Trần Hoàng Blog

Archive for Tháng Năm, 2013

►Trong lúc người nông dân cày sâu cuốc bẩm vẫn không đủ sống, Cán bộ đảng ngồi mát, ăn bát vàng hưởng lương 80 triệu/ 1 tháng

Posted by hoangtran204 trên 30/05/2013

Suốt mấy chục năm qua từ hồi được “giải phóng”, người nông dân cày sâu cuốc bẩm mà vẫn không đủ sống, thu nhập đầu người của mỗi người nông dân luôn ở trong mức 200.000- 500.000/ 1 tháng.  Họ phải sống trong nghèo túng, thiếu thốn, và nợ nần. Kết quả, con cái của họ khi lớn lên phải đi lên các thành phố lớn kiếm việc làm trong các hãng xưởng hy vọng để dành tiền đem về giúp cha mẹ. Nhưng thu nhập hàng tháng của người công nhân cũng chỉ đủ sống tằn tiện. Nhiều cô phải lấy chồng Hàn, Đài Loan,…để hy vọng giúp đỡ cho cha mẹ và gia đình thoát khỏi cơn túng thiếu.

(Khi dân chúng nông thôn đổ về thành thị sinh sống, các vấn nạn xã hội gia tăng. Đường xá trở nên đông đúc và tắc nghẽn giao thông xảy ra hàng ngày…)

Trong khi đó, Cán bộ đảng cộng sản ngồi mát, ăn bát vàng. Người nông dân VN trồng lúa gạo, nhưng cán bộ nhà nước quyết định giá mua lúa gạo của nông dân, và họ không cần biết nông dân bán giá ấy lời lỗ ra sao. Họ độc quyền quyết định giá mua lúa gạo của nông dân, và ép giá thu mua sao cho thật rẻ, và sau đó, họ đem xuất khẩu gạo bán với giá cao, lấy chênh lệch làm lợi nhuận chia nhau hưởng.  Mua rẻ, và bán phá giá thật rẻ (so với các nước xuất khẩu gạo khác) làm cho giá gạo VN rất rẻ so với gạo cùng loại do các nước khác sản suất. Kết quả là các công ty lúa gạo Vinafood 1 và Vinafood 2 có lời rất nhiều, cán bộ chia nhau hưởng  từ 32-80 triệu mỗi tháng, còn người nông dân trực tiếp sản suất lúa gạo được 200.000- 500.000 đồng/ 1 tháng.  

150 công ty xuất khẩu lúa gạo đều do cán bộ đảng, gia đình, đồng chí của họ và nhà nước làm chủ. Người ngoài không thể chui lọt vào hay thành lập công ty lớn để thu mua lúa gạo và xuất khẩu.  Thảng hoặc, có một số công ty tư nhân thu mua lúa gạo để xuất khẩu, nhưng đó chỉ là cò mồi, trưng hàng vì nhà nước VN phải tuân thủ hiệp định WTO 2006 để tư nhân thành lập công ty xuất khẩu gạo. 

Bài viết dưới đây của một người nông dân bám với ruộng đồng từ năm 1990 sẽ cho các bạn thấy: làm thế nào cán bộ Vinafood 1 và Vinafood 2 có được mức lương cao ngất trời.

Bất công quá nông dân sẽ tức nước vỡ bờ

Hoàng Kim (Đồng Tháp)

28-5-2013

Lãnh đạo Tổng công ty Lương thực miền Nam thu nhập một tháng 79.749.000 đồng, hộ nông dân 4 người có 3,3 ha thu nhập mỗi người chỉ có 550.000 đồng một tháng. Tức là lãnh đạo Tổng công ty lương thực miền Nam thu nhập gấp 145 lần một nông dân.

Với thu nhập 550.000 đồng/ tháng, nông dân làm không đủ ăn, nên dù có cố gắng nhịn ăn nhịn mặc cả đời cũng không thể để dành được số tiền bằng lương một tháng của lãnh đạo Tổng công ty Lương thực miền Nam.

Đây không phải là nghịch lý, đây là cả một sự khốn nạn!

Nếu sự bất công khốn nạn này không thay đổi, sẽ có ngày nông dân buộc phải tức nước vỡ bờ để đòi lại quyền lợi cho mình.

Thu nhập của lãnh đạo Tổng công ty Lương thực Miền Nam gần 1 tỷ đồng một năm

Báo cáo kiểm toán của Kiểm toán Nhà nước gởi đến Quốc hội cho biết vào năm 2011:

“ Tại Tổng công ty Lương thực miền Bắc (Vinafood 1), thu nhập bình quân của lãnh đạo năm 2011 là 56,5 triệu đồng/người/tháng…

“Khủng” hơn là thu nhập bình quân của lãnh đạo Tổng công ty Lương thực miền Nam (Vinafood 2) với 79,749 triệu đồng/người/tháng. Khối văn phòng Tổng công ty là 32,9 triệu đồng/người tháng”[1].

Thu nhập bình quân của lãnh đạo Tổng công ty Lương thực miền Nam 79.749.000 đồng/ tháng, vậy một năm mỗi lãnh đạo thu nhập 956.988.000 đồng.

Tiền lương gần 1 tỷ một năm đã biến lãnh đạo của Tổng công ty Lương thực miền Nam thành bọn tư bản hút máu của nông dân.

Một hộ nông dân 4 người có 3,3 ha chỉ thu nhập 6.750.000 đồng một năm

Tổ chức Oxfam tại Việt Nam phối hợp với Viện Chính sách và Chiến lược phát triển nông nghiệp, nông thôn (Ipsard) điều tra, nghiên cứu đưa ra số liệu:

“ Kết quả điều tra tại thời điểm năm 2011 cho thấy, với diện tích bình quân 3,3ha/hộ, thu nhập hàng năm của người trồng lúa chỉ đạt 27 triệu đồng, tương đương với 550.000 đồng/người/tháng, thấp hơn thu nhập từ làm các cây trồng khác” [2].

Với thu nhập không đủ sống này nông dân đang bị bần cùng hóa phải bán dần đất để ăn.

Bán gạo xuất khẩu giá thấp nhất thế giới, nhưng lương lại cao ngút trời

Chúng ta hãy xem tài năng bán gạo xuất khẩu của lãnh đạo VFA và lãnh đạo Tổng công ty Lương thực miền Nam liệu có xứng đáng nhận mức lương khủng hay không.

– Hiệp hội lương thực Việt Nam luôn bán gạo với giá rẻ nhất thế giới:

Đây là giá gạo thế giới ngày 22/5/2013 do Gafin.vn cung cấp, trong đó Việt Nam luôn bán gạo với giá thấp nhất so với Thái Lan, Ấn Độ và Pakistan [3].

 

clip_image001 

– Còn những năm trước VFA bán gạo thế nào?

Báo Tuổi Trẻ Online cho biết: “Trong vòng 5 năm 2001-2005 “giá của chúng ta chỉ bằng gần 80% giá bình quân thế giới (220USD/tấn). Đó là giá bán “bèo” nhất trong số 5 nước xuất khẩu gạo nhiều nhất thế giới (xét theo khối lượng) theo thứ tự là Thái Lan, Ấn Độ, Việt Nam, Pakistan”.

Năm 2006, trong một bài trả lời phỏng vấn trên báo VnExpress, ông Trương Thanh Phong, Tổng giám đốc công ty Lương thực miền Nam, kiêm Chủ tịch VFA, cho biết: “Chỉ trong một thời gian ngắn từ mức giá hơn 260 USD/tấn, loại gạo 5 % tấm liên tục rớt giá và hiện được doanh nghiệp ký bán với giá chỉ 242 – 245 USD/tấn. Trong khi giá thành loại gạo này lên đến 248 USD/tấn”.

Năm 2008, ngừng xuất khẩu gạo vì lý do an ninh lương thực, giá gạo xuất khẩu giảm, theo các chuyên gia nông dân thiệt khoảng nửa tỷ đô la Mỹ.

