Trần Hoàng Blog

Archive for Tháng Năm 29th, 2014

►Việt Nam có chiến lược gì để chống lại sự chèn ép của Trung Quốc?

Posted by hoangtran204 trên 29/05/2014

Việt Nam có chiến lược gì để chống lại sự chèn ép của Trung Quốc?

29-5-2014

Carl Thayer | The Diplomat, 28-5-2014
Trần Ngọc Cư dịch

.

Theo thời gian, đã trở nên yên ắng việc truyền thông quốc tế theo dõi cuộc đối đầu giữa Trung Quốc và Việt Nam về sự kiện Bắc Kinh hạ đặt một giàn khoan khủng trong vùng nước được Việt Nam tuyên bố chủ quyền. Nhưng những đối đầu hàng ngày vẫn còn tiếp diễn. Tình hình hiện nay không phải là một bế tắc, mà là một nỗ lực có quyết tâm của Trung Quốc nhằm thay đổi nguyên trạng bằng cách đẩy lùi các lực lượng Cảnh sát biển và Kiểm ngư Việt Nam lùi vào bên trong đường chín đoạn mà Trung Quốc đơn phương tuyên bố.

Các nguồn tin của chính phủ Việt Nam bày tỏ mối quan ngại là Trung Quốc sẽ dời giàn khoan này tới một địa điểm gần Việt Nam hơn vị trí ban đầu. Họ lo lắng về nơi giàn khoan sẽ được hạ đặt vì, những người đưa tin này lý luận, cả Trung Quốc lẫn Việt Nam đều không biết chính xác đường chín đoạn nằm ở đâu.

Các hãng truyền thông đưa tin tàu Hải giám Trung Quốc dùng vòi rồng bắn nước vào tàu Việt Nam và tàu Trung Quốc húc vào tàu của lực lượng cảnh sát biển Việt Nam, cho ta thấy những đoạn phim bắt mắt nhưng chưa phải là những phân tích tình hình nghiêm túc. Trung Quốc đang tiến hành một “chiến tranh tiêu hao” với Việt Nam trong tư thế mạnh hơn đối phương nhiều lần. Trung Quốc dùng chiến thuật húc vào tàu Việt Nam có trọng tải nhỏ hơn từ hai đến bốn lần tàu của mình – đây là một chiến thuật được thiết kế để gây hư hại khiến các tàu Việt Nam cần phải vào bờ để sửa chữa.

Một số nhà phân tích Việt Nam phỏng tính rằng nếu tỉ lệ tổn thất hiện nay tiếp tục, Việt Nam có thể không có đủ tàu để tiếp tục đối đầu với Trung Quốc trong vùng nước quanh giàn khoan.

Theo Phó tư lệnh Tham mưu trưởng Bộ Tư lệnh Cảnh sát biển Việt Nam Ngô Ngọc Thu, vào ngày 3 tháng Năm tàu Hải giám Trung Quốc số 44044 đã húc vào tàu Cảnh sát biển Việt Nam số 4033, để lại một vết nứt dài 3 mét rộng 1 mét, gây hư hại toàn bộ đầu máy bên phải. [Đại tá] Thu còn mô tả chi tiết những hư hại khác của các tàu Việt Nam.

Nghiên cứu gần đây của Scott Bentley cho thấy Trung Quốc cố tình dùng vòi rồng gây hư hại các cột truyền tin và ăng ten trên tàu Việt Nam. Các đoạn video trên Youtube cho thấy rõ ràng những cột truyền tin này bị sức nước thổi bay khỏi bong tàu Việt Nam. Chiến thuật này làm giảm khả năng truyền tin của các tàu Việt Nam với các tàu khác và như thế buộc chúng phải quay vào bến cảng để sửa chữa hư hại.

Hơn nữa, những đối đầu Việt-Trung bằng tàu trên biển có tính nghiêm trọng chết người. Theo Scott Bentley, hầu hết tàu Hải giám Trung Quốc đều có trang bị vũ khí hải quân. Cả tàu Hải giám Trung Quốc lẫn các tàu khu trục của Hải quân Quân Giải phóng Nhân dân đều bố trí xạ thủ cho các ổ súng đã để lộ nòng và cố tình nhắm vào các tàu Việt Nam trong cuộc đối đầu chung quanh giàn khoan.

Cho đến nay Việt Nam đã đáp trả những hành vi quyết đoán hung hăng này của lực lượng hải giám Trung Quốc như thế nào? Đâu là chiến lược của Việt Nam nhằm chống cự lại sự chèn ép của Trung Quốc?

Việt Nam đang duy trì một sự hiện diện liên tục ở vòng ngoài của đoàn tàu Trung Quốc triển khai chung quanh giàn khoan. Hàng ngày, tàu Cảnh sát biển Việt Nam dùng loa phóng thanh phát đi các tuyên bố khẳng định chủ quyển Việt Nam và kêu gọi phía Trung Quốc rời khỏi lãnh hải Việt Nam.

Theo Scott Bentley, phía Việt Nam đã hết sức thận trọng, cố giữ kín các vũ khí nhẹ trên tàu, việc này rõ ràng đưa tín hiệu cho thấy Việt Nam đang theo đuổi lập trường không khiêu khích.

Việt Nam vẫn còn để các chiến hạm và tàu ngầm của mình nằm yên trong cảng hay nằm khá xa vùng biển tranh chấp quanh giàn khoan. Các quan chức Việt Nam liên tục kêu gọi Trung Quốc thảo luận vấn đề. Họ đề nghị sử dụng đường dây nóng giữa các lãnh đạo cấp cao và họ đã yêu cầu phía Trung Quốc tiếp Nguyễn Phú Trọng, Tổng Bí thư của Đảng Cộng sản Việt Nam. Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam đã điện đàm với người đồng nhiệm Trung Quốc, ông Vương Nghị [Wang Yi]. Và Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam Phùng Quang Thanh đã tiếp xúc ngắn ngủi với người đồng nhiệm phía Trung Quốc, Ủy viên Quốc vụ viện Thường Vạn Toàn [Chang Wanquan], bên lề cuộc họp các Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN gần đây tại [Thủ đô Miến Điện] Nay Pyi Taw.

Trung Quốc đã bác bỏ các đề nghị nói trên của Việt Nam, trong khi các tiếp xúc cá nhân thì rất lạnh nhạt.

Nỗ lực ban đầu của Việt Nam nhằm đưa ra một lập trường hòa giải đã bị đẩy lùi bởi các cuộc biểu tình chống Trung Quốc của công nhân tại các khu công nghiệp. Những cuộc biểu tình này bất ngờ trở nên bạo động và nhắm vào các nhà máy và công nhân Trung Quốc. Các quan chức chính phủ và công an Việt Nam đã nhanh chóng tái lập luật pháp và trật tự, đồng thời bắt giữ một số đông công nhân bị qui trách nhiệm gây ra cuộc bạo loạn. Trung Quốc đã gửi tàu và máy bay để di tản hàng ngàn công nhân của mình về nước. Vào lúc tôi viết bài này, các tòa án Việt Nam đang tuyên án tù giam đối với những người sách động bạo loạn.

