Trần Hoàng Blog

Archive for Tháng Ba, 2013

►Thức tỉnh ý thức công dân

Posted by hoangtran204 trên 29/03/2013

Những nhà thơ, nhạc sĩ, văn sĩ thường có những xúc cảm mạnh mẻ  và thường là đi trước thời đại.

Nhiều tác phẩm của họ  là kết quả của sự xúc cảm mạnh mẻ, trải qua sự thai nghén lâu dài trong tiềm thức, và sự  suy nghĩ chín mùi.  Các yếu tố hay nhân tố  bên ngoài chỉ làm tác động như một giọt nước cuối cùng làm tràn ly.

Nổi bật nhất trong thời gian vài năm qua là nhạc sĩ Việt Khang và nhà báo kiêm nhà thơ Nguyễn Đắc Kiên.

Nhà báo-công dân và những vần thơ thức tỉnh

Nguyễn Đức Kiên

Nguyễn Đắc Kiên là một nhà báo trẻ làm việc trong tòa soạn báo Gia đình và Xã hội do Bộ Y tế chủ quản.

Anh là nhà báo có tư cách công dân, am hiểu sứ mạng xã hội của báo chí, quyền tự do của nhà báo có công tâm, từng tham gia một số cuộc xuống đường chống bọn bành trướng Trung Quốc.

Giới báo chí dù là lề phải, lề trái, hay bloger tự do, dù chuyên làm tin hay viết phóng sự đều bị ngành công an văn hóa – báo chí theo dõi ngặt nghèo. Việt Nam hiện được xem là nơi các nhà báo bị đối xử tàn tệ nhất, có nhiều nhà báo bị tù nhất, cũng là nước thù địch với internet nhất.

Vì thế mà nhà thơ kiêm nhà báo Nguyễn Đắc Kiên luôn khát khao tự do cháy bỏng, đau lòng thấy bóng tối mịt mùng của lừa mỵ dối lừa kéo dài như bóng đêm hãi hùng vô tận, từ khi thành lập đảng CS năm 1930, rồi từ khi đảng cướp được chính quyền tháng 8 năm 1945 đến nay. Trong bài thơ “Vì người ta cần ánh mặt trời,” anh viết:

Bao thế hệ xiết rên trong gọng kìm nô lệ
Chuyên chế dã man đục ruỗng chí con Người
Cha tôi, ông tôi, bao thế hệ bị ngủ vùi
Tôi chưa thấy một đêm nào dài thế
Không ánh mặt trời, bóng tối chí tôn
Lũ quỷ ám thừa cơ toàn trị

Khủng bố dã man reo rắc những kinh hoàng
Biến lẽ sống thành châm ngôn “mày phải sợ”
Mày phải sợ, mày ơi, mày phải sợ
Sợ nữa đi, có sợ mãi được không
Cốt tủy mục ruỗng rồi, trí óc cũng tối đen
Mày lại đẻ ra lũ cháu con “biết sợ”
Bao thế hệ đã ngậm ngùi mắc nợ
Lũ chúng ta lẽ nào lại mắc nợ mai sau
Còn chần chừ gì mà không tỉnh dậy mau
Sống cho xứng danh xứng con người trên mặt đất

Tôi chưa thấy một đêm nào dài thế
Cũng chưa thấy ngày mai nào không thế
Vì người ta cần ánh mặt trời
Tỉnh dậy đi lũ chúng ta ơi !

Nhà thơ kêu gọi mọi người hãy “tỉnh dậy, tỉnh dậy đi, lũ chúng ta ơi! Đừng sợ nữa!”. Dù có phải vào tù cũng không sợ, lại càng hay, càng vinh dự, vì trong nhà tù Cộng sản lúc này bị kết tội “có âm mưu lật đổ” hay “gây rối trật tự trị an” toàn là những công dân lương thiện, thật lòng yêu nước thương dân , còn có tư cách công dân vượt trội xa cả 14 vị vua tập thể, những nhà trọc phú mới, những người thờ đôla và nhân dân tệ, coi nhà và đất cao hơn tổ quốc, coi tiền bạc quý hơn lương tâm con Người.

Trong bài thơ “Bởi vì tôi khao khát Tự do”, anh viết:

Nếu một ngày tôi phải vào tù
Tôi muốn đựơc vào nhà tù Cộng sản
Ở nơi đó tôi gặp những người ngay
Ở nơi đó đồng loại tôi đang sống

Nếu một ngày tôi phải vào tù
Tôi muốn được vào nhà tù cộng sản
Ở nơi đó giam giữ Tự Do
Giam giữ những trái tim khao khát sống

Nếu một ngày tôi phải vào tù
Tôi muốn đựơc vào nhà tù cộng sản
Ở nơi đó giam giữ những nhà thơ
Giam giữ kẻ ngủ hoang để thức tỉnh muôn đồng bào vô thức

Bắt nhà thơ giam vào trong ngục tối
Là mở ra ngàn thiên thể tự do
Bắt Tự Do giam vào trong ngục tối
Là mở ra ngàn thơ tứ con Người

Đọc những câu thơ gợi cảm của nhà báo Nguyễn Đắc Kiên, chúng ta liên tưởng ngay đến LS Cù Huy Hà Vũ, anh Trần Huỳnh Duy Thức, nhà báo Điếu Cày, cô Tạ Phong Tần, em Minh Hạnh, em Phương Uyên. Họ là những người đang ngẩng cao đầu trong nhà tù Cộng sản, được nhân dân ngưỡng mộ, cả thế giới bênh vực, trở thành nỗi ê chề của chính quyền CS.

Cũng vì sự hấp dẫn của cái đẹp, cái cao quý trong tâm hồn nhà báo Nguyễn Đắc Kiên mà anh sinh viên Đỗ Cao Cường đã từ bỏ đảng CS như từ bỏ một kỷ niệm xót xa cay đắng, tự nguyện làm người em tinh thần của Nguyễn Đắc Kiên, để không còn biết sợ cường quyền thô bạo, gia nhập hàng ngũ “lũ chúng ta”. Ngay sau đó là cô Nguyễn Ngọc Diễm Phượng, một đảng viên dự bị, đã suy nghĩ kỹ và chào từ giã đảng CS để ký tên vào kiến nghị về sửa đổi hiến pháp, tố cáo kiểu cưỡng bách đảng viên và toàn dân phải cúi đầu phục tùng đảng, tuân theo đảng khi lãnh đạo đảng đã lầm đường lạc lối một cách rõ ràng rành mạch, không sao biện bạch nổi. Cô cũng nghe theo tâm huyết của nhà báo để gia nhập ngay “lũ chúng ta”.

© Bùi Tín

27-3-2013

(Nguồn VOA) voatiengviet.com

 

Mời các bạn bấm vào link dưới đây để nghe 10 phút

Trò chuyện với nhà báo Nguyễn Đắc Kiên

Việt Nam Tôi Đâu

Nhạc và lời Nhạc Sĩ Việt Khang do chính tác giả hát.

http://en.wikipedia.org/wiki/Viet_Khang

http://weheartmusic.typepad.com/blog/2012/02/viet-khang-anh-la-ai.html

Advertisements

Posted in Chinh Tri Xa Hoi | Leave a Comment »

►Phải Cứu Bất động sản – Không để “Vỡ Trận”

Posted by hoangtran204 trên 29/03/2013

Không để “vỡ trận”

29-3-2013

http://vietstock.vn/2013/03/khong-de-vo-tran-763-288914.htm

Lần đầu tiên, đại diện Chính phủ đề cập đến cụm từ “vỡ trận”. Tuy nhiên, cụm từ được đặt trong một tâm thế nỗ lực để các giải pháp duy trì thế trận tài chính – kinh tế – bất động sản (BĐS) vẫn vẹn nguyên phát huy hiệu dụng…

 

Thị trường BĐS đang cần một gói giải pháp đồng bộ và hiệu quả

 

Phó Thủ tướng Chính phủ Hoàng Trung Hải khẳng định : “Tất cả các giải pháp liên quan đến thị trường BĐS đều phải đặt mục tiêu chung là góp phần thực hiện tốt Nghị quyết 01 và 02 của Chính phủ là bảo đảm kinh tế vĩ mô, kiềm chế lạm phát. Nếu không nỗ lực thì sẽ “vỡ trận”, không ổn định được kinh tế vĩ mô, cũng không có một thị trường BĐS ổn định và bền vững… Hơn thế, giải pháp phải đồng bộ vì không thể chỉ một giải pháp mà giải quyết được tất cả các bài toán khó khăn, cần tăng thanh khoản, thu hút vốn từ xã hội”.

Cứu ai ?

Nghị quyết 01 và Nghị quyết 02 được Thủ tướng ban hành vào ngày 7 tháng 1 năm 2013. Một thời gian khá cận Tết âm lịch.

Sau Tết, chưa có thông tư nào từ các bộ, ban ngành có liên quan triển khai Nghị quyết. Các thị trường nóng ruột. “Nóng ran” gan ruột nhất có lẽ là các DN BĐS với hàng tồn kho nằm đống và các dự án đang rắp ranh chia nhỏ hoặc chuyển đổi mục đích sử dụng cho vừa tầm “ưu đãi” của Nhà nước và túi tiền của người mua.

Đối tượng “nóng ruột” thứ hai cũng là người đang ở diện có thu nhập thấp và chưa có nhà ở, chờ dịp để được vay ngân hàng với lãi suất 6%/ năm và thực hiện giấc mơ sở hữu nhà.

Cả nền kinh tế nóng ruột vì thực tế vẫn chưa thực hiểu Nghị quyết 02 có phải để nhằm “cứu” thị trường BĐS. Bởi điều đó còn phụ thuộc cả vào các thông tư triển khai bên dưới…

Phát biểu của Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải – Trưởng Ban chỉ đạo Trung ương về chính sách nhà ở và thị trường BĐS, nêu rõ : Mục tiêu số 1 là hoàn thiện chính sách liên quan đến phát triển nhà ở và thị trường BĐS, đồng thời phát huy hơn nữa vai trò tham mưu của các hiệp hội nghề nghiệp. Theo đó, các phân khúc thị trường sẽ được cơ cấu lại theo hướng quy hoạch mới, phát triển xây dựng hạ tầng cơ bản cho người có thu nhập thấp, thu hẹp khoảng cách giàu nghèo. Việc tập trung gỡ khó khăn về nguồn vốn, tiến độ cấp vốn, lãi suất tín dụng… cũng theo các chương trình nhà ở mục tiêu; nhà ở cho người thu nhập thấp theo chiến lược phát triển nhà ở quốc gia đã đề ra.

Như vậy, việc cứu ai, cứu cái gì đã rất rõ ràng : Không có chuyện cứu các đại gia BĐS mà đây là quyết sách nhằm hướng cơ cấu lại thị trường – một động thái đương nhiên không nằm ngoài lộ trình tái cấu trúc tổng thể nền kinh tế.

Đã đến lúc NHNN sớm ban hành các quy định chương trình cho vay thuê mua nhà ở với lãi suất 6% trong 3 năm.

Trong quyết sách này, cũng có thể nhìn thấy rõ các đối tượng có thể giảm “mất mát” khi được cơ cấu lại, khá thu hẹp. Thông tư hướng dẫn của Bộ Xây dựng mặc dù ban hành muộn sau Nghị quyết 02 gần tròn 2,5 tháng, đã xác định rõ đối tượng được cơ cấu này. Và theo đó những đại gia nào đang kẹt ở các dự án căn hộ siêu sang, cao cấp, diện tích lớn, giá thành cao… chắc chắn khó có cơ hội nằm trong “danh mục” tái cơ cấu.

Với sự xác định rõ ràng đó, thị trường chứng khoán đã thể hiện luôn vai trò phong vũ biểu : Các mã BĐS thuộc DN có dự án nhà ở phân khúc trung bình, nhà ở xã hội… liên tục có các phiên giao dịch tăng về thanh khoản lẫn giá trị chuyển nhượng. Một số các mã BĐS được dự báo nằm trong “danh sách” hưởng lợi như Thủ Đức House, Bình Chánh, Hoàng Anh Gia Lai… được các nhà đầu tư quan tâm hơn. Còn ngược lại, những đại gia đang nằm trong danh sách bán hàng cao cấp, không thuộc danh mục được “cứu”, chắc chắn, sẽ phải tự cứu mình bằng cách hạ giá trị sản phẩm, hoặc tiếp tục gồng lưng ngồi… chờ. Nhưng nếu tiếp tục chờ chính sách cứu đại gia bán hàng BĐS cao cấp này, e rằng rất khó !

Cứu cách nào ?

Cứu được thị trường BĐS, ở đây, cũng được hiểu là cứu cái nền – động sản của nền kinh tế, cứu thế “vỡ trận” mà Phó Thủ tướng đã đề cập. Cứu, bằng các thị trường mục tiêu nơi người dân chiếm đại đa số đang thiếu nhà, thiếu vốn mua nhà và nhu cầu nhà vẫn rất lớn. Trong khi, cung lại phát triển ở tận đâu đâu, ở các phân khúc bắt nguồn từ những nhà đầu tư nước ngoài, các người mua nước ngoài, các khách hàng trả tiền bằng ngoại tệ và có những nhu cầu cao – theo lý giải của Luật sư Nguyễn Ngọc Bích về căn nguyên lệch cung cầu BĐS tại nước ta.

Nên chăng, đã đến lúc Ngân hàng nhà nước cần nghiên cứu và sớm ban hành các quy định chương trình cho vay thuê mua nhà ở với lãi suất 6% trong 3 năm theo như dự thảo mà NHNN vừa đưa ra lấy ý kiến lần đầu. Đồng thời, nghiên cứu phân tách tỉ lệ tín dụng hoặc hỗ trợ thêm nguồn vốn cho các DN BĐS được vay với lãi suất khi đáp ứng được các điều kiện theo quy định, hay, sẽ dành trọn gói 30.000 tỉ đồng cho người mua nhà ? Và quan trọng nhất, tỉ lệ giải ngân cho cả DN và người dân được vay, cũng cần được công khai, ít nhất là có sự “update” tới các cơ quan như Ban Chỉ đạo trung ương về chính sách nhà ở và thị trường BĐS, để các nhà hoạch định luôn có tầm nhìn toàn cảnh về thế trận nhằm duy trì ổn định vĩ mô, trong đó có sự ổn định mục tiêu cho thị trường BĐS. Không còn thời gian để chần chừ hoặc duy trì sự mờ mịt thông tin trước thế “vỡ trận” này!

TS Trần Du Lịch – Phó Trưởng đoàn chuyên trách Kinh tế đoàn đại biểu Quốc hội TP HCM:Nghị quyết 02 đã ban hành khá lâu nhưng chúng ta vẫn chưa có nhiều động thái cho thấy các bộ, ban ngành đang nỗ lực triển khai nghị quyết này. “Nên chăng, cần có Ban theo dõi tiến độ triển khai nghị quyết và các đơn vị, ban ngành có liên quan phải có báo cáo hàng tuần về kết quả triển khai đó. Trong những năm 60, để phát triển xuất khẩu, Chính phủ Hàn Quốc đã thành lâp Hội đồng quốc gia về XK và thực thi rà soát tiến độ, kết quả thực thi trong từng chặng thời gian. Hễ anh nào quá ba lần không thực thi đúng tiến độ, hiệu quả các công việc đã giao phó, đã cam kết, là cách chức. Chỉ có như thế thì Nghị quyết 02 cùng với sự cộng hưởng và nỗ lực lớn của tất cả mọi thành phần trong nền kinh tế, mới có thể đi đến thành công”.

Thuận Hóa

DIỄN ĐÀN DN

(Diễn Đàn Doanh Nghiệp)

————

Thư gởi Hiệp Hội Bất Động Sản

Alan Phan
31-3-2013

“Mặt trời trong tôi lặn để bình minh lại đến… My sun sets to rise again” – Robert Browning

Kính thưa Quý Vị

Dù chỉ mới nhận được 15 câu hỏi “chất vấn” của Quý Vị qua báo chí, tôi cũng xin phản hồi sớm vì sự mong đợi của rất nhiều đọc giả; cũng như để tỏ lòng tôn kính với “1,000 (?) đồng nghiệp” của tôi. Tôi cũng đã từng làm một nhà đầu tư dự án BDS (real estate developer) ở tận xứ Mỹ xa xôi vào cuối thập niên 1970’s. Sau 7 năm huy hoàng với lợi nhuận, tôi và các đối tác đã trắng tay trả lại mọi vốn và lời trong dự án lớn ở Arizona vào năm 1982. Do đó, tôi khá đồng cảm với trải nghiệm “của thiên trả địa” hiện tại của Quý Vị.

Tôi không quen bị “chất vấn”, không phải là một cậu học trò phải thi trắc nghiệm, cũng không có “quyền lợi” hay “nghĩa vụ” gì trong tình huống này, nên xin phép được trả lời các bậc đàn anh theo phong cách của mình. Vả lại, những chi tiết nhỏ nhặt của 15 câu hỏi đã được “trả lời” qua các bài viết của tôi trong vài năm qua (còn lưu lại tại www.gocnhinalan.com). Thêm vào đó, nhiều BCA (bạn của Alan) cũng đã ra công sức phản biện qua các lời bình trên trang web này và các mạng truyền thông khác. Quý Vị tự tìm tòi nhé.

Cốt lõi của vấn đề

Một khuynh hướng chung khi tìm giải pháp cho vấn nạn BDS hiện nay của Việt Nam là đóng khung bài toán trong các công thức tài chánh. Vài doanh nghiệp BDS nhờ tôi tư vấn tìm vốn vì họ nói không thể tiếp cận được các nguồn tài trợ. Câu trả lời của tôi là vấn đề BDS thuộc chuyện thị trường.

Vốn trong dân tại Việt Nam được các nhà chuyên gia nước ngoài ước tính vào khoảng 60 tỷ US dollars; và vốn từ Việt kiều và các nhà đầu tư ngoại có thể lên thêm khoảng 20 tỷ (các số liệu này có thể sai nhưng chúng ta sẽ không bao giờ tìm được một thống kê chính xác và chính thống về các con số nhậy cảm ở Việt Nam). Tuy nhiên, dù với con số nào, số tiền này cũng thừa đủ để giải quyết mọi hàng BDS tồn kho.

Trên góc cạnh thị trường, khi người bán đáp ứng được nhu cầu người mua về sản phẩm và dịch vụ (gồm nhiều yếu tố, nhưng quan trọng nhất là giá cả và chất lượng) thì giao dịch xẩy ra. Do đó, câu hỏi cốt lõi là những BDS mà quý vị đã và đang sản xuất có mức giá và chất lượng theo đúng nhu cầu của người tiêu dùng chưa? Theo tôi biết, nhu cầu về phân khúc nhà cho người thu nhập thấp rất cao; nhưng sản phẩm gần như quá ít. Trong khi đó, nguồn cung cầu tại phân khúc nhà cao cấp lại mất cân bằng và lượng tồn kho có thể phải mất 10 năm mới tiêu thụ hết.

Tóm lại, khủng hoảng BDS hiện nay là một tính toán sai lầm của nhà sản xuất BDS về giá cả và loại hàng.

Giá thành quá cao?

Nhiều người trong Quý Vị biện bạch là giá BDS cao ngất trời vì giá đất, giá nguyên vật liệu, chi phí hành chánh và bôi trơn… quá cao. Thật tình, lý giải này chỉ chứng tỏ tính chất làm ăn thiếu hiệu quả vì không biết những tính toán căn bản về đầu tư cho dự án; cũng như cho thấy yếu kém của các quyết định bầy đàn và chụp giựt.

Nhưng đôi khi, tình thế ngoại vi cũng có thể làm sai trật mọi tính toán. Chẳng hạn khi tôi bắt đầu dự án Arizona nói trên vào 1979, chúng tôi đã không ngờ là lãi suất lên đến 16-18% mỗi năm khi hoàn tất, thay vì 8-9% như dự tính. Giá nhà vẫn hợp lý, nhưng phần lớn người Mỹ mua nhà bằng tín dụng, nên dự án phải phá sản. Dù không phải lỗi của chủ quan, nhưng chúng tôi hiểu rõ luật chơi của thị trường và cúi đầu chấp nhận.

Người mua nhà, hay ngay cả vợ con bạn bè của Quý Vị, thật sự không quan tâm đến lý do tại sao giá nhà lại cao hay thấp thế này? Vừa mua thuận bán thôi.

Một chút lịch sử

Dĩ nhiên, tất cả bàn luận trên đây dựa trên quy luật thị trường. Nhiều bạn sẽ nói là nền kinh tế chúng ta có “định hướng xã hội” nên chánh phủ phải nhẩy vào can thiệp hay cứu trợ khi “con cái” gặp hoạn nạn.

Chắc Quý Vị còn nhớ, có khi giá nhà đất lên cao cả mấy trăm phần trăm mỗi năm vào thập kỷ 1995-2006, không ai kiến nghị chánh phủ phải can thiệp để cứu người tiêu dùng bằng cách ngăn chận mọi sự tăng giá (nhiều khi phi pháp). Các nhà sản xuất BDS quên mất “định hướng xã hội” của Viêt Nam và ủng hộ triệt để nguyên lý thị trường.

Bây giờ, vào nửa hiệp sau của trận bóng, các cầu thủ lại yêu cầu trọng tài áp dụng một luật chơi mới? Tính bất nhất này làm mọi biện luận của Quý Vị trở nên ngây ngô cùng ngạo mạn.

Hệ quả khi bong bóng BDS nổ

Trước hết, khi nói về hệ quả, tôi xin mọi người ghi nhận công trạng của những nhà đầu cơ BDS trong việc tạo ra khủng hoảng hiện nay. Tất cả những suy thoái, trì trệ và việc kém hiệu quả trong các đầu tư để công nghiệp hóa hay gia tăng sản lượng nông, hải, sản… đều có thể truy nguồn đến những bong bóng tài chánh như BDS, chứng khoán và ngân hàng. Khi dòng tiền tấp nập chảy về lãnh vực này để hưởng lợi nhuận dễ dàng và nhanh chóng, chúng ta đã hy sinh những đầu tư xã hội cần thiết và dài hạn như y tế, giáo dục, công nghệ cao, nông nghiệp… Tai hại của sự lãng phí và tham ô trong việc sử dụng tài lực quốc gia này sẽ làm cả dân tộc trả giá trong nhiều thập kỷ sắp đến.

Nếu nhìn từ định hướng CNXH, các doanh nhân và quan chức có liên hệ đến việc đầu cơ, thao túng và lèo lái dòng tiền đầu tư… để thổi phồng các bong bóng tài sản đều có thể bị kết tội dưới nhiều luật lệ. Hú hồn. May mà Quý Vị còn chữ “kinh tế thị trường” để mà núp bóng.

Ngoài ra, về các hệ quả tương lai khi bong bóng BDS nổ, Quý vị đã tự đặt cho mình một vị trí quá quan trọng trong nền kinh tế chung. Dĩ nhiên có thể hơn 50% các doanh nghiệp kinh doanh BDS và vật liệu xây dựng cũng như 50% các ngân hàng nhỏ yếu sẽ chết vì nợ xấu… nhưng tôi chắc chắn là “không có Mợ thì chợ vẫn đông”. Thực ra, những doanh nghiệp, ngân hàng… này cũng đã chết lâm sàng rồi. Họ kéo dài hơi thở để đợi chút oxygen từ tiền thuế và phí của người dân. Hiện tại, họ không đóng góp chút gì cho sản lượng quốc gia trong khi tiếm dụng một phần nguồn lực không nhỏ.

Về các doanh nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng, một số lớn đã ngất ngư vì không thể cạnh tranh với sản phẩm của Trung Quốc, Thái Lan… tại sân nhà hay sân người. Đổ lỗi cho tình hình BDS chỉ là một thủ thuật phát sinh từ thói quen lười biếng.

Con ngáo ộp thứ hai Quý Vị đem ra hù dọa là con số vài chục ngàn trong số 53 triệu công nhân toàn quốc (với tỷ lệ thất nghiệp khoảng 2.2% theo thống kê nhà nước) sẽ bị ảnh hưởng khi bong bóng BDS nổ tung. Nếu nền kinh tế chúng ta phát triển bền vững và bài bản, sự tạo ra việc làm cho các công nhân này chỉ là chuyện nhỏ.

Con ngáo ộp thứ ba của Quý vị là các người dân bỏ tiền trong các ngân hàng sẽ chịu mất mát khi vài ngân hàng đóng cửa. Theo tôi hiểu, mỗi tài khoản hiện nay được bảo hiểm đến 50 triệu VND và đang được NHNN đề xuất lên 100 triệu VND (vì lạm phát nhiều năm qua). Tỷ lệ mất mát cho những tài khoản trên 100 triệu VND tại các ngân hàng sẽ rất nhỏ; vì các nhà đa triệu phú thường không ngu để mất tiền như Quý Vị tiên đoán. Họ có nhiều giải pháp sáng tạo hơn Quý Vị và nhà nước nhiều.

Những hệ quả tích cực

Trong bài “Thị trường sẽ cứu chúng ta” (www.gocnhinalan.com) tôi đã ghi nhận 5 hệ quả tích cực hơn khi bong bóng BDS nổ. Đó là số lượng vài trăm ngàn gia đình lần đầu sở hữu một căn nhà vừa túi tiền, hiện tượng tâm lý “an cư lạc nghiệp” tạo cú kích cầu tiêu dùng, gây lại niềm tin cho kinh tế, loại bỏ các thành phần phi sản xuất yếu kém, tăng thu ngân sách và thu hút đầu tư nội ngoại.

Trong đó, quan trọng nhất là việc tạo một tầng lớp trung lưu mới, hết sức cần thiết cho mọi sự phát triển bền vững. Nhìn qua các xã hội đã mở mang tại Âu Mỹ Nhật Úc, tầng lớp trung lưu với những tài sản thâu góp được thường là đầu tàu cho chiếc xe kinh tế. Họ tạo ra thị trường tiêu dùng lớn nhất, họ đóng thuế nhiều nhất, họ làm việc cần cù nhất, họ nợ nhiều nhất (tốt cho ngân hàng và các ông chủ), họ có niềm tin cao nhất vào đất nước …vì họ có quá nhiều thứ để mất. Một xã hội bất ổn là khi phần lớn người dân không có gì để mất.

Hệ quả khi bong bóng không nổ

Tôi thì lại lo sợ về những hệ quả trái ngược nếu quyền lực của Quý vị thành công và thuyết phục nhà nước bơm tiền dân cứu Quý Vị và các ngân hàng yếu kém.

Trước hết, nền kinh tế zombies (xác chết biết đi) này sẽ kéo dài ít nhất là một thập kỷ nữa.

Khi phải in tiền đủ để cứu trợ, nạn lạm phát sẽ bùng nổ lại và tỷ giá VND sẽ rơi. Nhiều người đã quay qua Mỹ quan sát về các gói cứu trợ ngân hàng tư và đề nghị NHNN dùng giải pháp này cho Việt Nam. Một ghi chú nhỏ: chánh phủ Mỹ cho các ngân hàng này vay vốn với lãi suất cực rẻ; nhưng không cứu các doanh nghiệp hay giá BDS; và sau khi gây lại vốn sở hữu bị mất trong cuộc khủng hoảng tài chánh 2008, hầu hết các ngân hàng đã trả tiền lại cho chánh phủ. Giải pháp này không thể thực hiện ở Việt Nam vì các ngân hàng thương mại Việt không đủ uy tín, thương hiệu, tầm cỡ, tính minh bạch hay khả năng quản trị để tiếp cận nguồn vốn nội hay ngoại (vẫn rất dồi dào).

Chánh phủ hiện đã bội chi vì các vấn đề kinh tế xã hội từ khủng hoảng và nguồn thu từ thuế và phí đang bị thu hẹp đáng kể. Dùng những tài lực hiếm hoi để nuôi các zombies phi sản xuất là kéo dài cuộc suy thoái cho các thành phần khác trong nền kinh tế.

Nhưng tệ hại nhất là khi tung tiền cứu nguy cho “bồ nhà”, chánh phủ sẽ gởi một thông điệp bào mòn mọi niềm tin còn sót lại của các nhà đầu tư trong và ngoài nước. Đó là: “mọi sai phạm lầm lẫn sẽ được che đậy và bảo vệ; và các quy luật của thị trường có quyền đi “nghỉ mát” khi quyền lợi của các nhóm lợi ích bị xâm phạm”.

Những giải pháp sáng tạo

Sau cùng, nếu con phượng hoàng có thể bay lên từ đống tro tàn thì các zombies cũng có thể tái tạo lại một đời sống mới. Trong nền kinh tế trí thức toàn cầu này, sáng tạo vẫn là một điều kiện tiên quyết cho mọi doanh nghiệp.

Tôi không kinh doanh BDS từ năm 1982, nên tôi không dám “múa rìu qua mắt thợ”. Nhưng tôi nhận thấy có những đại gia “thật lớn” của BDS đã phát triển mạnh trong khủng hoàng này. Bầu Đức của HAGL chọn giải pháp “xuất ngoại” khi bán tháo BDS tại Việt Nam và đem tiền đổ vào Lào và Myanmar. Ngài Vượng của Vincom đạt được danh tỷ phú đô la với phân khúc trung tâm thương mại cao cấp trong thời bão táp. Mr. Quang của Nam Long thì thành công với vốn ngoại và mô hình EHome cho phân khúc trung lưu. Các trường hợp phát triển như anh Thìn Đất Xanh hay anh Đực Đất Lành là những thí dụ khác.

Trong lãnh vực vật liệu xây dựng, sản phẩm nhà tiền chế theo dây chuyền hay các vật liệu từ công nghệ cao và xanh đã biến nhiều doanh nhân thế giới thành tỷ phú. Trí tuệ Việt chắc chắn phải có rất nhiều… Ngô Bảo Châu… trong ngành BDS. Đây là tương lai của BDS Việt trong mong đợi của mọi người; không phải hình ảnh của các zombies níu kéo vào dây trợ sinh trên giường bệnh.

Thay cho lời kết

Tôi thực sự khâm phục khả năng lobby của Hiệp Hội BDS và các thành viên. Tạo được một bong bóng khiến giá trị BDS lên đến 25 lần thu nhập trung bình của người dân là một thành tích đáng ghi vào kỷ lục Guinness. Tôi cũng tiên đoán là chánh phủ rồi cũng sẽ tung nhiều gói cứu trợ BDS mặc cho sự can gián của nhiều chuyên gia và đa số người dân. So với Quý Vị, tiếng nói của chúng tôi không đủ trọng lượng để chánh phủ lưu tâm.

Do đó, cuộc tranh cãi nên dừng lại ở đây để những người dân chưa có nhà không nên kỳ vọng vào một phép lạ trong tương lai gần.

Nhưng trong sâu thẳm, tôi vẫn mang nhiều hy vọng. Có thể một lúc nào đó, những tinh hoa của đất Việt sẽ quên đi quyền lợi cá nhân của mình và gia đình… để san sẻ lại cho các người dân kém may mắn hơn. Không phải để làm từ thiện, mà nhận trách nhiệm rộng lớn hơn với cộng đồng, và với thế đứng của Việt Nam trên thương trường quốc tế. Để doanh nhân Việt được tự hào với tư duy sáng tạo cởi mở và khả năng vượt khó bền bỉ. Để thế hệ sau còn có chút niềm tin và lực đẩy khi họ phải ra biển lớn cạnh tranh.

Riêng đối với những vị đã mất mát tài sản vì sai phạm đầu tư, tôi xin chia sẻ nơi đây câu thơ của tiền nhân mà tôi tự an ủi mình sau khi ký giấy trao lại cho ngân hàng toàn bộ dự án Arizona và ra đi với bàn tay trắng,” Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu… Gặp thời thế thế thì phải thế”. Dù sao, chỉ 3 năm sau đó, tôi lại kiếm được nhiều tiền hơn trong một mô hình kinh doanh khác.

Mong Quý vị mọi điều may mắn và mong tinh thần “kẻ sĩ” mãi cháy sáng trong cuộc đời Quý vị.

Thân ái,
Alan Phan

Tham khảo: Các bài về BDS từ trang 185 của cuốn sách “Đi Tìm Niềm Tin Thời Internet” của Alan Phan do nhà sách Thái Hà xuất bản (2012). Và các bài về BDS trên web sitewww.gocnhinalan.com.

Những ảnh hưởng tích cực sau đây sẽ quay về giúp nền kinh tế tiến về một định hướng bền vững hơn.

1. Khi đa số người dân sở hữu một căn nhà, tầm nhìn và niềm tin của họ vào tương lai vững vàng hơn. Bây giờ họ có một tài sản gì để mất; do đó, sự đóng góp của họ vào nền kinh tế sẽ năng động và tích cực.

2. Niềm tin này mới là “gói kích cầu” quan trọng hơn cả cho thị trường tiêu dùng và nó sẽ kích hoạt các cơ sở công nghiệp cũng như nông nghiệp gia tăng sản xuất, giảm lượng tồn kho và cải thiện năng suất lao động để cạnh tranh. Nên nhớ là tiền dự trữ trong dân nhiều gấp 3 lần tiền dự trữ của chánh phủ;

3. Khi các zombies (xác chết biết đi) bị loại bỏ khỏi hệ thống ngân hàng và thị trường chứng khoán, những định chế sống sót sẽ mạnh hơn nhờ thị phần gia tăng; sẽ chăm chú hơn vào ngành nghề cốt lõi (sau bài học đầu tư đa ngành) và lo trau luyện những kỹ năng cần cho sự cạnh tranh dài hạn;

4. Lạm phát hay tỷ giá sẽ không tăng tốc lâu dài, vì chánh phủ không cần in tiền thêm để cứu ai (một thông điệp rất rõ cho các DNNN) và ngân sách sẽ bội thu nhờ thuế phí tăng thu từ sự tăng trưởng GDP; cũng như nguồn ngoại tệ sẽ dồi dào hơn với sinh lực mới của khu vực xuất khẩu;

5. Khi kinh tế vĩ mô ổn định và khi luật thị trường thay thế luật “hành dân”, niềm tin quay lại với các nhà đầu tư quốc tế và kiều hối. Kênh ngoại tệ này sẽ thâu ngắn sự hồi phục và giúp chúng ta một lợi thế cạnh tranh mới.

 

————-

 

Doanh nghiệp kinh doanh bất động sản Hà Nội gửi thư ngỏ chất vấn TS Alan Pha

Theo báo Lao Động

28-3-2013

Theo nguồn tin mới nhất của PV Lao Động, chiều tối ngày 26.3, CLB BĐS Hà Nội đã dự thảo thư ngỏ gửi TS Alan Phan – nguyên Chủ tịch Quỹ Đầu tư Viasa – thể hiện quan điểm không đồng tình với bài viết “Nên để thị trường BĐS rơi tự do” của ông này và gửi tới ông Alan Phan một loạt câu hỏi chất vấn. Sau đây là một vài nội dung chính của dự thảo:

– Hiện nay, các DN BĐS thường chỉ có từ một đến vài chục phần trăm vốn tự có, phần còn lại là vay ngân hàng (mà ai cũng biết NH là trung gian, kinh doanh từ nguồn tiền gửi của nhân dân). Vậy nếu các DN BĐS phá sản, thực chất, ai sẽ là người mất tiền?

– Ở rất nhiều dự án, người dân đã đóng một phần tiền, thậm chí là rất nhiều tiền, nếu phá sản chủ đầu tư không tiếp tục xây và không thể giao nhà cho họ, cũng không có khả năng hoàn trả tiền; vậy ai sẽ là người mất tiền?

– Ông cho rằng, DN BĐS “chết”, nhà băng “chết”, chứng khoán tụt giảm… cũng không sao, miễn là Chính phủ bảo đảm người dân sẽ không mất tiền. Vậy, xin ông cho biết giải pháp mà Chính phủ cần phải làm để bảo đảm người dân sẽ không mất tiền nếu tình trạng nêu trên xảy ra?

– Ông đã nhận định rằng, để thị trường rơi tự do, giá nhà có thể giảm thêm 30-50% nữa. Vậy theo ông, khi giảm đến mức đó mới là “giá trị thực” (bằng mức đầu tư của DN) hay đã thấp hơn? Theo đánh giá của ông, giá BĐS tại Việt Nam hiện đang ở mức nào? Và ông căn cứ vào cơ cấu giá như thế nào để đưa ra nhận định đó? Cơ sở nào để ông đưa ra nhận định: Không cần giải cứu, thị trường địa ốc sẽ đi lên sau 4-5 năm?…

____________________

‘Nên để thị trường bất động sản rơi tự do’

Lo ngại rót 30.000 tỷ đồng chỉ cứu được một số đối tượng, địa ốc có thể cầm máu nhưng vết thương khó lành, tiến sĩ Alan Phan cho rằng nên để thị trường tự điều chỉnh để sau 4-5 năm có thể quay về thời hoàng kim.

 


Theo tiến sĩ Alan Phan, giá nhà có thể giảm thêm 30-50% nữa. Ảnh: Hoàng Lan 

– Vấn đề giải cứu bất động sản đang gây tranh cãi, một bên nói cần tháo gỡ vì địa ốc liên quan đến hơn 80 ngành nghề, số khác cho rằng không nên bi kịch hóa. Ông nghiêng về ý kiến nào?

– Bất cứ phương án giải cứu nào cũng đòi hỏi một cái giá phải trả. Thứ nhất là tiền bạc, thứ hai là ảnh hưởng của nó tới các hoạt động khác. Nếu Chính phủ in tiền để giải cứu bất động sản thì hệ quả đầu tiên là lạm phát và toàn dân phải chịu. Các giải pháp khác như đánh thuế vào tài khoản tiết kiệm giống Síp làm thì chúng ta đã thấy hậu quả thế nào. Tôi cho rằng, với giải pháp nào, Chính phủ cũng như nền kinh tế Việt Nam sẽ phải trả cái giá đắt.

Quan điểm của tôi là hãy để cho bất động sản rơi tự do. Điều này sẽ làm giá nhà giảm thêm 30-50% để “bắt kịp” thu nhập của người dân và sẽ tạo ra một tầng lớp trung lưu có đủ điều kiện mua nhà. Người dân sẽ có thêm niềm tin và đây chính là một cú hích tạo ra sự kích cầu lớn. Giống như nền kinh tế Mỹ nợ ngập đầu nhưng vẫn rất năng động, bởi họ phải “kéo cày” làm việc tới 15-16 tiếng mỗi ngày để trả nợ.

Tất nhiên, khi để bất động sản rơi thì nợ xấu ngân hàng sẽ tăng, nhà băng có thể “chết” nhưng không sao cả vì số lượng ngân hàng hiện dư chứ không thiếu. Nếu một nửa nhà băng chết, một nửa sống thì cũng không sao, miễn là Chính phủ bảo đảm người dân sẽ không mất tiền. Ngân hàng chết, chứng khoán sẽ tụt nhưng sau đó niềm tin sẽ lấy lại và đi tới một chu kỳ kinh tế mới.

– Ông đánh giá thế nào về giải pháp rót 30.000 tỷ đồng qua ngân hàng thương mại để tháo gỡ khó khăn cho địa ốc, trong đó tập trung cho phân khúc nhà thu nhập thấp và nhà thương mại giá rẻ?

– Theo tôi giải pháp này không khả thi. Hiện nợ xấu ngân hàng chồng chất rồi, giờ phải cho vay thêm thì sẽ rất “ngượng ngùng”. Chính phủ rót 30.000 tỷ đồng chỉ cứu được một vài đối tượng. Thị trường bất động sản Việt Nam chỉ cầm máu một chút và vết thương sẽ không khỏi. Phương thức can thiệp này không hữu hiệu mà chỉ lợi cho một nhóm người. Ngoài ra, khi bơm tiền ra sẽ có ít nhất 50% lượng tiền biến mất vì sự không minh bạch, thiếu kiểm soát nghiêm túc. Phải nhớ rằng, ở đâu cũng thế, tiền của người khác thì ta luôn có sự cẩu thả trong tiêu xài. Không có sự kiểm soát chặt chẽ thì luôn có những đối tượng lợi dụng, đó là tình trạng chung của mọi xã hội, “thừa nước đục thả câu”.

Ở Mỹ, Chính phủ không cứu bất động sản mà để giá địa ốc xuống ồ ạt. Khi ngân hàng lớn lâm nguy, Chính phủ phải rót tiền vào để có thăng bằng nhưng sau đó chính ngân hàng phải tự tìm vốn để bù vào. Sau khi có thêm một nguồn vốn mới, ngân hàng phải trả lại Chính phủ.
Kết quả thăm dò ý kiến độc giả trên VnExpress, tính tới chiều 21/3.

– Ông cho rằng, giải pháp đưa ra khó khả thi, vậy Chính phủ nên làm gì lúc này?

– Chính phủ phải làm sao để giá xuống và thu nhập người dân lên. Tới điểm nào hai bên gặp nhau thì cung cầu mới cân bằng. Những theo tôi, để hai điểm này gặp nhau thì phải mất đến 10 năm.

– Các chuyên gia cho rằng, hiện có sự chờ đợi của doanh nghiệp cũng như người dân vào các biện pháp giải cứu. Theo ông, tâm lý chờ đợi bao trùm này sẽ ảnh hưởng thế nào đối với thị trường bất động sản?

– Nếu bất động sản nằm yên không bán được thì càng đợi, người ta càng tuyệt vọng sẽ có nhiều người bỏ cuộc và giá sẽ xuống. Đó là áp lực chính. Tôi cho rằng, người mua nhà tỏ ra khôn ngoan, họ chờ đợi sự nao núng từ phía người bán. Giá nhà xuống họ mua được và nền kinh tế sẽ tốt hơn. Họ chờ đợi vì không có niềm tin. Thực tình tiền trong dân rất nhiều nhưng họ không muốn kinh doanh gì cả vì lúc này mà đầu tư thì bấp bênh quá. Nhiều người tôi biết có khả năng kinh doanh nhưng họ không muốn động tới tiền của mình, họ muốn đợi. Đôi khi tôi thấy những nhà đầu tư nước ngoài tin nhiều hơn là những người đã ở đây lâu.

– Lời khuyên của ông cho các nhà đầu tư cũng như người dân trong bối cảnh địa ốc như hiện nay là gì?

– Nếu doanh nghiệp trường vốn thì có thể đợi chờ và tìm cách để làm dự án hấp dẫn hơn. Trường hợp kẹt vốn, doanh nghiệp nên “phủi tay” làm lại, chấp nhận bỏ cuộc chơi thay vì tham gia một cách vô vọng. Người dân nếu thấy dự án tốt, sức mua ổn đáp ứng nhu cầu thì nên mua để đầu tư dài hạn.

– Theo ông, mất bao lâu để thị trường địa ốc phục hồi?

– Tình hình đang xấu, sẽ mất rất nhiều năm để bất động sản lại thời vàng son 10-15 năm nếu không có gì thay đổi. Không giải cứu, địa ốc sẽ đi lên sau 4-5 năm. Doanh nghiệp mà không còn khả năng hoạt động thì nên để phá sản. Giống như một hình ảnh vui là có 1 con cóc mà mình phải nuốt thì nuốt ngay để đi làm việc khác thay vì ngồi nhìn nó hoài mà đến cuối ngày nó vẫn xấu chứ không đẹp hơn.

– Có nhiều kinh nghiệm đầu tư quốc tế, ông đánh giá thế nào về sức hút của thị trường bất động sản trong nước đối với các nhà đầu tư ngoại?

– Thị trường bất động sản Việt Nam chứa nhiều nghịch lý và nhạy cảm nên thật tình mà nói chưa hút nhiều nhà đầu tư ngoại. Thủ tục pháp lý và quan niệm toàn dân sở hữu đất đai vẫn chưa quen lắm với người nước ngoài. Thị trường hiện không sáng sủa nên việc kiếm tiền trong 3-5 năm rất khó, bởi vậy cơ hội ngắn hạn không dễ dàng. Còn cơ hội dài hạn tiềm ẩn nhiều rủi ro. Việt Nam đang yếu thế trong việc thu hút dòng tiền bên ngoài vào so với Indonesia, Malaysia, Thái Lan và Philippines. Kinh tế vĩ mô của Việt Nam cũng chưa bền vững.

Các trường hợp mua lại dự án phải có một mức giá hợp lý, chủ đầu tư chịu lỗ còn đơn vị mua lại thấy có cơ hội rút lui trong chiến thắng 3-4 năm thì họ vẫn làm. M&A chủ yếu là dự án đang xây dở dang, chỉ cần nhà đầu tư ngoại rót thêm một khoản tiền nữa để hoàn thiện nên họ sẵn sàng mua lại. Còn bảo họ đầu tư dài hạn, mua đất giải phóng mặt bằng sau đó triển khai dự án thì câu trả lời là không.

Alan Phan là doanh nhân với 43 năm kinh nghiệm tại thị trường Mỹ và Trung Quốc. Ông là Việt kiều đầu tiên đưa công ty tư nhân của mình lên niêm yết sàn chứng khoán Mỹ (1987) – Công ty Hartcourt đạt thị giá 670 triệu đôla vào năm 1999.

Ông cũng là doanh nhân đầu tiên đưa giao dịch chứng khoán và giáo dục từ xa qua mạng Internet tại Trung Quốc (1997). Ông từng là Chủ tịch Quỹ đầu tư Viasa Fund tại HongKong và Thượng Hải.

Hoàng Lan – Hàn Phi
Theo VnExpress

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

► “Đảng là mẹ và chúng con quyết nguyện theo mẹ; Bác Hồ là cha và chúng con nguyện theo cha…”

Posted by hoangtran204 trên 29/03/2013

Đó là phát biểu của ông Trung tướng Nguyễn Thanh Tuấn, Cục trưởng Cục Tuyên huấn, thuôc Tổng cục Chính trị. Ngao ngán cho tư tưởng thuộc loại em bé bòng bóng mà cứ diễn thuyết khắp nơi, một đọc giả của Dân Luận gởi tới bài viết dưới đây. 

Hết thuốc chữa!

nguồn: danluan.org

28-3-2013

Đọc bài viết trên báo Quân đội nhân dân, có tựa đề “Đạo lý và lịch sử về sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội của một ông trung tướng tên là NGUYỄN THANH TUẤN, tôi xì-trét đến độ không biết phải làm thế nào, đành biên mấy dòng gửi cho Dân Luận.

Điều ngạc nhiên lớn nhất của tôi là ông này đang mang lon trung tướng, thế mà viết lời văn ca ngợi Đảng và Bác thật “ngây ngô và hồn nhiên” như một em bé mẫu giáo:

“…Trước đây, trong chiến đấu, chúng tôi thường nói nôm na: “Đảng là mẹ và chúng con quyết nguyện theo mẹ; Bác Hồ là cha và chúng con nguyện theo cha. Khi Đảng và Bác bảo đi, chúng con đi, bảo đánh chúng con đánh… và bảo thắng, chúng con phải quyết giành chiến thắng”….

Cứ cái kiểu “bảo và làm” thế này , Đảng bảo… ị ,chúng con phải quyết tâm cố mà… rặn cho bằng được mấy cục để vui lòng “cha mẹ”!

Có vẻ cảm thấy cái sự đội Đảng lên đầu thờ như cha mẹ của mình chưa đủ làm người đọc ép phê, ông trung tướng tuôn thêm một tràng ca ngợi kèm theo triết lý:

“… Đối với thế hệ chúng tôi và những lớp người đi trước, Đảng, Bác Hồ, nhân dân là cha, là mẹ; Quân đội nhân dân Việt Nam là con của Bác, của Đảng, của dân. Đạo lý người Việt Nam không cho phép ai từ bỏ cha mẹ. Bất kỳ ai đòi quân đội từ bỏ sự trung thành với Đảng, với Bác Hồ là đều trái đạo lý, trái lịch sử.”

Thật tội nghiệp quá, trước giờ tôi cứ hình dung một ngài trung tướng là phải lừng lẫy oai phong, uy dũng với kiến thức sâu rộng và tài thao lược kinh bang tế thế. Có đâu lại thỏ thẻ, nỉ non như con chim non thế này.

Bất chợt tôi à lên một tiếng: Phải rồi, nhờ thế ông mới lên được “trung tướng” chứ!

Thưa ngài trung tướng, đạo lý người Việt Nam không cho phép ai từ bỏ cha mẹ, điều đó đúng khi là những đấng sinh thành. Còn cái Đảng ruỗng mục đang toan tính “xây hầm trú ẩn”, mặc tình cho đạo lý suy đồi, lịch sử nhiễu nhương kia không đáng.

Chuyện ngài chọn ai hay thứ gì làm cha mẹ là quyền của cá nhân ngài, không phải cả dân tộc Việt Nam đều đi bằng đầu gối và đội Đảng lên đầu như vậy. Do vậy ngài đừng lớn giọng mà khuyên người ta là trái đạo lý và lịch sử!

————————–

Ý kiến bạn đọc trên tờ báo mạng Dân Luận:

* Người Huế (khách viếng thăm) gửi lúc 14:55, 29/03/2013 – mã số 82861

Trung tướng gì mà ngu bỏ mẹ. Lý luận như thế làm sao mà thắng thằng Tàu.

* Khiếp cái chữ Hiếp (khách viếng thăm) gửi lúc 14:44, 29/03/2013 – mã số 82860
Nguyễn Ngọc Già viết:
Thêm một cái “hết thuốc chữa” cho mấy chú CS nữa nè!
HIẾP pháp, hổng phải Hiến pháp . Cười “nôn” cả ruột! Hiếp pháp = hiếp dâm đại pháp 😀

Đúng là điềm trời rồi!

http://danlambaovn.blogspot.ca/2013/03/oi-ieu-suy-nghi-ve-hiep-phap.html#.UVUeOfnIrIU

Chết cha cậu đánh máy rồi. Thực sự chữ “Hiến” cực kỳ dễ gõ nhầm thành chữ “Hiếp” vì đằng sau là chữ “p” của từ “Pháp”.

Thế mà dám bảo các báo đảng đã được nhà nước chăm lo chi hàng tỷ đồng để trang bị hệ thống biên soạn và quản lý nội dung hiện đại trong nước tự sản xuất. Chết mẹ hết đi, tốn cơm nhân dân.

*Nguyễn Ngọc Già (khách viếng thăm) gửi lúc 11:57, 29/03/2013 – mã số 82847
Thêm một cái “hết thuốc chữa” cho mấy chú CS nữa nè!

HIẾP pháp, hổng phải Hiến pháp . Cười “nôn” cả ruột! Hiếp pháp = hiếp dâm đại pháp 😀

Đúng là điềm trời rồi!

http://danlambaovn.blogspot.ca/2013/03/oi-ieu-suy-nghi-ve-hiep-phap.html#.UVUeOfnIrIU

http://www.voatiengviet.com/media/video/1630801.html

* Khách Qua Đường (khách viếng thăm) gửi lúc 09:18, 29/03/2013 – mã số 82828

Đảng là mẹ, Bác là cha
Mẹ theo Trung Quốc bán nguyên sơn hà
Cha nằm hòm kính nhìn ra
Mỉm cười thoả mãn rằng “mình hiểu ta”.

* Khách Lê Văn Mọi (khách viếng thăm) gửi lúc 06:12, 29/03/2013 – mã số 82822
“Đảng là mẹ … Bác Hồ là cha” Bác Hồ là giống đực thì Đảng là mẹ phải là giống cái. Chỉ có một giống đực (bác Hồ) mà Đảng (giống cái) thì nhiều vô kể mới cho ra một lũ con tới hơn 3,5 triệu. Ô hô, bác Hồ khỏe thật. Nhiều con nhưng chẳng đứa nào ra hồn, toàn ăn tàn phá hoại, lại không nghe lời cha, ngay cái hiến pháp cũng xuyên tạc lời cha, ý cha. Hóa ra nhà vô phúc.
Tướng mà cũng sùng bái đến mức ngu muội, thế này mà đi đánh nhau thì chỉ có thua. Thảm nào Trung quốc nó đến sát nách mà không dám đánh.

* Thích Dân Chủ gửi lúc 00:28, 29/03/2013 – mã số 82810
tôi không biết ngài “trung tướng” còn cha mẹ không,và nếu cha mẹ ngài đọc những dòng này ,sẽ nghĩ gì về đứa con từng mang nặng đẻ đau, giờ lại quỳ mọp xưng tụng những kẻ đang ruồng rẫy nông dân như vậy

*Khách BVN (khách viếng thăm) gửi lúc 23:19, 28/03/2013 – mã số 82807
“Đảng là mẹ và chúng con quyết nguyện theo mẹ; Bác Hồ là cha và chúng con nguyện theo cha.”
Đó là cuyện ngày xưa. Ngày nay “mẹ” ngoại tình, còn “cha” thì bị nhiễm HIV. Để con không có người nuôi dạy nên con trở nên thoái hóa, suy đồi đạo đức và lối sống trở thành con sâu.

Tôi cũng “nhập ngũ vào quân đội khi còn ở tuổi thiếu niên. Nói đúng hơn, khi đó tôi đi theo cách mạng, theo Đảng vì phải chứng kiến” bao tội ác dã man của đội CCRĐ vu oan cho gia đình tôi là địa chủ cho đủ chỉ tiêu, mặc dù nhà tôi chỉ có mấy sào ruộng, tự làm lấy mà không thuê mướn bóc lột ai, sau đó được sửa sai, xuống thành trung nông, nhưng tiếng xấu vẫn còn. Tôi vào Nam và sang nước bạn chiến đấu để muốn “xóa án” cho gia đình. Xương máu đã chứng minh lòng trung thành của tôi đối với Đảng, đối với cách mạng, nhưng nay về thì gia đình tôi bị mất đất, người cày không có ruộng. Đến cuối đời tàn phế, tôi mới biết mình là người xấu số.

* Nguyễn Hữu Dũng (khách viếng thăm) gửi lúc 21:15, 28/03/2013 – mã số 82795

Loại tướng cướp của giết người thạo này chính là lực lượng chủ chốt trong cải cách ruộng đất.Đảng Bác bảo đi là đi, bảo cướp càng nhiều của, giết đấu tố (kiểu chụp mũ của TBT) được càng nhiều địa chủ càng tốt!Rồi trong 2 cuộc kháng chiến nồi da nấu thịt cũng càng giết được nhiều càng tốt! Để VN suy yếu về nhân lực, vật lực, về thời gian, về quan hệ đa phương QT… Để đến nỗi mất nhiều hải đảo nhất thế giới!
Đúng là:
Đảng là mẹ, bác là cha
Từ khi bác mất, đảng ta goá chồng
Từ khi đảng ta góa chồng,
Quan hệ quốc tế lồng thồng lôi thôi…
Quan hệ cứ tính nước đôi
Đảng viên danh lợi nắm xôi là cười!!!

* Người họ Trần (khách viếng thăm) gửi lúc 18:28, 28/03/2013 – mã số 82777
Đồ bất hiếu! Cha mẹ của ông có công sinh ra ông,nuôi nấng ông nên vóc, nên hình. Ơn trời biển như thế mà ông không nhìn, mà đi nhận đảng, bác làm cha, làm mẹ. Sự vong ân, bội nghĩa này có xứng đáng với tầm vóc của một vị tướng hay không?
Nói thật với ông: Cha mẹ của ông mà ông còn phản bội. Nếu tôi có quyền, tôi cách chức ông ngay. Bởi vì, nếu mai này, ai có cho ông nhiều tiền, bảo ông phản đảng, phản Tổ quốc chắc có lẽ ông sẽ làm ngay.
Trời ơi! Đất nước này có một vị tướng như ông, không biết ngày nào ông chỉ huy quân đội bắn thẳng vào dân, chỉ cốt để kiếm tiền thì Tổ quốc này lâm nguy thật sự rồi.

* Khách nguoimoi (khách viếng thăm) gửi lúc 17:10, 28/03/2013 – mã số 82775
Ha..ha.. Cám ơn tác giả, nhờ bác ” xì-trét đến độ không biết phải làm thế nào, đành biên mấy dòng gửi cho Dân Luận.”

… mà tui được xả-trét, cám ơn bác lần nữa. 😀

* Nguyễn Ngọc Già (khách viếng thăm) gửi lúc 16:10, 28/03/2013 – mã số 82772
Một đoạn video clip vừa được phổ biến trên youtube ghi lại cảnh người dân phẫn nộ phản đối công an, sau khi một học sinh cấp 3 bị những viên công an sắc phục đánh đập tàn bạo đến mức chảy máu tai.

Những phút đầu, đoạn clip cho thấy hình ảnh người dân bất bình chặn xe một viên công an mặc sắc phục nhằm không để cho người này bỏ đi khỏi hiện trường. Người công an sắc phục này được cho là kẻ đã đánh đổ máu một em học sinh chỉ vì lỗi không đội mũ bảo hiểm, xuất hiện bên cạnh là hai người mặc áo dân phòng và bảo vệ dân phố.

Theo báo Tuổi Trẻ, vụ việc xảy ra vào ngày 26/3/2013, trước nhà số 47 đường số 9, cư xá Bình Thới, P. 8, Q.11, Sài Gòn.

Nạn nhân bị đánh chảy máu tai trong clip là em Lâm Dụ Cường, 16 tuổi, học sinh lớp 10 trường Nguyễn Hiền.

Viên công an sắc phục trong clip tên là Phan Thanh Trung, cấp bậc đại úy, công tác tại công an phường 8, quận 11.

Rất đông người dân tại hiện trường đã có mặt và bày tỏ sự bất bình đối với hành vi côn đồ của đại úy công an Phan Thanh Trung.

Hiện nay, bộ công an Việt Nam đang đòi thông qua luật cho phép công an được nổ súng vào dân. Nếu quy định này được thông qua, những khẩu súng khi được giao cho những kẻ côn đồ như đại úy Phan Thanh Trung thì không biết bao nhiêu người dân vô tội sẽ bị giết hại.

CTV Danlambao

http://danlambaovn.blogspot.ca/2013/03/dan-bat-binh-vi-ca-anh-hoc-sinh-o-mau.html

*Hoàng trí Đông (khách viếng thăm) gửi lúc 14:55, 28/03/2013 – mã số 82766
Đảng là mẹ, bác là cha
Từ khi bác mất, đảng ta goá chồng
Báo cô một lủ con đông
Thạch Sanh thì ít, Lý Thông thì nhiều.

Khách Lê Văn Mọi (khách viếng thăm) gửi lúc 13:02, 28/03/2013 – mã số 82759
Thực ra là có thuốc chữa, nhưng CS không chị chữa, đã “đâm lao thì phải theo lao” đến cũng để lao xuống dốc.

Nghe mấy ông tướng phát biểu thì lại thấy giọng của tướng cướp. Đảng lãnh đạo quân đội? Vậy Đảng là cái gì? Con người lãnh đạo, người nào có tài quân sự (tướng giỏi) thì lãnh đạo chứ. Cũng giống như trong ngành cơ khí của tôi, anh nào giỏi tay nghề, giỏi lý thuyết thì làm quản đốc phân xưởng, lãnh đạo thợ mới nghe, anh nào là Đẩng, không biết gì mà lãnh đạo thì chỉ có phá hoại. Đảng lãnh đạo quân đội: Thảm nào trong khi tàu Hải giám và các loại tàu khác của Trung quốc quấy rối trong hải phận nước ta mà không thấy tướng nào ra tay, tướng ra ta mà thua thì do Đảng lãnh đạo, thế thì mất mặt.

Quân đội bảo vệ Tổ quốc là làm nhiệm vụ và nghĩa vụ đối với cả nước, ai là công dân nước Việt, đến tuổi nghiã vụ quân sự thì phải nhập ngũ. Còn quân đội bảo vệ Đảng (có khoảng trên 3,5 thành viên trong tổng số gần 90 triệu người Việt), anh nào không phải đảng viên hoặc không thích Đảng thì ở nhà. Không thể ép người ta làm cái việc không phải trách nhiệm và nghĩa vụ của người ta.
*culanchamcom (khách viếng thăm) gửi lúc 11:46, 28/03/2013 – mã số 82754
Tội cho cha mẹ nào có thằng con như “tướng” Nguyễn Thanh Tuấn..

Đúng là “hết thuốc chữa” … hình như mấy tay này bị “sảng” hết rồi hay sao ấy!! À! có lẽ đang “trăn trối”…chắc vậy.

* Nguyễn Ngọc Già (khách viếng thăm) gửi lúc 11:36, 28/03/2013 – mã số 82752
Cái gì kỳ lạ vậy?!

Mới đầu: Đảng là mẹ, bác Hồ là cha

Sau nữa: đảng, bác, nhân dân là cha là mẹ

Suy ra: nhân dân là cha hay là mẹ đây cha nội? hay nhân dân là lưỡng tính vừa là cha vừa là mẹ hả ông nội tướng Thanh Tuấn?! Ông nói gì mà lộn đầu lộn đuôi và loạn luân dữ vậy, cha!

Sau mà có cái kiểu đầu trộm đuôi cướp, loạn xà ngầu đến cỡ này, không biết?!

Cái tên tướng này đã nói: tranh chấp biên giới hải đảo giữa Việt và Tàu để cho thế hệ sau giỏi hơn giải quyết đấy! Đù má thằng tướng này! Hỏi tên tướng Tuấn này;

– Nguyễn Thanh Tuấn là con của cặp “vợ chồng nào”:

+một: đảng và bác
+hai: đảng và nhân dân
+ba: bác và nhân dân

Hay là nó tính chơi cái kiểu threesome đây?! Trời ơi là trời! thằng này mất dạy quá!

?????

Càng nói càng thấy thằng tướng này đúng là loài thú chứ không phải loài người! Bởi loài người làm gì có cái kiểu loạn luân và quái thai cỡ đó!
* nguyenhong (khách viếng thăm) gửi lúc 10:34, 28/03/2013 – mã số 82745
Tôi còn xì-trét đến mức suýt táng một gậy vào mấy cái mặt trên TV khi nghe tin về một cái hội nghị gì đấy cũng là của “quân đội Đảng” góp ý sửa hiến pháp rằng phải thêm hai chữ “duy nhất” vào điều 4 về sự lãnh đạo của đảng.
Đúng là hết thuốc chữa. Có chăng thì là thuốc chuột.

————————–

Đạo lý và lịch sử về sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội

QĐND – Chủ Nhật, 24/03/201

Trung tướng Nguyễn Thanh Tuấn,

Cục trưởng Cục Tuyên huấn (Tổng cục Chính trị)

QĐND – Tôi nhập ngũ vào quân đội khi còn ở tuổi thiếu niên. Nói đúng hơn, khi đó tôi đi theo cách mạng, theo Đảng vì phải chứng kiến bao tội ác dã man của giặc Mỹ xâm lược và bè lũ tay sai gây ra cho đồng bào ta, trong đó có quê hương và gia đình tôi. Những năm tháng trong quân ngũ, được đồng đội, đơn vị và quân đội rèn luyện, giúp đỡ, tôi đã trưởng thành, trở thành đảng viên của Đảng khi vừa tròn 18 tuổi, trở thành người chỉ huy, cùng đơn vị tham gia giải phóng quê hương, góp phần làm nên cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mùa Xuân năm 1975 toàn thắng.

Với tôi, Đảng là cuộc sống, là niềm tin, là lý tưởng phấn đấu để góp phần mang lại cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, mang lại công bằng, dân chủ, xóa bỏ áp bức, bất công trong xã hội… Bởi vậy, trong chiến đấu, tôi và đồng đội đã gạt bỏ tình cảm riêng tư, hạnh phúc cá nhân, sẵn sàng hy sinh cả tính mạng của mình để vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, hy sinh góp phần làm nên chiến thắng.

Mãi mãi chúng tôi tự hào về điều đó và luôn tâm niệm rằng, có cuộc sống ấm no, hạnh phúc, đất nước thống nhất, hòa bình hôm nay, không bao giờ được quên ơn biết bao đồng đội đã ngã xuống, đã đổ bao xương máu. Và trong số họ nhiều người, nếu nay còn sống, sẽ giỏi hơn mình và có thể đóng góp cho Tổ quốc nhiều hơn mình! Biết bao các anh, các chị đã ngã xuống khi còn tuổi thanh xuân, đã hy sinh cho Đảng mà không một đòi hỏi, không một hối tiếc, bởi vì họ đã coi lý tưởng của Đảng là lý tưởng của mình, sự nghiệp của Đảng là sự nghiệp của mình…

Từ những suy nghĩ của riêng mình, suy rộng ra của toàn quân cũng như vậy. Không có Đảng thì không có Quân đội nhân dân Việt Nam, vì quân đội ta do Đảng sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện; không có Đảng và Bác Hồ thì không có quân đội ta.

Năm 2014, toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta sẽ kỷ niệm 70 năm ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam (22-12-1944/22-12-2014), 25 năm Ngày Hội quốc phòng toàn dân (22-12-1989/22-12-2014).

Trước đây, trong chiến đấu, chúng tôi thường nói nôm na: “Đảng là mẹ và chúng con quyết nguyện theo mẹ; Bác Hồ là cha và chúng con nguyện theo cha. Khi Đảng và Bác bảo đi, chúng con đi, bảo đánh chúng con đánh… và bảo thắng, chúng con phải quyết giành chiến thắng”.

Lịch sử là như vậy, mong rằng một số cá nhân đừng lấy suy nghĩ hôm nay để “đo lường và phán xét” những gì đã qua, mà hãy trân trọng lịch sử. Nếu không như vậy làm sao chúng ta đánh thắng hết tên đế quốc này đến tên đế quốc khác giàu, mạnh hơn ta gấp nhiều lần, để làm nên sự tích thần kỳ, ghi vào lịch sử dân tộc những trang vàng vẻ vang nhất. Tôi chưa có dịp đi nước ngoài nhiều, nhưng khi gặp bạn bè quốc tế, họ luôn bày tỏ sự cảm phục chân thành, bởi ít có dân tộc nào làm được như dân tộc Việt Nam, đã đánh thắng thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Là người Việt Nam, ai không tự hào về điều đó?

Thắng lợi của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước là thắng lợi của toàn dân dưới sự lãnh đạo của Đảng, trong đó quân đội có vai trò quan trọng. Chính vì vậy mà quân đội ta đã viết nên và tô thắm truyền thống “Trung với Đảng, hiếu với dân”; ” Trung với nước, hiếu với dân”. Có Đảng, quân đội ta mới có sức mạnh, không ngừng lớn mạnh, trưởng thành, góp phần cùng toàn Đảng, toàn dân làm nên lịch sử.

Thế nhưng gần đây, có những ý kiến, kiến nghị muốn Quân đội nhân dân Việt Nam thoát ly khỏi sự lãnh đạo của Đảng. Đã có nhiều ý kiến phê phán, phản bác quan điểm sai trái đó, đã lý giải đầy đủ tính tất yếu khách quan về sự lãnh đạo của Đảng với quân đội. Tôi không lý giải thêm mà chỉ muốn nói về đạo lý. Đối với thế hệ chúng tôi và những lớp người đi trước, Đảng, Bác Hồ, nhân dân là cha, là mẹ; Quân đội nhân dân Việt Nam là con của Bác, của Đảng, của dân. Đạo lý người Việt Nam không cho phép ai từ bỏ cha mẹ. Bất kỳ ai đòi quân đội từ bỏ sự trung thành với Đảng, với Bác Hồ là đều trái đạo lý, trái lịch sử. Chúng tôi, những người đã trải qua, hoặc đang trong quân ngũ, mang đạo lý của dân tộc, không chấp nhận quan điểm đó.

Đất nước đang đứng trước những vận hội, thời cơ và cả những khó khăn, thách thức. Những chiến sĩ chúng tôi không ngại những thách thức khách quan, vì nếu Đảng ta đoàn kết, thống nhất thì không có trở ngại nào là không thể vượt qua. Điều chúng tôi trăn trở, lo lắng chính là sự “tự diễn biến, tự chuyển hóa”, phân hóa chia rẽ trong nội bộ Đảng. Mong rằng, lời dạy của Bác Hồ kính yêu: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết; thành công, thành công, đại thành công” sẽ được mọi cấp, mọi ngành, mọi người thấm nhuần, chung tay xây dựng. Cần kiên quyết đấu tranh loại bỏ những quan điểm, tư tưởng làm suy yếu Đảng, tách Đảng với quân đội; kiên quyết đấu tranh với những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị và đạo đức lối sống.

Trung tướng NGUYỄN THANH TUẤN

Theo Quân Đội Nhân Dân

——————-

http://www.tienphong.vn/xa-hoi/593375/Bao-ve-bien-dao-bang-vu-khi-hien-dai-nhat-the-gioi-tpov.html

Bảo vệ biển đảo bằng vũ khí hiện đại nhất thế giới

29/09/2012

TPO – Thiếu tướng Nguyễn Thanh Tuấn – Cục trưởng Cục Tuyên huấn, Tổng cục chính trị,  cho biết chúng ta bảo vệ biển đảo bằng những vũ khí hiện đại bậc nhất thế giới.