Năm 2009, báo Lao Động Online cho biết: “Nghịch lý ở chỗ “làm chủ” thị trường gạo, nhưng hiện giá gạo của ta vẫn thấp nhất thế giới…”.

Từ năm 2010 đến nay Việt nam vẫn giữ vững thành tích bán gạo rẻ nhất thế giới so với 5 nước xuất khẩu gạo nhiều nhất thế giới, đặc biệt trong năm 2013 này, gạo Việt Nam bán rẻ hơn gạo của Ấn độ cùng loại từ 70-80 đô la Mỹ/ tấn trong khi gạo Việt Nam có chất lượng cao hơn gạo Ấn Độ.

Nay, gió đã đổi chiều, khi mà từ đầu năm tới nay, có lúc giá gạo bình quân của Việt Nam rẻ hơn gạo Ấn (ở đây chỉ nói tới gạo trắng như Việt Nam, vốn chiếm chủ lực trong xuất khẩu của Ấn chứ không phải gạo Basmati) 50 đô la, thậm chí rẻ hơn tới 75 – 80 đô la/tấn.

Hồi đầu tháng 5, trong một cuộc họp của Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA), những con số mà tổ chức này đưa ra khiến những người gắn bó với cây lúa, hạt gạo nản lòng. Từ cuối tháng 3 đến nay, giá chào gạo xuất khẩu 5% tấm của Việt Nam cũng rất ít lần vượt quá 390 đô la Mỹ/tấn. Giá chào gạo 5% tấm của Viêt Nam ngày 7-5 từ 375 đến 385 đô la Mỹ/tấn, thấp hơn gạo 5% tấm của Ấn Độ 75 đô la Mỹ” (Thời Báo Kinh Tế Sài Gòn [3]).

Bán gạo xuất khẩu với giá thấp nhất thế giới, bán kiểu ngu đần này thì ai bán mà không được, không bắt tội gây hại cho quyền lợi của nông dân là may rồi, tài năng gì mà nhận lương cao chót vót?

Ép giá lúa của nông dân tận đáy nên VFA và Tổng công ty Lương thực miền Nam lời khủng

Năm nào cũng bán gạo xuất khẩu với giá thấp nhất thế giới, nhưng do được Chính phủ cho phép độc quyền mua lúa của nông dân, nên VFA và Tổng Công ty Lương thực miền Nam luôn dùng mọi thủ đoạn để hạ giá lúa của nông dân đến đáy mới mua.

Năm 2008 Hiệp hội Lương thực Việt Nam bán gạo xuất khẩu giá quy ra giá lúa 6.432 đồng/kg, mua lúa nông dân với giá 4.000 đồng/kg. Hiệp hội lời 2.432 đồng/kg, nông dân bán lúa hòa vốn.

Năm 2009, bán gạo xuất khẩu quy lúa giá 6.362 đồng/kg, mua lúa của nông dân với giá 4.000 đồng/kg. Hiệp hội lời 2.362 đồng/ kg, nông dân hòa vốn.

Năm 2010, Hiệp hội Lương thực Việt Nam mua lúa tạm trữ cả hai vụ đông xuân và hè thu với giá vẫn 4.000 đồng/kg, nhưng bán gạo với giá qui lúa 5.365 đồng/kg, cả năm này, nông dân lời không đủ sống.

Năm 2011 và 2012 vẫn áp dụng thủ đoạn hạ giá lúa đến đáy để mua tạm trữ nên lợi nhuận của doanh nghiệp trong VFA rất cao.

Năm 2013 này Tổng công ty Lương thực miền Nam và VFA ép giá lúa của nông dân từ 5.400 đồng/kg khi bắt đầu thu hoạch xuống còn có 4.500 đồng/kg để bắt đầu mua tạm trữ.

Với thủ đoạn ép giá lúa nông dân đến tận đáy, VFA và Tổng công ty lương thực Miền Nam chính là bọn cường hào mới đang bóc lột nông dân đến tận xương tủy.

Nông dân đang bị bần cùng vì lãnh đạo Tổng công ty Lương thực miền Nam và VFA đem gạo của nông dân bán như bèo ra thị trường thế giới, thế mà lãnh đạo Tổng công ty Lương thực miền Nam lại có mức lương cao gấp 145 lần nông dân.

Coi chừng! Bất công quá nông dân sẽ tức nước vỡ bờ đấy.

H.K.

Tài liệu tham khảo:

(1) doanhnhansaigon.vn. Bài “ Lương lãnh đạo cao, hiệu quả kinh doanh thấp” http://www.doanhnhansaigon.vn/online/tin-tuc/chinh-tri-xa-hoi/2013/05/1073862/chuyen-thu-nhap-cua-sep-doanh-nghiep-nha-nuoc/

(2) Dân Việt Online. Bài “ Oxfam: Trồng lúa ngày càng lãi ít” http://danviet.vn/132442p1c25/oxfam-trong-lua-ngay-cang-it-lai.htm

(3) Bài “Tổng hợp tin thị trường gạo thế giới ngày 22/5” http://gafin.vn/20130522090121291p39c48/tong-hop-tin-thi-truong-gao-the-gioi-ngay-22-5.htm

(4) Bài “Bán gạo giá rẻ, tại người hay tại ta?

http://www.thesaigontimes.vn/home/diendan/goctoasoan/96201/

———-

Bài liên quan:

https://hoangtran204.wordpress.com/category/nong-dan-viet-nam/

Posted in Nong Dan Viet Nam | 4 Comments »

►Kêu gọi biểu tình chống Trung Quốc ở Hà Nội, Sài Gòn vào ngày Chủ Nhật 2 tháng 6

Posted by hoangtran204 trên 30/05/2013

Kêu gọi biểu tình chống Trung Quốc

ở Hà Nội, Sài Gòn

May 29, 2013

báo  nguoi-viet.com

Dân chúng Hà Nội biểu tình chống Trung quốc bá quyền ngày 9/12/2012 ở Hà Nội. Nhiều người đã bị bắt giam và đánh đập. (Hình: HOANG DINH NAM/AFP/Getty Images)

Dân chúng Hà Nội biểu tình chống Trung quốc bá quyền ngày 9/12/2012 ở Hà Nội. Nhiều người đã bị bắt giam và đánh đập. (Hình: HOANG DINH NAM/AFP/Getty Images)

HÀ NỘI (NV) .- Một lời kêu gọi người dân Việt Nam ở Hà Nội và Sài Gòn đi biểu tình chống Trung Quốc bá quyền ngang ngược vào ngày Chủ Nhật 2 tháng 6 tới đây đang truyền tải qua các mạng xã hội và facebook.

Lời kêu gọi mới được phổ biến trên facebook hôm Thứ Tư 29 tháng 5, 2013 hô hào “toàn dân xuống đường biểu tình phản đối Trung Quốc gây hấn và xâm phạm chủ quyền Việt Nam trên Biển Đông”.

“Một mùa hè nóng bỏng đã đến. Nhà cầm quyền Trung quốc lại quen thói ra tuyên bố cấm đánh bắt cá ở Biển Đông – trong đó có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc chủ quyền Việt Nam.”

Lời kêu gọi biểu tình viết. “Tiếp theo tuyên bố ngang ngược đó, Trung quốc điều hàng chục tàu cá có sự yểm trợ của tàu chiến để đánh bắt trộm trên Biển Đông. Trung Cộng đã ra tay đâm thẳng vào tàu cá của ngư dân Việt Nam, bắt giữ và áp giải tàu thuyền của ta đang đánh bắt trên ngư trường quen thuộc Hoàng Sa. Hành động đó của nhà cầm quyền bành trướng Trung Cộng vi phạm nghiêm trọng chủ quyền Việt Nam trên Biển Đông”.

Lời kêu gọi hô hào “Đồng bào hãy xuống đường đem theo khẩu hiệu biểu ngữ hòa cùng dòng người hô vang khẩu hiệu “Đả đảo bành trướng Trung quốc xâm lược, xâm phạm chủ quyền Việt Nam.”

