Trần Hoàng Blog

Archive for Tháng Ba, 2013

►Thức tỉnh ý thức công dân

Posted by hoangtran204 trên 29/03/2013

Những nhà thơ, nhạc sĩ, văn sĩ thường có những xúc cảm mạnh mẻ  và thường là đi trước thời đại.

Nhiều tác phẩm của họ  là kết quả của sự xúc cảm mạnh mẻ, trải qua sự thai nghén lâu dài trong tiềm thức, và sự  suy nghĩ chín mùi.  Các yếu tố hay nhân tố  bên ngoài chỉ làm tác động như một giọt nước cuối cùng làm tràn ly.

Nổi bật nhất trong thời gian vài năm qua là nhạc sĩ Việt Khang và nhà báo kiêm nhà thơ Nguyễn Đắc Kiên.

Nhà báo-công dân và những vần thơ thức tỉnh

Nguyễn Đức Kiên

Nguyễn Đắc Kiên là một nhà báo trẻ làm việc trong tòa soạn báo Gia đình và Xã hội do Bộ Y tế chủ quản.

Anh là nhà báo có tư cách công dân, am hiểu sứ mạng xã hội của báo chí, quyền tự do của nhà báo có công tâm, từng tham gia một số cuộc xuống đường chống bọn bành trướng Trung Quốc.

Giới báo chí dù là lề phải, lề trái, hay bloger tự do, dù chuyên làm tin hay viết phóng sự đều bị ngành công an văn hóa – báo chí theo dõi ngặt nghèo. Việt Nam hiện được xem là nơi các nhà báo bị đối xử tàn tệ nhất, có nhiều nhà báo bị tù nhất, cũng là nước thù địch với internet nhất.

Vì thế mà nhà thơ kiêm nhà báo Nguyễn Đắc Kiên luôn khát khao tự do cháy bỏng, đau lòng thấy bóng tối mịt mùng của lừa mỵ dối lừa kéo dài như bóng đêm hãi hùng vô tận, từ khi thành lập đảng CS năm 1930, rồi từ khi đảng cướp được chính quyền tháng 8 năm 1945 đến nay. Trong bài thơ “Vì người ta cần ánh mặt trời,” anh viết:

Bao thế hệ xiết rên trong gọng kìm nô lệ
Chuyên chế dã man đục ruỗng chí con Người
Cha tôi, ông tôi, bao thế hệ bị ngủ vùi
Tôi chưa thấy một đêm nào dài thế
Không ánh mặt trời, bóng tối chí tôn
Lũ quỷ ám thừa cơ toàn trị

Khủng bố dã man reo rắc những kinh hoàng
Biến lẽ sống thành châm ngôn “mày phải sợ”
Mày phải sợ, mày ơi, mày phải sợ
Sợ nữa đi, có sợ mãi được không
Cốt tủy mục ruỗng rồi, trí óc cũng tối đen
Mày lại đẻ ra lũ cháu con “biết sợ”
Bao thế hệ đã ngậm ngùi mắc nợ
Lũ chúng ta lẽ nào lại mắc nợ mai sau
Còn chần chừ gì mà không tỉnh dậy mau
Sống cho xứng danh xứng con người trên mặt đất

Tôi chưa thấy một đêm nào dài thế
Cũng chưa thấy ngày mai nào không thế
Vì người ta cần ánh mặt trời
Tỉnh dậy đi lũ chúng ta ơi !

Nhà thơ kêu gọi mọi người hãy “tỉnh dậy, tỉnh dậy đi, lũ chúng ta ơi! Đừng sợ nữa!”. Dù có phải vào tù cũng không sợ, lại càng hay, càng vinh dự, vì trong nhà tù Cộng sản lúc này bị kết tội “có âm mưu lật đổ” hay “gây rối trật tự trị an” toàn là những công dân lương thiện, thật lòng yêu nước thương dân , còn có tư cách công dân vượt trội xa cả 14 vị vua tập thể, những nhà trọc phú mới, những người thờ đôla và nhân dân tệ, coi nhà và đất cao hơn tổ quốc, coi tiền bạc quý hơn lương tâm con Người.

Trong bài thơ “Bởi vì tôi khao khát Tự do”, anh viết:

Nếu một ngày tôi phải vào tù
Tôi muốn đựơc vào nhà tù Cộng sản
Ở nơi đó tôi gặp những người ngay
Ở nơi đó đồng loại tôi đang sống

Nếu một ngày tôi phải vào tù
Tôi muốn được vào nhà tù cộng sản
Ở nơi đó giam giữ Tự Do
Giam giữ những trái tim khao khát sống

Nếu một ngày tôi phải vào tù
Tôi muốn đựơc vào nhà tù cộng sản
Ở nơi đó giam giữ những nhà thơ
Giam giữ kẻ ngủ hoang để thức tỉnh muôn đồng bào vô thức

Bắt nhà thơ giam vào trong ngục tối
Là mở ra ngàn thiên thể tự do
Bắt Tự Do giam vào trong ngục tối
Là mở ra ngàn thơ tứ con Người

Đọc những câu thơ gợi cảm của nhà báo Nguyễn Đắc Kiên, chúng ta liên tưởng ngay đến LS Cù Huy Hà Vũ, anh Trần Huỳnh Duy Thức, nhà báo Điếu Cày, cô Tạ Phong Tần, em Minh Hạnh, em Phương Uyên. Họ là những người đang ngẩng cao đầu trong nhà tù Cộng sản, được nhân dân ngưỡng mộ, cả thế giới bênh vực, trở thành nỗi ê chề của chính quyền CS.

Cũng vì sự hấp dẫn của cái đẹp, cái cao quý trong tâm hồn nhà báo Nguyễn Đắc Kiên mà anh sinh viên Đỗ Cao Cường đã từ bỏ đảng CS như từ bỏ một kỷ niệm xót xa cay đắng, tự nguyện làm người em tinh thần của Nguyễn Đắc Kiên, để không còn biết sợ cường quyền thô bạo, gia nhập hàng ngũ “lũ chúng ta”. Ngay sau đó là cô Nguyễn Ngọc Diễm Phượng, một đảng viên dự bị, đã suy nghĩ kỹ và chào từ giã đảng CS để ký tên vào kiến nghị về sửa đổi hiến pháp, tố cáo kiểu cưỡng bách đảng viên và toàn dân phải cúi đầu phục tùng đảng, tuân theo đảng khi lãnh đạo đảng đã lầm đường lạc lối một cách rõ ràng rành mạch, không sao biện bạch nổi. Cô cũng nghe theo tâm huyết của nhà báo để gia nhập ngay “lũ chúng ta”.

© Bùi Tín

27-3-2013

(Nguồn VOA) voatiengviet.com

 

Mời các bạn bấm vào link dưới đây để nghe 10 phút

Trò chuyện với nhà báo Nguyễn Đắc Kiên

Việt Nam Tôi Đâu

Nhạc và lời Nhạc Sĩ Việt Khang do chính tác giả hát.

http://en.wikipedia.org/wiki/Viet_Khang

http://weheartmusic.typepad.com/blog/2012/02/viet-khang-anh-la-ai.html

Posted in Chinh Tri Xa Hoi | Leave a Comment »

►Phải Cứu Bất động sản – Không để “Vỡ Trận”

Posted by hoangtran204 trên 29/03/2013

Không để “vỡ trận”

29-3-2013

http://vietstock.vn/2013/03/khong-de-vo-tran-763-288914.htm

Lần đầu tiên, đại diện Chính phủ đề cập đến cụm từ “vỡ trận”. Tuy nhiên, cụm từ được đặt trong một tâm thế nỗ lực để các giải pháp duy trì thế trận tài chính – kinh tế – bất động sản (BĐS) vẫn vẹn nguyên phát huy hiệu dụng…

 

Thị trường BĐS đang cần một gói giải pháp đồng bộ và hiệu quả

 

Phó Thủ tướng Chính phủ Hoàng Trung Hải khẳng định : “Tất cả các giải pháp liên quan đến thị trường BĐS đều phải đặt mục tiêu chung là góp phần thực hiện tốt Nghị quyết 01 và 02 của Chính phủ là bảo đảm kinh tế vĩ mô, kiềm chế lạm phát. Nếu không nỗ lực thì sẽ “vỡ trận”, không ổn định được kinh tế vĩ mô, cũng không có một thị trường BĐS ổn định và bền vững… Hơn thế, giải pháp phải đồng bộ vì không thể chỉ một giải pháp mà giải quyết được tất cả các bài toán khó khăn, cần tăng thanh khoản, thu hút vốn từ xã hội”.

Cứu ai ?

Nghị quyết 01 và Nghị quyết 02 được Thủ tướng ban hành vào ngày 7 tháng 1 năm 2013. Một thời gian khá cận Tết âm lịch.

Sau Tết, chưa có thông tư nào từ các bộ, ban ngành có liên quan triển khai Nghị quyết. Các thị trường nóng ruột. “Nóng ran” gan ruột nhất có lẽ là các DN BĐS với hàng tồn kho nằm đống và các dự án đang rắp ranh chia nhỏ hoặc chuyển đổi mục đích sử dụng cho vừa tầm “ưu đãi” của Nhà nước và túi tiền của người mua.

Đối tượng “nóng ruột” thứ hai cũng là người đang ở diện có thu nhập thấp và chưa có nhà ở, chờ dịp để được vay ngân hàng với lãi suất 6%/ năm và thực hiện giấc mơ sở hữu nhà.

Cả nền kinh tế nóng ruột vì thực tế vẫn chưa thực hiểu Nghị quyết 02 có phải để nhằm “cứu” thị trường BĐS. Bởi điều đó còn phụ thuộc cả vào các thông tư triển khai bên dưới…

Phát biểu của Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải – Trưởng Ban chỉ đạo Trung ương về chính sách nhà ở và thị trường BĐS, nêu rõ : Mục tiêu số 1 là hoàn thiện chính sách liên quan đến phát triển nhà ở và thị trường BĐS, đồng thời phát huy hơn nữa vai trò tham mưu của các hiệp hội nghề nghiệp. Theo đó, các phân khúc thị trường sẽ được cơ cấu lại theo hướng quy hoạch mới, phát triển xây dựng hạ tầng cơ bản cho người có thu nhập thấp, thu hẹp khoảng cách giàu nghèo. Việc tập trung gỡ khó khăn về nguồn vốn, tiến độ cấp vốn, lãi suất tín dụng… cũng theo các chương trình nhà ở mục tiêu; nhà ở cho người thu nhập thấp theo chiến lược phát triển nhà ở quốc gia đã đề ra.

Như vậy, việc cứu ai, cứu cái gì đã rất rõ ràng : Không có chuyện cứu các đại gia BĐS mà đây là quyết sách nhằm hướng cơ cấu lại thị trường – một động thái đương nhiên không nằm ngoài lộ trình tái cấu trúc tổng thể nền kinh tế.

Đã đến lúc NHNN sớm ban hành các quy định chương trình cho vay thuê mua nhà ở với lãi suất 6% trong 3 năm.

Trong quyết sách này, cũng có thể nhìn thấy rõ các đối tượng có thể giảm “mất mát” khi được cơ cấu lại, khá thu hẹp. Thông tư hướng dẫn của Bộ Xây dựng mặc dù ban hành muộn sau Nghị quyết 02 gần tròn 2,5 tháng, đã xác định rõ đối tượng được cơ cấu này. Và theo đó những đại gia nào đang kẹt ở các dự án căn hộ siêu sang, cao cấp, diện tích lớn, giá thành cao… chắc chắn khó có cơ hội nằm trong “danh mục” tái cơ cấu.

Với sự xác định rõ ràng đó, thị trường chứng khoán đã thể hiện luôn vai trò phong vũ biểu : Các mã BĐS thuộc DN có dự án nhà ở phân khúc trung bình, nhà ở xã hội… liên tục có các phiên giao dịch tăng về thanh khoản lẫn giá trị chuyển nhượng. Một số các mã BĐS được dự báo nằm trong “danh sách” hưởng lợi như Thủ Đức House, Bình Chánh, Hoàng Anh Gia Lai… được các nhà đầu tư quan tâm hơn. Còn ngược lại, những đại gia đang nằm trong danh sách bán hàng cao cấp, không thuộc danh mục được “cứu”, chắc chắn, sẽ phải tự cứu mình bằng cách hạ giá trị sản phẩm, hoặc tiếp tục gồng lưng ngồi… chờ. Nhưng nếu tiếp tục chờ chính sách cứu đại gia bán hàng BĐS cao cấp này, e rằng rất khó !

Cứu cách nào ?

Cứu được thị trường BĐS, ở đây, cũng được hiểu là cứu cái nền – động sản của nền kinh tế, cứu thế “vỡ trận” mà Phó Thủ tướng đã đề cập. Cứu, bằng các thị trường mục tiêu nơi người dân chiếm đại đa số đang thiếu nhà, thiếu vốn mua nhà và nhu cầu nhà vẫn rất lớn. Trong khi, cung lại phát triển ở tận đâu đâu, ở các phân khúc bắt nguồn từ những nhà đầu tư nước ngoài, các người mua nước ngoài, các khách hàng trả tiền bằng ngoại tệ và có những nhu cầu cao – theo lý giải của Luật sư Nguyễn Ngọc Bích về căn nguyên lệch cung cầu BĐS tại nước ta.

Nên chăng, đã đến lúc Ngân hàng nhà nước cần nghiên cứu và sớm ban hành các quy định chương trình cho vay thuê mua nhà ở với lãi suất 6% trong 3 năm theo như dự thảo mà NHNN vừa đưa ra lấy ý kiến lần đầu. Đồng thời, nghiên cứu phân tách tỉ lệ tín dụng hoặc hỗ trợ thêm nguồn vốn cho các DN BĐS được vay với lãi suất khi đáp ứng được các điều kiện theo quy định, hay, sẽ dành trọn gói 30.000 tỉ đồng cho người mua nhà ? Và quan trọng nhất, tỉ lệ giải ngân cho cả DN và người dân được vay, cũng cần được công khai, ít nhất là có sự “update” tới các cơ quan như Ban Chỉ đạo trung ương về chính sách nhà ở và thị trường BĐS, để các nhà hoạch định luôn có tầm nhìn toàn cảnh về thế trận nhằm duy trì ổn định vĩ mô, trong đó có sự ổn định mục tiêu cho thị trường BĐS. Không còn thời gian để chần chừ hoặc duy trì sự mờ mịt thông tin trước thế “vỡ trận” này!

TS Trần Du Lịch – Phó Trưởng đoàn chuyên trách Kinh tế đoàn đại biểu Quốc hội TP HCM:Nghị quyết 02 đã ban hành khá lâu nhưng chúng ta vẫn chưa có nhiều động thái cho thấy các bộ, ban ngành đang nỗ lực triển khai nghị quyết này. “Nên chăng, cần có Ban theo dõi tiến độ triển khai nghị quyết và các đơn vị, ban ngành có liên quan phải có báo cáo hàng tuần về kết quả triển khai đó. Trong những năm 60, để phát triển xuất khẩu, Chính phủ Hàn Quốc đã thành lâp Hội đồng quốc gia về XK và thực thi rà soát tiến độ, kết quả thực thi trong từng chặng thời gian. Hễ anh nào quá ba lần không thực thi đúng tiến độ, hiệu quả các công việc đã giao phó, đã cam kết, là cách chức. Chỉ có như thế thì Nghị quyết 02 cùng với sự cộng hưởng và nỗ lực lớn của tất cả mọi thành phần trong nền kinh tế, mới có thể đi đến thành công”.

Thuận Hóa

DIỄN ĐÀN DN

(Diễn Đàn Doanh Nghiệp)

————

Thư gởi Hiệp Hội Bất Động Sản

Alan Phan
31-3-2013

“Mặt trời trong tôi lặn để bình minh lại đến… My sun sets to rise again” – Robert Browning

Kính thưa Quý Vị

Dù chỉ mới nhận được 15 câu hỏi “chất vấn” của Quý Vị qua báo chí, tôi cũng xin phản hồi sớm vì sự mong đợi của rất nhiều đọc giả; cũng như để tỏ lòng tôn kính với “1,000 (?) đồng nghiệp” của tôi. Tôi cũng đã từng làm một nhà đầu tư dự án BDS (real estate developer) ở tận xứ Mỹ xa xôi vào cuối thập niên 1970’s. Sau 7 năm huy hoàng với lợi nhuận, tôi và các đối tác đã trắng tay trả lại mọi vốn và lời trong dự án lớn ở Arizona vào năm 1982. Do đó, tôi khá đồng cảm với trải nghiệm “của thiên trả địa” hiện tại của Quý Vị.

Tôi không quen bị “chất vấn”, không phải là một cậu học trò phải thi trắc nghiệm, cũng không có “quyền lợi” hay “nghĩa vụ” gì trong tình huống này, nên xin phép được trả lời các bậc đàn anh theo phong cách của mình. Vả lại, những chi tiết nhỏ nhặt của 15 câu hỏi đã được “trả lời” qua các bài viết của tôi trong vài năm qua (còn lưu lại tại www.gocnhinalan.com). Thêm vào đó, nhiều BCA (bạn của Alan) cũng đã ra công sức phản biện qua các lời bình trên trang web này và các mạng truyền thông khác. Quý Vị tự tìm tòi nhé.

Cốt lõi của vấn đề

Một khuynh hướng chung khi tìm giải pháp cho vấn nạn BDS hiện nay của Việt Nam là đóng khung bài toán trong các công thức tài chánh. Vài doanh nghiệp BDS nhờ tôi tư vấn tìm vốn vì họ nói không thể tiếp cận được các nguồn tài trợ. Câu trả lời của tôi là vấn đề BDS thuộc chuyện thị trường.

Vốn trong dân tại Việt Nam được các nhà chuyên gia nước ngoài ước tính vào khoảng 60 tỷ US dollars; và vốn từ Việt kiều và các nhà đầu tư ngoại có thể lên thêm khoảng 20 tỷ (các số liệu này có thể sai nhưng chúng ta sẽ không bao giờ tìm được một thống kê chính xác và chính thống về các con số nhậy cảm ở Việt Nam). Tuy nhiên, dù với con số nào, số tiền này cũng thừa đủ để giải quyết mọi hàng BDS tồn kho.

Trên góc cạnh thị trường, khi người bán đáp ứng được nhu cầu người mua về sản phẩm và dịch vụ (gồm nhiều yếu tố, nhưng quan trọng nhất là giá cả và chất lượng) thì giao dịch xẩy ra. Do đó, câu hỏi cốt lõi là những BDS mà quý vị đã và đang sản xuất có mức giá và chất lượng theo đúng nhu cầu của người tiêu dùng chưa? Theo tôi biết, nhu cầu về phân khúc nhà cho người thu nhập thấp rất cao; nhưng sản phẩm gần như quá ít. Trong khi đó, nguồn cung cầu tại phân khúc nhà cao cấp lại mất cân bằng và lượng tồn kho có thể phải mất 10 năm mới tiêu thụ hết.

Tóm lại, khủng hoảng BDS hiện nay là một tính toán sai lầm của nhà sản xuất BDS về giá cả và loại hàng.

Giá thành quá cao?

Nhiều người trong Quý Vị biện bạch là giá BDS cao ngất trời vì giá đất, giá nguyên vật liệu, chi phí hành chánh và bôi trơn… quá cao. Thật tình, lý giải này chỉ chứng tỏ tính chất làm ăn thiếu hiệu quả vì không biết những tính toán căn bản về đầu tư cho dự án; cũng như cho thấy yếu kém của các quyết định bầy đàn và chụp giựt.

Nhưng đôi khi, tình thế ngoại vi cũng có thể làm sai trật mọi tính toán. Chẳng hạn khi tôi bắt đầu dự án Arizona nói trên vào 1979, chúng tôi đã không ngờ là lãi suất lên đến 16-18% mỗi năm khi hoàn tất, thay vì 8-9% như dự tính. Giá nhà vẫn hợp lý, nhưng phần lớn người Mỹ mua nhà bằng tín dụng, nên dự án phải phá sản. Dù không phải lỗi của chủ quan, nhưng chúng tôi hiểu rõ luật chơi của thị trường và cúi đầu chấp nhận.

Người mua nhà, hay ngay cả vợ con bạn bè của Quý Vị, thật sự không quan tâm đến lý do tại sao giá nhà lại cao hay thấp thế này? Vừa mua thuận bán thôi.

Một chút lịch sử

Dĩ nhiên, tất cả bàn luận trên đây dựa trên quy luật thị trường. Nhiều bạn sẽ nói là nền kinh tế chúng ta có “định hướng xã hội” nên chánh phủ phải nhẩy vào can thiệp hay cứu trợ khi “con cái” gặp hoạn nạn.

Chắc Quý Vị còn nhớ, có khi giá nhà đất lên cao cả mấy trăm phần trăm mỗi năm vào thập kỷ 1995-2006, không ai kiến nghị chánh phủ phải can thiệp để cứu người tiêu dùng bằng cách ngăn chận mọi sự tăng giá (nhiều khi phi pháp). Các nhà sản xuất BDS quên mất “định hướng xã hội” của Viêt Nam và ủng hộ triệt để nguyên lý thị trường.

Bây giờ, vào nửa hiệp sau của trận bóng, các cầu thủ lại yêu cầu trọng tài áp dụng một luật chơi mới? Tính bất nhất này làm mọi biện luận của Quý Vị trở nên ngây ngô cùng ngạo mạn.

Hệ quả khi bong bóng BDS nổ

Trước hết, khi nói về hệ quả, tôi xin mọi người ghi nhận công trạng của những nhà đầu cơ BDS trong việc tạo ra khủng hoảng hiện nay. Tất cả những suy thoái, trì trệ và việc kém hiệu quả trong các đầu tư để công nghiệp hóa hay gia tăng sản lượng nông, hải, sản… đều có thể truy nguồn đến những bong bóng tài chánh như BDS, chứng khoán và ngân hàng. Khi dòng tiền tấp nập chảy về lãnh vực này để hưởng lợi nhuận dễ dàng và nhanh chóng, chúng ta đã hy sinh những đầu tư xã hội cần thiết và dài hạn như y tế, giáo dục, công nghệ cao, nông nghiệp… Tai hại của sự lãng phí và tham ô trong việc sử dụng tài lực quốc gia này sẽ làm cả dân tộc trả giá trong nhiều thập kỷ sắp đến.

Nếu nhìn từ định hướng CNXH, các doanh nhân và quan chức có liên hệ đến việc đầu cơ, thao túng và lèo lái dòng tiền đầu tư… để thổi phồng các bong bóng tài sản đều có thể bị kết tội dưới nhiều luật lệ. Hú hồn. May mà Quý Vị còn chữ “kinh tế thị trường” để mà núp bóng.

Ngoài ra, về các hệ quả tương lai khi bong bóng BDS nổ, Quý vị đã tự đặt cho mình một vị trí quá quan trọng trong nền kinh tế chung. Dĩ nhiên có thể hơn 50% các doanh nghiệp kinh doanh BDS và vật liệu xây dựng cũng như 50% các ngân hàng nhỏ yếu sẽ chết vì nợ xấu… nhưng tôi chắc chắn là “không có Mợ thì chợ vẫn đông”. Thực ra, những doanh nghiệp, ngân hàng… này cũng đã chết lâm sàng rồi. Họ kéo dài hơi thở để đợi chút oxygen từ tiền thuế và phí của người dân. Hiện tại, họ không đóng góp chút gì cho sản lượng quốc gia trong khi tiếm dụng một phần nguồn lực không nhỏ.

Về các doanh nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng, một số lớn đã ngất ngư vì không thể cạnh tranh với sản phẩm của Trung Quốc, Thái Lan… tại sân nhà hay sân người. Đổ lỗi cho tình hình BDS chỉ là một thủ thuật phát sinh từ thói quen lười biếng.

Con ngáo ộp thứ hai Quý Vị đem ra hù dọa là con số vài chục ngàn trong số 53 triệu công nhân toàn quốc (với tỷ lệ thất nghiệp khoảng 2.2% theo thống kê nhà nước) sẽ bị ảnh hưởng khi bong bóng BDS nổ tung. Nếu nền kinh tế chúng ta phát triển bền vững và bài bản, sự tạo ra việc làm cho các công nhân này chỉ là chuyện nhỏ.

Con ngáo ộp thứ ba của Quý vị là các người dân bỏ tiền trong các ngân hàng sẽ chịu mất mát khi vài ngân hàng đóng cửa. Theo tôi hiểu, mỗi tài khoản hiện nay được bảo hiểm đến 50 triệu VND và đang được NHNN đề xuất lên 100 triệu VND (vì lạm phát nhiều năm qua). Tỷ lệ mất mát cho những tài khoản trên 100 triệu VND tại các ngân hàng sẽ rất nhỏ; vì các nhà đa triệu phú thường không ngu để mất tiền như Quý Vị tiên đoán. Họ có nhiều giải pháp sáng tạo hơn Quý Vị và nhà nước nhiều.

Những hệ quả tích cực

Trong bài “Thị trường sẽ cứu chúng ta” (www.gocnhinalan.com) tôi đã ghi nhận 5 hệ quả tích cực hơn khi bong bóng BDS nổ. Đó là số lượng vài trăm ngàn gia đình lần đầu sở hữu một căn nhà vừa túi tiền, hiện tượng tâm lý “an cư lạc nghiệp” tạo cú kích cầu tiêu dùng, gây lại niềm tin cho kinh tế, loại bỏ các thành phần phi sản xuất yếu kém, tăng thu ngân sách và thu hút đầu tư nội ngoại.

Trong đó, quan trọng nhất là việc tạo một tầng lớp trung lưu mới, hết sức cần thiết cho mọi sự phát triển bền vững. Nhìn qua các xã hội đã mở mang tại Âu Mỹ Nhật Úc, tầng lớp trung lưu với những tài sản thâu góp được thường là đầu tàu cho chiếc xe kinh tế. Họ tạo ra thị trường tiêu dùng lớn nhất, họ đóng thuế nhiều nhất, họ làm việc cần cù nhất, họ nợ nhiều nhất (tốt cho ngân hàng và các ông chủ), họ có niềm tin cao nhất vào đất nước …vì họ có quá nhiều thứ để mất. Một xã hội bất ổn là khi phần lớn người dân không có gì để mất.

Hệ quả khi bong bóng không nổ

Tôi thì lại lo sợ về những hệ quả trái ngược nếu quyền lực của Quý vị thành công và thuyết phục nhà nước bơm tiền dân cứu Quý Vị và các ngân hàng yếu kém.

