Trần Hoàng Blog

Archive for the ‘Sách- Báo- Hồi Ký’ Category

►Lật lại vụ án xử tử mấy ngàn sĩ quan Việt Minh 1953 (4-11-2017)

Posted by hoangtran204 trên 18/11/2017

10.000 sĩ quan Việt Minh đã bị tố khổ và loại bỏ 1953. 

 Hồi ký của Hoàng Tùng  : “…Ai lãnh đạo cách mạng tháng 8 thành công, ai lãnh đạo cuộc kháng chiến từ năm 1945 đến năm 1953. Thế mà họ thẳng tay bỏ hết, trong đó có mấy ngàn người bị xử tử”!

Hoàng Tùng (1920-2010),  nguyên Bí thư Ban Chấp hành Trung ương đảng khóa V; Tổng Biên tập Báo Nhân dân.

 

Đọc tiếp »

Advertisements

Posted in Sách- Báo- Hồi Ký, Tư Liệu Lịch Sử | Leave a Comment »

►Giai Cấp Mới, tư bản đỏ… Làm thế nào để chiến thắng nhà cầm quyền cộng sản (Milovan Djilas)

Posted by hoangtran204 trên 29/03/2017

Hình ảnh về quyền lực và sự giàu có của gia đình Nguyễn Tấn Dũng, của các bí thư tỉnh ủy Đồng Nai, Bắc Ninh, Long An, Huỳnh Đức Thơ (chủ tịch UBND Đà Nẵng), sự giàu có của các tư bản đỏ Phạm Nhật Vượng, Trương Gia Bình (con rễ Võ Nguyên Giáp), các lãnh tụ cs Đỗ Mười, Võ Văn Kiệt… hiện ra mồn một trong Giai Cấp Mới.

Hình ảnh và sự chuyên quyền của Lê Duẩn, Lê Đức Thọ và sự giàu có của con cái LD cũng hiện ra đậm nét trong Giai Cấp Mới.

Hỏi: Giai Cấp Mới gồm những ai?

Đáp: Đó là một nhóm người trong đảng, có quyền quản lý và phân phối toàn bộ khối tài sản đã được quốc hữu hóa và tập thể hóa. Chính vai trò độc quyền quản lý và phân phối thu nhập quốc dân cũng như mọi tài sản khác của quốc gia đã biến tầng lớp này trở thành tầng lớp đặc quyền đặc lợi.

 

Đọc tiếp »

Posted in Sách- Báo- Hồi Ký, Tài Liệu, Đảng CSVN, Độc quyền lãnh đạo | Leave a Comment »

►Công bố Giải Thưởng Văn Việt lần thứ hai (3-3-2017)

Posted by hoangtran204 trên 11/03/2017

Giải thưởng Văn Việt lần thứ hai

Có tất cả bảy giải được trao cho sáu tác giả. Ba tác giả trong nước gồm nhà thơ Vũ Thành Sơn, nhà văn Nguyễn Viện (Sàigòn) và nhà văn quá cố Nguyễn Khắc Phục (Hànội).

Đọc tiếp »

Posted in Báo chí- Quyền tự do ngôn luận, Bắt bớ-Tù Đày-Đánh đập-Đàn Áp, Quyền tự do lập Hội, Sách- Báo- Hồi Ký | Leave a Comment »

►Lê Vũ Anh, con gái ông Lê Duẩn, bị đầu độc?

Posted by hoangtran204 trên 17/08/2016

Tôi mơ thấy một luồng sáng: người ta đã đầu độc Vũ Anh. Tôi chia sẻ phỏng đoán với các bác sĩ. Họ không loại trừ khả năng ấy, nhưng cho rằng các vết xanh-đỏ trên da có thể xuất hiện trong trường hợp chảy máu nghiêm trọng. Sau đó nhiều năm, khi nằm điều trị tim tại một bệnh viện tim mạch tôi quan sát thấy người ta đã tiêm heparin cho các bệnh nhân để làm loãng máu, và trên người họ cũng xuất hiện những vết đúng như thế. Theo quan điểm của tôi đã xuất hiện thêm một phương án khả tín: việc chảy máu là do tác động cố ý, bằng cách tiêm thứ thuốc đó. Không phải tự nhiên Vũ Anh đã linh cảm thấy tai họa. Và máu đã chảy cạn … Trong đám tang bà mẹ đau khổ đến mất trí. Bà ấy nói rằng cha của Vũ Anh đã giết con và muốn giúp đỡ tôi – đưa bọn trẻ về Việt Nam”.

_____

Hồi ký của Viện sỹ Viện Hàn lâm Khoa học Nga, Viktor Maslov, con rể cố TBT Lê Duẩn.

Dịch từ nguyên bản tiếng Nga

Đông tác Giao lưu

Tác giả: Viktor Maslov

Dịch giả: Phan Độc Lập

17-5-2016

I.

H1

Lê Vũ Anh, con gái ông Lê Duẩn. Ảnh: RIA Novosti/ tư liệu gia đình của V. Maslov

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Có lẻ  mọi chuyện đã không trở nên quá phức tạp, nếu như tôi biết được ngay từ đầu Lê Vũ Anh là con gái của ai. Khi sự thật được làm sáng tỏ thì đã muộn quá rồi. Tôi đã yêu, yêu đến phát điên đến nỗi không còn biết mình là ai nữa và không thể từ chối được mối tình đó nữa rồi.

Chúng tôi gặp nhau ở khoa Vật lý của Trường Đại học Tổng hợp Quốc gia Moskva mang tên Lomonosov (MGU), nơi Lê Vũ Anh đang theo học. Tại thời điểm làm quen với nhau tôi đã là giáo sư tiến sỹ toán-lý và là tác giả của một lý thuyết, mà ở nước ngoài người ta gọi là lý thuyết chỉ số nhóm Maslov (Maslov-type index theory). Lý thuyết này được sử dụng rộng rãi trong toán học trừu tượng, cũng như trong cơ học lượng tử, hóa học lượng tử và quang học. Chỗ làm việc chính của tôi là ở Trường đại học chế tạo máy điện tử Moskva (МИЭМ), nhưng khoa Vật lý của MGU lại từng là ngôi nhà thân yêu, nơi tôi đã từng học tập và giảng dạy ở đó.

Bao nhiêu năm đã trôi qua, cả một cuộc đời. Rất nhiểu sự kiện và ấn tượng đã mờ dần trong trí nhớ, nhưng hình ảnh cố công chúa xinh đẹp, chói sáng vào một ngày đang đứng nơi cuối hành lang cho đến tận bây giờ vẫn luôn hiện về trước mắt tôi. Cô gái không quen biết đang di chuyển bằng các động tác với vẻ duyên dáng và kiều diễm không thể tả, tôi bước theo nàng như một kẻ si mê. Đến gần cửa phòng thí nghiệm nàng dừng lại và quay mặt lại. Nàng thoáng nhìn tôi một giây từ đôi mắt đen huyền, mỉm cười và ẩn mình vào trong phòng thí nghiệm. Cô gái ngoại quốc, tôi chợt nhận ra và nghĩ rằng, nàng đến từ Ấn Độ.

Thành thật mà nói, tôi thường thích phụ nữ phương đông. Một trong những nhà vật lý học bạn tôi nói đùa” Maslov của chúng ta là nhà đông phương học lớn”. Trong MGU có rất nhiều sinh viên từ các nước châu Á theo học, trong đó có sinh viên từ Việt Nam, đất nước bị tàn phá bởi chiến tranh. Tất cả họ đều luôn nhận được thiện cảm và sự cảm thông từ mọi người. Ở khoa Vật lý cũng có nhiều sinh viên Việt Nam, tôi nhanh chóng kết bạn với họ, đặc biệt là với hai cô gái Phúc và Tình. Phúc là con gái của nhà quân sự-chính trị nổi tiếng Võ Nguyên Giáp, lúc đó là Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, còn Tình là con gái của Chủ tịch thành phố Hà Nội. Cả hai cô gái đều giấu giếm bố mình là ai, cũng như các sinh viên Việt Nam khác xuất thân từ giới quý tộc Việt Nam, họ đề phòng lộ diện để tránh các mưu đồ và hành động khiêu khích chính trị từ chính quyền Xô viết. Thực tế là như thế này, quan hệ giữa hai nước chúng ta, bất chấp việc đảm bảo tình hữu nghị mãi mãi bền vững, nhưng vẫn có thể xảy ra bất đồng, xuất phát từ phía này hoặc phía kia. Liên Xô vốn quan tâm đến việc mở rộng ảnh hưởng của mình ở châu Á, trong hoàn cảnh đang gia tăng bất đồng với Trung Quốc, buộc phải hào phóng viện trợ giúp đỡ “người em” Việt Nam. Việt Nam hài lòng làm bạn với người anh lớn nhưng không sẵn sàng hy sinh những lợi ích chính đáng của mình mà trở thành nước lệ thuộc. Các nhà lãnh đạo tận dụng cơ hội để con cái của họ có được sự giáo dục có chất lượng ở Liên Xô nhưng họ sợ con cái họ có thể bị bắt cóc để tống tiền hoặc tạo áp lực chính trị lên bố, mẹ chúng nên yêu cầu giữ bí mật. Có lẽ, đây là những nguyên nhân chính, nhưng theo cảm nhận của tôi thì các nhà lãnh đạo Việt Nam đã quá lo xa một cách vô ích. Thật ra thì KGB, với khả năng của mình, họ thừa biết được hết con cái của những lãnh đạo nào.

Tôi thích Phúc, tôi giúp đỡ cô ấy học tốt môn Toán, tôi không chỉ một lần mời cô ấy đến nhà chơi, lúc thì một mình, lúc thì với các bạn, nhưng giữa chúng tôi không có chuyện gì cả, dù chỉ là một chút lãng mạn. Cô gái Việt Nam dễ thương tránh tôi chỗ đông người như tránh lửa vậy.

Có một lần tôi dẫn Phúc đến gặp và làm quen với nhân viên đánh máy để giúp cô nhân bản báo cáo khoa học, sau đó cả hai cùng nhau ra về. Đi cùng tôi trên đường phố Moskva nhộn nhịp, cô thể hiện mình như một nữ du kích trong hậu phương của địch: tỏ vẻ sợ sệt và suốt thời gian luôn cảnh giác quan sát tứ phía. Đặc biệt giao thông công cộng làm cô mất bình tĩnh. Chẳng hạn tại bến đỗ, xe buýt hoặc xe buýt điện vừa đến, cô đã nhanh chóng ẩn mình vào trong xe ngay.

- Chuyện gì xảy ra vậy- tôi hỏi –em sợ gì chứ?
- Anh nhìn xem, đằng kia hình như có người Việt Nam.
- Có gì đáng sợ ở đây?
- Nếu họ nhìn thấy em đi với người Nga, em sẽ gặp rắc rối lớn.

Tôi bèn bắt đầu đặt câu hỏi với Phúc. Thì ra là người Việt Nam bị cấm giao tiếp với người châu Âu, hay nói chung là với “ Tây mũi lõ” như trong dân gian vẫn gọi. Từ thời xa xưa, mối quan hệ với họ sẽ bị lên án và được xem là sự phản bội. Một cô gái đi trên phố cùng với một ông “Tây mũi lõ” sẽ bị kỳ thị hoặc thậm chí bị ném đá. Những người cộng sản, sau khi dành được chính quyền và thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, thật không may, vẫn giữ lại truyền thống phong kiến đó. Vi phạm điều cấm giao tiếp với người nước ngoài có thể bị lên án, đấu tố trong các cuộc họp đảng, đoàn thể hoặc có thể bị đưa vào trại cải tạo. Ở nước ngoài, các công dân Việt Nam cũng phải tuân thủ các chuẩn mực đã được chấp nhận trong nước. Thậm chí múa bale cổ điển cũng bị xem là hình thức khiêu dâm. Sau này có một lần Vũ Anh nói với tôi, các nhà ngoại giao Việt Nam khi xem kịch múa bale trong nhà hát lớn ở Moskva đã phải nhắm mắt vì sợ bị “khiêu dâm” bởi các vũ công mặc đồ bó sát người như không mặc gì.

Các bạn Việt Nam đã giúp tôi gặp lại và làm quen với cô gái xinh đẹp nhất đã làm rung động trái tim tôi, nàng là đồng hương của họ. Lê Vũ Anh quan tâm đến toán học và muốn được nghiên cứu sâu thêm về môn học này. Tất nhiên, tôi đồng ý giúp đỡ nàng. Nàng đã cuốn hút tôi ngay lập tức từ cái nhìn đầu tiên, nàng thực sự trẻ trung và hấp dẫn, không giống như những người phụ nữ Việt Nam điển hình khác: nàng đủ cao, da trắng, với đôi mắt luôn nhìn thẳng. Nàng giữ mình như một phụ nữ hoàng gia – đơn giản, nhưng với những phẩm giá không bình thường. Ở Việt Nam, tôi nghĩ nàng phải được xem như là một trong những người con gái đầu tiên đẹp nhất. Ở trường tôi, những người trẻ tuổi luôn để ý quan tâm đến nàng.

Sau này tôi được biết, dòng máu đang chảy trong cơ thể nàng không chỉ có dòng máu Việt Nam, mà một phần trong đó có dòng máu Trung Hoa. Mẹ nàng, bà Bảy Vân mang trong người một phần tư dòng máu Trung Hoa. Ở Việt Nam, không ai biết về điều này, gia đình đã giấu kín “mối quan hệ huyết thống” với người Trung Hoa của mẹ nàng. Sự thật là nàng khi còn nhỏ đã sống nhiều năm ở Trung quốc. Bạn thân của nàng là con gái của Đặng Tiểu Bình, người đã từng là bạn của bố nàng và là người số 2 dưới bầu trời Trung Quốc sau Mao. Với người cầm lái vĩ đại, nàng cũng quá quen thuộc. Nàng đã cho tôi xem một bức ảnh nàng đang ngồi trên đùi của Mao Trạch Đông.

Thời tuổi trẻ của mình, mẹ nàng, bà Bảy Vân cũng khá đẹp. Lê Duẩn vì bà mà ly hôn với người vợ đầu tiên, người vợ mà bố, mẹ ông đã cưới hỏi cho ông khi còn nhỏ. Người vợ thứ hai của ông xuất thân từ một gia đình có học, nhưng, như tôi đã đề cập, ông không thể tự hào về một nguồn gốc “tinh khiết”. Vũ Anh là con gái đầu tiên của họ. Ngoài nàng ra, Lê Duẩn còn có hai con gái từ cuộc hôn nhân đầu tiên của mình và hai con trai cùng với bà Bảy Vân. Hai người con của ông, con trai tên Thành và con gái đầu tên Muội, tại thời điểm đó, sống và học tập ở Moskva. Muội lớn tuổi hơn nàng nhiều và chịu trách nhiệm chăm sóc em gái của mình. Chị tốt nghiệp trường đại học ở Liên Xô và là một nhà sinh vật học. Chị đã sống một số năm tại Moskva cùng với chồng và con gái. Nhưng tất cả điều này mãi sau tôi mới được biết …

Vì nàng, tôi đã nhận tiến hành các buổi dạy thêm không bắt buộc về toán học tại khoa Vật lý. Ban đầu nhiều sinh viên đến nghe tôi giảng. Được một thời gian, sinh viên bỏ học dần dần, cuối cùng chỉ còn mỗi một mình nàng. Nàng đã rất cố gằng, nàng có năng lực và chăm chỉ học tập. Cuối cùng chúng tôi không cưỡng lại được tình cảm của mình. Chúng tôi bắt đầu hò hẹn, lúc thì ở căn hộ riêng, lúc thì ở nhà nghỉ ngoại ô của tôi. Chúng tôi nghiên cứu, cùng nghe nhạc và nói chuyện với nhau về các chủ đề khác nhau. Nàng giữ cho mình được tự do hơn hẳn các bạn gái của mình và không còn sợ bất cứ điều gì nữa.

II.

Mẹ tôi nhanh chóng thích nàng. Nhìn chung, bà tôn trọng mọi đam mê của con trai. Đã từ lâu bà mong ước cưới được vợ cho người con trai duy nhất của mình.

Cuộc sống riêng tư của tôi đầy bão tố và thậm chí của cả những bạn trẻ liên quan đến tôi. Một trong số đó là Sergay Mazarop, đã xảy ra thảm kịch, mà tôi được chứng kiến. Về cái chết của cậu ấy, theo tôi, báo chí đã viết nhiều. Sergay di cư cùng với bố mẹ mình sang phương Tây từ đầu những năm 1980. Định cư ở Pari, học đại học, mở công ty và hoạt động trong lĩnh vực tin học. Ban đầu việc kinh doanh của Sergay không được tốt lắm, nhưng sau khi ở Liên Xô tiến hành cải cách đổi mới (perestroika), do Sergay hiểu rõ được những vấn đề về kinh tế ở đó nên Sergay đã trở thành một giám đốc tài giỏi. Sau một số phi vụ lớn thành công, Sergay trở thành triệu phú. Sergay sở hữu các bất động sản có giá trị, thậm chí có hẳn một tiệm thời trang riêng. Sergay sống với một phong cách phóng khoáng rộng rãi riêng biệt với người vợ – con gái nhà văn Anatoly Gladilin, người đã sinh cho Sergay hai đứa con. Sergay đối xử rất dịu dàng với các con tôi. Một thời gian ngắn trước khi chết, Sergei đã trở thành nhà sản xuất của bộ phim “The Limit” (giới hạn) của Denis Evstigneev. Ngày 22 tháng 11 năm 1994, Sergei bị bắn chết từ một khẩu súng máy qua cánh cửa ra vào bọc thép tại căn hộ của mình ở trung tâm thành phố Paris. Cảnh sát Pháp coi đó là vấn đề có bàn tay của mafia Nga. Theo như tôi biết, cho đến nay tội phạm chưa tìm ra được và vẫn còn nhởn nhơ ngoài pháp luật …

Trước khi gặp Vũ Anh, tôi không có ý định tiến tới một mối quan hệ nghiêm túc nào cả, dường như đang cố gắng chờ đợi một điều gì đó. Và rồi tôi đã chờ đợi được. Những người phụ nữ tôi đã từng gặp và quen biết không thể nào làm cho tôi có được một cảm xúc mãnh liệt, lạ lùng như khi tôi gặp và tiếp xúc với nàng. Nàng ở độ tuổi đáng ra phải là con gái tôi – nàng kém tôi chẵn đúng 20 tuổi – nhưng giữa chúng tôi thật sự có cảm giác như không hề tồn tại khoảng cách chênh lệch về tuổi tác. Nàng giới thiệu rất ít về tiểu sử của mình: nàng đến từ miền Nam Việt Nam (Nàng thuộc danh sách lưu học sinh bí mật không thuộc sự quản lý của đại sứ quán Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, lúc này Việt Nam chưa thống nhất thành một quốc gia riêng). Nàng đã sống trong vùng nông thôn có các hoạt động du kích. 17 tuổi nàng gia nhập Đảng Cộng sản. Tôi sau này có nói đùa “Vợ của tôi là đảng viên cộng sản từ năm 17 tuổi đấy”. Nói thật, điều này làm tôi rất ngạc nhiên. Theo tôi biết, ở Việt Nam vào Đảng ở độ tuổi quá trẻ như vậy rất hiếm, chỉ dành cho những thanh niên có những cống hiến đặc biệt mà thôi.

Nhưng không chừng, nàng đã giúp đỡ du kích và lập được chiến công hiển hách nào đó. Khi tôi hỏi về vấn đề này, nàng im lặng. Cũng tương tự như vậy khi tôi hỏi về các thành viên gia đình của nàng. Chỉ có một lần khi đã sống cùng nhau, nàng cởi mở một chút khi thổ lộ với tôi: “Ông nội em làm thợ mộc”. Nàng nói tiếng Nga tồi tệ khá buồn cười. Khi tôi chê, nàng cười lớn “Ở Liên Xô, em càng nói tiếng Nga tồi bao nhiêu thì em càng được đối xử tốt bấy nhiêu”. Khó khăn lớn nhất ở nàng là khi phải nói họ và tên của người Nga. Tôi nhớ, có lần y tá chăm sóc sức khỏe hỏi nàng về họ, tên và tên lót của con gái, nàng thản nhiên một cách tuyệt đối, nghiêm túc trả lời: “Tôi còn chưa học thuộc được tên cháu”. Nhưng tôi một lần nữa dự đoán trước được điều này…

Khi nàng ở lại một mình với tôi, nàng luôn khiêm tốn, giữ khoảng cách và giữ mình rất đúng mực, nhưng tôi có cảm giác nàng đang phải đấu tranh dữ lắm với những cảm xúc của mình. Có một lần trong buổi hẹn hò định kỳ ở nhà nghỉ ngoại ô của tôi, suýt chút nữa thì nàng đã không thể làm chủ được mình. Tôi không thể biết được, kết quả sau đó sẽ ra sao khi chúng tôi quấn chặt lấy nhau với những nụ hôn sâu đắm nồng nàn nếu như không có tiếng chuông gọi cửa bất ngờ vang lên của người hàng xóm. Tôi ra và nói chuyện ngoài cổng với người hàng xóm chỉ khoảng 5 phút không hơn, lúc quay lại thì phòng trống không. Nàng đã vọt ra ngoài qua cửa sổ, thức tỉnh từ sự quyến rũ của tình yêu và bỏ chạy về nhà.

Tôi hiểu, nàng đã phải trải qua thử thách quá lớn như thế nào khi tìm và đạt bằng được tình yêu của mình với một người đàn ông châu Âu. Nhưng tôi không thể nhận thức được phạm vi và mức độ các vấn đề đặt ra trước mặt nàng, trong đó có các tiêu chuẩn đạo đức truyền thống kéo dài hàng thế kỷ, kỷ luật nội bộ trong Đảng và còn liên quan đến các quan hệ quốc tế khó hiểu. Lúc bấy giờ, tôi thậm chí còn không thể ngờ rằng mình lại đang yêu con gái của Tổng bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Lê Duẩn. Xác định theo họ và tên của nàng là điều không thể, họ Lê của người Việt quá nhiều. Sau này tôi mới phát hiện ra khi sự việc của chúng tôi vỡ lở, ở khoa Vật lý, ngoài một số sinh viên đồng hương thân thiết của nàng, biết nàng là con của lãnh tụ Việt Nam có một người duy nhất là Trưởng khoa công tác sinh viên nước ngoài.

Tình yêu của chúng tôi có thể làm tổn thương đến ba của nàng, trở thành con át chủ bài của các đối thủ trong cuộc đấu đá quyền lực. Phía sau lưng ông là Trường Chinh, đối thủ chính trị cạnh tranh đã từng là Tổng bí thư trước ông. Lê Duẩn định hướng phát triển kinh tế của đất nước theo mô hình Liên Xô, còn Trường Chinh muốn theo mô hình của Trung Quốc. Nàng tính toán rằng, Việt Nam sẽ sụp đổ nếu đối thủ của ba nàng giành được quyền lực. Và Liên Xô cũng đặc biệt không mong muốn điều đó xảy ra. Tuy nhiên thực tế, sau cái chết của ba nàng, Trường Chinh lên làm Tổng bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam, những điều tồi tệ nàng nghĩ tới đã không xảy ra.

Cô gái khốn khổ đã không thể tự nghĩ ra, mình cần phải làm gì. Để cố quên tôi, nàng bắt đầu hẹn hò với một chàng trai đồng hương học ở khoa cơ học (tôi sẽ gọi tên cậu ấy là Văn), nàng không hiểu rằng điều đó không những không ngăn cản được tình cảm mà chỉ làm tăng thêm những cảm xúc trong lòng nàng đối với tôi.

Cuối cùng thì điều gì đến cũng phải đến, trong một lần gặp gỡ, chúng tôi đã gần gũi nhau. Ngay lập tức, tôi đề nghị nàng cưới tôi làm chồng:

- Điều này là không thể được – Nàng buồn rầu trả trả lời – Giữa hai nước chúng ta đã có thỏa thuận ngầm không chính thức là cấm công dân Xô Viết và Việt Nam kết hôn với nhau.
- Anh nghĩ rằng, chúng ta sẽ vượt qua được sự ngăn cấm này.
- Không, không thể được.
- Tại sao?
- Tại vì em không yêu anh!

Nhưng qua ánh mắt của nàng, tôi hiểu nàng đang nói dối, nàng nói vậy nhưng không phải là vậy. Tôi quyết định không vội vã ép nàng đẩy nhanh sự việc, cho nàng thời gian để nàng suy nghĩ, để nàng tự giải quyết những cảm xúc, tình cảm của mình. Và rồi nàng biến mất. Trước đây điều này cũng đã xảy ra khi nàng tự cho phép mình làm một cái gì đó “thêm” vượt quá giới hạn như nàng thường nghĩ khi ở bên tôi và nàng cảm thấy ăn năn về hành động này. Sau đó tất cả mọi thứ trở lại bình thường. Nhưng lần này khác hẳn, tôi không thể tìm thấy nàng. Kỳ nghỉ hè bắt đầu. Các sinh viên phân tán khắp nơi, nên tôi không biết có thể hỏi ai về nàng. Tôi thật khó khăn khi nóng lòng chờ đợi năm học mới, nhưng nàng đã không xuất hiện ở MGU, ngay cả sau ngày 1 tháng Chín.

Tôi không thể chịu đựng được nữa và quyết định gọi điện thoại tới bà Trưởng khoa quản lý sinh viên nước ngoài:

- Bà có thể cho tôi biết sinh viên Lê Vũ Anh hiện đang ở đâu không ạ? Cô ấy học ở Khoa chúng tôi và cô ấy đã đạt được nhiều kết quả tốt.

- Vũ Anh đã lấy chồng là đồng hương, cậu ấy cũng là sinh viên của trường ta, cô ấy đã về nước. Tên cậu sinh viên ấy là Văn. Họ sẽ trở lại vào cuối tháng này cùng với ba của cô ấy. Ông ấy sẽ gặp Breznhep – Bà trưởng khoa khẽ nói trả lời.

Tôi gần như ngã quy khi nghe điều này. Gặp gỡ với Breznhep cuối tháng này ư, chắc chắn phải là Lê Duẩn. Thời khắc đột nhiên trở nên phức tạp, nhưng dễ dàng để lý giải rõ ràng những điểm kỳ quặc trong các câu chuyện và hành vi của người tôi yêu khi chúng tôi ở bên nhau. Vũ Anh của tôi – con gái của lãnh đạo cao nhất của những người cộng sản Việt Nam! Nhưng làm thế nào nàng có thể phản bội lại tình yêu của chúng tôi cơ chứ.

Sau này Vũ Anh đã giải thích tất cả mọi thứ với tôi. Khi chúng tôi trở nên thân thiết và gần gũi với nhau, tôi đã giang tay và nguyện hiến trái tim của mình cầu hôn nàng, điều này làm cho nàng phải trải qua những giây phút căng thẳng lớn, nàng cảm thấy hoang mang. Nàng thú nhận với người bạn trai là Văn. Nàng nói rằng nàng chỉ muốn quan hệ với tôi trên tinh thần bạn bè: nhưng rồi, vâng – chuyện đó đã xảy ra ngược với ý chí của mình và nàng cảm thấy hối tiếc về điều này. Văn yêu nàng, bỏ qua chuyện nàng đã gần gũi với tôi và đề nghị kết hôn ngay lập tức. Dẫu sao thì nàng đã từng có hẹn hò gần đây với Văn khi nàng muốn quên tôi nên nàng đồng ý, nàng nói rằng nàng sẽ cố gắng để yêu Văn nhiều hơn. (Nàng nói như thế này: “Em sẽ cố gắng để yêu anh nhiều hơn.”)

III.

Cuộc hôn nhân này là một đòn giáng mạnh vào Lê Duẩn, có khả năng, ông đã nghĩ đến việc có được một chàng rể vừa có lợi cho Đảng nhưng lại phù hợp hơn cho con gái yêu quý của mình. Vũ Anh đã thu hút được sự quan tâm, chú ý của một số “hoàng tử” từ các nước láng giềng. Văn là một chàng trai thông minh, một nhà toán học tài năng, nhưng không đáp ứng yêu cầu môn đăng hộ đối với nàng và gia đình. Về phía nàng, nàng muốn quên hẳn tôi nên muốn ở lại Việt Nam và cố gắng yêu Văn để có thể tiếp tục sống tốt cùng với Văn. Lê Duẩn đã tha thứ cho con gái về hôn nhân không tương xứng, nhưng phản đối mạnh mẽ mong muốn của nàng ở lại Việt Nam. Nàng cần phải học tiếp để có được bằng tốt nghiệp của trường Đại học Tổng hợp Moskva. Kết thúc năm học vừa rồi ở Khoa Vật lý, nàng chỉ cần ở lại thêm một năm là tốt nghiệp. Trong khi đó, Văn cũng muốn đi học sau đại học ở Moskva ngay tại MGU. Nàng đã buộc phải tuân theo lời ba mình, trong lòng hy vọng cuộc hôn nhân của mình sẽ có thể thay đổi tất cả mọi thứ và giúp cho nàng không thể tiếp tục mối tình lãng mạn của mình với tôi.

Sau một số ngày khi nàng quay trở lại Moskva, tôi đã thuyết phục được nàng đến nhà nghỉ ngoại ô của tôi cùng với Phúc. Nàng không thể từ chối, nhưng vẫn giữ thái độ ngại ngùng và cư xử kiềm chế miễn cưỡng. Tôi đã cố gắng để xoa dịu tình hình. Tôi bông đùa bằng các câu chuyện tiếu lâm, nói cười thật thoải mái, và sau đó mời các cô gái dạo hồ trên một chiếc thuyền, mặc dù thời tiết không phải là thật tốt – lúc này đang là cuối thu. Khi chúng tôi đang tiến gần đến bờ, Phúc không chèo thuyền thành công để quay trở lại và rơi tõm xuống nước. Tôi vội nhảy xuống hồ kéo cô ấy lên và bế chạy đến ngôi nhà gần nhất để thay quần áo ấm. Chủ nhà đưa cho chúng tôi một cặp áo khoác, chúng tôi thay quần áo đã ướt và khoác áo khô vào người Phúc. Tôi và nàng đưa Phúc về nhà nghỉ của tôi, xức cồn và xoa bóp bằng rượu cho ấm người. Được một lát thì Phúc cảm thấy buồn ngủ và cô ấy vào giường nằm nghỉ.

Lúc này trong phòng khách chỉ còn lại tôi và nàng tâm sự với nhau. Nàng thú nhận rằng trong mấy tháng qua, nàng đã sai lầm khi nghĩ rằng cứ lấy chồng thì nàng có thể quên được tôi. Nhưng đời thật trớ trêu, trái tim nàng đã không hề muốn tuân thủ lý trí của nàng. Hàng đêm nằm bên chồng mà nàng luôn nghĩ về tôi. Nàng thổn thức, vừa muốn ở lại Việt Nam để lẩn tránh tôi, lại muốn bay sang ngay Moskva để được gặp tôi, được nằm gọn trong vòng tay vững chắc và thưởng thức nụ hôn cháy bỏng của tôi. Trong đầu nàng luôn tái hiện lại hình ảnh và những cảm giác lần đầu tiên gần gũi với tôi, đã trao trinh tiết quý giá của người con gái cho người mà nàng yêu quý nhất. Nàng bảo với tôi, con gái Việt Nam coi trọng điều này lắm, bởi họ quan niệm trong truyền thống từ cả ngàn năm là nó rất thiêng liêng trong tình yêu, nó thể hiện lòng chung thủy. Nàng cảm thấy có lỗi với Văn, dù thật ra nàng đã không lừa dối anh ấy, nàng đã tâm sự, thổ lộ hết với Văn và Văn đã chấp nhận vì hiểu được hoàn cảnh éo le từ mối tình lãng mạn không có hồi kết của nàng và tôi. Đặt chân xuống sân bay ở Moskva, những kỷ niệm với tôi lại ùa đến khiến nàng không thể cưỡng lại được tình cảm của mình và ngọn lửa tình yêu trong tim nàng với tôi lại được dịp bùng lên dữ dội. Bây giờ gặp lại tôi, nàng thừa nhận rằng nàng muốn được chung sống mãi mãi với tôi, làm một người vợ hiền chăm sóc cho tôi, nhưng nàng lại không dám tin vào một khả năng có thể dẫn đến hiện thực như vậy, nàng nói:

- Vài năm trước, chính quyền không cho phép con gái của một bộ trưởng nước em kết hôn với con trai của thủ tướng một nước châu Âu. Đôi trai gái yêu nhau này đã chấm dứt cuộc sống và mối tình lãng mạn của mình bằng cách cùng nhau tự tử. Trường hợp như vậy ở Việt Nam nhiều lắm khi các đôi trai gái vì quá yêu nhau nhưng bị ngăn cản bởi gia đình mà tìm đến cái chết. Anh không thể tưởng tượng được đâu, rằng đã có bao nhiêu người chết vì truyền thống này!

- Thôi mà em, rồi tất cả sẽ tốt đẹp với chúng ta! Em hãy ly dị chồng và chúng ta sẽ cố gắng đấu tranh để được kết hôn! Anh có niềm tin vững chắc vào điều đó.

Tôi an ủi xoa dịu nàng, rồi nhẹ nhàng ôm nàng vào người thật chặt, đặt lên đôi môi hé mở của nàng một nụ hôn ngọt ngào, say đắm. Nàng nhắm mắt, người nàng mềm nhũn và run nhẹ. Bỗng nàng chợt bất ngờ xô tôi ra, thảng thốt:

- Ôi, anh và em đã làm gì thế này, em là gái có chồng rồi mà. Thôi anh, nhỡ Phúc tỉnh dậy nhìn thấy thì không hay.

Lê Duẩn và con gái Lê Vũ Anh. Ảnh: tư liệu gia đình.

Lê Duẩn và con gái Lê Vũ Anh. Ảnh: tư liệu gia đình của V. Maslov

Thời gian tiếp sau, do không kiềm chế được, tôi và nàng vẫn tìm cách bí mật để gặp được nhau. Nàng quyết định ly thân với Văn, nói thẳng với Văn là nàng đã cố gắng nhiều nhưng không thể nào yêu được Văn. Nàng có nằm bên cạnh Văn thì cũng chỉ hờ hững mà không thể, không một chút cảm xúc. Cuối cùng thì Văn cũng phải chịu, vì dù sao nàng là con gái Lê Duẩn nên không thể ép gì được nàng, để kệ cho nàng được tự do, muốn làm gì thì làm. Văn tập trung vùi đầu hết thời gian vào việc làm luận án tiến sỹ cho quên đi mọi chuyện. Tất nhiên, chúng tôi không quảng bá mối quan hệ của chúng tôi cho bất cứ ai, bởi nó không phù hợp với truyền thống đạo đức vì dù sao thì nàng cũng là người đã có chồng, chưa kể đến việc đây mối quan hệ với người nước ngoài. Để có được mỗi lần gặp nhau, chúng tôi phải dàn dựng công phu, giấu kín không bị lộ. Chúng tôi phải rất thận trọng để không dẫn đến hậu quả tệ hại là buộc nàng bị trục xuất về nước. Thông thường, các mối tình lãng mạn Xô-Việt nếu có sẽ khá nhanh chóng được đại sứ quán biết đến. Những người đang yêu nhau đó sẽ được “chấn chỉnh” bởi sự cảnh báo của những công dân ưu tú luôn cảnh giác với tình yêu. Cứ thế chúng tôi vụng trộm trong bí mật như vậy được gần một năm. Điều gì có thể chứng minh chúng tôi ngoại tình: Nàng chỉ nhìn như một đứa trẻ, mà việc giám sát “trẻ em” Việt Nam không hề tồn tại, ít nhất mọi thứ đều nguyên trạng. Sau đó, nàng đã mang thai và không hiểu vì sao đó mà nàng đã giấu điều đó với tôi. Do không giữ gìn cẩn thận và tự thương lấy mình nên nàng đã bị sẩy thai. Tôi đã vào thăm nàng trong bệnh viện và đã rất lo sợ rằng tất cả mọi thứ bị phát hiện và người ta sẽ mang nàng đi mất. Nhưng tôi còn sợ hãi hơn cho sức khỏe của nàng. Bởi vậy nên tôi nghĩ, người ta có thể mang nàng đi, miễn là tất cả đều phải tốt đẹp cho nàng. Và rồi thời điểm đó đã đến.

Sau khi điều trị ở bệnh viện, người ta gửi nàng đến thành phố Pushkino, vào Viện an dưỡng chính trị cao cấp. Tại đây nàng được xem như một yếu nhân có một vị trí đặc biệt, tất nhiên, nàng được đăng ký ăn ở phòng ăn dành cho những người có đặc quyền. Những người khách nghỉ bình thường ở đây thường muốn ngó xem trong khay đựng thức ăn gồm những gì được mang đến cho cô công chúa Việt Nam khi các cô phục vụ bê mang ngang qua phòng sinh hoạt chung. Nàng khó chịu với đặc ân này của chế độ Xô viết, nhưng nàng bắt buộc phải chung sống hòa bình với điều này.

Ở Pushkino vài ngày nàng đã thấy buồn chán, nàng gọi điện đề nghị tôi đến thăm nàng. Một hồi lâu tôi từ chối, nói rằng chúng tôi có thể bị bắt, nhưng cuối cùng tôi đầu hàng và chấp nhận lời thỉnh cầu của nàng. Tôi đến với một con chó – chó săn chồn, và tìm nhà nghỉ trong khu nghỉ mát gần Viện an dưỡng của nàng. Khỏi phải nói, chúng tôi mừng rỡ khi gặp được nhau, ôm hôn nhau nồng thắm như thể chưa bao giờ đã từng như vậy. Rồi một lần chúng tôi gặp nhau trong rừng đã bị một nhân viên an ninh bắt gặp! Ông ấy đang ngồi nấp trong bụi cây theo dõi chúng tôi thì bất ngờ bị con chó của tôi phát hiện ông ta ở đó.

- Này anh, anh theo dõi tất cả mọi người hay là chỉ riêng chúng tôi?
- Theo dõi tất cả- Tay nhân viên an ninh trấn an chúng tôi- Chúng tôi ở đây là Gestapo.

Tất cả bí mật giữa chúng tôi nhanh chóng bị bại lộ, một cách hoàn toàn tình cờ. Cơ quan an ninh xác định rõ được ngay tôi là ai và nhanh chóng thông báo cho Lê Duẩn, rằng có mối tình lãng mạn giữa con gái ông với một nhà vật lý Xô Viết. Vậy là có một cuộc họp gia đình, trong đó mọi người cùng thảo luận về hành vi ngoại tình của nàng. Nhưng những người thân trong gia đình sợ nàng bởi cá tính quá táo bạo và độc lập. Nàng có thể phê bình, chỉ trích mạnh mẽ ngay cả ba mình. Trong tim tôi, nàng là một người cộng sản lớn hơn cả Lê Duẩn.

Để ngăn chặn hành động ngoại tình của con gái mình, Lê Duẩn cử một đặc phái viên – một người bạn của gia đình, người đang làm việc ở Moskva giúp đỡ giải quyết vấn đề này. Ông này mời nàng đi xem vở kịch ballet “Anna Karenina” ở Nhà hát lớn Moskva. Buổi đi xem thưởng thức biểu diễn nghệ thuật này rõ ràng không phải là tình cờ. Khi xem xong quay ra, ông ấy nhắc nhở nàng về trách nhiệm của gia đình, “Đại sứ thiện chí” gợi nàng nhớ đến số phận bi thảm của nhân vật nữ chính Anna của Tolstoy: “Cháu thấy không, cuộc sống của người phụ nữ trong tác phẩm kịch đã kết thúc với bi kịch ra sao nếu phản bội, thay đổi chồng mình?”. Nàng đã phải khó khăn lắm mới nhịn được cười.

Trên cương vị của mình, để giữ uy tín Lê Duẩn đã không thể sử dụng bạo lực và trục xuất cô con gái yêu. Giải pháp cuối cùng là phải để nàng ly hôn, cô sẽ kết hôn với tôi và ở lại cùng chồng ở Moskva. Qua một thời gian, tất cả mọi việc đã lắng dịu xuống, nhưng không thể trì hoãn thêm, chúng tôi cần thiết phải tiến hành đăng ký kết hôn và tổ chức hôn lễ càng sớm càng tốt để cuộc sống chúng tôi sớm ổn định.

Mặc dù đã ly thân, nhưng Văn không muốn ly hôn với nàng. Tôi nghĩ đó không chỉ do cảm xúc của Văn, mà còn vì lợi ích riêng của người cha, sự nghiệp của ông ta đã đi lên cao sau khi con trai ông kết hôn với nàng. Tôi đề nghị nàng thể hiện sự thông minh và tài ngoại giao của mình để cố gắng đạt được một thỏa thuận với chồng, nhưng nàng không muốn tỏ ra nhẫn tâm như vậy. Nàng không muốn có thêm lỗi với Văn, mà muốn để Văn tự quyết định trước thực tế tình cảm của vợ mình. Lỗi là tại nàng, vì nàng đã lợi dụng Văn để làm cớ quên được tôi trong cuộc đấu tranh với chính bản thân mình, từ đó mới xuất hiện mối quan hệ không đáng có của nàng với Văn. Nhưng khi nàng đã có thai lần nữa, câu hỏi nảy sinh về nhiều khía cạnh. Nàng phải hành động để không phải rơi vào tình trạng không rõ ràng: nếu nàng trên danh nghĩa vẫn là vợ Văn tại thời điểm ra đời đứa con của chúng tôi, phía Việt Nam về mặt luật pháp có thể xem Văn là cha của đứa bé.

Nàng hứa với Văn rằng, sẽ không để ai biết việc ly hôn của họ ở Việt Nam: “Em sẽ giữ bí mật, và chúng ta sẽ vẫn là bạn bè thân thiết của nhau như trước. Anh biết rồi đó, ngay từ đầu em đã không có tình cảm với anh. Anh nói rằng anh yêu thương em, vậy thì anh nên chấp nhận thỉnh cầu của em. Anh có muốn em ghét bỏ anh không?”. Cuối cùng thì anh chàng đã phải chấp nhận từ bỏ nàng. Văn vẫn còn yêu đơn phương nàng. Họ đã cùng đến một văn phòng đăng ký ly hôn tại Moskva dành cho người nước ngoài, vậy là họ đã ly dị mà tất cả người Việt Nam và Lê Duẩn đã không được biết bất cứ điều gì. Cũng không có ai thông báo điều này cho Đại sứ quán Việt Nam. Văn tỏ ra rất khó chịu, buồn bực bởi việc này, bị khủng hoảng tinh thần đến mức phải nhờ phòng khám thần kinh chữa trị.

Chúng tôi giấu việc nàng mang thai con đầu lòng, vì chúng tôi không muốn ai đó quấy rầy nàng sinh con và đăng ký khai sinh cho con ở Liên Xô. Tại trường đại học, tôi đã bố trí cho nàng một “chuyến công tác” trong vài tháng ở một trường đại học ở Kiev và giúp đỡ cho nàng thỉnh thoảng gọi “từ Kiev” cho chị Muội (nàng vẫn giữ liên lạc với gia đình thông qua chị), đồng thời nàng gửi thư cho người thân với tem đóng dấu từ Kiev để họ yên tâm đúng là nàng đang ở đó. Trong toàn bộ thời gian mang thai, nàng đã sống ở trong nhà nghỉ ngoại ô của tôi và trốn kín, nếu một người nào đó bất chợt đến thăm tôi.

Trong thời kỳ trì trệ của Liên Xô, những cuộc hôn nhân của cư dân Vùng Moskva (bao gồm thành phố Moscow) với công dân nước ngoài chỉ được tiến hành đăng ký tại hai văn phòng – một ở Moscow và một ở Zagorsk – Việc này cho phép Ủy ban an ninh quốc gia (KGB ) kiểm tra, kiểm soát dễ dàng hơn. Tại hai Văn phòng này, chúng tôi không thể đăng ký được vì nếu an ninh biết thì Lê Duẩn chắc chắn cũng sẽ được thông báo ngay. Nhưng thời kỳ đó pháp luật cũng quy định, ở những nơi nào không có văn phòng đăng ký kết hôn cho người nước ngoài, các cuộc hôn nhân với người nước ngoài có thể đăng ký và được thành viên của Hội đồng đại biểu nhân dân địa phương chứng nhận. Tôi quyết định phải tận dụng lợi thế này và đăng ký kết hôn của nàng với tôi tại thành phố Troitsk. Ở thị trấn Akademgorodok ngoại ô Moskva, tôi có rất nhiều bạn bè ở tất cả các Viện nghiên cứu, họ sẵn sàng giúp đỡ tôi. Tất nhiên, nếu họ biết cô dâu của tôi là ai, thì chắc chắn không ai mạo hiểm dám giúp tôi để có đăng ký kết hôn với nàng được. Tôi đã phải né tránh, lừa dối và thậm chí tạo ra một giấy phép giả cho nàng từ Đại sứ quán Việt Nam. Và quan trọng nhất – tôi phải có đăng ký cư trú chính thức ở thành phố Troitsk. Mặc dù pháp luật quy định về hôn nhân yêu cầu không nhất thiết phải như vậy.

____

Phần 2

16-8-2016

IV.

H1Thời gian đó tôi đã xây một nhà để xe tại nhà nghỉ ngoại ô – gọi là nhà chứa xe nhưng trông khá “hoành tráng” với việc mở rộng thêm một phòng ngủ lớn. Một trong những bức tường của nó được xây hình bán nguyệt. Các cửa sổ được xây dài và hẹp như kẽ hở lớn, tôi củng cố chúng bằng các song sắt. Trong căn phòng với những “kẽ hở” như vậy còn có thêm một cánh cửa bằng thép. Kết quả xây dựng giống như một pháo đài thật sự mà sau này sẽ đáp ứng đúng vai trò của nó cho việc giải tỏa nỗi sợ hãi của nàng về mối đe dọa bị bắt đưa về nước.

Nhà để xe theo pháp luật của Liên Xô chỉ có thể được hợp pháp hóa tại nơi cư trú của mình. Tôi đã đến gặp cảnh sát trưởng thành phố Troitsk:

- Tôi muốn được đăng ký tạm trú tại nhà nghỉ ngoại ô để chính thức hóa nhà để xe. Liệu có thể được không đồng chí?

- Không có vấn đề! Đồng chí hãy đến Sở Cư trú Moskva xác nhận và sau đó đến văn phòng hộ chiếu của chúng tôi.

Tôi đã đăng ký xác nhận ở Sở Cư trú Moskva, nhưng người đứng đầu văn phòng hộ chiếu lại yêu cầu cần sự cho phép đăng ký tạm trú của chủ tịch Ủy ban hành chính thành phố Troitsk, người mà tôi đã có mối quan hệ thân mật nhất. Tôi đến gặp đúng thời điểm bà chủ tịch sắp đi nghỉ phép, vì vậy bà ấy dễ dàng ký ngay quyết định theo đơn trình của tôi. Tôi bày tỏ ngay nguyện vọng xin phép kết hôn khẩn cấp tại nơi cư trú mới, “chúng tôi không thể chờ đợi lâu được. Cô dâu sắp sinh con. Có giấy chứng nhận của phòng khám thai đây ạ”. Bà chủ tịch đã viết tay và ký tên vào một mảnh giấy: “Tôi yêu cầu khẩn trương cấp giấy đăng ký kết hôn cho GSTS Maslov ngay sau khi có quyết định của Ủy ban Hành chính thành phố về việc cấp giấy phép cư trú”. Và bà ấy lên đường đi nghỉ phép.

Với mảnh giấy này tôi đã đi đến gặp ông ủy viên Ủy ban hành chính, người có trách nhiệm xử lý việc đăng ký kết hôn (ông là một người quen của tôi), và thú nhận rằng, muốn kết hôn với một cô gái nước ngoài, nhưng tôi phải giấu kín, không để chuyện này bay ra ngoài khỏi Viện nghiên cứu khoa học của tôi. Ông hứa rằng mọi việc sẽ được giải quyết kín đáo, ông sẽ giữ bí mật tuyệt đối và sẽ trực tiếp trao đổi với thư ký của Ủy ban hành chính – một người phụ nữ trung niên dễ thương. Tôi đã rất vui mừng, nhưng chưa kịp thực hiện thì có chuyện thay đổi nhân sự xảy ra bất ngờ. Vài ngày trước khi đăng ký, người phụ nữ trung niên đã được chuyển công tác và thay vào vị trí đó một nhân viên đã từng là cán bộ Đoàn thanh niên từ thành phố Podolsk mới chuyển đến. Nghe nói cô gái này là một công chức mẫn cán, tích cực và rất nguyên tắc. Tôi sợ rằng cô ta sẽ phá vỡ “âm mưu” đăng ký kết hôn với nàng của mình.

Tôi quay sang nhờ một người bạn tìm cách vô hiệu hóa cô gái này. Bạn tôi sẽ tìm một thanh niên đẹp trai nào đó có khả năng tán giỏi, quyến rũ mời bằng được cô gái đến gặp, đi dạo chơi suốt trong ngày nào đó, làm sao để cô gái chuyển trách nhiệm giải quyết vụ việc của tôi cho ông ủy viên mà tôi quen biết. Tại sao ư, tất nhiên, tôi đã không nói. Một trong những nhà khoa học trẻ – một người đàn ông đẹp trai và đầy hấp dẫn, hợp gu yêu thích của phụ nữ – đã giúp đỡ. Ngày hôm sau cậu ấy gọi cho tôi: “Ngày thứ bảy cô ấy sẽ không có mặt tại cơ quan, cô ấy đã xin nghỉ phép. Chỉ cố gắng kiếm cho chúng tôi một cặp vé xem bất kỳ buổi biểu diễn nghệ thuật tuyệt vời nào đó”. Tôi gửi cho cậu ta cặp vé đi nghe nhạc jazz Đức.

Vị ủy viên đáng kính đã không làm tôi thất vọng, ông đã giúp chúng tôi kết hôn như đã hứa một cách hoàn hảo – “Không một tiếng ồn và dính tý bụi nào”. Cho đến những giây phút cuối cùng tôi vẫn còn lo sợ những bất lợi không mong muốn bất ngờ ập đến có thể ngăn cản mối tình của chúng tôi. Bạn thân của tôi, Bulat Okudzhava đề nghị: “Nếu có bất kỳ trở ngại nào, hãy gọi cho tôi. Tôi sẽ đưa các nhà báo nước ngoài đến, chúng tôi sẽ làm um lên để họ không thể ngờ hậu quả lại như vậy!”.

Tôi biết Okudzhava từ khi còn nhỏ. Các bà mẹ của chúng tôi thân nhau như là chị em ruột. Hồi bé tôi đã sống trong gia đình Bulat sáu tháng tại căn hộ của họ ở phố Arbat. Tại sao ư? Tôi không hề biết được. Trong thời kỳ ảm đạm của năm 1937, nhiều người dân khi đó vì nhiều lý do, buộc phải thay đổi chuyển nơi ở, họ đã cố gắng trốn tránh để thoát khỏi bị bắt. Người ta đã bắt giam cha của Bulat – ông Shaliko. Mẹ tôi ly dị với cha tôi và sau đó kết hôn với Boris Fedorovich Piston, một nhà sử học và triết học nổi tiếng. Cha dượng đã đóng một vai trò rất lớn trong cuộc sống của tôi. Tôi yêu ông rất nhiều. Mẹ của Bulat là bà Ashkhen Stepanovna và bà nội Maria Vartanovna đã nuôi nấng, chăm sóc tôi một thời gian. Bà Ashkhen sau đó vẫn luôn luôn giúp đỡ tôi. Bà cũng đã đến dự góp vui trong ngày cưới của tôi với Vũ Anh.

H1

Chúng tôi tổ chức đám cưới ở nhà nghỉ ngoại ô. Chúng tôi chỉ mời bạn bè thân thiết gần gũi nhất và những người thân trong họ hàng. Mẹ tôi đã cho con dâu của mình một chiếc vòng cổ bằng vàng nạm kim cương. Một chiếc vòng cổ rất thanh lịch, “sang trọng”, nhưng nàng xấu hổ khi đeo nó. Nàng là một cô gái khiêm tốn. Mẹ tôi còn tặng thêm cho nàng một chuỗi vòng cổ với các hạt ngọc trai lớn hình dạng không đồng đều – nàng luôn đeo nó ẩn dưới lớp dưới áo ngoài.

Hôn nhân của chúng tôi được tiến hành nhanh chóng một cách kỳ lạ nhưng đầy trắc trở, đặc biệt là tờ giấy phép cư trú gắn liền với toàn bộ một câu chuyện ly kỳ, mạo hiểm. Đầu tiên là sự ngại ngần, lưỡng lự của bà trưởng văn phòng hộ chiếu thành phố Troitsk. Bà nói rằng việc đăng ký tạm trú không cho quyền cư trú, cũng như việc cho phép của chủ tịch Ủy ban hành chính Troitsk là không đủ thẩm quyền, và gửi hồ sơ xin cư trú của tôi đến Cục Nội vụ Vùng Moskva. Ở đó, tôi bắt buộc phải chạy khắp nơi đúng một vòng tròn. Phải công nhận tôi là một người đã rất kiên trì khi đến quấy rầy một loạt các bộ phận chức năng liên quan, và rồi cũng đạt được kết quả như ý. Người em họ của bạn tôi là Okudzhava đã giúp đỡ. Người phụ nữ tuyệt vời này, tôi đã thậm chí chưa bao giờ nhìn thấy, là bạn học với phó cục trưởng cục Nội vụ Vùng Moskva. Cuối cùng nhờ anh ấy mà chúng tôi cũng đã nhận được giấy phép cư trú tại vùng ngoại ô Moskva.

Trong thời kỳ Xô Viết, tất cả mọi thứ có thể đạt được bởi sự quen biết. Tôi đưa nàng vào nằm ở một bệnh viện phụ sản vừa mới được khai trương ở Moskva nhờ sự giới thiệu của bạn bè mà không cần có giấy tờ. Bác sĩ, người trực tiếp chăm sóc nàng, một bác sĩ phẫu thuật tuyệt vời, không biết cô ấy là ai. Tôi nói với bác sỹ rằng, nàng là tình nhân của tôi, chúng tôi yêu nhau và có thai, chúng tôi muốn lừa dối người chồng rất hay ghen, nàng đã phản bội chồng, bây giờ anh ta đang bận công tác trong một chuyến đi dài ngày. Bảy tháng trước, chồng nàng đã về Moskva vào dịp nghỉ phép, sau đó lại đi tiếp. Do đó, chúng tôi cần một giấy chứng nhận rằng đứa trẻ được sinh non bảy tháng. Trong thực tế, tờ giấy chứng nhận này chỉ nhằm mục đích để phòng chống lại tuyên bố có thể có của phía Việt Nam. Nàng ly hôn vào tháng thứ hai của thai kỳ, và nếu muốn người ta có thể nói Văn là cha đứa bé. Thời đó khoa học chưa có phân tích ADN. Bác sĩ phụ khoa cấp ngay chứng chỉ cần thiết mà không yêu cầu bất kỳ vấn đề gì. Ông đã bị cuốn hút bởi nàng. Và, tất nhiên, tôi rất biết ơn ông.

Ngày 31 tháng 10 năm 1977, nàng đã sinh hạ một bé gái, chúng tôi đặt tên bé là Elena, dựa vào tên của người bạn gái thân của nàng là Liên, con gái của Bộ trưởng Bộ Tư pháp, người đã giúp chúng tôi bằng nhiều cách, đặc biệt là một giấy phép kết hôn giả của Đại sứ quán Việt Nam mà tôi đã đề cập. Tôi ngay lập tức đăng ký khai sinh cho đứa trẻ ở Troitsk, và đến giây phút này có thể nói rằng “chương trình tối thiểu” đã được thực thi.

H1

Một thời gian ngắn trước khi nàng sinh, Lê Duẩn đã đến Moskva. Ông đã không thể gặp được nàng ngay. Điều này làm cho ông tức tối lên cơn giận dữ. Con gái tôi đâu? Ông hỏi đại diện phía Liên Xô. Thông thường, các chuyên viên của Ban đối ngoại của Ủy ban Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô sẽ đón và đưa nàng đến gặp ông ngay trong ngày khi ông vừa bay đến Moskva. Nhưng lần này họ không thể tìm thấy nàng – không ở Kiev, nơi nàng chính thức được cử đi công tác, cũng như không tìm thấy bất cứ chỗ nào ở Moskva. Những người phụ trách an ninh giải thích rằng, có thể nàng đang ở nơi nào đó với Maslov. Sau một tuần, nàng và con gái đã được xuất viện, nàng ngay lập tức tự mình đến gặp Lê Duẩn, nàng sẽ kể hết toàn bộ câu chuyện. Tôi đã cố gắng để ngăn cản nàng, nhưng nàng không chịu nghe.

Nàng gặp cha mình tại nhà khách chính phủ trên đồi Lenin. Lê Duẩn đã cố gắng thuyết phục con gái về Việt nam để làm thủ tục ly hôn với Văn, điều mà nàng đã từng yêu cầu trước đây. Nàng cho biết nàng đã chính thức ly hôn Văn và kết hôn với tôi. Lê Duẩn tím mặt với cơn giận dữ và bắt đầu la hét, mắng nàng thậm tệ, đổ lỗi nàng hư hỏng vì mang một phần dòng máu xấu Trung Hoa, mà nàng được thừa hưởng từ mẹ nàng. Nàng cảm thấy phẫn nộ kinh khủng, nàng không thể chấp nhận chủ nghĩa dân tộc của ba mình. Nhưng nàng không muốn tranh luận với Lê Duẩn nữa. Nàng xin phép ba quay về và bỏ đi thật nhanh.

V.

Khi nàng đi ra ngoài để đến điểm dừng xe buýt, một chiếc xe “Volga” màu đen chầm chậm chạy theo nàng, rồi dừng lại cách nàng một khoảng không xa. Nàng bước thêm vài bước, người lái xe ngay lập tức nhấn ga. Cô vội chạy nhanh thì chiếc “Volga” cũng tăng tốc thêm. Không ai biết điều gì sẽ xảy ra nếu nàng không kịp chạy đến bến và lên kịp chiếc xe buýt chạy điện vừa dừng. Về đến nhà, nàng xuất hiện trước mặt tôi với nước mắt lưng tròng. Nàng kể lại với tôi nàng đã sợ hãi như thế nào khi bắt đầu thấy chiếc xe đuổi theo nàng:

- Bây giờ em đã tin chắc rằng, họ muốn bắt và đưa em về Việt Nam!
- Sao em bảo rằng ba mình sẽ không làm điều đó.
- Như sự việc xảy ra hôm nay, em đã nhận ra rằng ba em đã sẵn sàng đặt lợi ích chung lên trên lợi ích cá nhân. Điều này có nghĩa, em sẽ phải cam chịu số phận thôi.

Tôi an ủi, vỗ về động viên nàng, còn nàng vừa khóc, vừa liên tục lắp bắp nói: “Em đã chết! em đã chết!”

Ngày hôm sau, nàng gọi điện thoại cho chị Muội. Chị nàng nói rằng ba đã bị sốc và rất lo lắng vì chuyện của nàng đã xảy ra như vậy. Cả đêm ông đã không thể ngủ được và muốn làm lành, tha thứ cho nàng. Nàng kiên quyết trả lời chị: “Tốt hơn hết là ba, má và chị nên chúc mừng chúng em. Chúng em đã có một cô con gái mới sinh”. Chị gái nàng không tin thực tế đó, cho rằng nàng bịa ra chuyện để gây sức ép cho ba phải thừa nhận hôn nhân của nàng với tôi. Nàng và chị Muội đã thỏa thuận gặp nhau tại nhà nghỉ ngoại ô của chúng tôi và cả hai sẽ cùng đi đến gặp Lê Duẩn. Khi đến nhà tôi, trông thấy Lena, Muội đã bật khóc và đề nghị nàng nên ở nhà, chị sẽ đến gặp ba một mình. Chị sẽ kể tất cả mọi chuyện cho Lê Duẩn. Lê Duẩn một lần nữa lại bị sốc khi biết về sự ra đời cháu gái ngoại của ông.

Trong một thời gian dài sau này, Lê Duẩn không thể chấp nhận sự thật, rằng con gái mình đã không vâng lời, vi phạm luật pháp và kết hôn với người nước ngoài. Ông thỉnh cầu Suslov, người gần gũi quen biết nhất của ông trong Đảng Cộng sản Liên Xô với một yêu cầu giúp tìm ra quan hệ thực chất của nàng với tôi – mối tình thoảng qua theo cảm xúc nhất thời hay tình yêu thực sự. Sau đó, KGB đã cử một “chuyên gia về tình yêu” tiếp cận chúng tôi. Ông đã bí mật đi lang thang xung quanh nhà, nơi chúng tôi sống, quan sát, nghe trộm, thu thập thông tin, và đã buộc phải thừa nhận: đó là tình yêu thực sự.

Mặc dù biết chúng tôi yêu nhau thật sự, nhưng Lê Duẩn vẫn không tha thứ cho con gái mình. Tôi đã nghe nói rằng, trong gia đình, Lê Duẩn đã cấm không cho ai được nói chuyện về nàng, thậm chí chỉ là nhắc đến tên nàng. Nhưng tất cả quà tặng thủa bé của nàng đều được ông sắp xếp, giữ gìn cẩn thận trên bàn làm việc của mình. Khi một trong số những món quà đó bị ai đó lấy mất, Lê Duẩn đã làm ầm ỹ cả nhà, tạo nên một scandal nho nhỏ. Điều này có nghĩa là trong sâu thẳm lòng mình, ông vẫn rất yêu quý nàng, thương nàng như xưa mà không hề chối bỏ nàng…

Nàng đã thay đổi rất nhiều sau sự ra đời của bé Lena (năm 1977). Trước đó nàng luôn tỏ ra can đảm, độc lập, còn bây giờ nàng không ngừng run lên vì sợ hãi. Lúc nào nàng cũng có cảm giác như đang trong tình trạng chờ đợi các cuộc tấn công, bắt cóc, nàng sợ những chiếc xe màu đen và thậm chí nàng sợ cả các đồng hương của mình. Nàng cho biết, với họ tốt hơn hết là không nên gặp mặt, không để bị lôi kéo vào cuộc tụ họp, để dành thời gian tập trung vào làm việc, nghiên cứu. Một thời gian ngắn, người thân của nàng xa lánh, tẩy chay nàng, gọi nàng là kẻ phản bội. Họ thường xuyên gọi điện thoại và gửi thư với thái độ giận dữ. Nàng đã phải chịu áp lực lớn, nàng tin rằng, nàng đã gây ra một tội lỗi khủng khiếp, và nàng sẽ bị trừng phạt.

Trước đây nàng không thực sự muốn ở trong căn phòng với những khe hở lớn như pháo đài tôi đã xây, còn bây giờ nàng lại luôn yêu cầu tôi khóa chặt cửa và nàng ở trong phòng cùng với Lena suốt cả thời gian khi tôi đi vắng vì công việc ở Moscova. Nàng luôn giữ bên mình khẩu súng săn của tôi. Nàng nói rằng căn phòng này là nơi an toàn nhất trong cả nước. Nàng không còn sợ bị đuổi bắt từ các đường phố, từ bên trong phòng này nàng có thể thoải mái để bắn ra ngoài. Rõ ràng, nàng có thể đang hồi tưởng về tuổi trẻ du kích của mình.

Có một lần nàng làm tôi hoảng sợ suýt chết. Nàng biến mất cùng với Lena. Tôi lái xe về đến nhà nghỉ, thấy vắng tanh không có ai ở đó cả. Tôi thiếu chút nữa thì lên một cơn đau tim, nghĩ rằng họ đã bị bắt cóc. Rồi nàng bất chợt hiện ra và nở một nụ cười rõ tươi.

Tôi đã có cuộc trò chuyện với một người lính từ một tiểu đoàn xây dựng. Cậu ấy muốn bán cho tôi một khẩu súng lục bắn bê tông, từ đó có thể chụp chốt vào tường bê tông. Tôi hỏi khoảng cách bắn được bao xa. Người lính nghe tôi nói vậy thì tỏ ra sốt sắng: “Bác cần súng bắn được với khoảng cách xa à? Tôi có thể bán cho bác súng trường tự động kèm với đạn”. Tất nhiên, tôi từ chối cậu lính. Khi tôi vừa cười vừa nói với nàng về cuộc trò chuyện đó với người lính, nàng đột nhiên nhận thấy tiếc rẻ về cơ hội hiếm có đó:

- Sao vậy, anh phải mua chứ.
- Có mà điên? Để cho người ta bắt vào tù à.