Lời kêu gọi đưa ra địa điểm tập trung để biểu tình là 8 giờ 30 sáng Chủ Nhật 2 tháng 6, 2013 tại khu vực Hồ Gươm, Hà Nội, và Công viên 30 tháng 4 ở Sài Gòn.

Ngày 28 tháng 5, 2013 tàu đánh cá của ngư dân Quảng Bình hoạt động ở khu vực giữa Đà Nẵng và Hoàng Sa đã bị tàu tuần Trung quốc bắt giữ rồi thả ra sau 4 giờ bắt đi theo về hướng Trung quốc. Một tuần trước đó, tàu tuần Trung quốc đã đâm nhiều lần với ý định đâm cho chìm để giết người ở khu vực quần đảo Hoàng sa. Hai tháng trước thì bắn trái sáng cho cháy một tàu đánh cá khác.

Người dân Việt Nam mấy năm gần đây đã biểu tình chống Trung quốc nhiều lần mỗi khi Bắc Kinh có hành động ngang ngược trên Biển Đông mà nhà cầm quyền Hà Nội chỉ dám phản đối suông. Tuy nhiên, các cuộc biểu tình này đểu bị Công an đàn áp. Nhiều người đi biểu tình đã bị bắt giữ, đánh đập dã man. Những người viết blogs nổi tiếng đấu tranh dân chủ đều bị lực lượng công an canh gác chặt chẽ quanh nhà, không cho ra đường để tham dự biểu tình.

Ngày 16 tháng 5, 2013, nhà cầm quyền Việt Nam đã kết án tù nặng nề đối với hai sinh viên Nguyễn Phương Uyên và Đinh Nguyên Kha trong một phiên tòa ở Long An vì họ đã rải truyền đơn chống Trung Quốc và bày tỏ lòng yêu nước.

Nguyễn Phương Uyên, 21 tuổi, bị kết án 6 năm tù 3 năm quản chế và Đinh Nguyên Kha, 25 tuổi, bị kết tán 8 năm tù và 3 năm quản chế. Hoa Kỳ, các tổ chức bảo vệ nhân quyền thế giới đã lên án chế độ Hà Nội là vi phạm quyền tự do phát biểu của người dân. (TN)

Nguồn nguoi-viet.com

—-

Các chức sắc 5 tôn giáo họp mặt tại

Dòng Chúa Cứu Thế

VRNs (30.05.2013) – Sài Gòn – Các tôn giáo phản đối hành động vô đạo đức và phi pháp của công an.

Sáng hôm qua, ngày 29.05, khi thấy hai an ninh vào trong khu vực nhà thờ DCCT Sài Gòn, 38 Kỳ Đồng, phía Đức Mẹ, ngồi quay lưng vào trong, với thái độ bất kính với nơi tôn nghiêm của tôn giáo, cha Giuse Đinh Hữu Thoại, chánh văn phòng DCCT đã đến mời hai anh an ninh này ra ngoài. Anh an ninh mặc áo thun sọc đen trắng ngang phản ứng mạnh mẽ, đưa tay chỉ và xỉa xói cha Thoại. Lúc đó, phóng viên Huyền Trang của VRNs cũng đến để làm việc, và nhận ra chính anh an ninh này là người đã đánh cô Huyền Trang dã man trong đồn công an vào ngày xét xử hai nhạc sĩ Việt Khang và Trần Vũ Anh Bình.

Viên an ninh này không chịu ra, với lý do tự nhận mình là người Công giáo. Cha Giuse Hồ Đắc Tâm, bề trên chánh xứ, đến mời anh ta ra, anh ta cũng lập lại mình là người Công giáo, và không chịu ra. Cha Bề trên hỏi: “Anh tên thánh gì?” “Gioan”, viên an ninh trả lời. Cha bề trên hỏi “Gioan nào?” Viên an ninh ấp úng không trả lời được. Anh ta tự nhận mình là người xóm 3, cha xứ yêu cầu anh ra khỏi nhà thờ và mời bố mẹ ra gặp cha xứ nói chuyện, nếu là người Công giáo. Anh ta lấy xe đi ra một cách tức tối, tiếp tục chỉ vào cha Thoại nói năng thô tục và nặng lời.

Khi các chức sắc của Phật giáo Hòa Hảo và Cao Đài giáo Tây Ninh đến, nhiều nhân viên an ninh khác lại xuất hiện ở khu vực nhà sách. Một anh tiếp tục tỏ thái độ không phù hợp với nơi thờ tự, cha chánh xứ lại mời ra. Anh này cương quyết không ra, phải đợi đến khi thầy Phêrô Phạm Công Thuận, giáo sư Anh ngữ, đến kéo tay, dẫn anh ta ra ngoài mới chịu ra.

Hết ý với an ninh!

Cũng sáng nay, Hòa thượng Thích Không Tánh, tổng vụ trưởng vụ Từ thiện xã hội, Giáo hội Phật giáo VN Thống nhất đã gọi điện thoại báo cho VRNs biết là công an bao vây chùa Liên Trì, không cho thầy ra khỏi nhà. Cũng tương tự như vậy, mục sư Nguyễn Hoàng Hoa, từ sáng sớm đã ra bến xe để đi Sài Gòn, nhưng công an đã gây áp lực cho bà mục sư, và buộc bà phải gọi ông mục sư về để đợi công an gọi đi làm việc. Một lần nữa, công an Việt Nam giới thiệu mình là những người xâm phạm quyền tự do đi lại của các công dân, chức sắc tôn giáo.

Phản ứng với sự việc này, cụ Lê Quang Liêm, Hội trưởng Phật giáo Hòa Hảo Thuần túy nói: “Mục sư Nguyễn Hoàng Hoa bị sách nhiễu nhiều, không cho ông tham gia Hội đồng liên tôn, để lên tiếng về vấn đề nhân quyền cho VN. Chính công an đã cản trở. Chính mục sư Nguyễn Hoàng Hoa, tối hôm qua đã nói với tôi sẽ đi, nhưng sáng nay công an ngăn chặn. Cộng sản VN viết Hiến pháp là công dân được tự do đi lại, nhưng chính cộng sản đã phản bội HP của mình, vậy viết làm gì?” Cụ Hội trưởng cũng đề nghị các tổ chức Nhân quyền của LHQ phải chú ý vấn đề này. Quý vị ra tuyên bố nhân quyền mà không có chế tài với những nước không thực hiện như VN thì cũng không ích gì.

Cụ Lê Quang Liêm

Ông Chánh trị sự Hứa Phi, Hội thánh đại đạo, Tam kỳ phổ độ tòa thánh Tây Ninh nói: “Chúng tôi các chức sắc tôn giáo hẹn với nhau đến DCCT Sài Gòn để bàn với nhau cách hướng dẫn các tín đồ tôn giáo đi vào con đường chân thiện mỹ để cho xã hội để ngày càng văn minh hiện đại… Hòa thượng Thích Không Tánh và mục sư Nguyễn Hoàng Hòa đã bị cản trở không đến được. Như vậy tôi xét rằng nhà nước VN đã vi phạm vào quyền công dân VN. Ngăn cản các chức sắc tôn giáo hội họp với nhau là nhà nước vi phạm tự do tôn giáo”.

Ông chánh trị sự Hứa Phi (bên phải)

Bà Chánh trị sự Nguyễn Bạch Phụng cho biết: “Chúng tôi đến với nhau để bàn về niềm tin các tôn giáo, để đấu tranh cho bất công trong xã hội, và làm cho đất nước VN có tự do dân chủ. Việc cấm Hòa thượng Thích Không Tánh và Mục sư Nguyễn Hoàng Hoa đến với chúng tôi là nhà nước VN vi phạm các điều 17, 18 và 19 trong Bản tuyên ngôn quốc tế về Nhân quyền, tức là quyền tự do tín ngưỡng, tự do ngôn luận, tự do hội họp và tự do lập hội. Qua việc ngăn cản này, chúng tôi thấy VN vi phạm trầm trọng những gì mình đã ký kết”.