Trước hết, nền kinh tế zombies (xác chết biết đi) này sẽ kéo dài ít nhất là một thập kỷ nữa.

Khi phải in tiền đủ để cứu trợ, nạn lạm phát sẽ bùng nổ lại và tỷ giá VND sẽ rơi. Nhiều người đã quay qua Mỹ quan sát về các gói cứu trợ ngân hàng tư và đề nghị NHNN dùng giải pháp này cho Việt Nam. Một ghi chú nhỏ: chánh phủ Mỹ cho các ngân hàng này vay vốn với lãi suất cực rẻ; nhưng không cứu các doanh nghiệp hay giá BDS; và sau khi gây lại vốn sở hữu bị mất trong cuộc khủng hoảng tài chánh 2008, hầu hết các ngân hàng đã trả tiền lại cho chánh phủ. Giải pháp này không thể thực hiện ở Việt Nam vì các ngân hàng thương mại Việt không đủ uy tín, thương hiệu, tầm cỡ, tính minh bạch hay khả năng quản trị để tiếp cận nguồn vốn nội hay ngoại (vẫn rất dồi dào).

Chánh phủ hiện đã bội chi vì các vấn đề kinh tế xã hội từ khủng hoảng và nguồn thu từ thuế và phí đang bị thu hẹp đáng kể. Dùng những tài lực hiếm hoi để nuôi các zombies phi sản xuất là kéo dài cuộc suy thoái cho các thành phần khác trong nền kinh tế.

Nhưng tệ hại nhất là khi tung tiền cứu nguy cho “bồ nhà”, chánh phủ sẽ gởi một thông điệp bào mòn mọi niềm tin còn sót lại của các nhà đầu tư trong và ngoài nước. Đó là: “mọi sai phạm lầm lẫn sẽ được che đậy và bảo vệ; và các quy luật của thị trường có quyền đi “nghỉ mát” khi quyền lợi của các nhóm lợi ích bị xâm phạm”.

Những giải pháp sáng tạo

Sau cùng, nếu con phượng hoàng có thể bay lên từ đống tro tàn thì các zombies cũng có thể tái tạo lại một đời sống mới. Trong nền kinh tế trí thức toàn cầu này, sáng tạo vẫn là một điều kiện tiên quyết cho mọi doanh nghiệp.

Tôi không kinh doanh BDS từ năm 1982, nên tôi không dám “múa rìu qua mắt thợ”. Nhưng tôi nhận thấy có những đại gia “thật lớn” của BDS đã phát triển mạnh trong khủng hoàng này. Bầu Đức của HAGL chọn giải pháp “xuất ngoại” khi bán tháo BDS tại Việt Nam và đem tiền đổ vào Lào và Myanmar. Ngài Vượng của Vincom đạt được danh tỷ phú đô la với phân khúc trung tâm thương mại cao cấp trong thời bão táp. Mr. Quang của Nam Long thì thành công với vốn ngoại và mô hình EHome cho phân khúc trung lưu. Các trường hợp phát triển như anh Thìn Đất Xanh hay anh Đực Đất Lành là những thí dụ khác.

Trong lãnh vực vật liệu xây dựng, sản phẩm nhà tiền chế theo dây chuyền hay các vật liệu từ công nghệ cao và xanh đã biến nhiều doanh nhân thế giới thành tỷ phú. Trí tuệ Việt chắc chắn phải có rất nhiều… Ngô Bảo Châu… trong ngành BDS. Đây là tương lai của BDS Việt trong mong đợi của mọi người; không phải hình ảnh của các zombies níu kéo vào dây trợ sinh trên giường bệnh.

Thay cho lời kết

Tôi thực sự khâm phục khả năng lobby của Hiệp Hội BDS và các thành viên. Tạo được một bong bóng khiến giá trị BDS lên đến 25 lần thu nhập trung bình của người dân là một thành tích đáng ghi vào kỷ lục Guinness. Tôi cũng tiên đoán là chánh phủ rồi cũng sẽ tung nhiều gói cứu trợ BDS mặc cho sự can gián của nhiều chuyên gia và đa số người dân. So với Quý Vị, tiếng nói của chúng tôi không đủ trọng lượng để chánh phủ lưu tâm.

Do đó, cuộc tranh cãi nên dừng lại ở đây để những người dân chưa có nhà không nên kỳ vọng vào một phép lạ trong tương lai gần.

Nhưng trong sâu thẳm, tôi vẫn mang nhiều hy vọng. Có thể một lúc nào đó, những tinh hoa của đất Việt sẽ quên đi quyền lợi cá nhân của mình và gia đình… để san sẻ lại cho các người dân kém may mắn hơn. Không phải để làm từ thiện, mà nhận trách nhiệm rộng lớn hơn với cộng đồng, và với thế đứng của Việt Nam trên thương trường quốc tế. Để doanh nhân Việt được tự hào với tư duy sáng tạo cởi mở và khả năng vượt khó bền bỉ. Để thế hệ sau còn có chút niềm tin và lực đẩy khi họ phải ra biển lớn cạnh tranh.

Riêng đối với những vị đã mất mát tài sản vì sai phạm đầu tư, tôi xin chia sẻ nơi đây câu thơ của tiền nhân mà tôi tự an ủi mình sau khi ký giấy trao lại cho ngân hàng toàn bộ dự án Arizona và ra đi với bàn tay trắng,” Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu… Gặp thời thế thế thì phải thế”. Dù sao, chỉ 3 năm sau đó, tôi lại kiếm được nhiều tiền hơn trong một mô hình kinh doanh khác.

Mong Quý vị mọi điều may mắn và mong tinh thần “kẻ sĩ” mãi cháy sáng trong cuộc đời Quý vị.

Thân ái,
Alan Phan

Tham khảo: Các bài về BDS từ trang 185 của cuốn sách “Đi Tìm Niềm Tin Thời Internet” của Alan Phan do nhà sách Thái Hà xuất bản (2012). Và các bài về BDS trên web sitewww.gocnhinalan.com.

Những ảnh hưởng tích cực sau đây sẽ quay về giúp nền kinh tế tiến về một định hướng bền vững hơn.

1. Khi đa số người dân sở hữu một căn nhà, tầm nhìn và niềm tin của họ vào tương lai vững vàng hơn. Bây giờ họ có một tài sản gì để mất; do đó, sự đóng góp của họ vào nền kinh tế sẽ năng động và tích cực.

2. Niềm tin này mới là “gói kích cầu” quan trọng hơn cả cho thị trường tiêu dùng và nó sẽ kích hoạt các cơ sở công nghiệp cũng như nông nghiệp gia tăng sản xuất, giảm lượng tồn kho và cải thiện năng suất lao động để cạnh tranh. Nên nhớ là tiền dự trữ trong dân nhiều gấp 3 lần tiền dự trữ của chánh phủ;

3. Khi các zombies (xác chết biết đi) bị loại bỏ khỏi hệ thống ngân hàng và thị trường chứng khoán, những định chế sống sót sẽ mạnh hơn nhờ thị phần gia tăng; sẽ chăm chú hơn vào ngành nghề cốt lõi (sau bài học đầu tư đa ngành) và lo trau luyện những kỹ năng cần cho sự cạnh tranh dài hạn;

4. Lạm phát hay tỷ giá sẽ không tăng tốc lâu dài, vì chánh phủ không cần in tiền thêm để cứu ai (một thông điệp rất rõ cho các DNNN) và ngân sách sẽ bội thu nhờ thuế phí tăng thu từ sự tăng trưởng GDP; cũng như nguồn ngoại tệ sẽ dồi dào hơn với sinh lực mới của khu vực xuất khẩu;

5. Khi kinh tế vĩ mô ổn định và khi luật thị trường thay thế luật “hành dân”, niềm tin quay lại với các nhà đầu tư quốc tế và kiều hối. Kênh ngoại tệ này sẽ thâu ngắn sự hồi phục và giúp chúng ta một lợi thế cạnh tranh mới.

 

————-

 

Doanh nghiệp kinh doanh bất động sản Hà Nội gửi thư ngỏ chất vấn TS Alan Pha

Theo báo Lao Động

28-3-2013

Theo nguồn tin mới nhất của PV Lao Động, chiều tối ngày 26.3, CLB BĐS Hà Nội đã dự thảo thư ngỏ gửi TS Alan Phan – nguyên Chủ tịch Quỹ Đầu tư Viasa – thể hiện quan điểm không đồng tình với bài viết “Nên để thị trường BĐS rơi tự do” của ông này và gửi tới ông Alan Phan một loạt câu hỏi chất vấn. Sau đây là một vài nội dung chính của dự thảo:

– Hiện nay, các DN BĐS thường chỉ có từ một đến vài chục phần trăm vốn tự có, phần còn lại là vay ngân hàng (mà ai cũng biết NH là trung gian, kinh doanh từ nguồn tiền gửi của nhân dân). Vậy nếu các DN BĐS phá sản, thực chất, ai sẽ là người mất tiền?

– Ở rất nhiều dự án, người dân đã đóng một phần tiền, thậm chí là rất nhiều tiền, nếu phá sản chủ đầu tư không tiếp tục xây và không thể giao nhà cho họ, cũng không có khả năng hoàn trả tiền; vậy ai sẽ là người mất tiền?

– Ông cho rằng, DN BĐS “chết”, nhà băng “chết”, chứng khoán tụt giảm… cũng không sao, miễn là Chính phủ bảo đảm người dân sẽ không mất tiền. Vậy, xin ông cho biết giải pháp mà Chính phủ cần phải làm để bảo đảm người dân sẽ không mất tiền nếu tình trạng nêu trên xảy ra?

– Ông đã nhận định rằng, để thị trường rơi tự do, giá nhà có thể giảm thêm 30-50% nữa. Vậy theo ông, khi giảm đến mức đó mới là “giá trị thực” (bằng mức đầu tư của DN) hay đã thấp hơn? Theo đánh giá của ông, giá BĐS tại Việt Nam hiện đang ở mức nào? Và ông căn cứ vào cơ cấu giá như thế nào để đưa ra nhận định đó? Cơ sở nào để ông đưa ra nhận định: Không cần giải cứu, thị trường địa ốc sẽ đi lên sau 4-5 năm?…

____________________

‘Nên để thị trường bất động sản rơi tự do’

Lo ngại rót 30.000 tỷ đồng chỉ cứu được một số đối tượng, địa ốc có thể cầm máu nhưng vết thương khó lành, tiến sĩ Alan Phan cho rằng nên để thị trường tự điều chỉnh để sau 4-5 năm có thể quay về thời hoàng kim.

 


Theo tiến sĩ Alan Phan, giá nhà có thể giảm thêm 30-50% nữa. Ảnh: Hoàng Lan 

– Vấn đề giải cứu bất động sản đang gây tranh cãi, một bên nói cần tháo gỡ vì địa ốc liên quan đến hơn 80 ngành nghề, số khác cho rằng không nên bi kịch hóa. Ông nghiêng về ý kiến nào?

– Bất cứ phương án giải cứu nào cũng đòi hỏi một cái giá phải trả. Thứ nhất là tiền bạc, thứ hai là ảnh hưởng của nó tới các hoạt động khác. Nếu Chính phủ in tiền để giải cứu bất động sản thì hệ quả đầu tiên là lạm phát và toàn dân phải chịu. Các giải pháp khác như đánh thuế vào tài khoản tiết kiệm giống Síp làm thì chúng ta đã thấy hậu quả thế nào. Tôi cho rằng, với giải pháp nào, Chính phủ cũng như nền kinh tế Việt Nam sẽ phải trả cái giá đắt.

Quan điểm của tôi là hãy để cho bất động sản rơi tự do. Điều này sẽ làm giá nhà giảm thêm 30-50% để “bắt kịp” thu nhập của người dân và sẽ tạo ra một tầng lớp trung lưu có đủ điều kiện mua nhà. Người dân sẽ có thêm niềm tin và đây chính là một cú hích tạo ra sự kích cầu lớn. Giống như nền kinh tế Mỹ nợ ngập đầu nhưng vẫn rất năng động, bởi họ phải “kéo cày” làm việc tới 15-16 tiếng mỗi ngày để trả nợ.

Tất nhiên, khi để bất động sản rơi thì nợ xấu ngân hàng sẽ tăng, nhà băng có thể “chết” nhưng không sao cả vì số lượng ngân hàng hiện dư chứ không thiếu. Nếu một nửa nhà băng chết, một nửa sống thì cũng không sao, miễn là Chính phủ bảo đảm người dân sẽ không mất tiền. Ngân hàng chết, chứng khoán sẽ tụt nhưng sau đó niềm tin sẽ lấy lại và đi tới một chu kỳ kinh tế mới.

– Ông đánh giá thế nào về giải pháp rót 30.000 tỷ đồng qua ngân hàng thương mại để tháo gỡ khó khăn cho địa ốc, trong đó tập trung cho phân khúc nhà thu nhập thấp và nhà thương mại giá rẻ?

– Theo tôi giải pháp này không khả thi. Hiện nợ xấu ngân hàng chồng chất rồi, giờ phải cho vay thêm thì sẽ rất “ngượng ngùng”. Chính phủ rót 30.000 tỷ đồng chỉ cứu được một vài đối tượng. Thị trường bất động sản Việt Nam chỉ cầm máu một chút và vết thương sẽ không khỏi. Phương thức can thiệp này không hữu hiệu mà chỉ lợi cho một nhóm người. Ngoài ra, khi bơm tiền ra sẽ có ít nhất 50% lượng tiền biến mất vì sự không minh bạch, thiếu kiểm soát nghiêm túc. Phải nhớ rằng, ở đâu cũng thế, tiền của người khác thì ta luôn có sự cẩu thả trong tiêu xài. Không có sự kiểm soát chặt chẽ thì luôn có những đối tượng lợi dụng, đó là tình trạng chung của mọi xã hội, “thừa nước đục thả câu”.

Ở Mỹ, Chính phủ không cứu bất động sản mà để giá địa ốc xuống ồ ạt. Khi ngân hàng lớn lâm nguy, Chính phủ phải rót tiền vào để có thăng bằng nhưng sau đó chính ngân hàng phải tự tìm vốn để bù vào. Sau khi có thêm một nguồn vốn mới, ngân hàng phải trả lại Chính phủ.
Kết quả thăm dò ý kiến độc giả trên VnExpress, tính tới chiều 21/3.

– Ông cho rằng, giải pháp đưa ra khó khả thi, vậy Chính phủ nên làm gì lúc này?

– Chính phủ phải làm sao để giá xuống và thu nhập người dân lên. Tới điểm nào hai bên gặp nhau thì cung cầu mới cân bằng. Những theo tôi, để hai điểm này gặp nhau thì phải mất đến 10 năm.

– Các chuyên gia cho rằng, hiện có sự chờ đợi của doanh nghiệp cũng như người dân vào các biện pháp giải cứu. Theo ông, tâm lý chờ đợi bao trùm này sẽ ảnh hưởng thế nào đối với thị trường bất động sản?

– Nếu bất động sản nằm yên không bán được thì càng đợi, người ta càng tuyệt vọng sẽ có nhiều người bỏ cuộc và giá sẽ xuống. Đó là áp lực chính. Tôi cho rằng, người mua nhà tỏ ra khôn ngoan, họ chờ đợi sự nao núng từ phía người bán. Giá nhà xuống họ mua được và nền kinh tế sẽ tốt hơn. Họ chờ đợi vì không có niềm tin. Thực tình tiền trong dân rất nhiều nhưng họ không muốn kinh doanh gì cả vì lúc này mà đầu tư thì bấp bênh quá. Nhiều người tôi biết có khả năng kinh doanh nhưng họ không muốn động tới tiền của mình, họ muốn đợi. Đôi khi tôi thấy những nhà đầu tư nước ngoài tin nhiều hơn là những người đã ở đây lâu.

– Lời khuyên của ông cho các nhà đầu tư cũng như người dân trong bối cảnh địa ốc như hiện nay là gì?

– Nếu doanh nghiệp trường vốn thì có thể đợi chờ và tìm cách để làm dự án hấp dẫn hơn. Trường hợp kẹt vốn, doanh nghiệp nên “phủi tay” làm lại, chấp nhận bỏ cuộc chơi thay vì tham gia một cách vô vọng. Người dân nếu thấy dự án tốt, sức mua ổn đáp ứng nhu cầu thì nên mua để đầu tư dài hạn.

– Theo ông, mất bao lâu để thị trường địa ốc phục hồi?

– Tình hình đang xấu, sẽ mất rất nhiều năm để bất động sản lại thời vàng son 10-15 năm nếu không có gì thay đổi. Không giải cứu, địa ốc sẽ đi lên sau 4-5 năm. Doanh nghiệp mà không còn khả năng hoạt động thì nên để phá sản. Giống như một hình ảnh vui là có 1 con cóc mà mình phải nuốt thì nuốt ngay để đi làm việc khác thay vì ngồi nhìn nó hoài mà đến cuối ngày nó vẫn xấu chứ không đẹp hơn.

– Có nhiều kinh nghiệm đầu tư quốc tế, ông đánh giá thế nào về sức hút của thị trường bất động sản trong nước đối với các nhà đầu tư ngoại?

– Thị trường bất động sản Việt Nam chứa nhiều nghịch lý và nhạy cảm nên thật tình mà nói chưa hút nhiều nhà đầu tư ngoại. Thủ tục pháp lý và quan niệm toàn dân sở hữu đất đai vẫn chưa quen lắm với người nước ngoài. Thị trường hiện không sáng sủa nên việc kiếm tiền trong 3-5 năm rất khó, bởi vậy cơ hội ngắn hạn không dễ dàng. Còn cơ hội dài hạn tiềm ẩn nhiều rủi ro. Việt Nam đang yếu thế trong việc thu hút dòng tiền bên ngoài vào so với Indonesia, Malaysia, Thái Lan và Philippines. Kinh tế vĩ mô của Việt Nam cũng chưa bền vững.

Các trường hợp mua lại dự án phải có một mức giá hợp lý, chủ đầu tư chịu lỗ còn đơn vị mua lại thấy có cơ hội rút lui trong chiến thắng 3-4 năm thì họ vẫn làm. M&A chủ yếu là dự án đang xây dở dang, chỉ cần nhà đầu tư ngoại rót thêm một khoản tiền nữa để hoàn thiện nên họ sẵn sàng mua lại. Còn bảo họ đầu tư dài hạn, mua đất giải phóng mặt bằng sau đó triển khai dự án thì câu trả lời là không.

Alan Phan là doanh nhân với 43 năm kinh nghiệm tại thị trường Mỹ và Trung Quốc. Ông là Việt kiều đầu tiên đưa công ty tư nhân của mình lên niêm yết sàn chứng khoán Mỹ (1987) – Công ty Hartcourt đạt thị giá 670 triệu đôla vào năm 1999.

Ông cũng là doanh nhân đầu tiên đưa giao dịch chứng khoán và giáo dục từ xa qua mạng Internet tại Trung Quốc (1997). Ông từng là Chủ tịch Quỹ đầu tư Viasa Fund tại HongKong và Thượng Hải.

Hoàng Lan – Hàn Phi
Theo VnExpress

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

► “Đảng là mẹ và chúng con quyết nguyện theo mẹ; Bác Hồ là cha và chúng con nguyện theo cha…”

Posted by hoangtran204 trên 29/03/2013

Đó là phát biểu của ông Trung tướng Nguyễn Thanh Tuấn, Cục trưởng Cục Tuyên huấn, thuôc Tổng cục Chính trị. Ngao ngán cho tư tưởng thuộc loại em bé bòng bóng mà cứ diễn thuyết khắp nơi, một đọc giả của Dân Luận gởi tới bài viết dưới đây. 

Hết thuốc chữa!

nguồn: danluan.org

28-3-2013

Đọc bài viết trên báo Quân đội nhân dân, có tựa đề “Đạo lý và lịch sử về sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội của một ông trung tướng tên là NGUYỄN THANH TUẤN, tôi xì-trét đến độ không biết phải làm thế nào, đành biên mấy dòng gửi cho Dân Luận.

Điều ngạc nhiên lớn nhất của tôi là ông này đang mang lon trung tướng, thế mà viết lời văn ca ngợi Đảng và Bác thật “ngây ngô và hồn nhiên” như một em bé mẫu giáo:

“…Trước đây, trong chiến đấu, chúng tôi thường nói nôm na: “Đảng là mẹ và chúng con quyết nguyện theo mẹ; Bác Hồ là cha và chúng con nguyện theo cha. Khi Đảng và Bác bảo đi, chúng con đi, bảo đánh chúng con đánh… và bảo thắng, chúng con phải quyết giành chiến thắng”….

Cứ cái kiểu “bảo và làm” thế này , Đảng bảo… ị ,chúng con phải quyết tâm cố mà… rặn cho bằng được mấy cục để vui lòng “cha mẹ”!

Có vẻ cảm thấy cái sự đội Đảng lên đầu thờ như cha mẹ của mình chưa đủ làm người đọc ép phê, ông trung tướng tuôn thêm một tràng ca ngợi kèm theo triết lý:

“… Đối với thế hệ chúng tôi và những lớp người đi trước, Đảng, Bác Hồ, nhân dân là cha, là mẹ; Quân đội nhân dân Việt Nam là con của Bác, của Đảng, của dân. Đạo lý người Việt Nam không cho phép ai từ bỏ cha mẹ. Bất kỳ ai đòi quân đội từ bỏ sự trung thành với Đảng, với Bác Hồ là đều trái đạo lý, trái lịch sử.”

Thật tội nghiệp quá, trước giờ tôi cứ hình dung một ngài trung tướng là phải lừng lẫy oai phong, uy dũng với kiến thức sâu rộng và tài thao lược kinh bang tế thế. Có đâu lại thỏ thẻ, nỉ non như con chim non thế này.

Bất chợt tôi à lên một tiếng: Phải rồi, nhờ thế ông mới lên được “trung tướng” chứ!

Thưa ngài trung tướng, đạo lý người Việt Nam không cho phép ai từ bỏ cha mẹ, điều đó đúng khi là những đấng sinh thành. Còn cái Đảng ruỗng mục đang toan tính “xây hầm trú ẩn”, mặc tình cho đạo lý suy đồi, lịch sử nhiễu nhương kia không đáng.

Chuyện ngài chọn ai hay thứ gì làm cha mẹ là quyền của cá nhân ngài, không phải cả dân tộc Việt Nam đều đi bằng đầu gối và đội Đảng lên đầu như vậy. Do vậy ngài đừng lớn giọng mà khuyên người ta là trái đạo lý và lịch sử!

————————–

Ý kiến bạn đọc trên tờ báo mạng Dân Luận:

* Người Huế (khách viếng thăm) gửi lúc 14:55, 29/03/2013 – mã số 82861

Trung tướng gì mà ngu bỏ mẹ. Lý luận như thế làm sao mà thắng thằng Tàu.

* Khiếp cái chữ Hiếp (khách viếng thăm) gửi lúc 14:44, 29/03/2013 – mã số 82860
Nguyễn Ngọc Già viết:
Thêm một cái “hết thuốc chữa” cho mấy chú CS nữa nè!
HIẾP pháp, hổng phải Hiến pháp . Cười “nôn” cả ruột! Hiếp pháp = hiếp dâm đại pháp 😀

Đúng là điềm trời rồi!

http://danlambaovn.blogspot.ca/2013/03/oi-ieu-suy-nghi-ve-hiep-phap.html#.UVUeOfnIrIU

Chết cha cậu đánh máy rồi. Thực sự chữ “Hiến” cực kỳ dễ gõ nhầm thành chữ “Hiếp” vì đằng sau là chữ “p” của từ “Pháp”.

Thế mà dám bảo các báo đảng đã được nhà nước chăm lo chi hàng tỷ đồng để trang bị hệ thống biên soạn và quản lý nội dung hiện đại trong nước tự sản xuất. Chết mẹ hết đi, tốn cơm nhân dân.

*Nguyễn Ngọc Già (khách viếng thăm) gửi lúc 11:57, 29/03/2013 – mã số 82847
Thêm một cái “hết thuốc chữa” cho mấy chú CS nữa nè!

HIẾP pháp, hổng phải Hiến pháp . Cười “nôn” cả ruột! Hiếp pháp = hiếp dâm đại pháp 😀

Đúng là điềm trời rồi!

http://danlambaovn.blogspot.ca/2013/03/oi-ieu-suy-nghi-ve-hiep-phap.html#.UVUeOfnIrIU

http://www.voatiengviet.com/media/video/1630801.html

* Khách Qua Đường (khách viếng thăm) gửi lúc 09:18, 29/03/2013 – mã số 82828

Đảng là mẹ, Bác là cha
Mẹ theo Trung Quốc bán nguyên sơn hà
Cha nằm hòm kính nhìn ra
Mỉm cười thoả mãn rằng “mình hiểu ta”.

* Khách Lê Văn Mọi (khách viếng thăm) gửi lúc 06:12, 29/03/2013 – mã số 82822
“Đảng là mẹ … Bác Hồ là cha” Bác Hồ là giống đực thì Đảng là mẹ phải là giống cái. Chỉ có một giống đực (bác Hồ) mà Đảng (giống cái) thì nhiều vô kể mới cho ra một lũ con tới hơn 3,5 triệu. Ô hô, bác Hồ khỏe thật. Nhiều con nhưng chẳng đứa nào ra hồn, toàn ăn tàn phá hoại, lại không nghe lời cha, ngay cái hiến pháp cũng xuyên tạc lời cha, ý cha. Hóa ra nhà vô phúc.
Tướng mà cũng sùng bái đến mức ngu muội, thế này mà đi đánh nhau thì chỉ có thua. Thảm nào Trung quốc nó đến sát nách mà không dám đánh.

* Thích Dân Chủ gửi lúc 00:28, 29/03/2013 – mã số 82810
tôi không biết ngài “trung tướng” còn cha mẹ không,và nếu cha mẹ ngài đọc những dòng này ,sẽ nghĩ gì về đứa con từng mang nặng đẻ đau, giờ lại quỳ mọp xưng tụng những kẻ đang ruồng rẫy nông dân như vậy

*Khách BVN (khách viếng thăm) gửi lúc 23:19, 28/03/2013 – mã số 82807
“Đảng là mẹ và chúng con quyết nguyện theo mẹ; Bác Hồ là cha và chúng con nguyện theo cha.”
Đó là cuyện ngày xưa. Ngày nay “mẹ” ngoại tình, còn “cha” thì bị nhiễm HIV. Để con không có người nuôi dạy nên con trở nên thoái hóa, suy đồi đạo đức và lối sống trở thành con sâu.

