Trần Hoàng Blog

Archive for Tháng Mười, 2010

Dòng Sông Cụt

Posted by hoangtran204 trên 31/10/2010

Dòng Sông Cụt

Osin viết năm 1987, để tham khảo một giai đoạn xây dựng CNXH ở Việt Nam.

Truyện ngắn

Nguồn : Osin
Mọi người tránh ra cho ông Chắt Thấu len vào. Hôm đó, đám dân Xóm Củi đi rừng tụ cả lại trên eo Láng, ngó lên Truông Bát, dải núi hình cánh cung mà trong những năm chiến tranh bị B.52 đánh tróc từng mảng. Giờ, hàng trăm dân công đang leo lên đó cuốc, xới, vẽ thành một câu khẩu hiệu chạy dài cả cây số THAY – TRỜI – ĐỔI – ĐẤT – SẮP – ĐẶT – LẠI – GIANG – SAN. Dân Xóm Củi chưa biết điều gì sẽ xảy ra, nhưng thấy thế thì khoái lắm. Lúc đánh Mỹ, cả Xóm Củi, ngày cũng như đêm, xe pháo, thanh niên xung phong, bộ đội, lớp vô Nam, lớp ra Bắc, cứ rầm rầm, rịch rịch. Bom đạn đào lên lộn xuống hàng trăm lần, hàng ngàn lần thế mà cái con đường dưới chân Truông Bát vẫn thông. Thế mới biết sức người khiếp thật! Lũ trẻ suốt ngày nheo nhéo hát theo các chú thanh niên xung phong: Bom nó bằng gang, tay ta bằng sắt, ngẫm cũng đúng!

… Chắt Thấu leo lên, đứng dạng chân trên hai cái xe cút kít. Đám đông đồng loạt quay về phía ông. Chắt Thấu, là chủ tịch xã, lại mới đi họp trên tỉnh về. Trước một sự kiện mới, bàn ra, bàn vào, chán vạn, rốt cục, người ta vẫn thích có một phát ngôn chính thức từ miệng người có trách nhiệm. Lục cục với cái xà cột da Liên Xô một lúc, dường như là để kéo dài sự tò mò của dân Xóm Củi, chứ thực ra trong cái xà cột oai vệ đó, nếu có thứ giấy tờ gì, thì cũng chỉ là để ông chủ tịch gói thuốc lào. Ông Chắt Thấu dặng hắng rõ dài, rồi giơ hai tay lên, trịnh trọng:
– Tôi vừa đi họp tỉnh về – Ông nhấn mạnh hai chữ họp tỉnh – Tình hình phấn khởi lắm, trong tỉnh ta có nơi đang chuẩn bị gặt lúa bằng máy, ruộng thẳng băng.
– Chuyện như ở bên Liên Xô í – Cu Nghệ đế vào.
– Không phải bên Liên Xô! – ông Thấu tiếp – Mà ngay Xóm Củi của ta đây. Nhưng phải “cải tạo” cái đã, phải “sắp xếp lại” cái đã – ông Thấu sử dụng những từ nghe được ở hội nghị – chớ ruộng nương như cái vẹm của ta đây thì có mà đến mục thất!.
Nhiều tiếng người nhao nhao:
– Nói thẳng tuột ra đi, ông chủ tịch, “vòng vo tam quốc” mãi, sốt ruột lắm rồi!
Ông Thấu nhe răng cười:
– Chuyện phải có đầu có đuôi chớ! Tính rồi, bàn rồi, bà con ta cứ rứa mà mần. Sắp tới, trên cho đào một con sông, từ Vĩnh Sơn đi ngang xã ta, đổ ra biển. Sau đó thì gỗ lạt trên rừng xuống, cá mú ngoài bể vô, tha hồ mà thích!
Cu Nghệ lại đế:
– Cha! Chuyện đào sông mà ông nói xếp xếp, sắp sắp tui nghe như mẹ cu tui bỏ sắn vô nồi luộc!

Ông Thấu quắc mắt:
– Cu Nghệ hử! Mi không thấy hồi đánh Mỹ, bom đạn như trấu, mà có bao giờ tụi thanh niên xung phong để cho đường tắc mô? Chả bằng sức người thì bằng cái chi – Ông xuống giọng – Ở trên tỉnh, cũng có một tay kỹ sư mặt non choẹt, đeo kính cận, đứng lên tính bác, bị đồng chí bên tuyên huấn toát cho một trận, ngồi im re. Kỹ sư kỹ siếc gì, ngữ ấy chỉ có diện đồ, chứ biết ruộng nương chi!
Cu Nghệ im. Nắng lên, mọi người giải tán bớt. Ông Thấu nhảy xuống đất làm cho cái xe bị đổ. Có tiếng kêu:
– Dẹp xe cút kít luôn hả ông Chắt?
Chắt Thấu hả hê:
– Dẹp! Dẹp hết! Nhưng mà hượm đã, mai mốt có cái mà đi đào sông, mí lại, cũng phải giữ vài cái đem vô Viện bảo tàng chớ!
Dân Xóm Củi nom câu khẩu hiệu, lại nghe ông chủ tịch nói, ai cũng khoái cái lỗ nhĩ, nhảy tưng tưng reo hò. Nhưng cũng có người thận trọng hơn vẫn không bỏ chuyến củi thường nhật, xe cút kít, cắm cúi đi. Dù sao, trong lòng họ cũng thấy bừng lên ngọn lửa. Ai ở đâu nghe tin đó, phấn khởi thế nào không biết, chứ dân Xóm Củi thì coi đó là một sự kiện trọng đại. Quanh năm, sống bằng nghề đốn củi, vì ruộng đất, nói theo cách ví von của ông Thấu là như cái vẹm. Mùa nắng, bên trên cát đốt cháy chân mạ, bên dưới đất sét quánh như mật cô. Cắm cây lúa xuống, gió Lào thổi qua một lượt, là ngắc ngư, rũ rượi. Nghề nông không đủ sống, nên vừa xếp liềm hái vô nhà, là vợ chồng con cái lại kéo nhau lên rừng. Với cái xe cút kít bánh gỗ, người gò lưng phía sau nắm hai càng xe đẩy, kẻ đổ rạp người phía trước, ngoắc sợi thừng vào vai, kéo. Củi đem về chẻ ra, đóng bó, sáng hôm sau, đem ra chợ Gát bán, được tiền, không dám đong gạo, mà chỉ đong thóc. Tối về, tranh thủ xay, giã, lấy cám nuôi lợn. Bây giờ nghe nói “thay-trời-đổi… đất” thật đúng vo cái bụng dân. Chẳng hám chi tàu to tàu nhỏ, trên bến dưới thuyền, nhưng có hột thóc ém bồ, dứt được cái nghề “ăn của rừng, rưng rưng nước mắt” này là thỏa rồi.

Những ngày sau đó, bỗng dưng Xóm Củi đông nghẹt người. Người từ đầu tỉnh, cuối tỉnh, kéo đến, toàn là mấy cô cậu thanh niên phây phây. Ông Thấu lo đi mượn nhà cho dân công ngủ, y như hồi kháng chiến mỗi bận có bộ đội hành quân qua. Nhà ông cũng có tới chục người ở, nằm choán hết cả mấy cái chõng tre ở nhà ngoài. Trong buồng là chỗ của bà Thấu và con Loan.
Tối thui ông Thấu mới lò dò về, lên, xuống ngó đám dân công từ xa đến thấm mệt, lăn ra ngủ. Ông tặc lưỡi, ngả cái nong phơi thóc ra, gối đầu lên xà cột…
Từ đời cụ kị ông Chắt Thấu đã ở trên cái Xóm Củi này. Nghề đi củi không biết có từ bao giờ, nhưng cái nghèo thì đeo bám quanh năm suốt tháng. Như những người láng giềng khác, ông Thấu cũng biết đẩy xe cút kít, biết cày ruộng và biết nồi cơm độn toàn sắn lát khô. Ông vốn là một nông dân hiền lành, thật như đất và ít học. Cả Xóm Củi này, trước kia quen gọi ông với một cái tên thân mật như bao người nông dân khác là “Ông Chắt”. Còn cái tên “ông Chủ tịch” là mới sau này, người ta gọi theo chức vụ của ông. Thời trước lúc lão Cháu Li và Bảy Pheo làm chủ tịch, trẻ trong Xóm Củi thường hát: Mỗi người làm việc bằng hai, để cho chủ tịch mua đài, mua xe. Ông Thấu làm chủ tịch cũng có một cái đài bán dẫn hiệu Sony, nhưng dứt khoát không phải là ông sắm bằng tiền tham ô! Ai cũng biết, cái đài đó ông đổi bằng bộ ván gõ gụ lên nước rất bóng, nằm mát tê cái lưng cho thằng cháu, con ông anh cả, đem ở trong Sài Gòn ra. Bà Thấu tiếc của xuýt xoa. Ông cười hề hề:
– Thống nhất rồi, ăn nên làm ra mấy hồi, sau này, người ta nằm giường nệm lò xo, chứ ai còn thiết chi ván gõ nữa. Cái danh từ “Giường nệm lò xo” ông nghe đâu được ở một cuộc họp trên huyện. Khi về, gặp ai cũng tuyên truyền, rồi cười tít mắt. Bà mắng:
– Gàn! Ăn không không đủ mà cứ nói chuyện trên trời dưới đất!
Ông vặc lại:
– Bà thì cả năm không đi khỏi đụn thóc, biết mô tê chi! Giàu có như thằng Mỹ mình cũng đánh nó chạy re được nữa là ba cái chuyện làm giàu. Dân mình, nước mình góp sức vô, mấy hồi!
Nói có vẻ cứng lý vậy, chứ ông cũng chẳng biết cách cớ ra sao để làm cho dân Xóm Củi này giàu. Cả xóm, chỉ có mỗi con mẹ Tam Pha buôn thịt lợn là có nhà gạch, nhưng nhà ấy, thuộc diện con buôn, chả nhẽ lại đi học nó.
Bà Thấu ít lời, như xưa nay bà vẫn ít lời vậy.
Nhớ cái dạo anh Thấu đến nhà, ngập ngừng bảo: “Tị lấy tui nhá!”
Tị là tên của bà hồi con gái, bà cũng không cãi chỉ mắng:
– Gàn!
Cái độ người ta bầu ông làm chủ tịch, chưa kịp mừng, thì một mối lo đã manh nha trong lòng bà. Tính ông cả tin, cục mịch, ôm chức, ôm việc vào không khéo để cho người ta lợi dụng làm bậy, rồi chuốc vạ vào thân, đổ như lão Cháu Ly với tay Bảy Pheo rồi nhục cái tiếng. Chứ nhà có hai vợ chồng, con Loan thì cũng đã lớn, từ khi nghỉ học, nó đã là lao động chính trong nhà, kiếm cái ăn có khó gì mà “ôm rơm cho nặng bụng”. Loan năm nay mười bảy, vai tròn căng, ngực đầy ú ụ, hơi thô, nhưng lại là mẫu con dâu lý tưởng của khối bà mẹ chồng Xóm Củi. Tuy là con một nhưng đã là dân Xóm Củi, Loan cũng biết đẩy xe cút kít, biết đi kiếm củi về bán. Những hôm trời mưa, không lên rừng được, ngồi buồn, Loan lại lân la sang nhà ông bác, học may nhờ cái máy Sinco của bà chị vợ ông anh họ. Bà Thấu thương con, cứ tặc lưỡi với chồng:
– Giá bộ ván ấy, ông đổi cái máy khâu thì con nó đã đỡ cực.
Ông bổ bã:
– Tui cần, là cần cái đài nghe tin tức chủ trương, chứ máy khâu, nay mai, khối!
Bà bực lắm, nhưng chỉ biết thở dài.
Sáng sớm, bà Thấu trở dậy, thấy chồng nằm co ro trong cái nong phơi thóc. Những đốt sống lưng ông gù lên, nom rất tội. Bà thầm trách lũ trẻ vô tâm để ông già ngủ như vậy. Ngồi xuống bên ông, đập tay vào miệng nong, bà khẽ gọi:
– Ông ơi!
– Chết! Sáng rồi a bà? – Ông Thấu ngồi bật dậy, nhìn bà trân trân. Bà phát ngượng mắng:
– Ngó chi ghê rứa!
Ông nắm tay bà kéo lại:
– Ngồi xuống đây, tui kể cái ni cho nghe!
– Nói đại đi, mần khó coi.
Ông thầm thì:
– Đêm qua tui với bà được ngủ trên cái giường lò xo.
– Ông ni mớ!
– Thì tui nói là tui nằm mơ mà, bà biết không, tui thấy tàu ngoại quốc ghé vô xóm mình mua củi.
– Gàn! Ông chả nói là khi đó người ta đun bếp điện, mua củi mần chi?
– Ờ hé! – Ông cười xí xoá – Con Loan mô rồi bà?
– Hắn đang ngủ.
– Con gái chi chừ còn ngủ, bữa ni, bà nói hắn ở nhà đi dân công nhá!
– Nó đang học may!
– Bỏ đó! Cả đời mới có một lần làm cái công trình ý nghĩa lịch sử như rứa! Với lại… con mình không đi, tui khó nói người ta.
Bà chưa kịp mắng: “Gàn!” thì ông đã vác cái nong chạy ra dựng sau hè.

Dân Xóm Củi nhà nào cũng bớt lực lượng đi củi, để ra đào sông. Nhà ít thì một người, nhà nhiều thì hai, ba người. Ở phía Nam Xóm Củi, chỗ khúc sông đào chạy qua bỗng nhiên rộn rịp hẳn. Mấy cái loa to như cái nơm, cái treo ngọn phi lao, cái ngoắc trên đầu thang, dựng tồng ngồng ngay giữa công trường, tối ngày ra rả hát. Mỗi chiều, khi tiếng loa ngoài công trường đọc tên con gái mình trong danh sách những người được biểu dương, ông Thấu phỡn ra mặt. Bà Thấu thì cẩn thận đe con:
– Con gái, con lứa, mi phải biết dè sức, rồi còn đẻ đái con ạ!
Ông cười hề hề:
-Bà hay lo xa, hắn lớn khắc biết lượng sức mà làm. Tụi hắn còn trẻ, phải có “thi đua”, có “phong trào” nữa chứ. Bà không nhớ cái hồi tui với bà đi tải gạo lên Tây Bắc đó à! Mình cũng không kém chi hắn bi giờ, “con ông không giống lông cũng giống cánh”.

Thế mà ở Xóm Củi vẫn có người trốn không chịu đi đào sông, đó là mụ Tam Pha buôn thịt. Con mụ có một sạp bán thịt ở chợ Gát, nổi tiếng cân điêu. Giàu nứt đố, đổ vách mà keo từng hào. Ông Thấu ức lắm, cho đám dân công phục bắt, nhưng thằng Trơng con mụ cũng khôn như ranh. Chỉ có một bữa bí quá, mẹ con mụ phải vứt lại cái đùi lợn, chạy lấy người. Đuổi bắt không được, ông Thấu chửi với theo:
– Mấy con mẹ buôn, đố có đứa nào lên được chủ nghĩa xã hội!
Rồi ông chỉ miếng thịt, ra lệnh:
– Đem về bồi dưỡng cho dân công!
Về sau này, mỗi khi nhắc lại câu nói ấy của ông Thấu, mẹ con mụ Tam Pha lại chửi xéo:
– Nhà tôi đúng là không theo kịp ông anh, bà chị lên chủ nghĩa xã hội, vì không thừa con gái đi tế cho cái lũ khùng!
Tức nghẹn cổ, xót xa với cái chết của con bị người ta đem ra bêu rếu, ông Thấu chửi với theo cái “mô kích” của thằng Trơng đang nhả khói:
– Đồ đểu! Cái loại chúng mày chỉ đáng vo viên để xuống đít cho ông ngồi.
Nói rồi, ông ném phịch người xuống bãi cỏ.
Đúng là không ai lại có thể nhẫn tâm như mụ Tam Pha. Đụng đến người chết là điều ít ai nỡ làm, tệ hơn, đây là cái chết đau thương của đứa con gái độc nhất của ông chủ tịch.

Hôm đó, ngồi họp ở Uỷ ban, ông Thấu cứ ngóng tiếng loa vọng choang choảng từ ngoài công trường vào. Giọng tay phát thanh viên ở bên văn hoá thông tin cứ réo rắt: Xét thể lực của hai đội thì đội An hoà có thế mạnh hơn vì có tới ba trong sáu thành viên của đội là nam. Nhưng qua mấy lần hội thao trước, An Hoà chưa bao giờ vượt được Sơn Thọ. Sơn Thọ có bốn nữ, nhưng giống như bốn cây trụ sắt. Đó là: Hồng, Kim, Loan, Sen, bằng sức khoẻ “bẻ gãy sừng trâu” của mình, các cô đã vượt An Hoà 0,25 thước khối…
Ông Thấu móc một cái đóm trên phên cửa, châm điếu thuốc lào. Sơn Thọ là xã ông làm chủ tịch “con gái ông chủ tịch phải thế chứ”. Ông khoan khoái nhả khói thuốc và theo dõi tiếp.
…Hiện nay, theo dự đoán của chúng tôi, giải thưởng hội thao này cũng sẽ thuộc về Sơn Thọ. Đồng chí tổng chỉ huy công trường đã xuống tận nơi để động viên cả hai đội, và… thưa các bạn, các nữ tướng của Sơn Thọ đã bỏ quang gánh. Vì có lẽ, theo chúng tôi, gánh chỉ được hai rổ đất, trong lúc đó đội có thể được ba mà lại giảm được rất nhiều thao tác”… ông Thấu tự nhủ:
– Thắng thế nào được dân Xóm Củi. Ông gãi mép đắc chí. Trong đội Sơn Thọ, ông biết có tới năm đứa là con cháu Xóm Củi của ông.
…Thưa các bạn! An Hoà cũng đã bỏ quang gánh để đội, cho đến giờ phút này, chúng tôi cũng chưa biết phần thưởng sẽ về tay ai, trong cuộc đọ sức, đọ tài này, đội nào cũng nỗ lực vượt bậc để chứng tỏ sức dời non lấp bể của mình… Kìa… Cố lên. Cố lên. Tiếng loa bỗng khìn khịt rồi im bặt. Ông Thấu đứng lên:
– Mẹ khỉ, đứa mô ra coi cái loa, răng mà tự dưng câm tịt rứa bây!
Phòng họp cũng nhốn nháo cả lên. Té ra, nãy giờ, người ta chỉ chú ý vào mấy cái loa ở ngoài công trường. Mọi người đang nóng ruột, thắc mắc, thì bà Thấu sấp ngửa chạy vào:
– Ông giết con tôi rồi! Bà hét lên rồi ngã ngất trước bậc thềm.
Cả đám người trong phòng họp lao ra ngoài công trường. Người ta rẽ lối cho ông Thấu vào. Có lẽ suốt cuộc đời, không bao giờ ông quên được cảnh ấy! Loan, cô con gái duy nhất của ông được đặt nằm trên một cái chiếu manh, đầu ngoẹo sang một bên. Ở bên mép rỉ ra một dòng máu đỏ hồng. Loan bị chết bởi một tai nạn mà ai cũng cảm thấy, nhưng không ai ngăn cản cả. Do đội ba thúng đất quá nặng, chạy trên một bờ đất chông chênh giữa hai thùng đấu sâu hoắm, cô đã trật chân rơi xuống…
Cô chết một cách tức tưởi, mới thấy đó bỗng mất đó… Ông Chắt Thấu ngồi xuống bên con một hồi lâu, rồi lảo đảo đứng dậy. Cả đám đông sụt sịt khóc. Họ thương Loan và cả chính ông…
Đám tang của Loan hôm ấy, cả công trường đi đưa. Đồng chí chỉ huy công trường đứng ra đọc một bài điếu văn dài, làm cho cả vạn nam nữ thanh niên đang từ không khí bi thương chợt thấy trong lòng hừng hực bốc lên ý chí dời non, lấp bể. Ông Thấu nhận ra cái vinh quang mà con gái ông sớm nhận được ở tuổi mười bảy. Đó là cả một điều an ủi rất lớn đối với ông. Cả đời ông, ngoài cái đám ma của địa chủ Cố Lơn năm 1939 mà ông được chứng kiến hàng ngàn tá điền khắp sáu xã đi đưa, thì chưa có đám ma nào trọng thể như đám ma con gái ông hiện nay. Cho dù ông là chủ tịch cái xã này, khi chết, may lắm được mấy chục ông bạn già đưa tiễn đã là an ủi lắm rồi. Ông đưa cái điều suy nghĩ đó ra nói với vợ vào một buổi chiều, sau đám tang một tuần lễ:
– Nó chết nhưng còn danh, còn tánh, chết vì bát gạo trắng của mọi người. Xóm Củi này biết, huyện này biết, tỉnh này biết. Rứa, coi như cũng đỡ tủi.
Bà Thấu trừng mắt ngó chồng, khóc nấc lên:
– Tôi không cần! Trả con gái tôi đây. Ba thúng đất đập lên đầu còn chi là con tôi, Loan ơi là Loan ơi!
Ông Thấu như bị hẫng đi sau câu nói của vợ. Ông nhớ lại hai con mắt rực lên như dại của bà nhìn ông hôm Loan chết.
Có lẽ, nếu con sông cứ được đào tiếp đủ sâu đủ rộng, bề thế, như một con sông thực thụ, đừng nghẹn lại giữa chừng mà chảy ra tới biển, thì có thể người ta đã suy tôn ông Thấu như một người anh hùng của Xóm Củi, thậm chí người ta đã tạc bia đá để tưởng nhớ con ông. Và điều quan trọng, là bi kịch trong lòng ông không trở nên trầm trọng. Thế mà, đất trên mộ con gái ông chưa kịp se lại, thì có lệnh trên ban xuống đình chỉ đào sông. Mọi người thu “cờ, đèn, kèn, trống” rút đi. Xóm Củi trở lại lặng tờ, cô tịch. Đất nham nhở và những phương tiện đào đất vứt chơ chỏng trên công trường, nom tiêu điều như thể vừa qua khỏi một biến động dữ dội của đất trời. Ông Thấu theo đoàn người Xóm Củi chạy ra bờ sông, nơi mà đám dân công đổ đất lên thành hai cái bờ cao như con đê khổng lồ, lòng ngẩn ngơ, đau xót.
Ông nuối tiếc không khí ngày hội diễn ra hàng tháng ròng trên cái xóm nghèo lẻ loi của ông.
Không ai bảo ai, từng người một bỏ ra về. Ông Thấu càng lẻ loi, chới với. Ông muốn mình có một sức mạnh như cái dạo ông đứng trên xe cút kít diễn thuyết cho từng ấy con người há hốc mồm ra nghe. Ông muốn dang hai tay ra giữ họ lại, trao cho họ cái cuốc, cái rổ, hô hào họ ra đào tiếp. Nhưng miệng ông cứng lại… Lệnh trên đã ban xuống.

Ông Chắt Thấu rời ghế chủ tịch xã giống như việc thay đổi vị trí của một bó củi từ bên này sang bên kia chiếc xe cút kít cho nó cân bằng. Những ngày cuối cùng ngồi ở trụ sở, ông như một ông từ giữ đền. Một mình với chiếc điếu thuốc lào, ông bỗng nghiệm ra cái cụm từ “Ông Chắt Thấu” vẫn yên ổn hơn nhiều cụm từ “Ông chủ tịch”. Nhưng đã quá muộn. Dân Xóm Củi cũng bắt đầu tỉnh ra, nhận thấy cái dạ dày lép kẹp cần được tống vào đó một cái gì cho nó co bóp. Người ta đã thôi nói chuyện đào sông, “cơ khí hoá”… Dân Xóm Củi lại đi kiếm củi như xưa, chỉ có cái khác là bây giờ sang chợ Gát bán củi, họ không còn đẩy được xe cút kít nữa..
Con sông đào cắt ngang chưa làm trọn cuộc hiện đại hoá, nhưng đã kịp buộc dân Xóm Củi đoạn tuyệt với cái phương tiện vẫn được coi là tân tiến của họ. Người đi chợ, gánh củi trên vai, lội qua con sông đào nước ngập đến bụng, lại leo qua hai bờ đất cao, mồ hôi chảy ròng ròng. Họ nhớ cái thời chở bằng xe cút kít, mà tiếc.
Những biến cố sau này ở Xóm Củi cứ như những nhát dao đâm vào lòng ông Thấu. Tuy đã thôi làm chức chủ tịch từ lâu, nhưng ông vẫn không dứt bỏ được quá khứ. Nhiều lúc ông ngồi ngẩn ngơ ngó đôi bờ sông nham nhở, rồi trút tiếng thở dài. Ông cứ khao khát, mong mỏi một cái giấy mời đi họp tỉnh như dạo nọ.Tất nhiên là không phải để nghe chuyện đào sông một lần nữa, mà để nghe những người ngày xưa đã chỉ đạo ông hô hào dân Xóm Củi đi đào sông, nay con sông không chảy được ra tới biển, thì họ cũng phải cho ông biết nguyên cớ tại sao. Để về, ông còn nói lại với dân Xóm Củi chứ… Không, tuyệt nhiên không có ai gọi ông lên để giải thích chuyện đó. Tất cả đều vụt lặn đi. “A! Ông chủ tịch!” Đang đi, Chắt Thấu nghe cái giọng xỏ lá của mụ Tam Pha. Con mụ ấy biết đích xác ông đã thôi chức chủ tịch mà vẫn gọi cái tên ấy để xỏ xiên ông. “Gớm, mời ông anh vô nhà em chơi đã! Bấy lâu, nghe ông anh nói, nghiệm, mới thấy trúng: Nhà em không có tinh thần chủ nghĩa xã hội nên cái thành quả mà các ông anh đào đắp, nhà em chẳng được hưởng!”
Ông Thấu rảo cẳng như bị ma đuổi. Tuy không ngoái lại, nhưng ông biết, cả Xóm Củi bây giờ chỉ có nhà mụ là mưa lụt không bị nước vô nhà. Nhà mụ nền đổ đá xanh cao cả mét, úng ngập ở đâu, mặc! Đời, nghĩ mà tức, khi cả xóm dỡ nhà mình ra, lót hố bom để thông xe vô Nam, đánh Mỹ, thì nó đi gom dù đèn, ống pháo sáng. Khi người ta trằn lưng ra đào sông, thì nó mổ lợn lậu, cất nhà gạch. Vậy mà nó còn dám ăn nói khinh khi ông như vậy đó! Buốt đến tận xương, tận tủy, nhưng cứng họng. Ông Thấu biết, khi con sông chưa chảy ra tới biển, thì người ta không thể phân biệt được đâu là công, đâu là tội. Cái con sông mà khi người ta kêu ông đào, ông tán thành, ông ủng hộ. Rồi về, ông vận động người ta có, ép buộc người ta có, đào đắp chán, cũng chỉ thành con sông cụt. Điều đau đớn hơn, là ông đã hy sinh cả đứa con gái duy nhất của mình vào đó. Giờ, con sông đã không chảy được, lại bỗng dưng, dựng lên hai con đê to chình ình. Trước hết, nó xé cái xã ông ra làm đôi, để bên kia sông, phần đất xưa nay cấy hái nhờ vào hệ thống nông giang dẫn nước từ trạm bơm Đại La về, nay bị con sông cắt ra làm nhiều khúc, gặp nắng, trơ đáy, nằm tênh hênh ngó trời. Cây mạ cắm xuống, bị gió Lào sớm về, thổi thông thốc, cứ rũ gục trên mặt ruộng cứng quàu quạu. Tệ hại hơn, bên này sông, Xóm Củi cứ động mưa kéo cho ít ngày là bị bờ sông ém lại, nước dâng lên xâm xấp nền nhà. Cây mít già, trong vườn ông Thấu chịu được một vụ mưa bỗng đứng đực ra, rũ lá, rụng xuống thối ủng quanh gốc. Cây cam sành, cây bưởi đào cũng không trụ được lâu hơn, lần lượt héo khô rồi chết. Ông Thấu cắn răng, nhờ mấy thằng cháu con ông anh sang chặt đem đi chợ Gát đổi gạo. Một mùa úng, hai mùa úng, cây cối ở Xóm Củi cứ thay nhau trút lá, chết gần hết. Chừng ấy cũng đã đủ để ông Thấu đau khổ, nay lại thêm những lời xỉa xói của mụ Tam Pha nữa. Như người mất trí, ông Thấu hùng hục bước đi mà không biết đêm đã xuống.
Thấy ông Thấu về tới ngõ, lão Thuật nhà bên đang gánh nước rửa chân trước bậc thềm, nói vọng ra:
– Mô về Chắt Thấu?
Người làng cũng đã không gọi hai tiếng “ông Chắt” vừa thân mật, vừa tôn trọng như khi ông còn làm chủ tịch nữa, mà phần đông cứ gọi ông bằng cái tên trần trụi ấy.
Lão Thuật tiếp:
– Có cái con sông cũng hay, Chắt Thấu hỉ, ngồi trên giường thõng chân xuống là rửa được, tiện đáo để!
Ông Thấu tím mặt lại. Đến cả cái lão láng giềng vốn hiền lành này mà còn dở cái giọng xát muối ấy, không trách thằng Cu Nghệ, đáng tuổi con, tuổi cháu ông, dám leo lên cây ổi, tuột quần ỉa, thấy ông còn nhe răng cười:
– Tui thấy từ ngày đào con sông, đến đi ỉa cũng khoái, vừa ngồi vừa nghe nhạc bì bõm cũng vui, ông Thấu hè!
Chắt Thấu băm băm bước vô nhà, gằn giọng với vợ:
– Mai tôi chuyển nhà đó, lên Truông Bát mà ở!
Sáng hôm sau, mặc cho bà Thấu chẳng hiểu mô tê gì cứ tru tréo chửi ông gàn, ông Thấu vẫn lần lượt dỡ nhà trên, nhà dưới, chuyển lên một cái thung đất dưới chân Truông Bát, cất nhà. Dân Xóm Củi thấy vậy, nhìn ông hỏi:
– Chi rứa, Chắt Thấu?
Ông chỉ ừ hử qua chuyện rồi xăm xắm bước đi.

Nghe bà Thấu báo tin ông Thấu ngộ bệnh, hai thằng cháu ở Xóm Củi làm vội cái cáng bạt bế ông Thấu đặt vào, khiêng chạy xong xóc lên bệnh viện cấp cứu. Nhưng ở bệnh viện nằm được một tháng thì người ta trả về. Mọi người đến thăm, bàn tán, thầm thì, riêng Cu Nghệ thì nói choang choáng:
– Thời buổi không có tiền lo thì chết!
Thực tế, bệnh ông Thấu cũng đã trầm trọng lắm. Một mình ông vừa san đất, cuốc núi, vừa chuyển nhà. Thỉnh thoảng lại còn phải kiếm một xe củi cho bà Thấu đem đi chợ Gát đổi gạo nữa. Ráng quá sức, bổ bệnh lao, người ông quắt lại, khô đét như que củi.
Mỗi bữa, bà Thấu ráng bón cho chồng vài thìa nước cháo. Đôi mắt của ông Thấu đục lờ như tách biệt với cuộc sống. Cho đến một đêm, bà Thấu trở dậy, linh tính thấy khang khác, bà vội châm đèn, đến ngồi bên ông. Đôi tay già nua của ộng Thấu khẽ đặt lên tay vợ. Toàn bộ sinh lực trong người ông như dồn vào đôi mắt, đẩy cái màng tinh thể đục lờ ra một khoảng vừa đủ xuất hiện một đốm sáng, cháy rực lên, vừa tha thiết với cõi thế, vừa yếu đuối, sợ hãi với người đời. Giọng phều phào, ông cố hỏi:
– Có… ai… nói… chi… chi… tui… không… bà?
Bà Thấu không dám nghĩ đến cái điều đang xảy ra ấy. Bám lấy đôi vai của chồng, như bám lấy một điểm tựa để giải thoát sự sợ hãi, bà không dám rời ánh mắt ông. Ở đó, nơi khoé mắt, hai giọt nước trong vắt đang ứa ra. Miệng ông Thấu lắp bắp. Bà nghe một tiếng gọi như thoát ra từ một nơi nào đó, sâu thẳm trong lòng ông:
– Bà tha tội cho tôi nha!
Rồi ngay thuỗn ra, ông chết!
Bà Thấu sấp ngửa, chạy như điên về Xóm Củi. Cái tin “Ông Chắt đi rồi!” được người ta lặng lẽ báo cho nhau rất nhanh. Bà Thấu cũng không ngờ dân Xóm Củi vẫn đối xử với ông Thấu như thế. Lâu nay vào ra như chiếc bóng với ông. Bỗng dưng bà cũng bị nhiễm cái mặc cảm của ông. Chính bà tuy không hiểu hết những gì xảy ra trong lòng ông, nhưng cuộc sống của bà cũng dần dần khép lại, lẩn tránh như một người phạm tội. Lẽ ra lúc ông nói lời cuối cùng, bà phải bảo: “Không, không ai có quyền nói gì cả, người có tội, không phải là ông!”. Nhưng dầu sao cũng đã muộn. Bà Thấu như người mất hồn, mặc cho Cu Nghệ bàn với ông anh ruột của chồng:
– Bác bảo bà ấy đem bán cái đài Sony đi mà sắm cho ông ấy cỗ áo…
Ngẫm nghĩ lời Cu Nghệ một lúc, ông bác cất cái đài cũ đi rồi về nhà chở bộ ván gụ của cụ Thấu đổi cho hồi nào sang, bảo với bà Thấu:
– Cả đời chú ấy chỉ ước làm cho dân no, dân ấm, không ngờ lại chết trên cái chõng tre ọp ẹp. Thôi, có bộ ván tốt mình nên nhường cho chú ấy, kẻo tội!
Cu Nghệ thêm:
– Bác nói phải! Khi trước nghe ông ấy nói tới cái giường lò xo, tui cũng ước có một cái để nằm thử, ai ngờ, kết cục lại thế này. Nhưng cũng tại bà con mình bác ạ! Ai cũng muốn được yên thân, muốn có một ông chủ tịch hiền lành dễ nói và nhất là không sợ bị ăn bớt, ăn chặn phần thóc của nhà mình!
… Đợi cho những người dân Xóm Củi đi đưa ông Thấu về hết, thằng Trơng mới lái xe “Mô kích” chở mụ Tam Pha đến nơi mộ bố con ông Thấu nằm. Mụ đốt một bó hương to, xẻ làm đôi, cắm lên cả hai phần mộ, rồi quỳ xuống khấn:
– Nhà em cũng vì miếng cơm manh áo mà phải bươn bả làm ăn. Sinh thời, đôi lúc có làm bác giận. Nay, xin cầu chúc cho bác “sống khôn, thác thiêng”, “phù hộ độ trì” cho mẹ con em được yên ổn làm ăn.
Chiếc xe Mô kích của thằng Trơng chạy vút đi.
Tất cả chìm dần trong màn đêm. Chỉ có hai bó hương cháy trên một của bố con ông Thấu là cứ rực lên như hai con mắt.

———–

Đổi Mới 1986 & Mô Hình Trung Quốc

Huy Đức

Không rõ gần đây, Việt Nam đã “bắt chước Trung Quốc” những gì khiến tờ Nhân Dân Nhật Báo online, hôm 18-9-2009, đòi “Việt Nam cần thực sự nhớ ơn mô hình” của họ. Nhưng, điều mà bài báo này cho rằng: “Cải cách và mở cửa của Trung Quốc đã đóng vai trò “kim chỉ nam” cho quyết định của Việt Nam vào năm 1986” là không có cơ sở. Mãi tới năm 1990, Việt Nam mới cử đoàn công tác đầu tiên do ông Vũ Oanh, Bí thư Trung ương dẫn đầu qua thăm và “trao đổi kinh nghiệm” cải cách ở Trung Quốc. Năm 1986, Việt Nam vẫn đang coi Trung Quốc là “kẻ thù truyền kiếp”. Ông Trần Đức Nguyên, thành viên IDS, từng là Trưởng ban Nghiên cứu của Thủ tướng, là người trực tiếp tham gia soạn thảo Cương lĩnh Đổi mới Đại hội VI (1986) của Việt Nam, nói rằng: “Trong suốt quá trình chuẩn bị Đại hội, ngoài việc thảo luận những vấn đề từ thực tế Việt Nam, tôi chưa bao giờ nghe một ai nói về mô hình Trung Quốc”.

Phải thừa nhận, Trung Quốc cũng có nhiều kinh nghiệm hay ho; nhưng, rất tiếc là những gì thực sự mang lại lợi ích cho nhân dân mà Việt Nam có được lại không phải “bắt chước” từ Trung Quốc. Bài do Nhân Dân Nhật Báo công bố cũng có những thông tin đáng suy nghĩ, nhất là để người Việt Nam cẩn trọng khi “chơi” với “đồng chí” tự nhận là “tốt” này. Tuy nhiên, để hiểu về đổi mới trong giai đoạn 1986, xin theo dõi cuộc trao đổi sau đây với GS Đặng Phong, tác giả của bộ sách “Tư Duy Kinh Tế Việt Nam” và nhiều tác phẩm khảo cứu giàu sử liệu.

Thưa ông, có nhiều lý do để cấu trúc thời kỳ 1975-1989 thành một “giai đoạn lịch sử”, nhưng khi gọi đâylà “chặng đường gian nan và ngoạn mục” ông muốn nhấn mạnh điều gì?

GS Đặng Phong: Đây đúng là một trong những giai đoạn khủng hoảng nghiêm trọng nhất trong lịch sử. Khủng hoảng do chính sự kiêu ngạo, chủ quan và thiếu hiểu biết dẫn đến những sai lầm chết người. Khủng hoảng đã tạo ra một thời kỳ gian nan cho dân tộc và lẽ ra nó đã có thể dẫn đến sự sụp đổ nếu không có sự vượt thoát ngoạn mục của chính những nhà lãnh đạo cộng sản có lương tâm và của chính những người đã mắc phải những sai lầm ấy.

Có thể nói, chưa bao giờ “ý thức hệ” được áp dụng một cách say sưa và triệt để, đặc biệt là trong xây dựng kinh tế như trong giai đoạn này, sai lầm theo giáo sư ở đâu?

Bởi cách hiểu về Marx. Phần lớn những người marxist ở nước ta hiểu chủ nghĩa Marx thông qua những gì được “chế biến lại” của Liên Xô. Sự “tái chế” ấy rất tiếc lại rất thích hợp với mức độ hiểu biết kinh tế học của nhiều người. Phần lớn vẫn nghĩ, bộ Tư Bản của Marx cũng chính là kinh tế học và khi cần giải thích các khúc mắc về kinh tế họ lại nói “Marx nói rằng. Marx nói rằng”. Nhưng cả hai yếu tố đó cũng chưa thực sự ảnh hưởng nếu không được đặt trên hai bệ phóng kiên cố: sự hùng mạnh, mà Việt Nam nghĩ, của Liên Xô và chiến thắng 1975.

Và yếu tố nào đã tạo ra “tư duy kinh tế” mà cuốn sách của ông đề cập?

Có thể nói rằng, “hợp tác hóa”, “làm chủ tập thể”… vốn không phải xuất hiện từ thực tế cuộc sống. Đổi mới thực chất là phản ứng của cuộc sống, của một cơ thể sống bị cấy vào đó những tế bào lạ. Cơ thể ấy đã không phản ứng tức thì vì nó được nuôi dưỡng bằng “sữa viện trợ”. Không giống như các nước XHCN khác, đổi mới của Việt Nam không bắt đầu từ “trên” hay từ các nhà kinh tế học. Mà bắt đầu từ cơ sở khi cuộc sống “bị đẩy tới chân tường”. Trong sách tôi có dẫn lại một câu chuyện rất thật: Một lần, ông Viện trưởng Viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô đến thăm xí nghiệp đánh cá Vũng Tàu- Côn Đảo, một điển hình đổi mới lúc đó. Xí nghiệp này khi sắp bị phá sản đành phải mời một ông chăn vịt vốn là người thạo nghề đánh cá hồi trước 1975 làm giám đốc. Ông đòi được toàn quyền “khoán” cho xã viên và xí nghiệp trở nên làm ăn rất hiệu quả. Sau khi thăm và hỏi chuyện ở Xí nghiệp, ông Viện trưởng Viện Hàn Lâm Liên Xô hỏi các cán bộ ở trường Quản Lý Trung Ương: “Các anh có biết bí quyết thành công của ông giám đốc là gì không?” Và, ông Viện trưởng đáp: “Đồng chí ấy thành công vì đồng chí ấy chưa được học qua lý luận”. Đổi mới trong gia đoạn ấy chủ yếu đều bắt đầu từ những nhà lãnh đạo địa phương chưa qua các trường lớp chính quy lý luận.

Những người lãnh đạo đổi mới ở cơ sở như ông nói, thay vì là những nhà lý luận, lại là những người cộng sản công lao trong kháng chiến, theo ông vì sao?

Cho dù “cơ thể cuộc sống” phản ứng khá mãnh liệt trong giai đoạn này nhưng không dễ để công khai thừa nhận cuộc sống phản ứng đối với những “tế bào lạ” vừa được “cấy vào” đó. Phải là những cán bộ ở gần dân, yêu dân, nhìn thấy cuộc sống của người dân bị dồn tới chỗ bế tắc mới nghĩ tới chuyện “tháo gỡ”. Và đặc biệt, phải là những cán bộ kiên cường trong kháng chiến, ngực đầy huy chương, những người mà không ai dám quy kết những việc làm của họ là “chống Đảng” thì mới có thể có ươm mầm đổi mới.

