Trần Hoàng Blog

Archive for Tháng Ba, 2012

Đại biến động trong trung tâm quyền lực Trung Quốc

Posted by hoangtran204 trên 31/03/2012


Ông Uông Dương, bí thư Quảng Đông (trái)
và ông Bạc Hy Lai, cựu bí thư Trùng Khánh. REUTERS


Trung Quốc đang trong quá trình chuẩn bị thế hệ lãnh đạo thứ 5.
Vậy, việc ông Bạc Hy Lai bị cách chức ngày 15/03/2012 đánh dấu sự thắng thế của « mô hình Ô Khảm » đối với « mô hình Trùng Khánh » ? Phe Đoàn Thanh niên cộng sản lấn lướt được phe « Hoàng tử đỏ » ? RFI dịch và giới thiệu bài « Đại biến động trong trung tâm quyền lực Trung Quốc » của Arnaud de la Grange, thông tín viên báo Le Figaro tại Bắc Kinh.

Ông Vương Lập Quân từng lãnh đạo ngành công an Trùng Khánh

Tất cả đã bắt đầu từ buổi tối mùa đông giá lạnh, trong một bầu không khí có hương vị chiến tranh lạnh. Thế nhưng, nếu kịch bản câu chuyện giống như một bộ phim Hollywood, thì các diễn viên lại hoàn toàn có thật, và đó là các nhân vật chính yếu của một nước Trung Quốc, cường quốc kinh tế đứng hàng thứ hai trên thế giới. Ngày 06 tháng Hai vừa qua (2012), ông Vương Lập Quân đến, hay đúng hơn là đến tỵ nạn, tại lãnh sự quán Mỹ ở Thành Đô, thủ phủ tỉnh Tứ Xuyên.

Ông Vương là phó thị trưởng Trùng Khánh, siêu đô thị với 30 triệu dân, cách Thành Đô khoảng ba giờ đường bộ. Ông chịu trách nhiệm về an ninh và chính viên « siêu cảnh sát » này, với phương cách hành xử « cơ bắp », đã tiến hành cuộc chiến chống lại các « hắc đảng », những thế lực mafia ở địa phương. Với vị trí này, ông là thuộc hạ thân tín của lãnh đạo Đảng ở Trùng Khánh, ông Bạc Hy Lai, một gương mặt quan trọng trong bộ máy lãnh đạo chính trị Trung Quốc, một trong những nhân vật đang khao khát có chân trong Thường vụ Bộ Chính trị trong dịp thay đổi thành phần vào mùa thu tới. Nhưng bước đường hướng tới tầm cỡ lãnh đạo quốc gia của ông Bạc Hy Lai chắc chắn đã dừng lại hôm thứ Năm vừa qua (15/03) với việc ông bị cách chức.

Tại Thành Đô, vào tối tháng Hai đó, các sự kiện nhanh chóng mang dáng dấp thảm kịch. Trên Vi Bác, mạng xã hội Twitter Trung Quốc, các cư dân mạng nói là có hàng chục xe của lực lượng cảnh sát và bán vũ trang được triển khai xung quanh cơ quan đại diện Mỹ. Ông Vương Lập Quân đã ở trong lãnh sứ quán khoảng 24 giờ. Điều gì đã xẩy ra trong suốt những giờ phút dài đằng đẵng đó. Vẫn hoàn toàn bí ẩn. Ngưòi ta nói rằng quan chức cao cấp này dường như xin tỵ nạn chính trị tại Mỹ. Vô ích. Các nhà ngoại giao Mỹ đã khẳng định, đúng là ông Vương đã tới Thành Đô, nhưng ông đã « tự nguyện » rời khỏi lãnh sự quán và họ không tiết lộ gì thêm nữa.

Người ta tưởng tượng đến bầu không khí sôi sục giữa hai cường quốc lớn, những cú điện thoại của các quan chức Trung Quốc cảnh báo những mối nguy hiểm về một cuộc phiêu lưu như vậy… Trong một cuộc nói chuyện với đài truyền hình Phượng Hoàng Hồng Kông, vào tuần trước, thị trưởng Trùng Khánh Hoàng Kỳ Phàm (Huang Qifan) đã nhả ra một vài thông tin. Ông thổ lộ là đã bỏ ra 2-3 tiếng đồng hồ để dỗ dành, thuyết phục ông Vương Lập Quân ra khỏi lãnh sự quán Mỹ. Do vậy, ông cho là đã tránh được một cuộc « khủng hoảng ngoại giao » nghiêm trọng.

Trên thực tế, tối 07/02, ông Vương ra khỏi nơi tỵ nạn tạm thời. Các nhân viên an ninh quốc gia đón ông. Ngay hôm sau, 08/02, ông Vương được đưa lên Bắc Kinh bằng máy bay, từ đó, ông bị thẩm vấn trong những điều kiện được giữ bí mật. Cũng trong ngày hôm đó, một thông cáo cho biết ông Vương nghỉ phép vì « làm việc quá sức »… Câu chuyện « Thanh tra Eliot Ness Trùng Khánh » có cảm hứng từ bộ phim truyền hình nhiều tập nổi tiếng (*). Ông Vương giờ đây đã khoác bộ trang phục mầu xám của « kẻ phản bội », bị nghi ngờ tham nhũng và có những phương cách làm việc phạm luật.

Khi chấp nhận rủi ro « được ăn cả, ngã về không » này, phải chăng tính mạng ông Vương bị đe dọa ? Ông đã mang theo những hồ sơ gì khi vào lãnh sự quán Mỹ ? Báo chí Hồng Kông nói rằng ông có một số thông tin bất lợi cho ông Bạc Hy Lai, rằng nhiều ngày trước khi xẩy ra sự cố, ông Vương đã viết một bức thư gửi cơ quan đáng gờm là Ban Thanh tra Kỷ luật Trung ương Đảng, cấp báo về một số việc bất hợp lệ của thủ trưởng ông ta. Cũng không quan trọng lắm. Điều cơ bản là vụ việc đã làm dấy lên một cơn bão chính trị dữ dội nhất mà Trung Quốc chưa hề thấy từ rất lâu nay và làm lộ rõ những biến động trong việc chuyển giao quyền lực chính trị năm 2012, một sự kiện mà mỗi thập niên chỉ xẩy ra một lần tại đây. Ở Trung Quốc cũng vậy, « chiến dịch vận động tranh cử » – theo kiểu chủ nghĩa xã hội thị trưòng – đã thực sự được khởi động. Và dao nhọn đã được rút ra trong cuộc đấu đá giữa các phe phái khác nhau, giữa các đường lối khác nhau.

Trong những trận chiến trong bóng tối này, chỉ thỉnh thoảng người ta mới trông thấy ánh phản quang của dao. Theo thông lệ, đấu đá chỉ diễn ra trong bóng tối. Giống như thời cổ xưa của Liên Xô và của kiểu nghiên cứu « Kremlin học », người ta chỉ có thể phỏng đoán, tìm kiếm những điểm khác biệt tinh tế trong những lời phát biểu lạnh lùng, bài bản theo kiểu «lưỡi gỗ », dò xem kỹ lưỡng những bức ảnh chính thức để đếm kẻ vắng mặt, người hiện diện, đánh giá về thứ hạng của các nhân vật trong bộ máy quyền lực tùy theo vị trí của họ…Đúng vậy, trong những ngày vừa qua, kỳ họp thường niên của Quốc hội là dịp để quan sát, phỏng đoán. Hôm thứ Năm, các nhà quan sát bình luận nhiều về sự vắng mặt của ông Bạc Hy Lai trong một cuộc họp quan trọng của Bộ Chính trị. Ông đã cho biết là bị « cúm nhẹ ». Hôm sau, ông tham gia vào một cuộc gặp với báo chí của đoàn đại biểu Trùng Khánh. Vào dịp đó, ông thừa nhận « khuyết điểm không giám sát».

«Chín Hoàng đế»

Có hai dữ kiện xác định khuôn khổ các cuộc đối đầu đang diễn ra. Dữ kiện đầu tiên là tính lãnh đạo tập thể tại Trung Quốc mà trung tâm quyền lực là Ban Thường vụ Bộ Chính trị, với chín thành viên, được gọi là « Chín Hoàng đế ». Chính từ đây mà những thoả hiệp được hình thành, những đồng thuận chung được đưa ra. Cần phải biết là tầng lớp cao cấp trong giới lãnh đạo cộng sản không hề là một khối thống nhất. Có những người có khuynh hướng bảo thủ hơn, có những người có khuynh hướng cải cách hơn, và nhất là tầng lớp này lại chia thành vài phe phái lớn với những liên minh đôi khi đan chéo nhau. Dữ kiện lớn thứ hai, đó là sự cần thiết đối với vị chủ tịch mãn nhiệm giữ được các phương tiện chi phối quyền lực, vì nên biết rằng thế hệ thứ 5 các nhà lãnh đạo Trung Quốc sẽ cầm cương điều khiển đất nước trong 10 năm trời, tới tận năm 2022. Như ông Giang Trạch Dân đã làm cách nay 10 năm, chủ tịch Hồ Cẩm Đào phải xếp đặt càng nhiều người của ông càng tốt vào trong bộ máy quyền lực cao nhất, để giữ được khả năng tác động, chi phối.

Do đó, vụ ông Bạc Hy Lai, có thể được diễn giải nhiều cách khác nhau. « Tất cả các diễn giải này vừa đúng vừa sai », như lời một nhà ngoại giao. Đó là cuộc chiến giữa hai phái, phái Đoàn Thanh niên Cộng sản và phái « con các hoàng tử », hoặc đó là cuộc chiến giữa « mô hình Trùng Khánh », bảo thủ hơn, và « mô hình Ô Khảm », cải cách hơn. Trong trường hợp thứ nhất, có lẽ trước hết là cuộc đấu đá giữa các nhân vật vì quyền lực. Trong trường hợp thứ hai, đó là một sự đối chọi giữa hai tầm nhìn về một nước Trung Hoa trong tương lai.

Cuộc chiến giữa hai phái gần như là một sự đối đầu của « giới quan chức chống lại các hoàng tử ». Thực vậy, một bên là Đoàn Thanh niên mà thủ lĩnh là chủ tịch Trung Quốc hiện nay, ông Hồ Cẩm Đào. Trong nhiều trường hợp, đó là những người xuất thân từ giới bình dân và nhờ công trạng mà lên cao trong bộ máy chính quyền. Như vậy, họ không có « máu xanh – có dòng dõi quý tộc ». Bên kia chiến hào là phe « con các hoàng tử » trong đó có ông Tập Cận Bình, mà ai cũng cho rằng ông sẽ là chủ tịch tương lai của Trung Quốc. Họ là thành viên của tầng lớp quý tộc đỏ, hậu duệ của những anh hùng lập ra nền Cộng hòa Nhân dân.

Đối với ông Lâm Hoà Lập (William Lam), người am hiểu những điều bí mật trong bộ máy quyền lực Trung Quốc, giờ đây, người ta đang chứng kiến việc xem xét lại một thỏa hiệp đã đạt được hồi năm ngoái, dựa trên việc chia ba số ghế trong cơ cấu quyền lực « Chín Hoàng đế » : Ba ghế cho phái Đoàn Thanh niên, ba ghế cho phe các hoàng tử, trong đó có ông Tập Cận Bình và ba ghế cho các phe phái khác. Trong một bài viết của Jamestown Foundation, ông Lâm Hòa Lập cho rằng ông Hồ Cẩm Đào và các thuộc hạ của ông đã chỉ đạo « sự bất trắc » Trùng Khánh, thúc đẩy nhanh sự sụp đổ của ông Bạc Hy Lai. Chỉ còn cần đồng thuận với nhau về người thay thế ông Bạc Hy Lai…

«Sự phá sản của mô hình Trùng Khánh»

Về thực chất, dường như cũng có sự đối đầu giữa hai mô hình. Mô hình Trùng Khánh mà ông Bạc Hy Lai muốn thấy toàn Trung Quốc áp dụng. Đó là một dạng thỏa hiệp kết hợp giữa việc quay trở lại tư tưởng bình đẳng kiểu Mao và một sự mở cửa về kinh tế dưới sự kiểm soát chặt chẽ của Nhà nước.

Mô hình kia, mà một số người, từ nay coi đó là « mô hình Ô Khảm », ý muốn nói tới khu làng nổi dậy ở miền nam Trung Quốc vừa mới thực hiện cuộc bỏ phiếu cấp địa phương tự do đầu tiên. Ngưòi đã giải quyết cuộc khủng hoảng này là vị đứng đầu tỉnh Quảng Đông, ông Uông Dương (Wang Yang). Đây là người được chủ tịch Hồ Cẩm Đào che chở, cũng có thể sẽ tham gia vào nhóm Chín Hoàng đế và là đối thủ chính của ông Bạc Hy Lai. (ông Uông Dương (Wang Yang) Được coi là người rất ủng hộ tự do kinh tế, ông chủ trương phải mạnh dạn hơn nữa trong cải cách, qua việc giảm vai trò của Đảng, nới lỏng hơn sự kiềm chế đối với xã hội dân sự. Một nhân vật chủ chốt trong phe tân tả theo tư tưởng Mao, ông Dương Phàm (Yang Fan), tác giả một cuốn sách ca ngợi ông Bạc Hy Lai, tựa đề « Mô hình Trùng Khánh », vừa thừa nhận là cần có thêm một cái nhìn khác về trường hợp Ô Khảm…

Đối với ông Trương Minh (Zhang Ming), giáo sư ở đại học Nhân dân, việc cách chức ông Bạc Hy Lai báo hiệu sự « phá sản của mô hình Trùng Khánh và bật tín hiệu cho đường lối cải cách hiện đại hơn, nhưng không quá thiên tả ». Nhà nghiên cứu Trịnh Vĩnh Niên (Zheng Yongnian), thuộc Viện Đông Nam Á, đại học Quốc gia Singapore, nhận định, « cho đến nay, có một sự đối địch, tranh đua liên tục giữa hai đưòng lối này. Giờ đây, đường lối Trùng Khánh bị gạt bỏ, các lãnh đạo mới của Trung Quốc có thể tự do hơn nhằm tìm được đồng thuận chung và thúc đẩy cải cách. Điều này cũng phụ thuộc rất nhiều vào họ ».

Do đó, một số người tự hỏi phải chăng có một sự trùng hợp giữa vụ nổ chính trị và việc đăng trên các phương tiện truyền thông chính thống những bài viết có giọng điệu « cải cách » hơn là bình thường, kể cả về mặt xã hội và chính trị. Những người tấn công các « nhóm lợi ích » (từ này để chỉ những người đứng đầu các doanh nghiệp Nhà nước), vì các doanh nghiệp này dường như đã ngăn chặn sự cải cách (của Trung Quốc). Nếu có ai dựa vào các sự kiện này mà suy luận rằng thời của những đại cải cách đã đến, thì đó là điều viễn vông, vì vẫn còn một khoảng cách rộng bằng nước Trung Hoa. Thêm vào đó, việc trấn áp những tiếng nói bất đồng chính kiến vẫn không hề giảm. Và các giai đoạn quá độ vẫn chỉ đưa đến nguyên trạng. Chuyên gia Lâm Hòa Lập cũng lưu ý là các nhà lãnh đạo cộng sản có « truyền thống lâu đời sử dụng những nhân vật cải cách triệt để và những ngưòi có tư tưởng tự do về kinh tế như những con tốt trong các thủ đoạn chính trị, để rồi sau đó gạt bỏ chúng đi khi trận chiến giành quyền lực kết thúc ».

Đức Tâm

nguồn:vietthuc.org

(*) : Eliot Ness (1903 – 1957) là thanh tra cảnh sát nổi tiếng chống băng đảng tội phạm trong thời kỳ nước Mỹ cấm buôn bán rượu 1920 – 1930 (Probibition). Đây là đề tài của bộ phim truyền hình nhiều tập « The Untouchables », chiếu trên đài ABC từ 1959 đến 1963 tại Mỹ.

***********************************************

Vương Lập Quân bị nghi tham gia tội ác ‘thu hoạch nội tạng’

Vương Lập Quân (Wang Lijun), cựu Giám đốc Sở Công an và Phó thị trưởng siêu đô thị Trùng Khánh có thể đã tham gia vào hoặc là chỉ đạo việc thu hoạch nội tạng của các tù nhân lương tâm ở Trung Quốc, theo một bản báo cáo mới của một tổ chức nhân quyền điều tra về cuộc đàn áp Pháp Luân Công

Tổ chức Thế giới Điều tra Cuộc đàn áp Pháp Luân Công WOIPFG trong một bản báo cáo ngày 15 tháng 2 đã cho thấy sự liên quan của Vương Lập Quân với việc thu hoạch nội tạng của các tù nhân – một việc mà The Epoch Times đã đưa tin trước đây – và cũng cho thấy sự liên quan của ông ta tới cuộc đàn áp Pháp Luân Công. Bản báo cáo cũng nói rằng hai hoạt động này của ông ta nhiều khả năng là hội tụ với nhau.

TS. Tsuwei Huang thuộc Hội Pháp Luân Đại Pháp ở Washington, D.C.
TS. Tsuwei Huang thuộc Hội Pháp Luân Đại Pháp ở Washington, D.C., hôm 13/2 đã đề nghị chính phủ Mỹ công bố thông tin về việc cưỡng bức thu hoạch nội tạng mà theo báo chí đưa tin là đã nhận được từ Vương Lập Quân. (The Epoch Times)

Nghiên cứu và Tử hình

Từ tháng 5/2003 đến tháng 6/2008, Vương Lập Quân là Giám đốc và Bí thư Đảng ủy Sở Công an thành phố Jinzhou và từ 2004 trở đi ông ta cũng là Phó thị trưởng. Tuy nhiên, rõ ràng là ông ta đã dùng một số thời gian tham gia vào các việc không phải là chính thức.

Ông Vương cũng là Giám đốc “Trung tâm Nghiên cứu Tâm lý Hiện trường (OSPRC) thuộc Sở Công an Jinzhou, cùng nằm trong một tòa nhà.

Báo cáo đầu tiên có trên mạng Internet ở Trung Quốc về tổ chức này là từ năm 2005, khi Tin tức Buổi chiều Liaoshen đăng một bài phân tích sâu về các hoạt động của OSPRC. Trung tâm này đã được giao nhiệm vụ thực hiện việc thi hành án tử hình đối với hai tội phạm, có tác giả của bài báo và một nhóm chuyên gia chứng kiến. Khung cảnh như là một phòng thí nghiệm nghiên cứu khoa học, theo bài báo này.

“Trung tâm Nghiên cứu”, theo bài báo đó (lưu trữ), đã trở thành một nơi thi hành án tử hình nơi các nhà nghiên cứu và các chuyên gia có thể chứng kiến “toàn bộ quá trình tử hình một tử tù bằng cách tiêm thuốc độc.”

Số liệu thu thập được từ những án tử hình này sẽ “đóng góp rất nhiều cho việc nghiên cứu các vấn đề như quá trình chết của một tội phạm, những biến đổi sinh lý trước và sau khi tiêm thuốc độc vào một người khỏe mạnh, chất độc còn lại trong các nội tạng khác nhau sau khi tiêm thuốc độc, các diễn biến tâm lý của một người đang đối mặt với cái chết, cấy ghép nội tạng sau khi tiêm thuốc độc,” v.v… theo bản dịch bài báo của tờ Tin tức Buổi chiều Liaoshen của WOIPFG.

Vào năm 2006, khi ông Vương được nhận một giải thưởng cho các nỗ lực thu hoạch nội tạng của mình, ông ta đã miêu tả “trung tâm nghiên cứu tại hiện trường” của mình như là “hiện trường cấy ghép, giải phẫu tại chỗ, ghép tạng tại chỗ vào người nhận tạng,” theo một bài báo đăng trên trang web của Quỹ Dragon Design Foundation. Giải thưởng mà ông Vương nhận được là của Quỹ Khoa học Công nghệ Guanghua, một tổ chức phi lợi nhuận đã từng có liên kết với Quỹ Dragon Design Foundation, theo nhân viên của quỹ Dragon Design nói. Khi được liên hệ qua điện thoại, nhân viên ở cả hai tổ chức này đều không thể giải thích nhiều hơn về giải thưởng đó, và chỉ nói rằng nó đã bị chấm dứt.

WOIPFG tuyên bố rằng theo cuộc điều tra của chính mình thì ông Vương cũng đã giám sát một dự án có tên “Ghép tạng từ những người đã bị tiêm thuốc”, với sự tham gia của một số trường đại học và một bệnh viện quân y. Một bức ảnh đã được cung cấp về một áp-phích hay tư liệu tiếp thị trong đó OSPRC có trong nhan đề và các chi tiết về ghép tạng từ những người đã bị tiêm thuốc.

‘Vẫn còn sống’

Trong một cuộc phỏng vấn trước đây của The Epoch Times, ông David Matas, một luật sư nhân quyền Canada, cũng là một trong hai tác giả của bản báo cáo về thu hoạch nội tạng của các tù nhân Pháp Luân Công, nói rằng “Trước kia Trung Quốc xử bắn, rồi họ chuyển từ bắn sang tiêm thuốc độc. Trên thực tế, họ không giết chết bằng tiêm thuốc mà làm tê liệt bằng tiêm thuốc, và lấy đi các nội tạng trong khi cơ thể vẫn còn sống.”

Dựng lại cảnh chế độ cộng sản ở Trung Quốc thu hoạch nội tạng từ các học viên Pháp Luân Công 2006-9-18-japan
Dựng lại cảnh chế độ cộng sản ở Trung Quốc thu hoạch nội tạng từ các học viên Pháp Luân Công tại một cuộc mít-tinh ở Tokyo hôm 13/9/2006 (Clearwisdom.net)

Việc nghiên cứu của Vương Lập Quân có thể đã đóng một vai trò trong việc xúc tiến việc thay đổi này. Theo một sơ yếu lý lịch ở trên mạng Internet, ông ta là một người lãnh đạo của “Dự án Nghiên cứu Then chốt về Giải phẫu Không Sang chấn ở Khu vực Châu Á – Thái Bình Dương.” Dự án này bao gồm các nghiên cứu viên từ Viện Y học Pháp lý thuộc trường Đại học Bern, Thụy Sĩ, Đại học Y Graz, Áo, Đại học Y Trung Quốc, Đại học Y Jinzhou và Bệnh viện 205 của Quân Giải phóng Nhân dân, theo WOIPFG.

Ông Vương trở thành Giám đốc Sở Công an Trùng Khánh sau khi người đỡ đầu chính trị của ông ta là Bạc Hy Lai bị chuyển đến đó năm 2008. Theo một bài báo trên Global Times, một tờ báo dưới sự ảnh hưởng của Đảng Cộng sản Trung Quốc, Nhân dân Nhật báo, vào tháng 12/2008 Trùng Khánh đã bắt đầu dần dần bỏ việc xử bắn và thay vào đó là tử hình bằng tiêm thuốc độc.

“Toàn bộ mục đích của việc tiêm thuốc trong bối cảnh này là để giữ cho nội tạng vẫn còn sống trong khi nó được cắt đi, để tạng khỏe mạnh hơn. Nếu như họ không định làm như vậy thì có thể là họ vẫn xử bắn,” dẫn lời ông David Matas trong một cuộc phỏng vấn trước đây qua điện thoại.

“Điều bất lợi về mặt y học là thuốc làm hỏng tạng đến một chừng mực nào đó, nhưng tạng vẫn còn sống. Ở Trung Quốc có một phong trào tử hình bằng thuốc độc bởi vì họ sẽ lấy được nhiều tạng hơn theo cách đó, vì có nhiều thời gian hơn để thu hoạch tạng,” ông Matas nói. “Đó là điều mà họ nói về.”

Tính toán

WOIPFG tin rằng những tiến bộ kỹ thuật này trong thu hoạch tạng đồng thời đã được áp dụng với các học viên Pháp Luân Công ở trong các trại lao động và nhà tù ở Trung Quốc.

WOIPFG lưu ý rằng: một số lượng lớn các ca phẫu thuật ghép tạng so với một số lượng nhỏ hơn nhiều các án tử hình và rất ít trường hợp tự nguyện hiến tạng.

Ông David Kilgour, một cựu luật sư hoàng gia và Thứ trưởng Ngoại giao Canada phụ trách khu vực Châu Á – Thái Bình Dương, và luật sư nhân quyền quốc tế David Matas, trong một nghiên cứu bước đầu của mình năm 2006 và trong cuốn sách xuất bản năm 2009 có nhan đề “Thu hoạch Đẫm máu” đã trích dẫn các tuyên bố chính thức của Trung Quốc trong kết luận rằng có 60.000 ca ghép tạng được thực hiện trong khoảng thời gian từ năm 2000 cho đến 2005. Họ lấy số ca ghép tạng được thực hiện trong khoảng thời gian 5 năm trước khi cuộc đàn áp Pháp Luân Công bắt đầu – 18.500 – làm cơ sở và giả sử rằng nội tạng được dùng trong những ca phẫu thuật cấy ghép này đến từ các tội phạm bị tử hình.

Sự khác nhau giữa số ca cấy ghép được thực hiện trong 5 năm trước và sau cuộc đàn áp – tổng cộng khoảng 41.500 ca – nhiều khả năng nhất là đến từ các học viên Pháp Luân Công, theo hai ông Kilgour và Matas.

Ông Vương đã nhắc đến “hàng ngàn” ca cấy ghép tại hiện trường được thực hiện tại “trung tâm nghiên cứu” của ông ta ở thành phố Jinzhou khi ông ta được nhận giải thưởng Guanghua, trong khoảng thời gian được cho là đỉnh cao của các hoạt động thu hoạch nội tạng.

Bằng chứng gián tiếp khác mà WOIPFG đưa ra ám chỉ Vương Lập Quân trong việc thu hoạch nội tạng của các học viên Pháp Luân Công bao gồm chuyển thể của các cuộc điện thoại được thực hiện vào năm 2006 tới các trại giam và tòa án ở Jinzhou.

Trong những cú điện thoại mà các nghiên cứu viên đóng giả là những người nhận tạng tiềm năng hoặc người môi giới hỏi các câu hỏi về tính sẵn có của nội tạng từ các học viên Pháp Luân Công. Một người ở một Tòa án Nhân dân nói “Hiện nay chúng tôi đã phân chia công việc trong nội bộ rồi. Các trường hợp chết … Pháp Luân Công, tòa án chúng tôi cũng đã giao các trường hợp của họ cho Nhánh 1 của Luật hình sự.”

WOIPFG cũng cung cấp một chuyển thể của một cuộc phỏng vấn với một cảnh sát là nhân viên của Vương Lập Quân tại Jinzhou. Anh ta nói rằng công việc của anh ta là đứng gác ở các bệnh viện quân y và các tòa nhà khác nơi các học viên Pháp Luân Công bị tra tấn hay bị mổ lấy nội tạng; trong cuộc nói chuyện anh ta đã kể lại việc chứng kiến việc thu hoạch nội tạng từ một học viên Pháp Luân Công.

Cuộc phỏng vấn có đoạn viết, “Câu hỏi: Các anh đã tra tấn họ một lần trong quá trình thẩm vấn để lấy thông tin, hay nhiều lần? Nhân chứng: Nhiều lần. Hồi đó, Vương Lập Quân, hiện nay là Giám đốc Sở Công an Trùng Khánh, đã ra lệnh rằng chúng ta ’phải tiêu diệt tất cả họ.’”

WOIPFG – Tổ chức Thế giới Điều tra Cuộc đàn áp Pháp Luân Công là một tổ chức độc lập tập hợp những người có lương tâm chống lại cuộc đàn áp Pháp Luân Công đang diễn ra ở Trung Quốc, và không có bất cứ liên hệ chính thức nào với môn tập này.

(theo Theepochtimes)

nguồn: bocau.net

Advertisements

Posted in Chinh tri Trung Quoc | 1 Comment »

Hai blogger Điếu Cày và Anh Ba Sài Gòn sắp được đưa ra xét xử

Posted by hoangtran204 trên 31/03/2012

 

Theo Dòng Chúa Cứu Thế Việt Nam

VRNs (30.03.2012) – Theo tin từ gia đình cho biết, hiện nay 2 luật sư nhận bào chữa cho blogger Điếu Cày (tức Nguyễn Văn Hải) và Anh Ba Sài Gòn (tức Phan Thanh Hải) đã được cấp giấy chứng nhận bào chữa. Các luật sư này đã tiếp xúc với 2 thân chủ tại trại giam công an TP.HCM ở số 4 Phan Đăng Lưu.

Nhà cầm quyền Việt Nam dự định thượng tuần tháng 4/2012 sẽ đưa vụ án ra xét xử. Tội danh được gán cho 2 blogger này là Điều 88 Bộ luật hình sự (BLHS) liên quan đến việc tham gia Câu lạc bộ Nhà báo tự do (CLBNBTD). Chị Maria Tạ Phong Tần cũng bị ghép cùng tội danh với hai blogger này và sẽ đưa ra xét xử trong thời gian gần đây. Chị Tần cũng là thành viên CLBNBTD.

Chị Dương Thị Tân, vợ cũ của blogger Điếu Cày cho chúng tôi biết chị và 2 con nhận được giấy của Viện Kiểm sát cho phép vào trại giam thăm gặp anh Điếu Cày. Nhưng ngày 16/3/2012 vừa qua khi ba mẹ con chị đến trại tạm giam công an TP.HCM ở số 4 Phan Đăng Lưu, Bình Thạnh thì công an trại giam gặp riêng em Nguyễn Trí Dũng (con trai anh Điếu Cày) và bắt em ký vào những tài liệu đã in sẵn mà không cho đọc nội dung. Công an ở đây nói rằng chỉ cho Dũng gặp mặt anh Điếu Cày nếu chịu ký tên vào. Dũng yêu cầu ra ngoài hỏi ý kiến mẹ là chị Dương Thị Tân. Sau đó chị Tân cùng hai con ra về vì cho rằng công an đã lạm dụng chức vụ khi đưa ra điều kiện mới cho gặp anh Điếu Cày. Công an ở trại tạm giam số 4 Phan Đăng Lưu đã vi phạm pháp luật khi không làm theo yêu cầu của VKS là cho gia đình thăm gặp anh Điếu Cày.

Về thông tin trước đây cho rằng blogger Điếu Cày được đưa vào bệnh viện cấp cứu, luật sư bào chữa cho blogger Điếu Cày xác nhận là có, vì anh Điếu Cày đã tuyệt thực trong trại giam nên sức khỏe suy kiệt phải đưa đi bệnh viện.

Blogger Điếu Cày bị xử tù giam 3 năm vì “tội trốn thuế”, đến ngày 19/10/2010 là mãn hạn tù. Nhưng anh vẫn không được trả tự do mà bị đưa đi đâu đến nay (hơn 17 tháng) và vì lý do gì vẫn không ai hay biết. Chị Dương Thị Tân đã tốn biết bao nhiêu công sức và thời gian đến công an hỏi tin tức của anh Điếu Cày nhưng không được giải thích thỏa đáng.

Theo luật sư của blogger Anh Ba Sài Gòn, anh có thể bị truy tố vi phạm khoản 2 điều 88 BLHS, với hình phạt tù từ 12 đến 20 năm.

Gia đình chị Tạ Phong Tần hiện đang tìm kiếm luật sư bào chữa cho chị nhưng chưa biết ai sẽ nhận lời.
Điều 88 về tội “tuyên truyền chống nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam” quy định như sau:

1. Người nào có một trong những hành vi sau đây nhằm chống nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, thì bị phạt tù từ 3 năm đến 12 năm:a) Tuyên truyền xuyên tạc, phỉ báng chính quyền nhân dân;

b) Tuyên truyền những luận điệu chiến tranh tâm lý, phao tin bịa đặt gây hoang mang trong nhân dân;

c) Làm ra, tàng trữ, lưu hành các tài liệu, văn hóa phẩm có nội dung chống nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam.

2. Phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm.

Trên thực tế, như nhận định của luật sư Lê Trần Luật: “Có rất nhiều lý do để xóa bỏ điều 88 Bộ luật hình sự Việt Nam hiện hành. Dư luận cũng như các chuyên gia pháp lý đã chỉ ra rất nhiều điểm bất cập và sự vô lý của điều luật này. Đặc biệt ai ai cũng dễ dàng nhận ra đây là điều luật vi hiến.”

danluan.org

Posted in Tự Do ngôn Luận | Leave a Comment »

Những đại gia BĐS nợ hàng ngàn tỷ và nguy cơ phá sản đang cận kề

Posted by hoangtran204 trên 29/03/2012

Những đại gia BĐS nợ hàng ngàn tỷ

(VEF.VN) – Nguy cơ phá sản của nhiều doanh nghiệp bất động sản là khá cao khi mà tiền mặt của nhiều đơn vị đã cạn kiệt trong khi nợ ngân hàng vẫn đang chất đống với lãi suất cao. Một khi doanh nghiệp phá sản không chỉ cổ đông thua thiệt mà cả những người mua nhà theo hợp đồng góp vốn cũng có thể mất trắng.

Gãy lưng vì nợ

Nhiều cảnh báo cho rằng chỉ tới hết quý II/2012, nếu tiếp tục không bán được hàng nhiều doanh nghiệp sẽ không tránh khỏi tình trạng phải bán bỏ dự án hoặc chịu chấp nhận để tài sản rơi vào tay các ngân hàng.

Số liệu từ các hiệp hội bất động sản cho biết, tổng vay nợ của các doanh nghiệp bất động sản đang ở mức 200.000 tỷ đồng (nợ xấu khoảng hơn 8.000 tỷ đồng). Trong khi đó, báo cáo tài chính cho thấy lượng tiền mặt của đa số các doanh nghiệp đang ở tình trạng cạn kiệt.

Trên hai sàn chứng khoán, tính tới cuối năm 2011, trừ một vài trường hợp hiếm hoi có lượng tiền mặt lớn trên 1.000 tỷ đồng như HAG (2.900 tỷ đồng), VCG (1.756 tỷ đồng), VIC (1.231 tỷ đồng), HPG (1.064 tỷ đồng) và một số có tiền mặt thấp hơn nhưng tỷ lệ an toàn vay nợ cao như NTL (300 tỷ đồng), BCI (295 tỷ đồng), còn lại đều có rất ít tiền mặt, trong khi các khoản nợ ngắn hạn rất cao.

Trong những ngày vừa qua, TTCK tỏ ra đặc biệt lo ngại với trường hợp CTCP Đầu tư Tổng hợp Hà Nội (Hanic – SHN). Giới đầu tư đang bằng mọi cách tháo chạy khỏi cổ phiếu này sau khi Chủ tịch HĐQT SHN công khai thừa nhận về khả năng phá sản. Nhưng số liệu cho thấy, tính thanh khoản của doanh nghiệp này rõ ràng đang ở mức báo động.

Cụ thể, tính tới cuối 2011, SHN chỉ còn vỏn vẹn chưa đầy 1,15 tỷ đồng tiền mặt và các khoản tương đương tiền. Trong khi đó, nợ ngắn hạn lên tới 401 tỷ đồng (VCSH chỉ có 276 tỷ đồng).

Trong thông báo gửi Sở GDCK Hà Nội ngày 20/3, SHN xác nhận thông tin “Chủ tịch SHN công bố doanh nghiệp đứng bên bờ vực thẳm, hơn 6.000 cổ đông có nguy cơ mất vốn”. Theo đó, SHN cho biết CTCP Beta BQP đang còn nợ Hanic hơn 349 tỷ đồng. Số tiền này Beta đã quá hạn thanh toán hơn 9 tháng. Năm 2011, SHN thua lỗ gần 64 tỷ đồng do trích lập dự phòng phải thu quá hạn thanh toán của Beta là hơn 100 tỷ đồng.

Có thể không đến mức như SHN, nhưng thực tế, trên sàn chứng khoán có không ít các doanh nghiệp bất động sản và xây dựng khác cũng đang ở tình trạng thanh khoản yếu và nợ ngắn hạn, dài hạn đều ở mức rất cao, thậm chí có trường hợp gấp nhiều lần vốn chủ sở hữu (VCSH).

Trường hợp MVC là một ví dụ. Cổ phiếu có liên quan tới bất động sản và xây dựng này gần đây đã bị tạm ngừng giao dịch do liên tục vi phạm về công bố thông tin. Cho tới thời điểm này, MCV chưa có kết quả kinh doanh quý IV/2011. Tính tới cuối quý III/2011, tình hình thanh khoản của doanh nghiệp này cũng nằm ở mức tệ hại với tiền mặt chỉ còn vỏn vẹn hơn 3 tỷ đồng; nợ ngắn hạn là 320 tỷ đồng (người mua trả tiền trước 47 tỷ đồng), cao hơn nhiều so với VCSH 198,5 tỷ đồng.

Địa ốc Hoàng Quân (HQC) cũng không kém phần khó khăn khi mà tiền và các khoản tương đương tiền tới cuối quý IV/2011 chỉ còn hơn 11 tỷ đồng, trong khi nợ ngắn hạn khổng lồ 1.790 tỷ đồng (trong đó có 661 tỷ đồng người mua trả trước). VCSH của HQC cũng nhỏ so với tổng nợ (712 tỷ so với hơn 2.000 tỷ đồng).

Người hùng oanh liệt một thời SAM của Sacom. Cổ phiếu này trước hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực sản xuất cáp nhưng sau đó đã chuyển trọng tâm sang bất động sản và đầu tư tài chính. Với quy mô doanh nghiệp khá lớn (VCSH hơn 2.200 tỷ đồng), nhưng tình hình thanh khoản của doanh nghiệp này xem ra cũng không mấy tương xứng. Tính tới cuối năm 2011, tiền và các khoản tương đương tiền của SAM chỉ ở mức gần 33,8 tỷ đồng và thua lỗ năm 2011 là hơn 183 tỷ đồng.

Trong trường hợp PVA, lượng tiền và tương đương tiền của doanh nghiệp này khá lớn với hơn 49,5 tỷ đồng nhưng nợ ngắn hạn lại cao là 1.110 tỷ đồng (trong đó chỉ có 173 tỷ đồng người mua trả tiền trước), so với mức VCSH gần 263 tỷ đồng.

STL cũng có phần rủi ro hơn về tỷ trọng giữa VCSH/nợ. Tới cuối 2011, tiền và các khoản tương đương tiền cũng không dồi dào, ở mức 15,3 tỷ đồng. Nợ ngắn hạn khá cao: 2.826 tỷ đồng (bao gồm 1.193 tỷ đồng người mua trả tiền trước) so với VCSH 235 tỷ đồng. Nếu tính cả nợ dài hạn thì tổng nợ của STL lên tới 4.929 tỷ đồng.

Với VPH, các chỉ số không quá xấu nhưng động thái sẽ thanh lý hàng loạt dự án cũng cho thấy doanh nghiệp đang cần tái cơ cấu vốn. Trao đổi với cổ đông tại đại hội tổ chức ngày 20/3, đại diện HĐQT Công ty Vạn Phát Hưng giải trình các dự án tại quận 2, 7, 9 được mua với giá cao khi thị trường sốt đất, nay doanh nghiệp chấp nhận bán rẻ để cắt lỗ. Ước tính thanh lý các dự án này doanh nghiệp có thể thu hồi vốn khoảng 140 tỷ đồng.

Bên cạnh các doanh nghiệp nêu trên, trên TTCK còn rất nhiều doanh nghiệp bất động sản và xây dựng đang gặp khó khăn về bán hàng, kéo theo đó là thiếu vốn, thiếu tiền mặt, nợ dâng cao như S96 (tiền mặt 3,3 tỷ, nợ ngắn hạn 262 tỷ, VCSH 92 tỷ), NVT (tiền mặt 14 tỷ, nợ ngắn hạn 296 tỷ, VCSH 651 tỷ), MCG (tiền mặt 29,7 tỷ, nợ ngắn hạn 1.217 tỷ, VCSH 713 tỷ), TDC (tiền mặt 65 tỷ, nợ ngắn hạn 1.340 tỷ, VCSH 1.254 tỷ), SDH (tiền mặt 12,5 tỷ, nợ ngắn hạn 330 tỷ, VCSH 216 tỷ) …

Ngay cả trong các gương mặt rủng rỉnh tiền nêu trong đoạn đầu thì trên thực tế lượng tiền và tương đương tiền vẫn khá nhỏ bé so với số vay nợ ngắn hạn và dài hạn.

Như VCG nợ ngắn hạn phải trả tính tới cuối năm 2011 lên tới 17.400 tỷ đồng, trong đó chỉ có gần 3.700 tỷ đồng là người mua trả tiền trước. Nợ dài hạn cũng khá lớn (so với VCSH 3.590 tỷ đồng) là 8250 tỷ đồng.

HPG có nợ ngắn hạn lên tới 7.119 tỷ đồng (gần bằng VCSH 7.409 tỷ đồng), trong đó vay và vay nợ ngắn hạn là 4.545 tỷ đồng. Người mua trả tiền trước chưa tới 48 tỷ đồng. Nợ dài hạn là gần 2.370 tỷ đồng.

Cửa nào thoát án tử?

Trong một động thái mới nhất, theo Thứ trưởng Bộ Xây dựng Nguyễn Trần Nam, Bộ đang xem xét mua lại một số dự án có giá bán 15-17 triệu đồng/m2 để làm nhà công vụ.

Ông Nam cũng không quên khẳng định “việc Nhà nước không phải mua để cứu doanh nghiệp bất động sản cụ thể nào. Trong điều kiện kinh tế bình thường, doanh nghiệp không gặp khó khăn thì Nhà nước vẫn có thể mua, nhưng mua vào thời điểm này thì có lợi vì giá rẻ. Giá đưa ra mang tính thỏa thuận, Nhà nước mua theo nhu cầu, nếu doanh nghiệp không bán thì Nhà nước cũng không ép doanh nghiệp.

Mặc dù vậy, thông tin này cũng đã nhen nhóm lên hy vọng cho khá nhiều doanh nghiệp bất động sản và các nhà đầu tư đang nắm giữ cổ phiếu bất động sản, cũng như nhiều người mua nhà theo hình thức góp vốn.

Thực chất, kế hoạch mua lại một số dự án bất động sản là một trong những nội dung nằm trong Đề án 254 của Chính phủ về cơ cấu lại hệ thống tổ chức tín dụng giai đoạn 2011-2015, Chính phủ giao Bộ Xây dựng xây dựng các tiêu chí bất động sản thuộc diện Nhà nước mua lại.

Theo ông Nam, theo đề án 254 các dự án nằm trong diện được mua có thể là công trình, bất động sản đang là tài sản thế chấp ngân hàng sắp hoàn thành hoặc đã hoàn thành nhưng chưa bán được. Điều này không chỉ có lợi cho doanh nghiệp mà còn có lợi cho ngân hàng, vì khi đó doanh nghiệp sẽ thu hồi được vốn, trả được nợ và nợ xấu ngân hàng sẽ giảm đi.

Trước đó, trần lãi suất huy động đã được điều chỉnh từ 14% xuống 13%. Động thái này được kỳ vọng sẽ kéo lãi suất cho vay (hiện vẫn khoảng 20-22%) xuống. Mặc dù vậy, mức giảm 1% vẫn là quá ít và các doanh nghiệp bất động sản đang chờ đợi sự điều chỉnh giảm mạnh và nhanh hơn nữa trong bối cảnh lạm phát đang được kiềm chế khá tốt.

Trước đó nữa, trong những tháng cuối năm 2011, NHNN đã hai lần nới bớt nút thắt tín dụng đối với lĩnh vực này. Theo đó, đối tượng tín dụng phi sản xuất đã được xem xét lại.

Với những chuyển biến đang có chiều hướng tích cực trong thời gian qua, dường như các doanh nghiệp bất động sản đã hồi tỉnh phần nào. Sự phục hồi có đến thực sự hay không hay vẫn sẽ bị sốc vào cuối quý II tới khi mà nhiều khoản vay sẽ đồng loạt đáo hạn, chắc vẫn còn phải trông chờ vào lãi suất, vào sự hồi phục của thị trường bất động sản hoặc vào những chính sách hỗ trợ (như mua để làm nhà công vụ) của Chính phủ.

Trên TTCK, cùng với xu hướng đi lên chung, các nhà đầu tư đang phản ứng khá tích cực với các cổ phiếu bất động sản. Nhiều mã đã liên tục tăng trần. Tuy vậy, đâu đó vẫn có nhiều người thận trọng tỏ ra lo lắng về khả năng dễ mua nhầm cổ phiếu lớm mà chẳng may một ngày nào đó ông chủ doanh nghiệp bất ngờ tuyên bố nguy cơ phá sản như SHN.

Tất nhiên, khi một doanh nghiệp bất động sản phá sản thì có nhiều điều phải lo, nhiều người phải lo, từ ngân hàng cho tới cổ đông và cả người mua nhà.

Posted in Tài Chánh-Thuế | Tagged: | Leave a Comment »

►Vì quá tráo trở nên không ai muốn kết bạn thân mà chỉ muốn lợi dụng

Posted by hoangtran204 trên 29/03/2012

Việt Nam và Hoa Kỳ: một cặp đôi kỳ cục

Nguồn: David Brown – Asia Sentinel

Diên Vỹ, X-Cafe chuyển ngữ

27.03.2012

Một liên minh cơ hội trở thành một quan hệ chiến lược

Đặc biệt trong năm bầu cử của Mỹ, những vấn đề nhân quyền sẽ thử thách sức chịu đựng của sự tái lập quan hệ giữa Hoa Kỳ và Việt Nam – hai cựu thù giờ dường như đang là những người bạn thân.

Các quan chức từ Hà Nội và Washington dạo này thường xuyên gặp gỡ nhau. Ai nghe qua những tiếp xúc song phương này có thể cho rằng những khó chịu của hai thế hệ trước vốn được người Việt gọi là “cuộc chiến tranh chống Mỹ” chỉ là một chướng ngại nhỏ trên con đường tiến tới tình thân.

Thật thế, các quan chức hai bên có vô số chuyện để bàn. Họ đang nhắm vào một danh sách dài về những quyền lợi chung bao gồm thương mại song phương đang bùng nổ, sự hợp tác quân sự giữa hai bên, việc Hoa Kỳ hậu thuẫn những dự án về y tế công, giáo dục và bảo vệ môi trường cũng như một cam kết có thể dẫn đến việc chuyển nhượng kỹ thuật hạt nhân của Hoa Kỳ.

Khi sự chúc tụng bắt đầu sau một ngày thương lượng, đã có những liên hệ đầy hớn hở về “những thành tựu nổi bật” trong mối hợp tác giữa Hà Nội và Washington.

Có hai mục tiêu khiến Hà Nội tái cam kết với Hoa Kỳ:

  • Khả năng của chính quyền trong việc giữ nguyên sự tăng trưởng kinh tế lâu dài cho người dân Việt Nam dựa dẫm một cách quan trọng trên sự dễ dàng truy cập thị trường và vốn đầu tư của Hoa Kỳ, và
  • Hợp tác quân sự của Hoa Kỳ sẽ khiến Trung Quốc thận trọng khi theo đuổi việc mở rộng tham vọng của mình trên biển Đông.

Mối quan hệ kinh tế song phương đang được phát triển kể từ đầu thập niên 1990, khi sự sụp đổ của Liên Sô đã kéo sập bức màn kinh tế “xã hội chủ nghĩa” ngày càng yếu kém của Việt Nam. Quan hệ ngoại giao với Hoa Kỳ được thiết lập vaà năm 1996, và hiệp ước thương mại song phương được ký kết vào giữa năm 1999.

Tuy nhiên, hiệp ước thương mại này đã không được Bộ Chính trị thông qua cho đến hơn một năm sau. Trước hết, giới bảo thủ phải được thuyết phục để từ bỏ nghi ngờ đối với động cơ của Mỹ – đặc biệt là việc nghi ngờ Hoa Kỳ hậu thuẫn Việt Nam đi vào “cuộc cách mạng chính trị hoà bình” theo mô hình Đông Âu. Chướng ngại này đã vượt qua. Đến năm 2007, với sự dẫn dắt của người Mỹ và với thành phần đổi mới thống trị đảng và nhà nước, Hà Nội đã thương lượng để được vào Tổ chức Thương mại Thế giới.

Tuy nhiên, WTO đã không là liều thuốc bổ mà những người cách tân mong muốn. Với sự kiên quyết của giới bảo thủ trong Đảng Cộng sản đầy quyền lực, Hà Nội tiếp tục nuông chiều một hệ thống doanh nghiệp nhà nước béo phì và thiếu hiệu quả. Hệ quả nghịch lý này đã vắt cạn lợi nhuận mà người Việt trông đợi từ quá trình toàn cầu hoá.

Chính sách bế tắc trong việc cải cách hệ thống doanh nghiệp nhà nước có thể giúp giải thích quyết định đầy ngạc nhiên của chính phủ Việt Nam trong việc cùng Hoa Kỳ ngồi vào bàn thương thảo của “Đối tác Kinh tế Xuyên Thái Bình Dương” (TPP). Những đối tác khác trong TPP là Singapore, New Zealand, Brunei, Chile, Malaysia, Úc, Peru và sớm sẽ có thêm Nhật, Hàn Quốc, Canada, Mễ và Đài Loan – nhưng rõ ràng là không có Trung Quốc. Việt Nam là quốc gia kém phát triể nhất trong nhóm.

Đối tác Kinh tế Xuyên Thái Bình Dương được xem như là bàn đạp để bước đến Thoả thuận Thương mại Tự do Châu Á – Thái Bình Dương và một “khuôn mẫu của thế kỷ 21” trong đó đòi hỏi các thành viên phải đồng ý tự do trao đổi nông nghiệp và dịch vụ, tháo bỏ hạn ngạch và tăng cường việc bảo vệ tài sản trí tuệ.

Trong khi thoả thuận TPP đang được thiết lập, Hà Nội chắc chắn sẽ hưởng lợi qua việc hàng hoá xuất khẩu truy cập dễ dàng vào các thị trường của các nước phát triển. Tuy nhiên, để đổi lại, họ phải bắt buộc phải chấm dứt những nghịch lý trong chính sách đối với thị trường trong nước, chuyên nuông chiều các doanh nghiệp nhà nước và phải giải quyết những quan ngại về quyền lao động cũng như bảo vệ tài sản trí tuệ. Đây có thể chính là chủ đích của giới cải cách, tức là họ có thể hy vọng dùng hiệp ước mở cửa thị trường để thúc đẩy một thoả hiệp về chính sách đối với việc cải cách cơ cấu trong nước.

Sự hợp tác quân sự giữa Hoa Kỳ và Việt Nam là một hiện tượng mới lạ hơn, nó là mấu chốt của chiến lược toàn cầu hoá quốc phòng của Việt Nam. Hà Nội cũng theo đuôi những quan hệ quốc phòng gần gũi hơn với các nước láng giềng châu Á, Úc, Nhật, Ấn, Pháp và Nga. Hà Nội hy vọng rằng những mối quan hệ này sẽ củng cố thêm khả năng đứng vững trước sự lấn lướt của Trung Quốc tại những khu vực biển đang bị tranh chấp. Đương nhiên không phải là họ muốn tham chiến. Giới lãnh đạo Hà Nội tôn trọng sức mạnh của Trung Quốc – và trên nền tảng giữa hai đảng cộng sản – đánh giá cao tình hữu nghị với Trung Quốc miễn là nước này ngừng trò uy hiếp.

Quyết tâm không nhân nhượng trong vấn đề chủ quyền hàng hải của Việt Nam rất phù hợp với quyết tâm của Hoa Kỳ trong việc ngăn chặn những hạn chế tự do đi lại trên những tuyến hàng hải ở vịnh Malacca/biển Đông. Lầu Năm Góc đã hăng hái tăng cường những cuộc tập trận quân sự với Việt Nam, nhắm vào việc tìm kiếm cứu hộ, an ninh biển và hỗ trợ thiên tai. Có những chuyến tàu viếng thăm được đăng tin rầm rộ cũng như những trao đổi tình báo quân sự thầm lặng. Tuy nhiên, trước sự thất vọng của Hà Nội, Washington đã từ chối đề nghị bán những loại vũ khí quân sự hiệu nghiệm.

Thái độ của chính quyền Việt Nam trước vấn đề nhân quyền sẽ vẫn là gánh nặng trong quan hệ Việt – Mỹ. Có một thế hệ người Mỹ gốc Việt thông tường chính trị vốn không những lưu tâm đến những vấn đề này mà còn đủ sức đóng góp vài lá phiếu. Đặc biệt là trong năm bầu cử ở Mỹ, việc Hà Nội đàn áp những người đối lập trong nước có thể thọc chiếc gậy vào trong việc thương lượng song phương về an ninh và thương mại.

Hà Nội không nên ngạc nhiên về việc này. Các quan chức Hoa Kỳ từ Bộ trưởng Ngoại giao Hillary Clinton trở xuống đều nhấn mạnh rằng việc Việt Nam đàn áp “những tiêu chuẩn toàn cầu về nhân quyền” đang cản trở việc thắt chặt hơn quan hệ hai bên. Các Thượng Nghị sĩ John McCain và Joseph Lieberman đã nói rõ khi họ đến thăm Hà Nội hôm tháng Hai. Việt Nam “muốn có một danh sách dài về vũ khí quốc phòng, [nhưng]… điều này sẽ không xảy ra ngoại trừ thành tích nhân quyền của họ khá hơn.”

Mối liên hệ giữa thành tích nhân quyền và lối vào thị trường Hoa Kỳ của Việt Nam thì không trực tiếp mấy. Trong khi việc bán vũ khí cho Việt Nam cần phải có sự chấp thuận cụ thể của Quốc hội, chắc chắn là Quốc hội sẽ khó mà từ chối hợp tác một khi Hiệp ước Đối tác Kinh tế Xuyên Thái Bình Dương được ký kết. Tuy thế, hàng xuất khẩu của Việt Nam vẫn bị yếu thế trước hàng loạt những điều khoản và nghị quyết mà Quốc hội có thể đính kèm trong những dự luật có thể có trong tương lai, trong đó bao gồm một hiệp ước đầu tư và một thoả thuận giám sát việc chuyển nhượng kỹ thuật điện hạt nhân.

Có rất nhiều cách để vấn đề nhân quyền trở thành điều kiện trong hướng đi của Hoa Kỳ. Ví dụ như ngày 20 tháng Ba, Việt Nam đã bị từ chối bởi một uỷ ban do Quốc hội Hoa Kỳ thiết lập nhằm theo dõi việc các quốc gia đối xử ra sao với các vấn đề tự do tín ngưỡng. Uỷ ban này đã đề nghị Việt Nam được đưa vào danh sách “các Quốc gia cần quan tâm đặc biệt,” cùng loại với những nước như Bắc Hàn, Trung Quốc, Iran và Sudan. Viện dẫn cụ thể, nó các buộc rằng Việt Nam “có những vi phạm mang tính hệ thống đối với tự do tôn giáo và tín ngưỡng” trong năm 2011.

Việt Nam đã ra khỏi danh sách đen về tự do tín ngưỡng của Hoa Kỳ từ năm 2006. Việc quay lại danh sách này không bắt buộc chính quyền Hoa Kỳ phải cấm vận Việt Nam – nhưng cũng là một lý do tiện lợi cho Quốc hội từ chối những điều mà Hà Nội muốn từ Hoa Kỳ.

Liệu cáo buộc của uỷ ban này sẽ khiến Việt Nam thay đổi thái độ? Chắc chắn sẽ không bằng con đường rõ ràng – Hà Nội thường ngoan cố khi bị áp lực. Rất hiếm hoặc không có khả năng chính quyền Cộng sản sẽ biểu lộ sự nhân nhượng hơn đối với những ai đòi hỏi dân chủ đa đảng hoặc những ai nhấn mạnh quyền được tự do tín ngưỡng, thành lập các nghiệp đoàn lao động mà không có sự đồng ý của chính quyền. Đây là nền tảng của vấn đề “ổn định xã hội” của chính quyền. Cho dù cải cách hay bảo thủ, các lãnh đạo Hà Nội vẫn cho rằng trong vấn đề sống còn của chính quyền, việc giữ vững quyền chuyên chế độc tài của Đảng thì quan trọng hơn so với bất kỳ mối quan hệ chiến lược hoặc hiệp ước thương mại nào.

Trung Quốc cũng có thể là một vấn đề. Một đe doạ khác đối với tình hữu nghị chín muồi giữa Washington và Hà Nội là việc Trung Quốc can thiệp nhiều thêm vào quá trình khai thác dầu mỏ và khí đốt dọc theo bờ biển dài của Việt Nam. Hai lần trong mùa xuân năm ngoái, các tàu tuần duyên của Trung Quốc đã quấy nhiễu các tàu thăm dò đang làm việc cho Petro Việt Nam và một công ty dầu Philippine. Những sự kiện này đã gây ra một làn sóng biểu tình yêu nước tại Việt Nam và thôi thúc Hà Nội tìm kiếm những quan hệ chiến lược với các nhân vật khác trong khu vực.

Các nhà nghiên cứu về Trung Quốc cho rằng những khiêu khích vào mùa xuân năm ngoái có thể là những khởi xướng không được cho phép do những phần tử tìm cách bảo vệ tuyên bố chủ quyền khó hiểu của Trung Quốc trên vùng biển Đông kéo dài cho đến Singapore. Thật hay không, rõ ràng là có một thành phần không nhỏ tại Bắc Kinh đang không muốn những quốc gia khác khai thác nguồn dầu mỏ và khí đốt (vẫn chưa tìm ra) mà họ cho là của riêng Trung Quốc.

Các công ty dầu hoả lớn đã được cảnh báo rằng nếu họ muốn kiếm phần từ Trung Quốc, họ nên biến khỏi Việt Nam. Công ty BP của Anh đã sang chuyển các cơ sở ở Việt Nam từ năm 2010, và đầu năm nay công ty dầu lớn thứ hai ở Hoa Kỳ là Conoco-Phillips đã cổ phần trị giá 1 tỉ Mỹ kim của mình tại Việt Nam cho một công ty Pháp. Tuy nhiên, Exson-Mobil lại nói rằng họ vẫn muốn khai thác một mỏ dầu vừa khám phá ngoài bờ biển miền trung Việt Nam.

Các hoạt động thăm dò đang tăng cường vào mùa xuân. Thêm những sự kiện tương tự năm ngoái sẽ gây áp lực khiến Washington phải can thiệp. Chắc chắn là nó sẽ ảnh hưởng đến nền chính trị trong nước của Hoa Kỳ.

Công việc của các nhà ngoại giao là không những phải hiểu được các đối tác nước ngoài nói gì mà còn là vì sao, để giữ vững được cái đầu lạnh đối với các khả năng, và trên hết, không đánh giá quá cao những đề xuất khi báo cáo lại với các ông chủ chính trị của mình. Nếu các nhà ngoại giao làm được điều này, cả Hà Nội và Washington cần xem lại giá trị trong việc khai thác sự nồng thắm trong quan hệ của mình trong một thời gian – ít nhất là cho đến cuối năm. Cả hai bên đều không nằm trong tư thế để tiến xa hơn nữa. Thử thách hiện thời là giữ nguyên những gì đã đạt được, đứng vững trước áp lực, và không bị lôi kéo bởi ảo tưởng và/hoặc buộc tội nhau.

nguồn x-cafevn.org

————

 

Posted in Chinh Tri Hoa Ky, Chinh Tri Viet Nam, Đảng CSVN | Leave a Comment »

Thành quả mà đảng đem lại cho con người và xã hội là rất lớn

Posted by hoangtran204 trên 27/03/2012

Vấn đề “thể chế”

BS Ngọc

Hai chữ “thể chế” đang trở thành một danh từ thời thượng. Những bất cập, những tiêu cực, suy thoái trong kinh tế, suy đồi đạo đức … đều là những vấn đề mang thể chế. Nhưng thể chế là ai? Dường như ai cũng biết nhưng không nói ra.

Bây giờ đi đâu cũng nghe người ta nói đến “thể chế”. Những buổi liên hoan cuối năm, những buổi họp, những trao đổi quanh bàn cà phê, thậm chí trên bàn nhậu, người ta bàn đến thể chế. Nói chính xác hơn là “vấn đề thể chế”. Nói ngược lại, thể chế có vấn đề. Vấn đề thể chế có thể giải thích được tại sao đất nước này đang trong thời kỳ suy thoái nghiêm trọng.

Trước hết, chúng ta hãy điểm qua những vấn đề mà dư luận xã hội và giới trí thức đánh giá là suy thoái.

Chúng ta đang chứng kiến một thời kỳ nhiễu nhương, tao loạn. Người dân cảm thấy bất an khi ra ngoài đường, thậm chí cảm thấy bất an ngay trong nhà mình. Trộm cướp nổi lên như rươi. Chúng càng ngày càng táo tợn và dã man. Những cảnh chận xe giữa đường để cướp giựt xảy ra hầu như hàng ngày ở các thành phố lớn. Báo chí cho biết nạn cướp cũng rất phổ biến ở các vùng nông thôn vốn từng là những nơi an bình. Có thể nói rằng không nơi nào trên đất nước này là an bình. Không an bình vì những người đáng lý ra bảo vệ an ninh lại chính là những kẻ cướp. Lực lượng an ninh mà cũng cướp bóc! Công an cướp tiền người dân ngay giữa ban ngày, hơn cả cướp cạn như một bài báo bức xúc viết “Ghê hơn cướp cạn”.

Không chỉ công an mà các quan chức cũng ăn cướp. Đi bất cứ cơ quan công quyền nào người dân cũng phải “bôi trơn”. Người dân nói hay hơn: ăn. Ăn ở đây là ăn cướp. Hành vi ăn cướp của họ được núp dưới những cái tên mang tính hành chánh. Ai cũng ăn. Ăn hối lộ. Cán bộ lớn ăn lớn, cán bộ nhỏ ăn nhỏ. Bởi thế mà người ta có câu vè:

Ai ơi nhớ lấy câu này
Cướp đêm là giặc, cướp ngày là quan

Vì ăn quá nên họ làm giàu nhanh. Làm giàu không dựa vào mồ hôi nước mắt của mình nên họ tiêu tiền như nước. Họ gởi con em ra nước ngoài học, nhưng họ bảo con em người dân nuôi họ nên học ở trong nước. Họ thừa tiền nên bày ra những cảnh xa xỉ lố lăng, không hề biết tự trọng là gì.

Không phải vô cớ mà mới đây người đứng đầu Đảng CSVN Nguyễn Phú Trọng nhận định rằng một số không nhỏ đảng viên cấp cao có vấn đề về đạo đức. Nói thẳng hơn là suy đồi đạo đức. Những hành vi tham nhũng, hối lộ, mua chức quyền, mua bằng cấp không còn là chuyện bí mật nữa. Ai cũng biết ngay từ cấp thấp nhất đến cấp cao nhất, các cán bộ của chính quyền có được chức quyền là nhờ mua bán chứ không phải do tài năng. Ai cũng biết bằng cấp thật của họ thực chất là dỏm. Thật là trớ trêu cho một hệ thống giáo dục cấp bằng thật nhưng học giả. Điều khôi hài nhất là cũng chính những người này hàng ngày đang rao giảng về đạo đức!

Một xã hội không có người gương mẫu thì đừng trách sao cả xã hội đang suy đồi.

Những quan chức chính quyền và Đảng CSVN đang hành xử như là những ông quan thời thực dân mà chính họ hoặc cha ông họ đã đổ xương máu để giành quyền cai trị. Đi khắp đất nước, những khu đất đẹp, những tài sản kếch xù, những tập đoàn xuyên các quốc gia, những căn biệt thự hoành tráng … là của ai? Của các quan, đảng viên đảng CSVN. Cha ông họ ra sức đánh đổ chế độ thực dân kiểu cũ, chế độ thức kiểu mới, để dựng lên một chế độ thực dân kiểu cộng sản.

Những ông quan thực dân kiểu cộng sản đã cướp công lý và tạo nên nhiều tội ác. Cải cách ruộng đất và Huế tết Mậu Thân là chuyện cũ. Chuyện ngày nay là người dân bị cướp đoạt công lý. Một thiếu nữ tát vào cái nón của công an lãnh 6 tháng tù. Trong khi đó công an dùng nhục hình với người dân vô tội thì được hướng án treo. Công an giết người thì sự việc hoặc là bị “chìm xuồng” hoặc là xử nhẹ và … lên chức. Tướng công an có công trong việc chống tham nhũng thì bị đày đoạ và trù dập. Nói tóm lại, trong xã hội hiện nay ác lấn thiện. Trong xã hội nhiễu nhương như thế thì người lương thiện và chân chính là những người được xem là “bất bình thường”.

Và dối trá. Chưa bao giờ lịch sử Việt Nam có nạn dối trá như hiện nay. Trên khắp đất nước mà tìm cái thật từ câu nói của các quan thì bao giờ có được. Quan chức nói dối. Trí thức sống hai mặt. Khoa học chỉ thấy dối trá. Giáo dục dối trá. Thật là một xã hội quái đản.

Đất nước này không có tương lai. Thử hỏi chế độ hiện hành để lại gì cho thế hệ mai sau. Nói đến tài nguyên thì đã cạn. Có còn chăng chỉ là đống nợ nước ngoài và những con người như ông bộ trưởng Thăng.

Nhưng thể chế là gì mà có thể giải thích cho tình trạng trên? Từ điển Tiếng Việt định nghĩa thể chế như sau: “Những quy định, luật lệ của một chế độ xã hội buộc mọi người phải tuân theo”. Ở đất nước này ai là người đặt ra những quy định, luật lệ? Đảng CSVN. Chính họ đặt ra luật lệ. Chính họ đẻ ra chính quyền. Chính họ lập ra toà án để xử những người “vi phạm luật pháp”. Chính họ bổ nhiệm quan toà. Tất cả đều là đảng CSVN. Vậy nên nói thể chế là nói đến đảng CSVN.

——————-

Trong bài nói trên, BS Ngọc nhắc đến nợ của VN. Nợ VN có 2 loại, nợ công hay nợ chính phủ đi vay mượn của nước ngoài, và nợ của các tổng công ty và tập đoàn quốc doanh (VN có 100 tập đoàn QD). 

Nợ công hay nợ của chính phủTheo Bộ Tài chính dự kiến, nợ công năm 2011 khoảng 58,7% GDP (nguồn)

Theo số liệu từ Ủy ban Giám sát tài chính Quốc gia:

Nợ công năm 200733,8% của GDP; GDP của VN vào năm này là 61 tỷ  (nguồn)

2008 nợ công là 36,2% của GDP;  GDP của VN vào năm này là 71 tỷ

2009 là 41,9%  của GDP; và GDP của VN vào năm này là 90 tỷ (nguồn)

2010  nợ công là 56,7% của GDP; GDP của VN vào năm này là 97 tỷ

tính đến ngày 31/12/2010, tổng số dư nợ công ở mức 1.122 nghìn tỷ đồng, tương đương 56,7% GDP năm 2010 (nguồn)

2011  Theo Bộ Tài chính dự kiến, nợ công năm 2011 khoảng 58,7%của GDP (nguồn); GDP của VN vào năm 2011 là 104 tỷ (nguồn)

2013:  Doanh nghiệp nhà nước nợ 60 tỷ đôla  (nguồn)

16-1-2013


Nợ của các tập đoàn quốc doanh. Theo tiến sĩ Vũ Thành Tự An, trong bài “Cảnh báo nợ của doanh nghiệp nhà nước” (nguồn), Nếu tính cả nợ nước ngoài thì đến cuối 2008, tổng nợ của khu vực doanh nghiệp nhà nước (DNNN) xấp xỉ 23,9% GDP.”
Một năm sau, “Nếu tính cả nợ của Vinashin, theo báo cáo của Bộ Tài chính là 86.000 tỉ, thì nợ của khu vực DNNN đến cuối năm 2009 (không kể chín tập đoàn, tổng công ty chưa có số liệu) đã lên tới 54,2% GDP năm 2009.”
Vậy là chỉ trong vòng 12 tháng, các tập đoàn quốc doanh này mượn  nợ thêm là 54,2 – 23,9 = 30,3% GDP; khoảng 30 tỷ (tạm cho là GDP của hai năm này bằng nhau và bằng 90 tỷ.)

___________________

“Xã hội quay cuồng theo tiền, ai

kiếm được là anh hùng!”

Phỏng vấn Vương Trí Nhàn – Huyền Biển (Thực hiện)

Đời sống) – Ở đây tôi thấy một vấn đề nữa là không phải chỉ lỗi của người đó mà lỗi của cả những người giúp cho họ giàu có được. Tôi không tin những người trong xã hội ta có thể giàu thế nếu không có sự tiếp tay của một bộ phận công quyền… – Nhà Nghiên cứu văn hóa (NCVH) Vương Trí Nhàn chia sẻ với Phunutoday.

Nhà nghiên cứu Vương Trí Nhàn

Con người chỉ lo đi kiếm tiền mà không lo mình làm người như thế nào

PV: – Thưa ông, dường như càng ngày chúng ta càng chứng kiến nhiều hành vi khiến chúng ta đau lòng như: vì mảnh đất mà con gái, con rể đẩy mẹ già ra đường ăn bờ, ngủ bụi; muốn có tiền trả nợ vợ đang tâm giết người chồng đầu gối tay kề hòng chiếm đoạt tài sản; rồi vì không muốn mất danh dự mà có kẻ không dám nhận tình thân, máu mủ nghèo… Lối ứng xử như vậy có trái ngược với đạo lý làm người của dân tộc ta, một dân tộc tự hào với lịch sử ngàn năm văn hiến? Ông có thể lý giải nguyên nhân của hiện tượng này?

NNCVH Vương Trí Nhàn: – Theo tôi, con người Việt Nam trong xã hội ở thời điểm này đang bước vào giai đoạn phát triển chưa từng có trong lịch sử – giai đoạn mà ông cha ta chưa bao giờ gặp phải, chưa bao giờ có cách sống, cách nghĩ bị ảnh hưởng như thế.

Tôi nghĩ, giá kể một người già nào đấy quay trở lại nhìn chúng ta thì họ sẽ không hiểu là tại sao chúng ta lại sống như thế? Cái đó không chỉ trên phương diện từ chuyện làm ăn, sản xuất đến quan hệ với thiên nhiên mà quan hệ giữa người với người nó cũng nằm trong cái mạch đó.

Ví dụ, người ta làm ăn thấy một nhà bên cạnh bán cái giàn máy này đắt thì lập tức người bây giờ là cũng học theo, mua tranh bán cướp rồi có khi lấy rẻ hơn để bán cho mọi người. Điều đó ở ngày xưa không bao giờ con người được phép làm như thế cả. Không ai làm trò ăn cướp của nhau giữa đường sá như thế.

Tức là, chúng ta có một sự phát triển của thế kỷ 20 này, từ sau năm 45, sau chiến tranh, do đời sống kinh tế thị trường có những cái bài vào, nói chung là do hoàn cảnh chúng ta sống làm cho con người bây giờ mà tôi cảm tưởng như trâu bị nứt mũi.

Tức là họ muốn làm gì thì làm, không còn một ràng buộc gì nữa, không biết sợ thần, sợ thánh. Nói dối tràn lan không biết sợ gì cả.

Ngày xưa chúng tôi đi học cũng có copy, nhưng bần cùng mới phải copy, bí quá và xấu hổ lắm. Còn bây giờ chuẩn bị từ ở nhà để copy mà không phải riêng mình mà hàng loạt những người khác cũng làm một cách trâng tráo, không biết xấu hổ, ra khỏi phòng thi là vứt ngay giấy ra mà không cần sợ hãi gì cả.

Chúng ta có một xã hội con người phát triển hết sức hư hỏng, tùy tiện muốn làm gì thì làm, trâng tráo và liều lĩnh khinh thường không những pháp luật, quan hệ giữa người với người, mà khinh thường ngay cả thần thánh.

Tôi đặt vấn đề quan hệ giữa người với người nó nằm trong bối cảnh đó. Nó từ các gia đình vỡ ra do chiến tranh.

PV: – Cụ thể là như thế nào thưa ông?

NNCVH Vương Trí Nhàn: – Tôi có cảm giác rằng, ngày trước tôi còn nhỏ, tôi sống trong gia đình nhiều lắm, mọi người sống với nhau gắn bó lắm. Nó cũng có một cái lạ là mọi người sống rất yên lặng, không nói nhiều như bây giờ.

Còn nay, thử hỏi một người sống trong gia đình mình bao nhiêu phút? Thực ra là suốt ngày đi lang thang ngoài đường sá. Không ở trong nhà thì ra quán, hoặc đi học hay làm một cái gì đấy. Còn nếu không ở ngay trong nhà mình nhưng cũng không ở, tức là xem ti vi.

Rất ít đứa con nào hỏi bố mẹ ngày xưa sống ra làm sao? Ngày trước ông bà mình như thế nào? Tại sao nhà mình lại đến đây? Tại sao nhà mình làm nghề đó? Tức là con người bây giờ kỳ lạ lắm, không có sự gắn bó với nguồn gốc gia đình của mình.

Gia đình tôi sống ở Hà nội trước năm 1954 và chúng tôi cũng không phải là gia đình giàu có gì nhưng ít nhất chúng tôi có một cuộc sống là hằng ngày đi làm.

Trong bữa cơm chúng tôi được bố mẹ dạy bảo là ăn uống như thế này, ăn trông nồi, ngồi trông hướng thế nọ, bát canh rau không được để cho tí mỡ bám vào. Cái cuộc sống nó tinh khiết chứ không pha tạp như bây giờ.

Ngày trước, không bao giờ một cửa hàng vừa bán bún rồi lại bán phở, bán thì phở gà ra phở gà, phở bò ra phở bò, không ai dùng chung nước dùng cho hai loại đó cả. Nhưng bây giờ con người tạp nham lắm, và những mối quan hệ trong gia đình cũng thế.

Tôi nghĩ bây giờ ít người nhắc đến những câu mà hồi nhỏ chúng tôi hay nói là: Công cha như núi Thái Sơn/ Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra. Tôi đoán rằng bảo đọc một câu mà em thuộc trong ca dao thì không bao giờ nhắc được câu ấy cả.

Tức là sự giáo dục trong gia đình như thế và người ta sống không nghĩ đến cội nguồn, chỉ nghĩ đến hưởng thụ. Trong cuộc sống hàng ngày lo đi kiếm tiền thôi mà không nghĩ rằng mình sống như thế nào đã, mình làm người thế nào đã, sau đó mình kiếm tiền mới là chuyện sau.

Và lúc nào cũng chỉ nghĩ sống cho bằng người, sống như bên Tây rồi phát cuồng theo họ; còn không nghĩ rằng mình sống với quá khứ, sống với ngày hôm nay của mình, trong phạm vi này được phép như thế nào?

Con người bị lôi ra khỏi gia đình, ra khỏi môi trường, và tất cả các chuẩn mực thấp, họ thả lỏng cho cái bản năng chi phối. Mà bản năng là gì, muốn cái gì được cái đó, không khuyến khích sự suy nghĩ, không có sự chín chắn, từ tốn, biết điều.

Thấy người nào làm bậy thì mình mặc kệ người ta, cái mà người ta gọi là sự vô cảm ấy bắt nguồn từ sự hạ thấp các chuẩn mực. Và không cảm thấy rằng người khác hư hỏng rồi sẽ ảnh hưởng đến nhà mình, rồi sẽ ảnh hưởng đến con cái mình.

Tôi cũng thấy làm lạ là chưa có bao giờ người ta chiều trẻ con như bây giờ. Ví dụ như chuyện mừng tuổi, người ta nói rằng dịp Tết mừng tuổi trẻ con là yêu quý trẻ con, thực chất đấy là một cách vô nguyên tắc để chứng tỏ quyền với con cái, như một cách hối lộ với người đối tác là bố mẹ nó để muốn làm ăn với nó, muốn thế nọ, thế kia.

Còn tối thiểu ra thì chứng tỏ bố mẹ giàu lắm đây mà không nghĩ rằng đó là trao con dao sắc cho trẻ con, biến nó thành một đứa dùng tiền mà không ai dạy nó dùng tiền cả.

Như vậy, trong xã hội cũ con người ta học làm người trong nếp gia đình, vấn đề đó hiện nay không được đặt ra.

Còn tại sao lại có chuyện giết người thì tôi thấy thế này, gần đây trong các chương trình văn, người ta chỉ chú ý đến văn ở cấp II, cấp III, chứ thực ra cấp I rất quan trọng. Và những bài văn ấy tôi thấy rất ít bài nói về tình nghĩa trong gia đình, tình thiên nhiên.

Chúng ta có rất nhiều bạo lực trong cách sống, không chỉ chồng vợ đánh nhau, mà giữa người với người cũng vậy. Đối với thiên nhiên chúng ta cũng bạo lực, đánh cá bằng điện, và không có nước nào giết nhiều cá con như nước mình cả. Tất cả những cách sống bạo lực ấy nó chi phối chúng ta, nó ẩn sâu, nằm trong máu lớp trẻ rồi. Và bây giờ nó dễ sinh ra những thứ đó.

Ở mình không có cái lối suy nghĩ trước khi làm, mà thích cái gì làm cái đó, giữa đám bạn bè với nhau thằng nào làm liều thằng ấy được. Với tất cả những thứ đó tôi cho rằng xã hội chúng ta là một xã hội không chú ý đến đạo đức, không chú ý đến giáo dục, không chú ý đến những mối quan hệ bình thường.

Những khuôn khổ đạo đức được lặp đi lặp lại thì nó có hai kiểu: một là đơn giản quá. Nói lấy được, nói đi nói lại trong đó không đi vào thực tế cụ thể.

Thêm vào đó, chúng ta không có một nền đạo đức, nó được lưu truyền lâu dài trong lịch sử và cái đó phần lớn đều ở điểm áng áng, nói trong văn học dân gian. Nên tôi không đồng ý với nhiều người nói rằng là chúng ta đánh mất đạo lý của dân tộc. Không phải đâu. Chính là một phần cũ của chúng ta mỏng. Đến thời điểm hiện nay có quá nhiều cái mới vào và cái mỏng đó mất rất nhanh.

Nếu tôi nói đó là sợi trâu nứt mũi thì sợi dây kia nó cũng rất là mỏng manh nên nó vỡ, tan ra rất nhanh. Chính cái đó, nó khiến cho con người bây giờ trở nên hung hãn, càn rỡ, vô thiên, vô pháp hơn bao giờ hết. Tôi thấy đó là những cái nó quy định cho tất cả những việc mà chúng ta thấy.

Chưa kể là trong thời đại hiện nay, chúng ta đi tiếp nhận những thứ nước ngoài vào. Và nước mình tôi thấy cái hay người ta không học, cái dở là học ngay. Toàn học những cái hình thức thôi.

Con người hiện nay đang được thả lỏng bản năng!

PV: – Không thể không nhận thấy đời sống kinh tế có khá giả lên trông thấy nhưng đồng thời cũng không thể phủ nhận con người vô tình, vô cảm với đồng loại hơn trước nhiều. Thậm chí có những giá trị bị đảo ngược hoặc thay đổi hoàn toàn như từ chỗ trọng tình trọng nghĩa, nhân ái khoan hòa sang phía trọng tiền tài địa vị, thậm chí chỉ biết mình mà không cần biết đến người bên cạnh, lấy đồng tiền làm thước đo cho một phạm trù khác biệt với nó là tinh thần. Thậm chí, trong dân còn lan truyền những câu như “Tiền là tiên là phật, là sức bật của thanh niên….”. Là một nhà nghiên cứu, ông kiến giải điều này như thế nào?

NNCVH Vương Trí Nhàn: – Đúng vậy. Hay người ta còn có câu con là nợ, vợ là thù, ngủ là thần tiên, tiền là trên hết. Vừa rồi chúng ta có truyện Sát thủ đầu mưng mủ, theo tôi nó chứng tỏ một lớp người bây giờ cơ sở đạo đức bị phá hoại, sống vô nguyên tắc, không có biết sợ thần thánh là gì cả.

Tất cả những thứ đó, tất cả những việc mà chúng ta thấy ngày hôm nay là kết quả của một quá trình lâu dài mấy chục năm nay chứ không chỉ riêng ngày hôm nay nữa. Và việc sửa chữa không thể nào đơn giản được. Tôi thấy vụ Lê Văn Luyện vừa rồi là rõ ràng và sau đó là nhiều vụ khác nữa.

PV: – Ông bà ta thường nói “giấy rách phải giữ lấy lề”, “đói cho sạch, rách cho thơm”, “lời chào cao hơn mâm cỗ”…nhưng với xã hội hôm nay thì đó là những thứ xa xỉ và xa lạ, thay vào đó có lẽ phải nói “đồng tiền cao hơn nhân cách”, vì đồng tiền mà người ta bất chấp mọi thứ, miễn là có được nó còn chuyện có bằng cách nào thì không cần biết như những ví dụ vừa nói đến ở trên.

Giả sử, vì mạng sống hoặc đẩy vào bước đường cùng nên trong hoàn cảnh hiểm nghèo ấy, bản năng sống chi phối, lấn át hoặc làm mờ lý trí, nhận thức thì có thể hiểu được phần nào nhưng đây lại là chuyện bình thường xảy ra hàng ngày, nghĩa là nó trở nên phổ biến cứ như một quy tắc sống hiện đại. Xin ông cho biết, tại sao con người lại có khả năng tự hạ thấp mình đến như thế?

NNCVH Vương Trí Nhàn: – Theo tôi, điều đơn giản rằng người ta không có giáo dục. Có đâu mà mất, có được giáo dục đạo đức gì đâu. Thử nghĩ lại xem từ lúc mình đi học có được giáo dục gì đâu, có được bố mẹ dạy gì đâu, có bao giờ ngồi nghe một cách tỉ mỉ mà toàn ngồi xem ti vi chứ có được nghe ông bà sống thế nào?

Tôi cho một trong những điều mà các bạn trẻ bây giờ nhiều khi hành động hư hỏng là họ không biết rằng con người ngày xưa đã tốt như thế nào? Tôi có một đám bạn chơi với nhau hay kể cho nhau nghe ngày xưa các cụ sống tử tế lắm.

Có một ông bạn kể với tôi thế này: ông của ông ấy có một lần đi ăn giỗ từ Đông Anh lên Hà Nội, ở nhà thấy cụ đi mà mãi cụ không về, thế là đi tìm. Đi xe đạp lên quãng Gia Lâm thì mới thấy cụ đứng lại ở đường. Hỏi sao cụ không về? Cụ bảo có người đánh rơi tiền.

Cái thứ nhất là cụ không nhặt. Người nhà mới bảo kệ người ta nhưng cụ nói: Thế thì không được, để đây nhỡ người khác lấy thì sao? Nghĩa là cụ không lấy tiền nhưng cũng không để cho ai lấy được đồng này mà phải đứng ở đấy, chờ ở đấy để người ta quay lại trả cho người ta. Bây giờ thì chẳng ai nghĩ như thế cả. Đốt đuốc đi tìm soi 7 ngày cũng không tìm ra. May lắm là ông mặc kệ thôi.

Trong cuốn sách Quốc văn giáo khoa thư hồi nhỏ tôi có được học một câu chuyện: Trời nhá nhem trạng vạng tối rồi có câu chuyện ông già ngồi vần cái tảng đá. Hỏi sao thì ông bảo tôi vừa đi đến đây bị vấp, tôi phải vần nó vào để người sau đi khỏi vấp.

Một người già người ta còn nghĩ như thế, còn bây giờ chính các cụ gì còn tham lam, hư hỏng hơn bao giờ hết, chưa bao giờ các cụ già tham sống như bây giờ. Chứ ngày trước người ta sống rất nhẹ nhàng. Tôi cũng thấy các cụ già chưa bao giờ tham lam như bây giờ.

Theo tôi trong một thời gian dài xã hội ta buông lỏng đạo đức, chúng ta là một xã hội sống không có nghiên cứu. Làm kinh tế bây giờ cũng chẳng nghiên cứu gì cả. Bây giờ cứ than thổ phỉ mà đào, đào vội đào vàng bán lấy tiền được là chia nhau, phát triển phải làm đường thế nào rồi mới làm khu dân cư nhưng cũng mặc kệ.

Con người là một thực thể vô cùng phức tạp và anh đã có một quan niệm quá đơn giản về con người, cứ dễ dãi và cứ luôn luôn nịnh nọt con người, không giúp con người làm chủ bản thân. Con người hiện nay đang được thả lỏng bản năng. Ngày trước người ta coi việc diệt dục là quan trọng, lấy sự kiềm chế là quan trọng. Ở chiếc xe thì cái phanh là quan trọng thì bây giờ động cơ bên trong là quan trọng.

Và bây giờ chúng ta không để lớp trẻ học làm người mà nó sống thực dụng sớm và với quan niệm lấy hiệu quả làm chính, kiếm đồng tiền nuôi được, thế là xong rồi. Một đứa trẻ được thả lỏng như thế thì cuối cùng sẽ làm ra rất nhiều chuyện hư hỏng mà không thể nào không có được.

Cả xã hội quay cuồng theo đồng tiền, ai kiếm được là anh hùng

PV: – Thưa ông, thời gian gần đây, chúng ta lại thấy những biểu hiện quái lạ không kém: những kẻ lắm tiền, nhiều của tặng nhà trăm tỷ làm quà cho con, chi triệu đô để tổ chức đám cưới siêu khủng, mượn máy bay để rước dâu hoành tráng vì họ thương miền quê nghèo khổ, nơi họ sinh ra và lớn lên, quanh năm không biết đến một sự hưởng thụ nào! Rất nhiều trí thức đã lên án, coi đây là biểu hiện trọc phú, hợm tiền…. Bản thân đồng tiền không có tội nhưng thông qua cách kiếm tiền, cách sử dụng đồng tiền thì sẽ bộc lộ nhân cách con người. Ông nghĩ gì về điểu này trong tình trạng xã hội hiện nay?

NNCVH Vương Trí Nhàn: – Thực ra những người này chỉ biểu hiện xu thế của xã hội ta, cả xã hội ta hiện nay là trọng đồng tiền. Tôi thấy có những người chả có nghề nghiệp gì cả chỉ thấy kiếm tiền không ít và người ta đánh giá nhau giờ đây cũng chỉ lấy đồng tiền là chính.

Những người kia chẳng qua là đỉnh cao của nền chung trong xã hội hiện nay. Cả xã hội quay cuồng theo đồng tiền và coi ai kiếm được đồng tiền thì người đó là anh hùng. Cho nên trông vào những người đấy, chúng ta thấy được sự suy đồi chung của xã hội, và chúng ta vẫn thấy được cái mầm vẫn có trong tôi, trong anh, trong rất nhiều người khác, nếu nó chưa nảy ra cũng là vì nó chưa có điều kiện thôi, chứ thật ra không phải riêng người đó có lỗi.

Điều đó chứng tỏ chúng ta sống trong một cái xã hội nó tùy tiện, ba lăng nhăng, chả ai biết ai là thế nào và nó như là bóng tối.

Đợt vừa qua chỉ có bà Tổng giám đốc Vinamilk là người được tôn vinh thôi. Rất nhiều người khác giàu hơn bà ấy nhiều nhưng vì người ta có rất nhiều cái mờ ám. Bà ấy vượt qua được những chuyện ấy thì bà mới được như thế.

Như vậy, chứng tỏ trong xã hội chúng ta cái bóng tối nó nhiều quá, nó đầy quá. Những dạng nảy lên, trồi lên như thế báo động tình hình chung của xã hội ta.

Còn một điểm nữa, những người giàu như thế bao giờ cũng chứng tỏ một điều: người giàu là tinh hoa của xã hội, người ta phải giỏi thì mới làm giàu được.

Tôi không phải người giàu nhưng tôi nghĩ rằng thực ra những người giàu đều là người giỏi cả. Nhưng tôi thấy những người giỏi của xã hội cũ người ta rất tử tế, hiểu biết, còn nhiều người giàu ở xã hội ta hiện nay là làm ăn uẩn khúc, và chọn những con đường nếu được minh bạch ra thì tôi nghĩ có lẽ là làm ăn phi pháp.

Ở đây tôi thấy một vấn đề nữa là không phải chỉ lỗi của người đó mà lỗi của cả những người giúp cho họ giàu có được. Tôi không tin những người trong xã hội ta có thể giàu thế nếu không có sự tiếp tay của một bộ phần công quyền.

Khi ông giúp những người kia thì ông lại được ăn lại bao nhiêu? Sự thực ra cả một xã hội chỉ mới biết lo kiếm tiền chứ chưa biết sống có văn hóa.

PV: – Cá nhân ông tiêu tiền và sử dụng đồng tiền như thế nào?

NNCVH Vương Trí Nhàn: – Tôi quan niệm cái xã hội tôi kiếm được đồng tiền theo đúng những cái lao động của tôi. Tất nhiên xã hội hiện nay lao động rất lung tung, có nhiều việc vớ vẩn, lương lại rất cao và ngược lại.

Tôi có nói với con mình rằng không được chộp giật, không được làm một cú rồi chộp. Điều đó sẽ làm hỏng con người đi mà hãy làm thế nào nay một ít, mai một ít. Tôi có đọc tài liệu của Trung Quốc, người ta có triết lý rất ghê. Tức là người ta làm việc gì người ta mang sức lao động, mang trí tuệ của người ta vào nên người ta mới khá giả lên nhưng bằng những con đường rất chân chính.

Và tôi nghĩ rằng chỉ có đồng tiền kiếm bằng chính sức lao động của mình mới lâu dài được. Các cụ có nói: của làm ra để trên gác, của cờ bạc để ngoài sân, của phù vân để ngoài ngõ.

Ba ông Phúc, Lộc, Thọ bao giờ người ta cũng thờ ông Phúc trước tiên trong đó người ta cầu phúc và tôi cũng mong cái cầu phúc. Tôi tin rằng trong một xã hội hiện nay nếu anh có trình độ tay nghề cao, anh chuyên nghiệp hóa về nghề nghiệp, anh thông minh thì không thể nào không sống được. Cuộc sống đừng có yêu cầu cao quá.

Có lần tôi đọc cuốn từ điển của Trung Quốc và Việt Nam giải nghĩa chữ buôn bán là gì? Việt Nam giải nghĩa chữ buôn là buôn vào, bán ra, có lợi như thế là buôn bán. Trung Quốc thì người ta hỏi thương nghiệp là gì, tức là phát hiện ra một nhu cầu thì mới thỏa mãn nhu cầu đó, tổ chức sản xuất, lưu thông để thỏa mãn nhu cầu đó.

Như vậy nghĩa là, việc họ làm là có lợi cho cả xã hội, anh phải mua của tôi và cám ơn tôi chứ không như ở Việt Nam buôn bán là bắt chẹt nhau, bán giá thật cao, rồi hối lộ mấy ông bên chính sách Nhà nước và thế là giá nào cũng bán. Tôi thấy những người làm ăn phi pháp như thế đang đánh vào cái xấu, cái kém của mọi người. Không bao giờ tôi khuyên con tôi làm những thứ ấy cả.

Đồng tiền nó chỉ chứng tỏ sự thông minh, cái suy nghĩ của mình, sức lao động của mình chứ không phải là tôi đi ăn cướp và tôi bắt chẹt người khác. Và với đồng tiền như thế, tôi nghĩ rằng đó là dấu hiệu của phúc đức và sự tử tế mà cái đó sẽ duy trì cho dòng họ nhà mình, con cái nhà mình.

PV: – Cảm giác của ông thế nào khi những điều ông quan niệm, cách ông dạy con cháu đi ngược lại với những gì trong xã hội chúng ta diễn ra hiện nay?

NNCVH Vương Trí Nhàn: – Rất lạc lõng. Bây giờ nhìn lại tôi mới thấy của đáng tội chả ai người ta làm như tôi cả. Lúc tôi vẫn đang làm ở cơ quan thì mới đầu người ta bảo tôi làm Trưởng phòng, khi được hỏi tại sao tôi bảo tôi không làm được vì tôi không hơn những người nhân viên của tôi, tôi không làm.

Sau đó, họ bảo tôi làm Phó giám đốc, tôi cũng bảo tôi không làm được, bởi nếu tôi làm Phó giám đốc thì tôi phải làm được rất nhiều cho cơ quan và với đồng lương như thế nào, thảo nào tôi cũng phải ăn cắp thôi. Thứ hai là tôi đuổi hết. Các cán bộ mình có học hành gì đâu, đánh máy không biết đánh cho nên tôi thấy thế này tôi không làm được.

Cách sống cũng thế, tôi cũng có cảm thấy lạc lõng và tôi cũng công nhận được một điều là tôi may trong sự tính toán của tôi. Tôi nghĩ rằng có nhiều người ở trong hoàn cảnh cực khổ quá rồi cuối cùng làm bậy, làm bậy một lần rồi sau đó không giữ được nữa.

Tôi có cái may là không bị những thói quen, thói xấu chi phối. Và với những giá trị chân chính mà mình có được và mình lo thực của gia đình nhà cửa. Mình cố gắng chữ lương thiện, cái đó cảm tưởng rằng mình đang cố theo, mình không theo được hay không là chuyện khác nhưng mình có cái đó.

Và trong sự phấn đấu làm người của mình, tôi có được may mắn là tôi làm về văn học, nhất là văn học tiền chiến nói rất nhiều những đau khổ, sự cam chịu của con người và vượt lên những đau khổ ấy.

Ví dụ, Chí Phèo chẳng hạn, hắn còn tử tế chán. Chí Phèo còn hỏi ai cho tao lương thiện, bây giờ có ông nào dám nghĩ như thế không? Làm bao nhiêu chuyện làm bậy làm bạ rồi nói rằng đây là hoàn cảnh đẩy mình tới, mình phải thế thôi, chứ có nghĩ rằng bây giờ mình không làm chủ được mình nữa không?

Cái may mắn của tôi là ở chỗ đó. Tôi được biết đến một xã hội dân sự trước đó, nó có cuộc sống riêng đông đủ, phong phú và phức tạp. Con người ngày trước họ có niềm tin vào người ta. Còn bây giờ mọi người thấy mình giống đám đông chỗ nào mà mình cứ giống đám đông là yên tâm lắm rồi.

Và tôi nghĩ rằng có một cái nghề làm văn học là rất tốt đẹp nhưng nền văn học của mình rất vớ vẩn. Bây giờ các nhà văn thi nhau đi viết về sex. Tôi nghĩ rằng, đó cũng là cái bất hạnh của lớp trẻ hiện nay, nó yếu đuối, nó mỏng manh lắm. Các bạn trẻ bây giờ già hơn, hỏng hơn xưa quá.

Tôi nghĩ bản thân tôi năm nay 70 tuổi nhưng tôi vẫn nghĩ còn những việc tôi muốn làm, và tôi vẫn nghĩ là tôi có thể làm tốt hơn những gì tôi đã làm.

Và ở đây: danluan.org

**************

Con người và xã hội VN đạ được đảng sản sinh, nhào nặn như hai bài báo nói trên. Còn bản thân của đảng thì như thế nào?