Bà chánh trị sự Nguyễn Bạch Phụng

Cha Giuse Đinh Hữu Thoại cho biết: “Tôi được giáo dân báo là an ninh đến rất đông, bao vây quanh cổng nhà thờ và vào ngồi bên trong hành lang nhà thờ. Đích thân tôi đã mời một an ninh ra khỏi nhà thờ, vì đây là nơi tôn nghiêm, không có chuyện đến đây để quan sát theo dõi. Anh an ninh này rất hung hăng, như thể muốn hành hung cả tôi. Chúng tôi thách thức cơ quan công an chứng minh được chúng tôi vi phạm pháp luật. Còn nếu chúng tôi không vi phạm pháp luật thì chúng tôi lên án hành vi lạm quyền của công an, xâm nhập vào khu vực nhà thờ bất hợp pháp”.

Cha Giuse Đinh Hữu Thoại (bìa phải)

Ông Chánh trị sự Nguyễn Kim Lân, tộc đạo Châu Thành, Vĩnh Long nói: “Chúng tôi lên án nhà đương cuộc thường rêu rao có tự do dân chủ, tôn trọng nhân quyền, nhưng sáng nay mục sư Nguyễn Hoàng Hoa đã bị ngăn không đến được nhà thờ DCCT để cùng chúng tôi bàn về vấn đề xã hội và nhân nghĩa. Hòa thượng Thích Không Tánh cũng bị ngăn cản không ra khỏi chùa được. Đây là bằng chứng xác thực và hùng hồn nhất là nhà đương cuộc Đảng CSVN nói một đàng, làm một nẻo”.

Ông Chánh trị sự Nguyễn Kim Lân

Những nội dung thảo luận cụ thể của các chức sắc thuộc 5 tôn giáo trực tiếp sáng nay và qua điện thoại sẽ được chúng tôi công bố trong thời gian sớm nhất.

PV. VRNs

►Blogger Trương Duy Nhất bị bắt vì bài viết: Bỏ Phiếu cùng Quốc Hội?

►Nợ công của Việt Nam, nếu tính hết phần vay nợ của các doanh nghiệp Nhà nước, có thể lên đến 95% GDP,–Tình hình kinh tế gay go lắm rồi! (Phó chủ tịch nước )  100 đồng GDP, 95 đồng nợ

►Nhân ngày Phật Đản 24-5-2013: “TỪ BỎ THẾ GIỚI DUY ÁC ĐỂ THÀNH PHẬT”

►HỌ ĐÃ BẮT Anh Trần Huỳnh Duy Thức NHƯ THẾ NÀO hôm 24-5-2009?

►Cuộc chiến tranh tiền tệ giữa các quốc gia ảnh hưởng đến tỷ giá giữa đồng nội tệ VNĐ và các loại ngoại tệ khác, đang hội tụ và ngày càng tạo ra những vùng áp lực đánh vào chế độ độc tài toàn trị

►Tình hình kinh tế gay go lắm rồi! Phó CT nước Nguyễn Thị Doan

►Có bao nhiêu người Việt ra đi khỏi nước sau 1975?

Lạm Phát ở Việt Nam: Tiền Đồng VN 3 lần đoạt giải nhất thế giới là đồng tiền ít có giá trị nhất vào năm 2006, 2008, và 2009. Hiện nay thì tiền đồng Việt Nam chỉ đứng dưới 1 nước, Somali và trên hạng 279 nước

►Tình yêu của một phóng viên dành cho những người bị thua trận (Phóng viên người Đức viết về CSVN thảm sát Mậu Thân và tội ác diệt chủng của VC)

Nhân ngày 30-4: Câu chuyện về 16 tấn vàng, đảng đút túi, nhưng tung tin đổ thừa cho Tổng Thống Thiệu lấy

Người Campuchia nói chuyện về chính quyền Việt Nam

Cuộc triển lãm Thương Thuyết tại xứ Cộng Hòa Phi Lý…dẫn đến chuyện Cấm Nhập Cảnh vào Việt Nam – Chuyện có thật!

Posted in Biểu Tình và Lập Hội | 1 Comment »

►Blogger Trương Duy Nhất bị bắt vì bài viết: Bỏ Phiếu cùng Quốc Hội?

Posted by hoangtran204 trên 28/05/2013

Những người có thể là “bị hại” trong vụ án Trương Duy Nhất

Đồng Phụng Việt

28-5-2013

Vụ khởi tố blogger Trương Duy Nhất và bắt giữ blogger này không làm nhiều người ngạc nhiên. Nó chỉ khiến người ta vừa phẫn nộ, vừa ngao ngán.

Đã có khá nhiều người phân tích, bình luận về việc tại sao Công an lại bắt Trương Duy Nhất và bắt vào thời điểm này (?). Riêng mình vì không đủ thông tin nên không dám lạm bàn.

Sáng nay, vào Ba Sàm – một trong những chỗ đang tiếp tục giới thiệu những thông tin, ý kiến xoay quanh vụ Trương Duy Nhất – thì thấy bài “Bỏ phiếu cùng quốc hội – Trương Duy Nhất vì bài này mà bị túm?” của blogger Người Lót Gạch (1). [“Bỏ phiếu cùng quốc hội – Trương Duy Nhất vì bài này mà bị túm?” Người Lót Gạch chỉ viết tựa đề, còn bài Bỏ Phiếu cùng Quốc Hội là do Trương Duy Nhất viết- TH]

Đọc xong “Bỏ phiếu cùng Quốc hội” của blogger Trương Duy Nhất, mình nghĩ blogger Người Lót Gạch phán đoán đúng.  [“Bỏ phiếu cùng quốc hội – Trương Duy Nhất vì bài này mà bị túm?” Người Lót Gạch chỉ thêm 8 chữ vào tựa đề của bài Bỏ Phiếu cùng Quốc Hội của Trương Duy Nhất viết- TH]

1. Quốc hội đã xác định sẽ tổ chức “lấy phiếu tín nhiệm” và “bỏ phiếu tín nhiệm” bằng một nghị quyết.

Theo đó, “lấy phiếu tín nhiệm” sẽ là công việc được tiến hành hàng năm, đối với 49 chức danh, vốn do các đại biểu Quốc hội từng bỏ phiếu bầu chọn: Chủ tịch Nhà nước, Phó Chủ tịch Nhà nước, Chủ tịch Quốc hội, Phó Chủ tịch Quốc hội, các thành viên của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ tịch Hội đồng Dân tộc, Chủ nhiệm các Ủy ban của Quốc hội, Thủ tướng, các Phó Thủ tướng, các Bộ trưởng và những thành viên khác của chính phủ, Chánh án Tòa án Tối cao, Viện trưởng Viện Kiểm sát Tối cao, Tổng Kiểm toán Nhà nước.

Còn “bỏ phiếu tín nhiệm” là công việc sẽ tiến hành đối với những người không đạt mức độ tín nhiệm ở vòng “lấy phiếu tín nhiệm” (bị 2/3 đại biểu Quốc hội xác định là “tín nhiệm thấp”, hoặc trong hai năm liền bị 1/2 đại biểu Quốc hội xác định là “tín nhiệm thấp”). Hoặc bị Ủy ban thường vụ Quốc hội, các Ủy ban của Quốc hội hay 20% đại biểu Quốc hội yêu cầu “bỏ phiếu tín nhiệm”.

Ở kỳ họp Quốc hội lần này (kỳ họp thứ 5 – đã khai mạc hôm 20 tháng 5), các đại biểu Quốc hội khóa 13 sẽ thực hiện việc “lấy phiếu tín nhiệm”.

2.

Đó cũng là lý do blogger Trương Duy Nhất viết “Bỏ phiếu cùng Quốc hội”.

Trong “Bỏ phiếu cùng Quốc hội”, Trương Duy Nhất đề nghị mọi người cùng Quốc hội, thực hiện “lấy phiếu tín nhiệm” qua “thùng phiếu điện tử” trên website “Một góc nhìn khác”, mục tiêu là nhằm “so sánh sự tín nhiệm trong Quốc hội với sự tín nhiệm ngoài dân chúng”.

