Muốn NH hoạt động có kỷ cương cần phải làm rõ ràng và dứt khoát, không thể nói mà không làm hay làm nửa vời.

Phạm Dương (thực hiện)

—————–

trích bài báo dưới đây:

Nếu như vào năm 2001, nợ Chính phủ mới chỉ là 11,5 tỉ USD, thì đến 2010 đã lên tới 55,2 tỉ USD. Trong giai đoạn này nợ Chính phủ tăng trung bình khoảng 20%/năm, gấp ba lần tăng trưởng GDP. Nợ của DNNN còn tăng nhanh hơn, nhất là trong vòng 5 năm trở lại đây, từ khi hàng loạt tập đoàn nhà nước ra đời.”

 

Cảnh báo nợ của doanh nghiệp nhà nước (tác giả Vũ Thành Tự An) Theo Thời Báo Kinh Tế Sài Gòn

 

 

“…Trong năm 2009, theo báo cáo của Chính phủ gửi Quốc hội ngày 1/11/2010 thì nợ của 81/91 tập đoàn, tổng công ty nhà nước (chưa tính Vinashin) là 813.435 tỷ đồng (41 tỉ đô la), tương đương với 49% GDP.

 

Nếu tính cả nợ của Vinashin, theo báo cáo của Bộ Tài chính là 86.000 tỷ (4,3 tỉ đô la), thì nợ của khu vực DNNN đến cuối năm 2009 (không kể chín tập đoàn, tổng công ty chưa có số liệu) đã lên tới 54,2% GDP năm 2009.”


3 rủi ro lớn từ nợ công của Việt Nam

Tác giả: Nguyên Hằng (thực hiện)

Bài đã được xuất bản: 03/10/2011

Nợ công của Việt Nam hiện có nhiều rủi ro: do chi tiêu và đầu tư công kém hiệu quả; một bộ phận rất lớn nợ công của các DNNN chưa được thống kê và nợ công tăng quá nhanh, trong khi thâm hụt ngân sách luôn ở mức rất cao – TS. Vũ Thành Tự Anh, cảnh báo.

Chi tiêu quá mức nhưng đầu tư lại kém hiệu quả đã khiến nợ công của VN tăng nhanh. Tiến sĩ Vũ Thành Tự Anh (ảnh), Giám đốc nghiên cứu của Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright, trao đổi với báo giới.

– Tăng trưởng giảm nhưng nợ công của Việt Nam vẫn tăng liên tục trong những năm qua, ông lý giải thế nào về nghịch lý này?

TS. Vũ Thành Tự Anh: Khi đầu tư của Chính phủ vượt quá sức chịu đựng của ngân sách thì sẽ phải đi vay. Tỷ lệ đầu tư của VN trong những năm qua trung bình từ 40-42% GDP, trong đó khu vực công chiếm khoảng 45%. Tỷ lệ đầu tư lớn, tăng liên tục nhiều năm trong khi ngân sách luôn ở tình trạng thâm hụt “báo động đỏ” (trên 5% GDP) khiến Chính phủ phải đi vay nợ. Điều đó là nguyên nhân khiến tỷ lệ nợ công ngày càng tăng.

Nhiều ý kiến cho rằng con số thống kê nợ công của ta chưa đầy đủ, quan điểm của ông về việc này?

Cái gọi là nợ công ở ta hiện thực chất mới chỉ là nợ của Chính phủ. Theo thông lệ quốc tế, nợ công phải bao gồm cả nợ của doanh nghiệp nhà nước (DNNN). Sở dĩ nhiều nước có nợ Chính phủ và nợ công gần như đồng nhất vì khu vực DNNN của họ rất nhỏ. Còn ở VN, nợ của DNNN có quy mô xấp xỉ với nợ của Chính phủ nên không được phép loại nó ra khỏi nợ công. Vì suy cho cùng, nếu DNNN không trả được nợ thì ngân sách cũng phải gánh.

Ví dụ, theo báo cáo của Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương, đầu tư dự kiến của 22 trên tổng số gần 100 tập đoàn, tổng công ty nhà nước trong năm này là 350.000 tỉ đồng, tương đương 17% GDP. Nếu tính tất cả gần 100 tập đoàn, tổng công ty thì quy mô đầu tư là khổng lồ, mà một tỷ lệ lớn trong số này là đi vay. Có nghĩa là số liệu nợ công theo công bố thấp hơn thực tế.

– Vậy nếu thống kê đầy đủ, nợ công của ta có nằm trong vùng rủi ro?

Theo tôi, nợ công của ta hiện nay có nhiều rủi ro. Rủi ro lớn nhất xuất phát từ việc chi tiêu và đầu tư công kém hiệu quả. Rủi ro thứ hai là một bộ phận rất lớn nợ công của các DNNN chưa được đưa vào trong các thống kê về nợ công. Khi không đo lường được và không hiểu hết “tảng băng chìm” này thì cũng không thể quản lý rủi ro mà nó có thể gây ra. Rủi ro thứ ba là nợ công tăng quá nhanh, trong khi thâm hụt ngân sách luôn ở mức rất cao. Điều này vi phạm một nguyên tắc cơ bản của quản lý nợ công, đó là nợ ngày hôm nay phải được trang trải bằng thặng dư ngân sách ngày mai.

– Nhưng không thể phủ nhận vai trò quan trọng của vay nợ với một nước đang phát triển như Việt Nam?

Một nước đang phát triển thường có nhu cầu đầu tư rất lớn, trong khi tỷ lệ tiết kiệm lại hạn chế nên việc vay nợ là điều bình thường. Vấn đề là đầu tư như thế nào để phát huy hiệu quả, đồng thời không ảnh hưởng tiêu cực tới ổn định vĩ mô.

Về ổn định vĩ mô, có thể nói chính sách tài khóa của chúng ta trong một thời gian dài đã mắc vào một sai lầm cơ bản, đó là “thuận chu kỳ”. Nghĩa là khi cả nền kinh tế hào hứng đầu tư, thay vì điềm tĩnh giảm bớt đầu tư công thì Chính phủ cũng lại hào hứng theo. Vì thế, khi kinh tế suy giảm, Chính phủ không có đủ nguồn lực để kích thích vì túi đã thủng quá sâu. Khi ấy, kích thích kinh tế phải trả cái giá rất đắt, đó là nền kinh tế lún sâu vào thâm hụt ngân sách, đồng tiền mất giá, lạm phát rình rập.

Ví dụ, lượng hàng thực tế qua hệ thống cảng Thị Vải – Cái Mép hiện chưa đến 20% công suất thiết kế nhưng Nhà nước vẫn đầu tư tới bốn cảng, trong đó ba cảng là liên doanh của Saigon Port, cảng còn lại do PMU 85 của Bộ Giao thông vận tải làm đại diện chủ đầu tư với vốn vay ODA khoảng 330 triệu USD. Câu hỏi đặt ra là, khi tư nhân hào hứng bỏ tiền vào cảng, Nhà nước có cần thiết phải đầu tư xây cảng để cạnh tranh? Lẽ ra, thay vì cạnh tranh với tư nhân, Nhà nước nên xây đường dẫn và hệ thống logistic.

– Vậy ông đánh giá thế nào về kết quả của việc cắt giảm đầu tư công tính đến thời điểm này?

Chính phủ đã có chủ trương kiên quyết cắt giảm đầu tư công, nhưng trên thực tế đầu tư công vẫn tăng cao. Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách nhà nước trong 9 tháng đầu năm 2011 là 131.364 tỉ đồng, tăng gần 24% so với cùng kỳ năm trước. Điều này cho thấy, kỷ luật đầu tư công hiện đang rất lỏng.

Một vấn đề nữa là cắt giảm trong nhiều trường hợp không đúng ưu tiên. Có những dự án rất quan trọng, sắp hình thành nhưng lại bị cắt giảm đột ngột. Ví dụ như dự án xây dựng bệnh viện cấp vùng ở Tiền Giang để giảm tải cho bệnh viện trung ương.

– Tại sao có tình trạng cái cần cắt thì ưu tiên, cái cần đẩy nhanh tiến độ lại bị cắt?

Vấn đề là ưu tiên thường chạy theo mối quan hệ lợi ích hay ưu ái người có tiếng nói. Trong trường hợp vừa kể trên thì tiếng nói của người nông dân hay doanh nghiệp ở ĐBSCL không thể so được với các tập đoàn nhà nước hay các nhóm khác. Cần hiểu, nếu để xảy ra và tồn tại mối quan hệ chặt chẽ giữa các nhóm đặc quyền đặc lợi và những người làm chính sách thì sẽ dẫn đến các hành vi tham nhũng hoặc trục lợi.

– Vậy làm thế nào để cắt giảm đầu tư công hiệu quả, và rộng hơn, làm thế nào để chính sách tài khóa thực sự đóng góp vào chống lạm phát?

Đầu tiên là cần phải thiết lập lại kỷ luật tài khóa. Thứ hai, giảm thâm hụt ngân sách không phải bằng việc tăng thu (hay tận thu) như hiện nay mà là giảm chi trên cơ sở tăng hiệu quả chi tiêu. Thứ ba, các khoản thu vượt dự toán không được dùng để tăng chi tiêu mà phải được dùng để bù thâm hụt ngân sách. Thứ tư, cần kiên quyết thu hồi các khoản đầu tư ra ngoài ngành của các tập đoàn, tổng công ty nhà nước.

Về lâu dài, phải tiến hành cải cách cơ cấu và thay đổi mô hình tăng trưởng vốn đã trở nên lạc hậu, cản trợ các động lực tăng trưởng mới của nền kinh tế.

(Theo Thanh Niên)

Posted in Chính Sách Kinh Tế-Tài Chánh, Nợ công và Nợ doanh nghiệp | Leave a Comment »

►Nhà cầm quyền VN đã từ chối nhận khoản viện trợ 1 triệu đô la từ Hoa Kỳ để tìm kiếm hài cốt các bộ đội Miền Bắc đã mất tích trong chiến tranh Việt Nam vì trong đó có điều khoản: tìm kiếm hài cốt của các quân nhân phía VNCH!

Posted by hoangtran204 trên 08/10/2011

 Ðảng cộng sản Việt Nam và nhà nước  luôn miệng hô hào kêu goi Việt kiu hòa hợp hòa giải, nhưng hành động của đảng cộng sản Việt Nam và nhà nước Cộng Hòa XHCN Việt Nam là đây:

TT Nguyễn Văn Thiệu nói rất chính xác: đừng tin những gì cs nói, mà hãy nhìn kỹ những gì CS làm

Thursday, October 06, 2011
Nhà cầm quyền VN đã từ chối nhận khoản viện trợ 1 triệu đô la từ Hoa Kỳ để tìm kiếm hài cốt các bộ đội đã mất tích trong chiến tranh Việt Nam vì trong đó có điều khoản bao gồm cả việc tìm kiếm hài cốt của các quân nhân phía VNCH.


Một ngôi mộ tập thể của các quân nhân VNCH được người dân ở thôn An Dương, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên-Huế tự nguyện quy tập và xây cất đàng hoàng đẹp đẽ.

Phát ngôn viên Bộ Ngoại Giao Việt Nam cho hay như vậy hôm Thứ Năm, sau khi Hoa Kỳ ngưng tài trợ chương trình giúp thu hồi những hài cốt đó.

Hồi tuần trước, Nghị Sĩ Jim Webb, chủ tịch Tiểu Ban Ðông Á và Thái Bình Dương, cho hay chính phủ Mỹ đã đình chỉ số tiền viện trợ 1 triệu đô la cho Việt Nam cho đến khi Hà Nội cam kết sẽ tìm cả hài cốt quân nhân VNCH mất tích. Tuy nhiên, Hà Nội lại nói là họ không được chính thức thông báo điều này.

“Chúng tôi cho rằng hợp tác nhân đạo phải luôn luôn đến từ tinh thần thiện chí, thành thật và vô điều kiện,” phát ngôn viên Bộ Ngoại Giao Việt Nam Lương Thanh Nghị nói, theo bản tin thông tấn xã AFP.

“Việt Nam luôn luôn hợp tác vô điều kiện với Mỹ để đi tìm lính Mỹ mất tích trong chiến cuộc,” vậy nên họ tưởng hai bên hợp tác “trong tinh thần đó” về vấn đề tìm kiếm Bộ Đội Việt Nam (cộng sản) mất tích. Ông Nghị viết trong một bản tuyên bố gửi tới hãng thông tấn AFP.

Hàng ngàn hài cốt quân cán chính VNCH mất tích trong cuộc chiến Việt Nam cùng với hàng ngàn hài cốt tù cải tạo chết trong các nhà tù cộng sản sau khi VNCH sụp đổ, vùi lấp trong các khu rừng.

Tòa Ðại Sứ Mỹ ở Hà Nội loan báo hồi Tháng Giêng rằng, hai bên đã ký kết một thỏa hiệp kéo dài 2 năm “cung cấp trợ giúp kỹ thuật để giúp Việt Nam thu hồi (hài cốt) bộ đội mất tích của họ.”

Sự hợp tác, theo như thông báo, sẽ bao gồm huấn luyện, trao đổi tin tức, cung cấp dụng cụ và chuyển giao kỹ thuật.

Nhưng Thượng Nghị Sĩ Webb, cũng là một cựu quân nhân từng tham chiến ở Việt Nam, nói không có ngân khoản nào được sử dụng “cho đến khi chúng ta được bảo đảm chắc chắn rằng chương trình viện trợ áp dụng đồng đều cho tất cả những ai chiến đấu ở tất cả các bên.”  (ý ông ta nói là phải tìm kiếm các quân nhân VNCH, Mỹ, Bộ Đội bị mất tích, và cả các cựu quân nhân quân lực VNCH bị tù cải tạo sau năm 1975).

Tòa Ðại Sứ Mỹ ở Hà Nội, theo bản tin AFP, cho hay nhà cầm quyền Việt Nam đã cho biết trong các cuộc thương thuyết là những người chiến đấu thuộc VNCH “không bao gồm trong chương trình” viện trợ để tìm kiếm.

Nhà cầm quyền Hà Nội cho hay khoảng 300,000 quân nhân cộng sản vẫn còn bị ghi là mất tích trong chiến tranh, tính tới khi cuộc chiến chấm dứt cuối Tháng Tư 1975.

Số quân nhân VNCH mất tích hiện không có một thống kê nào.

Hơn hai thập niên qua, nhà cầm quyền Việt Nam đã hợp tác với Mỹ để tìm hài cốt quân nhân Mỹ mất tích trong cuộc chiến, từ đó mối quan hệ giữa hai nước phát triển nhanh chóng sang các lãnh vực khác.

Hòa giải dân tộc?

Theo một công điện ngoại giao bị rò rỉ bởi wikileaks, hồi năm 2008, Nghị Sĩ Jim Webb đã bí mật đến thăm nghĩa trang quân đội Biên Hòa. Nơi đây phần lớn là hoang phế vì không có người chăm sóc.

Dịp này, Nghị Sĩ Webb gặp bí thư thành ủy và chủ tịch thành phố Sài Gòn là Lê Thanh Hải và Nguyễn Hoàng Quân. Ông Webb khuyến khích nhà cầm quyền cộng sản bây giờ hòa giải với cựu quân nhân VNCH.

Hai ông Hải và Quân, khi đáp lời ông Webb, không nhắc gì tới quân đội VNCH mà chỉ nói tới vai trò quan trọng của Mỹ trong việc phát triển kinh tế Việt Nam. Cả hai đều nhắc tới những bước tiến trong quan hệ hai nước, để người Việt ở Mỹ có thể trở về nước làm ăn.

Báo chí ở Việt Nam hàng năm nêu ra con số hàng tỉ đô la do người Việt hải ngoại, đa số là những người chạy trốn cộng sản, gửi về nước cho thân nhân mà nhờ đó có tiền nuôi chế độ.

Ông Võ Văn Kiệt, cựu thủ tướng CSVN, trước khi chết Tháng Sáu 2008 một người hiếm hoi đã kêu gọi “hòa giải dân tộc.”

Trong một cuộc phỏng vấn của đài BBC vào năm 2007 nhân dịp kỷ niệm biến cố 30 Tháng Tư, ông Kiệt cho hay Việt Nam nay đã bắt tay với tất cả các kẻ thù trong quá khứ, mà tới nay chủ trương của nhà cầm quyền Hà Nội vẫn không hòa giải với người Việt quốc gia.

“Kẻ thù của Việt Nam là Pháp trước đây, kẻ thù của Việt Nam là Mỹ sau này, kẻ thù của Việt Nam là Trung Quốc đánh biên giới phía Bắc, chúng ta cũng khép lại quá khứ được, thì sao chúng ta không khép lại quá khứ ấy mà cứ đố kỵ lẫn nhau.” Ông Kiệt nói trong cuộc phỏng vấn.

Cựu quân nhân VNCH lên tiếng

Trả lời phỏng vấn của nhật báo Người Việt về việc CSVN muốn lấy tiền viện trợ của Mỹ nhưng không chịu tìm hài cốt quân nhân VNCH mất tích trong cuộc chiến, ông Ðặng Thanh Long, cựu hội trưởng hội Hải Quân Cửu Long, nói: “Tôi có theo dõi kỹ tin này trên báo Người Việt. Suy nghĩ đầu tiên của tôi là cho đến nay người cộng sản trong chính quyền của họ vẫn còn mọi rợ và lạc hậu. Cách đây cả trăm năm, chiến tranh Nam Bắc Mỹ khi kết thúc kẻ thắng vẫn tôn trọng bên thua, thành lập cả nghĩa trang cho quân miền Nam. Suy nghĩ thứ hai, là họ chỉ muốn moi tiền của Mỹ. Quỹ tìm kiếm hài cốt các quân nhân cả hai bên lên đến cả triệu Mỹ kim mà đưa cho họ thì ai mà biết nó trôi về đâu.”

