Trần Hoàng Blog

Archive for Tháng Tám, 2012

►Thắp lên ngọn đuốc Việt Nam!

Posted by hoangtran204 trên 30/08/2012

Thắp lên ngọn đuốc Việt Nam!

Bao nhiêu năm đấu tranh trong quốc nội, oằn mình trước cái chết và trưởng thành vượt bậc nhờ các cuộc gây quỹ yểm trợ của cộng đồng Hải ngoại trên khắp thế giới, hôm nay (26-8-2012), tôi mới thực sự tham gia vào cuộc gây quỹ yểm trợ mang tầm vóc quy mô của ủy ban Sacramento ngay nơi mình cư ngụ.

Có lẽ ý thức được thời cơ chính trị: “Cộng sản đánh nhau và cơ hội của chúng ta”, nên số người đến tham dự khá đông. 450 người thuộc đủ mọi tầng lớp xã hội từ bác sĩ, kỹ sư, doanh nhân, người bán hàng … cả người Việt , người Hoa, người Mỹ. Nhiều gia đình kéo cả đại gia đình- hai, ba thế hệ đi, nhằm mục đích yểm trợ cho các nhà dân chủ trong quốc nội (thông qua ban tổ chức) càng nhiều càng tốt.

Nếu theo định nghĩa của nhà tư tưởng lỗi lạc người Đức: “Cách mạng là ngày hội của quần chúng” thì buổi gây quỹ chiều nay tại nhà hàng Rice Bowl thực sự là ngày hội của cộng đồng người Việt tại thủ phủ Sacramento.

Theo bác Huỳnh Hóa – chủ tịch ủy ban cho biết: Cuộc gây quỹ được chuẩn bị từ đầu năm 2012, khi những tia nắng xuân ấm áp còn trải vàng nơi mặt đất và làn gió xuân không lồng lên như ngựa hoang trong không khí oi nồng, nóng bỏng của mùa hè miền bắc Cali như lúc này…

Để cho một ngày bình thường được cháy lên trong lòng cộng đồng người Việt tại Sacto, Ủy ban bắt đầu nhóm họp, phân công nhau từng người, từng việc cụ thể , từ việc nhỏ như đón khách, sắp xếp bàn ăn, chỗ ngồi, đến việc soạn thảo các văn bản, tài liệu, thông báo trên hệ thống truyền thông, đi đến các nơi gặp gỡ từng người hay từng tổ chức đảng phái, hội đoàn yêu nước trong cộng đồng, nhằm tập hợp được số lượng người tham dự đông đảo nhất, vừa kỷ niệm 5 năm ngày thành lập ủy ban( 26-8-2007) vừa gom góp những bát nước nghĩa tình về yểm trợ tại quê nhà, sao cho bát nào bát nấy được trọn vẹn, không vơi hụt, sóng sánh một giọt nhỏ để tiếp sức các anh chị em trong chặng đường sắp tới, khi ánh sáng tự do dân chủ cuối đường hầm độc đạo, độc tài đã le lói, rạng ngời.

Suốt ba, bốn tháng trời, ngọn lửa yêu nước, căm thù chế độ cộng sản – đã ngún cháy trong lòng các thành viên của ban tổ chức và dần dần lan tỏa sang các cá nhân riêng rẽ trong cộng đồng, tạo thành cả rừng nến rực sáng trong buổi chiều hôm nay. Bao nhiêu hình ảnh anh em yêu nước bị đọa đầy nơi ngục tối, những người ngư dân hiền lành chân chất bị tàu Trung Quốc đánh, bắt. Cảnh đàn áp dã man của công an cộng sản Việt Nam, bao lời ca tiếng hát bị giam cầm trong 4 bức tường nhà giam …lập tức được chiếu lên, phát lại, găm vào lòng người dự, người nghe những ấn tượng bồi hồi, xúc động, thương tâm, cảm kích, uất hận tuôn trào, thu hút cả gần nghìn con mắt cùng hướng về màn hình- nơi diễn tả trung thực nhất sự hèn hạ, dã man của đảng cộng sản Việt Nam- một con quaí vật khổng lồ có 14 cái đầu ngu đần, độc ác, 28 đôi chân, tay thô bạo và cũng là 14 cái dạ dày khổng lồ, 14 quả tim khô héo , ăn vẹt cả đất nước quê hương. Đầu tiên là bòn rút quỹ công trên cơ sở những đồng thuế của dân chia chác cho nhau, sau đó là bán tài nguyên thiên nhiên đất nước, lấy tiền tỉ bỏ túi, cuối cùng là cướp đất người dân. Theo quy luật tất yếu của đảng cướp thì khi không còn gì để cướp nữa ,chúng sẽ quay ra cướp bóc lẫn nhau , tùy theo quyền lực của mỗi nhóm…Lợi ích càng nhiều, cắn xé nhau càng lắm. Sự phân hóa mỗi ngày một lớn … cho đến khi tự hủy .Ngày tàn của quái vật đảng đã gần kề, ngày về lại quê hương yêu dấu đang định hình trong tim óc mỗi người Việt xa quê. Vì vậy hơn lúc nào hết , mỗi người dân hải ngoại phải trở thành một điểm tựa, một nạng chống tinh thần cho các anh em dân chủ trong nước, để tố cáo , lột trần thực chất của nhà nước xã hội chủ nghĩa thịt dân và ăn dân , thúc đẩy tiến trình tự do dân chủ đến sớm hơn.

Mở đầu buổi gây quỹ là các nghi thức trang trọng: Chào cờ, hát quốc ca, rồi phút mặc niệm  để tưởng nhớ tới những người đã chết trong tù như Trương Văn Sương, Nguyễn Văn Trại, Lê Trí Tuệ, Nguyễn Văn Bình*, Đặng Ngọc Liêng v.v. cùng bao nhiêu con người bằng xương bằng thịt đang bị đọa đầy chết đi sống lại nơi địa ngục cộng sản như Đại Úy Nguyễn Hữu Cầu, nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa, Luật sư Cù Huy Hà Vũ, Dân Oan Xuyên Thế Kỷ Lê Thị Kim Thu, Blogger Điếu Cày, nhà báo– cựu thanh tra công an Tạ Phong Tần, Anh Ba Sg Phan Thanh Hải, nhạc sĩ Việt Khang, Đỗ thị Minh Hạnh, Trần thị Thúy, Hồ thị Bích Khương v.v

Tiếp theo là dàn đồng ca nữ trong cộng đồng Sacramento, từ hoa hậu Ngọc Lan, Nguyễn Mùi, Helen Đặng, Thanh Phưong, Julie, Tiffanie, Tiểu Lan…đến luật sư Bùi Thu Trang, ca sĩ Hoài Hương v.v Những câu hát trữ tình gợi cảm, tha thiết đầy nghẹn ngào xúc động vang lên khắp các dãy bàn tròn trong khuôn viên nhà hàng, gợi nhớ về một thời hào hùng dựng nước và giữ nước của cha ông đến khi bị bóng ma cộng sản tràn vào, trùm lên cuộc sống của gần 90 triệu con hồng, cháu lạc Việt Nam:

Từ khi tôi chào đời
Bập bẹ hai tiếng Việt Nam
Yêu quê hương qua từng trang sách
Hùng Vương, Phù Đổng rạng ngời

Trải qua bao thời đại
Thăng trầm theo những buồn vui
Quê hương sau ngày lửa khói
Tự Do, Hạnh Phúc xa vời.

Tuy cách xa tổ quốc cả nửa vòng trái đất, nhưng tấm lòng gắn bó với quê hương đất nước thì mãi mãi trường tồn, vì vậy khi biết rõ con quái vật cộng sản đang tàn sát đất nước quê hương, cướp đến mảnh đất cuối cùng của người dân nghèo khó nơi quê nhà liền động lòng trắc ẩn, không thể ngồi yên…những danh sách ủng hộ càng ngày càng nhiều thêm, dài mãi ra, từ một tấm lòng đến hàng chục ,hàng trăm tấm lòng trong cả cộng đồng gần hai mươi nghìn người Việt tại đây, như ông Sáu Vòng ( chủ siêu thị Vĩnh Phát) 600 USD, American Furniture Galleries 400.00 USD. Tiến sĩ Võ Quý Hân: 300 USD ,Hội cao niên 200 USD, hội Phan Rang: 100 USD v.v nâng số tiền ủng hộ lên 7000 USD( không kể tiền gây quỹ từ 450 người đến dự là 6000 USD).

Cùng với sự hiện diện của ban tổ chức, 450 con người có mặt trong buổi gây quỹ yểm trợ chiều nay là 450 chiến sĩ nhân quyền, tự đứng lên “đáp lời sông núi” theo lời kêu gọi của nhạc sĩ Trúc Hồ:

Đáp lời sông núi, anh em ta đáp lời sông núi,
Tổ quốc lâm nguy, xương máu này ta nguyện hiến dâng.
Đáp lời sông núi, anh em ta đáp lời sông núi,
Quyết bảo vệ giang san, ta thà chết cho quê hương.

Tự do của Việt Nam bao nhiêu năm qua đã và đang phải đổi bằng giá máu, vì vậy 450 cá nhân trong cộng đồng trở thành 450 bình dưỡng khí cung cấp ô xy và hơi thở, chất dinh dưỡng cho hàng trăm nghìn “thợ lặn” là các anh em dân chủ trong nước, những người thợ lặn không chuyên trong vũng lầy xã hội chủ nghĩa, cũng là những thiên thần trong bóng tối, những người tự nguyện:

Mang ánh sáng…vào nơi tối tăm
Mang tình yêu…xóa tan hận thù
Mang Tự Do, Công Bình, Nhân Ái
Cho Việt Nam ngày mai…ngời sáng

Trong khi ban tổ chức tình nguyện “Thắp lên ngọn đuốc Việt Nam, thắp lên Tình Yêu, Tự Do, Công Lý” , cũng như Bình An, Hạnh Phúc cho mọi người dân trong quốc nội, thì 450 thành viên có mặt trong nhà hàng Rice Bowl tự nguyện bước theo lời kêu gọi trân trọng của ban tổ chức cùng thắp lên hàng trăm ngọn đuốc Việt Nam, với một niềm tin về ngày mai tươi sáng, để “hiến dâng cuộc sống cho đời”.

Giữa không khí đông vui náo nhiệt của nhà hàng, chuỗi khẩu hiệu đanh thép vang lên:“Hoàng Sa -Trường Sa- Việt Nam”, và một kẻ điên cuồng, hung hãn xông vào bẻ quặt hai cánh tay người hô ra sau, bập vào còng sắt số 8, trong khi bàn tay còn lại quật dùi cui tới tấp vào thân hình rắn rỏi, gầy guộc của anh..Lập tức cả nhà hàng lặng đi khi giọng hát của anh bất thần cất lên như một ánh thần quang chớp sáng từ trái tim anh phóng tới:

Xin hỏi anh là ai?
Sao bắt tôi, tôi làm điều gì sai?
Xin hỏi anh là ai?
Sao đánh tôi chẳng một chút nương tay?
Xin hỏi anh là ai?
Không cho tôi xuống đường để tỏ bày
Tình yêu quê hương này, dân tộc này đã quá nhiều đắng cay!

Ngồi lặng lẽ quan sát mọi người, mọi việc suốt 4 tiếng đồng hồ của cuộc gây quỹ, tôi chợt nhớ tới hình ảnh của những con dã tràng và lời ví:

Dã tràng xe cát biển đông
Nhọc nhằn mà chẳng nên công trạng gì

Song các thành viên trong ủy ban gây quỹ, từ bác Huỳnh Hóa (chủ tịch ) bác Trần Gia Tường( cố vấn) chị Phạm Diễm Hương( tổng thư ký) anh Nguyễn Văn Lợi(thủ quỹ). Anh Phan Lăng( trưởng ban văn nghệ ) cùng bao nhiêu thành viên khác, thực sự là những con dã tràng xe những hạt cát công đức, nghĩa tình về cho các nhà đấu tranh dân chủ trong nước, để ngày tiếp ngày, lập nên một trang sử mới hào hùng cho đất nước, đẩy bóng ma cộng sản về với bóng đêm, như dòng lịch sử của người Việt đã viết:

Đây muôn triệu con tim, đây muôn triệu khối óc,
Cùng giòng máu Việt Nam.
Đây Hưng Đạo Vương, đây Lý Lê Trần,
Bốn ngàn năm, chưa một lần khuất phục ngoại xâm.

…Một dòng lịch sử nhỏ bé lẫn trong muôn vàn dòng lịch sử thế giới hiện đại nhưng rất đáng lưu tâm, khâm phục, bởi ở đó, mỗi khi có giặc ngoại xâm thì từ đầu trang đến cuối trang, từ đầu đất nước đến cuối đất nước, từ trong ra ngoài, từ già trẻ lớn bé, gái trai, bưng biền miền núi, đồng ruộng thôn quê, ông cha đều khươ chiêng gióng trống, nổi dậy chống xâm lược. Suốt 4000 năm lịch sử hào hùng đau thương của mình. Ông cha ta đã từng: bình Ngô, chinh Tống, phá Nguyên, dẹp Thanh, đánh Minh, chống Pháp, kháng Nhật, thắng Tàu …và chiều nay, 450 người nơi thủ phủ Sacramento dưới sự điều hành của ban tổ chức, lại tiếp tục phát huy trí tuệ và bản lĩnh của dân tộc mình để “thắp lên ngọn đuốc Việt Nam”

Sacramento 27-8-2012

© T.K.T.T

© Đàn Chim Việt

http://www.danchimviet.info/archives/64297

Advertisements

Posted in Từ Thiện - Gây Quỹ | Leave a Comment »

►“Chúng ta hãy cứ để cho những người cộng sản ăn cắp, họ sẽ cho chúng ta dân chủ”

Posted by hoangtran204 trên 29/08/2012

Đó là câu nói của: Adam Michnik, hiện là Tổng biên tập nhật báo “Gazeta Wyborcza“, lớn nhất Ba Lan và có uy tín ảnh hưởng tại Ba Lan và Đông Âu, được Viện báo chí quốc tế (IPI) năm 2000 xếp vào danh sách “50 Anh hùng của báo chí tự do”. (LDĐ)

Bài 1

Nước Việt buồn và gia tài để lại của bọn mafia đỏ

“Chúng ta hãy cứ để cho những người cộng sản ăn cắp, họ sẽ cho chúng ta dân chủ” – Adam Michnik

 Một tuần sau vụ bê bối của của ông chủ ngân hàng ACB và “bầu” Kiên bị bắt giữ hôm 20/8, trong con mắt bi quan và thất vọng của người dân Việt bình thường, tất tần tật các đại gia sống trong những biệt thự nguy nga, đi xe siêu sang trọng, ăn xài hoang túng, đều có thể là những tên ăn cắp. Trước bầu Kiên ít ngày, họ đã chứng kiến những đại gia khác được cho là “làm ăn đàng hoàng” cũng… bất chợt dính vòng lao lý. Lùi xa hơn thì nhiều.

Sản xuất ra một rừng luật và các nghị định vi hiến để trị dân, nhưng bản thân thì không chịu sự chi phối nào của cơ chế nhà nước pháp trị, trong những năm qua, Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN) đã tạo ra một xã hội tư bản vô chính phủ, mọi rợ, một bộ máy cai trị dung dưỡng tham nhũng, nơi mà các quan chức chóp bu cấu kết với giới tư nhân để tư bản hoá khu vực kinh tế công, làm giàu riêng bằng cái giá phải trả của 90 triệu người.

Tờ Tuổi Trẻ ngày 23/8 vạch ra thủ đoạn kiếm tiền của “bầu” Kiên là bằng cách thành lập các công ty con có vốn điều lệ lớn, phát hành cổ phiếu bán cho ngân hàng để “huy động” vốn, rồi lấy tiền từ ngân hàng mua cổ phiếu ngân hàng, cầm cổ phiếu này thế chấp vay tiếp mua trái phiếu, trả nợ ngân hàng, hoặc dùng vào mục đích khác, song song với những trò đầu cơ bằng các liên kết ảo thuật đẩy giá thị trường chứng khoán, vàng, ngoại tệ lên xuống theo ý đồ, lừa gạt dân chúng nhẹ dạ, cả tin.

Những tay chơi bạc là những tay tổ sư của trò các trò ma giáo “mượn đầu heo nấu cháo”, “lấy mỡ nó rán nó”, dù chẳng lạ lẫm gì trong giới làm ăn, vì đã từng được các tay trùm mafia đỏ ở nước Nga áp dụng trong thập niên 90, nhưng là sân chơi riêng vô cùng hạn hẹp của giới quyền lực đầu sỏ. Những con bạc máu mê đặt cược hàng trăm triệu, hàng tỷ đôla, nhưng “khi thua có người cứu, ngân hàng thương mại mà chết thì có Ngân hàng Nhà nước cứu. Như vậy là anh đem tiền của nhân dân đi đánh bạc, thắng anh ăn, anh thua – nhân dân chịu. Nói chung, đó là đánh bạc không sợ mất vốn” – Ông Bùi Văn, cựu Phó Giám đốc chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright nhận định trên tờ Pháp Luật.

Điều này được khẳng định chẳng thèm giấu giếm qua tuyên bố của Nguyễn Văn Bình, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) rằng, “chủ trương của chính phủ không để cho bất kỳ ngân hàng thương mại nào đổ vỡ trong giai đọan này“. Trong khi Nguyễn Thanh Toại, phó tổng giám đốc Ngân hàng ACB nói “NHNN cũng đã hỗ trợ thanh khoản cho ACB, chúng tôi cần bao nhiêu thì NHNN sẽ hỗ trợ bấy nhiêu“.

Không những che chắn, quẳng phao cứu nhau đến cùng, các quan chức của ĐCSVN còn biểu hiện sự kiêu căng, coi dân chúng không ra gì. Thống đốc Nguyễn Văn Bình nói rằng, “do dân trí, tập quán ở VN chưa cao như ở một số nước, nên dân chúng không biết ngân hàng nào xấu, tốt (…) Cách làm của chúng tôi là tái cấu trúc từ bên trong để NH lành mạnh lên“. Điều này có khác gì nói thẳng vào mặt dân rằng, đám dân đen ngu ngơ kia, hãy biết thân phận ngồi im để các con bạc vần vũ trên tấm lưng lam lũ đáng thương của họ?

Ở một quốc gia dân chủ, trong trường hợp một ngân hàng tư nhân có bê bối như ACB, những tuyên bố trên đây của các quan chức bảo đảm sẽ là quả bom nguyên tử của nổi giận xã hội có thể làm nổ tung cả bộ máy cầm quyền. Thế nhưng, ở VN, trong tâm lý hỗn loạn, đám đông ngơ ngác, ngoài sự xao xác săn tin đồn hầu thoả mãn sự tính tò mò chuyện cung đình, chỉ biết giương mắt ếch nhìn tiền bạc và của cải của đất nước bị cướp giật, mà dường như chẳng biết làm bất cứ điều gì chống lại nó.

Cuối năm 2011 hậu quả của khủng hoảng Vinashin với món nợ khổng lồ 4,5 tỷ đôla và thanh toán đáo hạn chậm trễ, VN đã bị tổ chức xếp hạng tín dụng S&P hạ mức uy tín đồng nội tệ từ BB xuống mức BB-, cho thấy đất nước đang đối mặt với những rủi ro, bất ổn kinh tế và tài chính. Đầu tư nuớc ngoài trong những tháng vừa qua của năm 2012 giảm đi 1/3, nợ xấu của ngân hàng cao chót vót nhưng mơ hồ, các doanh nghiệp nhà nước nợ như chúa chổm, hàng chục ngàn doanh nghiệp tư phá sản vì thiếu vốn, giá cả hàng tiêu dùng và dich vụ gia tăng mạnh theo xăng dầu, nợ nước ngoài tăng hơn gấp đôi trong nhiệm kỳ 2006-2011 của Nguyễn Tấn Dũng (32,5 tỷ USD).

Các biện pháp chống lạm phát bằng xiết chặt một cách phi lý quản lý vàng, ngoại tệ, bơm 29 ngàn tỷ đồng cho các doanh nghiệp, chưa cải thiện được bức tranh kinh tế xám xịt là bao, thì vụ bê bối của ngân hàng ACB trong sự phản chiếu của vụ đại tá tình báo Lương Ngọc Anh, được báo Úc cho là tay chân thân cận của Nguyễn Tấn Dũng, trong vụ sex scandal Securency, càng làm cho bộ mặt kinh tế VN vốn ảm đạm, lại càng thê thảm hơn và hổ thẹn chưa từng thấy trong con mắt của giới doanh nghiệp thế giới.

Hãy lướt qua một số tiêu đề trên báo chí quốc tế:

Chính trường Việt Nam nóng lên cũng như kinh tế đang rúng động” (Jakarta Post 26/8/12);  -”Sự sụp đổ tiếp tục ở Ngân hàng Việt Nam” (New Yorl Times 24/8/12); -”Fitch: Các lỗ hổng của bề mặt ngân hàng Việt Nam; RTG rủi ro gia tăng” (Reuters 24/8/12); -”Cổ phiếu Việt Nam giảm nhiều nhất ở châu Á” (Bloomberg 23/8/12); -”Ngân hàng của Việt Nam: lòng tự tin bị mục nát” (Financial Times 23/8/12); -”Việt Nam bị nghiền nát bởi bong bóng bất động sản” (Business Insider 23/8/12); -”Tại Việt Nam: Những lo ngại về một cuộc khủng hoảng kinh tế” (New York Times 22/8/12)…

Nhìn những tiêu đề trên, khó có nhà đầu tư nước ngoài nào còn cảm hứng nhiệt tình của mấy năm trước đó để nhảy vào một thị truờng đầy bất trắc và bị khuynh loát trong bóng tối của các liên kết mafia ma quỷ.

Trong bối cảnh nghiêm trọng như thế, nguời dân chỉ được ban phát những thông tin không gây bất lợi cho giới cầm quyền, nhân danh sự ổn định. Hai ngày sau khi bầu Kiên bị bắt, có vẻ ồn ào chút ít, nhưng liền sau đó báo chí lề đảng chỉ còn đăng tải những gì được cơ quan điều tra công bố chính thức. Tin Tổng giám đốc ACB Lý Xuân Hải bị bắt được báo đảng đăng lên, rút xuống như kẻ ăn trộm thập thò rình chủ vắng nhà, tờ Tuổi Trẻ cho tin Online 12 giờ sau khi hãng AFP chạy bài “Second tycoon arrested amid bank run in Vietnam” (23/8/12). Nhà cầm quyền run sợ rằng, chút niềm tin mong manh còn lại nơi dân chúng sẽ rách nát không thể vá víu, và sự ai oán của xã hội chất chồng cao thêm do nung nấu tích luỹ từ các vụ cưỡng chế tước đoạt đất đai gần đây và các cuộc biểu tình yêu nước chống Trung Quốc bị đàn áp.

Tôi cho rằng, vụ bê bối của ACB sẽ không dẫn đến một sự thay đổi gì đáng nói trong hệ thống chính trị hiện hành. Có chăng nhân vật nào đó bị suy yếu hoặc giảm quyền lộng hành. Sự tồn tại của đảng là máu thịt của họ, “còn đảng, còn mình”, đảng tan rã là mất hết, không chừa ai, nên trong sự chính xác nhất của kịch bản thì cao lắm một ai đó sẽ bị hạ bệ, nhưng rồi sẽ có thoả hiệp để không làm con tàu bị đắm, chết chìm tất cả. Trong quá khứ, có rất nhiều các ông trùm không thua kém “bầu” Kiên bao nhiêu, cũng dính líu mật thiết với giới đầu sỏ cầm quyền, đã vào tù, thậm chí bị tử hình, nhưng chưa bao giờ cấu trúc thượng tầng của ĐCSVN lung lay.

Ngay cả khi tiến trình điều tra, có thể phanh phui thêm những liên kết ma quỷ, như dư luận đồn thổi, giữa “bầu” Kiên với Nguyễn Thanh Phượng, ái nữ của Nguyễn Tấn Dũng thì, bằng mọi giá, kể cả thủ tiêu đối tác hay thí tốt, Nguyễn Tấn Dũng sẽ làm mọi thứ để cứu mình và con gái. Nếu như Trung tướng Phan Văn Vĩnh Tổng cục trưởng Cảnh sát phòng, chống tội phạm, Trưởng ban chuyên án vụ “bầu” Kiên cho hay “nội dung cụ thể thuộc phạm vi bí mật Nhà nước“, thì người ta có thể suy luận rằng, các nhân vật thế lực trong nhóm lợi ích ngân hàng này sẽ tìm mọi biện pháp che chắn những gì có thể để bảo vệ Nguyễn Tấn Dũng, ngăn cặn phản ứng của dư luận.

Vì vậy, sự xuất hiện của Nguyễn Tấn Dũng ngay sau khi “bầu” kiên bị bắt với vai trò Trưởng ban phòng Chống Tham nhũng (dù đã bị Bộ Chính Trị bãi nhiệm từ hơn 3 tháng trước), khen ngợi Bộ công an, cùng với việc Bộ Công an thông báo “quá trình bắt, khám xét và tổ chức điều tra đảm bảo đúng người, đúng tội theo quy định của pháp luật và đã báo cáo Thủ tướng Chính phủ và nhận được sự chỉ đạo chặt chẽ của Thủ tướng Chính phủ”, chỉ là màn diễn để phủ nhận tin đồn vụ bắt giữ “bầu” Kiên nằm ngoài tầm kiểm soát của Nguyễn Tấn Dũng, phủ nhận “bầu” Kiên không có mối liên hệ thân thiện với ông, đồng thời cũng muốn chứng tỏ cho dư luận thấy mình còn đủ mạnh trước Trương Tấn Sang và Nguyễn Phú Trọng.

Suy cho cùng, với sự can thiệp sâu rộng của an ninh, tình báo mà Nguyễn Tấn Dũng đã đầu tư nuôi dưỡng nhiều chân rết, trong tay ông ta vẫn còn những lá bài làm con tin với các đối thủ chính trị. Có ai dám bảo đảm 13 vị còn lại của Bộ Chính Trị hoàn toàn trong sạch? Có bàn tay nào mà không nhúng chàm, ít hay nhiều mà thôi, chí ít thì cũng những người thân trong gia đình. Thoát sao nổi trong cái ổ sâu mọt cộng sinh đầy rẫy dối trá, gian lận từ xài bằng cấp, danh vị, huân chương rởm, đến mua bán chức quyền.

Adam Michnik (*), nhà đối lập nổi tiếng của của Ba Lan thời cộng sản, một trong 20 nhà báo có ảnh hưởng nhất của thế giới được “Financial Times” bình chọn năm 2006, vào năm 1989 đã đề ra chiến lược cho lộ trình chuyển hoá chế độ CS Ba Lan như sau:

 ”Chúng ta hãy cứ để cho những người cộng sản ăn cắp, họ sẽ cho chúng ta dân chủ“.

Tôi hiểu ý ông rằng, sự ăn cắp sẽ làm thối nát hệ thống kinh tế, đánh mất lòng tin của dân chúng, làm tăng cao bất bình và dẫn tới sự phản kháng của xã hội. Điều này đã đúng, khi Ba Lan bấy giờ các cửa hàng thực phẩm trống rỗng, thiếu thốn đủ điều, lạm phát phi mã, đã khiến 10 triệu người Ba Lan đã tập hợp trong phong trào “Solidarność” (Đoàn Kết) liên tục biểu tình, bãi công làm tê liệt đất nước, buộc nhà cầm quyền CS phải ngồi vào bàn thương lượng, chấp nhận bầu cử tự do, xoá sổ chế độ cộng sản vào năm 1989.

Nhưng chiến lược “hãy cứ để cho những người cộng sản ăn cắp, họ sẽ cho chúng ta dân chủ” của Adam Michnik xem ra không phù hợp với thực tế Việt Nam, mặc dù nhiều người Việt cũng nghĩ tương tự rằng, chế độ càng thối nát thì càng nhanh chóng sụp đổ.

Với kinh tế thị trường, trong hai thập niên qua, ở VN hàng hoá không thiếu, những ai biết “sống chung với lũ” vẫn có thể tạo đuợc cho mình cuộc sống vật chất khá hơn nhiều so với thời chiến tranh. Đa số dân chúng cam phận hoặc bằng lòng với cái lồng chật hẹp sơn đỏ phết vàng và sẵn sàng nhảy hót líu lo khi chủ cho ăn, chằng cần quan tâm tới bầu trời tự do vuông tròn như thế nào.

Sau khi chế độ cộng sản sụp đổ, trong tình cảnh vật lộn đứt hơi với món nợ nươc ngoài hơn 40 tỷ USD, chính phủ dân chủ non trẻ của Ba Lan đã phát hiện ra rằng, trong hai ngân hàng nhà nước chủ chốt bấy giờ, Ngân hàng Thương mại (Bank Handlowy) và Ngân hàng Pekao, nhà cầm quyền cộng sản đã xài hết sạch 4 tỷ USD tiền gửi tiết kiệm của dân chúng. Không dám công bố vì sợ dẫn đến tình cảnh hoảng loạn, sau hơn một thập niên khôi phục kinh tế, kiếm đủ tiền bù cho dân, chính phủ Ba Lan mới dám tiết lộ. Chính quyền dân chủ Ba Lan đã phải đi đổ vỏ ốc cho những tên cộng sản ăn cắp như thế đấy!

Người Ba Lan kiên cường đấu tranh như vậy, mà còn bị những người cộng sản móc túi đến đồng xu cuối cùng. Thì, tôi tin rằng, với mấy chục triệu dân “ngoan ngoãn” ngồi im nghe Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Văn Bình mặc sức xài xể, sẽ có một tương lai bi thảm hơn nhiều. Tới khi có dân chủ, túi tiền dân Việt không những bị móc hết, mà e rằng thân tàn ma dại. Thế hệ con cháu sẽ phải tìm ra công nghệ chế biến đống vỏ ốc vĩ đại mà bọn mafia đỏ để lại, để xuất khẩu kiếm tiền sống và trả nợ.

Rồi một lúc tỉnh tảo mới cảm nhận hối tiếc và nhục nhã khi thấy khoảng cách giữa VN với nền văn minh nhân loại sao quá dài.

 © 2012 Lê Diễn Đức – RFA Blog

 http://www.danchimviet.info/archives/64287

————————–

Bài 2 – Thành phố Thái Bình

Thứ Ba, 07/09/2010-3:38 PM

“Ma thuật” của một Đại tá công an  Thành phố Thái Bình

Có lẽ đó là vụ việc hi hữu và bi hài, có một không hai ở thời đại này, khi vợ một quan chức đầy quyền uy ở một cơ quan pháp luật lại được “độc đắc” hưởng chế độ hưu trí khi mới 33 tuổi, để lại miệng tiếng thế gian đàm tiếu “nhà ấy thật vô phúc, sinh con rồi mới sinh cha …”

Đó là trường hợp nghỉ hưu của bà Bùi Thị Kim Liên- thường trú tại tổ 38, phường Quang Trung, thành phố Thái Bình – vợ Đại tá Trần Văn Vệ, nguyên Giám đốc Công an tỉnh Thái Bình, nay là Phó Tổng Cục trưởng Tổng cục Cảnh sát Quản lí hành chính về trật tự an toàn xã hội – Bộ Công an.

Sau khi cuỗm trọn 163 tháng lương hưu (13 năm 7 tháng), bị báo chí phát hiện điều tra, ông Trần Văn Vệ phải vội vã “điều đình” với lãnh đạo Bảo hiểm xã hội (BHXH) tỉnh Thái Bình, nhẫn nhục đem nộp lại số tiền gian lận, nhằm lấp liếm dư luận để bảo toàn cho cái ghế quan trường đang đà thịnh phát.

Nhưng trớ trêu thay ông lại dở trò ma thuật tiếp tục làm hồ sơ giả gửi tìm cơ hội làm lại chế độ hưu trí cho vợ. Chỉ đáng tiếc cho những cán bộ, nhân viên cơ quan BHXH Thái Bình đã mau mắn “chấp hành” sự chỉ đạo của cấp trên, chấp nhận hồ sơ giả mạo kia; để rồi sau đúng một năm lại bị chính ông Trần Văn Vệ ra lệnh tống giam về tội danh đó. Điều khó hiểu là riêng hồ sơ giả mạo gửi BHXH của vợ ông ta lại được “miễn trừ” nằm ngoài hồ sơ vụ án, khiến dư luận xã hội bức xúc hoài nghi, lo ngại và bất bình…

Cải lão hoàn đồng, “bà Giám đốc” hoạt động cách mạng từ năm 8 tuổi

Ngày 14-6-2007, Đại tá Trần Văn Vệ, Giám đốc Công an tỉnh Thái Bình, kí và cấp Chứng minh thư nhân dân, có số hiệu 150708703, chính thức “cải lão hoàn đồng” cho bà vợ là Bùi Thị Kim Liên, từ “bà lão gần 60 tuổi”, sinh ngày 20-9-1949 trở lại ngày 14-6-1960 tuổi tiền mãn kinh. Thực ra cũng chẳng có phép nhiệm màu nào cả, đó là sự thật cay đắng của sự man trá tham lam, buộc ông Vệ phải trả về nguyên trạng đúng ngày, tháng, năm sinh của vợ. Nguồn gốc vốn đã xảy ra cách đây 17 năm về trước (năm 1993), do công tác trong ngành Công an, ông Trần Văn Vệ đã nhờ đồng nghiệp cải sửa hồ sơ lí lịch, chứng minh thư nhân dân cho vợ, khai khống lên 11 tuổi, để đủ tuổi làm chế độ hưu trí theo quy định. Ngày 10-11-1993, vợ ông, bà Bùi Thị Kim Liên chính thức có Quyết định 85/QĐ nghỉ hưu với bộ hồ sơ giả sinh năm 1949, hơn hẳn ông Vệ (chồng) 10 tuổi ?

 

Chứng minh thư của bà Bùi Thị Kim Liên.


Sự thật bị phơi bày ra cũng từ phát hiện của nhân dân. Vào cuối những năm 90 của thế kỉ trước, phường Quang Trung, thành phố Thái Bình đã có nhiều tin đồn thổi, đàm tiếu “trong phường có vợ của một “sếp” trong ngành Công an mới hơn 30 tuổi đã được hưởng lương hưu”. Chính quyền sở tại cho rà soát lại toàn bộ danh sách hưu trí trên địa bàn phường nhưng không có trường hợp nào như dân phản ánh. Trong thực tế, một số lãnh đạo chủ chốt của phường có biết việc này nhưng bản thân bà Bùi Thị Kim Liên không hề đăng kí nghỉ hưu và lĩnh lương tại phường. Cho dù có biết bà Liên đang lĩnh lương hưu ở “ngách” nào cũng đành phải ngậm miệng, không ai dám động đến “râu hùm” ?

Từ phát hiện của quần chúng, chúng tôi đã trực tiếp có buổi làm việc với tổ trưởng hưu trí tổ 38 (nơi bà Liên đăng kí hộ khẩu thường trú) và cán bộ chuyên quản theo dõi hưu trí của phường Quang Trung, sự việc nêu trên một lần nữa được xác lập: không có ai tên là Bùi Thị Kim Liên lĩnh lương hưu tại phường. Trở lại Cơ quan BHXH tỉnh Thái Bình, chúng tôi phát hiện trên mạng vi tính quản lí nội bộ, trong danh sách nghỉ hưu theo vần L, tại số thứ tự 540, số sổ 1120481, có tên Bùi Thị Kim Liên. Nguyên quán xã Đông Giang, huyện Đông Hưng. Nơi thường trú đăng kí hưởng lương hưu tại tổ 38, phường Quang Trung, thành phố Thái Bình, đang hưởng mức lương 854.360đ / tháng (thời điểm tháng 6-2006). Thế mà trên 10 năm qua, bà Liên vẫn lặng lẽ, nghiễm nhiên lĩnh lương hưu tì tì mà không cần phải đăng kí với chính quyền sở tại?

Sau này sự việc vỡ lở, chúng tôi được biết, hàng tháng cán bộ chi trả BHXH thành phố Thái Bình phải trực tiếp mang tiền lương hưu đến tận nhà trao cho bà Liên. Thế mới biết uy quyền và ảnh hưởng của ông Trần Văn Vệ, thật khủng khiếp?

Soát xét lại toàn bộ hồ sơ giả mạo để nghỉ hưu của bà Bùi Thị Kim Liên đã bộc lộ đầy rẫy sự bi hài. Tại Quyết định số 85/QĐ, ngày 10-11-1993 của Giám đốc Sở Giao thông Vận tải Thái Bình, thì 8 tuổi bà Liên đã tham gia cách mạng; 14 tuổi là quân nhân thuộc Trung đoàn 952 – vùng I Hải quân; 18 tuổi là công nhân Xí nghiệp cơ khí Giao thông Thái Bình. Nhưng tại Báo cáo kết quả xác minh số 13/KT, ngày 21-5-2007 của Phòng kiểm tra BHXH tỉnh Thái Bình đã xác định bà Liên chỉ có thời gian công tác 10 năm, (từ 10-1983 đến 11-1993), duy nhất chỉ ở một đơn vị là Xí nghiệp cơ khí giao thông Thái Bình. Thế mà không biết dựa vào căn cứ nào, tại Quyết định nghỉ hưu của bà Liên lại được tính thời gian quy đổi là 25 năm 6 tháng ?

Cũng do áp lực của dư luận xã hội và báo chí, đồng thời để bảo toàn cho cái ghế quan trường đã buộc ông Trần Văn Vệ phải đích thân trực tiếp “điều đình” với lãnh đạo BHXH tỉnh Thái Bình. Ngày 11-6-2007, BHXH tỉnh Thái Bình ra Quyết định số 04/QĐ, chấm dứt trả lương hưu và đồng thời trả bà Bùi Thị Kim Liên về Xí nghiệp Cơ khí giao thông vận tải Thái Bình, trong khi Xí nghiệp đã thực hiện chuyển đổi sang Công ty CP gần chục năm nay. Thu hồi lại số tiền 49.188.300đ lương hưu man trá mà bà Liên đã lĩnh (thu lấy lệ) trong tổng giá trị đã thụ hưởng hàng trăm triệu đồng ? Lẽ ra vụ việc nêu trên phải được khởi tố và truy cứu trách nhiệm hình sự, thế nhưng khởi tố ai khi mà chồng bà đang nghễu nghện là Giám đốc Công an tỉnh?

Tiếp tục trò ảo thuật man trá: Nhân viên có trước doanh nghiệp, “qua cầu chém ván”

Tưởng rằng những sai phạm nêu trên sẽ được khắc phục và chấm dứt, để rồi người đời cũng có thể bỏ qua. Nào ngờ lòng tham của kẻ tham nhũng không có đáy, họ lại tiếp tục làm “ảo thuật” lập hồ sơ giả mạo gửi BHXH. Ông Trần Văn Vệ đã “sai” bà Hoàng Thị Hồng, Chủ tịch HĐQT, kiêm Giám đốc Công ty CP Du lịch & Thương mại Hải Bình, một doanh nghiệp tư nhân đã từng được ông che chở, làm hồ sơ giả gửi BHXH để chờ cơ hội tiếp tục làm thủ tục hưu trí cho vợ. Điều nghịch lí là, tại Tờ trình số 68/cv-tc, ngày 26-12-2006 của Công ty CP Du lịch & Thương mại Hải Bình (dấu nhận công văn đến đề ngày 17-4-2007), bà Hoàng Thị Hồng lại khéo bịa ra thời gian công tác của bà Liên như sau: Từ tháng 1-1995 đến tháng 4-2005 công tác tại Công ty CP vận tải biển Hoàng Phát. Từ 5- 2005 đến nay ( thời điểm của Tờ trình) công tác tại Công ty CP Du lịch & Thương mại Hải Bình ? Nhưng cũng tại Tờ trình số 10/cv-tc, ngày 10-7-2007, bà Hồng lại ghi: Từ tháng 1-2002 đến tháng 4 – 2005, công tác tại Công ty CP vận tải biển Hoàng Phát. Từ tháng 5-2005 đến tháng 7-2007, công tác tại Công ty CP Du lịch & Thương mại Hải Bình. Cho dù tuổi tác chưa cao, thế mà bà Hồng lại lú lẫn đến vậy? Trong thực tế, khởi điểm thời gian công tác của bà Liên ở hai Công ty mà tờ trình nêu thì tại thời điểm đó cả hai Công ty đều chưa thành lập.

Song chỉ nhìn vào hành tự của 2 tờ trình nêu trên đã bộc lộ rõ hành vi gian dối của bà Hoàng Thị Hồng, trong khi bà Bùi Thị Kim Liên chưa hề có mặt lấy một ngày ở 2 Công ty trên và trong thời điểm đó bà Liên đang thụ hưởng lương hưu đến tận tháng 6 – 2007? Mặc dù biết rõ hồ sơ giả mạo và không có thật, không hiểu vì lẽ gì mà BHXH tỉnh Thái Bình lại chấp nhận hồ sơ ảo, tiếp tục làm thủ tục tham gia BHXH, công nhận ngược về trước 14 năm cho bà Bùi Thị Kim Liên ? Phải chăng vì uy quyền, o ép của chồng bà hay vì một lí do nào khác mà đến nay chưa ai lí giải nổi. Chỉ đáng thương thay cho 3 cán bộ, nhân viên BHXH tỉnh Thái Bình là chị Bùi Thị Nhung, Vũ Thị Thảo và anh Lý Công Trường chỉ vì “chấp hành” nghiêm lệnh của cấp trên, mau mắn làm thủ tục man trá gửi BHXH cho bà, để rồi sau đúng một năm lại được chính chồng bà ra lệnh tống giam ? Duy chỉ riêng trường hợp gian lận của bà lại được “miễn trừ” nằm ngoài vụ án. Và như thế, bà Bùi Thị Kim Liên nghiễm nhiên được “đặc cách” đứng ngoài vòng pháp luật và có lẽ chỉ vài năm nữa thôi, bà lại tiếp tục được hưởng lương hưu trí?

Những điều trông thấy…

Quan sát theo dõi toàn bộ diễn biến của vụ việc nêu trên, mấy ai mà chẳng đau lòng. Buồn vì cơ chế quản lí hành chính của chúng ta còn nhiều lỗ hổng để bọn cơ hội “đục nước, béo cò”. Buồn vì những nhà chức trách đầy quyền uy không giữ nghiêm kỉ cương phép nước, a tòng, tiếp tay cho bọn lợi dụng bòn rút tiền của của Nhà nước và nhân dân. Buồn cho xã hội đầy rẫy bọn quan tham đang hoành hành, cho dù đã nhiều bổng lộc nhưng không từ một thủ đoạn nhỏ nhất nào để vơ vét. Buồn cho vị quan chức đầy quyền uy như ông Trần Văn Vệ đang giữ trọng trách ở một ngành quan trọng, thành trì an ninh của đất nước, chỗ dựa tin yêu của nhân dân lại có những việc làm gian dối, đến như vậy ? Trong quá trình điều tra làm sáng tỏ vụ việc này, chúng tôi còn tiếp nhận khá nhiều thông tin của quần chúng phản ánh về nhiều sự việc dính líu của ông Trần Văn Vệ trong một số vụ việc nghiêm trọng khác ở Thái Bình, xin sẽ phản ánh tới bạn đọc. Nhưng tại thời điểm này, dư luận xã hội ở Thái Bình tỏ ra rất bất bình và đòi hỏi các cơ quan chức năng của Trung ương và địa phương sớm làm sáng tỏ sự thật, xử lí nghiêm minh theo quy định của pháp luật xung quanh việc làm giả hồ sơ khai khống tuổi về hưu, giả hồ sơ gửi BHXH của vợ Đại tá Trần Văn Vệ. Đồng thời, kiên quyết thu hồi lại giá trị đã thụ hưởng hàng trăm triệu đồng mà bà Bùi Thị Kim Liên đã chiếm đoạt, trả lại công quỹ Nhà nước. Chấm dứt và xử lí hủy bỏ thủ tục man trá, sổ BHXH của bà Liên tại cơ quan BHXH tỉnh Thái Bình. Đó là việc làm thiết thực góp phần củng cố niềm tin của dân đối với Đảng, đẩy lùi tệ tham nhũng hiện nay, thể hiện sự công bằng, nghiêm minh của pháp luật.

Nguyễn Trọng Thắng

http://nguoicaotuoi.org.vn/story.aspx?id=4657&lang=vn&zone=7&zoneparent=0

Bài 3

(Thứ Tư, 03/11/2010-9:27 AM

Lại những trò “ma thuật” của một Đại tá Công an

Tưởng mọi chuyện rồi cũng sẽ an bài nếu như chỉ vì chút hám lợi, hám danh nhỏ nhoi mà mắc sai lầm làm giả hồ sơ để vợ hưởng chế độ hưu trí, sau khi bị phát hiện lại tiếp tục làm hồ sơ giả để gửi Bảo hiểm xã hội… thì những thế lực bao che cũng “dẹp” yên được dư luận xã hội. Nào ngờ, sự đời đâu có vậy!

Xâu chuỗi lại một loạt các vụ việc nối tiếp theo rất hi hữu và đầy bi hài, mọi người lại càng nhận ra năng lực và sở trường “ma thuật” của Đại tá Trần Văn Vệ, nguyên Giám đốc Công an Thái Bình, nay là Phó Tổng cục trưởng Tổng cục cảnh sát QLHC và TTATXH (Bộ Công an).

Bên cạnh hàng chục vụ việc phát giác của nhân dân và cán bộ, chiến sĩ trong ngành, có dấu hiệu 

 

dính líu đến những vụ việc sai phạm nghiêm trọng ở Thái Bình; cho dù mỗi vụ việc đó nếu có trở thành một chuyên án thì cũng khó xác lập được hành tung “tàng hình” của Đại tá Trần Văn Vệ.

Nhưng, những sự việc còn đang sờ sờ trước mắt mọi người như

>>di chuyển Trụ sở Công an Thái Bình ra bãi tha ma Kỳ Bá – Trần Lãm, để nâng giá đất Khu đô thị của em trai;

>>nhượng bán Nhà công vụ Công an tỉnh và Trụ sở Công an huyện Đông Hưng cho Ngân hàng cổ phần của anh trai;

>>làm thủ tục man trá mạo danh Phó Tổng Giám đốc của một Công ty cho vợ, trở thành nữ doanh nhân sáng giá tháp tùng Phó Chủ tịch nước đi thăm nước Mỹ và Mê-hi-cô thì người dân Thái Bình ai cũng biết.

Thế mà, một số kẻ xu nịnh và thế lực bao che đang cố tình che khuất, khiến dư luận xã hội lại càng bức xúc, lo ngại và phẫn nộ…

Nhà công vụ Công an tỉnh Thái Bình bán cho Ngân hàng CP Đông Á,
doanh nghiệp của anh trai ông Vệ là Trần Văn Đình không thông qua
đấu giá tài sản theo quy định.


Ai đã mạo danh nữ doanh nhân tháp tùng Phó Chủ tịch nước đi thăm Mỹ và Mê-hi-cô?

Cho đến bây giờ, sau hàng năm trời người dân ở Thành phố Thái Bình vẫn còn ngỡ ngàng và đàm tiếu khi nhận ra bà Bùi Thị Kim Liên, vợ Đại tá Trần Văn Vệ, Giám đốc Công an Thái Bình xuất hiện trên màn hình VTV1 Đài Truyền hình Việt Nam, trong Đoàn doanh nhân tháp tùng Phó Chủ tịch nước đi thăm Mỹ và Mê-hi-cô.

Nhiều người còn không tin ở chính mắt mình, phải xem lại mới dám khẳng định: “Đúng là bà Bùi Thị Kim Liên, ở tổ 38, mà hằng ngày vẫn gặp mua rau ở cầu Cống Trắng, phường Quang Trung!”.

Tìm hiểu mới vỡ lẽ ra rằng, quý bà Bùi Thị Kim Liên trong trang phục đại lễ tháp tùng kia với vỏ bọc là Phó Tổng Giám đốc Công ty CP sản xuất kinh doanh xuất nhập khẩu L. S – Thái Bình.

Để làm rõ những uẩn khúc của sự man trá này, chúng tôi điện thoại trực tiếp tới Chủ tịch UBND tỉnh, Chủ tịch Hội Doanh nghiệp Thái Bình và một số lãnh đạo chủ chốt của Công an tỉnh, thì đều được trả lời là không hề hay biết gì về việc đó. Chính vì thế, chúng tôi phải có buổi làm việc trực tiếp với ông Tổng Giám đốc Công ty CP sản xuất kinh doanh xuất nhập khẩu L.S và được ông xác nhận bằng văn bản, cụ thể:

“Năm 2009, theo tinh thần Công văn của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam có tổ chức cho các doanh nghiệp, doanh nhân và một số đại biểu đi thăm nước Mỹ và Mê – hi – cô, do bà Nguyễn Thị Doan, Phó Chủ tịch nước Cộng hòa XHCN Việt Nam dẫn đầu.

Công ty cổ phần sản xuất kinh doanh xuất nhập khẩu L.S – Thái Bình được Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam mời và ông Tổng Giám đốc Công ty đã đồng ý tham dự chuyến đi này, song vì lí do công việc nên không thể đi được. Sau khi thông báo và trao đổi với anh em đồng nghiệp và những người quen biết, trong đó có vợ ông Trần Văn Vệ là bà Bùi Thị Kim Liên đã nhận đóng tiền và làm các thủ tục thay thế để đi cùng Đoàn”.

Ông TGĐ cho biết thêm, mỗi suất đi phải đóng góp cho Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam từ 4.500 – 5.000USD, (hơn cả chi phí đi theo “tua” du lịch 1.000USD). Số tiền đóng góp này của bà Liên hay của doanh nghiệp nào hỗ trợ vợ Đại tá thì ông không hay. Chỉ biết, cùng đi chuyến đó ở Thái Bình còn có Giám đốc Công ty Du lịch và Thương mại Hải Bình.

Thế là từ một bà nội trợ, quanh năm quẩn quanh ở xó nhà, bỗng nhiên trở thành một “quý bà” với tước hiệu Phó Tổng Giám đốc một doanh nghiệp có tên tuổi ở Thái Bình, thành viên trong Đoàn doanh nhân tháp tùng Phó Chủ tịch nước đi đối ngoại, càng khiến cho nhiều người phải giật mình và lo ngại.

Chẳng nhẽ công tác bảo vệ nguyên thủ Quốc gia lại có những lỗ hổng nghiêm trọng đến vậy sao, hay quý bà Bùi Thị Kim Liên là vợ Giám đốc Công an hàng tỉnh nên được “đặc cách” như vậy? Cho dù còn nhiều ý kiến biện hộ cho ông Vệ, nhưng việc làm thủ tục man trá cho vợ ở cương vị Phó Tổng Giám đốc doanh nghiệp trong Đoàn doanh nhân tháp tùng Phó Chủ tịch nước đi thăm Mỹ và Mê – hi – cô, hẳn là ông Vệ đã quá tường tận.

Được biết, trước đó Cơ quan An ninh của Bộ Công an đã có phiếu thẩm tra nhân thân của bà Liên tham gia chuyến đi này và Công an Thái Bình ai là người đã kí “bừa” xác lập vào phiếu thẩm tra đó thì chúng tôi chưa thu thập được.

Chỉ có điều bi hài và đáng tiếc cho quý bà Bùi Thị Kim Liên trong chuyến đi thăm này đã không tìm được đối tác kinh doanh ở nước Mỹ và Mê – hi – cô; bởi “năng lực” của bà chỉ biết kí vào hồ sơ giả mà các nước này lại đi đầu phòng chống về tội phạm ấy.

Tài sản của Công an Thái Bình chảy về đâu?

Đó, đang là những búc xúc không chỉ của riêng lực lượng Công an Thái Bình mà còn là sự quan tâm đáng lo ngại của dư luận xã hội trong cuộc chiến chống tham nhũng. Cho dù Đoàn Thanh tra của Bộ Công an có thể đã sơ bộ kết luận, nhưng dẫu có ngụy biện thế nào đi chăng nữa thì việc nhượng bán Nhà công vụ Công an tỉnh, Trụ sở Công an huyện Đông Hưng cho Ngân hàng cổ phần Đông Á (Ngân hàng tư nhân của anh trai ông Vệ) và toàn bộ hoạt động tài chính của Công an Thái Bình giao dịch thông qua Ngân hàng này còn nhiều ẩn số, khó lí giải minh bạch được.

Cho đến bây giờ, nhiều cán bộ và không ít doanh nghiệp ở Thái Bình thật sự hoài nghi khi Nhà Công vụ và Trụ sở Công an huyện Đông Hưng lại được “lặng lẽ” nhượng bán cho Ngân hàng cổ phần Đông Á, không thông qua đấu giá tài sản theo Nghị định 52/CP và Nghị định 17/CP của Chính phủ, làm thất thoát cho ngân sách Nhà nước hàng chục tỉ đồng? Từ những bức xúc của dư luận, chúng tôi đã có cuộc trao đổi với Giám đốc đương nhiệm Công an Thái Bình và được ông cho biết:

Ngay từ đầu năm 2007, sau khi dự án di chuyển xây dựng trụ sở Công an tỉnh ra địa điểm mới, được Bộ Công an phê duyệt, Công an Thái Bình đã có văn bản trình với Bộ xin được bán Nhà công vụ để tăng nguồn kinh phí bổ sung xây dựng Trụ sở mới và đã được Bộ chấp nhận.

Bộ thành lập Hội đồng để định giá tài sản ( giá sàn) và giao cho Công an Thái Bình thực thi theo quy trình đấu giá tài sản hiện hành. Theo thông tin của Đoàn Thanh tra Bộ Công an, Công an Thái Bình đã có thông báo trong chương trình quảng cáo của Đài Phát thanh – Truyền hình Thái Bình, nhưng duy nhất chỉ có Ngân hàng CP Đông Á đăng kí. Trong khi đó, nhiều nhà kinh doanh bất động sản và một số doanh nghiệp có nhu cầu thì cũng không hề hay biết về thông tin này? Chính vì thế, Nhà công vụ công an tỉnh được bán với giá 12,024 tỉ đồng cho Ngân hàng CP Đông Á, trong đó tiền đất chỉ có 6 tỉ đồng.

Điều bất cập là với ưu thế về địa điểm, giá đất thị trường ở khu vực này, tại thời điểm đó từ 15 – 20 triệu đồng/m2 . Có nghĩa là, với tổng diện tích của Nhà công vụ là 1.071m2 , nếu cho đấu giá chỉ riêng phần đất thôi cũng đã thu về cho Ngân sách còn hơn cả tổng giá trị tài sản và đất đã bán cho Ngân hàng cổ phần Đông Á.

Tuy nhiên, điều khó hiểu tại Quyết định số 2679/QĐ, ngày 29-9-2008 của UBND tỉnh, về việc thu hồi đất của Công an tỉnh giao đất cho Ngân hàng cổ phần Đông Á làm nhà ở chung cư cho cán bộ, công nhân viên Ngân hàng, thể hiện khá mập mờ. Phải chăng, đất này cho Ngân hàng CP Đông Á thuê có thời hạn hay là đất bán theo quy chế đấu giá tài sản và đất? Điều khó hiểu hơn là giao đất để làm nhà ở chung cư, nhưng Ngân hàng CP Đông Á lại tu sửa thành Hội sở để kinh doanh.

Chính vì thế chúng tôi đã gặp và trao đổi với lãnh đạo Sở Tài nguyên và Môi trường, Cục Thuế tỉnh Thái Bình, thì được biết: Theo hồ sơ chuyển nhượng, thì Trụ sở Công an huyện Đông Hưng, Ngân hàng CP Đông Á đã nộp 13,5 tỉ đồng, trong đó có 7,5 tỉ đồng là tiền bán đất. Riêng Nhà công vụ thể hiện Ngân hàng CP Đông Á mới nộp 6,024 tỉ đồng giá trị tài sản trên đất (chưa nộp tiền), nhưng đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Trở lại việc nhượng bán Trụ sở Công an huyện Đông Hưng cũng ở tình trạng tương tự. Bí thư Huyện ủy, Chủ tịch UBND huyện, Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện cũng chẳng hề hay biết gì về việc nhượng bán này, với một lí do đầy thuyết phục ” Đất và tài sản của An ninh – Quốc phòng do tỉnh và Chính phủ quản lí và quyết định“.

Trong khi, nếu như chỉ đưa 3.261m2 đất của Trụ sở Công an huyện ra đấu giá theo quy định hiện hành thì đã thu về cho Ngân sách Nhà nước còn cao hơn nhiều cả số tiền mà Ngân hàng CP Đông Á đã nộp. Có nghĩa là Ngân hàng CP Đông Á đã “ăn không” toàn bộ giá trị tài sản trên đất của Nhà công vụ Công an tỉnh và Trụ sở Công an huyện Đông Hưng.

Điều bất cập nữa là toàn bộ tài chính của Công an Thái Bình đều thông qua hệ thống của Ngân hàng CP Đông Á – một Ngân hàng tư nhân là vi phạm nghiêm trọng chế độ bảo mật quốc phòng – an ninh theo Luật định.

Ái ngại hơn là Ngân hàng còn từng chiếm dụng trả chậm quỹ lương chi trả hàng tháng theo thẻ ATM hàng chục tỉ đồng, để làm vốn hoạt động kinh doanh, gây nên sự bất bình trong cán bộ, chiến sĩ, khiến dư luận xã hội càng lo ngại.

Cho đến giờ, tài sản của Công an Thái Bình chảy về đâu thì mọi người đã rõ. Phải chăng, vì lợi ích riêng của gia đình mà Đại tá Trần Văn Vệ đã lộng hành, bất chấp cả kỉ cương phép nước, điều hành một cách trắng trợn đến như vậy.

Ông Trần Văn Vệ – Ảnh: M.Q.(thiếu tướng Trần Văn Vệ – phó tổng cục trưởng Tổng cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội (Bộ Công an), ông cho rằng đưa tên cha mẹ vào CMND là thuận lợi cho công dân…TT

Tranh đất với cả người chết!

Không còn nghi ngờ gì nữa, đến bây giờ thì ai cũng hiểu vì sao Công an Thái Bình lại di chuyển Trụ sở Công an tỉnh ra bãi tha ma Kỳ Bá – Trần Lãm, tranh giành đất với cả người chết, trái với quy hoạch xây dựng Thành phố Thái Bình đã được Thủ tướng phê chuẩn năm 2003.

Phải chăng, vì để nâng giá đất bán tại Khu đô thị Trần Lãm của em trai là Trần Văn Kỳ làm chủ đầu tư, hay là một công trình “kỉ niệm” trong đời làm Giám đốc Công an tỉnh của ông Vệ? Chính vì việc di chuyển này mà đường Lê Quý Đôn mới sớm được hoàn tất và tự dưng giá đất tại Khu đô thị Trần Lãm, với tổng diện tích 116.000m2 ngùn ngụt sốt giá. Đơn giá đất đang từ 4 – 6 triệu đồng /m2, bỗng nhiên tăng vọt lên từ 20 – 25 triệu đồng/m2 . Món lợi nhuận hàng trăm tỉ đồng đã nhanh chóng về tay gia đình ông Vệ là lẽ đương nhiên.

Điều đáng suy nghĩ là đối với Công an, Đảng bộ và nhân dân Thái Bình luôn dành cho sự ưu ái nhất, thế mà không hiểu vì lí do gì lại chấp nhận đề xuất của ông Vệ di chuyển, xây dựng Trụ sở Công an tỉnh tại khu vực bãi tha ma vốn đã được quy hoạch vùng đệm cây xanh và quần thể Văn hóa – Thể thao của Thành phố Thái Bình ?

Một công trình kiến trúc khang trang, bề thế, với nguồn vốn đầu tư hàng trăm tỉ đồng đang ngự trị sánh cùng với hàng vạn lăng mộ tồn tại từ nhiều thế kỉ nay, như là một thách thức, ai từng chứng kiến mà chẳng se lòng. Đó là hiện hữu của tệ quan liêu, tham nhũng, thao túng của những kẻ có chức, có quyền đang làm giảm sút niềm tin của dân đối với Đảng, với ngành Công an.

Điều đáng nói là trước thềm Đại hội Đảng lần thứ XI, Uỷ ban Kiểm tra Trung ương Đảng đã công bố công khai xử lí kỉ luật một số cán bộ cao cấp, trong đó có một số tướng lĩnh của Bộ Công an.

Dư luận xã hội ở Thái Bình đang trông chờ và đặt niềm tin vào các cơ quan chức năng của Trung ương sớm làm sáng tỏ và xử lí nghiêm minh những sai phạm của Đại tá Trần Văn Vệ, để giữ nghiêm kỉ cương phép nước, củng cố niềm tin của dân đối với Đảng.

Điều tra của Nguyễn Trọng Thắng

http://nguoicaotuoi.org.vn/story.aspx?id=4867&lang=vn&zone=7&zoneparent=0

———————————–

Bài 4

Chính quyền và quốc hội của đảng CSVN sẽ không bao giờ có luật thuế nhà đất, vì bản thân các quan chức trong chính quyền, gia đình, bọn mafia đỏ có nhiều nhà của và đất đai nhất, không lẻ chúng làm ra luật thuế nhà đất để tự đánh thuế chúng? Chúng tích trữ tài sản tham nhũng và của cải ăn cắp bằng cách mua bất động sản để dành đó và đẩy gia BĐS lên để làm gia tăng giá trị.  

Khi bất động sản gia tăng giá cả và việc mua bán nhà đất diễn ra, tổng sản phẩm và dịch vụ ở trong nước (hay GDP) sẽ tăng theo. Nhà nước dùng GDP để khoe  với nước ngoài, và các tổ chức tín dụng ngân hàng lại cho nhà nước mượn tiền nhiều hơn với hình thức viện trợ hoàn lại FDR (Foreign Development Assistance) và ODA (Official Development Assistance) , nhưng các nước cho VN mượn tiền ép buộc phải để các công ty của họ (Nhật, Nam Hàn, Đài Loan) thực hiện công trình với giá cao ngất ngưỡng.  Bởi vậy, Nhà nước mượn rất nhiều tiền trong 10-15 năm qua, 57 tỷ đô la, nhưng công trình đường sá cầu cống thì làm rất ít bởi vì tham nhũng ăn bớt 1/3 số tiền vay mượn này qua các hình thức như buộc các công ty phải trả tiền bôi trơn hợp đồng, làm thủ tục giấy tờ (vụ PMU 18 mà Huỳnh Ngọc Sĩ đi tù 20 năm là thí dụ), chỉ còn lại 2/3 số tiền mượn để các công ty thực hiện các công trình. Muốn có lời, các công ty này phải rút ruột công trình, bớt vật liệu xi măng và sắt thép, kết quả là đường sá mau hư; ở nước ngoài nhựa đổ đường có bề dày 20-30 cm, thì đường ở VN làm chỉ có bề dày 5 cm,  đường sá ở VN mới làm nhưng chỉ 1-2 năm sau là ổ gà và hư hỏng, cầu thì sập vì bị ăn bớt xi măng sắt,  đê và cống bằng bê tông cốt tre, công trình (làm đường, đập thủy điện Sơn La) kéo dài 7-10 năm mới làm xong, và khi hoàn tất thì giá thành gấp 5 lần giá thật sự.

 

Biệt thự hoang: Của để dành, quyết không giảm giá

Mặc dù bị bỏ hoang nhưng nhiều chủ biệt thự tại các khu đô thị mới vẫn hét giá hàng trăm triệu đồng mỗi mét vuông, thậm chí còn tỏ vẻ thờ ơ, không muốn bán.
 >>  Hà Nội có hơn 1200 căn hộ biệt thự, nhà liền kề bỏ hoang
 >> Giữa Thủ đô, biệt thự triệu đô xây cho… bò ở

Các khu đô thị mới Yên Hòa, Mễ Trì, Văn Quán, Linh Đàm,… đã đi vào hoạt động từ rất lâu nhưng tỷ lệ nhà biệt thự, liền kề để chưa được đưa vào sử dụng chiếm rất cao. Nhiều ngôi biệt thự hàng triệu đô đã xây xong thô, bỏ hoang gần 5 năm nay không có người tới ở. Chúng được cỏ dại và rác thải bao vây. Chủ nhà cẩn thận thì xây tường cao, còn lại bỏ không, thành chỗ tụ tập của các tệ nạn xã hội.

Không ít nhà ở vị trí đẹp lọt vào tầm ngắm của người mua, nhưng để liên hệ được với chủ nhà không phải là dễ dàng. 

Trong vai người mua nhà, sau nhiều lần truy tìm thông tin, chúng tôi đã liên hệ được với chủ nhà một căn biệt thự đang bỏ hoang tại khu đô thị mới Mỹ Đình 2.

Tỏ ý nhiệt tình muốn mua, chúng tôi gạ chủ nhà bán nhưng vẫn không thành công. Chủ nhà cho hay, ông không có ý định bán ngôi nhà này dù không có nhu cầu ở. Hiện tại, do gia đình đang sống tại quận Ba Đình, chưa có ý định chuyển về dưới đó nên đành bỏ không. Nếu muốn mua, mức giá ông đưa ra cho căn biệt thự hơn 180m2 vuông này 250 triệu đồng/m2, đồng thời từ chối mặc cả cũng như không gặp nếu chỉ để tìm hiểu thông tin.

Tương tự như vậy, tại khu đô thị mới Yên Hòa, một ngôi biệt thự ở vị trí đẹp ngay mặt đường cũng được chủ nhà hét giá tới 350 triệu đồng/m2. Theo tính toán, một ngôi biệt thự rộng trên 200m2 có giá hàng chục tỷ đồng. Bên cạnh đó, người mua nhà sẽ phải thuê công nhân dọn dẹp, xây dựng hoàn thiện và đầu tư nội thất với số tiền phụ trội 1-2 tỷ đồng.

 

Tại khu đô thị Văn Quán, chủ quán ốc tên Thương đang thuê lại căn biệt thự, cho hay, chị thuê ngôi nhà này làm quán cách đây hơn hai năm với giá 5 triệu đồng/tháng. Nhà hoàn toàn không có gì, kể cả điện nước, chị đều phải mắc từ phía nhà hàng xóm. Trước khi mở quán, chị cũng phải mất hơn 1 tuần dọn dẹp mọi cỏ dại, rác rưởi và gạch vỡ tại đây, đồng thời cũng sơn lên gạch thô cho sáng nhà.

 

 
 
Những ngôi biệt thự bỏ hoang có giá hàng trăm triệu/m2 mà chủ nhà không muốn bán (ảnh D.A)

“Nhà này chủ nhà khó tính lắm, không ở cũng không muốn bán. Mình là người quen mới thuê được. Vừa có tiền mà vừa có người trông nhà hộ, chủ nhà mới đồng ý đấy. Ông chủ giàu lắm, có tới vài cái nhà biệt thự như này”, chị Thương chia sẻ.

Cũng theo chị Thương, thời gian qua đã có không ít người nhòm ngó muốn mua lại để mở nhà hàng nhưng chủ nhà đều từ chối. Cách quán chị thương không xa cũng có 2-3 biệt thự bỏ không, nhiều tờ rơi trước nhà ghi rõ: Muốn mua nhà này, và để lại số điện thoại liên hệ.

Khảo sát của phóng viên tại các khu đô thị mới, các căn biệt thự bỏ hoang được chủ nhà hét giá cao gấp nhiều lần so với những căn đang có người ở. Điển hình như biệt thự khu đô thị Mỹ Đình 2 giá dao động từ 150 – 180 triệu đồng/m2. Khu đô thị Văn Quán, một biệt thự rộng 204m2, nhà xây thô hoàn thiện, mặt tiền rộng, sổ đỏ chính chủ đang được rao bán 156 triệu đồng/m2. Căn hộ rộng 180m2, mặt hồ Văn Quán, giá bán 32 tỷ đồng, có thương lượng. Còn khu đô thị mới Mễ Trì Hạ, giá biệt thự xây thô khoảng 170 triệu đồng/m2.

Tại khu đô thị mới Yên Hòa, một văn phòng nhà đất đang rao bán căn biệt thự 200m2 hướng Tây Bắc, sổ đỏ chính chủ, đã hoàn thiện nội thất xịn giá 37 tỷ đồng. Những căn chưa có sổ đỏ giá mềm hơn như một căn diện tích như trên giá chỉ 33 tỷ đồng.

Tính đến 30/6, theo báo cáo của UBND TP, hiện trên địa bàn Hà Nội số lượng biệt thự bỏ hoang lên đến 655 biệt thự và 574 nhà liền kề đã hoàn thành phần thô hoặc mặt ngoài nhưng chưa đưa vào sử dụng, giá vẫn ngất ngưởng hàng trăm triệu/m2.

Ông Lưu Công Huy, giám đốc một sàn bất động sản ở Yên Hòa, nhận định, tỷ lệ biệt thự liền kề bỏ hoang nhiều do tình trạng “đại gia” mua để đầu cơ, làm của để dành. Không ít khách hàng có nhu cầu mua biệt thự ở vị trí đẹp bỏ hoang nhưng sàn ông vẫn không thể môi giới được, thất bại từ phía chủ nhà không nhiệt tình.

Thời điểm thị trường bất động sản “sốt”, nhiều biệt thự ở Linh Đàm, Pháp Vân, Mỹ Đình,… được mua đi bán lại qua nhiều chủ, đội giá mỗi căn cũng tăng hàng chục tỷ đồng. Chính vì thế, khi thị trường xuống giá ảm đạm như hiện nay, họ không thể bán giá thấp hơn được, đành cho thuê hay bỏ không như vậy.

Tình trạng biệt thự bỏ hoang tại nhiều dự án không còn là vấn đề mới. Mới đây, UBND TP. Hà Nội cho biết sẽ phối hợp với Bộ Tài chính cân nhắc kiến nghị các phương án đánh thuế hoặc xử phạt theo tỷ lệ phần trăm giá trị hợp đồng đối với các biệt thự bỏ hoang. Thành phố sẽ kiến nghị Chính phủ áp dụng thu thuế cao lũy tiến đối với người mua nhà từ ngôi nhà thứ hai trở lên. Tuy nhiên, để ngăn chặn biệt thự hoang vẫn còn là vấn đề nan giải.

Ông Nguyễn Hoàng Nam – Giám đốc sàn Info cho hay theo thông lệ quốc tế, có 2 cách để hạn chế thị trường đầu cơ bất động sản cũng như giảm số lượng bất động sản không được sử dụng. Cách thứ nhất là Nhà nước đánh thuế rất cao các diện tích dư thừa hoặc các bất động sản thứ hai trở lên khiến bất động sản trở thành “tiêu sản”.

Cách thứ hai là chỉ cho phép sở hữu bất động sản trong khoảng thời gian hữu hạn, ví như chính quyền Trung Quốc chỉ cấp đồng loạt thời hạn sở hữu trong vòng 70 năm với nhà ở; các loại nhà hàng, khách sạn, tửu điếm thì được cấp cho phép sở hữu trong vòng 40 năm; thuê hoặc mua đất cho sản xuất công nghiệp là 50 năm… Sau thời hạn đó, tùy theo loại hình bất động sản và vấn đề điều chỉnh quy hoạch, chính quyền có thể xem xét gia hạn hoặc từ chối gia hạn cho chủ sở hữu.

Ông Nam nhận định, trong tình trạng hiện nay, nếu như chính sách thuế bất động sản vẫn giữ nguyên và bất động sản không “sinh ra” thì mãi mãi không chấm dứt được tình trạng bỏ hoang biệt thự, căn hộ như thế này.

Theo Duy Anh (VEF)

————————————————————————————————–

Bài 5 – Tỉnh Hải Dương

100 năm lương con Bí thư chưa đủ xây vườn thượng uyển

http://www.baomoi.com/100-nam-luong-con-Bi-thu-chua-du-xay-vuon-thuong-uyen/58/8553218.epi

(Phunutoday) – Mấy ngày qua, dư luận rộ lên thông tin con trai Bí thư Tỉnh ủy Hải Dương sở hữu một khu vườn rộng hơn 4.000m2 có nhiều loại cây gỗ quý và một biệt thự quy mô khá hoành tráng…

Mấy ngày nay dư luận không khỏi xôn xao trước thông tin con trai của bí thư tỉnh Hải Dương đang sở hữu một khu nhà vườn giá trị hàng trăm tỷ đồng cùng với hàng loạt cây gỗ quý hàng trăm năm tuổi có giá trị rất “khủng” và những khối đá quý có kích thước cũng “khủng” không kém và quý hiếm cũng đủ để mọi người phải lóa mắt. Tuy nhiên để sở hữu khối tài sản khổng lồ này nhiều người đặt câu hỏi cán bộ nhà nước được trả lương bao nhiêu mà nhiều tiền thế?
Xoay quanh khối tài sản khổng lồ của con trí bí thư tỉnh ủy Hải Dương, ĐBQH ông Đinh Xuân Thảo cho rằng cơ quan trung ương phải làm rõ số tài sản này.
Trả lời trên báo những câu hỏi liên quan đến khu nhà vườn trăm tỷ tại Ninh Giảng, Hải Dương được cho là của ông Bùi Thanh Tùng (con trai Bí thư Hải Dương Bùi Thanh Quyến) cho biết số tiền mà ông có được để bỏ ra xây dựng ngôi nhà tọa lạc trên khu đất hơn 4.000 m2 này là tiền mồ hôi, nước mắt, xuất phát từ trí tuệ, vận động cá nhân chứ không phải là dựa dẫm vào bất kỳ ai, vào mối quan hệ nào. Được biết ông Tùng sinh năm 1980, đang công tác tại Sở LĐ-TB&XH tỉnh Hải Dương.
Về ý kiến cho rằng con trai ông là một công chức nhà nước nhưng lại sở hữu một khối tài sản kếch xù như thế liệu có gây dư luận xấu trong xã hội, ông Quyến bí thư tỉnh Hải Dương nói: “Tôi nghĩ là với trách nhiệm của phóng viên, báo chí tự tìm hiểu”.
Điều đó không khó để có thể tính được, Nếu đúng như những lời ông Tùng khẳng định số tài sản trên là do mồ hôi công sức của ông bỏ ra. Chúng ta hoàn toàn có thể tính được “mồ hôi công sức ấy” theo quy định về chế độ lương thưởng đối với công chức viên chức nhà nước thì có thang bậc tính cụ thể. Ông Bùi Thanh Tùng 32 tuổi chức vụ Trưởng phòng Việc làm an toàn lao động tại Sở Lao động TB&XH tỉnh Hải Dương.
Theo thông tư liên tịch số 01/2005/TTLT-BNV-BTC nhân với mức lương cơ bản hiện nay là 1.050.000 đồng. Với một viên chức hệ số là 2,34 + phụ cấp đối với chức danh trưởng phòng 0,3 + kinh nghiệm công tác (Giả sử ông Tùng đã làm trưởng phòng từ năm 2002) thì lương hàng tháng của một viên chức tương đương với chức vụ ông Tùng đang công tác sẽ là 1.050.000 x 2,64 = 2.457.000. Với cấp trưởng phòng được phụ cấp hệ số 0,3 Nếu tính số năm công tác và phụ cấp một tháng lương của ông Tùng nhận được sẽ khoảng 3 triệu
Với mức lương như vậy thì một năm ông Tùng nhận lương khoảng hơn 40 triệu. Trong 10 năm công tác nhân số tiền này sẽ lên khoảng 400 triệu. 100 năm sau số lương theo mức tính này cũng chỉ khoảng 4 tỷ!?
Đây là phép tính thử cho người chưa phải bỏ ra chi phí gì cho tổng số tiền này. Nhưng đó là điều không tưởng bởi còn phải trừ đi các khoản tiền chi phí cho sinh hoạt, công việc khác nữa. Nhất là trong điều kiện chi phí sinh hoạt đắt đỏ như hiện nay.?!
Điều đó ngược lại với khối tài sản khổng lồ của ông Tùng đang sở hửu. khiến nhiều người nghi ngờ về khối tài sản này?!
Liên quan đến việc ông Bùi Thanh Tùng tiến hành mua đất để xây nhà và trồng cây cảnh lâu năm quý hiếm, Huyện ủy – UBND huyện Ninh Giang đã chỉ đạo các đơn vị liên quan về thôn Đông Tân, xã Ninh Thành để tìm hiểu thực hư sự việc.
Bước đầu, chính quyền địa phương xác minh được diện tích đất 4.152 m2 tại thôn Đông Tân mang tên Bùi Thanh Tùng đã được UBND huyện đã cấp “sổ đỏ”.