Tuy nhiên, do đối tượng thuộc diện cần “lấy phiếu tín nhiệm” quá đông, “không ít chức danh có thể vẫn còn xa lạ với bạn đọc, để bạn đọc có được sự tập trung cao và chính xác trong lá phiếu”, Trương Duy Nhất quyết định chỉ tổ chức “lấy phiếu tín nhiệm” trong độc giả “Một góc nhìn khác” với 12 chức danh gồm: Chủ tịch Nước, Phó Chủ tịch Nước, Chủ tịch Quốc hội, các Phó Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng và các Phó Thủ tướng.

Cũng theo Trương Duy Nhất, dẫu Quốc hội chỉ “lấy phiếu tín nhiệm” ở ba mức độ: “Tín nhiệm cao”, “Tín nhiệm” và “Tín nhiệm thấp” nhưng “để công bằng”, Trương Duy Nhất tạo thêm “Không tín nhiệm” cho độc giả lựa chọn.

Dưới đây là kết quả cuộc “lấy phiếu tín nhiệm” do Trương Duy Nhất tổ chức trên “Một góc nhìn khác” (bảng do mình lập dựa trên kết quả do Trương Duy Nhất công bố).

  Chức danh/ Tên Tổng số phiếu bầu Tín nhiệm cao (Tỷ lệ/Số người bầu) Tín nhiệm(Tỷ lệ/Số người bầu) Tín nhiệm thấp(Tỷ lệ/Số người bầu) Không tín nhiệm(Tỷ lệ/Số người bầu)
1 Chủ tịch Nước Trương Tấn Sang 958 13% (121 Votes) 34% (327 Votes) 30% (291 Votes) 23% (219 Votes)
2 Phó Chủ tịch Nước Nguyễn Thị Doan 817 1%(8 Votes) 8%(69 Votes) 24% (194 Votes) 67% (546 Votes)
3 Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng 777 1%(10 Votes) 8%(66 Votes) 31% (237 Votes) 60% (464 Votes)
4 Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân 687 8%(57 Votes) 39% (266 Votes) 32% (220 Votes) 21% (144 Votes)
5 Phó Chủ tịch Quốc hội Tòng Thị Phóng 629 1%(3 Votes) 7%(45 Votes) 34% (215 Votes) 58% (366 Votes)
6 Phó Chủ tịch Quốc hội Uông Chu Lưu 532 2%(9 Votes) 22% (118 Votes) 40%, (212 Votes) 36% (193 Votes)
7 Phó Chủ tịch Quốc hội Huỳnh Ngọc Sơn 497 3%(11 Votes) 22% (109 Votes) 43% (216 Votes) 32% (161 Votes)
8 Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng 820 4%(33 Votes) 3%(25 Votes) 17% (136 Votes) 76% (626 Votes)
9 Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc 625 2%(11 Votes) 8%(50 Votes) 29% (182 Votes) 61% (382 Votes)
10 Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân 627 3%(18 Votes) 20% (126 Votes) 39% (243 Votes) 38% (240 Votes)
11 Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải 594 1%(8 Votes) 9%(52 Votes) 25% (149 Votes) 65% (385 Votes)
12 Phó Thủ tướng Vũ Văn Ninh 583 1%(8 Votes) 18% (104 Votes) 40% (233 Votes) 41%, (238 Votes)

Theo kết quả “lấy phiếu tín nhiệm” trong dân, do Trương Duy Nhất thực hiện thì ông Trương Tấn Sang – Chủ tịch nước dẫn đầu cả về số phiếu bầu (958) lẫn mức độ “Tín nhiệm cao” (13%). Ông Nguyễn Tấn Dũng xếp thứ nhì về số phiếu bầu (820) và dẫn đầu về mức độ… “Không tín nhiệm” (76%).

Nếu cứ theo đúng tinh thần của nghị quyết về “lấy phiếu tín nhiệm” và “bỏ phiếu tín nhiệm” mà Quốc hội đã thông qua…

nếu các đại biểu Quốc hội thực hiện đúng vai trò đại diện cho dân, tìm hiểu dân nguyện, bỏ phiếu theo dân ý…

nếu “thùng phiếu điện tử” của “Một góc nhìn khác” được xem là một nguồn tham khảo đáng tin cậy về dân nguyện, dân ý,…

thì… sau vòng “lấy phiếu tín nhiệm”, Quốc hội sẽ phải tổ chức để đại biểu Quốc hội “bỏ phiếu tín nhiệm” ngay lập tức cho các “thí sinh”: Nguyễn Thị Doan, Nguyễn Sinh Hùng, Tòng Thị Phóng, Uông Chu Lưu, Huỳnh Ngọc Sơn, Nguyễn Tấn Dũng, Nguyễn Xuân Phúc, Nguyễn Thiện Nhân, Hoàng Trung Hải, Vũ Văn Ninh.

Chỉ có hai “thí sinh”: Trương Tấn Sang và Nguyễn Thị Kim Ngân có thể để lại, chờ kết quả “lấy phiếu tín nhiệm” năm tới.

Không biết “Bỏ phiếu cùng Quốc hội” của blogger Trương Duy Nhất và kết quả thu thập được từ “Thùng phiếu điện tử” do blogger này công bố có tác động gì tới chính trường hay không (?) nhưng mới đây, Quốc hội loan báo sẽ không cho báo giới tham dự các phiên thảo luận về bỏ phiếu miễn nhiệm Bộ trưởng Tài chính và Tổng Kiểm toán Nhà nước đương nhiệm, phê chuẩn đề nghị bổ nhiệm Bộ trưởng Tài chính mới, bầu Tổng Kiểm toán Nhà nước mới. Báo giới cũng không được tham dự buổi báo cáo của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về việc chuẩn bị tổ chức “lấy phiếu tín nhiệm”, “bỏ phiếu tín nhiệm” và các phiên thảo luận về vấn đề này (2).

3.

Cho tới giờ, mọi người được biết, blogger Trương Duy Nhất bị khởi tố và bị bắt khẩn cấp về hành vi “lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước Việt Nam, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân” (được qui định tại Điều 258 Bộ Luật Hình sự).

Theo qui định tại khoản 1 Điều 81 của Bộ Luật Tố tụng Hình sự thì các cơ quan bảo vệ pháp luật chỉ có quyền bắt khẩn cấp khi: a/ Có căn cứ để cho rằng người đó đang chuẩn bị thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. b/ Người bị hại hoặc người có mặt tại nơi xảy ra tội phạm chính mắt trông thấy và xác nhận đúng là người đã thực hiện tội phạm mà xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn. c/ Khi thấy có dấu vết của tội phạm ở người hoặc tại chỗ ở của người bị nghi thực hiện tội phạm và xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn hoặc tiêu huỷ chứng cứ.

Trường hợp của blogger Trương Duy Nhất không rơi vào điểm b và điểm c của khoản 1, Điều 81 Bộ Luật Tố tụng Hình sự.

Chỉ còn lại điểm a: “có căn cứ để cho rằng người đó đang chuẩn bị thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng”.

Tuy nhiên theo Khoản 3, Điều 8 của Bộ Luật Hình sự thì “tội phạm rất nghiêm trọng” là tội phạm mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến 15 năm tù. Còn “tội phạm đặc biệt nghiêm trọng” là tội phạm mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là trên mười lăm năm tù, tù chung thân hoặc tử hình.

Trong khi mức hình phạt cao nhất đối với những người vi phạm Điều 258 (lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước Việt Nam, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân) chỉ có bảy năm tù.

Nói cách khác, bắt Trương Duy Nhất theo hình thức “bắt khẩn cấp” là kiểu hành xử “khẩn cấp” tới mức… quên hẳn các quy định pháp luật về tố tụng hình sự!

4.