Một người khác, ông Trần Văn Ngà, cựu sĩ quan Tâm Lý Chiến Quân Lực VNCH, phát biểu: “Tôi từng có dịp cộng tác với một vài anh em bốc mộ những bạn tù cải tạo, được biết ở nhiều nơi đồng bào mình khi bất ngờ tìm ra được những hài cốt ‘lính Cộng Hòa’ thường bảo nhau chôn cất đàng hoàng và bảo trì khá kỹ lưỡng. Nay cộng sản cứ lấy tiền Mỹ rồi ra một thông báo cho ai biết những mộ, hài cốt ‘lính ngụy’ thì báo cho Ủy Ban Tìm Hài Cốt (MIA) biết, đâu có tốn kém gì mà họ không làm.”

Ông Ngà nói thêm, “rõ ràng là họ đâu có thực tâm hòa hợp hòa giải như đã rêu rao kêu gọi. Việc họ từ chối lộ rõ cái dã tâm của người cộng sản, cái bất nhân của cộng sản. Nhân dịp này, cộng đồng chúng ta nên gửi thư cám ơn đến TNS Jim Webb đã quan tâm đến người lính VNCH và đã khiến cộng sản Việt Nam lộ rõ bộ mặt thật của họ.” (TN-NH)
Nguồn: báo Người Việt

ở đây  http://www.anonasurf.com/browse.php?…lbWlkPTQ0&b=13

ở đây

——————————————–

Đại sứ CH XHCN Việt Nam Tạ văn Thông cản trở việc xây dựng tượng đài Tỵ Nạn của việt kiều tại Na Uy

“…vào thời điểm tháng 02/2011, trong lúc Tượng Đài Tỵ Nạn đang trên đà tiến hành thì nhóm người do đại sứ CH XHCN Việt Nam Tạ Văn Thông  đích thân tới Sjoofartsmuseum để phản đối việc Xây Dựng Tượng Đài của thuyền nhân Việt Nam. Nhưng Viện Bảo Tàng Sjoofartsmuseum trả lời là họ không có lý do gì để ngăn cản việc người Việt Nam thể hiện nghĩa cử cám ơn thủy thủ và nhân dân Na Uy. Sau đó, Tạ Văn Thông viện dẫn lý do là việc xây dựng tượng đài “làm trở ngại nỗ lực hòa hợp hòa giải của chính quyền Việt Nam”!

– Đến ngày 08 tháng 02 năm 2011 Tạ Văn Thông, đại sứ CHXHCN Việt Nam tại Nauy, thêm lần nữa gửi thư đến Oslo Kommune xin có buổi gặp gỡ xuyên qua việc Xây Dựng Tượng Đài của người Việt; lá thư của ông Tạ Văn Thông  gửi cho Oslo Kommune trong đó có đoạn (trích nguyên văn): “… Ambassador of Vietnam Mr. Ta Van Thong kindly requests for a meeting with Municipality of Oslo to discuss about the application for boat people statue by Vietnamese…”.

– Vào ngày 15 tháng 3 năm 2011, đáp ứng đòi hỏi của ông Tạ Văn Thông, cuộc họp bí mật diễn ra giữa Tạ Văn Thông và Oslo Kommune, mà theo yêu cầu của Tạ Văn Thông là Oslo Kommune không nên tiết lộ nội dung buổi mật đàm.

– Vào ngày 01 tháng 4 năm 2011, Tạ Văn Thông lại viết thư xin gặp Sở Văn Hóa để gọi là “bàn thêm” về việc XDTĐ, nhưng Oslo Kommune có thư hồi đáp rằng: “Chúng tôi đã trình bày cùng quí vị rồi, chúng tôi nghĩ không cần bàn thêm…“. Đại ý thư của Oslo Kommune gửi Tạ Văn Thông trong đó có đoạn (trích nguyên văn): “… As we see it, a new meeting on the matter should therefore not be necessary…”. Sự kiện bị cơ quan công quyền Oslo Kommune từ chối yêu sách đối với một  đại diện quốc gia của nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam đủ thẩm định về cái giá trị của một đại sứ quán của Hà Nội đặt tại thủ đô Oslo.

http://www.vietnet.no/index.php?option=com_content&view=article&id=82%3Acong-bo-ket-qua-cuoc-thi-tuyen-chon-mo-hinh-tuong-dai&catid=22%3Atin-tuc&Itemid=2

***************************************

Sau 36 năm, tìm thấy hài cốt Chuẩn Tướng Ðiềm, ÐT Võ Toàn
Friday, October 07, 2011 8:10:52 PM

Sĩ quan Sư Ðoàn 1 Bộ Binh lâm nạn tháng 3/75 trên đường bay từ Ðà Nẵng

Huy Phương & Nam Phương/báo Người-Việt

QUẬN CAM 7-10 (NV) – Suốt nhiều năm tìm kiếm, gia đình của cố Chuẩn Tướng Nguyễn Văn Ðiềm và cố Ðại Tá Võ Toàn đã tìm thấy hài cốt của họ với các tấm thẻ bài đầy đủ họ tên và số quân.

Di ảnh Chuẩn Tướng Nguyễn Văn Ðiềm khi còn mang cấp bậc đại tá. (Hình: Gia đình cung cấp)

Chuẩn Tướng Nguyễn Văn Ðiềm là tư lệnh Sư Ðoàn 1 Bộ Binh. Ðại Tá Võ Toàn là trung đoàn trưởng Trung Ðoàn 1 Sư Ðoàn 1 Bộ Binh. Cả hai sĩ quan này thiệt mạng trong một chuyến bay vào đêm 28 tháng 3, 1975 từ Ðà Nẵng dự trù về Qui Nhơn chuẩn bị phòng tuyến mới để cầm cự khi Ðà Nẵng thất thủ và Quảng Nam không còn an toàn.

Theo nguồn tin của gia đình Chuẩn Tướng Nguyễn Văn Ðiềm và Ðại Tá Võ Toàn, tìm ra địa điểm hài cốt của họ mới cách đây khoảng 3 tuần lễ tại một địa điểm sát bờ biển thuộc làng Lá Ngái, thôn An Hải, xã Bình Châu, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi.

Ðược sự giúp đỡ của người dân địa phương đã chôn cất những tử thi này, gia đình đã dễ dàng kiếm ra địa điểm. Trước đó, gia đình Chuẩn Tướng Ðiềm đã tổ chức rất nhiều lần tìm kiếm nhưng không thành công.

Khi khai quật lên, ngoài hài cốt của Chuẩn Tướng Nguyễn Văn Ðiềm (còn thẻ bài và một lá bùa trong túi áo- được gia đình xác nhận), Ðại Tá Võ Toàn (còn thẻ bài và một nhẫn cưới), còn có hài cốt một thiếu úy (có cấp bậc trên cổ áo), một phi công (mặc đồ bay), một phụ nữ và một em bé.

Thẻ bài của Chuẩn Tướng Ðiềm. (Hình: Gia đình cung cấp)

Ðiều này trùng hợp với ký ức của cựu Trung Tá Lê Ngọc Bình, người lái chiếc máy bay bị rớt, cho biết trong số người trên máy bay ngoài hai sĩ quan Sư Ðoàn 1 còn có nhiều người quá gian tránh pháo kích.

Trong cuộc nói chuyện với báo Người Việt trưa ngày 7 tháng 10, ông Lê Ngọc Bình nói rằng máy bay do ông lái bay trong sương mù dày đặc, chở nặng (khoảng 16 người gồm cả quân và một vài người là thân nhân không quân chạy nạn) không bay cao được và bay dọc theo bờ biển. Tới một khu vực thuộc tỉnh Quảng Ngãi thì bị bắn và máy bay rơi xuống biển.

Ông Bình, nguyên phi đoàn trưởng phi đoàn trực thăng 275 của Sư Ðoàn 1 Không Quân VNCH, kể rằng buổi tối 28 tháng 3 năm 1975, phi trường Ðà Nẵng bị pháo kích dữ dội. Ông được lệnh dời phi đoàn sang một phi trường nhỏ ở Non Nước lâu nay không sử dụng, để tránh pháo kích và “đợi êm quay lại chứ không định đi đâu”. Ðược một ít lâu thì có mấy xe díp chạy tới, ngừng lại. Ông thấy có Chuẩn Tướng Ðiềm, Ðại Tá Toàn và một số sĩ quan cao cấp khác.

Dịp này, Tướng Ðiềm liên lạc với tỉnh trưởng Bình Ðịnh thì được cho hay nơi đây vẫn còn an toàn nên ông muốn được vào đó để lập tuyến phòng thủ mới. Ông Bình trình bày rằng trời mưa và sương mù nặng nên bay rất khó khăn, nguy hiểm. Trong khi đang thảo luận thì “dân trong làng gần đó túa ra nói xe tăng Cộng Sản đang đi về hướng này”.

Vì vậy mọi người cùng lên máy bay và quyết định bay dọc biển về hướng Qui Nhơn ở phía Nam.

“Trên máy bay có một y tá, một phụ nữ với 4 đứa con nhỏ là những người quá giang tránh pháo kích ở Ðà Nẵng, tất cả ngồi đầy máy bay tới 16 người. Máy bay bay thấp vì nặng”. Ông Bình kể.

Thẻ bài và nhẫn cưới của Ðại Tá Võ Toàn. (Hình: Gia đình cung cấp)

Máy bay bay ngang qua Chu Lai bị bắn, may không bể bình xăng, nên không mất cao độ. “Nhưng khi chưa tới Sa Huỳnh, Quảng Ngãi, thì bị bắn lên. Nghe tiếng súng nhỏ bắn rồi máy bay không còn điều khiển được và rớt xuống nước”.

Theo lời ông Bình kể “Ðụng nước, máy bay trực thăng lật ngửa. Tôi cố sức ra được, trồi lên mặt nước, mang giày nặng không bơi được nên lặn xuống cởi giày. Trồi lên lại thì thấy ông Ðiềm cũng nổi lên, còn mang áp giáp. Tôi la lớn kêu ông cởi áo giáp. Cũng thấy ông Toàn nổi lên.”

Lúc này, ông nói đã uống rất nhiều nước biển, rất mệt lại đêm tối không nhìn thấy gì, “sóng đánh rầm rầm, mạnh ai nấy đi”. Ông ráng bơi được vào bờ, rất mệt, bám được mô đá nhưng lại bị sóng đánh dạt ra ba lần mới bám được một chỗ, tay sứt móng máu chảy rất nhiều. Ông không thấy ai bơi vào như ông, lúc này ông đoán khoảng 11 tới 12 giờ đêm.

Ông Bình kể tiếp là ông đi dọc biển một hồi thì thấy một máy bay trực thăng trước mặt. Ông chạy tới, may nhờ một người trong nhóm người này là trung úy thuộc cấp cũng thuộc phi đoàn của ông nhìn ra ông nên đã không bị bắn.

Chiếc máy bay này đã đáp xuống vì sương mù dày đặc không bay nổi.

Khi họ đang bàn tính và chờ bớt sương mù thì bị một nhóm quân cộng sản tới tấn công. Nhóm của ông đã bắn trả, rút lên máy bay và bay đi kịp. Cố gắng lên được cao độ 2,000 feet, trời bớt sương mù và lúc này cũng đã khoảng 7 giờ sáng ngày hôm sau. Máy bay ra khỏi mây và bay về được tới phi trường Phù Cát.

“Tôi nghĩ là ông Chuẩn Tướng Ðiềm và những người kia đều đã chết đuối. Họ đã uống nhiều nước biển” nên mất sức, không thể chống chọi với sóng biển.

“Hai đêm qua tôi đã không ngủ được khi nghĩ đến chuyến bay hôm đó”. Ông Bình nói.

nguồn

————————————————————————————-

CHÍNH SÁCH GIAN TRÁ VÀ ÐƯỜNG LỐI BẠO LỰC CỦA CỘNG SẢN
TRONG VIỆC ÐÀN ÁP CÁC ÐẢNG QUỐC GIA.

Nguyễn Ðức Cung (nguon)

Posted in Hòa hợp Hòa Giải | 1 Comment »

►Sai lầm lớn của PetroVietnam trong công trình lọc hóa dầu Dung Quất

Posted by hoangtran204 trên 04/10/2011

Lời tựa: Mục đích ban đầu của việc xây dựng Nhà máy Dung Quất (Quảng Ngãi) là để lọc dầu ngọt (có chứa rất ít lưu huỳnh) của giếng dầu Bạch Hổ.  

Nhưng,  sau hơn 20 năm khai thác bán dầu thô cho Nhật, nay giếng Bạch Hổ đã cạn. Vì thiếu dầu ngọt để lọc, nên Nhà máy Dung Quất hiện nay đổi qua lọc dầu pha trộn giữa dầu ngọt (ít hưu huỳnh) và dầu chua (nhiều lưu huỳnh). Việc này sinh ra lắm thiệt hại về tài chánh.

Van của nhà máy lọc dầu ngọt khác với loại van dùng để lọc dầu chua. Nên khi lọc loại dầu nửa ngọt, nửa chua, cọng thêm với kết cấu máy móc của 2 loại nhà máy để lọc dầu ngọt và dầu chua cũng khác nhau. Hậu quả là các van và máy của hệ thống lọc ở Dung Quất không tương hợp, lượng lưu huỳnh cao trong dầu chua đã và đang làm van của nhà máy bị hư hại sau vài tháng lọc dầu chua pha dầu ngọt.

Vì vậy,  nên nhà máy chạy chừng 4 tháng, là phải dừng lại tu sửa, thay van 1 lần. Mỗi lần tu sửa mất 2 tháng. Lần tu sửa vừa qua trung hợp với 2 tháng hè nên các blogger nói là nhà máy Dung Quất mà cũng đi nghĩ Hè.

Nhà máy Dung Quất hoàn thành và khai trương ở vào lúc kinh tế thế giới rơi vào khủng hoảng nặng nhất trong 80 năm qua. Thời gian tháng 3/2009 là lúc chứng khoán Mỹ (và thế giới) sụp xuống thấp nhất. Chỉ số Down Jones (là của các công ty kỹ nghệ hàng đầu) của Mỹ từ 14000  điểm sụp xuống còn 7800 điểm. Chứng khoán toàn cầu sụt giá theo và từ trước tới nay chưa bao giờ có hiện tượng nầy. Dầu từ 147 đô la/ 1 thùng vào mùa hè 2008 đã sụt giá xuống còn 32-40 đô la/1 thùng suốt năm 2009.

Nếu  gọi việc  xây dụng nhà máy Dung Quất để lấy công làm lời và tạo công ăn việc làm cho dân miền trung (vùng Quãng Ngãi, Quãng  Nam) thì cả hai mục đích nầy đều thất bại. Vì khi giá dầu thô trên 100 đô/1 thùng, công lọc 1 tấn dầu là 20-30 đô. Khi giá dầu thô thấp cở 30-80 đô/1 thùng, công lọc 1 thùng dầu là 5-10 đô la 1 thùng.

Công lọc 1 thùng dầu năm 2009  là 5 đô/ 1 tấn dầu. Nhà máy lọc đầu Dung Quất có công suất lọc 6,5 triệu tấn / 1 năm. Tức là doanh thu (tiền công) thu được trong 1 năm là: 6,5 triệu tấn x 5 đô/1 tấn = 32,5 triệu đô la/ 1 năm. Hiện nay, giá dầu thô đang ở mức 80 đô/ thùng.

Lương hàng tháng để trả cho 2000 công nhân viên làm việc tại Dung Quất là 400,000 đô (tạm cho lương trung bình là 200 đô la hay 4 triệu đồng /tháng).

Với lãi suất hàng năm là 5%, thì tiền lời hàng tháng phải trả cho việc vay 3 tỉ đô la xây dựng nhà máy là 12,5 triệu đô la.Tiền lời hàng năm phải trả cho việc vay 3 tỉ đô là 150 triệu đô la. Tính toán cho thấy, mỗi năm nhà máy Dung Quất lỗ 122 triệu đô la.

Vào ngày 4 tháng 1 năm 2011, khi vừa hoàn thành chạy thử và chính thức khánh thành nhà máy lọc dầu Dung Quất vào 6/1, nhận biết được các lỗi lầm, và sự thiệt hại quá mức chịu đựng,    Petrovietnam rao bán 49% cổ phần nhà máy Dung Quất để  lấy tiền thuê Nhật sửa chữa một cách chắp vá, với hy vọng chuyển nhà máy lọc dầu ngọt trở thành  lọc dầu chua (là dầu thô chứa nhiều lưu huỳnh và acid hơn dầu ngọt).  Nhưng nói trớ qua là nâng công suất từ 6.5 triệu tấn dầu mỗi năm lên 10 triệu tấn dầu. Kế hoạch chắp vá chuyển đổi  có giá cao khủng khiếp khoảng 1,5 tỷ đô la. Số tiền này mắc hơn giá xây mới một nhà máy lọc dầu có cùng công suất 10 triệu tấn/ 1 năm, vì thời giá hiện nay chỉ có 1,2 tỷ đô la.