Posted in Tham Nhung-Hoang Phí- Ăn Cắp | Leave a Comment »

►Cách mạng phải có tổ chức: Không có phong trào nào có thể lật đổ nổi chế độ vững như bàn thạch trừ phi phong trào có chiến lược, có những người lãnh đạo, và cần có sự đoàn kết

Posted by hoangtran204 trên 29/08/2012

Cách mạng phải có tổ chức

Hugo Dixon
Trần Quốc Việt chuyển ngữ
Hãy bắt đầu từ nguyên tắc căn bản nhất: Không có phong trào nào có thể lật đổ nổi chế độ vững như bàn thạch trừ phi phong trào có chiến lược.
Chiến lược này nhất thiết đòi hỏi phải phân tích một cách hệ thống những điểm yếu của đối phương, vạch ra kế hoạch làm đối phương suy yếu dần, đồng thời đoán trước cuộc đấu tranh có thể diễn ra theo chiều hướng nào. Để hình thành được chiến lược như thế, phong trào cần có sự lãnh đạo. Và để theo đuổi chiến lược như thế qua những thời kỳ khó khăn trong tương lai – khi những cuộc biểu tình bất bạo động có thể bị đáp lại bằng bạo lực – phong trào phải cần có sự đoàn kết.

* * * 

Phải chăng có thể là những nhà lãnh đạo cuộc nổi dậy được đánh giá quá cao? Theo sau Mùa Xuân Ả Rập, phong trào Chiếm Phố Wall, và những cuộc vùng lên khác của dân chúng trên khắp thế giới chống lại các chế độ độc tài và thối nát, các nhà phân tích địa chính trị đang hỏi những câu hỏi cơ bản về ý nghĩa của sự lãnh đạo trong các cuộc đấu tranh như thế. Loại lãnh đạo nào cần thiết trong các cuộc nổi dậy bất bạo động? Và trong thời đại số này, phải chăng những cuộc nổi dậy cũng phải cần có người lãnh đạo?

Câu trả lời lãng mạn là các cuộc đấu tranh bất bạo động không còn cần đến nhà lãnh đạo có tầm thu hút lớn – những cuộc đấu tranh này có thể xuất hiện tức thời khi nhân dân bị áp bức đồng loạt nổi dậy và liên lạc với nhau qua Facebook và Twitter. Người ta cho rằng sự thiếu tổ chức hay thiếu tầng lớp lãnh đạo này rất thích hợp với các mục tiêu của những phong trào như thế. Nơi nào những người nổi dậy đấu tranh cho nền pháp trị dân chủ, nơi ấy chẳng ai nên sai bảo ai. Hơn nữa, cái được coi là thiếu sự lãnh đạo ấy còn có lợi ích phụ ở chỗ nhà cầm quyền không thể nào tiêu diệt được phong trào bằng cách vây bắt những người cầm đầu. Ta không thể chém bay đầu (ai) nếu (người ấy, phong trào ấy) không có đầu.

Cách đây một năm, theo sau chiến thắng nức lòng của cuộc cách mạng Ai Cập, cuộc cách mạng điển hình ấy đã có tiếng vang xa. Nhưng Mùa Xuân Ả Rập không trôi qua êm đềm. Libya phải trải qua cuộc đấu tranh dài và đẫm máu mới lật đổ được Đại tá Muammar Gaddafi, còn Syria càng ngày càng bị hút sâu vào cuộc nội chiến. Ngay cả Ai Cập cũng không còn là chiến thắng trọn vẹn đối với những nhà cách mạng Facebook: Huynh đệ Hồi giáo, vốn có tầng lớp lãnh đạo truyền thống hơn và tôn trọng tổ chức, hoàn toàn sẵn sàng giật lấy thành quả của phong trào dân chúng chiếm đóng Quảng trường Tahrir.

Không còn tức giận suông nữa

“Đây là cuộc chiến tranh bằng các phương tiện khác,” Robert Helvey, cựu đại tá Mỹ chuyên nghiên cứu về đấu tranh bất bạo động và huấn luyện các nhà hoạt động dân chủ về những phương pháp đấu tranh bất bạo động, nói. “Nếu ta có ý định muốn tiến hành đấu tranh bất bạo động thì mọi người cần phải thống nhất với nhau.” Những nhà phân tích sáng suốt nhất về các phong trào bất bạo động gần đây đều không bao giờ tin những phong trào này có nhiều cơ may thành công trừ phi họ có sự lãnh đạo, đoàn kết, và chiến lược.

Hãy bắt đầu từ nguyên tắc căn bản nhất: Không có phong trào nào có thể lật đổ nổi chế độ vững như bàn thạch trừ phi phong trào có chiến lược.

Chiến lược này nhất thiết đòi hỏi phải phân tích một cách hệ thống những điểm yếu của đối phương, vạch ra kế hoạch làm đối phương suy yếu dần, đồng thời đoán trước cuộc đấu tranh có thể diễn ra theo chiều hướng nào.

Để hình thành được chiến lược như thế, phong trào cần có sự lãnh đạo. Và để theo đuổi chiến lược như thế qua những thời kỳ khó khăn trong tương lai – khi những cuộc biểu tình bất bạo động có thể bị đáp lại bằng bạo lực – phong trào phải cần có sự đoàn kết.

Srdja Popovic, lãnh đạo của Otpor, nhóm sinh viên Serbia đã góp phần lật đổ chế độ độc tài của Slobodan Milosevich vào năm 2000, bây giờ hướng dẫn các nhà hoạt động dân chủ cách thức tổ chức những phong trào tương tự. Ông nhấn mạnh đến tầm quan trọng của sự đoàn kết, và cho họ biết một trong những lý do giúp Otpor thắng được Milosevic là nhờ Otpor thuyết phục các nhóm nhà chính trị không nên tranh cãi vặt với nhau nữa mà hãy đoàn kết lại để ủng hộ một ứng cử viên duy nhất.

Lãnh đạo phải vạch ra kế hoạch cho từng giai đoạn đấu tranh khác nhau. Helvey nói thường có ba giai đoạn: lật đổ chế độ; thành lập chính phủ dân chủ, hay có thể chính phủ lâm thời; và rồi bảo vệ chính phủ non trẻ chống lại các cuộc đảo chánh.

Ông chỉ ra rằng tuy sinh viên Ai Cập lật đổ được Hosni Mubarak, nhưng họ không có kế hoạch tiếp theo ngay sau đó, cho nên Huynh Đệ Hồi Giáo nhảy vào nắm quyền. Sinh viên đã thắng trận chiến quan trọng, nhưng kẻ khác đã cướp lấy phần thưởng từ trên tay họ.

Vấn đề ở Ai Cập đã vượt quá giai đoạn thay đổi chế độ, nhưng đa số các phong trào thậm chí vẫn còn đấu tranh để đạt đến giai đoạn đầu tiên này. Một lần nữa, đó là thường do thiếu sự lãnh đạo tài ba.

Gene Sharp, giáo sư đại học ở Boston đã nghiên cứu về đấu tranh bất bạo động trong hơn 60 năm qua, khẳng định thật là điên rồ khi cho rằng ta không cần những người lãnh đạo. Lịch sử chứng minh lập luận này; không có nhiều và có lẽ cũng chẳng có những cuộc đấu tranh bất bạo động nào không có người lãnh đạo mà lại thành công, theo lời Adam Roberts, giáo sư danh dự về quan hệ quốc tế ở đại học Oxford. Phong trào chiếm đóng phố Wall có thể là trường hợp minh họa điều này.

Lúc đầu danh tiếng của phong trào nổi lên như cồn nhưng những người tham gia phong trào dường như không có bất kỳ chiến lược nào ngoài chuyện dựng lều ở những nơi công cộng, nên dần dần công chúng chẳng còn quan tâm đến.

Cuộc cách mạng Syria đang diễn ra là trường hợp khác về những nguy hiểm của cuộc nổi dậy mà không có chiến lược tốt. Những nhà hoạt động dân chủ ở đấy dường như không có bất kỳ kế hoạch hành động nào khi chế độ của tổng thống Bashar al-Assad phản công lại bằng tra tấn, giam cầm, và thảm sát- mặc dù phản ứng tàn bạo của chế độ là điều có thể tiên đoán được.

Các nhà hoạt động dân chủ Syria đã phạm phải một sai lầm khác về chiến lược: lúc đầu họ quá nhấn mạnh đến các cuộc biểu tình chống chế độ, mặc dù những cuộc biểu tình công khai rất quan trọng trong các phong trào cách mạng, nhưng những người biểu tình trực diện như thế dễ bị trấn áp tàn bạo.

Những chiến thuật thay thế biểu tình, như tẩy chayđình công, có thể là phương cách tốt hơn để thách thức chế độ trong khi duy trì mức độ thương vong của ta thấp. Muốn như thế phải cần có lãnh đạo để phối hợp hoạt động dựa theo chiến lược đó. Công bằng mà nói, những nhà hoạt động dân chủ ở Syria không thể nào tổ chức hay thậm chí liên lạc được với bất kỳ nhóm nào lớn hơn những chi bộ nhỏ vì ngay khi họ liều lĩnh ra mặt đấu tranh, họ liền bị bắt, bị tra tấn hay bị sát hại. Sau hàng tháng trời bị chế độ đánh tơi tả, chính những nhà hoạt động dân chủ Syria ngày càng quay sang đấu tranh bằng bạo lực.

Những nhà tuyên truyền và những nhà chiến lược

Loại lãnh đạo nào cần thiết để duy trì cuộc cách mạng bất bạo động? Vì những cuộc cách mạng  xã hội không có người đứng đầu dường như chắc chắn bị thất bại, nên người ta dễ bị quyến rũ sang đối cực khác – nhà lãnh đạo phi thường có tầm thu hút lớn.

Lịch sử dường như mỉm cười với chiến thuật này: phong trào độc lập ở Ấn Độ có Mohandas Gandhi; phong trào dân quyền ở Mỹ có Martin Luther King, phong trào chống Apartheid có Nelson Mandela. Gần đây hơn, Aung San Suu Kyi là khuôn mặt cuộc đấu tranh chống chế độ độc tài ở Miến Điện, và Anna Hazare nhà lãnh đạo phong trào chống tham nhũng ở Ấn Độ. Toàn là những nhà lãnh đạo khích lệ.  [cuộc sống của họ đơn giản, bình dị, cá nhân của họ là những nhà hùng biện, thu phục, lôi cuốn nhiều người tin theo, phương cách đấu tranh của họ là bất bạo động được mọi người ủng hộ, cổ vỏ – TH]

“Khi ta tổ chức cuộc cách mạng, lãnh đạo lôi cuốn có ảnh hưởng rất thuận lợi đến sự thành công của phong trào,” Helvey nói. Thật may mắn khi có nhà lãnh đạo mạnh biết tập hợp mọi người lại và biết làm cho mọi người quyết tâm hành động theo kế hoạch.

“Ta không thể nào có dân chủ khi tiến hành chiến tranh,” ông giải thích. “Một khi quyết định đã thông qua, mọi người phải thực hiện theo quyết định.”

Tuy nhiên, thật sai lầm khi vội vàng kết luận rằng sự lãnh đạo thành công phải xuất phát từ nhân vật có ảnh hưởng nhất. Đội ngũ lãnh đạo có nhiều ưu thế hơn: phong trào vẫn tồn tại nếu bất kỳ nhà lãnh đạo nào bị bắt hay bị sát hại; phong trào có thể ngăn chặn nhà lãnh đạo trở nên quá tự phụ hay thậm chí biến thành nhà độc tài mới, và lãnh đạo tập thể ấy có thể nảy sinh ra nhiều ý tưởng mới lạ, vì những ý tưởng mới có thể không được lan truyền nếu có nhà lãnh đạo có quá nhiều quyền lực.

Vả lại, không phải tất cả những phong trào chúng ta nghĩ do những nhà lãnh đạo có tầm thu hút lớn đứng đầu đều đặt dưới sự lãnh đạo của một người duy nhất. Thường có vài nhà lãnh đạo khích lệ. Hãy nghĩ về sự kết hợp giữa Jawaharlal Nehru và Gandhi ở Ấn Độ; hay Viktor Yushchenko và Yulia Tymoshenko trong cuộc Cách mạng Cam ở Ukraine vào năm 2004-2005.

Ngay cả khi có một nhà lãnh đạo mạnh duy nhất, người đó có lẽ không có tất cả những phẩm chất cần thiết để đưa cuộc đấu tranh đến kết thúc thắng lợi. Các phong trào cần cả các nhà tuyên truyền xuất sắc và những nhà chiến lược sáng suốt. Trong rất ít trường hợp – chẳng hạn như trường hợp của Gandhi, người vừa là nhà lãnh đạo có nhiệt huyết vừa là nhà chiến lược bẩm sinh – cả hai phẩm chất đều có ở một người.

Trường hợp ngược lại thì điển hình hơn. Ví dụ, tài diễn thuyết xuất sắc của Martin Luther King kết hợp với thiên tài chiến thuật của Bayard Rustin, theo ông Roberts. Rustin từng sang Ấn Độ vào năm 1948 để học những bài học tranh đấu của Gandhi, đã truyền đạt lại cho King nhiều điều hay về cuộc đấu tranh bất bạo động. (Một trong những lời khuyên của ông: Không bao giờ làm điều gì hai lần.)

MBA về cách mạng bất bạo động?

Phải chăng có thể dạy người ta cách tổ chức cuộc cách mạng bất bạo động? Đối với chiến tranh truyền thống, có các trường võ bị- chẳng hạn West Point ở Hoa Kỳ và Sandhurst ở Anh- chuyên dạy các chiến lược tác chiến. Sau khi được đào tạo ở trường võ bị, các sĩ quan trẻ lúc đó được nhận vào tập sự để nghiên cứu các chiến dịch quân sự cho các chỉ huy cấp cao. Không có trường dạy bất bạo đông tương đương với Sandhurst, nhưng vẫn có những cố gắng để đào tạo những nhà lãnh đạo cho các cuộc đấu tranh bất bạo động. Trong suốt phong trào chống Apartheid, những nhà lãnh đạo trẻ được đào tạo ở Phoenix Settlement của Gandhi gần Durban. Viện nghiên cứu Albert Einstein của Sharp tổ chức những lớp học về đấu tranh phản kháng, cũng như Trung Tâm Ứng Dụng Bất Bạo Động (CANVAS) mới của Popovic đã đào tạo các nhà hoạt động dân chủ ở vài nước, trong đó có Ai Cập, Ukraine, và Georgia.

Cũng có một vài lớp ở đại học. Một lớp là chương trình sau đại học về chiến lược và phương pháp thay đổi xã hội bất bạo động do CANVAS lập ra ở Đại học Belgrade. Lớp khác là giáo dục cao cấp về xung đột bất bạo động của Fletcher Summer Institute thuộc đại học Tufts ở Boston.

Càng ngày cũng càng có nhiều giáo sư đại học nghiên cứu về lĩnh vực này. Sách và các bài viết của họ dần dần đang đến tay các nhà hoạt động dân chủ ở những nơi cuộc đấu tranh thực sự diễn ra, và những cuốn sách ấy đang nói với họ điều này: Để chiến thắng trong cuộc đấu tranh bất bạo động ta phải có sự lãnh đạo và chiến lược vững vàng. Theo thời gian những sáng kiến như thế sẽ đưa những kiến thức liên quan đến càng ngày càng nhiều các nhà lãnh đạo mới xuất hiện để giúp họ trở thành những chiến sĩ bất bạo động giỏi hơn. Cho nên sự chia sẻ kiến thức ấy có lẽ khiến cho cuộc nổi dậy bất bạo động kế tiếp sẽ không chỉ lật đổ nhà độc tài, mà sẽ thay thế y bằng chính quyền dân chủ khả thi.

Nguồn: Tạp chí Reuters Magazine ngày 29/6/2012

Bản tiếng Việt: Trần Quốc Việt
danlambaovn.blogspot.com

Theo Dân Làm Báo

http://danluan.org/node/13967

————————

The revolution will be organized! – Reuters Blogs (blog)  http://www.occupyfeeds.org/the-revolution-will-be-organized-reuters-blogs-blog.html
Morning Advantage: The Revolution Will Be Organized by Sarah Green  |   8:40 AM July 9, 2012 http://blogs.hbr.org/morning-advantage/2012/07/morning-advantage-the-revoluti.html

Posted in Chinh Tri Xa Hoi | Leave a Comment »

►Bản cáo trạng của VKSND tỉnh Đắc Nông về thầy giáo Đinh Đăng Định

Posted by hoangtran204 trên 27/08/2012

Một độc giả ẩn danh gửi tới Dân Luận bản cáo trạng của Viện Kiểm Sát Nhân Dân tỉnh Đắc Nông truy tố thầy giáo Đinh Đăng Định theo điều 88 BL Hình Sự.
Dựa trên bản cáo trạng tùy tiện này, thầy Định đã bị kết án 6 năm tù giam vào ngày 9/8/2012.
Chúng tôi mong rằng việc công bố bản cáo trạng này, kèm theo đường dẫn tới các bài viết công khai của thầy Định trên mạng internet, sẽ giúp công luận hiểu rõ sự việc hơn và có biện pháp thích hợp để đấu tranh bảo vệ quyền tự do ngôn luận của thầy Định.

 

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc 

Đăk Nông, ngày 27 tháng 6 năm 2012

VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỈNH ĐẮC NÔNG
Số 36/CTr-VKS(PIA)

CÁO TRẠNG
VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK NÔNG
 

– Căn cứ các điều 36, 166, 167 Bộ luật tố tụng hình sự

– Căn cứ Quyết định Khởi tố vụ án hình sự số 03/QĐ ngày 03/10.2011 của cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh Đăk Nông, về tội: Tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt nam theo quy định của điều 88 Bộ luật hình sự

– Căn cứ Quyết định khởi tố bị can số: 04 ngày 21/10/2011 của cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh Đăk Nông đối với Đinh Đăng Định về tội: Tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt nam (CHXNCN VN) theo quy định tại Điều 88 Bộ luật hình sự.

Trên cơ sở kết quả điều tra đã xác định được như sau:

Trong khoảng thời gian từ đầu năm 2010 đến tháng 12/2011, Đinh Đăng Định (sinh năm 1963, là giáo viên trường trung học phổ thông Lê Quý Đôn, huyện Tuy Đức, tỉnh Đăk Nông) đã thực hiện các hành vi làm ra, tàng trữ và lưu hành các tài liệu có nội dung chống Nhà nước CHXHCN Việt nam, cụ thể:

Hành vi làm ra các tài liệu có nội dung chống Nhà nước CHXHCN Việt Nam: Ngày 18/10/2010, Định viết bài: “Yêu nước không có độc quyền” và đưa lên mạng trang baotoquoc.com, đầu tháng 11/2010, Định viết bài “Suy nghĩ cá nhân về tình hình đất nước”, trong đó có 05 nội dung chính là: Vấn đề Bôxit (Phản đối dự án khai thác boxit ở Nhân cơ), về hiện tình đất nước, đòi Đa nguyên – Đa đảng, đòi xóa bỏ Điều 4 – Hiến pháp, phi chính trị hóa ngành Giáo dục, Quân đội, Công an và đưa lên mạng trang songthan.org.

Đầu tháng 12/2010, Định viết bài “Thư khẩn”, nội dung cơ bản là nói xấu việc cơ quan an ninh tỉnh Đăk Nông thu giữ máy vi tính của Định là trái pháp luật, vi phạm nhân quyền và gửi bằng đường Bưu điện cho các lãnh đạo Đảng và Nhà nước, đồng thời Định đưa lên trang mạng Danluan.org; Thư gửi Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo, và Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Đăk Nông, trong thư có các nội dung đáng chú ý như:

Tôi quyết không sợ đám cộng sản đểu/dỏm của ngành giáo dục này và đấu tranh đến cùng (cộng sản, phát xít) ra khỏi đất nước này…”,

Đảng cộng sản độc tài hết thời, cái ngày bị ném vào sọt rác lịch sử không xa”,

thư này Định dự kiến sẽ đưa lên mạng internet vào dịp 20/11/2011, nhưng chưa đưa thì ngày 21/11/2011 bị bắt;

Ngoài ra Định còn viết bài “65 năm mùa thu” để làm lời tựa cho bài viết “Nhu cầu bức thiết hình thành phe đối lập tại Việt Nam” của Nguyễn Trung Lĩnh, từ đó gửi cho các đối tượng phản động lưu vong ở nước ngoài (BL 230 tập 1)

Hành vi tàng trữ các tài liệu có nội dung chống Nhà nước CHXHCN Việt nam:

Ngày 24/11/2010, Cơ quan An ninh Điều tra Công an tỉnh Đăk Nông tiến hành kiểm tra máy tính để bàn của Định, qua kiểm tra phát hiện, trong máy có chứa 19 đầu tài liệu có nội dung phản động, gồm các bài có tựa đề:

HCM là người nói quân ta “Trung với Đảng, hiếu với dân”;

danh sách kiến nghị tính đến ngày 16/10/2010 (925 người);

lập khi còn chế độ độc Đảng; từ lục tứ sự kiện đến linh bát hiến chương;

HCM tội nào nặng nhất? – Ngô Nhân Dụng;

HCM trong cải cách ruộng đất – Nguyễn Quan Huy;

hồ sơ tội ác HCM: xin đừng quên! Nửa thế kỷ trước cải cách ruộng đất đẫm máu – Nguyễn Minh Cần – cựu phó chủ tịch ủy ban hành chính thành phố Hà nội;

con tố cha – vợ tố chồng; giải tỏa huyền thoại HCM – LS Nguyễn Hữu Thống;

Bán nguyệt san số 110*01-11-2010 – tự do ngôn luận;

Đinh Đăng Định – Những suy nghĩ cá nhân về tình hình đất nước;

suy nghĩ cá nhân thể theo yêu cầu của Cơ quan an ninh chính trị nội bộ tỉnh Đăk Nông;

HCM và cải cách ruộng đất – Trần Gia Phụng 4.2006;

Thông luận 01.11.2010;

đơn tố cáo của Luật sư Nguyễn Thị Dung Hà, vợ của tiến sĩ luật Cù Huy Hà Vũ;

Đinh Đăng Định – Yêu nước không có độc quyền;

hội quán Việt Nam: Phát biểu của bà Clintơn trong buổi gặp ngoại trưởng Phạm Gia Khiêm;

phỏng vấn Luật sư Cù Huy Hà Vũ theo VOA;

Diễu hành hòa bình tại Ottawa (BL 01 – 07 tập 2)

Hành vi lưu hành những tài liệu có nội dung chống Nhà nước CHXHCN Việt Nam:

Ngoài việc viết các bài có nội dung chống Nhà nước CHXHCN Việt nam lưu tại máy tính, Đinh Đăng Định còn sử dụng một số bài để đưa lên mạng internet và được một số trang mạng đăng tải như:

“cảnh báo khẩn” đăng trên trang Boxit;

“yêu nước không có độc quyền” đăng trên baotoquoc.com;

“suy nghĩ cá nhân về tình hình đất nước” đăng trên trang danluan.org,

“thư khẩn” đăng trên các trang danluan.org và tintuchangngay.

Trong một số bài khác Đinh Đăng Định dùng hộp thư điện tử dinhdangdinh@gmail.com và gửi cho một số cán bộ, giáo viên trường PTTH Lê Quý Đôn – Tuy Đức qua địa chỉ Email của họ: gửi cho anh Trình Nguyễn Vĩnh Phong ở địa chỉ email thaovyphong@gmail.com các bài viết:

“Đại lễ ngàn năm Thăng Long – Hà Nội hoang phí 4,5 tỷ USD”.

Bài “chỉ tiêu 1000 việt kiều yêu nước nhưng chỉ có 190 người”;

Bài “Giải phóng” nỗi kinh hoàng của người dân Việt nam;

Bài “Bắt người trái pháp luật – Công an Thành phố Hồ Chí Minh lập thành tích chào mừng 1000 năm Thăng long – (nói về Tạ Phong Tần)” và

bài “Không chừng thầy bói nói đúng – nói về đại tướng Võ Nguyên Giáp.

Gửi bài “Hoàng sa – sếp đi vắng hay niềm hoang tưởng đã mất” cho anh Nguyễn Văn Hoàn ở địa chỉ Email ThuhoanK47dhv@gmail.com và anh Nguyễn Văn Cần ở địa chỉ email Nguyenvancan18@yahoo.com (BL số 231 tập 1)

Định còn liên lạc thông qua hộp thư điện tử với các đối tượng phản động trong và ngoài nước để chỉnh sửa câu, từ, ý, nội dung bài viết “Nhu cầu bức thiết hình thành phe đối lập tại Việt nam” của Nguyễn Trung Lĩnh;

góp ý, bàn bạc với Nguyễn Trung Lĩnh về việc chuẩn bị nhân sự, tổ chức, hậu cần, phương tiện cho lực lượng đối lập tại Việt nam và cách thức tổ chức hoạt động theo từng bước, từng giai đoạn của phe đối lập nếu được hình thành tại Việt nam.

Qua sự giới thiệu của Nguyễn Trung Lĩnh, Định liên lạc với các đối tượng ở nước ngoài như:

Giang Hồng (tổng biên tập tạp chí tự do ngôn luận ở Cộng hòa liên bang Đức);

đối tượng Nguyễn Bá Long (chủ nhiệm website “đối lực” ở Canada) để bàn bạc về nhân sự cho phe đối lập ở Việt Nam nếu được hình thành.

Định làm quen trao đổi với đối tượng Huỳnh Tâm (ở Pháp) qua địa chỉ email radiothongluan@online.fr,

Định gửi các tài liệu cho Tâm gồm các bài “65 năm mùa thu” và bài “nhu cầu bức thiết hình thành phe đối lập ở Việt Nam” mục đích để Tâm đăng lên các trang ở hải ngoại.

Định đã trả lời 03 cuộc phỏng vấn qua điện thoại với phóng viên “chim Quốc Quốc” trên diễn đàn “Tranh luận dân chủ chính trị” và được đăng trên website http://myopera.com có nội dung: Đánh giá, bàn bạc về hiện tình đất nước, các vấn đề tiêu cực của xã hội, vấn đề dân chủ, nhân quyền của đất nước ta, về Đại hội Đảng lần thứ XI… (BL số 232 tập 1)

Ngoài ra, Đinh Đăng Định luôn luôn thể hiện quan điểm, tư tưởng chống đối chế độ, chống Nhà nước CHXHCN Việt nam.

Định cho rằng Đảng cộng sản Việt nam lãnh đạo xây dựng xã hội Việt Nam theo con đường XHCN là đi vào ngõ cụt, làm cho đất nước nghèo nàn lạc hậu;

đòi thao đổi Hiến pháp 1992 và xóa bỏ Điều 4;

đòi đa nguyên, đa Đảng…

Trong quá trình điều tra Cơ quan ANĐT đã trưng cầu các cơ quan chức năng để giam định:

Âm thanh ghi âm nội dung 03 cuộc trả lời phỏng vấn của người đàn ông tự xưng là giáo viên Đinh Đăng Định ở Đăk Nông với phóng viên “Chim Quốc Quốc”,

chữ viết trên tài liệu có đầu đề “Suy nghĩ cá nhân (tóm tắt) thể theo yêu cầu CQANCTNB Đăk Nông” ghi ngày 25/10/2010 với chữ viết của Đinh Đăng Định;

Giám định pháp y tâm thần đối với Đinh Đăng Định và

giám định nội dung tài liệu do Định làm ra và tàng trữ mà Cơ quan ANĐT đã thu giữ được trong quá trình điều tra.

Tại kết luận giám định số 3145/C54-P2+P5, ngày 20/12/2011 của Viện khoa học hình sự –Bộ Công An có kết luận:

+ Âm thanh (giọng nói) trong đĩa CD ghi âm nội dung 03 cuộc trả lời phỏng vấn của người đàn ông tự xưng là giáo viên Đinh Đăng Định ở Đăk Nông với phóng viên “Chim Quốc Quốc” là giọng nói của Đinh Đăng Định.

+ Chữ viết trên tài liệu có đầu đề “Suy nghĩ cá nhân (tóm tắt) thể theo yêu cầu CQANCTNB Đăk Nông” ghi ngày 25/10/2010 với chữ viết của Đinh Đăng Định là do một người viết ra.

Tại biên bản Giám định pháp y tâm thần số 866/PYTT-PVPN, ngày 29/12/2011 của Phân viện phía nam – Viện giám định pháp y tâm thần trung ương, kết luận: Tại thời điểm gây án và hiện nay: Đương sự Đinh Đăng Đinh có năng lực nhận thức và điều khiển hành vi nhưng bị hạn chế do bệnh.

Tại bản kết luận giám định số 09/KL-STTTT, ngày 12/01/2012 của Hội đồng giám định Văn học – Nghệ thuật tỉnh Đăk Nông, kết luận: Nội dung 28 tài liệu được trưng cầu giám định (19 đầu tài liệu thu giữ tại máy tính của Đinh và 09 đầu tài liệu do các cán bộ giáo viên trường Lê Quý Đôn giao nộp) đều có tính chất tuyên truyền, xuyên tạc, phỉ báng, chống đối Đảng và nhà nước Việt Nam và xâm hại nghiêm trọng đến lợi ích của Nhà nước CHXHCN Việt nam, quyền và lợi ích hợp pháp của Đảng cộng sản Việt Nam và các cá nhân.

Vật chứng của vụ án:

– 01 chiếc CPU thu của Đinh Đăng Định;

-28 đầu tài liệu của Đinh và của một số cán bộ, giáo viên Trường THPT Lê Quý Đôn huyện Tuy Đức giao nộp.

Căn cứ những tình tiết và chứng cứ nêu trên đã có đủ cơ sở:

 

KẾT LUẬN:

Do ý thức coi thường pháp luật, tư tưởng chống đối đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt nam. Để thực hiện ý đồ đòi đa nguyên, đa Đảng và nhen nhóm hình thành phe phái đối lập tại Việt nam, nên trong khoảng thời gian từ đầu năm 2010 đến tháng 12 năm 2011, Đinh Đăng Định đã làm ra, tàng trữ và lưu hành một số tài liệu có nội dung nói xấu chủ tịch Hồ Chí Minh, chống đối lại đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng cộng sản Việt Nam và Nhà nước CHXHCN Việt Nam, nhằm chống lại Nhà nước CHXHCN Việt Nam. Tạo điều kiện để các tổ chức phản động lưu vong ở nước ngoài và các đối tượng cơ hội chính trị lợi dung xuyên tạc, bóp méo sự thật nhằm chống phá Nhà nước CHXHCN Việt nam.

Như vậy đã có đủ căn cứ xác định bị can có lý lịch dưới đây phạm tội như sau:

Họ và tên: Đinh Đăng Định; Tên gọi khác: Không.

Sinh năm: 1963, tại tỉnh Hải Dương.

Nơi ĐKNKTT và chỗ ở hiện nay: Số nhà 214, đường Nơ Trang Long, Khối 4 – thị trấn Kiến Đức – huyện Đăk R’Lấp – tỉnh Đăk Nông.

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không.

Trình độ học vấn: 10/10;

Nghề nghiệp: Nguyên là giáo viên.

Tiền án, tiền sự: Không

Con ông Đinh Hữu Bàn (đã chết), con bà Trịnh Thị Đào (đã chết).

Bị can là con thứ năm trong gia đình có 6 anh em.

Bị can có vợ là Đặng Thị Dinh (SN 1962), hiện trú tại số nhà 214, đường Nơ Trang Long, khối 4 – thị trấn Kiến Đức – huyện Đăk R’Lấp – tỉnh Đăk Nông.

Bị can có 03 con, lớn nhất sinh năm 1988, nhỏ nhất sinh năm 1995.

Nhân thân:

Từ nhỏ sống với bố mẹ đi học văn hóa tại xã Hiệp Hòa huyện Kinh Môn – tỉnh Hải Dương.

Từ năm 1980 đến 1985 là sinh viên khoa Hóa, trường Đại học Tổng hợp Hà Nội.

Từ tháng 12/1985 đến 01/3/1988 là giáo vien trường Sỹ quan phòng hóa, thuộc Binh chủng Hóa học ở Sơn Tây – hà Nội.

Cuối năm 1988 đến 1991 công tác tại Nhà máy Supe phốt phát Lâm Thao – Vĩnh Phúc.

Từ năm 1991 đến đầu năm 1994 công tác tại Nhà máy Supe phốt phát Long Thành – Đồng Nai.

Từ đầu năm 1994 đến cuối giữa năm 1995 công tác tại Công ty sản xuất thuốc trừ sâu Kosvida ở Huyện Thuận An – Bình Dương.

Từ 1005 đến 1998 công tác tại công ty sản xuất phân bón con cò ở huyện Bà Rịa – Vũng Tàu.

Từ năm 1998 đến 2000 là giáo viên trường PTTH Bán công Bình Long (nay là trường THPT Nguyễn Huệ) huyện Bình Long – Bình Phước.

Từ năm 2000 đến 2007 là giáo viên trường THPT Phạm Văn Đồng huyện Đăk R’Lấp.

Từ 2007 đến ngày phạm tội là giáo viên trường THPT Lê Quý Đôn huyện Tuy Đức – Đăl Nông.

Bị can bị bắt tạm giam ngày 21/10/2011, hiện bị can đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đăk Nông.

Hành vi nêu trên của bị can Đinh Đăng Đinh đã phạm vào tội:

Tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 88 Bộ luật Hình sự.

Điều 88 Bộ luật hình sự quy định:

1. Người nào có một trong những hành vi sau đây nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thì bị phạt tù từ ba năm đến mười hai năm:

a)…

c) Làm ra, tàng trữ, lưu hành các tài liệu, văn hóa phẩm có nội dung chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Vì những lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

 

Truy tố ra trước Tòa án nhân dân tỉnh Đăk Nông để xét xử đối với bị can Đinh Đăng Định có lý lịch nêu trên về tội: Tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 88 Bộ luật hình sự đã viện dẫn ở trên.

Biện pháp tư pháp:

– Căn cứ Điều 41 Bộ luật hình sự và điều 77 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu, sung công quỹ nhà nước 01 chiếc CPU thu của Đinh Đăng Định. Các tài liệu khác đã thu giữ đính kèm theo hồ sơ vụ án phục vụ công tác xét xử.

Kèm theo Cáo trạng có:

+ Hồ sơ vụ án gồm có 02 tập, tập một gồm…. trang đánh số thứ tự từ 01 đến…., tập hai gồm 424 trang đánh số thứ tự từ 01 đến 424.

+ Danh sách, địa chỉ những người yêu cầu triệu tập đến phiên tòa

PHÓ VIỆN TRƯỞNG
TẠ ĐÌNH ĐỀ
KT. VIỆN TRƯỞNG

Nơi nhận:

– Vụ 2 VKSND Tối cao;
– VKSXX-PT II Đà nẵng;
– Lãnh đạo Viện (02 bản)
– PV27, PC45 CA Tỉnh;
– HSVA;
– HS KSĐT;
– Bị can;
– Lưu HS

nguon: http://danluan.org/node/14026

* * *  nguon

Posted in Bắt bớ-Tù Đày-Đánh đập-Đàn Áp, Dân Chủ và Nhân Quyền, Tự Do ngôn Luận | Leave a Comment »

►Cuộc bầu cử TT Mỹ (cập nhật tình hình cuối tháng 8)

Posted by hoangtran204 trên 26/08/2012

Theo giới bình luận chính trị, ai thắng, ai bại trong cuộc bầu cử TT Mỹ sẽ quyết được định ở 7 tiểu bang: Colorado, Florida, Iowa, Ohio, Nevada, New Hampshire and Virginia. 7 tiểu bang này đại diện cho tổng cộng chỉ có 85 đại cử tri đoàn trên tổng số 538 đại cử tri đoàn. Trong cuộc bầu phiếu 20-11-2012, ai thắng được 270 cử tri đoàn là thắng cử.

43 tiểu bang kia thì mọi người đã rõ trắng đen rồi. Tiểu bang nào ủng hộ cho đảng Cộng hòa, hoặc ủng hộ cho đảng Dân Chủ thì mọi người quá biết rõ từ bao nhiêu năm qua.

Thí dụ trong tiểu bang Texas (TX), dựa vào dân số thì có 38 đại cử tri đoàn (electoral vote). Theo truyền thống các cuộc bầu cử các năm qua, (các con số % chỉ là minh họa )số người bỏ phiếu cho đảng Cộng Hòa là 60%, và bỏ phiếu cho đảng Dân Chủ chỉ có 40%, vậy tiểu bang này đảng Cộng Hòa luôn là đảng chiến thắng, và ứng cử viên Romney sẽ hốt trọn 38 phiếu đại cử tri đoàn.

Thí dụ ở tiểu bang New York (NY), màu xanh đảng DC, nằm ở góc cao tay trái, hướng Đông Bắc của bản đồ. Dựa vào dân số, NY có 29 đại cử tri đoàn (electoral vote). Theo truyền thống các cuộc bầu cử các năm qua, số người dân ở NY bỏ phiếu cho đảng Dân Chủ là 55%, và bỏ phiếu cho đảng Cộng Hòa chỉ có 45%. Vậy tiểu bang NY, đảng Dân Chủ luôn là đảng chiến thắng, và ứng cử viên TT Obama sẽ hốt trọn 29 phiếu đại cử tri đoàn của tiểu bang NY.

Nếu cuộc bầu cử được tổ chức hôm nay, TT Obama sẽ có phiếu bầu nghiên về phần đảng Dân Chủ của 19 tiểu bang và thủ đô Washington DC với tổng cộng 247 đại cử tri đoàn.

Romney sẽ có 24 tiểu bang tổng cộng 206 đại cử tri đoàn.

Bởi vậy, từ hôm nay đến tháng 11, cuộc vận động bầu cử ở 43 tiểu bang lớn tương đối là yên tỉnh, không ồn ào, và hào hứng. Số tiền vận động tranh cử từ đây đến tháng 11 sẽ tập trung vào 7 tiểu bang còn lại.

Ở 7 tiểu bang còn lại, số người ủng hộ đảng Dân Chủ và đảng Cộng Hòa có số lượng gần bằng nhau, bên 49% và bên kia 51%.  Ít ai biết trước dân chúng trong 7 tiểu bang này sẽ ủng hộ cho đảng nào. Đó chính là cái hào hứng của cuộc bầu cử TT Mỹ.

Quỹ tranh cử của Romney hiện có 177 triệu đô la, so với  của TT Obama là 127 triệu đô la. Số tiền tranh cử của Obama chỉ bằng 2/3 lần số tiền của Romney.

http://electoral-vote.com/    Màu đỏ tượng trưng cho đảng Cộng Hòa, và màu xanh là đảng Dân Chủ

Obama-Romney race is focused on 7 states

By THOMAS BEAUMONT | Associated Press

TAMPA, Fla. (AP) — On the eve of their national party conventions,Barack Obama and Mitt Romney are locked in a close race to amass the requisite 270 Electoral College votes for victory. And the contest is exactly where it was at the start of the long, volatile summer: focused on seven states that are up for grabs.

Neither candidate has a significant advantage in Colorado, Florida, Iowa, Ohio, Nevada, New Hampshire and Virginia, which offer a combined 85 electoral votes, according to an Associated Press analysis of public and private polls, spending on television advertising and numerous interviews with Republican and Democratic strategists in battleground states.

The analysis, which also took into account the strength of a candidate’s on-the-ground organization and travel schedules, found that if the election were held today, Obama would have 19 states and the District of Columbia, offering 247 votes, solidly in his column or leaning his way, while Republican Romney would have 24 states with 206 votes.

Obama won all seven of the too-close-to-call states in 2008, and they are where the race will primarily be contested in the homestretch to the Nov. 6 election.

Ten weeks before Election Day, the AP analysis isn’t meant to be predictive but rather is intended to provide a snapshot of a race that’s been stubbornly close all year.

Among the unknowns that could shake up the electoral landscape before November: the latest unemployment figures that come out early next month, an unexpected foreign policy crisis in Syria orIran and the outcome of the candidates’ October debates.

Both sides are working to persuade the 23 percent of registered voters who said in an Associated Press-GfK poll that they are either undecided about the presidential race or iffy in their support for a candidate.

To woo them, the campaigns and political parties, along with allied groups with access to unlimited financial contributions, have already spent an astounding $540 million on television advertising, according to ad spending reports provided to the AP. And there’s more to come.

Over the past three months, the campaign took a sharply negative turn, at times becoming nasty and personal.

Obama sought to define Romney early as a ruthless corporate raider for his time at the head of a private equity firm in Boston, and as an out-of-touch rich man keeping secrets about his wealth.Romney, in turn, worked to cast Obama as a failed president on a host of fronts, primarily the economy.

Both candidates have hit road bumps: Obama saw the unemployment rate rise to 8.3 percent and gave Republicans an opening to argue that he was unfriendly to small business. Romney had a widely panned foreign trip and made a series of potentially problematic comments, most recently joking about the debunked conspiracy theory regarding Obama’s citizenship.

The national party conventions, starting with Republicans here, who convene Monday and start with a full schedule on Tuesday, and ending with Democrats the following week in Charlotte, N.C., will set the parameters of the fall campaign, and could provide each side with at least a temporary surge of support in national, if not battleground state, polls.

While Obama has a clear advantage given his incumbency, Romney does have a path to victory — though it’s a steep climb.

He must win most of the seven most competitive states — Colorado, Florida, Iowa, Ohio, Nevada, New Hampshire and Virginia — in order to reach the magic number. For instance, he can lose Ohio’s 18 electoral votes and still become president if he wins the other six and hangs onto those already in his grasp. It’s difficult to see a scenario where Romney wins without a victory in Florida, which offers 29 electoral votes.

Neither side expects a dramatically different playing field this fall.

“You know the states that are in play,” said Obama’s campaign manager Jim Messina. “I don’t think there’s going to be a surprise.”

Romney’s political director Rich Beeson makes the same point: “I don’t think you’re going to see the map go crazy.”

Still, once their conventions are over, both campaigns will commission polls in the hardest-fought states to determine whether to shift their strategies. The candidates and their allied outside groups will pull money and manpower from states that are moving out of reach while relocating it to others they may now think they have a shot at winning.

“We’re in a holding pattern,” said Charlie Black, a veteran Republican campaign strategist and informal adviser to Romney.

Perhaps not for long.

With a huge cash advantage, Romney is considering trying to put more states in play — and creating more state-by-state paths to reach 270. He’s closely watching to see whether it’s worth it to compete aggressively in Wisconsin, now that native son Rep. Paul Ryan is on the ticket.

The Republican National Committee and GOP allies have been advertising in the state in hopes of making it competitive; at least one poll shows they’ve had some success and the race appears close. Obama, who has a formidable campaign on the ground that includes the state’s active labor and minority blocs, hasn’t advertised there but might be forced to do so.

Romney also is eyeing a deeper investment in Michigan, where he campaigned Friday, and Pennsylvania, where Ryan was last week. Obama carried both states in 2008, but the GOP sees promise in the economically struggling northern industrial states, especially among working-class, white voters.

The Republican may have the money to expand the map.

August financial reports show that Romney’s overall fundraising apparatus — his campaign, the RNC and a separate joint-fundraising committee — had roughly $177 million in the bank at the end of July. The reports are the most recent public data.

And to a greater degree than Obama, Romney also has amassed an untapped stockpile of general election money that he plans to use this fall. He can begin spending it immediately upon accepting the nomination for president at the convention’s close Thursday night.

Obama and his comparable committees, in turn, had only about $127 million on hand, according to the most recent report.

He also must wait until he accepts his party’s nomination on Sept. 6, the close of the Democratic convention, to start spending his general election money.

Unlike Romney, Obama isn’t focused on expanding the map in earnest.

He’s mostly looking to hang onto as many of the states he won four years ago, with Ohio being of particular focus. In recent months, Obama’s standing there has strengthened, the unemployment rate has dropped and last week General Motors announced a $200 million expansion of a northeast Ohio plant to continue building the Chevrolet Cruze there.

Beyond playing defense, Obama’s team is watching to see whether the political terrain becomes more favorable to him in Missouri in the aftermath of controversial abortion and rape comments by Rep. Todd Akin, a GOP Senate candidate.

The backlash has been fierce, and polls show Democratic Sen. Claire McCaskill — arguably the most vulnerable Senate Democrat — having gained ground. Obama competed for Missouri four years ago but lost and hasn’t run ads there this year. Romney has had a comfortable advantage there.

If they have the money to do it, both sides will engage in head-faking: spending money in places simply to force the other side to defend their home turf. For example, if Romney goes after Pennsylvania, which has voted Democratic in all recent presidential elections, Obama would likely have to spend money to defend it, limiting the amount of cash he’ll have available to spend in more competitive states, like Florida or Virginia.

Posted in Chinh Tri Hoa Ky | Leave a Comment »

►Nhạc cuối tuần

Posted by hoangtran204 trên 25/08/2012

Mời các bạn nghe  ban nhạc Boney-M với nhạc phẩm   Bahama Mama

Posted in Giải Trí | Leave a Comment »

►Ai, những ai đang cõng rắn cắn gà nhà?

Posted by hoangtran204 trên 25/08/2012

Trên đây là tựa đề bài viết của nhà thơ Trần Mạnh Hảo hỏi chủ tịch nước Trương Tấn Sang hãy nói đích danh ai đang cõng rắn cắn gà nhà nhân dịp ông Sang viết bài “Phải biết hổ thẹn với tiền nhân”.

Nước Việt Nam  đã độc lập và thống nhất vào ngày 17-4-1945. Chính phủ đầu tiên của nước VN độc lập và thống nhất do Thủ tướng Trần Trọng Kim lãnh đạo ra mắt quốc dân ngày 19-4-1945. Nhưng ông Hồ Chí Minh và đảng Cộng Sản ĐD của ông đã quá ghen tức về sự kiện này, nên  đã dùng thủ đoạn chính trị phá nát chính phủ ấy và khởi đầu cho công cuộc mời  Pháp trở lại VN (Hiệp định Sơ Bộ 6-3-1946), và  HCM đích thân qua TQ và Liên Xô (năm 1950) và mời Trung Cộng vào Việt Nam để đánh Pháp.  

Hành động cõng rắn cắn gà nhà xảy ra rõ nét nhất khi  ông HCM qua Trung Quốc và Liên Xô năm 1950 xin viện trợ vũ khí, lương thực, và mời quân TQ đến giúp đỡ. 

Trung Quốc Trung quốc đem quân vào VN 1951 và   giúp đảng Cộng Sản VN đánh Điện Biên Phủ  1954, và giúp chiếm 1/2 nước VN qua Hiệp Đinh Geneve 20-7-1954 mở màn cho sự chia đôi đất nước.

Đến 1990, Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười, Lê Khả Phiêu, Phạm Văn Đồng tái quan hệ hữu hảo với Trung Quốc để có thế chống lưng mà tiếp tục nắm quyền lãnh đạo VN.

 Đến nay,  năm 2012, lần đầu tiên chủ tịch nước Trương Tấn Sang đã công khai nói thẳng: hiện nay trong nội bộ đảng CSVN đang có người cõng rắn cắn gà nhà.

Trương Tấn Sang nói thẳng:

“Xuất hiện những người có tư tưởng xa lạ, chỉ luôn luôn rình rập mọi sơ hở để chống đối, để “chọc gậy bánh xe”, thậm chí để “cõng rắn cắn gà nhà”…”

“Lần đầu tiên trong lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, có một vị lãnh đạo cao cấp của đảng là chủ tịch nước Trương Tấn Sang đã dám công khai thừa nhận trong ban lãnh đạo cao cấp gồm 14 vị bộ chính trị của ông có người (hay những người ?) làm cái việc ô nhục đáng để muôn đời cháu con nguyền rủa là “CÕNG RẮN CẮN GÀ NHÀ” (phạm tội BÁN NƯỚC)…?  (Trần Mạnh Hảo)

Mời các bạn đọc loạt bài dưới đây tóm tắt các sự kiện lịch sử từ 1945-2012.

1945 ►Không có cái gọi là “Cách Mạng Mùa Thu 1945″, mà chỉ có Một Mùa Thu Đểu

1950 ►Rước voi giày mã tổ và cõng rắn cắn gà nhà

1990 ►đảng Cộng Sản Việt Nam đã đưa cả nước “chui vào cái thòng lọng” của Trung Cộng vì muốn tiếp tục nắm quyền lãnh đạo VN

Ai, những ai đang cõng rắn cắn gà nhà?

Bài viết “Phải biết hổ thẹn với tiền nhân của chủ tịch nước Trương Tấn Sang được in trên hàng trăm tờ báo lề phải và lề trái đã bị dân mạng trong nước chê bai, thậm chí coi thường, rẻ rúng. Chỉ xin trích lời hai nhà báo hàng đầu trong nước là nhà báo Trương Duy Nhất và nhà báo Nguyễn Thông.

Nhà báo Nguyễn Thông trên blog của mình, trong bài “Đúng thực lỗi của thư ký”, viết như sau:

“Nói chung không có gì mới. Phần tình cảm nhiều hơn phần lý trí, suy nghĩ.

Chỉ có điều, cái phần mở đầu làm mình khó chịu, câu chữ loáng thoáng chập chờn giọng văn kiểu trong bài tập đọc “Tôi đi học” của nhà thơ Thanh Tịnh hồi nảo hồi nào .Mở đầu một bài viết quan trọng tầm quốc gia, cho hàng chục triệu người đọc mà lại lả lướt, trữ tình ngoại đề như thế thì quả không nên. Rất khó nghe. Không ai cấm chủ tịch nước được quyền bày tỏ nỗi lòng, tâm tư của mình nhưng phải trong hoàn cảnh, văn cảnh thích hợp, trong những dịp khác cơ. Ví dụ bên bàn nhậu, bác cứ nói thoải mái, thậm chí càng trữ tình càng tốt. Còn ở chỗ này, dịp này, phải lập nghiêm, bác ạ.

Ấy, em là em cứ khó tính, xét nét như thế, không phải để chê bác chủ tịch, mà em chỉ muốn mắng mấy chú giúp việc cho bác mà thôi. Đã ăn lộc nhà chúa, xơi oản của chùa thì phải hết công hết sức, tỏ hết tài trí để phụng sự chúa, cúng chùa. Chỉ cốt làm cho xong thì nên về với mẹ đĩ rửa bát quét nhà còn có ích hơn.” (hết trích)

Nhà báo Trương Duy Nhất trong bài: ”Khi chủ tịch tập làm văn” trên website của mình, chê bài viết của ông Trương Tấn Sang ( thực ra là do thư ký cao hứng trữ tình ngoài lề viết hộ theo kiểu: bài văn của tôi đồng chí viết chưa?) là lối văn học trò, lạc đề như sau:

“Cứ ngỡ đó là một bài… tập làm văn. Một bài viết quá ư lòng thòng của Chủ tịch nước Trương Tấn Sang. Một bản thông điệp nguyên thủ chung chung, khẩu hiệu, sáo rỗng đến nhàm chán… Ý tứ chắp ghép lòng vòng, chung chung, khẩu hiệu và sáo mòn, lại lòng thòng đọc đến hụt hơi và phát ngán.Chủ tịch Sang đã cố làm mới, nhưng điểm mới duy nhất thấy được ở bản thông điệp của ông vẫn chỉ dừng lại ở những câu đoạn… tập làm văn! Một bản thông điệp tập làm văn làm ông mất điểm nhiều sau những ấn tượng tốt đẹp từ “một bầy sâu” đến “ăn hết phần của dân”…( hết trích)

Riêng chúng tôi, người viết bài này (TMH) cho rằng trong bài tập làm văn kiểu trữ tình học trò dây cà ra dây muống của ông Trương Tấn Sang, thấy một câu văn ( vẻ) này cần chú ý:

“Xuất hiện những người có tư tưởng xa lạ, chỉ luôn luôn rình rập mọi sơ hở để chống đối, để “chọc gậy bánh xe”, thậm chí để “cõng rắn cắn gà nhà”…”

Lần đầu tiên trong lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, có một vị lãnh đạo cao cấp của đảng là chủ tịch nước Trương Tấn Sang đã dám công khai thừa nhận trong ban lãnh đạo cao cấp gồm 14 vị bộ chính trị của ông có người (hay những người ?) làm cái việc ô nhục đáng để muôn đời cháu con nguyền rủa là “CÕNG RẮN CẮN GÀ NHÀ” (phạm tội BÁN NƯỚC)…?

Xin tra “ Đại từ điển tiếng Việt” (nhà xuất bản Văn hóa Thông tin- 1999), trang 445 định nghĩa: “Cõng rắn cắn gà nhà : hành động phản bội nhân dân,hèn hạ đưa rước bọn giặc về giết hại đồng bào, đồng loại”

Muốn cõng rắn cắn gà nhà, tức là muốn bán nước, phải là vua chúa, là người cầm quyền cao nhất nhì của quốc gia mới có khả năng làm việc đốn mạt này.

Thời phong kiến NƯỚC LÀ CỦA VUA nên chỉ có vua như Lê Chiêu Thống mới bán nước cho nhà Thanh; như kẻ em vua, muốn lật anh là Trần Nhân tông để mình làm vua nên Trần ích Tắc mới theo giặc Nguyên để chúng phong cho là An Nam quốc vương…mới là những kẻ bán nước bị lịch sử dân tộc muôn đời nguyền rủa.

Ngày nay, NƯỚC LÀ CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN, nên chỉ có những lãnh tụ tối cao của đảng mới có khả năng bán nước, ví như bức điện thư của ông Phạm Văn Đồng năm 1958 bán Hoàng sa cho giặc Tàu đổi lấy viện trợ. Trong ngôn ngữ ứng xử hàng ngày của người cầm quyền ở Việt Nam hiện nay trên các phương tiện tuyền thông bao giờ cũng xưng danh: “đảng và nhà nước, đảng và nhân dân, đảng và chính phủ…”Khẩu hiệu của đảng cộng sản luôn đặt ĐẢNG trên DÂN: “ Trung với Đảng, hiếu với DÂN”. Quốc hội cũng của đảng chứ nào phải của dân. Dân : ngót 90 triệu, đảng chỉ có ba triệu mà quốc hội 95% là đảng viên thì sao gọi là quốc hội của dân được ?

Cho nên.người dân Việt hiện nay đa số nghèo đói, cơm còn chả có ăn chứ có nước đâu mà bán? Chỉ có kẻ đang lãnh đạo đất nước này mới có nước để bán mà thôi…

Vậy họ bán nước cho ai? Cho Mỹ chăng? Không, Mỹ chưa từng chiếm của Việt Nam một mét vuông biển, một mét vuông đất nào, càng không hề có chút tham vọng nào về lãnh địa, lãnh hải Việt Nam. Vả, Mỹ đang có công lớn với Việt Nam là vì nhờ sự có mặt của họ ở vùng biển Đông Nam Á nên giặc Tàu chưa dám động binh đánh vào đất liền Việt Nam; chúng chỉ đánh và chiếm Hoàng sa, Trường Sa ngoài biển…

Đúng như lời cựu Tồng Bí thư Lê Duẩn đã nói trên rất nhiều báo chí suốt thời ông làm lãnh tụ : kẻ thù trực tiếp và kẻ thù truyền kiếp nguy hiểm nhất, tàn ác nhất của dân tộc ta là bọn bành trướng Bắc Kinh, tức giặc Tàu. Giặc Tàu dán mác cộng sản, bịt mắt ban lãnh đạo đảng cộng sản Việt Nam bằng phương trâm 4 tốt và 16 chữ vàng để cướp dần đất đai và biển đảo quê hương ta như chúng đã đang và sẽ cướp nước ta . Vậy, họ, một số người trong 14 ông to nhất cầm quyền ở Việt Nam đang cõng rắn cắn gà nhà, tức bán nước cho giặc Tàu kia họ là ai, là những ai thưa chủ tịch nước Trương tấn Sang ?

Xin chủ tịch nước Trương Tấn Sang đã thương thì thương cho trót, xin làm ơn làm phúc cho dân tộc Việt nam chúng tôi đang có cơ bị diệt vong bởi ngoại bang phương bắc, là xin ông hãy chỉ ra đích danh những kẻ bán nước cõng rắn cắn gà nhà hèn hạ vô lương tâm ấy ( chúng là giặc rồi sao chúng vẫn ngồi ghế lãnh đạo quốc gia ?) để nhân dân chúng tôi hôm nay và mai sau muôn đời nguyền rủa chúng. Xin cám ơn trước chủ tịch nước Trương Tấn Sang .,.

Sài Gòn ngày 24-8-2012

© Trần Mạnh Hảo

danchimviet.info

Các bài liên quan 

*Tư liệu lịch sử

Ai, những ai đang cõng rắn cắn gà nhà?

►Lập trường của Đảng CSVN về Hoàng Sa khi Trung Cộng xâm chiếm vào ngày 19-1-1974

Posted in Đảng CSVN | 1 Comment »

►Ngân Hàng ACB bấn loạn –

Posted by hoangtran204 trên 23/08/2012

Sau khi bầu Kiên bị bắt, mọi người bán cổ phiếu, thị trường chứng khoán VN mất 5% giá trị, 5000 người đi rút tiền khỏi ngân hàng ACB, ngay lập tức tình hình tài chánh, chính phủ, ngân hàng, và báo chí rối loạn…

Sau vụ bắt giữ Bầu Kiên 20-8-2012, tình hình bấn loạn.

Thị trường chứng khoán VN sụt giảm 5%, hay mất trắng 1,5-1,8 tỷ đô la chỉ trong 2 ngày 21 và 22 tháng 8; giá trị của thị trường chứng khoán Việt Nam là 30-36 tỷ đô la.

Vì sợ mất tiền, 5000 chủ tài khoản rút tiền khỏi ngân hàng ACB trong hai ngày qua. Nhà nước bơm vào 18000 tỷ đồng để cứu ACB.  

Tin RFA-23-08-20128000 tỷ đồng đã bị khách hàng rút ra khỏi ngân hàng ACB

Theo hãng tin AP phát đi ngày hôm nay cho biết có ít nhất 8.000 tỷ đồng đã được khách hàng của ngân hàng ACB rút ra sau ba ngày bầu Kiên bị bắt.

Báo chí loan tin loan tin liên quan  tổng giám đốc ACB  bị bắt  trên mạng một vài giờ sau thi` rút xuống. 

Trong khi báo PLTP  đăng tin Khởi tố tổng giám đốc ACB, thì trang tiếng nói Việt Nam VOV đưa tin ACB phủ nhận tin Tổng Giám đốc Lý Xuân Hải bị bắt.

Nhưng

HĐQT ACB đã ủy quyền cho ông Đỗ Minh Toàn – Phó tổng giám đốc ACB – tạm thời điều hành ACB khi Tổng giám đốc Lý Xuân Hải vắng mặt.

Nay có tin:

Khám xét nhà ông Lý Xuân Hải

(NLĐO)- Lúc 19 giờ 10 phút tối 23-8, lực lượng công an đã dẫn ông Lý Xuân Hải, nguyên Tổng Giám đốc ngân hàng TMCP Á Châu (ACB) về nhà và thực hiện lệnh khám xét nhà riêng của ông Hải tại số 7/43/15A Thành Thái, P.14, quận 10, TPHCM.

Ngay sau khi đưa ông Hải vào nhà các cửa đã được khép kín lại. Nhiều người dân cũng tụ tập để xem khám xét nhưng không thể vì cửa 2 bên đã bị đóng lại.

Trước khi lực lượng công an khám xét nhà ông Hải, chiều tối cùng ngày, ACB đã tổ chức buổi họp công bố đơn từ nhiệm chức Tổng Giám đốc của ông Hải, đồng thời bổ nhiệm ông Đỗ Minh Toàn vào ghế tân Tổng Giám đốc.

Ông Hải sinh năm 1965 tại Hà Nội, nguyên quán Bình Định. Từng tốt nghiệp cử nhân ngành Ngữ văn Trường ĐH KHXH&NV TPHCM; cử nhân kinh tế Trường ĐH Kinh tế TPHCM; thạc sĩ kinh tế ĐH Paris Dauphine (Pháp); Tiến sỹ Toán – Lý ĐH Tổng hợp Quốc gia Belarus (Belarus).

Trước khi lên giữ chức Tổng Giám đốc ACB, ông Hải đã từng làm nhiều công việc liên quan tại ACB và các công ty thành viên. Gia nhập ngôi nhà ACB từ năm 1996, đến năm 2005, ông Hải được bổ nhiệm làm tổng giám đốc ACB cho đến ngày 22-8-2012. Từ tháng 3-2008 ông Hải là thành viên HĐQT của ACB.

Tin-ảnh: P.Dũng

http://nld.com.vn/20120823074646868p0c1019/kham-xet-nha-ong-ly-xuan-hai.htm

ACB  cứ chối, phủ nhận tin Tổng Giám đốc Lý Xuân Hải bị bắt Đài Tiếng Nói Việt Nam

Nhưng sau cùng đành nói trớ qua hướng khác:

ACB chính thức miễn nhiệm Tổng giám đốc Lý Xuân Hải

(TNO) Chiều nay (23.8), trong cuộc họp báo nhanh tại TP.HCM, Ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu (ACB) chính thức cho biết Hội đồng quản trị (HĐQT) ACB đã chấp nhận đơn xin từ nhiệm của Tổng giám đốc Lý Xuân Hải.

Theo thông tin từ ông Nguyễn Thanh Toại, Phó tổng giám đốc, người phát ngôn của ACB, ông Hải xin từ nhiệm vì lý do cá nhân. Ngoài chức danh tổng giám đốc, ông Hải cũng bị miễn nhiệm chức thành viên HĐQT.

HĐQT Ngân hàng ACB chấp thuận việc bổ nhiệm ông Đỗ Minh Toàn làm Tổng giám đốc thay cho ông Lý Xuân Hải.

Thay mặt ACB, tân Tổng giám đốc ACB Nguyễn Minh Toàn cho biết mặc dù gặp “sóng gió” trong những ngày vừa qua nhưng hiện tại ACB vẫn đảm bảo tốt thanh khoản và sẵn sàng chi trả tiền gửi cho bất cứ khách hàng nào muốn rút.

Ông Toàn cho biết thêm, hiện tượng rút tiền của khách hàng bắt đầu cao điểm vào chiều 21.8, ngày 22.8 lượng rút cao hơn so với ngày 21.8. Tuy nhiên, đến hôm nay 23.8, số lượng khách hàng rút tiền đã bắt đầu giảm. Bức tranh “thanh khoản” tại ACB đã dần vào ổn định.

Hiện số tài sản của ACB có trong các hệ thống ngân hàng là 10.000 tỉ đồng, có 3.000 tỉ đồng tiền mặt, Ngân hàng Nhà nước hỗ trợ 2.000 tỉ đồng. Với 15.000 tỉ đồng, ông Toàn đảm bảo sẽ thanh khoản cho tất cả các khách hàng. Ngoài ra, ACB còn có xấp xỉ 120 triệu USD nên hoàn toàn sẵn sàng trong việc chi trả tiền cho khách hàng.

Thành Trung

http://vn.news.yahoo.com/acb-ch%C3%ADnh-th%E1%BB%A9c-mi%E1%BB%85n-nhi%E1%BB%87m-t%E1%BB%95ng-gi%C3%A1m-%C4%91%E1%BB%91c-l%C3%BD-xu%C3%A2n-h%E1%BA%A3i.html

                                                                    —————————————————————-

Bai lien quan

1. Tranh dành quyền lực – Ganh nhau vì người này ăn ít, kẻ kia ăn nhiều – Mượn luật pháp triệt hạ nhau

2.  Ông Trương Đình Anh nghỉ phép vì… dỗi?

...thị trường xuất hiện tin đồn rằng ông Trương Đình Anh đã bị tạm dừng nắm giữ cương vị cao nhất tại FPT…

… mới đây, theo nguồn tin riêng của báo điện tử Giáo dục Việt Nam cho biết, ông Trương Đình Anh có thể nghỉ phép vì “dỗi”

…Ông Trương Đình Anh hiện đang nghỉ ngơi ở nước ngoài sau nhiều tháng ngày làm việc vất vả.

…FPT đưa ra thông báo TGĐ FPT Trương Đình Anh xin nghỉ phép từ ngày 1/8/2012 – 30/9/2012 để giải quyết công việc gia đình cũng như các vấn đề sức khỏe cá nhân

***tin tren mang

-Từ khi phong trào phê và tự phê của các BCT và lãnh đạo của đảng vào tháng 7, 8, vì sợ liên lụy nên rất nhiều lãnh đạo của các tập đoàn xin nghĩ phép ra ngoại quốc vào 2 tháng qua.

Trần Xuân Giá ( Chủ tịch Hội đồng quản trị ACB) đi “công tác” ở Mỹ 2 tháng 7 và 8;

Trương Đình Anh (FPT) nghĩ phép ở Mỹ từ đầu tháng 8 đến cuối tháng 9;

Posted in Nhan Vat Chinh tri, Tài Chánh-Thuế | Leave a Comment »

►Tranh dành quyền lực – Ganh nhau vì người này ăn ít, kẻ kia ăn nhiều – Mượn luật pháp triệt hạ nhau

Posted by hoangtran204 trên 22/08/2012

Ghi Nhận:

-Thị trường chứng khoáng Việt Nam sụt giảm 5% sau vụ bắt bầu kiên. Sự sụt giảm này tương đương 1,2 tỷ – 1,5 tỷ đô la; toàn bộ sàn chứng khoán Việt Nam trị giá 30 tỷ đô la (1)

-(VietQ.vn) – “Ông Nguyễn Đức Kiên bị khởi tố, bắt tạm giam về tội kinh doanh trái phép theo Điều 159 Bộ luật hình sự. Liên quan đến điều luật này, mức chế tài cao nhất được quy định ở khoản 2 là 2 năm tù giam; được coi là loại tội phạm ít nghiêm trọng quy định tại Điều 8 Bộ Luật hình sự. sự”, chuyên gia Pháp lý khẳng định.

Biểu hiện bên ngoài của vụ bắt Nguyễn Đức Kiên là vi phạm tài chánh, nhưng bản chất của vụ này là do hai phe đấu nhau, tranh giành quyền lực với nhau và dùng pháp luật để triệt hạ các con cờ của nhau. 

Bắt bầu Kiên!

H.V.

Theo Diễn Đàn

Dưới cái tít gọn, mạnh như một ngọn roi quất, báo Tuổi Trẻ là tờ báo chính thống đưa tin sớm nhất (9H15 sáng 21.8, theo ghi nhận của trang Ba Sàm) về một vụ bắt người thoạt trông chỉ có tính cách kinh tế, nhưng đã làm chấn động làng báo trong nước, cả chính thống và “ngoài luồng” – một số blog đã đưa tin này từ chiều hôm trước -, lan tới cả một số cơ quan ngôn luận nước ngoài quan tâm đến Việt Nam. Lý do của cơn sốt truyền thông này dĩ nhiên nằm ở vị thế, tính cách của nhân vật chính, ông Nguyễn Đức Kiên còn gọi là Bầu Kiên vì vai trò của ông đối với bóng đá Việt Nam: sáng lập viên kiêm phó chủ tịch hội đồng quản trị Công ty Cổ phần bóng đá chuyên nghiệp Việt Nam (VPF), chủ tịch Câu lạc bộ bóng đá Hà Nội ACB…

Nhưng, dù bóng đá có là môn “thể thao vua” ở Việt Nam chăng nữa thì việc một ông bầu bị bắt chẳng thể tạo ra một cơn chấn động truyền thông tới mức vụ việc đã “làm nóng phiên chất vấn Thống đốc” Ngân hàng Nhà nước ở buổi họp của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội trong cùng ngày, buộc Thống đốc Nguyễn Văn Bình phải “giải trình vụ bầu Kiên bị bắt“, như báo các báo VietnamNet và VnExpress giật tít. Nhất là, theo Cơ quan Cảnh sát Điều tra thì lý do bắt chỉ liên quan tới việc ông Kiên thành lập ba công ty con (của Ngân hàng cổ phần ACB mà ông này nguyên là Phó chủ tịch Hội đồng sáng lập) và 3 công ty này đã “kinh doanh trái phép”. Nếu chỉ có thế thì khó lòng lý giải tại sao thị trường chứng khoán “rúng động” hay “đang rơi tự do” khi được tin ông Kiên bị bắt – như các báo của Đất Việt và PetroTimes đưa tin.

Hiển nhiên, vị thế và ảnh hưởng của vị đại gia “rất kín tiếng” này vượt xa Ngân hàng ACB, ngân hàng mà ông nắm giữ một lượng cổ phiếu được coi là có trị giá là 759,6 tỷ đồng trong năm 2011, đứng thứ 14 trong top 100 nhà đầu tư giàu nhất trên sàn chứng khoán. Bài báo Bầu Kiên nắm giữ bao nhiêu cổ phần ở các ngân hàng Việt Nam? trên tờ Đất Việt cho biết: “Ông Nguyễn Đức Kiên (bầu Kiên) không chỉ nắm giữ cổ phiếu của ngân hàng ACB, mà theo tin không chính thức, còn có cổ phần ở Eximbank, Kiên Long, Vietbank, Đại Á… Nói về bầu Kiên… chỉ có thể khẳng định rằng, ông rất giàu và tầm “phủ sóng” trên nhiều lĩnh vực, từ ngân hàng, du lịch, may mặc… tới bóng đá.

Nhưng bài này, cũng như bài “Bầu Kiên: Giàu từ ngân hàng, nổi danh nhờ bóng đá” của tờ Nhịp cầu đầu tư, đăng lại trên VietnamNet, cũng như các bài trên Tuổi Trẻ, Thanh Niên v.v., các báo chính thống, không nói gì tới các mối quan hệ giúp cho vị đại gia đầu bạc, mới 48 tuổi này có được những thành quả nói trên.

Các blog “lề trái” như Phạm Viết Đào, Mai Xuân Dũng, Xuân Việt Nam, hay một blog có nguồn khá bí ẩn “Quan làm báo”, đưa nhiều thông tin khó kiểm chứng về các mối quan hệ đó, mà chủ yếu là thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng.

Tuy nhiên, bản tin của BBC về việc ông Kiên bị bắt đưa ra hai sự kiện có thực:

Việc ông mời đích danh Thượng tướng công an Nguyễn Văn Hưởng, cố vấn an ninh và tôn giáo cho Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, làm cố vấn cho VPF hồi cuối năm ngoái đã gây nhiều đồn đoán.

Đầu năm nay, báo Thể thao 24h đưa tin ông Nguyễn Đức Kiên cùng một số lãnh đạo VPF ăn tối với Thủ tướng suốt ba tiếng đồng hồ và sau đó ‘lật ngược tình thế’ trong cuộc chiến bản quyền Giải Bóng đá quốc gia với Liên đoàn Bóng đá VN (VFF) cùng Tập đoàn truyền thông An Viên (AVG). Bản tin của báo này nhanh chóng bị can thiệp phải gỡ bỏ. Báo Thể thao 24h sau đó phải cải chính và xin chịu kỷ luật sau khi đăng thông tin ‘bịa đặt’ về bữa ăn tối nói trên.

Về sự kiện thứ hai, Bản tin thứ ba 21.8 của Anh Ba Sàm đã nhắc lại một bài viết của mình ngày 13.1.2012, mang nhan đề Chuyện các “đại gia” bóng đá mời cơm Thủ tướng là bịa đặt ?, dẫn một bài của báo Thể thao&Văn hoá cùng ngày trong đó có in bản scan chụp công văn của VPF gửi ngày hôm trước tới các đài truyền hình VTV, VTC, các đài địa phương cũng như các ban tổ chức các giải bóng đá chuyên nghiệp hay các địa phương, mà câu đầu là: “Thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng trong buổi làm việc với lãnh đạo HĐQT Công ty VPF ngày 11/1/2012…”!

Một người am hiểu tình hình trong nước, khi được hỏi về ý nghĩa của việc bắt giữ một nhân vật quyền thế như vậy trong tình hình đấu tranh nội bộ hiện nay (thể hiện qua đợt “phê và tự phê” trong bộ chính trị cuối tháng 7 vừa rồi), đã nhắc chúng tôi tiền lệ Vinashin cho thấy vẫn có khả năng chính thủ tướng là người đứng sau vụ bắt này, “nhằm kiểm soát tình hình“.

