Trần Hoàng Blog

Archive for the ‘Sách- Báo- Hồi Ký’ Category

►Giai Cấp Mới, tư bản đỏ… Làm thế nào để chiến thắng nhà cầm quyền cộng sản (Milovan Djilas)

Posted by hoangtran204 trên 29/03/2017

Hình ảnh về quyền lực và sự giàu có của gia đình Nguyễn Tấn Dũng, của các bí thư tỉnh ủy Đồng Nai, Bắc Ninh, Long An, Huỳnh Đức Thơ (chủ tịch UBND Đà Nẵng), sự giàu có của các tư bản đỏ Phạm Nhật Vượng, Trương Gia Bình (con rễ Võ Nguyên Giáp), các lãnh tụ cs Đỗ Mười, Võ Văn Kiệt… hiện ra mồn một trong Giai Cấp Mới.

Hình ảnh và sự chuyên quyền của Lê Duẩn, Lê Đức Thọ và sự giàu có của con cái LD cũng hiện ra đậm nét trong Giai Cấp Mới.

Hỏi: Giai Cấp Mới gồm những ai?

Đáp: Đó là một nhóm người trong đảng, có quyền quản lý và phân phối toàn bộ khối tài sản đã được quốc hữu hóa và tập thể hóa. Chính vai trò độc quyền quản lý và phân phối thu nhập quốc dân cũng như mọi tài sản khác của quốc gia đã biến tầng lớp này trở thành tầng lớp đặc quyền đặc lợi.

Đọc tiếp »

Posted in Sách- Báo- Hồi Ký, Tài Liệu, Đảng CSVN, Độc quyền lãnh đạo | Leave a Comment »

►Công bố Giải Thưởng Văn Việt lần thứ hai (3-3-2017)

Posted by hoangtran204 trên 11/03/2017

Giải thưởng Văn Việt lần thứ hai

Có tất cả bảy giải được trao cho sáu tác giả. Ba tác giả trong nước gồm nhà thơ Vũ Thành Sơn, nhà văn Nguyễn Viện (Sàigòn) và nhà văn quá cố Nguyễn Khắc Phục (Hànội).

Đọc tiếp »

Posted in Báo chí- Quyền tự do ngôn luận, Bắt bớ-Tù Đày-Đánh đập-Đàn Áp, Quyền tự do lập Hội, Sách- Báo- Hồi Ký | Leave a Comment »

►Lê Vũ Anh, con gái ông Lê Duẩn, bị đầu độc?

Posted by hoangtran204 trên 17/08/2016

Tôi mơ thấy một luồng sáng: người ta đã đầu độc Vũ Anh. Tôi chia sẻ phỏng đoán với các bác sĩ. Họ không loại trừ khả năng ấy, nhưng cho rằng các vết xanh-đỏ trên da có thể xuất hiện trong trường hợp chảy máu nghiêm trọng. Sau đó nhiều năm, khi nằm điều trị tim tại một bệnh viện tim mạch tôi quan sát thấy người ta đã tiêm heparin cho các bệnh nhân để làm loãng máu, và trên người họ cũng xuất hiện những vết đúng như thế. Theo quan điểm của tôi đã xuất hiện thêm một phương án khả tín: việc chảy máu là do tác động cố ý, bằng cách tiêm thứ thuốc đó. Không phải tự nhiên Vũ Anh đã linh cảm thấy tai họa. Và máu đã chảy cạn … Trong đám tang bà mẹ đau khổ đến mất trí. Bà ấy nói rằng cha của Vũ Anh đã giết con và muốn giúp đỡ tôi – đưa bọn trẻ về Việt Nam”.

_____

Hồi ký của Viện sỹ Viện Hàn lâm Khoa học Nga, Viktor Maslov, con rể cố TBT Lê Duẩn.

Dịch từ nguyên bản tiếng Nga

Đông tác Giao lưu

Tác giả: Viktor Maslov

Dịch giả: Phan Độc Lập

17-5-2016

I.

H1

Lê Vũ Anh, con gái ông Lê Duẩn. Ảnh: RIA Novosti/ tư liệu gia đình của V. Maslov

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Có lẻ  mọi chuyện đã không trở nên quá phức tạp, nếu như tôi biết được ngay từ đầu Lê Vũ Anh là con gái của ai. Khi sự thật được làm sáng tỏ thì đã muộn quá rồi. Tôi đã yêu, yêu đến phát điên đến nỗi không còn biết mình là ai nữa và không thể từ chối được mối tình đó nữa rồi.

Chúng tôi gặp nhau ở khoa Vật lý của Trường Đại học Tổng hợp Quốc gia Moskva mang tên Lomonosov (MGU), nơi Lê Vũ Anh đang theo học. Tại thời điểm làm quen với nhau tôi đã là giáo sư tiến sỹ toán-lý và là tác giả của một lý thuyết, mà ở nước ngoài người ta gọi là lý thuyết chỉ số nhóm Maslov (Maslov-type index theory). Lý thuyết này được sử dụng rộng rãi trong toán học trừu tượng, cũng như trong cơ học lượng tử, hóa học lượng tử và quang học. Chỗ làm việc chính của tôi là ở Trường đại học chế tạo máy điện tử Moskva (МИЭМ), nhưng khoa Vật lý của MGU lại từng là ngôi nhà thân yêu, nơi tôi đã từng học tập và giảng dạy ở đó.

Bao nhiêu năm đã trôi qua, cả một cuộc đời. Rất nhiểu sự kiện và ấn tượng đã mờ dần trong trí nhớ, nhưng hình ảnh cố công chúa xinh đẹp, chói sáng vào một ngày đang đứng nơi cuối hành lang cho đến tận bây giờ vẫn luôn hiện về trước mắt tôi. Cô gái không quen biết đang di chuyển bằng các động tác với vẻ duyên dáng và kiều diễm không thể tả, tôi bước theo nàng như một kẻ si mê. Đến gần cửa phòng thí nghiệm nàng dừng lại và quay mặt lại. Nàng thoáng nhìn tôi một giây từ đôi mắt đen huyền, mỉm cười và ẩn mình vào trong phòng thí nghiệm. Cô gái ngoại quốc, tôi chợt nhận ra và nghĩ rằng, nàng đến từ Ấn Độ.

Thành thật mà nói, tôi thường thích phụ nữ phương đông. Một trong những nhà vật lý học bạn tôi nói đùa” Maslov của chúng ta là nhà đông phương học lớn”. Trong MGU có rất nhiều sinh viên từ các nước châu Á theo học, trong đó có sinh viên từ Việt Nam, đất nước bị tàn phá bởi chiến tranh. Tất cả họ đều luôn nhận được thiện cảm và sự cảm thông từ mọi người. Ở khoa Vật lý cũng có nhiều sinh viên Việt Nam, tôi nhanh chóng kết bạn với họ, đặc biệt là với hai cô gái Phúc và Tình. Phúc là con gái của nhà quân sự-chính trị nổi tiếng Võ Nguyên Giáp, lúc đó là Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, còn Tình là con gái của Chủ tịch thành phố Hà Nội. Cả hai cô gái đều giấu giếm bố mình là ai, cũng như các sinh viên Việt Nam khác xuất thân từ giới quý tộc Việt Nam, họ đề phòng lộ diện để tránh các mưu đồ và hành động khiêu khích chính trị từ chính quyền Xô viết. Thực tế là như thế này, quan hệ giữa hai nước chúng ta, bất chấp việc đảm bảo tình hữu nghị mãi mãi bền vững, nhưng vẫn có thể xảy ra bất đồng, xuất phát từ phía này hoặc phía kia. Liên Xô vốn quan tâm đến việc mở rộng ảnh hưởng của mình ở châu Á, trong hoàn cảnh đang gia tăng bất đồng với Trung Quốc, buộc phải hào phóng viện trợ giúp đỡ “người em” Việt Nam. Việt Nam hài lòng làm bạn với người anh lớn nhưng không sẵn sàng hy sinh những lợi ích chính đáng của mình mà trở thành nước lệ thuộc. Các nhà lãnh đạo tận dụng cơ hội để con cái của họ có được sự giáo dục có chất lượng ở Liên Xô nhưng họ sợ con cái họ có thể bị bắt cóc để tống tiền hoặc tạo áp lực chính trị lên bố, mẹ chúng nên yêu cầu giữ bí mật. Có lẽ, đây là những nguyên nhân chính, nhưng theo cảm nhận của tôi thì các nhà lãnh đạo Việt Nam đã quá lo xa một cách vô ích. Thật ra thì KGB, với khả năng của mình, họ thừa biết được hết con cái của những lãnh đạo nào.

Tôi thích Phúc, tôi giúp đỡ cô ấy học tốt môn Toán, tôi không chỉ một lần mời cô ấy đến nhà chơi, lúc thì một mình, lúc thì với các bạn, nhưng giữa chúng tôi không có chuyện gì cả, dù chỉ là một chút lãng mạn. Cô gái Việt Nam dễ thương tránh tôi chỗ đông người như tránh lửa vậy.

Có một lần tôi dẫn Phúc đến gặp và làm quen với nhân viên đánh máy để giúp cô nhân bản báo cáo khoa học, sau đó cả hai cùng nhau ra về. Đi cùng tôi trên đường phố Moskva nhộn nhịp, cô thể hiện mình như một nữ du kích trong hậu phương của địch: tỏ vẻ sợ sệt và suốt thời gian luôn cảnh giác quan sát tứ phía. Đặc biệt giao thông công cộng làm cô mất bình tĩnh. Chẳng hạn tại bến đỗ, xe buýt hoặc xe buýt điện vừa đến, cô đã nhanh chóng ẩn mình vào trong xe ngay.

- Chuyện gì xảy ra vậy- tôi hỏi –em sợ gì chứ?
- Anh nhìn xem, đằng kia hình như có người Việt Nam.
- Có gì đáng sợ ở đây?
- Nếu họ nhìn thấy em đi với người Nga, em sẽ gặp rắc rối lớn.

Tôi bèn bắt đầu đặt câu hỏi với Phúc. Thì ra là người Việt Nam bị cấm giao tiếp với người châu Âu, hay nói chung là với “ Tây mũi lõ” như trong dân gian vẫn gọi. Từ thời xa xưa, mối quan hệ với họ sẽ bị lên án và được xem là sự phản bội. Một cô gái đi trên phố cùng với một ông “Tây mũi lõ” sẽ bị kỳ thị hoặc thậm chí bị ném đá. Những người cộng sản, sau khi dành được chính quyền và thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, thật không may, vẫn giữ lại truyền thống phong kiến đó. Vi phạm điều cấm giao tiếp với người nước ngoài có thể bị lên án, đấu tố trong các cuộc họp đảng, đoàn thể hoặc có thể bị đưa vào trại cải tạo. Ở nước ngoài, các công dân Việt Nam cũng phải tuân thủ các chuẩn mực đã được chấp nhận trong nước. Thậm chí múa bale cổ điển cũng bị xem là hình thức khiêu dâm. Sau này có một lần Vũ Anh nói với tôi, các nhà ngoại giao Việt Nam khi xem kịch múa bale trong nhà hát lớn ở Moskva đã phải nhắm mắt vì sợ bị “khiêu dâm” bởi các vũ công mặc đồ bó sát người như không mặc gì.

Các bạn Việt Nam đã giúp tôi gặp lại và làm quen với cô gái xinh đẹp nhất đã làm rung động trái tim tôi, nàng là đồng hương của họ. Lê Vũ Anh quan tâm đến toán học và muốn được nghiên cứu sâu thêm về môn học này. Tất nhiên, tôi đồng ý giúp đỡ nàng. Nàng đã cuốn hút tôi ngay lập tức từ cái nhìn đầu tiên, nàng thực sự trẻ trung và hấp dẫn, không giống như những người phụ nữ Việt Nam điển hình khác: nàng đủ cao, da trắng, với đôi mắt luôn nhìn thẳng. Nàng giữ mình như một phụ nữ hoàng gia – đơn giản, nhưng với những phẩm giá không bình thường. Ở Việt Nam, tôi nghĩ nàng phải được xem như là một trong những người con gái đầu tiên đẹp nhất. Ở trường tôi, những người trẻ tuổi luôn để ý quan tâm đến nàng.

Sau này tôi được biết, dòng máu đang chảy trong cơ thể nàng không chỉ có dòng máu Việt Nam, mà một phần trong đó có dòng máu Trung Hoa. Mẹ nàng, bà Bảy Vân mang trong người một phần tư dòng máu Trung Hoa. Ở Việt Nam, không ai biết về điều này, gia đình đã giấu kín “mối quan hệ huyết thống” với người Trung Hoa của mẹ nàng. Sự thật là nàng khi còn nhỏ đã sống nhiều năm ở Trung quốc. Bạn thân của nàng là con gái của Đặng Tiểu Bình, người đã từng là bạn của bố nàng và là người số 2 dưới bầu trời Trung Quốc sau Mao. Với người cầm lái vĩ đại, nàng cũng quá quen thuộc. Nàng đã cho tôi xem một bức ảnh nàng đang ngồi trên đùi của Mao Trạch Đông.

Thời tuổi trẻ của mình, mẹ nàng, bà Bảy Vân cũng khá đẹp. Lê Duẩn vì bà mà ly hôn với người vợ đầu tiên, người vợ mà bố, mẹ ông đã cưới hỏi cho ông khi còn nhỏ. Người vợ thứ hai của ông xuất thân từ một gia đình có học, nhưng, như tôi đã đề cập, ông không thể tự hào về một nguồn gốc “tinh khiết”. Vũ Anh là con gái đầu tiên của họ. Ngoài nàng ra, Lê Duẩn còn có hai con gái từ cuộc hôn nhân đầu tiên của mình và hai con trai cùng với bà Bảy Vân. Hai người con của ông, con trai tên Thành và con gái đầu tên Muội, tại thời điểm đó, sống và học tập ở Moskva. Muội lớn tuổi hơn nàng nhiều và chịu trách nhiệm chăm sóc em gái của mình. Chị tốt nghiệp trường đại học ở Liên Xô và là một nhà sinh vật học. Chị đã sống một số năm tại Moskva cùng với chồng và con gái. Nhưng tất cả điều này mãi sau tôi mới được biết …

Vì nàng, tôi đã nhận tiến hành các buổi dạy thêm không bắt buộc về toán học tại khoa Vật lý. Ban đầu nhiều sinh viên đến nghe tôi giảng. Được một thời gian, sinh viên bỏ học dần dần, cuối cùng chỉ còn mỗi một mình nàng. Nàng đã rất cố gằng, nàng có năng lực và chăm chỉ học tập. Cuối cùng chúng tôi không cưỡng lại được tình cảm của mình. Chúng tôi bắt đầu hò hẹn, lúc thì ở căn hộ riêng, lúc thì ở nhà nghỉ ngoại ô của tôi. Chúng tôi nghiên cứu, cùng nghe nhạc và nói chuyện với nhau về các chủ đề khác nhau. Nàng giữ cho mình được tự do hơn hẳn các bạn gái của mình và không còn sợ bất cứ điều gì nữa.

II.

Mẹ tôi nhanh chóng thích nàng. Nhìn chung, bà tôn trọng mọi đam mê của con trai. Đã từ lâu bà mong ước cưới được vợ cho người con trai duy nhất của mình.

Cuộc sống riêng tư của tôi đầy bão tố và thậm chí của cả những bạn trẻ liên quan đến tôi. Một trong số đó là Sergay Mazarop, đã xảy ra thảm kịch, mà tôi được chứng kiến. Về cái chết của cậu ấy, theo tôi, báo chí đã viết nhiều. Sergay di cư cùng với bố mẹ mình sang phương Tây từ đầu những năm 1980. Định cư ở Pari, học đại học, mở công ty và hoạt động trong lĩnh vực tin học. Ban đầu việc kinh doanh của Sergay không được tốt lắm, nhưng sau khi ở Liên Xô tiến hành cải cách đổi mới (perestroika), do Sergay hiểu rõ được những vấn đề về kinh tế ở đó nên Sergay đã trở thành một giám đốc tài giỏi. Sau một số phi vụ lớn thành công, Sergay trở thành triệu phú. Sergay sở hữu các bất động sản có giá trị, thậm chí có hẳn một tiệm thời trang riêng. Sergay sống với một phong cách phóng khoáng rộng rãi riêng biệt với người vợ – con gái nhà văn Anatoly Gladilin, người đã sinh cho Sergay hai đứa con. Sergay đối xử rất dịu dàng với các con tôi. Một thời gian ngắn trước khi chết, Sergei đã trở thành nhà sản xuất của bộ phim “The Limit” (giới hạn) của Denis Evstigneev. Ngày 22 tháng 11 năm 1994, Sergei bị bắn chết từ một khẩu súng máy qua cánh cửa ra vào bọc thép tại căn hộ của mình ở trung tâm thành phố Paris. Cảnh sát Pháp coi đó là vấn đề có bàn tay của mafia Nga. Theo như tôi biết, cho đến nay tội phạm chưa tìm ra được và vẫn còn nhởn nhơ ngoài pháp luật …

Trước khi gặp Vũ Anh, tôi không có ý định tiến tới một mối quan hệ nghiêm túc nào cả, dường như đang cố gắng chờ đợi một điều gì đó. Và rồi tôi đã chờ đợi được. Những người phụ nữ tôi đã từng gặp và quen biết không thể nào làm cho tôi có được một cảm xúc mãnh liệt, lạ lùng như khi tôi gặp và tiếp xúc với nàng. Nàng ở độ tuổi đáng ra phải là con gái tôi – nàng kém tôi chẵn đúng 20 tuổi – nhưng giữa chúng tôi thật sự có cảm giác như không hề tồn tại khoảng cách chênh lệch về tuổi tác. Nàng giới thiệu rất ít về tiểu sử của mình: nàng đến từ miền Nam Việt Nam (Nàng thuộc danh sách lưu học sinh bí mật không thuộc sự quản lý của đại sứ quán Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, lúc này Việt Nam chưa thống nhất thành một quốc gia riêng). Nàng đã sống trong vùng nông thôn có các hoạt động du kích. 17 tuổi nàng gia nhập Đảng Cộng sản. Tôi sau này có nói đùa “Vợ của tôi là đảng viên cộng sản từ năm 17 tuổi đấy”. Nói thật, điều này làm tôi rất ngạc nhiên. Theo tôi biết, ở Việt Nam vào Đảng ở độ tuổi quá trẻ như vậy rất hiếm, chỉ dành cho những thanh niên có những cống hiến đặc biệt mà thôi.

Nhưng không chừng, nàng đã giúp đỡ du kích và lập được chiến công hiển hách nào đó. Khi tôi hỏi về vấn đề này, nàng im lặng. Cũng tương tự như vậy khi tôi hỏi về các thành viên gia đình của nàng. Chỉ có một lần khi đã sống cùng nhau, nàng cởi mở một chút khi thổ lộ với tôi: “Ông nội em làm thợ mộc”. Nàng nói tiếng Nga tồi tệ khá buồn cười. Khi tôi chê, nàng cười lớn “Ở Liên Xô, em càng nói tiếng Nga tồi bao nhiêu thì em càng được đối xử tốt bấy nhiêu”. Khó khăn lớn nhất ở nàng là khi phải nói họ và tên của người Nga. Tôi nhớ, có lần y tá chăm sóc sức khỏe hỏi nàng về họ, tên và tên lót của con gái, nàng thản nhiên một cách tuyệt đối, nghiêm túc trả lời: “Tôi còn chưa học thuộc được tên cháu”. Nhưng tôi một lần nữa dự đoán trước được điều này…

Khi nàng ở lại một mình với tôi, nàng luôn khiêm tốn, giữ khoảng cách và giữ mình rất đúng mực, nhưng tôi có cảm giác nàng đang phải đấu tranh dữ lắm với những cảm xúc của mình. Có một lần trong buổi hẹn hò định kỳ ở nhà nghỉ ngoại ô của tôi, suýt chút nữa thì nàng đã không thể làm chủ được mình. Tôi không thể biết được, kết quả sau đó sẽ ra sao khi chúng tôi quấn chặt lấy nhau với những nụ hôn sâu đắm nồng nàn nếu như không có tiếng chuông gọi cửa bất ngờ vang lên của người hàng xóm. Tôi ra và nói chuyện ngoài cổng với người hàng xóm chỉ khoảng 5 phút không hơn, lúc quay lại thì phòng trống không. Nàng đã vọt ra ngoài qua cửa sổ, thức tỉnh từ sự quyến rũ của tình yêu và bỏ chạy về nhà.

Tôi hiểu, nàng đã phải trải qua thử thách quá lớn như thế nào khi tìm và đạt bằng được tình yêu của mình với một người đàn ông châu Âu. Nhưng tôi không thể nhận thức được phạm vi và mức độ các vấn đề đặt ra trước mặt nàng, trong đó có các tiêu chuẩn đạo đức truyền thống kéo dài hàng thế kỷ, kỷ luật nội bộ trong Đảng và còn liên quan đến các quan hệ quốc tế khó hiểu. Lúc bấy giờ, tôi thậm chí còn không thể ngờ rằng mình lại đang yêu con gái của Tổng bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Lê Duẩn. Xác định theo họ và tên của nàng là điều không thể, họ Lê của người Việt quá nhiều. Sau này tôi mới phát hiện ra khi sự việc của chúng tôi vỡ lở, ở khoa Vật lý, ngoài một số sinh viên đồng hương thân thiết của nàng, biết nàng là con của lãnh tụ Việt Nam có một người duy nhất là Trưởng khoa công tác sinh viên nước ngoài.

Tình yêu của chúng tôi có thể làm tổn thương đến ba của nàng, trở thành con át chủ bài của các đối thủ trong cuộc đấu đá quyền lực. Phía sau lưng ông là Trường Chinh, đối thủ chính trị cạnh tranh đã từng là Tổng bí thư trước ông. Lê Duẩn định hướng phát triển kinh tế của đất nước theo mô hình Liên Xô, còn Trường Chinh muốn theo mô hình của Trung Quốc. Nàng tính toán rằng, Việt Nam sẽ sụp đổ nếu đối thủ của ba nàng giành được quyền lực. Và Liên Xô cũng đặc biệt không mong muốn điều đó xảy ra. Tuy nhiên thực tế, sau cái chết của ba nàng, Trường Chinh lên làm Tổng bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam, những điều tồi tệ nàng nghĩ tới đã không xảy ra.

Cô gái khốn khổ đã không thể tự nghĩ ra, mình cần phải làm gì. Để cố quên tôi, nàng bắt đầu hẹn hò với một chàng trai đồng hương học ở khoa cơ học (tôi sẽ gọi tên cậu ấy là Văn), nàng không hiểu rằng điều đó không những không ngăn cản được tình cảm mà chỉ làm tăng thêm những cảm xúc trong lòng nàng đối với tôi.

Cuối cùng thì điều gì đến cũng phải đến, trong một lần gặp gỡ, chúng tôi đã gần gũi nhau. Ngay lập tức, tôi đề nghị nàng cưới tôi làm chồng:

- Điều này là không thể được – Nàng buồn rầu trả trả lời – Giữa hai nước chúng ta đã có thỏa thuận ngầm không chính thức là cấm công dân Xô Viết và Việt Nam kết hôn với nhau.
- Anh nghĩ rằng, chúng ta sẽ vượt qua được sự ngăn cấm này.
- Không, không thể được.
- Tại sao?
- Tại vì em không yêu anh!

Nhưng qua ánh mắt của nàng, tôi hiểu nàng đang nói dối, nàng nói vậy nhưng không phải là vậy. Tôi quyết định không vội vã ép nàng đẩy nhanh sự việc, cho nàng thời gian để nàng suy nghĩ, để nàng tự giải quyết những cảm xúc, tình cảm của mình. Và rồi nàng biến mất. Trước đây điều này cũng đã xảy ra khi nàng tự cho phép mình làm một cái gì đó “thêm” vượt quá giới hạn như nàng thường nghĩ khi ở bên tôi và nàng cảm thấy ăn năn về hành động này. Sau đó tất cả mọi thứ trở lại bình thường. Nhưng lần này khác hẳn, tôi không thể tìm thấy nàng. Kỳ nghỉ hè bắt đầu. Các sinh viên phân tán khắp nơi, nên tôi không biết có thể hỏi ai về nàng. Tôi thật khó khăn khi nóng lòng chờ đợi năm học mới, nhưng nàng đã không xuất hiện ở MGU, ngay cả sau ngày 1 tháng Chín.

Tôi không thể chịu đựng được nữa và quyết định gọi điện thoại tới bà Trưởng khoa quản lý sinh viên nước ngoài:

- Bà có thể cho tôi biết sinh viên Lê Vũ Anh hiện đang ở đâu không ạ? Cô ấy học ở Khoa chúng tôi và cô ấy đã đạt được nhiều kết quả tốt.

- Vũ Anh đã lấy chồng là đồng hương, cậu ấy cũng là sinh viên của trường ta, cô ấy đã về nước. Tên cậu sinh viên ấy là Văn. Họ sẽ trở lại vào cuối tháng này cùng với ba của cô ấy. Ông ấy sẽ gặp Breznhep – Bà trưởng khoa khẽ nói trả lời.

Tôi gần như ngã quy khi nghe điều này. Gặp gỡ với Breznhep cuối tháng này ư, chắc chắn phải là Lê Duẩn. Thời khắc đột nhiên trở nên phức tạp, nhưng dễ dàng để lý giải rõ ràng những điểm kỳ quặc trong các câu chuyện và hành vi của người tôi yêu khi chúng tôi ở bên nhau. Vũ Anh của tôi – con gái của lãnh đạo cao nhất của những người cộng sản Việt Nam! Nhưng làm thế nào nàng có thể phản bội lại tình yêu của chúng tôi cơ chứ.

Sau này Vũ Anh đã giải thích tất cả mọi thứ với tôi. Khi chúng tôi trở nên thân thiết và gần gũi với nhau, tôi đã giang tay và nguyện hiến trái tim của mình cầu hôn nàng, điều này làm cho nàng phải trải qua những giây phút căng thẳng lớn, nàng cảm thấy hoang mang. Nàng thú nhận với người bạn trai là Văn. Nàng nói rằng nàng chỉ muốn quan hệ với tôi trên tinh thần bạn bè: nhưng rồi, vâng – chuyện đó đã xảy ra ngược với ý chí của mình và nàng cảm thấy hối tiếc về điều này. Văn yêu nàng, bỏ qua chuyện nàng đã gần gũi với tôi và đề nghị kết hôn ngay lập tức. Dẫu sao thì nàng đã từng có hẹn hò gần đây với Văn khi nàng muốn quên tôi nên nàng đồng ý, nàng nói rằng nàng sẽ cố gắng để yêu Văn nhiều hơn. (Nàng nói như thế này: “Em sẽ cố gắng để yêu anh nhiều hơn.”)

III.

Cuộc hôn nhân này là một đòn giáng mạnh vào Lê Duẩn, có khả năng, ông đã nghĩ đến việc có được một chàng rể vừa có lợi cho Đảng nhưng lại phù hợp hơn cho con gái yêu quý của mình. Vũ Anh đã thu hút được sự quan tâm, chú ý của một số “hoàng tử” từ các nước láng giềng. Văn là một chàng trai thông minh, một nhà toán học tài năng, nhưng không đáp ứng yêu cầu môn đăng hộ đối với nàng và gia đình. Về phía nàng, nàng muốn quên hẳn tôi nên muốn ở lại Việt Nam và cố gắng yêu Văn để có thể tiếp tục sống tốt cùng với Văn. Lê Duẩn đã tha thứ cho con gái về hôn nhân không tương xứng, nhưng phản đối mạnh mẽ mong muốn của nàng ở lại Việt Nam. Nàng cần phải học tiếp để có được bằng tốt nghiệp của trường Đại học Tổng hợp Moskva. Kết thúc năm học vừa rồi ở Khoa Vật lý, nàng chỉ cần ở lại thêm một năm là tốt nghiệp. Trong khi đó, Văn cũng muốn đi học sau đại học ở Moskva ngay tại MGU. Nàng đã buộc phải tuân theo lời ba mình, trong lòng hy vọng cuộc hôn nhân của mình sẽ có thể thay đổi tất cả mọi thứ và giúp cho nàng không thể tiếp tục mối tình lãng mạn của mình với tôi.

Sau một số ngày khi nàng quay trở lại Moskva, tôi đã thuyết phục được nàng đến nhà nghỉ ngoại ô của tôi cùng với Phúc. Nàng không thể từ chối, nhưng vẫn giữ thái độ ngại ngùng và cư xử kiềm chế miễn cưỡng. Tôi đã cố gắng để xoa dịu tình hình. Tôi bông đùa bằng các câu chuyện tiếu lâm, nói cười thật thoải mái, và sau đó mời các cô gái dạo hồ trên một chiếc thuyền, mặc dù thời tiết không phải là thật tốt – lúc này đang là cuối thu. Khi chúng tôi đang tiến gần đến bờ, Phúc không chèo thuyền thành công để quay trở lại và rơi tõm xuống nước. Tôi vội nhảy xuống hồ kéo cô ấy lên và bế chạy đến ngôi nhà gần nhất để thay quần áo ấm. Chủ nhà đưa cho chúng tôi một cặp áo khoác, chúng tôi thay quần áo đã ướt và khoác áo khô vào người Phúc. Tôi và nàng đưa Phúc về nhà nghỉ của tôi, xức cồn và xoa bóp bằng rượu cho ấm người. Được một lát thì Phúc cảm thấy buồn ngủ và cô ấy vào giường nằm nghỉ.