Phản ứng của Việt Nam đối với cuộc khủng hoảng giàn khoan gồm có các đề nghị ngoại giao gửi đến Hiệp hội Các Quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) và kêu gọi hậu thuẫn từ cộng đồng quốc tế. Trong một cách ứng xử mới, Việt Nam đang cân nhắc hành động pháp lý, chưa được tiết lộ chi tiết, nhằm chống lại Trung Quốc. Người ta suy đoán, việc này có thể mang hình thức một nỗ lực pháp lý độc lập hoặc là Việt Nam sẽ hậu thuẫn Philippines tại Toà án Trọng tài Quốc tế hiện đang tiến hành.

Theo các cuộc trao đổi riêng với một số quan chức chính phủ Việt Nam và các chuyên gia an ninh, Việt Nam cũng đang vạch ra một chiến lược dài hạn nhằm chặn đứng các hành vi xâm lược tương tự của Trung Quốc trong tương lai. Phần thảo luận dưới đây chỉ là nỗ lực nắm bắt một số ý kiến đang được trao đổi, chưa phải là thành tố của một chính sách được chính phủ Việt Nam chính thức phê chuẩn.

Cốt lõi của chiến lược đang hình thành của Việt Nam là tránh trực diện đối đầu với Trung Quốc trong một nỗ lực buộc họ phải rút giàn khoan và các tàu hải quân Trung Quốc ra khỏi Khu Đặc quyền Kinh tế của Việt Nam. Nói đúng ra, các nhà chiến lược Việt Nam chỉ tìm cách ngăn chặn các hành động tương tự của Trung Quốc trong tương lai.

Vào thời điểm này, hình như Việt Nam đang cân nhắc hai chiến lược để ngăn chặn Trung Quốc –một là, dùng đòn bẩy của các quan hệ đồng minh giữa Mỹ với Nhật Bản và Philippines, vàhai là, trong trường hợp có xung đột vũ trang, dùng “hiểm họa hai bên chắc chắn hủy diệt lẫn nhau” [mutually assured destruction]. Các quan chức Việt Nam trong tiếp xúc riêng tư đã nhấn mạnh rằng tất cả những hành động được thực thi dù theo bất cứ chiến lược nào cũng sẽ hoàn toàn minh bạch để giảm đến mức tối thiểu các tính toán sai lầm từ phía Trung Quốc.

Mục đích chính của chiến lược mới thành hình của Việt Nam là không trực tiếp đối đầu với Trung Quốc nhưng chỉ ngăn chặn họ bằng cách tạo tình huống theo đó Trung Quốc sẽ phải hoặc là chấp nhận nguyên trạng hoặc là leo thang xung đột. Việc này sẽ kéo theo nhiều rủi ro cho Trung Quốc vì các lực lượng Việt Nam sẽ hoạt động bên cạnh hai đồng minh của Hoa Kỳ để theo đuổi mục tiêu của mình bằng phương cách hòa bình.

Trước khi cuộc khủng hoảng giàn khoan xảy ra Việt Nam đã đề nghị một cuộc đối thoại an ninh ba bên với Hoa Kỳ và Nhật Bản. Hình như đề nghị này đã nhận được một phản ứng dè dặt từ phía Nhật Bản, nhưng nó vẫn còn ở trên bàn chờ cơ hội xét lại. Trong tình hình hiện nay, một dàn xếp ba bên có thể là cách để cùng nhau phác họa một chiến lược đa phương nhằm chặn đứng Trung Quốc.

Việt Nam đã tiếp cận Nhật Bản và Philippines trong một nỗ lực nhằm đẩy mạnh sự tương tác với các lực lượng biển của những nước này, gồm cả lực lượng Cảnh sát biển và Hải quân. Việt Nam hi vọng sẽ tham dự các cuộc huấn luyện hỗn hợp và các hình thức diễn tập trên biển khác, kể cả tuần tra hỗn hợp, trong biển Hoa Nam [tức Biển Đông Việt Nam]. Các cuộc diễn tập này sẽ diễn ra ở một địa điểm khá xa vị trí đang có những căng thẳng hiện nay. Chúng sẽ được tiến hành ở ngoài khơi và trong Vùng Đặc quyền Kinh tế Việt Nam băng qua đường chín đoạn của Trung Quốc.

Việt Nam cũng đang cân nhắc đến việc cầu thân với Hoa Kỳ. Một đề nghị được đưa ra là thúc đẩy hiệp định hợp tác giữa hai Lực lượng Cảnh sát biển. Như thế, Lực lượng Cảnh sát biển Hoa Kỳ có thể được triển khai trên lãnh hải Việt Nam để tham dự các cuộc huấn luyện hỗn hợp. Hai bên có thể trao đổi quan sát viên với nhau.

Việt Nam gần đây đã tham gia Sáng kiến an ninh chống phổ biến vũ khí giết người hàng loạt. Sự kiện này có thể tạo cơ hội để Hoa Kỳ trợ giúp Việt Nam phát triển khả năng giám sát vùng biển thuộc trách nhiệm của mình. Trước đây, Việt Nam đã bày tỏ ý muốn mua máy bay hải giám của Mỹ. Hoa Kỳ có thể gửi đến Việt Nam một mẫu máy bay mà Việt Nam muốn mua và tiến hành các chuyến bay biểu diễn có nhân viên quân sự Việt Nam trên đó.

Ngoài ra, các máy bay không vũ trang thuộc lực lượng hải giám của Hải quân Hoa Kỳ, có căn cứ tại Philippines theo hiệp định tăng cường hợp tác quốc phòng mà hai nước vừa ký kết, có thể triển khai đến Việt Nam trên cơ sở tạm thời. Chúng có thể tiến hành các phi vụ giám sát biển hỗn hợp cùng với các máy bay Việt Nam. Nhân viên quân sự Mỹ có thể bay trên các máy bay thám thính Việt Nam với tư cách quan sát viên, và ngược lại.

Các quan chức và các nhà phân tích Việt Nam dự kiến Trung Quốc sẽ tung ra các cuộc diễu võ giương oai của hải quân trên biển Hoa Nam [Biển Đông] hàng năm từ tháng Năm đến tháng Tám. Đây cũng là cơ hội để Hoa Kỳ và Nhật Bản tổ chức một loạt các cuộc thao diễn hải quân kéo dài và các chuyến bay giám sát biển với Việt Nam ngay trước khi các lực lượng Trung Quốc xuất hiện và suốt trong thời gian từ tháng Năm đến tháng Tám. Chi tiết của tất cả các hoạt động này sẽ hoàn toàn minh bạch đối với mọi quốc gia trong khu vực, kể cả Trung Quốc.