Nhưng bên cạnh đó, người ta cũng có thể ghi nhận, một thông tin trên blog Cầu Nhật Tân “Việc bắt giam và điều tra Kiên “bạc” được giao cho Tổng cục Cảnh sát của tướng Vĩnh “chột” chứ không do An ninh điều tra làm. Như vậy, có lẽ sẽ tránh được ảnh hưởng của bên an ninh mà tướng Hưởng còn nhiều quyền uy. Rút kinh nghiệm từ vụ Dương Chí Dũng, kế hoạch đánh án Kiên “bạc” được Ban chuyên án chuẩn bị và tiến hành hết sức bí mật. Ngay cả bên Viện Kiểm sát tối cao cũng chỉ có 2 người được biết trước ngay sát giờ bắt ông Kiên. Đích thân Bộ trưởng Công an chỉ đạo việc bắt và khám xét nơi ở của ông Kiên tại ngõ 27, Xuân Diệu, Tây Hồ, HN. Các Thứ trưởng Bộ Công an, đặc biệt là Thứ trưởng Phạm Quý Ngọ phụ trách cảnh sát đều không được biết trước.“, chứng tỏ điều ngược lại (tất nhiên là nếu tin này chính xác!), và người “cầm trịch” rất có thể là một nhân vật quyền thế khác ở Bộ Chính trị, tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng hay chủ tịch nước Trương Tấn Sang. Điều này cũng phù hợp với việc ông Dũng đã không còn kiểm soát được Ban chỉ đạo trung ương về phòng, chống tham nhũng – từ tháng 5.2012, hội nghị trung ương lần thứ 5 đã quyết định Ban này trực thuộc Bộ chính trị thay vì thuộc Chính phủ như trước kia. Tuy nhiên, đó cũng chỉ là những giả thuyết. Có điều, chắc chẳng ai tin là một nhân vật quyền thế như bầu Kiên có thể bị bắt chỉ vì có 3 công ty “kinh doanh trái phép”.

H.V.

Posted in Nhan Vat Chinh tri, Tài Chánh-Thuế | 1 Comment »

►Hoa Kỳ cần có thái độ cứng rắn đối với TQ tại biển Đông

Posted by hoangtran204 trên 22/08/2012

James Webb: Hoa Kỳ cần có thái độ cứng rắn đối với TQ tại biển Đông

Thượng nghị sĩ James Webb, cựu bộ trưởng Hải quân kêu gọi: Hoa Kỳ cần có thái độ cứng rắn đối với Trung quốc tại Biển Đông


Giới thiệu: Trong một bài báo nhan đề: “The South China Sea’s Gathering Storm” đăng trên tờ Wall Street Journal số ngày 20/8/2012, Thượng nghị sĩ James Webb (Dân Chủ, Virginia) kêu gọi Hoa Kỳ cần có thái độ cứng rắn với Trung quốc tại Biển Đông trước khi quá muộn (1)

Thượng nghị sĩ James Henry “Jim” Webb sinh năm 1946, xuất thân sĩ quan Thủy quân Lục chiến, tốt nghiệp trường Sĩ quan Hải quân Hoa Kỳ tại Anapolis năm 1968, từng chiến đấu và đoạt nhiều huy chương tại Việt Nam. Ông từng làm Bộ trưởng Hải quân dưới thời tổng thống Reagan và đắc cử Thượng nghị sĩ Hoa Kỳ năm 2006.
Trần Bình Nam phóng dịch

—————————————————

Kể từ Thế chiến thứ 2, qua hai cuộc chiến tại Hàn quốc và Việt Nam, Hoa Kỳ đã giúp cân bằng thế lực và mang lại ổn định trong vùng Á Châu – Thái bình dương, mặc dù các thế lực quốc tế khác đã thay nhau giữ vai trò chủ chốt tại đó, sau Nhật Bản là Liên bang Nga, và bây giờ là Trung quốc. Sự can thiệp của Hoa Kỳ là một thắng lợi lịch sử trong mối quan hệ giữa Hoa Kỳ và Á châu, giúp cho các nước nhỏ khác trong vùng có thì giờ và cơ hội xây dựng kinh tế và trưởng thành về chính trị.

Sau khi các nước trong vùng phồn thịnh, vấn đề chủ quyền quốc gia trở thành một vấn đề nóng bỏng. Trong hai năm qua Nhật Bản và Trung quốc tranh nhau chủ quyền quần đảo Senkaku nằm ở phía đông Đài Loan mặc dù Nhật đang có một cơ quan hành chánh tại đó được quốc tế công nhận là một chính quyền hợp pháp. Xa hơn về phía Bắc, Liên bang Nga và Nam Hàn tranh chủ quyền một số vùng biển với Nhật Bản (TBN: Nhật chiếm trong Thế chiến 2). Trong khi đó Trung quốc và Việt Nam tranh nhau chủ quyền quần đảo Hoàng Sa. Ngoài ra Trung quốc, Việt Nam, Phi Luật Tân, Brunei, Mã Lai Á tranh nhau chủ quyền các hải đảo trong quần đảo Trường Sa. Tại đây Trung quốc và Phi luật Tân thường đụng chạm nhau.

Các vụ tranh chấp này do tự ái quốc gia và chủ quyền lịch sử, nhưng được khơi dậy do những vấn đề quan trọng khác như quyền di chuyển trên biển, quyền đánh cá và quyền khai thác tài nguyên nằm dưới đáy biển chung quanh các quần đảo. Tranh chấp căng thẳng nhất là tại Biển Đông, một vùng hứa hẹn nhiều tài nguyên thiên nhiên.

Ngày 21 tháng 6 vừa qua Hội đồng Bộ trưởng Trung quốc cho thành lập một tỉnh mới đặt tên là Sansha, có cơ quan hành chánh đặt tại đảo Woody (Trung quốc gọi là đảo Yongxing , Việt Nam gọi là đảo Phú Lâm) thuộc quần đảo Hoàng Sa. Đảo Phú Lâm không có dân, không có nguồn nước thiên nhiên, nhưng Trung quốc cho thiết lập tại đó một sân bay quân sự, một nhà bưu điện, một ngân hàng, một tiệm tạp hóa và một bệnh viện.

Quần đảo Hoàng Sa cách 200 hải lý về hướng Đông Nam đảo Hải Nam, ở phía Đông bờ biển miền trung Việt Nam và Trung quốc đã chiếm từ tay Việt Nam Cộng Hòa đầu năm 1974. Và cuộc tranh chấp không chỉ giới hạn tại quần đảo này.

Trong 6 tuần qua Trung quốc tuyên bố rằng chủ quyền hành chánh của tỉnh Sansha bao gồm toàn Biển Đông trong đó có tất cả các hải đảo thuộc Hoàng Sa và Trường Sa. Tân Hoa Xã nói tỉnh Sansha bao gồm 200 hải đảo, rộng 2 triệu cây số vuông biển. Trung quốc bổ nhiệm một Hội đồng Nhân dân gồm 45 thành viên chịu trách nhiệm trực tiếp với chính quyền trung ương, trong đó có một Ủy ban thường trực, một tỉnh trưởng và một phó tỉnh trưởng để cai quản 1000 cư dân. Ngày 22/7 Quân ủy Trung ương của quân đội Trung quốc cho thành lập một đội quân bảo vệ Sansha. Ngày 31/8 Trung quốc tuyên bố các toán tuần tra an ninh của tỉnh Sansha đều được trang bị vũ khí và sẵn sàng tác chiến. Đi xa hơn Trung quốc kêu gọi đấu thầu khai thác dầu khí trong một vùng biển được quốc tế công nhận thuộc vùng Đặc quyền Kinh tế (theo Luật Biển) của Việt Nam. (Trung quốc kêu gọi đấu thầu)

Thực tế, một cách đơn phương Trung quốc đã sát nhập vùng biển Đông Nam ngoài khơi Việt Nam và Phi Luật Tân sát xuống eo biển Malacca làm đất của mình. Tỉnh mới rộng bằng đất bốn nước Việt Nam, Phi luật Tân, Nhật và Nam Hàn gộp lại.
Trước động thái này, Hoa Kỳ im lặng. Mãi đến ngày 3 tháng 8 Hoa Kỳ mới lên tiếng với lời lẽ dè dặt kêu gọi Trung quốc giải quyết vấn đề chủ quyền theo luật quốc tế và tránh dùng vũ lực.

Dù vậy Trung quốc cũng đã giận dữ bác bỏ cho rằng bộ Ngoại giao Hoa Kỳ “không phân biệt được phải trái đã lên tiếng gây hiểu lầm”. Tờ Nhân Dân Nhật báo cơ quan ngôn luận chính thức của đảng Cộng sảnTrung quốc tố cáo Hoa Kỳ “đã đổ dầu vào lửa, gây chia rẽ với ý đồ chống Trung quốc”. Bản tin phổ biến quốc ngoại còn đi xa hơn viết một cách thô lỗ rằng: “Đã đến lúc Hoa Kỳ nên câm miệng lại.”

Sự thật, thái độ lưng chừng của Hoa Kỳ trong nhiều năm qua đã khuyến khích Trung quốc lấn lướt. Đối với sự tranh chấp Biển Đông Hoa Kỳ luôn luôn nói không đứng về phe nào và kêu gọi các bên liên hệ giải quyết tranh chấp với nhau bằng phương pháp hòa bình. Trong khi đó các nước nhỏ trong vùng kêu gọi quốc tế cần mạnh dạn tham gia giải quyết cuộc tranh chấp.

Lập trường của Trung quốc là giải quyết song phương với từng nước một. Có nghĩa là: hoặc không giải quyết gì cả, hoặc giải quyết theo chương trình và đòi hỏi của Trung quốc. Cho nên lập trường “không theo phe nào” của Hoa Kỳ mặc nhiên khuyến khích Trung quốc tiếp tục dùng sự đe dọa để lấn tới.

Lúc này Hoa Kỳ, Trung quốc và các nước Đông Á đang đối diện với một sự thật không thể trốn chạy được là: Giải quyết tranh chấp chủ quyền bằng phương pháp hòa bình hay bằng vũ lực. Sự lựa chọn sẽ quyết định không những tương lai của vùng Biển Đông, sự ổn định của Đông Á mà còn xác định quan hệ lâu dài giữa Trung quốc và Hoa Kỳ.

Lịch sử chứng tỏ rằng trước hành động gây hấn mà ngồi yên thì tình thế chỉ càng ngày càng xấu hơn. Bài học rõ ràng nhất không ở đâu xa mà chính ở Đông Á. Trong cuốn tiểu sử của tướng Joseph Stilwell (2) sử gia Barbara Tuchman viết rằng, năm 1931 khi Nhật Bản chiếm Mãn châu, chính phủ quốc gia Trung quốc kêu gọi Hoa Kỳ và Liên hiệp quốc (lúc đó còn gọi là League of Nations) can thiệp. Hoa Kỳ và Liên hiệp quốc làm ngơ, kết quả là cuộc chiến tranh Hoa Nhật kéo dài một thập niên sau đó.
Lúc này Hoa Kỳ đang bận rộn với cuộc tranh cử tổng thống, các nước Đông Á đang chờ xem Hoa Kỳ sẽ làm gì trước hành động gây hấn của Trung quốc. Họ chờ xem Hoa Kỳ sẽ can đảm nhận lãnh vai trò bảo đảm ổn định trong vùng Đông Á hay để cho toàn vùng rơi vào hỗn loạn.

Năm 1931 Trung quốc (quốc gia) học được bài học “không can thiệp” tai hại như thế nào rồi. Không biết năm 2012 này Trung quốc sẽ áp dụng bài học đó như thế nào và Hoa Kỳ có đủ cương quyết và khả năng buộc Trung quốc phải giải quyết theo công thức hòa giải quốc tế để duy trì hòa bình và ổn định trong vùng không?

James Webb

Aug. 21, 2012
(Trần Bình Nam phóng dịch)

© Trần Bình Nam

© Đàn Chim Việt

————————————————–

(1) (The South China Sea ‘s Gathering Storm )

(2) Tướng 4 sao Joseph Stilwell, chịu trách nhiệm vùng Trung quốc Miến Điện – Ấn độ giúp Tưởng Giới Thạch chống Nhật trong thập niên 1930, 1940. Ông là người hết sức cảnh giác thái độ xâm lấn của Nhật Bản nhưng ít ai nghe.

Posted in chính trị Hoa Kỳ ở Châu Á, Chinh Tri Hoa Ky | Leave a Comment »

►đảng Cộng Sản Việt Nam đã đưa cả nước “chui vào cái thòng lọng” của Trung Cộng vì muốn tiếp tục nắm quyền lãnh đạo VN

Posted by hoangtran204 trên 21/08/2012

 

Vào những ngày cuối tháng 8- 1990, Nguyễn Văn Linh, Ðỗ Mười và Lê Ðức Anh ở Hà Nội đã quyết định phải quay đầu trở lại, xin hợp tác với đảng Cộng Sản Trung Quốc (Trung Cộng).

Kết quả là hội nghị Thành Ðô, ngày 3 và 4 tháng 9 năm 1990, mà Tiến Sĩ Hà Sĩ Phu gọi là “Cái thòng lọng thứ hai” buộc vào cổ đảng Cộng Sản Việt Nam.

Cái thòng lọng thứ nhất, là quyết định “khai thông biên giới Việt Trung” vào năm 1950 để Cộng Sản Việt Nam (Việt Cộng) nhận được viện trợ và đón các cố vấn Trung Quốc sang chỉ đạo. Hà Sĩ Phu viết: “Do vị trí địa-chính trị nênViệt Nam trở thành cửa ngõ mà chủ nghĩa Ðại Hán buộc phải chiếm lĩnh để bành trướng về phía Nam…” Chủ nghĩa cộng sản đã cho Trung Quốc “một cơ hội bằng vàng. Họ tận dụng những đặc trưng của cộng sản để đưa con mồi vào lưới. Con mồi tự tìm đến cái bẫy, nhưng bị tấm màn ‘Quốc tế đại đồng’ che mắt, nhìn cái bẫy thành chốn ruột thịt nương thân.”

Khi đảng Cộng Sản Việt Nam tự tìm đến Thành Ðô 1990 để chui vào cái thòng lọng thứ hai, Hà Sĩ Phu nhận định: Xét trong quan hệ lịch sử giữa hai kẻ thù truyền kiếp thì cuộc cầu hòa này chính là “tuyên bố đầu hàng.”

Nếu biết rõ hơn về hội nghị Thành Ðô, chúng ta sẽ thấy quả thật đó là một “cuộc tuyên bố đầu hàng.” (của đảng CSVN trước Trung Quốc) . Những sự kiện và ngày tháng kể sau đây dựa trên hồi ký của Trần Quang Cơ (1), là thứ trưởng Ngoại Giao vào lúc đó, với một tài liệu do Trung Cộng công bố, đã được Lý Nguyên dịch từ mạng Hà Bắc tân văn võng ngày 30 tháng 10, 2007, đăng trên mạng Talawas.

Tháng 10 năm 1989, trùm cộng sản Lào Kaysone Phomvihane thăm Bắc Kinh, xin gặp Ðặng Tiểu Bình với lý do bí mật. Phomvihane chuyển lời Nguyễn Văn Linh xin được làm hòa với Trung Cộng, 10 năm sau khi Ðặng Tiểu Bình đã cho quân sang “dạy một bài học” cho Cộng Sản Việt Nam. Ðặng Tiểu Bình đặt một điều kiện: Trước hết, phải rút hết, rút triệt để quân đội khỏi Cămpuchia. Và Bình còn nói rõ ông không thích Nguyễn Cơ Thạch, lúc đó là ngoại trưởng.

Năm đó, Việt Cộng đã rút hết quân về. Ngày 5 tháng 6 năm 1990, Nguyễn Văn Linh, tổng bí thư Cộng Sản Việt Nam, gặp Trương Ðức Duy, đại sứ Trung Quốc tại Hà Nội, nhưng cuộc họp có cả Nguyễn Cơ Thạch, chưa nói hết ý.

Theo bên Trung Quốc kể lại, ngày 16 tháng 8 năm 1990, Nguyễn Văn Linh sai Hoàng Nhật Tân gặp Trương Ðức Duy, đưa một “mật thư,” và nói miệng gửi lời nhắn riêng: “Không cần đi qua Nguyễn Cơ Thạch,” mặc dù đại sứ một nước chỉ được tiếp xúc qua bộ trưởng Ngoại Giao nước chủ nhà. Trương Ðức Duy quyết định liên lạc bí mật qua Bộ Trưởng Bộ Quốc Phòng Lê Ðức Anh.

Ngày 21 tháng 8, 1990 Trương Ðức Duy ngồi trên một chiếc ôtô du lịch không cắm cờ Trung Quốc theo nghi thức ngoại giao, lén đến Bộ Quốc Phòng bàn riêng với Lê Ðức Anh. Và lúc 7 giờ rưỡi, sáng sớm ngày hôm sau, Nguyễn Văn Linh gặp Trương Ðức Duy tại nhà khách Bộ Quốc Phòng, cả hai bên đều không mang phiên dịch. Linh đề nghị Trương Ðức Duy đổi ngồi một chiếc xe khác hôm qua, và vẫn không cắm quốc kỳ. Một tuần sau, Nguyễn Văn Linh (tổng bí thư) và Ðỗ Mười (thủ tướng) cũng hội kiến Trương Ðức Duy. Chắc đây là buổi họp quyết định. Vì hôm sau, 30 tháng 8, 1990, Bộ Chính Trị họp, Linh đưa ra ý kiến hợp tác với Trung Quốc “để bảo vệ chủ nghĩa xã hội chống đế quốc,” tiến tới bình thường hóa quan hệ Trung-Việt.

Những diễn biến trên cho thấy ba người chủ chốt trong vụ này là Nguyễn Văn Linh, Lê Ðức Anh và Ðỗ Mười. Nhưng Lê Ðức Anh có vẻ được Trung Cộng tin cậy hơn cả. Nhưng tại sao bộ ba này thuyết phục được cả Bộ Chính Trị đồng ý với cuộc đầu hàng không điều kiện này? (Chỉ có cố vấn Võ Chí Công không đồng ý). Nguyễn Văn Linh giải thích: Cần hợp tác với Trung Quốc “để bảo vệ chủ nghĩa xã hội chống đế quốc.”

Thực tế là chế độ cộng sản tại Việt Nam đang lâm nguy. Kinh tế suy sụp vì thiếu viện trợ vốn cũng như kỹ thuật của các nước Ðông Âu và Nga Xô, sau khi cộng sản Ðông Âu sụp đổ, Liên Xô đang bị cùng kiệt về kinh tế. Mấy năm trước dân nhiều nơi miền Trung đã chết đói. Cả thế giới đang tẩy chay Việt Cộng, từ năm 1978. Cộng Sản Việt Nam biết không còn nương tựa vào đâu, phải cầu cứu tới một nước đã từng gọi là “kẻ thù truyền kiếp.”

Trung Cộng không tiếp phái đoàn Việt Cộng tại thủ đô Bắc Kinh mà chỉ mời đến Thành Ðô, thủ phủ tỉnh Tứ Xuyên. Họ giải thích là cần giữ bí mật cho cuộc gặp gỡ này, không cho thế giới biết. Trước khi lên đường, Trương Ðức Duy còn yêu cầu phải có mặt Phạm Văn Ðồng, cố vấn của Bộ Chính Trị, nhìn bên ngoài có địa vị tương đương với “bố già” Ðặng Tiểu Bình. Ðồng chịu đi vì tưởng sẽ được gặp Bình. Nhưng tới nơi thì không (gặp Bình). Sự có mặt của Phạm Văn Ðồng có ý nghĩa. Vì trong cuộc họp Trung Cộng có thể đem lá thư ông ta gửi Chu Ân Lai năm 1958, công nhận lập trường của Trung Cộng về Trường Sa, Hoàng Sa. Những gì được ký kết giữa hai bên tới nay vẫn còn giữ bí mật; nhưng chắc phía Trung Cộng họ không dại gì mà không nhắc tới vụ các đảo, sau khi hải quân hai bên mới tử chiến năm 1988, biển vẫn còn tanh mùi máu.

Theo các tài liệu chính thức công bố thì hai bên chỉ bàn chuyện Campuchia. Lúc đầu Việt Cộng đề nghị trong hội nghị đình chiến ở xứ Chùa Tháp, phe Hun Sen và phe chống Việt Cộng, trong đó có Pol Pot, mỗi bên sẽ có 6 người dự vào chính quyền lâm thời ở Campuchia. Trung Cộng đòi có thêm cựu hoàng Sihanouk cho thành 6+6+1, mà ai cũng biết ông hoàng này là người được Trung Cộng nuôi nấng từ 20 năm rồi. Nguyễn Văn Linh cố “bán” ý kiến “Giải pháp đỏ” cho Trung Cộng. Tức là cho hai đảng Cộng sản Campuchia hợp tác đủ rồi, bỏ các phe của Sihanouk ra ngoài. Nhưng Linh thất bại, cuối cùng, bên Việt Cộng không dám cãi, mà cũng không dám đòi hỏi gì; đồng ý sẽ thuyết phục phe Hun Sen chịu “hòa giải” với Pol Pot. Hai bên hứa sẽ giữ bí mật cuộc hội nghị, để các nước khác như Nga, Mỹ, không biết hai chính quyền cộng sản Á Châu toa rập. Giang Trạch Dân nói ở Thành Ðô: “Các nước phương Tây rất chú ý tới quan hệ của chúng ta. Các đồng chí đến đây, cho đến nay các nước không ai biết, cũng không cho các bên Campuchia biết. Chúng tôi cảnh giác vấn đề này.”

Nhưng ngay sau đó, cả nhóm lãnh đạo Cộng Sản Việt Nam thấy ngay mình bị lừa. Khi Nguyễn Văn Linh, Lê Ðức Anh sang thuyết phục phe Hun Sen thì bị đám đàn em chống, vì phe này bị lép vế với tỷ số 6/7. Nguyễn Cơ Thạch kể lại: “Trung Quốc đã đưa cả băng ghi âm cuộc nói chuyện với lãnh đạo ta ở Thành Ðô cho Phnom Penh. Hun Xen nói là trong biên bản viết là “hai bên đồng ý thông báo cho Campuchia phương án 6+2+2+2+1.”

Trung Cộng đã tiết lộ kết quả cuộc họp cho cả thế giới. Báo Bangkok Post ngày 19 tháng 9 đã đăng công khai Thỏa thuận Thành Ðô, viết rõ Việt Nam đã đồng ý với Trung Quốc về thành phần chính phủ lâm thời là 6 cộng 7, có Sihanouk! Tạp chí Kinh tế Viễn Ðông (FEER) số ngày 10 tháng 10 viết về cuộc gặp gỡ “thượng đỉnh” Trung-Việt ở Thành Ðô.

Nhưng cay cú nhất là Trung Cộng còn thông báo cho cả Mỹ biết (hội nghị Thành Ðô). Ngoại Trưởng Mỹ James Baker còn nói với Nguyễn Cơ Thạch rằng Trung Quốc khoe với Mỹ là họ đã “bác bỏ đề nghị của lãnh đạo cấp cao nhất Việt Nam là Việt Nam với Trung Quốc đoàn kết bảo vệ Chủ nghĩa Xã hội chống âm mưu của đế quốc Mỹ xóa bỏ Chủ nghĩa Xã hội.” Ông Trần Quang Cơ than: “Sở dĩ ta dễ dàng bị mắc lừa ở Thành Ðô là vì chính ta đã tự lừa ta. Ta đã tự tạo ra ảo tưởng là Trung Quốc sẽ giương cao ngọn cờ Chủ nghĩa Xã hội, thay thế cho Liên Xô, làm chỗ dựa.”

Trong cuộc họp Bộ Chính Trị vào tháng 5 năm 1991, đủ mặt 12 người và hai cố vấn, họ bắt đầu than thở và chỉ trích lẫn nhau. Võ Văn Kiệt phê bình việc để Phạm Văn Ðồng cùng đi: “Chỉ để gặp Giang Trạch Dân và Lý Bằng, không có Ðặng Tiểu Bình. Mình bị nó lừa nhiều cái quá! Tôi nghĩ Trung Quốc chuyên là cạm bẫy!” Phạm Văn Ðồng than: “Mình hớ, mình dại rồi mà còn nói sự nghiệp cách mạng là trên hết,… Sau chuyến đi Thành Ðô, tôi vẫn ân hận sao lại mời thêm tôi… Anh Mười cho là họ mời rất trang trọng, cơ hội lớn, nên đi!”

Nguyễn Văn Linh lại biện hộ tại sao phải theo Tầu, vì “Âm mưu của đế quốc Mỹ chống phá chủ nghĩa xã hội ở Châu Á, cả ở Cuba… dù bành trướng thế nào thì Trung Quốc vẫn là một nước xã hội chủ nghĩa.”

Lê Ðức Anh mở rộng thêm: “Mỹ và phương Tây muốn cơ hội này để xóa cộng sản. Nó đang xóa ở Ðông Âu. Nó tuyên bố là xóa cộng sản trên toàn thế giới. Rõ ràng nó là kẻ thù trực tiếp và nguy hiểm. Ta phải tìm đồng minh. Ðồng minh này là Trung Quốc!”

Rõ ràng, tất cả nhóm người cầm đầu đảng Cộng Sản Việt Nam đã đưa cả nước “chui vào cái thòng lọng” của Trung Cộng, vì muốn “bảo vệ Chủ nghĩa Xã hội.”

Trong thực tế, là bảo vệ ngôi vị độc quyền cai trị nước Việt Nam!

Hà Sĩ Phu không kể các chi tiết trên đây trong bài tham luận mới “Giải Cộng Nhi Thoát,” nhưng ông đã mô tả “cái thòng lọng Thành Ðô” rất cụ thể: “Từ đấy trở đi, chỉ cần 4 năm một lần Trung Quốc khống chế người cầm đầu Việt Nam, tức tổng bí thư đảng, là đủ cho kế hoạch xâm lược tiến hành trôi chảy. Muốn vậy phải giữ cho Việt Nam yên vị theo chế độ cộng sản, không được dân chủ hóa, không được liên kết chiến lược với Hoa Kỳ.”

Khi hiểu rõ “cái thòng lọng Thành Ðô” thì chúng ta cũng hiểu được các hành động của đảng Cộng Sản Việt Nam từ năm 1990 đến giờ.

© Ngô Nhân Dụng

http://www.diendantheky.net/2012/08/ngo-nhan-dung-chui-au-vao-cai-thong.html

(1) Hồi Ký Trần Quang Cơ 

http://www.diendan.org/tai-lieu/ho-so/hoi-ky-tran-quang-co/

http://vnthuquan.net/diendan/tm.aspx?m=236879&mpage=1&key=&#236879

http://vietsuky.wordpress.com/hoi-ky-tran-quang-co/

http://www.wattpad.com/370830-h%E1%BB%93i-k%C3%BD-tr%E1%BA%A7n-quang-c%C6%A1

Posted in Hội nghị Thành Đô 3-9-1990, Đảng CSVN | 1 Comment »

►Rước voi giày mã tổ và cõng rắn cắn gà nhà

Posted by hoangtran204 trên 21/08/2012

Câu “rước voi về giày mã tổ” và “cõng rắn cắn gà nhà” rất là chính xác để chỉ hành động của ông Hồ Chí Minh và Đảng Cộng Sản Việt Nam đã rước quân Tàu vào Việt Nam từ 1951 và  rước 320.000 bộ đội Trung Quốc vào đóng quân ở Miền Bắc 1965-1975.  

(Chứng tích là các bài báo và mồ mã của hơn 4400 quân Trung Quốc đã chết đã được đảng Cộng Sản VN xây lăng thờ phụng ở ngoài miền Bắc hiện nay vẫn còn đó.

Trích Trên 4400 bộ đội Trung Cộng đã bị tử thương trong lúc giúp đỡ Việt Nam trong cuộc chiến tranh chống Pháp và chiến tranh chống Mỹ. Hiện có 1446 lính Trung Quốc, (trong số  4400 nói trên), đã được chôn trong 40 nghĩa trang dành cho Quân Đội Nhân Dân Trung Quốc. Chúng ta hãy kêu gọi chính quyền  mang những vị anh hùng của chúng ta về lại Trung Quốc, chúng ta không nên để họ yên nghĩ trong một miền đất không thân thiện.  https://hoangtran204.wordpress.com/2012/04/25 )

Khi ông Hồ Chí Minh qua Tàu cầu cứu Mao Trạch Đông năm 1950 để xin quân đội Trung Quốc qua giúp đỡ và xin vũ khí, quân trang, quân dụng, thực phẩm cho quân cộng sản VN đánh Pháp, ông Hồ Chí Minh phải trả công cho Mao bằng quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cùng các vùng đất biên giới phía Bắc.

Bởi vậy, ngay sau khi giúp đảng của ông HCM đánh chiếm Điện Biên Phủ 5-1954 và chiếm được Miền Bắc qua Hiệp Định Geneve 20-7-1954, Trung Quốc lấy công lần đầu thông qua Công Hàm Phạm Văn Đồng 1958 (http://www.flickr.com/photos/tientrung/2108319111/). Bức thư của ông Phạm Văn Đồng năm 1958 bán Hoàng sa và Trường Sa cùng các vùng đất biên giới phía Bắc cho giặc Tàu đổi lấy viện trợ.

1973, biết rõ quân Mỹ sẽ rút ra khỏi VN và chiến tranh VN sắp kết thúc, ngày 19-1-1974 quân Trung Cộng đã chiếm lấy Hoàng Sa (sau khi bị Hải Quân VNCH tấn công và đánh một trận để đời.) 

►Lập trường của Đảng CSVN về Hoàng Sa khi Trung Cộng xâm chiếm vào ngày 19-1-1974

Lợi dụng xây đường sá để đem 320.000 quân qua giúp Miền Bắc trong chiến tranh VN 1954-1975, quân Trung Cộng đã dời cột mốc biên giới để chiếm hàng ngàn km vuông ở các vùng đất biên giới phía Bắc, chiếm Ải Nam Quan, Thác Bản Giốc, Móng Cái, Hà Giang, Núi Lão Qua, và Vịnh Bắc Bộ.

Bài báo sau đây của tác giả Ngô Nhân Dụng cho ta nhìn thấy các khía cạnh của việc rước voi về giày mã tổ, cõng rắn cắn gà nhà của đảng CSVN và ông HCM.

 

Ai chui vào cái thòng lọng đầu tiên?

Ngô Nhân Dụng

Tại hội nghị Thành Ðô (1990) giữa hai đảng Cộng sản Việt Nam và Trung Quốc, Nguyễn Văn Linh, Lê Ðức Anh và Ðỗ Mười đã “tuyên bố đầu hàng,” tình nguyện đem cả đảng và nhà nước “chui đầu vào thòng lọng” cho Trung Cộng thao túng, lũng đoạn.

http://www.youtube.com/watch?v=QoU8I3HsKEo&feature=player_embedded#!

Hà Sĩ Phu nhận định: “Từ đấy trở đi, chỉ cần 4 năm một lần Trung Quốc khống chế người cầm đầu Việt Nam, tức tổng bí thư đảng, là đủ cho kế hoạch xâm lược tiến hành trôi chảy.”

Thực ra, đảng Cộng sản Trung Hoa đã nắm lấy cái đầu của Cộng sản Việt Nam từ năm 1950. Sau đó, họ tiếp tục nắm cái đầu “bằng con đường đi qua bao tử” trong suốt thời chiến tranh xâm chiếm miền Nam.

Trong thời gian đó, mỗi năm ông Lê Thanh Nghị sang Bắc Kinh đưa một danh sách những món cần “chi viện” kinh tế; từ cơm sấy, cá khô cho đến từng cây kim, sợi chỉ. Bởi vậy khi Lê Duẩn trở mặt quay sang thần phục Liên Xô hoàn toàn, chống “Trung Quốc xâm lược,” gọi Ðặng Tiểu Bình là “Ðặng Lưu Manh,” thì Bắc Kinh nổi giận, cho “bọn phản phúc” một bài học năm 1979. Bài học đó được trả bằng xương máu của dân và bộ đội (70.000 nguoi) bị quân Tàu giết.

Lê Duẩn đã gieo tai họa cho đám đàn em, cả bọn bơ vơ sợ hãi khi nhìn cảnh Liên Xô trên đà sụp đổ (1990) cùng với các đảng cộng sản chư hầu Ðông Âu. Vì thế, sau cùng họ phải quay đầu 180 độ, quy phục Trung Cộng. Nước cờ ngoại giao liều lĩnh và tai hại của Lê Duẩn có thể được thúc đẩy vì chứng kiến “Bác” lúi cúi theo Trung Cộng quá đáng cũng cảm thấy nhục lây; lại vì ông ta muốn chứng tỏ mình giỏi hơn họ Hồ.

Sở dĩ Hồ Chí Minh trung thành với các đường lối của Mao Trạch Ðông từ năm 1950 cho tới khi chết là vì ông muốn chứng tỏ mình là một người cộng sản trung kiên. Từ thập niên 1930, Hồ Chí Minh về Moscow (MatxCơva) đã bị Stalin nghi ngờ, và suýt bị xử tử, thì mối lo lớn nhất của Hồ Chí Minh là sợ bị ông Trùm Ðỏ thanh trừng.

Hồ đã có kinh nghiệm cá nhân: Chính mình lập ra đảng Cộng sản Việt Nam nhưng ngay lập tức bị Stalin bắt đổi tên, và đặt Trần Phú lên thay làm tổng bí thư. Những năm 1930, Hồ Chí Minh ở thủ đô Nga cũng chứng kiến cảnh Stalin đã lần lượt giết hết các đồng chí trong Trung ương đảng Cộng sản Liên Xô. Và sau đó, còn biết Stalin đã cho tay chân đuổi theo Trotsky khắp thế giới, sau cùng ám sát được nhà lãnh tụ Cộng sản Ðệ tứ Quốc tế. Năm 1946 sở dĩ Hồ Chí Minh phải sai giết những nhà cách mạng Cộng sản Ðệ tứ Việt Nam như Tạ Thu Thâu, Phan Văn Hùm, Trần Văn Thạch, vân vân, cũng vì nếu để cho những người yêu nước này sống thì lại lo sẽ bị Stalin nghi ngờ ăn ở hai lòng.

Cho nên, năm 1950, khi Stalin nói giao đảng Cộng sản Việt Nam cho Mao Trạch Ðông chỉ đạo, thì từ đó Hồ Chí Minh hoàn toàn tuân theo chỉ thị này. Ðến lúc Stalin chết, năm 1953, thì Mao Trạch Ðông đã nắm được cái đầu của đảng Cộng sản Việt Nam trong thòng lọng từ lâu rồi.

Tháng Giêng năm 1950, Hồ Chí Minh sang Bắc Kinh; thấy Mao Trạch Ðông đã đi Moscow rồi, nên xin Lưu Thiếu Kỳ giúp đỡ di chuyển sang Nga. Ở thủ đô Nga, Hồ Chí Minh bị Stalin tỏ vẻ khinh thường: Không đến dự tiệc do ông Hồ tổ chức khoản đãi; không có một hình thức tiếp đón chính thức để chụp hình. Stalin lại từ chối không viện trợ, và lắc đầu khi Hồ Chí Minh xin cho ký một thỏa hiệp hữu nghị, như Stalin đã ký với Mao Trạch Ðông. Hồ Chí Minh chỉ xin được Stalin ký tên trên một bức hình xé từ một tạp chí hình ảnh làm kỷ niệm. Stalin ký tên cho, nhưng sau đó sai mật vụ KGB bí mật đến tận phòng, lục va li, lấy lại. Mỗi lần Hồ Chí Minh ngỏ ý xin chi viện, Stalin đều nói: các đồng chí Trung Quốc hiểu rõ người Châu Á hơn; mọi việc hãy hỏi họ, tôi sẽ ủng hộ. Stalin đã gán Hồ Chí Minh cho Mao Trạch Ðông từ đó.

Trên xe lửa trở về Bắc Kinh, Hồ đã nhắc với Mao về việc bị Stalin bỏ rơi, và nói: Chúng tôi chỉ còn dựa vào Trung Quốc. Từ năm đó, các đoàn cố vấn Trung Cộng bắt đầu xâm nhập nước ta từ trên xuống dưới, trong chiến trận cũng như trong chính trị, đặc biệt là cuộc cải cách ruộng đất(1953-1956) đẫm máu hoàn toàn theo khuôn mẫu của các cố vấn  Trung Quốc.

Khi tái lập đảng Cộng sản dưới tên mới là đảng Lao Ðộng VN, Hồ Chí Minh cố chứng tỏ mình là một con người cộng sản hoàn toàn. Tạp chí Học tập Liên khu 4, Tháng Tư năm 1951 đã viết (trang 1 đến trang 8) bài tường thuật “Ðại hội Ðảng Toàn quốc lần thứ hai tại Việt Bắc vào tháng 3 năm 1951, do một phóng viên của tờ Học tập ghi lại.

Hồ Chí Minh tán dương các chiến sĩ Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Pháp lúc đó; nhưng ông không đề cao lòng yêu nước của họ mà lại giải thích họ hy sinh chỉ vì chủ nghĩa Cộng sản. Bài báo ghi nguyên văn lời ông Hồ giải thích các hành động anh dũng của các người lính Việt Nam:

“Ðó là vì đâu? Là vì trong chính trị, cũng như trong mọi mặt công tác khác, Ðảng ta có một chủ nghĩa cách mạng nhất, sáng suốt nhất, đó là chủ nghĩa của ba ông kia kìa (Hồ-Chủ-tịch vươn tay chỉ và hướng mặt về phía chân dung 3 vị lãnh tụ: Marx, Engels, Lénine)

Sau khi chỉ tay lên hình Staline (tên viết theo lối Pháp), Hồ lại ca ngợi công ơn đảng Cộng sản Trung Quốc “đã thấm nhuần chủ nghĩa Marx-Lénine…” Hồ Chí Minh biện minh: “Nếu không thấm nhuần như thế, thì sao lại có bộ đội nhịn đói hơn 4 ngày, vẫn cứ bám lấy giặc mà đánh và đánh thắng giặc! (Ðại hội vỗ tay dài). Thì sao có những cử chỉ oanh liệt như ở một trận đánh nọ có chiến sĩ bị thương ở tay nói với người bên cạnh “Cậu chặt tay cho mình cái” vì thấy cánh tay gãy vướng, chặt đi cho dễ đánh, thế rồi lại cứ xung phong? Nếu không thấm nhuần chủ nghĩa Marx-Lénine thì làm sao có được những cử chỉ oanh liệt như thế?” (Ðại hội vỗ tay).”

Hồ Chí Minh lại giải thích tiếp: “Chúng ta lại nhờ có ông anh này! (Hồ-Chủ-Tịch vươn tay chỉ và hướng mặt về phía chân dung đồng chí Mao-Trạch-Ðông) (Ðại hội vỗ tay vang dậy – và đứng dậy hô lớn đồng chí Mao-Trạch-Ðông muôn năm!)

Ðó là nguyên văn những lời ông Hồ đã nói. Không nói gì đến lòng yêu nước của người Việt Nam; không hề nói đến Tổ tiên đã noi gương tranh đấu chống xâm lăng. Chỉ biết ơn ông Xít (Staline), ông Mao. Hồ Chí Minh nộp dân Việt Nam lên bàn thờ chủ nghĩa cộng sản.

Muốn chứng tỏ công ơn của MaoTrạch-Ðông đối với cuộc kháng chiến của người Việt Nam, Hồ Chí Minh kể lể: “Ông Mao ở cách đây mấy nghìn dặm… Ông theo dõi từng bước cuộc chiến đấu cách mạng của chúng ta. Như lúc quân đội và nhân dân ta giải phóng biên giới, như lúc chúng ta mở chiến dịch Trung-du có thể đêm ông không ngủ mà chờ tin tức…”

Như các cố vấn Trung Cộng ở Việt Nam lúc đó thuật lại, thì Mao-Trạch-Ðông đã chỉ thị đến từng chi tiết các trận đánh; vì Mao cũng là một lý thuyết gia quân sự, và ông rất thích điều khiển để thí nghiệm các khẩu hiệu trong binh pháp của ông.

Tinh thần lệ thuộc của Hồ Chí Minh đối với Cộng sản Trung Quốc đã rõ ràng, không ai chối cãi được. Sau đó, những gì xẩy ra thì chúng ta đã biết. Năm 1958, khi Phạm Văn Ðồng ký văn thư đồng ý với chính phủ Bắc Kinh về vấn đề lãnh hải, mặc nhiên công nhận Hoàng Sa, Trường Sa thuộc Trung Quốc, lúc đó Hồ Chí Minh vẫn còn nắm toàn quyền, sau khi Trường Chinh đã mất chức, mà Lê Duẩn thì mới lên.

Năm 1961, nhân dịp kỷ niệm ngày thành lập Ðảng Cộng sản Trung Quốc, Hồ Chí Minh viết một bài ca tụng “40 năm vẻ vang, 40 năm thắng lợi”… “viết những trang lịch sử vĩ đại của Ðảng Cộng sản Trung Quốc,” đăng trên nhật báo Nhân Dân ở Hà Nội ngày 1 Tháng Bảy năm 1961.

Trong bài báo đó (in lại trong Hồ Chí Minh Toàn Tập, tập X, NXB Chính Trị Quốc Gia, năm 2000, trang 365-368), Hồ Chí Minh đã kể rõ công ơn của Cộng sản Trung Quốc đối với đảng Cộng sản Việt Nam. Công ơn đầu tiên là “Ảnh hưởng Cách Mạng Tháng Mười Nga và lý luận Mác-Lênin phần lớn kinh qua Trung Quốc mà truyền đến Việt Nam.” Nói cách khác, ngay trên mặt lý thuyết căn bản, cộng sản nước ta chịu ơn của cộng sản Tầu dạy dỗ.

Trong Hồ Chí Minh Toàn Tập, cuốn số 11, từ trang 64 đến trang 76, có đăng bốn bài diễn văn của Hồ Chí Minh khi đón tiếp Lưu Thiếu Kỳ tới Hà Nội năm 1963. Trong lời chào đón phái đoàn Lưu Thiếu Kỳ và Trần Nghị ở sân bay Gia Lâm, Hồ Chí Minh đã đọc hai câu thơ: “Mối tình thắm thiết Việt-Hoa; Vừa là đồng chí vừa là anh em.” Trong bài diễn văn tại buổi tiệc chiêu đãi phái đoàn nước đàn anh, ông Hồ đã nhắc lại một câu ngạn ngữ của người Tầu để nói tới “…tình đoàn kết như môi mới răng giữa hai nước và hai đảng chúng ta…” Ðây là những bản văn chính thức được Hồ viết ra, đăng trên báo Nhân Dân, đặt tiền lệ cho các khẩu hiệu “đồng chí-anh em” và “như môi với răng.”

Hai khẩu hiệu đó được hai đảng cộng sản dùng mãi sau này, chỉ ngưng dùng mươi năm sau cuộc chiến biên giới 1979 khi răng cắn môi chẩy máu. Nhưng sau cuộc đầu hàng ở Thành Ðô năm 1992, các khẩu hiệu đó lại được các đồng chí Trung Quốc nhắc nhở. Vì chính ông Hồ đã nói những khẩu hiệu đó trước, cho nên đảng Cộng sản Việt Nam không thể từ chối được! Trung Cộng bèn “triển khai” ra 16 cái chữ vàng để cái thòng lọng thắt chặt hơn.

Hiện nay ở trong nước, các tay đầu sỏ trong đảng cũng không mấy khi nhắc đến Hồ Chí Minh nữa, trừ mấy dịp lễ lạc. Các “cháu” chắc cũng biết cái bùa đó hết thiêng rồi. Hà Sĩ Phu tiết lộ:

“Một blogger tối thân cận với trùm chuyên chính vô sản đã gọi Hồ Chí Minh là ‘Ku Nghệ’ mà không bị khiển trách; thì đủ biết trong hậu trường họ đối với cụ Hồ cũng chẳng thành kính gì.”

Vì họ biết Ku Nghệ (An) là người đầu tiên dẫn cả đảng, cả nước chui đầu vào cái thòng lọng Tân Ðại Hán.

Nguồn: Người Việt

http://www.x-cafevn.org/node/3710

———————————-

Trung Quốc thú nhận đã gửi hơn 300.000 lính chiến đến Việt Nam để chiến đấu chống lại lực lượng Mỹ và đồng minh Nam Việt Nam

HONG KONG (Reuters) 16 tháng 5, 1989 – Lần đầu tiên Trung Quốc thú nhận đã gửi hơn 300.000 lính chiến đến Việt Nam để chiến đấu chống lại lực lượng Mỹ và đồng minh Nam Việt Nam.

Hãng Thông tấn bán chính thức của Trung Quốc (China News Service) trong một bài báo cho biết Trung Quốc đã gởi 320.000 lính sang Việt Nam trong những năm 1960. 

Trung Quốc cũng đã chi trên 20 tỷ USD để viện trợ quân đội chính quy Bắc Việt của Hà Nội và các đơn vị quân du kích Việt Cộng. Bài báo trích “Lịch Sử Cộng hòa nhân dân Trung Hoa” do Nhà Xuất bản Văn khố Nhà nước phát hành, cho biết có hơn 4.000 binh sĩ Trung Quốc đã thiệt mạng trong chiến tranh.Cuộc chiến đã kết thúc khi xe tăng Bắc Việt ủi xập cổng tiến vào khuôn viên Dinh Độc Lập ở Sài Gòn vào ngày 30 Tháng Tư 1975.

Trong suốt cuộc chiến, Trung Quốc đã nhiều lần phủ nhận cáo buộc của Mỹ rằng binh sĩ của họ đang tham chiến tại Việt Nam.

Báo cáo của tình báo Mỹ vào lúc đó đã cho hay về các về đơn vị chiến đấu Mỹ đã thấy những binh sĩ trong quân phục và vũ trang của Trung Quốc cùng mang phù hiệu của Trung Quốc…

China admits it sent troops to fight the U.S. in Vietnam. Desert News. Published: Tuesday, May 16 1989 12:00 a.m. MDT

http://dcvonline.net/modules.php?name=News&file=article&sid=9296

** Mãi cho đến năm 1967, tôi được đưa về trại Phú Sơn Thái Nguyên. Trên đường đi từ Hà Giang về tôi gặp quân Tàu nhập Việt trùng trùng điệp điệp kéo đi (*). Lúc ấy tôi mới biết là có chiến tranh.  (►Trại Cổng Trời- Hà Giang)        

***

►Lập trường của Đảng CSVN về Hoàng Sa khi Trung Cộng xâm chiếm vào ngày 19-1-1974

Tướng Ngô Du nói gì với tướng Lê Quang Hòa và Lê Đức Thọ vào ngày 21-1-1973

Tướng Ngô Du, đại diện cho VNCH tại Ủy Ban Quân Sự 4 bên

Tướng Lê Quang Hòa, đại diện cho VN DC CH

Lê Đức Thọ, Ủy viên Bộ Chính Trị của Đảng  CSVN, (tức đảng LĐVN),

Chuyện dưới đây do sĩ quan bảo vệ an ninh của đoàn do tướng Lê Quang Hòa cầm đầu phái đoàn, và các cựu cán bộ của đảng CSVN kể lại.

1. Quế Lâm

Quế Lâm, một trong những địa danh du lịch nổi tiếng nhất Trung quốc thuộc tỉnh Quảng Tây. Tại đây có một bệnh viện nằm ngoại ô thành phố, chuyên điều trị cho những thương binh nặng hay cán bộ trung cấp Việt nam bệnh nặng. Anh chị em bệnh nhân dự định  ngày  Chủ nhật 20-1-1974  sẽ cùng nhau vào thành phố và đi thăm một số nơi đã cưu mang giúp đỡ các thiếu sinh quân Việt nam.

Sáng  đó trời nắng đẹp, nhưng tất cả các hành lang đều có các bác sỹ và y tá án ngữ : Không ai được ra khỏi phòng bệnh. Điều này cũng xảy ra tại Quảng châu, nơi các cán bộ cao cấp đang an dưỡng. Điều lạ lùng này xảy ra giống hệt hai năm trước, năm 1972 khi Tổng thống Nixon đang thăm Bắc kinh. Nhưng hôm đó, không một ai trong số các bệnh nhân đó biết rằng : Trung quốc đã xâm chiếm quần đảo Hoàng sa. Do vậy họ quản chặt bệnh nhân Việt nam vì sợ nổi loạn.

Tôi đã gặp ông N. đại tá ,thương binh thành cổ  Quảng trị và ông C. cựu cán bộ Đài Phát thanh Truyền hình Việt nam kể lại ngày ấy. Hành động của họ mạnh tới mức, bà H., một người xu nịnh Trung quốc bằng cách luôn mang sách đỏ Mao tuyển, nghĩ rằng mình được lòng Bệnh viện xưa nay, cứ xin ra ngoài, nói tiếng Tàu ba xí, ba tú , liền bị hai người mặc quân phục kèm lên Văn phòng Khoa ngồi suốt ngày.

2. Sài gòn      

Hôm sau, phiên họp của Phái đoàn Liên hợp quân sự 4 bên về việc Giám sát thi hành Hiệp định Paris do Thiếu tướng Lê Quang Hòa, trưởng phái đoàn Việt nam Dân chủ Cộng hòa chủ trì tại Sài gòn. Trong phiên họp này,phía Việt nam Cộng hòa đã đưa văn bản đề nghị chính thức Chính phủ VN Dân Chủ Cọng Hòa cùng với mình ra thông cáo lên án hành động xâm lược lãnh thổ-lãnh hải của Việt nam.

Đề nghị này còn lên kế hoạch chi tiết, trong đó yêu cầu quân Bắc Việt nam và quân của Chính Phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt nam giảm áp lực tại quân đoàn 2 của VNCH. Trong đó đề nghị cụ thể không tiến công quấy rối Đà nẵng, Nha trang và các sân bay ở khu vực này để quân lực VNCH có thể rảnh tay tập trung tái chiếm quần đảo Hoàng sa.

Theo lời kể lại của  ông H., nguyên sỹ quan bảo vệ an ninh cho đoàn, ông Thiếu tướng Lê Quang Hòa đã điện về xin ý kiến Trung ương.

Đích thân ông Lê Đức Thọ phê bình “lập trường chính trị của các anh để đâu? Đang có chiến tranh, lại phối hợp hoạt động với địch à? Cuộc chiến tranh gay go của ta rất cần sự ủng hộ của Trung quốc, mà lại nói quay sang chống bạn. Họ có giải phóng giúp ta, thì sau này cũng trả lại cho ta thôi.’’

Sau đó, phía VNCH đề nghị họp bất thường. Lần này,Trung tướng Ngô Du chủ trì phiên họp. Mở đầu, ông ta nói :

-Trong phiên họp này, tôi đề nghị không cáo buộc, cãi nhau về những vụ xâm phạm lãnh thổ, vi phạm hiệp định nữa. Trung cộng đã ngang nhiên xâm lược và chiếm giữ toàn bộ quần đảo Hoàng sa. Đất của chúng tôi thì cũng như đất của các anh vì cùng là đất tổ tiên chúng ta để lại cả. Vì thế, chúng ta nên xếp ba bốn cái vụ  tranh cãi lại, để ngồi cùng nhau bàn bạc về việc phối hợp hoạt động chống lại sự xâm lăng này.

Cũng như đề nghị bằng văn bản, tướng Ngô Du ngoài sáng kiến giảm bớt áp lực quân sự thuộc quân đoàn 2 ra,ông ta còn đòi phía VNDCCH  gửi công hàm lên án tại Liên hiệp quốc, vận động phe XHCN  cũng như Thế giới lên tiếng phản đối (Trung Quốc).

Phái đoàn Mỹ, người bảo trợ cho tất cả các hoạt động quân sự của VNCH im lặng, không có ý kiến gì.

Ông Lê Quang Hòa cũng tảng lờ, không đáp lại đề nghị này. Ông biết tướng Ngô Du, một thời cũng là cựu đồng ngũ, đã là cán bộ tiểu đoàn thuộc Vệ quốc đoàn, sau đó đảo ngũ và sang phía bên kia , cũng đã một vài lần nói chuyện có vẻ ‘’hòa hợp dân tộc’’. Ông Hòa tưởng tảng lờ đề nghị đó cho qua chuyện,, nhưng ông Ngô Du nổi đóa. Ông chửi tục, nói chúng mày tảng lờ , là tiếp tay cho Trung Cộng, là bán nước mà còn tiếp tục định đánh không cho chúng tao giành lại đất đai của ông cha.

Cáu đến đỉnh điểm, ông Ngô Du vớ lấy cái gạt tàn thuốc lá bằng thủy tinh ném thẳng vào mặt ông Lê Quang Hòa. Ông Hòa né được, gạt tàn đập vào tường vỡ tung tóe.

Sỹ quan bảo vệ, ông H. lao đến, định chộp cổ ông Ngô Du, nhưng bị mấy người lính cận vệ phía bên kia khóa tay.

Cũng trong mấy ngày đó, đài Sài gòn và BBC liên tục đưa tin về sự kiện Hoàng sa. Những người nghe lén đài địch phát rất rõ đã rỉ tai nhau về việc này tại Hà nội. Nhưng giải thích mơ hồ, ngây ngô  và vắn tắt từ trên đưa xuống tới  các chi bộ  Tiểu khu (cấp phường) là bạn giải phóng giúp, sẽ trả lại sau này làm dư luận bớt xầm xì.

Hơn một năm sau, lúc Hải quân Việt nam (VNDCCH) giải phóng các đảo thuộc phía bên kia, sự ngây thơ trên bị đáp lại phũ phàng bẳng việc trả lời đanh thép của phía Trung quốc trước đề nghị cho nhận lại  quần đảo của Việt nam.

Có ai đồng tình lên án hành động xâm lăng đó ?

Sau biến cố đau thương đó, chỉ có Liên xô là nước duy nhất lên án hành động xâm lược trắng trợn, dã man của Trung quốc với một nước nhỏ phía Nam. Họ cũng đã nếm trải hành động này 15 năm trước đó. Hai hòn đảo thuộc cù lao Damansky trên song Usuri bị chiếm đóng, dân cư bị sát hại /2/. Từ đó, các đảo này bị Trung quốc sáp nhập vào lãnh thổ. Vết nhục này đến nay chưa phai trong lòng người Nga. Cuộc chiến trả đũa lớn  dự kiến đánh vào Lopno và khắp miền  bắc Trung quốc vì sao không xảy ra sẽ được viết trong bài sau.

Cũng như với Damansky, rồi gần đây có bài viết tự nhận Siberia của mình,Trung quốc luôn cố chứng minh, họ đã là chủ Biển Đông từ 2 ngàn năm trước.

Cần tránh lối mòn nhàm, chán    

Rất buồn, nhiều người Việt nam cũng luôn dựa vào sự  chiếm hữu lịch sử  như trên là luận điểm cơ bản mong thuyết phục. Nhưng cả Tàu lẫn Việt không hiểu tâm tính người phương Tây và không quan tâm gì đến những quy ước mới về đất biển. Tôi rất đồng tình với /1/ cho rằng  Công pháp quốc tế mới đòi hỏi phải hội đủ 4 điều kiện sau đây mới được coi là có quyền sở hữu, chấp hữu đảo và lãnh hải : (1) Sự chấp hữu phải công khai và minh bạch; (2) Sự chấp hữu phải hoà bình; (3) Sự chấp hữu phải liên tục và không gián đoạn và (4) Sự chấp hữu phải với tư cách là sở hữu chủ.

Để giải thích thêm điều này ta hãy quan sát thái độ người châu Âu, nơi mà đường biên giới thay đổi  trong suốt nửa đầu Thế kỷ trước. Lãnh thổ của Hungari thành của Rumani và nước khác. Lãnh thổ Balan thành của Ucraina và Bạch Nga, Lãnh thổ Ý thành một phần của Nam Tư, v.v. Vậy nên, việc sở hữu lịch sử không phải là chứng cứ họ quan tâm nhiều. Điển hình như Israel, nước luôn nêu lãnh thổ lịch sử từ trên 2000 năm trước, được cả Thế giới công nhận, cũng không thể là cớ để xâm lược các nước Ả rập đang chiếm hữu mảnh đất đó được.

Theo tình hình đó,chủ trương của Việt nam cũng như người Việt nói chung phải thay đổi. Thay vì cày xới chứng minh sở hữu lịch sử, chúng ta cần nghiên cứu và công bố trước Thế giới việc chấp hữu công khai, minh bạch, liên tục, hòa bình và  sở hữu chủ. Về điểm này,Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã phát biểu đúng/3/.

 Như vậy,việc củng cố vị trí của các đảo còn lại chưa bị xâm lược trên quần đảo Trường sa là rất quan trọng. Việc tăng cường phòng ngự không chỉ là việc của chính quyền mà còn là nhiệm vụ của mỗi người dân. Người dân Nga trước kia ăn khoai tây, bán bột mỳ đi lấy tiền cá nhân góp nhau mua tặng Hồng quân máy bay, xe tăng thì người Việt nam cũng có thể có nhiệt tình như thế. Tôi rất xúc động khi thấy thanh niên ở một số Diễn đàn trên Internet không chỉ đến thăm, ủy lạo các gia đình lính đảo mà còn gửi quà, động viên gia đình dân thường sinh sống ở các đảo đó. Hành động nhỏ bé hơn ngàn lần nói suông. Hoàng sa mất rồi, Trường sa cố giữ.

38 năm qua,việc thua trận hải chiến  Hoàng sa 1974 không lúc nào không nhức nhối trong lòng người Việt. Đứng vững tại địa điểm chiến lược, Trung quốc  tung thòng lọng chín khúc thít chặt vào cổ Việt nam và mấy nước nhỏ bé khác.

Phải làm gì đây ?

Tác giả gửi cho Quê choa

(Bài vở gửi đăng QC là chủ kiến riêng của tác giả, không hẳn là chủ kiến của QC)

*nguồn blog của nhà văn  Nguyễn Quang Lập

*Short link của bài này

http://wp.me/po94e-2tW

Posted in Hội nghị Thành Đô 3-9-1990, Đảng CSVN | 2 Comments »

►Trại Cổng Trời- Hà Giang (kỳ 3,4,5)

Posted by hoangtran204 trên 19/08/2012

Công an Nhân dân năm 1954 và Công an Nhân dân năm 2012 xem ra cũng giống nhau. Những sản phẩm của cùng một lò, cùng một khuôn được đúc ra thì làm sao mà khác nhau được.  Họ giống nhau từ hành động, về nhận thức, cách ăn nói, cách cư xử với người dân…

***

Kỳ 3

Tôi ít lưu tâm đến vấn đề tôn giáo. Cũng như tu sĩ Ðinh Hiền Lương, tu sĩ Ðỗ Bá Lung cứ lững thững đi lại, chậm rãi, lặng lẽ tới lui, ông có nhiều lời hơn bậc tu ép xác dòng Châu Sơn một chút, nghĩa là đôi lúc ông có nói với tôi về Phố Nối và con đường 39 về xứ Ngọc Ðồng nơi ông tu.

Vùng của ông, tôi có hành quân qua nên cũng có đôi chút kỷ niệm, vả lại trời cũng phú cho tôi một trí nhớ tốt, cho đến tận bây giờ, sau gần 50 năm trôi qua, mà tôi vẫn nhớ rõ tên; tên chữ cũng như tên nôm của các làng vùng đó như: Duyên Trang Duyên tục là Tuộc, Lác; Hải An là Hối; Phù Lưu là Ðọ (ngã ba Ðọ); Ðống Năm là Ðông Các; Thượng Tầm là Tìm; Cổ Hội là Gọ (cầu Gọ); Cầu Sắt là Nha Xuyên… Cho nên tôi và ông thỉnh thoảng có ôn lại các địa danh Lực Ðiền, Trương Xá, Kim Ðộng, dốc Lã, rồi đến nhãn Hưng Yên, thang cuốn Phố Hiến, dưa hấu Ðình Cao, Phù Cừ và cả về việc chỉ huy sở của khu chiến chiếm Chủng viện Hưng Yên.

Về ông, tôi biết hời hợt thế thôi. Nhưng có một điều ông như thế mà bị đầy lên đây vào khu 2A này thì chắc ở trong còn tiềm ẩn một điều gì sâu sắc lắm, cao đạo lắm, quyết liệt lắm mà tôi chưa hiểu nổi đấy thôi.

Như trên tôi đã nói: Những người ở trong nhà mồ cứ lần lượt bị gọi đi. Luôn luôn lặng lẽ và đột ngột. Nhưng thời gian xảy ra câu chuyện này hơi có sự thay đổi:

Người giám thị cũ của trại giam tên là Nhân chuyển về làm cục phó Cục Quản Lý Trại Giam vì thành tích xuất sắc của mình, thay vào đó là giám thị Nguyễn Quang Sáng, trẻ hơn, người Nam Hà.

Nói qua một chút về giám thị Nhân. Trước khi lên đây, giám thị Nhân coi trại Yên Bái, trại này cũng vào hạn khá đặc biệt, khi chưa có Cổng Trời. Năm 1954, trại này nhốt tướng De Castries người chỉ huy Ðiện Biên Phủ. Sau đó là những địa chủ cường hào đại gian đại ác có nợ máu, những tên phản động nguy hiểm từ trong Nam ra, từ khu Tư lên, tập trung ở đó, rồi sau đó chọn lọc đem lên Cổng Trời.

Giám thị Nhân người Nghệ An, trông gầy (tôi có được gọi lên gặp hai lần) và khô, mặt tai tái lạnh lùng, đúng típ người coi trại giam, rét cắt ruột vẫn đi đôi dép lốp cao su, mà ngón chân út của bàn chân cáu ghét nứt nẻ bao giờ cũng thò ra ngoài quai kẹp lấy nó để đi cho chắc. Rất đúng tác phong quần chúng xuất thân từ nông dân lao động:

Những bàn chân từ than bụi lầy bùn.

Ðã bước dưới mặt trời cách mạng…

Những bàn chân đã vùng dậy đập đầu

Lũ chúa đất xuống bùn đen vạn kiếp

(Tố Hữu)

Ðúng thế, những bàn chân ấy đã giẫm lên xác không biết bao nhiêu người ở các trại giam khác và bây giờ đây lại tiếp tục làm nhiệm vụ của nó: Giẫm lên xác những kẻ ở nhà mồ Cổng Trời này.

Có điều giám thị Nhân giẫm lên xác một cách nhẹ nhàng và im ắng. Còn giám thị mới Nguyễn Quang Sáng thì giẫm lên xác ầm ĩ hơn, trang trọng hơn, bài bản hơn. Âu cũng là cách làm khác nhau của họ. Ðổi mới mà.

Hôm ấy, rét làm đông nước. Ở mái nhà nước đóng thành băng. Sáng ra, nhìn qua cửa sổ ra sân trại, khói bốc nghi ngút trên mặt đất. Như mọi ngày, chúng tôi tiến hành mọi việc như thường lệ. Với chúng tôi: Stalin chết, Malenkốp chết, John Kennedy bị bắn, Ngô Ðình Diệm chết, Kroutchov bị hạ bệ, chả có gì quan trọng cả.

Giám thị Nhân đã từng tuyên bố vào mặt chúng tôi:

“Cái sống chết của các anh ở trong tay chúng tôi. Ðừng có mơ tưởng hão huyền gì. Cho dù có động trời, động đất xảy ra, thì trước khi chuyện đó đến với các anh, nó phải tới cái trại đặc biệt này. Nghe cho rõ mà nhớ lấy. Trước khi mọi điều viễn vông, viễn tưởng mà các anh mong đợi xảy ra, thì các anh đã không còn ở cõi đời này nữa, các anh đã là những cái xác chết rồi.”

Chúng tôi nghe và cũng hiểu đúng như vậy. Cho nên, động đất, chiến tranh ai chết. Mặc. Chúng tôi cứ lặng lẽ, lặng lẽ tồn tại. Chỉ tồn tại thôi chứ không phải là sống. Làm một sinh vật trên trái đất này ai chả tham sống sợ chết. Tôi phải nói lại ngay, ấy là nói với riêng tôi thôi, chứ còn các vị thánh tử vì đạo thì điều ấy hình như không đúng đâu.

Cố Hoàng đôi lúc cao giọng:

Ở nơi lưu đầy

Dù gươm chém hay đầu rơi

Lòng vàng đá không hề phai

Dù gươm chém hay đầu rơi…

(Cha Vinh)

Các đấng bậc ấy chả sợ, chả phàn nàn điều gì. Chả bù với tôi, luôn miệng kêu: “Chao ôi đói quá! Chao ôi rét quá! Chao ôi khổ quá! Chao ôi…” Ðược cái tôi chỉ kêu lên thế thôi, cho nó thoát ra ngoài một chút thế rồi thôi, chả mong gì uất khí làm cho đầu trắng xóa như thái tử Ðan ở nước Tàu xưa kia, vì tôi cũng đã biết:

Gémir, crier, pleuer

est également lache

Và tôi nghiến răng lại để không bao giờ làm kẻ hèn nhát. Dù không được mười phần như các đấng bậc quanh tôi, tôi cũng cố đạt mức trung bình.

Kỳ 4

Buổi sáng hôm ấy, chín giờ, mọi người chúng tôi ăn cơm xong, ngồi chơi, nhìn nhau, thì cửa mở. Một tiểu đội lính lưỡi lê tuốt trần súng ống chỉnh tề. Ðủ mặt bá quan của Khu A2. Quản giáo trực, giáo dục, phó giám thị phụ trách khu.

Tất cả đều đội mũ bình thiên, lệ phục chỉnh chu. Cuối cùng, giám thị mới xuất hiện. Còn trẻ, nhanh nhẹn mặt mũi sáng sủa, ăn nói lưu loát, sang sảng, dứt khoát, có âm sắc Nam Hà (có điều cho mãi đến tận bây giờ tôi vẫn chưa hiểu nỗi, là tại sao trong chuỗi ngôn từ chính quy, nhân danh pháp luật mà giám thị mới lại xen vào đó một số từ mà người ta chỉ dùng để nói láo với nhau mà thôi).

Bài nói như sau:

“Hôm nay, tôi Nguyễn Quang Sáng. Chánh giám thị mới của trại, thông báo để các anh rõ.

Trại Cổng Trời, Công Trường 25A Hà Nội này là một trại đặc biệt. Trại đã sàng lọc cẩn thận lũ các anh, bọn đầu trâu trán khỉ, bọn phản động chống phá cách mạng một cách điên cuồng, ở các trại dưới các anh không chịu cải tạo, lại còn ra sức truyền đạo và kích động người khác. Chúng tôi đây, chúng tôi cũng được chọn lọc, những phần tử ưu tú nhất, dầy dạn nhất, kinh nghiệm nhất để lên đây trừng trị, trấn áp lũ các anh. Tôi thay mặt cho ban giám thị báo cho các anh biết:

Ban giám thị trại Cổng Trời trực tiếp được Bộ Chính Trị và Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội trao cho quyền hành đặc biệt: Trừng trị thẳng tay những kẻ nào còn dám chống lại đảng và nhà nước. Cụ thể, tôi nhấn mạnh, là tôi sẽ cho đi ngủ với giun (nguyên văn) những kẻ nào không chịu cải tạo và cố tình chống đối lại.

Hôm nay tôi xuống đây để hỏi: Anh Ðỗ Bá Lung.”

Im lặng.

“Tôi hỏi: anh Ðỗ Bá Lung có nghe thấy không?”

Có tiếng đáp nhỏ nhẹ: “Có tôi.”

“Ðứng dậy. Tôi bảo anh đứng dậy.”

Vì buồng giam chật, không có chỗ cho chúng tôi đứng, nên chúng tôi đều ngồi xổm hoặc xếp chân vòng tròn trên giường chỗ gần cửa ra vào. Chỉ có giám thị, quản giáo là có chỗ đứng ngay cửa mà thôi. Tu sĩ Ðỗ Bá Lung từ từ đứng dậy.

Trời rét âm bốn độ, nên trong lúc ngồi nghe chúng tôi ai nấy đều quàng chăn cho khỏi rét.

“Bỏ chăn ra.”

Tu sĩ Lung tuột chăn khỏi vai cho rơi xuống chân mình.

“Anh Ðỗ Bá Lung, hôm nay, sau khi đọc hồ sơ của anh, cùng các nhận xét của các ban giám thị các trại dưới, và được các ông quản giáo báo cáo lại, thấy rằng: Anh là một tên phản cách mạng cực kỳ nguy hiểm, đã đội lốt thầy tu mê hoặc các giáo dân ở các xứ đạo, kích động họ để họ chống lại đảng và chính phủ.

Ðến khi bị bắt vào tù, ở các trại dưới cũng như ở đây, anh vô cùng ngoan cố khăng khăng không chịu cải tạo, từ chối mọi sự giáo dục của ban giám thị và các ông quản giáo. Tôi nói lại một lần nữa cho anh Ðỗ Bá Lung và các anh nghe cho rõ. Kẻ nào còn dám chống lại tôi sẽ cho đi ngủ với giun.

Anh Lung, trước đây lúc nào anh cũng vỗ ngực tuyên bố trước giáo dân và các ban giám thị ở các trại dưới là anh thề không đội trời chung với Cộng sản. [Chính xác thì Tu sĩ Lung nói: Tôi không bao giờ có thể sống chung với Cộng Sản vô thần được]. Bây giờ trước mặt tôi anh có còn dám trắng trợn thách thức như thế nữa không?”

Im lặng trên toàn bộ nhà mồ. Tôi ngồi im một xó, khép kín cái chăn, sụp cái mũ bịt tai lại, tránh mọi cặp mắt.

Giám thị Sáng cao giọng hất hàm:

“Tôi hỏi anh Lung, anh trả lời cho tôi biết. Thế nào?”

Những phút giây này Thần Chết đã có mặt. Người ta thường viết như thế này về những người Cộng Sản trước khi chết: Vào những phút giây này người Cộng Sản kiên cường bao giờ cũng đứng dậy hô to: “Ðảng Cộng Sản muôn năm. Hồ Chủ Tịch muôn năm.” Phút giây thiêng anh đứng dậy ba lần và hô ba lần hô dõng dạc như thế.

Tôi chờ. Tôi chờ. Và thấy tu sĩ Ðỗ Bá Lung ngẩng đầu:

“Tôi có nói như thế và bây giờ tôi vẫn nói như thế.”

Tiếng quát bật ra giận dữ:

“Lôi nó đi.”

Không để ai phải lôi kéo cả.

Tu sĩ Lung từ từ bước ra khỏi giường. Ði ra cửa.

Hàng lưỡi lê giãn ra. Quản giáo, giám thị giãn ra để cho tu sĩ đi. Ðến gần cửa tu sĩ quay lại, móc túi lấy gói thuốc lào, mấy đồng bạc “âm phủ” trao lại cho người ngồi gần. Vì tôi nằm cạnh tu sĩ, nên tu sĩ quay lại phía tôi: “Anh Vĩnh, tôi còn mấy viên thuốc cảm, và cái gối để ở đầu giường, lấy mà dùng.”

Và hướng vào tất cả mọi người trong nhà mồ, tu sĩ nói nhỏ nhẹ:

“Thôi chào các bác, các anh ở lại. Tôi đi.”

Và tu sĩ đi. Cửa sập lại.

Chúng tôi im lặng ngồi nhìn nhau không ai nói với ai một lời. Thần Chết đến và đã đi. Lần này ầm ĩ hơn, có nghi lệ hơn, có bài bản hơn những lần trước.

*

Gần ba tháng sau, Nguyễn Hữu Ðang, “tên cầm đầu bọn Nhân Văn Giai Phẩm” đến gần cửa sổ khu tôi ở. Anh là người độc nhất ở đây được đưa cơm vào xà lim, được đi lại tự do trong bốn bức tường, anh là người được ăn no, đủ muối mắm, thậm chí được mua cả thịt trâu và được hái hoa rừng cài vào cửa sổ. Có lần anh cầm một bó hoa nghệ và bảo tôi: Này Vĩnh, cậu ngửi mà xem có đúng mùi nước hoa Bain de Champagne không.

Tôi vốn không ưa cái mùi ung ủng của thứ nước hoa thượng hảo hạng đó. Nhưng anh Nguyễn Hữu Ðang thì anh rất thích cái mùi nước hoa Bain de Champagne đó. Lại có lần qua cửa sổ vào buổi sáng sớm, anh dúi cho tôi một cái bánh sắn to có nhân thịt trâu.

Chao ôi là chao ôi.

Thỉnh thoảng lúc vắng quản giáo và lính canh anh đứng cạnh cửa sổ nói với tôi dăm ba câu chuyện tào lao. Anh được thả lỏng, được ưu đãi có lẽ do cái người cắp cái cặp đen hôm đưa đoàn tù lên. Anh bảo với tôi rằng ông ta tên là Vệ, hình như làm cục phó Cục Quản Lý trại giam. Hồi xưa trước năm 1945, khi anh làm tổng thư ký Hội Truyền Bá Quốc Ngữ với cụ Nguyễn Văn Tố, anh có làm ơn cho ông ta một điều gì đó. Ðến giờ ông ta tử tế đáp lệ lại. Chắc là thế.

Anh luôn bảo, anh không có tội gì cả. Nếu có – theo anh – thì đó chỉ là một sự hiểu lầm về thời gian và không gian trong triết học mà thôi. Anh nói ấm ớ lững lờ và khó hiểu như vậy.

Ba tháng sau, lúc đưa cơm xà lim xong anh đáo qua cửa sổ tôi và bảo:

“Này, cái lão Lung ấy mà. Vẫn chưa chết. Sống dai thế. Không có chăn, không có quần áo ấm để chống rét cơ thể mọc đầy lông cậu ạ. Chỉ còn đôi mắt là vẫn sáng vẫn sống thôi.”

Kỳ 5

 

Nhưng mà sống mãi làm sao cho được nỗi với chế độ hà khắc giết người đó. Tu sĩ Lung phải chết. Người ta đóng các cửa sổ lại để không ai nhìn thấy chiếc chiếu gói xác khênh đi qua.

Mỗi lần chôn, có hai tù hình sự ở trại ngoài vào, đem theo một chiếc chiếu, đòn khiêng và dây thừng. Thường hay chôn vào buổi chiều tà. Chôn xong họ được bồi dưỡng một cân đường, hai cân gạo nếp. Cha Quế và Cha Vinh chết, thì đâu như phần chôn còn được thêm một cân lòng trâu.