Phát biểu tại Hội nghị người Việt Nam tại nước ngoài lần 2 diễn ra tại TP HCM ngày 27 và 28 – 9 – 2012, Thiếu tướng Nguyễn Thanh Tuấn – Cục trưởng Cục Tuyên huấn, Tổng cục chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam nhấn mạnh: “Chúng ta đã trang bị tàu hộ vệ tên lửa có khả năng bảo vệ cách bờ 200km trở lại, chúng ta cũng có những tên lửa có tầm bắn 600km, và cả những tên lửa nằm trong số những vũ khí hiện đại bậc nhất trên thế giới hiện nay. Chúng ta cũng mua sắm những máy bay đủ sức bảo vệ quần đảo Trường Sa cũng như Hoàng Sa”.

Không để mất một đảo ngầm, đảo nổi nào

Thiếu tướng Nguyễn Thanh Tuấn cho biết, Việt Nam chủ trương giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hòa bình, nhưng nhiều người băn khoăn nếu ta muốn hòa bình mà họ không chịu hòa bình thì sao? Trong trường hợp Trung Quốc âm mưu độc chiếm biển Đông bằng sức mạnh thì sao? Nhà nước, đặc biệt là quân đội đã chuẩn bị mọi phương án để đối phó với tình huống thấp nhất đến tình huống cao nhất. Bản thân các tướng lĩnh Trung Quốc nhận định, nếu đánh chiếm toàn bộ quần đảo Trường Sa chỉ mất khoảng 1 tuần, nhưng giữ được Trường Sa thì Trung Quốc khó có thể giữ được.

“Có nhiều quan điểm, ý kiến khác nhau nhưng chúng ta đều thống nhất tổ quốc Việt Nam là một, chủ quyền của Việt Nam là bất khả xâm phạm. Những năm gần đây, chúng ta không để mất bất kỳ một đảo ngầm, một đảo nổi, một nhà giàn nào của Việt Nam”, Thiếu tướng khẳng định.

Cũng theo Thiếu tướng, chúng ta có thể khẳng định Hoàng Sa – Trường Sa là của Việt Nam, bởi thực tế chúng ta là những người đầu tiên khai phá, khi chưa có nước nào đặt chân khẳng định quần đảo đó, vùng biển đó. Cho nên chúng ta nói chúng ta có cơ sở pháp lý vững chắc khẳng định đó là của Việt Nam.

Cục trưởng Cục tuyên huấn, Tổng cục Chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam nêu rõ: Thế nhưng, năm 1956 nhân cơ hội Pháp rút khỏi Việt Nam để thực hiện hiệp định Genève, trong bối cảnh chưa đủ khả năng để quản lý các vùng biển đảo của Việt Nam, thì Trung Quốc nhân cơ hội đã đánh chiếm cụm đảo phía Đông của Hoàng Sa. Đến 1974, cùng sự thỏa hiệp của Mỹ, Trung Quốc đã đánh chiếm toàn bộ cụm đảo phía Tây của Hoàng Sa.

Đối với quần đảo Trường Sa, chúng ta khẳng định chúng ta là nước đầu tiên làm chủ nguyên một vùng biển đảo rộng lớn, tuy nhiên, với lực lượng hải quân nhỏ bé, và điều kiện phát triển chưa cao, chúng ta chỉ làm chủ ở một số đảo. Năm 1971 Philippines đã lấn chiếm và làm chủ 5 đảo thuộc phía Đông của quần đảo Trường Sa (gần Philippines), đến 1973, họ lấn chiếm tiếp hai đảo ở phía Bắc.

Với Malayxia, cho đến năm 1979 họ đã lấn chiếm và làm chủ 7 biển đảo ở phía Nam quần đảo Trường Sa. Năm 1988, nhân cơ hội đất nước đang gặp nhiều khó khăn, phải đương đầu với cuộc chiến tranh biên giới phía Tây Nam, Trung Quốc đã tiến hành đánh chiếm 7 bãi đá ngầm của Việt Nam ở Trường Sa. Cho đến 2005 họ đánh chiếm tiếp 2 điểm do Philippines quản lý trên quần đảo Trường Sa.

Giữ vững, bảo vệ vững chắc chủ quyền

Nhắc lại vấn đề này để nói rằng, trong quá trình phát triển của đất nước, chúng ta liên tục cố gắng bằng mọi khả năng để bảo vệ chủ quyền trong điều kiện nhất định. Từ đó đến nay, chúng ta đã giữ được nguyên hiện trạng, bảo vệ vững chắc cái chúng ta đã có. Đặc biệt vùng biển theo Công ước luật biển năm 1982 của Liên Hợp Quốc, đó là vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý.

Về thềm lục địa của Việt Nam, chúng ta đã cố gắng bảo vệ không cho ai đặt nhà giàn, đặt giàn khoan, trụ thăm dò trong vùng thềm lục địa, vùng đặt quyền kinh tế, thuộc chủ quyền, quyền tài phán trên biển của Việt Nam. Mọi người cần tin tưởng rằng dưới sự lãnh đạo của nhà nước, dưới sự lãnh đạo của Đảng, chúng ta đã giữ vững và bảo vệ vững chắc cái chúng ta đã có.

TPO lược ghi

——————

Posted in Chinh Tri Xa Hoi | Leave a Comment »

►Không phải thay đổi là rối loạn xã hội

Posted by hoangtran204 trên 28/03/2013

BS Nguyễn Quang Bình Tuy

Theo Bauxite Việt Nam

Tướng Tô Lâm đã lập luận nếu “đặt vấn đề Hiến pháp mới quy định phi chính trị hóa lực lượng vũ trang” thì sẽ mắc phải “các âm mưu, hoạt động của các thế lực thù địch lợi dụng việc góp ý dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 nhằm tiến hành các hoạt động chống phá cách mạng, gây bất ổn định chính trị, xã hội của đất nước”. Tôi xin phản biện ý của Tướng Lâm chung quanh vấn đề “thay đổi”.

Thay đổi từ trên cao xuống là thay đổi khôn ngoan nhất, không đổ máu và không gây rối loạn xã hội như người ta lo sợ. Myanmar là một thử nghiệm thành công, nên theo cách của họ. Đừng chủ quan rồi khư khư giữ lấy ghế của mình, để đến khi mất kiểm soát mới tính tới nhượng bộ (như Syria, Lybia thì đến độ không có đường lui để giữ mạng sống, buộc phải giữ “tới cùng”) thì không phải là cách làm khôn ngoan. Không một người dân nước nào muốn sống trong xã hội bị rối loạn, bất ổn, bạo lực, chiến tranh… Nhưng nếu bị buộc phải làm điều đó để có một tương lai tươi sáng hơn, thì họ sẽ làm, dù biết rõ phải hy sinh, nhưng khát vọng “tương lai tươi sáng hơn” giúp họ có nhiều nghị lực hơn gấp nhiều lần để làm bất cứ điều gì. Minh chứng cho điều này là các cuộc đánh giặc ngoại xâm, mà gần nhất là Pháp, mặc dù Pháp có cả trăm năm đô hộ với vũ khí hiện đại, nhưng cũng không làm họ nhụt chí. Chẳng phải họ muốn có một tương lai tươi sáng hơn cho không chỉ con cháu họ mà cho dân tộc Việt Nam mai sau hay sao? Họ hy sinh cả cuộc đời, hy sinh nhiều người trong gia đình, cũng là mong có được “tương lai tươi sáng hơn” cho con cháu, chứ bản thân họ cũng đâu có sống được bao lâu sau chiến tranh?

Tại sao chúng ta tốn trí tuệ, sức lực và cả xương máu để “giành độc lập cho dân tộc” nhưng rồi lại gắn thành quả ấy chỉ cho một nhóm “giai cấp”? Nay nhóm giai cấp này đã trở nên quyền lực và giàu có, và trở thành “nhóm lợi ích”. Nếu biết tình hình như hiện nay, chắc chắn không ai hy sinh cho cuộc chiến đó, bởi nó đã thành vô nghĩa, bởi những mục tiêu cao cả ban đầu “Độc lập, Tự do, Hạnh phúc” cho “cả dân tộc Việt Nam” nay chỉ còn thu nhỏ cho “nhóm lợi ích” đó, bỏ mặc những lực lượng xã hội khác. Chẳng phải mục tiêu của chúng ta là “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng văn minh” đó sao? “Dân giàu” khác xa với “nhóm lợi ích giàu”. Nay chúng ta đã và đang xây dựng một xã hội “nhóm lợi ích giàu”, không khác gì “cường hào ác bá” thời phong kiến, chỉ thay đổi hình thức và tên gọi mà thôi.

Thay đổi mà người dân mong đợi là tạo một xã hội tốt đẹp hơn, có nhiều sân chơi hơn cho nhiều người chứ không giành đặc quyền cho một nhóm người, xã hội mà mọi người đều có cơ hội làm giàu, miễn là họ “có tài”, chứ không phải “có quyền” và “có đặc quyền” như hiện nay. Nếu nhiều người giàu lên vì có quyền (điển hình là “nhóm lợi ích”) thì không được xã hội kiêng nể, trọng vọng mà trong thâm tâm người dân là khinh miệt họ, bởi biết rõ tiền họ có là do bòn rút, do “trộm cắp”, “cướp giật” và “hợp thức hóa” mà ra, chứ không phải do “tài năng”.

Nếu có ai đó nghĩ rằng không cần thay đổi, như hiện tại là tốt rồi, thì hãy nhìn sang các nước lân cận, không cần nhìn sang Âu Mỹ làm gì, và chỉ ra có nước nào nghèo và lạc hậu hơn Việt Nam trong số 10 nước Đông Nam Á không? Dân ở nước nào “sướng” hơn? Có một cán bộ tập kết cao cấp tôi kêu bằng Thím Ba (bạn thân của ba mẹ tôi), đi Thái Lan chơi (năm 2012) nhờ có con làm cho công ty nước ngoài có tiền tài trợ cho ba mẹ đi du lịch. Khi qua Thái Lan, Thím Ba nói với cậu con trai: “Sao dân người ta sướng quá, mà dân mình khổ quá vậy con?”. Tôi nghe kể mà ứa nước mắt, bởi đó cũng là cảm giác của tôi cách đây gần 20 năm khi mới vừa bước xuống sân bay Bangkok (lúc đó phải khai là “thất nghiệp” mới được đi nước ngoài, còn trí thức thì khó khăn lắm, gần như không thể đi). Một cảm giác như vừa trong môi trường thiếu oxy ngột ngạt bước vô phòng dưỡng khí. Trước đây, nói tới nước “có vấn đề”, nhất ASEAN, thì ai cũng nêu đích danh Myanmar. Nhưng nay thì Việt Nam đã thay vào chỗ đó, mặc dù không ai nêu tên chỉ mặt. Lãnh đạo các nước cũng tế nhị, nhưng họ cũng rất mong muốn Việt Nam “thay đổi” để ASEAN hùng cường, có sức nặng hơn trên trường quốc tế. “Tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ”, nếu xem ASEAN là “gia” (một gia đình), trong gia đình còn có “đứa con” “khác người”, thì “ra ngoài đường” nói ai nghe, ai nể?

Thay đổi có “dễ sợ” như một số người vẽ ra không? Mà ngay khi họ vẽ ra điều đó, tôi tin chắc một ngày nào đó, họ sẽ phản đối lại chính điều họ đã vẽ ra, bởi lúc đó họ không còn hưởng lợi từ cái họ đã vẽ ra đó nữa. Mỗi người một nghề, một năng khiếu bẩm sinh. Làm sao để mỗi người phát huy hết khả năng của mình để đóng góp cho sự phát triển chung của xã hội, kể cả chính trị. Chính trị, kinh tế, nghệ thuật, kỹ thuật… đều phải có khiếu thì mới đạt đỉnh cao, đóng góp mới nhiều. Liệu những người phản đối thay đổi bây giờ, rồi con cháu họ có được như họ không, có khả năng làm chính trị như họ không hay lại thích nghệ thuật? Vậy thì cớ sao lại phải bảo vệ cái ghế ấy cho con mình, trong khi nó không có khả năng và cũng không thích ngồi cái ghế đó. Nó có thể làm cái khác tốt hơn nhiều, trở nên giàu có hơn và được xã hội trọng vọng hơn. Con cái trong một gia đình không nhất thiết phải theo nghề cha mẹ, đôi khi “tréo cẳng ngỗng” đến nỗi cha mẹ không nghĩ tới. Tôi tin là các bậc từng làm cha làm mẹ cũng thấu hiểu điều này, bởi con người sinh ra có một thiên hướng nghề nghiệp bẩm sinh, chỉ cần gặp môi trường thuận lợi, nó sẽ đâm chồi nẩy lộc và cho trái ngọt, hơn cả mong đợi. “Cha mẹ sinh con, trời sinh tánh” là vậy. Có thiên tài nào trên thế giới là con của một thiên tài không?

Vậy, xin phân tích thêm những khái niệm còn chưa rõ, mà nhiều người đôi khi còn nhầm lẫn.

1. Đảng phái chính trị có bất biến theo thời gian?

Phải nói ngay, đảng phái chính trị phải thể hiện là “trí tuệ” chứ không phải thể hiện “bạo lực, cơ bắp, hay vũ lực”!

Đảng phái là tập hợp một nhóm người gọi là “tinh túy của xã hội”, có khả năng đưa ra một cương lĩnh để lèo lái đất nước. Cương lĩnh, đường lối của một đảng phái nếu phù hợp với xu thế và nhu cầu của xã hội vào một giai đoạn nhất định, thì sẽ được lòng dân và dân hết lòng ủng hộ, bao bọc, che chở, và nhờ đó có đủ sức mạnh để thực hiện ý chí đó. Hay nói cách khác, nếu chỉ dựa vào sức lực của “một nhóm đảng viên” mà không có sự ủng hộ của dân, thì đảng phái đó cũng không làm được gì, cho dù có “quyết liệt” tới đâu, cương lĩnh có hay cách mấy.

Như vậy, công việc của đảng chủ yếu là “lãnh đạo” nhà nước, còn nhân dân mới là “người làm trực tiếp”. Nếu ai từng lãnh đạo điều hành công ty hay bất kỳ tổ chức nào (kể cả bệnh viện, trường học) thì sẽ thấy tầm quan trọng của “sức dân” như thế nào, và lãnh đạo phải mẫu mực và có đủ tầm, đủ tâm như thế nào thì mới tạo được sức mạnh cho tổ chức. Đừng dùng cách tuyên truyền kiểu “bịt tai che mắt” lỗi thời để áp dụng cho thời đại thông tin ngày nay. Bởi không khó để kiểm chứng thông tin chỉ qua vài cái nhấp chuột. Nếu là lãnh đạo, cần thận trọng trong từng lời nói, cử chỉ, hành động. Đừng ngây thơ nghĩ rằng “dân ngu” không biết gì, và phát ngôn và cư xử coi thường người dân, để rồi một ngày nào đó mới vỡ lẽ và tiếc rẻ “phải chi…”.

Trong quá khứ một đảng phái tốt, không nhất thiết hiện tại nó tốt. Nó phụ thuộc rất nhiều vào khả năng tập hợp quần chúng của đảng đó, khả năng chọn lãnh đạo là người tài trí đủ tầm và có tâm… Đó mới là sức sống của một đảng phái chính trị. Trong quá khứ, một đảng phái tập hợp được nhiều trí thức (kể cả du học nước ngoài), nhiều thành phần tiến bộ (kể cả tư sản) vào đảng và họ đã làm nên kỳ tích bởi thuyết phục được toàn dân chung sức chung lòng chống ngoại xâm. Dân thấy rõ điều đó. Nhưng hiện tại, đảng đó có lãnh đạo khác, con người khác, ban lãnh đạo đảng không phải là những tinh túy của đảng, và nội bộ đảng viên ai cũng thấy rõ điều đó. Hậu quả là ngay trong đảng cũng không đồng lòng, nói chi đến kêu gọi dân đồng lòng? Dân im lặng không phải là đồng ý, mà vì họ không muốn ảnh hưởng “miếng cơm manh áo”, vì họ sợ bị hành hung, sợ “bạo lực công quyền” mà thôi. Lãnh đạo phải sáng suốt nhận ra điều đó, thì mới là lãnh đạo có tầm và có tâm, xứng đáng lãnh đạo đất nước. Bản thân từ “chính trị” nên hiểu là “trị vì đất nước một cách chính danh” chứ không phải “tà trị” tức là “trị vì đất nước bằng bạo lực, uy hiếp, dọa dẫm”.

Không một đảng phái nào ở Mỹ khi vận động tranh cử lại đi nói “Washington từng là người của Đảng Dân Chủ (ví dụ vậy), ông ấy từng có công lập quốc, hãy bầu cho chúng tôi, chúng tôi là bản sao của ông ấy”. Thay vào đó, họ phải chứng tỏ tổ chức hiện tại của họ có đủ trí tuệ, đủ nhân lực, đủ tài, đủ phẩm chất để làm những gì người dân đang mong mỏi, đang khát khao muốn có. Việc lấy hình ảnh tốt đẹp trong quá khứ để che chắn cho thực tại thối nát (và có nguy cơ tan rã vì chính các thành viên trong đảng không còn thấy lý tưởng tốt đẹp nữa, không cảm thấy tự hào khi đứng trong tổ chức nữa, và họ cũng cảm thấy e ngại khi đi ra đường, khi về gia đình, cộng đồng) là điều tối kỵ trong chính trị. Thay vì phải “thể hiện” và “quyết tâm” làm trong sạch nội bộ, làm thuyết phục dân bằng cách đưa những gương mặt tiến bộ lên, thì họ đang “tô vẽ, sơn phết” bên ngoài cho thấy đẹp. Tiếc thay, những cách tô vẽ đó không thể nào qua được mắt dân, bởi chẳng ai “ngu” như người ta nghĩ.

2. Chính trị khác Nhà nước và Quân đội: chiến lược và chiến thuật – hành động

Chính trị khác Quân đội ở chỗ, chính trị đưa ra chiến lược, còn quân đội thi hành chiến lược đó. Chính trị sẽ có tầm bao phủ tất cả các lĩnh vực của một đất nước: kinh tế, giáo dục, y tế, văn hóa, an ninh, quân đội… Như vậy quân đội cũng như các lĩnh vực khác, là một bộ phận để thực thi các chiến lược của chính trị. Chính trị mà đại diện là “chính phủ” có thể thay đổi, mục tiêu cuối cùng là để chọn lựa một chiến lược tốt nhất thông qua việc nhân dân lựa chọn một đảng chính trị tốt nhất với cương lĩnh rõ ràng nhất.

Bản chất của chính trị là phải thay đổi, vì chiến lược quốc gia sẽ thay đổi theo từng thời kỳ, cần có một nhóm đủ tầm và đủ tâm để điều hành giai đoạn đó và đưa ra chiến lược phù hợp. Chiến lược không đúng, không sai, chỉ có chiến lược phù hợp với giai đoạn lịch sử nhất định, để giải quyết vấn đề của đất nước, của dân tộc, với mục tiêu tối thượng là “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”. Bởi thế nên mới có cạnh tranh chính trị, bàn luận công khai mà không bị quy chụp kết tội là “phản động”, để mọi người, mọi giới, mọi tầng lớp trong xã hội soi xét để chọn cái nào có lợi nhất cho xã hội vào thời điểm đó. Cái khác là không đánh giá quá khứ đúng sai, mà đang tính những sách lược tương lai, đang vạch ra một con đường sáng cho mọi người, cho dân tộc mình bước tiếp.

Trong khi đó, quân đội là bất biến, với mục tiêu là bảo vệ đất nước, chủ quyền, chống ngoại xâm, giữ hòa bình để đất nước phát triển. Khi đất nước bình yên phát triển, thì chính sự giàu có chung của xã hội, sẽ có phần của quân đội trong đó, mà cụ thể là bản thân quân nhân, con cháu của quân nhân cũng sẽ được sống trong sung sướng.

3. Sự nguy hiểm của chính trị hóa quân đội

Bản chất của quân đội của bất kỳ nước nào cũng không có chính trị. Việc chính trị hóa quân đội có nghĩa là một nhóm chính trị nào đó nắm quyền điều hành quân đội để bảo vệ lợi ích chỉ của nhóm chính trị đó thôi. Việc trao cho Tổng thống quyền “tổng tư lệnh tối cao” khác hoàn toàn với việc “chính trị hóa quân đội” như hiện nay. Bởi vì Tổng thống là của đất nước, của dân, (do dân bầu lên), phụng sự vì dân vì nước, cho dù khi tranh cử là đảng viên của một đảng phái nào đó. Nhưng khi làm Tổng thống, ông không có quyền dùng quân đội để bảo vệ và phục vụ lợi ích của riêng đảng của mình. Tổng thống Ai Cập  Mohamed Morsi mắc phải sai lầm này, và đã bị phản đối.

Có lập luận cho rằng “các đảng phái đều có âm mưu tranh giành quyền điều hành quân đội”, phi chính trị hóa quân đội là “mắc bẫy”. Thực ra cách nói này không đúng, và sai về bản chất vấn đề. Việc phi chính trị hóa quân đội cũng giống như việc gỡ bỏ “vòng kim cô” trên đầu của quân đội mà thôi. Khi đó, quân đội sẽ không bị sai khiến bởi một đảng phái nào đó để phục vụ và bảo vệ cho lợi ích của riêng đảng phái đó, bảo vệ sự tồn vong của nhóm người đó (thiểu số) và vô tình quay lưng lại với nhân dân (đa số). Nhiệm vụ cao cả và thiêng liêng bảo vệ tổ quốc, bảo vệ nhân dân (trong đó có gia đình và người thân của quân nhân) nay không còn.

Nếu lập luận rằng “còn Đảng, còn ta” thì e rằng không thuyết phục. Bởi “Đảng” là đảng, còn “ta” là ta. “Ta” từ nhân dân mà ra, sinh ra để bảo vệ nhân dân, bảo vệ đất nước. Việc trả quân đội về “dân sự”, không “chính trị hóa” sẽ tăng quyền lực thực sự cho các chỉ huy, và có sức mạnh vượt bậc, không bị “một người không có chuyên môn, không biết gì về quân sự” “cỡi đầu cỡi cổ”.

Nếu chính trị hóa quân đội, thì mỗi đảng được lập ra sẽ kèm theo việc lập quân đội riêng để tăng sức mạnh cho đảng đó, nghĩa là sẽ dẫn tới nội chiến! Lúc đó, sức mạnh trí tuệ của đảng được thay thế bằng sức mạnh vũ lực của quân đội. Tức là thay vì thể hiện “trí tuệ hơn người”, thì các đảng phái sẽ tranh nhau thể hiện “cơ bắp hơn người”. Thế thì đất nước rơi vào nội chiến lần nữa chăng?

Các đảng phái tranh nhau bằng trí tuệ, chứ không phải tranh nhau bằng vũ lực. Một khi đã thể hiện vũ lực thì chỉ chứng tỏ cho dân thấy “trí tuệ mình kém hơn người khác”, và không tự tin nghĩ rằng mình sẽ thắng bằng trí tuệ.

4. Thay đổi từ cấp càng cao (chủ động thay đổi) thì càng ít rối loạn và ngược lại

Myanmar đã khôn ngoan, rất khôn ngoan để chọn một lối thoát cho sự bế tắc của họ. Cho đến giờ, sự thay đổi đó chưa tạo ra một rối loạn nào, mà ngược lại tăng uy thế trên trường quốc tế. Từ một nước bị cô lập, bị “đội sổ” trong 10 nước ASEAN, nay Myanmar đã thay đổi.

Vậy ai sẽ thay thế (vị trí của Myanmar)? Việt Nam! Nói tới nước “có vấn đề” trong ASEAN (như hiện nay), mọi ánh mắt đều dồn về “Việt Nam”. Những ánh mắt e ngại của cộng đồng quốc tế đã chuyển từ Myanmar sang Việt Nam. Sự thay đổi này không có ai “giật dây” cả, mà họ thấy cần thiết, thấy có lợi cho dân, và là lối thoát an toàn cho những lỗi lầm trước đây. Tại sao chúng ta cứ khư khư không chịu thay đổi, liệu giấu mãi sai lầm được không? Sự khoan dung của người Việt sẽ an toàn cho tất cả, để cùng tự hào và không mặc cảm khi đi du lịch ra các nước khác.

Các nước bị rối loạn hầu hết là thay đổi chậm, và tệ hơn là thay đổi “từ dưới lên”. Bởi vì khi càng cố giữ, càng tỏ ra bạo lực, thì càng gây thù oán, càng xa dân mà thôi. Khi không có một đảng phái nào nổi trội hơn hẳn, ắt sẽ rối loạn. Cũng như phân tích trên, đảng phái cần được đa số dân ủng hộ thì mới “làm được việc”. Nếu để càng lâu, uy tín của Đảng Cộng sản (hiện nay đang ưu thế) ngày càng thấp sẽ là mối nguy cho xã hội. Thay đổi cũng chính là cơ hội để Đảng Cộng sản tự thay đổi chính tổ chức của mình, để trở nên vững mạnh và được dân tín nhiệm, thì cơ hội cầm quyền là chắc chắn. Khi nào Đảng Cộng sản còn kể công quá khứ, mà né tránh hiện tại, thì khi đó sẽ không thuyết phục được dân theo.

Một sự thay đổi gây rối loạn nữa là do gian lận và mất đi nền tảng pháp lý xã hội. Cứ nhìn những gì chính quyền đang đề nghị (công an được bắn trực tiếp vào dân khi “chỉ cần có dấu hiệu chống người thi hành công vụ”) cho thấy xu hướng bạo lực hóa xã hội ngày càng tăng. Đó là mầm mống của áp bức và bạo lực tự phát sẽ diễn ra. Lúc đó không còn luật pháp (mà hiện nay đã không còn), mọi người hành xử theo cảm xúc, miễn cho mình đúng thì có quyền bắn người khác (kể cả dân sẽ bắn công an – ai biết được!).

Khi có nhiều người bức xúc và “chống người thi hành công vụ” thì nên xem lại đội ngũ “công chức” có hành xử đúng mực không. Bản thân “người thi hành công vụ” cũng phải làm đúng luật thì mới “tâm phục khẩu phục” được.

Cứ hỏi cánh tài xế xem, có bao nhiêu biển báo giao thông bất hợp lý trên đường quốc lộ, và họ đã bị công an “làm tiền và móc túi” như thế nào, họ sẽ kể cả mấy ngày, nghe không hết. Tại sao phải tạo “nhiều cái bẫy” để công an kiếm tiền như vậy? Nhiều “cái bẫy” rõ đến mức chẳng cần học hành gì cũng biết.

5. “Thay đổi” chứ không phải “lật đổ”, không có nghĩa Đảng phải “chết”

Nếu Đảng Cộng sản chủ động thay đổi, đừng xem thường những ý phản biện, rồi mở chiến dịch công kích và bôi nhọ, thì sẽ tốt hơn nhiều. Đừng phản ứng thái quá, bởi lãnh đạo càng cao thì phải càng sáng suốt, lời nói “trước sau như một”, đừng tỏ ra bất nhất như vừa rồi. Các ông hãy hóa trang là người dân thường, đi uống cà phê, đi ăn bình dân… sẽ thấy cả mấy bác xích lô cũng bàn chuyện thay đổi. Tại sao chúng ta quy chụp, trích đoạn để bôi nhọ? Tại sao không cho đăng toàn văn những góp ý, rồi làm một cuộc khảo sát nghiêm túc “Bạn thấy có cần giữ điều 4 không?”, sẽ nhận được câu trả lời ngay. Để đỡ tốn kém, có thể khảo sát trên VNExpress cũng được. Tôi tin là chỉ trong vòng 1 ngày, sẽ có đầy ắp bình chọn. Điều đó cho thấy người dân quan tâm tới chính trị, tới đại cuộc quốc gia, tới tồn vong dân tộc đến mức nào.

Thay đổi tức là “cho phép người khác được nói” khác ý mình mà không bị cầm tù, không bị kết tội. Để qua đó đo lường được sự cần thiết như thế nào, chứ không phải chỉ nói những gì ta muốn nói. Không ai có thể “lật đổ” được Đảng Cộng sản hiện nay, vì những “lực lượng phản động” đã đi nước ngoài hết rồi. Sao lại phải sợ một người chỉ nói mà không có súng đạn trong người? Không lẽ họ nói quá đúng hay sao mà chúng ta lại úp úp mở mở, không công khai toàn văn “họ đã nói gì”?

Nếu Đảng Cộng sản khởi xướng thay đổi bằng việc góp ý sửa đổi Hiến pháp 1992, để rồi thấy “nguy cơ”, rồi “bịt miệng” lại hết, e rằng sẽ không ổn trong tình hình hiện nay. Thay vào đó, khôn ngoan hơn, tỏ ra mình có trí tuệ hơn người, bằng cách “tự thay đổi mà không cần một áp lực nào”, mới là thượng sách. Lúc đó, tôi tin rằng nhiều người sẽ vẫn bầu cho Đảng Cộng sản, chứ không phải một đảng phái nào khác, mà mình cũng không cần “ép dân bầu cho mình” bằng cách giữ điều 4. Tôi tin tỷ lệ đó vẫn là hơn 90%. Lúc đó công trạng của Đảng Cộng sản vẫn được giữ nguyên vẹn, chứ không khéo sau này, dân “tự xử” thì họ chỉ kể tội, mà quên công lao của Đảng Cộng sản là giành độc lập và thống nhất đất nước.

Đảng Cộng sản nếu chủ động tạo thay đổi, sẽ mãi “sống” trong lòng dân tộc, chứ không bao giờ “chết” như nhiều người lo sợ.

6. Gốc rễ của rối loạn xã hội sau chính biến: gian dối và tái lập lợi ích nhóm

Các cuộc chính biến gây rối loạn xã hội, nếu nhìn kỹ thì là do không có một nhóm nào áp đảo các nhóm còn lại, và xã hội đã bị chia rẽ nhiều, hoặc do gian lận với nhau, hoặc do quân đội can thiệp và thiên vị cho một nhóm chính trị nào đó.

Như đã nói trên, chính trị là phải thể hiện “trí tuệ”, phải “đấu trí” chứ không phải “đấu cơ bắp”. Khi tình hình ổn định, nên chủ động tạo ra cuộc đấu trí thực sự, chứ đừng để xã hội dẫn tới một cuộc “đấu súng” do bức xúc không được giải quyết thỏa đáng. Kinh nghiệm các nước cho thấy, rồi tới lúc quân đội cũng sẽ đứng về lẽ phải, về chính nghĩa, khi họ được biết rõ tình hình.

Sự gian dối, vì lợi ích cục bộ của nhóm mình, của riêng đảng mình… sẽ dẫn tới rối loạn sau bất kỳ một cuộc cách mạng nào, cho dù nó nhân danh mỹ miều đến mấy, để lôi kéo mọi người hy sinh giành thắng lợi. Nhưng trước sau thì người dân cũng biết, và động thái phản ứng lại, đòi thay đổi của các cựu đảng viên Cộng sản, các đảng viên hiện tại… là minh chứng cho điều đó. Đảng Cộng sản ngày càng xa dân, ngày càng gần quân đội. Đó là một sai lầm chiến lược. Và đó cũng là gốc rễ của sự chia rẽ, của rối loạn xã hội.

Đảng Cộng sản cho rằng phi chính trị hóa thì quân đội sẽ trở thành “quân đánh thuê”. Nhưng đánh thuê cho ai? Cho nhân dân sao?

Còn nếu chính trị hóa như hiện tại thì quân đội không phải là phục dịch, nô lệ cho Đảng Cộng sản sao? Mà nói trắng ra là toàn thể quân đội chỉ phục vụ cho một nhóm người cầm quyền của Đảng Cộng sản, những người có lợi ích, gọi là “nhóm lợi ích”. Quan hệ như vậy là “chủ tớ” rồi. Há chẳng phải là “đánh thuê” cho Đảng Cộng sản sao?

7. Thay đổi quan điểm quản lý quân đội, chứ không thay đổi bản chất quân đội

Thay đổi được kêu gọi là phi chính trị hóa quân đội, có nghĩa là trả quân đội lại về cho nhân dân – người chủ của đất nước. Tre già măng mọc, quân đội luôn từ nhân dân mà ra, luôn có sức mạnh của tuổi trẻ, trí tuệ của người già.

Quân đội vẫn là thể thống nhất chứ không hề yếu đi, không hề tan rã, mà ngược lại sẽ mạnh mẽ hơn rất nhiều lần. Bởi ai cũng ở đúng vị trí của họ, nên phát huy hết sức mạnh của mình, và chính vì vậy làm quân đội mạnh mẽ hơn. Việc phong hàm tướng tá không còn dựa vào ý kiến của Đảng Cộng sản, mà dựa vào thành tích và tài năng về quân sự của người đó.

Như vậy tiếng nói của các vị tướng tá sẽ được trọng vọng hơn, có sức nặng hơn, chứ không như hiện nay.

Bản chất quân đội là bảo vệ đất nước, bảo vệ nhân dân thì không hề thay đổi. Nếu quân đội lại chỉ bảo vệ Đảng Cộng sản và chống lại nhân dân, đồng nghĩa với phản bội dân tộc, phản bội tổ quốc.

8. Thay đổi có lợi cho con cháu của cả Đảng viên, quân nhân

Sự thay đổi sẽ tạo môi trường phát triển tốt hơn về mọi mặt: kinh tế, văn hóa, nghệ thuật, chính trị…, sẽ làm nảy sinh ra nhiều nhân tài, và từ họ sẽ tạo ra rất nhiều ngành nghề, nhiều công ăn việc làm. Chỉ cần có tài trong bất cứ lĩnh vực nào, mọi người bất kể nghèo hèn, bất kể địa vị, bất kể xuất thân là gì, miễn là có nỗ lực hết mình, có tài thì ắt sẽ trở nên giàu có. Đó mới là “xã hội dân sự” mà chúng ta cần xây dựng.

Không như hiện nay, chỉ dựa vào mỗi quyền lực chính trị thì mới giàu, còn không thì sẽ bị “đập chết”. Hay nói cách khác, nếu bạn không thuộc hai nhóm này thì bạn không thể làm giàu: nước ngoài và tư bản đỏ!

Khi một người giàu có, thì sẽ kéo theo nhiều người khác có thu nhập cao hơn, và nâng mức sống xã hội lên ngày càng cao. Singapore chỉ cần 30-40 năm đã đạt đến thu nhập bình quân đầu người cao nhất nhì thế giới. Người Việt Nam không phải dở, chỉ cần có môi trường tốt, thuận lợi, thì họ sẽ làm việc cật lực để thay đổi cuộc đời. Đó là khát vọng của rất nhiều người Việt. Sinh ra là người Việt, dù ở đâu, cũng phấn đấu để vươn lên vị trí cao hơn, không đời mình thì đời con cháu mình phải đạt được. Đó cũng là ý chí của người Việt. Nhiều người thành đạt ở nước ngoài là vậy. Chỉ cần tạo môi trường tốt!

Có chắc gì con cháu sẽ theo nghề cha mẹ khi nó có một năng khiếu đặc biệt khác, không phải là chính trị? Nó có thể làm giàu bằng chính năng khiếu đó mà không cần dựa dẫm vào quyền lực của cha mẹ? Đó là một xã hội dân sự. Chỉ cần giỏi đá bóng là đủ giàu có, sống xa hoa. Liệu chừng nào cầu thủ Việt Nam có thể sống cả đời bằng chính tài năng của họ?

Sự giàu có chung của xã hội, kéo theo mặt bằng lương cao hơn, và dĩ nhiên lương của quân nhân cũng tăng theo. Chứ không như bây giờ, muốn tăng 100 ngàn là cả một vấn đề. Bởi vì có quá nhiều người đang sống bám vào quyền lực mà không làm gì hiệu quả để sinh ra của cải cho xã hội. Giống như một bầy muỗi hút máu vậy.

9. Xã hội dân sự tạo nhiều ngành nghề và tăng cạnh tranh quốc tế và vị thế quốc gia

Khi đã có tự do, sự sáng tạo của người Việt không bị bó hẹp nữa, sẽ bùng phát phát triển kinh tế, chỉ cần trong vòng 10-20 năm sẽ khác xa hiện nay. Nhiều ngành nghề mà người Việt giỏi thì sẽ được phát triển tối đa.

Sự phấn khởi của xã hội lên cao, niềm tin đã có do lãnh đạo tốt, sẽ kích thích họ làm việc. Và lúc đó không cần tuyên truyền “phải yêu nước” thì tự trong mỗi người cũng sẵn có rồi. Tự hào dân tộc lúc nào cũng có. Những ánh mắt e ngại, xem thường người Việt sẽ không còn, và vị thế quốc gia cũng tăng.

Cách đây 20 năm, tôi đến sân bay Bangkok, thấy người Myanmar nghèo khó ốm yếu nhìn mọi người với ánh mắt ái ngại, nhưng giờ họ có thể ngẩng cao đầu, mà không còn bị thế giới coi thường nữa. Đó là sự thay đổi dũng cảm, ngoạn mục, và của người có tầm, có tâm với đất nước, với dân tộc.

N. Q. B. T.

Tác giả gửi trực tiếp cho BVN.

Posted in Chinh Tri Xa Hoi | Leave a Comment »

►Liệu thái độ can đảm và tinh thần trách nhiệm của anh Nguyễn Đắc Kiên có được mọi người tiếp bước, nhân rộng ra, và làm nên những thay đổi có tính chất lịch sử không?

Posted by hoangtran204 trên 26/03/2013

Từ Rosa Parks đến Nguyễn Đắc Kiên

Tháng 3 25, 2013

Đinh Từ Thức

Cùng ngày 27 tháng 2, 2013, có hai nguồn tin phát xuất từ hai nơi cách nhau nửa quả địa cầu, nhưng xem chừng rất gần nhau:

– Tại Điện Capitol, trụ sở Quốc hội Hoa Kỳ, Tổng thống Obama làm lễ cống hiến Tượng Vinh danh Rosa Parks.

– Tại Hà Nội, nhà báo Nguyễn Đắc Kiên nhận quyết định “không còn tư cách là phóng viên báo Gia đình & Xã hội”.

Từ năm 1776, nước Mỹ đã có bản Tuyên ngôn Độc lập nổi tiếng thế giới mở đầu bằng câu thừa nhận mọi người sinh ra đều bình đẳng, tiếp theo là bản Hiến pháp năm 1791 kèm 10 tu chính được coi là đạo luật nhân quyền căn bản vẫn còn giá trị đến ngày nay. Nhưng một tuyên ngôn hùng hồn chứa đựng tinh thần cao cả với một hiến pháp bảo đảm các quyền bất khả xâm phạm của con người không đương nhiên thể hiện một chế độ tốt đẹp và một xã hội công bằng. Tuy có những văn kiện đẹp như vậy, nhưng gần một thế kỷ sau khi lập quốc, Tổng thống Lincoln đã phải chịu đựng cuộc nội chiến thiệt hại hơn sáu trăm ngàn người để giải phóng nô lệ, và thêm gần một thế kỷ nữa, học sinh da đen vẫn không được học cùng trường với học sinh da trắng, và người da đen vẫn không được ăn chung trong tiệm, hay ngồi chung với người da trắng trên xe bus.

Rosa Parks là một phụ nữ da đen làm nghề khâu vá.

Vào tháng 12 năm 1955, bà Parks bị tài xế xe bus bắt đứng lên nhường chỗ cho người da trắng. Bà nhất định không chịu, ngồi chờ bị bắt. Và bà đã bị bắt đúng như chờ đợi.

Thái độ can đảm của bà đã gây một phong trào phản kháng sâu rộng, không những trong hàng ngũ người da đen, mà được cả sự ủng hộ của những người da trắng yêu tự do và trọng sự công bằng. Phong trào đi đến thắng lợi, và cuối cùng, tượng bà Rosa Parks đã đứng chung với tượng George Washington tại Quốc hội Hoa Kỳ, vào ngày 27 tháng 2, 2013 –

Cùng ngày tại Việt Nam, nhà báo Nguyễn Đắc Kiên mất việc, vì đã can đảm lên tiếng chống lại người có địa vị cao nhất trong Đảng nắm độc quyền cai trị, là Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng.

Để biết thêm sự nghiệp của bà Rosa Parks, xin trích sau đây ít lời của ông Obama trong diễn từ cống hiến Tượng:

Sáng nay, chúng ta mừng một người thợ may, yếu về dáng vóc nhưng mạnh về can đảm. Bà đã thách thức những sai trái, và thách thức bất công. Bà đã sống một cuộc đời hoạt động và một cuộc đời có nhân phẩm. Và chỉ trong một lúc, với những cử chỉ giản dị nhất, bà đã giúp làm thay đổi cả Hoa Kỳ – và thay đổi cả thế giới.

Rosa Parks không giữ một chức vụ dân cử nào. Bà không làm chủ cơ nghiệp nào; đã sống một cuộc đời xa những địa vị quyền lực cao cả. Thế mà hôm nay, bà đã có chỗ đứng xứng đáng cùng với những người đã kiến tạo đất nước này.

Vào một buổi chiều mùa Đông năm 1955, Rosa Parks đã không để người ta đẩy bà ra khỏi chỗ ngồi của mình. Khi người lái xe đứng dậy bắt bà nhường chỗ, bà đã không nhường. Khi ông ta doạ gọi người tới bắt, bà nói giản dị “ông có thể làm như thế”. Và ông ta đã làm đúng như lời đe doạ.

Mấy ngày sau, Rosa Parks thách thức vụ bắt bà. Một mục sư trẻ 26 tuổi mới đến thành phố, ít ai biết tới, đã hỗ trợ bà – người đó mang tên Martin Luther King Jr. Hàng ngàn người ở Montgomery, Alabama, cũng làm như vậy. Họ bắt đầu một vụ tẩy chay – giáo viên và công nhân, tu sĩ và người giúp việc, dưới trời mưa lạnh cóng và nóng như thiêu, ngày nọ sang ngày kia, tuần này qua tuần khác, tháng trước đến tháng sau, họ đi bộ hàng dặm đường nếu cần phải đi, xếp đặt đi chung xe nếu có thể, không màng tới chuyện đôi chân nứt nẻ, hay mệt nhọc sau cả ngày làm việc – đi bộ cho nể trọng, đi bộ cho tự do, tiến bước bởi quyết tâm khẳng định phẩm giá của mình đã được Chúa ban cho.

385 ngày sau khi Rosa Parks từ chối nhường chỗ của mình, vụ tẩy chay chấm dứt. Những người da đen đàn ông đàn bà và trẻ em lại lên xe bus ở Montgomery, mới bỏ lệnh kỳ thị, và ngồi tại bất cứ nơi nào còn chỗ trống. Và với thắng lợi đó, cả một thành trì kỳ thị, giống như những bức tường ở cổ thành Jericho [1], bắt đầu từ từ sụp đổ.

… Chỉ một mình bà Parks ngồi lì trên chiếc ghế đó, tay ôm ví, mắt nhìn qua cửa sổ, đợi bị bắt. Giây phút đó cho chúng ta biết sự việc đã thay đổi như thế nào, hay không thay đổi; chọn lựa chúng ta đã làm, hay không làm.

Như Kinh Thánh đã nói đúng, “bây giờ chúng ta thấy lờ mờ như trong một tấm gương” [2]. Hoặc vì bất động hay ích kỷ, hoặc vì sợ hãi hay chỉ giản dị vì thiếu ý hướng về đạo đức, chúng ta thường sống như trong sương mù, chấp nhận bất công, hợp lý hoá sự bất công và bỏ qua những chuyện không thể tha thứ.

Giống như người lái xe bus, nhưng cũng giống như những hành khách trên xe bus, chúng ta nhìn sự việc như chúng xảy ra – trẻ con đói khát trong một đất nước phong phú, cả một khu phố bị tàn phá vì bạo động, gia đình nghiêng ngửa vì mất việc hay bệnh hoạn – và chúng ta bào chữa vì sao không hành động, và chúng ta tự nói với mình, cái đó không thuộc trách nhiệm của tôi, tôi chẳng có thể làm gì được.

Rosa Parks cho biết luôn luôn có vài thứ chúng ta có thể làm. Bà ấy nói rằng tất cả chúng ta đều có trách nhiệm, với chúng ta và giữa người này với người khác. Bà ấy nhắc nhở chúng ta rằng sự thay đổi đã diễn ra như thế nào – không phải chủ yếu bởi sự khai sơn phá thạch của những người nổi tiếng và quyền lực, mà bởi vô số những hành động can đảm thường là của những người vô danh và tử tế và những người mẫn cảm và trách nhiệm đã cứng đầu, tiếp tục phổ biến quan niệm của chúng ta về công lý – quan niệm của chúng ta về những gì có thể.

Chỉ một hành động bất tuân lệnh riêng lẻ của Rosa Parks đã phát động một phong trào. Những bước chân mệt mỏi của những người đi bộ trên những con đường bụi bặm của Montgomery đã giúp cho cả nước nhìn thấy những gì trước đây họ như mù loà. Chính nhờ những người đàn ông và đàn bà đó mà tôi đứng đây ngày hôm nay. Chính nhờ họ mà con cháu chúng ta lớn lên trong một đất nước tự do hơn và công bằng hơn, một đất nước trung thực hơn với tín điều của các nhà lập quốc [3].

Bà Rosa Parks đã bị mất việc sau hành động cứng đầu của mình, và ông Obama đã nói về bà Parks đúng vào ngày Nguyễn Đắc Kiên mất việc vì thái độ không chịu khuất phục của mình. Sự trùng hợp về thời gian và hoàn cảnh cho người ta cảm tưởng vụ Rosa Parks và Nguyễn Đắc Kiên tuy xa nhau về thời gian và không gian, nhưng quá gần nhau về nguyên do xuất phát. Ngày kết thúc hành động của bà Parks cũng là ngày mở đầu hành động của Nguyễn Đắc Kiên.

Thái độ không sợ hãi của Nguyễn Đắc Kiên khá giống thái độ can đảm của bà Parks, nhưng trong khi nhìn thấy phần kết thúc vẻ vang hành động của bà Parks, người ta chưa thể tiên đoán việc làm của anh Kiên sẽ ra sao.

Bà Parks đã đánh động được lương tâm của một số đông. Những người có cơ hội thức tỉnh này, sau đó đã làm những gì cần phải làm, theo lương tâm và nhận thức của mình, không phải vì bà Parks, hay theo chân bà. Việc làm của anh Kiên cũng đã gây được xúc động trong số đông, “Lời Tuyên bố của các công dân tự do” là một bằng chứng. Nhưng nếu chỉ có thế, việc làm của anh sẽ chẳng đi đến đâu, và sẽ sớm vào quên lãng.

Bà Parks đã được ghi nhớ và vinh danh, không phải vì bà là anh hùng hay siêu nhân, mà chính vì hành động đơn lẻ của bà đã được số đông ủng hộ, đưa đến thành công. Đó là thành công của quần chúng, bắt nguồn từ một hành vi can đảm cá nhân.

Thái độ can đảm của anh Kiên bắt nguồn từ cuộc thảo luận về dự án sửa đổi Hiến pháp. Nhưng dù Hiến pháp được sửa đổi không còn điều 4, nó sẽ không là chiếc đũa thần biến một xã hội tự do dân chủ và công bằng thành hiện thực.

Tuyên ngôn Độc lập của Hoa Kỳ, Hiến pháp Hoa kỳ là những văn kiện tuyệt vời, nhưng 8 năm sau khi bà Parks đã nổi tiếng về hành vi can đảm của mình, vẫn có ông George Wallace, Thống đốc Alabama, chính tiểu bang nơi bà Parks sinh sống, lớn tiếng tuyên bố trong diễn văn nhậm chức của mình trước toà nhà lập pháp tiểu bang vào năm 1963: “Kỳ thị bây giờ! kỳ thị ngày mai! kỳ thị mãi mãi!” (Segregation now!, segregation tomorrow!, segregation forever!). Không phải chỉ tuyên bố suông, ngày 11 tháng 6, 1963, Thống đốc George Wallace đã thể hiện lời hứa qua hành động. Ông đứng chặn trước cửa University of Alabama ngăn không cho hai sinh viên da đen vào trường. Tổng thống John Kennedy phải gửi Vệ binh Quốc gia tới hộ tống cho các sinh viên này nhập học.

Cho nên, chẳng lấy làm lạ, khi gần 70 năm trước Việt Nam cũng đã có bản Tuyên ngôn Độc lập với những lời lẽ tuyệt vời chép lại từ Tuyên ngôn Độc lập Hoa Kỳ, với tên nước Việt Nam kèm theo chế độ “Dân chủ Cộng hoà”, với khẩu hiệu “Độc lập Tự do Hạnh phúc”, nhưng ngày nay vẫn có một Tổng Bí thư Đảng lớn tiếng tuyên bố những ai đòi tam quyền phân lập, đa nguyên đa đảng, và không chấp nhận độc quyền lãnh đạo của Đảng là bọn “suy thoái’, cần “xử lý”.

Trước đó cả năm, ngày 27 tháng 2, 2012, tại Hội nghị cán bộ toàn quốc về thực hiện Nghị quyết Trung ương 4, ông Trọng đã tuyên bố về sự lãnh đạo của Đảng Trước đây đã như vậy, hiện nay đang như vậy, và sau này cũng sẽ vẫn như vậy”. Ông Trọng nói như đinh đóng cột, kém gì George Wallace!

Nhưng Hoa Kỳ được như ngày nay, nhờ họ đã thay đổi không ngừng, kể cả George Wallace. Hai mươi năm sau khi nêu cao quyết tâm sống chết với chủ trương kỳ thị, vào năm 1982, George Wallace công khai thừa nhận trước những người da đen, và trước dư luận rằng ông đã hoàn toàn sai lầm về chủ trương kỳ thị. “I have regretted it all my life.” (Tôi hối tiếc về điều đó đến mãn đời).

Để không cản đường tiến của Hoa Kỳ, những người như George Wallace đã phải thay đổi, và hối tiếc việc làm của mình. Họ không tự ý thay đổi đâu. Chính những người như Rosa Parks, những người tuy thấp cổ bé miệng, nhưng cùng hành động, đã tạo thành một khối “cao cổ lớn miệng”, đủ sức bắt những kẻ như Wallace phải thay đổi.

Và may thay, ngay cả với những người như Wallace, thay đổi không phải là chết như nỗi sợ của Chủ tịch Nước Nguyễn Minh Triết “bỏ điều 4 Hiến pháp là tự sát” – thay đổi còn là mở đường sống. Sau khi thay đổi 180 độ, từ chủ trương kỳ thị tới chống kỳ thị, George Wallace đã đắc cử Thống đốc Alabama lần thứ 4, với sự ủng hộ của đa số cử tri da đen.

Ai sẽ làm những người như Nguyễn Phú Trọng và Đảng của ông ta phải thay đổi, để Việt Nam có thể tiến lên? Không cần phải đợi có những người như Gorbachev hay Yeltsin. Một người như Nguyễn Đắc Kiên, trong một khoảnh khắc được thôi thúc bởi ý thức trách nhiệm, đã bất chấp sợ hãi, đương đầu với cường quyền, tạo được sự chú ý trong quần chúng.

Như Rosa Parks, Nguyễn Đắc Kiên đã làm bổn phận của mình, trước hết là bổn phận đối với mình, không tiếp tục chấp nhận sống nhục, sau là bổn phận đối với xã hội, và đất nước. Rosa Parks đã tạo được một phong trào, đi đến thành công. Nguyễn Đắc Kiên có may mắn như Rosa Parks không, điều đó còn tuỳ thuộc vào thái độ của những người khác. Nếu đa số những người cùng thời với anh chịu tiếp tục cúi đầu sống nhục dưới quyền tự tung tự tác của một đảng cầm quyền như hiện nay, thì may lắm, anh sẽ còn là một chú thích nhỏ trong một trang sách báo lịch sử nào đó.

Phải cần bao nhiêu người, bao nhiêu hành động cụ thể mới đủ để làm bùng lên ngọn lửa Nguyễn Đắc Kiên đã nhóm? Trách nhiệm với đất nước và tình yêu tổ quốc không phải là thứ có thể cân đo đong đếm để có thể trả lời bằng những con số chính xác. Chỉ cần một vụ tự thiêu của Hoà thượng Thích Quảng Đức để đốt cháy cả chế độ của Tổng thống Ngô Đình Diệm nửa thế kỷ trước. Cũng chỉ cần một anh Bouazizi tự thiêu đã đủ làm sụp đổ cả chế độ độc tài của Tổng thống Ben Ali ở Tunisia hai năm trước. Nhưng với trên 100 vụ tự thiêu của người Tây Tạng trong hai năm qua vẫn chưa đủ để tạo chú ý của nhà cầm quyền Bắc Kinh. Chỉ cần một Giải Nobel, Aung San Suu Kyi đã đủ để thay đổi cục diện Miến Điện, trong khi chủ nhân Giải Nobel Đạt Lai Lạt Ma vẫn lui tới Bạch Ốc, nhưng chưa thể đặt chân trên quê hương mình, và chủ nhân Giải Nobel Lưu Hiểu Ba chỉ làm chật thêm nhà tù Trung Quốc. Chừng nào độc tài còn ngự trị, chừng đó người dân chưa làm đủ bổn phận đối với dân tộc mình, đất nước mình. [Chừng nào người dân chưa làm đủ bổn phận của mình đối với dân tộc mình và đất nước mình, thì chế độ độc tài còn ngự  trị]

Cũng cần nói thêm, không phải Tổng thống Obama mang mầu da đen, rồi có quyền tự ý ra lệnh làm tượng bà Parks đem vào đặt ở Quốc hội. Theo đạo luật quy định về việc đặt tượng tại United States Capitol National Statuary Hall ở Quốc hội Hoa Kỳ, có hiệu lực từ ngày 2 tháng 7, 1864, mỗi tiểu bang được quyền đề nghị hai pho tượng. Chính tiểu bang Alabama từng bốn lần bầu cho “vua kỳ thị” George Wallace làm thống đốc, đã chi tiền đúc tượng Rosa Parks. Trong khi tượng Rosa Parks, người phụ nữ da đen đầu tiên, đứng chung với tượng George Washington, thì George Wallace, dưới mồ với nỗi hối tiếc cả đời.

Để phù hợp với đà tiến của xã hội, chỉ trong 58 năm, Hoa Kỳ đã “đổi trắng thay đen”. Trong khi ấy, Đảng Cộng sản Việt Nam cương quyết: “Trước đây đã như vậy, hiện nay đang như vậy, và sau này cũng sẽ vẫn như vậy”.

© 2013 Đinh Từ Thức & pro&contra

 


[1]Jericho, địa danh được nhắc tới nhiều trong Kinh Thánh, nằm phía Tây sông Jodan, được coi là thành phố cổ nhất, xuất hiện từ 11 ngàn năm trước, đã trải qua nhiều phế hưng.

[2] “For now we see through a glass, darkly” trích thư Thánh Phao Lồ gửi tín hữu Cô-Rin-Tô, chương 13, đoạn 12, lời dịch trong Kinh Thánh trọn bộ, Cựu Ước và Tân Ước. Bản dịch của 22 dịch giả do Toà Tổng Giám mục TPHCM thực hiện 1998.

[3] Dịch theo Remarks by the President at Dedication of Statue Honoring Rosa Parks – US Capitol

Posted in Hiến pháp: sửa đổi 2013 | Leave a Comment »

►Những người có mong muốn thúc đẩy dân chủ tự do cho VN cần phải ra khỏi hầm trú ẩn cuối cùng của mình và có “Trách nhiệm với chữ ký”

Posted by hoangtran204 trên 25/03/2013

Trách nhiệm với chữ ký

Nguyễn Đắc Kiên

25-3-2013

Theo blog Nguyễn Đắc Kiên

Tôi sẽ không ngạc nhiên nếu Ban soạn thảo Sửa đổi Hiến pháp 1992 bỏ những ý kiến khác dự thảo vào sọt rác, với lý lẽ: “Có những ý kiến trái chiều nhưng đa số người dân ủng hộ dự thảo”. Tuy nhiên, sẽ là một nỗi thất vọng to lớn nếu một cách hành xử tương tự xảy ra với những người chủ trương Kiến nghị 72 và Tuyên bố Công dân Tự do.

Đằng sau mỗi chữ ký trong hàng nghìn, vạn chữ ký của Kiến nghị 72 – Tuyên bố Công dân Tự do là một con người với những trăn trở, suy tư, thậm chí cả những rủi ro cho bản thân họ và gia đình. Vì thế, có quá đáng không khi chúng ta đòi hỏi một hành xử có trách nhiệm và thực xứng đáng với những chữ ký của mình?

Trả lời BBC Tiếng Việt, GS Nguyễn Huệ Chi cho biết, có nhiều người đã viết những lá thư bày tỏ nỗi buồn, nỗi đau và xin rút tên khỏi danh sách vì thế: “Anh (ông Lộc) vẫn cố giữ được chữ ký thế là tốt rồi”(*).

Còn trả lời RFA Tiếng Việt, ông Nguyễn Đình Lộc nói rằng: “Cái việc hôm ấy đã làm xong rồi thì rút hay không rút làm gì nữa? Chỉ làm bằng ấy thôi chứ có làm thêm điều gì đâu? Chuyện gì mà ân hận nhỉ? Quốc hội kêu gọi nhân dân đóng góp ý kiến thì chúng tôi góp ý kiến thôi có gì đâu mà ân hận? Tiếp thu hay không thì đó là việc của ban soạn thảo, đem trình Quốc hội thì Quốc hội quyết chứ ” (**).

Trong tư cách một người đã ký tên mình vào Kiến nghị 72, tôi hy vọng rằng, đây chỉ là những ý kiến cá nhân của GS Chi và ông Lộc, không phải là quan điểm chính thức của nhóm chủ trương Kiến nghị 72.

“Chỉ làm bằng ấy thôi chứ có làm thêm điều gì đâu?… Tiếp thu hay không thì đó là việc của ban soạn thảo”. Bằng ấy thôi là bằng thế nào? Tốt rồi là tốt thế nào? – tôi đã tự hỏi mình như vậy.

Tôi tin rằng, người ta sẽ có đủ lý lẽ để biện minh cho cái “bằng ấy thôi”, cho cái “tốt rồi”. Tôi sẽ không bàn đến cái “bằng ấy thôi”, “tốt rồi” ở đây, mà sẽ bàn đến cái khác, cái liệu rằng chúng ta có thể làm tốt hơn, có trách nhiệm hơn không?

Tôi luôn tin tưởng vào ý hướng tốt đẹp và tính chính trực của những người chủ trương Kiến nghị 72, nhưng tôi nghĩ rằng có lẽ họ đã làm chưa hết nhẽ.

Khi quyết định ký tên mình vào bản Kiến nghị 72, tôi đã băn khoăn: Tại sao nhóm chủ trương không đưa ra một thời hạn tiếp nhận chữ ký? Tại sao nhóm chủ trương không đưa ra một lộ trình, mục tiêu, sau khi hết thời hạn tiếp nhận chữ ký, họ sẽ xử lý ra sao với những chữ ký đó?

Những câu hỏi này đã trở lại mạnh mẽ với tôi khi nghe ý kiến của GS Nguyễn Huệ Chi và ông Nguyễn Đình Lộc đã nói ở trên.

Cá nhân tôi cho rằng, các nhóm chủ trương Kiến nghị 72 và Tuyên bố Công dân Tự do hoàn toàn có thể làm khác. Ngay bây giờ, họ có thể đưa ra một thời hạn lấy chữ ký. Sau thời hạn đó, có thể cử đại diện trực tiếp trao bản Kiến nghị, lời Tuyên bố cùng với danh sách người đã ký tên cho Ban soạn thảo Hiến pháp, đồng thời, yêu cầu một sự giải trình, đối thoại, tranh luận sòng phẳng về những điểm khác biệt. Tôi nhấn mạnh là đối thoại, tranh luận hoặc nếu là giải trình cũng phải trực tiếp và công khai, tuyệt đối không phải là hình thức trả lời bằng văn bản.

10.000 chữ ký theo Dự thảo Hiến pháp 2013 (tài liệu tham khảo đi kèm Kiến nghị 72) đã có thể mở đường cho một người ứng cử vào Quốc hội làm Nghị sỹ, thì với 11.688 chữ ký trong bản Kiến nghị 72 hay 8.300 chữ ký trong bản Tuyên bố Công dân Tự do hiện có, tại sao lại không thể đòi hỏi một đối thoại chính thức với chính quyền?

Trong trả lời phỏng vấn với BBC Tiếng Việt, GS Chi cũng cho rằng, việc truyền thông nhà nước tuyên truyền, phản bác bản Kiến nghị 72 và các ý kiến khác dự thảo là lẽ thường, là dân chủ. Tôi không đồng ý với cách lập luận này.

Có lẽ vì GS Chi đã không theo dõi những diễn biến gần đây trên truyền hình nên mới có ý kiến như vậy. Tôi theo dõi sát sao cách đưa thông tin trên các đài, báo của nhà nước, đặc biệt trên kênh 1 của Đài truyền hình VN (VTV1). Ở đó, tôi chỉ thấy được một chiều thông tin là có một dự thảo nhà nước đưa ra và hàng loạt các ý kiến bảo vệ cho các điểm trong dự thảo. Tôi không thấy những ý kiến trái chiều và những lập luận để bảo vệ cho các ý kiến đó. Tức là, không có một sự tranh luận, đối thoại sòng phẳng trong chủ đề này. Vì thế, tôi cho rằng, sẽ theo nguyên tắc dân chủ nếu có một diễn đàn tranh luận, đối thoại sòng phẳng trên các kênh thông tin quan trọng trên của nhà nước. Nên nhớ, Đài truyền hình VN cũng như các đài, báo khác của nhà nước như: Nhân Dân, QĐND… là của người dân VN, hoạt động từ tiền thuế của nhân dân nên đòi hỏi này là chính đáng.

Tôi xin mượn lại hình ảnh “hầm trú ẩn” của Nhà báo Huy Đức để nói rằng, không chỉ ĐCS VN, kể cả những người có mong muốn thúc đẩy dân chủ tự do trên đất nước chúng ta, có lẽ đã đến lúc chúng ta cần phải ra khỏi hầm trú ẩn cuối cùng của mình.

Nguyễn Đắc Kiên

__________________________

(*) BBC Tiếng Việt phỏng vấn ông Nguyễn Huệ Chi

(**) RFA Tiếng Việt phỏng vấn ông Nguyễn Đình Lộc

——-

Trang mạng Bauxite Việt Nam không chọn con đường “trí thức cận thần”

 

Nguyễn Huệ Chi

27-3-2013

Theo Bauxite Việt Nam

Nhận được bài viết của nhà báo Nguyễn Đắc Kiên do một bạn đọc gửi tới, bày tỏ những suy nghĩ cá nhân nhân phát biểu của ông Nguyễn Đình Lộc trên VTV tối 22-3 về việc ông ký vào Kiến nghị 72 cũng như việc ông nhận vai trò “trưởng đoàn” trao Kiến nghị 72 cho Quốc hội, và bài trả lời phỏng vấn BBC của GS Nguyễn Huệ Chi trong ngày 23-3 xoay quanh sự việc ấy, BVN xin trân trọng đăng lên để bạn đọc tham khảo. Trước khi đăng, chúng tôi có trao đổi với GS Nguyễn Huệ Chi mong ông viết cho mấy lời đề dẫn, vì bài viết có liên quan đến ông. Dưới đây là những câu trả lời qua thư điện tử của người điều hành BVN:

Nói lên mối thông cảm với ông Nguyễn Đình Lộc là một tình cảm chân thật của tôi, vì tôi nghĩ một người từng giữ chức vị như ông mà nay tự nguyện đặt bút ký vào một Kiến nghị yêu cầu dân chủ hóa như Kiến nghị 72 là không dễ dàng gì và cũng do đó hiện đang ở trong một trạng thái phải chịu những tác động tâm lý không thoải mái gì, thế mà vẫn không rút chữ ký thì chứng tỏ việc đặt bút ký tên của ông không phải là một việc bất chợt hứng lên, hay bị ai lôi kéo, trái lại ông đã nghĩ chín chắn. Đó là thêm một hiện tượng phản tỉnh đáng mừng về nhận thức trong hàng ngũ vốn là quan chức cỡ bự của Việt Nam.

Tôi cũng thành tâm mong gắn kết khối đoàn kết của phong trào dân chủ vốn còn non yếu trong tình thế hiện nay, điều đó hay hơn là vừa nghe lời phát biểu của vị cựu Bộ trưởng Tư pháp – mà mình chưa rõ lý do đích thực vì sao và có xảo thuật gì không trong cách phỏng vấn ông của truyền thông nhà nước vốn chưa bao giờ thiếu xảo thuật – liền vô tình hay hữu ý đẩy ông ta trở lại tư cách “ông quan” chứ không cho ông cơ hội phát huy tư cách “làm dân” nữa – để ông phải tiếp tục bảo vệ bằng chết những điều nó từng trói buộc dân tộc này đã bao nhiêu năm khiến đất nước ngày thêm suy thoái, xuống dốc không phanh. Như thế hỏi có ích gì hay không?

Một phong trào muốn tiến lên thì phải có những người có tầm nhìn, biết tạo sự đồng tâm, gây niềm tin cho quần chúng, chấp nhận mọi khác biệt và tìm được mẫu số chung giữa những khác biệt, chứ nếu khăng khăng đưa ra một tiêu chí cứng nhắc theo ý riêng nào đấy thì chưa họp đã tan ngay thôi.

Tất nhiên, cần hiểu cho rằng tôi không trả lời phỏng vấn về người khác cốt để nói thay “tâm sự” của mình, và cũng không có ý muốn hành xử như ông Lộc. Bản thân tôi, nếu đi trong đoàn đưa Kiến nghị, tôi sẽ không đề nghị cử ông Lộc làm trưởng đoàn, mà cử một người khác có trí tuệ nhưng là một trí thức tự do và tuyệt không từng có địa vị gì trong Nhà nước cả, như thế thoải mái hơn và cũng biểu hiện sự dứt khoát hơn về con đường dân chủ mà mình theo đuổi. Chọn “trí thức cận thần” trước sau vẫn là một sách lược đấu tranh theo kiểu mong mong bề trên… cởi mở. Từ lâu trang mạng BVN đã không làm thế. Tuy nhiên, đã ở trong phong trào thì phải biết gắn bó và đoàn kết với nhau – vì cách làm thì có thể ta không tán đồng nhưng người làm lại xuất phát từ ý tốt, hơn nữa dù nhiều dù ít cách nào cũng góp phần dấn thêm một bước tới đích.

Còn việc một nhà nước toàn trị dùng truyền thông để triệt hạ phong trào dân chủ đang vươn mầm là việc ai cũng dư biết và biết từ lâu, trang BVN đã từng nhiều lần “chịu trận” và lên tiếng đàng hoàng, thẳng thắn. Song để đối chọi lại việc ấy thì không thể bất cứ lúc nào cũng hùng hổ tố cáo mà được, mà hãy gắng phát huy nội lực bằng mọi cách – vì mình là một người đang tự nguyện dấn thân cho một công cuộc dân chủ, mình phải chấp nhận kẻ nói ngược với mình, nhất là khi kẻ đó có đủ phương tiện và quyền lực trong tay thì sự “át giọng” của họ làm sao tránh được. Hãy cứ bình tâm tin tưởng vào xu thế tất yếu của thời đại, khi đã đi đúng quy luật thì đến một lúc nào đấy phong trào sẽ như cái cây lớn vượt lên, bấy giờ ai muốn át giọng cũng sẽ bó tay. Cứ xem từ Kiến nghị bauxite 2009 đến nay, tiếng nói dân chủ đã là cả một bước tiến hùng hậu như thế nào, bởi chúng ta làm những chuyện thực sự ích nước lợi dân, được thực tế kiểm nghiệm và xác nhận (chống khai thác bauxite trả giá nặng nề về nhiều mặt, hay biểu tình phản đối Trung Quốc xâm chiếm biển đảo hun nóng truyền thống yêu nước,…). Cho nên, theo tôi thì mỗi người một việc khác nhau, người này nói khía cạnh này người kia nói khía cạnh khác, không nhất thiết cùng một giọng mới là đồng tâm.