Chiến lược gián tiếp này của Việt Nam tạo phương tiện cho Hoa Kỳ bày tỏ một cách cụ thể chính sách công khai chống lại việc sử dụng hình thức đe dọa và chèn ép để giải quyết các tranh chấp lãnh thổ. Chiến lược gián tiếp của Việt Nam không đòi hỏi Hoa Kỳ phải trực tiếp đối đầu với Trung Quốc. Chiến lược của Việt Nam đặt gánh nặng lên vai Trung Quốc trong việc quyết định có nên hay không nên chấp nhận rủi ro do việc tấn công các đội hình quân sự hỗn hợp gồm tàu Hải quân và máy bay Việt Nam hoạt động cùng với các đồng minh của Mỹ, tức Philippines và Nhật Bản, hoặc với nhân viên quân sự Mỹ.

Những lực lượng hải quân và không quân này sẽ hoạt động trong vùng biển và vùng trời quốc tế. Mục tiêu là duy trì một sự hiện diện liên tục của hải quân và không quân để ngăn chặn việc Trung Quốc dùng đe dọa và chèn ép đối với Việt Nam. Khả năng ngăn chặn có thể được tăng cường bằng cách trao đổi các thủy thủ đoàn và các phi hành đoàn trong tất cả các cuộc diễn tập. Phạm vi và cường độ của những cuộc diễn tập này có thể thay đổi tùy theo mức độ của các căng thẳng.

Chiến lược ngăn chặn thứ hai mà Việt Nam có thể dùng đến, là “bảo đảm hủy diệt lẫn nhau”, chỉ được áp dụng cho một tình thế nghiệt ngã khi quan hệ Việt-Trung tồi tệ đến mức trở thành xung đột vũ trang. Các nhà chiến lược Việt Nam lý luận rằng mục đích của chiến lược này không phải là đánh bại Trung Quốc mà chỉ gây đủ thiệt hại vật chất và bất ổn tâm lý khiến giá bảo hiểm của Công ty Lloyd đối với các tàu biển tăng vọt và khiến các nhà đầu tư nước ngoài hoảng hốt bỏ chạy.

Theo chiến lược này, nếu xung đột vũ trang bùng nổ, Việt Nam sẽ dành ưu tiên cho việc nhắm vào các thương thuyền và các tàu chở dầu mang cờ Trung Quốc hoạt động trong vùng cực nam biển Hoa Nam [Biển Đông]. Việt Nam hiện có tên lửa đạn đạo phòng duyên có thể bắn đến các căn cứ hải quân Trung Quốc trên đảo Hải Nam và đảo Phú Lâm.

Một số nhà chiến lược Việt Nam còn tranh luận rằng Việt Nam phải mua ngay nhiều số lượng lớn các tên lửa đạn đạo có khả năng bắn đến Thượng Hải và thậm chí đến cả Hồng Kông. Trong trường hợp có xung đột vũ trang, những thành phố này và nhiều thành phố khác có thể trở thành mục tiêu pháo kích nhằm gây rối loạn rộng lớn cho nền kinh tế Trung Quốc. Việc này sẽ có một tác động toàn cầu. Các nhà chiến lược Việt Nam tin chắc rằng các cường quốc quan trọng sẽ can thiệp để chống lại hành động xâm lược của Trung Quốc.

Việt Nam đang cân nhắc một chiến lược mới, gồm việc gián tiếp lôi kéo các nước khác vào cuộc đối đầu với Trung Quốc của mình. Đây là một chỉ dấu cho thấy các quan chức và các nhà chiến lược Việt Nam coi những căng thẳng hiện nay như là một chiến lược dài hạn của Trung Quốc nhằm quyết đoán địa vị bá quyền không những tại biển Hoa Nam [Biển Đông] mà còn tại biển Hoa Đông. Sức thu hút của một chiến lược gián tiếp, minh bạch, và không khiêu khích nằm ở chỗ là nó cung cấp cho Nhật Bản, Philippines và Hoa Kỳ một phương cách ngặn chặn đường lối nguy hiểm hiện nay của Trung Quốc.

C. T.

Dịch giả gửi BVN.

Advertisements

Posted in Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa | Leave a Comment »

►Nhật Bản can dự nhiều hơn vào vấn đề Biển Đông- Nhật cung cấp tàu tuần duyên cho Việt Nam

Posted by hoangtran204 trên 29/05/2014

Biển Đông là con đường độc đạo để Trung Quốc và Nhật Bản và Nam Hàn…vận chuyển hàng hóa xuấtnhập khẩu.

Tất cả các cường quốc đều nhận ra vị trí chiến lược của Cam Ranh, của Biển Đông, của Hoàng Sa và Trường Sa…trừ chủ tịch Hồ Chí Minh và các nhân vật lãnh đạo trong BCT và đảng csvn.  Bỏn không biết các món nầy. Hồ Chủ Tịch nói quần đảo HS và TS là các hòn đảo chim ỉa, nên bacs đã đổi chúng cho Trung Quốc để lấy vũ khí đánh Pháp, đánh Mỹ-Ngụy, giải phóng Miền Nam…

Riêng bọn nước ngoài coi Biển Đông là cực kỳ quan trọng. 

Khoảng 3/4 hàng hóa xuất nhập khẩu của Trung Quốc là đi qua vùng Biển Đông. 

Trường hợp của Nhật Bản cũng vậy. “95% nhu cầu nhiên liệu trong nước và hầu hết số dầu nhập khẩu là được vận chuyển ngang qua Biển Đông. Ngoài ra, 99% hàng hóa nhập khẩu và xuất khẩu của Nhật cũng dựa vào đường biển, trong đó các loại hàng hóa bán sang các thị trường Âu châu, Đông Nam Á và Úc châu được vận chuyển qua Biển Đông.”

Bởi vậy,  Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe:  “những hoạt động khoan dầu đơn phương”của Trung Quốc làm cho căng thẳng leo thang và Nhật Bản “sẽ không bao giờ chấp nhận việc thay đổi hiện trạng bằng vũ lực hoặc cưỡng ép.”

Ông Abe nói với tờ Wall Street Journal ông đã gặp Phó Thủ tướng Việt Nam Vũ Đức Đam một ngày trước đó và được thông báo là Việt Nam “muốn được cung cấp các tàu tuần duyên đó càng sớm càng tốt”. Nhà lãnh đạo Nhật cho biết ông cũng muốn gia tốc tiến trình này.

Trích: “Tờ Yomiuri Shimbun ngày 28/5 trích nguồn tin từ Bộ Quốc phòng Nhật cho hay lực lượng duyên phòng Nhật sẽ tới Biển Đông tham gia các cuộc diễn tập hỗ trợ nhân đạo tại Việt Nam, Campuchea, và Philippines vào tháng sau. Tàu Kunisaki của lực lượng tuần duyên Nhật dự kiến có mặt tại Việt Nam vào ngày 6/6.” 