- Nhưng có nó em sẽ bình tĩnh hơn. Anh không hiểu à, Ba em sẽ làm mọi chuyện có thể. Cuộc hôn nhân của chúng ta làm suy yếu quyền lực của ông ấy trong Đảng, tiếp tay cho các đối thủ chính trị của ông. Nếu họ hạ bệ ba em, đất nước sẽ bị sụp đổ.

- Ba em yêu thương em và sẽ không bao giờ phá hoại hạnh phúc của em đâu.

- Ba yêu thương em, em cũng yêu ba em nhiều. Nhưng điều quan trọng nhất đối với ba em là lợi ích của đất nước. Em luôn biết em phải đi đến điểm dừng nào. Trước đây khi chưa có Lena, em không sợ gì cả, nhưng bây giờ em luôn sợ hãi. Nếu người ta bắt em đi, một mình anh sẽ không thể chăm sóc tốt cho con.

Ngay sau đó bé Lêna đã bị ốm, phải nhập viện. Trước khi vào bệnh viện cùng nằm để chăm sóc bé, nàng đã viết cho tôi một bản tuyên bố chính thức: “Nếu tôi bị bắt mang đi một mình hoặc cùng con gái và đưa đến Đại sứ quán Việt Nam, mọi người cần phải biết, điều này được thực hiện bằng vũ lực, trái với ý muốn của tôi, bất cứ điều gì do người thân trong gia đình tôi hoặc đại sứ quán phát ngôn đều không có giá trị. Tôi muốn sống với chồng Viktor Maslov ở Liên Xô, và tôi muốn chồng tôi nuôi dưỡng con gái của chúng tôi trưởng thành và thấm nhuần nền văn hóa Nga “. Tôi cho cất giữ tờ giấy này vào một nơi an toàn.

Phần lớn thời gian chúng tôi sống trong nhà nghỉ ngoại ô và hầu như lúc nào cũng ở bên nhau. Tôi bắt đầu tham gia giảng dạy ít hơn, cố gắng dành thời gian nghiên cứu, làm việc tại nhà. Vào ban đêm, đôi khi tôi ngắm nhìn nàng ngủ và tôi tự nhủ, “Lạy Chúa, tại sao tôi hạnh phúc thế này? Tôi thật không xứng đáng”. Cũng giống như tôi luôn cảm thấy có quá ít thời gian được ở bên nàng…

Ban đầu, tôi sợ rằng nàng buồn vì nhớ gia đình và quê hương. Một lần bạn tôi là Viện sĩ Mishchenko đã hỏi cô về điều đó. “Em chỉ nhớ khi có khách đến nhà chơi” – với sự thẳng tính của mình nàng trả lời. Nàng không thích các nhóm bạn ồn ào, những cuộc tranh luận vô bổ. Tôi cảm nhận được nàng khó chịu khi nhìn thấy cảnh bạn bè tôi say rượu vui vẻ, mặc dù nàng không thể hiện ra ngoài sự không hài lòng, nếu có ai mời uống rượu thì nàng nhẹ nhàng từ chối. Nói chung là nàng không thích uống rượu.

Cùng sống với nàng tôi đã tự nhận thấy mình thay đổi nhiều, trẻ hơn, dễ chừng phải đến 15 tuổi. Chưa bao giờ tôi lại làm việc đạt hiệu quả lớn như lúc này. Chúng tôi hầu như không bao giờ đi đến nơi nào khác (Các nhân viên Ban quốc tế của Ủy ban Trung ương Cộng sản Liên Xô đã khuyến cáo chúng tôi không nên xuất hiện ở những nơi công cộng), nhưng không cảm thấy mình có gì đó sai trái. Các bạn gái và em trai thường vẫn đến thăm nàng. Nàng vẫn đến trường Đại học Tổng hợp Moscova, cố gắng hoàn thành chương trình nghiên cứu sau đại học. Nàng có khả năng làm việc tốt hơn nhiều so với tôi, và nếu nàng tham gia vào nghiên cứu khoa học, tất cả mọi thứ hóa ra không đến nỗi quá phức tạp như tôi tưởng. Nàng đã bảo vệ luận án thành công và trở thành phó tiến sỹ khoa học vật lý và toán học.

Một lần, tôi nhớ, chúng tôi đã đến dự xem buổi hòa nhạc của Vladimir Vysotsky, được tổ chức trong trường Đại học chế tạo máy điện tử Moscova (МИЭМ). Chúng tôi ở xa, không ngồi ở hàng ghế đầu, nhưng sau khi biểu diễn xong ca sỹ ngay lập tức đã đi tới gần nàng. Vysotsky thấy nàng khi anh hát và suốt thời gian biểu diễn chỉ nhìn nàng. Nàng ngạc nhiên và nghĩ rằng, có lẽ ca sĩ nhầm lẫn với ai đó. Và Vysotsky giãi bày tâm sự khi khen nàng dễ thương, dạt dào tình cảm, và muốn được liên lạc sau buổi biểu diễn này, nói ngắn gọn, ca sỹ cư xử như thể không có tôi ngồi bên cạnh nàng. Tôi đã cố gắng để giải vây cho nàng. Khi ca sỹ hỏi nàng có hiểu hết tất cả nội dung trong bài hát của mình không, tôi trả lời thay cho nàng:

- Vâng, tôi là chồng đang ngồi cùng với cô ấy. Tôi có thể giải thích cho vợ tôi hiểu. Một cách ngẫu nhiên, chúng tôi với gia đình anh thực tế là láng giềng của nhau tại khu nhà nghỉ ngoại ô đấy. Hãy đến thăm vợ chồng tôi, chúng tôi sẽ rất vui mừng được chào đón.

- Tôi đến đó rất thường xuyên, – Vysotsky ngượng ngùng – đó là Marina thích nhà nghỉ ngoại ô, còn tôi không thực sự thích lắm. Vâng và không bao giờ.

(Người dịch bỏ  một trang)

Ở tuổi 30, là mẹ của hai đứa con, Le Anh trông trẻ như cô gái 18 tuổi…

Đứa con gái thứ hai của chúng tôi, Tania, ra đời tháng 4, 1979.

VI.

Sau khi hòa giải với gia đình, Vũ Anh quyết định giới thiệu cháu gái lớn Lena với cha.

Khi Lê Duẩn đến Moskva lần sau đó, nàng đem theo Lena đến gặp ông. Ông ngay lập tức yêu mến cháu. Ông đề nghị để Vũ Anh và cháu ở lại cùng ông cho đến khi ông về nước. Lúc đầu cháu bé còn lạ, nhưng dần dần quyến luyến với ông ngoại. Ông chủ ý giấu tất cả chuối trong nhà để tự mình đãi Lena – mong chiếm được cảm tình của đứa cháu.

Lê Duẩn luôn yêu cầu đưa Lena đến gặp ông mỗi lần đến Moskva. Còn gặp tôi thì dứt khoát không muốn. Còn nhớ tôi đưa Vũ Anh và con gái đến thăm mẹ vợ ở cái đatra cũ của Khrusov ở Rublebka và phải đợi trong xe, trong khi các cháu đang ở bên ông. Lê Duẩn đưa Lena và Vũ Anh đi xem xiếc rồi đưa họ đi theo dự lễ khai mạc Olympic Moskva. Con bé lên cơn đỏng đảnh đúng lúc long trọng nhất, kêu to: “Mẹ ơi, con muốn đi đái!”

H1

Lần khác trong lúc ăn trưa ngồi cạnh Lê Duẩn, đúng lúc đang nói chuyện về bắt đầu chiến tranh chống chế độ Khmer đỏ ở Campuchia, Lena bỗng nhiên hỏi: “Ông ơi, thế ông không bị gãy răng chứ?” Không biết có sự liên tưởng nào xuất hiện trong đầu con bé, để đúng lúc nói chuyện gay cấn nhất lại hỏi như vậy? Ở nhà chúng tôi cũng trao đổi về cuộc chiến tranh với chế độ Polpot – Ieng Sari. Có thể Lena nhớ lại câu mà tôi đã nói khi nào đó? Vũ Anh có suy nghĩ khá tốt về Ieng Sary, nhân vật thứ hai của chế độ ở Campuchia. Có thể trong cuộc nói chuyện ở buổi tiếp khách Việt Nam đó đã vang lên cái tên này, và gợi lại sự liên tưởng nơi con bé?

Người phiên dịch hiểu câu hỏi theo nghĩa bóng, nín lặng, nhưng cố gắng truyền đạt tối đa ý nghĩa của câu hỏi. Lê Duẩn không hề bối rối. Ông cắn chặt hàm răng chắc khỏe của mình và nhe ra với Lena. Tình huống được giải tỏa.

Vũ Anh cũng rất trực tính và tiết lộ các “bí mật” xô-viết cho cha một cách đơn giản. Hơn nữa, ông ấy cũng biết cách để hỏi. Một hôm người cha nói rằng theo lời Brejnev đất nước vừa thu hoạch một vụ bông kỷ lục. “Vậy mà vải trải giường nhà con thủng hết rồi”, Vũ Anh nhận xét.

Ngay ngày hôm sau cán bộ phân ban Việt Nam trong Ban quốc tế của BCH TW ĐCSLX dẫn Vũ Anh đến gian hàng số 200 nổi tiếng của GUM, nơi chỉ bán cho các khách hàng chọn lọc. Thế là chúng tôi có đồ trải giường mới.

Vũ Anh không muốn lợi dụng sự ưu đãi, nhưng dù sao vẫn mua đồ ở gian hàng cấm này của GUM, và tôi thường nhận được các đơn hàng mà nàng đặt. Nàng không nhận của cha dù một xu nhỏ, ngay cả khi học ở MGU. Chính quyền chúng ta đề nghị cấp cho nàng một căn hộ rộng rãi ngay trung tâm Moskva, nhưng nàng từ chối. Chỉ nhận một căn hộ ba phòng bình thường trong một tòa nhà lắp ghép ở Beliaevo. Để phòng khi nhỡ có việc chúng tôi đột ngột phải chia tay, thì vẫn có chỗ ở và làm việc.

Nhưng chúng tôi sống hòa thuận cùng nhau. Trong suốt thời gian chung sống chỉ cãi nhau vài lần, đấy là Vũ Anh cho rằng thế. Lần đầu tiên là khi Vũ Anh giận dữ vì tôi chở trên xe hai cô gái, cho dù trong xóm chúng tôi ở việc cho đi nhờ vẫn hay xảy ra. Nhưng Vũ Anh lại tức giận.

Lần thứ hai thì xảy ra một chuyện nói chung là ngớ ngẩn. Buổi chiều tôi nghe “đài địch”. Vũ Anh ngồi cùng tôi, nhưng nàng không hiểu tiếng Anh, do vậy nhanh chóng đứng dậy và đi vào phòng trẻ con. Tôi nghĩ lũ trẻ đã đi ngủ, và khép cửa thật chặt để khỏi đánh thức chúng. Sau đó tôi cũng thiếp đi. Vũ Anh ra khỏi phòng trẻ, kéo cửa, nhưng không mở được. Nàng cho rằng tôi không muốn gặp nàng, lấy làm khó chịu và sáng hôm sau bỏ đi đến nhà chị Muội. Đến chiều Vũ Anh trở về, và chúng tôi làm lành. Nàng không thể sống trong tình trạng xung đột với tôi.

H1

Mẹ nàng, bà Bảy Vân, cố gắng làm cho con gái chống lại tôi, có lần nói ra sự không hài lòng với việc chúng tôi sống tằn tiện. Vũ Anh giải thích cho mẹ: “Bao nhiêu tiền anh ấy gần như dành cho đatra. Luôn cứ phải mua hay sửa cái gì đó. Con không thể từ chối anh ấy trong chuyện này. Những người đàn ông khác họ uống rượu hết tiền, còn anh ấy thì xây dựng”.

Vũ Anh giành lấy việc chăm sóc cho mẹ tôi khi bà bị đột quỵ, và nàng rất biết cách chăm sóc. Có lẽ nàng đã từng làm y tá trong thời gian chiến tranh.

Mùa thu năm 1980 Vũ Anh lại mang thai, tôi vốn mong có một gia đình lớn. Vào tháng năm năm 1981 mẹ tôi khá hơn, người ta cho bà ra viện. Chúng tôi chuyển ra đatra. Tôi thuê một cô y tá, cô ấy ngủ bên cạnh người ốm và giúp bà đi lại và nói năng. Trẻ con thì có bảo mẫu, được đưa từ Việt Nam sang theo yêu cầu của Vũ Anh, để lũ trẻ có thể nói chuyện với chị bằng tiếng mẹ đẻ.

Lê Duẩn chuyển cho nàng một món quà – một con đồi mồi. Vũ Anh rất hoảng hốt khi nhìn thấy món quà cha tặng:

- Đồi mồi này người ta tặng cả đôi. Đây là biểu tượng của tình yêu và cuộc sống gia đình hạnh phúc. Một con đồi mồi – đây là dấu hiệu xấu. Làm sao mà cha lại không nghĩ đến điều ấy.

- Ông ấy không cần nghĩ đến những thứ ngu ngốc ấy. Cha em là người cộng sản.

- Vâng nhưng ông tôn trọng truyền thống và biết rằng đây là dấu hiệu của cái chết. Đã xảy ra chuyện gì rồi …

Kết quả siêu âm cho biết lần này chúng tôi sẽ có con trai. Vũ Anh cảm thấy người không khỏe, tôi đặt trước chỗ cho nàng ở nhà hộ sinh “kremlin” của Cục 4 trên phố Vesnina. Vũ Anh đã sinh Tania (1977) ở đó và nói chung thấy hài lòng chỗ này. Hồi ấy Vũ Anh có phòng riêng, có TV và điện thoại, nàng có thể bình tĩnh viết báo khoa học. Bác sĩ hồi ấy đã sửng sốt: “Một phụ nữ tuyệt làm sao! Nằm nhà hộ sinh còn làm khoa học!”

Nhưng nàng không muốn nằm tại bênh viện này, sợ hãi điều gì đó. Một lần nàng nói sẽ chết khi sinh nở:

- Ở Việt Nam sắp có bầu cử. Để bầu cha em, họ sẽ làm tất cả.

- “Họ” là ai?

- Là những người luôn can thiệp vào tình yêu của chúng ta.

Tôi không tin vào linh cảm, cho rằng đó là những lo lắng của các phụ nữ mang thai.

Đêm mùng sáu sang ngày mùng bảy tháng sáu Vũ Anh bắt đầu đau. Để an tâm tôi gọi liền hai xe cấp cứu, từ Troitsk và từ Moskva – phòng khi bỗng nhiên có việc gì trục trặc. Xe từ Troitsk lao đến trước, nhưng nó chỉ chở được Vũ Anh đến Podolsk. Tôi đề nghị họ chở nàng vào Moskva, đến nhà hộ sinh số 25, gần nhà chúng tôi trên phố Dmitri Ulianov. Khi đến nơi mới rõ ra một nửa tòa nhà đang phải sửa chữa.

Người trực nhận giấy tờ của Vũ Anh, nhìn thấy nàng đăng ký ở Cục 4, liền gọi ngay xe cấp cứu từ đó. Vậy là người ta vẫn chở Vũ Anh đến phố Vesnina. Ở đấy, các bác sĩ lập tức khám và nói, tất cả đều ổn, quá trình sinh nở bình thường. Tôi chuẩn bị ngồi chờ ở phòng tiếp nhận thì sực nhớ mẹ tôi hầu như đang ở ngoài đatra có một mình. Cô y tá chúng tôi đã cho nghỉ hè, còn chị bảo mẫu người Việt không nói được tiếng Nga. Tôi liền lao về đó. Tại đatra mọi việc đều bình thường, nhưng mẹ nói rằng xe cấp cứu từ Moskva không tới. Thật lạ lùng.

Vào 7 giờ sáng (1981) Vũ Anh sinh bé trai, Anton. Người ta gọi điện cho tôi từ nhà hộ sinh thông báo điều đó, tôi hỏi tình trạng của người mẹ ra sao, đầu dây bên kia im lặng. Sau một khoảng im lặng dài, họ đề nghị tôi tới và nói chuyện với bác sĩ. Ở Moskva tôi được biết rằng Vũ Anh bị chảy máu rất nhiều, chưa cầm được. “Chúng tôi làm tất cả những gì có thể – Bác sĩ nói – Sắp tới họ sẽ chuyển máu tới. Ông tốt nhất nên quay về nhà. Đợi ở đây là vô nghĩa”.

Tôi chạy đến các bác sĩ quen để hỏi ý kiến. Ông ta không vui, nói rằng trong những trường hợp như vậy phải lập tức cắt bỏ tử cung. Nhưng các bác sĩ Kremlin có lẽ sợ lãnh về mình trách nhiệm đó, bệnh nhân không phải nhân vật bình thường.

Tôi quay trở về nhà hộ sinh. Lúc ấy người ta đã phẫu thuật cho Vũ Anh. Bác sĩ phẫu thuật chính của Cục 4 được mời đến xử lý cho nàng. Khi ông vừa ra khỏi phòng mổ, tôi lao đến:

- Cô ấy sẽ không chết?

- Cơ thể trẻ trung. Chúng ta hi vọng vào điều tốt nhất …

Vài tiếng sau đó Vũ Anh qua đời. Người ta cho phép tôi vào phòng bệnh. Vũ Anh nằm trên giường, phủ tấm ra – trông nàng xinh đẹp làm sao, như đang ngủ. Một cục gì chẹn lấy cuống họng tôi, tôi quỳ xuống hôn tay người tôi yêu dấu. Tấm ra phủ di chuyển, hé lộ thân thể vợ tôi, phủ đầy các vết xanh – đỏ. Tôi kêu lên vì sợ hãi. Mọi người chạy đến bên, đỡ lấy tôi và đưa ra hành lang …

Lần cuối cùng tôi nhìn thấy Vũ Anh là ở chỗ hỏa táng – mười ngày sau đó. Quyết định hỏa táng không phải do tôi đưa ra. Nói chung không ai hỏi ý kiến tôi muốn an táng vợ mình ra sao. Tại sao phải đợi lâu thế vẫn mãi là câu hỏi. Có thể Lê Duẩn đã bí mật đến Moskva. Tôi không gặp ông, còn bà mẹ thì bay sang ngay. Tro cốt của Vũ Anh được đưa về Việt Nam, bình tro được giữ ở nhà bà Bảy Vân, trong một căn phòng riêng.

Sau cái chết của Vũ Anh các cháu được bà cụ mẹ của Bulat, bà Askhen Stepanova yêu quý, đã rất già yếu chăm sóc. Bà cụ ở lại cùng chúng tôi ba tuần. Còn tôi trong thời gian đầu rơi vào một trạng thái quên lãng, mù mờ sao đó. Trí nhớ của tôi từ chối tin vào những gì vừa xẩy ra. Một lần tôi tỉnh dậy giữa đêm trong hoảng hốt. Trái tim bóp nghẹt trong lồng ngực. Tôi mơ thấy một luồng sáng: người ta đã đầu độc Vũ Anh. Tôi chia sẻ phỏng đoán với các bác sĩ. Họ không loại trừ khả năng ấy, nhưng cho rằng các vết xanh-đỏ trên da có thể xuất hiện trong trường hợp chảy máu nghiêm trọng. Sau đó nhiều năm, khi nằm điều trị tim tại một bệnh viện tim mạch tôi quan sát thấy người ta đã tiêm heparin cho các bệnh nhân để làm loãng máu, và trên người họ cũng xuất hiện những vết đúng như thế. Theo quan điểm của tôi đã xuất hiện thêm một phương án khả tín: việc chảy máu là do tác động cố ý, bằng cách tiêm thứ thuốc đó. Không phải tự nhiên Vũ Anh đã linh cảm thấy tai họa. Và máu đã chảy cạn …

Trong đám tang bà mẹ đau khổ đến mất trí. Bà ấy nói rằng cha của Vũ Anh đã giết con và muốn giúp đỡ tôi – đưa bọn trẻ về Việt Nam. “Không đời nào!” – tôi trả lời. Tôi biếu bà chuỗi hạt đã từng giữ hơi ấm cơ thể của Vũ Anh. Bà ấy nhận nó, là để sau này sẽ trao cho vợ của cháu trai, khi nó lớn lên và cưới vợ.

Tôi che giấu cái chết của Vũ Anh không nói cho những người thân biết. Mẹ tôi rất đau ốm, còn các cháu gái thì quá bé. Mẹ tôi có lẽ cảm thấy điều gì đó, bà bị đột quỵ lần hai, và lần này thì điều trị không lại được. Tôi nói với Lena là Vũ Anh ở trong bệnh viện, và sau đó – rằng mẹ đã đi có việc, nhưng con bé cũng hiểu hết. Một lần nó kéo tôi ra bên và thì thầm hỏi tôi: “Bố ơi, người ta chôn mẹ rồi phải không?”. Lena luôn than thở về nỗi buồn vắng mẹ, nó khóc: “Bố, hãy đi Việt Nam, mua mẹ cho con!”

Bảy Vân quyết định ở lại Moskva ít lâu. Bà ấy yêu cầu dẫn Tania đến thăm, nói rằng sẽ đưa trả con bé và cô bảo mẫu về nhà vào hôm sau. Nhưng đã không cho về. Hai ngày liền tôi gọi cho mẹ vợ, nhưng người ta không gọi bà ấy nghe điện, viện cớ có công việc quốc gia quan trọng nào đó. Ban đầu tôi không cảm thấy lo lắng đặc biệt, nhưng sau đó hiểu ra rằng bà đang cố thực hiện ý định của mình – lấy lũ trẻ khỏi tay tôi. Tôi tìm được địa chỉ của bà với không ít khó khăn, đem theo một đồng nghiệp biết tiếng Pháp để hỗ trợ và làm phiên dịch, lên đường đòi lại con gái. Bảy Vân không muốn trả lại Tania, ngay cả khi tôi nói rằng mẹ tôi sắp mất và bà cụ muốn vĩnh biệt cháu gái. Tôi buộc phải hứa rằng họ sẽ gặp lại nhau trong lúc chuẩn bị cho tang lễ.

Mẹ tôi mất ngay ngày hôm sau. Mẹ vợ chạy đến ngay: “Các cháu sẽ ở với tôi!”. Tôi phải giải thích rằng các cháu còn đang ốm. Tania thực sự đang bị sốt. Bảy Vân đề nghị thu xếp chữa cho cháu tại căn hộ của mình, nhưng tôi không đồng ý.

Tôi biết rằng bà ta sẽ lại xuất hiện ở đatra vào ngày cử hành tang lễ, lúc tôi không ở nhà, do vậy đã gửi Lena đến chỗ người quen, còn Tania tôi khóa cùng với người cháu của tôi trong căn phòng có các lỗ châu mai, và dặn không được mở cửa cho bất cứ ai, đặc biệt cho bà ngoại nó. Bà bảo mẫu được dặn phải nói là cả hai cháu đang ở nhà các bạn của tôi. Ngay khi tôi vừa rời đến chỗ hỏa táng, Bảy Vân đã xuất hiện ở đatra. Không tìm thấy lũ trẻ, bà ta ra về trong sự tức giận khủng khiếp.

Với đứa con trai, tôi đặt tên nó là Anton, tình hình phức tạp hơn nhiều. Ở nhà hộ sinh họ không trao cháu cho tôi. Họ thông báo rằng do tình trạng sức khỏe của cháu bé, cháu cần ở lại bệnh viện để các bác sĩ chăm sóc. Tôi chỉ làm được giấy chứng sinh cho cháu, và lập tức tiến hành các biện pháp. Tại bệnh viên của BCH trung ương, nơi cháu được chuyển đến từ nhà hộ sinh, cháu đã nhập viện với tên là Anton Maslov: các bạn của tôi đã giám sát tại lối vào bệnh viện để cháu được đăng ký đúng như đã định. Đây là một thắng lợi, không lớn nhưng dầu sao cũng là thắng lợi. Bây giờ đưa con trai tôi ra khỏi biên giới sẽ khó khăn hơn nhiều.

Họ cho phép tôi vào bệnh viện, đi dạo cùng con trai, nhưng bên cạnh luôn có người của BCH TW. Một thời gian tôi đã muốn ăn cắp Anton và giấu cháu trong gia đình chị bạn người Triều Tiên và giả như đó là con của chị. Còn tôi sẽ đưa về nhà một cháu bé có bề ngoài đông phương khác trong trường hợp Lê Duẩn quyết định đưa cháu trai ra mà không có sự đồng ý của tôi. Nghĩ ra đủ phương án, nhưng không thực hiện được. Và lạy Chúa – tôi sợ trò phiêu lưu này sẽ làm tôi nguy đến tính mạng.

Vị cán bộ từ BCH TW, người đảm nhận liên lạc giữa tôi và gia đình Vũ Anh, đề xuất một giải pháp thỏa hiệp – tôi giữ các cháu gái cho mình, còn trao đứa cháu trai cho ông nó: “Cứ để nó sống ở Việt Nam vài năm, khi cháu lớn lên, họ sẽ trả cháu về. Ông lúc nào cũng có thể đến thăm người thân của vợ và gặp Anton”.

Cuộc bầu cử mà Vũ Anh lo sợ đang sắp diễn ra. Xem ra nhóm thân Trung Quốc loan tin rằng không nên tin tưởng vào Lê Duẩn. Ông ấy không thể theo đường lối độc lập nếu cháu trai ông ấy đang bị Kremli giữ làm con tin. Trong cơn sóng gió trước bầu cử người của ta có thể bắt đi tất cả các đứa con của tôi, chỉ để giúp Lê Duẩn còn giữ được quyền lực. Tôi hứa sẽ suy nghĩ, cố kéo dài thời gian. Nhưng áp lực ngày một gia tăng. Họ đe dọa tôi bằng những điều bất tiện trong công tác. Người cán bộ nói anh ta đã biết “phương án Triều Tiên” – tức phương án bắt cóc con trai tôi với sự giúp đỡ của chị bạn người Triều Tiên. Tình thế trở nên nghiêm trọng. Bà ngoại Bảy Vân một lần đã nói thẳng: “Không muốn tốt – cũng chẳng cần”.

Chống đối tiếp tục đã thành vô nghĩa, và tôi quyết định phải có sự đảm bảo – soạn một tuyên bố chính thức về việc cho phép đưa con đi trong hai năm. Ở sân bay tôi đã khôn khéo lấy hộ chiếu của Anton từ nhân viên an ninh cửa khẩu, chụp ảnh tất cả các trang và đút trả lại. Bạn của tôi chụp ảnh ghi lại cuộc ra đi của thằng bé. Vào đúng ngày hôm ấy Lê Duẩn đến Moskva. Ông đã gặp Brejnev. Vì cuộc hội kiến này (có vẻ rất quan trọng) nên mới có sự vội vã như vậy.

Chẳng bao lâu tôi lăn ra ốm. Ban đầu là viêm phổi, sau đó phát hiện có một khối u. Nghi ngờ đến khả năng xấu nhất, nhưng rồi mọi việc cũng qua – khối u hóa ra lành tính. Tôi nằm viện khá lâu, Muội có đến thăm tôi. Chị chắc có nói chuyện với bác sĩ, biết về các chẩn đoán của tôi và kể cho những người thân biết. Những người này lập tức chạy vạy – nhờ cậy những người bạn xô viết nhờ nhận lại các cháu gái từ người cha “đang sắp chết”.

Nghĩ lại thấy thật đáng sợ, không biết chuyện gì sẽ xảy ra nếu tôi không xuất viện đúng một ngày trước khi các thanh tra về công việc với vị thành niên đến nhà tôi. Một bà mặc sắc phục đại úy cảnh sát đến nhà với yêu cầu chính thức từ Ủy ban vùng – xem xét khả năng xác nhận đưa Elena và Tatiana Maslovye vào cơ sở nuôi dạy trẻ. Tôi không thể nói với bà ta toàn bộ sự thật, nhưng cho bà ta hiểu rằng trong câu chuyện này mọi việc không đơn giản, khuyên ta bà đừng vội vã.

Sau hai năm người ta vẫn không đưa Anton trở lại. Tối đấu tranh thêm hai năm nữa để họ cuối cùng đưa cháu trở lại Moskva. Tôi yêu cầu việc này với tất cả người thân của Vũ Anh. Cuối cùng Thành, em trai nàng bay sang Moskva. Chúng tôi gặp nhau và đã tìm được tiếng nói chung. Thành nói chuyện với Lê Duẩn, và ông ta quyết định đưa cháu trai về với cha nó và các chị. Nhưng con trai tôi trở về đã không phải với tên là Anton Maslov, mà là công dân Việt Nam Nguyễn An Hoàn và hộ chiếu Việt Nam. Lê Duẩn không có ý định trao cháu cho tôi. Ngược lại – ông hy vọng sẽ mang luôn cả các cháu gái về.

Con trai không nói được tiếng Nga, nó lạ tôi và không rời bà bảo mẫu người Việt đã nuôi cháu từ trứng nước. Ở Việt Nam Anton thực sự là hoàng tử: nó được ở cả một tầng nhà.

Tôi hi vọng sẽ thu xếp được với con trai, nhưng người bà Việt Nam bay sang, sau khi quyết định đi nghỉ lại Krưm tuyên bố rằng ở Moskva không tốt cho thằng bé. Sau kỳ nghỉ bà ta sẽ đưa cháu trở lại Việt Nam, còn tạm thời cần đưa cháu vào một nhà trẻ tốt trong suốt mùa hè. Bà ta sẽ cho phép tôi và các cháu gái tới đó. Trong cuộc nói chuyện của chúng tôi có mặt một cán bộ khá cao cấp của Ban quốc tế BCH TƯ, làm nhiệm vụ phiên dịch. Ông đã thấy tôi giận dữ như thế nào, và khuyên tôi đừng nổi cáu, cố gắng đạt được thỏa thuận với người bà quyền lực. Bắt cóc Anton thật vô nghĩa: cháu là công dân Việt Nam và họ sẽ ngay lập tức đưa cháu đi khỏi nhà tôi.

Nhưng tôi không có ý định đầu hàng. Bây giờ đã là thời khác, lãnh đạo đất nước Liên Xô không còn là Brejnev, mà là Gorbachev. Hơn nữa sau những năm tháng ấy tôi đã kịp trở thành Viện sỹ hàn lâm và được trao Giải thưởng Lenin. Tôi viết đơn yêu cầu trả lại con trai và đi khắp các cửa, còn thiếu đâu nữa: Bộ Nội vụ, Bộ Ngoại giao, BCH TƯ ĐCS LX. Khắp nơi người ta thông cảm với tôi, nhưng giúp đỡ thì đều từ chối. Họ nói rằng việc đó ngoài khả năng của mình. Một lần tôi chia sẻ với một chị bạn tốt – thư ký của Chủ tịch Viện Hàn lâm khoa học. Chị ấy khuyên tôi nên cầu cứu Anatolia Gromưco – con trai Chủ tịch Xô viết tối cao Liên Xô Andrei Andreievich Gromưco, một người thân cận với Gorbachev, và chị ấy sẽ giúp thu xếp cuộc gặp này.

H1

Gromưco-con là giám đốc Viện Phi châu thuộc Viện HL KH LX. Tôi kể cho anh nghe về câu chuyện của tôi và Anh, đưa cho anh xem các bức ảnh chụp cùng vợ con. Anatolia Andreevich tỏ ra cảm động. Anh nói: “Anh hãy viết đơn gửi cho chính Gorbachev. Tôi hứa rằng ông ấy sẽ nhận được và sẽ đọc. Nhớ kèm theo cả những bức ảnh, đặc biệt bức chụp cùng bọn trẻ này. Nó mạnh hơn bất kỳ bức thư nào”. Tôi làm theo những gì anh chỉ dẫn, và cùng với các bức ảnh tôi còn để cả bản tuyên bố của Vũ Anh viết năm 1978. Vài hôm sau không chờ được, tôi gọi điện cho Gromưco. Anh nói: “Họ đã biết quan điểm của anh”. Tất cả chỉ có thế. Tôi không biết sẽ phải nghĩ gì và hành động ra sao.

H1

 

 

 

Để  bà ngoại yên tâm, tôi thu xếp gửi Anton vào nhà trẻ của Cục bốn, khá xa đatra của tôi.

Tôi thỏa thuận với bà giám đốc rằng bà không được giao đứa bé cho ai, trừ tôi. Những người bảo vệ hứa sẽ gọi điện nếu thấy xuất hiện những “kẻ đột nhập” vào khu vực nhà trẻ. Tôi dúi cho họ 4 chai vodka Smirnov, hồi đó chỉ bán theo chỉ thị của nhà thờ, và họ nóng lòng chờ sự xuất hiện của “kẻ đột nhập Việt Nam”.

Chẳng bao lâu sau kẻ đột nhập xuất hiện thật. Bà Bảy Vân nhận được sự từ chối thẳng thừng và buộc phải rút lui. Nhưng giám đốc nhà trẻ nài nỉ tôi phải đưa Anton đi: “Tôi sẽ không chịu đựng được cuộc tấn công sau đâu. Anh không tưởng tượng được là chúng tôi đã căng thẳng ra sao đâu”.

Tôi nói chuyện với bạn bè, và họ tìm được cho chúng tôi một ngôi nhà ở Belorussia – ở tít tận xó rừng sâu Belovejskaia Pusia. Tròng vòng bán kính 5 km quanh đó không có ai cả. Chúng tôi ở đó chừng vài tháng – Lena, Tania, Anton, bà bảo mẫu của chúng, và tôi. Pusia quả thật là một chốn thiên đường. Lũ trẻ đến giờ còn nhớ khu rừng nguyên thủy, những bãi cỏ đầy nấm và quả rừng, có thể sờ tay vào lũ thú rừng và chim chóc. Lũ hươu kéo đến tận nhà, làm bà bảo mẫu sợ chết khiếp. Lũ bò rừng nhởn nhơ đi lại đằng xa. Anton trở thành một đứa trẻ khác hẳn khi ở Belorussia, chơi với các chị và bắt đầu nói một ít tiếng Nga.

Tôi không nhận được tin tức gì từ Moskva, nhưng hi vọng vào những điều tốt. Tôi nghĩ rằng Gorbachev không muốn có một Sakharov – viện sĩ – nhà bất đồng chính kiến thứ hai. Để giành lại các con, tôi sẵn sàng làm tất cả, kể cả một scandal quốc tế.

Mấy tháng trôi qua tôi biết được từ một người bạn Việt Nam, gần gũi với gia đình của Vũ Anh, rằng Lê Duẩn đã từ bỏ ý định bắt cháu về. Ông nói: “Nếu cha chúng nó yêu chúng như vậy, thì cứ để chúng sống với anh ta”. Có vẻ hai nước đã đi đến một nhận thức chung về chuyện này, Gorbachev và Lê Duẩn đã thỏa thuận để gia đình chúng tôi được yên. Sự đau khổ của tôi kết thúc. Mấy năm sau Lê Duẩn từ trần. (Tháng 7/1986)

Vào cuối những năm 80 – 90 tôi có dịp đi khắp thế giới. Với tư cách là giáo sư thỉnh giảng, tôi đã giảng bài ở Mỹ, Anh, Pháp. Đất nước tôi hồi đó ở trong giai đoạn không dễ dàng gì. Khoa học thoi thóp, các nhà bác học được trả bằng xu, mà trong tay tôi – ba đứa trẻ. Cần phải kiếm tiền bằng cách nào đó. Nhưng tôi chưa bao giờ nghĩ sẽ ở lại sống ở nước ngoài. Bọn trẻ luôn đi cùng với tôi, cũng như người vợ sau Irina. Chúng tôi cưới nhau năm 1991.



Tôi quen Ira đã lâu, từ khi Vũ Anh còn sống. Cô ấy cùng tuổi với Vũ Anh. Ira là nhà ngôn ngữ, phó tiến sỹ khoa học. Sau khi Vũ Anh mất, giống như nhiều bạn bè và người thân của tôi, cô ấy đã giúp tôi trông nom bọn trẻ. Đối với tôi mối quan hệ của cô với chúng cũng quan trọng không kém tình cảm giữa chúng tôi. Ira là một phụ nữ đáng kinh ngạc. Sau khi cưới, cô ấy quyết định không sinh thêm một đứa con nữa, đứa con chung của chúng tôi, để không phải làm dì ghẻ, mà hoàn toàn thay Vũ Anh làm mẹ của Lena, Tania và Anton.

Các con tôi hiện sống ở nước ngoài, dù khi còn trẻ không dự định việc này và chúng đều vào học tại MGU mà không phải một trường đại học tây phương nào đó. Nhưng về sau những dòng người có vẻ ngoài châu Á tràn vào Moskva. Và bắt đầu nảy sinh các vấn đề. Thí dụ đã xảy ra một chuyện không dễ chịu với Tania ở đatra. Một nhân viên cảnh sát đến vì một chuyện hoàn toàn khác, tình cờ nhìn thấy cháu và cho rằng đấy là một người di cư bất hợp pháp từ Trung Á, và suýt nữa tôi bị cáo buộc vào tội “che dấu”.

Những tình huống như vậy khá nhiều, và không hề dễ chịu. Chúng tôi họp gia đình và quyết định rằng sẽ tốt hơn nếu đưa lũ trẻ sang châu Âu, ở đó đã quen với việc có nhiều sắc tộc.

Kết quả là Tania và Anton sang sống ở Anh, còn chị cả Lena – ở Hà Lan. Cháu lấy chồng là người Hà Lan xuất thân từ một gia đình quý tộc tỉnh lẻ lâu đời. Chồng cháu là một người làm phân tích nghiệp vụ và có thời gian là khách hàng của một hãng máy tính của Anh, nơi Lena làm việc. Mối tình bắt đầu ở nước Anh.

Sau khi cưới, đôi trẻ chuyển sang sống ở Hà Lan, trong một thị trấn nhỏ cách Amsterdam chừng một giờ đi xe. Lena là kiến trúc sư – lập trình, đã đạt được đỉnh cao nhất trong nghề. Cháu là một chuyên gia độc nhất, được đánh giá cao ở hãng, được tạo các điều kiện làm việc thuận lợi nhất. Lena có một con nhỏ – cháu sinh con gái Anna năm ngoái.

Còn Tania năm nay sinh được cậu con trai Oskar. Tania tốt nghiệp MGU ở Moskva chuyên ngành “ngôn ngữ”, khi sang Anh thì chuyển nghề và, giống như Lena, làm về lập trình. Sống với chồng là người Anh ở thị trấn ngoại ô Bristol. Tania từ bé đã yêu súc vật và đem theo cùng mình đến Anh hai con chó và một con mèo.

Anton tốt nghiệp MVK – khoa toán học tính toán và điều khiển học MGU. Cháu cũng làm việc liên quan đến máy tính và ở không xa chị gái. Cậu chàng chưa cưới vợ, và tôi sợ sẽ còn lâu. Có vẻ cháu giống tính tôi.

Tất nhiên tôi sẽ vui mừng nếu có các con ở bên, chứ không phải cách xa hàng ngàn cây số. Nhưng cuộc sống là như vậy. Tôi vẫn trò chuyên với các con hàng tuần, qua Skype. Mùa hè nào chúng cũng trở về Nga và về ở Selinger, nơi chúng tôi có một căn nhà ngoại ô. Tôi và Ira sống phần lớn thời gian ở Đatra. Ở đấy nghỉ ngơi và làm việc đều tốt. Tôi tiếp tục làm khoa học, điều đem lại cho tôi niềm vui lớn, tôi còn có nhiều công trình dở dang.

Tôi vẫn là nhân viên toàn thời gian của MIEM. Học viện đã được củng cố đáng kể, trở thành một phần của Trường đại học – nghiên cứu “Trường kinh tế cao cấp”. Điều này hoàn toàn trùng hợp với các kế hoạch khoa học của tôi và cổ vũ trong tôi niềm say mê sáng tạo. Ngoài ra tôi còn là cộng tác viên khoa học của Viện các vấn đề cơ học – RAN và chủ nhiệm bộ môn thống kê lượng tử và lý thuyết trường tại khoa lý của trường MGU ruột thịt. Năm 2013 tôi nhận giải thưởng nhà nước lần thứ 3 do những đóng góp vào việc xây dựng cơ sở toán học cho ngành nhiệt động học hiện đại.

Khi làm việc, tôi luôn cảm thấy Vũ Anh đang nhìn mình. Trong phòng làm việc đã nhiều năm vẫn treo bức ảnh chân dung lớn của nàng. Tôi cảm thấy Vũ Anh hài lòng về cuộc sống của các con chúng tôi. Tuy rằng cái nhìn của nàng nghiêm nghị, nhưng theo tôi, có nét tán đồng. Tôi thường mơ thấy nàng, trẻ trung và hạnh phúc.

Đôi khi tôi có cảm tưởng rằng Vũ Anh không chết, nàng chỉ đang đi đâu đó. Có thời gian tôi đã nghĩ đến việc làm gì đó để vinh danh vợ: đến “với nàng” tại Việt Nam.

Vào cuối những năm 90 tôi được mời dạy ở Hong Kong. Khoảng cách từ đó đến TP Hồ Chí Minh, nơi bà Bảy Vân sống, không quá xa. Nhưng sau khi suy nghĩ, tôi đã từ chối. Đối với bọn trẻ, việc di chuyển đến Hong Kong có thể tạo nên stress lớn, cần phải thích nghi với khí hậu, nước uống, đồ ăn hoàn toàn khác biệt. Tôi sợ chúng sẽ bị ốm.

Về sau, khi đã trưởng thành, Lena, Tania và Anton đã hai lần về Việt Nam để gặp những người ruột thịt. Chúng được đón tiếp như các vương tôn công tử. Ở đất nước này người ta vẫn còn lưu giữ ký ức thiêng liêng về Lê Duẩn, giống như trong thời xã hội chủ nghĩa ở nước ta nhớ về Lenin. Trong mỗi thành phố đều có các con phố hay quảng trường mang tên ông. Và các cháu của lãnh tụ được đối xử một cách trọng thị. Bảy Vân, bà vợ góa của ông vẫn còn sống. Bà nay đã gần chín mươi tuổi.

H1

Anh giao phó cho tôi các con của chúng tôi.

Nàng mong muốn các cháu sống ở Liên Xô và được giáo dục theo các truyền thống văn hóa Nga. Không có Ira tôi không thể thực hiện được sự ủy thác của nàng. Cái chính là bọn trẻ không lúc nào cảm thấy chúng là trẻ mồ côi. Và nếu không có Ira chúng không thể thấm nhuần văn hóa và tâm hồn của chúng ta. Do vậy chúng vẫn là những người Nga, cho dù sống ở đâu.

anhbasàm

Ghi chú:

Một bác ngoài Hà Nội cho biết, Văn (trong bài) chính là Đinh Dũng, con của cựu Đại sứ VN tại Liên Xô Đinh Nho Liêm. Gs Tiến sĩ Khoa học Đinh Dũng hiện là Viện trưởng Viện Công nghệ Thông tin, Đại học QG Hà Nội, vừa đoạt giải thưởng Tạ Quang Bửu 2015.  (Đinh Ngọc Thu)

Hai con trai của Lê Duẫn.

* Lê Kiên Thành

*Lê Kiên Trung, Thiếu tướng, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục an ninh II, Bộ Công An, từng là cục phó, rồi cục trưởng cục Hải Quan tp hcm 2000-2011. Vợ Trung, là bà Nguyễn Thị Thu Hương hiện là Cục trưởng Hải Quan TP. HCM.

>>>►Bắt cán bộ Hải quan với hơn 60 phong bì chứa đựng gần 1 tỷ đồng

>>>BBC phỏng vấn bà Bảy Vân, vợ nhỏ của Lê Duẩn, 1:10:40…

_____

Posted in Sách- Báo- Hồi Ký, Đảng CSVN: Các hạt giống đỏ- Cha truyền con nối | 1 Comment »

►Đặc biệt: Bút ký của nhà văn Hoàng Quốc Hải: Trải nghiệm Hà Tỉnh-Formosa

Posted by hoangtran204 trên 05/08/2016

CHÚNG TÔI ĐI ĐIỀN DÃ – HÀ TĨNH – FORMOSA

Hoàng Quốc Hải
Bút ký

Nhà thơ Hữu Thỉnh, Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam, chuẩn bị cho đoàn nhà văn chúng tôi đi thâm nhập thực tế rất chu đáo.

 

Chúng tôi chọn Hà Tĩnh, nơi có điểm nóng Formosa. Đoàn chúng tôi gồm nhà văn Hoàng Quốc Hải, nhà thơ Trần Nhương, nhà văn Văn Chinh, nhà phê bình kiêm nhà giáo Bùi Việt Thắng, nhà báo Kiều Mai Sơn trẻ nhất đoàn, khoảng ba chục tuổi. Số còn lại tuổi trên 60 đến dưới 80.

Chúng tôi khởi hành từ Hà Nội lúc 9 giờ sáng ngày 18 tháng 7 năm 2016, trên một chiếc xe tốt nhất và lớn nhất mà Hội Nhà văn đang sở hữu, cùng một lái xe trẻ tuổi, đẹp trai, ngoan nết, giỏi nghề đó là Nguyễn Đăng Khôi.

Như đã hẹn trước, qua Thành phố Vinh, chúng tôi đón nhà văn Đức Ban, nguyên Chủ tịch Hội văn nghệ Hà Tĩnh, hiện là Chi hội trưởng chi hội nhà văn Việt Nam tại Hà Tĩnh. Cùng đi còn có nhà văn Đàm Quỳnh Ngọc, phó Chủ tịch Hội văn nghệ Nghệ An.

Chúng tôi đi với tinh thần tự túc từ ăn ở đến đi lại, không làm phiền địa phương. Thế nhưng các bạn nhà văn, nhà báo , thậm chí học trò và cả phụ huynh của học trò thầy giáo Bùi Việt Thắng, cứ nối nhau chiêu đãi … Nhân đây, chúng tôi xin bầy tỏ lòng biết ơn đối với các bạn đã tiếp sức cho chúng tôi.

Nhờ sự sắp xếp của nhà văn Đức Ban và sự giúp đỡ của Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Tĩnh, 8 giờ sáng ngày 19, chúng tôi khởi hành tới Formosa. Bữa nay nhà thơ Nguyễn Ngọc Phú, phó Chủ tịch Hội văn nghệ Hà Tĩnh cùng đi với đoàn.

Nhà báo Ngọc Vượng, phóng viên thường trú báo Gia đình- Xã hội lái chiếc ô tô riêng của anh dẫn đường. Tới khách sạn Mường Thanh, tiếp giáp với cổng phía Tây của Formosa, tất cả đều dừng lại. Chờ chúng tôi vào trong cổng của Formosa, Ngọc Vượng mới quay về.

Người hướng dẫn chúng tôi thăm khu công nghiệp Formosa Hà Tĩnh là một cô gái thuộc bộ phận đối ngoại, từng làm việc dưới quyền ông Chu Xuân Phàm, người phát ngôn khá ấn tượng trong cuộc họp báo đầu tiên sau vụ cá chết. Cô đi cùng xe với chúng tôi. Cô có khuôn mặt và mái tóc nom hao hao như các cô gái Trung Hoa, tôi hỏi:

– Xin lỗi, cháu là người Việt hay người Hoa?

– Dạ, cháu là người Việt ạ, cô gái đáp.

– Cháu tên chi, quê ở đâu?

– Dạ cháu tên Dung, quê ở Đà Nẵng.

– Cháu học ngoại ngữ tiếng Trung, và làm phiên dịch?

– Dạ đúng.

Nhà văn Trần Nhương hỏi:

– Các bác có được chụp ảnh không?

– Dạ được, nhưng chụp ít thôi ạ.

Xe vừa khởi động chầm chậm, tôi giơ máy ảnh chụp qua cửa kính. Lập tức người bảo vệ xộc ra đập tay vào cửa la:

– Không được chụp ảnh!

Nom gương mặt anh có vẻ hậm hực, tức tối. Cảm thấy tội nghiệp, chỉ vì miếng cơm manh áo! 

Tội nghiệp cho cả nền kinh tế nước nhà sau 30 năm đổi mới, vẫn thân phận kẻ làm thuê. Cao hơn nữa thì đua nhau làm gia công như dệt may, giầy dép, đồ gỗ… và bà thứ trưởng Bộ Lao động Thương binh và Xã hội còn hí hửng khoe trước: “Năm nay nước ta có số lao động xuất khẩu cao nhất so với các năm trước.”

Hình như những người lãnh đạo chưa nuôi được ý chí tự cường, giúp dân thoát cảnh làm mướn. Nhà nước chưa một lần khuyến khích người đi lao động nước ngoài phải chú ý học lấy nghề, để về nước tham gia vào các ngành sản xuất mà chỉ thuần túy giúp họ đi bán sức lao động.
.

Một góc Fomosa. Ảnh Trần Nhương.
.

Xe chúng tôi đi chầm chậm trong khu vực có đường băng chuyền đặt trên cao, nom như một đoàn tầu điện dài hun hút . Đường băng chuyền chạy từ phía bờ cảng Sơn Dương len lỏi vào khu vực các nhà máy.

– Cháu giới thiệu qua về Khu liên hợp này đi.- trong đoàn có người nói.

– Dạ, thưa các bác, xe chúng ta đang chạy trong khu vực nhà máy của Công ty TNHH Hưng Nghiệp Formosa Hà Tĩnh. Dự án khu liên hợp gang thép và cảng Sơn Dương do Formosa làm chủ đầu tư có 3 hạng mục: Nhà máy luyện gang thép công suất 7, 5 triệu tấn/ năm; nhà máy điện công suất 650 MW và cảng nước sâu Sơn Dương. Tổng diện tích của dự án là 3.318,12 ha, trong đó diện tích mặt đất 2.025, 37 ha, diện tích mặt biển 1. 293, 35 ha.

– Cảng đón được tàu trọng tải bao nhiêu tấn và độ sâu bao nhiêu mét, tôi hỏi.

– Dạ, cháu thấy tầu lớn vẫn vào đây bốc hàng, còn trọng tải bao nhiêu cháu không rõ, độ sâu cháu cũng không biết.

Theo tìm hiểu, Sơn Dương thuộc loại cảng biển sâu nhất Việt Nam, độ sâu ổn định tới 20 mét, độ chênh thủy triều không ảnh hưởng tới việc tàu ra vào. Cảng này, tàu 300. 000 tấn có thể bốc xếp hàng thoải mái. Nghĩa là cả một Hạm đội lớn như Hạm đội 7 của Hải quân Hoa Kỳ, cũng có thể cập cảng Sơn Dương và trú tránh an toàn.Với độ sâu ấy, tầu ngầm cũng có thể ra vào dễ dàng. Hơn nữa trên bờ cảng, còn diện tích mặt đất khá rộng, vừa làm bến bốc, dỡ hàng hóa, khi cần có thể dẹp lại làm sân bay dã chiến. Nghĩa là Sơn Dương có khả năng vừa là cảng thương mại lớn vừa là căn cứ quân sự tuyệt hảo. Không thể hiểu, bằng cách nào mà Formosa lại chui được vào tử huyệt này của nước ta? Lại nữa nó được xây dựng nhanh với tốc độ chóng mặt, do 8 nhà thầu của Trung Hoa đại lục với cả vạn người họ ồ ạt kéo sang làm việc hối hả một cách đáng ngờ!

Khu kinh tế Vũng Áng ở chân núi phía bắc dẫy Hoành Sơn gồm các xã: Kỳ Nam, Kỳ Phương, Kỳ Lợi, Kỳ Long, Kỳ Liên, Kỳ Thịnh, Kỳ Trình, Kỳ Hòa, Kỳ Ninh thuộc huyện Kỳ Anh. Tổng diện tích hơn 30 km2. Nghĩa là nó chiếm hơn 1/10 diện tích của cả huyện này.

Xe của chúng tôi vẫn lăn bánh trên những nẻo đường mà cô Dung chỉ dẫn. Không hiểu sao trong tôi lại nhen lên từ ký ức, rằng lúc này tôi có cảm giác y hệt hồi những năm đầu của thập niên 50 của thế kỷ 20, như tôi đang đi trong vùng địch tạm chiếm, mặc dù tôi đang đi trên đất nước của tôi, và người chủ tạm này theo hợp đồng, họ chỉ làm chủ có 70 năm thôi. Thực ra, theo luật pháp nước tôi, họ chỉ được phép thuê 50 năm, còn 20 năm gian dối kia là do có kẻ tiếp tay. Cũng như Hồng Kông Trung Quốc chỉ thuộc về người Anh có 99 năm. Nhưng Hồng Kông là nhượng địa.

Ngoài kia cảng Sơn Dương mênh mang nước, biển xanh rờn. Trong khu liên hợp này, các nhà máy dường như chưa khởi động. Tôi hình dung khi các nhà máy luyện gang thép và nhà máy điện khổng lồ kia hoạt động đồng bộ, khí thải phun khói bụi lên trời thì từ Vinh và Đồng Hới chắc nhận ra vị trí của Hà Tĩnh thật dễ dàng. Khu công nghiệp này khi vận hành, nó sẽ phát thải lên trời, thải qua các nguồn nước , thải trong lòng đất, trong đó có bụi than, có khí độc hóa chất, có chất rắn không hòa tan… Vậy là từ bầu trời, mặt đất, nguồn nước ngầm, dưới đáy biển sẽ đồng bộ nhận chất thải độc của khu công nghiệp Formosa. Tuy nó mới chỉ súc rửa đường ống thôi, đã hủy diệt môi sinh hơn 200 km biển chạy suốt bốn tỉnh, và không một sinh vật biển nào từ tầng mặt đến tầng đáy có thể sống sót, từ các loài tôm cua cá nghêu sò đến san hô rong tảo đều chết. Cá chết nổi trắng các bờ biển, một vụ đầu độc kinh hoàng. Một vụ đầu độc khổng lồ có dự mưu chứ không phải vô tình. Một thảm họa môi trường do con người gây ra với qui mô lớn như thế này, chưa từng một lần xảy ra trên Trái đất.

Tại sao nói có dự mưu? Có dự mưu là bởi thủ phạm có chuẩn bị, có tính toán cho hành vi và biết trước hậu quả. Điều này đã được Chu Xuân Phàm, người phụ trách đối ngoại của Formosa phát ngôn trước báo chí và lãnh đạo địa phương sau mấy ngày cá chết. Vẻ mặt giận dữ, thái độ ngông ngạo, lời nói xấc xược, y lớn tiếng quát hỏi: “Muốn cá hay muốn thép? Chọn tôm cá hay chọn thép? Muốn cả hai thì đến Thủ tướng cũng không làm được”.

Như vậy là cả Chu Xuân Phàm và lãnh đạo Formosa Hà Tĩnh, đều biết rõ tác hại của hóa chất mà họ dùng để súc rửa đường ống. Thật là một tội ác đã được sắp đặt. Vậy mà còn có kẻ bênh che.

Sau đó Formosa chối tội, đuổi Chu Xuân Phàm về Đài Loan. Chúng tôi thường bảo Chu Xuân Phàm thuộc trường phái hiện thực trần trụi. Và chính những lời thú tội của Phàm cũng là một bằng chứng phạm tội quả tang.

Vậy là kẻ thủ ác đã công khai thách thức và công khai thú tội. Đây là loại tội phạm môi trường, nhân chứng vật chứng có đủ. Vấn đề còn lại là luật pháp Việt Nam phải khởi tố và Tòa án phải xét xử, phải truy tố chứ không thể chỉ xin lỗi rồi cho qua. Hai đứa trẻ vì đói mà cướp mẩu bánh mì và vài thứ trị giá có 45.000đ còn phải ngồi tù,vì Tòa tuyên đó là hành động gây nguy hại cho xã hội.Thế thì kẻ đầu độc môi trường, tàn sát vô vàn sinh vật biển suốt một dải dài hơn 200 cây số , làm tê liệt nhiều ngành kinh tế và ảnh hưởng xấu tới đời sống hàng mấy chục vạn người. Và nửa thế kỷ sau chắc gì môi trường đã có thể hồi sinh.Thử hỏi tội ác ấy có nguy hiểm cho xã hội không? Có xứng đáng để truy tố không, hay nó không nguy hại bằng hai đứa trẻ cướp mẩu bánh mì? Đây còn chưa kể đến cú sốc tâm lý cực lớn đối với mọi người, đặc biệt là đối với trẻ em thì việc sang chấn thần kinh, sang chấn tâm lí sẽ ảnh hưởng suốt cuộc đời. Liệu Formosa và những kẻ rước Formosa vào có thể đền bù được tội ác này không?

Đi 16 km, được một góc khu công nghiệp Formosa, cũng tức là chúng tôi chỉ được phép cỡi ô tô xem nhà xưởng và sắt thép trong phạm vi đó.

Lưới chất đống góc sân một nhà dân tại xã Kì Lợi

Tiếp theo chúng tôi vào thăm bà con ngư dân tái định cư ở Đồng Yên thuộc xã Kỳ Lợi huyện Kỳ Anh.

Một con đường chạy giữa hai dẫy nhà thưa thớt. Đây là khu vực của các gia đình ngư dân tái định cư. Trời nắng nóng như thiêu, nhiệt độ ngoài trời đến 40 độ C, bốn bề không một bóng cây. Các nhà cất còn tạm bợ, nhiều nhà chưa hoàn thiện. Chúng tôi ghé một ngôi nhà nhỏ ven đường. Ngôi nhà vừa cất xong, chỉ có tường vách, không thấy một thứ đồ đạc gì đáng giá ngoài đống lưới cuốn gọn trong góc nhà cỡ chừng một mét khối. Một người phụ nữ bế con bên nách nhìn ra đường vẻ ngơ ngác. Chúng tôi bước vào nhà hỏi chuyện. Được biết dẫy nhà lơ xơ đây thuần dân tái định cư của xã Kỳ Lợi, tất cả đều là ngư dân bám biển sống từ nhiều đời. Nơi tái định cư có tên là xóm hoặc làng Đồng Yên. Gọi là Đồng Yên, nhưng lòng người lại không yên. Chị chủ nhà tên Nguyễn Thị Vinh, sinh năm 1982, tuổi Nhâm tuất. Nhà văn Trần Nhương trêu: “Nhâm tuất – con chó vàng, giàu rồi, lo gì”.

Như đụng vào nỗi lòng đang lo lắng buồn đau, chị Vinh than thở:

– Ông ơi, con đang lo không biết sống sao đây. Mấy tháng nay thuyền úp bến, lưới chồng đống khô rang, thèm con tôm con cá đến xót cả ruột. Chị Vinh có hai con nhỏ, bốn tuổi và hai tuổi. Chồng, anh Nguyễn Văn Tâm sinh năm 1975.

Thấy tôi ghi tên tuổi của vợ chồng chị Vinh, bà con xóm giềng kéo đến rất đông. Họ không cần biết chúng tôi là ai. Tất cả đòi ghi tên và số người trong nhà. Nguyễn Thị Thơ 55 tuổi, chồng là Hoàng Văn Từ 55 tuổi, nhà có 10 khẩu. Thôi thế nhà em xong rồi. Bà Thơ vừa quay ra, người khác đã len vào xướng danh.

Nhà văn Trần Nhương giải thích:

– Bà con ơi, chúng tôi là khách qua đây chứ không phải cơ quan công quyền gì đâu. Bà con không để ý, vẫn cứ đòi ghi tên – Hoàng Kham, bác ghi đi. Nhà em 10 khẩu, 4 lao động biển.

Tôi hỏi xen: – Thế bây giờ bà con đã đi biển được chưa?

– Chưa! Nước vẫn còn ngứa lắm. Trong lộng chưa thấy có cá tôm gì.

– Thế ra khơi được chứ ạ?

– Khơi thì được nhưng phải có thuyền lớn. Mới lại đánh bắt về bán cho ai. Dù cá sạch, dân vẫn không dám ăn. Nhà nước chưa hướng dẫn chỉ số an toàn, chưa có chỉ dẫn gì hết, ai dám mạo hiểm.

– Bác ơi, em Nguyễn Văn Thành 57 tuổi, nhà 8 khẩu.

– Em Nguyễn Bá Thạch 62 tuổi, nhà 6 khẩu.

– Em Phạm Minh 54 tuổi, nhà 8 khẩu v.v…

Tất cả bà con đều là ngư dân thuộc xã Kỳ Lợi.

Chúng tôi hỏi:

– Từ ngày phải ngừng đi biển, bà con có được Nhà nước hỗ trợ gì không?

– Dạ có, mỗi khẩu một tháng được 15 kí gạo. Nhưng bác bảo chỉ có hạt gạo không sống sao nổi. Còn trăm thứ khác phải tiêu pha chứ. Trước, mọi thứ chi tiêu đều lấy từ biển. Không biết rồi đây sẽ sống ra sao.

– Các bác có làm gì thêm để kiếm tiền không?

– Trước Formosa thuê lặn 18 triệu, nay họ gọi thuê 50 triệu, chẳng ai đi.

– Sao lại không đi?

– Đi cho mà chết à. Tôm cá còn chẳng sống được. San hô, hoa đá còn chết. Chết tiệt, chẳng còn gì cả. Mình lặn xuống cho toi mạng à. Đã có người chết vì lặn thuê cho họ rồi đấy.

Tôi gợi chuyện bà con:

– Vậy chớ bây giờ Nhà nước hỗ trợ cho bà con chuyển nghề. Rồi trong nhà có thanh niên mạnh khỏe, Nhà nước đào tạo nghề rồi cho sang Đài Loan lao động, bà con có ưng không?

– Không! Chúng em suốt đời bám biển. Nay làm rừng, làm ruộng không làm được, không sống được. Con cái dốt nát, chữ nghĩa ít. Các ông cho học vớ vẩn rồi cho sang Đài Loan. Họ nhận vào làm việc tay chân vài tháng rồi kêu hết việc. Họ hỏi có biết vận hành máy móc không. Không biết, họ tống về. Thế là ôm nhau chết đói cả lũ.

– Vậy nguyện vọng bà con thế nào?

– Chúng tôi muốn biển. Muốn Nhà nước bắt Formosa làm sạch biển cho chúng tôi sinh sống. Muốn Nhà nước tống cổ Formosa đi thì chúng tôi mới yên tâm làm ăn.

Tôi nói, nếu Nhà nước đền bù thỏa đáng, bà con nghĩ sao?

– Không! Đã bảo không là không. Không đền bù. Tiền ấy đem làm sạch biển cho ngư dân. Chúng tôi cần sinh sống lâu dài trên đất của tổ tiên đã tạo lập từ ngàn đời. Dân chài 4 tỉnh miền Trung này tới cả mấy chục vạn chứ ít đâu. Lại còn bao nhiêu, bao nhiêu là người sống theo con cá nữa chứ, nó không đơn giản như các ông nghĩ. Các ông hay nghĩ quẩn lắm, định đem vài tờ giấy bạc làm mờ mắt chúng tôi sao?

Được bà con dạy cho một bài học, tôi chưa kịp đáp lời. Một ông già nom có vẻ đàng hoàng chững chạc, nhìn thẳng vào mắt tôi, ông hỏi:

Có thật các ông muốn ngư dân chúng tôi chuyển nghề, để trao biển cho Trung Quốc không? Đời đời dân tôi bám biển là để giữ biển. Giữ biển là giữ nước đấy.

Câu hỏi vỗ mặt của người dân chài khiến tôi bàng hoàng. Chưa kịp nói lời xin lỗi, ông đã bỏ đi.

Đúng là dân biển ăn sóng nói gió, chém to kho mặn, đã nói một là một, hai là hai.

Chia tay bà con, chúng tôi ra bãi biển Vũng Áng. Trời nắng chang chang, biển đầy ắp nước. Nước xanh ngăn ngắt, sóng vỗ lăn tăn như mời gọi mà không ai dám nhúng tay xuống nước. Bãi cát trắng phau. Những con thuyền thúng úp sấp nom như những nấm mồ. Những con thuyền dài bọc phủ ni lông trắng toát, nom như những ngôi mộ mới vừa chôn cất. Mép nước san sát những con thuyền bỏ biển neo đậu, bập bềnh theo nhịp sóng vỗ, như một điệu ru buồn.