Về sự kiện Kiến nghị 72, anh Nguyễn Đắc Kiên nói rất đúng là không nên chỉ dừng ở mốc lấy chữ ký và cử một phái đoàn trang trọng đến trao Kiến nghị cho Quốc hội là xong. Cần có tiếp một sự đối thoại, tranh luận công khai, trực diện và đến cùng giữa những người bảo vệ các điều đã trở thành vật cản đối với xã hội Việt Nam trong Hiến pháp 1992 và những người khởi xướng Kiến nghị 7 điểm. Việc này ai cũng mong muốn song không dễ, bởi phía bên kia với tư tưởng toàn trị thâm căn cố đế có chấp thuận cho mình không thì không tùy thuộc ở mình. Chúng ta cần có biện pháp nêu lên trước Quốc hội Việt Nam yêu cầu chính đáng và quan trọng này” – Nguyễn Huệ Chi

Bauxite Việt Nam

danluan.org (repost)

Posted in Hiến pháp: sửa đổi 2013 | Leave a Comment »

►Nhờ đài truyền hình phỏng vấn ông Nguyễn Đình Lộc, cả nước biết được tình hình đấu tranh cho dân chủ và đòi xóa bỏ quyền lãnh đạo của đảng

Posted by hoangtran204 trên 25/03/2013

Cần một cái nhìn thực tế và nhân bản!

Tấn Hà

Theo blog Tấn Hà

Ngày 22/03/2013 ông Nguyễn Đình Lộc “lên ti vi” (từ đây xin gọi là bác Lộc cho thân thiện và đúng với vị trí thường dân cũng như tuổi tác của ông Lộc hiện nay) đã gây nên một cơn sốt trên mạng Internet. Người ta thi nhau ném đá, tung chưởng hội đồng vào bác Lộc – một cụ già về hưu, nay đã 78 tuổi – người này tuy hiển nhiên phải là một tay Cộng Sản gộc vì trước kia đã từng làm đến chức bộ trưởng Bộ tư pháp của chế độ Cộng Sản ở Việt Nam nhưng lại là cựu quan chức đầu tiên và cao cấp nhất trong chính phủ đã có hành động đồng thuận đòi xóa bỏ Điều 4 trong Hiến pháp 1992 cùng với các nhân sĩ trí thức Cộng Sản khác.

Bác Lộc – người đã trực tiếp tham gia ký vào “Kiến nghị 72” và giữ vai trò trưởng đoàn trao trực tiếp bản kiến nghị kể trên cho Quốc hội của CSVN ngày 04/02/2013. Thực tế trong video clip trên VTV1 ngày 22/03/2013 bác Lộc cũng chỉ nói những điều có thật diễn ra trong quá trình bản thân hợp tác như thế nào cùng Nhóm 72 và diễn tiến chuyện đi trao bản kiến nghị đó. Đặc biệt là bác Lộc đã không có bất cứ tuyên bố nào nghiêm trọng, đại ý “lấy làm tiếc” hay “xin rút tên ra khỏi Nhóm 72”…

Chuyện khen chê hay chỉ trích, thậm chí là lên án một ai đó, một điều gì đó hoàn toàn là quyền tự do ngôn luận. Nhưng công luận cũng cần có cái nhìn khách quan và nhân bản xuất phát từ thực tế hiện tại. Điều đó đảm bảo rằng, xã hội dân sự mạng Internet thực sự là một môi trường tự do, bình đẳng và công bằng. Có lẽ cách tốt nhất để hiểu người khác là hãy đặt cương vị mình vào hoàn cảnh của họ thì sẽ có cái nhìn khách quan nhất.

Dường như những người chỉ trích bác Lộc đã ngộ nhận bác là một nhà đấu tranh chuyên nghiệp và cứ thế lên án nhà đấu tranh này là “trở cờ”, “phản bội”, “hèn nhát” vv… Sự thật thì Nhóm 72 nhân sĩ nói chung và bác Lộc nói riêng, đã đưa ra được một bản Dự Thảo Hiến Pháp có ý nghĩa dân chủ đích thực. Việc này đã tạo nên những yếu tố tích cực cho công cuộc đấu tranh dân chủ chủ hóa Việt Nam – vốn là quyền lợi, nghĩa vụ và trách nhiệm của toàn dân tộc.

Người ta cũng ngộ nhận rằng, cứ đấu tranh là phải cứng rắn đến cùng, điều này chỉ đúng trong trường hợp chiến tranh nóng, chiến tranh du kích. Đối với đấu tranh ôn hòa thì lại khác, đôi khi người ta phải tiến từ từ, thậm chí có những giai đoạn phải tạm giảm cường độ, thậm chí có những thời điểm bắt buộc phải có những thỏa thuận “ngừng bắn” với đối phương để chờ thời cơ. Đó là những đặc điểm khác biệt của phương pháp đấu tranh bất bạo động.

Đối với từng trường hợp cụ thể, khi đối mặt với bộ máy công quyền, nhất là lực lượng công an an ninh, chẳng ai nên dại dột mà mất công gây căng thẳng dẫn đến việc, từ đối đầu với chế độ Cộng Sản thành ra lại đi đối đầu với cá nhân một vài nhân viên công an cấp dưới, cuối cùng vô tình lại trở thành thù oán cá nhân. Có thể thông cảm cho những bức xúc cá nhân nào đó, nhưng sẽ chẳng ai khuyến khích chuyện một người bị gọi lên đồn công an “làm việc” lại có hành vi chửi bới bù lu té tát, xưng mày tao khiếm nhã với công an…

Ngay cả ông tổ của chiến thuật đấu tranh bất bạo động như Mahatma Gandi hoặc nhà nghiên cứu đấu tranh ôn hòa nổi tiếng – Tiến Sĩ Gene Sharp – cũng đã từng chỉ ra những tình thế mà những người đấu tranh ôn hòa cần gặp gỡ, thương thuyết với nhà cầm quyền, thậm chí có những thỏa thuận nào đó nhằm giảm tải mức độ căng thẳng. Lech Wanlesa – nhà đấu tranh vĩ đại của Ba Lan thời Cộng Sản – sau này là tổng thống đầu tiên của Ba Lan, cũng đã từng phải ký một vài thỏa thuận mang tính thỏa hiệp với chế độ Cộng Sản Ba Lan để được tha tù…

Như vậy nếu ai đó cứ bắt những người đấu tranh ôn hòa phải trở thành những chiến binh thép thì rất không thực tế. Tệ hơn, những người chỉ trích, lên án trên mạng Internet nhằm vào những đối tượng như đối với trường hợp bác Lộc, phần lớn lại là những người ẩn danh. Sẽ là một điều đáng xấu hổ khi đứng trong bóng đêm mà “vung tay” như vậy. Và nếu họ còn trẻ thì lại là một điều đáng xấu hổ hơn, khi bản thân mình thì phải chui nhủi giấu mặt nhưng lại lớn tiếng chê bai một cụ già đã ở cái tuổi an phận thủ thường để chờ về với ông bà, rằng (thì là) không dũng cảm!

Trong đấu tranh ôn hòa, chúng ta không quên ngợi khen những người như blogger Điếu Cày, tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ, cô Phạm Thanh Nghiên vv… Nhưng ngay cả việc nhận tội một cách có chừng mực trước công an và tòa án cũng không thể coi là một hành động đầu hàng. Mặt khác, những hành vi “khai tất tần tật”, “khai tuốt tuồn tuột”, rồi đổ lỗi cho bạn đấu tranh, nói mình bị dụ dỗ lôi kéo vv.., lại là điều xấu. Trong chiến trận, người ta coi trọng yếu tố dũng cảm, liều chết, nhưng cũng vẫn phải nói “mưu trí, dũng cảm”. Ngược lại, trong đấu tranh bất bạo động thì yếu tố mưu trí, khôn khéo, luôn được đặt lên hàng đầu…

Nhân chuyện về bác Lộc, cũng xin nhắc đến một việc khác cũng “nóng” không kém. Số là trên trang báo “Nhân Dân” của nhà cầm quyền CSVN lâu nay xuát hiện nhiều bài báo rất xấu quy chụp, bôi nhọ người đấu tranh là thế này thế khác. Đặc biệt là bài “Quay đầu lại là bờ” của một tác giả ma – Tuyên Trần – phổ biến trên Báo Nhân Dân ngày 21/03/2013. Bài báo kể trên đã rất kệch kỡm và ngu dốt khi nói về những người đấu tranh, nó còn thể hiện sự kém hiểu biết về thực tế của xã hội dân sự tự do.

Đã là đấu tranh tự do thì đó là một sự mở rộng không giới hạn, ai thích lên tiếng thì cứ tự nhiên, không ai cấm. Và họ muốn trở thành nhà đấu tranh độc lập hay tìm một tổ chức để làm phương tiện tốt hơn thì họ đều có quyền đó. Đối với những tổ chức đấu tranh chính quy thì có những nét riêng, nhưng đôi lúc cũng không tránh khỏi những sự thiếu chặt chẽ trong khâu quản lý nhân sự. Đặc biệt là đối với những nhà đấu tranh tự do hoặc đối với một tổ chức nào đó, nhưng do hoàn cảnh bị đàn áp mà tổ chức đó trở nên không có được sự chỉ đạo sát sao…

Như vậy, đối với những nhà đấu tranh ôn hòa, hôm nay họ có thể gia nhập phong trào đấu tranh, nhưng ngày mai họ có thể rút lui, không ai có quyền can thiệp, và vì vậy cũng đừng nên nặng lời chỉ trích họ. Sự lên tiếng của một cá nhân, hay một nhóm, dù ở mức độ nào cũng đều đáng trân trọng. Mặt khác, vì là tự do cho nên ngay cả công an chìm cũng có thể “tham gia đấu tranh” để ngầm phá hoại phong trào từ bên trong, những người đấu tranh bắt buộc phải chấp nhận thực tế này. Như vậy để tránh bỏ sót, bất cứ ai lên tiếng đấu tranh đều xứng đáng được vinh danh, bất luận người đó là ai.

Những đặc điểm trên là cái tuyệt hay của xã hội dân sự tự do: Anh muốn nói gì thì nói, làm gì thì làm, hôm nay xã hội thấy hay thấy tốt thì họ cổ xúy anh, ca ngợi anh, nhưng ngày mai người ta phát hiện ra anh “có vấn đề” hoặc mắc sai lầm thì họ sẽ lại phản đối anh như thường. Đối với những người nổi tiếng (các văn nghệ sĩ, chính trị gia, tỉ phú, tổng thống…) họ luôn bị xã hội, nhất là cánh báo chí xoi mói. Chính nhờ điều này mà những người nổi tiếng luôn phải giữ mình cho tốt, sao cho xứng đáng với tên tuổi của họ. Và bỗng nhiên những chuyện “khó chịu” đó lại có tác dụng răn dạy không ngờ!

Cần đi sâu một chút như vậy để báo Nhân Dân và tác giả Tuyên Trần hiểu rõ thế nào là xã hội dân sự tự do. Và như vậy, ở đâu đó, một lúc nào đó có một vài người đấu tranh sống chưa đạt với tiêu chí khắt khe của xã hội thì đó hoàn toàn là điều dễ hiểu. Chưa kể đến chuyện có những kẻ đội lốt đấu tranh nhằm luồn sâu phá hoại phong trào, họ cứ thoải mái “mắc sai lầm” cá nhân nhằm hạ uy tín chung của người đấu tranh. Đó cũng là cái khó cho bất kể một cuộc đấu tranh phản kháng ôn hòa nào. Và chúng ta hãy khoan vội kỳ vọng vào những vị “thánh sống” kiểu như Hồ Chí Minh, vì trên đời này không có người nào như vậy, thậm chí đó là người tu hành thoát tục thì cũng còn có những phần trăm ngoại lệ!

Trong lúc đất nước đang cần mọi thành phần, mọi giới, mọi tôn giáo, mọi lứa tuổi cùng chung sức trong công cuộc tháo gỡ chế độ độc tài CSVN, hãy nhìn nhận mọi sự lên tiếng với góc nhìn tích cực nhất. Và chúng ta hoàn toàn có thể hiểu, đồng thời chấp nhận hành động “lên ti vi” của bác Nguyễn Đình Lộc. Không những thế, chúng ta nên bình thường hóa việc đóng góp vào các nỗ lực chung, hãy một lần làm một cái gì đó cho đất nước nếu mình nhận thức điều đó là có lợi, hay đơn giản chỉ là giải tỏa bức xúc cá nhân, và họ có thể rút lui trong trật tự khi cảm thấy mình không đủ sức… Đó là những điều thực tế và đó cũng là nhân bản!

Tấn Hà

Posted in Hiến pháp: sửa đổi 2013 | Leave a Comment »

►“Những tuyên truyền hiện nay của truyền thông nhà nước có giá trị tích cực”

Posted by hoangtran204 trên 25/03/2013

Lời Tựa: Mấy tháng trước đây, nhà nước Việt Nam vận động xin làm thành viên của Hội Đồng Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc, nên họ giả bộ làm vài hành động tích cực như  sớm trả lại tự do cho luật sư Lê Công Định, thả Lê Thăng Long trước thời hạn… Mặc dù vậy, Việt Nam vẫn không được chấp thuận làm thành viên của Hội Đồng Nhân Quyền LHQ trong cuộc bầu cử ngày 25-2-2013 vừa qua.  

Mấy tuần qua, có tin là Bộ trưởng quốc phòng VN đang bắn tiếng muốn mua vũ khí của Mỹ nhằm “đề phòng” Trung Cộng. Nhưng biết rõ tẩy của đảng và nhà nước, nên phát ngôn viên của Bộ Quốc Phòng Mỹ đã cho biết là: đảng CSVN và Nhà cầm quyền Hà Nội phải cải thiện nhân quyền nhiều hơn nữa thì quốc hội Mỹ mới cứu xét việc bán vũ khí. Vì vậy, nhà cầm quyền Hà Nội cũng giả vờ  muốn làm vui lòng quốc hội Mỹ và dư luận quốc tế về vấn đề nhân quyền, nên đã nới lỏng không còn biệt giam Trần Huỳnh Duy Thức nữa và đồng thời đưa ra phong trào sửa đổi (tu chính) Hiến Pháp 1993. 

Nhưng dù đảng và nhà nước có bày tỏ tôn trọng một vài tù nhân chính trị, thì chắc chắn Mỹ cũng sẽ không bán vũ khí cho nhà cầm quyền Hà Nội, vì họ thừa biết rõ: nhà cầm quyền Hà Nội tâm địa rất giảo hoặc và tráo trở, một lòng thần phục Trung Cộng. Và họ cũng biết rõ:  nếu Mỹ bán vũ khí cho Hà Nội, thì chỉ vài ngày sau là đảng sẽ mời Trung Cộng đến đánh cắp kỹ thuật quân sự của Mỹ. Đảng CSVN và nhà nước rất trung thành với Trung Cộng. Dẫu Trung Cộng chiếm Biển Đông, chiếm quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, bắn giết hàng trăm hàng ngàn ngư dân VN mà đảng và nhà nước còn không dám hó hé, thì chuyện mua vũ khí của Mỹ chỉ là chuyện giả vờ, không ngoài mục đích là dâng cho Trung Cộng các kỹ thuật quân sự mới của Mỹ  chứ làm gì có gan chống Trung Cộng.  

Cứ xem nước Ba Lan sau khi lật đổ chế độ cộng sản năm 1989,họ  đã lập hiến pháp mới và thành lập chế độ dân chủ, có nhiều đảng phái hoạt động, có bầu cử và ứng cử tự do, và đặt đảng CS Ba Lan ra ngoài vòng pháp luật, tôn trọng nhân quyền…vậy mà nước Ba Lan phải đợi 10 năm sau, đến năm 1999, mới được trở thành thành viên chính thức của khối NATO. Và suốt trong 10 năm ấy, chính quyền do dân cử của Ba Lan  đã có những bước tiến về dân chủ và tôn trọng nhân quyền rất đáng ca ngợi. Sau khi vào được khối NATO, quân đội của Ba Lan được giảm xuống còn 150.000 người, so với trước đó là 400.000 người. Sự phòng thủ của Ba Lan nay do mấy chục quốc gia trong khối Tây Âu và Mỹ đảm nhiệm và Ba Lan không còn phải lo sợ Nga tấn công nữa. 

Các quốc gia trong Hội Đồng Nhân Quyền LHQ và chính phủ Mỹ biết rõ tâm địa và việc làm của nhà cầm quyền Hà Nội nên họ chỉ lắc đầu và  khuyến khích Hà Nội mà thôi chứ chẳng trông mong gì đảng CSVN và Nhà nước có những thay đổi lớn lao về nhân quyền, tự do ngôn luận, và chấp thuận sửa đổi hiến pháp đồng ý để cho các đảng phái hoạt động, có bầu cử và ứng cử tự do…    

Anh Trần Huỳnh Duy Thức, sau hơn 8 tuần bị biệt giam, đã được về khu nhà tù với khu sinh hoạt mới được nâng cấp để phục vụ cho ý đồ hiện nay của nhà nước; khu này mới được tạo ra ( nhằm gây sự chú ý của quốc hội Mỹ và thiện cảm của quốc tế) về việc nhà cầm quyền Hà Nội muốn khoe là đối xử tốt với tù nhân để phục vụ cho công tác đối ngoại của đảng: muốn mua vũ khí của Mỹ.

Nhờ có khu sinh hoạt mới mở, anh THD Thức được xem truyền hình ban đêm và đã có một cái nhìn rất thú vị về tình hình hiện nay ở VN. Mời các bạn đọc bài sau đây:

Một chuyến thăm Thức: “Những tuyên truyền hiện nay của truyền thông nhà nước có giá trị tích cực”

Tác giả Trần Văn Huỳnh

Nguồn facebook.com/tranhuynhduythuc

Sáng Chủ Nhật ngày 24/03/2013 tôi và gia đình đi thăm Thức định kỳ mỗi tháng. Có một tin vui là Thức đã không còn bị biệt giam. Họ quay rào một khu sân rộng khoảng 100 m2 trước 3 căn phòng nhỏ liền kề nhau, cũng trong khu cách ly mà Thức vẫn ở lâu nay. Họ mở cửa từ 6h sáng đến 11h trưa và 2h đến 5h chiều. Trong khu sân nhỏ này giờ có 6 tù nhân chính trị là Thức, Hùng, Tuấn, Cường, Việt Khang và Giang. Mỗi phòng có 2 người. Thức ở chung với Việt Khang tại căn phòng trước đó Thức vẫn ở biệt giam một mình. Vào giờ họ mở cửa, các anh em ra ngoài chơi chung với nhau, có lò than để nấu ăn, và đang dọn dẹp xà bần để có đất trồng rau ở cái sân 100m2 đó.

Thức kể rằng họ qui định không được cờ bạc nên không cho đánh cờ tướng vì bị liệt vào cờ bạc. Tuy nhiên mấy anh em đã tự vẽ cờ và chơi với nhau. Họ thấy nhưng đã không cấm cản.

Do được ra ngoài nên nhìn Thức hồng hào hơn sau 8 tháng biệt giam. Tôi nghĩ kết quả này có phần đóng góp quan trọng của việc anh Long đã công bố rộng rãi tình trạng ngược đãi đối với Thức.

Hôm nay Thức nói chuyện rất vui. Khi tôi hỏi có xem báo, TV về sửa đổi hiến pháp không, Thức nói mấy anh em ở đây rất chú ý đến các tin tức này nên theo dõi kỹ trên báo Nhân dân và thời sự VTV 19h. Dù tin tức không đầy đủ như bên ngoài nhưng mọi người cũng đoán được những điểm nóng là Nguyễn Đắc Kiên, Nguyễn Đình Lộc và bản hiến pháp của giới trí thức. Thức có nói một điều tôi thấy rất có ý nghĩa:

“Những tuyên truyền hiện nay của truyền thông nhà nước có giá trị tích cực. Nó làm cho hầu hết nhân dân biết về những điều lâu nay họ không biết như Điều 4 Hiến pháp, tam quyền phân lập, quân đội phải trung thành bảo vệ đảng hay bảo vệ nhân dân… Một khi người dân biết thì sẽ dần quan tâm và bớt đi sự thờ ơ.”

Thức cho rằng lâu nay những việc hệ trọng đó số đông người dân không được biết đến. Nhưng việc tuyên truyền lần này sẽ thay đổi sâu rộng tình trạng đó. Rồi Thức kết luận: “Nhận thức của nhân dân sẽ hướng dần đến lẽ phải như một quy luật. Ai xem thường nhân dân, nghĩ dân không hiểu biết nên muốn nói gì cũng được thì chắc chắn sẽ phải trả giá đắt không lâu nữa.”

– Trần Văn Huỳnh –

——–

Việt Nam bị chỉ trích trước Hội đồng Nhân quyền LHQ

Thanh Hà (Theo RFI)

25-2-2013

 

Trước Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp Quốc – Genève, ngày 08/03/2013 giới bảo vệ nhân quyền tố cáo Việt Nam bắt giam hàng chục nhà đấu tranh trên mạng và chính quyền Hà Nội vi phạm luật quốc tế. Đại diện cho các nhà hoạt động Liên Đoàn Quốc tế Nhân quyền và Ủy ban Bảo vệ Quyền làm Người Việt Nam, ông Võ Văn Ái kêu gọi « Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp Quốc gây áp lực với phía Việt Nam để chấm dứt các hành vi đàn áp » kể trên.

Theo ông, hiện có 32 nhà viết blog và các nhà đấu tranh bày tỏ bất đồng chính kiến trên mạng đang bị giam giữ tại Việt Nam. Một phần trong số đó đã có án hoặc đang chờ bị xét xử. Họ có thể bị lãnh đến 16 năm tù.
Chủ tịch Ủy ban Bảo vệ Quyền làm Người Việt Nam Võ Văn Ái cho biết thêm : « Các hành vi đàn áp không góp phần bảo vệ an ninh quốc gia như lời giải thích của chính phủ Việt Nam, mà chỉ nhằm bịt miệng các tiếng nói trong một xã hội dân sự đang trỗi dậy để tố cáo các hành vi tham những, lạm quyền, để nói lên thảm cảnh của người nông dân bị cướp đất. Đó là những tiếng nói đòi nhân quyền và kêu gọi cải cách dân chủ. »
Tại Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp Quốc, ông Võ Văn Ái đã kêu gọi Việt Nam thu hồi Pháp lệnh 44 đã được ký vào năm 2002. Pháp lệnh đó cho phép giam giữ mà không cần thông qua các thủ tục pháp lý những phần tử bị coi là đe dọa đến an ninh quốc gia. Ông cho biết Việt Nam đã sử dụng điều khoản này để chống lại các blogger, thậm chỉ kể cả việc đưa họ vào bệnh viện tâm thần.
Một nhà hoạt động khác là bà Penelope Faulker thuộc tổ chức Cùng Hành động cho Nhân quyền có trụ sở ở Pháp, lưu ý Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp Quốc rằng sau cuộc duyệt xét của Liên Hiệp Quốc năm 2009, Hà Nội đã cam kết thực thi quyền tự do thông tin. Tuy nhiên, theo bà : « chỉ nội trong năm qua, nhiều blogger, nhà báo mạng, và người bênh vực nhân quyền tại Việt Nam đã bị sách nhiễu, hù dọa, bị công an làm khó dễ, hoặc đã bị tống giam nhiều ngày một cách thô bạo chỉ vì, bằng một cách ôn hòa họ đã dám bày tỏ quan điểm trên Internet ».
Việt Nam hiện nay không phải là một trong 47 thành viên của Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp Quốc. Tổ chức Phóng viên Không Biên giới coi Việt Nam là một quốc gia thù nghịch với Internet.

Posted in Chinh Tri Xa Hoi | Leave a Comment »

►Tàu Trung Quốc bắn tàu đánh cá Việt Nam 24-3-2013

Posted by hoangtran204 trên 24/03/2013

Sau khi bài báo này được các báo Tiền Phong, Báo Mới…đăng lên ngày 24-3-2013, thì chỉ vài giờ, tất cả các báo đều phải rút bản tin này xuống. Bấm vào  link cũ vào các bài báo này thì chỉ còn là khoảng trống.

Điều này cho thấy nhà cầm quyền Hà Nội chỉ là tay sai của TQ, đảng và nhà nước VN không phải là chính quyền đại diện của một nước  có độc lập và có chủ quyền. Họ rất sợ hải Trung Cộng. Ngay cả khi ngư dân VN bị bắt nạt ngay trên vũng biển lãnh hải mà cũng không dám đăng tin phản đối TQ, không dám họp báo, không dám triệu hồi đại sứ TQ tại VN đến trao kháng thư phản đối, thì người dân VN còn trông mong gì sự bảo vệ của nhà nước khiếp nhược này? Đảng CSVN quang vinh ở nơi đâu? 

Tàu Trung Quốc bắn tàu cá Việt Nam

Theo báo Tiền Phong

24-3-2013

a1_cabin_chay.jpg

TP – Tàu cá QNg 96382 TS của ngư dân Lý Sơn (Quảng Ngãi) vừa bị tàu tuần tra của Trung Quốc bắn cháy rụi nóc cabin khi đang đánh bắt tại vùng biển Hoàng Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam.

 

imagehandler.ashx_.jpg
Nóc cabin tàu QNg 96382 TS của thuyền trưởng Phải bị bắn cháy đen.

 

Bắn vào tàu của ngư dân Việt

Ngày 22/3, tàu cá QNg 96382 của thuyền trưởng Bùi Văn Phải (xã An Hải, Lý Sơn, Quảng Ngãi) cập về Lý Sơn trong cảnh tơi tả, cabin của tàu cùng nhiều đồ đạc cháy nham nhở.

Thuyền trưởng Bùi Văn Phải (25 tuổi), kể lại: Khoảng 10 giờ ngày 20/3, khi sắp kết thúc phiên đánh bắt tại khu vực đảo Lin Côn thuộc quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam, tàu ông – gồm 9 ngư dân – đụng phải chiếc tàu tuần tra của Trung Quốc mang số 786, sơn màu trắng xám.

Tàu sắt Trung Quốc liền hùng hổ đuổi theo. Thuyền trưởng Phải kéo ga chạy thật nhanh. Do nằm ở vị trí không có rạn san hô ngầm để lọt vào tránh né như mọi lần, ngư dân đành cho tàu chạy thẳng.

Bọn lính bên tàu tuần tra liên tục buộc tàu ngư dân dừng lại. Khoảng 30 phút sau, bất ngờ đạn lửa từ tàu tuần tra Trung Quốc (có thể là động tác cảnh cáo) bắt đầu nã sang ca bin tàu ngư dân của ta.

Hốt hoảng và bất ngờ, các ngư dân đang ngồi trước mũi thuyền liền đưa tay lên đầu la to. Nóc cabin bắt đầu bốc cháy ầm ầm. Tấm bạt nhựa trên cabin tan chảy để lộ ra 4 bình gas đang nằm giữa đống lửa rừng rực. Nếu không kịp thời dập tắt đám cháy thì có thể nổ tàu.

Ông Thạch, một ngư dân lớn tuổi, liền lao lên nóc ca bin, 8 ngư dân còn lại múc nước đưa lên chữa cháy. Lúc này chiếc tàu tuần tra Trung Quốc vội vã tháo lui.

Hiện trường tàu cá lúc trở về trên nóc cabin tàu là những chiếc bình gas cháy sém, mì tôm bắt lửa biến thành cơm cháy, quần áo thủng lỗ chỗ… Thuyền trưởng Phải cho biết, chi phí sửa chữa tàu chỉ vài chục triệu đồng, nhưng thiệt hại vì tổn phí chuyến biển lên đến hàng trăm triệu đồng.

Trung tá Nguyễn Văn Thanh, Đồn phó đồn Biên phòng Lý Sơn, cho biết, đơn vị đã chỉ đạo cho các đội nghiệp vụ thu thập hồ sơ để báo cáo về trên xử lý.

Đuổi bắt ngày càng gắt gao

 

imagehandler.ashx1_.jpg

Ngư dân trên tàu ông Trung trình bày việc bị phía Trung Quốc phá tài sản và cướp cá. Ảnh: Thanh Trung .

 

Chuyện tàu tuần tra Trung Quốc rượt đuổi ngư dân ta ở Hoàng Sa thì như cơm bữa, nhưng theo thuyền trưởng Phải, gần đây, tàu tuần tra Trung Quốc trở nên hung hăng hơn.

Chuyến biển trước đó, tàu của thuyền trưởng Phải cũng bị truy đuổi rất căng thẳng. Khi ấy, tàu đang đánh bắt gần khu vực đảo Đá Lồi ở Hoàng Sa. Con tàu với 9 ngư dân men theo các đảo, để phòng trời đổ gió thì có chỗ núp.

Đến ngày thứ 7 ở Hoàng Sa, trong lúc thợ lặn đang hì hục dưới nước, ngư dân phát hiện có bóng dáng tàu tuần tra Trung Quốc màu sơn trắng. Anh em ngư dân lôi ông Hùng và ông Sáu đang lặn dưới nước lên thuyền.

Do lặn sâu nên các ngư dân cứ kéo lên vài mét thì phải dừng lại để thợ lặn không bị sốc. “5 phút để kéo thợ lặn nhưng lâu như 1 tiếng đồng hồ, bởi vì con tàu tuần tra cứ nhắm tàu mình xỉa tới” – ngư dân Thạch kể.

Hai chiếc tàu Trung Quốc chỉ trong nháy mắt đã đuổi kịp con tàu ngư dân Lý Sơn. Thuyền trưởng Phải còn nhớ, hai tàu của Trung Quốc mang số 262 và 263.

Hai chiếc tàu này vờn tàu ngư dân Việt Nam khoảng 40 phút. Con tàu cá nhỏ bé nép chính giữa cứ nổ máy chạy, kiên quyết không dừng. Chiếc tàu tuần tra bên trái rướn lên cản trước mũi thì chiếc bên phải hạ ga ép sau đuôi tàu ngư dân Việt Nam.

Thuyền trưởng Phải lập tức nhả ga, giật số, ghìm tốc độ, cho mũi tàu lắc sang một bên và tiếp tục cho tàu chạy nhanh. Cứ như thế, 2 con tàu sắt hùng hục lao theo thay phiên nhau cản mũi. Anh em ngư dân Việt kiên quyết không đứng lại.

Ngay khi cuộc rượt đuổi bắt đầu, các ngư dân tranh thủ cất giấu toàn bộ máy thông tin liên lạc, đề phòng tàu tuần tra bắt được thu giữ đồ nghề.

Sau khi chạy thoát, các ngư dân mở máy liên lạc ngay vào đất liền báo cáo cho trạm kiểm soát biên phòng An Hải, thông qua kênh thông tin của Đài Duyên hải miền Trung.

Tại xóm biển Châu Tân, xã Bình Châu (Bình Sơn), thuyền trưởng Bùi Văn Trung (tàu QNg 50949) trình bày với Thiếu tá Nguyễn Ngọc Thận, cán bộ đồn Biên phòng Bình Hải về vụ việc ra Hoàng Sa bị Trung Quốc xua đuổi và thu tài sản.

Khi đó, các ngư dân cho tàu trụ bám tại đảo Xà Cừ gần đảo Trụ Cẩu để lặn bắt tôm và hải sâm. Ngày 17/3, tàu tuần tra của Trung Quốc mang số 306 đã đuổi bắt tàu ngư dân. Để áp sát, chiếc ca nô trên tàu tuần tra được thả xuống và bám riết con tàu.

Một nhóm lính Trung Quốc nhảy lên tàu ngư dân khống chế chạy vào một cồn cát gần đảo rồi đập phá, lục soát, lấy đồ đạc. Dây lặn hơi bị chặt nát, máy định vị, máy dò bị lấy, nhiều đồ đạc bị quăng xuống biển. Tôm cá – thành quả 17 ngày đêm đánh bắt – bị hốt đổ sang tàu tuần tra.

Xót vì mất của, nhưng thuyền trưởng Bùi Văn Trung còn xót ruột hơn, khi từ đầu năm đến nay, những hòn đảo, cồn cát ở Hoàng Sa dù không có người ở nhưng Trung Quốc đều xây cột mốc và cắm cờ Trung Quốc.

Bản tin dưới đây đã bị báo Tiền Phong xóa.

Tàu Trung Quốc bắn tàu cá Việt – Tiền Phong Online

22 hours ago – Tàu Trung Quốc bắn tàu cá Việt. > Nhật muốn đóng tàu lớn cho ngư dân miền Trung > Yêu cầu Trung Quốc không cản trở tàu cá Việt Nam 

——————

Tàu Trung Quốc bắn cháy tàu cá Việt Nam

Mặc Lâm, biên tập viên RFA
2013-03-24

Sau một thời gian im ắng tàu Trung Quốc lại bắn trực tiếp vào một tàu cá Việt Nam khi chiếc tàu này đánh bắt cá trong vùng biển Hoàng Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam.

Mặc Lâm có cuộc phỏng vấn với anh Phạm Quang Thạnh, thuyền trưởng chiếc tàu nạn nhân này khi nó vừa cặp bến đảo Lý Sơn.

Phạm Quang Thạnh: Tên em là Phạm Quang Thạnh sinh năm 1980, thuyền trưởng của phương tiện tàu anh Bùi Văn Phải, số tàu là 96382, công suất máy là 105 CV. Bây giờ em trình bày chuyến đi vừa rồi.

Tụi em xuất bến vào ngày 28 tháng 2, em đi đến đảo Hoàng Sa ngay Gò Đá Lồi, em neo tại đó để tránh gió. Ngày 13 thì em đã đến vị trí làm ở đảo Lin Côn tọa độ là 16-32 phút 112-36 độ kinh đông.

Mặc Lâm: Anh vui lòng cho biết tàu Trung Quốc xuất hiện vào lúc nào và khi ấy thì anh và các thuyền viên đang làm gì?

Phạm Quang Thạnh: Sáng ngày 13 trong lúc anh em đang lặn thì em phát hiện có hai chiếc tàu của Trung Quốc màu trắng. Tàu của Trung Quốc mang biển số là 262 và 263 áp sát vào em để đuổi em. Tàu này màu trắng nhưng thủy thủ mặc đồng phục màu xanh biển và có cầu vai, mũ bằng. Em suy nghĩ là tàu cảnh sát biển.

Hai tàu nầy áp sát vào tàu em, mỗi tàu kẹp một bên để đuổi em ra khỏi vùng biên. Em chạy tầm 15 hải lý thì tàu Trung Quốc quay vào. Chiều ngày hôm đó em quay lại vị trí cũ để làm tiếp tục cho tới ngày 20 thì tụi em gặp một chiếc tàu Trung Quốc khác mang số hiệu 786.

Mặc Lâm: Chiếc tàu này xuất hiện khi tàu của mình đang tác nghiệp hay đang trên đường tìm chỗ để đánh cá?

Phạm Quang Thạnh: Dạ dạ không anh, khi phát hiện ra nó thì tụi này ở đàng xa đã bỏ chạy rồi. Sau đó cỡ tầm 30 tới 40 phút sau thì nó đã đến sát tàu em. Khi tới sát rồi nhưng nó cũng không ra tín hiệu gì còn mình thì lo chạy phần mình, nó lo kè phần nó. Dí đuổi mãi tới vài mươi phút sau nó đấu đầu tàu em buộc phải quay tàu. Sau khi quay xoay tròn vài vòng bắt đầu em cắt hướng đi để về hướng Đông ra khỏi vùng biên. Nhưng lúc đó nó đứng sát em nó dùng súng bắn thẳng vào tàu em.

Mặc Lâm: Anh có nhận ra là lính Trung Quốc dùng súng gì để bắn vào tàu của mình vậy, đó là loại súng cá nhân hay là loại được gắn vào tàu?

Phạm Quang Thạnh: Dạ đó là súng cá nhân tại vì em thấy những người trên tàu của nó cầm súng ra chĩa vào tàu em để bắn. Lúc đó em đã chạy vào cabin, em nghe bốn tiếng nổ và phát hiện là tàu em đã bị cháy ở cabin, nó bị bốc lửa và cháy. Lúc đó em hô cho tất cả anh em thuyền viên múc nước biển để cứu lửa. Lúc đó lửa nó cháy gần tới bốn bình gas đang nằm ngay trên cabin, em sợ bốn bình gas này phát nổ thì anh em trong tàu không ai sống sót nên em mạo hiểm tính mạng tới ngay cabin để dập tắt ngọn lửa.

Mặc Lâm: Khi thấy lửa cháy rồi thì nó còn tiếp tục áp sát vào tàu mình hay không hay là bỏ đi?

Phạm Quang Thạnh: Khi ngọn lửa cháy nó đã bỏ đi. Cỡ 30 phút sau thì bọn em mới dập tắt được ngọn lửa. Khi lửa tắt rồi em mới ngó lại thì thấy chiếc tàu đó đã cách xa từ 5 tới 6 hải lý.

Mặc Lâm: Như vậy là coi như nó không hề bước sang tàu mình mặc dù có nguy cơ tàu này sẽ chìm sau khi bị bắn?

Phạm Quang Thạnh: Vâng, nó bỏ đi không có tinh thần để giúp đỡ hay dừng lại để coi thử tàu mình như thế nào có bị chìm hay bị nổ tung… coi như là nó muốn hủy mình rồi bỏ đi vậy.

Mặc Lâm: Trước khi bị bắn anh em trên tàu có thu được nhiều ít gì chưa?

Phạm Quang Thạnh: Dạ chưa, trên tàu chỉ có được mấy chục con ốc, mấy chục con hải sâm vậy thôi chứ chưa có con cá nào trong tàu.

Mặc Lâm: Anh có chắc rằng tàu mình đã nằm đúng vị trí chủ quyền của Việt Nam hay không? Và từ trước giờ anh em có được nhà nước huấn luyện hay chỉ dẫn cách sử dụng hải đồ để xác định mình hành nghề đúng trong vùng chủ quyền của mình hay không?

Phạm Quang Thạnh: Dạ trong hải đồ thì em được biết từ xưa tới nay là chủ quyền của Việt Nam, khu vực đảo Hoàng Sa này hoàn toàn thuộc chủ quyền của Việt Nam. Chủ phương tiện, các nghiệp đoàn nghề cá mỗi lần có cuộc họp gì thì người đầu tàu đứng ra đi họp cho nên em cũng không nghe thông tin đó. Tuy nhiên em có nghe thông tin ra đó làm thì cũng được thôi, và họ có hướng dẫn cho những anh đầu tàu hay chủ phương tiện.

Mặc Lâm: Khi tàu anh về tới địa phương thì chính quyền cũng như các ban ngành liên quan có hay biết và tiếp xúc với anh em chưa?

Phạm Quang Thạnh: Dạ chính quyền đã hay rồi vì khi tụi em về tới đất liền là ngày 22. Em vào thông báo với trạm kiểm soát biên phòng Quảng Ngãi và Đồn Biên phòng 328, và cũng có trình báo qua Nghiệp đoàn nghề cá xã An Hải. Bên trạm Kiểm soát Biên phòng có nhân viên trinh sát xuống để làm việc. Họ gọi anh em vô để lấy lời khai, và đến tại hiện trường để điều tra ,và đồng thời có quay phim chụp ảnh làm việc với bọn em nữa.

Mặc Lâm: Trước tình cảnh khó khăn và tính mạng đang dối diện với chết chóc như vậy anh có định tiếp tục hành nghề nữa hay không?

Phạm Quang Thạnh: Dạ với em thì trong lương tâm của em thì em sẽ có đủ can đảm để làm nghề tiếp vì thứ nhất em là giòng họ Phạm. Trước đây ông Phạm Quang Hành em nghe qua lịch sử thì vào cuối thế kỷ 16 đầu thế kỷ 17 ông đã ra ngoài đảo Hoàng Sa để sống ở đó. Bây giờ em là con cháu thì em tiếp tục vẫn ra ngoài đó để làm.

Thứ nhất là chuyện kinh tế, cuộc sống sinh nhai của gia đình. Thứ hai em cũng phải giữ được nguyện vọng của ông bà tổ tiên thiêng linh của dòng họ nhà em. Dù có khó khăn hay sinh mạng sống chết thế nào thì em cũng vẫn tiếp tục. Hiện nay điều kiện không lo nổi kinh phí vì quá nhiều lần bị nó phá  phách cho nên thất thu, gia đình chật vật eo hẹp mình không biết vay mượn ở đâu. Nợ nần chồng chất không biết còn điều kiện cho em ra đó nữa hay không…chứ còn nguyện vọng của em thì em vẫn đi mãi mãi!

Mặc Lâm: Xin cám ơn anh.

http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/cn-ships-shoot-to-fire-lysons-fishingboat-03242013091326.html

Posted in Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa | Leave a Comment »

►Thủ tướng Dũng và nền kinh tế thị trường “định hướng quyết liệt”: Nhưng từ giữa năm 2006 tới nay thì thủ tướng càng Quyết, nền kinh tế càng Liệt

Posted by hoangtran204 trên 22/03/2013

Thủ tướng Dũng và nền kinh tế thị trường “định hướng quyết liệt”

ntd

Ngày 27/06/2006, Quốc hội bầu ông Nguyễn Tấn Dũng lên làm Thủ tướng. Trong cuộc trả lời trực tuyến đầu tiên của một thủ tướng Việt Nam vào ngày 9/2/2007, ông dùng rất nhiều từ “quyết liệt”.

Trong toàn bộ cuộc trả lời được ghi tại đây (Chính phủ, 9/2/2007), thủ tướng Dũng đã ít nhất 7 lần dùng từ “quyết liệt” trong mọi lĩnh vực, từ điều hành kinh tế, văn hóa xã hội tới chống ùn tắc giao thông, chống tham nhũng…

Thực ra thủ tướng Dũng không phải vị lãnh đạo cao cấp đầu tiên dùng từ “quyết liệt”. Các vị tiền nhiệm của ông như Võ Văn Kiệt hay Phan Văn Khải cũng có dùng từ này nhưng với tần suất rất thấp, chỉ đôi khi mới nghe thấy. Nhưng từ khi thủ tướng Dũng lên nắm quyền thì từ “quyết liệt” được dùng rất nhiều ở Việt Nam. Có thể khẳng định chắc chắn là do thủ tướng rất thích dùng từ này nên đã tạo ra một trào lưu ăn theo nói leo của đám cấp dưới đến nỗi theo tác giả bài này, có thể gọi thủ tướng là “Dũng quyết liệt” và nền kinh tế Việt Nam trong những năm gần đây là“Nền kinh tế thị trường theo định hướng quyết liệt”.

Trong từ điển tiếng Việt, “quyết liệt” được định nghĩa là “kiên quyết” và “mãnh liệt”. Điều này cho thấy những người hay dùng từ “quyết liệt” là những người có “quyết tâm” cao, rất nhiệt huyết trong công việc, cống hiến hết mình, liên tục làm việc với cường độ cao để đạt được kết quả cao nhất trong công việc. Trong một nền hành chính còn trì trệ như ở Việt Nam thì nếu có những người thật sự “quyết liệt” như vậy thì quá là đáng quý quá. Vậy ở đây chúng ta thử điểm lại những lĩnh vực mà thủ tướng Dũng đã chỉ đạo “quyết liệt” xem hiệu quả của những chỉ đạo này tới đâu.

1.  Quyết liệt tăng trưởng kinh tế

Thủ tướng Dũng là người thích tăng trưởng cao nên tất nhiên đây là lĩnh vực được thủ tướng ưu tiên “quyết liệt”. Ngay khi mới nhận chức, vào cuối năm 2006, khi họp Chính phủ:

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng: Tập trung chỉ đạo quyết liệt, hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ KT-XH năm 2006 (Chính phủ, 1/12/2006)

Trong kỳ họp Chính phủ tháng 10/2007, dù lạm phát đã tăng cao ở mức nguy hiểm nhưng thủ tướng vẫn chỉ thị:

… để đạt mục tiêu tăng GDP 8,5% trong năm 2007, đòi hỏi các bộ, ngành, địa phương phải tập trung thực hiện quyết liệt, đồng bộ các giải pháp chỉ đạo mạnh mẽ của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đề ra từ đầu năm đến nay(Chính phủ, 6/10/2007)

Vào tháng 12/2007, lạm phát đã tăng hơn 12% nhưng khi họp bàn về kế hoạch cho năm 2008, thủ tướng Dũng vẫn chỉ đạo trước cho năm mới:

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng: Điều hành quyết liệt ngay từ đầu năm 2008 để đạt tăng trưởng GDP 9% và chỉ số tăng giá cả thấp hơn tốc độ tăng GDP (Chính phủ, 24/12/2007)

Sang năm 2009, khi bàn kế hoạch cho năm 2010:

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cho biết tăng trưởng GDP năm 2009 ước tính ở mức 5,2%, thấp nhất trong 10 năm gần đây. Trong năm 2010 Chính phủ sẽ thực hiện quyết liệt 6 biện pháp để đạt tăng trưởng GDP 6,5%, thu nhập bình quân đầu người 1.200 USD(Tiền phong, 20/10/2009)

Sang tới năm 2013, thủ tướng vẫn tiếp tục “quyết liệt”:

Trong phiên họp thường kỳ tháng 2 của Chính phủ, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng yêu cầu các Bộ, ngành, địa phương cần tiếp tục triển khai thực hiện quyết liệt, hiệu quả các giải pháp đã đề ra trong Nghị quyết số 01/NQ-CP và 02/NQ-CP…(Chính phủ, 28/2/2013)

Không rõ hiệu quả của sự “quyết liệt” trong điều hành và chỉ đạo của thủ tướng Dũng tới đâu mà từ khi thủ tướng lên cầm quyền, tốc độ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam có xu hướng thấp hơn hẳn giai đoạn trước đó (và có rất nhiều khả năng là sẽ còn tiếp tục thấp trong thời gian tới):

Tốc độ tăng trưởng GDP của Việt Nam, 2002-2012

Đơn vị: %

2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012
7,08 7,34 7,79 8,44 8,17 8,5 6,23 5,32 6,78 5,89 5,03

Nguồn: Tổng cục Thống kê

2.   Quyết liệt chống lạm phát

Do hậu quả của chính sách mở rộng đầu tư để đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế mà sau khi thủ tướng Dũng lên nắm quyền, lạm phát bắt đầu có xu hướng tăng cao. Ngay từ năm 2007, thủ tướng Dũng đã tỏ ra “quyết liệt” với lạm phát. Trong cuộc họp ngày 12/8/2007 với các Bộ, ngành:

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng: Quyết liệt kiềm chế tốc độ tăng giá thấp hơn tốc độ tăng trưởng GDP.(Chính phủ, 12/8/2007)

Sang năm 2008, đợi mãi lạm phát chưa xuống, thủ tướng lại tiếp tục “quyết liệt” nhiều lần nữa, ví dụ:

Thủ tướng vừa chỉ đạo các bộ, ngành quyết liệt kiềm chế lạm phát và ổn định kinh tế vĩ mô những tháng cuối năm…(Vneconomy, 26/6/2008)

Sau đó, do lạm phát là vấn đề nóng nên thủ tướng liên tục chỉ đạo “quyết liệt” về vấn đề này, chẳng hạn:

Tại phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 11/2010, Thủ tướng đã yêu cầu các Bộ, ngành địa phương tập trung thực hiện quyết liệt, đồng bộ các giải pháp kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bình ổn thị trường, giá cả. (Infotv, 3/12/2010)

Các năm sau cũng thế:

“Các bộ, ngành, địa phương phải tiếp tục thực hiện nghiêm túc, quyết liệt, kiên trì, đồng bộ các giải pháp và các chỉ đạo của Bộ Chính trị, Chính phủ về bình ổn giá cả thị trường, kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, đảm bảo an sinh xã hội”(Petrotimes, 5/5/2011)

Họp với các địa phương ngày 25/12/2012 về kế hoạch cho năm 2013, thủ tướng cũng căn dặn:

Các địa phương cố gắng, quyết liệt kiểm soát ngay trong tháng một tới. Quy luật hàng năm cho thấy CPI quý một chiếm tỷ lệ lớn trong lạm phát cả năm(Vnexpress, 26/12/2013)

Chỉ tiếc là tốc độ tăng trưởng GDP càng được thủ tướng “quyết liệt” chỉ đạo thì càng giảm trong khi lạm phát được chỉ đạo “quyết liệt” thì lại ngày càng tăng.

[Lạm phát có nghĩa là đồng tiền bị mất  giá. Nguyên nhân do chính phủ của ông Dũng đã tung quá nhiều tiền đồng vào thị trường để mua tiền đô la của Việt Kiều gởi về, khoảng hơn 8- 12 tỷ đô la Mỹ/ mỗi năm; chính phủ tung tiền đồng để mua lại các khoảng nợ của 100 tập đoàn bao gồm 12000 công ty quốc doanh thua lỗ hàng năm, chỉ riêng Vinashins đã thua lỗ hơn 86 ngàn tỷ đồng VN, và Vinalines thua lỗ hơn 23 ngàn tỷ đồng; chính phủ tung tiền đồng vào thị trường để giải cứu các ngân hàng bị kẹt vốn trong việc cho vay mua bán bất động sản; chính phủ tung tiền đồng vào thị trường  vì ngân sách bị thiếu hụt, do các cấp chính quyền chi tiêu lãng phí, tổ chức hội hè, bòn rút tiền bỏ túi, tham nhũng quá nhiều hơn là ngân sách hoạch định để chi tiêu hàng năm; chính phủ tung tiền ra để tăng tiền lương cho đội công chức lên đến 7 triệu người, và trả lương cho hơn 8,8 triệu người có công với cách mạng! hay 11% dân số – TH nguồn: ]

Tỉ lệ lạm phát của Việt Nam, 2002-2012

Đơn vị: %

2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012
4 3 9,5 8,4 6,6 12,63 19,9 6,88 11,75 18,58 6,81

Nguồn: Tổng cục Thống kê

3.  Quyết liệt với DNNN

Có thể nói thủ tướng Dũng là một tín đồ rất sùng bái DNNN tới mức mê tín. Tháng 2/2011, sau khi Vinashin sụp đổ, thủ tướng vẫn nói:

“Nếu trong khủng hoảng vừa qua, với những nguy cơ về tăng trưởng âm, về an sinh xã hội, ổn định các chỉ tiêu vĩ mô, nếu không có các doanh nghiệp nhà nước, chắc chắn chúng ta không đạt được những thành quả như hôm nay”, Thủ tướng khẳng định. (Chính phủ, 15/2/2011)

Mười tháng sau đó, thủ tướng lại nhấn mạnh:

“Đánh giá hiệu quả của DNNN phải công bằng, không thể nói DNNN là “ăn hại”. Những kết quả mà DNNN đã đóng góp là không thể phủ nhận. Nếu không có DNNN thì Nhà nước không thể điều tiết, ổn định vĩ mô (Vietnamnet, 8/12/2011)

Đặc biệt, thủ tướng Dũng có niềm si mê cuồng nhiệt với các tập đoàn lớn, đa ngành. Nhà báo Huy Đức cho biết:

Trước Đại hội Đảng lần thứ X, ông Nguyễn Tấn Dũng được giao làm Tổ trưởng biên tập báo cáo kinh tế của Ban chấp hành Trung ương trước Đại hội. Ông đòi ghi vào báo cáo chủ trương cho doanh nghiệp nhà nước được kinh doanh đa ngành. Các thành viên trong tổ phản đối vì điều này ngược với quan điểm phát triển doanh nghiệp nhà nước xác lập từ thời thủ tướng Võ Văn Kiệt. Thay vì tiếp thu, ông Nguyễn Tấn Dũng đã viết ra giấy, buộc các thành viên trong tổ phải ghi vào Báo cáo kinh tế nguyên văn: “Thúc đẩy việc hình thành một số tập đoàn kinh tế và tổng công ty nhà nước mạnh, hoạt động đa ngành, đa lĩnh vực, trong đó có một số ngành chính; có nhiều chủ sở hữu, trong đó sở hữu nhà nước giữ vai trò chi phối”. (FB của Huy Đức)

Năm 2008, khi họp mặt với các tập đoàn con cưng, thủ tướng phê bình:

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cũng thẳng thắn chỉ ra một số yếu kém, hạn chế của Tập đoàn, Tổng công ty Nhà nước, đó là quy mô của các Tập đoàn, Tổng công ty Nhà nước còn nhỏ, thể hiện ở việc không có Tập đoàn nào được xếp vào danh sách 500 doanh nghiệp hàng đầu thế giới (Chính phủ, 22/2/2008).

Để nhanh chóng làm cho các tập đoàn này “được xếp vào danh sách 500 của thế giới”, thủ tướng đã chỉ đạo:

Các Tập đoàn, DNNN cần tập trung đầu tư quyết liệt vào sản xuất kinh doanh, đóng góp lớn hơn nữa vào tăng trưởng kinh tế đất nước, đồng thời góp phần giảm lạm phát… Chính phủ sẽ tạo điều kiện thuận lợi để các Tập đoàn, Tổng công ty Nhà nước triển khai các công trình, dự án trọng điểm của Nhà nước có hiệu quả cao, đúng tiến độ. (Chính phủ, 22/2/2008)

[Vinashin gây hại như thế nào?]

Năm 2011, thủ tướng lại “quyết liệt” giao chỉ tiêu cho các tập đoàn là phải tăng trưởng được 15% bất chấp lạm phát đang tăng vùn vụt.

Năm 2011, Thủ tướng giao nhiệm vụ cho toàn khối: Xây dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh, đầu tư để đạt mức tăng trưởng bình quân 15%. Trên tinh thần đó, Thủ tướng yêu cầu các Tập đoàn, Tổng công ty đi đầu trong việc xây dựng các kế hoạch và triển khai một cách sát sao, đồng thời quyết liệt, nỗ lực thực hiện các giải pháp đẩy mạnh đầu tư, sản xuất kinh doanh (Chính phủ, 15/2/2011)

Kết quả sau khi nhận được chỉ đạo là phải đầu tư “quyết liệt” để tăng trưởng nhanh, tình hình các DNNN ngày càng bết bát, lỗ lã, nợ nần tăng cao khủng khiếp. Tính tới cuối năm 2012 thì tổng nợ phải trả của các DNNN là hơn 1,33 triệu tỷ đồng hay hơn 60 tỷ USD.

Sang tới đầu năm 2013, lại tiếp tục có chỉ đạo:

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng yêu cầu, trong năm 2013, thực hiện quyết liệt việc tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước theo Đề án đã được phê duyệt, trọng tâm là tập đoàn kinh tế và tổng công ty;… (Chính phủ, 16/1/2013)

4.  Và “quyết liệt” trong một số lĩnh vực khác

Thủ tướng Dũng còn quyết liệt trong rất nhiều lĩnh vực khác nhau, từ chống tham nhũng, xóa đói giảm nghèo, giảm nhập siêu, giảm lãi suất, giảm tiêu chảy… cái gì thủ tướng cũng quyết liệt hết. Dưới đây là một vài ví dụ:

Quyết liệt chống tham nhũng:

Thủ tướng đã “quyết liệt” chống tham nhũng từ lúc mới nhậm chức:

Ngày 27/7, tại Hà Nội, BCĐ Trung ương về phòng, chống tham nhũng đã tiến hành phiên họp lần thứ 4. Tại phiên họp, Thủ tướng chỉ đạo : công tác phòng, chống tham nhũng phải được tiếp tục làm quyết liệt từ Trung ương đến địa phương(Tiền phong, 27/7/2007)

Nhưng tham nhũng mãi không giảm nên thủ tướng là Trưởng Ban chỉ đạo phòng chống tham nhũng TW càng quyết liệt hơn:

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nêu rõ yêu cầu đặt ra là phải tập trung chỉ đạo thực hiện đồng bộ, quyết liệt, hiệu quả các nội dung phòng, chống tham nhũng theo tinh thần Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng (Hà Nội mới, 25/4/2012)

Quyết liệt xóa đói giảm nghèo:

Thủ tướng đề nghị Bộ và ngành LĐ-TB&XH …tập trung làm quyết liệt hơn nữa công tác giảm nghèo, đặc biệt giảm nghèo ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc… (Người cao tuổi, 8/1/2013)

Quyết liệt giảm lãi suất:

Thủ tướng khẳng định, Chính phủ đang quyết liệt chỉ đạo các biện pháp điều hành hạ lãi suất, tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, trong đó tập trung vào xử lý nợ xấu và hàng tổn kho(Diễn đàn doanh nghiệp, 26/1/2013)

Quyết liệt ngăn chặn phá rừng:

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đề nghị Ban Chỉ đạo Tây Nguyên, các bộ, ngành và các tỉnh Tây Nguyênquyết liệt tập trung ngăn chặn nạn phá rừng (VOV, 17/1/2012)

Quyết liệt xử lý nợ xấu:

Thủ tướng yêu cầu… Ngân hàng Nhà nước quyết liệt hơn nữa trong tái cơ cấu hệ thống ngân hàng, xử lý nợ xấu thông qua quỹ trích lập dự phòng rủi ro, cơ cấu lại nợ… (Người đồng hành, 28/2/2013)

Quyết liệt tái cơ cấu ngân hàng [ngân hàng ở VN]

Tại hội nghị, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã yêu cầu NHNN chỉ đạo thực hiện quyết liệt, toàn diện việc tái cơ cấu hệ thống ngân hàng thương mại giai đoạn 2011-2015. (Pháp luật TP.HCM, 18/12/2011)

Quyết liệt đưa tiền về doanh nghiệp:  [600.000 doanh nghiệp VN phá sản]

Chính phủ yêu cầu Thống đốc Ngân hàng Nhà nước và các cơ quan khác chỉ đạo quyết liệt làm sao để dòng tiền ra được và tới các doanh nghiệp(VTC, 28/2/2013)

Quyết liệt giảm nhập siêu:

Thủ tướng cũng yêu cầu các bộ ngành quyết liệt trong việc đẩy mạnh xuất khẩu, giảm nhập siêu(Sài Gòn giải phóng, 16/3/2011)

Quyết liệt thực hiện bảo hiểm y tế:

Thủ tướng yêu cầu… ngành Y tế cần quyết liệt thực hiện BHYT toàn dân… (Bảo hiểm xã hội, 20/2/2013)

Quyết liệt chống tiêu chảy:

Thủ tướng yêu cầu các bộ, ngành và địa phương cần triển khai nghiêm các nội dung phòng, chống dịch tiêu chảy cấp nguy hiểm với tinh thần quyết liệt ở mức cao nhất;(Sức khỏe đời sống, 2/11/2007)

Quyết liệt giảm tai nạn giao thông:

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng yêu cầu Ủy ban an toàn giao thông quốc gia, các Bộ Giao thông vận tải, Công an và các cấp chính quyền tiếp tục đẩy mạnh hơn nữa, quyết liệt hơn nữa các biện pháp ngăn chặn, đẩy lùi tai nạn giao thông (Tuổi trẻ, 26/5/2011)

Quyết liệt giảm quá tải bệnh viện:

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng chỉ đạo thực hiện quyết liệt các giải pháp để giảm quá tải bệnh viện, “xóa” tình trạng người bệnh phải nằm ghép và đề án phải hoàn thành trước 30/6(Dân trí, 1/3/2012)

Quyết liệt trong công tác ngoại giao:

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nêu rõ, năm 2012, ngành Ngoại giao phải tiếp tục tập trung nắm chắc tình hình để tham mưu, kiến nghị, đề xuất cho Đảng, Nhà nước khai thác có hiệu quả tiềm năng, lợi thế, đồng thời ngành cần tận dụng tối đa các cơ hội, vượt qua khó khăn, thách thức, nỗ lực, quyết liệt hoàn thành thắng lợi các nhiệm vụ được giao. (Chính phủ, 14/12/2011)

5.  Kết luận

Trên đây chỉ là một số dẫn chứng tiêu biểu vì tác giả không muốn làm độc giả quá hoa mắt vì những chỉ dụ “quyết liệt” đã được thủ tướng ban hành. Tóm lại, có thể thấy rằng thủ tướng Dũng đã “quyết liệt” trong rất nhiều lĩnh vực nhưng bất hạnh thay cho thủ tướng và người dân Việt Nam là hầu như lĩnh vực nào mà được thủ tướng “quyết liệt” điều hành và chỉ đạo thì lĩnh vực đó chỉ có càng ngày càng tệ đi. Quyết liệt thúc đẩy tăng trưởng thì tăng trưởng ngày càng đi xuống. Quyết liệt kiềm chế lạm phát thì lạm phát ngày càng tăng lên đến mức cao thứ nhì thế giới trong năm 2011. Quyết liệt kiềm chế tham nhũng thì tham nhũng và đi kèm với nó nạn chạy chỗ, chạy chức, chạy quyền ngày càng lan rộng và ăn sâu vào nền kinh tế, vào thể chế, vào toàn bộ xã hội. Quyết liệt điều hành đám con cưng tập đoàn thì đám con cưng ngày càng ăn tàn phá hại, nợ đầm nợ đìa…

Có thể có người cho là từ “quyết liệt” với thủ tướng Dũng đã trở thành “sáo ngữ”, nói quen miệng nên đụng đâu nói đó. Tuy nhiên, vấn đề không đơn giản như vậy. Việc thủ tướng Dũng liên tục dùng từ này thể hiện rõ tư duy của ông về cách điều hành nền kinh tế nói riêng và điều hành nhà nước nói chung. Thủ tướng cho rằng có thể dùng ý muốn, ý chí chủ quan của mình để can thiệp vào sự vận hành khách quan của nền kinh tế và bắt nền kinh tế đi theo ý muốn chủ quan của mình. Điều này là hết sức nguy hiểm. Khi một quốc gia chấp nhận nền kinh tế thị trường tức là cũng phải chấp nhận rằng, về cơ bản thị trường thông minh hơn trí khôn chủ quan của con người. Kinh nghiệm phát triển hàng trăm năm qua cho thấy, dù có nhiều khiếm khuyết thì thị trường vẫn là cơ chế kinh tế tốt nhất để tạo ra của cải và sự phồn vinh cho xã hội. Một nhà nước khôn ngoan là nhà nước xây dựng một cơ chế thị trường minh bạch, dựa trên cơ chế cạnh tranh để cho các chủ thể trong nền kinh tế tự vận hành và nhà nước chỉ là người tham gia chỉnh sửa những khuyết tật của thị trường như hiện tượng ngoại ứng, độc quyền hay thiếu hụt hàng hóa công. Nếu cứ cố gắng dùng các công cụ hành chính can thiệp mạnh và hướng các nguồn lực khan hiếm của nền kinh tế đi theo ý muốn chủ quan của mình thì gần như không tránh khỏi thất bại cay đắng.

Thực tiễn nền kinh tế Việt Nam trong vài năm qua đã cho thấy điều đó rất rõ. Chính vì thủ tướng Dũng đã muốn các tập đoàn con cưng của mình nhanh chóng “sánh vai” với các tập đoàn lớn trên thế giới nên đã “quyết liệt” dồn quá nhiều nguồn lực khan hiếm cho những cái cối xay tiền như Vinashin, Vinalines, EVN, TKV[i]… Đáng lẽ phải chống lạm phát bằng cách minh bạch hóa chi phí của các tập đoàn nhà nước, tạo cơ chế để bắt buộc các doanh nghiệp cạnh tranh bình đẳng trên thị trường thì lại can thiệp thô bạo bằng các mệnh lệnh hành chính như chỉ thị không được tăng giá điện, giá than… làm thị trường ngày càng trở nên méo mó và cuối cùng khi không kìm được giá nữa thì phải tăng đột ngột ở biên độ cao làm cho nền kinh tế phải chịu các cú sốc không đáng có.

Việc liên tục dùng từ “quyết liệt” ở tần suất cao cũng cho thấy tính cách của thủ tướng Dũng là chỉ thích làm việc theo suy nghĩ chủ quan của mình, không muốn nghe những lời can gián hay nói trái của cấp dưới. Điều này thể hiện quá rõ qua việc thủ tướng giải thể Ban nghiên cứu của Thủ tướng ngay khi mới nhậm chức hay ký Quyết định 97/2009/QĐ-TTg thu hẹp đáng kể quyền phản biện của các tổ chức. Bản thân Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế TW là một viện nghiên cứu của chính phủ nhưng khi phê phán chính phủ nhiều quá cũng bị thủ tướng nhắc nhở:

Người đứng đầu Chính phủ đề xuất Viện nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương hoàn thiện hệ thống thể chế, “không nên phê phán Chính phủ nhiều nữa, cần tập trung vào làm”. (Vietnamnet, 8/12/2011)

Một quốc gia mà người lãnh đạo cao nhất không muốn nghe những lời nói trái của trí thức, chỉ thích nghe tâng bốc, nịnh bợ mình thành “thủ tướng xuất sắc nhất châu Á”, chỉ thích làm theo ý muốn chủ quan của mình thì làm sao quốc gia đó có thể phát triển trong một môi trường quốc tế cạnh tranh ở mức độ rất cao như hiện nay? Nguy hiểm hơn nữa là tư duy điều hành này của thủ tướng Dũng vẫn không có gì thay đổi dù thủ tướng đã phải chịu sức ép mà xin lỗi trước Quốc hội vào cuối năm 2012. Cứ nhìn những chỉ đạo trong thời gian gần đây của thủ tướng thì vẫn đầy những từ “quyết liệt”. Ngạn ngữ phương Tây có câu rất hay là: “You cannot teach an old dog new tricks” nghĩa là “Bạn không thể dạy trò mới cho một con chó già” rất đúng trong trường hợp này. Như vậy đã có thể nhìn thấy trước tương lai của Việt Nam trong những năm tới, nếu thủ tướng Dũng còn nắm quyền rồi.

Như đã nói ở trên, việc thủ tướng Dũng ở đâu, lĩnh vực nào cũng dùng từ “quyết liệt” cũng đã góp phần tạo nên một trào lưu ăn theo nói leo ở các quan chức thấp hơn. Bây giờ mở bất cứ văn bản nào của các bộ ngành, cơ quan hành chính mọi cấp, trong diễn đàn của hội đồng nhân dân, Quốc hội… đi đâu cũng thấy từ “quyết liệt”.

Một người có IQ ở mức bình thường cũng thừa hiểu rằng với mức lương chính thức ở mức chưa đủ sống như hiện nay, muốn các viên chức nhà nước làm việc ở mức “bình thường” cũng đã khó chứ đừng nói là bắt họ “quyết liệt”.

Từ “quyết liệt” may lắm chỉ phù hợp trong những tình huống khẩn cấp như chống bão lớn, cứu đói trên diện rộng… Dùng từ “quyết liệt” quá nhiều trong khi ai cũng biết là chả thể “quyết liệt” nổi chính là làm cho xã hội trở nên quen với thói dối trá, lãnh đạo thì thêm quen với việc hô hào suông những lời rỗng tuếch, thùng rỗng kêu to, mồm miệng đỡ chân tay.

Tóm lại, nếu thủ tướng Dũng và bộ máy dưới quyền vẫn tiếp tục giữ tư duy điều hành nền kinh tế theo kiểu “quyết liệt” như từ giữa năm 2006 tới nay thì thủ tướng càng Quyết, nền kinh tế sẽ càng Liệt hay nói đúng hơn là thủ tướng và bộ máy của mình đang Quyết (tâm) làm đất nước Liệt đi như thực tế đang diễn ra.

© Trần Ngân

Nguồn: Viet-studies


[i] Cùng với Phó thủ tướng lúc đó là ông Sinh Hùng đã ký văn bản ép các ngân hàng cho Vinashin vay 10.000 tỷ (Vneconomy, 25/9/2008) thì thủ tướng Dũng cũng chỉ đạo ngân hàng cho Tập đoàn điện lực EVN vay 10.000 tỷ để làm vốn lưu động (Tuổi trẻ, 6/9/2011)

——————

http://www.baomoi.com/Het-Vinashin-den-Vinalines/45/8470080.epi

Hết Vinashin đến Vinalines

SaigonTimes – 11 tháng trước

(TBKTSG) – Công luận từng bàng hoàng với những khoản đầu tư không thể gọi bằng từ ngữ nào khác hơn là phá hoại đồng vốn nhà nước của tập đoàn Công nghiệp tàu thủy Việt Nam (Vinashin) qua việc mua những nhà máy điện cũ nát từ nước ngoài, những con tàu cũ mới đưa vào khai thác thì đã phải bỏ ra hàng đống tiền để sửa chữa và cuối cùng nằm ụ, gây thiệt hại trực tiếp hàng trăm tỉ đồng (*) .

Thời báo Kinh tế Sài Gòn

Nay công luận một lần nữa lại bàng hoàng, khó hiểu trước thông tin mà Thanh tra Chính phủ mới công bố, theo đó Tổng công ty Hàng hải Việt Nam (Vinalines) đang có năm khoản nợ có nguy cơ không thu hồi được mà nguyên nhân chủ yếu cũng do mua những con tàu cũ và những khoản đầu tư chẳng khác nào ném tiền qua cửa sổ.

Vinalines đã bỏ tiền mua 73 tàu biển từ nước ngoài mà đa số đã qua sử dụng với tổng trị giá gần 23.000 tỉ đồng, trong đó có 17 tàu qua sử dụng trên 15-30 năm, chưa kể một số tàu quá tuổi quy định nên không được phép đăng ký tại Việt Nam, phải đăng ký và treo cờ nước ngoài. Chi phí bảo dưỡng, sửa chữa đội tàu cũ kỹ do đó tăng cao trong khi vốn đầu tư, kinh doanh phải đi vay khiến càng khai thác càng lỗ, có tàu chỉ mới khai thác vài ba năm đã lỗ hàng trăm tỉ đồng; 34/73 tàu mua về đưa vào khai thác trong giai đoạn 2005-2010 đều bị lỗ, thậm chí có tàu lỗ nặng phải bán.