Có phải vì những người “ươm mầm đổi mới” đó vốn là những nhà lãnh đạo trong chiến tranh mà phương pháp đổi mới của họ cũng bắt đầu bằng “du kích”?

Đi thu thập những câu chuyện về đổi mới chúng tôi hết sức thú vị nhận ra những phương pháp rất là “Việt Công” được áp dụng trong giai đoạn này. Khi “chiến tranh nhân dân” vừa mới khởi sự, “Việt Cộng” không hề công đồn mà đưa các má, các chị lên đứng ở cổng đòi đưa chồng, đưa con về. “Xé rào” cũng vậy, không thể đưa “đúng sai” ra cãi lại các nhà lý luận đang ngồi ở Trung ương mà phải nhân danh cứu cấp những người dân đang đói. Ở Hải Phòng khi một bí thư huyện ủy xuống xã xử lý kỷ luật “khoán chui” ông được nhìn thấy chính những việc làm “sai chủ trương chính sách” ấy mà xã này hết đói, đưa được hơn 50 người phải đi ăn mày trở về quê cũ. Ở TP HCM, tôi ví cái cách bà Ba Thi chở lúa gạo vượt “ngăn sông cấm chợ” cũng giống như “dùng xe cứu hỏa vượt qua đèn đỏ”. Đổi mới vì thế, là một tiến trình bắt đầu từ sự bức xúc của dân chúng, được che chở bởi các nhà lãnh đạo chiến tranh kỳ cựu và bắt đầu bằng phương pháp xé rào.

“Xé rào” được bắt đầu ở TP HCM từ những năm cuối 70, cuốn sách của ông được xuất bản để “tưởng nhớ cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt”, phải chăng ông muốn đánh giá vai trò của các cá nhân trong cuốn sách này?

Ở Việt Nam không có ai là cha đẻ của đổi mới. Ở Miền Nam khi đó, Võ Văn Kiệt có vai trò như một chiếc xe tăng “đỡ đạn” cho những người “xé rào” nhưng ông không phải là người đưa ra tư tưởng đổi mới. Tiếp xúc với các chuyên gia về kinh tế thị trường ở lại từ sau ngày 30-4, nhưng, có lẽ nhờ sự lão luyện của một nhà lãnh đạo chiến tranh nhân dân mà Võ Văn Kiệt không đặt ra các vấn đề mang tính lý thuyết. Ông để cho thực tiễn tự giải quyết các vấn đề của chính nó và đẩy thực tiễn đến một tình thế không thể cưỡng lại được nữa. Không có ông thì không có Dệt Thành Công, Việt Thắng, Bột giặt Viso, Thuốc Lá Sài Gòn, Công ty Lương Thực của bà Ba Thi… Ông Kiệt còn là chỗ dựa cho những đổi mới về chính sách trong nông nghiệp, về giá… ở An Giang, Long An… với những tên tuổi như Nguyễn Văn Hơn, Chín Cần (Nguyễn Văn Chính)…

Thưa ông, Tổng Bí thư Trường Chinh đóng một vai trò rất quyết định đối với thành công của Đại hội VI, đại hội đổi mới của Đảng, nhưng, sau đó gần như rất ít khi nghe nhắc đến tên tuổi của ông?

Như tôi đã nói, đổi mới ở Việt Nam không bắt đầu từ tư tưởng của một nhà cải cách nào đó mà bắt đầu từ cuộc sống. Nhưng, về mặt đúc rút thực tiễn để hình thành quan điểm, đường lối phải nói đến Tổng Bí thư Trường Chinh. Ông Trường Chinh quan tâm đến những “phản ứng của cuộc sống” khá sớm và kể từ khi làm quyền Tổng Bí thư (tháng 5-1986), ông đã đi xuống các địa phương “xé rào” và tiếp xúc rất nhiều với các nhà doanh nghiệp áp dụng cơ chế mới trong sản xuất kinh doanh. Cùng lúc, ông tập hợp những nhà lý luận hàng đầu vào thời bấy giờ như Hà Nghiệp, Trần Đức Nguyên, Đào Xuân Sâm… cùng ông lắng nghe các vấn đề của thực tiễn và chuẩn bị các nền tảng lý luận cho đường lối đổi mới. Ngày 20-6-1986, Trường Chinh cách chức hai phó Thủ tướng Trần Quỳnh và Tố Hữu (người trước đó được giao chuẩn bị văn kiện cho đại hội). Có thể nói hầu hết các văn kiện chủ yếu của Đại hội VI đều được bắt đầu chuẩn bị từ giai đoạn này.

Việc Tổng Bí thư Trường Chinh, người mà cuối thập niên 60 đã “phê phán Kim Ngọc”, Bí thư Vĩnh Phú, tác giả đầu tiên của khoán hộ trong nông nghiệp, trở thành người đóng vai trò quyết định về mặt quan điểm và đường lối đổi mới nên được hiểu thế nào thưa ông?

Đây có lẽ là điểm mà các nhà nghiên cứu nước ngoài thường hiểu sai khi viết về Việt Nam. Đổi mới ở Việt Nam là một cuộc đấu tranh không có kẻ thua; không có ai hoàn toàn là bảo thủ, cũng như không có ai là thuần túy đổi mới. Tổng Bí thư Lê Duẩn, tác giả chính của “làm chủ tập thể” lại là người ủng hộ Đoàn Duy Thành “khoán” ở Hải Phòng, ủng hộ “bù giá” ở Long An và khi nghe Bộ trưởng Ngoại thương nói, “vào tới Tân Sơn Nhất thấy sặc mùi Nam Tư” ông khẳng định, “làm như Sáu Dân (Võ Văn Kiệt), tôi ủng hộ”. Đỗ Mười, từ là người sắt đá với tư cách là Trưởng Ban Cải tạo hồi “đánh tư sản” miền Nam về sau khi đứng đầu Chính phủ lại “chúc người dân phát tài”. Trường Chinh cũng ủng hộ rất sớm “khoán” ở Hải Phòng. Đổi mới ở Việt Nam không có cá nhân nào là tác giả duy nhất. Có những người từ rất bảo thủ về sau lại đi đầu trong đổi mới. Có những người từng nổi lên như một ngọn cờ nhưng chỉ đổi mới một giai đoạn rồi thôi.

Thưa ông, đây cũng là thời điểm mà Việt Nam “hợp tác toàn diện” với Liên Xô, “anh cả” Liên Xô có vai trò như thế nào trong việc hình thành tư duy của giai đoạn này?

Những năm ấy, Liên Xô viện trợ cho Việt Nam 2 thứ: mô hình và bột mì. Về mô hình, học thuyết “bỏ qua giai đoạn tư bản chủ nghĩa tiến thẳng lên CNXH; kế hoạch hóa kinh tế tập trung” đã củng cố niềm tin cho Việt Nam rằng “CNTB đang ở giai đoạn tổng khủng hoảng”, củng cố niềm tin cho Việt Nam là mô hình hợp tác hóa có hiệu quả. Xi măng, sắt thép của Liên Xô cũng đã nuôi cho những mô hình này chậm đi tới kết cục sụp đổ. Tuy nhiên, cho dù hậu quả là bi kịch thì cũng phải nhìn nhận rằng, hai thứ viện trợ ấy đều là những “viện trợ tình nghĩa”. Cho dù tiến trình đổi mới tư duy ở Việt Nam xảy ra là độc lập với những cải cách ở Liên Xô, từ khi Gorbachov giữ chức Tổng Bí thư (3-85), những cải cách ở Liên Xô cũng đã tạo thuận lợi rất nhiều cho những gì diễn ra ở Đại hội VI của Việt Nam và những đổi mới dứt khoát hơn theo hướng thị trường những năm sau đó.

Huy Đức thực hiện

Ai thực sự có thời gian thì mời đọc thêm truyện ngắn Dòng Sông Cụt, Osin viết năm 1987, để tham khảo một giai đoạn xây dựng CNXH ở Việt Nam.

 

http://danluan.org/node/2700

 

Đổi Mới 1986 & Mô Hình Trung Quốc

Huy Đức

Không rõ gần đây, Việt Nam đã “bắt chước Trung Quốc” những gì khiến tờ Nhân Dân Nhật Báo online, hôm 18-9-2009, đòi “Việt Nam cần thực sự nhớ ơn mô hình” của họ. Nhưng, điều mà bài báo này cho rằng: “Cải cách và mở cửa của Trung Quốc đã đóng vai trò “kim chỉ nam” cho quyết định của Việt Nam vào năm 1986” là không có cơ sở. Mãi tới năm 1990, Việt Nam mới cử đoàn công tác đầu tiên do ông Vũ Oanh, Bí thư Trung ương dẫn đầu qua thăm và “trao đổi kinh nghiệm” cải cách ở Trung Quốc. Năm 1986, Việt Nam vẫn đang coi Trung Quốc là “kẻ thù truyền kiếp”. Ông Trần Đức Nguyên, thành viên IDS, từng là Trưởng ban Nghiên cứu của Thủ tướng, là người trực tiếp tham gia soạn thảo Cương lĩnh Đổi mới Đại hội VI (1986) của Việt Nam, nói rằng: “Trong suốt quá trình chuẩn bị Đại hội, ngoài việc thảo luận những vấn đề từ thực tế Việt Nam, tôi chưa bao giờ nghe một ai nói về mô hình Trung Quốc”.

Phải thừa nhận, Trung Quốc cũng có nhiều kinh nghiệm hay ho; nhưng, rất tiếc là những gì thực sự mang lại lợi ích cho nhân dân mà Việt Nam có được lại không phải “bắt chước” từ Trung Quốc. Bài do Nhân Dân Nhật Báo công bố cũng có những thông tin đáng suy nghĩ, nhất là để người Việt Nam cẩn trọng khi “chơi” với “đồng chí” tự nhận là “tốt” này. Tuy nhiên, để hiểu về đổi mới trong giai đoạn 1986, xin theo dõi cuộc trao đổi sau đây với GS Đặng Phong, tác giả của bộ sách “Tư Duy Kinh Tế Việt Nam” và nhiều tác phẩm khảo cứu giàu sử liệu.

Thưa ông, có nhiều lý do để cấu trúc thời kỳ 1975-1989 thành một “giai đoạn lịch sử”, nhưng khi gọi đâylà “chặng đường gian nan và ngoạn mục” ông muốn nhấn mạnh điều gì?

GS Đặng Phong: Đây đúng là một trong những giai đoạn khủng hoảng nghiêm trọng nhất trong lịch sử. Khủng hoảng do chính sự kiêu ngạo, chủ quan và thiếu hiểu biết dẫn đến những sai lầm chết người. Khủng hoảng đã tạo ra một thời kỳ gian nan cho dân tộc và lẽ ra nó đã có thể dẫn đến sự sụp đổ nếu không có sự vượt thoát ngoạn mục của chính những nhà lãnh đạo cộng sản có lương tâm và của chính những người đã mắc phải những sai lầm ấy.

Có thể nói, chưa bao giờ “ý thức hệ” được áp dụng một cách say sưa và triệt để, đặc biệt là trong xây dựng kinh tế như trong giai đoạn này, sai lầm theo giáo sư ở đâu?

Bởi cách hiểu về Marx. Phần lớn những người marxist ở nước ta hiểu chủ nghĩa Marx thông qua những gì được “chế biến lại” của Liên Xô. Sự “tái chế” ấy rất tiếc lại rất thích hợp với mức độ hiểu biết kinh tế học của nhiều người. Phần lớn vẫn nghĩ, bộ Tư Bản của Marx cũng chính là kinh tế học và khi cần giải thích các khúc mắc về kinh tế họ lại nói “Marx nói rằng. Marx nói rằng”. Nhưng cả hai yếu tố đó cũng chưa thực sự ảnh hưởng nếu không được đặt trên hai bệ phóng kiên cố: sự hùng mạnh, mà Việt Nam nghĩ, của Liên Xô và chiến thắng 1975.

Và yếu tố nào đã tạo ra “tư duy kinh tế” mà cuốn sách của ông đề cập?

Có thể nói rằng, “hợp tác hóa”, “làm chủ tập thể”… vốn không phải xuất hiện từ thực tế cuộc sống. Đổi mới thực chất là phản ứng của cuộc sống, của một cơ thể sống bị cấy vào đó những tế bào lạ. Cơ thể ấy đã không phản ứng tức thì vì nó được nuôi dưỡng bằng “sữa viện trợ”. Không giống như các nước XHCN khác, đổi mới của Việt Nam không bắt đầu từ “trên” hay từ các nhà kinh tế học. Mà bắt đầu từ cơ sở khi cuộc sống “bị đẩy tới chân tường”. Trong sách tôi có dẫn lại một câu chuyện rất thật: Một lần, ông Viện trưởng Viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô đến thăm xí nghiệp đánh cá Vũng Tàu- Côn Đảo, một điển hình đổi mới lúc đó. Xí nghiệp này khi sắp bị phá sản đành phải mời một ông chăn vịt vốn là người thạo nghề đánh cá hồi trước 1975 làm giám đốc. Ông đòi được toàn quyền “khoán” cho xã viên và xí nghiệp trở nên làm ăn rất hiệu quả. Sau khi thăm và hỏi chuyện ở Xí nghiệp, ông Viện trưởng Viện Hàn Lâm Liên Xô hỏi các cán bộ ở trường Quản Lý Trung Ương: “Các anh có biết bí quyết thành công của ông giám đốc là gì không?” Và, ông Viện trưởng đáp: “Đồng chí ấy thành công vì đồng chí ấy chưa được học qua lý luận”. Đổi mới trong gia đoạn ấy chủ yếu đều bắt đầu từ những nhà lãnh đạo địa phương chưa qua các trường lớp chính quy lý luận.

Những người lãnh đạo đổi mới ở cơ sở như ông nói, thay vì là những nhà lý luận, lại là những người cộng sản công lao trong kháng chiến, theo ông vì sao?

Cho dù “cơ thể cuộc sống” phản ứng khá mãnh liệt trong giai đoạn này nhưng không dễ để công khai thừa nhận cuộc sống phản ứng đối với những “tế bào lạ” vừa được “cấy vào” đó. Phải là những cán bộ ở gần dân, yêu dân, nhìn thấy cuộc sống của người dân bị dồn tới chỗ bế tắc mới nghĩ tới chuyện “tháo gỡ”. Và đặc biệt, phải là những cán bộ kiên cường trong kháng chiến, ngực đầy huy chương, những người mà không ai dám quy kết những việc làm của họ là “chống Đảng” thì mới có thể có ươm mầm đổi mới.

Có phải vì những người “ươm mầm đổi mới” đó vốn là những nhà lãnh đạo trong chiến tranh mà phương pháp đổi mới của họ cũng bắt đầu bằng “du kích”?

Đi thu thập những câu chuyện về đổi mới chúng tôi hết sức thú vị nhận ra những phương pháp rất là “Việt Công” được áp dụng trong giai đoạn này. Khi “chiến tranh nhân dân” vừa mới khởi sự, “Việt Cộng” không hề công đồn mà đưa các má, các chị lên đứng ở cổng đòi đưa chồng, đưa con về. “Xé rào” cũng vậy, không thể đưa “đúng sai” ra cãi lại các nhà lý luận đang ngồi ở Trung ương mà phải nhân danh cứu cấp những người dân đang đói. Ở Hải Phòng khi một bí thư huyện ủy xuống xã xử lý kỷ luật “khoán chui” ông được nhìn thấy chính những việc làm “sai chủ trương chính sách” ấy mà xã này hết đói, đưa được hơn 50 người phải đi ăn mày trở về quê cũ. Ở TP HCM, tôi ví cái cách bà Ba Thi chở lúa gạo vượt “ngăn sông cấm chợ” cũng giống như “dùng xe cứu hỏa vượt qua đèn đỏ”. Đổi mới vì thế, là một tiến trình bắt đầu từ sự bức xúc của dân chúng, được che chở bởi các nhà lãnh đạo chiến tranh kỳ cựu và bắt đầu bằng phương pháp xé rào.

“Xé rào” được bắt đầu ở TP HCM từ những năm cuối 70, cuốn sách của ông được xuất bản để “tưởng nhớ cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt”, phải chăng ông muốn đánh giá vai trò của các cá nhân trong cuốn sách này?

Ở Việt Nam không có ai là cha đẻ của đổi mới. Ở Miền Nam khi đó, Võ Văn Kiệt có vai trò như một chiếc xe tăng “đỡ đạn” cho những người “xé rào” nhưng ông không phải là người đưa ra tư tưởng đổi mới. Tiếp xúc với các chuyên gia về kinh tế thị trường ở lại từ sau ngày 30-4, nhưng, có lẽ nhờ sự lão luyện của một nhà lãnh đạo chiến tranh nhân dân mà Võ Văn Kiệt không đặt ra các vấn đề mang tính lý thuyết. Ông để cho thực tiễn tự giải quyết các vấn đề của chính nó và đẩy thực tiễn đến một tình thế không thể cưỡng lại được nữa. Không có ông thì không có Dệt Thành Công, Việt Thắng, Bột giặt Viso, Thuốc Lá Sài Gòn, Công ty Lương Thực của bà Ba Thi… Ông Kiệt còn là chỗ dựa cho những đổi mới về chính sách trong nông nghiệp, về giá… ở An Giang, Long An… với những tên tuổi như Nguyễn Văn Hơn, Chín Cần (Nguyễn Văn Chính)…

Thưa ông, Tổng Bí thư Trường Chinh đóng một vai trò rất quyết định đối với thành công của Đại hội VI, đại hội đổi mới của Đảng, nhưng, sau đó gần như rất ít khi nghe nhắc đến tên tuổi của ông?

Như tôi đã nói, đổi mới ở Việt Nam không bắt đầu từ tư tưởng của một nhà cải cách nào đó mà bắt đầu từ cuộc sống. Nhưng, về mặt đúc rút thực tiễn để hình thành quan điểm, đường lối phải nói đến Tổng Bí thư Trường Chinh. Ông Trường Chinh quan tâm đến những “phản ứng của cuộc sống” khá sớm và kể từ khi làm quyền Tổng Bí thư (tháng 5-1986), ông đã đi xuống các địa phương “xé rào” và tiếp xúc rất nhiều với các nhà doanh nghiệp áp dụng cơ chế mới trong sản xuất kinh doanh. Cùng lúc, ông tập hợp những nhà lý luận hàng đầu vào thời bấy giờ như Hà Nghiệp, Trần Đức Nguyên, Đào Xuân Sâm… cùng ông lắng nghe các vấn đề của thực tiễn và chuẩn bị các nền tảng lý luận cho đường lối đổi mới. Ngày 20-6-1986, Trường Chinh cách chức hai phó Thủ tướng Trần Quỳnh và Tố Hữu (người trước đó được giao chuẩn bị văn kiện cho đại hội). Có thể nói hầu hết các văn kiện chủ yếu của Đại hội VI đều được bắt đầu chuẩn bị từ giai đoạn này.

Việc Tổng Bí thư Trường Chinh, người mà cuối thập niên 60 đã “phê phán Kim Ngọc”, Bí thư Vĩnh Phú, tác giả đầu tiên của khoán hộ trong nông nghiệp, trở thành người đóng vai trò quyết định về mặt quan điểm và đường lối đổi mới nên được hiểu thế nào thưa ông?

Đây có lẽ là điểm mà các nhà nghiên cứu nước ngoài thường hiểu sai khi viết về Việt Nam. Đổi mới ở Việt Nam là một cuộc đấu tranh không có kẻ thua; không có ai hoàn toàn là bảo thủ, cũng như không có ai là thuần túy đổi mới. Tổng Bí thư Lê Duẩn, tác giả chính của “làm chủ tập thể” lại là người ủng hộ Đoàn Duy Thành “khoán” ở Hải Phòng, ủng hộ “bù giá” ở Long An và khi nghe Bộ trưởng Ngoại thương nói, “vào tới Tân Sơn Nhất thấy sặc mùi Nam Tư” ông khẳng định, “làm như Sáu Dân (Võ Văn Kiệt), tôi ủng hộ”. Đỗ Mười, từ là người sắt đá với tư cách là Trưởng Ban Cải tạo hồi “đánh tư sản” miền Nam về sau khi đứng đầu Chính phủ lại “chúc người dân phát tài”. Trường Chinh cũng ủng hộ rất sớm “khoán” ở Hải Phòng. Đổi mới ở Việt Nam không có cá nhân nào là tác giả duy nhất. Có những người từ rất bảo thủ về sau lại đi đầu trong đổi mới. Có những người từng nổi lên như một ngọn cờ nhưng chỉ đổi mới một giai đoạn rồi thôi.

Thưa ông, đây cũng là thời điểm mà Việt Nam “hợp tác toàn diện” với Liên Xô, “anh cả” Liên Xô có vai trò như thế nào trong việc hình thành tư duy của giai đoạn này?

Những năm ấy, Liên Xô viện trợ cho Việt Nam 2 thứ: mô hình và bột mì. Về mô hình, học thuyết “bỏ qua giai đoạn tư bản chủ nghĩa tiến thẳng lên CNXH; kế hoạch hóa kinh tế tập trung” đã củng cố niềm tin cho Việt Nam rằng “CNTB đang ở giai đoạn tổng khủng hoảng”, củng cố niềm tin cho Việt Nam là mô hình hợp tác hóa có hiệu quả. Xi măng, sắt thép của Liên Xô cũng đã nuôi cho những mô hình này chậm đi tới kết cục sụp đổ. Tuy nhiên, cho dù hậu quả là bi kịch thì cũng phải nhìn nhận rằng, hai thứ viện trợ ấy đều là những “viện trợ tình nghĩa”. Cho dù tiến trình đổi mới tư duy ở Việt Nam xảy ra là độc lập với những cải cách ở Liên Xô, từ khi Gorbachov giữ chức Tổng Bí thư (3-85), những cải cách ở Liên Xô cũng đã tạo thuận lợi rất nhiều cho những gì diễn ra ở Đại hội VI của Việt Nam và những đổi mới dứt khoát hơn theo hướng thị trường những năm sau đó.

Huy Đức thực hiện

Ai thực sự có thời gian thì mời đọc thêm truyện ngắn Dòng Sông Cụt, Osin viết năm 1987, để tham khảo một giai đoạn xây dựng CNXH ở Việt Nam.

Advertisements

Posted in Chinh Tri Viet Nam, Chinh Tri Xa Hoi | Leave a Comment »

Nợ của Việt Nam hiện nay lên tới trên 70 tỉ US đô la, tính đến tháng 11/2010

Posted by hoangtran204 trên 31/10/2010

Nợ công + nợ của các tập đoàn và tổng công ty nhập lại trên 70% GDP.

Nợ công trên 52% và nợ của các tập đoàn và tổng công ty trên 20% =trên 70% GDP

GDP của VN là 100 tỉ vào năm 2009, vậy nợ của VN hiện nay tối thiểu là 70 tỉ đô la.

Vũ Thành Tự Anh – Nợ công

Vũ Thành Tự Anh (*)

(TBKTSG) – Nợ công, một lần nữa, lại làm nóng nghị trường Quốc hội, trong đó ba vấn đề gây tranh cãi nhiều nhất là quy mô, tính an toàn, và tài trợ nợ công.

Về quy mô, Bộ Tài chính ước tính đến cuối năm 2010, nợ công của Việt Nam vào khoảng 56,7% GDP, tăng nhanh từ mức 52,6% GDP của năm 2009. Tuy nhiên, định nghĩa nợ công của Bộ Tài chính chỉ bao gồm nợ của Chính phủ và được Chính phủ bảo lãnh chứ không bao gồm nghĩa vụ nợ của ngân hàng trung ương, các đơn vị trực thuộc Chính phủ, trong đó có các doanh nghiệp nhà nước như định nghĩa của UNCTAD.

Theo định nghĩa này, nợ công của Việt Nam hiện nay không dưới 70% GDP  vì theo Báo cáo của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, tính đến 31-12-2008, riêng tổng dư nợ nội địa của các tập đoàn, tổng công ty nhà nước đã lên tới 287.000 tỉ đồng (hay 20% GDP năm 2008), mà tổng dư nợ này lại tăng lên đáng kể trong năm 2009 do chính sách kích cầu của Chính phủ.

Không những thế, thống kê nợ của doanh nghiệp nhà nước thường rất không đầy đủ, được minh chứng qua trường hợp của Vinashin với tổng dư nợ thực tế, theo một đại biểu Quốc hội, có thể lên tới 120.000 tỉ (6 tỉ US đô la) chứ không phải 86.000 tỉ như báo cáo của Chính phủ.

Cần nhấn mạnh là tỷ lệ nợ công/GDP chỉ phản ảnh một cách hết sức phiến diện mức độ an toàn hay rủi ro của nợ công. Nợ công khoảng 100% đủ để một nước như Hy Lạp rơi vào tình trạng phá sản, trong khi đó nợ công lên tới hơn 200% như Nhật Bản vẫn được coi là an toàn. Như vậy, mức độ “an toàn” hay “nguy hiểm” của nợ công không chỉ phụ thuộc vào tỷ lệ nợ/GDP, mà quan trọng hơn, phụ thuộc vào tình trạng sức khỏe của nền kinh tế.

Nợ công của Việt Nam tăng nhanh trong bối cảnh thâm hụt ngân sách (cả trong và ngoài dự toán) tăng từ 2,8% GDP năm 2001 lên tới 9,6% GDP năm 2009 (theo EIU). Điều này vi phạm một nguyên tắc cơ bản của quản lý nợ công bền vững, đó là nợ công ngày hôm nay phải được tài trợ bằng thặng dư ngân sách ngày mai. Đây là nguyên nhân chính khiến Fitch giảm xếp hạng tín dụng dài hạn của Việt Nam từ BB- xuống B+ (tức là thấp hơn “mức đầu tư” (investment grade) bốn bậc) vào cuối tháng 7-2010.

Với nhu cầu tiếp tục đầu tư để phát triển, chắc chắn nợ công của Việt Nam sẽ tiếp tục tăng trong nhiều năm tới. Cụ thể là với tỷ lệ tiết kiệm nội địa/GDP ngày một giảm (hiện khoảng 27%) trong khi mức đầu tư toàn xã hội ngày một tăng (hiện khoảng 42% GDP) thì bên cạnh việc thu hút đầu tư nước ngoài, Chính phủ sẽ phải tiếp tục đi vay rất nhiều để bù đắp khoản chênh lệch giữa tiết kiệm và đầu tư.

Tốc độ tăng GDP cao là điều kiện cần để tăng nguồn thu và đạt thặng dư ngân sách. Tuy nhiên, ở Việt Nam tăng trưởng GDP chủ yếu do tăng lượng đầu tư mà không đi kèm với tăng hiệu quả, bằng chứng là hệ số ICOR không ngừng tăng lên. Vì đầu tư không thể tăng mãi nên đến một lúc nào đó, tốc độ tăng trưởng sẽ phải giảm. Đáng lo ngại là chính vào lúc tốc độ tăng trưởng GDP giảm cũng là lúc nhiều khoản nợ nước ngoài của Chính phủ đáo hạn.

Ở Việt Nam lạm phát đã trở thành cái bóng đi sau tăng trưởng GDP. Bằng chứng là khi nền kinh tế vừa chớm phục hồi thì CPI và lãi suất đã tăng nhanh trở lại. Hệ quả là trong năm 2010, lợi suất trái phiếu trong nước lên tới trên 11%, đồng thời lợi suất trái phiếu quốc tế cũng cao hơn so với các đối thủ cạnh tranh.

Nợ công ở Việt Nam tăng nhanh trong khi thâm hụt ngân sách đã trở thành kinh niên, đầu tư lại không ngừng mở rộng kéo theo lạm phát và lãi suất cao khiến cho việc tài trợ nợ công ngày càng trở nên đắt đỏ. Trong khi đó, Bộ Tài chính vẫn chưa có một chiến lược quản lý nợ công thuyết phục.

Mức độ nợ công theo định nghĩa quốc tế hiện nay là bao nhiêu? Tính an toàn của nợ công trong 5-10 năm tới như thế nào? Nợ công sẽ được tài trợ ra sao? Đây là những câu hỏi chờ đợi câu trả lời của Chính phủ trong kỳ họp Quốc hội lần này.

____________________________

(*) Chương trình Giảng dạy kinh tế Fulbright

http://danluan.org/node/6872

http://www.thesaigontimes.vn/Home/thoisu/doisong/42539/No-cong.html

Posted in Kinh Te, Nợ của Việt Nam | Leave a Comment »

► VN Cho Trung Quốc thuê đất trồng rừng: Giá thuê 1 mẫu đất chỉ bằng 10 tô phở (9 đô la/ 1 mẫu đất)

Posted by hoangtran204 trên 31/10/2010

Lời tựa của Trần Hoàng: trong loạt 4 bài dưới đây của 4 tờ báo VN viết về chuyện VN cho nước ngoài thuê đất với giá cực rẻ, hơn 9 đô la / 1 mẫu đất. Báo Tuổi Trẻ, Thanh Niên, Báo Mới, Pháp Luật, An Ninh Thủ Đô và báo Vietnameconomy đều đăng tin vào tháng 10, năm 2010.

Báo Pháp Luật và Thanh Niên cho biết: Các tỉnh ở VN cho Trung Quốc thuê đất trong thời gian 50 năm. với giá:  180 000đồng/ 1 mẫu đất/ 1 năm.   Giá thuê đất như thế chưa tới 10 đô / 1 mẫu. 

Báo Thanh Niên có tựa đề “Việt Nam cho Trung Quốc thuê đất trồng rừng với giá 10 tô phở một mẫu

>>>”chỉ riêng công ty InnovGreen (Hong Kong, Trung Quốc) đã thuê tới 274.848 ha, chiếm 87% diện tích đất thuê.”

1ha = 1 mẫu = 10.000 mét vuông

Các đại biểu quốc hội biết chuyện, có đem ra chất vấn, ông Nguyễn Phú Trọng là chủ tịch quốc hội kêu Bộ Quốc Phòng và Công An ra hỏi, nhưng tất cả đều im lặng. 18 tỉnh cho thuê 398.000 hecta, nhưng chỉ báo cáo là 305.000 hecta và chỉ có 10 tỉnh cho thuê. Bộ đổ thừa cho tỉnh, còn tỉnh là có hỏi ý kiến bộ rồi mới cho thuê…

Tính từ 1992 cho đến 2010, đảng CSVN và nhà nước đã cho nước ngoài thuê khoảng 289.000 hecta đất (1 hecta = 10.000 mét vuông). Các công ty Trung Quốc đã được thuê mướn 87% trong tổng số 289 ngàn hecta đất này.

Các bạn cảm nhận ra sao khi đọc loạt 4 bài báo dưới đây nha. Đừng nói là các chuyện này Bộ Chính Trị không biết nhé.

Bài 1-Cho nước ngoài thuê đất trồng rừng: Giá thuê 1 ha chỉ 180.000 đồng

Dân thiếu đất trồng rừng nhưng nước ngoài lại được thuê với giá quá thấp. Đó là nhận định của Ủy ban Khoa học-Công nghệ và Môi trường (KH-CN&MT) của Quốc hội trong báo cáo giám sát về tình hình thực hiện dự án trồng mới 5 triệu hecta rừng gửi tới đại biểu Quốc hội (ĐBQH).

Theo báo cáo trên, đến tháng 8-2010 đã có 14 tỉnh cấp giấy chứng nhận (GCN) đầu tư trồng rừng và 5 tỉnh khác cấp GCN đầu tư chế biến lâm sản kết hợp trồng rừng quy mô nhỏ và các dự án có liên quan. Trong đó, một số GCN đầu tư trồng rừng được cấp ở những địa bàn trọng điểm về quốc phòng, an ninh. Ở một số địa phương có tình trạng giao đất trên giấy, nghĩa là diện tích đất rừng đã giao hộ gia đình quản lý cũng lại được giao cho nhà đầu tư nước ngoài thuê.

Đến tháng 8-2010, tổng diện tích đất lâm nghiệp cho nhà đầu tư nước ngoài thuê để trồng rừng 100% vốn nước ngoài được cấp GCN đầu tư là gần 289.000 ha và hơn 21.600 ha liên doanh liên kết là giữa nhà đầu tư nước ngoài với nhà đầu tư trong nước. (1ha = 1 mẫu = 10.000 mét vuông)

Trong số các công ty nước ngoài đã được phép đầu tư, chỉ riêng InnovGreen (Hong Kong, Trung Quốc) đã thuê tới 274.848 ha, chiếm 87% diện tích đất thuê.

Đến nay, Công ty InnovGreen với 8.123 ha đã được cấp đã nộp ngân sách 77.946 USD, giá thuê đất trồng rừng trung bình 9,58 USD/ha, tương đương 180.000 đồng/ha. Ủy ban KH-CN&MT cho rằng mức giá trên là quá thấp.

Ủy ban KH-CN&MT phân tích hiện nhu cầu được giao đất, giao rừng của hộ nông dân là rất lớn, trên thực tế không đủ đất rừng giao cho nhu cầu hộ gia đình. Do đó, ủy ban đề nghị xem xét việc giao đất cho nhà đầu tư nước ngoài để việc giao đất, giao rừng đảm bảo quyền lợi của hộ gia đình, cá nhân tại địa phương và việc giao đất, giao rừng phải tuân thủ đúng pháp luật, bảo đảm an ninh, quốc phòng.

Ngày 23-10, Chính phủ cũng đã gửi các ĐBQH báo cáo về tình hình cho nước ngoài thuê đất trồng rừng. Theo đó, Chính phủ dự kiến sẽ sửa các nghị định liên quan theo hướng chặt chẽ hơn về thẩm quyền, điều kiện và trình tự thẩm tra các dự án có vốn đầu tư nước ngoài sử dụng nhiều diện tích đất, dự án trồng rừng. Những dự án ấy sẽ chỉ được xem xét cấp phép sau khi có ý kiến chính thức của Bộ Quốc phòng và Bộ Công an, hoặc cơ quan quốc phòng, an ninh địa phương. Trong thời gian chờ sửa đổi, các tỉnh không cấp mới GCN đầu tư trồng rừng có vốn ngoại…

THÀNH VĂN

Nguồn: http://www.anninhthudo.vn/Kinh-doanh/Gia-cho-thue-dat-trong-rung-qua-thap/418713.antd

http://www.baomoi.com/Cho-nuoc-ngoai-thue-dat-trong-rung-Gia-thue-1-ha-chi-180000-dong/147/5104070.epi

http://phapluattp.vn/20101029110333255p0c1013/cho-nuoc-ngoai-thue-dat-trong-rung-gia-thue-1-ha-chi-180000-dong.htm

—–

Bài 2-DN nước ngoài thuê đất trồng rừng nộp ngân sách quá ít

Báo Thanh Niên
29/10/2010 23:40
 
 
Đó là nhận định của Ủy ban Khoa học – Công nghệ và Môi trường khi Báo cáo giám sát tình hình thực hiện dự án trồng mới 5 triệu ha rừng.

Báo cáo giám sát dẫn số liệu của Cục Lâm nghiệp cho biết, đến tháng 8.2010, tổng diện tích đất lâm nghiệp cho nhà đầu tư nước ngoài thuê để trồng rừng theo hình thức 100% vốn nước ngoài được cấp giấy chứng nhận đầu tư là 288.974 ha và diện tích đất nhà đầu tư nước ngoài liên doanh liên kết với nhà đầu tư trong nước để trồng rừng là 21.657,51 ha.

Trong số các công ty nước ngoài thuê đất trồng rừng tại Việt Nam đã được phép đầu tư, chỉ riêng InnovGreen (Hồng Kông) đã thuê tới 274.848 ha, chiếm 87% diện tích đất thuê.

Trong báo cáo, Ủy ban Khoa học – Công nghệ và Môi trường cho biết: “Có một số giấy chứng nhận đầu tư được cấp ở những địa bàn trọng điểm về quốc phòng, an ninh. Ở một số địa phương có tình trạng giao đất trên giấy, nghĩa là diện tích đất rừng đã giao hộ gia đình quản lý cũng lại được giao cho nhà đầu tư nước ngoài thuê”.

Báo cáo giám sát dẫn trường hợp Công ty InnovGreen, với 8.123 ha đã được cấp, công ty này nộp ngân sách 77.946 USD, trung bình 9,58 USD/ha (tương đương 180.000 đồng/ha) là quá thấp.

Báo cáo giám sát cũng nêu thực trạng đáng lo ngại về tình trạng cháy rừng hiện nay. Tính đến tháng 7.2010, diện tích rừng bị cháy của cả nước là 5.327,79 ha, trong đó rừng tự nhiên là 1.948,68 ha, bằng 4,01 lần cùng kỳ năm 2009 (1.326,69 ha).

Bảo Cầm

Nguồn: http://www.thanhnien.com.vn/pages/20101029/dn-nuoc-ngoai-thue-dat-trong-rung-nop-ngan-sach-qua-it.aspx

Bài 3- Việt Nam cho Trung Quốc thuê đất trồng rừng với giá 10 tô phở một mẫu
Friday, October 29, 2010

HÀ NỘI – Báo VietnamEconomy của Việt Nam cho biết, trong số các công ty nước ngoài thuê đất trồng rừng tại Việt Nam đã được phép đầu tư, chỉ riêng InnovGreen, thuộc Hồng Kông, Trung Quốc đã thuê tới 274 ngàn 848 ha, chiếm 87% diện tích đất thuê.

Rừng ở Việt Nam đang bị khai thác cạn kiệt, nhiều nơi biến thành đồi trọc sau đó lại cho nước ngoài thuê đất trồng rừng. (Hình: Hoang Dinh Nam/AFP/Getty Images)

Theo một báo cáo của Ủy Ban Khoa Học-Công Nghệ và Môi Trường của Quốc Hội CSVN, về giá cho thuê, chỉ riêng công ty InnovGreen, với 8 ngàn 123 ha đã được cấp, công ty này nộp ngân sách 77 ngàn 946 đô la, giá thuê đất trồng rừng trung bình 9.58 đô la/ha, tương đương 180 ngàn đồng, bằng 10 tô phở so với thời giá hiện nay.

Mức giá thuê này, theo Ủy Ban Khoa Học-Công Nghệ và Môi Trường là khó tin được.

Chính phủ CSVN cũng cho biết, cả 8 dự án trồng rừng có 100% vốn đầu tư nước ngoài là 24.65 tỷ đồng. Việc đóng góp vào ngân sách nhà nước là không đáng kể, chủ yếu là thuế môn bài và thuế thu nhập cá nhân.

Trong khi trên thực tế, người dân tại các tỉnh đang trông mong nhà nước giao rừng, giao đất cho họ khai thác rất lớn. Tiến bộ khoa học kỹ thuật về giống cây rừng, kỹ thuật canh tác cho năng suất trồng rừng cao, bên cạnh đó giá gỗ rừng tăng khoảng 4 lần so với trước đây. Ðặc biệt là người dân có thể chấp nhận thuê với giá cao hơn rất nhiều lần so với các công ty nước ngoài.

Số đất giao cho các công ty nước ngoài thuê để trồng rừng tại các tỉnh biên giới phía Bắc đã từng bị các cựu tướng lãnh của Việt Nam chống đối dữ dội. Thiếu Tướng Nguyễn Trọng Vĩnh và Trung Tướng Ðồng Sĩ Nguyên đã có kiến nghị với chính phủ yêu cầu ngưng ngay các hợp đồng này vì e ngại Trung Quốc sẽ thừa cơ hội đột nhập vào Việt Nam.

Bài 4- Cho thuê đất trồng rừng: “Bộ chỉ có ý kiến khi địa phương yêu cầu”

MINH THÚY
11/06/2010

Bộ trưởng Cao Đức Phát: “Bộ chúng tôi chỉ quản lý về rừng nên địa phương chỉ hỏi ý kiến khi giao rừng” – Ảnh: Thế Dũng.
Những câu hỏi về trách nhiệm của việc cho doanh nghiệp nước ngoài thuê đất trồng rừng làm nóng phiên chất vấn sáng nay
Nóng từ đầu phiên đến cuối phiên chất vấn Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn và ở cả hành lang Quốc hội sáng nay là những câu hỏi về trách nhiệm của việc cho doanh nghiệp nước ngoài thuê đất trồng rừng. Nhất là, khi nhiều con số tại báo cáo của Chính phủ gửi Quốc hội và tại kết quả giám sát của Ủy ban Quốc phòng và An ninh của Quốc hội có sự khác biệt khá lớn.
Trả lời báo chí vào giờ nghỉ giải lao, Chủ nhiệm Ủy ban Quốc phòng và An ninh Lê Quang Bình cho biết đã gửi kết quả giám sát này đến Chính phủ từ khi khai mạc kỳ họp này.
305 nghìn ha hay 398 nghìn ha?
Ngay đầu phiên chất vấn, đại biểu Nguyễn Văn Tuyết và đại biểu Lê Như Tiến đã đặt ra hàng loạt câu hỏi về tính pháp lý, thời gian hoàn thành rà soát và giải pháp khắc phục bất cập trong việc cho doanh nghiệp nước ngoài thuê đất trồng rừng.

Bộ trưởng Phát dẫn lại con số tại báo cáo của Chính phủ đã gửi đại biểu Quốc hội: có 11 doanh nghiệp và nhà đầu tư nước ngoài vào Việt Nam để khảo sát và đầu tư trồng rừng trên địa bàn 10 tỉnh.

Trong đó, diện tích đã được cấp cho các nhà đầu tư nước ngoài thuê 50 năm là 15.664 ha và diện tích đất doanh nghiệp nước ngoài liên doanh, liên kết với các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân trong nước là 18.160 ha.

“Theo Luật Đầu tư cũng như Luật Đất đai thì việc xem xét cho thuê đất thuộc thẩm quyền UBND các tỉnh vì thế các bộ chỉ có ý kiến khi được các địa phương có yêu cầu”, Bộ trưởng nói.