Mời các bạn đọc qua thư của ông Hồ Cương Quyết. Ông này người Pháp, xin nhập quốc tịch Việt Nam lâu rồi, và hiện đang đấu tranh chống lại Trung Quốc chiếm 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Ông làm phim về ngư dân ở Hoàng Sa và Trường Sa, đem chiếu ở Sai Gòn thì bị công an ngăn chận, cúp điện,…ông gởi thư phản đối các cán bộ cộng sản cao cấp thì không ai trả lời. Ông đem phim qua Pháp và Âu Châu chiếu thì bị các thế lực ngoại giao của đảng kết hợp với Trung Quốc ngăn chận… như dưới đây. 

Sẽ làm cho tan tành bức tường lặng im xấu hổ!

André Menras Hồ Cương Quyết
Phạm Toàn dịch

Gửi các ngư dân bị cầm tù tại Phú Lâm, Hoàng Sa,

Tôi ra đi từ Bobigny, ngôi làng của tình đoàn kết, nơi đây chúng tôi bán được 400 đồng euro sản phẩm thủ công nghiệp Việt Nam để ủng hộ trẻ em nghèo được Hội ADEP (Hội Xúc tiến Hợp tác Sư phạm) Pháp-Việt hỗ trợ …

Tôi đã gặp những nhà hoạt động của Đảng Cộng sản, các cán bộ Liên hiệp Công đoàn Pháp, đều là những con người tiến bộ cả: nay thì họ đã đựoc biết là có cuốn phim và họ đã được biết là có vấn đề ngư dân Việt Nam bị Trung Quốc xâm hại. Có người đã khóc, họ thấy bị sốc, họ thấy phẫn nộ.

Khi đi đó đi đây trên đất Pháp, tôi vô cùng ngạc nhiên thấy đâu đâu người ta cũng lặng im trước vấn đề này. Thật kinh khủng khi thấy người ta đã có thể tảng lờ, thậm chí bóp nghẹt các thông tin tại một quốc gia tự cho mình là dân chủ!

Tuy nhiên, từ nhiều tháng nay, tôi đã gửi các bài viết, các bản dịch bài báo, những lá thư của các ngư dân và những tài liệu khác nữa tới những người có trách nhiệm của mấy tổ chức nói trên! Giờ thì họ chẳng thể nào nói được nữa là họ không biết chuyện gì đã xảy ra!

Vậy thì, họ đã ký kết với nhau những gì và như thế nào để khoá chặt các thông tin kia? Ai là người yêu cầu họ giữ lặng im? Đại sứ quán Việt Nam tại Paris, Đảng Cộng sản Việt Nam đã làm tất cả mọi điều trong phạm vi quyền hạn của họ để lên án những tội ác xâm lược của Tàu hay là ngược lại họ đã phối hợp kết hợp nhau để ngăn chặn thông tin?

Ta buộc phải nhận thấy một điều rõ ràng là kết quả của sự đồng loã Pháp-Việt đó đã phục vụ cho ý đồ của Trung Hoa và khuyến khích nước này tiếp tục mọi chuyện!

Tôi những muốn rằng những người lãnh đạo các tổ chức tôi đã trao đổi và trò chuyện với họ sẽ nhận ra trách nhiệm phải phát động một chiến dịch truyền thông lớn để huy động công luận ủng hộ chính nghĩa của ngư dân Việt Nam!

Kể từ tháng mười hai năm ngoái (12/2011) và từ khi người ta ngăn cấm chiếu phim tại Sài Gòn, trong cuộc đấu tranh của mình, tôi đã nhận thấy cái hiện thực đau buồn này: công chiếu phim của tôi, phổ biến các chứng cứ chứa đựng trong phim đó, lên án bọn tội phạm Trung Hoa, làm những điều đó là một hành động phản kháng không chỉ chống lại bọn theo chủ nghĩa bành trướng và bạo lực Trung Hoa mà còn là chống lại những hành động của những nhà lãnh đạo chính trị của “đảng anh em”, chống lại những đối tác kinh doanh của Bắc Kinh, chống lại nỗi sợ của những nhà lãnh đạo những tổ chức nhân đạo nào đó đang hợp tác với những nhà cầm quyền Trung Hoa…

Cho tới nay, không một tổ chức nào trong số đó đã giúp tôi một tay. Vậy là, đứng trước chủ nghĩa bất động tội ác của họ, tôi đã cùng với những bạn bè càng ngày càng đông đảo cùng chống lại họ. Một cuộc chống đối mà khởi đầu chỉ là những phương tiện ít ỏi, được trụ đỡ bởi những sáng kiến cá nhân, bao dung, ái quốc, kết đoàn. Mỗi lần đem phim ra chiếu, mỗi lần tranh luận vấn đề, mọi người nêu ra câu hỏi: tại sao có chuyện đó mà từ mười năm rồi chẳng có ai nói với chúng tôi sất? Tại sao lại không hề có một phóng sự lớn nào về đề tài này trên (báo của Đảng Cộng sản Pháp) tờ l’Humanité, cũng chẳng có gì trên báo Le Monde Diplomatique cũng như trên báo Libération? Mọi người hết sức ngạc nhiên.

Nhưng chính vì họ ngạc nhiên như thế nên lại càng thúc đẩy họ phản ứng mạnh hơn để làm cho mọi người xung quanh cùng lên tiếng, để quyên góp quỹ hỗ trợ. Có những người đã đề nghị tôi tổ chức ký kháng nghị tới Đại sứ quán Trung Quốc. Đó là một ý kiến có khả năng thực hiện và có khả năng mở ra nhiều hành động khác. Tôi có đôi chút kinh nghiệm về những phong trào đấu tranh khi mới ra đời và hình thành dần dần trong không khí mọi người chưa nhất trí với nhau. Khi các phong trào đó mở màn rồi thì không có ai ngăn chặn chúng nữa. Tôi tin tưởng chắc chắn là với sự ủng hộ hoặc mặc dù có sự kìm hãm của nhà cầm quyền, chúng ta sẽ xây dựng nhẹ nhàng nhưng vững vàng cả một mặt trận đối kháng quốc tế ủng hộ ngư dân Việt Nam và bệnh vực chủ quyền quốc gia của Việt Nam. Phong trào đó cũng sẽ phát triển khẩn trương nhanh chóng tương ứng với sự nhanh chóng từ phía nhà cầm quyền Trung Hoa khi họ cố tình chọn lựa triển khai sức mạnh nào và tần suất những cuộc xâm lấn đánh vào ngư dân Việt Nam tại Hoàng Sa và đặc biệt trên cả vùng biển Đông Nam Ấ.

Chúng ta sẽ làm rạn nứt bức tường lặng im xấu hổ và cuối cùng chúng ta sẽ làm cho nó phải tan tành. Chiều nay, 23 tháng giêng, tôi bay tới Berlin với niềm tin này, và trong tim cũng như trong đầu là một ý nghĩ ngập tràn tình cảm đối với 21 ngư dân của chúng ta đang bị cầm tù ở Phú Lâm cùng với gia đình họ đang đau lòng chờ đợi tại Lý Sơn.

A. M. – H. C. Q.

Tác giả gửi trực tiếp cho BVN.

Posted in Chinh Tri Xa Hoi, Nợ công và Nợ doanh nghiệp, Xã Hội và các vấn nạn (Social Problems) | 2 Comments »

Miến Điện cởi trói báo chí

Posted by hoangtran204 trên 27/03/2012

VOA- 24-3-2012

Miến Điện loan báo các kế hoạch nới lỏng sự kiểm soát của chính quyền đối với các phương tiện truyền thông, vào thời điểm đất nước tiến đến dân chủ một cách thận trọng.

Bộ trưởng Thông tin Kyaw San loan báo tin này tại đại hội các nhà văn, nhà phát hành, và nhà báo hôm thứ Bảy:

“Đã đến lúc cải tổ các phương tiện truyền thông để bắt nhịp với cải tổ cơ chế. Mục đích của đại hội được triệu tập đột xuất này là để giúp tạo ra một nền truyền thông mới, hòa nhập với cơ chế mới.”

Ông nói tiếp, chính phủ đã phê duyệt việc chuyển hội nhà văn, nhà phát hành, nhà báo trước đây do nhà nước quản lý sang một tổ chức độc lập, không có sự can thiệp chính trị.

Những người tham gia đại hội hoan nghênh tin này và tỏ hy vọng rồi đây sẽ có một môi trường truyền thông sinh động hơn.

Đại hội củng thảo luận cho một bộ luật báo chí mới.


Posted in Tự Do ngôn Luận | Leave a Comment »

►Hai Tổng Thống Mỹ và Nga trao đổi chuyện gì ở Hán Thành, Nam Triều Tiên

Posted by hoangtran204 trên 26/03/2012

TT Mỹ và TT Nga bàn bạc chuyện bí mật gì đây…Sau buổi họp kéo dài 90 phút, và trước khi tổ chức họp báo tại thủ đô Hán Thành, Nam Triều Tiên, TT Obama và TT Medvedev trao đổi to nhỏ với nhau (và không muốn cho ai nghe).

Tin Hán Thành, Nam Triều Tiên, 26-3-2012. Tại cuối cuộc họp 90 phút với TT Nga Dmitri Medvedev vào ngày thứ Hai 26-3-2012, TT Obama nói rằng ông ta sẽ có nhiều uyển chuyển và linh động hơn để đương đầu với các đề tài đang bàn cải như lá chắn hỏa tiển (ở âu châu), nhưng (ông muốn) Tổng thống Nga sắp sửa lên nhậm chức cần cho ông nhiều khoảng thời gian hơn nữa.

Nhưng cuộc trao đổi thì thầm (nửa công khai nửa bí mật) này đã bị rò rỉ  vì  microphone  đã ghi nhận âm thanh bàn bạc, trong khi đám ký giả bước vào phòng họp báo và nghe được các lời trao đổi này.

Đối thoại trao đổi giữa hai TT Mỹ và  TTNga:

President Obama:  Trong tất cả các đề tài, nhưng đặc biệt là kế hoạch lá chắn hỏa tiển này, chuyện này, chuyện này có khả năng được giải quyết, nhưng điều quan trọng là (Putin) hãy cho tôi thêm khoảng thời gian nữa (vào lúc khác).

_Vâng, tôi hiểu. Tôi hiểu ý của bạn là bàn bạc chuyện ấy vào thời gian khác.

_Đây là cuộc tranh cử cuối cùng của tôi. Sau bầu cử tôi  (sẽ) có nhiều uyển chuyển du di thoải mái hơn.

_Tôi hiểu. Tôi sẽ nhắn tin này với Vladimir (Putin).

——

SEOUL, South Korea — At the tail end of his 90 minute meeting with Russian President Dmitri Medvedev Monday, President Obama said that he would have “more flexibility” to deal with controversial issues such as missile defense, but incoming Russian President Vladimir Putin needs to give him “space.”

The exchange was picked up by microphones as reporters were let into the room for remarks by the two leaders.

The exchange:

President Obama: On all these issues, but particularly missile defense, this, this can be solved but it’s important for him to give me space.

President Medvedev: Yeah, I understand. I understand your message about space. Space for you…

President Obama: This is my last election. After my election I have more flexibility.

President Medvedev: I understand. I will transmit this information to Vladimir.

When asked to explain what President Obama meant, deputy national security adviser for strategic communications Ben Rhodes told ABC News that there is room for the U.S. and Russia to reach an accommodation, but “there is a lot of rhetoric around this issue — there always is — in both countries.

A senior administration official tells ABC News: “this is a political year in which the Russians just had an election, we’re about to have a presidential and congressional elections — this is not the kind of year in which we’re going to resolve incredibly complicated issue like this. So there’s an advantage to pulling back and letting the technical experts work on this as the president has been saying.”

-Jake Tapper
ABC 3/26/12

source: http://abcnews.go.com/blogs/politics/2012/03/president-obama-asks-medvedev-fo…

Posted in Chinh Tri Hoa Ky, Chinh Tri Nga | Leave a Comment »

Tiếng kêu cứu giữa đêm của phụ nữ, trẻ em và cướp giật khủng bố giữa ban ngày

Posted by hoangtran204 trên 26/03/2012

Tại sao chị Trần Thị Nga bị đối xử như vậy?

Một đoạn phim về cuộc đời Trần Thị Nga (1)

Nhiều người biết tới Trần Thị Nga (mà trong một bản tin, tôi viết nhầm là Trần Thị Thúy Nga, nay xin cải chính) là một biểu tình viên nhiệt tình trong sự kiện Mùa Hè 2011. Nhưng ít người biết đến cuộc đời kỳ lạ, đầy gian truân vất vả nhưng rất phong phú và ý nghĩa của cô.

Năm 2003, cô đi lao động xuất khẩu ở Đài Loan, bị tai nạn giao thông rất nặng đã tưởng không còn hy vọng sống. Thế rồi cô được đồng bào ta bên ấy và cả người dân Đài Loan giúp đỡ,  đưa đi bệnh viện, quyên góp giúp cô tiền viện phí, được cha Nguyễn Văn Hùng cưu mang, che chở.

Cô tâm sự: “Cha Hùng cùng toàn thể nhân viên Văn Phòng đã hết sức nhiệt tình giúp đỡ chúng tôi qua kiếp nạn. Từ tâm tình cảm phục tôi bắt đầu học ở cha và nhân viên cách sống, cách làm việc. Đồng thời tôi tìm hiểu luật pháp Đài Loan để mình có thể giúp được chính mình và giúp được những người khác trong cơn hoạn nạn. Đây là 1 trong những cách mà tôi dùng để trả ơn tất cả những ân nhân đã giúp đỡ khi tôi gặp nạn (trong đó có cả người Đài và người Việt)”.

Cảm kích trước những tấm lòng nhân ái ấy, về nước, cô đã tư vấn giúp đỡ nhiều người làm thủ tục sang Đài Loan sao cho nhanh gọn, giúp họ đòi quyền lợi của mình khỏi bị công ty môi giới ăn không. Vì vậy, việc làm của cô đã gây “thiệt hại” cho các công ty môi giới.

Cô còn giúp thân nhân những gia đình không may có người thân bên Đài Loan bị tai nạn, ốm đau, tử vong.

Cô giúp họ bằng tất cả lòng tận tình và vô tư, không hề lấy của ai một xu nào, kể cả chi phí đi lại.

“Chính vì những việc làm giúp người gặp nạn như thế mà công an Việt Nam quy tôi vào tội khủng bố, phá hoại an ninh quốc gia” – cô viết.

Có thể hiểu rằng, sự khủng bố, đe dọa mà cô phải chịu từ phía côn đồ và công an địa phương trong những năm vừa qua không chỉ vì “tội” đi biểu tình mà có nguyên nhân sâu xa hơn.

Tôi xin lần lượt giới thiệu một số bài viết của Trần Thị Nga để bạn đọc hiểu rõ hơn về cô, coi như một đoạn phim về cuộc đời cô.

Một người từng chịu ơn của người khác, làm ơn cho người khác, nay cô bị hoạn nạn, nếu có nhận sự giúp đỡ của người khác âu cũng là lẽ công bằng. Đây là mối quan hệ nhân quả chứ không phải là mối quan hệ qua lại vì có thể cô không trả được ơn người đã giúp cô mà phải là người khác, người được cô giúp đỡ chưa chắc đã giúp lại được cô mà lại là người khác nữa.

Mời các bạn  >>>Đọc Thêm

Nguồn: jbnguyenhuuvinh

Nửa đêm 23/3, nhận được các thông tin kêu cứu của chị Trần Thị Nga, một phụ nữ với đứa con nhỏ mà mình vẫn thường thấy trong một số cuộc biểu tình yêu nước chống Trung Quốc xâm lược: “Các anh ơi, nhà em bị rào kín và họ đang dọa giết mẹ con em”. Cả đêm qua, theo dõi trên mạng thấy tình hình của mẹ con nhà này được cập nhật, những thông tin cho thấy những điều không thể nào tin nổi ở một xã hội luôn được xác định là có “nhà nước pháp quyền”. Ở xã hội đó bên cạnh chính quyền, đảng bộ, công an, còn có vô khối các đoàn thể ăn theo và lĩnh lương từ ngân sách nhà nước, tức là từ đồng tiền thuế của nhân dân để tạo nên những bộ máy công kềnh trên lưng người dân như Hội phu nữ, Ủy ban bảo vệ chăm sóc trẻ em… và ở tất cả những cơ quan đó luôn luôn kêu gào rằng: “Vì nhân dân phục vụ”.

Sáng nay, lại một cuộc điện thoại cho biết: Chị Nga đã bị cướp máy ảnh, đánh ngay trước cửa nhà khi tiễn chân một người khách và chính người khách đó cũng bị cướp điện thoại. Việc này diễn ra trước mắt công an. Điện thoại cho một người quen, mấy anh em đều đồng thanh: Chúng ta phải xuống tận nơi để xem những gì đã diễn ra ở đó. Thế là mấy anh em lên đường.

 

 Cướp giật hội đồng giữa ban ngày và kẻ cướp gọi công an phường

Con đường từ Hà Nội đi Phủ lý chỉ mấy chục km nên xe đi cũng chỉ hơn tiếng đồng hồ. Khi chũng tôi đến nhà chị Nga vẫn đóng kín. Bên ngoài lố nhố nhiều bóng những người từ xung quanh các ngôi nhà khác nhìn sang. Phía bên kia đường, chếch lên phía trên là một người mặc sắc phục màu vàng của Cảnh sát giao thông, không đeo biển tên cùng với mấy người đứng ngắm nhìn sang căn nhà chị Nga mà bỏ qua tất cả các hiện tượng vi phạm luật giao thông như chở 3 người, không đội mũ bảo hiểm làm chúng tôi thấy không khí rất lạ. Các phía khác, lố nhố trong những căn nhà là những đám người mà sau này chị Nga cho biết đó là những nơi thường xuyên được dùng để rình núp và theo dõi, khủng bố mẹ con chị.

Một viên Công an đang đi từ đằng xa đi lại. Chúng tôi gọi, chị Nga nhận ra người quen mới mở cửa. Ngay lập tức một đám mặt mũi bặm trợn xông đến kín cửa nhà chị Nga, trong đó có hai viên cảnh sát và nhiều người đội mũ công an.

Chúng tôi vào nhà, căn nhà trống hươ trống hoác, cháu nhỏ con chị Nga thấy đông người, nép ngay vào bên góc cột nhà nhìn ra, ánh mắt ngơ ngác như muốn hỏi điều gì đang xảy ra với mẹ con mình đêm qua đến giờ.

Hai viên công an đến nhà đưa chị Nga giấy mời lên Công an Phường, anh công an lập Biên bản làm việc về việc đưa giấy mời vì theo anh nói là không mang theo liên gốc. Một công an khác cùng vào nhà, chị Nga cho biết đây là anh Cảnh sát khu vực cũ, người đã từng nói với chị Nga sau mỗi lần đưa đơn lên Công an phường sau mỗi đợt bị khủng bố rằng: Việc báo cáo là của chị, còn giải quyết hay không là việc của chúng tôi.

Chị Nga cho biết: Sáng nay, một người khách đến nhà, khi về chị đi ra khỏi nhà tiễn khách, thì một đám rất đông đến tấn công chị cướp cái máy chụp ảnh trên tay. Việc cướp đó diễn ra khá lâu, chừng hơn chục phút trước tất cả mọi người dân phố và đặc biệt là một người mang sắc phục cảnh sát. Đặc biệt chị nhớ rõ ở đó có một người tên Công, công tác ở Phòng An ninh chính trị Công an Hà Nam. Chị nói rằng chị nhớ rõ người này vì đã từng lên Hà Nội bắt cóc chị về thả giữa đường khi chị đi biểu tình chống Trung Quốc xâm lược. Chị cho biết thêm rằng khi đám người đó cướp máy ảnh của chị, giằng co mãi thì chúng nó kêu nhau “Gọi công an Phường”.

Thực ra, chúng tôi cũng đã nghe nhiều và thấy nhiều cảnh cướp giật kiểu này, nó không lạ ở Hà Nội hoặc một số nơi với một số người được công an chú ý. Ở những cuộc biểu tình chống Trung Quốc xâm lược và mới đây khi những giáo dân chúng tôi đi nộp đơn về đến Bờ Hồ, cả đám cảnh sát vây quanh cho một bọn không sắc phục, không một lệnh nào được xông vào cướp máy quay máy ảnh và bắt người. Ngay việc cả đám hơn chục người xông vào cướp máy ảnh của tôi rồi đánh tôi suýt chết ở Đồng Chiêm thì tôi cũng đã nếm trải. Nhưng điều lạ ở đây, là việc đó diễn ra với một phụ nữ, chân yếu, tay mềm.

Đi quanh hàng xóm tìm hiểu thêm, mấy phụ nữ đang đứng với nhau nói chuyện, một chị nói: “Nếu nó có tội tình gì, kể cả là phản động đi nữa, thì cứ bắt đàng hoàng chứ sao lại làm khổ nó như thế, đã mấy năm nay rồi chứ đâu phải hôm nay. Sáng nay khi nhìn thấy chúng nó cướp cái máy ảnh mới ghê làm sao, cả bầy nó xúm vào đánh và cướp của con bé. Sao cả hệ thống nhà nước mà phải để đối xử hèn thế?”. Một người đàn ông đến mua cái đĩa nhạc của nhà bên cạnh rồi ra đi lẩm bẩm “Đ.M nếu nó làm gì không đúng thì bắt bớ đàng hoàng chứ làm cái đ… gì mà như thế”.

Tôi không hiểu những người thi hành công vụ có nghe thấy những lời nói của người dân này khi các vị không có mặt hay không? Những người thi hành công vụ đó có hiểu đằng sau sự im lặng của người dân, người ta nghĩ gì về mình?

Khủng bố triền miên hai mẹ con bằng mọi hình thức

Nghe chuyện về mẹ con chị Nga này đã nhiều, nhưng nếu không đến tận mắt, ít khi tưởng tượng được người ta đã làm gì với hai mẹ con người đàn bà khốn khổ này. Chị nói: “Chiều qua em đi về, hàng xóm nói công an rào lối thoát hiểm nhà mày làm nát hết vườn rau nhà tao rồi”. Chị dẫn chúng tôi ra phía sau, nơi có cánh cửa thoát hiểm, cả hai đầu đã được ai đó dùng sắt giăng ngang và dây thép gai bịt kín. Thậm chí, sáng nay một số người đã leo lên mái nhà chị đột nhập và những người đó có mặt cùng với những người đã khủng bố mẹ con chị thời gian qua khi công an Phường có mặt. Chị còn chỉ rõ cho chúng tôi biết người thanh niên có cái sẹo ở mặt này là người đã từng khủng bố chị nhiều lần và sáng nay leo mái nhà đột nhập. Anh ta cứ nhơn nhơn đứng bên hàng loạt cảnh sát mà không ai ý kiến gì. Mãi đến sau này khi những người mà nhiều người cho là cán bộ an ninh đã đi theo chúng tôi dai dẳng từ khi đến đến khi đi ăn và ra về ngồi chung thầm thì chuyện trò với người này, thì chúng tôi hiểu vì sao anh ta lại tự tin đi khủng bố như vậy.

Đúng là ở đây, xã hội đen và xã hội đỏ lẫn lộn và nhiều khi còn chung tay hành động kiểu này thì người dân không sợ hãi mới là chuyện không bình thường. Hèn chi khi chị Nga bị cướp máy ảnh không ai dám ra can thiệp. Ngay cả khi chúng tôi đang đứng trong nhà chị Nga, một người từ bên kia đường cầm lăm lăm nửa hòn gạch trong tay sang gây sự: “Chúng mày muốn chụp ảnh công an thì sang tận nơi mà chụp, gí vào mặt nó mà chụp nhưng không được chụp nhà tao”. Thì ra, chị Nga cho biết đó là nơi mà những kẻ khủng bố mẹ con chị thường ẩn nấp.

Không chỉ có thế, hàng loạt truyền đơn, tờ rơi được rải xung quanh nhà, trên phố đầy những lời đe dọa sặc mùi xã hội đen. Nào là “Con Nga gái đĩ già mồm, mày lên đây tao sẽ xử bằng luật rừng” hoặc là “Lão Ngàn không dạy được con thì tao giết cả nhà”.

Chị Nga nói với chúng tôi rằng mỗi lần chị ra khỏi nhà, thì một đám người bặm trợn đi theo chị dọa dẫm, đe dọa giết, cướp không rời nửa bước.

Chị Nga cho biết, mỗi lần chị đi vắng về, khi thì cửa bị nhỏ keo 502 làm chết cứng ổ khóa phải nhờ người cắt mới vào nhà được. Có vài lần, người ta đã dùng cả mắm tôm và những thứ bẩn thỉu đổ vào nhà, lại có nhiều lần đang ở trong nhà bị buộc chặt cửa phía ngoài… nhiều lắm. Nhưng đến hôm qua, họ mới cho rào kín đường thoát hiểm nhà chị lại, chưa rõ ý đồ gì đây? Có thể là một vụ “tự thiêu” trong nhà riêng chăng nếu không được tự tử ở đồn công an?

Khi chứng kiến tận mắt những gì đã diễn ra ở đây, chúng tôi mới rùng mình và thán phục người phụ nữ can đảm này. Quả là một “xã hội tươi đẹp ổn định và phồn vinh như” xã hội chúng ta, thì chuyện này có được coi là chuyện lạ?  Tôi không lạ, nhưng không khỏi kinh hoàng.

Điều có lẽ lạ nhất, là người ta đã làm những điều đó, huy động một lực lượng ghê gớm như thế, chỉ để đối phó với một phụ nữ và một đứa trẻ con. Điều đó nói lên cái gì? Ai đang đứng trong ánh sáng và ai đang đứng trong bóng tối?

Công an nhân dân đã làm gì?

Khi người dân bị đe dọa, khủng bố và bất an trong cuộc sống, trách nhiệm của người công an được xác định là “thức cho dân ngủ ngon, gác cho dân vui chơi”. Thế nhưng khi đám côn đồ hành hung, khủng bố hai mẹ con đàn bà con trẻ này, công an đứng đó cũng như không, trái lại trong đám đó còn phát hiện ra công an mặc thường phục, thì mọi chuyện có còn gì để nói nữa không?

Ngay khi chúng tôi đến nhà chị, một đám người luôn lởn vởn theo dõi chúng tôi liên tục. Chúng tôi rủ nhau đi ăn ở một quán cơm bình dân gần đó, ngay lập tức hai chiếc xe máy chở nhau đi rình. Một chiếc xe máy một người chở một cô gái khá xinh đi rình chúng tôi, chúng tôi đi, họ đi theo, chúng tôi vào nhà, họ vào những hàng xung quanh giả vờ mua hàng hoặc làm gì đó. Khi tôi đi ra ngoài đường, lập tức một hòn gạch bay vèo từ xa đến chỗ tôi rơi trên mặt đường. Người thanh niên chở cô gái này, sau đó về đồn công an Phường ngồi phía trong. Còn phía ngoài, hai chiếc xe máy khác lại tiếp tục theo chúng tôi đến khi về hết địa phận Hà Nam.

Công an nhiều như thế, an ninh lắm thế, nhưng người dân vẫn bất an, vẫn bị khủng bố.

Chiều, đúng hẹn chị Nga lên công an Phường Hai Bà Trưng để đưa đơn khiếu nại, tố cáo về việc bị khủng bố và cướp máy ảnh. Chúng tôi được chị nhờ đi cùng, lý do vì “Em thấy có nhiều người đến đồn công an rồi tự tử, em sợ lắm, vì con em đang còn nhỏ nên em không muốn vào đồn công an tự tử đâu”.

Đến đồn Công an, mấy chiếc xe máy vẫn bám theo sát gót, người mang bộ cảnh phục Cảnh sát giao thông lại không đứng ở vị trí trước nhà chị Nga nữa mà đi theo chúng tôi về phường, đứng đằng xa nhìn lại. Chắc anh sợ chúng tôi không biết đường đi đến công an phường chăng(?). Trong đồn, một đoàn công an đông đúc đổ ra phòng tiếp dân khi chị Nga và chúng tôi đến, phía trong, một số “quần chúng” không mặc cảnh phục cũng đã ngồi ở các phòng phía sau.

Một người mặc bộ đồ gió ra quát lớn: “Chúng tôi mời tất cả ra ngoài, đây là đồn Công an”. Một người hỏi: “Còn anh là ai? Anh cũng là Công an?”. Anh ta đáp: “Tôi là trưởng đồn Công an Phường Hai Bà Trưng, tôi đang chỉ đạo công việc ở dây”. Chúng tôi hỏi lại: “Anh là công an, là Trưởng đồn, vậy trong đồn thì cảnh phục của anh đâu?”. Anh ta bảo: “Tôi là trưởng Công an Phường nhưng không làm ca này”(!). Chúng tôi trả lời:“Nếu anh là công an, đề nghị anh ăn mặc đúng tác phong và điều lệnh công an. Tiền dân trang bị cho anh cảnh phục để đi làm không phải bộ này. Nếu ngoài giờ làm việc của anh, đề nghị anh không tham gia”. Anh ta đành vào trong nhà thay bộ cảnh phục đầy đủ biển tên và quân hàm.

Chị Nga đưa đơn, ông ta cho một đoàn đuổi chúng tôi ra ngoài, chị Nga không chịu, chị nói: “Tôi đã phải thức suốt đêm qua, giờ không đủ tỉnh táo làm việc, và tôi yêu cầu được có người bên cạnh khi làm việc với công an. Nếu không thì để hôm khác”. Thế nhưng yêu cầu đó không được đồng ý. Một viên công an yêu cầu chị không làm việc ở phòng tiếp dân nữa, mà lên tầng 2, chị không chịu. Mọi người đề nghị với công an tiếp nhận đơn của chị Nga và có biện pháp bảo vệ an ninh cho mẹ con chị không bị khủng bố.

Trong khi ông Thanh trưởng đồn ngồi giải quyết, một viên công an tên Hậu còn trẻ đứng chắp tay sau đít lên giọng dọa nạt chị Nga và một thanh niên đang ngồi trên ghế với giọng rất hách dịch. Chúng tôi hỏi: “Anh là công an khi làm việc với dân mà tác phong anh chắp tay sau đít vậy xem có được không?”. Hết sức ngạc nhiên khi anh ta trả lời: “Tôi tác phong như thế đấy, các anh làm gì được tôi”. Đến mức này thi bó tay với công an ở đây.

Cứ mấy phút, công an lại vào hội ý khi có những yêu cầu từ chị Nga và bà con có mặt. Cuối cùng, một người khá nhiều tuổi là Trung tá Nguyễn Đức Hiệp ra tiếp. Ông ta yêu cầu làm việc riêng với chị Nga, chị lại không đồng ý. Ông bảo rằng “chúng tôi phải làm việc để điều tra sự việc khi có đơn trình báo của người dân nên chị phải làm việc với chúng tôi”. Chúng tôi hỏi ông: “Vậy trước tình hình chị Nga bị khủng bố như thế, chị ấy đã có đơn nhiều lần, anh cho biết đã điều tra đến đâu và có biện pháp gì để bảo bảo an ninh cuộc sống công dân?”. Anh ta bảo: “Đơn khi nào? anh nghe một chiều chứ làm gì có đơn nào?”. Chị Nga đáp: “Tôi đã đưa đơn lên đây rất nhiều lần, thậm chí anh Tuấn Anh còn bảo việc chị viết đơn là việc của chị, còn có làm hay không là việc của chúng tôi”. Chúng tôi đáp: “Chị Nga có mặt ở đây, ba mặt một lời nhưng ông bảo vẫn không có, vậy để chấm dứt tình trạng đó, hôm nay anh đã nhận đơn, đề nghị anh xác nhận là đã nhận đơn trình báo của chị Nga”.

Nhưng, chỉ việc xác nhận đã nhận đơn của chị Nga, cuối cùng dùng dằng mãi thì công an Phường vẫn không dám xác nhận buộc chúng tôi phải lập biên bản tại chỗ về việc công an Phường đã nhận đơn nhưng không xác nhận cho chị Nga.

Thực ra, chúng tôi không hi vọng gì lắm vào cách làm việc của công an Phường ở đây, nếu họ thật sự “đối với nhân dân phải kính trọng lễ phép” và “đối với công việc phải tận tụy” như cái bảng đằng sau ngay trên đầu họ, thì đâu còn cảnh nhà chị Nga như hôm nay.

Thất vọng, chúng tôi ra về, chị Nga theo xe chúng tôi lên Hà Nội lánh nạn.

Những chiếc xe máy lại tiếp tục trò chơi theo đuổi chúng tôi đến cuối Hà Nam.

Trở về Hà Nội, mấy anh em ngồi uống chén nước rồi chia tay nhau, câu nói cuối cùng của một người có tuổi trong đoàn là “Với cách hành động như thế này, thì người dân mà còn lòng tin mới là chuyện lạ”.

Hà Nội, ngày 24/3/2012

———–

Iraqi Woman Beaten to Death in California, Hate Crime Suspected

By Olivia Katrandjian | ABC News


A woman from Iraq who was found beaten, lying in a pool of blood in her in El Cajon, Calif., home next to a note saying “go back to your country,” has died and police are investigating her death as a possible a hate crime.

Shaima Alawadi’s  17-year-old daughter found her unconscious on the dining room floor of her home Wednesday. She was taken to the hospital and put on life support, but she was taken off life around 3 p.m. Saturday.

“Our understanding is that she was beaten and she was hit with some kind of a tool about 8 times in the head. She was knocked on the floor and was found in a pool of blood,” said Hanif Mohebi, the director of the San Diego chapter of the Council on American-Islamic Relations.

Alawadi was a 32-year-old mother of five children, ranging in age from eight to 17.

“A week ago they left a letter saying this is our country not yours you terrorist, and so my mom ignored that thinking it was just kids playing a prank,” Alawadi’s daughter, Fatima Al Himidi, told ABC News affiliate KGTV. “But the day they hit her, they left another note again, and it said the same thing.”

Al Himidi told KGTV the intruders did not steal anything from their home, and the only motive must have been hate.

“A hate crime is one of the possibilities, and we will be looking at that,” Lt. Mark Coit said, according to The Associated Press. “We don’t want to focus on only one issue and miss something else.”

Al Awadi immigrated to the United States from Iraq in the mid-1990s.

There is a large Iraqi population in El Cajon, Mohebi said, and its members often face “discriminatory hate incidents.”

“Our ultimate goal is that whoever did this is brought to justice,” Mohebi said.

source: abcnews

Posted in Công An | Leave a Comment »

Tàu Trung Quốc xâm nhập trái phép vịnh Nha Trang

Posted by hoangtran204 trên 25/03/2012

Tin Chủ Nhật 25-3-2012

Nguồn anhbasam

Khánh Hòa

Chiều 24-3, đại tá Hồ Văn Truyền, Chỉ huy trưởng Bộ chỉ huy Biên phòng tỉnh Khánh Hòa cho biết:

Sáng cùng ngày, cơ quan chức năng Biên phòng Khánh Hòa đã tiến hành kiểm tra hành chính, bước đầu xác định 2 tàu Trung Quốc bị phát hiện hoạt động trái phép ở vịnh Nha Trang vào tối 23-3 gồm Cha Le 01 và Cha Le 58, do các ông Zhang Jiang Ming (54 tuổi) và Zeng Wang Yuan (53 tuổi) làm thuyền trưởng.

danluan_00191.jpgTàu Trung Quốc neo trái phép ở Đầm BấyCác thành viên thuyền bộ đều có visa nhập cảnh ViệtNamtheo đường bộ, qua các của khẩu Móng Cái (Quảng Ninh) và Mộc Bài (Tây Ninh).

Theo các thuyền trưởng khai báo, 2 tàu này đang trên hành trình từ Phú Quốc (Kiên Giang) đi Đà Nẵng. Nhưng họ không có giấy tờ nào chứng minh hoạt động của tàu.

Vụ việc đã được cấp báo UBND và Sở Ngoại vụ tỉnh. Hiện Biên phòng Khánh Hòa đang tiếp tục xác minh để có cơ sở xử lý vi phạm của 2 tàu trên.

danluan_00188.jpg 

Kiểm tra hành chính tàu Trung QuốcTrước đó, tối 23-3, tuần tra khu vực biển Đầm Bấy (đảo Hòn Tre, vịnh Nha Trang), Biên phòng tỉnh Khánh Hòa phát hiện 2 tàu chuyên dụng nạo vét, hút bùn (lớn hơn tàu cá đánh bắt xa bờ cỡ lớn của ngư dân Việt Nam nhiều lần; thuyền bộ 9 người, quốc tịch Trung Quốc) ngang nhiên thả neo bất hợp pháp tại đây, nơi có xóm dân trên đảo Hòn Tre và rất nhiều lồng bè nuôi hải sản của ngư dân ta.

danluan_00188.jpg 

Biên phòng Khánh Hòa tiếp cận tàu Trung QuốcTheo đại tá Truyền, việc 2 tàu Trung Quốc xuất hiện tại vịnh Nha Trang mà không hề xin phép trước là vi phạm luật pháp Việt Nam. Ông cũng cho biết thêm, thuyền viên 2 tàu này khai báo rất “lung tung”. Lúc khai trên hải trình, gặp gió lớn, phải vào vịnh Nha Trang tránh gió. Khi khai bị hỏng máy bất ngờ. Lúc khai họ chỉ là “lính đánh thuê”, biết nghề đi biển, được mướn ra nước ngoài vận hành con tàu mua ở nước ngoài về Trung Quốc….

V.T.

Ghi chú: Báo Tuổi trẻ không (dám?) đăng tin này. Tuy nhiên, cũng có một tin trên báo giấy Tuổi trẻ sáng nay, nếu đọc thì sẽ đoán là cùng đề cập một vụ việc, vì trong tin chỉ nói “tàu nước ngoài” thôi.

A đây rồi! Đọc câu cuối, chợt nghĩ liệu có phải Tuổi trẻ rất thận trọng, chứ không phải … sợ?

danluan_00190.jpgBổ sung, hồi 15h25′ – Các báo đăng tin trên:

– Hai tàu lạ neo đậu trái phép tại Nha Trang (TP). – 2 tàu Trung Quốc đậu trái phép tại vịnh Nha Trang (ĐV). – Tạm giữ hai tàu nước ngoài neo đậu trái phép (TT). – Phát hiện hai tàu Trung Quốc tại vịnh Nha Trang (PLTP).

 Nguồn anhbasam

 

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

Thư Giãn cuối tuần

Posted by hoangtran204 trên 25/03/2012

 Nguồn: Laothayboigia.multiply.com/journal

Viết ngắn 58

Mình đi thi Học tập gương đạo đức Hồ Chí Minh, thấy ông bạn bên cạnh mang cả đống phao, mình hỏi:

– Cậu đéo thấy ngượng à?

– Ngượng thì tao đã đéo làm được tổng bí thư 2 nhiệm kỳ.

Mình ngước lên nhìn mặt bạn ấy, thì ra…

——————————

Nguồn:  laothayboigia  Viết Ngắn

Mừng thọ

Hôm 3 – 2 – 2012, Có ông cụ tổ chức lễ mừng thọ, cờ phướn tưng bừng, kèn trống inh ỏi. Con cháu châu mồm vào hô mừng cụ mừng xuân… rợp trời.

 

Trong số khách đến dự lễ có người hỏi thăm cụ:

 

– Trộm vía, năm nay cụ thọ bao nhiêu ạ?

 

– Cái gì? Nói to to lên, tai độ này nghễnh!

 

– À, năm nay cụ thọ bao nhiêu?

 

– Cả tuổi mụ là 83.

 

– Trí óc cụ vẫn minh mẫn chứ?

 

– Lẫn lắm!

 

– Thế à! Nhưng xem ra răng lợi cụ có vẻ còn chắc nhỉ?

 

– Lung lay rồi, nhưng lúc cần vẫn cắn được.

 

– Thế cụ ăn uống thế nào?

 

– Khỏe.

 

– Sực mà còn khỏe thì chắc phủ tạng vô bệnh?

 

– Đâu! – cụ thều thào – Ung thư tới tận xương rồi. Giang mai, tim la, lậu đủ cả. Còn những chứng như thấp khớp, u nhọt, viêm nhiễm… thì tính không xuể!

 

Khách nghe xong khẽ lẩm bẩm:

 

– Bệnh tật thế thì chết mẹ nó đi, vừa nhẹ thân, mà con cháu cũng đỡ khổ!

 

Cứ tưởng tai cụ nghễnh. Ai dè khách dứt mồm, cụ vùng phắt dậy, chửi:

 

– Thằng phản động nhá! Nói cho mày biết nhá, tao bệnh thì bệnh, lẫn thì lẫn, nhưng dưới sự lãnh đạo của tao, nhân dân vẫn đi hết từ thành công này tới thành công khác, từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, nhá… nhá…!!!

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

Thế trận đã bày

Posted by hoangtran204 trên 24/03/2012

Tác giả Nguyễn Hưng Quốc

Nguồn: VOA.news.com

22.03.2012

Không cần biết gì về chính trị và cũng không cần theo dõi tin tức thường xuyên, bất cứ người nào có chút lương tri cũng đều biết sự uy hiếp lớn nhất, nặng nề nhất và nguy hiểm nhất mà Việt Nam hiện đã, đang và sẽ đối diện đều đến từ Trung Quốc. Bất chấp những lời lẽ ngọt ngào trong các văn kiện chính trị hay các bản thông báo chung, bất chấp những cái bắt tay lịch sự hay khúm núm (bằng cả hai tay!) của giới lãnh đạo hai nước, cuộc chiến tranh sắp tới của Việt Nam, nếu có, chắc chắn sẽ xuất phát từ một địa điểm: phía Bắc.

Không thể có khả năng nào khác.

Mối đe dọa từ phía Bắc nguy hiểm vì nhiều lý do. Thứ nhất, so với Việt Nam, Trung Quốc hiện nay rất mạnh, hơn nữa, càng ngày càng mạnh. Nếu chiến sự giữa hai nước bùng nổ, hy vọng một chiến thắng như năm 1979, về phía Việt Nam, chỉ là một ảo tưởng. Thứ hai, thế trận của Trung Quốc đối với Việt Nam phải nói là dày đặc. Trùng trùng điệp điệp. Về quân sự, không phải chỉ trên bộ mà còn trên biển. Và dĩ nhiên, phải kể trên không nữa, với lực lượng không quân của Trung Quốc càng ngày càng bỏ xa, cực kỳ xa, Việt Nam. Nhưng không phải chỉ có quân sự. Còn có mặt trận kinh tế với sự hiện diện của vô số công ty và đường dây thương mại Trung Quốc trên khắp hang cùng ngõ hẻm Việt Nam. Khi có chiến tranh, toàn bộ những đầu mối làm ăn ấy biến thành một con thuồng luồng khổng lồ siết chặt cái cơ thể ốm yếu gầy còm và quặt quẹo của Việt Nam khiến không ai có thể thở được. Nhưng thứ ba, quan trọng hơn hết, là ảnh hưởng của Trung Quốc trên bàn cờ chính trị Việt Nam. Khác với những lần đối diện với nguy cơ ngoại xâm khác trước đây, lần này, thái độ của giới lãnh đạo cũng như giới chức các cấp của Việt Nam, từ trung ương xuống địa phương, không thể không làm mọi người nghĩ ngợi: Hoặc họ ủng hộ Trung Quốc hoặc họ hoàn toàn thơ ơ trước sự đe dọa đến từ Trung Quốc. Nhiều người nêu lên khả năng: Họ bị mua chuộc. Khó có thể tìm được chứng cứ; nhưng nhìn thái độ hờ hững của họ, người ta không thể không đặt thành nghi vấn.

Có điều, với tư cách một nước, dù muốn hay không, Việt Nam cũng cố tìm cách tháo gỡ các thế trận do Trung Quốc bày ra. Từ một hai năm nay, thế trận của Việt Nam càng ngày càng lộ rõ. Có thể tóm tắt thế trận ấy thành hai điểm chính: Một, tìm cách dập tắt các sự phẫn nộ của dân chúng, để, một phần, khỏi làm phiền lòng Trung Quốc; phần khác, khỏi dẫn đến việc phê phán, đả kích, và từ đó, chống đối lại chính quyền Việt Nam. Hai, tìm cách thoát khỏi thế đứng cô lập và yếu ớt trong cuộc đương đầu với Trung Quốc.

Ngày trước, trong cuộc chiến tranh với Mỹ, miền Bắc có đến bốn đồng minh lớn: Trung Quốc, Liên Xô, khối Đông Âu và một số quốc gia trung lập (trong đó, nổi bật nhất là Ấn Độ). Sau, trong cuộc chiến tranh với Cam Bốt và Trung Quốc vào những năm 1978 và 1979, Việt Nam cũng nhận được sự giúp đỡ tận tình của Liên Xô và Đông Âu. Còn bây giờ, đối diện với Trung Quốc lần này, họ hoàn toàn cô đơn. Dù là thành viên của khối ASEAN, Việt Nam cũng không thể sử dụng sức mạnh của các nước Đông Nam Á được, một phần vì một số nước, kể cả Campuchia, nước láng giềng và thân cận nhất của Việt Nam, sẵn sàng theo hùa với Trung Quốc hơn là ủng hộ Việt Nam; phần khác, hầu hết đều sợ Trung Quốc: Không ai muốn đụng đến Trung Quốc nếu Trung Quốc không thực sự xâm phạm hay uy hiếp họ.

Thành ra, để tránh thế cô lập, Việt Nam phải tìm đồng minh ở những nơi khác.

Hầu như ai cũng biết đồng minh duy nhất có thể giúp Việt Nam trong cuộc đối đầu với Trung Quốc không có ai khác ngoài Mỹ. Chỉ có Mỹ mới đủ sức mạnh và động cơ để làm được điều đó. Nhưng quan hệ với Mỹ, dù có ít nhiều tiến triển trong những năm vừa qua, hoàn toàn chưa đủ để làm hai nước trở thành đồng minh của nhau. Thứ nhất là do thiếu niềm tin. Như là một di sản nặng nề của quá khứ xung đột kéo dài cả nửa thế kỷ, Việt Nam không tin Mỹ, và ngược lại, Mỹ cũng chả tin gì Việt Nam. Thứ hai, giữa hai nước chưa có những điểm chung cần thiết để xây đắp một tình hữu nghị vững chắc. Về kinh tế: chưa có và có lẽ sẽ không bao giờ có. Mối lợi của Mỹ đến từ Việt Nam chắc chắn không thể sánh được với những gì đến từ Trung Quốc, một nước đông dân gấp mười mấy lần Việt Nam. Nhưng sự khác biệt quan trọng nhất là các niềm tin và bảng giá trị được xã hội chấp nhận: người Mỹ, từ chính quyền đến Quốc Hội và dân chúng, luôn luôn phê phán Việt Nam về các chính sách phi dân chủ và chà đạp lên nhân quyền. Sự phê phán từ phía chính quyền có thể chỉ là những lời nói suông; nhưng sự phê phán từ phía dân chúng thì lại là sức mạnh: nó chi phối lá phiếu của họ trong các cuộc bầu cử. Lời nói suông của chính quyền, do đó, một lúc nào đó, dù muốn hay không cũng thành sự thực. Cuối cùng, Trung Quốc sẽ không bao giờ cho phép quan hệ đồng minh giữa Việt Nam và Mỹ biến thành thực tế. Họ sẽ chống đối đến cùng, và nếu cần, có thể tấn công Việt Nam trước khi Việt Nam và Mỹ chính thức bắt tay với nhau. Bởi vậy, ở đây có một nghịch lý: Việt Nam chỉ có thể được bảo vệ bởi Mỹ; nhưng bất cứ dấu hiệu khơi mào cho sự bảo vệ ấy đều sẽ châm ngòi cho một cuộc chiến tranh mà Việt Nam không thể thắng được với Trung Quốc.

Không thể đi với Mỹ, Việt Nam chỉ còn một lựa chọn duy nhất: liên minh với một số cường quốc hạng trung trong khu vực. Cho đến nay, ba nước được Việt Nam lựa chọn liên kết là: Nhật Bản, Ấn Độ và Úc.

Quan hệ giữa Việt Nam với Nhật Bản và nhất là với Ấn Độ đã có từ lâu, nhưng kể từ sau năm 1975, phần lớn chỉ giới hạn trong phạm vi kinh tế. Gần đây, từ chuyện kinh tế, các bên dần dần đi đến những sự hợp tác mang ý nghĩa chính trị, đặc biệt qua hiệp ước khai thác dầu khí trên Biển Đông giữa Việt Nam và Ấn Độ: Đó là vùng đang tranh chấp giữa Việt Nam và Trung Quốc. Các quan chức trong Bộ quốc phòng Việt Nam cũng lần lượt đến thăm Ấn Độ để bàn về các dự án hợp tác song phương trong lãnh vực quốc phòng, trong đó, Ấn Độ nhận trách nhiệm giúp trang bị vũ khí và thiết bị cho ngành hải quân Việt Nam, rèn luyện cán bộ quân sự trong hai kỹ năng chính: tiếng Anh và tin học. Hai bên cũng bàn đến các cuộc tập huấn chung.

Đáng kể nhất là quan hệ giữa Việt Nam và Úc: Một cuộc thảo luận chiến lược đầu tiên về các vấn đề ngoại giao và quốc phòng cấp thứ trưởng đã được tổ chức vào cuối tháng 2 vừa qua. Một số hiệp ước song phương cũng đã được ký kết. Trước mắt, Úc đang và sẽ giúp huấn luyện giới chức quân sự Việt Nam. Giới quan sát quốc tế hy vọng mối quan hệ giữa hai nước sẽ càng ngày càng sâu đậm và cụ thể.

Người ta không thể không tự hỏi: Tại sao Việt Nam lại chọn các cường quốc hạng trung như vậy làm liên minh chiến lược?

Trong bài “Vietnam Eyes Middle Powers”, đăng trên báo The Diplomat ngày 5 tháng 3 năm 2012, Le Hong Hiep giải thích: chọn các đối tác như vậy, Việt Nam sẽ tránh được những phản ứng nhạy cảm của Trung Quốc. Trung Quốc chỉ sợ Mỹ và chỉ muốn Việt Nam đứng xa Mỹ. Nhưng họ không thể ra mặt ngăn chận các quan hệ giữa Việt Nam với các nước khác. Hơn nữa, qua các nước trong khu vực, hầu hết là các đồng minh chiến lược của Mỹ, Việt Nam có thể tranh thủ được sự giúp đỡ của Mỹ trong hoàn cảnh Việt Nam phải lâm vào thế đối đầu với Trung Quốc.

Có thể nói, chiến lược của Việt Nam là cầu cạnh sự giúp đỡ của Mỹ. Nhưng phải đi qua một con đường vòng.

Một con đường vòng rất xa. Và có thể sẽ không bao giờ tới.

 

———————–

 

Chỉnh Đảng. Âm mưu của Nguyễn Phú Trọng – Trung Quốc và cơ hội cho lực lượng yêu nước Việt Nam

Tác giả: Nguyễn Nghĩa

Nguồn: danluan.org

Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI), họp từ 27/2 đến 1/3/2012, đã bàn và thống nhất ban hành Nghị quyết “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”.

Đây là hội nghị lớn chưa từng có, kể từ khi Đại hội đảng cộng sản Việt Nam họp toàn thể 1/2011.

Hơn 1000 đại biểu, gồm toàn bộ thành viên Bộ chính trị, Ban bí thư, Ban Chấp hành TƯ Đảng khóa XI, cán bộ chủ chốt ở trung ương và 63 tỉnh, thành phố về dự hội nghị.

Thoạt đầu mới quan sát, mọi người đều có cảm tưởng: đây lại là 1 cuộc họp vô bổ mang tính nội bộ của ĐCS VN. Ở đấy, các lãnh đạo cao cấp của ĐCS VN múa mép, khua môi…, hòng đánh lừa nhân dân Việt Nam một lần nữa, về khả năng tự phê bình, khả năng sửa khuyết điểm,… để tiến bộ, để đảm nhiệm vai trò lãnh đạo dân tộc này, đất nước này. Mục đích chỉ là cứu nguy cho uy tín của đảng đang lao xuống dốc thảm hại.

Tuy vậy, nếu đọc kỹ bài phát biểu của TBT Nguyễn Phú Trọng tại hội nghị, ta sẽ thấy có 1 âm mưu lớn của phe phái TBT Nguyễn Phú Trọng, trong chính trường của Việt Nam.

Nếu ta đặt tình hình Việt Nam vào bối cảnh: Trung Quốc đang cố kết thực hiện bành trướng, độc chiếm hoàn toàn Biển Đông.

Nếu ta đặt tình hình bành trướng của Trung Quốc tại Biển Đông: đang bị một cản trở rất lớn là việc hiện diện trở lại một cách tích cực của Hoa Kỳ tại Châu Á.

Khi đó, ta sẽ thấy rõ ràng, TBT Nguyễn Phú Trọng đang cố gắng nắm quyền lực trong đảng, để hòng giúp Trung Quốc, trong mưu đồ độc chiếm hoàn toàn Biển Đông, để chống lại, để gây khó dễ cho việc quay trở lại Châu Á của Hoa Kỳ.

Trong bài phát biểu tại hội nghị, Nguyễn Phú Trọng đã nêu ra 4 điểm, làm lý do Chỉnh Đảng.

1. “Sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam”.2. Hai là, yêu cầu nhiệm vụ chính trị của nước ta hiện nay… đòi hỏi Đảng phải nâng tầm lãnh đạo lên cao hơn nữa, nâng sức chiến đấu mạnh hơn nữa…để xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội,… nhằm mục tiêu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại.

3. Ba là, bản thân Đảng đang đứng trước nhiều hiện tượng tiêu cực, phức tạp mới.

4. Bốn là, sự chống phá điên cuồng và quyết liệt của các thế lực thù địch, phản động. Âm mưu cơ bản, lâu dài của chúng là xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta, xoá bỏ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, xóa bỏ chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Để thực hiện được âm mưu cơ bản đó, các thế lực thù địch đã áp dụng lần lượt hết chiến lược này đến chiến lược khác, hết chiến dịch này đến chiến dịch khác, rất kiên trì, kiên quyết, xảo quyệt. “Diễn biến hòa bình” là một chiến lược nằm trong hệ thống chiến lược phản cách mạng của chủ nghĩa đế quốc, là “thủ đoạn hòa bình để giành thắng lợi”. Nhiều chuyên gia và chính khách phương Tây còn gọi đây là phương pháp “chuyển hóa hòa bình”, “biến đổi hòa bình”, “cách mạng hòa bình” và gần đây là “cách mạng nhung”, “cách mạng màu”, “cách mạng đường phố”…

 

***Tóm lại, có 3 nguyên nhân liên quan đến nội bộ của Đảng cộng sản VN, và 1 nguyên nhân khách quan: kẻ thù tư tưởng của ĐCS VN đang ráo riết hoạt động.

Như vậy, Nguyễn Phú Trọng đã xác định được kẻ thù của ĐCS VN.

Tất nhiên, kẻ thù này không phải là Trung Quốc, vì: Kẻ thù này chính là: ” cách mạng nhung”, “cách mạng màu”, “cách mạng đường phố”…hay nói thẳng ra, chính là nhân dân Việt Nam yêu nước đã 11 lần xuống đường chống bành trướng Trung Quốc tại Biển Đông.

Ai là bạn của Nguyễn Phú Trọng?

Câu trả lời nằm ở giữa điểm 1 trong bài phát biểu của Nguyễn Phú Trọng: “Đảng Cộng sản Trung Quốc … trong những lần trao đổi với chúng ta, bạn thường nhấn mạnh không để bị “Tây hóa”, “tha hóa”, “thoái hóa”.

Thế là đã rõ, Đế quốc Hoa Kỳ với sức ép cải cách Nhân quyền, cải cách Dân chủ ở Việt Nam, các nước tư bản theo đuôi Hoa Kỳ, là kẻ thù của ĐCS VN.

Nhân dân Việt Nam yêu nước, chống bành trướng Trung Quốc tại Biển Đông, là kẻ thù của ĐCS VN.

Đế quốc phong kiến Trung Quốc, kẻ đã chiếm Hoàng Sa của Việt Nam 1974, kẻ đã khuyến khích Cămpuchia gây chiến tranh biên giới Tây Nam Việt Nam, kẻ đã gây chiến tranh biên giới 1979, giết hại hàng trăm nghìn thường dân các tỉnh biên giới Cao Bằng, Lạng Sơn, Lào Cai, Yên Bái… là nước bạn bè của Việt Nam, của ĐCS VN.

Thế là đã rõ, Hội nghị lần thứ 4 này, mục đích chỉ để khẳng định bạn và thù của ĐCS VN.

Qua đó, sắp xếp lại lực lượng, chuẩn bị đưa các nhân vật là “bạn” của Trung Quốc, là phe cánh của Nguyễn Phú Trọng lên nắm các vị trí then chốt của nhà nước Việt Nam.

Đây là 1 bước chuẩn bị quan trọng, để phe cánh Nguyễn Phú Trọng tung hô ông ta làm Chủ tịch nước, thay Nguyễn Tấn Sang, khi tình hình đòi hỏi.

Then chốt nhất, đứng sau các sắp xếp nhân sự của ĐCS VN, lại là ý đồ của Trung Quốc:

Đảm bảo Việt Nam là hậu thuẫn tin cậy, là phên dậu chắc chắn, là thuộc quốc hoàn toàn của Trung Quốc, trong ván cờ toàn cầu mà Trung Quốc đang chơi với Hoa Kỳ.

1. Ván cờ toàn cầu Trung Quốc – Hoa Kỳ

Phần thưởng, cho kẻ chiến thắng ván cờ này, là ngôi vị siêu cường thế giới.

Hoa Kỳ đã đứng ở ngôi vị này, từ những năm cuối thập kỷ 90 của thế kỷ trước đến hôm nay.

Lợi ích mà ngôi vị này đem lại là không kể xiết: Từ sự thượng tôn của thế giới, đến các quyền lợi vật chất, kinh tế, chính trị…

Trung Quốc đang thèm muốn ngôi vị này.

Tuy vậy, vị trí địa lý chính trị hôm nay của Trung Quốc khá bí.

Phía bắc thì nước Nga, cường quốc hạt nhân chặn đè đầu.

Phía tây thì Ấn Độ to lớn, không chịu thua kém Trung Quốc về mọi mặt.

Phía đông thì Nhật Bản, Nam Hàn, là những cường quốc kinh tế.

Chỉ còn phía nam là Việt Nam, sau Việt Nam là Đông Nam Á, và hướng đông nam là Biển Đông, có thể bành trướng ngay lập tức.

Trung Quốc đã trường kỳ thực hiện chiến lược làm Việt Nam yếu, lệ thuộc Việt Nam vào Trung Quốc, kể từ khi Mao Trạch Đông nắm quyền tại ĐCS TQ.
Sau công hàm của Phạm Văn Đồng 1958, sau những viện trợ mua chuộc Việt Nam, sau cuộc chiến Hoa Kỳ – Việt Nam tiêu hao tinh lực Việt, Trung Quốc tiêu hao tinh lực Việt Nam bằng cuộc chiến thảm khốc “Dậy cho VN một bài học” 1979, bằng cuộc chiến thầm lặng 1984-1990 lấn chiếm các cao điểm trên biên giới phía bắc Việt Nam, ép thần kinh Việt Nam riệu rã.

Trung Quốc đã chiếm của Việt Nam Hoàng Sa 1974, đã chiếm 9 đảo của Việt Nam tại Trường Sa vào các năm1988 và 1992.

Để khống chế Biển Đông, nơi có tuyến hải lộ quan trọng nhất thế kỷ 21 này, Trung Quốc quyết tâm chiếm hoàn toàn Biển Đông bằng tuyên bố đường lưỡi bò là lợi ích cốt lõi của Trung Quốc.

Để đạt mục đích này, phải chiếm nốt các đảo của Việt Nam tại Trường Sa.

Đây là điều kiện, thành hay bại, của kế hoạch bành trướng Biển Đông của Trung Quốc.

Trung Quốc đã làm hết sức mình để bài binh, để bố trận, với hi vọng thành công dễ dàng nhất.

Họ đã mua chuộc Nông Đức Mạnh, để ém quân ở Tây Nguyên.

Họ đã mua chuộc Nguyễn Tấn Dũng, để ém quân ở các cánh rừng có vị trí chiến lược của Việt Nam.

Họ đã đưa 1 đội quân, khoác áo công nhân, ém trên khắp đất nước Việt Nam.

Tất cả chỉ chờ thời cơ, để chờ ám hiệu, đồng loạt hoạt động, đẩy Việt Nam vào thế phải khuất phục, chịu mất hoàn toàn Trường Sa.

Theo quan sát của tôi, thời cơ này, đã được Trung Quốc chuẩn bị trước, và sau hội nghị an ninh Đông Nam Á Shangri-La tháng 6/2011.

Kế hoạch của Trung Quốc là cắt cáp tầu Bình Minh, ngay trước thềm Shangri-La, công nhiên tuyên bố đây là hải phận của Trung Quốc.

Sau đó, trong Shangri-La, Bộ trưởng quốc phòng Trung Quốc Lương Quang Liệt sẽ tuyên bố Trường Sa là của Trung Quốc, đường lưỡi bò là lợi ích cốt lõi của Trung Quốc.

Lúc này, Hoa Kỳ vẫn tự cho là sẽ đứng ngoài các tranh chấp lãnh hải. Họ chỉ quan tâm đến an ninh hàng hải quốc tế.

Sau Shangri-La, xem xét phản ứng thế giới, nếu thuận, sẽ đánh chiếm Trường Sa ngay trong các tháng 7-8/2011.

Nếu Việt Nam im lặng, khi Trung Quốc cắt cáp tầu Bình Minh 2, cắt cáp tầu Viking2, thì thử hỏi thế giới có quyền gì, mà phản đối 1 đế quốc 1300 triệu dân, trong việc họ cướp nốt các đảo tại Trường Sa của Việt Nam?

Biển đảo là của Việt Nam, mà Việt Nam không phải đối, thì ai dại gì mà dây với Trung Quốc, đấu tranh hộ cho Việt Nam?

Thế nhưng, có 1 bộ phận trong ĐCS VN không muốn im lặng, khi Trung Quốc cát cáp tầu Bình Minh 2, cắt cáp tầu Viking2.

Sau đó, các cuộc biểu tình của nhân dân Hà Nội, Sài Gòn đã đưa Biển Đông lên hàng tít đầu tiên của Truyền thông thế giới.

Dư luận yêu nước Việt Nam đã được Hoa Kỳ ủng hộ.

Kế hoạch Trung Quốc muốn dùng vũ trang, chiếm nốt Trường Sa của Việt Nam thất bại thảm hại.

Những tháng cuối năm 2011 đã đánh dấu sự quay trở lại, 1 cách khéo léo, cương quyết của Hoa Kỳ tại Tây Nam Thái Bình Dương.

Trung Quốc đã bị kỳ đà cản mũi.

***Chiếm hoàn toàn Hoàng Sa, Trường Sa là điều kiện cần thiết, để khống chế hoàn toàn Biển Đông.

Biển Đông sẽ là bàn đạp để Trung Quốc tiến ra Ấn Độ Dương và khống chế eo Malaca.

Do vậy Biển Đông là vị trí, có tính quyết định, trong ý đồ khống chế Thái Bình Dương-Ấn Độ Dương của Trung Quốc.

Không lúc nào là Trung Quốc xa rời mục tiêu chiếm toàn bộ Trường Sa này của Việt Nam.

Thời cơ thế giới hiện nay đang xuất hiện, để Trung Quốc chiếm nốt Trường Sa của Việt Nam và của Phillipine.

Muốn chiếm nốt Trường Sa của Việt Nam bằng vũ lực, điều kiện đầu tiên là Việt Nam phải im lặng, không đánh trả lại, cam chịu mất toàn bộ Trường Sa.

Ai sẽ làm điều này?

Chỉ có các “bạn” của Trung Quốc, trong ĐCS VN làm điều này được.

Đây chính là lý do trung quốc trong “Chỉnh Đảng” hiện nay của ĐCS VN.

Lý do này là quan trọng nhất, nó có hậu thuẫn từ Trung Quốc. Nó có tính khẩn cấp, do những nước cờ mới của Hoa Kỳ tại Tây Thái Bình Dương, do Miến Điện bước sang con đường dân chủ, khiến Trung Quốc phải đối phó. Trung Quốc thúc dục phe thân Trung Quốc trong ĐCS VN làm đảo chính cung đình.

Lý do thứ 2, là lý do nội bộ của ĐCS VN. Có sự sốt ruột của các thành viên thân Trung Quốc, đang bị dư luận yêu nước Việt Nam đẩy vào thế bị động, thế yếu.

Bộ phận này muốn phản công lại, chiếm lấy thượng phong, chiếm lấy các vị ví có thể, có nhiều tiếng nói trong quyết định chính sách, do đó có nhiều bổng lộc.

Trong chuyến thăm Việt Nam của Tập Cận Bình tháng 1/2012, họ Tập kia đã dụng kế phân gián.

Trong lúc ôm hôn Nguyễn Phú Trọng, họ Tập đã nói kẽ vào tai Trọng: “Chỉnh Đảng.”

Phải.

Chỉnh Đảng là mưu kế mà Mao Trạch Đông đã sử dụng rất công hiệu, trong đấu tranh tranh dành quyền lực tại ĐCS TQ.

Ông ta đã dụng chước này tại Diên An, đánh nốt các phần tử cộng sản Trung Quốc từ Liên Xô về.

Trước đó, tại Tuân Nghĩa Mao cũng chỉnh đảng, để đánh đổ Bác Cổ, người lãnh đạo tối cao của ĐCS TQ đồng thời kiêm Chủ tịch Ủy ban Quân sự Hồng quân TQ, để đánh đổ những ai không công nhận uy quyền của Mao trong đảng và quân đội Trung Quốc.

Mao Trạch Đông còn dùng cách mạng văn hóa… để đánh các đồng chí của mình như Lưu Thiếu Kỳ,…

Tô Huy Rứa đã có mặt ở Bắc Kinh tù 14-18 /2/2012 để thông qua kế hoạch Chỉnh Đảng của Nguyễn Phú Trọng, và xin chỉ thị của BCT ĐCS TQ.

Tại sao họ Tô phải lén lút sang Trung Quốc nhận chỉ thị lúc này?

Ngày 14/2 là ngày Tập Cận Bình thăm chính thức Hoa Kỳ. Báo chí thế giới, báo chí Việt Nam dương ống kính, phục các phóng viên, săn đón sự kiện quan trọng này.

Làm gì còn ai quan tâm, phân tích chuyến thăm Trung Quốc của 1 nhân vật tên tuổi thứ 6, thứ 7 của ĐCS VN.

Cái lén lút, không đường hoàng này, đã để lộ ra ý đồ không minh bạch của Trung Quốc đối với cuộc Chỉnh Đảng của ĐCS VN lần này. Đây cũng chính là cái lòng dạ của phe Nguyễn Phú Trọng: hoàn toàn phụ thuộc vào Trung Quốc.

Trong khi Tập Cận Bình chỉ thăm Mỹ đến ngày 17/2 /2012, thì họ Tô kia, ở lỳ tại Bắc Kinh đến ngày 18/2/2012.

Chắc là, muôn vàn kế độc của Trung Quốc, đã được họ Tô lĩnh hội hết, để ra tay lần này với các “đồng chí” của mình trong ĐCS VN.

Đây không còn chỉ là 1 cuộc đấu tranh nội bộ bình thường của ĐCS VN.

Đây là thời điểm, quan trọng sống, còn, của dân tộc Việt Nam, trong cuộc đấu tranh sinh tồn đã diễn ra hơn 4000 lịch sử trên bán đảo Đông Dương này.

2. Nước tính của Trung Quốc trong ván cờ với Hoa Kỳ

Tập Cận Bình tạm thời làm Hoa Kỳ đỡ lo lắng về phía Trung Quốc bằng đoạn viết: Thái Bình Dương có đủ không gian cho cả Mỹ và Trung Quốc.

Thực ra, không lúc nào Trung Quốc quên mục đích chiếm toàn bộ Trường Sa của Việt Nam.

Nếu muốn chia đôi Thái Bình Dương, thì Trung Quốc cũng chỉ nhượng cho Mỹ gây ảnh hưởng tại Tây Thái Bình Dương, mà thôi.

Hiện nay, thời cơ để Mỹ sa lầy vào Trung Đông, vào Iran đang đến gần.

Trung Quốc, đã gián tiếp, lập với Nga và Syria một trục ủng hộ Iran.

Nước Nga đã tuyên bố an ninh của Iran, là an ninh của nước Nga.

Như vậy, Trung Quốc sẽ chơi con bài Iran với Mỹ và Israel.

Nếu Hoa Kỳ cấm vận Iran, thì Trung Quốc sẽ tiếp tục mua dầu hỏa cho Iran, nuôi dưỡng Iran tiếp tục làm bom nguyên tử.

Như vậy, sớm hay muộn, Israel vì sự tồn vong của quốc gia Israel, sẽ phải gây chiến với Iran.

Hoa Kỳ và Nga, sớm hay muộn, sẽ dính trực tiếp vào cuộc chiến này.

Thời điểm quan trọng, khi Nga và Mỹ gập rất sâu vào xung đột tại Iran, sẽ là thời điểm để Trung Quốc dùng vũ lực, chiếm nốt các đảo của Việt Nam tại Trường Sa, nhằm loại bỏ đi một tiềm tàng tranh chấp, một cớ tạo điều kiện cho Hoa Kỳ nhúng sâu vào Biển Đông, nhằm độc chiến hoàn toàn 2 quần đảo giầu có khoáng sản dầu hỏa và có vị trí chiến lược cực quan trọng tại Biển Đông của Việt Nam.

Muốn cho tình huống này diễn ra suôn sẻ, muốn cho chiến dịch này thành công, mà không gây phản ứng mạnh của thế giới, theo tính toán của Trung Quốc thì:

ĐCS VN phải do Nguyễn Phú Trọng và phe cánh thao túng hoàn toàn.

Đây là 1 nước tính chiến lược, một nước tính trước, chờ thời cơ của Trung Quốc, của Tập Cận Bình.

Tình hình thế giới, Việt Nam liệu có diễn ra như tính toán của Trung Quốc không, còn chờ phản ứng của các nước tham gia trực tiếp ván cờ này.

***Chúng ta thử nhớ lại ngày 12/10/2011, ngày TBT Nguyễn Phú Trọng thăm Trung Quốc.

Cũng trong ngày ấy, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đến thăm Ấn Độ, gặp Tổng Thống Ấn Độ để khẳng định mối quan hệ với Ấn Độ là quyết tâm của nhà nước Việt Nam.

Tại hội nghị APEC tháng 11/2011, gặp gỡ Obama là Trương Tấn Sang.

Liệu, nếu Nguyễn Phú Trọng kiêm chức Chủ Tịch Nước, thì 2 cuộc gặp mặt kiểu như trên có thể diễn ra được hay không?

Nếu Nguyễn Phú Trọng đi Trung Quốc, ông ta không phân thây mình làm 2, để xác thứ 2 kia có mặt ở Ấn Độ được.

Lúc đó, họ Nguyễn sẽ chỉ biết 1 tuyến bay duy nhất: Hà Nội – Bắc Kinh và Bắc Kinh – Hà Nội mà thôi.

Lúc đó trong con mắt thế giới, Việt Nam chỉ là nước chư hầu hèn mọn của Trung Quốc mà thôi.

Vị thế của Việt Nam trên thế giới sẽ bị mất đi rất nhiều.

Ta thử nhớ lại, Việt Nam đã tránh được một cuộc hải chiến không cân sức, do Trung Quốc định gây hấn, nhằm cướp nốt các đảo của Việt Nam tại Trường Sa vào tháng 7-8/2011 sau hội nghị Shangri-La.

Nếu không có 1 bộ phận lãnh đạo Việt Nam yêu nước, nếu không có 1 bộ phận nhân dân Hà Nội, Sài Gòn yêu nước; nếu lãnh đạo Việt Nam im như thóc theo lệnh Chủ tịch Quốc hội VN Nguyễn Phú Trọng: Biển Đông yên tĩnh, thì Trung Quốc đã xâm lược nốt Trường Sa. Các chiến sĩ Hải quân Việt Nam tại Trường Sa đã chết thảm như năm 1988, 1992, khi Trung Quốc xâm lược 7 đảo của Việt Nam tại Trường Sa.

Chiến tranh bị đẩy lùi, kế hoạch xâm lược Trường Sa chỉ nằm trên bàn giấy của Bộ Tham Mưu Hải quân Trung Quốc, nhờ lòng yêu nước, không sợ Trung Quốc của 1 bộ phận lãnh đạo Việt Nam yêu nước, của 11 cuộc xuống đường chống bành trướng Trung Quốc tại Hà Nội và Sài Gòn.

Đây là bài học rất quan trọng trong quan hệ với Trung Quốc. Nếu Việt Nam còn sợ sệt Trung Quốc, nếu Việt Nam còn im lặng để Trung Quốc lấn ép, thì họa mất lãnh thổ, mất lãnh hải Việt Nam, mất nốt Trường Sa… là không tránh khỏi.

Nếu Việt Nam mạnh dạn tin vào lòng yêu nước của dân tộc Việt Nam. Nếu bộ phận yêu nước của ĐCS VN dám mạnh mẽ chuyển hướng sang phía Tả, sang phía Dân tộc, thì Trung Quốc sẽ thất bại trong âm mưu chư hầu hóa Việt Nam, cướp, lấn Biển đảo, cướp nốt Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam.

Như vậy, dù tình hình diễn biến thế nào, Việt Nam cũng phải chuẩn bị cho tình huống xấu nhất.

3. Phong trào yêu nước và dân chủ Việt Nam phải làm gì?

Thời gian này là thời gian, mà tương lai dân tộc Việt Nam đang ngàn cân treo vào sợi tóc.

Nếu phe Nguyễn Phú Trọng thắng, Việt Nam sẽ là thuộc quốc của Trung Quốc.

Trường Sa sẽ mất nốt về Trung Quốc, Đông Nam Á sẽ bị Trung Quốc khống chế hoàn toàn.

Tuy vậy, không phải tình hình đã vô vọng.

Đã có 1 lực lượng lãnh đạo ĐCS VN, tạo điều kiện cho Ngoại trưởng Hillary Clinton tuyên bố “trở lại Châu Á” ngày 23/7/2010 tại Hà Nội.

Đã có 1 bộ phận lãnh đạo ĐCS VN, không muốn im lặng, khi Trung Quốc cắt cáp tầu Bình Minh 2, cắt cáp tầu Viking2, trong hải phận Việt Nam.

Đã có 1 bộ phận lãnh đạo cao cấp ĐCS VN thăm Ấn Độ, gặp Tổng thống Obama trong Apec 11/2011.

Đã có 1 bộ phận lãnh đạo cao cấp Quân đội nhân dân Việt Nam, tích cực mua sắm trang bị, vũ khí hiện đại cho Hải quân VN…

Tuy nhiên bộ phận yêu nước này của ĐCS VN có 1 điểm chung với phe giáo điều thân Trung Quốc của Nguyễn Phú Trọng.

Đó là họ cũng chưa tán thành đa đảng, chưa tán thành dân chủ.

Họ vẫn mong muốn được tham nhũng vô tội vạ mà không bị trừng phạt của pháp luật.

Họ đang bị phe Nguyễn Phú Trọng, Trung Quốc lợi dụng điểm này.

Nếu không phản công ngay Nguyễn Phú Trọng, bộ phận yêu nước của ĐCS VN sẽ bị đẩy vào thế yếu.

Phe Nguyễn Phú Trọng sẽ áp dụng những bài học tranh quyền lực của Mao Trạch Đông, mà nắm các vị trí then chốt của ĐCS VN và nhà nước Việt Nam.

Thế giới, sau khủng khoảng kinh tế 2008 của Hoa Kỳ, đã khác xưa. Trung Quốc đã lộ nguyên hình 1 đế quốc phong kiến, quyết tâm bành trướng không khoan nhượng trên Biển Đông.

Thế giới, sau mùa xuân Ả Rập 2011, đã khác hẳn thế giới xưa. Không còn chuyện các chế độ độc tài tham nhũng vô tội vạ trên dân tộc mình mà không bị trừng phạt.

Vì vậy, lực lượng các đảng viên ĐCS VN yêu nước, nhưng vẫn mong muốn làm giầu bằng tham nhũng, hãy tỉnh ngộ mà đi theo tiếng gọi lòng yêu nước.

Diễn biến của đợt chỉnh đảng này, phụ thuộc rất lớn vào sự chuyển mình của bộ phận này.

Chúng ta đã thấy sức mạnh yêu nước của 11 cuộc xuống đường biểu tình, chống Trung Quốc của nhân dân Hà Nội, Sài Gòn, có sức mạnh ngăn cả 1 kế hoạch xâm lược Trường Sa của Trung Quốc như thế nào.

Lần này nữa, chúng ta đã phân tích, tìm được ý đồ của Trung Quốc, thì sẽ cùng nhau hóa giải được nó.

Nòng cốt của phong trào dân chủ Việt Nam hiện nay là các Blogers dân chủ, các trang mạng dân chủ xuất hiện trong vòng mấy năm trở lại đây.

Tất cả đều có 1 điểm chung, là yêu nước chống bành trướng Trung Quốc, bảo vệ người yêu nước bị tù tội, đấu tranh cho dân chủ Việt Nam bằng nâng cao dân trí, bất bạo động…

Chúng ta phê phán ĐCS VN, phê phán những khuyến điểm mà lý thuyết cộng sản không thể thực hiện được, và những hậu quả nó đem lại cho xã hội Việt Nam.

Như vậy, những đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam mà giác ngộ, chống Trung Quốc bành trướng, cũng là những người yêu nước.

Trong cuộc Chỉnh Đảng hôm nay, những đảng viên yêu nước chân chính, những đảng viên biết đặt lợi ích quốc gia, dân tộc lên trên những khẩu hiệu sáo rỗng Mác Lê Nin, lên trên tình hữu nghị với Trung Quốc…sẽ là những nạn nhân của thanh trừng của phe Nguyễn Phú Trọng.

Nếu chính họ, những đảng viên có tư tưởng hướng Tả-Dân chủ-Dân tộc, đoàn kết lại với nhau, vạch trần sự bán nước của phe Nguyễn Phú Trọng, thì cuộc Chỉnh Đảng này lại có thể là cơ hội cho Việt Nam.

Có thể 1 chính đảng mới ra đời, gần với dân tộc Việt Nam hơn, gần với lòng yêu nước Việt Nam hơn. Một chính đảng mang tư tưởng: hướng Tả, Dân Chủ, Dân tộc.

Phong trào dân chủ cần động viên lực lượng này chống Trung Quốc.

Cần lên án tất cả những ai thân Trung Quốc, theo đuôi Nguyễn Phú Trọng.

Nguyễn Phú Trọng có thể là “Lú”, nhưng “Lú” giả vờ, “Lú” của 1 tay buôn do thái già đời, giả điếc, giả khờ.

Hơn nữa, “chú nó” là Trung Quốc, không phải đứa ngu.

Trung Quốc đang tìm cách, đưa lũ người bán nước này, thống trị hoàn toàn ĐCS VN.

Cần vạch hết các thủ đoạn của Nguyễn Phú Trọng, trong cuộc đấu đá dành quyền lực này.

Tháng 10/2011, Nguyễn Phú Trọng đã dùng cụm từ “Đỉnh cao chiến lược”, “đỉnh cao quan hệ” để che dấu những khiêu khích, những ăn cướp của Trung Quốc tại Biển Đông.

Nguyễn Phú Trọng đã ra Thông cáo chung với Trung Quốc để “hợp tác toàn diện”, để tạo điều kiện cho Trung Quốc mua chuộc các tỉnh biên giới phía bắc Việt Nam, để tạo điều kiện cho Trung Quốc bố trí ém quân, lũng đạo kinh tế trên toàn bộ lãnh thổ, lãnh hải Việt Nam.

Hôm nay, Nguyễn Phú Trọng lại dùng cụm từ “CN Mác-LêNin”, “định hướng XHCN”, “tư tưởng Hồ Chí Minh”… để che dấu bản chất đầu hàng Trung Quốc hoàn toàn của họ.

Cần đoàn kết tất cả những ai chống Trung Quốc.

Nguyễn Nghĩa

Posted in Chính Sách Đối Ngoại, Chinh Tri Viet Nam | Leave a Comment »

Mỗi ngày ta chọn một niềm vui: hiếp đáp phụ nữ, hăm dọa bà già, hoặc mưu hại người mẹ và trẻ em

Posted by hoangtran204 trên 24/03/2012

Không điên tiết thật không phải con người

Lê Diên An

Đây là lần cuối khi các anh mời mọc em về vấn đề biểu tình cách đây đã hơn 8 tháng, đừng bao giờ lấy lý do làm rõ về cuộc biểu tình hay lý do không liên quan gì để mời rồi hỏi tùm lum về người này người kia nữa. Việc hôm nay em đến đây cũng vì thông cảm đó là nhiệm vụ của các anh phải làm, em thừa hiểu khi đến đây sẽ không còn gì để làm rõ về cuộc biểu tình chống Trung Quốc nữa vì đã làm việc rất rõ và hơn cả rõ nữa từ ngày 17, 18, 19/07/2011 và nhiều ngày khác rồi và đây là lần cuối em hợp tác, có nghi ngờ gì thì các anh cứ điều tra… Nếu có bất kỳ bằng chứng gì chứng minh em phạm pháp thì bắt luôn đi, còn muốn biết những người khác như nào thì trực tiếp điều tra những người í đi! Việc em đi ngoại giao, vui chơi với bất kỳ ai là quyền tự do của em, em không quan tâm việc riêng tư của ai và đó là phép lịch sự tối thiểu.

Còn gán cho mình là rải truyền đơn gì nữa… truyền đơn gì, đâu đâu?

Thật nực cười, khi là một ca sĩ thì sự giao tiếp sẽ rất rộng rãi và được nhiều người chú ý đến mình, còn bộ não có giới hạn của 1 con người thì để tập trung suy nghĩ làm việc sao cho tốt để cố gắng trở thành 1 con người có ích cho người thân yêu, cho XH… thế mà cứ bắt mình phải nhớ và nhận xét hết người này đến người nọ, thậm chí phải nhớ ngày í ăn nhậu, vui chơi ở đâu. Nói lần cuối cùng tại đây cho các anh hiểu luôn nhá (mặc dù tôi đã nói rất rất nhiều lần… đến khô cả cổ họng trong mỗi buổi làm việc): BỘ NÃO TÔI CHỈ CÓ 1, 2 TAY VÀ 2 CHÂN, vẪN CHƯA HỌC ĐƯỢC PHÉP PHÂN THÂN HAY CHUI VÀO ĐẦU HAY VÀO BỤNG NG KHÁC ĐỂ MÀ ĐỌC ĐƯỢC SUY NGHĨ CỦA HỌ.

Còn tờ giấy mời tôi post lên đây để làm gì hả? Đó là những tờ giấy rất rất rất lạ đối với tôi, post làm gì hả??? Để cho nhiều người khác biết được CHUYỆN LẠ NHƯNG CÓ THẬT ít nhất đã xảy za với bản thân tôi, chỉ vì tôi đã đi biểu tình chống Trung Quốc từ ngày 17/07/2011 và bị bắt và… Ủa, đi biểu tình chống Trung Quốc là tội phạm??? Eo ui… tôi ko có quyền cứt gì ^^^^^^^^^^^^^^^^

PS: Còn nữa, có công an nào gọi điện nhắc nhở tôi ko à? Nhắc nhở gì ^^ ít đi nhậu, đi chơi hả? Có đấy! Gọi và nhắn tin với nội dung hăm dọa nha! Mà tôi cóc cần biết các anh là ai!? Đi hăm he, hù dọa người dân lương thiện như tôi thì cũng chỉ là cặn bã của XH! Đan Mạchchchchchch

_____________________

Ghi chú của Dân Luận

Bản trên đây đã được gõ lại cho dễ hiểu, không thay đổi nội dung entry của tác giả. Còn đây là giấy mời tác giả, chị Lê Thu An – tức ca sĩ Lê Diên An – của Công An quận 8 Tp. HCM, với lý do làm rõ việc tham gia biểu tình tại trung tâm thành phố:

danluan_00171.jpg

Nguồn: Diên An

danluan.org

——————–

Một biểu tình viên bị dọa giết đêm nay?

23/03/12

nguồn: danchimviet.info

Đó là chị Trần Thị Nga và bé Phú, con trai chị. Chị Nga được biết tới qua một số hoạt động gần đây khi chị tham gia biểu tình, nhất là đã cùng anh em trong nhóm đi thăm chị Bùi Hằng đang bị giam giữ qua hình thức “giáo dục” tại trại Thanh Hà.

Ngoài việc tới thăm cổ vũ tinh thần cho bạn mình hôm tháng 2, chị cũng cùng nhóm bạn đem hoa tặng Bùi Hằng ngày 8/3. Tuy vậy, hoa đã không bao giờ tới tay người nhận, dù công an hứa chuyển cho Bùi Hằng.

Chị và con đã vào tầm ngắm của công an lâu nay, do những hoạt động này.

Hôm nay, chị gửi tới cộng đồng mạng lời kêu cứu khẩn cấp, có nội dung sau:

“Chiều nay khi đi chợ và quán Net về, người hàng xóm gọi bảo: Cửa thoát hiểm nhà mày bị công an rào làm nát hết vườn nhà tao rồi. Tôi ra xem thì họ đã dùng dây thép gai rào kín rồi. Kiểu này đêm nay chúng khóa cửa ngoài, đổ xăng cho một mồi lửa là mẹ con tôi hết đời.

Vì sự an toàn tính mạng của bé Phú, kính mong mọi người giúp tôi đưa thông tin này lên internet để nhiều người biết. Vì sáng nay ở cửa nhà tôi họ rải rất nhiều truyền đơn đe dọa sẽ giết tôi”.

Tiếp đó, tiến sĩ Nguyễn Xuân Diện, kêu gọi trên blog của ông:

Khẩn thiết đề nghị bà con cô bác ai ở gần khu vực nhà chị Nga, hãy đến giúp chị và cháu, tại địa chỉ: Số nhà 52, đường Trần Thị Phúc, ngã ba Trần Hưng Đạo, tổ 8, phường Hai Bà Trưng, TP Phủ Lý, tỉnh Hà Nam.

Đề nghị bà con cô bác nếu thấy có sự việc gì xảy ra, hãy quay phim, ghi âm, chụp ảnh và gửi ngay về các địa chỉ:

basamvietnam@gmail.com
lamkhanghn@yahoo.com.vn”

Chị Nga cũng cho biết, từ lâu, công an địa phương luôn theo dõi và khủng bố tinh thần mẹ con chị. Nhiều lần những kẻ lạ mặt, quen mặt đã rình những lúc chị đi vắng đề đổ mắm tôm và rác bẩn vào nhà chị, hoặc nhiều lần dùng keo 502 đổ vào ổ khóa nhà chị, thậm chí ngay cả khi mẹ con chị đang ngủ trong nhà.

Đây không phải lần đầu những người bất đồng chính kiến hay có những hoạt động xã hội không vừa ý nhà cầm quyền bị khủng bố tinh thần.

Giáo sư Hoàng Minh Chính, nhà văn Trần Khải Thanh Thủy nhiều lần bị đổ mắm tôm, rác rưởi, ném cứt đái vào nhà. Việc đe dọa cũng diễn ra trong nhiều tháng qua với các thành viên tham gia biểu tình.

Đặc biệt, cụ Lê Hiền Đức, 81 tuổi mới bị dọa “đánh bỏ mẹ” và “vặt hết tóc” khi cụ có những góp ý với công an về phong cách ứng xử.

——————–

nguồn: http://wp.me/po94e-1JL

Hăm Dọa và Bạo lực có làm cho phụ nữ sợ không?

Bà cụ chống tiêu cực trong giáo dục đã từng “ bị ‘khủng bố’ bằng vòng hoa đám tang” (coi bài báo cuối trang này) đang chọn mục tiêu mới.

Nay, cụ đang quan sát những hành vi tham nhũng của công an để báo cáo lãnh đạo. Công an phường và CA quận Đống Đa ở Hà Nội biết việc cụ làm, nên đang dỡ  trò hăm dọa để bịt miệng. Nhưng đọc thư cụ viết trả lời công an mới biết “kẻ cắp gặp bà già”.

Thêm vào đó, cụ không cô đơn trong cuộc chiến với công an quận…Cụ đang có bạn mới. Mời bạn đọc bài viết rất chân thành của người bạn mới của cụ.

Tôi đi làm thư ký tình nguyện cho cụ Lê Hiền Đức

 Tác giả: Phương Bích
 

Hôm trước đọc tin trên mạng, tôi đã biết chuyện công an quận Đống Đa có giấy mời cụ Lê Hiền Đức lên trụ sở công an quận để làm việc. Nội dung chỉ ghi vắn tắt là “giải quyết theo ý kiến của bà”. Dưới phần chữ in cuối cùng còn thêm dòng chữ viết tay: yêu cầu không vắng mặt.

Cụ Đức từng phục vụ trong ngành an ninh nên có lẽ hiểu chuyện hơn người khác. Cụ bảo bây giờ cụ đang quan sát những hành vi tham nhũng của công an để báo cáo lãnh đạo, vì vậy cụ đang bị công an có nhiều hành vi trả thù, khủng bố cụ. Bởi vậy cụ tuyên bố là sẽ không đi đâu một mình, không thể tiếp xúc với công an trong tình trạng riêng lẻ, tránh tình trạng công an hành hung người dân đến chết rồi lu loa lên là tự sát, hoặc do va đập chấn thương vô tình. Rồi cụ cũng ghi rõ nếu công an đến nhà cụ làm việc thì phải có hẹn, xuất trình thẻ ngành đàng hoàng.

Đọc những thông tin này, tôi thấy nhiều người sẽ rút ra được kinh nghiệm quý báu cho mình. Tránh những trường hợp chết bí ẩn trong trụ sở công an, không có ai làm chứng như rất nhiều trường hợp thương tâm đã xảy ra.

Trước khi đi, trong khi cho bố ăn sáng, tôi kể chuyện cụ Đức cho bố nghe, kể cả chuyện mặc dù cụ Đức có rất nhiều tình nguyện viên làm thư ký cho cụ, nhưng hôm nay là tôi và chị Hương ở bên Viện Khoa học Xã hội cùng làm “thư ký” cho cụ trong buổi làm việc với công an. Bây giờ cái gì tôi cũng phải kể cho bố nghe, để bố biết mà “phản biện” với mấy người cứ hay bóng gió này nọ về tôi.

Phóng xe đến nhà cụ Đức, tôi thấy khoảng hơn hai chục người đứng trước cửa nhà cụ. Trông dáng vẻ họ rõ là những người dân quê lam lũ. Phần lớn họ là phụ nữ có tuổi, trong đó có cả bà cụ tám mươi tuổi, nhăn nheo móm mém. Hỏi mới biết họ là những người nông dân ở xã Đông Ngạc, huyện Từ Liêm bị mất đất bởi dự án Ciputra Nam Thăng Long từ năm 2005.

Cụ Đức mời họ vào nhà, nghe họ trình bày rồi nhận đơn từ của họ. Thoạt đầu thấy cái bao tải dứa họ khệ nệ vác vào, tôi lại tưởng sản vật quê nhà bà con đem lên biếu cụ. Đến lúc cụ hỏi về điều gì đó thì họ lôi cái bao dứa ra, hóa ra trong đó là một cái ba lô đựng toàn đơn từ khiếu nại. Tôi những muốn rớt nước mắt, cả một bao tải dứa trĩu nặng bao nỗi thống khổ của những người đàn bà lam lũ kia. Không biết họ đã đi tới những đâu, đã khóc hết bao nhiêu nước mắt, và mấy ai đã chìa tay ra cho những con người này.

Dù hôm nay cụ Đức không có lịch làm việc với họ, nhưng cụ vẫn mời họ vào nhà, lắng nghe họ trình bầy rồi nhận đơn của họ. Nghe vài lời không rõ được mọi chuyện, nhưng tôi tin những người đàn bà kia. Họ không dại gì bịa ra những câu chuyện tày đình, để rồi suốt 7 năm nay kiên trì và nhẫn nại gõ tất cả mọi cánh cửa, với hy vọng tìm được công lý cho họ.

Tôi rất ấn tượng với người đàn bà tên Hoàng Thị Tưởng, thay mặt bà con trình bày với cụ Đức. Nước da chị đen sạm, giọng nói từ tốn, nhẹ nhàng, rất lễ phép, chị kể về chuyện bao nhiêu năm nay chị cùng bà con gõ cửa đến những đâu để khiếu nại, rồi chỉ vì khiếu nại như thế mà công an bắt chị, kết án 7 tháng tù giam, tống vào Hỏa Lò. Nghe đến Hỏa Lò là ruột gan tôi lại nhộn nhạo. Cái tên địa danh đó giờ đây không còn đáng sợ với tôi nữa, nhưng cái chính tôi đã nhìn nó với một con mắt khác trước rất nhiều, về thực chất giữa những con người có án hay chưa có án lại cần phải được soi qua cái lăng kính cuộc đời, mới có thể biết được đâu là cái tốt, đâu là cái xấu.

Chị Tưởng kể khi không lấy được đất của dân, nhà thầu đã đổ bê tông dày 20 phân lên ruộng. Rốt cuộc ngần ấy năm nay ruộng đất để hoang, không cấy hái gì được nữa. Cụ Đức nghe vậy cũng gật đầu bảo đã từng thấy ruộng đất bị bỏ hoang nhiều lắm. Tôi nghĩ đó mới chính là tội ác. Lãng phí cũng là một tội ác.

Thời gian không có nhiều, trong khi chị Tưởng lôi đơn từ, ảnh chụp ra cho cụ Đức xem, mọi người kể những ai đã bị giam vào Hỏa Lò chỉ vì đi khiếu nại. Chị Đỗ Thị Ngữ ở xóm Đình, thôn Nhật Tảo còn kể bị giam 4 tháng, con cháu ở nhà bỏ ra 50 triệu để chạy chọt thì chị mới được ra. Lời chị kể đúng sai đến đâu tôi chưa biết, nhìn khắp lượt những con người ngồi quanh đây, tôi không thể hình dung ra chặng đường mà những người đàn bà này đã đi trong suốt những năm qua, thương không biết nói sao cho vừa. Chỉ biết động viên họ hãy cố gắng đi đến đích, ruộng đất là máu thịt của người nông dân, không thể để cho ai cướp đoạt được.

Nếu không vì mấy người đàn ông mặc cảnh phục xuất hiện thì bà con chắc còn ngồi lâu. Mọi người lần lượt chào chúng tôi, không quên lời cảm ơn đã tiếp đón bà con và xin chúng tôi hãy giúp đỡ họ. Bà cụ móm mém tám mươi tuổi ôm lấy cụ Đức nói gì tôi không nghe rõ, chỉ thấy là nước mắt giàn giụa. Tiễn bà con ra cửa, cụ Đức còn lớn tiếng dặn dò rồi bảo với tay công an khu vực:

– Cấm không được ai gây khó dễ cho bà con đấy. Bà con có bị quấy nhiễu gì thì báo ngay cho tôi biết.