Vinalines còn mua ụ nổi đã qua sử dụng 43 năm, vượt 28 năm so với quy định. Giá mua ụ nổi và chi phí sửa chữa hai lần là 489,6 tỉ đồng (khoảng 26,3 triệu đô la Mỹ), bằng khoảng 70% giá đóng ụ nổi mới. Bên cạnh đó còn là những khoản chi mờ ám như chi cho tổ chức lễ khởi công dự án xây dựng cảng trung chuyển vịnh Vân Phong đến 4,1 tỉ đồng, vượt quy định hơn 4 tỉ đồng; chi hơn 2,4 tỉ đồng cho một đơn vị tư vấn lập hồ sơ dự án nhà máy sửa chữa tàu biển trong một cuộc đấu thầu có dấu hiệu thông thầu…

Không ai hiểu nổi tại sao, với bao nhiêu ưu đãi về vốn, về mặt bằng dành cho tập đoàn, tổng công ty nhà nước, những người lãnh đạo, quản lý Vinashin và Vinalines vốn không phải là những người mới vào nghề lại thích mua đồ cũ để rồi kinh doanh lỗ lã, tiêu tan cả vốn chẳng khác nào những đứa con “phá gia chi tử” như vậy!

Ấy vậy mà, trong đề án công nghiệp hóa, hiện đại hóa ngành mà Bộ Giao thông Vận tải đưa ra mới đây, trong tổng số gần 224.000 tỉ đồng đầu tư cho nhiều mục tiêu như hiện đại hóa trụ sở làm việc, cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin… bộ này vẫn đề ra mục tiêu đầu tư 100.000 tỉ đồng cho đội tàu của Vinalines đến năm 2030. Liệu với “thành tích” làm ăn như vậy, Vinalines có thể “công nghiệp hóa, hiện đại hóa” hay hàng chục, hàng trăm ngàn tỉ đồng rót cho tổng công ty này (và những tập đoàn, tổng công ty tương tự) rồi cũng sẽ như rót vào cái thùng không đáy?

Nói rộng hơn, với kiểu đầu tư, làm ăn như Vinalines, Vinashin, nếu không có cơ chế hiệu quả để kiểm soát đồng vốn nhà nước và nếu không đoạn tuyệt với tư duy dùng tập đoàn, tổng công ty nhà nước để tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa, mọi nỗ lực tái cấu trúc nền kinh tế sẽ chẳng đi tới đâu, đồng vốn chắt mót của cả nền kinh tế sẽ tiếp tục tiêu tán và ước mơ công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế sẽ vẫn là ước mơ xa vời, nếu không nói là vô vọng.

__________________________________________________

(*) Trong vụ án Vinashin, các bị cáo chỉ bị cáo buộc về 5 vụ việc gây thiệt hại trực tiếp trên 900 tỉ đồng gồm mua tàu Hoa Sen, dự án Nhà máy Nhiệt điện Sông Hồng, dự án Nhà máy Nhiệt điện Cái Lân, dự án đầu tư tàu Bình Định Star và việc xẻ thịt bán vỏ tàu Bạch Đằng Giang, nhưng không xét đến khoản nợ trên 80.000 tỉ đồng mà Vinashin gây ra.

——————————————————–

Bài liên quan:

►Lạm Phát của Việt Nam từ 1980-2010 – Thống Kê của IMF

Posted in Kinh Te, Tài Chánh-Thuế | 1 Comment »

►Sự tái thiết lập quan hệ Mỹ – Miến Điện là điều TQ không ngờ tới

Posted by hoangtran204 trên 19/03/2013

Miến Điện cung cấp cho Trung Quốc tài nguyên, năng lượng và đường ra Ấn Độ Dương nên khi mối quan hệ của Miến Điện và Trung Quốc trở chiều gió, “TQ đã mất rất nhiều, cả về chính trị và chiến lược. “Trung Quốc hoàn toàn không thấy trước được điều này.”

Miến Điện và Mỹ là điều TQ không ngờ tới?


BBC – Cập nhật: 16:38 GMT – thứ ba, 19 tháng 3, 2013


Việc trả tự do cho lãnh đạo đảng đối lập, bà Aung San Suu Kyi đã khởi đầu cho hàng loạt cải cách tại Miến Điện

Cây bút Chris Horton ngày 19/3 đã có bài viết nói về ảnh hưởng của sự mở rộng quan hệ giữa Miến Điện với Phương Tây đối với Trung Quốc.
Bài viết được đăng trên trang Thealantic.com, với tựa đề “Điều Trung Quốc không lường trước” (China didn’t see this coming).
BBC Vietnamese xin được giới thiệu với bạn đọc những ý chính của bài này.

‘Đồng minh thân cận’

Bài viết mở đầu bằng việc nhìn lại mối quan hệ Miến Điện – Trung Quốc.
Chỉ trong thời điểm từ 2010 đến 2011, đầu tư từ Trung Quốc vào Miến Điện đã vượt mức 12 tỷ đôla, gấp 8 lần tổng vốn đầu tư của Trung Quốc vào nước này trong thời điểm từ 1988 tới 2009, theo thống kê của báo JETRO của Nhật.
Phần lớn số tiền đầu tư này tập trung vào năng lượng và khai thác khoáng sản.
Những điểm chung trong cách đàn áp người dân để bảo vệ giới cầm quyền, theo Chris Horton đã đẩy hai nước lại với nhau gần hơn.
Đó là một mối quan hệ giữa một Miến Điện – nước từng là điểm sáng kinh tế của Châu Á, nay bị cấm vận bởi sự đàn áp bạo lực của quân đội với các cuộc biểu tình năm 1988 và Trung Quốc – nước bị xa lánh bởi cuộc thảm sát Thiên An môn chỉ 1 năm sau đó.
Hội đồng Khôi phục Trật tự và Luật pháp Liên bang của Miến Điện lúc đó đã cử phái đoàn đứng đầu bởi Phó Chủ tịch Than Shwe sang Trung Quốc nhằm tìm kiếm viện trợ quân sự và kinh tế từ nước này.
Trong suốt thập niên 90, Trung Quốc cử kỹ sư sang Miến Điện để giúp xây dựng cảng dân sự và căn cứ hải quân. Ngoài ra, nước này còn là ô dù cho Miến Điện ở Hội đồng Bảo an Liên Hiệp quốc.
Đổi lại, Miến Điện cung cấp cho Trung Quốc tài nguyên, năng lượng và đường ra Ấn Độ Dương thông qua những dự án lớn.

Vào tháng 5 năm 2011, khi Hiệp ước hợp tác chiến lược được Chủ tịch Trung Quốc, ông Hồ Cẩm Đào ký với Tổng thống Miến Điện, ông U Thein Sein, người ta tưởng rằng quan hệ giữa hai nước đã ‘chắc như đá’.

Tiếng nói của người dân

“Giới lãnh đạo Miến Điện đã rút kinh nghiệm từ Mùa xuân Ả rập và tiếng hành các cải cách để tránh phải đối mặt với một cuộc nổi dậy tương tự.”

Vào tháng Chín năm 2011, Thein Sein làm Trung Quốc bất ngờ khi đình chỉ dự án đập Myitsone trị giá 3,6 tỷ đôla của Trung Quốc. Điều này được nhiều người cho rằng sự phụ thuộc của Miến Điện vào Trung Quốc đang có dấu hiệu rạn vỡ.

Thein Sein nói lý do cho quyết định này, là vì ý muốn của người Miến Điện phải được tôn trọng. Hay nói cách khác, người dân Miến Điện không phải chứng kiến cảnh tài nguyên của nước mình bị đưa hết sang Trung Quốc nữa.

“Có một tâm lý chống Trung Quốc ở Miến Điện bởi nhiều người cho rằng nước này quá gần với Trung Quốc, và bản chất Trung Quốc thì quá hiển nhiên,” David Steinberg, một chuyên gia về quan hệ Trung Quốc – Miến Điện nói.

“Trung Quốc có hàng chục dự án đập thủy điện ở Miến Điện. Tuy nhiên với dự án Myitsone, 90% điện sẽ được chuyển về Trung Quốc, và đó là vấn đề.”

Cũng từ khi kiểm duyệt báo chí ở Miến Điện bị bãi bỏ tháng Tám năm 2011, truyền thông Miến Điện đã tận dụng tối đa quyền tự do của mình nhằm nói lên tiếng nói của người dân.

Tất nhiên, sự cải cách vẫn còn mong manh khi không phải ai trong chính phủ Miến Điện cũng có cái nhìn tích cực về nó. Dự thảo của Bộ Thông tin gửi lên Quốc hội hồi đầu tháng Ba đòi đảo ngược lại nhiều thay đổi gần đây là một ví dụ.

Mở đầu quan hệ với Mỹ


Chuyến thăm của các lãnh đạo cấp cao của Mỹ tới Miến Điện là điều mà cả chính phủ ông Thein Sein cũng không ngờ tới

Tự do báo chí đang cho thấy một nền dân chủ thực sự ở Miến Điện là hoàn toàn có thể.

Bãi bỏ kiểm duyệt báo chí chỉ là một phần trong hàng loạt cải cách khác như việc trả tự do cho lãnh đạo đảng đối lập bà Aung San Suu Kyi cũng như các tù chính trị khác và việc phi tội phạm hóa các công đoàn.

Tất cả các điều kiện đang dẫn đến một điều mà hàng thập kỷ qua không ai dám nghĩ tới: Sự tái thiết lập quan hệ Mỹ – Miến Điện.

Chuyến thăm của Ngoại trưởng Mỹ Clinton vào năm 2011 và Tổng thống Obama vào năm 2012 có lẽ không chỉ khiến Trung Quốc phải bất ngờ.
“Chính phủ Thein Sein cũng chưa bao giờ lường trước được đối thoại ở cấp độ này với Mỹ,” một quan chức cấp cao giấu tên tại Bộ Ngoại giao Miến Điện bình luận.
Người này cũng cho rằng giới lãnh đạo Miến Điện đã rút kinh nghiệm từ Mùa xuân Ả rập và tiến hành các cải cách để tránh phải đối mặt với một cuộc nổi dậy tương tự.
“Họ muốn an toàn, nhất là Than Shwe”, ông này nói.
“Thein Sein là người đã cứu mạng Than Shwe và luôn là một trong những người được ông này tin cậy. Các lãnh đạo quân đội muốn một chiến lược rút lui tốt, nếu không muốn bị lãnh hậu quả khi cải cách chính trị thức sự xảy ra.”

Quan ngại của Trung Quốc

“Về mặt kinh tế, Trung Quốc không mất nhiều từ vụ Myitsone. Tuy nhiên nước này đã mất rất nhiều, cả về chính trị và chiến lược”

David Steinberg, chuyên gia quan hệ Miến Điện – Trung Quốc

Tất cả các phát ngôn chính thức của Trung Quốc đều ủng hộ sự cải cách tại Miến Điện, tuy nhiên có một điều ai cũng biết là Bắc Kinh lo lắng về các dự án đầu tư của mình sẽ bị tinh thần người Miến Điện làm ảnh hưởng.
Dự án khai thác mỏ Wanbao – dự án hợp tác giữa hai tập đoàn Nhà nước khổng lồ, Norinco của Trung Quốc và Tập đoàn Kinh tế Miến Điện là một ví dụ.
Ngay sau tuyên bố của Norinco nói dự án sẽ giúp “tăng cường nguồn dự trữ đồng ở nước chúng ta, cũng cũng như tăng cường ảnh hưởng của chúng ta lên Miến Điện,” 3 tháng sau, dự án này đã gây sự nên sự giận dữ đối với người Miến Điện vì nhiều lý do:
Ép buộc giải tỏa, phá hoại đến chùa cổ, ô nhiễm nguồn nước và tâm lý bất mãn trước tài nguyên Miến Điện bị Trung Quốc lấy đi.
Nhiều cuộc biểu tình đã bùng nổ từ tháng Sáu năm ngoái khi các nhà sư, nông dân và những nhà hoạt động bảo vệ môi trường cùng diễu hành yêu cầu hủy bỏ dự án hàng tỷ đôla này.
Miến Điện đã luôn trấn an Bắc Kinh rằng đầu tư của nước này là an toàn, tuy nhiên Trung Quốc vẫn giữ thái độ thận trọng.

Lá bài dân tộc thiểu số


Giới lãnh đạo quân đội Miến Điện muốn một lối ra an toàn trong trường hợp cải cách chính trị thực sự nổ ra?

Xung đột giữa các dân tộc thiểu số cũng là một điều có thể gây phức tạp thêm cho mối quan hệ giữa hai nước.
Hậu quả từ xung đột của của Quân đội Độc lập Kachin (KIA), Tổ chức Độc lập Kachin (KIO) và quân đội Miến Điện đang lan dần đến Trung Quốc. 90 nghìn dân di cư hay bốn quả tên lửa rơi trung lãnh thổ Trung Quốc ở khu vực biên giới hồi tháng 12 là một ví dụ.
Với hơn 1 triệu người Kachin sống ở phía Miến Điện của biên giới, và 130 nghìn người Jinpo (người Kachin sống ở gần Ruili), đây chỉ là một trong số những nhóm dân tộc thiểu số có thể gây ảnh hưởng đến quan hệ hai nước.
Giới chức trách ở Côn Minh ( thành phố chính tỉnh Vân Nam) và ở Bắc Kinh đã tỏ ý kiến muốn ủng hộ chiến lược với các nhóm phiến quân phía Bắc Miến Điện, vốn có quan hệ với Trung Quốc.
Hồi tháng Một, Trung Quốc bác bỏ báo cáo của Jane’s Intelligence Review rằng nước này đã cung cấp hai xe chống tăng cho Quân đội bang Wa thống nhất.
Dù điều này có thật hay không, thì nỗi ám ảnh về một biên giới ổn định sẽ sớm đẩy Trung Quốc lún quá sâu vào phía Bắc Miến Điện

Mỹ: Cơ hội và rủi ro


Ông Thein Sein thăm Hoa Kỳ trong năm ngoái.

Quan hệ gần gũi với Miến Điện giúp Washington có một cơ hội vàng để đạt các mục tiêu kinh tế và chiến lược ở Châu Á.
Tuy nhiên, nước này cũng cần phải cẩn thận không làm gia tăng quan ngại của Bắc Kinh rằng Washington đang thực hiện chính sách ngăn chặn đối với Trung Quốc mà kết quả là sự thay đổi chế độ như Chiến Tranh lạnh đã làm đối với Liên Xô.
“Trung Quốc coi Đông Nam Á là sân sau của mình, và họ muốn duy trì tầm ảnh hưởng lớn,” ông Steinberg nói.
“Họ sẽ cảm thấy lo ngại nếu Miến Điện tiến quá gần về phía Mỹ. Tôi nghĩ họ sợ rằng đây sẽ là chiến lược ngăn chặn Trung Quốc lần hai của Mỹ.”
Tuy nhiên ông này cũng cho rằng Miến Điện sẽ muốn đi theo một con đường cân bằng giữa Washington và Bắc Kinh.
“Họ không muốn trở thành nước lệ thuộc vào Mỹ cũng giống như họ không muốn lệ thuộc vào Trung Quốc.”
Một cựu quan chức ngoại giao Miến Điện cho rằng, dù sự đổ vỡ hoàn toàn quan hệ Miến Điện – Trung Quốc là khó có, sự quay lại của mối quan hệ ‘anh em’ ngày xưa là không thể.
“Miến Điện sẽ cố giữ cho Trung Quốc hài lòng, trong lúc mở cửa để phương Tây hiện diện nhiều hơn,” ông nói.
“Về mặt kinh tế, Trung Quốc không mất nhiều từ vụ Myitsone. Tuy nhiên nước này đã mất rất nhiều, cả về chính trị và chiến lược.”
“Trung Quốc hoàn toàn không thấy trước được điều này.”

Posted in Ở Miến Điện, Đổi Mới | Leave a Comment »

► Nhìn Lại Những Bến Bờ – Duyên Anh

Posted by hoangtran204 trên 18/03/2013

Nhân ngày cuối tuần, mời các bạn đọc lại một đoạn tác phẩm Nhìn Lại Những Bến Bờ  của Duyên Anh Vũ Mộng Long. 

Nhìn Lại Những Bến Bờ

Tác giả Duyên Anh- Vũ Mộng Long

…Cuối năm 1951, thị xã Thái Bình thêm một hiệu sách mới: Hiệu
sách Học Hải. Khác với hiệu sách Đông A chỉ bán sách giáo khoa,
9báo, dụng cụ học đường, hiệu sách Học Hải bán tiểu thuyết và cho
thuê tiểu thuyết. Những bộ trinh thám tiểu thuyết của Thanh Đình,
Ngọc Cầm, Phạm Cao Củng được tái bản. Tôi vùi đầu đọc Đoan
Hùng, Lệ Hằng, Lệ Hằng với chí phục thù, Dao bay, Nhà sư thọt,
Vết tay trên trần …, thay vì đọc Thạch Lam, Nhất Linh, Khái
Hưng … Rất thú vị những câu kết và những câu mở đầu mỗi
chương của Thanh Bình, tôi chép lia lịa.

Tôi học văn chương trinh thám và ảnh hưởng cách hành văn kêu boong boong, ngắn cũn cỡn
với khá nhiều ba chấm và chấm than. Kết quả là bài luận tả cảnh
trời mưa của tôi bị cụ cử Trịnh Đình Rư coi như “áng văn châu
ngọc”, “văng vẳng tiếng chuông chùa”. Cụ cử Rư “bình văn” của
tôi cả tiếng. Cụ châm biếm nghiệt ngã khiến tôi muốn độn thổ. Tôi
vỡ mộng viết văn. Từ đó, tôi không làm bài luận nào nữa. Luận
tiểu học tả con trâu của tôi ăn 2 điểm trên 10. Luận trung học tả
trời mưa của tôi ăn 1 điểm trên 20. Tôi hỏi “sư phụ” Đàm Viết
Minh, được nó giải thích:

– Luận văn nhà trường khác hẳn tiểu thuyết ngoài đời. Xuân Diệu
có làm thơ hát nói không ? Huy Cận có làm thơ Đường luật không
? Nhưng ai bảo mày đọc tiểu thuyết trinh thám, tiểu thuyết kiếm
hiệp ? Văn chương kiếm hiệp, trinh thám là văn chương bỏ thùng
rác.

Thế thì tôi quay sang đọc tiểu thuyết tình cảm. Thời kỳ này, Ngọc
Giao đã bỏ kháng chiến về Hà nội. Ông cho tái bản Nhà quê và
tung ra những tác phẩm mới như Mưa thu, Đất, Cầu sương …

Các nhà văn mới đua nhau ném vào thị trường chữ nghĩa vùng tề những
tiểu thuyết tình. Người ta thấy xuất hiện những Nguyễn Minh
Lang, Thanh Nam, Nguyễn Triệu Nam, Vĩnh Lộc, Huy Quang,
Huy Sơn, Hoàng Công Khanh … Trong số những nhà văn mới,
viết ướt át và nhiều nhất là Thanh Nam. Tác giả Cần một người
đàn ông viết tiểu thuyết khi tôi còn mài đũng quần trên ghế nhà
trường.

Tôi đã đọc Thanh Nam, đã phiêu lưu theo nhân vật của anh
và đã khóc sướt mướt. Rồi tôi ước ao viết tiểu thuyết như Thanh
Nam. Bạn thân của anh, Nguyễn Minh Lang, vào làng văn bằng
tập truyện ngắn Trăng đồng nội, Nguyễn Minh Lang chinh phục
độc giả ngay. Anh viết bay bướm, tình tứ. Tôi nhớ, trang đầu của
Trăng đồng nội bảng lảng không khí và thời tiết kháng chiến,
Nguyễn Minh Lang đề tặng: “Trìu tặng Tâm Vấn*, người em gái
của lòng tôi”. Kế đó, anh cho xuất bản Hoàng tử của lòng em.
Nhiều nữa. Tiểu thuyết cuối cùng của anh là Cánh hoa trước gió.
Tiểu thuyết này đã đăng trên nhật báo “trung lập chế” Phương
Đông của Hồ Hữu Tường ở Sài gòn. Nguyễn Minh Lang và Thanh
Nam là hai nhà văn “ăn khách” của Hà nội. Độc giả của họ, đa số
là phụ nữ. Vĩnh Lộc viết cuốn Bừng sáng khá hay. Hoàng Công
Khanh đã nổi tiếng trong kháng chiến với truyện Trên bến Búng.
Vào tề, anh làm thơ, cho in kịch thơ Bến nước Ngũ Bồ và cho trình
11diễn vở kịch thơ này tại Nhà Hát Lớn, Hà nội. Những người khác
không có gì đáng nói. Chưa tìm thấy một tư tưởng mới hay một sự
làm mới chữ nghĩa của văn chương vùng tề. Tất cả chỉ là nối tiếp
cái lãng mạn tiền chiến. Tuy nhiên, ở Đất và Cầu sương, người ta
cũng khám phá ra sự chuyển biến tâm hồn của Ngọc Giao. Đặc
biệt, tạp chí Thế kỷ của Bùi Xuân Uyên đã giới thiệu hai cây bút
mới tuổi nhiều: Triều Đẩu với Trên vỉa hè Hà Nội và Trúc sĩ với
Kẽm trống.

Cùng thời kỳ này, tiểu thuyết Lê Văn Trương tái bản ào ạt, tiểu
thuyết của Tự lực văn đoàn tái bản ào ạt với thêm những nhà văn
mới: Linh Bảo, Gió bấc, Tàu ngựa cũ; Nguyễn Thị Vinh, Hai chị
em; Nguyễn Tường Hùng, Gió mát. Tôi lại say mê Thằng còm và
Thằng còm phục thù của Lê Văn Trương.

Tiểu thuyết Sài gòn cũng
bay ra miền Bắc tới tấp. Thu Hương, Chị Tập của Hồ Hữu Tường.
Nhốt gió của Bình Nguyên Lộc. Mây ngàn của Vita. Đồng quê của
Phi Vân. Những truyện dài rất Sài gòn của Thanh Thủy, Dương
Hà. Đọc tiểu thuyết Thanh Thủy, tôi đã cười hoài vì những câu đối
thoại “Em có yêu anh hôn ? Anh có dzìa hôn ?”. Tôi chưa hiểu
ngôn ngữ Nam bộ. Thế nhưng tôi đã bàng hoàng đọc truyện ngắn
Kòn trô, Chớp biển mưa nguồn của Lý Văn Sâm, nhà văn Biên
Hòa, đăng trên Tiểu thuyết thứ bảy bộ mới. Lý Văn Sâm viết thật
sâu sắc. Tôi cho rằng anh ta viết hay nhất thời đó, trong số các nhà
văn miền Nam.

Tôi còn đọc cả Võ Hồng ở Tiểu thuyết thứ bảy.
12Hiệu sách Học Hải chịu khó đại lý tuần báo văn nghệ. Có bán tại
đây Phổ Thông của Nguyễn Vĩ. Tiểu thuyết tràn ngập các thành
phố vùng tề.

Suốt mùa hè 1951, tôi đọc tiểu thuyết và ghi chép những đoạn văn
hay. Tôi đọc mờ mắt luôn, đọc quên ăn, quên ngủ. Niên học 1952,
“sư phụ” Đàm Viết Minh lên Hà Nội học nhẩy thi tú tài nhất. Nó
đã đậu trung học phổ thông hạng bình.

Tôi bước vào năm học mới
mà luận văn không có tả cảnh. Tôi học Nguyễn Du, Nguyễn Công
Trứ, Cao Bá Quát, Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương, Từ Diễn
Đồng, Học Lạc, Phan Văn Trị, Tôn Thọ Tường … Bí quyết của
“sư phụ” Đàm Viết Minh vất đi hết. Nước lã ra sông. Lúc này, bí
quyết nằm trong “Luận đề về …” của giáo sư Nguyễn Duy Diễn và
Nguyễn Sĩ Tế. Tôi không hứng thú đọc “Luận đề về”, chẳng hạn,
“Luận đề về Nguyễn Công Trứ”. Học thơ Phan Văn Trị, Tôn Thọ
Tường không vô. Cứ ông này xuất “Khuyên đàn con trẻ chớ thày
lay”, ông kia đối “Lòng ta sắt đá há lung lay”, tôi thối chí. Rồi thầy
việt văn của tôi còn “chụp mũ cách mạng” vào thơ Nguyễn
Khuyến mới nản !

Ai xui con cuốc gọi vào hè
Cái nóng nung người nóng nóng ghê
Ngõ trước vườn sau um những cỏ
Vàng phai thắm nhạt ngán cho huê
Đầu cành bướm lượn oanh xao xác
Trong tối đua bay đóm lập lòe
May được nồm nam cơn gió thổi
Đàn ta ta gảy khúc Nam nghe

Chỉ là bài thơ tả cảnh vào hạ. Nhưng thầy tồi “bình” rằng: Ai xui ta
mất nước khiến muôn dân căm phẫn. Trước sau toàn Việt gian,
những tâm hồn Cần Vương mai một. Kẻ nào chiến đấu, kẻ nào
phất cờ khởi nghĩa ? Nếu cách mạng nổi dậy, ta sẽ hoan hô !

Thằng bạn tôi ngứa miệng hỏi:
– Thưa thầy ở điển cố nào gió nồm nam là cách mạng, cỏ là Việt
gian ?
Thầy tôi nổi giận:
– Người đời sau soi sáng chữ nghĩa đời xưa !

Tôi cảm thấy mình không soi sáng cỏ ra Việt gian nên tôi cúp cua.
Và hai bài luận một niên học của tôi cọng lại được 5 điểm trên 20.
Điều đó không quan trọng. Quan trọng là bài báo đầu tiên của tôi,
bài báo “bút chiến” ở bích báo – báo dán tường – với Đính phở,
nhân dịp Tết Nguyên Đán.

Tôi vốn ghét Đính phở. Nó vây vo từ
năm ngoái, khi cụ cử Rư khen văn tài của nó, cụ tiên đoán nó sẽ là
nhà báo nổi danh. Bố nó bán phở. Bố tôi bán thuốc Bắc. Tôi tặng
nó biệt danh Đính phở. Nó tặng tôi biệt danh Long dao cầu. Bạn
tôi, Lê Huy Luyến, “chủ nhiệm” bích báo Mùa Xuân, mời Đính
phở viết bài. Nó bảo nó sẽ viết bài nhan đề Long dao cầu và thách
tôi viết bài Đính phở. Tôi chới với. Làm sao tôi địch nổi văn tài
“luận văn đệ ngũ” Đính phở, kẻ đã được cụ cử Rư “chấm” là nhà
báo ? Làm sao tôi địch nổi văn tài “luận văn đệ tứ” Đính phở, kẻ
đã được thầy Việt văn khen ngợi nức nở ?

Chợt nhớ lời “sư phụ”
Đàm Viết Minh: “Luận văn nhà trường khác hẳn tiểu thuyết ngoài
đời”, tôi gồng người chấp nhận sự thách thức của Đính phở.
Chủ nhiệm Lê Huy Luyến, mỗi sáng, đến trường thật sớm. Nó vào
các lớp, viết phấn trên bảng “quảng cáo” bích báo Mùa Xuân:
“Cuộc bút chiến nảy lửa giữa nhà báo Đính phở và nhà văn Long
dao cầu trên bích báo Mùa Xuân. Cả trường đón đọc nay mai”.

Thằng Luyến hại tôi. Nó phong tôi tước vị nhà văn ! Tôi mà là nhà
văn ư ? Tôi đang chép văn của thiên hạ dài tay ra thì có. Ông Nhật
Tiến ơi, ông viết kịch ngắn năm bao nhiêu tuổi ? Tôi đã chép trọn
vẹn vở kịch của ông đăng hai kỳ trên nhật báo Giang Sơn trang
nhất đấy. Tên vở kịch tôi quên rồi. Chắc ông chưa quên đâu nhỉ ?
Giá “sư phụ” của tôi còn ở Thái, tôi nhờ “sư phụ” tôi dạy dỗ … bút
chiến. Than ôi, “sư phụ” dấu nghề, “người” không chịu “phán” bút
chiến khác luận văn nhà trường, khác luôn tiểu thuyết ngoài đời.

Vậy bút chiến là gì ? Hiểu theo lẽ giản dị thì bút chiến là chiến
tranh bằng bút, là đánh nhau bằng bút. Đã đánh nhau, dù bằng súng
hay bằng bút, dù bằng chân tay hay bằng mồm, rất khó tìm ra chân
lý. Đánh nhau chỉ nhằm mục đích thắng và bại. Bút chiến cũng thế.
Chiến tụng Tây Hồ phú của Phạm Thái tìm ra chân lý nào ? Sự kết
án Nguyễn Hữu Lượng, tác giả Tụng Tây Hồ phú, bỏ Lê Chiêu
Thống theo Nguyễn Tây Sơn. Phò Lê Chiêu Thống là chân lý ?
Nếu có kẻ viết thêm “Chiến chiến tụng Tây Hồ phú”, chân lý của
Phạm Thái sẽ là “Đù ỏa trần gian sống mãi chi!”. Nguyễn Hữu
Lượng viết Tụng Tây Hồ phú. Phạm Thái hằn học viết Chiến tụng
Tây Hồ phú. Nguyễn Hữu Lượng không trả lời. Vậy bút chiến ở
đâu ? Đúng lý phải nói: Nguyễn Hữu Lượng ca ngợi công đức, sự
nghiệp Nguyễn Huệ, Phạm Thái chống Nguyễn Huệ, phò Lê Chiêu
Thống, cay cú Nguyễn Hữu Lượng, viết bài chửi Nguyễn Hữu
Lượng. Văn học sử Việt Nam vỏn vẹn ba cuộc bút chiến tạm gọi là
bút chiến. Cuộc bút chiến thứ nhất xảy ra giữa ông Việt gian Tôn
Thọ Tường và ông ái quốc Phan Văn Trị. Cuộc bút chiến thứ hai
xảy ra giữa thơ mới và thơ cũ. Cuộc bút chiến thứ ba xảy ra giữa
Nhân văn giai phẩm và đảng cọng sản Việt Nam. Còn lại rặt là
đánh đấm bằng bút. Có điều Ngô Đức Kế đánh đấm Phạm Quỳnh,
Ngô Tất Tố đáng đấm Trần Trọng Kim nho nhã, văn vẻ. Người
xưa hơn người sau chỗ đó. Cũng còn bút chiến với xác chết đấy.
Đó là cuộc bút chiến “độc diễn” giữa Nguyễn Văn Trung và Phạm
Quỳnh. Tồi tệ nhất lịch sử nhân loại là cuộc bút chiến giữa Cách
Mạng với những kẻ sĩ nằm tù, tay bị còng, miệng bị bịt ! Tuy
nhiên, phàm đã dùng bút đánh nhau, đều gọi là bút chiến cả.

Tôi sắp đánh nhau bằng bút với Đính phở. Chúng tôi tham dự bút
chiến … học trò. Đinh phở nộp bài trước. Bài ngắn thôi. Báo viết
tay dán tường mà. Chủ nhiệm Lê Huy Luyến không học “nghĩa vụ
luận” của nghề báo, lén đưa bài của Đính phở cho tôi đọc. Tôi tối
tăm mặt mũi. Thằng Đính phở bắt chân tay tôi run lẩy bẩy. Đọc
xong bài của nó, tôi bải hoải. Tào Tháo đang bị cảm cúm, đọc
xong hịch của Trần Lâm hài tội mình thì toát mồ hôi, khỏi bệnh,
tỉnh táo mà rằng: “Nó đánh ra bằng văn, ta đánh nó bằng võ”. Còn
tôi, tôi đánh với Đính phở bằng gì ? Văn nó hay hơn tôi gấp bội
phần. Võ nó to con, nó đấm tôi gãy xương. Tôi đọc lại bài “bút
chiến” của Đính phở. Nó giỏi thật sự, xứng đáng là nhà báo lỗi lạc
mai này. Nó lồng hình ảnh bố tôi vào tôi. Nó tả bố tôi như chụp
ảnh. Bố tôi thái thuốc, bố tôi đạp thuyền tán, bố tôi giã thuốc trong
cối đồng. Đinh phở miêu tả một cách tài tình. Đoạn nó làm tôi phì
cười là đoạn nó tả bố tôi cởi trần ngồi viên thuốc tễ. Trí nhớ của tôi
chỉ cho phép tôi ghi đoạn này:

“Long dao cẫu ngồi viên thuốc tễ đen xì. Thuốc tễ là các vị thuốc
bổ rang vàng, tán nát, rây thành bột trộn với mật. Long dao cầu rất
khổ vì ruồi nhặng đánh hơi mật kéo đến. Thuốc tễ muốn viên
nhanh cần phải lăn những cục tròn dài. Hề hề, ruồi nhặng đậu trên
đó, thật khó ví ! Đang viên thuốc, bị con ruồi bò sau gáy, Long dao
cầu cầm cả cục thuốc viên dở mà gãi. Ghét bẩn dính lẫn vào thuốc
bổ. Ấy, có khi ăn viên thuốc bổ dính ghét lại … trường sinh bất tử
17đấy nhé ! Nhưng khó béo, bằng chứng là Long dao cầu gầy nhom
…”.

Đính phở tả thật quá. Nó thuộc khuynh hướng tả chân. Thuốc tễ
mất vệ sinh lắm. Tôi đã nhìn nhặng đẻ giòi trên thuốc tễ ngào mật !
Nhờ thế, thuốc tễ bổ tì, bổ vị, bổ phế, bổ tâm, bổ não, bổ huyết …
Thuốc tễ nằm trong câu “Ăn bẩn sống lâu!”. Tôi phục Đính phở
bắt phì cười. Văn “bút chiến” của nó đạt tới hạng nhất. Tôi cần
chứng tỏ hơn nó. Bèn về lùng đọc Ba Giai, Tú Xuất, Trạng Quỳnh,
Tiếu lâm … Dở chồng báo cũ, tôi đọc Tam Lang, Hiền Nhân.
Chẳng tìm ra truyện nào, bài nào có thể “cóp” mà chửi Đính phở
cả. Buồn quá, tôi kiếm Đặng Xuân Côn vấn kế. Nó bảo tôi khai
triển mấy câu này:

Phở, phở, phở …
Chẳng ở thì xéo
Léo nhéo chi đây
Đánh giấy sang Tây
Bỏ tù thằng bán phở
Tôi khoái chí. Nghĩ rằng, mày đánh ông bằng “bút chiến”, ông
đánh mày bằng “truyện ngắn”. Và đây là bài của tôi ghi lại theo
hồi tưởng:

Đính phở
Phờ ơ ớ ở …
Phờ ơ ớ ở …
Phờ ơ ớ ở …

Nó chụm hai bàn tay sát miệng làm loa, cong người mà rao. Làm
cái nghề bán phở gánh ban đêm thảm não thật, thua thằng bán xực
tắc. Xực tắc nó gõ khúc tre vui tai. Phở gánh rao khiến mèo gào,
chó sủa. Bạn biết thằng rao phở là đứa nào không ? Đính phở đấy.
Năm ngoái nó học đệ ngũ trường Thị xã, cụ cử Rư đoán số luân
văn cho nó, quả quyết nó thành nhà báo lừng danh, ai ngờ nó đi
gánh phở bán rong. Nghĩ mà thương hại Đính phở. Nó “sinh ra đời
dưới một ngôi sao xấu số”. Tôi cần giúp đỡ nó, “thấy người hoạn
nạn thì thương”.
– Phở …
Đính phở mừng rỡ chạy lại, xun xoe:
– Thưa cậu gọi cháu ạ ?
– Ừ.
– Cậu dạy gì ?
– Bán cho cậu một bán chín nạc.
– Dạ.
– Nhớ vừa cầm thịt thái vừa móc tay gãi háng. Như thế khỏi nước
béo !
– Cháu đâu dám. Với người khác, cháu cầm cả miếng thịt thò vào
háng.
Ăn xong bát phở, tôi thân mật tâm sự:

– Này Đính phở, cậu hỏi cháu nói thật nhé, rồi cậu sẽ ăn ủng hộ
cháu mỗi tối một bát.
– Dạ, xin cậu dạy.
– Nghe nói cháu làm luận, văn hay chữ tốt lắm.
– Thưa cậu, cháu thuê ông giáo tiểu học làm, cháu chỉ chép.
– Mỗi bài bao nhiêu ?
– Một thau xương bò hầm.
– À, ra thế ! Này cháu, cậu thấy bố cháu có tiệm phở, tại sao nỡ bắt
cháu đi bán phở rong. Bố gì ác thế ?
– Thưa cậu, ông nội cháu dạy: “Bé đi câu, lớn đi hầu, già đi bán
phở”. Cháu sợ già đi bán phở nên cãi lời ông nội: “Bé bán phở, lớn
đơm đó, già ngồi đan giỏ”.
– À, ra thế !

Sư phụ của tôi dạy đúng. “Luận văn nhà trường khác hẳn tiểu
thuyết ngoài đời”. Sách có câu: “Con vua thì lại làm vua. Con sãi
nhà chùa lại quét lá đa”. Đính phở là con ông bán phở, dẫu vênh
vang cách mấy, rốt cuộc, cũng sẽ lại tiếp nối nghề bán phở gia
truyền.

Đây là “tác phẩm” đầu đời viết văn của tôi. Hẳn nhiên, cách hành
văn “nguyên thủy” của nó ngô nghê hơn là chép lại. Tôi rất tiếc
không nhớ cách hành văn “ngày xưa còn bé”. Ở tôi, mỗi giai đoạn
đời sống kinh qua, mỗi thời gian tuổi tác chồng chất, đều một lần
thay đổi hành văn và biến chuyển tư tưởng rõ rệt. Còn thay đổi nhờ
kiến thức tôi thâu lượm ngoài đời và trong sách vở, báo chí. Nhà
văn không nhất thiết phải trung thành với một lối hành văn, một
kiểu cấu trúc tác phẩm. Nhưng nhà văn cần thiết trung thành với lý
tưởng viết mà y đã chọn lựa từ tác phẩm đầu tay, vẫn theo tôi. Sự
phản tỉnh về lý tưởng, về tư tưởng của nhà văn, hình như, không
được chấp nhận. Rất giản dị, ở bất cứ không gian và thời gian nào,
Sự Thật luôn luôn là khuôn vàng thước ngọc của nhà văn. “Bút sa,
gà chết”, câu này đúng. Nhà văn bắt buộc phải có thái độ sống và
thái độ viết và phải tôn trọng thái độ của mình để được độc giả tôn
trọng. Thi sĩ Phùng Quán, một trong những kiện tướng của Nhân
văn giai phẩm, viết:
Người làm xiếc đi trên giây đã khó
nhưng không khó bằng người viết văn
trọn đời đi trên đường Chân Thật

Hơn mọi ai, nhà văn phải thật với chính tâm hồn mình khi cầm bút.
Anh chỉ có thể phản tỉnh một lần và một lần thôi. Đó là trường hợp
André Gide. Ông ta đã viết Le retour de l’URSS. Thấy không đúng
sự thật, André Gide can đảm viết Retouche sur mon retour de
l’URSS. Anh, nhà văn quốc gia chống cộng, anh phản tỉnh, anh
đứng chung hàng ngũ cộng sản chống lại quốc gia. Đồng ý. Bút
anh đã sa trên giấy cọng sản. Nếu anh thấy cần phản tỉnh thêm, anh
bỏ cộng sản sang với quốc gia, anh cứ sang. Nhưng, là nhà văn, lần
này anh đừng nuôi một ảo tưởng nào bằng ngòi bút của anh nữa,
21anh nên bẻ bút. Đó là anh có liêm sỉ. Người ta không tha thứ cái
thái độ tráo trở của nhà văn. Quốc rồi Cọng, Cọng rồi Quốc, muối
mặt mà văn học nghệ thuật, mà chống cộng như phường vô lại.
Cộng sản rất khinh bỉ loại nhà văn thò lò sáu mặt này. Còn quốc
gia ?

“Tác phẩm” đầu đời viết văn của tôi xuất hiện trên bích báo mùa
Xuân cạnh “tác phẩm” của Đính phở. Trong thế giới học trò Việt
Nam, tôi dám nói, chưa hề có bích báo nào đăng hai bài “bút
chiến” láo lếu thế. Do sáng kiến của chủ nhiệm Lê Huy Luyến, do
sự “thách đấu” của Đính phở, tôi bốc máu gò gẫm một “tác phẩm”
… phiếm luận cọng tiểu thuyết. Ôi, định mệnh đã an bài ! Bích báo
mùa Xuân dán tường đúng ngày liên hoan Tết. Độc giả chen nhau
đọc. Độc giả thi nhau cười. Long dao cầu và Đính phở thành hai
cái tên chết. Độc giả bình văn và chấm điểm. Độc giả khen Đính
phở sâu sắc, khen tôi đểu, xỏ lá kềnh. Tàn cuộc liên hoan, Đính
phở đến bắt tay tôi thân mật, rủ tôi cùng về.

– Mày viết hay hơn tao, Đính phở nói.
– Tao gò mấy đêm đấy. Mày giận tao không ? Tôi hỏi.
– Không, tao gây sự trước. Nhưng, nói thật đi, ai gà mày ?
– Tao tự viết.
– Thật chứ ?
– Thật.
– Thế thì cụ cử Rư sai lầm. Mày mới sẽ là thằng viết báo. Luận văn
22nhà trường khác hẳn tiểu thuyết ngoài đời, Long ạ !
– Long dao cầu.
– Long thôi. Từ này, đừng chế tao Đính phở nữa.
Đính phở khôi hài:
– Cháu xin cậu.
– Ừ, cậu tha cho làm phúc.

Đính phở khoác tay lên vai tôi. Nó dẫn tôi về hiệu phở nhà nó, mời
tôi ăn phở. Hôm sau, tôi “lại quả” nó một gói táo tầu. Khi tôi vào
nghề báo thực thụ, chẳng bao giờ tìm thấy cuộc bút chiến nào êm
ái như cuộc bút chiến giữa Đính phở và Long dao cầu. Nhà trường
còn khác hẳn cuộc đời đủ mọi thứ chuyện.

Posted in Giải Trí | Leave a Comment »

►The Phnom-Penh Post: Vòng xoáy đi xuống của Việt Nam

Posted by hoangtran204 trên 18/03/2013

Tác giả: Roger Mitton

Người dịch: Trần Hoàng 

Những ngày này, Việt Nam trở nên một quốc gia ảm đạm. Hầu hết mỗi bài báo viết về quốc gia này, dù là có liên quan đến kinh tế, tham nhũng, đàn áp chính trị, hay giá bia, đều cực kỳ ảm đạm.

Có lẽ điều đáng u sầu nhất là câu chuyện của nhà báo Nguyễn Phương Linh trên tờ Financial Times cuối tháng trước, bài báo đó mô tả hoàn cảnh của những người có cuộc sống cực kỳ gian khổ được gọi là “những cái xác biết đi” (zombies).

Họ là hàng chục ngàn công nhân của các tập đoàn, tổng công ty nhà nước ở quốc gia này, hầu hết đang nằm trong tình trạng làm ăn không hiệu quả, tham nhũng một cách có hệ thống và phần lớn đang sắp phá sản.

Bà Linh tiết lộ, nhiều người trong số những công nhân này đã không được trả lương trong nhiều tháng nay, và trong bối cảnh những khoản nợ khủng khiếp của các công ty này, chắc chắn là họ sẽ không bao giờ được trả lương.

Ngay cả trong trường hợp, không chắc sẽ xảy ra, là họ cuối cùng  nhận được khoản lương bị thiếu nợ, thì số tiền ít ỏi đó cũng sẽ chỉ mua được ít đồ hơn bình thường vì nạn lạm phát gia tăng và đồng tiền mất giá chưa từng có.

Thế nhưng, trong thị trường lao động đình trệ của Việt Nam, những người lao động nghèo này không dám rời bỏ cái kén giả tạo về sự  an toàn rằng: là công nhân viên nhà nước.

Chế độ cộng sản không thể sa thải họ. Điều đó sẽ chỉ đẩy nhanh cuộc cách mạng sắp tới và không thể tránh khỏi.

Vì vậy, đảng CS sẽ làm tất cả những gì có thể để giữ cho các công nhân này trong các nhà máy, chứ không phải ở  ngoài đường – ngay cả khi họ không nhận được lương.

Chuyện này luôn luôn giống nhau. Người công nhân bị ảnh hưởng nặng nhất khi nền kinh tế thất bại, và rất ít quốc gia đã thất bại một cách bi thảm như Việt Nam.

Tốc độ tăng trưởng GDP giảm xuống còn 5% trong năm ngoái, và trong hai tháng đầu năm nay, đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam là rất ít ỏi, 630 triệu USD, giảm 62% so với cùng thời gian  năm ngoái.

Đối với một quốc gia có một lực lượng lao động tăng trung bình 1 triệu người mỗi năm, thì lượng đầu tư   giảm 2/3 không chỉ là thảm họa cho Việt Nam, mà còn làm cho các nước láng giềng lo lắng về các hậu quả mang tính bạo lực.

Cho đến nay, kết quả thất bại thảm hại của VN là điều mà nhiều người đã đoán trước được.

Trong một thế giới toàn cầu hóa như ngày hôm nay, một nền kinh tế chỉ huy từ trên xuống đơn giản là điều không thể chấp nhận, đặc biệt là khi các nhà lãnh đạo đất nước này là một lũ  dốt nát và tham nhũng, đang sống trong một thế giới Xô Viết tưởng tượng nào đó (nơi mà hãng xưởng luôn luôn vượt năng suất lao động hàng năm).

Nhưng họ không thể che dấu sự thực được mãi. Như những người đã xem bộ phim Dawn of the Dead đều biết, những xác chết biết đi (zombies) hay những công nhân  không thể bị đánh bại.

Họ có thể đi lòng vòng như những công nhân chăm chỉ trong khi họ  cọng thêm vào số giờ làm việc trong hãng xưởng không chịu trả lương, nhưng họ cứ tiếp tục trở lại làm việc, bất chấp tầng lớp lãnh đạo cố gắng chế diễu họ hay xỉa xói họ.  

Hiện thực đó vẫn chưa được các bộ não cứng nhắc ngồi ở Bộ Chính Trị tại Hà Nội ghi nhận, mặc dù có một vài người trong số họ đã tỏ dấu hiệu khó chịu trước tình hình.

Không chỉ bởi những cuộc đình công ngày càng tăng trên cả nước, thậm chí không phải sự gia tăng đáng báo động của các vụ cướp bóc trên đường phố, của các vụ vào tận nhà để cướp, mà là bởi những ý kiến phản kháng chính quyền đầy táo bạo và lan rộng.

Trong một toan tính làm dịu tình hình xuống và dường như để giải quyết các tai họa của các tập đoàn và hãng xưởng quốc doanh,  Đảng CSVN đã soạn ra một dự thảo Hiến Pháp, và trong một nhượng bộ hiếm thấy, yêu cầu công chúng đóng góp ý kiến cho dự thảo.

Không nghi ngờ gì, Bộ Chính Trị không bao giờ mong đợi những con người xanh xao mất hết sức sống, bình thường hay sợ hải (sẽ) đóng góp bất cứ ý kiến gì, hoặc nếu có, các ý kiến ấy chỉ là các phát biểu chấp thuận nhẹ nhàng.

Trên thực tế, họ đã thu nhận được một cơn lốc chửi rủa tơi bời, hầu hết các ý kiến tập trung vào sự thất bại thảm hại của Đảng CSVN trong việc điều hành đất nước.

Những người góp ý kiến công khai, bao gồm các sinh viên,  trí thức,  luật sư và các cựu công chức, đã và đang nhấn mạnh rằng họ sẽ không bao giờ lùi bước, ngay cả khi, giống như  nhà chỉ trích và nhà báo Nguyễn Đắc Kiên, họ bị sa thải hoặc thậm chí bị bỏ tù.

Họ muốn các cuộc bầu cử có tính chất dân chủ và tôn trọng nhân quyền, và trên tất cả,  loại bỏ Điều 4 Hiến pháp, điều này quy định rằng chỉ có một đảng được chấp thuận hoạt động ở Việt Nam là Đảng CSVN và cũng là lực lượng duy nhất lãnh đạo đất nước.

Điều 4 phải ra đi. Càng sớm càng tốt. Sau đó tình hình u tối sẽ được dỡ bỏ và những công nhân vốn xanh xao mất hết sức sống đã phải chịu cực khổ lâu nay, cùng với đồng bào của họ, có thể hướng đến một cuộc sống bình thường, có ý nghĩa – và nhận được tiền lương đúng lúc.

nguồn:  http://www.phnompenhpost.com

Người dịch: Trần Hoàng @2013

Posted in Chính Sách Kinh Tế-Tài Chánh | Leave a Comment »

►Hoa Kỳ “Không bàn vũ khí sát thương trong cuộc đối thoại Việt – Mỹ’, nhưng Mỹ hứa cung cấp nguồn lực quân sự bảo vệ Nam Triều Tiên

Posted by hoangtran204 trên 18/03/2013

Rất đáng chú ý khi đọc hai bài báo dưới đây:  Bộ Quốc Phòng Mỹ  “Không bàn vũ khí sát thương trong cuộc đối thoại Việt – Mỹ’;  nhưng BQP Mỹ hứa cung cấp nguồn lực quân sự bảo vệ Nam Triều Tiên. 

Thời gian gần đây, Bộ trưởng Quốc phòng Phùng Quang Thanh bắn tiếng muốn mua vũ khí của Mỹ. Nhưng Mỹ làm lơ. 

 

Đầu năm nay, có cuộc Thảo luận về quốc phòng giữa Mỹ và Hà Nội, nhưng phát ngôn viên Bộ Quốc Phòng Mỹ nói là: “Không bàn vũ khí sát thương trong cuộc đối thoại Việt Mỹ”

Đối thoại về quốc phòng mà không bàn về vũ khí sát thương là nghĩa lý gì?  Nhưng  Mỹ nói là sẽ bán các vệ tinh và radar cho VN để theo dõi Trung Quốc ở vùng Biển Đông. 

Chỉ 2 hôm sau khi đài VOA phỏng vấn phát ngôn viên của Bộ Quốc Phòng về cuộc đối thoại giữa Mỹ và Việt Nam, thì Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ, ông Ashton Carter, đã hứa rằng tất cả các tài nguyên trong võ khí hạt nhân của Hoa Kỳ sẽ tiếp tục có sẵn để bảo vệ Nam Triều Tiên:

“Không bàn vũ khí sát thương trong cuộc đối thoại Việt – Mỹ’

Nguyễn Trung –
 nguồn  VOA 16.03.20

Thiếu tá Cathy Wilkinson, nữ phát ngôn viên của Ngũ Giác Đài, đã cho biết như vậy trong cuộc phỏng vấn dành riêng cho VOA Việt Ngữ về cuộc đối thoại chính sách quốc phòng Việt – Mỹ diễn ra hồi đầu năm tại Hà Nội.

Bà cho hay: ‘Hoạt động xuất khẩu vũ khí sát thương bị cấm trong khuôn khổ các quy định hiện thời không được mang ra thảo luận tại cuộc đối thoại chính sách quốc phòng vừa qua. Tuy nhiên, chúng tôi sẽ tiếp tục hợp tác với Việt Nam trong khuôn khổ các quy định hiện có để giúp nước này tăng cường khả năng quân sự trong các lĩnh vực quan trọng’.

Việc Hoa Kỳ cấm bán vũ khí sát thương cho Việt Nam nằm trong lệnh cấm vận khí tài năm 1984 của Washington.

Giới chức quân sự cấp cao của chính quyền Hà Nội, trong đó có Bộ trưởng Quốc phòng Phùng Quang Thanh, từng bày tỏ mong muốn Hoa Kỳ dỡ bỏ lệnh cấm này, nhưng phía Mỹ lại đặt điều kiện về nhân quyền.

Thiếu tá Cathy Wilkinson nhấn mạnh lại quan điểm của Washington: ‘Tiến trình làm sâu đậm thêm mọi khía cạnh trong mối quan hệ giữa hai nước chỉ có thể được thúc đẩy thông qua các nỗ lực tiếp tục của Việt Nam nhằm cải thiện hình hình nhân quyền’.

Thượng nghị sĩ Mỹ Joseph Lieberman từng cho biết rằng chính phủ Việt Nam muốn mua một số loại vũ khí từ Mỹ và Washington cũng muốn chuyển giao cho phía Hà Nội.

Nhưng Thượng nghị sĩ John McCain tuyên bố Hà Nội phải cải thiện vấn đề nhân quyền trước khi Hoa Kỳ bán vũ khí cho Việt Nam.

Trong một bài xã luận đăng tải trên tờ The Wall Street Journal hôm 14/3, thượng nghị sĩ đại diện tiểu bang Arizona viết rằng ông ‘đã làm bạn với những người từng là kẻ thù của ông’, nhưng ‘điều đáng tiếc là họ không được hưởng những quyền tự do mà người Mỹ tôn trọng’.

Ông McCain cũng viết rằng mối bang giao quốc phòng đã phát triển tới mức mà ‘chỉ một thập kỷ trước vẫn là điều không thể tưởng tượng được’.

Tuy nhiên, thượng nghị sĩ này cho rằng vấn đề nhân quyền và pháp quyền mà Mỹ kỳ vọng vào Việt Nam thì ‘vẫn chỉ là hy vọng mà thôi’.

Cuộc thảo luận thường niên lần ba giữa các giới chức quân đội Việt – Mỹ diễn ra trong bối cảnh căng thẳng dâng cao tại biển Đông.

Theo nữ phát ngôn viên Ngũ Giác Đài, vấn đề an ninh biển, trong đó có cách thức ứng phó với những mối đe dọa phi truyền thống, nằm trong chương trình nghị sự.

Bà nói: ‘An ninh biển là một trong năm lĩnh vực trọng tâm trong văn bản ghi nhớ về củng cố hợp tác quốc phòng song phương giữa hai quốc gia, và là một phần quan trọng trong mối bang giao giữa hai nước’.

Ngoài ra, Thiếu tá Wilkinson cho VOA Việt Ngữ biết rằng cả giới chức Mỹ lẫn Việt Nam đều nhận thấy những diễn biến leo thang gần đây ở biển Đông, đồng thời hoan nghênh các nỗ lực giải quyết căng thẳng, tranh chấp một cách hòa bình mà không sử dụng vũ lực hay ép buộc.

Khi được hỏi bà đánh giá như thế nào về ý kiến cho rằng việc Việt Nam lo ngại
các tuyên bố khẳng định chủ quyền lãnh hải mạnh mẽ của Trung Quốc đã đẩy Hà Nội xích lại gần hơn tới Mỹ, người đại điện Lầu Năm Góc nói rằng mối quan hệ giữa Việt Nam và Hoa Kỳ đã phát triển sâu rộng thông qua một loạt các vấn đề trong vài năm qua.

Bà cũng nhắc lại quan điểm của chính quyền của Tổng thống Obama trong vấn đề tranh chấp lãnh hải.

Wilkinson nói: ‘Mỹ không đứng về phía bên nào, nhưng chúng tôi ủng hộ tiến trình ngoại giao và hợp tác, với sự tham gia của tất cả các bên tuyên bố nhận chủ quyền nhằm giải quyết các tranh chấp’.

Theo Ngũ Giác Đài, cuộc đối thoại quốc phòng Việt – Mỹ được coi là một diễn đàn quan trọng để giới chức hai bên trao đổi về các vấn đề an ninh song phương, khu vực cũng như toàn cầu mà hai bên đánh giá là quan trọng.

Thiếu tá Wilkinson cho hay, Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ nhận thấy giá trị lớn trong các cuộc trao đổi như vậy và đánh giá cao việc chính phủ Việt Nam đồng ý tham gia.

Bà nói: ‘Bộ Quốc phòng Mỹ coi Việt Nam là một nhà lãnh đạo mới nổi ở Đông Nam Á, và chúng tôi sẽ tiếp tục tìm kiếm các kênh để mở rộng mối quan hệ quốc phòng song phương, cũng như các lĩnh vực mà hai bên cùng quan tâm, trong một phần chính sách chuyển dịch trọng tâm sang châu Á của Hoa Kỳ’.

Nữ phát ngôn viên dẫn lời của cựu Bộ trưởng Quốc phòng Leon Panetta nói rằng Hoa Kỳ cam kết tăng cường mối quan hệ quốc phòng với Việt Nam.

Bà nói cuộc đối thoại chính sách quốc phòng là một dấu hiệu quan trọng và rõ ràng cho thấy sự tiến triển trong quan hệ song phương.

—————————

*Vì biết rõ đảng CSVN rất tráo trở, nếu Mỹ bán võ khí hay trang bị kỹ thuật gì cho VN thì chỉ cần 1 ngày sau là đảng sẽ mời  Trung Cộng đến đánh cắp những bí mật kỹ thuật quân sự của Mỹ. Vì thế, Mỹ rất ngần ngại bán vũ khí cho VN. Trái lại, cả Đức, Nhật, và Nam Triều Tiên mời “quân xâm lược” Mỹ đến đóng quân ở đất nước của họ từ năm 1945 và 1953 cho đến nay chỉ trông chờ Mỹ bảo vệ và còn được mua vũ khí của Mỹ mà không bị giới hạn.

Lạ một điều là chỗ nào có quân xâm lược Mỹ đến chiếm đóng, thì 30 chục năm sau nước ấy trở thành cường quốc kinh tế. Nam Triều Tiên, Nhật, Đức là các thí dụ điển hình. Năm 1965, khi Mỹ vào đóng quân ở Miền Nam Việt Nam, thì trước đó, 1960, đảng CSVN đã khởi động thành lập Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, có lá cờ nửa xanh, nửa đỏ, có sao vàng.

Sau khi chiếm được miền Bắc qua sự giúp đỡ của Trung Cộng và Liên Xô vào năm 1954, Đảng CSVN nhận ra là họ không đủ khả năng lèo lái Miền Bắc, nạn đói nổi lên khắp nơi. Dân chúng Miền Bắc đói khổ, chế độ tem phiếu đã có vào thời ấy rồi. Để có miếng ăn, cần phải gây chiến tranh. 1960, bằng mọi cách, đảng CSVN xin viện trợ Nga và Trung Cộng đánh đuổi “quân xâm lược” Mỹ bằng chiêu bài “đánh cho Mỹ cút, đánh cho Ngụy nhào”.

Cuộc chiến VN do đảng gây ra kéo dài  20 năm và làm chết đi 4-5 triệu người VN.  Nay thì đảng CSVN năn nỉ ỉ ôi xin Mỹ bán vũ khí, nài nỉ Mỹ vào thuê Vịnh Cam Ranh,  nhưng lại  đem Nga ra để làm giá.  (thí dụ: nếu Mỹ không thuê Vịnh Cam Ranh, thì Nga sẽ thuê…).  Vừa tráo trở vừa ăn cám thì ai mà tin.      

Hoa Kỳ hứa cung cấp nguồn lực quân sự bảo vệ Nam Triều Tiên

18-3-2013

nguồn voatiengviet.com

Thứ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ Ashton Carter mở cuộc họp báo tại Đại sứ quán Hoa Kỳ ở Seoul, Nam Triều Tiên, 18/3/13

Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ, ông Ashton Carter, đã hứa rằng tất cả các tài nguyên trong võ khí hạt nhân của Hoa Kỳ sẽ tiếp tục có sẵn để bảo vệ Nam Triều Tiên, giữa những đe dọa của Bắc Triều Tiên về một cuộc chiến tranh toàn diện được yểm trợ bởi võ khí hạt nhân.
 
Sau các cuộc thảo luận tại Seoul hôm thứ Hai với Bộ trưởng Quốc phòng Nam Triều Tiên Kim Kwan-jin, ông Carter đã nói với các nhà báo rằng các vụ thử nghiệm phi đạn và hạt nhân của Bình Nhưỡng, cũng như những đe dọa mới đây về việc tung ra các cuộc tấn công phủ đầu bằng võ khí hạt nhân sẽ không làm làm giảm bớt thái độ cứng rắn đối với quốc gia cô lập và nghèo khó này.
 
Ông Carter nói rằng tác dụng duy nhất mà những đe dọa của Bình Nhưỡng sẽ có là khiến cho thế giới có ý kiến bất lợi đối với Bắc Triều Tiên.
 
Giới chức của Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ nói rằng, Washington sẽ tiếp tục các cuộc thao dượt quân sự chung với quân đội Nam Triều Tiên và tăng cường hệ thống phòng thủ phi đạn tại căn cứ trên bộ ở tiểu bang Alaska tại miền đông bắc Hoa Kỳ.

Posted in Chiến Lược doi pho Trung Quoc | Leave a Comment »

►Trò chuyện với Uyên Thao về cuốn “Phiên Bản Tình Yêu”

Posted by hoangtran204 trên 16/03/2013

Mộc Lan DCVOnline

Cuối Đông 2012, Tủ Sách Tiếng Quê Hương cùng lúc cho ra đời 3 tác phẩm: “Thú Người”, “Dạ Tiệc Quỷ” và “Phiên Bản Tình Yêu”. Cả ba đều thuộc thể loại tiểu thuyết, nhưng khác với hai cuốn kia “Phiên Bản Tình Yêu” là một truyện dài, đúng hơn, một truyện tình dài. “Phiên Bản Tình Yêu” có điểm giống với “Bên Thắng Cuộc” – ra đời trước vài tháng – là cùng nhìn lại những gì đã xảy ra trên đất nước dưới chế độ cộng sản, chỉ khác cách thể hiện.

“Phiên Bản Tình Yêu” (PBTY) là cuộc đời trải dài của nhiều nhân vật suốt nhiều chục năm vì thế các tình tiết móc nối chằng chịt nhau; tôi nhờ đọc trước bài điểm sách “Ngõ Vào Phiên Bản Tình Yêu” của ông Trần Phong Vũ nên không quá bị ngộp. Tuy nhiên, vì chiều dày lịch sử và lại liên quan tới một thời kỳ hết sức biến động, tôi cảm thấy cuốn sách vượt tầm hiểu biết của mình. Do đó, tôi nảy ra ý định hỏi chuyện một người đã từng sống rất “kỹ” thời gian ấy, ông Uyên Thao, cựu tổng thư ký báo Sóng Thần (Sài Gòn trước 1975) và cũng là người sáng lập Tủ Sách Tiếng Quê Hương (tủ sách đã ấn hành tác phẩm PBTY).

Để tiện cho bạn đọc theo dõi, xin tóm tắt cốt truyện như sau.

Nhân vật chính trong truyện là Lê Huy Phong (tức Lê Huy, Chu Bá Ngôn), nguyên sinh viên luật khoa Đại học Huế, đảng viên Cộng Sản Việt Nam, đặc công biệt động thành. Lê Huy được lệnh phá xập cầu Gia Hội. Anh đã ép buộc Cẩm Khuê, người yêu đầu đời, giả làm gái điếm để thi hành nhiệm vụ. Cơ mưu không thành Lê Huy bị bắt nhưng được Bửu Dương, một sĩ quan an ninh đối phương, giúp thoát thân.Tiếp theo là những tháng ngày phiêu bạt, sống chui nhũi trong hầm tối vì bị đồng đội bỏ rơi. Cuộc tình với nữ du kích quân Phan Thị Mơ nảy nở trong thời gian nà. Sau 1975, Lê Huy gặp lại cha, giờ là một thiếu tướng CS, nhờ đó bắt đầu cuộc sống sung túc và trở thành tổng giám đốc công ty. Lê Huy tình cờ gặp Tường Vi – con gái duy nhất của Bửu Dương và Cẩm Khuê – khi đi quán bia ôm. Anh yêu nàng nhưng không dám đi tới việc chung chăng gối vì bị kỷ niệm xưa ám ảnh. Thị Mơ sẵn có ước mơ định cư hẳn Hoa Kỳ nên khi nhận ra Tường Vi chính là “phiên bản tình yêu” của chồng thì bỏ đi Mỹ ngay tuy vẫn hy vọng cuộc tình giữa Lê Huy và Tường Vi sẽ không thành tựu.
Phiên bản tình yêu
Nguồnảnh: TQH


Và dưới đây là phần trò truyện với Uyên Thao.

Mộc Lan: Thưa anh Uyên Thao. PBTY trên phương diện tiểu thuyết, theo ML, là khá hấp dẫn với những tình tiết ly kỳ với giọng văn sắc bén, điều này cho thấy tác giả – Vũ Biện Điền – không phải là người mới viết văn. Anh có thể cho biết đôi điều về tác giả được không?

Uyên Thao: Trước hết, theo tôi, nhận định của ML về tác phẩm PBTY có thể được nhiều người tán đồng nhưng có thể cũng có nhiều người bất đồng. Dù diễn giải cách nào, đây là cách đánh giá hoàn toàn mang tính chủ quan của người đọc và chắc chắn khó thể có sự đồng nhất. Tính hấp dẫn của một tác phẩm cũng như giá trị của một tác phẩm luôn dựa trên nhiều nền tảng khác biệt tuỳ theo cách nhìn. Với người này có thể là cách dàn dựng cốt truyện với các tình tiết đặc biệt và giọng văn sắc bén, nhưng với người khác có thể chỉ là chủ điểm nội dung hoặc văn phong tươi mát v.v… Ngoài ra, tài năng của một tác giả không hẳn chỉ hoàn toàn do riêng việc rèn luyện tức là chỉ khởi từ kinh nghiệm thực tế theo thời gian cầm bút. Thiếu gì tác giả nổi danh ngay với tác phẩm đầu tay mà theo sát nghĩa đen của danh từ rõ ràng chỉ là một tay mơ. Tác giả PBTY thì không phải tay mơ. Tuy nhiên, do nhiều ràng buộc khó vượt nên tôi xin cáo lỗi chỉ có thể nhắc vài chi tiết sơ lược.

Vũ Biện Điền sinh ra và lớn lên trong cả hai cuộc chiến trước và sau 1954. Mẹ anh bị Pháp giết, chú và anh bị cộng sản giết, trong khi cha anh mải mê theo lý tưởng kháng chiến chống ngoại xâm. Anh đã tốt nghiệp hai trường đại học tại miền Nam và viết văn từ thời sinh viên trước 1975. Anh dành 6 năm viết tác phẩm PBTY và từng tâm sự với một người bạn là nhiều đêm ngồi trước máy vi tính, anh đã khóc với nhân vật của mình.

ML: Vì chưa từng sống trong thời chiến tranh Quốc-Cộng trước 75 nên ML khó hình dung được nhiều điều trong truyện. Ví dụ, có thể có một thanh niên hết lòng vì lý tưởng (cộng sản) đến mức dùng chính người mình yêu để phục vụ mục đích đấu tranh hay không?

Uyên Thao: Mức độ tận hiến trong đấu tranh của những người nhập cuộc không hiếm hoi và chỉ có tại một nơi nào, một thời khoảng nào hoặc thuộc riêng một hàng ngũ nào. Nhưng nếu giới hạn trong không gian Việt Nam và giới hạn thời gian từ khi cộng sản hiện diện thì vấn đề có những nét gần như chưa từng có suốt chiều dài lịch sử. Cách đây không lâu, báo Quân Đội Nhân Dân tại Việt Nam đăng một bài viết về những tấm gương tận hiến cho “cách mạng” trong đó có chuyện một nữ cán bộ cơ sở nuôi giấu lãnh tụ Lê Duẩn trong phòng ngủ nên sợ chồng nổi cơn ghen làm lộ chuyện đã đề nghị cấp trên cho “khử” người chồng.(*) 

Với riêng tôi, một hình ảnh cách đây 60 năm vẫn thường trở lại. Đó là hình ảnh một thanh niên bị trói quặt hai tay ra sau lưng nằm ngửa dưới đất hứng những dòng nước đái của một cô gái tốc váy đái vào mặt giữa một đám đông vây quanh. Người con gái đó chính là người yêu của anh. Chuyện xảy ra tại một vùng quê Thanh Hoá thuở mở màn các cuộc đấu tố thí điểm cho chiến dịch Cải Cách Ruộng Đất 1953. Anh thanh niên vừa thuộc thành phần địa chủ vừa bị kết buộc là phản động do liên hệ với Việt Nam Quốc Dân Đảng nên người yêu của anh bày tỏ thái độ tận hiến cho “cách mạng” bằng cách đó. Anh bị xử đưa vào trại tù Lý Bá Sơ nhưng may mắn nhờ hiệp ước Genève 1954 quy định về thả tù nên được rời trại cuối năm 1954, kịp trốn về Hà Nội rồi trốn được vào Nam và hiện còn sống tại California với nguyên vẹn tới nay những vết tích do trại tù Lý Bá Sơ in hằn trên thân xác. 