Người đứng đầu ngành nông nghiệp cũng cho biết đã kiểm tra hai địa phương và nhận thấy các nơi này đã thực hiện nghiêm túc quy định của luật pháp trong việc cho thuê đất rừng.

Thủ tướng đã giao cho các bộ tiếp tục kiểm tra, rà soát, “thời hạn hoàn thành thì Thủ tướng không giao cụ thể nhưng các bộ cố gắng cao nhất làm rõ vấn đề”, Bộ trưởng cho biết.

Bộ trưởng cũng cho rằng, cách đây 5, 10 năm đồi núi trọc rất nhiều nên có chủ trương khuyến khích đầu tư nước ngoài vào trồng rừng. Nhưng hiện nay tình hình đã khác, đất đai hạn chế, nhân dân có nguyện vọng được giao đất trồng rừng nên phải cân nhắc.

“Tuy nhiên giải quyết các trường hợp các nhà đầu tư đã có cam kết cần đúng quy định của luật pháp, có tính đến lợi ích tổng hợp”, Bộ trưởng bày tỏ quan điểm.

Hai vị đại biểu vừa chất vấn đều nhấn nút lần thứ hai. Đại biểu Tuyết hỏi, báo cáo của Chính phủ có nêu nhiều tỉnh đã cấp phép vượt quá khả năng thực tế, vậy diện tích vượt là bao nhiêu, xử lý thế nào, các tỉnh chưa cấp thì thời gian tới có cho phép không?

Bộ trưởng giải thích, báo cáo nêu tổng diện tích đất được quy hoạch cho mục đích lâm nghiệp của các dự án đã được UBND các địa phương cấp giấy chứng nhận đầu tư trên địa bàn 10 tỉnh là 305.353,4 ha nhưng không có nghĩa là tất cả diện tích này đã được giao cho các nhà đầu tư.

Mà chính quyền khảo sát, làm rõ từng khu đất cụ thể, chỉ giao khi đất đó đủ điều kiện, trên thực tế đã và đang làm như vậy. Song, địa phương có thiếu sót chỉ căn cứ vào thông tin khảo sát sơ bộ nên có cả diện tích đã giao cho bà con, cho dự án khác và có rừng nhưng những diện tích này sẽ được loại ra khi giao cho nhà đầu tư nước ngoài.

“Bộ trưởng nói giao hoàn toàn thẩm quyền cho các tỉnh, vậy thì Bộ trưởng có vai trò gì?”, đại biểu Tiến “truy” tiếp.

Bộ chúng tôi chỉ quản lý về rừng nên địa phương chỉ hỏi ý kiến khi giao rừng còn 305 nghìn ha nói trên là đất không có rừng”, Bộ trưởng đáp.

Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng mời bộ trưởng các bộ Kế hoạch và Đầu tư, Tài nguyên và Môi trường (nếu đã đi công tác về) thì phát biểu làm rõ thêm. Hội trường im lặng. Chủ tịch lại mời bộ trưởng các bộ Công an, Quốc phòng, hội trường vẫn im lặng.

Chủ nhiệm Ủy ban Quốc phòng – An ninh của Quốc hội Lê Quang Bình giơ tay phát biểu và cho biết, Ủy ban đã đi khảo sát ở một số địa phương và nắm thông tin từ hai bộ Quốc phòng, Công an về tình hình cho thuê đất rừng.

Kết quả, hiện nay toàn quốc có 19 dự án nước ngoài được cấp phép trồng rừng tại 18 tỉnh nhưng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn nói là 10 tỉnh. Với diện tích đất rừng là trên 398.374 ha, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thông báo là 305.352 ha.

Đặc điểm của đất giao thì chúng tôi xác định thế này, hầu hết đất nằm ở vị trí khu vực trọng yếu về quốc phòng an ninh, có khu vực là rừng phòng hộ, rừng đầu nguồn“, ông Bình nhấn mạnh.

Ông Bình cũng đề nghị các địa phương không cấp giấy chứng nhận đầu tư mới và không ký hợp đồng cho thuê đối với các dự án đã đầu tư nước ngoài trong phạm vi các lĩnh vực nêu trên và Chính phủ cần nghiên cứu xử lý đối với số diện tích đã giao là 33.800 ha.

Lần thứ ba đại biểu Tuyết đứng dậy, “vì câu hỏi rất rõ nhưng Bộ trưởng trả lời chưa nói rõ, là tới đây có cấp phép cho thuê tiếp nữa hay không hay chỉ tạm dừng trong thời gian rà soát thôi?”.

“Chắc chắn là sau khi kiểm tra Chính phủ có ý kiến thì ngay cả cấp hay chưa cũng đều phải thực hiện nghiêm túc quy định của luật pháp. Sợ nói cái gì hơn nữa thì vượt quá thẩm quyền”, Bộ trưởng Phát phân trần.

“Có thể tại phiên trả lời chất vấn ngày mai Phó thủ tướng sẽ làm rõ hơn vấn đề này”, Chủ tịch Quốc hội nói.

Kiên quyết rút giấy phép dự án vi phạm

Vừa đi công tác về đến hội trường, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Võ Hồng Phúc được mời phát biểu. Ông cho biết, sau khi các đồng chí cán bộ lão thành có thư gửi Thủ tướng, Thủ tướng triệu tập cuộc họp đột xuất với các bộ liên quan cùng tham gia để xử lý.

Hướng xử lý của Chính phủ là cương quyết xem lại việc các tỉnh đã cấp giấy chứng nhận đầu tư vừa rồi. Và trên cơ sở chúng ta vẫn bảo vệ môi trường đầu tư nhưng chúng ta kết hợp xử lý đúng pháp luật, Bộ trưởng nói.

“Những dự án nào hợp lý,vừa phải thì cho tiếp tục, những cái nào không hợp lý, không đúng luật, có ý đồ chiếm dụng nhiều đất đai và ảnh hưởng quốc phòng an ninh thì dứt khoát rút giấy phép”, Bộ trưởng Phúc nhấn mạnh.

Theo Bộ trưởng Phúc, việc này sẽ được xử lý kiên quyết như đối với sân golf, trên cơ sở đảm bảo quốc phòng an ninh, đảm bảo phát triển rừng hợp lý, đảm bảo bảo vệ môi trường đầu tư.

Về sự khác nhau giữa các con số mà Bộ trưởng Phát và Chủ nhiệm Lê Quang Bình, trao đổi với báo chí bên hàng lang Quốc hội, Bộ trưởng Phúc khẳng định: “Con số của Ủy ban Quốc phòng – An ninh là đúng, vì Bộ Kế hoạch và Đầu tư có tham gia khảo sát cùng Uỷ ban này”.

Bộ trưởng cũng cho rằng, cấp phép cho một doanh nghiệp Đài Loan gần 200.000 ha, tức là 2.000 km2 là một con số quá lớn. “Liệu họ có đủ sức làm không, một nhà đầu tư làm sao có khả năng làm thế. Do vậy, phải xem khả năng tài chính của nhà đầu tư, quy mô của dự án thực hiện”, Bộ trưởng băn khoăn.

Lý do của bất cập này, theo Bộ trưởng là “khi phân cấp mình không làm tổng thể chung,  tỉnh nào biết tỉnh ấy, không cộng lại, nếu để một cơ quan cấp phép thì sẽ biết ngay chuyện ấy thế nào”.

Sau phát biểu của Bộ trưởng Phúc, một số vị đại biểu vẫn tiếp tục “truy” trách nhiệm việc cho thuê đất rừng. Đại biểu Nguyễn Đình Xuân cho rằng “bộ trưởng không nắm được vấn đề” bởi  khi địa phương đã cho thuê gần 400.000 ha (gần bằng diện tích tỉnh Tây Ninh) mà “tư lệnh ngành” vẫn chưa biết.

Dẫn ra nhiều ví dụ khác, đại biểu Xuân cho rằng: “Bộ trưởng đã không hoàn thành nhiệm vụ của mình và đề nghị Quốc hội xem xét chỉ số tín nhiệm của Bộ trưởng”.

Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn được giao trách nhiệm về rừng, còn Bộ Tài nguyên và Môi trường quản lý về đất, ở đây cho thuê đất chứ không phải cho thuê rừng. Vì thế các địa phương không hỏi ý kiến bộ.

“Nói là có trách nhiệm thì không thì phải có trách nhiệm, tuy nhiên cũng không thể làm không đúng trách nhiệm”, Bộ trưởng Cao Đức Phát kiên trì.

Bên cạnh việc cho doanh nghiệp nước ngoài thuê đất trồng rừng, vấn đề xuất khẩu gạo, đảm bảo lợi nhuận cho người trồng lúa, quản lý vật tư nông nghiệp….cũng được đặt ra tại hầu hết các chất vấn của hơn 20 vị đại biểu dành cho Bộ trưởng Phát. Và, mặc dù được cả Bộ trưởng Bộ Tài chính, Bộ Công Thương cùng “chia lửa’ song rất nhiều vị đại biểu nhấn nút lần hai để đề nghị Bộ trưởng trả lời đầy đủ câu hỏi của mình.

Chiều nay, Bộ trưởng Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lịch Hoàng Tuấn Anh sẽ trả lời chất vấn trước Quốc hội.

Nguồn: http://vneconomy.vn/20100611125846423P0C9920/cho-thue-dat-trong-rung-bo-chi-co-y-kien-khi-dia-phuong-yeu-cau.htm

————–


Posted in Bán Tài Nguyên Khoa'ng Sản- Cho Nước Ngoài Thuê Đất 50 năm | 5 Comments »

Đạo văn và tác giả ma trong học thuật: vấn đề hệ thống

Posted by hoangtran204 trên 30/10/2010

ừ điển American Heritage định nghĩa động từ plagiarize (đạo văn) là “đánh cắp và sử dụng ý tưởng hay tác phẩm của người khác làm của mình”.

Từ điển Oxford định nghĩa danh từ plagiarism là “lấy hay sử dụng ý tưởng, tác phẩm, công trình sáng tạo của người khác làm của mình”

*Trong khoa học, đạo văn được định nghĩa là sử dụng ý tưởng hay câu văn của người khác một cách không thích hợp (tức không ghi rõ nguồn gốc), đặc biệt là việc trình bày những ý tưởng và từ ngữ của người khác trước các diễn đàn khoa học và công cộng như là ý tưởng và từ ngữ của chính mình.

* Đạo văn còn là lấy “Ý tưởng và từ ngữ của người khác” có nghĩa là: sử dụng công trình hay tác phẩm của người khác, lấy ý tưởng của người khác, sao chép nguyên bản từ ngữ của người khác mà không ghi nguồn, sử dụng cấu trúc và cách lí giải của người khác mà không ghi nhận họ, và lấy những thông tin chuyên ngành mà không đề rõ nguồn gốc.

Nguồn: blog Nguyễn Văn Tuấn

30.10.2010

Thế là lại thêm một vụ đạo văn làm chấn động dư luận học thuật Việt Nam. Lần này, vấn đề không chỉ giới hạn trong phạm vi quốc gia mà đã lan ra đến diễn đàn khoa học quốc tế, trên tập san khoa học hẳn hoi. Tôi nghĩ trường hợp này cung cấp 3 bài học trong quản lí khoa học: đó là quản lí nghiên cứu sinh, qui trình xuất bản bài báo khoa học, và đạo đức khoa học.

Bài báo khoa học “Was the fine-structure constant variable over cosmological time?” của nhóm tác giả Lê Đức Thông, Nguyễn Mộng Giao (Viện Vật lý TP.HCM), Nguyễn Thế Hùng (không phải người của Viện Vật lí Hà Nội) và Trần Văn Hùng (Trung tâm Nghiên cứu và triển khai công nghệ bức xạ) đã bị tập san EPL rút xuống vì lí do đạo văn. Sự việc này làm chấn động dư luận trong giới khoa học ở Việt Nam, và cũng có thể nói là một vết nhơ cho nền khoa học nước nhà.  Sự việc cần phải được bàn luận để rút ra những bài học cần thiết, tránh hay giảm thiểu những trường hợp tương tự trong tương lai.

Đạo văn được xem là một trong 3 trọng tội trong khoa học. Hai trọng tội kia là giả tạo dữ liệu và sửa dữ liệu.  Trọng tội là vì đặc điểm của đạo văn là đánh cắp, và đánh cắp là một hành động không thể chấp nhận trong đạo đức khoa học. Từ điển American Heritage định nghĩa động từ plagiarize (đạo văn) là “đánh cắp và sử dụng ý tưởng hay tác phẩm của người khác làm của mình”.  Từ điển Oxford định nghĩa danh từ plagiarism là “lấy hay sử dụng ý tưởng, tác phẩm, công trình sáng tạo của người khác làm của mình”. Trong khoa học, đạo văn được định nghĩa là sử dụng ý tưởng hay câu văn của người khác một cách không thích hợp (tức không ghi rõ nguồn gốc), đặc biệt là việc trình bày những ý tưởng và từ ngữ của người khác trước các diễn đàn khoa học và công cộng như là ý tưởng và từ ngữ của chính mình. Ở đây, “Ý tưởng và từ ngữ của người khác” có nghĩa là: sử dụng công trình hay tác phẩm của người khác, lấy ý tưởng của người khác, sao chép nguyên bản từ ngữ của người khác mà không ghi nguồn, sử dụng cấu trúc và cách lí giải của người khác mà không ghi nhận họ, và lấy những thông tin chuyên ngành mà không đề rõ nguồn gốc.

Hiểu theo những định nghĩa trên thì việc làm của nhóm tác giả trong bài báo rõ ràng là đạo văn. Điều đáng buồn ở đây là trước đây, một tác giả trẻ trong bài báo đó đã bị cảnh báo về đạo văn.  Thật vậy, trong một thư gửi cho tác giả, ông tổng biên tập của tập san Monthly Notices of the Royal Astronomical Society viết:

“We have received the referee’s comments on this paper, and these are summarised below. The referee notes that there are many instances of text are simply copy-and-pasted from existing literature. We note also that we have had a number of previous submissions from you, and that for two of these (MN-09-1683-MJ “SEARCH FOR TIME VARIATION OF THE FINE-STRUCTURE CONSTANT USING EMISSION LINE MULTIPLETS” and MN-09-1684-MJ “WAS THE FINE-STRUCTURE CONSTANT VARIABLE OVER COSMOLOGICAL TIME?”) the comment was made that substantial portions of the text were copied, often without attribution, from the publications by others, and so presented as if it were your own work. As was pointed out to you in connection with these earlier papers, this is not acceptable practice. In particular you would be unable to certify, as we require, that the paper is original work. Despite this warning, you have submitted this paper which also violates accepted scientific practice. Because of this, we are rejecting this paper and, furthermore, will not consider ANY future submissions from you for publication in MNRAS.

I have copied this letter to RAS Editorial Office Manager and to the Head of your Institute.

Yours sincerely,

RF Carswell

Editor-in-Chief

Monthly Notices of the Royral Astronomical Society”

Qua lá thư này, chúng ta thấy tác giả đã hơn một lần bị cảnh cáo về đạo văn, nhưng vẫn tiếp tục phạm phải lỗi lầm nghiêm trọng đó.  Điều này cho thấy tác giả chẳng biết gì hay bất chấp những chuẩn mực về đạo đức khoa học, mà cứ tiếp tục chạy theo việc công bố bài báo khoa học.  Hệ quả là tổng biên tập của một tập san khoa học phải viết thẳng thừng rằng sẽ không xét duyệt bất cứ bài báo nào của tác giả trong tương lai.  Tôi cũng đã và đang làm biên tập trong tập san khoa học, nhưng chưa thấy một lá thư nào viết với giọng văn hết sức “trực tiếp” như thế này.

Tất cả phải chịu trách nhiệm

Tôi thấy có 3 ngạc nhiên trong sự việc: sự độc lập của tác giả, qui trình xuất bản bài báo khoa học, và tập san khoa học EPL.  Điều đáng ngạc nhiên thứ nhất là tác giả trẻ này là một “junior scientist” (chứ chưa phải là postdoc) mà lại làm việc gần như độc lập với các nhà khoa học cao cấp trong viện.  Anh ta gửi bài cho tập san khoa học mà chẳng ai hay biết!  Thông thường, trước khi một bài báo khoa học được gửi đi cho một tập san, nhóm tác giả phải xem qua và chỉnh sửa cho hoàn chỉnh.  Nhưng trong trường hợp này, theo như thư của Gs Nguyễn Mộng Giao (và ông có trả lời phỏng vấn trên báo chí) là ông không hề biết tên ông có trong danh sách tác giả; ông thậm chí không biết 2 tác giả kia là ai!  Đó không phải là cách làm nghiên cứu khoa học theo nhóm mà tôi từng biết.

Điều ngạc nhiên thứ hai là hình như viện chẳng có qui trình quản lí việc xuất bản bài báo khoa học.  Nếu là một viện nghiên cứu nghiêm chỉnh thì phải có qui trình (protocol) quản lí nghiên cứu sinh, quản lí công trình khoa học, chứ đâu thể để cho nghiên cứu sinh độc lập muốn làm gì thì làm, chẳng ai hay biết.  Trước khi công bố công trình nghiên cứu khoa học, tác giả nhất định đã phải trình bày (hay đề cập đến) trong các seminar hay họp lab hàng tuần, chứ không thể nào đột nhiên công bố cứ như là trên trời rớt xuống đất được! Đây chính là một thiếu sót mang tính hệ thống.

Điều ngạc nhiên thứ ba là tập san EPL cho đăng bài mà không có giấy tờ chuyển nhượng tác quyền (copyright transfer) gì cả!  Thông thường, sau khi bài báo đã qua khâu bình duyệt (peer review), thì khâu kế tiếp là thủ tục hành chính và pháp lí.  Trong thủ tục này, nhà xuất bản gửi cho mỗi tác giả một bản copyright transfer và một bản gọi là conflict of interest (mâu thuẫn quyền lợi, đặc biệt rất quan trọng trong y khoa) để mỗi tác giả điền vào, kí tên, và gửi cho tòa soạn tập san.  Không có hai bản này, tập san dứt khoát không công bố bài báo, bởi vì nếu công bố mà không có sự chuyển nhượng bản quyền của tác giả thì nhà xuất bản có thể bị kiện ra tòa như bỡn.  Ấy thế mà trong trường hợp này, một tác giả nói rằng chưa hề thấy và chưa hề kí vào bản chuyển nhượng tác quyền!  Nếu chưa bao giờ kí thì tại sao tập san EPA dám công bố?  Tôi thấy đây là trường hợp rất hi hữu.  Cố nhiên, không loại trừ trường hợp tập san làm ẩu hoặc tác giả đầu giả mạo chữ kí của các tác giả khác. Dù sao đi nữa thì đây cũng là một điều hết sức ngạc nhiên và hiếm thấy trong lịch sự tập san khoa học.

Do đó, với những phân tích trên, tôi nghĩ trách nhiệm trong trường hợp này không thể chỉ qui về anh Lê Đức Thông, mà là tất cả tác giả có tên trong bài báo đều phải nhận lấy trách nhiệm.  Gs Nguyễn Mộng Giao đã giải thích rằng ông không có dính dáng gì đến bài báo, và trong một thư riêng, anh Lê Đức Thông cũng khẳng định như thế.  Nhưng cách biện minh vẫn thiếu tính thuyết phục.  Trả lời trên báo Thanh Niên, Gs Giao nói “Tôi xin khẳng định, bài báo này không có một chữ nào của tôi mà hoàn toàn là do Thông tự viết, tự ý cho tên tôi vào rồi gửi đăng báo.”  Thế nhưng ngay sau đó ông lại nói “Sau khi bài báo được đăng Thông có cho tôi biết nhưng thời điểm đó tôi cũng chả quan tâm vì có quá nhiều việc phải làm. Thêm nữa, tôi cũng tin tưởng vào chất lượng bài viết khi nó đã được đăng trên một tạp chí uy tín. Tôi cũng nghĩ rằng nhiều khi học trò mượn tên thầy để vào bài viết của mình nên cho qua”!  Nói cách khác, ông biết bài báo đã công bố, biết mình có tên trong đó, nhưng vì cả tin vào tập san, không kiểm tra xem bài báo viết gì.  Có thể là sai lầm trong phán xét, nhưng cũng có thể là do quá dễ dãi — một điều cấm kị trong khoa học. Đây có thể xem là hiện tượng “tác giả ma” (ghost authorship) trong khoa học.

Một đồng tác giả khác cũng có vài nhận xét rất lạ lùng. Vẫn theo Thanh Niên một đồng tác giả lại cho rằng “Thực ra nói là đạo văn cũng hơi quá bởi trong bài viết có một phần khi trích dẫn Thông đã không nêu rõ nguồn tài liệu tham khảo.” Thật là kinh ngạc khi đọc những dòng chữ này!  Trích dẫn mà không ghi nguồn thì theo định nghĩa tôi trình bày trên là đạo văn, chứ không thể nói khác đi được.  Đó là định nghĩa mà bất cứ nhà khoa học nào cũng biết.  Câu phát biểu này chứng tỏ người phát biểu cũng chưa am tường thế nào là đạo văn!  Tác giả này cũng nói rằng ông không hề viết một chữ trong bài báo, nhưng khi biết bài báo đã đăng thì ông cũng không … phản đối.  Không đóng góp một chữ nào hay một số liệu nào cho bài báo mà vô tư nhận danh tác giả thì đó chính là một vi phạm đạo đức khoa học.  Khi bài báo chưa được phát hiện có vấn đề thì lặng lẻ đứng tên (và được biểu dương), nhưng khi bài báo được phát hiện có vấn đề thì lại biện minh rằng mình không có can dự trong đó!  Trong khoa học không thể nào có tiêu chuẩn kép như thế.

Sự cố trên cho thấy khi vinh quang ai cũng đứng ra nhận công, nhưng khi có vấn đề ai cũng bỏ chạy, và như thế là một sự thiếu công bằng.  Một tác giả không đóng góp một chữ hay một số liệu nào cho công trình trên được Viện khoa học công nghệ biểu dương vì bài báo, nhưng khi có vấn đề thì anh ta lại nói khác đi, thậm chí còn nói “bài báo được chọn để biểu dương một cách ngẫu nhiên”!  Đã chọn để biểu dương thì làm sao có thể nói là ngẫu nhiên được?  Thật là trớ trêu!  Tôi nghĩ rằng tất cả các tác giả phải chịu trách nhiệm trước “sự cố”, chứ không thể và không nên qui trách nhiệm và lỗi lầm chỉ cho riêng anh Lê Đức Thông.

Nên cho anh Lê Đức Thông một cơ hội

Bình tâm nhìn lại sự việc tôi thấy anh Lê Đức Thông là một người ham học, thông minh, nhưng thiếu đạo đức khoa học.  Một người mới là sinh viên đại học mà đã có ý tưởng táo bạo, dám dấn thân làm nghiên cứu, chủ động liên lạc các nhà khoa học đàn anh, v.v… thì quả thật là đáng khen.  Chẳng những có ý tưởng mà anh ta còn làm nghiên cứu và cố gắng công bố kết quả trên tập san quốc tế.  Thử hỏi trong giới nghiên cứu sinh, chứ chưa nói đến sinh viên, ngày nay có mấy người như thế.  Ngay cả những người có bằng tiến sĩ chắc gì đã có đam mê khoa học và “tự bơi” trong nghiên cứu như anh ta.  Tôi nghĩ nếu anh ta ở trong môi trường khoa học một nước tiên tiến, anh sẽ có nhiều đóng góp có ý nghĩa.  Thế nhưng Thông lại ở trong một môi trường học thuật thiếu tính học thuật và thiếu sự quản lí chặt chẽ, và hình như cũng chưa ai trang bị cho anh ta về đạo đức khoa học, nên đã dẫn đến hệ quả bi thảm như vừa qua.  Cố nhiên, sự việc xảy ra là một vấp ngã của một cá nhân, nhưng tôi thấy Thông là nạn nhân của hệ thống khoa học thiếu qui chuẩn đạo đức.

Đạo văn đã, đang và chắc chắn sẽ tồn tại trong xã hội.  Theo tập san Nature ước tính, khoảng 20% các bài báo đã công bố trên các tập san khoa học có dấu hiệu đạo văn [1].  Hai tác giả Schein và Paladugu kiểm tra 660 bài báo đã công bố trên 3 tập san hàng đầu trong ngành phẫu thuật và phát hiện khoảng 12% bài báo có cấu trúc giống nhau, 3% sử dụng từ ngữ hoàn toàn giống nhau, và khoảng 8% sử dụng từ ngữ rất giống nhau [2].  Một tác giả khác (Guterman) sau khi kiểm tra [bằng máy tính] trên 70,000 bản tóm tắt và phát hiện 2600 bản có nội dung giống nhau đến ngạc nhiên [3].

Ở VN, nạn đạo văn lan tràn trong học thuật, nhưng ít khi nào được phát hiện. Ngoại trừ những trường hợp hi hữu được báo chí nhắc đến (phần lớn trong văn học), rất hiếm trường hợp đạo văn trong khoa học được nêu lên. Tuy nhiên, khoảng 2 năm trước, một trường hợp đạo văn gần đây làm chấn động giới nghiên cứu khoa học Việt Nam, vì sự đạo văn cực kì trắng trợn và … thô.  Năm 2000, hai tác giả nguyên là nghiên cứu sinh Việt Nam tại Nhật và một tác giả người Nhật công bố bài báo có tựa đề là “Ship’s optimal autopilot with a multivariate auto-regressive eXogenous model” trong hội nghị về ứng dụng tối ưu hóa tại Nga.  Đến năm 2004 bài báo đó được xuất hiện trong một hội nghị cũng về ứng dụng tối ưu hóa tại Nhật nhưng với một tựa đề na ná “An optimal ship autopilot using a multivariate auto-regressive exogenous model” với 10 tác giả từ Việt Nam!  Điều khó tin là 99% câu chữ, 100% các số liệu, thậm chí hình ảnh con tàu Shioji Maru trong bài báo năm 2004 lấy nguyên vẹn từ bài báo năm 2000 [4].  Thật ra, trường hợp này đã vượt ra ngoài định nghĩa của đạo văn một mức.  Có thể nói đây là một “scientific hijack” – tức là chiếm đoạt công trình khoa học.  Khi tác giả bài báo gốc liên lạc với các tác giả bài báo năm 2004 để tìm hiểu thêm nguyên do và lời giải thích, thì sự việc rơi vào im lặng!

Mới đây, người ta phát hiện nhiều nhà văn, chính khách nổi tiếng cũng đạo văn.  Những người có tên tuổi như nhà văn H.G. Well, Stephen Ambrose, nhà thơ T. S. Eliot, nhà hoạt động chính trị nổi tiếng Martin Luther King, tổng thống Nga V. Putin, v.v… đều phạm tội đạo văn.  Trong học thuật và khoa học, đã có hàng ngàn vụ đạo văn mà đương sự không phải chỉ nghiên cứu sinh mà còn là giáo sư, thậm chí hiệu trưởng đại học.  Chẳng hạn như một hiệu trưởng đại học Monash (một đại học danh tiếng của Úc) cũng phạm tội đạo văn và phải từ chức.

Và bài học

Mỗi sự cố đều để lại cho chúng ta vài bài học, và theo tôi, có 3 bài học chính từ trường hợp đạo văn chúng ta đang bàn: đó là bài học về quản lí nghiên cứu sinh sinh, quản lí khoa học, và đạo đức khoa học. Bài học thứ nhất là các trung tâm nghiên cứu, kể cả đại học, phải có qui trình quản lí nghiên cứu sinh chặt chẽ hơn.  Quản lí ở đây không có nghĩa là gây thêm thủ tục hành chính rườm ra và nặng nề thêm cho nhà nghiên cứu, mà là tạo ra môi trường sinh hoạt khoa học cởi mở, trong đó có seminar thường xuyên để nghiên cứu sinh trình bày kết quả nghiên cứu, có sự trao đổi thường xuyên giữa nghiên cứu sinh và giáo sư về tiến trình của dự án nghiên cứu, v.v…

Ngoài ra, trung tâm nghiên cứu cần phải có thủ tục quản lí bài báo khoa học từ trung tâm của mình.  Đây là vấn đề sở hữu trí tuệ.  Trước khi một bài báo gửi đi mang tên của trung tâm nghiên cứu, thì tác giả cần phải báo cho trung tâm biết bài báo gửi cho tập san nào và kết quả công bố ra sao. Ở Viện Garvan của chúng tôi, mỗi bài báo còn phải qua phản biện của 2 người trong Viện và tác giả phải cung cấp thông tin cho Viện trước khi gửi ra ngoài.  Tuy rằng bình duyệt nội bộ có thể thiếu thực tế ở Việt Nam, nhưng một cơ chế quản lí bài báo gọn nhẹ như thế thiết tưởng cũng cần thiết để bảo đảm chủ quyền tri thức cho các viện nghiên cứu ở Việt Nam.

Bài học thứ ba là đạo đức khoa học. Làm nghiên cứu khoa học, cũng như bất cứ ngành nghề nào, cũng cần phải có những chuẩn mực về đạo đức (ethical codes). Những chuẩn mực này bao gồm thành thật tri thức, cởi mở, khách quan, cẩn thận, ghi nhận công trạng thích hợp, v.v… Ở các nước phương Tây, nghiên cứu sinh trước khi làm nghiên cứu đã được giáo sư thường xuyên nhắc nhở những chuẩn mực này, nên họ không còn xa lạ gì với đạo đức khoa học. Tuy nhiên, ở Việt Nam, theo tôi biết trong một thời gian dài (cho đến nay), chẳng ai nói đến chuyện đạo đức khoa học là gì. Những câu chuyện về sinh viên, nghiên cứu sinh, nhà nghiên cứu, thậm chí giáo sư vô tư sửa số liệu, phịa số liệu, xem thường các chuẩn mực cơ bản nhất của khoa học là tôn trọng sự thật.  Thật ra, vấn đề này chẳng phải tồn tại ở nước ta (sau 1975), mà ở Nga trước đó cũng có nhiều trường hợp ngụy tạo số liệu cho phù hợp với chủ trương của … đảng và Nhà nước. Những vụ này đều được viết thành sách do chính đương sự kể lại, và đã trở thành một “văn hóa thiếu thành thật tri thức”, làm kiềm hãm phát triển khoa học.  Tuy ở các nước phương Tây cũng có gian lận khoa học, nhưng họ gian lận ít hơn các nước XHCN và cũng không vì đảng hay Nhà nước mà vì lí do cá nhân. Nói như thế để thấy rằng nhu cầu về trang bị đạo đức khoa học ở Việt Nam ngày nay là rất cần thiết.

Có thể có người nhìn sự việc như là một tín hiệu cho thấy khoa học có vấn đề, nhưng tôi thì nhìn thấy đó là một tín hiệu tích cực của khoa học.  Gần đây, nhiều đồng nghiệp và tôi kêu gọi công bố kết quả nghiên cứu trên các tập san quốc tế (gọi tắt là công bố quốc tế), để một mặt nâng cao khoa học Việt Nam, mặt khác lấy đó làm thước đo về năng suất khoa học nước nhà.  Thật ra, sự việc vừa qua cho thấy cái hay của công bố quốc tế, vì đó là một cơ chế dân chủ.  Thử hỏi nếu những bài báo của anh Lê Đức Thông là luận án tiến sĩ hay thạc sĩ, chưa bao giờ công bố hay công bố trong nước, thì chắc gì người ta phát hiện có đạo văn.  Chỉ có qua công bố quốc tế, qua bình duyệt cẩn thận của đồng nghiệp, thì vấn đề mới được phát hiện, và khi phát hiện thì phải sửa đổi (trong trường hợp này là rút lại bài báo).  Do đó, tôi thấy trường hợp này là một minh chứng hùng hồn cho việc lấy công bố quốc tế làm chuẩn mực hoạt động khoa học, vì đó chính là một thử nghiệm acid (acid test) về giá trị của những công trình khoa học.

Khoa học là một hành trình tự sửa sai, và nhà khoa học học từ nhầm lẫn và sai sót của mình.  Những sai sót mà anh Lê Đức Thông phạm phải đáng bị trừng phạt.  Nhưng tôi nghĩ không nên lấy đó để mà kết liễu sự nghiệp khoa học của anh ấy.  Như đề cập trên, tôi thấy anh Thông là người ham học, thông minh và dám dấn thân, chúng ta nên cho anh ấy một cơ hội để làm nghiên cứu khoa học trong tương lai, sau khi sự vấp ngã cá nhân đã được lấy làm bài học và sau khi anh ấy đã được trang bị kiến thức về đạo đức khoa học.  Không hiểu các bạn nghĩ sao, nhưng tôi thấy anh này có triển vọng nếu anh ta làm việc trong một môi trường khoa học nghiêm chỉnh.

Tiếng Latin có câu Verba volant, scripta manent (mà tôi hiểu nôm na là lời nói sẽ theo gió cuốn bay đi, cái còn lại là chữ viết trên giấy trắng mực đen).  Câu chữ của nhà khoa học là cái còn lại với đời sau khi nhà khoa học khuất bóng trên cõi trần, là thể hiện sự đóng góp vào tri thức cho nhân loại, là cái manent hay di sản của khoa học.  Sở dĩ học thuật có uy tín là vì nó được xây dựng trên nền tảng sáng tạo tri thức mới qua khám phá dữ liệu mới, cách làm mới, cách diễn giải mới cho một dữ liệu cũ.  Những tri thức mới được lưu trữ cho đời sau.  Do đó, lấy ý tưởng hay chữ nghĩa của người khác làm của mình không thể xem là đóng góp cho tri thức khoa học, mà là một trọng tội vì nó làm lung lay niềm tin vào khoa học.

Chú thích:

1.  Xã luận trên Tập san Nature. Taking on the cheats.  Nature 18 May 2005.

2.  Schein M, Paladugu R. Redundant surgical publications: tip of the iceberg? Surgery 2001 Jun;129(6):655-61.

3.  Guterman L. Plagiarism and other sins seam rife in science journals. Digital sleuth trends. The Chronicle of Higher Education 2008:A9.

4.  Bài báo công bố vào năm 2004 trong kỉ yếu của hội nghị lần thứ 8 của IEEE Advanced Motion Control (Kawasaki, Nhật) có tựa đề là “An optimal ship autopilot using a multivariate auto-regressive exogenous model”, còn bài báo gốc công bố trong hội nghị về Control Applications of Optimization (CAO2000), St Petersburg, Russia, có tựa đề là  “Ship’s optimal autopilot with a multivariate auto-regressive eXogenous model”.

————

http://phapluattp.vn/20101028013235931p0c1019/bai-bao-khoa-hoc-bi-rut-khoi-tap-chi-quoc-te-vi-dao-van.htm

Bài báo khoa học bị rút khỏi tạp chí quốc tế vì đạo văn

Các nhà nghiên cứu VN ít khi có được bài báo trên các tạp chí uy tín của thế giới. Điều này không đáng buồn bằng việc bài đã được chọn đăng nhưng cuối cùng bị rút lại do đạo văn.

Những ngày gần đây, giới khoa học trong và ngoài nước xôn xao trước sự kiện 2 tạp chí uy tín về vật lý trên thế giới đã có tuyên bố rút lại bài báo đã được đăng do tác giả đạo văn.

Thông báo của Ban Biên tập tạp chí EPL rút bài báo khỏi tạp chí do đạo văn và toàn văn bài báo có đóng chữ RETRACTED (tạm dịch: đã bị rút lại)

Đó là bài báo Was the fine-structure constant variable over cosmological time? (tạm dịch: Hằng số tương tác điện từ có thay đổi theo thời gian?) của nhóm tác giả Lê Đức Thông, tiến sĩ Nguyễn Mộng Giao – Viện Vật lý TP.HCM, tiến sĩ Nguyễn Thế Hùng – Viện Vật lý Hà Nội và tiến sĩ Trần Văn Hùng – Trung tâm Nghiên cứu và triển khai công nghệ bức xạ.

Tạp chí EPL trong số phát hành tháng 6.2010 đã có thông báo chính thức rút lại bài báo trên vì đã vi phạm một nguyên tắc quan trọng trong nghiên cứu khoa học: đạo văn (nguyên văn: plagiarism).

Trước đó, vào tháng 2.2010, trên trang web chính thức, tạp chí Physics Letters B cũng có thông báo rút bài báo mang tên Search for cosmological time variation of the fine-structure constant using low-redshifts of quasar (tạm dịch: Nghiên cứu sự thay đổi theo thời gian vũ trụ của hằng số đẹp sử dụng dịch chuyển đỏ thấp của quasar) của nhóm tác giả Lê Đức Thông, Nguyễn Mộng Giao và Trần Văn Hùng ra khỏi những bài báo trong giai đoạn “in press” (Những bài báo đang được để trên mạng, trong giai đoạn xem xét chuẩn bị in trên tạp chí – NV) theo yêu cầu của ban biên tập.

Chúng tôi đã liên hệ với tác giả chính của 2 bài báo này là ông Lê Đức Thông vào sáng ngày 26.10. Lần đầu ông nhận điện thoại nhưng do đang đi trên đường nên hẹn chúng tôi 14 giờ gọi lại. Nhưng sau đó ông Thông tắt máy.

Chúng tôi cũng đã tiếp xúc với ông Nguyễn Mộng Giao – nguyên Trưởng phòng Vật lý năng lượng và Vật lý môi trường, Chủ tịch Hội đồng khoa học Viện Vật lý TP.HCM, ông Trần Văn Hùng – cán bộ vận hành của Trung tâm Nghiên cứu và triển khai công nghệ bức xạ và lãnh đạo Viện Vật lý TP.HCM. Để rộng đường dư luận, chúng tôi xin đăng phần trả lời của các bên liên quan.

Tiến sĩ Nguyễn Mộng Giao:Thông tự ý cho tên tôi vào

* Ông có tham gia vào bài báo được đăng trên tạp chí EPL do ông Lê Đức Thông là tác giả thứ nhất không?

– Tôi xin khẳng định, bài báo này không có một chữ nào của tôi mà hoàn toàn là do Thông tự viết, tự ý cho tên tôi vào rồi gửi đăng báo. Có thể nói, Thông đã gửi “chui” bài báo này mà không hề nhận được sự đồng ý của tôi. Trước đó, tôi có giao cho Thông một bài toán nhưng đến nay Thông vẫn chưa giải được, và bài viết này có liên quan đến một phần của bài toán đó. Khi Thông viết bài báo này đưa cho tôi xem, tôi đã yêu cầu Thông sửa đi sửa lại nhiều lần, nhưng do nản quá nên tự ý gửi đi đăng, tôi không hề biết gửi đi đâu và khi nào. Thậm chí 2 tác giả còn lại tôi cũng không biết họ là ai.

“Bài viết cũng có kết quả mới nhưng cái mới ít hơn so với những phần Thông lấy của người khác”.Ông Nguyễn Mộng Giao

* Vậy thời điểm nào ông biết bài này được đăng cũng như bị rút xuống và ông đã xử lý ra sao?

– Sau khi bài báo được đăng Thông có cho tôi biết nhưng thời điểm đó tôi cũng chả quan tâm vì có quá nhiều việc phải làm. Thêm nữa, tôi cũng tin tưởng vào chất lượng bài viết khi nó đã được đăng trên một tạp chí uy tín. Tôi cũng nghĩ rằng nhiều khi học trò mượn tên thầy để vào bài viết của mình nên cho qua. Cho đến hôm qua (ngày 25.10 – PV), tôi mới biết tin về bài báo có sai sót. Tôi thực sự buồn.

* Ông có minh chứng nào cho thấy mình không liên quan đến bài báo này không?

– Thứ nhất, về nguyên tắc khi nghiên cứu khoa học, trước khi in một công trình, các tác giả phải ký tên vào tờ giấy đồng ý đăng. Trong khi, tôi chưa bao giờ viết và chưa bao giờ đồng ý ký tên cho in bài báo này, cũng chưa từng liên hệ với tạp chí này, trừ phi Thông giả danh dùng thư điện tử của tôi để liên lạc. Về việc này, tôi hoàn toàn có thể kiện Ban Biên tập của tờ tạp chí trên bởi chưa được sự đồng ý của tôi mà vẫn đăng bài có tên tôi. Vả lại, nếu tôi là người tham gia vào bài viết này thì hẳn tôi phải là người đứng đầu nhóm tác giả, là người trực tiếp liên lạc để gửi bài cho tạp chí. Bởi so về trình độ và khả năng ngoại ngữ thì tôi phải hơn hẳn Thông chứ. Hơn nữa, trước khi nghỉ việc Thông có gửi cho Viện trưởng Viện Vật lý TP.HCM và sao y cho tôi một lá thư xin lỗi, trong đó có nêu rõ tôi hoàn toàn không có liên quan tới bài viết và Thông đã tự ý để tên tôi vào.

* Vậy ông có biết bài báo này đạo văn ở mức độ nào không?

– Tôi không liên quan đến bài viết nên cũng không biết phần sao chép chỗ nào. Thậm chí đến thời điểm này tôi cũng chưa xem kỹ bài báo một cách nghiêm túc. Nhưng Thông có bảo với tôi, vì kém tiếng Anh nên Thông đã sử dụng lại câu văn của người khác và thay thế vào đó số liệu nghiên cứu của mình. Thực sự thì trình độ Anh ngữ của Thông cũng chưa đạt đủ tầm để viết bài đăng lên tạp chí quốc tế. Bài viết cũng có kết quả mới nhưng cái mới ít hơn so với những phần Thông lấy của người khác.