Nếu phá sập toàn bộ nhà máy lọc dầu Dung Quất bán sắt vụn được giữ hoàn toàn bí mất, rồi xây lại một nhà máy lọc dầu (chua) mới, chắc chắn Petrovietnam sẽ thuê xe ủi đến cào bằng nhà máy lọc dầu Dung Quất. Lý do là việc này kinh tế hơn và tiết kiệm khoảng 500 triệu đô la, và không lo các hậu quả về sau của chuyện mẹ gà, con vịt. Nhưng Petrovietnam và Bộ Chính Trị  đã suy đi nghĩ lại và biết khó lòng giữ kín chuyện này, không khéo bị blogger và dân chúng biết được sẽ tung lên mạng chê cười, nên cuối cùng đành phải  sử dụng kế hoạch chắp vá, thuê Nhật sửa lại.

http://in.reuters.com/article/2012/03/13/vietnam-energy-refinery-idINL4E8ED0KW20120313

http://apps.americanbar.org/intlaw/committees/industries/energy_natural_resources/vietnam.pdf

 

“Vietnam has proven gas reserves of 6.8 trillion cubic feet (Tcf), but is expected to contain up to 10 Tcf…Gas is piped to three generating plants at the Phu My industrial complex, where electricity is provided primarily to areas surrounding Ho Chi Minh City…”

http://vngg-energy.blogspot.com/2005/06/vietnam-country-energy-analysis-brief.html

******************************************

Bài 1

Sai lầm lớn của PetroVietnam trong công

trình lọc hóa dầu Dung Quất

Phan Châu Thành

Nhà máy lọc dầu Dung Quất của Việt Nam do Tập đoàn “Anh Cả Đỏ” PetroVietnam thực hiện trị giá hơn 3,5 tỷ USD đã phá mọi kỷ lục thế giới về tỷ suất đầu tư cao (gấp 3-4 lần suất đầu tư trung bình cho nhà máy lọc dầu tương đương của thế giới), về thời gian thực hiện kéo dài lê thê gần 20 năm (nếu tính cả nhà máy lọc dầu ở Tuy Hạ, Long Thành thì là gần 30 năm), và về số đối tác chính thay nhau tham gia thiết kế, thi công dự án (từ Total của Pháp, đến Zarubezneft của Nga rồi tổ hợp Technip-JGC của Pháp và Nhật), về vị trí vô lý phi kinh tế xa các trung tâm kinh tế công nghiệp vốn được chọn chỉ bằng ý chí chính trị…

Nhưng cái bất hạnh của dân Việt Nam với dự án này còn chưa dừng ở đó, nó sẽ vẫn còn là nỗi đau phải chữa trị của nước ta, là cái giá đắt dân ta phải trả cho những sai lầm lớn của PetroVietnam khi thực hiện dự án.

Những sai lầm lớn đó vẫn đang được PetroVietnam cố tình che dấu để xóa dần đi trong vài thập niên tới bằng đồng tiền thuế của người dân Việt Nam…

Không cam lòng tiếp tục thụ động nhìn cảnh một nhóm bè lũ lợi ích lừa bip và ăn cắp của cải công sức của cả hơn 80 triệu dân Việt còn đang phải vất vả kiếm ăn hàng ngày, tôi quyết định gửi bài này lên Dân Luận và Bauxite Việt Nam để toàn dân cùng biết.

Sai lầm lớn đầu tiên của PetroVietnam nằm ngay trong luận chứng kinh tế kỹ thuật: NGUỒN DẦU THÔ?

Nhà máy lọc dầu Dung Quất được thiết kế để chế biến 100% là dầu ngọt Bạch Hổ (có hàm lượng lưu huỳnh rất thấp), vốn không ăn mòn phá hủy thiết bị.

Nhưng nay dầu Bạch Hổ đã giảm sản lượng, không đủ cung cấp cho nhà máy và sẽ nhanh chóng dần hết hẳn trong vài năm tới, nên PetroVietnam ngay từ năm đầu tiên đã và đang phải đi nhập dầu thô khác cho nhà máy lọc dầu Dung Quất.

Tuy nhiên, nhập dầu ngọt để chế biến rất khó, vì hiếm, không có nguồn nhập ổn định. Nếu nhập từ Trung đông về thì rất phi kinh tế. Bản thân dầu thô ngọt như dầu Bạch Hổ đã là hiếm và PetroVietnam chỉ bán cho các khách hàng (chủ yếu là Nhật) để dùng làm nhiên liệu (phát điện) với giá cao, vì không cần qua chế biến.

Cũng vì thế, nhập dầu ngọt về nhà máy Dung Quất để chế biến là rất đắt đỏ, nên không kinh tế. Nếu nhập dầu ngọt từ xa về chế biến thành các sản phẩm dầu của nhà máy Dung Quất sẽ bị lỗ hàng vài trăm nghìn đôla mỗi ngày. Với công suất hiện nay, khoảng 6,5 triệu tấn/năm hay gần 20,000tấn/ngày, nhà máy Dung Quất sẽ lỗ khoảng nửa triệu USD/ngày, lỗ vài trăm triệu USD mỗi năm.

Hiện nay dầu ngọt từ Bạch Hổ về không đủ và PetroVietnam đã phải nhập dầu chua từ nơi khác về pha trộn với dầu ngọt rồi chế biến để đảm bảo công suất và sản lượng được giao (và ép Petrolimex phải tiêu thụ vì Petrolimex có thể nhập dầu tốt hơn với giá rẻ hơn dầu Dung Quất), bất chấp hiệu quả kinh tế và rất nhiều rủi ro kỹ thuật, thêm vào đó là chất lượng các sản phẩm cuối cùng cũng của nhà máy lọc dầu Dung Quất không bảo đảm nên càng khó tiêu thụ.

Có nghĩa là, anh cả đỏ PetroVietnam đã bỏ ra 3,5 tỷ USD của nhà nước để đầu tư một nhà máy mà nếu khai thác nó đúng theo thiết kế và công suất, nhà nước ta sẽ phải chịu lỗ thêm 300-500 triệu USD/năm nữa! Nếu không có 500 triệu USD nữa hàng năm thì… hãy vất bỏ 3,5 tỷ USD đã đầu tư đi!?

Đó là sai lầm kinh khủng thứ nhất của PetroVietnam trong việc lập luận chứng kinh tế kỹ thuật cho dự án – cái luận chứng mà nhìn qua đã thấy nó bất chấp mọi cơ sở kinh tế và kỹ thuật sơ đẳng nhất.

Đáng tiếc và đáng mừng là đây là công trình thực hiện theo ý chí tập thể dân chủ đảng lãnh đạo, nên sẽ chẳng tìm ra ai chịu trách nhiệm việc này, chỉ toàn những người có công giấu diếm việc này giúp đảng cho nó khỏi bung ra trước nhân dân thôi.

Do nhà máy được thiết kế hoàn toàn chỉ cho dầu ngọt, lại phải dùng để chế biến dầu chua (vốn có hàm lượng lưu huỳnh cao) nên vấn đề vận hành, khai thác nhà máy “mới tinh” hiện nay đã trở nên rất nguy hiểm về kỹ thuật và an toàn, dù nhà máy mới đi vào khai thác hơn một năm.

Chỉ một thời gian ngắn, toàn bộ các hệ thống van, bơm, đường ống và các thiết bị khác đã và sẽ bị lưu huỳnh trong đầu chua phá hủy từ bên trong, khiến chi phí khai thác, bảo dưỡng nhà máy lên rất cao.

Thực chất, nhà máy Dung Quất cần phải được hoán cải nâng cấp để có thể chế biến dâu thô chua (thì mới kinh tế và an toàn), nhưng vì PetroVietnam đã đầu tư quá lớn, khoảng 3,5 tỷ USD cho nhà máy công suất chỉ 6,5 triệu Tấn dầu thô ngọt/năm (trong khi, theo Petromines, suất đầu tư trung bình hiện nay trên thế giới chỉ là khoảng 1,2 tỷ USD cho nhà máy 10 triệu tấn/năm), nên PetroVietnam không thể có lý do gì để xin tiền chính phủ cho việc hoán cải năng cấp rất cần thiết mà khó nói ra này, chỉ vì PetroVietnam đã đầu tư sai nhà máy trị giá 3,5 tỷ USD mà vẫn không thể khai thác hiệu quả!

Chả lẽ lại: “Báo cáo thủ tướng, chúng em lỡ đầu tư sai (xài hết) 3,5 tỷ USD cho Nhà máy lọc dầu Dung Quất rồi mà chưa xong, chưa thể khai thác được. Thủ tường duyệt cho em thêm 1-2 tỷ USD để hoán cái nâng cấp nó thì em móí đảm bảo hàng năm có 6,5 triệu tấn sản phẩm xăng dầu nhãn hiệu VN cho nội địa”? Đó là cái sai lớn thứ hai của PetroVietnam: CÁI SAI GIẤU TỘI!

Thay vì đối diện sai lầm trên để xử lý vượt qua, dân ta chỉ thấy PetroVietnam báo công rầm rộ với đảng với dân rằng nhà máy lọc dầu Dung Quất mới 1 năm nay đã có doanh thu khủng là… (PetroVietnam tính luôn giá dầu thô đầu vào trong doanh thu của NM Dung Quất để báo cáo, trong khi doanh thu thuần của nhà máy lọc dầu chỉ là giá gia công dầu thô, chừng 20-30 USD/tấn cho sản lượng 6,5 triệu tấn/năm chỉ là khoảng 180 triệu USD/năm, chưa đủ cho PetroVietnam trang trải chi phí vận hành nhà máy).

Hay là các bác bên trên biết cả rồi, nhưng vì đã cùng chung chia phần trong cái 3,5 tỷ USD kia rồi nên họ đang cùng nhau tìm cách lấp liếm?

Để cứu vãn tình hình, Tập đoàn kinh tế hùng mạnh nhất VN ta – anh cả đỏ PetroVietnam đang cố gẳng “đẩy nhanh” nhà máy sang giai đoạn II mở rộng công suất nhà máy lên thành 10-12 triệu tấn/năm vốn dự kiến sau ít nhất 5-10 năm khai thác nhà máy giai đoạn I công suất 6,5 triệu tấn/năm hiện nay – hòng có tiền cho việc hoán cải nâng cấp cần thiết trên. Nếu dự án mở rộng được vẽ ra là cần 1-2 tỷ USD nữa thì còn phải cộng thêm 0,5-1,0 tỷ USD cho hoán cải nâng cấp thiết bị ngọt thành chua nữa. Nghe nó mới chua làm sao! Cứ như chúng ta đang nói đến tỷ đôla của Zambabê hay Mozămbic!

Như vậy, chi phí để nâng cấp nhà máy Dung Quất sao cho có thể chế biến dầu chua, dự kiến khoảng 0,5 -1,0 tỷ USD sẽ phải nằm “phục” trong vốn đầu tư mở rộng nhà máy sắp tới để chính phủ duyệt (mà chính phủ sẽ phải không biết?)!

Đó sẽ là sai lầm lớn thứ ba, sai lầm kép: LỪA DỐI CẤP TRÊN (ở đây có thể sẽ là chính phủ, sic), và nhập nhèm trong công việc dự toán công trình với các đối tác bên ngoài và các đơn vị nội bộ bên trong. Đúng là con voi, hay ở đây là cả đàn voi, cũng chui qua cái kim, đơn giản! Có việc gì mà Tập đoàn anh cả đỏ PetroVietnam không làm được hay không dám làm nhỉ?

Nhưng nếu không mở rộng nhà máy Dung Quất gấp thì sao? Thì nó sẽ sụp! (hoặc sẽ nổ tung!). Vì thiết bị nào cũng có những cái vòng bi, gioăng đệm cao su, sắt thép, hợp kim… chỉ chịu được dầu ngọt Bạch Hổ thôi. Khi làm việc với dầu chua chúng vận hành “xì xụp” thì khả năng sẽ gây ra cháy nổ và các loaị sự cố rất cao… Giống như nhà máy nước ngọt Thủ Đức vốn lấy nước ngọt sông Đồng Nai đem lọc và khử tạp chất rồi cung cấp cho Tp.HCM nay lại phải lọc nước ngọt từ nước biển Vũng Tàu vậy – mọi thứ sẽ bị han rỉ nhanh chóng vì nước biển, và chuyện sẽ xảy ra tương tự như đang xảy ra ở nhà máy lọc dầu Dung Quất của PetroVietnam, nhưng tất nhiên ở Dung Quất nguy hiểm hơn nhiều.

Nhưng rồi PetroVietnam cũng sẽ có số tiền X + Y cho cả hoán cải và mở rộng nhà máy Dung Quất thôi, thêm có vài ba tỷ USD nữa ấy mà!

Để có tầu cao tốc chả biết sẽ lợi lộc cho mấy bà mẹ đi chợ và bao nhiêu trẻ em đi học mà Chính phủ còn sẵn sàng chi hàng trăm tỷ USD của dân cơ mà!

PetroVietnam sẽ báo cáo chính phủ và quốc hội rằng vận hành nhà máy Dung Quất sau giai đoan I công suất 6,5 triệu tấn/năm hiện nay đã lãi lắm rồi – như chúng em đã báo cáo! (thực ra là chúng em đã nói láo!), nhưng chỉ cần thêm 2-3 tỷ USD nữa là có công suất gần gấp đôi và lãi thì gấp ba gấp bốn?! (chúng em lại xin nói láo tập thể tiếp!)… Chính phủ nào nghe mà chẳng ham, nhất là cái chính phủ ta – toàn các chuyên gia nói láo với dân! “Vì lợi dân, vì ích nước” thì chuyện gì chính phủ ta chẳng dám làm!

Và thế là nỗi đau nhức nhối mang nhức tên nhà máy lọc dầu Dung Quất – PetroVietnam của dân Việt vẫn cứ bị che đậy kín và cứ thể sẽ tiếp diễn dài dài, trong vài chục năm nữa. Thế là Quốc Hội và chính phủ ta sẽ vẫn tiếp tục để PetroVietnam phạm những sai lầm “tập thể” và lừa dối “tập thể” cả đất nước ta, chỉ vì vài vị trong chính phủ và quốc hội lỡ há miệng mắc đôla?

Tiền vay để có nhà máy lọc dầu Dung Quất 3,5 tỷ USD nước ta chưa kịp trả cent nào thì chính phủ sẽ lại vay cho PetroVietnam thêm 2-3 tỷ USD nữa.

Chỉ có dân Việt ta là cứ è cổ ra mà trả nợ, đến đời con, đời cháu chúng ta còn chưa trả xong đâu!

Và Đảng còn bắt dân ta phải biết ơn đảng và PetroVietnam vì thầy trò họ đã cống hiến cho đất nước cái nhà máy lọc dầu Dung Quất hoành tráng ấy!

Ôi, dân Việt đau thương! Chúng ta có quyền được biết những điều trên!

*************************************

Bài 2

Tháng 1-2009

Hiệu quả dự án Dung Quất sẽ ra sao khi giá dầu giảm?

Chỉ còn hai tháng nữa, vào ngày 25/2/2009, dự án Nhà máy Lọc dầu Dung Quất sẽ được vận hành thương mại.

Vấn đề được nhiều người quan tâm là hiệu quả kinh tế của dự án lọc dầu đầu tiên của Việt Nam với tổng vốn đầu tư 2,5 tỉ Đô la Mỹ sẽ ra sao trong bối cảnh giá dầu thế giới liên tục giảm mạnh.

Báo giới đã trao đổi với ông Đinh Văn Ngọc, Phó tổng giám đốc Công ty TNHH Một thành viên Lọc hóa dầu Bình Sơn, đơn vị sẽ quản lý vận hành nhà máy, xung quanh vấn đề này.

Dường như một số công đoạn xây dựng nhà máy đang gặp khó khăn do điều kiện thời tiết?

Từ tháng 11 đến tháng 3 hàng năm tại Dung Quất thời tiết không thuận lợi cho việc thi công trên công trường và trên biển do sóng lớn, có lúc giật cấp 6, 7, biển động mạnh. Vì vậy chúng tôi và nhà thầu phải phối hợp chặt chẽ hơn, lập kế hoạch chi tiết hơn.

Đến giữa tháng 12/2008, tiến độ xây lắp của dự án đạt 97,98% và tiến độ công tác chạy thử đạt 45% và tôi tin đến ngày 25/2/2009, nhà máy sẽ sản xuất ra các sản phẩm xăng dầu thương mại đầu tiên của Việt Nam.

Nguồn nguyên liệu cho nhà máy đã nhập đủ chưa, thưa ông?

Sắp tới sẽ nhập 600 tấn LPG (khí hóa lỏng) đầu tiên và một phần sẽ dùng để đốt đuốc cho nhà máy. Ngọn đuốc này cao 115 mét và đối với các nhà máy lọc dầu thì khởi động đốt đuốc là thời điểm rất quan trọng sau mốc nhập dầu thô, khẳng định rằng nhà máy đã hoàn thiện về cơ khí và chuyển sang giai đoạn sẵn sàng nhập hydrocacbon, tiếp nhận nguyên liệu để chế biến.

Hiện chúng tôi đã chứa gần đầy hai bể chứa dầu thô (80.000 tấn) sau đợt nhập đầu tiên ngày 5/12 vừa qua. Lượng dầu đó phục vụ cho giai đoạn chạy thử nghiệm thu và nhà máy sẽ nhập lô dầu thô thứ hai, khoảng 600.000 thùng vào cuối tháng 1 hoặc tuần đầu của tháng 2/2009, như vậy tháng 2 và 3/2009 sẽ có đủ nguồn dầu thô cho nhà máy.

Trước mắt, nguồn nguyên liệu cho nhà máy lọc dầu do mỏ Bạch Hổ cung cấp nhưng mỏ này đang cạn dần, vậy đâu là nguồn nguyên liệu lâu dài cho nhà máy?

Khả năng cung cấp dầu thô của mỏ Bạch Hổ cho Nhà máy Lọc dầu Dung Quất đến đâu và kéo dài trong bao lâu đã được công ty lên kế hoạch.

Ngoài mỏ Bạch Hổ, Việt Nam còn nhiều nguồn dầu khác đang được đưa vào khai thác như các mỏ Cá Ngừ Vàng, Rạng Đông, Sư Tử Đen, Sư Tử Vàng… và năm nay đã đưa vào khai thác bốn mỏ mới. Nhà máy có thể trộn các loại dầu ngọt khác của Việt Nam với dầu Bạch Hổ để đảm bảo cung cấp dầu thô trong trung hạn.