Giờ mới đến màn chính của ngày hôm nay. Sau khi cụ giới thiệu tôi và chị Hương là thư ký cho cụ một cách đàng hoàng, để cho họ khỏi thắc mắc, cụ bắt đầu yêu cầu hai công an viên mặc cảnh phục phải xưng tên và xuất trình thẻ ngành. Chỉ có thế mà um tý tỏi lên. Hai công an viên kia nhất định không chịu đáp ứng yêu cầu của cụ. Cụ cáu lắm, bảo:

– Lạ nhỉ, tôi tên là thế này, ở địa chỉ này, các anh đều biết, vậy mà tôi lại không được biết tên các anh là sao. Thẻ ngành của các anh đâu?

– Ôi giời, cụ biết cháu rõ quá rồi còn gì, cháu mặc quân phục thế này chưa đủ hay sao mà cụ còn phải đòi thẻ ngành?

Đúng là lạ thế đấy, nhưng cụ nói đại để là quân phục thì cụ cũng có thể mượn được, rồi nhỡ đâu hôm qua thì cậu còn ở công an quận, nhưng hôm nay thì cậu lại chuyển đơn vị khác rồi thì sao, vậy nên cần thẻ ngành là vì thế đấy. Hai tay công an gần như mất kiên nhẫn vì cụ cứ truy mấy cái vụ thể thức làm việc ban đầu ấy. Một tay công an tên là Sơn bỏ ra ngoài, tỏ vẻ rất bực bội, bảo thôi không làm việc nữa. Cụ Đức cũng bực mình, bảo: Láo! Ra thì cũng phải chào hỏi chứ, nhà cụ có phải là chỗ thích vào thì vào, thích ra là ra đâu. Nhưng tay công an tên là Hưng thì tỏ vẻ nhẫn nại hơn, nếu bỏ về thì không hoàn thành nhiệm vụ à? Anh ta không câu nệ gì nữa, hỏi thẳng luôn, rằng có phải vừa qua cụ có phản ảnh lên lãnh đạo công an thành phố về việc cảnh sát 113 quận Đống Đa đi xe chuyên ngành, đến gặp các hộ kinh doanh để xin tiền trong dịp tết vừa qua không? Đấy! Là hôm nay chúng cháu đến chỉ để hỏi cụ về việc đó thôi.

Trời đất, có thế mà cũng phải mời cụ lên quận, rồi không mời được thì lại xuống tận nhà cụ chỉ để hỏi có mỗi cái câu thế thôi à?

Theo thông tấn xã vỉa hè thì sáng nay sẽ có rất nhiều dân oan sẽ có mặt ở Hà Nội để gửi đơn kêu cứu. Mà cụ Lê Hiền Đức lại vốn được coi là vị cứu tinh của dân oan cả nước, nên chắc hẳn họ bày ra cái vụ này cốt chỉ để giữ chân cụ trong sáng nay mà thôi. Là tôi đoán vậy, nhưng hẵng nghe cụ hoạnh vụ giấy mời này cái đã. Cụ giương mục kỉnh soi cái giấy mời:

– Thứ nhất từ ngữ ghi trong cái giấy mời này là rất thiếu lễ độ. Ghi là yêu cầu không được vắng mặt! Các anh có phải là lãnh đạo của tôi đâu mà ghi là yêu cầu, các anh mời thế đấy à? Mời thì phải mời cho nó đàng hoàng, phải hỏi xem liệu tôi có thể đến được hay không chứ lại ghi là yêu cầu à.

– Thứ hai, giấy mời ghi cụt lủn là giải quyết ý kiến của bà. Tôi đã gặp các anh bao giờ đâu mà bảo là có ý kiến gì? Mà tôi có nhiều ý kiến lắm, nhưng tôi có ý kiến với lãnh đạo công an thành phố chứ không phải với các anh.

Tay công an tên Hưng đành phải công nhận là cái câu yêu cầu ấy là xấc xược, do không nhớ ra là cụ đã nhiều tuổi??? Và lúc đầu thì thay mặt anh em cháu xin lỗi, sau thì nhớ ra bảo chính là cháu viết nên cháu xin lỗi cụ. Cụ Đức đồng ý bỏ qua, nhưng thâm tâm tôi thì không bỏ qua. Anh ta nói thế hóa ra vì cụ Đức nhiều tuổi nên anh ta xin lỗi, thế còn với người khác thì anh ta không xin lỗi và có quyền yêu cầu à?

Sau thì cụ bắt đầu nói về cái vụ cụ phản ánh việc công an quận Đống Đa xin tiền dân để ăn tết. Cụ bảo cụ nói với ông Nhanh là, anh không cho lính tiền ăn tết hay sao mà để chúng nó ngửa tay đi xin tiền dân thế? Chúng nó đang bôi gio trát trấu vào mặt chính quyền đấy anh có biết không hả?

Anh công an Hưng cũng tỏ ra bức xúc lắm, bảo bắt được mấy thằng ăn bẩn ấy thì anh ta đập chết. Cụ Đức cười bảo, chúng nó bảo cụ ơi, con chỉ được một tý thôi, con còn phải nộp lên trên cơ. Cái nhà anh Hưng kia giãy lên:

– Đấy, thế là cụ biết đấy chứ, cái chính cụ chả bảo cho chúng con biết thôi.

– Tôi bảo thì để các anh hết việc à. Theo nguyên tắc chống tham nhũng, trước hết là phải đảm bảo giữ kín danh tính người tố cáo để bảo đảm an toàn cho họ. Còn việc tìm ra ai là người xin tiền, xin vào lúc nào, xin ai thì đó là nhiệm vụ của công an chứ không phải của tôi. Các anh phải bằng nghiệp vụ chuyên môn để tìm ra sự thật về phản ảnh của người dân, chứ sao lại đi hỏi ngược lại thế?

Nói tóm lại việc công an làm việc với cụ Đức hôm nay chỉ có thế. Anh công an tên Hưng ghi xong biên bản, đọc xong rồi lại đưa cụ Đức đọc lại, ký vào là xong. Lúc đầu căng thẳng thế, giờ thì cười tươi như hoa, bắt tay chúng tôi rồi chào cụ ra về. Tay công an tên Sơn bỏ đi đâu mất hút giờ cũng quay lại cười xởi lởi. Khi chia tay, 2 anh công an ra sức nói rằng chống tham nhũng là việc của chúng cháu. 2 anh còn hùng hồn nói: nếu bắt được đứa nào ăn bẩn thì cháu đập chết. Chúng tôi tỏ vẻ nghi ngờ, thì 2 anh khẳng định: đánh thẳng tay. Bằng chứng là năm vừa rồi đuổi khỏi ngành mấy đứa. 2 anh vẫn tức là vì cụ báo vụ việc những cụ lại chẳng chỉ rõ là ai để chúng cháu trị cho một trận. Cụ bảo: nếu là tôi thì tôi đã tìm ra cái thắng ấy từ lâu rồi. Có mỗi việc ấy mà từ Tết đến giờ các anh ko tìm ra là quá kém. Họ về rồi, tôi với chị Hương cứ cười rũ ra, phục bà cô hơn tám mươi tuổi sát đất.

Dù sao tôi cũng có thêm được một kinh nghiệm quý giá trong cuộc sống. Tôi cứ tủm tỉm cười suốt khi mấy tay công an bị cụ Đức đá xoáy. Lẽ ra biết tính cụ rồi thì ban đầu cứ đúng thể thức phép tắc mà làm, có phải đơn giản và nhẹ nhàng mà lại được việc không. Đằng này lại dốt thế, để cụ chỉnh từ đầu đến cuối trước mặt hai phụ nữ lạ mặt như tôi và chị Hương, để rồi thấy chúng tôi cứ ngồi cười suốt như thế. Chị Hương thì bảo, chẳng phải họ dốt đâu mà đó là bản chất của họ, quen cái cách làm việc trịnh thượng, coi dân như cỏ rác rồi, chẳng may lần này gặp cụ Đức thì chịu thôi.

Tôi ra về với niềm vui thoáng chốc nhưng lòng lại chợt chùng xuống khi nghĩ về những người phụ nữ xã Đông Ngạc lúc sáng. Những người phụ nữ lam lũ cả đời cùng thửa ruộng, bán chân cho đất bán mặt cho trời mà chưa hết nỗi lo mất đất mất ruộng. Sao họ khổ thế, những mong cày sâu cuốc bẫm làm ra hạt lúa cho mình cho đời mà cũng không xong. Bỏ ruộng bỏ nhà đi kêu cứu mà nào có bàn tay nhà nước nào chìa ra cho họ hay chỉ có những kẻ ăn cơm dân nhong nhóng chờ cơ hội để hốt họ lên xe bus. Mà ai trong số phụ nữ lao khổ đó có được Trời phú cho một cái đầu thông tuệ như cụ Đức đâu cơ chứ.

Cầu những điều may mắn ngày nào đó đến với họ.
P.B

Phụ lục: Giấy mời và trả lời giấy mời

Công an quận Đống Đa mời Cụ bà Lê Hiền Đức ngày 21.3.2012 tới trụ sở để làm việc. Giấy mời được CA khu vực chuyển đến Bà chiều hôm trước, song Bà đã từ chối không đến, với lý do không an toàn cho Bà.

Giấy mời yêu cầu bà đúng 9h00 ngày 21.3.2012 đến Trụ sở công an Quận Đống Đa, 382 Khâm Thiên, HN về việc giải quyết theo ý kiến của bà và ghi thêm “yêu cầu không vắng mặt”.

Tuy nhiên, khi nhận được Giấy mời, bà đã trả lời, nguyên văn như sau:

Hồi 18g31 phút ngày 20/3/2012 Anh CSKV Nguyễn Văn Thước đưa giấy mời của công an quận Đống Đa mời tôi 9 giờ ngày 21/3/2012 đến trụ sở CA quận Đống Đa để “giải quyết theo ý kiến của bà”.Tôi không nhận giấy mời này vì không đi đâu một mình cả.Hiện tại tôi đang quan sát những hành vi tham nhũng của công an để báo cáo lãnh đạo – vì vậy tôi bị công an đang có nhiều hành vi trả thù, khủng bố, tôi phải cảnh giác, không đi đâu 1 mình và không thể tiếp xúc riêng lẻ với công an – để tránh tình trạng công an hành hung người dân đến chết rồi lu loa lên “vì tự sát hoặc va đập chấn thương vô tình”.Nếu công an đến nhà tôi làm việc phải có thẻ ngành và gọi điện trước để hẹn giờ gặp.
Ký tên: Lê Hiền Đức

Công an quận Đống Đa gửi giấy mời cụ đến trụ sở làm việc trong bối cảnh từ ngày 18/3/2012 đến nay cụ Lê Hiền Đức liên tục bị một số máy lạ gọi điện khủng bố và ngày 19/3/2012, một nghi phạm chết trong trụ sở công an huyện Can Lộc (Hà Tĩnh) được cho là do treo cổ tự tử.

————————

Báo Tiền Phong trong nước đăng tin hôm 18/9/2007

Chống tiêu cực bị ‘khủng bố’ bằng vòng hoa đám tang

TP – 5 giờ sáng 18/9, bà Lê Hiền Đức (76 tuổi) trú tại số nhà 7 ngõ 56 phố Pháo Đài Láng, Đống Đa (Hà Nội) nhận được cuộc điện thoại từ một người hàng xóm báo tin, trước cửa nhà bà có một vòng hoa lớn.

Bà Lê Hiền Đức

Do sự việc quá bất ngờ nên cụ không dám mở cửa và cuống quýt gọi điện cho người thân.

Theo ghi nhận ban đầu tại hiện trường, đây là vòng hoa dùng trong đám tang, có chiều cao khoảng 1,5 m, ở giữa có dải băng đen ghi dòng chữ “các con cháu kính viếng”. Có thể nói, đây là một hành vi cố tình uy hiếp, đe dọa, khủng bố tinh thần của một cụ già.

Nhận được tin báo, Công an phường Láng Thượng đã có mặt kịp thời, lập biên bản tại hiện trường có sự chứng kiến của bà Đức và hàng xóm, và tiến hành điều tra làm rõ sự việc.

Tìm hiểu, chúng tôi được biết, bà Lê Hiền Đức tên thật là Phạm Thị Dung Mỹ – một nữ điệp báo của Sở Liêm phóng Hà Nội. Sau kháng chiến chống Pháp, bà chuyển về Hà Nội làm giáo viên tại trường Chu Văn An. Hiện tại, bà đã về hưu, sống một mình trong căn nhà này từ nhiều năm nay.

Bà Lê Hiền Đức cho biết: Từ xưa đến nay tôi không xích mích thù hằn với ai. Chỉ có điều tôi là “bà già lắm chuyện” hay tố giác tiêu cực nên có nhiều người không ưa chăng (!?).

 

Chiếc vòng hoa đặt trước của nhà bà Đức

Được biết, hơn một năm qua, bà đã quyết tâm làm tất cả mọi việc để phanh phui nhưng vụ việc tiêu cực trong ngành giáo dục của Hà Nội.

Đến ngày 28/9, Thanh tra thành phố Hà Nội sẽ phải trả lời tôi kết quả thanh tra về những tiêu cực diễn ra tại các trường tiểu học Nguyễn Khả Trạc (quận Cầu Giấy); Trường THCS Việt Nam – Angiêri (quận Thanh Xuân) mà tôi đã phản ánh. Nếu kết quả không thỏa mãn, tôi sẽ tiếp tục kiến nghị lên Bộ Giáo dục và Đào tạo.

“Là một nhà giáo, tôi không thể đang tâm nhìn ngành giáo dục bị bôi nhọ bởi một vài cá nhân. Tôi sẽ chiến đấu đến hơi thở cuối cùng để cho ngành giáo dục trở nên trong sạch”, bà Đức nói.

Bà Đức còn cho biết: Ngoài chiếc vòng hoa “quái gở” này, trong thời gian qua bà còn nhận được rất nhiều cuộc điện thoại nặc danh, với những lời lẽ chửi bới, đe dọa kiểu: “Nếu không ngừng việc chống tiêu cực thì ra đường sẽ bị xe tông”.

————————–

Cập nhật: 24-3-3012

* “…Chị Nga đi biểu tình và trước đó chị bị lừa qua Đài Loan làm nô lệ lao động. Khi về VN chị Nga đã tố cáo bọn ngoại giao kết hợp với bọn doanh nghiệp xuất khẩu lao động, do đó tụi nó tức tối (trả thù).” Đinh Mạnh Vĩnh

Chúng tôi đã có mặt ở nhà chị Trần Thị Nga ở tp Phủ Lý

Vào lúc 11h hôm nay, một số anh chị em thân hữu ở Hà Nội, xuất phát từ tinh thần nhân văn và tôn trọng pháp luật đã về TP Phủ Lý, để có mặt ở nhà chị Trần Thị Nga, ở số nhà 52 phố Trần Thị Phúc, TP Phủ Lý, Hà Nam.

Sau khi gọi cửa, Chị Nga đã mở cửa để chúng tôi vào. Và liền sau đó, CSKV cũng có mặt để đưa giấy mời. Điều rất lạ là mặc dù Giấy Mời bao giờ cũng có 2 liên: liên gốc do CA giữ, liên 2 giao cho người được mời. Khi trao giấy thì người nhận ký vào liên gốc với nội dung đã nhận được giấy mời và khẳng định việc đến theo ngày giờ ghi trong giấy (hoặc nêu lý do không đến theo hẹn được). Vậy mà CSKV là Nam vẫn cứ một mực viết biên bản:

p1230313.jpgKhi chúng tôi đi ăn cơm, vài nhân viên an inh theo sát từng bước sát từng bước:

Có một vài người lạ đã đến cà khịa với chúng tôi về việc chúng tôi chụp hình xung quanh. Một hòn gạch ném vào chúng tôi nhưng rất may là không trúng.

Một người dân đi ngang qua cho biết, người này nghe tiếng họ bàn nhau sẽ gây ra vụ đụng xe chúng tôi. Vì vậy, buộc phải viết mấy dòng này, để nếu CÓ xảy ra chyện gì thì mọi người khỏi cảm thấy đột ngột.

14h05 bắt đầu đến Công an phường HBT để nộp đơn Khiếu nại và tố cáo.

p1230330.jpg15h40 ra về

17h đoàn đã về đến HN an toàn, mang theo hai Mẹ con Chị Nga.

___________________

CA khoác áo côn đồ cướp tài sản & khủng bố chị Trần Thị Nga

Danlambao – Những ngày gần đây, mẹ con chị Trần Thị Nga liên tục bị CA Hà Nam sách nhiễu, khủng bố. Trước đó, đã có những động thái & những lời đe dọa hết sức nghiêm trọng được gửi đến gia đình chị . Không dừng lại ở đó, sáng nay, 24/03, một nhóm CA khoác áo côn đồ tiếp tục xông vào tấn công, cướp máy ảnh của chị Nga.

Trao đổi với Danlambao, chị Trần Thị Nga đã tường thuật sự việc như sau: Nghe tin trên Internet về việc chị đang gặp nguy hiểm, một người dân gần đó đã đến thăm hỏi hai mẹ con. Tuy nhiên, khi người này vừa ra về thì bất ngờ bị một nhóm CA lao vào cướp điện thoại. Đồng thời, 2 tên côn đồ khác cũng xuất hiện, ập vào cướp máy ảnh của chị Nga.


* Viên CA tên Công – kẻ đã cướp máy ảnh của chị Trần Thị NgaTrong số những tên côn đồ này, có một viên CA mật vụ tên Công làm ở Phòng bảo vệ chính trị Hà Nam. Người này thường xuyên theo dõi, sách nhiễu chị Nga. Vụ giằng co kéo dài hơn 10 phút, diễn ra trước sự chứng kiến của một viên CSGT mặc sắc phục đứng ngay gần đó, mặc dù chị Nga đã nhiều lần lên tiếng yêu cầu can thiệp, nhưng viên CSGT không hề phản ứng.

Một lúc sau, lại có những công an phường đến gõ cửa yêu cầu chị Nga phải đi làm việc liên quan đến vụ lấy máy ảnh (?!) Khi bị từ chối, những viên CA này đe dọa sẽ phá cửa để bắt hai mẹ con. Chuyện nực cười ở chỗ, đây chẳng khác nào sự việc kẻ cướp đi báo CA để bắt người bị cướp!

Nghe tin hai mẹ con gặp nạn, rất đông bạn bè đã đến tận Hà Nam để động viên, thăm hỏi. Khoảng 2 giờ chiều, chị Nga cùng mọi người chủ động đến CA Phường làm việc. Tuy nhiên, phía CA Phường không dám làm việc công khai, thể hiện rõ việc làm bất chính.

Phía CA yêu cầu chị Nga phải lên một phòng kín trên tầng 2 để làm việc riêng với họ. Chị Nga từ chối, bởi gần đây tình trạng người dân chết bất thường trong đồn CA rất nhiều, hơn nữa trường hợp của chị đã nhiều lần trình báo, nhưng không được cơ quan CA bảo vệ. Chính vì vậy, chị Nga yêu cầu buổi làm việc phải có bạn bè chị giám sát.

Truyền đơn đe dọa, khóa trái cửa nhốt hai mẹ con, ném mắm tôm vào nhà… là một số trong nhiều “tác phẩm” của cơ quan CA Hà Nam nhằm khủng bố chị Trần Thị NgaĐề nghị được làm việc công khai, minh bạch không được phía CA Phường đáp ứng. Chị Nga đành yêu cầu họ lập biên bản xác nhận đã nhận được đơn trình báo của chị, tuy nhiên phía CA Phường không dám lập. Sau đó mọi người đề nghị CA lập biên bản với nội dung xác nhận “Không nhận đơn” nhưng cũng không được đáp ứng. Cuối cùng, bạn bè chị Nga tự lập biên bản về việc CA Phường không dám xác nhận việc trình báo của công dân.

Trước đó, đã có những lời đe dọa được gửi đến gia đình chị với nội dung: Ra khỏi nhà sẽ bị giết, nếu lên Hà Nội sẽ bị chơi luật rừng. Ngoài ra, CA còn cho người rào kín & bịt lối thoát hiểm nhà chị.

Chi sẻ với mọi người, chị Nga cho rằng : Qua những sự việc đã xảy ra, có thể thấy ngành CA không còn là nơi để chúng ta có thể tin tưởng, bảo vệ sự an toàn của mình. Trái lại, đây là nơi tổ chức các vụ sách nhiễu, khủng bố nhân dân. Vì vậy, mỗi chúng ta hãy tự lên tiếng để bảo vệ cho bản thân và cho những người thân của mình.

Danlambao

__________________

TIN KHẨN CẤP: TÍNH MẠNG HAI MẸ CON CHỊ NGA ĐANG BỊ ĐE DỌA

19h35 (23.3.2012): Chị Nga (ảnh) nhắn tin cho chúng tôi từ số ĐT: 09 725 725 85 báo TIN KHẨN CẤP:

“Chiều nay khi đi chợ và quán Net về, người hàng xóm gọi bảo: Cửa thoát hiểm nhà mày bị công an rào làm nát hết vườn nhà tao rồi. Tôi ra xem thì họ đã dùng dây thép gai rào kín rồi. Kiểu này đêm nay chúng khóa cửa ngoài, đổ xăng cho một mồi lửa là mẹ con tôi hết đời.

Vì sự an toàn tính mạng của bé Phú, kính mong mọi người giúp tôi đưa thông tin này lên internet để nhiều người biết. Vì sáng nay ở cửa nhà tôi họ rải rất nhiều truyền đơn đe dọa sẽ giết tôi”.

Nguyễn Xuân Diện:

Khẩn thiết đề nghị bà con cô bác ai ở gần khu vực nhà chị Nga, hãy đến giúp chị và cháu, tại địa chỉ: Số nhà 52, đường Trần Thị Phúc, ngã ba Trần Hưng Đạo, tổ 8, phường Hai Bà Trưng, TP Phủ Lý, tỉnh Hà Nam.

Đề nghị bà con cô bác nếu thấy có sự việc gì xảy ra, hãy quay phim, ghi âm, chụp ảnh và gửi ngay về các địa chỉ:

basamvietnam@gmail.com
lamkhanghn@yahoo.com.vn

Nguyễn Xuân Diện – Blog đề nghị bà con cư dân mạng loan báo rộng rãi bản tin trên đây!

* * *Chị Nga cũng đã cho chúng tôi biết, từ lâu, công an địa phương luôn theo dõi và khủng bố tinh thần mẹ con chị. Nhiều lần những kẻ lạ mặt, quen mặt đã rình những lúc chị đi vắng đề đổ mắm tôm và rác bẩn vào nhà chị, hoặc nhiều lần dùng keo 502 đổ vào ổ khóa nhà chị, thậm chí ngay cả khi mẹ con chị đang ngủ trong nhà.

* * *07h30 ngày Thứ Bảy 24.3.2012:

Sau một đêm yên ắng, sáng nay, một bọn côn đồ có sự yểm trợ của công an Phủ Lý đã xông đến nhà Chị Nga. Hiện chúng đã cướp đi máy ảnh của chị.

Rất đông hàng xóm đã chứng kiến sự hung hãn của côn đồ và cả sự lạnh lùng yểm trợ của công an.

Hiện tại công an vẫn bao vây quanh nhà Chị Trần Thị Nga. Trong nhà chỉ có hai mẹ con, khóa cửa ở bên trong.

7h47: Công an đang yêu cầu hàng xóm làm chứng để phá cửa vào nhà chị.
Hiện trường có mặt CSKV là Hoàng Tuấn Anh và Phó Công an phường tên Hậu.

Trước đó, có một bác biết tin chị bị khủng bố, đến thăm, được chị mở cửa vào nhà. Thừa cơ khi tiễn bác ra cửa, chị đã bị một tên giật máy ảnh lấy đi và đánh chị Nga. Một cảnh sát giao thông đứng ngay bên cạnh, nghe chị hô cướp cướp đề nghị cứu nhưng không giúp đỡ.

Hiện trường lúc này có mặt một nhân viên của Phòng bảo vệ chính trị công an tỉnh Hà Nam là Công.

Tình hình rất căng thẳng.

Theo blog Nguyễn Xuân Diện

*

Điều người ta cần biết thì lại không được biết, đó là vì sao công an lại khủng bố hai mẹ con chị Trần Thị Nga? Cái gì cũng phải có nguyên nhân, tại sao nhà chị chỉ có hai mẹ con, đàn bà con thơ mà công an lại huy động người đến rào cửa thoát hiểm nhà chị, dồn mẹ con chị đến chỗ chết à? Sao chính quyền lại tàn ác, vô nhân đạo đến vậy?

Trả lời:

1. vì sao công an lại khủng bố hai mẹ con chị Trần Thị Nga?
Tại vì chị Nga đi biểu tình và trước đó chị bị lừa qua Đài Loan làm nô lệ lao động. Khi về VN chị Nga đã tố cáo bọn ngoại giao kết hợp với bọn doanh nghiệp xuất khẩu lao động, do đó tụi nó tức tối.

2. Cái gì cũng phải có nguyên nhân, tại sao nhà chị chỉ có hai mẹ con, đàn bà con thơ mà công an lại huy động người đến rào cửa thoát hiểm nhà chị, dồn mẹ con chị đến chỗ chết à? Chị Nga chỉ có môt bé trai chưa đầy 3 tuổi. Vợ chồng chị Nga đã ly hôn.

3. Sao chính quyền lại tàn ác, vô nhân đạo đến vậy? Cái này không biết trả lời. Kính chuyển qua “ngài” tiến sĩ toóng Bạch Hùng, “ngài” kiết gia Phan Sơn, kép hát tuồng nghệ ranh Kép Tư Bền trả lời giúp em.

Đinh Mạnh Vĩnh

Nguồn danluan.org

Posted in Công An | Leave a Comment »

Hăm Dọa và Bạo lực có làm cho phụ nữ sợ không?

Posted by hoangtran204 trên 23/03/2012

Bà cụ chống tiêu cực trong giáo dục đã từng “ bị ‘khủng bố’ bằng vòng hoa đám tang(coi bài báo cuối trang này) đang chọn mục tiêu mới.

Nay, cụ đang quan sát những hành vi tham nhũng của công an để báo cáo lãnh đạo. Công an phường và CA quận Đống Đa ở Hà Nội biết việc cụ làm, nên đang dỡ  trò hăm dọa để bịt miệng. Nhưng đọc thư cụ viết trả lời công an mới biết “kẻ cắp gặp bà già”.

Thêm vào đó, cụ không cô đơn trong cuộc chiến với công an quận…Cụ đang có bạn mới. Mời bạn đọc bài viết rất chân thành của người bạn mới của cụ.

Tôi đi làm thư ký tình nguyện cho cụ Lê Hiền Đức

 Tác giả: Phương Bích

Hôm trước đọc tin trên mạng, tôi đã biết chuyện công an quận Đống Đa có giấy mời cụ Lê Hiền Đức lên trụ sở công an quận để làm việc. Nội dung chỉ ghi vắn tắt là “giải quyết theo ý kiến của bà”. Dưới phần chữ in cuối cùng còn thêm dòng chữ viết tay: yêu cầu không vắng mặt.

Cụ Đức từng phục vụ trong ngành an ninh nên có lẽ hiểu chuyện hơn người khác. Cụ bảo bây giờ cụ đang quan sát những hành vi tham nhũng của công an để báo cáo lãnh đạo, vì vậy cụ đang bị công an có nhiều hành vi trả thù, khủng bố cụ. Bởi vậy cụ tuyên bố là sẽ không đi đâu một mình, không thể tiếp xúc với công an trong tình trạng riêng lẻ, tránh tình trạng công an hành hung người dân đến chết rồi lu loa lên là tự sát, hoặc do va đập chấn thương vô tình. Rồi cụ cũng ghi rõ nếu công an đến nhà cụ làm việc thì phải có hẹn, xuất trình thẻ ngành đàng hoàng.

Đọc những thông tin này, tôi thấy nhiều người sẽ rút ra được kinh nghiệm quý báu cho mình. Tránh những trường hợp chết bí ẩn trong trụ sở công an, không có ai làm chứng như rất nhiều trường hợp thương tâm đã xảy ra.

Trước khi đi, trong khi cho bố ăn sáng, tôi kể chuyện cụ Đức cho bố nghe, kể cả chuyện mặc dù cụ Đức có rất nhiều tình nguyện viên làm thư ký cho cụ, nhưng hôm nay là tôi và chị Hương ở bên Viện Khoa học Xã hội cùng làm “thư ký” cho cụ trong buổi làm việc với công an. Bây giờ cái gì tôi cũng phải kể cho bố nghe, để bố biết mà “phản biện” với mấy người cứ hay bóng gió này nọ về tôi.

Phóng xe đến nhà cụ Đức, tôi thấy khoảng hơn hai chục người đứng trước cửa nhà cụ. Trông dáng vẻ họ rõ là những người dân quê lam lũ. Phần lớn họ là phụ nữ có tuổi, trong đó có cả bà cụ tám mươi tuổi, nhăn nheo móm mém. Hỏi mới biết họ là những người nông dân ở xã Đông Ngạc, huyện Từ Liêm bị mất đất bởi dự án Ciputra Nam Thăng Long từ năm 2005.

Cụ Đức mời họ vào nhà, nghe họ trình bày rồi nhận đơn từ của họ. Thoạt đầu thấy cái bao tải dứa họ khệ nệ vác vào, tôi lại tưởng sản vật quê nhà bà con đem lên biếu cụ. Đến lúc cụ hỏi về điều gì đó thì họ lôi cái bao dứa ra, hóa ra trong đó là một cái ba lô đựng toàn đơn từ khiếu nại. Tôi những muốn rớt nước mắt, cả một bao tải dứa trĩu nặng bao nỗi thống khổ của những người đàn bà lam lũ kia. Không biết họ đã đi tới những đâu, đã khóc hết bao nhiêu nước mắt, và mấy ai đã chìa tay ra cho những con người này.

Dù hôm nay cụ Đức không có lịch làm việc với họ, nhưng cụ vẫn mời họ vào nhà, lắng nghe họ trình bầy rồi nhận đơn của họ. Nghe vài lời không rõ được mọi chuyện, nhưng tôi tin những người đàn bà kia. Họ không dại gì bịa ra những câu chuyện tày đình, để rồi suốt 7 năm nay kiên trì và nhẫn nại gõ tất cả mọi cánh cửa, với hy vọng tìm được công lý cho họ.

Tôi rất ấn tượng với người đàn bà tên Hoàng Thị Tưởng, thay mặt bà con trình bày với cụ Đức. Nước da chị đen sạm, giọng nói từ tốn, nhẹ nhàng, rất lễ phép, chị kể về chuyện bao nhiêu năm nay chị cùng bà con gõ cửa đến những đâu để khiếu nại, rồi chỉ vì khiếu nại như thế mà công an bắt chị, kết án 7 tháng tù giam, tống vào Hỏa Lò. Nghe đến Hỏa Lò là ruột gan tôi lại nhộn nhạo. Cái tên địa danh đó giờ đây không còn đáng sợ với tôi nữa, nhưng cái chính tôi đã nhìn nó với một con mắt khác trước rất nhiều, về thực chất giữa những con người có án hay chưa có án lại cần phải được soi qua cái lăng kính cuộc đời, mới có thể biết được đâu là cái tốt, đâu là cái xấu.

Chị Tưởng kể khi không lấy được đất của dân, nhà thầu đã đổ bê tông dày 20 phân lên ruộng. Rốt cuộc ngần ấy năm nay ruộng đất để hoang, không cấy hái gì được nữa. Cụ Đức nghe vậy cũng gật đầu bảo đã từng thấy ruộng đất bị bỏ hoang nhiều lắm. Tôi nghĩ đó mới chính là tội ác. Lãng phí cũng là một tội ác.

Thời gian không có nhiều, trong khi chị Tưởng lôi đơn từ, ảnh chụp ra cho cụ Đức xem, mọi người kể những ai đã bị giam vào Hỏa Lò chỉ vì đi khiếu nại. Chị Đỗ Thị Ngữ ở xóm Đình, thôn Nhật Tảo còn kể bị giam 4 tháng, con cháu ở nhà bỏ ra 50 triệu để chạy chọt thì chị mới được ra. Lời chị kể đúng sai đến đâu tôi chưa biết, nhìn khắp lượt những con người ngồi quanh đây, tôi không thể hình dung ra chặng đường mà những người đàn bà này đã đi trong suốt những năm qua, thương không biết nói sao cho vừa. Chỉ biết động viên họ hãy cố gắng đi đến đích, ruộng đất là máu thịt của người nông dân, không thể để cho ai cướp đoạt được.

Nếu không vì mấy người đàn ông mặc cảnh phục xuất hiện thì bà con chắc còn ngồi lâu. Mọi người lần lượt chào chúng tôi, không quên lời cảm ơn đã tiếp đón bà con và xin chúng tôi hãy giúp đỡ họ. Bà cụ móm mém tám mươi tuổi ôm lấy cụ Đức nói gì tôi không nghe rõ, chỉ thấy là nước mắt giàn giụa. Tiễn bà con ra cửa, cụ Đức còn lớn tiếng dặn dò rồi bảo với tay công an khu vực:

– Cấm không được ai gây khó dễ cho bà con đấy. Bà con có bị quấy nhiễu gì thì báo ngay cho tôi biết.

Giờ mới đến màn chính của ngày hôm nay. Sau khi cụ giới thiệu tôi và chị Hương là thư ký cho cụ một cách đàng hoàng, để cho họ khỏi thắc mắc, cụ bắt đầu yêu cầu hai công an viên mặc cảnh phục phải xưng tên và xuất trình thẻ ngành. Chỉ có thế mà um tý tỏi lên. Hai công an viên kia nhất định không chịu đáp ứng yêu cầu của cụ. Cụ cáu lắm, bảo:

– Lạ nhỉ, tôi tên là thế này, ở địa chỉ này, các anh đều biết, vậy mà tôi lại không được biết tên các anh là sao. Thẻ ngành của các anh đâu?

– Ôi giời, cụ biết cháu rõ quá rồi còn gì, cháu mặc quân phục thế này chưa đủ hay sao mà cụ còn phải đòi thẻ ngành?

Đúng là lạ thế đấy, nhưng cụ nói đại để là quân phục thì cụ cũng có thể mượn được, rồi nhỡ đâu hôm qua thì cậu còn ở công an quận, nhưng hôm nay thì cậu lại chuyển đơn vị khác rồi thì sao, vậy nên cần thẻ ngành là vì thế đấy. Hai tay công an gần như mất kiên nhẫn vì cụ cứ truy mấy cái vụ thể thức làm việc ban đầu ấy. Một tay công an tên là Sơn bỏ ra ngoài, tỏ vẻ rất bực bội, bảo thôi không làm việc nữa. Cụ Đức cũng bực mình, bảo: Láo! Ra thì cũng phải chào hỏi chứ, nhà cụ có phải là chỗ thích vào thì vào, thích ra là ra đâu. Nhưng tay công an tên là Hưng thì tỏ vẻ nhẫn nại hơn, nếu bỏ về thì không hoàn thành nhiệm vụ à? Anh ta không câu nệ gì nữa, hỏi thẳng luôn, rằng có phải vừa qua cụ có phản ảnh lên lãnh đạo công an thành phố về việc cảnh sát 113 quận Đống Đa đi xe chuyên ngành, đến gặp các hộ kinh doanh để xin tiền trong dịp tết vừa qua không? Đấy! Là hôm nay chúng cháu đến chỉ để hỏi cụ về việc đó thôi.

Trời đất, có thế mà cũng phải mời cụ lên quận, rồi không mời được thì lại xuống tận nhà cụ chỉ để hỏi có mỗi cái câu thế thôi à?

Theo thông tấn xã vỉa hè thì sáng nay sẽ có rất nhiều dân oan sẽ có mặt ở Hà Nội để gửi đơn kêu cứu. Mà cụ Lê Hiền Đức lại vốn được coi là vị cứu tinh của dân oan cả nước, nên chắc hẳn họ bày ra cái vụ này cốt chỉ để giữ chân cụ trong sáng nay mà thôi. Là tôi đoán vậy, nhưng hẵng nghe cụ hoạnh vụ giấy mời này cái đã. Cụ giương mục kỉnh soi cái giấy mời:

– Thứ nhất từ ngữ ghi trong cái giấy mời này là rất thiếu lễ độ. Ghi là yêu cầu không được vắng mặt! Các anh có phải là lãnh đạo của tôi đâu mà ghi là yêu cầu, các anh mời thế đấy à? Mời thì phải mời cho nó đàng hoàng, phải hỏi xem liệu tôi có thể đến được hay không chứ lại ghi là yêu cầu à.

– Thứ hai, giấy mời ghi cụt lủn là giải quyết ý kiến của bà. Tôi đã gặp các anh bao giờ đâu mà bảo là có ý kiến gì? Mà tôi có nhiều ý kiến lắm, nhưng tôi có ý kiến với lãnh đạo công an thành phố chứ không phải với các anh.

Tay công an tên Hưng đành phải công nhận là cái câu yêu cầu ấy là xấc xược, do không nhớ ra là cụ đã nhiều tuổi??? Và lúc đầu thì thay mặt anh em cháu xin lỗi, sau thì nhớ ra bảo chính là cháu viết nên cháu xin lỗi cụ. Cụ Đức đồng ý bỏ qua, nhưng thâm tâm tôi thì không bỏ qua. Anh ta nói thế hóa ra vì cụ Đức nhiều tuổi nên anh ta xin lỗi, thế còn với người khác thì anh ta không xin lỗi và có quyền yêu cầu à?

Sau thì cụ bắt đầu nói về cái vụ cụ phản ánh việc công an quận Đống Đa xin tiền dân để ăn tết. Cụ bảo cụ nói với ông Nhanh là, anh không cho lính tiền ăn tết hay sao mà để chúng nó ngửa tay đi xin tiền dân thế? Chúng nó đang bôi gio trát trấu vào mặt chính quyền đấy anh có biết không hả?

Anh công an Hưng cũng tỏ ra bức xúc lắm, bảo bắt được mấy thằng ăn bẩn ấy thì anh ta đập chết. Cụ Đức cười bảo, chúng nó bảo cụ ơi, con chỉ được một tý thôi, con còn phải nộp lên trên cơ. Cái nhà anh Hưng kia giãy lên:

– Đấy, thế là cụ biết đấy chứ, cái chính cụ chả bảo cho chúng con biết thôi.

– Tôi bảo thì để các anh hết việc à. Theo nguyên tắc chống tham nhũng, trước hết là phải đảm bảo giữ kín danh tính người tố cáo để bảo đảm an toàn cho họ. Còn việc tìm ra ai là người xin tiền, xin vào lúc nào, xin ai thì đó là nhiệm vụ của công an chứ không phải của tôi. Các anh phải bằng nghiệp vụ chuyên môn để tìm ra sự thật về phản ảnh của người dân, chứ sao lại đi hỏi ngược lại thế?

Nói tóm lại việc công an làm việc với cụ Đức hôm nay chỉ có thế. Anh công an tên Hưng ghi xong biên bản, đọc xong rồi lại đưa cụ Đức đọc lại, ký vào là xong. Lúc đầu căng thẳng thế, giờ thì cười tươi như hoa, bắt tay chúng tôi rồi chào cụ ra về. Tay công an tên Sơn bỏ đi đâu mất hút giờ cũng quay lại cười xởi lởi. Khi chia tay, 2 anh công an ra sức nói rằng chống tham nhũng là việc của chúng cháu. 2 anh còn hùng hồn nói: nếu bắt được đứa nào ăn bẩn thì cháu đập chết. Chúng tôi tỏ vẻ nghi ngờ, thì 2 anh khẳng định: đánh thẳng tay. Bằng chứng là năm vừa rồi đuổi khỏi ngành mấy đứa. 2 anh vẫn tức là vì cụ báo vụ việc những cụ lại chẳng chỉ rõ là ai để chúng cháu trị cho một trận. Cụ bảo: nếu là tôi thì tôi đã tìm ra cái thắng ấy từ lâu rồi. Có mỗi việc ấy mà từ Tết đến giờ các anh ko tìm ra là quá kém. Họ về rồi, tôi với chị Hương cứ cười rũ ra, phục bà cô hơn tám mươi tuổi sát đất.

Dù sao tôi cũng có thêm được một kinh nghiệm quý giá trong cuộc sống. Tôi cứ tủm tỉm cười suốt khi mấy tay công an bị cụ Đức đá xoáy. Lẽ ra biết tính cụ rồi thì ban đầu cứ đúng thể thức phép tắc mà làm, có phải đơn giản và nhẹ nhàng mà lại được việc không. Đằng này lại dốt thế, để cụ chỉnh từ đầu đến cuối trước mặt hai phụ nữ lạ mặt như tôi và chị Hương, để rồi thấy chúng tôi cứ ngồi cười suốt như thế. Chị Hương thì bảo, chẳng phải họ dốt đâu mà đó là bản chất của họ, quen cái cách làm việc trịnh thượng, coi dân như cỏ rác rồi, chẳng may lần này gặp cụ Đức thì chịu thôi.

Tôi ra về với niềm vui thoáng chốc nhưng lòng lại chợt chùng xuống khi nghĩ về những người phụ nữ xã Đông Ngạc lúc sáng. Những người phụ nữ lam lũ cả đời cùng thửa ruộng, bán chân cho đất bán mặt cho trời mà chưa hết nỗi lo mất đất mất ruộng. Sao họ khổ thế, những mong cày sâu cuốc bẫm làm ra hạt lúa cho mình cho đời mà cũng không xong. Bỏ ruộng bỏ nhà đi kêu cứu mà nào có bàn tay nhà nước nào chìa ra cho họ hay chỉ có những kẻ ăn cơm dân nhong nhóng chờ cơ hội để hốt họ lên xe bus. Mà ai trong số phụ nữ lao khổ đó có được Trời phú cho một cái đầu thông tuệ như cụ Đức đâu cơ chứ.

Cầu những điều may mắn ngày nào đó đến với họ.
P.B

Phụ lục: Giấy mời và trả lời giấy mời

Công an quận Đống Đa mời Cụ bà Lê Hiền Đức ngày 21.3.2012 tới trụ sở để làm việc. Giấy mời được CA khu vực chuyển đến Bà chiều hôm trước, song Bà đã từ chối không đến, với lý do không an toàn cho Bà.

Giấy mời yêu cầu bà đúng 9h00 ngày 21.3.2012 đến Trụ sở công an Quận Đống Đa, 382 Khâm Thiên, HN về việc giải quyết theo ý kiến của bà và ghi thêm “yêu cầu không vắng mặt”.

Tuy nhiên, khi nhận được Giấy mời, bà đã trả lời, nguyên văn như sau:

Hồi 18g31 phút ngày 20/3/2012 Anh CSKV Nguyễn Văn Thước đưa giấy mời của công an quận Đống Đa mời tôi 9 giờ ngày 21/3/2012 đến trụ sở CA quận Đống Đa để “giải quyết theo ý kiến của bà”.Tôi không nhận giấy mời này vì không đi đâu một mình cả.Hiện tại tôi đang quan sát những hành vi tham nhũng của công an để báo cáo lãnh đạo – vì vậy tôi bị công an đang có nhiều hành vi trả thù, khủng bố, tôi phải cảnh giác, không đi đâu 1 mình và không thể tiếp xúc riêng lẻ với công an – để tránh tình trạng công an hành hung người dân đến chết rồi lu loa lên “vì tự sát hoặc va đập chấn thương vô tình”.Nếu công an đến nhà tôi làm việc phải có thẻ ngành và gọi điện trước để hẹn giờ gặp.
Ký tên: Lê Hiền Đức

Công an quận Đống Đa gửi giấy mời cụ đến trụ sở làm việc trong bối cảnh từ ngày 18/3/2012 đến nay cụ Lê Hiền Đức liên tục bị một số máy lạ gọi điện khủng bố và ngày 19/3/2012, một nghi phạm chết trong trụ sở công an huyện Can Lộc (Hà Tĩnh) được cho là do treo cổ tự tử.

————————

Báo Tiền Phong trong nước đăng tin hôm 18/9/2007

Chống tiêu cực bị ‘khủng bố’ bằng vòng hoa đám tang

TP – 5 giờ sáng 18/9, bà Lê Hiền Đức (76 tuổi) trú tại số nhà 7 ngõ 56 phố Pháo Đài Láng, Đống Đa (Hà Nội) nhận được cuộc điện thoại từ một người hàng xóm báo tin, trước cửa nhà bà có một vòng hoa lớn.

Bà Lê Hiền Đức

Do sự việc quá bất ngờ nên cụ không dám mở cửa và cuống quýt gọi điện cho người thân.

Theo ghi nhận ban đầu tại hiện trường, đây là vòng hoa dùng trong đám tang, có chiều cao khoảng 1,5 m, ở giữa có dải băng đen ghi dòng chữ “các con cháu kính viếng”. Có thể nói, đây là một hành vi cố tình uy hiếp, đe dọa, khủng bố tinh thần của một cụ già.

Nhận được tin báo, Công an phường Láng Thượng đã có mặt kịp thời, lập biên bản tại hiện trường có sự chứng kiến của bà Đức và hàng xóm, và tiến hành điều tra làm rõ sự việc.

Tìm hiểu, chúng tôi được biết, bà Lê Hiền Đức tên thật là Phạm Thị Dung Mỹ – một nữ điệp báo của Sở Liêm phóng Hà Nội. Sau kháng chiến chống Pháp, bà chuyển về Hà Nội làm giáo viên tại trường Chu Văn An. Hiện tại, bà đã về hưu, sống một mình trong căn nhà này từ nhiều năm nay.

Bà Lê Hiền Đức cho biết: Từ xưa đến nay tôi không xích mích thù hằn với ai. Chỉ có điều tôi là “bà già lắm chuyện” hay tố giác tiêu cực nên có nhiều người không ưa chăng (!?).

 

Chiếc vòng hoa đặt trước của nhà bà Đức

Được biết, hơn một năm qua, bà đã quyết tâm làm tất cả mọi việc để phanh phui nhưng vụ việc tiêu cực trong ngành giáo dục của Hà Nội.

Đến ngày 28/9, Thanh tra thành phố Hà Nội sẽ phải trả lời tôi kết quả thanh tra về những tiêu cực diễn ra tại các trường tiểu học Nguyễn Khả Trạc (quận Cầu Giấy); Trường THCS Việt Nam – Angiêri (quận Thanh Xuân) mà tôi đã phản ánh. Nếu kết quả không thỏa mãn, tôi sẽ tiếp tục kiến nghị lên Bộ Giáo dục và Đào tạo.

“Là một nhà giáo, tôi không thể đang tâm nhìn ngành giáo dục bị bôi nhọ bởi một vài cá nhân. Tôi sẽ chiến đấu đến hơi thở cuối cùng để cho ngành giáo dục trở nên trong sạch”, bà Đức nói.

Bà Đức còn cho biết: Ngoài chiếc vòng hoa “quái gở” này, trong thời gian qua bà còn nhận được rất nhiều cuộc điện thoại nặc danh, với những lời lẽ chửi bới, đe dọa kiểu: “Nếu không ngừng việc chống tiêu cực thì ra đường sẽ bị xe tông”.

————————–

Cập nhật 24-3-2012

* “…Chị Nga đi biểu tình và trước đó chị bị lừa qua Đài Loan làm nô lệ lao động. Khi về VN chị Nga đã tố cáo bọn ngoại giao kết hợp với bọn doanh nghiệp xuất khẩu lao động, do đó tụi nó tức tối.” Đinh Mạnh Vĩnh

Chúng tôi đã có mặt ở nhà chị Trần Thị Nga ở tp Phủ Lý

Vào lúc 11h hôm nay, một số anh chị em thân hữu ở Hà Nội, xuất phát từ tinh thần nhân văn và tôn trọng pháp luật đã về TP Phủ Lý, để có mặt ở nhà chị Trần Thị Nga, ở số nhà 52 phố Trần Thị Phúc, TP Phủ Lý, Hà Nam.

Sau khi gọi cửa, Chị Nga đã mở cửa để chúng tôi vào. Và liền sau đó, CSKV cũng có mặt để đưa giấy mời. Điều rất lạ là mặc dù Giấy Mời bao giờ cũng có 2 liên: liên gốc do CA giữ, liên 2 giao cho người được mời. Khi trao giấy thì người nhận ký vào liên gốc với nội dung đã nhận được giấy mời và khẳng định việc đến theo ngày giờ ghi trong giấy (hoặc nêu lý do không đến theo hẹn được). Vậy mà CSKV là Nam vẫn cứ một mực viết biên bản:

p1230313.jpgKhi chúng tôi đi ăn cơm, vài nhân viên an inh theo sát từng bước sát từng bước:

Có một vài người lạ đã đến cà khịa với chúng tôi về việc chúng tôi chụp hình xung quanh. Một hòn gạch ném vào chúng tôi nhưng rất may là không trúng.

Một người dân đi ngang qua cho biết, người này nghe tiếng họ bàn nhau sẽ gây ra vụ đụng xe chúng tôi. Vì vậy, buộc phải viết mấy dòng này, để nếu CÓ xảy ra chyện gì thì mọi người khỏi cảm thấy đột ngột.

14h05 bắt đầu đến Công an phường HBT để nộp đơn Khiếu nại và tố cáo.

p1230330.jpg15h40 ra về

17h đoàn đã về đến HN an toàn, mang theo hai Mẹ con Chị Nga.

___________________

CA khoác áo côn đồ cướp tài sản & khủng bố chị Trần Thị Nga

Danlambao – Những ngày gần đây, mẹ con chị Trần Thị Nga liên tục bị CA Hà Nam sách nhiễu, khủng bố. Trước đó, đã có những động thái & những lời đe dọa hết sức nghiêm trọng được gửi đến gia đình chị . Không dừng lại ở đó, sáng nay, 24/03, một nhóm CA khoác áo côn đồ tiếp tục xông vào tấn công, cướp máy ảnh của chị Nga.

Trao đổi với Danlambao, chị Trần Thị Nga đã tường thuật sự việc như sau: Nghe tin trên Internet về việc chị đang gặp nguy hiểm, một người dân gần đó đã đến thăm hỏi hai mẹ con. Tuy nhiên, khi người này vừa ra về thì bất ngờ bị một nhóm CA lao vào cướp điện thoại. Đồng thời, 2 tên côn đồ khác cũng xuất hiện, ập vào cướp máy ảnh của chị Nga.


* Viên CA tên Công – kẻ đã cướp máy ảnh của chị Trần Thị NgaTrong số những tên côn đồ này, có một viên CA mật vụ tên Công làm ở Phòng bảo vệ chính trị Hà Nam. Người này thường xuyên theo dõi, sách nhiễu chị Nga. Vụ giằng co kéo dài hơn 10 phút, diễn ra trước sự chứng kiến của một viên CSGT mặc sắc phục đứng ngay gần đó, mặc dù chị Nga đã nhiều lần lên tiếng yêu cầu can thiệp, nhưng viên CSGT không hề phản ứng.

Một lúc sau, lại có những công an phường đến gõ cửa yêu cầu chị Nga phải đi làm việc liên quan đến vụ lấy máy ảnh (?!) Khi bị từ chối, những viên CA này đe dọa sẽ phá cửa để bắt hai mẹ con. Chuyện nực cười ở chỗ, đây chẳng khác nào sự việc kẻ cướp đi báo CA để bắt người bị cướp!

Nghe tin hai mẹ con gặp nạn, rất đông bạn bè đã đến tận Hà Nam để động viên, thăm hỏi. Khoảng 2 giờ chiều, chị Nga cùng mọi người chủ động đến CA Phường làm việc. Tuy nhiên, phía CA Phường không dám làm việc công khai, thể hiện rõ việc làm bất chính.

Phía CA yêu cầu chị Nga phải lên một phòng kín trên tầng 2 để làm việc riêng với họ. Chị Nga từ chối, bởi gần đây tình trạng người dân chết bất thường trong đồn CA rất nhiều, hơn nữa trường hợp của chị đã nhiều lần trình báo, nhưng không được cơ quan CA bảo vệ. Chính vì vậy, chị Nga yêu cầu buổi làm việc phải có bạn bè chị giám sát.

Truyền đơn đe dọa, khóa trái cửa nhốt hai mẹ con, ném mắm tôm vào nhà… là một số trong nhiều “tác phẩm” của cơ quan CA Hà Nam nhằm khủng bố chị Trần Thị NgaĐề nghị được làm việc công khai, minh bạch không được phía CA Phường đáp ứng. Chị Nga đành yêu cầu họ lập biên bản xác nhận đã nhận được đơn trình báo của chị, tuy nhiên phía CA Phường không dám lập. Sau đó mọi người đề nghị CA lập biên bản với nội dung xác nhận “Không nhận đơn” nhưng cũng không được đáp ứng. Cuối cùng, bạn bè chị Nga tự lập biên bản về việc CA Phường không dám xác nhận việc trình báo của công dân.

Trước đó, đã có những lời đe dọa được gửi đến gia đình chị với nội dung: Ra khỏi nhà sẽ bị giết, nếu lên Hà Nội sẽ bị chơi luật rừng. Ngoài ra, CA còn cho người rào kín & bịt lối thoát hiểm nhà chị.

Chi sẻ với mọi người, chị Nga cho rằng : Qua những sự việc đã xảy ra, có thể thấy ngành CA không còn là nơi để chúng ta có thể tin tưởng, bảo vệ sự an toàn của mình. Trái lại, đây là nơi tổ chức các vụ sách nhiễu, khủng bố nhân dân. Vì vậy, mỗi chúng ta hãy tự lên tiếng để bảo vệ cho bản thân và cho những người thân của mình.

Danlambao

__________________

TIN KHẨN CẤP: TÍNH MẠNG HAI MẸ CON CHỊ NGA ĐANG BỊ ĐE DỌA

19h35 (23.3.2012): Chị Nga (ảnh) nhắn tin cho chúng tôi từ số ĐT: 09 725 725 85 báo TIN KHẨN CẤP:

“Chiều nay khi đi chợ và quán Net về, người hàng xóm gọi bảo: Cửa thoát hiểm nhà mày bị công an rào làm nát hết vườn nhà tao rồi. Tôi ra xem thì họ đã dùng dây thép gai rào kín rồi. Kiểu này đêm nay chúng khóa cửa ngoài, đổ xăng cho một mồi lửa là mẹ con tôi hết đời.

Vì sự an toàn tính mạng của bé Phú, kính mong mọi người giúp tôi đưa thông tin này lên internet để nhiều người biết. Vì sáng nay ở cửa nhà tôi họ rải rất nhiều truyền đơn đe dọa sẽ giết tôi”.

Nguyễn Xuân Diện:

Khẩn thiết đề nghị bà con cô bác ai ở gần khu vực nhà chị Nga, hãy đến giúp chị và cháu, tại địa chỉ: Số nhà 52, đường Trần Thị Phúc, ngã ba Trần Hưng Đạo, tổ 8, phường Hai Bà Trưng, TP Phủ Lý, tỉnh Hà Nam.

Đề nghị bà con cô bác nếu thấy có sự việc gì xảy ra, hãy quay phim, ghi âm, chụp ảnh và gửi ngay về các địa chỉ:

basamvietnam@gmail.com
lamkhanghn@yahoo.com.vn

Nguyễn Xuân Diện – Blog đề nghị bà con cư dân mạng loan báo rộng rãi bản tin trên đây!

* * *Chị Nga cũng đã cho chúng tôi biết, từ lâu, công an địa phương luôn theo dõi và khủng bố tinh thần mẹ con chị. Nhiều lần những kẻ lạ mặt, quen mặt đã rình những lúc chị đi vắng đề đổ mắm tôm và rác bẩn vào nhà chị, hoặc nhiều lần dùng keo 502 đổ vào ổ khóa nhà chị, thậm chí ngay cả khi mẹ con chị đang ngủ trong nhà.

* * *07h30 ngày Thứ Bảy 24.3.2012:

Sau một đêm yên ắng, sáng nay, một bọn côn đồ có sự yểm trợ của công an Phủ Lý đã xông đến nhà Chị Nga. Hiện chúng đã cướp đi máy ảnh của chị.

Rất đông hàng xóm đã chứng kiến sự hung hãn của côn đồ và cả sự lạnh lùng yểm trợ của công an.

Hiện tại công an vẫn bao vây quanh nhà Chị Trần Thị Nga. Trong nhà chỉ có hai mẹ con, khóa cửa ở bên trong.

7h47: Công an đang yêu cầu hàng xóm làm chứng để phá cửa vào nhà chị.
Hiện trường có mặt CSKV là Hoàng Tuấn Anh và Phó Công an phường tên Hậu.

Trước đó, có một bác biết tin chị bị khủng bố, đến thăm, được chị mở cửa vào nhà. Thừa cơ khi tiễn bác ra cửa, chị đã bị một tên giật máy ảnh lấy đi và đánh chị Nga. Một cảnh sát giao thông đứng ngay bên cạnh, nghe chị hô cướp cướp đề nghị cứu nhưng không giúp đỡ.

Hiện trường lúc này có mặt một nhân viên của Phòng bảo vệ chính trị công an tỉnh Hà Nam là Công.

Tình hình rất căng thẳng.

Theo blog Nguyễn Xuân Diện

*

Điều người ta cần biết thì lại không được biết, đó là vì sao công an lại khủng bố hai mẹ con chị Trần Thị Nga? Cái gì cũng phải có nguyên nhân, tại sao nhà chị chỉ có hai mẹ con, đàn bà con thơ mà công an lại huy động người đến rào cửa thoát hiểm nhà chị, dồn mẹ con chị đến chỗ chết à? Sao chính quyền lại tàn ác, vô nhân đạo đến vậy?

Trả lời:

1. vì sao công an lại khủng bố hai mẹ con chị Trần Thị Nga?
Tại vì chị Nga đi biểu tình và trước đó chị bị lừa qua Đài Loan làm nô lệ lao động. Khi về VN chị Nga đã tố cáo bọn ngoại giao kết hợp với bọn doanh nghiệp xuất khẩu lao động, do đó tụi nó tức tối.

2. Cái gì cũng phải có nguyên nhân, tại sao nhà chị chỉ có hai mẹ con, đàn bà con thơ mà công an lại huy động người đến rào cửa thoát hiểm nhà chị, dồn mẹ con chị đến chỗ chết à? Chị Nga chỉ có môt bé trai chưa đầy 3 tuổi. Vợ chồng chị Nga đã ly hôn.

3. Sao chính quyền lại tàn ác, vô nhân đạo đến vậy? Cái này không biết trả lời. Kính chuyển qua “ngài” tiến sĩ toóng Bạch Hùng, “ngài” kiết gia Phan Sơn, kép hát tuồng nghệ ranh Kép Tư Bền trả lời giúp em.

Đinh Mạnh Vĩnh

Nguồn danluan.org

Posted in Tham Nhung-Hoang Phí- Ăn Cắp | Leave a Comment »

Cuộc vận động chính trị lịch sử

Posted by hoangtran204 trên 22/03/2012

Lời tựa: Trong cuộc vận động thỉnh nguyện thư từ tháng 2, tháng 3 vừa qua, có hơn 1000 người Việt về thủ đô Washington DC tham dự vào các ngày 5 và 6 tháng 3. Đó là một cố gắng rất lớn của người Việt chúng ta.

Nước Mỹ rất rộng lớn.  Người Việt ở  Mỹ sống rãi rác trên khắp 50 tiểu bang. Ngoài một số người sống ở tập trung trong  6-7  tiểu bang (ở trong các thành phố lớn). Những người khác sống rãi rác và thưa thớt trong các tiểu bang còn lại. Có nơi, chỉ là một nhúm vài chục, hoặc vài trăm người, có vùng chỉ vài ba ngàn người sống lưa thưa rải rác.

Để về tham dự cuộc vận động chính trị lần này, người Việt phải dành rất nhiều thời gian, tiền bạc để chuẩn bị. Ở các tiểu bang  gần hoặc xa vùng thủ đô, nhiều người đã lái xe từ 2-8 tiếng mới tới nơi. Khi đi xa, tính đi tính lại thì mỗi giờ trung bình chỉ lái được 100 km (dẫu cho có lái 70-75 miles/ giờ). Xăng ở Mỹ lúc này giá 3,5 đô/ gần 4 lít; vẫn còn thua giá xăng ở Việt Nam, 1 lít/ 23 000 ngàn đồng. Lái xe trên đường cao tốc, với xe nhỏ, thì  mỗi giờ mất chừng 8 lít xăng (30 miles/ 1 gallon);  xe có 6 cylinder, V6,  hay minivan ngốn hết 10-12 lít (25 miles/ 1 gallon). 

Đặc biệt có khoảng 50- 80 người Việt từ Canada lái xe 10-18 tiếng đồng hồ về DC tham dự. Có một số người Việt từ Úc đến  góp mặt ủng hộ và chắc có lẻ ở các nước khác nữa, nhưng vì nhiềul ý do, họ không muốn lên tiếng. 

Người Việt ở các tiểu bang miền tây như California, Texas thì phải mua vé  máy bay qua Washington DC. Từ California qua thủ đô Washington mất 6 giờ bay. Vé mùa này cũng khoảng 350-500 đô/ 1 vé. Chỗ ăn chỗ ở cũng là một vấn đề. Nếu không có bà con bạn bè ở vùng ấy, người ở xa đến  mướn khách sạn ở vùng này cũng tốn khoảng 80-150 đô một ngày, chưa tính chi tiêu ăn uống.

Những ngày tháng 3 ấy thời tiết rất lạnh, nhiệt độ vào khoảng 0-2 độ C, gió lạnh buốt. Trên mạng còn viết rằng: có rất nhiều bác lớn tuổi 65-75 muốn về tham dự, nhưng con cháu bận đi làm hoặc ở xa nên đành ở nhà nghe ngóng và sụt sùi không yên. Thế mới biết tình người Việt Nam của mình đối với đất nước và đối với nhau luôn luôn là nồng ấm, dù là ở cách xa đến đâu. Rất cảm kích và biết ơn những người đã bỏ thời gian ký thỉnh nguyện thư, vận động những người khác ký thỉnh nguyện thư và đặc biệt là những người đã về tham dự tại DC. Cuộc vận động lần này rất qui mô, phổ biến rất rộng rãi trên internet và báo chí. Người tham dự ký TNT rất hăng hái, mạnh mẻ, hơn 150 000 ngàn người trong vòng 30 ngày là một nổ lực rất lớn của người Việt chúng ta.

Cuộc vận động chính trị lịch sử

Tác giả Đỗ Thành Công

nguồn danchimviet.info

http://www.danchimviet.info/archives/54701

Tôi đến Washington DC vào chiều thứ bảy, gặp gỡ và trao đổi với một số thân hữu trong 2 ngày cuối tuần, trước khi có mặt tại phòng họp Toà Bạch Ốc trưa Thứ Hai, ngày 5 tháng 3. Đây là lần thứ ba tôi vào Toà Bạch Ốc và lần nào thì cũng phải đi qua trạm kiểm soát này. Tuy phòng họp khác, nhưng phạm vi và hình thức, thì có thể khẳng định là địa điểm nằm trong khu vực thuộc Toà Bạch Ốc.

Khác với các lần trước, khi vào Toà Bạch Ốc và Quốc Hội với tư cách Phát ngôn nhân của Đảng Dân chủ Nhân dân, lần này tôi đi như một công dân Mỹ gốc Việt, ký Thỉnh Nguyện Thư cùng với mọi người, đòi hỏi chính phủ Hoa Kỳ phải áp lực với Hà Nội về nhân quyền. Tôi cũng ý thức được là mình đi thay cho gần 150 ngàn đồng hương đã ký tên trong Thỉnh Nguyện Thư, nhưng không có cơ hội để tham dự, trong đó theo ước lượng của tôi, có thể có hơn 10 ngàn người Việt, đang định cư ở Bắc California.

Những bức ảnh được dựng bên ngoài tòa Bạch Ốc

Thỉnh Nguyện Thư đòi hỏi Chính quyền Obama cần vận dụng yếu tố nhân quyền trong chính sách thương mại, áp lực Hà Nội phải tôn trọng nhân quyền, thả các tù nhân chính trị, cụ thể là Linh mục Nguyễn Văn Lý, Ts. Cù Huy Hà Vũ, Việt Khang và nhiều người khác.

Với sự vận động hữu hiệu của hệ thống truyền thông SBTN, qua anh Trúc Hồ và sự tiếp tay hỗ trợ của Tiến sĩ Nguyễn Đình Thắng, thuộc Boat People SOS, kết quả là gần 150 ngàn người Việt tại Hoa Kỳ đã ký tên trong Thỉnh Nguyện Thư. Đây là một cú “bỏ phiếu” lịch sử chưa từng có trong quá trình đấu tranh cho Tự do, Dân chủ và Nhân quyền tại Hải ngoại.

Hai ngày tham dự vận động nhân quyền với Cộng Đồng, tôi cảm nhận được tâm tư và nguyện vọng của hơn 1000 người Việt có mặt tại Hoa Thịnh Đốn và nổi thao thức, hồ hởi của gần 150 ngàn chử ký trên Thỉnh Nguyện Thư. Tôi nghĩ đây là thời điểm của lịch sử mà không phải lúc nào cũng có thể xảy ra, vì vậy có mặt cùng với các tấm lòng yêu thương đất nước, gặp gỡ nhiều người đã bỏ thời gian, tiền bạc, công việc v.v….để hội tụ tại Hoa Thịnh Đốn là một cơ duyên. Tôi cũng nghĩ, chắc khó có được một khoảng khắc như thế này lần thứ hai. Tôi đánh giá, đây là một cuộc vận động chính trị lịch sử tại hải ngoại, nó khẳng định một số yếu tố như sau:

– Sự lên tiếng đồng loạt chưa bao giờ xảy ra với gần 150 ngàn chữ ký trong một thời gian rất ngắn, để bày tỏ quan tâm của người Mỹ gốc Việt, của Cộng Đồng Người Việt tại Hoa kỳ, trước tình trạng đàn áp nhân quyền tại Việt Nam và yêu cầu Chính quyền Obama phải có thái độ cụ thể, đã đánh động được dư luận ở tầm vóc quốc tế.

– Vận dụng được sức mạnh của truyền thông, khai dụng yếu tố kỹ thuật toàn cầu từ trang nhà của Toà Bạch Ốc, cho mục tiêu đấu tranh và đã thể hiện được yếu tố Đoàn kết Cộng Đồng. Sự kiện này, vừa chứng tỏ sức mạnh của Cộng Đồng đối với chính giới Hoa Kỳ, vừa đánh tan được dư luận cho là thụ động, bảo hoà, an phận của Cộng Đồng Người Việt sau hơn 35 năm bỏ nước ra đi.

– Làm hỏng luận điệu tuyên truyền của Hà Nội đối với người dân trong nước khi rêu rao tập thể người Việt tại Mỹ nói riêng và Hải ngoại nói chung là khúc ruột nối dài của Đảng. Gần 150 ngàn chử ký của Thỉnh Nguyện Thư đã bẽ gãy luận điểu tuyên truyền cho rằng chỉ có một bộ phận nhỏ “phản động” tại hải ngoại, còn mang tâm lý thù hằn, chống phá nhà nước CHXHCNVN.

– Gây dựng lại niềm tin không những cho Cộng Đồng Người Việt tại Mỹ và Hải Ngoại mà còn thổi bùng thêm ngọn lửa đấu tranh, cổ vũ mạnh mẽ tinh thần cho các Lực lượng Dân chủ và Nhân dân tại Việt Nam.

– Bản Thỉnh Nguyện Thư với kết quả ngoạn mục, được viết ngay trên trang nhà của Tòa Bạch Ốc, chính là bản cáo trạng, tố cáo bản chất độc tài, chà đạp nhân quyền của nhà cầm quyền Hà Nội. Hình thức và nội dung này có giá trị và sức mạnh ngoại vận vô cùng hữu hiệu, hơn bất cứ cuộc điều trần nào về Nhân quyền.

Một số diễn tiến của sự việc

Khi số lượng chử ký đã lên đến hơn 50 ngàn, nhà cầm quyền Hà Nội đã bộc lộ tâm lý hoảng hốt. Thông tin ghi nhận, Bộ ngoại giao Hà Nội đã thăm dò phía Toà Đại sứ Mỹ tại Hà nội về Thỉnh Nguyện Thư và bày tỏ sự quan ngại của họ. (Tin trên mạng cho biết:  Hà nội đã yêu cầu tòa đại sứ Mỹ đóng trang web có thỉnh nguyện thư).

Ngược lại, phía Lập pháp Hoa kỳ khi đuợc thông tin về cuộc vận động trên, đã tham gia tích cực trong tiến trình áp lực Hành Pháp, họ đã thúc đẩy Hành Pháp phải quan tâm đến đòi hỏi của Cộng Đồng. Các Dân biểu trụ cột của Cộng Đồng Nam và Bắc California, đã đồng loạt lên tiếng và hổ trợ chúng ta.

Trong khi đó, phía Hành Pháp, Chính quyền Obama đã phải có thái độ đáp ứng. Theo qui định của Thỉnh Nguyện Thư trên trang nhà Toà Bạch Ốc, nếu đạt con số ký tên trong thời gian tối thiểu, nội dung Thỉnh Nguyên Thư sẽ được nhân viên Toà Bạch Ốc chú ý. Bước thứ hai là họ sẽ cử chuyên viên về lãnh vực chuyên môn để tham khảo, tìm hiểu nguyện vọng của Thỉnh Nguyện Thư, và sau cùng, bước thứ ba, sẽ có phúc đáp, trả lời trực tiếp của đại diện từ Toà Bạch Ốc.

Đó là tiến trình về Thỉnh Nguyện Thư, tiến trình này không có phần phải tiếp Cộng Đồng ngay tại Toà Bạch Ốc, hay trực tiếp lắng nghe Thỉnh Nguyện Thư của Cộng Đồng ở bất cứ hình thức nào. Tuy nhiên, chỉ trong vòng một thời gian ngắn, chưa tới 3 tuần lễ đã đạt con số hơn 130 ngàn chử ký, điều này có thể đã áp lực lên Văn phòng Tiếp cận Công chúng. Vì vậy, đã dẫn đến việc tổ chức cuộc tiếp đón đại diện Cộng Đồng tại Toà Bạch Ốc, hay đi xa hơn nữa là có “tin”, sẽ có Tổng Thống đến gặp phái đoàn trong ngày 5 tháng 3 v.v…..

Có thể nói, về mặt đấu tranh, mục tiêu Thỉnh Nguyện Thư đã đạt được thành quả to lớn. Chúng ta muốn nội dung Thỉnh Nguyên Thư phải đến tận tay Tổng Thống Hoa Kỳ, Barack Obama. Chúng ta cũng mong muốn Hoa Kỳ phải áp lực với Hà Nội trong quan hệ thương mại. Dĩ nhiên việc Hoa Kỳ sẽ có thái độ và hành xử thế nào với Hà Nội, còn phải phụ thuộc vào nhiều yếu tố, nhưng mục tiêu Thỉnh Nguyện Thư tố cáo Hà Nội đã và đang vi phạm nhân quyền, và gần nhất là đang giam giữ Việt Khang, chỉ vì anh cất lên tiếng ca bày tỏ lòng yêu nước, mục tiêu đó đã hoàn toàn đạt được kết quả mỹ mãn. Nếu không có một số lượng người ký tên đáng kể, vượt qua chỉ tiêu của trang nhà Toà Bạch Ốc, sẽ không có cuộc gặp mặt tại Toà Bạch Ốc, và cuộc vận động Quốc Hội của hơn 500 người từ hơn 45 tiểu bang trên toàn nước Mỹ. Đồng thời, nội dung của Thỉnh Nguyên Thư, cũng không đặt lên bàn của TT Hoa Kỳ để Barack Obama biết là Cộng Đồng Người Việt tại Mỹ muốn gì.

Trong quá khứ chúng ta đã tiến hành nhiều công tác ngoại vận. Các hình thức vận động qui mô như đăng Thỉnh Nguyên Thư trên báo Hoa Kỳ với phí tổn rất cao, hay ở tầm vóc nhỏ hơn như gửi thư thẳng tới Tòa Bạch Ốc v.v…Tất cả các hình thức đó đều có thể khẳng định là không đến tay TT Hoa Kỳ, ngoại trừ lần gặp mặt ông TT George W. Bush hồi năm 2007 với 4 đại diện của Đảng phái và Tổ chức Nhân quyền. Lần này, với thành quả vận động ngoại vận vô cùng ngoạn mục. Nội dung Thỉnh Nguyện Thư đã đến tay TT Hoa Kỳ, như vậy chiến dịch đã đạt mục tiêu.

Nếu cuộc họp ở Toà Bạch Ốc dĩễn ra suông sẻ theo dự tính, có lẽ đã không có vấn đề tranh luận và gây nhiều ngộ nhận. Qua kinh nghiệm ngoại vận, nếu chúng ta thụ động, không lên tiếng, không đấu tranh, không vận động và không đòi hỏi, thì làm sao Chính quyền biết chúng ta muốn gì? Đồng thời, cũng cần phải hiểu để tránh tâm lý thất vọng là hướng giải quyết như thế nào, còn tuỳ thuộc vào bối cảnh chính trị từ Lập Pháp lẫn Hành Pháp. Thông thường, các giới chức ngoại giao và chính trị chuyên nghiệp, đều trả lời nước đôi, hoặc họ không đủ thẩm quyền để hưá hẹn, hoặc chẳng dại gì hứa rồi không làm được thì hố to.

Cuộc họp ở Toà Bạch Ốc ngày 5 tháng 3 năm 2012 đã diễn ra trong khuôn khổ như vậy. Việc tổ chức gặp Cộng Đồng theo đánh giá của tôi là sáng kiến từ Văn phòng Tiếp Cận Cộng Đồng. Đây là văn phòng mới thành lập, nhân viên thiếu kinh nghiệm và không có sở trường về ngoại vận. Đối với đòi hỏi của Cộng Đồng Người Việt, yêu cầu Chính quyền Obama phải có hướng giải quyết để áp lực Hà Nội trên lãnh vực nhân quyền đã vượt ra khỏi phạm vi chuyên nghiệp của Văn phòng Tiếp Cận Cộng Đồng. Đó là lý do chúng ta thấy cuộc tổ chức sơ sót và vấp phải một số khuyết điểm. Quan trọng nhất, chương trình thảo luận đã bị thay đổi giờ chót, bị chi phối, làm đảo lộn mọi thứ và gây bất mãn từ nhiều người tham dự.

Tại sao lại thay đổi chương trình? Ai thắng, ai bại trong chíến dịch Thỉnh Nguyện Thư?

Thành phần tham dự chương trình tại Toà Bạch Ốc, cao cấp có ông Jon Carson, Giám đốc Văn Phòng Tiếp Cận Cộng Đồng. Ông Jon đã thay mặt TT Obama để chào mừng mọi người, cho biết TT Hoa Kỳ rất quan tâm về nhân quyền và tuyên bổ “cuộc vận động bằng Thỉnh Nguyện Thư của quý vị với con số 130 ngàn chữ ký là một hiện tượng”. Bỏ ra những xáo ngữ, thành phần tham dự trong chương trình và những thay đổi giờ chót, cho thấy sự lúng túng từ phiá Hành Pháp.

Trong chương trình, lúc đầu không có Michael Posner, phụ tá Bộ Trưởng Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ đặc trách về Nhân Quyền, Dân chủ và Lao Động. Người đại diện do Bộ Ngoại Giao chỉ định tham dự hội thảo là Robert Bailey, chỉ là “Vietnam Human Rights Officer”, nhân viên về Nhân quyền Việt Nam. Ông Michael đến vào lúc chót, nâng tằm vóc cuộc họp tại Toà Bạch Ốc đúng ý nghĩa của Thỉnh Nguyện Thư. Dù vậy, nó cũng cho thấy, quyết định của Văn phòng Toà Bạch Ốc, không phải từ Văn phòng Tiếp Cận Cộng Đồng, khi đưa ông Michael Posner đến tham dự vào giờ chót là quyết định bị áp lực, không phải quyết định có chủ ý.

Michael Posner là chuyên viên dày dạn kinh nghiệm về lãnh vực nhân quyền, ông đã từng gặp một số thân nhân của các nhà bất đồng chính kiến Việt Nam. Năm 2009 tại khách sạn New World Sài Gòn, Michael đã gặp mẹ của Nguyễn Bắc Truyển, em Bs. Lê Nguyên Sang, Luật sư Lê Công Định, Luật sư Đặng Dũng và nhiều người khác, để tìm hiểu về tình hình vi phạm nhân quyền tại Việt Nam. Trước khi được đề cử làm phụ tá bà Ngoại trưởng Hillary Clinton, ông Michael là luật sư và đã từng sáng lập Tổ chức có tên là Nhân Quyền Trên Hết – “Human Rights First”. Vì vậy, nhờ vào kinh nghiêm hoạt động trong lãnh vực nhân quyền, Michael được để ý và cất nhắc, từ đó bước vào lãnh vực chính trị.

Trong cuộc điều trần tại Quốc hội Hoa kỳ hồi tháng 5 năm 2011, ông Michael Posner, phát biểu về chính sách của Hoa Kỳ về Dân chủ như sau: “ Chính quyền Obama tin tưởng rằng sự chuyển tiếp các nền dân chủ phải tự phát từ chính các quốc gia đó. Thử thách nằm ở chính nhân dân và những người lãnh đạo tại các khu vực này, nhằm tìm kiếm một tương lai tốt đẹp hơn, một tương lai mà các chính quyền phải có trách nhiệm trả lời trước những khát vọng của quần chúng và nhận trọng trách để bảo vệ nhân quyền, các giá trị tự do căn bản và lòng tự trọng của quần chúng, vì họ xứng đáng được đối xử như vậy. Nước Mỹ luôn đặt trọng tâm và kỳ vọng vào sự thành công của họ và chúng ta có thể giữ vai trò rất hệ trọng để ủng hộ họ. “

Mặc dù Văn phòng Tiếp Cận Cộng Đồng lo nhiệm vụ tổ chức cuộc gặp, nhưng chương trình và nội dung thì Toà Bạch Ốc quyết định, vì nó tế nhị và vượt ra khỏi phạm vi chuyên môn của Văn phòng Tiếp cận Cộng Đồng. Sự kiện Cộng Đồng Người Việt tại Hoa Kỳ đã vận động Thỉnh Nguyện Thư với gần 150 ngàn chữ ký trong thời gian kỷ lục, đã nói lên mối quan tâm sâu xa của Cộng Đồng. Sự kiện này, cũng chứng tỏ Hành Pháp, thời gian qua đã lơ là trong lãnh vực nhân quyền và đó là lý do để Hà Nội gia tăng cường độ vi phạm, liên tục đàn áp các nhà bất đống chính kiến, bắt giam vô tội vạ các anh chị em dân chủ với các bản án tùy tiện.

Bản Thỉnh Nguyện Thư cũng cho thấy sự mềm mỏng của Chính quyền Obama trước thái độ “bất chấp dư luận” của Hà Nội. Điều này, vô hình chung, tạo điều kiện cho Hà Nội, được “đàng chân lân đàng đầu” leo thang đàn áp. Vì vậy, nên Cộng Đồng Người Việt mới phẫn nộ và nổ lực lên tiếng trong một mặt trận chung, dẫn đến kết quả bất ngờ với Thỉnh Nguyện Thư lịch sử.

Cuộc họp ở Toà Bạch Ốc để lên án Hà Nội vi phạm nhân quyền, nhưng cũng mặc nhiên xác nhận một sự kiện mà phiá Hành Pháp không muốn đề cập đến, đó là họ đã coi nhẹ lãnh vực nhân quyền khi đối đầu với Hà Nội trong thời gian qua. Đó là lý do Toà Bạch Ốc đã phải thay đổi chương trình, cắt bỏ các phần thuyết trình có chất lượng về nhân quyền, đề nghị chọn lựa những thành phần “trẻ”, nhưng thực chất là thiếu kinh nghiệm để dễ dàng điều hướng.

Có thể nói, Toà Bạch Ốc không muốn thấy trong ngày 5 tháng 3, ngay tại khuôn viên Toà Bạch Ốc, Cộng Đồng Người Việt, không những tố cáo Hà Nội vi phạm nhân quyền mà còn qui trách nhiệm cho Hành Pháp đã không làm tròn chức năng của họ. Hãy tưởng tượng nếu thuyết trình viên không phải Billy Le, Cindy Dinh mà là những chuyên viên kinh nghiệm và dày dạn về nhân quyền, hiểu rỏ chính sách ngoại vận của Hoa Kỳ và Hà Nội, thì cuộc hội thảo sẽ diễn ra theo chiều hướng nào? Liệu cô Tuyết Dương, cố vần về dân quyền và di trú thuộc Văn phòng Tiếp cận Cộng Đồng, có thể lèo lái nội dung cuộc thảo luận theo hướng của Toà Bạch Ốc không?

Thỉnh Nguyện Thư và cuộc vận động chính giới tại Hoa Thịnh Đốn trong hai ngày 5 và 6 tháng 3 năm 2012 là một thành quả ngoại vận vô cùng tốt đẹp của Cộng Đồng Người Việt. Nếu phải xác định ai thắng, ai bại thì có thể nói là Cộng Đồng Người Việt đã thắng vẻ vang. Vì không riêng gì Hành Pháp Hoa Kỳ phải nhượng bộ trước sức mạnh ngoại vận, phiá Lập Pháp đã nhận ra khả năng vận động của Cộng Đồng, ngay cả nhà cầm quyền Cộng sản cũng đã bị hố to.

Từ nay về sau, các luận điệu như Cộng Đồng Người Việt là khúc ruột của Tổ quốc, hay họ chỉ là những kẻ thua trận, bọn quá khích thiểu số, bọn khủng bố v.v… đều không đủ sức thuyết phục, không những đối với Nhân dân trong nước mà ngay cả đối với các chính giới Hoa Kỳ. Nói cách khác, gần 150 ngàn chử ký là những lá phiếu của Tự Do, Dân Chủ và Nhân Quyền, vả vào mặt chế độ và tố cáo bản chất độc tài, vi phạm nhân quyền của Hà Nội trước công luận thế giới.

Cái gì đã và sẽ xảy ra?

Sự việc đáng tiếc lẽ ra có thể giải quyết trước. Khi Văn phòng Tiếp cận Cộng Đồng gửi thư qua email trước ngày 5 tháng 3, họ đã đề trên lá thư mời rỏ ràng là “National Vietnamese American Leaders Briefing”. Chính trong tiêu đề in trong tờ chương trình, phần thuyết trình cũng ghi rõ “Updates from Young Vietnamese Leaders on Diaspora Communities” một cụm từ dễ gây ngộ nhận, vì nó gần trùng với tiêu đề đã từng sử dụng cho cuộc hội thảo hồi tháng 7 năm 2011, tại Washington DC do Boat People SOS tổ chức.

Nói cách khác, những người trong cuộc lúc đó có trách nhiệm phải liên lạc và yêu cầu Văn Phòng Tiếp Cận Cộng Đồng thay đổi hình thức lẫn nội dung ngay từ đầu để tránh ngộ nhận. Thay vì đợi đến lúc đã rồi thì mới phản đối, bước ra khỏi phòng họp, hoặc giải thích, biện hộ vòng vo thì “tình ngay, lý gian”, gây ra những tổn hại, nghi kỵ không cần thiết và vô bổ trong Cộng Đồng.

Thành qủa của gần 150 ngàn chử ký đòi hỏi Hành Pháp phải cứng rắn trong các chính sách đối ngoại với Hà Nội có giá trị vô cùng to lớn. Đây là sức mạnh của Cộng Đồng, đặt điều kiện và bày tỏ các nguyện vọng trên mặt trận ngoại vận cũng như vận động chính trị, có lợi cho Tự Do, Dân Chủ và Nhân quyền. Thành quả này, không phải của riêng ai, không phải của SBTN hay Boat People SOS, nó là nổ lực và tài sản chung của cả Cộng Đồng người Việt tại Hoa Kỳ và Hải Ngoại. Và vì vậy, cần thẩm định và đánh giá trung thực, khách quan để tránh thái độ ‘công thần” hay “độc quyền” hoặc “cầm nhầm”. Tất cả chỉ có hại cho đại cuộc; vừa làm nản lòng những người đã góp sức đấu tranh, vừa tự làm giảm giá trị của mình trong mắt quần chúng.

Tôi vẫn tin rằng chúng ta “nhân vô thập toàn”. Đã có những thiếu sót, khuyết điểm trong việc tổ chức và những khuyết điểm này cần phải học hỏi, rút kinh nghiệm để hoàn hảo hơn. Nhưng nếu khuyết điểm là vấp vào bản chất của lòng “tự cao, tự đại”, của “độc đoán” trong cách hành xử và giải quyết công việc, thì sẽ tự làm hại mình, bị tảy chay, cô lập và dẫn đến hậu quả của thất bại, không sớm thì muộn.

Việc dấu tên thành phần ban thuyết trình “trẻ”, đợi đến phút chót mới biết đã không phải là quyết định có lợi. Nếu “Billy Le” có vấn đề, không hội đủ tiêu chuẩn của sự khách quan tối thiểu, đại diện cho gần 150 ngàn chữ ký để thuyết trình tại Toà Bạch Ốc, thì việc dấu tên thành phần thuyết trình, phút chót mới công bố, đã góp phần tạo ra những dư luận bất lợi.

Cuộc thuyết trình tại Toà Bạch Ốc, không phải chỉ thay mặt SBTN hay Boat People SOS, mà là thay mặt cho gần 150 ngàn chữ ký. Phải ý thức điều này để thấy tầm vóc hệ trọng của vấn đề, thì mới không vấp khuyết điểm chủ quan trong quyết định chọn nhân sự, thay mặt cả Cộng Đồng Người Việt Hải ngoại. Trong số gần 200 quan khách tham dự tại Toà Bạch Ốc, có nhiều người tại Washington DC, đủ khả năng và tầm vóc để nói thay cho Cộng Đồng.

Sự kiện Toà Bạch Ốc đòi hỏi phải để người “trẻ” chỉ là thủ thuật, trẻ mà không đủ kinh nghiệm đấu tranh, trẻ mà hiện diện chỉ để làm dáng, trẻ nhưng không đủ vai vế để thay mặt Cộng Đồng, thì cần phải xét lại yếu tổ “trẻ”. Toà Bạch Ốc có nhu cầu của họ, nhưng Toà Bạch Ốc cũng không muốn thấy Cộng Đồng người Việt đề nghị huỷ bỏ cuộc gặp mặt vì chương trình chỉ để “trình diễn”, không thể hiện mối quan tâm sâu xa của hàng trăm ngàn chữ ký và hàng triệu triệu người Việt đang quan tâm đến Nhân quyền. Có thể nói ngày 5 tháng 3 có hàng triệu triệu trái tim, trong nước lẫn hải ngoại, đang hướng về cuộc họp tại Washington DC trong Toà Bạch Ốc. Vì vậy, những sơ sót đã làm nhiều người thất vọng, và không ít người đã phải quay mặt để dấu những giọt nước mắt chua chát.

Chúng ta mới chỉ đạt được thành quả bước đầu, chúng ta vừa mới chứng tỏ sức mạnh vận động ngoại vận của Cộng Đồng đối với Hành Pháp và Lập Pháp. Cần khai dụng sức mạnh này một cách khách quan và hiệu quả hơn nữa, nếu không thì gần 150 ngàn chữ ký của Cộng Đồng cũng chỉ nằm ở giá trị của biểu tượng. Đây là thử thách cho chúng ta và cho các anh chị em đang làm công tác vận động chính trị. Với kinh nghiệm vận động hậu trường, chúng ta hiểu rỏ, chính trị Mỹ là chính trị thực tiễn, quyền lợi đôi bên đều được cân nhắc và tính toán để không có ai là người thắng kẻ thua.

Phiá Hành Pháp lẫn Lập Pháp đều có những nhu cầu của họ, và nếu chúng ta đáp ứng các nhu cầu này, những đòi hỏi và vận động của chúng ta có thể được lắng nghe và hồi đáp. Nói cách khác, đòi hỏi suông không phải là hướng giải quyết khả thi. Chúng ta đã đòi hỏi, phần còn lại chúng ta vận dụng sức mạnh, qua hình thức lá phiếu và vận động tài chánh, biến đòi hỏi thành hiện thực.

Không phải chỉ có Nhân Quyền

Chúng ta đấu tranh không phải chỉ đòi hỏi nhân quyền. Nhân quyền chỉ là một điểm của mặt trận Tự do và Dân chủ. Ngày nào chế độ độc tài CSVN còn hiện hữu, ngày đó nhân quyền còn tiếp tục bị vi phạm và chà đạp. Với bản chất tráo trở và đang bị tứ bề thọ địch, Hà Nội sẽ càng phải đàn áp mãnh liệt hơn bao giờ hết để bám víu độc quyền. Sẽ còn nhiều Việt Khang, Bùi thị Minh Hằng, Cù Huy Hà Vũ, Linh mục Nguyễn Văn Lý, Điếu Cày, Đinh Đăng Định v.v…vào tù, vì họ đã nói thay cho hàng triệu triệu người dân Việt.

Vì vậy, mục tiêu trước mặt của Cộng Đồng Hải ngoại là vận dụng sức mạnh ngoại vận để đấu tranh, làm lợi và hổ trợ cho mục tiêu lâu dài của nhân dân trong nước, làm suy yếu chế độ độc tài, toàn trị, phản dân, hại nước. Hiện nay, các chế độ độc tài đang đi vào thời kỳ thoái trào và sẽ bị tiêu diệt bởi xu thế của lịch sử. Không có gì phải ngần ngại và sợ hãi để nói thẳng vào mặt của chế độ độc tài CSVN là “chở thuyền cũng là dân và lật thuyến cũng chính là dân”.

Ngày 13 tháng 3 năm 2012, một tuần sau cuộc họp ở Hoa Thịnh Đốn, chúng tôi đã có mặt trong cuộc vận động gây qũy tranh cử cho nữ Dân biểu Zoe Lofgren. Tại đây, tôi đã trao đổi với bà Dân biểu Zoe về cuộc họp tại Hoa Thịnh Đốn, và bà cũng đã ghi nhận những trục trặc. Trước đó, tôi cũng đã gửi tài liệu nhân quyền và so sánh trong lãnh vực này, từ thời Cựu TT George Bush tới đương kim TT Hoa Kỳ Barack Obama. Bên cạnh yếu tố nhân quyền, tôi cũng đã đề cập đến trào lưu Dân chủ và Cách mạng tại Trung Đông, mà chính sách ngoại vận của Mỹ, theo chủ trương làm bạn với chính quyền độc tài thay vì nhân dân, không phải là đối sách có lợi, cho cả Mỹ lẫn nhân dân Việt Nam.

Bài học về cách mạng ở Trung Đông, qua sự kiện TT Ai Cập, bạn thân của nhiều đời TT Hoa Kỳ, hiện đang đứng trước giá treo cổ là bằng chứng cho thấy lịch sử đang đi theo hướng nào. Tôi cũng nhấn mạnh đến mối quan tâm của Hà Nội hiện nay, trong việc đang ráo riết vận động mua vũ khí tối tân của Mỹ, cũng như nhờ cậy đồng minh Mỹ, giúp đỡ trong lãnh vực này. Theo tin mới nhất, Nga sẽ bán 48 chiến đấu cơ tối tân Su-35 cho Trung Quốc, trong khi Su-30 đã bán cho Việt Nam, đang bị trở ngại kỷ thuật. Điều này càng khẳng định mối lo ngại của Hà Nội, trước viễn ảnh bị Nga Sô đi đêm Trung Quốc, bán đứng và đâm sau lưng Hà Nội.

Mối quan hệ Mỹ- Việt sẽ vượt ra khỏi tầm vận động chính trị của chúng ta. Vì quyền lợi khu vực và chính sách ngoại giao ngắn hạn, Chính quyền Obama có thể sẽ bỏ quên những đòi hỏi của Cộng Đồng. Điều này từng xảy ra và sẽ xảy ra trong bối cảnh quan hệ Mỹ- Việt trước thế cần quân bình và cầm chân Trung Quốc tại Đông Nam Á. Dù thế nào, chúng ta cũng cần nhận ra sức mạnh của Cộng Đồng đứng ở đâu trong cuộc vận động chính trị hiện nay.

Với khả năng vận dụng gần 150 ngàn chữ ký trong thời gian kỷ lục, chúng ta đã tạo ra ấn tượng mạnh mẽ để ảnh hưởng đến chính giới Hoa Kỳ trong cuộc bầu cử tháng 11 sắp tới. Cứ tưởng tượng, nếu một khối cử tri Việt sẽ bỏ cho một vị Dân cử nào đó, ở Texas hay California, thì sự ảnh hưởng sẽ mạnh mẽ cở nào! Cứ tưởng tượng, chỉ cần mỗi một người ký tên trong Thỉnh Nguyên Thư tự nguyện ghi danh đi bầu, và mỗi người ký tặng một dollar vào quỹ tranh cử Tổng Thống, hay Dân biểu, Thượng Nghị sĩ, sẽ là sức mạnh. Và sức mạnh sẽ được đo lường ở mức độ vận động có kế hoạch, đồng bộ, không mơ hồ hay chỉ nói chung chung.

Người Mỹ có câu, “show me the money” hay “talk is cheap” để xác định yếu tính thực tiển. Đã đến lúc, gần 150 ngàn chữ ký phải bước qua giai đoạn biểu tượng, để chứng tỏ sức mạnh của lá phiếu và khả năng tài chánh, áp lực lên Lập pháp lẫn Hành Pháp, để thúc đẩy những chính sách có lợi cho nổ lực đấu tranh trên mặt trận Nhân quyền, Dân chủ và Tự do cho Việt Nam.

Chuyện bên lề

Tôi đã từng từ chối cuộc gặp mặt ở Toà Bạch Ốc với Hội Đồng An Ninh Quốc Gia (National Security Councils) vì không phải chúng ta cứ “goị dạ bảo vâng”. Khi tôi tham dự các cuộc họp ở tầm vóc quốc gia, tôi ý thức vai trò của mình không đại diện cho cá nhân, hay đảng phái, mà tôi đang thay mặt cho đồng bào của tôi, hàng triệu triệu người Việt trong ngoài nước, đang khao khát Dân chủ, Tự do. Chúng ta có nhu cầu khai dụng ngoại vận để có lợi cho đại cuộc, nhưng cũng không vì vậy mà đánh mất bản chất tự trọng của Dân tộc. Vì nhiều lý do, khó có thể đảo ngược quyết định của Toà Bạch Ốc, nhưng cũng đừng để họ đánh giá chúng ta. Có thể có người nói tôi bị “chảnh” theo cách nói sau này. Nhưng nếu “chảnh” vì đồng bào, vì tự ái dân tộc, thì tại sao lại không “chảnh” để khỏi phải hối tiếc.