Tiến sĩ Trần Văn Hùng:Bài có 5 trang nhưng 3 trang không ghi nguồn

* Thông tin về 2 bài báo khoa học được đăng trên tạp chí quốc tế bị rút xuống với lý do đạo văn mà trong đó đều có tên ông, ông có ý kiến gì không?
– Thực ra nói là đạo văn cũng hơi quá bởi trong bài viết có một phần khi trích dẫn Thông đã không nêu rõ nguồn tài liệu tham khảo. Nên vấn đề ở đây là lỗi do cách viết, còn thành quả khoa học thực sự rất có ý nghĩa. Bởi mô hình này được Thông tìm ra có độ chính xác cao hơn gấp 10 lần so với mô hình cũ.

“Mô hình này được Thông tìm ra có độ chính xác cao hơn gấp 10 lần so với mô hình cũ”.Ông Trần Văn Hùng

* Trong bài viết có tên của 4 tác giả, tại sao ông lại chỉ nhắc tên Thông? Vậy phần của ông trong bài này ở chỗ nào?

– Dù có tên 4 người nhưng Thông là người viết bài chứ chúng tôi không viết. Tôi cũng không biết về 2 tác giả còn lại. Viết xong Thông cũng không đưa cho chúng tôi xem trước mà tự ý gửi đăng, đến khi bài được đăng chúng tôi mới biết thông tin. Thậm chí, việc bài bị rút khỏi tạp chí Thông cũng không nói với tôi cho tới khi tôi biết, hỏi thì Thông mới trả lời. Tôi hoàn toàn không viết chữ nào trong bài này, mà chỉ là người cung cấp số liệu cho Thông.

* Ông có biết bài viết này sao chép từ nguồn nào không?

– Bài báo này có 5 trang, trong đó riêng phần giới thiệu khoảng 2 – 3 trang là thông tin được trích dẫn mà không ghi rõ nguồn tài liệu tham khảo.

* Trong danh sách các công trình đã công bố trên tạp chí quốc tế năm 2009 được Viện Năng lượng nguyên tử VN biểu dương có bài báo này, ông có ý kiến gì không?

– Thời điểm mà Viện Năng lượng nguyên tử VN biểu dương là khi bài báo chưa bị phát hiện có sai sót! Và tôi cũng chỉ biết việc này khi bài báo chính thức bị rút xuống khỏi tạp chí vào tháng 6.2010. Do vậy, ở thời điểm đó bài báo được chọn để biểu dương một cách ngẫu nhiên.

– Trang web của tạp chí EPL có nêu rõ quy định về việc tác giả ký khi bài báo chính thức được đăng như sau: Trong trường hợp là một nhóm tác giả, chỉ có một tác giả được đại diện ký vào phiếu xác nhận bản quyền (Copyright form) nhưng phải được sự đồng thuận từ các tác giả còn lại.
– Impact Factor (IF) là một trong những chỉ số thể hiện tầm ảnh hưởng của một tạp chí. Trong 71 tạp chí cùng nhóm ngành vật lý, nếu dựa trên chỉ số IF của năm 2009 thì tạp chí Physics Letters B (IF=5,083) đứng hạng 7, tạp chí EPL (IF=2,893) đứng hạng thứ 14 so với IF cao nhất là 33,145 và thấp nhất là 0,125.(Nguồn: ISI Web of Knowledge)
Theo Thùy Ngân – Hà Ánh (TNO)
——————————————

Giáo dục Việt Nam Cộng hòa

nguồn ở đây

Xem thêm: Giáo dục Việt Nam Dân chủ Cộng hòaHệ thống Giáo dục Việt Nam.

Giáo dục Việt Nam Cộng hòa là nền giáo dục Việt Nam dưới chính thể Việt Nam Cộng hòa. Triết lý giáo dục của Việt Nam Cộng hòa là nhân bản, dân tộc, và khai phóng.[1] Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa nhấn mạnh quyền tự do giáo dục, và cho rằng “nền giáo dục cơ bản có tính cách cưỡng bách và miễn phí”, “nền giáo dục đại học được tự trị”, và “những người có khả năng mà không có phương tiện sẽ được nâng đỡ để theo đuổi học vấn”.[2] Hệ thống giáo dục Việt Nam Cộng hòa gồm tiểu học, trung học, và đại học, cùng với một mạng lưới các cơ sở giáo dục công lập, dân lập, và tư thục ở cả ba bậc học và hệ thống tổ chức quản trị từ trung ương cho tới địa phương.

Tổng quan

Từ năm 1917, chính quyền thuộc địa PhápViệt Nam đã có một hệ thống giáo dục thống nhất cho cả ba miền Nam, Trung, Bắc, và cả Lào cùng Cao Miên. Hệ thống giáo dục thời Pháp thuộc có ba bậc: tiểu học, trung học, và đại học. Chương trình học là chương trình của Pháp, với một chút sửa đổi nhỏ áp dụng cho các cơ sở giáo dục ở Việt Nam, dùng tiếng Pháp làm ngôn ngữ chính, tiếng Việt chỉ là ngôn ngữ phụ. Sau khi Việt Nam tuyên bố độc lập vào năm 1945, chương trình học của Việt Nam – còn gọi là chương trình Hoàng Xuân Hãn (ban hành thời chính phủ Trần Trọng Kim) – được đem ra áp dụng ở miền Trung và miền Bắc. Riêng ở miền Nam, vì có sự trở lại của người Pháp nên chương trình Pháp vẫn còn tiếp tục cho đến giữa thập niên 1950. Đến thời Đệ nhất Cộng hòa thì chương trình Việt mới được áp dụng ở miền Nam để thay thế cho chương trình Pháp. Cũng từ đây, các nhà lãnh đạo giáo dục Việt Nam mới có cơ hội đóng vai trò lãnh đạo thực sự của mình.[3]

Mục lục

[ẩn]

Ngay từ những ngày đầu hình thành nền Đệ nhất Cộng hòa, những người làm công tác giáo dục ở miền Nam đã xây dựng được nền móng quan trọng cho nền giáo dục quốc gia, tìm ra câu trả lời cho những vấn đề giáo dục cốt yếu. Những vấn đề đó là: triết lý giáo dục, mục tiêu giáo dục, chương trình học, tài liệu giáo khoa và phương tiện học tập, vai trò của nhà giáo, cơ sở vật chất và trang thiết bị trường học, đánh giá kết quả học tập, và tổ chức quản trị.[4] Nhìn chung, người ta thấy mô hình giáo dục ở miền Nam Việt Nam trong những năm 1970 có khuynh hướng xa dần ảnh hưởng của Pháp vốn chú trọng đào tạo một số ít phần tử ưu tú trong xã hội và có khuynh hướng thiên về lý thuyết, để chấp nhận mô hình giáo dục Hoa Kỳ có tính cách đại chúng và thực tiễn. Năm học 1973-1974, Việt Nam Cộng hòa có một phần năm (20%) dân số là học sinh và sinh viên đang đi học trong các cơ sở giáo dục. Con số này bao gồm 3.101.560 học sinh tiểu học, 1.091.779 học sinh trung học, và 101.454 sinh viên đại học; số người biết đọc biết viết ước tính khoảng 70% dân số.[3] Đến năm 1975, tổng số sinh viên trong các viện đại học ở miền Nam là khoảng 150.000 người (không tính các sinh viên theo học ở Học viện Quốc gia Hành chánh và ở các trường đại học cộng đồng).[5]

Mặc dù tồn tại chỉ trong 20 năm (từ 1955 đến 1975), bị ảnh hưởng nặng nề bởi chiến tranh và những bất ổn chính trị thường xảy ra, phần thì ngân sách eo hẹp do phần lớn ngân sách quốc gia phải dành cho quốc phòng và nội vụ (trên 40% ngân sách quốc gia dành cho quốc phòng, khoảng 13% cho nội vụ, chỉ khoảng 7-7,5% cho giáo dục), nền giáo dục Việt Nam Cộng hòa đã phát triển vượt bậc, đáp ứng được nhu cầu gia tăng nhanh chóng của người dân, đào tạo được một lớp người có học vấn và có khả năng chuyên môn đóng góp vào việc xây dựng quốc gia và tạo được sự nghiệp vững chắc ngay cả ở các quốc gia phát triển. Kết quả này có được là nhờ các nhà giáo có ý thức rõ ràng về sứ mạng giáo dục, có ý thức trách nhiệm và lương tâm nghề nghiệp, đã sống cuộc sống khiêm nhường để đóng góp trọn vẹn cho nghề nghiệp, nhờ nhiều bậc phụ huynh đã đóng góp công sức cho việc xây dựng nền giáo dục quốc gia, và nhờ những nhà lãnh đạo giáo dục đã có những ý tưởng, sáng kiến, và nỗ lực mang lại sự tiến bộ cho nền giáo dục ở miền Nam Việt Nam.[3]

[sửa] Triết lý giáo dục

Năm 1958, dưới thời Bộ trưởng Bộ Quốc gia Giáo dục Trần Hữu Thế, Việt Nam Cộng hòa nhóm họp Đại hội Giáo dục Quốc gia (lần I) tại Sài Gòn. Đại hội này quy tụ nhiều phụ huynh học sinh, thân hào nhân sĩ, học giả, đại diện của quân đội, chính quyền và các tổ chức quần chúng, đại diện ngành văn hóa và giáo dục các cấp từ tiểu học đến đại học, từ phổ thông đến kỹ thuật… Ba nguyên tắc “nhân bản” (humanistic), “dân tộc” (nationalistic), và “khai phóng” (liberal) được chính thức hóa ở hội nghị này.[6][7] Đây là những nguyên tắc làm nền tảng cho triết lý giáo dục của Việt Nam Cộng hòa, được ghi cụ thể trong tài liệu Những nguyên tắc căn bản do Bộ Quốc gia Giáo dục ấn hành năm 1959 và sau đó trong Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa (1967).

  1. Giáo dục Việt Nam là giáo dục nhân bản. Triết lý nhân bản chủ trương con người có địa vị quan trọng trong thế gian này; lấy con người làm gốc, lấy cuộc sống của con người trong cuộc đời này làm căn bản; xem con người như một cứu cánh chứ không phải như một phương tiện hay công cụ phục vụ cho mục tiêu của bất cứ cá nhân, đảng phái, hay tổ chức nào khác. Triết lý nhân bản chấp nhận có sự khác biệt giữa các cá nhân, nhưng không chấp nhận việc sử dụng sự khác biệt đó để đánh giá con người, và không chấp nhận sự kỳ thị hay phân biệt giàu nghèo, địa phương, tôn giáo, chủng tộc… Với triết lý nhân bản, mọi người có giá trị như nhau và đều có quyền được hưởng những cơ hội đồng đều về giáo dục.
  2. Giáo dục Việt Nam là giáo dục dân tộc. Giáo dục tôn trọng giá trị truyền thống của dân tộc trong mọi sinh hoạt liên hệ tới gia đình, nghề nghiệp, và quốc gia. Giáo dục phải bảo tồn và phát huy được những tinh hoa hay những truyền thống tốt đẹp của văn hóa dân tộc. Dân tộc tính trong văn hóa cần phải được các thế hệ biết đến, bảo tồn và phát huy, để không bị mất đi hay tan biến trong những nền văn hóa khác.
  3. Giáo dục Việt Nam là giáo dục khai phóng. Tinh thần dân tộc không nhất thiết phải bảo thủ, không nhất thiết phải đóng cửa. Ngược lại, giáo dục phải mở rộng, tiếp nhận những kiến thức khoa học kỹ thuật tân tiến trên thế giới, tiếp nhận tinh thần dân chủ, phát triển xã hội, giá trị văn hóa nhân loại để góp phần vào việc hiện đại hóa quốc gia và xã hội, làm cho xã hội tiến bộ tiếp cận với văn minh thế giới.[1]

[sửa] Mục tiêu giáo dục

Một lớp tiểu học ở miền Nam vào năm 1961.

Từ những nguyên tắc căn bản ở trên, chính quyền Việt Nam Cộng hòa đề ra những mục tiêu chính sau đây cho nền giáo dục của mình. Những mục tiêu này được đề ra là để nhằm trả lời cho câu hỏi: Sau khi nhận được sự giáo dục, những người đi học sẽ trở nên người như thế nào đối với cá nhân mình, đối với gia đình, quốc gia, xã hội, và nhân loại?

  1. Phát triển toàn diện mỗi cá nhân. Trong tinh thần tôn trọng nhân cách và giá trị của cá nhân học sinh, giáo dục hướng vào việc phát triển toàn diện mỗi cá nhân theo bản tính tự nhiên của mỗi người và theo những quy luật phát triển tự nhiên cả về thể chất lẫn tâm lý. Nhân cách và khả năng riêng của học sinh được lưu ý đúng mức. Cung cấp cho học sinh đầy đủ thông tin và dữ kiện để học sinh phán đoán, lựa chọn; không che giấu thông tin hay chỉ cung cấp những thông tin chọn lọc thiếu trung thực theo một chủ trương, hướng đi định sẵn nào.
  2. Phát triển tinh thần quốc gia ở mỗi học sinh. Điều này thực hiện bằng cách: giúp học sinh hiểu biết hoàn cảnh xã hội, môi trường sống, và lối sống của người dân; giúp học sinh hiểu biết lịch sử nước nhà, yêu thương xứ sở mình, ca ngợi tinh thần đoàn kết, tranh đấu của người dân trong việc chống ngoại xâm bảo vệ tổ quốc; giúp học sinh học tiếng Việt và sử dụng tiếng Việt một cách có hiệu quả; giúp học sinh nhận biết nét đẹp của quê hương xứ sở, những tài nguyên phong phú của quốc gia, những phẩm hạnh truyền thống của dân tộc; giúp học sinh bảo tồn những truyền thống tốt đẹp, những phong tục giá trị của quốc gia; giúp học sinh có tinh thần tự tin, tự lực, và tự lập.
  3. Phát triển tinh thần dân chủ và tinh thần khoa học. Điều này thực hiện bằng cách: giúp học sinh tổ chức những nhóm làm việc độc lập qua đó phát triển tinh thần cộng đồng và ý thức tập thể; giúp học sinh phát triển óc phán đoán với tinh thần trách nhiệm và kỷ luật; giúp phát triển tính tò mò và tinh thần khoa học; giúp học sinh có khả năng tiếp nhận những giá trị văn hóa của nhân loại.[1]

[sửa] Giáo dục tiểu học và trung học

Tên gọi năm lớp bậc tiểu học
trước 1967 sau 1967
lớp năm lớp một
lớp tư lớp hai
lớp ba lớp ba
lớp nhì lớp tư
lớp nhất lớp năm
Tên các lớp bậc trung học đệ nhất cấp
lớp đệ thất lớp sáu
lớp đệ lục lớp bảy
lớp đệ ngũ lớp tám
lớp đệ tứ lớp chín
Tên các lớp trung học đệ nhị cấp
lớp đệ tam lớp mười
lớp đệ nhị lớp 11
lớp đệ nhất lớp 12

[sửa] Giáo dục tiểu học

Số liệu giáo dục bậc tiểu học[8]
Niên học Số học sinh Số lớp học
1955 400.865 8.191
1963 1.450.679 30.123
1964 1.554.063[9]
1970 2.556.000 44.104

Bậc tiểu học thời Việt Nam Cộng hòa bao gồm năm lớp, từ lớp 1 đến lớp 5 (thời Đệ nhất Cộng hòa gọi là lớp Năm đến lớp Nhất). Theo quy định của hiến pháp, giáo dục tiểu học là giáo dục phổ cập (bắt buộc).[10] Từ thời Đệ nhất Cộng hòa đã có luật quy định trẻ em phải đi học ít nhất ba năm tiểu học.[11] Mỗi năm học sinh phải thi để lên lớp. Ai thi trượt phải học “đúp”, tức học lại lớp đó. Các trường công lập đều hoàn toàn miễn phí, không thu học phí và các khoản lệ phí khác. Học sinh tiểu học chỉ học một buổi, sáu ngày mỗi tuần. Theo quy định, một ngày được chia ra 2 ca học; ca học buổi sáng và ca học buổi chiều. Vào đầu thập niên 1970, Việt Nam Cộng hòa có 2,5 triệu học sinh tiểu học, chiếm hơn 80% tổng số thiếu niên từ 6 đến 11 tuổi;[12] 5.208 trường tiểu học (chưa kể các cơ sở ở Phú Bổn, Vĩnh Long, và Sa Đéc).[13]

Tất cả trẻ em từ 6 tuổi đều được nhận vào lớp Một để bắt đầu bậc tiểu học. Phụ huynh có thể chọn lựa cho con em vào học miễn phí cho hết bậc tiểu học trong các trường công lập hay tốn học phí (tùy trường) tại các trường tiểu học tư thục.[14] Lớp 1 (trước năm 1967 gọi là lớp Năm) cấp tiểu học mỗi tuần học 25 giờ, trong đó 9,5 giờ môn quốc văn; 2 giờ bổn phận công dân và đức dục (còn gọi là lớp Công dân giáo dục).[15] Lớp 2 (trước năm 1967 gọi là lớp Tư), quốc văn giảm còn 8 tiếng nhưng thêm 2 giờ sử ký và địa lý. Lớp 3 trở lên thì ba môn quốc văn, công dân và sử địa chiếm 12-13 tiếng mỗi tuần.[16] Một năm học kéo dài chín tháng, nghỉ ba tháng . Trong năm học có khoảng 10 ngày nghỉ lễ (thông thường vào những ngày áp Tết).[17]

[sửa] Giáo dục trung học

Số liệu giáo dục bậc trung học[8]
Niên học Số học sinh Số lớp học
1955 51.465 890
1963 264.866 4.831
1964 291.965[9]
1970 623.000 9.069

Tính đến đầu những năm 1970, Việt Nam Cộng hòa có hơn 550.000 học sinh trung học, tức hơn 20% tổng số thanh thiếu niên ở lứa tuổi từ 12 đến 18;[18] có 534 trường trung học (chưa kể các cơ sở ở Vĩnh LongSa Đéc).[13] Đến năm 1975 thì có khoảng 900.000 học sinh ở các trường trung học công lập. Các trường trung học công lập nổi tiếng thời đó có Pétrus Ký, Chu Văn An, Trưng Vương, Gia Long, Lê Quý Đôn (Sài Gòn), Quốc Học (Huế), Nguyễn Đình Chiểu (Mỹ Tho), Phan Thanh Giản (Cần Thơ). Các trường công lập đều hoàn toàn miễn phí, không thu học phí và các khoản lệ phí khác.

Trung học đệ nhất cấp

Trung học đệ nhất cấp bao gồm năm lớp 6 đến lớp 9 (trước năm 1967 gọi là lớp đệ thất đến đệ tứ), tương đương trung học cơ sở hiện nay. Từ tiểu học phải thi vào trung học đệ nhất cấp. Đậu vào trường trung học công lập không dễ (tỷ số vào trường công là 62%),[19] nên những ai không vào được thì có thể nhập học trường tư thục nhưng phải trả học phí. Một năm học được chia thành hai “lục cá nguyệt” (hay “học kỳ”). Kể từ lớp 6, học sinh bắt đầu phải học ngoại ngữ, thường là tiếng Anh hay tiếng Pháp. Môn Công dân giáo dục tiếp tục với lượng 2 giờ mỗi tuần.[20] Từ năm 1966 trở đi, môn võ Vovinam (tức Việt Võ đạo) cũng được đưa vào giảng dạy ở một số trường.[21] Học xong năm lớp 9 thì thi bằng Trung học đệ nhất cấp. Kỳ thi này thoạt tiên có hai phần: viết và vấn đáp. Năm 1959 bỏ phần vấn đáp[22] rồi đến niên học 1970-71 thì Bộ Quốc gia Giáo dục bãi bỏ hẳn kỳ thi Trung học đệ nhất cấp.[23]

Trung học đệ nhị cấp

Trung học đệ nhị cấp là các lớp 10 (đệ tam), 11 (đệ nhị) và 12 (đệ nhất), tương đương trung học phổ thông hiện nay. Muốn vào thì phải đậu được bằng Trung học đệ nhất cấp, tức bằng Trung học cơ sở. Vào đệ nhị cấp, học sinh phải chọn học theo một trong bốn ban như dự bị vào đại học.[24] Bốn ban thường gọi A, B, C, D theo thứ tự là khoa học thực nghiệm hay còn gọi là ban vạn vật; ban toán; ban văn chương; và ban văn chương cổ ngữ, thường là Hán văn. Ngoài ra học sinh cũng bắt đầu học thêm một ngoại ngữ thứ hai.[25] Vào năm lớp 11 thì học sinh phải thi Tú tài I rồi thi Tú tài II năm lớp 12. Thể lệ này đến năm học 19721973 thì bỏ, chỉ thi một đợt tú tài phổ thông. Phép thi kể từ năm 1973 cũng bỏ lối viết bài luận (essay) mà theo lối thi trắc nghiệm có tính cách khách quan hơn.[26] Mỗi năm có hai đợt thi Tú tài tổ chức vào khoảng tháng 5 và tháng 7.[27] Tỷ lệ đậu, Tú tài I (15-30%) và Tú tài II (30-45%),[28] khá thấp nên vào được đại học là một chuyện khó. Thí sinh đậu được xếp thành hạng “ưu” (16/20 điểm trở lên), “bình” (14/20), “bình thứ” (12/20), và “thứ” (10/20).[29] Một số trường trung học đệ nhị cấp chia theo phái tính như ở Sài Gòn thì có trường Pétrus Ký, Chu Văn An, và Nguyễn Trãi dành cho nam sinh và các trường Trưng Vương, Gia Long, và Lê Văn Duyệt chỉ dành cho nữ sinh. Học sinh trung học lúc bấy giờ phải mặc đồng phục: Nữ sinh thì áo dài trắng, quần trắng hay đen; còn nam sinh thì mặc áo sơ mi trắng, quần màu lam.[30]

Trung học tổng hợp

Chương trình giáo dục trung học tổng hợp (tiếng Anh: comprehensive high school) là một chương trình giáo dục thực tiễn phát sinh từ quan niệm giáo dục của triết gia John Dewey, sau này được nhà giáo dục người Mỹ là James B. Connant hệ thống hóa và đem áp dụng cho các trường trung học Hoa Kỳ. Giáo dục trung học tổng hợp chú trọng đến khía cạnh thực tiễn và hướng nghiệp, đặt nặng vào các môn tư vấn, kinh tế gia đình, kinh doanh, công-kỹ nghệ, v.v… nhằm trang bị cho học sinh những kiến thức thực tiễn, giúp họ có thể mưu sinh sau khi rời trường trung học. Ở từng địa phương, phụ huynh học sinh và các nhà giáo có thể đề nghị những môn học đặc thù khả dĩ có thể đem ra ứng dụng ở nơi mình sinh sống.[31] Thời Đệ nhị Cộng hòa Việt Nam chính phủ cho thử nghiệm chương trình trung học tổng hợp, nhập đệ nhất và đệ nhị cấp lại với nhau. Học trình này được áp dụng cho một số trường như Nguyễn An Ninh (cho nam sinh; 93 đường Trần Nhân Tông, Quận 10) và Sương Nguyệt Anh (cho nữ sinh; góc đường Bà Hạt và Vĩnh Viễn, gần chùa Ấn Quang) ở Sài Gòn, và Chưởng binh LễLong Xuyên.[32]

Trung học kỹ thuật

Các trường trung học kỹ thuật nằm trong hệ thống giáo dục kỹ thuật, kết hợp việc dạy nghề với giáo dục phổ thông. Các học sinh trúng tuyển vào trung học kỹ thuật thường được cấp học bổng toàn phần hay bán phần. Mỗi tuần học 42 giờ; hai môn ngoại ngữ bắt buộc là tiếng Anhtiếng Pháp.[33] Các trường trung học kỹ thuật có mặt hầu hết ở các tỉnh, thành phố; ví dụ, công lập thì có Trường Trung học Kỹ thuật Cao Thắng (thành lập năm 1956; tiền thân là Trường Cơ khí Á châu thành lập năm 1906Sài Gòn; nay là Trường Cao đẳng Kỹ thuật Cao Thắng),[34] tư thục thì có Trường Trung học Kỹ thuật Don Bosco (do các tu sĩ Dòng Don Bosco thành lập năm 1957Gia Định; nay là Trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh).[33][35]

[sửa] Các trường tư thục và quốc gia nghĩa tử

Các trường tư thục và Bồ đề

Ngoài hệ thống trường công lập của chính phủ là hệ thống trường tư thục. Vào năm 1964 các trường tư thục giáo dục 28% trẻ em tiểu học và 62% học sinh trung học.[9] Tính đến năm 1975, Việt Nam Cộng hòa có khoảng 1,2 triệu học sinh ghi danh học ở hơn 1.000 trường tư thục ở cả hai cấp tiểu học và trung học.[36] Các trường tư thục nổi tiếng như Lasan Taberd dành cho nam sinh; Couvent des Oiseaux, Regina Pacis (Nữ vương Hòa bình), và Regina Mundi (Nữ vương Thế giới) dành cho nữ sinh. Bốn trường này nằm dưới sự điều hành của Giáo hội Công giáo. Trường Bác ái (Collège Fraternité) ở Chợ Quán với đa số học sinh là người Việt gốc Hoa cũng là một tư thục có tiếng do các thương hội người Hoa bảo trợ.[37] Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhấthệ thống các trường tiểu học và trung học Bồ đề ở nhiều tỉnh thành, tính đến năm 1970 trên toàn quốc có 137 trường Bồ đề, trong đó có 65 trường trung học với tổng số học sinh là 58.466. Ngoài ra còn có một số trường do chính phủ Pháp tài trợ như Marie-Curie, Colette, và Saint-Exupéry.[38] Kể từ năm 1956, tất cả các trường học tại Việt Nam, bất kể trường tư hay trường do ngoại quốc tài trợ, đều phải dạy một số giờ nhất định cho các môn quốc văn và lịch sử Việt Nam.[39] Chương trình học chính trong các trường tư vẫn theo chương trình mà Bộ Quốc gia Giáo dục đã đề ra, dù có thể thêm một số giờ hoặc môn kiến thức thêm. Sau năm 1975, dưới chính thể Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, tổng cộng có 1.087 trường tư thục ở miền Nam Việt Nam bị giải thể và trở thành trường công (hầu hết mang tên mới).[40]

Các trường Quốc gia nghĩa tử

Ngoài hệ thống các trường công lập và tư thục kể trên, Việt Nam Cộng hòa còn có hệ thống thứ ba là các trường Quốc gia nghĩa tử. Tuy đây là trường công lập nhưng không đón nhận học sinh bình thường mà chỉ dành riêng cho các con em của tử sĩ hoặc thương phế binh của Quân lực Việt Nam Cộng hòa như là một đặc ân của chính phủ giúp đỡ không chỉ phương tiện học hành mà cả việc nuôi dưỡng. Hệ thống này bắt đầu hoạt động từ năm 1963 ở Sài Gòn, sau khai triển thêm ở Đà Nẵng, Cần Thơ, Huế, và Biên Hòa. Tổng cộng có 7 cơ sở với hơn 10.000 học sinh. Loại trường này do Bộ Cựu Chiến binh quản lý chứ không phải Bộ Quốc gia Giáo dục, nhưng vẫn dùng giáo trình của Bộ Quốc gia Giáo dục. Chủ đích của các trường Quốc gia nghĩa tử là giáo dục phổ thông và hướng nghiệp cho các học sinh chứ không được huấn luyện quân sự.[41][42] Vì vậy trường Quốc gia nghĩa tử khác trường thiếu sinh quân. Sau năm 1975, các trường quốc gia nghĩa tử cũng bị giải thể.

[sửa] Giáo dục đại học

Số liệu giáo dục bậc đại học
Niên học Số sinh viên
1960-61 11.708[43]
1962 16.835[9]
1964 20.834[9]
1974-75 166.475[44]

Học sinh đậu được Tú tài II thì có thể ghi danh vào học ở một trong các viện đại học, trường đại học, và học viện trong nước. Tuy nhiên vì số chỗ trong một số trường rất có giới hạn nên học sinh phải dự một kỳ thi tuyển; các trường này thường là Y, Dược, Nha, Kỹ thuật, và Sư phạm. Việc tuyển chọn dựa trên khả năng của thí sinh, hoàn toàn không xét đến lý lịch gia đình. Sinh viên học trong các cơ sở giáo dục công lập thì không phải đóng tiền. Chỉ ở một vài trường hay phân khoa đại học thì sinh viên mới đóng lệ phí thi vào cuối năm học. Ngoài ra, chính phủ còn có những chương trình học bổng cho sinh viên.[14]

Chương trình học trong các cơ sở giáo dục đại học được chia làm ba cấp. Cấp 1 (học 4 năm): Nếu theo hướng các ngành nhân văn, khoa học, v.v.. thì lấy bằng cử nhân (ví dụ: cử nhân Triết, cử nhân Toán…); nếu theo hướng các ngành chuyên nghiệp thì lấy bằng tốt nghiệp (ví dụ: bằng tốt nghiệp Trường Đại học Sư phạm, bằng tốt nghiệp Học viện Quốc gia Hành chánh…) hay bằng kỹ sư (ví dụ: kỹ sư Điện, kỹ sư Canh nông…). Cấp 2: học thêm 1-2 năm và thi lấy bằng cao học hay tiến sĩ đệ tam cấp (tiếng Pháp: docteur de troisième cycle; tương đương thạc sĩ ngày nay). Cấp 3: học thêm 2-3 năm và làm luận án thì lấy bằng tiến sĩ (tương đương với bằng Ph.D. của Hoa Kỳ). Riêng ngành y, vì phải có thời gian thực tập ở bệnh viện nên sau khi học xong chương trình dự bị y khoa phải học thêm 6 năm hay lâu hơn mới xong chương trình đại học.[45]

[sửa] Mô hình các cơ sở giáo dục đại học

Bài chi tiết: Đại học

Sơ đồ Làng Đại học thuộc Viện Đại học Sài Gòn dự kiến xây dựng ở Thủ Đức

Phần lớn các cơ sở giáo dục đại học Việt Nam thời Việt Nam Cộng hòa được tổ chức theo mô hình viện đại học (theo Việt-Nam Tự-Điển của Hội Khai Trí Tiến Đức: Viện=Nơi, sở). Đây là mô hình tương tự như university của Hoa KỳTây Âu, cùng với nó là hệ thống đào tạo theo tín chỉ (tiếng Anh: credit). Mỗi viện đại học bao gồm nhiều phân khoa đại học (tiếng Anh: faculty; thường gọi tắt là phân khoa, ví dụ: Phân khoa Y, Phân khoa Sư phạm, Phân khoa Khoa học, v.v…) hoặc trường hay trường đại học (tiếng Anh: school hay college; ví dụ: Trường Đại học Nông nghiệp, Trường Đại học Kỹ thuật, v.v…). Trong mỗi phân khoa đại học hay trường đại học có các ngành (ví dụ: ngành Điện tử, ngành Công chánh, v.v…); về mặt tổ chức, mỗi ngành tương ứng với một ban (tiếng Anh: department; tương đương với đơn vị khoa hiện nay).[46]

Trong hai thập niên 1960 và 1970, lúc hội nghị hòa bình đang diễn ra ở Paris, chính phủ Việt Nam Cộng hòa ráo riết lên kế hoạch tái thiết sau chiến tranh, với viễn cảnh là hòa bình sẽ lập lại ở Việt Nam, một chính phủ liên hiệp sẽ được thành lập, người lính từ các bên trở về cần được đào tạo để tái hòa nhập vào xã hội. Trong khuôn khổ kế hoạch đó, có hai mô hình cơ sở giáo dục đại học mới và mang tính thực tiễn được hình thành, đó là trường đại học cộng đồngviện đại học bách khoa.[47]

Trường đại học cộng đồng là một cơ sở giáo dục đại học sơ cấp và đa ngành; sinh viên học ở đây để chuyển tiếp lên học ở các viện đại học lớn, hoặc mở mang kiến thức, hoặc học nghề để ra làm việc. Các trường đại học cộng đồng được thành lập với sự tham gia đóng góp, xây dựng, và quản trị của địa phương nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển ở địa phương trong các mặt văn hóa, xã hội, và kinh tế. Khởi điểm của mô hình giáo dục này là một nghiên cứu của ông Đỗ Bá Khê tiến hành vào năm 1969 mà các kết quả sau đó được đưa vào một luận án tiến sĩ trình ở Viện Đại học Southern California vào năm 1970 với tựa đề The Community College Concept: A Study of its Relevance to Postwar Reconstruction in Vietnam (Khái niệm trường đại học cộng đồng: Nghiên cứu sự phù hợp của nó với công cuộc tái thiết hậu chiến ở Việt Nam). Cơ sở đầu tiên được hình thành là Trường Đại học Cộng đồng Tiền Giang, thành lập vào năm 1971Định Tường sau khi mô hình giáo dục mới này được mang đi trình bày sâu rộng trong dân chúng.[47]

Vào năm 1973, Viện Đại học Bách khoa Thủ Đức (tên tiếng Anh: Thủ Đức Polytechnic University, gọi tắt là Thủ Đức Poly) được thành lập. Đây là một cơ sở giáo dục đại học đa ngành, đa lĩnh vực, và chú trọng đến các ngành thực tiễn. Trong thời gian đầu, Viện Đại học Bách khoa Thủ Đức có các trường đại học chuyên về Nông nghiệp, Kỹ thuật, Giáo dục, Khoa họcNhân văn, Kinh tếQuản trị, và Thiết kế đô thị; ngoài ra còn có trường đào tạo sau đại học. Theo kế hoạch, các cơ sở giáo dục đều được gom chung lại trong một khuôn viên rộng lớn, tạo một môi trường gợi hứng cho trí thức suy luận, với một cảnh trí được thiết kế nhằm nâng cao óc sáng tạo; quản lý hành chính tập trung để tăng hiệu năng và giảm chi phí.[47]

Sau năm 1975, dưới chính thể Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, toàn bộ các cơ sở giáo dục đại học thời Việt Nam Cộng hòa bị đổi tên và bị phân tán theo khuôn mẫu giáo dục của Liên Xô nên không còn mô hình theo đó các trường hay phân khoa đại học cấu thành viện đại học, mà mỗi trường trở nên biệt lập.[48] Giáo dục đại học Việt Nam dưới các chính thể Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam theo mô hình phân tán ngành học.[49] Các “trường đại học bách khoa” được thành lập dưới hai chính thể này (Trường Đại học Bách khoa Hà Nội, Trường Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh, và Trường Đại học Bách khoa Đà Nẵng) không giống như mô hình viện đại học bách khoa vì chỉ tập trung vào các ngành kỹ thuật. Tương tự, mô hình “trường đại học tổng hợp” (Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, Trường Đại học Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, và Trường Đại học Tổng hợp Huế) cũng chỉ tập trung vào các ngành khoa học cơ bản, chứ không mang tính chất toàn diện. Đến đầu thập niên 1990, chính phủ Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam mới thành lập 2 “đại học” cấp quốc gia và 3 “đại học” cấp vùng theo mô hình gần giống như mô hình viện đại học.[50] Vào tháng 10 năm 2009, một số đại biểu của Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam đưa ra đề nghị gọi tên các “đại học” cấp quốc gia và cấp vùng là “viện đại học”.[51]

[sửa] Các viện đại học công lập

[sửa] Các viện đại học tư thục

Sinh viên ở Học viện Quốc gia Hành chánh, đường Alexandre de Rhodes, Sài Gòn

[sửa] Các học viện và viện nghiên cứu

Phòng thí nghiệm ở Viện Pasteur Sài Gòn

[sửa] Các trường đại học cộng đồng

Bắt đầu từ năm 1971 chính phủ mở một số trường đại học cộng đồng (theo mô hình community college của Hoa Kỳ) như Trường Đại học Cộng đồng Tiền Giang ở Mỹ Tho,[67] Duyên Hải ở Nha Trang,[68] Quảng Đà ở Đà Nẵng (1974),[69] và Long Hồ ở Vĩnh Long.[47] Trường Đại học Cộng đồng Tiền Giang đặt trọng tâm vào nông nghiệp; Trường Đại học Cộng đồng Duyên Hải hướng về ngư nghiệp.[68] Riêng Trường Long Hồ còn đang dang dở chưa hoàn tất thì chính thể Việt Nam Cộng hòa bị giải tán.[70]Sài Gòn thì có Trường Đại học Regina Pacis (khai giảng vào năm 1973) dành riêng cho nữ sinh do Công giáo thành lập, và theo triết lý đại học cộng đồng.[68]

[sửa] Các trường kỹ thuật và huấn nghệ

Ngoài những trường đại học còn có hệ thống trường cao đẳng như Trường Bách khoa Phú Thọ và Trường Nông lâm súc. Một số những trường này sang thập niên 1970 được nâng lên tương đương với cấp đại học.

  • Trường Quốc gia Nông lâm mục: Thoạt tiên là Nha Khảo cứu Đông Dương thành lập năm 1930B’lao, cơ sở này đến năm 1955 thì nâng lên thành Trường Quốc gia Nông lâm mục với chương trình học bốn năm. Diện tích vườn thực nghiệm rộng 200 ha chia thành những khu chăn nuôi gia súc, vườn cây công nghiệp, lúa thóc.[71] Qua từng giai đoạn Trường đổi tên thành Trường Cao đẳng Nông lâm súc (1962-1968), Trung tâm Quốc gia Nông nghiệp (1968-1972), Học viện Quốc gia Nông nghiệp (1972-1974). Cuối cùng Trường Quốc gia Nông lâm mục được sáp nhập vào Viện Đại học Bách khoa Thủ Đức (có trụ sở ở số 45 đường Cường Để, Quận 1, Sài Gòn). Trường còn có chi nhánh ở Huế, Cần Thơ, và Bình Dương.[72]
  • Trung tâm Quốc gia Kỹ thuật Phú Thọ: Thành lập năm 1957 thời Đệ nhất Cộng hòa gồm bốn trường: Trường Cao đẳng Công chánh, Trường Cao đẳng Điện học, Trường Quốc gia Kỹ sư Công nghệ, và Trường Việt Nam Hàng hải. Năm 1968 lập thêm Trường Cao đẳng Hóa học. Năm 1972, Trung tâm Quốc gia Kỹ thuật đổi thành Học viện Quốc gia Kỹ thuật và đến năm 1974 thì nhập với Trường Đại học Nông nghiệp để tạo nên Viện Đại học Bách khoa Thủ Đức.[73][74]
  • Học viện Cảnh sát Quốc gia: Thành lập năm 1966 để đào tạo nhân viên giữ an ninh và thi hành luật pháp.[75]

[sửa] Các trường nghệ thuật

Các giáo sư Trường Quốc gia Âm nhạc và Kịch nghệ đồng tấu: Trần Thanh Tâm (đờn kìm), Phan Văn Nghị (đờn cò), Trương Văn Đệ (đờn tam), Vũ Văn Hòa (sáo), và Nguyễn Vĩnh Bảo (đờn tranh).

[sửa] Sinh viên du học ngoại quốc

Một số sinh viên bậc đại học được cấp giấy phép đi du học ở nước ngoài. Hai quốc gia thu nhận nhiều sinh viên Việt Nam vào năm 1964 là Pháp (1.522) và Hoa Kỳ (399), đa số theo học các ngành khoa học xã hội và kỹ sư.[9]

[sửa] Tài liệu và dụng cụ giáo khoa

Truyện Kiều bản chữ Nôm của Chiêm Vân Thị do Bộ Giáo dục Việt Nam Cộng hòa xuất bản năm 1967

Năm 1958, chính phủ Đệ nhất Cộng hòa cho lập Ban Tu thư thuộc Bộ Quốc gia Giáo dục để soạn, dịch, và in sách giáo khoa cho hệ thống giáo dục toàn quốc. Tính đến năm 1962, Bộ Quốc gia Giáo dục đã ấn hành xong 39 đầu sách tiểu học, 83 sách trung học, và 9 sách đại học.[79]

Các giáo chức và họa sĩ làm việc trong Ban Tu thư đã soạn thảo trọn bộ sách cho bậc tiểu học. Bộ sách này được đánh giá cao cả về nội dung lẫn hình thức. Có nhiều sách đã được viết, dịch, và phát hành để học sinh và sinh viên có tài liệu tham khảo. Phần lớn sách giáo khoa và trang thiết bị dụng cụ học tập do Trung tâm Học liệu của Bộ Giáo dục sản xuất và cung cấp với sự giúp đỡ của một số cơ quan nước ngoài. Trung tâm này còn hợp tác với UNESCO để viết và dịch sách dành cho thiếu nhi để giúp các em hiểu biết về các nền văn hóa khác nhau và tạo sự đoàn kết giữa các nhi đồng trên thế giới. Bộ Giáo dục cũng dành riêng ngân quỹ để in sách giáo khoa bậc tiểu học cho gần 30 sắc tộc thiểu số khác nhau ở Việt Nam.

Ngoài ra, để có sự thống nhất trong việc sử dụng các danh từ chuyên môn, Bộ Giáo dục cũng đã thiết lập Ủy ban Quốc gia Soạn thảo Danh từ Chuyên môn bao gồm nhiều giáo sư đại học. Ủy ban đã soạn thảo và, thông qua Trung tâm Học liệu, ấn hành những tập đầu tiên trong lĩnh vực văn học và khoa học.[80] Trong những dự án đó Bộ cho in lại nguyên bản Truyện Kiều bằng chữ Nôm.