Thế là với chúng tôi, Tu sĩ Ðỗ Bá Lung xứ Ngọc Ðông Hưng Yên không bao giờ về nữa. Người đã chết, và coi như mọi chuyện đã hết. Nhưng câu chuyện lại chưa chấm dứt ở đây ở lúc đem Tu sĩ Lung đi chôn.

Ở đoạn trên, chúng ta đã biết là Tu sĩ Ðỗ Bá Lung đã vào Hầm Chết ba tháng mà vẫn chưa chết. Chánh giám thị Nguyễn Quang Sáng rất sốt ruột, luôn luôn hỏi anh Nguyễn Hữu Ðang, người cầm đầu Nhân Văn Giai Phẩm, người độc nhất được đưa cơm vào xà lim:

“Thế nào, nó chết chưa? Cái thằng Lung ấy.”

“Thưa ông, anh ấy chưa chết.”

Nguyễn Hữu Ðang có cái đáng quý là anh không gọi ai ở trong tù bằng thằng cả. Trong khi bọn trật tự viên hình sự luôn luôn nói theo giọng quan thầy, ông chủ chúng đều gọi tù nhân bằng thằng này thằng nọ.

Tôi có một anh bạn rất thân tên là Sâm. Khi hỏi cung tôi, cán bộ công an hỏi:

“Anh thấy thằng Sâm nó thế nào?”

“Thưa ông, tôi không quen thằng Sâm nào cả?”

“Anh láo, anh chối hả? Thằng Sâm mà anh không quen thì anh còn quen ai nữa?”

“Thưa ông, nếu ông nói về anh Ðỗ Văn Sâm học cùng với tôi ở trường Chu Văn An thì tôi quen rất thân. Nhưng xin ông nhớ cho là anh ấy chưa bị bắt, ông không nên gọi thằng này thằng nọ như thế.”

Tôi chỉ dám trả lời lại có thế thôi, nhưng còn anh bạn Phan Hữu Văn, thì anh ấy trả lời hay hơn tôi nhiều:

“Thưa ông, tôi tưởng ông nói tới thằng Vĩnh lưu manh, ma cà bông ở cùng trại 13 với tôi thì thật tình tôi không bao giờ biết tới quân ăn cắp ấy cả. Nhưng tôi có quen ông Kiều Duy Vĩnh, học sinh trường Chu Văn An cũ, nguyên đại úy tiểu khu trưởng Ninh Giang. Chúng tôi không dùng những từ thằng này thằng nọ mày tao mi tớ bao giờ. Chỉ có bọn vô học, vô văn hóa, vô giáo dục thì mới dùng những từ đó mà thôi.”

Tên công an tím mặt lại, đuổi về trại đi cùm.

Lại nói về Tu sĩ Ðỗ Bá Lung, hết tháng thứ ba ông chưa chết, nhưng sang đến tháng thứ tư vào dịp gần đến lễ Thiên Chúa Giáng Sinh ở Cổng Trời đôi lúc không độ, nước đóng băng thì tu sĩ Lung chết.

Nguyễn Hữu Ðang vội vã bá cáo với trực trại là Tu sĩ Lung đã chết.

Ngay buổi chiều hôm đó, mọi cửa sổ nhà giam đều bị đóng kín lại, có hai người tù hình sự ở trại ngoài đem đòn, dây thừng và một chiếc chiếu vào khênh đi chôn. Họ chôn xong, về lĩnh mỗi người một cân đường và một cân gạo nếp. Ðâu như những lần chôn cất cha Vinh cha Quế họ được thêm mỗi người một ký lòng trâu.

Ðối với chúng tôi thì là Tu sĩ Ðỗ Bá Lung đã chết, đã đem chôn. Người chết hết chuyện. Thế nhưng trường hợp của Tu sĩ Lung lại không hết chuyện. Thế mới phiền.

Cũng chừng độ ba tháng sau, một ngày nắng vàng rực rỡ, trời ấm áp dễ chịu, người ta thấy, lù lù một tu sĩ Ðỗ Bá Lung chống gậy xuất hiện ở trại Cổng Trời.

Thế là náo loạn cả lên. Từ Ban Giám thị trại, đến lính coi tù, đến tù nhân đều tới lui, bàn ra tán vào, rì rầm nhớn nhác. Cửa sổ các trại lại đóng như khi ông chết mang đi chôn. Họ đưa ông vào ở tạm một cái buồng con chỗ cán bộ giáo dục “lục vấn” người tù. Chứ chả lẽ lại đưa ông vào Hầm Chết lần nữa!

Hóa ra là hồi ba tháng trước ông chưa chết hẳn, hoặc là ông đã chết mà một phép lạ đã làm ông sống lại. Câu chuyện xảy ra như sau:

Sắp đến chỗ chôn thì trời đổ mưa to, hai người tù hình sự tránh mưa, để ông nằm đó chạy vào trú mưa ở nhà một người Mèo, họ vào đấy uống rượu chờ tạnh mưa. Mưa hồi lâu, và rượu hơi ngon nên trời chập choạng tối họ mới lần xuống, thì không thấy bó chiếu đâu nữa.

Họ nghĩ có lẽ thú dữ, hoặc chó sói đã tha cái xác ấy đi rồi. Có sao đâu, khỏi phải chôn. Họ về và cũng chả có ai hỏi là họ chôn xong chưa? Mọi lần vẫn thế. Mặc nhiên coi như đã chôn xong.

Hóa ra là khi họ đang uống rượu thì mưa to hơn lại có sấm chớp nữa làm Tu sĩ Ðỗ Bá Lung tỉnh lại, dây buộc thì lỏng lẻo, ông chui ra khỏi cái chiếu, lấy cái chiếu che mưa lần vào cái chuồng trâu gần đó. Hơi ấm của trâu, của phân trâu làm ông hồi tỉnh lại và sáng hôm sau, chủ nhà người Mèo nấu cháo ngô cho ông ăn và nuôi ông. Thế là ông sống lại.

Ông sống lại một cách khỏe mạnh. Người Mèo cho ông ăn no so với sáu ký gạo cộng với sắn trong một tháng thì cháo ngô đã làm ông hồi phục nhanh chóng.

Nhưng làm sao mà sống mãi ở nhà họ được? Mà trốn trại thì trốn về đâu? Và làm sao mà trốn thoát được. Giấy tờ không, tiền không, với 100km đường rừng, 300km đường bộ, ông đi làm sao được. Chỉ có một con đường độc nhất xuống núi thì bị kiểm soát thật ngặt nghèo, ông làm sao đi thoát. Vậy chi bằng quay trở lại trại Cổng Trời là hơn cả.

Thế là ông quay về trại sáng hôm đó.

Nhưng phiền là ban giám thị trại đã báo cáo về bộ cái thành tích tiêu diệt tên phản động đội lốt thầy tu Ðỗ Bá Lung rồi, và trên bộ đã gạch xóa tên Lung trong danh sách tù ở Cổng Trời rồi. Làm sao bây giờ? Phải có phương án nào chứ.

Hai hôm sau, có một xe com-măng-ca của bộ lên trại Cổng Trời. Ông Ðỗ Bá Lung lên chiếc xe đó. Ông đi đâu? Và sẽ ra sao? Cho đến giờ chúng tôi cũng không biết gì hơn về Tu sĩ Ðỗ Bá Lung, người đã chết và đã sống lại đó.

—-

Mời các bạn ghé blog này đọc hết cả 10 kỳ, và phổ biến cho nhiều người cùng đọc để biết sự tàn ác của đảng Cộng Sản Việt Nam đối với người dân như thế nào. 

http://quangminhtu.blogspot.com/2013/03/hoi-ky-trai-giam-cong-troi.html

Posted in Trại Tù | 1 Comment »

►Trại giam số 4 Phan Đăng Lưu

Posted by hoangtran204 trên 19/08/2012

Chị Tạ Phong Tần đau đớn ‘gào thét’ khi hay tin mẹ qua đời.

Sau vụ tự thiêu đầy uẩn ức của bà Đặng Thị Kim Liêng, Blogger Tạ Phong Tần vẫn tiếp tục bị cơ quan Công an từ chối cho thăm nuôi và gặp mặt người nhà. Tính từ khi bị bắt giam, kể từ tháng 09/2012 đến nay đã gần 1 năm, chị Tạ Phong Tần chỉ được gặp người nhà 1 lần duy nhất.

Lúc 3h sáng ngày 17/08/2012, hai người em của chị Tạ Phong Tần là anh Tạ Hòa Phú, chị Tạ Minh Tú đặt chân đến Sài Gòn. Mục đích chuyến đi lần này để thăm gặp và báo tin buồn đến chị mình sau cái chết thương tâm của mẹ.

Hai anh em ngồi chờ tại bến xe đến lúc trời sáng, rồi cùng nhau đến trụ sở cơ quan công an điều tra (Số 4, Phan Đăng Lưu, Bình Thạnh) để yêu cầu cho gặp người nhà.

Ban đầu, phía công an từ chối cho thăm gặp với lý do đã “trễ ngày”. Gia đình lập tức phản đối, phía CA bèn yêu cầu hai anh em ngồi chờ “để giải quyết”.

Hai người em của chị Tạ Phong Tần đành phải chờ đợi hơn 1 tiếng đồng hồ, có lẽ cơ quan công an phải xin ý kiến chỉ đạo và bàn cách ứng phó. Mãi đến hơn 9 giờ sáng, một viên an ninh xuất hiện và thông báo “không cho thăm gặp”. Khi bị gia đình chất vấn, viên an ninh này viện đủ lý do, đòi hỏi phải có giấy của viện kiểm sát mới cho thăm nuôi.

Chị Tạ Minh Tú, em gái chị Tạ Phong Tần phản ứng rất quyết liệt, đáp lại vẫn là thái độ vô cảm của cơ quan công an. Sau cùng, hai anh em đành phải rời khỏi cơ quan CA lúc 10 giờ sáng. Chị Bùi Thị Minh Hằng cùng một số bạn bè, người quen cũng có mặt để hỗ trợ tinh thần.

Sau chuyến thăm nuôi bất thành, hai người em chị Tạ Phong Tần là anh Tạ Hòa Phú, chị Tạ Minh Tú đã được chị Bùi Thị Minh Hằng đến hỗ trợ và đón về nhà tại Vũng Tàu.

Trước khi qua đời, trong một lần lặn lội lên Sài Gòn, chị Tú cùng mẹ là bà Đặng Thị Kim Liêng cũng đã bị từ chối không cho thăm gặp. Sau khi trở về nhà, vì quá uất ức nên bà Liêng đã tự thiêu trước trụ sở UBND Tỉnh Bạc Liêu.

Từ khi bị bắt đến nay, chị Tạ Phong Tần chỉ được gặp mẹ duy nhất 1 lần. Đó là khi mới bị bắt, cơ quan công an muốn dùng gia đình để gây áp lực nên đã cho bà Liêng được vào thăm con. Sau buổi thăm gặp, phía CA đã ép buộc bà Liêng viết đơn tố cáo con gái mình theo một kịch bản dựng sẵn. Tờ đơn này sau đó đã bị bà Liêng xé nát trước mặt mọi người.

Một thông tin đáng tin cậy nhắn ra từ trại giam số 4 Phan Đăng Lưu cho biết: Chị Tạ Phong Tần đã biết tin mẹ qua đời, suốt nhiều ngày qua chị gào thét trong đau đớn. Vì các phòng giam không cách âm nên mọi người đều nghe được.

Cũng trong buổi sáng hôm 17/08, cơ quan CA có nói với gia đình là: đã thông báo với chị Tạ Phong Tần việc mẹ qua đời. Tuy nhiên, việc không cho thăm gặp cho thấy cơ quan công an đang cố bưng bít sự thật, không muốn chị Tần biết nguyên nhân mẹ chết là vì tự thiêu.

Trại giam số 4 Phan Đăng Lưu thuộc cơ quan công an điều tra TP.HCM, nơi đây đang giam giữ rất nhiều những người tù yêu nước như: Blogger Điếu Cày – Nguyễn Văn Hải, Tạ Phong Tần, AnhBaSG – Phan Thanh Hải, Việt Khang – Võ Minh Trí, Trần Vũ Anh Bình, Nguyễn Tiến Trung,…

Nguồn: Dân Làm Báo

Posted in Công An, Trại Tù | Leave a Comment »

►Trại Cổng Trời- Hà Giang

Posted by hoangtran204 trên 17/08/2012

LTS: Ông Kiều Duy Vĩnh là một trong những chứng nhân của sự độc ác cùng cực của cai tù CSVN tại nhà tù “Cổng Trời” tỉnh Hà Giang. Ông mất ở Việt Nam ngày 7 tháng 7, 2012 vừa qua, thọ 81 tuổi. Ông từng tốt nghiệp Võ Bị cùng khóa với ông Nguyễn Cao Kỳ, là đại úy tiểu đoàn trưởng Nhảy Dù. Năm 1954 ông đã không theo đơn vị di cư vào Nam vì lý do gia đình. Ông đã bị bỏ tù hai lần 17 năm trong đó có nhiều năm ông bị giam ở “Cổng Trời,” nơi ông và một người nữa (ông Nguyễn Hữu Ðang trong nhóm Nhân Văn Giai Phẩm) sống sót trong số 72 người tù ở cùng một phân trại. Ông kể lại những ngày tù ở “Cổng Trời” qua các hồi ký từng phổ biến trên tạp chí Thế Kỷ 21 cách đây hơn chục năm. Trong các hồi ký này, ông kể về sự kiên cường giữ vững niềm tin tôn giáo của các giáo dân, tu sĩ và linh mục Công Giáo mà ông gọi là “các Thánh Tử Ðạo”.

nguon nguoi-viet.com

Kỳ 1

Kiều Duy Vĩnh

Tôi sở dĩ sống đến hôm nay là vì tôi không phải là người Thiên Chúa Giáo. Nếu tôi mà đeo Thánh Giá ở ngực và biết câu Kinh thì tôi phải chết đã lâu rồi, từ những năm 60 của thế kỷ này, khi còn đi tù đày ở Cổng Trời kia.

***

Ngày ấy tuy qua mà như còn đấy…

(Chí Thiện)

Chúng tôi được tập trung ở Hỏa Lò Hà Nội từ khắp mọi miền đất Bắc, từ vĩ tuyến 17 trở ra: Vĩnh Linh, Quảng Bình, Nghệ Tĩnh, Thanh Hóa, Mỏ Chén, Bất Bạt, Sơn La, Yên Bái, Lao Kay.

Tay xích còng số 8, hai người một.

Hàng đầu: Cha Vinh (địa phận Hà Nội) người bị kết án có 18 tháng tù thôi, thế mà hóa ra án tử hình. Cha Quế, địa phận Xã Ðoài, Nghệ An. Thứ đến là Nguyễn Hữu Ðang, người cầm đầu Nhân Văn Giai Phẩm. Tu sĩ Ðỗ Bá Lung, tu sĩ xứ Ngọc Ðồng Hưng Yên (nay là Hải Hưng), khét tiếng chống Cộng Sản (1).

Tiếp sau đó là một lũ tù dây, đầu trần trán khỉ, hôi hám rách rưới, chống bướng, cứng đầu cứng cổ không chịu sự cải tạo của đảng và chính phủ, bọn “dám bẻ que chống trời…

Chúng tôi lên xe đi. Súng ống bao quanh. Ði đâu?

Không ai ai biết cả. Cả những người cầm súng, cũng không biết. Có lẽ chỉ có một người biết. Người đó xách cặp đen đựng danh sách tù nhân, mặt mũi tử tế, ăn mặc dân sự chỉnh tề, đi trên chiếc commăng ca dẫn đường.

Chỉ biết là chúng tôi đi lên hướng Bắc. Ngày đó đường sá đầy ổ gà ổ voi, xe đi chậm. Mãi trưa chúng tôi mới tới Vĩnh Yên. Nghỉ lại ăn cơm trưa.

Tôi ngồi gần Nguyễn Hữu Ðang, thấy người xách cặp đen đi qua để “kiểm tù”, ông ta nói năng lễ độ tử tế, nhẹ nhàng.

“Anh Ðang, anh có khỏe không?”

“Vâng, tôi khỏe”.

Hai người nhìn nhau ẻ thông cảm:

“Anh có yêu cầu điều gì không?”

“Không. Cám ơn.”

Người đó lặng lẽ đi tiếp.

Chúng tôi lại tiếp tục đi lên phía Bắc. Ðến Ðoan Hùng, lúc đó chưa có cầu, chúng tôi phải xuống xe chờ phà. Ðể tránh sự chú ý: Họ lùa chúng tôi vào sâu trong ngõ cạnh đường, ở đó có một trường học. Có lẽ cấp hai. Các em học sinh và các thầy cô giáo tò mò ra xem lũ tù đày. Họ chỉ trỏ xì xào, hỏi han.

Nguyễn Hữu Ðang hỏi:

“Các cháu có biết nhân vật lịch sử Cao Bá Quát không?”
(Không có tiếng trả lời).

Qua phà chúng tôi đến Tuyên Quang ngủ lại trại giam Tuyên Quang. Lệnh: Không được cởi xích tay. Đêm ấy, chúng tôi không thể nào ngủ được vì thằng muốn đi ỉa đi đái, phải đánh thức thằng tù đang ngủ dậy.

5 giờ sángdậy đi tiếp.

Kiểm số tù lần cuối vẫn là ông xách cái cặp đen tử tế. Ông ta tỏ vẻ rất biệt đãi đối với anh Ðang, làm tôi nghĩ đến chuyện “Chữ người tử tù” của Nguyễn Tuân trong “Vang Bóng Một Thời”.

Ðến Hà Giang, sau khi ăn cơm trưa, chúng tôi đi tiếp vào một con đường mới mở, hẹp và cheo leo. Mọi người nhìn nhau:

“Ði mô?”

Mấy ông Nghệ Tĩnh hỏi nhau.

“Có lẽ sang Tàu.”

Anh Ðang bảo: “Lên Cổng Trời Cắn Tỷ.”

Xe đi chậm vì đường quá xấu. Thế rồi cũng qua được hết, qua đèo Quyết Tiến như là đi máy bay, qua rừng, qua suối, qua mây, và rồi màn đêm buông xuống, chúng tôi đi trong đêm. Tôi vốn là một sĩ quan rất giỏi về Topo, cố định hướng xem mình đi về đâu, hướng nào và đã đi bao xa, nhưng lúc đó cũng chịu. Ðộ 2 giờ sáng đến một địa điểm đèn đuốc sáng choang thì có lệnh xuống xe.

Chúng tôi bị lùa vào một khu rừng, rồi vào một cái nhà có tường dầy 0.80 mét bằng đất nện, cửa bằng gỗ lim, trong nền nhà mọc đầy cây nghệ, lá xách om mượt mà. Mỗi nhà nhận độ 20 người. Cửa khóa lại. Không có đèn đóm gì. Tay hai người vẫn bị xích lại với nhau. Chúng tôi sờ soạng sắp xếp và ngủ tiếp.

Sáng hôm sau, cai tù cửa mở,và ra lệnh cho chúng tôi đem toàn bộ đồ dùng ra sân. Chúng khám xét, lục lọi. Tất cả cái gì bằng kim loại, thánh giá, tràng hạt, kể cả cái thìa nhôm cũng bị tịch thu lấy đi.

Xong, chúng đọc tên phân loại.

Khu O. Khu H. Khu A. Khu B. Khu C. Khi đi và lúc đọc tên tôi nhẩm: có 72 người. Phần lớn là tù già, đứng tuổi và 99 phần trăm là Thiên Chúa Giáo.

Cha Vinh, cha Quế được gọi đi trước, đi về khu O. Nguyễn Hữu Ðang vào khu C. Tôi và tu sĩ Ðỗ Bá Lung vào khu A. Khu A có hai nhà. Nhà tôi ở có: – Ðinh Hiền Lương, tu sĩ dòng tu ép xác Châu Sơn, Ninh Bình, Ðức cha Lê Hữu Từ trước khi làm Giám mục Phát Diệm đã tu ở đó. – Nguyễn Trung Chính, tức Nhẩm, tu sĩ xứ Trung Ðồng, Thái Bình. Nguyễn Văn Khánh Sơn, giáo dân đeo kính cận người Nghệ Tĩnh. – Cố Hoàng: giáo dân Ðức Thọ, Hà Tĩnh, có hai người sinh đôi là Song, Toàn để phân biệt với – Tu sĩ Hoàng cũng Nghệ An. – Lưu Nam phụ trách thanh niên Công Giáo địa phận Xã Ðoài. – Tu sĩ Bình, địa phận Thái Bình. – Tu sĩ Ðỗ Bá Lung xứ Ngọc Ðồng, Hưng Yên. – Trần Văn Liệu, giáo dân làm nghề đồ tể ở Cầu Giát, Quỳnh Lưu, v.v.

Nhà rất rộng, có 2 sạp nằm đối đầu nhau. Chúng tôi là tù chính trị nên đều hết sức tử tế nhường nhịn nhau, ai nằm đâu thì nằm không hề tranh giành cãi cọ.

Xếp đồ đạc xong, đã đến giờ làm việc thiêng liêng, ai nấy đều cầu kinh và làm dấu thánh giá.

Riêng tôi, có mỗi một mình tôi, không biết cầu, không thuộc kinh bổn gì ráo trọi nên tôi bèn nghĩ tới cái trò Yoga mà tôi đã đọc ở đâu đó. Những năm của thập kỷ 60 người ta ít biết và ít nói về cái trò đó. Tôi ngồi thở và sau đó Trần Văn Liệu hỏi tôi “Ðược mấy cân hơi rồi.”

Ngày đầu tiên ở Cổng Trời Cắn Tỷ chấm hết ở đó.

Sang ngày thứ hai, mọi người dậy sớm. Cứ ngồi mà nhìn nhau. Không có nước để đánh răng rửa mặt. Tám giờ, chín giờ rồi mười giờ. Vẫn im ắng như không. Các đấng bậc tu sĩ lại cầu kinh. Tôi lại luyện yoga.

Hai cái thùng đựng phân và nước tiểu bằng gỗ đều đầy cả. Nước đái tràn cả ra ngoài.

Mãi đến 11 giờ, có tiếng gọi: “Lấy cơm.”

Có hai tên tù hình sự ở trại ngoài khênh cơm đến để ở cửa rồi chạy biến. Có lẻ chúng nhận được lệnh là “Cấm được nhìn, được hỏi, được tiếp xúc trao đổi cái gì”. Và đựợc quản giáo yà lính coi tù dạy rằng: “Bọn kiên giam, biệt giam là cực kỳ nguy hiểm, chúng giết người không gớm tay, bọn ăn gan uống máu đồng bào.”

Nhưng thật sự, nhìn kỹ thì: – Ðinh Hiền Lương, tu sĩ dòng tu ép xác Châu Sơn, người xanh lướt như một cái bóng. Các tu sĩ đều vậy cả. – Cố Hoàng thì chỉ có hát là cao giọng thôi, chứ đi đứng thì lẩy bẩy. – Khánh Sơn thì mù dở.

Nếu ăn gan uống máu đồng bào được thì may ra có tôi và Trần Văn Liệu. Nhưng sau những năm tháng tù đầy ở dưới đồng bằng, bị đói, bị khát bị quần cho đến tơi người bản thân tôi, nắm tay không chặt thì còn làm gì được nữa. Ðã rất nhiều lần tôi thử sức, nắm thật chặt để nắm tay mình trở thành quả đấm, nhưng không bao giờ thành, bàn tay tôi không bao giờ có thể nắm chặt lại để thành nắm đấm cả. Thực trạng là như vậy đấy. Nhưng chắc là có lệnh nghiêm mật, giám thị, quản giáo và lính coi tù họ đối xử với chúng tôi cực kỳ tàn bạo và hà khắc.

Ðiều cuối cùng họ phải thi hành nghiêm chỉnh là làm cách nào giết hết được chúng tôi. Và họ đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ đó: 72 người của chúng tôi chỉ còn lại độ chừng 11 người. Tôi dám nói con số đó chính xác đến 99%.

Năm đó là năm 1961. Chúng giết anh em ta ở khu O, khu H, và khu A. Những lò thiêu xác (khổng lồ hay nhỏ nhoi?) không có khói và không cần chất đốt.

Chúng giết anh em ta

Bằng chiều cao của núi

Bằng chiều sâu của đất

Bằng thông cáo của nha khí tượng.

Cứ âm O độ là gọi đi xà lim. Xà lim là một cái quan tài bằng đất dầy một mét, cùm răng cá sấu cắn chân không bao giờ được mở, và bỏ đói cho đến chết. Tiếng gọi của thần chết đột ngột, bất thần, không lý do và khỏi cần giải thích. Lưu Nam, chuẩn bị đi. Khánh Sơn chuẩn bị đi. Ðinh Hiền Lương, chuẩn bị đi. Cứ thế lần lượt ra đi và không một ai trở lại.

Những năm tháng ấy, tôi ngửi thấy cái chết gần gũi quá. Lần đầu tiên trong đời, qua những năm chinh chiến, qua những cuộc hành quân chiến dịch, tôi đi trong cảnh máu chảy đầu rơi, chân tay vung vãi, khói lửa mù trời, tiếng đại bác bắn dồn dập, mặt đất rung chuyển, máy bay rít sát trên đầu, tiếng xích sắt của xe tăng nghiến sàn sạt sát sườn, cả khi người vệ sĩ của tôi chạy cạnh tôi trong chiến đấu, bị nguyên một băng tiểu liên quét trúng, ngã trong cánh tay tôi, người đầy máu thều thào: “Em chết, trung úy ạ…” cả những lúc ấy tôi vẫn chưa cảm thấy mùi Thần Chết.

Nhưng ở đây, Cổng Trời Cắn Tỷ, những năm 60, tôi ngửi thấy và cảm thấy mùi thần chết rất gần. Lặng lẽ, lặng lẽ nó tiến đến. Không thể nào cản nổi. Một cặp lỗ hổng vô cảm của đôi mắt, một tiếng gọi tên, vài cái lưỡi lê chĩa vào… Thế là ra đi, thế là chết.

Một người ra khỏi cửa, những người còn lại nhìn nhau chờ đợi. Không ai nói với ai điều gì. Chúng tôi ăn cơm hai bữa một ngày, chín giờ sáng và ba giờ chiều. Ăn xong ngồi nhìn nhau. Chờ.

Các đấng bậc tu sĩ rất ít nói, nhất là Ðinh Hiền Lương, dòng tu ép xác Châu Sơn. Trông Ðinh Hiền Lương tôi nhớ đến Ðức Giám Mục Lê Hữu Từ địa phận Phát Diệm: Khô, gầy, mặt đầy nếp nhăn khắc khổ. Tuy còn trẻ hơn nhưng tu sĩ Lương cũng gần giống vậy, chỉ có nước da trắng xanh hơn vì ở xà lim suốt. Tuy ông mặc áo tù, nhưng trước mắt tôi vẫn cứ hiện lên hình ảnh của Giám Mục Lê Hữu Từ, người ngồi đó lặng lẽ ôn tồn nhẹ nhàng để đi đến cái chết.

Ở với ông lâu, nhưng tôi chưa được nghe một câu chuyện nào do ông kể, vì ông chỉ nói mỗi ngày có vài tiếng thật cần thiết để tồn tại. Còn thì im lặng suốt. Cái im ắng của ông, tỏa ra chung quanh, đè xuống mọi người.

Trong cái nhà mồ đó, có tôi và Trần Văn Liệu (Cầu Giát Nghệ An) vốn ăn to nói lớn thế mà lúc  tu sĩ  Ðinh Hiền Lương làm việc thiêng liêng, tôi, nhất là Liệu đến phải khép nép, và im lặng. Ðúng là một cái nhà mồ. Những người ở trong cái nhà mồ ấy chết gần hết, chỉ còn lại tôi, và hình như Liệu nữa.

Nhà tù của chúng tôi không có tên, hoặc là có thì đây: 65HE Bộ Công An, hay công trường 75A Hà Nội.

Những người Thanh Hóa, Nghệ An, Quảng Bình đi thăm, hỏi công an địa phương, họ cho cái địa chỉ đó. Có người ngây thơ nghĩ rằng: người thân của mình được ra làm công trường ở Hà Nội. Họ ùa đi tìm và không bao giờ thấy cả.

Vậy nó ở đâu?

Ở thị xã Hà Giang đi lên, qua đèo Quyết Tiến đến Cổng Trời là gần biên giới Việt Trung, chỗ có thể chưa được phân định rõ ràng, có thể là đất Tàu có thể là đất ta, một thung lũng không có tên, không có dân, chỉ có tù và người coi tù. Mặt đất đầy nghệ. Rừng nghệ. Tù lấy lá nghệ mọc trong gầm giường ăn thay rau chống đói. Không biết mình ở đâu? Không định được tọa độ trên bản đồ. Hàng rào cao kín mít, con chim không bay qua, con chuột to chui không lọt.

Sang đến năm 1963, thì tù phá đá ở ngay trong sân trại xây tường bao quanh. Tường cao như tường Hỏa Lò Hà Nội. Có dây kẽm gai, có điện truyền vào dây kẽm gai. Nghĩa là cực kỳ kiên cố. Không ai có thể trốn thoát được. Không một ai cả. Chế độ kiểm soát tù nhân cực kỳ nghiêm mật. Không một mảnh giấy lọt vào. Không một cái gì có thể gạch hoặc viết được ra chữ tồn tại trong tù. Không báo chí, thư từ. Tù nhân cấm không được viết thư và nhận thư.

Nói khó ai tin: Cuộc chiến tranh với Mỹ xảy ra năm 1964 ở miền Bắc mà không một ai trong nhà tù biết cả. Chỉ thấy có một hiện tượng là những bức tường rào bao quanh được ngụy trang và các mái nhà được che phủ. Thế thôi. Không ai đoán ra được cái gì.

Mãi cho đến năm 1967, tôi được đưa về trại Phú Sơn Thái Nguyên. Trên đường đi từ Hà Giang về tôi gặp quân Tàu nhập Việt trùng trùng điệp điệp kéo đi (*). Lúc ấy tôi mới biết là có chiến tranh.

Cực giỏi. Những người CS cực giỏi trong quản lý nhà tù, cũng như trong cái trò bưng tai, bịt mắt quần chúng nhân dân.

Một bức màn sắt đúng nghĩa.

Ðây là nhà tù, chứ không phải là nhà thờ. Vậy, cấm cầu kinh, cấm lần tràng hạt, cấm làm dấu thánh. Cấm được ngồi trong đêm; vì không ai nằm mà cầu kinh cả.

Vậy nên cửa sổ nhà tù lúc nào cũng phải mở, mây bay vào qua cửa sổ mang cái lạnh chết người vào theo.

Cái màn cho tù, là một cái quan tài bằng vải. Quy định màn chỉ được cao 40cm để nếu tù có ngồi ban đêm cầu kinh thì nhô cái đầu lên, lính canh đi tuần có thể kiểm soát được, quản giáo đi tuần có thể nhìn thấy. Vậy cái màn dài 1m8 và cao 40cm, thì đúng là một cái quan tài bằng vải sô liệm người sống rồi còn gì.

Cứ từng bước một, ban giám thị trại thi hành chính sách diệt tôn giáo, cụ thể là diệt Thiên Chúa Giáo vì ở Cổng Trời tôi chưa hề gặp một nhà sư hoặc một Phật tử nào. Chỉ gặp các linh mục và các tu sĩ Thiên Chúa Giáo mà thôi. Có lẽ ở miền Bắc Việt Nam thời ấy không còn đạo Phật đúng nghĩa của nó. Trong cái nhà mồ đó, có một tôi là người không theo đạo Thiên Chúa, nhưng tôi không phải là Phật tử. Tôi không thờ Phật, không tin vào Niết Bàn và Thích Ca Mâu Ni tuy tôi rất thích câu kệ:

Nhạn liệng từng không

Bóng in mặt nước

Nhạn không có lòng ghi dấu

Nước không có ý lưu hình

Với tôi, tất cả sư mô ở Bắc kỳ đều là sư hổ mang, học trường Ðại Học Tôn Giáo, tu theo nghĩa vụ, như nghĩa vụ quân sự, hết ba năm ra khỏi chùa về nhà lấy vợ đẻ con. Thế cả.

Và tôi cũng nghĩ sai về các tu sĩ Thiên Chúa Giáo như thế. Nhưng tôi đã thật sự gặp các vị thánh tử vì đạo. Các vị thánh tử vì đạo bằng xương bằng thịt sống cạnh tôi nhiều năm, mà tôi vẫn coi thường, nhưng cái chết của họ đã làm tôi phải nghĩ khác đi. Tôi vốn xa lạ với các tên Phêrô, Phaolồ và Mađờlen. Nhưng cái tên Ðỗ Bá Lung thì cho đến hết đời tôi không thể nào quên được.

Tu sĩ Ðỗ Bá Lung người lù khù nhưng tử tế, hiền lành, củ mì như một nông dân chân chính của đồng bằng Bắc bộ. Chả là ông tu ở xứ đạo Ngọc Ðồng, Hưng Yên mà. Ông chưa được phong linh mục cũng như ông Diệu ở Thụy Phương Hà Nội, ông Chính (Nhẩm) ở Trung Ðông Thái Bình. Ông chả kể về ông mấy khi.

Trong cái nhà mồ đó chỉ có thầy Chính là có kể cho tôi nghe đôi điều về quê hương Thái Thụy của người, và về xứ đạo ven biển Trung Ðông mà thôi. Thêm nữa có nhà trí thức xứ Nghệ Khánh Sơn với đôi kính cận dầy cộm, ra cái điều học nhiều biết rộng, thiên kinh vạn quyển, cổ kim, Âu Á, hay nói với tôi về Phúc Âm, về Thánh Thomas d’Aquin. Tôi nghe ù ù cạc cạc như vịt nghe sấm. Tôi vốn không có đức tin và vốn coi thường cái học vấn hẹp hòi của các vị đó thường giới hạn đến hết sân Nhà Thờ, nên tôi chỉ nghe chơi cho qua ngày đoạn tháng, cho qua cái thời gian dài dằng dặc khốn nạn ở trong cái nhà mồ mà thôi.

Còn tiếp

 

« 

(*) http://dcvonline.net/modules.php?name=News&file=article&sid=9296

HONG KONG (Reuters) 16 tháng 5, 1989 – Lần đầu tiên Trung Quốc thú nhận đã gửi hơn 300.000 lính chiến đến Việt Nam để chiến đấu chống lại lực lượng Mỹ và đồng minh Nam Việt Nam.Hãng Thông tấn bán chính thức của Trung Quốc (China News Service) trong một bài báo cho biết Trung Quốc đã gởi 320.000 lính sang Việt Nam trong những năm 1960. 

Trung Quốc cũng đã chi trên 20 tỷ USD để viện trợ quân đội chính quy Bắc Việt của Hà Nội và các đơn vị quân du kích Việt Cộng. Bài báo trích “Lịch Sử Cộng hòa nhân dân Trung Hoa” do Nhà Xuất bản Văn khố Nhà nước phát hành, cho biết có hơn 4.000 binh sĩ Trung Quốc đã thiệt mạng trong chiến tranh.Cuộc chiến đã kết thúc khi xe tăng Bắc Việt ủi xập cổng tiến vào khuôn viên Dinh Độc Lập ở Sài Gòn vào ngày 30 Tháng Tư 1975.

Trong suốt cuộc chiến, Trung Quốc đã nhiều lần phủ nhận cáo buộc của Mỹ rằng binh sĩ của họ đang tham chiến tại Việt Nam.

Báo cáo của tình báo Mỹ vào lúc đó đã cho hay về các về đơn vị chiến đấu Mỹ đã thấy những binh sĩ trong quân phục và vũ trang của Trung Quốc cùng mang phù hiệu của Trung Quốc…

China admits it sent troops to fight the U.S. in Vietnam. Desert News. Published: Tuesday, May 16 1989 12:00 a.m. MDT

 

 

Posted in Trại Tù | 1 Comment »

►Ecuador đã đồng ý cho Julia Assange tị nạn chính trị bất chấp sự phản đối của Anh

Posted by hoangtran204 trên 16/08/2012

Trần Hoàng  phỏng dịch

16-8-2012

Bộ trưởng Ngoại giao Ricardo Patino của Ecuador đã đồng ý cho Julia Assange  tị nạn chính trị mặc cho chính phủ Anh hăm dọa sẽ xông vào tòa đại sứ Ecuador để bắt Julia Assansse và dẫn độ ông ta về Thụy Điển trả lời chất vấn liên quan tới việc nước này đang điều tra và buộc tội ông ta về tội hiếp dâm.

(Theo đó, 2010, một nữ tình nguyện viên của Wikileak đã đồng ý làm tình với ông ta vào buổi tối, rạng sáng hôm sau khi cô ta đang ngũ, ông ta đòi làm tình với cô ta thêm lần nữa. Theo lời của cảnh sát Thụy Điển thì cô ta  không đồng ý, nhưng ông ta cứ làm tới và cũng không mang bao cao su. Luật của Thụy Điển cho rằng: nếu không mang bao cao su là hiếp dâm. Julia Assange cho rằng đây là cái cớ của chính quyền Thụy Điển muốn bắt giữ, dẫn độ ông ta và giao cho chính phủ Mỹ vì ông ta đã công bố các tài liệu mật của Mỹ lên internet.  Trước đó, một lính Mỹ đã giao tài liệu mật này cho Julia Assange, sau đó anh ta đã bị bắt và hiện đang bị chính phủ Mỹ truy tố ra tòa án quân sự.)

Bộ trưởng Ngoại giao Ricardo Patino của Ecuador noi’: “Tị nạn chính trị là một quyền cơ bản của con người. Luật quốc tế có thẩm quyền cao hơn luật địa phương. Và rằng Julia Assange có quyền “không bị dẫn độ hay bị trục xuất tới bất cứ một nước nào khác”

Julia Assange đã chạy vào trốn trong tòa Đại sứ Ecuador từ tháng 6 vừa qua  (và ăn ở trong tòa đại sứ  Ecuador từ  ngày đó cho đến nay. Cảnh sát Anh thì đứng canh trước tòa đại sứ ). 

Văn phòng Bộ Ngoại Giao Anh đã gọi hành động của Ecuadora cấp tị nạn chính trị cho Assange là “đáng tiếc”.

Vào ngày thứ Tư,  Bộ trưởng Ngoại giao Patino cho biết ông đã nhận được một lời hăm dọa bằng thư của Bộ Ngoại Giao Anh rằng “họ sẽ vào tòa đại sứ của chúng ta ở Luân Đôn nếu như Ecuador từ chối giao nạp Julia Assange cho họ”, Patino đã trả lời hôm thứ Tư rằng: “Chúng tôi muốn nói rõ rằng Ecuador hiện nay không phải là thuộc địa của Anh. Thời kỳ thuộc địa đã qua rồi”

Phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Anh đã trả lời rằng họ buộc lòng phải giao Julia Assange cho Thụy Điển. “Nước Anh có nghĩa vụ về mặt luật pháp để dẫn độ ông Assange về Thụy Điển để trả lời về tội liên qua tới tình dục và chính phủ Anh xác định là phải làm nghĩa vụ này. Theo luật pháp của Anh 1987, chúng tôi có thể gởi thông báo tới cho tòa đại sứ một tuần lễ trước khi chúng tôi đặt chân vào tòa đại sứ này, và khi đó tòa đại sứ Ecuador không còn được bảo vệ quyền miễn nhiễm ngoại giao. Nhưng chúng tôi chưa quyết định làm như thế. Chúng tôi muốn nhấn mạnh rằng chúng tôi muốn có một giải pháp thỏa thuận về mặt ngoại giao.”

Câu hỏi đặt ra là làm thế nào để Julia Assange thoát khỏi tòa đại sứ Ecuador, bước lên phi cơ ở phi trường nào, và bay qua Ecuador tị nạn chính trị. Hiện nay, cảnh sát Anh sẽ bắt giữ Julia Assange nếu thấy ông ta bước ra khỏi tòa Đại Sứ Ecuador.  

Ecuador grants Assange asylum

By Dylan Stableford, Yahoo! News 

Ecuador’s foreign minister announced on Thursday that they would grant asylum to WikiLeaks founder Julian Assange, defying threats by the British government to raid the Ecuadorean Embassy and extradite Assange to Sweden, where he is wanted for questioning in connection with alleged rape and sexual molestation cases.

“We have decided to grant political asylum to him,” Ricardo Patino said at the end of a long televised statement from the Ecuadorean capital of Quito, where he criticized the U.S. and U.K. governments for failing to protect Assange from political persecution.

“The countries that have a right to protect Assange have failed him,” Patino said. “[Assange] is victim of political persecution … If Assange is extradited to U.S., he will not receive a fair trial.”

“Asylum is a fundamental human right,” Patino said, adding that “international law” overrides local laws, and that Assange has “the right not to be extradited or expelled to any country.”

A crowd gathered outside the Ecuadorean Embassy in London, where Assange, a 41-year-old Australian native, has been holed up since June, to hear the verdict. At least one protester was arrested.

The U.K. Foreign and Commonwealth Office called Ecuador’s decision to grant Assange asylum “regrettable.”

It’s unclear what will happen to Assange now. U.K. authorities say his asylum is a violation of his probation–and there is reason to believe he would be arrested if he tried to leave the embassy.

Assange fears his extradition would lead him to be turned over to the United States, which has condemned WikiLeaks’ publication of classified documents. (Assange says the U.S. would charge him with espionage; the U.S. has not said whether or not it would pursue charges against him.)

On Wednesday, Patino said he received a “clear and written” threat from the United Kingdom that “they could storm our embassy in London if Ecuador refuses to hand in Julian Assange.”

“We want to be very clear, we’re not a British colony,” Patino said on Wednesday. “Colonial times are over.”

British officials said they are obligated to turn Assange over to Stockholm.

“The U.K. has a legal obligation to extradite Mr. Assange to Sweden to face questioning over allegations of sexual offenses and we remain determined to fulfill this obligation,” a spokesman for Foreign and Commonwealth Office said in response. “Under British law we can give them a week’s notice before entering the premises and the embassy will no longer have diplomatic protection. But that decision has not yet been taken. We are not going to do this overnight. We want to stress that we want a diplomatically agreeable solution.”

In a statement early Thursday, WikiLeaks condemned the U.K.’s threat:

A threat of this nature is a hostile and extreme act, which is not proportionate to the circumstances, and an unprecedented assault on the rights of asylum seekers worldwide.

In 2010, Swedish prosecutors in Stockholm issued warrants to question Assange about the alleged sex crimes involving a pair of former WikiLeaks volunteers. Assange claims the charges are part of an international smear campaign stemming from WikiLeaks’ publication of diplomatic cables.

Posted in Chinh Tri | Leave a Comment »

►Bày tỏ quan điểm chính trị- Tôn Giáo – Chính quyền độc tài thủ tướng Nga, Putin

Posted by hoangtran204 trên 15/08/2012

“3 cô gái hát nhại lại một bài nhạc Chúa lồng vào các lời lẽ nhạo báng thủ tướng Putin biểu diễn trước nhà thờ ở Moscow. Trước đó họ đã hát bài này ở nhiều nơi khác nhau nhưng không sao. Lần trình diễn trước nhà thờ này bị nhà thờ phái Orthodox Nga khởi kiện vì phỉ báng tôn giáo.” ( innova) danluan.org

Nadia Tolokonnikova (Pussy Riot) – Tuyên ngôn về nghệ thuật và con người

Phan Đằng Giang dịch

pro&contra – Ngày 17 tháng 8 sắp tới, tòa án xử ba cô gái trong ban nhạc Pussy Riot sẽ tuyên án. Trong khi phía công tố đề nghị án tù mỗi người 3 năm, tổng cộng là 9 năm cho 40 giây đồng hồ trình diễn bài cầu nguyện Đức Mẹ Maria giải thoát nước Nga khỏi Putin trên thánh đường Nhà thờ Chú Cứu thế ở Moskva, lời tự biện hộ của các bị can bày tỏ sự kiên định đầy ấn tượng.

Nadia Tolokonnikova (22 tuổi, sinh viên triết) nói : Bị cáo đứng trước tòa án này không phải là Pussy Riot, mà là hệ thống tư pháp nước Nga. Ai có lỗi trong cuộc trình diễn âm nhạc tại Nhà thờ Chúa Cứu thế? Chính là hệ thống chuyên chế. Nhưng tôi đang thấy qua chúng tôi, hệ thống ấy thất bại. Chúng tôi tự do hơn những người ngồi ở ghế công tố phía bên kia. Họ chỉ dám nói những gì mà chế độ kiểm duyệt chính trị cho phép nói.

Có thể họ cũng biết rằng chúng tôi bị trừng trị vì đã chống Putin và hệ thống của ông ta. Nhưng họ không dám nói ra điều đó, miệng họ đã bị khâu kín. Ai có thể hình dung rằng chúng ta không hề học được điều gì từ lịch sử, từ những vụ khủng bố của Stalin? Cũng như Aleksandr Solzhenitsyn, tôi tin tưởng rằng cuối cùng ngôn từ sẽ đâm thủng bê tông. Chúng tôi đang ngồi trong cũi nhốt, nhưng tôi tin rằng chúng tôi không thua trận.

Yekaterina Samutsevic (30 tuổi, lập trình viên) nói: Chúng tôi biết mình sẽ bị kết án. Trước bộ máy tư pháp đầy quyền lực, chúng tôi chẳng là ai hết, chúng tôi phải thua. Nhưng nhìn từ một phía khác thì chúng tôi đã thắng. Cả thế giới đã nhìn thấy vụ án này bịa đặt ra các tội danh. Hệ thống này không thể che giấu tính chất trấn áp của phiên tòa nữa.

Maria Alyokhina (24 tuổi, sinh viên báo chí) nói: Nửa năm tạm giam điều tra đã giúp tôi hiểu rằng nhà tù là một mô hình thu nhỏ của nước Nga. Ở đó mọi vấn đề chỉ được giải quyết với sự can thiệp trực tiếp của cấp trên.

Trong tù cũng như toàn xã hội bên ngoài, con người đã đánh mất nhân cách. Chúng ta đều là tù nhân. Tôi không sợ các người! Tôi không sợ sự lừa dối vụng về trong bản án của cái gọi là tòa án của các người. Bởi lẽ các người chỉ có thể tước đoạt cái gọi là quyền tự do, mà nước Nga chỉ có thứ tự do đó. Tự do nội tại của tôi thì các người không thể tước đoạt nổi.

pro&contra xin giới thiệu tuyên ngôn sau đây của Nadia Tolokonnikova, cô gái trẻ nhất và được coi là linh hồn của nhóm.

_____________________

 

Tôi là một trong những thành viên của ban nhạc (punk band) Pussy Riot, một ban nhạc đã thực hiện những buổi biểu diễn không hẹn trước trên những khu vực khác nhau của thành phố. Các bài hát của Pussy Riot đều nhắm tới những vấn đề chính trị nóng bỏng. Mối quan tâm của những thành viên trong nhóm: sự năng động về mặt chính trị, môi sinh, và loại bỏ những xu hướng độc tài trong hệ thống nhà nước bằng cách thiết lập xã hội công dân.

Kể từ khi xuất hiện vào tháng 10 năm 2011 chúng tôi đã trình diễn ở những nơi như ga tầu điện ngầm, trên nóc ô tô điện, tại trung tâm giam giữ những người vi phạm hành chính số 1, trong các cửa hàng bán quần áo, tại những buổi biểu diễn thời trang, trên bục Lobnoye Mesto ở Quảng trường Đỏ. Chúng tôi tin rằng nghệ thuật phải dành cho tất cả mọi người, vì vậy mà chúng tôi biểu diễn ở những địa điểm công cộng khác nhau. Pussy Riot không bao giờ tỏ ra coi thường khán giả và những người chứng kiến những buổi biểu diễn punk. Chuyện đó đã từng xảy ra trên nóc xe ô tô điện, chuyện đó đã từng xảy ra ở Lobnoye Mesto, và chuyện đó cũng đã xảy ra ở nhà thờ Chúa Cứu thế.

Ngày 21 tháng 2 năm 2012 nhóm Pussy Riot trình bày lời cầu nguyện Mẹ Maria đầy ơn phúc, hãy tống cổ (thủ tướng)Putin đi theo điệu punk ở nhà thờ Chúa Cứu thế.

Đầu tháng 3 năm 2012, ba thành viên của nhóm bị bỏ tù vì hoạt động âm nhạc và chính trị.

Đề tài của những bài hát của chúng tôi là do thời thế gợi ý. Chúng tôi chỉ phản ứng trước những hiện tượng đang diễn ra ở trong nước và thể hiện quan điểm của khá nhiều người dưới dạng những buổi biểu diễn nhạc punk mà thôi. Trong bài Mẹ Maria đầy ơn phúc, hãy tống cổ Putin đi chúng tôi thể hiện phản ứng của nhiều người Nga trước lời kêu gọi của Tổng Giám mục về việc bỏ phiếu cho V. V. Putin trong cuộc bầu cử vào ngày 4 tháng 3 năm 2012.

Chúng tôi cũng như nhiều người khác cảm thấy khó chịu trước sự phản bội, lừa bịp, tham nhũng, dối trá, tham lam và vô luật pháp, đặc trưng của chế độ và những người cầm quyền hiện nay.Vì vậy mà chúng tôi cảm thấy thất vọng trước sáng kiến chính trị của Tổng Giám mục và không thể không lên tiếng. Buổi biểu diễn trong nhà thờ Chúa Cứu thế không phải là do lòng ghen ghét và thù hận tôn giáo. Chúng tôi cũng không thù ghét những người theo Chính thống giáo. Chính thống giáo tôn thờ những điều mà chúng tôi tôn thờ: từ bi, hỉ xả, công lí, tình yêu và tự do. Chúng tôi không phải là kẻ thù của Thiên chúa giáo. Chúng tôi tôn trọng quan điểm của những người theo Chính thống giáo và chúng tôi muốn họ đứng về phía chúng tôi – đứng về phía những người hoạt động dân sự nhằm chống lại chế độ độc tài. Vì vậy mà chúng tôi đã đến nhà thờ.

Chúng tôi đến với những điều mình có và mình có thể làm: với buổi biểu diễn của chúng tôi. Mục đích của buổi biểu diễn này là thể hiện băn khoăn lo lắng của mình: linh mục của nhà thờ Chúa Cứu thế – Tổng Giám mục – đứng đầu Chính thống giáo Nga đã ủng hộ một chính khách từng dùng những biện pháp cứng rắn nhằm đè bẹp xã hội dân sự mà chúng ta cùng nâng niu.

Tôi đặc biệt muốn nhấn mạnh sự kiện là ở trong nhà thờ chúng tôi không nói bất kì lời nói khiếm nhã nào đối với nhà thờ, đối với những người theo đạo và Chúa. Tất cả những lời chúng tôi đã nói và toàn bộ buổi biểu diễn nhạc punk chỉ nhằm mục đích là thể hiện sự bất bình của chúng tôi trước một sự kiện chính trị cụ thể: sự ủng hộ của Tổng Giám mục đối với (thủ tướng) V. V. Putin, một người thi hành chính sách độc tài và chống phong trào nữ quyền.

Trong buổi biểu diễn, không hề có thái độ gây hấn đối với khán giả, mà đấy chỉ là ước muốn tuyệt vọng nhằm thay đổi tình hình chính trị ở nước Nga theo hướng tốt lên. Tình cảm của chúng tôi và sức diễn cảm cũng là từ đấy mà ra. Chúng tôi lấy làm tiếc nếu niềm say mê của mình đã khiến khán giả bất bình. Chúng tôi không có ý định xúc phạm bất kì ai. Chúng tôi mong muốn rằng những người không hiểu chúng tôi tha lỗi cho chúng tôi. Nhất là chúng tôi không muốn ai ghét bỏ chúng tôi.

Chúng tôi cũng rất muốn rằng việc chúng tôi phủ nhận tội danh của mình theo điều 213 khoản 2 của Bộ Luật Hình sự không bị coi là không muốn hay không có khả năng nhận thức được sai lầm hoặc là càn rỡ, xấc láo. Tôi có cảm tưởng rằng những người bị đau khổ vì những bài hát của chúng tôi có xu hướng coi việc chúng tôi phủ nhận tội danh mà tòa án cáo buộc, theo cách đó. Tôi cho rằng tất cả chúng ta đều là nạn nhân của một sự hiểu lầm tai hại nhất, sự lầm lẫn về ngôn từ và điều khoản pháp luật.

Điều quan trọng nhất là tôi tách riêng đánh giá về mặt pháp lí buổi biểu diễn Mẹ Maria đầy ơn phúc, hãy tống cổ Putin đi ra khỏi đánh giá về mặt đạo đức. Điều này rất quan trọng, mà có thể là quan trọng nhất trong quá trình xét xử. Tôi khẳng định rằng không được lẫn lộn khía cạnh hình sự với khía cạnh đạo đức. Vấn đề là và tôi cũng muốn rằng tất cả mọi người đều cố gắng hiểu – nhất là những người bị buổi biểu diễn của chúng tôi làm cho đau khổ – rằng việc chúng tôi không công nhận tội danh theo điều 213, khoản 2, Bộ Luật Hình sự của Cộng hòa Liên bang Nga không có nghĩa là chúng tôi không sẵn sàng giải thích những hành động của mình, không sẵn sàng xin lỗi trước những đau khổ mà buổi biểu diễn đã gây ra.

Về mặt đạo đức, tôi đánh giá bài cầu nguyện theo lối punk của Pussy Riot như sau: sai lầm về mặt đạo đức của chúng tôi là chúng tôi đã cho phép đưa thể loại mà chúng tôi vừa làm ra – buổi biểu diễn punk mang tính bất ngờ về mặt chính trị – vào nhà thờ. Nhưng lúc đó thậm chí chúng tôi không nghĩ rằng hành động của chúng tôi có thể xúc phạm một người nào đó. Vấn đề là chúng tôi đã biểu diễn ở nhiều địa điểm khác nhau ở Moskva từ tháng 10 năm 2011 và khắp nơi: trong tầu điện ngầm, trong các cửa hàng bách hóa và trên nóc trung tâm giam giữ những người vi phạm hành chính số 1, trên bục Lobnoye Mesto, ở đâu người ta cũng nhìn hành động của chúng tôi với sự hài hước, vui vẻ, hoặc ít nhất thì cũng khôi hài.

Tương tự như thế, từ kinh nghiệm biểu diễn của mình, chúng tôi không nghĩ rằng buổi biểu diễn nhạc punk lại có thể làm cho người nào đó tổn thương hay đau khổ. Nếu có người nào đó bị buổi biểu diễn của chúng tôi trong nhà thờ Chúa Cứu thế làm cho đau khổ thì tôi sẵn sàng chấp nhận rằng chúng tôi đã có sai lầm về mặt đạo đức. Đây đúng là một sai lầm vì chúng tôi không cố tình gây đau khổ cho bất cứ người nào. Sai lầm về mặt đạo đức – tôi xin nhấn mạnh, sai lầm về mặt đạo đức chứ không phải là tội danh được qui định trong bộ Luật Hình sự – nằm ở chỗ chúng tôi đã phản ứng trước lời kêu gọi làm chúng tôi thất vọng của Tổng Giám mục về việc bỏ phiếu cho V. V. Putin bằng cách biểu diễn trong nhà thờ, và chia sẻ với khán giả quan điểm chính trị của mình theo cách đó. Đó là sai sót về mặt đạo đức của chúng tôi – tôi xin nhấn mạnh và công nhận như thế, và tôi xin lỗi vì điều đó.

Nhưng sai sót về mặt đạo đức của chúng tôi không phải là tội theo bất kì điều khoản nào của bộ Luật Hình sự.

Chúng tôi đã bị giam cầm suốt năm tháng rồi, mặc dù hành động của chúng tôi không phải là tội hình sự. Vi phạm những qui định về hành vi do nhà thờ đặt và lời kết án về lòng hận thù và đối địch với Chính thống giáo và tất cả những người có đạo là những vấn đề hoàn toàn khác nhau. Cái này không thể dẫn đến cái kia. Mỗi lần đọc đến đoạn cáo trạng nói rằng chúng tôi đến nhà thờ là do thái độ khinh bỉ và căm thù những người có đạo là tôi lại run bắn người lên.

Đây là những lời lẽ khủng khiếp, những lời lẽ rất ác độc và quyết liệt không thể tưởng tượng được. Chúng tôi chỉ có động cơ chính trị và nghệ thuật và tôi đồng ý là có lẽ về mặt đạo đức chúng tôi hoàn toàn không có quyền đưa những thứ đó vào khu vực có tính nghi lễ của nhà thờ. Nhưng chúng tôi không căm thù ai hết.

Xin các vị hãy suy nghĩ kĩ thế nào là hận thù và thù địch – đấy không phải là trò đùa và không được gán cho người ta một cách đơn giản như thế. Đấy là bằng chứng giả – và người ta đã phỉ báng chúng tôi suốt năm tháng nay. Tôi không nói rằng mình dễ dàng chịu đựng được việc gán ghép một cách ác độc và cay nghiệt những tình cảm mà tôi không hề có đối với bất cứ sinh vật nào trên trái đất này.

Bên công tố nói rằng chúng tôi che giấu động cơ thực sự của mình – mà theo họ là lòng hận thù và căm ghét tôn giáo – để tránh bị trừng phạt, nhưng chúng tôi không nói dối vì chúng tôi có những nguyên tắc và một trong những nguyên tắc đó là bao giờ cũng nói sự thật. Mặc dù cơ quan điều tra đã giam ba chúng tôi trong phòng cách li một thời gian dài, nhằm buộc chúng tôi phải nhận tội theo điều 231, khoản 2 và bằng cách đó, họ gán cho chúng tôi động cơ hận thù và thù địch không hề có trong thực tế, mà đây thực chất là tiêu diệt con người trung thực trong chúng tôi, chúng tôi không phản bội lương tâm của mình. Các nhân viên điều tra đã nhiều lần nói với chúng tôi rằng nếu nhận tội, chúng tôi sẽ được tha. Chúng tôi đã từ chối.

Nhận tội theo điều 213, khoản 2, là tự phỉ báng chính mình. Đối với chúng tôi, sự thật là quí nhất, thậm chí quí hơn cả tự do. Vì vậy mà tôi nghĩ rằng không có lí do gì để không tin lời chúng tôi. Chắc chắn là chúng tôi sẽ không nói dối. Máy tính và ổ đĩa cứng của chúng tôi cũng được trình ra tòa hình sự, toàn bộ nội dung ghi trong đó bác bỏ cách giải thích của nguyên đơn. Các tài liệu ghi trong đó chứng minh rằng chúng tôi không có động cơ hận thù và thù địch.

Ai đọc tập 3 và tập 4 hồ sơ vụ án do cơ quan điều tra ghi lại từ máy tính và ổ đĩa cứng của chúng đều thấy rõ rằng động cơ của chúng tôi hoàn toàn mang tính chính trị. Người ta đưa vào hồ sơ vụ án những bài viết phê phán chính sách độc tài của Putin và những suy nghĩ của chúng tôi về những lợi ích của hoạt động phản đối dân sự một cách ôn hòa. Tập 3 và tập 4 cũng có những bài viết về phong trào nữ quyền và những bài phỏng vấn nhóm Pussy Riot, trong đó không có một từ nào nói về hận thù tôn giáo.

Bây giờ, sau khi bên công tố không tìm được trong máy tính và ổ đĩa cứng của chúng tôi một bài viết nào khẳng định động cơ đó, họ liền tìm cách thoát ra khỏi tình huống khó xử bằng cách gọi trắng thành đen, đen thành trắng và bịa ra những kết luận phi logic. Sau lần biểu diễn vào ngày 21 tháng 2 năm 2012, trong nhiều cuộc phỏng vấn, chúng tôi đã nói đi nói lại rằng chúng tôi rất quan tâm và tôn trọng Chính thống giáo. Bên công tố, sau khi thấy rằng họ không có bằng chứng về lòng hận thù tôn giáo của chúng tôi, đã có bước đi như sau: họ nói rằng lời tuyên bố của chúng tôi về thái độ tích cực đối với Chính thống giáo che đậy thái độ thực sự của chúng tôi đối với tôn giáo, nhằm giảm đến mức tối đa phản ứng tiêu cực đối với hành động phi pháp trong nhà thờ. Đấy là kết luận phi logic bởi vì chúng tôi đã tuyên bố công khai thái độ tích cực của mình đối với tôn giáo trong ngày 21 tháng 2 năm 2012 và những ngày sau đó, tức là trước khi có tin là vụ án được khởi tố.

Còn kết luận cho rằng chúng tôi báo thù cho Hypatia [1] thì vô lí đến mức thậm chí những người còn nghi ngờ động cơ của chúng tôi hiện nay cũng đã hiểu: nếu bên công tố đi theo hướng đó, có nghĩa là họ hoàn toàn không có bằng chứng về lòng thù hận của chúng tôi. Nghĩa là cả động cơ lẫn hành vi phạm tội đều không có.

Hai bản giám định, được thực hiện theo đề nghị của cơ quan điều tra, không tìm thấy động cơ của lòng thù hận, nhưng không hiểu vì lí do gì lại không được đưa vào cáo trạng. Những bản giám định này chứng tỏ rằng trong những bài hát, trong những hoạt động và băng video của chúng tôi không có biểu hiện bằng lời nào về sự coi thường, xúc phạm những người theo Chính thống giáo, xúc phạm những người làm việc trong nhà thờ Chính thống giáo hay bất kì nhóm người nào khác. Cũng không có bất kì biểu hiện bằng lời nào về thái độ thù địch đối với Chính thống giáo, thù địch đối với những người theo Chính thống giáo hay người của những nhóm khác. Ngoài ra, các chuyên gia còn nhận xét rằng không có biểu hiện thù địch về mặt tâm lí trong hành động của nhóm: các cô gái này không có bất cứ hành động bạo lực hay gây hấn nào.

Như vậy là chúng tôi không có động cơ thù địch đối với tôn giáo, chúng tôi không phạm tội qui định trong điều 213, khoản 2, bộ Luật Hình sự của nước Cộng hòa Liên bang Nga.

Ngày 31 tháng 7 năm 2012

Nguồn: Dịch từ nguyên bản tiếng Nga tại địa chỉ: http://echo.msk.ru/blog/tolokno_25/914616-echo/

Có thể tham khảo bản dịch tiếng Anh tại địa chỉ: http://freepussyriot.org/content/art-and-human-manifesto-nadia-tolokonikovoy

Bản tiếng Việt © 2012 pro&contra

____________________

[1] Ghi chú của người dịch: Hypatia of Alexandria (sinh khoảng năm 351-370 mất năm 415) là một nhà triết học, được coi là nữ toán học đầu tiên trên thế giới. Bà dạy triết học và thiên văn học ởAlexandria vào thời mà đàn ông giữ thế thượng phong trong khoa học. Hypatia được người đời đánh giá cao vì kiến thức, phẩm giá và đức hạnh của bà. Bà chết trong một vụ xô xát, các tu sĩ tôn giáo đã bắt bà ngay trên đường phố, đánh bà và lôi xác bà vào nhà thờ, sau đó họ xẻo thịt bà rồi đem thiêu.

nguon: http://danluan.org/node/13775

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

►Thiếu Lãnh đạo và sợ hãi bất cứ ai có ý kiến khác biệt

Posted by hoangtran204 trên 14/08/2012

Thiếu lãnh đạo


Việt Nam thiếu nhiều thứ. Về kinh tế: rất nhiều người thiếu công ăn việc làm; phần lớn dân chúng thiếu tiền bạc, thiếu cả những nhu cầu cần thiết nhất cho một cuộc sống bình thường. Về xã hội, thiếu sự ổn định và không có bảo đảm gì cho tương lai cả. Về giáo dục, thiếu trường tốt và thầy cô giáo tốt; thiếu một chương trình cũng như một cơ chế giảng dạy hợp lý và hiệu quả; thiếu không khí tốt lành để đạo đức và học thuật được phát triển. Về chính trị, cũng thế, nhìn đâu cũng thấy thiếu: thiếu dân chủ, thiếu tự do, thiếu công bằng, thiếu minh bạch, v.v.

hưng ở đây, tôi chỉ tập trung vào một cái thiếu mà tôi cho là quan trọng nhất trong tình hình hiện nay: thiếu lãnh đạo.

Nhận định ấy, thoạt nghe, dễ có cảm tưởng như nghịch lý. Trên nguyên tắc, Việt Nam được lãnh đạo bởi đảng Cộng sản, mà đảng Cộng sản hiện nay lại có đến 3,6 triệu đảng viên. Số đảng viên ấy lại được lãnh đạo bởi 175 ủy viên trong Ban chấp hành Trung ương. Số ủy viên ấy lại được lãnh đạo bởi 14 người trong Bộ chính trị, cơ quan quyền lực cao nhất của đảng đồng thời của cả nước. Rõ ràng đó là một con số khổng lồ cho thành phần lãnh đạo một đất nước. Ở các nước dân chủ, chẳng hạn ở Mỹ hay ở Úc, nói đến giới lãnh đạo, người ta chỉ kể đến Tổng thống, Phó tổng thống (ở Úc là Thủ tướng và Phó thủ tướng), nội các và vài người lãnh đạo trong Quốc Hội. Hết. Tổng cộng, nhiều lắm là 20-30 người.

Tuy vậy, nhìn vào thực tế, đặc biệt những năm gần đây, điều hầu như ai cũng thấy là Việt Nam hoàn toàn thiếu lãnh đạo. Tất cả, từ Bộ chính trị đến Trung ương đảng, từ chính phủ đến Quốc hội, ngồi đó, thật nhiều; mặt mày ai cũng hồng hào phè phỡn, nói năng như thánh phán, nhưng lại không có ai thực sự lãnh đạo cả.

Lãnh đạo chứ không phải quản lý.

Quản lý là làm cho guồng máy chạy đều và chạy tốt, ít nhất trong từng thời điểm nhất định. Lãnh đạo là định hướng cho cả guồng máy ấy vượt qua các thử thách trong hiện tại cũng như trong tương lai để bảo đảm sự an toàn cũng như sự tốt đẹp không phải chỉ trong một hai năm tới mà trong cả nhiều thập niên tới. Không phải chỉ cho thế hệ này mà còn cho các thế hệ kế tiếp.

Ai cũng biết, từ mấy năm nay, một trong những thử thách nghiêm trọng nhất đối với Việt Nam là vấn đề quan hệ với Trung Quốc. Các chính sách về lãnh thổ và lãnh hải của Trung Quốc là một đe dọa trực tiếp đối với chủ quyền và sự toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam. Không những chỉ có chính sách hay lời nói. Sự đe dọa được thể hiện cụ thể bằng hành động: Trung Quốc cho xây dựng các cơ sở hành chính và quân sự trên các hòn đảo vốn thuộc chủ quyền của Việt Nam; cho khai thác dầu khí trên lãnh hải Việt Nam; ngăn chận các công ty ngoại quốc ký kết hợp đồng điều tra và khai thác dầu khí do Việt Nam tổ chức ngay trong các vùng được xem là đặc quyền kinh tế của Việt Nam; bắt bớ, thậm chí, giết chết các ngư dân Việt Nam đang đánh bắt cá ở trong vùng lãnh hải của Việt Nam. Một số người Trung Quốc, thuộc giới học giả cũng như giới quân sự, có khi khá cao cấp, thỉnh thoảng bắn tiếng về một cuộc tấn công có quy mô lớn nhắm vào Việt Nam. Đó là chưa kể đến các âm mưu lũng đoạn kinh tế, xã hội và chính trị của Trung Quốc. Công nhân Trung Quốc, từ hợp pháp đến bất hợp pháp, tràn lan ở Việt Nam, ngay ở những địa điểm được xem là có ý nghĩa chiến lược về quân sự. Có thể nói hiện nay Trung Quốc là nguy cơ lớn nhất, nếu không muốn nói là duy nhất của Việt Nam.

Thật ra, ngoài Việt Nam, âm mưu bành trướng của Trung Quốc là một đe dọa đối với rất nhiều nước khác. Trong các nước ấy, xa và lâu dài nhất, là Mỹ; gần và cụ thể nhất là một số nước thuộc châu Á, từ Nhật Bản đến Phi Luật Tân, Hàn Quốc, Malaysia, Brunei, nhưng đặc biệt, trầm trọng nhất là Việt Nam. Có ba lý do chính: Một, nước có số đảo tranh chấp nhiều nhất là Việt Nam; hai, nếu con đường chữ U thành hiện thực, nước bị ảnh hưởng nặng nhất cũng là Việt Nam; và ba, Việt Nam là nước duy nhất có chung biên giới với Trung Quốc. Nếu Trung Quốc chọn một quốc gia nào đó trong khu vực để tấn công nhằm hợp thức hóa, bằng bạo lực, con đường chữ U, nhằm biểu dương sức mạnh và nhằm uy hiếp tất cả các nước khác, nước ấy chắc chắn sẽ là Việt Nam.

Tất cả những điều ấy, hầu như ai cũng biết. Cả thế giới đều biết. Người Việt, nếu có chút sáng suốt, cũng đều biết. Biết, nên mọi người đều chờ đợi một chính sách nhất quán và hiệu quả từ giới lãnh đạo. Tuy nhiên, cho đến nay, giới lãnh đạo lại chọn một biện pháp dễ dãi nhất là né tránh việc công bố bất cứ một chính sách nào, nghĩa là, nói cách khác, né tránh chính việc lãnh đạo của mình.

Trong các diễn văn, giới cầm quyền chỉ nói những nguyên tắc chung chung và sáo rỗng như hợp tác và hữu nghị, như hai phương châm gọi là “4 tốt” (láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt) và “16 chữ vàng” (Láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai) do Giang Trạch Dân đưa ra vào năm 1999. Hết. Nhưng đó chỉ là nguyên tắc và phương châm. Trong chính trị, từ những nguyên tắc và phương châm chung chung như vậy, người ta cần đặt ra ít nhất bốn vấn đề khác: Một, những nguyên tắc và phương châm ấy có còn hợp thời và hợp lý hay không; hai, nếu còn, làm cách nào để thực hiện chúng, đặc biệt trước những khiêu khích và đe dọa thường xuyên, hơn nữa, càng ngày càng tăng của Trung Quốc, một kẻ rõ ràng không phải là “láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt và đối tác tốt”; ba, nếu không, Việt Nam cần có chính sách gì để đối phó với những hành động khiêu khích và đe dọa, thậm chí, âm mưu thôn tính của Trung Quốc; và bốn, cần có những chiến thuật gì để hiện thực hóa chiến lược ấy?

Đó là những câu hỏi bình thường ai cũng đặt ra. Với tất cả, giới cầm quyền Việt Nam đều im lặng. Theo dõi các động thái của họ, người ta cũng không tìm được một câu trả lời nào cả.

Được xem là có quyền lực nhất trong Bộ chính trị và trong đảng hiện nay là ba người: ông Nguyễn Phú Trọng, Tổng bí thư; ông Nguyễn Tấn Dũng, Thủ tướng; và ông Trương Tấn Sang, Chủ tịch nước. Có cảm tưởng như có một sự phân công nào đó giữa họ với nhau: Nguyễn Tấn Dũng thì lo chuyện đối nội; Nguyễn Phú Trọng thì ngọt ngào ve vuốt Trung Quốc; còn Trương Tấn Sang thì đi tìm một số đồng minh khác để cân bằng lực lượng với Trung Quốc. Có vẻ thế. Nhưng điều đó, nếu có thật, cũng không thực sự là lãnh đạo. Bởi lãnh đạo của một đảng cũng như của một nước, nhất là khi đảng ấy lại là đảng cầm quyền duy nhất, cần có một tiếng nói chung; hoặc ít nhất, một tiếng nói có nhiều sức nặng, có ảnh hưởng và có khả năng chi phối guồng máy đảng và nhà nước nhất. Ở Việt Nam, tiếng nói chung: không có. Tiếng nói nổi bật nhất: cũng không có. Những gì ông Nguyễn Phú Trọng nói, người ta xem như ngớ ngẩn (xin nhớ lại bài nói về chủ nghĩa xã hội của Nguyễn Phú Trọng tại Cuba vào ngày 10/4/2012). Những gì ông Nguyễn Tấn Dũng nói thì lại không còn chút uy tín gì vì từ lâu ông bị xem là nói một đàng làm một nẻo (đặc biệt qua các vụ án tham nhũng cũng như các vụ lỗ lã nặng nề của các công ty quốc doanh). Còn ông Trương Tấn Sang thì bị xem là không có quyền lực thực sự: Vai trò của Chủ tịch nước Việt Nam, từ xưa đến nay, vốn chỉ là một hư vị. Chỉ có ý nghĩa tượng trưng.

Thành ra, dù có chăm chú lắng nghe và theo dõi lời nói cũng như hoạt động của cả ba người đứng đầu đảng và chính phủ Việt Nam hiện nay, người ta cũng không thể biết là họ muốn gì.

Họ, với tư cách tập thể cũng như với tư cách cá nhân, hoàn toàn không đưa ra một chính sách nào cả. Không đưa ra một viễn kiến nào cả. Nghĩa là, nói tóm lại, không thể hiện bất cứ một sự lãnh đạo nào cả.

Họ hoàn toàn né tránh bài toán hóc búa nhất hiện nay.

Nguồn: Blog Nguyễn Hưng Quốc (VOA)

———————

Việt kiều Đức về nước bị chặn tại cửa khẩu TSN

Một Việt kiều Đức về nước hồi tuần rồi không được công an xuất nhập cảnh cho vào Việt Nam qua ngả phi trường Tân Sơn Nhất.

Đó là ông Vương Trí Tín, một trong những thành viên trong ban xây dưng Bia Thuyền Nhân tại Troisdorf Đức quốc, và cũng là thư ký của Uỷ Ban điều hợp đấu tranh của người Việt tại Cộng Hoà Liêng Bang Đức.