Lúc này trong phòng khách chỉ còn lại tôi và nàng tâm sự với nhau. Nàng thú nhận rằng trong mấy tháng qua, nàng đã sai lầm khi nghĩ rằng cứ lấy chồng thì nàng có thể quên được tôi. Nhưng đời thật trớ trêu, trái tim nàng đã không hề muốn tuân thủ lý trí của nàng. Hàng đêm nằm bên chồng mà nàng luôn nghĩ về tôi. Nàng thổn thức, vừa muốn ở lại Việt Nam để lẩn tránh tôi, lại muốn bay sang ngay Moskva để được gặp tôi, được nằm gọn trong vòng tay vững chắc và thưởng thức nụ hôn cháy bỏng của tôi. Trong đầu nàng luôn tái hiện lại hình ảnh và những cảm giác lần đầu tiên gần gũi với tôi, đã trao trinh tiết quý giá của người con gái cho người mà nàng yêu quý nhất. Nàng bảo với tôi, con gái Việt Nam coi trọng điều này lắm, bởi họ quan niệm trong truyền thống từ cả ngàn năm là nó rất thiêng liêng trong tình yêu, nó thể hiện lòng chung thủy. Nàng cảm thấy có lỗi với Văn, dù thật ra nàng đã không lừa dối anh ấy, nàng đã tâm sự, thổ lộ hết với Văn và Văn đã chấp nhận vì hiểu được hoàn cảnh éo le từ mối tình lãng mạn không có hồi kết của nàng và tôi. Đặt chân xuống sân bay ở Moskva, những kỷ niệm với tôi lại ùa đến khiến nàng không thể cưỡng lại được tình cảm của mình và ngọn lửa tình yêu trong tim nàng với tôi lại được dịp bùng lên dữ dội. Bây giờ gặp lại tôi, nàng thừa nhận rằng nàng muốn được chung sống mãi mãi với tôi, làm một người vợ hiền chăm sóc cho tôi, nhưng nàng lại không dám tin vào một khả năng có thể dẫn đến hiện thực như vậy, nàng nói:

- Vài năm trước, chính quyền không cho phép con gái của một bộ trưởng nước em kết hôn với con trai của thủ tướng một nước châu Âu. Đôi trai gái yêu nhau này đã chấm dứt cuộc sống và mối tình lãng mạn của mình bằng cách cùng nhau tự tử. Trường hợp như vậy ở Việt Nam nhiều lắm khi các đôi trai gái vì quá yêu nhau nhưng bị ngăn cản bởi gia đình mà tìm đến cái chết. Anh không thể tưởng tượng được đâu, rằng đã có bao nhiêu người chết vì truyền thống này!

- Thôi mà em, rồi tất cả sẽ tốt đẹp với chúng ta! Em hãy ly dị chồng và chúng ta sẽ cố gắng đấu tranh để được kết hôn! Anh có niềm tin vững chắc vào điều đó.

Tôi an ủi xoa dịu nàng, rồi nhẹ nhàng ôm nàng vào người thật chặt, đặt lên đôi môi hé mở của nàng một nụ hôn ngọt ngào, say đắm. Nàng nhắm mắt, người nàng mềm nhũn và run nhẹ. Bỗng nàng chợt bất ngờ xô tôi ra, thảng thốt:

- Ôi, anh và em đã làm gì thế này, em là gái có chồng rồi mà. Thôi anh, nhỡ Phúc tỉnh dậy nhìn thấy thì không hay.

Lê Duẩn và con gái Lê Vũ Anh. Ảnh: tư liệu gia đình.

Lê Duẩn và con gái Lê Vũ Anh. Ảnh: tư liệu gia đình của V. Maslov

Thời gian tiếp sau, do không kiềm chế được, tôi và nàng vẫn tìm cách bí mật để gặp được nhau. Nàng quyết định ly thân với Văn, nói thẳng với Văn là nàng đã cố gắng nhiều nhưng không thể nào yêu được Văn. Nàng có nằm bên cạnh Văn thì cũng chỉ hờ hững mà không thể, không một chút cảm xúc. Cuối cùng thì Văn cũng phải chịu, vì dù sao nàng là con gái Lê Duẩn nên không thể ép gì được nàng, để kệ cho nàng được tự do, muốn làm gì thì làm. Văn tập trung vùi đầu hết thời gian vào việc làm luận án tiến sỹ cho quên đi mọi chuyện. Tất nhiên, chúng tôi không quảng bá mối quan hệ của chúng tôi cho bất cứ ai, bởi nó không phù hợp với truyền thống đạo đức vì dù sao thì nàng cũng là người đã có chồng, chưa kể đến việc đây mối quan hệ với người nước ngoài. Để có được mỗi lần gặp nhau, chúng tôi phải dàn dựng công phu, giấu kín không bị lộ. Chúng tôi phải rất thận trọng để không dẫn đến hậu quả tệ hại là buộc nàng bị trục xuất về nước. Thông thường, các mối tình lãng mạn Xô-Việt nếu có sẽ khá nhanh chóng được đại sứ quán biết đến. Những người đang yêu nhau đó sẽ được “chấn chỉnh” bởi sự cảnh báo của những công dân ưu tú luôn cảnh giác với tình yêu. Cứ thế chúng tôi vụng trộm trong bí mật như vậy được gần một năm. Điều gì có thể chứng minh chúng tôi ngoại tình: Nàng chỉ nhìn như một đứa trẻ, mà việc giám sát “trẻ em” Việt Nam không hề tồn tại, ít nhất mọi thứ đều nguyên trạng. Sau đó, nàng đã mang thai và không hiểu vì sao đó mà nàng đã giấu điều đó với tôi. Do không giữ gìn cẩn thận và tự thương lấy mình nên nàng đã bị sẩy thai. Tôi đã vào thăm nàng trong bệnh viện và đã rất lo sợ rằng tất cả mọi thứ bị phát hiện và người ta sẽ mang nàng đi mất. Nhưng tôi còn sợ hãi hơn cho sức khỏe của nàng. Bởi vậy nên tôi nghĩ, người ta có thể mang nàng đi, miễn là tất cả đều phải tốt đẹp cho nàng. Và rồi thời điểm đó đã đến.

Sau khi điều trị ở bệnh viện, người ta gửi nàng đến thành phố Pushkino, vào Viện an dưỡng chính trị cao cấp. Tại đây nàng được xem như một yếu nhân có một vị trí đặc biệt, tất nhiên, nàng được đăng ký ăn ở phòng ăn dành cho những người có đặc quyền. Những người khách nghỉ bình thường ở đây thường muốn ngó xem trong khay đựng thức ăn gồm những gì được mang đến cho cô công chúa Việt Nam khi các cô phục vụ bê mang ngang qua phòng sinh hoạt chung. Nàng khó chịu với đặc ân này của chế độ Xô viết, nhưng nàng bắt buộc phải chung sống hòa bình với điều này.

Ở Pushkino vài ngày nàng đã thấy buồn chán, nàng gọi điện đề nghị tôi đến thăm nàng. Một hồi lâu tôi từ chối, nói rằng chúng tôi có thể bị bắt, nhưng cuối cùng tôi đầu hàng và chấp nhận lời thỉnh cầu của nàng. Tôi đến với một con chó – chó săn chồn, và tìm nhà nghỉ trong khu nghỉ mát gần Viện an dưỡng của nàng. Khỏi phải nói, chúng tôi mừng rỡ khi gặp được nhau, ôm hôn nhau nồng thắm như thể chưa bao giờ đã từng như vậy. Rồi một lần chúng tôi gặp nhau trong rừng đã bị một nhân viên an ninh bắt gặp! Ông ấy đang ngồi nấp trong bụi cây theo dõi chúng tôi thì bất ngờ bị con chó của tôi phát hiện ông ta ở đó.

- Này anh, anh theo dõi tất cả mọi người hay là chỉ riêng chúng tôi?
- Theo dõi tất cả- Tay nhân viên an ninh trấn an chúng tôi- Chúng tôi ở đây là Gestapo.

Tất cả bí mật giữa chúng tôi nhanh chóng bị bại lộ, một cách hoàn toàn tình cờ. Cơ quan an ninh xác định rõ được ngay tôi là ai và nhanh chóng thông báo cho Lê Duẩn, rằng có mối tình lãng mạn giữa con gái ông với một nhà vật lý Xô Viết. Vậy là có một cuộc họp gia đình, trong đó mọi người cùng thảo luận về hành vi ngoại tình của nàng. Nhưng những người thân trong gia đình sợ nàng bởi cá tính quá táo bạo và độc lập. Nàng có thể phê bình, chỉ trích mạnh mẽ ngay cả ba mình. Trong tim tôi, nàng là một người cộng sản lớn hơn cả Lê Duẩn.

Để ngăn chặn hành động ngoại tình của con gái mình, Lê Duẩn cử một đặc phái viên – một người bạn của gia đình, người đang làm việc ở Moskva giúp đỡ giải quyết vấn đề này. Ông này mời nàng đi xem vở kịch ballet “Anna Karenina” ở Nhà hát lớn Moskva. Buổi đi xem thưởng thức biểu diễn nghệ thuật này rõ ràng không phải là tình cờ. Khi xem xong quay ra, ông ấy nhắc nhở nàng về trách nhiệm của gia đình, “Đại sứ thiện chí” gợi nàng nhớ đến số phận bi thảm của nhân vật nữ chính Anna của Tolstoy: “Cháu thấy không, cuộc sống của người phụ nữ trong tác phẩm kịch đã kết thúc với bi kịch ra sao nếu phản bội, thay đổi chồng mình?”. Nàng đã phải khó khăn lắm mới nhịn được cười.

Trên cương vị của mình, để giữ uy tín Lê Duẩn đã không thể sử dụng bạo lực và trục xuất cô con gái yêu. Giải pháp cuối cùng là phải để nàng ly hôn, cô sẽ kết hôn với tôi và ở lại cùng chồng ở Moskva. Qua một thời gian, tất cả mọi việc đã lắng dịu xuống, nhưng không thể trì hoãn thêm, chúng tôi cần thiết phải tiến hành đăng ký kết hôn và tổ chức hôn lễ càng sớm càng tốt để cuộc sống chúng tôi sớm ổn định.

Mặc dù đã ly thân, nhưng Văn không muốn ly hôn với nàng. Tôi nghĩ đó không chỉ do cảm xúc của Văn, mà còn vì lợi ích riêng của người cha, sự nghiệp của ông ta đã đi lên cao sau khi con trai ông kết hôn với nàng. Tôi đề nghị nàng thể hiện sự thông minh và tài ngoại giao của mình để cố gắng đạt được một thỏa thuận với chồng, nhưng nàng không muốn tỏ ra nhẫn tâm như vậy. Nàng không muốn có thêm lỗi với Văn, mà muốn để Văn tự quyết định trước thực tế tình cảm của vợ mình. Lỗi là tại nàng, vì nàng đã lợi dụng Văn để làm cớ quên được tôi trong cuộc đấu tranh với chính bản thân mình, từ đó mới xuất hiện mối quan hệ không đáng có của nàng với Văn. Nhưng khi nàng đã có thai lần nữa, câu hỏi nảy sinh về nhiều khía cạnh. Nàng phải hành động để không phải rơi vào tình trạng không rõ ràng: nếu nàng trên danh nghĩa vẫn là vợ Văn tại thời điểm ra đời đứa con của chúng tôi, phía Việt Nam về mặt luật pháp có thể xem Văn là cha của đứa bé.

Nàng hứa với Văn rằng, sẽ không để ai biết việc ly hôn của họ ở Việt Nam: “Em sẽ giữ bí mật, và chúng ta sẽ vẫn là bạn bè thân thiết của nhau như trước. Anh biết rồi đó, ngay từ đầu em đã không có tình cảm với anh. Anh nói rằng anh yêu thương em, vậy thì anh nên chấp nhận thỉnh cầu của em. Anh có muốn em ghét bỏ anh không?”. Cuối cùng thì anh chàng đã phải chấp nhận từ bỏ nàng. Văn vẫn còn yêu đơn phương nàng. Họ đã cùng đến một văn phòng đăng ký ly hôn tại Moskva dành cho người nước ngoài, vậy là họ đã ly dị mà tất cả người Việt Nam và Lê Duẩn đã không được biết bất cứ điều gì. Cũng không có ai thông báo điều này cho Đại sứ quán Việt Nam. Văn tỏ ra rất khó chịu, buồn bực bởi việc này, bị khủng hoảng tinh thần đến mức phải nhờ phòng khám thần kinh chữa trị.

Chúng tôi giấu việc nàng mang thai con đầu lòng, vì chúng tôi không muốn ai đó quấy rầy nàng sinh con và đăng ký khai sinh cho con ở Liên Xô. Tại trường đại học, tôi đã bố trí cho nàng một “chuyến công tác” trong vài tháng ở một trường đại học ở Kiev và giúp đỡ cho nàng thỉnh thoảng gọi “từ Kiev” cho chị Muội (nàng vẫn giữ liên lạc với gia đình thông qua chị), đồng thời nàng gửi thư cho người thân với tem đóng dấu từ Kiev để họ yên tâm đúng là nàng đang ở đó. Trong toàn bộ thời gian mang thai, nàng đã sống ở trong nhà nghỉ ngoại ô của tôi và trốn kín, nếu một người nào đó bất chợt đến thăm tôi.

Trong thời kỳ trì trệ của Liên Xô, những cuộc hôn nhân của cư dân Vùng Moskva (bao gồm thành phố Moscow) với công dân nước ngoài chỉ được tiến hành đăng ký tại hai văn phòng – một ở Moscow và một ở Zagorsk – Việc này cho phép Ủy ban an ninh quốc gia (KGB ) kiểm tra, kiểm soát dễ dàng hơn. Tại hai Văn phòng này, chúng tôi không thể đăng ký được vì nếu an ninh biết thì Lê Duẩn chắc chắn cũng sẽ được thông báo ngay. Nhưng thời kỳ đó pháp luật cũng quy định, ở những nơi nào không có văn phòng đăng ký kết hôn cho người nước ngoài, các cuộc hôn nhân với người nước ngoài có thể đăng ký và được thành viên của Hội đồng đại biểu nhân dân địa phương chứng nhận. Tôi quyết định phải tận dụng lợi thế này và đăng ký kết hôn của nàng với tôi tại thành phố Troitsk. Ở thị trấn Akademgorodok ngoại ô Moskva, tôi có rất nhiều bạn bè ở tất cả các Viện nghiên cứu, họ sẵn sàng giúp đỡ tôi. Tất nhiên, nếu họ biết cô dâu của tôi là ai, thì chắc chắn không ai mạo hiểm dám giúp tôi để có đăng ký kết hôn với nàng được. Tôi đã phải né tránh, lừa dối và thậm chí tạo ra một giấy phép giả cho nàng từ Đại sứ quán Việt Nam. Và quan trọng nhất – tôi phải có đăng ký cư trú chính thức ở thành phố Troitsk. Mặc dù pháp luật quy định về hôn nhân yêu cầu không nhất thiết phải như vậy.

____

Phần 2

16-8-2016

IV.

H1Thời gian đó tôi đã xây một nhà để xe tại nhà nghỉ ngoại ô – gọi là nhà chứa xe nhưng trông khá “hoành tráng” với việc mở rộng thêm một phòng ngủ lớn. Một trong những bức tường của nó được xây hình bán nguyệt. Các cửa sổ được xây dài và hẹp như kẽ hở lớn, tôi củng cố chúng bằng các song sắt. Trong căn phòng với những “kẽ hở” như vậy còn có thêm một cánh cửa bằng thép. Kết quả xây dựng giống như một pháo đài thật sự mà sau này sẽ đáp ứng đúng vai trò của nó cho việc giải tỏa nỗi sợ hãi của nàng về mối đe dọa bị bắt đưa về nước.

Nhà để xe theo pháp luật của Liên Xô chỉ có thể được hợp pháp hóa tại nơi cư trú của mình. Tôi đã đến gặp cảnh sát trưởng thành phố Troitsk:

- Tôi muốn được đăng ký tạm trú tại nhà nghỉ ngoại ô để chính thức hóa nhà để xe. Liệu có thể được không đồng chí?

- Không có vấn đề! Đồng chí hãy đến Sở Cư trú Moskva xác nhận và sau đó đến văn phòng hộ chiếu của chúng tôi.

Tôi đã đăng ký xác nhận ở Sở Cư trú Moskva, nhưng người đứng đầu văn phòng hộ chiếu lại yêu cầu cần sự cho phép đăng ký tạm trú của chủ tịch Ủy ban hành chính thành phố Troitsk, người mà tôi đã có mối quan hệ thân mật nhất. Tôi đến gặp đúng thời điểm bà chủ tịch sắp đi nghỉ phép, vì vậy bà ấy dễ dàng ký ngay quyết định theo đơn trình của tôi. Tôi bày tỏ ngay nguyện vọng xin phép kết hôn khẩn cấp tại nơi cư trú mới, “chúng tôi không thể chờ đợi lâu được. Cô dâu sắp sinh con. Có giấy chứng nhận của phòng khám thai đây ạ”. Bà chủ tịch đã viết tay và ký tên vào một mảnh giấy: “Tôi yêu cầu khẩn trương cấp giấy đăng ký kết hôn cho GSTS Maslov ngay sau khi có quyết định của Ủy ban Hành chính thành phố về việc cấp giấy phép cư trú”. Và bà ấy lên đường đi nghỉ phép.

Với mảnh giấy này tôi đã đi đến gặp ông ủy viên Ủy ban hành chính, người có trách nhiệm xử lý việc đăng ký kết hôn (ông là một người quen của tôi), và thú nhận rằng, muốn kết hôn với một cô gái nước ngoài, nhưng tôi phải giấu kín, không để chuyện này bay ra ngoài khỏi Viện nghiên cứu khoa học của tôi. Ông hứa rằng mọi việc sẽ được giải quyết kín đáo, ông sẽ giữ bí mật tuyệt đối và sẽ trực tiếp trao đổi với thư ký của Ủy ban hành chính – một người phụ nữ trung niên dễ thương. Tôi đã rất vui mừng, nhưng chưa kịp thực hiện thì có chuyện thay đổi nhân sự xảy ra bất ngờ. Vài ngày trước khi đăng ký, người phụ nữ trung niên đã được chuyển công tác và thay vào vị trí đó một nhân viên đã từng là cán bộ Đoàn thanh niên từ thành phố Podolsk mới chuyển đến. Nghe nói cô gái này là một công chức mẫn cán, tích cực và rất nguyên tắc. Tôi sợ rằng cô ta sẽ phá vỡ “âm mưu” đăng ký kết hôn với nàng của mình.

Tôi quay sang nhờ một người bạn tìm cách vô hiệu hóa cô gái này. Bạn tôi sẽ tìm một thanh niên đẹp trai nào đó có khả năng tán giỏi, quyến rũ mời bằng được cô gái đến gặp, đi dạo chơi suốt trong ngày nào đó, làm sao để cô gái chuyển trách nhiệm giải quyết vụ việc của tôi cho ông ủy viên mà tôi quen biết. Tại sao ư, tất nhiên, tôi đã không nói. Một trong những nhà khoa học trẻ – một người đàn ông đẹp trai và đầy hấp dẫn, hợp gu yêu thích của phụ nữ – đã giúp đỡ. Ngày hôm sau cậu ấy gọi cho tôi: “Ngày thứ bảy cô ấy sẽ không có mặt tại cơ quan, cô ấy đã xin nghỉ phép. Chỉ cố gắng kiếm cho chúng tôi một cặp vé xem bất kỳ buổi biểu diễn nghệ thuật tuyệt vời nào đó”. Tôi gửi cho cậu ta cặp vé đi nghe nhạc jazz Đức.

Vị ủy viên đáng kính đã không làm tôi thất vọng, ông đã giúp chúng tôi kết hôn như đã hứa một cách hoàn hảo – “Không một tiếng ồn và dính tý bụi nào”. Cho đến những giây phút cuối cùng tôi vẫn còn lo sợ những bất lợi không mong muốn bất ngờ ập đến có thể ngăn cản mối tình của chúng tôi. Bạn thân của tôi, Bulat Okudzhava đề nghị: “Nếu có bất kỳ trở ngại nào, hãy gọi cho tôi. Tôi sẽ đưa các nhà báo nước ngoài đến, chúng tôi sẽ làm um lên để họ không thể ngờ hậu quả lại như vậy!”.

Tôi biết Okudzhava từ khi còn nhỏ. Các bà mẹ của chúng tôi thân nhau như là chị em ruột. Hồi bé tôi đã sống trong gia đình Bulat sáu tháng tại căn hộ của họ ở phố Arbat. Tại sao ư? Tôi không hề biết được. Trong thời kỳ ảm đạm của năm 1937, nhiều người dân khi đó vì nhiều lý do, buộc phải thay đổi chuyển nơi ở, họ đã cố gắng trốn tránh để thoát khỏi bị bắt. Người ta đã bắt giam cha của Bulat – ông Shaliko. Mẹ tôi ly dị với cha tôi và sau đó kết hôn với Boris Fedorovich Piston, một nhà sử học và triết học nổi tiếng. Cha dượng đã đóng một vai trò rất lớn trong cuộc sống của tôi. Tôi yêu ông rất nhiều. Mẹ của Bulat là bà Ashkhen Stepanovna và bà nội Maria Vartanovna đã nuôi nấng, chăm sóc tôi một thời gian. Bà Ashkhen sau đó vẫn luôn luôn giúp đỡ tôi. Bà cũng đã đến dự góp vui trong ngày cưới của tôi với Vũ Anh.

H1

Chúng tôi tổ chức đám cưới ở nhà nghỉ ngoại ô. Chúng tôi chỉ mời bạn bè thân thiết gần gũi nhất và những người thân trong họ hàng. Mẹ tôi đã cho con dâu của mình một chiếc vòng cổ bằng vàng nạm kim cương. Một chiếc vòng cổ rất thanh lịch, “sang trọng”, nhưng nàng xấu hổ khi đeo nó. Nàng là một cô gái khiêm tốn. Mẹ tôi còn tặng thêm cho nàng một chuỗi vòng cổ với các hạt ngọc trai lớn hình dạng không đồng đều – nàng luôn đeo nó ẩn dưới lớp dưới áo ngoài.

Hôn nhân của chúng tôi được tiến hành nhanh chóng một cách kỳ lạ nhưng đầy trắc trở, đặc biệt là tờ giấy phép cư trú gắn liền với toàn bộ một câu chuyện ly kỳ, mạo hiểm. Đầu tiên là sự ngại ngần, lưỡng lự của bà trưởng văn phòng hộ chiếu thành phố Troitsk. Bà nói rằng việc đăng ký tạm trú không cho quyền cư trú, cũng như việc cho phép của chủ tịch Ủy ban hành chính Troitsk là không đủ thẩm quyền, và gửi hồ sơ xin cư trú của tôi đến Cục Nội vụ Vùng Moskva. Ở đó, tôi bắt buộc phải chạy khắp nơi đúng một vòng tròn. Phải công nhận tôi là một người đã rất kiên trì khi đến quấy rầy một loạt các bộ phận chức năng liên quan, và rồi cũng đạt được kết quả như ý. Người em họ của bạn tôi là Okudzhava đã giúp đỡ. Người phụ nữ tuyệt vời này, tôi đã thậm chí chưa bao giờ nhìn thấy, là bạn học với phó cục trưởng cục Nội vụ Vùng Moskva. Cuối cùng nhờ anh ấy mà chúng tôi cũng đã nhận được giấy phép cư trú tại vùng ngoại ô Moskva.

Trong thời kỳ Xô Viết, tất cả mọi thứ có thể đạt được bởi sự quen biết. Tôi đưa nàng vào nằm ở một bệnh viện phụ sản vừa mới được khai trương ở Moskva nhờ sự giới thiệu của bạn bè mà không cần có giấy tờ. Bác sĩ, người trực tiếp chăm sóc nàng, một bác sĩ phẫu thuật tuyệt vời, không biết cô ấy là ai. Tôi nói với bác sỹ rằng, nàng là tình nhân của tôi, chúng tôi yêu nhau và có thai, chúng tôi muốn lừa dối người chồng rất hay ghen, nàng đã phản bội chồng, bây giờ anh ta đang bận công tác trong một chuyến đi dài ngày. Bảy tháng trước, chồng nàng đã về Moskva vào dịp nghỉ phép, sau đó lại đi tiếp. Do đó, chúng tôi cần một giấy chứng nhận rằng đứa trẻ được sinh non bảy tháng. Trong thực tế, tờ giấy chứng nhận này chỉ nhằm mục đích để phòng chống lại tuyên bố có thể có của phía Việt Nam. Nàng ly hôn vào tháng thứ hai của thai kỳ, và nếu muốn người ta có thể nói Văn là cha đứa bé. Thời đó khoa học chưa có phân tích ADN. Bác sĩ phụ khoa cấp ngay chứng chỉ cần thiết mà không yêu cầu bất kỳ vấn đề gì. Ông đã bị cuốn hút bởi nàng. Và, tất nhiên, tôi rất biết ơn ông.

Ngày 31 tháng 10 năm 1977, nàng đã sinh hạ một bé gái, chúng tôi đặt tên bé là Elena, dựa vào tên của người bạn gái thân của nàng là Liên, con gái của Bộ trưởng Bộ Tư pháp, người đã giúp chúng tôi bằng nhiều cách, đặc biệt là một giấy phép kết hôn giả của Đại sứ quán Việt Nam mà tôi đã đề cập. Tôi ngay lập tức đăng ký khai sinh cho đứa trẻ ở Troitsk, và đến giây phút này có thể nói rằng “chương trình tối thiểu” đã được thực thi.

H1

Một thời gian ngắn trước khi nàng sinh, Lê Duẩn đã đến Moskva. Ông đã không thể gặp được nàng ngay. Điều này làm cho ông tức tối lên cơn giận dữ. Con gái tôi đâu? Ông hỏi đại diện phía Liên Xô. Thông thường, các chuyên viên của Ban đối ngoại của Ủy ban Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô sẽ đón và đưa nàng đến gặp ông ngay trong ngày khi ông vừa bay đến Moskva. Nhưng lần này họ không thể tìm thấy nàng – không ở Kiev, nơi nàng chính thức được cử đi công tác, cũng như không tìm thấy bất cứ chỗ nào ở Moskva. Những người phụ trách an ninh giải thích rằng, có thể nàng đang ở nơi nào đó với Maslov. Sau một tuần, nàng và con gái đã được xuất viện, nàng ngay lập tức tự mình đến gặp Lê Duẩn, nàng sẽ kể hết toàn bộ câu chuyện. Tôi đã cố gắng để ngăn cản nàng, nhưng nàng không chịu nghe.

Nàng gặp cha mình tại nhà khách chính phủ trên đồi Lenin. Lê Duẩn đã cố gắng thuyết phục con gái về Việt nam để làm thủ tục ly hôn với Văn, điều mà nàng đã từng yêu cầu trước đây. Nàng cho biết nàng đã chính thức ly hôn Văn và kết hôn với tôi. Lê Duẩn tím mặt với cơn giận dữ và bắt đầu la hét, mắng nàng thậm tệ, đổ lỗi nàng hư hỏng vì mang một phần dòng máu xấu Trung Hoa, mà nàng được thừa hưởng từ mẹ nàng. Nàng cảm thấy phẫn nộ kinh khủng, nàng không thể chấp nhận chủ nghĩa dân tộc của ba mình. Nhưng nàng không muốn tranh luận với Lê Duẩn nữa. Nàng xin phép ba quay về và bỏ đi thật nhanh.

V.

Khi nàng đi ra ngoài để đến điểm dừng xe buýt, một chiếc xe “Volga” màu đen chầm chậm chạy theo nàng, rồi dừng lại cách nàng một khoảng không xa. Nàng bước thêm vài bước, người lái xe ngay lập tức nhấn ga. Cô vội chạy nhanh thì chiếc “Volga” cũng tăng tốc thêm. Không ai biết điều gì sẽ xảy ra nếu nàng không kịp chạy đến bến và lên kịp chiếc xe buýt chạy điện vừa dừng. Về đến nhà, nàng xuất hiện trước mặt tôi với nước mắt lưng tròng. Nàng kể lại với tôi nàng đã sợ hãi như thế nào khi bắt đầu thấy chiếc xe đuổi theo nàng:

- Bây giờ em đã tin chắc rằng, họ muốn bắt và đưa em về Việt Nam!
- Sao em bảo rằng ba mình sẽ không làm điều đó.
- Như sự việc xảy ra hôm nay, em đã nhận ra rằng ba em đã sẵn sàng đặt lợi ích chung lên trên lợi ích cá nhân. Điều này có nghĩa, em sẽ phải cam chịu số phận thôi.

Tôi an ủi, vỗ về động viên nàng, còn nàng vừa khóc, vừa liên tục lắp bắp nói: “Em đã chết! em đã chết!”

Ngày hôm sau, nàng gọi điện thoại cho chị Muội. Chị nàng nói rằng ba đã bị sốc và rất lo lắng vì chuyện của nàng đã xảy ra như vậy. Cả đêm ông đã không thể ngủ được và muốn làm lành, tha thứ cho nàng. Nàng kiên quyết trả lời chị: “Tốt hơn hết là ba, má và chị nên chúc mừng chúng em. Chúng em đã có một cô con gái mới sinh”. Chị gái nàng không tin thực tế đó, cho rằng nàng bịa ra chuyện để gây sức ép cho ba phải thừa nhận hôn nhân của nàng với tôi. Nàng và chị Muội đã thỏa thuận gặp nhau tại nhà nghỉ ngoại ô của chúng tôi và cả hai sẽ cùng đi đến gặp Lê Duẩn. Khi đến nhà tôi, trông thấy Lena, Muội đã bật khóc và đề nghị nàng nên ở nhà, chị sẽ đến gặp ba một mình. Chị sẽ kể tất cả mọi chuyện cho Lê Duẩn. Lê Duẩn một lần nữa lại bị sốc khi biết về sự ra đời cháu gái ngoại của ông.

Trong một thời gian dài sau này, Lê Duẩn không thể chấp nhận sự thật, rằng con gái mình đã không vâng lời, vi phạm luật pháp và kết hôn với người nước ngoài. Ông thỉnh cầu Suslov, người gần gũi quen biết nhất của ông trong Đảng Cộng sản Liên Xô với một yêu cầu giúp tìm ra quan hệ thực chất của nàng với tôi – mối tình thoảng qua theo cảm xúc nhất thời hay tình yêu thực sự. Sau đó, KGB đã cử một “chuyên gia về tình yêu” tiếp cận chúng tôi. Ông đã bí mật đi lang thang xung quanh nhà, nơi chúng tôi sống, quan sát, nghe trộm, thu thập thông tin, và đã buộc phải thừa nhận: đó là tình yêu thực sự.