Về dài hạn, chúng tôi đang đàm phán với các nhà cung cấp dầu thô như BP, Shell… về hợp đồng mua dầu dài hạn từ nước ngoài để pha trộn với dầu Bạch Hổ và dầu ngọt Việt Nam và cung cấp lâu dài cho nhà máy.

Chính phủ và Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (Petro Vietnam) đã đồng ý về nguyên tắc cho phép Công ty Lọc hóa dầu Bình Sơn nghiên cứu sơ bộ và đề xuất phương án nâng cấp nhà máy, trong đó có việc chế biến dầu hỗn hợp.

Hầu hết các phân xưởng của nhà máy được thiết kế để chế biến dầu hỗn hợp, tức là pha trộn giữa dầu ngọt và dầu chua theo tỷ lệ nhất định. Sau này một lượng đáng kể dầu chua sẽ được nhập từ Dubai, Kuwait, Saudi Arabia… để đảm bảo nguồn cung lâu dài.

Vậy thì dự kiến năm 2009 nhà máy có thể đáp ứng nhu cầu xăng dầu nội địa đến đâu?

Nhà máy vận hành liên tục theo công suất và dự kiến trong năm 2009 sẽ đạt khoảng 60-65% công suất thiết kế, tức là sẽ đưa vào chế biến khoảng 4 triệu tấn dầu thô.

Thời điểm 25/2/2009 khi nhà máy vận hành thương mại thì công suất sẽ ở mức tối thiểu, khoảng 50% và từ tháng 8 đến cuối năm 2009 dự tính có khả năng nâng công suất nhà máy lên 100%.

Với công suất nguyên liệu chế biến 6,5 triệu tấn dầu thô/năm, sẽ đưa ra thị trường 6,3 triệu tấn sản phẩm/năm, bao gồm chín loại sản phẩm.

Nhà máy được thiết kế theo nhiều chế độ vận hành linh hoạt, nếu thị trường cần nhiều dầu diesel và chế biến dầu diesel hiệu quả kinh tế cao hơn thì chúng tôi sẽ tối đa hóa sản xuất loại dầu này. Nếu nhu cầu về xăng cao hơn và chế độ sản xuất xăng cho hiệu quả kinh tế cao hơn thì chuyển chế độ vận hành từ tối đa dầu diesel sang tối đa xăng.

Tại sao phải đặt vấn đề nâng công suất nhà máy lúc này? Có phải vì thiết kế ban đầu không dự báo đúng nhu cầu thị trường trong dài hạn?

Bất cứ nhà máy lọc hóa dầu nào trong giai đoạn thiết kế đều phải tính đến việc mở rộng trong tương lai vì đó là đặc thù của nó. Đối với Nhà máy Lọc dầu Dung Quất, tiêu chuẩn thiết kế là theo tiêu chuẩn thế giới và công ty đã dành sẵn một diện tích đất cho việc mở rộng sau này.

Thiết kế ban đầu của nhà máy từ những năm 1998-2000, đến năm 2003 chỉnh sửa lại và đã tính toán nhu cầu thị trường và sự phát triển của đất nước, tuy nhiên không thể hoàn toàn chính xác.

Ví dụ dự báo về tăng trưởng GDP là bao nhiêu phần trăm/năm, nhu cầu tiêu thụ xăng dầu trong nước tăng như thế nào, và không thể ngờ giá dầu thế giới hồi đầu năm lên tới 147 Đô la Mỹ/thùng thì nay xuống dưới 50 Đô la, thậm chí 40 Đô la/thùng.

Tầm nhìn của dự án là đến năm 2020-2025, với tình hình giá dầu thế giới nhiều biến động và nhu cầu tiêu thụ xăng dầu trong nước ngày càng tăng, thì việc lên kế hoạch mở rộng ngay từ thời điểm này, theo tôi, không phải là sớm.

Vậy, nên chọn phương án nâng công suất nhà máy hay xây một nhà máy khác để tiết kiệm chi phí đầu tư?

Hiện mới chỉ là giai đoạn nghiên cứu sơ bộ và có nhiều phương án, nâng cấp ra sao đòi hỏi phải nghiên cứu chi tiết hơn. Nếu Nhà máy Lọc dầu Dung Quất nâng cấp thì với công suất hiện tại 6,5 triệu tấn/năm, có khả năng nâng lên 8-8,5 triệu tấn/năm.

Tuy nhiên, đó chỉ là một phương án, hướng thứ hai mà thế giới cũng làm nhiều là xây một dây chuyền thứ hai, (giống như nhà máy thứ hai) bên cạnh nhà máy thứ nhất để tận dụng các lợi thế có sẵn. Như thế, chỉ cần một tổng giám đốc (của nhà máy thứ nhất), nếu xây ở chỗ khác thì phải nhân đôi số lãnh đạo và cán bộ lên.

Lợi thế thứ hai là về cơ sở hạ tầng, rất nhiều hạng mục phụ trợ có thể sử dụng cho dây chuyền thứ hai, ví dụ như cảng biển nước sâu tại Dung Quất.

Thưa ông, bài toán giá xăng dầu trong nước sẽ như thế nào sau khi nhà máy hoạt động, liệu người tiêu dùng có thể hy vọng một mức giá “dễ thở” hơn không?

Đó là chuyện điều tiết vĩ mô của Chính phủ và còn phụ thuộc vào thuế nhập khẩu xăng dầu và tình hình kinh tế. Nhưng nhà máy sẽ giúp “giảm nhiệt” thị trường, giảm sức ép nhập khẩu, giảm phụ thuộc vào nước ngoài vì nó đáp ứng khoảng 30% nhu cầu xăng dầu của đất nước.

Tác động của Nhà máy Lọc dầu Dung Quất lên thị trường phân phối xăng dầu và việc chế biến là rất lớn, nên ngay cả việc mua dầu thô từ mỏ Bạch Hổ – nguồn tài nguyên đất nước cũng là bài toán kinh tế cân đối của Chính phủ và Bộ Tài chính.

Nhưng giá dầu thế giới đã tụt xuống dưới 40 Đô la Mỹ/thùng, như vậy giá bán xăng dầu của nhà máy vào năm tới sẽ phải cạnh tranh quyết liệt với giá nhập khẩu và có thể lợi nhuận sẽ bị ảnh hưởng?

Cá nhân tôi không cho rằng giá dầu thế giới sẽ giảm nữa bởi vì OPEC (các nước xuất khẩu dầu mỏ) sẽ điều chỉnh lại sản lượng và hiện nay họ đã có kế hoạch cắt giảm sản lượng. Ngoài ra, số tiền 700 tỉ Đô la mà Chính phủ Mỹ tung ra cũng sẽ giúp kinh tế Mỹ hồi phục và giá dầu thế giới sẽ tăng trở lại chứ không thể giảm tiếp.

* Dầu ngọt là loại dầu có hàm lượng lưu huỳnh thấp, không gây hại môi trường trong khi dầu chua có hàm lượng lưu huỳnh cao gây ăn mòn kim loại, tạo ra mưa axít và làm ô nhiễm môi trường.

Muốn chế biến dầu hỗn hợp người ta trộn nguyên liệu đầu vào là dầu ngọt với dầu chua theo một tỷ lệ nhất định tùy theo hàm lượng lưu huỳnh trong hai loại dầu này, chẳng hạn 85% dầu ngọt và 15% dầu chua, để đảm bảo sản phẩm đầu ra có chất lượng tốt và ít lưu huỳnh.

Hiện nay, theo đánh giá của các chuyên gia dầu mỏ thì dầu thô khai thác tại các mỏ của Việt Nam hầu hết là dầu ngọt có chất lượng cao, hàm lượng lưu huỳnh thấp. Về lâu dài, Nhà máy Lọc dầu Dung Quất sẽ sử dụng nguồn dầu ngọt này pha trộn với dầu chua nhập khẩu để tạo ra sản phẩm dầu hỗn hợp.

Thành Trung (TBKTSG)
http://vneconomy.vn/20090105023944458P0C10/hieu-qua-du-an-dung-quat-se-ra-sao-khi-gia-dau-giam.htm

————-

(Ý kiến phản hồi của Lê Quốc Trinh)

Thân chào bạn Phan Châu Thành,

Cám ơn bài viết bổ ích của bạn. Bài này giúp tôi khẳng định thêm những gì tôi hiểu về Dung Quất từ ba năm qua.

Tôi là kỹ sư cơ khí từng làm việc trong ngành khai khoáng (khoáng sản, kim loại) và cả lọc hóa dầu (Petro), cho nên nhiều chi tiết kỹ thuật quan trọng tôi hiểu rõ. Vấn đề mỏ Bạch Hổ chứa dầu thô loại ngọt (ít lưu huỳnh, Soufre) tôi mới nghe, vì không nắm dữ liệu về phía VN. Nhưng tôi hiểu rõ tính chất nguy hại tàn phá của lưu huỳnh đối với các thiết bị tối tân nặng nề.

Ở Canada và Mỹ, các công ty thiết kế và chế tạo thiết bị nặng như bể chứa dầu (storage tanks), máy trao đổi nhiệt (heat exchanger), máy bơm, ngay cả đường ống (pipeline) rất cẩn thận khi đụng phải loại dầu chứa hàm lượng lưu huỳnh cao. Ở nhiệt độ cao (gần 300-400 độ C) và áp xuất cao (hơn 20-30 atmosphere) khí lưu huỳnh trong dầu sẽ tấn công làm han rỉ, rạn nứt những mối hàn rất nhanh. Kỹ nghệ hoá dầu bắt buộc phải xếp hạng hoá chất lưu hùynh thành loại “dầu chua” (sour service). Sau một thời gian hoạt động những mối hàn hoen rỉ (corrosion) bị vỡ sẽ gây tai nạn nổ thiết bị, nhiều lò chế tạo bằng sắt thép chất lượng cao, bề dày lớn 10cm trở lên, vẫn không chịu nổi.

Do đó khu công nghiệp Dung Quất đã phải hứng chịu nhiều thay đổi lớn cực kỳ mắc tiền và quan trọng như một cái van từng gây tê liệt nhà máy ngay từ lúc khởi đầu (ref. BauxitVietNam, 2009), sau đó là bộ phận điều tiết xử lý khí độc SO2 (bắt nguồn từ lưu huỳnh) bị quá tải xả ra ngoài khí quyển gây thiệt hại cho dân cư quanh vùng hai lần (tôi đã có một bài viết về loại khí tử thần này trong DanChimViet va BauxitVietNam hồi năm ngoái).

VN đang chập chững bước vào xây dựng công nghiệp nặng chỉ mới 10 năm gần đây, trong bối cảnh thiếu chuyên gia, kỹ thuật lành nghề để làm nền tảng nhân sự, lực lượng nòng cốt này là những Việt kiều đang hành nghề ở hải ngoại. Nếu lãnh đạo ĐCS VN biết đặt trọng tâm trên lòng yêu nước, yêu nhân dân, thì họ đã phải từ bỏ giấc mộng XHCN chuyên chính vô sản từ ngày 30/04/1975, bãi bỏ chính sách lý lịch “nguỵ quân, nguỵ quyền”, đóng cửa tất cả trại Học Tập Cải Tạo, thả hết mọi tù nhân chính trị và thực thi bầu cử phổ thông dân chủ để toàn dân hai miền lựa chọn một chính thể thực sự “do dân và vì dân”. Nhưng theo lời ông Trung Trương (xem Di sản của ông Võ Văn Kiệt) thì chính ông VV Kiệt đã làm ngược lại, ông chỉ chú tâm muốn cứu Đảng CS và mở rộng vòng tay rước người Hoa vào làm cuộc đổi mới kinh tế, thật ra đã tạo cơ hội ngàn vàng cho âm mưu “diễn tiến Hán hoá” của TQ, để đến ngày nay TQ đã thành công trong chiến dịch khống chế kinh tế, chính trị và văn hoá VN (đọc những bài viết gần đây trên báo chí lề phải VN thì rõ).

Còn bút mực nào tả hết được những sai lầm hệ trọng do di sản của ông Võ Văn Kiệt để lại cho hậu thế ngày nay.

Thân chào,

————-

Bài 3

Tại sao trong ngày khánh thành nhà máy lọc dầu Dung Quất thì Tổng Giám Đốc kêu bán 49% nhà máy? Nếu có lời, sao không ăn trọn, mà  chỉ ăn một nửa?

Ma mảnh và không dám nói lên sự thật là đã sai lầm trong việc thiết kế nhà máy lọc dầu. Nay nếm mùi thất bại, PetroVietnam tìm cách bán 49% nhà máy, mục đích là dùng tiền này thuê Nhật sửa đổi lại toàn bộ hệ thống van và máy móc, từ nhà máy lọc dầu ngọt trở thành nhà máy lọc dầu chua. Kế hoạch chuyển đổi này có giá cao khủng khiếp, 1,5 tỷ đô la. Số tiền này còn cao hơn giá xây một nhà máy lọc dầu có cùng công suất 10 triệu tấn/ 1 năm, thời giá chỉ có 1,2 tỷ đô la.

Bài báo dưới đây cho ta thấy sự ma mãnh ấy ra sao:

Nhà máy lọc dầu Dung Quất sẽ bán 49% cổ phần

“Nhà máy lọc dầu Dung Quất sẽ bán 49% cổ̀ phần cho các đối tác để tái đầu tư, nâng công suất lên 10 triệu tấn một năm”, ông Đinh La Thăng, Chủ tịch Hội đồng thành viên PetroVietnam cho biết sáng nay.

Phát biểu trong cuộc họp báo sáng nay để thông tin sự kiện chính thức khánh thành nhà máy lọc dầu Dung Quất vào ngày 6/1, ông Thăng nhấn mạnh, hiện PetroVietnam kêu gọi các đối tác trong nước và quốc tế mua khoảng 49% cổ phần để tận dụng vốn nâng công suất nhà máy lọc dầu Dung Quất, tiết kiệm chi phí.

“Dự kiến việc nâng cấp, mở rộng công trình sẽ hoàn thành vào năm 2016 với số vốn đầu tư bổ sung khoảng hơn 1 tỷ USD”, ông Thăng nói.

Toàn cảnh nhà máy lọc dầu Dung Quất. Ảnh: Trí Tín
Toàn cảnh nhà máy lọc dầu Dung Quất. Ảnh: Trí Tín

Ngay từ đầu năm 2008, Tập đoàn dầu khí quốc gia Việt Nam (PetroVietnam) đã lên kế hoạch thay thế dần việc sử dụng dầu thô Bạch Hổ (Vũng Tàu) bằng chế biến dầu thô nhập khẩu. Cuối tháng 10/2010, tập đoàn đã thuê tư vấn JGC (Nhật Bản) lập dự án, nghiên cứu khả thi chi tiết mở rộng, nâng công suất nhà máy từ 6,5 triệu tấn lên 10 triệu tấn sản phẩm một năm.

Với dự án mở rộng này, nguyên liệu chế biến ra xăng, dầu sẽ được bổ sung, pha trộn bằng dầu chua, có giá trị rẻ và nguồn cung dồi dào hơn so với nguồn dầu thô lấy từ mỏ Bạch Hổ.

Tính từ thời điểm bắt đầu chạy thử tháng 2/2009 đến hết tháng 12/2010, nhà máy đã tiếp nhận khoảng 8,3 triệu tấn dầu thô, chế biến và cung cấp cho thị trường 7,2 triệu tấn sản phẩm các loại đạt chất lượng. Chỉ tính riêng từ thời điểm bàn giao nhà máy vào tháng 5/2010 đến hết tháng 12 cùng năm, nhà máy đã đạt doanh thu hơn 60.000 tỷ đồng, nộp ngân sách 10.000 tỷ đồng.

Trao đổi với VnExpress.net chiều nay, ông Nguyễn Hoài Giang, Tổng giám đốc Công ty TNHH lọc – hóa dầu Bình Sơn cho biết thêm, hiện tại, công tác quyết tác dự án nhà máy lọc dầu Dung Quất đã cơ bản hoàn tất, thấp hơn tổng vốn đầu tư ban đầu hơn 3 tỷ USD (tương đương 51.300 tỷ đồng) là 8.000 tỷ đồng. Vốn đầu tư được rút xuống còn khoảng 43.300 tỷ đồng.

Theo ông Giang, với con số quyết toán này, có thể nhà máy sẽ hoàn vốn trong vòng 10 năm hoặc có thể rút ngắn hơn khi được mở rộng, nâng công suất. Tổng giám đốc cho biết: “Tuy nhiên, khi bán 49% cổ phần, chúng tôi sẽ dựa vào thẩm định giá trị của nhà máy tại thời điểm bán cổ phần”.

Năm 2011, công ty dự kiến sẽ nhập khoảng 1 triệu tấn dầu thô từ nước ngoài về pha trộn với nguồn dầu thô trong nước để chế biến xăng, dầu tại nhà máy lọc dầu Dung Quất. Kế hoạch năm nay, nhà máy đạt doanh thu khoảng 77.000 tỷ đồng, nộp ngân sách 15.000 tỷ đồng.

Hoạt động nhà máy sẽ tạm dừng 2 tháng vào giữa cuối năm để bảo dưỡng tổng thể nhà máy theo hợp đồng đã ký với nhà thầu chính.

nguồn vnexpress

————————-

Nhà máy Dung Quất lọc Xăng dầu, nhưng các doanh nghiệp trong nước, kể cả các công ty hàng không cũng không chịu mua xăng của  Dung Quất,  “Đây lại là một nghịch lý nữa trong tiêu thụ sản phẩm của nhà máy, bởi đến thời điểm này các hãng hàng không trong nước hiện vẫn phải nhập khẩu 100% nguồn nguyên liệu xăng máy bay về sử dụng.