[sửa] Nhà giáo

[sửa] Đào tạo giáo chức

Trường Đại học Sư phạm thuộc Viện Đại học Sài Gòn

Trường Đại học Sư phạm Sài Gòn thuộc Viện Đại học Sài Gòn (thành lập vào năm 1957) là cơ sở sư phạm đầu tiên, bắt đầu khai giảng năm 1958.[81] Sau có thêm các trường cao đẳng sư phạm ở Ban Mê Thuột, Huế, Vĩnh Long, Long An, và Quy Nhơn[82] Nha Trang, Mỹ Tho, Cần Thơ, Long Xuyên.[83] Ngoài ra còn có Trường Đại học Sư phạm Huế thuộc Viện Đại học Huế và Trường Đại học Sư phạm Đà Lạt thuộc Viện Đại học Đà Lạt.[84] Vào thời điểm năm 1974, cả nước có 16 cơ sở đào tạo giáo viên tiểu học với chương trình hai năm còn gọi là chương trình sư phạm cấp tốc. Chương trình này nhận những ai đã đậu được bằng Trung học Đệ nhất cấp.[85] Hằng năm chương trình này đào tạo khoảng 2.000 giáo viên tiểu học.[86] Giáo viên trung học thì phải theo học chương trình của trường đại học sư phạm (2 hoặc 4 năm).[87] Sinh viên các trường sư phạm được cấp học bổng nếu ký hợp đồng 10 năm làm việc cho nhà nước ở các trường công lập sau khi tốt nghiệp.[88]

Nha Sư phạm (thuộc Bộ Văn hóa, Giáo dục và Thanh niên) và các trường sư phạm thường xuyên tổ chức các chương trình tu nghiệp và các buổi hội thảo giáo dục để giáo chức có dịp học hỏi và phát triển nghề nghiệp. Bộ Văn hóa, Giáo dục và Thanh niên cũng gởi gởi nhiều giáo chức đi tu nghiệp ở các nước như Anh, Pháp, Hoa Kỳ, Nhật, Đức, v.v…[84]

Đối với giáo sư đại học thì đa số xuất thân từ Viện Đại học Đông Dương ở Hà Nội từ trước năm 1954. Số khác được đào tạo ở Pháp, ĐứcMỹ. Vào năm 1970 tổng cộng có 941 giáo sư giảng dạy ở các trường đại học của Việt Nam Cộng hòa.[53]

[sửa] Đời sống và tinh thần giáo chức

Chỉ số lương của giáo viên tiểu học mới ra trường là 250, giáo học bổ túc hạng 5 là 320, giáo sư trung học đệ nhất cấp hạng 4 là 400, giáo sư trung học đệ nhị cấp hạng 5 là 430, hạng 4 là 470. Với mức lương căn bản như vậy, cộng thêm phụ cấp sư phạm, nhà giáo ở các thành phố thời Đệ nhất Cộng hòa có cuộc sống khá thoải mái, có thể mướn được người giúp việc trong nhà. Sang thời Đệ nhị Cộng hòa, đời sống bắt đầu đắt đỏ, vật giá leo thang, nhà giáo cảm thấy chật vật hơn, nhất là ở những thành phố lớn như Sài GònĐà Nẵng. Tuy vậy, lúc nào các nhà giáo cũng giữ vững tinh thần và tư cách của nhà mô phạm (người mẫu mực, người đóng vai trò hình mẫu), từ cách ăn mặc thật đứng đắn đến cách ăn nói, giao tiếp với phụ huynh và học sinh, và với cả giới chức chính quyền địa phương.[84]

[sửa] Thi cử và đánh giá kết quả học tập

Đề thi trắc nghiệm đã được sử dụng cho môn Công dân, Sử, Địa trong các kỳ thi Tú tài I và Tú tài II từ niên khóa 19651966. Đến năm 1974, toàn bộ các môn thi trong kỳ thi tú tài gồm toàn những câu trắc nghiệm. Các vị thanh tra trong ban soạn đề thi đều phải đi dự lớp huấn luyện về cách thức soạn câu hỏi, thử nghiệm các câu hỏi với trên 1.800 học sinh ở nhiều nơi, phân tích câu trả lời của học sinh để tính độ khó của câu hỏi và trả lời để lựa chọn hoặc điều chỉnh câu hỏi trắc nghiệm cho thích hợp.[26]

Đầu những năm 1970, Nha Khảo thí của Bộ Quốc gia Giáo dục đã ký hợp đồng với công ty IBM để điện toán hóa toàn bộ hồ sơ thí vụ, từ việc ghi danh, làm phiếu báo danh, chứng chỉ trúng tuyển… đến các con số thống kê cần thiết. Bảng trả lời cho đề thi trắc nghiệm được đặt từ Hoa Kỳ, và bài làm của thí sinh được chấm bằng máy IBM 1230. Điểm chấm xong từ máy chấm được chuyển sang máy IBM 534 để đục lỗ. Những phiếu đục lỗ này được đưa vào máy IBM 360 để đọc điểm, nhân hệ số, cộng điểm, tính điểm trung bình, độ lệch chuẩn, chuyển điểm thô ra điểm tiêu chuẩn, tính thứ hạng trúng tuyển v.v… Nhóm mẫu (sample) và nhóm định chuẩn (norm group) được lựa chọn kỹ càng theo đúng phương pháp của khoa học thống kê để tính điểm trung bình và độ lệch tiêu chuẩn.[26]

[sửa] Tổ chức quản trị

[sửa] Hệ thống quản trị giáo dục

Dưới thời Đệ nhất Cộng hòa, Bộ Quốc gia Giáo dục có Tổng Nha Trung Tiểu học và Bình dân Giáo dục phụ trách giáo dục tiểu học và trung học; đứng đầu là một Tổng Giám đốc. Tổng Nha này (văn phòng đặt tại số 7 đường Nguyễn Bỉnh Khiêm, Sài Gòn) bao gồm Nha Trung học, Nha Tiểu học, Nha Tư thục, Sở Khảo thí, và Ban Thanh tra và Soạn Đề thi. Ở địa phương, mỗi tỉnh có một Ty Tiểu học để quản lý tất cả các trường tiểu học trong tỉnh. Nhưng các trường trung học ở Sài Gòn và ở các tỉnh lỵ và quận lỵ đều làm việc thẳng với Nha Trung học ở Tổng Nha. Khi số trường trung học gia tăng quá nhiều thi Nha Trung học hoạt động không còn hữu hiệu nữa. Ở tại các tỉnh, hiệu trưởng trường trung học tỉnh lỵ kiêm luôn việc kiểm soát các trường bán côngtư thục khiến vị trí công việc này rất nặng nề.[89]

Bản đồ hành chính với địa giới các tỉnh của Việt Nam Cộng hòa và bốn khu học chánh (cũng tương ứng với bốn vùng chiến thuật)

Tháng 6 năm 1971, dưới thời Đệ nhị Cộng hòa, Bộ Quốc gia Giáo dục mở rộng thành Bộ Văn hóa, Giáo dục và Thanh niên (VH-GD-TN). Cơ quan đầu não của Bộ bào gồm: Một Tổng trưởng (ngày nay gọi là Bộ trưởng), một Thứ trưởng, và bốn Phụ tá đặc biệt (ngang hàng thứ trưởng) đặc trách Trung Tiểu học và Bình dân Giáo dục, Văn hóa, Thanh niên, và Kế hoạch. Điều hành văn phòng cơ quan đầu não có Đổng lý văn phòng (chức vụ này bị bãi bỏ từ năm 1974), Chánh văn phòng của Tổng trưởng, Chánh văn phòng của Thứ trưởng, Bí thư của Tổng trưởng, Bí thư của Thứ trưởng, Tham chánh Văn phòng của Tổng trưởng, các Công cán Ủy viên của Tổng trưởng, Thứ trưởng, Phụ tá đặc biệt, và một số Thanh tra đặc biệt tại Bộ.[89]

Tổng thư ký và Phó tổng thư ký của Bộ trông coi khối điều hành ở trung ương với 13 nha, 1 sở, và 1 trung tâm: (1) Nha Sưu tầm và Nghiên cứu Giáo dục, (2) Nha Kế hoạch và Pháp chế, (3) Nha Học chánh (tức là Quản trị Giáo dục), (4) Nha Sinh hoạt Học đường, (5) Nha Sinh hoạt Văn hóa, (6) Nha Sinh hoạt Thanh niên, (7) Nha Công tác Quốc tế, (8) Nha Sư phạm và Tu nghiệp, (9) Nha Khảo thí, (10) Nha Y tế Học đường, (11) Nha Nhân viên, (12) Nha Tài chính, (13) Nha Tạo tác (tức là Kiến thiết và Hậu cần), (14) Sở Văn thư, và (15) Trung tâm Học liệu. Thanh Tra Đoàn được lập ở trung ương, bên cạnh khối điều hành của Tổng thư ký. Tổng Nha Trung Tiểu học và Bình Dân Giáo dục được giải tán và tất cả các công việc thuộc Tổng Nha được đưa về Bộ và nằm dưới sự điều hành trực tiếp của Phụ tá đặc biệt đặc trách Trung Tiểu học và Bình Dân Giáo dục.[89]

Vào năm 1972, Bộ VH-GD-TN thiết lập 4 Khu Học chánh để đại diện cho Bộ ở 4 vùng chiến thuật (quân khu) để đôn đốc, kiểm soát và giúp đỡ công việc văn hóa, giáo dục, và thanh niên ở các tỉnh thuộc phạm vi quân khu của mình. Đây là một cơ quan hoạt động rất hữu hiệu. Tuy nhiên vì ngân sách eo hẹp và vì nhu cầu cải tổ công vụ trên toàn quốc nên Khu Học chánh bị giải tán sau hơn một năm hoạt động. Tại mỗi tỉnh, Bộ VH-GD-TN cho thiết lập một Sở Học chánh để phụ trách tất cả các công việc liên quan đến văn hóa và giáo dục trong tỉnh; Ty Tiểu học được sáp nhập vào Sở Học chánh. Bộ VH-GD-TN mong muốn rằng cơ quan học chánh ở mỗi tỉnh phải có địa vị quan trọng và càng ít bị áp lực của địa phương càng tốt cho nên đã nâng cơ quan này lên thành Sở. Tuy vậy, do tình hình đất nước, điều này không thể thực hiện được, và công cuộc cải tổ công vụ toàn quốc đã đưa đến quyết định chuyển Sở Học chánh thành Ty Văn hóa Giáo dục tại địa phương từ năm 1974. Trên toàn lãnh thổ Việt Nam Cộng hòa lúc này có 50 Ty Văn hóa Giáo dục đặt tại 48 tỉnh lỵ và 2 thị xã.[89]

Về mặt ngân sách vào thời điểm năm 1961 thời Đệ nhất Cộng hòa với ngân sách quốc gia là 15.276 triệu đồng, chính phủ chi 811,4 triệu cho ngân sách giáo dục; chính quyền địa phương góp 563,3 triệu đồng tính tổng cộng là 8,99% ngân sách quốc gia.[66]

Bộ Quốc gia Giáo dục còn điều hành Viện Khảo cổ và quản lý các viện bảo tàng quốc gia như Viện Bảo tàng Quốc gia Việt Nam ở Sài Gòn, Viện Bảo tàng HuếViện Bảo tàng Chàm.

[sửa] Giáo dục là của những người làm giáo dục

Việt Nam, ngay từ thời xa xưa, giáo dục là của những người làm giáo dục. Các vương triều của Việt Nam thường chỉ vạch ra những đường nét chung và những mục tiêu chung, kèm theo đó là tổ chức các kỳ thi để tuyển chọn người tài mà không trực tiếp can dự vào hoạt động giảng dạy của các cơ sở giáo dục. Sang thời Pháp thuộc, người Pháp lập ra một nền giáo dục mới, nhưng việc điều hành và soạn thảo chương trình vẫn được giao cho các nhà giáo được huấn luyện chuyên môn, dù là người Pháp hay người Việt.[90]

Đặc điểm trên được tôn trọng trong suốt thời Quốc gia Việt Nam của Cựu hoàng Bảo Đại và đặc biệt là thời Việt Nam Cộng hòa. Các chức vụ bộ trưởng hay tổng trưởng giáo dục có thể là do các chính trị gia hay những người thuộc các ngành khác đảm nhiệm, nhưng các chức vụ khác trong Bộ Giáo dục đều là những nhà giáo chuyên nghiệp đảm trách (ngoài trừ một số chức vụ có tính chất chính trị như đổng lý văn phòng, bí thư, v.v…). Họ là những người am hiểu công việc, có kinh nghiệm, giàu tâm huyết, và xem chính trị chỉ là nhất thời, tương lai của dân tộc mới quan trọng. Trong các cơ quan lập pháp, những người đứng đầu các ủy ban hay tiểu ban giáo dục của Thượng viện và Hạ viện đều là những nghị sĩ quốc hội xuất thân từ nhà giáo. Ngoại trừ ở những vùng mất an ninh, những gì thuộc phạm vi chính trị nhất thời đều phải ngưng lại trước ngưỡng cửa học đường.[90]

Riêng trong lĩnh vực giáo dục đại học, Điều 10 của Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa (1967) nêu rõ: Nền giáo dục đại học được tự trị.[2] Ở miền Nam trước 1975 không có “Bộ Đại học” cũng không có cơ quan chủ quản kiểu như Bộ Y tế quản lý các trường đại học Y-Dược. Trong ban lãnh đạo của Bộ Quốc gia Giáo dục của Việt Nam Cộng hòa có một thứ trưởng đặc trách giáo dục đại học. Công việc của vị này chủ yếu là lo về chính sách chung vì các viện đại học là cơ quan ngoại vi đối với Bộ ở trung ương. Về học vụ và điều hành, các cơ sở giáo dục đại học được tự trị. Các hội đồng ở cấp viện đại học và cấp trường đại học (hay phân khoa) có quyền thảo luận và quyết định mà không phải trình báo hay xin chỉ thị từ bất cứ ai.[46]

Về mặt tài chính, tuy các viện đại học công lập có ngân sách riêng nhưng đây là một phần của ngân sách chung thuộc ngân sách quốc gia và phải được Quốc hội chấp thuận. Tất cả các chi tiêu phải qua thủ tục “chiếu hội ngân sách” (“chiếu hội”=kiểm nhận) do Bộ Tài chính kiểm soát và thực hiện. Ngoài ra, giảng viên và nhân viên là công chức quốc gia. Việc tuyển mới, chuyển ngạch, bổ nhiệm, thăng chức, v.v… phải qua thủ tục “chiếu hội công vụ” do Phủ Tổng ủy Công vụ thực hiện để kiểm soát. Trong thực tế, thủ tục này được thực hiện một cách khá dễ dàng và nhanh chóng. Như vậy, về mặt tài chính các viện đại học công lập ở miền Nam không được nhiều quyền tự trị như các viện đại học ở Hoa Kỳ. Lý do của việc này là do các viện đại học này không thu học phí của sinh viên, không có nguồn thu riêng.[46]

[sửa] Các kỳ đại hội giáo dục quốc gia

  • Đại hội Giáo dục Quốc gia lần I: tổ chức ở Sài Gòn vào năm 1958. Triết lý giáo dục nhân bảndân tộckhai phóng được chính thức hóa ở hội nghị này.[91]
  • Đại hội Giáo dục Quốc gia lần II: tổ chức ở Sài Gòn vào năm 1964. Đại hội này tái xác nhận ba nguyên tắc căn bản nhân bảndân tộckhai phóng và tổ chức lại hệ thống học đường nhấn mạnh đến sự học tập liên tục từ lớp 1 đến lớp 12.[91]

[sửa] Một số nhà lãnh đạo giáo dục tiêu biểu

Trong suốt thời gian 20 năm tồn tại, các vị tổng trưởng (tức bộ trưởng) và thứ trưởng giáo dục của Việt Nam Cộng hòa đã có những ý tưởng, sáng kiến, và nỗ lực mang lại sự tiến bộ cho nền giáo dục ở miền Nam Việt Nam. Sau đây là vài nhà lãnh đạo tiêu biểu:[92]

[sửa] Trợ giúp của quốc tế

Cuốn tập đọc song ngữ Việt-Kơho do Bộ Quốc gia Giáo dục xuất bản năm 1959 với sự hợp tác của Phái bộ Kinh tế Hoa Kỳ

Những nỗ lực phát triển giáo dục của Việt Nam Cộng hòa nhận được sự trợ giúp của các tổ chức quốc tế và nhiều nước trên thế giới. Một vài ví dụ có thể kể đến: UNESCO giúp thiết lập một hệ thống các trường tiểu học cộng đồng. UNDP giúp đỡ trang thiết bị cho Trung tâm Quốc gia Kỹ thuật Phú Thọ. New Zealand xây dựng các tòa nhà cho Trường Đại học Khoa học thuộc Viện Đại học Sài Gòn. Pháp cung cấp nhiều giáo sư, trang thiết bị, khoản tài trợ giúp phát triển nhân sự, đặc biệt là trong lĩnh vực toán học hiện đại. Cộng hòa Liên bang Đức (Tây Đức) giúp xây dựng và cung cấp trang thiết bị cho một trường trung học kỹ thuật, ngoài ra còn hỗ trợ Trường Đại học Y khoa của Viện Đại học Huế, v.v…[95]

Phần lớn sự trợ giúp đến từ Hoa Kỳ. Trong đó có sự giúp đỡ trong việc ấn loát sách giáo khoa, xây dựng Trường Đại học Sư phạm của Viện Đại học Sài Gòn và các trường sư phạm khác ở các tỉnh, 11.000 phòng học trong các ấp chiến lược, 18 trường trung học kỹ thuật, một trung tâm y khoa cho Viện Đại học Sài Gòn, một trường sư phạm và cùng với nó là một trường trung học kiểu mẫu, một trường sư phạm kỹ thuật, một trường đại học nông nghiệp, một trường đại học kỹ thuật, một trung tâm hành chính cho viện đại học, v.v… Tất cả các chương trình này được thực hiện thông qua các nhóm chuyên gia gồm các giáo sư, nhà quản trị, và sinh viên của các viện đại học Hoa Kỳ.[95]

Đặc biệt là từ năm 1970 Bộ Quốc gia Giáo dục đã được trang bị máy chấm bài thi trắc nghiệm điện tử IBM thế hệ đầu của Mỹ. Đây là loại máy mà đến năm 2004 bộ giáo dục và đào tạo nước Cộng Hòa XHCN Việt nam bắt đầu sử dụng, chỉ khác là máy có thế hệ mới hơn. Điều này cho thấy nền giáo dục Miền Nam trước 1975 đã chấp hành khách quan trong vấn đề thi cử.

[sửa] Chữ viết

Vào thời đó, chính tả tiếng Việt khác với bây giờ ít nhiều. Điểm khác biệt gồm có việc dùng gạch nối “-” giữa các từ trong một từ kép, ví dụ như “ngân-hàng”, “Việt-Nam”. Cách viết tên riêng thì có khi viết thành “Nguyễn-văn-Mỗ” thay vì viết hoa mỗi chữ (Nguyễn Văn Mỗ). Những khác biệt này không phải do chính quyền tạo ra hay chỉ mới xuất hiện vào thời buổi đó mà đúng ra là tiếp nối cách viết từ thời tiền chiến.

[sửa] Đánh giá

Lời đánh giá về nền giáo dục Việt Nam dưới chính thể Việt Nam Cộng hòa trên trang mạng chính thức của Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Bình Định: “Sau khi Hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết, đế quốc Mỹ đã thay chân Pháp, nhảy vào miền Nam Việt Nam. Mỹ-ngụy đã cố sử dụng giáo dục làm công cụ xâm lược Việt Nam. Chúng đã gieo rắc trong học sinh, sinh viên tư tưởng hoài nghi, mơ hồ, tư tưởng an phận, sợ Mỹ, phục Mỹ. Chúng phát triển trong học sinh, sinh viên lối sống thực dụng, quay lưng với hiện tại, chấp nhận cuộc sống vị kỷ ương hèn… Mặt khác, Mỹ-ngụy tìm mọi cách tiêu diệt nền giáo dục cách mạng, tìm cách ngăn chặn, loại trừ những mầm mống cách mạng trong nhà trường.[96] Trong một giáo án về Lịch sử Giáo dục huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị: “Giáo dục Mỹ-ngụy tuy có phát triển về số lượng và có những cải cách nhất định, nhưng không thoát khỏi mục đích nô dịch, thống trị.[97]

Từ ngày 7 đến ngày 28 tháng 6 năm 1975 (tức là sáu tuần sau sự kiện ngày 30 tháng 4), Arthur W. Galston, giáo sư sinh học ở Viện Đại học Yale, viếng thăm miền Bắc Việt Nam (lúc đó vẫn là Việt Nam Dân chủ Cộng hòa). Theo tường trình của Galston cho tạp chí Science số ra ngày 29 tháng 8 năm 1975 thì một trong những chủ đề khiến các nhà lãnh đạo miền Bắc bận tâm vào lúc đó là vấn đề thống nhất với miền Nam. Theo tạp chí Science thì “Việc thống nhất trong lĩnh vực khoa học và giáo dục có lẽ sẽ có nhiều khó khăn vì hai miền đã phát triển theo hai chiều hướng khác nhau trong nhiều thập niên. Nhưng dù cho có nhiều khó khăn, Galston nhận thấy các nhà lãnh đạo miền Bắc công khai bày tỏ sự ngưỡng mộ đối với nhiều đặc điểm của nền khoa học và giáo dục ở miền Nam; họ dự định kết hợp những đặc điểm này vào miền Bắc khi quá trình thống nhất đang được thảo luận sôi nổi vào lúc đó thực sự diễn ra.” Theo Galston, các nhà lãnh đạo miền Bắc, cụ thể được nhắc đến trong bài là Nguyễn Văn Hiệu (Viện trưởng Viện Khoa học Việt Nam) và Phạm Văn Đồng (Thủ tướng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa), đặc biệt quan tâm đến hệ thống giáo dục nhấn mạnh đến các ngành kỹ thuậtđiện tử cùng hệ thống các trường đại học cộng đồng hệ hai năm đã được thiết lập ở miền Nam (nguyên văn tiếng Anh: “the widespread educational emphasis on engineering and electronics and the system of two-year, community colleges”).[98]

Lời chứng và đánh giá của ông Mai Thái Lĩnh, cựu sinh viên Viện Đại học Đà Lạt,[99] nguyên Phó Chủ tịch Hội đồng Nhân dân Thành phố Đà Lạt dưới chính thể Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam: “Tôi là con của một cán bộ Việt Minh – tham gia Cách mạng tháng Tám tại Lâm Đồng sau đó tập kết ra miền Bắc […] Chế độ Việt Nam Cộng hòa lúc đó biết lý lịch của tôi, nhưng vẫn không phân biệt đối xử, cho nên tôi vẫn có thể học hành đến nơi đến chốn. Tính chất tốt đẹp của nền giáo dục cũ của miền Nam là điều tôi công khai thừa nhận, vì vậy suốt 14 năm phục vụ trong ngành giáo dục “xã hội chủ nghĩa” (1975-1989), tôi bị người ta gán cho đủ thứ nhãn hiệu, chụp cho nhiều thứ mũ chỉ vì tôi nêu rõ những ưu điểm của nền giáo dục cũ cần phải học hỏi. Chính là do thừa hưởng nền giáo dục đó của miền Nam mà tôi có được tính độc lập trong tư duy, không bao giờ chịu nô lệ về tư tưởng…[cần dẫn nguồn]

[sửa] Xem thêm

[sửa] Chú thích

  1. ^ a b c Nguyễn Thanh Liêm (2006), tr. 24-26.
  2. ^ a b “Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa 1967”.
  3. ^ a b c Nguyễn Thanh Liêm (2006), tr. 19-21.
  4. ^ Nguyễn Thanh Liêm (2006), tr. 22-23.
  5. ^ Nguyen Van Canh, tr. 156
  6. ^ “Giáo dục Việt Nam Cộng hòa”. Truy cập 28 tháng 12 năm 2009.
  7. ^ Nguyễn Thanh Liêm (2006), tr. 54.
  8. ^ a b Nguyen Ngoc Bich, tr. 46.
  9. ^ a b c d e f Smith, Harvey et al. Area Handbook for South Vietnam. Washington, DC: US Government Printing Office, 1967. 146-56.
  10. ^ Sales, Jeanne M. tr 7
  11. ^ Smith, Harvey et al. tr 148
  12. ^ Nguyen Ngoc Bich et al., tr. 43.
  13. ^ a b Nguyen Ngoc Bich et al., tr. 47.
  14. ^ a b Nguyễn Thanh Liêm (2006), tr. 28-29.
  15. ^ Báo Người Việt: Giáo dục thời Việt Nam Cộng hòa”. Truy cập 28 tháng 12 năm 2009.
  16. ^ Masur, Matthew B., tr. 58.
  17. ^ Smith, Harvey et al., tr. 148.
  18. ^ Nguyen Ngoc Bich et al., tr. 43.
  19. ^ Nguyễn Thanh Liêm, tr. 28.
  20. ^ “Giáo dục thời Việt Nam Cộng hòa”. Truy cập 28 tháng 12 năm 2009.
  21. ^ “Lược sử Vovinam”. Truy cập 28 tháng 12 năm 2009.
  22. ^ “Nền giáo dục Phú Yên từ 1611 đến 1975” do Hội Đồng hương Phú Yên soạn
  23. ^ “Sơ lược về Trường Trần Bình Trọng Ninh Hòa”
  24. ^ “Phân ban trung học”. Vietnamnet. Truy cập 28 tháng 12 năm 2009.
  25. ^ Nguyen Thanh Liem (2006), tr. 32.
  26. ^ a b c Nguyễn Thanh Liêm (2006), tr. 38-44.
  27. ^ Smith, Harvey et al. tr 149
  28. ^ “Sự Giáo dục và Thi cử ở Việt Nam qua các thời đại, phần 7”. Truy cập 31 tháng 1 năm 2010.
  29. ^ “Xếp Hạng Trong Các Kỳ Thi Trung và Đại Học”. Truy cập 28 tháng 12 năm 2009.
  30. ^ “Nhớ lại trường trung học Hoàng Diệu, Ba Xuyên”. Truy cập 28 tháng 12 năm 2009.
  31. ^ Nguyễn Thanh Liêm (2006), tr. 189-198.
  32. ^ “Phát triển thư viện tại Miền Nam trước năm 1975”. Truy cập 28 tháng 12 năm 2009.
  33. ^ a b Nguyễn Thanh Liêm (2006), tr. 199-213.
  34. ^ Nguyễn Thanh Liêm (2006), tr. 284-285.
  35. ^ “Trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh”. Truy cập 10 tháng 2 năm 2010.
  36. ^ “Education – Vietnam”. Truy cập 31 tháng 1 năm 2010.
  37. ^ “Collège Fraternité”. Truy cập 28 tháng 12 năm 2009.
  38. ^ “Dòng La San”. Truy cập 28 tháng 12 năm 2009.
  39. ^ Smith, Harvey et al. tr 153
  40. ^ Nguyen Van Canh, tr. 157.
  41. ^ Nguyễn Thanh Liêm (2006), tr. 312-317.
  42. ^ “Gia đình Quốc gia Nghĩa tử”. Truy cập 28 tháng 12 năm 2009.
  43. ^ Press Information Office. Embassy of the Republic of Viet-Nam. News from Viet-Nam. Trang 9.
  44. ^ Giáo dục Việt Nam
  45. ^ Nguyễn Thanh Liêm (2006), tr. 174-175.
  46. ^ a b c Nguyễn Thanh Liêm (2006), tr. 168-169.
  47. ^ a b c d Nguyễn Thanh Liêm (2006), tr. 152-157.
  48. ^ The Higher Education System in Vietnam
  49. ^ “Đào tạo liên thông và chuyển tiếp của Trường CĐCĐ”. Truy cập 28 tháng 12 năm 2009.
  50. ^ “Về xu hướng hội nhập giáo dục đại học trên thế giới”. Truy cập 1 tháng 1 năm 2010.
  51. ^ “Báo cáo tổng hợp ý kiến thảo luận ở tổ của đại biểu quốc hội về Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục ngày 28 tháng 10 năm 2009 (mục 8)”. Truy cập 31 tháng 1 năm 2010.
  52. ^ Masur, Matthew B., tr. 61.
  53. ^ a b “Higher Education”. Viet Nam Magazine. Vol IV, No 5, 1971. tr 4-15
  54. ^ Sales, Jeanne M., tr. 8.
  55. ^ “Viện Đại học Đà Lạt giữa lòng dân tộc Việt Nam”. Truy cập 4 tháng 2 năm 2010.
  56. ^ a b “Hội thảo 300 năm Phật giáo Gia Định-Sài Gòn-Tp. Hồ Chí Minh”. Truy cập 4 tháng 2 năm 2010.
  57. ^ “Viện Đại học Vạn Hạnh”. Truy cập 28 tháng 12 năm 2009.[liên kết hỏng]
  58. ^ “Niên biểu An Giang qua các thời kỳ”. Truy cập 4 tháng 2 năm 2010.
  59. ^ “Giáo dục Văn hóa Cao Đài”. Truy cập 31 tháng 1 năm 2010.
  60. ^ “Viện Đại-học Cao-Đài: Chỉ-Dẫn (1971-1972)”. Truy cập 4 tháng 2 năm 2010.
  61. ^ “Viện Đại học Cao Đài”. Truy cập 4 tháng 2 năm 2010.
  62. ^ “Duyên Quốc gia Hành chánh…”. Truy cập 28 tháng 12 năm 2009.
  63. ^ Nguyễn Thanh Liêm (2006), tr. 171.
  64. ^ “Lần theo vết dấu…”. Truy cập 28 tháng 12 năm 2009.
  65. ^ “Lịch sử Học viện Quốc gia Hành chánh”. Truy cập 28 tháng 12 năm 2009.
  66. ^ a b “UNESCO Profile: Viet-Nam”. Truy cập 31 tháng 1 năm 2010.
  67. ^ “Đại học cộng đồng Tiền Giang”. Truy cập 28 tháng 12 năm 2009.
  68. ^ a b c “Community Colleges in Vietnam”. Truy cập 31 tháng 1 năm 2010.
  69. ^ “Đà Nẵng vang bóng một thời”. Truy cập 28 tháng 12 năm 2009.
  70. ^ “Nhà văn Hứa Hoành”. Truy cập 28 tháng 12 năm 2009.
  71. ^ “Trường Nông lâm súc”. Truy cập 28 tháng 12 năm 2009.
  72. ^ “Cựu học sinh Nông lâm súc tái ngộ”. Truy cập 28 tháng 12 năm 2009.
  73. ^ “Nhóm lợi ích công cộng… lưu vực sông Cửu Long”. Truy cập 28 tháng 12 năm 2009.
  74. ^ “Trường Đại học Nông lâm”. Truy cập 28 tháng 12 năm 2009.
  75. ^ “Quá trình thành lập Học viện Cảnh sát Quốc gia”
  76. ^ “Kỷ niệm 50 năm thành lập Trường Quốc Gia Âm Nhạc & Kịch nghệ Việt Nam”. Truy cập 28 tháng 12 năm 2009.
  77. ^ “Nghệ nhân Trần Kích khổ luyện và tài hoa”. Truy cập 28 tháng 12 năm 2009.
  78. ^ “Duyệt Thị Đường: Nhà hát cổ nhất Việt Nam”. Truy cập 28 tháng 12 năm 2009.
  79. ^ Masur, Matthew, tr. 57.
  80. ^ Nguyễn Thanh Liêm (2006), tr. 34.
  81. ^ “Lịch sử Đại học Sư phạm Sài Gòn”. Truy cập 28 tháng 12 năm 2009.
  82. ^ “Khoa Sư phạm”. Thế giới Tự do Số 4, Tập X. Sài Gòn: Sở Thông tin Hoa Kỳ, 1961. tr 34-5
  83. ^ “Những con đường dẫn vào tương lai…”
  84. ^ a b c Nguyễn Thanh Liêm (2006), tr. 135-138.
  85. ^ “Giáo dục thời Việt Nam Cộng Hòa”. Truy cập 28 tháng 12 năm 2009.
  86. ^ Nguyen Ngoc Bich. tr 46
  87. ^ Sales, Jeanne M. tr 9
  88. ^ “Trường Đại-học Sư-phạm Sài Gòn”. Truy cập 31 tháng 1 năm 2010.
  89. ^ a b c d Nguyễn Thanh Liêm (2006), tr. 44-47.
  90. ^ a b Nguyễn Thanh Liêm (2006), tr. 127-128.
  91. ^ a b Nguyễn Thanh Liêm (2006), tr. 136-138.
  92. ^ Nguyễn Thanh Liêm (2006), tr. 8.
  93. ^ Nhân vật lịch sử con người Đồng Tháp, Nguyễn Thành Giung
  94. ^ “Viện Việt-Học”. Truy cập 5 tháng 1 năm 2010.
  95. ^ a b Do, Khe Ba (1995), tr.9-10.
  96. ^ “Sở Giáo dục – Đào tạo Bình Định”. Truy cập 5 tháng 1 năm 2010.
  97. ^ “Thư viện Giáo án Điện tử”. Truy cập 5 tháng 1 năm 2010.
  98. ^ Deborah Shapley (tháng 8 năm 1975). “Science in Vietnam: The Postwar North Seeks American Assistance”. Science 189 (4204): 705-707. doi:10.1126/science.189.4204.705. http://www.sciencemag.org/cgi/content/citation/189/4204/705. Truy cập 5 tháng 1 năm 2010. “[Nguyên văn tiếng Anh đoạn trích dẫn]: In science and education, unification will probably be patchy at best, since the two countries have developed along different lines for decades. But despite a host of difficulties Galston found the leaders in the North to be openly admiring of many features of science and education in the South; they planned to incorporate them in the North when the much-discussed (but still not formalized) unification takes place.”.
  99. ^ “Kỷ niệm về một ngôi trường”. Truy cập 16 tháng 2 năm 2010.

[sửa] Tài liệu tham khảo

[sửa] Liên kết ngoài

 

Posted in Giao Duc | 1 Comment »

►Nhà cổ của ông Huỳnh Thủy Lê ở Sa Đéc

Posted by hoangtran204 trên 30/10/2010

 

THỨ SÁU 08 THÁNG MƯỜI MỘT 2013

M.Duras và “Người tình”: Từ huyền thoại đến sự thật

Căn nhà của bà Marguerite Duras tại Sa Đéc AFP /C. Boisvieux

Hè 03 tháng Sáu năm 1929, trên chuyến phà băng qua một nhánh sông Mêkông để đi về Sài Gòn, một nữ sinh trung học người Pháp tình cờ làm quen với một chàng công tử người Việt gốc Hoa, sống tại Sa Đéc. Người sau đó đã trở thành tình nhân của cô.

Mối quan hệ tình cảm này đã ghi lại một dấu ấn sâu đậm trong tâm hồn thiếu nữ và sau này trở thành nguồn cảm hứng cho ba tác phẩm văn học, làm nên tên tuổi nữ sĩ Pháp Marguerite Duras. Trong đó, tác phẩm “L’amant” (Người tình) đã đoạt giải Goncourt năm 1984, giải thưởng văn học danh giá của Pháp. Tác phẩm được đạo diễn Jean-Jacques Annaud chuyển thể thành phim cùng tên vào năm 1990.

Trong loạt bài mùa hè có tiêu đề « Những nhà văn Viễn Đông » của nhật báo Le Monde số ra trung tuần tháng Tám này, Bruno Philips, tác giả bài viết « ‘Marguerite Duras ở Sa Đéc’ : Những mối quan hệ nguy hiểm » đã có dịp quay lại vùng đất Nam Bộ năm xưa, tìm kiếm những vết tích còn đọng lại như để hiểu rõ thực tại trong toàn bộ không gian hư ảo của Duras. Cái « thực tại » mà Duras suốt cả cuộc đời mình luôn tìm cách chối bỏ. Và cả nghiền ngẫm nữa.

« Tôi phải nói gì với bạn đây, khi ấy tôi mười lăm tuổi rưỡi. Đó là chuyến phà băng qua sông Mêkông », câu mở đầu nổi tiếng của tác phẩm. Chính trên chuyến phà đó, mọi chuyện đã bắt đầu.

Con phà năm xưa giờ không còn nữa. Thấp thoáng xa xa là hình bóng cây cầu hiện đại, được khánh thành vào năm 2000, bắc qua một nhánh sông Mêkông mà người dân bản xứ gọi là « Cửu Long » tức chín con rồng. Dấu ấn còn lại của con phà năm xưa giờ chỉ là chiếc cầu kè bê-tông vẫn còn nằm trơ ra phía sông. Tuy cảnh vật có thay đổi chút với thời gian, nhưng không gian của Duras như vẫn còn đọng lại đó : cũng dòng sông nặng trĩu phù sa, cuồn cuộn chảy xiết, lu mờ dưới làn mưa không ngớt.

Đông Dương: điểm xuất phát cho sự nghiệp của Marguerite Duras

Phông cảnh nền đó đã được Jean-Jacques Anneaud tái hiện một cách trung thành trong bộ phim cùng tên, chuyển thể từ tác phẩm « Người tình » của Marguerite Duras. Người xem tại Việt Nam chắc cũng không khỏi ngỡ ngàng trước ống kính tài tình của đạo diễn, đưa một góc sông nước Hậu Giang hiện đại ngày nay trở lại với không gian Đông Dương những thập niên 20 của thế kỷ trước: một miền đất đậm chất Nam Bộ mộc mạc, giản dị của một thời còn là thuộc địa.

http://www.youtube.com/watch?feature=player_embedded&v=NNNQ4ztrEoI

Đây cũng chính là điểm xuất phát cho sự nghiệp văn chương của nữ sĩ Pháp Duras. Vùng đất Nam Bộ đó như là một phần xương thịt trong con người bà. Khi trả lời phỏng vấn nữ phóng viên người Ý, Leopoldina Pallota della Torre, Duras thổ lộ “Đôi khi tôi cũng nghĩ rằng sự nghiệp viết lách của tôi bắt đầu từ đó, giữa những cánh đồng, những khu rừng, và trong sự hiu quạnh. Có một đứa trẻ da trắng, gầy còm và lạc lõng mà người đó chính là tôi, giống người Việt hơn là Pháp, lúc nào cũng chân đất, không biết giờ giấc, không biết cách sống, thích ngắm chiều hoàng hôn trải dài trên sông, với khuôn mặt bị rám nắng”.

Trở lại với chuyến phà nối đôi bờ một nhánh sông Mêkông, nơi diễn ra buổi đầu gặp gỡ của đôi tình nhân. Có thể nói buổi gặp định mệnh đó chính là cột mốc quan trọng cho cả cuộc đời nữ sĩ. Nó ám ảnh, đeo đuổi dai dẳng trong tâm hồn Duras, đến nỗi mà trong vòng bốn thập niên liên tiếp bà có đến những ba phiên bản khác nhau cho cuộc phiêu lưu tình cảm đó: Un barrage contre le Pacifique (tạm dịch là Đập chắn Thái Bình Dương – 1950), L’Amant (Người tình – 1984, giải Goncourt cùng năm), cho đến L’Amant de la Chine du Nord (Người tình Hoa Bắc – 1991).

Nhân vật nam chính trên chuyến phà được bà tái hiện dưới ba nhân dạng khác nhau : Ông « Jo » da trắng trong tác phẩm đầu cho đến « công tử người Hoa », tình nhân không tên trong tác phẩm “Người tình”. Riêng đến tác phẩm thứ ba “Người tình Hoa Bắc”, nhân vật huyền thoại lại được phác họa dưới một góc cạnh rất là điện ảnh. Cũng chính là anh chàng đó, nhưng lại điển trai hơn và cao to hơn so với nhân vật chính trong L’Amant : một kẻ nghiện ngập, nhu nhược và biếng nhác. Và đây cũng chính là con người thật ở ngoài đời.

Theo nhà báo Laure Adler, người viết tiểu sử Marguerite Duras, nhân vật “công tử người Hoa” ngoài đời thật sự ra không mấy điển trai như nhân vật Léo trong tác phẩm thứ ba hay như trên phim. Anh ta thật sự rất giàu và rất lịch lãm, nhưng gương mặt xấu xí, bị hủy hoại vì căn bệnh đậu mùa. Thực tế này quả thật quá khác xa với những gì độc giả tưởng tượng, hay chí ít ra như những gì ta đã xem qua trong phim của Jean Jacques Annaud: một anh chàng cao to, gương mặt điển trai, lịch lãm với những cảnh ái ân nồng cháy, khát vọng nhục dục lồng trong một không gian lãng mạn đầy huyễn hoặc. Đây cũng chính là điểm bất đồng giữa nữ sĩ với đạo diễn. Annaud thì nghĩ đến việc khai thác câu chuyện tình giữa một cô gái Pháp mới lớn đầy khêu gợi với người tình gốc Hoa điển trai, trên một phông nền thuộc địa lãng mạn.

Marguerites Duras : “Người tình”, tiểu thuyết ba xu rẻ tiền !

Nhưng đối với Marguerite Duras, cả « Người tình » lẫn hai tác phẩm còn lại là những quyển tự truyện về chính cuộc đời bà, về tuổi thơ và tuổi trẻ của bà tại cựu thuộc địa Đông Dương, nơi bà được sinh ra và lớn lên, dù rằng cho đến lúc gần cuối đời bà cũng không bao giờ chịu nhìn nhận. Bà nhắc đi nhắc lại là « Người tình » chỉ là một câu chuyện giả tưởng. Cuộc phiêu lưu tình ái đó không bao giờ tồn tại. Sự phủ nhận của nữ sĩ mãnh liệt đến mức bà chối bỏ cả tuyệt tác của mình một năm sau khi xuất bản. Duras nói rằng: “ Người tình, chỉ là một quyển tiểu thuyết ba xu, rẻ tiền. Tôi viết nó trong một lúc say xỉn mà thôi”. Bởi vì Duras nghĩ rằng “chuyện đời bà chẳng có gì đáng để mà kể”.