(Việt Nam Muốn Tăng Cường Hợp Tác Quốc Phòng với Nhật Bản, (28-5-2014),  VOA )

Tàu Kunisaki của lực lượng tuần duyên Nhật dự kiến có mặt tại Việt Nam vào ngày 6/6.”

Nhật luôn luôn chơi rắn mỗi khi ngư dân TQ xâm phạm lãnh hải của họ. Họ dùng tàu tuần tra rượt đuổi tàu Trung Quốc và áp dụng luật pháp để phạt ngư dân Trung Quốc nào cố tình vi phạm đánh bắt cá trong vòng 200 dặm đăc quyền kinh tế đánh bắt cá dành riêng cho ngư dân Nhật. 

Nhật thường cho máy bay lên kèm sát hai bên, và ra lệnh  máy bay quân sự Trung Quốc phải rời khỏi không phận chủ quyền của Nhật. Năm 2013, máy bay Nhật rượt đuổi máy bay quân sự Trung Quốc  450 lần.

Nhật Bản can dự nhiều hơn vào vấn đề Biển Đông

Thứ Tư, 28/05/2014

 VOA  Đài Tiếng Nói Hoa Kỳ 

 

Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe nói rằng Nhật Bản sẽ không bao giờ chấp nhận việc thay đổi hiện trạng bằng vũ lực hoặc cưỡng ép

Trung Quốc mới đây lại lên tiếng cảnh báo Nhật Bản đừng can dự vào vụ tranh chấp lãnh thổ giữa Bắc Kinh với Việt Nam ở Biển Đông và tố cáo Tokyo có âm mưu khuấy động căng thẳng ở khu vực này để đạt mục tiêu “đục nước béo cò.”

Các nhà quan sát cho rằng sự can dự tích cực hơn của Nhật Bản vào vấn đề Biển Đông phát sinh từ mối lo ngại của chính phủ ở Tokyo về an ninh của tuyến đường hàng hải vô cùng quan trọng cho sự sống còn của nền kinh tế lớn hàng thứ 3 thế giới.

Hôm thứ ba (27-5-2014), không lâu sau khi có tin tàu đánh cá Việt Nam bị tàu đánh cá Trung Quốc đâm chìm gần giàn khoan Trung Quốc hạ đặt trong vùng biển mà Việt Nam cho là thuộc khu vực đặc quyền kinh tế của mình, hai giới chức cấp cao của chính phủ Nhật Bản đã lên tiếng chỉ trích điều mà họ gọi là “hành động cực kỳ nguy hiểm” của Trung Quốc.

Chánh văn phòng nội các Nhật Yoshihide Suga phát biểu tại một cuộc họp báo ở Tokyo rằng “Đây là một hành động cực kỳ nguy hiểm, có thể đe dọa tới sinh mạng con người.” Ông nói thêm rằng các nước liên hệ cần phải tránh thực hiện những hành động đơn phương làm cho căng thẳng gia tăng, phải tuân thủ luật pháp quốc tế, và xử lý các vấn đề một cách bình tĩnh.

Bộ trưởng Quốc phòng Nhật Itsunori Onodera cũng cho báo chí biết rằng “vụ việc nghiêm trọng” này làm cho mọi người cảm thấy bất an. Ông cũng yêu cầu cộng đồng quốc tế làm rõ những sự việc liên quan tới vụ tàu cá Trung Quốc đâm chìm tàu cá Việt Nam.

Phát biểu vừa kể của các giới chức ở Tokyo đã nhanh chóng gặp phải sự chỉ trích của phía Trung Quốc, là nước cũng đang có vụ đối đầu gay gắt với Nhật Bản về vấn đề chủ quyền của một nhóm đảo không người ở ở Biển Đông Trung Hoa mà Trung Quốc gọi là Điếu Ngư và Nhật Bản gọi là Senkaku.

Tại cuộc họp báo ở Bắc Kinh hôm thứ ba, phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Trung Quốc Tần Cương hối thúc “Nhật Bản tôn trọng sự thật và ngưng đưa ra những phát biểu vô trách nhiệm.”

Ông Tần cũng lập lại tố cáo là Nhật Bản đang tìm cách khuấy động tình hình Biển Đông để đạt mục tiêu mà ông gọi là “đục nước béo cò.”

Cuộc khẩu chiến hôm thứ ba giữa Tokyo và Bắc Kinh diễn ra trong lúc Nhật Bản ra sức tăng cường các mối quan hệ với những nước vùng Đông Nam Á có yêu sách chủ quyền chồng lấn với yêu sách của Trung Quốc ở Biển Đông, đặc biệt là với Việt Nam và Philippines.

Trong cuộc phỏng vấn hôm thứ 6, (23 tháng 5, 2014) dành cho tờ Wall Street Journal, Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe đã một lần nữa chỉ trích việc Trung Quốc đưa giàn khoan Hải Dương 981 tới vùng biển có tranh chấp với Việt Nam. Ông nói rằng “những hoạt động khoan dầu đơn phương”của Trung Quốc làm cho căng thẳng leo thang và Nhật Bản “sẽ không bao giờ chấp nhận việc thay đổi hiện trạng bằng vũ lực hoặc cưỡng ép.”

Tháng 12 năm ngoái, chính phủ Nhật Bản đã tặng 10 chiếc tàu tuần duyên cho Philippines và cho biết một cuộc điều đình đang được tiến hành để cung cấp một sự trợ giúp tương tự cho Việt Nam.

Ông Abe nói với tờ Wall Street Journal ông đã gặp Phó Thủ tướng Việt Nam Vũ Đức Đam một ngày trước đó và được thông báo là Việt Nam “muốn được cung cấp các tàu tuần duyên đó càng sớm càng tốt”. Nhà lãnh đạo Nhật cho biết ông cũng muốn gia tốc tiến trình này.

Theo các nhà phân tích, sự can dự nhiều hơn của Nhật Bản vào vấn đề Biển Đông phát xuất từ mối lo ngại đối với an ninh của tuyến đường hàng hải vô cùng quan trọng cho nền kinh tế Nhật, giữa lúc Trung Quốc không ngừng gia tăng sức mạnh quân sự và thực hiện những hành động ngày càng hung hãn trong những vụ tranh chấp chủ quyền với các lân bang ở Á châu.

Các nhà quan sát nói rằng Nhật Bản phải dựa vào nhập khẩu để thỏa mãn 95% nhu cầu nhiên liệu trong nước và hầu hết số dầu nhập khẩu là được vận chuyển ngang qua Biển Đông. Ngoài ra, 99% hàng hóa nhập khẩu và xuất khẩu của Nhật cũng dựa vào đường biển, trong đó các loại hàng hóa bán sang các thị trường Âu châu, Đông Nam Á và Úc châu được vận chuyển qua Biển Đông. Theo ước tính của các chuyên gia, trong trường hợp phải đi đường vòng sang phía đông Philippines, giá thành của các sản phẩm chế tạo của Nhật Bản sẽ tăng 25%. Do đó, Nhật Bản xem Biển Đông là “tuyến đường huyết mạch” của mình và tìm đủ mọi cách để bảo vệ.