Mặc dù biết chúng tôi yêu nhau thật sự, nhưng Lê Duẩn vẫn không tha thứ cho con gái mình. Tôi đã nghe nói rằng, trong gia đình, Lê Duẩn đã cấm không cho ai được nói chuyện về nàng, thậm chí chỉ là nhắc đến tên nàng. Nhưng tất cả quà tặng thủa bé của nàng đều được ông sắp xếp, giữ gìn cẩn thận trên bàn làm việc của mình. Khi một trong số những món quà đó bị ai đó lấy mất, Lê Duẩn đã làm ầm ỹ cả nhà, tạo nên một scandal nho nhỏ. Điều này có nghĩa là trong sâu thẳm lòng mình, ông vẫn rất yêu quý nàng, thương nàng như xưa mà không hề chối bỏ nàng…

Nàng đã thay đổi rất nhiều sau sự ra đời của bé Lena (năm 1977). Trước đó nàng luôn tỏ ra can đảm, độc lập, còn bây giờ nàng không ngừng run lên vì sợ hãi. Lúc nào nàng cũng có cảm giác như đang trong tình trạng chờ đợi các cuộc tấn công, bắt cóc, nàng sợ những chiếc xe màu đen và thậm chí nàng sợ cả các đồng hương của mình. Nàng cho biết, với họ tốt hơn hết là không nên gặp mặt, không để bị lôi kéo vào cuộc tụ họp, để dành thời gian tập trung vào làm việc, nghiên cứu. Một thời gian ngắn, người thân của nàng xa lánh, tẩy chay nàng, gọi nàng là kẻ phản bội. Họ thường xuyên gọi điện thoại và gửi thư với thái độ giận dữ. Nàng đã phải chịu áp lực lớn, nàng tin rằng, nàng đã gây ra một tội lỗi khủng khiếp, và nàng sẽ bị trừng phạt.

Trước đây nàng không thực sự muốn ở trong căn phòng với những khe hở lớn như pháo đài tôi đã xây, còn bây giờ nàng lại luôn yêu cầu tôi khóa chặt cửa và nàng ở trong phòng cùng với Lena suốt cả thời gian khi tôi đi vắng vì công việc ở Moscova. Nàng luôn giữ bên mình khẩu súng săn của tôi. Nàng nói rằng căn phòng này là nơi an toàn nhất trong cả nước. Nàng không còn sợ bị đuổi bắt từ các đường phố, từ bên trong phòng này nàng có thể thoải mái để bắn ra ngoài. Rõ ràng, nàng có thể đang hồi tưởng về tuổi trẻ du kích của mình.

Có một lần nàng làm tôi hoảng sợ suýt chết. Nàng biến mất cùng với Lena. Tôi lái xe về đến nhà nghỉ, thấy vắng tanh không có ai ở đó cả. Tôi thiếu chút nữa thì lên một cơn đau tim, nghĩ rằng họ đã bị bắt cóc. Rồi nàng bất chợt hiện ra và nở một nụ cười rõ tươi.

Tôi đã có cuộc trò chuyện với một người lính từ một tiểu đoàn xây dựng. Cậu ấy muốn bán cho tôi một khẩu súng lục bắn bê tông, từ đó có thể chụp chốt vào tường bê tông. Tôi hỏi khoảng cách bắn được bao xa. Người lính nghe tôi nói vậy thì tỏ ra sốt sắng: “Bác cần súng bắn được với khoảng cách xa à? Tôi có thể bán cho bác súng trường tự động kèm với đạn”. Tất nhiên, tôi từ chối cậu lính. Khi tôi vừa cười vừa nói với nàng về cuộc trò chuyện đó với người lính, nàng đột nhiên nhận thấy tiếc rẻ về cơ hội hiếm có đó:

- Sao vậy, anh phải mua chứ.
- Có mà điên? Để cho người ta bắt vào tù à.

- Nhưng có nó em sẽ bình tĩnh hơn. Anh không hiểu à, Ba em sẽ làm mọi chuyện có thể. Cuộc hôn nhân của chúng ta làm suy yếu quyền lực của ông ấy trong Đảng, tiếp tay cho các đối thủ chính trị của ông. Nếu họ hạ bệ ba em, đất nước sẽ bị sụp đổ.

- Ba em yêu thương em và sẽ không bao giờ phá hoại hạnh phúc của em đâu.

- Ba yêu thương em, em cũng yêu ba em nhiều. Nhưng điều quan trọng nhất đối với ba em là lợi ích của đất nước. Em luôn biết em phải đi đến điểm dừng nào. Trước đây khi chưa có Lena, em không sợ gì cả, nhưng bây giờ em luôn sợ hãi. Nếu người ta bắt em đi, một mình anh sẽ không thể chăm sóc tốt cho con.

Ngay sau đó bé Lêna đã bị ốm, phải nhập viện. Trước khi vào bệnh viện cùng nằm để chăm sóc bé, nàng đã viết cho tôi một bản tuyên bố chính thức: “Nếu tôi bị bắt mang đi một mình hoặc cùng con gái và đưa đến Đại sứ quán Việt Nam, mọi người cần phải biết, điều này được thực hiện bằng vũ lực, trái với ý muốn của tôi, bất cứ điều gì do người thân trong gia đình tôi hoặc đại sứ quán phát ngôn đều không có giá trị. Tôi muốn sống với chồng Viktor Maslov ở Liên Xô, và tôi muốn chồng tôi nuôi dưỡng con gái của chúng tôi trưởng thành và thấm nhuần nền văn hóa Nga “. Tôi cho cất giữ tờ giấy này vào một nơi an toàn.

Phần lớn thời gian chúng tôi sống trong nhà nghỉ ngoại ô và hầu như lúc nào cũng ở bên nhau. Tôi bắt đầu tham gia giảng dạy ít hơn, cố gắng dành thời gian nghiên cứu, làm việc tại nhà. Vào ban đêm, đôi khi tôi ngắm nhìn nàng ngủ và tôi tự nhủ, “Lạy Chúa, tại sao tôi hạnh phúc thế này? Tôi thật không xứng đáng”. Cũng giống như tôi luôn cảm thấy có quá ít thời gian được ở bên nàng…

Ban đầu, tôi sợ rằng nàng buồn vì nhớ gia đình và quê hương. Một lần bạn tôi là Viện sĩ Mishchenko đã hỏi cô về điều đó. “Em chỉ nhớ khi có khách đến nhà chơi” – với sự thẳng tính của mình nàng trả lời. Nàng không thích các nhóm bạn ồn ào, những cuộc tranh luận vô bổ. Tôi cảm nhận được nàng khó chịu khi nhìn thấy cảnh bạn bè tôi say rượu vui vẻ, mặc dù nàng không thể hiện ra ngoài sự không hài lòng, nếu có ai mời uống rượu thì nàng nhẹ nhàng từ chối. Nói chung là nàng không thích uống rượu.

Cùng sống với nàng tôi đã tự nhận thấy mình thay đổi nhiều, trẻ hơn, dễ chừng phải đến 15 tuổi. Chưa bao giờ tôi lại làm việc đạt hiệu quả lớn như lúc này. Chúng tôi hầu như không bao giờ đi đến nơi nào khác (Các nhân viên Ban quốc tế của Ủy ban Trung ương Cộng sản Liên Xô đã khuyến cáo chúng tôi không nên xuất hiện ở những nơi công cộng), nhưng không cảm thấy mình có gì đó sai trái. Các bạn gái và em trai thường vẫn đến thăm nàng. Nàng vẫn đến trường Đại học Tổng hợp Moscova, cố gắng hoàn thành chương trình nghiên cứu sau đại học. Nàng có khả năng làm việc tốt hơn nhiều so với tôi, và nếu nàng tham gia vào nghiên cứu khoa học, tất cả mọi thứ hóa ra không đến nỗi quá phức tạp như tôi tưởng. Nàng đã bảo vệ luận án thành công và trở thành phó tiến sỹ khoa học vật lý và toán học.

Một lần, tôi nhớ, chúng tôi đã đến dự xem buổi hòa nhạc của Vladimir Vysotsky, được tổ chức trong trường Đại học chế tạo máy điện tử Moscova (МИЭМ). Chúng tôi ở xa, không ngồi ở hàng ghế đầu, nhưng sau khi biểu diễn xong ca sỹ ngay lập tức đã đi tới gần nàng. Vysotsky thấy nàng khi anh hát và suốt thời gian biểu diễn chỉ nhìn nàng. Nàng ngạc nhiên và nghĩ rằng, có lẽ ca sĩ nhầm lẫn với ai đó. Và Vysotsky giãi bày tâm sự khi khen nàng dễ thương, dạt dào tình cảm, và muốn được liên lạc sau buổi biểu diễn này, nói ngắn gọn, ca sỹ cư xử như thể không có tôi ngồi bên cạnh nàng. Tôi đã cố gắng để giải vây cho nàng. Khi ca sỹ hỏi nàng có hiểu hết tất cả nội dung trong bài hát của mình không, tôi trả lời thay cho nàng:

- Vâng, tôi là chồng đang ngồi cùng với cô ấy. Tôi có thể giải thích cho vợ tôi hiểu. Một cách ngẫu nhiên, chúng tôi với gia đình anh thực tế là láng giềng của nhau tại khu nhà nghỉ ngoại ô đấy. Hãy đến thăm vợ chồng tôi, chúng tôi sẽ rất vui mừng được chào đón.

- Tôi đến đó rất thường xuyên, – Vysotsky ngượng ngùng – đó là Marina thích nhà nghỉ ngoại ô, còn tôi không thực sự thích lắm. Vâng và không bao giờ.

(Người dịch bỏ  một trang)

Ở tuổi 30, là mẹ của hai đứa con, Le Anh trông trẻ như cô gái 18 tuổi…

Đứa con gái thứ hai của chúng tôi, Tania, ra đời tháng 4, 1979.

VI.

Sau khi hòa giải với gia đình, Vũ Anh quyết định giới thiệu cháu gái lớn Lena với cha.

Khi Lê Duẩn đến Moskva lần sau đó, nàng đem theo Lena đến gặp ông. Ông ngay lập tức yêu mến cháu. Ông đề nghị để Vũ Anh và cháu ở lại cùng ông cho đến khi ông về nước. Lúc đầu cháu bé còn lạ, nhưng dần dần quyến luyến với ông ngoại. Ông chủ ý giấu tất cả chuối trong nhà để tự mình đãi Lena – mong chiếm được cảm tình của đứa cháu.

Lê Duẩn luôn yêu cầu đưa Lena đến gặp ông mỗi lần đến Moskva. Còn gặp tôi thì dứt khoát không muốn. Còn nhớ tôi đưa Vũ Anh và con gái đến thăm mẹ vợ ở cái đatra cũ của Khrusov ở Rublebka và phải đợi trong xe, trong khi các cháu đang ở bên ông. Lê Duẩn đưa Lena và Vũ Anh đi xem xiếc rồi đưa họ đi theo dự lễ khai mạc Olympic Moskva. Con bé lên cơn đỏng đảnh đúng lúc long trọng nhất, kêu to: “Mẹ ơi, con muốn đi đái!”

H1

Lần khác trong lúc ăn trưa ngồi cạnh Lê Duẩn, đúng lúc đang nói chuyện về bắt đầu chiến tranh chống chế độ Khmer đỏ ở Campuchia, Lena bỗng nhiên hỏi: “Ông ơi, thế ông không bị gãy răng chứ?” Không biết có sự liên tưởng nào xuất hiện trong đầu con bé, để đúng lúc nói chuyện gay cấn nhất lại hỏi như vậy? Ở nhà chúng tôi cũng trao đổi về cuộc chiến tranh với chế độ Polpot – Ieng Sari. Có thể Lena nhớ lại câu mà tôi đã nói khi nào đó? Vũ Anh có suy nghĩ khá tốt về Ieng Sary, nhân vật thứ hai của chế độ ở Campuchia. Có thể trong cuộc nói chuyện ở buổi tiếp khách Việt Nam đó đã vang lên cái tên này, và gợi lại sự liên tưởng nơi con bé?

Người phiên dịch hiểu câu hỏi theo nghĩa bóng, nín lặng, nhưng cố gắng truyền đạt tối đa ý nghĩa của câu hỏi. Lê Duẩn không hề bối rối. Ông cắn chặt hàm răng chắc khỏe của mình và nhe ra với Lena. Tình huống được giải tỏa.

Vũ Anh cũng rất trực tính và tiết lộ các “bí mật” xô-viết cho cha một cách đơn giản. Hơn nữa, ông ấy cũng biết cách để hỏi. Một hôm người cha nói rằng theo lời Brejnev đất nước vừa thu hoạch một vụ bông kỷ lục. “Vậy mà vải trải giường nhà con thủng hết rồi”, Vũ Anh nhận xét.

Ngay ngày hôm sau cán bộ phân ban Việt Nam trong Ban quốc tế của BCH TW ĐCSLX dẫn Vũ Anh đến gian hàng số 200 nổi tiếng của GUM, nơi chỉ bán cho các khách hàng chọn lọc. Thế là chúng tôi có đồ trải giường mới.

Vũ Anh không muốn lợi dụng sự ưu đãi, nhưng dù sao vẫn mua đồ ở gian hàng cấm này của GUM, và tôi thường nhận được các đơn hàng mà nàng đặt. Nàng không nhận của cha dù một xu nhỏ, ngay cả khi học ở MGU. Chính quyền chúng ta đề nghị cấp cho nàng một căn hộ rộng rãi ngay trung tâm Moskva, nhưng nàng từ chối. Chỉ nhận một căn hộ ba phòng bình thường trong một tòa nhà lắp ghép ở Beliaevo. Để phòng khi nhỡ có việc chúng tôi đột ngột phải chia tay, thì vẫn có chỗ ở và làm việc.

Nhưng chúng tôi sống hòa thuận cùng nhau. Trong suốt thời gian chung sống chỉ cãi nhau vài lần, đấy là Vũ Anh cho rằng thế. Lần đầu tiên là khi Vũ Anh giận dữ vì tôi chở trên xe hai cô gái, cho dù trong xóm chúng tôi ở việc cho đi nhờ vẫn hay xảy ra. Nhưng Vũ Anh lại tức giận.

Lần thứ hai thì xảy ra một chuyện nói chung là ngớ ngẩn. Buổi chiều tôi nghe “đài địch”. Vũ Anh ngồi cùng tôi, nhưng nàng không hiểu tiếng Anh, do vậy nhanh chóng đứng dậy và đi vào phòng trẻ con. Tôi nghĩ lũ trẻ đã đi ngủ, và khép cửa thật chặt để khỏi đánh thức chúng. Sau đó tôi cũng thiếp đi. Vũ Anh ra khỏi phòng trẻ, kéo cửa, nhưng không mở được. Nàng cho rằng tôi không muốn gặp nàng, lấy làm khó chịu và sáng hôm sau bỏ đi đến nhà chị Muội. Đến chiều Vũ Anh trở về, và chúng tôi làm lành. Nàng không thể sống trong tình trạng xung đột với tôi.

H1

Mẹ nàng, bà Bảy Vân, cố gắng làm cho con gái chống lại tôi, có lần nói ra sự không hài lòng với việc chúng tôi sống tằn tiện. Vũ Anh giải thích cho mẹ: “Bao nhiêu tiền anh ấy gần như dành cho đatra. Luôn cứ phải mua hay sửa cái gì đó. Con không thể từ chối anh ấy trong chuyện này. Những người đàn ông khác họ uống rượu hết tiền, còn anh ấy thì xây dựng”.

Vũ Anh giành lấy việc chăm sóc cho mẹ tôi khi bà bị đột quỵ, và nàng rất biết cách chăm sóc. Có lẽ nàng đã từng làm y tá trong thời gian chiến tranh.

Mùa thu năm 1980 Vũ Anh lại mang thai, tôi vốn mong có một gia đình lớn. Vào tháng năm năm 1981 mẹ tôi khá hơn, người ta cho bà ra viện. Chúng tôi chuyển ra đatra. Tôi thuê một cô y tá, cô ấy ngủ bên cạnh người ốm và giúp bà đi lại và nói năng. Trẻ con thì có bảo mẫu, được đưa từ Việt Nam sang theo yêu cầu của Vũ Anh, để lũ trẻ có thể nói chuyện với chị bằng tiếng mẹ đẻ.

Lê Duẩn chuyển cho nàng một món quà – một con đồi mồi. Vũ Anh rất hoảng hốt khi nhìn thấy món quà cha tặng:

- Đồi mồi này người ta tặng cả đôi. Đây là biểu tượng của tình yêu và cuộc sống gia đình hạnh phúc. Một con đồi mồi – đây là dấu hiệu xấu. Làm sao mà cha lại không nghĩ đến điều ấy.

- Ông ấy không cần nghĩ đến những thứ ngu ngốc ấy. Cha em là người cộng sản.

- Vâng nhưng ông tôn trọng truyền thống và biết rằng đây là dấu hiệu của cái chết. Đã xảy ra chuyện gì rồi …

Kết quả siêu âm cho biết lần này chúng tôi sẽ có con trai. Vũ Anh cảm thấy người không khỏe, tôi đặt trước chỗ cho nàng ở nhà hộ sinh “kremlin” của Cục 4 trên phố Vesnina. Vũ Anh đã sinh Tania (1977) ở đó và nói chung thấy hài lòng chỗ này. Hồi ấy Vũ Anh có phòng riêng, có TV và điện thoại, nàng có thể bình tĩnh viết báo khoa học. Bác sĩ hồi ấy đã sửng sốt: “Một phụ nữ tuyệt làm sao! Nằm nhà hộ sinh còn làm khoa học!”

Nhưng nàng không muốn nằm tại bênh viện này, sợ hãi điều gì đó. Một lần nàng nói sẽ chết khi sinh nở:

- Ở Việt Nam sắp có bầu cử. Để bầu cha em, họ sẽ làm tất cả.

- “Họ” là ai?

- Là những người luôn can thiệp vào tình yêu của chúng ta.

Tôi không tin vào linh cảm, cho rằng đó là những lo lắng của các phụ nữ mang thai.

Đêm mùng sáu sang ngày mùng bảy tháng sáu Vũ Anh bắt đầu đau. Để an tâm tôi gọi liền hai xe cấp cứu, từ Troitsk và từ Moskva – phòng khi bỗng nhiên có việc gì trục trặc. Xe từ Troitsk lao đến trước, nhưng nó chỉ chở được Vũ Anh đến Podolsk. Tôi đề nghị họ chở nàng vào Moskva, đến nhà hộ sinh số 25, gần nhà chúng tôi trên phố Dmitri Ulianov. Khi đến nơi mới rõ ra một nửa tòa nhà đang phải sửa chữa.

Người trực nhận giấy tờ của Vũ Anh, nhìn thấy nàng đăng ký ở Cục 4, liền gọi ngay xe cấp cứu từ đó. Vậy là người ta vẫn chở Vũ Anh đến phố Vesnina. Ở đấy, các bác sĩ lập tức khám và nói, tất cả đều ổn, quá trình sinh nở bình thường. Tôi chuẩn bị ngồi chờ ở phòng tiếp nhận thì sực nhớ mẹ tôi hầu như đang ở ngoài đatra có một mình. Cô y tá chúng tôi đã cho nghỉ hè, còn chị bảo mẫu người Việt không nói được tiếng Nga. Tôi liền lao về đó. Tại đatra mọi việc đều bình thường, nhưng mẹ nói rằng xe cấp cứu từ Moskva không tới. Thật lạ lùng.

Vào 7 giờ sáng (1981) Vũ Anh sinh bé trai, Anton. Người ta gọi điện cho tôi từ nhà hộ sinh thông báo điều đó, tôi hỏi tình trạng của người mẹ ra sao, đầu dây bên kia im lặng. Sau một khoảng im lặng dài, họ đề nghị tôi tới và nói chuyện với bác sĩ. Ở Moskva tôi được biết rằng Vũ Anh bị chảy máu rất nhiều, chưa cầm được. “Chúng tôi làm tất cả những gì có thể – Bác sĩ nói – Sắp tới họ sẽ chuyển máu tới. Ông tốt nhất nên quay về nhà. Đợi ở đây là vô nghĩa”.

Tôi chạy đến các bác sĩ quen để hỏi ý kiến. Ông ta không vui, nói rằng trong những trường hợp như vậy phải lập tức cắt bỏ tử cung. Nhưng các bác sĩ Kremlin có lẽ sợ lãnh về mình trách nhiệm đó, bệnh nhân không phải nhân vật bình thường.

Tôi quay trở về nhà hộ sinh. Lúc ấy người ta đã phẫu thuật cho Vũ Anh. Bác sĩ phẫu thuật chính của Cục 4 được mời đến xử lý cho nàng. Khi ông vừa ra khỏi phòng mổ, tôi lao đến:

- Cô ấy sẽ không chết?

- Cơ thể trẻ trung. Chúng ta hi vọng vào điều tốt nhất …

Vài tiếng sau đó Vũ Anh qua đời. Người ta cho phép tôi vào phòng bệnh. Vũ Anh nằm trên giường, phủ tấm ra – trông nàng xinh đẹp làm sao, như đang ngủ. Một cục gì chẹn lấy cuống họng tôi, tôi quỳ xuống hôn tay người tôi yêu dấu. Tấm ra phủ di chuyển, hé lộ thân thể vợ tôi, phủ đầy các vết xanh – đỏ. Tôi kêu lên vì sợ hãi. Mọi người chạy đến bên, đỡ lấy tôi và đưa ra hành lang …

Lần cuối cùng tôi nhìn thấy Vũ Anh là ở chỗ hỏa táng – mười ngày sau đó. Quyết định hỏa táng không phải do tôi đưa ra. Nói chung không ai hỏi ý kiến tôi muốn an táng vợ mình ra sao. Tại sao phải đợi lâu thế vẫn mãi là câu hỏi. Có thể Lê Duẩn đã bí mật đến Moskva. Tôi không gặp ông, còn bà mẹ thì bay sang ngay. Tro cốt của Vũ Anh được đưa về Việt Nam, bình tro được giữ ở nhà bà Bảy Vân, trong một căn phòng riêng.

Sau cái chết của Vũ Anh các cháu được bà cụ mẹ của Bulat, bà Askhen Stepanova yêu quý, đã rất già yếu chăm sóc. Bà cụ ở lại cùng chúng tôi ba tuần. Còn tôi trong thời gian đầu rơi vào một trạng thái quên lãng, mù mờ sao đó. Trí nhớ của tôi từ chối tin vào những gì vừa xẩy ra. Một lần tôi tỉnh dậy giữa đêm trong hoảng hốt. Trái tim bóp nghẹt trong lồng ngực. Tôi mơ thấy một luồng sáng: người ta đã đầu độc Vũ Anh. Tôi chia sẻ phỏng đoán với các bác sĩ. Họ không loại trừ khả năng ấy, nhưng cho rằng các vết xanh-đỏ trên da có thể xuất hiện trong trường hợp chảy máu nghiêm trọng. Sau đó nhiều năm, khi nằm điều trị tim tại một bệnh viện tim mạch tôi quan sát thấy người ta đã tiêm heparin cho các bệnh nhân để làm loãng máu, và trên người họ cũng xuất hiện những vết đúng như thế. Theo quan điểm của tôi đã xuất hiện thêm một phương án khả tín: việc chảy máu là do tác động cố ý, bằng cách tiêm thứ thuốc đó. Không phải tự nhiên Vũ Anh đã linh cảm thấy tai họa. Và máu đã chảy cạn …

Trong đám tang bà mẹ đau khổ đến mất trí. Bà ấy nói rằng cha của Vũ Anh đã giết con và muốn giúp đỡ tôi – đưa bọn trẻ về Việt Nam. “Không đời nào!” – tôi trả lời. Tôi biếu bà chuỗi hạt đã từng giữ hơi ấm cơ thể của Vũ Anh. Bà ấy nhận nó, là để sau này sẽ trao cho vợ của cháu trai, khi nó lớn lên và cưới vợ.

Tôi che giấu cái chết của Vũ Anh không nói cho những người thân biết. Mẹ tôi rất đau ốm, còn các cháu gái thì quá bé. Mẹ tôi có lẽ cảm thấy điều gì đó, bà bị đột quỵ lần hai, và lần này thì điều trị không lại được. Tôi nói với Lena là Vũ Anh ở trong bệnh viện, và sau đó – rằng mẹ đã đi có việc, nhưng con bé cũng hiểu hết. Một lần nó kéo tôi ra bên và thì thầm hỏi tôi: “Bố ơi, người ta chôn mẹ rồi phải không?”. Lena luôn than thở về nỗi buồn vắng mẹ, nó khóc: “Bố, hãy đi Việt Nam, mua mẹ cho con!”

Bảy Vân quyết định ở lại Moskva ít lâu. Bà ấy yêu cầu dẫn Tania đến thăm, nói rằng sẽ đưa trả con bé và cô bảo mẫu về nhà vào hôm sau. Nhưng đã không cho về. Hai ngày liền tôi gọi cho mẹ vợ, nhưng người ta không gọi bà ấy nghe điện, viện cớ có công việc quốc gia quan trọng nào đó. Ban đầu tôi không cảm thấy lo lắng đặc biệt, nhưng sau đó hiểu ra rằng bà đang cố thực hiện ý định của mình – lấy lũ trẻ khỏi tay tôi. Tôi tìm được địa chỉ của bà với không ít khó khăn, đem theo một đồng nghiệp biết tiếng Pháp để hỗ trợ và làm phiên dịch, lên đường đòi lại con gái. Bảy Vân không muốn trả lại Tania, ngay cả khi tôi nói rằng mẹ tôi sắp mất và bà cụ muốn vĩnh biệt cháu gái. Tôi buộc phải hứa rằng họ sẽ gặp lại nhau trong lúc chuẩn bị cho tang lễ.

Mẹ tôi mất ngay ngày hôm sau. Mẹ vợ chạy đến ngay: “Các cháu sẽ ở với tôi!”. Tôi phải giải thích rằng các cháu còn đang ốm. Tania thực sự đang bị sốt. Bảy Vân đề nghị thu xếp chữa cho cháu tại căn hộ của mình, nhưng tôi không đồng ý.

Tôi biết rằng bà ta sẽ lại xuất hiện ở đatra vào ngày cử hành tang lễ, lúc tôi không ở nhà, do vậy đã gửi Lena đến chỗ người quen, còn Tania tôi khóa cùng với người cháu của tôi trong căn phòng có các lỗ châu mai, và dặn không được mở cửa cho bất cứ ai, đặc biệt cho bà ngoại nó. Bà bảo mẫu được dặn phải nói là cả hai cháu đang ở nhà các bạn của tôi. Ngay khi tôi vừa rời đến chỗ hỏa táng, Bảy Vân đã xuất hiện ở đatra. Không tìm thấy lũ trẻ, bà ta ra về trong sự tức giận khủng khiếp.

Với đứa con trai, tôi đặt tên nó là Anton, tình hình phức tạp hơn nhiều. Ở nhà hộ sinh họ không trao cháu cho tôi. Họ thông báo rằng do tình trạng sức khỏe của cháu bé, cháu cần ở lại bệnh viện để các bác sĩ chăm sóc. Tôi chỉ làm được giấy chứng sinh cho cháu, và lập tức tiến hành các biện pháp. Tại bệnh viên của BCH trung ương, nơi cháu được chuyển đến từ nhà hộ sinh, cháu đã nhập viện với tên là Anton Maslov: các bạn của tôi đã giám sát tại lối vào bệnh viện để cháu được đăng ký đúng như đã định. Đây là một thắng lợi, không lớn nhưng dầu sao cũng là thắng lợi. Bây giờ đưa con trai tôi ra khỏi biên giới sẽ khó khăn hơn nhiều.

Họ cho phép tôi vào bệnh viện, đi dạo cùng con trai, nhưng bên cạnh luôn có người của BCH TW. Một thời gian tôi đã muốn ăn cắp Anton và giấu cháu trong gia đình chị bạn người Triều Tiên và giả như đó là con của chị. Còn tôi sẽ đưa về nhà một cháu bé có bề ngoài đông phương khác trong trường hợp Lê Duẩn quyết định đưa cháu trai ra mà không có sự đồng ý của tôi. Nghĩ ra đủ phương án, nhưng không thực hiện được. Và lạy Chúa – tôi sợ trò phiêu lưu này sẽ làm tôi nguy đến tính mạng.

Vị cán bộ từ BCH TW, người đảm nhận liên lạc giữa tôi và gia đình Vũ Anh, đề xuất một giải pháp thỏa hiệp – tôi giữ các cháu gái cho mình, còn trao đứa cháu trai cho ông nó: “Cứ để nó sống ở Việt Nam vài năm, khi cháu lớn lên, họ sẽ trả cháu về. Ông lúc nào cũng có thể đến thăm người thân của vợ và gặp Anton”.

Cuộc bầu cử mà Vũ Anh lo sợ đang sắp diễn ra. Xem ra nhóm thân Trung Quốc loan tin rằng không nên tin tưởng vào Lê Duẩn. Ông ấy không thể theo đường lối độc lập nếu cháu trai ông ấy đang bị Kremli giữ làm con tin. Trong cơn sóng gió trước bầu cử người của ta có thể bắt đi tất cả các đứa con của tôi, chỉ để giúp Lê Duẩn còn giữ được quyền lực. Tôi hứa sẽ suy nghĩ, cố kéo dài thời gian. Nhưng áp lực ngày một gia tăng. Họ đe dọa tôi bằng những điều bất tiện trong công tác. Người cán bộ nói anh ta đã biết “phương án Triều Tiên” – tức phương án bắt cóc con trai tôi với sự giúp đỡ của chị bạn người Triều Tiên. Tình thế trở nên nghiêm trọng. Bà ngoại Bảy Vân một lần đã nói thẳng: “Không muốn tốt – cũng chẳng cần”.

Chống đối tiếp tục đã thành vô nghĩa, và tôi quyết định phải có sự đảm bảo – soạn một tuyên bố chính thức về việc cho phép đưa con đi trong hai năm. Ở sân bay tôi đã khôn khéo lấy hộ chiếu của Anton từ nhân viên an ninh cửa khẩu, chụp ảnh tất cả các trang và đút trả lại. Bạn của tôi chụp ảnh ghi lại cuộc ra đi của thằng bé. Vào đúng ngày hôm ấy Lê Duẩn đến Moskva. Ông đã gặp Brejnev. Vì cuộc hội kiến này (có vẻ rất quan trọng) nên mới có sự vội vã như vậy.

Chẳng bao lâu tôi lăn ra ốm. Ban đầu là viêm phổi, sau đó phát hiện có một khối u. Nghi ngờ đến khả năng xấu nhất, nhưng rồi mọi việc cũng qua – khối u hóa ra lành tính. Tôi nằm viện khá lâu, Muội có đến thăm tôi. Chị chắc có nói chuyện với bác sĩ, biết về các chẩn đoán của tôi và kể cho những người thân biết. Những người này lập tức chạy vạy – nhờ cậy những người bạn xô viết nhờ nhận lại các cháu gái từ người cha “đang sắp chết”.