Tôi cũng “nhập ngũ vào quân đội khi còn ở tuổi thiếu niên. Nói đúng hơn, khi đó tôi đi theo cách mạng, theo Đảng vì phải chứng kiến” bao tội ác dã man của đội CCRĐ vu oan cho gia đình tôi là địa chủ cho đủ chỉ tiêu, mặc dù nhà tôi chỉ có mấy sào ruộng, tự làm lấy mà không thuê mướn bóc lột ai, sau đó được sửa sai, xuống thành trung nông, nhưng tiếng xấu vẫn còn. Tôi vào Nam và sang nước bạn chiến đấu để muốn “xóa án” cho gia đình. Xương máu đã chứng minh lòng trung thành của tôi đối với Đảng, đối với cách mạng, nhưng nay về thì gia đình tôi bị mất đất, người cày không có ruộng. Đến cuối đời tàn phế, tôi mới biết mình là người xấu số.

* Nguyễn Hữu Dũng (khách viếng thăm) gửi lúc 21:15, 28/03/2013 – mã số 82795

Loại tướng cướp của giết người thạo này chính là lực lượng chủ chốt trong cải cách ruộng đất.Đảng Bác bảo đi là đi, bảo cướp càng nhiều của, giết đấu tố (kiểu chụp mũ của TBT) được càng nhiều địa chủ càng tốt!Rồi trong 2 cuộc kháng chiến nồi da nấu thịt cũng càng giết được nhiều càng tốt! Để VN suy yếu về nhân lực, vật lực, về thời gian, về quan hệ đa phương QT… Để đến nỗi mất nhiều hải đảo nhất thế giới!
Đúng là:
Đảng là mẹ, bác là cha
Từ khi bác mất, đảng ta goá chồng
Từ khi đảng ta góa chồng,
Quan hệ quốc tế lồng thồng lôi thôi…
Quan hệ cứ tính nước đôi
Đảng viên danh lợi nắm xôi là cười!!!

* Người họ Trần (khách viếng thăm) gửi lúc 18:28, 28/03/2013 – mã số 82777
Đồ bất hiếu! Cha mẹ của ông có công sinh ra ông,nuôi nấng ông nên vóc, nên hình. Ơn trời biển như thế mà ông không nhìn, mà đi nhận đảng, bác làm cha, làm mẹ. Sự vong ân, bội nghĩa này có xứng đáng với tầm vóc của một vị tướng hay không?
Nói thật với ông: Cha mẹ của ông mà ông còn phản bội. Nếu tôi có quyền, tôi cách chức ông ngay. Bởi vì, nếu mai này, ai có cho ông nhiều tiền, bảo ông phản đảng, phản Tổ quốc chắc có lẽ ông sẽ làm ngay.
Trời ơi! Đất nước này có một vị tướng như ông, không biết ngày nào ông chỉ huy quân đội bắn thẳng vào dân, chỉ cốt để kiếm tiền thì Tổ quốc này lâm nguy thật sự rồi.

* Khách nguoimoi (khách viếng thăm) gửi lúc 17:10, 28/03/2013 – mã số 82775
Ha..ha.. Cám ơn tác giả, nhờ bác ” xì-trét đến độ không biết phải làm thế nào, đành biên mấy dòng gửi cho Dân Luận.”

… mà tui được xả-trét, cám ơn bác lần nữa. 😀

* Nguyễn Ngọc Già (khách viếng thăm) gửi lúc 16:10, 28/03/2013 – mã số 82772
Một đoạn video clip vừa được phổ biến trên youtube ghi lại cảnh người dân phẫn nộ phản đối công an, sau khi một học sinh cấp 3 bị những viên công an sắc phục đánh đập tàn bạo đến mức chảy máu tai.

Những phút đầu, đoạn clip cho thấy hình ảnh người dân bất bình chặn xe một viên công an mặc sắc phục nhằm không để cho người này bỏ đi khỏi hiện trường. Người công an sắc phục này được cho là kẻ đã đánh đổ máu một em học sinh chỉ vì lỗi không đội mũ bảo hiểm, xuất hiện bên cạnh là hai người mặc áo dân phòng và bảo vệ dân phố.

Theo báo Tuổi Trẻ, vụ việc xảy ra vào ngày 26/3/2013, trước nhà số 47 đường số 9, cư xá Bình Thới, P. 8, Q.11, Sài Gòn.

Nạn nhân bị đánh chảy máu tai trong clip là em Lâm Dụ Cường, 16 tuổi, học sinh lớp 10 trường Nguyễn Hiền.

Viên công an sắc phục trong clip tên là Phan Thanh Trung, cấp bậc đại úy, công tác tại công an phường 8, quận 11.

Rất đông người dân tại hiện trường đã có mặt và bày tỏ sự bất bình đối với hành vi côn đồ của đại úy công an Phan Thanh Trung.

Hiện nay, bộ công an Việt Nam đang đòi thông qua luật cho phép công an được nổ súng vào dân. Nếu quy định này được thông qua, những khẩu súng khi được giao cho những kẻ côn đồ như đại úy Phan Thanh Trung thì không biết bao nhiêu người dân vô tội sẽ bị giết hại.

CTV Danlambao

http://danlambaovn.blogspot.ca/2013/03/dan-bat-binh-vi-ca-anh-hoc-sinh-o-mau.html

*Hoàng trí Đông (khách viếng thăm) gửi lúc 14:55, 28/03/2013 – mã số 82766
Đảng là mẹ, bác là cha
Từ khi bác mất, đảng ta goá chồng
Báo cô một lủ con đông
Thạch Sanh thì ít, Lý Thông thì nhiều.

Khách Lê Văn Mọi (khách viếng thăm) gửi lúc 13:02, 28/03/2013 – mã số 82759
Thực ra là có thuốc chữa, nhưng CS không chị chữa, đã “đâm lao thì phải theo lao” đến cũng để lao xuống dốc.

Nghe mấy ông tướng phát biểu thì lại thấy giọng của tướng cướp. Đảng lãnh đạo quân đội? Vậy Đảng là cái gì? Con người lãnh đạo, người nào có tài quân sự (tướng giỏi) thì lãnh đạo chứ. Cũng giống như trong ngành cơ khí của tôi, anh nào giỏi tay nghề, giỏi lý thuyết thì làm quản đốc phân xưởng, lãnh đạo thợ mới nghe, anh nào là Đẩng, không biết gì mà lãnh đạo thì chỉ có phá hoại. Đảng lãnh đạo quân đội: Thảm nào trong khi tàu Hải giám và các loại tàu khác của Trung quốc quấy rối trong hải phận nước ta mà không thấy tướng nào ra tay, tướng ra ta mà thua thì do Đảng lãnh đạo, thế thì mất mặt.

Quân đội bảo vệ Tổ quốc là làm nhiệm vụ và nghĩa vụ đối với cả nước, ai là công dân nước Việt, đến tuổi nghiã vụ quân sự thì phải nhập ngũ. Còn quân đội bảo vệ Đảng (có khoảng trên 3,5 thành viên trong tổng số gần 90 triệu người Việt), anh nào không phải đảng viên hoặc không thích Đảng thì ở nhà. Không thể ép người ta làm cái việc không phải trách nhiệm và nghĩa vụ của người ta.
*culanchamcom (khách viếng thăm) gửi lúc 11:46, 28/03/2013 – mã số 82754
Tội cho cha mẹ nào có thằng con như “tướng” Nguyễn Thanh Tuấn..

Đúng là “hết thuốc chữa” … hình như mấy tay này bị “sảng” hết rồi hay sao ấy!! À! có lẽ đang “trăn trối”…chắc vậy.

* Nguyễn Ngọc Già (khách viếng thăm) gửi lúc 11:36, 28/03/2013 – mã số 82752
Cái gì kỳ lạ vậy?!

Mới đầu: Đảng là mẹ, bác Hồ là cha

Sau nữa: đảng, bác, nhân dân là cha là mẹ

Suy ra: nhân dân là cha hay là mẹ đây cha nội? hay nhân dân là lưỡng tính vừa là cha vừa là mẹ hả ông nội tướng Thanh Tuấn?! Ông nói gì mà lộn đầu lộn đuôi và loạn luân dữ vậy, cha!

Sau mà có cái kiểu đầu trộm đuôi cướp, loạn xà ngầu đến cỡ này, không biết?!

Cái tên tướng này đã nói: tranh chấp biên giới hải đảo giữa Việt và Tàu để cho thế hệ sau giỏi hơn giải quyết đấy! Đù má thằng tướng này! Hỏi tên tướng Tuấn này;

– Nguyễn Thanh Tuấn là con của cặp “vợ chồng nào”:

+một: đảng và bác
+hai: đảng và nhân dân
+ba: bác và nhân dân

Hay là nó tính chơi cái kiểu threesome đây?! Trời ơi là trời! thằng này mất dạy quá!

?????

Càng nói càng thấy thằng tướng này đúng là loài thú chứ không phải loài người! Bởi loài người làm gì có cái kiểu loạn luân và quái thai cỡ đó!
* nguyenhong (khách viếng thăm) gửi lúc 10:34, 28/03/2013 – mã số 82745
Tôi còn xì-trét đến mức suýt táng một gậy vào mấy cái mặt trên TV khi nghe tin về một cái hội nghị gì đấy cũng là của “quân đội Đảng” góp ý sửa hiến pháp rằng phải thêm hai chữ “duy nhất” vào điều 4 về sự lãnh đạo của đảng.
Đúng là hết thuốc chữa. Có chăng thì là thuốc chuột.

————————–

Đạo lý và lịch sử về sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội

QĐND – Chủ Nhật, 24/03/201

Trung tướng Nguyễn Thanh Tuấn,

Cục trưởng Cục Tuyên huấn (Tổng cục Chính trị)

QĐND – Tôi nhập ngũ vào quân đội khi còn ở tuổi thiếu niên. Nói đúng hơn, khi đó tôi đi theo cách mạng, theo Đảng vì phải chứng kiến bao tội ác dã man của giặc Mỹ xâm lược và bè lũ tay sai gây ra cho đồng bào ta, trong đó có quê hương và gia đình tôi. Những năm tháng trong quân ngũ, được đồng đội, đơn vị và quân đội rèn luyện, giúp đỡ, tôi đã trưởng thành, trở thành đảng viên của Đảng khi vừa tròn 18 tuổi, trở thành người chỉ huy, cùng đơn vị tham gia giải phóng quê hương, góp phần làm nên cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mùa Xuân năm 1975 toàn thắng.

Với tôi, Đảng là cuộc sống, là niềm tin, là lý tưởng phấn đấu để góp phần mang lại cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, mang lại công bằng, dân chủ, xóa bỏ áp bức, bất công trong xã hội… Bởi vậy, trong chiến đấu, tôi và đồng đội đã gạt bỏ tình cảm riêng tư, hạnh phúc cá nhân, sẵn sàng hy sinh cả tính mạng của mình để vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, hy sinh góp phần làm nên chiến thắng.

Mãi mãi chúng tôi tự hào về điều đó và luôn tâm niệm rằng, có cuộc sống ấm no, hạnh phúc, đất nước thống nhất, hòa bình hôm nay, không bao giờ được quên ơn biết bao đồng đội đã ngã xuống, đã đổ bao xương máu. Và trong số họ nhiều người, nếu nay còn sống, sẽ giỏi hơn mình và có thể đóng góp cho Tổ quốc nhiều hơn mình! Biết bao các anh, các chị đã ngã xuống khi còn tuổi thanh xuân, đã hy sinh cho Đảng mà không một đòi hỏi, không một hối tiếc, bởi vì họ đã coi lý tưởng của Đảng là lý tưởng của mình, sự nghiệp của Đảng là sự nghiệp của mình…

Từ những suy nghĩ của riêng mình, suy rộng ra của toàn quân cũng như vậy. Không có Đảng thì không có Quân đội nhân dân Việt Nam, vì quân đội ta do Đảng sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện; không có Đảng và Bác Hồ thì không có quân đội ta.

Năm 2014, toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta sẽ kỷ niệm 70 năm ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam (22-12-1944/22-12-2014), 25 năm Ngày Hội quốc phòng toàn dân (22-12-1989/22-12-2014).

Trước đây, trong chiến đấu, chúng tôi thường nói nôm na: “Đảng là mẹ và chúng con quyết nguyện theo mẹ; Bác Hồ là cha và chúng con nguyện theo cha. Khi Đảng và Bác bảo đi, chúng con đi, bảo đánh chúng con đánh… và bảo thắng, chúng con phải quyết giành chiến thắng”.

Lịch sử là như vậy, mong rằng một số cá nhân đừng lấy suy nghĩ hôm nay để “đo lường và phán xét” những gì đã qua, mà hãy trân trọng lịch sử. Nếu không như vậy làm sao chúng ta đánh thắng hết tên đế quốc này đến tên đế quốc khác giàu, mạnh hơn ta gấp nhiều lần, để làm nên sự tích thần kỳ, ghi vào lịch sử dân tộc những trang vàng vẻ vang nhất. Tôi chưa có dịp đi nước ngoài nhiều, nhưng khi gặp bạn bè quốc tế, họ luôn bày tỏ sự cảm phục chân thành, bởi ít có dân tộc nào làm được như dân tộc Việt Nam, đã đánh thắng thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Là người Việt Nam, ai không tự hào về điều đó?

Thắng lợi của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước là thắng lợi của toàn dân dưới sự lãnh đạo của Đảng, trong đó quân đội có vai trò quan trọng. Chính vì vậy mà quân đội ta đã viết nên và tô thắm truyền thống “Trung với Đảng, hiếu với dân”; ” Trung với nước, hiếu với dân”. Có Đảng, quân đội ta mới có sức mạnh, không ngừng lớn mạnh, trưởng thành, góp phần cùng toàn Đảng, toàn dân làm nên lịch sử.

Thế nhưng gần đây, có những ý kiến, kiến nghị muốn Quân đội nhân dân Việt Nam thoát ly khỏi sự lãnh đạo của Đảng. Đã có nhiều ý kiến phê phán, phản bác quan điểm sai trái đó, đã lý giải đầy đủ tính tất yếu khách quan về sự lãnh đạo của Đảng với quân đội. Tôi không lý giải thêm mà chỉ muốn nói về đạo lý. Đối với thế hệ chúng tôi và những lớp người đi trước, Đảng, Bác Hồ, nhân dân là cha, là mẹ; Quân đội nhân dân Việt Nam là con của Bác, của Đảng, của dân. Đạo lý người Việt Nam không cho phép ai từ bỏ cha mẹ. Bất kỳ ai đòi quân đội từ bỏ sự trung thành với Đảng, với Bác Hồ là đều trái đạo lý, trái lịch sử. Chúng tôi, những người đã trải qua, hoặc đang trong quân ngũ, mang đạo lý của dân tộc, không chấp nhận quan điểm đó.

Đất nước đang đứng trước những vận hội, thời cơ và cả những khó khăn, thách thức. Những chiến sĩ chúng tôi không ngại những thách thức khách quan, vì nếu Đảng ta đoàn kết, thống nhất thì không có trở ngại nào là không thể vượt qua. Điều chúng tôi trăn trở, lo lắng chính là sự “tự diễn biến, tự chuyển hóa”, phân hóa chia rẽ trong nội bộ Đảng. Mong rằng, lời dạy của Bác Hồ kính yêu: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết; thành công, thành công, đại thành công” sẽ được mọi cấp, mọi ngành, mọi người thấm nhuần, chung tay xây dựng. Cần kiên quyết đấu tranh loại bỏ những quan điểm, tư tưởng làm suy yếu Đảng, tách Đảng với quân đội; kiên quyết đấu tranh với những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị và đạo đức lối sống.

Trung tướng NGUYỄN THANH TUẤN

Theo Quân Đội Nhân Dân

——————-

http://www.tienphong.vn/xa-hoi/593375/Bao-ve-bien-dao-bang-vu-khi-hien-dai-nhat-the-gioi-tpov.html

Bảo vệ biển đảo bằng vũ khí hiện đại nhất thế giới

29/09/2012

TPO – Thiếu tướng Nguyễn Thanh Tuấn – Cục trưởng Cục Tuyên huấn, Tổng cục chính trị,  cho biết chúng ta bảo vệ biển đảo bằng những vũ khí hiện đại bậc nhất thế giới.

Phát biểu tại Hội nghị người Việt Nam tại nước ngoài lần 2 diễn ra tại TP HCM ngày 27 và 28 – 9 – 2012, Thiếu tướng Nguyễn Thanh Tuấn – Cục trưởng Cục Tuyên huấn, Tổng cục chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam nhấn mạnh: “Chúng ta đã trang bị tàu hộ vệ tên lửa có khả năng bảo vệ cách bờ 200km trở lại, chúng ta cũng có những tên lửa có tầm bắn 600km, và cả những tên lửa nằm trong số những vũ khí hiện đại bậc nhất trên thế giới hiện nay. Chúng ta cũng mua sắm những máy bay đủ sức bảo vệ quần đảo Trường Sa cũng như Hoàng Sa”.

Không để mất một đảo ngầm, đảo nổi nào

Thiếu tướng Nguyễn Thanh Tuấn cho biết, Việt Nam chủ trương giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hòa bình, nhưng nhiều người băn khoăn nếu ta muốn hòa bình mà họ không chịu hòa bình thì sao? Trong trường hợp Trung Quốc âm mưu độc chiếm biển Đông bằng sức mạnh thì sao? Nhà nước, đặc biệt là quân đội đã chuẩn bị mọi phương án để đối phó với tình huống thấp nhất đến tình huống cao nhất. Bản thân các tướng lĩnh Trung Quốc nhận định, nếu đánh chiếm toàn bộ quần đảo Trường Sa chỉ mất khoảng 1 tuần, nhưng giữ được Trường Sa thì Trung Quốc khó có thể giữ được.

“Có nhiều quan điểm, ý kiến khác nhau nhưng chúng ta đều thống nhất tổ quốc Việt Nam là một, chủ quyền của Việt Nam là bất khả xâm phạm. Những năm gần đây, chúng ta không để mất bất kỳ một đảo ngầm, một đảo nổi, một nhà giàn nào của Việt Nam”, Thiếu tướng khẳng định.

Cũng theo Thiếu tướng, chúng ta có thể khẳng định Hoàng Sa – Trường Sa là của Việt Nam, bởi thực tế chúng ta là những người đầu tiên khai phá, khi chưa có nước nào đặt chân khẳng định quần đảo đó, vùng biển đó. Cho nên chúng ta nói chúng ta có cơ sở pháp lý vững chắc khẳng định đó là của Việt Nam.

Cục trưởng Cục tuyên huấn, Tổng cục Chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam nêu rõ: Thế nhưng, năm 1956 nhân cơ hội Pháp rút khỏi Việt Nam để thực hiện hiệp định Genève, trong bối cảnh chưa đủ khả năng để quản lý các vùng biển đảo của Việt Nam, thì Trung Quốc nhân cơ hội đã đánh chiếm cụm đảo phía Đông của Hoàng Sa. Đến 1974, cùng sự thỏa hiệp của Mỹ, Trung Quốc đã đánh chiếm toàn bộ cụm đảo phía Tây của Hoàng Sa.

Đối với quần đảo Trường Sa, chúng ta khẳng định chúng ta là nước đầu tiên làm chủ nguyên một vùng biển đảo rộng lớn, tuy nhiên, với lực lượng hải quân nhỏ bé, và điều kiện phát triển chưa cao, chúng ta chỉ làm chủ ở một số đảo. Năm 1971 Philippines đã lấn chiếm và làm chủ 5 đảo thuộc phía Đông của quần đảo Trường Sa (gần Philippines), đến 1973, họ lấn chiếm tiếp hai đảo ở phía Bắc.

Với Malayxia, cho đến năm 1979 họ đã lấn chiếm và làm chủ 7 biển đảo ở phía Nam quần đảo Trường Sa. Năm 1988, nhân cơ hội đất nước đang gặp nhiều khó khăn, phải đương đầu với cuộc chiến tranh biên giới phía Tây Nam, Trung Quốc đã tiến hành đánh chiếm 7 bãi đá ngầm của Việt Nam ở Trường Sa. Cho đến 2005 họ đánh chiếm tiếp 2 điểm do Philippines quản lý trên quần đảo Trường Sa.

Giữ vững, bảo vệ vững chắc chủ quyền

Nhắc lại vấn đề này để nói rằng, trong quá trình phát triển của đất nước, chúng ta liên tục cố gắng bằng mọi khả năng để bảo vệ chủ quyền trong điều kiện nhất định. Từ đó đến nay, chúng ta đã giữ được nguyên hiện trạng, bảo vệ vững chắc cái chúng ta đã có. Đặc biệt vùng biển theo Công ước luật biển năm 1982 của Liên Hợp Quốc, đó là vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý.

Về thềm lục địa của Việt Nam, chúng ta đã cố gắng bảo vệ không cho ai đặt nhà giàn, đặt giàn khoan, trụ thăm dò trong vùng thềm lục địa, vùng đặt quyền kinh tế, thuộc chủ quyền, quyền tài phán trên biển của Việt Nam. Mọi người cần tin tưởng rằng dưới sự lãnh đạo của nhà nước, dưới sự lãnh đạo của Đảng, chúng ta đã giữ vững và bảo vệ vững chắc cái chúng ta đã có.

TPO lược ghi

——————

Posted in Chinh Tri Xa Hoi | Leave a Comment »

►Không phải thay đổi là rối loạn xã hội

Posted by hoangtran204 trên 28/03/2013

BS Nguyễn Quang Bình Tuy

Theo Bauxite Việt Nam

Tướng Tô Lâm đã lập luận nếu “đặt vấn đề Hiến pháp mới quy định phi chính trị hóa lực lượng vũ trang” thì sẽ mắc phải “các âm mưu, hoạt động của các thế lực thù địch lợi dụng việc góp ý dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 nhằm tiến hành các hoạt động chống phá cách mạng, gây bất ổn định chính trị, xã hội của đất nước”. Tôi xin phản biện ý của Tướng Lâm chung quanh vấn đề “thay đổi”.

Thay đổi từ trên cao xuống là thay đổi khôn ngoan nhất, không đổ máu và không gây rối loạn xã hội như người ta lo sợ. Myanmar là một thử nghiệm thành công, nên theo cách của họ. Đừng chủ quan rồi khư khư giữ lấy ghế của mình, để đến khi mất kiểm soát mới tính tới nhượng bộ (như Syria, Lybia thì đến độ không có đường lui để giữ mạng sống, buộc phải giữ “tới cùng”) thì không phải là cách làm khôn ngoan. Không một người dân nước nào muốn sống trong xã hội bị rối loạn, bất ổn, bạo lực, chiến tranh… Nhưng nếu bị buộc phải làm điều đó để có một tương lai tươi sáng hơn, thì họ sẽ làm, dù biết rõ phải hy sinh, nhưng khát vọng “tương lai tươi sáng hơn” giúp họ có nhiều nghị lực hơn gấp nhiều lần để làm bất cứ điều gì. Minh chứng cho điều này là các cuộc đánh giặc ngoại xâm, mà gần nhất là Pháp, mặc dù Pháp có cả trăm năm đô hộ với vũ khí hiện đại, nhưng cũng không làm họ nhụt chí. Chẳng phải họ muốn có một tương lai tươi sáng hơn cho không chỉ con cháu họ mà cho dân tộc Việt Nam mai sau hay sao? Họ hy sinh cả cuộc đời, hy sinh nhiều người trong gia đình, cũng là mong có được “tương lai tươi sáng hơn” cho con cháu, chứ bản thân họ cũng đâu có sống được bao lâu sau chiến tranh?

Tại sao chúng ta tốn trí tuệ, sức lực và cả xương máu để “giành độc lập cho dân tộc” nhưng rồi lại gắn thành quả ấy chỉ cho một nhóm “giai cấp”? Nay nhóm giai cấp này đã trở nên quyền lực và giàu có, và trở thành “nhóm lợi ích”. Nếu biết tình hình như hiện nay, chắc chắn không ai hy sinh cho cuộc chiến đó, bởi nó đã thành vô nghĩa, bởi những mục tiêu cao cả ban đầu “Độc lập, Tự do, Hạnh phúc” cho “cả dân tộc Việt Nam” nay chỉ còn thu nhỏ cho “nhóm lợi ích” đó, bỏ mặc những lực lượng xã hội khác. Chẳng phải mục tiêu của chúng ta là “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng văn minh” đó sao? “Dân giàu” khác xa với “nhóm lợi ích giàu”. Nay chúng ta đã và đang xây dựng một xã hội “nhóm lợi ích giàu”, không khác gì “cường hào ác bá” thời phong kiến, chỉ thay đổi hình thức và tên gọi mà thôi.

Thay đổi mà người dân mong đợi là tạo một xã hội tốt đẹp hơn, có nhiều sân chơi hơn cho nhiều người chứ không giành đặc quyền cho một nhóm người, xã hội mà mọi người đều có cơ hội làm giàu, miễn là họ “có tài”, chứ không phải “có quyền” và “có đặc quyền” như hiện nay. Nếu nhiều người giàu lên vì có quyền (điển hình là “nhóm lợi ích”) thì không được xã hội kiêng nể, trọng vọng mà trong thâm tâm người dân là khinh miệt họ, bởi biết rõ tiền họ có là do bòn rút, do “trộm cắp”, “cướp giật” và “hợp thức hóa” mà ra, chứ không phải do “tài năng”.