Theo tường thuật của báo chí Nhật Bản và Trung Quốc, tại một cuộc hội thảo ở Tokyo hôm 22 tháng 5, Thủ tướng Singapore Lý Hiển Long nói rằng Trung Quốc và Nhật Bản có thể xảy ra chiến tranh trong vòng 20 năm tới đây.

Nhà lãnh đạo Singapore cho rằng Á châu có thể có một tương lai tốt đẹp nếu cả Trung Quốc lẫn Nhật Bản đều muốn làm việc chung với Hoa Kỳ để duy trì sự ổn định và thịnh vượng của khu vực. Ông Lý Hiển Long nói thêm rằng trong trường hợp giới lãnh đạo ở Bắc Kinh không chịu hợp tác với Nhật Bản và các nước khác trong vùng, Trung Quốc có thể xảy ra chiến tranh với Nhật Bản vì vụ tranh chấp Senkaku/Điếu Ngư hay với các nước Á châu khác vì vụ tranh chấp Biển Đông dưới ảnh hưởng của chủ nghĩa dân tộc cực đoan.

Ông Lý Hiển Long cho rằng chính vì lý do đó mà Hoa Kỳ nên tiếp tục duy trì sự hiện diện trong khu vực, và ông tin rằng với sự trợ giúp của Washington, Á châu có thể né tránh được nhiều phần của tương lai u ám đó.

 

Posted in Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa | Leave a Comment »

►Giàn khoan 981 di chuyển qua vị trí mới nhưng cũng vẫn còn xâm phạm vào vùng lãnh hải đặc quyền kinh tế EEZ của Việt Nam theo luật và lệ quốc tế cũng như chính luật của Trung Quốc

Posted by hoangtran204 trên 29/05/2014

 

Có gì thay đổi với vị trí mới của giàn khoan 981?

Phan Văn Song
29-5-2014

Theo thông báo của Cục Hải sự Trung Quốc ngày 27/05/2014, giàn khoan 981 của họ sẽ dời sang vị trí mới ở toạ độ 15°33.38′ N và 111°34.62’E (lưu ý 111 độ 34.62 phút chứ không phải 111 độ 34 phút 62 giây như một vài báo đưa tin – phút viết dưới dạng thập phân).

Theo Google Earth thì vị trí mới cách đảo Lí Sơn khoảng 142 hải lí (trước là 119 hải lí), cách ranh ngoài của vùng đặc quyền kinh tế Việt Nam khoảng 57 hải lí. (xem bản đồ)

hd_981new.jpg

Như vậy, việc di chuyển này không làm thay đổi tình trạng Trung Quốc xâm phạm vùng biển Việt Nam vì giàn khoan 981 vẫn còn nằm sâu trong vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) của Việt Nam.

Lưu ý rằng vị trí mới cách đảo Tri Tôn (mà họ chiếm của Việt Nam bằng vũ lực hồi năm 1974) khoảng 25 hải lí và cách đường cơ sở quần đảo Hoàng Sa (mà họ tự tuyên bố năm 1996) khoảng 17 hải lí. Do đó, chắc chắn Trung Quốc sẽ dùng lập luận cũ để biện bạch cho việc đặt giàn khoan rằng vị trí này nằm trong vùng biển của quần đảo Hoàng Sa mà họ có chủ quyền. Cách lập luận của họ có thể làm cho số đông công chúng không có điều kiện theo dõi luật lệ, lịch sử cũng như các hiểu biết về thực tế các đảo trên biển Đông dễ tin rằng việc làm của họ là chính đáng, hợp pháp. Chẳng hạn, họ như họ nhấn mạnh khoảng cách khá gần của giàn khoan với đảo Tri Tôn, làm người nghe dễ bị thuyết phục rằng giàn khoan nằm trong vùng biển được hưởng của đảo này vốn đang do họ quản lí. Nhưng sự thực, theo những nghiên cứu về địa pháp lí thì đảo Tri Tôn không thể là một đảo theo nghĩa của Công ước LHQ về Luật biển (UNCLOS) mà chỉ là đảo đá. Tức là nó chỉ có lãnh hải 12 hải lí, không có EEZ lẫn thềm lục địa (CS). Do đó, dù ở gần đảo Tri Tôn nhưng giàn khoan vẫn nằm ngoài vùng biển mà đảo này có thể được hưởng theo UNCLOS, chưa kể đảo đó là do họ chiếm bằng vũ lực như đã nêu.

Hoặc Trung Quốc cũng nói rằng đảo Tri Tôn là một điểm cơ sở thuộc đường cơ sở quần đảo Hoàng Sa. Điều khiến người nghe có thể suy rằng giàn khoan sẽ nằm trong vùng biển của quần đảo Hoàng Sa được hưởng theo luật quốc tế. Tuy nhiên, đường cơ sở thẳng của quần đảo Hoàng Sa (đa giác màu hường trong bản đồ trên) do họ tuyên bố không theo quy định nào trong Công Ước LHQ về luật biển (trong Công ước chỉ có quy định đường cơ sở vẽ theo cách này cho các quốc gia quần đảo như Philippines, Indonesia…), chưa kể tới việc họ dùng vũ lực để chiếm nó từ Việt Nam hồi năm 1974. Vì đường cơ sở này có vấn đề nên khó nói tới lãnh hải, EEZ hay thềm lục địa của toàn bộ quần đảo Hoàng Sa. Do đó, nói vị trí giàn khoan (cũ lẫn mới) nằm trong vùng biển của quần đảo Hoàng Sa dù theo nghĩa là lãnh hải (chắc chắn không được vì quá 12 hải lí đối với đảo Tri Tôn và đường cơ sở quần đảo Hoàng Sa) hay EEZ hoặc CS chỉ là nói bừa.