Nghĩ lại thấy thật đáng sợ, không biết chuyện gì sẽ xảy ra nếu tôi không xuất viện đúng một ngày trước khi các thanh tra về công việc với vị thành niên đến nhà tôi. Một bà mặc sắc phục đại úy cảnh sát đến nhà với yêu cầu chính thức từ Ủy ban vùng – xem xét khả năng xác nhận đưa Elena và Tatiana Maslovye vào cơ sở nuôi dạy trẻ. Tôi không thể nói với bà ta toàn bộ sự thật, nhưng cho bà ta hiểu rằng trong câu chuyện này mọi việc không đơn giản, khuyên ta bà đừng vội vã.

Sau hai năm người ta vẫn không đưa Anton trở lại. Tối đấu tranh thêm hai năm nữa để họ cuối cùng đưa cháu trở lại Moskva. Tôi yêu cầu việc này với tất cả người thân của Vũ Anh. Cuối cùng Thành, em trai nàng bay sang Moskva. Chúng tôi gặp nhau và đã tìm được tiếng nói chung. Thành nói chuyện với Lê Duẩn, và ông ta quyết định đưa cháu trai về với cha nó và các chị. Nhưng con trai tôi trở về đã không phải với tên là Anton Maslov, mà là công dân Việt Nam Nguyễn An Hoàn và hộ chiếu Việt Nam. Lê Duẩn không có ý định trao cháu cho tôi. Ngược lại – ông hy vọng sẽ mang luôn cả các cháu gái về.

Con trai không nói được tiếng Nga, nó lạ tôi và không rời bà bảo mẫu người Việt đã nuôi cháu từ trứng nước. Ở Việt Nam Anton thực sự là hoàng tử: nó được ở cả một tầng nhà.

Tôi hi vọng sẽ thu xếp được với con trai, nhưng người bà Việt Nam bay sang, sau khi quyết định đi nghỉ lại Krưm tuyên bố rằng ở Moskva không tốt cho thằng bé. Sau kỳ nghỉ bà ta sẽ đưa cháu trở lại Việt Nam, còn tạm thời cần đưa cháu vào một nhà trẻ tốt trong suốt mùa hè. Bà ta sẽ cho phép tôi và các cháu gái tới đó. Trong cuộc nói chuyện của chúng tôi có mặt một cán bộ khá cao cấp của Ban quốc tế BCH TƯ, làm nhiệm vụ phiên dịch. Ông đã thấy tôi giận dữ như thế nào, và khuyên tôi đừng nổi cáu, cố gắng đạt được thỏa thuận với người bà quyền lực. Bắt cóc Anton thật vô nghĩa: cháu là công dân Việt Nam và họ sẽ ngay lập tức đưa cháu đi khỏi nhà tôi.

Nhưng tôi không có ý định đầu hàng. Bây giờ đã là thời khác, lãnh đạo đất nước Liên Xô không còn là Brejnev, mà là Gorbachev. Hơn nữa sau những năm tháng ấy tôi đã kịp trở thành Viện sỹ hàn lâm và được trao Giải thưởng Lenin. Tôi viết đơn yêu cầu trả lại con trai và đi khắp các cửa, còn thiếu đâu nữa: Bộ Nội vụ, Bộ Ngoại giao, BCH TƯ ĐCS LX. Khắp nơi người ta thông cảm với tôi, nhưng giúp đỡ thì đều từ chối. Họ nói rằng việc đó ngoài khả năng của mình. Một lần tôi chia sẻ với một chị bạn tốt – thư ký của Chủ tịch Viện Hàn lâm khoa học. Chị ấy khuyên tôi nên cầu cứu Anatolia Gromưco – con trai Chủ tịch Xô viết tối cao Liên Xô Andrei Andreievich Gromưco, một người thân cận với Gorbachev, và chị ấy sẽ giúp thu xếp cuộc gặp này.

H1

Gromưco-con là giám đốc Viện Phi châu thuộc Viện HL KH LX. Tôi kể cho anh nghe về câu chuyện của tôi và Anh, đưa cho anh xem các bức ảnh chụp cùng vợ con. Anatolia Andreevich tỏ ra cảm động. Anh nói: “Anh hãy viết đơn gửi cho chính Gorbachev. Tôi hứa rằng ông ấy sẽ nhận được và sẽ đọc. Nhớ kèm theo cả những bức ảnh, đặc biệt bức chụp cùng bọn trẻ này. Nó mạnh hơn bất kỳ bức thư nào”. Tôi làm theo những gì anh chỉ dẫn, và cùng với các bức ảnh tôi còn để cả bản tuyên bố của Vũ Anh viết năm 1978. Vài hôm sau không chờ được, tôi gọi điện cho Gromưco. Anh nói: “Họ đã biết quan điểm của anh”. Tất cả chỉ có thế. Tôi không biết sẽ phải nghĩ gì và hành động ra sao.

H1

 

 

 

Để  bà ngoại yên tâm, tôi thu xếp gửi Anton vào nhà trẻ của Cục bốn, khá xa đatra của tôi.

Tôi thỏa thuận với bà giám đốc rằng bà không được giao đứa bé cho ai, trừ tôi. Những người bảo vệ hứa sẽ gọi điện nếu thấy xuất hiện những “kẻ đột nhập” vào khu vực nhà trẻ. Tôi dúi cho họ 4 chai vodka Smirnov, hồi đó chỉ bán theo chỉ thị của nhà thờ, và họ nóng lòng chờ sự xuất hiện của “kẻ đột nhập Việt Nam”.

Chẳng bao lâu sau kẻ đột nhập xuất hiện thật. Bà Bảy Vân nhận được sự từ chối thẳng thừng và buộc phải rút lui. Nhưng giám đốc nhà trẻ nài nỉ tôi phải đưa Anton đi: “Tôi sẽ không chịu đựng được cuộc tấn công sau đâu. Anh không tưởng tượng được là chúng tôi đã căng thẳng ra sao đâu”.

Tôi nói chuyện với bạn bè, và họ tìm được cho chúng tôi một ngôi nhà ở Belorussia – ở tít tận xó rừng sâu Belovejskaia Pusia. Tròng vòng bán kính 5 km quanh đó không có ai cả. Chúng tôi ở đó chừng vài tháng – Lena, Tania, Anton, bà bảo mẫu của chúng, và tôi. Pusia quả thật là một chốn thiên đường. Lũ trẻ đến giờ còn nhớ khu rừng nguyên thủy, những bãi cỏ đầy nấm và quả rừng, có thể sờ tay vào lũ thú rừng và chim chóc. Lũ hươu kéo đến tận nhà, làm bà bảo mẫu sợ chết khiếp. Lũ bò rừng nhởn nhơ đi lại đằng xa. Anton trở thành một đứa trẻ khác hẳn khi ở Belorussia, chơi với các chị và bắt đầu nói một ít tiếng Nga.

Tôi không nhận được tin tức gì từ Moskva, nhưng hi vọng vào những điều tốt. Tôi nghĩ rằng Gorbachev không muốn có một Sakharov – viện sĩ – nhà bất đồng chính kiến thứ hai. Để giành lại các con, tôi sẵn sàng làm tất cả, kể cả một scandal quốc tế.

Mấy tháng trôi qua tôi biết được từ một người bạn Việt Nam, gần gũi với gia đình của Vũ Anh, rằng Lê Duẩn đã từ bỏ ý định bắt cháu về. Ông nói: “Nếu cha chúng nó yêu chúng như vậy, thì cứ để chúng sống với anh ta”. Có vẻ hai nước đã đi đến một nhận thức chung về chuyện này, Gorbachev và Lê Duẩn đã thỏa thuận để gia đình chúng tôi được yên. Sự đau khổ của tôi kết thúc. Mấy năm sau Lê Duẩn từ trần. (Tháng 7/1986)

Vào cuối những năm 80 – 90 tôi có dịp đi khắp thế giới. Với tư cách là giáo sư thỉnh giảng, tôi đã giảng bài ở Mỹ, Anh, Pháp. Đất nước tôi hồi đó ở trong giai đoạn không dễ dàng gì. Khoa học thoi thóp, các nhà bác học được trả bằng xu, mà trong tay tôi – ba đứa trẻ. Cần phải kiếm tiền bằng cách nào đó. Nhưng tôi chưa bao giờ nghĩ sẽ ở lại sống ở nước ngoài. Bọn trẻ luôn đi cùng với tôi, cũng như người vợ sau Irina. Chúng tôi cưới nhau năm 1991.



Tôi quen Ira đã lâu, từ khi Vũ Anh còn sống. Cô ấy cùng tuổi với Vũ Anh. Ira là nhà ngôn ngữ, phó tiến sỹ khoa học. Sau khi Vũ Anh mất, giống như nhiều bạn bè và người thân của tôi, cô ấy đã giúp tôi trông nom bọn trẻ. Đối với tôi mối quan hệ của cô với chúng cũng quan trọng không kém tình cảm giữa chúng tôi. Ira là một phụ nữ đáng kinh ngạc. Sau khi cưới, cô ấy quyết định không sinh thêm một đứa con nữa, đứa con chung của chúng tôi, để không phải làm dì ghẻ, mà hoàn toàn thay Vũ Anh làm mẹ của Lena, Tania và Anton.

Các con tôi hiện sống ở nước ngoài, dù khi còn trẻ không dự định việc này và chúng đều vào học tại MGU mà không phải một trường đại học tây phương nào đó. Nhưng về sau những dòng người có vẻ ngoài châu Á tràn vào Moskva. Và bắt đầu nảy sinh các vấn đề. Thí dụ đã xảy ra một chuyện không dễ chịu với Tania ở đatra. Một nhân viên cảnh sát đến vì một chuyện hoàn toàn khác, tình cờ nhìn thấy cháu và cho rằng đấy là một người di cư bất hợp pháp từ Trung Á, và suýt nữa tôi bị cáo buộc vào tội “che dấu”.

Những tình huống như vậy khá nhiều, và không hề dễ chịu. Chúng tôi họp gia đình và quyết định rằng sẽ tốt hơn nếu đưa lũ trẻ sang châu Âu, ở đó đã quen với việc có nhiều sắc tộc.

Kết quả là Tania và Anton sang sống ở Anh, còn chị cả Lena – ở Hà Lan. Cháu lấy chồng là người Hà Lan xuất thân từ một gia đình quý tộc tỉnh lẻ lâu đời. Chồng cháu là một người làm phân tích nghiệp vụ và có thời gian là khách hàng của một hãng máy tính của Anh, nơi Lena làm việc. Mối tình bắt đầu ở nước Anh.

Sau khi cưới, đôi trẻ chuyển sang sống ở Hà Lan, trong một thị trấn nhỏ cách Amsterdam chừng một giờ đi xe. Lena là kiến trúc sư – lập trình, đã đạt được đỉnh cao nhất trong nghề. Cháu là một chuyên gia độc nhất, được đánh giá cao ở hãng, được tạo các điều kiện làm việc thuận lợi nhất. Lena có một con nhỏ – cháu sinh con gái Anna năm ngoái.

Còn Tania năm nay sinh được cậu con trai Oskar. Tania tốt nghiệp MGU ở Moskva chuyên ngành “ngôn ngữ”, khi sang Anh thì chuyển nghề và, giống như Lena, làm về lập trình. Sống với chồng là người Anh ở thị trấn ngoại ô Bristol. Tania từ bé đã yêu súc vật và đem theo cùng mình đến Anh hai con chó và một con mèo.

Anton tốt nghiệp MVK – khoa toán học tính toán và điều khiển học MGU. Cháu cũng làm việc liên quan đến máy tính và ở không xa chị gái. Cậu chàng chưa cưới vợ, và tôi sợ sẽ còn lâu. Có vẻ cháu giống tính tôi.

Tất nhiên tôi sẽ vui mừng nếu có các con ở bên, chứ không phải cách xa hàng ngàn cây số. Nhưng cuộc sống là như vậy. Tôi vẫn trò chuyên với các con hàng tuần, qua Skype. Mùa hè nào chúng cũng trở về Nga và về ở Selinger, nơi chúng tôi có một căn nhà ngoại ô. Tôi và Ira sống phần lớn thời gian ở Đatra. Ở đấy nghỉ ngơi và làm việc đều tốt. Tôi tiếp tục làm khoa học, điều đem lại cho tôi niềm vui lớn, tôi còn có nhiều công trình dở dang.

Tôi vẫn là nhân viên toàn thời gian của MIEM. Học viện đã được củng cố đáng kể, trở thành một phần của Trường đại học – nghiên cứu “Trường kinh tế cao cấp”. Điều này hoàn toàn trùng hợp với các kế hoạch khoa học của tôi và cổ vũ trong tôi niềm say mê sáng tạo. Ngoài ra tôi còn là cộng tác viên khoa học của Viện các vấn đề cơ học – RAN và chủ nhiệm bộ môn thống kê lượng tử và lý thuyết trường tại khoa lý của trường MGU ruột thịt. Năm 2013 tôi nhận giải thưởng nhà nước lần thứ 3 do những đóng góp vào việc xây dựng cơ sở toán học cho ngành nhiệt động học hiện đại.

Khi làm việc, tôi luôn cảm thấy Vũ Anh đang nhìn mình. Trong phòng làm việc đã nhiều năm vẫn treo bức ảnh chân dung lớn của nàng. Tôi cảm thấy Vũ Anh hài lòng về cuộc sống của các con chúng tôi. Tuy rằng cái nhìn của nàng nghiêm nghị, nhưng theo tôi, có nét tán đồng. Tôi thường mơ thấy nàng, trẻ trung và hạnh phúc.

Đôi khi tôi có cảm tưởng rằng Vũ Anh không chết, nàng chỉ đang đi đâu đó. Có thời gian tôi đã nghĩ đến việc làm gì đó để vinh danh vợ: đến “với nàng” tại Việt Nam.

Vào cuối những năm 90 tôi được mời dạy ở Hong Kong. Khoảng cách từ đó đến TP Hồ Chí Minh, nơi bà Bảy Vân sống, không quá xa. Nhưng sau khi suy nghĩ, tôi đã từ chối. Đối với bọn trẻ, việc di chuyển đến Hong Kong có thể tạo nên stress lớn, cần phải thích nghi với khí hậu, nước uống, đồ ăn hoàn toàn khác biệt. Tôi sợ chúng sẽ bị ốm.

Về sau, khi đã trưởng thành, Lena, Tania và Anton đã hai lần về Việt Nam để gặp những người ruột thịt. Chúng được đón tiếp như các vương tôn công tử. Ở đất nước này người ta vẫn còn lưu giữ ký ức thiêng liêng về Lê Duẩn, giống như trong thời xã hội chủ nghĩa ở nước ta nhớ về Lenin. Trong mỗi thành phố đều có các con phố hay quảng trường mang tên ông. Và các cháu của lãnh tụ được đối xử một cách trọng thị. Bảy Vân, bà vợ góa của ông vẫn còn sống. Bà nay đã gần chín mươi tuổi.

H1

Anh giao phó cho tôi các con của chúng tôi.

Nàng mong muốn các cháu sống ở Liên Xô và được giáo dục theo các truyền thống văn hóa Nga. Không có Ira tôi không thể thực hiện được sự ủy thác của nàng. Cái chính là bọn trẻ không lúc nào cảm thấy chúng là trẻ mồ côi. Và nếu không có Ira chúng không thể thấm nhuần văn hóa và tâm hồn của chúng ta. Do vậy chúng vẫn là những người Nga, cho dù sống ở đâu.

anhbasàm

Ghi chú:

Một bác ngoài Hà Nội cho biết, Văn (trong bài) chính là Đinh Dũng, con của cựu Đại sứ VN tại Liên Xô Đinh Nho Liêm. Gs Tiến sĩ Khoa học Đinh Dũng hiện là Viện trưởng Viện Công nghệ Thông tin, Đại học QG Hà Nội, vừa đoạt giải thưởng Tạ Quang Bửu 2015.  (Đinh Ngọc Thu)

Hai con trai của Lê Duẫn.

* Lê Kiên Thành

*Lê Kiên Trung, Thiếu tướng, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục an ninh II, Bộ Công An, từng là cục phó, rồi cục trưởng cục Hải Quan tp hcm 2000-2011. Vợ Trung, là bà Nguyễn Thị Thu Hương hiện là Cục trưởng Hải Quan TP. HCM.

>>>►Bắt cán bộ Hải quan với hơn 60 phong bì chứa đựng gần 1 tỷ đồng

>>>BBC phỏng vấn bà Bảy Vân, vợ nhỏ của Lê Duẩn, 1:10:40…

_____

Posted in Sách- Báo- Hồi Ký, Đảng CSVN: Các hạt giống đỏ- Cha truyền con nối | 1 Comment »

►Đặc biệt: Bút ký của nhà văn Hoàng Quốc Hải: Trải nghiệm Hà Tỉnh-Formosa

Posted by hoangtran204 trên 05/08/2016

CHÚNG TÔI ĐI ĐIỀN DÃ – HÀ TĨNH – FORMOSA

Hoàng Quốc Hải
Bút ký

Nhà thơ Hữu Thỉnh, Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam, chuẩn bị cho đoàn nhà văn chúng tôi đi thâm nhập thực tế rất chu đáo.

 

Chúng tôi chọn Hà Tĩnh, nơi có điểm nóng Formosa. Đoàn chúng tôi gồm nhà văn Hoàng Quốc Hải, nhà thơ Trần Nhương, nhà văn Văn Chinh, nhà phê bình kiêm nhà giáo Bùi Việt Thắng, nhà báo Kiều Mai Sơn trẻ nhất đoàn, khoảng ba chục tuổi. Số còn lại tuổi trên 60 đến dưới 80.

Chúng tôi khởi hành từ Hà Nội lúc 9 giờ sáng ngày 18 tháng 7 năm 2016, trên một chiếc xe tốt nhất và lớn nhất mà Hội Nhà văn đang sở hữu, cùng một lái xe trẻ tuổi, đẹp trai, ngoan nết, giỏi nghề đó là Nguyễn Đăng Khôi.

Như đã hẹn trước, qua Thành phố Vinh, chúng tôi đón nhà văn Đức Ban, nguyên Chủ tịch Hội văn nghệ Hà Tĩnh, hiện là Chi hội trưởng chi hội nhà văn Việt Nam tại Hà Tĩnh. Cùng đi còn có nhà văn Đàm Quỳnh Ngọc, phó Chủ tịch Hội văn nghệ Nghệ An.

Chúng tôi đi với tinh thần tự túc từ ăn ở đến đi lại, không làm phiền địa phương. Thế nhưng các bạn nhà văn, nhà báo , thậm chí học trò và cả phụ huynh của học trò thầy giáo Bùi Việt Thắng, cứ nối nhau chiêu đãi … Nhân đây, chúng tôi xin bầy tỏ lòng biết ơn đối với các bạn đã tiếp sức cho chúng tôi.

Nhờ sự sắp xếp của nhà văn Đức Ban và sự giúp đỡ của Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Tĩnh, 8 giờ sáng ngày 19, chúng tôi khởi hành tới Formosa. Bữa nay nhà thơ Nguyễn Ngọc Phú, phó Chủ tịch Hội văn nghệ Hà Tĩnh cùng đi với đoàn.

Nhà báo Ngọc Vượng, phóng viên thường trú báo Gia đình- Xã hội lái chiếc ô tô riêng của anh dẫn đường. Tới khách sạn Mường Thanh, tiếp giáp với cổng phía Tây của Formosa, tất cả đều dừng lại. Chờ chúng tôi vào trong cổng của Formosa, Ngọc Vượng mới quay về.

Người hướng dẫn chúng tôi thăm khu công nghiệp Formosa Hà Tĩnh là một cô gái thuộc bộ phận đối ngoại, từng làm việc dưới quyền ông Chu Xuân Phàm, người phát ngôn khá ấn tượng trong cuộc họp báo đầu tiên sau vụ cá chết. Cô đi cùng xe với chúng tôi. Cô có khuôn mặt và mái tóc nom hao hao như các cô gái Trung Hoa, tôi hỏi:

– Xin lỗi, cháu là người Việt hay người Hoa?

– Dạ, cháu là người Việt ạ, cô gái đáp.

– Cháu tên chi, quê ở đâu?

– Dạ cháu tên Dung, quê ở Đà Nẵng.

– Cháu học ngoại ngữ tiếng Trung, và làm phiên dịch?

– Dạ đúng.

Nhà văn Trần Nhương hỏi:

– Các bác có được chụp ảnh không?

– Dạ được, nhưng chụp ít thôi ạ.

Xe vừa khởi động chầm chậm, tôi giơ máy ảnh chụp qua cửa kính. Lập tức người bảo vệ xộc ra đập tay vào cửa la:

– Không được chụp ảnh!

Nom gương mặt anh có vẻ hậm hực, tức tối. Cảm thấy tội nghiệp, chỉ vì miếng cơm manh áo! 

Tội nghiệp cho cả nền kinh tế nước nhà sau 30 năm đổi mới, vẫn thân phận kẻ làm thuê. Cao hơn nữa thì đua nhau làm gia công như dệt may, giầy dép, đồ gỗ… và bà thứ trưởng Bộ Lao động Thương binh và Xã hội còn hí hửng khoe trước: “Năm nay nước ta có số lao động xuất khẩu cao nhất so với các năm trước.”

Hình như những người lãnh đạo chưa nuôi được ý chí tự cường, giúp dân thoát cảnh làm mướn. Nhà nước chưa một lần khuyến khích người đi lao động nước ngoài phải chú ý học lấy nghề, để về nước tham gia vào các ngành sản xuất mà chỉ thuần túy giúp họ đi bán sức lao động.
.

Một góc Fomosa. Ảnh Trần Nhương.
.

Xe chúng tôi đi chầm chậm trong khu vực có đường băng chuyền đặt trên cao, nom như một đoàn tầu điện dài hun hút . Đường băng chuyền chạy từ phía bờ cảng Sơn Dương len lỏi vào khu vực các nhà máy.

– Cháu giới thiệu qua về Khu liên hợp này đi.- trong đoàn có người nói.

– Dạ, thưa các bác, xe chúng ta đang chạy trong khu vực nhà máy của Công ty TNHH Hưng Nghiệp Formosa Hà Tĩnh. Dự án khu liên hợp gang thép và cảng Sơn Dương do Formosa làm chủ đầu tư có 3 hạng mục: Nhà máy luyện gang thép công suất 7, 5 triệu tấn/ năm; nhà máy điện công suất 650 MW và cảng nước sâu Sơn Dương. Tổng diện tích của dự án là 3.318,12 ha, trong đó diện tích mặt đất 2.025, 37 ha, diện tích mặt biển 1. 293, 35 ha.

– Cảng đón được tàu trọng tải bao nhiêu tấn và độ sâu bao nhiêu mét, tôi hỏi.

– Dạ, cháu thấy tầu lớn vẫn vào đây bốc hàng, còn trọng tải bao nhiêu cháu không rõ, độ sâu cháu cũng không biết.

Theo tìm hiểu, Sơn Dương thuộc loại cảng biển sâu nhất Việt Nam, độ sâu ổn định tới 20 mét, độ chênh thủy triều không ảnh hưởng tới việc tàu ra vào. Cảng này, tàu 300. 000 tấn có thể bốc xếp hàng thoải mái. Nghĩa là cả một Hạm đội lớn như Hạm đội 7 của Hải quân Hoa Kỳ, cũng có thể cập cảng Sơn Dương và trú tránh an toàn.Với độ sâu ấy, tầu ngầm cũng có thể ra vào dễ dàng. Hơn nữa trên bờ cảng, còn diện tích mặt đất khá rộng, vừa làm bến bốc, dỡ hàng hóa, khi cần có thể dẹp lại làm sân bay dã chiến. Nghĩa là Sơn Dương có khả năng vừa là cảng thương mại lớn vừa là căn cứ quân sự tuyệt hảo. Không thể hiểu, bằng cách nào mà Formosa lại chui được vào tử huyệt này của nước ta? Lại nữa nó được xây dựng nhanh với tốc độ chóng mặt, do 8 nhà thầu của Trung Hoa đại lục với cả vạn người họ ồ ạt kéo sang làm việc hối hả một cách đáng ngờ!

Khu kinh tế Vũng Áng ở chân núi phía bắc dẫy Hoành Sơn gồm các xã: Kỳ Nam, Kỳ Phương, Kỳ Lợi, Kỳ Long, Kỳ Liên, Kỳ Thịnh, Kỳ Trình, Kỳ Hòa, Kỳ Ninh thuộc huyện Kỳ Anh. Tổng diện tích hơn 30 km2. Nghĩa là nó chiếm hơn 1/10 diện tích của cả huyện này.

Xe của chúng tôi vẫn lăn bánh trên những nẻo đường mà cô Dung chỉ dẫn. Không hiểu sao trong tôi lại nhen lên từ ký ức, rằng lúc này tôi có cảm giác y hệt hồi những năm đầu của thập niên 50 của thế kỷ 20, như tôi đang đi trong vùng địch tạm chiếm, mặc dù tôi đang đi trên đất nước của tôi, và người chủ tạm này theo hợp đồng, họ chỉ làm chủ có 70 năm thôi. Thực ra, theo luật pháp nước tôi, họ chỉ được phép thuê 50 năm, còn 20 năm gian dối kia là do có kẻ tiếp tay. Cũng như Hồng Kông Trung Quốc chỉ thuộc về người Anh có 99 năm. Nhưng Hồng Kông là nhượng địa.

Ngoài kia cảng Sơn Dương mênh mang nước, biển xanh rờn. Trong khu liên hợp này, các nhà máy dường như chưa khởi động. Tôi hình dung khi các nhà máy luyện gang thép và nhà máy điện khổng lồ kia hoạt động đồng bộ, khí thải phun khói bụi lên trời thì từ Vinh và Đồng Hới chắc nhận ra vị trí của Hà Tĩnh thật dễ dàng. Khu công nghiệp này khi vận hành, nó sẽ phát thải lên trời, thải qua các nguồn nước , thải trong lòng đất, trong đó có bụi than, có khí độc hóa chất, có chất rắn không hòa tan… Vậy là từ bầu trời, mặt đất, nguồn nước ngầm, dưới đáy biển sẽ đồng bộ nhận chất thải độc của khu công nghiệp Formosa. Tuy nó mới chỉ súc rửa đường ống thôi, đã hủy diệt môi sinh hơn 200 km biển chạy suốt bốn tỉnh, và không một sinh vật biển nào từ tầng mặt đến tầng đáy có thể sống sót, từ các loài tôm cua cá nghêu sò đến san hô rong tảo đều chết. Cá chết nổi trắng các bờ biển, một vụ đầu độc kinh hoàng. Một vụ đầu độc khổng lồ có dự mưu chứ không phải vô tình. Một thảm họa môi trường do con người gây ra với qui mô lớn như thế này, chưa từng một lần xảy ra trên Trái đất.

Tại sao nói có dự mưu? Có dự mưu là bởi thủ phạm có chuẩn bị, có tính toán cho hành vi và biết trước hậu quả. Điều này đã được Chu Xuân Phàm, người phụ trách đối ngoại của Formosa phát ngôn trước báo chí và lãnh đạo địa phương sau mấy ngày cá chết. Vẻ mặt giận dữ, thái độ ngông ngạo, lời nói xấc xược, y lớn tiếng quát hỏi: “Muốn cá hay muốn thép? Chọn tôm cá hay chọn thép? Muốn cả hai thì đến Thủ tướng cũng không làm được”.

Như vậy là cả Chu Xuân Phàm và lãnh đạo Formosa Hà Tĩnh, đều biết rõ tác hại của hóa chất mà họ dùng để súc rửa đường ống. Thật là một tội ác đã được sắp đặt. Vậy mà còn có kẻ bênh che.

Sau đó Formosa chối tội, đuổi Chu Xuân Phàm về Đài Loan. Chúng tôi thường bảo Chu Xuân Phàm thuộc trường phái hiện thực trần trụi. Và chính những lời thú tội của Phàm cũng là một bằng chứng phạm tội quả tang.

Vậy là kẻ thủ ác đã công khai thách thức và công khai thú tội. Đây là loại tội phạm môi trường, nhân chứng vật chứng có đủ. Vấn đề còn lại là luật pháp Việt Nam phải khởi tố và Tòa án phải xét xử, phải truy tố chứ không thể chỉ xin lỗi rồi cho qua. Hai đứa trẻ vì đói mà cướp mẩu bánh mì và vài thứ trị giá có 45.000đ còn phải ngồi tù,vì Tòa tuyên đó là hành động gây nguy hại cho xã hội.Thế thì kẻ đầu độc môi trường, tàn sát vô vàn sinh vật biển suốt một dải dài hơn 200 cây số , làm tê liệt nhiều ngành kinh tế và ảnh hưởng xấu tới đời sống hàng mấy chục vạn người. Và nửa thế kỷ sau chắc gì môi trường đã có thể hồi sinh.Thử hỏi tội ác ấy có nguy hiểm cho xã hội không? Có xứng đáng để truy tố không, hay nó không nguy hại bằng hai đứa trẻ cướp mẩu bánh mì? Đây còn chưa kể đến cú sốc tâm lý cực lớn đối với mọi người, đặc biệt là đối với trẻ em thì việc sang chấn thần kinh, sang chấn tâm lí sẽ ảnh hưởng suốt cuộc đời. Liệu Formosa và những kẻ rước Formosa vào có thể đền bù được tội ác này không?

Đi 16 km, được một góc khu công nghiệp Formosa, cũng tức là chúng tôi chỉ được phép cỡi ô tô xem nhà xưởng và sắt thép trong phạm vi đó.

Lưới chất đống góc sân một nhà dân tại xã Kì Lợi

Tiếp theo chúng tôi vào thăm bà con ngư dân tái định cư ở Đồng Yên thuộc xã Kỳ Lợi huyện Kỳ Anh.

Một con đường chạy giữa hai dẫy nhà thưa thớt. Đây là khu vực của các gia đình ngư dân tái định cư. Trời nắng nóng như thiêu, nhiệt độ ngoài trời đến 40 độ C, bốn bề không một bóng cây. Các nhà cất còn tạm bợ, nhiều nhà chưa hoàn thiện. Chúng tôi ghé một ngôi nhà nhỏ ven đường. Ngôi nhà vừa cất xong, chỉ có tường vách, không thấy một thứ đồ đạc gì đáng giá ngoài đống lưới cuốn gọn trong góc nhà cỡ chừng một mét khối. Một người phụ nữ bế con bên nách nhìn ra đường vẻ ngơ ngác. Chúng tôi bước vào nhà hỏi chuyện. Được biết dẫy nhà lơ xơ đây thuần dân tái định cư của xã Kỳ Lợi, tất cả đều là ngư dân bám biển sống từ nhiều đời. Nơi tái định cư có tên là xóm hoặc làng Đồng Yên. Gọi là Đồng Yên, nhưng lòng người lại không yên. Chị chủ nhà tên Nguyễn Thị Vinh, sinh năm 1982, tuổi Nhâm tuất. Nhà văn Trần Nhương trêu: “Nhâm tuất – con chó vàng, giàu rồi, lo gì”.