Nhìn cảnh tượng đau lòng, lại nhớ đọc mạng, thấy các đại biểu Quốc hội đang làm nóng hội trường về chuyện Formosa.

Ông Trương Trọng Nghĩa đại biểu đoàn thành phố Hồ Chí Minh đề nghị Quốc hội phải thảo luận vấn đề Formosa.

Rõ ràng Formosa tàn sát môi trường biển miền Trung là một sự kiện động trời.

Đại tướng Đỗ Bá Tỵ, phó Chủ tịch Quốc hội: “Câu hỏi đặt ra là môi trường khi nào được khắc phục, nghề cá của ngư dân đến khi nào khôi phục được? Nếu không trả lời được những câu hỏi, không có dự kiến, giải pháp đủ mạnh sẽ rất khó lường, không chỉ là câu chuyện kinh tế mà còn nhiều vấn đề khác… Tôi thấy vụ việc Formosa còn là vấn đề tiềm ẩn lâu dài. Nếu không lường trước, tình hình sẽ còn diễn biến hết sức phức tạp. Vấn đề ở đây không chỉ đơn giản là kinh tế mà còn gắn với quốc phòng, an ninh.”

Có đại biểu đòi lập Ủy ban giám sát đặc biệt Formosa.

Ông Hà Ngọc Chiến, Chủ tịch Hội đồng dân tộc của Quốc hội nêu vấn đề:

“Chính phủ cần làm rõ nguyên nhân chủ quan liên quan đến việc phê duyệt, thẩm định dự án này. Bởi vì theo thông tin, đây là dự án nước ngoài rất lớn nhưng được phê duyệt rất nhanh. Đánh giá tác động môi trường cũng được phê duyệt rất nhanh. Rồi họ đòi hỏi ưu đãi nọ, ưu đãi kia cũng được phê duyệt rất nhanh. Và cuối cùng hậu quả tai hại cũng rất nhanh”.

Có đại biểu Quốc hội còn đề nghị đem vấn đề Formosa ra trưng cầu dân ý.

Ông Trần Hoàng Ngân đại biểu Thành phố Hồ Chí Minh nói: “Khi giải quyết vấn đề Formosa phải xem đây là dự án quốc gia. Các Ủy ban của Quốc hội phải tăng cường giám sát đã trả lời thỏa đáng cho cử tri dự án này có xứng đáng tồn tại không, theo quan điểm của cá nhân tôi là không”.

Luật sư Trương Trọng Nghĩa đoàn Tp Hồ Chí Minh nói về Formosa có đề cập đến ý kiến của cử tri: “Cử tri cũng đặt câu hỏi là cho đến nay chưa thấy các đại biểu Quốc hội ở các tỉnh miền Trung và các Ủy ban của Quốc hội có ý kiến gì cả, chí ít là cũng có thông tin, chí ít là dự kiến sẽ làm gì”.

Vậy là các đại biểu Quốc hội đã phản ánh trung thực nguyện vọng của dân. Dân muốn được thông tin minh bạch. Dân muốn truy cứu trách nhiệm người lập và người phê duyệt ưu đãi dự án Formosa nhanh đến chóng mặt. Dân không muốn có Formosa.

Rời Vũng Áng, đoàn chúng tôi vào Thiên Cầm. Biển đẹp như mơ, bãi cát thoải, đây đó có một vài chiếc dù xòe to, dăm chiếc ghế nhựa xanh đỏ để chụm, chờ khách. Bãi tắm Thiên Cầm bình thường ai đã ghé thăm vào mùa nóng, khó có thể cầm lòng đi nơi khác. Phải nói vẻ đẹp của bãi Thiên Cầm có sức gợi cảm đến mê hồn. Vậy mà mùa hè này nó trở nên đìu hiu, cô quạnh. Các quán hàng trên bến vắng teo. Chủ quán nọ nhìn sang chủ quán kia chuyện vãn.

Tôi hỏi cô Tám Hạnh – một chủ quán, việc kinh doanh hàng họ thế nào.

Cô ngáp dài uể oải đáp:

– Chán lắm bác ơi, ế lắm. Từ đầu tháng tư, sau vụ cá chết trắng biển, khách qua đây đi vội như đi qua vùng có bệnh dịch chứ không ghé nghỉ như mọi năm. Mọi năm vào cữ này, chúng cháu bận túi bụi từ sáng sớm đến nửa đêm.

– Quán nhà ta có mấy người phục vụ.

– Nhà cháu có 12 người, nhận thêm 8 người giúp việc.

– Năm nay vắng khách, cô cho người giúp việc nghỉ hết à.

– Thôi thì cầm cự nuôi nhau tạm bác ạ, đuổi họ đi đâu. Ở đây nó định hình công việc rồi. Rời biển là chết đói.

– Nếu Nhà nước hỗ trợ cho cô chuyển nghề, cô có ưng không.

– Không. Nhà nước để tiền ấy với tiền Formosa đền bù, làm sạch biển cho dân chúng cháu làm ăn thôi. Không lấy đền bù, cũng không đi đâu cả, dân chúng cháu đã có kiến nghị cả rồi.

Sáng sớm, chúng tôi ra cảng cá Cẩm Nhượng. Thuyền về bến, tôm cá lèo tèo. Thấy một tốp gần chục phụ nữ ngồi bới đống rong rêu nhặt ốc, sò và cá lẹp. Lại một tốp đang phân loại tôm đóng vào thùng xốp.

Tôi hỏi ông chủ có tên Trần Kỳ khoảng ngoài 50 tuổi. Ông Kỳ chỉ tay về phía những con thuyền bên mép nước nói:

– 15 thuyền về bến mà chỉ có bằng này sản phẩm, chừng năm, sáu chục cân.

Ông cho biết biển Thiên Cầm nằm về phía cực bắc của Hà Tĩnh, nên ít chịu ảnh hưởng. Nhưng sản lượng đánh bắt tụt hẳn, chỉ bằng một phần tư, một phần năm các vụ trước. Giá cả cũng tụt quá nửa. Có đánh bắt về cũng không bán được cho ai.

– Vậy ông đóng các thùng tôm kia chở đi bán ở đâu?

Ông Trần Kỳ cười như mếu:

– Chở ra Vinh, ra Thanh Hóa, ra Hà Nội bán cho các bác chứ chở đi đâu. Bây giờ làm ăn chán lắm. Tôi có hai thuyền đánh cá, phải cho ra đánh bắt tận Quảng Ninh. Mong sao biển sạch trở về làm ăn như cũ. 
.

Nhà văn Hoàng Quốc Hải và Nhà văn Trần Nhương gặp dân xã Kì Lợi. Ảnh: TNc.

Chúng tôi gặp nhiều người khác nhau, từ ngư dân trực tiếp đi biển, đến người thu gom phân phối; người chế biến các sản phẩm như làm nước mắm, buôn bán cá, tôm, mực khô, người chở xe thồ, xe điện, người kinh doanh nhà hàng, khách sạn, tất cả họ đều mong muốn biển sạch để được làm ăn như cũ. Trước khi biển bị Formosa đầu độc chẳng nói làm gì, nay là ước mơ của dân biển sao cho trở về được cái ngày xưa ấy.

Trở lại các vấn đề của dự án Formosa. Cái gì cần nói, các đại biểu Quốc hội đã nói cả rồi. Chỉ tiếc các cơ quan quản lý Nhà nước ta, nghiệp vụ mỏng quá. Ngay như Bộ Tài nguyên- Môi trường, cuối năm 2015 vào kiểm tra các chỉ số môi trường của Formosa vẫn cảm thấy bình yên.

Các cấp lập và phê duyệt dự án cũng không hình dung được khu công nghiệp sẽ hoạt động như thế nào, do đó không đặt ra các tiêu chí đảm bảo môi trường như một điều kiện tiên quyết để phê duyệt dự án.

Đọc một đoạn sau đây, sẽ hình dung ra tất cả: “Khu kinh tế Vũng Áng được Thủ tướng Chính phủ thành lập theo quyết định số 72/2006 QĐ-TTg ngày 3.4.2006 có diện tích 2.278,1 ha là khu kinh tế đa ngành đa lĩnh vực với trung tâm:

– Phát triển các ngành luyện kim với lợi thế tài nguyên, nguồn nguyên liệu, các ngành công nghiệp gắn với khai thác cảng biển, khu công nghiệp trung tâm nhiệt điện và lọc dầu.

– Phát triển đồng bộ khu liên hiệp Vũng Áng – Sơn Duơng bao gồm đầu tư khai thác có hiệu quả khu liện hợp cảng, phát triển dịch vụ cảng và các dịch vụ vận tải để tạo thành một trong những cửa ngõ ra biển quan trọng của bắc Trung Bộ.

– Xây dựng khu đô thị mới Vũng Áng đồng thời ưu tiên phát triển du lịch sinh thái, khu du lịch nghỉ dưỡng biển trở thành các điểm du lịch quan trọng trong tuyến du lịch ven biển bắc Trung Bộ.

Đúng là các nhà lập kế họach phát triển kinh tế không tưởng, và lãng mạn hơn nhiều các nhà thơ lãng mạn.

Truớc hết, không bao giờ chủ nhân Formosa lại đầu tư khai thác mỏ quặng nằm sâu trong lòng đất hàng trăm mét. Lại còn muốn biến nơi đây thành “thành phố sinh thái du lịch nghỉ duỡng quan trọng trong tuyến du lịch ven biển miền Trung.”

Rõ ràng họ không hiểu luyện thép, lọc hóa dầu, nhiệt điện là những ngành công nghiệp bẩn, độc hại hàng đầu, làm sao lại có thành phố du lịch sinh thái song hành được. Bởi vậy rất khó tìm được nước nào chịu hy sinh môi truờng cho nhà đầu tư loại công nghiệp này.

Chẳng thấy sao, nó mới súc rửa đường ống đã làm cho nhiều ngành kinh tế miền Trung lao đao, cả mấy trăm ngàn người bị ảnh hưởng xấu. Tôm cá không đánh bắt được, biển chết, kinh doanh du lịch và nhiều ngành phụ trợ khác tê liệt. Nếu còn dung dưỡng Formosa, chắc chắn họ sẽ biến không chỉ Hà Tĩnh thành bãi chứa rác thải nguy hiểm, và nó không chỉ đe dọa về môi trường sinh thái, mà nó còn nguy hiểm tới cả an ninh quốc phòng như tướng Đỗ Bá Tỵ cảnh báo.

Khi ông Hồng Phú Nguyên (Hong Fu Yan) Chủ tịch tập đoàn nhựa và sợi Formosa Đài Loan phủ nhận Formosa Hà Tĩnh tàn sát môi truờng biển, bà Lâm Nhân Huệ ( Lin Jen Hui) Tổng thư kí Hội thẩm phán môi truờng Đài Loan nói:“Nếu Tập đoàn tin rằng họ bị kết tội oan uổng, tại sao họ lại xin lỗi và bồi thường 500 triệu USD?”

Và điều này mới thực sự quan trọng. Bà Lâm Nhân Huệ nói tiếp: “Nếu Formosa chính thức họat động và xả tới 45.000 m3 nước thải /ngày, đúng như mức Bộ Tài nguyên – Môi truờng của Việt Nam cho phép, thì tầm vóc của thảm họa kế tiếp sẽ lớn gấp nhiều lần. Nói cách khác, không bao giờ loại trừ được khả năng Formosa có thể tạo ra một thảm họa mới khiến cá chết trắng suốt 3.000 cây số bờ biển chạy dọc Việt Nam” (Nguồn: Người Việt 15.7.2016).

Chớ coi thường lời cảnh báo nghiêm khắc mang tính khoa học và xây dựng của một người có trách nhiệm và có lương tri. Hơn nữa bà Lâm Nhân Huệ còn là đồng bào gần gũi của Tập đoàn công nghiệp Formosa.

Hãy nghe thêm một ý kiến nữa của ngài nghị sĩ Su Chih Feng, cựu thị trưởng Văn Lâm (Đài Loan) cho rằng: “Formosa là con quái vật khổng lồ, do đó phải cẩn trọng và cứng rắn khi hợp tác với tập đoàn này” ( Nguồn ZingVN).

Nhân đây xin nói thêm về giá trị của biển Việt Nam. Trước hết phải nói, nước ta không phải là một nước nhỏ. Xin mọi người đừng có tự ti.

Nước ta có gần một trăm triệu dân, về dân số đứng thứ 14 trên thế giới. Nếu biết khai thác có hiệu quả tiềm năng trí tuệ và sức lao động, khối người này có thể làm cho bất cứ một quốc gia nào giàu mạnh. Ấy là chưa nói đến truyền thống lịch sử, văn hóa và tố chất của nguời Việt Nam. Diện tích đất đai chỉ có hơn 320.000km2 cũng không phải là quá chật. Song ta có thế mạnh về biển, bờ biển trải dài từ Bắc vào Nam tới 3.260km, và không gian biển của ta tới trên một triệu km2 , gấp gần bốn lần diện tích đất liền. Nhiều tài nguyên khoáng sản trong lòng biển. Một phần rất nhỏ tài nguyên đó ta đang khai thác: dầu và khí đốt. Tài nguyên về hải sản cũng không nhỏ. Ta chưa có thống kê, nhưng các nước bạn như Thái Lan, riêng nguồn lợi về hải sản đã chiếm 2% GDP, còn Indonesia, nguồn lợi này chiếm tới 5% GDP. Do đó biển là không gian sinh tồn, có tiềm năng dồi dào để nuôi sống con người và phát triển đất nước trong hiện tại và cả tương lai. Trái lại trên mặt đất, các tài nguyên thiên nhiên như rừng và than đá, ta khai thác gần như cạn kiệt. Các loại khoáng sản khác đều có nhưng trữ lượng không đáng kể, không đủ khai thác công nghiệp. Về đất đai nông nghiệp, chủ yếu dựa vào vựa lúa đồng bằng Nam Bộ, thì đang bị đe dọa nghiêm trọng vì nguồn nước do Trung Quốc khống chế từ thượng nguồn. Nếu quan hệ hai nước xấu đi, Trung Quốc sẽ đóng nước mùa khô và xả nước mùa lũ, vựa lúa Nam Bộ trở nên úng lụt và khô mặn. Nghĩa là đồng bằng Nam Bộ chẳng còn lợi thế gì nữa. Và an ninh lương thực quốc gia trở nên bấp bênh, khó lường.

Nên nhớ giới thống trị Trung Hoa từ cổ xưa tới nay, trừ những điều nhân nghĩa thì không việc tàn bạo nào họ không dám làm. Ngay cả giết hàng loạt dân họ chỉ vì nghi kị vu vơ, họ cũng không ngần ngại, huống chi đối với láng giềng mà họ đang mưu toan thôn tính.

Trung Quốc không hề có bạn bè. Họ luôn đặt các nước vào hàng tôi tớ, phụ thuộc, hoặc thù địch.

Cho nên bằng mọi giá phải giữ cho môi trường sinh thái biển lành mạnh, phải tác động trở lại cho môi trường biển miền Trung sớm phục hồi. Ngư dân không chỉ đánh bắt hải sản mà còn là đội quân giữ biển, giữ tài nguyên, và giữ chủ quyền quốc gia. Vắng họ, lập tức có kẻ khác thế chân ngay. Và kẻ thù không mong gì hơn ngư dân nước ta bỏ biển. Vì vậy phải tăng cuờng phương tiện cho ngư dân miền Trung đánh bắt xa bờ, thay vì hỗ trợ cho họ đổi nghề. Và nên nhớ, biển mới là cứu cánh cho sự sống còn, và sự bứt phá của cả dân tộc trong thế kỷ 21 này.

Mệnh nước đang nằm trong tay Quốc hội, trong tay bộ máy quyền lực Nhà nuớc. Hãy thuận theo ý dân mà chèo lái con thuyền dân tộc vượt qua khúc quanh lịch sử hiểm nguy này.

Nếu muốn giữ cho mệnh nước trường tồn, phải giữ cho bằng được môi trường sinh thái biển trong lành và bình yên. Như vậy, chấp nhận Formosa tồn tại là điều không thích hợp. Vẫn chưa muộn, nếu ta phạt Formosa hành vi đầu độc môi trường, khởi kiện Formosa gây thảm họa môi trường ,và cuối cùng là mời họ ra khỏi nước ta.

Nếu không, thì như lời bà Lâm Nhân Huệ, Tổng thư kí Hội thẩm phán môi trường quốc đảo Đài Loan đã cảnh báo:“… Không bao giờ loại trừ được khả năng Formosa có thể tạo ra một thảm họa mới khiến cá chết trắng suốt 3.000 cây số bờ biển chạy dọc Việt Nam.”

“Formosa là con quái vật khổng lồ, phải cẩn trọng và cứng rắn khi hợp tác với Tập đoàn này!”. Đó là lời cảnh báo, cũng của một người Đài Loan.

Hà Nội ngày 26.7.2016
H.Q.H 
———

Bài đăng trên báo Văn Ngh, đã phát hành sáng 4.8.2016:

 ___

Tểu blog

nhận xét :

  1. Các nhà văn nhà thơ được thực mục sở thị (Tai nghe mắt thấy tay sờ) nói ra chắc chắn là chuẩn không cần chỉnh.
    Còn một việc tôi đang băn khoăn đó là Bộ Tài nguyên môi trường VN công bố kiểm soát nguồn nước thải của Fomosa liên tục trong 4 năm đầu.
    Xin hỏi từ năm thứ 5 trở đi sẽ thôi không kiểm soát nữa sao?
    Lúc đó liệu Fomosa có tự giác chấp hành các quy định xả thải không?

    Trả lời

  2. Bác Hoàng Quốc Hải viết quá hay và nhận xét sắc sảo.
    Tội ác này là một DỰ MƯU đã được chuẩn bị kỹ từ đầu.
    Phải đóng cửa Formosa và phải bắt bồi thường xứng đáng.

    Trả lời

  3. Đóng cửa Formosa là tiếng gọi của lòng dân ,là lương tri của con người .Tiếp tục bao che,duy trì nó là phản bội lại nhân dân tiếp tay cho tội ác diệt chủng nhân dân phải bị trừng trị thích đáng .ĐONG CỦA FORMOSA LÀ MỆNH LỆNH TRÁI TIN-KHỐI ÓC LÀ CON ĐƯỜNG DUY NHẤT ĐỂ BẢO TOÀN NÒI GIỐNG ///

    Trả lời

  4. Nếu cần bổ sung chỉ thêm: Đuổi formosa ngay lập tức, Không giây phút nào nữa! Đồng thời đưa ra tòa quốc tế bắt tẩy sạch biển. Chúng chần chừ thì tịch biên

    Trả lời

  5. Bác Hải là người viết tiểu thuyết lịch sử, nghiên cứu nhiều triều đại việt Nam. Không hiếm những triều đình độc ác lắm, nhưng đã có lúc nào hủy diệt sự sống đồng loạt và lâu dài như hôm nay chưa?

    Trả lời

  6. Các nhà lãnh đạo csVN như những con nai tơ trước những con cáo già Formosa . Xem như bài kí sự của HQH có thể thấy được Tập đoàn Formosa đã mua VKC với giá rất hời . Số tiền này là quá lớn với VKC nhưng lại chẳng là gì với Formosa vì cái lợi nhuận mà Formosa sẽ thu lại là hàng tỉ đô . Chẳng ai dại gì bỏ ta 11 tỉ đô để chỉ thu về vài trăm triệu đô ?

    Trả lời

  7. Đóng cửa Formosa là tiếng gọi của lòng dân ,là lương tri của con người .Tiếp tục bao che,duy trì nó là phản bội lại nhân dân tiếp tay cho tội ác diệt chủng nhân dân phải bị trừng trị thích đáng .ĐONG CỦA FORMOSA LÀ MỆNH LỆNH TRÁI TIN-KHỐI ÓC LÀ CON ĐƯỜNG DUY NHẤT ĐỂ BẢO TOÀN NÒI GIỐNG ///
    PHẢI ĐÓNG CỬA FORMOSA NẾU ĐẢNG VÀ CHÍNH PHỦ CÒN YÊU NƯỚC YÊU DÂN ! Lý do gì ĐẢNG VÀ CHÍNH PHỦ KHÔNG QUYẾT ĐỊNH ĐÓNG CỬA FORMOSA (?) phải nói cho dân biết ! Đất nước này là của toàn dân, không phải của riêng của đảng . Chính phủ là cơ quan làm thuê cho dân, dân trả lương và bổng lộc để làm việc. Phải đảm bảo phục vụ dân, đưa Formosa ra trước toà xét xử và chấm dứt hoạt động của Formosa – đó là yêu cầu của dân , không thể chần chờ được !

    Trả lời

  8. Dùng hóa chất hủy diệt sự sống là phạm tội ác chống nhân loại. Đủ ra tòa quốc tế rồi

    Trả lời

  9. Đọc xong chỉ biết:
    – DKM Formosa và những thằng tay sai VC bao che!

 

Posted in Bán Tài Nguyên Khoa'ng Sản- Cho Nước Ngoài Thuê Đất 50 năm, Formosa Hà Tỉnh -Cá chết- Ô nhiễm, Làm ăn chung với Trung Quốc, Sách- Báo- Hồi Ký | Leave a Comment »

►Lời Ai Điếu của nhà văn Lê Phú Khải (Đinh Quang Anh Thái giới thiệu)

Posted by hoangtran204 trên 16/07/2016

 

LỜI AI ĐIẾU, hồi ký của Nhà báo Lê Phú Khải,

LOI AI DIEU COVER
do Người Việt Books sắp phát hành, tháng Tư, 2016 tại Hoa Kỳ

Lời Nhà Xuất Bản

460179_451110461572925_948452281_oVào thập niên 50 tại Âu Châu và ngay cả tại Mỹ, phong trào thiên tả lan rộng trong giới trí thức. Tầng lớp có học thời ấy tự hào “phàm là trí thức thì phải thiên tả.” Điển hình là hai triết gia Jean Paul Sartre người Pháp, Bertrand Russel người Anh và nữ tài tử Mỹ Jane Fonda. Phong trào thiên tả ngưỡng vọng nhiều tay lãnh tụ cộng sản trên thế giới và xem Liên Xô là “cái nôi” cuộc cách mạng xã hội của loài người. Thậm chí cho tới mãi năm 1980 tại thành phố Bergen – Na uy, giới trí thức, giới cầm bút hay giáo sư đại học vẫn còn ca tụng Lênin, Mao Trạch Đông, Hồ Chí Minh và ngay cả Pol pot, tên đồ tể diệt chủng dân tộc Khmer.

Đám người mắc chứng “mê Cộng” này còn táo tợn cho rằng, “tuổi đôi mươi mà không theo Cộng Sản là không có trái tim.”

May cho đám đó là họ chỉ luẩn quẩn ở các đô thị xa hoa, uống rượu chát, ăn bò bí tết để mơ mộng xây dựng “thiên đường cộng sản” chứ không có, dù một ngày, trải nghiệm bằng chính bản thân cái chủ nghĩa là “căn bệnh ung thư” này của nhân loại.

Họ không có cái TRÍ của Nguyễn Chí Thiện để sớm nhận ra bộ mặt không có tính người của cộng sản, như trong thơ của Ngục Sĩ này viết:

“Tuổi hai mươi mắt nhìn đời trẻ dại
Ngỡ cờ sao rực rỡ
Tô thắm màu xứ sở yêu thương
Có ngờ đâu giáo giở đã lên đường
Hung bạo phá bờ kim cổ.”

Và như trường hợp tác giả cuốn Lời Ai Điếu này, nhà báo Lê Phú Khải, sớm nhìn rõ Chủ nghĩa Cộng sản từ lúc bước vào tuổi hai mươi: “Nghĩ ra một chủ nghĩa bao giờ cũng là các bậc thiên tài. Thực hiện cái chủ nghĩa đó bao giờ cũng là những người cuồng tín và hưởng thành quả của chủ nghĩa đó thì bao giờ cũng là bọn lưu manh.”

Khác với Jean Paul Sartre, Bertrand Russel hay Jane Fonda chỉ vỡ cơn huyễn mộng sau khi “Đế quốc Ma quỷ Liên Xô” và các chế độ cộng sản Đông Âu tan rã như cơm nguội gặp mưa, Lê Phú Khải cương quyết “không cần trái tim để theo cộng sản” dù như ông tự thuật, cả gia đình ông là cộng sản nòi: “Mỗi khi họ Lê Phú nhà tôi giỗ tết, tập hợp đông đủ nội ngoại, dâu rể thì nhìn đâu cũng thấy Đảng viên. Có lẽ, chỉ có mấy cái cột nhà và tôi là không phải Đảng viên mà thôi!” Hít thở không khí như thế, mà Lê Phú Khải nhiều lần từ chối vào Đảng vì ông thấy chế độ mà ông đang sống là một chế độ độc tài.

Lê Phú Khải trải nghiệm cái xã hội trại lính ở miền Bắc từ khi muốn thi vào đại học, ông phát giác rất rõ cái chủ nghĩa Mác Lê với quan điểm giai cấp đấu tranh trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội thì mới đẻ ra cái cách tuyển sinh “man rợ” như thế và nó lạc hậu hơn tất cả các hình thái xã hội có từ trước đó. Vì cộng sản chỉ lựa chọn sinh viên đại học dựa trên tiêu chuẩn thành phần giai cấp nên sản sinh một lớp người sau khi tốt nghiệp đa phần là những kẻ dốt nát, ngu si nhất, và “kẻ dốt nát xuất thân từ thành phần bần cố nông nghèo khổ một khi có quyền thì chỉ lo tham nhũng, vơ vét mà thôi.”

Cũng vì chủ trương đấu tranh giai cấp, nên chế độ đã phát động chiến dịch Cải Cách Ruộng Đất nhằm “đào tận gốc, trốc tận rễ” những thành phần khác của xã hội “Trí, Phú, Địa, Hào, Tôn giáo” và hậu quả là cả trăm ngàn người chết oan khuất trong cơn “say máu vĩ cuồng” của cộng sản với những câu thơ khẩu hiệu của Tố Hữu “Giết, giết nữa, bàn tay không phút nghỉ…Thờ Mao Chủ Tịch, thờ Sít-ta-lin bất diệt.” Lê Phú Khải trải nghiệm cái xã hội rơi vào điên loạn đó ngay tại quê vợ của ông khi chứng kiến cảnh nát lòng của một phú nông trong làng từng chứa chấp Việt Minh hoạt động, bị đấu tố trong cải cách ruộng đất, bị bức cung nên phẫn uất quá cho gọi tất cả các con cái về nhà, dồn vào một buồng rồi tưới xăng tự thiêu, “những đứa trẻ chết đen thui còn xác người vợ trương phồng lên như con bò!”

Thân phận trí thức ở đất nước nào cộng sản cai trị thì thành phần có học này cũng chịu những cay đắng, thống khổ giống nhau. Boris Pasternak, văn hào Nga đoạt giải Nobel Văn Chương năm 1958, trong tác phẩm lẫy lừng “Doctor Zhivago” đã gột tả nỗi tủi nhục của nhân vật chính, bác sĩ Zhivago, bị công an bắt vì ăn cắp vài cây gỗ sưởi ấm cho gia đình trong cái lạnh cắt da của mùa Đông nước Nga.

Việt Nam, qua lời kể của Lê Phú Khải, trong một phiên họp rất căng do bộ trưởng Công an Trần Quốc Hoàn chủ trì, giáo sư bác sĩ Tôn Thất Tùng, vì quá sợ, mồ hôi vã ra như tắm, rút khăn tay trong túi lau mặt khiến những gói mỳ chính (người miền Nam gọi là bột ngọt) nhỏ rơi ra. Bác sĩ Tùng có thói quen cất những gói mì chính nhỏ trong người để mỗi khi ăn phở ông lấy ra một gói cho vào tô. Buổi họp có mặt của Tướng công an Lê Phú Qua, chú ruột tác giả, tướng Qua thấy bác sĩ Tùng run quá, phải cúi xuống nhặt dùm các gói mì chính rồi để lại vào túi bác sĩ Tùng.

Đọc những đoạn Lê Phú Khải phơi bày tâm tình của mình trên giấy khi viết về thân phận trí thức trong chế độ cộng sản, người ta có cảm tưởng tác giả như đang nuốt ngược vào lòng nỗi tủi nhục của phận người bị guồng máy toàn trị dìm xuống tận đất đen. Như một lần ông đến thăm nhà văn 50 tuổi đảng Nguyễn Khải trước khi ông Khải qua đời năm 2008. Nguyễn Khải nắm tay bạn buồn bã nói: “Nhà văn Việt Nam bị ba đứa nó khinh. Thứ nhất là thằng lãnh đạo nó khinh. Thứ hai là độc giả nó khinh. Và thứ ba là đêm nằm vắt tay lên trán mình lại tự khinh mình!”

Do làm báo, Lê Phú Khải có nhiều cơ hội chứng kiến quyền uy của giới lãnh đạo. Ông nói “Lê Duẩn mắng mỏ người khác như mắng gia nhân, đầy tớ.” Và những tay lãnh đạo sau Lê Duẩn thì cũng “cá mè một lứa,” Phan Văn Khải thì bảo Trần Đức Lương nên trả lại những quả đồi mà ông ta đã chiếm để làm villa, biệt thự. Còn Trần Đức Lương thì mắng lại Phan Văn Khải “mày hãy về bảo thằng con mày đừng giết người nữa rồi hãy bảo tao trả lại mấy quả đồi.” Lê Phú Khải nhận xét, họ mắng chửi nhau còn hơn hàng tôm, hàng cá rồi lại khuyên nhau “vì sự ổn định đất nước”, “vì sự nghiệp lớn”, nên gác lại mọi chuyện, rồi lại hỷ hả với nhau, đâu lại vào đó!

Riêng cách của Lê Duẩn đối với Võ Nguyên Giáp thì Lê Phú Khải nói rằng, đó là lối đối xử “vô sản gắn liền với vô học.” Ông kể: “Sau chiến tranh biên giới với Trung Quốc 1979, tên Trọng Hy Đông ở Uỷ ban Kiều vụ, Quốc vụ Viện Trung Quốc, hàm ngang bộ trưởng, sang Việt Nam để giải quyết các vấn đề hậu chiến tranh như tù binh v.v. Khi xe của Đại tướng Võ Nguyên Gíap vừa đến cũng là lúc xe của Lê Duẩn vừa tới, Lê Duẩn chỉ vào mặt tướng Giáp và nói như quát: – Cuộc họp không có anh! Võ Nguyên Gíap nói: – Vậy tôi về. Thế là ông Giáp lủi thủi lên xe ra về.”
Có lần Lê Phú Khải cùng các ký giả khác tham dự cuộc họp báo của Phó thủ tướng Nguyễn Mạnh Cầm tại phòng tiếp khách VIP của phi trường Tân Sơn Nhất, ông thấy tận mắt cảnh Nguyễn Mạnh Cầm vừa trả lời phỏng vấn của Đài Tiếng Nói Việt Nam, vừa nhìn sang phía quầy bán hàng phục vụ khách VIP, “nơi cô Phương Uyên đang nhổm người lên để lộ cả quần xi líp mầu hồng bên trong!” Lúc về cơ quan, Lê Phú Khải bảo với lãnh đạo của ông là ông sẽ viết lại giáo trình bài “phỏng vấn”, rằng “mỗi khi một cơ quan báo chí cử phóng viên đi phỏng vấn các VIP, thì nên cử nữ phóng viên xinh đẹp, mặc váy ngắn, xi líp màu hồng!”

Vì sinh ra trong gia đình cộng sản nòi, chú bác, anh em có người lên tới hàng lãnh đạo trung cao cấp của đảng, Lê Phú Khải được nghe những nhận xét về nhiều nhân vật chóp bu của chế độ, như lời chú ruột của ông là Tướng công an Lê Phú Qua, hoặc qua lời kể của em gái ông, cô Tuyết:
-Thủ tướng bám quyền hơn 30 năm Phạm Văn Đồng: “Chủ quan, bốc đồng, rất vô tích sự và chỉ làm hại đất nước!”

-Bộ trưởng Công an Trần Quốc Hoàn: “Quan liêu nặng, dốt nát nhưng hay khoe mẽ, ích kỷ và dối trá, thích cấp dưới tâng bốc mình, ghét người trung thực, đặc biệt là ghét trí thức. Vợ Hoàn là một người tham lam vô độ, cái gì vơ được là vơ.”

-Riêng với Hồ Chí Minh, cũng giống như một số lớn dân miền Bắc, do bị bưng bít thông tin, không hiểu rõ chân tướng ông Hồ, nên Lê Phú Khải trong cách viết vẫn còn lộ chút tình cảm kính trọng nhân vật này. Dù vậy, qua đoạn thuật lại nhận xét của Giáo sư Tạ Quang Bửu, người đọc cũng có thể thấy được cảm nhận của Lê Phú Khải về ông Hồ: “Thời đó, trong nhiều năm dài, hễ thi văn dù thi tốt nghiệp phổ thông hay thi vào các trường đại học, đề thi quanh đi quẩn lại vẫn là thơ Hồ Chí Minh hoặc thơ Tố Hữu. Có lần, xem đề thi vào đại học, Bộ trưởng Bộ đại học và Trung học Chuyên nghiệp Tạ Quang Bửu phán một câu: “Đây là tà thuyết!”

Lê Phú Khải có cô em tên Tuyết, làm việc cho cơ quan cần vụ chuyên cung cấp thực phẩm cho các ủy viên Bộ Chính trị. Có lần cô Tuyết kể lại, vào thời ông Trần Xuân Bách đưa ra lý thuyết đa nguyên, Bộ Chính trị lúc đó chia rẽ và nghi kỵ nhau lắm, đi họp ai cũng được vợ chuẩn bị một chai nước riêng, để trong túi, khi khát thì lén quay đi, rót uống, vì họ sợ bị đầu độc. Ngay cả nhân vật “hét ra lửa mửa ra khói” là Lê Đức Thọ cũng sợ. Theo lời cô Tuyết, có lần, khi cần vụ của Lê Đức Thọ đem một cái chăn bông đã rách nát đến đổi chăn bông mới, cô nói với chú cần vụ này, “thủ trưởng của cậu tiết kiệm quá, chăn rách lòi cả bông ra thế này mới chịu đem đổi. Cậu ta cười nói, tiết kiệm cái con tiều ! Tối nào trước lúc đi ngủ ông ta cũng nắn bóp cái chăn đến nửa tiếng đồng hồ, chỉ sợ người ta gài mìn thôi nên chăn mới rách bươm ra như thế.”

-Về nhân vật Nguyễn Thị Bình, từng một thời lãnh đạo tổ chức bù nhìn của Hà Nội là “Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam,” Lê Phú Khải kể rằng, một hôm bà Bình “triệu tập’”một nhóm trí thức hơn 10 người lại, đặt câu hỏi, chúng ta sai từ bao giờ? Mọi người đều nói, sai từ năm 1951, khi đại hội lần thứ hai của Đảng lấy chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Mao Trạch Đông làm kim chỉ nam cho mọi đường lối chính sách của mình. Riêng Lê Phú Khải, ông nói: “Sai từ đại hội Tour.” (Vào năm 1920, khi cơ quan tình báo KGB của Liên Xô cho thành lập đảng cộng sản Pháp, tách ra từ Đảng Xã Hội, Hồ Chí Minh được tham gia vào Đảng Xã Hội khi ấy ngả theo Liên Xô để rồi gia nhập phong trào cộng sản Pháp từ lúc đó – chú thích của NXB.) “Bà Bình không đồng ý.” Vậy mà sang ngày hôm sau bà bảo tác giả: “Chị đã suy nghĩ suốt đêm qua, Khải nói đúng đấy!”

Qua những trải nghiệm người thực, việc thực nói trên, Lê Phú Khải chua chát kết luận: “Một đất nước được lãnh đạo bởi những con người hoang tưởng và lố bịch như thế thì đất nước sẽ đi về đâu? Nhân dân sẽ sống thế nào? Còn đám trí thức kia thì chỉ ngậm miệng ăn tiền mà thôi.”

Một lần, Lê Phú Khải đi Mạc Tư Khoa và gặp một trí thức Nga. Ông này ví von, “Liên Xô của chúng tôi là một cái chiến hạm mắc cạn còn Việt Nam là một chiếc thuyền thúng không biết trôi dạt đi đâu!” Ba mươi năm sau kể từ cuộc trò chuyện đó, tác giả cay đắng khi nghe ông Tổng bí thư đương quyền Nguyễn Phú Trọng vẫn kiên quyết bác bỏ “tam quyền phân lập” để bảo vệ chế độ độc đảng! Lê Phú Khải nhận định rằng, như vậy là Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn quyết đội trên đầu mình cái mũ mà cả loài người tiến bộ đã vứt bỏ: Cái mũ độc đảng! Tác giả nhận định, “rõ ràng, cái chiến hạm Liên Xô đã thoát cảnh mắc cạn, nhưng cái chiến hạm ấy do anh chàng KGB Putin cầm lái chưa biết nó sẽ đi về đâu. Còn con thuyền thúng Việt Nam thì đang trôi dạt vào một vùng sóng to gió lớn. Chắc chắn nó sẽ bị lật úp nếu những người trên con thuyền thúng đó không dám can đảm nhảy xuống nước mà bơi vào bờ, cứ khư khư ôm lấy con thuyền đó.”

Sống nhiều, đi nhiều, gặp gỡ nhiều, Lê Phú Khải thu vào ống kính đời mình nhiều góc cạnh, người, vật, sự kiện… Không báng bổ, không lớn tiếng kết án, không ca ngợi, ông từ tốn mô tả con người và đất nước Việt Nam qua cách quan sát tinh tế của mình. Những năm sau này, ông dấn thân vào con đường đấu tranh Tự Do-Dân Chủ, nên thân thiết với một lớp người mới, những người đang tới của Việt Nam.

Nhớ về Kiến Giang, một con người quyết liệt, từ chỗ là một tín đồ ngoan đạo của Chủ nghĩa Mác-Lênin và sùng bái Liên Xô, đến chỗ dứt khoát từ bỏ Chủ nghĩa Cộng sản nên bị tù vì tham gia nhóm “Xét Lại Chống Đảng,” Lê Phú Khải thuật lời Kiến Giang kể: “Lần cuối cùng Lê Đức Thọ vào thăm tôi, ông ta nói, các cậu hay đề cao trí thức, phó tiến sỹ đi học nước ngoài học về thì tớ cho thêm 5 đồng vào lương, thế thôi! Tôi nhìn thẳng Thọ nói, xưa Đảng vô học vì phải đi đánh giặc, nay Đảng có chính quyền mà Đảng lại sùng bái sự vô học thì không được! Lê Đức Thọ đứng lên ra về. Ít phút sau tay giám thị trại giam vào hoảng hốt nói, kỳ này thủ trưởng vào là để cho ông về, vậy là chết rồi! Ông làm thủ trưởng phật lòng, vậy là tiếp tục tù dài!”

Và Kiến Giang kết luận: “Chúng ta không sợ lạc hậu, mà chỉ sợ nhất là lạc lõng giữa loài người.”

Với Hà Sĩ Phu, nổi tiếng qua bài viết “Nắm Tay Nhau Đi Dưới Tấm Biển Chỉ Đường Của Trí Tuệ,” Lê Phú Khải nhớ có lần Hà Sĩ Phu nhận định rằng, khi chưa có chính quyền, người cộng sản rước chủ nghĩa Mác vào cửa sau, nay có chính quyền rồi lại treo Mác trước cửa nhà để treo đầu dê bán thịt chó, thì đó là thái độ lấy oán báo ân! Rõ ràng, “chế độ độc đảng như con vật đơn bào, nó có thể tồn tại từ thời hồng hoang của lịch sử đến ngày nay, nhưng chỉ tồn tại trong cống rãnh mà thôi. Muốn nên người, nó phải là con vật đa bào.”

Lê Phú Khải còn nhắc lại những lần trò chuyện với Dương Thu Hương, nhà văn nữ đã một mình khai chiến với chế độ cộng sản và được báo chí Pháp ca ngợi là “Con Sói Đơn Độc.” Ngay tại căn nhà của Dương Thu Hương ở Hà Nội, bà nói với tác giả: “Cần có cách mạng để quét đi những rác rưởi, và cần có tự do để quét đi những rác rưởi mà một cuộc cách mạng đã sinh ra! Chỉ tiếc là, rác rưởi mà một cuộc cách mạng vô sản đã sinh ra lại nhiều hơn cả rác rưởi mà nó định quét đi!”

Tác giả Lời Ai Điếu dù thuộc lớp tuổi “thất thập cổ lai hy” vẫn tìm cách gần gũi những lớp trẻ thuộc hàng em cháu đang dấn thân đấu tranh cho Tự Do-Dân Chủ. Qua những lần gặp gỡ, trò chuyện, ông nhận ra đặc trưng của lớp người trẻ này như Lê Thị Công Nhân, Phạm Hồng Sơn, Huỳnh Thục Vy . . . là họ quyết liệt không chấp nhận cộng sản, họ coi cộng sản đồng nghĩa với tối tăm, sai trái, lừa dối, tàn bạo, phản cuộc sống, phản con người. Thế hệ của họ đã “chỉ thẳng mặt Đảng Cộng sản là quân bán nước.”

Đoạn cuối tác phẩm này, Lê Phú Khải tâm sự, ông năm nay đã 72 tuổi, tức là đã sống cả đời trong chế độ Đảng trị. Ông không vào Đảng trong một chế độ Đảng trị thì đương nhiên con đường “tiến thân” là “u ám” rồi! Ông nói: “Tôi ý thức rất rõ điều này và hoàn toàn bằng lòng, vui vẻ với con đường mình đã chọn, làm một người tự do ngoài Đảng.”

Và những dòng cuối của cuốn sách, Lê Phú Khải viết: “Sáng sớm ngày 14/09/1985 tôi đang ở bến đò Cà Mau chờ đi Năm Căn thì nghe tin đổi tiền. Mới tối hôm trước Đài Tiếng nói Việt Nam (cơ quan tôi làm việc) còn nói ‘Không có chuyện đổi tiền, đồng bào đừng nghe kẻ xấu tung tin đổi tiền’, vậy mà sáng hôm sau 14/09/1985 chính cái đài ấy lại hô hào nhân dân đến các trạm đổi tiền để đổi tiền. Một bà già lớn tuổi ngồi cùng ghe đã chỉ tay lên cái loa đang loan tin đổi tiền ở trên bờ chửi, cái đài này nó nói dóc còn hơn con điếm.”

Lê Phú Khải chấm dứt cuốn sách bằng câu:
“Tôi đã phải sống với ‘con điếm’ ấy cả đời người!”

Rõ ràng, dòng cuối cùng của Lê Phú Khải là LỜI AI ĐIẾU dành cho chế độ toàn trị đang cố bám quyền trên đất nước Việt Nam chúng ta.

Tháng Tư, 2016
Nhà xuất bản Người Việt
Đinh Quang Anh Thái

Posted in Sách- Báo- Hồi Ký | Leave a Comment »

►Khẩn cấp gởi Võ Văn Thưởng, tân trưởng ban Tuyên Giáo: Nhà xuất bản tái bản sách ca ngợi kẻ thù…”Đặng Tiểu Bình, Một Trí Tuệ Siêu Việt”

Posted by hoangtran204 trên 23/02/2016

Nhà xuất bản của đảng CSVN lại tái bản sách ca ngợi kẻ thù…”Đặng Tiểu Bình, Một Trí Tuệ Siêu Việt”, tái bản 2016
Theo một bạn đọc cho biết, cuốn sách này đã từng được xuất bản năm 2003, dày 600 trang. Nay được tái bản 2016, dày 800 trang, giá 100.000 đồng. Được tái bản ngay sau khi Đại hội đảng CSVN lần thứ XII, họp từ ngày 20 đến 28/ 1/2016

KHẨN CẤP GỬI ÔNG VÕ VĂN THƯỞNG, TÂN TRƯỞNG BAN TUYÊN GIÁO

22-2-2016

 

Văn Giá Ngô
(PGS.TS Nhà văn Ngô Văn Giá) 
22-2-2016

ĐỒNG BÀO CHÚ Ý!!!

Tôi xin đăng lại thông tin trên trang FB của một facebooker mà vì lý do nào đó chỉ ít phút sau, facebooker này lại xóa đi.
Ý kiến của tôi: Phản đối kịch liệt lối xuất bản nhắm mắt làm liều (hoặc chạy theo đồng tiền bằng mọi giá, hoặc một chiêu PR muốn được ném đá để nổi tiếng…) này, bất chấp lòng tự trọng (quốc sỉ) dân tộc. 
Phản đối! Phản đối! Phản đối! (VG)
                    ***********

ĐẶNG TIỂU BÌNH LÀ KẺ CÓ NỢ MÁU VỚI VIỆT NAM. QUYẾT ĐỊNH ĐÁNH VIỆT NAM, GIẾT HẠI HÀNG CHỤC NGHÌN NGƯỜI, BÊNH VỰC CHẾ ĐỘ ĐỒ TỂ POL POT PHẢI CHĂNG LÀ “TRÍ TUỆ SIÊU VIỆT”?

SỬNG SỐT VÀ BUỒN NÔN KHI THẤY CUỐN SÁCH NÀY

Thời công nghệ thông tin, dễ dàng tìm thấy trên mạng đầy ắp thông tin, tư liệu, tác phẩm văn học, tác phẩm nghiên cứu… Vậy mà đến bây giờ tôi vẫn còn giữ thói quen hàng tháng dành một buổi cuối tuần ghé vào nhà sách chọn mua vài cuốn để làm bộ sưu tập cho tủ sách của mình. Lần này, vào nhà sách, tôi đã phải sửng sốt không tin ở mắt mình khi thấy một cuốn sách dày gần 800 trang, như cuốn tự điển, với tựa “Đặng Tiểu Bình – Một trí tuệ siêu việt”, trên bìa in trang trọng ảnh chân dung Đặng Tiểu Bình.
Không sửng sốt sao được, vì người được suy tôn có trí tuệ siêu việt và được Nhà xuất bản Lao động trân trọng in sách phát hành rộng rãi cho độc giả Việt Nam ngưỡng mộ, tôn sùng đó chính là một lãnh tụ của Trung Quốc trực tiếp có nợ máu với đất nước và nhân dân Việt Nam. Nhà xuất bản Lao động và người duyệt cho lưu hành cuốn sách này chắc đã quên lời phát biểu ngông cuồng của kẻ có “trí tuệ siêu việt” này hồi tháng 12-1978 trong chuyến thăm các nước Đông Nam Á, chửi bới, đe dọa, xúc phạm nặng nề đất nước và con người Việt Nam, được Trung Quốc truyền hình trực tiếp cho cả thế giới: “Việt Nam là côn đồ, phải dạy cho Việt Nam bài học!”.
Và rồi chỉ 2 tháng sau đó, ngày 17-2-1979, chính kẻ này đã ra lệnh xua hơn 600.000 quân Trung Quốc mở cuộc tấn công xâm lược toàn tuyến biên giới phía Bắc Việt Nam, thực hiện kế hoạch chiếm 5 tỉnh – thành lớn của Việt Nam sau một tuần. Để rồi quân xâm lược Trung Quốc buộc phải rút lui một cách thảm hại. Thay vì dạy cho Việt Nam một bài học, thì Đặng Tiểu Bình đã nhận được bài học đắt giá cho chính mình, hơn 62.000 quân xâm lược Trung Quốc bỏ mạng sau 3 tuần động binh.
Chẳng làm sao kể xiết mưu đồ và tội ác của Đặng Tiểu Bình đối với nước ta, vậy mà trong cuốn sách này, Đặng Tiểu Bình được tán dương bằng những ngôn từ có cánh: “nhãn quan thế giới”, “người mác xít chân chính”, “thống soái đại quân”, “nhà chiến lược lớn”, “cầm cương chỉnh đốn bằng bàn tay sắt”, “bậc thầy lớn trong nghệ thuật lãnh đạo”…
Cũng không lạ, bởi đây là sách dịch của Trung Quốc. Nhưng vấn đề là trong bối cảnh nhà cầm quyền Trung Quốc ngày càng lộ rõ bộ mặt trâng tráo, lòng dạ hung ác, hành động ngang ngược với Việt Nam, có cần và có nên dịch, phát hành rộng rãi cuốn sách này cho người Việt Nam hay không?
Việc dịch, phát hành rộng rãi cuốn sách này ở Việt Nam nhằm mục đích gì và để cho ai?
Biết là sách dịch, nhưng việc trong sách liên tục dùng các cụm từ “Đảng ta”, “quân đội ta” để nói về đảng và quân đội của Trung Quốc, làm độc giả Việt Nam phải buồn nôn, vì tưởng như đất nước Việt Nam đã về tay Trung Quốc.
Sách ghi tên Nhà xuất bản Lao động, nhưng lại kèm theo tên Công ty Sách Panda, và bìa trong có ghi rõ “Bản quyền tiếng Việt thuộc Công ty TNHH Sách Panda”.
Cuốn sách gần 800 trang, giá chỉ 100.000 đồng, thật đáng ngờ. Có “nhà tài trợ lạ” nào không cho việc dịch và xuất bản, tái bản cuốn sách này?
(Facebooker)
*  Ý kiến bạn đọc: 

Tôi cũng có một cuốn, dùng làm tư liệu về TQ “Đặng Tiểu Bình một trí tuệ siêu việt”, nhà xuất bản Văn hoá-Thông tin, Hà Nội, 2003, khổ 14,5×20,5cm, dày ngót 600 trang, của tác giả Lưu Cường Luân và Uông Đại Lý, dịch giả Tạ Ngọc Ái và Nguyễn Viết Chi. Bìa 4 có viết: “… Trí tuệ siêu việt của Đặng Tuểu Bình là một khoa học rất sâu sắc, là một nghệ thuật rất phức tạp, chúng ta phải đào sâu nghiền ngẫm mới lĩnh hội được phần nào và vận dụng nó vào công tác thực tế của mình, bất cứ ai cũng có thể thu được lợi ích không nhỏ”.

Posted in Biên Giới, Chien Tranh Bien Gioi Viet Trung 1979, Chinh Tri Xa Hoi, Sách- Báo- Hồi Ký | Leave a Comment »

►Báo Thanh Niên luôn đúng, tôi luôn sai!

Posted by hoangtran204 trên 23/10/2015

FB Nguyễn Hoài Nam

21-10-2015

 Tối qua, TNO phản hồi thông tin bài chia sẻ của tôi trên trang cá nhân của chính tôi. TNO cho rằng tôi bôi nhọ uy tín báo Thanh Niên. Thực lòng tôi vẫn yêu tờ Thanh Niên lắm, tôi k bao giờ bôi nhọ báo Thanh Niên đâu, vì chính tờ Thanh Niên đã làm lên tên tuổi của tôi. Và thương hiệu Hoài Nam luôn gắn liền với tờ Thanh Niên. Và giờ đây trong làng báo ai cũng biết nhắc và nói đến Hoài Nam là sẽ nghĩ ngay đến Thanh Niên. Từ một anh Khế lẫy lừng với 23 năm làm Tổng Biên tập. Và bây giờ là anh Quang Thông, một Tổng Biên tập luôn mẫu mực. Vậy vì sao tôi phải đấu tranh, đánh đuổi cái xấu? Nếu như Thanh Niên không phản hồi thì tôi không nói ra đây, vì nói sẽ làm bạn đọc quay lưng. Nhưng tôi không nói thì mọi người không thể hiểu. Tôi xin phép nói ra một nửa sự thật thôi nhé.

Trước khi trở thành PV điều tra của Báo Thanh Niên, tôi là lính tham mưu tác chiến. Về công tác tại báo Thanh Niên, báo Thanh Niên không có quy chế bảo vệ PV, cũng như hướng cho PV được tác nghiệp tới đâu là dừng. Chính vì vậy các PV của báo nếu dấn thân viết phóng sự đều tự bơi để bảo vệ mình.

Mảng điều tra tôi đeo bám cực kỳ nguy hiểm,vì vậy từ ngày chập chững bước vào Ban Chính trị xã hội làm CTV tôi nhập vai viết phóng sự điều tra, phóng sự xã hội để rút ra những kinh nghiệm cho mình. Và các loạt bài mang uy tín cho báo như “Thâm nhập đường dây hàng lậu Móng Cái; Người ghi hình lâm tặc phá rừng; Giấy kiểm dịch bán như rau; Kinh hoàng heo siêu nạc; Tinh luyện dầu ăn bằng chất tẩy rửa; Nông dân vượt biên đánh bạc; Bí mật hành phi; Hãi hùng công nghệ trồng rau muống; Cảnh sát trật tự cơ động làm luật…”

Gần 10 năm làm việc ở Báo Thanh Niên, tôi hiểu từng con người của báo. Ai có hoa hồng quảng cáo cao nhất, và ai không lấy hoa hồng…Cho đến năm 2013 tôi bắt đầu chuyển sang viết điều tra tham nhũng ở lĩnh vực hàng hải. Sau khi đăng loạt bài 3 kỳ “Nạo vét sông Thị Vải – Sự mờ ám kinh tởm” đăng xong thì giám đốc Cảng vụ Hàng hải Vũng tàu lên gặp Ban Biên tập Báo Thanh Niên. Và sau đó bài cuối cùng của tôi bị cắt 900 chữ. Tôi hiểu doanh nghiệp đã chạy (như băng ghi âm tôi đã công khai).

Cuối năm 2013 tôi tiếp tục lên kế hoạch điều tra 4 công trình nạo vét ở Vũng Tàu, TPHCM và Quảng Ninh, kinh phí của nhà nước hơn 200 tỉ đồng. Để đảm báo bí mật cũng như giữ mối quan hệ với cấp trên, tôi đột phá không báo cáo đề tài theo quy định (từ Ban CT – XH đến Ban Thư ký và phó Tổng Biên tập phụ trách báo in) vì tôi không muốn mất lòng Phó Tổng Biên tập Đặng Việt Hoa. Tôi viết báo cáo rõ và đến tận nhà anh Nguyễn Quang Thông báo cáo. Nghe tôi trình bày anh Thông duyệt ngay và tôi về báo cáo lãnh đạo Ban tôi đi điều tra theo chỉ đạo của Tổng Biên tập. Được Tổng Biên tập duyệt tôi làm công lệnh đi công tác Vũng Tàu và Quảng Ninh.

Hơn nửa tháng trong vai ngư dân bắt đầu tư 19 giờ đến 5 giờ sáng hôm sau tôi tác nghiệp giữa sông Thị Vải và Soài Rạp – Hiệp Phước để thu thập chứng cứ. Có chứng cứ rõ, về cơ quan lúc này tôi mới báo cáo đúng quy định và báo cáo rõ đi gặp doanh nghiệp để lật bài ngửa nhằm củng cố chứng cứ chắc cho loạt bài điều tra.

Tuy nhiên, khi tôi gặp đại diện chủ đầu tư là ông Phạm Đình Vận và nhà thầu chính là ông Nguyễn Minh Tùng. Ông Vận hối lộ tôi một phong vì cả ngàn USD, còn ông Tùng hối lộ tôi một phòng bỉ khủng, tôi cương quyết không nhận. Lập tức ông Tùng chạy và tôi bị chỉ đạo ngưng điều tra (như băng ghi âm tôi đã công khai). Sau đó tôi làm báo cáo xin đi Quảng Ninh thì bị chỉ đạo ngưng, bút phê do chính Tổng Biên tập viết, mặc dù trước đó cũng chính tay Tổng Biên tập duyệt cho tôi đi Quảng Ninh, tôi làm công lệnh nay vẫn giữ.

Bị chỉ đạo ngưng tôi không chịu khuất phục vì nếu tôi chịu sống chung, tiền của nhà nước tiếp tục chảy vào túi quan tham trên công trình nạo vét ở Quảng Ninh, vì chỉ còn 1 tháng nữa là công trình hoàn thành. Để tiếp tục đấu tranh chống thất thoát ngân sách cho nhà nước, tôi xin phỉ phép năm 2013 ra Quảng Ninh điều tra thu thập chứng cứ. Sau đó phối hợp với Ban Nội chính “bẻ khóa” bắt giam 4, trong đó có hai lãnh đạo phòng thuộc Tổng Công ty xây dựng dường thủy, Bộ GTVT (hai bị can này nhận hối lộ của doanh nghiệp nạo vét 1,2 tỉ đồng). Mở rộng điều tra, giữa năm 2015, 4 bị can tiếp theo bị khởi tố. Nay cơ quan điều tra đã kết thúc điều tra, chuyển hồ sơ sang Viện KSND TC đề nghị truy tố 8 bị can.

Kỳ nghỉ phép đi đánh án tham nhũng đã hết, tôi vào cơ quan viết 5 kỳ điều tra đặt tên “Bí mật tảng băng chìm nạo vét”, ngày 12.1.2014 gửi mail cho Tổng Biên tập. Sau đó tôi được thông báo Báo Thanh Niên không dùng loạt bài này, nên tôi đã xin phép Tổng Biên tập được gửi loạt bài “Bí mật tảng băng chìm nạo vét” sang báo khác.

Chờ một tuần không thấy Tổng Biên tập trả lời, tôi tung tin gửi bài sang báo Tuổi trẻ, lập tức lúc 14 giờ 58 ngày 20.1.2014, Phó Tổng Biên tập Đặng Việt Hoa điện thoại cho tôi gằn giọng hỏi: ông viết bài nạo vét cho báo tuổi Trẻ hả. Tôi trả lời đã hỏi anh Thông, ông Hoa nói lớn “Ông lúc nào cũng ông Thông chỉ đạo, ông cứ nói ông Thông miết, ông Thông đuổi việc ông đó nghe…”. Vì vậy từ đầu năm 2014 tôi đã bị dọa đuổi việc rồi, và bậy giờ họ mới có cơ hội.

Ngày hôm sau (22.1.2014) lúc tôi đang làm việc với thứ trưởng Bộ GTVT Nguyễn Văn Công thì ông Hoa điện thoại giọng nhỏ nhẹ hơn (có lẽ biết tôi chuyển vụ việc đến anh Nguyễn Bá Thanh) mời tôi về nói chuyện nhưng tôi nói đang ở xa không về ngay được, ông Hoa có nói và hù dọa tôi “mảng của ông hết sức nguy hiểm, ông thấy đúng thì cứ làm, nay mai ông gặp khó anh em khó chia sẻ”… (nghe băng nghi âm).

Bắt đầu từ đó tôi bị cô lập và các bài tôi viết đều không được đăng. Loạt bài “Rau ruộng trộn VietGAP” của tôi được đăng đầu tháng 12/2014 là do thời gian đó ông Hoa đi công tác nước ngoài.

Đặc biệt, trong thời gian công tác tại Báo Thanh Niên tôi phát hiện có một số doanh nghiệp xuống làm từ thiện bất thường ở ấp Thạnh An xã Trung An, huyện Củ Chi TP.HCM. Đáng chú ý, tiền của bạn đọc ủng hộ những hoàn cảnh cần hỗ trợ cũng được chuyển về đây sửa chữa văn phòng ấp, làm bia liệt sĩ và mẹ VNAH.

Tôi xuống điều tra xem ở ấp Thạnh An có cái gì, thì được ông Võ Văn Hai (Trưởng ấp) khai, ông là người dẫn ông Đặng Việt Hoa mua gần 5 ngàn m2 đất ở tổ 9, năm 2014 làm xong nhà vườn, chia ra làm 3 cho 3 anh em ông Hoa. Ông Hai cho biết thêm, bia tưởng niệm liệt sĩ và Văn phòng ấp có từ năm 2003 và thuộc xã quản lý. Việc sửa chữa nhà mẫu giáo và bia tưởng niệm kinh phí đều do nhân dân trong ấp đóng góp. Thế nhưng, đơn ông Hai gửi báo Thanh Niên xin hai lần 50 triệu đồng để sửa chữa Van phòng ấp và làm bia tưởng niệm các anh hùng liệt sĩ, trong đó có 8 mẹ VNAH nhưng lúc đó chỉ còn một mẹ VNAH còn sống…

Không những thế, ngày 13.11.2013 PV Thanh Tùng viết loạt bài điều tra “Kiểu bán hàng kỳ lạ của Unicity”, thì ngay sau đó doanh nghiệp này về ấp Thạnh An làm từ thiện, tài trợ làm đường ở tổ 9 40 triệu đồng.

Sâu chuỗi lại hai sự việc trên, đặc biệt là dùng tiền của bạn đọc hỗ trợ hoàn cảnh khó khăn của báo, nhưng số tiền này được đem về ấp Thạnh An nơi có nhà vườn của ông Hoa sửa chữa Văn phòng ấp. Nếu không ngăn chặn ngay thì sau này Báo Thanh Niên sẽ đi về đâu, xấu hơn là bị khởi tố vì sai phạm liên quan đến tiền của bạn đọc.

Vì vậy, đầu năm 2015 đại hội CNV Báo Thanh Niên tôi mạnh dạn nói thẳng ở hội trường, vì muốn tờ báo Thanh Niên phát triển và không bị xuống bùn đen, tôi đề nghị Ban Biên tập chuyển ông Hoa sang phụ trách mảng khác. Sau đó Tổng Biên tập giao cho Ban Thanh tra nhân dân xác minh. Cuối cùng Ban Thanh tra kết luận việc ông Hoa chỉ đạo ngưng vụ nạo vét là có chỉ đạo từ Ban Tuyên giáo Trung ương và Bộ TTTT, việc ngưng là đúng quy trình… Còn việc ký duyệt tiền tài trợ của bạn đọc mang xuống sửa chữa ấp Thạnh An là đúng thẩm quyền, đã được Tổng Biên tập ủy quyền…

Sau khi ông Nguyễn Văn Thắng đọc kết luận trước các trưởng phó Ban của báo, tôi tuyên bố thẳng sẽ làm tới cùng vụ này.

Có lẽ thấy tôi cương quyết, nên nhiều ngày sau tôi được ông Nguyễn Văn Thắng (Trưởng Ban Thanh tra) mời uống cà phê nhiều lần nói được ủy quyền của Tổng Biên tập gặp tôi tâm sự nếu tôi rút đơn kiến nghị ông Hoa thì Ban Biên tập sẽ cho tôi làm phó trưởng Văn phòng đại diện Đông Bắc Bộ, tôi không đồng ý vì tôi không thích làm sếp. Tiếp đến ông Thắng nói có nguyện vọng gì thì làm đơn nhưng phải kèm theo đơn xin rút đơn tố cáo ông Hoa. Nghe vậy tôi làm đơn xin xem xét nguyện vọng cho tôi về làm biên tập để triển khai 3 đề tài lớn ảnh hưởng tới tình hình ANKT của đất nước (3 đề tài đó mỗi đề tài sai phạm hàng chục tỉ đồng), nhưng tôi không chịu rút đơn tố cáo. Một tuần sau, ông Thắng gọi điện thông báo cho tôi anh Thông đang ở nước ngoài có gọi điện thoại về nói tôi phải làm đơn xin rút đơn tố cáo ông Hoa thì Tổng Biên tập mới xem xét.

Không những thế, một cán bộ A87 (phía Nam) cũng mời tôi đi uống cà phê đề nghị tôi xin lỗi ông Hoa thì ông Hoa sẽ chỉ đạo Ban giao việc cho tôi để tôi có bài viết và nếu đã có bài viết thì chỉ tiêu chỉ là nhỏ, tôi quyết không đồng ý.

Tháng 6.2015 tôi làm đơn tố cáo ông Hoa gửi tới Ban Tuyên giáo Trung ương, Bộ Thông Tin Truyền Thông, Thủ Tướng và Trung ương đoàn với 4 nội dung: Làm việc có động cơ cá nhân; Bảo kê doanh nghiệp; Mượn danh Ban Tuyên giáo Trung ương bảo kê doanh nghiệp và Trù dập cá nhân.

Riêng về đơn gửi cho Trung ương đoàn tôi kiến nghị cải tổ Báo Thanh Niên một số quy chế vì đối xử phân biệt như:

1: Cắt ngay hoa hồng quảng cáo vì có hoa hồng quảng cáo sẽ làm bớt lửa cho bài viết (mỗi năm có nhiều tỉ đồng hoa hồng quảng cáo được chi cho người lấy quảng cáo về cho báo).