Một vài học giả Trung Quốc cũng đưa thêm luận điệu là giàn khoan nằm trong EEZ của đảo Phú Lâm vì vị trí mới cách đảo này 88 hải lí (< 200 hải lí). Trước nhất, cần lưu ý rằng đảo Phú Lâm nằm trong tình trạng tranh chấp, và ngay cả khi chủ quyền đảo này thuộc Trung Quốc thì cũng còn nhiều lỗ hổng trong lập luận đó. Dù đảo Phú Lâm là lớn nhất, có diện tích khoảng 200 ha nhưng nó không có nước ngọt, phải nhờ vào việc tích trữ nước mưa và nước ngọt đưa từ Hải Nam tới để sinh hoạt. Do đó, khó có cơ sở để cho rằng nó có thể ‘duy trì được sự cư trú của con người và có đời sống kinh tế riêng’ để được hưởng quy chế đảo như quy định trong điều 121 UNCLOS. Lưu ý thêm rằng tỉ lệ khoảng cách từ vị trí mới của giàn khoan tới đảo Lí Sơn so với khoảng cách từ đó đến đảo Phú Lâm là 142:88 (tức vào khoảng 1,6:1). Tỉ lệ này bé hơn nhiều so với tỉ lệ mà các toà án quốc tế hay các hiệp định đã dùng để điều chỉnh trung tuyến phân chia EEZ chồng lấn cho tới nay (ví dụ tỉ lệ 3:1 trong vụ Nicaragua kiện Colombia, hoặc tỉ lệ 4:1 trong hiệp ước phân giới vịnh Bắc bộ cho trường hợp đảo Bạch long Vĩ của Việt Nam – đảo này có diện tích tương đương đảo Phú Lâm và hơn nữa lại có nước ngọt tại chỗ). Do đó, ngay cả khi đảo Phú Lâm đúng là đảo theo nghĩa của UNCLOS thì theo các cách phân chia như vừa nêu và kể cả nguyên tắc công bằng trong luật về EEZ và CS năm 1998 1của chính Trung Quốc thì EEZ của nó cũng không thể vươn hơn 88 hải lí. Tức là, lập luận cho rằng vị trí (cũ lẫn mới) của giàn khoan nằm trong EEZ của Phú Lâm cũng không có cơ sở trong luật 2 lệ quốc tế.

Để ý rằng từ khi bắt đầu vụ đặt giàn khoan trái phép đến nay họ chưa dùng đường lưỡi bò để bào chữa cho hành vi ngang ngược của mình. Đây là điều có thể hiểu được vì đường này vốn bị công luận thế giới phản đối. Hơn nữa, nếu dùng đường lưỡi bò làm cơ sở chắc chắn họ sẽ bị các nước ASEAN có tranh chấp trong biển Đông như Philippines, Malaysia, Brunei, Indonesia… cùng lên tiếng phản đối. Đó là điều thất lợi cho họ, đấu đá với một mình Việt Nam dễ hơn nhiều.

Họ cũng chưa dùng EEZ của đảo Hải Nam để bào chữa cho việc đặt giàn khoan dù nó cách đảo này dưới 200 hải lí. Có lẽ họ thấy rõ nếu dùng cơ sở này thì công chúng dễ phát hiện là Trung Quốc đã không đảm bảo nguyên tắc công bằng khi giành EEZ quá xa 183 hải lí cho vị trí cũ (hay 190 hải lí) so với 119 hải lí (hoặc 141 hải lí) phía Việt Nam. Do đó, họ dễ bị công chúng phản đối hơn.

Tóm lại, dù giàn khoan 981 ở vị trí nào thì Trung Quốc cũng đã xâm phạm vào EEZ của Việt Nam theo luật và lệ quốc tế cũng như chính luật của Trung Quốc. Tức là, vẫn không có biến chuyển gì theo hướng tích cực từ phía Trung Quốc trừ khi họ rút giàn khoan ra xa khu vực quần đảo Hoàng Sa về phía bên kia trung tuyến giả định (màu xanh sậm trong bản đồ trên).

Phan Văn Song
____________________________________________________________

1 Đoạn 3 trong Điều 2 của luật này nêu: “Các yêu sách mâu thuẫn liên quan đến vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và các nước có bờ biển đối diện hoặc liền kề sẽ được giải quyết, trên cơ sở luật pháp quốc tế và phù hợp với các nguyên tắc công bằng (người viết nhấn mạnh), bởi một hiệp định phân định cho các khu vực yêu sách đó.”

2 Điểm 1 Điều 74 của UNCLOS nêu: “Việc hoạch định ranh giới EEZ giữa các quốc gia có bờ biển tiếp liền hay đối diên nhau được thực hiện bằng con đường thoả thuận theo đúng với pháp luật quốc tế như đã nêu ở Ðiều 38 của Quy chế Toà án quốc tế để đi đến một giải pháp công bằng (người viết nhấn mạnh).”

Posted in Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa | Leave a Comment »

►Con đường nào cho Việt Nam để gỡ thế bí ở Biển Đông ?

Posted by hoangtran204 trên 29/05/2014

Con đường nào cho Việt Nam để gỡ thế bí?

 

 

Người Việt xuống đường biểu tình chống Trung Quốc, ngày 11/5/2014. 29-5-2014

Nguyễn Hưng Quốc

Trong bài phát biểu tại Philippines mới đây, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nêu đích danh Trung Quốc là kẻ “vi phạm luật pháp quốc tế”, “xâm phạm nghiêm trọng vùng biển của các quốc gia ven biển”, “đe doạ nghiêm trọng hoà bình, ổn định, an ninh, an toàn và tự do hàng hải tại Biển Đông.”Sau đó, trong cuộc tiếp xúc với báo chí, ông khẳng định: “Chúng tôi luôn mong muốn có hòa bình, hữu nghị nhưng phải trên cơ sở bảo đảm độc lập, tự chủ, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, vùng biển, và nhất định không chấp nhận đánh đổi điều thiêng liêng này để nhận lấy một thứ hòa bình, hữu nghị viển vông, lệ thuộc nào đó.”

Nghe những lời tuyên bố hùng hồn ấy, rất nhiều người ở Việt Nam cảm thấy an tâm, và nhiều người đặt hết sự tin tưởng vào Nguyễn Tấn Dũng; họ hy vọng, qua ông, đảng Cộng sản và chính quyền Việt Nam sẽ lãnh đạo đất nước vượt qua những thách thức hiểm nghèo trong hiện tại.

Tôi cũng hy vọng vậy, nhưng tiếc, tôi lại không thể tin tưởng và an tâm. Tôi không thể không nhớ giữa năm 2011, lúc tàu hải giám Trung Quốc ngang nhiên tiến sâu vào hải phận Việt Nam, cắt dây cáp ngầm của tàu thăm dò dầu khí được hải quân Việt Nam bảo vệ, giới lãnh đạo Việt Nam cũng lên tiếng một cách cứng rắn như vậy.

Tàu hải giám Trung Quốc ở ngoài khơi tỉnh Phú Yên hôm 26/5/2011 

Ngày 7/6, khi đến thăm huyện đảo Cô Tô, Chủ tịch nước (lúc ấy) Nguyễn Minh Triết khẳng định:“Chúng ta mong muốn các vùng biển và hải đảo của Tổ quốc luôn hòa bình, hữu nghị, ổn định nhưng chúng ta cũng quyết tâm làm hết sức mình để bảo vệ vùng biển đảo của đất nước. Biết bao thế hệ đã hi sinh xương máu để có được Tổ quốc như ngày nay. Vì vậy, chúng ta cũng sẵn sàng hiến dâng tất cả để bảo vệ quê hương, bảo vệ chủ quyền biển đảo.”

Ngày 8/6, tại Nha Trang, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tuyên bố: “Tiếp tục khẳng định chủ quyền không thể tranh cãi của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.” Đồng thời, ông khẳng định: “Nhân dân Việt Nam có đủ ý chí quyết tâm và sức mạnh tổng hợp của cả dân tộc để giữ gìn, bảo vệ các vùng biển và hải đảo của mình.”