Chính vì vậy, trong suốt tác phẩm « Người tình », các nhân vật chính là những kẻ vô danh, không tên gọi, được hiện ra dưới những cách gọi « cô gái » và « công tử người Hoa ». Trên chuyến phà ngày ấy, đưa « cô bé » đi về Sài Gòn, còn có « anh chàng người Hoa ». « Cô bé » đó không ai khác chính là nữ sĩ, khi ấy cũng vừa được 15 tuổi. Còn « chàng công tử người Hoa », ngoài đời tên thật là Huỳnh Thủy Lê, lúc ấy được 27 tuổi, là con trai của một điền chủ gốc Hoa sống tại Sa Đéc. Vào thời điểm đó, Marguerite Duras vừa đi thăm mẹ ở Sa Đéc về.

Ta không khỏi tự hỏi vì sao Marguerite Duras lại có những thái độ tiêu cực đối với đứa con đẻ tinh thần của mình đến như vậy. Bà đã mất tổng cộng bốn thập niên để mà thêu dệt nên ba tuyệt tác, trong đó tác phẩm « Người tình » đã đoạt giải Goncourt năm 1984, một giải thưởng văn học cao quý của Pháp, đưa tên tuổi của bà ra toàn thế giới. Tác phẩm « Người tình » đã được dịch ra 35 thứ tiếng và hơn 2,5 triệu bản đã được bán chạy.

Marguerite Duras: hiện thân của sự nổi loạn

Theo Bruno Philips, có lẽ chính vì tuổi thơ buồn tủi, đầy khó khăn, cô độc và thiếu vắng tình thương của gia đình đã dẫn nữ sĩ có những hành động « chối bỏ » kỳ quặc như thế. Sinh ngày 04/04/1914, tại Gia Định (tên cũ của Sài Gòn), Marguerite Donnadieu, tên thật của nữ sĩ, là đứa con gái duy nhất trong một gia đình có ba anh em. Thế nhưng, nữ sĩ lại sớm chịu cảnh mồ côi cha khi vừa được bốn tuổi. Mẹ bà một giáo viên tiểu học, trải qua nhiều nhiệm sở Hà Nội, Phnom Penh, Vĩnh Long rồi sau này là hiệu trưởng một trường nữ sinh tại Sa Đéc (giờ là trường Trưng Vương). Tuổi thơ của nữ sĩ hầu như trải qua tại Đông Dương, nhưng giữa sự hung bạo của người anh cả, sự lạnh lùng và những cơn điên loạn của bà mẹ bởi nỗi ám ảnh thiếu thốn tiền nong.

http://www.youtube.com/watch?feature=player_embedded&v=apdgsxdlZhw

Chính vì vậy, Duras cũng có lần nhìn nhận rằng lúc ban đầu khi bà đến với “chàng công tử” triệu phú người Hoa đó cũng chỉ vì tiền. Trong tác phẩm “Người tình”, Duras có nói rằng bà không bao giờ kể cho mẹ bà biết mối quan hệ vụng trộm này. Nữ sĩ nhận thức được rằng, đấy sẽ là một điều sỉ nhục cho gia đình, cho mẹ bà. Nhưng với bản năng của người mẹ, nên có lẽ mẫu thân nữ sĩ cũng có những nghi ngờ.

Đôi lúc bà vừa đánh đập cô con gái vừa gào thét « con gái bà là một con điếm, bà sẽ vứt cô ra ngoài, bà ước gì thấy cô chết bờ chết bụi và không ai muốn thấy cô nữa, cô ấy đã bị ô uế thanh danh, thà làm con chó còn hơn ». Trên thực tế, chưa bao giờ Duras được hưởng chút tình thương yêu của mẹ. Mọi tình thương và kỳ vọng mẹ bà đều dành trọn cho người anh cả, một kẻ hư hỏng, thô bạo, bê tha cờ bạc rượu chè, nghiện ngập, suốt ngày chỉ biết hành hung hai đứa em của mình.

Marguerite Duras : viết sách là để giải bày những điều thầm kín

Cuộc đời của Marguerite hầu như tan vỡ, sống không chủ đích. Cuộc phiêu lưu tình ái đó cũng phản ảnh phần nào tâm trạng nổi loạn của bà như để bù đắp lại khoảng trống tình thương trong tâm hồn. Tuy nhiên, cho dù cuộc tình đó nó có thật hay không, điều đó đối với nữ sĩ cũng không có chút tầm quan trọng nào. Nó chỉ là một công cụ để Duras có dịp khuất lấp sự thiếu thốn về tinh thần và vật chất.

Ngay từ đầu tiểu thuyết « Người tình », Duras đã viết rằng : « Sử dụng chuyện viết lách không chỉ nhằm tái hiện sự việc dưới dạng huyền thoại mà còn là cách để tiếp cận với nhiều điều khác nữa, vẫn còn ẩn náu trong sâu thẳm tâm hồn mù quáng […] ». Đúng như là lời giải thích của nhà văn Laure Adler, người viết tiểu sử về Marguerite Duras, tham vọng của tác phẩm thể hiện « ao ước được giải bày hơn là để mà tự kể về mình ».

Về phần nhân vật « người tình », các nhân chứng hiếm hoi mà Bruno Philips, phóng viên báo Le Monde may mắn gặp được tại Sa Đéc cho biết sau khi chia tay với người bạn tình Pháp, Huỳnh Thủy Lê phải nghe lời cha lấy một cô gái rất xinh đẹp, con của một điền chủ giàu có khác tại Tiền Giang, nhằm cứu rỗi kinh tế gia đình do làm ăn thất bại. “Người tình gốc Hoa” của bà sau khi đám cưới còn sống chung lén lút với người em vợ.

Sau thống nhất, Huỳnh Thủy Lê đã cùng gia đình di tản sang Mỹ. Vốn là người rất trọng truyền thống, trước khi mất ông có tâm nguyện muốn được chôn cất tại quê nhà Sa Đéc. Một người cháu của Huỳnh Thủy Lê buồn tủi cho tác giả Bruno Philips biết, các hậu thế trực tiếp của Huỳnh Thủy Lê hiện đều có cuộc sống giàu sang đây đó tại Mỹ hay Pháp, nhưng để ông mồ côi mả quạnh tại Sa Đéc, do vài đứa cháu nghèo khổ còn sót lại trông coi.

nguồn: viet.rfi.fr

Mời các bạn ghé qua trang dưới đây có nhiều bài rất hay  http://www.viet.rfi.fr/van-hoa/

 

———————————-

Nhà cổ của ông Huỳnh Thủy Lê ở Sa Đéc

Ghé thăm ngôi nhà “Người tình”

Nguồn

SGTT.VN – Tôi có dịp trở lại ngôi nhà của ông Huỳnh Thuỷ Lê lần thứ hai. Lần đầu chỉ được phép nhìn từ ngoài cổng bởi khi ấy nhà được chính quyền địa phương sử dụng làm trụ sở công an, lần này thì được vào trong xem kỹ từng chi tiết khắp nơi với sự giới thiệu tận tình của cô hướng dẫn viên du lịch sau khi mua tấm vé tham quan.

Bên trong nhà trang trí bao lam chạm khắc rất đẹp

Việc bán vé cho công chúng tham quan ngôi nhà cổ, theo tôi là hoàn toàn hợp lý. Tôi đã từng đặt ra vấn đề này và chia sẻ với những chủ nhân của các ngôi nhà cổ mà tôi ghé thăm. Thế nhưng hầu hết chủ nhân của những công trình nghệ thuật kiến trúc ấy đều e dè, liệu thu được bao nhiêu, lại mất công tiếp khách, kể lể những câu chuyện về ngôi nhà của cha ông mình. Ở nhiều nước hay ngay tại Mỹ, du khách muốn chiêm ngưỡng các công trình di sản kiến trúc cổ dù do tư nhân làm chủ hoặc nhà nước quản lý đều phải mua vé vào xem. Cách tổ chức và liên kết với các ngành chức năng như thế nào để phát huy giá trị công trình là một vấn đề cần nghiên cứu thêm. Gần đây, nhà cổ Bình Thuỷ ở Cần Thơ có bán vé cho du khách vào tham quan, xem ra cách làm này nên nhân rộng đối với các công trình được công nhận và xếp hạng kiến trúc nghệ thuật trong nước.

Thế nhưng nhà cổ Huỳnh Thuỷ Lê được nhiều du khách trong và ngoài nước đến xem không phải chỉ vì đó là di sản kiến trúc nghệ thuật của thành phố Sa Đéc, mà bởi sự nổi tiếng của nhân vật Huỳnh Thuỷ Lê được tái hiện qua bộ phim Người tình. Dưới các cảnh quay mượn bối cảnh ngôi nhà cổ Bình Thuỷ tuyệt đẹp trên những thước phim đã khiến du khách bốn phương tò mò muốn tìm hiểu về ngôi nhà người tình thật sự của nữ văn sĩ nổi tiếng người Pháp Marguerite Duras.

Năm người con ông Huỳnh Thủy Lê ngày còn bé, giờ hiện sống ở nước ngoài.

Ngôi nhà Huỳnh Thuỷ Lê có kiến trúc kiểu Hoa pha trộn đường nét trang trí kiểu Tây toát lên một vẻ đẹp lạ so với các ngôi nhà truyền thống Việt lai Tây ở miền Nam. Diện tích nhà không lớn, chia làm ba gian, phần ngoài thờ tự và tiếp khách, phần sau có hai phòng ngủ hai bên tạo một hành lang rộng dẫn xuống nhà dưới đã được xây lại. Việc xây dựng một vài công trình phụ bị thay đổi. Tóm lại chỉ còn ngôi nhà chính. Bên trong nhà, một vài vật liệu nội thất như gạch bông, kính màu được nhập từ Pháp, trần laphông gian giữa trang trí rồng, dơi. Gian giữa đặt một khám thờ Quan Công rất lớn (vị thần độ mạng của nam giới) như hầu hết các nhà người Việt gốc Hoa. Các bộ bao lam chạm trổ khá đẹp, sơn thâm thếp vàng tạo nên một không gian nội thất có màu sắc sinh động và nhờ ánh sáng từ cửa sổ hai bên, cửa trước, sau làm ngôi nhà sáng sủa hơn. Một số đồ nội thất hiện nay tuy không thuộc nguyên gốc của ngôi nhà nhưng được trang bị bổ sung như thế cũng đã là một sự đổi mới trong việc nhận ra giá trị của một công trình văn hoá kiến trúc vốn trước đây chưa được quan tâm đúng mức. Nghe đâu bà Huỳnh Thuỷ Tiên (con gái lớn của ông Huỳnh Thuỷ Lê) từ Mỹ về có ghé thăm và cho biết từng vật dụng nào được sắp đặt ở đâu trong ngôi nhà của cha ông mình tạo lập.

Tuy nằm trong một khuôn viên rộng rãi có sân trước và sau, nhưng nhà thiếu đi mảng xanh chung quanh vốn có ở miền sông nước Nam bộ. Sân trước ngay cổng vào chỉ còn kỷ niệm một cây sứ đại già cỗi, vài chậu kiểng dưới bậc tam cấp không đủ tạo nét duyên cho ngôi nhà. Hơn nữa vách tường của hai căn nhà cạnh bên chèn lên làm hẹp không gian hai bên hông. Cần có một giải pháp làm xanh chung quanh ngôi nhà để giảm thiểu tối đa những khuyết điểm và tăng tính thẩm mỹ cảnh quan. Việc bảo tồn không chỉ dành riêng cho bên trong bất kỳ ngôi nhà cổ nào mà cũng cần bảo tồn ngoại cảnh hoặc phục dựng thêm cảnh trí chung quanh, thậm chí tôn tạo cảnh quan gần khu vực, để nâng cao giá trị di tích kiến trúc.

Đứng trước cổng nhìn ra bến sông trước mặt, tôi mường tượng lại cảnh cũ người xưa. Lòng thấy vui khi nhận ra cảnh cũ, chợ xưa, nhà cổ còn đó. Đó chẳng phải là cái may mắn cho các thế hệ ngày nay có dịp đến xem, tìm hiểu nét đẹp trong nghệ thuật kiến trúc và trang trí nội thất trong các công trình cổ hiếm hoi còn tồn tại.

Phòng ngủ được bố trí hai bên phía sau, trang trí hoa văn dành cho các cô con gái.
Mặt tiền ngôi nhà Huỳnh Thuỷ Lê thiếu cây xanh và bị vách nhà hai bên áp sát
Kính màu nổi bật khi nhìn từ bên trong phòng ngủ. Hoa văn trang trí chạm nổi ở các ô hộc.
Rồng tạo tác từ thiếc sơn màu trang trí trên laphông trần

bài và ảnh: Ngô Kế Tựu

************************************************************************

Theo lời yêu cầu của một người tên là ngngoctran, nhận là tác giả của bài báo  Theo Dấu Người Tình (bạn đọc xem comment ơ phía dưới), bài này đã được gỡ bỏ bài và hình có cờ quạt vào ngày 26-3-2012. Mong bạn đọc thông cảm. Lời phê bình dưới đây là dành cho bài báo và 2 tấm hình trong bài ấy.

*Về lá cờ treo không đúng nơi ở một khu vực lịch sử.  Sự hiện diện của lá cờ treo ngay cổng ngôi nhà cổ có ý nghĩa cao quý hay nhằm để tôn vinh cái gì thì chưa biết, nhưng chắc chắn làm mất hết cảnh quan và phá vở kiến trúc hài hòa của ngôi nhà và làm nãn lòng du khách. Căn nhà cổ là một bất động sản của tư nhân, sự hiện diện của lá cờ cho biết là nhà nước đã chiếm hữu ngôi nhà này một cách bất hợp pháp. Thêm vào đó, hai căn nhà hai bên xây ép căn nhà cổ vào chính giữa đã làm giảm đi giá trị cảnh quan của khu du lịch này rất nhiều. Sự hiện diện của hai căn nhà hai bên tòa nhà cổ (theo nhiều bài báo khác cho biết là khu nhà này ngày xưa là biệt thự kiểu Pháp, và hai bên có đất rất rộng) đã phản ảnh sự chiếm đất đai một cách bất hợp pháp, sự chiếm đoạt này chắc chắn phải có bàn tay của chính quyền đã diễn ra sau 1975. (TH)

*Để thay cho 2 tấm hình có cờ quạt đã bị tác giả  bài báo”theo dấu Người Tình” (xem dưới phần comment) yêu cầu rút khỏi bài báo này và đáng ngac nhiên là tác giả cũng tự kiểm duyệt và rút 2 hình này khỏi mạng internet. Mời các bạn xem video dưới đây sẽ thấy lời phê bình “Về lá cờ treo không đúng nơi ở một khu vực lịch sử” có chính xác hay không…và phim này cho thấy vẫn còn có rất nhiều nhà cổ ở Sa Đéc.

—————————–

Kiến trúc cổ vùng đất phù sa mới

Đánh mất dần những báu vật

Thứ Hai, 25.10.2010 | 08:57 (GMT + 7)

Nếu cụ Nguyễn Du sống lại, ắt hẳn cụ cũng lại phải thốt lên trước cảnh người ta cư xử với những công trình kiến trúc cổ được xây dựng cùng thế kỷ với cụ trên đất đồng bằng. Do nghèo, do nhận thức, hay gì gì nữa mà người đồng bằng đang đánh mất dần những báu vật của tiền nhân để lại!

Đồng bằng Nam Bộ là vùng đất mới được bồi đắp bởi phù sa sông Cửu Long, nên được gọi là đất “phù sa mới”. Lịch sử khai phá vùng đất này mới chỉ trên dưới 300 năm. Hơn 100 năm đầu tổ tiên người đồng bằng phải tập trung khai phá rừng hoang thành ruộng đất, rồi lập làng, lập ấp, chưa xây dựng nổi những công trình bề thế, vì vậy mà những kiến trúc xưa nhất được ghi nhận ở đây cũng chỉ có tuổi 160 – 170 năm. Nền đất phù sa mới không vững chắc, khí hậu nơi đây lại ẩm thấp, rồi chiến tranh tàn phá… là những nguyên nhân làm cho các kiến trúc cổ ở đồng bằng còn rất ít. Xót xa hơn, khi chính bàn tay con người đang góp phần xoá dần những di tích lịch sử văn hóa còn sót lại nơi đây!   

Bài 1: Những điều trông thấy

Nỗi lòng một nhà văn

Long An là tỉnh thuộc loại nghèo kiến trúc cổ nhất đồng bằng, những công trình có tuổi trên dưới 100 chỉ đếm được trên đầu ngón tay. Cách đây 25 năm, khi về định cư ở Tân An, tôi rất thích ngôi nhà cổ “dinh Tổng Thận” nằm ngay trung tâm thị xã. Ngôi nhà bề thế này nổi tiếng không chỉ vì “cổ” và rất đẹp, mà còn do là di tích LSVH – nơi đặt cơ quan đầu não tỉnh Long An trong Cách mạng Tháng Tám và kháng chiến chống Pháp. Thỉnh thoảng tôi đến thăm bạn là nhà văn Mặc Tuyền đang sống tập thể nơi đây. Anh rất tự hào vì được sống (dù sống tập thể) trong ngôi nhà “có giá trị” nhất tỉnh Long An.

Dinh tỉnh Gò Công hiện đang dùng để nuôi chim yến.
Dinh tỉnh Gò Công hiện đang dùng để nuôi chim yến.

Ban đầu ngôi nhà cổ dinh Tổng Thận còn khá nguyên vẹn. Rồi những viên gạch bong ra, những tấm ngói bị bể, cửa sổ bị gãy bản lề… Rồi nhà bị dột nát, kết cấu gỗ bị mục gãy, anh bạn nhà văn phải dọn đi sống nơi khác. Mới đây, anh Mặc Tuyền đã thẫn thờ suốt mấy ngày khi chứng kiến cảnh người ta san bằng tòa nhà 117 năm tuổi để xây lại tòa nhà mới (theo mẫu cũ). Cách dinh Tổng Thận hơn trăm mét là một kiến trúc cổ khác – dinh tỉnh thời Pháp. Công trình này đã được trùng tu bằng cách xây đắp thêm cho thật giống với kiến trúc hiện đại, dùng làm trụ sở UBND tỉnh.

Cách đây 15 năm, cũng nhà văn Mặc Tuyền đã cộng tác với đạo diễn Lê Văn Duy làm bộ phim nhiều tập Nàng Hương, các anh đã chọn “xóm nhà giàu” (ấp Thanh Phú, xã Thanh Phú Long, huyện Châu Thành) làm cảnh quay chính, vì ở đó có những ngôi nhà cổ bề thế đúng “gu” các anh. Mới đây, khi trở lại thăm “chiến trường xưa”, anh Mặc Tuyền đã sững sờ khi chứng kiến cảnh đổ nát của các ngôi nhà cổ, thậm chí có ngôi không còn ai dám vào vì có thể sập bất cứ lúc nào.

Dinh Tổng Thận trước khi bị đập bỏ.
Dinh Tổng Thận trước khi bị đập bỏ.

Để hạn chế sự tàn phá của nắng mưa, ngành chức năng tỉnh Long An đã cho che mái tôn trùm lên ngôi nhà. Có thể chẳng bao lâu nữa các ngôi nhà này cũng chịu chung số phận với dinh Tổng Thận. Cũng tại Long An, người ta đã “nhẹ nhàng” tháo dỡ bán sắt vụn 2 cây cầu sắt do Hãng Eiffel xây dựng năm 1886 cho xe lửa Sài Gòn – Mỹ Tho chạy qua sông, mặc dù trước đó không lâu xe các loại vẫn có thể qua cầu. Một di tích khác có số tuổi trăm cũng đang “hấp hối” là đồn Rạch Cát, công trình phòng thủ bên sông Soài Rạp từng hiện đại nhất Đông Dương vào đầu thế kỷ trước.

Thôi rồi phố cổ Gò Công!

Tiền Giang là tỉnh còn nhiều kiến trúc cổ nhất đồng bằng. Vào năm 2002, Tổ chức JICA (Bảo tồn văn hóa và y tế) Nhật Bản đã khảo sát và ghi nhận còn 350 ngôi nhà cổ ở Tiền Giang, trong đó gần 2/3 ở thị xã Gò Công. Do là “gò” (vùng đất cao), cách không xa biển, nên Gò Công được các lưu dân miền Trung vào Nam khẩn hoang dừng chân khá sớm. Thị xã Gò Công ngày nay từng có tên “làng Thành Phố” cách đây khoảng 2 thế kỷ. Từ năm 1862, làng Thành Phố trở thành tỉnh lỵ của tỉnh Gò Công. Nhờ đó mà các công trình kiến trúc cổ được xây dựng dày đặc nơi đây. Thế nhưng, hầu hết nhà cổ ở Gò Công đều xuống cấp nặng và đang biến mất với tốc độ chóng mặt.

Tôi đã đứng thẫn thờ rất lâu trước “dinh tỉnh Gò Công”, một kiến trúc cổ thuộc loại đồ sộ nhất đồng bằng, đang “thoi thóp”. Nhìn tòa nhà hơn 110 năm tuổi đầy thương tích, tôi liên tưởng tới “dinh Tổng Thận” ở TP.Tân An, nó cũng từng mang hình hài như vậy trước khi bị phá bỏ.

Dẫu biết phải tốn cả đống tiền để trùng tu công trình đồ sộ này, nhưng chẳng lẽ đành bó tay đứng nhìn tòa nhà rệu rã. Cách “dinh tỉnh” vài trăm mét, tại giao lộ Hai Bà Trưng – Nguyễn Trãi là 2 ngôi nhà cổ thuộc loại lớn ở Gò Công, một sắp sụp đổ, còn một xuống cấp nặng. Cổ nhất ở Gò Công là ngôi nhà số 113 đường Nguyễn Huệ, được xây dựng năm 1852 và nó cũng đang “kêu cứu”. Cách đó không xa, nhà của ông Bùi Doãn Cung xây dựng năm 1895 có diện tích 300m2 cũng đang dột nát! Theo một cán bộ bảo tàng ở Gò Công, chỉ cách đây 10 năm trên nhiều tuyến đường trung tâm thị xã như Phan Bội Châu, Lý Tự Trọng còn rất nhiều nhà cổ. Bây giờ chỉ còn vài căn đã bị cắt xén 2 bên. Ý tưởng về một khu phố cổ ở trung tâm thị xã Gò Công coi như đã mất!

Cũng tại xứ Gò Công xưa (xã Đồng Thạnh – huyện Gò Công Tây), ba ngôi nhà lầu được xây dựng cách đây gần 100 năm cũng đang kêu cứu. Chủ nhân của những tòa nhà này đều là phụ nữ: Lầu bà Chín Đào, lầu bà Tám Huê và lầu bà Năm. Nơi đây từng là vùng đất giàu có, là quê hương của Nam Phương Hoàng hậu, những ngôi lầu cổ còn sót lại là chứng tích của một thời hoàng kim… Thế nhưng, những “cổ lâu” này đang bị sử dụng làm cơ quan, không được đối xử như di tích, để mặc nó xuống cấp.

Và phiên bản dinh Tổng Thận mới xây.
Và phiên bản dinh Tổng Thận mới xây.

Đệ nhất cổ lâu

Cũng nhà văn Mặc Tuyền đã khuyên tôi nên thu xếp đi về xã Đại Điền – huyện Thạnh Phú (Bến Tre) để thăm ngôi nhà cổ từng được mệnh danh “đệ nhất cổ lâu” ở đồng bằng, kẻo sau này phải tiếc vì không được 1 lần ngắm nhìn nó. Ngôi nhà được cất cách đây trên 110 năm, hình chữ nhật chu vi trên 100 mét. Hiện phần còn nguyên vẹn nhất là nền nhà cao 1 mét được viền bọc bởi những thớt đá xanh dài 3 mét gắn kết với nhau.

Sau bao năm chống chọi nắng mưa, ngôi nhà “đệ nhất cổ lâu” đang rệu rã! Muốn có tiền tỉ trùng tu ngôi nhà, trước hết nó phải được công nhận là di tích LSVH cấp quốc gia. Thế nhưng, từ năm 2002 tới nay mà hồ sơ đề nghị công nhận di tích vẫn chưa làm xong. Nguyên nhân: Chưa có sự đồng thuận trong dòng tộc chủ ngôi nhà; cần nhiều thời gian để vẽ chi tiết, nội thất ngôi nhà, làm hồ sơ… Trong 8 năm ấy, để bảo vệ ngôi nhà, Bảo tàng Bến Tre cho người đến xịt thuốc chống mối mọt. Số phận của ngôi “đệ nhất cổ lâu” này chưa biết sẽ ra sao.

Du khách trước dấu tích bộ phim “Người tình”.
Du khách trước dấu tích bộ phim “Người tình”.

Cũng liên quan tới chuyện không có sự đồng thuận của gia đình, có một chuyện buồn khác ở Tiền Giang. Ngôi nhà cổ ở xã Vĩnh Kim – huyện Châu Thành (của ông Trần Đình Túy – ông ngoại vợ Bác Tôn) được công nhận di tích LSVH cấp tỉnh do ghi dấu những sự kiện: Nơi Bác Tôn gái (cô giáo Đoàn Thị Giàu) trú ngụ thời trẻ; nơi tổ chức đám cưới Bác Tôn; nơi Bác Tôn hoạt động cách mạng giai đoạn 1921 – 1928;… Đặc biệt, ngôi nhà này còn là nơi cụ Nguyễn Sinh Sắc dừng chân cùng ông Trần Đình Túy bàn quốc sự. Vào năm 1986, ngôi nhà 5 gian này còn khá nguyên vẹn. Thế nhưng, sau đó nó dần bị hư mục, chủ nhà phải dỡ bỏ bớt 2 gian và hiện đang trong tình trạng xuống cấp nặng. Mái ngói âm dương đã bị bể nhiều, mưa dột nhiều nơi; một số cột gỗ dầu bị mục… Ngôi nhà hiện do người cháu đời thứ tư của ông Trần Đình Túy làm chủ.

Theo Sở VHTTDL Tiền Giang, cơ quan này đã gợi ý hỗ trợ tiền sửa chữa nhà 50 triệu đồng nếu gia đình tiếp tục ở trong ngôi nhà hoặc hỗ trợ toàn bộ kinh phí trùng tu nếu gia đình giao hoặc bán ngôi nhà cho Nhà nước. Nhưng chủ nhà không đồng ý. Vậy là ngôi nhà cổ cũng là di tích LSVH ấy cứ tiếp tục điêu tàn trước những toan tính.    

Kỳ Quan

nguồn báo Lao động

——————————-

Kiến trúc cổ vùng đất phù sa mới:

Theo dấu “Người tình”

Thứ Ba, 26.10.2010 | 07:21 (GMT + 7)

Để viết bài phóng sự này, tôi không thể không đến một nơi, đó là ngôi nhà cổ Bình Thủy (quận Bình Thủy, TP.Cần Thơ) của tộc họ Dương. Ngôi nhà được xây năm 1870, hiện là kiến trúc cổ bề thế còn nguyên vẹn nhất đồng bằng.

  Đánh mất dần những báu vật

Ngôi nhà này càng “nổi như cồn” khi được chọn làm cảnh quay chính cho bộ phim nổi tiếng “Người tình” (dựa theo tiểu thuyết cùng tên của nữ văn sĩ Marguerite Duras). Tại đây, tôi đã lờ mờ nhìn thấy lời giải cho câu hỏi: Làm sao cứu các kiến trúc cổ đồng bằng?

Báu vật chưa được khai thác

Ngôi nhà cổ đồ sộ Bình Thủy có lối kiến trúc pha trộn Đông – Tây vẫn còn khá nguyên vẹn và giữ nguyên hầu hết vật liệu, đồ đạc nguyên thủy, như: Gạch bông hoa hồng đỏ đen từ Pháp chuyển sang; bàn ghế từ Vân Nam – Trung Quốc… Ngôi nhà từng là bối cảnh cho hàng chục bộ phim nổi tiếng như “Những nẻo đường phù sa”, ”Người đẹp Tây Đô”, “Công tử Bạc Liêu”… Năm 1991, đạo diễn người Pháp JJ.Annaud từng ở trong ngôi nhà suốt một tuần để quay phim “Người tình”. Năm 2009, ngôi nhà được công nhận là di tích lịch sử văn hóa (LSVH) quốc gia.

Trong khoảng 2 giờ lưu lại nơi đây, tôi đếm được hơn 20 khách đến tham quan, chủ yếu là khách Châu Âu. Họ ngắm nghía thật kỹ các cổ vật và dừng lại lâu bên các dấu tích của bộ phim “Người tình”. Chị Julia Sanders cùng chồng đến từ nước Pháp cho biết, những người Pháp có quan tâm tới điện ảnh và không chỉ người Pháp, ai cũng muốn đến đây để có cảm giác sống với phim “Người tình”. Thế nhưng, theo chị, TP.Cần Thơ (và cả thị xã Sa Đéc – tỉnh Đồng Tháp) đang quá phí phạm “báu vật” mà lịch sử trao tặng. Chị nói: “Ở bên chúng tôi, chỉ cần một danh nhân lịch sử từng đến đâu đó ở một thời gian, là nơi đó trở nên khá giả nhờ khai thác du lịch”.

Khách du lịch nước ngoài tại nhà cổ Ba Đức.
Khách du lịch nước ngoài tại nhà cổ Ba Đức.

Tại nhà cổ Bình Thủy, không có bất cứ hoạt động gì gọi là “dịch vụ du lịch”. Chị J.Sanders cho biết, trước khi đến đây, vợ chồng chị đã đến tham quan nhà cổ tộc họ Huỳnh ở thị xã Sa Đéc. Chủ nhân của ngôi nhà 120 năm tuổi này (ông Huỳnh Thủy Lê) là nhân vật chính trong cuốn tiểu thuyết “Người tình”. Ngôi nhà đồ sộ còn khá nguyên vẹn này (di tích LSVH cấp tỉnh) là điểm đón khách nước ngoài hàng đầu ở đồng bằng, có ngày lên đến cả ngàn người. Thế nhưng, khách đến đây thường cũng về tay không, túi tiền vẫn còn nguyên.

Chủ ngôi nhà cổ Bình Thủy đang xin cùng Cty du lịch Cần Thơ mở dịch vụ ẩm thực trong khu di tích để phục vụ du khách những món ăn cổ thế kỷ 17 – 18, nhưng chưa được chấp nhận. Không có nguồn thu, chủ nhà chỉ có thể sửa chữa những hư hỏng nhỏ, còn sửa chữa lớn thì nhờ tiền nhà nước. Cả những di tích, những giá trị VHLS đã được “gắn sao” vẫn không thể tự “sống”, mà phải tiếp tục bám vào bầu sữa nhà nước, thì chúng chỉ còn nước cứ xuống cấp và biến mất dần!

Di sản UNESCO

Vài năm trở lại đây, những người quan tâm tới kiến trúc cổ và kinh doanh du lịch ở đồng bằng bỗng dồn sự quan tâm về xã Đông Hòa Hiệp – huyện Cái Bè – Tiền Giang. Một ngôi nhà “siêu cổ” ở đây khi sắp đổ sập, bỗng được phục hồi nguyên trạng, để rồi chủ ngôi nhà đang giàu lên nhờ kinh doanh du lịch trong ngôi nhà. Tôi tìm đến ngôi nhà này gặp lúc trời mưa, khá vất vả mới chạy xe gắn máy vào đến nơi. Vậy mà, khi tôi đến đã thấy hàng chục khách nước ngoài ngồi thưởng thức các món ăn dân dã ở “nhà dưới”. Cảnh ấy gợi trong tôi cái triết lý “hữu xạ tự nhiên hương”, khi mà tận “hang cùng ngõ hẽm” này khách du lịch nước ngoài vẫn đến nườm nượp (bằng đò), trong khi nhiều điểm du lịch cặp quốc lộ, gần thành phố thì vắng tanh.

Chủ nhà – ông Trần Tuấn Kiệt – cho biết, ngôi nhà được ông tổ xây dựng năm 1838, đến năm 2000 thì rệu rã, chuẩn bị đổ sập. Bất ngờ, năm 2002 Tổ chức JICA của Nhật Bản đến thăm, họ xin được nghiên cứu, khảo sát ngôi nhà. Năm 2003, JICA nhận tài trợ trùng tu ngôi nhà với chi phí hơn 1,8 tỉ đồng. Năm 2004 họ bàn giao lại cho chủ. Anh Kiệt nói: “Họ trùng tu theo quy trình rất nghiêm ngặt, giữ lại hầu hết hiện trạng, chỉ thay thế những bộ phận hư hỏng trên 90%. Đích thân kiến trúc sư Kaneda (Trường Đại học Nữ Chiêu Hòa, Nhật Bản) đã ở đây suốt 7 tháng để giám sát thi công”. JICA còn cất công làm hồ sơ để ngôi nhà được UNESCO công nhận là “di sản Châu Á – Thái Bình Dương”.

Nhà cổ “Đốc phủ Hải” (Gò Công) dùng làm nhà truyền thống.
Nhà cổ “Đốc phủ Hải” (Gò Công) dùng làm nhà truyền thống.

Bàn giao ngôi nhà đã được trùng tu, JICA cũng gợi ý chủ nhà cách thức làm du lịch để tạo ra giá trị, từ đó có điều kiện tu bổ ngôi nhà bền vững theo thời gian. Bây giờ vợ chồng anh Kiệt đã có “số má” trong làng du lịch tỉnh Tiền Giang. Anh luôn tìm tòi đầu tư những cái mới cho ngôi nhà, nhưng luôn bảo đảm nguyên tắc “như xưa”.

Cách ngôi nhà cổ “Tuấn Kiệt” chưa tới cây số là “nhà cổ Ba Đức”. Nhà được cụ Phan Văn Cương xây dựng năm 1850 hoàn toàn bằng gỗ, đến năm 1938 các vách gỗ quanh nhà được thay thế bằng tường. Ông Ba Đức – cháu đời thứ 6 của cụ Phan Văn Cương – cho biết: Căn nhà còn được nguyên vẹn như ngày nay là do gia đình ông quyết giữ lại di sản của cha ông. Ông đã sớm kinh doanh du lịch miệt vườn và đã thành công. Một người con của ông Đức học tiến sĩ ở nước ngoài đã giúp ông nhiều ý tưởng trong kinh doanh du lịch gắn với kiến trúc cổ. Hiện mỗi ngày ông đón 100 – 150 khách nước ngoài, nhiều người ngủ lại qua đêm, họ được phục vụ ăn uống như “thượng đế”. Ông Đức vừa được Tổ chức JICA đưa đi tham quan làng cổ Đường Lâm (Hà Nội) để chuẩn bị cho dự án làng cổ Đông Hòa Hiệp.

Mọi con đường đều dẫn tới du lịch

Thực ra, chuyện sử dụng kiến trúc cổ phục vụ du lịch đã được chính quyền tỉnh Bạc Liêu làm trước đó. Ngôi nhà của “công tử Bạc Liêu” từ lâu đã được làm nơi kinh doanh du lịch, nhờ đó mà tạo nên giá trị giúp tu bổ di tích này không bị xuống cấp. Nằm qua đêm trong phòng ngủ của công tử Bạc Liêu ngày nào chỉ với giá 350 ngàn đồng, tận hưởng cái cảm giác sống lùi gần 1 thế kỷ, tôi không biết phải cảm ơn ai: Công tử Bạc Liêu hay những người có ý thức gìn giữ ngôi nhà cổ này. Nhiều ngôi nhà cổ không hề “thua chị kém em” nhưng không được cư xử như vậy bởi nó đang thành công sở, nhà truyền thống… Với các nhà cổ mà người dân đang sở hữu, vấn đề nan giải hơn nhiều.

Đa số chủ nhà đều nghèo, dù tổ tiên họ từng là “ông hội, ông cả” giàu có (phải chăng vì “ai giàu ba họ”). Họ không có ý thức giữ gìn giá trị cổ và không có khả năng duy tu ngôi nhà. Đã có 1 lời giải: Kêu gọi sự trợ giúp quốc tế đầu tư trùng tu một lần, rồi giao lại cho chủ nhà, tạo điều kiện cho họ kinh doanh du lịch giúp họ có điều kiện bảo dưỡng ngôi nhà bền vững theo thời gian. Còn có kênh trợ giúp nào khác “bắt sóng” được tiếng kêu cứu của hàng trăm kiến trúc cổ đồng bằng? Thời gian không chờ đợi ai cả, thời gian càng nghiệt ngã với các công trình kiến trúc cổ trên đất phù sa mới. Đó đây đã bắt đầu xuất hiện những công trình mới xây dựng “giả cổ”, không khéo con cháu người đồng bằng sau này sẽ có “cái thú” chiêm ngưỡng đồ giả!

Kỳ Quan

Nguồn: báo Lao Động

Posted in Nhan Vat | 1 Comment »

Kiến Nghị “Dừng ngay dự án bô-xít” có gì mới?

Posted by hoangtran204 trên 30/10/2010

Một người 84 tuổi mà suy luận sắc bén còn hơn tất cả những người hiện đang làm việc trong chính quyền.

http://tohair.multiply.com/journal/item/22

HAI ÔNG THỨ TRƯỞNG VÀ BỘ TRƯỞNG TIẾT LỘ CÁI….. AI CŨNG BIẾT!

NHƯNG…CHẲNG AI DÁM VIẾT VÀI LỜI

(ENTRY TĂNG NĂNG XUẤT)

Cho đến hôm nay, con số người ký tên vào kiến nghị “Dừng ngay dự án bô-xít” có gì mới? Vì tò mò, tớ hay vào mạng để nắm được tình hình cái sự đời này nó tiến triển đến đâu? Liệu “phe ta có thắng phe họ”nhờ mỗi ngày lại có thêm các nhà khoa học,có thêm nhiều giáo sư ,tiến sỹ “thứ thiệt “đồng lòng ký tên không? Giới trí thức,văn hoá nghệ thuật có thêm ai “dám liều mạng” tham gia cái vụ “kiến nghị (khiếu kiện) đông người”mà nhà nước “không công nhận không? để thấy cái điều ký rồi mà vẫn bi quan không tin tưởng của tớ  vào tác dụng của ba cái chữ ký lẻ tẻ của bọn không thức thời này không?

Tớ mong vào cái sự “nghi ngờ chủ nghĩa”của tớ ,lần này sẽ….thất bại thì….hay tuyệt vời! Nhất là :khi thấy con số người ký tên hôm nay đã vượt qua con số 2200. Hơn thế nữa cuộc thăm dò qua mạng của “Dân Trí” đã đưa ra những con số và biểu đồ khá phấn khởi. Cho tới hôm nay (27/10/2010).Tỷ lệ người yêu cầu dừng ngay đã là 92% ,số đồng ý “cứ tiếp tục” là 6%, Còn lại 2% là ý kiến khác(?).

Danh sách  kiến nghị từ hai hôm nay đã bớt các vị “nguyên” mà các vị  giáo sư,tiến sỹ….nhà báo  tại chức đã chiếm một tỷ lệ khá cao…Riêng con số “nhát sỹ” thì đã tăng lên con số 5 (Tiếc rằng mấy ông tiến sỹ-giáo-sư,nghệ sỹ nhân dân ,giải thưởng HCM, giải thưởng nhà nước”cùng các ông tên tuổi nổi như cồn qua các thời đại đều vẫn… lặn mất tăm!).Tớ mong dự đoán bi quan của tớ lần này sẽ…thất bại cho toàn dân được nhờ là thế đấy! Thế nhưng…..

THẤY GÌ QUA NHỮNG TRANH LUẬN CÔNG KHAI?

._Nói cho ngay chứ từ thời tớ vô tình chui vào cái nghề Tuyên và Giáo cho đến khi về vườn năm 1986,chưa bao giờ tớ được chứng kiến một cuộc phản biện -phản -phản- biện công khai và ngoạn mục,ngoạn nhĩ đến như thế.Tớ cứ như thời nhỏ ngồi hoan hô hai đô vật đang cố lật đối phương “lấm lưng, trắng bụng”…và chẳng may, một lần một đô vật xứ Hà Đông vật ngửa đô vật xứ Thái Bình, rồi liền đứng lên vênh vang chống nạng 2 tay ngang hông  đón nhận những tiếng vỗ tay và….  những tiếng cười sặc sụa của khán giả .!…Nhà đô vật thắng trận không hiểu sao hôm nay mình được hoan hô và lại bị cười lâu như thế, anh ta cúi nhìn xuống thì…trời đất ơi ! cái khố che cu của anh ta đã bung ra từ lúc nào! Thì ra, đô vật xứ Thái Bình thua, vì nhịn cười không được, đã sơ hở nên bị một miếng đòn bất ngờ nên thua oan là như thế đó….

Trở lại các cuộc “đấu vật bằng lý lẽ ,bằng dẫn chứng khoa học, kinh tế ,xã hội ,an ninh quốc phòng”….tớ thú thật tớ vẫn chỉ là cậu bé xem đấu vật nhân ngày cát-tó-duy-dê (14/7 quốc khánh “nước mẹ”) cách đây đã…78, 79 năm.Chẳng dám “tham ra ,tham vào!”,chẳng biết  bô-xít, bô-xịt, a-lú–mi-na , a-lũ-mi-nà  nó ra làm sao mà dám nói leo,nói lẻo,nói lèo…

Ấy vậy mà,chưa bao giờ tớ chịu khó đọc những bản phản biện và biện hộ cho cái vấn đề sẽ tốn tiền,  sẽ nguy hiểm ,thậm chí có vị còn cho là “một vụ Vinashin thứ hai về kinh tế”…”một tai hoạ sẽ giáng xuống cả nhiều vùng dân cư” gồm cả nơi tớ đang chiếm 52 mét vuông này. Tớ sợ quá…sợ quá và đọc mãi, đọc mãi đến loạn cả óc …Rồi cuối cùng cũng tìm ra được cái mà chưa vị nào, dù đã ký tên chung hay gửi thư riêng dám nói trong kiến nghị hay thư riêng. Đó là : AI LÀ KẺ ĐƯA RA CÁI CHỦ TRƯƠNG PHIÊU LƯU, CHẾT NGƯỜI NÀY?