2: Thỏa ước lao động tập thể phân biệt đối xử với PV. Cụ thể, Báo Thanh Niên có khoảng 500 người, nhưng thỏa ước lao động tập thể năm 2015 chỉ áp dụng chỉ tiêu với khoảng 120 PV “Nếu thiếu chỉ tiêu nhuận bút trong hai quý thì sẽ xem xét chấm dứt Hợp đồng lao động”, còn các bộ phận khác (trừ Ban Biên tập do Trung ương Đoàn quản lý) như Ban Thư Ký, Các Trưởng, Phó Ban, Phòng Tổ chức…không quy định thế nào là hoàn thành nhiệm vụ và thế nào là xem xét chấm dứt hợp đồng lao động; 3: Cần dân chủ khi duyệt bài của PV.

Ngày 16.7.2015 Ban Chấp hành Trung ương Đoàn quyết định thành lập tổ công tác xác minh do ông Phạm Xuân Đảng Phó chủ nhiệm Ủy Ban Kiểm tra Trung ương Đoàn làm tổ trưởng vào làm việc với tôi. Tôi cung cấp toàn bộ chứng cứ liên quan đến 4 nội dung tố cáo bằng dẫn chứng cụ thể từng phần trên 6 trang giấy A4.

Ngày 7.9.2015 Trung ương Đoàn kết luận không theo chứng cứ mà theo giải trình của người bị tố cáo. Đặc biệt, đóng dấu mật vào văn bản kết luận nên tôi không tiện đưa lên đây để bạn đọc tham khảo. Kết luận của Trung ương Đoàn có yêu cầu: Đề nghị đồng chí Đặng Ngọc Hoa (tức Đặng Việt Hoa), phó Tổng Biên tập báo Thanh Niên rút kinh nghiệm về phương pháp công tác; hạn chế nóng nảy trong trao đổi công việc, từ đó dễ tạo áp lực và tâm lý đối với cán bộ cấp dưới. Đề nghị ban Biên tập Báo Thanh Niên cân nhắc trong phân bổ nguồn lực làm từ thiện, an sinh xã hội để tránh hiểu lầm, gây dư luận không tốt, ảnh hưởng đến uy tín của Báo Thanh Niên.

Tôi không nói tôi đúng hay báo Thanh Niên đúng, vài tiếng nữa tôi sẽ đưa lên đây hai văn bản:

1: Biên bản làm việc với Tổ công tác, tôi kiến nghị Trung ương Đoàn xem xét tư cách đảng viên của ông Hoa về công tác phòng chống tham nhũng và đề nghị chuyển ông Hoa sang phụ trách mảng khác, nhằm đảm bảo dân chủ cho tờ báo.

2: Biên bản bàn giao chứng cứ 4 nội dung tố cáo để tất cả mọi người tham khảo, chắc chắn mỗi người một cách nghĩ riêng.

Trong phản hồi của TNO có nói đến đoạn tôi bị phê bình nghiêm khắc vì tôi sơ hở và vượt quá quyền cho phép của PV, tại sao tôi không sai trong tác nghiệp trong loạt bài “Cảnh sát trật tự cơ động làm luật” mà phê bình tôi, Báo Thanh Niên không hề có quy chế bảo vệ PV cũng như hướng dẫn cho PV được tác nghiệp tới đâu nên tôi phải tự bơi để bảo vệ bản thân an toàn và tôi là PV đầu tiên không bị khởi tố vì sau loạt bài có đến 7 công an bị tước quân tịch, khai trừ đảng. Công an TP.HCM vào cuộc nhưng cuối cùng chỉ kết luận “tạo tình huống cài bẫy cảnh sát” là vi phạm pháp luật, một điều luật không có trong tất cả các bộ luật Việt Nam.

Đáng lẽ mô hình tác nghiệp của tôi cần được nhân rộng để các PV khác học hỏi mới đúng. Nếu tôi có dấu hiệu sai phạm trong loạt bài tiêu cực đó, và nếu tôi sơ hở thì công an TP.HCM khởi tố tôi từ lâu rồi, Thanh Niên đưa lên phản hồi “có dấu hiệu tiêu cực trước đó nhằm mục đích gì?” tự để mọi người bình luận.

Đáng nói, trong năm 2012 tôi thực hiện thành công hai loạt bài điều tra chấn động xã hội, đó là loạt bài “Kinh hoàng heo siêu nạc” và “Cảnh sát trật tự cơ động làm luật” qua đó Báo Thanh Niên tăng uy tín lên nhiều. Cuối năm 2012 tôi được Trung ương Đoàn tặng danh hiệu chiến sĩ thi đua trung ương đoàn năm 2012. “Đúng là được tiếng thì tung hô, khi gặp nạn thì thí tốt”.

Tôi có hoàn thành nhiệm vụ, có xứng tầm một nhà báo không thì cả xã hội đều biết. Điều tôi muốn nói Báo Thanh Niên không có quy chuẩn cho một bài viết thế nào là đạt thế nào là không đạt. Bài được đăng phụ thuộc vào Ban Biên tập và quy chế cũng chính Ban Biên tập đẻ ra. Có những loạt bài của tôi về an sinh xã hội đúng mảng được phân công, nhưng không được đăng, khi tôi gửi báo khác thì lại đăng trang nhất. Có bài về lừa đảo xin việc vào sân bay giá 150 triệu đồng, viết và nộp xong đều không được đăng. Bài “Sập bẫy lương khủng”, bài “Thần dược lừa nông dân”, “Nghi án phi tang 1.300 tấn chất thải rắn” hoàn toàn đúng với mảng an sinh xã hội… viết xong không được đăng. giữa năm 2015 tôi báo cáo đề tài 3 kỳ: “Casino và lâm tặc giữa đại ngàn” nhưng không được duyệt. Vậy tôi xin hỏi mọi người tôi có hoàn thành nhiệm vụ không để đến nỗi bị phạt 64 triệu đồng/3 quý?

 

Chú ý hơn, ngày 21.6 vừa rồi, một PV của VTV có ý định làm chân dung tôi cho ngày 21.6, khi điện thoại cho Tổng Biên tập thì được trả lời “…chúng tôi có hướng đào tạo anh lên làm lãnh đạo, nhưng anh tự mãn…”. Ô hay, tôi không thích đánh đổi sự im lặng để tiến thân sao lại gọi là tự mãn?. Anh bạn PV buồn buồn nói trong điện thoại “tôi không hiểu vì sao Thanh Niên lại không muốn đưa anh lên, một tờ báo có PV lên chân dung ngày 21.6 thì vinh dự lắm chứ, Tổng Biên tập nói thế là tôi hiểu rồi, tôi chọn nhân vật Hữu Ước vậy”…

Nguyễn Hoài Nam

anhbasam

Posted in Sách- Báo- Hồi Ký, Tham Nhung-Hoang Phí- Ăn Cắp | Leave a Comment »

►Lời mở đầu cho sách Nhận Định, Tự Do và nhân Quyền – Huỳnh Thục Vy

Posted by hoangtran204 trên 27/01/2015

Lời mở đầu cho sách Nhận Định, Tự Do và nhân Quyền

T

25-1-2015

Nhan Dinh HTV

Tôi không được dạy để trở thành một người viết chuyên nghiệp. Ngay từ những ngày đầu cầm bút, tôi chỉ tâm niệm một điều: viết xuống những điều mình thực sự suy nghĩ, để chia sẻ quan điểm đối lập với nhà cầm quyền độc tài của một người trẻ trong bối cảnh hoàn toàn không có tự do ngôn luận ở Việt Nam. Từ những ngày đó, tôi đã luôn chuẩn bị tinh thần và mang tâm thế sẵn sàng để đối mặt với tình huống xấu nhất có thể xảy ra cho mình. Vậy nên, dù bản thân và gia đình bị trù dập nhiều lần, tôi không thấy đó là những chướng ngại trong việc tiếp tục bày tỏ quan điểm khác biệt của mình.

Tôi không xem việc viết lách như là một nghề nghiệp. Một cách chính xác, viết lách đối với tôi chưa bao giờ là một nghề nghiệp. Vì nghề nghiệp là thứ qua đó chúng ta có thể nuôi sống bản thân và chu cấp cho gia đình. Hoàn toàn ngược lại, việc bày tỏ quan điểm qua các bài viết đã lấy đi của tôi khá nhiều thứ. Viết là một đam mê của tôi, một thứ gì đó không phải là phương tiện để nuôi sống thân xác này, mà là nguồn thức ăn vô hình nuôi dưỡng tâm hồn tôi và nâng đỡ tôi mỗi khi tôi yếu lòng, giữ cho tôi thấy mình hữu ích và cho tôi cơ hội nhận thấy đầy đủ phẩm giá của mình như một người tự do. Phẩm giá, điều mà người ta vừa chào đời đã có, nhưng hằng ngày hàng giờ trong từng góc xa xôi của thế giới, nó bị chà đạp một cách đáng xấu hổ.

Tôi được gọi là blogger bất đồng chính kiến, nhưng tôi tự nghĩ rằng mình không blogging. Tôi không thể viết nhiều và thường xuyên. Tôi cũng không có thời gian để chăm sóc blog của mình như cách như blogger khác thường làm. Nhưng tôi thực sự thấy mình may mắn, vì tôi biết rằng qua việc viết lách này, tôi đã có được những bằng hữu thật đặc biệt và đáng kính. Họ vừa là bạn, vừa là thầy. Vậy nên tôi vui vẻ nhận lấy bất cứ cách gọi nào người ta đặt cho tôi, ngoại trừ những lời bôi nhọ của đội quân tuyên truyền nhà nước cộng sản.

Tôi từng chia sẻ với chồng tôi: Không hiểu sao, em có thể làm nhiều thứ khác ngoài chuyện viết lách; nhưng dù có làm việc bận rộn quanh năm suốt tháng, em cũng cảm thấy vô vị và như là mình không làm được gì cả, cho đến khi em mở máy tính ra và gõ từng con chữ xuống. Và sự thật rằng, tôi không thể đưa tâm trí mình tập trung hoàn hoàn để suy nghĩ nghiêm túc về bất cứ vấn đề gì, nếu tôi không ngồi xuống và gõ. Trong lúc gõ từng con chữ trên bàn phím, tôi có thể chạm tới những góc thầm kín và đầy ưu tư của mình; và cũng chính lúc đó những suy luận thấu đáo nhất mới được chạm tới.

Trong cuộc đời này, chưa ở đâu tôi có thể nhận thấy phẩm giá của mình được tôn trọng như khi tôi viết. Bởi lúc đó, tôi có được cái tự do quý giá mà nhiều người khác trên xứ sở độc tài này không thể có hoặc không dám có: Tự do. Dù tự do đó phải đánh đổi bằng bình an thường nhật của tôi và gia đình; nhưng tự do quý giá đến độ chúng ta không thể có được nó mà không phải chiến đấu và khi đã một lần đạt được nó (dù chỉ một phần),chúng ta không thể từ bỏ, chúng ta không thể lùi bước. Không có gì trong cuộc sống này cao quý hơn tự do. Có an toàn, chúng ta có điều kiện để có được những thứ khác như của cải, chức tước…nhưng nếu có được tự do, chúng ta sẽ có mọi thứ một cách xứng đáng nhất. Nhân quyền và Nhân phẩm chỉ có được khi tự do tồn tại. Chỉ với Nhân quyền và Nhân phẩm, con người tự do mới được xác định là Người.

Quả thật, tôi may mắn vì là người viết. Càng có kinh nghiệm trong việc viết lách tôi càng thận trọng hơn với những gì mình viết ra. Những điều tôi viết có thật sự hữu ích, đúng đắn và tử tế? Những gì tôi viết có phải là phương cách để tôi thuyết phục người khác, cố gắng để người khác tin điều mình nói là đúng và ủng hộ mình? Không, những điều tôi viết thực sự là điều tôi tin và tôi phải thuyết phục chính mình trước khi định thuyết phục mọi người. Nghĩa là, từ trong sâu thẳm tâm tư và tư duy của mình, tôi biết hoặc tin một điều thì tôi mới viết ra để chia sẻ với mọi người. Tôi không viết nhằm khuyến dụ mà là để làm sáng tỏ vấn đề mà tôi cho là cần thiết. Tôi không viết nhằm quy tụ nhiều người tung hô và ủng hộ, mà tôi viết để chia sẻ tâm tư, như cách những người bạn tâm giao thường làm với nhau. Tôi không nói điều gì đó để kích động những vết thương thầm kín, để chạm tới những ngóc ngách dễ tổn thương và kích động nhất của con người, đặc biệt là đám đông suy nghĩ và hành động thiên về cảm xúc chứ không duy lý (như về chủ nghĩa dân tộc cực đoan chẳng hạn). Tôi viết và mong nhận được những ý kiến chia sẻ, để từ những thiếu hụt trong lý luận của mình, tôi trưởng thành hơn. Năm năm cầm bút không là một thời gian đủ dài để tôi làm tốt công việc này, những nó không ngắn để tôi nhận ra được tính nước đôi của ngôn ngữ và khoảng cách rất lớn giữa điều người ta viết và những việc họ làm. Bởi vậy tôi cố gắng để chân thành nhất có thể trong từng câu viết của mình, và tôi cũng nỗ lực để xứng đáng với những lời mình viết.

Trong cuộc đấu tranh gian khổ và dai dẳng với chế độ độc tài cộng sản, có thể đối với một vài phe nhóm chính trị, sự giải thể chế độ độc tài này cùng với sự chiến thắng của phòng trào dân chủ, đồng nghĩa với sự kiện rằng họ sẽ lên thay thế đảng cộng sản cầm quyền. Tất nhiên điều đó hữu lý nhưng vấn đề ở đây chính là cách thức hành động của họ. Họ có thể không tiếc lời để hô hào người ủng hộ, khơi động những tình cảm tập thể có lợi cho các mục tiêu của họ. Họ nói rất nhiều về dân chủ nhưng các phương cách họ làm thật phi dân chủ, bất công và dối trá. Tôi luôn tâm niệm rằng: không có mục tiêu nào tốt có thể đạt được bằng các phương tiện xấu ác. Trong khi, đảng và nhà nước cộng sản có nguồn nhân lực và tài nguyên quốc gia, có súng, xe tăng, nhà tù và bộ máy tuyên truyền dối trá… những người đang đấu tranh cho Dân chủ tự do và Nhân quyền tại Việt Nam không có gì ngoài chính nghĩa; và chính nghĩa đó đến từ sự thật, tự do và công lý. Không cố gắng để trau dồi và gìn giữ những giá trị đó, chúng ta sẽ thua chế độ độc tài ngay từ đầu.

Tôi không viết đủ nhiều và đủ tốt để mong các bài viết của mình được xuất hiện trang trọng trong một cuốn sách. Dù những lời lẽ đó xuất phát từ những ưu tư sâu kín nhất của mình, tôi chưa bao giờ nghĩ nó đủ giá trị để được in thành sách. Nhưng sự yêu thương mà quý thân hữu Việt Thức (một sáng hội phi đảng phái và phi lợi nhuận) dành cho tôi và sự quý trọng mà tôi dành cho họ được thể hiện qua tập sách và việc in ấn này. Những hỗ trợ mà quý thân hữu dành cho tôi quá quý giá đến nỗi mọi lời cám ơn đều sáo rỗng. Nhưng xin cho tôi một lần nữa được gởi lời tri ân quý vị vì tất cả.

Cuốn sách này cũng là lời tri ân của tôi đến tất cả quý bằng hữu người Việt khắp nơi trên thế giới và trong quốc nội Việt Nam. Sự cổ vũ của quý vị đã thực sự tiếp thêm sức mạnh để tôi tiếp tục nắm lấy và thực hiện quyền tự do căn bản của mình: Quyền tự do bày tỏ quan điểm. Xin chân thành cám ơn quý vị.

© Huỳnh Thục Vy

Huỳnh Thục Vy, NHẬN ĐỊNH, TỰ DO & NHÂN QUYỀN, do Cơ Sở VIỆT THỨC xuất bản & sẽ phát hành trong tháng 4 năm 2015. Mời Quý Vị, Quý Độc Giả đón đọc.

Posted in Bắt bớ-Tù Đày-Đánh đập-Đàn Áp, Sách- Báo- Hồi Ký | Leave a Comment »

►Cục đất phản động – Bùi Ngọc Tấn

Posted by hoangtran204 trên 24/12/2014

Cục đất phản động – Bùi Ngọc Tấn

Vũ Thư Hiên
23-12-2014

ũ Thư Hiên – Đây là một chút kỷ niệm với nhà văn Bùi Ngọc Tấn. Nó được viết ra khi anh còn sống, không rõ đã được in ở đâu, vào năm nào (tôi quên rồi). Nay tình cờ tìm thấy nó trong đống lộn xộn những bài viết cũ, bèn đưa lên đây để chia sẻ cùng bè bạn Facebook trong niềm đau thương tiếc một người đáng quý vừa chia tay chúng ta.

Ở miền Bắc Việt Nam trong thập niên 60, mọi thứ tin tức đều chậm. Trong tù, tin ở ngoài lọt vào còn chậm lắm lắm. Tin Bùi Ngọc Tấn bị bắt đến với tôi chậm tới bốn năm.

Năm 1971, tôi ở nhà tù có tên Trại cải tạo Tân Lập. Trại này nằm trong vùng đồi núi tỉnh Phú Thọ. Nó gồm vài phân trại, phân trại này cách phân trại kia năm bẩy cây số, tù chính trị ở lẫn với tù hình sự trong những phòng giam khác nhau. Thỉnh thoảng người ta lại xây thêm một phân trại mới cho tù từ các trại tạm giam các địa phương chuyển đến. Không biết mọi năm thế nào, chứ hồi ấy được mùa tù, trại giam mọc lên như nấm. Ngoài các trại Trung ương trên vùng rừng núi, tỉnh nào cũng có trại cả. Tỉnh nào chưa có trại riêng, phải gửi tù qua trại khác ở nhờ thì xấu hổ.

Ở trại nào cũng thế, cứ mỗi lần có tù mới là một lần cả trại náo nức. Tù mới đến là sứ giả của cuộc sống bên ngoài. Không có tù mới thì tù cũ mù tịt, không có cách nào biết ở bên kia những bức tường trại có chuyện gì xảy ra. Mà khốn nạn, những tin tức tù mới mang theo thường cũng chẳng mới là bao. Bởi vì trước khi bị hoặc được chuyển lên trại Trung ương họ có thể nằm trại tạm giam hoặc trại địa phương từ một đến hai năm. Tin một người chồng chết khi đến chỗ chúng tôi thì vợ đã kịp tái giá.

Trong một buổi buổi uống trà lậu với ấm là ca men, chén là đốt nứa, bếp là bát sắt men rách, một anh tù hình sự đất cảng đang lúc vui chuyện bỗng dưng nhắc tới một người tù ở trại Thủy Nguyên. Rằng ông này rất chi là đặc biệt, bướng lắm, cứ ngang xương mà tay đôi với cán bộ. Không cãi to, cứ nhỏ nhẹ, rì rầm, nhưng là cãi. Mà cán bộ chịu đấy. Không hiểu họ không dám trấn áp, hay vì nể cái gì mà không trấn áp, chỉ biết họ mặc, muốn cãi sao cũng mặc. Ai đã ở từng ở tù đều biết: ăn nói với cán bộ không phải thế nào cũng xong, lơ mơ đi cùm liền. Tôi hỏi hình dáng ông bạn tù ra sao, thì anh tù hình sự nói ông này không cao to cho lắm,nhưng đậm người, tóc rễ tre, trước kia đâu như là nhà báo hay nhà văn thì phải. Tôi lại hỏi: vậy cái ông nhà văn hay nhà báo nọ số chẵn hay số lẻ thì anh tù bảo ông ta số chẵn, nhưng mọi người đều biết đích thực là tội chính trị. Hỏi tên thì người kể chuyện bb1 anh ta không biết. Tôi đồ rằng đó là Bùi Ngọc Tấn. Nhà báo, tóc rễ tre thì đúng rồi, nhưng cao to thì không phải – Tấn người tầm thước, mập mạp. Ra tù rồi tôi mới biết mình luận không sai. Tuấn bị bắt sau tôi mấy tháng, vào đầu năm 1968.

Thời bấy giờ xã hội miền Bắc Việt Nam giống như một tu viện, với những tôn ti trật tự không giống ai do một vị chưởng quản khắc nghiệt đặt ra. Trong tu viện này bướng là một cái tội, mà tội lớn. Người dân chỉ được một cái quyền: ấy là ngoan. Người ngoan được coi là công dân tốt. Những người bị bắt vì tội bướng bỉnh nhiều lắm. Tức là, không có một tội tên là như thế trong luật hình sự của nhà nước, tất nhiên, nhưng người đi tù bắt đầu chỉ bằng sự cãi lại bề trên, là người được coi như đại diện cho Ðảng và Nhà nước, thì ngay lập tức bị ghi vào sổ đen, bị báo cáo, bị lập hồ sơ, sau rốt đi tù suốt. Chuyện như thế chẳng còn làm ai ngạc nhiên.

Ðiều tôi không hiểu được là Bùi Ngọc Tấn của chúng tôi đâu có được xếp đầu bảng đám cư dân bướng bỉnh để đến nỗi bị bắt. Anh hiền lành, nho nhã, sống củ mỉ cù mì, không châm chọc chính quyền, ăn nói cẩn trọng, viết văn thuận chiều, cũng chẳng ho he nói xấu lãnh tụ hay là bới móc chế độ. Trong những câu chuyện anh em bàn nhăng bàn cuội anh chỉ gật gù với thái độ tán thưởng, được hiểu là chúng ta như nhau cả, không có gì khác. Vì thế, ở ngoài nhìn vào Bùi Ngọc Tấn là một công dân không những bình thường, mà còn là công dân ngoan. Tấn mà cũng rơi vào tù thì chắc còn khối người phải theo chân anh. Ðiểm mặt các bạn đồng nghiệp không ngoan với chế độ thì thấy số có khả năng vào tù không phải là ít. Ðó là những nhà văn nhà báo nếu không giữ được để thốt ra miệng sự bất đồng với mọi thứ đường lối của Ðảng, thì cũng là loại người hấm hứ quay lưng lại với những đường lối ấy. Bất đồng về đường lối văn nghệ không thôi thì còn thể tha, chứ với đường lối chung, với chủ trương lớn của Ðảng mà cũng tỏ ý không bằng lòng thì Ðảng không tha. Không cần phải có hành động chống đối, chỉ cần có ý nghĩ chống đối thôi đã đủ để Ðảng trừng trị rồi. Mà ý nghĩ của con người ta khó giữ lắm, giấu mấy thì giấu, cẩn thận mấy thì cẩn thận, rồi cũng lộ ra, không ở chỗ này thì chỗ kia, không với người này thì người khác.

Sau này, qua những tin tức lọt vào tôi mới biết đúng là Bùi Ngọc Tấn đã bị bắt. Những người ngang cành bứa hơn anh nhiều lại không bị, mới kỳ. Những người ngang ngạnh không bị bắt có thể là vì họ vừa bị mắng đã nước mắt nước mũi giàn giụa xin tha. Mà cũng có thể các nhà lãnh đạo toàn năng và toàn quyền thấy bắt thế đủ rồi, không cần bắt thêm nữa. Lại cũng có thể các vị e ngại làn sóng công phẫn ngấm ngầm nhưng mạnh mẽ bắt đầu làm xáo động xã hội mà phải bắt, nhưng bắt nhiều quá cũng không phải đắc sách , mới ngừng. Thôi thì cứ đổ mọi sự không giải thích được cho cái số. Cho tiện.

Lại nữa, cũng có thể luận rằng Tấn bị bắt là do chơi thân với Hồng Sĩ, trung tá Công an, có quan hệ mật thiết với tôi, mà cả tôi lẫn Hồng Sĩ đều là “phần tử xét lại chống Ðảng”, đều đã bị bắt. Cũng như thế, Hồng Sĩ bị bắt là do chơi thân với Kỳ Vân. Kỳ Vân bị bắt vì chơi thân với Hoàng Minh Chính. Huy Vân bị bắt vì chơi thân với Lê Liêm. Vân vân. Dưới triều Lê Duẩn, cái sự giao du thường tình ở mọi xã hội khác được coi là thứ tiềm ẩn những tai họa cho chế độ. Tôi còn nhớ hồi ấy nhiều người không dám khai bất cứ ai vào mục bạn bè thân thiết trong lý lịch (trong bản khai lịch có mục đó). Cứ khai không có bạn thân thiết nào hết là chắc ăn.

Tôi kể đầu đuôi câu chuyện chúng tôi bị bắt nó là như thế nào, để giải nghĩa cái xã hội trong đó chúng tôi sống nó là như thế, ở đó người chẳng có tội tình gì cũng có thể bị bắt. Chứ tôi không có định kêu oan với ai. Càng không định kêu oan với mấy ông con giời “có ăn tìm đến, đánh nhau bỏ đi” quen đứng trên đầu nhân quần để đóng vai phán xét.

Thế là Bùi Ngọc Tấn của tôi trở thành nhà văn phản động chống chế độ. Không phải bằng văn chương (chắc chắn là như thế), mà bởi những mối quan hệ bè bạn (nhiều phần là như thế).
Không phải thế thì còn do cái gì?

Chúng tôi quen nhau vào đầu thập niên 60, cái thập niên đầy biến động sau cuộc tấn công vào tệ sùng bái cá nhân của Nikita Khrushev trong Ðại hội lần thứ XX Ðảng cộng sản Liên Xô, mà hậu quả của nó là làm rung lay tận gốc các quốc gia có đảng cộng sản cầm quyền. Việt Nam không phải là ngoại lệ. Chống sùng bái cá nhân chưa hẳn là chống chế độ toàn trị, nhưng cũng là đòn nặng đánh vào nó. Những nhà lãnh đạo ruột rà với chế độ này hiểu ra hiểm hoạ đó bèn huy động mọi lực lượng có trong tay để chống lại. Nếu như ở bên Tầu người ta làm đại cách mạng văn hóa vô sản, thì ở Việt Nam cũng có một cái tương tự, nhưng bớt ồn ào hơn, chúng tôi gọi nó là “tiểu cách mạng văn hóa vô sản”. Mục tiêu chính của cái việc làm mang bản chất vô văn hóa này là phản công lại làn sóng yếu ớt đòi dân chủ hóa xã hội. Nó nhằm vào lớp đảng viên cứng đầu và đám trí thức, xưa nay vốn bị đảng nghi kỵ (các nhà lãnh đạo thất học bao giờ cũng đinh ninh bị trí thức khinh khi). Trong cuộc truy lùng phù thuỷ do Lê Duẩn – Lê Ðức Thọ lãnh đạo, chúng tôi, những người cầm bút do chính đảng cộng sản đào tạo, cũng trở thành con mồi của chúng.

Không biết khi Bùi Ngọc Tấn trở thành kẻ thù của nhân dân thì anh nghĩ sao, chứ tôi thì tôi ngao ngán lắm. Tôi tiếc mình đã không làm một cái gì hơn những lời phát biểu ngang ngược làm đảng lãnh đạo bực mình, để rồi bị bắt một cách lãng nhách. Thật uổng.

– Mình cũng nghĩ như thế. – Bùi Ngọc Tấn nói với tôi khi chúng tôi gặp nhau tại Sài Gòn năm 1985 – Nhưng nếu làm, thì hồi ấy chúng mình làm được cái gì ?

Chúng tôi chẳng làm được cái gì hết, trừ những lời nói. Ðành tự an ủi rằng dù sao chúng tôi cũng đã gióng được một tiếng chuông nho nhỏ, để cho những nhà lãnh đạo tự thị biết rằng cái sự ngoan ngoãn đi theo đảng không còn như trước nữa, rằng cái sự đoàn kết dưới cờ đảng trong khối thống nhất không gì phá vỡ nổi chỉ có giá trị huyền thoại. Và để nhân dân hiểu rằng cần phải tỉnh táo nghĩ bằng cái đầu của mình, chứ không thể nhất nhất vâng theo đám đầu mục thời hiện đại.

Ðiều làm tôi mừng là tinh thần Bùi Ngọc Tấn vẫn như xưa, khi anh chưa phải chịu đựng sáu năm tù không có xét xử. Mái tóc nhiều sợi bạc, mặt nhiều nếp nhăn hằn sâu – đó là tất cả những gì mà Ðảng anh minh có thể thay đổi trong con người anh.

– Chúng mình sẽ phải viết về những gì chúng mình thấy. – Tấn nói – Trách nhiệm đấy, ông ạ.
– Hoặc đừng cầm bút nữa. – tôi đồng ý với anh.

Tôi cặm cụi sưu tầm tài liệu cho cuốn sách của tôi. Nó sẽ phải ra đời, một lúc nào đó.

Tấn kể cho tôi nghe chuyện đời tù, nói anh ghi chép được khá nhiều cho những sáng tác tương lai, bây giờ anh đang sắp xếp lại để viết. Nhưng anh than phiền rằng anh viết chậm, chậm lắm. Và cảm thấy mình bất lực – sự thật ngồn ngộn trước mắt mà ngòi bút thì ẻo lả, không sinh khí.
Tôi suy tôi ra thì hiểu tâm trạng Tấn. Bất cứ công việc nào cứ bỏ bễ một thời gian thì cũng thế cả, bắt đầu lại lóng ngóng lắm. Trong chuyện viết văn còn tồn tại một cái ngáng trở ngòi bút nữa. Là cái sợ. Nó là con đỉa sống dai, bám chắc. Hồi ấy, năm 1985, chưa có gì hứa hẹn cái chết của nó.

Tôi hình dung ra phòng văn của Tấn. Một căn phòng không quá hai chục thước vuông, nơi vừa là phòng ăn, vừa là phòng ngủ của cả gia đình – vợ chồng anh và các cháu. Nơi từ nhiều năm thường xuyên diễn ra những cuộc gặp gỡ ồn ào giữa mấy thế hệ cầm bút, những cuộc tranh cãi nghệ thuật khi vui vẻ khi khùng điên bên cạnh giường ngủ của vợ con Tấn, màn đã buông. Nơi Nguyên Hồng lui tới nhiều nhất mỗi khi trở về vùng đất sinh thành của những nhân vật Bỉ Vỏ, Qua Những Màn Tối, Những Ngày Thơ Ấu… Nguyên Hồng nhận xét về Tấn :”Thằng này nó viết dí dỏm ra phết. Cái nhìn của nó cũng thế, tưởng là lờ đờ mà hoay hoáy, hoay hoáy, phát hiện ra những cái mà người khác bỏ qua, hoặc là không thấy được. Mình mà có cái chất của nó hồi trẻ thì phải biết!”

Những kỷ niệm này được Tấn ghi lại một phần không nhiều trong Một Thời Ðể Mất.

Tấn bắt đầu văn nghiệp bằng nghề phóng viên. Anh làm ở tờ Tiền Phong, một tờ báo của Ðoàn thanh niên lao động (sau thay đổi tên thành Ðoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh). Anh đi nhiều, viết nhiều. Những bài báo tầm phơ, tất nhiên. Nhưng những chuyến đi liên miên ấy cho anh chất liệu để viết cái khác – những truyện ngắn, bút ký. Bạn đọc bắt đầu chú ý tới anh bởi cái nhìn độc đáo, sắc sảo. Anh viết cần cù, không nhiều, nhưng không nịnh bợ, không tô hồng, cũng không bôi đen, biết tránh né. Có nghĩa không hoàn toàn là cách viết thời thượng, cũng không phải cách viết để được khen là tiến bộ, chóng được lên lương, lên chức. Có những tác phẩm anh viết để đấy, chỉ vài người bạn thân được biết. Mà chúng nào có phải tác phẩm chửi đảng hoặc bôi đen chế độ đâu, chúng chỉ thực, hoặc quá thực mà thôi. Không biết anh có bị mất những bản thảo ấy vào tay Công an không? Nếu là thế, tội anh sẽ nặng thêm.

Bùi Ngọc Tấn không bỏ bút, đúng như anh nói. Anh cặm cụi viết, và kết quả là hai cuốn sách đã ra đời: Một Thời Ðể Mất, Những Người Rách Việc… Lần này cũng vậy, những đề tài vẫn cứ là hiền lành, không chính trị chính em, chỉ là chuyện đời thường, là những suy ngẫm về số phận và những quan hệ giữa người và người. Tuy vậy, những cuốn sách hiền lành ấy cũng không thể được xuất bản ba mươi năm trước, khi Bùi Ngọc Tấn bước chân vào nhà tù. Thời đã khác.

Tôi sẽ không nói về nội dung những chuyện được ghi lại trong sáng tác của Bùi Ngọc Tấn. Tự những câu chuyện bình dị được kể bằng giọng la đà, không có ý thuyết phục ai, chẳng dám dạy bảo ai, nói lên cái nhìn nhân bản, xót xa đối với con người của tác giả. Sáng tác của Bùi Ngọc Tấn lần đầu tiên đến với bạn đọc hải ngoại là Người Chăn Kiến, được đăng trong một số tạp chí Diễn Ðàn ở Paris. Số phận của người giám đốc bị bỏ tù oan được miêu tả một cách dửng dưng có sức mạnh của tiếng thét bất bình. Anh giám đốc cuối cùng được trả lại tự do, được phục chức, lẽ công bằng có vẻ như đã được lập lại cho anh ta, nhưng ở lúc lẽ ra anh ta phải vui nhất, sướng nhất, thì anh lại lẳng lặng chui vào phòng riêng để làm cái công việc khổ sai kỳ cục mà những tên anh chị lưu manh trong tù bắt anh phải làm, để hạ nhục anh, là đi bắt mấy con kiến và … chăn chúng. Mặc cho ở ngoài kia người ta liên hoan tưng bừng, anh kiên nhẫn dùng những tấm danh thiếp chặn đường đi của những con kiến trong cái trò chơi vô nghĩa của mình. Than ôi, con người bị chà đạp đến đánh mất mình đến như thế đấy. Ngay cả trong vô thức anh ta không nhận ra anh ta nữa. Người Chăn Kiến là tiếng kêu cứu cho con người bé nhỏ, con người tội nghiệp, con người dân đen, là lời nguyền rủa cái quyền lực bất nhân không đếm xỉa đến số phận thần dân nằm dưới quyền cai trị của nó.

Ðược viết mấy dòng về bạn mình, trong lúc bạn còn sống, là một niềm vui.

Bùi Ngọc Tấn gặp rủi, nhưng vượt qua nỗi bất hạnh của mình, anh may mắn được sống tới hôm nay, để còn có dịp gửi tới các bạn tiếng lòng anh.

Mong rằng chúng ta sẽ còn nhiều dịp được gặp anh trong những cuốn sách khác, bởi vì những gì mà thế hệ chúng tôi chứng kiến và nếm trải đáng được viết ra trong không phải một vài, mà nhiều cuốn sách.

Posted in Bắt bớ-Tù Đày-Đánh đập-Đàn Áp, Sách- Báo- Hồi Ký | Leave a Comment »

►Nhớ Tấn-Vũ Thư Hiên

Posted by hoangtran204 trên 24/12/2014

24-12-2014

 Vũ Thư Hiên

Nhà văn Bùi Ngọc Tấn.

Từ Hà Nội, Dương Tường gọi tôi: “Tấn đi rồi, Hiên ơi, sáng nay, lúc 6 giờ 15. Buồn quá!”

Buồn, chứ lại không ư? Còn hơn thế, Tấn đi. để lại cho mấy thằng bạn còn lại biết bao hụt hẫng, biết bao nuối tiếc.

Tôi muốn khóc, mà không còn nước mắt.

Bấm tay tính lại số bạn bè ngày ấy, thấy chỉ còn vài đốt nữa là hết. Mà tưởng chừng mới đây thôi, lũ chúng tôi, những đứa con của cách mạng, và cũng là những nghịch tử mà đảng muốn thịt bằng hết, không có đủ đốt tay để mà đếm.

Có trời biết vì sao lại rơi vào trong lũ đầu bò đầu bướu chúng tôi ngày ấy một anh chàng củ mỉ cù mì, hiền lành rất mực, là Bùi Ngọc Tấn. Chỉ có thể giải thích theo lý lịch: lũ chúng tôi hầu hết xuất thân tiểu tư sản, nếu không tệ hơn, còn Tấn lại thuộc thành phần nông dân, là thứ được đảng cộng sản coi là quân chủ lực (của đảng, tất nhiên). Phải nói thêm một chút cho khỏi có sự hiểu nhầm về ngữ nghĩa: cái lối gọi lái “tạch tạch sè” (tiểu tư sản) ở đây hoàn toàn không có nghĩa người có tư sản nhỏ, xí nghiệp hay là tiệm buôn, mà là cái biển tên khinh bỉ được cách mạng gắn cho những kẻ trót dại sinh ra ở thành phố, nhất là những tên có nước da trắng trẻo, lại còn đeo kính trắng.

Đời Bùi Ngọc Tấn nhiều nghịch lý. Điều tôi vừa kể là chỉ là nghịch lý lớn nhất. Tưởng chừng cái nghiệp cầm bút của anh tự nhiên phải gắn liền với thành phần xuất thân của anh. Đi với cách mạng, được cách mạng đào tạo, anh ắt phải trở thành một nhà văn cung đình như những người cùng gốc gác, hoặc những người kiên quyết từ bỏ gốc gác để một lòng theo cách mạng. Những người này hợp thành đội ngũ văn nô chuyên viết tụng ca rổn rảng hoặc tiểu sử hoành tráng đầy chiến công thấn xuất quỷ nhập của các “lãnh tụ” cách mạng… Giống anh về thành phần, cũng trong lũ chúng tôi, chỉ có Phù Thăng, tác giả cuốn Phá Vây nổi tiếng với những dòng văn bộc trực chống chiến tranh giữa thời thịnh trị của đường lối cách mạng bạo lực, làm cho tướng Nguyễn Chí Thanh, người mưu toan chỉ huy cả đội quân văn chương vô sản, phải nổi điên để ra lệnh cấm.

Người bạn thân nhất của Bùi Ngọc Tấn là Hứa Văn Định. Cũng lại là một tình bạn tréo cẳng ngỗng, một nghịch lý nữa, có thể nói như thế. Hứa Văn Định là một nhà văn tài ba và ngang tàng, tiếc rằng được rất ít người biết đến. Trong khi Bùi Ngọc Tấn chăm chỉ viết những bài báo đầu tay theo văn trào người tốt việc tốt thì Hứa Văn Định đã có những truyện ngắn ngang ngược, bút pháp sỗ sàng, may mà không ai dám in, vì thế mới không bị đánh. Những tác phẩm được xuất bản Định gọi là “thứ văn chương vằn vện ấy mà”, còn những gì không thể in được anh xếp xó, chỉ để cho bè bạn thân thiết đọc. Hơn bè bạn ở chỗ có phòng riêng để ở, khi Tấn mới có tình yêu trong cái thời tình yêu bị dính liền với tội “hủ hoá”, Định nhường chỗ ở của mình cho Tấn và Bích gặp nhau để lang thang nhà này nhà khác, bạ đâu nằm đó.

Tôi quen Tấn là qua Hứa Văn Định, trong ngôi nhà khang trang đường Điện Biên Phủ, được bọn thanh kiếm và lá chắn của đảng tuyên xưng là “câu lạc bộ Pê-tô-phi” Hà Nội. Oan cho chúng tôi, vì trong những người thường xuyên lui tới nhà Định không phải chỉ có lũ đầu bò, mà có cả những người về sau này trở thành vai vế trong làng văn chính thống. Đến khi Liên Xô Trung Quốc chửi nhau như mổ bò, thậm chí còn giã nhau ở biên giới, thế giới cộng sản tan thành hai mảnh, mùi binh đao vừa mới phảng phất là những người này biến ngay lập tức, cứ như thể họ chưa từng có mặt. Còn lại là những kẻ không biết sợ: Kỳ Vân, Mạc Lân, Vũ Huy Cương, Từ Chi, Dương Tường, Phù Thăng, Tuân Nguyễn, Châu Diên… Mà cả những tên được gọi là đầu bò này cũng chả có gì đáng được coi là chính trị đúng nghĩa. Chẳng qua vì bực mình trước những ngang tai chướng mắt bề bề mà bật ra những lời nói ngược với xã luận báo đảng mà thôi. Gọi là chính trị là cái đó, chứ không phải cái nào khác.

Bùi Ngọc Tấn tránh xa cả cái chính trị vô hại ấy. Anh là người biết sợ. Và biết né. Trong anh không bao giờ có nhu cầu làm người dũng cảm, hoặc ít hơn, ngang ngạnh. Anh rón rén từng bước trên đường sáng tác để không chạm vào những cấm kỵ, anh lẩn tránh những thứ “có vấn đề” bằng nụ cười hiền hậu, bằng giọng nói rụt rè, dành say mê cho những “con chữ” (nói theo cách Dương Tường). Chẳng bao giờ Tấn khoe với chúng tôi những gì anh đang viết. Chúng tôi chỉ được biết anh viết gì khi sách đã in ra. Văn anh hiền lành như người anh vậy. Thứ văn ấy chúng tôi không đánh giá cao, chỉ mỉm cười khích lệ. Mà Bùi Ngọc Tấn cũng nhút nhát lắm khi nào không thể tránh phải nói về mình trước những ông bạn bặm trợn một khi đã bốc lên rồi thì trời cũng bằng vung.

Đảng cộng sản đã biến con người hiền lành ấy thành cái gì thì ai cũng đã biết. Bỏ Bùi Ngọc Tấn vào tù, đảng được “Chuyện kể năm 2.000” để phải cấm, phải tiêu huỷ. Rồi khi Bùi Ngọc Tấn nằm xuống thì phải sai lâu la đi giật băng tang trên vòng hoa của những người ái mộ. Những nhà văn được đảng tống vào tù như Bùi Ngọc Tấn rồi cũng sẽ lại quả cho đảng những món quà đắng. Xem ra thành công lớn hơn cả của đảng cộng sản là xây dựng rất tốt nền công nghiệp chế tạo kẻ thù.

Bùi Ngọc Tấn vào hồi ấy hiền lành là thế, cho nên khi tôi rơi vào tù rồi, ngồi ngẫm xem ai trong bạn bè có thể cùng chung số phận với mình, thì Bùi Ngọc Tấn là người bị tôi loại ra đầu nước. Thế mà rồi người ta bắt cũng anh đi tù, mới lạ. Mà chẳng nói chắc được anh bị bắt vì cái gì. Biết đâu, trong lúc nào đó, ở nơi nào đó, Tấn đã trót dại nghĩ to một điều gì đó. Và thế là một hồ sơ được lập. Hồ sơ của công an có một đặc điểm, nó chỉ dày lên chứ không khi nào mỏng đi. Tin Bùi Ngọc Tấn vào tù đến với tôi rất chậm, mãi bốn năm sau tôi mới biết.

Trong việc chọn đối tượng cho sự trấn áp, nhà cầm quyền cộng sản nào cũng thế, cũng rất khó hiểu. Nhất là ở bên Tàu. Trong cuộc Đại cách mạng văn hoá vô sản, các Hồng vệ binh đã lùng ra cả đống kẻ thù, từ những nhân vật hoạt động cách mạng trước “người cầm lái vĩ đại” Mao Trạch Đông cho tới chị nông dân sợ cả việc giết một con gà. Có thể nghĩ lẩn thẩn rằng khi thấy trung ương bắt bọn xét lại cấp trung ương thì nhà cầm quyền cấp tỉnh hay cấp thành phố cũng thấy mình phải hối hả xách còng số 8 đi bắt vài tên xét lại địa phương. Cho nó oách. Mà cũng có thể đoán già đoán non rằng người ta có cách tính khác, vượt xa cái đầu óc thiển cận của người bình thường như tôi. Nếu anh đoán được họ sẽ bắt ai theo một số tiêu chuẩn nào đó về kẻ thù là đúng, thì chỉ có một số nhỏ những ai tự xét thấy mình nằm trong tiêu chuẩn đó phát rét, chứ nếu người ta tóm cả những kẻ không ai nghĩ tới có thể bị bắt, thì cả xã hội sẽ sợ. Cả một xã hội sợ mới là cái nhà cầm quyền muốn có.

Vào cái thời có cuộc trấn áp “bọn xét lại chống đảng” dân chúng không nhiều thì ít đều bực bội với cách cai trị của đảng trong nhiều mặt đời sống. Đến cả Nguyên Hồng, nhà văn được coi là cốt cán của đảng, cũng rơi vào tâm trạng ấy. Tôi có ghi lại câu chuyện sau: Một hôm, Nguyên Hồng bắt gặp Bùi Ngọc Tấn đang đứng dưới tấm bảng lớn bằng cả bức tường để so vé xổ số. Nguyên Hồng thụi cho Bùi Ngọc Tấn một quả: “Cái thằng rõ ngu. Ở đời đã chán vạn cái thất vọng mà mày còn bỏ ra hai hào mua thêm một cái, đắt quá! Ngu!” Ít ngày sau, đến lượt Bùi Ngọc Tấn bắt được quả tang Nguyên Hồng cũng đang so vé số, cũng trước chính bức tường ấy. Tấn khoái lắm, đem câu nói của Nguyên Hồng hôm trước ra đay. Nguyên Hồng làm bộ sửng sốt: “Tao có nói thế à? Không có lẽ. Ở đời toàn là thất vọng, bỏ ra có hai hào mua được cả một cái hi vọng, rẻ ơi là rẻ!”.

Trong một lần ngồi cùng bè bạn, Bùi Ngọc Tấn chỉ tôi: “Tại sao tôi bị bắt á? Tại cái ông này này. Vi tôi chơi với ông ấy. Có vậy thôi. Vía ông ấy nặng lắm!”. Tấn nói không phải không có lý. Sau này tôi mới biết từng có những lời đồn đoán rằng Hồng Sĩ bị bắt là do chơi thân với Kỳ Vân. Kỳ Vân bị bắt vì chơi thân với Hoàng Minh Chính. Hoàng Minh Chính bị bắt vì kết bè với Vũ Đình Huỳnh, Đặng Kim Giang… Nếu đúng là thế thì tôi nợ Tấn nhiều lắm.

Không hiểu sao, nhưng từ khi đi tù về, Bùi Ngọc Tấn bỏ hẳn cách mày tao mi tớ với bạn. Chừng anh sợ cả sự quen mui để lỡ lời trong xưng hô có thể mang lại hậu quả xấu. Từ trước Tấn đã không giao du tràn lan, nay lại còn kén chọn riết róng hơn nữa. Tấn không có bạn tào lao. Đến ngay bà vợ bé của “hoàng thượng”, tức tổng bí thư đảng, cùng làm việc với Tấn trong toà soạn tờ Hải Phòng Kiến Thiết, cũng không được Tấn coi là bạn, cho dù sự kết thân ấy chỉ có lợi trở lên.

bnt-vth

Bùi Ngọc Tấn cùng bà Hồng Ngọc (vợ ông Hoàng Minh Chính) và nhà văn Vũ Thư Hiên tại Paris
Nguồn ảnh: blog Bùi Ngọc Tấn

Tôi không ngờ rồi lại có cuộc gặp mặt Bùi Ngọc Tấn bên trời Tây sau một thời gian xa cách đằng đẵng. Ngồi trên giường, trong căn phòng áp mái rộng 14 thước vuông của tôi tại Paris, Tấn ứa nước mắt “Hề hề, đây là cái mình không ngờ. Cứ tưởng ông sang đây thì…”, Tấn bỏ lửng.

Tấn tới Paris lần này đúng vào dịp chị Hồng Ngọc, vợ anh Hoàng Minh Chính cũng từ Roma tới thăm tôi. Hai thằng cựu tù, một vợ tù, rủ nhau đi một chuyến ngao du châu Âu cho bõ những ngày khổ ải. Đó là một chuyến đi rất thú vị – ở đâu chúng tôi cũng được bạn bè đón tiếp nồng hậu. Đó là món quà có thể hình dung được nhưng luôn luôn bất ngờ của những người dân Việt xa xứ dành cho những kẻ ít nhiều dính dáng tới cuộc đấu tranh cho dân chủ hoá đất nước. Bùi Ngọc Tấn cảm động lắm. Khi cảm động, mắt anh chớp liên tục. Ấy là cách anh ngăn cho những giọt nước mắt khỏi trào ra.

Trên đường từ Munchen đi Vienna, tôi phát hiện thêm một Bùi Ngọc Tấn khác.

Đến Salzburg, thành phố địa đầu của Áo với Đức, sau khi mới đi thăm được vài thắng cảnh, viếng nấm mộ giả tưởng của Mozart, chị Hồng Ngọc bỗng lên cơn đau gì đó, mặt tái nhợt, mồ hôi vã ra. Đã định đưa chị vào bệnh viện, nhưng chị không chịu. Đành quay xe về Munchen. Thế là kế hoạch cho Tấn nghe nhạc giao hưởng ở giữa thủ đô âm nhạc thế giới không thành.

Trên đường, chúng tôi đi ven con hồ Chiemsee mênh mông đúng vào lúc hoàng hôn sắp tắt. Trên mặt hồ tràn trề ánh nắng bạc màu hồng của mặt trời đang lặn là một đàn thiên nga cả ngàn con bồng bềnh. Tấn hét lên: dừng lại! Xe vừa dừng là anh bật cửa lao ra, đứng sững trước cảnh tượng hùng vĩ của con hồ. Rồi anh hấp tấp chạy lại xe, lục giỏ bánh mì dự trữ khi đi đường, lấy ra một cái rồi chạy ào xuống mớn nước. Ở đó, Tấn bẻ vụn bánh mì, tung lên trời trong tiếng gọi tha thiết: “Thiên nga ơi, thiên nga! Lại đây, thiên nga ơi!”. Lập tức những con con thiên nga ở gần bay lại, ồn ào nhặt những mẩu bánh mì vừa chạm nước. Mặt Tấn rạng rỡ niềm vui kỳ lạ khi những con thiên nga dạn dĩ bơi lại gần anh, tưởng chừng có thể đưa tay vuốt ve bộ lông trắng mượt của chúng.

Bỗng tôi thấy mặt Bùi Ngọc Tấn buồn hẳn, nó xịu đi, đôi mắt lại chớp chớp. Anh lẩm bẩm nói với đàn chim trời: “Thiên nga ơi, thiên nga! Các em mới may mắn làm sao! Các em sinh ra ở phương trời này. Chứ các em ở quê anh ấy à… Thì các em vào nồi từ lâu rồi!”

Quay trở lại xe, suốt đường về, anh ngả người trên ghế, mũ úp lên mặt, không nói câu nào. Tôi chợt hiểu ra: với một tình yêu xót xa với thiên nhiên như thế, thì với con người anh còn xót xa biết bao nhiêu.

Và chỉ với một tình yêu người đau đớn đến rỉ máu, Bùi Ngọc Tấn mới có thể để lại cho chúng ta những tác phẩm đầy lòng nhân ái.

Vũ Thư Hiên

Posted in Bắt bớ-Tù Đày-Đánh đập-Đàn Áp, Sách- Báo- Hồi Ký | Leave a Comment »

►Bill Hayton: chứng minh rằng những yêu sách về chủ quyền ở Biển Đông của Tàu Cộng dựa trên chứng cứ lịch sử là rác rưởi- sách mới xuất bản “Biển Đông: Cuộc Đấu Tranh Quyền Lực ở Á Châu”

Posted by hoangtran204 trên 27/10/2014

Ngược lại, đảng CSVN đã xem Biển Đông, HS và TS thuộc chủ quyền của TQ. Lý do: đảng CSVN và nhà nước đã trao đổi Biển Đông, Hoàng Sa, Trường Sa cho Trung Cộng  lấy vũ khí để chiếm Miền Bắc 1954 và “giải phóng” Miền Nam 1975, cho nên, những ai biểu tình phản đối TQ xâm lăng vùng biển đảo này (hoặc cho rằng vùng này  là của VN) đều bị  đảng CSVN và nhà nước thù ghét coi như kẻ thù.

Vì đưa bênh vực cho Việt Nam và đưa ra chứng cớ lịch sử Biển Đông, HS và TS thuộc chủ quyền của VN từ triều Nguyễn 1802, Bill Hayton đã bị ngăn cấm vĩnh viễn không cho trở lại VN, đã hai lần ông không xin được Visa vào Việt Nam để dự hội nghị Biển Đông 2012.

Tương tự, vì biểu tình phản đối TQ xâm lăng biển đảo, Điếu Cày Nguyễn Văn Hải, Tạ Phong Tần, nhạc sĩ Việt Khang….đã bị án tù 4 năm-12 năm. Vì điểm tin và dịch các bài báo cảnh cáo về các hành động của TQ và bênh vực cho chủ quyền Biển Đông,  HS, TS, Ba Sàm Nguyễn Hữu Vinh đang bị bắt giam 5-5-2014 ở Hà Nội, và đang chờ đợi bản án tù đày. Hồ Cương Quyết đã hoàn tất phim Hoàng Sa và Trường Sa năm 2011, nhưng không được trình chiếu ở VN và phải chiếu ở Châu Âu. 3 năm qua, ông bị công an ngăn cấm, xua đuổi, hăm dọa, cúp điện…khi muốn trình chiếu phim ở Sài Gòn cho mọi người xem.  Hồ Cương Quyết tên thật: André Menras, là một người Pháp nổi tiếng qua bộ phim “Hoàng Sa – Việt Nam: nỗi đau mất mát” (bản tiếng Pháp “Hoang Sa Vietnam – La Meurtrissure” và bản Pháp-Anh là “La Meurtrissure – Painful Loss”). Chỉ sau khi giàn khoan của TQ vào khai thác dầu khí ở Hoàng Sa 2-5-2014, phim của ông mới được cho trình chiếu ngày 15-7-2014 ở Hà Nội. 

Trong tuần lễ từ 12 đến 16-10-2014, Nguyễn Tấn Dũng, Nguyễn Chí Vịnh ở Đức dành 3 ngày (13, 14, 15) đi khắp nước Đức xin tiền và phân bua chuyện Biển Đông và giả vờ nhờ Đức can thiệp vấn đề chủ quyền biển đảo, nhưng khi hội nghị diễn ra ngày 16-10 tại Milano, thì Nguyễn Tấn Dũng không đưa vấn đề này lên bàn hội nghị vì lúc âý có mặt Thủ tướng Trung Quốc. Bà thủ tướng Đức Angela Merkel, thủ tướng Bỉ, thủ tướng Ý, và lãnh đạo các nước Châu Âu khác đã chưng hửng vì thái độ tráo trở nói một đàng, làm một nẻo của Nguyễn Tấn Dũng. Mời đọc ►Chuyến công du của Nguyễn Tấn Dũng ở Âu châu 10-2014 hoàn toàn thất bại:  Hành động cực kì mâu thuẫn và trái khoáy khác là, trong các cuộc tiếp xúc với các chính khách quốc tế từ Bruxelles, Berlin, Rome từ ngày 12 đến 15 tháng 10,  Nguyễn Tấn Dũng hồ hởi kêu gọi họ kết án chính sách đe dọa an ninh hàng hải quốc tế trên biển Đông, các nước Âu Châu hứa sẽ ủng hộ VN về việc này. Nhưng qua hôm sau, sáng ngày 16.10, khi đặt chân tới Milano để tham dự Hội nghị cấp cao ASEM 10 thì Nguyễn Tấn Dũng đã vội vàng xin gặp Thủ tướng Trung quốc Lý Khắc Cường cũng đang có mặt ở đây. Và trong hội nghị, Nguyễn Tấn Dũng đã không đề cập tới vấn đề hàng hải ở Biển Đông! Các lãnh đạo 10 nước Âu Châu rất ngạc nhiên về thái độ bất nhất và tráo trở của Nguyễn Tấn Dũng.

Nhiều chính khách và chuyên viên ngồi nghe ông Thủ nói rồi so sánh với những gì đang xẩy ra ở VN thì đều rất ngỡ ngàng. Trong họ có những dấu hỏi cực kì lớn: Người cầm đầu chính phủ toàn trị ở VN muốn gì? Những gì ông nói với chúng tôi có thực không?

Bill Hayton và “Biển Đông: Cuộc Đấu Tranh Quyền Lực ở Á Châu”

25-10-2014

Theo FB Nguyễn Văn Tuấn

Có lẽ các bạn đã biết kí giả Bill Hayton vừa mới xuất bản một cuốn sách có tựa đề là “The South China Sea: The Struggle for Power in Asia” (Biển Đông: Cuộc Đấu Tranh Quyền Lực ở Á Châu). Tôi chưa đọc cuốn sách (và chắc cũng không có thì giờ đọc trong tương lai gần) nhưng có nhận bài điểm sách của David Brown đăng trên Asia Sentinel (1). Đọc bài điểm sách này, tôi thấy sách có lẽ là nguồn thông tin tốt cho những ai còn quan tâm đến chủ quyền biển đảo và sự đe doạ của Tàu cộng đối với Việt Nam. Nhưng câu chuyện về mối liên hệ giữa cá nhân của tác giả với Chính phủ VN cũng thú vị.

Trong sách, Bill Hayton chứng minh rằng những yêu sách về chủ quyền ở Biển Đông của Tàu cộng dựa trên chứng cứ lịch sử là rác rưởi. Ông chỉ ra rằng những chứng cứ đó không thể nào đứng vững khi xem xét đến các văn chứng của triều Nguyễn của Việt Nam. Từ 1750, triều Nguyễn đã điều các đội hải quân ra trấn giữ hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Đội quân triều Nguyễn còn có chức năng cứu vớt thuyền bị nạn, và mỗi chuyến hải hành, họ ghi lại trong sử sách rất cẩn thận.

Thật ra, những cái gọi là chứng cứ lịch sử của Tàu cộng về chủ quyền Biển Đông thì những học giả nghiêm chỉnh đều bác bỏ và chẳng xem ra gì. Nhưng bác bỏ những chứng cứ đó một cách có hệ thống, có khoa học, và ghi thành một cuốn sách như Bill Hayton đã làm là một công lớn. Một số học giả VN ở trong nước suốt ngày này sang tháng nọ nói về chủ quyền, về văn bản triều Nguyễn, về “chứng cứ không thể chối cãi”, nhưng chưa có ai hệ thống hoá chứng cứ thành một cuốn sách viết bằng tiếng Anh. Nói như thế để thấy cái công của Hayton là đáng kể.

Ấy thế mà Việt Nam ngày nay ngưng “lải nhải” (chữ của bài điểm sách) về chủ quyền mang tính lịch sử của mình! Thay vào đó, Việt Nam cầu khẩn thế giới tuân thủ theo luật biển UNCLOS (1994). Thái độ đó gián tiếp nói rằng Việt Nam công nhận chủ quyền của Tàu cộng trên những quần đảo họ đã đánh chiếm bằng vũ lực từ VN. Còn Tàu cộng thì họ biết các yêu sách và chứng cứ của họ yếu, nên họ dùng vũ lực và tẩy não. Họ tẩy não người Tàu rằng chủ quyền của Tàu cộng ở Biển Đông là không thể chối cãi, rằng các nước nhỏ như Việt Nam, Phi Luật Tân, Mã Lai đang chiếm biển đảo của Tàu!


Nhưng đoạn tái bút của bài điểm sách mới là thú vị vì liên quan đến cá nhân tác giả. Bill Hayton là phóng viên của đài BBC và từng công tác ở Việt Nam trong thời gian 2007-2008. Dù Bill Hayton có quan điểm và phát biểu có lợi cho Việt Nam trong cuộc đấu tranh duy trì chủ quyền biển đảo, nhưng ông không được Việt Nam chào đón. Thật ra, Chính phủ Việt Nam cấm không cho ông vào Việt Nam!

Năm 2012, Bill Hayton xin visa để vào VN dự hội nghị về biển đảo do Bộ Ngoại giao VN tổ chức, nhưng đơn của ông bị bác.

Vài tháng sau, ông lại đệ đơn xin visa vào VN để phỏng vấn các quan chức cho cuốn sách này, và một lần nữa, Chính phủ VN không cho ông vào. Hệ quả là ông không có nhiều chất liệu để viết về VN trong cuộc đấu tranh chủ quyền về biển đảo. Do đó, phần liên quan đến Việt Nam trong cuốn sách này tương đối “mỏng” so với các phần khác.

Phải nói thái độ của Chính phủ VN thật khó hiểu. Theo suy nghĩ bình thường, trong khi các học giả VN chưa viết được hay chưa đủ khả năng viết được một cuốn sách như Bill Hayton, thì đáng lẽ phải chào đón một người có quan điểm “gần” VN như Bill Hayton đến VN, hay ít ra là cung cấp dữ liệu cho ông ấy. Nhưng suy nghĩ bình thường đó có lẽ không ăn khớp với suy nghĩ của Nhà nước. Nghe nói trong thời gian làm kí giả ở VN, Hayton đã có những bài làm cho Chính phủ VN không hài lòng. Nhưng tôi nghĩ việc nào ra việc đó, có thể những bài đó không hợp gu với Chính phủ, nhưng về Biển Đông thì nên sử dụng mọi quan điểm và dữ liệu từ mọi nguồn để đem lại lợi ích cho chủ quyền quốc gia.

Nếu Chính phủ VN chào đón các học giả Tàu vào VN tham dự hội nghị (và đó là quyết định hoàn toàn đúng) thì VN chẳng có lí do gì để từ chối không cho người bạn như như Bill Hayton vào VN.

____________________

(1) http://www.asiasentinel.com/book-review/south-china-sea-struggle-power-asia/

Sách “The South China Sea: The Struggle for Power in Asia”, xuất bản bởi Yale University Press, dày 320 trang, giá bán 28 USD.

* * *

David Brown – Điểm sách của Bill Hayton: Biển Đông và cuộc chiến tranh giành quyền lực ở châu Á

Tác giả: David Brown
Người dịch: Trần Văn Minh

Trong những vấn đề nan giải toàn cầu, tham vọng bá quyền của Trung Quốc ở Biển Đông nên được đưa lên hàng đầu, cùng với thay đổi khí hậu, Thánh chiến và chống vi-rút Ebola. Vấn đề dường như không thể kiểm soát, vì thế giải quyết vấn nạn này đã trở thành sự thử nghiệm quan trọng, liệu trật tự quốc tế có thích hợp với một ‘Trung Quốc đang trỗi dậy’ hay không.

Bất kể tính thận trọng của Tổng thống Barack Obama, biết rằng tham gia vào một cuộc chiến ở nước ngoài dễ hơn là giành chiến thắng, sự đe dọa của các chiến thuật mà Bắc Kinh đặt ra trước lợi ích sống còn của Hoa Kỳ, đang lôi kéo Washington vào một cuộc đối đầu khó tránh khỏi với Trung Quốc. Cho tới một vài năm trước, có thể thấy rằng vấn đề Biển Đông là một cuộc tranh cãi giữa các nước ven biển về nguồn cá và tài nguyên dưới đáy biển, bị làm trầm trọng thêm bởi tính dửng dưng của Trung Quốc. Bây giờ đã rõ ràng là Trung Quốc không muốn đàm phán chủ quyền lãnh thổ với các nước láng giềng theo Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển (UNCLOS), mà chỉ quan tâm tới những điều có lợi cho họ. Washington đã phải gác lại giấc mơ về quan hệ đối tác toàn cầu với siêu cường mới trỗi dậy của châu Á, trong khi cân nhắc sự kiểm soát các tuyến đường biển quan trọng của Trung Quốc trong tương lai. Theo Bill Hayton thì Biển Đông “là vị trí đầu tiên trong tham vọng của Trung Quốc đưa tới việc đối mặt với quyết tâm chiến lược của Mỹ”.

Đây là một cuộc đối đầu mà chúng ta cần phải hiểu, và Hayton, phóng viên BBC đã từng có thời gian ở Myanmar và Việt Nam, đã cung cấp cốt truyện. Cuốn Biển Đông, với phụ đề Cuộc đấu tranh quyền lực ở châu Á mà ông nghiên cứu kỹ lưỡng và viết thật chải chuốt, đã được xuất bản tại Anh vào cuối tháng 9 và sẽ được Nhà xuất bản Yale Press xuất bản tại Mỹ vào ngày 28 tháng 10. (Cuốn sách được bán trên Amazon với giá 28 USD).