So với các sự việc đó, nhân vật chính của PBTY tạo cho người yêu cái vỏ mãi dâm để che kín bộ mặt đặc công của mình hầu an toàn tiếp tục vai trò công cụ phục vụ Đảng là chuyện không đáng ngạc nhiên. Chỉ có điều nếu muốn dùng hai chữ “hy sinh” thì hai chữ này đã đổi hẳn nghĩa là buộc người khác phải “hy sinh” cho mình, bất kể người đó muốn hay không. Với những người tận trung với lý tưởng Cộng Sản, hành xử theo cách này là điều bình thường vì châm ngôn của họ là “cứu cánh chứng minh cho phương tiện” trong khi lãnh tụ Lenin đã cụ thể hoá ý nghĩa châm ngôn trên bằng lời giáo huấn“để đáp ứng yêu cầu của cách mạng, có quyền cướp bóc, giết người nếu thấy là cần thiết.”

ML: Nhân vật “tôi” – chàng thanh niên Lê Huy Phong – khi không được “nhảy núi” thì tỉnh ngộ và thôi không theo Mặt Trận GPMN nữa. Trong cuộc đời của anh, anh đã từng gặp những trường hợp tương tự như Lê Huy Phong chưa?

Uyên Thao: Cần nói ngay nhân vật chính trong PBTY tỉnh ngộ không hẳn vì không được “nhảy núi.” Trên thực tế anh ta đã “nhảy núi” rồi mới trở thành đặc công biệt động nội thành. Anh ta tỉnh ngộ vì may mắn gặp được những người còn giữ vẹn tính người như gia đình ông Phan Ne và nhờ đó đã phát hiện tính xảo trá, bất nhân của chủ nghĩa Cộng Sản. 

Về những người tỉnh ngộ mà tôi có dịp gặp thì phải nói là khó kể hết nhưng có vài người tương đối đặc biệt như nhà văn Lương Quân, các ký giả Đông Tùng, Nguyễn Nguyên và hoạ sĩ Choé. 

Nhà văn Lương Quân đang du học tại Pháp đã bỏ về nước tham gia bộ đội kháng chiến năm 1946 và là một sĩ quan pháo binh trong trận Điện Biên Phủ. Ngay khi trận đánh chấm dứt trong chiến thắng, anh đã bỏ ngũ trốn về Hà Nội rồi trốn sang Lào vì thấy đảng Cộng Sản lệ thuộc quá nặng vào Trung Cộng và phân rẽ dân tộc với chủ trương đấu tranh giai cấp tàn khốc.

Đông Tùng là một nhà nho có tinh thần cấp tiến, hoạt động cho cộng sản từ trước 1940 tại Thái Lan và Nguyễn Nguyên tham gia kháng chiến từ 1945. Cả hai được cài vào nằm vùng tại Sài Gòn từ 1954 và sau 1975 đều được tuyên dương thành tích, được ưu đãi nhưng đều tỉnh ngộ. Tôi vẫn nhớ câu nói cuối cùng của Nguyễn Nguyên với tôi trước khi anh chết năm 2002 là một lời than đầy uất ức: Đất nước mình bất hạnh cùng cực vì đã có một lãnh tụ là ông Hồ!” 

Riêng Choé, năm 1960 vừa 17 tuổi đã bị lùa lên núi cầm súng hoạt động du kích. Không hiểu biết gì về chính trị nhưng Choé không chấp nhận cảnh bị cưỡng bức rời nhà đi cầm súng nên ít lâu sau đã bỏ trốn và do đó phải rời Châu Đốc lên Sài Gòn sinh sống rồi trở thành một hạ sĩ quan trong quân đội Việt Nam Cộng Hoà. 

Nói chung có nhiều người đã rời bỏ hàng ngũ Cộng Sản do tỉnh ngộ hoặc bởi nhiều lý do khác và trường hợp như nhân vật chính của PBTY là rất thường. 

ML: Trong PBTY có nhiều mẫu người. Anh thấy những mẫu người ấy có thật không hay chỉ được tạo dựng để lên tiếng phát biểu về những điều nào đấy.

Uyên Thao: Với nghệ thuật tiểu thuyết, mọi nhân vật đều được tạo dựng để bằng mọi cách phát biểu về các chủ ý của tác gỉa nên không thể bảo nhân vật tiểu thuyết nào là người thực trong cuộc sống. Tuy nhiên, mọi nhân vật được tạo dựng không bao giờ tách rời nổi khỏi cuộc sống mà luôn gắn kết với hình ảnh của nhiều con người thực trong cuộc sống. PBTY là một cuốn tiểu thuyết chắc chắn không vượt khỏi công lệ này. Do đó, không ít nhân vật trong PBTY dù là nhân vật được tạo dựng vẫn gợi nhắc về nhiều người từng sống tại Huế trước năm 1975. Nhưng điểm quan trọng sẽ chỉ là qua những nhân vật này, tác giả có truyền đạt nổi tới người đọc cái chủ ý muốn truyền đạt hay không, chủ ý đó nhắm nói lên điều gì và có thực sự gắn kết với yêu cầu của cuộc sống hay không? 

ML: Trong PBTY, một nhân vật ML ấn tượng là cô Mơ, một nữ du kích, vợ Lê Huy Phong. Theo Trần Phong Vũ thì Mơ là mẫu người “tư bản đỏ” và “thực hiện chính sách rửa tiền cho chế độ.” (nguyên văn: “khuôn mặt tiêu biểu cho những mệnh phụ phu nhân Đỏ mau chân qua Mỹ dọn đường cho chủ trương hạ cánh an toàn của những đại gia, nhưng tay đầu sỏ trong chế độ”.)

Nhưng với ML, Mơ chỉ là một phụ nữ nông thôn kém may mắn bị bắt buộc phải cầm súng làm du kích, sau này khi có điều kiện, Mơ ra sức làm việc, thành giàu có. Tuy Mơ chỉ biết nghĩ cho riêng mình và gia đình mình, nhưng vẫn đáng thương hơn đáng trách. Nhận xét của anh về nhân vật (có thể là tiêu biểu cho một tầng lớp trong xã hội VN lúc này) ra sao?

Uyên Thao: Theo tôi, PBTY có khá nhiều nhân vật gây ấn tượng dù chỉ là các nhân vật phụ xuất hiện gần như thoáng qua trong một số trang hạn chế. Tuy nhiên thực sự gây ấn tương với tôi chính là cảnh sống của mọi nhân vật kéo dài từ trang đầu tới trang cuối tác phẩm. Nói một cách vắn gọn thì đó là bộ mặt thực của đất nước Việt Nam sau khi được đặt trên “con đường tiến lên xã hội chủ nghĩa” với nét hoạ nổi bật là hết thẩy con người ở mọi vị thế, mang mọi chân dung, ấp ủ mọi tâm tư… đều không còn gọi được là người. Bởi hết thẩy đều rơi xa thẳm khỏi thân phận nạn nhân bi thảm của đủ mọi tệ nạn ngu si, nghèo đói, lường gạt, áp chế… mà gần như tự nguyện lao đầu vào cuộc đua hoang thú hoá bản thân với nỗi đam mê cuồng nhiệt, đặc biệt là lớp người đang thủ đắc quyền lực trong tay. Trong cảnh sống đó, nhân vật Mơ là một mẫu người thực tế biết khai thác cơ hội để làm giàu nên có thể gán cho tước danh “tư bản Đỏ” cũng được. Nhưng nếu bảo Mơ “thực hiện chính sách rửa tiền cho chế độ” thì đi hơi xa, nhất là khi Mơ đã thấy không còn cơ hội cứu vãn lẽ sống duy nhất của đời mình là tình yêu. 

Qua việc Mơ chọn lựa rời bỏ quê hương để sống lưu vong tại Mỹ, tác giả đã gửi lời phát biểu cực kỳ đau đớn về cuộc sống Việt Nam tới người đọc. Vì Mơ là con của ông già Phan Ne hiền lương chất phác nên Mơ đã in sâu trong não bộ lời nói của cha mình khi ông vứt thẻ đảng, vứt mọi chức vụ đang có, “Thà ăn cứt một mình mà làm người còn hơn ăn cơm chung với tụi nó mà làm chó.”Chọn lựa của Mơ là chọn lựa bắt buộc của một con người thực tế không chịu biến thành chó, đồng thời cũng có thể coi là một lời giải thích về lý do đã khiến hàng triệu người Việt Nam phải bỏ nước ra đi trong điều kiện một sống hai chết. 

Nhưng khi mà chính những người đã nhận thức rõ về cảnh sống đất nước chỉ còn cách bỏ chạy để cứu riêng mình thì cái kiếp chó của 90 triệu bà con tới lúc nào mới chấm dứt? Tôi nghĩ về nhân vật Mơ như một phát biểu nhức nhối của Vũ Biện Điền và chỉ dừng riêng trước phát biểu này, tôi đã thấy nghẹn ngang cổ.

ML: Hẳn có những người như Lê Huy Phong – làm việc cho chế độ CS nhưng vẫn âm thầm làm những điều tốt, điển hình là Vũ Biện Điền, tác giả PBTY – Anh đã từng gặp những người tương tự hay không? Có nên gọi họ là “người cộng sản chân chính” hay không?

Uyên Thao: Nghe mấy tiếng “Cộng Sản chân chính”, tôi lại nhớ tới một tai nạn đã tự gây ra cho mình 30 năm trước khi đang ở trại tù K.3. Thuở đó vào một ngày quá nản với cái trò bó gối ngồi nghe đọc các khẩu hiệu nhàm chán về cộng sản, về giai cấp đấu tranh … tôi đã có một phản ứng hoàn toàn bất ngờ. Đó là lúc quản giáo ngoắc tôi tới để nghe anh ta nói về Chủ nghĩa Cộng sản. Vừa mệt lại vừa ngán ngẩm, tôi xin phép cho tôi nói trước. Và khi anh ta gật đầu, tôi nói liền:“Tôi thấy cán bộ chưa quá 25 tuổi, như vậy, tuổi đời của cán bộ chưa bằng thời gian tôi bỏ ra để đọc sách Karl Marx và Lenin. Vậy tốt hơn hết, cán bộ đừng giảng về Chủ nghĩa Cộng sản cho tôi. Nếu cán bộ cần thì cứ hỏi, tôi sẽ giảng cho cán bộ.” Lập tức, tôi bị quát đứng dậy, bị dẫn về trại, giao cho an ninh để nhận hình phạt biệt giam cùm hai chân hai tuần lễ. 

Theo tôi, mấy tiếng Cộng Sản chân chính nếu không nảy ra do những đầu óc đần độn cùng cực thì là sản phẩm của một trò nhơ nhuốc tìm cách tự lường gạt chính mình. Tôi có thể đoan chắc không một lãnh tụ Cộng Sản Việt Nam nào tránh khỏi khựng người trước câu hỏi: “Ông nhắc tới Cộng Sản chân chính, vậy xin cho biết đó là thứ Cộng Sản nào? Cộng Sản của Marx theo Tư Bản Luận tập 1 năm 1867 hay Tư Bản Luận tập 3 năm 1894? Hay Cộng Sản Lenin? Cộng Sản Stalin? Cộng Sản Mao Trạch Đông? Cộng Sản Tito? Cộng Sản Trotsky?” Giả dụ biết rõ về đặc trưng của mọi lý tưởng Cộng sản kể trên thì lại càng khựng người trước câu hỏi vì khoảng cách mịt mù giữa nguyện vọng chính đáng của dân tộc và mục tiêu chủ yếu mà mọi lý tưởng Cộng Sản nhắm tới. 

Dù vào những ngày cuối đời, chính Marx đã tự thú sai lầm khi cổ võ đấu tranh giai cấp bằng bạo lực để làm nổ tung chủ nghĩa tư bản, nhưng Marx vẫn không nhìn qua khỏi mục tiêu giành lại các quyền lợi kinh tế cho giai cấp vô sản mà Marx cho rằng đã bị cướp đoạt bởi giai cấp tư bản, và đặc biệt theo Marx, chỉ riêng giai cấp vô sản là tinh hoa của loài người, là giai cấp duy nhất được quyền tồn tại trên mặt đất với mọi quyền lực trong tay. Từ Lenin tới Stalin, Mao Trạch Đông, thậm chí cả Tito nữa dù có những cải biến cũng không nhắm mục tiêu nào khác ngoài mục tiêu nắm chắc quyền lực giành được bằng họng súng cho giai cấp vô sản mà từ đầu thế kỷ 20 đã được Kautsky thuộc Đệ Nhị Quốc Tế Cộng Sản vạch rõ là chỉ cho một nhóm người hay một người nào đó thôi. Vì thế mọi giáo huấn của Hồ Chí Minh trong nội bộ đảng Cộng Sản luôn là lời cảnh báo“chủ nghĩa dân tộc và ái quốc là các hiểm hoạ phải tiêu diệt.” Qua các tài liệu chính thức vẫn truyền bá tới nay, đã hơn một lần Hồ Chí Minh nhấn mạnh “chủ trương giành độc lập, tự do cho dân tộc chỉ là chiêu bài tranh thủ nhân tâm” trong giai đoạn khắp thế giới đang bùng nổ phong trào chống chủ nghĩa thực dân của các dân tộc nhược tiểu.

Như thế, giả dụ có những người Cộng sản chân chính thì những người này đâu có liên hệ gì với các nguyện vọng chính đáng của dân tộc Việt Nam? Tôi chỉ thấy càng là Cộng sản chân chính càng kiên thủ hướng đi ngược chiều với hướng đi của mọi dân tộc trên trái đất, cho nên không thể bảo những người đang ở trong hàng ngũ Cộng sản vẫn âm thầm làm điều tốt cho dân tộc là “người Cộng sản chân chính”. Ngoài ra thì chính những người Việt Nam đang tuyên xưng lý tưởng Cộng sản có mấy người hiểu Cộng sản là gì đâu để nói họ là chân chính hay không chân chính.

Tới lúc này, theo tôi, mấy chữ Cộng sản chân chính đã xuất hiện như một chiêu bài tiếp nối cái chiêu bài giành độc lập tự do cho dân tộc được Hồ Chí Minh triệt để khai thác trước đây. Mục tiêu của chiến thuật này chỉ nhắm biện giải rằng những tác hại đã tàn phá đất nước là do một số người xấu hoặc lầm lạc chứ chủ nghĩa Cộng Sản vẫn là con đường đem lại hạnh phúc cho dân, cho nước! Chiến thuật này đã dễ dàng thâu hoạch kết quả do không ít người vẫn u mê tin cái chiêu bài vì dân, vì nước được Cộng Sản mở ra từ thập niên 1920, đồng thời cũng do không ít người tuy nhìn rõ vấn đề nhưng không dám tự thú sự lầm đường lạc lối của mình nên cố bám víu vào mấy chữ đó để duy trì quyền lợi đang có hoặc để níu kéo những hào quang hão huyền vẫn luôn quyến rũ, ve vuốt tính tự ái mù loà. 

Cho nên thú thực tôi chưa từng gặp một người Cộng Sản chân chính nào tại Việt Nam. Còn những người như nhân vật chính trong PBTY dù nằm trong hàng ngũ Cộng Sản, làm việc dưới sự chi phối của Cộng Sản vẫn cố giữ cho mình không nhúng tay vào tội ác, cố làm một số điều tốt nào đó cho những người xung quanh thì chỉ là do bản tính thiện và vị tha hằng hữu mà thôi. Những người này thì chắc chắn mọi người đều có thể đã gặp và gặp rất nhiều tại Việt Nam. Cũng có thể bảo đây là một tia lửa ấm mà tác giả PBTY muốn gửi tới người đọc, dù hiện vẫn là tia lửa mong manh. 

ML: PBTY là một câu chuyện tình – giữa Lê Huy và Cẩm Khuê, sau là Lê Huy Phong với Tường Vi và Mơ – nhờ vậy những biến cố chính trị trở nên không quá khô khan. Nhưng nhờ đó mới thấy tình yêu của những nam nữ ấy làm nổi bật sự tàn bạo man rợ của chủ nghĩa cộng sản. Nói một cách khác, chủ nghĩa cộng sản không thể nào song hành với tình yêu chân chính, và trước sau gì con người cũng phải chọn một trong hai. Theo anh thì chúng ta có thể hy vọng vào cái kết cuộc “có hậu” là người Việt sẽ chọn “tình yêu”?

Uyên Thao: Nói PBTY là một câu chuyện tình chỉ chính xác nếu dựa riêng theo tựa đề tác phẩm và sự xuất hiện từ trang đầu tới trang cuối tác phẩm của nhân vật nữ Tường Vi. Tuy nhiên, chủ ý tác giả không gom trọn trong cuộc tình của nhân vật Tường Vi hay bất kỳ cuộc tình nào của nhân vật chính Lê Huy Phong. Có thể bảo tình yêu trong tác phẩm PBTY chỉ là một chất keo kết nối các tình tiết và một động lực thúc đẩy nhiều xu hướng tâm tư để giúp làm nổi bật chủ ý tác giả là diễn tả thực tế đời sống Việt Nam qua nhiều khía cạnh trong đó nổi bật nét khắc về tính đổ vỡ cùng cực của con người từ mọi phương diện hành xử tới suy tư. 

Dù tác giả định tính cho tác phẩm của mình là tiểu thuyết, PBTY vẫn mang vóc dáng một loại tâm bút nhiều hơn là một tác phẩm nghệ thuật thuần túy. Có thể khẳng định không sợ lầm lẫn rằng Vũ Biện Điền không dựng một tác phẩm nghệ thuật về tình yêu mà chỉ muốn gửi đến mọi người bức chân dung nhầy nhụa thê thảm tới mức kinh hoàng của đời sống Việt Nam hiện nay cùng với nỗi đau bóp nghẹn tim óc của những người còn đủ lương tri không xoay lưng làm ngơ trước thời thế. Chính tính chất này đã khiến tác phẩm có những chương gần như không còn bóng dáng nghệ thuật — các chương A33, A34, A35 chẳng hạn — hoặc dụng ý kéo dài cảnh ăn chơi sa đoạ tới hơn 70 trang mở đầu tác phẩm, trước khi đẩy lên sân khấu một nạn nhân bên cạnh các công thần của chính sách Cải Cách Ruộng Đất… 

Cho nên, Bảo Trọng Cư đã nhận định về PBTY như sau: 

“…Thời gian của tác phẩm xuyên suốt từ 1954 đến tận hôm nay, với những nhân vật đặc trưng và dụng ý rõ rệt của tác giả. Đây không chỉ là chuyện đời, chuyện tình của nhân vật chính và một số người liên quan mà gắn kết với những vấn đề lịch sử và chính trị hệ trọng của đất nước thông qua suy tư, tranh luận và hành vi của các nhân vật…Nguồn gốc cuộc chiến tranh Việt Nam, nhận định và  phê phán các nhân vật lịch sử cả hai miền Nam Bắc, sai lầm và tác hại của chủ nghĩa Cộng Sản, bản chất của chế độ Xã Hội Chủ Nghĩa …Những vấn đề này không được trình bày khô khan qua lý thuyết mà bằng những hình ảnh sống động của các nhân vật trong từng giai đoạn và sự cố…. hình thành một bức tranh tổng thể, một vở kịch lịch sử bi tráng, phần nào lý giải sự thất bại của miền Nam dù có tự do dân chủ và mức sống cao hơn miền Bắc, trong cuộc chiến vừa qua.”
Theo Bảo Trọng Cư, nội dung PBTY đã dồn nén đau nhức của cả dân tộc từ nửa thế kỷ vừa qua. Vì thế, thay vì trả lời ML về câu hỏi có nên hy vọng vào hồi kết “có hậu” là người Việt sẽ chọn tình yêu thay vì chủ nghĩa Cộng Sản không, tôi nghĩ nên hy vọng sẽ nhận được từ hết thẩy người Việt câu trả lời thích đáng nhất cho những câu hỏi mà Bảo Trọng Cư đưa ra sau khi đọc tác phẩm PBTY:

“Treo bảng Cộng Hòa sao lại Vô Sản Chuyên Chính?
Treo bảng Độc Lập sao nhất nhất mỗi việc phải thông qua Nga, qua Tàu?
Treo bảng Tự Do sao độc đảng đơn nguyên?
Treo bảng Hạnh Phúc sao nhân dân đói rặt từ Nam chí Bắc?
Staline dựng chiêu bài giải phóng Đông Âu khỏi họa Phát Xít Đức rồi áp đặt chủ nghĩa Cộng Sản, nay các quốc gia đó đã ngẩng cao đầu sau khi Liên Xô sụp đổ.
Hồ Chí Minh dựng chiêu bài độc lập kêu gọi nhân dân chống thực dân Pháp rồi áp đặt chủ nghĩa Cộng Sản, nay Việt Nam vẫn còn trầm luân.
Liên Xô sụp đổ rồi, không nói nữa, nhưng đại Hán Trung Hoa còn đó, mất đất trên bộ mất đảo ngoài biển làm sao đây?
Phật Giáo Quốc Doanh đang lan tỏa và nuốt chửng Phật Giáo Thống Nhất, những Phật tử vì đạo pháp vì dân tộc nghĩ sao?
Và cả Công Giáo nữa, cuộc chiến chống Cộng Sản mang ý nghĩa gì?”…
Cuộc truyện trò với Uyên Thao dừng tại đây. Nội dung chuyên chở trong “Phiên Bản Tình Yêu” không thể gói gọn trong vài câu hỏi, nhưng đó chính là điều đáng mừng vì không phải là tiểu thuyết đọc một lần rồi bỏ. Và tuy Uyên Thao không nói tới một kết cuộc “có hậu” thì tôi vẫn tin vào nó, bởi vì dù cố gắng tô vẽ đến đâu thì Chủ nghĩa Cộng sản cũng chẳng trở thành một phiên bản tình người và rồi sẽ bị đào thải khỏi nhân loại.nguồn © DCVOnline

  


(*) Báo Quân Đội Nhân Dân ngày 9-3-2007, bài Một Nửa Thế Giới… trích đoạn như sau: “Một chị là cơ sở cách mạng nuôi giấu ông (tức Lê Duẩn) trong phòng ngủ, bất chợt người chồng trở về và nổi cơn ghen khiến ông có nguy cơ bại lộ. Chị cơ sở báo động và xin chỉ thị có cần phải “khử” người chồng hay không …” — Theo “Sau Bức Màn Đỏ” của Hoàng Dung.

Posted in Sách- Báo- Hồi Ký | Leave a Comment »

►John McCain: Cảm nghĩ về VN của Một Cựu Tù Nhân Chiến Tranh Việt Nam, 40 năm sau

Posted by hoangtran204 trên 15/03/2013

Phi cơ của John McCain bị bắn rơi ở Hà Nội năm 1967, ông bị tù 5 năm ở nhà tù Hỏa Lò, còn gọi là Hanoi Hilton.  Khi còn trong tù, ông đã bị cộng sản Bắc Việt tra tấn nhiều lần. Về sau, khi biết ông là con của đại tướng McCain, với mục đích chính trị, cộng sản Bắc Việt đã đề nghị tha cho ông trở về Mỹ sớm. Nhưng John McCain đã từ chối. Ông nói rằng: chừng nào tất cả các tù binh Mỹ được thả hết, thì lúc đó ông  sẽ là người tù cuối cùng rời khỏi nhà tù ở Hà Nội. Và ông đã giữ lời hứa ấy. (nguồn)

Nhân kỷ niệm ngày ra khỏi tù ở Hà Nội cách đây 40 năm, Thượng Nghị Sĩ John McCain có  bài viết sau đây đăng trên tờ The Wall Street Journal và trong website của ông.

“A Former POW on Vietnam, Four Decades Later

I’ve made friendships with former enemies. A regret is that they don’t yet enjoy the freedoms Americans hold dear.”

Lời của Một Cựu Tù Nhân Chiến Tranh Việt Nam, 40 năm sau

Tôi đang làm bạn với những kẻ cựu thù. Một điều hối tiếc đó là họ chưa thưởng thức các quyền tự do mà những người Mỹ đang ưa chuộng. 

Tác giả: Thượng Nghị Sĩ John McCain

Nguồn: www.mccain.senate.gov

14.03.2013

John McCain, đứng hàng đầu.

Bốn mươi năm trước vào ngày 14 tháng 3, 1973, những bạn tù ở Bắc Việt Nam và tôi, mặc  những bộ quần áo dân sự rẻ tiền được cung cấp cho 108 người chúng tôi  vào dịp này, bước lên những chiếc xe buýt đến sân bay Gia Lâm ở ngoại ô Hà Nội. Một chiếc máy bay C-141 lớn màu xanh lá cây đang đợi để đưa chúng tôi về Căn cứ Không quân Clark ở Philippines. 

Tại sân bay Gia Lâm, chúng tôi xếp hàng theo thứ tự  ngày chúng tôi bị bắn rơi, và chúng tôi cố gắng giữ tác phong quân đội trong khi những chiếc máy quay phim đang chạy rồi ngừng và một đám đông người Việt đang ồn ào quan sát chúng tôi. Các sĩ quan Mỹ và Việt ngồi tại một chiếc bàn, mỗi người cầm một bảng danh sách tù binh.

Mỗi khi một tù nhân bước lên phía trước, những người đại diện cho cả hai phía quân sự đọc tên của anh ta. Họ gọi tên tôi, và tôi bước vài bước tiến đến  chiếc bàn và đưa tay chào. Một sĩ quan Hải quân Hoa Kỳ chào đáp trả, mỉm cười và bắt tay tôi rồi đưa tôi đi ra phi đạo và bước lên cầu vào trong máy bay.

Tôi trở về với hai người bạn thân nhất của mình là hai sĩ quan Không quân Bud Day và Bob Craner, lòng can đảm và sự mẫu mực của họ mà tôi đã noi gương  trong suốt năm năm. Vài phút sau khi cất cánh, viên phi công thông báo là chúng tôi đang “ướt chân”, có nghĩa là chúng tôi đang bay qua Vịnh Bắc Bộ và đang ở không phận quốc tế. Mọi người  reo lên vui mừng.

Tôi không nghĩ rằng bất cứ ai trong chúng tôi sẽ  quaytrở  lại đất nước mà chúng tôi trước đó đã từng mong muốn rời khỏi từ rất lâu. Thật khó để nói câu giã từ tại căn cứ Clark, và buổi từ biệt của chúng tôi rất là cảm động.

Chúng tôi hứa với nhau là sẽ giữ liên lạc thường xuyên, điều mà chúng tôi đã làm trong nhiều năm qua, cho đến khi cái chết bắt đầu làm thưa thớt dần đội ngũ của chúng tôi. Tuy vậy,  chẳng có cảm giác buồn vui lẫn lộn gì khi chúng tôi rời khỏi Việt Nam,  và chúng tôi không muốn làm quen lại với họ trong tương lai.

Nhưng hoá ra tôi đã quay trở  lại Việt Nam. Tôi đã  trở lại nhiều lần sau khi chiến tranh chấm dứt. Đất nước này thật đẹp, và người Việt là những chủ nhà mến khách. Đa số các chuyến thăm của tôi là công tác:  đếm số Tù nhân Mỹ mất tích và bị tù  trong Chiến tranh, giúp điều phối bình thường hoá quan hệ giữa hai quốc gia và thúc đẩy quan hệ tương lai nhằm phục vụ các quyền lợi của cả hai nước.

Tôi đã kết bạn với những người từng là kẻ thù của mình. Tôi trở nên yêu thích một nơi mà tôi từng ghét bỏ. Hiện nay tôi vui mừng thấy rằng Mỹ và Việt Nam đã có rất nhiều tiến triển trong việc xây dựng một mối quan hệ hiệu quả, hai bên cùng có lợi trên đống tro tàn của cuộc chiến tranh đã từng là một thảm họa cho người dân của cả hai nước.

Hôm nay, những oán hận xưa đang được thay thế bởi những hy vọng mới. Con số người Mỹ đến thăm Việt Nam tăng lên mỗi năm – bao gồm cả ba Tổng thống Hoa Kỳ lúc còn tại chức – họ bị hấp dẫn bởi vẻ đẹp tự nhiên tuyệt vời và những con người than thiện. Hiện nay thương mại song phương tăng 80 lần so với năm 1994, khi Hoa Kỳ  bỏ lệnh cấm vận. Việc này đã làm lợi cho người dân của cả hai quốc gia và giúp cho hàng triệu người Việt tự thoát được nghèo đói.

Tương tự, quan hệ quốc phòng của hai nước đã có bước biến chuyển dài mà chẳng thể nào tưởng tượng nổi trong một thập niên trước. Quân đội của hai nước tập luyện chung, và Vịnh Cam Ranh một lần nữa lại là nơi cập bến của Hải quân Hoa Kỳ. Thật thế, chiến hạm  John McCain, khu trục hạm Hải quân mang tên cha và ông tôi, vừa rồi đã cập bến thăm Đà Nẵng, điều này cho thấy rằng nếu bạn sống đủ lâu, bất cứ điều gì cũng có thể xảy ra.

Tuy nhiên, khi đề cập đến những giá trị mà người Mỹ  quý chuộng – tự do, nhân quyền và  pháp quyền – những hy vọng lớn nhất của chúng tôi dành cho Việt Nam đa phần vẫn chỉ là hy vọng. Chính quyền Hà Nội vẫn giam giữ và ngược đãi những người bất đồng chính kiến ôn hoà, các nhà báo, các blogger và những nhóm người dân tộc thiểu số và tôn giáo vì các lý do chính trị.

Chính quyền Hà Nội vẫn sử dụng những luật lệ khắc nghiệt như Điều luật 88, tạo cho nhà nước quyền lực vô tận trước người dân. Chính quyền vẫn chưa có được những hành động thích đáng  nào để đưa Việt Nam ngang hàng với những tiêu chuẩn nhân quyền đúng đắn được quốc tế công nhận như thông qua và thực hiện Hiệp định Chống Tra tấn.

Trong một bưóc đi tích cực gần đây, chính quyền Việt Nam đãvà đang  bắt đầu một cuộc đối thoại với tổ chức Ân xá Quốc tế và  đã đề nghị rằng Việt Nam cuối cùng sẽ có thể sửa đổi hiến pháp của mình để bảo vệ quyền lợi dân sự và chính trị tốt hơn cho người dân. Tôi thực sự hy vọng thế – vì trong khi những quan hệ tốt đẹp có thể được xây dựng trên nền tảng của quyền lợi chung, như quan hệ giữa Hoa Kỳ và Việt Nam hiện tại, quan hệ đối tác tốt nhất và bền vững nhất luôn dựa trên một nền tảng của những giá trị chung. Trong thử thách này, cũng như với những thử thách khác mà hai quốc gia từng cùng nhau vượt qua, tôi mong muốn mình vẫn là một người bạn tận tuỵ của Việt Nam.

Hai nước chúng ta đã từng có một quá khứ khó khăn và đau thương. Nhưng chúng đã không gắn bó nhau bằng cái quá khứ ấy, và giờ đây chúng đang đi trên con đường hàn gắn lại tình bạn thật sự . Tương lai đầy hứa hẹn này là một trong những ngạc nhiên lớn nhất và thoả nguyện nhất của đời tôi, điều mà tôi đang muốn sẽ làm tôi sửng sốt hơn nữa trong những năm sắp tới.

John McCain, Thượng Nghị Sĩ, (tiểu bang Arizona)

Người dịch: Trần Hoàng @ 2013 

*2009, Mỹ

Posted in Dân Chủ và Nhân Quyền | Leave a Comment »

►Sự sợ hãi phát sinh từ cái đầu, còn tình yêu thì xuất phát từ trái tim: Mệnh lệnh từ trái tim

Posted by hoangtran204 trên 14/03/2013

Cái đầu luôn luôn tính toán, cân nhắc sự  thua thiệt rồi mới quyết định; còn tình yêu nước, tình yêu trai gái thì không cần tính toán thua thiệt.  Khi trái tim ra lệnh thì cứ thế mà làm theo.

Khi nào mà người dân VN không còn tính toán,  không còn biết sợ hãi nữa, mà chỉ nghe theo mệnh lệnh của con tim, thì các đảng viên cao cấp của đảng CSVN sẽ cuốn gói chạy trốn, và khi ấy, VN sẽ có dân chủ và tự do. 

Các blogger Việt Nam  tiếp tục viết bài không biết mệt mỏi,  dùng internet  phổ biến các tin tức thời sự, phơi bày các sự thật lịch sử,  và ngày càng làm cho nhiều người dân thấy được việc làm của các đảng viên của đảng CSVN (từ 1900s-2010s). Kết quả  của việc làm này là sẽ mang lại tự do và dân chủ cho dân tộc Việt Nam.

Thông báo:  các bạn có thế truy cập trang anh Ba Sàm ở đây: 

http://anhbasam04.wordpress.com/

Mệnh lệnh từ trái tim

Bác sĩ Nguyễn Quý Khoáng

Tác giả gửi đến Dân Luận

 Bác sĩ Nguyễn Quý Khoáng

(Mệnh lệnh từ trái tim hay tâm sự của một trí thức Việt Nam trước hiện tình đất nước)Việt Nam, ngày 10 tháng 03 năm 2013

Trước tình hình đất nước ngày càng xuống dốc về xã hội, văn hoá, kinh tế, chính trị v…v, nhất là tương lai Đất nước rất đen tối trước hoạ xâm lăng của Trung Quốc, là người trí thức Việt Nam, tôi tự thấy lương tâm bị cắn rứt khi cứ im lặng chấp nhận những điều chướng tai gai mắt diễn ra hàng ngày cũng như nghe những lời oán than của đồng bào mình.

Mục sư Martin Luther King có nói:

– “Kẻ nào chấp nhận cái ác mà không phản đối chắc chắn là tiếp tay cho cái ác lộng hành” (He who accepts evil without protesting against it is really cooperating with it) và

– “Cuộc đời của chúng ta bắt đầu chấm dứt khi chúng ta lặng thinh trước những vấn đề sống còn” (Our lives begin to end the day we become silent about things that matter).

Tôi luôn tự hỏi mình: Nếu mọi người dân, nhất là các trí thức, vì sợ hãi cho bản thân và gia đình mình, cứ tiếp tục im lặng trước hiện tình của Đất nước thì tương lai Nước ta sẽ đi về đâu? Chắc chắn sẽ rất đen tối! Trước lời kêu gọi của Nhà Nước cho phép dân chúng góp ý sửa đổi Hiến pháp 1992 đến tháng 9 năm 2013 tới, nếu một số đông trí thức vẫn lặng thinh thì xem như chúng ta chấp nhận bản dự thảo sửa đổi Hiến pháp do Quốc hội đưa ra nghĩa là vẫn “rượu cũ trong bình mới”, nghĩa là “vũ như cẩn”, vậy trách nhiệm với Đất Nước của chúng ta ở đâu? Giả sử đến một ngày, Đảng CSVN trưng cầu ý dân kêu gọi sát nhập Việt Nam vào Trung Quốc, thì chẵng lẽ chúng ta vẫn cứ im lặng hay sao? Lúc đó, liệu chúng ta còn giữ được mạng sống, vợ con, nhà cửa và của cải không? Gương nước Tây Tạng còn sờ sờ trước mắt.

 

crying_600x400_chaudoan.jpg 

Tôi đã cảm động đến rơi nước mắt khi nghe VIỆT KHANG hát bài “Việt Nam Tôi Đâu?” và một trong những hình ảnh người dân đi biểu tình chống Trung Quốc trong những năm qua khiến tôi xúc động nhất, đó là hình một cô gái Việt Nam khóc trong tuyệt vọng. Tôi có cảm nghĩ như cô đang hết sức đau lòng khi thấy người dân Việt bày tỏ lòng yêu nước mà lại bị chính quyền do mình “bầu” lên ngăn cản, đạp vào mặt, bắt bớ, giam cầm…

Chính vì các lý do trên mà mặc dù rất ghét chính trị, tôi tự thấy không thể tiếp tục lặng thinh được nữa. Tôi mong muốn sự lên tiếng của mình sẽ đóng góp một phần nhỏ cho sự thay đổi của Đất nước, cho tương lai của các con cháu chúng ta. Thay đổi hay không là tuỳ theo Đảng và Nhà nước có thật lòng lo cho dân, cho Nước không? Còn nếu một ngày xấu trời nào mà Nước Việt chúng ta chịu chung số phận của Tây Tạng thì tôi cũng tự thấy mình đã làm hết sức rồi và sẽ không thẹn với lương tâm trước khi nhắm mắt. Nếu có ngày đó thật thì quả là sống không bằng chết vì mất Tổ Quốc là mất tất cả!

Đối với tôi, cuộc đời chỉ có ý nghĩa khi mình sống có ích cho người khác. Chính vì lý do đó, mặc dù có giấy bảo lãnh đi Canada đoàn tụ gia đình năm 1982, tôi đã chấp nhận ở lại quê hương để làm công tác của một thầy thuốc hầu xoa dịu bớt đau khổ của bệnh nhân cũng như đào tạo thêm các bác sĩ về X Quang, Siêu âm. Thành thật mà nói, đến giờ phút này, tôi chưa bao giờ hối tiếc về sự chọn lựa đó. Công tác tại Bệnh viện đa khoa Tỉnh Tây Ninh từ 1977 đến 1983 rồi tại Bệnh viện An Bình, Tp Hồ Chí Minh từ 1983 đến 2009 tổng cộng là 32 năm, tôi được mời vào Đảng CSVN hai lần nhưng tôi đã từ chối vì không thích làm chính trị, không thích theo bất cứ một phe phái nào. Tôi chỉ thích làm chuyên môn và dạy học mà thôi.

Cách đây không lâu, tôi đã ủng hộ Kiến nghị sửa đổi Hiến Pháp 1992 do 72 nhân sĩ trí thức công bố ngày 19 tháng 1 năm 2013 tại Hà Nội với số thứ tự trong danh sách những người ký tên là 7034. Tôi biết khi làm việc này, tôi có thể gặp nhiều rủi ro nhưng không sao vì tôi đã sẵn sàng, đến chết là cùng chứ gì!

Xưa kia, tôi đã chọn ở lại quê hương để phục vụ bệnh nhân và đào tạo các thầy thuốc trẻ, giờ đây, tôi nói lên chính kiến của mình để xây dựng và bảo vệ Đất nước vì đối với tôi, cuộc đời mỗi người như một quyển tiểu thuyết đầy đủ hỷ, nộ, ái, ố, quan trọng là quyển sách đó có hay không chứ không phải nó có dầy hay không!

Nếu có một ngày tôi bị bắt, công an sẽ hỏi tôi (như đã từng hỏi những Bloggers, những người bất đồng chính kiến, những người biểu tình…) là ai đã xúi dục, cho bao nhiêu tiền…thì tôi đã có sẵn câu trả lời: Không ai có thể xúi dục được tôi, không ai mua chuộc được tôi cả mà CHÍNH LƯƠNG TÂM TÔI ĐÃ MÁCH BẢO, CHÍNH TRÁI TIM TÔI ĐÃ THÚC DỤC TÔI LÀM THẾ!

Cuối cùng, xin cầu mong đất nước Việt Nam chúng ta được độc lập, tự do, hạnh phúc thật sự.  MONG LẮM THAY!

Bác sĩ Nguyễn Quý Khoáng

————————————–

————————————–

Ý kiến bạn đọc trên danluan.org

Khách Qua Đường  gửi lúc 04:46, 12/03/2013 – mã số 81492

Bác sĩ Nguyễn Quý Khoáng viết:

Gỉa sử đến một ngày, Đảng CSVN trưng cầu ý dân kêu gọi sát nhập Việt Nam vào Trung Quốc, thì chẵng lẽ chúng ta vẫn cứ im lặng hay sao? Lúc đó, liệu chúng ta còn giữ được mạng sống,vợ con, nhà cửa và của cải không? Gương nước Tây Tạng còn sờ sờ trước mắt.

Bác sĩ Nguyễn Quý Khoáng nói rất ĐÚNG. Nhưng tôi e rằng Đảng CSVN cũng chẳng cầntrưng cầu dân ý về việc sáp nhập VN vào TQ đâu. Họ cứ việc cho SÁP NHẬP VN vào TQ trên thực tế qua mọi phương diện (từ chính trị, quân sự, kinh tế, giáo dục, v.v…) một cách tiệm tiến, không ồn ào, không chiêng trống, như họ cho học sinh học cờ “Tổ quốc” qua lá cờ TQ, cho học sinh học tiếng Hoa ngay từ lúc mới đi học bậc sơ học, cho sử dụng bản đồ hình lưỡi bò ngay trong các cơ quan công quyền của CHXHCNVN (như cơ quan kiểm ngư), v.v… và v.v… Từ từ, mỗi ngày một chút, ĐCSVN sẽ bàn giao Tổ quốc ta cho TQ, biến nước ta thành một bộ phận của Đế quốc Trung Hoa thời hiện đại (như Tây Tạng, Nội Mông, Tân Cương,v.v…) mà nhân dân VN không có cách gì để vùng vẫy thoát ra được. Bởi vì họ làm rất NHẸ NHÀNG, KHOAN THAI, CÓ KẾ HOẠCH và được Đảng CSTQ hỗ trợ và lãnh đạo sau lưng.

Do đó, để thoát ra khỏi hiểm nguy MẤT NƯỚC này, cách DUY NHẤT là toàn dân ta phải THẤY RÕ ÂM MƯU toa rập với Tàu để Hán hóa VN của ĐCSVN, và vùng lên LẬT NHÀO cái đảng phản quốc này. Chắc chắn là để giành lại quyền làm chủ đất nước và để CỨU NƯỚC khỏi lọt vào tay TÀU, dù muốn dù không dân ta cũng sẽ phải trả bằng GIÁ MÁU vì lúc có biến động lính TQ (nấp sau binh phục của bộ đội VN) sẽ giả là lính VN và TÀN SÁT dã man dân ta (với sự THỎA THUẬN của hai đảng CS Việt Trung). Vì thế, làm sao để GIẢM THIỂU MÁU XƯƠNG trong quá trình GIẢI CỘNG cứu nước này là điều quan trọng nhất, khó khăn nhất mà dân ta cần phải tìm ra GIẢI PHÁP tối ưu. Đó mới là vấn đề. Chứ cứ ngày đêm viết kiến nghị, thư ngỏ năn nỉ, ỉ ôi kêu gọi ĐCSVN thức tỉnh, thì theo tôi chỉ hoài công mà thôi. Điều này tôi rất đau xót khi gõ ra mấy dòng này. Nhưng đó là SỰ THẬT khó bề chối cãi nếu ta bình tâm nhìn lại các động thái của ĐCSVN từ sau Hội nghị Thành Đô năm 1991 đến nay. Quyết tâm và CAM TÂM biến thành Tàu của nhóm lãnh đạo trong ĐCSVN là quá HIỂN NHIÊN, không còn gì để nghi ngờ cả.

NJ gửi lúc 14:15, 12/03/2013 – mã số 81515

Khách Qua Đường viết:

Bác sĩ Nguyễn Quý Khoáng viết:

Gỉa sử đến một ngày, Đảng CSVN trưng cầu ý dân kêu gọi sát nhập Việt Nam vào Trung Quốc, thì chẵng lẽ chúng ta vẫn cứ im lặng hay sao? Lúc đó, liệu chúng ta còn giữ được mạng sống,vợ con, nhà cửa và của cải không? Gương nước Tây Tạng còn sờ sờ trước mắt.

Bác sĩ Nguyễn Quý Khoáng nói rất ĐÚNG. Nhưng tôi e rằng Đảng CSVN cũngchẳng cần trưng cầu dân ý về việc sáp nhập VN vào TQ đâu. Họ cứ việc cho SÁP NHẬP VN vào TQ trên thực tế qua mọi phương diện (từ chính trị, quân sự, kinh tế, giáo dục, v.v…) một cách tiệm tiến, không ồn ào, không chiêng trống, như hiện nay họ đang cho học sinh VN  học cờ “Tổ quốc” qua lá cờ TQ, cho học sinh VN học tiếng Hoa ngay từ lúc mới đi học bậc sơ học, cho sử dụng bản đồ hình lưỡi bò ngay trong các cơ quan công quyền của CHXHCNVN (như  ở cơ quan kiểm ngư), v.v… và v.v…

Từ từ, mỗi ngày một chút, ĐCSVN sẽ bàn giao Tổ quốc ta cho TQ, biến nước ta thành một bộ phận của Đế quốc Trung Hoa thời hiện đại (như Tây Tạng, Nội Mông, Tân Cương,v.v…) mà nhân dân VN không có cách gì để vùng vẫy thoát ra được. Bởi vì họ làm rất NHẸ NHÀNG, KHOAN THAI, CÓ KẾ HOẠCH và được Đảng CSTQ hỗ trợ và lãnh đạo sau lưng.

Do đó, để thoát ra khỏi hiểm nguy MẤT NƯỚC này, cách DUY NHẤT là toàn dân ta phải THẤY RÕ ÂM MƯU toa rập với Tàu để Hán hóa VN của ĐCSVN, và vùng lên LẬT NHÀO cái đảng phản quốc này. Chắc chắn là để giành lại quyền làm chủ đất nước và để CỨU NƯỚC khỏi lọt vào tay TÀU, dù muốn dù không dân ta cũng sẽ phải trả bằng GIÁ MÁU vì lúc có biến động lính TQ (nấp sau binh phục của bộ đội VN) sẽ giả là lính VN và TÀN SÁT dã man dân ta (với sự THỎA THUẬN của hai đảng CS Việt Trung). Vì thế, làm sao để GIẢM THIỂU MÁU XƯƠNG trong quá trình GIẢI CỘNG cứu nước này là điều quan trọng nhất, khó khăn nhất mà dân ta cần phải tìm ra GIẢI PHÁP tối ưu. Đó mới là vấn đề. Chứ cứ ngày đêm viết kiến nghị, thư ngỏ năn nỉ, ỉ ôi kêu gọi ĐCSVN thức tỉnh, thì theo tôi chỉ hoài công mà thôi. Điều này tôi rất đau xót khi gõ ra mấy dòng này. Nhưng đó là SỰ THẬT khó bề chối cãi nếu ta bình tâm nhìn lại các động thái của ĐCSVN từ sau Hội nghị Thành Đô năm 1991 đến nay. Quyết tâm và CAM TÂM biến thành Tàu của nhóm lãnh đạo trong ĐCSVN là quá HIỂN NHIÊN, không còn gì để nghi ngờ cả.

Tôi đồng ý với bác.
Đó là chủ trương của đảng cộng sản Việt Nam từ thời ông Hồ. Việt Nam là một quốc gia trong khối cộng sản dưới quyền lãnh đạo của Liên Xô. Nay Liên Xô mất chỉ còn Trung Cộng, thì hiển nhiên giữa Việt Nam và Trung Quốc sẽ không còn biên giới như Tố Hữu đã mô tả.

Nguyễn Jung

Bác sỹ ở Đồng Nai  gửi lúc 13:34, 13/03/2013 – mã số 81557

Một người điềm đạm, ăn chay trường, là Thầy của rất nhiều bác sỹ thành danh trong cả nước, Bác sỹ Nguyễn Quý Khoáng hôm nay lại nặng lòng vì Đất Nước với một bài viết đầy trách nhiệm, dẫu biết khi post bài này, Bác sỹ sẽ phải gặp nhiều rắc rối nhưng không thể không nói lên tiếng nói của mình.
Kính cẩn nghiêng mình trước việc làm đầy trách nhiệm của Thầy. Thầy đã một đời tận tụy với bệnh nhân, với công việc và rất có trách nhiệm với Đất Nước trong vai trò một Công dân, Trí thức.
Trân trọng cảm ơn Thầy!

Điện quang  gửi lúc 16:06, 13/03/2013 – mã số 81561

Kính gửi: Bs Nguyễn Quý Khoáng,
Em hết sức xúc động khi đọc bài này của Thầy. Một đời tận tụy với công việc và dạy học, em biết Thầy không đam mê chính trị nhưng Thầy phải lên tiếng để bày tỏ với bất công và trên hết là với vận mệnh của Đất Nước!
Học sinh chúng em kính trọng nhân cách của Thầy và chúng em hết sức trân trọng bài viết của Thầy.
Kính chúc Thầy thân tâm an lạc.
Một học sinh của Thầy

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

►Tưởng niệm trận chiến Gạc Ma thuộc quần đảo Trường Sa

Posted by hoangtran204 trên 14/03/2013

DCVOnline – Tin AFP

Tưởng niệm trận chiến Gạc Ma

14-3-2013

Hà Nội – Những người hoạt động ở Hà Nội hô cao khẩu hiệu chống Trung Quốc và đặt vòng hoa ở một địa điểm biểu tình hôm thứ Năm ngày 13 tháng Ba nhằm tưởng niệm một cuộc chiến xảy ra ở quần đảo Trường Sa hai mươi lăm năm trước đây, qua đó 64 binh sĩ Việt Nam thiệt mạng.

Việt Nam và Trung Quốc vốn có mối tranh chấp lãnh hải dài lâu trên hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa, cả hai nước đều cho mình có chủ quyền, và thường có lời qua tiếng lại trên mặt ngoại giao liên quan đến việc khai thác dầu cũng như quyền đánh cá ở những vùng biển đang tranh chấp này.

Năm 1988, Trung Quốc tấn công lên đảo Gạc Ma — một trong những hòn đảo lớn thuộc nhóm đảo Trường Sa được quân đội Việt Nam kiểm soát trước đó – lính Trung Quốc giết hằng chục lính Việt Nam trong lần này.

Hôm thứ Năm, khoảng 20 người đặt vòng hoa với ruy băng đen có hàng chữ “nhân dân không bao giờ quên” ở tượng đài Lý Thái Tổ Hà Nội — ở ngay trung tâm Hà Nội.

Cuộc biểu tình này là lần đầu tiên ở Hà Nội trong năm nay bày tỏ sự bất bình công khai đối với tính gây hấn, hung hăng của Bắc Kinh về tranh chấp lãnh thổ, sau hằng chục cuộc biểu tình chống Trung Quốc trong năm rồi và đều bị nhà nước ngăn chận.

Bị công an chìm theo dõi, những người hoạt động này chơi những bài nhạc yêu nước và hô khẩu hiệu “Hoàng Sa, Trường Sa, Việt Nam! Đả đảo Trung Quốc xâm lược! Đả đảo âm mưu bành trướng của Bắc Kinh!”

“Tôi rất vui hôm nay, chúng tôi đến đây để đặt vòng hoa tưởng niệm những người đã nằm xuống cho quê hương của họ,” nhà hoạt động được nhiều người biết đến Bùi Thị Minh Hằng, người đã từng bị bắt trước đây vì tham dự những cuộc biểu tình chống Trung Quốc, nói với hãng thông tấn AFP ngay tại chỗ.

Một nhà hoạt động khác ông Tạ Trí Hải chơi đàn vĩ cầm diễn tả niềm hy vọng của ông là buổi lễ tưởng niệm này sẽ “giúp khơi dậy truyền thống yêu nước của người Việt Nam – 1.000 năm lịch sử chống sự xâm lăng của nước ngoài, chống Trung Quốc.”

Thông tin nhà nước vốn bị kiểm soát ngặt nghèo, có nhắc đến lễ tưởng niệm nhưng không đụng chạm gì về cuộc biểu tình hôm nay. Không có lời phát biểu chính thức nào từ nhà nước.

Sự gia tăng lập trường quyết đoán của Bắc Kinh ở vùng biển Nam Hải đã làm bùng sự tức giận của công chúng ở Việt Nam và đã đưa đến những cuộc biểu tình hiếm hoi ở một đất nước độc tài toàn trị như Việt Nam.

Ngoài Trung Quốc và Việt Nam, quần đảo Trường Sa cũng được các nước Phi Luật Tân, Mã Lai Á, Brunei và Đài Loan cho mình có chủ quyền bán hoặc toàn phần.

© DCVOnline

nguồn: dcvonline.net


Nguồn:

(*Vietnam anti-China activists mark island battle. Agence France-Presse, 14 March 2013.

Posted in Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa | Leave a Comment »

►14-3-1988 Trung Quốc Tấn Công Và Tàn Sát Đẩm Máu Hải Quân Nhân Dân Việt Nam Tại Trường Sa

Posted by hoangtran204 trên 14/03/2013

Trung Quốc Tấn Công Và Tàn Sát Đẩm Máu Hải Quân Nhân Dân Việt Nam Tại Trường Sa Năm 1988


Thu Hiền Tổng Lược.

Vào chiều ngày 13 tháng 3 năm 1988 hai tàu chiến của HQVN từ Đà Nẳng mang số HQ605 đi trước và theo sau là chiếc HQ505 đi về hướng Trường Sa để tiếp tế lương thực cho chiến HQ604 đang đóng quân tại đảo Gạc Ma. Đảo nầy có 4 ghềnh đá nhô lên khỏi mặt nước chừng hai mét, những mặt bằng còn lại của đảo chìm dưới lòng nước khoảng 1-2  mét , có chổ sâu hơn. Dây chỉ là một hòn đảo chiến lược, ngoài ra không trồng trọt được gì trên đảo nầy .

Chiến HQ604 đã đến neo tại đây trên một tháng không có chuyện gì xảy ra . Theo lệnh của bộ quốc phòng thì Việt Nam sẽ phải cắm cờ để dành chủ quyền ở các đảo nầy . Đảo Gạc Ma được liệt vào danh sách thứ 88 của các đảo thuộc chủ quyền VN. Các Hải Quân VN tới đây với chiến dịch CQ88 (Chủ Quyền 88) .

Hai chiếc HQ605 và HQ505 đến điểm hẹn thì từ phía xa có nhiều chiến hạm Trung Quốc đang tiến lại gần . Thấy không có gì vì đây là hòn đảo của Việt Nam nên nếu có gì xảy ra thì hai bên có thể thương lượng đó là lời của Thiếu Tá Trần Đức Thông cho biết .

Vào lúc 7 giờ sáng sớm ngày 14 tháng 3 năm 1988 , một toán nhỏ của HQVN gồm thiếu úy Trần Văn Phương cùng hai thủy thủ là Nguyễn Văn Tư và Nguyễn Văn Lanh đang leo lên 4 gành đá cao tìm cách dựng cột cờ thì các chiến hạm Trung Quốc lúc đó đã tới gần đảo . Bốn Tàu chiến Trung Quốc loại trang bị hỏa tiễn bao quanh đảo và hú còi báo động , các thủy thủ của Trung Quốc trông rất dữ tợ, đầu cạo trọc nhảy lên các dàn súng đại liên quay mũi súng chỉa vào lính HQVN . Hai Chiếc Hải Quân Trung Quốc tiến gần sát hơn và chận đường rút lui của hai chiếc HQ605 và HQ505 . Hai chiếc xuồng máy chở 8 lính vũ trang mặc đồ rằn ri của Trung Quốc lao nhanh vào đảo . Thiếu tá Trần Ðức Thông lập tức ra lệnh cho các Thủy Thủ chiến HQ604 lên đảo ứng chiến, bảo vệ cho thiếu úy Trần Văn Phương  và hai thủy thủ . Các thủy thủ thuộc HQVN đã dàn súng chung quanh 4 ghềnh cao để bảo vệ , phòng thủ 4 hướng .

Trung quốc thả thêm nhiều Ca Nô loại nhỏ chở hằng trăm lính vũ trang rằn ri khác tràn lên đảo Gạc Ma . Lúc nầy tàu chỉ huy là chiếc HQ604 đã cho phóng loa , nói tiếng Tàu với các bộ đội vũ trang Trung Quốc đang tràn lên bãi ” Đây là đảo chủ quyền của VN, yêu cầu các đồng chí thuộc quân đội Nhân Dân Trung Quốc phải rời đảo” “Các đồng chí đã xâm phạm lãnh thổ VN” . Lời nói từ chiếc HQ604 chưa dứt thì Tàu Hải Quân Trung Quốc chiếc 502 khai hỏa đầu tiên . Các cây đại liên trên tàu Trung Quốc đã bắn trực xạ vào thủy thủ VN trên đảo, người đứt tay, người đứt đầu, máu văng tung tóe đỏ lòm nước biển .  3 Chiến hạm Trung Quốc còn lại bất ngờ xã hết dàn hỏa tiễn vào 3 tàu chiến của HQVN bốc cháy nghiêng về một bên , các thủy thủ trên tàu hốt hoảng nhảy xuống nước để thoát thân . Lúc nầy hằng trăm bộ đội Trung Quốc trên Đảo Gạc Ma nã súng bắn tỉa từng người của HQVN đang bơi lỏm ngỏm dưới nước . Những tiếng la kinh hoàng , những thân xác bỗng chốc chìm sâu xuống lòng đại dương , máu đỏ nhuộm nước biển lênh láng khắp nơi .

Thấy thảm sát đã đủ, một số Thủy Thủ HQVN được tàu Trung Quốc vớt lên làm tù binh. Trên bãi Gạc Ma, 40 người lính HQVN còn lại buông súng đưa cao tay lên đầu trong tư thế đầu hàng . Thượng úy Nguyễn Văn Chương và trung úy Nguyễn Sỹ Minh tổ chức đưa thương binh và những người sống sót về tàu HQ505 . Chiếc HQ505 bị bắn cháy toạc hông phải , sau khi chữa lửa, khói đen còn xông lên ngùn ngụt nằm sát bãi Cô Lin . Số người còn sức, một tay bám thành xuồng,một tay làm mái chèo đưa xuồng lết trên mặt nước để tới bãi Cô lin.

Trung Quốc trao trả 9 tù binh , xác của 64 Thủy Thủ thuộc HQVN vĩnh viễn nằm trong lòng biển khơi ….

nguồn: vietland.wordpress.com

Bộ đội Việt Nam bị hải quân Trung cộng thảm sát ở đảo Gạc Ma 1988, thuộc quần đảo Trường Sa 14-3-1988, bản video gốc của Trung cộng

Các bạn chú ý: những bộ đội và hải quân của Quân đội nhân dân Việt Nam không mang súng, gần như  đứng làm bia cho quân Trung Cộng bắn. Ai đã ra lệnh cho họ không được mang súng bắn trả quân Trung Cộng? Theo nguồn tin gần đây cho biết, đảng CSVN bảo họ đi giữ đảo, nhưng ra lệnh không được mang súng! Nại lý do rằng: không nên khiêu khích và chọc giận quân đội Trung Cộng. Chẳng khác nào đẩy bộ đội vào chỗ chết để cho đảng được tiếp tục sống mà nắm quyền lực.

Thật ra, đảng sợ Trung Cộng tung ra các tài liệu nói về vụ ông HCM và đảng đã cầu viện ngoại bang vào tháng 1-1950 ( nguồn:  http://www.diendan.org/the-gioi/hoi-ki-co-van-trung-quoc-1/ . Nói chính xác là “mãi quốc cầu vinh”, hay bán nước cầu vinh, ông HCM và đảng đã mời quân Trung Cộng  đem vũ khí và quân đội vào giúp đảng nắm lấy quyền lực ở Việt Nam vào năm 1950s (trận Điện Biên Phủ 1954 và Hiệp định Geneve 1954…); đổi lại, ông HCM và đảng phải dâng cho Trung Cộng hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, cùng 15000 km vuông vùng đất biên giới, Ải Nam Quan, Thác Bản Giốc, vùng  núi Lão Sơn, và một phần của Móng Cái.  

Sau khi giúp cho Hồ Chí Minh và đảng CsVn chiếm miền Bắc năm 1954, Trung Cộng chiếm ngay một số đảo trong đảo Hoàng Sa năm 1956, và buộc ông HCM và Nhà Nước phải viết giấy công nhận chủ quyền.  Ông Phạm Văn Đồng buộc lòng phải viết Công Hàm 14-9-1958, công nhận biển đảo lãnh hải của Trung Cộng.

Khi biết cuộc chiến tranh VN sắp sửa kết thúc, Trung Cộng chiếm Hoàng Sa ngày 19-1-1974. Hải quân của quân đội VNCH đã đánh nhau một trận long trời với Trung Cộng để bảo vệ chủ quyền, tuy thắng trận, nhưng hải quân VNCH phải rút lui, vì hạm đội của Trung Cộng đang trên đường tới cứu viện.  ( Mời đọc:    ).

Sau 1975, Trung Cộng chiếm dần dần các đảo thuộc quần đảo Hoàng Sa mà đảng và nhà nước VN không dám lên tiếng phản đối. Cho đến nay, bất cứ ai lên tiếng về vụ Hoàng Sa và Trường Sa đều phải bị bắt và ở tù thật lâu. Các blogger như Điếu Cày Nguyễn Văn Hải, Tạ Phong Tần, nhạc sĩ Việt Khang, Cù Huy Hà Vũ, Nguyễn Tiến Trung, Trần Anh Kim…đều bị ở tù vì phản đối Trung Cộng chiếm các đảo  Hoàng Sa và Trường Sa.

Khi Lê Duẫn vừa chết năm 1986, Trung Cộng chiếm các đảo trong quần đảo Trường Sa, và cuộc thảm sát ngày  14-3-1988 là một biến cố trong sự kiện này. 

Đến ngày 30-12-1999, đảng và nhà nước phải ký Hiệp Định Biên Giới để chính thức hợp pháp hóa cho Trung Cộng về những gì đã ký kết vào năm 1950 giữa ông HCM và Mao Trạch Đông. Trước khi chuyện ký kết xảy ra, Trung Cộng tung lên mạng: Công hàm ngày 14-9-1958 của thủ tướng Phạm Văn Đồng để hù dọa đảng và nhà nước phải ký gấp, nếu không, Trung Cộng sẽ đưa thêm các tài liệu khác nữa. Quá sợ hãi, đảng và Nhà Nước VN phải ký kết vào ngày cuối cùng của năm 1999. Kết quả, Các vùng đất sau đây đã mất vĩnh viễn về tay Trung Cộng: 15000 km vuông vùng đất biên giới thuộc các tỉnh phía Bắc như Hà Giang, Lạng Sơn, Ải Nam Quan, Thác Bản Giốc, vùng  núi Lão Sơn, và một phần của Móng Cái. 

 

Trần Hoang cập nhật ngày 27/10/2016: Các blogger phát hiện, Ngân hàng Thế Giới Worldbank đã đưa lên mạng internet về sự thay đổi diện tích của VN giữa hai năm 1999 và 2000. Năm 1999, diện tích của VN là 325.490 km vuông; qua năm 2000, diện tích chỉ còn lại 311.060 km vuông; tiếp tục giảm xuống 310,550 năm 2002; và sau cùng 310,070 năm 2003 cho đến nay. Tại sao VN đã bị mất hơn 15000 km vuông?

Điều này được giải thích sau khi đọc một website khác của chính phủ VN ghi nhận rằng chính phủ Việt Nam đã ký với Trung Quốc  Hiệp ước Trên Đất Liền ngày 30-12-1999.

Thì ra, sau khi ký hiệp ước 1999, VN và TQ xây dựng cột mốc, và VN rút lui dần dần về phía nam trong 3 năm tiếp theo. Đến 2003 thì hoàn tất việc đặt cột mốc biên giới. Ông Trần Công Trục và Lê Công Phụng (Bộ Ngoại Giao) có tham gia việc đàm phán từ năm 1992 và ký kết 1999, và biết rõ sự kiện đảng CsVn và nhà nước đã bán nước, dâng đất đai của tổ tiên ông cha của ta cho giặc Tàu, để đánh đổi nhờ TQ hỗ trợ vũ khí và giúp đỡ đảng CSVN cướp miền Bắc qua Hiệp định Geneve 20-7-1954, và chiếm miền Nam 30-4-1975.

Mời các bạn đọc hai bài sau đây của Trần Hoàng.

►15.420 km vuông đất của Việt Nam đã mất vì hiệp ước biên giới trên đất liền do đảng CSVN chỉ đạo nhà nước ký với TQ ngày 30-12-1999

(27/10/2016)

Năm 1989, Trung Quốc lần đầu tiên thừa nhân gởi 320.000 quân qua tham chiến  ở Việt Nam trong năm 1965-1968 và viện trợ cho Hà Nội 20 tỷ đô la – Liên Xô viện trợ 11 tỷ đô la

(4-1-2014)

————

Chết cho tổ quốc hay chết cho hòa

bình và ổn định khu vực?

Tác giả: 

8374978729_45a6f64967

Trên mộ bia chung ghi tên các chiến sĩ đã hy sinh ở biển Đông, trong đó có 3 chiến sĩ hy sinh ngày 14-3-1988 tại Gạc Ma, có tạc dòng chữ như sau: “Đời đời nhớ ơn các anh hùng liệt sỹ đã hy sinh vì hòa bình và ổn định khu vực.”

Tức là những người này hy sinh không phải vì bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ của tổ quốc VN mà “vì hòa bình và ổn định khu vực”.

Vấn đề là, tại sao lại phải hy sinh máu xương người Việt để bảo vệ “hòa bình và ổn định” cho người khác?

“Khu vực” ở đây không phải của “người khác” thì của ai ? Của VN thì mình nói của VN chứ không nói là “khu vực”.

Những dòng chữ này chứng minh đảng CSVN đã đặt tinh thần quốc tế lên trên quyền lợi của tổ quốc. Điều này bình thường. Đảng viên cộng sản chân chính thì ai cũng có tinh thần quốc tế như vậy.

Nhưng việc này có tác dụng tiêu cực đến hồ sơ chủ quyền của VN tại các đảo Trường Sa. Điều này hoàn toàn tương phản với lập trường và thái độ của phía VNCH trong cuộc chiến Hoàng Sa tháng giêng năm 1974. Trong cuộc chiến này, phía VNCH đã gọi đích danh “con chó là con chó, con mèo là con mèo”.

VNCH tuyên bố rằng:

“Trước việc Trung Cộng trắng trợn xâm chiếm bằng vũ lực quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam Cộng Hòa, Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa thấy cần phải tuyên cáo long trọng trước công luận thế giới cho bạn cũng như thù biết rõ rằng:

Quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa là những phần bất khả phân của lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa. Chánh phủ và nhân dân Việt Nam Cộng Hòa không bao giờ chịu khuất phục trước bạo lực mà từ bỏ tất cả hay một phần chủ quyền của mình trên quần đảo ấy.

Chừng nào còn một hòn đảo thuộc lãnh thổ của Việt Nam Cộng Hòa bị nước ngoài chiếm giữ bằng bạo lực thì chừng ấy Chánh phủ và nhân dân Việt Nam Cộng Hòa còn đấu tranh để khôi phục những quyền lợi chính đáng của mình.”

Tuyên bố của VNCH là một tuyên bố đơn phương, có giá trị trước pháp luật quốc tế, vì nó rõ rệt. Nội dung của tấm bia liệt sỹ ở trên là có thể hiểu như là một thái độ mặc nhiên từ khuớc chủ quyền của VN tại các đảo Trường Sa.

Rõ ràng, những người đã chết cho cuộc chiến 14-3-1988, là chết vì “hòa bình và ổn định khu vực” chứ không vì bảo vệ các đảo Trường Sa, lãnh thổ của tổ quốc.

Buổi lễ truy điệu các liệt sĩ hy sinh tại Trường Sa, được BBC mô tả mới đây, cho thấy báo chí trong nước đã nói về cuộc chiến “bảo vệ đất nước”, thay vì cuộc chiến bảo vệ cho “hòa bình và ổn định khu vực”. Nhưng họ vẫn không dám nói đích danh kẻ xâm lăng là Trung Quốc.

Ăn cướp nó vào nhà mình mà mình không dám nói nó cướp của mình cái gì, không dám nói thằng ăn cướp đó là ai, thì mình là người như thế nào? Hèn!

Mình hèn như thế thì ai sẽ bênh vực mình?

Đó có phải là thái độ đúng đắn của tập đoàn lãnh đạo quốc gia hay không?

Blog Trương Nhân Tuấn

Tác giả: 

——————–

Posted in Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa | 1 Comment »

►Tổ chức Phóng viên Không Biên giới (RSF) đã xác định 5 chính quyền là kẻ thù của Internet là Syria, Trung Quốc, Iran, Bahrain và Việt Nam.