Vì doanh nghiệp trong nước không mua xăng của Dung Quất, nên  “theo thông báo của Công ty TNHH Lọc hoá dầu Bình Sơn, vừa qua công ty đã xuất bán khoảng 11.000 m3  xăng máy bay Jet A1 cho một số công ty nước ngoài thuộc tập đoàn dầu khí BP. Dự kiến, ngày 21/10 tới, nhà máy sẽ tiếp tục xuất bán mẻ xăng máy bay thứ ba cho Tổng công ty Xăng dầu Việt Nam (Petrolimex) đưa đi tiêu thụ nước ngoài (chứ không phải cho Vinapco – đơn vị phân phối độc quyền nhiên liệu cho hãng hàng không Vietnam Airlines). ”

Tại sao các doanh nghiệp trong nước không chịu mua xăng/ dầu của Dung Quất? Vì chất lượng sản phẩm quá thấp? Xăng không đạt tiêu chuẩn như xăng nhập từ Singapore? Giá bán quá cao so với xăng nhập từ Singapore? Phải bán rẻ cho nước ngoài lấy ngoại tệ và tránh chuyện lổ lả bị đổ bể?

Xăng dầu Dung Quất : Tìm khách “ giải phóng ”

hàng tồn kho

2011

KTĐT – Việc tìm hướng giải quyết để tiêu thụ sản phẩm tồn kho của Nhà máy Lọc dầu Dung Quất đang gây ra nhiều ý kiến trái chiều.

Xăng dầu tồn kho thực tế của Nhà máy Lọc dầu Dung Quất hiện nay là bao nhiêu, các kho chứa liệu đã đầy và giải pháp tiêu thụ như thế nào đang là một “mớ bòng bong” đối với các bên liên quan trong mấy ngày qua.

Điều này một lần nữa cho thấy cả nhà quản lý lẫn các doanh nghiệp trực tiếp làm xăng dầu vẫn còn đang lúng túng trong việc điều hành, xử lý một vấn đề mà theo nhiều người thì nó còn dễ hơn so với việc xây một nhà máy lọc dầu.

Tìm khách “giải phóng” hàng tồn kho

Trong cuộc giao ban mới đây của Bộ Công Thương, đại diện bộ này cho biết, hiện lượng xăng dầu tồn kho của Nhà máy Lọc dầu Dung Quất là 750 nghìn tấn.

Tuy nhiên, chỉ sau đó ít ngày, Tổng giám đốc Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (Petro Vietnam), ông Phùng Đình Thực, trong cuộc họp báo thường kỳ của tập đoàn này đã khẳng định, lượng xăng dầu tồn kho của Nhà máy Lọc dầu Dung Quất đến hết tháng 9/2010 là… 70 nghìn tấn.

Khi đó, theo ông Thực cho hay, con số 750 nghìn tấn là con số Petro Vietnam dự kiến sẽ tồn kho của cả năm, bởi đến thời điểm này, các doanh nghiệp tiêu thụ mới chỉ đăng ký 1,4 triệu tấn trên tổng số hơn 2,1 triệu tấn sẽ sản xuất trong năm nay.

Thế nhưng, ngay ngày hôm sau, trong báo cáo mới nhất gửi Petro Vietnam về tình hình sản xuất, tiêu thụ các sản phẩm của Công ty TNHH Lọc hoá dầu Bình Sơn, đơn vị được Petro Vietnam giao trực tiếp quản lý, vận hành Nhà máy Lọc dầu Dung Quất, cho biết số lượng các sản phẩm xăng dầu tồn kho của nhà máy tính đến hết tháng 9/2009 là hơn 201 nghìn m3.

Đáng chú ý, báo cáo của doanh nghiệp này cho thấy, trong quý 4, dự kiến nhà máy sẽ sản xuất thêm khoảng 1,9 triệu tấn xăng dầu các loại, công với lượng tồn kho hiện có thì toàn nhà máy sẽ có trên 2,1 triệu tấn xăng dầu các loại.

Tuy nhiên, đến thời điểm này, lượng khách hàng đăng ký tiêu thụ mới chỉ là hơn 986 nghìn tấn, có nghĩa là trong quý 4, nhà máy cần phải tìm khách để “giải phóng” hơn 1,1 triệu tấn xăng dầu các loại của nhà máy.

Ông Nguyễn Hoài Giang, Tổng giám đốc Công ty TNHH Lọc hoá dầu Bình Sơn, cho biết để giải quyết tình trạng tồn kho trên, hiện doanh nghiệp này đang xây dựng tiêu chí, tiêu chuẩn và công thức để ban hành cơ chế đấu giá sản phẩm xăng dầu của Nhà máy Lọc dầu Dung Quất.

Dự kiến đến cuối tháng 10 này, sau khi được Petro Vietnam phê duyệt, công ty sẽ áp dụng cơ chế đấu giá áp dụng rộng rãi cho doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu trong nước.

Theo ông Giang, điều này cũng đồng nghĩa với việc Tổng công ty Dầu Việt Nam (PV Oil) không còn là đầu mối duy nhất phân phối xăng dầu của Nhà máy Lọc dầu Dung Quất như đã thực hiện trong thời gian qua.

Cũng theo ông Giang, với mức tồn kho hơn 200 nghìn tấn, các bồn chứa sản phẩm của Nhà máy Lọc dầu Dung Quất cũng đang sắp đầy, có nguy cơ không còn chỗ chứa nếu không được giải toả nhanh.

Cần minh bạch trong tiêu thụ

Ngay sau khi con số tồn kho sản phẩm của Nhà máy Lọc Dầu Dung Quất được đăng tải trên các phương tiện thông tin đại chúng, dưới sự chủ trì của Thứ trưởng Hồ Thị Kim Thoa, Bộ Công Thương đã tổ chức một cuộc họp bất thường để tìm hướng giải quyết lượng xăng dầu tồn kho trên.

Trong văn bản kết luận cuộc họp được phát đi hôm nay (11/10), Thứ trưởng Thoa chỉ đạo các doanh nghiệp đầu mối nhập khẩu xăng dầu tiếp tục tổ chức tiêu thụ sản phẩm của Nhà máy Lọc dầu Dung Quất có hiệu quả, trong điều kiện nhà máy này đã hoạt động ổn định, vận hành tối đa công suất, giảm nhập khẩu, góp phần kiềm chế nhập siêu.

Thứ trưởng Thoa yêu cầu Petro Vietnam và Công ty TNHH Lọc hoá dầu Bình Sơn làm việc cụ thể với từng doanh nghiệp đầu mối nhập khẩu xăng dầu, đặc biệt là Tổng công ty xăng dầu Việt Nam (Petrolimex) về kế hoạch sản xuất, phương án tiêu thụ; tận dụng tối đa các kho xăng dầu đầu mối để chứa sản phẩm của nhà máy và báo cáo kết quả về Bộ, chậm nhất là ngày 15/10.

Thứ trưởng cũng yêu cầu Petro Vietnam và Công ty TNHH Lọc hoá dầu Bình Sơn khẩn trương hoàn thiện các thủ tục cần thiết đối với sản phẩm nhiên liệu bay để đưa sản này tiêu thụ trên thị trường nội địa.

Lãnh đạo Bộ Công Thương cũng yêu cầu Petro Vietnam cần sớm có phương án điều chỉnh việc tổ chức tiêu thụ sản phẩm của Nhà máy Lọc dầu Dung Quất một cách hợp lý, minh bạch, hiệu quả và đảm bảo công bằng cho tất cả các doanh nghiệp.

Thế nhưng, theo thông báo của Công ty TNHH Lọc hoá dầu Bình Sơn, vừa qua công ty đã xuất bán khoảng 11.000 m3 xăng máy bay Jet A1 cho một số công ty nước ngoài thuộc tập đoàn dầu khí BP. Dự kiến, ngày 21/10 tới, nhà máy sẽ tiếp tục xuất bán mẻ xăng máy bay thứ ba cho Tổng công ty Xăng dầu Việt Nam (Petrolimex) đưa đi tiêu thụ nước ngoài (chứ không phải cho Vinapco – đơn vị phân phối độc quyền nhiên liệu cho hãng hàng không Vietnam Airlines).

Đây lại là một nghịch lý nữa trong tiêu thụ sản phẩm của nhà máy, bởi đến thời điểm này các hãng hàng không trong nước hiện vẫn phải nhập khẩu 100% nguồn nguyên liệu xăng máy bay về sử dụng.

Theo VnEconomy

—————–

Tính toán là nhà máy lọc dầu Dung Quất sẽ  có công suất là 6,5 triệu tấn dầu mỗi năm, nhưng sau hơn 2 năm rưởi vận hành, thì báo cáo như  sau: “Nhà máy lọc dầu Dung Quất chính thức vận hành từ đầu năm 2009. Tính đến thời điểm tạm dừng hồi giữa tháng 7, nhà máy đã chế biến, xuất bán hơn 3,3 triệu tấn xăng dầu các loại,”

Xăng dầu Dung Quất tái xuất trên thị trường

BẢO ANH

VnEconomy – 26/08/2011 17:51 (GMT+7)

Bắt đầu từ chiều 26/8, nhà máy lọc dầu Dung Quất sẽ hoạt động trở lại sau hơn một tháng bảo dưỡng tổng thể.

Theo ông Nguyễn Hoài Giang, Tổng giám đốc Công ty Lọc – Hóa dầu Bình Sơn, đến thời điểm hiện tại, tổ hợp nhà thầu Technip cùng các nhà thầu phụ đã hoàn thành công tác bảo dưỡng lần đầu và bắt đầu vận hành nhà máy trở lại sớm hơn dự kiến nửa tháng.

Dự kiến trong vòng 10 ngày tới, nhà máy vận hành đạt 100% công suất, tiếp tục cung cấp xăng dầu cho thị trường trong nước.

Cũng theo ông Giang, cùng  với việc bảo dưỡng tổng thể, các chuyên gia của nhà thầu đã tập trung xử lý các điểm tồn tại kỹ thuật lớn tại những phân xưởng công nghệ. Toàn bộ 55 điểm tồn tại kỹ thuật nhỏ cũng đã được xử lý dứt điểm.

Trong đợt bảo dưỡng lần này, các nhà thầu cũng đã kết nối dự án hai bơm hai bể dầu chua bổ sung với nhà máy lọc dầu Dung Quất. Nhờ đó khả năng vận hành nhà máy sẽ linh hoạt hơn nhiều, dự trữ dầu thô tăng thêm 34%.

Đây là cơ sở cho việc mở rộng công suất nhà máy từ 6,5 triệu tấn lên 10 triệu tấn/năm trong thời gian tới.

Đại diện Công ty Lọc – Hóa dầu Bình Sơn cũng cho hay, hiện công ty đang nghiên cứu phương án bổ sung phân xưởng thu hồi lưu huỳnh để đa dạng hóa nguồn dầu thô, từng bước thay thế cho dầu Bạch Hổ và cải thiện hiệu quả chế biến của nhà máy.

Dự kiến lần bảo dưỡng thứ hai của nhà máy lọc dầu Dung Quất sẽ tiến hành sau 4 năm nữa. Khi đó các chuyên gia, kỹ sư Việt Nam có thể đủ khả năng tự bảo dưỡng công trình trọng điểm dầu khí quốc gia này.

Nhà máy lọc dầu Dung Quất chính thức vận hành từ đầu năm 2009. Tính đến thời điểm tạm dừng hồi giữa tháng 7, nhà máy đã chế biến, xuất bán hơn 3,3 triệu tấn xăng dầu các loại, trung bình mỗi ngày sản xuất gần 19.000 tấn sản phẩm xăng, dầu các loại, nộp ngân sách đạt gần 8.830 tỷ đồng, đạt gần 60% kế hoạch năm.

                                                                       ———————————————–

Số tiền 3 tỷ đô la đầu tư xây dựng nhà máy lọc dầu Dung Quất vẫn đang còn trả nợ hàng tháng, nhà máy chưa lời trả xong nợ, mà còn lỗ mỗi ngày là 500 000 đô la, hay mỗi năm từ 120 -150 triệu đô la. Bên cạnh đó, công suất lọc dầu Petrovietnam luôn luôn báo cáo là chạy hết công suất 100%, nhưng khi tổng kết từ đầu năm 2009, đến tháng 8-2011, tổng số xăng dầu lọc được trong hơn 2 năm rưỡi qua chỉ có 3,3 triệu tấn xăng dầu các loại.

Nay nhà máy cần thêm tiền!

Nhà máy lọc dầu Dung Quất: Cần 1,5 – 2 tỷ USD để mở rộng, nâng cấp

http://www.sggp.org.vn/dautukt/2012/2/280955/

———————

Chủ Nhật, 29/01/2012 | 11:29

http://vietstock.vn/ChannelID/761/Tin-tuc/213188-con-dao-phai-du-sac-de-cat-nhung-cuc-cung-loi-thoi.aspx

“Con dao phải đủ sắc để cắt những cục cưng lỗi thời”

“Trong quá trình cải cách sẽ có người mất… Nhóm lợi ích đã trở nên rất hùng hậu, mà nay vượt qua không dễ”.

Trong các ý kiến thảo luận về tái cơ cấu, có nhiều chuyên gia kinh tế đề xuất rằng, các doanh nghiệp nhà nước chỉ thật sự cần thiết được duy trì trong những lĩnh vực dịch vụ công ích. Nếu chúng lỗ hoặc vỡ nợ, thì chúng nên được phá sản như các doanh nghiệp khác. Nhà nước không nên có hình thức đảm bảo hoặc trả nợ nào cho chúng

Những “cục cưng” được kỳ vọng

Trên thực trạng nền kinh tế Việt Nam lâu nay, những con số thống kê ngày càng lộ diện vấn nạn “cục cưng”.

Nổi bật là những doanh nghiệp nhà nước (DNNN). Các DN này chiếm tới 70% tổng số vốn đầu tư từ xã hội, 50% vốn đầu tư nhà nước, 60% vốn tín dụng của các ngân hàng thương mại, 70% vốn ODA ở Việt Nam.

Họ được hưởng mọi loại ưu đãi về vốn, cơ chế, một số DN còn được ngồi trên các “mỏ vàng độc quyền”, như kinh doanh xăng dầu, điện… Ở dưới trông lên, kỳ vọng da diết của nhân dân là các “cục cưng” này sẽ đóng vai trò chủ đạo trong nền kinh tế, đem lại phồn vinh cho xã hội.

Mặc dù vậy, hiệu quả đầu tư từ nhóm DN này quá thấp, chỉ đóng góp vào GDP khoảng 38%. Chi phí làm ra cùng một mặt hàng, cùng một  chất lượng cao gấp hai lần so với doanh nghiệp tư nhân (DNTN) không được đầu tư đồng nào từ vốn nhà nước và không có bất cứ ưu đãi gì từ cơ chế chính sách…

Còn theo Bộ trưởng Tài chính Vương Đình Huệ, tỷ suất lợi nhuận trên vốn của DNNN chưa bao giờ qua được 6% trong suốt hơn 10 năm qua. Hiện nay, các “cục cưng” này chiếm tới khoảng 70% “nợ khó đòi” – nghĩa là không đòi được – của các ngân hàng thương mại. Nhiều tập đoàn, công ty độc quyền đã thua lỗ trong nhiều năm.

Nếu là lãnh đạo DNTN, họ sẽ phải cầm cố tài sản, bán tháo nhà cửa, thậm chí phải tự tử để cứu vãn danh dự cho gia đình. Nhưng vì là những “cục cưng”, nên các ông chủ này vẫn ung dung, phớt lờ dư luận, đổ trách nhiệm cho người khác, vẫn tự chia cho mình những khoản thu nhập cao chót vót, và báo lỗ vô tội vạ.

Từ năm 2009 đến nay, nhiều DNNN gây thất thoát. Không chỉ DN không được độc quyền, mà cả những DN quá được ưu đãi về cơ chế kinh doanh, như Tập đoàn Điện lực Việt Nam và Tổng công ty Xăng dầu cũng luôn gánh trên mình những món nợ khổng lồ, nhưng lại đặt ra vô số nghi hoặc về nguồn gốc.

Theo báo cáo của Bộ Tài chính, tổng nợ phải trả của các tập đoàn, tổng công ty là trên 1 triệu tỷ đồng, bình quân bằng 1,67 lần vốn chủ sở hữu. Tuy nhiên, có tới 30 tập đoàn, tổng công ty nợ phải trả lớn hơn mức quy định (ba lần vốn điều lệ). Trong đó, có 7 đơn vị nợ trên 10 lần vốn, 9 tổng công ty nợ 5-10 lần vốn và 14 công ty nợ phải trả gấp 3-5 lần vốn. Sự hoang tàng của những đứa “con cưng” này đã khiến cho Chính phủ phải đau đầu để tính chuyện ứng phó.

Ứng phó, tái cơ cấu, hiệu quả đến đâu chưa biết, nhưng giải pháp đầu tiên mà Bộ Tài chính đưa ra là cho “uống thuốc bổ”. Đương nhiên, dù cách nào, cũng là bằng tiền thắt lưng buộc bụng của dân.

Theo Bộ trưởng Tài chính Vương Đình Huệ, Bộ Tài chính đang xem xét phải dành hơn 50.000 tỷ đồng nhằm tái cấu trúc nợ, cấp thêm vốn điều lệ… cho các DNNN được tái cơ cấu. “Việc sắp xếp lại DN phải có tiền. Tôi báo cáo với Chính phủ phải có bồi bổ trước, rồi mới dùng kháng sinh, chứ con bệnh đang sốt cao mà chữa ngay là không chịu được”. Ông còn cho biết, Tập đoàn Sông Đà sẽ “đi tiên phong” trong tái cơ cấu DN, song chi phí cho họ lên tới 10 triệu USD. Số tiền này vay của Ngân hàng Phát triển châu Á.