Cuốn sách dày 320 trang của Hayton chắc chắn sẽ được so sánh với một cuốn sách gần đây của Robert Kaplan có cùng chủ đề, Vạc dầu châu Á: Biển Đông và sự kết thúc của Thái Bình Dương ổn định. Đó là hai cuốn sách khác nhau. Kaplan tung ra sự khái quát nhẹ nhàng về bản sắc, lợi ích quốc gia và nỗi ám ảnh có tham vọng của các nhà lãnh đạo châu Á. Kaplan cho biết, tất cả là sự cân bằng quyền lực, một cuộc cạnh tranh diễn ra “trong cảnh quan mới và có phần hoang vu này của thế kỷ 21″. Đông Nam Á trong mắt ông là một nơi mà Trung Quốc có sứ mệnh đưa những nước chư hầu ngày xưa trở lại quỹ đạo thích hợp của họ và là nơi, nếu Washington thực tế trong sự phân tích, thì phải vui vẻ nhường lại vị thế ưu tiên cho Bắc Kinh.

Ngược lại, Hayton thì giải thích. Các chương mở đầu của ông đã dễ dàng dẫn độc giả đi qua năm ngàn năm trên Biển Đông, rằng đó là một khu vực chung bị chi phối bởi những nhà thám hiểm tiền-Mã Lai. Sau đó, các đế quốc thương mại trỗi dậy và suy tàn: Phù Nam, Champa, Majahapit và Malacca. Vào khoảng năm 1400, lần đầu tiên và duy nhất trước thời đại hiện nay, Trung Quốc trong một thời gian ngắn đã trở thành một cường quốc biển, gửi các đội tàu lớn tới Ấn Độ và Đông Phi trước khi chuyển sự chú ý của mình vào nội địa. Người Âu Châu trong việc tìm kiếm các loại gia vị, đồ gốm và lụa, đến vào những năm 1500. Tây Ban Nha thiết lập quyền thống trị trên quần đảo Philippines; ba thế kỷ sau đó, Pháp ở Đông Dương và Anh tại các bang Malay đã tạo ra các thuộc địa của họ và thậm chí bắt buộc Trung Quốc phải quy phục trước chính sách ngoại giao pháo hạm.

Những người Âu Châu, với ý định phân định ranh giới và thiết lập độc quyền lãnh thổ, đã vô tình đặt nền móng cho ý thức tinh thần quốc gia mãnh liệt, vào giữa thế kỷ 20, trở thành cựu thuộc địa và nhượng địa của họ. Việt Nam, Philippines, Malaysia, và Trung Hoa (cả chính phủ Đài Loan và Bắc Kinh) tất cả tuyên bố những mảng lớn và chồng chéo trên một vùng biển mở rộng mà trong quá khứ đã nối kết họ với nhau thay vì phân chia. Tất cả đã hối hả dựng quốc kỳ của họ trên các rạn san hô, đá và những đảo nhỏ (những ‘cụm’ tập hợp) rải rác trên vùng biển rộng lớn.

Tấm thảm đắt giá mà Hayton dệt tự nó có sức hấp dẫn, nhưng tầm quan trọng đáng chú ý là sợi chỉ ông cẩn thận kéo ra: Đòi hỏi chủ quyền dựa trên chứng cứ lịch sử của Trung Quốc ở vùng biển phía nam Hồng Kông và đảo Hải Nam chủ yếu là rác vụn. Bằng chứng của Trung Quốc đơn giản là không đứng vững trước biên niên sử của các chúa Nguyễn ở Việt Nam, vào khoảng năm 1750, đã phái những cuộc thám hiểm hàng năm đến cả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Người Việt Nam chủ yếu khai thác các tàu đắm, chắc chắn như thế, nhưng họ đã để lại những dấu vết và lưu giữ hồ sơ cẩn thận.

Trớ trêu thay, người Việt Nam đã ngưng dựa vào những bằng chứng lịch sử của riêng mình. Thay vào đó, họ dựa vào các quy định phân chia vùng biển được hệ thống hóa trong Công ước Quốc tế về Luật biển, có hiệu lực từ năm 1994. Philippines và Malaysia cũng như vậy. Luật pháp quốc tế là nơi trú ẩn của các quốc gia nhỏ và yếu hơn. Đối với các quốc gia mạnh có ý đồ gỡ bỏ những nỗi nhục trong quá khứ, thì luật pháp quốc tế thường là sự phiền toái bất tiện. Nhà cầm quyền Bắc Kinh có lẽ biết luận điểm pháp lý của họ yếu kém; họ có thể suy diễn rằng Trung Quốc lẽ ra đã thống trị các vùng biển lân cận nếu không bị Tây phương và Nhật Bản áp bức. Đối với một thường dân Trung Quốc vấn đề đó thật giản dị. Các giáo viên và truyền thông đại chúng đã thuyết phục ông ta rằng chủ quyền của Bắc Kinh trên các vùng biển phía Nam và các quần đảo là “không thay đổi” và “không thể tranh cãi.”

Các nhà phân tích – trong số đó gồm có Hayton và tác giả bài viết này – khó có thể giải thích vì sao Bắc Kinh quá ngạo mạn, làm sứt mẻ sự kính trọng [của thế giới dành cho họ] để cho đến gần đây họ đã phải cố gắng hết sức để lấy lại. Hayton thử đưa ra quan điểm cho rằng giới lãnh đạo hải quân, các công ty dầu mỏ và chính quyền địa phương đã mạnh mẽ theo đuổi chính sách đối ngoại tự lập, kéo theo những nhà lãnh đạo cấp cao không muốn lộ vẻ yếu đuối. Lập luận trên không đứng vững trong thời đại Tập Cận Bình; trong những năm gần đây chiến thuật của Trung Quốc đã được phối hợp nhịp nhàng một cách đáng chú ý.

Các nhà phân tích khác đổ lỗi cho cơn khát dầu hỏa và khí đốt dữ dội của siêu cường đang lên. Không nghi ngờ rằng sự tăng trưởng trong tương lai của Trung Quốc phụ thuộc vào nguồn cung cấp phong phú của cả hai. Nhưng chắc phải có nghi ngờ rằng Biển Đông là “Vịnh Ba Tư thứ hai” thường được đề cập trong phương tiện truyền thông Trung Quốc. Hơn nữa, ngang bằng với tỷ giá hối đoái, Trung Quốc đã không có khó khăn tìm nguồn cung ứng dầu khí bên ngoài khu vực, cũng như không nước nào có lợi ích để can thiệp vào mối thương mại đó.

Những quan sát viên phương Tây không cố gắng tìm hiểu vấn đề thường có xu hướng coi những yêu sách và tham vọng của Trung Quốc không kém giá trị hơn tất cả những nước khác. Kaplan đi xa hơn, xem luật pháp quốc tế thực ra không thích đáng trong tranh chấp Biển Đông. Tuy nhiên, tầm mức to lớn của yêu sách lãnh thổ và chiến thuật được sử dụng trong việc theo đuổi mục tiêu của Trung Quốc, là rất quan trọng đối Mỹ và các quốc gia có lợi ích lớn trong việc duy trì một trật tự thế giới hòa bình, dựa trên luật pháp và tự do mậu dịch. Các nhà phân tích này cho rằng một “Trung Quốc đang trỗi dậy” sẽ chỉ chơi theo luật khi phù hợp với lợi ích của họ. Điều đó có nghĩa rằng, Hayton kết luận, khu vực rộng 3.5 triệu kilomet vuông này — vùng ‘biển kín’ lớn nhất thế giới — đã trở thành nơi mà bản chất khác biệt giữa Trung Quốc và Mỹ sẽ có ngày xung đột.”

Mỗi năm trôi qua, sự căng thẳng tăng cao hơn. Một động lực không ổn định khó tránh khỏi việc sẽ kéo Mỹ và đồng minh châu Á chủ yếu là Nhật vào, để hỗ trợ Việt Nam và Philippines. Trung Quốc không cho thấy có dấu hiệu dịu xuống. Chưa nhìn thấy một kết cuộc hài hòa.

Tái bút: Trớ trêu thay, Bill Hayton không được chào đón tại Việt Nam. Ông là thông tín viên thường trú của BBC tại Hà Nội trong năm 2007-2008. Rõ ràng là các bài viết của ông vào thời điểm đó đã gây khó chịu cho nhà cầm quyền. Khi Hayton nộp đơn xin visa tham dự một cuộc hội thảo tháng 11 năm 2012 về các vấn đề Biển Đông do Học viện Ngoại giao Việt Nam tổ chức, ông đã bị từ chối. Vài tháng sau, Hayton nộp đơn một lần nữa, đặc biệt với yêu cầu phỏng vấn các quan chức Việt Nam cho cuốn sách sắp tới của mình. Một lần nữa ông lại bị từ chối. Kết quả là phần trong cuốn sách của Hayton nói về Việt Nam và Biển Đông tương đối “mỏng” — thiếu những chi tiết để thu hút độc giả mà cuộc nói chuyện với các chuyên gia Việt Nam có thể sẽ cung cấp. Đó là một điều đáng tiếc – và một câu chuyện khác (cho đến nay) có kết cuộc chẳng mấy hay ho gì!

David Brown là một nhà ngoại giao Mỹ đã về hưu, là người viết về các chủ đề Đông Nam Á với sự quan tâm đặc biệt đến Việt Nam đương đại. Có thể liên lạc với ông tại địa chỉ nworbd@gmail.com.

—–

Ghi chú: Bản tiếng Anh đã được đăng trên trang Asia Sentinel: Book Review: The South China Sea: The Struggle for Power in Asia. Một bản khác, tác giả viết riêng cho các độc giả Việt Nam, có phần khác với bản này.

Theo blog Anh Ba Sàm

Posted in Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa, Sách- Báo- Hồi Ký | 1 Comment »

►Hai cách ngắm Đèn Cù (Bùi Tín)

Posted by hoangtran204 trên 24/10/2014

Hai cách ngắm Đèn Cù

Tác giả:  

14-10-2014

Danchimviet.info

 

Trên mạng Dân Làm Báo vừa có bài ‘Những hạn chế của Đèn Cù’ của tác giả Phan Châu Thành, chỉ ra 8 điểm yếu kém của tác phẩm mới trình làng của Trần Đĩnh.

Ý kiến khác nhau, thậm chí trái ngược nhau về một cuốn sách là chuyện thường tình trong cuốc sống văn học- chính trị. Trao đổi, tranh luận, cọ xát chính kiến làm cho xã hội tiếp cận với lẽ phái, với cái đẹp, cái tiến bộ, cái có ích, cũng như lắng nghe nhau, tôn trọng ý kiến khác nhau là động lực thúc đẩy cuộc sống văn hóa và học thuật.

Tôi thấy tác giả Phan Châu Thành có phần quá lời khi cảnh báo rằng cuốn sách của Trần Đĩnh có thể ‘nguy hiểm‘(!), ‘không có ích gì cho phong trào dân chủ’(!) , ‘có thể gây nhiều ngộ nhận’, ‘ không nói được cái gì mới ‘, ‘ chỉ là một cuốn sách tù mù, luẩn quẩn, không mới, không đặc sắc, như một chiếc đèn cù tầm thường ngoài đời vậy ‘.

Tôi e rằng ông Phan Châu Thành chưa nắm chắc được phương pháp, nguyên tắc  thưởng thức một tác phẩm văn học nghệ thuật hay chính trị. Thật đáng tiếc.

Trước hết, người đọc cần đặt mình vào trong điều kiện, môi trường, hoàn cảnh sống của người viết để đánh giá nhân sinh quan, lẽ sống, chính kiến của người viết; hai là cần có thái độ công bằng, khoan dung, khiêm tốn, không yêu cầu người viết phải có quan điểm, bút pháp giống hệt mình, y như mình mong muốn, cần theo quan điểm đa nguyên, mỗi người có quyền được giống và khác người ; ba là tự mình biết gạn đục khơi trong, biết nhận ra, thưởng thức những cái hay, cái đẹp, cái thiện tiềm ẩn, có khi đó không phải là chủ định của người viết. Cuối cùng là phát hiện thông điệp chính, cái thần của tác phẩm.

Phan Châu Thành còn đi quá xa sự thật, khi cho rằng những Trần Đĩnh, Trần Đức Thảo, Vũ Thư Hiên, Bùi Tín đều vẫn còn thuộc hàng ngũ ‘ Hồ-Nhều ’ cả. Đã gần 10 năm nay tôi đã nhiều lần nói, viết, khẳng định rằng sau khi nghiền ngẫm kỹ, nghiên cứu thấu đáo tôi đã đi đến kết luận như đinh đóng cột rằng : «  ông Hồ là 1 nhân vật tiêu cực, có hại cho đất nước, nếu cho điểm tôi sẽ cho điểm âm, dưới zéro » ; rằng : « sẽ là may mắn cho dân tộc nếu như ông Hồ không sang Pháp, vào đảng Xã hội, rồi vào đảng Cộng sản Pháp, không sang Nga học nghề tình báo của đệ Tam Quốc tế CS, không sang Tàu gia nhập đệ Bát Lộ quân của Mao … để rồi về nước áp dụng một chế độ độc đoán phi dân chủ, phản dân chủ đến tận ngày nay ». Tôi không bao giờ đạp giày lên ảnh ông Hồ như có người thách thức, tôi không gọi ông Hồ là thằng, là lão, là tên, theo cái kiểu Phan Châu Thành không hài lòng khi thấy triết gia Trần Đức Thảo và Trần Đĩnh vẫn gọi ông Hồ là ‘ ông Cụ ‘.  Một kiểu chống Cộng sơ đẳng, ấu trĩ, không nên có ở một người làm chính trị đứng đắn, có tư cách, tôn trọng độc giả. Nhà báo lương thiện không hồ đồ, suy diễn.

 

Tôi biết Phan Châu Thành có lần bộc lộ trên mạng mong muốn cao nhất của anh là giải ảo về nhân vật Hồ Chí Minh, với bài : ‘Giải ảo về HCM như thế nào ?’. Anh nhận định rất đúng rằng lãnh đạo giáo điều bảo thủ hiện nay chỉ còn bám víu hão huyền vào nhân vật thành ‘huyền thọai ‘ này. Thế mà anh không nhận ra ‘Những lời trăng trối’ và ‘ Đèn Cù’ thực tế chính là những nhát xẻng sắc đã an táng ông Hồ xuống mấy tầng đất đen. Vâng, chôn về tinh thần, nhân cách,  còn sâu sắc hơn là chôn  cơ thể, con người.

Trần Đĩnh nói gì ?  Rằng ông Hồ bịt râu ra tận hiện trường xã Đồng Bẩm tham dự cuộc đấu tố và xử tử bà Nguyễn Thị Năm, còn tự mình viết bản cáo trạng vu cáo bà Năm giết hàng trăm nông dân, ký tên C.B. là ‘của Bác’ – ‘bác Hồ’, để đăng trên trang nhất báo Nhân Dân. Đã vậy còn giả dối nói với ông Hòang Tùng là « không thể bắn chết một phụ nữ mở màn cho Cải cách ruộng đất, cũng như không thể đánh một phụ nữ dù bằng một cành hoa -, theo cách nói nịnh đầm của dân thượng lưu Pháp ».  Ông Hồ còn hứa hão với ông Hoàng Quốc Việt là sẽ can thiệp với cố vấn Tàu để không bắn bà Năm. Trần Đĩnh vốn kiệm lời, tin ở bạn đọc thừa đủ biết cách đọc. Để làm vỡ lẽ là ông Hồ lá mặt, lá trái, tàn ác, giả dối đến độ nào. Nói thẳng ra là đểu giả, mất dạy đến độ nào. Đạo đức nào như thế. Học đạo đức ‘bác’ thì cả dân tộc, cả thế hệ trẻ sẽ thành một dân tộc lừa lọc, bịp bợm.

Một đọan rất ngắn, 1, 2 lưỡi xẻng sắc thừa đủ chôn vùi uy danh, nhân cách của ông Hồ.

Đã có ai lật mặt ông Hồ có sức thuyết phục, đau đến thế, không cãi được đến thế ? Sao lại bảo Trần Đĩnh còn ‘ Hồ nhều’, vu cáo thế là phải tội đấy. Đúng là TĐ có nói : lúc đầu tôi cũng mến ông Hồ, nhưng xin chú ý, chỉ ‘lúc đầu’ thôi. Sau ông đã ‘dứt tình’ kia mà.

Còn triết gia Trần Đức Thảo ? ‘Hồ-Nhều’ ư ? chỉ vì 2 chữ ‘ông Cụ’(!)? . Hơn một chục lần TĐT gia công giải mã ‘ông Cụ’. Sâu và cay không ai hơn được. Xin mời anh Phan Châu Thành và các bạn xem lại vài đọan trong cuốn ‘Những lời trăng trối’, có thể coi là công trình triết học sâu sắc về giải mã nhân vật Hồ Chí Minh.

– Cụ Hồ là một nhân vật vô cùng phức tạp, vô cùng thông minh, rất mưu trí, một

con người sắt đá đến mức vô cảm, vô tình, sẵn sàng chụp bắt mọi cơ hội để thành đạt. Một ý chí thành đạt không gì lay chuyển. Đây là một Tào Tháo muôn mặt của muôn đời (trang 318)

– Phải hiểu rằng ‘ông cụ’ có tâm thức mình là bên trên tất cả, là một bậc kỳ lão gia

trưởng luôn luôn tỏa sáng bởi một thứ hào quang thần thoại đúng với truyền thuyết lịch sử ‘ con Rồng cháu Tiên ‘. Và đám quần thần chung quanh ‘ông cụ’ không tha thứ cho một ai dám tỏ mình là ngang hàng với ‘ Người’. Từ những tay nổi tiếng tâm huyết như Nguyễn An Ninh, Phan văn Hùm, … cho tới kẻ được đào tạo chính quy như Trần Văn Giàu, và biết bao nhiêu trí thức có uy tín khác nữa… đều là nạn nhân của thái độ như thế. Tất cả đều bị lọai bỏ một cách tàn nhẫn và vĩnh viễn. Người ta ưa kể cho nhau nghe rằng Tạ Thu Thâu chết mất xác vì câu nói: ‘ngòai Bắc có cụ, trong Nam có … tôi’(261).

– Phải biết rằng huyền thọai và vóc dáng lãnh tụ của ‘bác Hồ’ là tác phẩm của cả một công trình nghệ thuật hóa trang cao độ, một công trình điểm tô, giàn dựng, để công kênh ‘ông cụ’ lên thành một nhà lãnh đạo uy nghi, kiệt xuất, như là bậc thần bậc thánh

để dân chúng một lòng ngưỡng mộ mà sùng bái. ‘Ông cụ’ được tôn vinh làm bác, làm cha dân tộc. Họ dạy cho dân tiêu chuẩn lý tưởng, cái gì có giá trị thì cũng phải là của ‘bác Hồ, của ‘cụ Hồ’. Nào là ‘cháu ngoan bác Hồ’, ‘cây vú sữa bác Hồ’, ‘nhà sàn bác Hồ’ cho tới ‘anh bộ đội cụ Hồ’ (262).

– Guồng máy tuyên truyền cách mạng dạy dân :’ Phải sống và làm việc theo gương

‘bác Hồ’ ! Nhưng làm sao một người bình thường có thể sống với tung tích không rõ rệt, gốc gác đầy bí ẩn, nhiều tên họ lung tung, với đường lối muôn mặt như ‘bác Hồ’ được.

Hành trình gập ghềnh, khúc khuỷu của ‘bác Hồ’ thì khó có ai có thể đi theo. Từ một chú bé học chữ nho ở trong làng, từ một cậu học trò nghèo sống ở Huế, từ một ông thày giáo quèn ở Phan Thiết, từ một anh bồi hầu hạ quan Tây trên tàu thủy, từ một anh thợ chụp ảnh dạo ở Paris, từ một kẻ mượn danh một nhóm ái quốc ‘An Nam’ viết báo, viết kiến nghị gửi hội nghị quốc tế, từ một đảng viên đảng Xã hội Pháp, nay bỗng xuất hiện ở Nga, mai lại là cán bộ ở bên Tàu, nay bị đệ Tam quốc tế khai trừ vì có ’đầu óc quốc gia hẹp hòi’, mai lại thấy chạy về ẩn náu ở Trung Quốc, ở Xiêm… rồi sau lại thấy xuất hiện trở lại ở Liên Xô, nhưng chỉ được chầu rìa bên lề Đại hội kỳ 5 của đệ Tam Quốc tế… Rồi sau lại thấy ‘bác’ xuất hiện với bộ áo cà sa ở Xiêm, rồi là trong bộ quân phục Giải phóng quân Trung quốc, khi được nhận vào làm việc trong Bát Lộ Quân của đảng CS Trung quốc… Sau biết bao truân chuyên, thì rồi bỗng ‘bác’ nổi bật như một nhà chính trị của mọi cơ hội, một lãnh tụ của cách mạng ! Một con người đa năng, muôn mặt, muôn ý, muôn hướng phức tạp như thế, ai mà làm theo, noi theo tấm gương ấy được (268)

– Xét rộng ra thì tầng lớp lãnh đạo sau này chỉ là cái đuôi … của tuyên truyền giáo điều máy móc, thiếu biện chứng, phản biện chứng ! Vấn đề là không thể bắt buộc noi gương ‘bác Hồ’.  Bởi cách sống muôn mặt, đa phương, đa nguyên của ‘bác’ đâu có phải là gương sáng ?  Bởi những điều ‘bác’ đã làm nó rất khác, rất trái ngược với những điều ‘bác‘ dạy ! Bởi đảng, nhà nước đã hành động muôn mặt như ‘bác’ nên xã hội đã loạn. Trong thực tế đâu có ai sống theo lời dạy của ‘bác’?(273)

Chỉ qua vài đọan trên có thể thấy triết gia Trần Đức Thảo đã khắc họa ‘ông Hồ’ đậm nét, trúng phóc ra sao.  Bộ máy tuyên huấn tháng 5 và tháng 9 vừa qua nhân kỷ niệm ngày sinh và ngày mất của ‘ông Hồ’ vẫn còn ra rả kêu gọi thanh niên, đảng viên học tập đạo đức của  ‘bác Hồ’, để theo như triết gia nói, cả nước hóa thành Tào Tháo lừa lọc nhau cả ư ? rồi các em sẽ khai ngày và năm sinh tùy tiện, mỗi em mang hàng chục bí danh, sống đạo dức giả hết hay sao. Rồi các em có vợ có con sẽ không nhận vợ, nhận con, còn lấy con gái nuôi của chính mình cho dù chênh nhau hơn 40 tuổi, rồi để cô ta bị đập vỡ sọ vẫn dửng dưng. Học làm theo ‘bác’ như thế sẽ rối lọan to.

Riêng công trình ‘giải mã ông cụ’ của triết gia Trần Đức Thảo qua những lời trăng trối đã xứng đáng được vinh danh là công trình xuất sắc hạ bệ một thần tượng giả, dỏm, tệ hại cho toàn dân tộc. Huống gì triết gia còn triệt để phủ định chủ nghĩa Mác, kết luận nó sai, sai từ gốc đến ngọn, trong khi cương lĩnh hiện tại của đảng CS vẫn coi là cơ sở lý luận, cũng là một đòn chí tử nữa, một cống hiến đúng lúc khi đảng CS chuẩn bị Đại hội XII.

TĐT còn phủ định cả chế độ, cả đảng CS đến mức triệt để, khó ai có thể triệt để hơn, khi nói về công trình của mình:«Đây là những kinh nghiệm sống động để có thể hiểu rõ nguồn gốc của thảm kịch vẫn đang bao phủ lên thân phận dân tộc. Nó đưa tới tình trạng suy đồi đạo lý trong xã hội ta ngày nay.Một xã hội đang bị ung thối bởi căn bệnh trầm kha bất trị, căn bệnh xảo trá, căn bệnh thủ đọan của đảng » (trang 72).

Còn nhà báo Trần Đĩnh đâu phải chỉ muốn minh oan cho cánh Xét lại, theo đường lối của Liên Xô hồi đó. Đường lối ấy nếu như ông Hồ, ông Trường Chinh từng cam kết tán thành tại cuộc họp lớn 81 đảng CS ở Moscow và thuyết phục được ban chấp hành trung ương thì VN sẽ kiên trì thi đua hòa bình như giữa Tây Đức và Đông Đức, tránh việc dùng bạo lực và chiến tranh, tránh bao nhiêu sinh mạng bị hủy diệt trong cuộc huynh đệ tương tàn. Kết thúc sẽ có thể khác, dù sao vẫn còn hơn tình thế hiện nay.

Hai là minh oan cho vụ án hoang tưởng ấy còn là xây dựng nhà nước pháp quyền, lỗ hổng lớn của chế độ độc đảng phi pháp hiện nay, buộc phải xét lại cả những vụ án nhằm làm hài lòng Liên Xô khi chống Tàu, mà chính Lê Duẩn xoay trở cờ, như vụ án Chu Văn Tấn ‘ tay sai của Bắc Kinh’ (thượng tướng tư lệnh quân khu I) chết trong trại giam.

Ba là như nhà báo Trần Đĩnh nhận xét, họ không dám xét lại vụ án xét lại vì như vậy sẽ đổ vỡ, lan rộng, tóe loe ra hết, lớn nhất là vụ Tổng Cục II, vụ Lê Đức Anh chui vào đảng, 2 vụ đã được một tiểu ban kết luận nhưng tổng bí thư Nông Đức Mạnh quyết định ỉm đi, hủy đi với đa số đồng tình của bộ chính trị. Nhưng nay bộ chính trị và ban chấp hành trung ương hiện vẫn có quyền hồi tố đưa ra xem xét lại.

Vậy mà anh Phan Châu Thành cảnh báo rằng coi chừng Đèn Cù không chống Cộng, không chống chế độ hiện tại, nó có thể ‘nguy hiểm nữa’. Thưởng thức văn học, có khi nên biết đọc giữa 2 hàng chữ, sau những hàng chữ, ‘ý tại ngôn ngọai ‘.  Bàn về chủ nghĩa tập thể theo kiểu cộng sản, Trần Đĩnh nói về ‘ chất thú hoang dã, về vòng vây của chủ nghĩa tập thể, cái chủ nghĩa nó không biết nhân cách’.  Anh thêm: ‘ Cái gì đụng đến Người – con Người – là nó ghét lắm. Nhân cách chống cộng của Trần Đĩnh thể hiện ở câu nói: « Thà làm con đom đóm lập lòe tý chút ánh sáng của riêng nó, cái ánh sáng nhỏ mọn, nhưng làm nổi bật lên bóng tối bao la hãi hùng vây quanh nó ».

Anh Phan Châu Thành có nghe Trần Đĩnh mượn lời một cô gái thốt lên: ’ước gì Mỹ thả bom cho tan nát hết đi !’.  Đó, chế độ CS dẫn đến một xã hội tan hoang không còn đáng sống. Và hãy nghe anh kể khoan khoái ra sao khi nhận được câu chúc mừng của cụ thân sinh từ Sài gòn gửi ra Hà Nội khi được tin anh bị (được) khai trừ khỏi đảng CS : «  il faut célébrer la grande sortie de Đĩnh -, phải ăn mừng cuộc giải thóat lớn của Đĩnh ».

Tôi mong rằng đông đảo bạn đọc tận thưởng 2 chuỗi ngọc quý ‘Trăng trối’ và ‘ Đèn Cù’. Vẫn còn khá nhiều hạt ngọc ẩn hiện trong đó. Miễn là không định kiến, không ganh ghét, không dèm pha, công bằng và tĩnh trí. Và biết cách thưởng thức những thông điệp tâm huyết thầm kín của tác giả. Tôi thích thú mong đợi tập II của Đèn Cù.

Tác giả:  

(Tác giả gửi đăng)

Nguồn:  Đàn Chim Việt:

Hai cách ngắm Đèn Cù 
http://www.danchimviet.info/archives/90937/hai-cach-ngam-den-cu/2014/10

Những hạn chế của Đèn Cù  (cảm nhận của Phan Châu Thành)
http://danlambaovn.blogspot.de/2014/10/nhung-han-che-cua-en-cu.html

Nhận định của ông Bùi Tín về việc một số lãnh đạo VN bị tố giác cộng tác với CIA, (22-7-2004), nói về vụ khám xét và bắt ông Lê Hồng Hà.

http://www.rfa.org/vietnamese/programs/VietnamPolitics/141853-20040722.html

Phỏng vấn Lê Hồng Hà – Đảng chỉ còn vai trò kìm hãm xã hội (3-6-2012)
http://www.procontra.asia/?author=11

Posted in Sách- Báo- Hồi Ký, Đảng CSVN | Leave a Comment »

►Chủ Tịch Hồ Chí Minh bị Indonesia nhắc nhở đừng hôn các thiếu nữ– chuyện đó vi phạm phong tục của người Indonesia

Posted by hoangtran204 trên 24/08/2014

Tháng 3, 1959, khi Chủ Tịch HCM viếng thăm Indonesia trong 10 ngày, ông gặp thiếu nữ người Indonesia nào ông cũng ôm hôn và nút lưỡi…Báo chí Indonesia đã viết nhiều bài thẳng thắng nhắc nhở bác đừng làm thế, đừng làm thế, đạo Hồi không cho phép, và phong tục của Indonesia khác với phong tục của đảng CSVN. Nhưng bác vẫn không quan tâm vì ở nhà bác vẫn làm thế mà chẳng có ai phản đối. 

Đảng CSVN cụ thể là các ủy viên trung ương đảng và BCT muốn biến ông HCM trở thành một vị thánh, một đời bận rộn lo cho nước nên không lập gia đình. Thật sự ông HCM đã có con trai cả là Nông Đức Mạnh (sinh 1940). Đến năm 1955, đảng tiến cử cô Nông Thị Xuân vào phục vụ cho bác. Sau khi cô sinh cho bác một đứa con trai là Nguyễn Tất Trung (1956), cô Xuân đòi bác phải ra tuyên bố công khai chuyện vợ chồng. Nhưng ủ bạn trứng ương đảng, Lê Đức Thọ, Trần Quốc Hoàng, không đồng ý cho bác có vợ. Và chúng đã hiếp dâm rồi giết cô Nông Thị Xuân 1957 và ngụy tạo cô chết vì tai nạn xe cộ nên. Chúng giao đứa con của cô cho thư ký của ông Hồ Chí Minh tên là Vũ Kỳ nuôi, và có lúc giao cho Thượng tướng Chu Văn Tấn nuôi. Tướng Chu Văn Tấn cũng được cử chỉ huy việc sản suất và trồng thuốc phiện để bán lấy tiền lấy ngoại tệ cho đảng cho đến năm 1986. (Về sau, khi về già, mỗi khi uống rượu say, tướng Chu Văn Tấn thường kể lại toang toác các sự kiện bí mật này. Để bịt miệng, đảng CSVN đã giết tướng Chu Văn Tấn.)

Sau khi cô Xuân chết, bác vẫn còn sung sức nhưng không có dịp…, từ đó, mỗi khi có cơ hội gặp các thiếu nữ VN, bác thoải mải và tự nhiên ôm, hun, và nút lưỡi các thiếu nữ chùn chụt, chùn chụt trước mặt hàng ngàn người, trong khi các đảng viên đảng CSVN chứng kiến cảnh tượng này với nét mặt vui vẻ và với nụ cười độ lượng. Đã không có ai dám chất vấn hay bắt bác làm kiểm thảo và viết bản tự kiểm. Bác tưởng vậy là đúng, nên cứ thế mà làm ở bất cứ nơi đâu…cho đến ngày bác đến thăm Indonesia 1959

Chuyện như sau:

Chủ Tịch Hồ Chí Minh được nhắc nhở đừng hôn các thiếu nữ– Hành động ấy vi phạm phong tục của người Indonesia 

Trần Hoàng (dịch)

Báo Straits Times Singapore-

Jakarta, Thứ 7, ngày 8 tháng 3, 1959 – Chủ tịch Hồ Chí Minh, 68 tuổi,  bị nhắc nhở một cách thẳng thừng rằng phải ngưng việc hôn hít các em gái Indonesia và hãy tôn trọng những điều răn của Hồi giáo.

Nhiều tờ nhật báo ở Indonesia đã phê bình Chủ tịch Hồ về việc thường xuyên hôn hít trong chuyến viếng thăm 10 ngày xuyên qua Java và khu nghỉ mát quần đảo Bali.
 
Hôm nay, ông A. N. Firdaus, Tổng thư ký Hội Đồng Hồi Giáo Indonesia tuyên bố: “Những hôn hít đó vi phạm luật Hồi giáo  được 90% dân chúng Indonesia đặt niềm tin”.
 
“Ảnh hưởng”
 
“Hôn hít các thiếu nữ nơi công cộng là vi phạm phong tục Indonesia.”
 
Ông Firdaus nói thêm “Có thể chủ tịch Hồ Chí Minh bị ảnh hưởng quá nhiều bởi tuyên truyền cộng sản nên ông ta nghĩ rằng những giá trị đạo đức của Indonesia cũng tương tự như đạo đức của cộng sản.”
 
Tờ nhật báo của cánh Xã hội Pedoman, một trong những tờ báo hàng đầu ở thủ đô Jakarta mới đây cũng ám chỉ đến một bài báo trên tờ Harian Rakjat trong đó đã chỉ trích vụ nhảy lắc vòng này là “kết quả của văn hoá Mỹ” và bồi thêm rằng “chuyện hôn hít của Chủ tịch Hồ Chí Minh rõ ràng là sản phẩm mới nhất của văn hoá Liên Sô.”
“Đoàn Kết”
Tờ báo của đảng Cộng sản Indonesia  nhảy ra bảo vệ chủ tịch nước VNDCCH  và gọi “những nụ hôn của chủ tịch để biểu lộ tình đoàn kết và lòng qúi mến, mà Tổng thống Soekarno đã nhắc đến.
Một tờ báo khác, tờ Harian Abadi đề nghị trưởng ban nghi lễ của Bộ Ngoại Giao “nên nói nhỏ vào tai của các quốc khách: họ nên biết cách cư xử cho hợp lẻ.”
Tờ báo này viết thêm rằng: “Chúng tôi thật sự không hiểu do đâu mà những vị khách nước ngoài lại nghĩ rằng hôn hít vợ và con của chủ nhà là  một hành vi ban ơn”
Một vị nữ dân biểu của Quốc Hội, bà Mawardi Noor, nói việc hôn hít của Chủ Tịch HCM là điều đáng tiếc. “Tôi hy vọng rằng, hành vi của ông Hồ sẽ không nên trở thành một thói quen ở Indonesia.”

Hình ảnh lấy từ

http://ttngbt.wordpress.com/2014/08/21/president-ho-is-told-to-stop-kissing-girls/

►Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đe dọa tướng Giáp: “Đại tướng đừng vin là người có công để yêu cầu nọ kia đối với Trung Ương Đảng, những người có công với đất nước nhất đều đang nằm ở nghĩa trang Trường Sơn”.
►Hội Nghị Thành Đô ngày 3 và 4-9-1990- Những sự thật cần phải biết (Phần 27)
►Kỉ niệm ngày mất cố tổng thống Ngô Đình Diệm…(1-11-1963)
►Hanoi’s War: Cuộc chiến Tranh của Hà Nội (Tiến sĩ Nguyễn Thị Liên Hằng)
►Nhìn lại 45 năm để soi rọi chính mình: “Kết quả của 45 năm thực hiện di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh- dân ta chỉ mơ sang Hàn Quốc làm…ÔSIN
Các Văn Bản- Tài liệu Lịch sử…

Posted in Nhan Vat Chinh tri, Sách- Báo- Hồi Ký | Leave a Comment »

►Lời chia tay với một tờ báo đang bị đóng cửa- Chia tay với báo SGTT – Nhắc lại một kỷ niệm đẹp

Posted by hoangtran204 trên 03/01/2014

Sai Gòn Tiếp Thị đang bị Thành Đoàn của đảng CSVN, và UBND Tp ép phải đóng cửa sau nhiều bài báo rất hay, nêu lên những vấn đề thời sự, lịch sử, phóng sự, tùy bút…mà không báo nào có được. Đặc biệt, bài báo của Huy Đức 24-9-2009 (tựa đề Ngay Thẳng) đụng đến chuyện 185 ha đất của Chị Hai Tâm, (chị của TT Nguyễn Tấn Dũng). Sau khi đăng bài này, TBT Đặng Tâm Chánh bị ép qua làm công tác khác, nhà báo Huy Đức bị mất việc, vì baó bị ban Tuyên Giáo, Thành Đoàn, UBND Tp…quyết định khai tử vào ngày 1-3-2014. Dẫu rằng tờ báo hiện nay đang có lời nhờ đăng quãng cáo.

Báo SGTT rất được hàng trăm ngàn bạn đọc ái mộ và đặt mua báo dài hạn.

Chia tay với SGTT – Nhắc lại một kỷ niệm đẹp

*Hoàng Ngọc Diệp

Theo Diễn Đàn

Vào các năm 1995 đến 1998, tôi đã chọn SGTT làm kênh quảng cáo chính cho các sản phẩm mà các công ty tôi làm giám đốc, hoặc giám đốc marketing, những sản phẩm như HP, Motorola, Samsung, Swatch, Nokia, Siemens, v.v… Không những SGTT là kênh quảng cáo chính mà đây cũng là một kênh báo chí tôi chọn làm nơi đưa ra hàng loạt những quan điểm, đánh giá và phản biện, vì SGTT, nhất là đội ngũ phóng viên, nhà báo, luôn sẵn sàng chịu “rủi ro” nếu những thông tin đưa ra là hợp lý, minh bạch và đầy đủ. Ngay cả đối với những vấn đề hay sự kiện có thể rất “nhạy cảm”.

Dưới đây là một trong những sự kiện “nhạy cảm” đã làm cho ban biên tập và phóng viên SGTT bị Thành Uỷ kiểm điểm mà tôi đã vô tình dự phần từ đầu và sau đó phải cố tình tham gia để phần nào giúp giải quyết từ “phía sau lưng hậu trường”.

Viết về sự kiện này như là một lời ngợi khen ngắn gọn của tôi đối với các anh em đã làm việc cho SGTT và như là một lời chia tay với một tờ báo đang bị đóng cửa.

Vào giữa tháng 6/2008, Saigontel được cấp giấy phép đầu tư “Công Viên Phần Mềm Thủ Thiêm”, dự án có quy mô: tổng vốn đầu tư trên 1,2 tỉ USD đầu tư cho diện tích 16 hecta; chủ dự án còn tuyên bố rằng: “Trong quá trình xây dựng, dự án này sẽ tạo cơ hội việc làm cho khoảng 40.000 công nhân. Sau khi hoàn thành, dự án này sẽ duy trì thường xuyên lực lượng lao động bảo trì, phục vụ khoảng 70.000 người. Cũng theo tính toán của các chuyên gia thiết kế dự án trên, trung tâm phần mềm Thủ Thiêm đủ chỗ làm việc cho khoảng 49.000 người.”

Với những con số khổng lồ này, tôi thấy ngay dự án này có vấn đề! Không phải chỉ một hoặc hai vấn đề mà nhiều vấn đề vô cùng phản khoa học.

Đối với cộng đồng ICT thì đây quả thật là một siêu dự án có quá nhiều hứa hẹn, vì vậy, nhóm phóng viên ICT tại TP có giao lưu với tôi và tìm hiểu cách nhìn của tôi để tham khảo thêm từ nhiều góc độ khác nhau, cuộc giao lưu thân mật này được thực hiện vào đầu tháng 7/2008 trên sân thượng tầng 5 tại Khách Sạn Rex (ngoài trời để anh em hút thuốc).

Trong cuộc giao lưu, tôi phân tích rõ về các góc độ sau:

1. Tính hiệu quả kinh tế của dự án: Với 1.2 tỷ USD chỉ cho 16ha đất sử dụng, tính đổ đồng là 7.500 USD/m2 hoặc ~1.000 USD/m2 cho cây xanh và đường sá + ~17.000 USD/m2 cho phần các loại toà nhà. Với con số đơn giản này thôi thì việc thu hồi vốn trong vòn 10 năm là bất khả. Từ đó, không thể có chuyện đầu tư để có hiệu quả kinh tế được. Và nhóm đối tác từ Đài Loan lại vô cùng kinh nghiệm trong kinh doanh bất động sản cho nên rất có vấn đề.

2. Tính thực tế của các doanh nghiệp phần mềm: Gia tài quan trọng nhất của các doanh nghiệp (DN) phần mềm là chuyên viên phần mềm, ngay cả ở Silicon Valley, các DN luôn tạo mọi cách để giữ cách biệt chuyên viên của họ đối với mọi DN khác nhằm tránh bị đối thủ dụ dỗ bỏ DN đi nơi khác. Bên cạnh, việc bảo mật về thông tin sản phẩm, thông tin khách hàng, v.v… là những bảo mật hàng đầu. Cho nên không một DN phần mềm nào chọn chung chạ với các DN đối thủ cả. Lý do để DN phần mềm vào khu Quang Trung chỉ là vì lúc đó công viên phần mềm Quang Trung có hạ tầng truyền dẫn tốt, rẻ, và những ưu đãi cho DN vào đó rất lớn so với ở bên ngoài. Nhưng sau 2005 thì thực tế lại khác, những DN này tuy vẫn giữ trụ sở ở trong đó, nhưng những nhóm chuyên viên phần mềm chính của họ được ngấm ngầm đưa ra ngoài để hoạt động. Vì vậy, dự án “Công Viên Phần Mềm Thủ Thiêm” chỉ là tên gọi chứ định hướng kinh doanh không thể nào như họ tưởng tượng.

3. Thực tế về nhu cầu phát triển ICT tại Việt Nam: Sự rời rạc trong phương pháp phân cấp chủ quyền những dự án IT xương sống của nhà nước hoàn toàn phản khoa học trong góc độ quản trị cũng như trong góc độ triển khai các giải pháp, nhất định sẽ dẫn tới tình trạng thiếu tập trung, lãng phí và trì trệ. Từ đó, việc nhu cầu chuyên viên phần mềm cho lĩnh vực ICT của cả nước sẽ rất nhỏ, chưa bàn đến chuyện có 49.000 người thường xuyên làm việc tại dự án này!

Đó là những tóm tắt ngắn gọn của 1 buổi giao lưu kéo dài hơn 3 giờ trao đổi liên tục giữa phóng viên các báo và cá nhân tôi.

Sau đó hai tuần, vào ngày 21/7/2008, báo SGTT đưa lên một bài báo với tựa đề “Trung tâm phần mềm Thủ Thiêm – 90% là diện tích văn phòng và thương mại” với kết luận:

“Như vậy doanh số, bài toán nguồn nhân lực của trung tâm này đều có ít nhiều hoài nghi tính khả thi của nó. Do đó không ít các doanh nghiệp phần mềm đang ngờ rằng, dự án trung tâm phần mềm Thủ Thiêm cũng là một dự án bất động sản đơn thuần như bao dự án mà SaigonTel đang tham gia. “Để thuận tiện trong việc xin giấy phép, họ lựa chọn “chiêu bài” tập trung vào những lĩnh vực mà TP.HCM đang hướng đến như công nghệ cao, công nghệ phần mềm… Đến khi xây dựng xong, cho ai thuê mà chẳng được. Đâu có quy định chế tài nào không cho các đối tượng khác vào trung tâm phần mềm thuê chỗ đâu”, ông Hoàng Ngọc Diệp, cố vấn cao cấp của tập đoàn Foxconn tại Việt Nam thẳng thắn nhận xét.”

Câu chuyện nếu tới đây dừng thì chẳng có gì để bàn luận xôn xao cả. Tuy nhiên, sự việc đã không đơn giản như vậy!

Hai tuần sau, ban biên tập và phóng viên viết bài này nhận một cái công văn từ văn phòng Thành Uỷ lệnh điều tra, báo cáo và kiểm điểm vì viết bài báo này!

3 tuần sau nữa, công ty Foxconn nhận công văn từ UBND TP yêu cầu Foxconn giải trình tại sao tôi, cố vấn cao cấp của Foxconn, lại dám đưa ra những nhận định “tiêu cực” về một “siêu dự án” của TP mà chính Thành Uỷ duyệt và đỡ đầu. Bức công văn này có c.c. đến văn phòng Thành Uỷ.

Với tư cách một nhà đầu tư đã bỏ ra gần 2 tỷ USD và chuẩn bị bỏ thêm 3 tỷ USD nữa tại VN, Foxconn bắt buộc phải trả lời công văn này. Và với tư cách cố vấn cao cấp của Foxconn, tôi cũng đã phải tham gia “giải trình” theo yêu cầu của công văn này. Tôi đã đề nghị và cùng Foxconn giải quyết như sau:

– Foxconn gửi 1 công văn đến UBND TP khẳng định rằng: Foxconn không hề có liên quan gì đến sự việc này cả. Cố vấn của họ (là các nhân tôi) hoàn toàn độc lập trong những hoạt động và nhận định của tôi, và Foxconn chỉ chịu trách nhiệm giải trình những gì họ thực hiện cho dù theo sự cố vấn của tôi hay không. Tuy nhiên, để giữ quan hệ tốt với chính quyền địa phương, Foxconn đã đền nghị cố vấn của họ trực tiếp giải trình.

– Phần tôi, tôi viết một bức thư giải trình mọi sự việc, cách nhận xét và đánh giá độc lập của tôi đến UBDN TP, trong bức thư này, tôi có đưa ra thêm ba phần:

1. Tôi sẵn sàng đối chất với bất kỳ tổ chức, bất kỳ nhóm chuyên gia nào của nhà nước hoặc của nhà đầu tư để bảo lưu quan điểm của tôi.

2. Tôi đồng gửi bức thư này đến Văn phòng TƯ đảng, Thủ Tướng CP, Chủ Tịch QH và tất nhiên Thành Uỷ TP.

3. Tôi cho biết rằng vì đây là quan điểm của tôi mà phóng viên viết lại, cho nên nếu BBT và phóng viên của SGTT có bị kỷ luật vì bài báo thì cá nhân tôi sẽ chính thức kiện tổ chức quyết định kỷ luật họ.

Sau 2 tháng kể từ khi Foxconn và tôi gửi phúc đáp, mọi chuyện nhẹ lại và dừng.

Ban biên Tập SGTT và phóng viên bị cảnh cáo nhẹ, phóng viên bị “đì” nhè nhẹ trong vòng hơn 1 năm.

Sau hơn 4 năm treo và vẽ vời, đầu năm 2013, dự án này chính thức bị rút giấy phép vì bị xem như là “chiếc bánh vẽ” to đùng của nhà đầu tư!

Tại sao hệ thống nhà nước yếu kém đến mức không nhận ra đây là chiếc bánh vẽ từ đầu?

Tại sao lại đi kiểm tra, kiểm điểm, khiển trách một tờ báo viết một bài báo nhận định về nó mà không chịu đánh giá nghiêm túc về phản ánh và phản biện của bài báo?

Tại sao phải mất hơn 4 năm nhà nước mới chịu công nhận đây là chiếc “bánh vẽ”?

Và có một điều nằm ngoài mọi câu hỏi trên:

Sự thẳng thắn và sẵn sàng chịu rủi ro để đưa một bài báo cảnh tỉnh của báo SGTT, sự sẵn sàng chịu sức ép quái dị của nhà cầm quyền mà chính phóng viên đã biết trước là có thể sẽ phải gánh chịu… chính là giá trị của báo SGTT mà từ đầu tôi đã nhận biết.

Chúc SGTT có cơ hội tiếp tục, nếu không, chúc những người bạn đã cũng như đang làm việc cho SGTT tiếp tục có cơ hội đóng góp cho VN. Không như những tờ báo lá cải và tuân phục một chiều!

Hoàng Ngọc Diệp

Facebook của tác giả
——————————————————–

* Thạc sĩ Hoàng Ngọc Diệp, người đã từng ở vị trí Trưởng đại diện của Qualcom Việt Nam ngay từ khi công ty này mở văn phòng ở Việt Nam. Ông cũng là người đã đặt những viên gạch đầu tiên cho công nghiệp phát triển ứng dụng Điện Thoại DĐ tại Việt Nam, cụ thể là nhà mạng S-Fone với Dự án “Mùa hè sáng tạo”.

Bài viết “Chia tay với SGTT- Nhắc lại một kỷ niệm đẹp” được ghi từ ký ức của gần 20 năm trước. Đó là thời điểm ông vừa nghỉ làm Senior Director của Qualcomm vài tháng, và đang làm Cố vấn cao cấp cho Foxconn tại VN. Foxconn là một công ty của Đài Loan chuyên sản xuất sản phẩm cho các thương hiệu nổi tiếng thế giới như Apple (kể cả iPhone), HP, Cisco, v.v…, lúc đó Foxconn vừa đầu tư xong nhà máy lắp rắp tại Bắc Ninh và đang đầu tư một nhà máy khác tại Bắc Giang. Ông chủ yếu làm cố vấn chiến lược về phát triển thị trường và đầu tư kinh doanh khác tại VN cho họ.

Diễn Đàn trân trọng cảm ơn tác giả đã cho phép đăng lại bài viết về một chuyện “cũ” nhưng vẫn rất còn tính thời sự này.

Posted in Sách- Báo- Hồi Ký | Leave a Comment »

►Mục lục các bài được bạn đọc chú ý nhất trong ngày 28-12-2013

Posted by hoangtran204 trên 29/12/2013

Mục lục các bài được bạn đọc chú ý nhất trong ngày 28-12-2013
►Nhạc sĩ Việt Dzũng đã qua đời vì bệnh tim – Các bài ca và lời nhạc rất hay của Việt Dzũng
Home page / Archives
►Nhạc sĩ Nam Lộc nói về cố nhạc sĩ Việt Dzũng
►Nỗi oan của “bánh bèo” trước sự ruồng rẩy của Đảng
►Năm 2012 và 2013, có 7000 đoàn cán bộ đi công tác nước ngoài, có đoàn lên đến 60 người bằng ngân sách Nhà nước!
►CHỊ RUỘT của Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng “CHÊ” TIỀN BỒI THƯỜNG HƠN 10 TRIỆU ĐÔ LA KHI BỊ THU HỒI 185 hecta ĐẤT VƯỜN CAO SU    
►Việt Dzũng và tôi –    
►Bị dân Campuchia biểu tình phản đối: làm thủ tướng không có hiệu quả và quá lâu, Hun Sen sang Việt Nam ‘tìm sự hỗ trợ’    
►Tướng Giáp trong “Bên Thắng Cuộc”- Vụ án Năm Châu -Sáu Sứ 1991    
►Họ sợ những gì? Để lại gì cho con?
►Singapore mỗi năm mua 20 đến 30 triệu mét khối cát sông ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long làm nhiều nhà cửa làng mạc ven sông “biến mất qua đêm”tay chân và người nhà Thủ Tướng đang cai quản đường dây này
Nhà báo Trương Minh Đức vừa mãn hạn tù trả lời phỏng vấn của BBC cho biết “Sẽ tiếp tục đấu tranh”
►Biệt khu Trung Quốc ở Đà Nẵng- Đông đô đại phố ở Bình Dương do Quân Đội Nhân Dân VN xây dựng cho Trung Quốc…Nhân ngày kỷ niệm thành lập QĐNDVN 22-12-2013
►Về 3 Người Việt Vừa Bị Bắt Ở Thái Lan – do an ninh VN qua Thái vu khống họ là tội phạm kinh tế mục đích là dẫn độ (Đặng Chí Hùng) về VN để trừng phạt về tội nói ra các sự thật và bí mật của đảng
►Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đe dọa tướng Giáp: “Đại tướng đừng vin là người có công để yêu cầu nọ kia đối với Trung Ương Đảng, những người có công với đất nước nhất đều đang nằm ở nghĩa trang Trường Sơn”.
►Lạm Phát của Việt Nam từ 1980-2010 – Thống Kê của IMF
►Cướp đất đai tại Chợ Túc Duyên, Thái Nguyên của nhóm lợi ích (và các đảng viên cao cấp của Đảng CSVN, các viên chức chính quyền tỉnh thành phố)    
►Vụ án xét lại chống đảng (phần 3 và 4) – Đừng kêu oan cho người khác-Những người che mắt lịch sử    
►VN Đã đến mức phải vay để chi tiêu, và vay để trả nợ    
►Huế năm 1945 và chính phủ Trần Trọng Kim – Những thành quả của Chính phủ Trần Trọng Kim    
Nợ xấu bất động sản sẽ làm sụp đổ các ngân hàng, bùng vở nợ xấu quốc gia và nợ của doanh nghiệp nhà nước…dẫn đến khủng hoảng chính trị 2014-2017    
►Hội Nghị Thành Đô ngày 3 và 4-9-1990- Những sự thật cần phải biết (Phần 27)
►Tại sao Đảng CSVN không chôn cất HCM theo như di chúc?
►Bàn về hiệu quả thực tế của những “vũ khí” giữ gìn Biển Đông
►Bình Dương: ĐÔNG ĐÔ ĐẠI PHỐ “CHINA TOWN” do Công Ty của Bộ Quốc Phòng Việt Nam xây dựng tại Thành Phố Mới BÌNH DƯƠNG
►Yêu cầu giải thích rõ cái “Xã hội chủ nghĩa” là cái gì?
►Viết thư từ bỏ đảng, Đảng ủy bảo rút đơn, nhưng bất thành, bèn chỉ thị đấu tố khai trừ, nhưng 60% đảng viên không đồng ý khai trừ    
►Có nhiều cuộc họp mặt giữa nhà cầm quyền VN và Trung Quốc suốt trong 3 năm 2011, 2012 và 2013    
►Vụ nổ lớn tại nhà máy Z121- Bộ Quốc Phòng – Trung tướng Nguyễn Đức Lâm : Nhờ huấn luyện con người tốt nên thiệt hại mới như vậy…    
►NỖI ĐAU SÂN BAY Tân Sơn Nhất – “Chưa thấy đất nước nào làm sân golf trong sân bay như Việt Nam”    
►Không Chốn Nương Thân – Truy bức đến cùng – Đàn áp, trả thù, nhỏ mọn, bằng cách không cho nhập cảnh
►Sông Bến Hải và Hiệp Định Genève 20-7-1954 chia đôi đất nước là do miền Bắc và nước ngoài quyết định, miền Nam phản đối và không ký vào bản hiệp định ấy
►Dân chúng Việt Nam đang ăn uống thực phẩm biến đổi gien
►Ai trở về xứ Việt…Cho ta gửi một mảnh trời xanh biếc
►Công an đàn áp giáo dân tại Nghệ An: Súng đã nổ, Máu của giáo dân đã đổ,
►Người Campuchia nói gì về Đảng CSVN và Nhà Nước…
►Hậu trường chính trị đầy bí hiểm    
►Công an Tiền Giang bạo hành trẻ em- bắt giữ, tra tấn, đánh đập, ép nhận tội từ suốt chiều đến tối    
►Kết luận điều tra của công an về Nhà báo-Blogger Trương Duy Nhất    
►Tranh chấp quyền lực-quyền lợi… trong nội bộ đảng CSVN (Vinashin và kinh tế tập đoàn)    
►Lào cung cấp bệ phóng hoàn hảo cho tham vọng khu vực ngày một lớn của Trung Quốc? Tỉnh Hà Tĩnh đầy ắp người Trung Quốc định cư
►Ông Lê Hiếu Đằng: nhiều đảng viên đang muốn ra khỏi Đảng, hoặc không còn sinh hoạt Đảng …Vậy tại sao chúng ta hàng trăm đảng viên không tuyên bố tập thể ra khỏi Đảng và thành lập một Đảng mới, chẳng hạn như Đảng Dân chủ xã hội…Giờ hành động đã đến. Không chần chừ, do dự được nữa.
►Vụ Án xét lại chống đảng CSVN 1956-1967 (phần 1 và 2)- mở đầu cho Chiến tranh Việt Nam
►Công an thuê người mua dâm “diễn kịch” để bắt chủ nhà nghỉ?
►Thế hệ tướng Giáp và bi kịch của dân tộc – Bao nhiêu năm rồi mà vẫn u mê (Trần Hồng Tâm)
►Hàng ngàn người Trung Quốc đến Hà Tỉnh mua đất và định cư
►Không thể cứu vãn được kinh tế Việt Nam    
►Nhà cầm quyền CHXHCN VN (độc lập-tự do-hạnh phúc) đòi cưỡng chế anh Đỗ Nam Hải vì anh viết bài: Phải thay đổi chế độ chính trị ở Việt Nam!    
►Chiến dịch X-3: đánh tư sản thương nghiệp 1978    
►Nợ xấu bất động sản, sự thua lỗ của doanh nghiệp và Ngân hàng, nợ công của chính phủ…sẽ dẫn đến khủng hoảng kinh tế ở VN    
►Lập trường của Đảng CSVN về Hoàng Sa khi Trung Cộng xâm chiếm vào ngày 19-1-1974    
►Vào năm 2014, nợ công của Việt Nam sẽ lên tới 78,6 tỷ USD, theo tuần báo The Economist
►Vua Bảo Đại đã công bố bản Tuyên Ngôn Độc Lập vào ngày 11-3-1945 và Thủ tướng Trần Trọng Kim ra mắt quốc dân đồng bào nội các 17-4-1945
►Ai là Anh Cả Quânđội Nhânzân Xứ Lừa?
►The Phnom-Penh Post: Vòng xoáy đi xuống của Việt Nam
►Súng đã nổ ở Tỉnh Đồng Nai: tranh giành trong việc làm ăn, cảnh sát giao thông bắn nhau, 1 thiếu tá chết, 2 csgt và một doanh nghiệp bị thương
►Nhà nước tiếp tục đàn áp người H’Mông tháng 11 -2013 – Vì sao đạo Dương Văn Mình của người H’Mông bị đàn áp?
►Thư Viện các bài được đọc nhiều nhất    
►Dự án cho các nước ngoài thuê đất từ 50-210 năm của Bộ Chính Trị    
►Lịch sử được viết bởi những kẻ chiến thắng    
►Trưởng ban Tuyên giáo Thành ủy Hà Nội Hồ Quang Lợi : Tổ chức nhóm chuyên gia bút chiến trên Internet    
►Tất cả những vụ tham nhũng lớn tiền có liên hệ tới các quan chức chính phủ ở Việt Nam đều có bóng dáng các công ty và doanh nhân Singapore…  
 

Posted in Sách- Báo- Hồi Ký | Leave a Comment »

►Trí thức miền Nam sau 75

Posted by hoangtran204 trên 14/11/2013

Trí thức miền Nam sau 75

Trích: Bên Thắng Cuộc  của Osin Huy Đức

Theo Góc Nhìn Alan

13-11-2013

Sau ngày 30-4-1975, Chu Phạm Ngọc Sơn là một nhà chuyên môn hợp tác toàn diện với chế độ. Ông và một số nhà khoa học khác thường không câu nệ khi nhận các đơn đặt hàng thực hiện những công trình “khoa học” phục vụ nhu cầu chính trị. Theo Tổng thư ký Hội Trí thức Yêu nước Thành phố Hồ Chí Minh Huỳnh Kim Báu: “Những năm ấy, các trí thức Sài Gòn vẫn nhận được điện thoại từ Văn phòng Thành ủy hỏi xem: ‘Có công trình khoa học chào mừng 3-2 hay 19-5 không?’.

Những Giáo sư như Phạm Biểu Tâm, Lê Văn Thới thì mắng ngay: ‘Không có thứ khoa học nào gọi là khoa học chào mừng cả’. Nhưng một số người khác thì có, người thì làm ra chất tẩy rửa ‘pentonic’, người chứng minh ‘ăn mấy ký khoai mì bổ bằng một ký thịt bò’, người thì ‘ăn bo bo nhiều dinh dưỡng hơn cả gạo’. Nhưng ngay cả những ‘nỗ lực’ đó cũng không giúp kiến tạo được lòng tin”.

Giáo sư Chu Phạm Ngọc Sơn kể: “Nhìn vào lý lịch, thấy trước đây năm nào tôi cũng đi Mỹ nghiên cứu hoặc đi dạy, người ta cứ thắc mắc sao đi Mỹ quá trời. Tôi nộp đơn xin vô Hội Trí thức Yêu nước, mấy lần bị từ chối”. Năm 1980, trong thời gian Giáo sư Chu Phạm Ngọc Sơn đi Liên Xô, một người con của ông vượt biên không thành. Người con gái của ông cũng cảm thấy bế tắc khi thi không đậu vào dự bị y khoa. Biết chuyện, ông Võ Văn Kiệt thỉnh thoảng qua lại, trò chuyện, khi hiểu thêm nội tình, ông nói với Giáo sư Sơn: “Thôi, anh cứ để cho cô ấy và mấy cháu đi, đi chính thức. Bên đó có điều kiện cho các cháu học hành. Sau này nếu các cháu trở về thì tốt, nếu không, tôi với anh cũng được làm tròn bổn phận”.

Ông Huỳnh Kim Báu kể: Sau giải phóng, Bí thư Thứ nhất Lê Duẩn vào Sài Gòn, sau khi nghe Mai Chí Thọ, Trần Trọng Tân báo cáo tình hình, ông nói: “Nãy giờ có một chiến lợi phẩm rất lớn mà các đồng chí không đề cập, đó là lực lượng trí thức được đào tạo từ nhiều nguồn. Lenin nói, không có trí thức là không có xã hội chủ nghĩa”. Tuy nhiên, theo ông Huỳnh Kim Báu, cách mà chính quyền sử dụng trí thức chủ yếu là “làm kiểng”.

Giáo sư Phạm Hoàng Hộ tuy ở thời điểm đó vẫn còn là hiệu phó Đại học Khoa học, nhưng theo ông Báu: “Đấy chỉ là một chức vụ bù nhìn, không có vai trò gì trong giáo dục”. Giáo sư Hộ là hiệu phó nhưng không phải đảng viên, nên khi có vấn đề gì thì những người trong Đảng họp riêng, quyết định xong, có việc nói với ông, có việc ông không bao giờ được biết. Từ rất sớm, Giáo sư Phạm Hoàng Hộ đã phản đối cách đào tạo đưa thời gian học chính trị quá nhiều vào chương trình. Ông cảnh báo: “Nếu chính trị can dự quá mạnh, các nhà khoa học sẽ mất căn bản”.

Giáo sư Phạm Hoàng Hộ nói lên điều này sau khi chính ông đã được trải nghiệm trong những ngày học chính trị. Năm 1977, một lớp học kéo dài mười tám tháng về “Chủ nghĩa xã hội khoa học” dành riêng cho các trí thức miền Nam đã được tổ chức tại Thành phố Hồ Chí Minh. Ông Võ Ba, người tham gia tổ chức lớp học này, kể: “Chính quyền tưởng rằng sau lớp học sẽ có được một tầng lớp trí thức của chế độ cũ yêu mến và phụng sự chủ nghĩa xã hội. Tuy nhiên, nếu như Marxism đã từng được các trí thức miền Nam quan tâm như là một môn khoa học thì giờ đây họ lại nghe những giảng sư miền Bắc nói về Marx hết sức giáo điều. Chưa kể, những người đứng lớp còn rao giảng với tư thế của người chiến thắng, tự tôn, tự đắc”.

Những đảng viên tham gia lớp học như ông Võ Ba cũng thừa nhận: “Trước giới trí thức Sài Gòn, chính quyền đã thất bại ngay trong lần trình diễn đầu tiên”.

Chưa kết thúc lớp học, Tiến sỹ Nguyễn Văn Trung, một giáo sư triết học nổi tiếng của Sài Gòn, một người được coi là “hằn học với Giáo hội”, đã coi cộng sản cũng là “một giáo hội”. Tiến sỹ Nguyễn Văn Trung cho rằng hình thức “kiểm điểm” mà cộng sản áp dụng trong sinh hoạt chính là một thứ “xưng tội man rợ”. Về đường lối, ông cho rằng: “Có thể có những điều Lenin nói đã đúng vào năm 1916, nhưng sau bảy mươi năm mà ta áp dụng là không lý trí”.