Nếu có ai đó nghĩ rằng không cần thay đổi, như hiện tại là tốt rồi, thì hãy nhìn sang các nước lân cận, không cần nhìn sang Âu Mỹ làm gì, và chỉ ra có nước nào nghèo và lạc hậu hơn Việt Nam trong số 10 nước Đông Nam Á không? Dân ở nước nào “sướng” hơn? Có một cán bộ tập kết cao cấp tôi kêu bằng Thím Ba (bạn thân của ba mẹ tôi), đi Thái Lan chơi (năm 2012) nhờ có con làm cho công ty nước ngoài có tiền tài trợ cho ba mẹ đi du lịch. Khi qua Thái Lan, Thím Ba nói với cậu con trai: “Sao dân người ta sướng quá, mà dân mình khổ quá vậy con?”. Tôi nghe kể mà ứa nước mắt, bởi đó cũng là cảm giác của tôi cách đây gần 20 năm khi mới vừa bước xuống sân bay Bangkok (lúc đó phải khai là “thất nghiệp” mới được đi nước ngoài, còn trí thức thì khó khăn lắm, gần như không thể đi). Một cảm giác như vừa trong môi trường thiếu oxy ngột ngạt bước vô phòng dưỡng khí. Trước đây, nói tới nước “có vấn đề”, nhất ASEAN, thì ai cũng nêu đích danh Myanmar. Nhưng nay thì Việt Nam đã thay vào chỗ đó, mặc dù không ai nêu tên chỉ mặt. Lãnh đạo các nước cũng tế nhị, nhưng họ cũng rất mong muốn Việt Nam “thay đổi” để ASEAN hùng cường, có sức nặng hơn trên trường quốc tế. “Tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ”, nếu xem ASEAN là “gia” (một gia đình), trong gia đình còn có “đứa con” “khác người”, thì “ra ngoài đường” nói ai nghe, ai nể?

Thay đổi có “dễ sợ” như một số người vẽ ra không? Mà ngay khi họ vẽ ra điều đó, tôi tin chắc một ngày nào đó, họ sẽ phản đối lại chính điều họ đã vẽ ra, bởi lúc đó họ không còn hưởng lợi từ cái họ đã vẽ ra đó nữa. Mỗi người một nghề, một năng khiếu bẩm sinh. Làm sao để mỗi người phát huy hết khả năng của mình để đóng góp cho sự phát triển chung của xã hội, kể cả chính trị. Chính trị, kinh tế, nghệ thuật, kỹ thuật… đều phải có khiếu thì mới đạt đỉnh cao, đóng góp mới nhiều. Liệu những người phản đối thay đổi bây giờ, rồi con cháu họ có được như họ không, có khả năng làm chính trị như họ không hay lại thích nghệ thuật? Vậy thì cớ sao lại phải bảo vệ cái ghế ấy cho con mình, trong khi nó không có khả năng và cũng không thích ngồi cái ghế đó. Nó có thể làm cái khác tốt hơn nhiều, trở nên giàu có hơn và được xã hội trọng vọng hơn. Con cái trong một gia đình không nhất thiết phải theo nghề cha mẹ, đôi khi “tréo cẳng ngỗng” đến nỗi cha mẹ không nghĩ tới. Tôi tin là các bậc từng làm cha làm mẹ cũng thấu hiểu điều này, bởi con người sinh ra có một thiên hướng nghề nghiệp bẩm sinh, chỉ cần gặp môi trường thuận lợi, nó sẽ đâm chồi nẩy lộc và cho trái ngọt, hơn cả mong đợi. “Cha mẹ sinh con, trời sinh tánh” là vậy. Có thiên tài nào trên thế giới là con của một thiên tài không?

Vậy, xin phân tích thêm những khái niệm còn chưa rõ, mà nhiều người đôi khi còn nhầm lẫn.

1. Đảng phái chính trị có bất biến theo thời gian?

Phải nói ngay, đảng phái chính trị phải thể hiện là “trí tuệ” chứ không phải thể hiện “bạo lực, cơ bắp, hay vũ lực”!

Đảng phái là tập hợp một nhóm người gọi là “tinh túy của xã hội”, có khả năng đưa ra một cương lĩnh để lèo lái đất nước. Cương lĩnh, đường lối của một đảng phái nếu phù hợp với xu thế và nhu cầu của xã hội vào một giai đoạn nhất định, thì sẽ được lòng dân và dân hết lòng ủng hộ, bao bọc, che chở, và nhờ đó có đủ sức mạnh để thực hiện ý chí đó. Hay nói cách khác, nếu chỉ dựa vào sức lực của “một nhóm đảng viên” mà không có sự ủng hộ của dân, thì đảng phái đó cũng không làm được gì, cho dù có “quyết liệt” tới đâu, cương lĩnh có hay cách mấy.

Như vậy, công việc của đảng chủ yếu là “lãnh đạo” nhà nước, còn nhân dân mới là “người làm trực tiếp”. Nếu ai từng lãnh đạo điều hành công ty hay bất kỳ tổ chức nào (kể cả bệnh viện, trường học) thì sẽ thấy tầm quan trọng của “sức dân” như thế nào, và lãnh đạo phải mẫu mực và có đủ tầm, đủ tâm như thế nào thì mới tạo được sức mạnh cho tổ chức. Đừng dùng cách tuyên truyền kiểu “bịt tai che mắt” lỗi thời để áp dụng cho thời đại thông tin ngày nay. Bởi không khó để kiểm chứng thông tin chỉ qua vài cái nhấp chuột. Nếu là lãnh đạo, cần thận trọng trong từng lời nói, cử chỉ, hành động. Đừng ngây thơ nghĩ rằng “dân ngu” không biết gì, và phát ngôn và cư xử coi thường người dân, để rồi một ngày nào đó mới vỡ lẽ và tiếc rẻ “phải chi…”.

Trong quá khứ một đảng phái tốt, không nhất thiết hiện tại nó tốt. Nó phụ thuộc rất nhiều vào khả năng tập hợp quần chúng của đảng đó, khả năng chọn lãnh đạo là người tài trí đủ tầm và có tâm… Đó mới là sức sống của một đảng phái chính trị. Trong quá khứ, một đảng phái tập hợp được nhiều trí thức (kể cả du học nước ngoài), nhiều thành phần tiến bộ (kể cả tư sản) vào đảng và họ đã làm nên kỳ tích bởi thuyết phục được toàn dân chung sức chung lòng chống ngoại xâm. Dân thấy rõ điều đó. Nhưng hiện tại, đảng đó có lãnh đạo khác, con người khác, ban lãnh đạo đảng không phải là những tinh túy của đảng, và nội bộ đảng viên ai cũng thấy rõ điều đó. Hậu quả là ngay trong đảng cũng không đồng lòng, nói chi đến kêu gọi dân đồng lòng? Dân im lặng không phải là đồng ý, mà vì họ không muốn ảnh hưởng “miếng cơm manh áo”, vì họ sợ bị hành hung, sợ “bạo lực công quyền” mà thôi. Lãnh đạo phải sáng suốt nhận ra điều đó, thì mới là lãnh đạo có tầm và có tâm, xứng đáng lãnh đạo đất nước. Bản thân từ “chính trị” nên hiểu là “trị vì đất nước một cách chính danh” chứ không phải “tà trị” tức là “trị vì đất nước bằng bạo lực, uy hiếp, dọa dẫm”.

Không một đảng phái nào ở Mỹ khi vận động tranh cử lại đi nói “Washington từng là người của Đảng Dân Chủ (ví dụ vậy), ông ấy từng có công lập quốc, hãy bầu cho chúng tôi, chúng tôi là bản sao của ông ấy”. Thay vào đó, họ phải chứng tỏ tổ chức hiện tại của họ có đủ trí tuệ, đủ nhân lực, đủ tài, đủ phẩm chất để làm những gì người dân đang mong mỏi, đang khát khao muốn có. Việc lấy hình ảnh tốt đẹp trong quá khứ để che chắn cho thực tại thối nát (và có nguy cơ tan rã vì chính các thành viên trong đảng không còn thấy lý tưởng tốt đẹp nữa, không cảm thấy tự hào khi đứng trong tổ chức nữa, và họ cũng cảm thấy e ngại khi đi ra đường, khi về gia đình, cộng đồng) là điều tối kỵ trong chính trị. Thay vì phải “thể hiện” và “quyết tâm” làm trong sạch nội bộ, làm thuyết phục dân bằng cách đưa những gương mặt tiến bộ lên, thì họ đang “tô vẽ, sơn phết” bên ngoài cho thấy đẹp. Tiếc thay, những cách tô vẽ đó không thể nào qua được mắt dân, bởi chẳng ai “ngu” như người ta nghĩ.

2. Chính trị khác Nhà nước và Quân đội: chiến lược và chiến thuật – hành động

Chính trị khác Quân đội ở chỗ, chính trị đưa ra chiến lược, còn quân đội thi hành chiến lược đó. Chính trị sẽ có tầm bao phủ tất cả các lĩnh vực của một đất nước: kinh tế, giáo dục, y tế, văn hóa, an ninh, quân đội… Như vậy quân đội cũng như các lĩnh vực khác, là một bộ phận để thực thi các chiến lược của chính trị. Chính trị mà đại diện là “chính phủ” có thể thay đổi, mục tiêu cuối cùng là để chọn lựa một chiến lược tốt nhất thông qua việc nhân dân lựa chọn một đảng chính trị tốt nhất với cương lĩnh rõ ràng nhất.

Bản chất của chính trị là phải thay đổi, vì chiến lược quốc gia sẽ thay đổi theo từng thời kỳ, cần có một nhóm đủ tầm và đủ tâm để điều hành giai đoạn đó và đưa ra chiến lược phù hợp. Chiến lược không đúng, không sai, chỉ có chiến lược phù hợp với giai đoạn lịch sử nhất định, để giải quyết vấn đề của đất nước, của dân tộc, với mục tiêu tối thượng là “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”. Bởi thế nên mới có cạnh tranh chính trị, bàn luận công khai mà không bị quy chụp kết tội là “phản động”, để mọi người, mọi giới, mọi tầng lớp trong xã hội soi xét để chọn cái nào có lợi nhất cho xã hội vào thời điểm đó. Cái khác là không đánh giá quá khứ đúng sai, mà đang tính những sách lược tương lai, đang vạch ra một con đường sáng cho mọi người, cho dân tộc mình bước tiếp.

Trong khi đó, quân đội là bất biến, với mục tiêu là bảo vệ đất nước, chủ quyền, chống ngoại xâm, giữ hòa bình để đất nước phát triển. Khi đất nước bình yên phát triển, thì chính sự giàu có chung của xã hội, sẽ có phần của quân đội trong đó, mà cụ thể là bản thân quân nhân, con cháu của quân nhân cũng sẽ được sống trong sung sướng.

3. Sự nguy hiểm của chính trị hóa quân đội

Bản chất của quân đội của bất kỳ nước nào cũng không có chính trị. Việc chính trị hóa quân đội có nghĩa là một nhóm chính trị nào đó nắm quyền điều hành quân đội để bảo vệ lợi ích chỉ của nhóm chính trị đó thôi. Việc trao cho Tổng thống quyền “tổng tư lệnh tối cao” khác hoàn toàn với việc “chính trị hóa quân đội” như hiện nay. Bởi vì Tổng thống là của đất nước, của dân, (do dân bầu lên), phụng sự vì dân vì nước, cho dù khi tranh cử là đảng viên của một đảng phái nào đó. Nhưng khi làm Tổng thống, ông không có quyền dùng quân đội để bảo vệ và phục vụ lợi ích của riêng đảng của mình. Tổng thống Ai Cập  Mohamed Morsi mắc phải sai lầm này, và đã bị phản đối.

Có lập luận cho rằng “các đảng phái đều có âm mưu tranh giành quyền điều hành quân đội”, phi chính trị hóa quân đội là “mắc bẫy”. Thực ra cách nói này không đúng, và sai về bản chất vấn đề. Việc phi chính trị hóa quân đội cũng giống như việc gỡ bỏ “vòng kim cô” trên đầu của quân đội mà thôi. Khi đó, quân đội sẽ không bị sai khiến bởi một đảng phái nào đó để phục vụ và bảo vệ cho lợi ích của riêng đảng phái đó, bảo vệ sự tồn vong của nhóm người đó (thiểu số) và vô tình quay lưng lại với nhân dân (đa số). Nhiệm vụ cao cả và thiêng liêng bảo vệ tổ quốc, bảo vệ nhân dân (trong đó có gia đình và người thân của quân nhân) nay không còn.

Nếu lập luận rằng “còn Đảng, còn ta” thì e rằng không thuyết phục. Bởi “Đảng” là đảng, còn “ta” là ta. “Ta” từ nhân dân mà ra, sinh ra để bảo vệ nhân dân, bảo vệ đất nước. Việc trả quân đội về “dân sự”, không “chính trị hóa” sẽ tăng quyền lực thực sự cho các chỉ huy, và có sức mạnh vượt bậc, không bị “một người không có chuyên môn, không biết gì về quân sự” “cỡi đầu cỡi cổ”.

Nếu chính trị hóa quân đội, thì mỗi đảng được lập ra sẽ kèm theo việc lập quân đội riêng để tăng sức mạnh cho đảng đó, nghĩa là sẽ dẫn tới nội chiến! Lúc đó, sức mạnh trí tuệ của đảng được thay thế bằng sức mạnh vũ lực của quân đội. Tức là thay vì thể hiện “trí tuệ hơn người”, thì các đảng phái sẽ tranh nhau thể hiện “cơ bắp hơn người”. Thế thì đất nước rơi vào nội chiến lần nữa chăng?

Các đảng phái tranh nhau bằng trí tuệ, chứ không phải tranh nhau bằng vũ lực. Một khi đã thể hiện vũ lực thì chỉ chứng tỏ cho dân thấy “trí tuệ mình kém hơn người khác”, và không tự tin nghĩ rằng mình sẽ thắng bằng trí tuệ.

4. Thay đổi từ cấp càng cao (chủ động thay đổi) thì càng ít rối loạn và ngược lại

Myanmar đã khôn ngoan, rất khôn ngoan để chọn một lối thoát cho sự bế tắc của họ. Cho đến giờ, sự thay đổi đó chưa tạo ra một rối loạn nào, mà ngược lại tăng uy thế trên trường quốc tế. Từ một nước bị cô lập, bị “đội sổ” trong 10 nước ASEAN, nay Myanmar đã thay đổi.

Vậy ai sẽ thay thế (vị trí của Myanmar)? Việt Nam! Nói tới nước “có vấn đề” trong ASEAN (như hiện nay), mọi ánh mắt đều dồn về “Việt Nam”. Những ánh mắt e ngại của cộng đồng quốc tế đã chuyển từ Myanmar sang Việt Nam. Sự thay đổi này không có ai “giật dây” cả, mà họ thấy cần thiết, thấy có lợi cho dân, và là lối thoát an toàn cho những lỗi lầm trước đây. Tại sao chúng ta cứ khư khư không chịu thay đổi, liệu giấu mãi sai lầm được không? Sự khoan dung của người Việt sẽ an toàn cho tất cả, để cùng tự hào và không mặc cảm khi đi du lịch ra các nước khác.

Các nước bị rối loạn hầu hết là thay đổi chậm, và tệ hơn là thay đổi “từ dưới lên”. Bởi vì khi càng cố giữ, càng tỏ ra bạo lực, thì càng gây thù oán, càng xa dân mà thôi. Khi không có một đảng phái nào nổi trội hơn hẳn, ắt sẽ rối loạn. Cũng như phân tích trên, đảng phái cần được đa số dân ủng hộ thì mới “làm được việc”. Nếu để càng lâu, uy tín của Đảng Cộng sản (hiện nay đang ưu thế) ngày càng thấp sẽ là mối nguy cho xã hội. Thay đổi cũng chính là cơ hội để Đảng Cộng sản tự thay đổi chính tổ chức của mình, để trở nên vững mạnh và được dân tín nhiệm, thì cơ hội cầm quyền là chắc chắn. Khi nào Đảng Cộng sản còn kể công quá khứ, mà né tránh hiện tại, thì khi đó sẽ không thuyết phục được dân theo.

Một sự thay đổi gây rối loạn nữa là do gian lận và mất đi nền tảng pháp lý xã hội. Cứ nhìn những gì chính quyền đang đề nghị (công an được bắn trực tiếp vào dân khi “chỉ cần có dấu hiệu chống người thi hành công vụ”) cho thấy xu hướng bạo lực hóa xã hội ngày càng tăng. Đó là mầm mống của áp bức và bạo lực tự phát sẽ diễn ra. Lúc đó không còn luật pháp (mà hiện nay đã không còn), mọi người hành xử theo cảm xúc, miễn cho mình đúng thì có quyền bắn người khác (kể cả dân sẽ bắn công an – ai biết được!).

Khi có nhiều người bức xúc và “chống người thi hành công vụ” thì nên xem lại đội ngũ “công chức” có hành xử đúng mực không. Bản thân “người thi hành công vụ” cũng phải làm đúng luật thì mới “tâm phục khẩu phục” được.

Cứ hỏi cánh tài xế xem, có bao nhiêu biển báo giao thông bất hợp lý trên đường quốc lộ, và họ đã bị công an “làm tiền và móc túi” như thế nào, họ sẽ kể cả mấy ngày, nghe không hết. Tại sao phải tạo “nhiều cái bẫy” để công an kiếm tiền như vậy? Nhiều “cái bẫy” rõ đến mức chẳng cần học hành gì cũng biết.

5. “Thay đổi” chứ không phải “lật đổ”, không có nghĩa Đảng phải “chết”

Nếu Đảng Cộng sản chủ động thay đổi, đừng xem thường những ý phản biện, rồi mở chiến dịch công kích và bôi nhọ, thì sẽ tốt hơn nhiều. Đừng phản ứng thái quá, bởi lãnh đạo càng cao thì phải càng sáng suốt, lời nói “trước sau như một”, đừng tỏ ra bất nhất như vừa rồi. Các ông hãy hóa trang là người dân thường, đi uống cà phê, đi ăn bình dân… sẽ thấy cả mấy bác xích lô cũng bàn chuyện thay đổi. Tại sao chúng ta quy chụp, trích đoạn để bôi nhọ? Tại sao không cho đăng toàn văn những góp ý, rồi làm một cuộc khảo sát nghiêm túc “Bạn thấy có cần giữ điều 4 không?”, sẽ nhận được câu trả lời ngay. Để đỡ tốn kém, có thể khảo sát trên VNExpress cũng được. Tôi tin là chỉ trong vòng 1 ngày, sẽ có đầy ắp bình chọn. Điều đó cho thấy người dân quan tâm tới chính trị, tới đại cuộc quốc gia, tới tồn vong dân tộc đến mức nào.

Thay đổi tức là “cho phép người khác được nói” khác ý mình mà không bị cầm tù, không bị kết tội. Để qua đó đo lường được sự cần thiết như thế nào, chứ không phải chỉ nói những gì ta muốn nói. Không ai có thể “lật đổ” được Đảng Cộng sản hiện nay, vì những “lực lượng phản động” đã đi nước ngoài hết rồi. Sao lại phải sợ một người chỉ nói mà không có súng đạn trong người? Không lẽ họ nói quá đúng hay sao mà chúng ta lại úp úp mở mở, không công khai toàn văn “họ đã nói gì”?

Nếu Đảng Cộng sản khởi xướng thay đổi bằng việc góp ý sửa đổi Hiến pháp 1992, để rồi thấy “nguy cơ”, rồi “bịt miệng” lại hết, e rằng sẽ không ổn trong tình hình hiện nay. Thay vào đó, khôn ngoan hơn, tỏ ra mình có trí tuệ hơn người, bằng cách “tự thay đổi mà không cần một áp lực nào”, mới là thượng sách. Lúc đó, tôi tin rằng nhiều người sẽ vẫn bầu cho Đảng Cộng sản, chứ không phải một đảng phái nào khác, mà mình cũng không cần “ép dân bầu cho mình” bằng cách giữ điều 4. Tôi tin tỷ lệ đó vẫn là hơn 90%. Lúc đó công trạng của Đảng Cộng sản vẫn được giữ nguyên vẹn, chứ không khéo sau này, dân “tự xử” thì họ chỉ kể tội, mà quên công lao của Đảng Cộng sản là giành độc lập và thống nhất đất nước.

Đảng Cộng sản nếu chủ động tạo thay đổi, sẽ mãi “sống” trong lòng dân tộc, chứ không bao giờ “chết” như nhiều người lo sợ.

6. Gốc rễ của rối loạn xã hội sau chính biến: gian dối và tái lập lợi ích nhóm

Các cuộc chính biến gây rối loạn xã hội, nếu nhìn kỹ thì là do không có một nhóm nào áp đảo các nhóm còn lại, và xã hội đã bị chia rẽ nhiều, hoặc do gian lận với nhau, hoặc do quân đội can thiệp và thiên vị cho một nhóm chính trị nào đó.

Như đã nói trên, chính trị là phải thể hiện “trí tuệ”, phải “đấu trí” chứ không phải “đấu cơ bắp”. Khi tình hình ổn định, nên chủ động tạo ra cuộc đấu trí thực sự, chứ đừng để xã hội dẫn tới một cuộc “đấu súng” do bức xúc không được giải quyết thỏa đáng. Kinh nghiệm các nước cho thấy, rồi tới lúc quân đội cũng sẽ đứng về lẽ phải, về chính nghĩa, khi họ được biết rõ tình hình.

Sự gian dối, vì lợi ích cục bộ của nhóm mình, của riêng đảng mình… sẽ dẫn tới rối loạn sau bất kỳ một cuộc cách mạng nào, cho dù nó nhân danh mỹ miều đến mấy, để lôi kéo mọi người hy sinh giành thắng lợi. Nhưng trước sau thì người dân cũng biết, và động thái phản ứng lại, đòi thay đổi của các cựu đảng viên Cộng sản, các đảng viên hiện tại… là minh chứng cho điều đó. Đảng Cộng sản ngày càng xa dân, ngày càng gần quân đội. Đó là một sai lầm chiến lược. Và đó cũng là gốc rễ của sự chia rẽ, của rối loạn xã hội.

Đảng Cộng sản cho rằng phi chính trị hóa thì quân đội sẽ trở thành “quân đánh thuê”. Nhưng đánh thuê cho ai? Cho nhân dân sao?

Còn nếu chính trị hóa như hiện tại thì quân đội không phải là phục dịch, nô lệ cho Đảng Cộng sản sao? Mà nói trắng ra là toàn thể quân đội chỉ phục vụ cho một nhóm người cầm quyền của Đảng Cộng sản, những người có lợi ích, gọi là “nhóm lợi ích”. Quan hệ như vậy là “chủ tớ” rồi. Há chẳng phải là “đánh thuê” cho Đảng Cộng sản sao?

7. Thay đổi quan điểm quản lý quân đội, chứ không thay đổi bản chất quân đội

Thay đổi được kêu gọi là phi chính trị hóa quân đội, có nghĩa là trả quân đội lại về cho nhân dân – người chủ của đất nước. Tre già măng mọc, quân đội luôn từ nhân dân mà ra, luôn có sức mạnh của tuổi trẻ, trí tuệ của người già.

Quân đội vẫn là thể thống nhất chứ không hề yếu đi, không hề tan rã, mà ngược lại sẽ mạnh mẽ hơn rất nhiều lần. Bởi ai cũng ở đúng vị trí của họ, nên phát huy hết sức mạnh của mình, và chính vì vậy làm quân đội mạnh mẽ hơn. Việc phong hàm tướng tá không còn dựa vào ý kiến của Đảng Cộng sản, mà dựa vào thành tích và tài năng về quân sự của người đó.

Như vậy tiếng nói của các vị tướng tá sẽ được trọng vọng hơn, có sức nặng hơn, chứ không như hiện nay.

Bản chất quân đội là bảo vệ đất nước, bảo vệ nhân dân thì không hề thay đổi. Nếu quân đội lại chỉ bảo vệ Đảng Cộng sản và chống lại nhân dân, đồng nghĩa với phản bội dân tộc, phản bội tổ quốc.

8. Thay đổi có lợi cho con cháu của cả Đảng viên, quân nhân

Sự thay đổi sẽ tạo môi trường phát triển tốt hơn về mọi mặt: kinh tế, văn hóa, nghệ thuật, chính trị…, sẽ làm nảy sinh ra nhiều nhân tài, và từ họ sẽ tạo ra rất nhiều ngành nghề, nhiều công ăn việc làm. Chỉ cần có tài trong bất cứ lĩnh vực nào, mọi người bất kể nghèo hèn, bất kể địa vị, bất kể xuất thân là gì, miễn là có nỗ lực hết mình, có tài thì ắt sẽ trở nên giàu có. Đó mới là “xã hội dân sự” mà chúng ta cần xây dựng.

Không như hiện nay, chỉ dựa vào mỗi quyền lực chính trị thì mới giàu, còn không thì sẽ bị “đập chết”. Hay nói cách khác, nếu bạn không thuộc hai nhóm này thì bạn không thể làm giàu: nước ngoài và tư bản đỏ!

Khi một người giàu có, thì sẽ kéo theo nhiều người khác có thu nhập cao hơn, và nâng mức sống xã hội lên ngày càng cao. Singapore chỉ cần 30-40 năm đã đạt đến thu nhập bình quân đầu người cao nhất nhì thế giới. Người Việt Nam không phải dở, chỉ cần có môi trường tốt, thuận lợi, thì họ sẽ làm việc cật lực để thay đổi cuộc đời. Đó là khát vọng của rất nhiều người Việt. Sinh ra là người Việt, dù ở đâu, cũng phấn đấu để vươn lên vị trí cao hơn, không đời mình thì đời con cháu mình phải đạt được. Đó cũng là ý chí của người Việt. Nhiều người thành đạt ở nước ngoài là vậy. Chỉ cần tạo môi trường tốt!

Có chắc gì con cháu sẽ theo nghề cha mẹ khi nó có một năng khiếu đặc biệt khác, không phải là chính trị? Nó có thể làm giàu bằng chính năng khiếu đó mà không cần dựa dẫm vào quyền lực của cha mẹ? Đó là một xã hội dân sự. Chỉ cần giỏi đá bóng là đủ giàu có, sống xa hoa. Liệu chừng nào cầu thủ Việt Nam có thể sống cả đời bằng chính tài năng của họ?

Sự giàu có chung của xã hội, kéo theo mặt bằng lương cao hơn, và dĩ nhiên lương của quân nhân cũng tăng theo. Chứ không như bây giờ, muốn tăng 100 ngàn là cả một vấn đề. Bởi vì có quá nhiều người đang sống bám vào quyền lực mà không làm gì hiệu quả để sinh ra của cải cho xã hội. Giống như một bầy muỗi hút máu vậy.

9. Xã hội dân sự tạo nhiều ngành nghề và tăng cạnh tranh quốc tế và vị thế quốc gia

Khi đã có tự do, sự sáng tạo của người Việt không bị bó hẹp nữa, sẽ bùng phát phát triển kinh tế, chỉ cần trong vòng 10-20 năm sẽ khác xa hiện nay. Nhiều ngành nghề mà người Việt giỏi thì sẽ được phát triển tối đa.