Trong cuộc vận động tại Quốc Hội, tôi đã phải xót xa khi thấy hàng trăm đồng bào đứng bơ vơ như rắn mất đầu, không biết phải làm gì vì người chịu trách nhiệm chưa có mặt vì nhiều lý do. Chương trình vận động Quốc Hội đã không kịp gửi trước đêm hôm đó. Gần 2 tiếng đồng hồ đứng lạnh cóng ngoài hành lang Quốc Hội, chỉ vì sơ sót, vừa mất thời gian, vừa lộn xộn và hỗn độn đã gây nhiều phiền muộn. Tuy nhiên, tôi cũng nghĩ đó chỉ là những khuyết điểm không thể tránh khỏi trong quá trình tổ chức, không vì vậy mà phải lên án, chê trách.

Một ngày sau cuộc vận động ở Quốc Hội, Dự luật Nhân quyền cho Việt Nam đã được Ùy ban Đối Ngoại Hạ Viện thông qua. Có thể đây là một sự trùng hợp, nhưng cũng có thể nhờ nổ lực vận động chính trị của Cộng Đồng. Hà nội đã vội vã lên tiếng phản đối và bài bác Dự luật. Điều này càng làm rỏ bộ mặt trơ tráo của chế độ, khi không biết xấu hổ tuyên bố “trong những năm qua, Việt Nam đã đạt được rất nhiều những thành tựu trong việc bảo đảm quyền con người trên mọi lãnh vực dân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và đã được cộng đồng quốc tế ghi nhận.”

Hai ngày sau cuộc vận động tại Hoa Thịnh Đốn, Bộ ngoại giao Hoa Kỳ đã lên tiếng về trường hợp bắt giữ anh Đinh Đăng Định, một giáo viên ở Tây Nguyên, đã gia nhập hàng ngũ chiến sĩ dân chủ, đã mạnh mẽ phê phán chế độ độc tài và kêu gọi huỷ bỏ điều 4 Hiến pháp. Anh Đinh Đăng Định không giống như Ls. Lê Công Định hay Linh mục Nguyễn Văn Lý, trường hợp của anh không gây tiếng vang và không có nhiều người biết đến, dù vậy Hoa Kỳ cũng đã lên tiếng phản bác. Phải chăng họ đã học được bài học và thay đổi hướng giải quyết đối với các chính sách leo thang, vi phạm nhân quyền của Hà Nội.

Có nhiều người hỏi tôi nếu có cơ hội gặp TT Barack Obama, giống như lần gặp ông TT George Bush năm 2007, tôi sẽ đề nghị những gì. Thực sự, điều tôi ngại không phải là tìm câu hỏi cho ông Obama, mà tôi lo ông sẽ hỏi ngược lại tôi: “Cộng Đồng Việt Nam muốn Chính phủ Hoa Kỳ áp lực Hà nội về mặt thương mại, để họ tôn trọng nhân quyền. Nhưng tôi biết qúy vị đã gửi gần 10 tỷ dollars về Việt Nam hàng năm, đồng tiền này cũng đang tiếp tay củng cố nền kinh tế XHCN, tại sao Cộng Đồng lại không áp lực với Hà Nội?” Có lẽ tôi sẽ không có câu trả lời? Nói theo cách của người miền Nam là “cứng họng”.

Năm 2010, giao dịch thương mại giữa Việt Nam và Hoa kỳ gần 20 tỷ dollars, trong khi đó con số không chính thức, Cộng Đồng Người Việt đã gửi về cho gia đình, hoặc đầu tư lên đến gần 10 tỷ dollars. Đây là những nghịch lý mà chúng ta cần nhìn lại, không thể đấm ngực nói lỗi tại tôi mọi đàng, rồi mong chờ người khác giải quyết. Chúng ta có trách nhiệm với gia đình, thân nhân nhưng cũng có trách nhiệm với Đất nước, và Dân tộc. Mỗi người cần tự vấn và có kế sách khả thi. Cần hiểu rằng trong số 1 dollar gửi về cho thân nhân, có thể hơn 50 xu đã làm đòn bẩy để nuôi sống cơ chế tham nhũng, độc tài.

Phải chăng, nên bắt đầu từ những người tiên phong đã ký Thỉnh Nguyện Thư? Phải chăng, con số 150 ngàn chữ ký là biểu tượng của cả trăm ngàn con tim đang sẵn sàng nhập cuộc nhưng chưa biết phải làm gì? Đừng để họ như rắn mất đầu trong ngày 6 tháng 3 năm 2012 tại khuôn viên Quốc Hội? Hãy bắt đầu cho một Vận hội mới của Dân Tộc. Đâu rồi những lãnh đạo “trẻ” có đủ bản lãnh để lèo lái trong cơn thử thách?. Lãnh đạo là tiên liệu, là đi tiên phong chứ không phải tự phong. Tôi mong chúng ta có thêm nhiều lãnh đạo, trong cũng như ngoài nước, ở cùng ý nghĩa đó để Dân tộc và Đất nước được hồi sinh.

Cách mạng là một sự thay đổi, đột biến và đảo lộn mọi thứ. Không ai ngờ, ngọn lữa tự thiêu của anh sinh viên bán hàng rong Mahamed Bouzzizi ở Tunisia năm 2010, đã quật ngã hàng loạt chế độ độc tài tại Trung Đông và Bắc Phi. Chính vì Hà nội đã dập tắt lời ca tiếng hát Việt Khang, nên đã làm hứng khởi cho bản Thỉnh Nguyên Thư lịch sử. Ngày nào Cách Mạng Việt Nam bùng nổ? Chúng ta chưa có câu trả lời. Nhưng điều chúng ta có thể khẳng định là một chế độ độc tài, toàn trị như CSVN, một chế độ cai trị dựa trên bạo lực, nhà tù và súng đạn, thì thời gian để chế độ tồn tại sẽ đếm từng ngày.

Đỗ Thành Công

Posted in Dân Chủ và Nhân Quyền, Việt kiều-Lịch Sử hình thành-Cuộc Sống | Leave a Comment »

Súng nổ ở Bắc Kinh?- Đảo chính? Chính quyền Bắc Kinh đang ở trong cơn khủng hoảng

Posted by hoangtran204 trên 21/03/2012

Tờ Epoch Times  và tờ The Wantchina đều loan tin về biến động chính trị ở Bắc Kinh.

Đảo chính ở Bắc Kinh, theo tin đồn trên mạng

internet của người Trung Quốc

Epoch Times Staff –

Thứ ba, 20 Tháng 3 2012

Trần Hoàng sửa lại bản dịch đăng trên X-cafevn

Trong đêm 19 tháng 3 và sáng sớm ngày 20 tháng 3, giờ Bắc Kinh, có nguồn tin về một số lượng lớn lực lượng kiểm soát quân sự ( quân cảnh) xuất hiện tại Bắc Kinh, tin này lan truyền rộng rãi trên các blog ở đại lục Trung Quốc.

Những nhân vật chính liên quan tới hành động này được biết là: Hồ Cẩm Đào, chủ tịch đảng CS Trung Quốc; Ôn Gia Bảo, Thủ tướng; Chu Vĩnh Khang, chỉ huy trưởng lực lượng cảnh sát của Cộng hòa Nhân dân Trung Quốc; và Bạc Hy Lai, người đã bị loại bỏ chức vụ Bí Thư  Thành ủy  Thành phố Trùng Khánh ngày 15 -3-2012 bởi thủ tướng Ôn Gia Bảo, sau khi xảy ra một vụ bê bối liên quan đến viên cựu cảnh sát trưởng (thành phố Trùng Khánh) do Bạc Hy Lai đã bổ nhiệm chức vụ.

Li Delin, trong ban biên tập của tờ Thị trường Chứng khoán hàng tuần (Securities Market Weekly) và là cư dân quận  Dongcheng thuộc Bắc Kinh, đã viết trên microblog của mình một bài báo xác nhận cuộc chuyển quân bất thường: “Có rất nhiều xe quân đội, Đường phố Changan đang được tuần tra liên tục. Có nhiều cảnh sát mặc thường phục tại mỗi ngã tư, và tại một số địa điểm giao thông thậm chí đã có dựng hàng rào sắt.”

Theo các tin nhắn đã lan truyền khắp mạng Internet của Trung Quốc, một lực lượng quân đội với nhiệm vụ  không rõ đã nhanh chóng chiếm đóng những vị trí  trọng yếu ở Trung Nam Hải (Zhongnanhai), Tổng hành dinh của lãnh đạo Trung Quốc tại Bắc Kinh, và thành phố Bắc Kinh trong buổi sáng sớm ngày 20 tháng Ba, với sự hợp tác của lực lượng vũ trang cảnh sát Bắc Kinh.

Quân đội tiến vào Bắc Kinh để “giữ và bảo vệ Bạc Hy Lai,” theo nguồn tin này.

Một độc giả Trung Quốc đại lục đã nói với tờ Epoch Times  rằng một cuộc đảo chính quân sự đã diễn ra tại Bắc Kinh.

Hiện nay vẫn chưa được biết rõ có ai đã và đang bị bắt.

Nguồn tin này cho rằng Chu Vĩnh Khang (Zhou Yongkang) đã sử dụng lực lượng cảnh sát vũ trang với toan tính  bắt giữ Hồ Cẩm Đào và Ôn Gia Bảo. Tuy nhiên, trước đó Hồ Cẩm Đào và Ôn Gia Bảo đã chuẩn bị sẵn sàng và (vì thế) cuộc đảo chính của Zhou đã bị chận đứng, mặc có dù tin đồn về Hồ Cẩm Đào và Ôn Gia Bảo bị bắt đã được lan truyền trước đó.

Nguồn tin này nói rằng bây giờ cả hai phe, Hồ Cẩm Đào và Ôn Gia Bảo cùng một phe, và Giang Trạch Dân và Chu Vĩnh Khang ở phe kia, đang huy động các lực lượng vũ trang. Tuy nhiên, chỉ có Hồ Cẩm Đào có thể huy động quân đội chính quy, mà ông vẫn kiểm soát, theo nguồn tin này.

Nguồn tin này cũng nói rằng lực lượng chỉ huy bởi Chu Vĩnh Khang (Zhou Yongkang) đã nắm quyền kiểm soát đài truyền hình  CCTV và Tân Hoa Xã Xinhua, nhưng quân đội chính quy dưới sự chỉ huy của Hồ Cẩm Đào và Ôn Gia Bảo đã giành lại được quyền kiểm soát các cơ quan thông tin này.

Các cột tin tức trên trang web của Tân Hoa Xã đăng tòan các tin tức nước ngoài từ 11 giờ chiều ngày 19 tháng Ba đến ít nhất 8 giờ sáng ngày 20 tháng 3, không có một mảnh tin tức nào trong nước, thật là điều khá bất thường.

Một cư dân mạng đăng trên blog rằng: ” Thật kỳ lạ! Ngoại trừ Đài Truyền hình Bắc Kinh, không có đài truyền hình nào khác ở Bắc Kinh phát hình. Điều này là rất kỳ lạ! Chuyện này chưa từng bao giờ xảy ra.”

Tuy nhiên, phương tiện truyền thông Bắc Kinh kiểm soát bởi nhà nước đã quan sát cho  rằng việc áp đặt lệnh giới nghiêm trên đường Changan là hoàn toàn bình thường, vì lúc này Phó Bộ trưởng Ngoại giao Bắc Hàn Ri Yong-ho đang hội kiến với ông Wu Dawei, đặc sứ của Cộng hòa Nhân dân Trung Quốc về các vấn đề Triều Tiên, và ông ta trước đó cũng đã thực hiện một cuộc gặp gỡ hiếm hoi với các phương tiện truyền thông để đọc một bài phát biểu bên ngoài lối vào phía đông của Nhà Khách Diaoyutai.

Truyền thông Bắc Kinh cũng đã ghi nhận rằng Diễn đàn Phát triển Trung Quốc đã bế mạc, với khách từ khắp nơi trong nước đang rời khỏi sau cuộc họp này. Vì những lý do này, giới truyền thông Bắc Kinh cho biết có nhiều cảnh sát trên đường Trường An, và taxi không được phép dừng lại bên cạnh nhà ga sân bay.

Tờ Epoch Times hiện nay đang cố gắng xác minh các tin này.


Nguồn: http://www.x-cafevn.org

Súng nổ ở Bắc Kinh?

Nguồn: Want China

Diên Vỹ, X-Cafe chuyển ngữ

20.03.2012

Tin tức về việc nổ súng trên các đường phố Bắc Kinh đêm thứ Hai đã tràn ngập những trang truyền thông xã hội của quốc gia này khi cư dân địa phương và những blogger nổi tiếng dùng mạng để phân tích những khả năng vừa xảy ra, chi nhánh truyền thông tiếng Hoa Aboluowang cho biết.

Đại gia bất động sản Phan Thạch Ngật viết trên microblog của mình một số từ đặc biệt mà không thể đăng trên mạng. “Có bóng ma nào ở đó?” ông chủ tịch SOHO China, công ty phát triển địa ốc lớn nhất ở Bắc Kinh nói.

Lý Đức Lâm, biên tập viên của tạp chí tiếng Hoa Securities Market Weekly nói rằng có toán xe quân sự tập trung tại Đại lộ Tràng An, quảng trường của thủ đô, và các trạm kiểm soát giao thông đã được dựng lên. Công an thường phục được thấy đã đóng chốt tại những góc phố trong khi các rào cản được dựng lên tại một số ngã tư.

Vu Quan Thông, giám đốc bán hàng của công ty Thể thao Tây An thuộc Quảng Châu, nói rằng căn cứ theo một nguồn tin nội bộ, một bất đồng trong giới lãnh đạo cao cấp đã nổ ra qua việc Bạc Hy Lai, cựu bí thư thành uỷ Trùng Khánh bị cách chức hôm 15 tháng Tám.

Vu nói rằng đã có một tranh luận nảy lửa về việc sa thải Bạc giữa Thủ tướng Ôn Gia Bảo và Châu Vĩnh Khang, một thành viên trong Uỷ ban Thường trực Bộ Chính trị đầy quyền lực, và hầu hết các nhà lãnh đạo trong hệ thống quyền lực tối cao của Trung Quốc đều nhảy vào cuộc tranh chấp này.

Còn có tin đồn rằng đã có biện pháp đối với bốn người – Bạc Hy Lai, Châu Vĩnh Khang, Giả Khánh Lâm và Tằng Khánh Hồng. Giả cũng như Châu, là thành viên Uỷ ban Thường trực Bộ Chính trị, trong khi Tằng là một cựu thành viên. Bốn nhà lãnh đạo cao cấp này được xem là một phe nhóm chống lại Ôn.

Một người trên mạng có bí danh “Cangciwang” nói rằng “Có phải các Thái Thượng hoàng và hoàng đế hiện tại đang vào cuộc đêm nay? Thật là đầy kịch tính!”

Lữ Duẩn, phó Tổng Giám đốc Tập đoàn Maso ở tỉnh miền đông Chiết Giang nói trong microblog của ông rằng các hãng truyền thông nước ngoài đã bị dồn đến Nhà khách Quốc gia Điếu Ngư Đài tại Bắc Kinh và không một chiếc xe nào được phép đậu bên ngoài khu vực khởi hành của sân bay Bắc Kinh. Một số nhân vật truyền thông nổi tiếng đã không được phép rời khỏi nước hoặc bị chính quyền đưa đi trên danh nghĩa hợp tác điều tra.

Trung Quốc đang chuẩn bị quá trình thay đổi lãnh đạo vào cuối năm nay, một thay đổi lớn xảy ra mười năm một lần. Hai phần ba thành viên của Uỷ ban Thường trực Bộ Chính trị, Hội đồng Nhà nước và Quân uỷ Trung ương, những cơ quan chính trị quan trọng nhất của Trung Quốc, sẽ được thay thế. Bạc Hy Lai, viên bí thư thiên tả của Trùng Khánh, trước đây được xem như là một ứng cử viên vào Uỷ ban Thường trực Bộ Chính trị, nhưng việc cánh tay phải của ông là Vương Lập Quân tìm cách đào thoát có vẻ đã tạo cho thành phần đang nắm quyền kiểm soát trong giới lãnh đạo cao cấp một lý do dễ dàng để ngăn chặn tham vọng của ông.

Nguồn: x-cafevn.org

————————————–

Vương Lập Quân là yếu tố chủ chốt trong sự đi xuống của Bạc Hy Lai

Nguồn: Lin Yung-fu – Want China Times

17.03.2012


Cựu giám đốc Công an Trùng Khánh Vương Lập Quân

Một ngày sau khi việc cách chức Bạc Hy Lai, bí thư thành uỷ Trùng Khánh, đã có những phán đoán về nguyên nhân Bạc Hy Lai bi loại bỏ, với đa số các giả thuyết thiên về mâu thuẫn cá nhân của ông với người cựu giám đốc công an kiêm phó thị trưởng Vương Lập Quân.

Trước đây từng là cánh tay phải của Bạc, Vương được Bạc yêu cầu để được chuyển từ Liêu Ninh đến Trùng Khánh để lãnh đạo sở công an của thành phố tự trị miền tây Trung Quốc. Ông được biết đến như là kẻ triệt hạ băng đảng trong cuộc chiến của Bạc chống lại nạn tham nhũng và tổ chức tội phạm.

Tuy nhiên, Vương đã bị mất vị trí trưởng công an và được phong chức phó thị trưởng, một chức vụ hình thức, vào ngày 2 tháng Hai. Vài ngày sau, ông đã bỏ nhiệm sở và tìm cách tị nạn chính trị tại lãnh sự quán Hoa Kỳ ở Thành Đô vào ngày 5 tháng Hai nhưng lại rời khỏi lãnh sự quán và nộp mình cho các nhân viên chính quyền trung ương vào ngày hôm sau. Hiện tại ông được cho là đang bị giam giữ tại Bắc Kinh.

Blogger Cốc Hiểu Quân viết trong microblog của mình rằng Vương tìm cách đào tị vì Bạc đã bác bỏ đề nghị được giúp đỡ khi ông là mục tiêu trong một cuộc điều tra liên quan đến tham nhũng. Thay vì bảo vệ kẻ do mình đỡ đầu, Bạc đã thiên chuyển Vương sang một chức vụ khác để chứng tỏ tính khách quan của mình trong vụ việc này. Hơn nữa, ông còn bắt giữ 11 người thân tín của Vương làm trong ngành công an.

Lo sợ cho an toàn của chính mình, Vương đã tìm đến lãnh sự quán Hoa Kỳ để nhờ giúp đỡ, đem theo bằng chứng về những mờ ám trong những hoạt động của Bạc, bao gồm chứng cớ về tài sản mà Bạc và vợ đang cất giữ ở nước ngoài, cũng như tư cách của con trai Bạc Hy Lai là Bạc Qua Qua, vốn có một lối sống ăn chơi trong thời gian du học tại Anh Quốc và Hoa Kỳ.

Sau đó ông đã giao các bằng chứng lại cho chính quyền Trung Quốc khi bị các nhà điều tra thẩm vấn về việc tìm cách đào thoát, dẫn đến sự đi xuống của Bạc.

Một blogger khác là Từ Khánh An đã viết rằng Vương đã bị điều tra vì liên quan đến tham nhũng và vì đã dùng đến biện pháp tra tấn để ép buộc đối tượng khai báo. Bất chấp thanh danh của mình như là một kẻ tiên phong chống lại tổ chức tội phạm, Vương đã thu tiền bảo kê từ các băng đảng và chủ các khu mỏ khi còn làm việc ở Liêu Ninh và đã nhận tiền lại quả để giao thầu cho các doanh nhân ở Trùng Khánh, Từ Khánh An nói.

Một nguồn tin khác nói rằng Vương đã vô cùng giận dữ khi bị cách chức trưởng công an đến nỗi ông đã rút súng và chỉa vào nhân viên đem quyết định thiên chuyển đến cho ông vào ngày 2 tháng Hai.

Nhưng một nguồn tin khác từ Internet lại nói rằng Vương đã cung cấp một lượng lớn thông tin mật cho tình báo Hoa Kỳ trong thời gian ông lưu lại lãnh sự quán ở Thành Đô trong một nỗ lực nhằm lật đổ người đỡ đầu cũ của mình.

Nguồn tin này nói rằng lãnh sự quán Hoa Kỳ đã trao trả Vương lại chỉ vì áp lực từ Bắc Kinh. Phía Hoa Kỳ nói rằng Vương đã có một cuộc viếng thăm được hẹn trước và tự mình rời khỏi lãnh sự quán.

Boxun.com, một trang mạng chuyên phục vụ cho cộng đồng người Hoa ở nước ngoài, đã trích dẫn một nguồn tin dấu tên rằng Bắc Kinh phải cách chức Bạc vì bằng chứng tham nhũng của ông đã được phía Hoa Kỳ biết được, việc này làm thiệt hại đến uy tín của ông trong vai trò lãnh đạo tối cao nếu ông được đề bạt vào một vị trí cao trong quá trình thay đổi lãnh đạo của đất nước vào cuối năm nay.

nguồn: Diên Vỹ – x-cafevn.org

—————–

Shots fired in Beijing — but what kind?

http://www.wantchinatimes.com/news-subclass-cnt.aspx?id=20120320000124&cid=1101

  • Staff Reporter
  • 2012-03-20
  • 17:09 (GMT+8)
Military vehicles block a major street in Beijing on Monday evening. (Internet photo)Military vehicles block a major street in Beijing on Monday evening. (Internet photo)

Reports of an outbreak of gunfire on the streets of Beijing on Monday evening have swarmed the country’s social media platforms, as local residents and well-known microbloggers took to the internet to discuss what might have happened, reports the Chinese-language news portal Aboluowang.

Real estate tycoon Pan Shiyi noted on his microblog that some specific words could not be published on the internet. “Is a ghost over there?” said the chairman of SOHO China, the largest real estate developer in Beijing.

Li Delin, editor of the Chinese-language magazine Securities Market Weekly, said a crowd of military vehicles were gathered on Chang’an Avenue, the capital’s central thoroughfare, and traffic controls had been set up. Plainclothes police officers were seen posted on street corners while fencing had been set up at some intersections.

Wu Guancong, sales executive of the Guangzhou-based Xian Sports, said that according to an inside source, a high-level political disagreement has erupted over Bo Xilai, the former Communist Party chief of Chongqing, who was dismissed on March 15.

Wu said there had been a fierce argument about Bo’s dismissal between Premier Wen Jiabao and Zhou Yongkang, a fellow member of the all-powerful Politburo Standing Committee, and almost all the leaders in China’s top circle of power have become engulfed in the row.

One rumor went so far as to say that action has been taken against four men — Bo Xilai, Zhou Yongkang, Jia Qinglin and Zeng Qinghong. Jia, like Zhou, is a member of the Politburo Standing Committee, while Zeng is a former member. These four senior leaders have been regarded as a clique opposed to Wen.

An internet user going by the name “Cangciwang” said, “Are the emperor’s father and the current emperor coming to a showdown tonight? What a terrific drama!”

Lu Sun, vice CEO of Maso Group in the eastern province of Zhejiang, said on his microblog that foreign media outlets rushed to the Diaoyutai State Guesthouse in Beijing and no vehicles were allowed to park outside the departure station of Beijing airport. Some famous media figures were not allowed to leave the country or were taken away by the authorities in the name of helping in their investigations.

China is set to undergo a leadership transition at later this year, a changeover that occurs once a decade. Two-thirds of the members of the Politburo Standing Committee, State Council and Central Military Commission, China’s most important political bodies, will be replaced. Bo Xilai, the leftist party chief of Chongqing, was formerly seen as a candidate for a place on the Politburo Standing Committee, but the recent high-profile attempted defection of his former right-hand man Wang Lijun appears to have given the controlling faction at the top level of power a convenient pretext to halt his ambitions.

   Coup in Beijing, Says Chinese Internet Rumor

Mill

A variety of police on Changan Street in Beijing

Screen shot of a photo posted on Weibo by Li Delin, who is on the editorial board of Securities Market Weekly. Li reported army vehicles on Changan Street in Beijing.

Over the night of March 19 and early morning of March 20, Bejing local time, a message about a large number of military police showing up in Beijing spread widely across microblogs in mainland China.

UPDATE 3: Bo Xilai Fired, Epoch Times Website Unblocked Behind GFW

The key figures in the action are said to be: Hu Jintao, the head of the CCP; Wen Jiabao, the premier; Zhou Yongkang, who has control of the People’s Republic of China’s police forces; and Bo Xilai, who was dismissed from his post as head of the Chongqing City Communist Party on March 15 by Wen Jiabao, after a scandal involving Bo’s former police chief. 

UPDATE 2: Bo Xilai Placed Under House Arrest, Reports Suggest

Li Delin, who is on the editorial board of Securities Market Weekly and lives in Dongcheng District of Beijing, wrote on his microblog a report that confirmed unusual troop movements: “There are numerous army vehicles, Changan Street is continuously being controlled. There are many plainclothes police in every intersection, and some intersections even had iron fences set up.”


Click this tag to read The Epoch Times’ collection of articles on the Chinese Regime in Crisis. Intra-CCP politics are a challenge to make sense of, even for veteran China watchers. Here we attempt to provide readers with the necessary context to understand the situation.


According to the message that went viral on China’s Internet, a military force with unknown designation quickly occupied many important places in Zhongnanhai, the Chinese leadership compound in Beijing, and Beijing in the early morning of March 20, with the cooperation of Beijing armed police.

The troops entered Beijing to “get and protect Bo Xilai,” according to the message.

UPDATE 1: Words Related to ‘Coup’ in Beijing Censored on Weibo

A mainland Chinese reader has told The Epoch Times that a military coup has taken place in Beijing.

It is still unknown who, if anyone, has been arrested.

The message claims Zhou Yongkang first used armed police force in an attempt to arrest Hu and Wen. However, Hu and Wen had been prepared and Zhou’s coup was subdued, though rumors of Hu and Wen being arrested had been spread earlier.

The message says that now both sides, Hu and Wen on one side, and Jiang Zemin and Zhou Yongkang on the other, are mobilizing armed forces. However, only Hu Jintao can mobilize the regular army, which he still controls, according to the message.

The message also claims that forces directed by Zhou Yongkang had taken control over CCTV and the Xinhua News Agency, but that the regular army under the command of Hu Jintao and Wen Jiabao had since taken back control of the news outlets.

The news column on Xinhua’s website was all foreign news from 11 p.m. on March 19 to at least 8 a.m. on March 20, with not a single piece of domestic news—which is quite unusual.

One netizen posted on microblog: “Strange! Except Beijing Television, no other television in Beijing is broadcasting. This is very strange!!! It had never happened before.”

However, Beijing state-controlled media have observed that imposing a curfew on Changan Street is quite normal, as the North Korean Vice Foreign Minister Ri Yong-ho is seeing Wu Dawei, the People’s Republic of China’s special representative for Korean affairs, and had made a rare advance appointment with media to give a speech outside the east entrance of Diaoyutai State Guesthouse.

Beijing media has also noted that the China Development Forum is closing, with guests from across the country leaving after the forum. For these reasons, Beijing media said there are many police on Changan Street, and taxis are not allowed to stop next to the airport terminal building.

The Epoch Times is at present trying to verify the messages.

UPDATE: Weibo messages on the subject “北京出事了” in the original Chinese are now unable to be searched. This was a major meme around the coup rumor, translating roughly as, “something important yet problematic happened in Beijing.”

——————————————–

Posted in Chinh tri Trung Quoc | Leave a Comment »

►Tăng-trưởng (GDP) bằng cách bán tài nguyên khoáng sản và nâng giá bất động sản là sai lầm

Posted by hoangtran204 trên 21/03/2012

Thứ Tư,  21/3/2012

Lời tựa: Nền kinh tế của Việt Nam dưới sự lãnh đạo của đảng chỉ có một nhiệm vụ duy nhất là:

-bán tài nguyên dầu hỏa, than đá, quặng titan, quặng đồng, quặng sắt, quạng bô xít, các loại đá quí… cho nước ngoài.  (Mời các bạn coi 4 bài báo dưới đây viết về vấn đề này.)

– nâng giá bất động sản (nhà cửa đất đai) lên thật cao.

Và dùng 2 nguồn này như là tín dụng để đi mượn tiền nước ngoài (Nhật, Đài Loan, Mã Lai, Hồng Kông, Thái Lan,  mượn Workbank, ADB, và các nước âu châu).  Đến nay, VN nợ các nước ngoài và các ngân hàng nước ngoài là 120 tỷ đô la. 

Chỉ tính riêng việc bán dầu hỏa, mỗi năm Tập Đoàn Dầu khí Petrovietnam cũng đã có tổng doanh thu 675 000 tỷ đồng (gần 34 tỷ đô la). So với toàn bộ nền kinh tế VN là 100 tỷ, thì số dầu thô do Petrovietnam khai thác và bán ra là chiếm khoảng 34% của GDP (tổng sản lượng và dịch vụ sản suất nội địa). (nguồn),

Ngay cả những nước có tài nguyên khoáng sản phong phú nhiều hơn Việt Nam cả chục lần, chính phủ của họ cũng không cho phép các công ty khai thác tài nguyên khoáng sản theo ý công ty mong muốn, và chỉ cho phép họ khai thác chừng 5% của GDP. Mục đích của các chính phủ các nước khác là muốn để dành tài nguyên khoáng sản để dành cho các thế hệ con cháu mai sau. (nguồn)  (key word để tìm tài liệu trên internet cho phần này là GDP by sector of the Canadian economy).

Ở VN, đảng soạn thảo kế hoạch để làm kinh tế hết kế hoạch 5 năm này đến kế hoạch 5 năm khác, nhưng tất cả các kế hoạch đều thất bại. Sau khi tiêu diệt giai cấp tư sản còn ở lại miền Bắc sau hiệp định Geneve 1954, thì từ năm 1954-1975, nền kinh tế ở miền Bắc là một con số 0 vĩ đại. Và kể từ đó cho đến hơn 2 thập niên tiếp theo, dân chúng miền Bắc sống rất khổ, thiếu đồ dùng, thiếu áo quần để mặc, thiếu gạo để ăn.

Vì không biết làm cách nào để tồn tại, không biết cách làm kinh tế, không biết cách làm công nghiệp nhẹ,  công nghiệp nặng, nông nghiệp, ngư nghiệp, và lâm nghiệp…nhưng cần phải có cái gì để ăn và để tiếp tục “lãnh đạo”, nên sau khi chiếm được miền Bắc năm 1954, đảng CSVN đã nghe lời Trung Cộng và Liên Xô và cả hai nước này đã đưa súng đạn ra lệnh chiếm cho được miền Nam. Cuộc chiến VN kéo dài từ 1954-1975, nhân mạng là 5 triệu bộ đội và dân công chết trên đường Trường Sơn và các tỉnh thành của miền Nam Việt Nam.

3. Cả nước hiện có hơn 8,8 triệu người có công với cách mạng , chiếm gần 10% dân  số. 

“Hiện nay, cả nước có trên 8,8 triệu đối tượng người có công (chiếm gần 10% dân số). Trong đó, có hơn1.146.250 liệt sĩ; trên 3.000 Bà mẹ VNAH còn sống; trên 780.000 thương binh và người được hưởng chính sách như thương binh; 1.253 Anh hùng LLVT, Anh hùng lao động trong kháng chiến; 101.138 người có công giúp đỡ cách mạng; khoảng 187.000 người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học; 109.468 người hoạt động kháng chiến bị địch bắt tù đày… Hiện còn trên 1,4 triệu đối tượng người có công đang được hưởng trợ cấp ưu đãi hàng tháng.

Cả nước có khoảng 7.000 công trình ghi công liệt sĩ, trong đó có khoảng 3.000 nghĩa trang liệt sĩ với tổng số trên 780.000 ngôi mộ; trong đó khoảng 303.000 ngôi mộ còn thiếu thông tin, hơn 208.000 hài cốt chưa phát hiện, tìm kiếm, quy tập được.”  Baomoi.com

Chiếm được miền Nam xong, đảng chia nhau chiến lợi phẩm chở về miền Bắc. Nhưng đảng cũng không biết làm gì để tồn tại nên đành gây thêm 1 cuộc chiến khác, mục đích  thực thi kế hoạch chiếm Kampuchea và Lào để thành lập Liên Bang Đông Dương, như cương lĩnh thành lập đảng Cộng Sản Đông Dương 1930. 

Cuộc chiến Kampuchea kéo dài từ 1978-1990, là  sự thất bại và đã phá tan giấc mơ thành lập Liên bang Đông Dương của đảng CSVN,  Kết quả, có Thêm 70 000 bộ đội VN chết trên đất Kampuchea và hàng trăm ngàn bị thương tật. Cuộc chiến 1979 với Trung Quốc lại có thêm 70 ngàn bộ đội VN và thường dân đã chết, chưa kể số người bị thương vong.

Lịch sử của đảng là các cuộc chiến tranh kéo dài lấy máu xương của người dân VN để viết lịch sử đảng, kể lể thành tích lãnh đạo của các đồng chí bộ chính trị, và sự quang vinh của đảng. Không từng làm kinh tế nên đảng chỉ viết trong sách với các kế hoạch rất “kêu”, nhưng thật ra không có ai trong đảng có kinh nghiệm  thảo ra kế hoạch phát triển và điều hành nền kinh tế, tài chánh…Vì vậy, hơn 36 năm qua, đảng chỉ biết bán tài nguyên khoáng sản dầu hỏa để chi tiêu, và dùng nguồn tài nguyên ấy như một loại tín dụng hay mức lương thu nhập để đi vay các tổ chức tài chánh quốc tế, âu châu, á châu. Cùng lúc, đảng và nhà nước tịch thu, mua rẻ, cướp đất đai của nông dân, rồi đẩy giá nhà đất lên cao để làm  giàu và  GDP gia tăng. Rồi dùng  GDP để đi mượn thêm tiền của nước ngoài.

Kết quả là nợ của chính phủ và doanh nghiệp quốc doanh  nay đã lên trên 120 tỷ đô la,  hay trên 120% GDP (nguồn: mời bạn đọc bài: “Cảnh báo nợ của doanh nghiệp nhà nước” được post ở cuối trang này).

Lấy mốc 1985 và năm 2010 và  so sánh giữa South Korea, Thái Lan và Việt Nam để thấy đảng chỉ đạo nền kinh tế giỏi đến đâu.

GDP của South Korea vào năm 1985 là 99 tỷ đô la.  15 năm sau, GDP của South Korea năm 2010 là 1015 tỷ đô la. (nguồn)

GDP của Thái Lan năm 1985 là gần 39 tỷ đô la. 15 năm sau, GDP của Thailand vào năm 2010 là 319 tỷ đô la. (Nguồn)

GDP của Việt Nam năm 1985 là 18 tỷ đô la.  15 năm sau, GDP của VN vào năm 2010 là 100 tỷ (Nguồn)

Bài 1

 Petrovietnam phải khẳng định vị thế đầu tàu kinh tế quốc gia

Thứ sáu, 20 Tháng 1, 2012

Trích:

    Thay mặt lãnh đạo PetroVietNnam, Tổng giám đốc Đỗ Văn Hậu đọc bản báo cáo tình hình sản xuất kinh doanh năm 2011 và nhiệm vụ năm 2012. Năm qua, PVN đã hoàn thành toàn diện và vượt mức tất cả các chỉ tiêu kế hoạch đề ra và có mức tăng trưởng cao so với cùng kỳ năm 2010. Tổng doanh thu đạt 675,3 nghìn tỉ đồng, tăng 41,2% so với năm 2010. Nộp NSNN đạt 160,8 nghìn tỉ đồng, tăng 25% so với năm 2010.

***************

Chiều 18/1, tại Viện Dầu khí Việt Nam, Tập đoàn Dầu khí Việt Nam đã tổ chức Hội nghị tổng kết công tác năm 2011 và triển khai kế hoạch năm 2012.

Đến dự buổi lễ có đồng chí Nguyễn Quang Dương, Phó bí thư thường trực Đảng ủy Khối doanh nghiệp Trung ương; đồng chí Lê Dương Quang, Thứ trưởng Bộ Công Thương; đồng chí Phạm Mạnh Thắng, Tổng cục trưởng Tổng cục Năng lượng (Bộ Công Thương)…

Về phía Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN) có đồng chí Phùng Đình Thực, Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch Hội đồng Thành viên Tập đoàn; đồng chí Đỗ Văn Hậu, Phó Bí thư Đảng ủy, Tổng giám đốc Tập đoàn; cùng các đồng chí trong Ban chấp hành Đảng bộ, Đảng ủy, Hội đồng Thành viên, Ban Tổng giám đốc, Đoàn Thanh niên, Hội Cựu chiến binh Tập đoàn…

Tổng giám đốc PVN Đỗ Văn Hậu đọc bản báo cáo về tình hình sản xuất kinh doanh 2011 và kế hoạch 2012.

Thay mặt lãnh đạo PVN, Tổng giám đốc Đỗ Văn Hậu đọc bản báo cáo tình hình sản xuất kinh doanh năm 2011 và nhiệm vụ năm 2012. Năm qua, PVN đã hoàn thành toàn diện và vượt mức tất cả các chỉ tiêu kế hoạch đề ra và có mức tăng trưởng cao so với cùng kỳ năm 2010. Tổng doanh thu đạt 675,3 nghìn tỉ đồng, tăng 41,2% so với năm 2010. Nộp NSNN đạt 160,8 nghìn tỉ đồng, tăng 25% so với năm 2010.

Gia tăng trữ lượng dầu khí đạt 35,3 triệu tấn thu hồi, bằng 101,0% kế hoạch năm (ở trong nước đạt 35 triệu tấn và ở nước ngoài đạt 0,3 triệu tấn). Ký 7 hợp đồng/thoả thuận dầu khí mới, trong đó ở trong nước 6 hợp đồng và ở nước ngoài 1 thoả thuận. PVN đã có 3 phát hiện dầu khí mới, đưa 5 mỏ dầu khí mới vào khai thác, trong đó ở trong nước 3 mỏ và ở nước ngoài 2 mỏ.

Tổng sản lượng khai thác quy (ra) dầu năm 2011 đạt 23,91 triệu tấn. Sản lượng khai thác dầu đạt 15,21 triệu tấn. Tập đoàn đạt mốc khai thác tấn dầu thứ 280 triệu vào tháng 10/2011.

Sản lượng khai thác khí đạt 8,7 tỉ m3. Tập đoàn đạt mốc khai thác m3 khí thứ 70 tỉ vào tháng 9/2011. Sản xuất và cung cấp cho lưới điện quốc gia đạt 13,35 tỉ kWh. Tập đoàn đạt mốc sản xuất kWh điện thứ 35 tỉ vào tháng 10/2011.

Nhà máy Đạm Phú Mỹ đã sản xuất tấn phân đạm thứ 5 triệu vào tháng 8/2011.

Công tác bảo dưỡng tổng thể Nhà máy Lọc dầu Dung Quất lần thứ nhất vượt tiến độ 2 ngày. Sản phẩm sản xuất từ Nhà máy Lọc dầu Dung Quất đạt 5,43 triệu tấn. Hoạt động dịch vụ dầu khí tiếp tục được đẩy mạnh, doanh thu dịch vụ dầu khí năm 2011 đạt trên 200 nghìn tỉ đồng.

Tiến độ thực hiện các dự án trọng điểm nhà nước về dầu khí và các dự án trọng điểm của Tập đoàn được kiểm soát chặt chẽ đảm bảo theo kế hoạch đề ra. PVN rà soát và đình hoãn 12 dự án, giãn tiến độ 44 dự án đầu tư với tổng giá trị trên 7,25 nghìn tỉ đồng. Giá trị thực hiện đầu tư năm 2011 đạt trên 90 nghìn tỉ đồng.

Trong năm 2011, toàn Tập đoàn đã khởi công mới 16 công trình, hoàn thành đầu tư và đưa vào vận hành 47 công trình, trong đó có các công trình trọng điểm như: đưa vào khai thác mỏ Visovoi (lô số 2) thuộc Dự án Thăm dò khai thác dầu khí 04 lô tại Khu tự trị Nhenhetxky – Liên Bang Nga (ngày 29/7), mỏ Đại Hùng pha 2 (ngày 12/8), mỏ Tê Giác Trắng (ngày 22/8); hạ thuỷ khối chân đế giàn Mộc Tinh 1 thuộc dự án Biển Đông 1 (ngày 27/8); hạ thủy giàn khoan 90 nước (ngày 10/9), đưa chu trình hỗn hợp Nhà máy Nhiệt điện Nhơn Trạch 2 vào vận hành (ngày 16/10/2011), kho nổi Bạch Hổ FSO5 (ngày 15/01)…

Công tác đổi mới, tái cấu trúc doanh nghiệp được triển khai theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ. Hoạt động khoa học công nghệ và đào tạo được triển khai tích cực, công tác an ninh, an toàn dầu khí, an toàn môi trường, an toàn lao động, phòng chống cháy nổ trên các công trình dầu khí được giám sát chặt chẽ và thực hiện nghiêm túc. Công tác an sinh xã hội được triển khai thực hiện cao hơn so với cam kết, tổng số tiền thực hiện công tác an sinh xã hội toàn Tập đoàn năm 2011 đạt trên 613 tỉ đồng so với kế hoạch cam kết từ đầu năm là 600 tỉ đồng.

Kế hoạch năm 2012, PVN vẫn bám sát 5 lĩnh vực chính, đó là: Tìm kiếm, thăm dò và khai thác dầu khí; Lọc hóa dầu; Công nghiệp Khí; công nghiệp Điện; dịch vụ kỹ thuật dầu khí chất lượng cao. Tiếp tục rà soát nâng cao hiệu quả đầu tư các dự án; thu xếp đủ vốn và tổ chức thực hiện đúng tiến độ các dự án trọng điểm.

Trong đó, khai thác Dầu khí 24,81 triệu tấn, doanh thu 660 nghìn tỉ đồng, nộp ngân sách đạt 134,8 nghìn tỉ đồng.

Chung sức cùng tháo gỡ khó khăn

Cũng tại hội nghị, lãnh đạo các đơn vị thành viên của PVN đã phát biểu tham luận.

Ông Nguyễn Vũ Trường Sơn, Tổng giám đốc Tổng công ty Thăm dò Khai thác Dầu khí (PVEP) cho biết PVEP là đơn vị chủ lực của PVN, đã làm gia tăng trữ lượng dầu khí lên 37,8 triệu tấn dầu qui đổi. Sản lượng khai thác đạt 16,18 triệu tấn dầu qui đổi. Doanh thu của PVEP đạt hơn 50 nghìn tỉ đồng. PVEP đã đưa 4 mỏ mới vào khai thác gồm mỏ Đại Hùng giai đoạn 2, mỏ Tê Giác Trắng, mỏ Chim Sáo, mỏ Dana. PVEP cũng đẩy nhanh tiến độ đưa vào khai thác các mỏ Junin 2 ở Venezuela và mỏ Bir Seba – Lô 433a&416b (Algeria).

Liên doanh Việt – Nga Vietsovpetro cũng là đơn vị chủ lực khai thác dầu khí của PVN. Năm qua, Vietsovpetro đã khai thác 6,4 triệu tấn dầu. Doanh thu bán dầu đạt 5,6 tỉ USD, nộp ngân sách Nhà nước và lợi nhuận phía Việt Nam đạt 3,55 tỉ USD, lợi nhuận phía Nga là 580 triệu USD. Vietsovpetro đưa ra mục tiêu hàng năm phải đưa ít nhất 2 giàn khai thác mới vào khai thác để đảm bảo khai thác an toàn 6,14 triệu tấn trong năm 2012.

Thay mặt Công ty TNHH 1TV Lọc hóa dầu Bình Sơn, Tổng giám đốc Nguyễn Hoài Giang cho biết kế hoạch sản xuất kinh doanh của Nhà máy Lọc dầu (NMLD) Dung Quất năm qua đã đạt được những con số ấn tượng như tổng doanh thu đạt 116 nghìn tỉ đồng, nộp ngân sách 14 nghìn tỉ đồng. Giữa năm 2011, NMLD Dung Quất tạm ngừng hoạt động, bảo dưỡng lần đầu tiên một cách thành công sau khi hoàn thành từ tháng 2/2009. Tổng giám đốc Nguyễn Hoài Giang kỳ vọng các đơn vị thuộc PVN sẽ hỗ trợ NMLD Dung Quất hơn nữa để cùng nhà máy tháo gỡ khó khăn, hoạt động hiệu quả hơn.

Trong năm qua, một số đơn vị của PVN gặp nhiều khó khăn trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Tập đoàn Điện lực Việt Nam đang nợ Tổng công ty Điện lực Dầu khí (PV Power) khoảng 14 nghìn tỉ đồng. Do đó, PV Power rất khó khăn trong việc huy động vốn cho các dự án điện. Nhà máy Thủy điện Hủa Na sẽ hoàn thành trong quý IV/2012 và PV Power đang nỗ lực thu xếp vốn còn lại cho dự án này.

Phát biểu chỉ đạo hội nghị, Thứ trưởng Bộ Công Thương Lê Dương Quang nhiệt liệt biểu dương những thành tích mà PVN đã đạt được trong năm 2011. “Đây là thành tích đáng tự hào của PVN trong bối cảnh kinh tế thế giới và Việt Nam gặp rất nhiều khó khăn. Tôi tin tưởng rằng các giải pháp của PVN sẽ thực hiện thành công để tăng tốc phát triển trong năm 2012 và các năm tiếp theo” – Thứ trưởng Lê Dương Quang nhấn mạnh.

Bộ Công Thương đề nghị PVN đẩy mạnh các giải pháp đột phá, tăng tốc phát triển trong năm 2012. PVN hãy phát huy bản lĩnh dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm. Đồng bộ thực hiện 3 khâu đột phá là nguồn nhân lực, khoa học công nghệ và quản lý. Đồng thời, PVN phải đi đầu trong việc tái cấu trúc doanh nghiệp theo tinh thần chỉ đạo của Ban chấp hành Trung ương Đảng tại Hội nghị lần thứ III (10/2011). PVN phát huy cao nội lực, ưu tiên dùng hàng trong nước cho các hoạt động kinh doanh.

Phát biểu tiếp thu ý kiến, Tổng giám đốc Đỗ Văn Hậu cám ơn lãnh đạo Bộ Công Thương, các Cục, Vụ, Viện của Bộ Công Thương đã có những giúp đỡ để PVN hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ kinh doanh năm qua. Tổng giám đốc Đỗ Văn Hậu sẽ cùng tập thể người lao động Dầu khí phát huy truyền thống Anh hùng, lao động hết mình, sáng tạo, kiên quyết giữ vững vị thế là tập đoàn hàng đầu của nền kinh tế nước nhà.

Nhân dịp này, thay mặt lãnh đạo Tập đoàn, Tổng giám đốc Đỗ Văn Hậu phát động thi đua năm 2012, trong đó tập trung hoàn thành tốt 5 nhiệm vụ: Thực hành tiết kiệm; Tái cấu trúc doanh nghiệp trên cơ sở bền vững, hiệu quả; Triển khai mạnh mẽ 3 giải phát đột phá: nguồn nhân lực, khoa học công nghệ và quản lý; Triển khai sâu rộng cuộc vận động Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, xây dựng tổ chức Đảng, tổ chức chính trị vững mạnh; Chăm lo cải thiện đời sống vật chất và tinh thần cho người lao động Dầu khí.

Tại hội nghị, Thứ trưởng Bộ Công Thương Lê Dương Quang đã trao Huân chương Lao động hạng Nhất, Nhì, Ba của Chủ tịch nước cho các cá nhân và tập thể có thành tích xuất sắc giai đoạn 2006 – 2010; trao tặng Huân chương Lao động hạng Nhất cho đồng chí Hoàng Xuân Hùng – Phó chủ tịch HĐTV, đồng chí Vũ Quang Nam – Phó tổng giám đốc Tập đoàn, đồng chí Nguyễn Tiến Dũng – Phó tổng giám đốc Tập đoàn; trao tặng Huân chương Lao động hạng Nhì cho Tổng công ty Dung dịch và Hóa phẩm Dầu khí (DMC), đồng chí Nguyễn Xuân Sơn – Phó tổng giám đốc Tập đoàn, đồng chí Đỗ Văn Đạo – Trưởng văn phòng đại diện khu vực châu Mỹ, đồng chí Bùi Ngọc Quang – Trưởng ban dự án khí Đông Nam Bộ, đồng chí Trương Văn Ba – Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng giám đốc Công ty CP Vật tư Tổng hợp Phú Yên (Tổng công ty Dầu Việt Nam).

Ban Xây dựng Tập đoàn, Ban Luật và Quan hệ quốc tế Tập đoàn, Đội công nghệ cao số 1 Xí nghiệp Địa vật lý giếng khoan (Liên doanh Việt – Nga), Văn phòng Tập đoàn nhận Huân chương Lao động hạng Ba.

Thứ trưởng Bộ Công Thương cũng trao 22 Huân chương Lao động hạng Ba cho các cá nhân có thành tích xuất sắc.

Chủ tịch HĐTV Phùng Đình Thực trao tặng danh hiệu Chiến sĩ Thi đua toàn quốc cho 6 cá nhân.

Tổng giám đốc Đỗ Văn Hậu trao Cờ thi đua của Thủ tướng Chính phủ cho 14 tập thể đã hoàn thành xuất sắc, toàn diện các nhiệm vụ công tác năm 2011. 23 tập thể cũng nhận Cờ thi đua của Bộ trưởng Bộ Công Thương.

Đảng bộ Khối doanh nghiệp Trung ương trao cờ cho 10 tổ chức cơ sở Đảng trong sạch vững mạnh tiêu biểu; 9 cơ sở Đảng trong sạch, vững mạnh; 4 tổ chức cơ sở Đảng hoàn thành tốt nhiệm vụ và 4 cơ sở Đảng hoàn thành nhiệm vụ.

Tại hội nghị, 31 đơn vị thuộc Tập đoàn được trao cờ thi đua và 20 cá nhân đạt danh hiệu doanh nhân, nhà quản lý tiêu biểu được trao cúp và chứng nhận của Tổng giám đốc Tập đoàn.

Tại Hội nghị Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam đã công bố ra mắt Bộ sách Lịch sử ngành Dầu khí Việt Nam. Nhằm gìn giữ những giá trị và kinh nghiệm quý báu mà các thế hệ ngành dầu khí đã dày công xây đắp, giáo dục truyền thống cho thế hệ trẻ cũng như phát huy những thành tựu đã đạt được của ngành Dầu khí Việt Nam trong suốt 50 năm qua, Tập đoàn Dầu khí Việt Nam phối hợp với Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, NXB Chính trị Quốc gia – Sự thật xuất bản bộ sách Lịch sử ngành Dầu khí Việt Nam. Bộ sách có 3 tập, trình bày thành 5 phần gồm 13 chương và phần phụ lục, bao quát toàn bộ các hoạt động liên quan tới hoạt động nghiên cứu địa chất, tìm kiếm-thăm dò và khai thác dầu khí từ trước Cách mạng tháng 8 năm 1945 tới hết năm 2010, ghi lại chi tiết toàn cảnh lịch sử của ngành Dầu khí Việt Nam, mô tả lại những khó khăn, gian khổ, đấu tranh, vật lộn, trăn trở, cùng những hoài bão, mong ước và cả những thăng trầm, đổi thay qua các thế hệ những người làm công tác dầu khí từ những ngày đặt nền móng đầu tiên cho tới năm 2010. Bộ sách không chỉ là một biên niên sự kiện, mà còn là một kho tàng kiến thức về địa chất, dầu khí và nhiều lĩnh vực chuyên môn khác liên quan tới Ngành, cho các bạn đọc muốn tìm hiểu và nghiên cứu về ngành Dầu khí Việt Nam.

(Theo Petrotimes)

Petrovietnam phải khẳng định vị thế đầu tàu kinh tế quốc gia

 

*Chiến dịch đánh tư sản, tịch thu các hãng xưởng, kho bãi, và nhà cửa đất đai, rồi 1976, chiến dịch đổi tiền 500 đồng miền Nam chỉ đổi lấy 1 đồng tiền “giải phóng” để cướp sạch tiền tiết kiệm của người miền Nam, cắt đứt và không chi trả gần 8 triệu “sổ hưu” của những công chức y tế, giáo dục, quân đội, công nhân, doanh nhân miền nam đã làm việc trong thời gian 1950-1975 và trước đó.

Kể từ ngày chính phủ HCM lên cầm quyền ở miền Bắc 1946,  có 2 lần đổi tiền, 1950 và 1958. Lần nhất theo tỷ giá 100: 1 và lần 2 theo tỷ giá 1000:1, Vậy là người miền Bắc nghèo đi hay mất tổng cộng là 10.000 lần số tài sản của họ vào tay bác và đảng.

Khi chiếm được miền Nam, chiến dịch đổi tiền năm 1976, làm người miền Nam nghèo đi 500 lần, tỷ giá đổi tiền 1 đồng giải phóng bằng 500 đồng Miền Nam 500:1.

Chiến dịch đổi tiền năm 1978, theo đó, 1 đồng mới giá bằng 1 đồng miền Bắc, nhưng chỉ bằng 0,8 đồng “giải phóng”.

Chiến dịch đổi tiền 1985, 1 đồng mới có giá trị 10 lần đồng 1978.Vậy là toàn dân nghèo đi 10 lần chỉ vì đảng và nhà nước bất tài, đưa kế hoạch kinh tế 5 năm ra đều gặp thất bại, thâm thủng ngân sách, nên lấy chính sách đổi tiền để tước đoạt giá trị tích lũy của những người biết làm ăn và để dành tiền tiết kiệm. http://en.wikipedia.org/wiki/Vietnamese_dong

Như vậy, tính từ 1950 cho đến 1985, với 5 lần đổi tiền, giá trị  tiền bạc ở VN mất đi 100x1000x500x10 = 100.000.000 lần.  ( 1 đồng VN năm 1950, sau 5 lần đổi tiền, có tỷ giá so với tiền đồng năm 1985 là khoảng 100.000.000 đồng). 

Tỷ giá tiền tệ trong 50 năm qua, chắc chỉ có đảng CSVN là lãnh đạo đất nước tài tình và sáng suốt nhất; chỉ thua có nước Zymbabuez, nhưng đứng trên gần 200 quốc gia khác.  

Đổi tiền xảy ra vì chính phủ mới lên cần nắm tiền tệ để điều hành và trả lương, nhưng sau đó khi chính phủ quá yếu kém, gây thâm thủng ngân sách, thì thường tung tiền vào thị trường để tiếp tục nắm quyền, việc này gây lạm phát hay đồng tiền mất giá trị, vật giá tiếp tục gia tăng theo thời gian hơn 60 năm qua..càng chứng tỏ đảng và chính  phủ bất tài và kém cỏi.

Khi có máy in tiền trong tay ( thực tế là mua tiền mới để dành sẵn trong kho), giá in 1 đồng tiền mới polymer là 5 cents trả cho công ty Úc. Dùng 2 tờ 500.000 đồng polymer giá 10 cents tiền công in, là đổi được 50 đô la Mỹ, coi như đảng và nhà nước lời 49 đô la 90 cents. (Tương tự mua 1, bán lấy lời hơn 49 lần.)  

Chiến dịch đổi tiền và đánh tư sản để cướp nhà cửa, công ty, kho bãi, và chở hàng chiến lợi phẩm ra Bắc năm 1975-1979 chấm dứt, thì đảng lùa dân miền Bắc vào Nam. Có hơn 4 triệu người di cư từ Bắc vào Tây Nguyên và các tỉnh đồng bằng miền Nam trong khoảng thời gian này. Các kế hoạch nói trên nhằm cào cho dân miền Nam nghèo bằng dân miền Bắc, để dễ cai trị.

Kể từ 1986, đảng và nhà nước dù cố gắng hết sức, họp hành soạn thảo kế hoạch rất căng, thực thi các kế hoạch kinh tế theo đúng chính sách, nhưng cũng đã không cải thiện được đời sống dân chúng. Dân chúng cả nước đều nghèo, nạn đói đe dọa hàng năm từ 1975-1989 gọi là “đói giáp hạt”, nông dân bao vây và đánh trả các lực lượng công an và ủy ban các xã…đã làm đảng lo sợ các cuộc nổi dậy, nên phải quay trở về đi theo chủ nghĩa kinh tế tư bản, gọi là “đổi mới” cho đỡ mắc cở.

Lần này, đảng và nhà nước nắm độc quyền tất cả các ngành nghề có ăn nhất trong 1 nước, bằng cách thành lập 91 tập đoàn và tổng công ty, với số công ty con lên đến trên 12000 công ty. Ban giám đốc và trưởng phòng của các tập đoàn, tổng công ty, và 12000 công ty con, cùng là các cán bộ đảng viên cao cấp, hoặc con cái của họ nắm giữ chức vụ then chốt để tiếp tục đục khoét tiền bạc, ăn cắp tài nguyên khoáng sản bán chia nhau. Trong suốt 20 năm qua, năm nào thì báo cáo tổng kết của tất cả các công ty nhà nước đều là: hoàn thành vượt mức kế hoạch 120-150%, hoặc cao hơn năm trước 25%. Nhưng thực tế là tất cả các tập đoàn và tổng công ty, công ty con thua lỗ đến độ phá sản.

Tập đoàn PetroVietnam chỉ có việc hút dầu dưới Biển Đông, ngoài khơi Vũng Tàu, mỗi ngày hút lên 430.000 thùng dầu, chở qua Nhật, và Singapore bán lấy tiền mà cuối cùng cũng thua lỗ. Tập Đoàn Than và Khoáng Sản mỗi năm khai thác và bán hơn 46 triệu tấn than, nhưng cũng thua lỗ và mắc nợ. Tổng công ty Điện lực VN (EVN) cũng báo cáo thua lỗ…

——————

Bài 2: Nhập than

Tác giả Mạnh Quân

Nguồn: Báo SGGP

Sau nhiều năm ra sức đẩy mạnh xuất khẩu than với quy mô hàng chục triệu tấn/năm, vừa qua, tập đoàn Than – khoáng sản Việt Nam (TKV) đã quyết định thành lập tổ công tác về nhập khẩu than để tìm kiếm đối tác, xây dựng các phương án nhập than. TKV cũng mới soạn thảo xong đề án thành lập một ban chỉ đạo nhập khẩu than cho tổng sơ đồ phát triển điện lực Việt Nam.

Chuyện phải nhập than, ngay từ khi được lãnh đạo TKV công bố, đã khiến nhiều người phải ngỡ ngàng vì vẫn tưởng rằng, nước ta còn rất giàu vàng đen. Nhưng nay, chuyện nhập than đã là thực tế.

Từ năm 2012 trở đi, hàng năm Việt Nam sẽ phải nhập than với số lượng rất lớn và với giá chắc chắn đắt hơn rất nhiều so với giá than đang được xuất khẩu.

Cái khó của kẻ đến sau

Theo đề án nhập than do TKV lập, nhu cầu tiêu thụ than chỉ riêng cho sản xuất điện theo quy hoạch điện VI là vô cùng lớn mà ngành than không còn khả năng đáp ứng đủ.

Theo bảng cân đối cung cầu, đến năm 2012, than cho các dự án (nhiệt điện chạy than) đã xác nhận của TKV sẽ bị thiếu 8,2 triệu tấn; năm 2015 sẽ thiếu 12,8 triệu tấn. Số than thiếu này, đương nhiên phải nhập khẩu, nếu không hàng chục nhà máy nhiệt điện chạy than sẽ đắp chiếu. Nhưng không chỉ các nhà máy điện than thiếu than mà nhiều ngành khác cũng thiếu.

TKV tính rằng việc nhập than phải thực hiện từ năm 2012, tăng dần đến 28 triệu tấn vào năm 2015, 66 triệu tấn vào năm 2020 và 126 triệu tấn vào năm 2025.

Nhưng nhập than có dễ không? Chính TKV cũng cho rằng không dễ. Bởi từ 2012 trở đi, tức từ thời điểm Việt Nam phải nhập than, TKV thừa nhận rằng than năng lượng sẽ trở nên khan hiếm. Thị phần nhập khẩu than năng lượng của các cường quốc xuất khẩu than như Úc, Indonesia chủ yếu đã do Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan… nắm giữ, nên Việt Nam sẽ rất khó đàm phán mua được than với số lượng lớn.

“Việc xác định thời hạn hợp đồng dài hạn, cơ chế tính giá than theo thị trường, sự biến động của chi phí vận chuyển… là những khó khăn lớn khi tiến hành nhập khẩu than”, TKV nhận định.

Đáng lo hơn là cuộc cạnh tranh để nhập khẩu than ngày càng gay gắt. Chỉ xét ở châu Á, nhiều quốc gia đã lên kế hoạch lớn phát triển các nhà máy nhiệt điện chạy than nên nhu cầu nhập khẩu than rất lớn. Ví dụ như Trung Quốc đã tăng quy mô phát điện bằng nguồn điện than lên 249.000MW giai đoạn 2008 – 2020; Ấn Độ nâng lên 77.000MW từ năm 2008 – 2017. Việt Nam tăng 116.000MW đến năm 2025.

Các nhà hoạch định chính sách nhiều nước đã sớm thấy sự khan hiếm về than nên đã tranh thủ đàm phán, ký kết mua than dài hạn từ các nước giàu tài nguyên vàng đen. Đã sớm có làn sóng đầu tư của Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc. Ấn Độ… vào các mỏ than của Úc, Indonesia, Nam Phi. Nhưng Việt Nam, đã không biết tiết kiệm tài nguyên, nay mới chuẩn bị gia nhập thị trường nhập khẩu thì những khó khăn để ký được các hợp đồng mua than dài hạn là vô cùng khó.

Theo một số chuyên gia thì để có thể nhập khẩu than ổn định và lâu dài, Việt Nam cần chọn phương thức mua mỏ (mua quyền khai thác) hoặc đầu tư, mua cổ phần mỏ than ở các nước. TKV cho rằng, đây là hình thức đầu tư mới với ngành than – khoáng sản nhưng cơ sở pháp lý, các văn bản hướng dẫn thực thi luật Đầu tư nước ngoài còn thiếu nên chưa có cơ sở để triển khai.

Một thách thức lớn nữa cho việc nhập than chính là các cảng biển, hệ thống kho bãi chứa và phân phối than nhập khẩu về cũng chưa sẵn sàng (trong khi Trung Quốc đã xây dựng được những mỏ than nhân tạo lớn để chứa than nhập khẩu từ Việt Nam sang).

Người ta tính rằng, để phục vụ cho nhu cầu nhập than cho các nhà máy điện ở Việt Nam với số lượng đã dự kiến thì cần có cảng biển có khả năng cho tàu có kích cỡ Cape Sire (mớn nước sâu trên 20m) hoặc tối thiểu là cỡ tàu Panama max (trọng tải 70.000 tấn, mớn nước sâu trên 15m) đi vào được. Nhưng hiện nay, như ở các tỉnh phía Nam, chưa có cảng nào có khả năng tiếp nhận tàu đến cỡ Panama max. Chỉ có khu vực Sơn Dương/Vũng Áng hay Vân Phong là có mức nước sâu tự nhiên để tiếp nhận tàu trọng tải trên 100.000 DWT, nhưng vấn đề là hiện nay còn chưa có cảng nước sâu nào được xây dựng.

Cái giá của việc xuất khẩu ồ ạt

Với những khó khăn lớn như vậy thì nếu không sớm có sự chuẩn bị, chắc chắn việc nhập khẩu than có muốn thực hiện sẽ rất khó khăn. Cho nên, TKV đã đưa ra đề án thành lập ban chỉ đạo nhập khẩu than cho riêng tổng sơ đồ phát triển điện VI (còn nhập than để luyện thép, thuỷ tinh, sản xuất hoá chất… thì chưa biết).

Thành phần ban chỉ đạo dự kiến đề xuất gồm một Phó thủ tướng làm trưởng ban, phó trưởng ban là bộ trưởng bộ Công thương, các thành viên khác là thứ trưởng hoặc cấp tương đương ở một số bộ, ngành liên quan. Ban này sẽ chỉ đạo, kiểm tra, đôn đốc việc nhập than; trực tiếp quyết định hoặc đề xuất với Thủ tướng về cơ chế, chính sách nhập khẩu than…

Chắc rằng, ban chỉ đạo về nhập khẩu than sẽ sớm được chính thức thành lập theo đề nghị của TKV. Nhưng với sự tham gia muộn màng vào đội ngũ các nước nhập khẩu, có thể hình dung việc nhập khẩu than từ năm 2012 là không hề dễ dàng. Và nếu than không nhập về kịp thời, đầy đủ, liệu sẽ có bao nhiêu nhà máy điện, nhà máy thép, nhà máy sản xuất kính… phải ngưng hoạt động?

Như vậy, đến lúc này có thể khẳng định, cái giá phải trả cho việc xuất khẩu than ồ ạt trong nhiều năm qua (hiện nay và năm 2010, 2011 còn tiếp diễn) là quá đắt. Nhưng cho đến hết năm 2009, TKV dự kiến cả năm vẫn xuất khẩu được độ 22,5 triệu tấn than.

TKV cho rằng do tổng sản lượng than khai thác cả năm đạt khoảng 40 triệu tấn, tiêu dùng trong nước hết 19,5 triệu tấn, nên các doanh nghiệp mỏ phải tìm cách xuất khẩu phần còn lại đề bù cho việc bán than trong nước với giá thấp hơn giá xuất khẩu.

Theo TKV, một khi giá than còn chậm “thị trường hoá” thì ngành than sẽ còn khó khăn về tài chính để đầu tư, thăm dò, khai thác mỏ… và như thế, “sự thiếu hụt than sẽ càng trở nên trầm trọng hơn”. Chính vì đến năm 2009, thậm chí sang năm 2010, 2011 TKV vẫn tích cực xuất khẩu than nên việc phải nhập than càng đến nhanh, cho dù sắp tới có thể phải khai thác một số mỏ hầm lò của bể than đồng bằng sông Hồng (được cho là có trữ lượng đến 210 tỉ tấn) ở khu vực Bình Minh – Khoái Châu (Hưng Yên) và Tiền Hải (Thái Bình).

Xin trích lại một đoạn trong một bài viết về vấn đề này của tiến sĩ Nguyễn Thành Sơn, giám đốc công ty Năng lượng sông Hồng, một công ty thành viên của TKV: “Nếu trong vòng 13 năm qua, thay vì tích cực xuất khẩu than, TKV đẩy mạnh đầu tư theo chiều sâu, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh và chỉ tập trung tiềm lực đầu tư cho ngành than (thay vì đầu tư vào các lĩnh vực khác mà không có hiệu quả), thì nguy cơ phải nhập khẩu than của Việt Nam đã có thể được đẩy lùi hàng chục năm”.

Mạnh Quân

http://vn.360plus.yahoo.com/jw!pjXr6C6CGBYDG0ZN8yuMdVr.asmSfg–/article?mid=1731&fid=-1

nguồn: sgtt.com.vn

http://www.atpvietnam.com/vn/thongtinnganh/44470/index.aspx

*http://sct.quangninh.gov.vn/default.aspx?page=news&do=detail&category_id=116&news_id=7967

—–

Bài 3-Xuất khẩu tài nguyên thô: Biết nguy, vẫn không dừng

Báo Saigon Giải Phóng

Mặc dù đã có nhiều tiếng nói từ Quốc hội đề nghị hạn chế xuất khẩu khoáng sản, ngay cả Tổng bí thư Nông Đức Mạnh tại kỳ họp Quốc hội cuối năm trước đã đề nghị “chấm dứt xuất khẩu tài nguyên thô” nhưng từ tập đoàn Than-Khoáng sản Việt Nam (TKV) cho đến bộ Công thương gần đây vẫn dường như vẫn lao theo quán tính, thói quen cũ. Khoáng sản nhiều loại vẫn được xuất khẩu với số lượng lớn bất chấp thực tế chính nhiều loại khoáng sản đó đã dần trở nên khan hiếm với chính các doanh nghiệp cần dùng đến chúng ở trong nước.

Như SGTT đã đưa tin, từ cuối năm 2009, Bộ Công thương đã có văn bản đề nghị  Thủ tướng Chính phủ cho xuất khẩu thêm 400 ngàn tấn tinh quặng sắt, 84 ngàn tấn tinh quặng magnetit, 18 ngàn tấn mangan, 44 ngàn tấn kẽm…

Cho đến đầu năm nay, riêng hậu quả của tình trạng xuất khẩu số lượng lớn các loại tinh quặng khoáng sản kéo dài trong nhiều năm đõ đã được thấy rõ. Theo ông Phạm Chí Cường,chủ tịch hiệp hội Thép Việt Nam, vừa qua, một số doanh nghiệp sản xuất thép, đang có các dự án luyện thép lò cao qui mô lớn đã đồng loạt gửi nhiều văn bản đến bộ Công thương, hiệp hội Thép bày tỏ ý kiến phản đối việc cho phép xuất khẩu quặng sắt và nhiều loại khoáng sản khác.

Theo các doanh nghiệp này, số lượng tinh quặng sắt xuất khẩu năm 2009 thực tế nhiều hơn báo cáo của Tổng cục Hải quan 600 ngàn tấn. Theo số liệu của Hải quan Trung Quốc, lượng tinh quặng sắt nhập từ Việt Nam là 1,81 triệu tấn do họ thống kê cả số lượng hàng xuất theo đường tiểu ngạch, trốn thuế từ Việt Nam sang. Ông Cường cũng cho biết, về phía hiệp hội Thép Việt Nam cũng có môt văn bản đề nghị chấm dứt xuất khẩu quặng sắt để dành nguồn quặng này cho các nhà máy trong nước khai thác lâu dài.

Đại diện một doanh nghiệp sản xuất thép,  ông Huang Tony, tổng giám đốc Công ty Cổ phần Thép Đình Vũ cho biết, chỉ tính nhu cầu quặng sắt của 3 công ty sản xuất thép trong nước (có đơn kiến nghị) trong đó có công ty của ông thì mỗi năm, lượng tinh quặng thép cần là hơn 2 triệu tấn. Ông này cho rằng, nếu tình hình xuất khẩu quặng sắt vẫn tiếp tục thì nguy cơ các dự án luyện thép lò cao đã được đầu tư hàng ngàn tỷ đồng sẽ phải đắp chiếu do không có nguyên liệu để hoạt động bởi việc nhập khẩu nguyên liệu ngày càng đắt đỏ, khó khăn.

Nhưng chưa dừng lại ở đấy, mới đây nhất, ngày 27.2, tổng công ty Khoáng sản Việt Nam (trực thuộc TKV_ lại có đề nghị cho xuất khẩu 20.000 tấn tinh quặng đồng quy khô với lý do là để ổn định tình hình tài chính, duy trì sản xuất của tổ hợp khai thác Sin Quyền (Lào Cai)…Sau đó, TKV lại có đề nghị lên bộ Công thương để bộ xem xét, kiến nghị Chính phủ chấp thuận đề nghị của tổng công ty Khoáng sản.

Nếu tiếp tục đà xuất khẩu này, có lẽ trong năm nay, lượng tinh quặng khoáng sản: đồng, sắt, kẽm, mangan…có thể vượt xa năm 2009.

Theo số liệu của tổng cục Hải quan, không kể than, dầu mỏ, năm 2009, số lượng quặng và khoáng sản xuất khẩu lên tới 2,15 triệu tấn, đạt kim ngạch gần 135 triệu USD. Nước nhập khẩu nhiều nhất các nguồn quặng này của Việt Nam vẫn là Trung Quốc.

Chỉ trong năm ngoái, Trung Quốc nhập 1,67 triệu tấn các loại trong đó có 1,2 triệu tấn tinh quặng sắt của Việt Nam với giá trị 103 triệu USD. 2 tháng đầu năm nay, theo số liệu của bộ Công thương, riêng xuất khẩu than đá, quặng và một số loại khoáng sản khác (chưa tính dầu thô) đã lên tới khoảng 2 triệu tấn trị giá 89 triệu USD.

Riêng nguồn khoáng sản được xuất khẩu lớn nhất trong nhiều năm qua là than thì năm nay có giảm xuống chút ít. Sau khi đã thực hiện xuất khẩu 24 triệu tấn than trong năm 2009, năm nay, TKV  đề nghị xuất khẩu thêm 18 triệu tấn nữa và dự tính tiếp tục giảm vào năm 2011, để đến năm 2013 và 2014 chỉ còn xuất khẩu 3-4 triệu tấn than/năm.

Nhưng đáng nói, chính ông Trần Xuân Hoà, tại hội nghị Thủ tướng Chính phủ gặp các tập đoàn, tổng công ty nhà nước cuối tuần trước đã đề nghị Chính phủ cho phép ngay từ năm nay thí điểm việc nhập than cho một số hộ sản xuất trong nước bởi trong những năm tới, việc nhập khẩu than sẽ trở lên rất khó khăn.

Biết trước việc nhập than (từ năm 2013) trở đi là rất lớn và  sẽ khó khăn như vậyTKV vẫn đề nghị và bộ Công thương vẫn cho phép thực hiện xuất khẩu than với số lượng còn lớn như vậy thì đây chỉ có thể hiểu là một việc làm cạn kiện tài nguyên, làm nghèo đất nước.

Còn nhớ, từ tháng 6.2008, bộ Công thương đã ban hành thông tư hướng dẫn số 08/2008/TT-BCT trong đó quy định rõ: kể từ 30.9.2008, khoáng sản khai thác được phải ưu tiên cho chế biến sâu trong nước; nếu xin phép xuất khẩu phải đạt tiêu chuẩn, hàm lượng chế biến cao. Nhưng với việc tiếp tục xem xét, kiến nghị Chính phủ chấp thuận các đề nghị cho xuất khẩu khoáng sản, tinh quặng như vậy rõ ràng bộ này đã làm trái với chính thông tư, quy định do ngành mình ban hành.

Phải chăng vẫn đang có một sức ép lớn để đạt các chỉ tiêu tăng trưởng GDP, đạt thành tích xuất khẩu đã khiến bộ Công thương phải làm trái cả quy định của mình như vậy ? Còn nếu cứ viện những lý do cũ : do khai thác dư thừa, có trong nước chưa có cơ sở chế biến sâu, do thiếu vốn đầu tư…thì đó đều là những cách giải thích không hợp lẽ, khó thuyết phục.

Mạnh Quân

Nguồn Sgtt.com.vn

Báo: http://www.tinkinhte.com/cong-nghiep/mo-khai-khoang/xuat-khau-tai-nguyen-tho-biet-nguy-van-khong-dung.nd5-dt.87812.136143.html

——————————————————————————————–

——————————————————————————————–

———————————————————

Ngoài việc làm kinh tế quốc gia mà chỉ dựa dẫm vào việc bán dầu thô như bài báo trên, đảng dựa vào nông dân và ngư dân nữa trời ạ. Vừa ép giá để mua rẻ, vừa dựa vào lớp người nghèo khổ này để bán ra nước ngoài thu ngoại tệ và gia tăng GDP, nhưng kể công là “chính phủ giao” nghe mà muốn mắc ói.

“Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, …Kim ngạch xuất khẩu nông lâm thủy sản tháng 12/2009 ước đạt 1,3 tỷ USD, đưa tổng giá trị  xuất khẩu cả năm của nhóm ngành này lên 15,34 tỷ USD” (nguồn)

Doanh nghiệp dệt may xuất khẩu chiếm 14 tỷ USD năm 2011 (nguồn)

———————————————————

___________________________________

Thông báo-Thông cáo

TÌNH HÌNH XUẤT KHẨU, NHẬP KHẨU HÀNG HÓA CỦA VIỆT NAM THÁNG 12 VÀ 12 THÁNG NĂM 2011

Thống kê Hải quan – 1/02/2012 11:00 AM

I.          Đánh giá chung

Theo số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hoá của cả nước trong tháng 12/2011 đạt 18,44 tỷ USD, tăng nhẹ 0,9% so với tháng trước đó và tăng 12,6% so với tháng 12/2010. Trong đó kim ngạch xuất khẩu đạt 9,09 tỷ USD, tăng 2,6 % so với tháng 11/2011; nhập khẩu là 9,36 tỷ USD, giảm 0,7%. Kết quả là cán cân thương mại hàng hóa của Việt Nam trong tháng 12 thâm hụt 270 triệu USD, giảm mạnh 52,4% so với tháng trước và bằng 3% tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam. 

Theo ghi nhận của Tổng cục Hải quan thì tính từ đầu năm đến ngày 25 tháng 12 năm 2011, tổng kim ngạch hàng hóa xuất nhập khẩu của Việt Nam đã chinh phục mức kỷ lục mới của Việt Nam “200 tỷ USD” sau khi đã cán mốc 100 tỷ USD vào ngày 01 tháng 12 năm 2007.

Tính đến hết tháng 12 năm 2011 tổng kim ngạch hàng hóa xuất nhập khẩu của cả nước đạt 203,66 tỷ USD, tăng 29,7% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, trị giá hàng hoá xuất khẩu đạt 96,91 tỷ USD, tăng 34,2% và thực hiện vượt 22% mức kế hoạch của cả năm 2011; trong khi đó, trị giá hàng hóa nhập khẩu là 106,75 tỷ USD, tăng 25,8% và vượt 14,2% kế hoạch của cả năm. Với kết quả trên thì cán cân thương mại hàng hoá của Việt Nam trong năm 2011 thâm hụt 9,84 tỷ USD, bằng 10,2% tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam.

 Biểu đồ 1: Kim ngạch xuất khẩu, nhập khẩu hàng hoá

và cán cân thương mại của Việt Nam giai đoạn 2001-2011

 

 

Theo số liệu Thống kê Hải quan thì tổng kim ngạch hàng hóa xuất nhập khẩu của khối doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) trong năm 2011 đạt 96,71 tỷ USD, tăng 36% so với kết quả thực hiện của năm trước. Trong đó, trị giá xuất khẩu là 47,87 tỷ USD, tăng 40,3% và chiếm 49,4% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước. Trị giá nhập khẩu của khu vực các doanh nghiệp này là 48,84 tỷ USD, tăng 32,1%, chiếm 45,7% tổng kim ngạch nhập khẩu của cả nước. Trong khi đó, khối doanh nghiệp trong nước xuất khẩu đạt 49,03 tỷ USD trong năm 2011, tăng 28,7% và nhập khẩu là 57,91 tỷ USD, tăng 21%.

II. Một số nhóm hàng xuất khẩu chính

Hàng thủy sản: kim ngạch xuất khẩu trong tháng 12/2011 đạt 581 triệu USD, giảm nhẹ 0,2% so với tháng 11. Tính đến hết năm 2011, kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng này đạt 6,11 tỷ USD, tăng 21,8% so với năm 2010 và tăng 65,6% so với mức bình quân giai đoạn 2005- 2009.

Liên minh châu Âu (EU), Hoa Kỳ và Nhật Bản vẫn là 3 đối tác chính nhập khẩu hàng thuỷ sản trong năm 2011, cụ thể: xuất mặt hàng này sang thị trường EU đạt 1,36 tỷ USD, tăng 12,9%; sang Hoa Kỳ đạt 1,16 tỷ USD, tăng 21,3%; sang Nhật Bản đạt 1,02 tỷ USD, tăng 13,6% so với năm 2010. Ngoài ra, xuất khẩu thủy sản của Việt Nam còn mở rộng sang các thị trường như Hàn Quốc: 490 triệu USD, tăng 26,1%; Trung Quốc: 223 triệu USD, tăng 37,3%; Braxin: 86,3 triệu USD, tăng 153,5%…

Gạo vẫn là một mặt hàng nông sản chủ đạo, chiếm tỷ trọng lớn trong tổng giá trị xuất khẩu nông sản của nước ta (chiếm 26,8% tổng kim ngạch xuất khẩu nông sản). Số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan cho thấy năm 2011 lượng gạo xuất khẩu đạt 7,1 triệu tấn và trị giá đạt 3,66 tỷ USD, chỉ tăng nhẹ 3,3% về lượng và tuy nhiên tăng khá 12,6% về trị giá so với năm trước.

Biểu đồ 2: Tỷ trọng xuất khẩu mặt hàng nông sản của Việt Nam năm 2011

 

Cà phê: lượng cà phê xuất khẩu trong tháng 12/2011 là 155,6 nghìn tấn, trị giá đạt 325 triệu USD, tăng 119,9% về lượng và tăng 116,6% về trị giá so với tháng trước. Tính đến hết 12 tháng/2011, lượng cà phê xuất khẩu của nước ta đạt gần 1,26 triệu tấn, trị giá đạt 2,75 tỷ USD, tăng 3,2% về lượng và tăng 48,7% về trị giá so với năm 2010.

Thị trường tiêu thụ cà phê lớn nhất của nước ta trong năm 2011 bao gồm EU: 490 nghìn tấn, tăng 1,8% và chiếm 39% tổng lượng xuất khẩu nhóm hàng này của Việt Nam; tiếp theo là Hoa Kỳ: 138,5 nghìn tấn, giảm 9,5%; Nhật Bản: 50,7 nghìn tấn, giảm 4,4%… so với năm 2010.

Cao su: tháng 12/2011, lượng cao su xuất khẩu đạt 111 nghìn tấn, trị giá 335 triệu USD, giảm 11,8% về lượng và giảm 11,1% về trị giá so với tháng trước. Tính đến hết tháng 12/2011, tổng lượng xuất khẩu mặt hàng này của cả nước đạt 817 nghìn tấn, tăng 4,4%, trị giá đạt 3,23 tỷ USD, tăng 35,4% so với năm 2010.

Trung Quốc vẫn là đối tác chính tiêu thụ cao su nhập khẩu từ Việt Nam trong năm 2011 với 502 nghìn tấn, tăng 8% và chiếm tới 61,4% lượng cao su xuất khẩu của cả nước. Tiếp theo là các thị trường: EU: 67,1 nghìn tấn, tăng 6,2%; Malaixia: 57,8 nghìn tấn, giảm 2%; Đài Loan: 34,3 nghìn tấn, tăng 7,6%;…

Dầu thô: lượng dầu thô xuất khẩu năm 2011 đạt 8,24 triệu tấn, tăng 3,3% và trị giá đạt 7,24 tỷ USD, tăng 46,1% so với năm 2010. Đơn giá xuất khẩu bình quân đạt 879 USD/tấn (khoảng 115 USD/thùng), tăng 41,4% so với năm trước.

Lượng dầu thô của Việt Nam chủ yếu được xuất khẩu sang thị trường Nhật Bản: 1,82 triệu tấn, tăng gấp 4 lần, sang Ôxtrâylia: 1,44 triệu tấn, giảm 50,5%; sang Trung Quốc: 1,25 triệu tấn, tăng 111%; sang Malaixia: 1,09 triệu tấn, giảm 16,1% so với năm trước.

Than đá: lượng than xuất khẩu của Việt Nam trong năm 2011 là 17,2 triệu tấn, giảm 13,4%, trị giá đạt 1,63 tỷ USD, tăng 1,3% so với năm 2010. Lượng xuất khẩu than đá của Việt Nam sang hầu hết các thị trường đều giảm so với năm trước. Trung Quốc tiếp tục là đối tác lớn nhập khẩu than đá của Việt Nam với 13,4 triệu tấn, giảm 8,2% và chiếm tới 78,3% tổng lượng xuất khẩu mặt hàng này của cả nước; tiếp theo là thị trường Hàn Quốc: 1,52 triệu tấn, giảm 13,5% và Nhật Bản: 1,37 triệu tấn, giảm 19,8%…

Hàng dệt may: kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may năm 2011 của nước ta đạt 14,04 tỷ USD, tăng 25,3% so với năm 2010 và tăng tới 132% so với kim ngạch bình quân của giai đoạn 2001 – 2010.

Từ năm 2007, trị giá xuất khẩu hàng dệt may của các doanh nghiệp FDI vượt qua các doanh nghiệp trong nước. Tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này của khối doanh nghiệp FDI trong tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước liên tục tăng trong những năm gần đây. Năm 2011, kim ngạch xuất khẩu của doanh nghiệp FDI đạt 8,51 tỷ USD, chiếm 60,6% tổng kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng này của Việt Nam.

Biểu đồ 3: Kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may của doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài năm 2006 – 2011

 

Trong năm 2011, Hoa Kỳ, EU và Nhật Bản tiếp tục là 3 thị trường lớn nhất tiêu thụ hàng dệt may từ Việt Nam với kim ngạch và tốc độ tăng so với cùng kỳ năm 2010 lần lượt là 6,88 tỷ USD và 12,5%; 2,57 tỷ USD và 33,6%; 1,69 tỷ USD và 46,4%. Tổng kim ngạch hàng dệt may xuất sang 3 thị trường này đạt 11,15 tỷ USD, chiếm tới 79,4% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may của cả nước trong năm 2011.

Giày dép các loại: trong tháng 12/2011, lượng giày dép xuất khẩu đạt 721 triệu USD, tăng 10,4% so với tháng 11/2011; nâng tổng kim ngạch xuất khẩu hàng giày dép của Việt Nam trong năm 2011 đạt 6,55 tỷ USD, tăng 27,9% so với năm 2010. Trong đó, trị giá xuất khẩu của doanh nghiệp FDI đạt 4,98 tỷ USD, chiếm 76% tổng kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng giày dép cả nước.

Những đối tác chính nhập khẩu giày dép của Việt Nam trong năm 2011 chủ yếu là: EU: 2,61 tỷ USD, tăng 15,7%; Hoa Kỳ: 1,91 tỷ USD, tăng 35,5%; Trung Quốc: 253 triệu USD, tăng 63%; Nhật Bản: 249 triệu USD, tăng 44,7%;…

Túi xách, ví, vali, mũ & ô dù: năm 2005, xuất khẩu nhóm hàng này chỉ đạt 500 triệu USD, đến năm 2010 đạt 959 triệu USD. Năm 2011, xuất khẩu nhóm hàng này đạt con số ấn tượng lên đến gần 1,3 tỷ USD, tăng 34% so với năm trước. Các đối tác chính nhập khẩu túi xách, ví, vali, mũ & ô dù của Việt Nam chủ yếu là: Hoa Kỳ: 459 triệu USD, tăng 38,1%; EU: 441 triệu USD, tăng 23,3%; Nhật Bản: 144 triệu USD, tăng 53,8% so với năm 2010…

4 : Diễn biến tình hình xuất khẩu túi xách, ví, vali, mũ & ôdù theo tháng năm 2009- 2011

Biểu đồ 5: Diễn biến tình hình xuất khẩu sản phẩm từ sắt thép theo tháng năm 2009- 2011


Sản phẩm từ sắt thép: kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng này trong năm 2011 đạt 1,14 tỷ USD, tăng 37,8% so với năm 2010. Xuất khẩu sản phẩm từ sắt thép tăng mạnh sang thị trường Hoa Kỳ với 285 triệu USD, tăng tới 133,4%; xuất sang EU đạt 240 triệu USD, tăng 18,9%; xuất sang Nhật Bản đạt 122 triệu USD, tăng 24,7%…

Điện thoại các loại & linh kiện: diễn biến xuất khẩu nhóm hàng này trong năm 2011 theo hướng tăng mạnh trong quý II và quý III. Tính chung năm 2011, xuất khẩu điện thoại các loại & linh kiện đạt 6,89 tỷ USD, tăng 198,4% so với năm 2010.

Biểu đồ 6: Kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng điện thoại các loại và linh kiện theo tháng năm 2010 – 2011

 

Những đối tác chính nhập khẩu điện thoại các loại & linh kiện của Việt Nam trong năm 2011 là EU với 2,94 tỷ USD (năm 2010 là 427 triệu USD), chiếm 42,6% tổng trị giá xuất khẩu nhóm hàng này của Việt Nam. Tiếp theo là Hồng Kông: 660 triệu USD, tăng 73,8%; Nga: 536 triệu USD, tăng 111%; Ấn Độ: 371 triệu USD, tăng 45,2% so với năm 2010.

III. Một số nhóm hàng nhập khẩu chính

Máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng là nhóm hàng dẫn đầu về kim ngạch nhập khẩu hàng hoá của Việt Nam vớikim ngạch năm 2011 đạt 15,34 tỷ USD, tăng 13% so với năm 2010. Trong đó, khu vực FDI nhập khẩu 6,59 tỷ USD, tăng 28,1% và các doanh nghiệp trong nước nhập khẩu 8,75 tỷ USD, tăng 2,4% so với một năm trước đó.

Nhóm hàng máy móc thiết bị dụng cụ phụ tùng nhập khẩu chủ yếu có xuất xứ từ Trung Quốc với 5,18  tỷ USD, tăng 15,7% so với năm 2010; tiếp đến là Nhật Bản: 2,8 tỷ USD, tăng 9,9%; EU: 2,42 tỷ USD, tăng 10,8%; Hàn Quốc: 1,26 tỷ USD; tăng 13,8%; Đài Loan: 899 triệu USD, tăng 10,9%; Hoa Kỳ: 848 triệu USD, tăng 4,1%;…

Xăng dầu các loại: tính đến hết năm 2011, tổng lượng xăng dầu nhập khẩu của cả nước là gần 10,7 triệu tấn, tăng 11,4% so với năm 2010 với trị giá gần 9,9 tỷ USD, tăng 61,6%. Đơn giá nhập khẩu bình quân trong năm 2011 tăng 45% so với năm 2010 nên kim ngạch tăng do yếu tố giá là 3,07 tỷ USD và tăng do yếu tố lượng là 698 triệu USD.

Biểu đồ 7: Đơn giá nhập khẩu xăng dầu các loại theo tháng năm 2010 – 2011

 

Lượng xăng dầu nhập khẩu theo loại hình tạm nhập tái xuất trong năm 2011 là 715 nghìn tấn, giảm 60,6% so với năm 2010. Xăng dầu các loại nhập khẩu vào Việt Nam trong năm 2011 chủ yếu có xuất xứ từ: Singapore với gần 4,4 triệu tấn, tăng 26,7%; tiếp theo là Đài Loan: 1,39 triệu tấn, tăng 31,6%; Trung Quốc: 1,32 triệu tấn, giảm 13%; Hàn Quốc: 1,12 triệu tấn, tăng 1,36%; Cô oét: 796 nghìn tấn, tăng 62,4%;… so với năm 2010.

Sắt thép các loại: tính đến hết năm 2011, tổng lượng nhập khẩu sắt thép của Việt Nam là 7,39 triệu tấn, giảm 18,7%, kim ngạch nhập khẩu là 6,43 tỷ USD, tăng 4,5%. Trong đó, lượng phôi thép nhập khẩu là 878 nghìn tấn, trị giá đạt 576 triệu USD, giảm 55,8% về lượng và giảm 46,4% về trị giá so với năm 2010.

Biểu đồ 8: Lượng sắt thép các loại nhập khẩu năm 2005- 2011

 

Trong năm 2011, Việt Nam nhập khẩu sắt thép trong năm 2011 chủ yếu có xuất xứ từ: Nhật Bản với 1,93 triệu tấn, tăng 10,6% so với năm 2010; Hàn Quốc: gần 1,7 triệu tấn, tăng 2,9%; Trung Quốc: 1,67 triệu tấn, giảm 23,7%; Đài Loan: 810 nghìn tấn, tăng 1,4%;…

 Nhóm hàng nguyên liệu, phụ liệu ngành dệt may, da, giày: trong tháng này kim ngạch nhập khẩu đạt 939 triệu USD, giảm 12,5% so với tháng trước, nâng tổng kim ngạch nhập khẩu nhóm hàng này trong năm 2011 lên 12,27 tỷ USD, tăng 24,7% so với năm 2010. Trong đó trị giá nhập khẩu vải là 6,73 tỷ USD, tăng 25,5%; nguyên phụ liệu dệt may da giày 2,95 tỷ USD, tăng 12,5%; xơ sợi dệt là 1,53 tỷ USD, tăng 30,4% và bông là hơn 1 tỷ USD, tăng 56,1%.

Trong năm 2011, khối doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài nhập khẩu 7,88 tỷ USD, tăng 26,3% và các doanh nghiệp trong nước là 4,39 tỷ USD, tăng 22% so với năm 2010.

Các thị trường chính cung cấp nhóm hàng này cho Việt Nam trong năm 2011 là: Trung Quốc: 3,96 tỷ USD, tăng 26,4%; Hàn Quốc: 2,11 tỷ USD, tăng 22%; Đài Loan: 2 tỷ USD, tăng 16,6%; Nhật Bản: 737 triệu USD, tăng 43,4%; Hoa Kỳ: 733 triệu USD, tăng 70,9%; Hồng Kông: 594 triệu USD, tăng 10,3%; … so với năm 2010.

Phân bón các loại: trong cả năm 2011, lượng phân bón nhập khẩu của Việt Nam là hơn 4,25 triệu tấn, tăng 21,1%, trị giá là 1,78 tỷ USD, tăng 46,1% so với năm 2010. Trong đó nhập khẩu nhiều nhất là phân Urê với hơn 1,13 triệu tấn, tăng 14,5%; phân Kali là 947 nghìn tấn, tăng 44,2% và phân SA là 891 nghìn tấn, tăng 30,5% so với năm 2010.

Tính đến hết năm 2011, Việt Nam nhập khẩu phân bón chủ yếu có xuất xứ từ: Trung Quốc: 2,17 triệu tấn, tăng 26,9% và chiếm tỷ trọng 51% trong tổng kim ngạch nhập khẩu phân bón của cả nước; Bêlarút: 378 nghìn tấn, tăng mạnh 159%; Philippin: 319 nghìn tấn, tăng 61,6%; Nhật Bản: 239 nghìn tấn, tăng 11,9%; …

Ô tô nguyên chiếc:trong tháng lượng ôtô nguyên chiếc nhập khẩu là 3,6 nghìn chiếc, tăng 31,3%, nâng tổng lượng xe nhập khẩu trong năm 2011 lên 54,6 nghìn chiếc, trị giá là hơn 1 tỷ USD, tăng 1,4% về lượng và tăng 5,1% về trị giá so với năm 2010.

Tính đến hết năm 2011, các doanh nghiệp Việt Nam đã nhập khẩu xe dưới 9 chỗ là 34,9 nghìn chiếc, giảm 0,3%; ô tô tải là 16 nghìn chiếc, tăng 13,3%; ô tô loại khác là 3,69 nghìn chiếc, giảm 32,5% so với năm 2010.

Biểu đồ 9: Lượng nhập khẩu ô tô nguyên chiếc các loại trong năm 2011

 

Xe ôtô nguyên chiếc nhập khẩu vào Việt Nam chủ yếu có xuất xứ từ Hàn Quốc với 25 nghìn chiếc, giảm 11% so với năm 2010. Trong đó, lượng xe dưới 9 chỗ ngồi là gần 18 nghìn chiếc, giảm 5,3% và chiếm 71,8% lượng xe nhập khẩu từ thị trường này. Tiếp theo là các thị trường: Trung Quốc: 5,5 nghìn chiếc, tăng 31,8%; Thái Lan: 5,38 nghìn chiếc, tăng 92,5%; Nhật Bản: 4,55 nghìn chiếc, giảm 15,6% so với năm 2010;…

Hàng điện gia dụng và linh kiện: trong năm vừa qua, Việt Nam nhập khẩu mặt hàng này chủ yếu có xuất xứ từ các thị trường Đông Nam Á.