Như đụng vào nỗi lòng đang lo lắng buồn đau, chị Vinh than thở:

– Ông ơi, con đang lo không biết sống sao đây. Mấy tháng nay thuyền úp bến, lưới chồng đống khô rang, thèm con tôm con cá đến xót cả ruột. Chị Vinh có hai con nhỏ, bốn tuổi và hai tuổi. Chồng, anh Nguyễn Văn Tâm sinh năm 1975.

Thấy tôi ghi tên tuổi của vợ chồng chị Vinh, bà con xóm giềng kéo đến rất đông. Họ không cần biết chúng tôi là ai. Tất cả đòi ghi tên và số người trong nhà. Nguyễn Thị Thơ 55 tuổi, chồng là Hoàng Văn Từ 55 tuổi, nhà có 10 khẩu. Thôi thế nhà em xong rồi. Bà Thơ vừa quay ra, người khác đã len vào xướng danh.

Nhà văn Trần Nhương giải thích:

– Bà con ơi, chúng tôi là khách qua đây chứ không phải cơ quan công quyền gì đâu. Bà con không để ý, vẫn cứ đòi ghi tên – Hoàng Kham, bác ghi đi. Nhà em 10 khẩu, 4 lao động biển.

Tôi hỏi xen: – Thế bây giờ bà con đã đi biển được chưa?

– Chưa! Nước vẫn còn ngứa lắm. Trong lộng chưa thấy có cá tôm gì.

– Thế ra khơi được chứ ạ?

– Khơi thì được nhưng phải có thuyền lớn. Mới lại đánh bắt về bán cho ai. Dù cá sạch, dân vẫn không dám ăn. Nhà nước chưa hướng dẫn chỉ số an toàn, chưa có chỉ dẫn gì hết, ai dám mạo hiểm.

– Bác ơi, em Nguyễn Văn Thành 57 tuổi, nhà 8 khẩu.

– Em Nguyễn Bá Thạch 62 tuổi, nhà 6 khẩu.

– Em Phạm Minh 54 tuổi, nhà 8 khẩu v.v…

Tất cả bà con đều là ngư dân thuộc xã Kỳ Lợi.

Chúng tôi hỏi:

– Từ ngày phải ngừng đi biển, bà con có được Nhà nước hỗ trợ gì không?

– Dạ có, mỗi khẩu một tháng được 15 kí gạo. Nhưng bác bảo chỉ có hạt gạo không sống sao nổi. Còn trăm thứ khác phải tiêu pha chứ. Trước, mọi thứ chi tiêu đều lấy từ biển. Không biết rồi đây sẽ sống ra sao.

– Các bác có làm gì thêm để kiếm tiền không?

– Trước Formosa thuê lặn 18 triệu, nay họ gọi thuê 50 triệu, chẳng ai đi.

– Sao lại không đi?

– Đi cho mà chết à. Tôm cá còn chẳng sống được. San hô, hoa đá còn chết. Chết tiệt, chẳng còn gì cả. Mình lặn xuống cho toi mạng à. Đã có người chết vì lặn thuê cho họ rồi đấy.

Tôi gợi chuyện bà con:

– Vậy chớ bây giờ Nhà nước hỗ trợ cho bà con chuyển nghề. Rồi trong nhà có thanh niên mạnh khỏe, Nhà nước đào tạo nghề rồi cho sang Đài Loan lao động, bà con có ưng không?

– Không! Chúng em suốt đời bám biển. Nay làm rừng, làm ruộng không làm được, không sống được. Con cái dốt nát, chữ nghĩa ít. Các ông cho học vớ vẩn rồi cho sang Đài Loan. Họ nhận vào làm việc tay chân vài tháng rồi kêu hết việc. Họ hỏi có biết vận hành máy móc không. Không biết, họ tống về. Thế là ôm nhau chết đói cả lũ.

– Vậy nguyện vọng bà con thế nào?

– Chúng tôi muốn biển. Muốn Nhà nước bắt Formosa làm sạch biển cho chúng tôi sinh sống. Muốn Nhà nước tống cổ Formosa đi thì chúng tôi mới yên tâm làm ăn.

Tôi nói, nếu Nhà nước đền bù thỏa đáng, bà con nghĩ sao?

– Không! Đã bảo không là không. Không đền bù. Tiền ấy đem làm sạch biển cho ngư dân. Chúng tôi cần sinh sống lâu dài trên đất của tổ tiên đã tạo lập từ ngàn đời. Dân chài 4 tỉnh miền Trung này tới cả mấy chục vạn chứ ít đâu. Lại còn bao nhiêu, bao nhiêu là người sống theo con cá nữa chứ, nó không đơn giản như các ông nghĩ. Các ông hay nghĩ quẩn lắm, định đem vài tờ giấy bạc làm mờ mắt chúng tôi sao?

Được bà con dạy cho một bài học, tôi chưa kịp đáp lời. Một ông già nom có vẻ đàng hoàng chững chạc, nhìn thẳng vào mắt tôi, ông hỏi:

Có thật các ông muốn ngư dân chúng tôi chuyển nghề, để trao biển cho Trung Quốc không? Đời đời dân tôi bám biển là để giữ biển. Giữ biển là giữ nước đấy.

Câu hỏi vỗ mặt của người dân chài khiến tôi bàng hoàng. Chưa kịp nói lời xin lỗi, ông đã bỏ đi.

Đúng là dân biển ăn sóng nói gió, chém to kho mặn, đã nói một là một, hai là hai.

Chia tay bà con, chúng tôi ra bãi biển Vũng Áng. Trời nắng chang chang, biển đầy ắp nước. Nước xanh ngăn ngắt, sóng vỗ lăn tăn như mời gọi mà không ai dám nhúng tay xuống nước. Bãi cát trắng phau. Những con thuyền thúng úp sấp nom như những nấm mồ. Những con thuyền dài bọc phủ ni lông trắng toát, nom như những ngôi mộ mới vừa chôn cất. Mép nước san sát những con thuyền bỏ biển neo đậu, bập bềnh theo nhịp sóng vỗ, như một điệu ru buồn.

Nhìn cảnh tượng đau lòng, lại nhớ đọc mạng, thấy các đại biểu Quốc hội đang làm nóng hội trường về chuyện Formosa.

Ông Trương Trọng Nghĩa đại biểu đoàn thành phố Hồ Chí Minh đề nghị Quốc hội phải thảo luận vấn đề Formosa.

Rõ ràng Formosa tàn sát môi trường biển miền Trung là một sự kiện động trời.

Đại tướng Đỗ Bá Tỵ, phó Chủ tịch Quốc hội: “Câu hỏi đặt ra là môi trường khi nào được khắc phục, nghề cá của ngư dân đến khi nào khôi phục được? Nếu không trả lời được những câu hỏi, không có dự kiến, giải pháp đủ mạnh sẽ rất khó lường, không chỉ là câu chuyện kinh tế mà còn nhiều vấn đề khác… Tôi thấy vụ việc Formosa còn là vấn đề tiềm ẩn lâu dài. Nếu không lường trước, tình hình sẽ còn diễn biến hết sức phức tạp. Vấn đề ở đây không chỉ đơn giản là kinh tế mà còn gắn với quốc phòng, an ninh.”

Có đại biểu đòi lập Ủy ban giám sát đặc biệt Formosa.

Ông Hà Ngọc Chiến, Chủ tịch Hội đồng dân tộc của Quốc hội nêu vấn đề:

“Chính phủ cần làm rõ nguyên nhân chủ quan liên quan đến việc phê duyệt, thẩm định dự án này. Bởi vì theo thông tin, đây là dự án nước ngoài rất lớn nhưng được phê duyệt rất nhanh. Đánh giá tác động môi trường cũng được phê duyệt rất nhanh. Rồi họ đòi hỏi ưu đãi nọ, ưu đãi kia cũng được phê duyệt rất nhanh. Và cuối cùng hậu quả tai hại cũng rất nhanh”.

Có đại biểu Quốc hội còn đề nghị đem vấn đề Formosa ra trưng cầu dân ý.

Ông Trần Hoàng Ngân đại biểu Thành phố Hồ Chí Minh nói: “Khi giải quyết vấn đề Formosa phải xem đây là dự án quốc gia. Các Ủy ban của Quốc hội phải tăng cường giám sát đã trả lời thỏa đáng cho cử tri dự án này có xứng đáng tồn tại không, theo quan điểm của cá nhân tôi là không”.

Luật sư Trương Trọng Nghĩa đoàn Tp Hồ Chí Minh nói về Formosa có đề cập đến ý kiến của cử tri: “Cử tri cũng đặt câu hỏi là cho đến nay chưa thấy các đại biểu Quốc hội ở các tỉnh miền Trung và các Ủy ban của Quốc hội có ý kiến gì cả, chí ít là cũng có thông tin, chí ít là dự kiến sẽ làm gì”.

Vậy là các đại biểu Quốc hội đã phản ánh trung thực nguyện vọng của dân. Dân muốn được thông tin minh bạch. Dân muốn truy cứu trách nhiệm người lập và người phê duyệt ưu đãi dự án Formosa nhanh đến chóng mặt. Dân không muốn có Formosa.

Rời Vũng Áng, đoàn chúng tôi vào Thiên Cầm. Biển đẹp như mơ, bãi cát thoải, đây đó có một vài chiếc dù xòe to, dăm chiếc ghế nhựa xanh đỏ để chụm, chờ khách. Bãi tắm Thiên Cầm bình thường ai đã ghé thăm vào mùa nóng, khó có thể cầm lòng đi nơi khác. Phải nói vẻ đẹp của bãi Thiên Cầm có sức gợi cảm đến mê hồn. Vậy mà mùa hè này nó trở nên đìu hiu, cô quạnh. Các quán hàng trên bến vắng teo. Chủ quán nọ nhìn sang chủ quán kia chuyện vãn.

Tôi hỏi cô Tám Hạnh – một chủ quán, việc kinh doanh hàng họ thế nào.

Cô ngáp dài uể oải đáp:

– Chán lắm bác ơi, ế lắm. Từ đầu tháng tư, sau vụ cá chết trắng biển, khách qua đây đi vội như đi qua vùng có bệnh dịch chứ không ghé nghỉ như mọi năm. Mọi năm vào cữ này, chúng cháu bận túi bụi từ sáng sớm đến nửa đêm.

– Quán nhà ta có mấy người phục vụ.

– Nhà cháu có 12 người, nhận thêm 8 người giúp việc.

– Năm nay vắng khách, cô cho người giúp việc nghỉ hết à.

– Thôi thì cầm cự nuôi nhau tạm bác ạ, đuổi họ đi đâu. Ở đây nó định hình công việc rồi. Rời biển là chết đói.

– Nếu Nhà nước hỗ trợ cho cô chuyển nghề, cô có ưng không.

– Không. Nhà nước để tiền ấy với tiền Formosa đền bù, làm sạch biển cho dân chúng cháu làm ăn thôi. Không lấy đền bù, cũng không đi đâu cả, dân chúng cháu đã có kiến nghị cả rồi.

Sáng sớm, chúng tôi ra cảng cá Cẩm Nhượng. Thuyền về bến, tôm cá lèo tèo. Thấy một tốp gần chục phụ nữ ngồi bới đống rong rêu nhặt ốc, sò và cá lẹp. Lại một tốp đang phân loại tôm đóng vào thùng xốp.

Tôi hỏi ông chủ có tên Trần Kỳ khoảng ngoài 50 tuổi. Ông Kỳ chỉ tay về phía những con thuyền bên mép nước nói:

– 15 thuyền về bến mà chỉ có bằng này sản phẩm, chừng năm, sáu chục cân.

Ông cho biết biển Thiên Cầm nằm về phía cực bắc của Hà Tĩnh, nên ít chịu ảnh hưởng. Nhưng sản lượng đánh bắt tụt hẳn, chỉ bằng một phần tư, một phần năm các vụ trước. Giá cả cũng tụt quá nửa. Có đánh bắt về cũng không bán được cho ai.

– Vậy ông đóng các thùng tôm kia chở đi bán ở đâu?

Ông Trần Kỳ cười như mếu:

– Chở ra Vinh, ra Thanh Hóa, ra Hà Nội bán cho các bác chứ chở đi đâu. Bây giờ làm ăn chán lắm. Tôi có hai thuyền đánh cá, phải cho ra đánh bắt tận Quảng Ninh. Mong sao biển sạch trở về làm ăn như cũ. 
.

Nhà văn Hoàng Quốc Hải và Nhà văn Trần Nhương gặp dân xã Kì Lợi. Ảnh: TNc.

Chúng tôi gặp nhiều người khác nhau, từ ngư dân trực tiếp đi biển, đến người thu gom phân phối; người chế biến các sản phẩm như làm nước mắm, buôn bán cá, tôm, mực khô, người chở xe thồ, xe điện, người kinh doanh nhà hàng, khách sạn, tất cả họ đều mong muốn biển sạch để được làm ăn như cũ. Trước khi biển bị Formosa đầu độc chẳng nói làm gì, nay là ước mơ của dân biển sao cho trở về được cái ngày xưa ấy.

Trở lại các vấn đề của dự án Formosa. Cái gì cần nói, các đại biểu Quốc hội đã nói cả rồi. Chỉ tiếc các cơ quan quản lý Nhà nước ta, nghiệp vụ mỏng quá. Ngay như Bộ Tài nguyên- Môi trường, cuối năm 2015 vào kiểm tra các chỉ số môi trường của Formosa vẫn cảm thấy bình yên.

Các cấp lập và phê duyệt dự án cũng không hình dung được khu công nghiệp sẽ hoạt động như thế nào, do đó không đặt ra các tiêu chí đảm bảo môi trường như một điều kiện tiên quyết để phê duyệt dự án.

Đọc một đoạn sau đây, sẽ hình dung ra tất cả: “Khu kinh tế Vũng Áng được Thủ tướng Chính phủ thành lập theo quyết định số 72/2006 QĐ-TTg ngày 3.4.2006 có diện tích 2.278,1 ha là khu kinh tế đa ngành đa lĩnh vực với trung tâm:

– Phát triển các ngành luyện kim với lợi thế tài nguyên, nguồn nguyên liệu, các ngành công nghiệp gắn với khai thác cảng biển, khu công nghiệp trung tâm nhiệt điện và lọc dầu.

– Phát triển đồng bộ khu liên hiệp Vũng Áng – Sơn Duơng bao gồm đầu tư khai thác có hiệu quả khu liện hợp cảng, phát triển dịch vụ cảng và các dịch vụ vận tải để tạo thành một trong những cửa ngõ ra biển quan trọng của bắc Trung Bộ.

– Xây dựng khu đô thị mới Vũng Áng đồng thời ưu tiên phát triển du lịch sinh thái, khu du lịch nghỉ dưỡng biển trở thành các điểm du lịch quan trọng trong tuyến du lịch ven biển bắc Trung Bộ.

Đúng là các nhà lập kế họach phát triển kinh tế không tưởng, và lãng mạn hơn nhiều các nhà thơ lãng mạn.

Truớc hết, không bao giờ chủ nhân Formosa lại đầu tư khai thác mỏ quặng nằm sâu trong lòng đất hàng trăm mét. Lại còn muốn biến nơi đây thành “thành phố sinh thái du lịch nghỉ duỡng quan trọng trong tuyến du lịch ven biển miền Trung.”

Rõ ràng họ không hiểu luyện thép, lọc hóa dầu, nhiệt điện là những ngành công nghiệp bẩn, độc hại hàng đầu, làm sao lại có thành phố du lịch sinh thái song hành được. Bởi vậy rất khó tìm được nước nào chịu hy sinh môi truờng cho nhà đầu tư loại công nghiệp này.

Chẳng thấy sao, nó mới súc rửa đường ống đã làm cho nhiều ngành kinh tế miền Trung lao đao, cả mấy trăm ngàn người bị ảnh hưởng xấu. Tôm cá không đánh bắt được, biển chết, kinh doanh du lịch và nhiều ngành phụ trợ khác tê liệt. Nếu còn dung dưỡng Formosa, chắc chắn họ sẽ biến không chỉ Hà Tĩnh thành bãi chứa rác thải nguy hiểm, và nó không chỉ đe dọa về môi trường sinh thái, mà nó còn nguy hiểm tới cả an ninh quốc phòng như tướng Đỗ Bá Tỵ cảnh báo.

Khi ông Hồng Phú Nguyên (Hong Fu Yan) Chủ tịch tập đoàn nhựa và sợi Formosa Đài Loan phủ nhận Formosa Hà Tĩnh tàn sát môi truờng biển, bà Lâm Nhân Huệ ( Lin Jen Hui) Tổng thư kí Hội thẩm phán môi truờng Đài Loan nói:“Nếu Tập đoàn tin rằng họ bị kết tội oan uổng, tại sao họ lại xin lỗi và bồi thường 500 triệu USD?”

Và điều này mới thực sự quan trọng. Bà Lâm Nhân Huệ nói tiếp: “Nếu Formosa chính thức họat động và xả tới 45.000 m3 nước thải /ngày, đúng như mức Bộ Tài nguyên – Môi truờng của Việt Nam cho phép, thì tầm vóc của thảm họa kế tiếp sẽ lớn gấp nhiều lần. Nói cách khác, không bao giờ loại trừ được khả năng Formosa có thể tạo ra một thảm họa mới khiến cá chết trắng suốt 3.000 cây số bờ biển chạy dọc Việt Nam” (Nguồn: Người Việt 15.7.2016).

Chớ coi thường lời cảnh báo nghiêm khắc mang tính khoa học và xây dựng của một người có trách nhiệm và có lương tri. Hơn nữa bà Lâm Nhân Huệ còn là đồng bào gần gũi của Tập đoàn công nghiệp Formosa.

Hãy nghe thêm một ý kiến nữa của ngài nghị sĩ Su Chih Feng, cựu thị trưởng Văn Lâm (Đài Loan) cho rằng: “Formosa là con quái vật khổng lồ, do đó phải cẩn trọng và cứng rắn khi hợp tác với tập đoàn này” ( Nguồn ZingVN).

Nhân đây xin nói thêm về giá trị của biển Việt Nam. Trước hết phải nói, nước ta không phải là một nước nhỏ. Xin mọi người đừng có tự ti.

Nước ta có gần một trăm triệu dân, về dân số đứng thứ 14 trên thế giới. Nếu biết khai thác có hiệu quả tiềm năng trí tuệ và sức lao động, khối người này có thể làm cho bất cứ một quốc gia nào giàu mạnh. Ấy là chưa nói đến truyền thống lịch sử, văn hóa và tố chất của nguời Việt Nam. Diện tích đất đai chỉ có hơn 320.000km2 cũng không phải là quá chật. Song ta có thế mạnh về biển, bờ biển trải dài từ Bắc vào Nam tới 3.260km, và không gian biển của ta tới trên một triệu km2 , gấp gần bốn lần diện tích đất liền. Nhiều tài nguyên khoáng sản trong lòng biển. Một phần rất nhỏ tài nguyên đó ta đang khai thác: dầu và khí đốt. Tài nguyên về hải sản cũng không nhỏ. Ta chưa có thống kê, nhưng các nước bạn như Thái Lan, riêng nguồn lợi về hải sản đã chiếm 2% GDP, còn Indonesia, nguồn lợi này chiếm tới 5% GDP. Do đó biển là không gian sinh tồn, có tiềm năng dồi dào để nuôi sống con người và phát triển đất nước trong hiện tại và cả tương lai. Trái lại trên mặt đất, các tài nguyên thiên nhiên như rừng và than đá, ta khai thác gần như cạn kiệt. Các loại khoáng sản khác đều có nhưng trữ lượng không đáng kể, không đủ khai thác công nghiệp. Về đất đai nông nghiệp, chủ yếu dựa vào vựa lúa đồng bằng Nam Bộ, thì đang bị đe dọa nghiêm trọng vì nguồn nước do Trung Quốc khống chế từ thượng nguồn. Nếu quan hệ hai nước xấu đi, Trung Quốc sẽ đóng nước mùa khô và xả nước mùa lũ, vựa lúa Nam Bộ trở nên úng lụt và khô mặn. Nghĩa là đồng bằng Nam Bộ chẳng còn lợi thế gì nữa. Và an ninh lương thực quốc gia trở nên bấp bênh, khó lường.

Nên nhớ giới thống trị Trung Hoa từ cổ xưa tới nay, trừ những điều nhân nghĩa thì không việc tàn bạo nào họ không dám làm. Ngay cả giết hàng loạt dân họ chỉ vì nghi kị vu vơ, họ cũng không ngần ngại, huống chi đối với láng giềng mà họ đang mưu toan thôn tính.

Trung Quốc không hề có bạn bè. Họ luôn đặt các nước vào hàng tôi tớ, phụ thuộc, hoặc thù địch.

Cho nên bằng mọi giá phải giữ cho môi trường sinh thái biển lành mạnh, phải tác động trở lại cho môi trường biển miền Trung sớm phục hồi. Ngư dân không chỉ đánh bắt hải sản mà còn là đội quân giữ biển, giữ tài nguyên, và giữ chủ quyền quốc gia. Vắng họ, lập tức có kẻ khác thế chân ngay. Và kẻ thù không mong gì hơn ngư dân nước ta bỏ biển. Vì vậy phải tăng cuờng phương tiện cho ngư dân miền Trung đánh bắt xa bờ, thay vì hỗ trợ cho họ đổi nghề. Và nên nhớ, biển mới là cứu cánh cho sự sống còn, và sự bứt phá của cả dân tộc trong thế kỷ 21 này.

Mệnh nước đang nằm trong tay Quốc hội, trong tay bộ máy quyền lực Nhà nuớc. Hãy thuận theo ý dân mà chèo lái con thuyền dân tộc vượt qua khúc quanh lịch sử hiểm nguy này.

Nếu muốn giữ cho mệnh nước trường tồn, phải giữ cho bằng được môi trường sinh thái biển trong lành và bình yên. Như vậy, chấp nhận Formosa tồn tại là điều không thích hợp. Vẫn chưa muộn, nếu ta phạt Formosa hành vi đầu độc môi trường, khởi kiện Formosa gây thảm họa môi trường ,và cuối cùng là mời họ ra khỏi nước ta.

Nếu không, thì như lời bà Lâm Nhân Huệ, Tổng thư kí Hội thẩm phán môi trường quốc đảo Đài Loan đã cảnh báo:“… Không bao giờ loại trừ được khả năng Formosa có thể tạo ra một thảm họa mới khiến cá chết trắng suốt 3.000 cây số bờ biển chạy dọc Việt Nam.”

“Formosa là con quái vật khổng lồ, phải cẩn trọng và cứng rắn khi hợp tác với Tập đoàn này!”. Đó là lời cảnh báo, cũng của một người Đài Loan.

Hà Nội ngày 26.7.2016
H.Q.H 
———

Bài đăng trên báo Văn Ngh, đã phát hành sáng 4.8.2016:

 ___

Tểu blog

nhận xét :

  1. Các nhà văn nhà thơ được thực mục sở thị (Tai nghe mắt thấy tay sờ) nói ra chắc chắn là chuẩn không cần chỉnh.
    Còn một việc tôi đang băn khoăn đó là Bộ Tài nguyên môi trường VN công bố kiểm soát nguồn nước thải của Fomosa liên tục trong 4 năm đầu.
    Xin hỏi từ năm thứ 5 trở đi sẽ thôi không kiểm soát nữa sao?
    Lúc đó liệu Fomosa có tự giác chấp hành các quy định xả thải không?

    Trả lời

  2. Bác Hoàng Quốc Hải viết quá hay và nhận xét sắc sảo.
    Tội ác này là một DỰ MƯU đã được chuẩn bị kỹ từ đầu.
    Phải đóng cửa Formosa và phải bắt bồi thường xứng đáng.

    Trả lời

  3. Đóng cửa Formosa là tiếng gọi của lòng dân ,là lương tri của con người .Tiếp tục bao che,duy trì nó là phản bội lại nhân dân tiếp tay cho tội ác diệt chủng nhân dân phải bị trừng trị thích đáng .ĐONG CỦA FORMOSA LÀ MỆNH LỆNH TRÁI TIN-KHỐI ÓC LÀ CON ĐƯỜNG DUY NHẤT ĐỂ BẢO TOÀN NÒI GIỐNG ///

    Trả lời

  4. Nếu cần bổ sung chỉ thêm: Đuổi formosa ngay lập tức, Không giây phút nào nữa! Đồng thời đưa ra tòa quốc tế bắt tẩy sạch biển. Chúng chần chừ thì tịch biên

    Trả lời

  5. Bác Hải là người viết tiểu thuyết lịch sử, nghiên cứu nhiều triều đại việt Nam. Không hiếm những triều đình độc ác lắm, nhưng đã có lúc nào hủy diệt sự sống đồng loạt và lâu dài như hôm nay chưa?

    Trả lời

  6. Các nhà lãnh đạo csVN như những con nai tơ trước những con cáo già Formosa . Xem như bài kí sự của HQH có thể thấy được Tập đoàn Formosa đã mua VKC với giá rất hời . Số tiền này là quá lớn với VKC nhưng lại chẳng là gì với Formosa vì cái lợi nhuận mà Formosa sẽ thu lại là hàng tỉ đô . Chẳng ai dại gì bỏ ta 11 tỉ đô để chỉ thu về vài trăm triệu đô ?

    Trả lời

  7. Đóng cửa Formosa là tiếng gọi của lòng dân ,là lương tri của con người .Tiếp tục bao che,duy trì nó là phản bội lại nhân dân tiếp tay cho tội ác diệt chủng nhân dân phải bị trừng trị thích đáng .ĐONG CỦA FORMOSA LÀ MỆNH LỆNH TRÁI TIN-KHỐI ÓC LÀ CON ĐƯỜNG DUY NHẤT ĐỂ BẢO TOÀN NÒI GIỐNG ///
    PHẢI ĐÓNG CỬA FORMOSA NẾU ĐẢNG VÀ CHÍNH PHỦ CÒN YÊU NƯỚC YÊU DÂN ! Lý do gì ĐẢNG VÀ CHÍNH PHỦ KHÔNG QUYẾT ĐỊNH ĐÓNG CỬA FORMOSA (?) phải nói cho dân biết ! Đất nước này là của toàn dân, không phải của riêng của đảng . Chính phủ là cơ quan làm thuê cho dân, dân trả lương và bổng lộc để làm việc. Phải đảm bảo phục vụ dân, đưa Formosa ra trước toà xét xử và chấm dứt hoạt động của Formosa – đó là yêu cầu của dân , không thể chần chờ được !

    Trả lời

  8. Dùng hóa chất hủy diệt sự sống là phạm tội ác chống nhân loại. Đủ ra tòa quốc tế rồi

    Trả lời

  9. Đọc xong chỉ biết:
    – DKM Formosa và những thằng tay sai VC bao che!

 

Posted in Bán Tài Nguyên Khoa'ng Sản- Cho Nước Ngoài Thuê Đất 50 năm, Formosa Hà Tỉnh -Cá chết- Ô nhiễm, Làm ăn chung với Trung Quốc, Sách- Báo- Hồi Ký | Leave a Comment »

►Lời Ai Điếu của nhà văn Lê Phú Khải (Đinh Quang Anh Thái giới thiệu)

Posted by hoangtran204 trên 16/07/2016

 

LỜI AI ĐIẾU, hồi ký của Nhà báo Lê Phú Khải,

LOI AI DIEU COVER
do Người Việt Books sắp phát hành, tháng Tư, 2016 tại Hoa Kỳ

Lời Nhà Xuất Bản

460179_451110461572925_948452281_oVào thập niên 50 tại Âu Châu và ngay cả tại Mỹ, phong trào thiên tả lan rộng trong giới trí thức. Tầng lớp có học thời ấy tự hào “phàm là trí thức thì phải thiên tả.” Điển hình là hai triết gia Jean Paul Sartre người Pháp, Bertrand Russel người Anh và nữ tài tử Mỹ Jane Fonda. Phong trào thiên tả ngưỡng vọng nhiều tay lãnh tụ cộng sản trên thế giới và xem Liên Xô là “cái nôi” cuộc cách mạng xã hội của loài người. Thậm chí cho tới mãi năm 1980 tại thành phố Bergen – Na uy, giới trí thức, giới cầm bút hay giáo sư đại học vẫn còn ca tụng Lênin, Mao Trạch Đông, Hồ Chí Minh và ngay cả Pol pot, tên đồ tể diệt chủng dân tộc Khmer.

Đám người mắc chứng “mê Cộng” này còn táo tợn cho rằng, “tuổi đôi mươi mà không theo Cộng Sản là không có trái tim.”

May cho đám đó là họ chỉ luẩn quẩn ở các đô thị xa hoa, uống rượu chát, ăn bò bí tết để mơ mộng xây dựng “thiên đường cộng sản” chứ không có, dù một ngày, trải nghiệm bằng chính bản thân cái chủ nghĩa là “căn bệnh ung thư” này của nhân loại.

Họ không có cái TRÍ của Nguyễn Chí Thiện để sớm nhận ra bộ mặt không có tính người của cộng sản, như trong thơ của Ngục Sĩ này viết:

“Tuổi hai mươi mắt nhìn đời trẻ dại
Ngỡ cờ sao rực rỡ
Tô thắm màu xứ sở yêu thương
Có ngờ đâu giáo giở đã lên đường
Hung bạo phá bờ kim cổ.”

Và như trường hợp tác giả cuốn Lời Ai Điếu này, nhà báo Lê Phú Khải, sớm nhìn rõ Chủ nghĩa Cộng sản từ lúc bước vào tuổi hai mươi: “Nghĩ ra một chủ nghĩa bao giờ cũng là các bậc thiên tài. Thực hiện cái chủ nghĩa đó bao giờ cũng là những người cuồng tín và hưởng thành quả của chủ nghĩa đó thì bao giờ cũng là bọn lưu manh.”