Sự phấn khởi của xã hội lên cao, niềm tin đã có do lãnh đạo tốt, sẽ kích thích họ làm việc. Và lúc đó không cần tuyên truyền “phải yêu nước” thì tự trong mỗi người cũng sẵn có rồi. Tự hào dân tộc lúc nào cũng có. Những ánh mắt e ngại, xem thường người Việt sẽ không còn, và vị thế quốc gia cũng tăng.

Cách đây 20 năm, tôi đến sân bay Bangkok, thấy người Myanmar nghèo khó ốm yếu nhìn mọi người với ánh mắt ái ngại, nhưng giờ họ có thể ngẩng cao đầu, mà không còn bị thế giới coi thường nữa. Đó là sự thay đổi dũng cảm, ngoạn mục, và của người có tầm, có tâm với đất nước, với dân tộc.

N. Q. B. T.

Tác giả gửi trực tiếp cho BVN.

Posted in Chinh Tri Xa Hoi | Leave a Comment »

►Liệu thái độ can đảm và tinh thần trách nhiệm của anh Nguyễn Đắc Kiên có được mọi người tiếp bước, nhân rộng ra, và làm nên những thay đổi có tính chất lịch sử không?

Posted by hoangtran204 trên 26/03/2013

Từ Rosa Parks đến Nguyễn Đắc Kiên

Tháng 3 25, 2013

Đinh Từ Thức

Cùng ngày 27 tháng 2, 2013, có hai nguồn tin phát xuất từ hai nơi cách nhau nửa quả địa cầu, nhưng xem chừng rất gần nhau:

– Tại Điện Capitol, trụ sở Quốc hội Hoa Kỳ, Tổng thống Obama làm lễ cống hiến Tượng Vinh danh Rosa Parks.

– Tại Hà Nội, nhà báo Nguyễn Đắc Kiên nhận quyết định “không còn tư cách là phóng viên báo Gia đình & Xã hội”.

Từ năm 1776, nước Mỹ đã có bản Tuyên ngôn Độc lập nổi tiếng thế giới mở đầu bằng câu thừa nhận mọi người sinh ra đều bình đẳng, tiếp theo là bản Hiến pháp năm 1791 kèm 10 tu chính được coi là đạo luật nhân quyền căn bản vẫn còn giá trị đến ngày nay. Nhưng một tuyên ngôn hùng hồn chứa đựng tinh thần cao cả với một hiến pháp bảo đảm các quyền bất khả xâm phạm của con người không đương nhiên thể hiện một chế độ tốt đẹp và một xã hội công bằng. Tuy có những văn kiện đẹp như vậy, nhưng gần một thế kỷ sau khi lập quốc, Tổng thống Lincoln đã phải chịu đựng cuộc nội chiến thiệt hại hơn sáu trăm ngàn người để giải phóng nô lệ, và thêm gần một thế kỷ nữa, học sinh da đen vẫn không được học cùng trường với học sinh da trắng, và người da đen vẫn không được ăn chung trong tiệm, hay ngồi chung với người da trắng trên xe bus.

Rosa Parks là một phụ nữ da đen làm nghề khâu vá.

Vào tháng 12 năm 1955, bà Parks bị tài xế xe bus bắt đứng lên nhường chỗ cho người da trắng. Bà nhất định không chịu, ngồi chờ bị bắt. Và bà đã bị bắt đúng như chờ đợi.

Thái độ can đảm của bà đã gây một phong trào phản kháng sâu rộng, không những trong hàng ngũ người da đen, mà được cả sự ủng hộ của những người da trắng yêu tự do và trọng sự công bằng. Phong trào đi đến thắng lợi, và cuối cùng, tượng bà Rosa Parks đã đứng chung với tượng George Washington tại Quốc hội Hoa Kỳ, vào ngày 27 tháng 2, 2013 –

Cùng ngày tại Việt Nam, nhà báo Nguyễn Đắc Kiên mất việc, vì đã can đảm lên tiếng chống lại người có địa vị cao nhất trong Đảng nắm độc quyền cai trị, là Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng.

Để biết thêm sự nghiệp của bà Rosa Parks, xin trích sau đây ít lời của ông Obama trong diễn từ cống hiến Tượng:

Sáng nay, chúng ta mừng một người thợ may, yếu về dáng vóc nhưng mạnh về can đảm. Bà đã thách thức những sai trái, và thách thức bất công. Bà đã sống một cuộc đời hoạt động và một cuộc đời có nhân phẩm. Và chỉ trong một lúc, với những cử chỉ giản dị nhất, bà đã giúp làm thay đổi cả Hoa Kỳ – và thay đổi cả thế giới.

Rosa Parks không giữ một chức vụ dân cử nào. Bà không làm chủ cơ nghiệp nào; đã sống một cuộc đời xa những địa vị quyền lực cao cả. Thế mà hôm nay, bà đã có chỗ đứng xứng đáng cùng với những người đã kiến tạo đất nước này.

Vào một buổi chiều mùa Đông năm 1955, Rosa Parks đã không để người ta đẩy bà ra khỏi chỗ ngồi của mình. Khi người lái xe đứng dậy bắt bà nhường chỗ, bà đã không nhường. Khi ông ta doạ gọi người tới bắt, bà nói giản dị “ông có thể làm như thế”. Và ông ta đã làm đúng như lời đe doạ.

Mấy ngày sau, Rosa Parks thách thức vụ bắt bà. Một mục sư trẻ 26 tuổi mới đến thành phố, ít ai biết tới, đã hỗ trợ bà – người đó mang tên Martin Luther King Jr. Hàng ngàn người ở Montgomery, Alabama, cũng làm như vậy. Họ bắt đầu một vụ tẩy chay – giáo viên và công nhân, tu sĩ và người giúp việc, dưới trời mưa lạnh cóng và nóng như thiêu, ngày nọ sang ngày kia, tuần này qua tuần khác, tháng trước đến tháng sau, họ đi bộ hàng dặm đường nếu cần phải đi, xếp đặt đi chung xe nếu có thể, không màng tới chuyện đôi chân nứt nẻ, hay mệt nhọc sau cả ngày làm việc – đi bộ cho nể trọng, đi bộ cho tự do, tiến bước bởi quyết tâm khẳng định phẩm giá của mình đã được Chúa ban cho.

385 ngày sau khi Rosa Parks từ chối nhường chỗ của mình, vụ tẩy chay chấm dứt. Những người da đen đàn ông đàn bà và trẻ em lại lên xe bus ở Montgomery, mới bỏ lệnh kỳ thị, và ngồi tại bất cứ nơi nào còn chỗ trống. Và với thắng lợi đó, cả một thành trì kỳ thị, giống như những bức tường ở cổ thành Jericho [1], bắt đầu từ từ sụp đổ.

… Chỉ một mình bà Parks ngồi lì trên chiếc ghế đó, tay ôm ví, mắt nhìn qua cửa sổ, đợi bị bắt. Giây phút đó cho chúng ta biết sự việc đã thay đổi như thế nào, hay không thay đổi; chọn lựa chúng ta đã làm, hay không làm.

Như Kinh Thánh đã nói đúng, “bây giờ chúng ta thấy lờ mờ như trong một tấm gương” [2]. Hoặc vì bất động hay ích kỷ, hoặc vì sợ hãi hay chỉ giản dị vì thiếu ý hướng về đạo đức, chúng ta thường sống như trong sương mù, chấp nhận bất công, hợp lý hoá sự bất công và bỏ qua những chuyện không thể tha thứ.

Giống như người lái xe bus, nhưng cũng giống như những hành khách trên xe bus, chúng ta nhìn sự việc như chúng xảy ra – trẻ con đói khát trong một đất nước phong phú, cả một khu phố bị tàn phá vì bạo động, gia đình nghiêng ngửa vì mất việc hay bệnh hoạn – và chúng ta bào chữa vì sao không hành động, và chúng ta tự nói với mình, cái đó không thuộc trách nhiệm của tôi, tôi chẳng có thể làm gì được.

Rosa Parks cho biết luôn luôn có vài thứ chúng ta có thể làm. Bà ấy nói rằng tất cả chúng ta đều có trách nhiệm, với chúng ta và giữa người này với người khác. Bà ấy nhắc nhở chúng ta rằng sự thay đổi đã diễn ra như thế nào – không phải chủ yếu bởi sự khai sơn phá thạch của những người nổi tiếng và quyền lực, mà bởi vô số những hành động can đảm thường là của những người vô danh và tử tế và những người mẫn cảm và trách nhiệm đã cứng đầu, tiếp tục phổ biến quan niệm của chúng ta về công lý – quan niệm của chúng ta về những gì có thể.

Chỉ một hành động bất tuân lệnh riêng lẻ của Rosa Parks đã phát động một phong trào. Những bước chân mệt mỏi của những người đi bộ trên những con đường bụi bặm của Montgomery đã giúp cho cả nước nhìn thấy những gì trước đây họ như mù loà. Chính nhờ những người đàn ông và đàn bà đó mà tôi đứng đây ngày hôm nay. Chính nhờ họ mà con cháu chúng ta lớn lên trong một đất nước tự do hơn và công bằng hơn, một đất nước trung thực hơn với tín điều của các nhà lập quốc [3].

Bà Rosa Parks đã bị mất việc sau hành động cứng đầu của mình, và ông Obama đã nói về bà Parks đúng vào ngày Nguyễn Đắc Kiên mất việc vì thái độ không chịu khuất phục của mình. Sự trùng hợp về thời gian và hoàn cảnh cho người ta cảm tưởng vụ Rosa Parks và Nguyễn Đắc Kiên tuy xa nhau về thời gian và không gian, nhưng quá gần nhau về nguyên do xuất phát. Ngày kết thúc hành động của bà Parks cũng là ngày mở đầu hành động của Nguyễn Đắc Kiên.

Thái độ không sợ hãi của Nguyễn Đắc Kiên khá giống thái độ can đảm của bà Parks, nhưng trong khi nhìn thấy phần kết thúc vẻ vang hành động của bà Parks, người ta chưa thể tiên đoán việc làm của anh Kiên sẽ ra sao.

Bà Parks đã đánh động được lương tâm của một số đông. Những người có cơ hội thức tỉnh này, sau đó đã làm những gì cần phải làm, theo lương tâm và nhận thức của mình, không phải vì bà Parks, hay theo chân bà. Việc làm của anh Kiên cũng đã gây được xúc động trong số đông, “Lời Tuyên bố của các công dân tự do” là một bằng chứng. Nhưng nếu chỉ có thế, việc làm của anh sẽ chẳng đi đến đâu, và sẽ sớm vào quên lãng.

Bà Parks đã được ghi nhớ và vinh danh, không phải vì bà là anh hùng hay siêu nhân, mà chính vì hành động đơn lẻ của bà đã được số đông ủng hộ, đưa đến thành công. Đó là thành công của quần chúng, bắt nguồn từ một hành vi can đảm cá nhân.

Thái độ can đảm của anh Kiên bắt nguồn từ cuộc thảo luận về dự án sửa đổi Hiến pháp. Nhưng dù Hiến pháp được sửa đổi không còn điều 4, nó sẽ không là chiếc đũa thần biến một xã hội tự do dân chủ và công bằng thành hiện thực.

Tuyên ngôn Độc lập của Hoa Kỳ, Hiến pháp Hoa kỳ là những văn kiện tuyệt vời, nhưng 8 năm sau khi bà Parks đã nổi tiếng về hành vi can đảm của mình, vẫn có ông George Wallace, Thống đốc Alabama, chính tiểu bang nơi bà Parks sinh sống, lớn tiếng tuyên bố trong diễn văn nhậm chức của mình trước toà nhà lập pháp tiểu bang vào năm 1963: “Kỳ thị bây giờ! kỳ thị ngày mai! kỳ thị mãi mãi!” (Segregation now!, segregation tomorrow!, segregation forever!). Không phải chỉ tuyên bố suông, ngày 11 tháng 6, 1963, Thống đốc George Wallace đã thể hiện lời hứa qua hành động. Ông đứng chặn trước cửa University of Alabama ngăn không cho hai sinh viên da đen vào trường. Tổng thống John Kennedy phải gửi Vệ binh Quốc gia tới hộ tống cho các sinh viên này nhập học.

Cho nên, chẳng lấy làm lạ, khi gần 70 năm trước Việt Nam cũng đã có bản Tuyên ngôn Độc lập với những lời lẽ tuyệt vời chép lại từ Tuyên ngôn Độc lập Hoa Kỳ, với tên nước Việt Nam kèm theo chế độ “Dân chủ Cộng hoà”, với khẩu hiệu “Độc lập Tự do Hạnh phúc”, nhưng ngày nay vẫn có một Tổng Bí thư Đảng lớn tiếng tuyên bố những ai đòi tam quyền phân lập, đa nguyên đa đảng, và không chấp nhận độc quyền lãnh đạo của Đảng là bọn “suy thoái’, cần “xử lý”.

Trước đó cả năm, ngày 27 tháng 2, 2012, tại Hội nghị cán bộ toàn quốc về thực hiện Nghị quyết Trung ương 4, ông Trọng đã tuyên bố về sự lãnh đạo của Đảng Trước đây đã như vậy, hiện nay đang như vậy, và sau này cũng sẽ vẫn như vậy”. Ông Trọng nói như đinh đóng cột, kém gì George Wallace!

Nhưng Hoa Kỳ được như ngày nay, nhờ họ đã thay đổi không ngừng, kể cả George Wallace. Hai mươi năm sau khi nêu cao quyết tâm sống chết với chủ trương kỳ thị, vào năm 1982, George Wallace công khai thừa nhận trước những người da đen, và trước dư luận rằng ông đã hoàn toàn sai lầm về chủ trương kỳ thị. “I have regretted it all my life.” (Tôi hối tiếc về điều đó đến mãn đời).

Để không cản đường tiến của Hoa Kỳ, những người như George Wallace đã phải thay đổi, và hối tiếc việc làm của mình. Họ không tự ý thay đổi đâu. Chính những người như Rosa Parks, những người tuy thấp cổ bé miệng, nhưng cùng hành động, đã tạo thành một khối “cao cổ lớn miệng”, đủ sức bắt những kẻ như Wallace phải thay đổi.

Và may thay, ngay cả với những người như Wallace, thay đổi không phải là chết như nỗi sợ của Chủ tịch Nước Nguyễn Minh Triết “bỏ điều 4 Hiến pháp là tự sát” – thay đổi còn là mở đường sống. Sau khi thay đổi 180 độ, từ chủ trương kỳ thị tới chống kỳ thị, George Wallace đã đắc cử Thống đốc Alabama lần thứ 4, với sự ủng hộ của đa số cử tri da đen.

Ai sẽ làm những người như Nguyễn Phú Trọng và Đảng của ông ta phải thay đổi, để Việt Nam có thể tiến lên? Không cần phải đợi có những người như Gorbachev hay Yeltsin. Một người như Nguyễn Đắc Kiên, trong một khoảnh khắc được thôi thúc bởi ý thức trách nhiệm, đã bất chấp sợ hãi, đương đầu với cường quyền, tạo được sự chú ý trong quần chúng.

Như Rosa Parks, Nguyễn Đắc Kiên đã làm bổn phận của mình, trước hết là bổn phận đối với mình, không tiếp tục chấp nhận sống nhục, sau là bổn phận đối với xã hội, và đất nước. Rosa Parks đã tạo được một phong trào, đi đến thành công. Nguyễn Đắc Kiên có may mắn như Rosa Parks không, điều đó còn tuỳ thuộc vào thái độ của những người khác. Nếu đa số những người cùng thời với anh chịu tiếp tục cúi đầu sống nhục dưới quyền tự tung tự tác của một đảng cầm quyền như hiện nay, thì may lắm, anh sẽ còn là một chú thích nhỏ trong một trang sách báo lịch sử nào đó.

Phải cần bao nhiêu người, bao nhiêu hành động cụ thể mới đủ để làm bùng lên ngọn lửa Nguyễn Đắc Kiên đã nhóm? Trách nhiệm với đất nước và tình yêu tổ quốc không phải là thứ có thể cân đo đong đếm để có thể trả lời bằng những con số chính xác. Chỉ cần một vụ tự thiêu của Hoà thượng Thích Quảng Đức để đốt cháy cả chế độ của Tổng thống Ngô Đình Diệm nửa thế kỷ trước. Cũng chỉ cần một anh Bouazizi tự thiêu đã đủ làm sụp đổ cả chế độ độc tài của Tổng thống Ben Ali ở Tunisia hai năm trước. Nhưng với trên 100 vụ tự thiêu của người Tây Tạng trong hai năm qua vẫn chưa đủ để tạo chú ý của nhà cầm quyền Bắc Kinh. Chỉ cần một Giải Nobel, Aung San Suu Kyi đã đủ để thay đổi cục diện Miến Điện, trong khi chủ nhân Giải Nobel Đạt Lai Lạt Ma vẫn lui tới Bạch Ốc, nhưng chưa thể đặt chân trên quê hương mình, và chủ nhân Giải Nobel Lưu Hiểu Ba chỉ làm chật thêm nhà tù Trung Quốc. Chừng nào độc tài còn ngự trị, chừng đó người dân chưa làm đủ bổn phận đối với dân tộc mình, đất nước mình. [Chừng nào người dân chưa làm đủ bổn phận của mình đối với dân tộc mình và đất nước mình, thì chế độ độc tài còn ngự  trị]

Cũng cần nói thêm, không phải Tổng thống Obama mang mầu da đen, rồi có quyền tự ý ra lệnh làm tượng bà Parks đem vào đặt ở Quốc hội. Theo đạo luật quy định về việc đặt tượng tại United States Capitol National Statuary Hall ở Quốc hội Hoa Kỳ, có hiệu lực từ ngày 2 tháng 7, 1864, mỗi tiểu bang được quyền đề nghị hai pho tượng. Chính tiểu bang Alabama từng bốn lần bầu cho “vua kỳ thị” George Wallace làm thống đốc, đã chi tiền đúc tượng Rosa Parks. Trong khi tượng Rosa Parks, người phụ nữ da đen đầu tiên, đứng chung với tượng George Washington, thì George Wallace, dưới mồ với nỗi hối tiếc cả đời.

Để phù hợp với đà tiến của xã hội, chỉ trong 58 năm, Hoa Kỳ đã “đổi trắng thay đen”. Trong khi ấy, Đảng Cộng sản Việt Nam cương quyết: “Trước đây đã như vậy, hiện nay đang như vậy, và sau này cũng sẽ vẫn như vậy”.

© 2013 Đinh Từ Thức & pro&contra

 


[1]Jericho, địa danh được nhắc tới nhiều trong Kinh Thánh, nằm phía Tây sông Jodan, được coi là thành phố cổ nhất, xuất hiện từ 11 ngàn năm trước, đã trải qua nhiều phế hưng.

[2] “For now we see through a glass, darkly” trích thư Thánh Phao Lồ gửi tín hữu Cô-Rin-Tô, chương 13, đoạn 12, lời dịch trong Kinh Thánh trọn bộ, Cựu Ước và Tân Ước. Bản dịch của 22 dịch giả do Toà Tổng Giám mục TPHCM thực hiện 1998.

[3] Dịch theo Remarks by the President at Dedication of Statue Honoring Rosa Parks – US Capitol

Posted in Hiến pháp: sửa đổi 2013 | Leave a Comment »

►Những người có mong muốn thúc đẩy dân chủ tự do cho VN cần phải ra khỏi hầm trú ẩn cuối cùng của mình và có “Trách nhiệm với chữ ký”

Posted by hoangtran204 trên 25/03/2013

Trách nhiệm với chữ ký

Nguyễn Đắc Kiên

25-3-2013

Theo blog Nguyễn Đắc Kiên

Tôi sẽ không ngạc nhiên nếu Ban soạn thảo Sửa đổi Hiến pháp 1992 bỏ những ý kiến khác dự thảo vào sọt rác, với lý lẽ: “Có những ý kiến trái chiều nhưng đa số người dân ủng hộ dự thảo”. Tuy nhiên, sẽ là một nỗi thất vọng to lớn nếu một cách hành xử tương tự xảy ra với những người chủ trương Kiến nghị 72 và Tuyên bố Công dân Tự do.

Đằng sau mỗi chữ ký trong hàng nghìn, vạn chữ ký của Kiến nghị 72 – Tuyên bố Công dân Tự do là một con người với những trăn trở, suy tư, thậm chí cả những rủi ro cho bản thân họ và gia đình. Vì thế, có quá đáng không khi chúng ta đòi hỏi một hành xử có trách nhiệm và thực xứng đáng với những chữ ký của mình?

Trả lời BBC Tiếng Việt, GS Nguyễn Huệ Chi cho biết, có nhiều người đã viết những lá thư bày tỏ nỗi buồn, nỗi đau và xin rút tên khỏi danh sách vì thế: “Anh (ông Lộc) vẫn cố giữ được chữ ký thế là tốt rồi”(*).

Còn trả lời RFA Tiếng Việt, ông Nguyễn Đình Lộc nói rằng: “Cái việc hôm ấy đã làm xong rồi thì rút hay không rút làm gì nữa? Chỉ làm bằng ấy thôi chứ có làm thêm điều gì đâu? Chuyện gì mà ân hận nhỉ? Quốc hội kêu gọi nhân dân đóng góp ý kiến thì chúng tôi góp ý kiến thôi có gì đâu mà ân hận? Tiếp thu hay không thì đó là việc của ban soạn thảo, đem trình Quốc hội thì Quốc hội quyết chứ ” (**).

Trong tư cách một người đã ký tên mình vào Kiến nghị 72, tôi hy vọng rằng, đây chỉ là những ý kiến cá nhân của GS Chi và ông Lộc, không phải là quan điểm chính thức của nhóm chủ trương Kiến nghị 72.

“Chỉ làm bằng ấy thôi chứ có làm thêm điều gì đâu?… Tiếp thu hay không thì đó là việc của ban soạn thảo”. Bằng ấy thôi là bằng thế nào? Tốt rồi là tốt thế nào? – tôi đã tự hỏi mình như vậy.

Tôi tin rằng, người ta sẽ có đủ lý lẽ để biện minh cho cái “bằng ấy thôi”, cho cái “tốt rồi”. Tôi sẽ không bàn đến cái “bằng ấy thôi”, “tốt rồi” ở đây, mà sẽ bàn đến cái khác, cái liệu rằng chúng ta có thể làm tốt hơn, có trách nhiệm hơn không?

Tôi luôn tin tưởng vào ý hướng tốt đẹp và tính chính trực của những người chủ trương Kiến nghị 72, nhưng tôi nghĩ rằng có lẽ họ đã làm chưa hết nhẽ.

Khi quyết định ký tên mình vào bản Kiến nghị 72, tôi đã băn khoăn: Tại sao nhóm chủ trương không đưa ra một thời hạn tiếp nhận chữ ký? Tại sao nhóm chủ trương không đưa ra một lộ trình, mục tiêu, sau khi hết thời hạn tiếp nhận chữ ký, họ sẽ xử lý ra sao với những chữ ký đó?

Những câu hỏi này đã trở lại mạnh mẽ với tôi khi nghe ý kiến của GS Nguyễn Huệ Chi và ông Nguyễn Đình Lộc đã nói ở trên.

Cá nhân tôi cho rằng, các nhóm chủ trương Kiến nghị 72 và Tuyên bố Công dân Tự do hoàn toàn có thể làm khác. Ngay bây giờ, họ có thể đưa ra một thời hạn lấy chữ ký. Sau thời hạn đó, có thể cử đại diện trực tiếp trao bản Kiến nghị, lời Tuyên bố cùng với danh sách người đã ký tên cho Ban soạn thảo Hiến pháp, đồng thời, yêu cầu một sự giải trình, đối thoại, tranh luận sòng phẳng về những điểm khác biệt. Tôi nhấn mạnh là đối thoại, tranh luận hoặc nếu là giải trình cũng phải trực tiếp và công khai, tuyệt đối không phải là hình thức trả lời bằng văn bản.

10.000 chữ ký theo Dự thảo Hiến pháp 2013 (tài liệu tham khảo đi kèm Kiến nghị 72) đã có thể mở đường cho một người ứng cử vào Quốc hội làm Nghị sỹ, thì với 11.688 chữ ký trong bản Kiến nghị 72 hay 8.300 chữ ký trong bản Tuyên bố Công dân Tự do hiện có, tại sao lại không thể đòi hỏi một đối thoại chính thức với chính quyền?

Trong trả lời phỏng vấn với BBC Tiếng Việt, GS Chi cũng cho rằng, việc truyền thông nhà nước tuyên truyền, phản bác bản Kiến nghị 72 và các ý kiến khác dự thảo là lẽ thường, là dân chủ. Tôi không đồng ý với cách lập luận này.

Có lẽ vì GS Chi đã không theo dõi những diễn biến gần đây trên truyền hình nên mới có ý kiến như vậy. Tôi theo dõi sát sao cách đưa thông tin trên các đài, báo của nhà nước, đặc biệt trên kênh 1 của Đài truyền hình VN (VTV1). Ở đó, tôi chỉ thấy được một chiều thông tin là có một dự thảo nhà nước đưa ra và hàng loạt các ý kiến bảo vệ cho các điểm trong dự thảo. Tôi không thấy những ý kiến trái chiều và những lập luận để bảo vệ cho các ý kiến đó. Tức là, không có một sự tranh luận, đối thoại sòng phẳng trong chủ đề này. Vì thế, tôi cho rằng, sẽ theo nguyên tắc dân chủ nếu có một diễn đàn tranh luận, đối thoại sòng phẳng trên các kênh thông tin quan trọng trên của nhà nước. Nên nhớ, Đài truyền hình VN cũng như các đài, báo khác của nhà nước như: Nhân Dân, QĐND… là của người dân VN, hoạt động từ tiền thuế của nhân dân nên đòi hỏi này là chính đáng.

Tôi xin mượn lại hình ảnh “hầm trú ẩn” của Nhà báo Huy Đức để nói rằng, không chỉ ĐCS VN, kể cả những người có mong muốn thúc đẩy dân chủ tự do trên đất nước chúng ta, có lẽ đã đến lúc chúng ta cần phải ra khỏi hầm trú ẩn cuối cùng của mình.