Kim ngạch nhập khẩu nhóm hàng này trong năm 2011 đạt 675 triệu USD, tăng 4,5% so với năm 2010. Các thị trường cung cấp nhóm hàng này cho Việt Nam có xuất xứ từ từ các nước thành viên ASEAN với 497 triệu USD (trong đó nhập khẩu từ: Thái Lan là 352 triệu USD; Malaixia: 123 triệu USD; Inđônêxia: 19,2 triệu USD); nhập khẩu từ Trung Quốc: 124 triệu USD; Hàn Quốc: 20,2 triệu USD; …

—————————————————

Dự Án cho thuê đất ở Phú Yên 210 năm (3.000 km2), tương đương 60% diện tích toàn tỉnh Phú Yên.

Đảng chỉ đạo khai thác tài nguyên khoáng sản dầu khí  từ 1980 để lấy tiền làm vốn. Nhưng đã trải hơn 30 năm qua, kể từ khi khái thác dầu khí 1988 cho đến nay, mà tiền bạc vẫn thiếu hut. Chuyển qua bán các mỏ khoáng sản than đá, tungsten, wolfram, Titan, Bô xít…cho Nhật, Trung Quốc, Đài Loan,…để thu thêm chút tiền đô, nhưng kinh tế cũng chưa thấy gì khả quan. 

Đảng và nhà nước luôn luôn kẹt vốn, nên chỉ đạo đi vay nợ nước ngoài. Kết quả  hiện nay nợ quốc gia lên 58 tỷ, và nợ của các doanh nghiệp quốc doanh lên tới 5o tỷ (nguồn:  * Nợ của các Tập Đoàn quốc doanh  *  Nợ của Việt Nam)

Số tiền do Việt kiều gởi về nước gia tăng mỗi năm .  Năm 2011, kiều hối là 9 tỷ; năm 2010, kiều hối 8 tỷ; năm 2009, kiều hối 7 tỷ…(nguồn). Tất cả số tiền này (sau cùng) đều được thân nhân Việt kiều đổi lấy tiền Việt Nam do nhà nước in ra (thuê Úc in tiền polymer) và lọt vào tay nhà nước. Nhưng lượng  tiền đô la khổng lồ này đã đi về đâu? Chui vào túi của ai?

Trong khi các tài nguyên thiên nhiên đang bị đảng và nhà nước cho khai thác đến mức cạn kiệt, không để dành lại làm của cho các thế hệ VN mai sau. Bán Dầu khí dưới biển, cho thuê đất đai trên rừng,  đốn gỗ xuất khẩu qua Thái Lan, Mỹ, và Âu Châu, nhìn quanh quẫn thì không còn chỗ nào mà đảng và nhà nước chưa bán. Vài năm qua, nhà nước đã  nhận ra là đất dưới đồng bằng và miền biển là còn để trống.

Vậy là đảng và nhà nước chỉ đạo kế hoạch đem đất đai cho nước ngoài thuê. Ngoài Bắc thì cho Đài Loan – Trung Quốc thuê 300 000 hecta rừng đầu nguồn mà giá thuê chỉ có 50 000 đồng VN 1 hecta. Khi bị phát hiện, thì chính phủ giả vờ không biết “Trước đó, trung tướng Đồng Sỹ Nguyên đã có ý kiến phản ảnh việc 10 tỉnh cho doanh nghiệp nước ngoài thuê rừng đầu nguồn dài hạn, với tổng diện tích (theo thỏa thuận) lên tới trên 305.000ha. Ngay sau khi có thông tin này, Thủ tướng Chính phủ đã yêu cầu Bộ NN&PTNT kiểm tra, làm rõ để báo cáo Thủ tướng.”  (nguồn) (nguồn)

Chuyện lớn như thế thì giả vờ không nhìn thấy, nhưng chuyện nhỏ như này thì biết rất rõ. Vì không đút tiền cho nó ăn, nên kiếm cớ làm khó dễ. Hoặc, muốn đem tiền của, đồ vật đi cứu trợ dân, phải có Mặt Trận TQ và đảng ủy đến phát quà (nói chính xác là kể công).

[Mi Vân bị ngăn cấm về VN làm việc từ thiện

Cô Mi Vân: Cũng như năm trước, tôi có đặt 100 chiếc xe lăn để tặng cho những người già yếu và những người khuyết tật. Năm trước, tôi cũng về với 100 chiếc xe lăn và sau đó thấy có những người nghèo và những trẻ em mồ côi, khuyết tật, tôi cảm thấy muốn làm thêm gì nữa (nguồn), ( nguồn video)

Năm 2011, ở tỉnh Bình Dương thì Becamex (một doanh nghiêp xây dựng của quân đội, thuộc Bộ Quốc Phòng) xây China Town  cho Trung Quốc thuê (nguồn Đông Đô Đại Phố, mời các bạn tìm trên google tên phố để thấy tỉnh Bình Dương đang trở thành khu định cư của  Trung Quốc, Nhật, Đài Loan, Hàn di cư tới ở: “Siêu” dự án thành phố mới Bình Dương được chính thức khởi công vào ngày 26/04/2010 với quy mô 1.000 ha, phục vụ cho khoảng 125.000 người định cư lâu dàihơn 400.000 người thường xuyên đến làm việc.”  (nguồn)

Năm 2012,  Becamex lại khởi công xây dựng thị trấn Tokyo ở Bình Dương với 7500 nhà cửa và căn hộ. Khu này Nhật mướn theo kế hoạch lâu dài chưa biết là 50 năm hay 99 năm.

Dự án dưới đây cho thuê đất ở Phú Yên 210 năm. Hợp đồng đã ký kết 2010, nhưng cũng may là chủ đầu tư Ả Rập giờ đang bị kẹt vốn, nên dự án có khả năng tạm dừng.

Dự án cho Ả Rập thuê 300 000 hecta đất ở tỉnh Phú Yên trong thời gian 210 năm do Bộ Chính Trị chủ trì, nay tỉnh đề nghị tạm dừng vì chủ đầu tư đang kẹt vốn.

Dự án 250 tỷ USD ở Phú Yên: “Khả năng sẽ tạm dừng”

ANH QUÂN

Báo VnEconomy

03/03/2011 08:59 (GMT+7)

picture
Gành Đá Dĩa, một thắng cảnh của Phú Yên, nơi tập đoàn Sama Dubai dự định mở một khu du lịch.
 

Ngày 2/3, Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Cao Viết Sinh đã cho hay về khả năng tạm dừng dự án của Sama Dubai tại Phú Yên.

“Thường trực Chính phủ đã họp để đánh giá các mặt tác động và khả năng triển khai dự án. Có khả năng sẽ tạm dừng dự án đó”, ông Sinh nói với VnEconomy.

Trước đó, theo một số nguồn tin, lãnh đạo UBND tỉnh Phú Yên đã có văn bản chính thức trình Bộ Chính trị đề nghị cho dừng dự án của tập đoàn Sama Dubai do dự án chưa được triển khai đầu tư, ảnh hưởng đến vấn đề phát triển kinh tế của tỉnh.

Dự án đặc khu kinh tế do tập đoàn Sama Dubai (Các Tiểu vương quốc Ả rập thống nhất – UAE) đăng ký đầu tư tại tỉnh Phú Yên có tổng vốn đầu tư 250 tỷ USD. Quy mô của dự án lên đến 300.000 ha (3.000 km2), tương đương 60% diện tích toàn tỉnh Phú Yên.

Theo VOV News, dự thảo bản ghi nhớ ngày 25/6/2008 có nội dung: đặc khu kinh tế có được các quyền tự quản lý ở mức độ cao đối với môi trường kinh doanh, thiết lập một hệ thống quản lý, pháp lý, tư pháp theo tiêu chuẩn quốc tế. Vùng đất thuộc đặc khu kinh tế được dựng hàng rào để ngăn cách.

Chủ đầu tư đã yêu cầu Việt Nam cho thuê đất dự án trong 70 năm đầu tiên, sau đó ký tiếp hai lần nữa, mỗi giai đoạn là 70 năm, tổng cộng thời gian thuê đất dự án là 210 năm. UBND tỉnh Phú Yên đã trao giấy chứng nhận đầu tư 3 dự án con trong tổng thể dự án là khu du lịch gành Đá Dĩa, nâng cấp sân bay Tuy Hoà và xây dựng tuyến đường cao tốc nối từ sân bay Tuy Hoà tới khu du lịch gành Đá Dĩa.

Trả lời VnEconomy về lộ trình đi đến dừng dự án của Sama Dubai, ông Sinh cho biết, hiện nay dự án chưa được cấp phép, còn đang trong quá trình thương thảo các điều kiện. “Dự án đã có điều kiện gì đâu, hiện vẫn còn rất sơ khai, đang bàn các vấn đề về thể chế, thủ tục thôi, họ cũng mới vào xem thôi”, ông nói.

Theo lãnh đạo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, do các địa phương được chủ động trong quá trình quy hoạch lại các khu vực phát triển kinh tế xã hội, nên nếu không tiếp tục dự án nữa thì sẽ quy hoạch lại.

Liên quan đến thông tin về 3 dự án nhỏ thuộc dự án đã cấp phép, ông Sinh cho biết: “Dự án đã cấp phép mà nhà đầu tư đang thực hiện bình thường thì tôi nghĩ là vẫn triển khai”.

Phú Yên, mảnh đất “hẹp” giữa đèo Cù Mông và đèo Cả, mấy năm gần đây bỗng được đánh thức bởi nhiều dự án lên đến nhiều tỷ USD, như dự án khu công nghiệp lọc hóa dầu vốn đầu tư 11 tỉ USD, khu du lịch liên hợp cao cấp 4,3 tỉ USD, dự án Thành phố Sáng tạo Nam Tuy Hòa 11,4 tỷ USD hay dự án nói trên của tập đoàn Sama Dubai… Tuy nhiên, việc triển khai một cách hiệu quả các “siêu dự án” này nhìn chung đến nay vẫn còn là dấu hỏi, thậm chí đã có nhà đầu tư xin rút lui.

Nguồn: Báo VnEconomy

————————————————–

Nền kinh tế VN hiện có GDP là 100 tỷ, mà tiền bán dầu khí và ga chiếm hơn 34 tỷ (và việc bán dầu khí đã kéo dài hơn 20 năm qua), chưa tính tiền bán than đá, mỏ Tungsten, Wolfram, quặng sắt, quặng Titan (cát đen) đọc theo bờ biển Phước Lý (Qui Nhơn trải dài ra Thanh Hóa), quặng Bô Xít, tiền Việt Kiều gởi về hơn 10 tỷ…cho ngoại bang thuê mướn đất đai, cho  xuất khẩu 500 000 công nhân ra nước ngoài trước là để kiếm việc làm, sau là dùng số người này gởi tiền đô la về cho đảng lãnh đạo làm…kế hoạch tiếp để cả nước cùng tiến lên…chế độ Cộng Sản. (Xin nói thêm là nhờ có đảng lãnh đạo, nhà nước quản lý, nên VN đã bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa lâu rồi; mấy chục năm qua cả nước đã tiến lên XHCN, việc xây dựng con người mới của xã-hội- mới XHCN cũng đã xong rồi, và hiện nay cả nước đang giai đoạn hoàn thiện chế độ XHCN trong nay mai. Những khó khăn hiện nay chỉ là tạm thời.)

Nhưng làm kế hoạch gì mà hết kế hoạch 5 năm này, đến kế hoạch 5 năm khác, nền kinh tế VN vẫn hoàn toàn èo uột.  Cùng lúc đi vay mượn khắp nơi, đến nổi hiện nay có người lên tiếng cảnh báo nợ quá cao.

Cảnh báo nợ của doanh nghiệp nhà nước

Vũ Thành Tự Anh (*) Thứ Tư,  9/3/2011, 22:36 (GMT+7)

nguồn

(TBKTSG) – Theo báo cáo của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, tính đến 31-12-2008, tổng dư nợ nội địa của các tập đoàn, tổng công ty nhà nước là 287.000 tỉ đồng. Nếu tính cả nợ nước ngoài thì đến cuối 2008, tổng nợ của khu vực doanh nghiệp nhà nước (DNNN) xấp xỉ 23,9% GDP.

Trong năm 2009, theo báo cáo của Chính phủ gửi Quốc hội ngày 1-11-2010 thì nợ của 81/91 tập đoàn, tổng công ty nhà nước (chưa tính Vinashin) là 813.435 tỉ đồng, tương đương với 49% GDP. Nếu tính cả nợ của Vinashin, theo báo cáo của Bộ Tài chính là 86.000 tỉ, thì nợ của khu vực DNNN đến cuối năm 2009 (không kể chín tập đoàn, tổng công ty chưa có số liệu) đã lên tới 54,2% GDP năm 2009.

Rõ ràng là nợ của cả DNNN và Chính phủ đều tăng rất nhanh trong một thời gian rất ngắn, trong đó mức tăng nợ của khu vực DNNN thật sự đáng lo ngại.

Nếu nhìn vào con số tuyệt đối, sau khi trừ đi các khoản nợ nước ngoài và với những tính toán thận trọng nhất thì trong năm 2009, khu vực DNNN chiếm không dưới 60% trong tổng tín dụng nợ nội địa tăng thêm của toàn nền kinh tế. Đây là bằng chứng cho thấy các DNNN là đối tượng được hưởng lợi nhiều nhất từ chương trình hỗ trợ lãi suất và kích cầu của Chính phủ năm 2009.

 

Việc nợ của DNNN và nợ của Chính phủ đang ở mức khá cao, đồng thời tăng rất nhanh đòi hỏi phải sớm có những biện pháp quản lý nợ công hiệu quả.

Nội dung quan trọng nhất trong quản lý nợ công là quản lý rủi ro. Đầu tiên là rủi ro thị trường – chủ yếu liên quan đến sự thăng giáng thất thường của thị trường. Với viễn cảnh phục hồi đầy bất trắc, cộng thêm sự lan tỏa khủng hoảng nợ trên thế giới, thị trường có thể không mặn mà với trái phiếu chính phủ, đặc biệt là đối với những quốc gia có mức tín nhiệm tín dụng thấp và triển vọng tiêu cực. Phương pháp chủ yếu để hạn chế rủi ro thị trường là đảm bảo sự linh hoạt về thời điểm, cấu trúc, và các điều khoản của việc phát hành nợ.

Thứ hai là rủi ro lãi suất. Rủi ro này chủ yếu xảy ra đối với các khoản nợ có lãi suất thả nổi hoặc không được phòng vệ. Vì tỷ lệ nợ chính phủ với lãi suất thả nổi của Việt Nam còn thấp nên rủi ro lãi suất không phải là điều lo ngại trước mắt. Tuy nhiên, vì Việt Nam đã trở thành một nước thu nhập trung bình nên tỷ trọng các khoản vay thương mại sẽ tăng. Vì lãi suất thương mại thường cao và biến động mạnh hơn lãi suất ưu đãi nên trước khi phát hành nợ, Chính phủ và các doanh nghiệp sẽ ngày càng phải cân nhắc nhiều hơn tới rủi ro lãi suất.

Thứ ba là rủi ro về dòng tiền. Cho đến nay, nợ ngắn hạn chiếm chưa tới 15% trong tổng nợ chính phủ của Việt Nam. Tuy nhiên, việc tỷ lệ nợ ngắn hạn trên dự trữ ngoại tệ đang tăng lên sẽ đòi hỏi Bộ Tài chính phải hết sức thận trọng trong hoạt động quản lý nợ của mình.

Thứ tư là rủi ro về tỷ giá. Hiện nay khoảng một phần ba nợ chính phủ của Việt Nam là bằng đồng yen, vì vậy nếu đồng yen vẫn tiếp tục xu thế lên giá như hiện nay thì gánh nặng nợ nần cũng gia tăng theo. Tương tự như vậy, với sức ép của Mỹ và EU, xu thế đồng nhân dân tệ tăng giá là khó tránh khỏi. Trong khi đó, tín dụng thương mại bằng nhân dân tệ, đặc biệt là trong các dự án cơ sở hạ tầng và công nghiệp nặng ở Việt Nam đang tăng lên một cách nhanh chóng. Chính phủ cũng như doanh nghiệp vì vậy cần rất thận trọng khi đi vay bằng nhân dân tệ.

Cuối cùng, rủi ro lớn nhất có lẽ nằm ở hoạt động… quản lý rủi ro nợ công! Cho đến nay, từ Bộ Tài chính cho đến các DNNN đều chưa coi trọng đúng mức việc phân tích, đánh giá, và có biện pháp hiệu quả nhằm hạn chế rủi ro khi phát hành nợ.

Cần lưu ý rằng vì nợ của DNNN và nợ của Chính phủ có tính chất và cấu trúc khác nhau nên cần có những biện pháp quản lý rủi ro thích hợp. Tuy nhiên, dù nợ ở cấp độ nào thì cũng phải tuân thủ một số nguyên lý cơ bản: không nên chấp nhận rủi ro khi không có biện pháp hữu hiệu để thấu hiểu và quản lý nó; không nên chấp nhận một mức độ rủi ro vượt quá một ngưỡng an toàn; và không nên chấp nhận rủi ro nếu không có một sự đền bù thỏa đáng.

Khi bỏ qua những nguyên lý hết sức giản dị nhưng cơ bản này, một doanh nghiệp có thể rơi vào tình trạng khó khăn, thậm chí mất khả năng trả nợ, từ đó ảnh hưởng tiêu cực đến các doanh nghiệp khác cũng như toàn bộ nền kinh tế. Trường hợp Vinashin mới đây là một ví dụ điển hình. Tương tự như vậy, một nền kinh tế cần có chiến lược quản lý rủi ro nợ tốt để tránh đưa đất nước rơi vào gánh nặng nợ nần.

(*) Chương trình Giảng dạy kinh tế Fulbright

TỔNG QUAN KINH TẾ VIỆT NAM NĂM 2011VÀ TRIỂN VỌNG
2012 – VẤN ĐỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI

*http://www.gso.gov.vn/default.aspx?tabid=217

———–

Bài 4

Tăng trưởng bằng tài nguyên khoáng sản là sai lầm

TS. Nguyễn Thành Sơn (*)

Nguồn

(TBKTSG) – Đối với một nền kinh tế được quản lý kém, tài nguyên khoáng sản là vật tế thần cho tăng trưởng nóng và “tăng trưởng hỏng”. Để cân bằng ngân sách, nguồn thu dễ nhất nhưng cũng kém bền vững nhất là từ tài nguyên khoáng sản.

Định hướng sai thị trường tiêu điểm

Trong khi các chủ trương, đường lối, chiến lược chính sách đều nhấn mạnh ngành khai khoáng trước hết phải “phục vụ cho nền kinh tế quốc dân”, thì tài nguyên khoáng sản (TNKS) của Việt Nam thời gian qua được khai thác chủ yếu để xuất khẩu sang Trung Quốc. Việc “nhất quán” từ khâu quy hoạch, cấp phép hoạt động, khuyến khích đầu tư, đơn giản thủ tục hành chính… trong lĩnh vực khoáng sản thời gian qua đã biến Việt Nam thành nguồn cung cấp thuận lợi các loại khoáng sản có ích, không tái sinh cho thị trường Trung Quốc. Việc cung cấp này tuy nhỏ, lẻ và chỉ do một số ít doanh nghiệp được thực hiện, nhưng vô tình đã làm cho thị trường khoáng sản kim loại của Việt Nam chỉ có một người mua là Trung Quốc.

Xác định sai cơ cấu sản phẩm

Trong khi các chủ trương, đường lối, chiến lược, chính sách đều nhấn mạnh yêu cầu “chế biến sâu” để nâng cao giá trị, thì TNKS của Việt Nam chỉ được chế biến đạt tiêu chuẩn là nguyên liệu rẻ tiền để xuất khẩu.

Ngành khai thác than, trước đây các sản phẩm than đạt tiêu chuẩn Việt Nam (chất lượng cao) chiếm 80-90%, chỉ có 10-20% là than tiêu chuẩn ngành (chất lượng thấp) và không có than tiêu chuẩn cơ sở (chất lượng xấu). Hiện nay than tiêu chuẩn Việt Nam chỉ đạt 40-50%, còn lại là than tiêu chuẩn ngành và tiêu chuẩn cơ sở. Cơ cấu sản phẩm này đi ngược mọi quan điểm và chính sách về TNKS, nhưng phù hợp với thị trường Trung Quốc.

Quy định của Nhà nước rất chặt chẽ là không cho phép xuất khẩu quặng thô, chỉ cho phép xuất khẩu quặng đã qua chế biến. Về mặt kỹ thuật, “chế biến” là công đoạn nâng cao hàm lượng có ích trong quặng. Nhưng chỉ cần một số động tác nhặt tay, hay sàng phân loại thủ công, hàm lượng có ích đã tăng lên và quặng cũng được coi là đã qua chế biến để được xuất khẩu.

Ngoài ra, khâu chế biến trong ngành khai khoáng Việt Nam đạt trình độ kỹ thuật rất thấp. Hiện nay công nghệ chế biến titan chỉ dừng lại ở “quặng tinh” để xuất khẩu. Nếu từ tinh quặng titan chế ra được xỉ titan giá trị tăng lên 2,5 lần, từ xỉ titan chế biến thành pigment giá trị tăng 10 lần, từ pigment sản xuất ra titan kim loại giá trị tăng hơn 80 lần. Đồng Sinh Quyền cũng là một ví dụ: bằng công nghệ luyện “hiện đại” của Trung Quốc, tập đoàn Công nghiệp Than và Khoáng sản (TKV) chỉ làm ra được đồng có độ tinh khiết tối đa 99,95-99,97%, trong khi để kéo thành dây dẫn điện, đòi hỏi đồng phải có độ tinh khiết đạt 99,99%. Chênh lệch giá bán giữa hai mức độ tinh khiết này có thể lên tới hàng ngàn đô la Mỹ mỗi tấn. Alumina cũng có triển vọng tương tự. Nếu độ tinh khiết không đạt trên 98% thì hiệu quả kinh tế cũng chỉ như xuất khẩu quặng thô.

Buông lỏng quản lý, cấp giấy phép tràn lan

Thị trường đầu ra rất “ngon ăn” đã biến lĩnh vực khai khoáng của Việt Nam, chủ yếu là đào mỏ, bung ra đến mức không thể quản lý nổi.

Trong quá trình thi hành Luật Khoáng sản 1996-2010, thông qua hai công cụ cấp phép và phân quyền, các cơ quan quản lý nhà nước về TNKS đã đóng vai trò rất quyết định trong việc chuyển đổi khối lượng lớn TNKS từ sở hữu toàn dân sang thành nguồn thu của những nhóm lợi ích.

Theo thống kê chưa đầy đủ, Việt Nam chỉ có vài chục loại khoáng sản nằm trong lòng đất, nhưng trong 12 năm (1996-2008) hai bộ Công nghiệp và Tài nguyên và Môi trường đã kịp cấp 928 giấy phép hoạt động khoáng sản, ngoài ra trong ba năm (2005-2008) còn phân cấp cho 60 tỉnh thành cấp 4.213 giấy phép.

Mặc dù vậy, doanh nghiệp 100% vốn nhà nước TKV lại là trường hợp đặc biệt. Theo kết luận của Thanh tra Chính phủ, từ khi thành lập đến năm 2008, các đơn vị khai thác than của TKV hoạt động không có giấy phép và vi phạm nghiêm trọng Luật Khoáng sản.

Trong suốt 15 năm qua các cơ quan quản lý nhà nước về TNKS chỉ thực thi quyền cấp các giấy phép hoạt động khai thác những khoáng sản hiện có từ thời bao cấp, bỏ qua nhiệm vụ điều tra tìm kiếm và thăm dò các mỏ mới.

Tổn thất Tài Nguyên Khoáng Sản (TNKS) còn rất lớn

Từ việc chạy theo lợi nhuận trước mắt, cùng với việc buông lỏng quản lý nhà nước, đã dẫn đến việc TNKS bị khai thác rất lãng phí. Tổn thất TNKS trong các khâu khai thác, chế biến rất cao.

Tổn thất than trong khai thác bằng công nghệ hầm lò đến 40-60%;

tổn thất quặng trong khai thác bằng công nghệ lộ thiên cũng rất cao: apatit 26-43%;

quặng kim loại 15-30%;

đá xây dựng 15-20%;

vàng 60-70%…

Đặc biệt, tỷ lệ tổn thất TNKS trong các mỏ do tư nhân khai thác không thể kiểm soát được vì công nghệ lạc hậu và tư tưởng “dễ làm, khó bỏ” rất phổ biến. Các mỏ đá trắng ở Nghệ An là ví dụ điển hình với tổn thất lên tới trên 70%.

Làm gì để sử dụng bền vững TNKS?

Tiết kiệm là quốc sách: Việt Nam thuộc loại rất nghèo về TNKS nhưng sử dụng lại rất hoang phí. Trữ lượng than của thế giới đạt bình quân khoảng 120 tấn/người, còn Việt Nam chưa tới 25 tấn/người.

Thế giới dùng 1 ký than để phát ra 3 kWh điện, trong khi Việt Nam chỉ phát được 2 kWh. Trong tương lai, chúng ta có thể nhập khẩu được lúa mì, nhưng không thể nhập được than, hay nước ngọt. Chính than và nước ngọt sẽ là rào cản sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam. Mặc dù lượng mưa lớn, nhưng nước ngọt cho phát triển kinh tế đang ngày càng hiếm. Nhiều đối tác nước ngoài đề xuất các dự án đầu tư lớn như lọc dầu, hóa chất, phân bón, luyện thép ở Quảng Ninh, nơi có nhiều lợi thế về năng lượng và giao thông cảng biển, nhưng không thể triển khai chỉ vì thiếu nước ngọt. Các dự án nhiệt điện ở Quảng Ninh hiện nay cũng phải dùng nước mặn để làm mát.

Từ bỏ mô hình tăng trưởng dựa trên Tài Nguyên Khoáng Sản: So sánh hai mô hình phát triển khác nhau của tỉnh Quảng Ninh (dựa vào TNKS) và tỉnh Vĩnh Phúc (hầu như không có TNKS) cho thấy dù Quảng Ninh đứng thứ 5 về thu ngân sách tuyệt đối, nhưng nếu so sánh mức thu ngân sách trên tổng mức đầu tư của xã hội, Vĩnh Phúc đã bỏ xa Quảng Ninh.

Đối với một nền kinh tế được quản lý kém, TNKS là vật tế thần cho tăng trưởng nóng và “tăng trưởng hỏng”. Để cân bằng ngân sách, nguồn thu dễ nhất nhưng cũng kém bền vững nhất là từ TNKS.

Trong kết cấu giá thành sản phẩm của ngành khai khoáng không có khoản mục “nguyên liệu chính” (thường chiếm tỷ trọng 30-70% trong chi phí của các sản phẩm khác). Trong khi đó tỷ trọng các khoản tiền lương, khấu hao thường cao. Vì vậy, dựa vào ngành khai khoáng để đạt mức tăng trưởng về GDP rất dễ dàng.

Cấm xuất khẩu khoáng sản dưới mọi hình thức: Việt Nam là nước có diện tích nhỏ, có tuổi địa chất không lớn. Vì vậy, về mặt khoa học, không có đủ không gian và thời gian để hình thành những mỏ khoáng sản lớn. Hiệu quả mang lại từ xuất khẩu khoáng sản không đáng kể. Việc cho phép xuất khẩu là nguyên nhân chính của việc khai thác khoáng sản bừa bãi, dẫn đến tổn thất tài nguyên, tàn phá môi trường.

Đối với doanh nghiệp, việc cho phép xuất khẩu sẽ làm cho doanh nghiệp ỷ lại. Hiệu quả xuất khẩu ngày càng giảm. Nếu như trước đây, giá xuất khẩu than cao hơn giá thành bình quân 2-5 lần, hiện nay giá than xuất khẩu chỉ bằng 1,32 lần giá thành.

Chỉ khai thác khoáng sản khi có nhu cầu tiêu dùng trong nước: Đối với nền kinh tế, mọi khoáng sản khi chưa khai thác đều là tích sản. Vì vậy, giá trị của TNKS chưa khai thác sẽ ngày một tăng. Khoáng sản của Việt Nam chỉ mang tính hàng xén, mỗi loại có một ít, phân tán, nhỏ lẻ. Trong lĩnh vực TNKS không nên áp dụng chính sách miễn, giảm thuế. Vì càng miễn giảm thuế, TNKS càng được khai thác kém hiệu quả, tổn thất càng cao, môi trường càng xấu hơn.

Nâng cao chất lượng quy hoạch TNKS: Quy hoạch về TNKS của Việt Nam tương đối nhiều (khoảng 15 quy hoạch khác nhau). Nhưng nhìn chung, các quy hoạch được soạn thảo theo ý chí của lãnh đạo nhiều hơn là trên cơ sở khoa học và thực tế. Chất lượng quy hoạch thấp, điển hình là các quy hoạch quan trọng như bauxite, titan và gần đây là quy hoạch than (vừa được Thủ tướng phê duyệt ngày 9-1-2012).

Các quy hoạch thường có tên gọi “thăm dò, khai thác, chế biến, sử dụng”… nên đã “vỡ” ngay trong tên gọi và khi còn trên giấy. Theo quy hoạch mới nhất của ngành than, riêng khâu thăm dò đến năm 2015 phải thực hiện 2,23 triệu mét khoan sâu, tương đương với khối lượng thực hiện từ năm 1955 đến nay trong ngành than. Chỉ cần mắt xích thăm dò này đổ, toàn bộ các khâu khai thác, chế biến, sử dụng than sẽ vỡ theo. Quy hoạch TNKS là đầu vào của các quy hoạch khác (như điện, thép, xi măng…) nên cần được tiếp cận một cách nghiêm túc.

______________________________________________

(*) Giám đốc Ban quản lý các dự án than ĐBSH-Vinacomin

Posted in Bán Tài Nguyên Khoa'ng Sản- Cho Nước Ngoài Thuê Đất 50 năm | 5 Comments »

60 công nhân Việt bị lừa, bị bỏ đói tại Malaysia

Posted by hoangtran204 trên 21/03/2012

Người Việt
Sunday, March 18, 2012 6:01:27 PM
KUALA LUMPUR (NV) – Có thể hơn 60 nam nữ công nhân Việt Nam làm các loại công việc thấp kém ở Malaysia bị lừa gạt, bị bỏ đói và là nạn nhân của một tổ chức buôn người từ Việt Nam. Hiện những người này đang được chính phủ Malaysia dàn xếp đưa tới trung tâm bảo vệ ở thủ đô Kuala Lumpur.

Trước mâm cơm, một số trong số 42 phụ nữ Việt Nam
khóc nức nở trước ống kính của nhà báo. (Hình: The Star)

Các bản tin của báo The Star ở Malaysia cho hay 42 phụ nữ và có thể hơn 20 nam công nhân Việt Nam trong số 34 nam công nhân người Việt và Nepal sống như cá hộp trong hai căn nhà nhỏ bé ở thành phố George Town, bán đảo Penang.

Người ta được biết đến họ nhờ các người hàng xóm gọi điện thoại cho cảnh sát than phiền không chịu được vì thấy có quá nhiều người và tiếng ồn lớn từ căn nhà của các người phụ nữ tạm trú.

Theo lời một nạn nhân, bà Trần Thị Hai, 31 tuổi kể lại, mấy tháng qua, họ chỉ sống lây lất qua ngày bằng một ít gạo. Các người phụ nữ tuổi từ 20 đến 50, cho hay họ không thể trở về Việt Nam dù thời hạn cư trú đã hết hạn trong khi hộ chiếu thì bị kẻ môi giới lao động nắm giữ.

Tất cả 42 người phụ nữ sống trong một căn nhà nhỏ 2 tầng ở khu phố Jalan Tull, có 4 phòng và một nhà cầu trên lầu. Tầng dưới thì có phòng khách, một phòng ngủ nhỏ, một nhà bếp và một nhà cầu.

Quá đông người, 17 phụ nữ phải nằm ngủ trong phòng khách trong khi 5 phòng ngủ kia mỗi phòng chỉ đủ chỗ cho 5 người. Bà Hai cho hay hầu hết bọn họ đều thất nghiệp và không thể gửi tiền về giúp gia đình ở quê nhà, lý do chính yếu để họ chấp nhận đi lao động nước ngoài.

“Một số chúng tôi đã qua Malaysia một năm rưỡi trong khi hộ chiếu đã hết hạn.” Bà Hai nói.

Các nữ công nhân Việt kể cảnh ngộ của họ cho và
năn nỉ giúp họ trở về quê nhà. (Hình: The Star)

Theo lời bà, một số thì làm công nhân vệ sinh dọn dẹp cho một bệnh viện và được trả 50 ringits một ngày, nhưng gần đây bị giảm lương xuống còn có một nửa.

“Cuối cùng, chúng tôi không được trả lương dù vẫn tiếp tục làm. Chỉ một số rất ít trong bọn tôi tiếp tục làm việc.” Bà kể.

Khi phóng viên báo The Star tới tiếp xúc thì thấy có 3 phụ nữ đang bệnh. Trong tủ lạnh có một ít cá, một ít trứng và rau. Bản tin ngày Thứ Bảy của The Star thì nói kẻ môi giới lao động của họ cứ 3 ngày mang đến cho họ 20kg gạo, nhưng trong số báo ra ngày Chủ Nhật lại nói mỗi 3 tháng, không biết điều nào đúng.

“Chúng tôi gọi cho Tòa Ðại Sứ Việt Nam hàng ngày, yêu cầu họ giúp chúng tôi về nước nhưng nay chúng tôi vẫn chờ trả lời.” Bà Hai cho biết.

Ðiều bà nói gián tiếp cho người ta cảm tưởng cái tòa đại sứ này không mấy mặn mà giúp họ.

Hãng thông tấn Bermana của Malaysia ngày Chủ Nhật đưa tin 42 nữ công nhân Việt và 42 đàn ông vừa Việt vừa Nepal đã bị các kẻ môi giới đối xử như những “nô lệ” suốt 20 tháng qua có thể sắp được đưa tới trung tâm bảo vệ ở Kuala Lumpur.

Cảnh sát đang mở cuộc điều tra để xem họ có phải là nạn nhân của các vụ buôn người hay không, theo chương 14 của đạo luật Chống Buôn Người của Malaysia ban hành năm 2007.

Hiện Sở Di Trú và Cảnh Sát Malaysia đang truy lùng tổ chức môi giới lao động đã đưa họ tới nước này.

“Chúng tôi đã thông báo cho Sở Di Trú, Tòa Ðại Sứ Việt Nam, và Cảnh Sát Quốc Tế. Chúng tôi sắp hoàn tất cuộc điều tra.” Một viên chức cảnh sát cho biết.

Trong khi chờ đợi, một số người Malaysia hảo tâm đã mang thực phẩm tới cho, như dầu ăn, gạo, rau. Một vài người ngỏ ý muốn thuê một số phụ nữ giúp việc trong nhà.

Koay Teng Hai, một dân cử địa phương cho biết ông đã tiếp xúc với Tòa Ðại Sứ Việt Nam và được nghe nói nơi đây đã biết về hoàn cảnh của họ.

“Tòa Ðại Sứ Việt Nam đã tiếp xúc với Sở Di Trú và một cuộc họp sẽ diễn ra vào ngày mai.” Ông Koay Teng Hai nói.

Hầu như tất cả các tổ chức, cơ quan xuất khẩu lao động ở Việt Nam làm ăn theo kiểu đem con bỏ chợ. Ðưa vé máy bay cho người ta xong là coi như hết trách nhiệm, không cần biết họ bị đối xử thế nào ở nước người.

Hàng trăm công nhân Việt Nam chết với các nguyên nhân không rõ ràng ở Malaysia nhưng không được điều tra. Rất nhiều vụ đình công tập thể của công nhân Việt trên đất Malaysia, những năm gần đây, phản đối sự bóc lột và cư xử ác độc của các chủ xí nghiệp nước này.

Trên dưới 100,000 công nhân Việt Nam đang làm việc ở Malaysia theo các chương trình xuất khẩu lao động của nhà cầm quyền Hà Nội, giúp nhà nước lấy đô la. Không ít những công nhân này phải cầm cố nhà cửa, ruộng vườn để vay đủ nợ nộp những khoản “phí” do nhà nước đặt ra. Cũng không ít người đã bị lừa gạt, tiền mất tật mang, báo chí Việt Nam nhiều lần đề cập.

Nguồn

Nguồn

Posted in Cong Nhan Viet Nam | 1 Comment »

Việt Nam: Đấu thầu khai thác dầu của Trung Quốc vi phạm lãnh hải Việt Nam

Posted by hoangtran204 trên 20/03/2012

 American Association of Petroleum Geologists (Hiệp hội Địa Chất Dầu hỏa Mỹ ), năm 2005, đã dự đoán Việt Nam sẽ trở thành quốc gia sản suất dầu hỏa đứng hàng thứ 30 trên thế giới. Hiện nay, ở Đông Nam Á, Việt Nam đứng hàng thứ 3, sau Indonesia và Mã Lai Á trong việc sản suất dầu.

Tính từ lúc bắt đầu khai thác dầu 1986  cho tới 2005, Việt Nam đã sản suất được 1 tỷ thùng dầu thô. (nguồn)Theo ước tính vào năm 2004, VN đã sản suất  được 130 triệu thùng dầu thô và 200 tỷ cubic foot ga.

Kể từ năm 1999 cho đến 2010, Việt Nam đã sản suất được 350.000 – 400.000 thùng dầu thô mỗi ngày. (nguồn)

Về ga, kể từ năm 2001 cho đến nay, mỗi năm Việt Nam sản suất được 60 – 240 tỷ cubic foot ga  (Bilion cubic foot). (nguồn)

(1 thùng dầu thô = 42 gallons = 159 lít; 1 gallon = 3 lít 89) và 200 tỷ cubic foot gas (khí đốt).  1 mét khối ga = 35,3 cubic foot ga) (Đơn vị chuyển đổi)

Ở Việt Nam, 100 tập đoàn và tổng công ty quốc doanh nắm 70% nền kinh tế cả nước (GDP khoảng 90 tỷ). Theo báo cáo báo cáo tình hình sản xuất kinh doanh năm 2011 của PVNCPetrovietnam có tổng doanh thu năm 2011 về bán dầu thô và khí là 675,3 nghìn tỷ đồng (hay 34 tỷ đô la) (nguồn), chiếm 40% GDP. Mặc dầu Tổng Công Ty Dầu PVN chỉ việc đào dầu và ga dưới biển đem bán cho nước ngoài, nhưng năm nào công ty này vẫn than lỗ!

Nguồn tài nguyên dự trữ dầu hỏa và ga  của Việt Nam, theo ước tính vào năm 2005 của Hiệp Hội Địa Chất Mỹ, là 6,5 đến 8,5 tỷ thùng dầu thô (nguồn), và 75-100 ngàn tỷ cubic foot ga. ( 35,3 cubic foot ga = 1 mét khối ga).

Nhưng theo một đánh giá khác, vào năm 2011, thì 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa có trữ lượng dự trữ khoảng 105 tỷ thùng dầu (nguồn). Con số này gấp 12-16 lần dự đoán vào năm 2005.

Nếu vậy, khi rước chủ thuyết cộng sản ngoại lai đem về VN để xúi dục chiến tranh từ 1946-1954 và 1955-1975, đảng Cộng Sản Việt Nam đã vay mượn tiền bạc của Trung Quốc, đồng ý trao đổi nhượng biển đảo và vùng biên giới phía Bắc, dẫn đến hậu quả là làm thiệt hại của tổ quốc Việt Nam khoảng 600- 800 tỷ đô la.

Thủ tướng Phạm Văn Đồng, ký vào năm 1958, đồng ý nhường chủ quyền của 2 quần đảo này cho Trung Quốc để đổi lấy vũ khí đánh Điện Biên Phủ 1954 và đánh Nam Việt Nam 1955-1975 là một quyết định sai lầm về tài chánh rất lớn.

Trong khi đó, Trung Quốc đã đầu tư một số tiền rất lớn, 20 tỷ đô la trong 20 năm,  nhưng nay đã kiếm được món lời lớn hơn gấp 40 lần, hay 4000%. 

1 tỷ thùng dầu theo thời giá hiện nay là 100 tỷ đô la. Nếu Trung Quốc dành hết chủ quyền ở Hoàng Sa và Trường Sa, nghĩa là TQ sẽ khai thác được 80/105 tỷ thùng dầu trong hai quần đảo này, thì TQ kiếm được tối thiểu là 800 tỷ đô la.  So với việc TQ đã viện trợ cho đảng cộng sản Việt Nam 20 tỷ đô la từ 1955-1975, đổi lấy 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, thì nay TQ có được 800 tỷ đô la. Có thể nói TQ đã trúng đầu tư quá lớn.

TQ  cho biết họ đã viện trợ cho Miền Bắc Việt Nam 20 tỷ đô la trong thời gian 20 năm (1955-1975) (nguồn).

Hiện nay, nhìn thấy rõ được sự suy yếu, sự lệ thuộc và hèn kém của đảng CSVN, (lấy tham nhũng và bao che tham nhũng làm chính sách, lấy bạo lực để đàn áp những ai muốn lên tiếng tố cáo), Trung Quốc ngang nhiên thò tay vào túi tiền của đảng CSVN, là nguồn tài nguyên dầu hỏa. Người ta không biết đảng sẽ phản đối TQ tới cùng, hay chỉ giả vờ la lớn như  bài báo dưới đây.

***

Việt Nam: Đấu thầu khai thác dầu của Trung Quốc vi phạm lãnh hải Việt Nam

DCVOnline.netTin Bloomberg

Công ty Khai thác Dầu khí của Trung Quốc (China National Offshore Oil Corporation) nhắm phát triển và khai thác khu vực phía bắc của Biển Nam Hải vốn có nhiều dầu và khí là vi phạm tính chủ quyền của Việt Nam, Bộ Ngoại giao Việt Nam nói.

Công ty khai thác dầu khí lớn nhất Trung Quốc này (CNOOC) đã gởi lời mời đấu thầu đến các công ty ngoại quốc năm rồi cho 19 khu (blocks) gần quần đảo Hoàng Sa đang còn nằm trong vòng tranh chấp. Việt Nam nhấn mạnh đến Block 65/24, là khu vực Việt Nam nói nằm cách một đảo thuộc quần đảo Hoàng Sa chỉ một hải lý, và phản đối những điều Trung Quốc đang tiến hành làm là vi phạm lãnh thổ Việt Nam.

Phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Việt Nam ông Lương Thanh Nghị yêu cầu Trung Quốc “ngưng ngay tất cả các hoạt động vi phạm tính chủ quyền của Việt Nam,” theo bản thông cáo đăng trên mạng của Bộ Ngoại giao Việt Nam hôm qua. Trung Quốc phủ nhận sự cáo buộc này và kêu gọi Việt Nam tôn trọng tính toàn vẹn lãnh thổ của Trung Quốc, phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Trung Quốc Liu Weimen nói ở cuộc họp báo ngắn ở Bắc Kinh hôm nay.

Các nước láng giềng của Trung Quốc đã bác bỏ bản đồ biển Nam Hải của Trung Quốc như là căn bản cho hợp tác chung cùng tìm kiếm dầu khí, đưa đến những xung đột ở vùng biển vốn rất bận rộn với tàu bè qua lại nhất thế giới. Công ty Exxon Mobil Corp, Talisman Energy Inc. và Forum Energy Plc là ba trong những công ty đã ký hợp đồng khai thác dầu khí ở vùng biển đang còn tranh chấp.

Tranh chấp lãnh hải và “Phản đối bằng mồm”! Nguồn: AFPParacel Island = Hoàng Sa và Spratly Island = Trường Sa

“Có thể hung hăng hơn”

“Việt Nam và Trung Quốc có thể trở nên hung hăng hơn về tính chủ quyền như họ đã từng trong quá khứ,” ông Tony Regan nói. Ông Tony là một nhà tư vấn cho công ty Tri-Zen International Ltd có trụ sở nằm ở Singapore và đã từng là giám đốc điều hành với công ty Royal Dutch Shell Plc trong ngành LNG. “Tôi không nghĩ là có nhiều công ty lớn đáng kể muốn chấp nhận sự rủi ro đó ngoại trừ rất rõ ràng là hai nước đối thoại với nhau và có một sự kỳ vọng đáng tin cậy về chuyện tranh chấp được giải quyết (ổn thỏa).

Block 65/24 nằm ở vùng biển cực nam mà năm rồi Trung Quốc đã mời đấu thầu bao gồm những phần nằm về phía nam của Hong Kong. Mực nước biển trong block này, bao phủ một khu vực lớn gấp hai lần tiểu bang Delaware của Hoa Kỳ, có độ sâu 2 cây số, theo trang mạng của CNOOC.

“Không chắc là khu vực như Block 65/24 và Block 55/03 nằm sau giới hạn mà Việt Nam cho mình có chủ quyền,” HIS Global Insight nói trong bản tường trình năm rồi. “Như thế, nhà thầu có cơ nguy trở nên bị rắc rối khi có căng thẳng chính trị giữa hai nước.”

Trung Quốc đánh bật Việt Nam ra khỏi 30 đảo nhỏ và vùng đá san hô ngầm bao gồm quần đảo Hoàng Sa trong trận hải chiến năm 1974, qua đó đã có 71 binh sĩ thiệt mạng. Hai nước cũng tranh chấp nhau với quần đảo Trường Sa nằm sâu hơn về phía nam, một khu vực mà Phi Luật Tân cũng cho mình có chủ quyền và cũng đã bỏ thầu để khai thác dầu khí.

Số lượng dầu dự trữ ở vùng biển Nam Hải có thể lên tới 213 tỉ thùng (barrel), theo sự khảo sát cỉa Trung Quốc năm 2008 mà Sở Năng lượng Hoa Kỳ đã trích dẫn.

Việt Nam cũng phản đối cuộc tập trận có bắn đạn thật trong tháng này của Trung Quốc gần quần đảo Hoàng Sa và kế hoạch triển khai ngành du lịch trong khu vực này, theo bản thông cáo của Bộ Ngoại giao Việt Nam.

© DCVOnline


                                                                                                 
                                                                                          ***

Cảnh báo nợ của doanh nghiệp nhà nước

Vũ Thành Tự Anh (*)

Thứ Tư,  9/3/2011, 22:36 (GMT+7)

nguồn

(TBKTSG) – Theo báo cáo của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, tính đến 31-12-2008, tổng dư nợ nội địa của các tập đoàn, tổng công ty nhà nước là 287.000 tỉ đồng. Nếu tính cả nợ nước ngoài thì đến cuối 2008, tổng nợ của khu vực doanh nghiệp nhà nước (DNNN) xấp xỉ 23,9% GDP.

Trong năm 2009, theo báo cáo của Chính phủ gửi Quốc hội ngày 1-11-2010 thì nợ của 81/91 tập đoàn, tổng công ty nhà nước (chưa tính Vinashin) là 813.435 tỉ đồng, tương đương với 49% GDP. Nếu tính cả nợ của Vinashin, theo báo cáo của Bộ Tài chính là 86.000 tỉ, thì nợ của khu vực DNNN đến cuối năm 2009 (không kể chín tập đoàn, tổng công ty chưa có số liệu) đã lên tới 54,2% GDP năm 2009.

Rõ ràng là nợ của cả DNNN và Chính phủ đều tăng rất nhanh trong một thời gian rất ngắn, trong đó mức tăng nợ của khu vực DNNN thật sự đáng lo ngại.

Nếu nhìn vào con số tuyệt đối, sau khi trừ đi các khoản nợ nước ngoài và với những tính toán thận trọng nhất thì trong năm 2009, khu vực DNNN chiếm không dưới 60% trong tổng tín dụng nợ nội địa tăng thêm của toàn nền kinh tế. Đây là bằng chứng cho thấy các DNNN là đối tượng được hưởng lợi nhiều nhất từ chương trình hỗ trợ lãi suất và kích cầu của Chính phủ năm 2009.

Việc nợ của DNNN và nợ của Chính phủ đang ở mức khá cao, đồng thời tăng rất nhanh đòi hỏi phải sớm có những biện pháp quản lý nợ công hiệu quả.

 [Nhìn biểu đồ này ta thấy vào năm 2009, nợ của nhà nước chiếm 54,2% GDP, tức khoảng 54 tỷ đô la; và nợ của 81/91 tổng công ty và tập đoàn đoàn quốc doanh là 44,7% hay 44,7  tỷ đô la. Nếu như năm 2008, nợ của chính phủ và nợ của các doanh nghiệp quốc doanh tổng cộng khoảng 60 tỷ đô la (23,9 +36,2). Nhưng chỉ trong vòng 1 năm, từ 2008 đến 2009, nợ đã gia tăng là 40 tỷ đô la!]

Nội dung quan trọng nhất trong quản lý nợ công (là nợ mà chính phủ vay tiền của nước ngoài-HT) là quản lý rủi ro. Đầu tiên là rủi ro thị trường – chủ yếu liên quan đến sự thăng giáng thất thường của thị trường. Với viễn cảnh phục hồi đầy bất trắc, cộng thêm sự lan tỏa khủng hoảng nợ trên thế giới, thị trường có thể không mặn mà với trái phiếu chính phủ, đặc biệt là đối với những quốc gia có mức tín nhiệm tín dụng thấp và triển vọng tiêu cực. Phương pháp chủ yếu để hạn chế rủi ro thị trường là đảm bảo sự linh hoạt về thời điểm, cấu trúc, và các điều khoản của việc phát hành nợ.

Thứ hai là rủi ro lãi suất. Rủi ro này chủ yếu xảy ra đối với các khoản nợ có lãi suất thả nổi hoặc không được phòng vệ. Vì tỷ lệ nợ chính phủ với lãi suất thả nổi của Việt Nam còn thấp nên rủi ro lãi suất không phải là điều lo ngại trước mắt. Tuy nhiên, vì Việt Nam đã trở thành một nước thu nhập trung bình nên tỷ trọng các khoản vay thương mại sẽ tăng. Vì lãi suất thương mại thường cao và biến động mạnh hơn lãi suất ưu đãi nên trước khi phát hành nợ, Chính phủ và các doanh nghiệp sẽ ngày càng phải cân nhắc nhiều hơn tới rủi ro lãi suất.

Thứ ba là rủi ro về dòng tiền. Cho đến nay, nợ ngắn hạn chiếm chưa tới 15% trong tổng nợ chính phủ của Việt Nam. Tuy nhiên, việc tỷ lệ nợ ngắn hạn trên dự trữ ngoại tệ đang tăng lên sẽ đòi hỏi Bộ Tài chính phải hết sức thận trọng trong hoạt động quản lý nợ của mình.

Thứ tư là rủi ro về tỷ giá. Hiện nay khoảng một phần ba nợ chính phủ của Việt Nam là bằng đồng yen, vì vậy nếu đồng yen vẫn tiếp tục xu thế lên giá như hiện nay thì gánh nặng nợ nần cũng gia tăng theo. Tương tự như vậy, với sức ép của Mỹ và EU, xu thế đồng nhân dân tệ tăng giá là khó tránh khỏi. Trong khi đó, tín dụng thương mại bằng nhân dân tệ, đặc biệt là trong các dự án cơ sở hạ tầng và công nghiệp nặng ở Việt Nam đang tăng lên một cách nhanh chóng. Chính phủ cũng như doanh nghiệp vì vậy cần rất thận trọng khi đi vay bằng nhân dân tệ.

Cuối cùng, rủi ro lớn nhất có lẽ nằm ở hoạt động… quản lý rủi ro nợ công! Cho đến nay, từ Bộ Tài chính cho đến các DNNN đều chưa coi trọng đúng mức việc phân tích, đánh giá, và có biện pháp hiệu quả nhằm hạn chế rủi ro khi phát hành nợ.

Cần lưu ý rằng vì nợ của DNNN và nợ của Chính phủ có tính chất và cấu trúc khác nhau nên cần có những biện pháp quản lý rủi ro thích hợp. Tuy nhiên, dù nợ ở cấp độ nào thì cũng phải tuân thủ một số nguyên lý cơ bản: không nên chấp nhận rủi ro khi không có biện pháp hữu hiệu để thấu hiểu và quản lý nó; không nên chấp nhận một mức độ rủi ro vượt quá một ngưỡng an toàn; và không nên chấp nhận rủi ro nếu không có một sự đền bù thỏa đáng.

Khi bỏ qua những nguyên lý hết sức giản dị nhưng cơ bản này, một doanh nghiệp có thể rơi vào tình trạng khó khăn, thậm chí mất khả năng trả nợ, từ đó ảnh hưởng tiêu cực đến các doanh nghiệp khác cũng như toàn bộ nền kinh tế. Trường hợp Vinashin mới đây là một ví dụ điển hình. Tương tự như vậy, một nền kinh tế cần có chiến lược quản lý rủi ro nợ tốt để tránh đưa đất nước rơi vào gánh nặng nợ nần.

___________________________________

(*) Chương trình Giảng dạy kinh tế Fulbright

 

Posted in Bán Tài Nguyên Khoa'ng Sản- Cho Nước Ngoài Thuê Đất 50 năm, Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa | Leave a Comment »

Bước ngoặc của VN: Hai bức ảnh lịch sử ở Thành Đô –Tứ Xuyên (Trung Quốc)

Posted by hoangtran204 trên 19/03/2012

Lời dẫn: Trong bài “Đặng Tiểu Bình và Quyết Định của Trung Quốc Đi Đến Chiến Tranh với Việt Nam” đã post ngày hôm qua, ta đọc được quân đội của Lê Duẫn tấn công chọc sâu vào lãnh thổ Trung Quốc đã làm cho Trung Quốc tức giận và đó là một trong những nguyên do TQ đánh VN!

Nhưng sau khi Lê Duẫn chết 1986, thì kể từ đó về sau, có các cuộc ký kết Hiệp Định Biên Giới 1999, và 2008, giữa VN và TQ, mà lần ký kết nào, Trung Quốc cũng lấy thêm đất của VN, và lấn sâu vào biên giới của Việt Nam. Lý do nào đã làm cho đảng CSVN trở nên nhu nhược như thế? 

Đọc bài dưới đây, ta sẽ rút ra kết luận về tài trí của các nhân vật cao cấp của đảng CSVN sau khi Lê Duẫn chết.

Cũng nhắc nhở với bạn đọc là năm 1989, chế độ cộng sản trên toàn thế giới đã sụp đổ, Liên Xô bị xé toặc thành nhiều nước, 16 nước Đông Âu xóa bỏ chế độ cộng sản. Đây là cơ hội để VN xóa bỏ chế độ CS và có khả năng trở thành như Ba Lan ngày nay. Nhưng không, các nhân vật của đảng CSVN tham dự trong hội nghị Thành Đô đã ngã rạp đầu trước nước mẹ Trung Quốc, và khi trở về VN họ vẫn tiếp tục cai trị VN và đi theo con đường XHCN.

Hai bức ảnh lịch sử ở Thành Đô – Tứ Xuyên (Trung Quốc)

Bộ trưởng ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch đã nhận định về cuộc họp Thành Đô đầu tháng 9-1990 rằng: “một thời kỳ Bắc thuộc rất nguy hiểm đã bắt đầu!”. Một lời than não nề. Một lời cảnh báo đến vẫn nay còn có giá trị.

Để hiểu rõ sự kiện lịch sử tệ hại này, mời các bạn tìm đọc tập hồi ký rất chân thực và sinh động của nguyên thứ trưởng ngoại giao Trần Quang Cơ, với đầu đề “Hồi Ức và Suy Nghĩ” dày hơn một trăm trang, mô tả tỷ mỷ các sự kiện, khắc họa từng nhân vật các bên ở một thời điểm lịch sử then chốt.

Sau chiến tranh biên giới phía Tây Nam và biên giới phía Bắc những năm 1976 -1979, rồi chiến sự ở Campuchia kéo dài đến cuối năm 1988, mối quan hệ Việt Nam và Trung Quốc vốn dĩ phức tạp từ xa xưa, khi bạn, khi thù, đến đây lại có bước ngoặt, từ chiến tranh quyết liệt, từ đối đầu chuyển sang bình thường hóa, rồi từ bình thường hóa chuyển nhanh sang tình hữu nghị «16 chữ vàng» và «láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt», trên thực tế là phía lãnh đạo Việt Nam chịu sự phụ thuộc về nhiều mặt đối với thế lực bành trướng nước lớn.

Thái độ này được các nhà trí thức yêu nước và bà con ta gọi là thái độ “hèn với giặc, ác với dân”, từ sự kiện Thành Đô đến nay đã kéo dài 22 năm.

Về các nhân vật lãnh đạo vào thời điểm tháng 9-1990, nên chú ý: Lê Duẩn, nguyên tổng bí thư từ năm 1960 – là người chống Trung Quốc bành trướng quyết liệt nhất – đã chết bệnh ngày 10-7-1986.

Trường Chinh làm quyền tổng bí thư từ tháng 7 đến tháng 12 -1986, rồi làm cố vấn Ban Chấp hành Trung ương, chết ngày 30-9-1988. Trường Chinh khi cuối đời rất hăng hái với việc ghi trong Hiến pháp 1980 đoạn lên án bọn xâm lược và bành trướng Trung Quốc.

Nguyễn Văn Linh được bầu là tổng bí thư trong Đại hội đảng lần thứ VI cuối năm 1986, chỉ làm 1 nhiệm kỳ, đến Đại hội VII làm cố vấn. Ông Linh nổi tiếng là con người hời hợt, không có chiều sâu, hay ngả nghiêng, có thời rất cởi mở, viết báo đều trong chuyên mục «Những việc cần làm ngay» ký tên N.V.L. (sau bị châm biếm là « Nói và Lừa »), sau lại quay sang kiểm soát chặt báo chí. Có dạo được coi là một Gorbachev Việt Nam, chủ trương cởi trói cho văn nghệ sỹ được tự do sáng tác, sau đó lại quay ngoắt sang trừng trị họ.

Tại Thành Đô ông là kẻ ngây ngô tán tỉnh Giang Trạch Dân và Lý Bằng nên ưu tiên thắt chặt tình hữu nghị Trung – Việt do cùng là nước xã hội chủ nghĩa anh em (!). Ông còn có lúc ngả sang theo quan điểm thâm độc của Lê Đức Anh là thực hiện «giải pháp đỏ», nghĩa là đoàn kết trước hết các đảng cộng sản Trung Quốc, Việt Nam, Khơme Đỏ theo bản chất cộng sản là anh em thân thiết nhất. Ông từng nghe bùi tai lời của Lê Đức Anh là “tôi từng quen, là bạn và làm việc với Pon Pot”. Ông Linh bị nhỡ tàu khi phía Trung Quốc trả lời rằng Trung Quốc chỉ coi quan hệ với Việt Nam như với mọi nước bình thường khác.

Phạm Văn Đồng bị nhử sang Thành Đô chỉ là do phía Trung Quốc hé ra khả năng ông sẽ được Đặng Tiểu Bình – lúc ấy là lãnh tụ cao nhất tiếp. Về sau ông tỏ ý tiếc, rằng lẽ ra ông không nên đi. Con người ông lú lẫn đến mức quên rằng Đặng là kẻ mưu thâm và tàn ác nhất khi đích thân ra lệnh cho quân bành trướng khi rút quân phải phá sạch, giết sạch, không ngần ngại, theo phương châm 4 chữ «sát cách vô luận».

Hàng đầu: Tổng bí thư Giang Trạch Dân cùng Thủ tướng Lý Bằng đứng giữa. Phía bên phải Giang là Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh và Cố vấn Phạm Văn Đồng (chắp tay). Phía bên trái Lý là Thủ tướng Đỗ Mười, Chánh văn phòng TW Hồng Hà, Thứ trưởng ngoại giao Đinh Nho Liêm. Ảnh do Tân Hoa xã đơn phương công bố, dù 2 bên đã cam kết đây là cuộc họp tuyệt mật.

Sau Thành Đô, Đặng Tiểu Bình, Giang Trạch Dân, Lý Bằng hiểu rõ bụng dạ của từng người lãnh đạo Việt Nam, nên ngay năm sau 1991 họ đã vận động để gạt phăng Nguyễn Cơ Thạch ra khỏi Bộ Chính trị, đưa Đỗ Mười thay Nguyễn Văn Linh làm tổng bí thư, đưa Lê Đức Anh lên cương vị chủ tịch nước, rồi đưa Nông Đức Mạnh làm chủ tịch Quốc hội và tổng bí thư sau này. Cả một bộ sậu thân Tàu, chịu khuất phục Tàu, lũng đoạn nền chính trị nước ta cho đến tận ngày nay.

Bùi Tín (VOA)

Kết quả của hành động năm 1990 là dẫn đến các thảm họa của dân chúng trong các năm qua.

“Chỉ xem video nầy 1 mình thôi! Thật tội nghiệp cho thiếu nữ Việt là nạn nhân của bọn buôn người…vì nghèo đói hay muốn giúp đở gia đình đau bệnh… mà phải nhục nhã bán thân…trình diễn khỏa thân cho họ chụp hình quay phim để hy vọng được người xem chọn lưạ…gái trinh chỉ đáng giá 5000 Mỹ kim thôi !? Kẻ bỏ tiền ra mua vợ có thể đã già 70 – 80 tuổi – tàn tật …đem về Tàu, Đại Hàn , Mã Lai . Singapore…hành hạ khiến phải quyên sinh …thật quá đau thương oan nghiệt !”

Xin các bạn đừng đánh giá thấp các thiếu nữ VN trong video dưới đây. Họ là những người sinh ra và lớn lên trong nghèo khó và tuyệt vọng. Gia đình rơi vào thảm cảnh nên họ chỉ biết có cách này là cứu lấy gia đình đang ngập chìm trong biển nợ…gia đình của các thiếu nữ này phần lớn đã mất ruộng đất nên ba mẹ không thể làm ruộng, hoặc vì đã cầm bán ruộng để trả nợ hay chữa bệnh, hoặc vay tiền mua phân bón, mua lúa giống, cày đất, rồi làm lúa bán ra thì bị thương lái ép giá mua rẻ để xuất khẩu lấy ngoại tệ dâng đảng.  Nếu có trách, bạn hãy trách cái chính quyền bất lực, suốt 40 năm qua chỉ lo khai thác bán dầu thô, gas, dựa vào dân nghèo để sống bám (Chỉ riêng năm 2011, PetroVietnam đã bán ra 34 tỷ đô dầu thô và ga; tiền kiều hối do Việt kiều gởi về 10 tỷ, và xuất khẩu gạo 6 tỷ, xuất khẩu cá và hải sản 12 tỷ, và gia công xuất khẩu dệt may 22 tỷ…trong tổng sản phẩm nội địa GDP là 90 tỷ- 95 tỷ ). Mục đích duy nhất của nền kinh tế của cả nước là xuất khẩu, đem tiền đô về để làm giàu cho đảng, cho các cán bộ cao cấp. Một đám người mà suốt 37 năm qua đã không đủ tài năng để đề ra một chính sách kinh tế lâu dài cho hàng triệu người dân, không có khả năng thu hút đầu tư các ngành công nghiệp cao, thiếu kế hoạch để tạo công ăn việc làm cho người dân trong nước, rút cuộc, gia đình các nông dân trở nên nghèo khó, con cái của họ là các thiếu nữ  đã phải bán mình, trở thành các món hàng cho người nước ngoài.

Không tính thành tích đáng kể là xuất khẩu người. Hiện có 500 000 lao động VN tới 12 quốc gia để kiếm việc làm thu nhập thấp, lao động phổ thông, làm việc nhà (theo thống kê của Bộ Lao động và TBXHnăm 2011).

Mong các bạn xem video này trong chốn riêng tư…(Phim đã bị youtube xóa bỏ)

 

Posted in Hội Nghị Thành Đô 1990 | Leave a Comment »

►Đặng Tiểu Bình và quyết định của Trung Quốc đi đến chiến tranh với Việt Nam

Posted by hoangtran204 trên 19/03/2012

Tóm Tắt: Bài này trình bày nhiều khía cạnh liên quan về quyết định của TQ đánh VN nằm 1979. Viết về tình hình nội bộ của đảng CS Trung Quốc vào năm 1978, về chuyện Đặng Tiểu Bình viếng thăm Mỹ đầu năm 1979, hồi ký của các cố vấn an ninh của TT Carter kể lại chuyến viếng thăm của ĐTB, nêu lên các sự kiện quốc tế vào thời điểm 1970-1978, các cuộc họp của các sĩ quan quân đội Trung Quốc đưa kế hoạch tấn công VN, và các nguyên nhân đã làm TQ quyết định đánh VN năm 1979.

Bên cạnh đó có nhiều sự kiện rất đáng chú ý. Chẳng hạn như: “Tổng cộng, Trung Quốc đã cung cấp cho Hà Nội sự trợ giúp trị giá 20 tỷ (đô la Mỹ) trong hai thập niên, nhiều hơn bất kỳ một nước nào đã cung cấp. (39)”

Và, một trong các nguyên nhân TQ đánh VN vì VN đuổi người Việt gốc Hoa ra khỏi VN năm 1978. Nhưng thực tế cho thấy hiện nay có Làng Tị Nạn Việt Nam tại Biên Giới Việt Trung và những người này hiện đang bị TQ đối xử rất tệ bạc.

Đặng Tiểu Bình và quyết định của Trung Quốc đi đến chiến tranh với Việt Nam

Lời người dịch:Chiến dịch 1979, ít nhất đối với Quân Đội Giải Phóng của Nhân Dân Trung Quốc, là một sự thất bại. Trung Quốc đã phóng ra cuộc tấn công của nó trong một nỗ lực để buộc Việt Nam phải rút lui khỏi Căm Bốt. Trung Quốc đã rút lui khỏi Việt Nam hôm 16 Tháng Ba, 1979, nhưng Việt Nam đã không rời Căm Bốt mãi cho đến năm 1989.” ….

“Cuộc chiến tranh theo học thuyết họ Mao chưa dứt, nhưng phía Trung Quốc đã học được một bài học quan trọng.”

Trên đây là phần kết luận chắc nịch của Edward C. ODow’d, một tác giả hàng đầu về Chiến Tranh Biên Giới Trung Quốc – Việt Nam Năm 1979, chủ đề của loạt bài nghiên cứu dưới đây về biến cố quan trọng diễn ra 33 năm trước. Đối chiếu với bài học lịch sử lâu dài của đất nước, rõ ràng vấn đề sinh tử của dân tộc Việt Nam hiện nay là phải tìm mọi cách đê duy trì được sự độc lập và vẹn toàn lãnh thố, đồng thời thoát ra khỏi sự lệ thuộc ngoại giao và quân sự đáng tủi hổ đối với Trung Quốc.

———————————————–

Trong suốt Thời Chiến Tranh Lạnh, Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc (People’s Republic of China: PRC: viết tắt trong tiếng Việt là CHNDTQ) có can dự vào hai cuộc động binh trên quy mô lớn – một tại Triều Tiên chống lại Hoa Kỳ từ Tháng Mười 1950 đến Tháng Bẩy 1953, và cuộc hành quân kia để đánh Việt Nam trong măm 1979.

Đáng tiếc, tại Trung Quốc cuộc chiến tranh với Việt Nam là một lịch sử bị lãng quên. Biến cố hiếm khi được thảo luận trong truyền thông, và các học giả tại Trung Hoa bị ngăn cấm không được nghiên cứu về nó.

Cho đến giữa thập niên 1970, Trung Quốc và Việt Nam đã từng là các đồng minh thân thiết trong cuộc Chiến Tranh Lạnh. Như thế, tại sao CHNDTQ đã quyết định vào cuối năm 1978 đi đên chiến tranh với Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam (CHXHCNVN, trong Anh ngữ là Socialist Republic of Vietnam: SRV)?

Các nguồn tin Trung Quốc chính thức đã đưa ra câu trả lời không thỏa đáng cho câu hỏi này. Các lý do khởi thủy của Bắc Kinh bao gồm “các giấc mơ đế quốc” bá quyền của Hà Nội tại Đông Nam Á, sự vi phạm các biên giới của Trung Quốc và sự xâm nhập sau đó vào lãnh thổ Trung Quốc; sự ngược đãi người gốc Hoa sinh sống tại Việt Nam; và sự mật thiết của Việt Nam với Liên Bang Sô Viết, nước mà vào khi đó đang mở rộng khu vực ảnh hưởng của nó vào Đông Nam Á. (1)

Các quan sát viên đương thời cũng như nhiều cuộc nghiên cứu sau này tuyên bố rằng các mục đích thực sự của Bắc Kinh là để đổi hướng áp lực quân sự của Hà Nội ra khỏi Căm Bốt và buộc chân các lực lượng của Việt Nam tại một mặt trận thứ nhì. (2)

Các quan sát viên khác tranh luận rằng sự sử dụng lực lượng quân sự của Bắc Kinh chống lại Việt Nam là một mưu toan làm mất uy tín của Liên Bang Sô Viết như là một đồng minh đáng tin cậy, để đáp lại sự hợp tác của Việt Nam với sự bao vây của Sô Viết quanh Trung Quốc từ Đông Nam Á. (3)

Quyết định của Trung Quốc để phát động chiến tranh trên Việt Nam được uốn nắn một phần bởi mối quan hệ đang trở nên tồi tệ giữa Bắc Kinh và Hà Nội, bởi liên minh mới của Việt Nam với Liên Bang Sô Viết, và bởi chính sách bá quyền cấp miền của CHXHCNVN, nhưng nó cũng phát sinh từ sự gắng sức của CHNDTQ để cải thiện vị thế chiến lược của nó trên thế giới trong khi cũng đẩy mạnh một chương trình hoạt động trong nước nhằm cải cách kinh tế.

Ba biến cố đã xẩy ra tại Bắc Kinh trong Tháng Mười Hai 1978 cũng tác động quan trọng trên quyết định của Trung Quốc đi đến chiến tranh: sự tái thăng tiến của Đặng Tiểu Bình lên giới lãnh đạo cao nhất tại Phiên Họp Khoáng Đại Thứ Ba của Ủy Ban Trung Ương Thứ Mười Một của Đảng Cộng Sản Trung Quốc (ĐCSTQ: Chinese Communist Party: CCP), việc chấp nhận của Bắc Kinh về sự cải cách kinh tế như là ưu tiên quốc gia hàng đầu, và sự bình thường hóa mối quan hệ của Trung Quốc với Hợp Chúng Quốc Hoa Kỳ.

Họ Đặng, viên kiến trúc sư chính của chiến lược quốc gia của Trung Quốc ngay trong thời hậu Mao, đã đóng một vai trò chi phối trong quyết định của Trung Quốc nhằm tấn công Việt Nam. Giới học thuật hiên nay thừa nhận vai trò của họ Đặng trong quyết định đi đên chiến tranh của Trung Quốc, nhưng các sự giải thích về quyết định lại biến đổi một cách lớn lao.

Tác giả Gerald Segal trong sự phân tích năm 1985 của ông tin tưởng rằng chính trị trong giới lãnh đạo đóng một vai trò nhỏ trong quyết định của Trung Quốc và rằng các sự bất đồng ở cấp cao, nếu có, đã không ảnh hưởng đến các hoạt động quân sự của Trung Quốc. (4)

Tác giả King Chen đã đưa ra một lập luận trái ngược rằng quyết định đã được đưa ra sau ‘các cuộc tranh luận kéo dài, nhiều lần” tại Hội Nghị Công Tác Trung Ương hồi cuối năm 1978 và rằng kiểu lãnh đạo của họ Đặng đã là “một thành phần không thể thiếu được trong việc thuyết phục” Bộ Chính Trị ĐCSTQ vốn bị phân hóa sâu xa đi đến việc đồng ý với quyết định. (5)

Một cuộc nghiên cứu tương đối gần đây của tác giả Andrew Scobell tuyên bố rằng các nhà lãnh đạo dân sự và quân sự Trung Quốc bị phân hóa giữa các kẻ ủng hộ và người chống đối lại hành động quân sự chống Việt Nam và rằng sự cấu tạo quyết định về chiến tranh đã là một phần của cuộc đấu tranh kế vị trong chính trị thời hậu-Mao. (6)

Cuộc nghiên cứu quyết định của Trung Quốc để tấn công Việt Nam bị ngăn trở bởi thiếu sự dẫn chứng bằng tài liệu Trung Quốc, nhưng khoảng trống này được bù đắp bởi khối lượng gia tăng các tài liệu có nguồn gốc bằng Hán tự, đặc biệt các hồi ký của các sĩ quan quân đội cao cấp, cũng như các tài liệu Hoa Kỳ được giải mật. (7)

Trong bài viết này, tôi thảo luận trước tiên làm sao mà một đề nghị bởi Bộ Tổng Tham Mưu Quân Đội Giải Phóng Nhân Dân Trung Quốc (QĐGPNDTQ, tiếng Anh là People’s Liberation Army, viết tắt là PLA) để dùng vũ lực trong việc giải quyết các vụ tranh chấp biên giới với Việt Nam tiến triển thành một quyết định phóng ra một cuộc xâm lăng có quy mô rộng lớn. Sau đó tôi khảo sát các yếu tố quốc nội và quốc tế đã ảnh hưởng đến tư tưởng chiến lược của các nhà lãnh đạo Trung Quốc, đặc biệt của họ Đặng, và đã định hình quyết định đi đến chiến tranh. Các yếu tố này bao gồm sự thúc đẩy mới của Bắc Kinh cho các cải cách kinh tế và sự mở cửa của nó ra thế giới bên ngoài, các chính sách của Việt Nam chống lại Trung Quốc, sự xâm lăng của CHXHCHVN vào Căm Bốt, và liên minh Sô Viết – Việt Nam.

Họ Đặng dường như tin rằng sự hợp tác chiến lược của Sô Viết – Việt Nam là một mối đe dọa cho nền an ninh của Trung Quốc. Ông đã hy vọng rằng các quan hệ được bình thường hóa với Hoa Kỳ sẽ không chỉ cải thiện vị thế chiến lược của CHNDTQ và thuận lợi cho sự  cải cách kinh tế với sự ủng hộ của Hoa Kỳ, ông còn ước định là một cuộc tấn công của Trung Quốc vào một đồng minh của Sô Viết sẽ thuyết phục chính phủ Hoa Kỳ rằng các quyền lợi của Hoa Kỳ và Trung Quốc thì trùng hợp với nhau.

Chiến thắng chính trị của họ Đặng tại Phiên Họp Khoáng Đại Thứ Ba ĐCSTQ đã củng cố vị thế của ông tại Trung Quốc và đã ngăn cản bất kỳ ai thách đố quyết định của ông về điều mà sau rốt biến thành một cuộc chiến tranh nhiều chết chóc và hao tốn. Không giống như các cuộc thảo luận diễn ra trước khi có sự tham gia của Trung Quốc vào Chiến Tranh Triều Tiên, đã không có các sự tranh luận nghiêm trọng về quyết định của Bắc Kinh đi đến chiến tranh với Việt Nam được diễn ra ở các cấp cao. (8) Tuy nhiên, cuộc đấu tranh quyền lực tiếp diễn trong giới lãnh đạo đảng đã ảnh hưởng đến quyết định.

SỰ ĐÁP ỨNG CỦA TRUNG QUỐC VỚI CÁC BIẾN CỐ TẠI BIÊN GIỚI

Sau chiến thắng quân sự của Bắc Việt trên Nam Việt năm 1975, các nhà lãnh đạo ĐCSTQ ngày càng quan ngại về chính sách ngoại giao của Hà Nội. Phía Trung Quốc trở nên lo âu về ảnh hưởng của Sô Viết tại Đông Dương khi Hà Nội tiến gần đến Mạc Tư Khoa hơn bao giờ hết để có viện trợ cụ thể và các sự ràng buộc ý thức hệ. (9) Các nhà lãnh đạo Trung Quốc cũng bực tức bởi các nỗ lực của Hà Nội để trui rèn các quan hệ đặc biệt với Lào và Căm Bốt, nước kể sau này nằm dưới áp lực quân sự gia tăng từ Việt Nam. (10) Có lẽ điều quan trọng hơn cả, Bắc Kinh và Hà Nội đã đụng độ trên các vấn đề lãnh thổ.

Trong quá khứ, Trung Hoa đã xâm lăng Việt Nam nhiều lần để đạt tới sự thống trị trong vùng mà không thủ đắc đất đai. Việt Nam, về phần mình, chưa hề bao giờ thách đố các sự tuyên xác lãnh thổ của Trung Hoa. Tình trạng này bắt đầu thay đổi sau năm 1975 khi các cuộc tranh chấp biên giới với Việt Nam trở nên một vấn đề quan trọng cho Bộ Tổng Tham Mưu QĐGPNDTQ. QĐGPNDTQ đã ra lệnh hai tỉnh biên giới và các chỉ huy quân sự cấp tỉnh và miền phải ổn định tình trạng biên giới. (11) Bất kể các lời tuyên bố của Bắc Kinh mong muốn giải quyết các tranh chấp biên giới một cách hòa bình, bạo động tại biên giới đã bùng lên trong năm 1978.

Về mặt lịch sử, các cuộc tranh chấp lãnh thổ đã từng là nguyên do thông thường nhất cho các cuộc chiến tranh giữa các quốc gia. (12) Tuy thế, quyết định của CHNDTQ để tấn công Việt Nam được kết bện với các yếu tố khác.

Chuyển động khởi thủy của Trung Quốc đi đến chiến tranh xảy ra khi Bộ Tổng Tham Mưu QĐGPNTQ đáp ứng với các biến cố biên giới gia tăng giữa các sự cãi cọ về người gốc Hoa tại CHXHCNVN hồi giữa năm 1978.

Vào ngày 12 Tháng Tám, nhân viên vũ trang Việt Nam đã phóng ra một cuộc tấn công bất ngờ vào một toán tuần cảnh biên giới Trung Quốc gần Hữu Nghị (Youyi) Quan trong tỉnh Quảng Tây. Hai tuần sau đó, tại cùng khu vực, hơn 200 binh sĩ Việt Nam đã chiếm cứ một đỉnh núi phía Trung Quốc bên kia biên giới và đã củng cố các vị trí trên đỉnh đồi của họ với nhiều binh sĩ hơn nữa. (13)

Các viên chức CHNDTQ tuyên bố rằng các cuộc đụng độ ở biên giới đã gia tăng từ 752 vụ trong năm 1977 lên đến 1,100 vụ trong năm 1978. (14) Quy mô của các biến cố cũng đã gia tăng.

Cho đến Tháng Tám 1978, phần lớn các cuộc đụng độ thì nhỏ và liên can đến ít sự tổn thất. Các biến cố trong Tháng Tám trở nên dữ dội và nhiều tổn thất, cho thấy sự can dự của một quân số đông hơn về phía Việt Nam. Với tất cả các dấu hiệu cộng lại, các cuộc đụng độ biên giới leo thang đã là sự kiện khích động đầu tiên khiến các nhà lãnh đạo tại Bắc Kinh cứu xét đến việc sử dụng lực lựong quân sự chống lại Việt Nam.

Trong Tháng chín 1978 Bộ Tổng Tham Mưu đã tổ chức một phiên họp tại Bắc Kinh về “cách thức đối phó với việc lãnh thổ của chúng ta bị chiếm cứ bởi các lực lượng Việt Nam”. Phó Tổng Tham Mưu Trưởng Zhang Caiqian chủ tọa phiên họp với các sĩ quan tham mưu từ các Quân Khu Quảng Châu và Côn Minh cũng như các sĩ quan từ các Cục Hành Quân và Cục Tình Báo của Bộ Tổng Tham Mưu.

Mở đầu, họ Zhang đã ghi nhận rằng Bộ Tổng Tham Mưu đã phải khuyến cáo các nhà lãnh đạo ĐCSTQ về cách thức đối phó với sự ngược đãi của Hà Nội đối với người gốc Hoa tại Việt Nam và các sự khiêu khích gia tăng bởi các binh sĩ an ninh và quân sự Việt Nam dọc biên giới Trung Quốc – Việt Nam. (15) Ông đã đề cập đến một loạt các biến cố trong mùa hè 1978.

Vào ngày 8 Tháng Bẩy, Tổng Cục Chính Trị của Quân Đội Nhân Dân Việt Nam (QĐNDVN) đã ra lệnh các binh sĩ theo đuổi một “chiến lược tấn công” chống lại Trung Quốc và phóng ra “cuộc tấn công và phản công trong phạm vị và vượt quá vùng biên giới”. (16)

Hai tuần sau đó, phiên họp khoáng đại thứ tư của Đảng Cộng Sản Việt Nam đã xác định chủ nghĩa đế quốc Hoa Kỳ là “kẻ thù trường kỳ” nhưng gán cho Trung Quốc là “kẻ thù nguy hiểm và gần cận nhất” và một địch thủ mới trong tương lai”. Cùng lúc, một khu quân sự mới đã được thành lập tại vùng tây bắc Việt Nam dọc theo Tỉnh Vân Nam của Trung Quốc. (17) Bộ Tổng Tham Mưu QĐGPNDTQ đã nhận thức một sự tương quan mật chặt chẽ giữa sự thù nghịch mới của Hà Nội với sự căng thăng biên giới gia tăng. Giới học thuật hiện nay mô tả vấn đề biên giới như “khung cảnh cho sự đối đầu hơn là một vấn đề tranh chấp nghiêm trọng”, (18) nhưng từ một quan điểm Trung Quốc, vấn đề biên giới là điểm khởi phát cho việc dự liệu một cuộc tấn công vào Việt Nam. (19)

Kể từ khi QĐGPNDTQ được thành lập, các nhà lãnh đạo Trung Quốc đã biểu lộ một khuynh hướng sử dụng lực lượng quân sự trong các cuộc tranh chấp lãnh thổ với các nước khác. QĐGPNDTQ đã được sử dụng để ủng hộ các sự tuyên xác chủ quyền chống lại Ấn Độ trong năm 1962 và Liên Bang Sô Viết trong năm 1969. Bộ Tổng Tham Mưu QĐGPNDTQ đã tiếp tục truyền thống này khi đề nghị một cuộc hành quân chống lại một trung đoàn Việt Nam tại Trùng Khánh, một huyện biên giới giáp ranh với Tỉnh Quảng Tây. Đề nghị của Bộ Tổng Tham Mưu được thiết kế một cách thận trọng để tránh sự leo thang, có thể đe dọa đến tiến bộ kinh tế của CHNDTQ.

Zhou Deli, tham mưu trưởng của Quân Khu Quảng Châu, sau này nhớ lại rằng Bộ Tổng Tham Mưu tin tưởng rằng vị trí biệt lập của Trùng Khánh sẽ cho phép QĐGPNDTQ cắt đứt tiền đồn Việt Nam ra khỏi bất kỳ sự tăng viện nào và dễ dàng xóa bỏ nó. Sau một ngày duyệt xét tình báo về các viễn ảnh của một cuộc xâm lăng của Việt Nam vào Căm Bốt và thảo luận tình hình tổng quát, đa số các tham dự viên kết luận rằng vấn đề đương thời với CHXHCNVN không phải chỉ là vấn đề biên giới không thôi, và rằng bất kỳ hành vi quân sự nào phải có một tác động quan trọng trên Việt Nam và tình hình tại Đông Nam Á. Họ đã khuyến cáo một cuộc tấn kích vào một đơn vị quân đội Việt Nam chính quy tại một khu vực địa dư rộng lớn hơn. Bất kể việc kết thúc mà không có bất kỳ quyết định cụ thể nào, phiên họp đã ấn định âm hưởng cho cuộc chiến tranh sau rốt của Trung Quốc đánh Việt Nam, liên kết kế hoạch tấn công với các hành động của chính CHXHCNVN tại Đông Nam Á.(20)

Không may, không có nguồn tin Trung Quốc nào được phát ra để giải thích cách thức mà Bộ Tổng Tham Mưu QĐGPNTQ đã sửa đổi kế hoạch chiến tranh của nó trong các tháng kế tiêp. Rõ ràng, các viên chức tại Bắc Kinh đã quan ngại rằng các viên chỉ huy QĐGPNDTQ địa phương có thể trở nên quá hung hăng trong việc đáp ứng với các biên cố biên giới gia tăng và sẽ làm phương hại đến việc hoạch định chiến tranh của trung ương.

Vào ngày 21 Tháng Mười Một, Quân Ủy Trung Ương (QUTƯ) của ĐCSTQ đã ra lệnh cho các bộ chỉ huy quân khu chấp hành chiến lược chính yếu, chống lại chính sách bá quyền của Sô Viết trong khi đảm trách các biến cố biên giới và đã ra lệnh cho tất cả các đơn vị biên giới phải bám chặt lấy phương châm “chọn trận địa đúng, dựa vào lợi thế của ta, và với sự kiềm chế” (youli, youli, youjie), chỉ đánh sau khi địch đã tấn công. (21)

Hai ngày sau đó, Bộ Tổng Tham Mưu đã triệu tập một phiên họp khác để thảo luận một lược đồ mới cho chiến tranh. Cứu xét đến các khuyến cáo trước đây, Bộ Tổng Tham Mưu đã mở rộng khuôn khổ và thời khoảng của các cuộc hành quân, nhắm vào việc triệt hạ một hay hai sư đoàn Việt Nam chính quy trong một cuộc hành quân từ ba đến năm ngày gần biên giới. (22)

Một số tham dự viên tin tưởng rằng các cuộc hành quân này không tiến đủ xa bởi chúng vẫn còn bị giới hạn vào một khu vực hẻo lánh và không đặt ra một sự đe dọa trực tiếp với Hà Nội. Tuy nhiên, họ không nêu ý kiến chống đối, để tùy theo sự phán đoán của các chỉ huy thượng tầng. Bộ Tổng Tham Mưu đã ra lệnh cho các Quân Khu Côn Minh và Quảng Châu thực hiện chiến dịch và đã chấp thuận sự di chuyển các lực lượng trừ bị chiến lược của QĐGPNDTQ, hai quân đoàn của các Quân Khu Thành Đô và Vũ Hán, để tăng cường cho các mặt trận Quảng Tây và Vân Nam. (23) Sau đó, kế hoạch chiến tranh đã bị thay đổi một cách đáng kể để đáp ứng với cuộc xâm lăng của Việt Nam vào Căm Bốt.

Nhưng sự kiện rằng Bộ Tổng Tham Mưu QĐGPNDTQ đã hoạch định một chiến dịch quân sự quan trọng ngay cả trước khi các lực lượng Việt Nam vượt qua sông Mekong cho ta thấy rằng ít nhất từ khởi thủy, chiến tranh có chủ định để buộc Việt Nam phải thỏa hiệp với các đòi hỏi của Trung Quốc về các cuộc tranh chấp biên giới và sự trục xuất các người gốc Hoa.

SỰ QUAY TRỞ LẠI TRUNG TÂM QUYỀN LỰC CỦA HỌ ĐẶNG

Các nhà lãnh đạo Trung Quốc đã nhìn kế hoạch chiến tranh ra sao? Một diễn văn bởi Tổng Bí Thư QUTU, Geng Biao, hôm 16 Tháng Một 1979 đã chiếu rọi ánh sáng vào các quyết nghị của Trung Quốc về cách thức đối phó với cuộc xâm lăng của Việt Nam vào Căm Bốt.

Trong Tháng Mười Một 1978, Wang Dongxing, phó chủ tịch ĐCSTQ, và Su Zhenghua, chính ủy thứ nhất của hải quân và ủy viên Bộ Chính Trị, đề nghị rằng các binh sĩ Trung Quốc hay một phân đội hải quân biệt phái sẽ được gửi sang Căm Bốt. Xu Shiyou, tư lệnh Quân Khu Quảng Châu, yêu cầu được phép tấn công Việt Nam từ tỉnh Quảng Tây. (24) Geng Biao báo cáo rằng sau khi cứu xét kỹ lưỡng, các nhà lãnh đạo của ĐCSTQ đã bác bỏ tất cả các sự khuyến cáo này. (25)

Tác giả King Chen tranh luận rằng Geng Biao, kẻ rõ ràng hay biết là QĐGPNDTQ đã sẵn dàn binh dọc biên giới, đã cố ý che dấu các kế hoạch quân sự của Bắc Kinh. (26) Báo cáo của Geng Biao cũng không tiết lộ vai trò của Đặng Tiểu Bình trong sự cấu tạo quyết định bởi ông đã củng cố được quyền lực trong khi ảnh hưởng chính trị của họ Wang và họ Su đang mất đi vào lúc đó. (27) Quyết định khởi thủy của CHNDTQ trên Việt Nam trùng hợp với một hiệp mới của cuộc đấu tranh quyền lực bên trong ĐCSTQ.

Đặng Tiểu Bình, lãnh tụ đảng kỳ cựu và chính khách của Trung Quốc, đã tái xuất hiện trên đấu trường chính trị Trung Quốc hồi Tháng Bẩy 1977 với tư cách phó chủ tịch ĐCSTQ, phó chủ tích QUTƯ, phó thủ tướng, và Tổng Tham Mưu Trưởng QĐGPNDTQ. Sự phục hồi của họ Đặng không có nghĩa tự nguyên thủy rằng ông có một thẩm quyền áp đảo ttrong ĐCSTQ.

Hoa Quốc Phong, với tư cách chủ tịch của ĐCSTQ lẫn QUTƯ, được phụ tá bởi Wang Dongxing, phó chủ tịch ĐCSTQ, vẫn kiểm soát các công việc của nhà nước và đảng, và tiếp tục thi hành nhiều ý tưởng và chính sách của Mao Trạch Đông, nhà lãnh Trung Quốc quá cố. (28)

Diệp Kiếm Anh (Ye Jianying) vẫn phụ trách QUTƯ. Họ Đặng, kẻ mới quay trở lại chức vụ cao cấp, tình nguyện đảm trách về khoa học và giáo dục, các lãnh vực bị xem là kém quan trọng hơn các công việc quân sự và đảng vụ. (29)

Từ Tháng Tám 1977 đến Tháng Mười Hai 1978, cuộc tranh đấu quyền lực giữa họ Hoa và họ Đặng đã gia tăng cường độ. (30) Với tư cách Tổng Tham Mưu Trưởng QĐGPNDTQ, họ Đặng đã hay biết rất rõ việc lập kế hoạch chiến tranh, nhưng ông xem ra không chắc chắn là liệu một cuộc tấn công vào Việt Nam có được ủng hộ bởi toàn thể Bộ Chính Trị CHNDTQ hay không. Hơn nữa, họ Đặng cần cứu xét các mục đích mà QĐGPNDTQ sẽ tìm cách đạt được xuyên qua hành động quân sự hơn là chỉ để trừng phạt Việt Nam.

Trong một cuộc thăm viếng Singapore hồi đầu Tháng Mười Một 1978, khi trả lời sự dò hỏi của Thủ Tướng Lý Quang Diệuliệu Trung Quốc có dùng sức mạnh để chống lại các lực lượng Việt Nam tại Căm Bốt hay không, họ Đặng tỏ vẻ lưỡng lự. Trong một dịp, ông ta có nói với họ Lý rằng Trung Quốc sẽ trừng trị Việt Nam, nhưng ở một lúc khác, ông chỉ đáp, “điều đó còn tùy thuộc [Việt Nam]”. (31)

Cán cân chính trị nghiêng về phía họ Đặng không lâu sau khi ông trở lại Bắc Kinh. Từ 10 Tháng Mười Một đến 15 Tháng Mười Hai, Hội Nghị Công Tác Trung Ương được tổ chức với các lãnh đạo của các tỉnh, quân khu, chính quyền và đảng ủy trung ương, và các bộ phận quân sự trong thành phần tham dự. Nghị trình nguyên thủy chỉ tập trung vào các vấn đề nội địa – các chính sách kinh tế và phát triển nông nghiệp cho năm 1979 và 1980 – và đã không bao gồm tình hình Đông Dương, trái với điều mà tác giả King Chen đã xác định trước đây. (32)

Phiên họp đã đi sang một khúc ngoặt khi Trần Vân (Chen Yun), một nhà hoạch định kinh tế cho họ Mao, đưa ra một bài diễn văn hôm 12 Tháng Mười Một nhấn mạnh rằng họ phải bàn thảo đến các di sản của Cuộc Cách Mạng Văn Hoa trước tiên. Chương trình nghị sự từ đó đổi hướng đến sự phục hồi các cán bộ đảng cao cấp là những người đã bị ngược đãi trong suốt Cuộc Cách Mạng Văn Hóa và nhằm phê bình sự liên minh của họ Hoa-họ Wang về việc tiếp tục theo đuổi một đường lối ý thức hệ cực tả. Phiên họp đã kết thúc với sự triệu tập Phiên Họp Khoáng Đại của Đại Hội Đảng lần Thứ 11, trong đó Trần Vân trở thành một phó chủ tịch ĐCSTQ, củng cố cho vị thế chính trị của Đặng Tiểu Bình.

Với sự thay đổi bàu không khí chính trị tại Bắc Kinh, họ Đặng dần dần đã trở thành nhà cấu tạo quyết định vượt trội tại Trung Quốc. (33)

Một trong các quyết định then chốt đầu tiên của họ Đặng, được loan báo tại Phiên Họp Khoáng Đại Thứ Ba, là việc chuyển đổi mục tiêu ưu tiên quốc gia của Trung Quốc đến sự canh tân hóa kinh tế và một sự mở cửa ra thế giới bên ngoài. (34)

Theo chương trình này, Hoa Kỳ được xem là nguồn cội chính của các ý tưởng và kỹ thuật tiên tiến và tấm gương đáng được ưa chuộng nhất. Một cựu thứ trưởng ngoại giao CHNDTQ, Zhang Wenjin, nhớ lại rằng họ Đặng tin tưởng là nếu Trung Quốc chỉ mở cửa với các nước khác ngoài Hoa Kỳ, chính sách mới sẽ vô ích. (35)

Vào Tháng Mười Hai 1978, Bắc Kinh đã mời nhiều tổ hợp Hoa Kỳ quan trọng đến trợ giúp việc phát triển các nguồn tài nguyên thiên nhiên, dầu hỏa, và các kỹ nghệ nặng khác tại Trung Quốc. Các vấn đề chính sách ngoại giao đã không được bao gồm trong chương trình nghị sự của Hội Nghị Công Tác Trung Ương hay Phiên Họp Khoáng Đại Thứ Ba, nhưng một sự kết hợp của chính trị nội bộ với mối quan hệ đang xấu đi của CHNDTQ với Việt Nam (được biểu thị bởi liên minh mới của CHXHCNVN với Liên Bang Sô Viết) đã thúc đẩy các nhà lãnh đạo ĐCSTQ sắp xếp một phiên họp đặc biệt về sự thiết lập các quan hệ ngoại giao với Hoa Kỳ. (36)

Yếu tố Hoa Kỳ đã đóng một vai trò đáng kể trong tư tưởng chiến lược của Trung Quốc ngay trước khi có cuộc xâm lăng của Trung Quốc vào Việt Nam.

YẾU TỐ XÔ VIẾT

Cuộc nghiên cứu của tác giả Qiang Zhai về các quan hệ của Trung Hoa với Bắc Việt Nam trước Tháng Tư 1975 ghi nhận rằng khác với các nhà lãnh đạo Trung Quốc trước đó, họ Đặng đã không có bất kỳ sự ràng buộc cá nhân sâu đậm” nào với người Việt Nam”.