Còn Giáo sư Châu Tâm Luân thì khi nghe các giảng sư miền Bắc say sưa nói về con đường “tiến lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua giai đoạn phát triển chủ nghĩa tư bản” đã mỉa mai: “Sao không tìm hiểu xem sau chủ nghĩa cộng sản là gì để nhân tiện bỏ qua, mình bỏ qua luôn hai, ba bước”. Giáo sư Châu Tâm Luân lấy bằng tiến sỹ về kinh tế nông nghiệp ở Đại học Illinois, Mỹ, năm hai mươi lăm tuổi, trở về dạy cùng lúc ở hai trường đại học Minh Đức và Vạn Hạnh. Ông là một trong những trí thức phản chiến hàng đầu, bị chế độ Sài Gòn bắt giam đầu năm 1975 cho tới những ngày cuối tháng 4-1975 mới được Chính quyền Dương Văn Minh thả ra. Giáo sư Châu Tâm Luân là một thành viên của nhóm “sứ giả” được ông Dương Văn Minh phái vào trại Davis 300 và được giữ lại ở đây cho đến trưa ngày 30-4-1975. Sau giải phóng, chính quyền xếp ông vào diện “người của ta”. Ông là đại biểu khóa I Hội đồng Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, đồng thời là ủy viên Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

Về phía mình, Giáo sư Châu Tâm Luân cũng là một trong những trí thức kỳ vọng nhiều vào chế độ mới. Mấy tháng “sau giải phóng”, giá cả sinh hoạt tăng vọt lên, trong khi dân tình lo âu thì ông lại cho là giá tăng vì “tâm lý”, giống như cách giải thích thời ấy của chính quyền (301). Sau khi cho rằng nhà nước không thể dùng ngoại tệ để nhập hàng như trước đây, Giáo sư Châu Tâm Luân viết: “Giờ đây không còn bọn tay sai đem máu của con em nhân dân đổi lấy đô la nữa thì cần phải tiết kiệmtối đa số ngoại tệ mà dân phải lao động đổ mồ hôi mới đem về được cho quốc gia… Vì vậy ngoài sự tiếp tay chánh quyền kiểm soát gian thương, chúng ta cũng cầnkềm hãm bớt kẻ địch ở ngay trong lòng mình…” (302).

Khi trao cho Giáo sư Châu Tâm Luân nhiều trọng trách, Chính quyền nghĩ đơn giản ông là người “dùng” được. Nhưng, cũng như nhiều trí thức Sài Gòn, ông đã không hành xử như là một công cụ. Từ năm 1976, Giáo sư Châu Tâm Luân không được đứng lớp vì kiến thức kinh tế của ông là “kinh tế tư bản”, tuy nhiên, ông vẫn còn được để ngồi trong Hội đồng Khoa học của trường. Chỉ ít lâu sau, Đảng ủy trường nhận xét ông muốn “tranh giành lãnh đạo với Đảng”.

Giáo sư Châu Tâm Luân kể: “Tôi ngạc nhiên, chế độ cũ hai lần giao chức cho tôi mà tôi có màng tới đâu”. Nhưng té ra vấn đề không phải là “ghế”, mà là những ý kiến của ông ở Hội đồng Khoa học luôn luôn khác với ý kiến của chi bộ. Trong một cuộc họp, khi nghe ông Đỗ Mười thao thao nói về “hợp tác hóa”, về chủ trương phải đưa những người bần cố nông lên làm lãnh đạo hợp tác và “phải đào tạo họ”, Giáo sư Luân hỏi: “Nhà nước định đào tạo trong bao lâu?”. Ông Đỗ Mười nói: “Tình hình gấp rút, đào tạo ba ngày”. Giáo sư Châu Tâm Luân nhớ lại: “Tôi bắt đầu ngao ngán vì muốn thay đổi thì phải bắt đầu từ cái đầu mà… những ‘cái đầu’ thì như thế”. Sau lần gặp ông Đỗ Mười, nhà kinh tế nông nghiệp Châu Tâm Luân được đưa về Viện Khoa học Xã hội.

Không chỉ có những đụng độ tại cơ quan. Ở Hội đồng Nhân dân, Giáo sư Châu Tâm Luân là trưởng Ban Nông nghiệp. Trong một phiên họp toàn thể thảo luận về các chương trình khoa học của Thành phố, sau khi nghe ông Luân tranh luận, một đại biểu trong Hội đồng mặc quân phục đứng dậy xin ngưng cuộc cãi vã, và lớn tiếng: “Các chuyên viên đã để ra rất nhiều thời giờ soạn thảo, đại biểu đó tư cách gì mà đòi sửa qua sửa lại”. Ông Luân cố dằn lòng: “Tôi xin ngưng cuộc thảo luận, bởi như vị đại biểu vừa nói, đã có các chuyên viên nghiên cứu cho chúng ta rồi thì chúng ta chỉ còn là chuyên viên giơ tay thôi”. Chủ trì phiên họp, ông Mai Chí Thọ không nói gì, chỉ yêu cầu biểu quyết. Nhìn thấy ông Luân không giơ tay, ông Mai Chí Thọ hỏi: “Ai không chấp thuận?”. Ông Luân cũng không giơ tay, ông nói: “Toàn thể chấp thuận, một phiếu trắng”.

Một số cán bộ cách mạng tốt bụng bắt đầu lo lắng cho vị giáo sư trẻ tuổi này, một trưởng Ban của Đảng khuyên: “Tôi sáu mươi tuổi, người ta vẫn xem tôi như con nít, phải ăn nói thận trọng lắm. Anh nhớ, anh chỉ mới hơn ba mươi tuổi”. Giáo sư Châu Tâm Luân kể: “Tại diễn đàn của Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tôi đề nghị phải áp dụng ‘kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước’. Ông Xuân Thủy nghe, nói với tôi: ‘Anh phải có người đỡ đầu, anh về nói với Sáu Dân đi’. Tôi trả lời ông Xuân Thủy: ‘Nếu tôi nói đúng thì các anh phải nghe chứ sao lại cần người đỡ đầu?’.

Sau đó, ông Mai Chí Thọ nhắc: ‘Cậu đúng, nhưng áp dụng như vậy thì phức tạp quá, làm sao chúng tôi quản lý được. Muốn làm phải có những người như cậu. Mà nói thật chúng tôi chưa thể tin hoàn toàn những người như cậu’”. Theo ông Luân: “Những năm ấy, tôi chê ông Võ Văn Kiệt nhát, ‘xé rào’ là vá víu; phải ‘phá vỡ’ để áp dụng kinh tế thị trường chứ không thể phá những đoạn rào. Ông Mai Chí Thọ nghe, nhắc: ‘Phải giữ chính quyền trước hết, chính sách sai thì còn sửa được chứ mất chính quyền là mất hết’. Về sau tôi mới thấy ông Mai Chí Thọ đã nói rất thật lòng, họ đã ngủ rừng hàng chục năm để có chính quyền, làm sao họ để mất cái mà họ vừa giành được đó”.

Hai vợ chồng Giáo sư Châu Tâm Luân đều học ở Mỹ. Trước năm 1975, gia đình ông đã định cư ở một nước Bắc Âu, nhưng cả hai đều chọn con đường về nước. Sau năm năm cố gắng chòi đạp trong chế độ mới, ông không tìm thấy một cơ may thay đổi nào. Đầu năm 1979, ông vẫn còn được trả lời phỏng vấn các phóng viên nước ngoài, nhưng càng về sau thì không thấy nhà báo nào gặp ông nữa. Giáo sư Châu Tâm Luân nói: “Tôi bắt đầu có dự cảm bất ổn. Khi tình cờ gặp một vài phóng viên, nghe họ nói mấy lần đến Việt Nam xin gặp tôi đều được chính quyền trả lời là Giáo sư Châu Tâm Luân đang đi công tác xa. Tôi biết tôi đang dần dần bị cô lập”.

Dù từng hoạt động trong các phong trào chống đối dưới chế độ Sài Gòn, ông Huỳnh Kim Báu vẫn phải thừa nhận: “Trước 1975, mặc dù chính quyền bị coi là bù nhìn, nhưng trí thức vẫn được trọng dụng, họ có quyền thực sự trong chuyên môn. Sau giải phóng, chính quyền được nói là của mình nhưng trí thức gần như chỉ được dùng như bù nhìn, trong khi đa phần họ là những người khảng khái”.

Năm 1977, có lần hệ thống nước máy của Thành phố bị đục, ông Võ Văn Kiệt mời các nhà trí thức tới hiến kế. Nhiều người phát biểu, riêng ông Bác sĩ Phạm Biểu Tâm ngồi im. Ông Kiệt hỏi: “Sao vậy anh Tâm?”. Ông Phạm Biểu Tâm nguyên là chủ tịch Hội Sinh viên Hà Nội trước 1945. Năm 1963, con gái Ngô Đình Nhu là Ngô Đình Lệ Thủy thi y khoa đã bị ông đánh rớt dù bị nhà Ngô gây áp lực [ Sai. Tầm bậy]. Ông là một nhà giáo được sinh viên kính nể. Ông Tâm được nói là rất quý ông Kiệt, nhưng có lẽ do quá bị dồn nén, ông đứng dậy nói: “Từ ngày mấy anh về, cái đầu trí thức khỏe, vì cái gì cũng đã có mấy anh nghĩ hết. Nước là chuyện của mấy anh đâu phải chuyện tụi tui”.

Một thời gian sau, Giáo sư Phạm Hoàng Hộ trả lại chức hiệu phó. Trường sợ mang tiếng không nhận, ông khóa phòng, giao chìa khóa, tự chấm dứt vai trò “chim kiểng” của mình. Theo ông Võ Văn Kiệt, Thành ủy vẫn để Giáo sư Phạm Hoàng Hộ hàng năm sang Pháp dạy học. Trong một lần đi Pháp, ông ở lại luôn bên đó rồi viết thư về cho ông Kiệt nói rằng, công việc nghiên cứu nhiều, ông cần phải ở nơi có phương tiện cho ông làm việc, khi nào đất nước thực sự cần, ông sẽ về.

Còn Giáo sư Châu Tâm Luân, nhân một buổi tối rủ ông Võ Ba tới nhà chơi, đã đưa cho Võ Ba coi một tập đánh máy hai mươi trang về “tình hình kinh tế nông nghiệp miền Nam”, rồi nói: “Võ Ba ơi, mình rất mừng vì bản báo cáo này của mình đã được Mặt trận Tổ quốc đánh máy gởi đi. Hai lần trước thì họ không chịu đánh máy. Nhưng, Võ Ba ạ, họ đánh sai hết, những thuật ngữ như ma trận họ đánh thành mặt trận ông ạ”.

Mấy hôm sau, Võ Ba chạy qua nhà Giáo sư Luân thì thấy cửa đóng, bên trong thấp thoáng bóng mấy công an đến “chốt nhà”. Cho dù, sang tới Thái Lan ông bị các thuyền nhân khác đánh rất đau, khi viết thư về, trả lời câu hỏi của ông Huỳnh Kim Báu, “liệu vượt biên có phải là một quyết định sai lầm”, Giáo sư Châu Tâm Luân vẫn cả quyết: “Không, Báu! Dù phải trả giá đắt, mình vẫn thấy đi là đúng”.

Trong số các trí thức miền Nam, ông Võ Văn Kiệt “xếp” Giáo sư Châu Tâm Luân vào hàng “khó tính”. Tuy nhiên, ông kể: “Đến nhà Châu Tâm Luân mình rất thích vì ảnh thẳng thắn, nghĩ sao nói vậy, có khi như búa bổ. Ảnh hy vọng khi đất nước hòa bình, với sự phì nhiêu của đất đai miền Nam, sẽ có dịp thi thố giúp phát triển nền nông nghiệp. Nhưng một thời gian sau, thấy cơ chế như thế thì không thể nào đóng góp được”.

Một người khác từng quen biết Bí thư Thành ủy Võ Văn Kiệt nhưng cũng phải vượt biên là Kỹ sư Phạm Văn Hai, giám đốc nhà máy dệt Phong Phú. Ông Phạm Văn Hai là người đưa kỹ nghệ nhuộm vào miền Nam. Ông có hai người con, một người được đặt tên là Phạm Chí Minh, một người là Phạm Ái Quốc. Sau ngày 30-4, ông Phạm Văn Hai vẫn nhiệt tình tư vấn để phục hồi ngành dệt và nghiên cứu chất kích thích cây cỏ.

Nhưng năm 1977 ông quyết định “đi”. Vượt biên hai lần, cả hai lần đều bị bắt. Lần đầu bị bắt ở Kiên Giang, Thành ủy lãnh. Lần hai, bị bắt ở thành phố, ông Võ Văn Kiệt vào thăm, ông Hai nói: “Cho dù anh quan tâm nhưng như thế này thì không làm được”. Ông Võ Văn Kiệt thừa nhận: “Những người như Kỹ sư Phạm Văn Hai, như Giáo sư Châu Tâm Luân…, nếu chỉ khó khăn về cuộc sống họ sẽ vượt qua, nhưng nếu bị đặt vào hoàn cảnh không thể đóng góp thì họ không chịu được. Tôi cũng không biết làm gì hơn, chỉ đề nghị mấy ảnh đừng vượt biên nguy hiểm”.

Ông Võ Văn Kiệt nhớ lại: “Tôi tiếc đứt ruột khi để những anh em trí thức ấy ra đi, nhưng biết là nếu họ ở lại thì cơ chế hiện thời cũng chưa cho phép mình sử dụng họ”. Trước khi vượt biên, ông Dương Kích Nhưỡng, một công trình sư cầu cống, thủy điện, nói với ông Võ Văn Kiệt: “Ước mơ của các anh rất đẹp, nhưng các anh làm như thế này là không được. Đi đâu cũng nghe nói tới nghị quyết, làm cái gì cũng chỉ theo tinh thần nghị quyết này, chủ trương kia thay vì theo pháp luật. Trị nước mà bằng nghị quyết và chỉ thị chung chung thì không được”.

Tổng Thư ký Hội Trí thức Yêu nước Huỳnh Kim Báu nhớ lại: ông Kiệt biết là các trí thức bắt đầu vượt biên, ông gọi tôi lên và dặn “Nghe ngóng, nếu có anh em trí thức bị bắt ở đâu, anh phải lãnh về”. Khi nhận được tin công an Bình Thuận bắt giam Kỹ sư Dương Tấn Tước, ông Kiệt cấp giấy cho ông Báu ra Bình Thuận xin “di án về Thành phố”. Ông Báu kể: “Công an Bình Thuận thấy giấy của Thành ủy thì cho nhận ‘can phạm’. Nhưng khi anh Tước thấy tôi mừng quá định kêu lên, tôi đã phải giả vờ làm mặt lạnh, bước tới, còng tay anh Tước. Dọc đường, tôi cứ phải làm thinh mặc cho Kỹ sư Dương Tấn Tước ngơ ngác. Qua khỏi Bình Thuận, tôi mới mở còng và giải thích: Công an Bình Thuận mà biết, người ta chụp đầu cả tôi”.

Đích thân ông Kiệt cũng nhiều lần đến các trại giam để bảo lãnh các trí thức. Theo ông Phạm Văn Hùng và Nguyễn Văn Huấn, hai người giúp việc thời đó của ông, hình thức “xử lý” đối với những trí thức vượt biên của “Anh Sáu Dân” là kêu tụi tôi đích thân đi làm lại hộ khẩu và sổ gạo cho họ. Nhưng phần lớn các trí thức đã ra đi lặng lẽ. Giáo sư Châu Tâm Luân kể: “Tôi đi tất cả sáu lần. Lần bị giữ lâu nhất là ở Rạch Giá, cả tháng trời. Nhưng tôi không khai mình là ai. Như bốn lần trước, ở nhà cứ lo một cây vàng thì được thả”.

Có những người không chịu nhờ Thành ủy, hoặc “lo” bằng vàng. Theo ông Huỳnh Kim Báu, khi vượt biên bị bắt, Giáo sư Lê Thước đã tự sát.
!!!!!!!!!!!!!!

reblog: danluan.org

——————————————————————

Bài liên quan

►Luật sư Trần Danh San: người đứng trước thềm nhà thờ Ðức Bà Sài Gòn đọc Tuyên Ngôn Nhân Quyền năm 1977 tại Sài Gòn qua đời

Phỏng vấn Huỳnh Nhật Hải, Huỳnh Nhật Tấn – Làm cách mạng không phải để dựng nên một nhà nước độc tài

 

Posted in Sách- Báo- Hồi Ký | Leave a Comment »

►Khách sạn Đức phát tờ rơi cảnh báo về du khách Trung Quốc

Posted by hoangtran204 trên 22/07/2013

 

 Thứ Hai, 22/07/2013

(MegaFun) – Phóng viên Stephen Vort của tờ Der Spigel (Đức) đã kể lại câu chuyện “lạ” này trên tờ tạp chí ông làm việc.

>> Du khách Trung Quốc bị coi là ‘quốc nhục’

Trong một lần nghỉ tại khách sạn ở Baravaria (Đức), ông Stephen Vort vô cùng ngạc nhiên khi được lễ tân ở khách sạn này phát cho một tờ rơi in trên tờ giấy A4 cảnh báo về một nhóm du khách Trung Quốc. Nội dung tờ rơi như sau: “Ngày mai, khách sạn chúng tôi sẽ đón một đoàn du khách Trung Quốc. Chúng tôi rất xin lỗi nếu những tiếng gọi nhau ầm ỹ của họ làm phiền tới các bạn. Các bạn cũng đừng ngạc nhiên nếu thấy họ dùng tay không sờ nắn vào bánh mì, bốc thử đồ ăn… hay khạc nhổ bừa bãi cũng như ăn uống tóp tép… Nếu bạn muốn thưởng thức bữa sáng trong yên tĩnh, bạn nên tới nhà ăn sau 8g30 sáng.

Một lần nữa chúng tôi xin lỗi quý khách. Mong quý khách thông cảm vì đoàn du khách Trung Quốc tới từ một nơi có nền văn hóa khác với chúng ta”.

Ông Stephen Vort rất ngạc nhiên và có phần hơi bực mình vì nghĩ người quản lí khách sạn có phần bất lịch sự. Ông quyết định xuống nhà ăn từ 6g sáng và ngồi chờ nhóm du khách Trung Quốc kia.

“Hơn cả ngạc nhiên, tôi đã sững sờ. Họ dùng thìa gõ vào từng ổ bánh mì, rồi dùng tay ấn thử. Một cô gái còn cầm xúc xích lên ngửi rồi nhăn mặt vứt trả lại. Một người đứng đầu phòng gọi bạn ở cuối phòng. Họ vừa đi lại, vừa nhai nhồm nhoàm. Họ hạch sách nhân viên khách sạn bằng những câu chỉ có động từ, tôi cố để ý nhưng không thấy một từ “làm ơn” hay “cảm ơn” nào thốt ra từ miệng họ”, ông Vort kể lại.

Nhân viên phòng của khách sạn tâm sự với ông Vort rằng: “Sau khi họ đi chúng tôi phải giặt lại toàn bộ thảm trải phòng, họ khạc nhổ khắp nơi”.Còn nhân viên nhà ăn thì nói: “Họ rời khỏi đây là tôi thở phào”.

Người quản lí đã giải thích với ông Vort việc mình cho phát tờ rơi: “Tôi biết thế không lịch sự cho lắm, nhưng nếu tôi không làm thế nhiều khách sẽ sốc và cảm thấy giận dữ. Tôi hi vọng mình cảnh báo trước khách sẽ thông cảm với khách sạn hơn”.

Cách cư xử thô lỗ của khách du lịch Trung Quốc ở nước ngoài đã khiến các quan chức cao cấp của nước này phải đau đầu. Phó Thủ tướng Trung Quốc Uông Dương đã lên tiếng chỉ trích các “hành vi thiếu văn minh” của người Trung Quốc như nói to ở nơi công cộng, vượt đèn đỏ, khạc nhổ bừa bãi. Theo ông Uông, chính điều này đã làm tổn hại hình ảnh của quốc gia.

Ngân Giang
The Sun

* Ở VN, chỉ có các đảng viên của đảng CSVN, QĐNDVN và Công An Nhân Dân tôn sùng và yêu thích bọn này. Ai đụng đến TQ, là chúng chơi tới bến.

Posted in Du Lich, Sách- Báo- Hồi Ký | Leave a Comment »

►Nguyễn Khoa Điềm và Trần Mạnh Hảo…Chính bầy sâu ấy đang nắm vận mệnh của chúng ta, và chúng đang khiêng nước Việt đi chôn…

Posted by hoangtran204 trên 10/05/2013

*Ai nắm vận mệnh của chúng ta? Chính bầy sâu ấy đang nắm vận mệnh của chúng ta, và chúng đang khiêng nước Việt đi chôn….(Đỗ Trường)

Tổ Quốc nhìn từ hai bài thơ của Nguyễn Khoa Điềm và Trần Mạnh Hảo

Đỗ Trường

Tác giả gửi tới Dân Luận

Chia sẻ bài viết này

Trải qua mấy ngàn năm dựng nước và giữ nước, máu và nước mắt của Tổ Quốc (Nhân dân) chưa bao giờ ngừng rơi. Năm 1989, khi nhìn bức tường Berlin sụp đổ, nghĩ về Tổ Quốc, nước mắt những người con xa xứ chúng tôi lại thấm đẫm nơi mình đang đứng. Chiến tranh và nỗi đau Nam – Bắc còn đó. Đất nước liền một dải, nhưng con sông Gianh vẫn còn chia cắt lòng người. Và nơi phía Nam đất mẹ, giặc Tầu – Pol Pot tàn phá, nơi phía Bắc, giặc Trung Quốc vẫn còn tràn sang. Và bài Trường Ca Tổ Quốc quặn thắt trong tôi chợt bật ra “… Chúng con lớn lên cùng bom đạn/ Đôi vai gầy của mẹ quẩy hai đầu chiến tranh…”.

Ải Nam Quan đã mất, giặc Tầu chiếm Hoàng Sa và đang nuốt Trường Sa. Nếu ví đất nước là một con tầu, (thì) đường đi ra biển đã bị cắt. Những Bauxite, PMU18, Vinashin…thu hồi, cưỡng chế đất đai và dân oan tràn về Hà Nội, Sài Gòn như khối ung nhọt đang chọc thủng thân tầu.

Bão và giông tố che kín cả bầu trời. Tìm một tin lành trên báo mà khó hơn tìm nước trên sa mạc. Buồn đến nỗi (Nguyễn Khoa Điềm,) một ông nguyên ủy viên bộ chính trị, nghiêng ngả một thời quyền lực, cũng phải bật dậy, hút thuốc vặt mà run mà hãi: Ai nắm vận mệnh của chúng ta/ Trong không gian đầy sợ hãi? Vâng! Đất nước có những năm tháng thật buồn, thật đáng sợ, để Trần Mạnh Hảo từng là người  (bộ đội) lính chiến, bảo vệ chế độ, giờ này phải ngồi bệt dưới đất, réo lên: Đất nước bị cầm tù trong ngực trái/ Chưa kịp nghĩ một điều gì/ Sao đã toát mồ hôi? Có nơi nào buồn hơn đất nước tôi?

Ai nắm vận mệnh của chúng ta
Trong không gian đầy sợ hãi?

 

Dù chênh nhau về tuổi tác, nhưng có thể nói, Nguyễn Khoa Điềm và Trần Mạnh Hảo (hai nhà thơ tài năng) cùng một thế hệ nằm rừng, góp phần không nhỏ làm nên chiến thắng trong cuộc chiến tương tàn vừa qua.

Sau chiến tranh,

Nguyễn Khoa Điềm không ngại chặt chém, khơi thông quan lộ, thẳng bước tiến lên đỉnh cao chót vót quyền lực.

Trần Mạnh Hảo chợt nhận ra sai lầm và đất nước đang đi dần vào ngõ cụt. Cùng với cuốn Ly Thân, ông đã ly dị đảng, xổ toẹt Mác. Trên đầu ông chỉ còn Tổ Quốc và nhân dân. Ông trần trụi ngồi bệt xuống, hét lên bằng thơ, bằng văn, bằng cả tâm lực của mình trong đêm trường u ám.

Trong tháng tư này, khi chính quyền đang hừng hực chào mừng ngày đại thắng, ta bắt gặp hai bài thơ nối (đuôi) nhau của hai người hoàn cảnh, địa vị đối nghịch nhau, nhưng dòng chảy lời thơ hợp nhau đến lạ lùng. Nói là vậy, nhưng với tôi giờ này, khi ngồi viết, nó hoàn toàn không còn là thơ. Mà nó là lời tự sự, tiếng than xé lòng, cất lên từ trái tim của hai người nghệ sỹ. Nên khi đọc, trước mắt và trong đầu tôi chỉ có cái thật, cái đắng và cay ở trong đó. Nếu như “Đất Nước Những Tháng Năm Thật Buồn” của Nguyễn Khoa Điềm là phần mở bài, thì bài “Đất Nước Có Bao Giờ Buồn Thế Này Chăng?” của Trần Mạnh Hảo là thân bài, điểm mặt chỉ tên và thay cho lời kết:

Đất nước những năm thật buồn
Nửa đêm ngồi dậy hút thuốc vặt
Lần mò trên trang mạng tìm một tin lành
Như kẻ khát nước qua sa mạc
Chung quanh yên ắng cả
Ngoài đường nhựa vắng tiếng xe lại qua
Người giàu, người nghèo đều ngủ

Cả bầy ve vừa lột xác
Sao mình thức?
Sao mình mải mê đeo đuổi một ngày mai tốt lành?
Bây giờ lá cờ trên Cột cờ Đại Nội
Có còn bay trong đêm
Sớm mai còn giữ được màu đỏ?
Bây giờ con cá hanh còn bơi trên sông vắng
Mong gặp một con cá hanh khác?
Bao giờ buổi sáng, buổi chiều nhìn ra đường
Thấy mọi người nhẹ nhàng, vui tươi
Ấm áp ly cà phê sớm
Các bà các cô khỏe mạnh yêu đời
Hớn hở tập thể dục
Bao giờ giọt nước mắt chảy xuống má
Không phải gạt vội vì xấu hổ
Ngước mắt, tin yêu mọi người
Ai sẽ nắm vận mệnh chúng ta
Trong không gian đầy sợ hãi?
Những cây thông trên núi Ngự Bình thấp thoáng ngọn nến xanh
Đời đời an ủi
Cho người đã khuất và người sống hôm nay … ”
 (NKĐ)

Đêm trường ma giáo mặt trời đỏ
Những dòng sông là đất nước thở dài
Chó sủa trăng nhà ai?
Không phải vầng trăng đất nước
Tôi ngồi ngót bảy mươi năm
Chờ một lời nói thật
Bầy sói tru ý thức hệ lang băm
Người nông dân bị cướp đất phải hát bài dân chủ
Đêm đêm thạch sùng tắc lưỡi bỏ đi
Đất nước đang treo trên sợi chỉ mành
Sợi chỉ mành 16 chữ vàng và dối lừa 4 tốt

Có kẻ rước giặc lên bàn thờ
Xì sụp lạy khấn tàn nhang chủ nghĩa
Những giáo điều làm cơm nguội bơ vơ
Xin cứ tự do bán lương tâm cho chó
Vãi linh hồn vào thùng rác nhân dân
Mối mọt ăn rào rào lòng rường cột
Ôi thương thay giẻ rách cũng tâm thần

Anh sẩm bạc đầu dẫn đường dân tộc
Đám gà què bàn hiến pháp cối xay
Đất nước có bao giờ buồn như hôm nay
Những thiên đường vỡ chợ
Những học thuyết đứng đường
Hoàn lương tượng đài
Hoàn lương chân lý
Nghị quyết còn trinh bạch cũng hoàn lương
Không ai đuổi cũng giật mình bỏ chạy
Nhốt hết mây trời vào hiến pháp tự do
Mơ được đứng bên lề đường
Nói một câu gan ruột
Đất nước buồn
Đất nước bị ruồi bu
Đất nước bị cầm tù trong ngực trái
Chưa kịp nghĩ một điều gì
Sao đã toát mồ hôi?
Có nơi nào buồn hơn đất nước tôi?
Lý tưởng của loài dơi là muỗi
Dơi bay đêm cho đất nước đỡ buồn
Không ai tin vào hoa hồng nữa
Không ai tin vào dơi nữa
Dơi trở về làm chuột khoét quê hương
” (TMH)

Sống ở nước ngoài đã gần ba mươi năm và tôi cũng ít có điều kiện về thăm quê. Nên tin tức về quê nhà với tôi dường như rất mơ hồ, có chăng qua sách báo mà thôi. Nên khi đọc những thông điệp của nguyên đại quan Nguyễn Khoa Điềm, tôi giật mình kinh hãi, không dám tin đó là sự thật. Có khi bọn phản động đội lốt bác Điềm nói xấu chế độ tươi đẹp của ta không biết chừng, cần cảnh giác. Kiểm chứng lại các báo của nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo, nhà văn Nguyễn Quang Lập… đều thấy đúng là bác đại quan Điềm. Hay ông Tạo, ông Lập cũng bị diễn biến, dao động tư tưởng?

Không chịu được, nửa đêm, tôi vực Trần Mạnh Hảo dậy. Đầu dây bên kia nghe giọng bác nhừa nhựa, ngái ngủ. Tôi hỏi luôn, cùng quê với nhau, xin quan bác nói thật, bài thơ “Đất Nước Những Năm Tháng Thật Buồn” có chính xác của cựu đại quan Nguyễn Khoa Điềm không? Nghe đích thị là giọng tôi, bác quát lại trong máy, chú có bị chập, bị điên không đấy! Có cho uống mật gấu, cũng không thằng nào dám giả danh ông Điềm. Họ gô cổ lại ngay lập tức….

Lại hôm rồi, có vợ chồng ông bạn từ Thụy Điển sang chơi. Bữa tối, tôi và hắn còn ngồi khật khừ bia rượu. Hai bà vợ ăn xong, bật tivi của quê hương, đúng lúc người đẹp Kiều Trinh tươi rói đang diễn thuyết. “Tắt… tắt ngay”, hắn quát, làm tôi giật mình, đổ cả cốc rượu. “Kẻ trộm cắp chuyên nghiệp, lại rao giảng văn hóa đạo đức, thế này đất nước đến lúc mạt là phải”. Tôi ngớ người hỏi lại, nghĩa là thế nào?

Ngày 11 tháng 2 năm 2001, Kiều Trinh bị cảnh sát thành phố Kalmar, Thụy Điển bắt giam một tuần vì tội ăn trộm. Nhờ có bố là quan to, bằng con đường ngoại giao, nên Kiều Trinh đã được thả, về nước vẫn được dẫn chương trình cho nhà đài. Nhưng ảnh của Kiều Trinh được dán cảnh cáo khắp các siêu thị trong thành phố và để mọi người cảnh giác. Năm 2006 khi sang Anh, Kiều Trinh lại bị bắt quả tang ăn cắp trong siêu thị, rồi lại được thả, về Việt Nam nghe đâu lại còn được thăng quan tiến chức.

Nói một hơi, rồi hắn bảo, nhà cũng có kênh truyền hình của Việt Nam, nhưng ít dám mở, sợ mấy ông hàng xóm người bản xứ hay sang chơi, bắt gặp Kiều Trinh, nhục lắm.

Ôi! Đất nước tôi. Chỉ mong đây là câu chuyện tào lao chè chén vỉa hè. Tivi, truyền hình là bộ mặt của một thể chế quốc gia, lại nhem nhuốc thế này, thì đằng sau nó còn bẩn thỉu biết nhường nào. Tôi tin cái đau của bác Điềm, bác Hảo.

Vậy là tôi đã hiểu, sao hai con cá hanh của bác Điềm, chúng chẳng bao giờ gặp nhau được nữa. Con được bảo kê phá rừng, cướp đất, trốn thuế, nó đang hưởng lạc xa hoa kệch cỡm của những kẻ trọc phú. Con thì đã thắt cổ tự tử, để con của nó may ra có cơ hội đến trường vì túng thiếu, bệnh tật.

Sự dối trá, lưu manh đểu cáng ấy, như những ngọn roi quất vào tấm thân gầy của mẹ, để bầy con nháo nhác lạc đàn. Bảy mươi năm trường, không chỉ Trần Mạnh Hảo, Nguyễn Khoa Điềm chờ, mà cả dân tộc chờ một lời nói thât. Nhưng những Văn Giang, Tiên Lãng, Cồn Dầu… vẫn hộc lên những tiếng rên xiết ngút trời:

Tôi ngồi ngót bảy mươi năm
Chờ một lời nói thật
Bầy sói tru ý thức hệ lang băm
Người nông dân bị cướp đất phải hát bài dân chủ
Đêm đêm thạch sùng tắc lưỡi bỏ đi
” (TMH)

Bao giờ giọt nước mắt chảy xuống má
Không phải gạt vội vì xấu hổ
Ngước mắt, tin yêu mọi người
” (NKĐ)

Viết đến đây, tôi chỉ còn thấy trước mặt mình, một Cù Huy Hà Vũ và những kẻ bán đất phá rừng đang ngồi ghế quan tòa, phải cúi mặt luận tội, người giữ đất, giữ rừng, giữ cả hồn dân tộc. Những học thuyết đứng đường, những con sâu béo trục béo tròn ấy, đã phá tan đất nước, mọi quan hệ xã hội, xóm làng, gia đình dòng họ đang được cân đo đong đếm bằng tiền bạc. Và chúng đang xẻo, bán dần từng miếng thịt trên lưng gầy của mẹ. Để sớm mai này còn có được gọi tên? Rồi đêm đêm về, Nguyễn Khoa Điềm, Trần Mạnh Hảo, lại viết cho anh nơi ngục tối tù đày đó:

Bây giờ lá cờ trên Cột cờ Đại Nội
Có còn bay trong đêm
Sớm mai còn giữ được màu đỏ?
Đất nước đang treo trên sợi chỉ mành
Sợi chỉ mành 16 chữ vàng và dối lừa 4 tốt
Có kẻ rước giặc lên bàn thờ
Xì sụp lạy khấn tàn nhang chủ nghĩa
Những giáo điều làm cơm nguội bơ vơ

Một bầy sâu đang tàn phá đất nước, như lời một ông đại quan đã nói. Không biết đó là những sâu to, sâu bé, sâu càng hay sâu róm, nhưng đất nước tôi đang nở ra những phong trào, đại dịch, quan lớn nuốt to, quan bé nuốt nhỏ. Cứ ông nào dính cán bộ, không còn riêng nữa, mà kéo theo cả gia đình, dòng họ đều giầu có, hống hách ngang tàng. Ăn cắp, ăn cướp đục khoét, hối lộ đã được tôn lên một cách trơ trẽn văn hóa phong bì, văn hóa quốc gia. Những mua danh bán tước, những bè cánh lợi ích, gia đình trị được che đậy bởi những mỹ từ, hạt giống đỏ, truyền thống cách mạng. Vậy là, lòng tự trọng, dây thần kinh xấu hổ đã hoàn toàn bị đứt.

Và nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm đau xót tự hỏi: Ai sẽ nắm vận mệnh của chúng ta? Vâng! Chính bầy sâu ấy đang nắm vận mệnh của chúng ta, và chúng đang khiêng nước Việt đi chôn.

Leipzig ngày 10-5-2013

Đỗ Trường

———————–

Chao ôi! Thật là điều đáng ngạc nhiên: lần đầu tiên trong lịch sử của Đảng Cộng Sản Việt Nam có một Ủy Viên Bộ Chính Trị được đào tạo “chính chủ” từ  bọn đế quốc Mỹ!!! Xin các đồng chí vỗ tay chúc mừng đồng chí Phó Thủ Tưởng Nguyễn Thiện Nhân đã được chính thức vào BCT đảng CSVN.

Blog caunhattan.wordpress.com có bài viết như sau:

Lần đầu tiên tại các nước Cộng sản: Ủy viên Bộ chính trị được đào tạo tại Mỹ

5-5-2013

Nguyễn Thiện Nhân sau khi được Hội nghị Trung ương 7 khóa 11 bầu bổ sung vào Bộ Chính trị Đảng Cộng sản VN đã trở thành vị lãnh đạo Cộng sản đầu tiên có chân trong Bộ chính trị được đào tạo tại Mỹ trong chương trình học bổng Fulbright. Chuyện này chưa từng xảy ra tại các nước Cộng sản.

Kể từ Liên Xô, CH Dân chủ Đức tới anh cộng sản cấp tiến như Hungary, Ba Lan rồi qua các nước Cộng sản phong kiến biến dạng như Triều Tiên, Trung Quốc, chưa có vị nào Ủy viên Bộ Chính trị được đào tạo tại phương Tây, đặc biệt là Mỹ.

Trong hồ sơ của tổ chức – an ninh, chương trình Fulbright đồng nghĩa với “diễn biến hòa bình” –

(Chỉ thị 34-CT/TW 2009 của Đảng về chống diễn biếnhòa bình).
a

Do vậy, từ lâu nay, việc cất nhắc anh Nhân gặp không ít trở ngại. Anh Nhân lẽ ra đã vào Bộ Chính trị và thay anh Phạm Gia Khiêm từ sớm, song do cái mác Fulbright nên người ta đã dè dặt.

Hồi mới từ Sài Gòn ra Bộ Giáo dục thay anh Nguyễn Minh Hiển, anh Nhân khiến cả bộ máy quan liêu cồng kềnh, trì trệ của 49 Đại Cồ Việt lao đao. Anh tung ra “ba không”. Anh nhấc bổng thày Đỗ Việt Khoa lên trời xanh. Anh có mặt tại Bộ lúc 7h30 sáng (may ra mới có chị lao công bắt đầu làm việc), 12h kém 5 phút trưa (giờ mà chỉ tìm thấy quan chức ở nhà hàng và quán bia), anh cho thư ký gọi điện tới các Vụ trưởng, Vụ phó đốc thúc công việc. Mới 1h chiều, đích thân anh sục vào từng Cục, Vụ kiểm tra.

Sau 1 tháng anh Nhân ra Bộ, các bác Cục, Vụ trưởng, Vụ phó khỏi phải đi đánh bóng mà vẫn sụt ký đều đều. Có điều huyết áp thì vùn vụt tăng vì không được vùi mình vào những giấc ngủ trưa ngon lành sau khi đã được “đối tác” chăm sóc bằng những bữa chén đẫy với phong bì nặng túi.

Anh Nhân đi công tác không mang theo thư ký. Tiếp các đại sứ, các chuyên gia dự án, anh không dùng phiên dịch. Họp hành, anh chú ý lắng nghe, cho ý kiến chỉ đạo rất mạch lạc, làm việc thì chi tiết chứ không đại khái qua loa như bác Hiển tiền nhiệm.

Có điều, càng làm ở Hà Nội lâu, càng lên cao anh càng mắc chứng quên.

Đầu tiên là nhân vật dấu ấn mà chính anh dựng lên – thày Khoa. Sự nghiệp “ba không” của anh Nhân càng được tung hê thì thày Khoa càng bị đánh cho bầm dập, tơi tả và càng bị rơi vào quên lãng (lưu ý là vài ngày trước khi anh Nhân vào Bộ Chính trị thì cũng là ngày thày Khoa bị an ninh túm vào đồn Công an ở Thường Tín, Hà Nội). Hiệu quả “ba không” của anh Nhân đến nay thế nào thì cả nước đã rõ. Giáo dục nay thối hơn c…t, nhiều nhà giáo phải than như vậy.

Anh Nhân chọn cách giả điếc.

Lên Phó Thủ tướng phụ trách cả mảng y tế, biết bao chỉ đạo của anh về thuốc, về điều trị về y đức đều rơi vào “ba không”. Anh càng chỉ đạo, y tế càng bê bết. Anh cũng lại chọn cách hứa hão giống anh Triệu hoặc chọn cách quên cho nhẹ đầu, để cho con đường phía trước được hanh thông.

Một người từng làm việc sát cánh với anh Nhân, nghe tin anh vào Bộ Chính trị, than rằng: anh Nhân trí tuệ thật, nhưng giá như khắc phục được chứng “điếc” và “quên” thì dân được nhờ lắm lắm.

Posted in Sách- Báo- Hồi Ký | Leave a Comment »

►Trò chuyện với Uyên Thao về cuốn “Phiên Bản Tình Yêu”

Posted by hoangtran204 trên 16/03/2013

Mộc Lan DCVOnline

Cuối Đông 2012, Tủ Sách Tiếng Quê Hương cùng lúc cho ra đời 3 tác phẩm: “Thú Người”, “Dạ Tiệc Quỷ” và “Phiên Bản Tình Yêu”. Cả ba đều thuộc thể loại tiểu thuyết, nhưng khác với hai cuốn kia “Phiên Bản Tình Yêu” là một truyện dài, đúng hơn, một truyện tình dài. “Phiên Bản Tình Yêu” có điểm giống với “Bên Thắng Cuộc” – ra đời trước vài tháng – là cùng nhìn lại những gì đã xảy ra trên đất nước dưới chế độ cộng sản, chỉ khác cách thể hiện.

“Phiên Bản Tình Yêu” (PBTY) là cuộc đời trải dài của nhiều nhân vật suốt nhiều chục năm vì thế các tình tiết móc nối chằng chịt nhau; tôi nhờ đọc trước bài điểm sách “Ngõ Vào Phiên Bản Tình Yêu” của ông Trần Phong Vũ nên không quá bị ngộp. Tuy nhiên, vì chiều dày lịch sử và lại liên quan tới một thời kỳ hết sức biến động, tôi cảm thấy cuốn sách vượt tầm hiểu biết của mình. Do đó, tôi nảy ra ý định hỏi chuyện một người đã từng sống rất “kỹ” thời gian ấy, ông Uyên Thao, cựu tổng thư ký báo Sóng Thần (Sài Gòn trước 1975) và cũng là người sáng lập Tủ Sách Tiếng Quê Hương (tủ sách đã ấn hành tác phẩm PBTY).

Để tiện cho bạn đọc theo dõi, xin tóm tắt cốt truyện như sau.

Nhân vật chính trong truyện là Lê Huy Phong (tức Lê Huy, Chu Bá Ngôn), nguyên sinh viên luật khoa Đại học Huế, đảng viên Cộng Sản Việt Nam, đặc công biệt động thành. Lê Huy được lệnh phá xập cầu Gia Hội. Anh đã ép buộc Cẩm Khuê, người yêu đầu đời, giả làm gái điếm để thi hành nhiệm vụ. Cơ mưu không thành Lê Huy bị bắt nhưng được Bửu Dương, một sĩ quan an ninh đối phương, giúp thoát thân.Tiếp theo là những tháng ngày phiêu bạt, sống chui nhũi trong hầm tối vì bị đồng đội bỏ rơi. Cuộc tình với nữ du kích quân Phan Thị Mơ nảy nở trong thời gian nà. Sau 1975, Lê Huy gặp lại cha, giờ là một thiếu tướng CS, nhờ đó bắt đầu cuộc sống sung túc và trở thành tổng giám đốc công ty. Lê Huy tình cờ gặp Tường Vi – con gái duy nhất của Bửu Dương và Cẩm Khuê – khi đi quán bia ôm. Anh yêu nàng nhưng không dám đi tới việc chung chăng gối vì bị kỷ niệm xưa ám ảnh. Thị Mơ sẵn có ước mơ định cư hẳn Hoa Kỳ nên khi nhận ra Tường Vi chính là “phiên bản tình yêu” của chồng thì bỏ đi Mỹ ngay tuy vẫn hy vọng cuộc tình giữa Lê Huy và Tường Vi sẽ không thành tựu.
Phiên bản tình yêu
Nguồnảnh: TQH


Và dưới đây là phần trò truyện với Uyên Thao.

Mộc Lan: Thưa anh Uyên Thao. PBTY trên phương diện tiểu thuyết, theo ML, là khá hấp dẫn với những tình tiết ly kỳ với giọng văn sắc bén, điều này cho thấy tác giả – Vũ Biện Điền – không phải là người mới viết văn. Anh có thể cho biết đôi điều về tác giả được không?

Uyên Thao: Trước hết, theo tôi, nhận định của ML về tác phẩm PBTY có thể được nhiều người tán đồng nhưng có thể cũng có nhiều người bất đồng. Dù diễn giải cách nào, đây là cách đánh giá hoàn toàn mang tính chủ quan của người đọc và chắc chắn khó thể có sự đồng nhất. Tính hấp dẫn của một tác phẩm cũng như giá trị của một tác phẩm luôn dựa trên nhiều nền tảng khác biệt tuỳ theo cách nhìn. Với người này có thể là cách dàn dựng cốt truyện với các tình tiết đặc biệt và giọng văn sắc bén, nhưng với người khác có thể chỉ là chủ điểm nội dung hoặc văn phong tươi mát v.v… Ngoài ra, tài năng của một tác giả không hẳn chỉ hoàn toàn do riêng việc rèn luyện tức là chỉ khởi từ kinh nghiệm thực tế theo thời gian cầm bút. Thiếu gì tác giả nổi danh ngay với tác phẩm đầu tay mà theo sát nghĩa đen của danh từ rõ ràng chỉ là một tay mơ. Tác giả PBTY thì không phải tay mơ. Tuy nhiên, do nhiều ràng buộc khó vượt nên tôi xin cáo lỗi chỉ có thể nhắc vài chi tiết sơ lược.

Vũ Biện Điền sinh ra và lớn lên trong cả hai cuộc chiến trước và sau 1954. Mẹ anh bị Pháp giết, chú và anh bị cộng sản giết, trong khi cha anh mải mê theo lý tưởng kháng chiến chống ngoại xâm. Anh đã tốt nghiệp hai trường đại học tại miền Nam và viết văn từ thời sinh viên trước 1975. Anh dành 6 năm viết tác phẩm PBTY và từng tâm sự với một người bạn là nhiều đêm ngồi trước máy vi tính, anh đã khóc với nhân vật của mình.

ML: Vì chưa từng sống trong thời chiến tranh Quốc-Cộng trước 75 nên ML khó hình dung được nhiều điều trong truyện. Ví dụ, có thể có một thanh niên hết lòng vì lý tưởng (cộng sản) đến mức dùng chính người mình yêu để phục vụ mục đích đấu tranh hay không?

Uyên Thao: Mức độ tận hiến trong đấu tranh của những người nhập cuộc không hiếm hoi và chỉ có tại một nơi nào, một thời khoảng nào hoặc thuộc riêng một hàng ngũ nào. Nhưng nếu giới hạn trong không gian Việt Nam và giới hạn thời gian từ khi cộng sản hiện diện thì vấn đề có những nét gần như chưa từng có suốt chiều dài lịch sử. Cách đây không lâu, báo Quân Đội Nhân Dân tại Việt Nam đăng một bài viết về những tấm gương tận hiến cho “cách mạng” trong đó có chuyện một nữ cán bộ cơ sở nuôi giấu lãnh tụ Lê Duẩn trong phòng ngủ nên sợ chồng nổi cơn ghen làm lộ chuyện đã đề nghị cấp trên cho “khử” người chồng.(*) 

Với riêng tôi, một hình ảnh cách đây 60 năm vẫn thường trở lại. Đó là hình ảnh một thanh niên bị trói quặt hai tay ra sau lưng nằm ngửa dưới đất hứng những dòng nước đái của một cô gái tốc váy đái vào mặt giữa một đám đông vây quanh. Người con gái đó chính là người yêu của anh. Chuyện xảy ra tại một vùng quê Thanh Hoá thuở mở màn các cuộc đấu tố thí điểm cho chiến dịch Cải Cách Ruộng Đất 1953. Anh thanh niên vừa thuộc thành phần địa chủ vừa bị kết buộc là phản động do liên hệ với Việt Nam Quốc Dân Đảng nên người yêu của anh bày tỏ thái độ tận hiến cho “cách mạng” bằng cách đó. Anh bị xử đưa vào trại tù Lý Bá Sơ nhưng may mắn nhờ hiệp ước Genève 1954 quy định về thả tù nên được rời trại cuối năm 1954, kịp trốn về Hà Nội rồi trốn được vào Nam và hiện còn sống tại California với nguyên vẹn tới nay những vết tích do trại tù Lý Bá Sơ in hằn trên thân xác. 

So với các sự việc đó, nhân vật chính của PBTY tạo cho người yêu cái vỏ mãi dâm để che kín bộ mặt đặc công của mình hầu an toàn tiếp tục vai trò công cụ phục vụ Đảng là chuyện không đáng ngạc nhiên. Chỉ có điều nếu muốn dùng hai chữ “hy sinh” thì hai chữ này đã đổi hẳn nghĩa là buộc người khác phải “hy sinh” cho mình, bất kể người đó muốn hay không. Với những người tận trung với lý tưởng Cộng Sản, hành xử theo cách này là điều bình thường vì châm ngôn của họ là “cứu cánh chứng minh cho phương tiện” trong khi lãnh tụ Lenin đã cụ thể hoá ý nghĩa châm ngôn trên bằng lời giáo huấn“để đáp ứng yêu cầu của cách mạng, có quyền cướp bóc, giết người nếu thấy là cần thiết.”

ML: Nhân vật “tôi” – chàng thanh niên Lê Huy Phong – khi không được “nhảy núi” thì tỉnh ngộ và thôi không theo Mặt Trận GPMN nữa. Trong cuộc đời của anh, anh đã từng gặp những trường hợp tương tự như Lê Huy Phong chưa?

Uyên Thao: Cần nói ngay nhân vật chính trong PBTY tỉnh ngộ không hẳn vì không được “nhảy núi.” Trên thực tế anh ta đã “nhảy núi” rồi mới trở thành đặc công biệt động nội thành. Anh ta tỉnh ngộ vì may mắn gặp được những người còn giữ vẹn tính người như gia đình ông Phan Ne và nhờ đó đã phát hiện tính xảo trá, bất nhân của chủ nghĩa Cộng Sản. 

Về những người tỉnh ngộ mà tôi có dịp gặp thì phải nói là khó kể hết nhưng có vài người tương đối đặc biệt như nhà văn Lương Quân, các ký giả Đông Tùng, Nguyễn Nguyên và hoạ sĩ Choé. 

Nhà văn Lương Quân đang du học tại Pháp đã bỏ về nước tham gia bộ đội kháng chiến năm 1946 và là một sĩ quan pháo binh trong trận Điện Biên Phủ. Ngay khi trận đánh chấm dứt trong chiến thắng, anh đã bỏ ngũ trốn về Hà Nội rồi trốn sang Lào vì thấy đảng Cộng Sản lệ thuộc quá nặng vào Trung Cộng và phân rẽ dân tộc với chủ trương đấu tranh giai cấp tàn khốc.

Đông Tùng là một nhà nho có tinh thần cấp tiến, hoạt động cho cộng sản từ trước 1940 tại Thái Lan và Nguyễn Nguyên tham gia kháng chiến từ 1945. Cả hai được cài vào nằm vùng tại Sài Gòn từ 1954 và sau 1975 đều được tuyên dương thành tích, được ưu đãi nhưng đều tỉnh ngộ. Tôi vẫn nhớ câu nói cuối cùng của Nguyễn Nguyên với tôi trước khi anh chết năm 2002 là một lời than đầy uất ức: Đất nước mình bất hạnh cùng cực vì đã có một lãnh tụ là ông Hồ!” 

Riêng Choé, năm 1960 vừa 17 tuổi đã bị lùa lên núi cầm súng hoạt động du kích. Không hiểu biết gì về chính trị nhưng Choé không chấp nhận cảnh bị cưỡng bức rời nhà đi cầm súng nên ít lâu sau đã bỏ trốn và do đó phải rời Châu Đốc lên Sài Gòn sinh sống rồi trở thành một hạ sĩ quan trong quân đội Việt Nam Cộng Hoà. 

Nói chung có nhiều người đã rời bỏ hàng ngũ Cộng Sản do tỉnh ngộ hoặc bởi nhiều lý do khác và trường hợp như nhân vật chính của PBTY là rất thường. 

ML: Trong PBTY có nhiều mẫu người. Anh thấy những mẫu người ấy có thật không hay chỉ được tạo dựng để lên tiếng phát biểu về những điều nào đấy.

Uyên Thao: Với nghệ thuật tiểu thuyết, mọi nhân vật đều được tạo dựng để bằng mọi cách phát biểu về các chủ ý của tác gỉa nên không thể bảo nhân vật tiểu thuyết nào là người thực trong cuộc sống. Tuy nhiên, mọi nhân vật được tạo dựng không bao giờ tách rời nổi khỏi cuộc sống mà luôn gắn kết với hình ảnh của nhiều con người thực trong cuộc sống. PBTY là một cuốn tiểu thuyết chắc chắn không vượt khỏi công lệ này. Do đó, không ít nhân vật trong PBTY dù là nhân vật được tạo dựng vẫn gợi nhắc về nhiều người từng sống tại Huế trước năm 1975. Nhưng điểm quan trọng sẽ chỉ là qua những nhân vật này, tác giả có truyền đạt nổi tới người đọc cái chủ ý muốn truyền đạt hay không, chủ ý đó nhắm nói lên điều gì và có thực sự gắn kết với yêu cầu của cuộc sống hay không? 

ML: Trong PBTY, một nhân vật ML ấn tượng là cô Mơ, một nữ du kích, vợ Lê Huy Phong. Theo Trần Phong Vũ thì Mơ là mẫu người “tư bản đỏ” và “thực hiện chính sách rửa tiền cho chế độ.” (nguyên văn: “khuôn mặt tiêu biểu cho những mệnh phụ phu nhân Đỏ mau chân qua Mỹ dọn đường cho chủ trương hạ cánh an toàn của những đại gia, nhưng tay đầu sỏ trong chế độ”.)

Nhưng với ML, Mơ chỉ là một phụ nữ nông thôn kém may mắn bị bắt buộc phải cầm súng làm du kích, sau này khi có điều kiện, Mơ ra sức làm việc, thành giàu có. Tuy Mơ chỉ biết nghĩ cho riêng mình và gia đình mình, nhưng vẫn đáng thương hơn đáng trách. Nhận xét của anh về nhân vật (có thể là tiêu biểu cho một tầng lớp trong xã hội VN lúc này) ra sao?

Uyên Thao: Theo tôi, PBTY có khá nhiều nhân vật gây ấn tượng dù chỉ là các nhân vật phụ xuất hiện gần như thoáng qua trong một số trang hạn chế. Tuy nhiên thực sự gây ấn tương với tôi chính là cảnh sống của mọi nhân vật kéo dài từ trang đầu tới trang cuối tác phẩm. Nói một cách vắn gọn thì đó là bộ mặt thực của đất nước Việt Nam sau khi được đặt trên “con đường tiến lên xã hội chủ nghĩa” với nét hoạ nổi bật là hết thẩy con người ở mọi vị thế, mang mọi chân dung, ấp ủ mọi tâm tư… đều không còn gọi được là người. Bởi hết thẩy đều rơi xa thẳm khỏi thân phận nạn nhân bi thảm của đủ mọi tệ nạn ngu si, nghèo đói, lường gạt, áp chế… mà gần như tự nguyện lao đầu vào cuộc đua hoang thú hoá bản thân với nỗi đam mê cuồng nhiệt, đặc biệt là lớp người đang thủ đắc quyền lực trong tay. Trong cảnh sống đó, nhân vật Mơ là một mẫu người thực tế biết khai thác cơ hội để làm giàu nên có thể gán cho tước danh “tư bản Đỏ” cũng được. Nhưng nếu bảo Mơ “thực hiện chính sách rửa tiền cho chế độ” thì đi hơi xa, nhất là khi Mơ đã thấy không còn cơ hội cứu vãn lẽ sống duy nhất của đời mình là tình yêu. 

Qua việc Mơ chọn lựa rời bỏ quê hương để sống lưu vong tại Mỹ, tác giả đã gửi lời phát biểu cực kỳ đau đớn về cuộc sống Việt Nam tới người đọc. Vì Mơ là con của ông già Phan Ne hiền lương chất phác nên Mơ đã in sâu trong não bộ lời nói của cha mình khi ông vứt thẻ đảng, vứt mọi chức vụ đang có, “Thà ăn cứt một mình mà làm người còn hơn ăn cơm chung với tụi nó mà làm chó.”Chọn lựa của Mơ là chọn lựa bắt buộc của một con người thực tế không chịu biến thành chó, đồng thời cũng có thể coi là một lời giải thích về lý do đã khiến hàng triệu người Việt Nam phải bỏ nước ra đi trong điều kiện một sống hai chết. 

Nhưng khi mà chính những người đã nhận thức rõ về cảnh sống đất nước chỉ còn cách bỏ chạy để cứu riêng mình thì cái kiếp chó của 90 triệu bà con tới lúc nào mới chấm dứt? Tôi nghĩ về nhân vật Mơ như một phát biểu nhức nhối của Vũ Biện Điền và chỉ dừng riêng trước phát biểu này, tôi đã thấy nghẹn ngang cổ.

ML: Hẳn có những người như Lê Huy Phong – làm việc cho chế độ CS nhưng vẫn âm thầm làm những điều tốt, điển hình là Vũ Biện Điền, tác giả PBTY – Anh đã từng gặp những người tương tự hay không? Có nên gọi họ là “người cộng sản chân chính” hay không?

Uyên Thao: Nghe mấy tiếng “Cộng Sản chân chính”, tôi lại nhớ tới một tai nạn đã tự gây ra cho mình 30 năm trước khi đang ở trại tù K.3. Thuở đó vào một ngày quá nản với cái trò bó gối ngồi nghe đọc các khẩu hiệu nhàm chán về cộng sản, về giai cấp đấu tranh … tôi đã có một phản ứng hoàn toàn bất ngờ. Đó là lúc quản giáo ngoắc tôi tới để nghe anh ta nói về Chủ nghĩa Cộng sản. Vừa mệt lại vừa ngán ngẩm, tôi xin phép cho tôi nói trước. Và khi anh ta gật đầu, tôi nói liền:“Tôi thấy cán bộ chưa quá 25 tuổi, như vậy, tuổi đời của cán bộ chưa bằng thời gian tôi bỏ ra để đọc sách Karl Marx và Lenin. Vậy tốt hơn hết, cán bộ đừng giảng về Chủ nghĩa Cộng sản cho tôi. Nếu cán bộ cần thì cứ hỏi, tôi sẽ giảng cho cán bộ.” Lập tức, tôi bị quát đứng dậy, bị dẫn về trại, giao cho an ninh để nhận hình phạt biệt giam cùm hai chân hai tuần lễ. 

Theo tôi, mấy tiếng Cộng Sản chân chính nếu không nảy ra do những đầu óc đần độn cùng cực thì là sản phẩm của một trò nhơ nhuốc tìm cách tự lường gạt chính mình. Tôi có thể đoan chắc không một lãnh tụ Cộng Sản Việt Nam nào tránh khỏi khựng người trước câu hỏi: “Ông nhắc tới Cộng Sản chân chính, vậy xin cho biết đó là thứ Cộng Sản nào? Cộng Sản của Marx theo Tư Bản Luận tập 1 năm 1867 hay Tư Bản Luận tập 3 năm 1894? Hay Cộng Sản Lenin? Cộng Sản Stalin? Cộng Sản Mao Trạch Đông? Cộng Sản Tito? Cộng Sản Trotsky?” Giả dụ biết rõ về đặc trưng của mọi lý tưởng Cộng sản kể trên thì lại càng khựng người trước câu hỏi vì khoảng cách mịt mù giữa nguyện vọng chính đáng của dân tộc và mục tiêu chủ yếu mà mọi lý tưởng Cộng Sản nhắm tới. 

Dù vào những ngày cuối đời, chính Marx đã tự thú sai lầm khi cổ võ đấu tranh giai cấp bằng bạo lực để làm nổ tung chủ nghĩa tư bản, nhưng Marx vẫn không nhìn qua khỏi mục tiêu giành lại các quyền lợi kinh tế cho giai cấp vô sản mà Marx cho rằng đã bị cướp đoạt bởi giai cấp tư bản, và đặc biệt theo Marx, chỉ riêng giai cấp vô sản là tinh hoa của loài người, là giai cấp duy nhất được quyền tồn tại trên mặt đất với mọi quyền lực trong tay. Từ Lenin tới Stalin, Mao Trạch Đông, thậm chí cả Tito nữa dù có những cải biến cũng không nhắm mục tiêu nào khác ngoài mục tiêu nắm chắc quyền lực giành được bằng họng súng cho giai cấp vô sản mà từ đầu thế kỷ 20 đã được Kautsky thuộc Đệ Nhị Quốc Tế Cộng Sản vạch rõ là chỉ cho một nhóm người hay một người nào đó thôi. Vì thế mọi giáo huấn của Hồ Chí Minh trong nội bộ đảng Cộng Sản luôn là lời cảnh báo“chủ nghĩa dân tộc và ái quốc là các hiểm hoạ phải tiêu diệt.” Qua các tài liệu chính thức vẫn truyền bá tới nay, đã hơn một lần Hồ Chí Minh nhấn mạnh “chủ trương giành độc lập, tự do cho dân tộc chỉ là chiêu bài tranh thủ nhân tâm” trong giai đoạn khắp thế giới đang bùng nổ phong trào chống chủ nghĩa thực dân của các dân tộc nhược tiểu.

Như thế, giả dụ có những người Cộng sản chân chính thì những người này đâu có liên hệ gì với các nguyện vọng chính đáng của dân tộc Việt Nam? Tôi chỉ thấy càng là Cộng sản chân chính càng kiên thủ hướng đi ngược chiều với hướng đi của mọi dân tộc trên trái đất, cho nên không thể bảo những người đang ở trong hàng ngũ Cộng sản vẫn âm thầm làm điều tốt cho dân tộc là “người Cộng sản chân chính”. Ngoài ra thì chính những người Việt Nam đang tuyên xưng lý tưởng Cộng sản có mấy người hiểu Cộng sản là gì đâu để nói họ là chân chính hay không chân chính.

Tới lúc này, theo tôi, mấy chữ Cộng sản chân chính đã xuất hiện như một chiêu bài tiếp nối cái chiêu bài giành độc lập tự do cho dân tộc được Hồ Chí Minh triệt để khai thác trước đây. Mục tiêu của chiến thuật này chỉ nhắm biện giải rằng những tác hại đã tàn phá đất nước là do một số người xấu hoặc lầm lạc chứ chủ nghĩa Cộng Sản vẫn là con đường đem lại hạnh phúc cho dân, cho nước! Chiến thuật này đã dễ dàng thâu hoạch kết quả do không ít người vẫn u mê tin cái chiêu bài vì dân, vì nước được Cộng Sản mở ra từ thập niên 1920, đồng thời cũng do không ít người tuy nhìn rõ vấn đề nhưng không dám tự thú sự lầm đường lạc lối của mình nên cố bám víu vào mấy chữ đó để duy trì quyền lợi đang có hoặc để níu kéo những hào quang hão huyền vẫn luôn quyến rũ, ve vuốt tính tự ái mù loà. 

Cho nên thú thực tôi chưa từng gặp một người Cộng Sản chân chính nào tại Việt Nam. Còn những người như nhân vật chính trong PBTY dù nằm trong hàng ngũ Cộng Sản, làm việc dưới sự chi phối của Cộng Sản vẫn cố giữ cho mình không nhúng tay vào tội ác, cố làm một số điều tốt nào đó cho những người xung quanh thì chỉ là do bản tính thiện và vị tha hằng hữu mà thôi. Những người này thì chắc chắn mọi người đều có thể đã gặp và gặp rất nhiều tại Việt Nam. Cũng có thể bảo đây là một tia lửa ấm mà tác giả PBTY muốn gửi tới người đọc, dù hiện vẫn là tia lửa mong manh. 

ML: PBTY là một câu chuyện tình – giữa Lê Huy và Cẩm Khuê, sau là Lê Huy Phong với Tường Vi và Mơ – nhờ vậy những biến cố chính trị trở nên không quá khô khan. Nhưng nhờ đó mới thấy tình yêu của những nam nữ ấy làm nổi bật sự tàn bạo man rợ của chủ nghĩa cộng sản. Nói một cách khác, chủ nghĩa cộng sản không thể nào song hành với tình yêu chân chính, và trước sau gì con người cũng phải chọn một trong hai. Theo anh thì chúng ta có thể hy vọng vào cái kết cuộc “có hậu” là người Việt sẽ chọn “tình yêu”?