Posted by hoangtran204 trên 14/03/2013

Khi ngăn cấm internet,  nhà cầm quyền của 5 nước  này đã gây ra các vi phạm nhân quyền nghiêm trọng. Họ bắt bớ và bỏ tù tất cả những ai nói lên sự thật về việc làm của nhà cầm quyền, như – tham nhũng, ăn cắp của công, chia nhau các hợp đồng béo bở, khai thác và chia nhau tài nguyên dầu hỏa, ga và khoáng sản, cướp bất động sản của dân chúng, đàn áp tôn giáo, vi phạm luật pháp do chính họ đặt ra, và vi phạm các quyền tự do của con người…  

Nhà cầm quyền của 5 nước này không muốn các blogger viết bài tố cáo cho dân chúng biết về các việc làm ăn gian trá, tham nhũng, ăn cắp công quỹ, cướp bóc đất đai của dân chúng, ăn cắp tiền vay mượn của các nước ngoài và chia nhau đút túi  của họ.  Họ cũng không muốn bị các blogger tố cáo các vụ tham nhũng ăn chia các hợp đồng ký kết giữa các công ty thực hiện các công trình xây dựng cầu, đường, và các công trình công cộng khác. Đặc biệt, họ không muốn các blogger tố cáo sự giàu có bất chính của họ và gia đình…

RSF – Báo cáo đặc biệt về giám sát Internet, tập trung vào năm chính quyền và năm công ty là kẻ thù của Internet

Hôm nay, ngày 12 tháng 3, ngày Thế giới Chống Kiểm duyệt Online, Phóng viên Không Biên giới phát hành một báo cáo đặc biệt về giám sát Internet, xem tại surveillance.rsf.org/en.

Tổ chức  Phóng viên Không Biên Giới  đưa ra cách mà các chính phủ đang ngày càng sử dụng nhiều công nghệ theo dõi hoạt động trực tuyến và chặn truyền thông điện tử để bắt giữ các nhà báo, công dân làm nhà báo và những người bất đồng chính kiến. Khoảng 180 cư dân mạng trên toàn thế giới hiện đang ở trong tù vì cung cấp tin tức và thông tin online.

Đối với năm nay, báo cáo “Kẻ thù của Internet” của Phóng viên Không Biên giới đã xác định 5 chính quyền là kẻ thù của Internet, năm chính quyền “gián điệp” đang tiến hành một cách hệ thống giám sát trực tuyến, gây ra các vi phạm nhân quyền nghiêm trọng. Họ là Syria, Trung Quốc, Iran, Bahrain và Việt Nam.

Sự giám sát tại các quốc gia này nhắm vào những người bất đồng chính kiến đã tăng mạnh trong những tháng gần đây. Các cuộc tấn công mạng và xâm nhập, bao gồm cả việc sử dụng các phần mềm độc hại chống lại những người bất đồng chính kiến và các mạng lưới của họ, đang gia tăng.

Trung Quốc, Bức Trường Thành Điện tử (Electronic Great Wall) có lẽ là hệ thống kiểm duyệt tinh vi nhất thế giới, đã tăng cường cuộc chiến về việc sử dụng các công cụ ẩn danh và đã tranh thủ được các công ty Internet của khu vực tư nhân để giúp theo dõi người dùng Internet. Iran đã thực hiện giám sát trực tuyến đến một cấp độ mới bằng cách phát triển Internet quốc gia của họ, hoặc “Internet Halal”. Liên quan đến Syria, Phóng viên Không Biên giới đã thu được một tài liệu chưa được công bố – một lời mời năm 1999 thành lập Viễn thông Syria để đấu thầu cho một mạng Internet quốc gia Syria – qua đó cho thấy rằng mạng Internet này được thiết kế ngay từ đầu bao gồm sàng lọc và giám sát rộng rãi.

Nếu không có công nghệ tiên tiến, các chế độ độc tài sẽ không thể do thám công dân của họ. Phóng viên Không Biên giới đã lần đầu tiên biên soạn một danh sách năm “Công ty là Kẻ thù của Internet“, 5 công ty tư nhân bị xem như “lính đánh thuê thời đại kỹ thuật số” bởi vì họ bán sản phẩm được sử dụng bởi các chính phủ độc tài vi phạm nhân quyền và tự do thông tin. Đó là Gamma, Trovicor, Hacking Team, Amesys và Blue Coat.

Sản phẩm giám sát và đánh chặn của Trovicor đã cho phép gia đình hoàng gia Bahrain do thám những người đưa tin và bắt giữ họ. Ở Syria, sản phẩm kiểm tra Deep Packet được phát triển bởi Blue Coat đã làm cho chế độ này có thể giám sát những người bất đồng chính kiến và cư dân mạng trong cả nước, và bắt giữ và tra tấn họ. Sản phẩm Eagle được cung cấp bởi Amesys đã được phát hiện trong các văn phòng cảnh sát mật vụ của Muammar Gaddafi. Phần mềm độc hại được thiết kế bởi Hacking Team và Gamma đã được sử dụng bởi các chính phủ để hack các mật khẩu của các nhà báo và cư dân mạng.

“Giám sát trực tuyến là một mối nguy hiểm ngày càng tăng đối với các nhà báo, công dân làm báo, các blogger và những người bảo vệ nhân quyền,” Phóng viên Không Biên giới, Tổng thư ký Christophe Deloire nói. “Các chế độ tìm cách kiểm soát tin tức và luồng thông tin ngày càng thích hành động kín đáo, hơn là thực hiện biện pháp ngăn chặn nội dung vốn tạo ra tiếng xấu và sớm bị phá vỡ, họ thích hình thức kiểm duyệt và giám sát tinh tế mà các mục tiêu của họ thường không biết”.

“Khi phần cứng và phần mềm giám sát được cung cấp bởi các công ty có trụ sở ở các quốc gia dân chủ đang được sử dụng để thực hiện vi phạm nghiêm trọng quyền con người. Là những người lãnh đạo của các nước này, họ hãy nói rằng họ lên án các hành vi vi phạm tự do ngôn luận online, đây là lúc cần phải thực thi các biện pháp cứng rắn. Trên tất cả, họ nên đặt một kiểm soát chặt chẽ lên việc xuất khẩu vũ khí kỹ thuật số đến những quốc gia chế nhạo các quyền cơ bản của con người”.

Các cuộc đàm phán giữa các chính phủ trong tháng 7 năm 1996 đã đạt Thoả thuận Wassenaar, nhằm mục đích thúc đẩy “tính minh bạch và trách nhiệm lớn hơn trong chuyển giao vũ khí quy ước và các hàng hóa và công nghệ sử dụng kép [(dual-use) dùng cho mục tiêu dân sự nhưng cũng có thể cho cả quân sự – ND], do đó ngăn ngừa sự mất ổn định tiềm tàng”. Bốn mươi quốc gia, trong đó có Pháp, Đức, Vương quốc Anh và Hoa Kỳ hiện nay là thành viên của Thỏa thuận này.
Qua minh chứng tầm quan trọng của thông tin trực tuyến, Mùa xuân Ả Rập đã tăng cường sự hiểu biết của các chính phủ độc tài về những lợi thế của giám sát và kiểm soát dữ liệu Internet và truyền thông. Các nước dân chủ dường như cũng ngày càng sẵn sàng nhượng bộ sự hấp dẫn nhưng đầy rủi ro về sự cần thiết để giám sát và an ninh mạng bằng bất cứ giá nào. Cơ sở cho việc này là tất cả các dự luật có tính áp chế tiềm tàng như FISAA và CISPA tại Hoa Kỳ, luật Dữ liệu Truyền thông (Communications Data Bill) ở Anh và Wetgeving Bestrijding Cybercrime ở Hà Lan.

Phóng viên Không Biên giới đã thực hiện một “bộ công cụ sống sót trong kỹ thuật số” (digital survival kit) có sẵn trên trang web WeFightCensorship.org để giúp những người cung cấp tin tức trực tuyến tránh được hoạt động giám sát xâm nhập ngày càng tăng.

* * *

NHỮNG VI PHẠM NGHIÊM TRỌNG VỀ QUYỀN TỰ DO THÔNG TIN

Đối với chính quyền, cộng đồng blog là mục tiêu chính. Các blog đem đến cả một thế giới thông tin và quan điểm mới – thứ khơi dậy mối quan tâm lớn từ những người sử dụng Internet. Vì lý do đó mà các blog trở thành mục tiêu của những chế tài hà khắc.

Blogger Huỳnh Ngọc Chênh (người vừa được trao giải Công Dân Mạng 2013 – Netizen of the Year for 2013) đúc kết tình hình: “Nhà nước kiểm soát mọi kênh thông tin. Những ý kiến phản đối nhà nước không được phổ biến. Trên thực tế, tự do ngôn luận không tồn tại ở Việt Nam. Vì thế, nhiều người sử dụng blog để thể hiện quan điểm của mình. Song chính phủ lại đóng cửa các blog này. Và nhiều blogger bị bắt. Họ bị sách nhiễu, cùng với gia đình của mình.”

Tháng 9/2012, Công văn 7169/VPCP-NC trực tiếp nhằm vào các blog có ảnh hưởng nhất của đất nước này: Dân Làm Báo, Quan Làm Báo và Biển Đông. Chủ nhân của chúng, vốn sử dụng bút danh dưới các bài viết, phải đối mặt với những án tù dài hạn nếu Đảng khám phá ra nhân thân thực của họ. Ẩn danh là tình trạng phổ biến trong cộng đồng blog ở Việt Nam. Song Đảng lại không để cho điều đó cản trở mình, mà sử dụng các công cụ theo dõi để tìm ra tên thực của các blogger mục tiêu. Nếu bị bắt, họ phải đối mặt với sự trừng phạt nặng nề.

Đó chính là số phận của Lê Nguyên Sang và Huỳnh Nguyên Đạo năm 2006. Mặc dù ký tên giả dưới các bài viết của mình (Nguyễn Hải Sơn và Nguyễn Hoàng Long), họ vẫn bị an ninh mạng nhận diện và bị tuyên án tù người 4 năm và người hai năm rưỡi.

Trần Huỳnh Duy Thức bị bắt năm 2009 và Lữ Văn Bảy năm 2011, mặc dù cả hai đều sử dụng bút danh khi đăng bài. Trần Huỳnh Duy Thức hiện đang thụ án 16 năm, còn Lữ Văn Bảy, người dùng đến 4 tên giả, bị kết án 4 năm.

Blogger Phan Thanh Hải và nhà văn Phạm Chí Dũng, nguyên cán bộ của UBND Tp Hồ Chí Minh và là người đóng góp bài viết cho các trang mạng “không được phép” như Phía Trước và Quan Làm Báo, cũng bị bắt bất chấp việc họ sử dụng tên giả.

Các nhà hoạt động trong lĩnh vực thông tin thường xuyên bị theo dõi. Các phương thức bao gồm theo dõi hành tung và đe doạ đối với những ai mà nhân thân đã bị lộ. Phishing (thủ đoạn đánh cắp thông tin cá nhân của người dùng mạng) và gián điệp số được nhằm vào các blogger ẩn danh.

Một nhà hoạt động, người từng thụ án tù và yêu cầu không nêu tên, cho Phóng Viên Không Biên Giới (RWB) biết rằng sau khi anh bị bắt: “Trong tù, họ cho tôi xem các bài mà tôi đã viết và ký với tên giả, những emails mà tôi đã gửi cho đồng nghiệp và thậm chí cả các cuộc trao đổi điện thoại của tôi.”

Đó không phải là trường hợp cá biệt. Công an mạng sử dụng mọi phương thức khả thi, kể cả việc truy cập mật khẩu thông qua phương tiện trung gian (Man In the Middle password retrieval), hack, và theo dõi điện thoại di động. Mục đích của công an không chỉ là khám phá tên thật của các blogger mà còn nhận diện từng người trong mạng lưới của họ. Lời biện hộ chính thức cho tất cả những trường hợp này luôn luôn là: “cấu kết với các tổ chức phản động ở nước ngoài”, “âm mưu lật đổ chính quyền”, hay “tuyên truyền chống phá nhà nước”. Những cáo buộc về tham nhũng hay trốn thuế cũng thường xuyên được sử dụng nhằm vào các nhà báo và blogger. Năm 2008, Điếu Cày – một blogger nổi tiếng – bị kết án 10 năm tù dựa trên những cáo buộc này. Chiến dịch đàn áp nhằm vào cả các blog cá nhân cũng như blog tập thể. Nhóm blog cá nhân là những blogger như Nguyễn Văn Đài, Phạm Thanh Nghiên, Lê Công Định, Đinh Đăng Định, JB Nguyễn Hữu Vinh, Người Buôn Gió và Nguyễn Quang Lập. Nhóm blog tập thể bao gồm Bạch Đằng Giang, Quan Làm Báo, Bauxite Việt Nam, Dòng Chúa Cứu Thế và Nữ Vương Công Lý.

Danh sách nêu trên vẫn không ngừng dài ra. Ngày 9/1/2013, 14 nhà hoạt động, trong đó có 8 blogger và công dân mạng, đã bị kết án tù từ 3 đến 13 năm – tổng cộng 113 năm tù. Họ bị cáo buộc theo khoản 1 và 2 Điều 79 Bộ Luật Hình sự với “tham gia tổ chức nhằm lật đổ chính quyền nhân dân” và “thành lập tổ chức nhằm lật đổ chính quyền nhân dân”.

Tình trạng bị theo dõi thường xuyên tạo ra áp lực “tự kiểm duyệt” cho những nhà hoạt động nào mà gia đình của họ phải chịu áp lực từ phía công quyền. Song bất chấp tất cả, cộng đồng mạng Việt Nam vẫn hoạt động rất mạnh mẽ. Một trong những lý do ở đây là Đảng không đủ khả năng theo dõi toàn bộ thế giới mạng. Và các cơ quan hữu trách cũng không thể ngăn cản việc các blog ra đời. Một số blogger sử dụng các công cụ chống theo dõi, chẳng hạn như proxy, nhằm duy trì hoạt động của mình. Nhiều người thậm chí còn ngang ngạnh đăng bài với tên thật của mình, hay công khai lên án chiến dịch mà nhà cầm quyền nhằm vào họ. Theo lời của một quản trị viên trang Dân Làm Báo: “Không ai có thể bịt miệng chúng tôi hay ngăn chặn quyền tự do ngôn luận của chúng tôi. Đó là sứ mạng của chúng tôi, chúng tôi sẽ tiếp tục bất chấp tất cả.”

Bản dịch của Defend the Defenders, từ RSF.

———————————————————————

Thân nhân 14 Thanh Niên Công Giáo gặp gỡ đại diện các Đại sứ quán tại Việt Nam

VRNs (14.03.2013) – Hà Nội – Tiếp đón và trò chuyện với các thân nhân của những Thanh Niên Công Giáo là các vị đại diện của Đại sứ quán Úc, Mỹ, Anh, Canada, NaUy và Thụy Sĩ.

Vào lúc 9g ngày 14 tháng 3 tại Đại sứ quán Canada tại Hà Nộ,i địa chỉ số 31 Hùng Vương đã diễn ra cuộc gặp gỡ thân thiện giữa các gia đình và bạn bè của 14 thanh niên Công giáo đang bị chính quyền cộng sản giam giữ với tội danh “lật đổ chính quyền nhân dân” với đại diện của Đại sứ quán Úc, Mỹ, Anh, Canada, NaUy và Thụy Sĩ.

Trong buổi gặp gỡ này các thân nhân của những thanh niên đã có cơ hội được bày tỏ và nói lên những bất công mà chính quyền đã đối xử  với con em họ qua những bản án nặng nề trong phiên tòa ngày 8-9 tháng 1 vừa qua.

Các gia đình đến đây với nguyện vọng các đại sứ quán giúp đỡ các gia đình lên tiếng với chính quyền về vấn đề của con em họ và yêu cầu Việt Nam tôn trọng những gì đã cam kết với quốc tế về vấn đề tự do tôn giáo và nhân quyền.

Họ cho biết chỉ muốn đi tìm Công Lý – Sự Thật. Và sự nỗ lực không ngừng đó là danh sách của 30.000 chữ ký của cả người Việt trong nước và ở nước ngoài lên tiếng cho 14 thanh niên Công Giáo. Bản danh sách đó đã được trao tận tay cho từng vị đại diện các đại sứ quán có mặt hôm nay.

Trong buổi gặp mặt này các vị đại diện cũng tỏ ra quan tâm đến các anh em đang bị giam giữ về tình hình sức khỏe, cũng như tinh thần của các anh em và thái độ của chính quyền Việt Nam đối với những anh em này.

Tất cả các thân nhân đến gặp gỡ hôm nay đều có dịp được chia sẻ về người thân của mình và những khó khăn mà gia đình gặp phải khi các anh bị bắt giữ. Tất cả đều có chung mong muốn chính quyền Việt Nam cần có động thái là thả ngay con em họ, vì con em họ hoàn toàn vô tội.

Như chúng ta đã biết 4 tháng cuối năm 2011 chính quyền đã liên tiếp bắt vô cớ hàng loạt các thanh niên Công giáo và những người anh em đó vừa bị đem ra xét xử lần lượt và bản án cuối cùng được đưa ra hôm 9/1 với các anh em đã bị truyền thông lên tiếng là quá nặng nề và bất công. Những người Thanh Niên Công Giáo này là những người nhiệt tình công việc xã hội, làm từ thiện, tham gia Nhóm Bảo Vệ Sự Sống, giúp đỡ các trẻ em mồ côi… Nhưng hiện tại họ đang bị nhà cầm quyền xét xử và giam giữ với tội danh “lật đổ chính quyền”.

Được biết, chiều nay các gia đình tiếp tục đến Văn phòng chính phủ để gửi bản kiến nghị về vấn đề của con em họ.



Nhận bản danh sách ký tên và trò chuyện với anh Hồ Văn Lực, em trai anh Hồ Đức Hòa


Một số đại diện các Đại sứ Quán tham dự


Trao danh sách kiến nghị


Thân nhân 14 Thanh niên Công giáo và Tin Lành cùng chụp hình với đại diện các ĐSQ tại VN

PV. VRNs tại Hà Nội

Posted in Tự Do ngôn Luận | Leave a Comment »

►HUẾ cô lập NHỮNG NGƯỜI KÝ “KIẾN NGHỊ 72″

Posted by hoangtran204 trên 12/03/2013

HUẾ “PHONG TỎA” NHỮNG NGƯỜI KÝ “KIẾN NGHỊ 72″

Blog của nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo (NTT) có bài này:

NTT: Nhà văn Tô Nhuận Vỹ nguyên tổng biên tập tạp chí Sông Hương, vừa gửi thư cho chúng tôi thông báo một tin lạ. Đề nghị bạn đọc kiểm chứng giùm:

Nguyễn Trọng Tạo, Ngô Minh và Nguyễn Quang Lập thân mến,
Có thông tin này, nhờ các bác, vì có điều kiện (quan hệ) hơn tôi nên kiểm chứng xem thực hư đến mức nào và nếu chính xác thì cần thông tin cho mọi người.

Tin thế này: Cấp tối cao có chỉ thị các loại thông tin truyền thông không được phỏng vấn, tiếp xúc, đưa hình ảnh,bài viết… về (và của) những người (72?) đã ký kiến nghị 7 điểm. Như ở Huế, tôi và Nguyễn Đắc Xuân đã bị “phong tỏa” theo hướng này, thậm chí trong những chương trình, bài viết cũ nếu có tên và hình ảnh chúng tôi đều phải gỡ ra hết. Có anh em bị bắt làm việc này đã than phiền với tôi là quá bực mình và quá… mất thì giờ. Đêm qua TRT (Đài phát thanh và truyền hình Thừa Thiên Huế) giới thiệu về Điềm Phùng Thị là phim mà nhà đài phỏng vấn và quay thực địa về tôi khá nhiều nên khi bị bóc những gì có tôi thì trơ ra chỉ hình bà Điềm và các bức tượng.

————————————————————————————————————————————

►Tưởng niệm 38 năm ngày quần đảo Hoàng Sa rơi vào tay Trung Cộng – Bản Dự Thảo Hiến Pháp của nhóm 72 người

————————————————————————————————————————————

Thua cả ‘giáo Thứ’!

Tuần Việt Nam

vietnamnet.vn

25-10-2012

Từ một chính sách bất cập của ngành giáo dục – vấn đề lương bổng và những chế độ đãi ngộ dành cho nhà giáo, chính là nguyên nhân gây ra nhiều hệ lụy thậm chí là những tiêu cực đáng xấu hổ trong ngành giáo dục hiện nay.

Chuyện xưa

Trước năm 1945, có một thầy giáo tên là Thứ làm nghề dạy học ở một ngôi trường tư thục. Cuộc sống của thầy giáo Thứ thời ấy vô cùng khó khăn, vất vả (thầy giáo Thứ có lần tự nói về mình là “giáo khổ trường tư” vì bị quan lại và bị chủ trường bóc lột).

Tuy cuộc sống nghèo khó vất vả nhưng lương hàng tháng mà thầy giáo Thứ nhận được vẫn có thể nuôi sống vợ con ở quê. Đặc biệt, thầy giáo Thứ vẫn có tiền để thuê và nuôi “một thằng người” ở trong nhà để sai vặt. Thầy không bao giờ phải xách giỏ ra chợ để rồi đi mặc cả từng đồng, từng cắc với mấy bà “hàng rau, hàng cá” vì mọi chuyện đã có thằng người ở lo hết.

Thầy giáo Thứ cũng không phải tìm mối dạy kèm dạy thêm chỗ nọ chỗ kia… Thời gian để làm những chuyện vặt vảnh ấy, thầy giáo Thứ dành hết cho việc đọc sách, nghiên cứu soạn bài dạy học ở trường.

Đáng nói hơn nữa, dù là dạy một ngôi trường tư, quanh năm chẳng thấy có thanh tra Phòng, Sở, Bộ… nào yêu cầu phải dạy thế này, dạy thế kia, giáo án phải soạn làm sao; hàng năm viết “sáng kiến kinh nghiệm”, đăng ký giáo viên dạy giỏi cấp huyện, tỉnh, quốc gia thê nào…

Vậy mà chỉ sau một năm dạy học thầy giáo Thứ đã giúp cho số lượng học sinh đăng kí vào trường của thầy tăng gấp đôi (nhờ “số học trò đỗ bằng tốt nghiệp so với những năm trước tăng vọt hẳn lên”). Vì vậy mà lúc bấy giờ, tuy cuộc sống khó khăn vất vả nhưng trong mắt của người đời và xã hội, những người như thầy giáo Thứ vẫn rất được kính nể, trọng vọng.

Hẳn quý vị sẽ thắc mắc câu chuyện này có thật không? Xin thưa rằng, câu chuyện này là hoàn toàn có thật. Nếu quý vị nào không tin xin về đọc lại tiểu thuyết “Sống mòn” của nhà văn Nam Cao sáng tác trước năm 1945, mà theo nhiều nhà nghiên cứu văn học, thì đó là câu chuyện mang bóng dáng đời tư của chính nhà văn Nam Cao lúc bấy giờ.

Chuyện nay

Một hôm, người viết bài này tình cờ gặp lại đứa học trò cũ. Qua trò chuyện hỏi thăm, mới biết sau gần hai năm ra trường, em mới được trở thành giáo viên chính thức (trước đây chỉ là giáo viên hợp đồng) ở một ngôi trường huyện.

Nhưng chua chát thay, để được làm ông “giáo khổ trường công” ấy, đứa học trò cũ phải mất 45 triệu (lẽ ra là tròn 40 triệu sau nhiều lần thương thảo, cò kè “bớt một thêm hai” với những người có trách nhiệm trong ngành giáo dục địa phương. Nhưng vì phải qua “môi giới” nên phải lót tay trước 5 triệu coi như tiền “cà phê cà pháo”!)

Nhận được quyết định bổ nhiệm của Sở em mừng hết lớn thầy ơi! Kệ, coi như em làm không công một vài năm vậy! Thà vậy còn hơn chứ loay hoay ở ngoài chẳng biết làm gì nuôi vợ con, em oải quá! Cũng may là nhờ bạn bè, người thân nội ngoại hai bên, mỗi người một ít góp vào cho mượn nếu không chắc em… tiêu!

Nghe đứa học trò cũ nói “nhận được quyết định bổ nhiệm của Sở em mừng hết lớn” mà muốn rơi nước mắt. Chợt nhớ lại dịp nhà trường tổ chức phát bằng tốt nghiệp cho sinh viên, lúc lân la hỏi chuyện các em đã xin việc ở đâu chưa (như một lời thăm hỏi trước lúc thầy trò chia tay). Một em nói: Giờ xin việc khó quá thầy ơi! Em rất muốn xin đi dạy học vì đó là ước mơ của em nhưng ở quê em người ta bảo thẳng thừng: Muốn vô phải có vài chục triệu!

Nghe vậy một em khác chen vào: Vậy là may rồi đó thầy, ở quê em ngoài Bắc người ta đòi gần cả trăm triệu!

 

Ảnh minh họa

 

 

 

Thử so sánh…

Những “chuyên gia văn học” khi đánh giá tiểu thuyết “Sống mòn” của Nam Cao cho rằng, qua Sống mòn Nam Cao muốn lên tiếng “tố cáo xã hội” đương thời đã vô lương tâm và thiếu trách nhiệm đẩy những người trí thức (thầy giáo Thứ) vào bi kịch của lối “sống mòn” – lối sống của những kẻ “chết trong lúc đang sống”…

Ở đây, người viết không bàn đến chuyện đúng sai, thuyết phục hay không thuyết phục về những đánh giá này, mà chỉ muốn làm một phép so sánh để mọi người có thể hiểu rõ hơn tình cảnh của đại bộ phần thầy, cô giáo trong xã hội ta hiện nay qua hai câu chuyện trên.

Trong cái nhìn so sánh này, có thể nói, đời sống (cả về “vật chất” lẫn “tinh thần”) của mấy triệu thầy cô giáo ở bậc phổ thông hiện nay ở nước ta vất vả và thảm hại hơn rất nhiều nếu so với thầy giáo Thứ trong tiểu thuyết Sống mòn của Nam Cao trước 1945.

Bởi lẽ: Thứ nhất, các thầy cô giáo hiện nay nếu muốn thỏa mãn cái ước mơ của mình, muốn có công ăn việc làm (để không lãng phí bốn năm trời ngồi trên giảng đường đại học), trước đó họ buộc làm cái điều mà họ không bao giờ ngờ tới, đó là “chung chi” cho những “người có trách nhiệm”?

Dĩ nhiên không phải tất cả các thầy cô giáo đều như thế, nhưng phải thừa nhận đây là vấn đề có thật – một xu hướng chung rất đáng buồn trong xã hội ta hiện nay: Muốn có việc hoặc là nhờ “quen biết” hoặc qua “chung chi” hay còn gọi là “chạy việc”.

Thứ hai, dù tất cả đều biết rất rõ là lương bổng của nghề giáo chỉ “ba cọc ba đồng”, tằn tiện lắm cũng chỉ nuôi sống bản thân (chứ đừng nói gì đến nuôi vợ con hay dư dả hơn là thuê người làm như thầy giáo Thứ trongSống mòn), nhưng người ta vẫn cứ phải bằng mọi cách để chen chân vào.

Có thể nói, bi kịch của các thầy cô giáo chính là ở chỗ này, dù biết con đường phía trước đầy chông gai nhưng vì nhu cầu sinh tồn họ không còn cách lựa chọn nào khác là phải thỏa hiệp với những cái xấu, cái giả dối, cái tiêu cực trong cuộc sống.

Hệ lụy tất yếu

Có thể thấy, với không ít giáo viên ngay từ lúc mới vào nghề đã phải cắn răng mà “chung chi” để có việc làm. Đó là một cú sốc nhưng đồng thời cũng là nguyên nhân làm họ sa ngã, trượt ngã của họ về sau.

Một suy nghĩ, một toan tính đầy thực dụng tất yếu sẽ nảy sinh, một khi họ trở thành giáo viên chính thức, họ sẽ phải hành xử thế nào, để “bù đắp” lại những khoản “chung chi” trước đó cũng như để trang trải cuộc sống, vì lương bổng hàng tháng của nghề giáo quá eo hẹp?

Việc xoay sở để tìm cách dạy thêm hoặc tệ hơn nữa là nhận tiền “bồi dưỡng” từ phụ huynh học sinh cũng là điều tất yếu sẽ xảy ra nếu như họ không đủ dũng khí; không đủ bản lĩnh để từ chối. Những việc ấy, lúc đầu chỉ đơn giản nhằm trang trải cho cuộc sống khó khăn, nhưng sau nhiều lần như thế sẽ trở thành nếp nghĩ, thành thói quen không dễ gì rứt ra được.

Cho nên mới có chuyện, không ít người tuy cuộc sống đã đầy đủ rồi, nhưng vẫn không sao vượt qua sự cám dỗ, là những khoản thù lao béo bở từ buổi dạy thêm tại nhà; vẫn không biết xấu hổ để liên tục nhận tiền “bồi dưỡng” từ phía cha mẹ học sinh.

Đến đây có thể nói, bản thân là giáo viên, là những nhà quản lý giáo dục mà cuộc sống riêng tư “nhếch nhác” như thế thì làm sao các em học sinh tin vào những “những tấm gương sáng”, “những bài học đạo đức”, “bài học làm người” gì đó?

Đây có thể nói là cái hệ lụy đau lòng nhất của chính sách lương bổng và đãi ngộ dành cho giáo viên cũng như xu hướng muốn có việc phải “chung chi” trong ngành giáo dục hiện nay.

Nếu sắp tới đây, ngành giáo dục tiến hành cải cách toàn diện, nhưng không có cái nhìn sâu xa thấu đáo những vấn đề trên, thì việc cải cách này rất có nguy cơ rơi vào cái lối mòn của những lần cải cách trước đó.

Không dừng lại ở đó, làm giáo viên mà suốt ngày phải đầu tắt mặt tối, bất chấp quy định của ngành, bất chấp cái sĩ diện và lòng tự trọng của “cái nghề cao quý” để tìm cách mưu sinh thì thời gian đâu nữa giành cho việc đầu tư nghiên cứu phục vụ giảng dạy?

Trong cuộc sống, thực ra việc rèn luyện tri thức, rèn luyện trí lực của con người cũng giống như rèn luyện thể lực, rèn luyện sức khỏe. Nếu chúng ta không luyện tập thường xuyên thì lâu dần đâu óc, trí não cũng sẽ trở nên chai lỳ, xơ cứng.

Cho nên với nghề giáo, việc mỗi thầy cô giáo phải dành thật nhiều thời gian cho việc đọc sách trau dồi và rèn luyện trí lực là điều rất quan trọng. Vậy mà vì cuộc sống, hoặc vì áp lực sự vụ hành chính trong trường học, ngày nay các thầy cô giáo ở phổ thông gần như không còn thời gian để làm những điều ấy.

Không ít các thầy cô giáo quanh năm chẳng đụng đến một quyển sách, chẳng đọc thêm một quyển sách nào ngoài những tài liệu và những quyển sách giáo khoa mà Bộ GD và ĐT đã ban hành.

Thử hỏi rèn luyện trí lực như thế thì làm sao việc dạy học đạt hiệu quả? Làm sao có thể phản ứng và xử lý tốt các tình huống sư phạm nảy sinh từ phía học sinh do những tác động của cuộc sống xã hội mà ra.

Từ góc nhìn này có thể thấy, tất cả những phong trào mang tính bề nổi mà ngành giáo dục đã và đang phát động như: “Đổi mới phương pháp giảng dạy”, “viết sáng kiến kinh nghiệm”... với ý nghĩ nâng cao hiệu quả và chất lượng dạy học, thực ra chỉ góp phần… gây lãng phí thời gian và tiền bạc của Nhà nước mà thôi.

Vì sao như vậy? Câu trả lời là, suy cho cùng những cái gọi là “phương pháp mới” hay những “sáng kiến kinh nghiệm” gì gì đó, đều trở nên vô nghĩa nếu như cái cái nền tảng kiến thức, tri thức của giáo viên ngay từ đầu đã hỏng, lại không được thường xuyên trau dồi.

Trong dạy học, tuy “phương pháp” là vấn đề rất quan trọng nhưng cái quan trọng hơn vẫn là nền tảng kiến thức, tri thức của người dạy. “Phương pháp” có thể tiếp thu qua một hai buổi tập huấn nhưng kiến thức, tri thức thì phải học tập thường xuyên và lâu dài.

“Phương pháp” và tri thức trong trường hợp này có thể nói, cũng giống như người đầu bếp và miếng thịt mà anh ta chuẩn bị chế biến. Một miếng thịt ngon, không bị ôi thiu, dù cho tay nghề của người đầu bếp có kém đi nữa thì vẫn có thể ăn được.

Còn một khi miếng thịt đã ôi thiu rồi dù là một đầu bếp trứ danh cũng không thể nào thay đổi được miếng thịt đã ôi thiu kia.

Hơn nữa, trong dạy học, bất cứ một “phương pháp” nào nếu không trải qua quá trình cọ xát của tư duy, không làm cho tư duy người học ngày một năng động hơn thì cũng đều không có giá trị.

“Phương pháp” suy cho cùng chính là cách con người ta tư duy về đối tượng, chứ “phương pháp” không phải là là những “kỹ năng”, “kỹ thuật”, những “phương pháp cơ học” như cách nghĩ của không ít nhà quản lý giáo dục hiện nay.

Đó cũng là lý do vì sao thời gian qua, mặc dù ngành giáo dục năm nào cũng tuyên truyền phát động phong trào“đẩy mạnh đổi mới phương pháp dạy học”. Hầu hết các giáo viên phổ thông trên cả nước đều được các “chuyên gia phương pháp” tập huấn, truyền đạt nhiều “phương pháp dạy học mới”.

Đó là chưa kể có hàng trăm công trình, đề tài khoa học, luận án thạc sĩ, tiến sĩ về “đổi mới phương pháp dạy học” ở các viện, trường đại học (với lời nhận xét, đánh xuất sắc) tiêu tốn không biết bao nhiêu thời gian và tiền bạc của Nhà nước, nhưng chất lượng giáo dục phổ thông nói chung vẫn cứ “giẫm chân tại chỗ”!?

Nói điều này để thấy rằng, từ một chính sách bất cập của ngành giáo dục – vấn đề lương bổng và những chế độ đãi ngộ dành cho nhà giáo, chính là nguyên nhân gây ra nhiều hệ lụy thậm chí là những tiêu cực đáng xấu hổ trong ngành giáo dục hiện nay.

Nếu sắp tới đây, ngành giáo dục tiến hành cải cách toàn diện, nhưng không có cái nhìn sâu xa thấu đáo những vấn đề trên, thì việc cải cách này rất có nguy cơ rơi vào cái lối mòn của những lần cải cách trước đó.

Tức là cùng lắm cũng chỉ đề ra được những giải pháp có tính đối phó, “chữa cháy” nhất thời mà thôi. Việc cải cách giáo dục khi ấy sẽ khó mà thành công như mong muốn của toàn xã hội.

Nguyễn Trọng Bình

———————————————————-

Posted in Hiến pháp: sửa đổi 2013 | Leave a Comment »

►Bài phát biểu của Netizen Huỳnh Ngọc Chênh trong buổi trao giải Công Dân Mạng 2013 tại Paris

Posted by hoangtran204 trên 12/03/2013

Bài phát biểu của Netizen Huỳnh Ngọc Chênh trong buổi trao giải Công Dân Mạng 2013 tại Paris

 

 
Netizen Huỳnh Ngọc Chênh và bà Lucie Morillon, giám đốc truyền thông RSF.
Thưa toàn thể Qúy Vị. 
 
Tôi thật sự bất ngờ khi có mặt tại buổi lễ hết sức trân trọng nầy. Vì ở đất nước tôi nhiều quyền tự do được hiến pháp công nhận nhưng vẫn bị nhà cầm quyền tìm cách nầy cách khác hạn chế. Trong vòng 2 năm trở lại đây có khá nhiều blogger không được phép đi ra nước ngoài để du lịch, để chữa bệnh, để dự hội thảo, hoặc để nhận các giải thưởng quốc tế như tôi mà không có lý do. Đó là các blogger Đào Hiếu, Người Buôn Gió, Nguyễn Hoàng Vi, JB Nguyễn Hữu Vinh, Huỳnh Trọng Hiếu, Uyên Vũ, Lê Quốc Quân
 
Do vậy sự có mặt của tôi ở đây là một bất ngờ. Có thể là do uy tín của Tổ chức Phóng viên không biên giới RSF cũng như của tập đoàn Google, là hai tổ chức đã sáng lập và bảo trợ cho giải thưởng cao quý nầy. Và cũng có thể là do những cuộc vận động đấu tranh cho nhân quyền, cho dân chủ ở nước tôi đang diễn ra khá sôi động thông qua việc góp ý sửa đổi hiến pháp đã có những tác dụng nhất định lên giới cầm quyền. 
 
Xin nói thêm về cuộc vận động đấu tranh cho nhân quyền và dân chủ đang diễn ra khá mạnh mẽ ở đất nước tôi. Cách đây ba năm, khi blogger, luật sư Cù Huy Hà Vũ qua các bài viết đề nghị đa đảng để dân chủ hóa, liền bị kết án 7 năm tù, thì nay, khi tôi có mặt ở đây, bên nước tôi đã có nhiều tổ chức với tổng số gần 20 ngàn người ký tên vào các bản kiến nghị yêu cầu xóa bỏ điều bốn trong hiến pháp và yêu cầu đa đảng mà không phải e dè sợ hãi. 
 
Điều gì đã làm nên sự kỳ diệu nầy. Ấy là mạng internet. Mạng internet đã giúp người dân chúng tôi nói lên tiếng nói và nguyện vọng đích thực của họ trong hoàn cảnh tự do ngôn luận bị bóp nghẹt. 
 
Như quý vị đã biết ở đất nước tôi không hề có báo tư nhân, chỉ có cơ quan của nhà nước hoặc của đảng cầm quyền mới được ra báo và lập đài phát thanh – truyền hình. Do vậy 700 cơ quan báo đài đều nằm dưới quyền kiểm soát của những đảng viên CS tin cậy. Thông tin đăng tải trên các cơ quan báo đài ấy đi theo định hướng của đảng cầm quyền. Tiếng nói và nguyện vọng của nhiều người dân vì thế mà không có nơi để xuất hiện. 
 
May thay mạng internet xuất hiện và các blogger ra đời. Ban đầu các blogger tiên phong tuy còn rất ít ỏi nhưng họ là những mũi kim nhọn đâm những lỗ thủng đầu tiên vào bức màng bưng bít thông tin ở đất nước tôi. Và nhiều người trong số họ phải trả giá cho sự dũng cảm ấy, họ đã và đang bị ngồi trong nhà tù, trong trại cải tạo, bị quản thúc và thậm chí bị cưỡng bức vào nhà thương điên nữa. Đó là các blogger và các nhà đấu tranh dân chủ ôn hòa: Thích Quảng Độ, Nguyễn Văn Lý, Nguyễn Đan Quế, Phạm Bá Hải, Nguyễn Văn Đài, Hà sỹ Phu, Bùi Minh Quốc, Tiêu Dao Bảo cự, Cù Huy Hà Vũ, Đỗ thị Minh Hạnh, Bùi thị Minh Hằng, Phạm Thanh Nghiên, Tạ Phong Tần, Điếu cày Nguyễn Văn Hải, Phan Thanh Hải, Phạm Minh Hoàng, Lê Công Định, Trần Huỳnh Duy Thức, Nguyễn Tiến Trung, Lê Thăng Long, Trần Anh Kim, Nhạc sỹ Việt Khang, Trần Vũ Anh Bình, Lê Anh Hùng,… Và lớp trẻ sau nầy nhưNguyễn Phương Uyên, Paul Lê Sơn và nhóm thanh niên công giáo ở Vinh… 
 
Những hy sinh ấy đã không uổng công. Ngày nay những blogger và những người đấu tranh cho dân chủ đã phát triển lên thành một lực lượng lớn mạnh và rộng khắp mà nhà cầm quyền không thể nào ngăn cản nổi. Hai vạn chữ ký và sẽ còn nhiều hơn nữa đòi xóa bỏ điều bốn đã nói lên điều đó. Hàng trăm trang blog cổ xúy cho đổi mới, cổ xúy tự do ngôn luận, cổ xúy dân chủ thu hút lượng người đọc khổng lồ và kết nối với nhau thành một hệ thống báo chí mà chúng tôi gọi là báo lề dân, tồn tại lớn mạnh song song bên cạnh hệ thống báo chí do nhà nước kiểm soát được gọi là báo lề đảng. 
 
Trong cái nền vững vàng ấy tôi được phát triển lên. Những lá phiếu từ khắp nơi trên thế giới bầu cho tôi để tôi trở thành công dân mạng chính là những lá phiếu dành cho phong trào đấu tranh cho quyền công dân trong đó có quyền tự do ngôn luận đang lớn mạnh lên hàng ngày trên đất nước chúng tôi. 
 
Xin dành vinh quang nầy cho những người đi tiên phong đã và đang bị trả giá trong nhà tù và cho tất cả những người bạn đồng hành của tôi đã giúp đỡ và tạo đà cho tôi. 
 
– Để nhận được giải thưởng cao quý nầy, tôi đã nhận được sự ủng hộ của các blogger, các bạn trẻ yêu nước tại VN cũng như các bạn khác tại hải ngoại. Những lá phiếu các bạn dành cho tôi chính là những lá phiếu góp phần động viên một phong trào đang vươn lên lớn mạnh ở VN, phong trào của những người viết báo tự do, những người sẵn sàng đối đầu với những khó khăn để đấu tranh cho quyền tự do ngôn luận chính đáng. Cám ơn các cơ quan truyền thông như VOA, BBC, RFI, RFA, SBTN…đã tích cực đưa tin và viết bài về tôi cũng như về sự kiện bầu chọn công dân mạng, nhờ vậy mà giải thưởng lần nầy đã gây ra tiếng vang rộng lớn tạo ra nguồn động viên to lớn cho phong trào đấu tranh cho sự tiến bộ ở trong nước tôi. 
 
– Riêng với cá nhân tôi, từ khi nhận được giải thưởng cao quý nầy tôi đã cảm nhận được sự tin yêu của bạn đọc khắp nơi dành cho blog huỳnh ngọc chênh của tôi. Sau khi được tin tôi trúng giải thưởng netizen, số lượt người vào đọc hàng ngày tăng từ 15 ngàn lên 20, có khi 25 ngàn lượt . 
 
– Cám ơn tập đoàn Google, tập đoàn về mạng to lớn, phủ khắp toan cầu, là kho tri thức khổng lồ mà những người viết báo chúng tôi luôn cần đến. Thật xứng đáng khi Google đã kết hợp với RSF tổ chức ra giải thưởng cao quý nầy để hàng năm trao cho những người hoạt động vì sự tự do báo chí trên toàn cầu thông qua hệ thống mạng internet. 
 
– Xin chân thành cám ơn tổ chức RSF, đã có mạng lưới rộng lớn trên toàn thế giới, là chỗ dựa quan trọng cho những người cầm bút tự do, nhất là những nhà báo trong những đất nước bị bóp nghẹt tự do ngôn luận. Giải RSF là nguồn động viên to lớn cho những blogger ấy. 
 
– Cám ơn bà bộ trưởng truyền thông Pháp Fleur Pellerin người đại diện cho chính quyền Pháp có mặt tại buồi lễ nầy. Sự có mặt của bà là một vinh dự rất lớn cho buổi lễ. Chúc bà sức khỏe. Chúc nước Pháp mãi mãi là ngọn cờ đi đầu trong việc đấu tranh cho quyền của con người. 
 
Paris, 12/3/2013 
 
Huỳnh Ngọc Chênh (Defend the Defenders
 
 
——————————————————–

NETIZEN HUYNH NGOC CHENH’S REMARKS TO THE RSF’S AWARD CEREMONY ON MAR 12, 2013

Translated by Me Nam (Defend the Defenders)

Translated by Me Nam (Defend the Defenders 

Ladies and gentlemen, 

It is a surprise and a pleasure to be here at this honorable ceremony today, just because, in my country, many rights are recognized under the constitution but the authorities have restricted them by all means. Over the past two years, many bloggers have not allowed to travel abroad for tourism, health cares, conferences or receiving the international prizes, like myself, without any proper reason. They are blogger Dao Hieu, Nguoi Buon Gio, Nguyen Hoang Vi, JB Nguyen Huu Vinh, Huynh Trong Hieu, Uyen Vu, Le Quoc Quan… 

Therefore it is a big surprise for me to be here. Perhaps, its reason may be the prestige of RSF and Google Inc. who are the founder and the sponsor of this worthy award. And also it may be the lively outcome of campaigns for human rights and democracy in my country as the result of petitioning amendments of the constitution, which has had a certain effect on the authorities. 

By the way, I would like to say more about the campaign for democracy and human rights which has been happening actively in my country. Three years ago, blogger and lawyer Cu Huy Ha Vu wrote articles to call for a multi-party system to democratize, he soon was sentenced up to 7 years in prison. Nowadays, I am here to witness a number of organizations with nearly twenty thousands of signatories in the petition calling for abolishing Article 4 of the constitution and pluralism, multi-party system without such fear. 

What has made this magic thing? it is the internet. Internet network helps our people raising our concerns and real aspiration in the circumstance of freedom of expression is stifled. 

As you know, there is non-existence of private press, only the organs of the state or of the party who can make publications and establish radio or television stations. So 700 media agencies are under the control of reliable Communists. The information on such media reflects the guideline of the ruling party. The voice and aspiration of people have no place to express. Fortunately, internet is born. 

There are only a few bloggers at first, but they are the sharp needles to pierce the curtain of information suppression in Vietnam. Many people among them had paid a price for such bravery. They have been behind the bars, in re-education camps, under administrative probation or even forced to the mental centers. They are Thích Quảng Độ, Nguyễn Văn Lý, Nguyễn Đan Quế, Phạm Bá Hải, Nguyễn Văn Đài, Hà sỹ Phu, Bùi Minh Quốc, Tiêu Dao Bảo Cự, Cù huy Hà Vũ, Đỗ thị Minh Hạnh, Bùi thị Minh Hằng, Phạm Thanh Nghiên, Tạ Phong Tần, Điếu cày Nguyễn Văn Hải, Phan Thanh Hải, Phạm Minh Hoàng, Lê Công Định, Trần Huỳnh Duy Thức, Nguyễn Tiến Trung, Lê Thăng Long, Trần Anh Kim, Nhạc sỹ Việt Khang, Trần Vũ Anh Bình, Lê Anh Hùng… 

Their sacrifice is not a waste of effort. At the present, bloggers and pro-democracy activists have developed to a strong force nationwide that the authorities can no longer hold back. It is evident that there is twenty thousands of signatories to call for elimination of the said Article 4. Hundreds of websites, blogs are promoting reform, freedom of expression, democracy, which have been attracting an uncountable number of readers, linking to form a media network called as the people-oriented newspapers (bao le dan), which co-exists parallelly with the state-run media called the party-oriented newspapers (bao le dang). 
 
In that concrete sphere I am given strength. The votes from around the world that you cast for me are the votes for the movement of struggle for civil rights, including freedom of expression that is increasingly developing. 
 
Please offer this honor to the pioneers who have been paying their price in prisons and to all my colleagues who have helped and supported me. 
 
In order to win over this worthy prize, I have received the support of bloggers, patriotic youths in Vietnam and overseas. The votes you cast for me are the votes contributed to encourage for a growing movement – a movement of independent journalists, who are ready to confront with difficulties to gain the justified right to freedom of expression. Thanks to communication media such as VOA, BBC, RFA, FRI, SBTN, etc. They have actively made media attention about me and voting for Netizen. It triggered an good effect on the movement to progress in my country. 
 
Personally when receiving the honorable award, I have felt the love and the trust that readers placed on my blog. The daily total number of readers increased from fifteen thousands to twenty even twenty five thousands. 
 
Thanks to Google Inc. who owns a huge networks around the world. Google now is a great stock of knowledge that news providers like us always need when typing on the keyboard to write articles. It deserves to Google together with RSF organizing the annual award for those who operates online journalism. 
 
Sincere thanks to RSF, who has a vast network all over the world, is a very important base for free bloggers like us to more easily cope with numerous dangers. The RSF’s Netizen award is a great encouragement for bloggers in countries with limited freedom of speech as our country. 
 
Deep thanks to FRANCE’S digital economy minister Fleur Pellerin, the representative of French government is present here at this award ceremony. Your presence is an honor to the ceremony. I wish you good health! Wish France always being a leading flag in struggle for human rights! 
 
Paris, Mar 12, 2013 – Huynh Ngoc Chenh
 

Posted in ►Chiến Tranh mạng giữa Blogger VN và Đảng CSVN | Leave a Comment »

►Chúc Mừng Sinh Nhật Đỗ thị Minh Hạnh 13-3, một bông hoa đẹp của đất nước

Posted by hoangtran204 trên 12/03/2013

Trang anhbasam đã bị phá, các bạn đọc có thể đọc ở đây:

http://anhbasamvn.wordpress.com/

——

13-3, Ngày sinh một bông hoa đẹp của đất

nước: Đỗ Thị Minh Hạnh

Lê Thăng Long

Kính gửi: BBT báo Dân Luận

Tôi xin được gửi đến BBT báo Dân Luận bài viết dưới đây để kỷ niệm ngày sinh của một cô gái đang bị tù đày tại Việt Nam vì đấu tranh cho công nhân, cho quyền con người, cho dân chủ, thịnh vượng và văn minh của đất nước. Cô ấy chính là Đỗ Thị Minh Hạnh.

Rất mong BBT báo Dân Luận đăng bài này để kỷ niệm ngày sinh của một bông hoa đẹp của đất nước.

Xin chân thành cảm ơn BBT báo Dân Luận.

Lê Thăng Long, Phong trào Con đường Việt Nam.

NGÀY SINH MỘT BÔNG HOA ĐẸP CỦA ĐẤT NƯỚC

Từ đầu năm đến giờ phong trào đấu tranh cho quyền con người và dân chủ của Việt Nam đã tạo nên được những dấu ấn quan trọng nhờ hình ảnh rất đẹp của những người phụ nữ. Đầu tiên là Huỳnh Thục Vy đoạt giải Hellman Hammet. Kế đến là Tạ Phong Tần được vinh danh là Phụ nữ Quốc tế Can đảm. Và Nguyễn Hoàng Vi trở thành 1 trong 7 phụ nữ tiêu biểu của thế giới về bảo vệ quyền tự do ngôn luận. Những bước tiến của quá trình dân chủ Việt Nam có rất nhiều dấu chân quan trọng của phái yếu nhưng rất kiên cường của tổ quốc. Từ lúc ban đầu còn ít ỏi như Lê Thị Công Nhân, Phạm Thanh Nghiên đến nay họ đã trở thành một lực lượng hùng hậu có mặt ở mọi lĩnh vực và ngóc ngách của cuộc sống. Họ thật đẹp, cả thể chất lẫn tâm hồn.

dominhhanh-321x550.jpg

Đỗ Thị Minh Hạnh

Hôm nay, 13 tháng 3 là sinh nhật thứ 28 của cô bé Đỗ Thị Minh Hạnh. Cũng là sinh nhật thứ 3 của cô bé ở trong tù. Tôi vẫn quen gọi Hạnh là cô bé dù bản lĩnh và sự phi thường của cô chẳng bé chút nào. Những hình ảnh của một cô bé hồn nhiên, trong sáng của Hạnh vẫn đọng lại mãi trong tôi ngay từ những ngày đầu quen biết Hạnh. Khoảng cuối tháng 2/2010, sau khi vừa nhận bản án sơ thẩm 5 năm tù vì tội “lật đổ chính quyền nhân dân” cùng với anh Thức, anh Định và bạn Tiến Trung, tôi đang mong mỏi muốn biết tình hình liên quan về phản ứng của dư luận sau vụ xét xử chúng tôi thì Hạnh xuất hiện như một người đưa tin “bất đắc dĩ”. Ngay sau Tết Canh Dần 2010 Hạnh bị bắt cùng với hai người bạn nữa là Nguyễn Hoàng Quốc Hùng và Đoàn Huy Chương cũng vì “tội xâm phạm an ninh quốc gia”. Cả ba đều bị tạm giam điều tra tại B34 (Nguyễn Trãi, Q1, Tp.HCM) như anh Thức, anh Định, Trung và tôi.

Hạnh ở phòng 16, tôi phòng 18 cùng dưới đất. Phòng Hạnh có 2 người, ở chung với một chị bị kết án ma túy. Hạnh hay hát, nhiều bài khác nhau. Nhưng tôi còn nhớ nhất là bài Tự nguyện: “Nếu là chim tôi sẽ là loài bồ câu trắng.… Là người tôi sẽ chết cho quê hương“. Tôi và Hạnh thường nói chuyện từ xa với nhau mà không nhìn thấy mặt (từ lóng trong tù gọi là be). Hạnh cho tôi biết dư luận trong nước và phản ứng quốc tế sau phiên tòa sơ thẩm (vào ngày 20/1/2010) của chúng tôi. Trong đó có nhắc đến Ngoại trưởng Mỹ Clinton và các Dân biểu, Nghị sĩ Quốc hội Mỹ chính thức lên tiếng phản đối gay gắt. Rồi các bạn, các lực lượng dân chủ trong nước lên tiếng kêu gọi biểu tình bảo vệ chủ quyền của đất nước, bảo vệ quyền lợi của công nhân, chống độc quyền chính trị. Hạnh nói: “Chúng em và mọi người phải tiếp tục hành động để họ biết rằng luôn còn có những người nối tiếp các anh, phong trào dân chủ hoàn toàn không bị dập tắt như họ tuyên truyền.” Hạnh kể lại câu chuyện đấu tranh cho công nhân nhà máy giày Mỹ Phong ở Trà Vinh và dẫn đến bị bắt như thế nào. Giới chủ nhà máy bóc lột, đánh đập và chửi bới công nhân thậm tệ ra sao. Nhưng công đoàn quốc doanh không lên tiếng bảo vệ họ mà lại bênh vực giới chủ nước ngoài.

Cùng hoạt động và bị bắt chung với Hạnh có Nguyễn Hoàng Quốc Hùng và Đoàn Huy Chương. Chương bị bắt trước mấy ngày và ở phòng 13, cách xa phòng Hạnh nên không thể “be” được với nhau. Tôi trở thành người liên lạc cho hai bạn, chia sẻ những thông tin hạn chế mà hai bạn có thể nói công khai với nhau. Tôi cũng chia sẻ kinh nghiệm đấu tranh với bên điều tra để bảo vệ lẽ phải của mình với hai bạn trẻ này và động viên các bạn hãy giữ vững tinh thần. Khi bị đi điều tra về Hạnh có lần hơi lo lắng nói rằng họ có bằng chứng tụi em nhận tiền của các anh chị hải ngoại. Họ buộc tội là nhận tiền như vậy nên làm theo xúi giục của nước ngoài, là có ý đồ xấu nhằm phá hoại đất nước. Tôi cùng phân tích với Hạnh và Chương rõ là cáo buộc đó là vô lý và vô luật. Các em hoàn toàn có thể vận động sự ủng hộ từ bất cứ ai, vì mục đích tốt đẹp của các em để đấu tranh cho công nhân, vì công lý. Đó không hề là việc sai trái và phạm pháp. Họ biết đây là một sức mạnh liên kết “nguy hiểm” với họ nên dùng mọi thủ đoạn để làm người dân định kiến đó là phạm pháp và phản động. Từ đó sợ hãi và đánh mất thế mạnh của mình. Sau đó khoảng vài tuần tôi bị chuyển lên lầu 1, phòng 15 thì không còn nói chuyện được với Hạnh. Nhưng vẫn còn nghe tiếng hát của cô bé vang vọng rất thường xuyên.

Sau khi trải qua phiên tòa phúc thẩm (11/5/2010), tôi bị chuyển tiếp lên lầu 2, phòng 11. Đi ngang qua phòng 15 cùng tầng tôi thấy một thanh niên to cao, đẹp trai. Tôi hỏi có phải là Hùng không. Bạn trả lời đúng là Hùng. Trước đó, tôi được Hạnh và Chương cho biết còn có Hùng bị bắt, có lẽ ở phía trên và nhờ tôi nếu có lên trên thì nhắn với Hùng là Hạnh và Chương giữ vững chí khí đến cùng. Tôi đã chuyển lời giúp các bạn. Sau này khi gặp lại Hùng và Chương ở Xuân Lộc, tôi đã rất mừng vì cả 3 bạn đều đồng lòng cương quyết không nhận tội và giữ chí khí đến cùng trong cả 2 phiên tòa. Tháng 7 năm 2011 anh Thức và tôi gặp lại Hùng và Chương vừa được chuyển từ trại giam Phước Hòa (Đồng Tháp) tới khu cách ly tại K1 Xuân Lộc. Lúc này Hùng đã gầy đi nhiều. Nhưng tôi vẫn nhận ngay ra 2 bạn qua giọng nói.

Hạnh hát hay lắm, giọng rất ngọt ngào và ẩn chứa một tâm hồn trong sáng, lạc quan. Nếu không có sự chuẩn bị tinh thần trước từ lâu là sẽ vào tù thì không ai có thể có được một tâm trạng yêu đời để mà hát được suốt ngày ngay từ lúc vừa bị bắt như Hạnh được. Hơn nữa còn phải có một ý chí mãnh liệt như thế nào người ta mới toát ra được một cái hồn lạc quan và tự tin trong giọng hát. Lúc bị bắt Hạnh chưa tròn 25 tuổi, nhưng cô bé đã dấn thân đấu tranh vì quyền con người đã từ hơn 5 năm trước. Giữa cuối năm 2011, khi ở chung với Hùng và Chương tại trại giam Xuân Lộc, tôi được nghe kể nhiều hơn về Hạnh và cảm thấy càng thán phục cô bé.

Hạnh sinh ra trong một gia đình trung nông ở Đà Lạt. Từ nhỏ đã có năng khiếu ca hát và đạt nhiều giải thi tiếng hát thiếu niên. Cũng tham gia đoàn TNCS nhưng Hạnh sớm nhận ra những nghịch lý và sự thiếu chân thật trong những lý tưởng và hoạt động của đoàn.

Hạnh nhận thấy xã hội đang tạo ra nhiều bất công nhưng các công tác đoàn chỉ chủ yếu nhằm xoa dịu nỗi đau và sự phẫn nộ của người dân đối với những bất công đó, chứ không nhằm để xóa bỏ bất công và căn nguyên của nó.

Hạnh cho rằng Đảng dùng Đoàn để che mắt nhân dân để nhân dân không thấy được chính Đảng tạo ra bất công và áp bức. Chưa đầy 20 tuổi mà cô bé đã nhận thức được như vậy và từ bỏ Đoàn để dấn thân vào một cuộc đấu tranh vì sự công bằng.

Hùng kể rằng lúc đầu chỉ có một mình, khi chứng kiến những trái ngang và cường quyền, bức xúc quá cô bé bộc phát tự  in ra những gì mình viết để phản đối những sai trái đó rồi tự mình lên xe buýt phát cho mọi người.

Những thôi thúc về dân chủ, công bằng khiến cô bé lên mạng tìm hiểu về những điều này và những người đang đấu tranh vì những điều đó. Từ đó Hạnh quen biết với những nhà hoạt động dân chủ như tiến sĩ Nguyễn Thanh Giang, nhà văn Dương Thu Hương, v.v…

Năm 2005, cô bé một thân một mình ra Hà Nội, trên những chuyến xe giá rẻ để gặp những nhà hoạt động đó. Vì vậy mà Hạnh đã bị câu lưu ở đó và buộc gia đình phải ra bảo lãnh với cam kết không được tái phạm gặp “các phần tử phản động”.

Nhưng đó là một chuyến đi và cột mốc đã làm cho Hạnh hiểu sâu sắc hơn về dân chủ và con đường đấu tranh cho nó. Từ đó cô bé đã dấn thân đầy bản lĩnh và kiên cường vì công bằng và những quyền con người cơ bản cho công nhân Việt Nam. Cuộc dấn thân đó đã mang đến cho Hạnh bản án 7 năm tù giam nhưng cũng nhờ vậy mà đã tạo nên cho phong trào đấu tranh vì công nhân Việt Nam một hình ảnh biểu tượng thật giá trị. Một cô gái trẻ với vóc dáng nhỏ nhắn, xinh xắn lại sở hữu một ý chí to lớn đấu tranh vì người khác và bất khuất trước cường quyền.

Trước khi trợ giúp cho các công nhân nhà máy Mỹ Phong (tỉnh Trà Vinh) đình công bảo vệ quyền lợi và danh dự của mình – sự kiện đã dẫn đến bản án dành cho Hùng, Hạnh và Chương  – Hạnh đã có rất nhiều những hoạt động đấu tranh vì yêu nước.

Vào lúc giới trí thức phản đối việc khai thác bauxite Tây Nguyên đầu năm 2009. Hạnh cùng Hùng lặn lội lên tận những vùng núi non hiểm trở của Tây Nguyên để chụp ảnh thực địa của vùng đất này rồi đưa lên mạng giới thiệu, vận động công chúng ký tên vào lời kêu gọi của giới trí thức đòi chính phủ phải ngừng chủ trương đầy tai họa này.

Như một duyên số, dù xuất thân từ gia đình nông dân Hạnh lại rất gắn bó và thấu cảm với cuộc sống của những người công nhân và đấu tranh vì quyền lợi và nhân phẩm của họ. Nhưng Hạnh đã bị cáo buộc và cầm tù vì những việc làm chính nghĩa và nhân văn như vậy. Cáo trạng và bản án kết tội Hùng, Hạnh, Chương nói rằng các bạn đã lợi dụng sự thiếu hiểu biết của công nhân để xách động gây rối an ninh và phá hoại môi trường thu hút đầu tư nước ngoài ở Việt Nam! 

Khi còn ở chung với Hùng và Chương ở Xuân Lộc, đọc những dòng cáo buộc nói trên tôi cứ thấy lòng trĩu nặng. Công nông một giai cấp tiên phong, có độc quyền lãnh đạo nhà nước và xã hội mà đảng CSVN tự nhận là đại diện duy nhất của giai cấp đó, lại bị chính những người đại diện của mình hạ thấp thành những người thiếu hiểu biết dù đã được Đảng rèn luyện hơn 80 năm rồi. Trong khi những kẻ đại diện đó tự xưng mình là đỉnh cao trí tuệ.

Càng trĩu nặng hơn nữa khi nghe Hùng và Chương kể rằng sau khi xảy ra vụ đình công tại nhà máy giày Mỹ Phong (tỉnh Trà Vinh) nói trên, giới chủ của nhà máy người Đài Loan – Trung Quốc gọi những nữ công nhân ở đó đến và chửi rằng “Không có bọn tao thì chúng mày đã phải đi làm đĩ hết. Thế mà còn không biết ơn, lại còn đình công”.

Hùng kể rằng nghe câu đó Hạnh đã phải rất cố gắng để nước mắt không trào ra, để giữ bình tĩnh mà trợ giúp cho các nữ công nhân sáng suốt tiếp tục cuộc đấu tranh của mình. Điều đáng nói là khi mà giới chủ nhà máy đã sắp phải nhượng bộ trước yêu cầu chính đáng của công nhân Mỹ Phong là phải xin lỗi, tăng lương và cải thiện điều kiện làm việc thì an ninh Việt Nam xuất hiện.

Thế là Cuộc đấu tranh bảo vệ quyền lợi và nhân phẩm công nhân mà đáng lẽ đảng CSVN phải đứng ra lãnh đạo lại bị chụp cho cái mũ “phá rối an ninh” xâm phạm an ninh quốc gia theo điều luật 89 bộ luật hình sự.

Và, Những nhà hoạt động vì công nhân Hùng, Hạnh, Chương bị biến thành tội phạm. Các nữ công nhân Mỹ Phong bị biến thành tòng phạm, muốn không bị truy tố thì phải viết đơn tự nhận mình là kẻ thiếu hiểu biết để cho những kẻ xấu phản động lợi dụng, và xin được hưởng khoan hồng. Hơn nữa phải đồng ý đứng ra làm chứng để chống lại những người đã trợ giúp mình bảo vệ quyền lợi và nhân phẩm của mình.

An ninh Việt Nam lại chứng tỏ “sức mạnh” của mình và ghi nhận thêm thành tích “bảo vệ đất nước”. Ba năm sau thì có lẽ không thể không ghi nhận thêm vào thành tích đó về sự  suy giảm nghiêm trọng đầu tư nước ngoài, giới chủ trốn về nước để lại những khoản nợ lương, nợ ngân hàng và tình trạng thất nghiệp cơ nhỡ của hàng triệu công nhân Việt Nam.

Cô bé Đỗ Thị Minh Hạnh đã ở tù hơn 3 năm. Theo như gia đình thì cô bị ngược đãi nặng nề đến mức bị điếc một bên tai. Nhưng Hạnh vẫn giữ vững tinh thần và khí tiết để khích lệ cho bao nhiêu bạn trẻ tiếp bước con đường đấu tranh giành lại quyền con người và sự bình đẳng.

Vừa rồi tôi đọc được tin Nhóm Công tác Chống cầm tù Tùy Tiện của Liên Hợp Quốc (WGAD) đã ra phán quyết rằng: việc bắt giữ và kết án Hùng, Hạnh, Chương là tùy tiện và vi phạm luật pháp quốc tế, WGAD yêu cầu trả tự do ngay vô điều kiện cho 3 bạn trẻ này và bồi thường cho họ, tôi vui mừng vô hạn. Tôi cũng được biết Ủy ban bảo vệ người lao động ở Ba Lan cùng với luật sư Lâm Chấn Thao và Freedom Now đang tiếp tục đấu tranh để lấy lại tự do cho các bạn, tôi dâng tràn hy vọng và sẽ tiếp sức cho cuộc đấu tranh này một cách quyết liệt.

Hôm nay sinh nhật Hạnh, tôi nghĩ sao chúng ta – những người đang cùng nhau đấu tranh vì quyền con người, vì tự do và nhân phẩm – lại không cùng nhau tạo nên những giải thưởng để vinh danh những người phụ nữ trẻ Việt Nam đã dũng cảm dấn thân và hy sinh cho mục tiêu cao cả đó?

Lịch sử dân tộc ta luôn có sự đóng góp tiên phong và quan trọng của phái đẹp. Một giải thưởng như vậy sẽ ghi dấu một cột mốc ý nghĩa trước thềm vận hội mới dân chủ và thịnh vượng của đất nước Việt Nam.

Tôi viết bài này ngoài lòng mến mộ của mình đối với cô bé Hạnh, còn vì một lời nhắn gửi của Nguyễn Hoàng Quốc Hùng khi chia tay tôi hết án tù chuẩn bị về trong vòng quản chế. Hôm chia tay, Hùng đã nói về ngày sinh nhật Hạnh và nhờ tôi tặng cho cô bé một món quà.

Chúc mừng sinh nhật Đỗ Thị Minh Hạnh – một bông hoa rất đẹp của đất nước. Chúc cô bé luôn khỏe và sẽ sớm trở về trong vòng tay gia đình, bè bạn và tổ quốc thân yêu.

Lê Thăng Long

13/3/2013

———————-

Ý kiến đọc giả :

*NJ  gửi lúc 13:42, 12/03/2013 – mã số 81512

Chúc mừng sinh nhật cháu Hạnh. Một bông hoa đẹp của Việt Nam.

Mong cháu có nhiều sức khỏe và được sớm ra tù.

Nguyễn Jung

*Phan gửi lúc 15:06, 12/03/2013 – mã số 81517 

Chúc mừng sinh nhật em, cô gái nhỏ có trái tim lớn!

*Phiên Ngung  gửi lúc 15:46, 12/03/2013 – mã số 81519
Tác giả viết:

Khi bị đi điều tra về Hạnh có lần hơi lo lắng nói rằng họ có bằng chứng tụi em nhận tiền của các anh chị hải ngoại. Họ buộc tội là nhận tiền như vậy nên làm theo xúi giục của nước ngoài, là có ý đồ xấu nhằm phá hoại đất nước.

Chắc họ nhớ lại việc Lý Thụy khi xưa nhận tiền của Quốc tế Cộng sản Liên xô để mang chế độ khát máu cộng sản về làm hại quê hương nên bây giờ họ nghĩ ai nhận tiền từ bên ngoài đều khốn nạn như thế.

Mà Lý Thụy nhận tiền của Nga, Tàu nên đến chết chỉ muốn về với Mác là Lê chứ còn cô Hạnh nhận tiền của các tổ chức giúp công nhân Việt nam bị bóc lột ở trong nước thì khác nhau xa lắm. Một bên tận tụy suốt đời để làm tôi tớ cho ngoại bang. Còn Hạnh và các bạn chỉ là những người trẻ tuổi muốn giúp đồng bào đang vị bóc lột tại quê hương mà chính quyền công nông hiện nay chẳng làm gì để bảo vệ họ.

*Van Lang  gửi lúc 18:49, 12/03/2013 – mã số 81530

Cố gắng lên Hạnh nhá. Sự hy sinh của Hạnh và các bạn không vô ích đâu. Chính những sự hy sinh ấy đã đẩy bọn thống trị CS càng lúc càng sâu vào thế bị động trong cuộc đấu tranh dân chủ của đất nước và dân tộc này. Sự bất lực của nó thời gian qua thể hiện rất rõ qua những cuộc đàn áp rất phi nhân và bẩn thỉu, cũng như qua những lần nói dối quanh co chỉ để che đậy tội ác bằng báo chí truyền thông.