Rồi sao nữa? Sau đó, chả có gì xảy ra cả. Tàu Trung Quốc vẫn tiếp tục tuyên bố chủ quyền trên con đường lưỡi bò của họ; tiếp tục sách nhiễu các tàu đánh cá Việt Nam; tiếp tục bắt nạt chính quyền Việt Nam; và mới đây nhất, đưa giàn khoan HD-981 vào ngay thềm lục địa Việt Nam. Trong suốt thời gian ấy, dân chúng vẫn tiếp tục bị cấm biểu tình, những người tiếp tục kiên cường lên tiếng chống Trung Quốc vẫn bị bôi nhọ, hơn nữa, còn bị bắt bớ và bỏ tù. Không có gì thay đổi, từ cả hai phía: sự hung hãn và ngang ngược của Trung Quốc cũng như sự bất động đầy nhu nhược của Việt Nam.

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng phát biểu tại Diễn đàn kinh tế thế giới (WEF). 

Bây giờ Nguyễn Tấn Dũng cũng lặp lại những gì chính ông đã nói và Trương Tấn Sang cũng lặp lại những gì người tiền nhiệm của ông, Nguyễn Minh Triết, đã nói. Xin lưu ý một điều: trong cả biến cố tàu Bình Minh 02 bị tàu hải giám Trung Quốc uy hiếp vào ngày 26 tháng 5 và ngày 9 tháng 6 năm 2011 cũng như hiện nay, Nguyễn Phú Trọng vẫn im thin thít. Ông không hề phát biểu bất cứ điều gì cả. Chỉ có tin đồn là ông xin qua Trung Quốc để gặp Tập Cận Bình hai lần nhưng không được. Vậy thôi. Không ai nghe được từ ông bất cứ một lời phát biểu nào. Trong khi đó, trên nguyên tắc, chính ông, với tư cách Tổng bí thư đảng, có quyền lực hơn hẳn cả Nguyễn Tấn Dũng và Trương Tấn Sang. Vậy mà ông lại im lặng.

Mai này, nếu có ai đó hỏi Nguyễn Tấn Dũng và Trương Tấn Sang tại sao Việt Nam không chịu kiện Trung Quốc ra trước toà án quốc tế hoặc không tìm kiếm sự giúp đỡ của các nước khác trong thế trận đương đầu với Trung Quốc, không chừng lúc ấy, cả ông Sang và ông Dũng sẽ lại than thở: Đảng chưa cho phép!

Rồi thôi. Đâu lại vẫn vào đó. Việt Nam lại để mặc cho Trung Quốc lấn từ từ. Từ từ. Hơn nữa, nếu chính quyền Việt Nam làm thật những điều họ nói thì họ có thể làm được gì?

Trước hết, về phương diện quân sự, với ngân sách quốc phòng chỉ bằng 1 phần 60 của Trung Quốc, người ta dễ dàng nhận thấy Việt Nam hoàn toàn không phải là đối thủ của Trung Quốc. Không nên dùng cuộc chiến biên giới năm 1979 để vớt vát niềm tin. Trung Quốc bây giờ không phải là Trung Quốc lúc ấy và Việt Nam bây giờ cũng khác hẳn những năm sau 1975, lúc lực lượng phòng không còn rất mạnh khiến Trung Quốc phải e dè không dám sử dụng không quân và cũng là lúc từ bộ đội đến tướng lĩnh đều dày dạn kinh nghiệm chiến đấu.

Bây giờ thì về mọi mặt, Việt Nam đều ở thế yếu. Nếu chiến tranh bùng nổ, liệu có nước nào sẵn sàng ra tay để cứu Việt Nam? Nước duy nhất Việt Nam có thể hy vọng là Mỹ. Nhưng Mỹ chả có lý do gì để giúp Việt Nam khi Việt Nam chưa phải là một người bạn thân thiết của Mỹ. Hơn nữa, nếu chính phủ Mỹ muốn giúp, Quốc hội Mỹ chưa chắc đã đồng ý. Nếu Quốc hội đồng ý, dân chúng Mỹ chưa chắc đã đồng tình. Nếu dân chúng Mỹ không đồng tình, chính phủ Mỹ cũng đành thúc thủ.

Về phương diện pháp lý, gần đây, một số người trong giới lãnh đạo Việt Nam úp úp mở mở về việc họ có thể kiện Trung Quốc ra trước tòa án Liên Hiệp Quốc. Trên các diễn đàn mạng, hầu như mọi người đều hoan nghênh sáng kiến ấy. Nhưng theo tôi, đó là một công việc phức tạp mà chính quyền Việt Nam cần phải cân nhắc thật kỹ.

Lý do, rất đơn giản:

  1. Nếu Trung Quốc thua kiện và bị tòa ra án lệnh phải rút giàn khoan ra khỏi thềm lục địa Việt Nam, hoặc xa hơn, rút quân ra khỏi đảo Gạc Ma thuộc Trường Sa và không được cho các tàu hải giám quấy nhiễu các tàu đánh cá Việt Nam thì chắc chắn Trung Quốc sẽ phớt lờ án lệnh ấy, và, cũng chắc chắn, sẽ chả có ai dám làm gì Trung Quốc.
  2. Nhưng nếu vì lý do nào đó, ví dụ vì cái công hàm do Phạm Văn Đồng ký ngày 14 tháng 9 năm 1958, toà án ra phán quyết Việt Nam thua thì chắc chắn Việt Nam sẽ phải tuân theo án lệnh ấy, ngay cả việc thừa nhận con đường lưỡi bò ngang ngược của Trung Quốc. Nếu Việt Nam kháng cự lại án lệnh ấy, Trung Quốc càng có thêm lý do chính đáng để tấn công Việt Nam. Lúc ấy, sẽ chả có ai dám bênh vực Việt Nam cả.

Trong trường hợp thứ nhất, thắng trước tòa, nhưng thật ra, Việt Nam chỉ thắng về phương diện tuyên truyền. Trong trường hợp thứ hai, Việt Nam thua trắng tay.

Như vậy, Việt Nam có thể làm điều gì?

Chính quyền Việt Nam hay nói đến biện pháp giải quyết xung đột bằng ngoại giao. Ừ, thì cũng được. Nhưng nên nhớ điều này: Trên bàn hội nghị, một nhà ngoại giao giỏi là người có một thứ vũ khí gì đó mạnh hơn đối phương. Đừng hy vọng gì Việt Nam có thể dùng ngoại giao để giải quyết các tranh chấp với Trung Quốc ở Biển Đông khi Việt Nam rõ ràng là đang ở thế yếu, rất yếu. Đừng hy vọng. Vô ích.