Vào cuối 1978, họ Đặng, bị tổn thương nhiều bởi điều ông nhìn như sự thách đố của Hà Nội đối với các quyền lợi của Bắc Kinh đến nỗi ông ta đã không “ngần ngại để phát động một cuộc chiến tranh nhằm dạy cho Việt Nam một bài học”. (37)

Trong năm 1979, các nhà lãnh đạo Việt Nam cũng tố cáo họ Đặng đã từng chống đối các quyền lợi của Việt Nam ngay trong khi có Cuộc Chiến Tranh Việt Nam. Lê Duẩn tuyên bố rằng họ Đặng đã không chỉ cố gắng để thuyết phục phía Bắc Việt hãy làm nhẹ bớt cuộc cách mạng tại miền nam, mà can ngăn Bắc Việt đừng tiếp nhận viện trợ của Sô Viết, đặt điều này thành một điều kiện cho sự viện trợ liên tục của Trung Quốc. (38)

Tổng cộng, Trung Quốc đã cung cấp cho Hà Nội sự trợ giúp trị giá 20 tỷ trong hai thập niên, nhiều hơn bất kỳ một nước nào đã cung cấp. (39)

Khi các viên chức Việt Nam khởi sự cưỡng bách hồi hương các người gốc Hoa tại miền bắc Việt Nam và xâm lấn vào lãnh thổ Trung Quốc dọc biên giới, nhiều người Trung Quốc lấy làm tức giận bởi điều mà họ nhìn như sự vô ơn của Hà Nội đối với sự trợ giúp và hy sinh của Trung Quốc. Trung Quốc đã chứng kiến một triều sóng giận dữ của công chúng chống lại Việt Nam, được khích động bởi sự tuyên truyền chính thức. (40)

[Mời bạn đọc đọc câu chuyện này để hiểu thêm đoạn văn nói trên:Làng Tị Nạn Việt Nam tại Biên Giới Việt Trung]

Các kẻ đã từng trợ giúp phe Công Sản Việt Nam trong các cuộc chiến tranh của họ chống lại Pháp và Hoa Kỳ đặc biệt cảm thấy bị phản bội và hăm hở để “dạy cho Việt Nam một bài học”. Phó Thủ Tướng Lý Tiên Niệm đã hình dung các hành vi quân sự của Trung Quốc như “một cái tát vào mặt [của Việt Nam] để cảnh cáo và trừng phạt họ”. (41) Đặng Tiểu Bình không khác gì. Sự bực tức của ông ta về thái độ “vô ơn” của Việt Nam có thể được truy tìm ngược về giữa thập niên 1960. (42)

Mặc dù sự thù hận giữa Trung Quốc và Việt Nam đã gia tăng cường độ vào cuối thập niên 1970, họ Đặng ngày càng trở nên xung động, có lần còn gọi Việt Nam là wangbadan (dịch theo từng chữ là “trứng của con rùa” nhưng có thể thông dịch là “đồ chó đẻ: son of a bitch”) trước mặt một nhà lãnh đạo ngoại quốc. (43) Như tác giả Raymond Aron đã vạch ra, trong một tình trạng ở đó “các ý định thù nghịch [hiện hữu] ở cả hai bên, sự giận dữ và thù ghét [nhiều phần] phát sinh”. (44) Điều mà họ Đặng nhìn như “sự xấc láo” của Việt Nam, cùng với các sự đụng độ biên giới gia tăng, và cuộc tỵ nạn đang tiếp diễn của cư dân gốc Hoa, đã làm phát sinh “sự giận dữ và thù hận tại Bắc Kinh, tạo sự thuận lợi cho sự cứu xét các giải pháp quân sự. Sự sử dụng lực lượng quân sự cũng phù hợp với tư tưởng chiến lược của nhà lãnh đạo cao cấp nhất của Trung Quốc.

Sau khi trở lại quyền hành, các quan điểm chính sách ngoại giao của họ Đặng khởi thủy vẫn còn nằm dưới ảnh hưởng của tư tưởng chiến lược của Mao Trạch Đông, vốn nhìn sự bành trướng toàn cầu của Sô Viết và lực lượng quân sự Sô viết như mối đe dọa chính cho hòa bình. Bất kể nỗ lực của Mạc Tư Khoa để hòa giải với Trung Hoa trong năm 1977 và 1978, các nhà lãnh đạo Trung Quốc từ chối không chịu tin tưởng Liên Bang Sô Viết bởi mối thù hận lâu dài giữa hai nước. 45 Liên Bang Sô Viết tiếp tục một sự tăng cường quân sự quan trọng gần Trung Quốc và thường xuyên thực hiện các cuộc thao diễn quân sự với đạn thật trong cuộc xung đột vũ trang bị khích động tại các biên giới. 46 Khởi đi hồi đầu thập niên 1970, họ Mao đã theo đuổi chiến lược một “hoành tuyến: horizontal line” (yitiaoxian), hay dàn thành hàng ngang toàn cầu, có nghĩa, một tuyến phòng thủ chiến lược chống lại Liên Bang Sô Viết kéo dài từ Nhật Bản sang đến Âu Châu rồi đến Hoa Kỳ. Căn bản chiến lược “hoành tuyến” của họ Mao là một sự hợp tác chặt chẽ giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ. Tuy nhiên, Hoa Thịnh Đốn đã không đáp ứng với chiều hướng này trong một phương cách mà Bắc Kinh đã kỳ vọng. Các nhà lãnh đạo Trung Quốc kết luận rằng Hoa Kỳ vẫn còn quan tâm chính yếu đến một chính sách hòa hoãn đối với Liên Bang Sô Viết. 47

Sự thất vọng của Trung Quốc kéo dài cho đến những năm khởi đầu của nhiệm kỳ tổng thống của ông Jimmy Carter, kẻ đã đảm nhận chức vụ với việc hứa hẹn đặt sự hòa hoãn Hoa Kỳ – Sô Viết vào một ưu tiên cao hơn. Họ Đặng không ưa thích chính sách của Hoa Kỳ tìm cách làm giảm bớt sự căng thẳng quốc tế qua các cuộc thương thảo. Vào ngày 27 Tháng Chín 1977, ông gặp gỡ ông George H. W. Bush, cựu giám đốc văn phòng liên lạc Hoa Kỳ tại Bắc Kinh, và đã chỉ trích các hiệp ước kiểm soát vũ khí hạt nhân của Hoa Kỳ với Liên Bang Sô Viết là đã không ngăn cản Liên Bang Sô Viết khỏi việc giành đoạt được sự đồng đẳng (parity). 48 Vài tháng sau, nhà lãnh đạo Trung Hoa đã lập lại lời chỉ trích với Zbigniew Brzezinski, cố vấn an ninh quốc gia của ông Carter, trong cuộc thăm viếng của ông Brzezinski tại Bắc Kinh trong Tháng Năm 1978. Họ Đặng đã cảnh cáo người khách về các ý định của Sô Viết, mà ông nói là nham hiểm đối với Hoa Kỳ. Nhà lãnh đạo Trung Quốc đã không tin tưởng rằng các hiệp ước hay sự hợp tác với Liên Bang Sô Viết sẽ ngăn cản được sự bành trướng của Sô Viết. Tuy nhiên, Brzezinski đã nghĩ rằng chính sách của Trung Quốc chỉ có tính chất “mỹ từ”. Họ Đặng không đồng ý, giải thích rằng Trung Quốc đã làm những gì nằm trong năng lực của nó. 49 Thật khó để biết chắc rằng liệu sự trao đổi này đã có một ảnh hưởng tâm lý nào trên họ Đặng hay không, nhưng ông ta sau đó thừa nhận rằng ông không muốn các nước khác nhận thức Trung Hoa là yếu ớt trong việc đối đầu với liên minh Sô Viết – Việt Nam. 50 Hành động quân sự Trung Quốc được ước định để chứng tỏ rằng Bắc Kinh sẽ không chỉ nói suông nếu Trung Quốc và Hoa Kỳ thống nhất trong việc chống lại sự xâm lược của Sô Viết. 51

Trong Tháng Mười Một, nhiều sự phát triển đã gây ra sự lo ngại hơn nữa tại Bắc Kinh. Trước tiên, các nhà lãnh đạo Trung Quốc âu lo về sự bình thường hóa hay cải thiện các quan hệ khả dĩ giữa Hoa Kỳ và Việt Nam.

(Liệu có điệp viên nào của TQ nằm trong nội bộ đảng CSVN đã phá thối việc cải thiện các quan hệ giữa VN và Mỹ bằng cách cố vấn cho Lê Duẫn và Lê Đức Thọ giữ vững lập trường (trong suốt 34 tháng, từ 1976-1978) trong đó có việc đòi hỏi Mỹ phải bồi hoàn chiến phí 3 tỷ đô la cho VN nếu như TT Carter muốn có bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Việt Nam?)

Vào ngày 3 Tháng Mười Một, Lý Tiên Niệm, biểu lộ sự bất mãn trong một cuộc đàm thoại với Bộ Trưởng Năng Lượng Hoa Kỳ, ông James Schlesinger, có nói rằng các ràng buộc chặt chẽ hơn với CHXHCNVN sẽ không lôi kéo Việt Nam ra khỏi Liên Bang Xô Viết. 52

Phía Trung Quốc rõ ràng lo lắng hơn trước trong việc gia tốc các cuộc thương thảo với Hoa Kỳ về sự thiết lập các quan hệ ngoại giao, đã cho phục hồi các cuộc đàm phán vốn bị ngưng lại hồi đầu Tháng Bẩy 1978. Thứ nhì, sự củng cố các liên hệ quân sự của Sô Viết với Việt Nam sau khi có sự ký kết Bản Hiệp Ước Hòa Bình [sic Hợp Tác] và Hữu Nghị giữa Xô Viết – Việt Nam hôm 3 Tháng Mười Một đã khuấy động sự hoảng hốt tại Bắc Kinh.

Phía Trung Quốc giả định rằng Liên Bang Xô Viết đã ủng hộ cuộc xâm lăng của Việt Nam vào Căm Bốt và sự khích động các căng thẳng tại biên giới phía nam Trung Quốc. 53 Đối với CHNDTQ, Việt Nam đã trở thành một mối đe dọa quân sự nghiêm trọng phụ lực thêm cho sự đe dọa của Sô Viết từ phía bắc. Trung Quốc cần đi tìm một sự cân bằng chiến lược xuyên qua hành động quân sự để đối đầu với “chủ nghĩa bá quyền cấp vùng” của Việt Nam.

Vào ngày 7 Tháng Mười Hai, QUTƯ nhóm họp trong nhiều tiếng đồng hồ và đã quyết định phóng ra một cuộc chiến tranh hạn chế để “hoàn kích” (đánh lại Việt Nam). 54

Một số tham dự phiên họp đã biểu lộ sự quan ngại rằng Liên Bang Xô Viết có thể đáp ứng bằng một cuộc tấn công trả đũa từ phía bắc, buộc Trung Quốc phải chiến đấu một cuộc chiến tranh trên hai mặt trận. Sự phân tích tình báo của Bộ Tổng Tham Mưu QĐGPNDTQ cho thấy rằng Liên Bang Sô Viết sẽ có ba sự lựa chọn quân sự để đáp ứng với sự xâm lăng: (1) một sự xâm nhập vũ trang trên quy mô lớn bao gồm một cuộc tấn công trực tiếp vào Bắc Kinh; (2) xúi giục các kể di cư thuộc dân tộc ít người có vũ trang tấn công các tiền đồn của Trung Quốc tại Tân Cương và Nội Mông; và (3) sử dụng các cuộc chạm súng nhỏ để hỗ trợ các căng thẳng biên giới giữa hai nước.

Mặc dù 54 Sư Đoàn của Xô Viết được bố trí dọc biên giới với Trung Quốc và Mông Cổ, Bộ Tổng Tham Mưu QĐGPNDTQ đã ước tính rằng hai phần ba các sư đoàn này thì thiếu quân số và thiếu trang bị, và rằng Liên Bang Xô Viết đã không có đủ số binh sĩ để phóng ra một sự can thiệp quân sự với quy mô to lớn tại Trung Quốc. Bất kỳ sự can thiệp nào của Xô Viết sẽ buộc Mạc Tư Khoa không chỉ di chuyển một quân số lớn lao ra khỏi Âu Châu, mà còn đặt chính an ninh quốc gia của Sô Viết vào sự rủi ro vĩ đại, bởi một sự đáp ứng khả hữu từ Hoa Kỳ. Liên Bang Xô Viết không thể tấn công Trung Quốc từ phía bắc mà không cứu xét đến khía cạnh này. 55

Vào ngày 8 Tháng Mười Hai, QUTƯ ra lệnh cho các Quân Khu Quảng Châu và Côn Minh phải sẵn sàng cho hành động quân sự đánh Việt Nam vào ngày 10 Tháng Một 1979. (56)

SỰ BÌNH THƯỜNG HÓA CÁC QUAN HỆ TRUNG QUỐC – HOA KỲ

Trong khi các lực lượng của QĐGPNDTQ chuẩn bị cho cuộc xâm lăng Việt Nam, Đặng Tiểu Bình đã quyết định “đẩy nhanh nhịp tiến” của các cuộc thương thảo về việc bình thường hóa các quan hệ với Hoa Kỳ, nhận định rằng “điều đó sẽ có lợi cho chúng ta”. 57 Zhu Qizhen, đại sứ Trung Quốc tại Hoa Kỳ sau này nhớ lại rằng điểm vướng mắc chính là “việc bán các vũ khí [của Hoa Kỳ] cho Đài Loan” và rằng “nếu chúng ta cứ khăng khăng rằng Hoa Kỳ phải ngừng bán vũ khí cho Đài Loan, chúng ta có thể mất cơ hội để thiết lập các quan hệ ngoại giao với Hoa Kỳ”. 58 Ông ta đã không giải thích tại sao sự thiết lập các quan hệ ngoại giao với Hoa Kỳ lại quá quan yếu đối với Trung Quốc vào Tháng Mười Hai 1978. Các sử gia lịch sử đảng Trung Quốc xác nhận rằng các nhà lãnh đạo ĐCSTQ đã phải nắm lấy cơ may để đưa ra một quyết định bởi họ đang hoạch định một cuộc chiến tranh hạn chế chống Việt Nam và đã quyết định tập trung công tác của đảng vào sự xây dựng và hiện đại hóa kinh tế. 59 Nhưng các sử gia này không cung cấp bất kỳ chi tiết nào. Một điều rõ ràng từ các nguồn tin Trung Quốc khả ứng và từ các tài liệu văn khố Hoa Kỳ rằng các nhà lãnh đạo Trung Quốc, nhất là họ Đặng, đã cứu xét mọi biến cố như một tổng thể.

Tháng Mười Một 1978 đã là một thời điểm quan yếu trong trong lịch sử bình thường hóa các quan hệ Trung Quốc – Hoa Kỳ khi cả đôi bên bày tỏ ý định muốn đạt tới một thỏa ước vào cuối năm.

Họ Đặng đảm nhận vai trò thủ lĩnh cổ vũ cho sự thiết lập các quan hệ ngoại giao với Hoa Kỳ. Tại một phiên họp của Bộ Chính Trị ĐCSTQ hôm 2 Tháng Mười Một, ông đã chỉ thị cho Bộ Ngoại Giao thăm dò các ý định của Hoa Kỳ về việc bình thường hóa. “Chúng ta phải gia tốc sự bình thường hóa các quan hệ với Hoa Kỳ về mặt kinh tế”, họ Đặng nêu nhận xét. (60)

Trong khi đó, nhà lãnh đạo Trung Quốc nhấn mạnh với các quan khách Mỹ rằng sự bình thường hóa các quan hệ với CHNDTQ “sẽ làm nhiều điều cho an ninh của Hoa Kỳ hơn bất kỳ số lượng các hiệp ước kiểm soát vũ khí nào được ký kết với Mạc Tư Khoa”. (61)

Tại một phiên họp đặc biệt hôm 27 Tháng Mười Một, họ Đặng nhấn mạnh “tầm quan trọng là không để mất cơ hội” cho các quan hệ được bình thường hóa và đã đưa ra các chỉ thị cho kỳ thương thảo sắp đến. (62) Ông rõ ràng đã quyết đoán trong đầu ở thời điểm này ngay dù một số vấn đề gây bực bội vẫn chưa được giải quyết. Vào đầu Tháng Mười Hai, họ Đặng có nói với các nhà lãnh đạo đảng tại một số tỉnh và các tư lệnh của nhiều quân khu rằng Trung Quốc và Hoa Kỳ sẽ thiết lập các quan hệ ngoại giao vào ngày 1 Tháng Một 1979. Ông ta không muốn nhìn thấy phía Hoa Kỳ “vểnh đuôi của họ lên” (qiaoweiba) và do đó sẽ không can dự trực tiếp vào các cuộc thương thảo cho đến khi Hội Nghị Công Tác Trung Ương được chấm dứt. (63)

Điểm tranh nghị chính vẫn là vấn đề các vụ bán vũ khí Hoa Kỳ cho Đài Loan sau khi các quan hệ với Trung Quốc được bình thường hóa. Phía Trung Quốc hiểu từ lời tuyên bố mạnh mẽ của Tổng Thống Carter với Chai Zemin, giám đốc Văn Phòng Liên Lạc Trung Quốc tại Hoa Thịnh Đốn, trong Tháng Chín 1978 rằng Hoa Kỳ sẽ tiếp tục cung cấp cho Đài Loan các khí giới phòng thủ. 64 Vào ngày 4 Tháng Mười Hai, nhà thương thuyết Trung Quốc biểu lộ “sự kháng nghị mạnh mé” của CHNDTQ về điểm này. Các viên chức Hoa Kỳ tin tưởng rằng sự phản kháng này chỉ liên quan đến vấn đề bán vũ khí và rằng phía Trung Quốc sẽ không tìm cách để ngăn cản sự bình thường hóa các quan hệ. (65) Sự tin tưởng này sớm tạo ra sự nhầm lẫn tại Hoa Thịnh Đốn cũng như tại Bắc Kinh.

Trong Tháng Mười Một, các nhà làm chính sách Hoa Kỳ đã cố gắng để xác định cách thức nhằm kết thúc các điều khoản chung cuộc của thỏa ước về sự thiết lập các quan hệ ngoại giao. Các viên chức Trung Quốc cao cấp, về phần họ, có ý định loại trừ các lực lượng cực tả tại Hội Nghị Công Tác Trung Ương, và chính họ Đặng đang nghiền ngẫm các sự chỉ đạo chính sách sẽ thúc đẩy cho sự cải cách kinh tế và một sự mở cửa ra thế giới”. (66)

Hồi đầu Tháng Mười Hai, nhà lãnh đạo Trung Quốc cũng ký một mệnh lệnh để động viên các lực lượng của QĐGPNDTQ cho một cuộc tấn công Việt Nam. (67) Với bối cảnh của các biến cố này, họ Đặng tự mình đảm nhận các cuộc thương thảo, đã tổ chức bốn cuộc đàm phán với Leonard Woodcock, giám đốc văn phòng liên lạc Hoa Kỳ tại Bắc Kinh, từ 13 đến 15 Tháng Mười Hai 1978.

Theo các báo cáo về các cuộc thảo luận của Woodcock, họ Đặng đã không đưa ra dấu hiệu rằng ông ta sẽ chấp nhận các vụ bán vũ khí Hoa Kỳ cho Đài Loan. Khi ông Woodcock tuyên bố rằng Hoa Kỳ sẽ ‘kiềm chế việc bán vũ khí cho Đài Loan” sau khi Hiệp Ước Phòng Thủ Hoa Kỳ-Đài Loan trở thành vô hiệu lực trong năm 1979, họ Đặng giả định một cách sai lầm rằng điều đó có nghĩa Hoa Kỳ sẽ không bao giờ lại bán các vũ khí cho Đài Loan nữa. (68)

Vào lúc sắp sửa công bố thỏa ước bình thường hóa, họ Đặng khám phá rằng Hoa Kỳ có ý định tiếp tục bán các vũ khí cho Đài Loan sau khi các quan hệ được thiết lập với Trung Quốc. Nhà lãnh đạo Trung Quốc đã phản đối mạnh mẽ nhưng đồng ý chấp nhận các khuyến cáo của nhà thương thuyết Hoa Kỳ rằng cả hai bên có thể “tiếp tục thảo luận vấn đề này sau này, không để ảnh hưởng đến sự công bố bản thông cáo chung (communiqué)”. (69) Các học giả Trung Quốc tranh luận rằng quyết định của họ Đặng để không “lý sự” về vấn đề bán vũ khí thì phù hợp với các mục tiêu đối nội và chiến lược của ông. (70)

Các sự chuẩn bị của QĐGPNDTQ cho một cuộc xâm lăng Việt Nam được thiết kế một phần để phát huy chiến lược “dàn hàng ngang” của họ Đặng nhằm chống lại chủ nghĩa bành trướng của Sô Viết. Li Shenzhi, cố vấn chính sách ngoại giao của họ Đặng, đã giải thích sau này rằng nhà lãnh đạo Trung Quốc nhìn cuộc tấn công vào một đồng minh của Sô Viết như là “một chuyển động sinh tử” để chứng tỏ các quyền lợi quốc gia của Trung Quốc thì phù hợp với các quyền lợi quốc gia của Hoa Kỳ. (71)

Từ quan điểm của Bắc Kinh, sự thiết lập các quan hệ ngoại giao vào ngày 1 Tháng Một 1979 với Hoa Thịnh Đốn đã làm thay đổi cán cân quyền lực toàn cầu có lợi cho Trung Quốc. (72)

ĐẶNG TIỂU BÌNH ĐƯA RA MỘT QUYẾT ĐỊNH

Một số học giả tuyên bố rằng ít nhà lãnh đạo Trung Quốc chống đối quyết định tấn công Việt Nam, nhưng họ bất đồng về các nhà lãnh đạo nào và về hình thức nào mà sự chống đối đã khoác lấy. (73) Các văn khố Trung Quốc về vấn đề này không tiếp cận được, và các ấn phẩm Trung Quốc hiện có đưa ra ít manh mối.

Trong năm 1978, ngoài họ Hoa, Đặng, Chen, và Wang, các nhà lãnh đạo Trung Quốc thần thế khác bao gồm Thống Chế Diệp Kiếm Anh (Ye Jianying) và Lý Tiên Niệm (Li Xiannian) cũng như các Thống Chế Xu Xiangqian và Nie Rongzhen, những người đã là phó chủ tich của QUTƯ. Không may, các tài liệu và tiểu sử công bố về cuộc đời của họ không đề cập đến các vai trò mà họ Diệp, họ Lý, và họ Nie đã đóng giữ trong cuộc chiến tranh của Trung Hoa đánh Việt Nam, mặc dù tất cả họ đều từng có một binh nghiệp lâu dài với QĐGPNDTQ. (74)

Trong các cuộc phỏng vấn với các ký giả ngoại quốc, họ Lý là một kẻ ủng hộ chiến tranh to miệng. (75) Nhưng một số các nhà cách mạng kỳ cựu khác không thoải mái với sự thay đổi quyết liệt trong chính sách ngoại giao của Trung Quốc. Các tác giả của quyển tiểu sử Thống Chế họ Xu cho thấy rằng viên bộ trưởng quốc phòng chống đối sự xếp hàng trong chiến lược dàn hàng ngang cùng với Hoa Kỳ. (76)

Thống Chế họ Diệp, về phần mình, được nói đã phản đối quyết định của họ Đặng về việc sử dụng lực lượng quân sự đánh CHXHCNVN. (77) Do đó, họ Diệp đã du hành đến Thượng Hải và đã không tham dự phiên họp mở rộng của Bộ Chính Trị ĐCSTQ Tối Hôm Cuối Năm, khi đề nghị chiến tranh của họ Đặng được sắp xếp để đưa ra thảo luận. (78)

Phiên Họp Khoáng Đại Thứ Ba của ĐCSTQ đã đặt họ Đặng như nhân vật thứ ba trong số các nhà lãnh đạo Trung Quốc, đứng sau họ Hoa, nhà lãnh đạo trên danh nghĩa của đảng, và họ Diệp, đã già lão và chuyển giao các trách nhiệm quân sự của ông cho họ Đặng. Sau khi họ Mao, Chu Ân Lai, và Chu Đức (Zhu De) đều chết đi, họ Đặng, giống như các Thống Chế Bành Đức Hoài (Peng Dehuai) và Lâm Bưu (Lin Biao) trước đây, được nhìn bởi các sĩ quan QĐGPNDTQ như vị tổng tư lệnh. 79

Ngay họ Diệp có lần đã nhìn nhận rằng họ Đặng đã không chỉ là một lão soái (lao shuai) (thông chế già) mà còn là “kẻ đứng hàng đầu của các lão soái: foreman of old marshals”. 80 Thâm niên và tư thế uy tín của họ Đặng trong ĐCSTQ và quân đội có nghĩa rằng các quyết định của ông như kiến trúc sư trưởng cho cuộc xâm lăng vào Việt Nam nhiều phần không bị thách đố. Họ Diệp chia sẻ các quan điểm chiến lược của họ Đặng và cất tiếng ủng hộ của Trung Quốc cho Căm Bốt với cùng ngôn từ được sử dụng bởi chính phủ Trung Quốc. (81)

Sự chống đối của họ Xu về chiến lược nhất tuyến không nhận được sự ủng hộ, và ông ta sau rốt đã tán đồng quyết định chiến tranh và tham dự vào việc hoạch định chiến tranh. Hơn nữa, sự kiểm soát của họ Đặng trên Bộ Tổng Tham Mưu QĐGPNDTQ cung cấp cho ông một phương tiện thuận tiện cho việc hoạch định quân sự, mà ông đã thúc đẩy xuyên qua QUTƯ một tháng trước khi giới lãnh đạo trung ương ĐCSTQ đưa ra một quyết định chính thức. (82)

Bất kể quyền lực và uy tín của mình trong đảng, họ Đặng vẫn cần phải thuyết phục các đồng sự về lý do tại sao Trung Quốc phải sử dụng vũ lực chống lại Việt Nam. Ông đã đưa ra ba lý do:

Trước nhất, cuộc đấu tranh phản bá quyền quốc tế hiện thời chống lại Liên Bang Sô Viết đang bị suy yếu bởi Hoa Kỳ, Nhật Bản và Âu Châu đều sợ không dám phát động một cuộc chiến tranh. Dõi nhìn cuộc xâm lăng của Việt Nam vào Căm Bốt và các sự khiêu khích dọc theo biên giới Trung Quốc, chính CHNDTQ phải lãnh vai trò lãnh đạo trong cuộc đấu tranh. “Cuộc hoàn kích tự vệ: self-defense counterattack”, họ Đặng lập luận, được nhắm không chỉ vào một cuộc tranh chấp biên giới mà vào tình trạng rộng lớn hơn tại Đông Nam Á và ngay cả trên toàn thể thế giới.

Thứ nhì, họ Đặng nhấn mạnh rằng Trung Quốc cần một môi trường an toàn, đáng tin cậy cho chương trình bốn hiện đại hóa của nó. CHNDTQ không thể tự để mình bị đe dọa bởi Liên Bang Sô Viết ở phía bắc và Việt Nam ở phía nam, sẽ “ép chúng ta ở giữa”. Trung Quốc, ông tin tưởng, cần phải lột trần sự rỗng tuếch trong lời khoa trương của Việt Nam là “quyền lực quân sự mạnh thứ ba trên thế giới” và “luôn luôn chiến thắng”. Nếu Trung Quốc không chịu hành động, họ Đặng tuyên bố, nó sẽ chỉ tiếp sức cho sự xâm lược của Việt Nam và có thể khuyến khích Liên Bang Xô Viết tiến vào tự phương bắc. Cuộc hoàn kích của Trung Quốc chính vì thế cũng sẽ gửi một lời cảnh cáo đến Liên Bang Xô Viết.

Thứ ba, họ Đặng lập luận rằng bởi QĐGPNDTQ đã không tham dự một cuộc chiến tranh nào trong ba mươi năm, các nhà lãnh đạo Trung Quốc không thể “đoan chắc rằng quân đội của chúng ta vẫn còn đủ giỏi giang”. Ông đồng ý với quyết định gần đây của QUTƯ để gia tăng sự huấn luyện nhưng tin tưởng rằng sự chiến đấu thực sự sẽ còn có lợi nhiều hơn nữa. Họ Đặng lo sợ về tiếng tăm của QĐGPN DTQ, bị thương tổn nhiều trong các năm gần đây do hậu quả của Cuộc Cách Mạng Văn Hóa. Ông tin rằng một cuộc chiến tranh thành công đánh Việt Nam sẽ giúp tái lập tiếng tăm của QĐGPNDTQ và cung cấp nhiều sĩ quan với kinh nghiệm chiến tranh hơn. (83)

Tại một phiên họp mở rộng của Bộ Chính Trị ĐCSTQ hôm 31 Tháng Mười Hai 1978, họ Đặng chính thức đề nghị một cuộc chiến tranh trừng phạt đánh Việt Nam. (84) Rõ ràng bị ảnh hưởng bởi cuộc xâm lăng của Việt Nam vào Căm Bốt, các tham dự viên khác đã không chỉ chấp nhận đề nghị của họ Đặng về các cuộc tấn công vào Lạng Sơn, Cao Bằng, và Lào Cai, mà còn đưa ra nhiều sự thay đổi cho kế hoạch chiến tranh nguyên thủy bằng việc bao gồm một sự bố trí hai quân đoàn bổ túc để tấn công Điện Biên Phủ từ Mengla, Vân Nam, xuyên qua Lào hầu đặt ra một sự đe dọa trực tiếp hơn vào Hà Nội.

Bộ Chính Trị cũng đã quyết định kéo dài các cuộc hành quân từ mười lăm ngày thành hai mươi ngày nhằm tiêu diệt từ ba đến năm sư đoàn Việt Nam. (85) Tổng hợp mọi dấu hiệu chỉ dẫn, các tham dự viên, kể cả Hoa Quốc Phong, đã nhất trí ủng họ đề nghị của họ Đặng. (86)

Tại phiên họp, họ Đặng đã chỉ định Xu Shiyou chỉ huy các cuộc hành quân từ Quảng Tây ở phía đông và và Yang Dezhi (tư lệnh Quân Khu Vũ Hán) chỉ huy các cuộc hành quân từ Vân Nam bên cánh tây, gạt qua một bên Wang Bicheng, tư lệnh Quân Khu Côn Minh. (87)Lý do của sự thay đổi cấp chỉ huy tại Vân Nam thì không được tiết lộ. (88)

Sau khi trở lại quyền hành, họ Đặng ngày càng trở nên lo âu về phẩm chất chính trị của QĐGPNDTQ, đặc biệt về lòng trung thành của các sĩ quan quân đội cao cấp. Các cuộc thanh trừng chính trị kể từ cuối thập niên 1950 và mười năm của Cuộc Cách Mạng Văn Hóa (1966-1976) đã gieo rắc sự phân hóa trong hàng ngũ các vị tướng lĩnh già và đã khiến nhiều người nuôi dường sự bất mãn đối với các kẻ khác. Từ 20 Tháng Mười Hai 1978 đến 3 Tháng Một 1979 một phiên họp mở rộng của QUTƯ được tham dự bởi các sĩ quan cao cấp từ ba tổng hành dinh và từ mọi binh chủng và các quân khu bị phân hóa vào sự chua chát, khi các tham dự viên đã trao đổi các sự tố cáo gay gắt. Thống Chế họ Xu đã không giữ được phiên họp trong trật tự, và họ Đặng đã kết thúc phiên họp mà không đạt được bất kỳ sự đồng thuận nào. (89) Một tham dự viên – Zhang Sheng, một sĩ quan của Bộ Tổng Tham Mưu và là con của Tướng Zhang Aiping, một lãnh đạo quân đội cao cấp của QĐGPNDTQ – sau này lập luận rằng nếu không phải vì có cuộc chiến tranh với Việt Nam vài tuần lễ sau đó, sự rối loạn giữa các sĩ quan quân đội cao cấp có thể còn kéo dài.

QĐGPNDTQ trong năm 1979 rõ ràng không phải là lực lượng quân sự có năng lực đã từng chiến đấu trong Chiến Tranh Triều Tiên và trong các cuộc đụng độ biên giới với Ấn Độ và Liên Bang Sô Viết. Họ Zhang tuyên bố rằng họ Đặng có lẽ đã dùng cuộc chiến tranh đánh Việt Nam để tái khẳng định sự kiểm soát trên quân đội. (90)

Một loạt các sự thay đổi trong giới lãnh đạo QĐGPNDTQ hồi đầu thập niên 1980 thoat nhìn có thể làm liên tưởng rằng cuộc chiến tranh 1979 với Việt Nam đã gợi hứng cho sự tái tổ chức này, nhưng trong thực tế sự thu xếp gọn ghẽ QĐGPNDTQ và hệ thống chỉ huy của nó đã được cứu xét kỹ lưỡng trước khi có chiến tranh. Kết quả gây sững sờ của QĐGPNDTQ trong cuộc chiến chỉ xác nhận nhu cầu cho các sự thay đổi toàn bộ. 91 Sự tái tổ chức sau này không liên hệ đến sự thay đổi cấp chỉ huy vào lúc sắp sửa có chiến tranh, khi họ Đặng gửi hai phó tổng tham mưu đến Côn Minh để giám sát sự di chuyển và chuẩn bị chiến tranh. 92 Tại Bắc Kinh, nhà lãnh đạo Trung Quốc đã chỉ định hai phụ tá, Yang Yung và Wang Shangrong, để phối hợp các hoạt động quân sự của hai quân khu, sẽ thi hành các sứ mệnh của họ một cách độc lập. 93

Ngay dù họ Đặng ngày càng được nhìn như vị lãnh đạo tối cao giống như họ Mao, ông vẫn phải tham khảo với các đồng sự cao cấp đáng tin cậy trước khi đưa ra một quyết định. Họ mang nặng trong đầu nhiều bất trắc then chốt – rằng Liên Bang Sô Viết sẽ phóng ra một cuộc tấn công trả đũa vào Trung Quốc; rằng Hoa Kỳ sẽ tìm cách trục lợi từ tình hình; rằng công luận thế giới sẽ kết án CHNDTQ; và rằng cuộc chiến tranh với Việt Nam sẽ cản trở nỗ lực mới của Trung Quốc nhằm canh tân hóa kinh tế. 94 Họ Đặng đã mời một trong những đồng sự thân cận nhất của ông, Trần Vân (Chen Yun) cân nhắc các lợi điểm và bất lợi của một cuộc chiến tranh với Việt Nam. Sau khi nghiền ngẫm vấn đề, họ Trần đã không chỉ đưa ra sự hậu thuẫn trọn ven của ông mà còn gióng lên một âm điệu vững tin. 95 Ông hiển nhiên đã góp phần thuyết phục họ Đặng rằng một hành động quân sự ngắn gọn hạn chế, tự vệ chống lại Việt Nam sẽ không khiêu khích sự can thiệp của Mạc Tư Khoa và sẽ có ít tác động trên sự cải cách kinh tế trong nước.

Để ngăn chặn tình hình vượt khỏi sự kiểm soát, Bộ Chính Trị ĐCSTQ kế đó đã quyết định bất kể kết quả sẽ đạt được ra sao trên chiến trường, sau khi đã chiếm đoạt được hai tỉnh lỵ Việt Nam dọc biên giới – Lạng Sơn và Cao Bằng – các lực lượng QĐGPNDTQ sẽ ngừng cuộc tiến công của chúng, giải giới khỏi sự giao tranh, và rút lui. 96 Triển vọng một cuộc chiến tranh ngắn được thiết kế để xoa dịu các sự lo ngại và triệt hạ sự chống đối trong nước. Tuy thế, các nhà lãnh đạo Trung Quốc không thể hạ thấp sự cảnh giác của họ, và họ đã cho các binh sĩ thuộc các quân khu phía bắc và tây bắc gia tăng sự ứng chiến đối với các cuộc tấn kích khả hữu của Sô Viết. Họ cũng nhấn mạnh rằng nếu các lực lượng Sô Viết xâm lăng, binh sĩ Trung Quốc phải “kiên cường giữ vững phòng tuyên trong khi không được tạo ra ấn tượng của sự yếu kém”. 97

Phiên họp Đêm Cuối Năm đã trì hoàn việc ấn định thời biểu của hoạt động quân sự. Một số nhà phân tích Tây Phương lập luận rằng CHNDTQ vẫn còn bị kiềm chế bởi các sự quan ngại về phản ứng quốc tế và rằng các chuyến du hành đã được xếp lịch của họ Đặng tới Hoa Kỳ và Nhật Bản được chủ định là để “trắc nghiệm triều sóng”. 98 Trong thực tế, các nhà lãnh đạo Trung Quốc lo ngại chính yếu về việc liệu các lực lượng của họ có đủ thời giờ để thực hiện các sự chuẩn bị thích đáng cho cuộc xâm lăng hay không. Các mệnh lệnh khởi đầu cho Quảng Châu và Côn Minh rằng “mọi đơn vị phải đến được các vị trí đã chỉ định của chúng vào ngày 10 Tháng Một 1979 và tức thời hoàn tất các sự chuẩn bị chiến đấu”. 99 Tuy nhiên, các binh sĩ Trung Quốc đã không tham dự vào bất kỳ cuộc chiến nào từ 1969, và nhiều người trong họ không thể hiểu được việc tiến tới chiến tranh chống lại một đồng minh truyền thông và một quốc lân cận nhỏ bé. 100 Không lâu sau phiên họp Đêm Cuối Năm, họ Đặng đã phái Yang Yong, phó tổng tham muu, Wei Guoping, chủ nhiệm Tổng Cục Chính Trị, và Zhang Zhen, chủ nhiệm Tổng Cục Tiếp Vận (Hậu Cần), đi thanh tra sự ứng chiến của các binh sĩ tại Vân Nam và Quảng Tây.

Kinh hoảng vì sự thiếu các sự chuẩn bị, họ Zhang tức thời khuyến cáo việc trì hoãn chiến tranh trong một tháng. Ông sau này nhớ lại rằng QUTƯ đã đồng ý triển hạn hành động quân sự cho đến giữa Tháng Hai 1979. 101 Vào ngày 22 Tháng Một họ Đặng gặp gỡ tại nhà với các nhà lãnh đạo chính của QUTƯ: Xu Xiangqian, Nie Rongzhen, và Geng Biao. Yang đã báo cáo về chuyến du hành gần đó của ông ta đến mặt trận và đưa ra các đề nghị cho cuộc chiến tranh. 102 Hầu như chắc chắn rằng tại buổi họp này các nhà lãnh đạo Trung Hoa đã không chỉ tái xác định quyết định chiến tranh, mà còn quyết định đình chỉ kế hoạch tấn công Việt Nam từ Vân Nam xuyên qua Lào. Các lực lượng Việt Nam đã sẵn chiếm cứ bộ phận quan trọng của Căm Bốt vào khoảng giữa Tháng Một, các nhà lãnh đạo ĐCSTQ không tin tưởng rằng một cuộc tấn công của QĐGPNDTQ từ phương bắc lại sẽ ảnh hưởng đáng kể đến các cuộc hành quân của Hà Nội tại phương nam. Hai ngày sau đó, Bộ Tổng Tham Mưu triệu tập tham mưu trưởng của Quân Khu Quảng Châu lên Bắc Kinh để thẩm duyệt chung cuộc kế hoạch chiến tranh, chuyển chỉ thị của họ Đặng rằng các binh sĩ phải sẵn sàng vào ngày 15 Tháng Hai 1979 để tiến hành sứ mệnh của họ nhằm loại trừ các lực lượng đối phương tại Lạng Sơn và Cao Bằng. Để trợ giúp cho hoạt động, hai quân đoàn bổ túc được tháo gỡ từ kế hoạch xâm lăng bị từ bỏ ở miền tây bắc được di chuyển đên tăng viện cho các cuộc tấn công từ Quảng Tây. Các tham dự viên trong phiên họp đã đặt tên cho hoạt động sắp diễn ra là một cuộc “hoàn kích tự vệ chống lại Việt Nam”. 103

TÌM KIẾM SỰ ỦNG HỘ CỦA HOA THỊNH ĐỐN

Vào ngày 28 Tháng Một 1979, khi các binh sĩ Trung Quốc đã chuẩn bị cho chiến tranh đánh Việt Nam, Đặng Tiểu Bình bước lên một phi cơ Boeing 707 sang Hoa Thịnh Đốn trong cuộc thăm viếng lịch sử của ông tại Hoa Kỳ. Ông đã ngồi lầm lì trong buồng riêng của ông, rõ ràng đắm mình trong suy tưởng và nhận biết được tầm hệ trọng của chuyến đi. 104 Cuộc thăm viếng của ông sẽ hoàn tất một hành trình khởi xướng bởi họ Mao gần một thập niên trước đây nhằm trui rèn một mối quan hệ chiến lược với Hoa Kỳ. Họ Đặng rõ ràng không chắc chắn là người Mỹ sẽ phản ứng trước cuộc chiến tranh đã hoạch định với Việt Nam ra sao. Các nhà lãnh đạo Trung Quốc rõ ràng đã giả định rằng Trung Quốc và Hoa Kỳ có cùng các mục tiêu chiến lược và sẽ tạo thành một mặt trận thống nhất chống lại bá quyền Sô Viết. Một trong những mục địch quan trọng (nếu không nói ra) của chuyến du hành của họ Đặng là để liên kết Hoa Kỳ với Trung Quốc trong việc đối phó với liên minh Sô Viết – Việt Nam tại Đông Á. 105 Lá bài chủ của họ Đặng là kế hoạch quân sự của Trung Quốc chống lại Việt Nam, kế hoạch mà ông ta mong muốn giành đoạt được sự ủng hộ của Hoa Kỳ. Theo Geng Biao, họ Đặng đã đề nghị rằng Hoa Kỳ hãy phái các tàu hải quân của nó đến Biển Nam Hải để ngăn chặn các hoạt động hải quân của Sô Viết trong khi trợ giúp Trung Quốc tin tức tình báo về các chiếc tàu của Việt Nam. Các nhà lãnh đạo Trung Quốc dường như tin rằng việc trao cho Hải Quân Hoa Kỳ sự tiếp cận với căn cứ hải quân ở Yalin trên đảo Hải Nam “sẽ dẫn dắt đến sự ổn cố của Đông Nam Á”. 106

Lịch trình của họ Đặng tại Hoa Thịnh Đốn bao gồm ba phiên họp chính thức với Tổng Thống Carter. Trong hai phiên họp đầu tiên, họ Đặng và Carter đã trao đổi quan điểm về các vấn đề thế giới, và tại phiên họp thứ ba họ hoạch định việc thảo luận về sự phát triển các quan hệ song phương. 107 Vào buổi chiều ngày 28 Tháng Một 1979, vài giờ sau khi đến Hoa Thịnh Đốn, họ Đặng yêu cầu một phiên họp đặc biệt với Carter để thảo luận về vấn đề Việt Nam, điều làm ngạc nghiên đối với các vị chủ nhà Mỹ đón tiếp ông. 108 Phiên họp, được tổ chức tại Phòng Bầu Dục vào cuối buổi chiều ngày 29 Tháng Một ngay sau khi chấm dứt buổi họp chính thức thứ nhì, với sự tham dự của họ Đặng, Bộ Trưởng Ngoại Giao Hoàng Hoa (Huang Hua), và Thứ Trưởng Ngoại Giao Zhang Wenjin bên phía Trung Quốc, và Tổng Thống Carter, Phó Tổng Thống Walter Mondale, Bộ Trưởng Ngoại Giao Cyrus Vance, và Brzezinski bên phía Hoa Kỳ. (109)

Brzezinski trong hồi ký của mình kể lại rằng nhà lãnh đạo Trung Quốc đã nói “trong cung cách trầm tĩnh, cương quyết, và chắc chắn” về quyết định của Trung Quốc tiến đánh Việt Nam. Họ Đặng thông báo với phía Mỹ rằng để đối đầu với sự bành trướng của Sô Viết, Trung Quốc “xem là điều cần thiết để đưa ra các sự kiềm chế các tham vọng hoang đàng của Việt Nam và dạy cho họ một bài học hạn chế thích đáng”. Không tiết lộ các chi tiết cụ thể về kế hoạch của Trung quốc, họ Đặng phác họa các sự đáp ứng khả hữu của Sô Viết và các phương cách để đối phó với chúng. Ông ta nói rằng nếu “khả tính xấu nhất” xảy ra, Trung Quốc “sẽ kiên định cầm cự” và sẽ chỉ yêu cầu “sự ủng hộ tinh thần” của Hoa Kỳ trên diễn trường quốc tế. Carter đã không đưa ra một sự đáp ứng tức thời và thay vào đó chỉ nhắc nhở vị khách Trung Quốc hãy dè dặt trong việc đối phó với một tình hình khó khăn như thế. 110

Ngày kế tiếp, họ Đặng đã nhận được một thư viết tay từ Carter, người đã tìm cách can ngăn một cuộc tấn công của Trung Quốc vào Việt Nam. Tổng Thống Carter lập luận rằng một cuộc chiến tranh trừng phạt hạn chế sẽ không có hiệu quả trên sự chiếm đóng của Việt Nam tại Căm Bốt, và ông cảnh cáo rằng nó có thể lôi kéo Trung Quốc vào một vũng lầy. Carter cũng tiên đoán rằng một cuộc xâm lăng vào Việt Nam sẽ làm hỏng nỗ lực của Trung Quốc muốn vun xới một hình ảnh yêu chuộng hòa bình trên thế giới và có thể khiến người Mỹ lo âu rằng hành động quân sự của Trung Quốc trong tương lai sẽ làm phương hại đến các quyền lợi của Hoa Kỳ trong vùng. 111 Vào ngày 30 Tháng Một 1979, trong một phiên họp riêng khác với Carter, họ Đặng tỏ vẻ cương quyết và cứng rắn, nhấn mạnh rằng Trung Quốc phải trừng trị Việt Nam và rằng QĐGPNDTQ sẽ giới hạn hoạt động của nó vào một cuộc động binh ngắn ngủi. Ông thừa nhận rằng phản ứng quốc tế có thể bị phân hóa vào lúc đó, nhưng ông tin tưởng rằng công luận sẽ tán thành Trung Quốc trong trường kỳ. 112 Phản ứng quốc tế dội ngược tiềm ẩn sẽ không làm nhụt chí nhà lãnh đạo Trung Quốc bởi ông ta sẽ không lùi bước trước bất kỳ điều gì một khi đã quyết định trong đầu. 113 Bất kể các ý kiến không hỗ trợ của Carter, họ Đặng đã không tin rằng Hoa Kỳ sẽ tán thành một sự kết án Trung Quốc về hành động quân sự của nó. 114

Trước khi rời Hoa Thịnh Đốn để làm một chuyến đi thăm các nới khác của Hoa Kỳ, họ Đặng ngạc nhiên khi hay biết rằng Hoa Kỳ quan tâm đến một căn cứ kiểm thính hỗn hợp Hoa Kỳ – Trung Quốc tại khu vực Tân Cường của Trung Quốc nhằm chống lại Liên Bang Sô Viết. Cuộc cách mạng Hồi giáo đang tiến bước tại Iran đã phủ trùm sự nghi ngờ trong tương lại về các căn cứ của Hoa Kỳ ở đó. Theo Brzezinski, sự thiết lập đề nghị tại Trung Quốc có chủ định nhằm trợ giúp Hoa Kỳ chứng thực sự tuân hành của Sô Viết đối với Hiệp Ước Giới Hạn Các Vũ khí Chiến Lược. Không giống như họ Mao, kẻ đã bác bỏ trong thập niên 1950 đề nghị của Sô Viết về một trung tâm chuyển tiếp phát thanh làn sóng dài hỗn hợp và một trạm tiếp nhận làn sóng dài tại Trung Quốc, họ Đặng bày tỏ sự quan tâm lớn lao và đồng ý cứu xét đề nghị. 115 Rõ ràng là trong cuộc thảo luận riêng sau cùng này giữa Carter, Brzezinski và họ Đặng, hai bên đã đạt được một sự hiểu ngầm rằng Hoa Kỳ sẽ trợ giúp Trung Quốc với việc theo dõi tin tình báo về các lực lượng của Sô Viết tại Viễn Đông. 116 Họ Đặng có nói với Ủy Ban Trung Ương ĐCSTQ hồi Tháng Ba 1979 rằng Hoa Kỳ “đã nói với giọng điệu chính thức” (daguanqiang) một cách công khai chống lại hành động quân sự của Trung Quốc nhưng “trong riêng tư đã nói [với ông] một cách khác” và “thông báo cho chúng ta một số tin tức tình báo” cho thấy rằng không có đơn vị nào trong 54 sư đoàn của Sô Viết tại biên giới Trung Quốc – Sô Viết là có đủ cấp số. 117 Trong chuyến hồi hương, họ Đặng tỏ ra thư giãn. 118 Ông ta cảm nhận rằng một mối quan hệ chiến lược mới giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ đang được phát triển trên căn bản các sự quan tâm chung của hai nước trong việc đối phó với chính sách bành trướng của Sô Viết. Về vấn đề Việt Nam, phía Hoa Kỳ không bác bỏ hay chỉ trích trực tiếp các kế hoạch của trung Quốc và thay vào đó kêu gọi sự hợp tác tình báo tương lai.

KẾT LUẬN: LƯỢNG ĐỊNH QUYẾT ĐỊNH CỦA TRUNG QUỐC ĐI ĐẾN CHIÊN TRANH

Vào ngày 11 Tháng Hai 1979, hai ngày sau khi họ Đặng quay về Bắc Kinh, Bộ Chính Trị ĐCSTQ gặp gỡ trong một phiên họp mở rộng. Họ Đặng đã giải thích bản chất và các mục đích của cuộc tấn công Việt Nam. Sau đấy, các chỉ huy quân sự địa phương tại Quảng Tây và Vân Nam đã nhận được lệnh phóng ra các cuộc tấn công vào Việt Nam. 119 Vào ngày 14 Tháng Hai, Ủy Ban Trung Ương ĐCSTQ đã gửi một thông tư đến các tổ chức đảng thuộc các tỉnh, quân khu, các tổng cục QĐGPNDTQ, và các bộ trong chính phủ giải thích quyết định của nó để phóng ra cuộc hoàn kích tự vệ. Mục đích của thông tư này là để cho các tổ chức đảng hay biết về chiến tranh sắp xảy ra và yêu cầu chúng thông báo cho các đảng viên ở cấp tỉnh và trung đoàn quân đội. Để đối phó với bất kỳ sự chống đối hay quan ngại, thông tư nhấn mạnh rằng cuộc chiến tranh sẽ được giới hạn về không gian, thời gian, và quy mô. Trích dẫn cuộc xung đột biên giới Trung Quốc – Ấn Độ năm 1962 và các cuộc đụng độ biên giới Trung Quốc – Sô Viết năm 1969, văn thư nhấn mạnh rằng Trung Quốc sẽ không lấy một tấc đất nào của lãnh thổ Việt Nam và sẽ không cho phép CHXHCNVN chiếm cứ một tấc đất nào của Trung Quốc. Văn kiện đã kết luận bằng việc ghi nhận rằng hoạt động quân sự sẽ hỗ trợ hòa bình và ổn định dọc biên giới và sẽ tạo thuận lợi cho chương trình “bốn hiện đại hóa” của Trung Quốc. 120

Ngày 17 Tháng Hai đã là ngày mà các quan sát viên phe thứ ba tiên đóan từ lâu. Họ đã ngờ vực rằng việc ấn định thời biểu của một cuộc tấn kích có liên hệ chặt chẽ với các yếu tố thời tiết. CHNDTQ sẽ không muốn thực hiện các cuộc động binh quân sự trong mùa mưa, thường bắt đầu trong Tháng Tư, hay tấn công quá sớm khi các lực lượng vũ trang Sô Viết vẫn có thể băng ngang các giòng sông đóng băng dọc theo biên giới Trung Quốc – Sô Viết. 121 Họ Đặng và các nhà lãnh đạo Trung Quốc khác đã cân nhắc mọi giải pháp cũng như các hậu quả khả hữu một khi các binh sĩ của họ vượt quá biên giới Việt Nam, kể cả một sự chạm trán khả dĩ với Liên Bang Sô Viết. Họ tin tưởng rằng phạm vi và thời khoảng giới hạn của cuộc chiến, mà họ trình bày như một trận “hoàn kích tự vệ”, sẽ chặn đầu các phản ứng tiêu cực trong nước và hải ngoại. Tuy nhiên, không một ai xem ra đã dự liêu rằng cuộc chiến tranh 1979 sẽ châm ngòi cho các sự đối đầu quân sự liên tục tại biên giới CHNDTQ – CHXHCNVN trong gần một thập niên.

Theo các học giả Trung Quốc, quyết định của CHNDTQ để phóng ra một cuộc chiến tranh chống Vi8ệt Nam bị ảnh hưởng bởi sự phản ứng thái quá của các nhà lãnh đạo Trung Quốc trước sự đe dọa quân sự của Sô Viết, khiến cho họ theo đuổi sự hợp tác chiến lược với Hoa Kỳ chống lại Liên Bang Sô Viết. Bởi chính sách này nhấn mạnh sự đối đầu, khuynh hướng của Bắc Kinh đối với cấp vùng trở nên cứng rắn và hiếu chiên. Các nhà làm chính sach Trung Quốc tin tưởng rằng một cuộc tấn công trừng phạt Việt Nam sẽ quất một đòn vào chiến lược bành trướng toàn cầu của Liên Bang Sô Viết. 122 Tuy thế, các cuộc nghiên cứu này không giải thích một cách thỏa đáng lý do tại sao các nhà lãnh đạo Trng Quốc lại có xu hương phóng đại sự đe dọa của Sô Viết hay tại sao họ Đặng lai hăng hái thông báo với chính quyền Carter về quyết định tấn công Việt Nam, điều gì đó sẽ chỉ xảy ra giữa hai nước liên minh chặt chẽ. 123 Mặc dù yếu tố Sô Viết có ảnh hưởng đến sự cấu tạo quyết định của Trung Quốc, các yếu tố khác, kể cả chính trị nội địa, cũng đóng một vai trò.

Chính sách của CHNDTQ đối với Việt Nam bị hướng dẫn bởi các sự cứu xét đa diện, từ truyền thống lịch sử cho đến ý thức hệ cách mạng và an ninh quốc gia. Cảm nhận của các nhà lãnh đạo Trung Quốc về sự ưu việt đã chế ngự các nhận thức của họ về mối quan hệ của Trung Quốc với Việt Nam. 124 Mặc dù các viên chức ở Bắc Kinh đã tuyên bố nhiều lần rằng Việt Nam phải được đối xử như kẻ “ngang hàng”, tác giả Chen Jian nhận xét rằng mỹ từ như thế phản ảnh lòng tin mạnh mẽ của họ rằng “họ đã chiếm giữ một vị thế từ đó ban truyền các giá trị và bộ luật ứng xử sẽ không chế các quan hệ của họ với các lân bang”. 125 CHNDTQ tuyên bố rằng nó đã không hề áp đặt các điều kiện chính trị và kinh tế trên viện trợ quân sự cho Hà Nội trong hai thập niên trước đó, nhưng nó đã đòi hỏi Hà Nội nhìn nhận vai trò hàng đầu của Trung Quốc trong việc ủng hộ các phong trào giải phóng dân tộc. 126 “Thái độ xấu xa” của Việt Nam đối với Trung Quốc, đặc biệt sự liên minh của nó với Liên Bang Sô Viết, đã diễn ra như một sự sỉ nhục người Trung Quốc, các kẻ muốn trừng phạt đồng minh xưa kia nay phản bội họ. Cảm xúc này đã đóng một vai trò đáng kể trong việc phát sinh một sự đồng thuận rộng rãi giữa các nhà lãnh đạo quân sự và chính trị Trung Quốc để ủng hộ họ Đặng, nhân vật then chốt thúc đẩy hành động quân sự chống lại Việt Nam. Về các vấn đề chủ quyền lãnh thổ, vốn thường khuấy đông các xúc cảm trong người Trung Hoa, quan điểm quân sự xem ra sẽ là yếu tố xác định trong các quyết định để khởi phát các sự thù nghịch thực tế. Phiên họp Tháng Chín 1978 của Bộ Tổng Tham Mưu, trong đó đưa đến các khuyến cáo về phương cách sửa chữa mối quan hệ đang suy đồi với Việt Nam, đã là điểm xuất phát của một cuộc động bình quan trọng. Họ Đặng đã dùng các khuyến cáo này vừa cho các mục tiêu chiến lược lẫn đối nội.

Thành tố lịch sử – văn hóa, cùng với cảm thức dân tộc, đã xui khiến các nhà lãnh đạo Trung Quốc phóng ra một cuộc chiến tranh nhằm “dạy cho Việt Nam một bài học”. Tuy nhiên, chương trình kinh tế mới của Bắc Kinh và mối đe dọa hiện hữu của Sô Viết, cộng với mùa mưa ở Việt Nam, khiến cho Bộ Chính Trị ĐCSTQ chỉ muốn có một chiến dịch hạn chế và ngắn ngủi. Chiến tranh đã được thiết kế để không đưa ra một nguy hiểm thực sự cho Hà Nội và chỉ nhằm xói mòn ý chí của Việt Nam muốn chiếm cứ Căm Bốt. Phe Khmer Đỏ hy vọng rằng QĐGPNDTQ có thể đánh sâu vào lãnh thổ Việt Nam, nhưng không hoạt đông nào như thế đã thực sự xẩy ra. Dù thế, cuộc tấn công “biểu tượng” của Trung Quốc đã giúp cho phe Khmer Đỏ tránh được sự hủy diệt hoàn toàn và giúp chúng cầm cự được cuộc kháng chiến chống lại các lực lượng Việt Nam xâm chiếm. Bản chất trừng phạt của cuộc chiến tranh có phải là một mục tiêu thực sự, hay nó chỉ là mỹ từ và một sự phản ảnh cơn tức giận của Bắc Kinh đối với Hà Nội và cuộc xâm lăng Căm Bốt? Nếu giảng dạy một bài học là mục tiêu chính của Trung Quốc, QĐGPNDTQ hẳn phải đánh mạnh để đạt được các kết quả quân sự đáng kể. Nhưng trong một cuộc phỏng vấn với các ký giả Nhật Bản giữa lúc chiến tranh, họ Đặng xác nhận rằng ông sẽ “không cần các thành quả quân sự”. 127 Sau đó ông đã giải thích, “Dạy cho Việt Nam một bài học đã không được đặt trên một sự cứu xét về những gì đang xảy ra giữa Trung Quốc và Việt Nam hay tại Đông Dương, mà đặt trên một sự nghiền ngẫm về vấn đề từ một góc nhìn của Á Châu và Thái Bình Dương, và nói cách khác, từ bình diện cao của chiến lược toàn cầu”. 128 Chung cuộc, sự tính toán của ông bị chi phối bởi hai ưu tiên: môi trường an ninh đối ngoại của Trung Quốc và việc cải tổ và mở cửa nền kinh tế của Trung Quốc.

Hồi cuối thập niên 1970, tư tưởng chiến lược của các nhà lãnh đạo Trung Quốc vẫn còn phản ảnh quan điểm của họ Mao rằng Liên Bang Sô Viết đặt ra sự nguy hiểm lớn nhất cho hòa bình thế giới và cho Trung Quốc. Mối quan hệ quân sự mới giữa Sô Viết – Việt Nam, sự xâm lăng của Việt Nam vào Căm Bốt, và sự thù nghịch gia tăng của Việt Nam đối với Trung Quốc đã nung sôi sự quan ngại của Trung Quốc về một sự đe dọa gia tăng của Sô Viết đối với Trung Quốc. Mặc dù họ Đặng đã từ bỏ các chính sách đối nội cấp tiến của họ Mao, ông đã trung thành một cách kiên định với chiến lược “dàn hàng ngang” của vị lãnh đạo Trung Quốc quá cố trong việc thành lập một mặt trận chung với Hoa Kỳ để chống lại Liên Bang Sô Viết. Sự bắt đầu cuộc cải cách kinh tế theo định hướng thị trường của Trung Quốc đã tăng cường tầm quan trọng của chính trị quyền lực thực dụng đối với tư tưởng chiến lược của Trung Quốc. Họ Đặng đã đặt sự thành công của sự cải cách kinh tế trên kỹ thuật Tây Phương và đầu tư nước ngoài, đặc biệt từ Hoa Kỳ. Quyết định của Đặng để chấp nhận các điều kiện của Hoa Kỳ hồi giữa Tháng Mười Hai 1978 có tính chất quan yếu để đạt được hai mục tiêu chiến lược này về mặt đối ngoại cũng như đối nội. Bất kể sự tính toán thực dụng của họ Đặng về các quyền lợi quốc gia với ít sự kiềm chế ý thức hệ, ông đã ấp ủ hy vọng ngây thơ rằng vấn đề bán vũ khí cho Đài Loan sẽ tự nó được giải quyết khi Trung Quốc phát triển các quan hệ thuận lợi hơn với Hoa Kỳ. 129 Quyết định của Trung Quốc để phóng ra một cuộc chiến tranh trừng phạt chống Việt Nam được nhắm để biểu lộ sự hữu dụng của Bắc Kinh trong việc đối phó với chính sách bành trướng của Sô Viết. Sự chấp nhận của CHNDTQ đề nghị của Hoa Kỳ để thiết lập hai trạm theo dõi điện tử tại miền tây Trung Quốc đã tạo ra một tài sản quý giá cho cả hai nước nhưng cũng là một gánh nặng cho chính sách của Hoa Kỳ đối với Trung Quốc trong nhiều năm sau đó. 130 Khi xét tất cả các yếu tố này, mục tiêu trong quyết định của Trung Quốc nhằm sử dụng vũ lực để dạy cho Việt Nam một bài học thì không quan trọng như nhiều người đã nghĩ lúc ban đầu. Quyết định đi đến chiến tranh thì khó để lượng định nếu không có sự lượng giá kỹ lượng các tình huống địa lý chính trị và nỗ lực của Trung Quốc để cải cách kinh tế — các hoàn cảnh trong năm 1979 khác biệt tự nền tảng với tình hình của năm 1950. Bất kể lý luận ra sao cho cuộc chiến tranh, cách lãnh đạo độc tài của họ Đặng đã cho phép ông khống chế sự cấu tạo quyết định của Bắc Kinh, và do đó sự khôn ngoan trong quyết định của ông để tấn công Việt Nam vẫn còn là điều có thể tranh luận./-

———————————————————

CHÚ THÍCH:

1. Renmin Ribao [Nhân Dân Nhật Báo: People’s Daily], 19 Tháng Ba 1979. Muốn có phiên bản Anh ngữ, xem Beijing Review, 23 March 1979.

2. Harlan W. Jencks, “China’s ‘Punitive’ War on Vietnam: A Military Assessment”, Asian Survey, Vol. 19, No. 8 (August 1979), các trang 802-803); Steven J. Hood, Dragon Entangled: Indochina and the China-Vietnam War (Armonk, NY: M. E. Sharpe, 1992), các trang 50-57; và Edward C. O’Dowd, Chinese Military Strategy in the Third Indochina War: The Last Maoist War (New York: Routledge, 2007), trang 6.

3. Robert S. Ross, The Indochina Tangle: China’s Vietnam Policy, 1975-1979 (New York: Columbia University Press, 1988), trang 253; và Bruce Elleman, Modern Chinese Warfare, 1785-1989 (London: Routledge, 2001, trang 285.

4. Gerald Segal, Defending China (New York: Oxford University Press, 1985), các trang 225-226.

5. King Chen, China’s war with Vietnam, 1979 (Stanford, CA: Hoover Institution Press, 1987), các trang 85-86, 153.

6. Andrew Scobell, China’s Use of Military Force beyond the Great Wall and the Long March (New York: Cambridge University Press, 20093), các trang 124-143.

7. Các hồi ký nổi bật nhất là của Zhou Deli, Yige gaoji canmouzhang de zishu [Các Hồi Tưởng Cá Nhân Của Một Tham Mưu Trưởng Cao Cấp] (Nanjing: Nanjing chubanshe, 1992); Xu Shiyou de zuihou yizhan [Trận Đánh Cuối Cùng của Xu Shiyou] (Nanjing: Jiangsu renmin chubanshe, 1990); và Zhang Zhen, Zhang Zhen huiyilu [Hồi Ký của Zhang Zhen] (Beijing: Jiefangjun chubanshe, 2003). Ngoài ra, các địa điểm trên mạng Internet bằng Hán tự có chứa các tài liệu, hồi ký, hồi ức cá nhân, và các đoạn trích từ các ấn phẩm tiếng Hán về cuộc chiến tranh năm 1979 với Việt Nam. Địa chỉ hữu dụng nhất là “ZhongYue zhangzhen baiwanglu” [Ghi Nhớ về Chiến Tranh Trung-Việt], http://bwl.top81.cn/war79/index.html.

8. Muốn nghiên cứu về quyết định của Trung Quốc trên Chiến Tranh Triều Tiên, xem Shu Guang Zhang, Mao’s Military Romanticism: China and the Korean War, 1950-1953 (Lawrencẹ KS: University Press of Kansas, 1995), chương 4; Chen Jian, Mao’s China and the Cold War (Chapel Hill: University of North Carolina Press, 2001), chương 4; và Xiaoming Zhang, Red Wing over the Yalu: China, the Soviet Union, and the Air War in Korea (College Station: Texas A&M University Press, 2002), chương 3.

9. Ross, The Indochina Tangle, các trang 118-123, 127-128. Phía Trung Quốc tuyên bố rằng CHNDTQ không thể duy trì cùng múc độ viện trợ cho Việt Nam như nó đã làm trong thời chiến bởi vì nền kinh tế Trung Quốc đang đối diện với các khó khăn lớn lao vào lúc đó. Xem Gao Ming, biên tập, Zhong Yue guanxi yanbian sishinian [Sự phát triển Các Quan Hệ Trung – Việt Trong Bôn Mươi Năm] (Nanjing, China: Guangxi renmin chubanshe, 1992), trang 114.

10. Chen, China’s War, các trang 35=36.

11. Luo Yuansheng, Baizhan jiangxing Wang Shangrong [Tiểu sử Tướng Wang Shangrong] (Beijing: Jiefangjun wenji chubanshe, 1999), các trang 375-377; và Yang Qiliang và các tác giả khác, Wang Shangrong jiangjun [Tướng Quân Wang Shangrong] (Beijing: Đangai Zhongguo chubanshe, 2000), trang 626.

12. John Vasquez và Marie T. Henechan, “Territorial Disputes and the Probability of War, 1816-1992”, Journal of Peace Research, Vol. 38, No. 2 (2001), các tran 123-138.

13. Guo, biên tập, Zhong Yue guanxi yanbian sishinian, trang 169; Zhou, Yige gaoji canmouzhang de zishu, các trang 241-242.

14. Han Huanzhi, chủ biên, Dangdai Zhongguo jundui de junshi gongzuo [Các Sự Vụ Quân Sự Trung Quốc Đương Đại] (Beijing: Zhongguo shehui kexue chubanshe, 1989), vol. 1, trang 659.

15. Zhou, Yige gaoji canmouzhang de zishu, các trang 239-240.

16. Han Lianlong [? Nianlong], chủ biên, Dangdai Zhongguo waijiao [Ngoại Giao Trung Quốc Đương Đại] (Beijing: Zhongguo shehui kexue chubanshe, 1990), các trang 285-286.

17. Bộ Quốc Phòng Việt Nam, Viện Quân Sử, Yuenan renminjun wushinian [Năm Mươi Năm Quân Đội Nhân Dân Việt Nam], phiên dịch bởi Liu Huanpu và các tác giả khác (Beijing: Junshi Yiwen chubanshe, 1994), các trang 267-268.

18. Brandy Womack, China and Vietnam: The Politics of Asymmetry (New York: Cambridge University Press, 2006), trang 199.

19. Một nghiên cứu gần đây ghi nhận rằng từ 1949 cho đến 2007, Trung Quốc đã có 23 cuộc tranh chấp đất đai với các lân bang của nó trên đất liền và trên biển và đã sử dụng vũ lực trong sáu lần. Xem M. Taylor Fravel, Strong Borders, Secure Nation: Cooperation and Conflict in China’s Territorial Disputes (Princeton, NJ: Princeton University Press, 2008), các trang 1-2.

20. Zhou, Yige gaoji canmouzhang de zishu, các trang 242-243.

21. Zhongguo Renmin Jiefangjun Tongjian” Ủy Ban Biên Tập, Zhongguo renmin jiefangjun tongjian [Tài Liệu Tổng Quát về Giải Phóng Quân của Nhân Dân Trung Quốc, 1927-1996, 3 tập. (Lanzhou, China: Gansu renmin chubanshe, 1997), Tập 2, trang 2173.

22. Trừ khi được trưng dẫn một cách khác, mọi tin tức chi tiết về kế hoạch xâm lăng của Trung Quốc được cung cấp bởi Cai Pengcen, một sinh viên cao học lịch sử tại Đại Học Tây Nam (Southwest University) của Trung Quốc.

23. Zhou, Yige gaoji canmouzhang de zishu, các trang 244-245; Zhang Zhen, Zhang Zhen junshi wenxuan [Tuyển Tập Bài Viết về Quân Sự của Zhang Zhen] (Beijing: Jiefangjun chubanshe, 2005), trang 298; và Wang Hanccheng, Wang Hancheng huijilu [Hồi Ký Wang Hancheng] (Beijing: Jiefangjun chubanshe, 2004), trang 535. Cả Zhang và Wang đều cho cho hay rằng các binh sĩ thuộc các Quân Khu Thành Đô và Vũ Hán được xem là như quân trừ bị chiến lược của QĐGPNDTQ.

24. Việc này có lẽ đã xảy ra trong một phiên họp của Quân Ủy Trung Ương trong Tháng Mười Một năm 1978. Xem, Zhang, Zhang Zhen huiyilu, Tập 2, các trang 165-66; và Jin Ye, Hu Juchen, và Hu Zhaocai, Baizhan jiangxing Xu Shiyou [Tiểu sử Tướng Xu Shiyou] (Beijing: Jiefangjun wenyi chubanshe, 1999), các trang 329-331.

25. Geng Biao, “Báo Cáo Bí Mật”, 16 Tháng Một 1979, trong tạp chí Studies on Chinese Communism, No. 166 (15 Tháng Mười, 1980), các trang 150-152.

26. Chen, China’s War, trang 87.

27. Ye Yunglie, Cong Hua Guofeng dao Deng Xiaoping Zhongkang shiyijie sanzhong quanhui qianhou [Từ Hoa Quốc Phong đến Đặng Tiểu Bình: Quanh Phiên Họp Kháng Đại Thứ ba của Ủy Ban Trung Ương Đảng Thứ Mười Một] (Hong Kong: Tiandi Books, 1998), các trang 526-527; Sun Dali, “A Historical Turning Point of New China: The Third Plenum of the Eleventh Central Committee”, trong sách biên tập bởi Lin Zhijian, Xin Zhongguo yaoshi shuping [Duyệt Xét các Biến Cố Quan Trọng của nước Trung Quốc Mới] (Beijing: Zhongyang wenxian chubanshe, 1994), trang 498; và Xiao Jinguang, Xiao Jinguang huiyilu xuji [Hồi Ký Xiao Jinguang: Tục Biên] (Beijing: Jiefangjun chubanshe, 1988), các trang 361-363.

28. Phiên Họp Khoáng Đại Thứ Ba của Ủy Ban Trung Ương Đảng Thứ Mười, được tổ chức từ 16 đến 21 Tháng Bẩy 1977, đã chỉ định họ Hua làm chủ tịch ĐCSTQ với sự kiểm soát trọn vẹn các công việc của đảng, nhà nước, và quân đội. Họ Ye vẫn còn phụ trách quân đội, và họ Wang được thăng chức làm phó chủ tịch ĐCSTQ một tháng sau đó, chịu trách nhiệm về việc tổ chức đảng, tuyên truyền và an ninh công cộng. Xem Ye, Cung Hua Guofeng dao Deng Xiaoping, các trang 222, 227, 235-236, 240.

29. Deng Xiaoping, Deng Xiaoping wenxuan [Văn Tuyển Đăng Tiểu Bình] (Beijing: Renmin chubanshe, 1983), Tập 2, trang 65.

30. Ye, Cung Hua Guofeng dao Deng Xiaoping, các trang 222- 226; và Sun, “A Historical Turning Point of New China”, các trang 478-480.

31. Lee Kuan Yew, From The Third World to First: The Singapore Story, 1965-2000 (New York: Anchor Press, 2000), các trang 601-602.

32. Chen, China’s War, trang 85.

33. Mặc dù họ Wang vẫn còn là phó chủ tịch ĐCSTQ, ông không còn kiểm soát văn phòng chính của đảng, hay đơn vị bảo vệ trung ương của QĐGPNDTQ. Ye, Cong Hua Guofeng, các trang 463-528.

34. Deng Xiaoping, Deng Xiaoping wenxuan [Văn Tuyển Đặng Tiểu Bình], Tập 3 (Beijing: Renmin chubanshe, 1993), trang 269.

35. Li Shenzhi, Li Shenzhi wenji [Tuyển tập các bài viết của Li Shenzhi] (Beijing: không ghi nhà xuất bản, 2004), trang 334.

36. Qian Jiang, Deng Xiaoping yu ZhongMei jianjiao fengyun [Đặng Tiểu Bình và Sự Thiết Lập Mối Quan Hệ Ngoại Giao giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ] (Beijing: Zhonggong dangshi chubanshe, 2005), trang 153; và Gong Li, Deng Xiaoping yu Meiguo [Đặng Tiểu Bình và Mỹ Quốc](Beijing: Zhonggong dangshi chubanshe, 2004), trang 236.

37. Qiang Zhai, China and the Vietnam Wars, 1950-1975 (Chapel Hill: University of North Carolina Press, 2000), trang 214.

38. “Comrade B on the Plot of the Reactionary Chinese Clique against Vietnam (1979)” [Đồng chí B – nhiều phần là Lê Duẩn – nói về Âm Mưu của Tập Đoàn Trung Quốc Phản Động chống lại Việt Nam (1979), chú của người dịch], được phiên dịch sang Anh ngữ bởi Christopher E. Goscha, The Cold War International Historical Project Bulletin, No. 12/13 (Fall/Winter 2001), các trang 281, 284, 289. Cũng xem, Odd Arne Westad, và các tác giả khác, đồng biên tập, “77 Conversations between China and foreign Leaders on the Wars in Indochina, 1964-1977”, CWIHP Working Paper No. 22, Cold War International History Project, Washington, DC, trang 57.

39. Đây là số thống kê chính thức của Trung Quốc, nhưng cách thức tính toán thì không rõ ràng. Theo một nguồn tin Trung Quốc chính thống, Trung Quốc đã cung cấp cho Bắc Việt Nam một tổng số là 4.26 tỷ Nhân Dân Tệ (RMB) về viện trợ quân sự từ năm 1950 đến 1974. Li Ke và Hao Shengzhang, Wenhua dagemin zhong de jiefangjun [QĐGPNDTQ trong cuộc Cách Mạng Văn Hóa] (Beijing: Zhonggong dangshi ziliao chubanshe, 1989), trang 409.

40. Guo, biên tập, Zhong Yue guanxi, trang 106.

41. Luo, Baizhan jiangxing Wang Shangrong, trang 377.

42. Xem Westad et al., đồng biên tập, “77 Conversations”, các trang 94-98, 194-195.

43. Lee, From the Third World, trang 595.

44. Raymond Aron, Peace and War: A Theory of International Relations (Garden City, NY: Anchor Press, 1973), trang 19.

45. Thí dụ, trong Tháng Ba 1978, nhà lãnh đạo Sô Viết Tối Cao của Liên Bang Sô Viết (USSR) có gửi một thông điệp đên Ủy Ban Thường Vụ của Quốc Hội Nhân Dân Trung Quốc đề nghị rằng Liên Bang Sô Viết và Trung Quốc công bố một bản tuyên bố thân hữu về các nguyên tắc hướng dẫn các quan hệ nhà nước. Phía Trung Quốc đã công khai bác bỏ đề nghị này.

46. Muốn có quan điểm của họ Đặng về Liên Bang Sô Viết, xem Bản Ghi Nhớ Cuộc Đàm Thoại, Brzezinski-Deng, 21 Tháng năm 1978, trong Hô Sơ China Vertical File, Jimmy Carter Library (JCL). Cũng xem, Wang Zhongchun, “The Soviet Factor in Sino-American Normalization, 1969-1979”, trong sách đồng biên tập bởi Willkiam C. Kirby, Robert S. Ross và Gong Li, Normalization of U.S. –China Relations: An International History (Cambridge, MA: Harvard University Asia Center, 2005), các trang 165-166.

47. Wang, “The Soviet Factor in Sino-American Normalization, 1969-1979”, các trang 158-164.

48. Văn Khố Bộ Ngoại Giao, CHNDTQ, Weiren de zuji: Deng Xiaoping waijiaohuedong dashiji [Các Dâu Chân của Một Người Vĩ Đại: Tài Liệu về sự Tham Dự của Đặng Tiểu Bình trong Các Biến Cố Ngoại Giao Quan Trọng] (Beijing: Shijie zhishi chubanshe, 1998), trang 158.

49. Bản Ghi Nhớ Cuộc Đàm Thoại, Brzezinski-Deng, 21 Tháng Năm 1978.

50. Kyodo News, 26 Tháng Hai 1979, trong U.S. Foreign Broadcast Information Service, Daily Reports: China (FBIS-PRC) 26 February 1979, trang A6.

51. Đặng Tiểu Bình tin tưởng rằng chiến tranh đánh Việt Nam sẽ chứng tỏ rằng “Trung Quốc từ chối không bị dẫn dắt bởi các sự ngụy biện (buxinxie)”. Xem Deng Xiaoping, Deng Xiaoping junshi wenji [Tuyển Tập Các Bài Viết Về Quân Sự của Đặng Tiểu Bình] (Beijing: Junshi kexue chubanshe, 2004), Tập 3, trang 177.

52. Văn thư từ Stanfield Turner gửi Brzezinski, 21 Tháng Mười Một 1978, trong NLC-26-57-1-6-4, JCL.

53. Wang, “The Soviet Factor in Sino-American Normalization, 1969-1979”, trang 166. Học giới Tây Phương hiện nay không đưa ra bằng chứng về một vai trò của Sô Viết trong quyết định của Việt nam nhằm xâm lăng Căm Bốt. Xem Stephen J. Morris, Why Vietnam Invaded Cambodia: Political Culture and the Causes of War (Stanford, CA: Stanford University Press, 1999), các trang 215-217.

54. Min Li, Zhong Yue zhanzheng shinian [Trung – Việt Chiến Tranh Thập Niên] (Chengdu, China: Sichuan daxue chubanshe, 1993), trang 15.

55. Cùng nơi dẫn trên, các trang 16-17.

56. Zhou, Yige gaoji canmouzhang de zishu, trang 246.

57. Qian, Deng Xiaoping, trang 151.

58. Zhong Wen và Lu Haixiao, đồng biên tập, Bainian Deng Xiaoping [Bách Niên Đặng Tiểu Bình], Tập 2 (Beijing: Zhongyang wengxian chubanshe, 2004), trang 160. Cũng xem Gong Li, “The Difficult Path to Diplomatic Relations: China’s U.S. Policy, 1972-1978”, trong sách biên tập bởi Kirby, Ross và Li, Normalization of U.S. – China Relations, trang 315.

59. Gong, “The Difficult Path to Diplomatic Relations”, trang 140.

60. Leng Rong và Wang Zouling, đồng biên tập, Deng Xiaoping nianpu [Niên Biểu về Cuộc Đời của Đăng Tiểu Bình, 1975-1979] (Beijing: Zhongyang wenxian chubanshe, 2004), Tập 1, trang 417.

61. Patrick Tyler, A Great Wall: Six Presidents and China – An Investigative History (New York: A Century Foundation Book, 1999), trang 260.

62. Wang Taipng, biên tập, Zhonghua renmin gongheguo waijiaoshi [Trung Hoa Nhân Dân Cộng Hòa Quốc Ngoại Giao Sử] (Beijing: Shijie zhishi chubanshe, 1999), Tập 3, trang 378.

63. Qian, Deng Xiaoping, trang 156.

64. Bản Ghi Nhớ Cuộc Đàm Thoại (Memcon), Carter-Chai, 19 Tháng Chín 1978, trong hồ sơ China Vertical File, JCL.

65. Văn Thư từ Brzezinski gửi Carter, 5 Tháng Mười Hai 1978, trong China, Box 9, Brzezinski File, JCL.

66. Vào các ngày 5, 9 và 11 Tháng Mười Hai, họ Đặng đã dùng nửa ngày với các người viết diễn văn của ông để duyệt xét bài diễn văn sau cùng mà ông sẽ đọc tại Hội Nghị Công Tác Trung Ương (Central Work Conference), dự trù vào ngày 13 Tháng Mười Hai. Xem Leng và Wang, đồng biên tập, Deng Xiaoping nianpu, Tập 1, các trang 448-449.

67. Min, Zhong Yue zhanzheng shinian, trang 18.

68. Văn thư từ Woodcock gửi Vance, 13 Tháng Mười Hai 1978; và từ Woodcock gửi Brzezinski, 14 Tháng Mười Hai 1978, trong China Vertical File, JCL.

69. Văn thư Woodcock gửi Brzezinski, 15 Tháng Mười Hai 1978, trong China Vertical File, JCL.

70. Li Jie, “China’s Domestic Politics and the Normalization of Sino-U.S. Relations, 1969-1979”, trong sách đồng biên tập bởi Kirby, Roos và Li, Normalization of U.S. – China Relations, trang 87.

71. Li, Li Shengzhi wenji, trang 335.

72. Geng, “Báo Cáo Bí Mật”, trang 149.

73. Chen, China’s War, các trang 85-87; Ross, Indochina Tangle, các trang 23-31; và Scobell, China’s Use of Military Force, các trang 130-132.

74. Thí dụ, xem Liu Jixian et al., đồng biên tập, Ye Jianying nianpu [Diệp Kiếm Anh Niên Biểu] (Beijing: Zhongyang wenxian chubanshe, 2007); Fan Shuo, chủ biên, Ye Jianying zhuan [Tiểu Sử Diệp Kiếm Anh] (Beijing: Dangdai Zhongguo chubanshe, 1997); Zhou Junlun, chủ biên, Nie Rongzhen nianpu [Niên Biểu Cuộc Đời Nie Rongzhen] (Beijing: Renmin chubanshe 1999); và Zhu Yu, chủ biên, Li Xiannian zhuan, 1909-1949 [Tiểu Sử Lý Tiên Niệm] (Beijing: Zhongyang wenxian chubanshe, 1999).

75. Tân Hoa Xã, Nhóm Tham Khảo Quốc Tế, Woguo dui Yeunan ziwei huanjizhan ziliaoji [Tuyển Tập về Cuộc Hoàn Kích Chiến Tự Vệ Của Xứ Sở Chúng ta Chống Lại Việt Nam, 17 Tháng Hai – 19 Tháng Ba 1979] (Beijing: China News Agency International Reference Group, 1979), các trang 16-17.

76. Liu Zhi và Zhang Lin, đồng biên tập, Xu Xiangqian zhuan [Tiểu Sử Xu Xiangqian] (Beijing: Contemporary China Press, 1997), các trang 549, 553-554.

77. Các nguồn tin của tôi báo cho tôi hay rằng sự chống đối của họ Diệp về cuộc chiến tranh đánh Việt Nam đã bị thúc đẩy bởi một thành viên trong gia đình của ông.

78. Liu và các tác giả khác, đồng biên tập, Ye Jianying nianpu, trang 1165.

79. Tại cuộc họp buổi tối của Ngày QĐGPNDTQ năm 1977, khi ảnh của họ Đặng được chiếu trên màn ảnh lớn, mọi người tham dự la lên vì vui mừng và đáp ứng với sự tán thưởng nồng nhiệt. Bởi họ Đặng không phải là tổng tư lệnh, Giới Lãnh Đạo Trung Ương đã xem sự đón tiếp ông là một biến cố chính trị nghiêm trọng và đã phổ biến một thông tư phê bình sự tiếp đón như một hành động coi thường các quy lệ và kỷ luật đảng. Được nghe nói rằng Tổng Cục Chính trị đã từ chối không chuyển thông tư đến các đơn vị trực thuộc. Zhang Sheng, Cong zhanzheng zhong zoulai: Liangdai junren de duihua [Đến Từ Chiến Tranh: Một Cuộc Đối Thoại giữa Hai Thế Hệ Chiến Sĩ] (Beijing: China Youth Press, 2007), các trang 412-413.

80. Ye, Cong Hua Guofeng, trang 212.

81. Liu và các tác giả khác, đồng biên tập, Ye Jianying, các trang 1158, 1165.

82. Liu Huaqing nhớ lại rằng khi ông là phụ tá Tổng Tham Mưu Trưởng hồi đầu năm 1979, Bộ Tổng Tham Mưu luôn luôn chuyển các văn kiện quan trọng đến họ Đăng xin phê chuẩn. Xem Liu Huaqing huiyi lu [Hồi Ký của Lưu Hoa Thanh] (Beijing: PLA Press, 2004), trang 394.

83. Họ Đặng đã đưa ra các nhận xét này tại một phiên họp của Ủy Ban Trung Ương ĐCSTQ hôm 16 Tháng Ba 1979 thảo luận về nhu cầu một cuộc phản công dọc biên giới Trung Quốc – Việt Nam. Toàn thể bản văn được cung cấp tại: http://wenku.baidu.com/view/d4c5afeb172ded630b1cb607.html. Một trích đoạn được cung cấp trong Deng Xiaoping nianpu, Tập 1, các trang 492-493.

84. Zhang, Huiyilu, Tập 2, trang 166.

85. Hai quân đoàn bổ túc là quân đoàn 50 từ Quân Khu Thành Đô và Quân Đoàn 54 từ Quân Khu Vũ Hán. Cả hai đã nhận được lệnh động viên vào ngày 5 Tháng Một 1979. Cai Pengcen, “Those Events Happened in 1979”, http://blog.sina.com.cn/s/blog_476745601008im7.html.

86. Ye Jianying đang đi nghỉ hè tại Thượng Hại và vì thế đã không tham dự. Xem Liu Jixian và các tác giả khác, đồng biên tập, Ye Jianying nianpu, trang 1165.

87. Jin, Hu, và Hu, Baizhan jianxing Xu Shiyou, trang 332; và Wang Xuan, Mao Zedong zhi jian: Minjiang zhixing Xu Shiyou [Thanh Kiếm Của Mao Trạch Đông: Một Vị Tướng Sáng Chói Xu Shiyou] (Nanjing: Jiangsu renmin chubanshe, 1996), trang 132.

88. Sự thay đổi cấp chỉ huy được đồn đãi một phần có thể quy cho các quan hệ cá nhân không tốt giữa Xu và Wang. Hai viên tướng đã tranh giành cho một cuộc chiến thắng quan trọng chống lại một đơn vị Quốc Dân Đảng then chốt trong thời kỳ nội chiến. Sau đó vào năm 1966 trong Cuộc Cách Mạng Văn Hóa, khi họ Wang là tư lệnh phó cho họ Xu tại Quân Khu Nam Kinh, ông ta công khai ủng hộ cách chính trị địa phương chống lại họ Xu. Họ Xu rõ ràng vẫn còn khó chịu và đã cố vấn họ Đặng thực hiện một sự thay đổi cấp chỉ huy.

89. Sau một cuộc thuyết trình bằng miệng về hội nghị từ họ Xu, Yang Yong, và Wei Guoping (chủ nhiệm tổng cục chính trị), họ Đặng đã đưa ra bốn điểm. Thứ nhất, các thành viên của nhóm lãnh đạo phải thông nhất; thứ nhì, vấn đề chủ nghĩa bè phái trong giới lãnh đạo phải bị loại trừ; thứ ba, mọi điều ban hành phải được đảm nhận bởi các phiên họp công tác của Quân Ủy Trung Ương; và thứ tư, các chính sách về sự phục hồi phải được thi hành. Xem Leng và Wang, đồng biên tập, Deng Xiaoping nianpu, Tập 1, các trang 459-460.

90. Xem, Zhang, Cong zhanzheng zhong zoulai, trang 415.

91. Leng và Wang, đồng biên tập, Deng Xiaoping nianpu, Tập 1, trang 492.

92. “Lecture Notes on the 1979 Counterattack in Self-Defense on the Sino-Vietnamese Border” [Các Ghi Chú của Bài Thuyết Giảng về Cuộc Hoàn Kích Tư Vệ tại Biên Giới Trung – Việt] , trong “Zhong Yue zhangzhen beiwanglu”.

93. Jiang Feng và các tác giả khác. Yang Yong jiangjun zhuan [Tiểu Sử Tướng Yang Yong] (Beijing: Jiefangjun chubanshe, 1991), trang 495; và Luo, Wang Shangrong, trang 327.

94. Zhou, Xu Shiyou de suihuo yizhan, trang 16.

95. Zhu Jiamu, Chen Yun nianpu [Chen Yun Niên Biểu, 1905-1995] (Beijing: Zhongyang wenxian chubanshe, 2000), Tập 2, các trang 235-236.

96. Zhang, Huiyilu, Tập 2, trang 166.

97. Min, Zhong Yue zhanzheng shinian, trang 17; và Jin Hui and Zhang Huisheng, Zhong Yue zhanzheng milu [Bản Tường Thuật Mật về Chiến Tranh Trung – Việt] (Beijing Jiefangjun chubanshe, 1991), các trang 27-28.

98. Xem, thí dụ, Segal, Defending China, trang 214.

99. Zhou, Yige gaoji canmouzhang de zishu, trang 246.

100. Phòng Tổng Quát của Tổng Cục Chính Trị, Zhong Yue bianjing ziwei huanji zuozhan zhengzi gongzuo jingyan xuanbian [Biên Tập Các Tài Liệu về Công Tác Chính Trị và Kinh Nghiệm in Cuộc Hoàn Kích Tự Vệ tại Biên Giới Trung – Việt] (Beijing: Guangxi renmin chubanshe, 1980), Tập 1, các trang 2-19.

101. Zhang, Huiyilu, Tập 2, các trang 170-171.

102. Jiang Feng và các tác giả khác, Yang Yong, trang 495.

103. Zhou, Yige gaoji canmouzhang de zishu, các trang 257-258; và Zhang, Huiyilu, Tập 2, trang 171.

104. Qian, Deng Xiaoping, trang 211.

105. Gong, Deng Xiaoping, trang 255; Tao Wenzhao, “Deng Xiaoping and China-U.S. Relations, 1977-1991”, Shehui kexue yanjiu [Nghiên Cứu Khoa Học Xã Hội], số 5 (2005), các trang 11-18; và Li Xiangqian, “The Establishment of China-U.S. Diplomatic Relations and the Strategic Shift in the Emphasis of Party Work”, Zhonggong dangzhi yanjiu [Nghiên Cứu Lịch Sử Đảng CSTQ], số 1 (2000), các trang 44-51.

106. Geng, “Báo Cáo Bí Mật”, trang 156.

107. Văn Thư từ Brzezinski gửi Tổng Thống Carter, không ghi nhật kỳ [1979], trong China, Box 9, Brzezinski File, JCL.

108. Văn Thư từ Michael Oksenberg gửi Brzezinski, 29 Tháng Một 1979, trong Hồ Sơ China, Box 9, Brzezinski File, JCL.

109. Bản Ghi Nhớ Cuộc Đàm Thoại, Carter-Deng, 29 Tháng Một 1979, trong China Vertical File, JCL.

110. Zbigniew Brzezinski, Power and Principle: Memoirs of the National Security Adviser, 1977-1981 (New York: Farrar, Straus and Giroux, 1983), trang 409.

111. Thư từ Carter gửi Deng, 30 Tháng Một 1979, trong China, Box 9, Brzezinski File, JCL.

112. Brzezinski, Power and Principle, trang 410.

113. Nhiều thuộc cấp của họ Đặng có nhớ lại rằng ông ta thường không thay đổi đầu óc một khi đã đưa ra một quyết định. Thí dụ, xem Chen Zaidao, Chen Zaidao huiyilu [Hồi Ký Chen Zaidao] (Beijing: Jiefangjun chubanshe, 1991), trang 462.

114. Brzezinski, Power and Principle, trang 410.

115. Chen, Mao’s China, các trang 73-74; và Tyler, A Great Wall, các trang 276-277.

116. Tyler, A Great Wall, các trang 277-278.

117. Diễn văn của họ Đặng đọc tại Phiên Họp Khoáng Đại Ủy Ban Trung Ương ĐCSTQ, 16 Tháng Ba 1979 (xem chú thích 83 bên trên).

118. Họ Đặng còn mời các đồng sự chơi bài với ông trên máy bay. Qian, Deng Xiaoping, trang 291.

119. Zhou, Yige gaoji canmouzhang de zishu, các trang 259-260; và Jiang Feng và các tác giả khác, Yang Yong, các trang 496-497.

120. Toàn văn bản thông tư trong sách của Min, Zhong Yue zhanzheng shinian, trang 34.

121. Harlan W. Jencks, “China’s ‘Punitive’ War on Vietnam: A Military Assessment”, Asian Survey, Tập 19, số 8 (Tháng Tám 1979), các trang 804-805; Herbert Yee, “The Sino-Vietnamese Border War”, China Report, Tập 16, số 1 (Tháng Một-Tháng Hai 1980), trang 22; và Segal, Defending China, trang 214.

122. Gong Li, “A Triangular Relationship of U.S. – China – Soviet Union during the 1979 China-Vietnam Border Conflict”, Guoji guancha [Quốc Tế Quan Sát], số 3 (2004), các trang 66-72; và Wang, “The Soviet Factor”, trang 173. Tác giả Wang lập luận rằng sự thậm xưng của Trung Quốc về mối đe dọa quân sự của Sô Viết có chủ ý để ngăn cản CHNDTQ khỏi rơi vào “một vị thế yếu kém về mặt chiến lược”.

123. Gong Li tuyên bố một cách sai lầm rằng họ Đặng đã thông báo với Tổng Thống Carter về quyết định của Trung Hoa xâm lăng Việt Nam tại một phiên họp chính thức hôm 29 Tháng Một 1979, và ông đưa ra một cảm tưởng sai lạc rằng họ Đặng đã tạo ra một sự tiết lộ đáng ngạc nhiên trong một cuộc nói chuyện bình thường khi hai lãnh tụ trình bày quan điểm của họ về thế giới. Xem Gong, “A Triangular Relationship”, trang 68.

124. He Di, “The Most Respected Enemy: Mao Zedong’s Perception of the United States”, trong sách đồng biên tập bởi Michael Hunt và Lin Jun, Toward a History of Chinese Communist Foreign Relations, 1920s-1960s: Personalities and Interpretative Approaches (Washington, DC: Woodrow Wilson International Center for Scholars Asian Program, 1995), các trang 27-66; và Chen Jian, “China’s Involvement in the Vietnam War, 1964-1969”, The China Quarterly, số 142 (Tháng Sáu 1995), các trang 356-387.