Người VN đã bắt đầu thức tỉnh, chẳng phải riêng vì từ lâu tập đoàn CSVN đã không còn chính nghĩa, mà cũng chính là vì dân chủ đã trở thành một phần của hệ thống toàn cầu. Chuyến tàu dân chủ dù đã chuyển bánh nhưng vẫn chưa muộn cho người VN, và chúng ta vẫn còn có thể bắt kịp con tàu ấy. Đấy là cơ hội để chúng ta thoát ra khỏi bàn tay phù phép của Bắc Kinh, và đó cũng là cơ hội còn lại duy nhất cho người VN hoà hợp đoàn kết sức mạnh để bảo vệ chủ quyền đất nước mình. Trên chuyến tàu ấy sẽ không có chỗ bọn tay sai Bắc Kinh như Nguyễn Chì Vịnh lảm nhảm hồ đồ, sẽ không có chỗ cho những gả như Nguyễn Phú Trọng lù lẩn đàm đoán về “suy thoái đạo đức”, một thứ đạo đức ma qủy đã đưa cả đất nước và dân tộc này đi hết từ đớn đau này đến bi thương khác.

Tôi nhớ năm xưa người ta rất huyênh hoang kể chiến công về “nữ biệt động Võ Thị Thắng”. Nhưng theo tôi Võ Thị Thắng cũng chỉ là một cỗ máy của chế độ sản xuất ra để phục vụ cho việc đánh phá giết người. Sau lưng cỗ máy Võ Thị Thắng thời ấy cũng là một hệ thống đánh phá giết người chẳng khác gì những tay khủng bố hồi giáo cực đoan ngày nay.

Còn Hạnh thì khác, Hạnh đấu tranh bằng chính nhận thức và lòng nhân bản của mình. Rất đơn giản, vì Hạnh là một CON NGƯỜI.

Chúc Hạnh vạn sự bình an.

————————————————

Các Bài Liên Quan:

 Mẹ của Đỗ Thị Kim Hạnh  ►Đi khắp Châu Âu kêu cứu cho con

►Thực trạng đời sống của công nhân Việt Nam: An Cư chẳng có, Lạc Nghiệp cũng không

►Đời sống công nhân nữ tại các khu công nghiệp, khu chế xuất…

*Các bạn có thể đọc toàn bộ các bài về công nhân VN  trong chủ đề:

https://hoangtran204.wordpress.com/category/cong-nhan-viet-nam/

—————————————————

Rất nhiều blogger đã có những bài viết và thơ mừng sinh nhật Đỗ Thị Kim Hạnh.

Sinh nhật Đỗ Thị Minh Hạnh

Người con gái Việt Nam lên đường. Hát bài ca nhân ái. Phẫn nộ nhưng không hận thù. Hiền hòa nhưng dũng cảm. Chông gai nhưng không khiếp nhược. Thất bại nhưng không sờn lòng. Đỗ Thị Minh Hạnh. Vẫn luôn ở đó ánh mắt sáng trong, và  nụ cười đằm thắm. 

 

Mừng sinh nhật Đỗ Thị Minh Hạnh và chúc Hạnh luôn tìm thấy bình an trong chốn ngục tù.

—————————–

Vinh Danh những nữ anh hùng – Revised By Oan Khiên

Gửi bao nữ sĩ anh hùng
Đeo còng số tám đứng cùng nhân dân
Chông gai chẳng chút ngại ngần
Hy sinh tất cả khi cần vì dân
Đó là Lê Thị Công Nhân
Là nàng chiến sĩ Phong Tần trung kiên
Là Minh Hạnh, là Thanh Nghiên
Những bông hoa nở triền miên thần kỳ
Huỳnh Thục Vy thật diệu kỳ
Phương Uyên yêu nước xá gì tuổi xuân
Hoàng Vi vì nước xả thân
Minh Hằng chống giặc đôi chân chẳng sờn
Quá đau thương hóa căm hờn
Những người phụ nữ mang hồn nước non
Quê hương có những người con
Như ngàn hoa nhỏ tô son đất trời
Mừng sinh nhật Hạnh đôi lời
Chúc cho Minh Hạnh sống đời Bình An
Mau mau thoát kiếp lầm than
Về cùng dân tộc chứa chan tình người
Dựng cờ dân chủ rạng ngời
Vinh danh nữ sĩ muôn đời Việt Nam!

http://danlambaovn.blogspot.com/2013/03/sinh-nhat-o-thi-minh-hanh.html#.UT_yedZ4Lll

——————

Đỗ Thị Minh Hạnh – Sinh nhật vắng mẹ

Trọng & Vi (Danlambao) – Ngày 13/3 năm nay là lần sinh nhật thứ 4 trong tù của Đỗ Thị Minh Hạnh, người con gái xinh đẹp đã dành trọn tuổi xuân để đấu tranh cho những người dân khốn cùng trong xã hội.

4 năm lặng lẽ trôi qua, có thể Hạnh nghĩ rằng mình không đóng góp gì cho công cuộc tranh đấu cho một ngày mai tươi sáng của đất nước thân yêu, nhưng như tiến sỹ Hà Sĩ Phu đã viết về “một đường dây thẳng đứng, người nọ đứng lên vai người kia, để đưa nhau từ đáy giếng lên bờ. Trên cái “chồng người” thẳng đứng ấy những người tiên phong đứng ở dưới cùng cho đồng đội được đứng lên vai. Những người tiên phong ấy sẽ lên bờ sau cùng hoặc lúc khải hoàn có thể không còn họ nữa” – ngày hôm nay, bạn bè của Hạnh đang đứng trên đôi vai lao tù của Hạnh để vươn đến Tự Do. Đôi vai đó là tấm lòng của Hạnh, là những gian nan cuộc đời đã góp phần nuôi dưỡng sự sống còn của ngọn lửa đấu tranh.

4 năm tù, Hạnh vẫn đang đồng hành cùng bạn bè trong tâm thức và là nguồn cảm hứng cho từng bước chân đi rút ngắn con đường dẫn đến Tự Do.

Trại giam nữ Thủ Đức (Z30D) một ngày cuối thu năm 2011.

Cũng như bao lần trước, buổi thăm nuôi giữa Hạnh và mẹ lần nào cũng ngập tràn nước mắt. Trong những giọt nước mắt đó, ngoài tình mẫu tử vẫn toát ra những nét bi hùng của mẹ của con.

Nắm chặt tay mẹ, Hạnh nghẹn ngào nói:

– Má tha lỗi cho con vì không thể chăm sóc ba má lúc tuổi già. Con không nhận tội, không xin khoan hồng nên sẽ còn phải ở tù lâu. Ba má cũng đừng buồn nếu con…

Bác Minh, mẹ Hạnh vội cắt lời:

– Con là con của má, má sẽ làm tất cả để cứu con ra khỏi đây. Má sẽ đi đến tận cùng trời cuối đất để cứu con, má sẽ kiện lên…

Vừa nói đến đây, bắt gặp ánh mắt của người cán bộ quản giáo đang chăm chú theo dõi, ghi chép cuộc nói chuyện, bác Minh đành ngưng lại. Không ai nói với ai một lời.

Trước khi mẹ đến thăm, Hạnh đã sửa soạn cho thật đẹp để gặp mẹ. Hạnh có đôi mắt to, tròn và đẹp giống đôi mắt mẹ. Dù cố gắng gượng cười để mẹ vui, nhưng đôi mắt Hạnh sao cứ đỏ hoe.

*
Hôm nay, Hạnh tròn 28 tuổi. Trong lần sinh nhật này, Hạnh sẽ không thể gặp mẹ. Bác Minh, mẹ của Hạnh, như lời đã nhắn với con gái trong lần thăm nuôi ấy, đã và đang một mình đơn độc sang châu Âu để kêu cứu cho con. Nhớ tới những dòng thư Hạnh viết cho mẹ “Mỗi lần má thăm con, con xót lắm khi má khệ nệ xách đồ thăm nuôi trong tuổi già sức yếu, con chẳng muốn thế, đau lòng nhưng sao con vẫn vòi vĩnh thích được má quan tâm. Đó là sự khao khát vì trước đây con rất sợ được như vậy, con sẽ không bước đi được. Con từng rất là cô đơn, thậm chí là cô độc nhưng giờ thì ngày tháng ấy đã qua, ba má luôn bên con và tiếp thêm sức mạnh cho con…” Sinh nhật này có thể sẽ là một sinh nhật buồn đối với Hạnh vì vắng mẹ, giữa những thăng trầm vẫn còn đeo đuổi theo vận nước, có một người Mẹ đang lặn lội tìm đường cứu con ở một phương trời xa lạ. Một thân không tách làm đôi, Mẹ không thể khệ nệ xách đồ thăm nuôi con gái trong lần sinh nhật lần thứ 4 trong tù này của Hạnh.

Mùa đông năm 2011, sau vô vàn khó khăn, bác Minh đã đơn độc một mình sang châu Âu để tìm cách kêu cứu cho Hạnh cùng hai người bạn của Hạnh là Nguyễn Hoàng Quốc Hùng và Đoàn Huy Chương. Mùa xuân năm nay bác Minh lại tiếp tục hành trình cứu con gái, người con gái đã bị chế độ lao tù hà khắc làm điếc một tai và bác Minh tin rằng đang có một kế hoạch hãm hại Hạnh trước khi Hạnh mãn hạn tù.

Hơn 1 năm trời sống trên xứ người, nhờ sự giúp đỡ của bạn bè, người quen, những nỗ lực vận động của bác Minh đã đạt được một số thành quả khích lệ. Ủy ban Điều tra về Bắt giữ tùy tiện của Liên Hiệp Quốc đã vừa công bố bản phán quyết về sự việc của Đỗ Thị Minh Hạnh, Đoàn Huy Chương và Nguyễn Hoàng Quốc Hùng. Trong đó, bản phán quyết xác định rằng việc nhà cầm quyền Việt Nam tước quyền tự do của Hạnh, Chương, Hùng là tùy tiện. Ủy ban đã yêu cầu nhà nước Việt Nam phải thực hiện những bước cần thiết để giải quyết tình trạng của 3 bạn.

Ngày sinh nhật thứ 4 trong tù của Hạnh, bạn bè gửi đến Hạnh những yêu thương và lời chúc lành tốt đẹp nhất cho người bạn rất dễ thương nhưng can trường.

Trọng & Vidanlambaovn.blogspot.comhttp://danlambaovn.blogspot.com/2013/03/o-thi-minh-hanh-sinh-nhat-vang-me.html#.UT_0cNZ4Llk—————————

ChiêuQuânMãiMã •

Tôi thất học, văn chương không có, thơ thì càng mù tịt, xin mấy bác thông cảm bỏ qua dùm nếu thơ của tôi làm chói lổ tai mấy bác.

trên đời sao những bất công
anh hùng ngồi khám anh thư ngồi tù

những thằng thất học làm vua
buôn dân bán nước ngồi trên ngai vàng

Đảng ta đã quá rõ ràng
Đất dâng biển hiến tỏ tình anh em

Sắp ngày dân chủ tự do
cộng nô ngồi đá, anh hùng ngồi ngai

anh thư vẻ đẹp liêu trai
anh hùng khắp chốn thề quỳ gót chân

———————

Posted in Cong Nhan Viet Nam | Leave a Comment »

►Đại sứ quán VN ở Nga, Công an nhân dân, Bà chủ nhà thổ gốc Nghệ An, lừa gạt đem 15 cô gái Việt Nam sang Nga làm nhà hàng, nhưng thật ra là vào động mãi dâm của bà Thúy An ở Moscow

Posted by hoangtran204 trên 11/03/2013

Dụ dỗ 15 gái quê có hoàn cảnh gia đình nghèo khổ sang Nga  “qua bển làm nhà hàng”, nhưng rồi các cô này đã bặt tin từ tháng 4-2012.

Nay được biết, một cặp vợ chồng người Nghệ An, tên là Thúy An và Nguyễn Anh Huy đã đánh đập, bắt ép các cô gái này tiếp khách làm gái mãi dâm từ năm ngoái đến nay. Dân mua dâm đa số là người VN đang sinh sống ở Nga. (Bọn mua dâm này là sản phẩm CON NGƯỜI MỚI của nước CHXHCN VN…)

Khi các cô gái đáng thương này tìm cách trốn thoát khỏi động mãi dâm và đến cầu cứu Đại sứ quán VN ở Moscow (Nga) để xin giúp đỡ, thì nhân viên của đại sứ quán là ông Nguyễn Đông Triều đã gọi điện thoại cho bà  chủ nhà thổ Thúy An và chồng là Nguyễn An Huy đến bắt các nạn nhân về nhà, đánh đập…

Mời các bạn đọc 3 bài dưới đây được đài Á Châu Tự Do tường trình trong suốt 3 tuần qua. 

ĐSQ Việt Nam ở Moscow giúp gì cho công dân Việt?

Thanh Trúc, phóng viên RFA, Bangkok

27-02-2013

4 thiếu nữ Việt Nam, trong đó có một em vị thành niên, trốn khỏi một nhà thổ ở Moscow nhưng sau đó bị chủ chứa bắt lại. Tin đã được loan đi hồi đầu tháng này nhưng tới giờ các nạn nhân vẫn còn bị khống chế và ngay cả thân nhân ở Việt Nam cũng bị đe dọa đến phải lên công an xin rút đơn kiện.

Kêu cứu đại sứ quán cũng như không

Đó là bốn trong số 15 thiếu nữ sang Nga kiếm việc nhưng đã bặt tin từ tháng Tư  2012. Đến tháng Giêng 2013 thì bốn cô trốn được khỏi nơi mà các cô bị bà Nguyễn Thúy An, còn được gọi là An Ột, buộc các cô phải hành nghề mãi dâm.

Những người đã đưa các cô sang Nga để kiếm việc làm rồi bán vào động mãi dâm của bà Thúy An là bà Nữ, có chồng tên Sơn, hiện đã bỏ trốn khỏi Kiên Giang.

Ngay sau khi thoát được và gọi điện về nhà, mặt khác các cô gọi cho ông Nguyễn Đông Triều trong đại sứ quán Việt Nam ở Moscow để xin được giúp đỡ. Riêng cô Huỳnh Thị Bé Hương vì có chị đang ở Mỹ nên đã gọi điện báo tin và kể lại cho chị nghe mọi chuyện.

Rất không may là vài tiếng đồng hồ sau khi báo với đại sứ quán Việt Nam cả bốn cô đều bị bà Thúy An tức An Ột bắt trở lại. Bà Thúy An đã đe dọa, buộc các cô gọi về Việt Nam bảo người nhà lên công an rút đơn thưa kiện lại.

Lúc đó, trên đường dây viễn liên, ông Nguyễn Đông Triều của đại sứ quán Việt Nam ở Moscow trả lời:

Bà quan hệ thế nào với những người đó, bây  giờ bà nói tình trạng những người đó như thế nào với tôi cái, nói thẳng thông tin đi.

Thưa ông tôi là nhà báo..

Nhà báo thì tôi không nói chuyện với bà.

Và từ Hà Nội, bà Nga, Interpol Việt Nam (thuộc Bộ Công An Nhân Dân), quả quyết:

Việc mà các cô bị bắt lại thì bên chúng tôi đã biết hết rồi, bây giờ chúng tôi đang xử lý thông tin theo nhiều kênh để tìm cách giải cứu các cô ấy ra và bắt đối tượng. Chúng tôi đang cố gắng hết sức tìm mọi cách giúp đỡ để đưa được các cô trở về Việt Nam.

Rất không may là vài tiếng đồng hồ sau khi báo với đại sứ quán Việt Nam  (thì nhân viên của đại sứ quán là ông Nguyễn Đông Triều đã gọi điện thoại báo tin cho bà  chủ nhà thổ Thúy An biết) cả bốn cô đều bị bà Thúy An tức An Ột bắt trở lại. Bà Thúy An đã đe dọa, buộc các cô gọi về Việt Nam bảo người nhà lên công an rút đơn thưa kiện lại.

Bây giờ tất cả các cơ quan đều đang vào cuộc, kể cả đại sứ quán của Việt Nam ở bên Nga đang cố gắng hết sức giải cứu các cô, cũng như Interpol Việt Nam cũng đã phối hợp với các Interpol bạn để có những biện pháp cần thiết. Nếu có thông tin gì mới nhất liên quan đến các cô hoặc liên quan đến sự việc chúng tôi cũng sẵn sàng chia sẻ thôi….

Vận động quốc tế vào cuộc

Trong khi đó thì cô Danh Hui, chị ruột của Bé Hương, vì lo âu trước tình cảnh em mình nên đã tìm cách báo với CAMSA Liên Minh Bài Trừ Nô Lệ Mới Châu Á có văn phòng chính tại BPSOS ở Hoa Kỳ  http://www.machsongmedia.com/:

Chú Ngyễn Đình Thắng hướng dẫn em làm tất cả những gì để cứu em gái em, hướng dẫn em viết thư cho ông dân biểu Al Green và bà dân biểu Sheila  Jackson Lee. Em có được ông dân biểu gọi đến gặp và ông cũng có hứa  ông sẽ cố gắng tìm cách giúp em gái em được trở về sớm nhất.

Còn tại Gò Quao, Kiên Giang, Rạch Giá, mẹ của Huỳnh Thị Bé Hương và mẹ của Lê Thị Thu Linh đã lên công an rút đơn sau khi bị bà Thúy An buộc con gái gọi về .

Ông công an tên Phước, người đã nhận đơn thưa, cho biết :

Cái đó là do gia đình tới rút mình cũng hỏi mà người ta nói lý do con nó điện về biểu rút đơn để con người ta về. Trong đơn  người ta tố cáo cái dạng như là nghi vấn đưa con người ta ra nước ngoài để bán. Còn chuyện giải quyết như thế nào thì còn chờ ý kiến lãnh đạo.

Như vậy đã gần một tháng trôi qua mà bốn cô gái ở Kiên Giang vẫn còn ở trong tay bà Thúy An. Cô Danh Hui, chị của Bé Hương, cho hay bà Thúy An đã  gọi điện thẳng cho cô từ Moscow:

Bà Thúy An: Em là An Ột đây, em làm ăn đàng hoàng, em sống ở đây mấy chục năm rồi, em không muốn tai tiếng ầm ĩ lên. Nếu như chị nghĩ tình người chị dừng lại đi, bởi câu chuyện liên quan đến rất nhiều thứ.

Cô Danh Hui: Dạ chi An Ột ơi,  bây giờ em chỉ muốn đưa nó về an toàn với lại con bạn của nó, hai đứa cùng đi sang, em chỉ muốn đưa nó về an toàn.

 

Cô Huỳnh Thị Bé Hương khi còn ở Việt Nam. Source machsongmedia
Cô Huỳnh Thị Bé Hương khi còn ở Việt Nam. Source machsongmedia   http://www.machsongmedia.com/

 

Bà  Thúy An: Để mà hại được em sẽ không hại được, chỉ là câu chuyện nó rùm beng tai tiếng thôi.

Tiếp lời bà Thúy An, cô Danh Hui kể:

Bả nói  em phải viết thư xin lỗi bả rồi bả thả em gái em về, còn nếu không thì bả sẽ thưa ngược lại là em gái mê trai và ăn cắp tiền bỏ trốn, rồi bả thưa em tội vu khống, đe dọa gia đình em. Bà có cho người xuống Kiên Giang tìm mẹ với cháu em.

Vẫn theo lời cô Danh Hui, bà Thúy An còn làm áp lực buộc  Huỳnh Thị Bé Hương viết một là đơn nhận hết tội rồi nạp lên đại sứ quán Việt Nam ở Moscow. Người tiếp đơn và gọi Bé Hương đến hỏi chuyện là ông Nguyễn Đông Triều:

Bé Hương lên gặp đúng ông Nguyễn Đông Triều đó. Bé Hương nói với em rằng ông bảo là bên Nga làm gái là công khai chứ không cấm như ở Việt Nam hay các nước khác, ông nói theo kiểu cách là ông không muốn giúp giải cứu cho Bé Hương… – Cô Danh Hui.,

Bé Hương lên gặp đúng ông Nguyễn Đông Triều đó. Bé Hương nói với em rằng ông bảo là bên Nga làm gái là công khai chứ không cấm như ở Việt Nam hay các nước khác, ông nói theo kiểu cách là ông không muốn giúp giải cứu cho Bé Hương cho nên Bé Hương không có dám nói gì ngoài chuyện nhận tội theo như bà An yêu cầu tại nó sợ người phỏng vấn nó cũng là người của bả rồi. Hôm trước nó bị bắt lại cũng do nó gọi cho ông đó sau vài tiếng thì nó bị bắt lại thành nó sợ lắm nó chỉ làm những gì theo bả yêu cầu thôi và nó không tin tưởng ai hết.

Để biết rõ sự việc, hôm nay đường dây lại  được nối qua số máy của ông Nguyễn Đông Triều:

Thanh  Trúc: Thưa ông Nguyễn Đông Triều, tôi là Thanh Trúc , trước có kêu cho ông mà ông bảo nếu là nhà báo thì ông không nói chuyện với tôi. Ông Nguyễn Đông Triều noí rằng ở bên Nga mãi dâm là công khai, vì thế các em này qua bên Nga và bị bán vào mãi dâm thì toà đại sứ không giải quyết?

Ông Nguyễn Đông Triều: Đấy là lời bà nói thôi và tôi không nói như thế. Và hai nữa tôi khẳng định này, những công việc mà đại sứ quán đã làm, đã trao đổi với các cơ quan trong nước, cho nên là chúng tôi… bà có muốn biết thì hỏi cơ quan trong nước còn tôi xin lỗi không trả lời bà. Tôi xin nhắc lại như thế.

Đó là cách trả lời của ông Nguyễn Đông Triều từ tòa đại sứ Việt Nam ở Moscow.

Tiếp xúc với bà Nga, Interpol Viet Nam ở Hà Nội ngày hôm nay để tìm hiểu tiến trình điều tra và làm việc tới đâu, bà Nga trả lời:

Xin lỗi chị tôi đang bận chị có thể gọi lại sau nhé, tôi cũng chưa biết, độ khoảng trong ngày đi. Còn bây giờ tôi đang bận chị nhé.

Chúng tôi đã gọi lại cho bà Nga nhiều lần trong ngày nhưng rất tiếc bà đã không bắt máy. Trên đường dây gọi về CAMSA thuộc văn phòng BPSOS, giám đốc điều hành BPSOS là tiến sĩ Nguyễn Đình Thắng trình bày kế hoạch mà CAMSA có thể làm được bảo toàn anh ninh cho bốn cô gái mà ông gọi là bốn con tin đang bị cầm giữ:

Chúng tôi đang vận động báo chí Hoa Kỳ, các giới chức dân cử Hoa Kỳ và Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ để làm lớn chuyện này. Nỗ lực thứ hai là vận động cảnh sát Liên Bang Nga để cứu không những bốn nạn nhân mà cho tất cả mười lăm nạn nhân hiện đang nằm trong tay của bọn buôn người.

Riêng trường  hợp cô Bé Hương thì có người chị ở Houston thì chúng tôi đã sắp xếp để tờ báo lớn nhất là Houston Chronicle đã phỏng vấn và đã chạy tin. Bà thị trưởng Houston của vùng mà cô chị đang sống cũng đã lên tiếng với Toà Tổng Lãnh Sự Việt Nam .

Bên cạnh đó, tiến sĩ Thắng trình bày tiếp, CAMSA đã truy ra được là hai trong số các nạn nhân bị giam giữ có một người dì ở Canada, vì thế BPSOS đang vận động Liên Hội Người Việt Canada và bộ phận CAMSA ở Canada vào cuộc trong chuyện này.

http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/no-sig-auth-resc-tra-vic-02272013090604.html

——————————————————————————————————————————-

Cập nhật thông tin về 4 cô gái Việt bị lừa qua Nga

Thanh Trúc, phóng viên RFA
2013-03-03

Một người được thả

“Chị Ba, chị gọi lại em cái, em đang ngồi phòng chờ chuẩn bị lên máy bay nè, gọi lại em nghen.”

Đó là tiếng của Huỳnh Thị Bé Hương, người mà bà chủ chứa Thúy An coi là chủ mưu dẫn dắt Lê Thị Thu Linh, Lê Thị Ngân Giang và Nguyễn Phạm Thái Hà cùng với cô trốn khỏi nhà chứa của bà ta ở Moscow.

Từ Gò Quao, Kiên Giang, mẹ của Bé Hương, bà Lệ Thủy, cho biết:

“Nó về rồi, lên máy bay hôm qua, mới tới hồi đâu 11 giờ sáng này nè, sáng thứ Bảy.”

Trong khi đó, từ Houston Texas, chị Bé Hương là cô Danh Hui, người đã báo cho CAMSA Liên Minh Bài Trừ Nô Lệ Mới Châu Á ở Mỹ biết tin em mình bị bán làm gái mãi dâm và đang bị bà Thúy An không chế, cũng xác nhận Bé Hương đã về được tới Việt Nam:

“Nhưng mà Bé Hương rất là sợ, tại vì bà Thúy An đã có hăm dọa về đến Việt Nam là sống không yên với bả.  Cho nên hiện tại Bé Hương vẫn ở Sài Gòn. Cả mẹ ẳm cháu lên ở với Bé Hương luôn, và lẫn trốn ở Sài Gòn chứ không dám về nhà vì bả cũng có cho người tìm đến ở tận quê đó, cho nên rất là sợ trong thời gian này.”

Bà thả Bé Hương là do bên đây chú Thắng đã nhờ báo chí truyền thông làm rùm beng lên với lại những cuộc phỏng vấn trên đài. Bả gọi điện thoại cho em năn nỉ.
Cô Danh Hui

Không chỉ 4 cô vừa nói mà 11 cô khác cũng trong hoàn cảnh tương tự nhưng không thể trốn đi để rồi bị bắt lại, sau khi quyết định gọi điện cầu cứu với đại sứ quán Việt Nam ở Moscow trước đó vài tiếng.

Trước khi bị bắt lại thì các cô đã gọi điện về gia đình, kể hết sự thật về chuyện bị buộc làm gái mãi dâm trong động của bà Thúy An, bảo người nhà làm đơn lên công an thưa vợ chồng bà Nữ ông Sơn đã lừa gạt họ, bảo là sang Moscow làm trong nhà hàng nhưng lại bán họ cho bà Thúy An tức An Ột, một người mà các cô mô tả là quen lớn và rất có thế lực ở Moscow.

Ngay sau khi bị bắt lại, cả 4 cô bị bà Thúy An đã liên tục hăm dọa, bắt các cô gọi về Việt Nam bảo thân nhân lên đồn công an rút đơn thưa lại.

Theo cô Danh Hui, chị cô Bé Hương, lý do em cô được bà An Ột thả cho về là:

“Bà thả Bé Hương là do bên đây chú Thắng đã nhờ báo chí truyền thông làm rùm beng lên với lại những cuộc phỏng vấn trên đài. Bả gọi điện thoại cho em năn nỉ.”

Phần ghi âm lời bà An Ột: ” Em là An Ột đây …”

Bị đánh đập, hăm dọa

 

ha-thi-my-duyen-150.jpg
Cô Hà Thị Mỹ Duyên. Hình do gia đình cung cấp.

Nhưng vẫn theo lời cô Danh Hui, Bé Hương em cô đã kể là ngoài Bé Hương, Thu Linh, Ngân Giang và Thái Hà là cô nhỏ nhất trong bốn, thì vẫn còn mười mấy cô khác trong đó một cô tên Hà Thị Mỹ Duyên, qua Nga trước các cô kia, bị bà Thúy An đánh đập nặng nhất:

“Nghe nói bé Duyên bị đánh gãy cái sống mũi luôn mà bà ta không cho đi khám bác sĩ. Em nó đau nhức, nó gọi về khóc lóc nói gia đình gởi tiền, gởi tám trăm đô mua vé máy bay về. Bé Hương cũng vậy, bên gia đình em cũng nhờ vả mượn tiền chạy chọt được tám trăm đô gởi qua cho nó mua vé về chứ bả đâu có lo vé máy bay về cho nó, mà bên phía Lãnh Sự Quán Việt Nam cũng không hỗ trợ một đồng nào để đưa bé Hương về cả.”

Trên đường dây viễn liên về Việt Nam, mẹ của Duyên trình bày đầu đuôi sự việc Duyên sang Nga trước rồi đến Thu Linh sau này:

“Em là mẹ của bé Duyên, Linh, cháu em với Duyên là cô cậu ruột. Chị chồng em thấy cháu Duyên đi như vậy rồi mới cho cháu Linh đi. Cháu Linh qua bển rồi trốn, gọi về, thì em mới biết là qua bển làm gái mãi dâm.

Rồi từ ngày cháu Hà đi qua bển, cháu Hà là còn nhỏ, mười tám tuổi, ba nghèo lắm, em mới giới thiệu cho đi.

Từ ngày cháu Hà qua bển thì cháu Duyên nói chị An bắt cháu Duyên phải săn sóc cháu Hà. Săn sóc cháu Hà không đàng hoàng thì cháu Duyên bị đánh như vậy đó. Cháu Duyên nói chị An đánh con, mũi con nhức lắm, trời lạnh là con chịu không có nỗi. Mà cháu Duyên không nói ra hết sự thật, trong lúc em nghĩ cháu Hà không chịu làm gái mãi dâm bởi vậy cháu Duyên bị đánh.”

Như vậy, sau khi Bé Hương, Thu Linh, Ngân Giang và Thái Hà bỏ trốn, mẹ cô Duyên trình bày tiếp, bà Thúy An đỗ trách nhiệm lên đầu Duyên, mặt khác gọi về gây áp lực và hăm dọa gia đình các cô ở Việt Nam:

“Cháu Duyên điện về cho em nói mẹ ơi chị Linh trốn đi, trong vòng hai ngày mẹ phải đem chị Linh về. Mẹ không đem chị Linh về là mẹ không còn thấy mặt con đâu; mẹ cứ bám sát cô Năm, cô Năm là chị chồng em tức mẹ ruột Lê Thị Thu Linh đó. Cháu An cũng có điện, biểu em khi cháu Linh gọi điện cho chị chồng em thì em phải báo cho nó biết đặng nó tìm cách bắt cháu Linh lại.

Nghe vậy em chạy vô báo cho chị chồng em biết. Em không hợp tác với cháu Duyên cũng không cho nó biết là cháu Linh đã điện cho mẹ nó, cũng không cho cháu An biết luôn. Bà An nói nếu mà cháu Linh không về thì cháu Duyên bên đây tui sẽ đưa nó ra ngoài tuyết lạnh, tui sẽ cho công an bắt nó. Bà An nói kêu mẹ Thu Linh và mẹ Hương lên công an rút đơn lại. Duyên đang nằm trong tay bà An thì em không rút đơn.”

Bà dùng những vật cứng hay điện thoại đập vào ngực Bé Hương, bả nắm đầu, nắm tóc là cứ vốc thẳng vào tường, đập liên tục vào tường. Nói chung gần đó có vật cứng gì là bả cứ vớ hết bả đập, rồi bả dùng tay bả tát, dùng chân đạp lên đầu, lên cổ, lên người, rồi nắm đầu kéo lê la ở dưới nền nhà.
Cô Danh Hui

Văn phòng CAMSA Liên Minh Bài Trừ Nô Lệ Mới Châu Á ở Hoa Kỳ, nơi cô Danh Hui liên lạc nhờ giúp đỡ Bé Hương và Thu Linh cũng như hai cô kia, đã tiếp xúc với người nhà của Thu Linh và Mỹ Duyên ở Canada. Từ Vancouver, bà Trương Mỹ Huệ, chị ruột bà Mỹ Linh, tức mẹ cô Duyên, cho hay:

“Cháu ruột của tôi là Mỹ Duyên, còn Thu Linh là cháu  họ. Tại vì hồi trước gia đình quá nghèo, ba cháu đang bịnh, cháu xin đi làm nói là qua bển đi tiếp nhà hàng. Nhưng khi nghe Mỹ Linh là mẹ của bé Duyên khóc nói chị ơi cháu Thu Linh nó trốn rồi. Hỏi tại sao trốn thì nói, từ bấy lâu qua bển nó điện về toàn nói tốt nhưng giờ chịu không nỗi tụi nó trốn đi bốn đứa, giờ bị bắt lại rồi mà bị đánh đập dữ lắm.

Bên đây không biết đường nào, nhờ cô Danh Hui điện qua nói em cổ cũng trong tình trạng đó, rồi cho điện thoại của hội BPSOS. Thành ra tôi mới liên lạc được chú Thắng, điện qua chỉ tôi làm đơn kêu cứu dân biểu.

Cháu Thu Linh trước điện về chỉ nói làm công chuyện tốt. Gia đình bên nay cứ tưởng là tốt nhưng không ngờ Thu Linh với Bé Hương trốn ra, giờ mới vỡ lẻ là con cháu tôi bển bị đánh dữ lắm. Tại vì lúc trước nói là đi làm nhà hàng nhưng thực tế là không phải, nó đưa qua bển để bán người để bắt con cháu tôi làm mãi dâm, tôi nghe tôi đau quá….”

Để hiểu rõ thêm cách cư xử của bà chủ chứa Thúy An, tức An Ột, nhằm khống chế tinh thần các cô gái trẻ mà bà bỏ tiền ra mua vào động mãi dâm của mình, mời nghe cô Danh Hui thuật lại sau khi nghe em là Bé Hương kể:

“Nghe Bé Hương nói bà ta rất ác. Bà dùng những vật cứng hay điện thoại đập vào ngực Bé Hương, bả nắm đầu, nắm tóc là cứ vốc thẳng vào tường, đập liên tục vào tường. Nói chung gần đó có vật cứng gì là bả cứ vớ hết bả đập, rồi bả dùng tay bả tát, dùng chân đạp lên đầu, lên cổ, lên người, rồi nắm đầu kéo lê la ở dưới nền nhà. Bé Hương chịu đựng những đòn roi như vậy một năm mấy nay chứ không phải chỉ mới đây.

Kể cả cô quản lý của bả mà không xong việc thì bả cũng đánh kiểu đó. Vừa tra tấn tâm lý mà vừa tra tấn bằng vũ lực cho nên các em rất khủng hoảng tinh thần. Về Việt Nam rồi nhưng Bé Hương vẫn chưa hết bàng hoàng, vẫn còn lo sợ lắm.”

Hiện CAMSA trực thuộc BPSOS ở Mỹ đang vận động dư luận từ nhiều phía trong mục đích cứu mười bốn cô gái còn lại thoát khỏi tay bà Thúy An cùng những người trong đường dây mãi dâm của bà ta ở Moscow.

Nguồn:  rfa.org/vietnamese

—————————————————————————————————————————————

Chân dung bà chủ nhà chứa ở Nga

Thanh Trúc, phóng viên RFA
2013-03-10

Trong số 15 cô gái Việt Nam bị gạt sang Nga vào động mãi dâm của bà Thúy An ở Moscow, mà bốn cô trốn đi rồi bị bắt lại, thì đã có hai cô về đến Việt Nam.

Trong một tháng qua đài Á Châu Tự Do đã cập nhật vụ việc trên nguyên tắc không đưa tiếng nói của nạn nhân lên đài. Hôm nay, đã an toàn ở Việt Nam, cô Bé Hương cho biết cô phải lên tiếng, trước hết cho mười ba người bạn còn lại trong nhà chứa của bà Thúy An, thứ hai là đính chính về lá thư mà cô bị buộc phải viết và ký tại đại sứ quán Việt Nam ở Liên Bang Nga như một điều kiện trước khi về nước.

Bé Hương: Mười lăm đứa, trốn đi bốn đứa thì còn mười một. Bắt về thì giờ bà đã thả em với lại Nguyễn Phạm Thái Hà thì còn mười ba là hai chị em ruột ở Cà Mau, rồi ở Long Xuyên, Tây Ninh, Sóc Trăng. Ở Sài Gòn cũng có và có một cô quê ở Hà Nội.

Mục đích của bà là bà biết chị em bên Mỹ có nhờ đến phóng viên nhà báo đài Á Châu Tự Do, bả muốn em đính chính lại là mọi việc không có sự thật như vậy, bả muốn em viết thư có lời cảm ơn bà và yêu cầu nhà báo đài Á Châu Tự Do phải đính chính lại mọi việc, bắt em phải ký. Em đã ký và đã cam kết sẽ đính chính lại mọi việc.

Bây giờ em đã về Việt Nam rồi thì em cũng xin nói những lời đó, những thư đơn ký đó đối với em không còn giá trị nữa, bằng mọi giá em phải đính chính sự thật của bà là đúng người đúng tội, lúc đó em bị bà bắt giữ và khống chế, bắt buộc em phải làm điều đó.

Xa xích chưởng

Thanh Trúc: Bây giờ em có thể tả về bà An được không?

Bé Hương: Bà là người Nghệ An, khoảng bốn ba bốn mươi bốn tuổi. Bà sắc sảo lắm, cứng cỏi lắm. Lúc nóng giận lên thì bà xưng lúc thì “bố mày” lúc thì “mẹ mày”. Không có lời văng tục nào mà bà không nói được hết.

Lúc nóng giận lên thì bà xưng lúc thì “bố mày” lúc thì “mẹ mày”. Không có lời văng tục nào mà bà không nói được hết.
Cô Bé Hương

Khi mà đưa sang bà đón em ở sân bay về đến nhà thì em mới biết sự thật em đã bị bán vào động mãi dâm rồi, không cách nào thoát hết. Một năm mấy qua thật sự em cũng có chờ đợi nhiều lắm nhưng không có cơ hội. Lúc nào bà cũng có người giám sát bọn em hết, những người mới sang bà không thả ra ngoài đâu, ai cũng phải làm việc cả. Bên đó chỉ có công việc là làm gái mãi dâm thôi, chỉ là một cái “cờ va” ba buồng, khách vào thì cứ trải chỗ liên tiếp liên tiếp theo đó mà làm, không có gì khác ngoài gái mại mãi dâm hết.

Phần lớn là khách Việt Nam, tuần này họ đến tuần sau họ lại đến thì trở thành khách quen của bà. Thỉnh thoảng em có nghe là khách Việt Nam đón ra ngoài để tiếp Tây, người Nga đó chị, Tây rồi Tàu… Em không có được ra ngoài.

Tiếp khách là tính điểm, cộng vào sổ, cuối tháng chia đôi bà phân nửa tụi em phân nửa. Nếu không ngoan làm việc bà sẽ phạt, phạt cho đến khi nào không ngóc đầu lên nỗi, không có tiền gởi về nhà luôn giống như em đây. Một năm hai tháng hơn em vẫn không có đồng nào mà vẫn phải tiếp khách, coi như công cốc, không có đồng nào, tay trắng luôn.

Tất cả các cô kia có người làm được việc, tiếp khách giỏi hơn em, làm một tháng mấy nghìn đô. Có chia nhưng mà bà giữ lại hết, muốn gởi về nhà thì bà sẽ gởi, năm trăm, một nghìn, hai nghìn đô bà sẽ gởi, còn nhiều hơn nữa bà sẽ không gởi.

 

thai-ha-250.jpg
Cô Thái Hà. Hình do gia đình cung cấp.

Thanh Trúc: Ngoài bị chửi mắng thì các cô còn bị đánh phải không, nhất là cả ba cô cùng trốn với em trong đó có một cô còn nhỏ.

 

Bé Hương: Bà đánh thì tụi em hay gọi là “xa xích chưởng”, tụi em bị đánh quá thì cũng có nói ở trong tù thì nghe nói một đám đánh một đứa, còn ở đây tại sao có một đứa mà lại đánh tới một đám lận.

Lúc mới qua thì con bé chưa được mười bảy tuổi, nó nói thực với em là chị ơi em mới có mười sáu, trong giấy của em là người ta làm cho em đủ tuổi đi làm, nói qua đây làm nhà hàng. Bả cứ bắt em kêu ba mẹ em gởi tiền qua để chuộc về nếu mà không làm việc được. Mà con nhỏ đó cũng xấu, nhìn không dễ coi lắm, cho nên không có khách chọn. Bả cũng đánh bà nói “Mày qua đây làm gì, tại sao người đưa qua cũng khốn nạn lắm, như vầy mà cho đi làm gái là sao, tiếp ai bây giờ, người ta ngồi người ta còn không nhìn nữa thì làm sao mà làm”. Những ngày tháng con bé đó bị hành hạ đánh đập em cũng nóng ruột lắm.

Linh thì bà bảo là “Con Linh có cặp mắt đĩ thỏa đâm giai”, bà cho Linh mở cửa đón khách. Bữa đó chồng bà, là ông Huy, về đến thì Linh ra mở cửa. Ông Huy lấy tay quẹt cái mũi nó làm bà ghen bà đánh nó xém mù hai mắt.

Bà lấy dây nịt bà quất con Linh bò lết bầm khắp người luôn mà đôi mắt là nặng nhất. Còn cái Duyên thì có thời gian nó bị đánh bầm sống mũi. Em thì đã chịu quá nhiều bây giờ kể ra em không biết kể bao nhiêu cho hết. Bên đó luật của bà là không ai được thân với ai hết, bệnh hoạn tự lo.

Bà lấy dây nịt bà quất con Linh bò lết bầm khắp người luôn mà đôi mắt là nặng nhất. Còn cái Duyên thì có thời gian nó bị đánh bầm sống mũi. 
Cô Bé Hương

Thanh Trúc: Em có biết gì về ông Huy chồng bà An này không?

Bé Hương: Ông Huy đó tên Nguyễn Anh Huy. Khi qua thì em có nghe kể lại là hồi trước, cái tốp đi trước đó, ông đã đánh một người tới nỗi xém mất mạng. Từ đó đến bây giờ bà không cho ông Huy đánh nữa, chỉ có bà đánh thôi.

Thanh Trúc: Xin kể tiếp lúc em cùng ba cô kia trốn đi và bị bắt lại ?

Bé Hương: Trốn ra được thì em có nhờ công an Việt Nam liên lạc đại sứ quán Việt Nam ở Liên Bang Nga, được số điện thoại của ông Nguyễn Đông Triều làm bên an ninh của đại sứ quán. Em có gọi mà ông từ chối thẳng không giúp. Em cũng nhờ có người chị ở Mỹ là Danh Hui, cũng bên đó nhờ được chú Thắng.

Sau khi gọi cho ông Nguyễn Đông Triều khoảng hai ngày thì chính bà An, ông Huy và một người đàn ông, đến nơi thì tụi em chỉ biết về thôi. Hơn một năm bị bà đánh đập em cũng biết bà ghê gớm cỡ nào, tụi em lúc đó bó tay, kháng cự cũng bằng không. Bà có nói “Mày biết tao canh mày bao nhiêu ngày tao mới bắt được mày không, mày làm cho bố mày mất ăn mất ngủ cả mười ngày nay, mày to gan lắm mày dám hại bố mày hả…”.

Cô bé Thái Hà lúc sang chưa đủ tuổi đó, rồi Thu Linh, Ngân Giang, đều bị đánh sưng mặt, bầm mắt. Bả không đánh em, chỉ đập đầu em vô tường thôi. Bà nghĩ đánh em bầm mắt thì nếu như đại sứ quán gọi em lên người ta sẽ thấy. Còn đánh lên đầu em thì người ta không thấy mà em cũng không dám nói.

Quen biết lớn

Thanh Trúc: Khi bà Thúy An đưa em lên đại sứ quán để về Việt Nam thì chuyện gì xảy ra?

Bé Hương: Bà làm giấy cho em về Việt Nam, bảo là “Mày làm không được thì tao cho mày về chứ không phải chị mày bên Mỹ làm ầm ỉ mà tao cho mày về đâu”. Bả tính là thứ Hai cho em bay, nhưng tối thứ Bảy thì bả nói em chuẩn bị đồ rồi bà đưa em lên đại sứ quán.

Lên sứ quán thì trên đó có một ông tên là Kiên, cũng ở trong đại sứ quán mà em không biết rõ ông làm cái gì.. Ông Kiên đó hỏi ai đây thì bà mới nói “Đây, nhân vật chính đây anh”. Ông Kiên mới bắt em viết một cái đơn là “Cảm ơn chị An đã giúp đỡ và đại sứ quán ở Liên Bang Nga đã can thiệp, giúp đỡ, tạo điều kiện cho em được về Việt Nam. Và xin có lời nói với nhà báo RFA ở Mỹ đã nói về bà An là không phải sự thật thì em xin đính chính lại là những lời đó đã nói sai về chị An, và em hoàn toàn chịu trách nhiệm.”

Lên đó lúc này mày biết mày nên làm thế nào, gây bất lợi cho tao thì mười mạng mày cũng không còn, ba đời mày tao cũng đào lên tao chôn sống chứ đừng nói một mình mày.
Bà Thúy An

Lúc đó em chỉ biết làm để bà thả em về thôi, về tới Việt Nam là bằng mọi giá em phải đính chính lại sự thật, tại vì lúc đó em bị bà không chế mà, nếu không làm như vậy em đâu biết bà đưa em đi đâu.

Thanh Trúc: Theo em kể thì có vẻ bà An khá quen biết với người trong đại sứ quán Việt Nam ở Nga?

Bé Hương: Em viết xong thì ông Kiên mới đi về. Em ngủ lại đó vì sáng mai ra sân bay. Đêm đó thì có một người đàn ông nữa xuất hiện là tên Tuấn Anh. Bà nói với em “Ông Tuấn Anh đó là anh của anh Huy mày, còn vợ của ông Tuấn Anh, làm ở bên đại diện cộng đồng người Việt Nam mình ở Liên Bang Nga, vợ ông Tuấn Anh là cháu ruột của ông Nguyễn Đông Triều.” Thì có lúc bà An kêu ông Nguyễn Đông Triều bằng chú, có lúc kêu bằng anh.

Trước đó khi bắt em về, khi em chưa biết sự thật, bà bắt em lên đại sứ quán, bả nói “Lên đó lúc này mày biết mày nên làm thế nào, gây bất lợi cho tao thì mười mạng mày cũng không còn, ba đời mày tao cũng đào lên tao chôn sống chứ đừng nói một mình mày”.

Thanh Trúc: Đến lúc này, khi nói với đài Á Châu Tự Do, em còn sợ điều gì không?

Bé Hương: Một phần là em có sợ, nhưng mà tâm nguyện của em là muốn giải cứu những người còn lại ở bên đó cho nên tất cả em đều có thể làm. Những lời nói của em đều là sự thật và em tin tưởng pháp luật sẽ trừng trị bà, trả lại tự do cho những bạn gái của em còn lại bên đó.

Thanh Trúc: Cảm ơn cô Bé Hương, chúc cô một cuộc sống tốt đẹp.

nguồn: rfa.org

**Bạn nghĩ gì về mối liên hệ giữa nhân viên đại sứ quán Nga và cặp vợ chồng Thúy An và Ng Anh Huy?

Đặc biệt, công an nhân dân VN dù biết rõ nội vụ, do gia đình ở VN đến khai báo, nhưng họ đã không tham dự vào cuộc điều tra!

Đảng và nhà nước quá cần tiền, nên phải xuất khẩu người ra nước ngoài ” làm việc”, đặng những người đi lao động xuất khẩu gởi tiền đô, tiền rúp, về cho thân nhân ở VN, và sau cùng số tiền ngoại hối này được người nhà bán lại cho ngân hàng lấy tiền đồng VN để chi tiêu, sau cùng nhiều tỷ đô la chui vao tay nhà nước.

Theo website của công ty in tiền polymer VN ở bên Úc, giá in 1 tờ giấy bạc 500 ngàn đồng VN là 4-7 cents, và chỉ cần dùng 4 tờ giấy 500 ngàn (giá in chưa đến 1/3 của 1 đô la), là ngân hàng nhà nước VN có thể mua được 100 đô la Mỹ.  

Mua được tờ bạc 100 đô mà chỉ tốn 30 xu,  là món lời rất lớn. Nên nhà nước cứ xuất khẩu người lao động VN qua làm việc ở  nước ngoài là thế đấy. Theo website của Bộ Lao Động và Thương Binh Xã Hội, hiện nay có 450 ngàn lao động xuất khẩu VN hiện đang làm việc ở 18 nước. và hàng năm, số ngoai hối do nhóm này gởi về khoảng 1- tỷ đô la. 

Posted in Kiều Hối - Nguồn Ngoại tệ cứu nền Kinh tế và nuôi đảng | Leave a Comment »

►Nhà cầm quyền CHXHCN VN (độc lập-tự do-hạnh phúc) đòi cưỡng chế anh Đỗ Nam Hải vì anh viết bài: Phải thay đổi chế độ chính trị ở Việt Nam!

Posted by hoangtran204 trên 10/03/2013

Nhà cầm quyền CSVN đòi ‘cưỡng chế’ anh Đỗ Nam Hải

Anh Đỗ Nam Hải

Vẫn những trò sách nhiễu của Nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam đối với tôi.

Đỗ Nam Hải (Danlambao) – Sáng ngày 4/3/2013, một nhân viên của Văn phòng Ủy ban nhân dân Phường 9, Quận Phú Nhuận, Sài Gòn đến nhà, đưa trực tiếp cho tôi bức ‘Thư Mời’ do ông Cao Văn Thăng, Chủ tịch UBND P.9, Q. Phú Nhuận ký tên, đóng dấu.
Nội dung:
“Kính mời ông Đỗ Nam Hải – Địa chỉ: 441 Nguyễn Kiệm, P.9, Q. Phú Nhuận đến tại Văn phòng Mặt trận Tổ quốc P.9, Q. Phú Nhuận (số 92 Trần Khắc Chân) – Thời gian: 8 giờ ngày 6/3/2013. 
 
Nội dung: Giao Quyết định số 15/QĐ-CC, ngày 4/3/2013, QĐ cưỡng chế thi hành xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh trật tự, an toàn xã hội”. 

Sở dĩ họ có Quyết định này là do những bài viết của tôi gần đây về vấn đề dân chủ, nhân quyền.

Tôi đã viết vào ‘Thư Mời’ đó như sau:

“Đã nhận, ý kiến của tôi như sau: 

Tôi không quan tâm đến những trò sách nhiễu nhố nhăng này của Nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam!

Tôi tin tưởng chắc chắn rằng: sẽ có một ngày, những kẻ ký các Quyết định này và những kẻ ra lệnh cho họ sẽ phải trả lời trước công lý về những tội ác mà họ đã gây ra cho dân tộc Việt Nam, khi dân tộc ấy chuyển mình. Đó là tội ác chống lại loài người!”

Đỗ Nam Hải

danlambaovn.blogspot.com

* CTV Danlambao: Anh Đỗ Nam Hải là người đồng sáng lập và là đại diện của khối 8406.Từ khi chính thức công khai lên tiếng và xuất hiện từ năm 2006 đến nay, anh Đỗ Nam Hải liên tục bị nhà cầm quyền CSVN sách nhiễu thông qua hình thức lập ‘biên bản xử phạt’… Đây là một biện pháp của cơ quan CA nhằm mục đích cướp tài sản và khủng bố gia đình anh Đỗ Nam Hải.
Được biết, anh Đỗ Nam Hải cũng đã nhiều lần bị nhà cầm quyền CSVN lấy lý do ‘xử phạt’ và ‘cưỡng chế’, mục đích chính là để lấy cớ kéo quân xông vào nhà cướp máy tính, tài sản cá nhân…
Dưới đây là nội dung bài viết khiến anh Đỗ Nam Hải bị UBND Phường 9, Quận Phú Nhuận ra quyết định ‘cưỡng chế thi hành xử phạt’:

Phải thay đổi chế độ chính trị ở Việt Nam!

Đỗ Nam Hải (Danlambao) – 

Chúng ta không đoàn kết, dân tộc đã bị phân hóa sâu sắc và toàn diện! 

Chúng ta không thắng lợi, đất nước đã bị thất bại cả trong xây dựng và cải tạo, với hàng loạt các kế hoạch phát triển kinh tế và xã hội nối tiếp nhau phá sản!

Chúng ta không tiến lên, chúng ta đã bị tụt hậu toàn diện và quá xa so với các nước trong khu vực và thế giới! 

Mà vấn đề của mọi vấn đề, nguyên nhân của mọi nguyên nhân là: cho đến nay, Đảng cộng sản Việt Nam vẫn là một Đảng duy nhất lãnh đạo đất nước!…

*
 

I – Những cảm xúc về ngày 30/4/1975: 

 

Đường giải phóng mới đi một nửa 

Nửa mình còn trong lửa nước sôi 

Một thân không thể chia đôi 

Lửa gươm không thể cắt rời núi sông 

(trích: Ba mươi năm đời ta có Đảng – Tố Hữu – 1960) 

Tố Hữu là nhà thơ cộng sản, ông có nhiều bài thơ mà nội dung của chúng gắn chặt với các Nghị quyết, các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng cộng sản Việt Nam. Miền Nam chính là phần Nửa mình còn trong lửa nước sôi mà ông muốn thể hiện trong 4 câu thơ trên. Bài thơ này được ông sáng tác sau khi Nghị quyết 15 của Đại hội II – Đảng lao động Việt Nam (nay là Đảng cộng sản Việt Nam) ra đời gần 1 năm. Trong Nghị quyết có đoạn: 

“Nhiệm vụ cơ bản của cách mạng Miền Nam là giải phóng Miền Nam; nhiệm vụ trước mắt là đánh đổ tập đoàn thống trị Ngô Đình Diệm, tay sai của đế quốc Mỹ; phương pháp cách mạng và phương thức đấu tranh là dùng bạo lực cách mạng, từ đấu tranh chính trị tiến lên kết hợp đấu tranh chính trị và đấu tranh vũ trang…” 

Ngay sau đó là sự thành lập Đường 559, tháng 5/1959, tiền thân của Đường mòn Hồ Chí Minh sau này để đưa người và vũ khí vào miền Nam; là cuộc đồng khởi ở Bến Tre, cuối năm 1959 đầu 1960; là sự ra đời của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, 20/12/1960; thành lập Quân Giải phóng miền Nam, 15/2/1961, thành lập Đường Hồ Chí Minh trên biển, 23/10/1961,… Tất cả là để thực hiện đến cùng những nhiệm vụ mà Nghị quyết 15 trên đã chỉ ra. 

 

Rồi ngày 30/4/1975 đến. Nhớ lại buổi trưa hôm đó ở Hà Nội, cả lớp 9 chúng tôi đang học tiết cuối thì thầy giáo dạy sử chạy dọc hành lang hét lớn: “Sài Gòn giải phóng rồi, miền Nam giải phóng rồi, các em ơi!”. Cả lớp, rồi cả trường tôi bỗng chốc như vỡ òa. Mọi người cùng đổ xuống sân trường reo hò ầm ĩ trong không khí rộn ràng của ngày hội lớn. Ai nấy đều vui mừng khôn xiết, nhiều người rưng rưng nước mắt. Tất cả đều hướng về Sài Gòn, về miền Nam thân yêu. Trong khung cảnh đó, tự nhiên tôi nghĩ đến những lời của bài hát Em đi thăm miền Nam mà lũ trẻ chúng tôi ở miền Bắc thời đó rất thích: 

 

Em chỉ mong một ngày thống nhất

Khi ấy không còn nhịp cầu cách ngăn

Đoàn em múa cười xúm quanh Bác Hồ

Thiếu niên hai miền chung sống ngày tự do.

Nhiều ông bố, bà mẹ cũng đã dùng bài hát này để làm điệu hát ru con. Cuối năm 1975, tôi theo gia đình vào miền Nam. Qua thực tế, tôi và những người bạn cũng mới từ miền Bắc vào như tôi đều rất ngỡ ngàng khi nhận ra rằng: đa số người dân miền Nam mà chúng tôi có dịp gặp gỡ, tiếp xúc lại không hề có nhu cầu về cuộc “giải phóng” này! Nhớ là hồi đó, tôi đã tự hỏi mình: vậy thì cái phần Nửa mình còn trong lửa nước sôi là “nửa” nào

(Mời đọc:

Có Ai Thích Được Giải Phóng Đâu -Điểm lại một số ý kiến về Chiến 

Apr 30, 2011 – Chúng tôi  mong đợi các anh đến giải phóng đâu. Vậy các anh đến làm gì. Chúng tôi đang sống trong thanh bình, thịnh vượng thì có cần gì …)

II – Sự nguy hiểm của chế độ chính trị độc đảng toàn trị đối với dân tộc Việt Nam: 

Hơn 1 năm sau ngày 30/4/1975, Nghị quyết Đại hội IV Đảng cộng sản Việt Nam (ĐCSVN), tháng 12/1976 có đoạn: “Với cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 mà đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đã toàn thắng… Thắng lợi ấy làm thất bại cuộc chiến tranh xâm lược thực dân mới quy mô lớn nhất và dài ngày nhất từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai, làm đảo lộn chiến lược toàn cầu của tên đế quốc đầu sỏ, đẩy Mỹ vào tình thế khó khăn chưa từng thấy, thu hẹp và làm suy yếu hơn nữa hệ thống đế quốc chủ nghĩa, củng cố tiền đồn của chủ nghĩa xã hội ở Đông Nam châu Á, mở rộng và tăng cường hệ thống xã hội chủ nghĩa, tăng thêm sức mạnh và thế tiến công của các lực lượng cách mạng trên thế giới.” 

Đối với những người lãnh đạo trong ĐCSVN, họ coi như đã đi trọn vẹn con “đường giải phóng” mà Tố Hữu đã đề cập trong đoạn thơ trên. Và kể từ đây thìĐường lên chủ nghĩa xã hội thênh thênh rộng mở. Chúng ta đoàn kết, chúng ta xây dựng, chúng ta cải tạo, chúng ta tiến lên! Thế nhưng, hơn 37 năm đã trôi qua, nếu đối chiếu với hiện tình Việt Nam hôm nay với những “quyết tâm chính trị” kia của ĐCSVN thì ai cũng thấy là kết quả đã lộn ngược: Chúng ta không đoàn kết, dân tộc đã bị phân hóa sâu sắc và toàn diện! 

Chúng ta không thắng lợi, đất nước đã bị thất bại cả trong xây dựng và cải tạo, với hàng loạt các kế hoạch phát triển kinh tế và xã hội nối tiếp nhau phá sản! 

Chúng ta không tiến lên, chúng ta đã bị tụt hậu toàn diện và quá xa so với các nước trong khu vực và thế giới! 

Mà vấn đề của mọi vấn đề, nguyên nhân của mọi nguyên nhân là: cho đến nay, Đảng cộng sản Việt Nam vẫn là một Đảng duy nhất lãnh đạo đất nước! 

Cũng trong khoảng thời gian trên, Hệ thống xã hội chủ nghĩa trên thế giới, đứng đầu là Liên Xô đã sụp đổ tan tành. Bốn nước còn sót lại là Trung Quốc, Việt Nam, Bắc Hàn, Cu Ba đều có điểm xuất phát thấp hơn hẳn những nước kia, và nay thì hết thảy đều trong cảnh chợ chiều, rã đám. Nó đang lụi tàn hàng ngày hàng giờ, xét cả về 2 mặt quan hệ sản xuất cũng như tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất “xã hội chủ nghĩa”.

Những luận điểm đại loại như: Dưới chủ nghĩa xã hội, Quy luật năng suất lao động không ngừng tăng lên, để từ đó: Của cải xã hội tuôn ra rào rạt mà các nhà lý luận Mác xít vẫn thường rao giảng không biết nhàm chán thì nay, nó chỉ còn là trò cười ra nước mắt đối với những người dân sống trong lòng các nước xã hội chủ nghĩa. 

Trên chính trường Việt Nam, những người lãnh đạo trong ĐCSVN qua nhiều thế hệ, trước sau như một đều cương quyết không chấp nhận sự ra đời và không chấp nhận sự cạnh tranh với các đảng phái khác. Điều này chính là nguyên nhân gốc nảy sinh ra một hệ thống chính trị từ trung ương xuống địa phương và cơ sở cực kỳ tàn ác, chuyên quyền, hư hỏng, tham nhũng và lãng phí. 

Ngay cả ông Trương Tấn Sang, hiện là Ủy viên Bộ chính trị ĐCSVN, Chủ tịch nước CHXHCNVN trong tháng 5/2012 vừa qua cũng đã phải thừa nhận một phần về hiện tình đất nước: So với mục tiêu ngăn chặn và từng bước đẩy lùi tham nhũng, chúng ta làm chưa tới, chưa thành công… Trước đây chỉ một con sâu làm rầu nồi canh, nay thì nhiều con sâu lắm… 

Ở Việt Nam hôm nay không phải như Lê Nin từng nói: Cách mạng là sự nghiệp, là ngày hội của quần chúng mà chính tham nhũng mới thật sự “là ngày hội, là sự nghiệp” của nhiều người! Chỉ có điều là khi mà “sự nghiệp” của họ càng “đại thành công” bao nhiêu thì sự nghiệp của cả dân tộc lại càng đại thất bại bấy nhiêu! 

 

Đỗ Nam Hải và Nguyễn Hộ

Như trong bài Việt Nam Đất Nước Tôi, viết vào tháng 6/2000 tôi cũng đã có dịp trình bày: Khi nồi canh có một con sâu đã là “rầu” rồi, nhưng nếu nồi canh ấy đầy sâu thì vấn đề là phải xét lại chính “người nhặt rau”, hay nói chính xác hơn là phải xét xem tại sao lại có cái “cơ chế nhặt rau” tai hại ấy! Theo tôi, nếu không có sự thay đổi sớm thì một nền kinh tế Việt Nam với nợ nần lút đầu, mất khả năng chi trả; đất nước bị xé lẻ ra để bán; vốn trong các xí nghiệp quốc doanh hoặc các liên doanh có một bên góp vốn thuộc sở hữu nhà nước chuyển dần sang tư nhân bằng nhiều cách khác nhau là sẽ ngày càng trầm trọng, dẫn tới nguy cơ mất nước kiểu mới. 

… Cũng từ sự bất lực trước quốc nạn tham nhũng, cộng với sự bất lực trước quốc nạn buôn lậu và sự cực kỳ lãng phí của công đã làm cho nạn hàng giả, hàng nhập lậu trốn thuế tràn vào bóp nghẹt hàng nội địa. Hậu quả là sản xuất đi xuống và nạn thất nghiệp đi lên. Nó đẩy hàng triệu nông dân Việt Nam – thành phần chiếm gần 80% dân số từ các vùng thôn quê đổ về những thành phố để kiếm sống lây lất qua ngày; đẩy hàng trăm ngàn trẻ em Việt Nam phải bỏ học để vào đời sớm và cũng đẩy hàng trăm ngàn những cô gái Việt Nam phải bước vào cuộc sống dưới ánh đèn đêm,…

Trong chế độ độc đảng toàn trị, với bộ máy “chuyên chính vô sản” đồ sộ nắm trong tay đã cho phép nó có khả năng thủ tiêu mọi ý kiến phản biện xuất phát từ lòng dân tộc. Đặc biệt là những ý kiến phản biện đến tận cùng, liên quan đến chế độ chính trị lỗi thời, phản dân chủ và phản dân tộc ở Việt Nam hiện nay. Đó là nguyên nhân gốc dẫn tới mọi mối quốc nạn và quốc nhục mà dân tộc ta đã và đang phải trải qua. Vì vậy, cái xấu cái ác đã ngày càng lộng hành ngang ngược mà không có một bộ phanh, một lực lượng dân tộc nào làm đối trọng, khả dĩ có thể kìm hãm được. 

Nhìn vào những tổ chức chính trị, xã hội lớn ở Việt Nam hiện nay như: Quốc Hội nước CHXHCNVN, Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam hay Ban chấp hành Trung ương ĐCSVN,… chúng ta càng thấy rõ hơn cho nhận định này. Thực chất, đó cũng chỉ là những cụm cây cảnh không hơn, không kém nhằm tô vẽ thêm cho cái gọi là “Vườn hoa dân chủ xã hội chủ nghĩa” mà thôi. Sự kiện có quyết định kỷ luật hay không kỷ luật “một đồng chí Ủy viên Bộ chính trị” tại Hội nghị Trung ương 6, diễn ra vào đầu tháng 10/2012 vừa qua là một ví dụ khá điển hình: nhân dân tẽn tò, đảng viên tẽn tò, làm gì nhau nào! 

 

Ở Việt Nam, nếu ai phản biện và muốn có sự thay đổi về chất chế độ chính trị thì ngay lập tức, toàn bộ cái hệ thống chính trị kia sẽ vội lu loa lên rằng:Đó là bọn phản động cực đoan trong nước, ham danh hám lợi bị các thế lực thù địch bên ngoài mua chuộc, lôi kéo, giật dây để thực hiện diễn biến hòa bình. Ý đồ của chúng là lợi dụng các quyền tự do dân chủ của chế độ xã hội chủ nghĩa tươi đẹp để phá hoại Khối đại đoàn kết toàn dân tộc, phá hoại cuộc sống yên lành của nhân dân. Mục tiêu cuối cùng của chúng là lật đổ chế độ của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân ở Việt Nam. 

Tất nhiên, “bọn phản động” sẽ bị “cỗ máy nghiền” vào cuộc để “bề hội đồng”, với vô số những chiêu trò độc ác, tiểu nhân. Trong khi những người bị đàn áp không hề có một tấc sắt, một gam thuốc nổ trong tay thì bên kia là một lực lượng hùng hậu, với súng đạn, nhà tù và “một nền pháp trị xã hội chủ nghĩa tam quyền… nhập một”! Ai là người trong cuộc, ắt là hiểu rất rõ điều này! 

Đúng như Milovan Djilas (1911 – 1995), nguyên là Phó tổng thống Nam Tư dưới thời Tổng thống Josept Tito đã viết trong cuốn sách Giai Cấp Mới của ông như sau: Các nhà cách mạng và các cuộc cách mạng không bao giờ từ chối sử dụng các biện pháp vũ lực và đàn áp. Nhưng chưa có cuộc cách mạng nào, chưa có nhà cách mạng nào lại sử dụng bạo lực một cách có ý thức, đưa bạo lực thành hoàn thiện, thành công việc thường ngày như những người cộng sản. 

 

Xét trong toàn Hệ thống xã hội chủ nghĩa, sự tập trung quyền lực ở mức độ cao chưa từng có trong lịch sử loài người vào trong tay duy nhất một Đảng cộng sản cầm quyền. Sau đó lại dồn tiếp cho một nhóm người chính là mảnh đất thuận lợi dẫn tới tình trạng cực kỳ nguy hiểm. Nó đã sản sinh ra những nhà lãnh đạo độc đoán chuyên quyền, sẵn sàng đem cả dân tộc ra để đánh những canh bạc xả láng. Ở Việt Nam cũng vậy, kể từ ngày 2/9/1945 đến nay thì “nhân dân anh hùng” xét cho cùng chỉ là công cụ đáng thương để cho các thế hệ lãnh đạo trong ĐCSVN nối tiếp nhau lừa mỵ, bóc lột và sẵn sàng hy sinh họ. Trước đây trong chiến tranh là vậy và nay, khi các cuộc chiến tranh đã lùi xa nhiều năm rồi cũng vẫn là như vậy! 

 

III – Những lời thay cho kết luận: 

 

Cách đây khoảng 40 năm, có một người lính ra đi từ mái tranh nghèo từ vùng quê Thái Bình. Ngày 29/4/1975, anh đã ngã xuống tại vùng đất Củ Chi – Cửa ngõ Sài Gòn. Người mẹ già của anh hơn 30 năm khóc con Nước mắt tưởng khô, mấy chục năm không khô nổi. Những đồng đội của anh sau những cố gắng đã giúp đưa được hài cốt của anh về quê. Mẹ anh và gia đình muốn để anh ở nhà trống kèn một ngày một đêm rồi mới đưa anh ra nghĩa trang huyện. Lúc ra đi, con mẹ là một thanh niên cường tráng; nay trở về, con mẹ là một hình hài bé thơ. Một bài thơ do đồng đội của anh làm, có tên Đêm cuối cùng mẹ ru con đã ra đời trong dịp ấy: 

 

… Tám mươi tuổi mẹ lại bồng con, vườn nhà nức nở 

Mẹ bồng con à ơi 

Hài cốt quấn vuông vải mới 

Có tã lót nào đau xé lòng đến thế? 

Mẹ ru con quằn quại tiếng trống kèn 

Ngủ đi con 

Đêm nay mẹ ru con lần cuối…

 

Có lẽ không ai trong chúng ta khi đọc những vần thơ trên lại không khỏi xúc động đến rơi nước mắt, cho dù trong chiến tranh họ từng ở phía bên này hay phía bên kia. Thời gian như một phép mầu đã giúp cho tình tự dân tộc và tính nhân bản của người Việt Nam dần được phục hồi và chiến thắng tất cả. Nó có khả năng hàn gắn được tốt những vết thương của một thời đã bị cuộc chiến tranh lâu dài gây ra. Đó là quy luật tất yếu của cuộc sống. 