Và đây :
Một thứ trưởng và một bộ trưởng tại chức nói lên cái SỰ THẬT mà chẳng ai dám đề cập :

1-/Thứ trưởng Bộ Công Thương kiêm chủ tịch Hội Đồng Quản Trị TKV Lê Dương Quang,người trực tiếp chỉ đạo vụ Bô-Xít này từ đầu đã làm lộ “cái cần phải giấu”:

Sau khi trình bày rất nhiều lý lẽ “cần phải tiếp tục”,ông đã trả lời trên “Tuổi trẻ online” là tốn kém và  hiểm hoạ bùn đỏ sẽ an toàn hơn, kinh tế hơn nếu đưa ra gần biển…Nhưng…BỘ CHÍNH TRỊ YÊU CẦU ĐỂ TRÊN TÂY NGUYÊN VÌ ĐỂ TRÊN TÂY NGUYÊN CÓ NHIỀU YÊU TỐ KHÁC NỮA..(!?!?) [1]

Rõ ràng ông Quang hoặc lỡ lời hoặc cố tình đá quả bóng trách nhiệm cho Bộ Chính Trị chứ ông không phải là đối tượng cho các thứ phản biện tùm lum hiện nay.

2-/Ông bộ trưởng Phủ Thủ Tướng Nguyễn Xuân Phúc khi trả lời câu hỏi “chính phủ có đặt lại vấn đề ngừng bô-xít mà các nhà trí thức nhân sỹ kiến nghị” không” “thì đã trả lời “khôn”hơn là “sẽ”,là “đang nghiên cứu”…Nhưng ông cũng lại lộ ra rằng “việc này cần phải xin ý kiến Bộ Chính Trị!”

Thế là rõ !Mục tiêu cần phải tập trung vào để yêu cầu giải đáp đã có địa chỉ. Vì sao?Tại ai? Dựa vào đâu? mà các vị cứ lẳng lặng có một chủ trương lớn ký kết với nước ngoài mà không ai biết?,vì sao lại “chia nhỏ dự án” để khỏi phải thông qua quốc hội ? ,biến một kế hoạch vĩ đại và chết người thành chuyện đã rồi ?vv…và vv….Toàn là những phản biện chết người mà các vị cũng như cái thằng tớ,kể cả các vị lãnh đạo cao nhất đố ai dám giải thích, nói rõ cái YẾU TỐ RIÊNG mà ông Quang để lộ ra.!

Vì lẽ đó ,dù danh sách ký tên ngày càng dài, dù thăm dò dư luận có đến 99,% không đồng tình thì ai dám phản đối và bắt Bộ Chính Trị nói ra cái lý do đã phải rước quả bom bùn đỏ treo lên Tây Nguyên. Và …..cuối cùng thì đúng như lời ông Đủ ,đại biểu QH- giám đốc CA nơi treo “quả bom bùn đỏ nổ chậm” !”Cứ thế mà làm”…Ai phản đối là bọn “tự diễn biến”,bọn chống phá”,bọn thù địch tuốt!.

Riêng tớ thì tớ chẳng có gan và trình độ mà phản bác đến tận các vị quyền cao chức trọng đến thế.Chỉ xin có một  sáng kiến vui thế này: Làm thêm một khu resort cao cấp trên Tây Nguyên,mời tất cả những ông ủng hộ khai thác bô-xít Tây Nguyên,nhất là mấy ông ‘khoa- học gia- nhà- nước” (kiểu ông Phạm khôi Nguyên,”bảo đảm an toàn trên lý thuyết”) sau khi về hưu ,hãy đưa cả gia đình lên đó sinh sống nhường lại chỗ ở cho cánh tớ,dân “sắp xuống lỗ vẫn thèm được sống” được di cư về Hà Nội, để làm gương. Liệu có dám không nào ?

 

————————

[1] http://vn.news.yahoo.com/tto/20101024/tpl-du-an-boxit-neu-chinh-phu-bao-dung-c-ef16c59.html?printer=1

Dự án bôxit: Nếu Chính phủ bảo dừng, chúng tôi sẽ dừng

Tuổi Trẻ Online

Tuổi Trẻ Online – Thứ Hai, 25/10

TT- – TT – Dù khẳng định hoàn toàn yên tâm về hai dự án bôxit bởi đã tính hết các yếu tố đảm bảo an toàn cho hồ chứa bùn đỏ song ông LÊ DƯƠNG QUANG, thứ trưởng Bộ Công thương kiêm chủ tịch HĐQT Tập đoàn Công nghiệp than – khoáng sản VN (TKV), cũng cho rằng nếu Chính phủ bảo dừng thì dự án sẽ được dừng.

>> Dự án bôxit: Nếu không an toàn thì dừng

Trao đổi với Tuổi Trẻ, ông Quang nói:

– Ngay sau sự cố tại Hungary, bộ đã triệu tập TKV, các đơn vị tư vấn để họp bàn, sau đó yêu cầu TKV thực hiện quy trình thi công hồ chứa bùn đỏ hết sức nghiêm ngặt để đảm bảo chất lượng, đồng thời yêu cầu bổ sung ngay một số giải pháp.

Bộ cũng yêu cầu rà soát thiết kế kỹ thuật dù trước đó đã có một hội đồng thẩm định làm rất kỹ. Lần này để khách quan, bộ yêu cầu TKV tìm một tư vấn nước ngoài thẩm định độc lập lại. Đặc biệt, bộ đề nghị TKV nghiên cứu sử dụng số bùn đỏ thải ra vì hiện đã có nghiên cứu đưa thành công phụ gia vào bùn đỏ để sử dụng làm vật liệu xây dựng đường sá, đê kè…

* Thưa ông, vấn đề dư luận rất quan tâm là sự an toàn các hồ chứa bùn đỏ của hai dự án tại Tây nguyên?

– Hồ sẽ được nạo sạch lớp đất màu ở đáy, sau đó đổ đất sét (là một lớp chống thấm) và lèn chặt lại. Trên lớp đất sét rải hai lớp vải địa kỹ thuật. Giữa hai lớp vải có một lớp màng polymer chống thấm. Phía trên ba lớp này đổ một lớp cát thô dày khoảng 0,6m, sau đó mới thải bùn đỏ lên trên. Khi nào bùn đầy thì phủ tiếp một lớp chống thấm là màng polymer hoặc đất sét.

Bên trên lớp chống thấm sẽ phủ đất và trên cùng là lớp đất màu vét dưới đáy hồ. Ở lớp đất này sẽ trồng rừng hoặc trồng cỏ. Tất nhiên bây giờ chưa thành hình nên không ai thấy nhưng thiết kế là thế.

Hồ được chia thành tám khoang ngăn cách, không thông nhau. Khi thải bùn vào khoang thứ nhất thì khoang ngay kề sẽ sẵn sàng để nếu mưa lũ to thì bùn có chỗ tràn, không tràn ra ngoài. Trường hợp xấu nhất vỡ đập thì bùn tràn vào ô bên cạnh. Cứ lần lượt, xong ô nào thì lấp ô đấy.

Toàn bộ mặt hồ sau khi làm xong sẽ thấp hơn mặt bằng nhà máy khoảng 2-4m và thấp hơn so với địa hình trung bình của xung quanh khoảng 6m.

Hồ nằm trong một thung lũng có ba mặt được bao kín bởi đồi núi. Mặt thông ra ngoài sẽ làm một con đê lớn, bề mặt làm giống hệt đáy hồ. Ngoài cùng còn một con đường và đấy cũng là một con đê để ngăn bùn tràn.

* Người ta lo ngại những biến động của thiên nhiên sẽ làm vỡ hồ?

– Đúng là dù công trình đã tính toán chịu được động đất cấp 8, cấp 9 và dù vùng đó thống kê không có động đất mức độ đó nhưng không ai nói trước được rủi ro. Nguy hại nhất là nếu vỡ đập thì trong bùn vẫn còn một lượng kiềm hòa ra, ngấm xuống đất, đổ vào sông, về lý thuyết có thể có mặc dù chưa ai đánh giá cụ thể thế nào.

Nhưng nếu đã lên đó nhìn tận mắt, được xem xét tất cả tính toán, giải trình thì rất yên tâm về hồ chứa bùn đỏ.

Chúng tôi đã tính hết, chẳng có đường nào để bùn đỏ thoát ra. Nó nằm trong thung lũng, xung quanh là đồi núi. Rất nhiều người nghĩ nó giống như đập thủy điện ở trên cao, vỡ thì không có cách nào chống đỡ nhưng đây là bùn đặc, vỡ hồ cũng chẳng chảy đi đâu được. Tất nhiên, chúng tôi vẫn tính rủi ro nên trong vòng bán kính 2km của hồ sẽ không có dân sống.

Còn nói Tây nguyên cao 800-900m so với đồng bằng nghe có vẻ kinh khủng nhưng có phải dốc dựng đứng đâu.

* Thưa ông, tại sao không áp dụng phương pháp thải khô để xử lý bùn đỏ, ít nguy hại hơn so với thải ướt?

– Mỗi phương pháp đều có cái hay, cái dở. Thật ra trước đây đã tính kỹ lắm nhưng địa hình tự nhiên, tức là thung lũng thì cho phép áp dụng phương pháp thải ướt. Thứ hai, ở Tây nguyên mưa nhiều, dùng phương pháp thải khô thì khô xong gặp mưa cũng lại thành bùn ướt vì không thể nào cho bùn khô vào trong nhà có mái được.

Khi mùa nắng, bình thường ở Tây nguyên đã bụi rồi nên dùng phương pháp thải khô không phù hợp. Nhưng giờ chúng tôi tính phương pháp thải khô cho Nhân Cơ để cho hết nhẽ. Nếu giả sử sau này áp dụng thải khô thì mùa khô bụi bặm bay lên vẫn phải tìm cách tưới ướt, che chắn nên phải tính để có giải pháp.

* Thưa ông, bộ có tính đến việc dừng dự án như kiến nghị của nhiều nhà khoa học, nhà trí thức?

– Việc này đã có chủ trương của Bộ Chính trị, sau đó là Chính phủ và được tính toán rất nhiều nên bộ chưa có chủ trương dừng mà ngược lại đang đôn đốc để đẩy nhanh dự án Tân Rai vì dự án vào càng nhanh sẽ càng chóng đem lại hiệu quả. Hiện đã có một số khách hàng của Ả Rập, Nhật Bản, Trung Quốc đặt vấn đề mua alumin. Ngoài ra, TKV đã bàn với đối tác bên Nga để đem alumin sang thuê họ luyện nhôm cho mình.

Còn bây giờ nếu Chính phủ bảo dừng thì chúng tôi dừng.

* Nếu bộ thấy những kiến nghị dừng dự án của các nhà khoa học hợp lý thì bộ có thể đề xuất Chính phủ xem xét chứ?

– Chúng tôi hoàn toàn tin tưởng vào dự án và không kiến nghị dừng lại. Chẳng hạn có người nói chuyển nhà máy xuống bờ biển. Vấn đề này trước đây cũng đã tính. Về mặt kỹ thuật cũng như kinh tế thì đưa xuống bờ biển là hợp lý nhất.

Nhưng Bộ Chính trị yêu cầu để trên Tây nguyên vì không chỉ là yếu tố kinh tế mà còn cả yếu tố xã hội. Để nhà máy trên đó giúp phát triển Tây nguyên. Chính vì thế nên hiệu quả kinh tế không cao và giờ thêm khảo sát, thuê tư vấn xem xét lại, tính thêm phương pháp thải khô… thì chưa biết sẽ tác động đến hiệu quả thế nào, chắc chắn chỉ tác động xấu đi thôi.

* Một số ý kiến cho rằng nhà máy Nhân Cơ chỉ mới khởi công, chưa xây dựng nhiều thì dừng lại sẽ tốt hơn?

– Nếu dừng Tân Rai thì thiệt hại kinh khủng vì nhà máy gần xong, còn dừng Nhân Cơ chuyển xuống biển thì hoàn toàn có thể làm được, có điều phải tính toán lại toàn bộ. Và không làm ở Nhân Cơ vẫn tốn kém vì dù sao cũng bỏ tiền vào đấy rồi, toàn bộ mặt bằng đã san, công việc bắt đầu triển khai cũng được 8-9 tháng.

* Thưa ông, dù sao nếu điều đó đáp ứng được yếu tố an toàn, hiệu quả kinh tế thì cũng cần thiết hơn tiếp tục mà sau này sẽ xảy ra sự cố?

– Nhà máy đặt gần biển hay trên núi đều phải an toàn như nhau. Đặt dưới biển mà hồ chứa bùn đỏ vỡ thì ảnh hưởng trực tiếp đến người dân ít hơn nhưng lại ô nhiễm biển. Thế nên đặt ở đâu cũng phải an toàn tối đa. Còn về tuyệt đối thì thật ra đến nhà máy điện nguyên tử cũng có thể nổ được.

Về kinh tế thì đúng là đặt gần biển lợi ích hơn rất nhiều. Đặt trên núi phải chở các thứ đến cảng, từ cảng vận chuyển lên Tây nguyên, sau đó lại chở alumin về dưới cảng. Nhưng như tôi đã nói, việc đặt nhà máy ở Tây nguyên còn có các yếu tố khác nữa.

* Ông nghĩ sao khi các nhà khoa học muốn có cuộc đối thoại với các cơ quan thực hiện dự án để Chính phủ có cơ sở đưa ra quyết sách đúng?

– Chúng tôi sẵn sàng vì đấy là cơ hội để mọi người hiểu về dự án. Chúng tôi đã báo cáo Chính phủ về bùn đỏ, giờ đang chuẩn bị báo cáo giải trình thư kiến nghị mới đây. Chúng tôi cũng muốn những thông tin này được gửi cho các đại biểu Quốc hội để họ biết.

KHIẾT HƯNG thực hiện

* Ông Nguyễn Khắc Vinh (chủ tịch Tổng hội Địa chất VN):

Phải dừng lại để đánh giá tác động

Nếu xảy ra vỡ hồ chứa bùn đỏ ở Tây nguyên sẽ rất nguy hiểm, vì chất bùn đỏ sẽ thẩm thấu vào tất cả lớp đất đá trong khu vực Tây nguyên và ảnh hưởng đến đầu nguồn hệ thống sông Đồng Nai. Nếu xảy ra trường hợp như vậy thì hàng triệu người dân sẽ bị ảnh hưởng bởi các hóa chất độc hại từ các mỏ bôxit.

Do đó, đây là thời điểm cần tạm dừng khai thác bôxit để nghiên cứu thật kỹ về những tác hại và lợi ích của nó. Phải dừng và đưa các chuyên gia giỏi vào nghiên cứu, đánh giá mọi tác động của vấn đề bôxit đến con người, báo cáo trình trước Quốc hội xem xét và có quyết định cuối cùng.

Thứ trưởng Lê Dương Quang có thể nói về vấn đề an toàn nhưng ở đây phải để cho các nhà khoa học nghiên cứu, có số liệu xác thực mới nói được, mới kết luận được an toàn hay không.

* TS Lê Huy Minh (phó viện trưởng phụ trách Viện Vật lý địa cầu):

Tây nguyên có một số đứt gãy khá lớn

Viện Vật lý địa cầu không thấy có cơ quan nào tham khảo ý kiến khi xây dựng bể chứa bùn đỏ tại các dự án khai thác bôxit ở Tây nguyên. Do đó chúng tôi không biết họ xây dựng các công trình ở đây với mức kháng chấn như thế nào, theo cỡ động đất cấp mấy để nói có chắc chắn hay không.

Trong khu vực Tây nguyên có một số đới đứt gãy khá lớn, tuy không bằng khu vực phía Bắc hay ngoài khơi Vũng Tàu nhưng cũng có nguy cơ ảnh hưởng đến khu vực.

M.QUANG ghi

 

———

http://sgtt.vn/Thoi-su/131590/Lang-nghe-y-kien-nhan-si-tri-thuc-ve-du-an-boxit.html

Bộ trưởng, chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc:

Lắng nghe ý kiến nhân sĩ trí thức về dự án bôxít

SGTT.VN – Văn phòng Chính phủ sẽ tập hợp những ý kiến về dự án bôxít và báo cáo Chính phủ trong thời gian tới. Chúng ta phải lắng nghe tất cả ý kiến của mọi tầng lớp nhân dân, nhất là nhân sĩ trí thức…”, chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc cho biết.

 

Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc.

“Chúng tôi đang tập hợp tất cả ý kiến để báo cáo bộ Chính trị, Quốc hội. Chúng ta phải lắng nghe tất cả ý kiến của mọi tầng lớp nhân dân, nhất là nhân sĩ trí thức để thảo luận, bàn bạc, dân chủ để quyết định cuối cùng đưa ra đạt được mục tiêu hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trường. Lo ngại của nhân sĩ trí thức là cần thiết và chúng ta phải lắng nghe, nhưng kết luận cuối cùng thì cần phải thời gian”. Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc, đại biểu Quảng Nam, nói về việc các nhân sĩ trí thức có thư kiến nghị về dự án khai thác bô-xít ở Tây Nguyên.

Cũng theo ông Phúc, vấn đề này đã được thảo luận nhiều lần, nhưng sau sự cố tràn bùn đỏ xảy ra ở Hungary thì có thêm nhiều ý kiến đóng góp. Văn phòng Chính phủ sẽ tập hợp hết ý kiến và báo cáo Chính phủ trong thời gian tới. Ông Phúc cũng nhận định: “Tại kỳ họp này, chắc chắn sẽ có nội dung chất vấn về bôxít và các thành viên Chính phủ sẵn sàng trả lời trên tinh thần có công nghệ thiết bị để đảm bảo an toàn môi trường, hiệu quả kinh tế”.

Trả lời câu hỏi của báo chí: “Nếu còn quá nhiều băn khoăn hoặc những giải trình của Chính phủ chưa thỏa mãn, Chính phủ có tính đến việc tạm dừng dự án bô xít không?”, ông Phúc cho biết: “ Dự án bôxít đã được trung ương Đảng, Chính phủ, Quốc hội thông qua. Việc dừng hay không là một vấn đề lớn, nên sẽ được Trung ương, Chính phủ, Quốc hội sẽ xem xét cụ thể sau”. Bộ trưởng cũng khẳng định, nhà nước của chúng ta là do dân, vì dân, do đó khi người dân có ý kiến, nhà nước luôn lắng nghe.

Trước đó, rất nhiều nhân sĩ, trí thức, trong đó có những người giữ các chức vụ cao tiếp tục gửi kiến nghị đến các cấp lãnh đạo cao nhất đề nghị dừng triển khai dự án bô xít Tây Nguyên.

Nguyên phó chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình, nguyên thứ trưởng bộ TN&MT Đặng Hùng Võ, chuyên gia kinh tế như Phạm Chi Lan, nhà nghiên cứu Trần Đức Nguyên, giáo sư Chu Hảo, Giáo sư Hoàng Tụy… cùng nhiều nhân vật nổi tiếng khác, đã ký vào văn thư kiến nghị này.

Nội dung bản kiến nghị khẩn thiết đề nghị Bộ Chính trị, Quốc hội và Chính phủ 5 vấn đề:

1/ Quyết định cho dừng ngay việc xây dựng nhà máy chế biến alumina ở Tân Rai (Lâm Đồng) để nghiên cứu tiếp cách xử lý.

2/ Tạm hủy dự án đang đàm phán tiếp với đối tác nước ngoài về Nhà máy Nhân Cơ ở Đắc Nông.

3/  Tạm đình chỉ việc triển khai toàn bộ tổng dự án hiện thời về việc khai thác bôxíte ở Tây Nguyên để tổ chức nghiên cứu lại một cách khoa học và nghiêm túc.

4/ Lập nhóm nghiên cứu độc lập để nghiên cứu lại toàn bộ về dự án.

5/  Trình bày các kết quả nghiên cứu này trước Quốc hội và trưng cầu dân ý để quyết định.

Theo quan điểm của nhóm các nhân sĩ, trí thức là do hiệu quả kinh tế-xã hội không cao, vấn đề môi trường và vấn đề an ninh quốc phòng ở nơi thực hiện các dự án đều chứa đựng nhiều cảnh báo. Sự cố bùn đỏ ở Hungary, đất nước có công nghiệp luyện nhôm hàng trăm năm đang là một bài học đắt giá cho quá trình đầu tư các dự án tại Việt

Xuân Thu

Posted in Bauxite, Chinh Tri Xa Hoi | 1 Comment »

Ông Triết đòi Myanmar thả nhà Dân Chủ Aung San Suu Kyi

Posted by hoangtran204 trên 29/10/2010

Chủ tịch Nguyễn Minh Triết công khai kêu gọi phóng thích nhà dân chủ Miến Điện bà Aung San Sui Kyi, vậy thì  các nhà hoạt động dân chủ ở  VN đang bị ở tù có được hay sẽ được ông  Triết CÔNG KHAI kêu gọi đảng phóng thích không?

TT Aquino và Chủ Tịch nước Nguyễn Minh Triết tham gia kêu gọi phóng thích bà Aung San Suu Kyi

Người dịch Trần Hoàng

HÀ NỘI, Việt Nam – Tổng thống Aquino và đối tác là Chủ Tịch nước Nguyễn Minh Triết đã cùng nhau tham gia kêu gọi chính quyền quân phiệt cai trị Miến Điện trả tự do cho bà Aung San Suu Kyi đúng vào lúc có các cuộc bầu cử toàn quốc vào ngày 7 tháng 11 năm nay, đây là cuộc bầu cử đầu tiên trong 20 năm qua.

“Chúng tôi đã đấu tranh cho sự an toàn và mục đích của bà Aung San Suu Kyi trong một thời gian rất, rất dài. Tiền đề cơ bản là sự ổn định (bên trong) của Miến Điện là một những quốc gia thành viên của ASEAN … dẫn đến sự ổn định trong khu vực ASEAN, “ông nói với các phóng viên ở đây dựa trên Manila.

Tổng thống Aquino cho biết trái tim anh hướng về bà Suu Kyi. Ông là người con trai của biểu tượng dân chủ, bà cựu Tổng thống Cory Aquino đã qua đời (2009) và Thượng nghị sĩ Benigno Aquino Jr bị thảm sát (vào 1983), cuộc đấu tranh của Thượng nghị sĩ nhằm chống lại nhà độc tài  Ferdinand Marcos đã dẫn đến sự hồi phục của nền dân chủ vào năm 1986,

“Năm tới sẽ là kỷ niệm 25 năm ngày cách mạng của việc nắm quyền lực của nhân dân chúng tôi. Chúng tôi đã thành công trong một sự chuyển đổi (từ độc tài đến dân chủ)  tương đối hòa bình. Vì vậy, chúng tôi sẽ nhắc nhở họ về những lời hứa đã được thực hiện cách đây khá nhiều năm, “ông nói tại Grand Plaza Hotel ở Hà Nội.

Theo Bộ trưởng ngoại giao Ricky Carandang, đang có mặt tại cuộc họp của hai nguyên thủ quốc gia, ông Aquino và nhà lãnh đạo Việt Nam đã “đồng ý rằng Miến Điện nên làm nhiều hơn để hướng về dân chủ.”

Trước đó, Bộ Ngoại giao Phi Luật Tân cho biết TT Aquino đã kêu gọi chính quyền quân phiệt đang cai trị Myanmar để hổ trợ lời cam kết của họ dành cho một nền dân chủ toàn diện (ở Miến Điện). Chính quyền Miến Điện hiện đang tổ chức các cuộc bầu cử quốc gia vào ngày 7 tháng 11, là cuộc bầu cử lần đầu tiên trong hai chục năm qua.
TT Aquino cũng sẽ kêu gọi sự phóng thích vô điều kiện tất cả các tù nhân chính trị, trong đó bao gồm người đoạt giải Nobel Hòa bình và cũng là nhà thủ lĩnh của phong trào dân chủ bà Suu Kyi “như là một cử chỉ thiện chí,” Bộ Ngoại Giao Phi Luật Tân đã cho biết.

Chính quyền quân đội Myanmar đã bỏ tù nhiều ngàn người dân trong nỗ lực để đè bẹp tất cả các quan điểm bất đồng chính kiến, mà nổi bật nhất trong số đó là bà Aung San Suu Kyi, người đã được xem là nhân vật chính của niềm hy vọng và thay đổi tại Myanmar, một quốc gia Đông Nam Á trước đây đãđược gọi là Miến Điện.

Aung San Suu Kyi, đồng sáng lập Liên đoàn Quốc gia vì Dân chủ (NLD), một đảng chính trị ủng hộ dân chủ tìm cách để chống lại chính quyền quân sự Myanmar đã và đang cai trị từ năm 1962.

Năm 1990, đảng Quốc gia vì Dân chủ NLD đã thắng gần 80 phần trăm số ghế tại quốc hội trong cuộc bầu cử toàn quốc. Ngạc nhiên với chiến thắng to lớn đó, chính quyền quân sự đã từ chối chuyển giao quyền lực cho bà Aung San Suu Kyi và đảng Quốc gia vì Dân chủ NLD, và bỏ tù rất nhiều nhà hoạt động chính trị.

Trong 14 năm của 20 năm qua, bà Aung San Suu Kyi đã phải trải qua cuộc giam giữ không chính thức, bị quản chế tại nhà và hạn chế sự đi lại.Bà hiện đang tiếp tục bị quản thúc tại gia ở Yangon.

Tổ chức Ân xá quốc tế đang đòi hỏi (chính quyền Myanmar) về sự phóng thích ngay lập tức và vô điều kiện cho bà Aung San Suu Kyi và tất cả các tù nhân lương tâm khác tại Myanmar.

@Trần Hoàng 2010
DCVOnlineTin AP 

ASEAN ép Myanmar thả Aung San Suu Kyi

HÀ NỘI, Việt Nam ‒ Giới ngoại giao của các quốc gia vùng Đông Nam Á đòi Myanmar trả tự do cho biểu tượng dân chủ Aung San Suu Kyi trước khi cuộc bầu cử của nước này vào tháng tới, trong khi Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc cảnh báo hôm thứ Năm rằng giam giữ hàng ngàn tù nhân chính trị bị có thể phá hủy sự tín nhiệm của cử tri.

Bất chấp áp lực không ngừng, quan chức Myanmar đã không có câu trả lời rõ ràng về số phận của Suu Kyi, người đã ngồi tù hay bị giam tại nhà suốt 15 năm trong 21 năm.

Tuy nhiên, Myanmar đã xác nhận rằng người lãnh đạo quân đội, Than Shwe, sẽ không tranh cử trong cuộc bầu cử ngày 7 tháng 11 vì chế độ quân phiệt đã cố gắng trình diện một hình ảnh mới cho thế giới tại hội nghị thượng đỉnh khu vực đã khai mạc hôm thứ năm tại Việt Nam.

Tổng thư ký LHQ Ban Ki-Moon nói với Associated Press rằng bằng cách thả người bất đồng chính kiến đang bị giam giữ, Myanmar có thể tạo ra một “ấn tượng rằng cuộc bầu cử này sẽ toàn bộ hơn,” ngay cả khi nó đã quá muộn cho những người bất đồng chính kiến ra ứng cử hoặc đi bỏ phiếu.

Chính quyền quân phiệt ở Myanmar đã ban hành luật ngăn bà Suu Kyi và các tù nhân chính trị khác được tham gia tranh cử. Như vậy chỉ còn một đảng được ủng hộ của nhóm quân phiệt có những ứng cử viên sáng giá, giới phê bình hàng đầu cáo buộc chế độ độc tài này đã xếp đặt để đảm bảo rằng quân đội sẽ vẫn nắm chính quyền.

“Nếu không trả tự do cho tất cả các tù nhân chính trị, sau đó chắc chắn có thể sẽ có một số vấn đề về tính hợp pháp hoặc độ đáng tin (của kết quả bầu cử),” TTK Ban Ki-Moon nói với AP trong một cuộc phỏng vấn tại Phnom Penh, Campuchia.

Ông nói như thế trước khi bay đến Hà Nội, nơi ông gặp tướng Thein Sein, Thủ tướng Myanmar bên lề hội nghị thượng đỉnh. Mặc dù Thein Sein đại diện cho Myanmar tại các hội nghị quốc tế, nhưng ông đã có luôn luôn phải nhận lệnh của Than Shwe.

Quan chức của Myanmar từ chối xác nhận trực tiếp việc bà Suu Kyi sẽ không còn bị quản thúc tại gia khi bị hết hạn giam giữ vào ngày 13 tháng 11.

“Bây giờ vào thời gian này tôi mạnh mẽ sẽ khuyến khích chính quyền Myanmar rằng không phải là quá trễ – ngay cả vào thời điểm này – để phóng thích tất cả tù nhân chính trị để cuộc bầu cử Ngày 7 tháng 11 có thể được toàn diện hơn và có sự tham dự nhiều hơn nữa, và đáng tin cậy,” ông Ban Ki-Moon nói.

Trong một cuộc họp với Thủ tướng Myanmar, Tổng thống Philippines Benigno Aquino III ép chính quyền Miến Điện lập tức thả bà Suu Kyi, phát ngôn viên của tổng thống Philippine, Ricky Carandang, cho biết. “Không có cam kết và Tổng thống, có thể nói, đã thất vọng vì không có được câu trả lời,” ông Carandang cho hay.

“Này ông Than Shwe, thả bà Aung San Suu Kyi ngay đi chứ!”
Nguồn: DCVOnline tổng hợp 


Mặt khác, theo Delon Porcalla của tờ The Philippine Star thì ông Nguyễn Minh Triết cũng nhất trí với Tổng thống Aquino đòi Miến Điện lập tức trả tự do cho bà Aung Sang Sui Kyi. Giới quan sát đã đặt câu hỏi có phải đây là lúc Việt Nam đang thức để canh giữ hoà bình thế giới hay chỉ là loạt trình diễn sau cùng của ông Triết trước khi về nghỉ hưu sau Đại hội sắp tới của Đảng Cộng Sản Việt Nam.

Bộ trưởng Ngoại giao Indonesia, Marty Natalegawa, cho biết Myanmar cũng không phản đối tin bà Suu Kyi chỉ bị chính quyền Myanmar giam giữ đến khi kết thúc cuộc bầu cử, ngụ ý cho rằng có thể bà ấy có thể sẽ được thả.

Tại Washington, phát ngôn viên Bộ Ngoại giao P.J. Crowley bác bỏ ý kiến cho rằng bà Suu Kyi sắp được thả báo hiệu điều gì mới lạ, đây chỉ là chuyện thường ngày ở huyện của chế độ (độc tài này).

“Đây là chỉ là một vận động hèn mạt của Miến Điện,” Crowley nói. “Thật là thuận tiện cho họ với gợi ý rằng bà ấy có thể được thả sau một cuộc bầu cử không công bằng, tự do hoặc đáng tin cậy.”

Đảng của bà Suu Kyi tẩy chay các cuộc bầu cử, cho là là không dân chủ sau khi giành được thắng lợi vẻ vang dội trong cuộc bầu cử sau cùng tại Miến Điện vào năm 1990. Chính quyền quân phiệt từ chối không chấp nhận kết quả đó.

Ngoại trưởng Philippines Alberto Romulo cho biết Bộ trưởng Ngoại giao Myanmar, Nyan Win, tuyên bố rằng người đứng đầu chính quyền quân phiệt Than Shwe sẽ không có tên trên lá phiếu – xác nhận đầu tiên cho hay tướng Than Shwe sẽ không tham gia vào cuộc tranh cử năm nay. Tuy nhiên, người ta tin rằng Than Shwe sẽ có một vai trò mới sau cuộc bầu cử.

“Ai chẳng biết mánh khoé của họ. Ông ấy (Than Shwe) sẽ được bầu làm Tổng thống, tôi gần như chắc chắn,” Romulo nói.

Chính quyền quân phiệt đã cai trị Miến Điện suốt 50 năm qua, đã cố gắng để đưa vào một khuôn mặt mới tại cuộc họp ở Hà Nội, ra mắt một lá cờ mới và đặt quốc hiệu mới – tên cũ là “Liên minh Myanmar” nay là nước “Cộng hòa Liên minh Myanmar.”

Những thay đổi đó chỉ để che dấu những thiếu sót của cuộc bầu cử người ta đã chờ đợi từ lâu, giới phê bình nhận định.

Một vấn đề khác cũng quan trọng trong chương trình nghị sự hội nghị thượng đỉnh liên quan đến việc tranh chấp lãnh thổ trên biển giữa Trung Quốc và các nước láng giềng.

Trung Quốc tuyên bố chủ quyền trên toàn bộ biển phía Nam Trung Hoa, nhưng một phần của vùng biển này cũng được một số nước láng giềng Đông Nam Á tuyên bố có chủ quyền, trong đó có Việt Nam. Trung Quốc gần đây đã đụng độ với Nhật Bản về một vụ va chạm tàu ở Biển Đông Trung Quốc, làm căng thẳng quan hệ và đưa đến những cuộc cuộc biểu tình chống Nhật Bản.

Chủ tịch nước và Quốc trưởng của các quốc gia trong khối ASEAN ‒ Brunei, Campuchia, Indonesia, Laos, Malaysia, Myanmar, Philippines, Singapore, Thái Lan và Việt Nam ‒ cùng với các nhà lãnh đạo từ Australia, Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản, Hàn Quốc, New Zealand, Nga và Hoa Kỳ sẽ tham dự hội nghị thượng đỉnh.

© DCVOnline


Nguồn:
ASEAN presses Myanmar to free Aung San Suu Kyi. By JIM GOMEZ and VIJAY JOSHI, Associated Press Jim Gomez And Vijay Joshi, Associated Press.
Aquino, Vietnam leader join calls to free Aung San Suu Kyi. By Delon Porcalla (The Philippine Star) Updated October 28, 2010

Posted in Chinh Tri Viet Nam, Nhan Vat Chinh tri | Leave a Comment »

Đài Loan hợp pháp hoá Mãi Dâm

Posted by hoangtran204 trên 26/10/2010

Đài Loan hợp pháp hoá một nghề nghiệp xấu xí

Submitted by TongBienTap on Mon, 10/25/2010 – 11:58

Nguồn: Jens Kastner, Asia Sentinel

Diên Vỹ, X-Cafe chuyển ngữ

22.10.2010

Luật mới biến gái mãi dâm thành những nữ tiểu thương

Kể từ đầu năm tới, hai qui định mới gây tranh cãi mà chính phủ Quốc Dân Đảng của Đài Loan đã đang tìm cách thông qua được trông đợi là sẽ tạo một thúc đẩy quan trọng cho nền kỹ nghệ tình dục vốn đang thăng hoa ở hòn đảo này.

Trong một nỗ lực nhằm trong sạch hoá nghành thương mại tình dục, chính quyền dự định sẽ không còn hình sự hoá việc mãi dâm. Các nhà phân tích nói rằng trong số những “du khách” Trung Quốc được phép vào nước này trên phương diện cá nhân sẽ là một làn sóng lao động tình dục. Một biện pháp thứ hai cho phép lao động tình dục thành lập những “phòng làm việc cá nhân” với ba đến năm nhân viên – biến gái điếm trở thành những tiểu thương.

Những dự luật này đã bị phản đối bởi hàng loạt những nhóm đấu tranh nữ quyền trong tổ chức “Liên minh chống nạn khai thác tình dục” mà trong tuần qua đã thông báo rằng họ sẽ cương quyết chống lại việc hợp pháp hoá nghề mãi dâm. Và thật vậy, đây là một tình huống xấu. Căn cứ theo Báo Cáo về Nạn Buôn Người năm 2009 của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, “phụ nữ từ Trung Quốc và các quốc gia Đông nam Á đã bị buôn sang Đài Loan qua những cuộc hôn nhân giả mạo, những hứa hẹn lừa lọc về công việc làm và di cư lậu nhằm mục đích khai thác tình dục và cưỡng bức lao động.” Việc bảo vệ và giám sát về pháp lý của chính quyền và những nỗ lực kiểm soát được xem là “không thích hợp với tình hình hiện tại.”

Do đó chính phủ Đài Loan đã phải đối diện với một vấn đề hắc búa đầy khó chịu. Họ từng tìm cách đưa mãi dâm ra khỏi vòng pháp luật nhưng nó lại bùng nổ hơn . Với một quốc gia chỉ cấm đoán bề ngoài nạn mãi dâm trong gần hai thập niên qua, con số lao động tình dục tại Đài Loan thật kinh khủng. Các nhà hoạt động và một số cơ quan truyền thông trong nước đều đồng ý là có khoảng 600 nghìn người kiếm sống bằng kỹ nghệ tình dục.

Nếu con số này là chính xác, một phép toán đơn giản cho thấy một trong 38 người dân ở đây làm nghề mãi dâm. Ngược lại, tại Hoa Kỳ thì tỉ lệ này là 1 trong 300 và tại Đức, nơi mãi dâm được hợp pháp hoá, con số là 1 trong 200.

Một phần nguyên nhân là vấn đề văn hoá. Với việc Quốc Dân Đảng tản cư đến Đài Loan vào năm 1949 sau khi thất trận trong cuộc nội chiến ở Trung Quốc, đa số những người đến đây là binh lính nam độc thân. Đa số các thiếu nữ địa phương làm nghề mãi dâm được cha mẹ họ đồng ý vì lý do tài chính. Việc công nghiệp hoá nhanh chóng trong những năm 1960s đã giúp đưa giới trẻ vào thành phố, công việc dễ dàng nhất cho các thiếu nữ là tại các quán cà phê nơi họ phục vụ các nam công nhân trẻ . Việc mở cửa hai căn cứ Quân đội Hoa Kỳ cũng đóng góp vào việc này.

Thêm vào đó, đàn ông Đài Loan lấy vợ rất trễ. Phụ nữ lo sợ bị mất việc nếu lấy chồng sớm và sinh con. Đài Loan lại đang trải qua một chuyển biến căn bản về các giá trị. Hai phần ba những phụ nữ đang làm việc đều có trình độ đại học, và con số phụ nữ muốn lấy chồng đã giảm đi. Bộ Nội vụ cho biết rằng con số những cuộc hôn nhân lần đầu trong năm 2009 là vào khoảng 200 nghìn, thấp nhất trong vòng 40 năm qua.

Vì mãi dâm cho đến nay vẫn chính thức là phi pháp nên không có số liệu chính xác, nhưng các nhà tội phạm học Đài Loan cũng ước lượng rằng ngay cả trước khi Đài Loan mở cửa cho du khách Trung Quốc vào theo diện cá nhân, đã có khoảng 200 nghìn lao động tình dục đến từ Trung Quốc.

“Mặc dù ở Trung Quốc có thể làm ra nhiều tiền, con số lao động tình dục tìm đến Đài Loan sẽ tăng lên vì đơn giản là ở đây họ kiếm được nhiều tiền hơn trong thời gian ngắn hơn,” Cheng Kun-shan, giáo sư Ban Tội phạm học thuộc Đại học Quốc gia Trung Chánh nói trong một cuộc phỏng vấn với Asia Sentinel. “Đương nhiên các nhà đương cục muốn tình cách ngăn cản việc này, nhưng dù họ làm gì thì hiệu quả cũng sẽ rất giới hạn.”

Cùng với những quan hệ ấm dần giữa hai bên eo biển, những cách thức phụ nữ Trung Quốc dùng để vào Đài Loan sẽ liên tục biến hoá. Ban đầu thì phụ nữ được giới buôn người Đài Loan đưa lậu bằng thuyền, từ những năm 1990s đa số đi vào bằng con đường hôn nhân giả. Trong năm 2008, chính quyền Quốc Dân Đảng vốn tương đối thân thiện hơn với Trung Quốc nắm lại quyền lực và đã mở cửa Đài Loan cho những chuyến du lịch tập thể cho người Trung Quốc, cho những giáo sư với mục đích đào tạo, và cho các thương gia. Giờ đây, khi quan hệ giữa hai bên eo biển phát triển, hàng nghìn du khách nam có thể sẽ đi theo gái mãi dâm từ lục đia sang hòn đảo này.

Trong những giấy tờ yêu cầu cho ba nhóm khách này, hộ chiếu thương mại rõ ràng là con đường dễ nhất mà các phụ nữ Trung Quốc có ý định vào Đài Loan để làm lao động tình dục có thể lợi dụng. Theo cảnh sát Đài Loan, những giấy chứng nhận và giấy mời làm việc giả có thể mua được ở mọi nơi tại Trung Quốc với khoảng 30 nghìn Nhân dân tệ (4.500 Mỹ kim). Tờ báo Thời Báo Đài Bắc bằng tiếng Anh đã trích lời một sĩ quan cảnh sát ở Cao Hùng rằng: “Rất nhiều người Trung Quốc thậm chí không biết đọc biết viết cũng có thể trở thành những tổng giám đốc của một cửa hàng bách hoá hoặc những tập đoàn bất động sản ở Trung Quốc sang Đài Loan để ‘làm ăn’.”