Và những “đứa trẻ” không được “uống thuốc bổ”

Có ai nghĩ đến chuyện xoa dịu vết thương và cứu giúp những DN nhỏ và vừa – hầu hết là DNTN, chẳng bao giờ được “uống thuốc bổ” không? Đó là lực lượng làm nên nền kinh tế thị trường thực sự.

Chỉ cần bớt ít chút vô cảm, nghiêng mình xuống gần đất hơn, ta sẽ phải thương khóc cho cái chết của vô số DNTN nhỏ và vừa – những đứa con sinh ra bởi kinh tế thị trường, góp phần thực sự lớn vào tài sản xã hội, giải quyết việc làm cho nhiều công dân. Nhưng họ chẳng bao giờ được uống “thuốc bổ”, mà còn phải chịu đựng nhiều áp lực.

Áp lực chi phí liên tục tăng do lạm phát, do bị cạnh tranh không lành mạnh, thị trường bị thu hẹp…, khiến hệ thống DN, đặc biệt là DNTN, bị ép cả từ nhiều phía và “phần đông hầu như chỉ còn thoi thóp thở”. Khác với những “cục cưng”, những DNTN hầu hết phải tự vật lộn và xoay xở bằng chính đồng vốn và năng lực của mình.

Theo Tổng cục Thuế, mặc dù 2010 là năm có số DN phá sản tới mức báo động, nhưng vẫn không thể so sánh với tốc độ phá sản của năm 2011. Thống kê chưa đầy đủ, năm 2011, có tới khoảng 49.000 DN giải thể hoặc ngừng kinh doanh, tăng hơn 22% so với cùng kỳ năm ngoái. Riêng Hà Nội đã có tới hơn 3.000 DN phá sản hoặc ngừng hoạt động.

Họ phá sản có thể do năng lực yếu kém, do bị “chết lây” vì khủng hoảng kinh tế, vì lạm phát, vì thiếu may mắn hoặc có thể do những “giật cục” bất thường của chính sách… Khác với những DNNN, DNTN phải trả giá cho sự phá sản bằng chính sinh mạng mình và gia đình mình, mặc dù bản thân họ đã cố gắng hết sức để giảm giá thành sản phẩm và tiết kiệm tối đa mọi chi phí.

Mỗi một DN phá sản ảnh hưởng tới hàng chục, thậm chí hàng trăm, hàng ngàn thành viên của DN. Trong đó, mỗi thành viên này lại ảnh hưởng đến cuộc sống của cả một gia đình. Chưa kể các vụ vỡ nợ, giật hụi, lừa đảo… trị giá hàng chục, hàng trăm tỷ đồng xuất hiện ngày càng nhiều gần đây, khiến cho hàng triệu người phải khốn đốn, mất nhà cửa, tài sản, tha phương cầu thực.

Nếu họ có tài sản thế chấp và chịu chi phí “bôi trơn”, DN ngắc ngoải của họ có thể vay được vốn ngân hàng với tỷ lệ lãi suất thuộc hàng cao nhất thế giới: 18-27%/năm. Chỉ cần một khâu trục trặc của thị trường hoặc chính sách thay đổi, họ không có cách nào tránh khỏi cái chết được báo trước đối với lãi suất ấy.

Với tỷ lệ lạm phát được nhận xét là cao nhất châu Á và đứng thứ nhì thế giới. Với sự phá sản của hàng loạt DN, lại thêm gánh nặng nợ nần từ các DNNN chất lên vai, cùng với nguy cơ nợ xấu và sự đóng băng của thị trường bất động sản, thị trường chứng khoán…,  làm lung lay dữ dội sự an nguy của các ngân hàng trong nước. Cộng thêm ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế toàn cầu, dù đã có nhiều cố gắng, nhưng theo nhiều chuyên gia kinh tế, nền kinh tế nước nhà đang lâm vào thời kỳ khó khăn nhất kể từ 20 năm qua.

Cần một con dao mổ sắc bén

Để khắc phục tình trạng trên, Chính phủ đã nhấn mạnh việc tái cơ cấu mạnh mẽ nền kinh tế.

Cả Hội nghị Trung ương Đảng, Quốc hội và Chính phủ đã khẳng định nhiệm vụ tái cơ cấu với ba trọng tâm là tái cơ cấu đầu tư công, ngân hàng và DNNN.

Thủ tướng Chính phủ đã nêu ra một trong những mục tiêu trọng điểm của các năm tới là “đổi mới mô hình tăng trưởng và cơ cấu lại nền kinh tế theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả sức cạnh tranh”.

Để thực hiện nhiệm vụ này, nhiều ngành, nhiều cấp đã có những hội thảo lớn. Nhưng nếu sửa bằng cách “cho uống thuốc bổ”, thì lại tốn thêm nhiều tỷ USD vào nền kinh tế đang vô cùng khó khăn, nợ nần quốc gia thêm chồng chất. Cho uống thuốc bổ mà không phẫu thuật “khối u phát bệnh”, thì chỉ làm bệnh càng nặng thêm.

Câu hỏi đặt ra là, đối tượng nào sẽ được lợi nhiều nhất sau những chương trình tái cấu trúc DN; và nợ của DN sẽ do ai gánh chịu?

Do đó, vấn đề cấp thiết là phải sửa từ nhận thức chiến lược, từ tư duy chỉ đạo. Theo nhiều chuyên gia kinh tế, mọi sự sửa từ nhiều năm nay cuối cùng cũng chỉ là tạo mọi điều kiện để DNNN được có mọi ưu tiên để “đóng vai trò chủ đạo”. Chúng cũng là nơi vô tình sinh sôi của các nhóm đặc quyền đặc lợi, tham nhũng và bòn rút tài nguyên quốc gia. Điều này đã làm tha hoá một bộ phận đội ngũ cán bộ, công chức và ảnh hưởng đến lòng tin của dân chúng.

Để thực hiện mục tiêu từ cắt giảm đầu tư công, tái cơ cấu, cải cách DNNN đến sắp xếp lại hệ thống ngân hàng…, tất cả đều vấp phải trở lực quyết liệt từ các nhóm lợi ích đầy thế lực tìm cách ngăn cản.

Lực cản đó nằm giữa lợi ích của các bộ, ngành chủ quản, của tầng nấc lãnh đạo DNNN, của các cá nhân có trách nhiệm về sai lầm, thất thoát của DN trong quá khứ. Để tái cấu trúc ngân hàng, liệu đã ai thấy có đủ sức mạnh để triệt tiêu lợi ích của các “quyền lực ẩn” đằng sau các ngân hàng này và các DN mà sự sống chết của họ gắn liền với sự hưng vong của các ngân hàng có chức năng và quyền lợi từ “bơm máu chùa”?

Nếu không khống chế và triệt tiêu được các lực ẩn này, thì quy định được ghi trong văn bản đại hội Đảng: “Các thành phần kinh tế đều bình đẳng, cạnh tranh lành mạnh…” đã bị vô hiệu hóa. Và mục tiêu của Chính phủ đề ra sẽ không thực hiện được.

Ai cũng hiểu rằng, tái cơ cấu là sửa lại cơ cấu hiện có. Nhưng một khi còn chưa rõ ràng về quan điểm, nhất là về vai trò của DNNN trong nền kinh tế, thì đường hướng sẽ bị ách tắc.

Thủ tướng Chính phủ phân định: muốn đổi mới DNNN thành công, khung thể chế đóng vai trò quyết định.

Nhiều chuyên gia cho rằng, việc tiếp tục duy trì một cách duy ý chí các DNNN chỉ làm sai lệch chiến lược phát triển kinh tế của đất nước.

Phó chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ, Phó trưởng ban Chỉ đạo đổi mới DNNN Phạm Viết Muôn nói rằng, khó khăn lớn nhất trong cải cách DNNN là thống nhất tư duy. Ông nói: “Chúng ta nói nhiều mà làm chưa được bao nhiêu. Tôi cho khó khăn lớn nhất là chính sách cần để đổi mới thì làm quá lâu, khi có thì không còn phù hợp với thực tế. Đi bắt con thỏ mà huy động nhân lực cả tháng, ra đến nơi thì nó chạy mất rồi”.

Tiến sĩ Võ Trí Thành, Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương nói: “Cải cách DNNN đến nay tư duy còn đầy tranh cãi”. “Trong quá trình cải cách sẽ có người mất… Nhóm lợi ích đã trở nên rất hùng hậu, mà nay vượt qua không dễ”.

Trong các ý kiến thảo luận về tái cơ cấu, có nhiều chuyên gia kinh tế đề xuất rằng, các DNNN chỉ thật sự cần thiết được duy trì trong những lĩnh vực dịch vụ công ích.

“Nếu chúng lỗ hoặc vỡ nợ, thì chúng nên được phá sản như các DN khác. Nhà nước không nên có hình thức đảm bảo hoặc trả nợ nào cho chúng” (theo báo cáo của Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương).

Đó là những ý kiến hợp lý và đầy trách nhiệm. Chính phủ nên sử dụng “con dao mổ sắc bén” ấy cho một cuộc đại phẫu thuật cắt bỏ khối u và làm lành vết thương cho nền kinh tế.

Võ Thị Hảo

đầu tư chứng khoán

————

Coi thêm ở đây:

Bộ tài Chánh báo cáo: tổng nợ phải trả của các tập đoàn, tổng công ty là trên 1 triệu tỷ đồng hay 50 tỷ đô la Mỹ!

——————–

Ở Việt Nam, 100 tập đoàn và tổng công ty quốc doanh nắm 70% nền kinh tế cả nước (khoảng 90 tỷ). Theo báo cáo báo cáo tình hình sản xuất kinh doanh năm 2011 của PVNCPetrovietnam có tổng doanh thu năm 2011 về bán dầu thô và khí là 675,3 nghìn tỷ đồng (hay 34 tỷ đô la), chiếm 40% GDP. Nhân sự điều hành 100 công ty quốc doanh và tập đoàn là con cháu, bà con thân thích của 14 ủy viên Bộ Chính Trị và 174 ủy viên trung ương Đảng.  100 tổng công ty và tập đoàn hiện đang mang nợ 50 tỷ.

Nợ của 100 tổng công ty và tập đoàn tính tới năm 2011

http://wp.me/po94e-1×5

Posted in Bán Tài Nguyên Khoa'ng Sản- Cho Nước Ngoài Thuê Đất 50 năm, Cán bộ yếu kém chuyên môn- thiếu trách nhiệm-Thoái hóa, Hồng Tốt hơn Chuyên, Năng Lượng và Mỏ | 1 Comment »

Vì chính phủ ở Hà Nội từ chối tìm hài cốt các chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa, Mỹ đã tạm ngưng viện trợ 1 triệu đô la cho chương trình giúp tìm Bộ Đội Miền Bắc đã mất tích trong chiến tranh

Posted by hoangtran204 trên 02/10/2011

Đảng và nhà cầm quyền Hà nội rất xứng đáng để  ông Webb, một nghị sĩ Mỹ, giảng dạy cho bài học về hòa giải và đạo đức. Đã được người ta khai tâm mở tuệ  như thế mà còn chưa chịu hiểu, nên đành phải phạt mà thôi.

Mỹ ngừng khoản tiền tìm hài cốt tử sĩ của các bộ

đội miền Bắc đã chết trong chiến tranh VN

nguồn BBC

Thứ sáu, 30 tháng 9, 2011

Bộ Ngoại giao Mỹ tạm ngừng khoản chi 1 triệu đôla cho chương trình giúp tìm lính Việt Nam mất tích trong chiến tranh sau khi chính phủ ở Hà Nội từ chối tìm hài cốt lính Việt Nam Cộng Hòa.

Tin này được Thượng Nghị sỹ Jim Webb loan báo hôm 29/09 – ông từng là Thủy quân Lục chiến ở Việt Nam và thường xuyên thăm Việt Nam từ 1991.

Ông nói chương trình bị ngừng “cho đến khi chúng tôi có sự bảo đảm vững chắc rằng chương trình sẽ áp dụng bình đẳng cho những người từng chiến đấu cho mọi bên”.

Hồi tuần trước, Thượng Nghị sỹ Jim Webb đã kêu gọi cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ – USAID – ngừng chương trình.

Ông Webb phản đối việc phân biệt đối xử giữa lính ‘Việt Cộng’ và Việt Nam Cộng hòa

‘Mục tiêu hòa giải’

Vị chủ tịch Ủy ban Đông Á và Thái Bình Dương của Thượng viện Mỹ nói trong một thông báo hôm 22/9:

“Việc thực hiện chương trình phải thể hiện sự tôn trọng như nhau đối với tất cả những người đã phục vụ trong quân ngũ và chết trong chiến tranh cũng như mang lại sự an ủi cho những người đã mất người thân yêu trong cuộc chiến lịch sử và thảm khốc.”

“Chương trình hợp tác giữa Hoa Kỳ và Việt Nam nhằm tìm kiếm hài cốt của những người lính Việt Nam có thể là cơ hội quý báu để thúc đẩy mục tiêu hòa giải – nhưng chỉ khi nó được thực hiện với sự tôn trọng đúng mực cho tất cả những người đã chiến đấu chứ không phải chỉ đối với một bên này, hay bên kia.”

Thông báo của vị Thượng Nghị sỹ cũng nói một con số không xác định các tử sỹ của Quân lực Việt Nam Cộng hòa vẫn chưa được xác định danh tính trong khi Nghĩa trang Bình An (trước đây là Biên Hòa) đang “trong tình trạng cực kỳ bỏ hoang và đổ nát”.

Nghĩa trang Biên Hòa
Ông Webb nói Nghĩa trang Biên Hòa, nay là Bình An, đang ở trong tình trạng “cực kỳ hoang tàn và đổ nát”

Ông Webb cũng nhắc lại chuyện ông sẽ cố gắng để “khôi phục khu đất thiêng liêng” của nghĩa trang Biên Hòa “để bày tỏ sự tôn trọng những người lính đã ngã xuống trong chiến tranh.

Ông Jim Webb, người có vợ là bà Hong Le Webb, người miền Nam Việt Nam, nói: “Đây là điều quan trọng trong tinh thần hòa giải và đối với quan niệm trung thành và tôn trọng của người Mỹ rằng chúng ta không bao giờ quên những người đã ở bên chúng ta, ngay cả khi chúng ta bước vào tương lai và hợp tác với những người từng chiến đấu chống lại chúng ta.”

Các chuyên gia nói Bấm Nghĩa trang Biên Hòa là “sáng kiến của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu” và hoàn thành năm 1966.

Hồi năm 2006, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã có Bấm quyết định chuyển 58 ha khu đất nghĩa địa Bình An thuộc tỉnh Bình Dương, khi đó do Bộ Quốc phòng quản lý, sang sử dụng vào mục đích dân sự.

Đông đảo độc giả BBC khi đó đã có Bấm bình luận về quyết định này.

Những người tới thăm nghĩa trang gần đây nói các công trình xây dựng và nhà máy hiện bao quanh khu vực nghĩa trang.

***************************************************

Hoa Kỳ ngưng tài trợ dự án MIA dành cho bộ đội Việt Nam

Bill BartelTin The Virginia-PilotHoa Kỳ ngưng tài trợ cho dự án tìm người Việt bị mất tích trong chiến tranhBộ Ngoại giao Hoa Kỳ sẽ không tài trợ cho một dự án ở Việt Nam nhằm đi tìm và xác nhận nguồn gốc những người đã chết mất xác trong chiến tranh trước đây cho đến lúc viên chức Hoa Kỳ được bảo đảm là dự án này không chỉ dành riêng cho những người lính đã từng chiến đấu chống lại Hoa Kỳ, Thượng nghị sĩ Jim Webb thông báo hôm qua thứ Năm ngày 29 tháng Chín.”Tôi đã được thông báo là Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đã liên lạc với nhà nước Việt Nam, rằng sẽ không có ngân qũy nào trong chương trình USAID được sử dụng để tìm kiếm những người bị mất tích từ cuộc chiến cho đến lúc chúng tôi có được sự cam kết là chương trình này sẽ được áp dụng bình đẳng cho mọi người – bất cứ ai và tất cả các phe – đã từng tham dự trận chiến,” ông Webb nói qua một bản thông báo đã được công bố.
Thượng Nghị Sĩ Jim Webb và vợ, bà Hồng Lê Webb, trong buổi họp báo tại Hà Nội năm 2007 khi ông đến đây lần đầu tiên. Nguồn hình: Hoàng Ðình Nam/AFP/Getty Images


“Đây không là một chuyện nhỏ,” ông nói. “Điều này quan trọng vô cùng đối với tinh thần hoà giải, và cũng quan trọng đối với quan niệm trung thành và kính trọng của Hoa Kỳ, là chúng tôi sẽ không bao giờ quên những người đã từng chiến đấu với chúng tôi, ngay cả lúc chúng tôi hướng về tương lai qua việc làm việc chung với những người đã từng chiến đấu chống lại chúng tôi.”

TNS Webb đã yêu cầu ngưng lại số tiền viện trợ 1 triệu đô-la sau khi ông biết được nhà nước Việt Nam đã năng nỗ dùng số tiền tài trợ này để kìm kiếm và xác định 650.000 người bị mất tích hay những người lính đã chết nhưng chưa được xác định hài cốt thuộc Quân đội miền Bắc, hay Việt Cộng, nhưng không thấy nhà nước cộng sản Việt Nam có một nỗ lực nào nhằm tìm kiếm người người lính miền Nam bị mất tích trong chiến tranh của Quân đội Việt Nam Cộng hoà, vốn là đồng minh của Hoa Kỳ.