Khác với Jean Paul Sartre, Bertrand Russel hay Jane Fonda chỉ vỡ cơn huyễn mộng sau khi “Đế quốc Ma quỷ Liên Xô” và các chế độ cộng sản Đông Âu tan rã như cơm nguội gặp mưa, Lê Phú Khải cương quyết “không cần trái tim để theo cộng sản” dù như ông tự thuật, cả gia đình ông là cộng sản nòi: “Mỗi khi họ Lê Phú nhà tôi giỗ tết, tập hợp đông đủ nội ngoại, dâu rể thì nhìn đâu cũng thấy Đảng viên. Có lẽ, chỉ có mấy cái cột nhà và tôi là không phải Đảng viên mà thôi!” Hít thở không khí như thế, mà Lê Phú Khải nhiều lần từ chối vào Đảng vì ông thấy chế độ mà ông đang sống là một chế độ độc tài.

Lê Phú Khải trải nghiệm cái xã hội trại lính ở miền Bắc từ khi muốn thi vào đại học, ông phát giác rất rõ cái chủ nghĩa Mác Lê với quan điểm giai cấp đấu tranh trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội thì mới đẻ ra cái cách tuyển sinh “man rợ” như thế và nó lạc hậu hơn tất cả các hình thái xã hội có từ trước đó. Vì cộng sản chỉ lựa chọn sinh viên đại học dựa trên tiêu chuẩn thành phần giai cấp nên sản sinh một lớp người sau khi tốt nghiệp đa phần là những kẻ dốt nát, ngu si nhất, và “kẻ dốt nát xuất thân từ thành phần bần cố nông nghèo khổ một khi có quyền thì chỉ lo tham nhũng, vơ vét mà thôi.”

Cũng vì chủ trương đấu tranh giai cấp, nên chế độ đã phát động chiến dịch Cải Cách Ruộng Đất nhằm “đào tận gốc, trốc tận rễ” những thành phần khác của xã hội “Trí, Phú, Địa, Hào, Tôn giáo” và hậu quả là cả trăm ngàn người chết oan khuất trong cơn “say máu vĩ cuồng” của cộng sản với những câu thơ khẩu hiệu của Tố Hữu “Giết, giết nữa, bàn tay không phút nghỉ…Thờ Mao Chủ Tịch, thờ Sít-ta-lin bất diệt.” Lê Phú Khải trải nghiệm cái xã hội rơi vào điên loạn đó ngay tại quê vợ của ông khi chứng kiến cảnh nát lòng của một phú nông trong làng từng chứa chấp Việt Minh hoạt động, bị đấu tố trong cải cách ruộng đất, bị bức cung nên phẫn uất quá cho gọi tất cả các con cái về nhà, dồn vào một buồng rồi tưới xăng tự thiêu, “những đứa trẻ chết đen thui còn xác người vợ trương phồng lên như con bò!”

Thân phận trí thức ở đất nước nào cộng sản cai trị thì thành phần có học này cũng chịu những cay đắng, thống khổ giống nhau. Boris Pasternak, văn hào Nga đoạt giải Nobel Văn Chương năm 1958, trong tác phẩm lẫy lừng “Doctor Zhivago” đã gột tả nỗi tủi nhục của nhân vật chính, bác sĩ Zhivago, bị công an bắt vì ăn cắp vài cây gỗ sưởi ấm cho gia đình trong cái lạnh cắt da của mùa Đông nước Nga.

Việt Nam, qua lời kể của Lê Phú Khải, trong một phiên họp rất căng do bộ trưởng Công an Trần Quốc Hoàn chủ trì, giáo sư bác sĩ Tôn Thất Tùng, vì quá sợ, mồ hôi vã ra như tắm, rút khăn tay trong túi lau mặt khiến những gói mỳ chính (người miền Nam gọi là bột ngọt) nhỏ rơi ra. Bác sĩ Tùng có thói quen cất những gói mì chính nhỏ trong người để mỗi khi ăn phở ông lấy ra một gói cho vào tô. Buổi họp có mặt của Tướng công an Lê Phú Qua, chú ruột tác giả, tướng Qua thấy bác sĩ Tùng run quá, phải cúi xuống nhặt dùm các gói mì chính rồi để lại vào túi bác sĩ Tùng.

Đọc những đoạn Lê Phú Khải phơi bày tâm tình của mình trên giấy khi viết về thân phận trí thức trong chế độ cộng sản, người ta có cảm tưởng tác giả như đang nuốt ngược vào lòng nỗi tủi nhục của phận người bị guồng máy toàn trị dìm xuống tận đất đen. Như một lần ông đến thăm nhà văn 50 tuổi đảng Nguyễn Khải trước khi ông Khải qua đời năm 2008. Nguyễn Khải nắm tay bạn buồn bã nói: “Nhà văn Việt Nam bị ba đứa nó khinh. Thứ nhất là thằng lãnh đạo nó khinh. Thứ hai là độc giả nó khinh. Và thứ ba là đêm nằm vắt tay lên trán mình lại tự khinh mình!”

Do làm báo, Lê Phú Khải có nhiều cơ hội chứng kiến quyền uy của giới lãnh đạo. Ông nói “Lê Duẩn mắng mỏ người khác như mắng gia nhân, đầy tớ.” Và những tay lãnh đạo sau Lê Duẩn thì cũng “cá mè một lứa,” Phan Văn Khải thì bảo Trần Đức Lương nên trả lại những quả đồi mà ông ta đã chiếm để làm villa, biệt thự. Còn Trần Đức Lương thì mắng lại Phan Văn Khải “mày hãy về bảo thằng con mày đừng giết người nữa rồi hãy bảo tao trả lại mấy quả đồi.” Lê Phú Khải nhận xét, họ mắng chửi nhau còn hơn hàng tôm, hàng cá rồi lại khuyên nhau “vì sự ổn định đất nước”, “vì sự nghiệp lớn”, nên gác lại mọi chuyện, rồi lại hỷ hả với nhau, đâu lại vào đó!

Riêng cách của Lê Duẩn đối với Võ Nguyên Giáp thì Lê Phú Khải nói rằng, đó là lối đối xử “vô sản gắn liền với vô học.” Ông kể: “Sau chiến tranh biên giới với Trung Quốc 1979, tên Trọng Hy Đông ở Uỷ ban Kiều vụ, Quốc vụ Viện Trung Quốc, hàm ngang bộ trưởng, sang Việt Nam để giải quyết các vấn đề hậu chiến tranh như tù binh v.v. Khi xe của Đại tướng Võ Nguyên Gíap vừa đến cũng là lúc xe của Lê Duẩn vừa tới, Lê Duẩn chỉ vào mặt tướng Giáp và nói như quát: – Cuộc họp không có anh! Võ Nguyên Gíap nói: – Vậy tôi về. Thế là ông Giáp lủi thủi lên xe ra về.”
Có lần Lê Phú Khải cùng các ký giả khác tham dự cuộc họp báo của Phó thủ tướng Nguyễn Mạnh Cầm tại phòng tiếp khách VIP của phi trường Tân Sơn Nhất, ông thấy tận mắt cảnh Nguyễn Mạnh Cầm vừa trả lời phỏng vấn của Đài Tiếng Nói Việt Nam, vừa nhìn sang phía quầy bán hàng phục vụ khách VIP, “nơi cô Phương Uyên đang nhổm người lên để lộ cả quần xi líp mầu hồng bên trong!” Lúc về cơ quan, Lê Phú Khải bảo với lãnh đạo của ông là ông sẽ viết lại giáo trình bài “phỏng vấn”, rằng “mỗi khi một cơ quan báo chí cử phóng viên đi phỏng vấn các VIP, thì nên cử nữ phóng viên xinh đẹp, mặc váy ngắn, xi líp màu hồng!”

Vì sinh ra trong gia đình cộng sản nòi, chú bác, anh em có người lên tới hàng lãnh đạo trung cao cấp của đảng, Lê Phú Khải được nghe những nhận xét về nhiều nhân vật chóp bu của chế độ, như lời chú ruột của ông là Tướng công an Lê Phú Qua, hoặc qua lời kể của em gái ông, cô Tuyết:
-Thủ tướng bám quyền hơn 30 năm Phạm Văn Đồng: “Chủ quan, bốc đồng, rất vô tích sự và chỉ làm hại đất nước!”

-Bộ trưởng Công an Trần Quốc Hoàn: “Quan liêu nặng, dốt nát nhưng hay khoe mẽ, ích kỷ và dối trá, thích cấp dưới tâng bốc mình, ghét người trung thực, đặc biệt là ghét trí thức. Vợ Hoàn là một người tham lam vô độ, cái gì vơ được là vơ.”

-Riêng với Hồ Chí Minh, cũng giống như một số lớn dân miền Bắc, do bị bưng bít thông tin, không hiểu rõ chân tướng ông Hồ, nên Lê Phú Khải trong cách viết vẫn còn lộ chút tình cảm kính trọng nhân vật này. Dù vậy, qua đoạn thuật lại nhận xét của Giáo sư Tạ Quang Bửu, người đọc cũng có thể thấy được cảm nhận của Lê Phú Khải về ông Hồ: “Thời đó, trong nhiều năm dài, hễ thi văn dù thi tốt nghiệp phổ thông hay thi vào các trường đại học, đề thi quanh đi quẩn lại vẫn là thơ Hồ Chí Minh hoặc thơ Tố Hữu. Có lần, xem đề thi vào đại học, Bộ trưởng Bộ đại học và Trung học Chuyên nghiệp Tạ Quang Bửu phán một câu: “Đây là tà thuyết!”

Lê Phú Khải có cô em tên Tuyết, làm việc cho cơ quan cần vụ chuyên cung cấp thực phẩm cho các ủy viên Bộ Chính trị. Có lần cô Tuyết kể lại, vào thời ông Trần Xuân Bách đưa ra lý thuyết đa nguyên, Bộ Chính trị lúc đó chia rẽ và nghi kỵ nhau lắm, đi họp ai cũng được vợ chuẩn bị một chai nước riêng, để trong túi, khi khát thì lén quay đi, rót uống, vì họ sợ bị đầu độc. Ngay cả nhân vật “hét ra lửa mửa ra khói” là Lê Đức Thọ cũng sợ. Theo lời cô Tuyết, có lần, khi cần vụ của Lê Đức Thọ đem một cái chăn bông đã rách nát đến đổi chăn bông mới, cô nói với chú cần vụ này, “thủ trưởng của cậu tiết kiệm quá, chăn rách lòi cả bông ra thế này mới chịu đem đổi. Cậu ta cười nói, tiết kiệm cái con tiều ! Tối nào trước lúc đi ngủ ông ta cũng nắn bóp cái chăn đến nửa tiếng đồng hồ, chỉ sợ người ta gài mìn thôi nên chăn mới rách bươm ra như thế.”

-Về nhân vật Nguyễn Thị Bình, từng một thời lãnh đạo tổ chức bù nhìn của Hà Nội là “Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam,” Lê Phú Khải kể rằng, một hôm bà Bình “triệu tập’”một nhóm trí thức hơn 10 người lại, đặt câu hỏi, chúng ta sai từ bao giờ? Mọi người đều nói, sai từ năm 1951, khi đại hội lần thứ hai của Đảng lấy chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Mao Trạch Đông làm kim chỉ nam cho mọi đường lối chính sách của mình. Riêng Lê Phú Khải, ông nói: “Sai từ đại hội Tour.” (Vào năm 1920, khi cơ quan tình báo KGB của Liên Xô cho thành lập đảng cộng sản Pháp, tách ra từ Đảng Xã Hội, Hồ Chí Minh được tham gia vào Đảng Xã Hội khi ấy ngả theo Liên Xô để rồi gia nhập phong trào cộng sản Pháp từ lúc đó – chú thích của NXB.) “Bà Bình không đồng ý.” Vậy mà sang ngày hôm sau bà bảo tác giả: “Chị đã suy nghĩ suốt đêm qua, Khải nói đúng đấy!”

Qua những trải nghiệm người thực, việc thực nói trên, Lê Phú Khải chua chát kết luận: “Một đất nước được lãnh đạo bởi những con người hoang tưởng và lố bịch như thế thì đất nước sẽ đi về đâu? Nhân dân sẽ sống thế nào? Còn đám trí thức kia thì chỉ ngậm miệng ăn tiền mà thôi.”

Một lần, Lê Phú Khải đi Mạc Tư Khoa và gặp một trí thức Nga. Ông này ví von, “Liên Xô của chúng tôi là một cái chiến hạm mắc cạn còn Việt Nam là một chiếc thuyền thúng không biết trôi dạt đi đâu!” Ba mươi năm sau kể từ cuộc trò chuyện đó, tác giả cay đắng khi nghe ông Tổng bí thư đương quyền Nguyễn Phú Trọng vẫn kiên quyết bác bỏ “tam quyền phân lập” để bảo vệ chế độ độc đảng! Lê Phú Khải nhận định rằng, như vậy là Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn quyết đội trên đầu mình cái mũ mà cả loài người tiến bộ đã vứt bỏ: Cái mũ độc đảng! Tác giả nhận định, “rõ ràng, cái chiến hạm Liên Xô đã thoát cảnh mắc cạn, nhưng cái chiến hạm ấy do anh chàng KGB Putin cầm lái chưa biết nó sẽ đi về đâu. Còn con thuyền thúng Việt Nam thì đang trôi dạt vào một vùng sóng to gió lớn. Chắc chắn nó sẽ bị lật úp nếu những người trên con thuyền thúng đó không dám can đảm nhảy xuống nước mà bơi vào bờ, cứ khư khư ôm lấy con thuyền đó.”

Sống nhiều, đi nhiều, gặp gỡ nhiều, Lê Phú Khải thu vào ống kính đời mình nhiều góc cạnh, người, vật, sự kiện… Không báng bổ, không lớn tiếng kết án, không ca ngợi, ông từ tốn mô tả con người và đất nước Việt Nam qua cách quan sát tinh tế của mình. Những năm sau này, ông dấn thân vào con đường đấu tranh Tự Do-Dân Chủ, nên thân thiết với một lớp người mới, những người đang tới của Việt Nam.

Nhớ về Kiến Giang, một con người quyết liệt, từ chỗ là một tín đồ ngoan đạo của Chủ nghĩa Mác-Lênin và sùng bái Liên Xô, đến chỗ dứt khoát từ bỏ Chủ nghĩa Cộng sản nên bị tù vì tham gia nhóm “Xét Lại Chống Đảng,” Lê Phú Khải thuật lời Kiến Giang kể: “Lần cuối cùng Lê Đức Thọ vào thăm tôi, ông ta nói, các cậu hay đề cao trí thức, phó tiến sỹ đi học nước ngoài học về thì tớ cho thêm 5 đồng vào lương, thế thôi! Tôi nhìn thẳng Thọ nói, xưa Đảng vô học vì phải đi đánh giặc, nay Đảng có chính quyền mà Đảng lại sùng bái sự vô học thì không được! Lê Đức Thọ đứng lên ra về. Ít phút sau tay giám thị trại giam vào hoảng hốt nói, kỳ này thủ trưởng vào là để cho ông về, vậy là chết rồi! Ông làm thủ trưởng phật lòng, vậy là tiếp tục tù dài!”

Và Kiến Giang kết luận: “Chúng ta không sợ lạc hậu, mà chỉ sợ nhất là lạc lõng giữa loài người.”

Với Hà Sĩ Phu, nổi tiếng qua bài viết “Nắm Tay Nhau Đi Dưới Tấm Biển Chỉ Đường Của Trí Tuệ,” Lê Phú Khải nhớ có lần Hà Sĩ Phu nhận định rằng, khi chưa có chính quyền, người cộng sản rước chủ nghĩa Mác vào cửa sau, nay có chính quyền rồi lại treo Mác trước cửa nhà để treo đầu dê bán thịt chó, thì đó là thái độ lấy oán báo ân! Rõ ràng, “chế độ độc đảng như con vật đơn bào, nó có thể tồn tại từ thời hồng hoang của lịch sử đến ngày nay, nhưng chỉ tồn tại trong cống rãnh mà thôi. Muốn nên người, nó phải là con vật đa bào.”

Lê Phú Khải còn nhắc lại những lần trò chuyện với Dương Thu Hương, nhà văn nữ đã một mình khai chiến với chế độ cộng sản và được báo chí Pháp ca ngợi là “Con Sói Đơn Độc.” Ngay tại căn nhà của Dương Thu Hương ở Hà Nội, bà nói với tác giả: “Cần có cách mạng để quét đi những rác rưởi, và cần có tự do để quét đi những rác rưởi mà một cuộc cách mạng đã sinh ra! Chỉ tiếc là, rác rưởi mà một cuộc cách mạng vô sản đã sinh ra lại nhiều hơn cả rác rưởi mà nó định quét đi!”

Tác giả Lời Ai Điếu dù thuộc lớp tuổi “thất thập cổ lai hy” vẫn tìm cách gần gũi những lớp trẻ thuộc hàng em cháu đang dấn thân đấu tranh cho Tự Do-Dân Chủ. Qua những lần gặp gỡ, trò chuyện, ông nhận ra đặc trưng của lớp người trẻ này như Lê Thị Công Nhân, Phạm Hồng Sơn, Huỳnh Thục Vy . . . là họ quyết liệt không chấp nhận cộng sản, họ coi cộng sản đồng nghĩa với tối tăm, sai trái, lừa dối, tàn bạo, phản cuộc sống, phản con người. Thế hệ của họ đã “chỉ thẳng mặt Đảng Cộng sản là quân bán nước.”

Đoạn cuối tác phẩm này, Lê Phú Khải tâm sự, ông năm nay đã 72 tuổi, tức là đã sống cả đời trong chế độ Đảng trị. Ông không vào Đảng trong một chế độ Đảng trị thì đương nhiên con đường “tiến thân” là “u ám” rồi! Ông nói: “Tôi ý thức rất rõ điều này và hoàn toàn bằng lòng, vui vẻ với con đường mình đã chọn, làm một người tự do ngoài Đảng.”

Và những dòng cuối của cuốn sách, Lê Phú Khải viết: “Sáng sớm ngày 14/09/1985 tôi đang ở bến đò Cà Mau chờ đi Năm Căn thì nghe tin đổi tiền. Mới tối hôm trước Đài Tiếng nói Việt Nam (cơ quan tôi làm việc) còn nói ‘Không có chuyện đổi tiền, đồng bào đừng nghe kẻ xấu tung tin đổi tiền’, vậy mà sáng hôm sau 14/09/1985 chính cái đài ấy lại hô hào nhân dân đến các trạm đổi tiền để đổi tiền. Một bà già lớn tuổi ngồi cùng ghe đã chỉ tay lên cái loa đang loan tin đổi tiền ở trên bờ chửi, cái đài này nó nói dóc còn hơn con điếm.”

Lê Phú Khải chấm dứt cuốn sách bằng câu:
“Tôi đã phải sống với ‘con điếm’ ấy cả đời người!”

Rõ ràng, dòng cuối cùng của Lê Phú Khải là LỜI AI ĐIẾU dành cho chế độ toàn trị đang cố bám quyền trên đất nước Việt Nam chúng ta.

Tháng Tư, 2016
Nhà xuất bản Người Việt
Đinh Quang Anh Thái

Posted in Sách- Báo- Hồi Ký | Leave a Comment »

►Khẩn cấp gởi Võ Văn Thưởng, tân trưởng ban Tuyên Giáo: Nhà xuất bản tái bản sách ca ngợi kẻ thù…”Đặng Tiểu Bình, Một Trí Tuệ Siêu Việt”

Posted by hoangtran204 trên 23/02/2016

Nhà xuất bản của đảng CSVN lại tái bản sách ca ngợi kẻ thù…”Đặng Tiểu Bình, Một Trí Tuệ Siêu Việt”, tái bản 2016
Theo một bạn đọc cho biết, cuốn sách này đã từng được xuất bản năm 2003, dày 600 trang. Nay được tái bản 2016, dày 800 trang, giá 100.000 đồng. Được tái bản ngay sau khi Đại hội đảng CSVN lần thứ XII, họp từ ngày 20 đến 28/ 1/2016

KHẨN CẤP GỬI ÔNG VÕ VĂN THƯỞNG, TÂN TRƯỞNG BAN TUYÊN GIÁO

22-2-2016

 

Văn Giá Ngô
(PGS.TS Nhà văn Ngô Văn Giá) 
22-2-2016

ĐỒNG BÀO CHÚ Ý!!!

Tôi xin đăng lại thông tin trên trang FB của một facebooker mà vì lý do nào đó chỉ ít phút sau, facebooker này lại xóa đi.
Ý kiến của tôi: Phản đối kịch liệt lối xuất bản nhắm mắt làm liều (hoặc chạy theo đồng tiền bằng mọi giá, hoặc một chiêu PR muốn được ném đá để nổi tiếng…) này, bất chấp lòng tự trọng (quốc sỉ) dân tộc. 
Phản đối! Phản đối! Phản đối! (VG)
                    ***********

ĐẶNG TIỂU BÌNH LÀ KẺ CÓ NỢ MÁU VỚI VIỆT NAM. QUYẾT ĐỊNH ĐÁNH VIỆT NAM, GIẾT HẠI HÀNG CHỤC NGHÌN NGƯỜI, BÊNH VỰC CHẾ ĐỘ ĐỒ TỂ POL POT PHẢI CHĂNG LÀ “TRÍ TUỆ SIÊU VIỆT”?

SỬNG SỐT VÀ BUỒN NÔN KHI THẤY CUỐN SÁCH NÀY

Thời công nghệ thông tin, dễ dàng tìm thấy trên mạng đầy ắp thông tin, tư liệu, tác phẩm văn học, tác phẩm nghiên cứu… Vậy mà đến bây giờ tôi vẫn còn giữ thói quen hàng tháng dành một buổi cuối tuần ghé vào nhà sách chọn mua vài cuốn để làm bộ sưu tập cho tủ sách của mình. Lần này, vào nhà sách, tôi đã phải sửng sốt không tin ở mắt mình khi thấy một cuốn sách dày gần 800 trang, như cuốn tự điển, với tựa “Đặng Tiểu Bình – Một trí tuệ siêu việt”, trên bìa in trang trọng ảnh chân dung Đặng Tiểu Bình.
Không sửng sốt sao được, vì người được suy tôn có trí tuệ siêu việt và được Nhà xuất bản Lao động trân trọng in sách phát hành rộng rãi cho độc giả Việt Nam ngưỡng mộ, tôn sùng đó chính là một lãnh tụ của Trung Quốc trực tiếp có nợ máu với đất nước và nhân dân Việt Nam. Nhà xuất bản Lao động và người duyệt cho lưu hành cuốn sách này chắc đã quên lời phát biểu ngông cuồng của kẻ có “trí tuệ siêu việt” này hồi tháng 12-1978 trong chuyến thăm các nước Đông Nam Á, chửi bới, đe dọa, xúc phạm nặng nề đất nước và con người Việt Nam, được Trung Quốc truyền hình trực tiếp cho cả thế giới: “Việt Nam là côn đồ, phải dạy cho Việt Nam bài học!”.
Và rồi chỉ 2 tháng sau đó, ngày 17-2-1979, chính kẻ này đã ra lệnh xua hơn 600.000 quân Trung Quốc mở cuộc tấn công xâm lược toàn tuyến biên giới phía Bắc Việt Nam, thực hiện kế hoạch chiếm 5 tỉnh – thành lớn của Việt Nam sau một tuần. Để rồi quân xâm lược Trung Quốc buộc phải rút lui một cách thảm hại. Thay vì dạy cho Việt Nam một bài học, thì Đặng Tiểu Bình đã nhận được bài học đắt giá cho chính mình, hơn 62.000 quân xâm lược Trung Quốc bỏ mạng sau 3 tuần động binh.
Chẳng làm sao kể xiết mưu đồ và tội ác của Đặng Tiểu Bình đối với nước ta, vậy mà trong cuốn sách này, Đặng Tiểu Bình được tán dương bằng những ngôn từ có cánh: “nhãn quan thế giới”, “người mác xít chân chính”, “thống soái đại quân”, “nhà chiến lược lớn”, “cầm cương chỉnh đốn bằng bàn tay sắt”, “bậc thầy lớn trong nghệ thuật lãnh đạo”…
Cũng không lạ, bởi đây là sách dịch của Trung Quốc. Nhưng vấn đề là trong bối cảnh nhà cầm quyền Trung Quốc ngày càng lộ rõ bộ mặt trâng tráo, lòng dạ hung ác, hành động ngang ngược với Việt Nam, có cần và có nên dịch, phát hành rộng rãi cuốn sách này cho người Việt Nam hay không?
Việc dịch, phát hành rộng rãi cuốn sách này ở Việt Nam nhằm mục đích gì và để cho ai?
Biết là sách dịch, nhưng việc trong sách liên tục dùng các cụm từ “Đảng ta”, “quân đội ta” để nói về đảng và quân đội của Trung Quốc, làm độc giả Việt Nam phải buồn nôn, vì tưởng như đất nước Việt Nam đã về tay Trung Quốc.
Sách ghi tên Nhà xuất bản Lao động, nhưng lại kèm theo tên Công ty Sách Panda, và bìa trong có ghi rõ “Bản quyền tiếng Việt thuộc Công ty TNHH Sách Panda”.
Cuốn sách gần 800 trang, giá chỉ 100.000 đồng, thật đáng ngờ. Có “nhà tài trợ lạ” nào không cho việc dịch và xuất bản, tái bản cuốn sách này?
(Facebooker)
*  Ý kiến bạn đọc: 

Tôi cũng có một cuốn, dùng làm tư liệu về TQ “Đặng Tiểu Bình một trí tuệ siêu việt”, nhà xuất bản Văn hoá-Thông tin, Hà Nội, 2003, khổ 14,5×20,5cm, dày ngót 600 trang, của tác giả Lưu Cường Luân và Uông Đại Lý, dịch giả Tạ Ngọc Ái và Nguyễn Viết Chi. Bìa 4 có viết: “… Trí tuệ siêu việt của Đặng Tuểu Bình là một khoa học rất sâu sắc, là một nghệ thuật rất phức tạp, chúng ta phải đào sâu nghiền ngẫm mới lĩnh hội được phần nào và vận dụng nó vào công tác thực tế của mình, bất cứ ai cũng có thể thu được lợi ích không nhỏ”.

Posted in Biên Giới, Chien Tranh Bien Gioi Viet Trung 1979, Chinh Tri Xa Hoi, Sách- Báo- Hồi Ký | Leave a Comment »

►Báo Thanh Niên luôn đúng, tôi luôn sai!

Posted by hoangtran204 trên 23/10/2015

FB Nguyễn Hoài Nam

21-10-2015

 Tối qua, TNO phản hồi thông tin bài chia sẻ của tôi trên trang cá nhân của chính tôi. TNO cho rằng tôi bôi nhọ uy tín báo Thanh Niên. Thực lòng tôi vẫn yêu tờ Thanh Niên lắm, tôi k bao giờ bôi nhọ báo Thanh Niên đâu, vì chính tờ Thanh Niên đã làm lên tên tuổi của tôi. Và thương hiệu Hoài Nam luôn gắn liền với tờ Thanh Niên. Và giờ đây trong làng báo ai cũng biết nhắc và nói đến Hoài Nam là sẽ nghĩ ngay đến Thanh Niên. Từ một anh Khế lẫy lừng với 23 năm làm Tổng Biên tập. Và bây giờ là anh Quang Thông, một Tổng Biên tập luôn mẫu mực. Vậy vì sao tôi phải đấu tranh, đánh đuổi cái xấu? Nếu như Thanh Niên không phản hồi thì tôi không nói ra đây, vì nói sẽ làm bạn đọc quay lưng. Nhưng tôi không nói thì mọi người không thể hiểu. Tôi xin phép nói ra một nửa sự thật thôi nhé.

Trước khi trở thành PV điều tra của Báo Thanh Niên, tôi là lính tham mưu tác chiến. Về công tác tại báo Thanh Niên, báo Thanh Niên không có quy chế bảo vệ PV, cũng như hướng cho PV được tác nghiệp tới đâu là dừng. Chính vì vậy các PV của báo nếu dấn thân viết phóng sự đều tự bơi để bảo vệ mình.

Mảng điều tra tôi đeo bám cực kỳ nguy hiểm,vì vậy từ ngày chập chững bước vào Ban Chính trị xã hội làm CTV tôi nhập vai viết phóng sự điều tra, phóng sự xã hội để rút ra những kinh nghiệm cho mình. Và các loạt bài mang uy tín cho báo như “Thâm nhập đường dây hàng lậu Móng Cái; Người ghi hình lâm tặc phá rừng; Giấy kiểm dịch bán như rau; Kinh hoàng heo siêu nạc; Tinh luyện dầu ăn bằng chất tẩy rửa; Nông dân vượt biên đánh bạc; Bí mật hành phi; Hãi hùng công nghệ trồng rau muống; Cảnh sát trật tự cơ động làm luật…”

Gần 10 năm làm việc ở Báo Thanh Niên, tôi hiểu từng con người của báo. Ai có hoa hồng quảng cáo cao nhất, và ai không lấy hoa hồng…Cho đến năm 2013 tôi bắt đầu chuyển sang viết điều tra tham nhũng ở lĩnh vực hàng hải. Sau khi đăng loạt bài 3 kỳ “Nạo vét sông Thị Vải – Sự mờ ám kinh tởm” đăng xong thì giám đốc Cảng vụ Hàng hải Vũng tàu lên gặp Ban Biên tập Báo Thanh Niên. Và sau đó bài cuối cùng của tôi bị cắt 900 chữ. Tôi hiểu doanh nghiệp đã chạy (như băng ghi âm tôi đã công khai).

Cuối năm 2013 tôi tiếp tục lên kế hoạch điều tra 4 công trình nạo vét ở Vũng Tàu, TPHCM và Quảng Ninh, kinh phí của nhà nước hơn 200 tỉ đồng. Để đảm báo bí mật cũng như giữ mối quan hệ với cấp trên, tôi đột phá không báo cáo đề tài theo quy định (từ Ban CT – XH đến Ban Thư ký và phó Tổng Biên tập phụ trách báo in) vì tôi không muốn mất lòng Phó Tổng Biên tập Đặng Việt Hoa. Tôi viết báo cáo rõ và đến tận nhà anh Nguyễn Quang Thông báo cáo. Nghe tôi trình bày anh Thông duyệt ngay và tôi về báo cáo lãnh đạo Ban tôi đi điều tra theo chỉ đạo của Tổng Biên tập. Được Tổng Biên tập duyệt tôi làm công lệnh đi công tác Vũng Tàu và Quảng Ninh.