Uyên Thao: Nói PBTY là một câu chuyện tình chỉ chính xác nếu dựa riêng theo tựa đề tác phẩm và sự xuất hiện từ trang đầu tới trang cuối tác phẩm của nhân vật nữ Tường Vi. Tuy nhiên, chủ ý tác giả không gom trọn trong cuộc tình của nhân vật Tường Vi hay bất kỳ cuộc tình nào của nhân vật chính Lê Huy Phong. Có thể bảo tình yêu trong tác phẩm PBTY chỉ là một chất keo kết nối các tình tiết và một động lực thúc đẩy nhiều xu hướng tâm tư để giúp làm nổi bật chủ ý tác giả là diễn tả thực tế đời sống Việt Nam qua nhiều khía cạnh trong đó nổi bật nét khắc về tính đổ vỡ cùng cực của con người từ mọi phương diện hành xử tới suy tư. 

Dù tác giả định tính cho tác phẩm của mình là tiểu thuyết, PBTY vẫn mang vóc dáng một loại tâm bút nhiều hơn là một tác phẩm nghệ thuật thuần túy. Có thể khẳng định không sợ lầm lẫn rằng Vũ Biện Điền không dựng một tác phẩm nghệ thuật về tình yêu mà chỉ muốn gửi đến mọi người bức chân dung nhầy nhụa thê thảm tới mức kinh hoàng của đời sống Việt Nam hiện nay cùng với nỗi đau bóp nghẹn tim óc của những người còn đủ lương tri không xoay lưng làm ngơ trước thời thế. Chính tính chất này đã khiến tác phẩm có những chương gần như không còn bóng dáng nghệ thuật — các chương A33, A34, A35 chẳng hạn — hoặc dụng ý kéo dài cảnh ăn chơi sa đoạ tới hơn 70 trang mở đầu tác phẩm, trước khi đẩy lên sân khấu một nạn nhân bên cạnh các công thần của chính sách Cải Cách Ruộng Đất… 

Cho nên, Bảo Trọng Cư đã nhận định về PBTY như sau: 

“…Thời gian của tác phẩm xuyên suốt từ 1954 đến tận hôm nay, với những nhân vật đặc trưng và dụng ý rõ rệt của tác giả. Đây không chỉ là chuyện đời, chuyện tình của nhân vật chính và một số người liên quan mà gắn kết với những vấn đề lịch sử và chính trị hệ trọng của đất nước thông qua suy tư, tranh luận và hành vi của các nhân vật…Nguồn gốc cuộc chiến tranh Việt Nam, nhận định và  phê phán các nhân vật lịch sử cả hai miền Nam Bắc, sai lầm và tác hại của chủ nghĩa Cộng Sản, bản chất của chế độ Xã Hội Chủ Nghĩa …Những vấn đề này không được trình bày khô khan qua lý thuyết mà bằng những hình ảnh sống động của các nhân vật trong từng giai đoạn và sự cố…. hình thành một bức tranh tổng thể, một vở kịch lịch sử bi tráng, phần nào lý giải sự thất bại của miền Nam dù có tự do dân chủ và mức sống cao hơn miền Bắc, trong cuộc chiến vừa qua.”
Theo Bảo Trọng Cư, nội dung PBTY đã dồn nén đau nhức của cả dân tộc từ nửa thế kỷ vừa qua. Vì thế, thay vì trả lời ML về câu hỏi có nên hy vọng vào hồi kết “có hậu” là người Việt sẽ chọn tình yêu thay vì chủ nghĩa Cộng Sản không, tôi nghĩ nên hy vọng sẽ nhận được từ hết thẩy người Việt câu trả lời thích đáng nhất cho những câu hỏi mà Bảo Trọng Cư đưa ra sau khi đọc tác phẩm PBTY:

“Treo bảng Cộng Hòa sao lại Vô Sản Chuyên Chính?
Treo bảng Độc Lập sao nhất nhất mỗi việc phải thông qua Nga, qua Tàu?
Treo bảng Tự Do sao độc đảng đơn nguyên?
Treo bảng Hạnh Phúc sao nhân dân đói rặt từ Nam chí Bắc?
Staline dựng chiêu bài giải phóng Đông Âu khỏi họa Phát Xít Đức rồi áp đặt chủ nghĩa Cộng Sản, nay các quốc gia đó đã ngẩng cao đầu sau khi Liên Xô sụp đổ.
Hồ Chí Minh dựng chiêu bài độc lập kêu gọi nhân dân chống thực dân Pháp rồi áp đặt chủ nghĩa Cộng Sản, nay Việt Nam vẫn còn trầm luân.
Liên Xô sụp đổ rồi, không nói nữa, nhưng đại Hán Trung Hoa còn đó, mất đất trên bộ mất đảo ngoài biển làm sao đây?
Phật Giáo Quốc Doanh đang lan tỏa và nuốt chửng Phật Giáo Thống Nhất, những Phật tử vì đạo pháp vì dân tộc nghĩ sao?
Và cả Công Giáo nữa, cuộc chiến chống Cộng Sản mang ý nghĩa gì?”…
Cuộc truyện trò với Uyên Thao dừng tại đây. Nội dung chuyên chở trong “Phiên Bản Tình Yêu” không thể gói gọn trong vài câu hỏi, nhưng đó chính là điều đáng mừng vì không phải là tiểu thuyết đọc một lần rồi bỏ. Và tuy Uyên Thao không nói tới một kết cuộc “có hậu” thì tôi vẫn tin vào nó, bởi vì dù cố gắng tô vẽ đến đâu thì Chủ nghĩa Cộng sản cũng chẳng trở thành một phiên bản tình người và rồi sẽ bị đào thải khỏi nhân loại.nguồn © DCVOnline

  


(*) Báo Quân Đội Nhân Dân ngày 9-3-2007, bài Một Nửa Thế Giới… trích đoạn như sau: “Một chị là cơ sở cách mạng nuôi giấu ông (tức Lê Duẩn) trong phòng ngủ, bất chợt người chồng trở về và nổi cơn ghen khiến ông có nguy cơ bại lộ. Chị cơ sở báo động và xin chỉ thị có cần phải “khử” người chồng hay không …” — Theo “Sau Bức Màn Đỏ” của Hoàng Dung.

Posted in Sách- Báo- Hồi Ký | Leave a Comment »

►Sách Bên Thắng Cuộc viết về Nguyễn Tấn Dũng và kinh tế tập đoàn

Posted by hoangtran204 trên 29/01/2013

Đọc bài này ta thấy anh y tá và  những kẻ đỡ đầu và cố vấn cho y  đã chơi khăm cả TT Nguyễn Văn Khải và nhất là hạ nhục Trần Xuân Giá… bãi bỏ Ban Nghiên Cứu và cho Trần Xuân Giá về hưu xảy ra như sau:

… “Ông Khải thừa nhận, thâm tâm ông cảm tình với ông Vũ Khoan hơn, tuy nhiên, phần vì Vũ Khoan bị coi là thiếu thực tế trong nước, phần vì ông đã lớn tuổi – Vũ Khoan sinh năm 1937, cùng năm sinh với các ông Trần Đức Lương, Nguyễn Văn An – nên việc giới thiệu ông là gần như không thể. Nhưng, chủ yếu, theo ông Khải: “Tương quan lực lượng không cho phép”.

Ngày 28-6-2006, Quốc hội bỏ phiếu bầu ông Nguyễn Tấn Dũng làm thủ tướng. Trước khi rời nhiệm sở, ông Phan Văn Khải tổ chức một buổi gặp mặt toàn thể Ban Nghiên cứu với sự có mặt của thủ tướng mới được bầu Nguyễn Tấn Dũng. Tiếp lời ông Phan Văn Khải, trong một diễn văn ngắn, ông Dũng cũng đã dùng những từ ngữ tốt đẹp để nói về Ban Nghiên cứu và tương lai cộng tác giữa ông và các thành viên. Cũng trong cuộc gặp này, ý tưởng hình thành văn phòng thủ tướng trong Văn phòng Chính phủ đã được cả ông Khải và ông Dũng cùng ủng hộ  

Cuộc nói chuyện kéo dài tới 17 giờ ngày 27, Thủ tướng thân tình đến mức ông Giá tạm thời gạt qua kế hoạch nghỉ hưu và trở về ngồi vẽ sơ đồ tổ chức văn phòng thủ tướng và chuẩn bị kế hoạch củng cố Ban Nghiên cứu.

Hôm sau, ngày 28-7-2006, khi ông Trần Xuân Giá đến cơ quan ở đường Lê Hồng Phong thì thấy Văn phòng vắng vẻ, nhân viên lúng túng tránh nhìn thẳng vào mắt ông. Ông Trần Xuân Giá làm tiếp một số việc rồi về nhà. Vào lúc 16 giờ cùng ngày, ông nhận được quyết định nghỉ hưu và quyết định giải thể Ban Nghiên cứu do văn thư mang tới. Cả hai cùng được chính Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng ký vào ngày 28-7-2006, tức là chỉ ít giờ sau khi ngồi “hàn huyên” với ông Trần Xuân Giá. Theo ông Giá thì ông là người cuối cùng trong Ban Nghiên cứu nhận được quyết định này…”

Trong thời gian N.T.D. làm thủ tướng 2006-2011, có ai được hưởng lợi nhiều nhất thì đó chính là nhóm đứng sau lưng và giựt dây cho N.T.D. Tất cả những người giàu nhất trong giai đoạn này và dưới thời Ng. văn Khải gồm Nhóm miền Bắc (đa số từng đi du học các nước XHCN) như Phạm Nhật Vượng, Truơng Gia Bình, Đặng Hoàng Yến, Đặng Thành Tâm…và đặc biệt là 175 ủy viên Trung Ương Đảng và các nhân vật BCT hoặc từng ở trong Bộ Chính Trị như Đỗ Mười.   

Cách làm ăn, kế hoạch phát triển, điều hành của các tập đoàn và ngân hàng rất ly kỳ: tất cả tập đoàn, các ngân hàng và bọn giàu có nhất (Nhóm miền Bắc) đều đầu tư mua bán bất động sản.  Riêng chính phủ NTD thì chỉ biết in tiền và tung tiền ra thị trường mua đô la do Việt kiều gởi về (8-13 tỷ đô la mỗi năm). Tiền đầu tư nước ngoài vào VN (ODA và FDI) từ 6-12 tỷ mỗi năm,  nhưng chính phủ  không có kế hoạch phát triển cơ sở hạ tầng như đường giao thông, các đầu tư vào nhà máy điện, và các hải cảng, xây dựng mới các phi trường,…nên tụi tham nhũng chia nhau bỏ túi hết các khoảng tiền đầu tư này, kết quả là VN hiện mắc nợ trên 120 tỷ đô la. 

Việt Nam “ngốn” gần 2,6 tỷ lít bia trong năm 2011, vượt xa hai nước đứng ở vị trí tiếp theo là Thái Lan và Philippines. (vnexpress)

mà kết quả  là tình hình kinh tế, tài chánh, và xã hội trong giai đoạn 2006 -2013 cho ta thấy là bọn này hoàn toàn thiếu kinh nghiệm, thiếu chuyên môn, và rất tham lam.

Nguyễn Tấn Dũng và kinh tế tập đoàn [*]

Danluan.org

Đoạn trích sau từ cuốn Bên Thắng Cuộc II: Quyền Bính nói về vai trò của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng trong việc thành lập hàng loạt các tập đoàn kinh tế quốc doanh – hay còn gọi là Quả Đấm Thép. Ban Biên Tập Dân Luận xin giới thiệu trích đoạn này tới độc giả, trong bối cảnh xã hội đang đặt câu hỏi ai phải chịu trách nhiệm về những con số lỗ lã và thất thoát khổng lồ ở các tập đoàn kinh tế quốc doanh.

Tác giả Huy Đức có chú thích rõ các nguồn tin sử dụng trong cuốn sách, nhưng do khuôn khổ hạn chế của bài báo này, chúng tôi không đăng các chú thích này, mời độc giả tham khảo trong sách. Độc giả có thể mua cả hai tập sách này trên Smashwords hoặc Amazon.com theo hướng dẫn trên Facebook.

Cho dù trong Bộ chính trị khóa X (2006-2011) vẫn có những người trưởng thành qua chiến tranh, họ bắt đầu thuộc thế hệ “làm cán bộ” chứ không còn là thế hệ của những “nhà cách mạng”. Nếu có khả năng nắm bắt các giá trị của thời đại và có khát vọng làm cho người dân được ngẩng cao đầu, họ hoàn toàn có cơ hội chính trị để đưa Việt Nam bước sang một trang sử mới. Ngay cả khi duy trì phương thức nắm giữ quyền bính tuyệt đối hiện thời, nếu lợi ích của nhân dân và sự phát triển quốc gia được đặt lên hàng đầu, họ có thể trao cho người dân quyền sở hữu đất đai, lấy đa sở hữu thay cho sở hữu toàn dân; họ có quyền chọn phương thức kinh tế hiệu quả nhất làm chủ đạo thay vì lấy kinh tế nhà nước làm chủ đạo. Vẫn còn quá sớm để nói về họ. Khi cuốn sách này ra đời, họ vẫn đang nắm giữ trong tay mình vận hội của chính họ và đất nước.

Người kế nhiệm

Theo ông Phan Văn Khải, khi thăm dò ý kiến chuẩn bị nhân sự cho Đại hội X, các ban ngành đánh giá ông Vũ Khoan cao hơn. Một trong những “ban, ngành” nhiệt tình ủng hộ ông Vũ Khoan là Ban Nghiên cứu của thủ tướng. Thời ông Phan Văn Khải, trước khi chính phủ ban hành bất cứ văn bản nào, thủ tướng cũng đều chuyển cho Ban Nghiên cứu xem trước. Các văn bản hay bị Ban Nghiên cứu có ý kiến lại thường được đưa lên từ Văn phòng Phó Thủ tướng Thường trực Nguyễn Tấn Dũng.

Ông Khải thừa nhận, thâm tâm ông cảm tình với ông Vũ Khoan hơn, tuy nhiên, phần vì Vũ Khoan bị coi là thiếu thực tế trong nước, phần vì ông đã lớn tuổi – Vũ Khoan sinh năm 1937, cùng năm sinh với các ông Trần Đức Lương, Nguyễn Văn An – nên việc giới thiệu ông là gần như không thể. Nhưng, chủ yếu, theo ông Khải: “Tương quan lực lượng không cho phép”.

Ngày 28-6-2006, Quốc hội bỏ phiếu bầu ông Nguyễn Tấn Dũng làm thủ tướng. Trước khi rời nhiệm sở, ông Phan Văn Khải tổ chức một buổi gặp mặt toàn thể Ban Nghiên cứu với sự có mặt của thủ tướng mới được bầu Nguyễn Tấn Dũng. Tiếp lời ông Phan Văn Khải, trong một diễn văn ngắn, ông Dũng cũng đã dùng những từ ngữ tốt đẹp để nói về Ban Nghiên cứu và tương lai cộng tác giữa ông và các thành viên. Cũng trong cuộc gặp này, ý tưởng hình thành văn phòng thủ tướng trong Văn phòng Chính phủ đã được cả ông Khải và ông Dũng cùng ủng hộ.

Trong đúng một tháng sau đó, công việc của Ban vẫn tiến hành đều đặn. Chiều 27-7-2006, ông Trần Xuân Giá được mời lên phòng thủ tướng. Ông Giá nhớ lại, đó là một cuộc làm việc vui vẻ, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đồng ý để Giáo sư Đào Xuân Sâm, lúc ấy đã lớn tuổi, nghỉ hưu và ông cũng tỏ ra không bằng lòng với việc Tiến sỹ Lê Đăng Doanh vẫn hay phát biểu với vai trò thành viên của Ban Nghiên cứu. Cuộc nói chuyện kéo dài tới 17 giờ ngày 27, Thủ tướng thân tình đến mức ông Giá tạm thời gạt qua kế hoạch nghỉ hưu và trở về ngồi vẽ sơ đồ tổ chức văn phòng thủ tướng và chuẩn bị kế hoạch củng cố Ban Nghiên cứu.

Hôm sau, ngày 28-7-2006, khi ông Trần Xuân Giá đến cơ quan ở đường Lê Hồng Phong thì thấy Văn phòng vắng vẻ, nhân viên lúng túng tránh nhìn thẳng vào mắt ông. Ông Trần Xuân Giá làm tiếp một số việc rồi về nhà. Vào lúc 16 giờ cùng ngày, ông nhận được quyết định nghỉ hưu và quyết định giải thể Ban Nghiên cứu do văn thư mang tới. Cả hai cùng được chính Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng ký vào ngày 28-7-2006, tức là chỉ ít giờ sau khi ngồi “hàn huyên” với ông Trần Xuân Giá. Theo ông Giá thì ông là người cuối cùng trong Ban Nghiên cứu nhận được quyết định này.

Ông Nguyễn Tấn Dũng sinh tại Cà Mau năm 1949. Mới mười hai tuổi đã theo cha vào “bưng” làm liên lạc, ông biết chữ chủ yếu nhờ các lớp bổ túc ở trong rừng do địa phương quân tổ chức. Sau đó, ông Dũng được đưa đi cứu thương rồi làm y tá cho Tỉnh đội.

Ngày 30-4-1975, Nguyễn Tấn Dũng là trung úy, chính trị viên Đại đội Quân y thuộc Tỉnh đội Rạch Giá. Đầu thập niên 1980, theo ông Lê Khả Phiêu: “Khi ấy, tôi là Phó chính ủy Quân khu IX, trực tiếp gắn quân hàm thiếu tá cho anh Nguyễn Tấn Dũng. Năm 1981, khi anh Dũng bị thương ở chiến trường Campuchia, tôi cho anh về nước đi học”. Năm 1983, từ trường Nguyễn Ái Quốc trở về, ông Dũng ra khỏi quân đội, bạn bè của cha ông, ông Nguyễn Tấn Thử, đã bố trí ông Dũng giữ chức phó Ban Tổ chức Tỉnh ủy. Nhưng vị trí giúp ông có một bước nhảy vọt trong con đường chính trị là chức vụ mà ông nhận sau đó: bí thư Huyện ủy Hà Tiên.

Sau Đại hội V, ông Lê Duẩn có ý tưởng cơ cấu một số cán bộ trẻ và một số cán bộ đang là bí thư các ‘pháo đài huyện’ vào Trung ương làm ủy viên dự khuyết như một động thái đào tạo cán bộ. Ông Nguyễn Đình Hương580 nhớ lại: “Trước Đại hội VI, tôi được ông Lê Đức Thọ phân công trực tiếp về địa phương gặp các ứng cử viên. Phía Nam có anh Nguyễn Tấn Dũng, bí thư huyện Hà Tiên, cô Hai Liên, bí thư huyện ủy Thống Nhất, Đồng Nai, cô Trương Mỹ Hoa, bí thư quận Tân Bình; phía Bắc có cô Nguyễn Thị Xuân Mỹ, bí thư Quận ủy Lê Chân, Hải Phòng”. Sau Đại hội VI, ông Nguyễn Tấn Dũng rời “pháo đài” Hà Tiên về Rạch Giá làm phó bí thư thường trực rồi chủ tịch Ủy ban Nhân dân Tỉnh.

Trước Đại hội Đảng lần thứ VII, khi chuẩn bị cho Đại hội Tỉnh Đảng bộ Kiên Giang, ông Lâm Kiên Trì, một cán bộ lãnh đạo kỳ cựu của tỉnh từ chức, mở đường cho ông Nguyễn Tấn Dũng lên bí thư. Theo ông Năm Loan, khi ấy là ủy viên thường vụ, trưởng Ban Tổ chức Tỉnh ủy Kiên Giang: “Ông Đỗ Mười vào T78, triệu tập Thường vụ Tỉnh ủy lên họp, duyệt phương án nhân sự và quyết định đưa Nguyễn Tấn Dũng lên làm bí thư”. Năm ấy ông Dũng bốn mươi hai tuổi.

Trong một nền chính trị, mà công tác cán bộ được giữ bí mật và phụ thuộc chủ yếu vào sự lựa chọn của một vài nhà lãnh đạo, các giai thoại lại xuất hiện để giải thích sự thăng tiến mau lẹ của một số người. Trong khi dư luận tiếp tục nghi vấn ông Nông Đức Mạnh là “con cháu Bác Hồ”581, một “huyền thoại” khác nói rằng, cha của ông Nguyễn Tấn Dũng đã “chết trên tay ông Lê Đức Anh” và trước khi chết có gửi gắm con trai cho Bí thư Khu ủy Võ Văn Kiệt và Tư lệnh Quân khu IX Lê Đức Anh. Trên thực tế, cha ông Nguyễn Tấn Dũng là ông Nguyễn Tấn Thử, thường gọi là Mười Minh, đã mất trước khi hai ông Võ Văn Kiệt và Lê Đức Anh đặt chân xuống Quân khu IX.

Ngày 16-4-1969, một trái bom Mỹ đã ném trúng hầm trú ẩn của Tỉnh đội Rạch Giá làm chết bốn người trong đó có ông Nguyễn Tấn Thử khi ấy là chính trị viên phó Tỉnh đội. Một trong ba người chết còn lại là ông Chín Quý, chính trị viên Tỉnh đội. Trong khi, đầu năm 1970, ông Lê Đức Anh mới được điều về làm tư lệnh Quân khu IX còn ông Kiệt thì mãi tới tháng 10-1970 mới xuống miền Tây. Họ có nghe nói đến vụ ném bom làm chết ông Chín Quý và ông Mười Minh nhưng theo ông Kiệt thì cả hai ông đều chưa từng gặp ông Mười Minh Nguyễn Tấn Thử. Mãi tới năm 1991, trong đại hội đại biểu tỉnh đảng bộ Kiên Giang, ông Võ Văn Kiệt mới thực sự biết rõ về ông Nguyễn Tấn Dũng và cho tới lúc này ông Kiệt vẫn muốn ông Lâm Kiên Trì, một người mà ông biết trong chiến tranh, tiếp tục làm bí thư Tỉnh ủy Kiên Giang.

Ông Nguyễn Tấn Dũng được điều ra Hà Nội tháng 1-1995, ông bắt đầu với chức vụ mà xét về thứ bậc là rất nhỏ: thứ trưởng Bộ Nội vụ. Trước Đại hội VIII, theo ông Lê Khả Phiêu: “Khi làm nhân sự Bộ Chính trị, anh Nguyễn Tấn Dũng gặp tôi, nói: ‘Anh em miền Nam yêu cầu tôi phải tham gia Bộ Chính trị’. Trong khi, thứ trưởng thường trực là anh Lê Minh Hương thì băn khoăn: ‘Ngành công an không thể có hai anh ở trong Bộ Chính trị’. Tôi bàn, anh Lê Minh Hương tiếp tục ở trong Bộ Công an, anh Nguyễn Tấn Dũng chuyển sang Ban Kinh tế”.

Tháng 6-1996, ông Dũng được đưa vào Bộ Chính trị phụ trách vấn đề tài chính của Đảng. Cho dù, theo ông Lê Khả Phiêu, ông Dũng đắc cử Trung ương với số phiếu thấp và gần như “đội sổ” khi bầu Bộ Chính trị nhưng vẫn được đưa vào Thường vụ Bộ Chính trị, một định chế mới lập ra sau Đại hội VIII, vượt qua những nhân vật có thâm niên và đang giữ các chức vụ chủ chốt như Nông Đức Mạnh, Phan Văn Khải. Ông Nguyễn Đình Hương giải thích: “Nguyễn Tấn Dũng được ông Đỗ Mười đưa đột biến vào Thường vụ Bộ Chính trị chỉ vì ông Đỗ Mười có quan điểm phải nâng đỡ, bồi dưỡng, con em gia đình cách mạng. Tấn Dũng vừa là một người đã tham gia chiến đấu, vừa là con liệt sỹ, tướng mạo cũng được, lại vào Trung ương năm mới ba mươi bảy tuổi”.

Ngay cả khi đã ở trong Thường vụ Bộ Chính trị, ông Nguyễn Tấn Dũng vẫn là một con người hết sức nhã nhặn. Ông không chỉ cùng lúc nhận được sự ủng hộ đặc biệt của các ông Đỗ Mười, Lê Đức Anh, Võ Văn Kiệt, mà những ai biết ông Dũng vào giai đoạn này đều tỏ ra rất có cảm tình với ông. Theo ông Phan Văn Khải: “Nguyễn Tấn Dũng được cả ba ông ủng hộ, đặc biệt là ông Lê Đức Anh và Đỗ Mười. Tấn Dũng cũng biết cách vận động. Năm 1997, trước khi lui về làm cố vấn, cả ba ông thậm chí còn muốn đưa Tấn Dũng lên thủ tướng, tuy nhiên khi thăm dò phiếu ở Ban Chấp hành Trung ương cho cương vị này, ông chỉ nhận được một lượng phiếu tín nhiệm thấp”.

Kinh tế tập đoàn

Trước Đại hội Đảng lần thứ X, tháng 4-2006, ông Nguyễn Tấn Dũng được Bộ Chính trị phân công làm tổ trưởng biên tập “Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX về phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội 5 năm 2006-2010”. Khi chủ trì các buổi thảo luận, ông Nguyễn Tấn Dũng yêu cầu đưa vào văn kiện chủ trương tổ chức doanh nghiệp nhà nước theo hướng kinh doanh đa ngành.

Theo ông Trần Xuân Giá, tổ phó biên tập: “Cho doanh nghiệp nhà nước kinh doanh đa ngành là ngược lại với chủ trương lâu nay của chính phủ nên chúng tôi không dự thảo văn kiện theo chỉ đạo của ông Nguyễn Tấn Dũng. Đến gần đại hội, ông Dũng cáu, ông viết thẳng ra giấy ý kiến của ông rồi buộc chúng tôi phải đưa nguyên văn vào Báo cáo, phần nói về doanh nghiệp nhà nước: Thúc đẩy việc hình thành một số tập đoàn kinh tế và tổng công ty nhà nước mạnh, hoạt động đa ngành, đa lĩnh vực, trong đó có một số ngành chính; có nhiều chủ sở hữu, trong đó sở hữu nhà nước giữ vai trò chi phối”.

Lúc ấy, ông Nguyễn Tấn Dũng đã có đủ phiếu ở Ban Chấp hành Trung ương để tiến đến chiếc ghế thủ tướng. Ông khát khao tạo dấu ấn và nôn nóng như những gì được viết trong Báo cáo Kinh tế mà ông chủ trì: “Đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế, đạt được bước chuyển biến quan trọng về nâng cao hiệu quả và tính bền vững của sự phát triển, sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển”.

Mặc dù từ năm 1994, Quyết định số 91/TTg của Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã nói đến việc “thí điểm thành lập tập đoàn kinh doanh” nhưng cho đến năm 2005, Việt Nam chưa có một tập đoàn nào ra đời. Cuối nhiệm kỳ, Thủ tướng Phan Văn Khải cho thành lập hai tập đoàn: Tập đoàn Công nghiệp Than-Khoáng sản Việt Nam ngày 26-12-2005 và Tập đoàn Công nghiệp Tàu thủy Việt Nam Vinashin ngày 15-5-2006.

Hai tháng sau khi nhận chức, ngày 29-8-2006, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cho ngành dầu khí được nâng lên quy mô tập đoàn, PetroVietnam, ngày 30-10-2006 thành lập Tập đoàn Công nghiệp Cao su, ngày 9-01-2006 thành lập Tập đoàn Bưu chính Viễn thông. Tốc độ thành lập tập đoàn kinh tế nhà nước có chững lại sau khi cựu Thủ tướng Võ Văn Kiệt viết một thư ngỏ đăng trên Thời Báo Kinh Tế Sài Gòn, yêu cầu thận trọng vì theo ông, trong khi những yếu kém của mô hình tổng công ty 90, 91 chưa được khắc phục mà lại làm phình to chúng ra bằng các quyết định hành chính là không hợp lý. Ông Võ Văn Kiệt viết: “Các doanh nghiệp nhà nước của ta có truyền thống dựa vào bao cấp nhiều mặt, không dễ từ bỏ thói quen cũ, nếu từ bỏ thói quen cũ cũng không dễ đứng vững trong thế cạnh tranh… Không có gì đảm bảo khi các tập đoàn được thành lập sẽ hoạt động tốt hơn các doanh nghiệp hiện nay”.

Trong khoảng thời gian từ khi ông Võ Văn Kiệt mất, tháng 6-2008, cho đến năm 2011, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã kịp nâng số tập đoàn kinh tế nhà nước lên con số mười hai. Nhưng chính sách cho tập đoàn kinh tế nhà nước kinh doanh đa ngành chứ không phải số lượng tập đoàn kinh tế nhà nước mới là nguyên nhân chính dẫn đến khủng hoảng kinh tế.

Theo ông Phan Văn Khải: “Khi thành lập Tập đoàn Vinashin, tôi nghĩ, đất nước mình có bờ biển dài hơn 3.000km, phát triển ngành công nghiệp đóng tàu là cần thiết nhất là khi ngành công nghiệp này đang được chuyển dịch từ các nước Bắc Âu về Trung Quốc, Hàn Quốc. Chính tôi quyết định đầu tư cho Vinashin khoản tiền bán trái phiếu chính phủ hơn 700 triệu USD. Nhưng, sau đó thì không chỉ Vinashin mà nhiều tập đoàn khác cũng phát triển ồ ạt nhiều loại ngành nghề, ở đâu cũng thấy đất đai của Vinashin và của các tập đoàn nhà nước”.

Theo ông Trần Xuân Giá: “Ông Nguyễn Tấn Dũng coi doanh nghiệp nhà nước như một động lực phát triển, nhưng phát triển doanh nghiệp nhà nước theo cách của ông Dũng không hẳn chỉ để làm vừa lòng ông Đỗ Mười”. Cho phép các tập đoàn kinh tế nhà nước kinh doanh đa ngành cũng như tháo khoán các kênh đầu tư mà nguồn vốn cho khu vực này lại thường bắt đầu từ ngân sách. Ông Phan Văn Khải giải thích: “Nguyễn Tấn Dũng muốn tạo ra một thành tích nổi bật ngay trong nhiệm kỳ đầu tiên của mình. Tấn Dũng muốn hoàn thành kế hoạch 5 năm chỉ sau bốn năm. Ngay trong năm 2007, ông đầu tư ồ ạt. Tiền đổ ra từ ngân sách, từ ngân hàng. Thậm chí, để có vốn lớn, dự trữ quốc gia, dự trữ ngoại tệ cũng được đưa ra. Bội chi ngân sách lớn, bất ổn vĩ mô bắt đầu”.

Theo ông Trần Xuân Giá: “Thời Thủ tướng Phan Văn Khải, mỗi khi tổng đầu tư lên tới trên 30% GDP là lập tức thủ tướng được báo động. Trước năm 2006, năm có tổng đầu tư lớn nhất cũng chỉ đạt 36%. Trong khi, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, ngay sau khi nhận chức đã đưa tổng mức đầu tư lên 42% và đạt tới 44% GDP trong năm 2007”. Cho tới lúc đó những ý kiến can gián thủ tướng cũng chủ yếu xuất phát từ các thành viên cũ của Ban Nghiên cứu như Trần Xuân Giá, Lê Đăng Doanh, Phạm Chi Lan. Nhưng tiếng nói của họ không còn sức mạnh của một định chế sau khi Ban Nghiên cứu đã bị giải tán. Cả ba sau đó còn nhận được các khuyến cáo một cách trực tiếp và nhiều cơ quan báo chí trong nhiều tháng không phỏng vấn hoặc đăng bài của những chuyên gia này.

Năm 2006, tăng trưởng tín dụng ở mức 21,4% nhưng con số này lên tới 51% trong năm 2007. Kết quả là lạm phát cả năm ở mức 12,6%. Các doanh nghiệp, các ngân hàng bắt đầu nhận ra những rủi ro, từng bước kiểm soát vốn đầu tư vào chứng khoán và địa ốc. Nhưng đầu năm 2008, Chính phủ của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng dường như hoảng sợ khi lạm phát lên tới gần 3% mỗi tháng và những “liệu pháp” được đưa ra sau đó đã khiến cho nền kinh tế dồn dập chịu nhiều cú sốc.

Cuối tháng 1-2008, Ngân hàng Nhà nước yêu cầu các ngân hàng thương mại phải tăng dự trữ bắt buộc từ 10 lên 11%. Để có ngay một lượng tiền mặt lên tới khoảng 20.000 tỷ đồng nhằm đáp ứng nhu cầu dự trữ, các ngân hàng thương mại cổ phần buộc lòng phải tăng lãi suất huy động. Lãi suất qua đêm thị trường liên ngân hàng mấy ngày cuối tháng 1-2008 tăng vọt lên tới 27%, trong khi đầu tháng, con số này chỉ là 6,52%. Ngày 13-2-2008, Ngân hàng Nhà nước lại ra quyết định, buộc các ngân hàng thương mại phải mua một lượng tín phiếu trị giá 20.300 tỷ đồng. Áp lực tiền bạc đã làm náo loạn các tổ chức tín dụng.

Thoạt đầu, các tổng công ty nhà nước rút các khoản tiền đang cho vay lãi suất thấp ở các ngân hàng quốc doanh, gửi sang ngân hàng cổ phần. Chỉ trong ngày 18-2-2008, các tổng công ty nhà nước đã rút ra hơn 4.000 tỷ đồng. Các ngân hàng quốc doanh, vốn vẫn dùng những nguồn tiền lãi suất thấp từ Nhà nước đem cho các ngân hàng nhỏ vay lại, nay thiếu tiền đột ngột, vội vàng ép các ngân hàng này. “Cơn khát” tiền toàn hệ thống đã đẩy lãi suất thị trường liên ngân hàng có khi lên tới trên 40%.

Lãi suất huy động tăng, đã khiến cho các ngân hàng phải tăng lãi suất cho vay. Nhiều ngân hàng buộc khách hàng chấp nhận lãi suất lên tới 24 – 25%, cao hơn nhiều mức mà Luật Dân sự cho phép. Các doanh nghiệp cũng “khát” tiền mặt, tình trạng bán hàng dưới giá, hoặc vay với lãi suất cao đang khiến cho chi phí sản xuất tăng đột biến. Không có gì ngạc nhiên khi lạm phát ba tháng đầu năm 2008 lên tới 9,19%. Các biện pháp của Ngân hàng Nhà nước nói là chống lạm phát, nhưng đã trực tiếp làm “mất giá” đồng tiền khi đặt các ngân hàng trong tình thế phải nâng lãi suất.

Ngày 25-3-2008, Ngân hàng Nhà nước lại khiến cho tình trạng khan hiếm tiền mặt thêm nghiêm trọng khi yêu cầu thu về 52.000 tỷ đồng của ngân sách đang được đem cho các ngân hàng quốc doanh vay với lãi suất 3%/năm, thấp hơn nhiều so với lãi suất trên thị trường tín dụng. Khoản tiền này theo nguyên tắc phải được chuyển vào Ngân hàng Nhà nước. Tuy nhiên, từ mười năm trước, theo “sáng kiến” của Bộ Tài chính, nó đã được đem cho các ngân hàng quốc doanh vay. Một mặt, nó tạo ra sự bất bình đẳng trong môi trường kinh doanh, một mặt làm cho nền kinh tế lập tức rơi vào khủng hoảng do tín dụng bị cắt đột ngột và những khoản vay còn lại thì phải chịu lãi suất cao.

Thị trường chứng khoán nhanh chóng hiển thị “sức khỏe” của nền kinh tế. Từ mức trên 1000, ngày 6-3-2008, chỉ số VN-index xuống còn 611. Cho dù Phó Thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng cố dùng uy tín chính trị của mình để cứu vãn bằng cách tuyên bố rằng đầu tư vào chứng khoán bây giờ là thắng vì đã xuống đến đáy nhưng chỉ hai mươi ngày sau, 25-3-2008, chỉ số VN-index chỉ còn 492 điểm. Ngày 5-12-2008, VN-index chỉ còn 299 điểm. Xuất khẩu quý 1-2008 vẫn tăng 23,7%; nhập khẩu tăng 60,7%. Tại Sài Gòn, kinh tế vẫn tăng trưởng khá, ngân sách quý I vẫn thu tăng 72,6%. Nhưng các biện pháp chống lạm phát đã làm cho Việt Nam rơi vào tình trạng khủng hoảng tài chánh hơn nửa năm trước khi khủng hoảng kinh tế thế giới bắt đầu.

Từ cuối năm 2008, khuynh hướng quay trở lại nền kinh tế chỉ huy càng tăng lên cho dù điều này là vô vọng vì ở giai đoạn này, đóng góp của khu vực tư nhân cho nền kinh tế đã vượt qua con số 50% GDP của Việt Nam. Dù vậy, Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng vẫn liên tục ban hành các mệnh lệnh hành chánh hòng kiểm soát trần lãi xuất, kiểm soát thị trường ngoại tệ, thị trường vàng.

Khi ông Đỗ Mười nhận chức Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, để có ngoại tệ, Chính phủ phải cho một nhà đầu tư của Nhật thuê khu nhà khách ven hồ Thiền Quang. Khi ông Nguyễn Tấn Dũng nhận chức thủ tướng, Việt Nam có một khoản dự trữ ngoại tệ lên tới 23 tỷ đôla. Nhưng, di sản lớn hơn mà Thủ tướng Phan Văn Khải trao lại cho ông Dũng là một Việt Nam đã hoàn thành thủ tục để gia nhập WTO. Trong khoảng thời gian 1996-2000, cho dù chịu mấy năm khủng hoảng kinh tế thế giới, Việt Nam vẫn đạt mức tăng trưởng 7,5% trong khi lạm phát chỉ là 3,5%. Trong khoảng thời gian 2001-2005, lạm phát có cao hơn, 5,1%, nhưng tăng trưởng vẫn dương: 7%.

Chỉ sau mấy tháng nhận chức, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã đưa GDP tăng trưởng tới mức kỷ lục: 8,5% vào tháng 12-2007; đồng thời cũng đã đưa lạm phát vào tháng 8-2008 lên tới 28,2%. Tháng 3-2009, tăng trưởng GDP rơi xuống đáy: 3,1%. Trong sáu năm ông Nguyễn Tấn Dũng giữ chứ Thủ tướng, mức tăng trưởng kinh tế luôn thấp hơn rất nhiều so với mức lạm phát. Năm 2007 GDP tăng trưởng ở mức 8,48% trong khi lạm phát lên tới 12,63%. Năm 2008 mức tăng trưởng giảm xuống 6,18% trong khi lạm phát là 19,89%. Năm 2009 GDP chỉ tăng 5,32% lạm phát xuống còn 6,52% do các nguồn đầu tư bị cắt đột ngột. Năm 2010 GDP tăng đạt mức 6,78% nhưng lạm phát tăng lên 11,75%. Năm 2011 tăng trưởng GDP giảm còn 5,89% trong khi lạm phát lên tới 18,13%. Năm 2012, nền kinh tế gần như ngưng trệ, lạm phát ở mức 6,81% nhưng GDP cũng xuống tới 5,03% thấp kỷ lục kể từ năm 1999. Nền kinh tế rơi vào tình trạng gần như không lối thoát.

[*] Tựa đề đoạn trích do Ban Biên Tập Dân Luận đặt.

——————————————–

Bài liên quan

 

 

——-

Tái cơ cấu Vinashin – Thành hay bại???

Lê Trung Thành

Theo Bauxite Việt Nam

28-1-2013

Theo kế hoạch, ngày hôm nay, 28-1-2013, Chính phủ sẽ bắt đầu trình lên Bộ Chính trị đề án tái cơ cấu mới (lần thứ hai) Tập đoàn Vinashin. Tại sao lại phải “tái cơ cấu” đến lần thứ hai? Thế thì kết quả của tái cơ cấu lần thứ nhất trong hai năm qua của cái “Tập đoàn thép”… rỉ này như thế nào?

Đấy là những câu hỏi mà bất kỳ ai từng theo dõi với tất cả ưu tư “sự cố dông bão Vinashin” cũng như số phận hiểm nghèo hiện tại của nó không thể không đặt ra. Chưa thấy báo chí nào có được một lời giải đáp thỏa đáng. Dưới đây BVN xin đăng bài viết của cộng tác viên Lê Trung Thành, kỹ sư và nhà báo trong ngành giao thông vận tải, người từng có cả một hệ thống bài phóng sự chấn động trên trang mạng chúng tôi về thực trạng của Tập đoàn đóng tàu Vinashin trong những năm tháng danh nổi như cồn của nó cho đến giữa năm 2010.

Bauxite Việt Nam

Tháng 6/2010, những tin tức đầu tiên về sự đổ vỡ của Tập đoàn Công nghiệp Tàu thủy Việt Nam (VINASHIN – VNS) xuất hiện trên các phương tiện thông tin đại chúng, làm dư luận xã hội xôn xao và lo lắng…

Tới ngày 31/7/2010, sau khi nghe Ban Cán sự Đảng Chính phủ các ngành chức năng báo cáo, Bộ Chính trị đã có văn bản chính thức về tình hình VNS và chỉ đạo Chính phủ, các bộ liên quan khẩn trương tìm biện pháp cứu vãn VNS bên bờ vực phá sản với số nợ 86.000 tỷ đồng, trong đó, nợ đến hạn phải trả là 14.000 tỷ đồng, tỉ lệ nợ tính trên vốn chủ sở hữu gấp 11 lần

Theo chỉ thị này, Chính phủ phải đưa ra kế hoạch tái cơ cấu VNS trên cơ sở Nghị quyết Hội nghị trung ương 3 (Khóa IX) về thí đỉểm mô hình tập đoàn kinh tế đồng thời thành lập Ban Chỉ đạo tái cơ cấu VNS và cử ông Nguyễn Sinh Hùng – khi đó là Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng thường trực – làm Trưởng ban.

[Ban Chỉ đạo tái cơ cấu Vinashin được thành lập theo Quyết định ngày 13-8-2010 của Thủ tướng Chính phủ.]

[11/10/2011: Ông Nguyễn Sinh Hùng thôi làm trưởng ban chỉ đạo tái cơ cấu Vinashin]

Ngày 18/11/2010, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng ký quyết định số 2108 QĐ – TTg phê duyệt đề án tái cơ cấu VNS với ba ngành nghề chính là công nghiệp đóng tàu, sửa chữa tàu biển với qui mô phù hợp, tiếp tục phát triển công nghiệp phụ trợ và đào tạo, nâng cao tay nghề cho cán bộ, công nhân ngành đóng tàu.

Cũng trong thời gian ấy, nhiều nhân vật chính, liên quan đến sự sụp đổ của VNS đã bị bắt tạm giam, nhiều người khác bị đưa vào “tầm ngắm”. Để mau chóng ổn định tình hình, Thủ tướng điều động ông Nguyễn Ngọc Sự – nguyên Phó Tổng Giám đốc Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (phụ trách tài chính) – giữ chức Chủ tịch Hội đồng thành viên VNS và ông Trương Văn Tuyển – Anh hùng Lao động, nguyên Trưởng ban Quản lý dự án Nhà máy lọc dầu Dung Quất, nguyên Phó Tổng Giám đốc Tập đoàn Dầu khí Việt Nam – làm Tổng Giám đốc VNS.

Đưa hai ông về trấn giữ VNS đang lúc nước sôi, lửa bỏng, người ta hy vọng các vị thuyền trưởng mới sẽ xắn tay trục vớt được con tàu VNS chìm sâu dưới đáy… Và, ít tháng sau, văn phòng Tập đoàn VNS thay đổi khá nhiều vị trí, dưới các Tổng Công ty thành viên cũng có sự điều chuyển một số người đứng đầu nhằm củng cố lại tổ chức đang rệu rã sau những biến cố động trời làm nhân tâm ly tán…

Ngoài việc điều chuyển một số dự án, nhà máy, đội tàu biển sang Tập đoàn Dầu khí Việt Nam và Tổng Công ty Hàng hải Việt Nam (Vinalines), thực chất là để san sẻ gánh nặng lỗ lã, nợ nần, thất thoát mà VNS đã gây ra, Chính phủ hứa sẽ tăng vốn điều lệ cho VNS… để hà hơi, tiếp sức, khẩn cấp cứu nguy cho VNS. Có chút vốn còm cõi cấp cho các nhà máy đóng tàu thanh toán lương, nợ đọng nhiều tháng, có tiền chi trả đơn hàng, vật tư, thiết bị để hoàn thành một số tàu đang đóng dở dang. Thu được một chút kết quả nhỏ nhoi, nhiều quan chức lớn tiếng vỗ về dân chúng rằng tái cơ cấu VNS đã đi đúng hướng và sau một vài năm sẽ trả hết nợ nần rồi làm ăn có lãi vào năm 2013, 2014…

Trong bầu không khí “lạc quan”, Ban Chỉ đạo tái cơ cấu VNS và các tân lãnh đạo tập đoàn đưa ra một bản kế hoạch sản xuất kinh doanh năm 2011 với sản lượng 22.763 tỷ đồng, tăng 198% so với năm 2010! Chính phủ giao cho VNS năm 2011 phải hoàn thành 73 tàu… và tiếp tục giải cứu VNS bằng mọi cách. Nào là yêu cầu Ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB) cho VNS vay không lãi suất tới 290 tỷ đồng để trả nợ lương và đóng bảo hiểm xã hội, nào là khoanh nợ, giãn nợ khiến nhiều ngân hàng thua lỗ vì phải trích quĩ dự phòng rủi ro, ảnh hưởng lớn tới uy tín và hoạt động kinh doanh của họ. Điển hình là, trong tổng số nợ xấu của VDB tính đến ngày 30/12/2010 là 22.664 tỉ đồng thì có tới 3970 tỉ mà VDB đã cho VNS vay không để thu hồi. Còn Ngân hàng Thương mại cổ phần Nhà Hà Nội (Habubank) vì cho VNS vay hơn 3.000 tỷ đồng không phát sinh lợi nhuận (trong tổng số dư nợ xấu là 3729 tỷ đồng) đã phải ngậm ngùi xóa một thương hiệu có tiếng về quản trị và văn hóa doanh nghiệp sáp nhập vào Ngân hàng cổ phần Sài Gòn – Hà Nội (SHB). Đau xót hơn, bà Tổng giám đốc Habubank kiêu hãnh một thời bị đưa xuống bộ phận “thu hồi công nợ” của SHB!

Mặc dù được ưu ái vay không lãi suất, hoãn nộp thuế nhập khẩu vật tư, thiết bị, được “bật đèn xanh” để dễ dàng vay vốn ngân hàng… nhưng VNS vẫn không gượng dậy như mong muốn.

Sự dao động, hoang mang kéo dài khiến người lao động sống trong cảnh tạm bợ, lắt lay, việc làm không ổn định gây tâm lý chán chường. Nhiều kỹ sư giỏi, được đào tạo bài bản cũng tìm tháo thân khỏi VNS. Hết 8 tháng đầu năm 2011, VNS chỉ giao trả khách hàng được 13 tàu, báo hiệu cho sự đổ vỡ lớn “cái kế hoạch” vội vàng và thiếu khoa học mang nặng tính hình thức, duy ý chí. Để trám vào lỗ hổng, người ta “phát động thi đua”, dồn dập ngày đêm cố sức làm và bàn giao được 61 con tàu. Dẫu có cố gắng nhưng VNS chỉ hoàn thành 43.9% kế hoạch năm với sản lượng 9.982 tỷ đồng và doanh thu đạt 10.656 tỷ đồng, chỉ bằng 50% kế hoạch năm.

Thực tế phũ phàng ấy không biết liệu đã là hồi chuông cảnh tỉnh những người lãnh đạo Tập đoàn và cả Ban Chỉ đạo tái cơ cấu VNS chưa, nhưng ít nhất cũng cho họ thấy rõ những khó khăn chồng chất từ hậu quả kinh hoàng của số nợ 96.700 tỷ đồng (theo số liệu của Thanh tra Chính phủ công bố tháng 6/2011); lỗ lũy kế là 4.985 tỷ, lỗ “tìêm tàng” do chi phí sản xuất kinh doanh dang dở của những hợp đồng đóng tàu bị hủy là 2.787 tỷ và 4.688 tỷ là các khoản thu nội bộ nhưng chưa xác định được bên phải trả (?) và 1.036 tỷ tiền phạt và trả lãi cho các chủ tàu do VNS vi phạm hợp đồng. Những thất thoát cực lớn này khiến nhiều ngân hàng vốn liều mạng mở hầu bao cho VNS tiêu phí các năm trước, bây giờ cũng chùn tay, vì vậy, năm 2011, VNS chỉ vay được khoảng 15% số vốn cần thiết nên kế hoạch đóng tàu bị đảo lộn hoàn toàn. Số tàu đóng mới cho Tổng Công ty Hàng hải Việt Nam hầu như giậm chân tại chỗ vì Vinalines cũng thua lỗ nặng nề lấy tiền đâu mà chuyển cho VNS?

Sang năm 2012, lãnh đạo VNS có vẻ “khiêm nhường” hơn nên chỉ đưa ra kế hoạch sản lượng tăng 10 – 15% so với sản lượng thực hiện được trong năm 2011 nhưng bản thân ông Chủ tịch Hội đồng thành viên VNS Nguyễn Ngọc Sự, đã thấy trước việc không có hợp đồng đóng mới thì chẳng có chuyển biến gì đáng kể. Và sự thật đã chứng minh, hồi giữa năm 2012, VNS nín thở chờ tin gói hợp đồng đóng mới hơn 20 tàu 53.000 DWT từ Hy Lạp… nhưng rồi… các nhà thầu Trung Quốc đã nhanh tay chộp mất với giá chào hạ hơn VNS. Giữa thời buổi vận tải biển suy thoái, kiếm được hợp đồng dẫu chỉ đủ sở hụi cũng là may mắn rồi. Do vậy, nhiều hãng đóng tàu sẵn sàng giảm giá để có việc làm.

Đối với VNS, năm 2012 là một năm khốn khó nhất, cộng 9 tháng đầu năm, sản lượng mới đạt hơn 1.500 tỷ và đến hết năm chỉ nhặt nhạnh thêm vài ba trăm tỷ nữa. Cả tập đoàn “hợp nhất” sản lượng mà chỉ đạt xấp xỉ một trăm triệu đô la Mỹ đã làm tiêu tan mọi hy vọng của mục tiêu chủ yếu nhất trong kế hoạch tái cơ cấu. Nó cũng dẫn tới hệ lụy cho các năm tiếp theo còn lún sâu vào khó khăn. Không có việc làm là không còn đội ngũ thợ trung thành nữa, không còn khả năng trả lãi, trả gốc những khoản nợ đang dần đến hạn, đặc biệt là khoản vay 750 triệu USD trái phiếu Chính phủ phải trả đầu năm 2016.

Làm cả năm không đủ nuôi nhau, lấy tiền đâu tích lũy mà trả lãi, nói gì đến trả nợ gốc quá lớn như vậy???

Câu trả lời còn ở phía trước nhưng cách duy nhất sẽ lại lấy công khố thanh toán nợ cho VNS để giữ thể diện quốc gia?

Kế hoạch tái cơ cấu VNS năm 2011-2013 đã đi được hai phần ba chặng đường nhưng kiểm điểm lại, chẳng có mục tiêu nào đạt! Ông Phạm Viết Muôn, Phó Văn phòng Chính phủ, bây giờ về Ban Đổi mới sắp xếp doanh nghiệp nhà nước từng công bố, hơn hai năm qua, Ban Chỉ đạo tái cơ cấu VNS đã có 80 cuộc họp và ban hành 200 văn bản liên quan đến Tập đoàn VNS. Về mặt hành chính, đây là một số liệu đáng nể vì bình quân, một tháng có 4 cuộc họp hay một tuần một lần họp và theo đó, một tháng có 9 văn bản, mỗi tuần có hơn 2 văn bản. Vậy mà VNS vẫn chìm nghỉm dưới đáy sâu. Làm sao vực lên được khi công việc đóng tàu, sửa chữa tàu ở các nhà máy chủ lực nổi danh như Bạch Đằng, Phà Rừng, Hạ Long, Nam Triệu, Bến Kiền… im ắng (may mắn nhất, chỉ có nhà máy đóng tàu Sông Cấm liên doanh với Tập đoàn Damen – Hà Lan. Họ lo vật tư, tiền vốn, thiết bị… và Sông Cấm “làm công, ăn lương”, nên thu nhập của người lao động ổn định nhưng tính theo giá trị sản lượng thu về cho VNS chẳng được là bao).

Hải Phòng, Quảng Ninh – căn cứ chính của VNS, nơi nhiều dự án ngốn hàng ngàn tỷ đồng để xây dựng mới triền đà từ bảy tám chục ngàn tấn đến một trăm ngàn tấn – mở rộng nhà máy thêm hàng chục hecta, và để phát triển nóng ngành công nghiệp phụ trợ, VNS vội vã đầu tư nhà máy nhiệt điện, nhà máy cán thép… cùng hàng loạt khu công nghiệp ở Nam Định, Hải Dương, Quảng Ninh. Vốn chẳng dồi dào, lại chia năm, xẻ bảy, đã vậy các chủ đầu tư móc nối với nhà thầu, khoản thì mua thiết bị cũ nát, khoản thì đút túi… nên lúc khủng hoảng, hầu hết nằm bất động. Người ta cứ tự trấn an mình bằng luận điệu “VNS không thất thoát, tài sản còn “nguyên vẹn” đấy chứ?”. Nếu có dịp ghé thăm “Khu công nghiệp VNS Cái Lân”, mới thấy xót xa vì nhiều nhà máy đã “khánh thành”, đã cho “mẻ thép” đầu tiên, đã cho dòng điện đầu tiên, giờ nằm xếp xó, cả ngàn tỷ đồng thành đống sắt vụn… chào bán mãi đâu thấy người mua.

Về tới Thủy Nguyên – Hải Phòng nơi VNS chôn nhiều tiền nhất dưới đáy sông, đáy biển thì mới cảm nhận rõ nhất về sự “không thất thoát” bởi những bãi cọc khổng lồ, bởi những cột bê tông trơ thép hoen gỉ, bởi những khung nhà xưởng phơi trong mưa nắng và những triền đà mốc meo. Chúng “trơ gan cùng tuế nguyệt” biết tới khi nào sẽ “sinh lợi” cho các ông chủ ở Nam Triệu, Phà Rừng, Bạch Đằng???

Ngay cả Nhà máy đóng tàu Dung Quất đã chuyển giao cho Tập đoàn Dầu khí cũng chẳng khấm khá hơn dù ông chủ mới có tiềm lực mạnh gấp mấy lần VNS. Hiện tại, khu triền đà thứ hai dang dở vẫn mênh mông nước, và khu nhà máy đầu tư bằng trăm triệu USD vay của Trung Quốc vẫn là mấy dãy nhà hoang lạnh, ngoài sân cỏ mọc lút đầy. Ông chủ mới chỉ khai thác triền đà thứ nhất, đóng xong tàu chở dầu trọng tải 104.000 DWT nhưng đến nay, con tàu trị giá 1200 tỷ chưa hoạt động vì còn thiếu nhiều loại giấy chứng nhận đăng kiểm. Chủ tàu PV Trans phải bỏ thêm 4 triệu USD cho nhà máy mua thiết bị bổ sung từ Hàn Quốc… Hiện nay, nhà máy tiếp tục cố đóng cho xong tàu chở dầu 105.000 DWT để hoán cải thành kho chứa dầu nổi trên mặt biển. Chi phí hoán cải tăng thêm 20 triệu USD. Đến năm 2014 nếu đóng xong tàu này là hết việc. Hai, ba năm rồi, cũng chưa ký được hợp đồng đóng mới nào. Thỉnh thoảng, có vài ba tàu kéo, xà lan… của ngành dầu khí vào sửa chữa. Những kỳ vọng đóng tàu hơn trăm ngàn tấn, sửa chữa tàu tới ba, bốn trăm ngàn tấn mà VNS theo đuổi tan thành mây khói.


Đóng tàu lớn làm gì để đến nông nỗi này? Ảnh: LTTKhi đang hưng thịnh, tiền vay dễ dàng, VNS như thỏi nam châm cực mạnh hút hết đám doanh nhân xu thời, chạy chọt các cửa để doanh nghiệp của họ được gắn mác Vinashin. Mấy trăm con cháu sinh sôi nảy nở trong vài ba năm mang đủ màu sắc, nhưng khi vỡ nợ mới thấy VNS buôn thương hiệu nhiều hơn là góp vốn thực. Tuy nhiên, đám cháu con chẳng phải tay vừa, chúng cũng tranh thủ lợi dụng VNS đục nước, béo cò, gây bao hậu quả khôn lường. Ông Nguyễn Ngọc Sự đã hy vọng sẽ nhanh chóng sớm giải quyết dứt điểm 216 doanh nghiệp này. Hồi ấy, ông lạc quan tuyên bố rằng VNS đầu tư vào 216 doanh nghiệp số vốn 23.000 tỷ đồng. Ông sẽ lấy lại số tiền đó trả nợ thì tổng nợ còn 53.000 tỷ. Ông sẽ cổ phần hóa, ông sẽ bán các loại vật tư, thiết bị tồn kho… lấy thêm mười mấy ngàn tỷ nữa. Số nợ sẽ còn lại chừng 40 ngàn tỷ. Số nợ này so với số vốn đăng ký kinh doanh là 14.650 tỷ đồng thì chỉ gấp 2,8 lần, nó còn dưới mức giới hạn cho phép. Và, ông có thể kiểm soát được công nợ rồi!

Sau hơn hai năm chấp chính, kế hoạch của ông nhích từng… centimet. Nhiều doanh nghiệp kêu bán nhưng không mấy người để tâm. Thứ có thể bán được thì đến chính ông cũng không dám duyệt… Thứ muốn giải thể, xin phá sản thì không đủ vốn điều lệ… Bao nhiêu thủ tục rắc rối, phiền hà khiến VNS gần như chịu bó tay.

Các doanh nghiệp ăn theo còn tồn tại thì Tập đoàn vẫn còn phải gánh vác trách nhiệm mặc dù từ khi tiến hành kế hoạch tái cơ cấu VNS, đám cháu con không còn nơi bấu víu nhưng cũng không thể rũ bỏ ngay vì nhiều nguyên nhân phức tạp.

Hơn nửa năm nay, Ban Chỉ đạo tái cơ cấu VNS cùng lãnh đạo Tập đoàn VNS lập kế hoạch tái cơ cấu mới hay còn gọi là tái cơ cấu lần hai. Nhiều phương án được lập ra, lúc thì giữ lại 8-9 nhà máy, lúc giữ lại hơn chục nhà máy, lúc cho mất chữ “tập đoàn” để đưa về Bộ Giao thông Vận tải quản lý như một tổng công ty… Riêng nhân lực của ngành đóng tàu, họ chỉ muốn giữ lại trên dưới mười ngàn người, có nghĩa là, trên dưới hai mươi ngàn cán bộ, công nhân khác sẽ phải rời khỏi VNS. Giải quyết chế độ lương bổng, bảo hiểm xã hội… cho hai chục ngàn người giữa lúc VNS đang thảm bại toàn diện là điều không tưởng. Những đồng tác giả kế hoạch tái cơ cầu lần hai đang trông chờ vào Bộ Chính trị nghiên cứu và có quyết định cuối cùng vào quý I- 2013.

Nội dung của kế hoạch tái cơ cấu lần hai kéo giãn thời gian phục hồi VNS tới năm, ba năm nữa và tiếp tục nuôi hy vọng phát triển ngành đóng tàu với mục tiêu “phù hợp” với thực tế hơn, bớt sự hoang tưởng so với kế hoạch tái cơ cấu lần thứ nhất.

Tại sao phải có kế hoạch lần hai? Đó là vì, cả ba mục tiêu của kế hoạch lần thứ nhất đã bị phá sản. Mà nguyên nhân như một chuyên gia cũ của VNS đã viết; “họ áp dụng một hệ thống pháp luật còn nhiều khiếm khuyết để giải quyết cái vô pháp luật là điều không khả thi, không thực tế”.

Đã vậy, những người đi trục vớt tàu đắm mà đuổi hết thuyền viên cũ, rủ rê một đám bạn “có vấn đề” ở nơi khác, cả đời chưa trèo lên tàu bao giờ, chỉ thu phục đám cơ hội trong các thuyền viên cũ thì thất bại là chắc chắn!

Một điều nữa, cần nhắc lại là: “VNS không đủ năng lực đóng tàu thương mại, không có khả năng đóng tàu đúng tiến độ và có lãi. Như vậy, VNS không có năng lực cạnh tranh!”.

“Nhìn về tương lai đầy nước mắt…”, VNS tồn tại như thế nào nếu vẫn còn những người lãnh đạo ôm ấp tư duy thủ cựu để tự huyễn hoặc mình và ru ngủ dư luận xã hội!

L.T.T.

Tác giả gửi trực tiếp cho BVN.

 

———-

Tái cơ cấu để Vinashin phục hồi và phát triển

23-11-2010

Phó thủ tướng thường trực Nguyễn Sinh Hùng khẳng định đến thời điểm này, “tư tưởng của toàn bộ công nhân Vinashin đã ổn định từ trên xuống dưới”. Ông cho biết: hiện Ủy ban Kiểm tra trung ương đang tiếp tục làm rõ trách nhiệm của Thủ tướng, các phó thủ tướng, các bộ trưởng trong vụ việc ở Vinashin và kết quả kiểm điểm trách nhiệm sẽ công bố trước công luận.

“Chúng ta sẽ thành công”

Phó thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng nói như vậy khi kết thúc phần giải trình. Theo ông, VN phát triển ngành công nghiệp đóng tàu là phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế biển và Vinashin đã phát triển nhanh chóng về quy mô trong giai đoạn 2005-2006 – là thời kỳ hoàng kim của ngành hàng hải và ngành đóng tàu, nhưng “không ngờ rằng đến năm 2008-2009 Vinashin lâm vào tình trạng phá sản”.

“Khi Vinashin lâm vào tình trạng phá sản và chúng ta chọn phương án tái cơ cấu, đây là thời điểm hết sức khó khăn. Nhưng nếu không tái cơ cấu thì có nghĩa là cơ bản cơ sở vật chất đó trở thành đống sắt vụn, còn nếu tái cơ cấu thì nó sẽ phục hồi, phát triển và tự trả được nợ” – ông Hùng nói. Sau nửa năm tái cơ cấu và đặc biệt là ba tháng gần đây – theo Phó thủ tướng – các hợp đồng được hồi phục và công nhân đã có việc làm trở lại với thu nhập từ 2,8 triệu đồng/tháng trở lên.

“Năm nay sẽ đóng được 66 con tàu, doanh thu khoảng 600 triệu USD, cộng với thu từ công nghiệp phụ trợ nữa là có doanh thu khoảng 14.000 tỉ đồng. Sang năm có thể ký thêm được 110 hợp đồng đóng tàu. Tất cả 26 con tàu chuyển sang Vinalines thì 23 con đã hoạt động, có thể thu được 1.400 tỉ đồng trong năm nay. Còn lại ba tàu nữa, một con đã tháo dỡ và bán một phần rồi, một con sẽ sửa chữa được, còn tàu Hoa Sen đang cho thuê mỗi năm thu được khoảng 4 triệu USD vì nếu bán bây giờ sẽ lỗ nặng” – ông Hùng sơ bộ tình hình.

Về khả năng trả nợ, Phó thủ tướng nói: “Sản xuất kinh doanh phục hồi, đóng được tàu, tàu bán được thì có tiền trả nợ, trả nợ ngắn hạn, trả nợ dài hạn… Còn lại khoảng 20% các công ty phải tái cơ cấu bằng nhiều phương pháp, hoặc là cổ phần hóa, hoặc là bán, hoặc là bán nợ, hoặc là cho thuê để thu hồi vốn nhưng không bán đổ bán tháo. Tôi tin là có khoản sẽ mất, có khoản sẽ có lời nhưng về tổng thể là có lời. Nếu thị trường vận tải biển phục hồi, giá vận tải tăng lên, giá đóng tàu tăng lên thì phục hồi nhanh. Nếu chúng ta quản trị tốt và làm ăn có hiệu quả thì trước mắt năm nay lỗ, năm sau lỗ ít, năm 2012 có thể giảm lỗ và không lỗ nữa, năm 2013 có thể có lãi. Như vậy Vinashin có khả năng trả nợ. Con số 104.000 tỉ đồng tài sản và 86.000 tỉ đồng nợ thì đường đi của nó là như thế”.