Không cho vào với lý do ‘không có lý do’

Khi ông này về lại Đức, vào tối ngày 13 tháng 8, Gia Minh hỏi chuyện ông Vương Trí Tín về vấn đề đó, và trước hết ông cho biết:

Ông Vương Trí Tín: Ngày 8 tháng 8 tôi từ Frankfurt, Đức đi Việt Nam và đến vào tối ngày 9 tháng 8. Tôi nhận được visa ngay tại phi trường, nhưng khi đến cửa khẩu để đóng dấu vào Việt Nam thì được họ nói bị ‘trục trặc’. Họ dẫn tôi trở ngược vào lại chỗ cấp visa, bảo ngồi đợi. Sau đó họ đưa tôi vào phòng phỏng vấn… Cuối cùng họ quyết định không cho vào với lý do ‘không có lý do’. Họ chỉ nói Nhà nước Việt Nam không hoan nghênh tôi vào Việt Nam. Tôi hỏi lại thì họ nói ‘lý do không được nêu’.

Gia Minh: Mặc dù họ nói thế, còn về phía ông xét có việc làm gì không phù hợp với luật pháp Việt Nam hay không để không được nhập cảnh?

Ông Vương Trí Tín: Tôi nghĩ những họat động của tôi ở Đức không có gì là đánh phá chính quyền Việt Nam. Vào năm 2007, người dân tại Đức có ý tưởng muốn làm bia để tưởng niệm thuyền nhân và cám ơn chính quyền Đức đã cứu mạng những người tỵ nạn chúng tôi. Trước việc đó chúng tôi gặp nhiều khó khăn với phía chính quyền Việt Nam. Họ đặt ra những câu hỏi và có áp lực với chính quyền Đức, nhưng rồi công việc ( xây dựng đài tưởng niệm) vẫn được hoàn thành. Từ đó đến nay tôi không gặp khó khăn gì khi về Việt Nam, chỉ có kỳ vừa rồi tôi vào thì bị chặn lại không cho vào.

Những hoạt động của tôi ở đây đa số cho người Đức và chính quyền Đức.

Tại phi trường họ hỏi tôi có hoạt động cho những đảng phái chính trị hay những hội đoàn người Việt ở Đức hay không? Tôi trả lời không và cho họ biết là ở Đức có nhiều hội đoàn người Việt và người tham gia rất đông.

Đối với người Đức họ chỉ biết về cảnh đẹp của Việt Nam, còn về chính trị và văn hóa của Việt Nam họ biết rất ít. Thành ra lâu lâu tôi có tổ chức những cuộc nói chuyện ở đại học về văn hóa và chính trị Việt Nam. Sắp tới đây tôi cũng tổ chức một cuộc nói chuyện như thế tại thành phố tôi đang ở cho người dân hiểu về Việt Nam nhiều hơn. Vấn đề hội nhập của người Việt Nam tại Đức, đó là chương trình được phía Đức phát triển trong những năm sau này. Cuộc sống của những người nước ngoài ở Đức có gặp khó khăn, trở ngại gì hay không?

Trước đây khi còn ở Bonn, tôi có vào đại học nói về vấn đề nhân quyền, nếp sống, văn hóa của người Việt Nam, rồi cuộc sống của người Việt tại Đức. Đó là nằm trong chương trình của nước Đức.

Tại thành phố Landau nơi tôi ở, cộng đồng Việt Nam có tổ chức những lớp học, nhưng tôi chưa tham gia các lớp học đó vì tôi hoạt động cho các hội đoàn của người Đức nhiều hơn cho người Việt Nam.

Gia MinhNhững lần mà ông đi Việt Nam không gặp trở ngại gì thì ông đi với mục đích gì?

Ông Vương Trí Tín: Tôi chỉ về thăm gia đình thôi vì bố mẹ tôi vẫn còn ở Việt Nam, ông bà lớn tuổi rồi, ngoài 80. Lần này tôi về thăm mẹ vì bà bệnh nặng.

Khi ở phòng giam, có anh tên Nguyễn Văn Sơn và hai người nữa cho biết trong thời gian gần đây có những người về thường xuyên bị nghi vấn nên không được vào. Rồi những người lâu lâu mới về cũng bị gặp khó khăn. Dạo sau này số không được cho nhập cảnh gần đây rất nhiều. Họ giải thích tình hình Việt Nam hiện nay không ổn định nên việc xét nhập cảnh Việt Nam khó hơn lúc trước.

Gia Minh: Chiếu theo nghị quyết của Đảng và Nhà nước Việt Nam về người Việt ở nước ngoài với hành xử vừa rồi, thì ông nghĩ sao?

Ông Vương Trí Tín: Tôi thấy chính sách Nhà nước Việt Nam kêu gọi người Việt ở nước ngoài về xây dựng đất nước hoặc thăm quê hương để hiểu rõ đất nước hơn có nhiều điểm trái ngược nhau. Vì gần đây có nhiều trường hợp không được nhập cảnh ví nhiều lý do; trong khi đó có những trường hợp về Việt Nam để giúp đỡ người nghèo hay các em mồ côi; hay về Việt Nam thăm quê hương. Ở đây họ có những hoạt động khác nhau: văn hóa, chính trị… họ về đều gặp khó khăn.

Việt nam cho tất cả chúng tôi là ‘phản động’.

Thêm một điều nữa là khi họ giữ tôi họ canh gác như một tội phạm hình sự, trong khi tôi là một công dân Đức bình thường.

Gia Minh: Cám ơn ông về những chia sẻ vừa rồi.

 

http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/germ-vn-n-allow-to-vn-08132012131035.html

http://www.danchimviet.info/archives/63458

Posted in Chinh Tri Xa Hoi | Leave a Comment »

►Những quyền lực của bóng tối hay một bóng tối đầy quyền lực

Posted by hoangtran204 trên 14/08/2012

André Menras Hồ Cương Quyết
Nhà văn Nguyên Ngọc dịch

 
Tôi đã nhiều lần nói và viết rồi: Chính sách cúi đầu và những tháo lui liên tục là một thất bại nặng nề, một trách nhiệm nặng nề và tội lỗi của những kẻ đã áp đặt nó trong nhiều năm ở Việt Nam. Năm này sang năm khác, đối với những phản đối một cách hình thức mà lại thụ động hoàn toàn trên thực tế của phía Việt Nam, lãnh đạo Bắc Kinh chỉ có lấn tới, sáp nhập, củng cố, tổ chức, khiêu khích và chuẩn bị những vụ sáp nhập hung bạo mới…
 
Cái chết bi thảm của bà Liêng đã dẫn đến phản ứng của quốc tế

Vừa mới trở về Pháp, tôi nhận được tin buồn, gây sốc, đáng lo, trĩu nặng đe dọa đối với giai đoạn đang mở ra ở Việt Nam: bà Đặng Thị Kim Liêng, mẹ của nữ blogger Tạ Phong Tần đang bị chế độ truy nã và bỏ tù, đã tự thiêu trước trụ sở Ủy ban nhân dân thành phố.

Trước nay tôi đã quá biết ở Việt Nam có những lực lượng của bóng tối và đàn áp. Nhưng tôi không lường được hết tầm rộng lớn của chúng. Tôi cũng không lường được sức tàn phá của áp lực tâm lý hàng ngày mà một hay nhiều cơ quan công an được vài dân quân ở quận hay phường giúp sức, cùng một số phần tử gây rối gần với bọn lưu manh hơn là người lương thiện có thể tác động lên những công dân bình thường chỉ có mỗi cái tội duy nhất là muốn bảo vệ đất nước mình chống ngoại xâm, tham nhũng và đàn áp bạo tàn.

Kinh nghiệm gắn liền với cuộc chiến đấu nhằm bảo vệ đất nước Việt Nam thân yêu của tôi chống Trung Quốc xâm lược đã cho tôi biết một cách trực tiếp và cụ thể cái nằm bên dưới đáng lo và đáng sợ của một hệ thống chính trị đầy những vùng tối. Ở đấy, người ta khủng bố một cách bí mật trong sương mù của tình trạng vô pháp luật, hay hại người công khai. Người ta cách ly về thể xác hay bằng sợ hãi những người dám nói lên và bày tỏ sự bất bình và lòng yêu nước của mình, ra khỏi gia đình, bạn bè của họ. Tôi đã khám phá ra những gì nằm bên dưới một hệ thống chính trị trong đó bao gồm việc theo dõi thường xuyên về thể xác  những công dân lương thiện và bình thường, nghe lén điện thoại di động, kiểm soát liên lạc internet, tịch thu máy vi tính, điện thoại di động, cấm họ thuê nhà, bắt và bỏ tù một cách bí mật, kéo dài tùy thích thời gian giam giữ và chậm đưa họ ra trước “công lý”: tất cả những xâm phạm nghiêm trọng đến cá nhân, tài sản và tự do của họ ấy ngày càng trở thành tự nhiên, thậm chí là chuyện vặt. Trong mọi trường hợp luật pháp chân chính đều bị nhạo báng. Các vi phạm đó được thực hiện ngay tại chỗ, tùy tình huống, tùy ý thích của các nhà cầm quyền chính trị và các lực lượng gọi là “an ninh”. Không được phép có bất cứ sự kiểm soát nào và đòi hỏi một sự kiểm soát như vậy sẽ là nguy hiểm.

Việc cấm chiếu một cách thô bạo bộ phim của tôi bày tỏ tình đoàn kết với ngư dân bị tổn thương hồi tháng 11 năm 2011 (1), những ngăn trở lặp đi lặp lại mới đây không cho chiếu bộ phim hoàn toàn chính thức “André Menras: một người Việt” ở Sài Gòn (2), việc công khai theo dõi những người bạn của tôi: Cao Lập, Lê Công Giàu, Huỳnh Tấn Mẫm, Hạ Đình Nguyên… và những uy hiếp bất thành văn nhưng rõ ràng mà các biện pháp ấy chứng tỏ: tất cả những cái đó nằm trong một hệ thống có mục tiêu chính là tìm mọi cách làm nản lòng cuộc kháng cự ái quốc chống lại xâm lược của Trung Quốc và việc tổ chức cuộc kháng cự ấy.

Tôi nói rõ hai chữ ái quốc và tôi thách bất cứ kẻ nào trong các thế lực của bóng tối đã đàn áp chúng tôi, trong số những kẻ thậm chí đã không đủ can đảm xưng rõ danh tính dưới những văn bản công khai để biện hộ cho các lệnh cấm của họ, tất cả những kẻ ấy hãy thử chứng minh rằng chúng tôi không yêu nước. Tôi không cho phép họ dạy chúng tôi những bài học yêu nước. Chúng tôi đã là những người yêu nước, chúng tôi đang là những người yêu nước, và sẽ mãi mãi là như vậy! Mục đích duy nhất của chúng tôi là bảo vệ Việt Nam, bảo vệ đất nước này chống lại một cuộc xâm lược hiển nhiên.

Những lý lẽ chính thống lảm nhảm đã được dùng ngay từ đầu để chống lại chúng tôi và lấy làm lý do cho những cấm đoán, theo dõi và đàn áp có thể được diễn đạt như sau: “Chớ làm bất cứ điều gì có nguy cơ khiến lãnh đạo Trung Quốc không bằng lòng và tạo điều kiện cho họ có những hành động trả đũa mạnh mẽ và bành trướng đối với Việt Nam. Phản đối, biểu tình, kháng cự là đẩy Việt Nam vào chỗ nguy hiểm. Cần im lặng và chịu đựng! Hãy để cho các thế hệ mai sau giải quyết những vấn đề này. Đây không phải là việc của các người. Đừng làm phức tạp thêm việc của lãnh đạo. Hãy tin tưởng ở lãnh đạo. Nếu không, chúng tôi bắt buộc phải có biện pháp chống lại các người để bảo vệ đất nước”. Chính bằng các lý lẽ quanh co đó và nhân danh “ổn định chính trị” mà một số nhà cầm quyền đã biến những người yêu nước chân chính thành mối uy hiếp đối với hòa bình và an ninh, khiến họ trở thành những phần tử phải kiểm soát, phải trấn áp, phải vô hiệu hóa hay, trắng trợn hơn, phải loại trừ khỏi đời sống xã hội. Cái vòng lẩn quẩn đã khép lại!

Nếu vào những thời đầu quan điểm đó có được một số người lãnh đạo yêu nước chia sẻ một cách lương thiện vì nó phù hợp với một tình thế khi Việt Nam còn tương đối bị cô lập, còn yếu, rất phụ thuộc Trung Quốc, thì ngày nay đã trở thành không thể biện minh, không thể bênh vực. Việt Nam không còn cô lập trước các tham vọng của Bắc Kinh. Một mặt trận chung chống bành trướng đã hình thành do phản ứng lại với các cuộc gây hấn của Trung Quốc ở Nhật Bản, ở Hàn Quốc, ở Philippines, ở Hoa Kỳ, ở Nga, ở Ấn Độ, ở New-Zealand, ở Úc. Khắp thế giới, và ngay cả ở Trung Quốc, dư luận công chúng đã nhận ra bản chất thật của chế độ Bắc Kinh và mối hiểm nguy nó gây ra cho hòa bình, an ninh và phát triển trong khu vực cũng như trên thế giới. Dư luận công chúng ở Việt Nam bị khóa miệng quá lâu vẫn không bị khuất phục. Trái lại trên nhiều mặt nó đã gia tăng sức kháng cự nhờ có các phương tiện thông tin hiện đại, không thể kiểm soát. Luật Biển được thông qua ở Quốc hội là một trong những kết quả tốt đẹp nhìn thấy được của sự thúc đẩy trên tầm cỡ quốc gia và quốc tế ấy của nhân dân nhằm bảo vệ quyền của các dân tộc và quyền con người bị Bắc Kinh và những kẻ phục vụ chính sách của họ công khai uy hiếp.

Tôi đã nhiều lần nói và viết rồi: Chính sách cúi đầu và những tháo lui liên tục là một thất bại nặng nề, một trách nhiệm nặng nề và tội lỗi của những kẻ đã áp đặt nó trong nhiều năm ở Việt Nam. Năm này sang năm khác, đối với những phản đối một cách hình thức mà lại thụ động hoàn toàn trên thực tế của phía Việt Nam, lãnh đạo Bắc Kinh chỉ có lấn tới, sáp nhập, củng cố, tổ chức, khiêu khích và chuẩn bị những vụ sáp nhập hung bạo mới… Cho đến giai đoạn Scarborough mới đây, họ càng làm điều đó ngày càng dễ dàng vì không gặp bất cứ kháng cự nào, mà lại còn luôn được ban tặng “16 chữ vàng” với lại “4 tốt” ngay cả khi họ ngược đãi, bỏ tù và làm tan gia bại sản ngư dân của chúng ta. Một số lãnh đạo cấp cao của Việt Nam ngày nay vẫn tiếp tục cái trò diễn dối trá và thảm hại đó với các đồng sự Trung Quốc của họ trong khi một hải đội Trung Quốc gồm 23000 tàu bán vũ trang rời đảo Hải Nam đi xâm chiếm tài nguyên và không gian Biển Đông Nam Á!!!

Những người từng thành thật tin tưởng ở thiện chí của Trung Quốc thì nay đã thấy rõ cái hố ngăn cách giữa lời nói hòa bình và hành động chiến tranh của họ. Những người ấy chẳng có chút lý do danh dự nào nữa để còn nấn ná mãi trong thụ động hay im lặng. Họ thấy rõ những người lãnh đạo Trung Quốc đã quyết định tiếp tục cuộc bành trướng hung bạo giày xéo lên luật pháp quốc tế, lên các quyền của các dân tộc láng giềng, và cả của chính dân tộc họ.

Bọn diều hâu Bắc Kinh đã quyết dấn tới. Họ đã tuyên bố rõ ràng điều đó với toàn thế giới. Họ sẽ còn dấn tới nữa, dù chiến lược được sử dụng của họ là gì (bằng lực lượng quân sự công khai hay bằng đặc công giả dạng ngư dân) và cuối cùng sẽ làm đổ máu những người vô tội, những công dân Việt Nam hay các nước khác, như họ đã làm hồi 1974 và 1988. Họ sẽ không bao giờ ký COC để bị cột chặt vào luật đàm phán đa phương trên cơ sở Công ước của Liên Hiệp Quốc về chủ quyền trên biển mà họ đã ký. Đạo luật duy nhất của họ là luật của kẻ mạnh hơn, mà họ nhầm to tưởng họ đã có. Tất cả đã quá hiển nhiên.

Chỉ có một cuộc kháng cự thích đáng và thống nhất mới có thể đánh bại các ý đồ đen tối của bọn chúng. Sức kháng cự đó nhất thiết phải xuất phát từ nhân dân Việt Nam, không có nhân dân ấy thì những người lãnh đạo chẳng là gì cả. Sức kháng cự ấy cũng phải đến từ dư luận công chúng quốc tế. Vậy mà hiện nay một số người lãnh đạo đang làm gì? Họ đã cho phép những lực lượng của bóng tối do họ hay không do họ điều khiển làm những gì? Họ đàn áp, truy nả những người yêu nước ưu tú nhất, có ý thức mạnh mẽ và dũng cảm nhất. Họ đập vỡ một sự thống nhất vừa hình thành duy nhất có thể cứu đất nước. Thay vì nuôi dưỡng lòng tin, họ thiết lập sự sợ hãi. Thay vì tổ chức một sự kháng cự đông đảo, họ khuyến khích sự chia rẽ. Thay vì làm sống lại quá khứ để phục vụ hiện tại, họ gợi lại quá khứ để càng vùi sâu nó hơn trong các bảo tàng phủ bụi.

Tôi nói điều này với niềm lo lắng và nỗi buồn sâu sắc: ở Việt Nam đang có cánh cộng tác thật sự với Trung Quốc. Tôi dùng từ “cộng tác” theo nghĩa tiêu cực nhất. Cái nghĩa mà những người yêu nước của Pháp đã dùng trong thời thế chiến thứ hai để chỉ những người Pháp đứng về phe bọn chiếm đóng phát-xít chống lại cuộc kháng chiến của Pháp. Cái cánh Việt Nam cộng tác với Tàu này khá mạnh. Nó không xưng danh. Hành động sau lưng luật pháp. Điên cuồng chống lại mọi cải cách dân chủ, mọi sự lên tiếng của dân chúng. Nó đánh lén. Nó không do dự dựa vào bọn côn đồ. Theo lối Tàu.

Thật khủng khiếp cho nhân dân Việt Nam khi không còn lựa chọn nào khác ngoài cách hoặc là co rúm lại trong sợ hãi và hổ thẹn, hoặc là bước vào kháng cự, một cuộc kháng chiến lần thứ ba sau hai cuộc chống chủ nghĩa thực dân và chủ nghĩa thực dân mới. Những người yêu nước dấn mình vào cuộc kháng chiến này và sẽ dấn mình vào ngày càng đông, theo gương tổ tiên và tự dọn mình cho những hy sinh mới chống lại kẻ thù bên ngoài và bên trong. Quả là tấn bi kịch của Việt Nam phải sống bên cạnh Trung Hoa!

Đàn áp chỉ làm cho kháng chiến thêm vững mạnh. Mưu đồ chia rẽ lại đưa đến kết đoàn mạnh bơn. Mưu đồ cô lập lại thúc đẩy công cuộc tổ chức. Bởi vì sự nghiệp của những người yêu nước Việt Nam là chính nghĩa, hợp pháp và đã là một tiến trình sống còn khắc sâu trong lịch sử và văn hoa Việt Nam. Không gì có thể ngăn cản nó lên tiếng. Cuộc kháng cự đó cũng quyết liệt chống lại những lực lượng của bóng tối đang tạo điều kiện cho xâm lược của ngoại bang: không thể có ổn định chính trị trong cộng tác! Không bao giờ! Các lực lượng của bóng tối rất đáng sợ đó cũng bị đại đa số nhân dân khinh bỉ. Chúng còn nặng tội hơn cả chính bọn xâm lược là những kẻ còn có thể viện cớ vì quyền lợi của đất nước chúng trong chính sách bành trướng; còn đám cộng tác Việt Nam chỉ có một biện minh duy nhất là lợi ích riêng đen tối của chúng, chống lại lợi ích của chính nhân dân mình.

Còn có cách gọi nào khác hơn là “bọn cộng tác” những kẻ chịu trách nhiệm về việc cho nhiều thế hệ các công ty nước ngoài, thường là Trung Quốc, thuê hàng nghìn hecta đất ở những khu vực chiến lược của đất nước; những kẻ đem bán tống tháo một cách đáng xấu hổ cho Trung Quốc các tài nguyên thiên nhiên và năng lượng quốc gia; những kẻ cho phép hàng hóa Trung Quốc tràn ngập và bóp chết, phá hoại thị trường nội địa; những kẻ đem dâng cho tuyên truyền của Bắc Kinh các phương tiện truyền thông của Việt Nam; những kẻ thêm một ngôi sao (Việt Nam) lên lá cờ Trung Quốc trong dịp các sự kiện chính thức, lén dời các cột mốc biên giới, xóa trọn những hàng chữ dài trên các tấm bia ghi nhớ các cuộc xâm lược của Trung Quốc; những kẻ lén lút ngăn cấm thô bạo việc tưởng niệm các anh hùng ngã xuống trên biển đối mặt với hải quân Trung Quốc hay trên đất liền đối mặt với quân đội của họ hay quân đội bù nhìn của họ; những kẻ để hàng chục nghìn công dân Trung Quốc xâm nhập và cư trú một cách bất hợp pháp, rồi không có bất cứ sự kiểm soát nào có thể tiến hành những hoạt động chẳng chút liên quan đến lợi ích của đất nước; những kẻ từ nhiều năm qua cho phép các tổ chức lưu manh của Trung Quốc làm giàu trên lưng nhân dân Việt Nam bất chấp luật pháp của Việt Nam, làm ô nhiễm môi trường, đe dọa sức khỏe công cộng (vụ nuôi trồng ở Cam Ranh, vụ “bác sĩ” Trung Quốc ở Thành phố Hồ Chí Minh) v.v. và v.v.

Đàn áp những người yêu nước, các lực lượng của bóng tối bảo vệ và nuôi dưởng căn bệnh ung thư chính trị, kinh tế và xã hội này. Cho phép nó duy trì và phát triển. Dù muốn dù không cuộc chiến đấu yêu nước hôm nay đã đi đến chỗ hòa làm một với cuộc chiến đấu chống tham nhũng và vì dân chủ, để một lần nữa cứu đất nước. Tất cả các cuộc chiến đấu đó gắn liền với nhau như môi với răng. Nếu thái độ của những người lãnh đạo Việt Nam xứng đáng với tên gọi đó, nếu các lực lượng trong sạch và yêu nước trong Đảng Cộng sản Việt Nam, công an, quân đội không tỉnh thức để nhổ tận rễ đám cỏ dại sinh ra từ cộng tác với Trung Quốc và được nó nuôi dưỡng, nếu lực lượng đó không gắn chặt với nhân dân để chặn đứng những hành xử gần như mafia đang tồn tại trên hàng chục khu vực vô pháp luật của lãnh thổ đất nước, thì Việt Nam sẽ đi vào một thời kỳ chia xé đau đớn. Đã dến lúc thực hiện cuộc cách mạng của sự tinh sạch và sáng tỏ dân chủ!

Để kết luận, tôi muốn trở lại trường hợp tự thiêu nhắc chúng ta đau đớn nhớ lại những năm đen tối và những năm then chốt của Lịch sử Việt Nam. Cuộc tự sát này không diễn ra ở một nơi bất kỳ nào, mà là ngay trước trụ sở của nhà cầm quyền địa phương. Rõ ràng qua đó người chết muốn nói rằng đây là kết quả cả một phẫn nộ, một bất công khổng lồ, một niềm tuyệt vọng mênh mông mà các nhà cầm quyền phải chịu trách nhiệm phần lớn. Cuộc tự sát này là một cuộc tự sát xã hội, chính trị, không phải là tự sát vì rối loạn tâm thần. Khi một hệ thống đẩy các công dân đến mút đường cùng như vậy thì phải hỏi: Hệ thống đó có thể tồn tại lâu dài như vậy chăng? Tôi nghĩ rằng khi một phong trào, dù không có tổ chức, bắt đầu có những người tử vì đạo, hệ thống đó phải thay đổi, hoặc là nó sẽ biến mất. Đấy là một quy luật của Lịch sử. Những người lãnh đạo hiện nay buộc phải thật sự dọn dẹp hàng ngũ của mình khi còn có thời gian bởi vì bầu không khí đã rất dễ bắt lửa và những tia lửa bi đát như ở Bạc Liêu sẽ có thể dẫn đến một đám cháy khổng lồ.

Hãy ngừng truy nã những người yêu nước, hãy thực sự bảo vệ ngư dân bị tấn công, hãy thực hiện các biện pháp đã được luật pháp quy định về biển, hãy bảo vệ nông dân và đất đai của họ, hãy thực sự kiểm soát các công ty và và công dân Trung Quốc không vì bất cứ cảm tình riêng nào, nhanh chóng xem xét lại hiến pháp một cách dân chủ trên cơ sở hiến pháp 1946, đưa quyền được biểu tình hòa bình, tập họp tự do vào luật, tiến đến một nền báo chí tự do và có trách nhiệm… tất cả các biện pháp sớm muộn phải thực hiện ấy sẽ đánh bại các lực lượng của bóng tối hung hãn và đã bắt rễ sâu nhất. Đấy không phải là kết liễu một chế độ xa dân mà là cơ hội sống còn duy nhất của nó, gần, rất gần với nó.

Ngày 2 tháng Tám, năm 2012

A. M. H. C. Q.

Tác giả gửi trực tiếp cho BVN.

(1) Hôm nay ngày 2 thâng Tám tôi được tin một nhân vật của quyền lực bóng tối thuộc Ban Tuyên Giáo Trung Ương đã buộc Đài Truyền hình Quảng Ngãi, đang sẵn sàng chiếu bộ phim này, phải sửa cho nó có thêm “tính Đảng”.

(2) Một ví dụ về sự tùy tiện trong việc áp dụng luật của nhà cầm quyền và về việc cấm chiếu, dù là trong chỗ riêng tư, bộ phim “Hoàng Sa – Việt Nam: Nỗi đau mất mát” và những cản trở việc chiếu, dù trong chỗ riêng tư, bộ phim “André Menras: Một người Việt”. Nên biết rằng hơn một năm nay Truyền hình cáp Quy Nhơn QCTV1 và QCTV 2 đã chiếu các phim Trung Quốc bất hợp pháp, không có phép, không có “văn bản” nào cả. Tổ chức được quyền ưu tiên bất hợp pháp đó chính là Pisico, một tổ chức hợp tác với hiệp hội Nhân Bang, một hiệp hội… Trung Quốc, mà Chủ tịch chẳng là ai khác ngoài viên Phó Chủ tịch Hiệp hội các nhà đầu tư Trung Quốc ở Việt Nam (Tuổi Trẻ ngày 15/6/2012) http://www.baomoi.com/Chua-co-giay-phep-bi-phat-nang/45/8690890.epi

http://danluan.org/node/13743

*Khách Bùi Văn Nịt (khách viếng thăm) gửi lúc 15:43, 12/08/2012 – mã số 64930

Bài viết này rất hay, có sức thuyết phục, chỉ cần nêu ra những sự việc hiển nhiên mà có sức lên án mạnh mẽ chế độ độc tài độc trị này. Nhiều người trước đây tiếp xúc với bom rơi đạn nổ của đối phương mà không chết, nhưng nay lại chết dưới bàn tay của chế độ mà mình đã bỏ xương máu ra để xây đắp nên nó, có người chết ngay, có người chết dâà chết mòn trong héo hon vì những thủ đoạn đê tiện thâm độc, vừa đánh vào thể xác, vừ đánh vào tinh thần lại vừa đánh vào danh dự, bẩn thỉu nhất là đánh vào kế mưu sinh của người ta, bắt người ta rơi vào hoàn cảnh bị người thân cũng như đồng loại xa lánh. Người ta không chết vì bệnh tật thiếu đói mà chết vì phẫn uất trước các bất công, chết vì tuyệt vọng trước những điều ngang tai chướng mắt xẩy ra hàng ngày, tức là tuyệt vọng trước cuộc đời này.

Từ lâu trong dân đã có mối nghi ngờ rằng liệu có một thế giới ngầm trong bộ máy cầm quyền có dã tâm “cõng rắn cắn gà nhà” hay không? Mối nghi ngờ này đã được làm rõ khi đọc bài này. Cái đáng quý nữa là tác giả đã chỉ ra một lối thoát, đó là chống ngoại xâm phải kèm với chống những kẻ cộng tác với ngoại xâm, chính nó gây ra nhiều tai họa tiềm ẩn vô hình. Phải đòi dân chủ, phải đòi nhân quyền và đòi công lý, công lý cho đất nước và công lý cho con người, công lý cho thân mẫu bà Tần và công lý cho bao người đang chịu oan ức.

Đã từ lâu nhiều người đã biết trên lý thuyết thì HS và TS là của Việt Nam, nhưng nay trên thực tế thì HS và một phần TS cũng như biển Đông là thuộc Trung quốc, do thế lực ngầm vừa hèn nhát, vừa có âm mưu gì đây? Nội gián ư? Có thể. Trung quốc thì tấn công ta trên mọi lĩnh vực kinh tế văn hóa, sinh học, môi trường … với mọi thủ đoạn từ to nhất như phô trương sức mạnh quân sự đến nhỏ nhen bẩn thỉu nhất. Chúng có thể mua chuộc được một số ông cốp (cán bộ cao cấp) nhưng không mua chuộc được nhân dân Việt Nam. Như vậy sự quyết định thấng lợi thuộc về nhân dân thì nhân dân phải đứng lên. Phải diệt cả hai kẻ ngoài và trong thì mới chiến thắng.
Trân trọng cám ơn Bác Hồ Cương Quyết.

*Khách Xích Lô Hải Phòng (khách viếng thăm) gửi lúc 17:25, 11/08/2012 – mã số 64871

Lời kêu gọi của ông “người Việt gốc Tây” này làm cho những người còn chút lương tâm nên lấy làm xấu hổ. Hồ Cương Quyết không sinh ra từ bọc trứng Âu Cơ nhưng ông xứng đáng làm người Việt nhất, ông yêu nước Việt nhất, ông hành động quyết liệt nhất vì nước Việt yêu dấu của mình.

Còn chúng ta, những người Việt “gin” thì làm gì ?

Đáng buồn là trong lúc chúng ta bàn luận, phân tích, triết lý một cách ôn hòa thì thày giáo Đinh Đăng Định vẫn bị 6 năm tù, Điếu Cày, TP Tần, PT Hải, CHH Vũ, THD Thức, LC Định, PT Nghiên… cùng rất rất nhiều anh chị em của chúng ta vẫn bị nhốt trái phép, lãnh thổ tổ tiên ông cha ta để lại từ máu và nước mắt vẫn được đem dâng cho giặc Tàu. Quan chức cộng sản vẫn điềm nhiên bỏ túi hàng chục tỷ, hàng trăm tỷ, hàng nghìn tỷ qua những cú “tham nhũng chính sách” – từ của TS Nguyễn Ngọc Kỳ (báo Tuổi Trẻ 11.8.2012).

*Phiên Ngung gửi lúc 18:39, 10/08/2012 – mã số 64816

Những người tranh đấu chống lại sự can thiệp của Mỹ trong thời VNCH như ông Huỳnh Tấn Mẫn, bà Nguyễn Thị Bình và các đồng chí phải can đảm như ông Andre’ Hồ Cương Quyết vì tiếng nói và hành động của quý vị cho quyền làm người của người Việt nam hôm nay có giá trị rất lớn, nhất là đối với thế giới.

Quý vị đã sống quãng đời thanh xuân trong can trường và đã cam chịu ray rứt lương tâm trong hòa bình vì sự tàn bạo và hủ hóa của hàng ngũ CSVN. Hãy dũng cảm sống cho xứng đáng với tinh thần hy sinh và cống hiến của quý vị. Hãy để cho mọi người thấy được lòng can đảm, sự hy sinh của quý vị trong giai đoạn tranh đấu dưới chính thể VNCH là do lòng yêu nước thương dân chứ không phải vì mù quáng theo chủ nghĩa cộng sản. Tôi không bao giờ dám kêu gọi người khác hy sinh vì bản thân mình không đủ can đảm hy sinh. Tuy nhiên, đối với quý vị, tôi thật lòng mong mõi quý vị hãy can đảm đấu tranh cho dân tộc Việt nam như ông Andre’ Hồ Cương Quyết để những hy sinh của quý vị trong quá khứ, mặc dầu theo tôi là sai lầm, trở thành gánh nặng ám ảnh lương tâm của quý vị.

*Visitor (khách viếng thăm) gửi lúc 16:13, 10/08/2012 – mã số 64810

Cảm ơn André Menras Hồ Cương Quyết, ông tuy không sinh ra ở nước Việt, không mang hình dáng của người Việt, nhưng ông là một người Việt thực sự, vì ông yêu nước Việt của chúng ta như một người Việt chân chính. Ông yêu nước Việt hơn rất nhiều những kẻ đang ở trong bóng tối đang tìm cách hãm hại đồng bào yêu nước.

Chỉ mong đến một ngày đất nước có dân chủ thực sự, lũ âm binh, Việt gian bán nước cho giặc Tàu sẽ bị lôi ra ánh sáng và bị trừng trị đích đáng.

Thật không thể tưởng tượng nổi khi Tàu vừa tuyên bố lập cái gọi là “thành phố tam sa” của chúng nó trên hải phận Việt Nam thì ngợm Phùng Quang Thanh, Bộ trưởng Quốc phòng lại tổ chức lễ rình rang để cảm ơn lũ giặc. Trong lịch sử Việt Nam có lẽ chưa bao giờ có một lũ người bán nước vô liêm sỉ, ngu ngốc và khốn nạn như bọn này.

PQT và cái BCT của nó quá coi thường dân Việt, đến một ngày nào đó sẽ phải có những ống cống dành riêng cho PQT và lũ bán nước.

 ►QĐNDVN vẫn trung thành với Trung Quốc mặc cho “Trung Quốc tiết lộ kế hoạch gọi thầu khai thác thềm lục địa của Việt Nam”

Posted in Chinh Tri Xa Hoi | Leave a Comment »

►Hiểm họa Trung Quốc và bài học Tiệp Khắc

Posted by hoangtran204 trên 13/08/2012

 

Hiểm họa Trung Quốc và bài học Tiệp Khắc

Trần Trung Đạo

Áo và Tiệp Khắc là hai quốc gia bị Đức cưỡng chiếm đầu tiên ngay cả trước khi Thế chiến thứ hai bùng nổ. Trong lúc Đức chiếm Áo không gây nhiều phản ứng vì Áo có nhiều liên hệ với Đức về lịch sử, ngôn ngữ, văn hóa và chính bản thân Hitler vốn là người Áo, việc cưỡng chiếm Tiệp Khắc là một biến cố lớn vì Tiệp Khắc là một nước độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và được xem là một trong số mười cường quốc châu Âu thời đó.

Suốt thời gian dài hơn sáu năm dưới ách thống trị của Đức Quốc Xã, nhân dân Tiệp đã chịu đựng vô số thương vong, thiệt hại. Hàng trăm ngàn người bị giết và hàng trăm ngàn người khác bị đày ải trong các trại tập trung. Thế nhưng phải chăng ngày đó Tiệp Khắc yếu đến mức không bắn được phát súng nào?

Không. Trước Thế chiến thứ hai, thừa hưởng các thành tựu kỹ thuật của thời đế quốc Áo Hung, Tiệp Khắc là một trong sốt ít quốc gia có một quân đội đông đảo nhất và được trang bị tối tân nhất châu Âu. Việc Tiệp Khắc rơi vào tay Đức nhẹ nhàng như chiếc lá mùa thu phát xuất từ ba lý do chính. Hai lý do khách quan:

(1) Bành trướng về hướng đông là chủ trương truyền thống của Đức,(2) Chính sách nhân nhượng (appeasement policy) của các lãnh đạo chủ hòa châu Âu đứng đầu là Thủ tướng Anh Neville Chamberlain, và một lý do chủ quan:

(3) Tiệp Khắc là một quốc gia ô hợp, phân hóa, suy yếu, có nhiều chính khách làm tôi mọi cho ngoại bang và giới lãnh đạo chính phủ không có quyết tâm bảo vệ chủ quyền đất nước.

Bành trướng về hướng đông là chủ trương truyền thống của Đức.

Sau giai đoạn cách mạng 1848, Đức trở thành cường quốc. Sức mạnh của Đức thể hiện không chỉ trong các lãnh vực kinh tế, quân sự, dân số mà cả khoa học. Tổng số giải Nobel các khoa học gia Đức được tặng thưởng trong giai đoạn 47 năm tồn tại nhiều hơn tổng số giải Nobel của các khoa học gia Anh, Pháp, Nga và Mỹ cộng lại. Năm 1871, Đế Quốc Đức bao gồm 27 khu vực, dưới sự lãnh đạo của Otto von Bismarck đã vượt qua đế quốc Anh. Giống như mọi đế quốc khác trong lịch sử, để tiếp tục lớn mạnh cần phải có tài nguyên thiên nhiên.

Đức là quốc gia nằm ngay giữa châu Âu và về mặt địa lý chính trị, suốt nhiều thế kỷ, các chế độ quân chủ Đức cũng chủ trương các quốc gia phía Đông trong đó có Tiệp Khắc, Ba Lan, Hungary là hàng rào an ninh của Đức để đương đầu với hai nước lớn khác là Pháp và Nga.

Sau khi sáp nhập Áo vào tháng Ba năm 1938 không cần dùng đến võ lực, Hitler tập trung vào chiến lược chiếm Tiệp Khắc bất chấp sự chống đối của nhiều tướng lãnh cao cấp trong đó có tướng Ludwig Beck, Tổng Tham Mưu Trưởng quân đội Đức. Bản thân của Hitler cũng đánh giá Tiệp rất cao nên không dám công khai đưa quân vượt biên giới xâm lăng quốc gia này. Vì vùng Sudetenland có đông dân Đức và có nguồn dự trữ nguyên liệu lớn nhất của Tiệp Khắc, Hitler nghĩ đến việc chiếm vùng Sudetenland trước và dùng khu vực giàu có này làm bàn đạp thôn tính toàn bộ Tiệp Khắc.

Chính sách nhân nhượng (appeasement policy) của các các lãnh đạo Anh, Pháp đứng đầu là Thủ tướng Nevill Chamberlain đã “khuyến khích” Đức chiếm Tiệp Khắc.

Sau Thế chiến thứ nhất, dù thắng hay bại, các quốc gia đều phải chịu đựng một thời kỳ suy thoái kinh tế trầm trọng. Khuynh hướng chủ hòa chế ngự trong sinh hoạt chính trị tại các cường quốc dân chủ và lãnh tụ hàng đầu của khuynh hướng này là thủ tướng Anh, Nevill Chamberlain. Thủ tướng Nevill Chamberlain tìm cách hòa giải mối thù địch với Đức. Khi Đức sáp nhập Áo, Chamberlain không có phản ứng cụ thể nào.

Khi Hitler công khai bày tỏ ý định sáp nhập vùng Sudetenlan của Tiệp Khắc đang có hơn ba triệu người gốc Đức, vào lãnh thổ Đức, vấn đề trở nên phức tạp vì Tiệp Khắc có liên minh quân sự với Pháp và Pháp có liên minh quân sự với Anh. Thủ tướng Anh Nevill Chamberlain qua trung gian của Sir Horace Wilson chuẩn bị đàm phán với Đức và qua trung gian của Lord Runciman thuyết phục Tiệp Khắc nhượng bộ. Trong lúc Hitler thông đồng với các nước nhỏ như Hungary và Ba Lan để xẻ thịt Tiệp, Tổng thống Mỹ Franklin Roosevelt tuyên bố chủ trương trung lập của Mỹ về tranh chấp Sudetenland.

Ngày 15 tháng Chín năm 1938, Thủ tướng Nevill Chamberlain bay sang Đức để thương thuyết với Hitler. Các cuộc thương thuyết giằng co cho đến sáng sớm 30 tháng 9 năm 1939, thỏa hiệp Munich được ký kết giữa Đức, Anh, Pháp và Ý, trong đó, cho phép Đức sáp nhập vùng Sudetenland trù phú và chiến lược vào lãnh thổ Đức.

Tiệp Khắc không được mời tham dự hội nghị và chỉ được Anh Pháp thông báo kết quả. Chính phủ Tiệp nghĩ rằng Tiệp Khắc không có hy vọng gì thắng được Đức bằng sức mạnh của riêng mình, đã đồng ý với nội dung của thỏa hiệp Munich. Theo thỏa hiệp này, tướng Đức Wilhelm Keitel được cử vào chức thống đốc quân sự vùng Sudetenland. Những người dân Tiệp không phải gốc Đức phải rời Sudetenland trong vòng 10 ngày và không được mang theo bất cứ một món sở hữu nào. Câu Phản bội Tiệp Khắc để chỉ sự phản bội của đồng minh đối với Tiệp ra đời từ đó.

Mất Sudetenland, Tiệp Khắc không chỉ bỏ trống biên giới chiến lược phía nam mà còn mất 70% dự trữ sắt thép, 70% điện và 3 triệu công dân Tiệp. Trong lúc hiệp ước Munich là một thành quả ngoại giao lớn của Nevill Chamberlain, đối với Hitler lại là một bước lùi. Mục tiêu của Hitler không phải chỉ chiếm vùng Sudetenland mà cả nước Tiệp như Wilson Churchill tiên đoán. Đầu năm sau, Hitler lần lượt chiếm các vùng Bohemia, Moravia và phần còn lại của Tiệp Khắc.

Cả hai lý do trên không thể làm Tiệp Khắc mất một cách nhanh chóng nhưng chính sâu mọt và phản bội ngay trong lòng nước Tiệp và một chính phủ phân hóa, yếu kém, thiếu quyết tâm mới là những lý do chính làm tan rã Tiệp Khắc.

Rất nhiều sâu mọt trong nội bộ Tiệp và đứng đầu là Konrad Henlein lãnh đạo của đảng Sudeten gốc Đức.

Konrad Henlein một thầy giáo bậc trung học, lúc đó đang hoạt động dưới danh nghĩa đảng Sudeten quy tụ đa số dân Tiệp gốc Đức. Konrad Henlein sinh tại Bohemia, Tiệp Khắc có cha là người Đức và mẹ là người Czech. Đảng Sudeten của Konrad Henlein thông đồng với đảng Quốc Xã Đức và được đảng này tài trợ và huấn luyện. Mỗi tháng đảng Sudeten nhận 15 ngàn Đức Mã để trang trải các chi phí hoạt động. Ngày 28 tháng Ba năm 1938, Hiter gọi Konrad Henlein sang Đức và đích thân ra chỉ thị cho tên Tiệp gian này phải đưa ra những điều kiện mà Tiệp Khắc không thể thỏa mãn được. Mặc khác, Joseph Goebbels, Bộ trưởng Tuyên truyền của Đức Quốc Xã, tung một chiến dịch tuyên truyền ồ ạt về việc chính phủ Tiệp bạc đãi, đàn áp dân gốc Đức trong vùng Sudetenlan và xúi dục người dân Tiệp gốc Đức đứng lên đòi quyền tự trị.

Về lại Tiệp, Tiệp gian Konrad Henlein đòi chính phủ Tiệp phải để vùng Sudetenlan hoàn toàn tự trị, thay đổi chính sách đối ngoại của chính phủ Tiệp và toàn quyền phổ biến lý thuyết Quốc Xã. Dĩ nhiên, đòi hỏi tự trị còn có thể đàm phán được nhưng việc tự do tuyên truyền tư tưởng Quốc Xã khó có thể chấp nhận. Khi đàm phán bắt đầu, Tiệp gian Konrad Henlein và đảng của y lại tạo nhiều xáo trộn bạo động trong vùng và tiếp tục làm khó dễ chính phủ trung ương cho đến khi hiệp ước Munich được ký kết. Ngày 1 tháng Mười năm 1938, các đơn vị tiền phương của quân đội Đức vượt qua biên giới Tiệp giữa tiếng hò reo ủng hộ của các đảng viên đảng Sudeten, và cũng trong lúc đó hàng chục sư đoàn Tiệp được trang bị đầy đủ được chính phủ ra lịnh rút lui. Phía sau đoàn quân Đức là các đơn vị mật vụ Gestapo và lực lượng anh ninh SS. Chỉ trong thời gian ngắn 10 ngàn người dân Tiệp, kể cả dân nói tiếng Đức nhưng chống Hitler, bị đày vào các trại tập trung vừa mới xây ở Sudetenland.

Konrad Henlein gia nhập lực lượng an ninh Đức và tham gia vào đảng Quốc Xã. Mặc dù sinh ra, lớn lên trên đất Tiệp, Konrad Henlein đã góp phần quan trọng trong việc rước voi Đức giày lên Tiệp Khắc. Y được thưởng nhiều chức vụ và được cho phép làm công dân Đức. Sau khi Tiệp Khắc được đồng minh giải phóng, tên Tiệp gian phản quốc Konrad Henlein bị bắt và y đã tự sát bằng cách cắt gân máu ở cổ tay.

Kẻ phản bội thứ hai là tổng thống bù nhìn Emil Hacha. Sau khi Edvard Benes, tổng thống thứ hai của Tiệp Khắc từ chức, tân tổng thống Emil Hacha là một người nhu nhược. Buổi tối ngày 11 tháng Ba năm 1939, Hitler cho triệu Hacha đến Bá Linh và thông báo cho ý định chiếm toàn bộ Tiệp Khắc bằng võ lực và hứa nếu Hacha chịu hợp tác, Tiệp Khắc sẽ được hưởng quyền tự trị rộng rãi còn nếu nghịch sẽ bị đoàn quân Hitler tấn công Tiệp bằng mọi phương tiện trong đó có cả việc không quân của Đức cày nát thủ đô Prague. Emil Hacha quy thuận Hitler. Dưới thời Đức Quốc Xã chiếm đóng y được giữ chức vụ tổng thống bù nhìn nhưng buộc phải tuyên thệ trung thành trước Hitler. Mặc dù có nhiều tài liệu cho thấy Emil Hacha trong thời gian phục vụ Hitler cũng lén lút giúp cho phong trào kháng chiến chống Đức thuộc chính phủ lưu vong của Edvard Benes nhưng công không đủ để chuộc tội cho y. Sau khi Prague được giải phóng vào tháng Năm năm 1945, Emil Hacha bị bắt và chết hơn hai tháng sau đó trong hoàn cảnh bí mật. Y được chôn trong một ngôi mộ không đề bia tại nghĩa trang Vinohrady. Hiện nay, tại nghĩa trang Vinohrady có một tấm bảng ghi dấu nơi chôn của Emil Hacha.

Jozef Tiso là một kẻ phản quốc đội lốt tôn giáo. Mặc dù thụ phong linh mục nhưng y cũng là một trong những đảng viên nòng cốt của đảng Nhân Dân Slovak. Lợi dụng sự suy yếu của Tiệp Khắc sau hiệp ước Munich, đảng Nhân Dân Slovak do Tiso lãnh đạo tuyên bố Slovak tự trị trong vòng Tiệp Khắc. Vào 13 tháng Ba năm 1939, giống như vừa đe dọa Emil Hacha vài hôm trước đó, Hitler triệu Jozef Tiso đến Bá Linh và buộc y phải tuyên bố Slovak độc lập, tách rời khỏi Tiệp Khắc, nếu không Hitler sẽ thúc giục Hungary và Ba Lan chiếm đóng phần lãnh thổ còn lại của Slovakia. Jozef Tiso cũng tuân phục Hitler và trở nên một cộng tác viên trung thành cho chế độ Quốc Xã. Từ năm 1939 đến năm 1945, Tiso là tổng thống bù nhìn Slovakia chư hầu của Đức. Đảng Nhân Dân Slovak do y lãnh đạo liên kết chặt chẽ với đảng Quốc Xã Đức và chia sẻ quan điểm diệt Do Thái. Khi hồng quân Liên Xô tiến vào chiếm Slovakia tháng Tư năm 1945, Tiso bị bắt và bị kết án phản quốc. Jozef Tiso bị treo cổ ngày 18 tháng Tư năm 1947. Chính phủ Tiệp Khắc chôn y tại một nơi bí mật.

Chính phủ Tiệp Khắc nhu nhược không quyết tâm bảo vệ đất nước. Phân hóa và thiển cận trong thành phần lãnh đạo của hai sắc dân Slovak và Czecho trong chính phủ Tiệp đã làm thượng tầng kiến trúc lãnh đạo sụp đổ nhanh chóng.

Tiệp Khắc trong giai đoạn năm 1938-1939 đứng trước những khó khăn và áp lực quá lớn không những từ quốc tế mà ngay cả tại trong nội bộ Tiệp, nhưng thay vì đoàn kết để đương đầu với ngoại xâm, các sắc dân Tiệp đã phân hóa, chia rẽ và tiếp tay làm yếu khả năng đối đầu với Đức.

Xét về tương quan quân sự. Theo tổng kết của Giáo sư Sử học Carroll Quigley, đại học Georgetown dựa theo các tài liệu thuộc văn khố quân sự Mỹ sau Thế chiến thứ hai, trong giai đoạn đầu thù địch Đức Tiệp bùng nổ, Đức có 36 sư đoàn nhưng không được trang bị đầy đủ trong lúc Tiệp Khắc có 35 sư đoàn thiện chiến và được trang bị một trăm phần trăm hỏa lực. Vào tuần lễ thứ ba của tháng Chín năm 1939, quân đội Tiệp Khắc đã có một triệu quân với 34 sư đoàn tinh nhuệ trong lúc toàn bộ quân Đức để phối trí tại hành lang châu Âu chỉ có từ khoảng 31 đến 36 sư đoàn. Về không quân, vào tháng Chín năm 1938, Đức trội hơn Tiệp Khắc chút ít. Đức có 1500 máy bay trong lúc Tiệp có gần 1000 chiếc nhưng nếu tính cả Anh, Pháp số lượng phi cơ của ba nước cộng lại vượt xa Đức. Liên Xô ủng hộ Tiệp nên cũng gởi 36 phi cơ chiến đấu đến Tiệp qua ngã Rumania. Về chiến xa, tăng của Đức còn yếu hơn tăng của Tiệp Khắc. Ngoại trừ loại tăng thuộc thế hệ Mark III có trang bị pháo 37 li, phần lớn tăng thế hệ Mark II của Đức chỉ trang bị đại liên. Tiệp Khắc có mấy trăm xe tăng hạng nặng 38 tấn trang bị pháo 75 li hiện đại nhất thời đó.

Nếu đánh nhau với Đức trong một cuộc chiến tranh quy ước, chưa chắc Tiệp đã thua. Mà dù có thua, Tiệp Khắc cũng kéo dài cuộc chiến được một hai năm đủ thời gian cho quốc tế can thiệp hay tìm cách lôi kéo các nước châu Âu vào ván cờ sinh tử. Khi tràn ngập Tiệp Khắc vào tháng Ba năm 1939, Đức tịch thu của Tiệp 469 xe tăng, 1500 phi cơ chiến đấu đủ loại, 43 ngàn súng máy và nhiều triệu súng trường. Số lượng vũ khí đó Đức đã phải tốn hàng năm mới sản xuất được.

Tiệp Khắc, một quốc gia có điều kiện kỹ thuật tiên tiến nhất châu Âu và từng là một phần của đế quốc Áo Hung hùng mạnh đã bị Hitler xóa tên khỏi bản đồ thế giới không tốn một viên đạn. Với một quân lực cả triệu người và phương tiện đầy đủ nhưng chỉ vì sự yếu hèn của cấp lãnh đạo, Tiệp Khắc trở thành đỉa thịt bò tươi trong bữa cơm chiều của nhiều khách lạ.

Sau khi Tiệp bị Hitler cưỡng chiếm, hàng ngàn người dân Tiệp yêu nước phải tự phát rút vào chiến tranh du kích chỉ bằng vài tạc đạn và vài khẩu súng ngắn. Nguồn tiếp tế quá xa và kho súng đạn khổng lồ đã bị tịch thu, họ đã phải chiến đấu trong điều kiện hết sức khó khăn. Hàng trăm ngàn người Tiệp đã chết dưới bàn tay sắt của tử thần SS Reinhard Heydrich. Tướng SS Reinhard Heydrich, cai trị Bohemia và Moravia (vùng đất Tiệp sau khi sáp nhập vào Đức) được các sử gia đánh giá là tên tướng độc ác nhất trong hàng tướng lãnh công an mật vụ SS Đức. Y là một trong những kiến trúc sư của kế hoạch tiêu diệt dân Do Thái Holocaust. Hitler ca ngợi Heydrich là “con người có trái tim bằng sắt”. Y bị kháng chiến quân Tiệp ám sát tại Prague vào cuối tháng Năm năm 1942. Đức trả thù tàn bạo. Hai làng Lidice và Lezaky, tình nghi che giấu kháng chiến quân, bị đốt thành tro, tất cả đàn ông đều bị bắn chết, chỉ còn một ít phụ nữ và trẻ em bị đày vào các trại tập trung.

Sự chịu đựng của nhân dân Tiệp đã để lại nhiều bài học cho Việt Nam khi đương đầu với chủ nghĩa bành trướng Trung Quốc.

Tương tự như Đức Quốc Xã đối với Tiệp Khắc, Trung Quốc chủ trương bành trướng xuống vùng Đông Á

Như đã trình bày trong bài “Hiểm họa Trung Quốc và bài học Thổ Nhĩ Kỳ”, vì các lý do an ninh, chính trị, kinh tế, Trung Quốc phải tìm mọi cách khống chế biển Đông. Hai nỗi lo lớn của giới lãnh đạo CS Trung Quốc là sợ bị bao vây từ bên ngoài và diễn biến hòa bình bên trong nội bộ Trung Quốc. Nhìn quanh, họ chỉ thấy kẻ thù. Thật vậy, hầu hết các quốc gia dân chủ trong vùng từ Ấn Độ đến Nhật Bản, Đài Loan, Nam Hàn, Thái Lan, tuy mức độ khác nhau nhưng đều là các quốc gia đang có những mâu thuẫn căn bản với Trung Quốc, không những về quyền lợi kinh tế mà cả chế độ chính trị. Sự lệ thuộc về chính trị của Việt Nam vào Trung Quốc không chỉ giúp giữ an toàn phòng tuyến phía nam mà còn tránh sự sụp đổ dây chuyền trong trường hợp cách mạng dân chủ tại Việt Nam diễn ra trước. Tuy nhiên, khác với Đức Quốc Xã, Trung Quốc không dám tung một cuộc tấn công toàn lực như Hitler chuẩn bị cho Tiệp mà chủ trương gậm nhấm từng phần đất, từng ngọn núi và từng hải lý của Việt Nam.

Nắm được yếu điểm của CSVN, trong lúc tiếp tục phát triển kinh tế, mở rộng ngoại giao với hầu hết các quốc gia từ năm 1978, Đặng Tiểu Bình vẫn tiếp tục phát động chiến tranh xoi mòn biên giới Việt Nam như trận Cao Bằng năm 1980, Lạng Sơn và Hà Tuyên năm 1981, Vị Xuyên Hà Tuyên năm 1984, Lão Sơn Hà Giang năm 1984, Vị Xuyên lần nữa vào năm 1985 và năm 1986. Trên mặt biển Trung Quốc tiếp tục xâm phạm chủ quyền Việt Nam, bắn thủng ghe tàu, thành lập thành phố Tam Sa, đưa hàng ngàn tàu đánh cá ra khơi, tàn sát ngư dân Việt Nam.

Lãnh đạo CS Trung Quốc biết những hành động lấn ép đó không đủ mạnh, đủ lớn để làm quốc tế lưu tâm. Không một Hội Đồng An Ninh Liên Hiệp Quốc nào rảnh rỗi để bàn chuyện vài chiếc ghe đánh cá của ngư dân Việt Nam bị “tàu lạ” húc ngoài Quảng Ngãi hay đặt vấn đề tại sao các tàu đánh cá Trung Quốc cứ tiếp tục thả lưới trong vùng biển Việt Nam. Những sự kiện ghe tàu đó đối với các cường quốc là chuyện vặt nhưng với một nước nhỏ như Việt Nam nơi có nhiều triệu dân gắn liền với ngư nghiệp lại là chuyện lớn. Đặc tính hèn hạ, nhỏ mọn đó của Trung Quốc là sản phẩm của chế độ độc tài CS và đừng ai hy vọng gì các đặc tính đó thay đổi một khi chế độ sinh ra chúng còn tồn tại.

Đàm phán với Trung Quốc ư? Đàm phán đa phương quốc tế Trung Quốc không tham dự nhưng đàm phán song phương là rơi vào chiếc bẫy của Trung Quốc. Nếu ai theo dõi chuyện Trung Quốc và Liên Xô tranh cãi nhau về chủ quyền của các đảo Trân Bảo, Ẩn Long và Hắc Hạt Tử trong khu vực sông Ussuri sẽ thấy. Các phiên họp tranh cãi chủ quyền kéo dài tới 20 năm, từ thập niên 1970 cho đến 1990 nhưng không đem lại kết quả nào. Mỗi lần có một cuộc họp giữa hai nước, phái đoàn Trung Quốc chở theo một toa xe lửa chứa đầy tài liệu và đồ vật để chứng minh chủ quyền Trung Quốc trên các đảo này. Trung Quốc biết dù chở cả xe bằng chứng cũng chưa hẳn thuyết phục được Liên Xô nhưng chỉ muốn kéo dài thời gian đàm phán để chờ đợi thời cơ.

Tương tự như Hitler, lãnh đạo CS Trung Quốc lợi dụng chính sách ngoại giao mềm của Mỹ

Trong bài viết “Tranh chấp Mỹ – Trung, một cảnh giác cho lòng yêu nước” tôi có dịp trình bày chính sách Mỹ hiện nay là sự bước tiếp nối của chính sách ngăn chận thời Chiến tranh lạnh trong điều kiện toàn cầu hóa. Nhiều người Việt lầm lẫn nghĩ rằng hàng không mẫu hạm George Washington hùng mạnh thả neo ngoài khơi Đà Nẵng là để bảo vệ Việt Nam. Thật ra, cả Trung Quốc và Mỹ đều biết dù áp dụng chính sách nào hay dù có thái độ nào, xung đột võ trang giữa hai cường quốc lớn nhất thế giới có phụ thuộc quá sâu, quá phức tạp về kinh tế không thể xảy ra trong một giai đoạn ngắn tới đây.

Về phía Trung Quốc, không giống Đức Quốc Xã cần chiến tranh để phục hồi và phát triển, Trung Quốc phải đương đầu với hàng loạt khó khăn trên trong cũng như bên ngoài, việc phát động một cuộc chiến tranh quy mô ở Á châu và Thái Bình Dương như Hitler đã làm với Tiệp Khắc là một điều giới lãnh đạo CS Trung Quốc không dám thực hiện. Hơn ai hết, giới lãnh đạo CS Trung Quốc biết họ phải cần nhiều chục năm kỹ thuật và một ngân sách hải quân khổng lồ mới mong đuổi kịp Mỹ. Ngoài ra, chủ nghĩa Cộng Sản đã chết, Trung Quốc hiện đang sống nhờ vào chủ nghĩa dân tộc cực đoan và Thế chiến thứ nhất 1914-1918 dẫn đến tự sụp đổ của Đế Quốc Đức, Đế Quốc Áo Hung, Đế Quốc Ottoman đã dạy họ một bài học: Các đế quốc gây chiến trên nền tảng của chủ nghĩa dân tộc cực đoan chẳng những không thắng mà đều tan rã từ bên trong.

Về phía Mỹ, ngoài các lý do kinh tế, riêng trong lãnh vực quân sự cũng không phải dễ dàng. Chính phủ Mỹ trong lúc muốn duy trì ảnh hưởng trong vùng, cũng không muốn bị cuốn vào các xung đột mang màu sắc chủ nghĩa dân tộc đối đầu với chủ nghĩa dân tộc như trường hợp Trung Quốc và Việt Nam. Tháng Giêng 2011, Tổng thống Barack Obama trải thảm đỏ tiếp đón Chủ tịch Trung Cộng Hồ Cẩm Đào như quốc khách với 21 phát đại bác chào mừng. Trong buổi tiếp tân, TT Obama ca ngợi“sự hợp tác tốt đẹp giữa hai nước”. Khi trả lời buổi phỏng vấn dành cho tờ Wall Street Journal, Hồ Cẩm Đào công nhận sự quan trọng trong quan hệ tốt giữa Trung Quốc và Hòa Kỳ. Họ Hồ cũng nhấn mạnh đến việc hai quốc gia phải “hành động phù hợp với quyền lợi căn bản của nhân dân hai nước, và tôn trọng quyền lợi chung của hòa bình và phát triển thế giới”.

Dân biểu Ileana Ros-Lehtinen, thuộc đảng Cộng Hòa, Chủ tịch Ủy ban Ngoại Giao Hạ Viện trong một văn bản công bố cho báo chí sau đó, đã nghiêm khắc phê bình Trung Quốc không xứng đáng là một cường quốc vì nhiều lý do và một trong những lý do, Trung Quốc đã ngang nhiên xem Biển Đông như là “quyền lợi chính” và xem thường quyền hàng hải và lãnh thổ của các quốc gia vùng Đông Nam Á. Các lãnh đạo Cộng Hòa cũng tố cáo TT Obama đã thực thi chính sách “Nhân nhượng” của Nevill Chamberlain để đối phó với Trung Quốc. Dĩ nhiên, TT Barack Obama phủ nhận những lời kết án này.

Tương tự như Đức Quốc Xã đối với Tiệp Khắc, Trung Quốc nắm chắc các thành phần lãnh đạo cam thân làm nô bộc cho ngoại bang và không quyết tâm bảo vệ chủ quyền đất nước.

Trung Quốc biết rất rõ tham vọng cố bám vào chiếc ghế quyền lực của giới lãnh đạo CSVN. Chủ trương “hợp tác hổ tương bình đẳng và cùng có lợi với tất cả các quốc gia” của lãnh đạo CSVN chỉ là một khẩu hiệu tuyên truyền che đậy sự sợ hãi trước đàn anh CS Trung Quốc. Ngay cả các cường quốc Anh, Nhật, Pháp cũng không chủ trương như vậy đừng nói chi là những nước mang số phận sân sau như Việt Nam. Các nước nhỏ như Phần Lan, Thổ Nhĩ Kỳ, Thụy Điển, Đài Loan, Nam Hàn vượt qua được những nhược điểm khách quan và chủ quan của đất nước họ bởi vì họ biết cách vận dụng chính sách đối ngoại của các cường quốc để phục vụ cho sự phát triển của đất nước. Không chỉ Thổ Nhỉ Kỳ cần Anh Quốc mà Anh Quốc cũng cần Thổ Nhĩ Kỳ và tương tự không chỉ Đài Loan cần Mỹ nhưng Mỹ cũng cần Đài Loan.

Quan hệ Trung Quốc và Việt Nam không giống như quan hệ giữa Mỹ và Philippine hay Mỹ và Nam Hàn. Giới lãnh đạo CSVN không có vị trí độc lập về chính sách đối ngoại. Mọi chính sách trước khi đưa ra đều phải đo lường phản ứng từ phía Trung Quốc. CS Trung Quốc và CS Việt Nam chia sẻ nhau một lịch sử lâu dài từ ngày đảng Cộng sản hai nước được thành lập. Hai đảng gắn bó về cả vật chất lẫn tinh thần. Câu nói của Mao “Nhiệm vụ trung tâm và hình thức cao nhất của cách mạng là nắm lấy quyền lực thông qua đấu tranh võ trang và giải quyết vấn đề bằng chiến tranh” là tư tưởng chỉ đạo của đảng CSVN trong khi vạch định đường lối suốt hai cuộc chiến. Năm 1950, Trung Quốc là nước đầu tiên công nhận Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Cả hai nước đã thừa nhận sự đóng góp của và người của Trung Quốc vào mục đích thiết lập chế độ Cộng sản tại Việt Nam. Nợ máu xương chồng chất. Tuy không dính dáng gì đến dân tộc Việt Nam nhưng nhân dân Việt Nam đã và đang phải trả bằng máu của bao nhiêu thế hệ từ trước năm 1975 cho đến nay và chưa biết ngày nào mới trả hết.

Bài học từ chủ nghĩa dân tộc cực đoan

Bài học lớn nhất mà nhân loại học được từ Thế chiến thứ hai là sự thụ động, tiêu cực của con người trước hiểm họa của chủ nghĩa dân tộc cực đoan.

Những kẻ chịu trách nhiệm cho cái chết của 70 triệu người không chỉ là Adolf Hitler, Benito Mussolini và Kideki Tojo nhưng còn là Thủ tướng Anh Neville Chamberlain và Tổng thống Pháp Édouard Daladier. Chính người dân Đức đã bỏ phiếu cho Hitler và người dân Anh đã nhảy nhót vui mừng khi lãnh thổ Tiệp rơi vào tay của Đức. Trong một thời gian ngắn trước Thế chiến thứ hai, không chỉ Đức thôi mà cả nước yếu kém hơn Tiệp như Ba Lan, Hungary cũng dự phần vào bữa tiệc nấu bằng thịt xương Tiệp Khắc. Thế chiến thứ hai có thể đã không xảy ra hay xảy ra với mức độ tác hại thấp hơn nếu số lớn nhân loại ngày đó không thỏa hiệp, không đồng lõa với cái ác.

Từ đó để thấy, việc ngăn chận chủ nghĩa dân tộc cực đoan Trung Quốc ngày nay phải là trách nhiệm hàng đầu của nhân loại yêu chuộng hòa bình và công lý bởi vì lịch sử chứng minh chủ nghĩa dân tộc cực đoan dẫn đến chiến tranh ngay cả trong trường hợp các kẻ chủ trương cực đoan không muốn. Chưa từng có một trường hợp nào ngược lại. Giới lãnh đạo CS Trung Quốc là những người nhúm lên ngọn lửa dân tộc cực đoan nhưng lửa cháy mạnh hay yếu tùy thuộc vào nhiều yếu tố có khi không nằm trong vòng kiểm soát của họ.

Các chủ trương đồng hóa và diệt chủng các dân tộc yếu thế là phó sản của chủ nghĩa dân tộc cực đoan. Từ giai đoạn sau cách mạng Pháp 1789 đến Thế chiến thứ nhất rồi Thế chiến thứ hai cho tới các cuộc chiến đẫm máu vùng Balkans giữa các nước thuộc liên bang Nam Tư cũ, máu nhân loại đã đổ liên tục vì chủ nghĩa dân tộc cực đoan. Sau cực tả là cực hữu, bản đồ thế giới chưa bao giờ thay đổi nhanh chóng như trong vòng một phần tư thế kỷ vừa qua.

Các nhà phân tích thường dựa vào hậu quả hơn là tìm hiểu nguyên nhân nên không lấy làm lạ ít người so sánh Hitler với Đặng Tiểu Bình. Đa số vẫn đánh giá họ Đặng như một nhà lành đạo CS tiến bộ, mở cửa hiện đại hóa, làm dịu căng thẳng giữa hai khối. Tuy nhiên, quan điểm của Hitler và Đặng Tiểu Bình có nhiều điểm giống nhau hơn cả giữa Hitler và Stalin, Hitler và Mussolini hay Hilter và Mao bởi vì cả hai đã dùng chủ nghĩa dân tộc như một phương tiện để kích thích “niềm kiêu hãnh quốc gia”, vẽ lên trong nhận thức con người về “một loại đất nước huy hoàng tưởng tượng”, làm gia tăng nhất thời sức mạnh kinh tế và tạo áp lực thường xuyên trên các nước yếu hơn trong vùng.

Nhân loại nguyền rủa Hitler, kết án Mao và phỉ nhổ Stalin, tuy nhiên, nếu chiến tranh bùng nổ tại Á Châu, với dân số 1.3 tỉ người mà bầu nhiệt huyết được đun sôi bằng ngọn lửa hận thù, hậu quả của chủ nghĩa dân tộc cực đoan Trung Quốc do Đặng Tiểu Bình nhóm lên từ năm 1978 sẽ khủng khiếp đến dường nào. Giữa Hitler và Đặng Tiểu Bình ai tàn ác hơn ai, chưa biết được.

Có hy vọng nào cho dân tộc Việt Nam?

Nhìn lại Việt Nam, chưa bao giờ dân tộc lại phải chịu đựng sự phân hóa, chia rẽ trầm trọng như hôm nay. Một người Việt quan tâm đến tiền đồ dân tộc nào cũng đau lòng nhận ra điều đó. Tuy nhiên, dù có thể còn khác nhau trong cách trả lời, chúng ta không thể không đồng ý rằng, để cứu đất nước, trước hết phải tháo gỡ chiếc gông độc tài chuyên chính ra khỏi cổ người dân và trả lại cho họ những quyền bẩm sinh mà ai cũng có, đó là quyền làm người, quyền quyết định sinh mệnh của chính mình và của dân tộc mình. Bởi vì, chỉ có một Việt Nam đoàn kết dưới ngọn cờ dân chủ, tự chủ, cường thịnh mới mong thắng được chủ nghĩa bá quyền Trung Quốc.

Trần Trung Đạo

—————————————————————-
Tham khảo:

– David Faber, Munich, 1938 Appeasement and World War II, Simon & Schuster, New York 2009

– William L. Shirer, The Rise and Fall of the Third Reich, 1995

– Mark Mazower, Hitler ‘s Empire, How The Nazis Ruled Europe, The Penguin Press, New York 2008

– Carl K. Savich, Nationalism and War, MarkNews. com, 2008

– Richard J. Evan, The Third Reich in power, The Penguin Press, New York 2005

– History of Germany, Wikipedia, the free encyclopedia

– Interview with Dr. Carroll Quigley, Georgetown University, The Courier, December 12, 1952

– Hitler’s Plan for Eastern Europe, Selections from Janusz Gumkowkski and Kazimierz Leszczynski

– World War II database, Munich Conference and the Annexation of Sudetenland

– Yang Kuisong, Changes in Mao Zedong’s Attitude toward the Indochina War, 1949-1973, Woodrow Wilson International Center for Scholars, 2002

http://danluan.org/node/13772

Posted in Chinh Tri Viet Nam | Leave a Comment »

►Phải chặn đứng nguy cơ tái diễn kịch bản Thành Đô 1990

Posted by hoangtran204 trên 11/08/2012

Qua bài này, chúng ta thấy  đảng CSVN  phân chia thành 2 nhóm (nếu không muốn nói là có rất nhiều nhóm).
_Nhóm của ông Nguyễn Trung (tạm gọi như thế) bao gồm những người có tư tưởng như ông ta: không thích đi với Trung Quốc; và
_Nhóm cầm quyền  đã và đang đi theo Trung Quốc. Nhóm này cầm quyền trong khoảng thời gian 1987-2012, và đại diện là bộ tứ “Hùng, Dũng, Sang, Trọng”. Tiên đế của nhóm này là Mạnh, Dũng, Trọng, Triết. Và trước đó là Mạnh, Khải, An; Trước đó là Phiêu, Đỗ Mười, Lê Đức Anh, Võ văn Kiệt ; nhóm sau cùng cầm quyền trong thời điểm 1990. (bổ sung sau).
Trước đó, vào 1950-1986 là thời của ông HCM, Lê Duẫn. 

Phải chặn đứng nguy cơ tái diễn kịch bản Thành Đô 1990

Nguyễn Trung

Trong lịch sử ngoại giao Việt Nam kể từ sau khi đất nước đã hoàn thành sự nghiệp độc lập thống nhất ngày 30-04-1975 cho đến hôm nay, sự kiện hội nghị bí mật Thành Đô tháng 9-1990 giữa hai đoàn đại biểu cấp cao hai nước Việt – Trung để bình thường hóa quan hệ là một thất bại nhục nhã của nước ta, bẻ ghi con đường phát triển của nước ta dẫn đến tình hình đất nước như hôm nay: Một lần nữa Trung Quốc lại trở thành mối uy hiếp trực tiếp và nguy hiểm nhất đối với độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và con đường phát triển của nước ta.

Tóm tắt lịch sử đã xảy ra: Không thể nào chấp nhận được thắng lợi của Việt Nam trong kháng chiến chống Mỹ, ngay sau 30-04-1975, Trung Quốc đã tạo ra cái “bẫy Campuchia”.  

Trung Quốc khuyến khích Khmer đỏ khiêu khích vũ trang đánh Việt Nam, và đến tháng 4-1977 Khmer đỏ đã tiến hành chiến tranh lớn tấn công diện rộng toàn vùng biên giới Tây Nam nước ta giáp Campuchia; đồng thời ngày 17-02-1979 Trung Quốc huy động 60 vạn quân phát động cuộc chiến tranh quy mô lớn ồ ạt tiến công toàn tuyến biên giới phía Bắc của Việt Nam, với cái đích kiêu ngạo “Dạy cho Việt Nam một bài học”. Với chiến lược căng Việt Nam ra cả hai đầu mà đánh, hai cuộc chiến tranh dã man này nhằm mục đích khuất phục nước ta, trên thực tế đến 1989 mới thực sự im tiếng súng ở biên giới phía Bắc và ở Campuchia. Song cả hai cuộc chiến tranh này đã thất bại, vì Trung Quốc không thực hiện được mục tiêu chiến lược của nó là khuất phục Việt Nam, hơn thế nữa Việt Nam đã đánh tan Khmer đỏ và cứu được nhân dân Campuchia thoát khỏi nạn diệt chủng. Bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc luôn là đòi hỏi chiến lược của Việt Nam, song tình hình nêu trên cho thấy dù bị sức ép quyết liệt từ phía Trung Quốc và bị bao vây cấm vận vì vấn đề Campuchia, Việt Nam không ở trong thế yếu. Song vào thời điểm cuối những năm 1980 và đầu năm 1990 các nước Liên Xô Đông Âu sụp đổ. Diễn biến này được lãnh đạo nước ta lúc ấy coi là hệ quả phản công của chủ nghĩa đế quốc, và lo rằng nạn nhân kế tiếp có thể là Việt Nam. Với tư duy như vậy, sau nhiều nỗ lực khác không thành vì bị Trung Quốc luôn gây sức ép, lãnh đạo nước ta đã chấp nhận hai đòi hỏi quan trọng nhất của Trung Quốc là rút quân khỏi Campuchia và loại bỏ Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch để mở đầu cho quá trình bình thường hóa quan hệ. Ngày 3 và 4 tháng 9-1990 cuộc họp cấp cao Thành Đô được tiến hành, Việt Nam tham gia với mong muốn bình thường hóa quan hệ và liên minh với Trung Quốc để cùng nhau bảo vệ chủ nghĩa xã hội, bất chấp việc Trung Quốc tháng 3-1988 đánh chiếm thêm 7 đảo và bãi đá của ta ở Trường Sa, bất chấp công cuộc đổi mới của nước ta bắt đầu từ năm 1986 mang lại thành quả bất ngờ và nhanh chóng cải thiện tình hình kinh tế nước ta trong những năm ấy.