Nguyễn Đắc Kiên

__________________________

(*) BBC Tiếng Việt phỏng vấn ông Nguyễn Huệ Chi

(**) RFA Tiếng Việt phỏng vấn ông Nguyễn Đình Lộc

——-

Trang mạng Bauxite Việt Nam không chọn con đường “trí thức cận thần”

 

Nguyễn Huệ Chi

27-3-2013

Theo Bauxite Việt Nam

Nhận được bài viết của nhà báo Nguyễn Đắc Kiên do một bạn đọc gửi tới, bày tỏ những suy nghĩ cá nhân nhân phát biểu của ông Nguyễn Đình Lộc trên VTV tối 22-3 về việc ông ký vào Kiến nghị 72 cũng như việc ông nhận vai trò “trưởng đoàn” trao Kiến nghị 72 cho Quốc hội, và bài trả lời phỏng vấn BBC của GS Nguyễn Huệ Chi trong ngày 23-3 xoay quanh sự việc ấy, BVN xin trân trọng đăng lên để bạn đọc tham khảo. Trước khi đăng, chúng tôi có trao đổi với GS Nguyễn Huệ Chi mong ông viết cho mấy lời đề dẫn, vì bài viết có liên quan đến ông. Dưới đây là những câu trả lời qua thư điện tử của người điều hành BVN:

Nói lên mối thông cảm với ông Nguyễn Đình Lộc là một tình cảm chân thật của tôi, vì tôi nghĩ một người từng giữ chức vị như ông mà nay tự nguyện đặt bút ký vào một Kiến nghị yêu cầu dân chủ hóa như Kiến nghị 72 là không dễ dàng gì và cũng do đó hiện đang ở trong một trạng thái phải chịu những tác động tâm lý không thoải mái gì, thế mà vẫn không rút chữ ký thì chứng tỏ việc đặt bút ký tên của ông không phải là một việc bất chợt hứng lên, hay bị ai lôi kéo, trái lại ông đã nghĩ chín chắn. Đó là thêm một hiện tượng phản tỉnh đáng mừng về nhận thức trong hàng ngũ vốn là quan chức cỡ bự của Việt Nam.

Tôi cũng thành tâm mong gắn kết khối đoàn kết của phong trào dân chủ vốn còn non yếu trong tình thế hiện nay, điều đó hay hơn là vừa nghe lời phát biểu của vị cựu Bộ trưởng Tư pháp – mà mình chưa rõ lý do đích thực vì sao và có xảo thuật gì không trong cách phỏng vấn ông của truyền thông nhà nước vốn chưa bao giờ thiếu xảo thuật – liền vô tình hay hữu ý đẩy ông ta trở lại tư cách “ông quan” chứ không cho ông cơ hội phát huy tư cách “làm dân” nữa – để ông phải tiếp tục bảo vệ bằng chết những điều nó từng trói buộc dân tộc này đã bao nhiêu năm khiến đất nước ngày thêm suy thoái, xuống dốc không phanh. Như thế hỏi có ích gì hay không?

Một phong trào muốn tiến lên thì phải có những người có tầm nhìn, biết tạo sự đồng tâm, gây niềm tin cho quần chúng, chấp nhận mọi khác biệt và tìm được mẫu số chung giữa những khác biệt, chứ nếu khăng khăng đưa ra một tiêu chí cứng nhắc theo ý riêng nào đấy thì chưa họp đã tan ngay thôi.

Tất nhiên, cần hiểu cho rằng tôi không trả lời phỏng vấn về người khác cốt để nói thay “tâm sự” của mình, và cũng không có ý muốn hành xử như ông Lộc. Bản thân tôi, nếu đi trong đoàn đưa Kiến nghị, tôi sẽ không đề nghị cử ông Lộc làm trưởng đoàn, mà cử một người khác có trí tuệ nhưng là một trí thức tự do và tuyệt không từng có địa vị gì trong Nhà nước cả, như thế thoải mái hơn và cũng biểu hiện sự dứt khoát hơn về con đường dân chủ mà mình theo đuổi. Chọn “trí thức cận thần” trước sau vẫn là một sách lược đấu tranh theo kiểu mong mong bề trên… cởi mở. Từ lâu trang mạng BVN đã không làm thế. Tuy nhiên, đã ở trong phong trào thì phải biết gắn bó và đoàn kết với nhau – vì cách làm thì có thể ta không tán đồng nhưng người làm lại xuất phát từ ý tốt, hơn nữa dù nhiều dù ít cách nào cũng góp phần dấn thêm một bước tới đích.

Còn việc một nhà nước toàn trị dùng truyền thông để triệt hạ phong trào dân chủ đang vươn mầm là việc ai cũng dư biết và biết từ lâu, trang BVN đã từng nhiều lần “chịu trận” và lên tiếng đàng hoàng, thẳng thắn. Song để đối chọi lại việc ấy thì không thể bất cứ lúc nào cũng hùng hổ tố cáo mà được, mà hãy gắng phát huy nội lực bằng mọi cách – vì mình là một người đang tự nguyện dấn thân cho một công cuộc dân chủ, mình phải chấp nhận kẻ nói ngược với mình, nhất là khi kẻ đó có đủ phương tiện và quyền lực trong tay thì sự “át giọng” của họ làm sao tránh được. Hãy cứ bình tâm tin tưởng vào xu thế tất yếu của thời đại, khi đã đi đúng quy luật thì đến một lúc nào đấy phong trào sẽ như cái cây lớn vượt lên, bấy giờ ai muốn át giọng cũng sẽ bó tay. Cứ xem từ Kiến nghị bauxite 2009 đến nay, tiếng nói dân chủ đã là cả một bước tiến hùng hậu như thế nào, bởi chúng ta làm những chuyện thực sự ích nước lợi dân, được thực tế kiểm nghiệm và xác nhận (chống khai thác bauxite trả giá nặng nề về nhiều mặt, hay biểu tình phản đối Trung Quốc xâm chiếm biển đảo hun nóng truyền thống yêu nước,…). Cho nên, theo tôi thì mỗi người một việc khác nhau, người này nói khía cạnh này người kia nói khía cạnh khác, không nhất thiết cùng một giọng mới là đồng tâm.

Về sự kiện Kiến nghị 72, anh Nguyễn Đắc Kiên nói rất đúng là không nên chỉ dừng ở mốc lấy chữ ký và cử một phái đoàn trang trọng đến trao Kiến nghị cho Quốc hội là xong. Cần có tiếp một sự đối thoại, tranh luận công khai, trực diện và đến cùng giữa những người bảo vệ các điều đã trở thành vật cản đối với xã hội Việt Nam trong Hiến pháp 1992 và những người khởi xướng Kiến nghị 7 điểm. Việc này ai cũng mong muốn song không dễ, bởi phía bên kia với tư tưởng toàn trị thâm căn cố đế có chấp thuận cho mình không thì không tùy thuộc ở mình. Chúng ta cần có biện pháp nêu lên trước Quốc hội Việt Nam yêu cầu chính đáng và quan trọng này” – Nguyễn Huệ Chi

Bauxite Việt Nam

danluan.org (repost)

Posted in Hiến pháp: sửa đổi 2013 | Leave a Comment »

►Nhờ đài truyền hình phỏng vấn ông Nguyễn Đình Lộc, cả nước biết được tình hình đấu tranh cho dân chủ và đòi xóa bỏ quyền lãnh đạo của đảng

Posted by hoangtran204 trên 25/03/2013

Cần một cái nhìn thực tế và nhân bản!

Tấn Hà

Theo blog Tấn Hà

Ngày 22/03/2013 ông Nguyễn Đình Lộc “lên ti vi” (từ đây xin gọi là bác Lộc cho thân thiện và đúng với vị trí thường dân cũng như tuổi tác của ông Lộc hiện nay) đã gây nên một cơn sốt trên mạng Internet. Người ta thi nhau ném đá, tung chưởng hội đồng vào bác Lộc – một cụ già về hưu, nay đã 78 tuổi – người này tuy hiển nhiên phải là một tay Cộng Sản gộc vì trước kia đã từng làm đến chức bộ trưởng Bộ tư pháp của chế độ Cộng Sản ở Việt Nam nhưng lại là cựu quan chức đầu tiên và cao cấp nhất trong chính phủ đã có hành động đồng thuận đòi xóa bỏ Điều 4 trong Hiến pháp 1992 cùng với các nhân sĩ trí thức Cộng Sản khác.

Bác Lộc – người đã trực tiếp tham gia ký vào “Kiến nghị 72” và giữ vai trò trưởng đoàn trao trực tiếp bản kiến nghị kể trên cho Quốc hội của CSVN ngày 04/02/2013. Thực tế trong video clip trên VTV1 ngày 22/03/2013 bác Lộc cũng chỉ nói những điều có thật diễn ra trong quá trình bản thân hợp tác như thế nào cùng Nhóm 72 và diễn tiến chuyện đi trao bản kiến nghị đó. Đặc biệt là bác Lộc đã không có bất cứ tuyên bố nào nghiêm trọng, đại ý “lấy làm tiếc” hay “xin rút tên ra khỏi Nhóm 72”…

Chuyện khen chê hay chỉ trích, thậm chí là lên án một ai đó, một điều gì đó hoàn toàn là quyền tự do ngôn luận. Nhưng công luận cũng cần có cái nhìn khách quan và nhân bản xuất phát từ thực tế hiện tại. Điều đó đảm bảo rằng, xã hội dân sự mạng Internet thực sự là một môi trường tự do, bình đẳng và công bằng. Có lẽ cách tốt nhất để hiểu người khác là hãy đặt cương vị mình vào hoàn cảnh của họ thì sẽ có cái nhìn khách quan nhất.

Dường như những người chỉ trích bác Lộc đã ngộ nhận bác là một nhà đấu tranh chuyên nghiệp và cứ thế lên án nhà đấu tranh này là “trở cờ”, “phản bội”, “hèn nhát” vv… Sự thật thì Nhóm 72 nhân sĩ nói chung và bác Lộc nói riêng, đã đưa ra được một bản Dự Thảo Hiến Pháp có ý nghĩa dân chủ đích thực. Việc này đã tạo nên những yếu tố tích cực cho công cuộc đấu tranh dân chủ chủ hóa Việt Nam – vốn là quyền lợi, nghĩa vụ và trách nhiệm của toàn dân tộc.

Người ta cũng ngộ nhận rằng, cứ đấu tranh là phải cứng rắn đến cùng, điều này chỉ đúng trong trường hợp chiến tranh nóng, chiến tranh du kích. Đối với đấu tranh ôn hòa thì lại khác, đôi khi người ta phải tiến từ từ, thậm chí có những giai đoạn phải tạm giảm cường độ, thậm chí có những thời điểm bắt buộc phải có những thỏa thuận “ngừng bắn” với đối phương để chờ thời cơ. Đó là những đặc điểm khác biệt của phương pháp đấu tranh bất bạo động.

Đối với từng trường hợp cụ thể, khi đối mặt với bộ máy công quyền, nhất là lực lượng công an an ninh, chẳng ai nên dại dột mà mất công gây căng thẳng dẫn đến việc, từ đối đầu với chế độ Cộng Sản thành ra lại đi đối đầu với cá nhân một vài nhân viên công an cấp dưới, cuối cùng vô tình lại trở thành thù oán cá nhân. Có thể thông cảm cho những bức xúc cá nhân nào đó, nhưng sẽ chẳng ai khuyến khích chuyện một người bị gọi lên đồn công an “làm việc” lại có hành vi chửi bới bù lu té tát, xưng mày tao khiếm nhã với công an…

Ngay cả ông tổ của chiến thuật đấu tranh bất bạo động như Mahatma Gandi hoặc nhà nghiên cứu đấu tranh ôn hòa nổi tiếng – Tiến Sĩ Gene Sharp – cũng đã từng chỉ ra những tình thế mà những người đấu tranh ôn hòa cần gặp gỡ, thương thuyết với nhà cầm quyền, thậm chí có những thỏa thuận nào đó nhằm giảm tải mức độ căng thẳng. Lech Wanlesa – nhà đấu tranh vĩ đại của Ba Lan thời Cộng Sản – sau này là tổng thống đầu tiên của Ba Lan, cũng đã từng phải ký một vài thỏa thuận mang tính thỏa hiệp với chế độ Cộng Sản Ba Lan để được tha tù…

Như vậy nếu ai đó cứ bắt những người đấu tranh ôn hòa phải trở thành những chiến binh thép thì rất không thực tế. Tệ hơn, những người chỉ trích, lên án trên mạng Internet nhằm vào những đối tượng như đối với trường hợp bác Lộc, phần lớn lại là những người ẩn danh. Sẽ là một điều đáng xấu hổ khi đứng trong bóng đêm mà “vung tay” như vậy. Và nếu họ còn trẻ thì lại là một điều đáng xấu hổ hơn, khi bản thân mình thì phải chui nhủi giấu mặt nhưng lại lớn tiếng chê bai một cụ già đã ở cái tuổi an phận thủ thường để chờ về với ông bà, rằng (thì là) không dũng cảm!

Trong đấu tranh ôn hòa, chúng ta không quên ngợi khen những người như blogger Điếu Cày, tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ, cô Phạm Thanh Nghiên vv… Nhưng ngay cả việc nhận tội một cách có chừng mực trước công an và tòa án cũng không thể coi là một hành động đầu hàng. Mặt khác, những hành vi “khai tất tần tật”, “khai tuốt tuồn tuột”, rồi đổ lỗi cho bạn đấu tranh, nói mình bị dụ dỗ lôi kéo vv.., lại là điều xấu. Trong chiến trận, người ta coi trọng yếu tố dũng cảm, liều chết, nhưng cũng vẫn phải nói “mưu trí, dũng cảm”. Ngược lại, trong đấu tranh bất bạo động thì yếu tố mưu trí, khôn khéo, luôn được đặt lên hàng đầu…

Nhân chuyện về bác Lộc, cũng xin nhắc đến một việc khác cũng “nóng” không kém. Số là trên trang báo “Nhân Dân” của nhà cầm quyền CSVN lâu nay xuát hiện nhiều bài báo rất xấu quy chụp, bôi nhọ người đấu tranh là thế này thế khác. Đặc biệt là bài “Quay đầu lại là bờ” của một tác giả ma – Tuyên Trần – phổ biến trên Báo Nhân Dân ngày 21/03/2013. Bài báo kể trên đã rất kệch kỡm và ngu dốt khi nói về những người đấu tranh, nó còn thể hiện sự kém hiểu biết về thực tế của xã hội dân sự tự do.

Đã là đấu tranh tự do thì đó là một sự mở rộng không giới hạn, ai thích lên tiếng thì cứ tự nhiên, không ai cấm. Và họ muốn trở thành nhà đấu tranh độc lập hay tìm một tổ chức để làm phương tiện tốt hơn thì họ đều có quyền đó. Đối với những tổ chức đấu tranh chính quy thì có những nét riêng, nhưng đôi lúc cũng không tránh khỏi những sự thiếu chặt chẽ trong khâu quản lý nhân sự. Đặc biệt là đối với những nhà đấu tranh tự do hoặc đối với một tổ chức nào đó, nhưng do hoàn cảnh bị đàn áp mà tổ chức đó trở nên không có được sự chỉ đạo sát sao…

Như vậy, đối với những nhà đấu tranh ôn hòa, hôm nay họ có thể gia nhập phong trào đấu tranh, nhưng ngày mai họ có thể rút lui, không ai có quyền can thiệp, và vì vậy cũng đừng nên nặng lời chỉ trích họ. Sự lên tiếng của một cá nhân, hay một nhóm, dù ở mức độ nào cũng đều đáng trân trọng. Mặt khác, vì là tự do cho nên ngay cả công an chìm cũng có thể “tham gia đấu tranh” để ngầm phá hoại phong trào từ bên trong, những người đấu tranh bắt buộc phải chấp nhận thực tế này. Như vậy để tránh bỏ sót, bất cứ ai lên tiếng đấu tranh đều xứng đáng được vinh danh, bất luận người đó là ai.

Những đặc điểm trên là cái tuyệt hay của xã hội dân sự tự do: Anh muốn nói gì thì nói, làm gì thì làm, hôm nay xã hội thấy hay thấy tốt thì họ cổ xúy anh, ca ngợi anh, nhưng ngày mai người ta phát hiện ra anh “có vấn đề” hoặc mắc sai lầm thì họ sẽ lại phản đối anh như thường. Đối với những người nổi tiếng (các văn nghệ sĩ, chính trị gia, tỉ phú, tổng thống…) họ luôn bị xã hội, nhất là cánh báo chí xoi mói. Chính nhờ điều này mà những người nổi tiếng luôn phải giữ mình cho tốt, sao cho xứng đáng với tên tuổi của họ. Và bỗng nhiên những chuyện “khó chịu” đó lại có tác dụng răn dạy không ngờ!

Cần đi sâu một chút như vậy để báo Nhân Dân và tác giả Tuyên Trần hiểu rõ thế nào là xã hội dân sự tự do. Và như vậy, ở đâu đó, một lúc nào đó có một vài người đấu tranh sống chưa đạt với tiêu chí khắt khe của xã hội thì đó hoàn toàn là điều dễ hiểu. Chưa kể đến chuyện có những kẻ đội lốt đấu tranh nhằm luồn sâu phá hoại phong trào, họ cứ thoải mái “mắc sai lầm” cá nhân nhằm hạ uy tín chung của người đấu tranh. Đó cũng là cái khó cho bất kể một cuộc đấu tranh phản kháng ôn hòa nào. Và chúng ta hãy khoan vội kỳ vọng vào những vị “thánh sống” kiểu như Hồ Chí Minh, vì trên đời này không có người nào như vậy, thậm chí đó là người tu hành thoát tục thì cũng còn có những phần trăm ngoại lệ!

Trong lúc đất nước đang cần mọi thành phần, mọi giới, mọi tôn giáo, mọi lứa tuổi cùng chung sức trong công cuộc tháo gỡ chế độ độc tài CSVN, hãy nhìn nhận mọi sự lên tiếng với góc nhìn tích cực nhất. Và chúng ta hoàn toàn có thể hiểu, đồng thời chấp nhận hành động “lên ti vi” của bác Nguyễn Đình Lộc. Không những thế, chúng ta nên bình thường hóa việc đóng góp vào các nỗ lực chung, hãy một lần làm một cái gì đó cho đất nước nếu mình nhận thức điều đó là có lợi, hay đơn giản chỉ là giải tỏa bức xúc cá nhân, và họ có thể rút lui trong trật tự khi cảm thấy mình không đủ sức… Đó là những điều thực tế và đó cũng là nhân bản!

Tấn Hà

Posted in Hiến pháp: sửa đổi 2013 | Leave a Comment »

►“Những tuyên truyền hiện nay của truyền thông nhà nước có giá trị tích cực”

Posted by hoangtran204 trên 25/03/2013

Lời Tựa: Mấy tháng trước đây, nhà nước Việt Nam vận động xin làm thành viên của Hội Đồng Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc, nên họ giả bộ làm vài hành động tích cực như  sớm trả lại tự do cho luật sư Lê Công Định, thả Lê Thăng Long trước thời hạn… Mặc dù vậy, Việt Nam vẫn không được chấp thuận làm thành viên của Hội Đồng Nhân Quyền LHQ trong cuộc bầu cử ngày 25-2-2013 vừa qua.  

Mấy tuần qua, có tin là Bộ trưởng quốc phòng VN đang bắn tiếng muốn mua vũ khí của Mỹ nhằm “đề phòng” Trung Cộng. Nhưng biết rõ tẩy của đảng và nhà nước, nên phát ngôn viên của Bộ Quốc Phòng Mỹ đã cho biết là: đảng CSVN và Nhà cầm quyền Hà Nội phải cải thiện nhân quyền nhiều hơn nữa thì quốc hội Mỹ mới cứu xét việc bán vũ khí. Vì vậy, nhà cầm quyền Hà Nội cũng giả vờ  muốn làm vui lòng quốc hội Mỹ và dư luận quốc tế về vấn đề nhân quyền, nên đã nới lỏng không còn biệt giam Trần Huỳnh Duy Thức nữa và đồng thời đưa ra phong trào sửa đổi (tu chính) Hiến Pháp 1993. 

Nhưng dù đảng và nhà nước có bày tỏ tôn trọng một vài tù nhân chính trị, thì chắc chắn Mỹ cũng sẽ không bán vũ khí cho nhà cầm quyền Hà Nội, vì họ thừa biết rõ: nhà cầm quyền Hà Nội tâm địa rất giảo hoặc và tráo trở, một lòng thần phục Trung Cộng. Và họ cũng biết rõ:  nếu Mỹ bán vũ khí cho Hà Nội, thì chỉ vài ngày sau là đảng sẽ mời Trung Cộng đến đánh cắp kỹ thuật quân sự của Mỹ. Đảng CSVN và nhà nước rất trung thành với Trung Cộng. Dẫu Trung Cộng chiếm Biển Đông, chiếm quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, bắn giết hàng trăm hàng ngàn ngư dân VN mà đảng và nhà nước còn không dám hó hé, thì chuyện mua vũ khí của Mỹ chỉ là chuyện giả vờ, không ngoài mục đích là dâng cho Trung Cộng các kỹ thuật quân sự mới của Mỹ  chứ làm gì có gan chống Trung Cộng.  

Cứ xem nước Ba Lan sau khi lật đổ chế độ cộng sản năm 1989,họ  đã lập hiến pháp mới và thành lập chế độ dân chủ, có nhiều đảng phái hoạt động, có bầu cử và ứng cử tự do, và đặt đảng CS Ba Lan ra ngoài vòng pháp luật, tôn trọng nhân quyền…vậy mà nước Ba Lan phải đợi 10 năm sau, đến năm 1999, mới được trở thành thành viên chính thức của khối NATO. Và suốt trong 10 năm ấy, chính quyền do dân cử của Ba Lan  đã có những bước tiến về dân chủ và tôn trọng nhân quyền rất đáng ca ngợi. Sau khi vào được khối NATO, quân đội của Ba Lan được giảm xuống còn 150.000 người, so với trước đó là 400.000 người. Sự phòng thủ của Ba Lan nay do mấy chục quốc gia trong khối Tây Âu và Mỹ đảm nhiệm và Ba Lan không còn phải lo sợ Nga tấn công nữa. 

Các quốc gia trong Hội Đồng Nhân Quyền LHQ và chính phủ Mỹ biết rõ tâm địa và việc làm của nhà cầm quyền Hà Nội nên họ chỉ lắc đầu và  khuyến khích Hà Nội mà thôi chứ chẳng trông mong gì đảng CSVN và Nhà nước có những thay đổi lớn lao về nhân quyền, tự do ngôn luận, và chấp thuận sửa đổi hiến pháp đồng ý để cho các đảng phái hoạt động, có bầu cử và ứng cử tự do…    

Anh Trần Huỳnh Duy Thức, sau hơn 8 tuần bị biệt giam, đã được về khu nhà tù với khu sinh hoạt mới được nâng cấp để phục vụ cho ý đồ hiện nay của nhà nước; khu này mới được tạo ra ( nhằm gây sự chú ý của quốc hội Mỹ và thiện cảm của quốc tế) về việc nhà cầm quyền Hà Nội muốn khoe là đối xử tốt với tù nhân để phục vụ cho công tác đối ngoại của đảng: muốn mua vũ khí của Mỹ.

Nhờ có khu sinh hoạt mới mở, anh THD Thức được xem truyền hình ban đêm và đã có một cái nhìn rất thú vị về tình hình hiện nay ở VN. Mời các bạn đọc bài sau đây:

Một chuyến thăm Thức: “Những tuyên truyền hiện nay của truyền thông nhà nước có giá trị tích cực”

Tác giả Trần Văn Huỳnh

Nguồn facebook.com/tranhuynhduythuc

Sáng Chủ Nhật ngày 24/03/2013 tôi và gia đình đi thăm Thức định kỳ mỗi tháng. Có một tin vui là Thức đã không còn bị biệt giam. Họ quay rào một khu sân rộng khoảng 100 m2 trước 3 căn phòng nhỏ liền kề nhau, cũng trong khu cách ly mà Thức vẫn ở lâu nay. Họ mở cửa từ 6h sáng đến 11h trưa và 2h đến 5h chiều. Trong khu sân nhỏ này giờ có 6 tù nhân chính trị là Thức, Hùng, Tuấn, Cường, Việt Khang và Giang. Mỗi phòng có 2 người. Thức ở chung với Việt Khang tại căn phòng trước đó Thức vẫn ở biệt giam một mình. Vào giờ họ mở cửa, các anh em ra ngoài chơi chung với nhau, có lò than để nấu ăn, và đang dọn dẹp xà bần để có đất trồng rau ở cái sân 100m2 đó.

Thức kể rằng họ qui định không được cờ bạc nên không cho đánh cờ tướng vì bị liệt vào cờ bạc. Tuy nhiên mấy anh em đã tự vẽ cờ và chơi với nhau. Họ thấy nhưng đã không cấm cản.

Do được ra ngoài nên nhìn Thức hồng hào hơn sau 8 tháng biệt giam. Tôi nghĩ kết quả này có phần đóng góp quan trọng của việc anh Long đã công bố rộng rãi tình trạng ngược đãi đối với Thức.

Hôm nay Thức nói chuyện rất vui. Khi tôi hỏi có xem báo, TV về sửa đổi hiến pháp không, Thức nói mấy anh em ở đây rất chú ý đến các tin tức này nên theo dõi kỹ trên báo Nhân dân và thời sự VTV 19h. Dù tin tức không đầy đủ như bên ngoài nhưng mọi người cũng đoán được những điểm nóng là Nguyễn Đắc Kiên, Nguyễn Đình Lộc và bản hiến pháp của giới trí thức. Thức có nói một điều tôi thấy rất có ý nghĩa:

“Những tuyên truyền hiện nay của truyền thông nhà nước có giá trị tích cực. Nó làm cho hầu hết nhân dân biết về những điều lâu nay họ không biết như Điều 4 Hiến pháp, tam quyền phân lập, quân đội phải trung thành bảo vệ đảng hay bảo vệ nhân dân… Một khi người dân biết thì sẽ dần quan tâm và bớt đi sự thờ ơ.”

Thức cho rằng lâu nay những việc hệ trọng đó số đông người dân không được biết đến. Nhưng việc tuyên truyền lần này sẽ thay đổi sâu rộng tình trạng đó. Rồi Thức kết luận: “Nhận thức của nhân dân sẽ hướng dần đến lẽ phải như một quy luật. Ai xem thường nhân dân, nghĩ dân không hiểu biết nên muốn nói gì cũng được thì chắc chắn sẽ phải trả giá đắt không lâu nữa.”