Nhiều blogger khẳng định, blog “Một góc nhìn khác” của Trương Duy Nhất bị đóng ngay vào thời điểm blogger này bị bắt. Nếu đúng thì đó là điều mà trước nay chưa có tiền lệ (bắt blogger phải đóng blog của họ trước khi dẫn giải vào trại tạm giam).

Mình xem nhiều bài Trương Duy Nhất viết, chẳng thấy bài nào “xâm phạm lợi ích của Nhà nước Việt Nam, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức”.

Riêng bài “Bỏ phiếu cùng Quốc hội” thì thời điểm thực hiện và chuyện công bố kết quả khảo sát hình như có “xâm phạm lợi ích” của mươi “công dân”: chị Doan, anh Hùng, chị Phóng, anh Lưu, anh Sơn, anh Dũng, anh Phúc, anh Nhân, anh Hải, anh Ninh.

Sở dĩ mình dùng chữ “hình như” vì hình như những thông tin loại này có thể tác động đến đại biểu Quốc hội, đến kết quả “lấy phiếu tín nhiệm”. Không như thế thì Quốc hội đâu có cấm báo giới tham dự và tường thuật những “buổi báo cáo”, “phiên thảo luận” về nội dung này. Blog “Một góc nhìn khác” đâu có bị đóng ngay, khiến thiên hạ mất cơ hội phân tích Trương Duy Nhất đã “lợi dụng các quyền tự do dân chủ” như thế nào.

Không biết có ai trong số mười anh chị này xác nhận họ là “bị hại” và yêu cầu Công an khởi tố vụ án nên Công an khởi tố Trương Duy Nhất “theo yêu cầu của bị hại” không nhỉ?

Chú thích:

         (2) Quốc hội và yêu cầu công khai, minh bạch

nguồn:

dongphungviet.wordpress.com

anhbasam04.wordpress.com

 

Nhà báo Phạm Chí Dũng:

Quốc hội Việt Nam là của ai?

27-5-2013

Thụy My
Chia sẻ bài viết này

Nhà báo Phạm Chí Dũng: Quốc hội Việt Nam là của ai ?

Tân chính phủ Việt Nam chụp hình kỷ niệm sau khi Quốc hội khóa 13 thông qua, ngày 03/08/2011.

Tân chính phủ Việt Nam chụp hình kỷ niệm sau khi Quốc hội khóa 13 thông qua, ngày 03/08/2011.

Reuters

Gần đây vào ngày 23/05/2013 báo chí Việt Nam đã đồng loạt đưa tin là báo chí sẽ không được tham dự các phiên họp của Quốc hội thảo luận và bỏ phiếu để miễn nhiệm và bổ nhiệm các chức danh Bộ trưởng Tài chính, Tổng kiểm toán Nhà nước, cũng như phiên Quốc hội nghe Ủy ban Thường vụ Quốc hội báo cáo về việc chuẩn bị tổ chức lấy phiếu tín nhiệm.

 

Vì sao Quốc hội là cơ quan dân cử cao nhất nhưng lại không cho báo chí tham dự các phiên thảo luận ? Sự kiện thiếu dân chủ này lại diễn ra vào lúc lần đầu tiên Quốc hội tổ chức việc bỏ phiếu tín nhiệm.

Chúng tôi đã đặt câu hỏi với nhà báo tự do Phạm Chí Dũng, hiện ở Thành phố Hồ Chí Minh.

 

Nhà báo Phạm Chí Dũng – TP Hồ Chí Minh

 
27/05/2013
by Thụy My
 
 

RFI Thưa anh, sự kiện báo chí Việt Nam không được dự các phiên thảo luận của Quốc hội, theo anh thì có phải do Uỷ ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) sợ lộ các thông tin bí mật liên quan đến việc bỏ phiếu tín nhiệm các nhân vật trong chính phủ ?

Nhà báo Phạm Chí Dũng : Về vấn đề này tôi cũng đang đặt câu hỏi. Tại sao báo chí lại không được tham dự  những phiên họp thảo luận trong buổi đầu tiên trong lịch sử Quốc hội tổ chức bỏ phiếu tín nhiệm như vậy. Đối với một cơ quan dân cử cao nhất như Quốc hội, việc không cho báo chí tham dự là một biểu hiện thiếu dân chủ một cách lạ lùng. [Đảng CSVN rất sợ các sự thật phơi bài lên báo,  các đề tài mà họ không kiểm soát được, đặc biệt là những sự kiện liên quan đến sự tín nhiệm các đảng viên cao cấp đang nắm giữ các chức vụ cao- TH]. 

Tôi viện dẫn một câu trả lời chính xác và đơn giản nhất cho câu hỏi trên, là ý kiến của ông Nguyễn Minh Thuyết. Ông Thuyết nguyên là đại biểu Quốc hội, ý kiến của ông Thuyết như thế này : Quốc hội chỉ họp kín trong một số trường hợp, thường là để bàn những việc liên quan đến bí mật quốc gia. Còn bầu và phê chuẩn các chức danh lãnh đạo cơ quan nhà nước không thuộc phạm vi bí mật quốc gia.

Ở những khóa Quốc hội trước, ông Nguyễn Minh Thuyết đã từng là một nghị sĩ nổi bật về nhiều ý kiến đóng góp và phản biện sắc sảo, điều mà tất nhiên không phải tất cả 500 đại biểu quốc hội đều có đủ dũng khí nói ra một các thẳng thắn và công tâm.

RFI Nhưng thưa anh, khi cấm báo chí tham dự những phiên họp có nội dung không bí mật, thì chủ trương dân chủ hóa và công khai hóa của Quốc hội sẽ ra sao ?

Về mặt luật, chúng ta có thể thấy là báo chí – vẫn thường được xem là cầu nối giữa Quốc hội với cử tri và dân chúng – hoàn toàn có đủ tư cách được tham dự các cuộc họp của Quốc hội theo quy định của điều 67 Luật tổ chức Quốc hội về “Quốc hội họp công khai”, điều 70 về “đại diện cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang nhân dân, cơ quan báo chí, công dân và khách quốc tế có thể được mời dự các phiên họp công khai của Quốc hội”.

Ông Nguyễn Minh Thuyết – nguyên đại biểu Quốc hội – cũng cho rằng việc tổ chức lấy phiếu, bỏ phiếu tín nhiệm lần đầu tiên được tổ chức ở Quốc hội, kể cả các buổi thảo luận về vấn đề này, cũng là một việc rất cần được công khai.

Nhưng mà hình như bất nhất là một thói quen khó chuyển dời của quan chức Việt Nam, dù là quan chức do dân cử.

Xin hãy nhớ lại, vào ngày 16/05/2013, khi chỉ đạo việc chuẩn bị kỳ họp, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng đã yêu cầu tăng cường công khai thông tin cho báo chí. Ông nói: “Ví dụ bàn về tiết kiệm chống lãng phí, đấu tranh phòng chống tham nhũng thì có gì mà họp kín. Báo chí cũng sẽ rất quan tâm đến việc lấy phiếu tín nhiệm. Vấn đề Hiến pháp cũng vậy, đồng chí Nguyễn Hạnh Phúc (chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội) cần chuẩn bị nội dung để công bố thông tin, giải thích rộng rãi với dư luận”.

Ông Hùng nói như vậy. Thế nhưng khi kỳ họp Quốc hội vừa bắt đầu, báo điện tử VnEconomy của Việt Nam, trong phần “Nhật ký nghị trường” hai ngày 21 và 22/5/2013, đã mô tả một cách đầy ẩn ý: “Trung tâm báo chí kỳ họp thứ 5, từ chiều 22/5 đã khá vất vả khi phải thay đổi đến ba lần thông cáo về các nội dung báo chí không được dự và được dự, liên quan đến công tác nhân sự”.

Một chi tiết khác cũng cần lưu tâm và nên được mổ xẻ sâu xa hơn là việc cấm báo chí tham dự lại diễn tiến ngay sau khi Quy chế cung cấp thông tin cho báo chí được Chính phủ ban hành.