Sai lầm nghiêm trọng thứ nhất là tư duy ý thức hệ đã mù quáng không nhìn ra sự sụp đổ của các nước LXĐÂ cũ tạo ra một cục diện quốc tế mới cho phép nước ta thực hiện triệt để độc lập tự chủ, từ đây có thể đi cùng với cả trào lưu tiến bộ thế giới để bảo vệ và phát triển đất nước mình, không cần phải gắn nước ta vào phe nào hay nước lớn nào. Cơ hội này đã bị vứt bỏ, chẳng những thế mà còn bị xem là nguy cơ lớn nhất đối với đất nước – thực ra là nguy cơ lớn nhất đối với chế độ chính trị.

Sai lầm nghiêm trọng thứ hai là lẫn lộn hai thứ làm một giữa bình thường hóa quan hệ quốc gia – quốc gia và liên minh ý thức hệ. Từ đó có ảo tưởng liên minh ý thức hệ có thể giải quyết và vượt qua được những mâu thuẫn hay xung đột lợi ích quốc gia, là cách tốt nhất để bảo vệ quốc gia và chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Tư duy như vậy, trên thực tế phía ta đã chấp nhận bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc trên thế yếu và gần như với bất cứ giá nào.

Bình thường hóa quan hệ Việt Trung kể từ Thành Đô 9-1990, Việt Nam được hưởng một thời kỳ hòa hoãn nhất định với Trung Quốc, song đó là thời kỳ hòa hoãn trên thế yếu và có nhiều sai lầm nghiêm trọng về ý thức hệ. Thực tế diễn ra trong suốt thời gian này cho đến nay là phía Việt Nam đã làm tất cả có thể để hòa hiếu, nhân nhượng, giữ gìn đại cục, với cái đích trung tâm là gìn giữ mối quan hệ chiến lược số một với Trung Quốc. Nhưng toàn bộ thời gian này phía Trung Quốc lại triệt để khai thác mối quan hệ hữu nghị như thế cho việc phát huy tối đa sự can thiệp của quyền lực mềm vào toàn bộ đời sống kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của Việt Nam, gây ra không ít khó khăn cho Việt Nam trên lĩnh vực đối ngoại. Đặc biệt là Trung Quốc đã xuất khẩu ngoạn mục “nguy cơ diễn biến hòa bình” vào Việt Nam, để chính Trung Quốc có điều kiện tốt nhất tác động, ảnh hưởng và diễn biến Việt Nam về mọi mặt.

Nhìn lại hơn 20 năm qua, điểm lại toàn bộ những việc trong quan hệ hai nước đã làm được, từ đàm phán biên giới trên bộ và dưới biển, phát triển quan hệ kinh tế, việc Trung Quốc trúng thầu hàng trăm công trình kinh tế quốc gia quan trọng của Việt Nam, thuê đất, thuê rừng, bô-xít Tây Nguyên, ti-tan ven biển miền Trung, những hoạt động tăng cường quan hệ thực ra là nhằm tăng cường chi phối nhân sự nước ta, những hoạt động tăng cường giao lưu.., tất cả đều chịu sự chi phối sâu sắc của quyền lực mềm Trung Quốc.

Những sai lầm, yếu kém chủ quan của ta, do chính ta tự gây nên, cần phải được nhìn nhận khách quan và phê phán nghiêm khắc, không thể đổ thừa cho bất kỳ ai bên ngoài.

Dù khẳng định dứt khoát như thế, vẫn phải đánh giá nghiêm khắc: Tổng hợp tình hình hơn 20 năm qua, thực tế đang diễn ra là quan hệ Việt – Trung càng phát triển, thì Việt Nam càng lệ thuộc nhiều hơn vào Trung Quốc về kinh tế và chính trị, bị uy hiếp nhiều hơn về đối ngoại và quốc phòng. Thực tế này, cùng với ảnh hưởng chính trị nói chung của Trung Quốc vào đối nội của Việt Nam một mặt đang kìm hãm nghiêm trọng toàn bộ sự phát triển của Việt Nam nói chung, mặt khác gây ly tán đến mức nguy hiểm giữa nhân dân và lãnh đạo đất nước, khiến cho trấn áp và mất dân chủ trong đối nội phải gia tăng, đồng thời thực tế này cũng khuyến khích tham nhũng tiêu cực phát triển. Những vụ trấn áp biểu tình vừa qua chống yêu sách của Trung Quốc trên Biển Đông nói lên nhiều điều và càng đổ dầu thêm vào lửa bức xúc trong nhân dân.

Hiện nay, đất nước có rất nhiều yếu kém bên trong, lệ thuộc và hèn yếu về đối ngoại, nguyên nhân của thực trạng này – ngoài các lẫm lỗi chủ quan của ta – có nguyên nhân chi phối rất nghiêm trọng của ảnh hưởng Trung Quốc.

Ngày nay, lợi ích quốc gia đòi hỏi phải lọai bỏ xu thế đang diễn ra là quan hệ Việt – Trung càng phát triển thì Việt Nam càng lệ thuộc vào Trung Quốc và tương lai phát triển của Việt Nam càng bị chặn đứng. Ngày nay quốc gia đang đứng trước nguy cơ Trung Quốc tìm cách tiếp tục lấn chiếm biển đảo của đất nước trên Biển Đông. Sau 37 năm độc lập thống nhất, đất nước đang lâm nguy.

Những yếu kém của ta trước đây đã dẫn đến Thành Đô 1990. Không loại trừ nguy cơ những yếu kém hiện nay của nước ta có thể tái lập một Thành Đô 1990 đời mới, với hệ quả là vứt bỏ cả thế giới đang đứng về phía chính nghĩa của nước ta, để quay lại hòa hiếu với Trung Quốc và để đẩy tiếp cả đất nước xuống bùn đen!

Cả nước phải đồng lòng nhất trí loại bỏ nguy cơ mới này. Muốn có được quan hệ hữu nghị thực sự, hợp tác bình đẳng cùng có lợi giữa Việt Nam – Trung Quốc, càng nhất thiết phải loại bỏ nguy cơ Thành Đô 1990 đời mới!

Để mỗi chúng ta có những căn cứ các đáng về mối lo nguy cơ mới, trong phần phụ lục kèm theo bài này, xin trân trọng giới thiệu với bạn đọc một số trích dẫn trong tài liệu nghiên cứu của anh Dương Danh Dy về Hội nghị Thành Đô 9-1990.

___________________________________________________________

Phụ lục 

Một số ý trích dẫn từ tài liệu nghiên cứu 

 

Hội nghị Thành Đô, tháng 9 năm 1990

 

Dương Danh Dy, Hà Nội, tháng 10 – 2011

 

 

“…Ngoài những nhân nhượng “vô nguyên tắc” về CPC như đã trình bày trên, phía Việt Nam đã không hề (hay không dám) đề cập tới nguyên nhân tạo ra bất đồng trong quan hệ Việt Trung trong hơn 10 năm qua nhất là cuộc chiến tranh biên giới tháng 2 năm 1979 do Ban lãnh đạo Bắc Kinh cố tình, chủ động gây ra.. Phía Việt Nam đã hoàn toàn cho qua vấn đề sau khi nghe Giang Trạch Dân nói trong diễn văn: quan hệ hai nước từ nay “hãy gác lại quá khứ, hướng tới tương lai”…


Chúng ta không đòi Trung Quốc phải bồi thưòng chiến tranh (trong khi đã nêu vấn đế Mỹ bồi thường chiến tranh là điều kiện tiên quyết để bình thưòng hoá quan hệ hai nuớc) nhưng tại sao trong đàm phán bí mật lại không dám nói dù chỉ là một lời với Trung Quốc về cuộc chiến tranh tàn ác đó và buộc họ chí ít phải nói ra câu “lấy làm tiếc” về hành động phi nghĩa của mình? Nhượng bộ“vô nguyên tắc” này của Việt Nam đã làm cho Trung Quốc dưòng như giành được “vị thế chính nghĩa” trước dư luận quốc tế và nhất là trong đông đảo nhân dân Trung Quốc dù họ mang hơn 60 vạn quân chính qui xâm lược, giết hại nhiều đồng bào ta, tàn phá nhiều cơ sở vật chất của ta tại vùng 6 tỉnh biên giới Việt Nam. Làm cho một bộ phận người trên thế giới cho rằng những vu cáo bịa đặt của Trung Quốc: “Việt Nam xua đuổi nguời Hoa”, “Việt Nam xâm lược Cămpuchia”… là đúng, việc thế giới “lên án, bao vây cấm vận Việt Nam” là cần thiết, việc Trung Quốc “cho Việt Nam một bài học” là phải đạo v.v.… trong khi chính chúng ta mới là ngườì có công lớn trong việc đánh tan bọn Khơme đỏ, cứu nhân dân Cămpuchia khỏi nạn diệt chủng. Tóm lại là đã làm cho khá nhiều người trong thời gian khá dài hiểu lầm, ác cảm với Việt Nam.


…Cho tới khi đặt bút viết những dòng này mặc dù đã mất nhiều công sức tìm hiểu, người viết vẫnchưa biết ai là người đề xuất chủ trương cấm không được nói lại chuyện cũ với Trung Quốc, khiến cho trong hơn 20 năm qua, trên các phương tiện truyền thông của Việt Nam không hề có một tin tức nào động chạm tới Trung Quốc (ngay cả tên tuổi, nghĩa trang của các liệt sĩ hy sinh trong cuộc đấu tranh yêu nước thần thánh trên cũng bị cố tình lảng tránh không dám công khai nói tới, thậm chí bị lãng quên).


…Cần phải nói ra đây một sự thực là trong khi đó, báo, mạng chính thống của Trung Quốc vẫn ra sức tung hoành, không hề bị một sự cấm đoán, hạn chế nào, ngày ngày tìm hết cách để “bôi xấu, xuyên tạc” Việt Nam về mọi mặt, đến nỗi phần lớn ngưòi dân Trung Quốc bình thường khi được hỏi về Việt nam cũng thốt lên, Việt Nam là “kẻ vô ơn bội nghĩa, là kẻ ăn cháo đá bát..”. Theo tài liệu chính thức của Trung Quốc trong một cuộc điều tra công khai, đã có tới “80% dân mạng Trung Quốc(tức khoảng 300 triệu ngưòi – chủ yếu là thanh niên và người có học) tán thành dùng biện pháp vũ lực với Việt Nam tại Biển Đông” Cảm tình, ấn tưọng tốt đẹp của đa số nhân dân Trung Quốc về một nước Việt Nam anh dũng trong chiến đấu, cần cù trong lao động, hữu nghị với Trung Quốc trước đây dường như không còn nữa. Hậu quả tai hại này chưa biết bao giờ mới xoá bỏ được…


…Chấp nhận yêu sách trắng trợn của phía Trung Quốc “gạt bỏ mọi chức vụ trong và ngoài đảng đồng chí Nguyễn Cơ Thạch, Uỷ viên Bộ Chính trị, Phó Chủ tịch HĐBT kiêm Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam”, rồi lợi dụng mọi cơ hội đế đến đại hội VII ĐCSVN chính thức làm được việc đó khi đồng chí là một trong số rất ít người lãnh đạo có tư duy sáng tạo, am hiểu tình hình quốc tế, có sức khoẻ dồi dào, có uy tín quốc tế, nhất là đối với các nước phương tây là một việc làm thể hiện sự yếu kém về bản lĩnh và sự tha hoá về tình nghĩa cộng sản, là một việc làm dại dột “vác đá tự ghè chân mình”…


…Có thể có ngưòi không đồng ý nhận định này, nhưng người viết bài này luôn cho rằng rằng Nguyễn Cơ Thạch là số ngưòi hiếm có trong hàng ngũ lãnh đạo đảng ta lúc đó, ông am hiểu sâu sắc tình hình quốc tế, có quan hệ tương đối tốt với một số chính khách phương tây và đặc biệt là người sớm thấy rõ âm mưu ý đồ đen tối của Trung Quốc đối với Việt Nam, đang tích cực vạch trần và ra sức chống lại mọi ý đồ bành trướng bá quyền của họ khiến ban lãnh đạo Bắc Kinh thấy rằng nếu không cương quyết ép ban lãnh đạo Việt Nam loại bỏ Nguyễn Cơ Thạch thì Việt Nam sẽ “sớm thoát khỏi vòng tay của Trung Quốc”, sẽ nhanh chóng có “vai trò quan trọng trong khu vực và thế giới”, điều mà bất kỳ ban lãnh đạo Trung Quốc thế hệ nào cũng đều không bao giờ muốn. Có thể nói mà không sợ quá mức rằng, nếu Nguyễn Cơ Thạch còn trong ban lãnh đạo cấp cao Đảng ta một nhiệm kỳ nữa thì việc bình thường hoá quan hệ Việt Mỹ và việc Việt Nam gia nhập Asean chắc chắn không phải mãi đến năm 1995 mới thực hiện, chậm hơn việc bình thường hoá quan hệ với Trung Quốc tới gần 5 năm….


…Ban lãnh đạo Bắc Kinh các thế hệ, lo sợ ảnh hưỏng của Nguyễn Cơ Thạch tới mức, mặc dù ông buộc phải nghỉ hưu và mất đã khá lâu mà hơn hai mươi năm sau ngày bình thưòng hoá quan hệ Việt Trung, tại Đại hội lần thứ XI ĐCSVN tháng 1 năm 2011 họ còn không muốn để con trai ông làm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Việt Nam (lời nguời lãnh đạo đảng ta lúc đó nói, tôi được nguyên đại sứ Việt Nam tại Trung Quốc Nguyễn Trọng Vĩnh trực tiếp cho biết)

Chỉ một ví dụ cụ thể này là đủ nói rõ vấn đề

…Không thể dùng các từ ngữ thông thưòng để đánh giá các hậu quả trên mà phải dùng từ “cái giá phải trả bằng xương máu” mới phản ánh đúng bản chất của vấn đề. “Hội nghị Thành Đô” đã, đang và sẽ còn mang lại cho đất nước chúng những hậu quả “to lớn”, “cay đắng”, “nhục nhã”…! Nếu những người có trách nhiệm, không dám công khai toàn bộ tư liệu về hội nghị này và nghiêm chỉnh đánh giá lại “kết quả”

…Vì vậy một vấn đề cũng quan trọng không kém mà ngưòi viết xin mạnh dạn khởi đầu trước: từ những cái giá phải trả đó chúng ta cần rút ra những bài học gì? Cần ghi nhớ những bài học nào?

(1) Những ngưòi lãnh đạo chủ chốt của Đảng ta lúc đó hầu như không nắm được những thay đổi, những diễn biến lớn trên trường quốc tế, nhất là về các nước xhcn Đông Âu, tình hình Liên Xô, tình hình Mỹ cũng như tình hình đối thủ trực tiếp của mình lúc đó là Trung Quốc. Từ đó đã có những nhận định rất sai lầm để rồi đưa ra những quyết định rất sai lầm.Thắng lợi của Công đoàn Đoàn kết tại Ba Lan, sự kiện “bức tường Berlin” bị nhân dân Đức xoá bỏ, việc Yelsin giành chiến thắng trong cuộc bầu cử tại Cộng hoà liên bang Nga, Goovachov từ bỏ chủ nghĩa xã hội và đảng cộng sản… đã không làm cho một số ngưòi trong ban lãnh đạo chúng ta thấy rằng chủ nghĩa xã hội đã không còn được nhân dân ở chính ngay những nước đó ưa thích, theo đuổi, sự sụp đổ của họ là lẽ tất nhiên, Trong tình hình như thế mà lại chủ trương “bình thường hoá quan hệ với Trung Quốc để bảo vệ chủ nghĩa xã hội, chống đế quốc”, ”Mỹ và phương tây muốn cơ hội này để xoá cộng sản. Nó đang xoá ở Đông Âu. Nó tuyên bố là xoá cộng sản trên toàn thế giới. Rõ ràng là nó là kẻ thù trực tiếp và nguy hiểm. Ta phải tìm đồng minh. Đồng minh này là Trung Quốc” (Hồi ký Trần Quang Cơ)

Không thấy hết những khó khăn trong ngoài nước của Trung Quốc lúc đó. Trong nước họ vừa xẩy ra “sự kiện Thiên An Môn”, Triệu Tử Dương bị cách chức Tổng Bí thư, nội bộ lãnh đạo cấp cao bất đồng sâu sắc, một bộ phận nhân dân bất mãn với ĐCSTQ … Do đàn áp đẫm máu học sinh sinh viên, Trung Quốc bị các nước phương tây chủ yếu cấm vận về chính trị, kinh tế, quân sự (có hạng mục như xuất khẩu kỹ thuật cao trong quân sự đến nay vẫn chưa huỷ bỏ) Họ ở vào thế không có lợi nhiều mặt khi bình thường hoá quan hệ với ta, nhưng do mấy nhà lãnh đạo chúng ta lúc đó đánh giá không đúng tình hình nên không những không sử dụng được lợi thế của mình, mà còn bị Trung Quốc “dắt mũi” kéo theo, thiệt đơn thiệt kép trong xử lý quan hệ cũ và trong giai đoạn bình thường quan hệ mới, cho tới tận bây giờ và cả trong tương lai nữa.

(2) Bằng những thoả thuận tại Hội nghị Thành Đô, mấy nhà lãnh đạo chủ yếu của Đảng ta lúc đó đã tự đánh mất bản lĩnh “kiên cường, bất khuất, không sợ địch” mà nhiều thế hệ lãnh đạo đã nêu cao, để sẵn sàng nhận sai về phần mình trước “kẻ thù”, tuỳ tiện đổ lỗi cho ngưòi tiền nhiệm. Người viết bài này không hiểu vì sao, người đại diện cho Đảng ta, một nhân vật có tinh thần sáng tạo lớn với ý chí kiên cường đã tích cực phát triển đường lối “cải cách và đổi mới” và chỉ đạo toàn Đảng toàn dân thu được những thành tích to lớn rất quan trọng bước đầu, thế nhưng trước đối thủ Trung Quốc hình như chỉ còn là chiếc bóng, mất hết cảnh giác cách mạng gật đầu tin tưởng và làm theo mọi đề xuất mang đầy chất lừa bịp “vì chủ nghĩa xã hội” “vì đại cục”… của Trung Quốc, thậm chí chấp nhận để họ can thiệp vào công việc nhân sự cấp cao của đảng ta.

Bài học này, cần được phân tích sâu sắc trong toàn Đảng, toàn dân, một mặt để thấy rõ sai lầm quá khứ, một mặt để ngăn chặn, phá tan những âm mưu, mánh khoé mới của ngưòi “láng giềng 4 tốt”của “những đồng chí” luôn rêu rao “16 chữ vàng” đang không ngừng vận dụng những “thành quả cũ” vào trong quan hệ với Việt Nam chúng ta hiện nay và trong tưong lai….

…”

Hết

Võng Thị, Hà Nội, ngày 11 tháng 8 năm 2012

Nguyễn Trung

 danluan.org

 (Trần Hoàng có sửa lại vài dấu chấm, phết, và thêm các chủ từ cho dễ đọc so với bản gốc trong pha^`n “Tóm tắt lịch sử đã xảy ra: “)

 

 

 

Posted in Chinh Tri Viet Nam | Leave a Comment »

►Không có cái gọi là “Cách Mạng Mùa Thu 1945″, mà chỉ có Một Mùa Thu Đểu

Posted by hoangtran204 trên 11/08/2012

Trong loạt 3 bài dưới đây của các nhân chứng nói rằng: không có cái gọi là “Cách Mạng Mùa Thu”, mà chỉ do đảng chơi đểu, đi cướp thành quả, việc làm của người khác, rồi tự kể công và mướn các sử-nô viết lại lịch sử để bịp các thế hệ trẻ.

Bai` 1

Một Mùa Thu Đểu

Lời Thưa Đầu: Khi già, tôi thấy mình gần với thiên nhiên hơn và lấy làm tiếc là đã có lúc sống quá hối hả nên quên để ý sự thay đổi hàng năm của đất trời. Cả bốn mùa – Xuân, Hạ, Thu, Đông – đều coi như “nơ pa” tuốt luốt.

Đêm qua, tình cờ đọc lại mấy bài thơ (Thu Ẩm, Thu Vịnh, Thu Điếu) của Nguyễn Khuyến mà bâng khuâng cảm xúc rạt rào mãi cho đến sáng. Sáng, nhủ lòng (Ngô đồng nhất diệp lạc – Thiên hạ cộng tri thu) mình cũng nên có đôi lời về Mùa Thu – cho nó có vẻ văn nghệ sĩ chơi, chút xíu – dù chỉ là… Thu đểu!

Trân Trọng

Ngày 26 tháng 6, VNEXPRESS đi tin: “Hàng trăm công nhân Bình Dương nhập viện sau bữa cơm chiều.” Qua mấy bữa sau, 30 tháng 7, cũng VNEXPRESS lại đưa tin nữa: “Công nhân Bình Tân ngộ độc tập thể sau bữa cơm trưa.”

 

thuyen_nhan1.jpg

Vượt Biên. Ảnh: Penny Lewin 

Ôi, tưởng gì chớ mấy chuyện lẻ tẻ này thì ông Nguyễn Thanh Phong – Phó Cục Trưởng Cục An Toàn Vệ Sinh Thực Phẩm – đã báo trước cả tháng rồi mà. Trong buổi gặp mặt báo chí sáng 14-6, tại Hà Nội, giới chức có thẩm quyền này cho biết: “Tình trạng ngộ độc thực phẩm quý II tăng hơn quý I” và nguyên nhân là “do thời tiết nóng bức ảnh hưởng rất lớn đến đường tiêu hóa.”

Thủ phạm, rõ ràng, đã bị chỉ tên. Tuy nhiên (và tất nhiên) không ai hẹp hòi và cố chấp tới cỡ chỉ trích, phê bình, bắt lỗi … thiên nhiên hay thời tiết!

Nắng mưa là bệnh của Trời.
Ngộ độc là bệnh của người không may!

Đợi qua qúi III, khi mùa Thu tới, khí trời trở nên mát mẻ “sẽ không ảnh hưởng lớn tới đường tiêu hóa” nữa thì tình trạng ngộ độc thực phẩm (automatic) sẽ giảm thôi. Còn chuyện những sản phẩm không đạt tiêu chuẩn chất lượng (như rau đểu, gạo đểu, bún đểu, bánh phở đểu, trứng đểu, thịt đểu, dầu ăn đểu, gia vị đểu …) đều là do bọn đểu làm ra.

Cục An Toàn Vệ Sinh Thực Phẩm (nói riêng) và Nhà Nước (nói chung) hoàn toàn (và tuyệt đối) không dính dáng gì ráo đến những việc tiêu cực, xấu xa này. Nói tóm lại, và nói theo người đời thường là “Trời kêu ai nấy dạ.” Ăn uống (bậy bạ) nhằm lúc “thời tiết xấu” thì bị ngộ độc ráng chịu, vậy thôi.

Mà chỉ bị ngộ độc cấp tính vì thực phẩm thì kể như là chuyện nhỏ – và là chuyện xẩy ra hàng ngày – bất kể mùa màng hay thời tiết ra sao, ở xứ mình. Nơi đây, đồ ăn thức uống nhiều thứ gây ảnh hưởng độc địa hơn nhiều – có thể khiến “hại gan, suy tủy, ảnh hưởng thận” – theo như tường thuật của hai ký giả Đoàn Huy và Thanh Tùng, qua loạt bài phóng sự (“Hãi Hùng Cà Phê Đểu”) đọc được trên Thanh Niên On Line bắt đầu từ ngày 17 tháng 7 năm 2012:

“Trưa ngày 6.7, men theo con kênh nước đen bốc mùi trên đường Tô Hiệu, P.Hiệp Tân, Q.Tân Phú, chúng tôi tìm đến cơ sở rang xay cà phê Thông Phát (số 108 – lô 4 Tô Hiệu, P.Hiệp Tân, Q.Tân Phú). Cơ sở như một nhà kho, được xây dựng bằng sắt thép mái tôn cũ kỹ, trên diện tích hơn 500 m2. Bên phía tay phải cơ sở, chiếm 2/3 diện tích là nơi chứa hàng trăm bao tải đậu nành; phần còn lại đủ để 3 máy rang đậu và 1 căn phòng nhỏ chứa các thùng hóa chất…“Cơ sở chế biến cà phê nhưng đố anh tìm được hạt cà phê nào” – một công nhân ở đây vừa cười vừa nói…”

Dân Việt có thể sống với những toà án đểu, bệnh viện đểu, bằng cấp đểu, quan chức đểu, lý lịch đểu, dự án đểu, công ty đểu, qui hoạch đểu, truyền thông đểu, quốc hội đểu, chính phủ đểu … thì (lỡ) uống lai rai thêm vài ly cà phê đểu – nghĩ cho cùng – cũng không phải chuyện “hãi hùng” gì cho lắm. Điểm duy nhất đáng chú ý trong loạt bài phóng sự của Đoàn Huy và Thanh Tùng là họ khám phá ra được cách chế biến thế thôi:

Đậu nành + hoá chất = cà phê đểu!

Công thức giản dị này dễ khiến cho người ta liên tưởng đến một sự kết hợp nhuần nhuyễn khác, cũng tại Việt Nam:

Dối trá + bạo lực = cách mạng đểu!

Riêng về mặt “dối trá,” nhân dịp cả nước đang nô nức chuẩn bị đón chào và kỷ niệm cuộc Cách Mạng Mùa Thu, xin mời mọi người xem qua (một phần) cuộc phỏng vấn của một nhà báo trẻ với một nhà cách mạng lão thành:

“Nói về Tổng khởi nghĩa 1945, một điều có lẽ là thắc mắc của một số người (tôi không nói là “nhiều người”, vì không biết nhiều ít thế nào), là thực sự thì cuộc Cách mạng Tháng Tám có ý nghĩa đặc biệt quan trọng hay không, khi mà Nhật đã bại trận trong Thế chiến và sẽ phải rút khỏi Đông Dương, Việt Nam đã có một chính phủ (của Bảo Đại và Trần Trọng Kim), v.v.Tôi hy vọng những điều mà bà Lê Thi – một trong những nhân chứng của thời đó – nói trong bài dưới đây, có thể trả lời phần nào câu hỏi này – từ góc nhìn của bà… bà Lê Thi sinh năm 1926, nguyên Viện trưởng Viện Triết học, con gái cố Giáo sư Dương Quảng Hàm; bà cũng là một trong hai thiếu nữ kéo cờ trong lễ Độc lập 2/9/1945.(Người kia là bà Đàm Thị Loan, phu nhân Đại tướng Hoàng Văn Thái).”– Và ngày 17 tháng 8 đã diễn ra như thế nào? Với tư cách một người tham gia cả quá trình, từ lúc chuẩn bị tới khi thực hiện, xin bà kể lại những gì bà còn nhớ về sự kiện 17 tháng 8.– Ngày hôm đó, chúng tôi dán cờ đỏ sao vàng bằng giấy, giấu sẵn trong người, kéo tới quảng trường Nhà hát lớn để dự mít tinh từ sáng sớm. Khi người của chính quyền Trần Trọng Kim vừa chuẩn bị khai mạc, thì một người – sau này tôi biết đó là ông Trần Lâm, nguyên Giám đốc Đài Phát thanh – Truyền hình Việt Nam – đã lên được gác hai tung cờ đỏ sao vàng của ta lên. Lá cờ rất lớn, phấp phới bay trong gió, đẹp và oai hùng lắm. Cùng lúc đó, Việt Minh cũng giành micro từ tay người của phía chính quyền, chuyển nó cho hai phụ nữ đại diện của Mặt trận Việt Minh lên nói chuyện…” (“Đoan Trang. “Cuộc Khởi Nghĩa Của Những Người Tay Không.” Tuần Việt Nam 18 Aug. 2009).

Tuy bà Lê Thi mô tả đây là một cuộc khởi nghĩa của “những người tay không” (*) nhưng – rõ ràng – họ đã “giấu sẵn trong người” và trong tâm nhiều điều khuất tất. Họ đã “giành micro,” “chớp thời cơ,” và “cướp chính quyền” từ một chính phủ hợp hiến mà vẫn trơ tráo nhắc lại với rất nhiều hãnh diện.

Bằng vào những thủ thuật gian trá tương tự (cùng với bạo lực) hơn nửa thế kỷ qua, những người cộng sản Việt Nam đã tạo dựng ra một Tổ Quốc Xã Hội Chủ Nghĩa – với rất nhiều nét đặc thù:

“Tổ quốc đã trở thành đao phủ. Những người địa chủ và tư sản không những bị ruồng bỏ mà còn bị coi là thù địch và bị tàn sát. Rồi cũng nhân danh tổ quốc họ phát động chiến tranh thôn tính miền Nam làm hàng triệu người chết và đất nước kiệt quệ. Tổ quốc đồng nghĩa với chiến tranh và chết chóc. Toàn thắng rồi, tổ quốc xã hội chủ nghĩa quên phắt cam kết thực hiện hoà giải và hoà hợp dân tộc. Tổ quốc bỏ tù và hạ nhục hàng triệu người. Tổ quốc đánh tư sản, tống cổ con cái ‘ngụy quân, ngụy quyền’ ra khỏi trường học và lùa đi vùng kinh tế mới. Tổ quốc khống chế và hăm dọa bằng công an thành, công an tỉnh, công an huyện, công an phường. Biết dân chúng không còn chịu đựng được nữa và muốn bỏ nước ra đi, tổ quốc đứng ra tổ chức vượt biên bán chính thức để lấy tiền chuộc mạng của những người muốn chạy trốn nanh vuốt của mình. Tổ quốc hành động như bọn giặc cướp. Đến khi bị dư luận thế giới lên án dữ dội vì hành động bỉ ổi này, tổ quốc dẹp luôn đợt vượt biên bán chính thức và dĩ nhiên không trả lại tiền. Tổ quốc đểu cáng và lật lọng.”“Đối với những người ra đi, tổ quốc là sóng gió, hải tặc, là cái chết trong bụng cá, may mắn hơn là những ngày ê chề trong những trại tập trung trước khi tìm được một quê hương mới. Tổ quốc là một dĩ vãng cần quên đi. Đối với những người ở lại, tổ quốc đổi tiền mấy lần để cướp giật, tổ quốc sách nhiễu từng ngày. Tổ quốc nói trắng cũng được, nói đen cũng xong, cấm rồi lại cho phép, cho phép rồi lại cấm, muốn bắt hay tha tùy ý, người dân chịu đựng hết. Vì tổ quốc có súng.” (Nguyễn Gia Kiểng. Tổ Quốc Ăn Năn. Không có tên NXB. Paris 2001, 570 – 571).

Ông Nguyễn Gia Kiểng nói (nghe) có vẻ hơi quá lời nhưng thực ra vẫn chưa đủ ý. Xin nghe thêm vài nhận xét nữa của nhà văn Phạm Đình Trọng – người hiện đang sống ở trong nước – về những “thảm hoạ” mà Cách Mạng Tháng Tám đã “mang lại” cho người dân Việt:

“Thảm họa chia cắt đất nước. Chia đôi dân tộc Việt Nam thành hai phe, hai trận tuyến chém giết nhau cả chục năm đằng đẵng, hàng triệu người lính Việt Nam, hàng triệu dân thường Việt Nam bị chính người Việt giết chết, hàng triệu người vợ góa bụa, hàng triệu người mẹ cô đơn, hàng triệu gia đình tan nát. Đất nước thành núi xương, sông máu. Cả dân tộc điêu linh, nghèo đói vì đất nước bị chia đôi, hai miền Nam, Bắc thành hai trận tuyến bắn giết nhau.”“Thảm họa Cải cách ruộng đất. Chia một dân tộc vốn yêu thương đùm bọc nhau, thương người như thể thương thân, thành những giai cấp đối kháng luôn hằm hè đấu tranh giai cấp, luôn nung nấu hận thù giai cấp, đấu tố, thanh trừng, sát phạt, hãm hại nhau dẫn đến hàng trăm ngàn cái chết oan ức, tức tưởi cho người lương thiện. Cải cách ruộng đất hủy diệt những giá trị vật chất, hủy diệt cả những giá trị văn hóa, tâm linh. Khối đoàn kết dân tộc vốn là sức mạnh, là tài sản của dân tộc Việt Nam bị phá nát. Đạo lí, văn hóa dân tộc bị hủy hoại. Niềm tin tôn giáo thánh thiện bị loại bỏ để bây giờ chỉ còn niềm tin thô tục, thấp hèn, sì sụp lễ bái cầu tài, cầu lộc, cầu thi đỗ, cầu được cơ cấu, cầu được trúng cử trong đại hội đảng kì, cầu tiêu diệt, trừ khử được đối thủ cạnh tranh trong chính trị, trong làm ăn.”“Thảm họa Nhân văn Giai phẩm. Đầy đọa cả một đội ngũ trí thức, nghệ sĩ, xóa sổ đội ngũ trí thức, nghệ sĩ đích thực, chân chính để chỉ còn những trí thức, những nghệ sĩ bị công chức hóa, nô lệ hóa, giết chết sự sáng tạo cả một nền văn học nghệ thuật.Thảm họa tập trung cải tạo. Tù đày không án hàng trăm ngàn người Việt Nam khác biệt ý thức hệ. Đất nước thống nhất mà vẫn phân chia ta, địch trong lòng dân tộc, vẫn khoét sâu trận tuyến ý thức hệ trong lòng dân tộc, dân tộc mãi mãi li tán.Thảm họa tha hương. Hơn ba triệu người phải xa người thân yêu ruột thịt, rời bỏ quê hương đất nước ra đi để chối bỏ sự phân biệt đối xử, trốn tránh cuộc đấu tranh giai cấp độc ác, vô lương. Nửa triệu người bỏ xác dưới đáy biển. Xa nước đã hơn ba chục năm, đến nay nhiều người vẫn chưa được một lần về thăm nước chỉ vì khác biệt ý thức hệ, bị chính quyền trong nước vẫn coi là thế lực thù địch, bị cấm cửa không cho về. Những ai đã xa nước mới thấm thía việc ngăn cấm con người trở về với quê cha đất tổ, trở về với cội nguồn dân tộc là độc ác, vô lương không còn tính người như thế nào!Thảm họa Bắc thuộc. Chính quyền nhà nước ở Việt Nam hiện nay như không còn là chính quyền của nhân dân Việt Nam, như không còn là chính quyền của đất nước Việt Nam nữa mà là chính quyền của Đại Hán phương Bắc.”

Dù phải sống với chừng đó thảm họa, hàng năm – cứ vào đầu Thu – nhà nhà vẫn phải chưng ảnh và treo cờ. Người người vẫn phải hân hoan, nhiệt liệt chào mừng và kỷ niệm Cách Mạng Mùa Thu. Chỉ cần tỏ ra không hân hoan hoặc kém nhiệt liệt (chút xíu) là lôi thôi lắm, và lôi thôi ngay, chứ không phải bỡn.

Thiệt là một mùa Thu đểu!

Tưởng Năng Tiến

__________________

[*] Trong một bài viết trước (“Bọn Mafia Và Những Người Làm Cách Mạng”) trên diễn đàn talawas, chúng tôi đã ghi nhầm rằng “ký giả Đoan Trang gọi đây là Cuộc khởi nghĩa của những người tay không.” Thực ra, đây là cách nói của bà Lê Thi, và đã được Đoan Trang dùng làm tựa cho bài phỏng vấn dẫn thượng. Xin chân thành xin lỗi độc giả, và nhà báo Đoan Trang, về sự sơ xuất và cẩu thả của chúng tôi.

Bai` 2

19/8 – cuộc khởi nghĩa của những người tay không (18/08/2009)

Đoan Trang (thực hiện)
Theo Tuần VN (link bị hủy bỏ)
… Thực ra họ tuyên bố độc lập nhưng cũng có độc lập được đâu, người Nhật vẫn nắm chính quyền. Thêm nữa, tôi không ủng hộ chính phủ của Trần Trọng Kim và Bảo Đại, vì tôi đã tham gia Mặt trận Việt Minh từ năm 1944. Tuy nhiên, tôi tin nhiều người trong chính phủ Trần Trọng Kim không có tư tưởng chống đối cách mạng. Nói cách khác, họ bật đèn xanh cho Mặt trận Việt Minh làm cách mạng giành chính quyền…
 

(TuanVietNam) – Cách mạng Tháng Tám là những ngày biết bao nhiêu thiếu nữ gia giáo, nền nếp Hà Thành xuống đường mít tinh, biểu tình ủng hộ Việt Minh. Là những ngày thanh niên ồ ạt gia nhập tự vệ chiến đấu, các đoàn thể, đảng phái ở VN sát cánh bên nhau vì mục đích chung: giành độc lập, xây dựng chính quyền dân chủ nhân dân.

Bà Lê Thi (nguyên Viện trưởng Viện Triết học, con gái cố GS Dương Quảng Hàm) nghĩ về Cách mạng Tháng Tám như vậy. Bà là người tham gia cả hai sự kiện lớn trong Cách mạng Tháng Tám: cuộc mít tinh 17/8 và ngày tổng khởi nghĩa 19/8 ở Hà Nội.

Bà cũng là một trong hai thiếu nữ được vinh dự kéo cờ trong lễ Độc lập 2/9/1945. (Người kia là bà Đàm Thị Loan, phu nhân Đại tướng Hoàng Văn Thái).

Tuần Việt Nam có cuộc trò chuyện với bà Lê Thi xoay quanh những hồi ức và nhìn nhận của bà về Cách mạng Tháng Tám.

 

* * * 

Bà Lê Thi năm 1944 (Ảnh do nhân vật cung cấp)

– Giai đoạn tiền khởi nghĩa, bà đang là nữ sinh, sống ở Hà Nội trong một gia đình trí thức tiểu tư sản. Xin bà cho biết con đường đưa bà đến với cách mạng, và tham gia Cách mạng Tháng Tám tại Hà Nội?

– Hồi đó tôi mới 18-19 tuổi (bà Thi sinh năm 1926 – NV), vừa học xong bằng diploma của trường nữ học Trưng Vương, đang chờ học hai năm cao đẳng sư phạm để đi làm cô giáo.

Cuối năm 1944 thì tôi được một bạn học cùng lớp là chị Tuyết Minh cho đọc báo Cứu Quốc rồi vận động theo Việt Minh, như bây giờ ta gọi là “tuyên truyền, giác ngộ” ấy.

Đầu năm 1945, tôi tham gia Hội Phụ nữ Cứu Quốc. Nhiệm vụ của tôi khi ấy là bí mật quyên góp gạo, muối, tôm khô để gửi lên chiến khu ủng hộ Việt Minh, và phát báo Cứu Quốc cho chị em bạn bè đọc.

– Hồi ấy, thông tin tuyên truyền ở trong tình trạng vô cùng hạn chế. Bà và các chị em bạn bè hiểu như thế nào về Việt Minh?

– Tôi biết rằng Mặt trận Việt Minh là một tổ chức gồm nhiều đoàn thể và đảng phái, mà mục đích của họ là đấu tranh giành độc lập dân tộc, xây dựng chính quyền dân chủ nhân dân và bảo vệ nền độc lập tự do cho đất nước. Nói thật chứ hồi đó tôi cũng chả hiểu dân chủ là gì đâu, chỉ biết là chính quyền mới sẽ là của dân, không còn là chính quyền của thực dân Pháp hay thân Nhật nữa.

Tôi cũng biết Đảng Cộng sản giữ vai trò lãnh đạo trong Mặt trận Việt Minh, các ông có vai trò chủ chốt trong đó đều là đảng viên cộng sản cả đấy. Lãnh đạo của Đảng Cộng sản thì là cụ Nguyễn Ái Quốc, mà cho tới mồng 2/9 tôi mới biết cụ Nguyễn Ái Quốc chính là Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Còn Việt Minh thì là một mặt trận liên kết các đoàn thể như Hội Phụ nữ Cứu Quốc, Thanh niên Cứu Quốc, Tự vệ Chiến đấu; các đảng phái như Đảng Dân chủ, Đảng Xã hội và Đảng Cộng sản Đông Dương.

– Bà đã vận động, tuyên truyền cách mạng tới anh chị em bè bạn bằng cách nào?

– Tuyên truyền thì tôi cứ để ý trong đám bạn bè mình, ai có vẻ có cảm tình, thích Việt Minh rồi thì tôi đưa báo Cứu Quốc cho đọc, tất nhiên dặn họ giữ bí mật. Rồi thuyết phục, vận động họ ủng hộ Việt Minh hoặc tham gia các đoàn thể của Việt Minh.

Tất nhiên cũng có người sợ. Họ không nói thẳng ra là họ sợ đâu, mà kêu là không tham gia vì chả biết làm gì cả. Có người tôi đưa báo Cứu Quốc cho đọc, còn vừa đọc vừa run. Nhưng số đó ít lắm, mà cũng là trước 17/8 thôi. Đa phần đều hăng hái, nhiệt tình ủng hộ Việt Minh, nhất là sau ngày 17-19/8.

– Về phần mình, bà có sợ không?

– Sợ lộ thì ai chả sợ lộ. Trước ngày 17/8, mọi việc phải vô cùng bí mật. Có chuyển báo Cứu Quốc cho ai thì tôi cũng phải thăm dò, cân nhắc, thấy họ đáng tin cậy mới dám đưa. Tôi đạp xe đi đưa báo, giấu báo dưới yên. Có lần đang đi đường, tôi giật bắn mình nghe một tên công an quát: “Cô kia, đứng lại!”.

Tôi líu ríu đứng lại, hắn quát: “Về đồn!”. Tôi sợ quá, dắt xe theo hắn, chỉ lo hắn bảo lật yên lên thì chết. Nhưng cuối cùng hắn nói: “Cô đi vào đường ngược chiều. Nộp phạt!”. May quá. Tôi vội vàng nộp tiền phạt rồi “chuồn” ngay.

17/8: Lần đầu tiên “con gái Hà Nội” xuống phố, hô khẩu hiệu…

– Bà có thể kể lại những hồi ức của bà về diễn tiến của Cách mạng Tháng Tám ở Hà Nội? Đầu tiên là quá trình chuẩn bị?

– Trước ngày tổng khởi nghĩa khoảng một tháng, chị Tuyết Minh bảo tôi “chuẩn bị ra chiến khu nhé”. Thế là tôi giấu gia đình, thu xếp quần áo, chuẩn bị lên đường. Như thế là chuyện lớn lắm đấy vì xưa nay, có bao giờ tôi dám ra khỏi nhà buổi tối, nay tôi lại dám trốn nhà ra đi như thế.

Tưởng là lên chiến khu nhưng hóa ra chỉ tập trung ở nhà Tuyết Minh nhận lệnh “chuẩn bị tổng khởi nghĩa”. Chúng tôi ngày ngày tập hát, các bài Tiến quân ca (lúc đó đã biết Tiến quân ca sẽ là Quốc ca của nước Việt Nam độc lập rồi), Diệt phát xít, Du kích ca…

Rồi thuê người may cờ. Bản thân chúng tôi thì tự dán cờ bằng giấy thôi, vì vải đắt lắm, mà may thì dễ lộ. Lúc ấy, tức là cho đến trước ngày 17/8, mọi sự vẫn diễn ra trong bí mật mà.

Được khoảng hai tuần, chúng tôi nhận được kế hoạch khởi nghĩa. Theo đó, vào ngày 17/8, tại Nhà hát lớn sẽ diễn ra một cuộc mít tinh của Tổng hội Viên chức để đề cao vai trò của chính quyền thân Nhật. Mình phải hiểu bối cảnh thời đó là Nhật Bản đã đầu hàng Đồng minh, Chính phủ Trần Trọng Kim cũng đang có ý định cướp chính quyền từ tay Nhật trước Việt Minh, nên tổ chức mít tinh để tự biểu dương lực lượng.

Biết vậy nên ta chủ trương hôm đó sẽ lật đổ cuộc mít tinh, biến nó thành một dịp để Việt Minh ra mắt đồng bào. Kế hoạch là như vậy, và chúng tôi chia nhau đi vận động mọi người tham gia, đến từng nhà vận động, tất nhiên vẫn là bí mật.

Bà Lê Thi và các bạn trong đồng phục áo trắng, váy xanh của Thanh niên Cứu Quốc, giai đoạn 1945-1946. (Ảnh do nhân vật cung cấp)

– Và ngày 17/8 đã diễn ra như thế nào? Với tư cách một người tham gia cả quá trình, từ lúc chuẩn bị tới khi thực hiện, xin bà kể lại những gì bà còn nhớ về sự kiện 17/8.

– Ngày hôm đó, chúng tôi dán cờ đỏ sao vàng bằng giấy, giấu sẵn trong người, kéo tới quảng trường Nhà hát lớn để dự mít tinh từ sáng sớm. Khi người của chính quyền Trần Trọng Kim vừa chuẩn bị khai mạc, thì một người – sau này tôi biết đó là ông Trần Lâm, nguyên Giám đốc Đài Phát thanh – Truyền hình Việt Nam – đã lên được gác hai tung cờ đỏ sao vàng của ta lên. Lá cờ rất lớn, phấp phới bay trong gió, đẹp và oai hùng lắm.

Cùng lúc đó, Việt Minh cũng giành micro từ tay người của phía chính quyền, chuyển nó cho hai phụ nữ đại diện của Mặt trận Việt Minh lên nói chuyện. Một người là bà Nguyễn Khoa Diệu Hồng, đảng viên Đảng Dân chủ, còn người kia là bà Từ Anh Trang, thành viên Hội Phụ nữ Cứu Quốc, Tự vệ Chiến đấu.

Tôi nghe loáng thoáng hai bà giới thiệu về Mặt trận Việt Minh, là tổ chức sẽ giành chính quyền, lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Dứt lời, hai bà hô to: “Ủng hộ Việt Minh!”. Chúng tôi cũng lập tức rút cờ từ trong người ra hô vang: “Ủng hộ Việt Minh!”, “Mặt trận Việt Minh muôn năm!”.

Tiếng hô khẩu hiệu dậy đất. Quần chúng vỗ tay rào rào, hoan nghênh nhiệt liệt. Rồi tỏa đi các phố tuần hành biểu dương lực lượng. Cuộc mít tinh của chính quyền đã vỡ tung thành cuộc tuần hành để bày tỏ sự ủng hộ Việt Minh.

– Tôi rất muốn biết những chi tiết nho nhỏ xung quanh cuộc mít tinh 17/8 đó, ví dụ như thời tiết hôm đó, cảm xúc của bà lúc đó như thế nào, và những người đi cùng bà trong đoàn?

– Hôm ấy trời đầu thu, mát mẻ. Cũng có nắng nhưng không to. Tôi mặc áo dài trắng. Phụ nữ chúng tôi rất đông. Thiếu nữ Hà Nội áo dài quần trắng. Chị em tiểu thương thì mặc quần đen áo cánh. Thời đó ở Hà Nội phụ nữ ăn mặc như vậy: Nữ sinh, con gái gia đình công chức luôn đóng bộ quần trắng, áo dài màu hoặc trắng. Về sau này đi kháng chiến, khi mới phải mặc quần đen, tôi cứ ngượng ngượng là vì thế.

Tôi không tả hết được cảm xúc vui sướng và hào khí cách mạng của ngày ấy. Chỉ có thể nói là: Trước đó ở Hà Nội, chưa bao giờ phụ nữ đi bộ ngoài phố đông như thế, lại còn vừa đi vừa vẫy cờ, vung tay hô khẩu hiệu vang trời, mà chẳng thấy xấu hổ gì cả.

Tôi lúc ấy đã là cán bộ, đi hàng bên ngoài, hô trước để chị em hô theo. Cứ vừa đi vừa gào lên: “Ủng hộ Việt Minh!”. Chị em lại reo: “Ủng hộ! Ủng hộ! Ủng hộ!”. Rồi hát. Diệt phát xít, Du kích ca, nhất là Tiến quân ca. Hăng hái vô cùng, đến khản đặc cả cổ.

19/8: Điển hình của một cuộc cách mạng nhân dân

– Sau cuộc mít tinh 17/8, bà đã tham gia vào một sự kiện lịch sử là ngày cướp chính quyền ở Hà Nội, 19/8. Bà có thể kể lại những gì bà còn nhớ được về sự kiện ấy?

– Từ sau hôm 17/8 thì có thể nói là Việt Minh ra công khai rồi, các hoạt động tuyên truyền của chúng tôi không còn phải bí mật nữa. Chúng tôi hăm hở chuẩn bị cho cuộc tổng khởi nghĩa tại Hà Nội, ngày 19/8: may cờ, dán cờ giấy, đến từng gia đình vận động đi dự, lên kế hoạch đội nào đi chiếm cơ quan chính quyền nào trong thành phố. Không khí sôi sục. Bây giờ thì không còn ai sợ nữa, mọi người đều tham gia rất nhiệt tình.

Ngày 19/8, mít tinh lớn ở quảng trường Nhà hát lớn. Ông Trần Quang Huy (nguyên Chủ tịch Ủy ban Nhân dân Cách mạng Hà Nội – NV) đứng lên tuyên bố thành lập chính quyền dân chủ nhân dân ở Hà Nội, do Mặt trận Việt Minh lãnh đạo.

Sau đó là chia nhau đi chiếm trụ sở các cơ quan chính quyền: Tòa thị chính, Sở Liêm phóng, Nhà khách Chính phủ, nhà máy điện, nhà máy nước, Ngân hàng Đông Dương… Tôi được phân công ở trong đoàn đi cướp trại bảo an binh (nằm tại phố Hàng Bài bây giờ – NV). Đây có lẽ là nơi duy nhất tình hình căng thẳng giữa ta và lính Nhật.

– Cuộc đấu tranh ở trại bảo an binh đã diễn ra căng thẳng như thế nào, thưa bà?

– Trại bảo an binh là trại lính khố xanh, mà thực chất lính khố xanh thì toàn người Việt. Nhưng khi chúng tôi đến, lại thấy bọn lính Nhật cầm súng lăm lăm. Chúng không dám bắn vào đoàn biểu tình, nhưng cũng nhất định không mở cửa. Ta thì bám cửa, hô khẩu hiệu, đòi chúng mở cổng. Rồi bọn tiếp viện đem xe tăng tới bao vây, lát sau người của ta lại đến bao vây lại. Giằng co suốt hai giờ đồng hồ.

Cuối cùng lãnh đạo của bên mình (ông Lê Trọng Nghĩa, ủy viên Ban Khởi nghĩa – NV) đã thuyết phục được bọn Nhật mở cổng và xe tăng của chúng rút lui. Đoàn biểu tình lập tức tràn vào, cướp kho súng. Lính khố xanh trong trại toàn là người Việt, có một số người xin về quê, còn lại họ đều xin theo Việt Minh.

– Lúc căng thẳng giữa lính Nhật và đoàn biểu tình, bà và mọi người không nghĩ mình có thể gặp nguy hiểm hay sao?

– Thú thực là khi đứng ở cổng trại bảo an binh, thấy bọn Nhật có súng, thì tôi cũng hơi ghê ghê. Nhưng nói chung, mọi người đều không sợ, vì lúc đó lực lượng quần chúng mạnh lắm, mà phát xít Nhật thì đã yếu thế rồi, đầu hàng Đồng minh rồi.

Chúng tôi chỉ nghĩ, bọn chúng có bắn thì cũng chết vài người, nhưng ngần này người sẽ lao vào chúng, sống mái với chúng, chúng phải sợ. Khí thế cách mạng lên rất cao.

Ấy thế mà giành chính quyền ở Hà Nội hoàn toàn là nhân dân, tức là viên chức, thanh niên, học sinh, tiểu thương, tay không khởi nghĩa. Không hề có lực lượng vũ trang mà chỉ có tự vệ chiến đấu với súng tự kiếm, tự mua từ lính Nhật từ lúc trước. Nhưng quần chúng đã chiếm thế áp đảo. Đây thật sự là điển hình của một cuộc cách mạng nhân dân.

Tôi cũng phải nói thêm, cả hai sự kiện 17 và 19/8, thành phần tham gia chủ yếu là những người trẻ tuổi. Chúng tôi không hề nghĩ tới cái chết. Tất cả đều vui, hăng hái, say mê, như trong một cuộc chiến đấu rất đẹp. Không cần biết tương lai sẽ thế nào, chỉ cần biết phải tiến lên giành độc lập và sẵn sàng chiến đấu khi Pháp quay lại. Mà xác định tinh thần là chúng sẽ quay trở lại.

“Sa trường hăng hái đi không về…”

– Có vài ý kiến cho rằng thực chất nước Việt Nam đã độc lập từ sau khi Nhật đảo chính Pháp, và ngày 11/3 Bảo Đại tuyên bố Việt Nam độc lập và thành lập chính phủ Trần Trọng Kim. Bà nghĩ sao về ý kiến này?

– Thực ra họ tuyên bố độc lập nhưng cũng có độc lập được đâu, người Nhật vẫn nắm chính quyền. Thêm nữa, tôi không ủng hộ chính phủ của Trần Trọng Kim và Bảo Đại, vì tôi đã tham gia Mặt trận Việt Minh từ năm 1944.

Tuy nhiên, tôi tin nhiều người trong chính phủ Trần Trọng Kim không có tư tưởng chống đối cách mạng. Nói cách khác, họ bật đèn xanh cho Mặt trận Việt Minh làm cách mạng giành chính quyền.

Cũng có thể họ ở cái thế phải nhường, vì họ có lực lượng đâu, trong khi Việt Minh vô cùng đông đảo. Lúc đó tôi thấy nhân dân cần một tổ chức tập hợp tất cả các đoàn thể, đảng phái lại để đánh Pháp đuổi Nhật, mà Mặt trận Việt Minh chính là tổ chức có khả năng tập hợp quần chúng đó.

Ngay sau ngày 19/8, không biết bao nhiêu thanh niên xin gia nhập tự vệ chiến đấu, đăng ký ồ ạt ngay trước cổng trại bảo an binh. Tôi tham gia cả ba đoàn thể của phụ nữ, thanh niên lẫn tự vệ.

– Bà quyết tâm đi theo cách mạng từ thuở ấy?

– Thời gian sau Quốc khánh 2/9, tôi hăng hái tham gia hoạt động: tuyên truyền, dạy bình dân học vụ, tập quân sự… Tất nhiên toàn là “vận động cách mạng không tiền”, kiểu “ăn cơm nhà vác ngà voi”, làm gì có phụ cấp. Tôi hăng hái lắm. Có điều tôi lại vẫn nghĩ làm cách mạng chỉ là tạm thời thôi, phong trào thôi.

Bố tôi (GS Dương Quảng Hàm – NV) hỏi: “Con cứ lông bông thế này mãi à?”. Tôi thưa: “Bố cứ để con làm nốt việc này, rồi con về con học sư phạm”. Đấy, tôi vẫn nghĩ là nghề chính của tôi là đi dạy học mà, ai nghĩ làm cán bộ là một nghề. Mãi tới 19/12/1946, toàn quốc kháng chiến, tôi mới biết mình sẽ hoàn toàn thoát ly, sống trọn đời với cách mạng.

– Nhìn trở lại thì bà nhìn nhận về Cách mạng Tháng Tám như thế nào?

– Đó là cuộc cách mạng của Mặt trận Việt Minh giành độc lập về cho dân tộc, trong đó, công trạng lớn nhất thuộc về Đảng Cộng sản.

Hồi ấy, công tác vận động đoàn kết dân tộc của ta giỏi lắm. Thời gian từ 19/8 tới 2/9, chúng tôi vận động mọi người đi dự lễ độc lập, dân chúng đi dự rất đông. Không tập dượt gì cả nhưng rất có tổ chức. Có cả đoàn các cố đạo, đoàn các nhà sư, phụ nữ ngoại thành Hà Nội áo nâu quần đen, v.v… Đông vô kể. Ai cũng hào hứng, cũng ủng hộ Mặt trận Việt Minh.

Tôi kể chuyện này để thấy điều đó: Suốt một tháng trời tôi ở nhà chị Tuyết Minh, đến lúc về nhà, tôi lo lắm, sợ bố mắng con gái hư, bỏ nhà đi làm cách mạng. Nhưng ông cụ lại không hề mắng. Hóa ra ông cụ cũng ủng hộ Việt Minh.

Còn hôm 19/8, khi chiếm được trại bảo an binh, chúng tôi có gặp ông Đinh Ngọc Liên, nhạc trưởng của dàn nhạc trong trại. Ông vui vẻ đón chào cách mạng, thậm chí còn huy động dàn kèn dạy chúng tôi hát, ông kêu chúng tôi hát nhiều bài sai nhạc quá. Sau này ông viết hồi ký, có câu: “Cứ tưởng Việt Minh phải sừng sỏ thế nào, hóa ra toàn thiếu nữ quần trắng áo dài”. (cười)

Tất nhiên, đấy là vì lực lượng phụ nữ được tung ra áp đảo lính Nhật tại trại bảo an binh thôi, chứ thực chất, Cách mạng Tháng Tám là cuộc cách mạng của những người trẻ tuổi gồm cả nam giới và phụ nữ. Nó là cuộc cách mạng không một tiếng súng, của những người tay không cướp chính quyền, của một mặt trận đoàn kết toàn thể dân tộc Việt Nam.

Đoan Trang (thực hiện)

Bai` 3

Cách Mạng Mùa Thu 1945 không hề xảy ra

Nhạc sĩ Tô Hải

Trích cuốn hồi ký “Một cơn gió bụi” của Trần Trọng Kim:

“Ðảng Việt Minh lúc ấy rất hoạt động, đánh huyện này, phá phủ kia. Lính bảo an ở các nơi phần nhiều bị Việt Minh tuyên truyền, tuy chưa theo hẳn, nhưng không chống cự nữa. Dân gian bấy giờ rất hoang mang, một đường có chính phủ quốc gia, nhưng vì thời gian eo hẹp, chưa kịp sắp đặt gì cả. Công việc thấy có nhiều sự khốn khó mà thường nghe sự tuyên truyền của Việt Minh, nói họ đã có các nước Ðồng Minh giúp đỡ cho nước Việt Nam được hoàn toàn độc lập. Dân ta từ khi bị người Pháp sang cai trị, cứ khao khát độc lập, nay nghe Việt Minh nói thế, lại nghe nói đảng Việt Minh lên cầm quyền, dân không phải đóng thuế nữa, được hoàn toàn tự do và có nhiều hạnh phúc, thành ra ai cũng tin theo. Ngay những đạo thanh niên tiền tuyến do bộ Thanh Niên lập ra, cũng có ý ngã về Việt Minh.

Tôi thấy tình thế ấy, tôi bảo ông Phan Kế Toại đi tìm một vài người Việt Minh đến nói chuyện, vì lúc ấy tôi còn tưởng đảng Việt Minh dù theo chủ nghĩa cộng sản, nhưng chắc cũng nghĩ đến tương lai nước nhà. Hôm sau ông Toại đưa một thiếu niên Việt Minh đến, tôi nói: “Chúng tôi ra làm việc chỉ vì nước mà thôi, chứ không có ý cầu danh lợi gì cả, tôi chắc đảng các ông cũng vì nước mà hành động. Nếu vậy chúng ta tuy đi con đường khác nhau, nhưng cũng một mục đích như nhau, các ông thử xem ta có thể hợp tác với nhau, kẻ ở trong người ở ngoài, để cứu nước được không?”.

Người ấy nói:

„Sự hành động của chúng tôi đã có chủ nghĩa riêng và có chương trình nhất định để đem nước đến chỗ hoàn toàn độc lập. Chúng tôi có thể làm lấy được.”

„Sự mưu cầu cho nước được độc lập cũng là mục đích của chúng tôi, nhưng vì đi đường thẳng có nhiều sự khó khăn nên chúng tôi phải uyển khúc mà đi từ từ có lẽ chắc chắn hơn.“

„Chúng tôi chỉ có một con đường thẳng đi đến hoàn toàn độc lập chứ không có hai.“

„Theo như ý các ông như thế, tôi sợ rất hại cho dân, mà chưa chắc đã thành công được.“

„Chúng tôi chắc thế nào cũng thành công. Nếu có hại cũng không cần, có hại rồi mới có lợi. Dù người trong nước mười phần chết mất chín, chúng tôi sẽ lập một xã hội mới với một thành phần còn lại, còn hơn với chín phần kia.”

Rồi người ấy ngồi đọc một bài hình như đã thuộc lòng để kể những công việc của đảng Việt Minh. Tôi thấy thái độ người ấy như thế, tôi biết không thể lấy nghĩa lý nói chuyện được.

Tôi nói:

„Nếu các ông chắc lấy được quyền độc lập cho nước nhà, các ông không vào chính phủ làm việc, cần gì phải đánh phá cho khổ dân?“

„Chúng tôi sẽ cướp lấy quyền để tỏ cho các nước Ðồng Minh biết chúng tôi mạnh, chứ không chịu để ai nhường.“

„Các ông chắc là các nước Ðồng Minh tin ở sức mạnh của các ông không?“

„Chắc lắm. Chắc trăm phần trăm.”

„Tương lai còn dài, các ông nhận lấy trách nhiệm đối với quốc dân và lịch sử.“   (he^t’ Trich’)

Đối với học sinh và gần như cả toàn dân Việt Nam dưới 70 tuổi ngày nay, có lẽ câu hỏi này sẽ được trả lời là: “Bắt đầu từ 19/8”. Nhưng với tớ đã hơn một lần tớ viết là: Tớ đã từng sống qua 4 chế độ

1) Chế độ Pháp thuộc
2) Chế độ Nhật thuộc
3) Chế độ quân chủ lập hiến Trần Trọng Kim
4) Chế độ dân chủ cộng hòa sau đổi là xã hội chủ nghĩa

Lịch sử hôm nay được dạy trong nhà trường không hề đề cập tới những khoảng khắc ngắn ngủi nhưng rất quyết định đến số phận của lớp thanh niên chúng tớ. Chính trong giai đoạn này mà hàng vạn, hàng triệu con người bị “cuốn theo chiều gió”! Vì những năm đó bọn tớ đều ngu ngơ, ngây thơ, dại dột nên số phận mỉm cười hay xé xác bất kể anh nào khi đón nhận ngày mùng 9/3/1945… mỗi người mỗi cách. Chỉ sau vài phát súng nổ đì đẹt, quân đội Nhật chiếm đóng Việt Nam đã bắt sạch mọi ông tây bà đầm, trói giật cánh khủyu, tống vào các trại giam. Thật là sướng chưa từng thấy! Bao nhiêu năm ông cha ta đứng lên làm cách mạng đã phải theo nhau lên đoạn đầu đài, đi tù Côn Đảo. Vậy mà hôm nay, người Nhật, chỉ trong một đêm, đã giúp chúng ta vứt bỏ được cái ách nô lệ trăm năm này. Quên hết những ảnh lính Nhật lê những thanh kiếm dài quẹt đất, chém người Việt một nhát thành hai mảnh từ đỉnh đầu xuống hậu môn, và đặc biệt quên cái cảnh người Nhật bắt nông dân bỏ lúa trồng đay, dùng lúa gạo Miền nam để… đốt, thay thế năng lượng chạy đầu tầu xe lửa!!!

Trái lại, ở các thành phố, người Nhật lúc đó dần dần chiếm được cảm tình lớp Thanh Niên cánh tớ với những chính sách Đại Đông Á, ”người da vàng là cùng nòi giống, đất Á Châu là của người da vàng”. Kèm theo là văn hóa Nhật, các lớp học Tiếng Nhật, phim ảnh bài hát Nhật… ùa vào!… Không ít người hoang mang nghi ngại. Đặc biệt trong giới thanh niên có tí chút học thức thì cho “Tránh vỏ dưa lại gặp vỏ dừa”… Một số bi quan thì cho là cái chính sách Đại Đông Á này còn nguy hiểm và mị dân hơn cả chính sách “bảo hộ” (protectorat) của thực dân Pháp… Phải nói là chính sách bịt mọi thông tin theo kiểu phát-xít, nó trắng trợn và tàn bạo hơn tất cả mọi thời đại… Chỉ một cái lệnh được truyền trên phát thanh của Tư Lệnh Tô tô, Mama nào đó ban ra như: “Lệnh cho tất cả những ai có radio từ. ngày… phải mang đến… để cắt mọi sóng ngắn!… Ai không chấp hành sẽ bị trừng trị nghiêm khắc.” Thế là… chỉ trong một vài ngày, chẳng một ai dám không chấp hành vì luôn bị ám ảnh cái xác bị chẻ dọc làm đôi chẳng cần tòa án tòa ếch gì!! Những chiếc radio đèn điện tử to đùng đã được các chủ nhân ít ỏi khệ nệ đưa đến các địa điểm quy định để được bịt miệng! Tất cả mọi tin tức chỉ còn được nghe qua tiếng nói của Quân Đội Nhật Hoàng chiếm đóng. Tất cả những ai thèm nghe những tin tức “lề bên trái” coi như bị bịt tai, cốt để không ai biết chủ nghĩa phát xít đã đến hồi kết thúc! … Cho đến một ngày…

Chính phủ Trần Trọng Kim ra đời…

Cái chính phủ này nó “bù nhìn” đến mức nào? Tại sao nó tồn tại được 126 ngày (từ 17/4/1945 đến 23/8/1945)? Nó đã làm được những trò trống gì? Nó tự rút lui hay bị sụp đổ? Tớ chẳng dám lạm bàn vì tớ không phải là các nhà sử gia, không có đầy đủ tài liệu, không có… những tâm và tầm của nhà viết sử đích thực!… Tớ chỉ kể lại những gì mà một lão già 83 tuổi như tớ còn nhớ được trong 126 ngày ngắn ngủi sống trong cái chế “độ độc lập giả hiệu” này thôi! Cái chế độ mà lớp thanh niên “quáng gà thời cuộc” và ngu ngơ, ngây thơ, ngơ ngác… cánh tớ đã… ”may nhờ rủi chịu” khi “hăng máu vịt” lên muốn giải phóng quê hương!

1) Tớ thật sự tin vào những gì mà chính phủ Pháp, kể cả chính phủ Nhật đã nắm chắc là chiến tranh đã đến hồi kết thúc (lúc này khái nệm về “Đồng Minh” của tớ chưa có) đang mong muốn có một chính phủ Việt Nam dân tộc và độc lập thật sự để rút lui trong danh dự… Trao chính quyền vào tay ai là là một cuộc “mặc cả trên đầu” người Việt Nam của các trùm chính trị… nước ngoài! (Sau này hiệp nghị Genève, hiệp định Paris cũng rứa thôi!) Và lựa chọn ai để thành lập một chính phủ để thay thế chính phủ bảo hộ thì được người Pháp giao quyền cho vua Bảo Đại…! Tốt xấu chúng tôi không chịu trách nhiêm!

(mãi sau này, tớ mới biết là họ sợ nhất là chính quyền sẽ rơi vào tay những người cộng sản!)

Ông Bảo Đại cùng ông Trần Trọng Kim đã bàn lên, bàn xuống, đi đi, về về Paris-Huế, Huế Hà Nội, Hà Nội Sài Gòn… Và chính phủ Trần Trọng Kim đã ra đời 17-4-1945, chấm dứt được 38 ngày vô chính phủ mà mọi quyền lực đều nằm trong tay của bọn quân phiệt phát xít nước ngoài!

Thành thật mà nói thì: Cái chính phủ này dù gì đi nữa, tớ thấy cũng đã “hy sinh liều mình cứu nước”, chứ đâu phải là kiếm chác gì ở mấy cái chức danh trong cái “nội các nằm trên đống lửa” này!

Nhất là khi danh sách toàn bộ nội các thì toàn là những danh nhân không những nổi tiếng trong nước mà còn cả thế giới nữa. Ai chứ cái tên Trần Trọng Kim, nhà văn hóa, sử học thành thạo nhiều ngoại ngữ (đến nay theo tớ được biết, chỉ riêng 3 năm nay đã có tới 6 nhà xuất bản của nhà nước CHXHCN Việt Nam đang tranh nhau xuất bản và tái bản tác phẩm của ông).

Hay là những cái tên như Hoàng Xuân Hãn (bộ trưởng bộ Giáo Dục), Phan Anh (Bộ trưởng bộ thanh niên, khâm sai đại thần Phan Kế Toại, Trần Văn Chương (phó thủ tướng), Trịnh Đình Thảo (bộ trưởng bộ Tư Pháp), v.v… cũng đủ làm cho lớp thanh niên chúng tớ phải xoa tay, gật đầu: “Xa va! Xa va!” (“được đấy!”)

2) Tớ còn nhớ khi ông Phan Anh phát biểu trên báo về tổ chức thanh niên đã có “đòan thanh niên tuyền tuyến”, “Đòan thanh niên xã hội”, ”Trường thanh niên” thì tớ là người đầu tiên ghi tên sinh hoạt “Đoàn thanh niên xã hội” với lòng tự hào là: Từ nay ta được thành lập những tổ chúc theo sự chỉ huy của “ta” chứ chẳng còn một tên đế quốc nào nữa và …

Này thanh niên ơi quốc gia đến ngày giải phóng!
Đồng lòng cùng đi! Hi sinh tiếc gì thân sống
“…

trên môi.

Bọn tớ “đi vào cách mạng” với những câu ca hào hùng lấy từ bài “Hành khúc sinh viên” của Lưu Hữu Phước để tạm làm đoàn ca! Chẳng có bí thư, ban chấp hành nào chỉ thị cả!

Một lá cờ tổ quốc mới màu vàng ở giữa có cờ quẻ ly đỏ choét, do chính phủ TTK đưa ra để dẫn đường cho chúng tớ cứ thế mà vừa hát vừa bước theo!!?

.

cờ long tinh

https://www.google.com/amp/s/vietcongonline.com/2015/02/18/to-quoc-khong-co-la-co-in-mau/amp/

Độ 10 ngày sau, tớ được gia nhập vào “Đoàn thanh niên khất thực”, được chính ông Phan Anh “hiểu dụ” mới biết ý nghĩa của cái tên nước tại sao chính phủ lại lấy tên nước là “Đế quốc Việt Nam”(?) và quốc thiều là “Đăng đàn cung”.

Thì ra chính phủ này vẫn có… Vua cho nên gọi là đế quốc? (chưa biết dùng chữ Quân Chủ Lập Hiến như bây giờ?!) Còn “Đăng đàn cung” thì là một bản nhạc không lời, đánh lên khi nhà vua đăng đàn. Còn về bài hát “Này thanh niên ơi…” thì ông nói: “Bài này, các bạn cứ hát. Coi đó như một bài đoàn ca!” Ai ngờ đâu sau này lại trở thành Quốc ca của Miền Nam Cộng Hòa!…

3) Càng phấn khởi hơn khi các trường học lại được mở cửa, các kỳ thi lại được tiến hành, chương trình học vẫn như cũ. Chỉ khác là: từ nay không còn dùng tiếng Pháp trong dạy và học nữa. Nhưng chỉ thị này đều do chính bộ trưởng Hoàng Xuân Hãn đưa ra với một bản danh từ Việt thay thế tiếng Pháp kể cả trong khoa học tự nhiên lẫn xã hội do chính ông soạn thảo.

Quay lại trường với sự tự hào đến ngây thơ của người Việt Nam đã loại bỏ được tiếng nước ngoài (!) chứ đâu có tự hào theo kiểu Đổi mới tư duy như ngày nay… như dùng búa xua tiếng Ăng-lê trên mọi mặt của đời sống xã hội dù tiếng Việt thừa chữ để nói thay hai cái chữ Vi-Lích, Bích sô…

Dù gặp không ít khó khăn nhất là trong Toán, Lý, Hoá, nhưng cuối cùng, cánh tớ cũng phải cố mà làm quen với những chữ “Đường Nho” thay “Saccharose” nhất là những chữ không hoàn toàn đổi mới mà lại gần giống nhau như Hydrogène lại gọi là hydro, Calcaire thì gọi là Canxi,… Tuy vậy bọn tớ cũng cố gắng nuốt trôi để thi cho xong cái năm học bị giang dở…

Không có cái chính phủ “bù nhìn” Trần Trọng Kim, liệu người Nhật có giải quyết nổi không? Việc học hành có thể tiếp tục được không?

4) Cho đến bây giờ nghĩ lại cũng nực cười khi nhớ lại cái cảnh mấy anh thanh niên đầu chải bóng, mặc com lê, cra vát đàng hoàng, tay xách bị cói, mỗi khi tan trường, đến bấm chuông từng nhà xin đóng góp một vài bát cơm để mang đi cứu trợ những… bộ xương người mong được cầm hơi trước khi… chết hẳn!

Cái cảnh chết đói đầy đường này, có lẽ ngày nay nhiều bạn xem ảnh cụ Võ An Ninh để lại, cũng không thể tưởng tượng nổi.

Bộ Trưởng bộ y tế Vũ Ngọc Anh, trước khi đoàn thanh niên khất thực ra quân lần đầu đã nói một câu với bọn tớ đại ý là: “Các bạn lên đường cố gắng làm một cái việc mà hiệu quả cứu đói thì ít nhưng hiệu quả về lòng yêu nước, tìm ra được cái nguyên nhân vì sao mà dân tộc ta lâm vào cảnh đau khổ này mới là quan trọng.

Thì ra, cái chủ nghĩa hình thức, làm mà không tin ở những điều mình làm nó đã có cách đây 64 năm!

Sự phân hoá dưới thời chính phủ Trần Trọng Kim bắt đầu

Không thể phụ nhận được những gì mà chính phủ Trần Trọng Kim đã cố gắng hết sức mình để phát triển lòng yêu nước, ý thức về Độc Lập, Tự Do ở con dân đất Việt trong thời gian 126 ngày cầm quyền.

Tuy nhiên cũng chính trong thời gian này mà “các kiểu yêu nước” đều được phát triển búa xua!

Tớ có hai thằng bạn cùng lớp, một tên Tất Đắc, một tên… Lũy (tớ không sao nhớ nổi họ), mỗi lần thấy tớ xách bị đi xin ăn thì đều dè bỉu: “Trò hề! Muốn làm cách mạng thật hãy đi theo tao”, Tớ hỏi “Đi đâu?” – “Đi phá kho thóc chia cho nông dân, chứ vài bát cơm làm sao cứu nổi cả ngàn con người.