Đối với những sai phạm và trách nhiệm trước vụ việc Vinashin, ông Hùng nêu rõ người làm trái, vi phạm sẽ phải xử lý theo quy định của pháp luật, cơ quan điều tra đang làm.

Sẽ xem lại cơ chế quản lý tập đoàn

Trước đó, trả lời các chất vấn về vụ Vinashin nợ 86.000 tỉ đồng, Bộ trưởng Bộ Tài chính Vũ Văn Ninh và Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải Hồ Nghĩa Dũng cho biết trước năm 2007 Vinashin hoạt động vẫn hiệu quả, ký được hợp đồng đến 12 tỉ USD. Hai bộ trưởng đều dẫn các quy định pháp luật, khẳng định tập đoàn được tự chủ trong huy động vốn dưới hình thức phát hành trái phiếu và phải tự chịu trách nhiệm hoàn trả, đảm bảo hiệu quả sử dụng vốn.

Luật cũng khẳng định nhiều quyết định đầu tư tập đoàn không phải báo cáo với bộ chủ quản, bộ chức năng. Vì vậy trả lời việc đầu tư dàn trải của Vinashin, ông Ninh và ông Dũng cùng cho rằng “Bộ không phải là người duyệt phương án đầu tư nên quyết định cụ thể về đầu tư, vay vốn của doanh nghiệp không phải thẩm quyền của chúng tôi”.

Ông Ninh cho hay Bộ Tài chính đã phát hiện, lập biên bản yêu cầu thực hiện kiến nghị thanh tra nhưng “có việc Vinashin thực hiện, có việc chỉ thực hiện một phần, cũng có những việc chưa hoặc không thực hiện”. Nhận thấy đã làm đúng với Luật thanh tra, nhưng Bộ trưởng Vũ Văn Ninh cũng khẳng định luật này có bất cập vì “phát hiện nhưng không thể buộc doanh nghiệp phải thực thi kiến nghị. Chúng tôi đang nghiên cứu để kiến nghị bổ sung”.

Sáng nay, Thủ tướng trả lời chất vấn

Theo chương trình làm việc của Quốc hội, sáng nay (24-11) Quốc hội sẽ nghe Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng làm rõ thêm một số vấn đề trong các phiên chất vấn bốn bộ trưởng hai ngày qua, đồng thời Thủ tướng sẽ trực tiếp trả lời chất vấn các đại biểu Quốc hội. Trước đó, theo tổng hợp của đoàn thư ký kỳ họp, đã có gần 30 câu hỏi chất vấn Thủ tướng. Phiên chất vấn sẽ được truyền hình và phát thanh trực tiếp, bắt đầu từ 8g.

Về phiên chất vấn, trả lời chất vấn hôm 23-11, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng nhận định các bộ trưởng nắm được rất kỹ, chắc và trả lời các câu hỏi cặn kẽ, tỉ mỉ, chu đáo “nhưng Bộ trưởng Vũ Văn Ninh trả lời hơi dài”. Ông đánh giá “Bộ trưởng Hồ Nghĩa Dũng trả lời rất chân thành”. Riêng về phần của Phó thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng khi giãi bày kế hoạch phục hồi Vinashin, ông Trọng nói “nếu được làm như vậy thì rất tốt”.

Nói chung về việc điều hành của các bộ trưởng, ông bày tỏ: đương nhiên Quốc hội cũng như nhân dân hết sức chia sẻ, thông cảm những khó khăn chung của cả nước cũng như của các ngành.

K.H. – V.V.T.

LÊ KIÊN – CẦM VĂN KÌNH

Posted in Sách- Báo- Hồi Ký | 2 Comments »

►”Bên Thắng Cuộc” lột trần hậu trường chính trị chế độ cộng sản tại Việt Nam ..

Posted by hoangtran204 trên 28/01/2013

BS Ngọc

Theo blog BS Ngọc

Phải nói cho rõ là “hậu trường chính trị của chế độ Việt Nam theo chủ nghĩa xã hội, hay cộng sản”. Đã có nhiều người viết bài điểm sách, tôi không có gì để viết thêm. Tôi chỉ muốn rút ra vài điểm chính sau khi đã đọc xong bộ sách.

Theo tôi nghĩ những câu chuyện Huy Đức thuật lại trong sách có thể giải thích tại sao nước ta nghèo hèn như hiện nay. Tôi cũng nghĩ các lãnh đạo thuộc phe XHCN của miền Bắc phải chịu trách nhiệm lớn trước lịch sử về những sai lầm của họ.

Một nhà văn hoá Âu châu từng nói rằng lịch sử chỉ là một chuỗi câu chuyện về gia đình và thế giới. Bởi thế, kể chuyện là một phương tiện có hiệu lực cao để giải thích những gì đã và đang xảy ra. Có thể khẳng định ngay rằng bộ sách Bên thắng cuộc của Huy Đức không phải là sách lịch sử. Huy Đức cũng nói rằng anh không viết sử.

Tôi xem Bên thắng cuộc là một chuỗi câu chuyện hậu trường chính trị Việt Nam. Tất cả chúng ta cần phải biết những câu chuyện mà Huy Đức kể lại, bởi vì những câu chuyện đó sẽ thấp lên một que diêm trong cái lịch sử mờ ảo của Việt Nam vào những năm giữa thế kỷ 20 cho đến ngày hôm nay.

Đọc phần I của tập sách tôi như xem một cuốn phim quay chậm. Những kẻ một sớm chiều biến thành “Cách mạng 30/4”. Đốt sách. Cạo râu, cắt ống quần. Cải tạo. Kinh tế mới. Đánh “tư sản mại bản”. Đổi tiền. Vượt biên. Tất cả những biến cố đó là sự thật. Là người ở lại trong khi các đồng nghiệp tìm được vượt biên tôi có thể nói rằng tất cả những gì Huy Đức ghi chép đều đúng. Huy Đức không phải là người đầu tiên ghi lại những biến cố đau thương sau 1975. Trước Huy Đức đã có cụ Nguyễn Hiến Lê viết lại cẩn thận những sự kiện và biến cố làm cho miền Nam suy sụp sau ngày “giải phóng” trong tập Hồi Ký nổi tiếng nhưng bị nhà xuất bản cắt xén khá nhiều. Chúng ta thử đọc vài trích đoạn trong Hồi Ký của cụ Nguyễn Hiến Lê trước khi đọc sách của Huy Đức.

Kẻ “thắng trận” muốn biến miền Nam nghèo như miền Bắc:

“Sự thất bại hiển nhiên của chế độ là sự suy sụp của kinh tế như tôi đã trình bày sơ lược ở trên. Hậu quả là Việt nam trước thế chiến tự hào là “tiền rừng bạc bể”, có những đồng lúa, đồn điền cao su mênh mông ở miền Nam, những mỏ than, mỏ phốt phát phong phú ở miền Bắc mà bây giờ thành một trong vài nước nghèo nhất thế giới.

Nhưng một người Balan trong Ủy ban kiểm soát quốc tế năm 1975 bảo chỉ trong 5 năm, miền Nam sẽ “đuổi kịp miền Bắc”, nghĩa là nghèo như miền Bắc. Lời đó đúng, rất sáng suốt. Nếu không nhờ mấy trăm ngàn kiều bào ở ngoại quốc gởi tiền, thuốc men, thực phẩm, quầ áo… về giúp bà con ở đây thì chúng ta hiện nay cũng điêu đứng như anh em miền Bắc rồi”.

Trong cùng lúc ra tay hành hạ dân miền Nam:

“Khổ nhất là bọn đi kinh tế mới, thất bại, tiêu tan hết vốn liếng, về Sài gòn, sống cảnh màn trời chiếu đất, ăn xin, moi các đống rác hôi thối, lượm một miếng giấy vụn, một túi ni lông, một miếng sắt rỉ, một quai dép mủ… để bán cho “ve chai”. Trông thấy đống túi ni lông được rửa qua loa trong nước dơ rồi phơi ở lề đường để bán cho tiểu thương đựng hàng, tôi ghê tởm quá”.

Trong khi đó bản thân những kẻ “thắng cuộc” thì ăn hối lộ và tham nhũng:

“Ở tỉnh nào cũng có một số cán bộ tham nhũng cấu kết với nhau thành một tổ chức ăn đút ăn lót một cách trắng trợn, không cần phải lén lút. Có giá biểu đàng hoàng: xin vô hộ khẩu một thành phố lớn thì bao nhiêu tiền, một thị xã nhỏ thì bao nhiêu, một ấp thì bao nhiêu. Muốn mua một vé máy bay, vé xe lửa thì bao nhiêu. Muốn được một chân công nhân viên, phải nộp bao nhiêu… Cái tệ đó còn lớn hơn thời trước”.

Họ tạo nên một xã hội trong đó con người mất nhân phẩm:

“Một cán bộ tài chánh xã mà không biết chia 72 cho 24. Trong một buổi hội họp của Hội trí thức thành phố Hồ Chí Minh, một kĩ sư già bực mình vì tình trạng cán bộ đa số dốt nát, bảo: “Tôi chấp nhận vô sản chuyên chính, mà không chấp nhận vô học chuyên chính”. Ngay chiều hôm đó ông ta bị bắt giam; sau cũng được thả ra”.

“Sống dưới chế độ cộng sản, con người hóa ra có hai mặt như Sakharov đã nói: chỉ giữa người thân mới để lộ mặt thật, còn thì phải đeo mặt nạ; luôn luôn phải đề phòng bạn bè, láng giềng, có khi cả người trong nhà nữa. Người ta tính cứ 5 người thì có 1 người kiểm soát từng ngôn ngữ, hành vi của 4 người kia. Ngay một phó viện trưởng cũng làm việc điểm chỉ đó mà bạn trong viện không hay. Dĩ nhiên kẻ kiểm soát đó lại bị người khác kiểm soát lại. Ở Nga thời Staline như vậy, ở Bắc những năm 1954-1960 cũng gần như vậy; ở Nam đỡ hơn vì đa số người trong này không chịu làm thứ mật thám chìm đó”.

Tình trạng phân chia Nam Bắc càng nặng:

Thất bại lớn nhất, theo tôi, là không đoàn kết được quốc dân. Tháng 5-1975, có ít nhất là 90% người miền Nam hướng về miền Bắc, mang ơn miền Bắc đã đuổi được Mĩ đi, lập lại hòa bình, và ai cũng có thiện chí tận lực làm việc để xây dựng lại quốc gia. Nhưng chỉ sáu bảy tháng sau, cuối 1975 đã có đa số người Nam chán chế độ ngoài Bắc, chán đồng bào Bắc. Tôi nhớ như ở phần trên tôi đã nói năm 1976, trong một cuộc hội nghị ở Sài gòn, bàn về vấn đề thống nhất quốc gia, một học giả lão thành miền Bắc, ông Ðào Duy Anh (đã có hồi sống ở Nam nhiều năm, có nhiều bạn thân ở Nam) khi được mời phát biểu ý kiến, chỉ nói mỗi một câu đại ý là thống nhất cái gì cũng dễ; quan trọng nhất là phải thống nhất nhân tâm đã. Cả hội trường sửng sốt và làm thinh.

Ông Anh đã nhận xét đúng và dám nói. Quả thực là lúc đó có sự chia rẽ nặng giữa người Nam và người Bắc, Nam đã không muốn thống nhất với Bắc rồi. Từ đó, tinh thần chia rẽ cứ mỗi ngày mỗi tăng, năm nay (1980) có thể nói 90% người miền Nam hay hơn nữa, muốn tách khỏi miền Bắc
”.

bởi vì một trong những nguyên nhân là:

Người Bắc coi người Nam là ngụy, đối xử với người Nam như thực dân da trắng đối với dân “bản xứ”, tự cao tự đại, tự cho rằng về điểm nào cũng giỏi hơn người Nam, đã thắng được Mĩ thì cái gì cũng làm được. Chỉ cho họ chỗ sai lầm trong công việc thì họ bịt miệng người ta bằng câu: “Tôi là kháng chiến, anh là ngụy thì tôi mới có lí, anh đừng nói nữa.

Chẳng bao lâu người Nam thấy đa số những kẻ tự xưng là kháng chiến, cách mạng đó, được Hồ chủ tịch dạy dỗ trong mấy chục năm đó, chẳng những dốt về văn hóa, kĩ thuật -điều này không có gì đáng chê, vì chiến tranh, họ không được học- thèm khát hưởng lạc, ăn cắp, hối lộ, nói xấu lẫn nhau, chài bẫy nhau… Từ đó người Nam chẳng những có tâm trạng khinh kháng chiến mà còn tự hào mình là ngụy nữa, vì ngụy có tư cách hơn kháng chiến. Và người ta đâm ra thất vọng khi thấy chân diện mục của một số anh em cách mạng đó, thấy vài nét của xã hội miền Bắc: bạn bè, hàng xóm tố cáo lẫn nhau, con cái không dám nhận cha mẹ, học trò cấp II đêm tới đón đường cô giáo để bóp vú…”.

Trong khi cụ Nguyễn Hiến Lê ghi chép thời cuộc, tình hình chung, còn Huy Đức thì cung cấp cho chúng ta những câu chuyện hậu trường, những suy nghĩ cá nhân của những người nặn ra những chính sách ác ôn dẫn đến tình hình mà cụ Nguyễn Hiến Lê nhận xét. Có thể nói rằng cuốn sách của Huy Đức là một bổ sung quý báu cho hồi ký của cụ Nguyễn Hiến Lê.

Bây giờ chúng ta thử đọc xem Huy Đức đã cho chúng ta chứng từ để giải thích cho những nhận xét của cụ Nguyễn Hiến Lê. Đọc xong bộ sách tôi thấy những thông điệp sau đây lắng đọng trong tôi:

1.- Đó là một chế độ độc tài và toàn trị. Người cộng sản nói rằng chế độ do họ dựng lên là dân chủ tập trung. Nhưng trong thực tế chúng ta thấy rằng chẳng có gì là dân chủ trong chế độ cộng sản. Tất cả các chính sách đều do một nhóm người trong Bộ chính trị quyết định. Nhưng qua Bên thắng cuộc, chúng ta còn biết rằng rất nhiều chính sách có ảnh hưởng đến hàng triệu người chỉ do một người quyết định, bất chấp những lời khuyên của người khác. Điển hình cho tính độc tài là quyết định mở cuộc tổng tấn công vào Tết Mậu Thân. Rõ ràng, đó là một chế độ độc tài, sao gọi là dân chủ tập trung được.

Điều mỉa mai nhất là họ cáo buộc rằng chế độ VNCH là do Mỹ dựng lên và tay sai của Mỹ, nhưng chính người lãnh đạo cao cấp nhất trong chế độ CS là Lê Duẩn khẳng định rằng họ đánh miền Nam là đánh cho Liên Xô, cho Trung Cộng. Hình như chưa một lãnh đạo miền Nam chưa ai trơ tráo nói rằng họ là tay sai của Mỹ. Nói cách khác, chế độ CS ngoài Bắc thời đó là một chế độ toàn trị, tay sai của ngoại bang.

Tính toàn trị còn thể hiện qua việc Bộ chính trị kiểm soát cả hành vi xã giao của các đồng chí họ. Đọc đoạn Huy Đức tả cái bắt tay hờ hững của cựu thủ tướng Phan Văn Khải với ông Bill Clinton mà buồn cười về sự trẻ con và thiếu văn hoá của lãnh đạo CS. Ông Khải không mở miệng cười với Bill Clinton. Khi được hỏi tại sao lại có hành vi kém xã giao như vậy, ông Khải thú nhận: “Không được đâu mày ơi, Bộ chính trị đã thống nhất là không được cười”. Đoạn viết về một ông tướng công an “làm việc” với ban giám hiệu Đại học Quốc gia Hà Nội để chỉ đạo lúc nào nên cười, lúc nào nên vỗ tay, thậm chí những hành vi xem thường ông Bill Clinton như để cho sinh viên đọc báo trong lúc ông nói. Tất cả những hành động và sự giật dây đó là những minh chứng hùng hồn cho thấy chế độ toàn trị kiểm soát tất cả hành vi sống của người dân.

2.- Nội bộ thiếu đoàn kết. Thoạt đầu, ấn tượng của tôi về các vị lãnh đạo phe CSVN là họ rất đoàn kết với nhau. Nhưng đọc qua Bên thắng cuộc và kinh nghiệm cá nhân, tôi mới thấy ấn tượng đó rất sai lầm. Người CSVN, đặc biệt là trong giới lãnh đạo thượng tần, rất ganh ghét và đố kỵ lẫn nhau. Huy Đức qua những câu chuyện cá nhân phác hoạ một bức tranh rất xấu về Lê Đức Thọ và Lê Duẩn, hai người không ưa tướng Võ Nguyên Giáp. Từ một tướng vang danh thế giới bị hạ xuống người đi đặt vòng ngừa thai cho phụ nữ! Những ganh ghét và đố kỵ rất con người cũng giống như các lãnh đạo thuộc phe VNCH. Nhưng có cái khác biệt căn bản là các lãnh đạo VNCH hành xử có văn hoá hơn và có phần tế nhị hơn so với các lãnh đạo phe CS.

Họ sẵn sàng dựng nên những câu chuyện để bôi xấu lẫn nhau. Vụ án “Năm Châu – Sáu Sứ” được Huy Đức mô tả khá rõ và cho thấy các đồng chí thượng tầng CS có thể lập mưu mô để hạ bệ những ai họ không ưa thích. Họ còn dám dùng cả những thủ đoạn thấp như photoshop để nguỵ tạo hình ảnh trai gái để tố cáo ông Lê Khả Phiêu lúc đó là tổng bí thư đảng.

3.- Tàn nhẫn. Sự hành xử của một số lãnh đạo CS cấp cao có thể nói là tàn nhẫn. Sự tàn nhẫn thể hiện ngay giữa các đồng chí. Chúng ta thử đọc qua đoạn mô tả Võ Chí Công, Đoàn Khuê và Nguyễn Đức Tâm trả thù Võ Viết Thanh sau khi tướng Thanh bắt Năm Châu và Sáu Sứ:

“Tôi tới phòng làm việc của Đoàn Chủ tịch Đại hội, thấy Võ Chí Công, Nguyễn Đức Tâm, Đoàn Khuê, Nguyễn Quyết, Nguyễn Thanh Bình đang chờ. Mặt Đoàn Khuê hằm hằm, Võ Chí Công và Nguyễn Đức Tâm nói ngắn gọn: ‘Chúng tôi thay mặt Bộ Chính trị, Ban Bí thư, báo đồng chí hai nội dung. Trước hết, xin chuyển tới đồng chí nhận xét của Bộ Chính trị: Đồng chí là một cán bộ cao cấp còn trẻ, công tác tốt, rất có triển vọng, nhưng rất tiếc, chúng tôi vừa nhận được một số báo cáo tố cáo đồng chí hai việc: Một, ngay sau giải phóng, đồng chí có cho bắt hai cán bộ tình báo của Bộ Quốc phòng và từ đó hai cán bộ này mất tích; hai, cái chết của cha mẹ đồng chí là bị ta trừ gian, chứ không phải do địch giết. Vì vậy, chúng tôi đành phải rút đồng chí ra khỏi danh sách tái cử vào Trung ương khóa VII’.”

Ông Võ Viết Thanh phản ứng như ssau:

“Tôi hết sức bất ngờ. Khi nghe xúc phạm đến ba má tôi thì tôi không còn kiềm chế được. Trong cặp tôi lúc đó có một khẩu súng ngắn, tôi đã định kéo khóa, rút súng ra bắn chết cả ba ông rồi tự sát. Nhưng, tình hình lúc đó, nếu tôi làm thế là tan Đại hội. Tôi cố nuốt cơn tức giận.”

4.- Lừa gạt và dối trá. Người dân đã bị bộ máy tuyên truyền của chế độ định hướng suy nghĩ và cảm nhận. Những trẻ em mới lớn lên đã bị bộ máy tuyên truyền nhồi nhét rằng các vị lãnh đạo đáng kính suốt đời hy sinh hạnh phúc cá nhân để đấu tranh cho bình đẳng xã hội. Họ còn bị nhồi nhét rằng chế độ VNCH là chế độ ác ôn, với những con người ăn trên ngồi trốc, trong khi phần lớn người lao động phải sống khổ cực. Nhưng Bên thắng cuộc lột trần “huyền thoại” cao cả của các lãnh đạo CS. Sự thật nói lên rằng họ chính là những người ăn trên ngồi trốc. Trong khi người dân không đủ cơm ăn thì họ phè phỡn với bơ sữa từ Đông Âu. Họ có những vườn rau riêng. Họ có một đội quân bác sĩ chăm sóc sức khoẻ dưới danh xưng “Ban bảo vệ sức khoẻ trung ương”. Người dân không có thuốc điều trị nhưng lãnh đạo CS thì có thừa. Nếu lấy cái nền lãnh đạo VNCH có đặc quyền đặc lợi là 1 thì những người lãnh đạo CS có đặc quyền đặc lợi phải lên đến 100. Do đó, tất cả những gì người CS phỉ báng giới lãnh đạo VNCH thì cũng chính là những gì họ phỉ báng chính họ với cường độ cao hơn 100 lần. Một cách ngửa mặt lên trời phun nước bọt.

5.- Đạo đức giả. Báo chí miền Bắc thường ra rả tuyên truyền rằng lãnh đạo VNCH là những kẻ ăn chơi, đa thê đa thiếp, chỉ biết suốt ngày nhảy đầm chứ chẳng có kiến thức chính trị gì cả. Họ còn viết hẳn một cuốn sách về các tướng lãnh VNCH. Đọc cuốn này cũng là một phương thức giải trí tốt vì các tác giả có khả năng tưởng tượng khá tốt. Nhưng còn các lãnh đạo CS thì sao? Họ là những kẻ nhiều vợ. Lê Duẩn. Nguyễn Văn Linh. Lê Đức Thọ. Võ Văn Kiệt. Có thể cả ông Hồ. Tất cả đều có hơn 1 vợ. Tất cả đều sẵn sàng bỏ vợ lại sau lưng để “theo đuổi sự nghiệp cách mạng”. Nhưng cũng có thể họ xem phụ nữ như là những người để họ giải quyết vấn đề tình cảm sinh lý. Không phải ai trong giới lãnh đạo CS đều sống vô đạo đức, nhưng nhìn qua những nhân vật cao cấp chúng ta thấy nói rằng thói đạo đức giả rất phổ biến trong giới thượng tầng của chế độ.

6.- Dốt nát. Chúng ta biết rằng những người cộng sản thế hệ thứ nhất như Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp (không tính đến những người như Trần Phú, Hà Huy Tập, Nguyễn Văn Cừ) là những người có trình độ học vấn khá và có bản lãnh. Nhưng Bên thắng cuộc tiết lộ rằng những người thuộc thế hệ đàn em của những người tiền phong toàn là một nhóm người ít học. Những lãnh đạo như ông Đỗ Mười, Lê Đức Anh, Nguyễn Văn Linh … đều xuất thân từ thành phần không có cơ hội học hành đến nơi đến chốn. Sự dốt của lãnh tụ có khi đến mức hài hước. Trong phần viết về sức khoẻ lãnh đạo, chúng ta được biết ông Đỗ Mười nói về bệnh trạng của tướng Đoàn Khuê, qua lời thuật của ông Nguyễn Văn An, như sau: “Đoàn Khuê nói với tao, uống tam thất nó tan hết rồi mà. Đoàn Khuê còn vạch bụng cho tao xem. Tôi bảo: thưa anh, theo chuyên môn thì đấy là khối u nó chạy chứ không phải tan đâu ạ”. Thật kinh hoàng khi những con người như thể được đặt ở vị trí chót vót lãnh đạo một đất nước 90 triệu dân!

Qua Bên thắng cuộc chúng ta biết rằng các lãnh đạo CS có tầm nhìn rất hạn hẹp. Có thể do bị nhào nặn bởi tuyên truyền cộng với kém học thức nên các lãnh đạo CS có kiến thức rất nghèo nàn về thế giới ngoài các nước XHCN và Trung Cộng. Từ đó dẫn đến những nhận định sai lầm và những lựa chọn bất lợi cho đất nước. Điển hình là câu chuyện đằng sau việc thiết lập quan hệ ngoại giao với Mỹ. Câu chuyện cho thấy giới lãnh đạo CS thiển cận và làng xã trong những nhận xét của họ về một đối thủ rất quan trọng.

Chúng ta thử đọc một đoạn “Cứu chủ nghĩa xã hội” để thấy ông Nguyễn Văn Linh có tầm nhìn và hành xử đầy kịch tính ra sao. Đọc cũng để thấy Gorbachev chẳng những mỉa mai mà còn khinh Nguyễn Văn Linh như thế nào:

Ông Nguyễn Văn Linh cho rằng Gorbachev là kẻ cơ hội nhất hành tinh:

Tháng 10-1989, Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh tới Berlin dự lễ kỷ niệm bốn mươi năm ngày thành lập Nước Cộng hòa Dân chủ Đức. Theo ông Lê Đăng Doanh: “Quyết địng đi dự 40 năm Quốc Khánh CHDC Đức là quyết định trực tiếp của cá nhân anh Linh. Anh Linh đã bàn với Bộ Chính trị về việc phải triệu tập một Hội nghị các Đảng Cộng Sản và Công nhân quốc tế để cứu phong trào cộng sản, chống chủ nghĩa cơ hội. Anh sang Berlin là để gặp các đồng chí để bàn về việc ấy và gặp Gorbachev. Trong một cuộc họp, anh Linh nhận xét: Gorbachev là kẻ cơ hội nhất hành tinh này”.

Bị đối xử như thương gia tầm thường:

Ngày 4-10-1989, từ Hà Nội, hãng Interflug của Cộng hòa Dân chủ Đức dành cho ông Linh một ghế hạng thương gia, các thành viên cao cấp khác – Phó Thủ tướng Nguyễn Khánh, Trợ lý Tổng Bí thư Lê Xuân Tùng, Phó Ban Đối ngoại Trịnh Ngọc Thái, Đại sứ Tạ Hữu Canh và thư ký Lê Đăng Doanh – chỉ ngồi khoang hành khách thường.

Bị xem thường:

Một lễ đón đơn giản được tổ chức tại sân bay Berlin-Schronefeld rồi sau đó đoàn về khách sạn. …. Trong suốt chuyến thăm chính thức ấy, phía CHDC Đức không thu xếp cho ông Linh một buổi gặp chính thức nào với Honecker hay một nhà lãnh đạo khác. Thế nhưng, điều đó đã không làm ông Nguyễn Văn Linh từ bỏ ý đồ đóng vai trò trung tâm cứu nguy chủ nghĩa xã hội.

Đến nơi ở của các nhà lãnh đạo khác mới thấy cách đối xử của Erich Honecker với ông Nguyễn Văn Linh. … Trong khi ông Linh chỉ được xếp một phòng đôi lớn hơn phòng các thành viên khác trong đoàn một chút thì chỗ ở của Ceausesscu là một khu vực gồm nhiều phòng. Ông Linh và tùy tùng phải đi qua một sảnh lớn nơi có một đội cận vệ 12 người bồng tiểu liên AK báng gập đứng chào. Ceaucesscu đã để ông Linh phải ngồi chờ rất lâu. Ông Linh nói: “Mày liên hệ thế nào mà giờ không thấy nó”. Tôi bảo: “Tính thằng này nó hình thức thế”. Một lúc sau thì Ceausesscu ra, chính ông ta lại là người tỏ ra hăng hái ủng hộ sáng kiến của ông Nguyễn Văn Linh nhất. Ceausesscu thậm chí còn đòi để Rumani đăng cai. Tuy nhiên, cả Ceausesscu và các nhà lãnh đạo cộng sản khác đều nói với ông Linh: “Vấn đề là ông kia, nếu ông ấy không đồng ý thì rất khó”. “Ông kia” đề cập ở đây là Gorbachev.

Dù ông Linh rất nhiệt tình cứu XHCN nhưng người ta làm ngơ:

Trong ngày 6-10-1989, giữa Berlin rét mướt, ông Nguyễn Văn Linh đã tìm gặp các nhà lãnh đạo cộng sản đến dự lễ quốc khánh để thảo luận về một sáng kiến mà ông đưa ra: triệu tập hội nghị các đảng cộng sản và phong trào công nhân quốc tế. Ông Linh nói: “Phe ta đang diễn biến phức tạp. Hơn bao giờ hết, đòi hỏi quốc tế vô sản phải siết chặt hàng ngũ. Đảng Cộng sản Việt Nam thấy nên có một hội nghị để thống nhất tư tưởng và hành động, tăng cường tình đoàn kết”.

Đa số các đảng cộng sản làm ngơ đề nghị của ông Linh, chỉ có Batmunkho Tổng Bí thư Mông Cổ, Phó Thủ Tướng Hernandez của Cuba, Tổng Bí thư Ceaucescu của Rumania, Tổng Bí thư Đảng vừa thất cử của Ba Lan Jaruzelski, Chủ tịch Đảng Cộng Sản Tây Đức (DKP) Herbert Mies là chấp nhận gặp. Chỉ có Helbert Mies, lãnh tụ của một đảng không cầm quyền và Phó thủ tướng Cuba Hernandez là tự tới nơi ông Linh ở. Theo ông Lê Đăng Doanh, những người khác chỉ tiếp ông Nguyễn Văn Linh tại phòng riêng của họ.

Sau nhiều cuộc trì hoản thì ông Linh cũng được Gorbachev cho một cuộc gặp mặt. Nhưng đó là một cuộc gặp mặt để Gorbachev khinh miệt ông Linh. Chúng ta hãy đọc tiếp:

Từ 19 đến 21 giờ tối 6-10-1989, sau phần đọc diễn văn, cuộc mit-tin được chuyển từ trong một lâu đài ra một lễ đài ngoài trời duyệt quần chúng, thanh niên rước đuốc. Ông Lê Đăng Doanh kể: Đám thanh niên tuần hành sôi lên sùng sục kêu tên Gorbachev, “Gorby! Gorby!”. Anh Linh chỉ mặc bộ complet, tối nhiệt độ xuống khoảng 8 C, cận vệ quên mang áo lạnh, ông Nguyễn Văn Linh đứng run bần bật, kêu tôi: “Tao lạnh quá”. Tôi phải nói với một viên tướng Đức đứng cạnh đấy: “Tổng Bí thư của tôi quên mang áo ấm”. Viên tướng cho mượn tạm tấm áo choàng của ông ta.

Sáng hôm sau, 7-10-1989, theo lịch trình, mười giờ sẽ có duyệt binh, nhưng tám giờ, ông Nguyễn Văn Linh triệu tập họp Chi bộ Đảng thông báo tình hình sức khỏe: “Mình thấy có gì đó không bình thường, không nhắm được mắt, miệng cứng, không ăn được”. Về sau bác sỹ xác định đó là triệu chứng liệt dây thần kinh số 7. Mọi người đề nghị ông Linh không ra lễ đài, ông Nguyễn Khánh thay ông Linh dự duyệt binh rồi báo với “bạn”. Phía CHDC Đức mời ông Linh ở lại khám chữa bệnh và khuyên ông không nên về trong lúc này. Tuy bệnh tình càng ngày càng nặng, nước mắt chảy ra nhiều, miệng có biểu hiện bị méo và nói bắt đầu khó khăn, ông Nguyễn Văn Linh vẫn hy vọng rất nhiều vào cuộc gặp với Gorbachev.

Cuộc gặp Gorbachev dự kiến diễn ra lúc 10:30 sáng 8-10-1989, nhưng chờ đến mười một giờ cũng không thấy văn phòng ông ta gọi lại. Ông Linh rất sốt ruột. Theo ông Lê Đăng Doanh: Trong khi đó, sáng ngủ dậy, bệnh ông Linh càng nặng thêm. Khi ăn cơm, ông kêu tôi ra ngoài vì không muốn tôi chứng kiến cảnh ông ăn rất chật vật. Hàm bên trái của ông Linh cứng lại. Ông phải nhai ở phía bên phải sau đó dùng hai ngón tay đẩy thức ăn vào họng, chiêu một ngụm nước mới nuốt được.

Cuộc gặp Gorbachev được lùi lại 2:30 rồi 5:30 chiều cùng ngày. Gorbachev, khi ấy vẫn là nhà lãnh đạo của cả phe xã hội chủ nghĩa, được bố trí ở trong một tòa lâu đài. Nhưng, cuộc tiếp tổng bí thư Việt Nam đã không diễn ra trong phòng khách riêng mà ở ngay một phòng rộng mênh mông vừa dùng cho một tiệc chiêu đãi lớn, thức ăn thừa còn bề bộn trên các bàn. Nhân viên dọn một góc, kê bàn để Gorbachev tiếp ông Nguyễn Văn Linh. Gorbachev ra đón ông Linh ở sảnh và khi cửa xe mở, ông cúi đầu nói: “Kẻ cơ hội nhất hành tinh kính chào đồng chí Nguyễn Văn Linh”.

Dù đang bệnh, ông Nguyễn Văn Linh vẫn trình bày rất nhiệt tình, nhưng theo ông Lê Đăng Doanh: Sáng kiến nào của ông Linh cũng được Gorbachev khen là “rất tốt” nhưng chỉ là những lời khen xã giao. Ông Linh nói: “Tôi đã gặp một số đảng cộng sản anh em. Trong tình hình này, Đảng Cộng sản Việt Nam muốn đồng chí đứng ra triệu tập hội nghị các đảng cộng sản và phong trào công nhân quốc tế”. Gorbachev liền giơ hai tay lên tươi cười: “Ý này hay nhỉ. Để xem! Để xem! Rất tiếc là giờ tôi đang nhiều việc quá!”. Ông Linh trân trọng mời Gorbachev đến thăm Việt Nam. Gorbachev lại kêu lên: “Hay quá nhỉ! Cám ơn! Cám ơn! Nhưng, tôi đang có nhiều lời mời quá mà chưa biết thu xếp cái nào trước”.

Cuối cùng, Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh đề cập đến truyền thống viện trợ của Liên xô và khi ông đề nghị Liên Xô tiếp tục giúp đỡ cho Kế Hoạch 5 năm 1990-1995 của Việt Nam thì Gorbachev xua tay. Không còn xã giao, lịch sự như phần trên nữa, Gorbachev nói: “Khó khăn lắm, khó khăn lắm, các đồng chí Việt Nam tự lo thôi”. Theo ông Lê Đăng Doanh: Thế nhưng, ngày hôm sau, báo Nhân Dân và Pravda đều đưa tin về cuộc gặp diễn ra trong “tình hữu nghị thắm thiết”.

Đọc những đoạn trích dẫn rất sống động này tôi phải nói là rất nhục. Là lãnh tụ một đất nước 90 triệu dân mà không nắm được tình hình thế giới để bị các lãnh đạo của chính thế giới XHCN xem thường như thế. Ông Nguyễn Mạnh Cầm có lẽ là người ngoại giao nên còn biết được tình hình thế giới. Ông đưa ra nhận xét rằng “Nhận thức của một số đồng chí trong Bộ chính trị lúc bấy giờ không theo kịp những thay đổi của tình hình thế giới”. Không theo kịp tình hình thế giới có nghĩa là sống trong cái ao làng. Chẳng biết ông Linh có hiểu những câu nói của Gorbachev hay không. Thật là nhục nhã. Tất cả cũng vì cái dốt.

Cái dốt của lãnh đạo CS còn thể hiện qua lần tiếp kiến giữa ông Lê Khả Phiêu và Bill Clinton. Trong buổi tiếp kiến, trong khi Bill Clinton nói về tương lai hợp tác, ông Lê Khả Phiêu lại tận dụng chuyện Bill Clinton “trốn lính” làm cho ông Bill Clinton rất giận và chắc chắc cũng rất khinh thường người đối diện mình:

Bill Clinton nhớ lại: “Lê Khả Phiêu cố gắng sử dụng hành động phản đối chiến tranh Việt Nam của tôi để cáo buộc những gì Mỹ đã làm là hành vi đế quốc. Tôi đã rất giận dữ nhất là khi ông ta nói vậy trước sự có mặt của Đại sứ Pete Peterson, một người đã từng là tù binh chiến tranh. Tôi nói với nhà lãnh đạo Việt Nam rằng khi tôi không tán thành các chính sách đối với Việt Nam, những người theo đuổi nó cũng không phải là đế quốc hay thực dân, mà là những người tốt chiến đấu chống cộng sản. Tôi chỉ Pete và nói, ông đại sứ không ngồi sáu năm rưỡi trong nhà tù ‘Hà Nội Hilton’ vì muốn thực dân hóa Việt Nam”.

Ông Phan Văn Khải nhớ lại: “Ông Phiêu nói như thời chiến tranh làm cho họ rất khó chịu. Ông ấy muốn tỏ rõ thái độ của một chính quyền cộng sản. Nhưng, ông Phiêu không hiểu tình hình thế giới giờ đây đã khác. Phe xã hội chủ nghĩa đã tan rã. Vấn đề là mối quan hệ giữa hai quốc gia, chúng ta cần Mỹ. Nếu người Mỹ không vào thì những công ty lớn trên thế giới không có ai vào cả”. …

Clinton nhận xét, dường như những người mà ông gặp ở Việt Nam, chức vụ càng cao hơn thì ngôn ngữ càng “sặc mùi” cộng sản theo kiểu cũ hơn”.

Sự dốt nát chính là một nguyên nhân chính dẫn đến những cuộc bỏ lỡ cơ hội để phát triển đất nước. Câu chuyện xung quanh ký hiệp định thương mại song phương BTA cho thấy giới lãnh đạo thượng tầng CS rất sợ Trung Cộng. Ông Nguyễn Mạnh Cầm nói “Tôi tiếc đứt ruột. Năm 1999, Bill Clinton muốn ký trước mặt các nhà lãnh đạo đủ cả phương Tây lẫn phương Đông. Khi ấy các tập đoàn sản xuất hàng xuất khẩu sang Mỹ chỉ chờ có hiệp định là nhảy vào Việt Nam. Mình quyết định không ký, mất biết bao nhiêu cơ hội”. Không chỉ BTA, ngay cả những chần chừ để trở thành thành viên của ASEAN cũng phản ảnh sự kém hiểu biết của những người lãnh đạo CS chóp bu.

Sự dốt nát và kém hiểu biết của người CS không phải chỉ biểu hiện trong giới lãnh đạo mà còn ở những người trong giới học thuật và chuyên môn. Sau 1975 tôi đã có nhiều “tiếp cận” với những đồng nghiệp y khoa từ Bắc vào. Tôi có thể nói một cách không ngần ngại rằng trình độ của họ quá kém. Có lần một anh bác sĩ nghe nói là cấp cao ngoài đó mà viết tên thuốc trụ sinh còn sai. Không phải sai một lần mà nhiều lần. Chỉ nhìn nét chữ cũng có thể biết được anh chàng này thuộc thành phần bác sĩ gì. Ngay cả những người được “chi viện” để tiếp thu trường y Sài Gòn cũng là những người rất kém cỏi về kiến thức và kỹ năng lâm sàng. Họ bị các thầy trong Nam khinh ra mặt. Do đó tôi không hề ngạc nhiên khi đọc những dòng chữ viết về phản ứng của giới trí thức trong Nam trước những chính sách quái đản được áp dụng sau 1975. Họ vận hành theo tư duy rặt mùi cộng sản.

Cứ đến ngày kỷ niệm nào đó họ hỏi có thành tích khoa học gì để chào mừng và nhận được câu trả lời của thầy Phạm Biểu Tâm: “Không có thứ khoa học nào gọi là khoa học chào mừng cả”. Sau này trong một lần họp bàn về cách giải quyết hệ thống nước bị đục, giáo sư Phạm Biểu Tâm không phát biểu gì cả. Đến khi bị ông Võ Văn Kiệt gặn hỏi, giáo sư Tâm vốn rất quý ông Kiệt, chỉ nói đơn giản “Từ ngày mấy anh về, cái đầu trí thức khoẻ, vì cái gì cũng đã có các anh nghĩ hết. Nước là chuyện mấy anh đâu phải chuyện tụi tui”.  [đảng vốn hay khoe khoang: cái gì đảng cũng biết tuốt, cũng chỉ đạo hết…Gs Phạm Biểu Tâm mỉa mai đảng qua câu trả lời này- TH] Đối với giới trí thức miền Nam ngày ra mắt đầu tiên của chính quyền không hề thuyết phục được họ. (Và) Cho đến bây giờ tình hình vẫn thế.

Bên thắng cuộc đã trở thành một tác phẩm bán chạy. Nếu được công bố ở trong nước tôi nghĩ chắc chắn bộ sách sẽ qua mặt bất cứ cuốn sách nào đang có trên thị trường. Đọc xong bộ sách tôi hiểu được tại sao nó nổi tiếng.

Theo tôi, Bên thắng cuộc được nhiều người quan tâm vì trong đó có rất nhiều những câu chuyện hậu trường chính trị. Đặc biệt hơn là tất cả những câu chuyện hậu trường đều nói lên những hình ảnh tiêu cực của giới lãnh đạo CSVN. Khó tìm một câu chuyện nào mang tính tích cực trong sách. Trong đó có những con người ít học nhưng ngạo mạn. Đó là những con người đạo đức giả. Đó là những con người sẵn sàng chấp nhận đớn hèn để sống trong môi trường tàn ác. Đó là những con người tàn nhẫn và xảo trá. Những cá tính lãnh đạo như thế là tác giả của những quyết sách đi từ sai lầm này đến sai lầm khác. Họ dẫn đất nước bỏ mất cơ hội hết năm này sang năm khác. Những câu chuyện như thế giúp cho chúng ta nhìn thấy rõ hơn cái tâm kém và cái trí thấp của một số đông lãnh đạo chóp bu và giải thích tại sao đất nước và dân tộc chúng ta đã quá bất hạnh trong suốt 70 năm qua. Họ là nguyên nhân gần và tác nhân trực tiếp đã đưa đất nước nghèo hèn như hiện nay. Họ phải chịu trách nhiệm trước lịch sử.

Posted in Sách- Báo- Hồi Ký, Sách-Hồi Ký-Bài Báo... | Tagged: | 4 Comments »

Trần Trọng Kim với Việt Nam Sử Lược- Chính phủ đầu tiên của nước Việt Nam độc lập và thống nhất xuất hiện vào tháng 4-1945

Posted by hoangtran204 trên 21/01/2012

Chính phủ đầu tiên của nước Việt Nam độc lập và thống nhất đã ra đời vào tháng 4-1945 với 11 thành viên trong nội các do Thủ Tướng Trần Trọng Kim đứng đầu đã làm cho ông Hồ Chí Minh và đảng cộng sản Việt Nam ghen tức và tung tin, nói xấu, chụp mũ chính phủ này là bù nhìn của Nhật. Một trong những cách đánh giá người nào, ta hãy đọc qua những gì mà họ viết. Với Thủ tướng Trần Trọng Kim, ta hãy đọc qua một trong những tác phẩm có giá trị nhất theo nhiều sử gia Việt Nam đánh giá.

Cuốn Việt Nam Sử Lược của sử gia Trần Trọng Kim ấn bản trên mạng, gồm 252 trang, download 3 Mb. Cuốn sử này cũng được post trên vnthuquan.net. “là tác phẩm do nhà sử học Trần Trọng Kim biên soạn năm 1919. Tác phẩm này là cuốn sách lịch sử Việt Nam đầu tiên viết bằng chữ quốc ngữ, hệ thống lại toàn bộ lịch sử nước Việt (cho đến thời Pháp thuộc) và được đánh giá là một trong những cuốn sách sử Việt Nam có phong cách ngắn gọn, súc tích và dễ hiểu. Sách được xuất bản lần đầu tiên vào năm 1921 và được tái bản rất nhiều lần, có lúc đã được dùng làm sách giáo khoa tại miền Nam trước năm 1975.

Trích dẫn từ Việt Nam sử lược của Wikipedia, Bách khoa Toàn thư Mở.


Trần Trọng Kim với Việt Nam Sử Lược

danluan.org

Mai Khắc Ứng
ttk.jpg

                                                       ảnh: Trần Trọng Kim

Một buổi chiều cuối năm 1962, sau hồi kẻng “thu không” khoảng 15, tôi theo thầy Trần Quốc Vượng ra khỏi lớp. Lúc đó, mấy lối đi về phía nhà ăn của Ký túc xá Láng học trò trường Trung học Trung Hoa và sinh viên Khoa Xã hội trường Đại học Tổng hợp đã gõ đũa vào bát lanh canh.

Là một học sinh xuất thân từ trường Bổ túc Văn hoá Công Nông Nghệ An, vì trường ở Cổng Chốt cháy phải ra Đông Triều rồi vào Đại học, tôi có tuổi đờì xấp xỉ tuổi thầy, nên tình thầy trò cũng là tình anh em. Thân thiện và cởi mở đã tạo cho tôi nhiều cơ hội gần gũi các thầy.

Đi dọc hành lang từ lớp ra đường trục, thầy Vượng đảo mắt rất nhanh rồi khe khẽ nhắc tôi: “Hãy tìm cuốn Việt Nam Sử Lược của Trần Trọng Kim mà đọc”. Lời căn dặn dè dặt chỉ đủ cho tôi nghe nhưng sao mà ấm áp vậy. Việt Nam Sử Lược như một dòng sữa ngọt rót vào tâm hồn tôi từ buổi chiều đáng nhớ đó.

“Thánh nhân đãi khù khờ”. Thầy Đặng Huy Vận đã lôi dưới đáy rương ra cho tôi mượn cuốn sách mà thầy Vượng khuyên tìm đọc. Việt Nam Sử Lược của Trần Trọng Kim thời đó là sách cấm. Phòng đọc hạn chế của Thư viện Quốc gia ở số 31 đường Trường Thi cũng không ló ra.

Thế là từ buổi chiều thủ thỉ ấy, tôi nhận biết một Trần Quốc Vượng bên trong Trần Quốc Vượng trên bục giảng của đời sống hiện đại. Theo chỉ bảo của thầy Vượng, tôi nghiền ngẫm cuốn sách này và mãi cho đến nay, mỗi lần cần viện đến chứng cứ lịch sử, tôi vẫn phải nhờ Trần Trọng Kim.

Lời khuyên thật lòng đó với tôi hơn vạn bài giảng văn hoa cao xa dông dài. Viết như vậy mới đích thực là nhà sử học. Có nói có. Không nói không. Sai nói sai. Đúng nói đúng. Dường như mọi diễn biến lịch sử trên đất nước ta trước thế kỷ XX, tác giả không bỏ sót một sự kiện quan trọng nào. Minh bạch, mạch lạc, rõ ràng trình ra trên từng dòng, từng trang sách. Tác giả không đứng về một họ chỉ để viết cho dòng họ ấy mà đứng trên cái chung để viết cho mọi độc giả. Quan điểm riêng của người viết là ở phần nhận xét đánh giá kết luận. Công bằng và khách quan đấy chứ. Điều đó khác với mọi cuốn sử, sách giáo khoa văn sử về sau. Đương nhiên tác giả cũng là một con người. Đã là con người thì mấy ai tránh khỏi lệ “nhân vô thập toàn”. Hạn chế của tác giả nằm vào năm 1919 khi ông mới ngoài 30 tuổi, mà phần nhân loại sinh tụ trên lãnh thổ Việt Nam còn tối tăm mù mịt. Pháp đó. Vua quan đó. Người viết phải lách là điều hiển nhiên. Không lách là không có sách. Lách nhưng không hèn. Một ngôi sao trong đêm tối toả sáng đến vậy là đủ dẫn dắt rồi. Đó là điều đáng kính phục. Trần Trọng Kim không làm hài lòng ai khi ông nặng lời lên án Hồ Quý Ly tàn bạo, gian manh, lên án Mạc Đăng Dung cướp ngôi nhượng đất. Về lịch sử, ông viết hoàn toàn dựa trên cứ liệu lịch sử. Về quan điểm khen hay chê thuộc quyền riêng của mỗi người. Điều bất bình thường hiện nay là hễ ai không phụ hoạ mình là xấu, là sai, là thù. Cái lẽ nhất thời này không nằm trong phương pháp luận sử học. Ngoài ông, ngoài tôi còn có bàn dân, còn có mai sau.

“Nhìn về quá khứ để xây dựng tương lai bền vững” đang được nhiều quốc gia phát triển chọn làm phương châm xử thế. Sử học góp phần giúp điều chỉnh xã hội chính là chỗ đó. Ngược lại. Đương nhiên là lộn đường.

Xin trích vài đoạn trong Việt Nam Sử Lược:

4. Nghệ Tông thất chính – Vua Nghệ Tông tuy giữ quyền chính trị, nhưng việc gì cũng do ở Lê Qúi Ly. Triều thần thì chỉ có những mặt xu nịnh, người nào cũng chỉ lo lấy thân mà thôi, việc nước an nguy thế nào không ai lo nghĩ đến. Những người tôn thất như Trần Nguyên Đán thấy quốc chính rã rời, xin về trí sĩ. Một hôm Thượng hoàng đến thăm bàn đến hậu sự, Nguyên Đán tâu rằng: “Xin bệ hạ thờ nhà Minh như cha, yêu nước Chiêm thành như con, thì quốc gia sẽ không việc gì, mà lão thần chết cũng không hẩm!” Ấy là chỉ bàn những chuyện làm tôi tớ mà thôi, chứ không có chí muốn cho nước mình cường thịnh. Nguyên Đán biết rằng Quí Ly rồi tất cướp ngôi nhà Trần, liên kết làm thông gia, vì thế cho nên sau dòng dõi nhà Trần chết cả, duy chỉ có con cái nhà Nguyên Đán được phú quý mà thôi.

Nghệ Tông Thượng hoàng thì cứ mờ mịt không biết ai trung ai nịnh, vẫn tưởng là Lê Quí Ly hết lòng với nhà vua, bèn cho Lê Quí Ly gươm và cờ có chữ đề rằng: “Văn võ toàn tài, quân thần dũng đức”. Lê Quí Ly làm thơ nôm dâng tạ.

5. Lê Quí Ly mưu giết đế hiền – Bấy giờ Đế Hiển thấy Thượng hoàng yêu dùng Quí Ly, mới bàn với các quan rằng nếu không trừ đi rồi sau tất thành ra vạ to. Quí Ly biết mưu ấy, đến kêu van với Thượng hoàng rằng: cổ lai chỉ bỏ cháu nuôi con, chứ chưa thấy ai bỏ con nuôi cháu bao giờ. Thượng hoàng nghe lời, xuống chiếu trách Đế Hiển còn tính trẻ con và lại có ý hại kẻ công thần, làm nguy xã tắc; vậy phải giáng xuống làm Minh đức đại vương, và lập Chiêu định vương là con Nghệ tông lên nối ngôi.

Khi tờ chiếu ấy bố cáo ra ngoài, có mấy người tướng quân đã toan đưa quân vào điện cứu Đế Hiển ra, nhưng vua viết hai chữ “giải giáp” và không cho được trái mệnh của Thượng hoàng. Sau Đế Hiển bị thắt cổ chết, còn những tướng sĩ đồng mưu giết Quí Ly đều bị hại cả” (Việt Nam Sử Lược, tr. 174, 175, tái bản lần thứ 6, Sài Gòn, 1960)

3. Nghệ Tông mất-Đến tháng chạp năm giáp tuất (1394) thì Thượng hoàng mất. Trị vì được 3 năm, làm Thái Thượng hoàng 27 năm, thọ 74 tuổi.

Nghệ tông là ông vua rất tầm thường, chí khí đã không có, trí lự cũng kém hèn, để cho kẻ gian thần lừa đảo, giết hại cả con cháu họ hàng, xa bỏ những kẻ trung thần nghĩa sĩ; cứ yêu dùng một Quí Ly, cho được quyền thế, đến nỗi làm xiêu đổ cơ nghiệp nhà Trần.

Dẫu rằng đến khi vận nước đã suy, không có điều này cũng có điều nọ, tựa hồ người đã già không phải bệnh nọ thì cũng mắc bệnh kia, nhưng cứ sự thực mà xét, thì cũng vì vua Nghệ tông cho nên cơ nghiệp nhà Trần mới mất về tay Quí Ly; mà cũng vì sự rối loạn ấy, cho nên giặc nhà Minh mới có cơ sở mà sang cướp phá nước Nam trong 20 năm trời.

Một điều Trần Trọng Kim không viết, nhưng chắc ông cũng thừa biết là Trần Nghệ Tông đã thay Trần Thủ Độ trả món nợ cũ cho nhà Lý đấy thôi.

Nhân – Quả mà.

Quí Ly bắt Thuận tông nhường ngôi rồi, lập Thái tử là Án lên làm vua. Thái tử bấy giờ mới có 3 tuổi, tức là Thiếu đế, niên hiệu là Kiến tân

Lê Quí Ly làm phụ-chính tự xưng làm Khâm-đức hưng liệt đại vương, rồi sai người giết Thuận tông đi.

Bấy giờ triều đình có những người như là Thái bảo Trần Nguyên Hãn, Thượng tướng quân Trần Khát Chân lập hội để mưu trừ Quí Ly, chẳng may sự lộ ra, bị giết đến 370 người.

Lê Quí Ly lại xưng là Quốc tổ chương hoàng, ở cung Nhân thọ, ra vào dùng nghi vệ của Thiên tử. Đến tháng hai năm canh thìn (1400) Quí Ly bỏ Thiếu đế rồi tự xưng làm vua thay ngôi nhà Trần”. (Sdd, tr.177 – 181)

Sau đó không lâu thì lời thề “Nếu hạ thần không hết lòng, hết sức giúp nhà vua, thì trời tru đất diệt” ứng nghiệm.

Có hay không những điều như thế ở thời Trần mạt là điều cần bàn, cần xác minh. Còn việc khen hay chê Lê/Hồ Quí Ly lại thuộc về nhận thức, quan điểm, thái độ của mỗi cá nhân. Người cho như thế là bất lương gian hùng, thì chê. Thiết nghĩ khen hay chê đều thuộc về nhân tâm, về nhận thức mà cũng là quyền sơ đẳng của mỗi con người.

Một người viết lịch sử rạch ròi, phân minh như Trần Trọng Kim, thì hẳn nhân cách của ông ra sao cũng là điều đáng cho ta suy ngẫm.

Trần Trọng Kim bị/được chỉ định thành lập Chính phủ, trình danh sách Nội các lên vua Bảo Đại phê chuẩn vào ngày 17-4-1945 và ra mắt Quốc dân 2 ngày sau đó (19 – 4 – 1945)

Như chúng ta đều biết, vào thời điểm này Chiến tranh thế giới lần thứ hai đã bước vào giai đoạn kết. Hồng quân Liên Xô đang dũng mãnh tấn công phát xít Đức. Phe Đồng Minh mở mặt trận mới. Nhật liên tiếp chiến bại chịu nhiều tổn thất nặng nề. Paris đã được giải phóng. Charles de Gaulle lăm le giành lại thuộc địa. Các nước phương Đông đang tìm cách thoát khỏi ách thống trị thực dân. Nước ta trong khoảnh khắc đó giống như một con thuyền giữa sóng gió giông bão chưa rõ người chống chèo. Trong lúc nguy nan, ai dám nhảy ra nên được coi là tiên phong dũng cảm. Bởi nước là của chung. Mọi người yêu nước đều có quyền cứu nước theo suy nghĩ, hiểu biết, tấm lòng và năng lực của mình. Sự lựa chọn của số nhân sĩ trí thức tập hợp chung quanh Trần Trọng Kim diễn ra giữa bối cảnh Pháp sắp quay lại, Nhật sẽ ra đi. Từ tình thế nước sôi lửa bỏng lúc đó nên chọn ai? Pháp hay Nhật? Tìm điểm tựa mà thực hiện mục tiêu giành độc lập dân tộc một cách ôn hoà không đổ máu giữa hai đối tượng này cũng là một bài toán theo yêu cầu tình thế. Phong trào Đông du để đánh Pháp của Phan Sào Nam chưa xa, nhất là đối với người Nghệ. Phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh còn gần hơn mà tầng lớp nhân sĩ, trí thức lại sợ “Trí, phú, địa, hào đào tận gốc, trốc tận rễ” là chuyện đã xảy ra. Xin đừng coi sự lựa chọn trong tình cảnh chẳng đặng đừng để nhờ vả mà tìm một lối thoát cho quốc gia dân tộc là cúi đầu làm tay sai. Đã đến lúc phải nói với nhau rằng không phải hễ khác mình đều là kẻ thù. Trăm nẻo đường có thể đến cùng một đích. Xin hãy trọng nhau sự chung lòng đó.

Là một học giả sinh ra không để làm chính trị, không hề có tham vọng quyền lực, Trần Trọng Kim thực sự chưa hề chuẩn bị làm chính khách đứng ra thành lập Chính phủ. Nhân tình thế chủ quan, khách quan của đất nước nửa đầu năm 1945 và qua những lần tiếp xúc với một nhà ngoại giao Thái Lan, Trần Trọng Kim trăn trở, vỡ lẽ, nhận ra con đường thực thi phận sự công dân trước vận mệnh Tổ quốc. Hình hài về một thể chế Quân chủ Lập hiến kiểu Thái Lan bắt đầu manh nha trong tấm lòng nhà sử học – tác giả của một tác phẩm lịch sử để đời.

Tôi muốn nói điều này vì Chính phủ Trần Trọng Kim thành lập đơn giản bao nhiêu thì cáo chung cũng nhẹ nhàng, thanh thản bấy nhiêu. Dường như không có ai trong số những người được cơ cấu Nội các Trần Trọng Kim cay cú bực dọc phản ứng thù hận. Và, nếu họ là bù nhìn tay sai Nhật thực sự thì ngay thời điểm đó và cả sau này nữa, nhiều lần ta cần viện đến họ, vẫy gọi họ làm gì! “Hãy nói rõ bạn anh cho tôi. Tôi sẽ biết anh là người thế nào”.

Xin liệt kê ra đây danh sách Nội các Trần Trọng Kim:

1. Trần Trọng Kim, Giáo sư, Học giả, nhà Sử học: Thủ tướng.
2. Trần Văn Chương, Luật sư: Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao.
3. Trần Đình Nam, Y sĩ: Bộ trưởng Nội vụ.
4. Trịnh Đình Thảo, Luật sư: Bộ trưởng Tư pháp.
5. Hoàng Xuân Hãn, Thạc sĩ Toán: Bộ trưởng Giáo dục và Mỹ nghệ.
6. Vũ Văn Hiền, Luật sư: Bộ trưởng Tài chính.
7. Phan Anh, Luật sư: Bộ trưởng Thanh niên.
8. Lưu Văn Lang, Kỹ sư: Bộ trưởng Công chính.
9. Vũ Ngọc Anh, Bác sĩ: Bộ trưởng Y tế.
10. Hồ Tá Khanh, Bác sĩ: Bộ trưởng Kinh tế.
11. Nguyễn Hữu Thi, cựu Y sĩ: Bộ trưởng Tiếp tế.

Ngoài 11 thành viên Nội các, Chính phủ Trần Trọng Kim còn bổ nhiệm mấy vị sau đây đảm nhận trọng trách ở các địa phương xung yếu:

– Phan Kế Toại: Khâm sai Bắc bộ.

– Nguyễn Văn Sâm: Khâm sai Nam bộ.

– Trần Văn Lai: Đốc lý Hà Nội.

– Đặng Văn Hướng: Tổng đốc Nghệ An.

– Kha Vạn Kân: Đô trưởng Sài Gòn.

Trong số 16 người trên, phần nhiều về sau đã trở thành cán bộ cao cấp của Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.

Thiết nghĩ nếu họ là bù nhìn tay sai Nhật thì sao được vậy. Chẳng lẽ cùng Nội các mà Thủ tướng là bù nhìn tay sai Nhật, còn các thành viên khác thì không? 10 thành viên Nội các với 5 quan chức trọng trấn gắn bó chung quanh Trần Trọng Kim toàn là người có học vị, có uy tín. Nghĩa là đủ trình độ nhận biết bản chất vị Thủ tướng của mình. Họ thực lòng cộng sự đã nói lên nhân cách và uy tín của Trần Trọng Kim.

Điều không may cho Trần Trọng Kim là trước áp lực của tình thế với sự chỉ định của Quốc trưởng và tín nhiệm của đồng liêu ông phải làm Thủ tướng. Giá như Hoàng Xuân Hãn hoặc Phan Anh, Trịnh Đình Thảo hay Phan Kế Toại, thậm chí Trần Văn Lai, Kha Vạn Kân làm Thủ tướng thì Trần Trọng Kim tránh được “búa rìu của dư luận”. Và, nếu như Trần Trọng Kim thành lập Chính phủ bù nhìn thân Nhật sau ngày 19 – 8 – 1945 thì rõ ràng đúng như Giáo sư Vũ Ngọc Khánh viết: “Ông đã chọn lầm đường để chịu búa rìu dư luận”. Nhưng tháng 4 trước tháng 8 những 4 tháng. Thời điểm đó, Nhật không thể liên minh với Pháp để cùng chia sẻ Đông Dương. Người Việt Nam không thể dựa vào Pháp để giành độc lập. Tạm thời bắt tay với Nhật để yên thân thành lập một Chính phủ hợp hiến tìm sự ủng hộ của công luận trong và ngoài nước, trước khi Pháp gây hấn là toan tính khôn khéo của Trần Trọng Kim và Chính phủ. Pháp lo sợ điều này và săn đuổi Trần Trọng Kim là lẽ đương nhiên. Chẳng lẽ vì Pháp nghi ngờ nên ta cũng nghi ngờ theo. Một điều không nói ra nhưng ai cũng biết là Pháp quay lại Việt Nam lần này với hai sứ mạng. Một là giành Đông Dương từ tay Nhật bại trận. Hai là ngăn chặn sự phát triển của chủ nghĩa Cộng sản. Chính phủ Trần Trọng Kim là trở lực của hai sứ mạng đó.

Tôi thích thú khi đọc được những dòng sau đây: “cho đến nay ta chưa phát hiện được tài liệu gì về vấn đề này (tay sai Nhật). Do ông và cả Nhật cố tình giữ kín nên không ai biết”. Không ai biết sao lại viết “ông và cả người Nhật cố tình giữ kín!”. Thì ra chê để vòng vo mà thanh minh, mà trình làng rằng mọi lời buộc tội Trần Trọng Kim làm tay sai Nhật đều là vũ đoán, đồn đại, không có cơ sở. Tất cả chỉ để vu vạ kiểu “cả vú lấp miệng em” đó thôi. Bởi, nếu cho rằng mọi sự bắt tay trong quan hệ bang giao là tay sai thì tội cho những người trước và sau Trần Trọng Kim lắm lắm.

Có một chi tiết đáng được lưu ý là Trần Trọng Kim và thành viên Nội các đang lựa chọn sắp xếp, khẩn thiết yêu cầu Nhật mở cửa các nhà tù của Pháp, ân xá toàn bộ chính trị phạm không điều kiện ngay lập tức trước khi thành lập Chính phủ. Nhật đã nhượng bộ. Nhờ vậy, Trương Văn Lĩnh cùng nhiều chiến sĩ ra khỏi nhà tù Hoả Lò và các nhà tù khác trên cả nước từ tháng 3 – 1945, kịp thời tham gia Tổng khởi nghĩa.

Với tôi, Trần Trọng Kim qua Việt Nam Sử Lược là một người yêu nước thành tâm, một nhà sử học chân chính, trung thực, một người cầm bút có nhân cách, một học giả xuất sắc đã cống hiến phần trí tuệ, chí ít cho các thế hệ nửa đầu thế kỷ XX và Chính phủ Trần Trọng Kim là sản phẩm của tình thế với hoài bão bước đầu thực thi thể chế Quân chủ lập hiến đặt nền móng cho mô hình “Dân chủ Đại nghị” cổ điển về sau, của lớp nhân sĩ tri thức cũ biết lường trước hoạ binh đao nên tha thiết nhân nhượng, dung hoà.

Để cùng lớn lên xin đừng sợ sự thật.

Nguồn: Tạp chí Xưa&Nay
Số 346 (12/2009)

Posted in Cách Mạng Mùa Thu 1945 không hề xảy ra, Sách- Báo- Hồi Ký | 1 Comment »