– Trần Văn Huỳnh –

——–

Việt Nam bị chỉ trích trước Hội đồng Nhân quyền LHQ

Thanh Hà (Theo RFI)

25-2-2013

 

Trước Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp Quốc – Genève, ngày 08/03/2013 giới bảo vệ nhân quyền tố cáo Việt Nam bắt giam hàng chục nhà đấu tranh trên mạng và chính quyền Hà Nội vi phạm luật quốc tế. Đại diện cho các nhà hoạt động Liên Đoàn Quốc tế Nhân quyền và Ủy ban Bảo vệ Quyền làm Người Việt Nam, ông Võ Văn Ái kêu gọi « Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp Quốc gây áp lực với phía Việt Nam để chấm dứt các hành vi đàn áp » kể trên.

Theo ông, hiện có 32 nhà viết blog và các nhà đấu tranh bày tỏ bất đồng chính kiến trên mạng đang bị giam giữ tại Việt Nam. Một phần trong số đó đã có án hoặc đang chờ bị xét xử. Họ có thể bị lãnh đến 16 năm tù.
Chủ tịch Ủy ban Bảo vệ Quyền làm Người Việt Nam Võ Văn Ái cho biết thêm : « Các hành vi đàn áp không góp phần bảo vệ an ninh quốc gia như lời giải thích của chính phủ Việt Nam, mà chỉ nhằm bịt miệng các tiếng nói trong một xã hội dân sự đang trỗi dậy để tố cáo các hành vi tham những, lạm quyền, để nói lên thảm cảnh của người nông dân bị cướp đất. Đó là những tiếng nói đòi nhân quyền và kêu gọi cải cách dân chủ. »
Tại Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp Quốc, ông Võ Văn Ái đã kêu gọi Việt Nam thu hồi Pháp lệnh 44 đã được ký vào năm 2002. Pháp lệnh đó cho phép giam giữ mà không cần thông qua các thủ tục pháp lý những phần tử bị coi là đe dọa đến an ninh quốc gia. Ông cho biết Việt Nam đã sử dụng điều khoản này để chống lại các blogger, thậm chỉ kể cả việc đưa họ vào bệnh viện tâm thần.
Một nhà hoạt động khác là bà Penelope Faulker thuộc tổ chức Cùng Hành động cho Nhân quyền có trụ sở ở Pháp, lưu ý Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp Quốc rằng sau cuộc duyệt xét của Liên Hiệp Quốc năm 2009, Hà Nội đã cam kết thực thi quyền tự do thông tin. Tuy nhiên, theo bà : « chỉ nội trong năm qua, nhiều blogger, nhà báo mạng, và người bênh vực nhân quyền tại Việt Nam đã bị sách nhiễu, hù dọa, bị công an làm khó dễ, hoặc đã bị tống giam nhiều ngày một cách thô bạo chỉ vì, bằng một cách ôn hòa họ đã dám bày tỏ quan điểm trên Internet ».
Việt Nam hiện nay không phải là một trong 47 thành viên của Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp Quốc. Tổ chức Phóng viên Không Biên giới coi Việt Nam là một quốc gia thù nghịch với Internet.

Posted in Chinh Tri Xa Hoi | Leave a Comment »

►Tàu Trung Quốc bắn tàu đánh cá Việt Nam 24-3-2013

Posted by hoangtran204 trên 24/03/2013

Sau khi bài báo này được các báo Tiền Phong, Báo Mới…đăng lên ngày 24-3-2013, thì chỉ vài giờ, tất cả các báo đều phải rút bản tin này xuống. Bấm vào  link cũ vào các bài báo này thì chỉ còn là khoảng trống.

Điều này cho thấy nhà cầm quyền Hà Nội chỉ là tay sai của TQ, đảng và nhà nước VN không phải là chính quyền đại diện của một nước  có độc lập và có chủ quyền. Họ rất sợ hải Trung Cộng. Ngay cả khi ngư dân VN bị bắt nạt ngay trên vũng biển lãnh hải mà cũng không dám đăng tin phản đối TQ, không dám họp báo, không dám triệu hồi đại sứ TQ tại VN đến trao kháng thư phản đối, thì người dân VN còn trông mong gì sự bảo vệ của nhà nước khiếp nhược này? Đảng CSVN quang vinh ở nơi đâu? 

Tàu Trung Quốc bắn tàu cá Việt Nam

Theo báo Tiền Phong

24-3-2013

a1_cabin_chay.jpg

TP – Tàu cá QNg 96382 TS của ngư dân Lý Sơn (Quảng Ngãi) vừa bị tàu tuần tra của Trung Quốc bắn cháy rụi nóc cabin khi đang đánh bắt tại vùng biển Hoàng Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam.

 

imagehandler.ashx_.jpg
Nóc cabin tàu QNg 96382 TS của thuyền trưởng Phải bị bắn cháy đen.

 

Bắn vào tàu của ngư dân Việt

Ngày 22/3, tàu cá QNg 96382 của thuyền trưởng Bùi Văn Phải (xã An Hải, Lý Sơn, Quảng Ngãi) cập về Lý Sơn trong cảnh tơi tả, cabin của tàu cùng nhiều đồ đạc cháy nham nhở.

Thuyền trưởng Bùi Văn Phải (25 tuổi), kể lại: Khoảng 10 giờ ngày 20/3, khi sắp kết thúc phiên đánh bắt tại khu vực đảo Lin Côn thuộc quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam, tàu ông – gồm 9 ngư dân – đụng phải chiếc tàu tuần tra của Trung Quốc mang số 786, sơn màu trắng xám.

Tàu sắt Trung Quốc liền hùng hổ đuổi theo. Thuyền trưởng Phải kéo ga chạy thật nhanh. Do nằm ở vị trí không có rạn san hô ngầm để lọt vào tránh né như mọi lần, ngư dân đành cho tàu chạy thẳng.

Bọn lính bên tàu tuần tra liên tục buộc tàu ngư dân dừng lại. Khoảng 30 phút sau, bất ngờ đạn lửa từ tàu tuần tra Trung Quốc (có thể là động tác cảnh cáo) bắt đầu nã sang ca bin tàu ngư dân của ta.

Hốt hoảng và bất ngờ, các ngư dân đang ngồi trước mũi thuyền liền đưa tay lên đầu la to. Nóc cabin bắt đầu bốc cháy ầm ầm. Tấm bạt nhựa trên cabin tan chảy để lộ ra 4 bình gas đang nằm giữa đống lửa rừng rực. Nếu không kịp thời dập tắt đám cháy thì có thể nổ tàu.

Ông Thạch, một ngư dân lớn tuổi, liền lao lên nóc ca bin, 8 ngư dân còn lại múc nước đưa lên chữa cháy. Lúc này chiếc tàu tuần tra Trung Quốc vội vã tháo lui.

Hiện trường tàu cá lúc trở về trên nóc cabin tàu là những chiếc bình gas cháy sém, mì tôm bắt lửa biến thành cơm cháy, quần áo thủng lỗ chỗ… Thuyền trưởng Phải cho biết, chi phí sửa chữa tàu chỉ vài chục triệu đồng, nhưng thiệt hại vì tổn phí chuyến biển lên đến hàng trăm triệu đồng.

Trung tá Nguyễn Văn Thanh, Đồn phó đồn Biên phòng Lý Sơn, cho biết, đơn vị đã chỉ đạo cho các đội nghiệp vụ thu thập hồ sơ để báo cáo về trên xử lý.

Đuổi bắt ngày càng gắt gao

 

imagehandler.ashx1_.jpg

Ngư dân trên tàu ông Trung trình bày việc bị phía Trung Quốc phá tài sản và cướp cá. Ảnh: Thanh Trung .

 

Chuyện tàu tuần tra Trung Quốc rượt đuổi ngư dân ta ở Hoàng Sa thì như cơm bữa, nhưng theo thuyền trưởng Phải, gần đây, tàu tuần tra Trung Quốc trở nên hung hăng hơn.

Chuyến biển trước đó, tàu của thuyền trưởng Phải cũng bị truy đuổi rất căng thẳng. Khi ấy, tàu đang đánh bắt gần khu vực đảo Đá Lồi ở Hoàng Sa. Con tàu với 9 ngư dân men theo các đảo, để phòng trời đổ gió thì có chỗ núp.

Đến ngày thứ 7 ở Hoàng Sa, trong lúc thợ lặn đang hì hục dưới nước, ngư dân phát hiện có bóng dáng tàu tuần tra Trung Quốc màu sơn trắng. Anh em ngư dân lôi ông Hùng và ông Sáu đang lặn dưới nước lên thuyền.

Do lặn sâu nên các ngư dân cứ kéo lên vài mét thì phải dừng lại để thợ lặn không bị sốc. “5 phút để kéo thợ lặn nhưng lâu như 1 tiếng đồng hồ, bởi vì con tàu tuần tra cứ nhắm tàu mình xỉa tới” – ngư dân Thạch kể.

Hai chiếc tàu Trung Quốc chỉ trong nháy mắt đã đuổi kịp con tàu ngư dân Lý Sơn. Thuyền trưởng Phải còn nhớ, hai tàu của Trung Quốc mang số 262 và 263.

Hai chiếc tàu này vờn tàu ngư dân Việt Nam khoảng 40 phút. Con tàu cá nhỏ bé nép chính giữa cứ nổ máy chạy, kiên quyết không dừng. Chiếc tàu tuần tra bên trái rướn lên cản trước mũi thì chiếc bên phải hạ ga ép sau đuôi tàu ngư dân Việt Nam.

Thuyền trưởng Phải lập tức nhả ga, giật số, ghìm tốc độ, cho mũi tàu lắc sang một bên và tiếp tục cho tàu chạy nhanh. Cứ như thế, 2 con tàu sắt hùng hục lao theo thay phiên nhau cản mũi. Anh em ngư dân Việt kiên quyết không đứng lại.

Ngay khi cuộc rượt đuổi bắt đầu, các ngư dân tranh thủ cất giấu toàn bộ máy thông tin liên lạc, đề phòng tàu tuần tra bắt được thu giữ đồ nghề.

Sau khi chạy thoát, các ngư dân mở máy liên lạc ngay vào đất liền báo cáo cho trạm kiểm soát biên phòng An Hải, thông qua kênh thông tin của Đài Duyên hải miền Trung.

Tại xóm biển Châu Tân, xã Bình Châu (Bình Sơn), thuyền trưởng Bùi Văn Trung (tàu QNg 50949) trình bày với Thiếu tá Nguyễn Ngọc Thận, cán bộ đồn Biên phòng Bình Hải về vụ việc ra Hoàng Sa bị Trung Quốc xua đuổi và thu tài sản.

Khi đó, các ngư dân cho tàu trụ bám tại đảo Xà Cừ gần đảo Trụ Cẩu để lặn bắt tôm và hải sâm. Ngày 17/3, tàu tuần tra của Trung Quốc mang số 306 đã đuổi bắt tàu ngư dân. Để áp sát, chiếc ca nô trên tàu tuần tra được thả xuống và bám riết con tàu.

Một nhóm lính Trung Quốc nhảy lên tàu ngư dân khống chế chạy vào một cồn cát gần đảo rồi đập phá, lục soát, lấy đồ đạc. Dây lặn hơi bị chặt nát, máy định vị, máy dò bị lấy, nhiều đồ đạc bị quăng xuống biển. Tôm cá – thành quả 17 ngày đêm đánh bắt – bị hốt đổ sang tàu tuần tra.

Xót vì mất của, nhưng thuyền trưởng Bùi Văn Trung còn xót ruột hơn, khi từ đầu năm đến nay, những hòn đảo, cồn cát ở Hoàng Sa dù không có người ở nhưng Trung Quốc đều xây cột mốc và cắm cờ Trung Quốc.

Bản tin dưới đây đã bị báo Tiền Phong xóa.

Tàu Trung Quốc bắn tàu cá Việt – Tiền Phong Online

22 hours ago – Tàu Trung Quốc bắn tàu cá Việt. > Nhật muốn đóng tàu lớn cho ngư dân miền Trung > Yêu cầu Trung Quốc không cản trở tàu cá Việt Nam 

——————

Tàu Trung Quốc bắn cháy tàu cá Việt Nam

Mặc Lâm, biên tập viên RFA
2013-03-24

Sau một thời gian im ắng tàu Trung Quốc lại bắn trực tiếp vào một tàu cá Việt Nam khi chiếc tàu này đánh bắt cá trong vùng biển Hoàng Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam.

Mặc Lâm có cuộc phỏng vấn với anh Phạm Quang Thạnh, thuyền trưởng chiếc tàu nạn nhân này khi nó vừa cặp bến đảo Lý Sơn.

Phạm Quang Thạnh: Tên em là Phạm Quang Thạnh sinh năm 1980, thuyền trưởng của phương tiện tàu anh Bùi Văn Phải, số tàu là 96382, công suất máy là 105 CV. Bây giờ em trình bày chuyến đi vừa rồi.

Tụi em xuất bến vào ngày 28 tháng 2, em đi đến đảo Hoàng Sa ngay Gò Đá Lồi, em neo tại đó để tránh gió. Ngày 13 thì em đã đến vị trí làm ở đảo Lin Côn tọa độ là 16-32 phút 112-36 độ kinh đông.

Mặc Lâm: Anh vui lòng cho biết tàu Trung Quốc xuất hiện vào lúc nào và khi ấy thì anh và các thuyền viên đang làm gì?

Phạm Quang Thạnh: Sáng ngày 13 trong lúc anh em đang lặn thì em phát hiện có hai chiếc tàu của Trung Quốc màu trắng. Tàu của Trung Quốc mang biển số là 262 và 263 áp sát vào em để đuổi em. Tàu này màu trắng nhưng thủy thủ mặc đồng phục màu xanh biển và có cầu vai, mũ bằng. Em suy nghĩ là tàu cảnh sát biển.

Hai tàu nầy áp sát vào tàu em, mỗi tàu kẹp một bên để đuổi em ra khỏi vùng biên. Em chạy tầm 15 hải lý thì tàu Trung Quốc quay vào. Chiều ngày hôm đó em quay lại vị trí cũ để làm tiếp tục cho tới ngày 20 thì tụi em gặp một chiếc tàu Trung Quốc khác mang số hiệu 786.

Mặc Lâm: Chiếc tàu này xuất hiện khi tàu của mình đang tác nghiệp hay đang trên đường tìm chỗ để đánh cá?

Phạm Quang Thạnh: Dạ dạ không anh, khi phát hiện ra nó thì tụi này ở đàng xa đã bỏ chạy rồi. Sau đó cỡ tầm 30 tới 40 phút sau thì nó đã đến sát tàu em. Khi tới sát rồi nhưng nó cũng không ra tín hiệu gì còn mình thì lo chạy phần mình, nó lo kè phần nó. Dí đuổi mãi tới vài mươi phút sau nó đấu đầu tàu em buộc phải quay tàu. Sau khi quay xoay tròn vài vòng bắt đầu em cắt hướng đi để về hướng Đông ra khỏi vùng biên. Nhưng lúc đó nó đứng sát em nó dùng súng bắn thẳng vào tàu em.

Mặc Lâm: Anh có nhận ra là lính Trung Quốc dùng súng gì để bắn vào tàu của mình vậy, đó là loại súng cá nhân hay là loại được gắn vào tàu?

Phạm Quang Thạnh: Dạ đó là súng cá nhân tại vì em thấy những người trên tàu của nó cầm súng ra chĩa vào tàu em để bắn. Lúc đó em đã chạy vào cabin, em nghe bốn tiếng nổ và phát hiện là tàu em đã bị cháy ở cabin, nó bị bốc lửa và cháy. Lúc đó em hô cho tất cả anh em thuyền viên múc nước biển để cứu lửa. Lúc đó lửa nó cháy gần tới bốn bình gas đang nằm ngay trên cabin, em sợ bốn bình gas này phát nổ thì anh em trong tàu không ai sống sót nên em mạo hiểm tính mạng tới ngay cabin để dập tắt ngọn lửa.

Mặc Lâm: Khi thấy lửa cháy rồi thì nó còn tiếp tục áp sát vào tàu mình hay không hay là bỏ đi?

Phạm Quang Thạnh: Khi ngọn lửa cháy nó đã bỏ đi. Cỡ 30 phút sau thì bọn em mới dập tắt được ngọn lửa. Khi lửa tắt rồi em mới ngó lại thì thấy chiếc tàu đó đã cách xa từ 5 tới 6 hải lý.

Mặc Lâm: Như vậy là coi như nó không hề bước sang tàu mình mặc dù có nguy cơ tàu này sẽ chìm sau khi bị bắn?

Phạm Quang Thạnh: Vâng, nó bỏ đi không có tinh thần để giúp đỡ hay dừng lại để coi thử tàu mình như thế nào có bị chìm hay bị nổ tung… coi như là nó muốn hủy mình rồi bỏ đi vậy.

Mặc Lâm: Trước khi bị bắn anh em trên tàu có thu được nhiều ít gì chưa?

Phạm Quang Thạnh: Dạ chưa, trên tàu chỉ có được mấy chục con ốc, mấy chục con hải sâm vậy thôi chứ chưa có con cá nào trong tàu.

Mặc Lâm: Anh có chắc rằng tàu mình đã nằm đúng vị trí chủ quyền của Việt Nam hay không? Và từ trước giờ anh em có được nhà nước huấn luyện hay chỉ dẫn cách sử dụng hải đồ để xác định mình hành nghề đúng trong vùng chủ quyền của mình hay không?

Phạm Quang Thạnh: Dạ trong hải đồ thì em được biết từ xưa tới nay là chủ quyền của Việt Nam, khu vực đảo Hoàng Sa này hoàn toàn thuộc chủ quyền của Việt Nam. Chủ phương tiện, các nghiệp đoàn nghề cá mỗi lần có cuộc họp gì thì người đầu tàu đứng ra đi họp cho nên em cũng không nghe thông tin đó. Tuy nhiên em có nghe thông tin ra đó làm thì cũng được thôi, và họ có hướng dẫn cho những anh đầu tàu hay chủ phương tiện.

Mặc Lâm: Khi tàu anh về tới địa phương thì chính quyền cũng như các ban ngành liên quan có hay biết và tiếp xúc với anh em chưa?

Phạm Quang Thạnh: Dạ chính quyền đã hay rồi vì khi tụi em về tới đất liền là ngày 22. Em vào thông báo với trạm kiểm soát biên phòng Quảng Ngãi và Đồn Biên phòng 328, và cũng có trình báo qua Nghiệp đoàn nghề cá xã An Hải. Bên trạm Kiểm soát Biên phòng có nhân viên trinh sát xuống để làm việc. Họ gọi anh em vô để lấy lời khai, và đến tại hiện trường để điều tra ,và đồng thời có quay phim chụp ảnh làm việc với bọn em nữa.

Mặc Lâm: Trước tình cảnh khó khăn và tính mạng đang dối diện với chết chóc như vậy anh có định tiếp tục hành nghề nữa hay không?

Phạm Quang Thạnh: Dạ với em thì trong lương tâm của em thì em sẽ có đủ can đảm để làm nghề tiếp vì thứ nhất em là giòng họ Phạm. Trước đây ông Phạm Quang Hành em nghe qua lịch sử thì vào cuối thế kỷ 16 đầu thế kỷ 17 ông đã ra ngoài đảo Hoàng Sa để sống ở đó. Bây giờ em là con cháu thì em tiếp tục vẫn ra ngoài đó để làm.

Thứ nhất là chuyện kinh tế, cuộc sống sinh nhai của gia đình. Thứ hai em cũng phải giữ được nguyện vọng của ông bà tổ tiên thiêng linh của dòng họ nhà em. Dù có khó khăn hay sinh mạng sống chết thế nào thì em cũng vẫn tiếp tục. Hiện nay điều kiện không lo nổi kinh phí vì quá nhiều lần bị nó phá  phách cho nên thất thu, gia đình chật vật eo hẹp mình không biết vay mượn ở đâu. Nợ nần chồng chất không biết còn điều kiện cho em ra đó nữa hay không…chứ còn nguyện vọng của em thì em vẫn đi mãi mãi!

Mặc Lâm: Xin cám ơn anh.

http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/cn-ships-shoot-to-fire-lysons-fishingboat-03242013091326.html

Posted in Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa | Leave a Comment »

►Thủ tướng Dũng và nền kinh tế thị trường “định hướng quyết liệt”: Nhưng từ giữa năm 2006 tới nay thì thủ tướng càng Quyết, nền kinh tế càng Liệt

Posted by hoangtran204 trên 22/03/2013

Thủ tướng Dũng và nền kinh tế thị trường “định hướng quyết liệt”

ntd

Ngày 27/06/2006, Quốc hội bầu ông Nguyễn Tấn Dũng lên làm Thủ tướng. Trong cuộc trả lời trực tuyến đầu tiên của một thủ tướng Việt Nam vào ngày 9/2/2007, ông dùng rất nhiều từ “quyết liệt”.

Trong toàn bộ cuộc trả lời được ghi tại đây (Chính phủ, 9/2/2007), thủ tướng Dũng đã ít nhất 7 lần dùng từ “quyết liệt” trong mọi lĩnh vực, từ điều hành kinh tế, văn hóa xã hội tới chống ùn tắc giao thông, chống tham nhũng…

Thực ra thủ tướng Dũng không phải vị lãnh đạo cao cấp đầu tiên dùng từ “quyết liệt”. Các vị tiền nhiệm của ông như Võ Văn Kiệt hay Phan Văn Khải cũng có dùng từ này nhưng với tần suất rất thấp, chỉ đôi khi mới nghe thấy. Nhưng từ khi thủ tướng Dũng lên nắm quyền thì từ “quyết liệt” được dùng rất nhiều ở Việt Nam. Có thể khẳng định chắc chắn là do thủ tướng rất thích dùng từ này nên đã tạo ra một trào lưu ăn theo nói leo của đám cấp dưới đến nỗi theo tác giả bài này, có thể gọi thủ tướng là “Dũng quyết liệt” và nền kinh tế Việt Nam trong những năm gần đây là“Nền kinh tế thị trường theo định hướng quyết liệt”.

Trong từ điển tiếng Việt, “quyết liệt” được định nghĩa là “kiên quyết” và “mãnh liệt”. Điều này cho thấy những người hay dùng từ “quyết liệt” là những người có “quyết tâm” cao, rất nhiệt huyết trong công việc, cống hiến hết mình, liên tục làm việc với cường độ cao để đạt được kết quả cao nhất trong công việc. Trong một nền hành chính còn trì trệ như ở Việt Nam thì nếu có những người thật sự “quyết liệt” như vậy thì quá là đáng quý quá. Vậy ở đây chúng ta thử điểm lại những lĩnh vực mà thủ tướng Dũng đã chỉ đạo “quyết liệt” xem hiệu quả của những chỉ đạo này tới đâu.

1.  Quyết liệt tăng trưởng kinh tế

Thủ tướng Dũng là người thích tăng trưởng cao nên tất nhiên đây là lĩnh vực được thủ tướng ưu tiên “quyết liệt”. Ngay khi mới nhận chức, vào cuối năm 2006, khi họp Chính phủ:

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng: Tập trung chỉ đạo quyết liệt, hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ KT-XH năm 2006 (Chính phủ, 1/12/2006)

Trong kỳ họp Chính phủ tháng 10/2007, dù lạm phát đã tăng cao ở mức nguy hiểm nhưng thủ tướng vẫn chỉ thị:

… để đạt mục tiêu tăng GDP 8,5% trong năm 2007, đòi hỏi các bộ, ngành, địa phương phải tập trung thực hiện quyết liệt, đồng bộ các giải pháp chỉ đạo mạnh mẽ của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đề ra từ đầu năm đến nay(Chính phủ, 6/10/2007)

Vào tháng 12/2007, lạm phát đã tăng hơn 12% nhưng khi họp bàn về kế hoạch cho năm 2008, thủ tướng Dũng vẫn chỉ đạo trước cho năm mới:

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng: Điều hành quyết liệt ngay từ đầu năm 2008 để đạt tăng trưởng GDP 9% và chỉ số tăng giá cả thấp hơn tốc độ tăng GDP (Chính phủ, 24/12/2007)

Sang năm 2009, khi bàn kế hoạch cho năm 2010:

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cho biết tăng trưởng GDP năm 2009 ước tính ở mức 5,2%, thấp nhất trong 10 năm gần đây. Trong năm 2010 Chính phủ sẽ thực hiện quyết liệt 6 biện pháp để đạt tăng trưởng GDP 6,5%, thu nhập bình quân đầu người 1.200 USD(Tiền phong, 20/10/2009)

Sang tới năm 2013, thủ tướng vẫn tiếp tục “quyết liệt”:

Trong phiên họp thường kỳ tháng 2 của Chính phủ, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng yêu cầu các Bộ, ngành, địa phương cần tiếp tục triển khai thực hiện quyết liệt, hiệu quả các giải pháp đã đề ra trong Nghị quyết số 01/NQ-CP và 02/NQ-CP…(Chính phủ, 28/2/2013)

Không rõ hiệu quả của sự “quyết liệt” trong điều hành và chỉ đạo của thủ tướng Dũng tới đâu mà từ khi thủ tướng lên cầm quyền, tốc độ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam có xu hướng thấp hơn hẳn giai đoạn trước đó (và có rất nhiều khả năng là sẽ còn tiếp tục thấp trong thời gian tới):

Tốc độ tăng trưởng GDP của Việt Nam, 2002-2012

Đơn vị: %

2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012
7,08 7,34 7,79 8,44 8,17 8,5 6,23 5,32 6,78 5,89 5,03

Nguồn: Tổng cục Thống kê

2.   Quyết liệt chống lạm phát

Do hậu quả của chính sách mở rộng đầu tư để đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế mà sau khi thủ tướng Dũng lên nắm quyền, lạm phát bắt đầu có xu hướng tăng cao. Ngay từ năm 2007, thủ tướng Dũng đã tỏ ra “quyết liệt” với lạm phát. Trong cuộc họp ngày 12/8/2007 với các Bộ, ngành:

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng: Quyết liệt kiềm chế tốc độ tăng giá thấp hơn tốc độ tăng trưởng GDP.(Chính phủ, 12/8/2007)

Sang năm 2008, đợi mãi lạm phát chưa xuống, thủ tướng lại tiếp tục “quyết liệt” nhiều lần nữa, ví dụ:

Thủ tướng vừa chỉ đạo các bộ, ngành quyết liệt kiềm chế lạm phát và ổn định kinh tế vĩ mô những tháng cuối năm…(Vneconomy, 26/6/2008)

Sau đó, do lạm phát là vấn đề nóng nên thủ tướng liên tục chỉ đạo “quyết liệt” về vấn đề này, chẳng hạn:

Tại phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 11/2010, Thủ tướng đã yêu cầu các Bộ, ngành địa phương tập trung thực hiện quyết liệt, đồng bộ các giải pháp kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bình ổn thị trường, giá cả. (Infotv, 3/12/2010)

Các năm sau cũng thế:

“Các bộ, ngành, địa phương phải tiếp tục thực hiện nghiêm túc, quyết liệt, kiên trì, đồng bộ các giải pháp và các chỉ đạo của Bộ Chính trị, Chính phủ về bình ổn giá cả thị trường, kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, đảm bảo an sinh xã hội”(Petrotimes, 5/5/2011)

Họp với các địa phương ngày 25/12/2012 về kế hoạch cho năm 2013, thủ tướng cũng căn dặn:

Các địa phương cố gắng, quyết liệt kiểm soát ngay trong tháng một tới. Quy luật hàng năm cho thấy CPI quý một chiếm tỷ lệ lớn trong lạm phát cả năm(Vnexpress, 26/12/2013)

Chỉ tiếc là tốc độ tăng trưởng GDP càng được thủ tướng “quyết liệt” chỉ đạo thì càng giảm trong khi lạm phát được chỉ đạo “quyết liệt” thì lại ngày càng tăng.