RFI : Thưa anh, phải chăng đó là do sợ có những thông tin gọi là « nhạy cảm », nói theo kiểu Việt Nam là sẽ bị « các thế lực thù địch » lợi dụng ?

Tôi cũng cho là như vậy, và « những thế lực thù địch » trong ngoặc kép. Cần nói thẳng là hầu hết nhân sự mà Quốc hội thảo luận và bỏ phiếu tín nhiệm đều liên quan trách nhiệm đến các lĩnh vực quản lý, điều hành quan trọng của quốc gia như ngân hàng, đất đai, xăng dầu, điện lực, y tế, giáo dục, thất nghiệp, khiếu tố, tòa án, tham nhũng… đều là những chủ đề và cả vấn nạn liên quan trực tiếp đến đời sống dân sinh và có rất nhiều ý kiến của người dân và cử tri kiến nghị và yêu cầu phải giải quyết, xử lý. Do đó việc bỏ phiếu tín nhiệm đối với những nhân sự liên đới trách nhiệm lại càng phải công khai cho người dân và cử tri, chứ không thể ẩn giấu được.

Câu hỏi cần đặt ra là việc cấm báo chí tham dự có liên quan đến những vấn đề nhạy cảm như điều 4 Hiến pháp, việc đổi tên nước, chế độ sở hữu toàn dân hay sở hữu tư nhân về đất đai, có thu hồi đất hay không đối với “các dự án kinh tế xã hội” trong Luật Đất đai ; ý tưởng về Luật Biểu tình, Luật trưng cầu dân ý, và nói chung là toàn bộ dự thảo Hiến pháp sau ba, bốn lần sửa đổi, thì có nên cấm báo chí hay không?

Và một câu hỏi khác là việc cấm báo chí tham dự liệu có liên quan đến việc vào đầu kỳ họp Quốc hội lần này, chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật Quốc hội Phan Trung Lý đã đưa ra một báo cáo có tính định hướng về dự thảo sửa đổi Hiến pháp. Trong đó đặc biệt là giữ nguyên điều 4, không đổi tên nước, giữ nguyên tinh thần sở hữu toàn dân trong Luật Đất đai, vẫn thu hồi đất các dự án kinh tế xã hội ?

RFI Báo cáo này theo anh có những điều gì đáng quan tâm ?

Có một chi tiết rất đáng chú ý là báo cáo của ông Phan Trung Lý đã xác quyết sẽ không đưa vào chương trình năm 2014 Luật Biểu tình, Luật Trưng cầu dân ý theo đề xuất của chính phủ. Sự việc này xảy ra vào ngày 23/5/2013 khi UBTVQH không tán thành với đề xuất của Chính phủ đưa Luật Biểu tình, Luật Trưng cầu dân ý.

Một hiện tượng đáng ngạc nhiên là ba ngày trước khi kỳ họp Quốc hội lần thứ 5 khai mạc, chính phủ đã có văn bản về hoàn thiện 7 nhóm vấn đề của Dự thảo sửa đổi Hiến pháp, liên quan đến những đề xuất về sự cần thiết phải có Luật Biểu tình và Luật Trưng cầu ý dân. Theo tôi đây là một hiện tượng chưa từng có từ trước đến nay.

Báo chí trong nước cũng cho biết ngoài đề nghị của Chính phủ, đại biểu Quốc hội thành phố Hà Nội là ông Nguyễn Đức Chung (hiện là Giám đốc Công an thành phố Hà Nội) cũng đề nghị đưa Luật Biểu tình vào chương trình cho ý kiến tại kỳ họp thứ 8 năm 2014. Ngoài ra, Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Sóc Trăng cũng đề nghị đưa Luật Trưng cầu ý dân vào chương trình cho ý kiến tại kỳ họp Quốc hội thứ 8 năm 2014.

« Tôi nhận thức rằng sửa đổi Hiến pháp là một cơ hội lịch sử » – đại biểu Dương Trung Quốc biểu lộ như vậy. Ông Quốc nói tiếp : Để làm được như vậy, có lẽ nên khắc phục ba vấn đề, đều là quyền của người dân đang bị treo. Một là quyền tự do hội họp và biểu tình để người dân được bộc lộ hết quan điểm của mình. Hai là quyền tự do lập hội, để mọi người chia sẻ suy nghĩ, tình cảm với nhau, qua đó phản ảnh nguyện vọng của từng nhóm xã hội. Ba là quyền được trưng cầu dân ý để người dân thực hiện quyền dân chủ trực tiếp, và để Nhà nước định lượng được tâm tư, nguyện vọng của người dân trước những vấn đề hệ trọng của đất nước.

Luật Biểu tình và Luật Trưng cầu ý dân cũng là những nội dung nằm trong “Kiến nghị 72” vào đầu năm 2013 của một nhóm nhân sĩ trí thức Việt Nam và nhận được sự ủng hộ rộng rãi của nhiều người dân qua hàng chục ngàn chữ ký đồng thuận.

RFI : Thưa anh, nhưng trước đây là chính Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã từng đề xuất trước Quốc hội là nên có Luật biểu tình ?

Thời điểm đó là tháng 11/2011, trong một cuộc họp Quốc hội thì chính Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã lên diễn đàn phát biểu, và ông cũng đã đề xuất về Luật Biểu tình trước Quốc hội. Nhưng từ đó cho tới nay là gần hai năm qua mà vẫn chưa có gì cả.

Còn vào lần này thì theo một đại biểu Quốc hội là ông Trương Trọng Nghĩa – đại biểu Thành phố Hồ Chí Minh, thì Thủ tướng cũng đã đề xuất, nhưng mà dự Luật Biểu tình vẫn chưa được đưa vào chương trình năm 2014.

Ông Nghĩa nói tiếp là năm ngoái Thủ tướng và một số vị đại biểu cũng đã đề xuất xây dựng luật này. Bản thân ông Nghĩa cũng trao đổi với nhiều vị công an và họ cũng mong có Luật Biểu tình. Xây dựng luật này là để trả món nợ đối với nhân dân, vì Hiến pháp đã cho mà ta không làm được.

Theo ông Nghĩa thì xây dựng Luật Biểu tình là để “trả nợ” nhân dân nhưng cũng là giúp Nhà nước, bởi quản lý vấn đề biểu tình như hiện nay là không thích hợp. Một chi tiết đáng chú ý là chính tờ Vneconomy – báo điện tử của Việt Nam, cũng nhận xét rằng nhiều vụ biểu tình vì lãnh thổ bị xâm phạm cũng bị đánh đồng với việc tụ tập gây rối mất trật tự.

Chúng ta cần nhớ rằng những vụ biểu tình vì lãnh thổ bị xâm phạm như vậy chính là những cuộc biểu tình chống sự can thiệp của Trung Quốc, xảy ra trong hai tháng Sáu và Bảy năm 2011 tại Hà Nội. Và khi đó tình hình khá căng thẳng. Sự thừa nhận trên báo chí chính thức trong nước có thể nói khá là hiếm.

Nhưng mà đối với Ủy ban Thường vụ Quốc hội thì họ đưa ra lý do không tán thành với đề xuất của Chính phủ đưa Luật Biểu tình, Luật Trưng cầu ý dân” là : tại một kỳ họp Quốc hội chỉ có thể thông qua từ 10 đến 13 luật. Trong khi đó, Dự thảo sửa đổi Hiến pháp sẽ được thông qua vào cuối năm 2013, nên năm 2014 sẽ phải sửa đổi, bổ sung nhiều luật về tổ chức bộ máy Nhà nước, các luật phục vụ cho việc tái cơ cấu kinh tế, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh.

Điều có vẻ rất khó hiểu là trong khi Chính phủ – cơ quan phải chịu trách nhiệm trực tiếp và gay gắt nhất về việc giải quyết khiếu kiện và biểu tình đông người – đã đồng thuận với phương án cần có Luật Biểu tình và Luật Trưng cầu ý dân, thì chính UBTVQH lại không chấp thuận, dù Quốc hội chính là cơ quan thể hiện quyền lực cao nhất của người dân.