“Nếu được thi hành với sự kính trọng dành cho những người đã từng chiến đấu và đã chết, thì chương trình hợp tác này giữa Hoa Kỳ và Việt Nam nhằm tìm kiếm hài cốt những người lính Việt Nam bị mất tích là một cơ hội hợp tác vô giá,” ông Webb nói. “Nhưng sự tìm kiếm hài cốt này phải vinh danh tất cả mọi người đã từng phục vụ và hy sinh trong chiến tranh và giúp làm vơi đi niềm thống khổ cho gia đình họ – những người đã có người thân mất trong chiến tranh trên chiến trường bi thảm và lịch sử này.”

TNS Webb, chủ tịch của tiểu ban Đông Á và Thái Bình Dương Vụ của Ủy ban Quan hệ Quốc tế của Thượng viện Hoa Kỳ, là một cựu chiến binh được nhiều huân chương trong cuộc Chiến tranh Việt Nam trước đây.

© DCVOnline


Nguồn:

(1) U.S. halts funding of Vietnam MIA project. The Virginia-Pilot, 30 September 2011

*Các bài liên quan

______________________________________________________________________

Giám đốc sở bị tố nhận ‘lót tay’ hơn nửa tỷ đồng

Giám đốc Sở Lao động Thương binh và xã hội Cà Mau bị tố nhận tiền “lót tay” của một nhà thầu xây dựng hơn nửa tỷ đồng. Tỉnh ủy Cà Mau đã lập đoàn kiểm tra để làm rõ.

Trao đổi với VnExpress.net, một lãnh đạo của UBND tỉnh Cà Mau cho biết Tỉnh ủy, UBND tỉnh đã nhận được báo cáo của đảng viên công tác tại Sở Lao động Thương binh và xã hội tố giám đốc Sở – bà Chung Ngọc Nhãn, được một doanh nghiệp “biếu” hơn nửa tỷ đồng để “chạy” dự án.

Theo báo cáo, Sở Lao động tỉnh Cà Mau làm chủ đầu tư xây dựng công trình nâng cấp Nghĩa trang liệt sĩ huyện Năm Căn giai đoạn hai. Cuối năm 2011, công ty Cổ phần Tư vấn và Xây dựng Phương Nam do ông Lê Thanh Phương làm giám đốc trúng gói thầu này với trị giá hơn 11 tỷ đồng. Sau đó, ông Phương đã “lót tay” hơn 500 triệu đồng cho bà Nhãn và ông Nguyễn Trung Tâm (Phó phòng Kế hoạch tài chính) cũng nhận 200 triệu đồng từ nhà thầu.

Kèm với báo cáo gửi lãnh đạo tỉnh Cà Mau còn có cuộn băng ghi âm được cho là của ông Phương nói về việc “đi đêm” này.

Trả lời báo Pháp Luật TP HCM, bà Nhãn xác nhận có việc tố cáo và cho biết đã đề nghị Đảng ủy Sở cùng các bộ phận chuyên môn xác minh. Đây là thông tin không chính xác, xúc phạm đến cá nhân bà Nhãn và cả tập thể Ban Thường vụ Tỉnh ủy Cà Mau và nhất quyết làm rõ trắng đen việc này.

Theo nữ giám đốc Sở Lao động tỉnh Cà Mau, Sở này đã mời ông Phương lên làm việc và ông này khẳng định không hề có chuyện đưa tiền cho bà Nhãn. Còn việc vì sao lại nói trong băng ghi âm về chuyện đã “lót tay”, ông Phương cho rằng đó chỉ là dự tính. Ông Phương bảo đã trúng thầu khá lâu nhưng chưa được giao mặt bằng thi công, tưởng do mình chưa “biết điều” với chủ đầu tư nên định sẽ “bôi trơn” lãnh đạo Sở. Song, ông này chưa thực hiện.

Tuy nhiên, cũng theo báo Pháp Luật TP HCM, khi làm việc với Ủy ban Kiểm tra Đảng ủy Sở Lao động, ông Nguyễn Trung Tâm thừa nhận đang giữ 200 triệu đồng của ông Phương để trong một gói quà nhưng không dám sử dụng, đợi qua Tết sẽ trả lại.

Ngày 24/2, ông Phạm Minh Quang, Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy Cà Mau cho biết, Tỉnh ủy Cà Mau đã chỉ đạo lập đoàn kiểm tra làm rõ tố cáo bà Nhãn và ông Tâm nhận tiền của nhà thầu. Sáng cùng ngày đoàn kiểm tra mới chính thức làm việc nên ông chưa tiết lộ thêm thông tin.

Theo ông Lê Anh Tuấn, Bí thư Đảng ủy Dân chính Đảng tỉnh Cà Mau thì nơi đây cũng đang tiến hành làm rõ nội dung có liên quan đến tiêu cực đối với đảng viên do Đảng ủy Dân chính đảng quản lý.

Thiên Phước

http://vnexpress.net/gl/phap-luat/2012/02/giam-doc-so-bi-to-nhan-lot-tay-hon-nua-ty-dong-1/

Nhà thầu tố Giám đốc sở nhận hối lộ bị bắt vì ‘vu khống’Giám đốc sở bị tố nhận ‘lót tay’ hơn nửa tỷ đồng

Kỷ luật cán bộ bị tố nhận ‘lót tay’ hơn nửa tỷ đồng

———–

Lời tựa:

Bauxite Việt Nam xin đăng bài viết dưới đây của cộng tác viên quen biết Hà Văn Thịnh, như một một lời bộc bạch riêng tư gửi đến TGM Ngô Quang Kiệt, đồng thời cũng là một tiếng nói tâm tình của cá nhân tác giả với bạn đọc xa gần, để mong được bạn đọc lượng thứ, về một việc làm không phải trước đây của mình. Xin hết sức hoan nghênh thái độ thực sự cầu thị của người đồng nghiệp và cầu mong cho anh mọi điều tốt lành.

Bauxite Việt Nam

Xin Tổng Giám mục Ngô Quang Kiệt tha thứ!

Hôm nay (27.9.2011), đọc – nghe từ ABS, tôi được biết những gì mình viết về TGM ngày nào (đăng trên báo Lao động, nhan đề Đáng rủa sả thay) là một sai lầm  và, ở mức độ nào đó, có thể coi là một tội ác khó có thể biện minh. Tôi muốn cầu xin một sự thứ tha nhưng chắc chắn rằng sự day dứt của lương tâm thì chẳng thể nào nguôi ngoai được…

Qua đây, cũng xin nói cho rõ “vụ” này. Hồi ấy, tôi là cộng tác viên thường xuyên của báo Lao động. Viết với đam mê và trách nhiệm thực sự của nghĩ suy là mình luôn bảo vệ cái đúng, chống lại những điều sai (ấu trĩ, ngây ngô, ngu dốt…; để cho độc giả và quý vị xa gần phán xét, mặc nhiên tôi không phàn nàn hay khiếu nại). Một lần, tôi nhận được điện thoại của ông Tô Quang Phán, Phó TBT (nay là Tổng BT Hà Nội mới), nói rằng Tổng GM Ngô Quang Kiệt tuyên bố cầm hộ chiếu Việt Nam thấy nhục nhã, hãy viết ngay một bài bình luận về sự kiện trên…

Nhận được lệnh, với thông tin 8 chữ, tôi viết liền cho kịp bài báo để mai đăng, sau khi đã đọc lại toàn bộ Kinh Thánh. Cho đến tận bây giờ, tôi vẫn chưa hiểu nổi, vì sao chỉ sau có mấy tiếng đồng hồ, vừa đọc Kinh Thánh lại vừa viết ra được bài báo tổng hòa và tận cùng của nỗi đau, sự xấu hổ mà không hề có một thoáng mảy may băn khoăn về chuyện đúng, sai? Xem ra, sự đui dốt, thỏa thuê khó tìm thấy giới hạn.

Bây giờ, tôi biết tôi xứng đáng bị rủa sả bởi những lời tàn tệ. Tôi viết bài này để xin một sự thứ tha, chắc rằng Chúa Nhân Từ sẽ tha thứ cho tôi, coi như đó là một tai nạn của lỗi lầm và xuẩn ngốc; nhưng, những bạn đọc yêu mến sự thật và công lý thì chẳng thế, bao giờ…

Điều còn lại sau lời cầu xin này nó dài lắm và khủng khiếp lắm. Tôi đã gần như mất hết niềm tin bởi những gì mà những người có quyền lực đang gieo rắc các nỗi đau có tên gọi khác nhau nhưng giống nhau về bản chất trên khắp đất nước. Được bốn chục tỷ đồng để bay tà tà rồi ngủ yên trong hai lá đơn từ chức, ai cũng muốn như thế, kể cả tôi. Nếu “lừa đảo” hàng chục tỷ đồng dễ hơn húp cháo thì cái “cơ chế” đó là cơ chế gì? Cả Kế toán trưởng của Cục Điện ảnh và Vinashin đều đào tẩu xong rồi mới nghe thấy phát lệnh truy nã trong khi ai cũng biết, nếu thật sự muốn theo dõi – giữ – bắt những tội phạm cỡ ấy, việc trốn thoát còn khó hơn cả lên giời!…

Tôi biết tin vào ai khi những điều sai hầu như đều có bệ đỡ hiệu quả, rỡ ràng? Tôi đã như một kẻ đui mù thách đấu với Tổng GM Ngô Quang Kiệt chỉ bằng cái sinh tử lệnh có 8 chữ, tức là bằng đúng một nửa của 16 chữ vàng cắt dán! Lỗi lầm và đau xót đang được đo bằng sự xa xót ê chề. Tôi chỉ còn biết sùng kính ngước nhìn lên và nói tới hai chữ: Cầu Xin!

Huế, 28.9.2011.

H.V.T.

Tác giả gửi trực tiếp cho BVN

Posted in Hòa Hợp Hòa Giải | Leave a Comment »

Vỡ Đê tại các tỉnh miền Tây: nguyên nhân chỉ vì “những ý tưởng” muốn thay đổi thiên nhiên từ cách nay gần 1 thập niên, đó là ngăn lũ để làm thêm vụ lúa thứ ba trong năm

Posted by hoangtran204 trên 01/10/2011

*”Khi chủ trương thiết lập đê bao khép kín để người dân có thể canh tác thêm một vụ ngay trong mùa nước nổi ở đồng bằng sông Cửu Long được thực hiện, giới khoa học đã cảnh báo sớm là thay đổi thiên nhiên, xả hết lũ ra biển sẽ khiến nước không được lưu giữ trong đất, đồng ruộng không được tẩy rửa và không được bồi đắp phù sa sẽ ảnh hưởng lâu dài.”

Nông dân trắng tay vì vỡ đê bao hàng loạt

Lũ lớn làm vỡ hàng loạt đê bao khép kín ở đồng bằng sông Cửu Long, hàng ngàn héc ta lúa thu đông đã ngập dưới nước, nông dân trông đợi thêm thu nhập nhờ vụ ba nay trắng tay trong nợ nần.

Hai tỉnh đầu nguồn sông Cửu Long là An Giang và Đồng Tháp đang chịu thách thức vì những ý tưởng muốn thay đổi thiên nhiên từ cách nay gần 1 thập niên, đó là ngăn lũ kiểm soát lũ để có thể làm thêm một vụ lúa thứ ba trong năm. Con người đã tìm cách ngăn dòng nước lũ với hệ thống đê bao khép kín dài hàng trăm cây số, mỗi ô bao rộng hàng trăm héc ta.
8 ngàn héc-ta lúa ngập trong lũ

Tính đến sáng 29/9 An Giang đã bị vỡ đê ở 7 nơi. Theo Tuổi Trẻ và Thời báo Kinh tế Saigon Online nhiều nơi đã vượt đỉnh lũ lịch sử năm 2.000 gây vỡ đê, khiến 8 ngàn héc-ta lúa thu đông ở An Giang đã ngập chìm trong lũ. Trong khi hơn 400km đê bao khác đang bị đe dọa cùng với 10.000 ha lúa chưa gặt, tức gần 1/10 diện tích lúa thu đông ở An Giang.

Bên cạnh đó tỉnh Đồng Tháp cũng đã vỡ hai tuyến đê bao ở Hồng Ngự và Tân Hồng, thiệt hại ban đầu khoảng gần 1 ngàn héc-ta lúa thu đông. Trả lời Nam Nguyên ông Dương Nghĩa Quốc, Giám đốc Sở Nông nghiệp Phát triển Nông thôn tỉnh Đồng Tháp phác họa tình hình:

“Lũ đầu nguồn hiện nay đe dọa nghiêm trọng sản xuất lúa thu đông tỉnh Đồng Tháp cũng như tỉnh An Giang. Về phía chủ trương, tỉnh huy động mọi nguồn lực để làm sao bảo vệ được tính mạng và tài sản của nhân dân cũng như diện tích lúa thu đông chuẩn bị thu hoạch nhưng tình hình cũng có một số diễn biến phức tạp.”

Trong khi An Giang có 500 hộ dân cần di dời khỏi vùng nguy hiểm, thì số lượng này ở Đồng Tháp gấp 10 lần là 5.000 hộ. Ông Dương Nghĩa Quốc cho biết tỉnh Đồng Tháp đã lập 500 đội cứu nạn với hơn 4.200 thành viên. Đề cập tới vụ lúa thu đông, vụ lúa thứ ba mà Đồng Tháp xem như vụ chính, ông Dương Nghĩa Quốc cho biết:

Đối với tỉnh Đồng Tháp diện tích lúa thu đông khoảng 100.000 ha nhưng thời gian vừa qua tính đến ngày hôm nay đã thu hoạch được 73.000 ha như vậy còn lại trên 25.000 ha chưa thu hoạch…Mực nước đang dâng cao, hiện nay trên tinh thần quyết tâm bảo vệ diện tích lúa còn lại. Nếu có thiệt hại thêm một số nữa thì thực ra cũng không ảnh hưởng lớn đến chỉ tiêu về sản lượng lương thực của tỉnh Đồng Tháp nhưng sẽ ảnh hưởng tới kinh tế và thu nhập của người nông dân. Chính vì vậy Ủy ban Nhân dân Tỉnh Đồng Tháp huy động mọi nguồn lực cố gắng không để lũ tiếp tục ảnh hưởng nhưng việc này còn tùy thuộc vào diễn biến mưa lũ bão lụt trong thời gian tới đây.”

Một đoạn đê bao ở ĐBSCL bị sạt lở. Photo courtesy of khoahoc.vn

Theo các nhân chứng tại chỗ, vài năm qua nước lũ về rất thấp, riêng năm ngoái thể nói là không có lũ, nhờ đó hệ thống đê bao khép kín dày dặc ở đồng bằng sông Cửu Long mới không xảy ra sự cố nào nghiêm trọng. Một nông dân vùng Tứ giác Long Xuyên phát biểu:

“Cứ tính đi, dù cho đê bao nó lớn, chân đê bao chừng 5-6 mét cũng không chịu nổi với áp lực nước cao như vậy đâu…Có những đoạn chỉ  vỡ chừng 30 mét, nhưng mỗi ngày nó sẽ rộng ra thêm, coi như cả một vùng đó sẽ mất lúa, vụ ba này lúa sẽ mất trắng hết…không cưỡng lại được phải chịu bó tay thôi. Hiện nay có những vùng lúa đang sắp chín, có những khu như ở Tịnh Biên, một số vùng ở An Giang lúa đang thời ngậm sữa, tôi thấy tình hình chắc khó chống cự với lũ.”

Khó chống cự với thiên nhiên?

Ngay từ ngày 26/9 trước khi một số tuyến đê bao bắt đầu vỡ, ông Vương Bình Thạnh Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh An Giang đã công bố tình trạng lũ khẩn cấp trên địa bàn An Giang. Quân đội, dân quân tự vệ được huy động ở An Giang cũng như Đồng Tháp để cứu đê dù sức người khó chống cự với thiên nhiên, có điểm vỡ phải gia cố nhiều lần mà nước lũ vẫn xé toác ra. Tất cả các trường từ tiểu học tới trung học cơ sở trên địa bàn Hồng Ngự thuộc tỉnh Đồng Tháp được lệnh đóng cửa từ 29/9 đến 8/10, học sinh được nghỉ học để tránh lũ.

Báo mạng Saigon Tiếp Thị trích lời ông Nguyễn Minh Giám, trưởng phòng dự báo khí tượng thủy văn, đài khí  tượng thủy văn khu vực Nam Bộ phân tích: “Tính chất và diễn biến lũ năm nay khác lũ năm 2.000. Thứ nhất lúc đó chưa có hệ thống đê bao nên lũ lớn tràn cả đồng bằng, năm nay hệ thống đê bao khép kín, dòng lũ chảy mạnh theo sông ngòi. Sau 10 năm vùng này chưa có lũ lớn, hệ thống đê bao không được gia cố để chống lũ trong khi diễn biến lũ hết sức phức tạp, nếu lũ mạnh lên trùng với bão lớn, mưa to thì nhiều đoạn trong hệ thống đê bao sẽ bị lũ nhấn chìm.

Khi chủ trương thiết lập đê bao khép kín để người dân có thể canh tác thêm một vụ ngay trong mùa nước nổi ở đồng bằng sông Cửu Long được thực hiện, giới khoa học đã cảnh báo sớm là thay đổi thiên nhiên, xả hết lũ ra biển sẽ khiến nước không được lưu giữ trong đất, đồng ruộng không được tẩy rửa và không được bồi đắp phù sa sẽ ảnh hưởng lâu dài. TS Lê Văn Bảnh Viện trưởng Viện lúa vùng đồng bằng sông Cửu Long nói với chúng tôi:

Năm rồi không có lũ, năm nay lũ rất lớn so với 8 năm trước. Đồng bằng sông Cửu Long người ta không nói lũ mà nói lụt, nước dâng tự nhiên bà con quen với quan niệm là sống chung với lũ. Trong lũ sẽ mang lại phù sa cho đồng bằng để bồi đắp các vụ sau. Rồi cá tôm phát triển cái đó là thắng lợi, cũng có một số thiệt hại một phần do chủ quan trong sản xuất, ở những vùng đê bao khép kín làm vụ thu đông người ta rất cẩn thận nhưng mà chủ quan vụ trước lũ thấp thành ra đợt này làm bị thiệt hại.”