[Lạm phát có nghĩa là đồng tiền bị mất  giá. Nguyên nhân do chính phủ của ông Dũng đã tung quá nhiều tiền đồng vào thị trường để mua tiền đô la của Việt Kiều gởi về, khoảng hơn 8- 12 tỷ đô la Mỹ/ mỗi năm; chính phủ tung tiền đồng để mua lại các khoảng nợ của 100 tập đoàn bao gồm 12000 công ty quốc doanh thua lỗ hàng năm, chỉ riêng Vinashins đã thua lỗ hơn 86 ngàn tỷ đồng VN, và Vinalines thua lỗ hơn 23 ngàn tỷ đồng; chính phủ tung tiền đồng vào thị trường để giải cứu các ngân hàng bị kẹt vốn trong việc cho vay mua bán bất động sản; chính phủ tung tiền đồng vào thị trường  vì ngân sách bị thiếu hụt, do các cấp chính quyền chi tiêu lãng phí, tổ chức hội hè, bòn rút tiền bỏ túi, tham nhũng quá nhiều hơn là ngân sách hoạch định để chi tiêu hàng năm; chính phủ tung tiền ra để tăng tiền lương cho đội công chức lên đến 7 triệu người, và trả lương cho hơn 8,8 triệu người có công với cách mạng! hay 11% dân số – TH nguồn: ]

Tỉ lệ lạm phát của Việt Nam, 2002-2012

Đơn vị: %

2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012
4 3 9,5 8,4 6,6 12,63 19,9 6,88 11,75 18,58 6,81

Nguồn: Tổng cục Thống kê

3.  Quyết liệt với DNNN

Có thể nói thủ tướng Dũng là một tín đồ rất sùng bái DNNN tới mức mê tín. Tháng 2/2011, sau khi Vinashin sụp đổ, thủ tướng vẫn nói:

“Nếu trong khủng hoảng vừa qua, với những nguy cơ về tăng trưởng âm, về an sinh xã hội, ổn định các chỉ tiêu vĩ mô, nếu không có các doanh nghiệp nhà nước, chắc chắn chúng ta không đạt được những thành quả như hôm nay”, Thủ tướng khẳng định. (Chính phủ, 15/2/2011)

Mười tháng sau đó, thủ tướng lại nhấn mạnh:

“Đánh giá hiệu quả của DNNN phải công bằng, không thể nói DNNN là “ăn hại”. Những kết quả mà DNNN đã đóng góp là không thể phủ nhận. Nếu không có DNNN thì Nhà nước không thể điều tiết, ổn định vĩ mô (Vietnamnet, 8/12/2011)

Đặc biệt, thủ tướng Dũng có niềm si mê cuồng nhiệt với các tập đoàn lớn, đa ngành. Nhà báo Huy Đức cho biết:

Trước Đại hội Đảng lần thứ X, ông Nguyễn Tấn Dũng được giao làm Tổ trưởng biên tập báo cáo kinh tế của Ban chấp hành Trung ương trước Đại hội. Ông đòi ghi vào báo cáo chủ trương cho doanh nghiệp nhà nước được kinh doanh đa ngành. Các thành viên trong tổ phản đối vì điều này ngược với quan điểm phát triển doanh nghiệp nhà nước xác lập từ thời thủ tướng Võ Văn Kiệt. Thay vì tiếp thu, ông Nguyễn Tấn Dũng đã viết ra giấy, buộc các thành viên trong tổ phải ghi vào Báo cáo kinh tế nguyên văn: “Thúc đẩy việc hình thành một số tập đoàn kinh tế và tổng công ty nhà nước mạnh, hoạt động đa ngành, đa lĩnh vực, trong đó có một số ngành chính; có nhiều chủ sở hữu, trong đó sở hữu nhà nước giữ vai trò chi phối”. (FB của Huy Đức)

Năm 2008, khi họp mặt với các tập đoàn con cưng, thủ tướng phê bình:

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cũng thẳng thắn chỉ ra một số yếu kém, hạn chế của Tập đoàn, Tổng công ty Nhà nước, đó là quy mô của các Tập đoàn, Tổng công ty Nhà nước còn nhỏ, thể hiện ở việc không có Tập đoàn nào được xếp vào danh sách 500 doanh nghiệp hàng đầu thế giới (Chính phủ, 22/2/2008).

Để nhanh chóng làm cho các tập đoàn này “được xếp vào danh sách 500 của thế giới”, thủ tướng đã chỉ đạo:

Các Tập đoàn, DNNN cần tập trung đầu tư quyết liệt vào sản xuất kinh doanh, đóng góp lớn hơn nữa vào tăng trưởng kinh tế đất nước, đồng thời góp phần giảm lạm phát… Chính phủ sẽ tạo điều kiện thuận lợi để các Tập đoàn, Tổng công ty Nhà nước triển khai các công trình, dự án trọng điểm của Nhà nước có hiệu quả cao, đúng tiến độ. (Chính phủ, 22/2/2008)

[Vinashin gây hại như thế nào?]

Năm 2011, thủ tướng lại “quyết liệt” giao chỉ tiêu cho các tập đoàn là phải tăng trưởng được 15% bất chấp lạm phát đang tăng vùn vụt.

Năm 2011, Thủ tướng giao nhiệm vụ cho toàn khối: Xây dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh, đầu tư để đạt mức tăng trưởng bình quân 15%. Trên tinh thần đó, Thủ tướng yêu cầu các Tập đoàn, Tổng công ty đi đầu trong việc xây dựng các kế hoạch và triển khai một cách sát sao, đồng thời quyết liệt, nỗ lực thực hiện các giải pháp đẩy mạnh đầu tư, sản xuất kinh doanh (Chính phủ, 15/2/2011)

Kết quả sau khi nhận được chỉ đạo là phải đầu tư “quyết liệt” để tăng trưởng nhanh, tình hình các DNNN ngày càng bết bát, lỗ lã, nợ nần tăng cao khủng khiếp. Tính tới cuối năm 2012 thì tổng nợ phải trả của các DNNN là hơn 1,33 triệu tỷ đồng hay hơn 60 tỷ USD.

Sang tới đầu năm 2013, lại tiếp tục có chỉ đạo:

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng yêu cầu, trong năm 2013, thực hiện quyết liệt việc tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước theo Đề án đã được phê duyệt, trọng tâm là tập đoàn kinh tế và tổng công ty;… (Chính phủ, 16/1/2013)

4.  Và “quyết liệt” trong một số lĩnh vực khác

Thủ tướng Dũng còn quyết liệt trong rất nhiều lĩnh vực khác nhau, từ chống tham nhũng, xóa đói giảm nghèo, giảm nhập siêu, giảm lãi suất, giảm tiêu chảy… cái gì thủ tướng cũng quyết liệt hết. Dưới đây là một vài ví dụ:

Quyết liệt chống tham nhũng:

Thủ tướng đã “quyết liệt” chống tham nhũng từ lúc mới nhậm chức:

Ngày 27/7, tại Hà Nội, BCĐ Trung ương về phòng, chống tham nhũng đã tiến hành phiên họp lần thứ 4. Tại phiên họp, Thủ tướng chỉ đạo : công tác phòng, chống tham nhũng phải được tiếp tục làm quyết liệt từ Trung ương đến địa phương(Tiền phong, 27/7/2007)

Nhưng tham nhũng mãi không giảm nên thủ tướng là Trưởng Ban chỉ đạo phòng chống tham nhũng TW càng quyết liệt hơn:

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nêu rõ yêu cầu đặt ra là phải tập trung chỉ đạo thực hiện đồng bộ, quyết liệt, hiệu quả các nội dung phòng, chống tham nhũng theo tinh thần Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng (Hà Nội mới, 25/4/2012)

Quyết liệt xóa đói giảm nghèo:

Thủ tướng đề nghị Bộ và ngành LĐ-TB&XH …tập trung làm quyết liệt hơn nữa công tác giảm nghèo, đặc biệt giảm nghèo ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc… (Người cao tuổi, 8/1/2013)

Quyết liệt giảm lãi suất:

Thủ tướng khẳng định, Chính phủ đang quyết liệt chỉ đạo các biện pháp điều hành hạ lãi suất, tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, trong đó tập trung vào xử lý nợ xấu và hàng tổn kho(Diễn đàn doanh nghiệp, 26/1/2013)

Quyết liệt ngăn chặn phá rừng:

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đề nghị Ban Chỉ đạo Tây Nguyên, các bộ, ngành và các tỉnh Tây Nguyênquyết liệt tập trung ngăn chặn nạn phá rừng (VOV, 17/1/2012)

Quyết liệt xử lý nợ xấu:

Thủ tướng yêu cầu… Ngân hàng Nhà nước quyết liệt hơn nữa trong tái cơ cấu hệ thống ngân hàng, xử lý nợ xấu thông qua quỹ trích lập dự phòng rủi ro, cơ cấu lại nợ… (Người đồng hành, 28/2/2013)

Quyết liệt tái cơ cấu ngân hàng [ngân hàng ở VN]

Tại hội nghị, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã yêu cầu NHNN chỉ đạo thực hiện quyết liệt, toàn diện việc tái cơ cấu hệ thống ngân hàng thương mại giai đoạn 2011-2015. (Pháp luật TP.HCM, 18/12/2011)

Quyết liệt đưa tiền về doanh nghiệp:  [600.000 doanh nghiệp VN phá sản]

Chính phủ yêu cầu Thống đốc Ngân hàng Nhà nước và các cơ quan khác chỉ đạo quyết liệt làm sao để dòng tiền ra được và tới các doanh nghiệp(VTC, 28/2/2013)

Quyết liệt giảm nhập siêu:

Thủ tướng cũng yêu cầu các bộ ngành quyết liệt trong việc đẩy mạnh xuất khẩu, giảm nhập siêu(Sài Gòn giải phóng, 16/3/2011)

Quyết liệt thực hiện bảo hiểm y tế:

Thủ tướng yêu cầu… ngành Y tế cần quyết liệt thực hiện BHYT toàn dân… (Bảo hiểm xã hội, 20/2/2013)

Quyết liệt chống tiêu chảy:

Thủ tướng yêu cầu các bộ, ngành và địa phương cần triển khai nghiêm các nội dung phòng, chống dịch tiêu chảy cấp nguy hiểm với tinh thần quyết liệt ở mức cao nhất;(Sức khỏe đời sống, 2/11/2007)

Quyết liệt giảm tai nạn giao thông:

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng yêu cầu Ủy ban an toàn giao thông quốc gia, các Bộ Giao thông vận tải, Công an và các cấp chính quyền tiếp tục đẩy mạnh hơn nữa, quyết liệt hơn nữa các biện pháp ngăn chặn, đẩy lùi tai nạn giao thông (Tuổi trẻ, 26/5/2011)

Quyết liệt giảm quá tải bệnh viện:

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng chỉ đạo thực hiện quyết liệt các giải pháp để giảm quá tải bệnh viện, “xóa” tình trạng người bệnh phải nằm ghép và đề án phải hoàn thành trước 30/6(Dân trí, 1/3/2012)

Quyết liệt trong công tác ngoại giao:

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nêu rõ, năm 2012, ngành Ngoại giao phải tiếp tục tập trung nắm chắc tình hình để tham mưu, kiến nghị, đề xuất cho Đảng, Nhà nước khai thác có hiệu quả tiềm năng, lợi thế, đồng thời ngành cần tận dụng tối đa các cơ hội, vượt qua khó khăn, thách thức, nỗ lực, quyết liệt hoàn thành thắng lợi các nhiệm vụ được giao. (Chính phủ, 14/12/2011)

5.  Kết luận

Trên đây chỉ là một số dẫn chứng tiêu biểu vì tác giả không muốn làm độc giả quá hoa mắt vì những chỉ dụ “quyết liệt” đã được thủ tướng ban hành. Tóm lại, có thể thấy rằng thủ tướng Dũng đã “quyết liệt” trong rất nhiều lĩnh vực nhưng bất hạnh thay cho thủ tướng và người dân Việt Nam là hầu như lĩnh vực nào mà được thủ tướng “quyết liệt” điều hành và chỉ đạo thì lĩnh vực đó chỉ có càng ngày càng tệ đi. Quyết liệt thúc đẩy tăng trưởng thì tăng trưởng ngày càng đi xuống. Quyết liệt kiềm chế lạm phát thì lạm phát ngày càng tăng lên đến mức cao thứ nhì thế giới trong năm 2011. Quyết liệt kiềm chế tham nhũng thì tham nhũng và đi kèm với nó nạn chạy chỗ, chạy chức, chạy quyền ngày càng lan rộng và ăn sâu vào nền kinh tế, vào thể chế, vào toàn bộ xã hội. Quyết liệt điều hành đám con cưng tập đoàn thì đám con cưng ngày càng ăn tàn phá hại, nợ đầm nợ đìa…

Có thể có người cho là từ “quyết liệt” với thủ tướng Dũng đã trở thành “sáo ngữ”, nói quen miệng nên đụng đâu nói đó. Tuy nhiên, vấn đề không đơn giản như vậy. Việc thủ tướng Dũng liên tục dùng từ này thể hiện rõ tư duy của ông về cách điều hành nền kinh tế nói riêng và điều hành nhà nước nói chung. Thủ tướng cho rằng có thể dùng ý muốn, ý chí chủ quan của mình để can thiệp vào sự vận hành khách quan của nền kinh tế và bắt nền kinh tế đi theo ý muốn chủ quan của mình. Điều này là hết sức nguy hiểm. Khi một quốc gia chấp nhận nền kinh tế thị trường tức là cũng phải chấp nhận rằng, về cơ bản thị trường thông minh hơn trí khôn chủ quan của con người. Kinh nghiệm phát triển hàng trăm năm qua cho thấy, dù có nhiều khiếm khuyết thì thị trường vẫn là cơ chế kinh tế tốt nhất để tạo ra của cải và sự phồn vinh cho xã hội. Một nhà nước khôn ngoan là nhà nước xây dựng một cơ chế thị trường minh bạch, dựa trên cơ chế cạnh tranh để cho các chủ thể trong nền kinh tế tự vận hành và nhà nước chỉ là người tham gia chỉnh sửa những khuyết tật của thị trường như hiện tượng ngoại ứng, độc quyền hay thiếu hụt hàng hóa công. Nếu cứ cố gắng dùng các công cụ hành chính can thiệp mạnh và hướng các nguồn lực khan hiếm của nền kinh tế đi theo ý muốn chủ quan của mình thì gần như không tránh khỏi thất bại cay đắng.

Thực tiễn nền kinh tế Việt Nam trong vài năm qua đã cho thấy điều đó rất rõ. Chính vì thủ tướng Dũng đã muốn các tập đoàn con cưng của mình nhanh chóng “sánh vai” với các tập đoàn lớn trên thế giới nên đã “quyết liệt” dồn quá nhiều nguồn lực khan hiếm cho những cái cối xay tiền như Vinashin, Vinalines, EVN, TKV[i]… Đáng lẽ phải chống lạm phát bằng cách minh bạch hóa chi phí của các tập đoàn nhà nước, tạo cơ chế để bắt buộc các doanh nghiệp cạnh tranh bình đẳng trên thị trường thì lại can thiệp thô bạo bằng các mệnh lệnh hành chính như chỉ thị không được tăng giá điện, giá than… làm thị trường ngày càng trở nên méo mó và cuối cùng khi không kìm được giá nữa thì phải tăng đột ngột ở biên độ cao làm cho nền kinh tế phải chịu các cú sốc không đáng có.

Việc liên tục dùng từ “quyết liệt” ở tần suất cao cũng cho thấy tính cách của thủ tướng Dũng là chỉ thích làm việc theo suy nghĩ chủ quan của mình, không muốn nghe những lời can gián hay nói trái của cấp dưới. Điều này thể hiện quá rõ qua việc thủ tướng giải thể Ban nghiên cứu của Thủ tướng ngay khi mới nhậm chức hay ký Quyết định 97/2009/QĐ-TTg thu hẹp đáng kể quyền phản biện của các tổ chức. Bản thân Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế TW là một viện nghiên cứu của chính phủ nhưng khi phê phán chính phủ nhiều quá cũng bị thủ tướng nhắc nhở:

Người đứng đầu Chính phủ đề xuất Viện nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương hoàn thiện hệ thống thể chế, “không nên phê phán Chính phủ nhiều nữa, cần tập trung vào làm”. (Vietnamnet, 8/12/2011)

Một quốc gia mà người lãnh đạo cao nhất không muốn nghe những lời nói trái của trí thức, chỉ thích nghe tâng bốc, nịnh bợ mình thành “thủ tướng xuất sắc nhất châu Á”, chỉ thích làm theo ý muốn chủ quan của mình thì làm sao quốc gia đó có thể phát triển trong một môi trường quốc tế cạnh tranh ở mức độ rất cao như hiện nay? Nguy hiểm hơn nữa là tư duy điều hành này của thủ tướng Dũng vẫn không có gì thay đổi dù thủ tướng đã phải chịu sức ép mà xin lỗi trước Quốc hội vào cuối năm 2012. Cứ nhìn những chỉ đạo trong thời gian gần đây của thủ tướng thì vẫn đầy những từ “quyết liệt”. Ngạn ngữ phương Tây có câu rất hay là: “You cannot teach an old dog new tricks” nghĩa là “Bạn không thể dạy trò mới cho một con chó già” rất đúng trong trường hợp này. Như vậy đã có thể nhìn thấy trước tương lai của Việt Nam trong những năm tới, nếu thủ tướng Dũng còn nắm quyền rồi.

Như đã nói ở trên, việc thủ tướng Dũng ở đâu, lĩnh vực nào cũng dùng từ “quyết liệt” cũng đã góp phần tạo nên một trào lưu ăn theo nói leo ở các quan chức thấp hơn. Bây giờ mở bất cứ văn bản nào của các bộ ngành, cơ quan hành chính mọi cấp, trong diễn đàn của hội đồng nhân dân, Quốc hội… đi đâu cũng thấy từ “quyết liệt”.

Một người có IQ ở mức bình thường cũng thừa hiểu rằng với mức lương chính thức ở mức chưa đủ sống như hiện nay, muốn các viên chức nhà nước làm việc ở mức “bình thường” cũng đã khó chứ đừng nói là bắt họ “quyết liệt”.

Từ “quyết liệt” may lắm chỉ phù hợp trong những tình huống khẩn cấp như chống bão lớn, cứu đói trên diện rộng… Dùng từ “quyết liệt” quá nhiều trong khi ai cũng biết là chả thể “quyết liệt” nổi chính là làm cho xã hội trở nên quen với thói dối trá, lãnh đạo thì thêm quen với việc hô hào suông những lời rỗng tuếch, thùng rỗng kêu to, mồm miệng đỡ chân tay.

Tóm lại, nếu thủ tướng Dũng và bộ máy dưới quyền vẫn tiếp tục giữ tư duy điều hành nền kinh tế theo kiểu “quyết liệt” như từ giữa năm 2006 tới nay thì thủ tướng càng Quyết, nền kinh tế sẽ càng Liệt hay nói đúng hơn là thủ tướng và bộ máy của mình đang Quyết (tâm) làm đất nước Liệt đi như thực tế đang diễn ra.

© Trần Ngân

Nguồn: Viet-studies


[i] Cùng với Phó thủ tướng lúc đó là ông Sinh Hùng đã ký văn bản ép các ngân hàng cho Vinashin vay 10.000 tỷ (Vneconomy, 25/9/2008) thì thủ tướng Dũng cũng chỉ đạo ngân hàng cho Tập đoàn điện lực EVN vay 10.000 tỷ để làm vốn lưu động (Tuổi trẻ, 6/9/2011)

——————

http://www.baomoi.com/Het-Vinashin-den-Vinalines/45/8470080.epi

Hết Vinashin đến Vinalines

SaigonTimes – 11 tháng trước

(TBKTSG) – Công luận từng bàng hoàng với những khoản đầu tư không thể gọi bằng từ ngữ nào khác hơn là phá hoại đồng vốn nhà nước của tập đoàn Công nghiệp tàu thủy Việt Nam (Vinashin) qua việc mua những nhà máy điện cũ nát từ nước ngoài, những con tàu cũ mới đưa vào khai thác thì đã phải bỏ ra hàng đống tiền để sửa chữa và cuối cùng nằm ụ, gây thiệt hại trực tiếp hàng trăm tỉ đồng (*) .

Thời báo Kinh tế Sài Gòn

Nay công luận một lần nữa lại bàng hoàng, khó hiểu trước thông tin mà Thanh tra Chính phủ mới công bố, theo đó Tổng công ty Hàng hải Việt Nam (Vinalines) đang có năm khoản nợ có nguy cơ không thu hồi được mà nguyên nhân chủ yếu cũng do mua những con tàu cũ và những khoản đầu tư chẳng khác nào ném tiền qua cửa sổ.

Vinalines đã bỏ tiền mua 73 tàu biển từ nước ngoài mà đa số đã qua sử dụng với tổng trị giá gần 23.000 tỉ đồng, trong đó có 17 tàu qua sử dụng trên 15-30 năm, chưa kể một số tàu quá tuổi quy định nên không được phép đăng ký tại Việt Nam, phải đăng ký và treo cờ nước ngoài. Chi phí bảo dưỡng, sửa chữa đội tàu cũ kỹ do đó tăng cao trong khi vốn đầu tư, kinh doanh phải đi vay khiến càng khai thác càng lỗ, có tàu chỉ mới khai thác vài ba năm đã lỗ hàng trăm tỉ đồng; 34/73 tàu mua về đưa vào khai thác trong giai đoạn 2005-2010 đều bị lỗ, thậm chí có tàu lỗ nặng phải bán.

Vinalines còn mua ụ nổi đã qua sử dụng 43 năm, vượt 28 năm so với quy định. Giá mua ụ nổi và chi phí sửa chữa hai lần là 489,6 tỉ đồng (khoảng 26,3 triệu đô la Mỹ), bằng khoảng 70% giá đóng ụ nổi mới. Bên cạnh đó còn là những khoản chi mờ ám như chi cho tổ chức lễ khởi công dự án xây dựng cảng trung chuyển vịnh Vân Phong đến 4,1 tỉ đồng, vượt quy định hơn 4 tỉ đồng; chi hơn 2,4 tỉ đồng cho một đơn vị tư vấn lập hồ sơ dự án nhà máy sửa chữa tàu biển trong một cuộc đấu thầu có dấu hiệu thông thầu…

Không ai hiểu nổi tại sao, với bao nhiêu ưu đãi về vốn, về mặt bằng dành cho tập đoàn, tổng công ty nhà nước, những người lãnh đạo, quản lý Vinashin và Vinalines vốn không phải là những người mới vào nghề lại thích mua đồ cũ để rồi kinh doanh lỗ lã, tiêu tan cả vốn chẳng khác nào những đứa con “phá gia chi tử” như vậy!

Ấy vậy mà, trong đề án công nghiệp hóa, hiện đại hóa ngành mà Bộ Giao thông Vận tải đưa ra mới đây, trong tổng số gần 224.000 tỉ đồng đầu tư cho nhiều mục tiêu như hiện đại hóa trụ sở làm việc, cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin… bộ này vẫn đề ra mục tiêu đầu tư 100.000 tỉ đồng cho đội tàu của Vinalines đến năm 2030. Liệu với “thành tích” làm ăn như vậy, Vinalines có thể “công nghiệp hóa, hiện đại hóa” hay hàng chục, hàng trăm ngàn tỉ đồng rót cho tổng công ty này (và những tập đoàn, tổng công ty tương tự) rồi cũng sẽ như rót vào cái thùng không đáy?

Nói rộng hơn, với kiểu đầu tư, làm ăn như Vinalines, Vinashin, nếu không có cơ chế hiệu quả để kiểm soát đồng vốn nhà nước và nếu không đoạn tuyệt với tư duy dùng tập đoàn, tổng công ty nhà nước để tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa, mọi nỗ lực tái cấu trúc nền kinh tế sẽ chẳng đi tới đâu, đồng vốn chắt mót của cả nền kinh tế sẽ tiếp tục tiêu tán và ước mơ công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế sẽ vẫn là ước mơ xa vời, nếu không nói là vô vọng.

__________________________________________________

(*) Trong vụ án Vinashin, các bị cáo chỉ bị cáo buộc về 5 vụ việc gây thiệt hại trực tiếp trên 900 tỉ đồng gồm mua tàu Hoa Sen, dự án Nhà máy Nhiệt điện Sông Hồng, dự án Nhà máy Nhiệt điện Cái Lân, dự án đầu tư tàu Bình Định Star và việc xẻ thịt bán vỏ tàu Bạch Đằng Giang, nhưng không xét đến khoản nợ trên 80.000 tỉ đồng mà Vinashin gây ra.

——————————————————–

Bài liên quan:

►Lạm Phát của Việt Nam từ 1980-2010 – Thống Kê của IMF

Posted in Kinh Te, Tài Chánh-Thuế | 1 Comment »