Và cuối cùng 2 đứa bỏ học đi biệt tích. Mãi sau này, trong kháng chiến chống Pháp tớ mới gặp lại thì một thằng đã làm nên sư đoàn trưởng còn một thằng làm giám đốc một sở văn hóa ở Tây Bắc

Ngay sát nhà tớ cũng có một nhóm thanh niên hàng ngày rủ nhau đàn địch, vui chơi bỗng dưng một hôm gia đình thấy “mất hút con mẹ hàng lươn”. Hỏi thăm gia đình thì cứ… bí bí mật mật: “Chúng nó rủ nhau lên chiến khu rồi”. Mãi sau 19/8 mới biết tin chúng nó đi theo Quốc dân đảng có chiến khu cả ngàn người ở Vĩnh Yên(!) và có một tên đã bị thủ tiêu trong vụ Ôn Như Hầu. Còn lại số đông đều đi theo Việt Minh vào giờ thứ 24 rưỡi(!) vì nghe nói cái tổ chức này được Mỹ ủng hộ. Có cả tàu bay 2 thân, tiếp tế nhảy dù. Đặc biệt là tin: Có một người nổi tiếng “ở cả tù Tây lẫn tù Tàu” tên là Nguyễn Ái Quốc lãnh đạo. Thế là, một số có điều kiện đều tự nguyện đi theo Việt Minh bỏ hết cả học hành, gia đình, sự nghiệp. Một số sau này có vai vế hẳn hoi trong chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Cũng không ít kẻ, sau này không thể đoàn kết được với cộng sản phải “quay cờ” trở thành những kẻ chống Cộng… nhiệt tình, hăng say nhất. Riêng tớ, với bản chất rõ ràng như ông Mác đã viết, “luôn nghi ngờ, hoang mang, dao động” và cũng do ông bố kềm kẹp riết suốt đêm ngày nên tớ cứ “oét-en-xi” mãi.. và khi công việc khất thực đã chấm dứt không kèn không trống thì tớ lại chuyển sang công tác tuyên truyền văn nghệ. Một nhóm thanh niên có khiếu âm nhạc chúng tớ trở thành các đội tuyên truyền để biểu diễn các bài hát yêu nước, diễn các vở kịch cương về các tội ác của “kẻ thù Đế Quốc Thực Dân”. Phải nói rằng tác dụng của âm nhạc trong việc kích động lòng yêu nước lúc này quả là có hiệu quả. Người có công số một đó chính là Lê Hữu Phước. Các bài ca “Chi Lăng”, “Bạch Đằng Giang”, hoạt cảnh “Hội nghị Diên Hồng” do chúng tớ biểu diễn lúc này, kèm theo những “Thiên Thai”, “Đàn Chim Việt” của Văn Cao đã góp phần không nhỏ trong công cuộc cách mạng giải phóng dân tộc.

Cho tới một ngày (17/8/945) Đoàn Thanh Niên của chúng tớ tay cầm cờ quẻ li, miệng hát “Này thanh niên ơi…” đi Mít tinh chào mừng chính phủ Trần Trọng Kim thì mới trắng mắt ra rằng mình đã được huy động đi… “Cướp chính quyền” từ tay chính phủ Trần Trọng Kim, do Việt Minh tổ chức mà không biết. Tất cả đều diễn biến rất nhanh chóng. Cờ quẻ li hạ xuống! Cờ đỏ sao vàng kéo lên và một người “quần nâu áo vải” đầu đội béret, tay cầm súng pặc họoc, thắt lưng đeo một hai quả lựu đạn ra tuyên bố vài câu gì đó mà tớ đứng xa quá nên nghe chăng rõ chỉ nhớ lõm bõm có mấy câu… “Chính quyền đã về tay nhân dân” và sau đó thì… hàng ngàn người như có gài sẵn kim hỏa trong lòng đã nổ tung ra thành những khẩu hiệu “Muôn năm! muôn năm!” long trời lở đất…. Hàng chục lá cờ đỏ sao vàng được tung ra, kéo theo cả hàng ngàn người chạy ùa sang phủ thống sứ cũ (ở xế nhà hát lớn) phá cửa, leo hàng rào vào chiếm phủ khâm sai đại thần. Mọi việc diễn ra nhanh chóng, chẳng khác gì tớ đã được xem trong phim “Lê Nin với Cách Mạng Tháng 10) có trường đoạn chiếm “Cung điện Mùa đông.” Chỉ khác là, ở VN không có súng nổ và chính phủ “bù nhìn” đi đâu? ở đâu? lúc đó? có ai bị bắt, bị vào tù, bị “dựa cột” không thì chẳng có ai được biết, kể cả tớ, cho tới tận bây giờ!

Cuộc tổng khởi nghĩa như thế là xong. Có mặt tớ cũng như không! Chẳng ai hay, ai biết… vì chính tớ cũng chẳng biết chẳng hay. Ấy vậy mà sau này, khối tên cơ hội đã ghi vào lí lịch “tham gia tổng khởi nghĩa.” Thậm chí cả… ”tiền khởi nghĩa” (thời hoạt động “bốc nhằng” như tớ dưới chính thể Trần Trọng Kim, để được quyền lợi, lương bổng, nhà cửa hơn người! Mọi phong trào, hoạt động và yêu nước dưới thời kì 126 ngày của chính phủ Trần Trọng Kim có kẻ sau này còn “phóng” lên là “hoạt động tiền khởi nghĩa”. Có kẻ thì dấu biến đi khi khai lí lịch vì sợ là dính líu tới “chính phủ bù nhìn” Trần Trọng Kim. Còn những thành viên của cái nội các “bù nhìn” này, ai đi theo Việt Minh? ai được giao nhiệm vụ gì? ai trở thành những người chống cộng triệt để nhất tới hơi thở cuối cùng… Lỗ hổng lớn về giai đoạn lịch sử bi-hài-hùng này, ngoài cuốn hồi ký “Một cơn gió bụi” của Trần trọng Kim ra, cho đến nay vẫn là những điều khó viết lên thành chữ? Hay chính là các sử học gia nước biết mà không viết? Hay là muốn viết nhưng sợ bị… mất lập trường, sợ đi vào lề bên trái Hay là? hay là?… Nhiều câu hỏi được đặt ra với các sử gia nước ta… để rồi đành phải tự trả lời rằng: Cho đến hôm nay chưa có ai đủ tầm, đủ tâm như tác giả “Việt Nam Sử Lược”… Trần Trọng Kim!

Để kết luận: Đến ngày nay tớ vẫn “bảo lưu” cái chế độ 126 ngày đó là một thực thể có thật, có tác dụng cho lớp thanh niên chúng tớ. Ít nhất là đã mở đường cho chúng tớ đi tìm con đường cách mạng. Lạc lõng, tồn tại, thăng tiến, hoặc… mất mạng đều do cái đầu và con tim của từng người… Khôn ngoan đến đáng… ghét hoăc ngờ nghệch đến đáng thương chung quy cũng chỉ vì ngu dốt về chính trị mà dám liều bước vào con đường… Chính chọe! Cũng may cho tớ là qua bao biến cố thăng trầm tớ vẫn còn tồn tại để kể lại cho các friends trẻ về một lỗ hổng lớn trong lịch sử hiện đại của dân tộc mà không biết vì sao các nhà viết sử thời nay chẳng “muốn” hoặc “dám” đụng tới bao giờ???

____________

Ngày 22-11-1944, Võ Nguyên Giáp thành lập Đội Tuyên truyền Giải phóng Quân chỉ có 34 người chỉ có gươm giáo. VNG đeo khẩu súng nơi hông, nhưng chỉ là cái bao da, bên trong không có súng. Chuyện này nhiều người đã biết và do VNG thú nhận.

Đến ngày 19/8, cộng sản giả danh Việt Minh cũng chẳng có súng ống gì cả thì làm cách mạng cái gì? Bởi vậy, hoàn toàn KHÔNG có cuộc “cách mạng tháng 8” nào cả. CMT8 chỉ là sản phẩm  tuyên truyền của cộng sản cho dân chúng miền Bắc. Thập niên 1940, 1950, 1960, 1970, 1980… trong sách báo miền Bắc xuất bản vẫn gọi ngày 19 tháng 8, 1945 là CƯỚP CHÍNH QUYỀN. Giờ đây, ban Tuyên giáo ra lệnh xoá các chữ ấy và thay bằng cuộc CMT8.

_____________

►Cách mạng tháng 8 và công lao của Mỹ (18/08/2017)

 

 

 

Posted in Lịch Sử Việt Nam | 1 Comment »

►Việt Nam vẫn trung thành với Trung Quốc

Posted by hoangtran204 trên 10/08/2012

 

Bài liên quan

QĐNDVN vẫn trung thành với Trung Quốc mặc cho “Trung Quốc tiết lộ kế hoạch gọi thầu khai thác thềm lục địa của Việt Nam”

Giải “Cộng” nhi thoát !

( 解共而 脱 Bỏ Cộng sản thì thoát)

Hà Sĩ Phu

Trong “Thư gửi người đang yêu” nhà văn Phạm Đình Trọng đã nói với những bạn bè còn vương vấn chút “yêu đương” với Chủ nghĩa Cộng sản, rằng chủ nghĩa Cộng sản mà học thuyết Mác-Lê vạch đường là một chủ nghĩa sai lầm, chỉ gây ra tội lỗi với đất nước, không thể sửa chữa mà chỉ có cách duy nhất là xoá bỏ tận gốc.

Có một thực tế là trong nước cũng không ít người đã suy nghĩ gần giống như vậy nhưng còn đắn đo chưa nói hết ra thôi. Nhưng kẻ xâm lược đâu có chờ ta, chúng cứ khẩn trương lấn tới, ngày một nguy hiểm. Nay quân xâm lược đã riễu binh đến sát cửa nhà, thậm chí vào rất sâu trong nội tình, nội địa.Trước tình hình ấy, nhiều Blogger đã bày tỏ ý kiến rốt ráo quyết liệt hơn trước. Tôi xin liên kết nhiều ý kiến về lý luận và thực tiễn đã có trên công luận, từ gốc đến ngọn, nói gọn lại cho rõ ràng hơn.

1/ Nhận thức về chủ nghĩa Mác-Lê đã xong về LÝ LUẬN:

Chủ nghĩa Mác-Lê [1] là một lý thuyết muốn làm điều tốt nhưng nội dung tư duy lại phi khoa học, hoang tưởng, nên sau những phấn khích ban đầu, cuối cùng chỉ tạo ra những xã hội phi lý, đảo ngược luân thường, kìm hãm và phá nát xã hội, tạo những cơ hội bằng vàng cho những kẻ cơ hội chính trị lợi dụng nhảy lên thành những bạo chúa mới, và gây những tai hoạ cực lớn cho nhân loại, vì thế cần phải vứt bỏ.

Trải hơn một thế kỷ và trên phạm vi toàn nhân loại, đến nay nhận thức khoa học đào thải chủ nghĩa hoang tưởng ấy đã hoàn tất. Quanh vấn đề phê phán chủ nghĩa này bây giờ nói gì cũng chỉ là lặp lại (hoặc nhai lại) những điều đã giải quyết xong. Với một chân lý đã hiển nhiên thì mọi lý luận dài dòng đều là thừa. Chân lý đã có ( căn cứ vào nhân loại văn minh) thì mặc nhiên sử dụng đâu cần chứng minh lại? Chân lý nằm ở cộng đồng nhân loại 200 nước, trong đó có tất cả những những nước tiêu biểu nhất cho tri thức nhân loại, hay nằm ở 4 nước Cộng sản tàn dư đang cố biến thái để tồn tại?

Với người có tim óc bình thường, chân lý ấy khỏi cần bàn cãi. Còn với những luận điểm “chày cối” thì vấn đề lại sang một bình diện khác, không còn ở lý luận khoa học, càng lý luận khoa học bao nhiêu lại càng vô ích bấy nhiêu.

2/ Vấn đề Mác-Lê chưa xong trong thực tế Việt Nam.

Mặc dù chân lý đã hiển nhiên, nhưng ở Việt Nam, với 3 “típ” người này thì chân lý ấy vẫn cứ “có vấn đề” để tranh cãi mãi không dứt:

– những người quá yều về tư duy khoa học nên lạc hậu về nhận thức, – những người có tư duy nhưng còn nặng duy cảm hơn duy lý, nên lúng túng chưa biết xử lý ra sao với gánh nặng tình nghĩa và di sản trong quá khứ
– những kẻ cố tình cãi chầy cãi cối vì mục đích duy lợi. Tổng số 3 “típ” người này đang còn rất đông và còn chi phối xã hội, nên trong thực tế câu chuyện Mác-Lê chưa thể chấm dứt.

Tuỳ theo mức độ và động cơ khước từ chân lý mà họ có thể còn những nét đáng yêu, đáng thông cảm, hoặc đã thành đáng trách, đáng giận, hoặc đáng ghét.Với những trường hợp ấy hoặc chỉ cần nói ngắn gọn, chỉ nói vào những chuyện thực tế, hoặc phải ứng xử bằng cách khác, tuyệt nhiên không cần lý luận bài bản dài dòng như một đề tài triết học chuẩn mực cho phí công.

Lại có người suy nghĩ đơn giản : Chính ĐCS ngày nay thực chất có theo Mác-Lê nữa đâu, ta nói Mác-Lê nữa làm gì? Xin thưa, ĐCS chỉ bỏ một phần trong “Mác Kinh tế” thôi, đâu có bỏ lề lối chuyên chính Mác-Lênin-Staline trong hệ thống chính trị? ĐCS còn cần đến Mác-Lê cả về danh nghĩa lẫn nội dung.

Chủ nghĩa Mác-Lê (và dẫn xuất là tư tưởng HCM) vẫn là cơ sở để một đảng CS độc quyền có thể tồn tại, vẫn là yêu cầu có tính chất sinh-tử để duy trì một xã hội với nhiều điều ngang trái như hiện nay, mất nó điều 4 Hiến pháp sẽ không có lý do tồn tại, đảng phải giữ nó như giữ con ngươi của mắt mình chứ không phải chỉ là cái vỏ hờ bên ngoài. Có điều là cái mà người ta cần đặt lên bàn thờ để sử dụng chưa hẳn đã là cái người ta coi là thiêng liêng (như sẽ nói thêm ở phần sau).

Thực chất khẩu hiệu “Kinh tế thị trường theo định hướng XHCN” không phải nhằm cái đích XHCN xa xôi mà ai cũng biết là không có thật, mà phải hiểu một cách thiết thực đó là “Kinh tế thị trường kiểu Cộng sản”, tức là quá trình “tư bản hóa theo những bài bản có lợi nhất mà giới CS chóp bu độc quyền mong muốn”, là dùng chuyên chính Vô sản độc tôn để độc quyền tích lũy tư bản, không loại trừ quyền buôn bán tài nguyên và lãnh thổ quốc gia. Chừng nào quá trình tư bản hoá ấy đã xong thì cái vỏ Mác-Lê sẽ hết tác dụng, và buộc phải hết tác dụng, nếu không thì những nguyên lý “có áp bức thì có đấu tranh” và “đào mồ chôn Tư bản” sẽ quay ngược mũi dùi vào chính giai cấp Tư bản đỏ do Mác-Lê đẻ ra.

3/ Vua đã cởi truồng , dân làm sao còn giữ “Lễ” ?

Tại sao sự giả dối lại phát triển thành căn bệnh phổ biến và trầm kha như hiện nay?

Một chủ nghĩa phi khoa học lại muốn được mọi người tôn vinh là duy nhất khoa học để cả xã hội tuân theo thì đương nhiên phải lừa bịp, kết hợp với bạo lực áp đặt. Nhưng trong hai biện pháp đó thì cách lừa bịp, nguỵ biện, giả khoa học để ngụy tạo sự “tự nguyện” mới là chủ yếu, là sở trường, còn bạo lực với nhân dân chỉ là phương án 2, phương án bất đắc dĩ. Nhưng sang giai đoạn mạt kỳ, thực tế đã phơi bày hết thảy, sự mị dân mất tác dụng, thì phương án 2 dần trở thành chủ yếu, các ĐCS phải bỏ sở trường dùng sở đoản là dùng bạo lực với nhân dân. Uy tín không còn, chính danh không còn, ngai vàng còn giữ được nhờ hết vào đội KIÊU BINH khổng lồ, rải khắp hang cùng ngõ hẻm.

Công an thì ngang nhiên tuyên bố “chỉ biết còn Đảng còn mình”, quân đội chẳng những tuyên thệ trung với Đảng mà còn tuyên bố nhân dân nào theo đảng mới được coi là nhân dân!. Tóm lại, dưới gầm trời Việt Nam thì công an, quân đội đã là của đảng mà dân cũng là của đảng luôn (nếu không chấp nhận điều ấy thì thành thù địch). Kiêu binh vừa gắn chặt với Đảng của xã hội đỏ lại vừa công khai đi sóng đôi với côn đồ của xã hội đen trước thanh thiên bạch nhật, kiêu binh thản nhiên làm điều vô pháp luật, luật là tao, tao thích bắt là bắt cần gì phải lệnh, kiêu binh đánh chết người nếu thích, kiêu binh sẵn sàng văng cả đồ dơ vào mặt những vị đương quyền tối cao của họ nếu cần thiết…, khi kiêu binh đã muốn ra oai với dân thì mặt mũi các quan đương triều cũng chẳng là cái đinh gì, vì họ thừa biết lúc này ai đang cần đến ai?

Phơi hết sự tàn bạo bất cận nhân tình không cần che đậy, đấy là sự tự bóc trần, tự “khoả thân chính trị” của chế độ chuyên chính trong nước. Đồng thời, sự chuyên chính trong thế giới Cộng sản với nhau cũng “khoả thân” luôn không che đậy: việc chính thức thành lập thành phố biển Tam Sa với đầy đủ quy chế hành chính và quân sự, việc kêu gọi đầu tư ngay trong thềm lục địa đương nhiên của Việt Nam, đưa 23.000 tàu đánh cá tràn vào vùng biển Việt Nam… đã tự lột trần cái bản mặt giả dối của chủ nghĩa quốc tế Cộng sản đến mức không còn một chút lá nho, cả những 16 chữ vàng, quan hệ 4 tốt, và cuộc thi ca khúc Việt-Trung và lời kêu gọi tri ân kẻ xâm lược cũng trở nên trơ trẽn, hèn hạ không thể chấp nhận. Làm những điều quá hạ sách ấy, cả thế giới Mác-Lê như muốn thách thức công luận rằng “ông vô lý, ông tàn bạo, ông ngang ngược thế đấy, ông cứ làm trái ý dân, cứ làm trái công pháp quốc tế thế đấy làm gì được ông”? .

Thế là Vua đã cởi truồng tồng ngồng giữa phố như trong truyện ngắn Andersen mà hết thảy vẫn cứ đeo mặt nạ để ca ngợi bộ áo choàng quang vinh vô địch muôn năm ! Thực chất chế độ Cộng sản chỉ là một chế độ phong kiến biến tướng [2], nên suốt nửa thế kỷ nay, dù oan ức đến mấy người dân vẫn phải cư xử, ăn nói nhỏ nhẹ cho phải đạo, nói có chỗ dù không bao giờ được trả lời, chỉ nói râu ria cấm nói vào chỗ phạm. Ngay cả khi có báo chí “lề trái” ở trong nước thì lúc đầu cũng chỉ dám nói vào những việc cụ thể, không chạm đến Đảng, nếu muốn chạm đến gốc rễ của chủ nghĩa và lãnh tụ thì nói theo kiểu “ám chỉ” xa xôi nhưng ai cũng hiểu… Tất cả những sự đeo mặt nạ giả dối ấy chẳng qua là giữ LỄ trong một thể chế phong kiến cho phải đạo, ăn nói ra vẻ cung kính nể nang nhưng trong lòng đã hết tin yêu rồi.

Trò xiếc dối trá lẫn nhau, cố giữ bộ mặt đúng quy cách ấy không thể kéo dài mãi. Phía vua quan đã “khoả thân tới số” thì dân chúng còn cung kính giả vờ sao được? Dùng súng hoa cải uy hiếp kẻ cưỡng chế đất, bắt nhốt Công an để hỏi cung, phụ nữ liều mạng khoả thân để giữ đất… vânvân… là những hành động “phá cách”! (Nhưng mẹ con bà Lài đã lầm, cái giới hạn nhân cách tuyền thống mà bà tưởng là ranh giới phòng vệ cuối cùng thì trong thế giới của những Nguyễn Trường Tô-Hô đâu có giá trị gì?).

Đến giai đoạn này thì các Blogger trong nước cũng không giữ Lễ nữa: không cần ám chỉ mà kể thẳng tên người tên việc dù là thủ tướng hay tổng bí thư, hay Bộ Chính trị. Mác-Lê không còn là điểm nhạy cảm phải kiêng, lại còn nghi ngờ rằng Đảng và nhà nước có định chống xâm lược thật không (hay đã đồng tình với giặc xâm lược?), coi chính quyền chỉ là một đám cướp lớn phản động đã rõ ràng…

Một Blogger tối thân cận với trùm chuyên chính Vô sản đã gọi Hồ Chí Minh là ”Ku Nghệ” mà không bị khiển trách thì đủ biết trong hậu trường họ đối với cụ Hồ cũng chẳng thành kính gì. Lại xuất hiện Blog quanlambao (là tiếng nói của nội bộ Đảng, phe Chỉnh đốn đảng chống phe Tham nhũng) chửi thẳng như tát nước vào mặt đương kim Thủ tướng còn hơn đánh kẻ thù mà không bị trừng trị.

Những ranh giới cũ đã bị phá hết. Một giai đoạn đối thoại mới, bằng ngôn ngữ khác trước, đã bắt đầu. Phía Đảng và nhà nước đã dùng “NGÔN NGỮ” mới (gồm cả ngôn ngữ báo chí và ngôn ngữ hành động) thì nhân dân cũng dùng “ngôn ngữ” mới tương xứng. Vua đã cởi truồng, sao Dân còn giữ Lễ mãi được? Tinh thần nói đúng sự thật, nói hết sự thật đang sang một chất lượng mới.

Cuộc đối thoại mới đã bớt đi rất nhiều mặt nạ phù phiếm để đến gần với sự thật hơn, bổ ích hơn, khẩn trương hơn, hiệu quả hơn. Những lời mạn đàm này gửi đến bạn bè cũng trên tinh thần mới và ngôn ngữ mới ấy.

Một khía cạnh khác của nhu cầu nói thật là nhu cầu về phương pháp. Nếu phía quyền lực đã dùng phương pháp che đậy, nguỵ trang, mơ hồ, chung chung…mà phía phản biện cũng chơi đúng theo cách ấy thì thua! Trong bóng đá người ta bảo thế là “bị áp đặt lối chơi”, phải hết sức tránh. Lúc đầu nói thật quá e sẽ bị quy chụp nên phải thủ thế, nhưng nay đã khác.

4/ Tình hình đã quá chín muồi cho một cuộc xâm lược.

Khi Trung quốc chính thức thành lập thành phố Tam Sa (gồm 2 quần đảo HS và TS của Việt Nam) và đưa 23.000 tàu đánh cá vào vùng biển VN nhiều người gọi hành động ấy là liều lĩnh và lấy làm ngạc nhiên Thực ra không đáng ngạc nhiên và Trung Quốc không hề liều lĩnh khi đã thiết kế chiến lược một cách vững chắc và tính toán cụ thể chắc ăn trăm phần trăm.

Do vị trí địa-chính trị nênViệt Nam trở thành cửa ngõ mà chủ nghĩa Đại Hán buộc phải chiếm lĩnh để bành trướng về phía nam, nhưng Việt Nam trước đây đã kiên cường và mưu lược, phá tan mộng xâm lăng ấy của Trung Quốc.

Bất hạnh thay, sự xuất hiện trào lưu Quốc tế Cộng sản hoang tưởng đã cung cấp cho Trung Quốc một cơ hội bằng vàng. Họ tận dụng những đặc trưng của Cộng sản để đưa con mồi vào lưới. Con mồi tự tìm đến cái bẫy, nhưng bị tấm màn “Quốc tế đại đồng” che mắt, nhìn cái bẫy thành chốn ruột thịt nương thân. Những năm 1949-1950 khai thông biên giới Việt Trung, một VN đã kiệt lực buộc phải dựa hẳn vào Trung Quốc để có sức đánh nhau với Pháp, những món hàng việt trợ từ vũ khí, quân trang quân dụng đến nhu cầu dân sinh là khởi đầu những trói buộc có tính chiến lược, là sợi dây thòng lọng đầu tiên, tận dụng những quan hệ thân thuộc của những người lãnh đạo đã có với Trung Quốc làm sợi dây liên kết.

Cái thòng lọng thứ hai là do chuyến ngoại giao cầu hòa của Việt Nam diễn ra tại Thành Đô ngày 3-4/9/1990. Xét trong quan hệ có tính lịch sử giữa 2 kẻ thù truyền kiếp thì cuộc cầu hoà này chính là cuộc tuyên bố đầu hàng. Với hiệp ước Thành Đô (nhất định lịch sử sau này sẽ bạch hoá) Trung Quốc đã tẩy rửa được dấu vết chống Trung Quốc của Việt Nam tượng trưng bởi ý chí chống Tàu cứng rắn của TBT Lê Duẩn và cuộc chiến biên giới 1979. Sau hội nghị Thành Đô kế hoạch xâm lược đã thiết kế xong những nước cờ căn bản.

Từ đấy trở đi, chỉ cần 4 năm một lần Trung Quốc khống chế người cầm đầu Việt Nam , tức Tổng Bí thư đảng, là đủ cho kế hoạch xâm lược tiến hành trôi chảy. Muốn vậy phải giữ cho VN yên vị theo chế độ Cộng Sản, không được dân chủ hoá, không được liên kết chiến lược với Hoa Kỳ.

Kết quả của chủ trương liên kết chiến lược với Trung Quốc và liên kết lửng lơ với Hoa Kỳ là đã tạo những “điều kiện cần” và “điều kiện đủ” cho cuộc thôn tính Việt Nam một cách hoà bình. Điều kiện “cần” là một bộ máy lãnh đạo Việt Nam phải là bộ máy thân thiện Trung Quốc, không coi Trung quốc là xâm lược, đồng thời nhân dân Việt Nam thì tinh thần bạc nhược, không quan tâm đến sự đe doạ của Trung quốc, chấp nhận để “Đảng và Nhà nước lo”. Điều kiện “đủ” là làm sao khống chế được sự phản kháng của lực lượng tinh hoa là những người Việt còn giữ được sự cảnh giác và lòng quyết tâm bảo vệ đất nước, không cho họ đánh thức được dân chúng, đồng thời Hoa Kỳ và quốc tế không can thiệp.

Khi ĐCSVN đã cam kết với ĐCS TQ thực hiện đủ những điều kiện ấy, thì (xin lỗi) chỉ một Trung Quốc ngu mới không tiến hành xâm lược Việt Nam.

Giữa lúc quân xâm lược kéo binh mã rầm rập vào trong biên cương Tổ quốc mà các thủ lĩnh tối cao thì im phăng phắc, nhưng ra lệnh cho khắp nơi hát vang lời hữu nghị và tri ân, cho tướng lĩnh đứng ra tay bắt mặt mừng, và ra sức bắt giữ những người phản đối xâm lược! Cảnh tượng diễn ra như một trận công thành được chuẩn bị chu đáo, có nội công, vô hiệu hóa lính gác, vô hiệu được quân lính trong thành, lại tổ chức sẵn một đội kèn trống chào mừng, nghênh đón sứ quân của thiên triều. Tất cả như có sự phân công, phối hợp trong ngoài vậy. Chẳng trách người dân phải đặt thẳng sự nghi ngờ vào lòng dạ của người cầm vận mệnh đất nước:

“Nguy cơ mất nước là hoàn toàn có thật. Đến lúc này nhân dân buộc phải hỏi: Đảng và Nhà nước có thực sự muốn chống xâm lược không? “

(Cả đến việc thông qua Luật biển, làm nức lòng nhiều người , nhưng tiến hành song song với những động tác ve vãn kẻ xâm lược và cấm dân biểu tình thì có đáng tin không hay chỉ là “đánh trận giả” để đánh lừa dân chúng, giúp kẻ địch tiến thêm một bước nguy hiểm?).

Thiên vạn cổ chưa có trận chiến nào được bố trí vẹn toàn như thế, sao lại bảo cuộc tấn công ấy là liều lĩnh được? Chiến thắng trong tầm tay, an toàn 100% như thế mà không tiến công thì Trung Quốc ngu à?.

5/ Giải Cộng nhi thoát! Có từ bỏ Mác-Lê cùng với cái gọi là XHCN mới cứu được nước!

Xem như vậy thì suốt từ 1950 tới nay (2012), tất cã những thiết kế chiến lược và thực thi từng bước chiến thuật cho sự thôn tính Việt Nam kiểu mới của Trung Quốc đều phải dựa trên một nhân tố trung tâm và quán xuyến là đảng Cộng sản, thiết chế Cộng sản, và quan hệ Cộng sản. Việt Nam nếu không là Cộng sản thì Trung Quốc hoàn toàn bó tay.

Vậy, theo lô-gích, đáp số của bài toán phòng thủ đất nước trước nạn Tân Bắc thuộc đã hiện ra rõ mồn một. Một Việt Nam 90 triệu dân, dân chủ pháp quyền phi Cộng sản, có bầu bạn khắp năm châu, chẳng có lý gì phải nằm trong vòng tay “ôm ấp” của Trung Quốc thì anh bạn khổng lồ xấu tính buộc phải nhớ đến những Chi lăng, Bạch đằng, Đống đa mà chìa bàn tay hữu nghị giao thương với sự bình đẳng và kính nể.

Truyện kể rằng: Tướng nhà Minh Lưu Bá Ôn vào thăm mộ Khổng Minh, mặc giáp sắt khi đi qua cổng lát bằng nam châm liền bị hút chặt xuống đất. Lưu Bá Ôn đang luống cuống bỗng ngước nhìn lên thấy một bức hoành trên đề bốn chữ “Giải y nhi thoát” 解 衣 而 脱 (Cởi áo ra thì thoát) bèn làm theo …

Nay chủ nghĩa Mác-Lê đối với ĐCSVN cũng chỉ như chiếc áo giáp sắt, mặc vào là bị thanh nam châm khổng lồ Trung quốc hút chặt, không ngẩng lên được. Giải Cộng nhi thoát 解共而 脱, là cách tự cứu duy nhất, đẹp lòng dân tộc, và vẹn cả đôi đường.

KẾT LUẬN : GIỜ NGUY BIẾN ĐÃ ĐIỂM !

1/ Trước mắt, muốn cứu nước, dân ta cần phá cho được cái chiến lược “diễn biến hoà bình” trong quan hệ Trung-Việt, mà thực chất là xâm lược hoà bình và làm mất nước một cách hoà bình! Họ muốn đô hộ một nước khác mà không cần gây một cuộc chiến tranh xâm lược, kế hoạch thật là thâm độc!

Chiến lược xâm lược hoà bình này do nhà cầm quyền Tân Đại Hán khởi thảo và áp đặt, ĐCSVN tự sa vào thế kẹt buộc phải làm theo. Hai đảng thoả thuận kín, quyết định số phận của Việt Nam là nước nhỏ hơn, nhân dân cả hai nước đều được sử dụng như những công cụ.

Chỉ có nhân dân Việt Nam mới giúp được ĐCSVN ra khỏi thế bị kìm kẹp này. Nhưng muốn vậy ĐCS phải dũng cảm chịu đau một chút, khiêm nhường một chút, giảm đi một chút lòng “kiêu ngạo cộng sản” vô lối, để thừa nhận nhân dân, để “lột xác”, thoát khỏi chủ nghĩa hoang tưởng phản tiến hoá để trở về với dân tộc, tìm lại sự vinh quang chính đáng trong niềm kiêu hãnh chung của cả dân tộc.

Bằng sự gặm nhắm của chiến lược Việt-Trung hữu hảo diễn biến hoà bình, “cái ổ chim đại bàng” mà tổ tiên ta gây dựng đang từng ngày từng giờ chật hẹp dần lại một cách toàn diện, thành “cái tổ con chim chích” như vua Trần Nhân Tông đã lo trước nhiều thế kỷ. Hoạ mất nước đã nhỡn tiền !

Không nhân dân nào thích chiến tranh, nhưng lời QUYẾT CHIẾN, chứ không HÒA, của Hội nghị Diên Hồng là vết son trong lịch sử. Hoà bình là quý, nhưng hoà bình để mất nước êm như ru là thứ hoà bình đáng nguyền rủa, không thể so với sự diễn biến hoà bình để tự chuyển hóa thành một nước dân chủ văn minh, chính là thứ hòa bình công chính và kiêu hãnh, không kẻ nào chống được.

2/ Về căn bản và lâu dài, xuất phát từ nhu cầu xây dựng đất nước cũng như từ yêu cầu bảo vệ đất nước khỏi hiểm họa Bắc thuộc, xã hội Việt Nam phải từ gĩa ảo tưởng Cộng sản, trở về một chế độ dân chủ lành mạnh thông thường như các nước văn minh, không có con đường nào khác. Chừng nào còn giữ chế độ gọi là “Xã hội chủ nghĩa” bên cạnh anh Cộng sản khồng lồ Trung Quốc, thì hoạ mất nước là hường trực.

Có thể ĐCSVN lường trước bước thứ hai này nên nghi ngờ và cấm người dân biểu tình chống Trung Quốc xâm lược ?

Tôi nghĩ mọi việc hoàn toàn trong sáng, không có gì thủ đoạn ở đây. Cần nói thật với nhau rằng việc trước mắt cũng như lâu dài đều đòi hỏi phải tháo vòng Kim-cô chuyên chính Vô sản, nhưng tính chất hai việc khác nhau xa. Kẻ xâm lược là giặc đến từ bên ngoài, cần phải làm cho họ thất bại trong âm mưu đó, việc ấy phải làm ngay không thể trần trừ, hoàn toàn không giống với quan hệ người trong một nước với nhau, quan hệ được cố kết bởi tình yêu Tổ quốc ngàn đời thiêng liêng, để cùng xây dựng một đất nước văn minh là điều hoàn toàn có thể thực hiện được, mà nước Đức là một tấm gương đầy thuyết phục.

9-8-2012

Chú dẫn:

[1] Sai lầm gốc từ Mác nhưng phải cộng với Lênin mới thành một thể hoàn chỉnh về chính trị và lan rộng ra thế giới.
[2] Hà Sĩ Phuhttp://www.hasiphu.com/ll3.html

PHẦN VIẾT THÊM:

Cần thoát khỏi một vài nguỵ biện và những suy nghĩ tự trói buộc

* Nhiều đảng viên rất lo ngại cho hiện tình xuống dốc và bất lực của đảng hiện nay, nhưng băn khoăn trước câu hỏi: Đảng không ưu việt sao đánh được Pháp, được Mỹ? Đảng cũng làm được nhiều việc tốt đấy chứ? Ba triệu đảng viên hầu hết là tốt thì đảng sao lại xấu được? Xin nêu tóm tắt mấy ý góp phần giải đáp:

– Mác-Lê vào được Việt Nam là do tháp tùng lòng yêu nước, những thành tựu có được là do tựa vào sức mạnh yêu nước của dân tộc mà có. Ở đâu và khi nào nhân tố chuyên chính vô sản phát huy tác dụng, lấn át truyền thống dân tộc, thì ở đó, khi đó, phát sinh sai lầm và tổn thất.

– Cái tốt chủ yếu ở giai đoạn đầu, khi cầm quyền là bắt đầu thoái hóa, càng củng cố được quyền lực thì càng thoái hoá, càng về sau càng thoái hóa. Muốn lấy lại thiện cảm thì phải “ăn mày quá khứ”.

– Cá nhân đảng viên có thể tốt, nhưng đứng trước tổ chức thì những cái tốt cá nhân bị vô hiệu hoá. Tổ chức Cộng sản là phép cộng những “số dương” thành một “số âm”, sử dụng rất nhiều người tốt để thực hiện một điều huyễn hoặc, không tốt. Càng lên trên thì tính “bản thiện” của con người càng bị tính chuyên chính sai lầm của tổ chức lấn át, cho nên càng lên trên càng tiêu cực. Tham nhũng độc quyền ghê gớm nhất đều ở cấp cao. Chính gương tốt, liêm chính, của các đảng viên ở cơ sở là tấm bình phong che cho tội lỗi của cấp cao

– Bởi là người tốt, người yêu nước, nhưng bị dòng lịch sử cuốn vào một trào lưu huyễn tưởng nay đã bị lịch sử đào thải, thì mỗi người đảng viên cộng sản đều phải chọn một trong hai sự “phản bội” không thể thoái thác: hoặc cứ nhắm mắt theo chủ nghĩa thì phản bội dân tộc, hoặc đặt dân tộc lên trên thì sẵn sàng từ bỏ chủ nghĩa Mác-Lê ảo tưởng, đó là sự từ bỏ, sự “phản bội” đáng ca ngợi.

* Một nguỵ biện nhằm chống biểu tình:

Người dân muốn biểu thị quyết tâm chống xâm lược, bảo vệ đất nước thì phương pháp truyền thống ở mọi quốc gia là BIỂU TÌNH. Muốn giúp cho quân xâm lược khỏi bị làm phiền thì nhà cầm quyền Việt Nam hứa với họ là kiên quyết cấm dân VN mình biểu tình. Nhưng không thể công khai cấm biểu tình (vì cấm là phi lý và thất nhân tâm) thì cấm những gì liên quan không thể tách rời với biểu tình là đi đông người trên phố, bèn quy tội là gây rối trật tự, ảnh hưởng đến giao thông. Đây là nguỵ biện dùng “mẹo Trạng Quỳnh”: nếu không thể cấm ỈA thì cấm ĐÁI, không được đái thì làm sao mà ỉa? Thế là không cấm biểu tình mà dân không biểu tình được.

Nhà nước ta quả là nhiều sáng kiến và tận tâm với bạn vàng xâm lược. Nhưng xin thưa điều quy kết này là bậy bạ và phạm pháp. Đường xá là của toàn dân, người dân được sử dụng để đi lại thông thường và đi lại trong những việc đông người chính đáng: đám cưới, đám tang rất cản trở giao thông, đón rước, hội hè rất cản trở giao thông…thì giao thông tạm ngừng một thời gian ngắn, có sao đâu? Biểu tình bảo vệ Tổ quốc còn chính đáng và quan trọng hơn mọi sinh hoạt khác, giao thông phải tạm dừng để phục vụ biểu tình cũng là chính đáng, huống chi lèo tèo vài trăm người thì cản trở nỗi gì? Mẹo “cho Ỉa nhưng cấm đái” này sẽ còn phát huy nhiều nguỵ biện xảo trá khác nữa, nhưng nhân danh một “Chính” quyền mà dùng mẹo bẩn như vậy thì còn “chính” nữa không?

Nguồn: Dân Làm Báo

Nguồn http://www.x-cafevn.org/node/3673

 

Bài liên quan

1.  QĐNDVN vẫn trung thành với Trung Quốc mặc cho “Trung Quốc tiết lộ kế hoạch gọi thầu khai thác thềm lục địa của Việt Nam”

Posted in Chinh Tri Xa Hoi, Đảng CSVN | Leave a Comment »

►QĐNDVN vẫn trung thành với Trung Quốc mặc cho “Trung Quốc tiết lộ kế hoạch gọi thầu khai thác thềm lục địa của Việt Nam”

Posted by hoangtran204 trên 09/08/2012

Trung Quốc tiết lộ kế hoạch gọi thầu khai thác thềm lục địa của Việt Nam

Trọng Nghĩa

Giàn khoan của Tập đoàn Dầu hỏa Trung Quốc CNOOC (REUTERS)

Sau khi loan báo vào cuối tháng Sáu việc phân lô vùng thềm lục địa của Việt Nam và mời các tập đoàn quốc tế đấu thầu thăm dò dầu khí, tập đoàn Trung Quốc CNOOC đang đẩy mạnh việc thực hiện kế hoạch đó. Theo Reuters trong bản tin hôm qua 01/08/2012, Bắc Kinh mở ra mặt trận thứ ba nhằm áp đặt chủ quyền của mình trên vùng Biển Đông, song song với mặt trận ngoại giao và quân sự.

Theo hãng tin Reuters, sau khi loan báo quyết định gọi thầu khai thác 9 lô nằm trong các vùng sát bờ biển miền Trung và miền Nam Việt Nam mà Trung Quốc tự nhận chủ quyền, tập đoàn dầu khí hải dương Trung Quốc CNOOC đã cho các công ty nước ngoài thời hạn một năm để tham gia đấu thầu.

Một nguồn tin công nghiệp biết rõ hồ sơ này đã tiết lộ với hãng Reuters rằng từ nay tới tháng Sáu sang năm, các tập đoàn dầu khí sẽ phải cho biết quyết định về việc đấu thầu 9 lô kể trên. Theo nguồn tin này, xin ẩn danh, thì từ lúc quyết định mời thầu được loan báo, tập đoàn CNOOC đã nhận được nhiều đề nghị không chính thức từ phía các tập đoàn ngoại quốc.

Vào tháng Bảy vừa qua, ông Vương Nghi Lâm, chủ tịch tập đoàn CNOOC đã tuyên bố với báo chí rằng lời mời thầu họ đưa ra về 9 lô ngoài khơi Việt Nam đã thu hút nhiều mối quan tâm từ các công ty Mỹ, nhưng ông từ chối cho biết đó là những công ty nào.

Theo các nhà phân tích, rất có thể là sẽ có một số công ty đáp ứng lời gọi thầu của Trung Quốc, nhưng chủ yếu đó sẽ là những công ty nhỏ, độc lập, còn các đại tập đoàn sẽ thận trọng hơn trước khả năng tranh chấp bùng nổ, nhất là các tập đoàn đã có làm ăn với Việt Nam như Exxon Mobil của Mỹ, Gazprom của Nga hay ONGC của Ấn Độ.

Bắc Kinh hiện đòi hỏi hầu như toàn bộ vùng Biển Đông, được cho là có nguồn dầu khí phong phú, nhưng vấp phải sự phản đối của Việt Nam, Philippines, Brunei, Malaysia và Đài Loan, vốn cũng tuyên bố chủ quyền trên một phần của vùng biển.

Ngay sau khi tập đoàn CNOOC loan báo việc gọi thầu 9 lô ngoài khơi bờ biển Việt Nam, Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam, đã lên án hành động của Trung Quốc, bị cho là “vi phạm nghiêm trọng luật pháp quốc tế” vì các lô đều nằm trong vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý và thềm lục địa của Việt Nam. PetroVietnam cũng kêu gọi các công ty năng lượng quốc tế không tham gia cuộc đấu thầu do Trung Quốc bày ra.

THAI DO cua VN  nhu the nao?

*Lời hứa với Tàu của Nguyễn Chí Vịnh, trung tướng, thứ trường Quốc phòng trong lần họp “Đối thoại chiến lược quốc phòng-an ninh Việt – Trung lần thứ hai” tại Bắc Kinh ngày 28/08/2011.
Nguyễn chí Vịnh đã cam kết với thượng tướng Mã Hiểu Thiên, phó tổng tham mưu trưởng Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc sẽ dẹp biểu tình chống Tàu, theo tường thuật của Bảo Trung, Báo Quân đội Nhân dân, ngày 30/8/2011:“Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Việt Nam cũng thông báo chủ trương kiên quyết xử lý vấn đề tụ tập đông người ở Việt Nam với tinh thần không để sự việc tái diễn. ” Các thế lực thù địch hiện có hai luận điệu chống phá. Thứ nhất, là Việt Nam dựa vào Mỹ để chống Trung Quốc. Thứ hai, là Việt Nam nhượng bộ để Trung Quốc lấy đất, lấy biển Việt Nam. Đây là các luận điệu bất lợi cho Đảng và Nhà nước Việt Nam cũng như quan hệ Việt Nam-Trung Quốc.

*QĐND Online – Sáng 28-7, tại Hà Nội, Bộ Quốc phòng đã tổ chức buổi gặp mặt đại biểu các thế hệ cán bộ Quân đội nhân dân Việt Nam được đào tạo tại Trung Quốc qua các thời kỳ. Buổi lễ được tổ chức nhân kỷ niệm 85 năm Ngày thành lập Quân Giải phóng nhân dân Trung Quốc (1-8-1927/1-8-2012).

Tới dự buổi gặp mặt có Đại tướng Phùng Quang Thanh, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng; Thượng tướng Ngô Xuân Lịch, Bí thư Trung ương Đảng, Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam; Thượng tướng Nguyễn Thành Cung, Ủy viên Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng; Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh, Ủy viên Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng; đại diện lãnh đạo các cơ quan thuộc Bộ Quốc phòng;  đại diện các Quân khu, Quân đoàn, Quân chủng; một số Tổng cục.

Tham dự buổi gặp mặt còn có đại diện Ban Đối ngoại Trung ương, Bộ Công an, Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam…cùng hàng trăm cán bộ, sĩ quan trong Quân đội nhân dân Việt Nam từng học tập tại Trung Quốc qua các thời kỳ.

Đồng chí Khương Tái Đông, Đại biện lâm thời Đại sứ quán nước CHND Trung Hoa tại Việt Nam dẫn đầu đoàn đại biểu phía Trung Quốc tham dự cuộc gặp mặt.

Phát biểu khai mạc, Trung tướng Mai Quang Phấn, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị QĐND Việt Nam nhấn mạnh, đây là dịp để chúng ta ôn lại những kỷ niệm sâu sắc, ghi nhớ những tình cảm quý báu, cao đẹp, sự giúp đỡ to lớn, chí nghĩa, chí tình có hiệu quả, mà Đảng, Nhà nước, nhân dân và Quân Giải phóng nhân dân Trung Quốc đã dành cho Đảng, Nhà nước, nhân dân và QĐND Việt Nam trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc trước đây cũng như trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN ngày nay. Trong đó có sự giúp đỡ to lớn, hiệu quả trong việc đào tạo cán bộ cho QĐND Việt Nam.

“Cuộc gặp mặt không chỉ là dịp để bày tỏ lòng biết ơn sự giúp đỡ quý báu của Đảng, Nhà nước, nhân dân và Quân Giải phóng nhân dân Trung Quốc trong việc đào tại cán bộ cho Quân đội nhân dân Việt Nam, đây còn là hoạt động thiết thực góp phần tăng cường hơn nữa mối quan hệ hữu nghị hợp tác, đối tác chiến lược toàn diện giữa hai Đảng, Nhà nước, Quân đội và nhân dân hai nước ngày càng bền chặt”, Trung tướng Mai Quang Phấn phát biểu.

Khẳng định kết quả to lớn từ sự giúp đỡ của Trung Quốc đối với các thế hệ cán bộ, sĩ quan trong QĐND Việt Nam được đào tạo tại Trung Quốc, Trung tướng Mai Quang Phấn cho biết, trong những năm qua, nhiều trường đại học, học viện trong và ngoài quân đội của Trung Quốc đã tận tình giúp đỡ, đào tạo hàng nghìn cán bộ, sĩ quan trong QĐND Việt Nam với nhiều chuyên ngành, lĩnh vực khác nhau. “Những cán bộ học viên trải qua quá trình học tập tại Trung Quốc khi về nước đã vận dụng sâu sắc, sáng tạo những kiến thức tiếp thu được vào thực tiễn công tác, lập được nhiều thành tích xuất sắc trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN”, Trung tướng Mai Quang Phấn nói.

Tại cuộc gặp, phát biểu chúc mừng 85 năm Ngày thành lập Quân Giải phóng nhân dân Trung Quốc (1-8-1927/1-8-2012), Đại tướng Phùng Quang Thanh đã chân thành chúc mừng những thành tựu trong quá trình xây dựng và trưởng thành của Quân Giải phóng nhân dân Trung Quốc. “Thay mặt Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng Việt Nam, tôi xin gửi tới Quân ủy Trung ương và toàn thể cán bộ, chiến sĩ Quân Giải phóng nhân dân Trung Quốc lời chúc mừng tốt đẹp nhất”, Đại tướng Phùng Quang Thanh nói.

Chia sẻ tình cảm và niềm vui với Quân Giải phóng nhân dân Trung Quốc nhân ngày kỷ niệm, phát biểu tại cuộc gặp, Đại tướng Phùng Quang Thanh nhấn mạnh: “QĐND Việt Nam luôn luôn mong muốn đất nước Trung Quốc anh em phát triển hòa bình, thịnh vượng và có vai trò quan trọng trong việc giữ gìn hòa bình, ổn định ở khu vực và trên thế giới”.

Nhấn mạnh tới quan hệ hữu nghị truyền thống tốt đẹp giữa hai Đảng, hai Nhà nước, Nhân dân và Quân đội hai nước do Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chủ tịch Mao Trạch Đông đặt nền móng và dày công vun đắp, Đại tướng Phùng Quang Thanh khẳng định, trong cuộc đấu tranh giải phóng giành độc lập dân tộc ở mỗi nước, QĐND Việt Nam và Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc luôn luôn kề vai sát cánh chiến đấu. Nhân dân Trung Quốc anh em đã hết lòng giúp đỡ nhân dân Việt Nam. Cùng với sự giúp đỡ to lớn khác của Liên Xô, các nước XHCN và phong trào tiến bộ trên thế giới, nhân dân Việt Nam đã giành được độc lập, thống nhất đất nước, đạt được nhiều thành tựu quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. “Chúng tôi luôn trân trọng, ghi nhớ và mãi biết ơn sự giúp đỡ chí tình, chí nghĩa, to lớn có hiệu quả mà Đảng, Chính phủ, nhân dân và Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc đã dành cho Việt Nam”, Đại tướng Phùng Quang Thanh nói.

Đại tướng Phùng Quang Thanh cũng nhiệt liệt biểu dương thành tích, sự đóng góp của các thế hệ cán bộ, học viên được đào tạo tại Trung Quốc qua các thời kỳ. Đại tướng Phùng Quang Thanh cho rằng, những kiến thức, kinh nghiệm mà cán bộ, sĩ quan học tập được từ Trung Quốc đã được vận dụng sáng tạo vào thực tiễn trong quân đội Việt Nam, đóng góp tích cực trong việc xây dựng QĐND Việt Nam; củng cố quốc phòng, ngoài ra lực lượng này còn có góp phần quan trọng xây dựng tình hữu nghị giữa quân đội hai nước Việt – Trung ngày càng gắn bó.

Về hướng đi trong những năm tới, Đại tướng Phùng Quang Thanh chỉ rõ: Trong những năm tới, hòa bình, hữu nghị hợp tác trong khu vực và trên thế giới vẫn là xu thế lớn. Nhưng, các thế lực thù địch vẫn tiếp tục đẩy mạnh  các hoạt động diễn biến hòa bình; lợi dụng các hoạt động dân chủ, nhân quyền, tôn giáo nhằm xóa bỏ chế độ XHCN, chia rẽ quan hệ hữu nghị Việt – Trung, đang đặt ra những khó khăn, phức tạp mới cho Đảng, Chính phủ, nhân dân và quân đội hai nước. “Quân đội hai nước chúng ta cần tăng cường tình đoàn kết, hợp tác chặt chẽ và bảo vệ thành quả cách mạng của mỗi nước. QĐND Việt Nam đặc biệt coi trọng việc phát triển quan hệ hữu nghị, hợp tác toàn diện và bền vững với Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc, đây là chủ trương nhất quán, là ưu tiên hàng đầu trong chính sách đối ngoại, quốc phòng của Việt Nam”, Đại tướng Phùng Quang Thanh khẳng định.

Nhấn mạnh tới các công việc cụ thể trong thời gian tới, Bộ trưởng Phùng Quang Thanh cho biết quân đội hai nước sẽ tiếp tục hoàn thiện các cơ chế hợp tác hiện có như tăng cường giao lưu các cấp, chú trọng ở các quân binh chủng; tuần tra chung; đối thoại chính sách chiến lược quốc phòng, thiết lập đường dây liên lạc giữa hai Bộ Quốc phòng; giao lưu sĩ quan trẻ; hợp tác đào tạo.  “Cần đưa mối quan hệ hợp tác giữa quân đội hai nước ngày càng đi vào chiều sâu, thực chất và tin cậy lẫn nhau. Tiếp tục khẳng định và thực hiện tốt các thỏa thuận đã được ký kết giữa lãnh đạo Đảng, Nhà nước và Bộ Quốc phòng hai nước”, Đại tướng Phùng Quang Thanh nhấn mạnh.

Trong không khí thắm tình hữu nghị, đại diện cho các thế hệ sĩ quan, cán bộ trong QĐND Việt Nam được đào tạo tại Trung Quốc qua các thời kỳ, từ thời kỳ chống Mỹ như Trung tướng Nguyễn Hoa Thịnh – người đã giữ nhiều trọng trách khi còn công tác, cho tới những cán bộ trẻ đang tại chức được đào tạo trong thời kỳ mới như Thượng tá Phạm Xuân Phong, Phó Giám đốc Viện Y học cổ truyền Quân đội…tất cả đều khẳng định lòng biết ơn về sự hy sinh của Đảng, Nhà nước, nhân dân và quân đội Trung Quốc khi sẵn sàng “nhường cơm sẻ áo” cho học viên Việt Nam.

Qua những câu chuyện cảm động về tình thầy trò, về sự san sẻ, các thế hệ cán bộ, sĩ quan, chiến sĩ trẻ có mặt tại Hội trường Bộ Quốc phòng Việt Nam như được cùng sống lại những ký ức tốt đẹp của nhiều thế hệ học sinh, học viên Việt Nam trong những năm tháng học tập và rèn luyện tại các trường đại học, học viện, nhà trường của Trung Quốc…

Trung tướng Nguyễn Hoa Thịnh nhớ lại, tôi không thể quên những ký ức về cảnh hàng triệu người Trung Quốc nắm tay nhau hát vang lời ca “Hãy cùng bên nhau, hãy cùng bên nhau, hỡi anh em Việt Nam…” khi tuần hành ủng hộ nhân dân Việt Nam trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ. Với Thượng tá Phạm Xuân Phong, qua câu chuyện, anh cho biết không bao giờ có thể quên tấm gương lao động quên mình của các thầy cô giáo Trung Quốc, sự giúp đỡ tận tình của người dân, để anh có thể học được kiến thức về y học cổ truyền nổi tiếng của Trung Quốc.

Chia sẻ tình cảm với các thế hệ cán bộ, sĩ quan Việt Nam từng được đào tạo tại Trung Quốc qua các thời kỳ; bày tỏ cảm ơn sự quan tâm của lãnh đạo Bộ Quốc Phòng Việt Nam cũng như các ban ngành, tại cuộc gặp, đồng chí Khương Tái Đông, Đại biện lâm thời Đại sứ quán nước CHND Trung Hoa đã khẳng định: Trung Quốc – Việt Nam núi liền núi, sông liên sông, nhân dân hai nước có truyền thống hữu nghị lâu đời. Mối quan hệ tốt đẹp ấy đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh đúc kết bằng câu thơ: Mối tình hữu nghị Việt – Hoa, vừa là đồng chí vừa là anh em. Trong thời gian gần đây, mối quan hệ hai nước đang có bước phát triển tốt đẹp. Các chuyến thăm của lãnh đạo cấp cao hai Đảng, Nhà nước và hai Bộ Quốc phòng hai nước đã góp phần tích cực xây dựng và phát triển mối quan hệ hai nước.

“Hai bên đã thực hiện nhiều chuyến tuần tra chung, nhất trí thiết lập đường dây nóng giữa hai Bộ Quốc phòng… Việc quan hệ quốc phòng giữa hai bên phát triển vững vàng đã góp phần quan trọng vào sự phát triển quan hệ hai nước Trung – Việt. Chúng tôi hy vọng, quan hệ giữa hai Đảng, hai Nhà nước, quân đội hai nước không ngừng phát triển, được nâng lên tầm cao mới. Về phần mình, Đại sứ quán Trung Quốc tại Việt Nam sẽ làm hết sức mình, phối hợp với các bộ, ngành liên quan, cùng nhau cố gắng làm cho mối tình hữu nghị Việt – Trung mãi mãi xanh tươi, đời đời bền vững”, đồng chí Khương Tái Đông nói.

 NGUYỄN HÒA

http://www.qdnd.vn/qdndsite/vi-VN/61/199608/print/Default.aspx

********

http://giaoduc.net.vn/Xa-hoi/Trung-Quoc-dang-mo-mat-tran-thu-3-trong-no-luc-doc-chiem-Bien-Dong/203398.gd

“Trung Quốc đang mở mặt trận thứ 3 trong nỗ lực độc chiếm Biển Đông”

Thứ năm 02/08/201

GDVN) – “Trung Quốc đang mở mặt trận thứ 3 trong nỗ lực độc chiếm biển Đông sau khi có những động thái “tấn công” trên mặt trận ngoại giao và quân sự”.

Trung Quốc muốn độc chiếm dầu khí ở biển Đông

Đó là nhận định của hãng tin Reuters trong một bài phân tích đăng ngày 1/8 được dịch và đăng tải trên báo Người lao động. Theo bài viết, Tổng công ty Dầu khí Hải dương Trung Quốc (CNOOC) đã khiến tình hình biển Đông thêm căng thẳng qua sau khi mời thầu quốc tế 9 lô dầu khí trong vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa của Việt Nam vào tháng 6 qua.

Nhận định về động thái này, một quan chức điều hành giấu tên của một tập đoàn dầu khí toàn cầu cho biết: “Lập trường của chính phủ Trung Quốc đang rõ hơn bao giờ hết… Họ muốn độc chiếm biển Đông và phát triển khu vực này”.

Ian Storey, nhà nghiên cứu cấp cao Viện nghiên cứu Đông Nam Á ở Singapore, cũng đưa ra đánh giá tương tự: “Quan điểm của Bắc Kinh là những nước như Việt Nam và Philppines đang tăng cường khai thác tài nguyên của Trung Quốc và nước này phải chứng tỏ rằng họ nghiêm túc về những tuyên bố chủ quyền của mình”.

Một giàn khoan dầu khí của CNOOC ở biển Đông. Ảnh: THX

Một cựu phó chủ tịch CNOOC thậm chí còn tuyên bố rằng “Trung Quốc chưa có bất kỳ hoạt động khai thác dầu khí nào” ở khu vực phía Nam biển Đông trong lúc các nước khác đã “sản xuất hơn 50 triệu tấn dầu” tại vùng lãnh thổ mà Bắc Kinh tuyên bố chủ quyền.

Dù vậy, các nhà phân tích đã bày tỏ hoài nghi về tính chính xác của lời lẽ nói trên. Lý do sản lượng dầu khí của Việt Nam tại những vùng biển không tranh chấp vào khoảng 16 triệu tấn/năm trong khi Philippines vẫn chưa khai thác dầu khí tại những vùng biển mà Trung Quốc tuyên bố chủ quyền.

Bất chấp tuyên bố của CNOOC rằng việc mời thầu quốc tế nói trên “tiến triển tốt đẹp”, giới phân tích cho rằng các tập đoàn dầu khí lớn có thể không đáp lại lời mời thầu do lo ngại căng thẳng đang leo thang ở biển Đông.

Bà Stephanie Kleine-Ahlbrandt, giám đốc phụ trách khu vực Đông Bắc Á của Nhóm nghiên cứu Khủng hoảng Quốc tế (ICG), nhận định: “Các hoạt động thăm dò năng lượng ở những vùng biển tranh chấp này sẽ dẫn đến những tranh cãi ngoại giao và có thể là những cuộc đụng độ nhỏ giữa tàu công vụ của các nước, nhưng khó gây ra các cuộc xung đột quân sự lớn”.

Một báo cáo năm 2008 của Cơ quan quản lý thông tin năng lượng Mỹ ước tính trữ lượng dầu ở biển Đông dao động từ 28 – 213 tỉ thùng, đủ đáp ứng nhu cầu sử dụng của Trunng Quốc trong hơn 60 năm. Trong khi đó, theo một báo cáo năm 2010 của Cơ quan khảo sát địa chất Mỹ, biển Đông có 50% khả năng sở hữu ít nhất 3.790 tỉ mét khối khí thiên nhiên chưa được phát hiện. Con số này tương đương với lượng khí thiên nhiên tiêu thụ ở Trung Quốc trong hơn 30 năm.

Trung Quốc “ra oai” siêu cường? 

Ngày 2/8, báo Công an TP Hồ Chí Minh đã có bài tổng hợp, phân tích những diễn biến mới nhất liên quan đến tình hình Biển Đông. Theo bài viết, Trung Quốc đang hành động như một “siêu cường” mới của thế giới sau hàng loạt động thái như triển khai chiến lược kiểm soát biển Đông, đưa “tàu đánh cá” vào vùng biển của Nga và khu vực biển tranh chấp với Nhật Bản, nói “không” với Mỹ và châu Âu trong vấn đề Syria…, .
Tiếp theo những hành động phi pháp như thành lập cái gọi là “thành phố Tam Sa” trên biển Đông, triển khai lực lượng quân sự đồn trú ở Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam, đưa hàng chục “tàu đánh cá” hoạt động ở Trường Sa, Trung Quốc lại có thêm kế hoạch gây hấn mới. Theo TTXVN, báo Pháp chế của Trung Quốc đưa tin “Lực lượng hải giám Tam Sa” sẽ lần lượt lên từng đảo ở biển Đông để thực hiện cái gọi là hoạt động chấp pháp – một hành động xâm phạm trắng trợn chủ quyền của Việt Nam. Tờ nhật báo trên ngang nhiên tuyên bố rằng chi đội “thành phố Tam Sa” của lực lượng hải giám Trung Quốc sẽ lần lượt tiến hành kiểm tra tình hình khai thác, phát triển các đảo không người ở trên biển Đông. Tranh chấp giữa Trung Quốc với Nhật Bản về đảo Shenkaku lại nóng lên. Ở trên bộ, Trung Quốc cũng đang triển khai một lực lượng quân sự lớn trên biên giới giáp Ấn Độ…
TOÀN CẢNH TRƯỜNG SA – HOÀNG SA NHÌN TỪ ĐẤT LIỀN
BẤM VÀO ĐÂY XEM CHÙM ẢNH: CÔNG BỐ NHỮNG HÌNH ẢNH “KHÔNG THỂ KÌM NỔI” VỀ TRƯỜNG SA
AI CHƯA ĐẾN TRƯỜNG SA CẦN XEM 31 TẤM HÌNH NÀY
********************Coi Dang CSVN va Nha Nuoc  cai quan TQ …

Yêu nước còn là biết…lắc đầu

Định mệnh luôn đặt số phận dân tộc Việt trước những thách thức bảo vệ chủ quyền, an sinh xã hội và an ninh quốc gia.

Trong thế giới hiện đại và hội nhập ngày nay, thì sự làm ăn với “bên ngoài”, nhất là với 1 nước láng giềng vừa mạnh, vừa bài bản, vừa đa mưu túc kế, đòi hỏi nước Việt phải có sự tỉnh táo, khôn ngoan. Đòi hỏi mỗi người có bổn phận phải biết đặt lợi ích quốc gia lên tối thượng.

Nếu không chúng ta sẽ luôn phải trả “học phí” với giá quá đắt.

Công bằng mà nói, hiện tượng ngoại kiều nhập cư ở lại nước sở tại, hoặc làm ăn giữa các quốc gia thông qua các dự án đầu tư là chuyện bình thường. Ngay người Việt chúng ta cũng vậy.

Tại Mỹ, Pháp, Úc… không thiếu những cộng đồng người Việt sinh sống, làm ăn. Có điều những cộng đồng này luôn phải tuân thủ pháp luật, và chịu sự quản lý chặt chẽ, nghiêm cẩn của luật pháp nước sở tại. Điều đó, còn do năng lực cùng trách nhiệm của quản lý chính quyền cơ sở nước sở tại, biết vì lợi ích và an ninh quốc gia.

Còn ở ta thì sao?

Mới đây, UBND tỉnh Phú Yên đã có lời nói “Không, xin cảm ơn” (Thanhniên.com.vn, ngày 28/7), từ chối công nghệ sử dụng cyanua cực kỳ độc hại trong khai thác vàng, của 1 công ty TQ đầu tư trong lĩnh vực này.

Cái lắc đầu dứt khoát, đúng chỗ, tỉnh táo và cần thiết, trước hệ lụy tác động nguy hiểm tới môi trường sống, không vì… mùi đồng hấp dẫn.

Nhưng có phải lúc nào, người Việt cũng biết … lắc đầu vì lòng yêu nước, vì an ninh và an sinh xã hội không?

Cách đây ít lâu, dư luận xã hội sững sờ vì vụ việc người TQ nuôi cá bè trái phép ở Vịnh Cam Ranh (Khánh Hòa)- địa danh có vị trí quan trọng đối với quốc phòng, đặc biệt đối với vùng biển của đất nước. Điều đáng nói, vụ việc diễn ra từ rất lâu, nhưng chính quyền cơ sở cứ…lúng túng, không chịu thực hiện xử lý các vi phạm (?)

Sau Cam Ranh, là vụ ở vịnh Vũng Rô (cũng ở Phú Yên). Na ná “mô hình” Cam Ranh. Hơn nữa, người TQ ở đây còn núp bóng danh nghĩa “chuyên gia kỹ thuật”. Vũng Rô cũng là 1 địa danh được quy hoạch cho dự án lọc dầu và phát triển cảng cửa khẩu, không được phép nuôi trồng thủy sản.

 

 

 

Lồng bè nuôi tôm, cá của “chuyên gia” Trung Quốc tại Vũng Rô, Phú Yên 

Đọc những thông tin này, người ta có quyền đặt câu hỏi: Vì sao người TQ thích “nhằm” vào những vị trí an ninh, quốc phòng vùng biển mà “nuôi cá” với quy mô lớn thế nhỉ? Còn khi bị phát hiện, thì họ rút lui không kèn, không trống. Và vì sao, chính quyền địa phương lại…hồn nhiên thế nhỉ? Hay còn vì cái gì khác?

Cái sự “hồn nhiên” của người Việt khá phổ biến. Đến mức gây hoài nghi. Chả lẽ già rồi mà còn dại?

Còn ông Nguyễn Văn Tiên, Phó Chủ nhiệm UB các vấn đề xã hội của Quốc hội, nhân vụ việc “Loạn phòng khám TQ” (VietNamNet, ngày 31/7) và trước sự kiện 1 người dân bị chết oan ở phòng khám có cái tên rất cứu rỗi- phòng khám Maria – đã thẳng thừng: Vấn đề là tiền!

Vâng, nếu không vì tiền – vì “mùi đồng” thì làm sao có cả một vụ việc tày trời này: Xây nhà máy chui cho thương nhân TQ (Thanh Niên Online, 2/7). 

Đó là Nhà máy chế biến tinh bột wolfram (ATP) xuất khẩu công suất 3000 tấn/ năm, tại TP Móng Cái (Quảng Ninh), được Công ty CP Hoàng Thái xây dựng. Tài nhất, cả cái nhà máy mọc lên trên diện tích rộng tới 5 hecta mà chính quyền TP… không hề hay biết.

Nhà máy này thuộc Công ty CP Hoàng Thái ở thôn 2, xã Quảng Nghĩa, cách biên giới Việt – Trung chừng 23 km, cách QL18 hướng Móng Cái – Hạ Long khoảng 500 m.”

Ông Chủ tịch UBND TP. Móng Cái còn thú nhận: Không ngờ là doanh nghiệp Hoàng Thái lại dám đầu tư hàng chục tỉ đồng để xây dựng nhà xưởng trong khi chưa được chấp thuận đầu tư.

Cũng theo bài báo này, sở dĩ thương nhân TQ muốn xây nhà máy tại Việt Nam, vì các sắc thuế ATP cao, chi phí về nhân công, điện, tiền thuê đất đắt đỏ. Đặc biệt, tiêu chuẩn kỹ thuật bảo vệ môi trường ngặt nghèo do nước này muốn hạn chế công nghiệp bẩn ở nước họ (!)

Nếu không vì “mùi đồng” thì làm sao có vụ việc UBND huyện Hàm Thuận Bắc (Bình Thuận) “bị lừa” khi đồng ý ký chuyển đổi mục đích sử dụng đất, với diện tích 8500 m2 đất lúa cho ông Phạm Phú Thạnh.

Để chỉ …3 ngày sau đó, mặc những hứa hẹn, cam kết bằng đơn từ hẳn hoi, ông này chuyển nhượng ngay cho thương nhân TQ Zhong Heng Shan, Chủ tịch kiêm Giám đốc Công ty TNHH Nguyên Long Sơn (công ty con của Tập đoàn kinh tế Nguyên Hinh, TQ). Đúng là, “mùi đồng” đã khiến lời hứa gió bay, nhẹ hều!

Và tại cuộc họp báo ngày 10/7, ông Phó CT tỉnh thừa nhận đây là vấn đề rất mới mà UBND tỉnh cũng chỉ vừa mới nắm được. Chuyện ồn ào đến mức phải báo cáo lên trên.

Và còn biết bao chuyện xung quanh “mùi đồng”.

Mới đây, VietNamNét đưa tin vụ “Tàn sát cổ thụ bán cho thương lái Trung Quốc” ở huyện Minh Long (Quảng Ngãi). Cổ thụ đây là cây nhội- còn gọi là cây trâm, có đặc điểm cực hút nước và giữ nước.

Mỗi khi bứng cây trâm thì những cây con xung quanh cũng sẽ chết vì không còn cây trâm giữ nước. Việc bứng lấy bộ đế rễ cây trâm cũng sẽ khiến hàng loạt cây lớn nhỏ xung quanh bị đốn hạ. Từ đây, hệ sinh thái rừng bị ảnh hưởng nghiêm trọng, làm thay đổi dòng chảy…. Thực chất là phá rừng.

Có chuyện gì xung quanh “mùi đồng”, mà người Việt mình không làm đây? Từ bán mèo (để diệt chuột) bán móng trâu (mất sức cày, kéo), bán “đỉa”, bán ốc bươu vàng (những loại đáng lẽ phải diệt, thì dân Việt đi nuôi).

 

 

 

Nhà máy sản xuất wolfram xây dựng hoành tráng thế này nhưng lãnh đạo Móng Cái vẫn… không biết – Ảnh: Long Sơn/ Thanh Niên 

Nản quá, nhà thơ Trần Đăng Khoa phải kêu lên, “Người Việt vẫn duy trì thói quen khôn nhà dại chợ”: Có thể cảnh giác, nghi ngờ với cả con cái, anh em ruột thịt trong nhà, nhưng lại nhẹ dạ cả tin với thiên hạ. Mà ai nói gì cũng tin. Hay lại tại “cái nước Việt mình nó thế”?

Đến nỗi, theo nhà thơ: Họ mà thu gom hài cốt thì không khéo khối người đào cả mồ mả, ông bà tổ tiên đem… bán. Quả là lời than cay đắng, về cái sự “hồn nhiên”.

Đúng là người dân Việt do nghèo đói, do hạn chế nhận thức, do ít thông tin, họ có thể nhẹ dạ nông nổi bởi… “mùi đồng”. Nhưng “trên” họ, còn có các cấp quản lý chính quyền cơ sở, cánh tay nối dài của Nhà nước.

Việc làm ăn, giao lưu thông thương giữa 2 quốc gia vào thời điểm cực kỳ nhạy cảm này luôn cần có nguyên tắc. Nguyên tắc tối thượng, là phải tỉnh táo, không để “mùi đồng” làm tối mắt, hoặc những sơ hở vì nhận thức quá kém, làm tổn hại tới an ninh quốc gia.

Nguyên tắc ấy buộc các cấp chính quyền cơ sở không được phép cũng “hồn nhiên”, đến mức có thể“rơi vào cái bẫy của TQ”, và cần có “văn hóa quan chức” – biết lắc đầu từ chối đúng chỗ, vì lợi ích quốc gia. Bởi đó cũng là yêu nước.

Tiếc thay khi vụ việc đã xảy ra, khiến cả xã hội lo ngại, bất bình, hầu như thường được nghe, từ phía chính quyền những cụm từ sao mà…lỏng lẻo. Lỏng lẻo như cách quản lý đầy sơ hở, thậm chí có phần vô cảm, vô trách nhiệm nữa: Không ngờ, không hay biết, bất ngờ quá, vấn đề rất mới…

Văn hóa Kẻ Chợ và “văn hóa biết lắc đầu” của quan chức, là 2 câu chuyện khác nhau. Nơi này là chuyện của một đô thị. Nơi kia chuyện của đội ngũ quan chức. Nhưng lại giống nhau ở 1 điểm- nó góp phần không nhỏ vào sự trường tồn, hưng hay vong, thịnh hay suy của quốc gia.

Kỳ Duyên

Theo VietNamNet

****************

 “Lãnh đạo TP.Móng Cái đã cử một đoàn công tác do Phó bí thư Thành ủy kiêm Phó chủ tịch UBND TP Dương Văn Kinh sang Trung Quốc để tìm hiểu về các nhà máy chế biến ATP.

Ngày 22.9.2011, Thường vụ Thành ủy Móng Cái họp để nghe chủ đầu tư thuyết trình dự án.  Dù dự án chế biến tinh bột wolfram không giúp tiêu thụ, chế biến quặng trong nước, không tạo ra sản phẩm mà thị trường nước ta đang cần và tiềm ẩn nguy cơ gây ô nhiễm môi trường nhưng không hiểu sao, Thông báo số 299 ngày 24.9.2011 truyền đạt ý kiến của Bí thư Thành ủy Móng Cái Nguyễn Quang Điệp, như sau: “… thống nhất chủ trương đồng ý cho chủ đầu tư nghiên cứu lập dự án đầu tư xây dựng nhà máy wolfram tại thôn 2, xã Quảng Nghĩa hoặc khu công nghiệp tập trung của thành phố”.

Xây nhà máy chui cho thương nhân Trung Quốc

Thương nhân Trung Quốc tham gia xây dựng trái phép một nhà máy chế biến tinh bột wolfram (ATP) xuất khẩu công suất 3.000 tấn/năm trên diện tích 5 ha tại TP.Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh, nhưng chính quyền không hề hay biết.