Hơn nửa tháng trong vai ngư dân bắt đầu tư 19 giờ đến 5 giờ sáng hôm sau tôi tác nghiệp giữa sông Thị Vải và Soài Rạp – Hiệp Phước để thu thập chứng cứ. Có chứng cứ rõ, về cơ quan lúc này tôi mới báo cáo đúng quy định và báo cáo rõ đi gặp doanh nghiệp để lật bài ngửa nhằm củng cố chứng cứ chắc cho loạt bài điều tra.

Tuy nhiên, khi tôi gặp đại diện chủ đầu tư là ông Phạm Đình Vận và nhà thầu chính là ông Nguyễn Minh Tùng. Ông Vận hối lộ tôi một phong vì cả ngàn USD, còn ông Tùng hối lộ tôi một phòng bỉ khủng, tôi cương quyết không nhận. Lập tức ông Tùng chạy và tôi bị chỉ đạo ngưng điều tra (như băng ghi âm tôi đã công khai). Sau đó tôi làm báo cáo xin đi Quảng Ninh thì bị chỉ đạo ngưng, bút phê do chính Tổng Biên tập viết, mặc dù trước đó cũng chính tay Tổng Biên tập duyệt cho tôi đi Quảng Ninh, tôi làm công lệnh nay vẫn giữ.

Bị chỉ đạo ngưng tôi không chịu khuất phục vì nếu tôi chịu sống chung, tiền của nhà nước tiếp tục chảy vào túi quan tham trên công trình nạo vét ở Quảng Ninh, vì chỉ còn 1 tháng nữa là công trình hoàn thành. Để tiếp tục đấu tranh chống thất thoát ngân sách cho nhà nước, tôi xin phỉ phép năm 2013 ra Quảng Ninh điều tra thu thập chứng cứ. Sau đó phối hợp với Ban Nội chính “bẻ khóa” bắt giam 4, trong đó có hai lãnh đạo phòng thuộc Tổng Công ty xây dựng dường thủy, Bộ GTVT (hai bị can này nhận hối lộ của doanh nghiệp nạo vét 1,2 tỉ đồng). Mở rộng điều tra, giữa năm 2015, 4 bị can tiếp theo bị khởi tố. Nay cơ quan điều tra đã kết thúc điều tra, chuyển hồ sơ sang Viện KSND TC đề nghị truy tố 8 bị can.

Kỳ nghỉ phép đi đánh án tham nhũng đã hết, tôi vào cơ quan viết 5 kỳ điều tra đặt tên “Bí mật tảng băng chìm nạo vét”, ngày 12.1.2014 gửi mail cho Tổng Biên tập. Sau đó tôi được thông báo Báo Thanh Niên không dùng loạt bài này, nên tôi đã xin phép Tổng Biên tập được gửi loạt bài “Bí mật tảng băng chìm nạo vét” sang báo khác.

Chờ một tuần không thấy Tổng Biên tập trả lời, tôi tung tin gửi bài sang báo Tuổi trẻ, lập tức lúc 14 giờ 58 ngày 20.1.2014, Phó Tổng Biên tập Đặng Việt Hoa điện thoại cho tôi gằn giọng hỏi: ông viết bài nạo vét cho báo tuổi Trẻ hả. Tôi trả lời đã hỏi anh Thông, ông Hoa nói lớn “Ông lúc nào cũng ông Thông chỉ đạo, ông cứ nói ông Thông miết, ông Thông đuổi việc ông đó nghe…”. Vì vậy từ đầu năm 2014 tôi đã bị dọa đuổi việc rồi, và bậy giờ họ mới có cơ hội.

Ngày hôm sau (22.1.2014) lúc tôi đang làm việc với thứ trưởng Bộ GTVT Nguyễn Văn Công thì ông Hoa điện thoại giọng nhỏ nhẹ hơn (có lẽ biết tôi chuyển vụ việc đến anh Nguyễn Bá Thanh) mời tôi về nói chuyện nhưng tôi nói đang ở xa không về ngay được, ông Hoa có nói và hù dọa tôi “mảng của ông hết sức nguy hiểm, ông thấy đúng thì cứ làm, nay mai ông gặp khó anh em khó chia sẻ”… (nghe băng nghi âm).

Bắt đầu từ đó tôi bị cô lập và các bài tôi viết đều không được đăng. Loạt bài “Rau ruộng trộn VietGAP” của tôi được đăng đầu tháng 12/2014 là do thời gian đó ông Hoa đi công tác nước ngoài.

Đặc biệt, trong thời gian công tác tại Báo Thanh Niên tôi phát hiện có một số doanh nghiệp xuống làm từ thiện bất thường ở ấp Thạnh An xã Trung An, huyện Củ Chi TP.HCM. Đáng chú ý, tiền của bạn đọc ủng hộ những hoàn cảnh cần hỗ trợ cũng được chuyển về đây sửa chữa văn phòng ấp, làm bia liệt sĩ và mẹ VNAH.

Tôi xuống điều tra xem ở ấp Thạnh An có cái gì, thì được ông Võ Văn Hai (Trưởng ấp) khai, ông là người dẫn ông Đặng Việt Hoa mua gần 5 ngàn m2 đất ở tổ 9, năm 2014 làm xong nhà vườn, chia ra làm 3 cho 3 anh em ông Hoa. Ông Hai cho biết thêm, bia tưởng niệm liệt sĩ và Văn phòng ấp có từ năm 2003 và thuộc xã quản lý. Việc sửa chữa nhà mẫu giáo và bia tưởng niệm kinh phí đều do nhân dân trong ấp đóng góp. Thế nhưng, đơn ông Hai gửi báo Thanh Niên xin hai lần 50 triệu đồng để sửa chữa Van phòng ấp và làm bia tưởng niệm các anh hùng liệt sĩ, trong đó có 8 mẹ VNAH nhưng lúc đó chỉ còn một mẹ VNAH còn sống…

Không những thế, ngày 13.11.2013 PV Thanh Tùng viết loạt bài điều tra “Kiểu bán hàng kỳ lạ của Unicity”, thì ngay sau đó doanh nghiệp này về ấp Thạnh An làm từ thiện, tài trợ làm đường ở tổ 9 40 triệu đồng.

Sâu chuỗi lại hai sự việc trên, đặc biệt là dùng tiền của bạn đọc hỗ trợ hoàn cảnh khó khăn của báo, nhưng số tiền này được đem về ấp Thạnh An nơi có nhà vườn của ông Hoa sửa chữa Văn phòng ấp. Nếu không ngăn chặn ngay thì sau này Báo Thanh Niên sẽ đi về đâu, xấu hơn là bị khởi tố vì sai phạm liên quan đến tiền của bạn đọc.

Vì vậy, đầu năm 2015 đại hội CNV Báo Thanh Niên tôi mạnh dạn nói thẳng ở hội trường, vì muốn tờ báo Thanh Niên phát triển và không bị xuống bùn đen, tôi đề nghị Ban Biên tập chuyển ông Hoa sang phụ trách mảng khác. Sau đó Tổng Biên tập giao cho Ban Thanh tra nhân dân xác minh. Cuối cùng Ban Thanh tra kết luận việc ông Hoa chỉ đạo ngưng vụ nạo vét là có chỉ đạo từ Ban Tuyên giáo Trung ương và Bộ TTTT, việc ngưng là đúng quy trình… Còn việc ký duyệt tiền tài trợ của bạn đọc mang xuống sửa chữa ấp Thạnh An là đúng thẩm quyền, đã được Tổng Biên tập ủy quyền…

Sau khi ông Nguyễn Văn Thắng đọc kết luận trước các trưởng phó Ban của báo, tôi tuyên bố thẳng sẽ làm tới cùng vụ này.

Có lẽ thấy tôi cương quyết, nên nhiều ngày sau tôi được ông Nguyễn Văn Thắng (Trưởng Ban Thanh tra) mời uống cà phê nhiều lần nói được ủy quyền của Tổng Biên tập gặp tôi tâm sự nếu tôi rút đơn kiến nghị ông Hoa thì Ban Biên tập sẽ cho tôi làm phó trưởng Văn phòng đại diện Đông Bắc Bộ, tôi không đồng ý vì tôi không thích làm sếp. Tiếp đến ông Thắng nói có nguyện vọng gì thì làm đơn nhưng phải kèm theo đơn xin rút đơn tố cáo ông Hoa. Nghe vậy tôi làm đơn xin xem xét nguyện vọng cho tôi về làm biên tập để triển khai 3 đề tài lớn ảnh hưởng tới tình hình ANKT của đất nước (3 đề tài đó mỗi đề tài sai phạm hàng chục tỉ đồng), nhưng tôi không chịu rút đơn tố cáo. Một tuần sau, ông Thắng gọi điện thông báo cho tôi anh Thông đang ở nước ngoài có gọi điện thoại về nói tôi phải làm đơn xin rút đơn tố cáo ông Hoa thì Tổng Biên tập mới xem xét.

Không những thế, một cán bộ A87 (phía Nam) cũng mời tôi đi uống cà phê đề nghị tôi xin lỗi ông Hoa thì ông Hoa sẽ chỉ đạo Ban giao việc cho tôi để tôi có bài viết và nếu đã có bài viết thì chỉ tiêu chỉ là nhỏ, tôi quyết không đồng ý.

Tháng 6.2015 tôi làm đơn tố cáo ông Hoa gửi tới Ban Tuyên giáo Trung ương, Bộ Thông Tin Truyền Thông, Thủ Tướng và Trung ương đoàn với 4 nội dung: Làm việc có động cơ cá nhân; Bảo kê doanh nghiệp; Mượn danh Ban Tuyên giáo Trung ương bảo kê doanh nghiệp và Trù dập cá nhân.

Riêng về đơn gửi cho Trung ương đoàn tôi kiến nghị cải tổ Báo Thanh Niên một số quy chế vì đối xử phân biệt như:

1: Cắt ngay hoa hồng quảng cáo vì có hoa hồng quảng cáo sẽ làm bớt lửa cho bài viết (mỗi năm có nhiều tỉ đồng hoa hồng quảng cáo được chi cho người lấy quảng cáo về cho báo).

2: Thỏa ước lao động tập thể phân biệt đối xử với PV. Cụ thể, Báo Thanh Niên có khoảng 500 người, nhưng thỏa ước lao động tập thể năm 2015 chỉ áp dụng chỉ tiêu với khoảng 120 PV “Nếu thiếu chỉ tiêu nhuận bút trong hai quý thì sẽ xem xét chấm dứt Hợp đồng lao động”, còn các bộ phận khác (trừ Ban Biên tập do Trung ương Đoàn quản lý) như Ban Thư Ký, Các Trưởng, Phó Ban, Phòng Tổ chức…không quy định thế nào là hoàn thành nhiệm vụ và thế nào là xem xét chấm dứt hợp đồng lao động; 3: Cần dân chủ khi duyệt bài của PV.

Ngày 16.7.2015 Ban Chấp hành Trung ương Đoàn quyết định thành lập tổ công tác xác minh do ông Phạm Xuân Đảng Phó chủ nhiệm Ủy Ban Kiểm tra Trung ương Đoàn làm tổ trưởng vào làm việc với tôi. Tôi cung cấp toàn bộ chứng cứ liên quan đến 4 nội dung tố cáo bằng dẫn chứng cụ thể từng phần trên 6 trang giấy A4.

Ngày 7.9.2015 Trung ương Đoàn kết luận không theo chứng cứ mà theo giải trình của người bị tố cáo. Đặc biệt, đóng dấu mật vào văn bản kết luận nên tôi không tiện đưa lên đây để bạn đọc tham khảo. Kết luận của Trung ương Đoàn có yêu cầu: Đề nghị đồng chí Đặng Ngọc Hoa (tức Đặng Việt Hoa), phó Tổng Biên tập báo Thanh Niên rút kinh nghiệm về phương pháp công tác; hạn chế nóng nảy trong trao đổi công việc, từ đó dễ tạo áp lực và tâm lý đối với cán bộ cấp dưới. Đề nghị ban Biên tập Báo Thanh Niên cân nhắc trong phân bổ nguồn lực làm từ thiện, an sinh xã hội để tránh hiểu lầm, gây dư luận không tốt, ảnh hưởng đến uy tín của Báo Thanh Niên.

Tôi không nói tôi đúng hay báo Thanh Niên đúng, vài tiếng nữa tôi sẽ đưa lên đây hai văn bản:

1: Biên bản làm việc với Tổ công tác, tôi kiến nghị Trung ương Đoàn xem xét tư cách đảng viên của ông Hoa về công tác phòng chống tham nhũng và đề nghị chuyển ông Hoa sang phụ trách mảng khác, nhằm đảm bảo dân chủ cho tờ báo.

2: Biên bản bàn giao chứng cứ 4 nội dung tố cáo để tất cả mọi người tham khảo, chắc chắn mỗi người một cách nghĩ riêng.

Trong phản hồi của TNO có nói đến đoạn tôi bị phê bình nghiêm khắc vì tôi sơ hở và vượt quá quyền cho phép của PV, tại sao tôi không sai trong tác nghiệp trong loạt bài “Cảnh sát trật tự cơ động làm luật” mà phê bình tôi, Báo Thanh Niên không hề có quy chế bảo vệ PV cũng như hướng dẫn cho PV được tác nghiệp tới đâu nên tôi phải tự bơi để bảo vệ bản thân an toàn và tôi là PV đầu tiên không bị khởi tố vì sau loạt bài có đến 7 công an bị tước quân tịch, khai trừ đảng. Công an TP.HCM vào cuộc nhưng cuối cùng chỉ kết luận “tạo tình huống cài bẫy cảnh sát” là vi phạm pháp luật, một điều luật không có trong tất cả các bộ luật Việt Nam.

Đáng lẽ mô hình tác nghiệp của tôi cần được nhân rộng để các PV khác học hỏi mới đúng. Nếu tôi có dấu hiệu sai phạm trong loạt bài tiêu cực đó, và nếu tôi sơ hở thì công an TP.HCM khởi tố tôi từ lâu rồi, Thanh Niên đưa lên phản hồi “có dấu hiệu tiêu cực trước đó nhằm mục đích gì?” tự để mọi người bình luận.

Đáng nói, trong năm 2012 tôi thực hiện thành công hai loạt bài điều tra chấn động xã hội, đó là loạt bài “Kinh hoàng heo siêu nạc” và “Cảnh sát trật tự cơ động làm luật” qua đó Báo Thanh Niên tăng uy tín lên nhiều. Cuối năm 2012 tôi được Trung ương Đoàn tặng danh hiệu chiến sĩ thi đua trung ương đoàn năm 2012. “Đúng là được tiếng thì tung hô, khi gặp nạn thì thí tốt”.

Tôi có hoàn thành nhiệm vụ, có xứng tầm một nhà báo không thì cả xã hội đều biết. Điều tôi muốn nói Báo Thanh Niên không có quy chuẩn cho một bài viết thế nào là đạt thế nào là không đạt. Bài được đăng phụ thuộc vào Ban Biên tập và quy chế cũng chính Ban Biên tập đẻ ra. Có những loạt bài của tôi về an sinh xã hội đúng mảng được phân công, nhưng không được đăng, khi tôi gửi báo khác thì lại đăng trang nhất. Có bài về lừa đảo xin việc vào sân bay giá 150 triệu đồng, viết và nộp xong đều không được đăng. Bài “Sập bẫy lương khủng”, bài “Thần dược lừa nông dân”, “Nghi án phi tang 1.300 tấn chất thải rắn” hoàn toàn đúng với mảng an sinh xã hội… viết xong không được đăng. giữa năm 2015 tôi báo cáo đề tài 3 kỳ: “Casino và lâm tặc giữa đại ngàn” nhưng không được duyệt. Vậy tôi xin hỏi mọi người tôi có hoàn thành nhiệm vụ không để đến nỗi bị phạt 64 triệu đồng/3 quý?

 

Chú ý hơn, ngày 21.6 vừa rồi, một PV của VTV có ý định làm chân dung tôi cho ngày 21.6, khi điện thoại cho Tổng Biên tập thì được trả lời “…chúng tôi có hướng đào tạo anh lên làm lãnh đạo, nhưng anh tự mãn…”. Ô hay, tôi không thích đánh đổi sự im lặng để tiến thân sao lại gọi là tự mãn?. Anh bạn PV buồn buồn nói trong điện thoại “tôi không hiểu vì sao Thanh Niên lại không muốn đưa anh lên, một tờ báo có PV lên chân dung ngày 21.6 thì vinh dự lắm chứ, Tổng Biên tập nói thế là tôi hiểu rồi, tôi chọn nhân vật Hữu Ước vậy”…

Nguyễn Hoài Nam

anhbasam

Posted in Sách- Báo- Hồi Ký, Tham Nhung-Hoang Phí- Ăn Cắp | Leave a Comment »

►Lời mở đầu cho sách Nhận Định, Tự Do và nhân Quyền – Huỳnh Thục Vy

Posted by hoangtran204 trên 27/01/2015

Lời mở đầu cho sách Nhận Định, Tự Do và nhân Quyền

T

25-1-2015

Nhan Dinh HTV

Tôi không được dạy để trở thành một người viết chuyên nghiệp. Ngay từ những ngày đầu cầm bút, tôi chỉ tâm niệm một điều: viết xuống những điều mình thực sự suy nghĩ, để chia sẻ quan điểm đối lập với nhà cầm quyền độc tài của một người trẻ trong bối cảnh hoàn toàn không có tự do ngôn luận ở Việt Nam. Từ những ngày đó, tôi đã luôn chuẩn bị tinh thần và mang tâm thế sẵn sàng để đối mặt với tình huống xấu nhất có thể xảy ra cho mình. Vậy nên, dù bản thân và gia đình bị trù dập nhiều lần, tôi không thấy đó là những chướng ngại trong việc tiếp tục bày tỏ quan điểm khác biệt của mình.

Tôi không xem việc viết lách như là một nghề nghiệp. Một cách chính xác, viết lách đối với tôi chưa bao giờ là một nghề nghiệp. Vì nghề nghiệp là thứ qua đó chúng ta có thể nuôi sống bản thân và chu cấp cho gia đình. Hoàn toàn ngược lại, việc bày tỏ quan điểm qua các bài viết đã lấy đi của tôi khá nhiều thứ. Viết là một đam mê của tôi, một thứ gì đó không phải là phương tiện để nuôi sống thân xác này, mà là nguồn thức ăn vô hình nuôi dưỡng tâm hồn tôi và nâng đỡ tôi mỗi khi tôi yếu lòng, giữ cho tôi thấy mình hữu ích và cho tôi cơ hội nhận thấy đầy đủ phẩm giá của mình như một người tự do. Phẩm giá, điều mà người ta vừa chào đời đã có, nhưng hằng ngày hàng giờ trong từng góc xa xôi của thế giới, nó bị chà đạp một cách đáng xấu hổ.

Tôi được gọi là blogger bất đồng chính kiến, nhưng tôi tự nghĩ rằng mình không blogging. Tôi không thể viết nhiều và thường xuyên. Tôi cũng không có thời gian để chăm sóc blog của mình như cách như blogger khác thường làm. Nhưng tôi thực sự thấy mình may mắn, vì tôi biết rằng qua việc viết lách này, tôi đã có được những bằng hữu thật đặc biệt và đáng kính. Họ vừa là bạn, vừa là thầy. Vậy nên tôi vui vẻ nhận lấy bất cứ cách gọi nào người ta đặt cho tôi, ngoại trừ những lời bôi nhọ của đội quân tuyên truyền nhà nước cộng sản.

Tôi từng chia sẻ với chồng tôi: Không hiểu sao, em có thể làm nhiều thứ khác ngoài chuyện viết lách; nhưng dù có làm việc bận rộn quanh năm suốt tháng, em cũng cảm thấy vô vị và như là mình không làm được gì cả, cho đến khi em mở máy tính ra và gõ từng con chữ xuống. Và sự thật rằng, tôi không thể đưa tâm trí mình tập trung hoàn hoàn để suy nghĩ nghiêm túc về bất cứ vấn đề gì, nếu tôi không ngồi xuống và gõ. Trong lúc gõ từng con chữ trên bàn phím, tôi có thể chạm tới những góc thầm kín và đầy ưu tư của mình; và cũng chính lúc đó những suy luận thấu đáo nhất mới được chạm tới.

Trong cuộc đời này, chưa ở đâu tôi có thể nhận thấy phẩm giá của mình được tôn trọng như khi tôi viết. Bởi lúc đó, tôi có được cái tự do quý giá mà nhiều người khác trên xứ sở độc tài này không thể có hoặc không dám có: Tự do. Dù tự do đó phải đánh đổi bằng bình an thường nhật của tôi và gia đình; nhưng tự do quý giá đến độ chúng ta không thể có được nó mà không phải chiến đấu và khi đã một lần đạt được nó (dù chỉ một phần),chúng ta không thể từ bỏ, chúng ta không thể lùi bước. Không có gì trong cuộc sống này cao quý hơn tự do. Có an toàn, chúng ta có điều kiện để có được những thứ khác như của cải, chức tước…nhưng nếu có được tự do, chúng ta sẽ có mọi thứ một cách xứng đáng nhất. Nhân quyền và Nhân phẩm chỉ có được khi tự do tồn tại. Chỉ với Nhân quyền và Nhân phẩm, con người tự do mới được xác định là Người.

Quả thật, tôi may mắn vì là người viết. Càng có kinh nghiệm trong việc viết lách tôi càng thận trọng hơn với những gì mình viết ra. Những điều tôi viết có thật sự hữu ích, đúng đắn và tử tế? Những gì tôi viết có phải là phương cách để tôi thuyết phục người khác, cố gắng để người khác tin điều mình nói là đúng và ủng hộ mình? Không, những điều tôi viết thực sự là điều tôi tin và tôi phải thuyết phục chính mình trước khi định thuyết phục mọi người. Nghĩa là, từ trong sâu thẳm tâm tư và tư duy của mình, tôi biết hoặc tin một điều thì tôi mới viết ra để chia sẻ với mọi người. Tôi không viết nhằm khuyến dụ mà là để làm sáng tỏ vấn đề mà tôi cho là cần thiết. Tôi không viết nhằm quy tụ nhiều người tung hô và ủng hộ, mà tôi viết để chia sẻ tâm tư, như cách những người bạn tâm giao thường làm với nhau. Tôi không nói điều gì đó để kích động những vết thương thầm kín, để chạm tới những ngóc ngách dễ tổn thương và kích động nhất của con người, đặc biệt là đám đông suy nghĩ và hành động thiên về cảm xúc chứ không duy lý (như về chủ nghĩa dân tộc cực đoan chẳng hạn). Tôi viết và mong nhận được những ý kiến chia sẻ, để từ những thiếu hụt trong lý luận của mình, tôi trưởng thành hơn. Năm năm cầm bút không là một thời gian đủ dài để tôi làm tốt công việc này, những nó không ngắn để tôi nhận ra được tính nước đôi của ngôn ngữ và khoảng cách rất lớn giữa điều người ta viết và những việc họ làm. Bởi vậy tôi cố gắng để chân thành nhất có thể trong từng câu viết của mình, và tôi cũng nỗ lực để xứng đáng với những lời mình viết.

Trong cuộc đấu tranh gian khổ và dai dẳng với chế độ độc tài cộng sản, có thể đối với một vài phe nhóm chính trị, sự giải thể chế độ độc tài này cùng với sự chiến thắng của phòng trào dân chủ, đồng nghĩa với sự kiện rằng họ sẽ lên thay thế đảng cộng sản cầm quyền. Tất nhiên điều đó hữu lý nhưng vấn đề ở đây chính là cách thức hành động của họ. Họ có thể không tiếc lời để hô hào người ủng hộ, khơi động những tình cảm tập thể có lợi cho các mục tiêu của họ. Họ nói rất nhiều về dân chủ nhưng các phương cách họ làm thật phi dân chủ, bất công và dối trá. Tôi luôn tâm niệm rằng: không có mục tiêu nào tốt có thể đạt được bằng các phương tiện xấu ác. Trong khi, đảng và nhà nước cộng sản có nguồn nhân lực và tài nguyên quốc gia, có súng, xe tăng, nhà tù và bộ máy tuyên truyền dối trá… những người đang đấu tranh cho Dân chủ tự do và Nhân quyền tại Việt Nam không có gì ngoài chính nghĩa; và chính nghĩa đó đến từ sự thật, tự do và công lý. Không cố gắng để trau dồi và gìn giữ những giá trị đó, chúng ta sẽ thua chế độ độc tài ngay từ đầu.

Tôi không viết đủ nhiều và đủ tốt để mong các bài viết của mình được xuất hiện trang trọng trong một cuốn sách. Dù những lời lẽ đó xuất phát từ những ưu tư sâu kín nhất của mình, tôi chưa bao giờ nghĩ nó đủ giá trị để được in thành sách. Nhưng sự yêu thương mà quý thân hữu Việt Thức (một sáng hội phi đảng phái và phi lợi nhuận) dành cho tôi và sự quý trọng mà tôi dành cho họ được thể hiện qua tập sách và việc in ấn này. Những hỗ trợ mà quý thân hữu dành cho tôi quá quý giá đến nỗi mọi lời cám ơn đều sáo rỗng. Nhưng xin cho tôi một lần nữa được gởi lời tri ân quý vị vì tất cả.

Cuốn sách này cũng là lời tri ân của tôi đến tất cả quý bằng hữu người Việt khắp nơi trên thế giới và trong quốc nội Việt Nam. Sự cổ vũ của quý vị đã thực sự tiếp thêm sức mạnh để tôi tiếp tục nắm lấy và thực hiện quyền tự do căn bản của mình: Quyền tự do bày tỏ quan điểm. Xin chân thành cám ơn quý vị.

© Huỳnh Thục Vy

Huỳnh Thục Vy, NHẬN ĐỊNH, TỰ DO & NHÂN QUYỀN, do Cơ Sở VIỆT THỨC xuất bản & sẽ phát hành trong tháng 4 năm 2015. Mời Quý Vị, Quý Độc Giả đón đọc.

Posted in Bắt bớ-Tù Đày-Đánh đập-Đàn Áp, Sách- Báo- Hồi Ký | Leave a Comment »

►Cục đất phản động – Bùi Ngọc Tấn

Posted by hoangtran204 trên 24/12/2014

Cục đất phản động – Bùi Ngọc Tấn

Vũ Thư Hiên
23-12-2014

ũ Thư Hiên – Đây là một chút kỷ niệm với nhà văn Bùi Ngọc Tấn. Nó được viết ra khi anh còn sống, không rõ đã được in ở đâu, vào năm nào (tôi quên rồi). Nay tình cờ tìm thấy nó trong đống lộn xộn những bài viết cũ, bèn đưa lên đây để chia sẻ cùng bè bạn Facebook trong niềm đau thương tiếc một người đáng quý vừa chia tay chúng ta.

Ở miền Bắc Việt Nam trong thập niên 60, mọi thứ tin tức đều chậm. Trong tù, tin ở ngoài lọt vào còn chậm lắm lắm. Tin Bùi Ngọc Tấn bị bắt đến với tôi chậm tới bốn năm.

Năm 1971, tôi ở nhà tù có tên Trại cải tạo Tân Lập. Trại này nằm trong vùng đồi núi tỉnh Phú Thọ. Nó gồm vài phân trại, phân trại này cách phân trại kia năm bẩy cây số, tù chính trị ở lẫn với tù hình sự trong những phòng giam khác nhau. Thỉnh thoảng người ta lại xây thêm một phân trại mới cho tù từ các trại tạm giam các địa phương chuyển đến. Không biết mọi năm thế nào, chứ hồi ấy được mùa tù, trại giam mọc lên như nấm. Ngoài các trại Trung ương trên vùng rừng núi, tỉnh nào cũng có trại cả. Tỉnh nào chưa có trại riêng, phải gửi tù qua trại khác ở nhờ thì xấu hổ.

Ở trại nào cũng thế, cứ mỗi lần có tù mới là một lần cả trại náo nức. Tù mới đến là sứ giả của cuộc sống bên ngoài. Không có tù mới thì tù cũ mù tịt, không có cách nào biết ở bên kia những bức tường trại có chuyện gì xảy ra. Mà khốn nạn, những tin tức tù mới mang theo thường cũng chẳng mới là bao. Bởi vì trước khi bị hoặc được chuyển lên trại Trung ương họ có thể nằm trại tạm giam hoặc trại địa phương từ một đến hai năm. Tin một người chồng chết khi đến chỗ chúng tôi thì vợ đã kịp tái giá.

Trong một buổi buổi uống trà lậu với ấm là ca men, chén là đốt nứa, bếp là bát sắt men rách, một anh tù hình sự đất cảng đang lúc vui chuyện bỗng dưng nhắc tới một người tù ở trại Thủy Nguyên. Rằng ông này rất chi là đặc biệt, bướng lắm, cứ ngang xương mà tay đôi với cán bộ. Không cãi to, cứ nhỏ nhẹ, rì rầm, nhưng là cãi. Mà cán bộ chịu đấy. Không hiểu họ không dám trấn áp, hay vì nể cái gì mà không trấn áp, chỉ biết họ mặc, muốn cãi sao cũng mặc. Ai đã ở từng ở tù đều biết: ăn nói với cán bộ không phải thế nào cũng xong, lơ mơ đi cùm liền. Tôi hỏi hình dáng ông bạn tù ra sao, thì anh tù hình sự nói ông này không cao to cho lắm,nhưng đậm người, tóc rễ tre, trước kia đâu như là nhà báo hay nhà văn thì phải. Tôi lại hỏi: vậy cái ông nhà văn hay nhà báo nọ số chẵn hay số lẻ thì anh tù bảo ông ta số chẵn, nhưng mọi người đều biết đích thực là tội chính trị. Hỏi tên thì người kể chuyện bb1 anh ta không biết. Tôi đồ rằng đó là Bùi Ngọc Tấn. Nhà báo, tóc rễ tre thì đúng rồi, nhưng cao to thì không phải – Tấn người tầm thước, mập mạp. Ra tù rồi tôi mới biết mình luận không sai. Tuấn bị bắt sau tôi mấy tháng, vào đầu năm 1968.

Thời bấy giờ xã hội miền Bắc Việt Nam giống như một tu viện, với những tôn ti trật tự không giống ai do một vị chưởng quản khắc nghiệt đặt ra. Trong tu viện này bướng là một cái tội, mà tội lớn. Người dân chỉ được một cái quyền: ấy là ngoan. Người ngoan được coi là công dân tốt. Những người bị bắt vì tội bướng bỉnh nhiều lắm. Tức là, không có một tội tên là như thế trong luật hình sự của nhà nước, tất nhiên, nhưng người đi tù bắt đầu chỉ bằng sự cãi lại bề trên, là người được coi như đại diện cho Ðảng và Nhà nước, thì ngay lập tức bị ghi vào sổ đen, bị báo cáo, bị lập hồ sơ, sau rốt đi tù suốt. Chuyện như thế chẳng còn làm ai ngạc nhiên.