125. Chen, Mao’s China, trang 237.

126. Xiaoming Zhang, “China’s Involvement in Laos during the Vietnam War, 1963-1975”, Journal of Military History, số 60 (Tháng Mười 2002), các trang 1141-1166.

127. Kyodo News, 26 Tháng Hai 1979, trong FBIS-PRC, 26 February 1979, trang A5.

128. Sự giải thích này được đưa ra trước mặt các thành viên của Ủy Ban Quan Hệ Ngoại Giao Thượng Viện Hoa Kỳ tại Bắc Kinh hôm 19 Tháng Tư 1979. Gong, “A Triangular Relationship”, trang 70.

129. Rosemary Foot vạch ra rằng không ai ước định rằng vấn đề bán vũ khí cho Đài Loan sẽ vẫn còn là một trung tâm điểm của sự căng thẳng trong các quan hệ Hoa Kỳ-Trung Quốc đến ngày nay.” Xem Rosemary Foot, “Prizes Won, Opportunities Lost: The U.S. Normalization of Relations with China, 1972-1979”, trong sách đồng biên tập bởi Kirby, Ross, và Li, Normalization of U.S. – China Relations, trang 109.

130.Sau năm 1980, Hoa Kỳ đã bắt đầu bán các hệ thống vũ khí phòng thủ cho Trung Quốc, kể cả các radar phòng thủ không phận, trang thiết bị truyền tin đường dài, và các phi cơ trực thăng quân sự. Xem Gong, “A Triangular Relationship”, trang 71./-

—————————————-

Nguồn: Zhang Xiaoming, Deng Xiaoping and China’s Decision to go to War with Vietnam, Journal of Cold War Studies, Vol. 12, No. 2 Summer 2010, các trang 3-29.

CHÚ THÍCH

1. Renmin Ribao [Nhân Dân Nhật Báo: People’s Daily], 19 Tháng Ba 1979.  Muốn có phiên bản Anh ngữ, xem Beijing Review, 23 March 1979.

2. Harlan W. Jencks, “China’s ‘Punitive’ War on Vietnam: A Military Assessment”, Asian Survey, Vol. 19, No. 8 (August 1979), các trang 802-803); Steven J. Hood, Dragon Entangled: Indochina and the China-Vietnam War (Armonk, NY: M. E. Sharpe, 1992), các trang 50-57; và Edward C. O’Dowd, Chinese Military Strategy in the Third Indochina War: The Last Maoist War (New York: Routledge, 2007), trang 6.

3. Robert S. Ross, The Indochina Tangle: China’s Vietnam Policy, 1975-1979 (New York: Columbia University Press, 1988), trang 253; và Bruce Elleman, Modern Chinese Warfare, 1785-1989 (London: Routledge, 2001, trang 285.

4. Gerald Segal, Defending China (New York: Oxford University Press, 1985), các trang 225-226.

5. King Chen, China’s war with Vietnam, 1979 (Stanford, CA: Hoover Institution Press, 1987), các trang 85-86, 153.

6. Andrew Scobell, China’s Use of Military Force beyond the Great Wall and the Long March (New York: Cambridge University Press, 20093), các trang 124-143.

7. Các hồi ký nổi bật nhất là của Zhou Deli, Yige gaoji canmouzhang de zishu [Các Hồi Tưởng Cá Nhân Của Một Tham Mưu Trưởng Cao Cấp] (Nanjing: Nanjing chubanshe, 1992); Xu Shiyou de zuihou yizhan [Trận Đánh Cuối Cùng của Xu Shiyou] (Nanjing: Jiangsu renmin chubanshe, 1990); và Zhang Zhen, Zhang Zhen huiyilu [Hồi Ký của Zhang Zhen] (Beijing: Jiefangjun chubanshe, 2003).  Ngoài ra, các địa điểm trên mạng Internet bằng Hán tự có chứa các tài liệu, hồi ký, hồi ức cá nhân, và các đoạn trích từ các ấn phẩm tiếng Hán về cuộc chiến tranh năm 1979 với Việt Nam.  Địa chỉ hữu dụng nhất là “ZhongYue zhangzhen baiwanglu” [Ghi Nhớ về Chiến Tranh Trung-Việt], http://bwl.top81.cn/war79/index.html.

8. Muốn nghiên cứu về quyết định của Trung Quốc trên Chiến Tranh Triều Tiên, xem Shu Guang Zhang, Mao’s Military Romanticism: China and the Korean War, 1950-1953 (Lawrencẹ KS: University Press of Kansas, 1995), chương 4; Chen Jian, Mao’s China and the Cold War (Chapel Hill: University of North Carolina Press, 2001), chương 4; và Xiaoming Zhang, Red Wing over the Yalu: China, the Soviet Union, and the Air War in Korea (College Station: Texas A&M University Press, 2002), chương 3.

9. Ross, The Indochina Tangle, các trang 118-123, 127-128.  Phía Trung Quốc tuyên bố rằng CHNDTQ không thể duy trì cùng múc độ viện trợ cho Việt Nam như nó đã làm trong thời chiến bởi vì nền kinh tế Trung Quốc đang đối diện với các khó khăn lớn lao vào lúc đó.  Xem Gao Ming, biên tập, Zhong Yue guanxi yanbian sishinian [Sự phát triển Các Quan Hệ Trung – Việt Trong Bôn Mươi Năm] (Nanjing, China: Guangxi renmin chubanshe, 1992), trang 114.

10. Chen, China’s War, các trang 35=36.

11. Luo Yuansheng, Baizhan jiangxing Wang Shangrong [Tiểu sử Tướng Wang Shangrong] (Beijing: Jiefangjun wenji chubanshe, 1999), các trang 375-377; và Yang Qiliang và các tác giả khác, Wang Shangrong jiangjun [Tướng Quân Wang Shangrong] (Beijing: Đangai Zhongguo chubanshe, 2000), trang 626.

12. John Vasquez và Marie T. Henechan, “Territorial Disputes and the Probability of War, 1816-1992”, Journal of Peace Research, Vol. 38, No. 2 (2001), các tran 123-138.

13. Guo, biên tập, Zhong Yue guanxi yanbian sishinian, trang 169; Zhou, Yige gaoji canmouzhang de zishu, các trang 241-242.

14. Han Huanzhi, chủ biên, Dangdai Zhongguo jundui de junshi gongzuo [Các Sự Vụ Quân Sự Trung Quốc Đương Đại] (Beijing: Zhongguo shehui kexue chubanshe, 1989), vol. 1, trang 659.

15. Zhou, Yige gaoji canmouzhang de zishu, các trang 239-240.

16. Han Lianlong [? Nianlong], chủ biên, Dangdai Zhongguo waijiao [Ngoại Giao Trung Quốc Đương Đại] (Beijing: Zhongguo shehui kexue chubanshe, 1990), các trang 285-286.

17. Bộ Quốc Phòng Việt Nam, Viện Quân Sử, Yuenan renminjun wushinian [Năm Mươi Năm Quân Đội Nhân Dân Việt Nam], phiên dịch bởi Liu Huanpu và các tác giả khác (Beijing: Junshi Yiwen chubanshe, 1994), các trang 267-268.

18. Brandy Womack, China and Vietnam: The Politics of Asymmetry (New York: Cambridge University Press, 2006), trang 199.

19. Một nghiên cứu gần đây ghi nhận rằng từ 1949 cho đến 2007, Trung Quốc đã có 23 cuộc tranh chấp đất đai với các lân bang của nó trên đất liền và trên biển  và đã sử dụng vũ lực trong sáu lần.  Xem M. Taylor Fravel, Strong Borders, Secure Nation: Cooperation and Conflict in China’s Territorial Disputes (Princeton, NJ: Princeton University Press, 2008), các trang 1-2.

20. Zhou, Yige gaoji canmouzhang de zishu, các trang 242-243.

21. Zhongguo Renmin Jiefangjun Tongjian” Ủy Ban Biên Tập, Zhongguo renmin jiefangjun tongjian [Tài Liệu Tổng Quát về Giải Phóng Quân của Nhân Dân Trung Quốc, 1927-1996, 3 tập. (Lanzhou, China: Gansu renmin chubanshe, 1997), Tập 2, trang 2173.

22. Trừ khi được trưng dẫn một cách khác, mọi tin tức chi tiết về kế hoạch xâm lăng của Trung Quốc được cung cấp bởi Cai Pengcen, một sinh viên cao học lịch sử tại Đại Học Tây Nam (Southwest University) của Trung Quốc.

23. Zhou, Yige gaoji canmouzhang de zishu, các trang 244-245; Zhang Zhen, Zhang Zhen junshi wenxuan [Tuyển Tập Bài Viết về Quân Sự của Zhang Zhen] (Beijing: Jiefangjun chubanshe, 2005), trang 298; và Wang Hanccheng, Wang Hancheng huijilu [Hồi Ký Wang Hancheng] (Beijing: Jiefangjun chubanshe, 2004), trang 535.  Cả Zhang và Wang đều cho cho hay rằng các binh sĩ thuộc các Quân Khu Thành Đô và Vũ Hán được xem là như quân trừ bị chiến lược của QĐGPNDTQ.

24. Việc này có lẽ đã xảy ra trong một phiên họp của Quân Ủy Trung Ương trong Tháng Mười Một năm 1978.  Xem, Zhang, Zhang Zhen huiyilu, Tập 2, các trang 165-66; và Jin Ye, Hu Juchen, và Hu Zhaocai, Baizhan jiangxing Xu Shiyou [Tiểu sử Tướng Xu Shiyou] (Beijing: Jiefangjun wenyi chubanshe, 1999), các trang 329-331.

25. Geng Biao, “Báo Cáo Bí Mật”, 16 Tháng Một 1979, trong tạp chí Studies on Chinese Communism, No. 166 (15 Tháng Mười, 1980), các trang 150-152.

26. Chen, China’s War, trang 87.

27. Ye Yunglie, Cong Hua Guofeng dao Deng Xiaoping Zhongkang shiyijie sanzhong quanhui qianhou [Từ Hoa Quốc Phong đến Đặng Tiểu Bình: Quanh Phiên Họp Kháng Đại Thứ ba của Ủy Ban Trung Ương Đảng Thứ Mười Một] (Hong Kong: Tiandi Books, 1998), các trang 526-527; Sun Dali, “A Historical Turning Point of New China: The Third Plenum of the Eleventh Central Committee”, trong sách biên tập bởi Lin Zhijian, Xin Zhongguo yaoshi shuping [Duyệt Xét các Biến Cố Quan Trọng của nước Trung Quốc Mới] (Beijing: Zhongyang wenxian chubanshe, 1994), trang 498; và Xiao Jinguang, Xiao Jinguang huiyilu xuji [Hồi Ký Xiao Jinguang: Tục Biên] (Beijing: Jiefangjun chubanshe, 1988), các trang 361-363.

28. Phiên Họp Khoáng Đại Thứ Ba của Ủy Ban Trung Ương Đảng Thứ Mười, được tổ chức từ 16 đến 21 Tháng Bẩy 1977, đã chỉ định họ Hua làm chủ tịch ĐCSTQ với sự kiểm soát trọn vẹn các công việc của đảng, nhà nước, và quân đội.  Họ Ye vẫn còn phụ trách quân đội, và họ Wang được thăng chức làm phó chủ tịch ĐCSTQ một tháng sau đó, chịu trách nhiệm về việc tổ chức đảng, tuyên truyền và an ninh công cộng.  Xem Ye, Cung Hua Guofeng dao Deng Xiaoping, các trang 222, 227, 235-236, 240.

29. Deng Xiaoping, Deng Xiaoping wenxuan [Văn Tuyển Đăng Tiểu Bình] (Beijing: Renmin chubanshe, 1983), Tập 2, trang 65.

30. Ye, Cung Hua Guofeng dao Deng Xiaoping, các trang 222- 226; và Sun, “A Historical Turning Point of New China”, các trang 478-480.

31. Lee Kuan Yew, From The Third World to First: The Singapore Story, 1965-2000 (New York: Anchor Press, 2000), các trang 601-602.

32. Chen, China’s War, trang 85.

33. Mặc dù họ Wang vẫn còn là phó chủ tịch ĐCSTQ, ông không còn kiểm soát văn phòng chính của đảng, hay đơn vị bảo vệ trung ương của QĐGPNDTQ.  Ye, Cong Hua Guofeng, các trang 463-528.

34. Deng Xiaoping, Deng Xiaoping wenxuan [Văn Tuyển Đặng Tiểu Bình], Tập 3 (Beijing: Renmin chubanshe, 1993), trang 269.

35. Li Shenzhi, Li Shenzhi wenji [Tuyển tập các bài viết của Li Shenzhi] (Beijing: không ghi nhà xuất bản, 2004), trang 334.

36. Qian Jiang, Deng Xiaoping yu ZhongMei jianjiao fengyun [Đặng Tiểu Bình và Sự Thiết Lập Mối Quan Hệ Ngoại Giao giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ] (Beijing: Zhonggong dangshi chubanshe, 2005), trang 153; và Gong Li, Deng Xiaoping yu Meiguo [Đặng Tiểu Bình và Mỹ Quốc](Beijing: Zhonggong dangshi chubanshe, 2004), trang 236.

37. Qiang Zhai, China and the Vietnam Wars, 1950-1975 (Chapel Hill: University of North Carolina Press, 2000), trang 214.

38. “Comrade B on the Plot of the Reactionary Chinese Clique against Vietnam (1979)” [Đồng chí B – nhiều phần là Lê Duẩn – nói về Âm Mưu của Tập Đoàn Trung Quốc Phản Động chống lại Việt Nam (1979), chú của người dịch], được phiên dịch sang Anh ngữ bởi Christopher E. Goscha, The Cold War International Historical Project Bulletin, No. 12/13 (Fall/Winter 2001), các trang 281, 284, 289.  Cũng xem, Odd Arne Westad, và các tác giả khác, đồng biên tập, “77 Conversations between China and foreign Leaders on the Wars in Indochina, 1964-1977”, CWIHP Working Paper No. 22, Cold War International History Project, Washington, DC, trang 57.

39. Đây là số thống kê chính thức của Trung Quốc, nhưng cách thức tính toán thì không rõ ràng.  Theo một nguồn tin Trung Quốc chính thống, Trung Quốc đã cung cấp cho Bắc Việt Nam một tổng số là 4.26 tỷ Nhân Dân Tệ (RMB) về viện trợ quân sự từ năm 1950 đến 1974.  Li Ke và Hao Shengzhang, Wenhua dagemin zhong de jiefangjun [QĐGPNDTQ trong cuộc Cách Mạng Văn Hóa] (Beijing: Zhonggong dangshi ziliao chubanshe, 1989), trang 409.

40. Guo, biên tập, Zhong Yue guanxi, trang 106.

41. Luo, Baizhan jiangxing Wang Shangrong, trang 377.

42. Xem Westad et al., đồng biên tập, “77 Conversations”, các trang 94-98, 194-195.

43. Lee, From the Third World, trang 595.

44. Raymond Aron, Peace and War: A Theory of International Relations (Garden City, NY: Anchor Press, 1973), trang 19.

45. Thí dụ, trong Tháng Ba 1978, nhà lãnh đạo Sô Viết Tối Cao của Liên Bang Sô Viết (USSR) có gửi một thông điệp đên Ủy Ban Thường Vụ của Quốc Hội Nhân Dân Trung Quốc đề nghị rằng Liên Bang Sô Viết và Trung Quốc công bố một bản tuyên bố thân hữu về các nguyên tắc hướng dẫn các quan hệ nhà nước.  Phía Trung Quốc đã công khai bác bỏ đề nghị này.

46. Muốn có quan điểm của họ Đặng về Liên Bang Sô Viết, xem Bản Ghi Nhớ Cuộc Đàm Thoại, Brzezinski-Deng, 21 Tháng năm 1978, trong Hô Sơ China Vertical File, Jimmy Carter Library (JCL).  Cũng xem, Wang Zhongchun, “The Soviet Factor in Sino-American Normalization, 1969-1979”, trong sách đồng biên tập bởi Willkiam C. Kirby, Robert S. Ross và Gong Li, Normalization of U.S. –China Relations: An International History (Cambridge, MA: Harvard University Asia Center, 2005), các trang 165-166.

47. Wang, “The Soviet Factor in Sino-American Normalization, 1969-1979”, các trang 158-164.

48. Văn Khố Bộ Ngoại Giao, CHNDTQ, Weiren de zuji: Deng Xiaoping waijiaohuedong dashiji [Các Dâu Chân của Một Người Vĩ Đại: Tài Liệu về sự Tham Dự của Đặng Tiểu Bình trong Các Biến Cố Ngoại Giao Quan Trọng] (Beijing: Shijie zhishi chubanshe, 1998), trang 158.

49. Bản Ghi Nhớ Cuộc Đàm Thoại, Brzezinski-Deng, 21 Tháng Năm 1978.

50. Kyodo News, 26 Tháng Hai 1979, trong U.S. Foreign Broadcast Information Service, Daily Reports: China (FBIS-PRC) 26 February 1979, trang A6.

51. Đặng Tiểu Bình tin tưởng rằng chiến tranh đánh Việt Nam sẽ chứng tỏ rằng “Trung Quốc từ chối không bị dẫn dắt bởi các sự ngụy biện (buxinxie)”.  Xem Deng Xiaoping, Deng Xiaoping junshi wenji [Tuyển Tập Các Bài Viết Về Quân Sự của Đặng Tiểu Bình] (Beijing: Junshi kexue chubanshe, 2004), Tập 3, trang 177.

52. Văn thư từ Stanfield Turner gửi Brzezinski, 21 Tháng Mười Một 1978, trong NLC-26-57-1-6-4, JCL.

53. Wang, “The Soviet Factor in Sino-American Normalization, 1969-1979”, trang 166.  Học giới Tây Phương hiện nay không đưa ra bằng chứng về một vai trò của Sô Viết trong quyết định của Việt nam nhằm xâm lăng Căm Bốt.  Xem Stephen J. Morris, Why Vietnam Invaded Cambodia: Political Culture and the Causes of War (Stanford, CA: Stanford University Press, 1999), các trang 215-217.

54. Min Li, Zhong Yue zhanzheng shinian [Trung – Việt Chiến Tranh Thập Niên] (Chengdu, China: Sichuan daxue chubanshe, 1993), trang 15.

55. Cùng nơi dẫn trên, các trang 16-17.

56. Zhou, Yige gaoji canmouzhang de zishu, trang 246.

57. Qian, Deng Xiaoping, trang 151.

58. Zhong Wen và Lu Haixiao, đồng biên tập, Bainian Deng Xiaoping [Bách Niên Đặng Tiểu Bình], Tập 2 (Beijing: Zhongyang wengxian chubanshe, 2004), trang 160.  Cũng xem Gong Li, “The Difficult Path to Diplomatic Relations: China’s U.S. Policy, 1972-1978”, trong sách biên tập bởi Kirby, Ross và Li, Normalization of U.S. – China Relations, trang 315.

59. Gong, “The Difficult Path to Diplomatic Relations”, trang 140.

60. Leng Rong và Wang Zouling, đồng biên tập, Deng Xiaoping nianpu [Niên Biểu về Cuộc Đời của Đăng Tiểu Bình, 1975-1979] (Beijing: Zhongyang wenxian chubanshe, 2004), Tập 1, trang 417.

61. Patrick Tyler, A Great Wall: Six Presidents and China – An Investigative History (New York: A Century Foundation Book, 1999), trang 260.

62. Wang Taipng, biên tập, Zhonghua renmin gongheguo waijiaoshi [Trung Hoa Nhân Dân Cộng Hòa Quốc Ngoại Giao Sử] (Beijing: Shijie zhishi chubanshe, 1999), Tập 3, trang 378.

63. Qian, Deng Xiaoping, trang 156.

64. Bản Ghi Nhớ Cuộc Đàm Thoại (Memcon), Carter-Chai, 19 Tháng Chín 1978, trong hồ sơ China Vertical File, JCL.

65. Văn Thư từ Brzezinski gửi Carter, 5 Tháng Mười Hai 1978, trong China, Box 9, Brzezinski File, JCL.

66. Vào các ngày 5, 9 và 11 Tháng Mười Hai, họ Đặng đã dùng nửa ngày với các người viết diễn văn của ông để duyệt xét bài diễn văn sau cùng mà ông sẽ đọc tại Hội Nghị Công Tác Trung Ương (Central Work Conference), dự trù vào ngày 13 Tháng Mười Hai.  Xem Leng và Wang, đồng biên tập, Deng Xiaoping nianpu, Tập 1, các trang 448-449.

67. Min, Zhong Yue zhanzheng shinian, trang 18.

68. Văn thư từ Woodcock gửi Vance, 13 Tháng Mười Hai 1978; và từ Woodcock gửi Brzezinski, 14 Tháng Mười Hai 1978, trong China Vertical File, JCL.

69. Văn thư Woodcock gửi Brzezinski, 15 Tháng Mười Hai 1978, trong China Vertical File, JCL.

70. Li Jie, “China’s Domestic Politics and the Normalization of Sino-U.S. Relations, 1969-1979”, trong sách đồng biên tập bởi Kirby, Roos và Li, Normalization of U.S. – China Relations, trang 87.

71. Li, Li Shengzhi wenji, trang 335.

72. Geng, “Báo Cáo Bí Mật”, trang 149.

73. Chen, China’s War, các trang 85-87; Ross, Indochina Tangle, các trang 23-31; và Scobell, China’s Use of Military Force, các trang 130-132.

74. Thí dụ, xem Liu Jixian et al., đồng biên tập, Ye Jianying nianpu [Diệp Kiếm Anh Niên Biểu] (Beijing: Zhongyang wenxian chubanshe, 2007); Fan Shuo, chủ biên, Ye Jianying zhuan [Tiểu Sử Diệp Kiếm Anh] (Beijing: Dangdai Zhongguo chubanshe, 1997); Zhou Junlun, chủ biên, Nie Rongzhen nianpu [Niên Biểu Cuộc Đời Nie Rongzhen] (Beijing: Renmin chubanshe 1999); và Zhu Yu, chủ biên, Li Xiannian zhuan, 1909-1949 [Tiểu Sử Lý Tiên Niệm] (Beijing: Zhongyang wenxian chubanshe, 1999).

75. Tân Hoa Xã, Nhóm Tham Khảo Quốc Tế, Woguo dui Yeunan ziwei huanjizhan ziliaoji [Tuyển Tập về Cuộc Hoàn Kích Chiến Tự Vệ Của Xứ Sở Chúng ta Chống Lại Việt Nam, 17 Tháng Hai – 19 Tháng Ba 1979] (Beijing: China News Agency International Reference Group, 1979), các trang 16-17.

76. Liu Zhi và Zhang Lin, đồng biên tập, Xu Xiangqian zhuan [Tiểu Sử Xu Xiangqian] (Beijing: Contemporary China Press, 1997), các trang 549, 553-554.

77. Các nguồn tin của tôi báo cho tôi hay rằng sự chống đối của họ Diệp về cuộc chiến tranh đánh Việt Nam đã bị thúc đẩy bởi một thành viên trong gia đình của ông.

78. Liu và các tác giả khác, đồng biên tập, Ye Jianying nianpu, trang 1165.

79. Tại cuộc họp buổi tối của Ngày QĐGPNDTQ năm 1977, khi ảnh của họ Đặng được chiếu trên màn ảnh lớn, mọi người tham dự la lên vì vui mừng và đáp ứng với sự tán thưởng nồng nhiệt.  Bởi họ Đặng không phải là tổng tư lệnh, Giới Lãnh Đạo Trung Ương đã xem sự đón tiếp ông là một biến cố chính trị nghiêm trọng và đã phổ biến một thông tư phê bình sự tiếp đón như một hành động coi thường các quy lệ và kỷ luật đảng. Được nghe nói rằng Tổng Cục Chính trị đã từ chối không chuyển thông tư đến các đơn vị trực thuộc.  Zhang Sheng, Cong zhanzheng zhong zoulai: Liangdai junren de duihua [Đến Từ Chiến Tranh: Một Cuộc Đối Thoại giữa Hai Thế Hệ Chiến Sĩ] (Beijing: China Youth Press, 2007), các trang 412-413.

80. Ye, Cong Hua Guofeng, trang 212.

81. Liu và các tác giả khác, đồng biên tập, Ye Jianying, các trang 1158, 1165.

82. Liu Huaqing nhớ lại rằng khi ông là phụ tá Tổng Tham Mưu Trưởng hồi đầu năm 1979, Bộ Tổng Tham Mưu luôn luôn chuyển các văn kiện quan trọng đến họ Đăng xin phê chuẩn.  Xem Liu Huaqing huiyi lu [Hồi Ký của Lưu Hoa Thanh] (Beijing: PLA Press, 2004), trang 394.

83. Họ Đặng đã đưa ra các nhận xét này tại một phiên họp của Ủy Ban Trung Ương ĐCSTQ hôm 16 Tháng Ba 1979 thảo luận về nhu cầu một cuộc phản công dọc biên giới Trung Quốc – Việt Nam.  Toàn thể bản văn được cung cấp tại: http://wenku.baidu.com/view/d4c5afeb172ded630b1cb607.html.  Một trích đoạn được cung cấp trong Deng Xiaoping nianpu, Tập 1, các trang 492-493.

84. Zhang, Huiyilu, Tập 2, trang 166.

85. Hai quân đoàn bổ túc là quân đoàn 50 từ Quân Khu Thành Đô và Quân Đoàn 54 từ Quân Khu Vũ Hán.  Cả hai đã nhận được lệnh động viên vào ngày 5 Tháng Một 1979.  Cai Pengcen, “Those Events Happened in 1979”, http://blog.sina.com.cn/s/blog_476745601008im7.html.

86. Ye Jianying đang đi nghỉ hè tại Thượng Hại và vì thế đã không tham dự.  Xem Liu Jixian và các tác giả khác, đồng biên tập, Ye Jianying nianpu, trang 1165.

87. Jin, Hu, và Hu, Baizhan jianxing Xu Shiyou, trang 332; và Wang Xuan, Mao Zedong zhi jian: Minjiang zhixing Xu Shiyou [Thanh Kiếm Của Mao Trạch Đông: Một Vị Tướng Sáng Chói Xu Shiyou] (Nanjing: Jiangsu renmin chubanshe, 1996), trang 132.

88. Sự thay đổi cấp chỉ huy được đồn đãi một phần có thể quy cho các quan hệ cá nhân không tốt giữa Xu và Wang.  Hai viên tướng đã tranh giành cho một cuộc chiến thắng quan trọng chống lại một đơn vị Quốc Dân Đảng then chốt trong thời kỳ nội chiến.  Sau đó vào năm 1966 trong Cuộc Cách Mạng Văn Hóa, khi họ Wang là tư lệnh phó cho họ Xu tại Quân Khu Nam Kinh, ông ta công khai ủng hộ cách chính trị địa phương chống lại họ Xu.  Họ Xu rõ ràng vẫn còn khó chịu và đã cố vấn họ Đặng thực hiện một sự thay đổi cấp chỉ huy.

89. Sau một cuộc thuyết trình bằng miệng về hội nghị từ họ Xu, Yang Yong, và Wei Guoping (chủ nhiệm tổng cục chính trị), họ Đặng đã đưa ra bốn điểm.  Thứ nhất, các thành viên của nhóm lãnh đạo phải thông nhất; thứ nhì, vấn đề chủ nghĩa bè phái trong giới lãnh đạo phải bị loại trừ; thứ ba, mọi điều ban hành phải được đảm nhận bởi các phiên họp công tác của Quân Ủy Trung Ương; và thứ tư, các chính sách về sự phục hồi phải được thi hành.  Xem Leng và Wang, đồng biên tập, Deng Xiaoping nianpu, Tập 1, các trang 459-460.

90. Xem, Zhang, Cong zhanzheng zhong zoulai, trang 415.

91. Leng và Wang, đồng biên tập, Deng Xiaoping nianpu, Tập 1, trang 492.

92. “Lecture Notes on the 1979 Counterattack in Self-Defense on the Sino-Vietnamese Border” [Các Ghi Chú của Bài Thuyết Giảng về Cuộc Hoàn Kích Tư Vệ tại Biên Giới Trung – Việt] , trong “Zhong Yue zhangzhen beiwanglu”.

93. Jiang Feng và các tác giả khác.  Yang Yong jiangjun zhuan [Tiểu Sử Tướng Yang Yong] (Beijing: Jiefangjun chubanshe, 1991), trang 495; và Luo, Wang Shangrong, trang 327.

94. Zhou, Xu Shiyou de suihuo yizhan, trang 16.

95. Zhu Jiamu, Chen Yun nianpu [Chen Yun Niên Biểu, 1905-1995] (Beijing: Zhongyang wenxian chubanshe, 2000), Tập 2, các trang 235-236.

96. Zhang, Huiyilu, Tập 2, trang 166.

97. Min, Zhong Yue zhanzheng shinian, trang 17; và Jin Hui and Zhang Huisheng, Zhong Yue zhanzheng milu [Bản Tường Thuật Mật về Chiến Tranh Trung – Việt] (Beijing Jiefangjun chubanshe, 1991), các trang 27-28.

98. Xem, thí dụ, Segal, Defending China, trang 214.

99. Zhou, Yige gaoji canmouzhang de zishu, trang 246.

100. Phòng Tổng Quát của Tổng Cục Chính Trị, Zhong Yue bianjing ziwei huanji zuozhan zhengzi gongzuo jingyan xuanbian [Biên Tập Các Tài Liệu về Công Tác Chính Trị và Kinh Nghiệm in Cuộc Hoàn Kích Tự Vệ tại Biên Giới Trung – Việt] (Beijing: Guangxi renmin chubanshe, 1980), Tập 1, các trang 2-19.

101. Zhang, Huiyilu, Tập 2, các trang 170-171.

102. Jiang Feng và các tác giả khác, Yang Yong, trang 495.

103. Zhou, Yige gaoji canmouzhang de zishu, các trang 257-258; và Zhang, Huiyilu, Tập 2, trang 171.

104. Qian, Deng Xiaoping, trang 211.

105. Gong, Deng Xiaoping, trang 255; Tao Wenzhao, “Deng Xiaoping and China-U.S. Relations, 1977-1991”, Shehui kexue yanjiu [Nghiên Cứu Khoa Học Xã Hội], số 5 (2005), các trang 11-18; và Li Xiangqian, “The Establishment of China-U.S. Diplomatic Relations and the Strategic Shift in the Emphasis of Party Work”, Zhonggong dangzhi yanjiu [Nghiên Cứu Lịch Sử Đảng CSTQ], số 1 (2000), các trang 44-51.

106. Geng, “Báo Cáo Bí Mật”, trang 156.

107. Văn Thư từ Brzezinski gửi Tổng Thống Carter, không ghi nhật kỳ [1979], trong China, Box 9, Brzezinski File, JCL.

108. Văn Thư từ Michael Oksenberg gửi Brzezinski, 29 Tháng Một 1979, trong Hồ Sơ China, Box 9, Brzezinski File, JCL.

109. Bản Ghi Nhớ Cuộc Đàm Thoại, Carter-Deng, 29 Tháng Một 1979, trong China Vertical File, JCL.

110. Zbigniew Brzezinski, Power and Principle: Memoirs of the National Security Adviser, 1977-1981 (New York: Farrar, Straus and Giroux, 1983), trang 409.

111. Thư từ Carter gửi Deng, 30 Tháng Một 1979, trong China, Box 9, Brzezinski File, JCL.

112. Brzezinski, Power and Principle, trang 410.

113. Nhiều thuộc cấp của họ Đặng có nhớ lại rằng ông ta thường không thay đổi đầu óc một khi đã đưa ra một quyết định.  Thí dụ, xem Chen Zaidao, Chen Zaidao huiyilu [Hồi Ký Chen Zaidao] (Beijing: Jiefangjun chubanshe, 1991), trang 462.

114. Brzezinski, Power and Principle, trang 410.

115. Chen, Mao’s China, các trang 73-74; và Tyler, A Great Wall, các trang 276-277.

116. Tyler, A Great Wall, các trang 277-278.

117. Diễn văn của họ Đặng đọc tại Phiên Họp Khoáng Đại Ủy Ban Trung Ương ĐCSTQ, 16 Tháng Ba 1979 (xem chú thích 83 bên trên).

118. Họ Đặng còn mời các đồng sự chơi bài với ông trên máy bay.  Qian, Deng Xiaoping, trang 291.

119. Zhou, Yige gaoji canmouzhang de zishu, các trang 259-260; và Jiang Feng và các tác giả khác, Yang Yong, các trang 496-497.

120. Toàn văn bản thông tư trong sách của Min, Zhong Yue zhanzheng shinian, trang 34.

121. Harlan W. Jencks, “China’s ‘Punitive’ War on Vietnam: A Military Assessment”, Asian Survey, Tập 19, số 8 (Tháng Tám 1979), các trang 804-805; Herbert Yee, “The Sino-Vietnamese Border War”, China Report, Tập 16, số 1 (Tháng Một-Tháng Hai 1980), trang 22; và Segal, Defending China, trang 214.

122. Gong Li, “A Triangular Relationship of U.S. – China – Soviet Union during the 1979 China-Vietnam Border Conflict”, Guoji guancha [Quốc Tế Quan Sát], số 3 (2004), các trang 66-72; và Wang, “The Soviet Factor”, trang 173.  Tác giả Wang lập luận rằng sự thậm xưng của Trung Quốc về mối đe dọa quân sự của Sô Viết có chủ ý để ngăn cản CHNDTQ khỏi rơi vào “một vị thế yếu kém về mặt chiến lược”.

123. Gong Li tuyên bố một cách sai lầm rằng họ Đặng đã thông báo với Tổng Thống Carter về quyết định của Trung Hoa xâm lăng Việt Nam tại một phiên họp chính thức hôm 29 Tháng Một 1979, và ông đưa ra một cảm tưởng sai lạc rằng họ Đặng đã tạo ra một sự tiết lộ đáng ngạc nhiên trong một cuộc nói chuyện bình thường khi hai lãnh tụ trình bày quan điểm của họ về thế giới.  Xem Gong, “A Triangular Relationship”, trang 68.

124. He Di, “The Most Respected Enemy: Mao Zedong’s Perception of the United States”, trong sách đồng biên tập bởi Michael Hunt và Lin Jun, Toward a History of Chinese Communist Foreign Relations, 1920s-1960s: Personalities and Interpretative Approaches (Washington, DC: Woodrow Wilson International Center for Scholars Asian Program, 1995), các trang 27-66; và Chen Jian, “China’s Involvement in the Vietnam War, 1964-1969”, The China Quarterly, số 142 (Tháng Sáu 1995), các trang 356-387.

125. Chen, Mao’s China, trang 237.

126. Xiaoming Zhang, “China’s Involvement in Laos during the Vietnam War, 1963-1975”, Journal of Military History, số 60 (Tháng Mười 2002), các trang 1141-1166.

127. Kyodo News, 26 Tháng Hai 1979, trong FBIS-PRC, 26 February 1979, trang A5.

128. Sự giải thích này được đưa ra trước mặt các thành viên của Ủy Ban Quan Hệ Ngoại Giao Thượng Viện Hoa Kỳ tại Bắc Kinh hôm 19 Tháng Tư 1979.  Gong, “A Triangular Relationship”, trang 70.

129. Rosemary Foot vạch ra rằng không ai ước định rằng vấn đề bán vũ khí cho Đài Loan sẽ vẫn còn là một trung tâm điểm của sự căng thẳng trong các quan hệ Hoa Kỳ-Trung Quốc đến ngày nay.” Xem Rosemary Foot, “Prizes Won, Opportunities Lost: The U.S. Normalization of Relations with China, 1972-1979”, trong sách đồng biên tập bởi Kirby, Ross, và Li, Normalization of U.S. – China Relations, trang 109.

130.Sau năm 1980, Hoa Kỳ đã bắt đầu bán các hệ thống vũ khí phòng thủ cho Trung Quốc, kể cả các radar phòng thủ không phận, trang thiết bị truyền tin đường dài, và các phi cơ trực thăng quân sự.  Xem Gong, “A Triangular Relationship”, trang 71./-

Ngô Bắc dịch và phụ chú. Bản tiếng Việt Gio-o.com.
20.02.2012

Nguồn: danchimviet.info

Bài dịch nói trên nằm trong

Chủ Đề: CHIẾN TRANH TRUNG QUỐC – VIỆT NAM 1979

1.Sun Dreyer
VIỆC NÀY DẪN DẮT VIỆC KIA:
VÒNG XOÁY TRÔN ỐC SỰ VẤN ĐỀ VÀ
CHIẾN TRANH TRUNG QUỐC – VIỆT NAM (1979)
One Issue Leads to Another: Issue Spirals and the Sino-Vietnamese War (1979)
.

2. Steven J. Hood,
BẮC KINH, HÀ NỘI, VÀ ĐÔNG DƯƠNG –
CÁC BƯỚC TIẾN TỚI SỰ ĐỤNG ĐỘ
(Beijing, Hanoi, and Indochina – Steps to the Clash,
trong quyển Dragons Entangled: Indochina and the China-Vietnam War, 1992.

3. Zhang Xiaoming,
ĐẶNG TIỂU BÌNH VÀ
QUYẾT ĐỊNH CỦA TRUNG QUỐC
ĐI ĐÊN CHIẾN TRANH
VỚI VIỆT NAM
(Deng Xiaoping and China’s Decision to Go to War with Vietnam),
Journal of Cold War Studies, Summer 2010, vol. 12, No. 3, 3-29.

4, Nicolas Khoo, Hồi Kết Cuộc Của Một Tình Hữu Nghị Khổng Thể Bị Hủy Diệt: Sự Tái Xuất Hiện Của Sô Viết và Sự Châm Dứt Liên Minh Trung Quốc – Việt Nam, 1975-1979 (“The End of An Indestructible Friendship: Soviet Resurgence and The Termination of the Sino – Vietnamese Alliance, 1975-1979”), trong quyển Collateral Damage: Sino – Soviet Rivalry and the Termination of The Sino – Vietnamese Alliance, Columbia University Press, 2011, 103-136.

 

5. Alexander Woodside, Chủ Nghĩa Dân Tộc và Sự Nghèo Đói Trong Sự Tan Vỡ Các Quan Hệ Trung Quốc Việt Nam (“Nationalism and Poverty in the Breakdown of Sino-Vietnamese relations”), Pacific Affairs 52 (Fall 1979)

 

6. Herbert S. Yee, Chiến Tranh Biên Giới Trung-Việt: Các Động Lực, Tính Toán và Chiến Lược Của Trung Quốc (“The Sino-Vietnamese Border War: China’s Motives, Calculations and Strategies”), China Report 16, no. 1 (1980), 15-32

 

7 & 8. Edward C. ODow’d, Chiến Dịch 1979; và Trận Đánh Lạng Sơn, Tháng Hai-Tháng Ba 1979 (Chapter 4: The 1979 Campaign, 45-73; Chapter 5: The Battle of Lạng Sơn, February-March 1979, 75-88), trong quyên Chinese Military Strategy In The Third Indochina War, Routledge: London and New York, 2007

 

9. John M. Peppers, Chiến Lược Trong Sự Xung Đột Cấp Vùng: Một Trường Hợp Nghiên Cứu Về Trung Quốc Trong Cuộc Xung Đột Đông Dương Thứ Ba Năm 1979 (Strategy In Regional Conflict: A Case Study of China In The Third Indochina Conflict of 1979), U.S. Army War College, Carlisle Barracks, 2001.

 

10. Chen C. King, Chiến Tranh của Trung Quốc Đánh Việt Nam: Một Sự Phân Tích Quân Sự (“China’s War Against Vietnam: A Military Analysis”), Journal of East Asian Affairs, no. 1 (1983): 233-63.

 

11. Harlan W. Jenks, Cuộc Chiến Tranh ‘Trừng Phạt’ của Trung Hoa Dành Cho Việt Nam: Một Lượng Định Quân Sự (“China’s ‘Punitive’ War on Vietnam: A Military Assessment”, Asian Survey 14, no. 8 (1979): 801-15.

 

12. William J. Duiker, “Tìm Hiểu Cuộc Chiến Tranh Trung Quốc – Việt Nam (“Understanding the Sino-Vietnamese War”), Problems of Communism, 38, no. 6 (1989): 84-88.

 

13. Dennis Duncanson, Chiến Tranh Việt Nam của Trung Quốc: Các Yêu Cầu Chiến Lược Mới và Cũ (“China’s Vietnam War: New and Old Strategic Imperatives”), The World Today, 35, no. 6 (1979): 241-48

 

14. Douglas E. Pike, Cộng Sản Đấu Cộng Sản Tại Đông Nam Á (“Communism vs Communism in Southeast Asia), International Security, Vol. 4, No. 1 (Summer, 1979), từ trang 20.

 

15. Zhang Xiaoming, Chiến Tranh Năm 1979 Của Trung Quốc Với Việt Nam: Một Sự Tái Thẩm Định, (“China’s 1979 War with Vietnam: A Reassessment”), The China Quarterly, các trang 851-874

 

16. Daniel Tretiak, Chiến Tranh Việt Nam Của Trung Quốc: Các Hậu Quả (“China’s Vietnam War and Its Consequences”), The China Quarterly 80 (1979): 740-67.

 

17. James Mulvenon, Các Giới Hạn Của Ngoại Giao Cưỡng Bức: Cuộc Chiến Tranh Biên Giới Trung Quốc – Việt Nam Năm 1979 (The Limits of Coercive Diplomacy: The 1979 Sino-Vietnamese Border War), Journal of Northeast Asian Studies; Fall 95, Vol. 14 Issue 3, từ trang 68, 21trang.

 

18. Henry J. Kenny, Các Nhận Thức Của Việt Nam Về Cuộc Chiến Tranh Năm 1979 Với Trung Quốc (“Vietnamese Perceptions of the 1979 War with China”), trong quyển Chinese Warfighting: The PLA Experience since 1949, các trang 217-241, đồng biên tập bởi Mark A. Ryan, David Michael Frakelstein, Michael A. McDevitt.

 

19. Phụ Lục: Các tài liệu của Quân Đội Nhân Dân Giải Phóng của Trung Quốc về Chiến Tranh Trung Quốc – Việt Nam năm 1979: Các báo cáo và kiểm điểm của 13 đơn vị quân đội Trung Quốc đã tham gia vào Chiến Dịch 1979 xâm lăng Việt Nam.

 

Các bài nghiên cứu quan trọng khác sẽ được cập nhật khi cần thiết.

Posted in Chien Tranh Bien Gioi Viet Trung 1979 | 2 Comments »

►Làng tị nạn Việt Nam tại biên giới Việt-Trung

Posted by hoangtran204 trên 19/03/2012

Làng tị nạn Việt Nam tại biên giới Việt-Trung

nguồn Vietvungvinh.com

Friday, 13 January 2012 20:54

Written by Administrator

Qua một cơn mưa Dòng Nhà Làng ngập nước

“..Đôi lúc tôi nhận được tiếng thở dài của La Minh và nói: ‘Khi chưa có chiến tranh ai cũng biết Tổ quốc mình ở đâu, còn hôm nay chúng tôi không biết mình là ai’. Vinh nói theo:‘Giấc mơ lớn nhất của tôi, chỉ cần có được danh tính thân phận mình là ai’…”

Sau tám năm (19/2/1979 ─ 21/8/1987 ).

Chiến tranh Việt Nam‒Trung Quốc khởi sự từ đó cho đến thời điểm này vẫn còn tiếp diễn trên những cao điểm, tiếng súng qua lại giữa Việt Nam và Trung Quốc không hề hứa hẹn thời gian đình chiến, bởi nhà nước Trung Quốc lấy quyết định dùng giải pháp súng đạn làm tiêu chuẩn cho ân oán nợ chiến tranh.
Trung Quốc ở thời nào cũng thế, mỗi khi có chiến tranh thường đem dân làm mộc-nhân  (bia đỡ đạn) và dùng lính làm biển người (đẩy dân chúng đi trước để cho quân đối phương bắn chết, và nhân cơ hội ấy, quân TQ tiến lên giết quân đội đối phương), do đó đã có những làng tị nạn Việt Nam mọc lên tại biên giới phiá Nam thuộc tỉnh Vân Nam Trung Quốc.
Tuy chiến tranh biên giới Việt Nam-Trung Quốc chưa yên, thế mà chúng tôi mạo hiểm, lần đầu tiên đến địa điểm đã ước hẹn trước, sáng hôm ấy ngoài trời lành lạnh sương mù, đứng tại đầu lãnh thổ Việt Nam, năm xưa từng thuộc tỉnh Lạng Sơn của tổ quốc thân yêu. Cũng ở địa điểm quanh đây vào ngày 21/2/1979 xuýt nữa chúng tôi bỏ mạng, vùi thây dưới lòng sông Kỳ Cùng, bởi súng đạn của Trung Quốc càn quét sâu 40km vào tận lãnh thổ Việt Nam.  Chiến tranh biên giới Việt Trung đã gây ra biết bao cảnh điêu tàn, thảm khốc, không thể nào điểm danh từng xác chết của người dân bản làng và dân quân sống tại biên giới Việt Nam, họ chết nhiều kiểu cách khác nhau, nào là trong trong rừng, khe núi, dưới suối, trôi bồng bềnh trên dòng sông Các, sông Bình Nhi và đầu nguồn sông Hồng. Truyền thông Quốc tế gọi đây là cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ 3.
 
Thượng lưu sông Kỳ Cùng, người dân Trung Quốc gọi Sông Các
( Ảnh: GS. La Minh )
Mảnh đất này, trước đây là của Việt Nam, ngày này thuộc về lãnh thổ của tỉnh Vân Nam, Trung Quốc. Chúng tôi đứng trên núi cao cách làng tị nạn Việt Nam 7 cây số, nhìn về xứ sở, quê hương ẩn hiện qua xưng mù, ký ức hồi tưởng nơi chào đời mà lần đầu tiên tự miệng biết gọi hai tiếng Mẹ‒Cha. Tuy đứng trên đất tổ mà lại thuộc xứ người làm sao  không khỏi bồi hồi, xót xa, lòng xao xuyến và tự hỏi: Quê hương mình đang suy nghĩ gì về phần đất đã bị mất vào tay Trung Quốc hay có ý định nào trở mình không. Một câu hỏi trong ý thức hay vô tình sỉ nhục tôi, cũng có thể sỉ nhục lớn đối với chế độ đảng cộng sản và nhà nước Việt Nam đương thời!
 
Trên núi cao đèo Rắn thuộc tỉnh Vân Nam, nhìn về hướng đất nước tôi bên kia sông Bình Nhi
(Ảnh: GS. La Minh)
Những năm trước 1987, nhà nước Trung Quốc quảng cáo đã chiếm lĩnh được của Việt Nam những phần đất biên giới có tầm cở chiến lược quốc gia, bộ máy truyền thông của Trung Quốc dồn dập lưu diễn tại Miến Điện, Kazakhstan, Nga, Mông Cổ và biên giới Trung- Bắc Hàn, họ đồng một luận giải theo ngôn ngữ đại Hán. “Chư hầu Việt Nam hiến dâng biên giới, Trung Quốc không từ chối”. Nay họ phối trí lại cơ sở hạ tần cấp Huyện, Xã tại biên giới hai tỉnh Vân Nam, Quảng Tây. Trung Quốc làm một công trình hợp pháp về lãnh thổ biên giới, lúc ấy Việt Nam âm thầm không lên tiếng, mặc nhiên công nhận dâng hiến đất liền biên giới cho Trung Quốc, cho nên Quốc tế không có lý do nào để chỉ trích Trung Quốc hay can thiệp cho Việt Nam. Theo báo chí và truyền thông Quốc tế cũng loan tải “1979 Việt Nam hiến dâng phần đất liền biên giới, hàng ngàn dặm cho Trung Quốc”.
Trung Quốc còn tuyên bố ngoại giao: “Đất liền biến giới phía Nam rộng thênh thang, có được hàng ngàn dặm nhờ Việt Nam mở rộng phong cách mới”.
Trước năm 1987, Trung Quốc có những hành vi bất lương, như báo chí Trung Quốc tung ra nhiều loạt các báo cáo chủ quyền về đường biên giới, lập danh sách đặt lại tên cho những dãy núi lớn, nhỏ không bỏ sót một quả đồi nào, lập danh sách địa danh mới và còn ghi rõ khí hậu biên giới.
Họ tổ chức nhiều đơn vị biên phòng đi tuyên truyền cái nhân đạo của nhà nước Trung Quốc, đôi khi còn đột nhập vào thành phố ở biên giới Việt Nam và những ngôi làng nhỏ khuyến dụ dân làng làm tình báo cho họ.
Chúng tôi đang ở “Dòng nhà làng” tại nhà Họa sĩ La Minh, đến ngày thứ tư La Minh rủ chúng tôi đi thăm Lê Văn Vinh một người bạn cùng thời thơ ấu, Lê Văn Vinh hiện ở tại ngôi làng tị nạn Việt Nam có tên “Âu nhà làng”, lộ trình đường bộ khoảng 6km.
Lê Minh tay chỉ, miệng nói:
─ Âu nhà làng, lờ mờ bên núi xa xa, đó là làng của Vinh.
Thế mà chúng tôi phải trèo núi vượt suối gian nan mất hai giờ liền mới đến nơi, La Minh cho biết đi đường chim bay. Nếu đi đường Quan Công thì mất 4 giờ.
“Âu nhà làng” nằm trong thung lũng của khe núi Âu, tôi đã đi qua hai làng tị nạn Việt Nam quan sát thấy có một đặt điểm chung, họ nói nhiều ngôn ngữ khác nhau như Việt, Hoa và các sắc tộc biên giới, tuy nhiên tiếng Việt là ngôn ngữ giao thiệp chính, tại làng này có 1476 người tị nạn, còn “Dòng nhà làng” dân số đến 2574 người. Chúng tôi gặp nhau trong hoàng cảnh xúc động, có ai biết trước sự hy hữu của con nguời. Trái đất này không phụ tình người, nếu có quyết định thì nơi nào cũng đến và đi đều được cả.
Sau buổi cơm trưa, chúng tôi hàn huyên trăm ngàn chuyện cũ từ Sài Gòn đến Chợ Lớn, điểm qua bạn bè, thân thuộc, gia đình và kẻ sống ở đâu, người chết nơi nào, có những lúc Minh và Vinh xúc động khóc như trẻ thơ, vì Minh, Vinh đồng nạn nhân của năm 1975, như mọi người dân miền Nam Việt Nam, nhưng không ai hiểu thấu Minh, Vinh trải qua trắng sạch sự nghiệp và biến đổi cuộc đời bần cùng vào ngày 19/2/1979 giữa chiến tranh Việt-Hoa tại biên giới.
Trước đây Lê Văn Vinh nguyên là Cử nhân Hóa, phụ giảng Đại học Khoa Học Sài Gòn, nay là bác nông phu tại “Âu nhà làng” cư ngụ hay tạm trú trong núi rừng heo quạnh, không còn dịp trở mình, tuy nhiên chỉ còn hy vọng, ngày mai con cháu sẽ hơn cha mẹ.
Còn về La Minh, trước 1975 nguyên Giáo Sư trường Mỹ Thuật Gia Định và Bác Ái, chủ của một nhà in rất lớn tại đường Hồng Bàng Chợ Lớn, tranh của La Minh thường triển lãm tại Chợ Lớn, Hồng Kông và Đài Loan. Gia phả của La Minh đã 7 đời không còn gốc ngọn người Hoa, tổ tiên của anh từ chối cháo với chao và một chữ Triều châu cũng không ngưởi ra mùi Hoa. La Minh có mặt tại “Dòng nhà làng” do tính nghệ sĩgiang hồ xúi giục, sau 1975 anh lấy quyết định bỏ quê hương đi tìm đất hội họaĐài Loan, mượn lục địa Trung Quốc làm thuyền chở cả gia đình 7 miệng ăn và mang theo hết tài sản trên ba-lô.
Cuối cùng cả gia đình của Minh gặp phải nhiều bi kích, vợ, hai đứa con trai và một đứa con gái yêu quí nhất của Minh đều nằm xuống tại nghĩa trang. Minh xếp đặt cho con trai Cả bỏ làng đi Hồng Kông hơn một năm, còn lại hai đứa con trai nhỏ. Tôi cùng Minh ra nghĩa trang thắp hương cho chị  Minh và  các cháu. (Chương sau chúng tôi nói đến Nghĩa trang và Bỏ làng)
Lúc này tinh thần Vinh đã bình tỉnh lại và cho biết:
─ Hai năm trước giới quân sự cho xây dựng một đường chiến lược tuần tra biên giới thông qua các làng bằng những đoạn giao thông hào rất kiên cố. Cũng như các quan chức tỉnh Vân Nam, thường đưa phóng viên vào làng này để săn tin, họ nói: “Cuối năm 1970 đã có người Việt Nam trốn thoát vào Trung Quốc xin tị nạn, có vài người đã sống ở đây hơn 20 năm”. Lê Văn Vinh nói tiếp: “Những người sống ở đây hơn 20 năm, thuộc vào diện “hỗ trợ” chính là viên chức Tình báo chiến lược của quân đội Trung Quốc”.
Họ trà trộn vào đời sống ở đây, sinh hoạt như người tị nạn Việt-Hoa, Hoa-Việt và người dân tộc biên giới, vốn đã phức tạp về ngôn ngữ và sinh hoạt theo tập tục văn hóa từng bộ tộc để phân biệt và tìm hiểu về họ, mình phải có ít nhiều lý thú đi sâu vào sinh hoạt trong môi trường làng tị nạn Việt Nam, có thế mới khám phá được những ý đồ của nhà chức trách Trung Hoa.
Trước 1975 ở biên giới Việt-Hoa chưa hình thành làng tị nạn Việt Nam, thế nhưng cũng đã có vài trăm người tị nạn mang nhãn hiệu “hỗ trợ”. Họ xuất hiện bởi những tên gián điệp người Hoa, trước khia họ hoạt động tại miềm Bắc Việt Nam, sau khi nhà nước Hà Nội phát hiện họ bị trục xuất khỏi Việt Nam, kéo theo một hệ lụy từ chối công nhận người Hoa vào quốc tịch Việt Nam.
Người Hoa ở miền Bắc về lại Trung Quốc hóa thành nghịch cảnh, dù có công hay không đối với nước Trung Quốc hiện đại vẫn bị từ chối quyền công dân, nhà nước Trung Quốc không công nhận những đứa con của Tổ quốc trở về, người Trung Quốc chỉ thừa nhận họ là người tị nam Việt Nam dù đã sống ở Trung Quốc 20 năm.
Một nghịch lý khác sau 1975, có hơn một triệu người Hoa sinh ra và lớn lên tại miền Nam Việt Nam, đã 9 kiếp tổ tiên là người Việt vẫn gọi ôm mớ là người Hoa. Thời chiến tranh Trung Quốc dùng địch vận gọi mỹ danh “Hoa Kiều Việt Nam” khi Hoa Kiều Việt Nam trở về Trung Quốc lập tức được công nhận “Người tị nhận Việt Nam” hai chữ “Hoa Kiều” hết giá trị, hiện nay trong làng nói tiếng Việt hơn 75%.
Đôi lúc tôi nhận được tiếng thở dài của La Minh và nói: ” Khi chưa có chiến tranh ai cũng biết Tổ quốc mình ở đâu, còn hôm nay chúng tôi không biết mình là ai..”.
Vinh nói theo:”Giấc mơ lớn nhất của tôi, chỉ cần có được danh tính thân phận mình là ai”.
Chúng tôi hỏi Vinh:
─ Hiện nay bạn đang làm việc gì để sống và có những dự tính nào cho tương lai không?
─ Tôi vẫn lẩn quẩn công việc trang trại trong làng và lao động phụ cho công trường trồng cây Bồ Đề và Bạch Đàn, chỉ đủ nuôi cái miệng, còn đâu suy nghĩ tương lai, nếu có tiền tôi đã bỏ làng ra đi rồi, dù biết rằng không có chứng minh nhân dân cũng phải liều.
Lê Minh mặt trầm, đôi mắt hướng ra sân làng như đang thất vọng nói:
─ Tao và mày cũng như tất cả mọi người ở trong làng, không ai muốn ở đây, đi ra ngoài mới thấy không gian sống, nhưng không có chứng minh nhân dân ở đây như lao tù.
Qua một cơn mưa “Dòng nhà làng” ngập nước
Vinh cho biết:
─ Chính phủ Trung Quốc chỉ công nhận họ là “người tị nạn Việt Nam”, không công nhận họ là công dân Trung Quốc. Do đó 214 làng dọc theo biên giới, vì không có quốc tịch Trung Quốc, không có bản sắc, chúng tôi sống trong vòng tròn nhỏ của làng, sống trong sự cô lập hoàn toàn với thế giới bên ngoài. Đối với những người tị nạn, muốn đi xa để làm việc, trước nhất mua một ID giả hoặc thẻ ID với giấy phép cư trú tạm thời của người khác nhằm đáp ứng việc kiểm tra an ninh. Nếu không phải người dân Trung Quốc, chẳng có chứng minh thư, nhỡ đụng đến công an Trung Quốc là xanh mặt.
Đề cập đến đời thường của người tị nạn, có vẻ Minh và Vinh xúc động và nhạy cảm, sau một lúc im lặng ngắn ngủi, mới bắt đầu nói chuyện, các bạn tôi thường hỏi tình hình thế giới bên ngoài, nhất là những câu hỏi về hôn nhân và đất nước Việt Nam hôm nay.
Con trai của Vinh cho biết:
─ Người ta nói rằng sẽ vào làng tuyển một số nữ trẻ đi làm việc xa nhà, nhưng không đi lâu dài. Tại sao không tuyển Nam mà lại Nữ, phải chăng người Trung Quốc muốn Nữ giới ra khỏi làng bằng cách hôn nhân, nhưng người ta không biết luật pháp về quốc tịch, nó chỉ có giá trị cho thế hệ sau ( Mẹ vẫn tị nạn Việt Nam, đứa con mới là công dân của Trung Quốc ) nói chung thế hệ này vẫn tị nạn muôn năm.
Chưa hết có một quân nhân biên phòng tại Huyện cho biết: “Quốc tịch con cái của họ còn tùy thuộc vào sở hữu của những người tị nạn. Kết quả cho thấy chính sách này ưu đãi một cô gái tị nạn kết hôn với người đàn ông Trung Quốc và nếu các cô gái Trung Quốc kết hôn với một người tị nạn, trẻ em của họ vẫn theo cha làm “người tị nạn”. Đây mới chính là kịch trường làm người tị nạn, cô gái kết hôn với người bản xứ được đi ra ngoài làng và tất nhiên người trai như con không thể tìm thấy đối tượng.
Chúng tôi tự động bảo nhau, lùi sâu vào trong nhà và nói chuyện bằng tiếng Hoa, bởi từ xa có những cái đầu lú nhú ở dưới núi đi lên, đó là những bộ đội biên phòng địa phương, họ đi tuần tra biên giới, tôi và Minh hiểu ý của Vinh.
Vừa thấy những tên biên phòng đi qua nhà, họ ăn to nói lớn, đó là cá tính của người Hoa miền núi, tiếng Quan thoại ồn ào: “1979 nhà nước ta qui động trên 370.850 người tại các làng tị nạn Việt Nam, tham gia lập giao thông hào và bảo vệ chiến lũ, người tị nạn có động lực cao vì họ muốn hội nhập nhiều hơn vào thế giới bên ngoài làng, thậm chí họ còn ghi danh gia nhập bộ đội biên phòng, đó cũng là một lý lẽ phù hợp với “Luật Quốc tịch Trung Quốc” thực ra các quy định này chưa trao cho người tị nạn Việt Nam”.
Thời gian qua mau, nói chuyện ngày xưa chưa hết lời, đã 5 giờ chiều, tôi và La Minh xin chào tạm biệt Vinh, hẹn hôm nào gặp lại, Vinh nói:
─ Tao đề nghị 5 ngày nữa tập hợp bạn cũ tại nhà Minh, lấy cớ làm giỗ chị Minh, có thế thằng Tâm mới hội ngộ được thằng Đào, thằng Tùng, con Châu, con Ái, con Liên và chị Trang.
La Minh khẻ nói:
─ Vinh đề nghị quá hay, nhưng ai tiến hành đi loan tin.
Vinh không suy nghĩ liền nói:
─ Khi tao đề nghị thì phải thực hiện công tác này.
La Minh hỏi lại:
─ Năm ngày mà mày làm cách nào mời hết được bạn bè, hai nữa chúng nó ở rất xa.
Vinh khẳng định như đinh đóng cột :
─ Thì tao mời theo thuật bắng tên, hiện nay những làng tị nạn Việt Nam, tạm thời rải rác theo chiều dài và rộng 1350km đường biên giới do Trung Quốc chiếm được của Việt Nam vào năm 1979. Từ biên giới của Vân Nam đến Quảng Tây giáp đối diện năm tỉnh Việt Nam gồm Lai Châu, Lào Cai, Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn và Quảng Ninh, không có khó đâu, hãy an tâm, tin tao.
Tôi cùng Minh chào Vinh, hẹn năm ngày sau tái ngộ. Chúng tôi đi theo triền núi về làng “Dòng nhà làng”, trên đường đi Minh cho biết nhiều vấn đề của người Việt tị nạn tại Trung Quốc, tôi chú ý nhất là chuyện Trung Quốc tham nhũng tiền bảo trợ của Cao Ủy Liên Hiệp Quốc phụ trách tị nạn (UNHCR) cho làng tị nạn Việt Nam:
─ Nhà chức trách Trung Quốc dã tâm và lưu manh lấy hết tiền bảo trợ. Bộ Ngoại giao Trung Quốc còn thành lập một nhóm dữ liệu báo cáo giả trước (UNHCR) đại khái nội dung: “Từ năm 1978, chính phủ Trung Quốc trong tinh thần nhân đạo đã tiếp nhận 30 triệu người tị nạn Đông Dương vào Trung Quốc. Con số lớn như vậy mà không thấy người. Riêng 214 làng tị nạn Việt Nam, dù cho đào mồ cuốc mả tính luôn cả người sống lẫn ngưới chết trên đầu núi, dưới lòng suối cũng chỉ có 1,6 triệu người.
Tôi tiếp tục lắng nghe, Minh nói một sự kiện khác:
─ Nhóm dữ liệu Trung Quốc còn báo cáo hồ sơ giả tạo khác: “Hiện nay Trung Quốc đang quan tâm đến làng sóng tị nạn, chủ yếu là năm 1978-1979, Trung Quốc đang thúc đẩy Việt Nam chặn đứng người tị nạn từ Việt Nam tràn qua Trung Quốc”. Thực tế người Việt tràn ra biển Đông, chứ không bao giờ tràn qua Trung Quốc, thà chết dưới chế độ tự do dân chủ đa nguyện còn hơn sống dưới chế độ cộng sản Trung Quốc, chỉ có những hệ lụy và vâng lời Trung Quốc đỏ mới ra thân danh vô Tổ Quốc. Trung Quốc còn bịp bợm hơn, tuyên bố cho hồi hương người tị nạn Việt Nam về cố quốc. Mặt trái khác cộng sản Việt Nam và cộng sản Trung Quốc cư xử với Hoa kiều hay Việt kiều không công bằng, khi còn chiến tranh Hoa kiều là cái kho kinh tế, một ngân hàng lưu trữ tài chánh cho hai đảng cộng sản Việt-Hoa. Hết chiến tranh Hoa kiều hay Việt kiều trở thành thứ phế thải bỏ vào thùng rác không tái sinh!
Trung Quốc và Việt Nam đang chơi một ván cờ, dùng người tị nạn Việt Nam trả giá quân cờ Hồi-hương theo chương trình của UNHCR, đây cũng là một cách chơi khăm của Trung Quốc đối với Việt Nam, mà không mang tiếng với Quốc tế, nhân dịp biến lực lượng quân đội Trung Quốc thành người tị nạn hồi hương, chủ yếu xâm nhập hợp pháp vào Việt Nam. Trung Quốc đã chuẩn bị từ trước có cả danh sách địa chỉ định cư và họ khạc tên người tị nạn Việt Nam ra một bên, vĩnh viễn sống tại biên giới. Theo chiến lược của Trung Quốc, họ đã bắt đầu cho bộ đội trẻ thay áo mới dân sự, mang nhãn hiệu người tị nạn Việt Nam, họ sẽ là người Việt Nam giấy nằm vùng trong lòng Việt Nam chờ thời cơ biến thành vũ khí của Trung Quốc.
Tôi nghe tin này khá lý thú liền hỏi:
─ Tin này có thực chứ và Minh lấy nguồn tin này ở đâu?
─ Trung Quốc rất nhiều ma giáo, nhất là chính trị, trước khi tạm cư trong làng, người tị nạn Việt Nam phải viết một bản tự khai, không từ bỏ một ai, và Minh có dịp hiện diện tại chiến trường với nhiệm vụ vẽ những bản đồ tiến quân của Trung Quốc, mỗi ngày tiếp cận với giới chức quân đội và dân sự. Đôi khi còn nghe tướng Lữ Chính Thao (Lu Zhengcao)tự hào về cuộc chiến tranh này.
 
吕正操( Lu Zhengcao ) Lữ Chính Thao
Tôi và Minh về đến “Dòng nhà làng”. Tiếp tục thấy cảnh chịu đựng khốn cùng của dân làng, tôi thấy những túp lều đã cũ, bao quanh bằng phên nứa, nay đã rò rỉ tồi tàn và ẩm ướt, bếp lửa lạnh khói, chỉ cần một cơn mưa là ngập “Dòng nhà làng”. Trong nhà La Minh trên rách có treo vài tranh ảnh Sài Gòn và Chợ Lớn.
Như mội ngày, đến bửa cơm, tôi dùng từng bát cơm trộn với ngô luộc, hỏi ra mới biết cả làng ba bữa một ngày hầu hết mọi người như thế cả!
Làng tị nạn Việt Nam không có bệnh xá, khi dân làng đau nặng chỉ chờ chết, bệnh nhẹ lấy cây cỏ ngoài đồng ruộng hay rừng làm thuốc trị liệu. Ngoài nghĩa trang số cột bia mộ, tương đương với số dân trong làng.
Huỳnh Tâm
 
*Bài viết ghi lại những sự kiện trong chuyến đi đầu tiên đến Vân Nam Trung Quốc, ngày 21/8/1987, nhưng đến nay nó vẫn còn nguyên giá trị thời sự của nó.

Nguồn: http://ethongluan.org/trangnha/1120-lang-ti-nan-viet-nam-tai-bien-gioi-viet-trung.html

Posted in Chiến lược xâm nhập của Trung Quốc vào Viet Nam, Chien Tranh Bien Gioi Viet Trung 1979 | 3 Comments »

►Thân phận “cử tri” và “Đại biểu Nhân dân” ở Việt Nam

Posted by hoangtran204 trên 17/03/2012

Lê Anh Hùng
Dân hai lăm triệu ai người lớn
Nước bốn nghìn năm vẫn trẻ con.

Tản Đà

Trước tình trạng thu hồi đất nông nghiệp vô tội vạ rồi đền bù rẻ mạt trên khắp các tỉnh thành ở Việt Nam mà không một tổ chức dân cử nào lên tiếng bảo vệ quyền lợi cho họ, người ta dễ nhận thấy thân phận rẻ rúng của những cử tri nông dân trên một đất nước có tới hơn 70% dân số sống ở nông thôn, những người đã bầu lên đủ kiểu đại diện chính trị cho mình trong một chính thể tự xưng là “của dân, do dân và vì dân”.

Thậm chí, ngay cả khi người nông dân bị cướp trắng thành quả lao động như trường hợp gia đình anh Đoàn Văn Vươn ở Hải Phòng mà vẫn không có một vị “đại biểu nhân dân” nào do họ bầu lên bày tỏ thái độ bênh vực quyền lợi của họ, từ đại biểu HĐND xã cho đến vị ĐBQH quyền uy đầy mình là đương kim Thủ tướng.

[Xin nói leo với tác giả một chút. Tác giả dường như giả vờ bỏ quên 2 vấn đề ở đây: vấn đề thứ nhất, hiến pháp của CH XHCN VN 1980, điều 19, thời Lê Duẫn, đã ghi rõ: “Đất đai thuộc quyền sở hữu của toàn dân”. Mọi người đọc qua câu ấy thì vui mừng quá vì  mọi người hiểu  chữ sở hữu toàn dân là: dân được quyền làm chủ đất đai. Tuy nhiên, đó là sự hiểu lầm.

Vì  theo đảng CSVN, chỉ có 3 loại quyền sở hữu: sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể, và sở hữu tư nhân. Đảng cắt nghĩa rằng: đất đai thuộc quyền sở hữu của toàn dân có nghĩa là đất đai thuộc quyền sở hữu quốc doanh, tức là của nhà nước. Và, báo của đảng bộ Hà Nội cẩn thận cắt nghĩa thêm: dân chúng chỉ có quyền sử dụng đất.

Có nghĩa là: nếu lúc nào nhà nước cần trưng dụng miếng đất nào thì sẽ mua lại đất đai của người dân ấy theo giá trị mà nhà nước đặt ra. Đó là lý do mà các đại biểu quốc hội không dám can thiệp.  Vấn đề thứ hai là chữ đại biểu quốc hội của CH XHCN VN do đảng bày đặt ra khác xa với ý nghĩa mà tác giả hiểu.

Thí dụ điển hình: ông Ng Tấn Dũng chưa từng có nhà cửa hay từng cư trú ở Hải Phòng quá 3 ngày, nhưng ông vẫn được xem là đại biểu quốc hội của tỉnh Hải Phòng. Lý do là: đảng bố trí ông ra ứng cử ở tỉnh đó và chọn ông ta làm đại biểu quốc hội của tỉnh Hải Phòng.

Đảng là cao nhất, có quyền làm gì thì làm, và các định nghĩa như đại biểu quốc hội chỉ là tên gọi hình thức, chứ không nhất thiết giống như tác giả hiểu về ý nghĩa của chữ nầy. Vì vậy, ông Ng tấn Dũng không can thiệp vào vấn đề mất đất đai của Đoàn Văn Vươn là đúng rồi.

Ở các nước tư bản, tam quyền phân lập, và hành pháp, lập pháp, tư pháp có quyền ngang nhau. Ai làm ở ngành nào thì chỉ là công chức hoặc thuộc về ngành ấy. Không thể có chuyện một người mà cùng lúc làm việc trong 2 ngành. Như thể: Nước sông không thể chung đụng với nước giếng.

Còn ở nước CH XHCN VN do đảng quang vinh lãnh đạo thì có hơi khác chút. Ông thủ tướng Ng. tấn Dũng là thủ tướng, đứng đầu ngành hành pháp, nhưng ông vừa là nhà lập pháp (làm ra luật) vì ông ta là đại biểu quốc hội của tỉnh Hải Phòng.

Ông Trương Hòa Bình vừa là chánh án tòa án nhân dân tối cao (thuộc ngành tư pháp) vào năm 2007, cùng lúc ấy ông cũng là đại biểu quốc hội khóa 12 và 13 (thuộc ngành lập pháp). Mới nghe qua là choáng. Nhưng Đảng phân công như thế mới gọi là khác đời].    

Ở các quốc gia phát triển, mặc dù chính phủ của họ luôn hô hào “tự do thương mại” và đặt ra những đòi hỏi cao về mức độ mở cửa thị trường đối với các nước đang phát triển khi đàm phán các hiệp định thương mại đa phương hay song phương, song nông dân của họ vẫn luôn nhận được nhiều ưu ái, thể hiện qua các chính sách bảo hộ nông nghiệp dưới những hình thức đa dạng và tinh vi, bất chấp thực tế nông dân chỉ chiếm một tỷ lệ rất nhỏ trong cơ cấu dân số của họ.

Ở những nước đang phát triển và theo chế độ dân chủ như Thái Lan chẳng hạn, tiếng nói của người nông dân luôn được chính phủ lắng nghe và phản ứng tích cực. Lý do là vì ở những quốc gia đó, nhân dân nói chung và người nông dân nói riêng được hưởng đầy đủ các quyền tự do chính trị, trong đó có quyền lựa chọn người đại diện đích thực của mình trong bộ máy chính quyền. Tuy những chính sách bảo hộ như thế thường nhuốm màu chính trị (chủ nghĩa dân tuý hay chủ nghĩa bảo trợ) chứ không phải vì lý do kinh tế và không một cuốn sách giáo khoa kinh tế nào lại cổ vũ cho chính sách bảo hộ thương mại, song điều này càng cho chúng ta thấy rõ thực tế rằng chính phủ chỉ thực sự là “của dân, do dân và vì dân” khi người dân nắm quyền định đoạt vận mệnh chính trị của nó thông qua những lá phiếu bầu cử dân chủ.
Nông dân Thanh Hóa xuống ruộng ngày 3/2/2012
Ở Việt Nam thì ngược lại, nhân dân nói chung và người nông dân nói riêng xem ra chẳng là “cái vé” gì cả. Điển hình là các đơn kiến nghị, thỉnh nguyện thư đủ kiểu của nhân dân gửi các vị lãnh đạo, các cơ quan nhà nước nhưng hầu như chẳng bao giờ được hồi âm. Vô số bài viết trên các trang báo đã chỉ ra sự bất cập của những chính sách về nông nghiệp – nông dân – nông thôn, song tất cả rồi cũng lần lượt rơi vào im lặng chứ hầu như không tạo ra được một sự biến chuyển đáng kể nào. Đơn giản là với cơ chế “Đảng cử, dân bầu” suốt hàng chục năm qua, các “cử tri” ở Việt Nam gần như chẳng có chút ảnh hưởng gì tới sinh mệnh chính trị của các vị “quan cách mạng” cả.Trong một hệ thống mà Đảng “lãnh đạo tuyệt đối và toàn diện”, tiếng nói của “nhân dân” hiếm khi được đếm xỉa tới, và tầng lớp “quan cách mạng” từ cấp nhỏ nhất đến cấp cao nhất đều lấy phương châm “dựa vào nhau mà sống” để tồn tại. Các cuộc bầu cử Quốc hội hay HĐND các cấp đều có tỷ lệ cử tri đi bầu đạt gần 100% dù trên thực tế tình trạng thường gặp là một người đi bầu cho cả nhà. Do không có cạnh tranh chính trị nên các con số liên quan đến bầu cử thường bị phù phép, bởi chẳng có chủ thể độc lập nào giám sát thực hư của những con số đó. Quả thực, ngay cả lá phiếu của cử tri, “tiếng nói tập thể” đáng kể nhất của nhân dân, mà còn bị vô hiệu hoá như thế thì còn trông mong gì ở những “tiếng nói” lẻ tẻ khác? Vụ việc ngày 22/5/2011, một người dân ở Cà Mau trên đường đi chợ đã nhặt được 85 phiếu bầu cử HĐND xã có đóng dấu đỏ (hợp lệ) khiến dư luận một phen ồn ỹ, nhưng rồi lại nhanh chóng rơi tõm vào sự im lặng quen thuộc của nhà chức trách, hay loạt bàiChuyện đồng chí Minh Nhớpcủa nhà báo Phan Thế Hải về trò hề “bầu cử Quốc hội” ở Hà Tĩnh một thời, mới chỉ cho chúng ta thấy phần nổi nhỏ xíu của tảng băng khổng lồ thôi.Mỗi kỳ “tiếp xúc cử tri” theo quy định của pháp luật, các vị “đại biểu nhân dân” thường chỉ tiếp xúc với các “đại cử tri” quen mặt và đã được chính quyền sở tại “sàng lọc” kỹ để khỏi đưa ra những câu “hỏi xoáy”. Các vị “đại biểu nhân dân” cũng chẳng cần phải bận tâm nhiều về điều đó, bởi họ làm “đại biểu nhân dân” chủ yếu là do “tổ chức phân công”, do “cấp uỷ bố trí”, hơn là do nhân dân lựa chọn và gửi gắm thông qua những lá phiếu dân chủ. Và do được cấp uỷ “phân công” hay “bố trí” như thế nên một khi trở thành “đại biểu nhân dân”, họ cũng nhất nhất “quán triệt” theo chỉ đạo của lãnh đạo Đảng các cấp. Câu chuyện do nguyên ĐBQH Nguyễn Minh Thuyết kể về Nghị quyết điều chỉnh địa giới hành chính thủ đô Hà Nội và các tỉnh mà Quốc hội thông qua ngày 29/5/2008 là một minh chứng điển hình: “Khi thăm dò dự án mở rộng Thủ đô, tôi nhớ có 226 phiếu thuận và 226 phiếu chống. Nhưng khi biểu quyết thì tỷ lệ lên tới 92,9% tán thành.” Rõ ràng ở đây chỉ có ba khả năng sau xảy ra: (i) các vị ĐBQH này đích thị là những “con rối”, (ii) họ biết “lá phiếu” hay “nút bấm” của mình luôn ở trong “tầm ngắm” nên sau khi đã được “chỉ đạo” họ đành phải “quán triệt” (bởi một lẽ đơn giản là trong cái gọi là “Nhà nước pháp quyền XHCN” ở VN thì mỗi “công dân” đều là một “tù nhân dự khuyết”), và (iii) con số kia lại bị “phù phép” như đã nói ở trên. “Nhà dột từ nóc”, “quyền lực tuyệt đối thì tha hoá tuyệt đối” – thiết tưởng chẳng có gì đáng phải “băn khoăn” ở đây cả.Chắc chắn là nhiều vị đại biểu nhân dân, đặc biệt là Đại biểu Quốc hội, rất muốn lên tiếng trước những vấn đề nóng bỏng của đất nước hay những bức xúc của cử tri, đơn giản là chẳng ai muốn bị liệt vào hàng “nghị gật” hay “nghị vỗ tay” cả. Ngặt nỗi, bản thân họ cũng chỉ có “quyền” thực hiện vai trò của một “ông bưu điện” là tiếp nhận đơn thư của nhân dân và đóng dấu “kính chuyển” cho các cấp chính quyền rồi ngồi chờ câu trả lời theo kiểu được chăng hay chớ thôi. Những đơn thư chứa chất bao nỗi niềm của nhân dân cứ thế lòng vòng một hồi rồi về lại nơi xuất phát. Bên cạnh đó, những vấn đề lớn của đất nước thì thường bị dán nhãn “nhạy cảm” và được lãnh đạo Đảng các cấp “định hướng” hay “quán triệt” cho các “đại biểu nhân dân”. Bởi thế cho nên giữa lúc bao vấn đề cấp thiết của đất nước đang nổi lên cùng với nhiều bức xúc của dư luận (vụ Tiên Lãng, lạm phát, suy thoái, hiện tượng xe máy cháy hàng loạt, v.v.) mà chẳng thấy tiếng nói của Quốc hội ở đâu thì việc một vị Phó Chủ nhiệm Uỷ ban của Quốc hội lên tiếng gần như tức thời trước bức thư “cầu cứu” của một cô bé 15 tuổi trong cuộc thi trên truyền hình mang tên “Vietnam’s Got Talent” lại càng dễ khiến người ta cảm thấy sao mà lạc lõng và bi hài, để rồi cả nước lại được một phen bàn ra tán vào. Chợt nhớ câu thơ của thi sĩ Tản Đà hồi đầu thế kỷ trước:Dân hai lăm triệu ai người lớn
Nước bốn nghìn năm vẫn trẻ con.
Xem ra ở Việt Nam không chỉ “cử tri” mà ngay cả “Đại biểu Quốc hội” tại “cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất” cũng “biết thân biết phận” của mình. Thôi thì lo chuyện trẻ con cũng là một phận sự cao cả ở đời vậy, nhất là ở cái đất nước “bốn nghìn năm vẫn trẻ con” này thì còn có khối chuyện kiểu như thế. Những chuyện “quốc gia đại sự” khác thì đã có lãnh đạo Đảng và “bạn” lo hết cho rồi còn gì: nào là phải quán triệt “ba kiên trì” (kiên trì hiệp thương hữu nghị, kiên trì nhìn vào đại cục, kiên trì bình đẳng cùng có lợi) như “bạn” đã phán này, nào là không để bị “Tây hoá”, “tha hoá” và “thoái hoá” như “bạn” đã dạy này… Ôi ViệtNam, bao giờ Người mới lớn nổi đây?!./.L. A. H.Tác giả gửi trực tiếp cho BVN.*************

Chế độ sở hữu toàn dân và vấn đề sở hữu đất đai

 Trong suốt thời gian qua, bất chấp mọi cố gắng của các nhà làm luật, các vấn đề cơ bản liên quan đến sở hữu toàn dân và sở hữu nhà nước vẫn chưa được giải quyết. Vấn đề sở hữu vốn thuộc một trong những phạm trù “cổ điển” của khoa học pháp lý và phạm trù “sơ đẳng” của một hệ thống pháp luật. Do đó, hầu như không có khó khăn gì để minh định nó. Nguyên nhân có thể có nhiều, nhưng theo chúng tôi, phần quan trọng nằm ở các “rào cản” mà các nhà làm luật chưa thể vượt qua cả về tâm lý chính trị và nhận thức chính trị.