Một nông dân đồng bằng sông Cửu Long có nhận xét về vấn đề làm vụ thu đông tức vụ thứ ba bên trong những vùng đê bao khép kín, điều mà ông gọi là lợi bất cập hại, nhưng người dân phải làm theo chính sách của địa phương:

Thí dụ trong một vùng đê bao người ta không muốn làm vụ ba, số người không muốn làm khoảng 50%, nhưng chính vì ông chính quyền xã bắt buộc phải làm, gây áp lực phải làm, thành thử người ta phải làm thôi. Nói rằng làm vụ ba sẽ có lợi thế này thế nọ, nếu làm vụ ba thu đông này mình phải đóng tiền như hình thức hợp tác xã, tiền bơm nước ra chi phí này nọ đóng cho đầu công để người ta lo cho mình, người dân thấy là không có lời cho mấy nên không muốn làm. Ở An Giang họ nói không muốn làm nhưng bị bắt buộc phải làm, ý người ta nói cộng đồng đã làm rồi bắt buộc anh phải theo. Nếu mà tình hình vỡ đê kiểu này chừng một hai vụ nữa thì có thể phải bỏ luôn không làm vụ thu đông nữa.”

Giá gạo trên thị trường thế giới tăng cao trong những năm gần đây khiến các nhà hoạch định chính sách đề nghị chính phủ cho tăng sản lượng thêm 1 triệu tấn lúa trong năm nay, do vậy mới dự báo xuất khẩu hơn 7 triệu tấn gạo. Báo Kinh tế Saigon Online đặt vấn đề “chưa thấy ai nói về bài học ngành nông nghiệp đã chỉ đạo nông dân tăng hơn 500.000 héc ta lúa vụ ba năm nay trong khi không dự báo được tình hình lũ lên nhanh như hiện tại.

Theo RFA

Posted in Nong Dan Viet Nam | Leave a Comment »

►Kinh tế Việt Nam: “Đến lúc nhìn thẳng vào sự thật” – Tổng số nợ vượt quá 100% GDP

Posted by hoangtran204 trên 01/10/2011

Thứ 6, 30-9-2011, các nhà lãnh đạo của các cường quốc Mỹ, Âu Châu cùng các bộ trưởng tài chánh và các nhà kinh tế  đang lo lắng vì sự không trả được nợ của Hy Hạp sẽ có khả năng kéo theo sự sụp đổ dây chuyền qua các nước khác…nhiều người bán chứng khoán để lấy tiền cất giữ cho chắc ăn, vì lo sợ chứng khoán sụt giá như vào cuối năm 2008 và tháng 3/2009.

Giá trị tiền đô la Mỹ  gia tăng đã làm cho giá vàng thế giới sụt giảm chỉ còn $1625 mỗi 1 lượng vàng (30,45 gram), so với chỉ vài tuần trong tháng 9 giá vàng lên tới $1900/ 1 lượng. Giá 1 lượng vàng ta (37,5 gram) cũng sụt xuống từ 49 triệu đồng VN nay chỉ còn 43 triệu đồng  VN.

Các nhà đầu tư bên thị trường chứng khoán đang thêm lo lắng vì giá chứng khoán lại sụt giảm trầm trọng (Wall Street ends worst quarter since 2008 meltdown) vì  chỉ số sản suất hàng hóa của Trung Quốc mới đưa ra sáng thứ Bảy hôm nay cho thấy là đã giảm, một sự  sụt giảm  trong ba tháng liên tiếp.

Ở  Việt Nam, tình hình kinh tế đang ở vào lúc xấu nhất trong 20 năm qua. Tại cuộc hội thảo  về các vấn đề kinh tế vĩ mô do Ủy Ban Kinh Tế Quốc hội tổ chức cuối tuần qua tại Tp.HCM, tiến sĩ Lê Đăng Doanh cho biết:

*không nghi ngờ gì nữa, tình hình KT-XH nước ta đang ở tình trạng xấu nhất từ năm 1991 đến nay

*Nợ nước ngoài lên đến 42% GDP, cao nhất từ 1998 đến nay. Nếu tính thêm nợ của các doanh nghiệp nhà nước mà chính phủ bảo lãnh và phải trả nợ thay khi doanh nghiệp chưa trả được, như trường hợp xi măng Đồng Bành vừa qua, thì tổng số nợ đã vượt quá 100% GDP.

*Theo tôi thì đã đến lúc Quốc hội, cơ quan quyền lực cao nhất cần có quyết định cải cách mạnh mẽ, mà tôi tạm gọi là đổi mới lần thứ hai, để tránh khủng hoảng.

T.S Lê Đăng Doanh: “Đến lúc nhìn thẳng vào sự thật”

Hỏi T.S có bi quan quá không khi nói rằng: “không nghi ngờ gì nữa, tình hình KT-XH nước ta đang ở tình trạng xấu nhất từ năm 1991 đến nay”, ông liền hỏi lại, “thế bạn thấy có ai phản đối không?”.
Câu chuyện giữa VnEconomy với TS. Lê Đăng Doanh, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương, diễn ra khi không khí của cuộc hội thảo về các vấn đề kinh tếvĩ mô do UBKT Quốc hội tổ chức cuối tuần qua tại Tp.HCM vẫn còn đang “nóng hổi”.Là diễn giả đăng đàn thứ ba với chủ đề “Điều chỉnh kế hoạch 5 năm 2011 – 2015, tái cơ cấu và cải cách kinh tế” tại hội thảo này, ông Doanh đã hơn một lần nhấn mạnh rằng cần phải nhìn thẳng vào sự thật và “cần có đổi mới lần hai” một cách sâu sắc, toàn diện.
-Thưa ông, nhận định nền kinh tế đang ở tình trạng “xấu nhất từ năm 1991” đã được “kiểm nghiệm” ở diễn đàn nào chưa?
_Chưa đâu, đây là lần đầu tiên tôi đưa ra nhận định này. Các ý kiến tại hội thảo đều rất dễ dàng thống nhất là nền kinh tế đang rất khó khăn, song nếu khái quát như ông thì liệu có vội vàng quá không?

Thì bạn đã nghe cả tại hội thảo rồi đấy. Phải nói thẳng là tình hình đang rất xấu.

Xét về tất cả các tiêu chí kinh tế vĩ mô như lạm phát, bội chi ngân sách, thâm hụt thương mại, cán cân thanh toán quốc tế, nợ nước ngoài và nợ công, tỷ giá đồng tiền Việt Nam cũng như sự giảm sút niềm tin của người dân, nhà đầu tư trong nước và ngoài nước… đều đang ở mức trầm trọng.

Đáng chú ý là sức khỏe của hệ thống ngân hàng bộc lộ nhiều vấn đề, tỷ lệ nợ xấu tăng lên. Mức tín nhiệm của Việt Nam bị các công ty nước ngoài hạ thấp đến mức B-, tức là mức thấp nhất trước mức C.

Xếp hạng năng lực cạnh tranh của Việt Nam bị giảm 6 bậc trong năm 2011, xuống vị trí 65 trên 142 nền kinh tế. Tích lũy từ nội bộ kinh tế liên tục giảm sút, để duy trì mức đầu tư cao, nước ta đã tăng vay mượn nước ngoài, không chỉ qua nguồn ODA mà còn cả qua các kênh bán trái phiếu chính phủ trên thị trường tài chính quốc tế và bảo lãnh cho doanh nghiệp nhà nước vay mượn thương mại với lãi suất cao. Số nợ của khu vực doanh nghiệp nói chung, kể cả doanh nghiệp tư nhân kinh doanh bất động sản cũng tăng cao rồi.

Nợ nước ngoài lên đến 42% GDP, cao nhất từ 1998 đến nay. Nếu tính thêm nợ của các doanh nghiệp nhà nước mà chính phủ bảo lãnh và phải trả nợ thay khi doanh nghiệp chưa trả được, như trường hợp xi măng Đồng Bành vừa qua, thì tổng số nợ đã vượt quá 100% GDP.

Một vấn đề nữa rất đáng chú ý hiện nay là chênh lệch giàu-nghèo tăng lên rõ rệt. Đặc biệt, bên cạnh những người nghèo gặp khó khăn rất lớn trong đời sống, chữa bệnh, cho con đi học…, đã xuất hiện những hiện tượng phô bày sự giàu có, xa hoa theo kiểu trọc phú, rất xa lạ với truyền thống dân tộc và định hướng xã hội chủ nghĩa của đất nước.

Rồi, tội ác hình sự, các hành vi bạo lực và các tệ nạn xã hội tăng nhanh, tình hình trật tự xã hội có diễn biến rất phức tạp, người dân lương thiện cảm thấy kém an toàn khi đi ra đường hay đến nơi đông người.

Nhưng thưa ông, chúng ta vẫn thường nghe các đánh giá là kinh tế – xã hội đang có chuyển biến tích cực?

Tất nhiên hiện thực là bức tranh nhiều màu sắc. Bên cạnh những “khoảng tối” như tôi vừa nói thì cũng có điểm sáng, như sản xuất nông nghiệp đạt khá, xuất khẩu, trong đó có xuất khẩu gạo… vẫn tăng.

Bên cạnh hàng nghìn doanh nghiệp phải ngừng sản xuất thì cũng có doanh nghiệp làm ăn được. Ví dụ doanh nghiệp Mỹ Lan ở Trà Vinh chế ra vật liệu nano xuất khẩu, hay gốm sứ Minh Long cũng có công nghệ tiên tiến, sản phẩm có năng lực cạnh tranh…

Những điểm sáng như vậy có thể tìm thấy ở tất cả các lĩnh vực, các địa phương, nhưng chính những doanh nghiệp này cũng đang gặp khó khăn vì lãi suất cao, lạm phát làm chi phí đầu vào tăng nhanh.

Những điểm sáng đó mình phải thừa nhận, song một vài con én nhỏ không làm nên mùa xuân, không làm thay đổi được cục diện.

Vậy nên đã đến lúc nhìn thẳng vào sự thật, phải có sự chuyển hướng chiến lược để khôi phục lại niềm tin của dân và các nhà đầu tư.

“Đổi mới lần thứ hai”

Xin mạn phép hỏi ông, ông nghĩ sao khi có ý kiến cho rằng, dù sao khi đã nghỉ hưu rồi thì cũng dễ “nói mạnh” hơn khi còn đương chức?

Với tôi thì không phải, tôi luôn luôn nói sự thật, vì thế nhiều phen sóng gió lắm rồi đấy, nhưng chắc bạn không biết rõ vì khi ấy bạn còn trẻ.

Còn ở tình thế hiện nay thì tôi thấy cả các anh đương chức cũng nói thẳng là chúng ta không nên ảo tưởng nữa, và nếu không điều chỉnh cho sát thực tế hơn thì kế hoạch 5 năm tới sẽ không thể thực hiện được.

Theo tôi thì đã đến lúc Quốc hội, cơ quan quyền lực cao nhất cần có quyết định cải cách mạnh mẽ, mà tôi tạm gọi là đổi mới lần thứ hai, để tránh khủng hoảng.

Như đã nói, cần điều chỉnh kế hoạch 5 năm tới. Trước mắt, cần có kế hoạch ổn định kinh tế vĩ mô gắn liền với tái cơ cấu và cải cách toàn diện trong ít nhất là hai năm 2012-2013, trước khi tiếp tục thực hiện các mục tiêu của kế hoạch 5 năm 2011-2015.

Mục tiêu của kế hoạch này là giảm lạm phát, bội chi ngân sách, nhập siêu, cải thiện rõ rệt các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô bằng những cải cách mạnh mẽ trong thu-chi ngân sách, cắt giảm mạnh mẽ đầu tư công, thực hiện công khai minh bạch trong chi tiêu ngân sách, hoạt động đầu tư, thực hiện tinh giảm bộ máy nhà nước đã phình to lên nhanh chóng trong thời gian qua, cắt giảm biên chế hành chính.

Cần sửa đổi, bổ sung Luật Ngân sách, giảm hẳn các khoản chi tiêu còn để ngoài ngân sách, thực hiện sự giám sát đầy đủ, chặt chẽ của Quốc hội và các cơ quan dân cử về chi tiêu ngân sách. Cần sửa đổi, bổ sung Luật Mua sắm công, ban hành Luật Đầu tư công nhằm hạn chế tham nhũng, lãng phí, chia chác trong nhóm lợi ích.

Khâu trọng tâm là cải cách các tập đoàn kinh tế nhà nước, doanh nghiệp nhà nước, đẩy mạnh cổ phần hóa, thực hiện mô hình quản lý‎ dựa trên kết quả, công khai minh bạch như những công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán.

Khác với lần đổi mới thứ nhất – chủ yếu là cởi trói và giải phóng sức sản xuất, được sự ủng hộ của đông đảo nông dân và quảng đại quần chúng – đổi mới lần này đỏi hỏi phải nâng cao chất lượng của bộ máy, chính sách, phải tiến hành phẫu thuật, cắt bỏ những ung nhọt đang gây ra những căn bệnh kéo dài của nền kinh tế và xã hội.

Có thể, một số nhóm lợi ích đang được hưởng lợi lớn sẽ không ủng hộ một cuộc đổi mới như vậy. Đó là nhiệm vụ khó khăn cần phải vượt qua, và cũng là sứ mệnh vẻ vang của thế hệ lãnh đạo hiện nay.

Phản biện chính sách cần được làm chu đáo hơn

Trong số các giải pháp để “chữa bệnh” bất ổn, nhiều ý kiến đặc biệt nhấn mạnh đến việc giảm thu, giảm chi và tái cơ cấu doanh nghiệp Nhà nước, ông có chia sẻ?

Giảm thu, giảm chi thì rất đúng rồi. Tập trung ổn định vĩ mô và phải khoan sức dân, bớt thuế bớt chi tiêu đi.

Tôi cho rằng cần phải phát động phong trào toàn dân cần kiệm xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Một vị giáo sư người Nhật nói với tôi trước đây ông ấy đến Việt Nam thì được mời rượu Johnnie Walker đỏ, còn bây giờ thì họ mời Chivas giá mười mấy triệu. Và ôtô người Việt đi cũng sang hơn trước đây nhiều. Ở Nhật, không bao giờ một quan chức nào có thể mời bạn uống rượu sang như vậy bằng tiền ngân sách.

Vì thế cần phải tiết kiệm, trong đó thì cơ quan nhà nước cần gương mẫu trước.

Còn về tái cấu trúc doanh nghiệp nhà nước thì tôi đã nói nhiều lần là cơ chế quản lý của doanh nghiệp Việt Nam rất kém, nhưng không phải là không khắc phục được.

Đi Trung Quốc, tôi được Phó thủ tướng phụ trách công nghiệp của Trung Quốc cho biết là đã áp dụng chế độ quản lý theo hiệu quả, nhưng doanh nghiệp nhà nước bên đó cũng còn rất nhiều vấn đề.

Hỏi thế làm thế nào để khắc phục thì ông ấy cho biết là yêu cầu một nhóm các nhà khoa học, các chuyên gia khảo sát và đề ra1 hệ tiêu chí, như phải tăng năng suất bao nhiêu, đổi mới công nghệ thế nào, lương thưởng bao nhiêu… sau đó công khai đăng lên. Ai có phương án thì gửi đến, rồi mời hội đồng nghe báo cáo, bỏ phiếu kín, người được phiếu cao nhất thì bổ nhiệm làm lãnh đạo 3 năm. Năm đầu làm không tốt thì không lên lương, năm thứ hai vẫn không làm được thì hủy hợp đồng không cho làm nữa và thay băng người khác.

Tại sao họ làm được mà Việt Nam mình chưa làm được?

Nhân nói đến vai trò của các nhà khoa học và chuyên gia kinh tế, có chuyên gia tự phê là ý kiến nào cũng nhấn mạnh phải tái cơ cấu nền kinh tế, nhưng để góp ý cho Chính phủ tái cơ cấu bắt đầu từ đâu thì đội ngũ các nhà khoa học cũng chưa làm được nhiều. Ông có thấy “chạnh lòng” không ạ?

Lần gần đây nhất được mời đến hội nghị tham vấn cho Chính phủ thì tôi lại đang hội thảo ở nước ngoài nên không dự được, rất tiếc.

Đóng góp cá nhân thì có cũng có thể chưa đáp ứng được yêu cầu, nhưng tôi nghĩ chúng tôi luôn cố gắng đóng góp.

Chỉ có điều vai trò phản biện cũng chưa được coi trọng đúng mức, thể hiện ở cách làm vội vã. Thông báo trước hai ngày bảo mời anh đến thì làm sao mà chuẩn bị tốt được. Lẽ ra anh phải đặt hàng trước một số vấn đề để người tư vấn có thời gian chuẩn bị thật tốt. Sản phẩm 24 tiếng dĩ nhiên phải khác với sản phẩm được nghiên cứu nghiêm túc trong 2, 3 tháng chứ.

Cho dù như vậy thì có còn hơn không, thưa ông?

Rõ ràng chứ, chỉ có điều cần mở rộng hơn nữa. Tôi tin là nếu có quyết tâm cải cách, chúng ta sẽ làm được, làm tốt.

Nguyên Hà (Vneconomy)

Posted in Kinh Te, Nợ công và Nợ doanh nghiệp | Leave a Comment »