Cuối cùng, biện pháp duy nhất Việt Nam có thể làm được là chuẩn bị chiến tranh để chiến tranh không xảy ra. Bằng cách nào? Chỉ có một cách: Sử dụng sức mạnh của quần chúng. Bằng cách nào? Chỉ có một cách: Cho phép dân chúng bày tỏ lòng yêu nước và sự căm ghét ngoại xâm của họ, và tạo nên sự đoàn kết thực sự giữa chính quyền và dân chúng để Trung Quốc thấy là họ không thể khuất phục dân tộc Việt Nam bằng các biện pháp quân sự.

Điều duy nhất khiến Trung Quốc có thể e dè trước Việt Nam không phải là tài trí của giới lãnh đạo, sự tối tân của vũ khí hay sự thiện chiến của quân đội Việt Nam (thật ra, hầu hết bộ đội Việt Nam, từ lính đến tướng, đều không có hoặc có rất ít kinh nghiệm chiến trường!) mà chính là con người Việt Nam vốn nổi tiếng bất khuất.

Bởi vậy, đàn áp dân chúng, không cho dân chúng biểu tình là một cách giấu giếm sức mạnh lớn nhất của mình: Đó là một quyết định dại dột.

* Blog của Tiến sĩ Nguyễn Hưng Quốc là blog cá nhân. Các bài viết trên blog được đăng tải với sự đồng ý của Ðài VOA nhưng không phản ánh quan điểm hay lập trường của Chính phủ Hoa Kỳ.

—————–

KHÔNG QUÊN ĐƯỢC

22-5-2014

Rất nhiều lần trong ngày, tôi cứ tự nhủ thầm: Thôi, đừng viết về chính trị nữa. Thôi, quên đi cái giàn khoan HD-981. Quên đi những âm mưu đen tối ở Biển Đông của Trung Quốc. Quên đi những ông Trọng, Sang, Dũng, Hùng với những lời nói và những việc làm nếu không điên rồ thì cũng ngu xuẩn. Quên đi những đứa bạn ở Việt Nam đi đâu cũng có công an theo dõi, thậm chí, ngồi trong nhà cũng có công an rình rập ngoài ngõ. Quên hẳn đi cái nước Việt Nam khốn khổ ở xa, thật xa, xa lơ xa lắc, có khi đến chết, mình vẫn không về được. Quên, quên hết. Vậy mà tôi vẫn không quên được. Bật computer, vào các trang báo mạng, ngay cả bằng tiếng Anh, tôi cứ loay hoay tìm những tin tức liên quan đến Việt Nam để đọc trước; bằng tiếng Việt, tôi cứ chăm chăm tìm những tin tức liên quan đến cách giải quyết các tranh chấp ngoài biển khơi và các hậu quả của chúng. Không quên được. Không thể nào quên được. Tôi cứ khổ sở về cái không-thể-quên-được ấy của mình. Tôi phải làm gì bây giờ nhỉ? (Nguyễn Hưng Quốc)

Posted in Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa | Leave a Comment »

►TT Obama: Hoa Kỳ sẵn sàng đáp lại sự gây hấn của Trung Quốc ở Biển Đông

Posted by hoangtran204 trên 29/05/2014

[​IMG]

.Đường lưỡi bò

Theo đài RFA

29-5-2014

Bắc Kinh cho rằng hầu như toàn bộ Biển Đông là lãnh hải của họ.

Việc Trung Quốc tuyên bố chủ quyền hầu hết Biển Đông, bất chấp sự phản đối của các nước láng giềng, đang gây ra nhiều căng thẳng về an ninh trong khu vực Á Châu-Thái Bình Dương, nơi bao gồm cả các quyền lợi của Mỹ.

Tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama trong bài nói chuyện về chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ tại học viện quân sự West Point ngày hôm qua, tuyên bố rằng Hoa Kỳ sẵn sàng đáp lại sự gây hấn của Trung Quốc đối với các nước láng giềng của họ.

Ông Obama nói: “Một hành động gây hấn dù là ở Nam Ukraine, Biển Đông hay bất cứ nơi nào khác trên thế giới đều có ảnh hưởng đến đồng minh của Hoa Kỳ và có thể kéo theo hành động quân sự của nước Mỹ”.

Tuy nhiên Tổng thống Barack Obama nhấn mạnh là cần phải cẩn trọng khi sử dụng vũ lực. Ông còn cho rằng ảnh hưởng của Hoa Kỳ luôn mạnh hơn khi nước Mỹ làm gương đi đầu.

Theo Tổng thống Barack Obama thì Hoa Kỳ không thể giải quyết được vấn đề tại Biển Đông khi mà từ chối không phê chuẩn Công ước về luật biển.

Hiện Hoa Kỳ vẫn chưa phê chuẩn công ước này.

Xin nhắc lại rằng khi bắt đầu cuộc khủng hoảng giàn khoan của Trung Quốc trong thềm lục địa Việt Nam, Ngoại trưởng Hoa Kỳ John Kerry đã gọi hành động của Trung Quốc là khiêu khích.

Nghị quyết về Biển Đông

Cùng với hành pháp Mỹ, các nhà lập pháp tại Thượng viện Hoa Kỳ cũng tỏ ra bất bình trước các hành động của Trung Quốc ở Biển Đông.

Thượng nghĩ sĩ Benjamin Cardin hiện đang dẫn đầu một phái đoàn các nghị sỹ Mỹ thăm Việt Nam nói rằng hành động đơn phương nguy hiểm của Trung Quốc là không thể chấp nhận được.

Đây là phát biểu được ông Benjamin Cardin đưa ra trong cuộc họp báo hồi chiều nay tại Đại sứ quán Mỹ ở Hà Nội, liên quan đến việc tàu cá Việt Nam lại vừa bị tàu Trung Quốc đâm chìm ở Biển Đông.

 

Video: Tàu Trung Quốc lại đâm chìm tàu cá Việt Nam

.

http://youtu.be/Wp8LrDXzxpA   

.

Thượng nghĩ sĩ Benjamin Cardin cũng nói rằng ông có theo dõi việc di chuyển dàn khoan của Trung Quốc và vị trí mới của giàn khoan vẫn còn nằm trong thềm lục địa Việt nam.

Ông tiết lộ là Ủy ban Đối ngoại Thượng viện Hoa Kỳ mà trong đó ông là Chủ tịch Tiểu ban Châu Á Thái Bình Dương, đang cân nhắc việc ra một nghị quyết về tình hình hiện nay ở Biển Đông.

Ông nói thêm là sau chuyến làm việc ở Việt Nam, khi sang Singapore tham dự diễn đàn an ninh khu vực mang tên Shangrila, ông sẽ đưa sự việc giàn khoan Trung Quốc ra trước diễn đàn này.

Được biết là trước cuộc họp báo ông Benjamin Cardin có buổi gặp Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, và trong buổi gặp này Thủ tướng Viêt Nam có đề nghị phía Hoa Kỳ có tiếng nói mạnh mẽ hơn về hành động bất hợp pháp của Trung Quốc.

Posted in Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa | Leave a Comment »