Nhà máy này thuộc Công ty CP Hoàng Thái ở thôn 2, xã Quảng Nghĩa, cách biên giới Việt – Trung chừng 23 km, cách QL18 hướng Móng Cái – Hạ Long khoảng 500 m.

Nhà máy sản xuất wolfram  
Từ đầu năm 2011 đến tháng 11.2011, Nhà máy sản xuất wolfram xây dựng hoành tráng thế này nhưng lãnh đạo Móng Cái vẫn… không biết – Ảnh: Long Sơn

Khi chúng tôi có mặt, trên diện tích 5 ha, các công trình phụ như lò luyện, bồn chứa, đường ống đã được xây dựng. Phía ngoài sân ngổn ngang sắt thép, quặng đá và những bao bột hóa chất màu xanh chất ngồn ngộn trong nhà kho. Gần chục phụ nữ người Việt và một công nhân Trung Quốc đang gom số quặng này thành đống để chuyển vào nhà máy ở Hải Phòng, Hải Dương bởi nhà máy ở đây đã bị yêu cầu tháo dỡ vì xây dựng  trái phép.

Chính quyền “không ngờ”?

Ngoài Nhà máy chế biến ATP, PV Thanh Niên phát hiện thêm một phân xưởng “lụi” khác đã lắp đặt gần xong thiết bị, đó là xưởng chế biến đồng. Ông Hoàng Trung Thông, Giám đốc Công ty CP Hoàng Thái, nói rằng ban đầu công ty định liên doanh với ông Trần, người Trung Quốc, để đầu tư nhà máy. Tuy nhiên, nếu là liên doanh nước ngoài thì thủ tục phức tạp nên đã chuyển thành công ty 100% vốn trong nước, ông Trần “hỗ trợ một phần kinh phí xây nhà xưởng và giúp việc mua thiết bị máy móc. Khi đi vào sản xuất, ông Trần sẽ lo phần nguyên liệu, tư vấn kỹ thuật và tìm đầu ra cho sản phẩm”.

 

 
 
Đưa lên rừng?Trong khi chính quyền Móng Cái đang rối bời trong việc giải quyết Nhà máy ATP trái phép thì tại Ba Chẽ, một huyện miền núi cũng thuộc tỉnh Quảng Ninh lại có một nhà máy chế biến wolfram xuất khẩu của người Trung Quốc đang chuẩn bị đầu tư. Đó là dự án của Công ty Youngsun Wolfram Việt Nam, công suất giai đoạn 1 là 4.000 tấn sản phẩm/năm, giai đoạn 2 dự kiến tăng gấp đôi công suất.Ngày 14.5.2011, Chủ tịch UBND H.Ba Chẽ Lê Minh Hải ký Quyết định số 521 phê duyệt nhiệm vụ quy hoạch chi tiết 1/500 nhà máy sản xuất tinh bột wolfram xuất khẩu tại Cụm công nghiệp chế biến lâm sản xã Nam Sơn, H.Ba Chẽ, diện tích quy hoạch là 8,4 ha. Điều đáng lo ngại là dự án này cần tới 1.000 m3 nước (giai đoạn 1)/ngày để phục vụ sản xuất, trong khi khu vực nhà máy lại nằm sát bờ sông Ba Chẽ ở phía đông; phía nam giáp suối, núi Nam Kim. Toàn bộ dây chuyền công nghệ đều của Trung Quốc.
 

 

Về xưởng chế biến đồng, ông Thông giải thích đây là do một chủ khác người Trung Quốc liên kết với Công ty CP Hoàng Thái xây dựng trên cùng một khu đất để tận dụng nguyên liệu, cho ra nhiều loại sản phẩm khác nhau. “Chúng tôi cứ tưởng Thành ủy Móng Cái đồng ý về mặt chủ trương, các sở ngành ở Quảng Ninh cũng đã đồng ý thì việc UBND tỉnh Quảng Ninh chấp thuận dự án chỉ là vấn đề thời gian. Do đó, để kịp tiến độ chúng tôi vừa chờ xin giấy phép vừa thi công. Hiện tỉnh yêu cầu dừng dự án, tôi đành phải chấp thuận, số tiền đầu tư bây giờ đã lên tới gần 100 tỉ đồng”, ông Thông nói. 

Trong thời gian làm thủ tục xin giấy phép đầu tư, Công ty CP Hoàng Thái đã xây dựng xong 2 khu nhà điều hành diện tích 500 m2, 1 nhà ở cho công nhân diện tích 400 m2, 1 nhà xưởng diện tích 700 m2, móng 2 nhà xưởng diện tích 1.400 m2, đặc biệt, có 20 công nhân người Trung Quốc tham gia xây dựng nhà máy này, nhưng chính quyền thành phố không hề hay biết.

Mãi đến ngày 8.11.2011, UBND xã Quảng Nghĩa kiểm tra, phát hiện lập biên bản yêu cầu dừng thi công thì công ty này đã xây dựng được gần 50% khối lượng công trình. Đến tháng 3.2012, công ty này vẫn xây thêm 4 nhà xưởng, 3 nhà diện tích gần 800 m2. Trên công trường có 32 người Trung Quốc làm việc chỉ bằng visa du lịch.

Đáng chú ý, dự án này còn vi phạm nghiêm trọng quy định về sử dụng đất khi xây dựng trên đất trồng rừng (chưa làm thủ tục chuyển đổi mục đích sử dụng). Điều đáng nói, việc xây dựng cả một nhà máy diễn ra từ đầu năm 2011 đến tận tháng 11.2011 chính quyền địa phương mới phát hiện. Ông Dương Văn Cơ, Chủ tịch UBND TP.Móng Cái, giải thích: “Chúng tôi không ngờ là doanh nghiệp Hoàng Thái lại dám đầu tư hàng chục tỉ đồng để xây dựng nhà xưởng trong khi chưa được chấp thuận đầu tư. Hiện nay chúng tôi đang cho kiểm điểm để làm rõ trách nhiệm của các cán bộ có trách nhiệm”. Còn về xưởng chế biến đồng nằm trong dự án ATP, ông Cơ nói: “Tôi sẽ cho kiểm tra để xử lý ngay”.

Thành ủy “bật đèn xanh”

Theo thông tin PV Thanh Niên nắm được, từ tháng 1.2011, Công ty CP Hoàng Thái đã làm hồ sơ xin đầu tư dự án chế biến ATP tại xã Quảng Nghĩa. Với một phần vốn của doanh nhân Trung Quốc, công ty này sẽ đầu tư 10 triệu USD xây nhà máy, lắp thiết bị, thuê nhân công, dùng điện giá rẻ của Việt Nam để gia công, còn quặng và phụ gia nhập từ Trung Quốc và các nước khác, toàn bộ sản phẩm là tinh bột wolfram cũng được xuất khẩu.

Lãnh đạo TP.Móng Cái đã cử một đoàn công tác do Phó bí thư Thành ủy kiêm Phó chủ tịch UBND TP Dương Văn Kinh sang Trung Quốc để tìm hiểu về các nhà máy chế biến ATP. Ngày 22.9.2011, Thường vụ Thành ủy Móng Cái họp để nghe chủ đầu tư thuyết trình dự án.  Dù dự án chế biến tinh bột wolfram không giúp tiêu thụ, chế biến quặng trong nước, không tạo ra sản phẩm mà thị trường nước ta đang cần và tiềm ẩn nguy cơ gây ô nhiễm môi trường nhưng không hiểu sao, Thông báo số 299 ngày 24.9.2011 truyền đạt ý kiến của Bí thư Thành ủy Móng Cái Nguyễn Quang Điệp, như sau: “… thống nhất chủ trương đồng ý cho chủ đầu tư nghiên cứu lập dự án đầu tư xây dựng nhà máy wolfram tại thôn 2, xã Quảng Nghĩa hoặc khu công nghiệp tập trung của thành phố”.

Không chỉ TP.Móng Cái, trong tháng 3.2012, các sở ngành của Quảng Ninh như Công thương, Tài nguyên – Môi trường, Xây dựng, Kế hoạch – Đầu tư cũng đã có văn bản bày tỏ sự đồng thuận cho dự án được triển khai tại xã Quảng Nghĩa.

Đầu năm 2012, một số người dân ở Quảng Nghĩa kiến nghị các cấp chính quyền địa phương về nguy cơ ô nhiễm, ảnh hưởng đến sản xuất, nuôi trồng thủy sản bên bờ sông Pạt Cạp, gần nhà máy này. Ngày 10.4.2012, UBND tỉnh Quảng Ninh ra Thông báo số 1445 nêu rõ không chấp thuận dự án đặt tại thôn 2, xã Quảng Nghĩa. Lý do là nhà máy nằm tại cửa ngõ TP.Móng Cái, gần khu dân cư nên không phù hợp với cảnh quan môi trường của khu vực; sử dụng đất kém hiệu quả. Tiếp đó, ngày 23.4.2012, UBND tỉnh Quảng Ninh ra công văn yêu cầu TP.Móng Cái kiên quyết xử lý vi phạm của chủ đầu tư và kiểm tra, làm rõ trách nhiệm tập thể, cá nhân liên quan.

Khu vực Móng Cái đang phát triển nhanh với lợi thế về kinh tế dịch vụ biên mậu, nhưng không hiểu sao những người đứng đầu địa phương này vẫn cố gắng thu hút một dự án có nguy cơ gây ô nhiễm ngay cửa ngõ TP? Nếu không có sự cân nhắc cẩn trọng, cái giá phải trả cho vấn đề môi trường sẽ lớn hơn rất nhiều cái lợi trước mắt là việc làm cho vài trăm lao động hay một số tiền thuế doanh nghiệp sẽ nộp vào ngân sách địa phương.

Chuyển công nghiệp bẩn vào VNTinh bột wolfram là sản phẩm trung gian quan trọng trong quá trình luyện wolfram và là nguyên liệu chủ yếu để sản xuất các chế phẩm có chứa wolfram. Wolfram là kim loại cứng màu xám, có tỷ trọng lớn, độ nóng chảy và độ cứng cao, là loại vật liệu có thể tăng độ cứng và độ chống mài mòn của thép, được dùng rộng rãi trong ngành gia công cơ khí, luyện kim, công cụ khai khoáng, giàn khoan dầu, thông tin điện tử, ngành xây dựng, sản xuất vũ khí…Theo nhiều chuyên gia am hiểu về ngành luyện kim, sở dĩ thương nhân Trung Quốc muốn xây nhà máy ở Việt Nam bởi tại Trung Quốc các sắc thuế xuất khẩu ATP cao, chi phí về nhân công, điện, tiền thuê đất đắt đỏ, và đặc biệt là tiêu chuẩn kỹ thuật bảo vệ môi trường ngặt nghèo do nước này muốn hạn chế công nghiệp bẩn. Chính vì vậy, họ đang có xu hướng đưa công nghiệp bẩn ra nước ngoài để sản xuất, chế biến.

Káp Long – Thái Sơn

>> Thương nhân Trung Quốc đổ về Lục Ngạn thu mua vải thiều
>> Thương nhân Trung Quốc mua gom cả tôm bơm tạp chất
>> Trung Quốc tổ chức tuần tra hải quân trên biển Đông
>> Phòng khám Trung Quốc lộng hành do quản lý kém
>> Trung Quốc phát hiện sữa có chứa thuốc tẩy
>> Học giả quốc tế khẳng định 9 lô dầu khí Trung Quốc mời thầu đều nằm tại Việt Nam

18 tỉnh VN cho các nước ngoài thuê đất trồng rừng: Giá thuê 1 mẫu đất chỉ bằng 10 tô phở (9 đô la/ 1 mẫu đất/1 năm)

*http://wp.me/po94e-1X7

 

Posted in Chinh Tri Viet Nam | 1 Comment »

►Biểu Tình Chủ Nhật

Posted by hoangtran204 trên 06/08/2012

Ha Noi

Tan tác biểu tình

Nguoi Buon Gio 

Hôm nay tan tác, chạy vài ba phen mới thoát. Những người biểu tình bị truy quét mấy đợt liền.Bắt suốt từ lúc đầu ở tượng đài Lý Thái Tổ rồi bắt tiếp ở chỗ Điện Lực trông sang , quả cuối cùng bắt gần tháp phun nước chỗ bến tàu điện cũ.

 
8 giờ 10 mình thấy thằng Lã Dũng mặc áo NoU bị mấy người tóm tay lôi đi trong Cung Thiếu Nhi. 
 
 
Mình đi theo thấy họ ốp Lã Dũng ra chỗ xe ô tô của nó đậu ngoài cửa Cung Thiếu Nhi rồi họ lên xe 4 người, 4 người đi xe máy bên cạnh. Mình đến gõ cửa kính bảo Lã Dũng.
 
– Mày đi đi taxi để xe anh còn đón mẹ anh.
 
Thằng Lã Dũng chần chừ, mình mở cửa xe lôi nó ra. Ngồi vào cài số lùi để tránh xe đằng trước đi ra, quay sang vẫn thấy 4 anh đang ngồi. Mình dừng xe bảo.
 
– Các ông xuống tôi đi cái nào.
 
Họ nhìn mình một lúc rồi mở cửa xe xuống. Mình lái xe về nhà gửi. Xong nhảy xe ôm ra thì thấy bắt ráo hết cả rồi.
 
Về nhà ăn cơm, mở mạng thu thập tin tức, hình ảnh các trang vậy. Hôm nay chụp đúng kiểu Lã Dũng bị bắt xong thấy bất an để máy ảnh ở nhà. Đi người không ra đề phòng bị tóm. Nên chả chụp được gì đành đi cóp ảnh các nơi vậy.
 
 
Bắt bớ dồn dập nhưng biểu tình vẫn nổ ra. Tổng cộng 3 lần bắt, đến lần thứ ba mới bắt hết. Xe buýt hoạt động tất bật để chở người đi. Lực lượng chính quyền đông vô kể. Riêng lực lượng mặt đất đứng sẵn rải khắp khu vực Hồ Gươm phải đến 400 trăm người. Cùng với lực lượng thiện chiến ở trên mấy chiếc xe ca loại 24 – 30 chỗ nữa thì không biết bao nhiêu mà tính.
 
 
 
 
 
Toàn bộ những người trong bức ảnh này là những thanh niên đeo băng đỏ đang tiến vào bắt người biểu tình yêu nước. Trước khi đó có một người trung niên dang chỉ huy hô. Các đồng chí đặc nhiệm vào đi. Và đoàn này đi vào bắt những người biểu tình.
 
 
Cụ Lê Hiền Đức đang phản đối những thanh niên lôi cụ đi, nhưng mặc kệ cụ nói, họ dùng sức trai trẻ và số đông cưỡng bức cụ lên một chiếc xe con chở đi luôn.
 
 
 
 
 
Cảnh bắt người ở Hồ Gươm.
 
 
Số chưa bị bắt đã tìm đến trại Lộc Hà để yêu cầu gửi đồ ăn, thức uống cho người bị bắt. Phản ứng của công an trại khá gay gắt trước yêu cầu này.
 
 
 
Số bên ngoài ngồi chờ mỗi lúc một đông vì mọi người đang tìm đến.
 
 
An ninh di chuyển để tìm điểm ghi hình những người bên ngoài.
 
 
Và ngồi theo dõi.
 
 
Kẻ khác đứng ở cái biển cấm quay phim chụp ảnh ở đây, chĩa máy quay sang đường để ghi hình mọi người tránh nắng bên đường.
  —————–

Sài Gòn

Ông Lê Hiếu Đằng và nhóm 42 người đã gởi đơn hơn 11 ngày rồi để XIN phép đảng và nhà nước tổ chức biểu tình, hoăc CHO họ được phép biểu tình phản đối Trung Quốc.

Đảng và nhà nước đang ngâm đơn của ông, nên cho tới bây giờ vẫn chưa có thư trả lời. 

Posted in Biểu Tình và Lập Hội | 1 Comment »

►Một nhà từ thiện phải đột ngột rời Việt Nam sau khi bị đe dọa và sách nhiễu

Posted by hoangtran204 trên 05/08/2012

Vợ ông Nguyễn Gia Kiểng, một nhà từ thiện phải đột ngột rời Việt Nam sau khi bị đe dọa và sách nhiễu
Trọng Khiêm (Thông Luận)

Lời Tòa Soạn: Hội từ thiện Măng Non (tên tiếng Pháp là Association Avenir,www.mangnon.free.fr) thành lập tại Pháp hoạt động từ năm 1994 với mục đích giúp đỡ các sinh viên và học sinh nghèo tiếp tục theo học. Một cách đều đặn từ 18 năm qua cứ hai năm một lần hội tổ chức những chuyến du lịch Việt Nam để tặng quà cho các trường học và để các nhà hảo tâm có dip thăm viếng Việt Nam và gặp các em mà họ giúp đỡ. Cho tới nay các chuyến du lịch này diễn ra môt cách bình thường dù bị công an theo dõi rất sát nhưng lần này công an đổi thái độ và ra mặt sách nhiễu. Bà Lương Thị Hồ Quì, vợ ông Nguyễn Gia Kiểng, một trong những sáng lập viên của hội và cũng là chủ tịch hội trong những năm đầu, đã phải rời Việt nam đột ngột sau khi bị công an đe dọa an ninh nhân thân. Phái đoàn sau đó cũng bị sách nhiễu. Trọng Khiêm đã liên lạc với bà Hồ Quì sau khi bà về Pháp. Sau đây là phần chính cuộc phỏng vấn.

Trọng Khiêm: Chào chị Quì, tại sao chị về Pháp cắt ngang cuộc thăm viếng Việt Nam?

Bà Hồ Quì: Tôi bị buộc phải rời Việt Nam vì bị công an đe dọa. Người chỉ huy công an nói với tôi rằng họ không trục xuất tôi nhưng nếu tôi không rời ngay Việt Nam thì họ sẽ không bảo đảm an ninh cho tôi và phái đoàn Măng Non đi đến đâu họ cũng không để yên.

– Chị nghĩ rằng họ có thể bạo hành?

Tôi hỏi tòa lãnh sự Pháp xem phải ứng xử như thế nào sau lời đe dọa này. Vị lãnh sự Pháp hỏi tôi cơ quan nào đưa ra lời đe dọa, tôi nói rằng tôi chỉ biết đây là một cơ quan công an nhưng không biết danh xưng chính thức là gì, chỉ biết địa chỉ công an là 242 đường Nguyễn Trãi. Vĩ lãnh sự nói rằng nếu như thề thì nghiêm trọng lắm, bà nên trở về Pháp ngay đi. Tôi điện thoại hỏi anh Kiểng, chồng tôi cũng nói rằng nên rời Việt Nam bởi vì công an Việt Nam có thói quen dùng bọn lưu manh hành hung những người mà họ không ưa. Đã có rất nhiều phụ nữ bị công an giả dạng côn đồ hoặc thuê bọn côn đồ hành hung. Một lý do khác khiến tôi quyết định về Pháp ngay là họ nói rằng nếu tôi còn ở lại Việt Nam thì phái đoàn Măng Non đi đến đâu họ cũng không để yên. Tôi không muốn vì tôi mà các bạn trong phái đoàn bị sách nhiễu, làm hỏng chuyến du lịch của họ.

– Thành phần phái đoàn Măng Non như thế nào và về Việt nam với mục đích nào?

Tổng cộng có 20 người, đa số là người Pháp, phần còn lại là những người Việt sinh sống tại Pháp và có quốc tịch Pháp. Tất cả đều là hội viên hội Măng Non và tích cực giúp đỡ học sinh sinh viên nghèo tại Việt Nam, thí dụ như nhận một hay nhiều học sinh Việt Nam làm con nuôi và trợ giúp để các em có thể tiếp tục đi học. Các chuyến du lịch có mục đích để các cha mẹ nuôi gặp các em mà họ đỡ đầu và thăm viếng các cơ sở giáo dục mà họ giúp đỡ, đồng thời để thăm viếng đất nước Việt Nam. Mỗi lần thăm viếng các trường và các nơi có cô nhi chúng tôi đều đem quà tặng, như bút, quần áo, đồ chơi, hay tiền v.v.

– Đây là lần đầu tiên phái đoàn và cá nhân chị bị làm khó?

– Cá nhân tôi thì không phải lần đầu nhưng phái đoàn thì gần như vậy. Năm 2006 tôi vào tới Sài Gòn thì được đưa giấy mời ra sở công an “làm việc”, tôi hỏi người sĩ quan công an đây là giấy mời hay lệnh triệu tập và được trả lời rằng đây đúng là một giấy mời. Tôi đáp lại rằng nếu là giấy mời thì có nghĩa là tôi không sai phạm gì cả và có quyền từ chối lời mời.

Sau đó sở công an gọi điện thoại cả chục lần đòi tôi đến sở công an nhưng tôi vẫn không đến, cuối cùng tôi bằng lòng để công an đến nhà gặp tôi trong vòng nửa giờ. Năm 2008 họ lại đưa giấy mời và tôi cũng vẫn từ chối đến sở công an, sau cùng hai sĩ quan công an đến gặp tôi tại khách sạn, khoảng một giờ. Năm 2010 không có gì xảy ra, phái đoàn và tôi được yên ổn. Nhưng năm nay thì khác hẳn.

– Chị nói khác hẳn là khác như thế nào?

– Kề từ năm 1996 khi hội chúng tôi bắt đầu tổ chức những chuyến về thăm Việt Nam lúc nào họ cũng theo dõi rất sát, đi đâu họ cũng đi theo để quay phim, chụp ảnh nhưng họ vẫn để chúng tôi yên và chúng tôi cũng không phiền gì vì mình có làm gì lén lút đâu mà sợ. Nói chung hội Mang Non cũng như cá nhân tôi không có quan hệ trực tiếp và công khai với công an. Chỉ từ năm 2006 trở đi họ mới đòi gặp tôi nhưng hội thì họ vẫn để yên và cũng chỉ tiếp xúc tại Sài Gòn, nghĩa là giai đoạn chót của chuyến thăm viếng thôi chứ ở ngoài Bắc và ngoài Trung họ không làm gì ngoài quay phim và chụp ảnh. Như tôi đã nói năm 2006 sau khi đưa giấy mời và điện thoại rất nhiều lần yêu cầu tôi đến sở công an làm việc nhưng tôi không đến, họ đã đến nhà chị tôi để gặp tôi. Người gặp tôi xưng tên là Phan Trung chắc là một sĩ quan cao cấp vì có mấy sĩ quan công an đi theo. Ông này nói năng lịch sự. Sau vài lời xã giao ông ấy đề nghị hội Măng Non gia nhập Mặt Trận Tổ Quốc như các hội từ thiện khác để dễ hoạt động. Tôi đáp lại rằng Mặt Trận Tổ Quốc là một tổ chức chính trị, hội chúng tôi là một hội từ thiện thuần túy chúng tôi không thể tham gia Mặt Trận Tổ Quốc được, còn các tổ chức từ thiện khác có tham gia hay không tùy họ. Ông Trung không nói thêm và xoay qua nói về anh Kiểng. Ông ấy nói rằng anh Kiểng là một người yêu nước, nhưng thái độ của anh ấy với chính quyền cứng rắn quá. Anh Kiểng nên về Việt Nam thăm quê hương để biết rõ thực tại đất nước. Tôi đáp lại rằng nếu các anh muốn anh Kiểng về Việt nam thì cứ liên lạc trực tiếp với anh ấy; tôi không làm chính trị nên không thể biết anh ấy nghĩ gì để có thể làm trung gian. Ông ấy vẫn nói anh Kiểng nên về nước và suốt phần còn lại của buổi tiếp xúc xoay quanh vấn đề này một cách lịch sự.
Năm 2008 khi tôi vừa vào tới Sài Gòn thì đã nhận được ngay giấy mời lên sở công an và tôi cũng từ chối. Sau cùng thì hai sĩ quan công an đến gặp tôi tại khách sạn. Tất cả cuộc nói chuyện kéo dài hơn một giờ, ngoài những thăm hỏi xã giao, chỉ xoay quanh việc đề nghị anh Kiểng về Việt Nam. Lập trường của tôi vẫn như trước nghĩa là họ nên trực tiếp liên hệ với anh Kiểng trong khi lập trường của họ vẫn là tôi nên chuyển lời đề nghị của họ. Có một lúc họ nói rằng tại sao các ông Nguyễn Cao Kỳ và Thích Nhất Hạnh về nước được mà anh Kiểng lại không chịu về. Tôi chỉ biết đáp lại rằng mỗi người có một cương vị riêng và buổi tiếp xúc kết thúc một cách nhã nhặn.

– Còn lần này thì sao?

– Lần này thì ngay khi tôi mới tới Hà Nội đã nhận được giấy mời lên sở công an làm việc. Tôi không tới gặp họ. Vả lại tôi rất ít thời giờ vì chỉ ở Hà Nội vài ngày lại còn dự định đi thăm nhiều nơi. Trước khi rời Hà Nội tôi gọi điện thoại cho họ theo số điện thoại trên giấy mời. Họ cho biết là tôi không sai phạm gì, họ chỉ muốn gặp tôi để biết thêm về hội Măng Non và phái đoàn du khách. Tôi nói rằng tôi không còn là chủ tịch hội nữa, trong phái đoàn có anh trưởng đoàn và cô tổng thư ký của hội sẵn sàng gặp họ, nhưng họ cho biết chỉ muốn gặp tôi thôi chứ không muốn gặp hai người kia. Tôi biết là có chuyện không bình thường rồi nhưng vẫn từ chối gặp họ. Họ nói rằng nếu tôi không gặp họ tại Hà Nội thì cũng sẽ phải gặp họ ở Sài Gòn. Sau đó đoàn chúng tôi tiếp tục cuộc hành trình, đi đâu cũng có người theo sát, quay phim chụp anh một cách rất lộ liễu. Tại Huế họ khám xét rất kỹ những món quà chúng tôi tặng cho học sinh. Không khí bắt đầu căng thẳng nhưng cũng không quá gay go. Chỉ có từ khi vào đến Sài gòn là mới thực sự căng thẳng và cuối cùng tôi phải rời Việt Nam một tuần lễ trước dự định.

– Cuộc đụng độ giữa công an và chị diễn ra như thế nào?

Họ kiếm chuyện với tôi chứ tôi đâu có đụng độ gì với họ. Tôi chỉ ứng xử một cách bình thường. Ngay khi tôi tới Sài Gòn công an thường phục đã đợi sẵn tại khách sạn và liên tục quay phim, khách sạn đã có sẵn giấy mời tôi đến sở công an làm việc. Cũng như tại Hà Nôi hôm sau tôi gọi họ để biết lý do tại sao họ mời tôi. Một công an tên là Tạ Xuân Vũ cho biết giấy mời này không liên quan gì tới hội Măng Non, nhà nước hoan nghênh công việc từ thiện của hội. Tôi được mời tới làm việc là để nói chuyện về chồng tôi. Theo họ chồng tôi có lập trường “không thân thiện” với chính quyền. Tôi trả lời họ là tôi không làm chính trị nên không biết gì về hoạt động của chồng tôi cả, vả lại tôi rất ít thời giờ nhưng nếu họ muốn gặp cũng được, với điều kiện là họ đến khách sạn gặp tôi. Họ đồng ý nhưng buổi chiều không thấy họ đến. Ngày hôm sau tôi cùng đoàn đi thăm viếng miền Tây đúng như chương trình.

– Phản ứng của công an ra sao?

– Xe chúng tôi đi được một đoạn đường thì công an goi cho công ty du lịch bắt quay trở lại và đưa tôi tới sở công an đường Nguyễn Trãi. Tôi vào gặp họ, anh trưởng đoàn và cô tổng thư ký hội đi theo, còn những bạn khác ngồi trên xe chờ. Họ để anh trưởng đoàn và cô tổng thư ký ngồi chờ ngoài sân còn tôi thì vào văn phòng làm việc với họ.

– Buổi làm việc diễn ra như thế nào?

– Anh Tạ Xuân Vũ và một sĩ quan công an khác tên là Đạt làm việc với tôi. Anh Tạ Xuân Vũ đã thay đổi hẳn, mới hôm qua anh ta còn nói nhỏ nhẹ từ tốn với tôi qua điện thoại, hôm nay anh ta tỏ ra rất cộc cằn. Chắc anh ta vừa nhận một lệnh mới. Họ đặt những câu hỏi về lý lịch cá nhân và về chuyến đi. Đây là những điều họ đã biết rồi nhưng vẫn hỏi. Ngày và nơi sinh, nghề nghiệp, cha mẹ, anh em, chồng con v.v. Có những câu hỏi rất vô duyên như “chị vào chùa để gặp ai” tôi trả lời là để gặp Phật, hay “chị vào thăm các trường để làm gì?” và tôi trả lời là để thăm các cháu học sinh và các thày cô v.v.

– Theo chị tại sao họ cần hỏi những câu hỏi như thế?

– Theo tôi mục đích của họ là để gây cho tôi cái cảm tưởng mình là người sai phạm đang bị hỏi cung để sau đó họ dễ trấn áp tinh thần khi bắt đầu những câu hỏi thực, nghĩa là những câu hỏi về anh Kiểng.

– Họ hỏi những gì về anh Kiểng?

– Anh Kiểng làm gì trong ngày? Hay đi đâu? Thường gặp những ai? Tôi có biết là Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên phát hành trái phép tờ báo Tổ Quốc ở trong nước không? v.v. Tôi chỉ trả lời qua loa những câu hỏi này. Về những người thường đến gặp anh Kiểng tôi nói là có nhiều người lắm nhưng tôi không thể nêu tên họ ra vì không được phép của họ. Rồi họ nói là Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên chống nhà nước vì chủ trương đa nguyên trong khi nhà nước Việt Nam chủ trương độc đảng và tôi cũng tham gia nấu ăn cho những bữa cơm gây quỹ của THDCĐN như vậy là tôi cũng hoạt động chính trị. Tôi xác nhận là tôi có nấu ăn cho những bữa ăn gây quỹ của THDCĐN và nếu họ nghĩ rằng như thế là làm chính trị thì quả nhiên tôi có làm chính trị, làm chính trị nhiều lắm và sẽ còn tiếp tục làm. Phần sau này khá căng thẳng vì họ xấc xược quá. Họ luôn luôn nhắc đi nhắc lại rằng đất nước này là của họ, họ muốn làm gì cũng được. Sau cùng họ đưa tôi tờ biên bản buổi làm việc. Họ bảo tôi đọc và ký tên. Tôi trả lời là tôi không cần đọc họ muốn viết gì tùy ý và tôi viết vào biên bản rằng “tôi rất không vui vì bị làm phiền”. Lúc đó người chỉ huy mới ra, anh ta đọc biên bản rồi xừng xộ đả kích anh Kiểng là làm chính trị xa lông, không biết gì về thực trạng đất nước v.v. Tôi nói với anh ta rằng nếu thấy anh Kiểng nói sai sự thực sao không tranh luận với anh ấy. Anh ta hùng hổ chỉ tay vào mặt tôi nói rằng tôi cũng tiếp tay cho anh Kiểng chống nhà nước. Tôi nhắc nhở anh ta rằng ở những nước văn minh người ta ăn nói lịch sự, không chỉ tay vào mặt người nói chuyện, nhất là đối với phụ nữ.

– Anh ta tên gì, cấp bậc nào?

– Tôi không biết, anh ta chỉ xưng tên là Minh và mặc thường phục, khoảng ngoài 40 tuổi, chức vụ của anh ta chắc phải cao lắm mới có quyền bắt một công ty du lịch buộc một xe chở du khách đang trên đường đi phải quay lại Sài Gòn. Sau khi tôi đã về Pháp rồi anh ta còn ra lệnh cho các công an tỉnh sách nhiễu đoàn du lịch, khám xét hạch hỏi một số người trong đoàn. Họ còn hăm dọa đoàn là sẽ bị phạt vì làm việc từ thiện bất hợp pháp.

– Chính anh ta ra buộc chị phải rời Việt Nam?

– Đúng thế anh ta nói “đất nước này là của chúng tôi, chúng tôi muốn cho ai đến thì cho, muốn cấm ai ở thì cấm, chúng tôi khuyên chị nên rời Việt Nam ngay đi”. Tôi hỏi lại anh ta như thế có phải là chính quyền trục xuất tôi không, anh ta trả lời rằng anh ta không trục xuất tôi, nhưng anh ta khuyên tôi nên về Pháp ngay vì nếu tôi ở lại an ninh của tôi sẽ không được bảo đảm và đoàn du lịch sẽ không đi đâu được cả. Chiều hôm đó tôi lấy máy bay về Pháp. Sau khi về Pháp tôi được công ty du lịch cho biết rằng chuyện hăm dọa này xảy ra chỉ vì buổi làm việc căng thẳng quá. Nhưng tôi không hề nổi nóng và cũng không nói gì xúc phạm cả. Tôi chỉ không chấp nhận để bị mất thể diện thôi.

– Chị Quì có cảm nghĩ gì sau chuyến đi này?

– Tôi rất buồn. Những người công an quả là một loại người rất đặc biệt. Đáng lẽ công an phải bảo vệ an ninh thì lại gây mất an ninh. Họ không hề nể nang những người làm việc từ thiện giúp đỡ các cháu nghèo khổ, họ làm như được họ cho phép giúp các cháu là một ơn huệ. Họ cũng không ngần ngại gây thiệt hại cho ngành du lịch khi đối xử thô lỗ với du khách. Hình như họ nghĩ chức năng của họ là để làm phiền và làm hại và lấy đó làm vinh dự. Họ gây thiệt hại nhiều lắm cho đất nước. Cách đây không lâu một anh bạn của chồng tôi được một trường đại học mời về dạy. Anh ấy bằng lòng và chấp nhận dạy không lãnh lương, cũng không đòi chi phí vé máy bay và khách sạn. Anh ấy tự lo lấy hết, chỉ dạy học để giúp thanh niên Việt Nam thôi vì anh ấy đã về hưu và có lương hưu khá lớn. Nhưng ngay khi về liền bị công an mời lên làm việc. Họ giữ passport của anh ấy ba ngày liền để thẩm vấn như một người có tội. Họ hạch sách, quát tháo hỏi anh ấy quen anh Kiểng như thế nào, làm gì cho anh Kiểng, biết những ai trong Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên v.v. Rồi sau cùng nói bằng lòng cho anh ấy về Viêt Nam và đề nghị anh ấy làm chỉ điểm cho họ. Tôi thực không thể hiểu họ là loại người gì mà có thể làm như thế. Dĩ nhiên anh này chán ngán và bỏ ý định về Việt Nam dạy học. Thật đáng tiếc vì anh ấy là một chuyên gia lớn.

– Chuyến về Việt Nam lần này như thế là không vui?

– Cũng có những niềm vui. Thí dụ như tôi và các bạn đã tới ăn cơm trưa ở “Quán Cơm 2000″ của hội Người Tôi Cưu Mang (www.nguoitoicuumang.com). Mỗi bữa ăn chỉ có 2000 đồng Việt Nam, nghĩa là chưa tới 10 cent vì một USD đổi ra được hơn 20.000 đồng VN. Quán cơm được tổ chức để giúp đồng bào nghèo có bữa ăn. Chỉ có 2000 đồng một bữa cơm thôi nhưng rất sạch sẽ, lịch sự, tình cảm, cơm ăn đủ no. Các sinh viên phục vụ rất chu đáo và ân cần. Thật là tuyệt vời. Nước ta vẫn còn nhiều hy vọng vì vẫn còn những người tốt. Thật đáng kính phục và đáng được ủng hộ nồng nhiệt.

– Câu hỏi cuối cùng, sau vụ này hội Măng Non và cá nhân chị có còn tiếp tục công tác từ thiện tại Việt Nam nữa không?

– Dĩ nhiên là vẫn tiếp tục. Chúng tôi làm việc cho học sinh sinh viên nghèo ở Việt Nam chứ có làm việc cho công an đâu mà bỏ cuộc vì công an thô bạo? Dĩ nhiên là nhiều bạn Pháp trong chuyến đi này rất thất vọng và không muốn đến Việt Nam nữa trong một thời gian dài, nhưng hoạt động của hội vẫn phải tiếp tục và càng phải tiếp tục mạnh hơn nữa khi đất nước bị quản trị một cách vô lý. Chúng tôi hiện có hơn 400 con nuôi. Hy vọng rằng hè năm tới con số này sẽ là 500 hay nhiều hơn ■

Trọng Khiêm

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

►Tâm sự…:)

Posted by hoangtran204 trên 03/08/2012

:)

Tâm sự một thằng Bựa

Govapha
Anh vừa nhận được email của chú Gõ. Đm, bao nhiêu cái buồn bã âm ỉ đè nén trong lòng anh chú ấy đã nói thay anh hết mẹ, càng đọc lòng càng buồn bực hơn! Anh đ biết phải giả nhời chú ấy ra sao. Chú In có thể đăng lên DL ko? Anh cảm thấy mệt mỏi quá.
                                                                                           ***

Cẩn, mấy ngày nay anh có cảm giác buồn quá. Thế nào chú cũng hỏi thăm tại sao anh buồn? Anh buồn vì niềm tin của anh bị đánh gục. Bấy lâu nay, anh là thằng không bao giờ binh vực những cái sai trái từ lãnh đạo đảng. Nhưng, anh cũng là thằng lên án gay gắt nhất về việc đòi lật đổ chế độ với tính cách bạo động. Vì vậy, anh bị những quan điểm đối lập gán cho một tên gọi là Hồng Vệ Binh (HVB). Anh, với niềm tin là sẽ có một sự thay đổi tốt đẹp từ lãnh đạo trong sự ôn hòa bất bạo động, xã hội vẫn ổn định, đất nước không bị rối loạn. Cái chết tự thiêu của mẹ chị Tạ Phong Tần, anh bị choáng.

Anh từng đánh mất niềm tin một lần, từ thời còn ông Võ Văn Kiệt khi ông ta công khai hóa những đòi hỏi đổi mới của ông. Anh tin sẽ có một cú thay đổi hứa hẹn đầy ngoạn mục sắp xảy ra. Trong giai đoạn tranh giành quyền lực giữa hai phe bảo thủ và đổi mới, anh hy vọng họ sẽ thay đổi với những chính sách đổi mới, Tự Do – Dân Chủ sẽ trở lại, đất nước sẽ thay da đổi thịt. Nhưng khi anh thấy mọi ngành truyền thông đại chúng càng bị kiểm soát chặt chẽ hơn, chế độ Cộng Sản vẫn dậm chân tại chỗ khi kiên định chủ nghĩa Mac-LeNin và tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên trì giữ vững mục tiêu chiến lược cũ. Anh hiểu, tình trạng thì ra Vũ Như Cẩn. À anh quên, có đổi mới đó chứ. Chủ nghĩa cơ hội lên ngôi, phương châm đặc quyền đặc lợi. Không đổi mới sao có nhiều “tư bản đỏ” vậy. Tầng lớp này nhờ địa vị, thế lực, chức vụ làm giàu nhanh chóng. Trong khi người nghèo nhất là nông dân càng bị bóc lột.

 


Tầng lớp này nhờ địa vị, thế lực, chức vụ làm giàu nhanh chóng. Trong khi người nghèo nhất là nông dân càng bị bóc lột 

Khi mạng lưới thông tin qua phương tiện Internet trở nên mạnh mẽ, khơi động sự chú tâm vào mọi vấn đề liên quan tới đất nước dân tộc nhất là tầng lớp trẻ. Cộng thêm sức ảnh hưởng của thời đại càng ngày càng toàn cầu hóa, thường đi kèm những thay đổi sâu xa và đột ngột. Trong anh lại lóe lên ánh lửa niềm tin mới. Nhất là thằng 3 Dũng em anh, một gương mặt mới “có vẻ dân chủ” sẽ cởi mở hơn người tiền nhiệm. Dù hàng ngày đập vào mắt anh, là những sự bắt bớ giam cầm những người đã nói lên những ý kiến xây dựng dân chủ vì đất nước dân tộc, công lý không được tôn trọng, tham nhũng hoành hành, trẻ em đường phố càng đông, người nghèo càng nhiều, đạo đức giáo dục xuống cấp, kinh tế không thể không lo ngại, nhiều nhiều lắm. Còn một sự thật phũ phàng nữa, nguy cơ hiểm họa Bắc thuộc.

 


Trong anh tiềm tàng sự thất vọng, một mặt anh lại bấu víu vào niềm tin đã có, về sự thay đổi tốt đẹp từ chế độ. 

Cẩn ơi, đôi lúc anh mâu thuẫn lắm Cẩn. Trong anh tiềm tàng sự thất vọng, một mặt anh lại bấu víu vào niềm tin đã có, về sự thay đổi tốt đẹp từ chế độ. Anh tin họ rồi phải bãi bỏ bản Hiếp Pháp hiện hành, trở thành một chế độ thực sự dân chủ. Bên cạnh, anh càng mừng thêm khi thấy người dân bắt đầu biết cưỡng kháng lại sự sai trái do nhà cầm quyền ban hành, tất nhiên họ sẽ thẳng tay đàn áp. Nhưng anh tin, nếu cứ tùy tiện độc đoán bức hiếp gây khó khăn cho dân thì sẽ có thêm nhiều người dân cưỡng kháng. Số nhiều đồng lòng cưỡng kháng này có khả năng làm chính quyền phải chùn tay. Sự cưỡng kháng cái sai để đòi hỏi quyền lợi chính đáng là đã có ý thức về quyền tự do cơ bản của con người. Khi dân chúng phẫn nộ, đây là sức mạnh không có võ lực nào ngăn chận được. Phải tự thay đổi trước khi chọc giận dân nổi loạn. Họ sẽ thay đổi phải không Cẩn?

Thằng 3 Dũng càng ngày càng tệ vì anh thấy thiên hạ chửi hắn quá xá, nhưng anh không nản lòng, anh bảo vệ niềm tin của anh. Anh không muốn công nhận một điều, là anh sai rồi. Anh thấy chính quyền tỏ thái độ khuất phục trước sự trịch thượng của Trung Cộng khi họ thẳng tay bắt giữ một số người bởi vì những người dân này đã có mặt tại những cuộc biểu tình nhằm phản đối hành động xâm chiếm chủ quyền của Trung Quốc trên các hải đảo của ta. Dân chúng biểu tình là sự cần thiết, là câu trả lời quyết liệt vào mặt chính quyền nói riêng và Trung Cộng nói chung. Chính quyền không dám chống đối, nếu có chỉ phản đối chiếu lệ y như đang diễn trò, nhưng người dân Việt từ nghìn xưa đến nay không sợ Tầu bao giờ. Đm, sao không sửa đổi Hiến Pháp trả lại chủ quyền cho nhân dân đi, phải để nhân dân có quyền thay thế kẻ cai trị mình qua một cuộc bầu cử tự do, trung thực. Thằng chó nào làm tay sai cho Trung Cộng thì đá đi chỗ khác. Tại sao cứ muốn dân tộc chịu sự khống chế của Trung Cộng, cái gì mà đảng lãnh đạo nhà nước quản lý, đm như c. Đấy, chú Cẩn nhìn thấy chưa, dân Trung Quốc hiện diện ở nước mình càng ngày càng nhiều, chính sách “trồng người” thâm hiểm đấy chú ơi, chúng tạo cơ sở thế lực sẵn đấy. Khi hữu sự, sẽ có những “đạo quân nội ứng” này tiếp tay. Ngoài, trong kiểu này khiếp chưa?

 


Trên đời không gì trọng bằng tánh mạng phải không Cẩn, thế chính quyền này đã làm gì để khiến một người đàn bà đã có tuổi phải tự thiêu vì tuyệt vọng, dùng cái chết để phản đối? 

Cái chết của Mẹ chị Tần khiến niềm tin của anh bị đánh gục, nếu chế độ tàn ác không chịu thay đổi ôn hòa thì sao hả Cẩn, sẽ xảy ra bạo loạn kiểu cách mạng hoa hòe hả? Cậy quyền cậy thế hà hiếp dân lành đã là sai rồi, phạm đến thân thể, cướp của cải và đoạt mất quyền tự do của dân lành cũng sai nốt luôn. Trên đời không gì trọng bằng tánh mạng phải không Cẩn, thế chính quyền này đã làm gì để khiến một người đàn bà đã có tuổi phải tự thiêu vì tuyệt vọng, dùng cái chết để phản đối? Cẩn ơi, bấy lâu nay có phải anh vô tình cũng đang gián tiếp bảo vệ cái xấu phải không Cẩn? Anh trông chờ gì vậy hả Cẩn, cho thế hệ hôm nay và những thế hệ mai này? Thay đổi đâu anh chưa thấy, chỉ thấy chế độ càng tệ hơn. Anh trách nhiệm với những gì anh viết ra, và anh vật vã với chính lương tâm anh. Khi mồ hôi, nước mắt, tù đày, và cái chết không đơn giản là chuyện chữ nghĩa nữa mà đó là chuyện của đất nước dân tộc. Niềm tin ôi niềm tin, niềm tin bỏng rát trái tim.

Ly cà phê sáng nay đắng lạ thường dù anh tỉ tê với chú xong thấy lòng dịu lại được chút. Anh đã để trôi qua một thời tuổi trẻ hoang đàng không mục đích, tới giờ thì cũng không mục đích và cứ hoang đàng. Anh kéo lê đời ngày qua ngày với tương lai bất định. Đời anh thất bại mà cứ không chịu bỏ cuộc chơi vì cái hoàn cảnh đất nước dân tộc lưu chuyển dồn dập xoay quanh anh. Anh như thằng bé chơi mải mê trong trò chơi riêng mình với tên gọi niềm tin, một niềm tin lạc quan nhất do anh nghĩ ra. Anh sai rồi phải không Cẩn? Chú có biết anh mơ ước điều gì không? Anh ước chi anh tìm được vài người bạn thuộc loại tri kỷ dám sống chết cho nhau thì tụi anh sẽ lập thành một nhóm hoạt động ngầm, trang bị đồ nghề tận răng. Khi mà công lý không được tôn trọng thì cần có những giải pháp khác để giải quyết. Tụi anh sẽ đi cướp của những nhà giàu tham nhũng để cứu giúp người nghèo, còn tụi quan quyền nào ác với dân thì tới đêm tụi anh sẽ đi khủng bố cho tụi nó sợ té đái để bỏ tật hà hiếp dân. Cảnh cáo không nghe thì lần sau anh cắt mẹ cu cho làm thái giám luôn. Anh thích kiểu hoạt động giang hồ vậy thôi, hợp với anh hơn. Trong nhóm của anh nhất định phải có một nữ, còn phải là người đẹp dùng để dụ mấy tư bản đỏ vô tròng. Anh biết đọc tới đây thế nào chú cũng chửi anh, đm thằng gõ này coi phim nhiều quá nhiễm nặng rồi. đm, thằng nào chửi anh đó nha.

nguon: danluan.org

Posted in Chinh Tri Xa Hoi | Leave a Comment »

►Nói ngược lại ý của nhà nước sẽ bị khép vào tội danh tuyên truyền chống phá chế độ

Posted by hoangtran204 trên 03/08/2012

 

Tháng 8 buồn

Theo blog Người Buôn Gió

Tháng 8 năm ngoái xử phúc thẩm anh Vũ. Chính quyền chặn các ngả đường vào toà án trong một phiên xử mà họ gọi là xử công khai. Tiến sĩ luật Cù Huy Hà Vũ bị kết án bởi nhà nước CHXHCN Việt Nam bởi tội danh tuyên truyền chống lại nhà nước này.

Đây là một nhà nước bị nhiều người dân chính nước đó nói xấu nhiều. Bởi vậy nên số lượng người bị nhà nước này bắt tù vì tội nói xấu năm nào cũng có. Chưa có thống kê nào trên thế giới để xác định xem theo bình quân đầu người thì nhà nước nào bắt bỏ tù nhiều người nhất vì tội phê phán nhà nước đó. Dù chưa có thống kê thì cũng biết nhà nước CHXHCNVN không phải là nhỏ bé trong những vấn đề dạng này.

Ngay sau phiên xử tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ, một loạt sinh viên thanh niên Công Giáo bị bắt vì tội tuyên truyền chống và hoạt động lật đổ nhà nước này. Đó là lý do nhà nước đưa ra khi bắt những thanh niên trẻ này. Về phía họ thì đã một năm trôi qua chưa có lời thanh minh nào bởi luật nhà nước VN không cho họ tiếp xúc với luật sư khi chưa kết thúc điều tra.

Tháng 8 năm nay cũng là lúc nhà nước CHXHCNVN mang 3 blogger phía Nam ra xét xử vì tội tuyên truyền (nói xấu) chống phá nhà nước.

Tháng 8 năm nay điện, xăng, ga, thực phẩm tăng giá. Từ khi những người tuyên truyền nói xấu nhà nước CHXHCNVN kia bị bắt đến nay. Giá cả vẫn leo theo, các công ty, doanh nghiệp thi nhau phá sản, bao nhiêu người thất nghiệp, lãi suất gửi ngân hàng có lúc đến 18%. Các doanh nghiệp của nhà nước này vỡ nợ hàng chục nghìn tỉ đồng. Nông dân mất đất đi khiếu kiện là hình ảnh đáng thương nhưng quen thuộc tại thủ đô… Chủ quyền lãnh thổ liên tục bị xâm hại nghiêm trọng bởi ngoại bang đang là anh em hữu nghị. Những điều này hiển nhiên là sự thật mà chính báo chí nhà nước này đề cập đến hàng ngày, hàng giờ.

Nói về hiện tượng ấy rồi kết luận là do nguyên nhân khách quan đưa lại thì không sao. Nếu kết luận đó là do yếu kém của Đảng, Nhà Nước, Chính Phủ này thì đó là tội tuyên truyền chống phá chế độ ngay lập tức. Có nhiều tổng cục an ninh được dựng lên để xử lý nhanh chóng các đối tượng như vậy.

Ví dụ khi nói về đập sông Gianh nứt, phải có ngay lý do như tại động đất.

Lạm phát gia tăng, thất nghiệp, phá sản là do suy thoái kính tế toàn cầu.

Ngoại bang xâm lược chủ quyền thì là do nhiều nguyên nhân của lịch sử.

Nhà báo bị công an đánh thì là do tưởng đó là dân.

Dân tự thiêu là có vấn đề về thần kinh bột phát.

Dân đặt bom nhà cán bộ là âm mưu, toan tính.

Tội phạm cướp, hiếp, giết trẻ con là do sự giáo dục của gia đình.

Những ví dụ trên là công thức cho người dân Việt Nam khi muốn thể hiện quyền tự do ngôn luận. Cứ theo đó mà nói thì không bao giờ sợ bị phạm tội tuyên truyền chống phá nhà nước cả. Nếu cao thủ hơn thì lại lấy những nguyên nhân ấy ra để thông cảm với chính quyền kiểu như: Dù khó khăn như vậy mà Đảng và Nhà Nước, Chính Phủ vẫn phải đối mặt, tháo gỡ, có biện pháp để hạn chế, ổn định xã hội… sẽ trở thành công dân yêu nước, công dân gương mẫu.

Tháng 8 thật buồn cho mình.

Cù Huy Hà Vũ, Paulus Lê Sơn, Maria Tạ Phong Tần, Ba Sài Gòn, Hải Điếu Cày đều là những anh chị em quen biết thân thuộc. Chỉ vì họ nhận ra cái không tốt, cái xấu trong xã hội nhưng không chịu nhìn nhận theo cái nhìn của nhà nước mà trở thành tội tuyên truyền chống phá nhà nước.

Giá như họ đưa ra sự việc rồi kết luận đó là tại từ trường của mặt trăng mà đất nước Việt Nam này lắm tai ương như vậy. Ví dụ anh Cù Huy Hà Vũ nói rằng. Sau khi quan sát thấy những hiện tượng bất công trong xã hội Việt Nam ngày nay, bằng kinh nghiệm và kiến thức của tiến sĩ luật, tôi cho rằng nguyên nhân tại lòng đất Việt Nam đang bị một luồng khí tạo ra bởi từ trường của sóng thần cộng hưởng bởi ánh sáng mặt trời đi qua khí quyển bị tán xạ bởi khói của nhà máy…

Thì có lẽ giờ này anh Vũ đang ngồi kề cà vẽ chân dung cho một danh nhân nào đó. Chị Tần, Paul Sơn đang dự lễ nhà thờ. Còn anh Ba và anh Điếu cày đang ngồi nhậu ở ven sông Sài Gòn.

Nhưng dù thế nào thì trái đất vẫn hình tròn, trái đất vẫn quay.

Tháng 8 buồn, nhưng cảm phục những người anh chị em vô cùng. Thật may mắn được làm quen với những người như anh chị em. Đó là niềm tự hào mà anh chị em đã để lại cho bạn bè, anh em đang còn tạm ở bên ngoài song sắt.

Posted in Tự Do ngôn Luận, Trại Tù | Leave a Comment »

►TT Obama đã ký một mật lệnh vào đầu năm nay cho phép hổ trợ quân nổi dậy người Syria để lật đổ TT Bashar al-Assad

Posted by hoangtran204 trên 02/08/2012

So sánh sự can thiệp của Mỹ vào Syria năm 2012  với sự can thiệp giữa Mỹ vào Miền Nam Việt Nam năm 1963. 

1963

TT Kennedy đã bổ nhiệm Lodge vào chức vụ Đại Sứ Mỹ ở Miền Nam Việt Nam, Lodge giữ chức vụ này từ 1963 đến 1964. Viên đại sứ mới  nhậm chức  nhanh chóng xác định rằng TT Ngô Đình Diệm vừa tham nhũng vừa không có khả năng, và rằng Miền Nam VN đang hướng tới hiểm nguy trừ phi TT Diệm cải tổ chính phủ hoặc phải thay thế (đảo chánh) Diệm.[13]

Cuộc đảo chánh đã lật đổ được chính quyền TT Diệm, châm ngòi cho sự thành công nhanh chóng của các nhà lãnh đạo khác ở miền Nam, mỗi chính phủ kế đó lại không có khả năng mang lại trật tự và đoàn kết người dân, và mỗi chính phủ mới lên, lại bị lật đổ bởi một chính phủ mới khác. Việc lật đổ TT Diệm đã gây ra nhiều bất ổn định chính trị ở Miền Nam, kể từ đó không có chính quyền nào đủ mạnh để lèo lái đất nước này ( ý nói trong thời gian 1963-1965), sự xâm nhập của Việt Cộng vào các vùng quê Miền Nam đã gia tăng và nhiều cuộc tấn công vào Miền Nam cũng nhiều hơn.

Sau khi hổ trợ cuộc đảo chánh TT Diệm, đại sứ Cabot Lodge đã nhận ra rằng tình hình an ninh ở Miền Nam đã suy giảm, và ông đã đề nghị với Bộ Ngoại Giao Mỹ rằng Miền Nam VN nên bỏ bớt sự độc lập của họ, và Hoa Kỳ nên bảo trợ cho Miền Nam (giống như tình trạng của Phi Luật Tân) để mang lại sự ổn định cho chính quyền. Các phương pháp thay thế khác, hoặc là gia tăng sự hiện diện của quân đội Mỹ ở VN, hoặc Mỹ phải hoàn toàn bỏ rơi Miền Nam.[14]

“Kennedy appointed Lodge to the position of Ambassador to South Vietnam, which he held from 1963 to 1964. The new ambassador quickly determined thaNgo Dinh Diem, President of the Republic of Vietnam, was both inept and corrupt, and that South Vietnam was headed for disaster unless Diem either reformed his administration or was replaced.[13] While the coup toppled the Diem government, it sparked a rapid succession of leaders in Vietnam, each unable to rally and unify their people, and each in turn overthrown by someone new. Removal of Diem caused more political instability in the South, since no strong, centralized and permanent government was in place to govern the nation, not to mention an increase in Viet Cong infiltration into the Southern populace and more attacks in the South. After supporting the coup of President Diem, Lodge then realized that the situation in the region deteriorated, and he suggested to the State Department that South Vietnam be made to relinquish its independence, and it be made a protectorate of the United States (like the former status of the Philippines) so as to bring governmental stability. The alternatives, he warned, were either increased military involvement by the U.S., or else total abandonment of South Vietnam by America.[14]

2012

“Nguồn tin của hảng Reuter từ Washington- 1 thang 8, 2012

TT Obama đã ký một mật lệnh cho phép hổ trợ quân nổi dậy người Syria để lật đổ TT Bashar al-Assad và chính phủ của ông ta, nhiều nguồn tin thân cận với vấn đề này cho biết.

Lệnh của Obama, đã phê duyệt vào đầu năm nay và được biết như là một hoạt động tình báo, cho phép cơ quan tình báo CIA và các cơ quan khác của Mỹ cung cấp sự hổ trợ để giúp đỡ quân nổi dậy lật đổ TT Assad…”

 

Obama authorizes secret support for Syrian rebels

By Mark Hosenball | Reuters   

Aug 01, 2012

WASHINGTON (Reuters) – President Barack Obama has signed a secret order authorizing U.S. support for rebels seeking to depose Syrian President Bashar al-Assad and his government, sources familiar with the matter said.

Obama’s order, approved earlier this year and known as an intelligence “finding,” broadly permits the CIA and other U.S. agencies to provide support that could help the rebels oust Assad.

This and other developments signal a shift toward growing, albeit still circumscribed, support for Assad’s armed opponents – a shift that intensified following last month’s failure of the U.N. Security Council to agree on tougher sanctions against the Damascus government.

The White House is for now apparently stopping short of giving the rebels lethal weapons, even as some U.S. allies do just that.

But U.S. and European officials have said that there have been noticeable improvements in the coherence and effectiveness of Syrian rebel groups in the past few weeks. That represents a significant change in assessments of the rebels by Western officials, who previously characterized Assad’s opponents as a disorganized, almost chaotic, rabble.

Precisely when Obama signed the secret intelligence authorization, an action not previously reported, could not be determined.

The full extent of clandestine support that agencies like the CIA might be providing also is unclear.

White House spokesman Tommy Vietor declined comment.

‘NERVE CENTER’

A U.S. government source acknowledged that under provisions of the presidential finding, the United States was collaborating with a secret command center operated by Turkey and its allies.

Last week, Reuters reported that, along with Saudi Arabia and Qatar, Turkey had established a secret base near the Syrian border to help direct vital military and communications support to Assad’s opponents.

This “nerve center” is in Adana, a city in southern Turkey about 60 miles from the Syrian border, which is also home to Incirlik, a U.S. air base where U.S. military and intelligence agencies maintain a substantial presence.

Turkey’s moderate Islamist government has been demanding Assad’s departure with growing vehemence. Turkish authorities are said by current and former U.S. government officials to be increasingly involved in providing Syrian rebels with training and possibly equipment.

European government sources said wealthy families in Saudi Arabia and Qatar were providing significant financing to the rebels. Senior officials of the Saudi and Qatari governments have publicly called for Assad’s departure.

On Tuesday, NBC News reported that the Free Syrian Army had obtained nearly two dozen surface-to-air missiles, weapons that could be used against Assad’s helicopters and fixed-wing aircraft. Syrian government armed forces have employed such air power more extensively in recent days.

NBC said the shoulder-fired missiles, also known as MANPADs, had been delivered to the rebels via Turkey.

On Wednesday, however, Bassam al-Dada, a political adviser to the Free Syrian Army, denied the NBC report, telling the Arabic-language TV network Al-Arabiya that the group had “not obtained any such weapons at all.” U.S. government sources said they could not confirm the MANPADs deliveries, but could not rule them out either.

Current and former U.S. and European officials previously said that weapons supplies, which were being organized and financed by Qatar and Saudi Arabia, were largely limited to guns and a limited number of anti-tank weapons, such as bazookas.

Indications are that U.S. agencies have not been involved in providing weapons to Assad’s opponents. In order to do so, Obama would have to approve a supplement, known as a “memorandum of notification, to his initial broad intelligence finding.

Further such memoranda would have to be signed by Obama to authorize other specific clandestine operations to support Syrian rebels.

Reuters first reported last week that the White House had crafted a directive authorizing greater U.S. covert assistance to Syrian rebels. It was unclear at that time whether Obama had signed it.

OVERT SUPPORT

Separately from the president’s secret order, the Obama administration has stated publicly that it is providing some backing for Assad’s opponents.

The State Department said on Wednesday the U.S. government had set aside a total of $25 million for “non-lethal” assistance to the Syrian opposition. A U.S. official said that was mostly for communications equipment, including encrypted radios.

The State Department also says the United States has set aside $64 million in humanitarian assistance for the Syrian people, including contributions to the World Food Program, the International Committee of the Red Cross and other aid agencies.

Also on Wednesday, the U.S. Treasury confirmed it had granted authorization to the Syrian Support Group, Washington representative of one of the most active rebel factions, the Free Syrian Army, to conduct financial transactions on the rebel group’s behalf. The authorization was first reported on Friday by Al-Monitor, a Middle East news and commentary website.

Last year, when rebels began organizing themselves to challenge the rule of Libyan leader Muammar Gaddafi, Obama also signed an initial “finding” broadly authorizing secret U.S. backing for them. But the president moved cautiously in authorizing specific measures to support them.

Some U.S. lawmakers, such as Republican Senators John McCain and Lindsey Graham, have criticized Obama for moving too slowly to assist the rebels and have suggested the U.S. government become directly involved in arming Assad’s opponents.

Other lawmakers have suggested caution, saying too little is known about the many rebel groups.

Recent news reports from the region have suggested that the influence and numbers of Islamist militants, some of them connected to al Qaeda or its affiliates, have been growing among Assad’s opponents.

U.S. and European officials say that, so far, intelligence agencies do not believe the militants’ role in the anti-Assad opposition is dominant.

While U.S. and allied government experts believe that the Syrian rebels have been making some progress against Assad’s forces lately, most believe the conflict is nowhere near resolution, and could go on for years.

(Additional reporting by Tabassum Zakaria and Arshad Mohammed; Editing by Warren Strobel and Peter Cooney)

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

►Quyền tự do báo chí: từ 1954 đến 2012 bị đảng ngăn cấm và chiếm đoạt, nhưng các blogger VN đã đứng lên dành lại quyền này trên mạng internet từ 2005, và đang trên đà chiến thắng

Posted by hoangtran204 trên 01/08/2012

 

Những bước đi lùi

Tuong Nang Tien

http://www.danchimviet.info/archives/62650

“Đã qua rồi cái thời người dân chỉ được biết những gì nhà cầm quyền muốn cho họ biết, và không được biết những gì nhà cầm quyền muốn bưng bít, giấu nhẹm bằng cách quản lý chặt chẽ toàn bộ hệ thống báo chí trong nước…”

Tạ Phong Tần (Thành Viên Câu Lạc Bộ Nhà Báo Tự Do)

Lâu rồi, có bữa, tôi nghe nhà văn Vũ Thư Hiên (bùi ngùi) nhắc lại một kỷ niệm buồn ở Bất Bạt – Sơn Tây:

“Nơi tôi được đưa đến là một trại giam quân đội… Trên cái bàn gỗ mộc bụi bặm và mốc thếch lăn lóc mấy tờ Quân Đội Nhân dân nhàu nát. Tôi vồ lấy chúng, đọc ngấu nghiến để rồi thừ ra, thất vọng – tin tức trong báo chả nói với tôi điều gì mới.

“Thời gian không đứng về phía chúng tôi. Những tờ báo giống y như những tờ này tôi đọc hàng ngày, một năm trước. Chúng sẽ giống như thế một năm sau, hoặc nhiều năm sau. Thế giới đã mắc bệnh bại liệt...Ngoài kia vẫn là đêm tối, chưa có gì hứa hẹn bình minh. Mà bây giờ đã là mùa hè năm 1969.

(Vũ Thư Hiên, Đêm Giữa Ban Ngày. California:Văn Nghệ, 1997).

Nhà báo tự do và blogger Tạ Phong Tần một ngày trước khi bị bắt đã tham dự khóa huấn luyện về kỹ năng truyền tông Công Giáo ở Dòng Chúa Cứu Thế Sài Gòn. (Hình: chuacuuthe.com)

Khoảng thời gian mà Vũ Thư Hiên vồ vập và đọc ngấu nghiến mấy tờ báo Quân Đội Nhân Dân (rồi “thất vọng” và than rằng ““Thời gian không đứng về phía chúng tôi) thì một công dân Việt Nam khác vừa mở mắt chào đời. Bà sinh ngày 15 tháng 9 năm 1968. Bốn mươi năm sau, với tư cách là một thành viên của Câu Lạc Bộ Nhà Báo Tự Do, blogger Tạ Phong Tần đã dõng dạc tuyên bố:

“Đã qua rồi cái thời người dân chỉ được biết những gì nhà cầm quyền muốn cho họ biết, và không được biết những gì nhà cầm quyền muốn bưng bít, giấu nhẹm bằng cách quản lý chặt chẽ toàn bộ hệ thống báo chí trong nước…”

Khi bạn đưa thông tin lên blog của bạn, tức bạn đã đem sự hiểu biết của bạn truyền tải cho người khác để mọi người cùng được biết, qua đó, mọi người cùng bàn luận, cùng kiểm tra xem, dùng quyền công dân của mình đòi hỏi công chức Nhà nước phải thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn mà luật pháp quy định.”

“Có thể sự hiểu biết của bạn chỉ là một phần nhỏ nào đó trong đời sống xã hội, nhưng nhiều người góp lại sẽ tạo nên một bức tranh hiện thực xã hội hoàn chỉnh. Khi tự mình làm một nhà báo công dân, chính bạn đã góp phần công khai, minh bạch hóa xã hội, cùng chung sức xây dựng một xã hội dân sự cho đất nước chúng ta.”

Quan niệm đúng đắn và tích cực vừa nêu, tiếc thay, đã không được chia sẻ bởi những kẻ đang nắm quyền lực ở Việt Nam. Vốn đa nghi, và trí trá, giới người này có khuynh hướng xem blog (nói riêng) và web (nói chung) chỉ là “âm mưu của những con nhện” – những kẻ đang âm mưu “diễn biến hoà bình” – cần phải được theo dõi và kiểm soát, nếu được.

Tất nhiên là không thể được. Tầu còn bó tay thì nói chi ta. Chuyện quản lý internet ở nước bạn (“bốn tốt”) láng giềng, được giáo sư giáo sư Cao Huy Thuần tóm gọn, như sau: “80 muơi triệu con chuột thì mèo đâu ra mà bắt cho hết.”

Nhà nước Trung Hoa vĩ đại đã từng thành công mỹ mãn trong việc huy động dân chúng tiêu diệt vài tỉ con chim (sẻ) mà nay đang loay hoay không biết đối phó ra sao với mấy chục triệu con chuột (điện). Quyết tâm của họ, xem chừng, hơi thấp. Quyết tâm của ta, xem ra, cũng… không cao gì cho lắm!

Báo Công An Nhân Dân, số ra ngày 5 tháng 10 năm 2007, đã mô tả blog như là một thứ “hệ lụy” và “quản lý blog” là chuyện … buộc cẳng chim trời:

“Theo ước tính từ Bộ Thông tin và Truyền thông, có khoảng 3 triệu blog tại Việt Nam. Và mỗi ngày có hàng chục ngàn blog mới được khai sinh và việc một người sử dụng nhiều blog với những mục đích khác nhau là hoàn toàn có thể. Đã có những phát sinh và hệ lụy từ blog…”

“Tuy nhiên, liệu có quản lý được không? Quản lý một blog mà danh tính của nó có thể thay đổi trong chớp mắt và những thông tin hiển thị không thực sự chính xác thì đó là cách buộc cẳng chim trời. Hầu hết các blog đều là dịch vụ của một nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài, vì vậy việc quản lý sẽ càng trở nên nan giải hơn…”

“Trong bộn bề của những ngày bắt đầu Bộ Thông tin và Truyền thông, trong rất nhiều những vấn đề cần giải quyết và đưa ra những hướng dẫn cụ thể, đưa ra việc quản lý blog với những quy chế hướng dẫn cụ thể là điều chưa khả thi.”

Ủa, nói vậy thì chừng nào chuyện “quản lý blog” mới “khả thi” đây – mấy cha?

Câu trả lời tìm được vào gần một năm sau, khi Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng ký Nghị Định 97/2008/NĐ-CP – về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ internet và thông tin điện tử trên internet – vào ngày 28 tháng 8 năm 2008. Theo đó: Tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm các quy định của Nghị định này thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.

Hơn năm năm đã trôi qua, với thời gian số chuột ở nước ta – xem ra –  có vẻ mỗi lúc một tăng gia, chứ không hề giảm. Ta không có tới tám mươi triệu con chuột (như Tầu) nhưng tính rẻ cũng cỡ đâu chừng… bốn triệu! Mèo đâu ra mà bắt cho hết, hả Trời?

CAM (công an mạng) lại không thể đào tạo dễ dàng như mấy ông bạn đồng nghiệp, bên ngành giao thông. Loại sau, khỏi cần huấn luyện, cứ quăng ra đường là tụi nó xông xáo đi ghi giấy phạt để… kiếm (them) chút cháo. Chớ còn rình bắt chuột (điện) thì đòi hỏi cần phải có nghiệp vụ khá cao mà lại chả được ăn cái… giải (rút) gì, ngoài số tiền lương… chết đói.

Bắt không hết thì đành dọa xuông thôi, kiểu như nông dân  đặt mấy thằng bù nhìn trên những cánh đồng để hù đám chim trời vậy mà. Thử nghe lời ông Tom Cat – một vị quần chúng tự phát, trong thế giới internet – vừa đe những blogger ở Việt Nam, trên trang Dân Luận:

Anh Bùi Thanh Hiếu thân mến, có lẽ tôi không phải trình bày dài dòng với anh như với tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ, bởi vì những hoạt dộng của anh không vang tới Bộ Chính Trị như tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ, nhưng ở mức độ thấp hơn, anh có 3 hoạt động khiến những người làm an nình và bảo vệ tư tưởng văn hóa đặc biệt khó chịu: đó là cổ vũ cho các hoạt đống chống đối ở Thái Hà, tham gia tích cực biểu tình, viết tập truyện Đại Vệ Chí Dị. Tôi xin mạn phép cảnh báo anh Hiếu là đã có quyết định chính thức của cơ quan chức năng để vô hiệu hóa anh. Tôi rất lấy làm tiếc về điều này, và thật sự tôi hy vọng với những dòng cảnh báo này anh sẽ chấm dứt hoàn toàn 3 hoạt dộng chống đối trên, như vậy thì cơ quan Công An có thể sẽ tha cho anh, tôi thật sự không muốn anh vào tù và bé Tí Hớn của anh thiếu vắng sự dạy bảo của người cha, rất mong anh suy nghĩ.

Trân trọng

Tom Cat

P/S: Tom Cat xin cảnh báo 2 người nữa cũng đang có nguy cơ rất cao bị vô hiệu hóa đó là ông Nguyễn Hữu Vinh và ông Nguyễn Xuân Diện, xin hai ông biết rằng chính quyền đã hết kiên nhẫn với hai ông khi sự kiện tàu Bình Minh 02 đã trôi qua 7 tháng mà các ông vẫn muốn restart các cuộc biểu tình nhằm mục đích gây rối. Nếu chỉ cần kích động thêm 1 lần biểu tình nữa thì hai ông sẽ bị vô hiệu hóa triệt để. Xin thật lòng cảnh báo.

Mà “vô hiệu hoá” và “vô hiệu hoá triệt để” khác nhau làm sao vậy cà? Một đằng là vô tù; còn đằng khác (chắc) là vô nghĩa địa, sau khi (cho) xe đụng chết luôn hay sao? Đằng nào thì nghe cũng ghê thấy mẹ luôn. Tuy thế, qúi ông Bùi Thanh Hiếu, Nguyễn Xuân Diện, Nguyễn Hữu Vinh (dường như) đều bị nặng tai nên mọi lời đe doạ của quần chúng tự phát –Tom Cat –  kể  như nước đổ lá khoai!

Thế là Nhà Nước lại phải có biện pháp mạnh (hơn) theo như tin nghe được từ RFI, vào hôm 06 tháng 4 năm 2012:

Tại buổi hội thảo hôm thứ Sáu vừa qua, thứ trưởng Thông tin và Truyền thông Đỗ Quý Doãn đã tuyên bố rằng, các văn bản pháp luật trong lĩnh vực Internet không còn phù hợp nữa, cho nên cần phải bổ sung, sửa đổi, hoàn thiện các chế tài, nhằm tạo hành lang pháp lý cho sự phát triển bền vững của Internetở Việt Nam. Nói cách khác, dự thảo nghị định mới đi xa hơn trong việc kiểm soát thông tin trên Internet ở Việt Nam.”

Nghe mà thấy thương quá sức, muốn ứa nước mắt luôn:”các văn bản pháp luật trong lĩnh vực Internet không còn phù hợp nữa, cho nên cần phải bổ sung, sửa đổi, hoàn thiện các chế tài.”

Thời gian, rõ ràng, đã đứng về phía khác –  phía của ông Vũ Thư Hiên và mọi người dân Việt, trong cũng như ngoài nước. Buộc cẳng chim trời hay buộc chỉ chân voi đều là những chuyện (rất) khó thành công.

– Ủa, không thành công thì thành nhân chớ có mất mát gì đâu mà sợ?

– Sợ chớ, theo luật tiến hoá thì đi tới mới có hy vọng thành nhân. Còn cố kìm giữ cả một dân tộc trong tăm tối, dốt nát và nghèo đói… là bước lùi. Bước lui thì chỉ có thể thành dã nhân thôi! Thì tui cũng tiện mịêng mà nói chơi cho vui vậy, chớ đừng có lo chuyện những người đang cầm quyền ở VN có thể biến cả  dân tộc này thành … vượn. Khoảng cách mà họ có thể tiếp tục bước lùi cũng chả còn được bao xa và bao lâu nữa đâu. Chắc chắn là không thể lâu như bản án hàng chục năm tù mà họ sắp áp đặt lên cuộc đời của những thành viên của Câu Lạc Bộ Nhà Báo Tự Do, trong đó có Tạ Phong Tần (*). Gió đã chuyển rồi!

© Tưởng Năng Tiến

—————————————–

(*) Xin đón đọc Tuyển Tập Tạ Phong Tần, do tuần báo Trẻ Dallas, Texas xuất bản. Độc giả có thể đặt mua ngay từ bây giờ qua địa chỉ sau:

Toà soạn báo Trẻ

3202 N. Shiloh Rd., Garland, TX 75044.

ĐT: 972-675-4383/ Email: tusachtreusa@gmail.com

Posted in Tự Do ngôn Luận | Leave a Comment »