Ðiều tôi không hiểu được là Bùi Ngọc Tấn của chúng tôi đâu có được xếp đầu bảng đám cư dân bướng bỉnh để đến nỗi bị bắt. Anh hiền lành, nho nhã, sống củ mỉ cù mì, không châm chọc chính quyền, ăn nói cẩn trọng, viết văn thuận chiều, cũng chẳng ho he nói xấu lãnh tụ hay là bới móc chế độ. Trong những câu chuyện anh em bàn nhăng bàn cuội anh chỉ gật gù với thái độ tán thưởng, được hiểu là chúng ta như nhau cả, không có gì khác. Vì thế, ở ngoài nhìn vào Bùi Ngọc Tấn là một công dân không những bình thường, mà còn là công dân ngoan. Tấn mà cũng rơi vào tù thì chắc còn khối người phải theo chân anh. Ðiểm mặt các bạn đồng nghiệp không ngoan với chế độ thì thấy số có khả năng vào tù không phải là ít. Ðó là những nhà văn nhà báo nếu không giữ được để thốt ra miệng sự bất đồng với mọi thứ đường lối của Ðảng, thì cũng là loại người hấm hứ quay lưng lại với những đường lối ấy. Bất đồng về đường lối văn nghệ không thôi thì còn thể tha, chứ với đường lối chung, với chủ trương lớn của Ðảng mà cũng tỏ ý không bằng lòng thì Ðảng không tha. Không cần phải có hành động chống đối, chỉ cần có ý nghĩ chống đối thôi đã đủ để Ðảng trừng trị rồi. Mà ý nghĩ của con người ta khó giữ lắm, giấu mấy thì giấu, cẩn thận mấy thì cẩn thận, rồi cũng lộ ra, không ở chỗ này thì chỗ kia, không với người này thì người khác.

Sau này, qua những tin tức lọt vào tôi mới biết đúng là Bùi Ngọc Tấn đã bị bắt. Những người ngang cành bứa hơn anh nhiều lại không bị, mới kỳ. Những người ngang ngạnh không bị bắt có thể là vì họ vừa bị mắng đã nước mắt nước mũi giàn giụa xin tha. Mà cũng có thể các nhà lãnh đạo toàn năng và toàn quyền thấy bắt thế đủ rồi, không cần bắt thêm nữa. Lại cũng có thể các vị e ngại làn sóng công phẫn ngấm ngầm nhưng mạnh mẽ bắt đầu làm xáo động xã hội mà phải bắt, nhưng bắt nhiều quá cũng không phải đắc sách , mới ngừng. Thôi thì cứ đổ mọi sự không giải thích được cho cái số. Cho tiện.

Lại nữa, cũng có thể luận rằng Tấn bị bắt là do chơi thân với Hồng Sĩ, trung tá Công an, có quan hệ mật thiết với tôi, mà cả tôi lẫn Hồng Sĩ đều là “phần tử xét lại chống Ðảng”, đều đã bị bắt. Cũng như thế, Hồng Sĩ bị bắt là do chơi thân với Kỳ Vân. Kỳ Vân bị bắt vì chơi thân với Hoàng Minh Chính. Huy Vân bị bắt vì chơi thân với Lê Liêm. Vân vân. Dưới triều Lê Duẩn, cái sự giao du thường tình ở mọi xã hội khác được coi là thứ tiềm ẩn những tai họa cho chế độ. Tôi còn nhớ hồi ấy nhiều người không dám khai bất cứ ai vào mục bạn bè thân thiết trong lý lịch (trong bản khai lịch có mục đó). Cứ khai không có bạn thân thiết nào hết là chắc ăn.

Tôi kể đầu đuôi câu chuyện chúng tôi bị bắt nó là như thế nào, để giải nghĩa cái xã hội trong đó chúng tôi sống nó là như thế, ở đó người chẳng có tội tình gì cũng có thể bị bắt. Chứ tôi không có định kêu oan với ai. Càng không định kêu oan với mấy ông con giời “có ăn tìm đến, đánh nhau bỏ đi” quen đứng trên đầu nhân quần để đóng vai phán xét.

Thế là Bùi Ngọc Tấn của tôi trở thành nhà văn phản động chống chế độ. Không phải bằng văn chương (chắc chắn là như thế), mà bởi những mối quan hệ bè bạn (nhiều phần là như thế).
Không phải thế thì còn do cái gì?

Chúng tôi quen nhau vào đầu thập niên 60, cái thập niên đầy biến động sau cuộc tấn công vào tệ sùng bái cá nhân của Nikita Khrushev trong Ðại hội lần thứ XX Ðảng cộng sản Liên Xô, mà hậu quả của nó là làm rung lay tận gốc các quốc gia có đảng cộng sản cầm quyền. Việt Nam không phải là ngoại lệ. Chống sùng bái cá nhân chưa hẳn là chống chế độ toàn trị, nhưng cũng là đòn nặng đánh vào nó. Những nhà lãnh đạo ruột rà với chế độ này hiểu ra hiểm hoạ đó bèn huy động mọi lực lượng có trong tay để chống lại. Nếu như ở bên Tầu người ta làm đại cách mạng văn hóa vô sản, thì ở Việt Nam cũng có một cái tương tự, nhưng bớt ồn ào hơn, chúng tôi gọi nó là “tiểu cách mạng văn hóa vô sản”. Mục tiêu chính của cái việc làm mang bản chất vô văn hóa này là phản công lại làn sóng yếu ớt đòi dân chủ hóa xã hội. Nó nhằm vào lớp đảng viên cứng đầu và đám trí thức, xưa nay vốn bị đảng nghi kỵ (các nhà lãnh đạo thất học bao giờ cũng đinh ninh bị trí thức khinh khi). Trong cuộc truy lùng phù thuỷ do Lê Duẩn – Lê Ðức Thọ lãnh đạo, chúng tôi, những người cầm bút do chính đảng cộng sản đào tạo, cũng trở thành con mồi của chúng.

Không biết khi Bùi Ngọc Tấn trở thành kẻ thù của nhân dân thì anh nghĩ sao, chứ tôi thì tôi ngao ngán lắm. Tôi tiếc mình đã không làm một cái gì hơn những lời phát biểu ngang ngược làm đảng lãnh đạo bực mình, để rồi bị bắt một cách lãng nhách. Thật uổng.

– Mình cũng nghĩ như thế. – Bùi Ngọc Tấn nói với tôi khi chúng tôi gặp nhau tại Sài Gòn năm 1985 – Nhưng nếu làm, thì hồi ấy chúng mình làm được cái gì ?

Chúng tôi chẳng làm được cái gì hết, trừ những lời nói. Ðành tự an ủi rằng dù sao chúng tôi cũng đã gióng được một tiếng chuông nho nhỏ, để cho những nhà lãnh đạo tự thị biết rằng cái sự ngoan ngoãn đi theo đảng không còn như trước nữa, rằng cái sự đoàn kết dưới cờ đảng trong khối thống nhất không gì phá vỡ nổi chỉ có giá trị huyền thoại. Và để nhân dân hiểu rằng cần phải tỉnh táo nghĩ bằng cái đầu của mình, chứ không thể nhất nhất vâng theo đám đầu mục thời hiện đại.

Ðiều làm tôi mừng là tinh thần Bùi Ngọc Tấn vẫn như xưa, khi anh chưa phải chịu đựng sáu năm tù không có xét xử. Mái tóc nhiều sợi bạc, mặt nhiều nếp nhăn hằn sâu – đó là tất cả những gì mà Ðảng anh minh có thể thay đổi trong con người anh.

– Chúng mình sẽ phải viết về những gì chúng mình thấy. – Tấn nói – Trách nhiệm đấy, ông ạ.
– Hoặc đừng cầm bút nữa. – tôi đồng ý với anh.

Tôi cặm cụi sưu tầm tài liệu cho cuốn sách của tôi. Nó sẽ phải ra đời, một lúc nào đó.

Tấn kể cho tôi nghe chuyện đời tù, nói anh ghi chép được khá nhiều cho những sáng tác tương lai, bây giờ anh đang sắp xếp lại để viết. Nhưng anh than phiền rằng anh viết chậm, chậm lắm. Và cảm thấy mình bất lực – sự thật ngồn ngộn trước mắt mà ngòi bút thì ẻo lả, không sinh khí.
Tôi suy tôi ra thì hiểu tâm trạng Tấn. Bất cứ công việc nào cứ bỏ bễ một thời gian thì cũng thế cả, bắt đầu lại lóng ngóng lắm. Trong chuyện viết văn còn tồn tại một cái ngáng trở ngòi bút nữa. Là cái sợ. Nó là con đỉa sống dai, bám chắc. Hồi ấy, năm 1985, chưa có gì hứa hẹn cái chết của nó.

Tôi hình dung ra phòng văn của Tấn. Một căn phòng không quá hai chục thước vuông, nơi vừa là phòng ăn, vừa là phòng ngủ của cả gia đình – vợ chồng anh và các cháu. Nơi từ nhiều năm thường xuyên diễn ra những cuộc gặp gỡ ồn ào giữa mấy thế hệ cầm bút, những cuộc tranh cãi nghệ thuật khi vui vẻ khi khùng điên bên cạnh giường ngủ của vợ con Tấn, màn đã buông. Nơi Nguyên Hồng lui tới nhiều nhất mỗi khi trở về vùng đất sinh thành của những nhân vật Bỉ Vỏ, Qua Những Màn Tối, Những Ngày Thơ Ấu… Nguyên Hồng nhận xét về Tấn :”Thằng này nó viết dí dỏm ra phết. Cái nhìn của nó cũng thế, tưởng là lờ đờ mà hoay hoáy, hoay hoáy, phát hiện ra những cái mà người khác bỏ qua, hoặc là không thấy được. Mình mà có cái chất của nó hồi trẻ thì phải biết!”

Những kỷ niệm này được Tấn ghi lại một phần không nhiều trong Một Thời Ðể Mất.

Tấn bắt đầu văn nghiệp bằng nghề phóng viên. Anh làm ở tờ Tiền Phong, một tờ báo của Ðoàn thanh niên lao động (sau thay đổi tên thành Ðoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh). Anh đi nhiều, viết nhiều. Những bài báo tầm phơ, tất nhiên. Nhưng những chuyến đi liên miên ấy cho anh chất liệu để viết cái khác – những truyện ngắn, bút ký. Bạn đọc bắt đầu chú ý tới anh bởi cái nhìn độc đáo, sắc sảo. Anh viết cần cù, không nhiều, nhưng không nịnh bợ, không tô hồng, cũng không bôi đen, biết tránh né. Có nghĩa không hoàn toàn là cách viết thời thượng, cũng không phải cách viết để được khen là tiến bộ, chóng được lên lương, lên chức. Có những tác phẩm anh viết để đấy, chỉ vài người bạn thân được biết. Mà chúng nào có phải tác phẩm chửi đảng hoặc bôi đen chế độ đâu, chúng chỉ thực, hoặc quá thực mà thôi. Không biết anh có bị mất những bản thảo ấy vào tay Công an không? Nếu là thế, tội anh sẽ nặng thêm.

Bùi Ngọc Tấn không bỏ bút, đúng như anh nói. Anh cặm cụi viết, và kết quả là hai cuốn sách đã ra đời: Một Thời Ðể Mất, Những Người Rách Việc… Lần này cũng vậy, những đề tài vẫn cứ là hiền lành, không chính trị chính em, chỉ là chuyện đời thường, là những suy ngẫm về số phận và những quan hệ giữa người và người. Tuy vậy, những cuốn sách hiền lành ấy cũng không thể được xuất bản ba mươi năm trước, khi Bùi Ngọc Tấn bước chân vào nhà tù. Thời đã khác.

Tôi sẽ không nói về nội dung những chuyện được ghi lại trong sáng tác của Bùi Ngọc Tấn. Tự những câu chuyện bình dị được kể bằng giọng la đà, không có ý thuyết phục ai, chẳng dám dạy bảo ai, nói lên cái nhìn nhân bản, xót xa đối với con người của tác giả. Sáng tác của Bùi Ngọc Tấn lần đầu tiên đến với bạn đọc hải ngoại là Người Chăn Kiến, được đăng trong một số tạp chí Diễn Ðàn ở Paris. Số phận của người giám đốc bị bỏ tù oan được miêu tả một cách dửng dưng có sức mạnh của tiếng thét bất bình. Anh giám đốc cuối cùng được trả lại tự do, được phục chức, lẽ công bằng có vẻ như đã được lập lại cho anh ta, nhưng ở lúc lẽ ra anh ta phải vui nhất, sướng nhất, thì anh lại lẳng lặng chui vào phòng riêng để làm cái công việc khổ sai kỳ cục mà những tên anh chị lưu manh trong tù bắt anh phải làm, để hạ nhục anh, là đi bắt mấy con kiến và … chăn chúng. Mặc cho ở ngoài kia người ta liên hoan tưng bừng, anh kiên nhẫn dùng những tấm danh thiếp chặn đường đi của những con kiến trong cái trò chơi vô nghĩa của mình. Than ôi, con người bị chà đạp đến đánh mất mình đến như thế đấy. Ngay cả trong vô thức anh ta không nhận ra anh ta nữa. Người Chăn Kiến là tiếng kêu cứu cho con người bé nhỏ, con người tội nghiệp, con người dân đen, là lời nguyền rủa cái quyền lực bất nhân không đếm xỉa đến số phận thần dân nằm dưới quyền cai trị của nó.

Ðược viết mấy dòng về bạn mình, trong lúc bạn còn sống, là một niềm vui.

Bùi Ngọc Tấn gặp rủi, nhưng vượt qua nỗi bất hạnh của mình, anh may mắn được sống tới hôm nay, để còn có dịp gửi tới các bạn tiếng lòng anh.

Mong rằng chúng ta sẽ còn nhiều dịp được gặp anh trong những cuốn sách khác, bởi vì những gì mà thế hệ chúng tôi chứng kiến và nếm trải đáng được viết ra trong không phải một vài, mà nhiều cuốn sách.

Posted in Bắt bớ-Tù Đày-Đánh đập-Đàn Áp, Sách- Báo- Hồi Ký | Leave a Comment »

►Nhớ Tấn-Vũ Thư Hiên

Posted by hoangtran204 trên 24/12/2014

24-12-2014

 Vũ Thư Hiên

Nhà văn Bùi Ngọc Tấn.

Từ Hà Nội, Dương Tường gọi tôi: “Tấn đi rồi, Hiên ơi, sáng nay, lúc 6 giờ 15. Buồn quá!”

Buồn, chứ lại không ư? Còn hơn thế, Tấn đi. để lại cho mấy thằng bạn còn lại biết bao hụt hẫng, biết bao nuối tiếc.

Tôi muốn khóc, mà không còn nước mắt.

Bấm tay tính lại số bạn bè ngày ấy, thấy chỉ còn vài đốt nữa là hết. Mà tưởng chừng mới đây thôi, lũ chúng tôi, những đứa con của cách mạng, và cũng là những nghịch tử mà đảng muốn thịt bằng hết, không có đủ đốt tay để mà đếm.

Có trời biết vì sao lại rơi vào trong lũ đầu bò đầu bướu chúng tôi ngày ấy một anh chàng củ mỉ cù mì, hiền lành rất mực, là Bùi Ngọc Tấn. Chỉ có thể giải thích theo lý lịch: lũ chúng tôi hầu hết xuất thân tiểu tư sản, nếu không tệ hơn, còn Tấn lại thuộc thành phần nông dân, là thứ được đảng cộng sản coi là quân chủ lực (của đảng, tất nhiên). Phải nói thêm một chút cho khỏi có sự hiểu nhầm về ngữ nghĩa: cái lối gọi lái “tạch tạch sè” (tiểu tư sản) ở đây hoàn toàn không có nghĩa người có tư sản nhỏ, xí nghiệp hay là tiệm buôn, mà là cái biển tên khinh bỉ được cách mạng gắn cho những kẻ trót dại sinh ra ở thành phố, nhất là những tên có nước da trắng trẻo, lại còn đeo kính trắng.

Đời Bùi Ngọc Tấn nhiều nghịch lý. Điều tôi vừa kể là chỉ là nghịch lý lớn nhất. Tưởng chừng cái nghiệp cầm bút của anh tự nhiên phải gắn liền với thành phần xuất thân của anh. Đi với cách mạng, được cách mạng đào tạo, anh ắt phải trở thành một nhà văn cung đình như những người cùng gốc gác, hoặc những người kiên quyết từ bỏ gốc gác để một lòng theo cách mạng. Những người này hợp thành đội ngũ văn nô chuyên viết tụng ca rổn rảng hoặc tiểu sử hoành tráng đầy chiến công thấn xuất quỷ nhập của các “lãnh tụ” cách mạng… Giống anh về thành phần, cũng trong lũ chúng tôi, chỉ có Phù Thăng, tác giả cuốn Phá Vây nổi tiếng với những dòng văn bộc trực chống chiến tranh giữa thời thịnh trị của đường lối cách mạng bạo lực, làm cho tướng Nguyễn Chí Thanh, người mưu toan chỉ huy cả đội quân văn chương vô sản, phải nổi điên để ra lệnh cấm.

Người bạn thân nhất của Bùi Ngọc Tấn là Hứa Văn Định. Cũng lại là một tình bạn tréo cẳng ngỗng, một nghịch lý nữa, có thể nói như thế. Hứa Văn Định là một nhà văn tài ba và ngang tàng, tiếc rằng được rất ít người biết đến. Trong khi Bùi Ngọc Tấn chăm chỉ viết những bài báo đầu tay theo văn trào người tốt việc tốt thì Hứa Văn Định đã có những truyện ngắn ngang ngược, bút pháp sỗ sàng, may mà không ai dám in, vì thế mới không bị đánh. Những tác phẩm được xuất bản Định gọi là “thứ văn chương vằn vện ấy mà”, còn những gì không thể in được anh xếp xó, chỉ để cho bè bạn thân thiết đọc. Hơn bè bạn ở chỗ có phòng riêng để ở, khi Tấn mới có tình yêu trong cái thời tình yêu bị dính liền với tội “hủ hoá”, Định nhường chỗ ở của mình cho Tấn và Bích gặp nhau để lang thang nhà này nhà khác, bạ đâu nằm đó.

Tôi quen Tấn là qua Hứa Văn Định, trong ngôi nhà khang trang đường Điện Biên Phủ, được bọn thanh kiếm và lá chắn của đảng tuyên xưng là “câu lạc bộ Pê-tô-phi” Hà Nội. Oan cho chúng tôi, vì trong những người thường xuyên lui tới nhà Định không phải chỉ có lũ đầu bò, mà có cả những người về sau này trở thành vai vế trong làng văn chính thống. Đến khi Liên Xô Trung Quốc chửi nhau như mổ bò, thậm chí còn giã nhau ở biên giới, thế giới cộng sản tan thành hai mảnh, mùi binh đao vừa mới phảng phất là những người này biến ngay lập tức, cứ như thể họ chưa từng có mặt. Còn lại là những kẻ không biết sợ: Kỳ Vân, Mạc Lân, Vũ Huy Cương, Từ Chi, Dương Tường, Phù Thăng, Tuân Nguyễn, Châu Diên… Mà cả những tên được gọi là đầu bò này cũng chả có gì đáng được coi là chính trị đúng nghĩa. Chẳng qua vì bực mình trước những ngang tai chướng mắt bề bề mà bật ra những lời nói ngược với xã luận báo đảng mà thôi. Gọi là chính trị là cái đó, chứ không phải cái nào khác.

Bùi Ngọc Tấn tránh xa cả cái chính trị vô hại ấy. Anh là người biết sợ. Và biết né. Trong anh không bao giờ có nhu cầu làm người dũng cảm, hoặc ít hơn, ngang ngạnh. Anh rón rén từng bước trên đường sáng tác để không chạm vào những cấm kỵ, anh lẩn tránh những thứ “có vấn đề” bằng nụ cười hiền hậu, bằng giọng nói rụt rè, dành say mê cho những “con chữ” (nói theo cách Dương Tường). Chẳng bao giờ Tấn khoe với chúng tôi những gì anh đang viết. Chúng tôi chỉ được biết anh viết gì khi sách đã in ra. Văn anh hiền lành như người anh vậy. Thứ văn ấy chúng tôi không đánh giá cao, chỉ mỉm cười khích lệ. Mà Bùi Ngọc Tấn cũng nhút nhát lắm khi nào không thể tránh phải nói về mình trước những ông bạn bặm trợn một khi đã bốc lên rồi thì trời cũng bằng vung.

Đảng cộng sản đã biến con người hiền lành ấy thành cái gì thì ai cũng đã biết. Bỏ Bùi Ngọc Tấn vào tù, đảng được “Chuyện kể năm 2.000” để phải cấm, phải tiêu huỷ. Rồi khi Bùi Ngọc Tấn nằm xuống thì phải sai lâu la đi giật băng tang trên vòng hoa của những người ái mộ. Những nhà văn được đảng tống vào tù như Bùi Ngọc Tấn rồi cũng sẽ lại quả cho đảng những món quà đắng. Xem ra thành công lớn hơn cả của đảng cộng sản là xây dựng rất tốt nền công nghiệp chế tạo kẻ thù.

Bùi Ngọc Tấn vào hồi ấy hiền lành là thế, cho nên khi tôi rơi vào tù rồi, ngồi ngẫm xem ai trong bạn bè có thể cùng chung số phận với mình, thì Bùi Ngọc Tấn là người bị tôi loại ra đầu nước. Thế mà rồi người ta bắt cũng anh đi tù, mới lạ. Mà chẳng nói chắc được anh bị bắt vì cái gì. Biết đâu, trong lúc nào đó, ở nơi nào đó, Tấn đã trót dại nghĩ to một điều gì đó. Và thế là một hồ sơ được lập. Hồ sơ của công an có một đặc điểm, nó chỉ dày lên chứ không khi nào mỏng đi. Tin Bùi Ngọc Tấn vào tù đến với tôi rất chậm, mãi bốn năm sau tôi mới biết.

Trong việc chọn đối tượng cho sự trấn áp, nhà cầm quyền cộng sản nào cũng thế, cũng rất khó hiểu. Nhất là ở bên Tàu. Trong cuộc Đại cách mạng văn hoá vô sản, các Hồng vệ binh đã lùng ra cả đống kẻ thù, từ những nhân vật hoạt động cách mạng trước “người cầm lái vĩ đại” Mao Trạch Đông cho tới chị nông dân sợ cả việc giết một con gà. Có thể nghĩ lẩn thẩn rằng khi thấy trung ương bắt bọn xét lại cấp trung ương thì nhà cầm quyền cấp tỉnh hay cấp thành phố cũng thấy mình phải hối hả xách còng số 8 đi bắt vài tên xét lại địa phương. Cho nó oách. Mà cũng có thể đoán già đoán non rằng người ta có cách tính khác, vượt xa cái đầu óc thiển cận của người bình thường như tôi. Nếu anh đoán được họ sẽ bắt ai theo một số tiêu chuẩn nào đó về kẻ thù là đúng, thì chỉ có một số nhỏ những ai tự xét thấy mình nằm trong tiêu chuẩn đó phát rét, chứ nếu người ta tóm cả những kẻ không ai nghĩ tới có thể bị bắt, thì cả xã hội sẽ sợ. Cả một xã hội sợ mới là cái nhà cầm quyền muốn có.

Vào cái thời có cuộc trấn áp “bọn xét lại chống đảng” dân chúng không nhiều thì ít đều bực bội với cách cai trị của đảng trong nhiều mặt đời sống. Đến cả Nguyên Hồng, nhà văn được coi là cốt cán của đảng, cũng rơi vào tâm trạng ấy. Tôi có ghi lại câu chuyện sau: Một hôm, Nguyên Hồng bắt gặp Bùi Ngọc Tấn đang đứng dưới tấm bảng lớn bằng cả bức tường để so vé xổ số. Nguyên Hồng thụi cho Bùi Ngọc Tấn một quả: “Cái thằng rõ ngu. Ở đời đã chán vạn cái thất vọng mà mày còn bỏ ra hai hào mua thêm một cái, đắt quá! Ngu!” Ít ngày sau, đến lượt Bùi Ngọc Tấn bắt được quả tang Nguyên Hồng cũng đang so vé số, cũng trước chính bức tường ấy. Tấn khoái lắm, đem câu nói của Nguyên Hồng hôm trước ra đay. Nguyên Hồng làm bộ sửng sốt: “Tao có nói thế à? Không có lẽ. Ở đời toàn là thất vọng, bỏ ra có hai hào mua được cả một cái hi vọng, rẻ ơi là rẻ!”.

Trong một lần ngồi cùng bè bạn, Bùi Ngọc Tấn chỉ tôi: “Tại sao tôi bị bắt á? Tại cái ông này này. Vi tôi chơi với ông ấy. Có vậy thôi. Vía ông ấy nặng lắm!”. Tấn nói không phải không có lý. Sau này tôi mới biết từng có những lời đồn đoán rằng Hồng Sĩ bị bắt là do chơi thân với Kỳ Vân. Kỳ Vân bị bắt vì chơi thân với Hoàng Minh Chính. Hoàng Minh Chính bị bắt vì kết bè với Vũ Đình Huỳnh, Đặng Kim Giang… Nếu đúng là thế thì tôi nợ Tấn nhiều lắm.

Không hiểu sao, nhưng từ khi đi tù về, Bùi Ngọc Tấn bỏ hẳn cách mày tao mi tớ với bạn. Chừng anh sợ cả sự quen mui để lỡ lời trong xưng hô có thể mang lại hậu quả xấu. Từ trước Tấn đã không giao du tràn lan, nay lại còn kén chọn riết róng hơn nữa. Tấn không có bạn tào lao. Đến ngay bà vợ bé của “hoàng thượng”, tức tổng bí thư đảng, cùng làm việc với Tấn trong toà soạn tờ Hải Phòng Kiến Thiết, cũng không được Tấn coi là bạn, cho dù sự kết thân ấy chỉ có lợi trở lên.

bnt-vth

Bùi Ngọc Tấn cùng bà Hồng Ngọc (vợ ông Hoàng Minh Chính) và nhà văn Vũ Thư Hiên tại Paris
Nguồn ảnh: blog Bùi Ngọc Tấn

Tôi không ngờ rồi lại có cuộc gặp mặt Bùi Ngọc Tấn bên trời Tây sau một thời gian xa cách đằng đẵng. Ngồi trên giường, trong căn phòng áp mái rộng 14 thước vuông của tôi tại Paris, Tấn ứa nước mắt “Hề hề, đây là cái mình không ngờ. Cứ tưởng ông sang đây thì…”, Tấn bỏ lửng.

Tấn tới Paris lần này đúng vào dịp chị Hồng Ngọc, vợ anh Hoàng Minh Chính cũng từ Roma tới thăm tôi. Hai thằng cựu tù, một vợ tù, rủ nhau đi một chuyến ngao du châu Âu cho bõ những ngày khổ ải. Đó là một chuyến đi rất thú vị – ở đâu chúng tôi cũng được bạn bè đón tiếp nồng hậu. Đó là món quà có thể hình dung được nhưng luôn luôn bất ngờ của những người dân Việt xa xứ dành cho những kẻ ít nhiều dính dáng tới cuộc đấu tranh cho dân chủ hoá đất nước. Bùi Ngọc Tấn cảm động lắm. Khi cảm động, mắt anh chớp liên tục. Ấy là cách anh ngăn cho những giọt nước mắt khỏi trào ra.

Trên đường từ Munchen đi Vienna, tôi phát hiện thêm một Bùi Ngọc Tấn khác.

Đến Salzburg, thành phố địa đầu của Áo với Đức, sau khi mới đi thăm được vài thắng cảnh, viếng nấm mộ giả tưởng của Mozart, chị Hồng Ngọc bỗng lên cơn đau gì đó, mặt tái nhợt, mồ hôi vã ra. Đã định đưa chị vào bệnh viện, nhưng chị không chịu. Đành quay xe về Munchen. Thế là kế hoạch cho Tấn nghe nhạc giao hưởng ở giữa thủ đô âm nhạc thế giới không thành.

Trên đường, chúng tôi đi ven con hồ Chiemsee mênh mông đúng vào lúc hoàng hôn sắp tắt. Trên mặt hồ tràn trề ánh nắng bạc màu hồng của mặt trời đang lặn là một đàn thiên nga cả ngàn con bồng bềnh. Tấn hét lên: dừng lại! Xe vừa dừng là anh bật cửa lao ra, đứng sững trước cảnh tượng hùng vĩ của con hồ. Rồi anh hấp tấp chạy lại xe, lục giỏ bánh mì dự trữ khi đi đường, lấy ra một cái rồi chạy ào xuống mớn nước. Ở đó, Tấn bẻ vụn bánh mì, tung lên trời trong tiếng gọi tha thiết: “Thiên nga ơi, thiên nga! Lại đây, thiên nga ơi!”. Lập tức những con con thiên nga ở gần bay lại, ồn ào nhặt những mẩu bánh mì vừa chạm nước. Mặt Tấn rạng rỡ niềm vui kỳ lạ khi những con thiên nga dạn dĩ bơi lại gần anh, tưởng chừng có thể đưa tay vuốt ve bộ lông trắng mượt của chúng.

Bỗng tôi thấy mặt Bùi Ngọc Tấn buồn hẳn, nó xịu đi, đôi mắt lại chớp chớp. Anh lẩm bẩm nói với đàn chim trời: “Thiên nga ơi, thiên nga! Các em mới may mắn làm sao! Các em sinh ra ở phương trời này. Chứ các em ở quê anh ấy à… Thì các em vào nồi từ lâu rồi!”

Quay trở lại xe, suốt đường về, anh ngả người trên ghế, mũ úp lên mặt, không nói câu nào. Tôi chợt hiểu ra: với một tình yêu xót xa với thiên nhiên như thế, thì với con người anh còn xót xa biết bao nhiêu.

Và chỉ với một tình yêu người đau đớn đến rỉ máu, Bùi Ngọc Tấn mới có thể để lại cho chúng ta những tác phẩm đầy lòng nhân ái.

Vũ Thư Hiên

Posted in Bắt bớ-Tù Đày-Đánh đập-Đàn Áp, Sách- Báo- Hồi Ký | Leave a Comment »