 

Nhưng một điều cũng rất hợp với quy luật là: khi những vết thương ngày càng được hàn gắn tốt bao nhiêu thì lại càng bộc lộ sâu sắc hơn mâu thuẫn cơ bản trong lòng dân tộc ta hôm nay bấy nhiêu. Đó là mâu thuẫn giữa đại bộ phận dân tộc với một thiểu số nắm thực quyền đang cố duy trì cái thể chế chính trị độc đảng toàn trị ở Việt Nam. Mâu thuẫn này là đối kháng, không có cơ sở dung hòa, khi mà nguyên nhân sinh ra nó vẫn còn nguyên! 

 

Theo tôi, con đường đúng đắn duy nhất của dân tộc ta hôm nay là phải dân chủ hóa được thực sự đất nước bằng con đường hòa bình, bất bạo động. Cụ thể là phải thay thế được một cách triệt để chế độ chính trị ở Việt Nam. Rằng: Muốn chống áp bức, bất công, đói nghèo, tụt hậu; muốn hoàn thành những mục tiêu của một nước Việt Nam mới nhằm hòa nhập được tốt vào thế giới hiện đại; ngoài con đường dân chủ, đa nguyên, đa đảng và pháp trị, nhân dân Việt Nam không còn con đường nào khác! 

 

Phụ lục: 

1) Việt Nam Đất Nước Tôi (Đỗ Nam Hải, tháng 6/2000): 
 
2) Cảm xúc mùa xuân (Đỗ Nam Hải, tháng 2/2012): 
 
3) Quan điểm và cuộc sống (Nguyễn Hộ): 
 
4) Đêm cuối cùng mẹ ru con (Nguyễn Trọng Luân): 
Biền biệt mấy chục năm mẹ đón con về 
Đồng đã gặt rồi, đón con rơm vàng xóm ngõ 
Tám mươi tuổi mẹ lại bồng con, vườn nhà nức nở 
Nức nở … à ơi 
Đêm nay nhà mình đèn lại sáng choang 
Nước mắt tưởng khô, mấy chục năm không khô nổi 
Thức cùng con đêm nay 
Mai con lại đi rồi 
Mẹ bồng con à ơi 
Hài cốt quấn vuông vải mới 
Có tã lót nào đau xé lòng đến thế? 
Mẹ ru con quằn quại tiếng trống kèn 
Cái tên Cửa ngõ Sài Gòn 
Ba mươi ba năm, mẹ nằm mơ đêm nào cũng thấy 
Ngày một, ngày rằm thắp hương bánh Cáy 
Ngày thường, rau tập tàng cua ốc … à ơi … 
Mai lại đưa con đi với đồng đội con rồi 
Nghĩa trang heo heo gió tím 
À … ơi … 
Ngủ đi con 
Đêm nay mẹ ru con lần cuối 
À … ơi… 
(Nguyễn Trọng Luân, 2008) 
——————————
Đại sứ quán VN ở Nga kết hợp với chủ chứa ép buộc 15 nạn nhân vào con đường mãi dâm.

Posted in ►Chiến Tranh mạng giữa Blogger VN và Đảng CSVN | Leave a Comment »

►Hiến pháp dù sửa thật hay không, đảng vẫn chỉ coi là mớ giấy lộn-

Posted by hoangtran204 trên 09/03/2013

“Ở Việt Nam hiện nay, cũng như ở nhiều quốc gia độc tài trên thế giới, hiến pháp chỉ là một trò chơi tu từ (rhetorical game). Nó vô ích.

Dĩ nhiên, nếu khéo léo, những người đối lập hoặc độc lập vẫn có thể biến trò chơi tu từ vô ích ấy thành một thứ cơ hội tốt để đạt được hai mục tiêu chính:

một, gây nên một phong trào tranh luận thực sự trong dân chúng về những vấn đề chính trị quan trọng trong nước để, qua đó, rèn luyện ý thức công dân và hướng đến việc hình thành một xã hội dân sự tại Việt Nam; và

hai, qua hiến pháp, đặt vấn đề về bản chất của chế độ và nhu cầu dân chủ hoá chế độ.

Làm giỏi, người ta có thể đẩy chính quyền và đảng lãnh đạo – những kẻ gài bẫy – vào thế bị sập bẫy.”  

Hiến pháp và việc sửa đổi hiến pháp- Chỉ là trò chơi… để đánh lạc hướng dư luận…và làm mọi người quên đi những vấn đề quan trọng khác…)

)

)

Hiến pháp dù sửa thật hay không, đảng vẫn chỉ coi là mớ giấy lộn

HP

Tác giả: 

Trước sự phẫn nộ của người dân ngày càng dâng cao vì tính “hèn với giặc ác với dân” của nhà cầm quyền CSVN, Bộ Chính trị bèn bật đèn xanh cho Quốc hội bù nhìn của mình ban hành nghị quyết lấy ý kiến nhân dân về việc sửa đổi hiến pháp. Mục đích để xoa dịu sự căm phẫn của người dân. Nhiều người dân trong nước – nhất là các trí thức, các cựu đảng viên cộng sản, các blogger, các nhà đấu tranh dân chủ, và cả Hội Đồng Giám Mục Việt Nam – đã mạnh mẽ lên tiếng đề nghị hủy bỏ điều 4 hiến pháp, điều 17&18 về luật đất đai, thậm chí đòi lập một hiến pháp hoàn toàn mới mang tính dân chủ đa đảng, và đòi thực hiện một cuộc Trưng Cầu Dân Ý có quốc tế giám sát.

Sự kiện này đã làm dấy lên trong dân chúng một cuộc đấu tranh rất sôi động và mạnh mẽ, khơi dậy ý thức của toàn dân về tính phi lý trong việc đảng cộng sản độc quyền lãnh đạo đất nước suốt gần 70 năm, biến đất nước thành một nước nghèo đói và tụt hậu, lại còn tham quyền cố vị muốn tiếp tục lãnh đạo nữa.

Bộ Chính trị và Quốc hội CSVN có lẽ không ngờ bị “gậy ông đập lưng ông”  khi người dân lại hưởng ứng nghị quyết của Quốc hội một cách rất bất lợi cho chế độ như vậy. Điều vô cùng bất lợi cho uy tín của đảng và Bộ Chính trị là phản ứng bằng những lời tuyên bố hết sức ngu xuẩn và đểu cáng của Nguyễn Phú Trọng và Nguyễn Sinh Hùng, hai nhân vật đứng đầu đảng và quốc hội CSVN. Người dân vừa mừng vừa tức giận vì những phát biểu điên dại ấy. Mừng vì những phát biểu ấy đã làm cho cả thế giới thấy được rõ ràng bộ mặt thật đầy giả dối và trâng tráo của đảng CSVN mà hai nhân vật ấy là tiêu biểu xứng hợp nhất. Mừng vì thấy được cái trí tuệ và tư cách hết sức thấp kém của những người lãnh đạo cao cấp nhất chế độ. Và mừng vì thấy được nghị quyết của Quốc hội về việc lấy ý kiến nhân dân đúng là một trò hề bịp bợm hết sức vụng về. Tức giận vì không ngờ được đảng CSVN mà hai ông là đại diện lại tỏ ra lật lọng, khinh thường và xúc phạm người dân đến mức độ ấy. Tha thiết mời gọi người dân góp ý, nhưng khi họ góp ý không đúng ý mình thì mạt sát họ, lại còn đe dọa họ!

Điều không ngờ là người dân lại có thể “tương kế tựu kế” một cách tuyệt vời là biến nghị quyết bịp bợm kia của Quốc hội Cộng sản thành một cuộc đấu tranh chống độc tài đầy ý nghĩa và khá hiệu quả. Chưa bao giờ uy tín của đảng, của Quốc hội, của những lãnh đạo đảng CSVN lại xuống thấp như hiện nay. Chưa bao giờ bộ mặt thực bỉ ổi của đảng và Quốc hội lại được phơi bày rõ ràng trước toàn dân như hiện nay.

Trước sự phẫn nộ và phản ứng mạnh mẽ của người dân, điều may ra có thể xảy đến (mà hầu chắc là không may) là Bộ Chính trị và Quốc hội CSVN sẽ chấp nhận lùi một bước để tồn tại hầu có thể tiến hai ba bước về sau. Có thể Quốc hội đành phải miễn cưỡng chấp nhận bỏ điều 4, điều 17&18 trong hiến pháp, thậm chí chấp nhận một hiến pháp đa nguyên đa đảng để xoa dịu sự phẫn nộ của người dân đang dâng cao. Cuộc cách mạng hiến pháp như thế có thể sẽ đạt được thắng lợi, và nhiều người dân sẽ cảm thấy hả lòng hả dạ.

Với đầu óc vô cùng bảo thủ của Bộ Chính trị hiện nay thì điều may trên rất khó xảy ra. Nhưng cho dẫu có xảy ra thì đừng vội mừng khi mà cơ chế hay nhân sự của chế độ vẫn không có gì thay đổi. Kinh nghiệm quá khứ trong chế độ cộng sản cho thấy: Các bản hiến pháp của CSVN (1946, 1959, 1980 và 1992), bản nào cũng chủ trương tôn trọng quyền tự quyết của dân tộc và các nhân quyền cơ bản của người dân. Nhưng bộ máy cai trị của chế độ CSVN có coi hiến pháp mà họ soạn thảo ra là gì đâu? Đối với người cộng sản, hiến pháp là mớ giấy lộn chỉ dùng để trang hoàng bên ngoài chế độ cho có vẻ dân chủ nhân quyền, hầu lừa bịp thế giới che dấu cái thực chất độc tài và chà đạp nhân quyền bên trong.

Có “ở trong chăn mới biết chăn có rận”. Chỉ những ai từng sống dưới chế độ cộng sản mới cảm nhận được sự giả dối tàn ác của chế độ. Người ngoài cuộc nếu chỉ đọc hiến pháp để đánh giá ắt sẽ kết luận Việt Nam có dân chủ và nhân quyền đâu thua kém gì những nước tự do! Cái rất khéo của CSVN là dù bên trong có thối om, có bẩn thỉu đến đâu, thì bên ngoài vẫn có vẻ thơm tho đẹp đẽ. Nhờ vậy họ không chỉ lừa được người dân trong nước, mà từng lừa được cả thế giới!

Sau đợt lấy ý kiến người dân lần này, giả như đảng CSVN ban hành một hiến pháp đầy tinh thần dân chủ, đa nguyên đa đảng, đầy những điều khoản bảo vệ nhân quyền, nhưng… nếu cơ chế nhân sự của chế độ vẫn y như cũ, thì cũng như không. Đảng nắm quyền vẫn có thể ra lệnh cho quốc hội hay chính phủ ban hành hàng chục pháp lệnh, hàng trăm nghị quyết, hàng ngàn điều luật vi hiến để buộc người dân phải chấp nhận ách thống trị độc tài của họ. Họ vẫn có thể ra lệnh cho quân đội, công an mạnh tay đàn áp các nhà bất đồng chính kiến, cướp đất đai tài sản của người dân, ra lệnh cho tòa án bỏ tù những nhà đấu tranh đòi dân chủ, nhân quyền, v.v… bất chấp hiến pháp.

Tranh đấu buộc chế độ hủy bỏ điều 4 hiến pháp, soạn thảo một hiến pháp hoàn toàn mới đầy tinh thần dân chủ nhân quyền chỉ là một giai đoạn cần thiết của cuộc đấu tranh. Điều cần thiết và quan trọng hơn là hiến pháp đó phải được thi hành trong đời sống thực tế của đất nước và của người dân. Điều quan trọng này không bao giờ có thể thành hiện thực khi những kẻ độc tài hiện nay vẫn còn tiếp tục nắm quyền. Cổ nhân nói: “Chó đen giữ mực”. Vì thế đừng ảo tưởng hay hy vọng cơ chế cộng sản đang nắm quyền có thể sửa đổi bản chất gian manh và độc ác của họ. Đúng như ông Yeltsin nói: “Cộng sản chỉ có thể thay thế chứ không thể thay đổi”.

Muốn Việt Nam có tự do dân chủ, hiến pháp cần phải thay đổi là chuyện cần thiết. Nhưng điều cần thiết hơn là những kẻ độc tài gian ác đang nắm quyền phải bị truất phế.Truất phế chứ không chỉ cải thiện hay sửa sai. Đó là điều tất yếu phải hướng tới để Việt Nam có tự do dân chủ. Nhưng trong điều kiện hiện nay, đường tiến tới mục đích quả còn khá dài, chúng ta cần phải chia thành nhiều đoạn nhỏ để thực hiện từng đoạn một. Đòi hỏi một hiến pháp đúng nghĩa là hiến pháp –tức một hiến pháp do dân và vì quyền lợi của dân, chứ không phải do đảng và vì quyền lợi của đảng cầm quyền– là một đoạn đường trước mắt mà chúng ta có thể thực hiện và rõ ràng chúng ta đang cố gắng thực hiện.

Houston, ngày 8-3-2013

© Nguyễn Chính Kết

© Đàn Chim Việt

Posted in Hiến pháp: sửa đổi 2013 | 1 Comment »

►Hiến pháp và việc sửa đổi hiến pháp- Chỉ là trò chơi… để đánh lạc hướng dư luận…và làm mọi người quên đi những vấn đề quan trọng khác…

Posted by hoangtran204 trên 08/03/2013

Trích:

  “…lý do đơn giản: để đánh lạc hướng dư luận. Để mọi người có ảo tưởng là họ đang rục rịch thay đổi. Để mọi người xúm vào trò chơi chữ nghĩa và quên đi những vấn đề quan trọng khác”  Thí dụ như vấn đề quan trong dưới đây:

—————————

Phản ứng người Việt hải ngoại về việc ‘dự thảo sửa đổi’ Hiến

Hiến pháp và việc sửa đổi hiến pháp

Nguyễn Phục Hưng

VOAtiengviet.com

06.03.2013

 

Tôi không quan tâm nhiều đến cuộc vận động sửa đổi hiến pháp ở Việt Nam hiện nay; rất hiếm khi tôi đọc các bài tham gia thảo luận, dù thuộc phe “lành mạnh” hay phe “suy thoái đạo đức” – nói theo chữ của Nguyễn Phú Trọng, vậy mà, cuối cùng, hôm nay lại ngồi viết về đề tài này. Có cái gì như oái oăm.

Có hai lý do chính khiến tôi không quan tâm đến một vấn đề có vẻ như rất quan trọng này.

Lý do thứ nhất: Tôi không tin mấy vào tác dụng của hiến pháp trong hoàn cảnh của Việt Nam hiện nay. Trên nguyên tắc, hiến pháp được xem là văn kiện pháp lý quan trọng nhất trong sinh hoạt chính trị của một nước. Nó là nền tảng của pháp quyền. Nó là những nguyên tắc chủ đạo để xây dựng hệ thống luật pháp cũng như các thiết chế quyền lực. Nó là một thứ khế ước giữa những người cai trị và những người bị trị để mỗi bên, một mặt, nhận thức được quyền hạn và trách nhiệm của mình; mặt khác, tránh việc lạm quyền cũng như tạo sự tin cậy và đồng thuận trong việc theo đuổi những lý tưởng chung. Nó cũng đồng thời là một bảng giá trị để hướng tới tương lai và để nối kết thế hệ này với các thế hệ khác. Vừa có kích thước theo chiều ngang (giữa các tầng lớp khác nhau trong xã hội) vừa có kích thước theo chiều dọc (giữa các thế hệ), hiến pháp, một mặt, bảo đảm tự do và niềm tin cho dân chúng, mặt khác, tạo nên tính chính đáng và từ đó, sức mạnh cho nhà nước.

Tuy nhiên, dù có ý nghĩa lớn lao như vậy, hiến pháp vẫn cũng chỉ là một văn bản được hình thành bằng chữ viết. Từ văn bản đến hiện thực, nó cần hai bước kế tiếp: Một, được diễn dịch; và hai, được thực hiện.

Kinh nghiệm cho thấy, ở Việt Nam từ mấy chục năm nay, chính ở hai bước này, nhà cầm quyền luôn luôn gian lận.

Hiến pháp ghi nhận quyền tự do ngôn luận ư? Nhưng nhân dân mới mở miệng ra để có “vài lời” với Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng là đã bị đuổi việc ngay tức khắc (trường hợp phóng viên Nguyễn Đắc Kiên mới đây); mới lên tiếng chống lại ngoại xâm là đã bị đạp vào mặt (trường hợp Nguyễn Chí Đức) hoặc bị bắt bỏ tù (Điếu Cày Nguyễn Văn Hải, Tạ Phong Tần…).

Bây giờ, một số điều khoản trong hiến pháp được sửa lại cho hợp tai hơn nhưng nếu nhà cầm quyền vẫn sẵn sàng chà đạp lên tất cả các điều khoản hay ho ấy thì sao? – Thì cũng chả có gì thay đổi cả. Trong thế giới chính trị, cần phân biệt tu từ (rhetoric) và thực tế. Hiến pháp, nếu không được tôn trọng và ứng dụng, chỉ là một hình thức tu từ. Trong chính trị, phần lớn các hình thức tu từ chỉ có tác dụng mê hoặc và lừa dối. (Mời các bạn xem: ►Hiến pháp dù sửa thật hay không, đảng vẫn chỉ coi là mớ giấy lộn-)

Lý do thứ hai: Tôi ngờ cuộc vận động sửa đổi hiến pháp lần này chỉ là một trò chơi chính trị của nhà cầm quyền Việt Nam. Cho đến nay, Việt Nam đã có bốn bản hiến pháp: 1946, 1959, 1980 và 1992 và một lần sửa hiến pháp (2001). Ở đây, tôi không bàn đến nội dung; tôi chỉ bàn về thời điểm: nói chung, cả bốn thời điểm ấy đều hợp lý. Năm 1946, mới thành lập chính quyền; năm 1959: sau hiệp định Geneve, đảng Cộng sản nắm chính quyền ở cả miền Bắc; năm 1980, sau khi đất nước thống nhất; và năm 1992, sau khi áp dụng chính sách đổi mới cũng như sau khi hệ thống xã hội chủ nghĩa bị sụp đổ hoàn toàn ở Liên Xô và Đông Âu. Nhưng còn bây giờ? Tình hình có gì đổi mới đến độ phải sửa đổi hiến pháp? – Có. Chỉ có một vấn đề lớn: xu hướng dân chủ hóa. Tuy nhiên, điều chắc chắn là đảng Cộng sản không hề có ý định sửa đổi hiến pháp để đáp ứng lại xu hướng dân chủ hóa ấy. Chắc chắn là họ sẽ không đụng đến các điều khoản căn bản như vấn đề đa nguyên, đa đảng hay vấn đề phân quyền để bảo đảm dân chủ. Chưa gì Nguyễn Phú Trọng đã lên án những người đề nghị bỏ điều 4 trong hiến pháp Việt Nam là những kẻ “suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống”, hơn nữa, còn yêu cầu chính quyền “quan tâm xử lý” (hiểu theo nghĩa là cấm đoán, trù dập hay bắt bớ!).

Nhưng nếu không có ý định thay đổi mà họ vẫn tổ chức một cuộc vận động rầm rộ như vậy, họ nhắm đến điều gì? Theo tôi, lý do đơn giản: để đánh lạc hướng dư luận. Để mọi người có ảo tưởng là họ đang rục rịch thay đổi. Để mọi người xúm vào trò chơi chữ nghĩa và quên đi những vấn đề quan trọng khác. Thì cứ quan sát mà xem: Từ khi có cuộc vận động ấy, ngay trên các tờ báo mạng và blog độc lập nhất ở trong nước, người ta hầu như chỉ tập trung bàn cãi về vấn đề hiến pháp. Nạn tham nhũng tạm thời bị gác lại. Sự lỗ lã và từ đó nợ nần chồng chất của các đại công ty quốc doanh cũng như sự kiệt quệ của kinh tế Việt Nam bị tạm thời gác lại. Vấn đề Biển Đông cũng tạm thời bị gác lại. Người vui nhất trong các cuộc vận động này chắc chắn không ai khác hơn là Nguyễn Tấn Dũng, “đồng chí Ếch” một dạo được nhắc nhở hầu như hàng ngày.

Với hai lý do nêu trên, tôi không thấy có gì đáng quan tâm đến cuộc vận động sửa đổi hiến pháp tại Việt Nam hiện nay. Tuy nhiên, tôi vẫn viết bài này. Như một sự cảnh giác.

Xin nói thêm, liên quan đến hiến pháp nói chung, có mấy vấn đề cần được lưu ý:

Thứ nhất, mặc dù có tầm quan trọng như vậy, không phải quốc gia nào trên thế giới cũng có hiến pháp thành văn. Ít nhất ba nước không có: Anh, New Zealand và Do Thái. Nhưng hầu như không ai nghi ngờ tính chất dân chủ ở ba nước ấy cả. Như vậy, vấn đề không phải là văn bản hay văn kiện. Vấn đề chính là sự tôn trọng của mọi người, từ giới cầm quyền đến dân chúng, đối với những nguyên tắc pháp quyền và dân chủ nói chung.

Thứ hai, không phải hiến pháp nào dài dòng và rườm lời là hay. Bản hiến pháp cổ nhất thời hiện đại và cũng là mẫu mực cho hiến pháp của hầu hết các quốc gia khác là của Mỹ. Được viết năm 1787, thông qua năm 1788 và có hiệu lực từ năm 1789, đó là bản hiến pháp ngắn nhất thế giới: nó chỉ có 4.543 từ (trong đó chữ “dân chủ” – democracy- không hề xuất hiện). Trong khi đó bản hiến pháp của Ấn Độ dài đến 117.369 từ (căn cứ trên bản tiếng Anh), được xem là bản hiến pháp của quốc gia dài nhất trên thế giới (ở một số nước, như Mỹ, một số tiểu bang cũng có hiến pháp riêng. Ở phạm vi tiểu bang, hiến pháp của tiểu bang Alabama, với 340.136 từ, dài gấp ba lần hiến pháp Ấn Độ; và gấp 40 lần hiến pháp của nước Mỹ). Không ai dám nói Mỹ ít dân chủ hơn Ấn Độ cả. (Ở Việt Nam, sau mỗi lần thay đổi, hiến pháp lại dài ra: bản 1946 có 70 điều khoản; năm 1959: 112 điều khoản; năm 1980 và 1992: 147 điều khoản. Tôi không tính từ vì trên computer chỉ tính được từng tiếng rời – đúng hơn là âm tiết, syllable – thôi.)

Thứ ba, như Dawn Oliver và Carlo Fusaro ghi nhận trong cuốn How Constitutions Change: A Comparative Study (Hart Publishing, 2011, tr. 405-433), chuyện sửa đổi hiến pháp, với những mức độ và dưới những hình thức khác nhau, là điều bình thường: Mỗi hiến pháp đều vừa có tính vững chắc để phác họa những hướng phát triển chiến lược lâu dài lại vừa có tính uyển chuyển đủ để đáp ứng các thay đổi của từng thời đại, thậm chí, từng thời kỳ.

Tuy nhiên, như Jose Luis Cordeiro ghi nhận trong bài “Constitutions around the world: a view from Latin America”, việc sửa đổi hiến pháp quá nhiều không phải là một dấu hiệu tốt. Trên thế giới, không có nơi nào người ta thay đổi hiến pháp nhiều bằng ở vùng châu Mỹ Latin. Theo thứ tự: Dominican Republic (32 lần), Venezuela (26 lần), Haiti (24 lần), Ecuador (20 lần), El Salvador, Honduras và Nicaragua (cả ba đều 14 lần). Tất cả các nước này đều liên tục bị bất ổn.

Dĩ nhiên, điều đó không có nghĩa là sự cố định của một bản hiến pháp, tự nó, không phải là điều hay: ở hầu hết các quốc gia độc tài ở Trung Đông và châu Phi, người ta chẳng tha thiết gì đến việc sửa đổi hiến pháp cả.

Vấn đề, như Cordeiro nhấn mạnh, là ở chỗ: “Câu trả lời cho những khủng hoảng về kinh tế và chính trị không phải là có nhiều luật hơn, đặc biệt nếu chúng xấu hoặc không được ứng dụng hoặc không thể ứng dụng. Tốt hơn hết là có ít luật: Đó là những luật tốt và được tôn trọng. Luật lệ không được thiết chế hóa cũng như không được tôn trọng là những luật lệ vô ích.”

Ở Việt Nam hiện nay, cũng như ở nhiều quốc gia độc tài trên thế giới, hiến pháp chỉ là một trò chơi tu từ (rhetorical game).

Nó vô ích.

Dĩ nhiên, nếu khéo léo, những người đối lập hoặc độc lập vẫn có thể biến trò chơi tu từ vô ích ấy thành một thứ cơ hội tốt để đạt được hai mục tiêu chính:

một, gây nên một phong trào tranh luận thực sự trong dân chúng về những vấn đề chính trị quan trọng trong nước để, qua đó, rèn luyện ý thức công dân và hướng đến việc hình thành một xã hội dân sự tại Việt Nam; và

hai, qua hiến pháp, đặt vấn đề về bản chất của chế độ và nhu cầu dân chủ hoá chế độ.

Làm giỏi, người ta có thể đẩy chính quyền và đảng lãnh đạo – những kẻ gài bẫy – vào thế bị sập bẫy.

Posted in Hiến pháp: sửa đổi 2013 | Leave a Comment »

►Phản ứng người Việt hải ngoại về việc ‘dự thảo sửa đổi’ Hiến pháp 1992

Posted by hoangtran204 trên 08/03/2013

Phản ứng người Việt hải ngoại về việc ‘dự thảo sửa đổi’ Hiến pháp 1992

Nguyễn Phục Hưng

Đáp lời của nhà nước Việt Nam, kêu gọi người dân đóng góp vào bản dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992, một nhóm 72 nhà trí thức đã đưa ra bản tham gia ý kiến chi tiết được mệnh danh là Kiến nghị 72. Bản tham gia ý kiến này yêu cầu bãi bỏ Điều 4 Hiến pháp, thành lập thể chế đa nguyên đa đảng, có tam quyền phân lập rõ ràng, phi chính trị hóa quân đội và trả lại quyền sở hữu đất đai cho người dân. Bản Kiến nghị 72 đã có hàng ngàn chữ ký ủng hộ. Sự kiện này đã khiến nhiều người có một chút hy vọng, là có lẽ đã đến lúc Việt Nam thay đổi để dân chủ hóa đất nước hầu theo kịp đà tiến triển của thế giới.

Tuy nhiên Tổng bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng đã làm mọi người ngỡ ngàng với câu nói, về các góp ý sửa đổi hiến pháp: “Vừa rồi đã có các luồng ý kiến, cũng có thể quy vào được là suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống.” Theo Bản tin thời sự của Đài truyền hình Việt Nam tối 25/2 ông Trọng đã phát biểu trong khi ông tới tỉnh Phú Thọ:

“Xem ai có tư tưởng muốn bỏ Điều 4 Hiến pháp không? Phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng không? Muốn đa nguyên đa đảng không? Muốn tam quyền phân lập không? Có phi chính trị hóa quân đội không? Người ta đang có những quan điểm đấy, đưa cả lên phương tiện thông tin đại chúng đấy. Thế là suy thoái chứ còn gì nữa. Tham gia khiếu kiện, biểu tình, ký đơn tập thể, thì nó là cái gì? Nên phải quan tâm xử lý những điều đó.”

​​​Lời phát biểu của ông Nguyễn Phú Trọng gây sửng sốt cho nhiều người trong cũng như ngoài nước, và nhiều người lên tiếng phản hồi. Tuy nhiên có lẽ bài viết của nhà báo Nguyễn Đắc Kiên có tựa đề ‘Vài lời với Tổng Bí Thư đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng’ của báo Gia đình và Xã hội được nhiều người chú ý nhất. 

►Nhà báo Nguyễn Đắc Kiên đã bị sa thải sau khi nói: Vài lời với TBT ĐCS VN Nguyễn Phú Trọng

Nguyễn Đắc Kiên đã bị cách chức 24 giờ sau đó. Nhà báo Nguyễn Đắc Kiên đã bác bỏ các nhận định của TBT Nguyễn Phú Trọng và cho rằng Kiến Nghị 72 phản ánh nguyện vọng của đa số người dân Việt Nam.

GS Nguyễn Chính Kết là một thành viên trong ban điều hành Khối 8406 Hải Ngoại có nhận xét như sau về bản Kiến nghị 72:

“Tôi cho rằng đó là một phương cách đấu tranh rất là tuyệt vời để cho đảng CS biết người dân chán ghét cái cách cai trị của đảng CS lắm rồi, vì đã làm cho đất nước tụt hậu và nghèo đói suốt gần 70 năm nay. Các ông đó nên nhường quyền cai trị cho người khác hay đảng phái khác xứng đáng hơn. Kết quả của bản kiến nghị này là tạo được ý thức trong dân chúng về bản chất gian dối và sự bất lực của đảng CSVN trong việc giải quyết những vấn nạn của đất nước, đồng thời gây nên một làn sóng đấu tranh mạnh hơn trong dân chúng.”

Một nhà bình luận chính trị cho đài truyền hình Việt Ngữ BYN tại Houston là ông Đỗ Đăng Giao thì đồng ý với các điều nêu lên trong Kiến nghị 72:

“Đọc qua Kiến Nghị đó thì tôi thấy là có nhiều điểm tôi cũng đồng ý. Tất cả những điều, từ điều 1 tới 6, nó đều phù hợp với lại một Hiến pháp của chế độ dân chủ.”

Trong khi đó nhà báo Lễ Diễn Đức, thì nói là ông không hy vọng gì vào thiện chí của nhà nước Việt Nam trong vụ này, mặc dù ông cũng ký tên ủng hộ Kiến nghị 72:

“Tôi cũng là một người đã ký ủng hộ vào chuyện đó. Tôi không có bất kỳ một cái suy nghĩ ảo tưởng ở một cái thiện chí nào ở phía chính quyền Hà Nội cả, bởi vì họ vẫn cố tình cay cú và tất cả các bài viết trên báo Quân Đội Nhân Dân, trên báo đảng chính thức đều đập lại những lập luận của các nhà trí thức. Theo tôi nghĩ đây chỉ là một một cuộc tập dượt của công dân, thức tỉnh xã hội làm cho mọi người thấy được cái biến chuyển như vậy. Hiến pháp là một khế ước của xã hội chứ không phải là một bộ luật của nhà nước. Cho nên tôi không nhìn thấy một biến chuyển nào lớn hết.”

Giáo Sư Nguyễn Chính Kết cho rằng lời phát biểu của ông Nguyễn Phú Trọng đã phản ánh một thái độ coi thường người dân:

“Quả thật tôi không thể ngờ được một nhà lãnh đạo đất nước mà lại có lời phát biểu ngu xuẩn như vậy. Nó xúc phạm tới nhân dân rất là nhiều, và những phát biểu ấy làm cho cả thế giới thấy được rõ ràng cái sự tham quyền cố vị và bản chất lật lọng của đảng CSVN, đồng thời cho thấy việc lấy ý kiến nhân dân chỉ là trò lừa bịp, mị dân chứ không phải là để biết nguyện vọng đích thực của người dân là gì. Lời phát biểu ấy chỉ làm dân chúng thêm phẫn nộ.”

Ông chia sẻ sự cảm phục của ông với những người trong nước và đặc biệt với nhà báo Nguyễn Đắc Kiên khi can đảm lên tiếng:

“Tôi rất là vui mừng và cảm phục khi thấy Hội đồng Giám mục Việt Nam, các nhà trí thức và nhà báo Nguyễn Đắc Kiên đã can đảm lên tiếng đòi hủy bỏ điều 4 Hiến pháp, tức là phủ nhận sự lãnh đạo bất lực của đảng CSVN. Những tầng lớp này mà lên tiếng thì sẽ khuyến khích dân chúng lên tiếng theo.”

Còn ông Đỗ Đăng Giáo thì cho rằng ông TBT Nguyễn Phú Trọng đã có những lời phát biểu khinh thường khát vọng tự do dân chủ của người dân:

“Ông TBT Nguyễn Phú Trọng đã sai lầm khi ông qui chụp những người góp ý kiến, là suy thoái đạo đức, suy thoái chính trị và suy thoái tư tưởng. Tôi nghĩ là ông ấy đã sai lầm trong việc nhận định về khát vọng của người dân trong nước, được có tự do và dân chủ.”

Ông Giao nhận định rằng nhà báo Nguyễn Đức Kiên là người có can đảm phê bình một lãnh tụ đảng CSVN nặng nề và chính xác:

“Tất nhiên có nhiều người phản đối nhưng theo tôi biết thì hình như ông Nguyễn Đắc Kiên là người đầu tiên viết lên bài với tựa đề ‘Vài lời với TBT đảng CSVN Nguyễn Phú Trọng’. Phải nói là bài viết của ông Nguyễn Đức Kiên rất là hay, và rất là sắt thép, vì ông phân tích rất là chính xác. Chưa có khi nào một người dân mà có nhận định phê phán một người đứng đầu đảng Cộng Sản VN với lời lẽ nặng nề như vậy.”

►Nhà báo Nguyễn Đắc Kiên đã bị sa thải sau khi nói: Vài lời với TBT ĐCS VN Nguyễn Phú Trọng

Nhìn về tương lai của một tiến trình dân chủ ôn hòa như tại Miến Điện có thể sẽ xảy ra tại Việt Nam, các nhà bình luận chính trị có những quan điểm cũng như hy vọng khác nhau.

Giáo sư Nguyễn Chính Kết nói rằng chỉ khi nào đảng CSVN từ bỏ điều 4 Hiến pháp thì mới có hy vọng cho một tiến trình dân chủ ôn hòa tại quê nhà:

“Tôi mong rằng các nhà lãnh đạo đảng CSVN giác ngộ được điều này, là không bỏ điều 4 Hiến pháp mà cứ ngoan cố tiếp tục nắm quyền với bất cứ giá nào thì đó là con đường tự sát của đảng CSVN. Chỉ khi nào giới lãnh đạo đảng CSVN giác ngộ được điều ấy thì họ mới từ bỏ quyền lực và như vậy mới có được một tiến trình dân chủ ôn hòa tại Việt Nam.”

Ông Đỗ Đăng Giao thì cho rằng rất có thể đảng CSVN tiếp tục bỏ qua sự góp ý của người dân:

“Người dân trong nước hiện thời đều muốn có một Hiến pháp thật sự dân chủ, thì nếu họ làm như vậy, tôi nghĩ rằng là họ sẽ phải trả giá rất đắt cho việc coi thường những khát vọng của người dân.”

Nhà báo Lê Diễn Đức thì so sánh với cuộc sụp đổ của Cộng sản Ba Lan, ông cho rằng chưa hy vọng có sự chuyển hóa qua dân chủ tại Việt Nam:

“Cả xã hội còn sống trong sự sợ hãi, cho nên là chưa có một phong trào xã hội, chưa tạo một sức bật của xã hội, thì chưa thể làm cách mạng được, cuộc cách mạng nào cũng là quần chúng. Để dẫn dắt cuộc cách mạng thì cần phải số đông, nhưng mà số đông hiện nay chưa có. Cho nên là hy vọng rằng, có một sự chuyển biến nào ở Việt Nam, theo tôi, là còn rất là ảo tưởng.”

Posted in Hiến pháp: sửa đổi 2013 | Leave a Comment »

►Ủy ban kinh tế của Quốc Hội nhận định: với quy mô nợ xấu bất động sản hiện tại (2 triệu tỷ đồng VN, hay 100 tỷ đô la), Nhà nước không đủ khả năng giải cứu.

Posted by hoangtran204 trên 08/03/2013

Doanh nghiệp BĐS không nên kỳ vọng sự giải cứu từ Nhà nước

Ủy ban kinh tế nhận định với quy mô nợ xấu bất động sản hiện tại, Nhà nước không đủ khả năng giải cứu.

Theo báo cáo mới cập nhật của Ủy ban Kinh tế, vấn đề nợ xấu và giải quyết nợ xấu trong lĩnh vực bất động sản hiện nay đang được sự quan tâm đặc biệt, do dư nợ tín dụng liên quan đến bất động sản, như vay kinh doanh bất động sản, vay đầu tư sản xuất kinh doanh và thế chấp bằng bất động sản… chiếm một tỷ trọng đáng kể trong tổng dư nợ dư nợ (số liệu do Bộ trưởng Bộ Xây dựng Trịnh Đình Dũng cho biết vào tháng 10/2012 chiếm khoảng 57%, tương đương 1 triệu tỷ đồng).

Hơn nữa, nợ xấu bất động sản kéo theo sự trì trệ của 2 ngành là xây dựng (tạo việc làm cho khoảng 3,3 triệu lao động, hay 6,4% tổng lao động của nền kinh tế; lao động trong ngành xây dựng có mức thu nhập thấp hơn so với mức trung bình của nền kinh tế và 88,9% lao động trong ngành này không có bảo hiểm xã hội) và vật liệu xây dựng (khoảng trên 500.000 lao động, tức trên 1% tổng số lao động của nền kinh tế và 62,3% lao động trong ngành này không có bảo hiểm xã hội).

Cơ cấu nợ xấu

Nguồn: Ngân hàng Nhà nước/Ủy ban kinh tế

Ngoài ra, nhiều doanh nghiệp bất động sản đang có nợ chiếm một tỷ lệ lớn trong tổng tài sản. Các chuyên gia của Ủy ban kinh tế cho rằng, trong bối cảnh thị trường bất động sản được dự báo còn tiếp tục điều chỉnh từ trạng thái giá bong bóng để trở về mức cân bằng dài hạn, giá trị tài sản (bất động sản) sẽ phải co lại đáng kể, trong khi giá trị của các khoản nợ sẽ tiếp tục nở ra (do doanh nghiệp vẫn phải tiếp tục trả lãi đối với các khoản vay trong bối cảnh lãi suất vẫn còn duy trì ở mức cao).

Sự kéo dài của tình trạng “nợ nở ra, tài sản co lại” sẽ làm không ít các doanh nghiệp phải bị cụt vốn và phá sản, ảnh hưởng mạnh đến thanh khoản của các ngân hàng có liên quan và qua đó đe dọa đến sự an toàn của hệ thống ngân hàng, báo cáo của Ủy ban kinh tế cho biết.

Tuy nhiên, theo cơ quan này, có nhiều thách thức liên quan đến việc thực hiện các giải pháp giải quyết nợ xấu của lĩnh vực bất động sản.

Thứ nhất, do sai lệch lớn trong quan hệ cung cầu bất động sản về nhà ở, khi mà nguồn cung các sản phẩm nhà ở trung cấp và cao cấp với giá trị cao chiếm tỷ trọng lớn, hoàn toàn sai lệch với cơ cấu của cầu, hiện chủ yếu là sản phẩm nhà ở bình dân với giá trị khiêm tốn.

Thứ hai, do sai lệch lớn trong kỳ vọng của các doanh nghiệp bất động sản.

Theo báo cáo, tình trạng đầu cơ diễn ra trên diện rộng và kéo dài đã làm sai lệch hoàn toàn các tín hiệu thị trường, tạo ra kỳ vọng sai lệch “giá đất và bất động sản chỉ có tăng chứ không thể giảm”. Không ít các doanh nghiệp bất động sản vẫn găm giá để chờ một sự “giải cứu” từ phía Nhà nước. Tuy nhiên đây là một kỳ vọng hoàn toàn sai lệch, vì với quy mô hiện nay của nợ xấu trên thị trường bất động sản, Nhà nước không đủ khả năng giải cứu.

Hơn nữa, Nhà nước cũng không thể chấp nhận giải cứu vì điều này càng khuyến khích rủi ro đạo đức, làm cho các doanh nghiệp tiếp tục kinh doanh liều mạng, tạo ra mầm mống cho các cuộc khủng hoảng nợ xấu trong tương lai .

Từ đó, Ủy ban kinh tế đưa ra một số khuyến khị để giải quyết nợ xấu trong lĩnh vực bất động sản.

Cụ thể, Chính phủ cần đưa ra một thông điệp rõ ràng là sẽ không có một sự giải cứu nào đối với các doanh nghiệp kinh doanh bất động sản trung cấp và cao cấp mà hoàn toàn để thị trường quyết định và đào thải. Điều này sẽ buộc các doanh nghiệp có liên quan phải tính toán sớm hạ giá, giúp phá băng và tạo thanh khoản cho thị trường.

Chính phủ cũng nên sử dụng nguồn lực hạn hẹp cũng như những ưu đãi chính sách để ưu tiên hỗ trợ các doanh nghiệp xây dựng nhà xã hội và nhà ở thương mại giá thấp, giúp tạo ra hiệu ứng lan tỏa giải quyết tồn kho và giảm nợ xấu ở các doanh nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng. Tuy nhiên, cần minh bạch hóa và giám sát chặt chẽ việc thực thi, kể cả từ phía các cơ quan của Quốc hội, để các hỗ trợ này được thực hiện một cách hiệu quả và công bằng.

Về lâu dài, Chính phủ cần đánh thuế tài sản như nhiều nước trên thế giới nhằm ngăn ngừa trình trạng đầu cơ để tránh khủng hoảng nợ xấu trong tương lai.

———–
Đảng CSVN sẽ không bao giờ ra lệnh cho nhà nước đánh thuế tài sản.
Muốn biết lý do tại sao thì phải trả lời câu hỏi: AI, thành phần nào có nhiều nhà cửa, cao ốc, đất đai nhất hiện nay ở VN?
Trả lời: Chính là các đảng viên cao cấp của đảng CSVN, 175 ủy viên trung ương đảng, trong đó có 14 ủy viên Bộ chính Trị, và gia đình của họ  sẽ là các đối tượng phải trả thuế nhiều nhất.
Lợi dụng chức vụ và quyền hạn, bọn này đã “choáng” trước, mua rẻ, mua theo kiểu bán hóa giá, hoặc chiếm tất cả đất đai từ 1980s, 1990s.
Đi đến bất cứ 63 tỉnh thành nào ở VN, các bạn đều thấy: Nhà khách Tỉnh Ủy, Nhà khách Thành Ủy. Nói là nhà, nhưng thật ra đó là một khách sạn cở lớn, cao cấp, rất rộng rải khang trang, tọa lạc tại các khu vực đẹp, yên tỉnh nhất thành phố hay thị xã.  Coi hình. 
Nếu có luật đánh thuế tài sản (property tax) cho thích hợp, thì không ai tự làm ra luật để đánh thuế nặng cho chính mình. Vì thế, sẽ không bao giờ có luật thuế đất đai. Thực tế, có một đại biểu quốc hội từng yêu cầu, thảo luận về dự luật về thuế đất đai, thuế nhà cửa bất động sản, nhưng sau cùng các cuộc thảo luận này đều bị các viên chức cao cấp của đảng bóp chết.
Cứ xem mỏ dầu hỏa mỗi ngày khai thác được 375000 thùng- 400.000 thùng. Mỗi thùng dầu thô bán được 100 đô.  Tức mỗi ngày thu vô được 400 triệu đô la Mỹ.
———————————————-

Có muốn “cứu” bất động sản cũng không được

►Ủy ban Kinh tế của Quốc hội nhấn mạnh Nhà nước không đủ khả năng giải cứu thị trường bất động sản…

NGUYÊN THẢO
7-3-2013
Nợ xấu bất động sản kéo theo sự trì trệ của hai ngành quan trọng đối với việc làm và an sinh xã hội là xây dựng và vật liệu xây dựng –

Động thái găm giá để chờ một sự “giải cứu” từ phía Nhà nước của không ít doanh nghiệp bất động sản là hoàn toàn sai lệch, Ủy ban Kinh tế của Quốc hội nhận xét tại bản tin kinh tế vĩ mô vừa được phát hành.

Với quy mô hiện nay của nợ xấu trên thị trường bất động sản (2 triệu tỷ đồng hay 100 tỷ đô la- TH), Nhà nước không đủ khả năng giải cứu, kể cả nếu muốn, cơ quan này nhấn mạnh.

Nợ nở ra, tài sản co lại

Đặt trong bối cảnh chung về nợ xấu, bản tin cho rằng vấn đề nợ xấu và giải quyết nợ xấu trong lĩnh vực bất động sản hiện nay đang được sự quan tâm đặc biệt, thực sự là một vấn đề lớn. Bởi dư nợ tín dụng liên quan đến bất động sản, như vay kinh doanh bất động sản, vay đầu tư sản xuất kinh doanh và thế chấp bằng bất động sản… chiếm một tỷ trọng đáng kể trong tổng dư nợ. 

Hơn nữa, nợ xấu bất động sản kéo theo sự trì trệ của hai ngành quan trọng đối với việc làm và an sinh xã hội là xây dựng và vật liệu xây dựng. Khi ngành xây dựng đang tạo việc làm cho khoảng 3,3 triệu lao động, hay 6,4% tổng lao động của nềnkinh tế, lao động trong ngành xây dựng có mức thu nhập thấp hơn so với mức trung bình của nền kinh tế và 88,9% lao động trong ngành này không có bảo hiểm xã hội. 

Còn ngành vật liệu xây dựng đang có khoảng trên 500.000 lao động, tức trên 1% tổng số lao động của nền kinh tế và 62,3% lao động trong ngành này không có bảo hiểm xã hội.

Có muốn “cứu” bất động sản cũng không được 1Sự kéo dài của tình trạng “nợ nở ra, tài sản co lại” sẽ làm không ít các doanh nghiệp bị cạn vốn và phá sản, ảnh hưởng mạnh đến thanh khoản của các ngân hàng có liên quan và qua đó đe dọa đến sự an toàn của hệ thống ngân hàng, bản tin đưa ra quan ngại.

Quy mô nợ xấu của lĩnh vực bất động sản là đáng kể, song vấn đề còn lớn hơn, theo quan điểm của cơ quan xây dựng bản tin, là khi phân tích trạng thái động: với một nền kinh tế đang ở trong quá trình điều chỉnh theo hướng thoái nợ sau một giai đoạn tăng trưởng nóng dựa trên tăng trưởng tín dụng ở mức cao thì những lĩnh vực nóng nhất và sử dụng vay nợ nhiều nhất, trong đó đặc biệt là bất động sản sẽ phải điều chỉnh mạnh nhất để có thể đưa nền kinh tế trở về quỹ đạo cân bằng và bền vững.

Nhìn vào bảng cân đối tài sản của các doanh nghiệp kinh doanh bất động sản đang niêm yết với số liệu được cập nhật theo quý với nhiều doanh nghiệp nợ chiếm một tỷ lệ lớn trong tổng tài sản, Ủy ban Kinh tế cho rằng trong bối cảnh thị trường bất động sản được dự báo còn tiếp tục điều chỉnh từ trạng thái giá bong bóng để trở về mức cân bằng dài hạn, giá trị tài sản (bất động sản) sẽ phải co lại đáng kể, trong khi giá trị của các khoản nợ sẽ tiếp tục nở ra (do doanh nghiệp vẫn phải tiếp tục trả lãi đối với các khoản vay trong bối cảnh lãi suất vẫn còn duy trì ở mức cao). 

Sự kéo dài của tình trạng “nợ nở ra, tài sản co lại” sẽ làm không ít các doanh nghiệp bị cạn vốn và phá sản, ảnh hưởng mạnh đến thanh khoản của các ngân hàng có liên quan và qua đó đe dọa đến sự an toàn của hệ thống ngân hàng, bản tin đưa ra quan ngại.

Sai lệch lớn

Khái quát về quan hệ cung cầu bất động sản về  nhà ở, Ủy ban Kinh tế cho rằng đã có sự sai lệch lớn, khi nguồn cung các sản phẩm nhà ở trung cấp và cao cấp với giá trị cao chiếm tỉ trọng lớn và do vậy hoàn toàn sai lệch với cơ cấu của cầu, được chi phối bởi nhu cầu đối với các sản phẩm nhà ở bình dân với giá trị khiêm tốn.

Vẫn theo phân tích tại bản tin, tình trạng đầu cơ diễn ra trên diện rộng và kéo dài đã làm sai lệch hoàn toàn các tín hiệu thị trường, tạo ra kỳ vọng sai lệch “giá đất và bất động sản chỉ có tăng chứ không thể giảm”. Cho dù thị trường đã bị đóng băng một thời gian khá dài, song không ít doanh nghiệp kinh doanh bất động sản vẫn cho rằng khó khăn của thị trường bất động sản – kể cả ở phân khúc nhà ở trung cấp và cao cấp, chỉ là tạm thời và giá cả đã chạm đáy nên sẽ chóng hồi phục.

Có muốn “cứu” bất động sản cũng không được 2Nhà nước cũng không thể chấp nhận giải cứu vì điều này càng khuyến khích rủi ro đạo đức, làm cho các doanh nghiệp tiếp tục kinh doanh liều mạng vì “lãi bỏ túi, lỗ sẽ có Nhà nước lo”, tạo ra mầm mống cho các cuộc khủng hoảng nợ xấu trong tương lai, cơ quan của Quốc hội nhấn mạnh.

Điều này, theo quan điểm của cơ quan xây dựng bản tin rõ ràng là không đúng, bởi giá bất động sản ở các thành phố lớn của Việt Nam thuộc loại cao ở trên thế giới trong khi thu nhập bình quân đầu người thuộc nhóm thấp ở trên thế giới. Nhìn xa hơn, quá trình điều chỉnh đưa nền kinh tế trở về quỹ đạo tăng trưởng cân bằng và bền vững ở Việt Nam còn cần có thời gian, ít nhất là trong trung hạn, và do vậy nên thu nhập và chi tiêu của người dân, kể cả giới thượng lưu và trung lưu cũng sẽ còn phải điều chỉnh theo xu hướng giảm. 

Giá nhà đất tăng lên hơn 100 lần trong vòng 20 năm, giá nhà ở trung bình cao hơn 25 lần so với thu nhập bình quân hàng năm của người lao động. Đồng thời giá nhà ở Việt Nam gấp hơn 5 lần so với các nước phát triển và gấp 10 lần so với nước chậm phát triển. Trong khi đó, so với thu nhập, giá bất động sản trung bình ở các nước châu Âu chỉ bằng 7 lần, Thái Lan là 6,3 lần, Singapore là 5,2 lần.. hàng loạt so sánh đáng chú ý được đưa ra.

Cho rằng quá trình điều chỉnh trên thị trường bất động sản có khả năng còn kéo dài do không ít các doanh nghiệp bất động sản vẫn găm giá để chờ một sự “giải cứu” từ phía Nhà nước. Tuy nhiên, theo Ủy ban Kinh tế,  đây là một kỳ vọng hoàn toàn sai lệch, vì với quy mô hiện nay của nợ xấu trên thị trường bất động sản, Nhà nước không đủ khả năng giải cứu, kể cả nếu muốn. 

Hơn nữa, Nhà nước cũng không thể chấp nhận giải cứu vì điều này càng khuyến khích rủi ro đạo đức, làm cho các doanh nghiệp tiếp tục kinh doanh liều mạng vì “lãi bỏ túi, lỗ sẽ có Nhà nước lo”, tạo ra mầm mống cho các cuộc khủng hoảng nợ xấu trong tương lai, cơ quan của Quốc hội nhấn mạnh.

Không nên và không thể giải cứu cũng là quan điểm của nhiều vị đại biểu tạphiên giải trình do Ủy ban Kinh tế của Quốc hội tổ chức cuối tháng 1 vừa qua về thực trạng, giải pháp tháo gỡ khó khăn cho thị trường bất động sản. Dù, tại kỳ họp cuối năm 2012, Quốc hội đã yêu cầu phải phá băng cho thị trường đầy tai tiếng này.

Posted in Bất Động Sản | 3 Comments »

►Ngày Quốc tế Phụ Nữ 8-3: Bé Ti và những Malala Việt Nam- THÔNG BÁO KHẨN: TRANG anhbasam.wordpress.com BỊ TIN TẶC PHÁ

Posted by hoangtran204 trên 07/03/2013

THÔNG BÁO KHẨN: TRANG BA SÀM BỊ TIN TẶC PHÁ.

Trang anhbasam.wordpress.com vẫn còn đang bị hacker đột nhập, hiện không truy cập được.

Bạn đọc TẠM THỜI VÀO ĐỌC    http://basam5.wordpress.com/

hoặc  TẠI ĐÂY

——————–

10-3-2013

BTV

Theo blog Anh Ba Sàm

Sau khi 3 blog của Ba Sàm bị hack, chúng tôi tạm mở blog Ba Sàm tại địa chỉ này:http://anhbasamvn.wordpress.com/

Trước hết, xin cám ơn quý độc giả đã chia sẻ tình cảm, sự quan tâm và những lo lắng về bài vở trên blog cũ bị mất. Nhân tiện, xin thưa cùng bà con rằng, dữ liệu trong blog cũ, BTV đã backup gần như đầy đủ, riêng hai tháng qua, vì quá bận bịu nên chỉ backup được một phần. Sau khi đòi được “nhà cũ” chúng tôi sẽ lần lượt đưa lên để hầu độc giả.

Tôi (BTV) hiện là người duy nhất điều hành blog Ba Sàm ngoài anh Nguyễn Hữu Vinh (được biết với tên Ba Sàm) trước đây điều hành blog này. Về chuyện blog bị hack, tôi tin rằng, một trong những mục đích mà những kẻ đứng đằng sau hacker nhắm vào là tôi. Ngoài việc hack blog Ba Sàm, chúng còn chiếm một số mailbox của tôi. Theo các thông tin mà tôi có, chúng muốn biết tôi là ai? Làm gì? Ở đâu? Có từng làm báo ở Việt Nam hay không? Có dính dáng tới các tổ chức, đảng phái ở hải ngoại hay không? Có nhận tiền của ai đó để làm việc này hay không? Bây giờ, sau khi đọc các email mà tôi trao đổi với bạn bè và người thân, tôi tin, chúng đã biết rõ tôi là ai.

Như tôi đã từng thưa trước đây trên blog Ba Sàm, cũng như trong profile trên facebook, tôi bắt đầu giúp anh Nguyễn Hữu Vinh từ tháng 8 năm 2009. Thời gian đầu tôi chỉ hỗ trợ bằng cách dịch các bài đáng chú ý từ tiếng Anh sang tiếng Việt, thỉnh thoảng có giúp điểm một ít tin. Đến khi xảy ra sự cố tàu Bình Minh 02 bị cắt cáp, blog Ba Sàm bị hack lần thứ 2 vào tháng 6 năm 2011, tôi đã quyết định bỏ tất cả các công việc đang làm (được trả lương cũng như thiện nguyện) để phụ giúp anh Vinh điều hành blog Ba Sàm.

Sau khi blog Ba Sàm và một số mailbox cá nhân của tôi bị hack, trên Internet bắt đầu xuất hiện những thông tin mang tính bịa đặt, nhằm gây nhiễu dư luận, cũng vì vậy, qua thư ngỏ này, tôi xin khẳng định, tôi không liên quan tới bất kỳ tổ chức, đảng phái nào. Tôi cũng không hề nhận tiền của bất cứ cá nhân, tổ chức nào để làm blog Ba Sàm dù trong gần hai năm qua, ngày nào tôi cũng phải dành khoảng 15-18 tiếng cho blog Ba Sàm. Sở dĩ tôi dành hết thời gian, công sức cho blog Ba Sàm vì tôi tin rằng, thông tin đủ và đúng sẽ giúp người ta hiểu họ có những quyền nào, hiện tình xứ sở ra sao và cần làm những gì cho chính mình cũng như cho tương lai dân tộc của mình.

Thực tế cho thấy, khi đã làm những công việc có liên quan đến nhiều người khác, chẳng ai có thể giấu diếm được bất kỳ điều gì. Nếu có khuất tất, gian dối, trước sau chúng cũng sẽ bị bạch hóa. Có thể xem “Bên thắng cuộc” là một ví dụ. Nếu vừa qua, phải mất gần 40 năm, những “bí mật cung đình” trong nhiều giai đoạn của lịch sử Việt Nam mới được bạch hóa thì hiện nay, với những gì đang diễn ra tại Việt Nam, tôi tin rằng, chúng ta sẽ chỉ phải chờ thêm một vài năm để biết một cách tường tận về những chiêu, trò bẩn thỉu, gieo rắc hoang mang, ly gián, nhằm cản trở những chuyển đổi tích cực đã bắt đầu trên xứ sở của chúng ta.

Xin hãy kiên nhẫn và cùng góp sức.

BTV

———————
BÉ TI VÀ NHỮNG Malala VIỆT NAM

 

Tác giả : Nguyệt Quỳnh

(nhân ngày Quốc Tế Phụ Nữ 2013

 
Tóc dài cuối nội mây xa
Vàng con bướm nhụy lẫn tà huy bay
(Đưa Em Tìm Động Hoa Vàng – Phạm Thiên Thư)
Phạm Thiên Thư chỉ phác hoạ đôi nét về mái tóc người thiếu nữ vừa rời đi trong một buổi chiều nhạt nắng. Tuy nhiên, người đọc lại tìm thấy cả trời lưu luyến trong cái bóng hoàng hôn người con gái vừa để lại sau lưng. Cái thế giới có hoa vàng, hương tóc, tà áo, khăn lụa của Phạm Thiên Thư dường như đã làm rung động cả nhân loại chứ không chỉ riêng mình ông. Và cái bóng dáng của người phụ nữ với khăn xanh, vòng ngọc sẽ mãi mãi là đề tài muôn thuở của hội hoạ, của thi ca… tuy nhiên, sự mạnh mẽ phía sau những chiếc khăn lụa đó có lúc đã làm kinh ngạc cả thế giới!
 

Eleanor Roosevelt viết rằng: “Một người phụ nữ cũng giống như một túi trà – bạn không thể nói cô ta mạnh mẽ thế nào cho tới khi đặt cô ta vào nước nóng”.Eleanor Roosevelt là một phụ nữ như vậy. Bà là phu nhân của Tổng thống Franklin D. Roosevelt, nhưng Tổng thống Harry S. Truman gọi bà là Đệ nhất Phu nhân của thế giới. Người đàn bà này đã dành gần trọn cuộc đời để đi khắp nơi vận động cho quyền con người.

Bà là một trong những người đã góp phần soạn thảo nên bản Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền của Liên Hiệp Quốc. Khi mất đi, bà được công chúng ngưỡng mộ đến nỗi một hoạ sĩ đã vẽ bức tranh tưởng niệm bà: chỉ với hình ảnh hai thiên sứ nhìn xuống một khoảng trống giữa các đám mây, với hàng chữ “Bà ấy đang ở đây”, và không cần bất cứ một lời chú thích nào cả.
 
Tôi vẫn thích dành câu nói của nhà văn Washintong Irving để nói về người phụ nữ “Cả cuộc đời của người phụ nữ là một bài lịch sử về những yêu thương”. Nếu bạn đọc nhật ký của cô thiếu nữ Malala bạn sẽ thấy rất rõ điều này.
Những trang nhật ký của Malala (2009) đã khiến cho cả thế giới bên ngoài kinh hoàng về tội ác diệt chủng của quân Taliban. Bằng tiếng Urdu, trên trang mạng của đài BBC, Malala kể về cái lệnh cấm nữ sinh đi học của Taliban đã ảnh hưởng đến em và bạn học như thế nào.
Cô viết: “Tôi thấy nhói đau khi mở tủ quần áo và thấy bộ đồng phục, túi sách vở và hộp dụng cụ học sinh của mình. Ngày mai, trường nam sẽ mở cửa lại, nhưng con gái chúng tôi thì bị Taliban cấm học hành…”. Malala đã gọi quân Taliban là “lũ man rợ”
 
Lũ man rợ Taliban đã đọc lệnh hành quyết em ngay trên chuyến xe bus chở học sinh (2009). Một nhóm đàn ông râu ria xồm xoàm mang mặt nạ đã chỉa súng thẳng vào đầu, vào ngực em và bóp cò.
Trong khi Malala còn đang nằm hôn mê tại một bịnh viện ở Anh Quốc thì những trang nhật ký đầy yêu thương của cô nữ sinh 14 tuổi này đã đánh thức cả đất nước Pakistan về sự can trường của cô. Ký giả truyền hình nổi tiếng Nusrat Javed tuyên bố “Malala đã giải phóng đất nước Pakistan”. Còn Tướng Ashfaq Kayani, Tư lệnh Quân đội, sau khi đến bệnh viện thăm Malala, đã nói, “Chúng tôi khước từ việc quỳ gối trước nạn khủng bố. Chúng tôi sẽ chiến đấu, bất kể giá nào. Chúng tôi sẽ chiến thắng”. (Khi mới 11 tuổi,  Malala đã viết nhật ký, và nhật ký của Malala lần đầu tiên xuất hiện trên đài BBC urdu online…Malala hiện đã hồi phục-TH)
 
MaMalala Yusufzai đã hồi phục, và nói chuyện trên đài  BBC Urdu tháng  2011
Những câu chuyện về Malala, Phạm Thanh Nghiên, Đỗ thị Minh Hạnh và gần đây nhất Nguyễn Đặng Minh Mẫn là những bài học về yêu thương. Tuy nhiên, đàng sau cái tấm mạng mỹ miều che mặt người thiếu nữ Pakistan này, đàng sau cái dáng dấp nhỏ nhắn của những người phụ nữ Việt Nam tôi vừa kể tên, họ là những quặng thép.
 
Ts Nguyễn Quốc Quân gọi người bạn tù Nguyễn Đặng Minh Mẫn của anh là “một người khổng lồ”. Chị là người lãnh án đến tám năm tù, bản án nặng thứ hai sau các án tù mười ba năm dành cho các anh Paulus Lê Văn Sơn, Hồ Đức Hòa, Đăng Xuân Diệu.
Chị  Nguyễn Đặng Minh Mẫn là người con gái trong một gia đình gồm bốn người và bị bắt giam hết cả ba: mẹ của chị là bà Đặng thị Ngọc Minh, anh trai Nguyễn Đặng Vĩnh Phúc và bản thân chị. Sự can trường của chị đã làm cho những người bạn suốt hai dãy tù và ngay cả các quản giáo của trại giam B34 đều phải nể phục. Lời chị nhắn gởi ra cho bạn hữu bên ngoài trước phiên toà ở Nghệ An cho thấy bạo lực đừng hòng khuất phục được người con gái ấy. Chị bảo: “Chú Quân nhắn dùm bạn hữu của bé Ti rằng, dẫu có thế nào bé Ti sẽ vẫn trước sau như một”.
Tôi đã thật xúc động khi nghĩ đến 8 năm thanh xuân của người con gái ấy  đang trải qua trong nhà tù. Và chợt liên tưởng đến nỗi bâng khuâng của những người bạn tù, kể cả anh Nguyễn Quốc Quân; anh tâm sự đã buồn thật nhiều khi cô gái mang cái tên ở nhà “bé Ti” bị chuyển dời đi nơi khác.
 
Trong suốt 10 năm qua, một trong những hiện tượng nổi trội nhất trong công cuộc đấu tranh đòi quyền con người tại Việt Nam là những khuôn mặt của các phụ nữ. Họ góp mặt chung thuỷ và kiên cường một cách lạ lùng! Tôi nghĩ đến hình ảnh của một con gà mẹ xù lông cánh bảo vệ đàn gà con trước móng vuốt của đại bàng.
 
Chính cái thiên chức và bản năng của người mẹ đã khiến cho những phụ nữ như Trần thị Thúy, Phạm Thanh Nghiên, Đỗ thị Minh Hạnh, Nguyễn Đặng Minh Mẫn … đứng lên bênh vực những ngư dân bị bức hại, những dân oan, những công nhân thấp cổ bé miệng và tất cả những kẻ yếu đuối, cô thế.
 
Họ chính là hình ảnh tuyệt vời của người Mẹ. Trong gia đình nếu người cha là trụ cột, thì phía sau ông, mẹ là người sắp xếp, tất bật, chịu đựng, thương khó chu toàn mọi việc. Tuy nhiên, khi gia đình gặp nguy nan, mẹ cũng chính là người sẽ xông ra trước những hiểm nguy, giông tố, mưa bão của cuộc đời để bảo vệ cái tổ ấm của mình.
 
Những phụ nữ ở Ai Cập, ở Lybia cũng thế; chính các bà mẹ là người đổi thay mọi lề lối suy nghĩ trong gia đình. Họ là người biết rất rõ cái tâm trạng bị xem thường, bị đàn áp, bị bạo hành. Chính họ đã chuyển đổi thái độ từ chịu đựng sang đấu tranh đòi quyền sống, và cũng chính họ là người đã đứng dậy để bênh vực và bảo vệ cho những kẻ bị trấn áp. Đây là một hiện tượng đã xảy ra tại hầu hết các cuộc cách mạng bất bạo động. Tại những nơi này, phụ nữ là một trong những lực lượng tràn ra đường phố đầu tiên. Và sau ngày đổi đời, cũng chính những hội đoàn phụ nữ này – từ các sơ công giáo, các ni cô phật giáo, đến các nhóm thiện nguyện, là lực lượng băng bó lại xã hội hữu hiệu nhất.
 
Trong những ngày sôi động của “mùa xuân Ả Rập”, truyền thông báo chí ngoại quốc ghi lại được những khuôn mặt quyết tâm và những khẳng định sẵn sàng đối mặt với bất cứ thách thức nào để chuyển đổi đất nước từ độc tài sang dân chủ. Cô Asmaa Mahfouz thuộc phong trào trẻ 6 tháng 4 được coi là một trong những người khởi động các cuộc nổi dậy ở Cairo. Trước cuộc biểu tình ngày 25 tháng giêng năm 2011, một Mahfouz trẻ trung, đầy nhiệt huyết đã đưa lên mạng một video của cô với lời kêu gọi:
“Nếu bạn cho rằng bạn chính là một người đàn ông, thì hãy đến với tôi ngày 25 tháng Giêng này. Kẻ nào nói rằng phụ nữ không nên đi biểu tình phản đối, vì họ sẽ bị đánh đập, thì hãy để cho kẻ đó có chút danh dự và phẩm chất đàn ông và hãy đến cùng tôi ngày 25 tháng Giêng. Kẻ nào nói rằng không đáng đến vì chỉ có một dúm người, thì tôi muốn nói với anh ta rằng : Anh chính là nguyên nhân của sự ít người đến đó và anh là một kẻ phản bội, y chang như viên tổng thống hay bất kỳ một tên cớm an ninh nào đó đã đánh chúng tôi trên đường phố.”
 
Huỳnh thục Vy, Bùi Minh Hằng, Nguyễn Hoàng Vy… đã bị xô đẩy, đánh đập trong các cuộc biểu tình.
Trần thị Thuý đã bị đày ải, Đỗ thị Minh Hạnh đã bị tra tấn đến điếc một bên tai, nhưng những đánh đập bạo hành đó đã trở thành chuyện nhỏ trước tấm lòng thương người của các chị, trước nỗi đau quá lớn của cả xã hội, và trước sức mạnh tiềm tàng của cả dòng thác “con cháu Hai Bà”
. Kẻ cầm quyền đã quên mất rằng cả cái pháp trường triều Nguyễn đã từng phải rúng động và cúi đầu trước một Bùi thị Xuân. Sức mạnh này là có thật và đang đồng hành với những đổi thay từng ngày của đất nước. Đàng sau bước chân những người phụ nữ này là những giá trị của cuộc sống, là sự tự do và nhân phẩm của con người, là nền tảng tương lai tươi đẹp của tổ quốc.
JPEG - 26.2 kb
Nguyễn Ngọc Diễm Phượng với hai tay giơ lên bầu trời xanh và nụ cười biểu thị sự tự do khi chị vừa ký đơn tình nguyện rời khỏi ĐCSVN.
 
 
Sáng nay tôi vừa nhìn thấy hình ảnh của Nguyễn Ngọc Diễm Phượng với hai tay giơ lên bầu trời xanh và nụ cười biểu thị sự tự do khi chị vừa ký đơn tình nguyện rời khỏi đảng Cộng Sản. Bức hình của chị là lời kêu gọi trẻ trung của một Asmaa Mahfouz Việt Nam nhân ngày quốc tế phụ nữ. Tôi bỗng dưng không chỉ nhìn thấy Diễm Phượng, tôi nhìn thấy Đỗ thị Minh Hạnh tươi đẹp bên Nguyễn Hoàng Quốc Hùng người yêu của chị. Tôi nhìn thấy Nguyễn Đặng Minh Mẫn, Trần thị Thuý trở về cùng với cái thế giới của hoa vàng của khăn xanh vòng ngọc và dịu dàng trong những câu thơ của Văn Công Hùng:
 
Có một mái nhà, có một tình yêu
ta thành kẻ giàu sang và phú quý
em như hòn đảo chìm chứa đầy châu báu
ta để dành dự trữ lúc nguy nan
(Vợ – Văn Công Hùng)
Được đăng bởi 

Posted in Dân Chủ và Nhân Quyền | Leave a Comment »