Ở khía cạnh pháp lý, “sở hữu” luôn luôn là vấn đề nền tảng của cả pháp luật kinh tế lẫn pháp luật dân sự. Hơn một nửa thế kỷ qua, việc xây dựng pháp luật ở nước ta đều đã xoay quanh khái niệm này, và trên thực tế đã đạt được nhiều thành tựu cơ bản và nổi bật. Đó là thông qua các Hiến pháp từ 1946, 1959, 1980 và 1992 và các đạo luật đơn lẻ khác, đặc biệt là Bộ luật Dân sự năm 1995 như một đỉnh cao, sau đó sửa đổi năm 2005,  Nhà nước ta đã khẳng định và sáng tạo ra các chế định liên quan đến chế độ và hình thức sở hữu, địa vị pháp lý của chủ sở hữu, các chế định kề cận v.v..Tuy nhiên, có một thực tế là cho tới hiện nay, vẫn tồn tại hai cách tiếp cận với vấn đề sở hữu  khác nhau, thậm chí chồng chéo và lẫn lộn. Đó là tiếp cận chính trị và tiếp cận pháp lý.Nhấn mạnh cách “tiếp cận chính trị”, chúng ta luôn luôn tìm cách phân định và phân biệt giữa chế độ sở hữu xã hội chủ nghĩa (với nền tảng là sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể) và chế độ sở hữu tư bản chủ nghĩa (mà nòng cốt là sở hữu tư nhân).  Trong khi đó, cách tiếp cận pháp lý đòi hỏi phải xác định rõ các quyền và nghĩa vụ của các chủ sở hữu và các đối tượng liên quan trong các giao dịch liên quan đến sở hữu theo  “hình thức sở hữu”, vốn đa dạng, phong phú và đậm màu sắc thực tiễn hơn “chế độ sở hữu”.Cụ thể, Hiến pháp 1992 quy định ba chế độ sở hữu là sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể và sở hữu tư nhân, trong đó sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể là nền tảng. Đồng thời, Hiến pháp cũng xác định các đối tượng quan trọng thuộc sở hữu toàn dân, trong đó bao gồm đất đai và “phần vốn và tài sản Nhà nước đầu tư vào các xí nghiệp …”. Đến năm 2003, trong hai đạo luật quan trọng được Quốc hội thông qua là Luật Đất đai và Luật Doanh nghiệp nhà nước lại có hai quy định khác nhau liên quan đến hai đối tượng thuộc sở hữu toàn dân. Trong khi Luật Đất đai vẫn khẳng định đất đai thuộc sở hữu toàn dân còn Nhà nước là “đại diện chủ sử hữu toàn dân”, thì Luật Doanh nghiệp nhà nước lại định nghĩa rằng “Doanh nghiệp nhà nước là tổ chức kinh tế do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ…”. Trong suốt thời gian qua mặc dù mọi cố gắng của các nhà làm luật, các vấn đề cơ bản liên quan đến sở hữu toàn dân và sở hữu nhà nước vẫn chưa được giải quyết. Tại sao vậy? Và vấn đề nằm ở đâu?Có thể khẳng định rằng lý do không tại năng lực chuyên môn của các nhà làm luật. Vấn đề sở hữu vốn thuộc một trong những phạm trù “cổ điển” của khoa học pháp lý và phạm trù “sơ đẳng” của một hệ thống pháp luật. Do đó, hầu như không có khó khăn gì để minh định nó. Nguyên nhân có thể có nhiều, nhưng theo chúng tôi, phần quan trọng nằm ở các “rào cản” mà các nhà làm luật chưa thể vượt qua cả về tâm lý chính trị và nhận thức chính trị.Về tâm lý chính trị, phải chăng đó là sự e ngại và né tránh để đối diện và cắt nghĩa về lý luận sự thay đổi có tính bước ngoặt của các chế định có tính nguyên tắc của Hiến pháp 1980 (trong đó khẳng định vị trí độc tôn của sở hữu xã hội chủ nghĩa với hai chế độ sở hữu là “toàn dân” và “tập thể”) thông qua ban hành Hiến pháp 1992 (với sự khẳng định cùng tồn tại của sở hữu tư nhân và nền kinh tế đa thành phần)? Về nhận thức chính trị, phải chăng vẫn tồn tại định kiến xưa cũ rằng chủ nghĩa xã hội và nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa chỉ có thể được bảo đảm và xây dựng trên nền tảng của hoặc chế độ sở hữu toàn dân, hoặc hình thức sở hữu nhà nước ?
Ngoài ra, về mặt lý luận, dường như chúng ta vẫn để mặc nhiên tồn tại quan niệm mang tính giáo điều về phạm trù “sở hữu toàn dân” (cho đây là điều có tính tất yếu khách quan trong một xã hội xã hội chủ nghĩa), ở một cực này, và đơn giản hay tầm thường hoá nó bằng khái niệm “sở hữu nhà nước”, ở một cực khác, mà không có sự đào sâu để làm cho minh bạch.I/ Về chế độ sở hữu toàn dân Khái niệm sở hữu toàn dân là một sản phẩm của quá khứ. Trên công luận và trong một số công trình nghiên cứu thời gian qua, những vấn đề có tính nghi ngờ hoặc phê phán đã được mạnh dạn nêu ra theo hướng (i) có tồn tại thật không chế định này về mặt pháp lý, (ii) thực chất sở hữu toàn dân chỉ là cái “áo chính trị” của sở hữu nhà nước, và (iii) từ sự không rõ ràng của khái niệm và chế định này đã “đẻ” ra nhiều hệ quả và hậu quả khó giải quyết. Sự không rõ ràng này là có thật và được minh chứng bới các mâu thuẫn và không nhất quán trong các quy định của Hiến pháp với Bộ luật Dân sự, Luật Doanh nghiệp nhà nước và Luật Đất đai v.v.. Đi sâu về mặt học thuật, có nhiều vấn đề cần bàn luận, thậm chí tranh cãi, về các khái niệm này. Chẳng hạn:Nói đến “sở hữu toàn dân” đương nhiên có thể hiểu đó là quyền sở hữu chung của ít nhất tất cả mọi công dân đang sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam. Điều này, về mặt pháp lý, đòi hỏi phải tạo ra một cơ chế để tất cả mọi người dân (tức các đồng sở hữu chủ) đều có quyền tham gia “định đoạt” và “hưởng lợi” từ quyền sở hữu này. Tuy nhiên, dân số vốn là một đại lượng có tính biến động, (chẳng hạn thông qua sự sống, chết và dịch chuyển), do đó, về mặt khách quan sẽ không bao giờ xác định được những ai cuối cùng đã, đang và sẽ là đồng chủ sở hữu. Để đơn giản hoá, sẽ có thể có cách lý giải (mặc dù khiên cưỡng) rằng, Quốc hội chính là chủ thể của sở hữu toàn dân vì là “cơ quan đại diện cao nhất”. Tuy nhiên, Quốc hội chỉ do các công dân từ 18 tuổi trở lên và những người không bị tước quyền công dân bầu ra chứ không phải toàn dân; hơn nữa, về thực chất, bầu cử là hành vi thực hiện các quyền chính trị (để cấu tạo ra bộ máy nhà nước) chứ không phải hành vi uỷ quyền dân sự trong quan hệ sở hữu. Ở đây, chúng tôi muốn nói tới tính vô lý về pháp luật và vô nghĩa về mặt thực tế của khái niệm sở hữu toàn dân. Mặc dù trong thời gian qua, khi cổ phần hoá các xí nghiệp quốc doanh ở Liên Xô và các nước vốn thuộc khối Đông Âu (cũ), để thể hiện thái độ nghiêm túc với chế độ sở hữu toàn dân, người ta đã chia cổ phần của các xí nghiệp này cho mọi người dân, chứ không chỉ “bán một phần cho cán bộ, công nhân viên” như ở nước ta.Còn về “sở hữu nhà nước” thì sẽ có các câu hỏi đặt ra như: (i) Ai là nhà nước? (khái niệm “nhà nước” là một hệ thống các cơ quan và cấu trúc khác nhau chứ không phải một cơ quan tập trung hay thống nhất), (ii) “nhà nước trung ương” hay “nhà nước địa phương?, và (iii) Ai là đại diện cho chủ thể nhà nước? (phân biệt giữa cơ quan chính quyền, cơ quan lập pháp và cơ quan tư pháp). Một khi không làm rõ các vấn đề như vậy thì sẽ dẫn tới một loạt hệ quả là các hành động “nhân danh nhà nước” bao gồm cả sự chồng chéo lẫn lạm dụng về thẩm quyền.  Hiện nay, khi pháp luật xác định theo cách giải nghĩa rằng “nhà nước là người đại diện sở hữu toàn dân” thì cần đi tiếp theo lập luận này, mà theo đó chúng ta lại vấp phải vấn đề khác. Đó là, cũng theo pháp luật thì chỉ có Quốc hội là người có quyền đại diện nhân dân (tức đồng thời có thể sẽ là người đại diện sở hữu toàn dân) chứ không phải các cơ quan chính quyền (tức Chính phủ và Uỷ ban nhân dân các địa phương). Và trong trường hợp như vậy thì cần phải xác định rõ là cơ quan chính quyền (hay nói gọn là “chính quyền”) sẽ chỉ đóng vai trò là người quản lý tài sản thuộc sở hữu toàn dân mà thôi.Với cách đặt vấn đề như trên, trong bối cảnh Đảng, Nhà nước đang chuẩn bị cho Đại hội Đảng lần thứ XI với các chương trình nghị sự quan trọng được trông đợi như sửa đổi Cương lĩnh Xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm 1991, lấy đó làm tiền đề để sửa đổi Hiến pháp 1992, chúng tôi xin kiến nghị và đề xuất như sau:(a)    Về phương diện chủ thể sở hữu:Xem xét bỏ khái niệm và chế định “sở hữu toàn dân” vì không có cơ chế thực hiện đồng thời không có ý nghĩa thực chất, mà thay vào đó xác định các chủ thể mới thay cho “toàn dân” và “nhà nước”. Cụ thể, đưa vào hai khái niệm mới là sở hữu quốc gia và sở hữu của chính quyền (bao gồm sở hữu của chính quyền trung ương và sở hữu của chính quyền địa phương như tỉnh, huyện và xã), coi đó là hai hình thức quan trọng nhất của sở hữu công cộng. Theo chúng tôi, khái niệm “quốc gia” không chỉ rộng mà còn sâu sắc hơn khái niệm “toàn dân”. “Quốc gia” bao gồm cả lịch sử của nhiều thế hệ con người Việt Nam sống trên lãnh thổ này (tức quá khứ), hiện tại (toàn dân) và tương lai (bao hàm sự phát triển). Quốc gia là phạm trù khái quát nhưng có thực, tồn tại lâu dài, không phụ thuộc vào người dân với tư cách các cá thể thuộc phạm trù có tính biến động. Sở hữu quốc gia có ý nghĩa đặc biệt, là đối tượng bất di, bất dịch, không thể mua, bán, chuyển nhượng và được bảo hộ đặc biệt.  Sở hữu của chính quyền, ngược lại, có tính linh hoạt. Chính quyền có thể mua, bán, chuyển đổi, chuyển nhượng các đối tượng thuộc sở hữu của mình trên cơ sở Bộ luật Dân sự.(b)    Về phương diện đối tượng sở hữu:Hiến pháp 1992 hiện hành, tại Điều 17, có liệt kê các đối tượng thuộc sở hữu toàn dân, tuy nhiên vừa quá “mở” (rất tuỳ nghi), vừa không cụ thể và đặc biệt không có sự phân loại theo cấp độ quan trọng xét về mặt tài sản của một quốc gia hay nhà nước. Chẳng hạn, khi nói đến các “công trình kinh tế, văn hoá và khoa học…” thì quá mở và tuỳ nghi, hoặc khi liệt kê các đối tượng sở hữu thì lại đồng hạng giữa “đất đai, rừng núi, sông hồ …” với “phần vốn và tài sản do Nhà nước đầu tư vào các xí nghiệp…” vốn rất khác nhau về tính chất cũng như ý nghĩa chính tị, kinh tế và xã hội. Cần lưu ý rằng tài sản thuộc sở hữu “quốc gia”, “nhà nước” hay “toàn dân” không chỉ mang đến nguồn lợi mà còn là gánh nặng về tài chính và các nghĩa vụ khác đối với nhân dân, trước hết với tư cách là người đóng thuế, do đó, vấn đề không chỉ là bảo vệ đối với các tài sản này mà còn là sự kiểm soát của nhân dân đối với sự gia tăng của nó (ví dụ sự đầu tư xây dựng công trình hay mua sắm của các cơ quan chính quyền cần phải bị kiểm soát trong các giới hạn theo luật định).  Do đó, chúng tôi đề xuất cần có cơ chế pháp lý để phân định, phân loại, kiểm soát sự gia tăng và biến động cũng như đặt ra các giới hạn về loại cũng như quy mô giá trị đối với các tài sản thuộc loại hình sở hữu đặc biệt này.(Kỳ sau: Về sở hữu đất đai)Chế độ sở hữu toàn dân và vấn đề sở hữu đất đai (Kỳ II)(Kỳ sau: Về sở hữu đất đai)Chế độ sở hữu toàn dân và vấn đề sở hữu đất đai (Kỳ II)

Luật sư Nguyễn Tiến Lập

 Có lẽ không có quốc gia nào có bộ luật về quản lý đất đai đồ sộ và phức tạp như ở Việt Nam, nhưng khái quát về thực trạng pháp luật về đất đai của nước ta có thể diễn nôm rằng: “xác lập quyền rất khó, sử dụng và chuyển dịch quyền cũng khó nhưng tước bỏ quyền thì rất dễ”. II/ Về sở hữu đất đaiNếu lấy mục tiêu của Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật như thể hiện trong Nghị quyết 48 –NQ/TW của Bộ chính trị năm ban hành năm 2005 về “Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam từ 2005 đến 2010, tầm nhìn 2020” là thúc đẩy sự phát triển của kinh tế thị trường và bảo vệ tốt hơn các quyền và lợi ích hợp pháp của người dân để làm căn cứ đánh giá, thì có thể thấy rằng các quy định pháp luật về đất đai hiện nay đang tiếp tục là các “rào cản”.  Có lẽ không có quốc gia nào có bộ luật về quản lý đất đai đồ sộ và phức tạp như ở Việt Nam, bao gồm Luật Đất đai 2003 và hơn 400 văn bản hướng dẫn sau đó được ban hành cho tới nay. Vấn đề ở chỗ đó không phải là tất cả pháp luật cần có về  đất đai (để điều chỉnh nó như là một loại tài nguyên, đối tượng sở hữu và tài sản theo BLDS) mà chủ yếu là các văn bản liên quan đến quản lý nhà nước hay quản lý hành chính về đất đai, tức về thực chất xoay quanh bảo vệ các quyền và lợi ích của nhà nước với tư cách là “người đại diện chủ sở hữu (toàn dân) về đất đai”. Khái quát về thực trạng pháp luật về đất đai của nước ta có thể diễn nôm rằng: “xác lập quyền rất khó, sử dụng và chuyển dịch quyền cũng khó nhưng tước bỏ quyền thì rất dễ”. Có nhiều khía cạnh để có thể bàn luận xung quanh thực trạng này, tuy nhiên xét về phương diện “sở hữu toàn dân về đất đai” có thể nêu một số vấn đề ở góc độ lý thuyết như sau:Thứ nhất, khi Hiến pháp ghi rằng “đất đai thuộc sở hữu toàn dân” thì cần coi đó là tuyên ngôn chính trị về sở hữu hơn là một chế định pháp lý. Đất đai nói chung, tương tự như không khí và ánh sáng là các yếu tố thuộc về môi trường sống tự nhiên, nên không thể là “tài sản” thuộc phạm trù sở hữu của luật dân sự được. Thay vào đó, các “mảnh đất” hay “thửa đất” cụ thể mới là đối tượng của sở hữu theo pháp luật. Luật về đất đai của các nước, do đó, chính là luật về địa chính.Thứ hai, khi tuyên bố đất đai thuộc sở hữu toàn dân trên cơ sở Luật Đất đai năm 1980, Nhà nước đã tước đoạt về mặt pháp lý (một cách đơn giản và dễ dàng) toàn bộ sở hữu tư nhân về đất đai ở Việt Nam. Tuy nhiên, bởi “đất đai” và “thửa đất” (hay “mảnh đất”) thuộc hai phạm trù khác nhau, do đó, trên thực tế, quá trình quốc hữu hoá các “mảnh đất” và “thửa đất” cụ thể đã không xảy ra sau đó. Hay nói một cách khác, Nhà nước vẫn phải thừa nhận một thực tế khách quan là ai ở đâu (trên mảnh đất nào) thì vẫn ở đó. Có nghĩa rằng về mặt pháp lý, Nhà nước chỉ can thiệp vào hai khía cạnh của quyền sở hữu đất đai, đó là kiểm soát quyền sử dụng và quyền định đoạt (chứ không tước đoạt hay giành lấy các quyền này). Từ nay, người dân (chủ sử dụng đất) muốn thay đổi mục đích sử dụng hay chuyển đổi, chuyển nhượng chủ quyền đối với các mảnh đất, thửa đất của mình thì phải xin phép và được sự đồng ý của Nhà nước. Như vậy, động cơ của hành động “quốc hữu hoá” nói trên không phải nằm ở vấn đề quyền sở hữu mà ở chủ trương của Nhà nước nhằm kế hoạch hoá tập trung một cách triệt để các quan hệ liên quan đến sở hữu đất đất đai.Thứ ba, ngày nay, khi triển khai xây dựng nền kinh tế thị trường, việc kế  hoạch hoá của Nhà nước đối với nền kinh tế và đời sống xã hội không còn nữa, dẫn đến chế định sở hữu toàn dân đối với đất đai cũng mất hết ý nghĩa. Không những thế, việc tiếp tục duy trì chế định sở hữu này còn trực tiếp và/hoặc gián tiếp cản trở sự phát triển của nền kinh tế và quá trình làm giàu của người dân bằng việc hạn chế người dân biến các mảnh đất, thửa đất của mình thành tài sản và/hoặc vốn đầu tư. Mặt khác, chế định sở hữu toàn dân đối với đất đai đã và đang gây ra các “lạm dụng” một cách công khai hay ngấm ngầm của tất cả các chủ thể liên quan đến sở hữu, sử dụng và kinh doanh đất đai, bao gồm cả chính các cơ quan chính quyền, trong đó, thay vì chuyển đất đai thành tài sản và vốn đầu tư để phát triển kinh tế và đời sống thì biến nó thành phương tiện đầu cơ để trục lợi bằng tiền bạc ngắn hạn.Cụ thể, từ góc độ thực tế của việc thi hành các chính sách về đất đai, có thể minh hoạ các yếu tố “rào cản” và “lạm dụng” nói trên như sau:(a)    Yếu tố “rào cản”. Khi nói đến phát triển trong nền kinh tế thị trường tức là phát huy quyền tự do sáng tạo của người dân với tư cách là các chủ thể kinh tế. Theo đó, người dân cần phải có quyền tự do sử dụng các “mảnh đất”, “thửa đất” của mình như một phương tiện và/hoặc tài sản (hay vốn) kinh doanh. Nói đến “phương tiện” là nói đến tính linh hoạt và đa dạng về mục đích sử dụng. Còn nói đến “vốn” hay “tài sản” trong kinh doanh tức nói đến khả năng chuyển dịch đơn giản và thuận tiện để “quay vòng” làm tăng giá trị đồng vốn và tài sản. Các khả năng này, rất tiếc đều bị cản trở hay hạn chế chính bởi cơ chế “sở hữu toàn dân”, trong đó điển hình là năm loại giới hạn về (i) chủ thể sử dụng đất (tức ai được giao đất hay thuê đất với các tiêu chí do cơ quan quản lý nhà nước quyết định), (ii) mục đích sử dụng đất (với các phân định rất chi tiết về các loại đất và hình thức pháp lý để có đất phụ thuộc vào mục đích sử dụng), (iii) quyền liên quan đến việc sử dụng (ví dụ quyền thế chấp, chuyển nhượng, thừa kế v.v..), (iv) thời hạn sử dụng đất (được quy định phổ biến là 20, 30 hay 50 năm, trừ đất ở dân sinh), và (v) thủ tục hành chính nặng nề và phức tạp để chuyển dịch và chuyển đổi quyền sử dụng đất.  Cần lưu ý là trong thời gian qua, việc cấp các các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (“sổ đỏ”) đã được triển khai rộng rãi với quy mô và số lượng lớn, tuy nhiên câu hỏi đặt ra là “sổ đỏ” thực chất có ý nghĩa gì?Đối với đất ở dân sinh, “sổ đỏ” chỉ tái xác nhận “ai ở đâu vẫn ở đấy”, và do đó, người dân không thấy có ích lợi gì một khi nhận thức rằng đó là đất thuộc sở hữu của ông cha để lại hoặc đã bỏ tiền ra mua từ trước, nay để nhận được  một “tờ giấy màu đỏ” lại phải nộp tiền và làm các thủ tục phiền hà. Nếu đất có “sổ đỏ” sẽ dễ dàng mua bán, chuyển nhượng hơn thì xét từ lợi ích của người dân, đó cũng chi là các thủ tục do chính Nhà nước đặt ra trong khi từ trước đó, người dân vẫn giao dịch bằng giấy viết tay. Trên thực tế, trong các giao dịch đất đai hiện nay, đặc biệt là đất ở, nếu đối với cơ quan nhà nước khi tiến hành các thủ tục hành chính liên quan thì chỉ cần dựa trên “sổ đỏ” được cấp cho các mảnh đất, song người dân vẫn hiểu rằng, theo tập quán của giao dịch dân sự thì người đứng tên trên “sổ đỏ” chỉ là người đại diện cho các chủ sở hữu để tiếp nhận “sổ đỏ” mà thôi. Do vậy, khi tiến hành giao dịch mua bán, chuyển nhượng, bên mua vẫn yêu cầu có sự đồng ý của tất cả những đồng sở hữu hoặc có quyền và lợi ích liên quan khác đối với mảnh đất. Trong trường hợp này, có thể thấy rằng các “yếu tố dân sự” được coi trọng và thực hiện triệt để hơn các “yếu tố hành chính”.“Sổ đỏ”, một khi được cấp, đương nhiên sẽ tạo thuận lợi hơn cho bên cho vay tiền (nhất là các ngân hàng) tiếp nhận thế chấp đối với quyền sử dụng đất. Tuy nhiên, vấn đề phức tạp và các khó khăn lại xảy ra khi xử lý các thế chấp như vậy. Ngân hàng hay các bên cho vay hoàn toàn không dễ dàng phát mại tài sản thế chấp hay tiếp nhận quyền sử dụng đất thay thế bên vay bởi phụ thuộc một loạt các điều kiện được pháp luật quy định về chủ thể, mục đích, hình thức và thời hạn sử dụng đất như đã nói ở trên. Nói tóm lại, hàng loạt các “sổ đỏ” đã được cấp sau các nỗ lực rất lớn của các cơ quan quản lý địa chính trong thời gian qua sẽ có thể phát huy tác dụng rất lớn cho đời sống dân sinh và đời sống kinh tế, nếu nó thật sự là các “chứng thư về sở hữu” đối với đất đai. Tuy nhiên với tính chất chỉ là các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (như tên gọi của nó), trong khi quyền sở hữu vẫn nằm trong tay “người khác” thì tác dụng và ý nghĩa của nó đã bị hạn chế rất nhiều.(b)    Yếu tố “lạm dụng”. Trong thời gian qua, các “lạm dụng” trong lĩnh vực đất đai chủ yếu đến từ các doanh nghiệp và cơ quan quản lý Nhà nước tại các địa phương. Sự “lạm dụng” xảy ra đặc biệt nghiêm trọng trong hai khía cạnh (i) quy hoạch sử dụng đất và (ii) thu hồi quyền sử dụng đất hiện hữu của người dân (nhất là nông dân) để xây dựng các dự án công nghiệp và thương mại. Về mặt lý thuyết, quyền quy  hoạch sử dụng đất đương nhiên thuộc chủ sở hữu đất. Vậy nếu chủ sở hữu là “toàn dân” thì nhân dân phải được tham gia xây dựng quy hoạch. Trên thực tế, nhân danh vai trò “đại diện  chủ sở hữu toàn dân”, các cơ quan chính quyền nắm giữ toàn quyền và độc quyền trong việc lập và sửa đổi quy  hoạch. Quá trình lạm dụng sẽ bắt đầu một cách “bài bản” khi có các nhóm lợi ích tư nhân từ phía các doanh nghiệp tham gia, thậm chí chi phối, dẫn đến hậu quả là quy  hoạch không còn phục vụ các mục đích “quốc kế dân sinh” mà chỉ nhằm hỗ trợ các nhóm lợi ích tư nhân tìm kiếm lợi nhuận thông qua các dự án kinh tế cụ thể.Ngoài ra, Luật Đất đai và nhiều văn bản hướng dẫn thi hành đã hợp thức quyền thu hồi đất của người đang sử dụng để phát triển các dự án kinh tế mà không tính đến tính chất và mục tiêu của các dự án này. Khác với giai đoạn của nền kinh tế kế hoạch trước đây, trong nền kinh tế thị trường, hầu hết các dự án kinh tế được hình thành trên cơ sở các cân nhắc về lợi ích thương mại và vì động cơ lợi nhuận của cá nhân hoặc nhóm cá nhân các nhà kinh doanh. Một sự cần thiết hay nhất thiết phải phân biệt giữa dự án vì lợi ích công cộng (trong đó có lợi ích của chính những người bị thu hồi đất) và dự án vì mục đích thương mại thuần tuý đã không được tính đến khi ban hành các văn bản pháp luật về đất đai và đầu tư. Do đó, hậu quả của quá trình công nghiệp hoá và đô thị hoá thời gian qua, như các phương tiện thông tin đại chúng đã cảnh báo, là sự mất và giảm nghiêm trọng “đất trồng lúa” và biến hàng triệu nông dân thành “tay trắng” về phương diện tư liệu sản xuất. Sự “lạm dụng” đó, theo chúng tôi, có nguyên nhân từ một cơ chế tâm lý và pháp lý đặc thù hình thành từ chế độ sở hữu toàn dân về đất đai.Thứ tư, thông qua phát triển kinh tế theo cơ chế thị trường, một quá trình tư nhân hoá về sở hữu đất đai đã và đang diễn ra trên thực tế một cách không thể tránh khỏi, dẫn đến vô hiệu hoá chế độ sở hữu toàn dân về đất đai như được xác định trong Hiến pháp 1992. Như trên đã nói, “chủ sở hữu đất đai” luôn luôn tách rời khỏi người chiếm hữu và sử dụng đất. Nhà nước (là đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai) cố gắng duy trì quyền sở hữu của mình bằng cách can thiệp vào quá trình sử dụng và định đoạt đất. Tuy nhiên, vấn đề đặt ra các quyền can thiệp một cách chủ động  này của Nhà nước đã và đang dần dần bị hạn chế và/hoặc khống chế bởi chính các yếu tố thị trường. Sự tác động của các quy luật thị trường (không chỉ bó hẹp trong nước mà còn bao gồm cả thị trường quốc tế và toàn cầu) gây sức ép làm phá vỡ các kế  hoạch chủ động, và trên thực tế những năm vừa qua đã buộc các cơ quan Nhà nước thường xuyên phải thay đổi các quy  hoạch phát triển kinh tế nói chung và quy hoạch sử dụng đất nói riêng đã ban hành. Thực tế cũng chỉ ra rằng các dự án kinh tế có quy mô vừa và nhỏ có thể đáp ứng yêu cầu phải tuân thủ quy  hoạch; song các dự án lớn, thậm chí khổng lồ (với số vốn đầu tư được nêu ra tới hàng tỷ hay hàng chục tỷ USD) thì chắc chắn sẽ tác động làm thay đổi các quy  hoạch phát triển. Hơn nữa, các dự án đó phần lớn lại được khởi xướng và quyết định bởi các lực lượng tư nhân, là đối tượng chắc chắn chủ yếu quan tâm đến tỷ suất thu hồi đầu tư và lợi nhuận, hơn là những mục tiêu quốc kế, dân sinh. Câu hỏi đặt ra là các cơ quan cấp phép đầu tư có thể từ chối cho phép các dự án đầu tư mang tính “gây sức ép” như vậy được không ? Có thể, nhưng rất khó, bởi về mặt công khai, Nhà nước đang và luôn luôn đứng trước một sức ép khác còn lớn và có tính trực tiếp hơn, đó là nâng cao và duy trì tỷ lệ tăng trưởng kinh tế, đồng thời tạo ra công ăn việc làm, lấy phát triển kinh tế để bảo đảm ổn định chính trị và xã hội.Trở lại khía cạnh sở hữu về đất đai, vấn đề chính ở chỗ các dự án kinh tế có phải luôn luôn được triển khai như cam kết của nhà đầu tư hay không, để qua đó cơ quan Nhà nước vẫn bảo đảm được các quy hoạch và kế hoạch về sử dụng đất? Trên thực tế vừa qua, trong phần lớn các trường hợp rủi ro đối với triển khai dự án, các cơ quan quản lý Nhà nước lại khó có thể thu hồi mà thường sẵn sàng đồng ý để chủ đầu tư gia hạn sử dụng đất, chuyển đổi mục đích và/hoặc chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho tổ chức, cá nhân khác. Đối với không ít dự án kinh tế, các quá trình gia hạn, chuyển đổi và chuyển nhượng lại có thể tiếp tục diễn ra thêm một vòng hay nhiều vòng nữa, để cuối cùng, các khu đất đã được cấp (có thể lên tới hàng trăm, hàng ngàn hecta) vẫn nguyên hình là “đất” trong khi các lợi ích của các chủ đầu tư liên quan vẫn được thu hồi đầy đủ, thông qua việc quay vòng kinh doanh và buôn bán cái gọi là “thương quyền” đối với đất đai.Những điều nêu ra một cách khái quát như vậy diễn tả bản chất của quá trình tư nhân hoá đất đai, trong đó các cơ quan quản lý Nhà nước không còn đủ sức để sử dụng các công cụ và biện pháp hành chính nhằm kiểm soát sự vận động của các yếu tố và quy luật thị trường, dẫn đến đánh mất các thực quyền của người chủ sở hữu. Hậu qủa của nó, mà cả Nhà nướcvà xã hội phải gánh chịu là giá đất ngày càng tăng trong khi hiệu quả thật sự của các dự án đầu từ thì ngày càng thấp.Để kết luận, đánh giá việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật trên cơ sở Nghị quyết 48-NQ-TW nói trên, liên quan đến vấn đề sở hữu về đất đai, chúng tôi cho rằng trong năm năm qua hệ thống pháp luật của nước ta không tiến thêm được bước nào trong việc giải quyết những vấn đề căn bản như đã đề cập. Tuy nhiên, chúng tôi cũng không kiến nghị bãi bỏ chế độ sở hữu đất đai hiện nay một cách đơn giản. Thay vào đó, cần có sự nghiên cứu theo hướng đặt lại vấn đề có tính nguyên tắc của Hiến pháp 1992, theo hướng huỷ bỏ chế độ sở hữu toàn dân, đa dạng hoá sở hữu về đất đai, bao gồm sở hữu quốc gia (vĩnh viễn hay về cơ bản không tư nhân hoá), sở hữu của chính quyền và sở hữu tư nhân. Điều này là thông lệ phổ biến ở hầu hết các nước đã phát triển thành công.  (theo báo Tia sáng”

Luật sư Nguyễn Tiến Lập

Tháng 9/2010

Posted in Chinh Tri Viet Nam, Chinh Tri Xa Hoi | Leave a Comment »

Tập Cận Bình cho rằng: đảng Cộng sản đã biến thành nơi chia chác đỉnh chung- Vào đảng là để có cơ hội vinh thân phì gia, chứ không phải vì lý tưởng hay mục đích cao đẹp phụng sự đất nước và nhân dân

Posted by hoangtran204 trên 17/03/2012

Năm tới, Đảng CSTQ sẽ họp đại hội đảng, vậy mà bây giờ các chức vụ cao cấp nhất TQ đã được các giới ngoại giao nước ngoài và báo chí loan tin rồi. Tập Cận Bình sẽ là nhân vật chóp bu của TQ. Vậy, dựa vào đâu mà người ta biết ông này trở thành lãnh đạo cao cấp nhất của TQ? Câu trả lời là dựa vào lịch sử của đảng CSTQ từ thời Mao và các biến cố thời sự trong thời gian gần đây ở TQ  đã là nền tảng cho các suy đoán này.

Còn ở VN thì sao? Mỗi khi sắp có đại hội đảng CSVN, thì trước đó năm, ba tháng sẽ có các chuyến ngoại giao quà cáp của các đứa con ngoan viếng thăm cha; rồi chỉ vài ngày trước khi đại hội khai mạc, thì cha viếng thăm con với huấn thị rõ ràng là bản danh sách: ai sẽ nhận chức vụ gì…Chuyện này ngày xưa là bí mật, nhưng với thời đại internet thì rõ như ban ngày, một người VN có theo dõi thời sự có thể nhận ra và kiểm chứng rất dễ dàng. Điển hình, trong khoảng thời gian từ 6-2010 cho đến 1-2011 là thời gian sắp có đại hội đảng CSVN lần thứ 11. Các nhân vật cao cấp của đảng CSVN viếng thăm Trung Quốc rất nhộn nhịp. Đến nổi, khoảng 3 tháng trước ngày đại hội đảng, các blogger và các đài nước ngoài đã đoán trúng phóc 100% ai sẽ  nắm chức vụ gì trong đảng và nhà nước vào năm 2011. Chỉ cần chiếu vào các cuộc viếng thăm TQ của các nhân vật cao cấp của đảng CSVN, người ta đoán là ai sắp nắm các chức vụ chóp bu. Bởi vậy, quả thật là không nói ngoa khi nói: đảng CSTQ là cha của đảng CSVN.

Kiểm chứng lại lịch sử của đảng CSVN thì biết thêm: ai được “cha” xếp đặt vào chức vụ gì đã là một thông lệ kể từ 1951, nay cứ thế mà tiếp tục, và sẽ không thể nào khác đi được trong tương lai.

Năm 2013, Đảng CSTQ sẽ có đại hội đảng. Lịch sử lập lại, các chức vụ cao cấp nhất TQ đã được các giới ngoại giao nước ngoài và báo chí loan tin. Họ đã dựa vào đâu mà suy đoán? Các thói quen trong lịch sử của đảng CSTQ có từ thời Mao, thời gian 30 năm gần đây ở TQ, và tin thời sự đấu đá giữa các nhân vật cao cấp của đảng đang diễn ra ở TQ đã là nền tảng cho các suy đoán này.

Tập Cận Bình nói nghe quen quen

Huỳnh Ngọc Chênh

Theo RFI, Phó Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình tuyên bố rằng đảng Cộng Sản, mà ông sắp lên lãnh đạo vào vài tháng tới đây, chỉ là nơi tập trung thành phần giá áo túi cơm cần phải được “trong sạch hóa”. Những tệ nạn trong đảng cầm quyền suốt hơn 63 năm tại Trung Quốc là “thiếu lý tưởng, sa đọa, vô nguyên tắc và vô trách nhiệm đã xâm nhập mọi cấp đảng viên” với những mức độ khác nhau và làm mất uy tín trong dân chúng. Ông nhấn mạnh: nhân dân Trung Quốc gần như mất hết tin tưởng vào đảng Cộng sản.

Theo AFP, ông Tập Cận Bình lo ngại rằng đảng Cộng sản đã biến thành nơi chia chác đỉnh chung. Vào đảng là để có cơ hội vinh thân phì gia, chứ không phải vì lý tưởng hay mục đích cao đẹp phụng sự đất nước và nhân dân.

Ông Tập cũng nói đến một số giải pháp để làm trong sạch đảng như: “củng cố tổ chức, kiểm soát việc kết nạp đảng viên, tăng cường giáo dục và thanh tra”“thanh lọc hàng ngũ một cách kiên quyết, khai trừ những phần tử thoái hóa nghiêm trọng không thế cứu vãn”.

He he, những tuyên bố của Tập nghe sao thấy quen quen.

Bất cứ tổ chức nào, đứng trên pháp luật, độc hưởng mọi đặc quyền đặc lợi thì trước sau gì cũng đi đến chỗ thối nát rồi sụp đổ. Từ triều đình nhà Hán, qua triều đình nhà Đường, đến nhà Nguyên, nhà Minh rồi Mãn Thanh và hiện nay là đảng Cộng Sản TQ. Chế độ quân trị hay đảng trị thì cũng như nhau. Thời quân trị đẻ ra biết bao nhiêu hôn quân làm điêu đứng nhân dân và xả tắc. Thời đảng trị thì đẻ ra một ông Mao với mức độ “hôn quân” độc ác có khi toàn bộ các ông hôn quân trong lịch sử Trung Hoa gom lại cũng không bằng.

Đọc lại tài liệu thời Mao trị vì, cứ mỗi lần uy tín của ông ta lung lay, mỗi lần ông ta muốn đấu đá nội bộ để tranh giành quyền lực là y như những lần đó ông ta phát động các cuộc chỉnh đảng, các cuộc vận động đủ kiểu nhân danh làm trong sạch nội bộ đảng gây ra không biết bao nhiêu đau thương tang tóc.

Ngay sau vụ Bạc Hi Lai, những tuyên bố mạnh mẽ về chỉnh đảng của Tập Cận Bình được phát ra không khỏi không làm người ta liên tưởng đến những lần chỉnh đảng tang thương của Mao.

Nhưng dù chỉnh thật hay chỉnh giả thì từ rồi ra đời đến nay, đảng CS TQ liên tục được chỉnh đốn. Tuy vậy đến bây giờ lại nghe người sắp đứng đầu của đảng phát biểu về tổ chức của mình một cách hết sức tồi tệ như trên. Qua đó, người ta không thể không rút ra kết luận rằng: sự thoái hóa của đảng là tất yếu, là không có thuốc chữa trị.

Thật ra có một loại thuốc chữa trị rất hiệu quả nhưng những người cộng sản đang được hưởng đặc quyền đặc lợi không dại gì nghĩ đến: Đặt đảng xuống dưới pháp luật và xây dựng một nhà nước pháp quyền thật sự.

Từ xưa đến nay ta vẫn thường nghe các cụm từ: Nhà nước phong kiến thối nát, nhà nước độc tài thối nát, nhà nước độc đảng thối nát chứ chưa bao giờ nghe cụm từ: nhà nước pháp quyền thối nát.

_______________________________________

Tái bút:

Ông Tập không nhắc đến thế lực thù địch của đảng nhưng qua cách nói của ông thì thế lực ấy nằm ngay trong đảng đó là: phường giá áo túi cơm, bọn đảng viên sa đọa, thoái hóa biến chất….Có một thế lực thù địch ở bên ngoài nữa nhưng không nghe ông nhắc đến: Bọn ngư dân VN đánh cá trên Biển Đông và bọn biểu tình chống Trung Cộng ở Hà Nội. He he, bọn trên Biển Đông thì anh lo, còn bọn ở Hà Nội là trách nhiệm của các chú đấy.

Posted in Chinh tri Trung Quoc | Leave a Comment »

Đấu đá trong giới lãnh đạo Trung Quốc cho thấy sự chia rẽ

Posted by hoangtran204 trên 17/03/2012

Jamil Anderlini
Diên Vỹ chuyển ngữ

Khi những nhà lãnh đạo độ tuổi lục tuần của Trung Quốc xuất hiện trước công chúng với những bộ áo sẫm màu và kiểu tóc nhuộm giống nhau, mọi hành động của họ đều được sắp xếp để biểu lộ tính đoàn kết và đồng thuận.

Báo chí và truyền hình Trung Quốc đồng loạt tường thuật giới lãnh đạo của quốc gia đông dân nhất thế giới nhất loạt đưa tay để biểu quyết một vấn đề trong ngày với mục đích quá rõ rệt rằng đây là một đảng Cộng sản hoà thuận.

Nhưng rất thường xuyên, thường là trước giai đoạn chuyển đổi chính trị hoặc khi quốc gia này đối diện một cơn khủng hoảng lớn, sự chia rẽ trầm trọng vẫn tồn tại phía dưới lại nổi lên bên trên.

Điều này hiện đang xảy ra khi giới lãnh đạo quốc gia chuẩn bị cho quá trình chuyển đổi mười năm một lần vào cuối năm nay, trong đó đa số những lãnh đạo tối cao, bao gồm thủ tướng Ôn Gia Bảo và Chủ tịch Hồ Cẩm Đào, sẽ bước xuống để nhường chỗ cho thế hệ mới.

Hôm thứ Tư, ông Ôn, một lãnh đạo cấp tiến nhất của Trung Quốc, đã đưa ra một nghị trình cải cách chính trị mà bản thân nó hàm chứa một tấn công vào những đối thủ bảo thủ của ông.

Khi ông kêu gọi việc “cấp tốc” và “nghiêm trọng” cải cách chính trị và khi ông khẳng định rằng dân chủ cuối cùng phải xảy ra đã đánh thẳng vào mặt giới bảo thủ chuyên cho rằng thách thức tình trạng hiện tại của nền chính trị Trung Quốc chỉ dẫn đến hỗn loạn.

Năm 2009, Ngô Bang Quốc, người chính thức đứng ở vị trí thứ hai trong hệ thống quyền lực của đảng Cộng sản sau Hồ Cẩm Đào, đã kịch liệt bác bỏ hệ thống dân chủ đa đảng kiểu “phương tây”, phân định quyền lực giữa ngành lập pháp, hành pháp và tư pháp hoặc một hệ thống chính trị lưỡng viện.

Điều này chẳng đưa ra được mấy lựa chọn nếu Trung Quốc vẫn hi vọng cuối cùng sẽ đem đến dân chủ và tổng bầu cử, như ông Ôn đề xuất trong cuộc họp báo hôm thứ Tư.

“Có một cảm nhận chung trong giới lãnh đạo rằng cần có vài thay đổi lớn trong hệ thống nhưng vẫn chưa có một sự đồng thuận về những thay đổi này là gì và chúng nên xảy ra theo thứ tự nào,” Victor Shih, một chuyên gia về giới lãnh đạo chính trị Trung Quốc tại Đại học Northwestern. “Ý kiến của ông Ôn cho thấy ít nhất một vài người trong giới lãnh đạo đã mạnh mẽ ủng hộ việc cải cách chính trị sâu rộng hơn ở Trung Quốc.”

Ông Ôn cũng có ý kiến đối nghịch hơn khi ông đưa ra một tấn công hiếm có đến Bạc Hy Lai, viên thị trưởng đầy sóng gió của thành phố tự trị Trùng Khánh, người cho đến gần đây vẫn là người dẫn đầu để được đề bạt lên vị trí cao nhất của Đảng, trước khi viên giám đốc công an của ông bị bắt giữ vì đã tìm cách đào tị sang Hoa Kỳ.

Trong một cú đấm thẳng vào những chính sách gây tranh cãi mà ông Bạc đã đưa ra ở Trùng Khánh, ông Ôn đã liên tục liên hệ đến thảm hoạ Cách mạng Văn hoá trong giai đoạn 1966-1976 với nạn thanh trừng và ngược đãi với hầu hết các quan chức chính quyền, học giả, trí thức cũng như gia đình của họ.

Chương trình cải cách cực đoan của ông Bạc ở Trùng Khánh liên quan đến việc vực dậy những hình ảnh và ca khúc “đỏ” của thời kỳ Cách mạng Văn hoá, việc tàn bạo thanh trừng những doanh nhân giàu có bị cáo buộc là “băng đảng” và việc chi tiêu mạnh mẽ để nâng cấp các dịch vụ xã hội và các căn hộ nhà nước.

Đề cập đặc biệt đến Vương Lập Quân, vị giám đốc công an mà ông Bạc rất tin tưởng, người đã chỉ đạo phong trào thanh trừng các “tổ chức tội phạm” trước khi tìm cách đào thoát sang Hoa Kỳ sau một mâu thuẫn với ông Bạc, ông Ôn nói rằng chính quyền Trùng Khánh phải “xem kỹ lại” và “rút ra những bài học” từ sự kiện này.

Bên trong, các quan chức cao cấp nói rằng sự nghiệp chính trị của ông Bạc rõ ràng là đã chấm dứt sau việc ông Vương tìm cách đào thoát nhưng những chỉ trích mạnh mẽ của ông Ôn cho thấy những đấu đá hậu trường vẫn đang tiếp diễn.

Bên ngoài, đảng Cộng sản đã không có vẻ quá chia rẽ kể từ những ngày tháng đen tối của cuộc thảm sát Thiên An Môn, khi tổng bí thư lúc ấy là Triệu Tử Dương bị giam giữ tại gia vì đã từ chối ban hành thiết quân luật.

Đảng đã sống sót qua cơn khủng hoảng ấy một phần là nhờ nó có được một nhà lãnh đạo vĩ đại, Đặng Tiểu Bình, người đã nắm giữ tính trung thành vững chắc của Đảng và quân đội, giới đã thi hành cuộc đàn áp đẫm máu.

Ngày nay, không còn một nhân vật như thế và điều này giải thích tại sao lại có một tranh chấp đang dâng cao và tại sao Đảng cho đến nay vẫn thất bại trong việc cách chức ông Bạc hoặc có một hình thức trừng phạt công khai đối với ông.

Mặc dù có những tin đồn về việc ông chắc chắn sẽ bị sa thải đang lan toả rộng rãi tại Bắc Kinh, 10 ngày qua ông Bạc đã xuất hiện trước công chúng tại hội nghị thường niên của quốc hội bù nhìn trong vai trò là thành viên của Bộ Chính trị gồm 25 người, cơ quan quyền lực cao thứ hai ở Trung Quốc.

Một số các nhà phân tích và quan chức tin rằng cách chức ông Bạc, người vẫn còn nổi tiếng với giới bảo thủ và quân đội cũng như việc cha ông từng là một anh hùng cách mạng và phó thủ tướng Trung Quốc, có thể làm nảy sinh ra hiện tượng phân tán công khai trong đảng.

Nhưng những người khác nói rằng cho phép ông tiếp tục như cũ sẽ làm cho Đảng có vẻ yếu ớt và bị lũng đoạn bởi những cá nhân quyền lực và quen biết lớn.

Nguồn: Jamil AnderliniFinancial Times

________________

Bạc Hy Lai bị cách chức bí thư Trùng Khánh

Cập nhật ngày 15.03.2012

Bạc Hy Lai, nhà chính trị bất trị của Trung Quốc, người cho đến gần đây vẫn là người dẫn đầu để được đề bạt lên vị trí cao nhất của Đảng, đã bị cách chức bí thư đảng uỷ thành phố tự trị Trùng Khánh.

Ông Bạc sẽ được thay thế bởi Trương Đức Giang, một nhà kinh tế được đào tạo tại Bắc Hàn và cũng là phó thủ tướng, Tân Hoa Xã cho biết.

Quyết định cách chức ông Bạc đã được thông báo nội bộ đến các quan chức cao cấp vào tối thứ Tư, ngay sau khi lễ bế mạc hội nghị 10 ngày của quốc hội bù nhìn Trung Quốc, những người hiểu biết sự việc cho hay.

Hôm thứ Tư, thủ tướng Trung Quốc Ôn Gia Bảo đã bắn phát súng cảnh báo đến giới quan chức bảo thủ trong đảng, cảnh cáo họ rằng Trung Quốc có thể đối diện với một cuộc Cách mạng Văn hoá thứ hai nếu không chịu khẩn cấp cải cách chính trị.

Ông Ôn, người sẽ bước ra khỏi uỷ ban thường trực bộ chính trị đầy quyền lực vào cuối năm nay, cũng đã trực tiếp tấn công ông Bạc.

Trong một trường hợp hiếm hoi của việc công khai chỉ trích nhau giữa các quan chức cao cấp Cộng sản, ông Ôn đã đề cập đến sự kiện tai tiếng dẫn đến việc truất phế Vương Lập Quân, vị cựu giám đốc công an và đồng minh chính trị của ông Bạc, người đã tìm cách đào thoát sang Hoa Kỳ tháng trước. Ông Vương vẫn đang bị bắt giữ và trường hợp của ông vẫn đang được điều tra.

“Đảng uỷ và chính quyền Trùng Khánh phải nghiêm khắc nhìn nhận sự kiện Vương Lập Quân và rút ra những bài học từ sự việc này,” ông Ôn nói.

Nguồn: Jamil Anderlini – Financial Times

x-cafevn.org

danluan.org

 

*Bài liên quan tới bài này:

Đảng Cộng Sản Trung Quốc là nơi Tập Trung mọi Thối Nát

 

Posted in Chinh tri Trung Quoc | Leave a Comment »

Tập Cận Bình: Đảng Cộng sản Trung Quốc là nơi tập trung mọi thối nát

Posted by hoangtran204 trên 16/03/2012

Tú Anh

Phó chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đang chờ đợi lễ bế mạc kỳ họp Quốc hội tại Đại sảnh đường Nhân dân ở Bắc Kinh ngày 14/03/2012.

REUTERS/Jason Lee

Phó Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình nhận định là nhân dân Trung Quốc gần như mất hết tin tưởng vào đảng Cộng sản. Lời tuyên bố này mới được công bố hôm nay 16/03/2012 trong bối cảnh tranh giành quyền lực ở cấp thượng tầng cùng lúc với lời cảnh báo của Thủ tướng Ôn Gia Bảo về nguy cơ xảy ra một vụ « Cách mạng văn hóa » như trong thập niên 60.

Theo tuyên bố của Phó Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình thì đảng Cộng Sản mà ông sắp lên lãnh đạo vào vào tháng tới đây chỉ là nơi tập trung thành phần giá áo túi cơm cần phải được « trong sạch hóa ».

Những tệ nạn trong đảng cầm quyền suốt hơn 63 năm tại Trung Quốc là « thiếu lý tưởng, sa đọa, vô nguyên tắc và vô trách nhiệm đã xâm nhập mọi cấp đảng viên » với những mức độ khác nhau và làm mất uy tín trong dân chúng.

Bài phát biểu của lãnh đạo tương lai Trung Quốc được trình bày tại Trường Đảng hồi đầu tháng Ba và mới được công bố hôm nay trên báo đảng Cầu Thị, một ngày sau khi xảy ra vụ thanh trừng cách chức Bí thư Thành ủy Trùng Khánh Bạc Hy Lai, thế hệ « hoàng tử đỏ ».

Theo AFP, vào lúc tất cả những chức vụ quan trọng tại Trung Quốc, từ cấp thấp nhất đến cấp lãnh đạo, từ trong chính quyền đến lãnh vực kinh tế, xí nghiệp, đều nằm trong tay đảng viên, ông Tập Cận Bình lo ngại rằng đảng Cộng sản đã biến thành nơi chia chác đỉnh chung. Vào đảng là để có cơ hội vinh thân phì gia, chứ không phải vì lý tưởng hay mục đích cao đẹp phụng sự đất nước và nhân dân.

Lãnh đạo tương lai của Trung Quốc nhận định : “Nhiều người gia nhập Đảng không phải vì chủ nghĩa Mác hay để nỗ lực xây dựng chế độ xã hội chủ nghĩa theo màu sắc Trung Hoa, hoặc là để chiến đấu cho đến giọt máu cuối cùng cho chính nghĩa cộng sản, mà họ vào Đảng vì được hưởng đặc quyền đặc lợi cá nhân”.

Nhân vật sắp lên thay Hồ Cẩm Đào nhấn mạnh đến yếu tố mà ông gọi là « ý thức hệ trong sáng » để duy trì « tinh thần sáng tạo và tính chiến đấu». Sở dĩ đảng viên đảng Cộng sản Trung Quốc bị mất tín nhiệm, bị sa đọa là do « tư tưởng không trong sáng ».

Câu hỏi đặt ra là làm cách nào để kiến tạo « sự trong sáng » nơi người cộng sản Trung Quốc ?

Ông Tập Cận Bình nhấn mạnh đến giải pháp « củng cố tổ chức, kiểm soát việc kết nạp đảng viên , tăng cường giáo dục và thanh tra ». Sau cùng là « thanh lọc hàng ngũ một cách kiên quyết, khai trừ những phần tử thoái hóa nghiêm trọng không thế cứu vãn ».

Một ngày sau khi thanh trừng Bạc Hy Lai, lãnh đạo đảng Cộng sản tại Trùng Khánh, những lời tuyên bố đao to búa lớn này được giới quan sát xem là dấu hiệu của những xung khắc gay gắt trong nội bộ đảng Cộng sản Trung Quốc.

Theo giáo sư Willy Lam, đại học Hồng Kông, thì Bạc Hy Lai là nạn nhân của cuộc tranh giành quyền lực giữa phe xuất thân từ Đoàn Thanh niên Cộng sản do Hồ Cẩm Đào thống lĩnh và phe « con ông cháu cha » được gọi là giới hoàng tử đỏ như Bạc Hy Lai.

Phải ngăn chận được « phe bảo thủ » thì phe tạm gọi là « cải cách » mới có thể hy vọng kéo dài đặc quyền sau khi thế hệ Hồ Cẩm Đào và Ôn Gia Bảo ra đi. Thực chất thì cả hai phe đều thi hành chính sách áp bức với dân từ hơn 60 năm qua.

Thủ tướng Ôn Gia Bảo có vẻ không yên tâm cho tương lai của chế độ. Thứ Tư vừa qua, ám chỉ cuộc nổi dậy của dân oan làng Ô Khảm chống bất công và tham nhũng, Ôn Gia Bảo tuyên bố không loại trừ Trung Quốc sẽ gặp biến động mà ông gọi là « một bi kịch » như cuộc cách mạng văn hóa thời Mao nếu không « cải cách » kịp lúc.

Tuy nhiên, cũng như những lần kêu gọi trước, Thủ tướng Trung Quốc không nói rõ là « cải cách gì và cụ thể ra sao ».

Chuyên gia Jean-Philippe Beja thuộc Viện Quan hệ Quốc tế Pháp dự báo sẽ còn nhiều « diễn biến » bất ngờ trong thời gian tới.

Theo RFI

 Danluan.org

 

Tập Cận Bình nói nghe quen quen

Huỳnh Ngọc Chênh

Theo RFI, Phó Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình tuyên bố rằng đảng Cộng Sản mà ông sắp llên lãnh đạo vào vài tháng tới đây chỉ là nơi tập trung thành phần giá áo túi cơm cần phải được “trong sạch hóa”. Những tệ nạn trong đảng cầm quyền suốt hơn 63 năm tại Trung Quốc là “thiếu lý tưởng, sa đọa, vô nguyên tắc và vô trách nhiệm đã xâm nhập mọi cấp đảng viên” với những mức độ khác nhau và làm mất uy tín trong dân chúng. Ông nhấn mạnh: nhân dân Trung Quốc gần như mất hết tin tưởng vào đảng Cộng sản.

Theo AFP, ông Tập Cận Bình lo ngại rằng đảng Cộng sản đã biến thành nơi chia chác đỉnh chung. Vào đảng là để có cơ hội vinh thân phì gia, chứ không phải vì lý tưởng hay mục đích cao đẹp phụng sự đất nước và nhân dân.
Ông Tập cũng nói đến một số giải pháp để làm trong sạch đảng như: “củng cố tổ chức, kiểm soát việc kết nạp đảng viên, tăng cường giáo dục và thanh tra”“thanh lọc hàng ngũ một cách kiên quyết, khai trừ những phần tử thoái hóa nghiêm trọng không thế cứu vãn”.

He he, những tuyên bố của Tập nghe sao thấy quen quen.

Bất cứ tổ chức nào, đứng trên pháp luật, độc hưởng mọi đặc quyền đặc lợi thì trước sau gì cũng đi đến chỗ thối nát rồi sụp đổ. Từ triều đình nhà Hán, qua triều đình nhà Đường, đến nhà Nguyên, nhà Minh rồi Mãn Thanh và hiện nay là đảng Cộng Sản TQ. Chế độ quân trị hay đảng trị thì cũng như nhau. Thời quân trị đẻ ra biết bao nhiêu hôn quân làm điêu đứng nhân dân và xả tắc. Thời đảng trị thì đẻ ra một ông Mao với mức độ “hôn quân” độc ác có khi toàn bộ các ông hôn quân trong lịch sử Trung Hoa gom lại cũng không bằng.

Đọc lại tài liệu thời Mao trị vì, cứ mỗi lần uy tín của ông ta lung lay, mỗi lần ông ta muốn đấu đá nội bộ để tranh giành quyền lực là y như những lần đó ông ta phát động các cuộc chỉnh đảng, các cuộc vận động đủ kiểu nhân danh làm trong sạch nội bộ đảng gây ra không biết bao nhiêu đau thương tang tóc.

Ngay sau vụ Bạc Hi Lai, những tuyên bố mạnh mẽ về chỉnh đảng của Tập Cận Bình được phát ra không khỏi không làm người ta liên tưởng đến những lần chỉnh đảng tang thương của Mao.

Nhưng dù chỉnh thật hay chỉnh giả thì từ rồi ra đời đến nay, đảng CS TQ liên tục được chỉnh đốn. Tuy vậy đến bây giờ lại nghe người sắp đứng đầu của đảng phát biểu về tổ chức của mình một cách hết sức tồi tệ như trên. Qua đó, người ta không thể không rút ra kết luận rằng: sự thoái hóa của đảng là tất yếu, là không có thuốc chữa trị.

Thật ra có một loại thuốc chữa trị rất hiệu quả nhưng những người cộng sản đang được hưởng đặc quyền đặc lợi không dại gì nghĩ đến: Đặt đảng xuống dưới pháp luật và xây dựng một nhà nước pháp quyền thật sự.

Từ xưa đến nay ta vẫn thường nghe các cụm từ: Nhà nước phong kiến thối nát, nhà nước độc tài thối nát, nhà nước độc đảng thối nát chứ chưa bao giờ nghe cụm từ: nhà nước pháp quyền thối nát.

_______________________________________

Tái bút:

Ông Tập không nhắc đến thế lực thù địch của đảng nhưng qua cách nói của ông thì thế lực ấy nằm ngay trong đảng đó là: phường giá áo túi cơm, bọn đảng viên sa đọa, thoái hóa biến chất….Có một thế lực thù địch ở bên ngoài nữa nhưng không nghe ông nhắc đến: Bọn ngư dân VN đánh cá trên Biển Đông và bọn biểu tình chống Trung Cộng ở Hà Nội. He he, bọn trên Biển Đông thì anh lo, còn bọn ở Hà Nội là trách nhiệm của các chú đấy.

Posted in Chinh tri Trung Quoc | 1 Comment »

LS Hà Đình Sơn kiến nghị khởi tố vụ án hình sự đối với Tom Cat.

Posted by hoangtran204 trên 16/03/2012

Ha Ha. Luật sư Hà Đình Sơn ở Hà Nội ra đòn đẹp thiệt. Đúng là “ác nhân” tất hữu cao nhân trị. Tom Cat là nhân vật nào chưa ai biết, nhưng mỗi  khi đảng gặp bối rối trong thời đại internet, thì Tom Cat xuất hiện ném thư hăm dọa để hù hết người này đến người kia. Con mèo ghẻ này tung hoành mấy năm qua coi mọi người như cỏ rác, muốn bắt là bắt, muốn thả là thả, tưởng như không ai dám làm gì nó. Nhưng lần này, TC đã gặp được đối thủ đang truy lùng nó, đòn công khai khởi tố là một nhát roi quất vào mặt con mèo ghẻ. Kể từ đây, TC sẽ chốn chui chốn nhũi vì bị đòn trực diện này. 

LS Hà Đình Sơn thừa biết: ở Việt Nam mà có luật pháp để đưa Tom Cat ra ánh sáng là một điều không tưởng. Nhưng, nếu không kiến nghị khởi tố hình sự tóm bắt Tom Cat đang trốn như chuột, thì nó sẽ còn quậy nữa. Và xem ra chỉ có ngón đòn công khai này sẽ làm câm miệng Tom Cat và chủ của nó đang lẫn tránh trong bóng tối. Sống ở thời đại internet mà cứ dọa nạt như thời 1960s, 1970s, 1980s, và 1990s là lầm to.

LS Hà Đình Sơn kiến nghị khởi tố vụ án hình sự đối với Tom Cat.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

_________________________

Hà Nội, ngày 09 tháng 03 năm 2012

KIẾN NGHỊ KHỞI TỐ VỤ ÁN HÌNH SỰ

Về Tội tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa ViệtNamđối với Tom Cat

                       Kính gửi: Thủ trưởng Cơ quan an ninh điều tra Bộ Công an

 

I.                 Người kiến nghị:

Tôi, Hà Huy Sơn luật sư Đoàn luật sư thành phố Hà Nội, địa chỉ liên lạc số 81 Chùa Láng, phường Láng Thượng, quận Đống Đa, Hà Nội.

 

II.             Tóm tắt nội dung sự việc:

Từ khoảng tháng 08/2010 cho đến ngày mới đây 08/03/2012, có cá nhân hoặc tổ chức tự xưng danh là Tom Cat thông qua các trang tin điện tử ở nước ngoài là Dân Luận, X-café, Tin tức hàng ngày (TTHN) đã mạo danh Cơ quan Công an để gửi những lời cảnh báo, đe dọa đến các công dân Việt Nam.

 

A. Các chứng cứ:

1.

Ngày 21/08/2010, đăng trên Dân Luận và X-cafe  bài “Tom Cat – Lời nhắc nhở gửi tới Tiến sĩ luật Cù Huy Hà Vũ”, trích:

Vì nhiều lý do nên tôi không trực tiếp gửi bài này được, kính nhờ ban biên tập Dân luận và X-café đăng giùm tôi.
Tiến sĩ luật Cù Huy Hà Vũ hiện nay đang là một trong những gương mặt chính trị hấp dẫn nhất hiện nay ở Việt Nam trong mắt giới tri thức trong nước và giới quan sát chính trị nước ngoài, ông nổi tiếng với những phát biểu và những chỉ trích chế độ ngày càng nóng trong thời gian gần đây.

Tuy nhiên, xin mạn phép cảnh cáo tiến sĩ Hà Vũ rằng cuộc phiêu lưu của Ông đã sắp đến hồi kết thúc.
Những hoạt động gần đây của ông Cù Huy Hà Vũ đã gây sự khó chịu đặc biệt từ giới cầm quyền, và dưới góc độ an ninh, nó có tính đặc biệt nguy hiểm cho sự bền vững của chế độ. Hồ sơ về những vụ việc liên quan đến Cù Huy Hà Vũ đã được Tổng cục an ninh Bộ Công An thu thập đầy đủ, chuyên án này được đặt dưới sự chỉ huy trực tiếp của Trung tướng Nguyễn Hải Triều. Tướng Triều trực tiếp có báo cáo về vụ việc của ông Hà Vũ với Ban bí thư, trực tiếp là với thường trực Ban bí thư Trương Tấn Sang và ban bí thư đã thường xuyên báo cáo với Bộ Chính Trị trong các cuộc họp hàng tuần. Trái ngược với vụ án của Lê Công Định – Nguyễn Tiến Trung – Trần Huỳnh Duy Thức – Lê Thăng Long, Bộ chính trị tỏ ra không đồng nhất trong việc đánh giá và xử lý trường hợp của tiến sỹ Cù Huy Hà Vũ bởi những mối quan hệ rất lắt léo ở cấp rất cao mà ông Vũ đang có trong tay, chính vì vậy mà chưa có bất cứ động thái nào của cơ quan chức năng với tiến sỹ Vũ, tuy nhiên sự cân bằng động này đã đi đến hồi kết khi Bộ Chính Trị đã trở lên tương đối thống nhất trong việc áp dụng các biện pháp mạnh sắp tới với Tiến sỹ Hà Vũ bởi số lượng những thành viên Bộ chính trị bị ông Hà Vũ công kích ngày càng nhiều thêm: Đứng đầu là Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, sau đó là Chủ Tịch Nước Nguyễn Minh Triết, Bí thư thành ủy Tp HCM Lê Thanh Hải và gần đây nhất là đồng chí Út Anh – Bộ trưởng Công An Lê Hồng Anh. Chưa kể đến gần một số tướng công an và nhiều thành viên khác nằm trong Ban Chấp Hành TW Đảng. Theo nguyên tắc làm việc và bỏ phiếu tập thể cùng với những bản báo cáo mới nhất của Bộ Công An thì số phận  của ông Cù Huy Hà Vũ đã được định đoạt.

Có lẽ tiến sỹ Hà Vũ khá tự tin với những mối quan hệ của mình trong chính quyền Việt Nam (mà tôi biết phần lớn là do thừa hưởng lại từ thân phụ Huy Cận của ông) và tự tin bởi những gì mình nói là ôn hòa và không vi phạm pháp luật. Nhưng xin ông Hà Vũ nên biết ở Việt Nam một khi đã động đến sự an nguy và chính danh tồn tại của chế độ thì không ai là không thể bị bắt, kể cả đó là ủy viên Bộ Chính Trị chứ đừng nói là ông Vũ. Lý do và tội danh thì dù có lý luận thế nào thì ông vẫn sẽ bị kết tội. Ông sẽ bị bắt theo điều luật nào thì vẫn đang nằm trong khía cạnh “kỹ thuật” mà Bộ Công An đang tính toán, nhưng nhiều khả năng là điều 88 hoặc điều 79 BLHS.


Tom Cat

2.

Ngày 11/12/2011, đăng trên Dân Luận bài “Tom Cat – Cảnh báo Blogger Người Buôn Gió” để đe dọa ông Bùi Thanh Hiếu ở Hà Nội, nội dung:

Thật sự không vui vẻ gì mỗi khi Tom Cat lên tiếng thì lại có một nhân vật đối kháng phải vào tù. Tuy nhiên tôi thật sự muốn cảnh báo những người mà tôi tôn trọng và hoàn toàn không muốn họ phải ngồi tù. Người đầu tiên là Cù Huy Hà Vũ, cả lần này sẽ là Blogger Người Buôn Gió.

Anh Bùi Thanh Hiếu thân mến, có lẽ tôi không phải trình bày dài dòng với anh như với tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ, bởi vì những hoạt động của anh không vang tới Bộ Chính Trị như tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ, nhưng ở mức độ thấp hơn, anh có 3 hoạt động khiến những người làm an ninh và bảo vệ tư tưởng văn hóa đặc biệt khó chịu: đó là cổ vũ cho các hoạt động chống đối ở Thái Hà, tham gia tích cực biểu tình, viết tập truyện “Đại Vệ Chí Dị”. Tôi xin mạn phép cảnh báo anh Hiếu là đã có quyết định chính thức của cơ quan chức năng để vô hiệu hóa anh. Tôi rất lấy làm tiếc về điều này, và thật sự tôi hy vọng với những dòng cảnh báo này anh sẽ chấm dứt hoàn toàn 3 hoạt động chống đối trên, như vậy thì cơ quan Công An có thể sẽ tha cho anh, tôi thật sự không muốn anh vào tù và bé Tí Hớn của anh thiếu vắng sự dạy bảo của người cha, rất mong anh suy nghĩ.

Trân trọng

Tom Cat

P/S: Tom Cat xin cảnh báo 2 người nữa cũng đang có nguy cơ rất cao bị “vô hiệu hóa” đó là ông Nguyễn Hữu Vinh và ông Nguyễn Xuân Diện, xin hai ông biết rằng chính quyền đã hết kiên nhẫn với hai ông khi sự kiện tàu Bình Minh 02 đã trôi qua 7 tháng mà các ông vẫn muốn “restart” các cuộc biểu tình nhằm mục đích gây rối. Nếu chỉ cần kích động thêm 1 lần biểu tình nữa thì hai ông sẽ bị vô hiệu hóa triệt để. Xin thật lòng cảnh báo.

3.

Ngày 31/12/2011, đăng trên trang Tin tức hàng ngày (TTHN) bài “Tom Cat cảnh báo Blogger Trương Duy Nhất”, nội dung:

Vì nhiều lý do nên tôi không trực tiếp gửi bài này cho ban biên tập Dân Luận và X-café đăng dùm tôi như mọi lần. Xin nhờ web site TIN TỨC HÀNG NGÀY đăng tải giúp. Xin cảm ơn – TC.

Đã trở thành thông lệ, mỗi khi Tom Cat tôi buộc phải lên tiếng thì một nhân vật có ý tưởng chống đối chính quyền sẽ phải vào tù. Lần đầu là trường hợp của ông Cù Huy Hà Vũ, gần đây tôi đã cảnh báo Blogger Người Buôn Gió – anh Bùi Thanh Hiếu, cùng các ông Nguyễn Hữu Vinh và ông Nguyễn Xuân Diện. Tất cả những lời cảnh báo của tôi tới họ xuất phát từ việc tôi thật sự không muốn những người mà tôi tôn trọng và phải ngồi tù. Lần cảnh báo gần đây nhất đã được các anh có tên trên tiếp thu và biết điều hơn, ngoại trừ trường hợp Blogger Người Buôn Gió – anh Bùi Thanh Hiếu vẫn tỏ ra chưa biết sợ.

Anh Trương Duy Nhất thân mến, mặc dù anh cố tình tỏ ra không phải là thành phần chống đối chế độ, nhưng các hoạt động và các bài viết của anh đã khiến cho một số lãnh đạo và những người làm công tác an ninh và bảo vệ tư tưởng văn hóa đặc biệt khó chịu. Khi anh núp bóng viết blog phản biện nhưng thực chất việc làm của anh là dựa vào một thế lực chính trị khác trong đảng để chống đối, bôi nhọ và nói xấu các đồng chí lãnh đạo Đảng và nhà nước nhằm mục đích chia rẽ gây hoang mang trong dư luận quần chúng. Điều này hết sức nguy hiểm, là một kiểu tự diễn biến đánh từ trong đánh ra. Điều này rất bất lợi cho sự lãnh đạo của đảng và chính quyền.

Tôi xin mạn phép cảnh báo anh Nhất biết là đã có quyết định chính thức của cơ quan chức năng sẽ buộc phải vô hiệu hóa anh nếu anh còn tiếp diễn. Tôi rất lấy làm tiếc về điều này, và thật sự tôi hy vọng với những dòng cảnh báo này anh sẽ chấm dứt hoàn toàn những hoạt động chống đối trên, xin anh nên nhớ không có bất kỳ thế lực nào có thể đảm bảo sự an toàn cho anh ngoài cá nhân anh. Như vậy thì cơ quan Công An có thể sẽ tha thứ cho anh, tôi thật sự không muốn anh vào tù trước Tết Nguyên đán và rất mong anh suy nghĩ.

Trân trọng

Tom Cat

P/s: Anh nên chuẩn bị các tài liệu và câu trả lời về chuyến đi du lịch Bắc Mỹ trong thời gian vừa qua của anh.

4.

Ngày 08/03/2012, đăng trên trang Tin tức hàng ngày, bài “Thư ngỏ Tom Cat gửi Blogger Nguyễn Quang Vinh”

Anh Vinh,

Khác với thường lệ, lần này Tom Cat tôi viết thư ngỏ gửi anh thay cho lời cảnh báo hay lời nhắc nhở mà tôi vẫn thường làm đối với những nhân vật bị coi là cứng đầu, có biểu hiện lợi dụng quyền tự do dân chủ và quyền tự do ngôn luận để xuyên tạc và bôi nhọ làm giảm uy tín của đảng và chính quyền nhà nước. Do điều này nó cũng có những lý do nhất định mà như chính bản thân anh đã biết và đã được các đồng chí lãnh đạo nhắc nhở thẳng thắn đối với anh trong một vài buổi khi tạo điều kiện cho anh được tiếp xúc trong vấn đề Tiên Lãng.

Chắc hẳn anh cũng biết rõ vì sao Nhà văn Nguyễn Quang Lập đến hôm nay đã dừng việc phát tán các thông tin ngoài luồng và đóng phần phản hồi trên blog Quê choa, đó là hành động được coi là có tính thiện chí và hợp tác rất đáng trân trọng. Về phần anh Vinh, các đồng chí lãnh đạo nhận thấy sự tích cực của anh trong việc đưa tin tức nóng hổi về diễn biến của vụ án Tiên Lãng đến cho đông đảo bạn đọc, qua đó để thấy được và khẳng định quyền tự do ngôn luận của công dân luôn được Đảng và chính quyền nhà nước hết sức tôn trọng, khuyến khích và tạo điều kiện. Không như sự xuyên tạc, bôi nhọ của các thế lực chống chính quyền vu cáo bôi nhọ.

Xong, mọi vấn đề đều có giới hạn của nó. Vấn đề tự do thông tin hay tự do ngôn luận cũng vậy, tự do không có nghĩa là tự do bịa đặt, tự do cắt xén, tự do lồng ghép, chắp nối các thông tin, rồi rã băng để cố tình đưa các thông tin không xác thực, tạo nên việc hiểu lầm sai lệch về nội dung thông tin của đông đảo quần chúngnhân dân, làm ảnh hưởng tới uy tín của các đồng chí lãnh đạo chủ chốt của Đảng và chính quyền. Nhằm bôi nhọ hình ảnh của cả hệ thống chính trị của Đảng, lòng tin của các vị cán bộ lãnh đạo trung cao cấp đã nghỉ hưu ở Thành phố Hải phòng.

Cụ thể với bằng chứng là clip video phát biểu của đồng chí Bí thư Thành ủy Hải phòng với các vị lão thành cách mạng tại CLB Bạch Đằng ngày 17-2-2012, trong buổi nói chuyện thời sự dài 45 phút, nhưng với công bố của anh chỉ là một đoạn video clip với thời lượng vỏn vẹn hơn 1 phút . Đáng tiếc là khi anh đã biết sai, đã biết sửa nhưng vẫn cố tình sửa không đúng và những thông tin xuyên tạc nói trên vẫn ngang nhiên tồn tại trên blog Cu Vinh của anh. Anh Vinh nên nhớ với thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ hiện có chúng tôi đã biết rất rõ ai là người đã quay, ai là người thực hiện cắt xén thêm, bớt các âm thanh và hình ảnh trong clip video do anh công bố ngày 24-2-2012 với dụng ý xuyên tạc lời đồng chí Bí thư Thành ủy Hải Phòng tại CLB Bạch Đằng nhằm kích động dư luận xã hội.

Xuất phát từ tình cảm quý mến đối với các anh, tôi xin nhắc anh cần xem xét lại một cách nghiêm túc, chính xác và cải chính các thông tin đã đưa chưa chính xác đang còn lưu trên blog cá nhân của anh. Vì khả năng có một vụ PMU 19 đang lặp lại là điều dễ hiểu.

Chào anh

Tom Cát

 

B. Căn cứ pháp luật:

Căn cứ điểm a và b, khoản 1, Điều 88 của Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009, quy định:

Điều 88. Tội tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam

1. Người nào có một trong những hành vi sau đây nhằm chống Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười hai năm:

a) Tuyên truyền xuyên tạc, phỉ báng chính quyền nhân dân;

b) Tuyên truyền những luận điệu chiến tranh tâm lý, phao tin bịa đặt gây hoang mang trong nhân dân;”

C. Kết luận:

1. Với chứng cứ là 04 bài viết nêu trên, Tom Cat đã làm cho mọi người hiểu lầm rằng Tom Cat là người của Cơ quan Công an, người của Cơ quan Nhà nước để cảnh báo, đe dọa các công dân nêu trên nói riêng và đe dọa mọi người nói chung. Vì các công chức, viên chức và các cơ quan Nhà nước chỉ được làm những điều mà Hiến pháp, pháp luật cho phép. Hiến pháp, pháp luật của Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam không cho phép cơ quan Nhà nước tuyên bố không chính danh, cảnh báo, đe dọa công dân mang tính xã hội đen.

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia:

“Xã hội đen là từ chỉ thế giới ngầm, với các thế lực ngầm trong bóng tối của một xã hội. Xã hội đen có nhiều cấp bậc khác nhau. Trong đó cấp thấp nhất là dân anh chị, dao búa, đầu gấu, đâm thuê chém mướn… không có tổ chức, đến cao cấp hơn là tội phạm có tổ chức thành các băng đảng và trên cùng là các maphia, các gia đình maphia.”

2. Tom Cat lợi dụng một thực tế là sau mỗi lần cảnh báo, đe dọa ai thì hậu quả xảy ra thường trùng khớp với nội dung đe dọa trước đó đối với người ấy càng làm cho mọi người nghi ngờ rằng Tom Cat chính là người của Cơ quan Công an, người của Cơ quan Nhà nước. Hậu quả là đánh mất tính chính danh của chính quyền nhân dân, làm xấu đi chính quyền nhân dân trong con mắt của xã hội hay chính là “phỉ báng chính quyền nhân dân”. Và việc làm đó của Tom Cat đã gây hoang mang cho các công dân và gia đình họ vì bị Tom Cat cảnh báo, đe dọa.

3. Tuy rằng các trang thông tin điện tử như Dân Luận, X-café, Tin tức hàng ngày không phải là các trang thông tin điện tử do Nhà nước Việt Nam cấp phép, quản lý. Nhưng các cơ quan an ninh điều tra của Công an đã có tiền lệ lấy các bài viết được đang tải trên các trang thông tin điện tử này làm chứng cứ để khởi tố các vụ án hình sự về “Tội tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam” theo Điều 88, Bộ luật hình sự năm 1999.

4. Việc khởi tố hình sự đối với cá nhân xưng danh Tom Cat hoặc các cá nhân trong tổ chức Tom Cat là cần thiết để bảo vệ uy tín của Cơ quan Công an và uy tín của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

III.          Kiến nghị:

1-    Kiến nghị Cơ quan an ninh điều tra Bộ Công an khởi tố vụ án hình sự về “Tội tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam” theo điểm a, b, khoản 1, Điều 88, Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009 đối với Tom Cat;

2-    Kiến nghị Cơ quan an ninh điều tra Bộ Công an điều tra và khởi tố bị can đối với cá nhân xưng danh Tom Cat hoặc các cá nhân tham gia tổ chức Tom Cat.

 

Nơi nhận:                                                                                  Người kiến nghị

–         Như trên;

–         Trang thông tin điện tử BVN.

                                                                                                          Luật sư  Hà Huy Sơn

 

Chữ ký của Luật sư Hà Huy Sơn trên văn bản gốc:

Biên lai gửi Kiến nghị qua bưu điện:

nguồn boxitvn.net

Posted in Công An, Pháp Luật | Leave a Comment »

Dũng cảm lên các đồng chí cộng sản chân chính ơi!

Posted by hoangtran204 trên 16/03/2012

Huỳnh Ngọc Chênh

Hơn ai hết, ông Ôn Gia Bảo, sau một thời gian khá dài nắm quyền điều hành đất nước, hiểu ra rằng chiếc áo chính trị cổ lỗ không còn phù hợp với phát triển kinh tế xã hội hiện nay của Trung Cộng. Ông nói: « Chúng ta cần phải thúc đẩy đồng thời cải cách cơ cấu kinh tế với chính trị, đặc biệt là cải cách hệ thống lãnh đạo Đảng và đất nước chúng ta ». Ông nói thêm: « Nếu cải cách chính trị không có kết quả thì cải cách kinh tế cũng sẽ không thể tiến hành tốt được » Rồi ông khẳng định đó là « nhiệm vụ cấp bách ».

Và đặc biệt, ông cảnh báo nếu không nhanh chóng cải cách thì « Một thảm họa lịch sử như Cách mạng Văn hóa có thể tái diễn »

Về tiến trình dân chủ hóa, ông nói: « Nếu nhân dân có khả năng quản lý một làng, thì họ cũng có thể quản lý công việc của một xã, một huyện. Vì thế chúng ta cần khích lệ nhân dân can đảm theo đuổi hướng đi đó ». Phát biểu này khiến người ta liên tưởng đến cuộc bầu cử dân chủ mới đây của dân làng Ô Khảm, sau khi họ nổi dậy chống lại hệ thống lãnh đạo tham nhũng.

Ông Ôn Gia Bảo, khi đề cập đến các cuộc Cách mạng Mùa xuân Ả Rập, đã khẳng định đó là khát vọng dân chủ của người dân. Làn sóng Mùa xuân Ả Rập không hề bị thao túng bởi một thế lực nào và khát vọng đó phải được tôn trọng. Dù rằng làn sóng dân chủ hóa ấy đã gây ra không ít tổn thất kinh tế cho Trung Quốc vừa rồi.

Trong khi đó mới đây, ông Nguyễn Phú Trọng của VN còn cho rằng các cuộc cách mạng nhung, cách mạng màu, cách mạng đường phố đó là có bóng dáng của các thế lực thù địch, phản động.

Thật ra ý đồ muốn cải cách hệ thống chính trị cộng sản để tiến đến dân chủ hóa của ông Ôn không có gì mới và không đi trước Việt Nam. Cái khác là ông Ôn được nói nhiều lần, ở nhiều nơi và trên các diễn đàn công khai, kể cả trong cuộc họp báo rộng rãi mới đây ngay sau khi bế mạc cuộc họp Quốc Hội.

Trong khi đó, từ lâu, một số cán bộ cấp cao của Đảng CSVN cũng đã có những đề nghị cải cách chế độ chính trị, đó là các ông Nguyễn Hộ, Trần Độ, Trần Xuân Bách…và hầu như các ông ấy không những bị loại ra khỏi hệ thống mà còn bị quản thúc, cô lập nữa.

Gần đây nhất, ngay khi còn đang làm Thủ Tướng, ông Võ Văn Kiệt đã viết hẳn một đề án gởi cho TƯ Đảng nói về cải cách hệ thống chính trị. Đề án cải cách ấy chưa bao giờ được đưa ra công khai, những phát biểu của ông Kiệt về đề án ấy cũng không bao giờ được cho đăng lên báo chí. Bản sao của đề án ấy còn bị xem như là tài liệu phi pháp, từng là cái cớ để đưa người cất giữ nó là Tiến sĩ Hà Sỹ Phu vào ngồi tù!

Hồi trước, khi đổi mới đường lối kinh tế, đảng CSVN cũng rất e dè chậm chạp, để cho Trung Cộng đi trước hơn 10 năm rồi mới rụt rè bắt chước theo sau. Hậu quả là hiện nay, nền kinh tế VN phải chịu tụt hậu gần cả thế kỷ so với Trung Cộng.

Và bây giờ là yêu cầu đổi mới hệ thống chính trị để tiến lên. Đảng CSVN dường như chưa có ý định gì, không biết vì lý do gì, chưa muốn thay đổi, dù cho hệ thống kinh tế đang tới hạn đối mặt với quá nhiều thách thức do phải bó hẹp trong hệ thống chính trị đã quá lỗi thời.

Dũng cảm lên các đồng chí Cộng Sản chân chính ơi! Chí ít thì cũng như ông Ôn Gia Bảo, dám nói lên công khai những điều mình suy nghĩ.

nguồn Theo blog Huỳnh Ngọc Chênh

danluan.org

                                                                  ***

DÂN CHỦ HÓA : TRUNG HOA LẠI ĐI TRƯỚC VIỆT NAM?

Huỳnh Ngọc Chênh
Cách đây 2 tuần, tại Diễn đàn kinh tế thế giới ở thành phố Đại Liên Thủ tướng Trung Quốc Ôn Gia Bảo đưa ra các cam kết rằng Trung Quốc cần tăng cường cải cách chính trị, phân tách rõ quyền lực giữa đảng và chính phủ.
Ôn nói nhiệm vụ cấp bách của Trung Quốc là cải cách hệ thống lãnh đạo, mở rộng dân chủ trước hết trong nội bộ Đảng Cộng sản. “Đảng không được đại diện cho Chính phủ và phải thay đổi hiện tượng quyền lực tuyệt đối và tập trung quá nhiều quyền lực”. Ôn còn nêu rõ nhiệm vụ quan trọng nhất của đảng cầm quyền là hành xử theo pháp luật, thúc đẩy công bằng xã hội, bảo đảm công chính tư pháp, bảo vệ quyền lợi dân chủ của nhân dân và kiên quyết chống tham nhũng.
Vừa qua, tại buổi lễ kỷ niệm lần thứ 62 Quốc khánh TQ, Ôn lại phát biểu trước toàn dân:
“Chúng tôi s n lc bo đm, hoàn thin dân chủ, gii quyết các vn đ gây quan ngi và nh hưởng trc tiếp nhiu nht đến người dân”.
Ôn cam kết tiếp tục ưu tiên bảo đảm các quyền dân chủ và công chính tư pháp, tiếp tục hướng tới cải cách hệ thống chính trị, kinh tế, xã hội và văn hóa. Tuy Ôn khẳng định nước này vẫn kiên định với “Chủ nghĩa xã hội mang màu sắc Trung Quốc” nhưng nhấn mạnh phải “Dám nghiên cu và rút ra bài hc t nhng thành tu ni bt ca mi quc gia trên thế gii và góp phn vào s tiến b ca văn minh nhân loi”.
Ôn nhiều lần kêu gọi cải cách chính trị và dân chủ ở Trung Quốc kể từ lần kêu gọi đầu tiên tại Thâm Quyến hồi tháng 8.2010. Nhưng lần kêu gọi nầy rất quan trọng vì phát biểu trong dịp đại lễ trước toàn dân.
 
Điều gì làm cho Ôn nôn nóng và liên tục thúc giục cải cách chính trị như vậy?
Sau nhiều năm điều hành nhà nước, hơn ai hết, Ôn thấy ra rằng cái gọi là nền kinh tế phát triển theo cơ chế thị trường dưới định hướng XHCN là rất què quặt và càng lúc càng bộc lộ ra những khuyết tật hiểm nghèo. Y rất muốn TQ vươn lên ngang tầm với thiên hạ để “góp phn vào s tiến b ca văn minh nhân loi”. Muốn vậy thì phải “Dám nghiên cu và rút ra bài hc t nhng thành tu ni bt ca mi quc gia trên thế gii” nghĩa là phải nhanh chóng học tập theo các thể chế dân chủ ưu việt của các nước Mỹ, Nhật, Pháp, Anh, Đức…
Nhưng mong muốn dân chủ hóa của Ôn đã vấp không ít những trở lực.
Phải chăng giới chop bu ở Trung Nam Hải lo ngại sẽ làm tiêu đi CNXH một khi cải cách chính trị theo hướng tiến bộ?
E rằng không. Những cái đầu thực dụng ấy đã chẳng ngu dại gì xem cái chủ nghĩa đó ra gì khi mà chính cái nơi sản sinh ra nó đã vứt vào sọt rác từ bao đời. Đặng Tiểu Bình cũng đã công khai điều ấy từ lâu rồi khi đưa ra thuyết “mèo trắng mèo đen” để đổi mới kinh tế theo cơ chế  thị trường. Y đã chẳng mất kiên định với lập trường cộng sản khi khôn ngoan chấp nhận một nhà nước hai chế độ để yên ổn thu hồi Hồng Công và Ma Cao đó sao?
Thế thì điều gì làm cho giới lãnh đạo cộng sản TQ e dè dân chủ hóa?
TQ là quốc gia còn lại có thể nói là duy nhất trên thế giới sau thế kỷ 20 vẫn còn chiếm giữ thuộc địa (Tân Cương, Tây Tạng, Nội Mông, Mãn Châu). Chế độ độc tài giúp TQ tiếp tục thống trị thành công các thuộc địa đó. Khi chuyển qua thể chế dân chủ, cái gương tan rã của Liên Xô trước đây làm TQ lo sợ.
Dù rất nôn nóng cải cách chính trị để thúc đẩy sự phát triển kinh tế nhanh chóng và bền vững nhưng đám chop bu ở Trung Nam Hải vẫn phải e dè toan tính.
Đây là thời cơ để VN vượt lên đi trước TQ về mặt cải tổ chính trị. Khi dân chủ hóa VN chỉ có được, trước hết là lòng dân và khối đoàn kết dân tộc, chẳng có gì phải mất. Trước đây khi đổi mới đường lối kinh tế, TQ đã đi trước VN 10 năm. Và vì vậy TQ đến bây giờ đã bỏ xa VN đến mấy chục năm.
Trên con đường dân chủ hóa, chẳng lẻ VN lại ngồi đó chờ TQ làm trước rồi mới bắt chước theo sau nữa hay sao? VN không chớp lấy thời cơ đi trước vào lúc nầy là có khả năng vĩnh viễn đánh mất đi cơ hội thoát ra khỏi cái bóng của Trung Hoa như Nhật bản và Hàn quốc đã làm

                          ***

Các bài liên quan

63% Dân Trung Quốc  muốn theo Thế chế Chủ Tây Phương 

Posted in Bầu cử Ứng Cử Tự Do- Kêu Gọi Thể Chế Dân Chủ -, Chinh tri Trung Quoc | Leave a Comment »

Tàu Trung Quốc áp sát giàn khoan và kho nổi chứa xuất dầu thô của Việt Nam

Posted by hoangtran204 trên 15/03/2012

Một nguồn tin đáng tin cậy cho Bauxite Việt Nam biết lúc 3 giờ chiều ngày 9 tháng 3 vừa qua, hai tàu hải giám Trung Quốc áp sát kho nổi chứa xuất dầu thô FPSO Lewek Emas của Việt Nam đang neo đậu tại vị trí giàn khoan mỏ Chim Sáo, ở lô 12W, thềm lục địa Việt Nam.

Một tàu tiến gần đến mức có thể thấy rõ số đăng ký 75 và dòng chữ Chinese Marine Surveillance (Tàu Hải giám Trung Quốc) ở mạn tàu (xem ảnh bên dưới). Tàu Trung Quốc không trả lời dù phía Việt Nam cố gắng bắt liên lạc trên các kênh VHF 16, 14, 12, 72. Phải đến khi Việt Nam đưa tàu Sapa (tên một chiếc tàu kéo dịch vụ dầu khí) tiến về hướng tàu hải giám Trung Quốc, thì chúng mới bỏ đi, lúc 3g40.

Điều đáng chú ý là cho đến nay toàn bộ vụ việc hoàn toàn không được công khai.

Nguồn: Bauxite.

danchimviet.info

                                                                                 ***

Nam Hàn là một nước nhỏ bé, dân số 48 triệu dân và diện tích chỉ có 100 000 km vuông; nhỏ hơn VN rất nhiều. Nam Hàn nằm cạnh Trung Quốc, có vị trí tựa như miền Nam Việt Nam; còn Bắc Triều Tiên có chung đường biên giới với Trung Quốc. Nhưng hơn 60 năm qua, trên sách báo và truyền thông, không ai đã từng nghe các lãnh đạo của Bắc Triều Tiên và Nam Triều Tiên  sợ hải, cụp vó, khép nép, với Trung Quốc. Thỉnh thoảng, Trung Quốc xớ rớ phát biểu điều gì, thì lập tức bị chính quyền Nam Hàn  mắng phủ đầu như bài báo dưới đây.

So với thứ chính quyền hèn với giặc, ác với dân, tối ngày khúm núm nịnh bợ Trung Quốc, tâng bốc còn hơn tớ nịnh chủ nhà, và không quên dạy dân chúng: Trung Quốc là nước lớn , ta sống cạnh bên nên phải khôn khéo…Đất đai vùng biên giới phía bắc bị Trung Quốc lấn chiếm mà không dám hé môi la. Trung Quốc đưa hiệp định biên giới ép buộc ký kết nhằm chia đất đai ở ngay trong sân sau của nhà mình, mà cũng hèn nhát không dám phản đối, chỉ biết đặt bút ký kết vào các năm 1999 và 2008.  Từ thời vua Gia Long (1802) đến vua Bảo Đại (1945) và cho đến năm 1974, đất đai và biển đảo của VN chưa từng bị mất vào tay Trung Quốc.  Biển đảo và biên giới phía Bắc của Việt Nam chỉ bị mất dần dần vào tay Trung Quốc kể từ khi có đảng cộng sản VN rước Trung Quốc vào làm thầy.

Nam Hàn bác bỏ chủ quyền của Trung Quốc ở vùng biển đang còn tranh chấp

Hán Thành (Seoul) – Nam Hàn hôm thứ Hai ngày 12 tháng Ba nói khu vực đá nằm ngầm dưới lòng biển có nhô lên một phần trên mặt biển ở vùng duyên hải phía nam là một phần “lãnh thổ tự nhiên” của Nam Hàn, chỉ vài ngày sau khi báo chí tường thuật lại lời của một viên chức Trung Hoa cao cấp khi ông ta cho rằng vùng biển đang tranh chấp này thuộc Trung Quốc.

Ieodo – một vùng đá ngầm khoảng năm mét dưới mặt biển – nằm trong vùng đặc khu kinh tế chồng chéo lên giữa Nam Hàn và Trung Quốc và cũng là nguồn căng thẳng trong mối quan hệ ngoại giao giữa hai nước.

Tổng thống Nam Hàn ông Lee Myung-Bak cho vùng này là một lãnh thổ tự nhiên của Nam Hàn từ mọi phương diện, ông nói vùng này gần quần đảo Marado nằm phía cực nam của Nam Hàn hơn là quần đảo gần nhất thuộc Trung Hoa khoảng 100 cây số.

Đại sứ Trung Quốc ông Zhang Xinsen sau khi đến họp để nghe thứ trưởng Ngoại giao Nam Hàn phản đối lời tuyên bố của ông Liu. Nguồn: AFP/Yonhap


“Nhà nước Trung Hoa sẽ biết, dự vào lẽ thường, là vùng đá ngầm Leodo này thuộc về Nam Hàn,” ông Lee nói với các phóng viên, ông còn nói thêm là mất cả hằng bao năm trời cho thương thảo song phương nhưng không đạt được kết quả khả quan nào.

Lời tuyên bố của ông Lee đến sau khi ông Liu Cigui, trưởng Ngành Đại dương Quốc gia Trung Quốc nói là vùng đá ngầm Leodo thuộc về vùng biển nằm trong vòng kiểm soát của Trung Hoa và nên được tuần tra bởi máy bay và tàu tuần tra của Trung Hoa.

Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Nam Hàn ông Kim Jae-Shin đã mời Đại sứ Trung Quốc ông Zhang Xinsen đến hôm thứ Hai để đưa đơn phản đối lời tuyên bố của ông Liu, nhân viên bộ ngoại giao Nam Hàn cho hay.

Việc Bắc Kinh tái xác định chủ quyền của mình lên vùng này được xem như là một cách giành thế thượng phong với Hán Thành trong những cuộc thương thảo về lãnh hải trong tương lai, các nhà phân tích thời cuộc nói.

Tổng thống Nam Hàn ông Lee Myung-Bak cảnh cáo là bất kỳ tranh chấp nào trong vùng giàu tài nguyên này – là con đường mậu dịch đường biển chính của Hán Thành – đều có thể gây nên một ảnh hưởng nghiêm trọng cho nền kinh tế dựa vào mậu dịch của quốc gia này.

Nam Hàn trong năm 2003 đã cố gắng tăng cường sự kiểm soát của mình lên vùng biển đang còn tranh chấp này bằng cách xây một trạm nghiên cứu hàng hải trên đó bất chấp sự phản kháng của Bắc Kinh.

© DCVOnline

Posted in Biên Giới, Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa | Leave a Comment »

Cặp đôi hoàn hảo CHUYÊN CHÍNH và THAM NHŨNG

Posted by hoangtran204 trên 14/03/2012

Cặp đôi hoàn hảo

CHUYÊN CHÍNH và THAM NHŨNG

Tác giả  Hà Sĩ Phu

nguồn

Đọc bài viết trên báo Pháp luật, tường thuật hội nghị toàn quốc đánh giá năm năm công tác Phòng chống Tham nhũng (PCTN), mặc dù đã có những tiêu đề và phụ đề “giật gân” như Thủ tướng chỉ đạo: Xóa nguồn gốc tạo đặc quyền, đặc lợi!, Thêm nhiều giải pháp mạnh!, Nâng cao trách nhiệm người đứng đầu! mà lòng tin của tôi với “sự nghiệp chống tham nhũng” của nước ta vẫn ỉu xìu, chẳng nhúc nhích thêm được chút nào. Các bạn cứ thử đọc xem, chắc cảm giác cũng không khá hơn tôi đâu.

Chẳng phải vì chúng ta thành kiến hay bi quan. Chỉ bởi vì có một quy luật bất di bất dịch, đó là câu nói bất hủ của vị Nam tước John Dalberg-Acton (1834-1902) “Quyền lực có xu hướng tham nhũng, mà quyền lực tuyệt đối thì tham nhũng tuyệt đối.” (“Power tends to corrupt, and absolute power corrupts absolutely.”) Khi có quá nhiều quyền lực trong tay, ngay đến người tốt cũng cai trị độc đoán!

Thế mà Đảng lại quyết tâm lãnh đạo một cách “toàn diện, trực tiếp và tuyệt đối” (nên không thể bỏ điều 4 Hiến pháp), thì theo quy luật Acton nói trên, sự Lãnh đạo tuyệt đối của Đảng chính là nguồn phát sinh và là nguồn bảo vệ cái Tham nhũng tuyệt đối!

Nguồn gốc là ở đấy, nay Thủ tướng Dũng lại hô hào “Xóa nguồn gốc tạo đặc quyền, đặc lợi” tức là tự xoá mình, thì xoá thế nào? Vì thế dù người chỉ huy PCTN là Thủ tướng, là Tổng Bí thư, hay Chủ tịch nước, hay Chủ tịch Quốc hội cũng đều không giải quyết được nạn tham nhũng, vì phân tích theo căn nguyên như trên thì họ đều liên quan trực tiếp hay gián tiếp đến tham nhũng, đều gặp những khó khăn không giải quyết được. Nhưng trong bốn vị đó thì người khó chống tham nhũng nhất chính là… đương kim Trưởng ban. “Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng thì làm sao chống được tham nhũng”, người dân nói thế và ai cũng hiểu ngay, thế mới khổ!

Từ định luật Acton rút ra hệ luận: Quyền lực tập trung ở đâu thì Tham nhũng bâu quanh chỗ đó, bởi hai kẻ này là một “cặp đôi hoàn hảo”. Trong cặp đôi này, một kẻ được hô muôn năm. kẻ kia bị hô tiêu diệt nhưng cả hai di chuyển nhịp nhàng, lúc tiến lúc lui, cộng lực với nhau, che chắn cho nhau, vờ tách nhau ra, thoắt liên hiệp lại, biểu diễn những vũ điệu ngoạn mục và những màn ảo thuật tân kỳ, rối mắt người xem.

Hãy nhìn ngay vào báo cáo trong Hội nghị PCTN này thì rõ: “PCTN là nhiệm vụ trọng tâm nhưng lại ít được đề cập [!] trong các hội nghị kiểm điểm, tổng kết công tác của các tổ chức Đảng. Chất vấn trong Đảng gần như chưa được thực hiện…”, tức là các vị nói là quan trọng nhưng trong lòng biết nó chẳng quan trọng gì, nói để mà nói thôi.

“Việc kê khai tài sản chưa có tác dụng do chưa được công khai rộng rãi, Nhà nước chưa kiểm soát được tài sản trong xã hội, nhất là bất động sản và các tài sản có giá trị khác… Công tác phát hiện, xử lý các vụ án tham nhũng vẫn còn yếu kém. Số vụ án tham nhũng được điều tra, xét xử trong 5 năm qua có xu hướng giảm, nhiều nơi, 5 năm qua không phát hiện được vụ nào”. Kết quả như vậy thì còn trông chờ gì, có hô khẩu hiệu 100 lần cũng thế thôi.

Năm 1995, khi viết bài Chia tay Ý thức hệ tôi đã tin rằng trong giai đoạn kinh tế thị trường định hướng XHCN, chuyên chính vô sản nhất định sẽ được dùng để tích luỹ tư bản! Mà giai đoạn “tích luỹ tư bản ban đầu” thì khủng khiếp thế nào chúng ta đều rõ, trong đó nạn tham nhũng ghê gớm cũng chỉ là điều “nhỏ như con thỏ” mà thôi.

Thế thì bế tắc không, cam chịu không? Thưa không, nếu biết nhìn từ gốc, dám sửa từ gốc và đặt Tổ quốc – Nhân dân lên trên hết, Dân làm chủ xã hội! Tôi tin như vậy.

© Hà Sĩ Phu

Posted in Chinh Tri Viet Nam, Tài Chánh-Thuế, Tham Nhung-Hoang Phí- Ăn Cắp | Leave a Comment »

63% dân Trung Quốc muốn thể chế dân chủ kiểu Tây phương

Posted by hoangtran204 trên 14/03/2012

Tựa đề trên là một trong những kết quả của cuộc thăm dò dư luận chưa từng có từ trước đến nay ở Trung Quốc. Nhiều kết quả khác được công bố hôm qua trên bản tiếng Anh của tờ Hoàn cầu Thời báo, tức Global Times. Tờ báo này là tiếng nói cánh tả của Đảng Cộng Sản Trung Quốc.

63% dân Trung Quốc muốn thể chế dân chủ kiểu Tây phương

Một người dân làng Ô Khảm đang bỏ phiếu bầu người đại diện địa phương, ngày 03/03/2012. Photo Reuters

Bài phân tích của thông tín viên nhật báo cánh tả Libération tại Bắc Kinh, mang tựa đề « Trung Quốc : Dân chủ được đặt lên hàng đầu ».Theo cuộc thăm dò của tờ Hoàn Cầu Thời Báo, thì có đến 63% người dân Trung Quốc bày tỏ mong muốn áp dụng một « thể chế dân chủ theo kiểu phương Tây ».

Libération nhận định, khát vọng dân chủ của người dân Trung Quốc ngày càng lệch pha với chính quyền cộng sản, theo như kết quả một cuộc thăm dò dư luận chưa từng có từ trước đến nay, được công bố hôm qua trên bản tiếng Anh của tờ Hoàn cầu Thời báo, tức Global Times, một nhánh của Nhân dân Nhật báo. Có đến hơn 63% người được hỏi muốn có một « thể chế dân chủ theo kiểu phương Tây », theo cuộc điều tra được thực hiện với 1.010 đại diện cho nhiều tầng lớp trên toàn quốc. Đại đa số nghi ngờ rằng một hệ thống bầu cử tự do và tách biệt tam quyền như thế có thể trở thành hiện thực trong điều kiện hiện nay, nhưng 15,7% cho rằng mục tiêu này có thể áp dụng được ngay từ bây giờ.

Kết quả độc đáo của cuộc thăm dò, cũng như việc nó được công bố, theo Libération, là rất đáng ngạc nhiên, vì số 15,7% trên đây mong muốn chế độ độc tài, độc đảng hiện nay cần phải nhanh chóng biến mất, hoặc biến ngay lập tức. Hơn 49% người được hỏi cho biết đang chờ đợi một « cuộc cách mạng » mới, 15% trong số này nghĩ rằng Trung Quốc « chắc chắn đang ở bên bờ một cuộc cách mạng mới », và 34% cho rằng điều này là « có thể ».

Libération cho biết, cuộc thăm dò mang tính « nổi loạn » này chỉ được công bố bằng tiếng Anh. Bản tiếng Hoa của Global Times không có, và không có tờ báo chính thức nào đề cập đến. Sự táo bạo của các nhà báo Global Times – có thể bị Ban Tuyên huấn trừng phạt – dường như biểu hiện cuộc tranh cãi nội bộ giữa hai phe ủng hộ và chống đối một công cuộc cải cách chính trị thực sự.

Hôm thứ Bảy, ông Ngô Bang Quốc, Chủ tịch Quốc hội hiện đang họp phiên thường niên, đã khẳng định là không có việc Trung Quốc dân chủ hóa theo kiểu phương Tây. Ông cam đoan là hệ thống « chủ nghĩa xã hội kiểu Trung Hoa » sẽ còn tồn tại rất lâu, và kêu gọi các đại biểu Quốc hội « bài trừ các tư tưởng và chủ thuyết sai lạc ». Ngô Bang Quốc nhấn mạnh là đảng Cộng sản duy trì quyền lãnh đạo tuyệt đối với chính phủ, với bộ máy lập pháp và tư pháp. Năm ngoái, nhân vật số hai vô cùng bảo thủ của đảng đã buộc các đại biểu phải long trọng tuyên bố « bác bỏ quan niệm đa đảng ». Ông ta nói : « Nếu chúng ta yếu đi, thì đất nước sẽ chìm vào vực thẳm của sự hỗn loạn ».

Càng sớm dân chủ hóa, Trung Quốc càng có lợi ?

Nhưng theo Tổng biên tập một tạp chí lịch sử ở Bắc Kinh, thì trong nội bộ đảng Cộng sản đang có một « cánh dân chủ ». Ông nhận định : « Nếu đảng Cộng sản tuân theo quy luật bầu cử dân chủ vào lúc này, thì rất có nhiều cơ hội duy trì quyền lực. Còn nếu để lâu hơn, thì sẽ càng phức tạp hơn ».

Một nhà triết học kiêm sử gia của trường đại học Trung Sơn tại Quảng Đông bình luận : « Trung Quốc không thể kháng cự được lâu dài trước các nguyên tắc của nền văn minh hiện đại. Một ngày nào đó Trung Quốc sẽ phải chấp nhận dân chủ, cac nguyên tắc công lý và tự do. Đây chỉ còn là vấn đề thời gian ». Ông nói : « Về mặt kinh tế, thì Bắc Kinh đã nhượng bộ khi chấp nhận các nguyên tắc của Tổ chức Thương mại Thế giới. Nhưng trên quan điểm chính trị, thì Trung Quốc đã đề kháng bằng cách khuếch trương một dạng chủ nghĩa dân tộc, tự cho rằng mình là xã hội chủ nghĩa. Trên thực tế, có quá ít nhân tố xã hội tại Trung Quốc, còn ít hơn cả các nước phát triển như Pháp chẳng hạn. Hơn nữa, phần lớn các đảng viên Trung Quốc chẳng còn tin vào chủ nghĩa cộng sản nữa ».

Trấn áp để tiếp tục chính sách độc đảng

Libération nhận xét, dù vậy, đảng Cộng sản vẫn muốn là đảng cầm quyền duy nhất, bằng mọi giá. Ngân sách dành cho việc « duy trì ổn định »năm 2011 đã vượt qua ngân sách quốc phòng, và năm nay lại còn tăng lên 11%. Một phần lớn số tiền này được dùng để bóp chết từ trong trứng nước tất cả các vụ nổi dậy, hoặc để đàn áp khoảng 180.000 vụ xung đột diễn ra mỗi năm, giữa chính quyền và người dân phẫn nộ trước những bất công do các cán bộ đảng tham nhũng gây ra.

Tuy vậy, theo tờ báo cánh tả Pháp, thì cái giá phải trả là rất đắt. Theo báo cáo của China Human Rights (CHRD) được công bố vào tuần rồi, thì « Việc đàn áp chưa bao giờ mạnh mẽ như thế từ ít nhất mười năm qua. Trong năm 2011, gần bốn ngàn nhà hoạt động chính trị đã bị bắt giam », hầu hết trong những nhà tù không chính thức. Tố cáo các biện pháp giam giữ không thông qua xét xử, báo cáo cho biết cụ thể : « Có 159 tù chính trị bị tra tấn, và 20 người đã bị mất tích trong nhiều tuần lễ thậm chí nhiều tháng ».

Hy vọng về một nhà lãnh đạo sáng suốt tiến hành cải cách tại Trung Quốc, trước đây vẫn ăn sâu, nay đã tàn úa, theo như thăm dò trên đây của Global Times : chỉ có 26% người được hỏi là còn tin. Đối với 69% số người được thăm dò, thì Bắc Kinh sẽ cải cách « dưới áp lực của các phương tiện truyền thông », « các điều kiện xã hội » hay « đòi hỏi của công chúng », và 62% cho rằng các trở lực chủ yếu cho cải cách là « những lợi lộc mà các nhóm lợi ích thu được ».

Ngải Vị Vị, nghệ thuật dấn thân

Cũng về Trung Quốc, nhật báo cộng sản L’Humanité quan tâm đến « Ngải Vị Vị, nghệ sĩ và là người bộc lộ những vấn đề của một xã hội Trung Quốc đang tiến triển ». Cuộc triển lãm ảnh của ông đang diễn ra tại Paris cho thấy nhà nghệ sĩ đã trở thành phát ngôn viên cho các đồng bào của mình, và các hành động dấn thân của ông cũng được diễn đạt trong các tác phẩm.

Bị nhà cầm quyền trấn áp, bị bắt giam, blog bị kiểm duyệt, kết tội khiêu dâm, bị cơ quan thuế truy bức, bị quản thúc tại gia, Ngải Vị Vị tất nhiên không có mặt trong cuộc triển lãm khá quy mô các tác phẩm nhiếp ảnh của ông. Nhưng các bức ảnh đã nói lên tất cả. Tấm ảnh người phụ nữ vén váy trước chân dung Mao Trạch Đông tố cáo sự thiếu minh bạch của chế độ, ngón tay trỏ vào quảng trường Thiên An Môn đầy khiêu khích, rồi đến một bình hoa đời Hán bị vỡ nát cho thấy lịch sử đang đè nặng, và tương lai cần được khẩn thiết viết lại.

Thụy Mi (RFI)

nguồn danchimviet.info

Posted in Chinh Tri Xa Hoi | 1 Comment »