Giới lao động tình dục không chỉ là người Trung Quốc. Trong một hiện tượng phi thường đầy xấu xí không thể chối cãi, theo trang web Buôn Người & Nô Lệ Thời Hiện Đại, hiện có khoảng 200 nghìn phụ nữ Việt Nam, đa số từ 17-18 tuổi, nhiều người trong họ lâm vào cảnh bán dâm, đã lấy những người đàn ông Đài Loan “thượng vàng hạ cám” để được nhập cư vào quốc gia này. Những người khác là những công dân nước ngoài nhận việc làm hợp pháp, đã bỏ công việc làm vì những lý do khác nhau bao gồm lời hứa hẹn với đồng lương khá hơn hoặc bị lừa đảo bởi những băng đảng tội phạm, để rồi lâm vào điều kiện làm việc vô nhân đạo, trong đó ép buộc bán dâm có lẽ là được biết đến và lên án nhiều nhất, trang mạng này cho biết.

Như nhà tội phạm học Cheng đã đề cập, việc theo dõi làn sóng lao động tình dục Trung Quốc thì rất khó để đối phó. Mọi biện pháp mà nhà cầm quyền đưa ra, ví dụ như thiết lập một kho dữ liệu sinh trắc cho những công dân Trung Quốc bao gồm việc lấy vân tay, nhận diện khuôn mặt hoặc nhận diện tròng mắt, đã bị lên án là kỳ thị và bị quốc hội bác bỏ.

Hơn nữa, đối với những gái mãi dâm lưu trú hợp pháp tại Đài Loan, chiếm khoảng hai phần ba số phụ nữ hoạt động trong kỹ nghệ tình dục của đất nước này, năm tới sẽ đem lại một điều kiện vô cùng thuận lợi. Hiện tại, nếu bị bắt quả tang, họ sẽ bị giam ba ngày và đóng số tiền phạt có thể lên đến 1000 Mỹ kim. Những người bị bắt giữ, trong trường hợp là những người tái phạm, cũng sẽ bị bắt buộc tham gia những khóa đào tạo để có được những kỹ năng nghề nghiệp khác trong thời gian từ 6 đến 12 tháng. Nhưng trên thực tế, từ năm ngoái, luật lệ này đã không còn được thực thi, và những khách mua dâm không bao giờ bị truy tố.

Các tổ chức nữ quyền đã nhanh chóng lên án chính sách mới như là một thứ mà chính quyền Quốc Dân Đảng muốn thúc hối thông qua. Các nhà hoạt động cho rằng xã hội vẫn chưa đạt được đến sự thoả thuận về vấn đề này và với việc biến mãi dâm thành một kỹ nghệ chính danh, chính quyền đang gây nguy hiểm đến những quyền lợi của những phụ nữ xấu số bằng cách đưa họ vào vòng kiểm soát của những tổ chức tội phạm.

Thật mỉa mai khi chính quyền cũng đưa ra lập luận giống hệt như trên để thúc đẩy vấn đề theo hướng hoàn toàn ngược lại. Theo các phát ngôn viên của chính quyền, những luật lệ hiện hành đang được tái xét để xoá bỏ những kỳ thị tình dục và bảo vệ quyền lợi người lao động.

Bên cạnh những mục tiêu trên, dự đoán trong 2 tỉ Mỹ kim tổng thu nhập hàng năm mà kỹ nghệ tình dục có được, có khoảng 700 triệu Mỹ kim sẽ được dự định đưa vào ngân sách quốc gia sau việc hợp pháp hoá mãi dâm.

Nhưng ý kiến ủng hộ quái gở đáng tranh luận nhất là với việc bắt buộc các gái điếm đăng ký với Hội đồng các Vấn đề Lao động sẽ giúp cắt giảm tỉ lệ thất nghiệp của Đài Loan.

Vào ngày 18 tháng Mười, một số nhà lập pháp Quốc Dân Đảng bao gồm Hầu Thái Phụng và Ngô Dục Thăng đã nói rằng tỉ lệ thất nghiệp của Đài Loan sẽ giảm đi nếu nghề mãi dâm được hợp pháp hoá. Nhưng Bộ trưởng Jennifer Vương (Như Huyền) thuộc Hội đồng các Vấn đề Lao động nói rằng tỉ lệ thất nghiệp của cả nước sẽ không suy giảm chút nào ngay cả khi nghề mãi dâm được hợp pháp hoá, mặc dù lao động tình dục sẽ được phép thành lập công đoàn.

Đối với nhà tội phạm học Cheng, việc Đài Loan mở cửa biên giới cho những khách du lịch cá nhân Trung Quốc chắc chắn sẽ dẫn đến một số vấn đề. Theo ông, sẽ không thể nào ước lượng được có bao nhiêu người sẽ lợi dụng sự nới lỏng qui định đi lại giữa hai bên eo biển. “Chỉ có những dữ liệu thống kê mới cho biết được,” ông nói.

Thảo luận

 

http://www.x-cafevn.org/node/1176

Posted in Phụ nữ | 1 Comment »

► Tưởng nhớ Đặng Phong, một trí tuệ và một tấm lòng

Posted by hoangtran204 trên 22/10/2010

Nguyễn Gia Kiểng

Thông Luận

6-10-2010

Tôi gặp Đặng Phong lần đầu cuối hè 1996, ít lâu sau đại hội 8 của ĐCSVN. Đặng Phong nói về đại hội này và tôi nhận xét anh là người rất có óc khôi hài. Nhận xét này càng rõ hơn sau này, khi chúng tôi thân nhau hơn.

Đặng Phong nhờ một người bạn giới thiệu với tôi sau khi đọc một số bài viết của tôi trên Thông Luận. Khi chúng tôi gặp nhau Đặng Phong cười một cách vui vẻ: “Hay quá nhỉ, tôi cứ tưởng anh phải ngoài 70”. Đây là lần duy nhất tôi thấy Đặng Phong cười thành tiếng và nói tương đối lớn. Bình thường Đặng Phong nói nhỏ nhẹ chỉ vừa đủ nghe và có cái cười đặc biệt, tươi nhưng không thành tiếng, ngay sau một câu nói, cái cười tự nhiên nhưng hơi châm biếm và pha chút khinh bạc. Chỉ vài phút sau khi gặp nhau chúng tôi đã như thân quen từ lâu.

Chúng tôi khám phá ra một cách thích thú là có cùng một chuyên môn, kinh tế, và hơn thế nữa đã từng quan tâm tới một vấn đề cụ thể: giá cả. Đặng Phong đang dạy tại Đại Học Kinh Doanh Công Nghệ (sau này anh làm khoa trưởng kinh tế) và làm phó tổng biên tập tạp chí Giá cả & Thị Trường, anh rất thích thú khi được biết tôi từng làm chủ tịch ủy ban vật giá tại bộ kinh tế miền Nam trước 1975 và cũng từng dạy kinh tế tại Sài Gòn.

Anh cho biết đang viết một cuốn sách về chính sách đổi mới kinh tế và hỏi tôi: “Theo anh thì chính sách đổi mới bắt đầu năm nào?”. Tôi đáp: “1979!”. Đặng Phong cười đưa tay bắt tay tôi: ” Đúng! Chính xác là cuối năm 1978″. Rồi anh cụng ly với tôi nói tiếp: “Các ông chuyên gia đều nói là đổi mới kinh tế bắt đầu năm 1986!”.

Tôi hỏi Đặng Phong: “Trong bộ chính trị mới có ngôi sao nào sáng không?”. Đặng Phong đáp: “Không có sao nào sáng cả, chỉ có sao mờ”. Kế tiếp là một câu khôi hài làm tôi phì cười và còn nhớ mãi. Tôi nói rằng đại hội này xui xẻo, vừa bầu xong bộ chính trị thì mất ngay ủy viên trí thức nhất, ông tiến sĩ Nguyễn Đình Tứ, chết đột ngột vì nhồi máu cơ tim. Đặng Phong nói: “Còn xui xẻo hơn thế nữa chứ! Một đồng chí đại biểu khác đi chơi gái giữa đại hội bị công an bắt được, Đỗ Mười nổi giận đuổi về. Thế là mất hai ông, một ông nhồi máu cơ tim, một ông nhồi máu cơ chim!”. Đặng Phong sẽ còn giỡn mặt tôi như vậy trong tất cả những lần gặp gỡ về sau và mỗi lần chọc quê tôi như vậy anh tỏ ra rất khoái chí. Anh ưa nói đùa, nhưng cái đùa của anh không bao giờ có ác ý.

Hôm đó chúng tôi ăn cơm trưa với nhau gần ba giờ, sau đó còn rủ nhau đi uống cà phê. Mới đầu chúng tôi nói chuyện về kinh tế. Tôi nhận ra là anh có rất nhiều dữ kiện, đúng là một cuốn tự điển sống về lịch sử kinh tế. Trên những diễn biến kinh tế và hậu quả của chúng lên các chính sách chúng tôi gần như đồng ý 100%. Sau đó chính Đặng Phong chuyển câu chuyện qua chính trị. Tôi nhận ra là anh thích nói chuyện chính trị hơn là kinh tế, có lẽ một phần là vì anh thấy không có nhiều điều mới để nói với tôi, nhưng lý do chính là vì Đặng Phong rất quan tâm đến tình hình chính trị, anh theo sát tình hình đảng cộng sản và chăm chú tiên liệu những gì có thể xảy ra; điều này có lẽ ít người nhận thấy nơi anh.

Lối nhận định chính trị của Đặng Phong không lý thuyết và hàn lâm. Nó có cái cô đọng của một con người nắm vững vấn đề. Thí dụ như về ban lãnh đạo cộng sản sau đại hội 8 anh nói: “Không ổn, không thể duy trì một chế độ chuyên chính với những lãnh tụ mờ nhạt”. Tôi hỏi anh: “Như vậy theo anh thì chế độ này còn kéo dài được bao lâu nữa?” Đặng Phong nhìn tôi rồi chậm rãi đáp: “Tôi không biết. Đọc những bài viết của anh thì thấy như là nó sắp mãn phần rồi, nhưng tôi không tin như vậy. Nó vô lý, nó vớ vẩn thực đấy nhưng nó vẫn kéo dài, bởi vì những người có thể thay đổi, nghĩa là những người cầm quyền, thì không muốn thay đổi, còn những anh muốn thay đổi thì không dám đấu tranh để thay đổi”. Rồi anh nói tiếp: “Hèn cả, ai cũng hèn, tôi cũng hèn!”. Thấy anh không vui tôi lái câu chuyện sang hướng khác. Đặng Phong nói cho tôi nghe về cuộc sống hàng ngày trong nước, không khí trong trường đại học nơi anh giảng dạy và ngược lại hỏi tôi cách làm việc tại các nước phương Tây và những chuyện của miền Nam ngày trước.

Từ đó chúng tôi gặp Đặng Phong khá thường, hầu như mỗi năm một lần. Ngoài ra chúng tôi liên lạc e-mail. Đặng Phong đi nước ngoài khá nhiều trong những chuyến công tác và những lần đi thỉnh giảng tại các trường đại học Mỹ và Châu Âu, và đặc biệt thích nước Pháp. Có lần anh đi công tác ở Cuba và gọi tôi khi tới Paris. Tôi hỏi anh ghé Paris có chuyện gì, anh cười đáp: “Thực ra chẳng có chuyện gì quan trọng bắt buộc phải sang Pháp, chỉ có vài chuyện nhỏ giải quyết qua thư tín cũng được nhưng vẫn muốn ghé Paris gặp anh em uống rượu nói phét chơi, nhất là gặp anh để ăn con cá hấp và uống vang trắng”. Đặng Phong thích uống rượu và hình như có cảm tình đặc biệt với rượu vang Pháp. Anh có tửu lượng cao, càng uống càng sáng suốt, nói chuyện càng vui. Mỗi lần gặp nhau Đặng Phong đều làm tôi ngạc nhiên vì anh luôn luôn có một tác phẩm mới. Sức viết của Đặng Phong thật là phi thường. Riêng hai tập Lịch Sử Kinh Tế Việt Nam của anh đã dày hơn hai ngàn trang. Các tác phẩm của anh, trên một chục cuốn biên khảo, đều rất phong phú về tài liệu, kèm theo những nhận định chính xác và sắc bén.

Một điều có thể quả quyết là từ trước tới nay chưa ai đầu tư nhiều thời giờ và cố gắng cho lịch sử kinh tế Việt Nam bằng anh. Người ta nể sức viết của Đặng Phong nhưng ít ai biết rằng để viết ra những công trình đồ sộ đó anh đã phải bỏ ra một thời giờ nhiều lần lớn hơn để sưu tập tài liệu. Một lần anh nói với tôi trong lúc nhâm nhi một ly Bordeaux: “Thời giờ bỏ ra tìm và đọc tài liệu gấp mười lần thời giờ ngồi viết”. Như thế không có nghĩa là Đặng Phong ham sưu tập hơn viết. Đặng Phong mê viết và chỉ sưu tập để viết. Anh trước hết là một nhà văn, viết đối với anh là một nghệ thuật và một thú vui.

Có lần anh gửi cho tôi lời tựa dự định cho một cuốn sách sắp in để hỏi ý kiến. Đó không phải là một bản đánh máy mà là bản chụp của lời tựa viết tay. Đặng Phong không viết từng hàng từ trên xuống dưới mà viết theo cách riêng của anh. Nó gồm những chiếc bong bóng, nối với nhau bằng những mũi tên, trong mỗi bong bóng là một đoạn văn. Chữ viết rất đẹp, những chiếc bong bóng cũng rất thẩm mỹ, dù chưa phải là bản chót vì có nhiều gạch xoá và thêm bớt. Tôi có thể tưởng tượng ra thú vui của Đặng Phong khi viết. Đặng Phong sử dụng tiếng Việt một cách rất chính xác và duyên dáng. Đây là điều rất hiếm có nơi những tác giả Việt Nam, kể cả nhiều nhà văn có tiếng. Viết về lịch sử kinh tế Việt Nam không ai có thể bằng được Đặng Phong. Anh nắm vững lịch sử kinh tế Việt Nam đến độ bất cứ một sự kiện kinh tế ở giai đoạn nào anh cũng có thể đặt ngay vào logic toàn cảnh của nó. Nói chuyện kinh tế với anh là một niềm vui.

Tuy vậy càng về sau, trong những lần gặp mặt cũng như trong trao đổi thư tín và điện thoại, chúng tôi càng ít nói chuyện về kinh tế. Lý do là vì chúng tôi đồng ý với nhau gần như hoàn toàn nên chẳng còn gì để thảo luận; nhưng còn một lý do khác mà có lẽ không ai biết: Đặng Phong không thích kinh tế như người ta tưởng, anh thích chính trị hơn nhiều.

Nhưng tại sao Đặng Phong lại bỏ thì giờ và công sức sưu tập tài liệu kinh tế như vậy, kể cả những tài liệu không còn một giá trị thời sự nào, và thực ra cũng không hề có một giá trị kinh tế nào ngay khi chúng xuất hiện? Lý do hiển nhiên là nghề nghiệp, Đặng Phong là giáo sư kinh tế, hơn thế nữa còn là trưởng khoa kinh tế, anh cũng làm việc cho Viện Kinh Tế Việt Nam. Nhưng đó không phải là lý do chính. Lý do chính là danh nghĩa “nghiên cứu lịch sử kinh tế” cho phép anh tìm kiếm một cách dễ dàng những tài liệu được giấu giếm một cách cẩn mật và cũng cho phép anh viết và công bố những điều cấm kỵ đối với người khác.

Các cấp lãnh đạo cộng sản không quan tâm tới lịch sử kinh tế. Đó là một môn chán và vô ích đối với họ. Công an cũng không quan tâm. Sách của Đặng Phong vì thế không bị cấm. Anh hầu như được tự do, sách của anh chứa đựng những điều không thể tìm thấy nơi khác. Điều mà Đặng Phong thực sự tìm để công bố là lịch sử cận đại. Lịch sử kinh tế chỉ là một lý cớ.

Thí dụ, chính anh đã đưa ra một thống kê đầy đủ và chi tiết về đợt Cải Cách Ruộng Đất, trong đó có con số kinh khủng 172.008 nạn nhân. Đó là một cáo trạng.

Khi đưa tặng tôi bộ Lịch Sử Kinh Tế Việt Nam, Đặng Phong nói: “Trước hết phải đọc chương 3, những chương khác bao giờ có thì giờ thì đọc, mà không đọc cũng không sao vì chỉ có tác dụng tăng cường những nhận định mà anh em mình đã có rồi”. Chương 3 chính là chương nói về cuộc Cải Cách Ruộng Đất.

Trong cuốn 5 Đường Mòn Hồ Chí Minh xuất bản gần đây Đặng Phong cũng đã phá vỡ huyền thoại lấy “tầm vông vạt nhọn” để kháng chiến chống xâm lăng, lấy chính nghĩa, nội lực dân tộc, quyết tâm và mưu trí để đánh thắng một nguỵ quyền được Mỹ cung cấp đủ mọi phương tiện. Anh đưa ra một thống kê chi tiết về các nguồn viện trợ khổng lồ của khối cộng sản cho Hà Nội, trong đó có số lượng hơn bốn triệu khẩu súng cá nhân được chuyển từ Bắc vào Nam theo đường mòn Hồ Chí Minh.

Những tài liệu khác trong cuốn sách này cũng cho thấy những phương tiện áp đảo, quân sự cũng như tài chính, của Hà Nội so với Sài Gòn trong những năm cuối cùng. Mọi người đọc đều thấy rõ đây chỉ là một cuộc nội chiến giữa hai phe được các thế lực bên ngoài yểm trợ và sau cùng phe được ngoại bang yểm trợ tận tình đã thắng phe bị đồng minh bỏ rơi. Đặng Phong chỉ viết lịch sử kinh tế như là một phần của lịch sử, để trả lại sự thật cho lịch sử, để chuẩn bị viết lịch sử thực sự.

Trong những trao đổi về sau Đặng Phong nói rất nhiều về chính trị. Anh có niềm tin rằng chế độ chính trị phải thay đổi như một bắt buộc của lịch sử.

Chúng tôi chia sẻ với nhau nhận định rằng các dân tộc mà chế độ chính trị không thích nghi với đà tiến hoá, nghĩa là lịch sử nhân loại, sẽ không thể tiếp tục tồn tại, và chúng ta là một trong những dân tộc đang gặp thách đố sống còn đó.

Một lần anh hỏi tôi: “Nếu lịch sử thế giới không phải là đấu tranh giai cấp như Marx nói thì là gì?”. Tôi đáp rằng tôi không thích những khẳng định kiểu đó, lịch sử phức tạp hơn nhiều, nhưng nếu phải tóm tắt một cách thật giản đơn lịch sử thế giới thì tôi nghĩ đó là cuộc hành trình của con người về tự do, và vì cho tới khi tìm được một công thức mới hay hơn dân chủ là phương thức tổ chức phù hợp nhất để bảo đảm tự do cho nên cũng có thể nói lịch sử là cuộc hành trình của các dân tộc về dân chủ. Đặng Phong gật đầu đưa tay bắt tay tôi. Anh có cách rất đặc biệt để bày tỏ sự đồng tình là cười và bắt tay.

Một lần tôi tiễn anh ra phi trường Charles de Gaulle để về Việt Nam. Chúng tôi tới sớm và ăn cơm trưa với nhau tại phi trường để có thời giờ nói chuyện. Anh hỏi tôi về Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên. Thấy anh có vẻ tán thành, tôi hỏi: “Thế anh Phong có bằng lòng nhập bọn với chúng tôi không?”. Đặng Phong trả lời bằng nụ cười thân ái và đưa tay bắt tay tôi. Chúng tôi rót rượu đầy ly và uống cạn. Đặng Phong nói: “Phải quy tụ được anh em trong mọi môn ngành. Dân chủ đa nguyên thì ai cũng phải đồng ý rồi nhưng điều cốt lõi là phải thực hiện cho được hoà giải và hoà hợp dân tộc để chuyển hoá về dân chủ một cách hoà bình, hợp tình hợp lý, nếu không thì không có tương lai”. Từ đó chúng tôi càng thân nhau hơn.

Về sau này cuộc sống của trí thức trong nước, nhất là những người có một vị trí nào đó trong xã hội như anh, đã được cải thiện nhiều, tuy vậy cá nhân Đặng Phong vẫn sống một cách rất thanh đạm. Anh cho tôi biết là thu nhập của anh trên dưới 1500 đô la mỗi tháng, anh có thể kiếm nhiều tiền hơn nếu chịu đảm nhận những công trình nghiên cứu đầu tư nhưng anh dành thì giờ để đọc và viết sách. Một người bạn tôi về Hà Nội nghiên cứu thuật lại cho tôi hay là anh ta rất ngạc nhiên khi Đặng Phong ăn mặc xuềnh xoàng, đi một chiếc xe gắn máy cũ đến gặp anh ta. Đặng Phong sống như một người Việt Nam trung bình. Khi sang Pháp anh luôn luôn ở nhà một người bạn chứ không ở khách sạn. Lần cuối tôi gặp và ăn cơm trưa với anh tại nhà cụ Hoàng Khoa Khôi, anh cho tôi ăn món chả cá đem từ Việt Nam qua. Đặng Phong là thế. Anh không quan tâm tới danh vọng, hình thức và tiện nghi. Anh sống nhiều bằng nội tâm; hạnh phúc của anh là được uống rượu và chuyện trò với những người hợp ý. Đặng Phong không có nhiều bạn, anh chỉ có những người bạn thân.

Một lần tôi hỏi anh về một số trí thức tên tuổi trong nước, Đặng Phong đáp là anh không quen biết họ và cũng không muốn quen vì không thấy gặp họ có ich lợi gì cho những việc anh đang làm. Như thế phải chăng là mâu thuẫn với ý kiến của anh là phải quy tụ anh em thuộc mọi môn ngành? Đặng Phong nghĩ là họ không thực sự muốn đấu tranh để thay đổi, họ chỉ nói ra những điều có vẻ phản kháng vì đó là những điều đúng và có nói ra cũng không hại gì; họ bon chen và anh không thích bon chen.

Còn những người đối lập thực sự và trực diện? Đặng Phong cũng không có nhu cầu gặp họ, anh không phải là người móc nối và tổ chức, anh đóng góp trong cương vị của một nhà nghiên cứu. Và quả là Đặng Phong đã đóng góp cho cuộc vận động dân chủ một cách rất hiệu quả trong cương vị của một học giả. Tất cả mọi tác phẩm của anh đều là những bản cáo trạng gay gắt đối với những sai lầm của chế độ và đều khiến người đọc hiểu rằng những sai lầm đó đã xảy ra vì không có dân chủ. Chúng càng có tác dụng mạnh hơn bởi đó là những tác phẩm do một cơ quan nhà nước, Viện Kinh Tế Việt Nam, xuất bản chứ không phải do “những phần tử phản động”.

Đặng Phong đã đóng góp nhiều lắm. Những năm gần đây anh còn tìm được một cách đóng góp khác. Không hiểu bằng cách nào anh trở thành rất thân với ông Võ Văn Kiệt. Anh giải thích: “Hắn có tiếng nói và muốn nói, mình có những điều cần nói nhưng khó nói và nếu nói được cũng không có tác dụng bằng nếu hắn nói. Đó là một hợp đồng”. Ít ai biết rằng những bài viết và nói trong những năm cuối đời của ông Kiệt đều là của Đặng Phong. Anh có gửi cho tôi xem trước khi chúng được đưa ra trước dư luận.

Đặng Phong muốn viết sử, anh mê môn sử và viết lịch sử kinh tế chỉ để chuẩn bị viết sử. Cũng có thể anh đã bắt đầu viết từ lâu rồi. Hè 2008 anh rủ tôi viết chung với anh bộ sử này. Dĩ nhiên là tôi nhận lời ngay vì tôi rất tán thành quan điểm về lịch sử của anh. Đặng Phong phê phán các sử gia Việt Nam là quá tập trung vào các vua chúa và Đảng; theo anh những chuyện dân gian, những gia phả, những phong tục tâp quán, ca dao tục ngữ phải được coi là nguồn sử liệu quan trọng. Nói là “viết chung” nhưng thực ra anh viết hết, tôi chỉ được phân công viết phần tổng luận về lịch sử Việt Nam, nghĩa là cuốn đầu, khoảng 100 trang.

Bẵng đi mấy tháng liền không có tin anh, thư tôi gửi đi không có hồi âm. Rồi một hôm nhân được tin sét đánh: Đặng Phong báo tin cho tôi là anh bị ung thư, bác sĩ Việt Nam cho là không cứu chữa được nữa, anh phải sang Trung Quốc điều trị bằng phương pháp phối hợp tây y và đông y, đó là lý do khiến mấy tháng liền anh bặt tin. Anh có vẻ lạc quan, bác sĩ Trung Quốc nói là có nhiều hy vọng qua khỏi. Tôi cố chia sẻ sự lạc quan của anh nhưng trong thâm tâm tôi rất lo ngại. Đầu năm nay Đặng Phong thông báo là sẽ sang gặp tôi vào tháng 7. Anh sẽ ở nhà tôi hai tuần và muốn tôi hướng dẫn thăm lại một vài địa điểm đặc biệt tại vùng Paris, rồi sau đó chúng tôi sẽ ngao du châu Âu bằng xe hơi và đi thăm người con gái anh ở Bắc Âu. Anh nói: “Chúng mình sẽ có đủ thời giờ để thảo luận về bộ sử”. Và anh thêm một câu khiến tôi suy nghĩ: “Nhân tiện cũng báo để anh biết tôi vừa bán căn nhà ở làng Yên Phụ được 300.000 USD nên bây giờ rất thoải mái về tài chính, chúng ta không cần phải tiết kiệm gì cả trong chuyến du lịch này”. Ba trăm ngàn đô-la là một số tiền đáng kể nhưng cũng không phải là một số tiền lớn, nó chỉ lớn đối với một người nghĩ rằng mình không còn nhiều thời gian để tiêu xài. Có lẽ Đặng Phong cũng không tin lắm rằng anh sẽ qua khỏi. Có một cái gì đó khiến tôi lo âu rằng chuyến du lịch Châu Âu này sẽ không thực hiện được. Tuy vậy tôi vẫn sắp xếp như nó sẽ có, những nơi chúng tôi sẽ đi qua, những người bạn chúng tôi sẽ gặp, những gì chúng tôi sẽ bàn với nhau dọc đường về bộ sử.

Rồi đến đầu tháng 6 Đặng Phong gửi thư cho tôi biết là anh không thể qua Châu Âu. Bác sĩ cho biết là bệnh tình của anh đòi hỏi một giai đoạn điều trị đặc biệt. Đặng Phong có một ý kiến khác, là tôi về Việt Nam gặp anh. Chuyện tôi về Việt Nam từ lâu đã là ý kiến của Đặng Phong, anh đã vận động mấy lần nhưng đều không kết quả. Chính quyền chỉ đồng ý để tôi về thăm quê hương nhưng không kèm theo những đảm bảo mà một người hoạt động chính trị đối lập như tôi cần có khi về nước. Lần này thì khác. Đặng Phong cho biết đã gặp những người bạn – “những người đang cầm quyền chứ không phải những người đã về hưu hay chỉ quen biết những người cầm quyền như tôi”, Đặng Phong nhấn mạnh – và họ đã chấp nhận để tôi về nước sau khi nghe anh trình bày lý do. Đặng Phong liệt kê những điều kiện của chuyến về nước này. Nói chung là khá dễ dãi nhưng vẫn có những điều phải nói lại cho rõ, Đặng Phong lại phải dàn xếp tiếp. Công việc đang tiến hành tuy chậm nhưng khả quan thì anh đột ngột cho tôi biết là anh phải nhập viện vì bệnh tình biến chuyển. Tự nhiên tôi có linh cảm là sẽ không gặp được anh nữa. Rồi tôi nhân được tin của thân nhân cho biết anh đã qua đời. Trong đám tang anh có một vòng hoa với dòng chữ “một người bạn ở xa”.

Sau khi Đặng Phong mất đã chỉ có rất ít bài viết về anh và các tác giả cũng không tỏ ra biết rõ Đặng Phong. Anh là một người ít ai biết đến, có thể ở Việt Nam người ta cũng không đánh giá cao Đặng Phong vì không biết được giá trị thực của anh. Anh không phải là một người nổi tiếng và cũng không tìm cách để được dư luận biết đến.

Tôi hỏi người thân của Đặng Phong nét đậm nhất của anh là gì và được trả lời đó là tinh thần hoà giải dân tộc. Đúng như thế. Đặng Phong là người chủ trương hoà giải dân tộc ngay từ đầu, khi nhiều người còn huênh hoang trong men chiến thắng và nhiều người khác còn điên cuồng trong thù hận, và anh đã liên tục đóng góp một cách tận tình và quả quyết cho lập trường hoà giải và hoà hợp dân tộc. Đó cũng là một trong những lý do chính khiến chúng tôi thân nhau.

Nhưng Đặng Phong không phải chỉ là thế. Dưới một bề ngoài giản dị xuềnh xoàng anh là một học giả lớn và trí thức lớn. Những tác phẩm anh viết ra tuy rất ít người đọc nhưng là cả một kho tàng tư liệu quý báu cho những ai còn quan tâm đến cái trở thảnh của đất nước và dân tộc này, một đất nước và một dân tộc mà anh đã yêu một cách tha thiết. Anh đã phân biệt được cái chính và cái phụ, cái tạm bợ và cái lâu dài, sự cao cả thực sự và sự hào nhoáng. Anh đã không chấp nhận làm một sản phẩm của thời thế mà đã đóng góp thay đổi thời thế. Anh đã đến với đất nước này và đã ra đi sau khi đã cố để lại một đất nước lành mạnh hơn, đã sống thực và đã sống xứng đáng. Chúng ta vừa mất một trí tuệ và một tấm lòng.

Nguyễn Gia Kiểng
Thông Luận số 251, tháng 10-2010

© Thông Luận 2010

http://www.thongluan.org/vn/index.php

http://danluan.org/node/6732

Posted in Nhan Vat | 1 Comment »

Trên Mặt Trăng Có NƯỚC: Gần 4 Tỉ Lít Nước ở một chỗ trủng sâu ở vung cực nam c

Posted by hoangtran204 trên 22/10/2010

Suốt hơn 40 năm qua, mọi người đều tin rằng mặt trăng không có nước, rằng trái đất là nơi duy nhất có nước…Có Nước là điều kiện tiên khởi cho sự sống hiện hữu.

Có nước trên Mặt Trăng: Gần 4 tỉ lít nước trong 1 hố trủng ở cực nam

Nhiều khoa học gia cho biết Chương trình thám hiểm Mặt trăng LCROSS đã tìm thấy có Nước Đá trong 1 chỗ trủng đủ đề làm ngập đầy 1500 hồ bơi kích thước Olympic (25m x 50m)

By NED POTTER

21-10-2010

Có nước trên mặt trăng không? Các khoa học gia đã từng nghĩ rằng mặt trăng khô ráo, chỉ có bụi. Nhưng sau khi cơ quan Hàng Không và Không Gian của Hoa Kỳ phân tích trong suốt 1 năm qua, hôm nay họ đã thông báo rằng Sứ mạng của Vệ Tinh Tìm Kiếm và Quan Sát Hố Trủng   LCROSS đã tìm thấy 3.89 tỉ lít nước đá trên bề mặt của một chỗ trủng nằm khuất bóng gần cực nam của mặt trăng.

Các nhà nghiên cứu đã nói rằng số lượng nước trong 1 chỗ trủng nầy đủ để làm đầy 1500 bể bơi có kích thước Olimpics (25m x 50m).

Nếu có nước đá ở đấy, thì chắc chắn cũng có nước đá hiện hữu ở các chỗ khác trên mặt trăng. Các khoa học gia cũng cho biết họ tìm thấy các chất như bạc, thủy ngân, khí carbon CO và khí ammonia (mùi rất hôi thúi).

LCROSS là một tầng hỏa tiển trống rỗng đã được phóng và đâm thẳng vào mặt trăng vào hồi năm 2009. trong luc 1 vệ tinh nhỏ bay theo sau mang theo những dụng cụ đo lường hóa chất ở nơi nào mà đất đá bị bắn tung lên (do hỏa tiển nầy chạm mạnh vào bề mặt). Mục tiêu của hỏa tiền, là 1 hố trủng tên gọi là Cabeus, được chọn lựa bởi vì hố nầy sâu quá đến đổi ánh sáng mặt trời chưa bao giò chiếu xuống dưới đáy –và bất cứ có nước đá nào ở đó, nằm trộn lẫn trong đất, cũng sẽ không bao giờ có cơ may nào để bốc hơi. Nước đá nầy đã và đang đông cứng hàng nhiều tỉ năm.

“Chúng tôi rất ngạc nhiên là một ít trong số các miền bị bóng đen che phủ nầy không có nước, nhưng một số khu vực của các miền nầy thỉnh thoảng nhận được ánh sáng thì có nước,” một thành viên của đoàn nghiên cứu ông William Boynton thuộc Viện Đại Học Arizona đã cho biết như thế.

Các nhà nghiên cứu LCROSS đã thông báo chuyện mặt trăng có nước vào tháng 11 năm ngoái –nhưng thông báo ấy cho biết là chỉ có chừng gần 1 tỉ lít nước mà thôi—rồi sau đó họ đã điều chỉnh lại số lượng nước tìm thấy được trong các tháng kể từ sau đó. Kết luận của họ về mặt trăng có nước đá đã được đăng tải trên tạp chí Khoa Học ngày hôm nay.

Việc tìm thấy một số lượng nước rất lớn trên mặt trăng là có tính chất quan trọng, không chỉ về mặt khoa học, nhưng cho sự thám hiểm của các phi hành gia  trong tương lai. Nước chủ yếu cho duy trì sự sống của con người, nước lại là rất nặng và rất tốn kém cho các phi thuyền phải mang đi từ trái đất. Nhưng nếu các phi hành gia đáp xuống gần các nơi có nước, như cơ quan NASA đã hy vọng từ lâu, thì các phi hành gia có thể sống lâu mà không trở lại trái đất (để lấy nước).

Nước Trên Mặt Trăng: 3,89 tỉ Lít Nước trong một Hố Trủng

Nước đá có thể được làm tan chảy ra và được lọc lại để uống và làm nguội các hệ thống máy móc của phi thuyền –và xa hơn nưa, nước có thể được phân tích ra thành các thành phần như Hydrogen và oxygen, khí oxy có thể được dùng để thở.

“Cái hố trủng này giống như là một cái túi đựng kho báu của nhiều nguyên tố, của nhiều hợp chất đã và đang thải khắp mặt trăng và chúng được đặt vào các bóng râm nầy một cách vĩnh viễn,” nhà địa chất học Peter Schultz của Viện Đại Học Brown thuộc tiểu bang Rhode Island đã viết thế.

Có bao nhiêu nước mà họ thật sự đã tìm thấy? Các nhà nghiên cứu nói rằng vệ tinh đã đo lường vào khoảng 160 lít nước trong một đám bụi từ một hố rộng 20 mét bị đào trủng xuống sâu do một hỏa tiền của vệ tinh chạm mạnh vào bề mặt. Vì nước đá nằm lẫn lộn với đá và bụi, sự hiện diện có tính chất hóa học của nước được hòa trộn với các khoáng sản khác được tìm thấy trong đất của mặt trăng.

Một số các khoáng sản khác ít được các nhà nghiên cứu ưa thích. Chẳng hạn như thủy ngân là có tính độc hại. vì thế ý tường đơn giản chỉ cần làm tan nước đá để lấy nước dùng trở nên một vấn đề phức tạp ( vì thủy ngân hiện diện trong nước có thể gây tử vong). Và các khoa học gia cũng không lấy làm hứng khởi về bạc mà họ đã tìm ra; chúng có rất ít và không đáng giá để khai mỏ.

Chưa có ai nào nói rằng các phi hành gia

Sẽ tìm cách sử dụng nước đá. Chính phủ của ông Obama vào đầu năm nay đã hủy bỏ dự dán Constellation do TT George W. Bush đề nghị, hủy bỏ luôn sứ mạng dành cho các phi hành gia quay trở lại mặt trăng, mà chỉ gởi họ tới Hỏa tinh mà thôi. Các phi hành gia sẽ đến Hỏa Tinh vào một ngày nào đó, nhưng lên mặt trăng thì không có đủ tiền để tài trợ.

Nhưng hình ảnh của mặt trăng đối với các khoa học gia đã và đang thay đổi kể từ khi các phi hành gia của chương trình Apollo hồi thập niên 1960s và 1970s bay lên mặt trăng và trở về lại trái đất. Người trưởng toán LCROSS đã cho biết cái hố trủng Cabeus giống như là một “ốc đảo bên trong sa mạc Mặt trăng.”

Water on the Moon: a Billion Gallons

Scientists Say LCROSS Moon Mission Found Enough Ice in Crater to Fill 1,500 Olympic Pools

By NED POTTER
Oct 21, 2010
Water on the moon? Scientists used to think it was as dry as, well, lunar dust.But after a year of analysis NASA today announced that its LCROSS lunar-impact probemission found up to a billion gallons of water ice in the floor of a permanently-shadowed crater near the moon’s south pole.That’s enough, said researchers, to fill 1,500 Olympic-size swimming pools, all from one crater.If there is ice there, it probably exists in other places on the moon as well. They also found silver, mercury, carbon monoxide and ammonia.LCROSS was an empty rocket stage that was deliberately crashed into the moon last year, while a small satellite trailing it took chemical measurements of what it kicked up. Its target, a crater called Cabeus, was chosen because it is so deep that sunlight never reaches the bottom — and any ice there, mixed in the soil, would never have a chance to vaporize. The ice might have remained frozen there for billions of years.

//

“To our surprise, some of the permanently shadowed regions had no water, but some of the areas that receive sunlight occasionally did have water,” said William Boynton of the University of Arizona, a member of the research team.

The LCROSS researchers had already announced preliminary findings last November — about a third less water than they reported today — and refined their numbers in the months since. Their conclusions appear today in the journal Science.

Finding large amounts of water on the moon could be important, not just for science, but for future exploration by astronauts. Water, essential for human survival, would be heavy and expensive for spacecraft to bring from earth. But if astronauts land near ice deposits, as NASA has long hoped, they could, in effect, live off the land.

Water on the Moon: A Billion Gallons in One Crater

The ice could be melted and purified for drinking and cooling of spacecraft systems — and beyond that, it could also be broken down into its components, hydrogen and oxygen. Hydrogen could be used as rocket fuel; oxygen could be used for breathing.

“This place looks like it’s a treasure chest of elements, of compounds that have been released all over the moon and they’ve been put in this bucket in the permanent shadows,” said planetary geologist Peter Schultz of Brown University in Rhode Island in a statement.

How much water did they actually find? The researchers said the satellite measured about 41 gallons in the debris from the 60-foot crater gouged out by the crashing rocket. Since the ice was mixed in with rock and dust, its chemical signature — H2O — was mixed in with the myriad minerals to be found in lunar soil.

Some of those other minerals were less than welcome to the researchers. Mercury, in particular, is toxic, so the idea of astronauts simply melting the ice for personal use becomes more complicated. And the scientists said not to get excited about the silver they found; it’s hardly enough to be worth mining.

There is no saying whether astronauts will get to use that ice any time soon. The Obama administration early this year canceled the Constellation project, which had been proposed by President George W. Bush, to return astronauts to the moon and eventually send them on to Mars. They will still go to Mars, someday, but the moon plans, when given another look, appeared unaffordable.

But scientists’ image of the moon has changed since the Apollo astronauts came home. Anthony Colaprete, the chief mission scientist, said Cabeus crater was like an “oasis in a lunar desert.”

<img style=”visibility:hidden;width:0px;height:0px;” border=0 width=0 height=0 src=”http://counters.gigya.com/wildfire/IMP/CXNID=2000002.0NXC/bT*xJmx*PTEyODc3NzE5NDYyOTYmcHQ9MTI4Nzc3MTk1NTU*NiZwPTEyNTg*MTEmZD1BQkNOZXdzX1NGUF9Mb2NrZV9FbWJlZCZn/PTImbz*1YmYxZjc2ZWE2NDc*YzNiODFkNWI*MTlmMDE1MzkzOSZvZj*w.gif&#8221; /><object classid=”clsid:D27CDB6E-AE6D-11cf-96B8-444553540000″ codebase=”http://download.macromedia.com/pub/shockwave/cabs/flash/swflash.cab#version=9,0,124,0&#8243; width=”344″ height=”278″ id=”ABCESNWID”><param name=”movie” value=”http://abcnews.go.com/assets/player/walt2.6/flash/SFP_Walt.swf&#8221; /><param name=”quality” value=”high” /><param name=”allowScriptAccess” value=”always” /><param name=”allowNetworking” value=”all” /><param name=”flashvars” value=”configUrl=http://abcnews.go.com/video/sfp/embedPlayerConfig&configId=406732&clipId=11941450&showId=11939079&gig_lt=1287771946296&gig_pt=1287771955546&gig_g=2″ /><param name=”allowfullscreen” value=”true” /><embed src=”http://abcnews.go.com/assets/player/walt2.6/flash/SFP_Walt.swf&#8221; quality=”high” allowScriptAccess=”always” allowNetworking=”all” allowfullscreen=”true” pluginspage=”http://www.adobe.com/shockwave/download/download.cgi?P1_Prod_Version=ShockwaveFlash&#8221; type=”application/x-shockwave-flash” width=”344″ height=”278″ flashvars=”configUrl=http://abcnews.go.com/video/sfp/embedPlayerConfig&configId=406732&clipId=11941450&showId=11939079&gig_lt=1287771946296&gig_pt=1287771955546&gig_g=2″ name=”ABCESNWID”></embed></object>

Posted in Giao Duc, Khoa Học | Leave a Comment »