RFI Chính phủ đưa ra Luật Biểu tình mà Quốc hội vốn là đại diện của dân lại không chấp nhận, như vậy đây là một mâu thuẫn kỳ lạ ?

Có thể nói đây là lần đầu tiên có một khoảng cách lớn đến như thế giữa Quốc hội và chính phủ, chính xác là giữa Ủy ban Thường vụ Quốc hội và lãnh đạo chính phủ. Trước đây khá nhiều ý kiến của chính phủ đưa ra Quốc hội được thống nhất, được đồng thuận. Tôi chưa bàn tới việc những chủ trương của chính phủ đưa ra có thuận tình và hợp lý hay không, và trên hết là có hợp lòng dân hay không, nhưng đa số đều được Quốc hội thông qua.

Nhưng mà lần này có những vấn đề mà chính phủ đưa ra, nhưng lại bị Ủy ban Thường vụ Quốc hội bác – bác ngay khi chưa đưa ra chính thức cho đại biểu bấm nút.

Chính xác hơn, báo chí trong nước cũng bình luận một cách ẩn ý là chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật Quốc hội Phan Trung Lý « gút » đưa ra một báo cáo định hướng về những vấn đề sửa đổi Hiến pháp. Trong đó không có những vấn đề cơ bản của chính phủ đề nghị như Luật Biểu tình, Luật Trưng cầu dân ý, hay là liên quan đến cả vấn đề thu hồi đất đai.

RFI : Chẳng lẽ UBTVQH lại muốn làn sóng khiếu tố đất đai sẽ lan rộng đến mức mất kiểm soát?

Liên quan đến vấn đề vấn đề thu hồi đất đai thì cũng có một đề xuất đáng chú ý không kém của Chính phủ là “Việc thu hồi đất chỉ được thực hiện trong trường hợp thật cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh, hoặc vì lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng mà không quy định trường hợp Nhà nước thu hồi đất của các tổ chức, cá nhân vì lý do “các dự án phát triển kinh tế xã hội”.

Đề xuất trên được nêu ra trong bối cảnh việc giải quyết khiếu tố đất đai đang hết sức nóng bỏng ở Việt Nam, với khoảng 80% đơn thư khiếu tố thuộc về lĩnh vực đất đai và hơn 70% trong số đơn thư đó nhằm tố cáo rất nhiều sai phạm của các chính quyền địa phương về công tác bồi thường, cưỡng chế giải tỏa, tái định cư… Nhiều vụ khiếu kiện đất đai đã bị quy chụp cho cái mũ “tụ tập mang màu sắc chính trị” và đã bị đàn áp nặng nề.

Sau đề xuất “quyền phúc quyết thuộc về nhân dân” cũng xuất phát từ Chính phủ cách đây không lâu, đề nghị về thu hồi đất liên quan đến “các dự án phát triển kinh tế xã hội” của cơ quan này là động thái đáng lưu tâm không kém.

Nhưng với xác quyết của chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật Quốc hội Phan Trung Lý, vẫn không có một cải cách xứng đáng nào được đưa ra liên quan đến Luật Đất đai. Trái ngược với mong mỏi của người dân về quyền sở hữu đất cần được quy định trong luật, Dự thảo Hiến pháp vẫn cho rằng: vì đất đai thuộc sở hữu toàn dân nên không đặt vấn đề trưng mua vì tổ chức, cá nhân chỉ có quyền sử dụng, không có quyền sở hữu; đặc biệt là vẫn thu hồi đất đối với các dự án kinh tế xã hội.

Hệ lụy lớn lao mà bất cứ người dân nào cũng có thể thấy rõ là nếu không đưa đất đai về đúng bản chất thật của nó là quyền sở hữu của người dân, cũng như vẫn tạo điều kiện cho những chủ đầu tư phát huy một cách quyết liệt lòng tham của họ, rất nhiều bất công vô lối vẫn sẽ xảy ra với người dân bị thu hồi đất, và sẽ còn nhiều cuộc khiếu tố đông người và biểu tình bùng nổ ở nhiều địa phương trong cả nước.

Tôi tự hỏi, chẳng lẽ những sự kiện Ô Khảm ở Trung Quốc hay Tiên Lãng ở Việt Nam vẫn chưa đủ cấu thành một bài học nhãn tiền cho những gì có tính quả báo thời nay?

Cần nhắc lại, vào trung tuần tháng 3/2013, một đại biểu Quốc hội tên là Phan Xuân Dũng, cũng là người đóng vai trò phó chủ nhiệm Ủy ban Khoa học Công nghệ và Môi trường của Quốc hội, đã từng đề ra một “phát kiến”chưa có tiền lệ: “Cần có quy định bắt buộc người khiếu nại tố cáo ứng ra một khoản tiền đặt cọc. Thua thì coi như mất tiền đặt cọc, còn kiện đúng thì tiền cọc mới được Nhà nước hoàn trả”.

Theo tôi thì ngay cả thời kỳ cao điểm của hoạt động khiếu tố đông người trong những năm 2007-2008, cũng chưa từng có một cơ quan hay cá nhân quản lý nào ở Việt Nam nghĩ ra một sáng kiến mang dấu ấn thụt lùi đến mức như thế.

RFI Nhìn lại chặng đường vừa qua thì theo anh cho đến nay, việc báo chí tham dự Quốc hội có tiến triển gì không ?

Đây là một câu hỏi vừa khó mà cũng vừa dễ trả lời. Tôi chỉ xin kể một câu chuyện nhỏ nhưng lại mang ý nghĩa đối sánh rất đặc trưng – kể theo báo chí trong nước. Vào tháng 5/2012, trong một phiên họp Quốc hội, vào giờ nghỉ giữa phiên họp, tại hành lang hội trường làm việc ; trong khi đại biểu Nguyễn Đình Quyền – Phó Chủ nhiệm Ủy ban Tư pháp của Quốc hội, đang vui vẻ trả lời phỏng vấn một số phóng viên, thì một nhân viên an ninh tiến đến yêu cầu các phóng viên và ông Quyền dừng trao đổi, còn nếu muốn tiếp tục thì phải lên phòng làm việc tầng trên.

Hiện tượng ngắt ngang hoạt động tác nghiệp bình thường như vừa nêu không phải là cá biệt. Tất cả bắt nguồn từ “Thông cáo báo chí số 1” của Trung tâm Báo chí Quốc hội, phát đi ngày 21/05/2012, quy định : “1. Không phỏng vấn đại biểu Quốc hội tại hành lang phía sau và hành lang hai bên hội trường (tầng 1); 2. Nếu phóng viên có yêu cầu phỏng vấn, mời lên tác nghiệp tại phòng phỏng vấn hoặc sảnh tầng 2”.

Sau khi cuộc phỏng vấn bị gián đoạn, ông Nguyễn Đình Quyền bày tỏ sự ngỡ ngàng với lệnh cấm này. Ông nói: “Khi nghỉ giải lao, đại biểu chúng tôi ra hành lang nói chuyện. Nếu phóng viên gặp, đặt câu hỏi mà thấy giải đáp được là trả lời. Như lần này, tôi hoàn toàn tự nguyện, thoải mái khi trả lời các câu hỏi, không hiểu sao lại bị nhắc nhở thế!”.

Đại biểu Dương Trung Quốc cũng bức xúc không kém: “Cấm như thế lại là hạn chế quyền tiếp xúc của những đại biểu như tôi”.

Cho nên không quá ngạc nhiên là có tờ báo Việt Nam đã rút tít “Được gặp gỡ, nhưng không được phỏng vấn”.

Cũng vào năm 2012, tôi nhớ là báo chí Việt Nam cũng đặt câu hỏi “Càng ngày càng siết?” với dẫn giải: Theo dõi mối quan hệ báo chí – Quốc hội những năm gần đây thì thấy dường như có những điều chỉnh nhất định.

Từ những quy định ngặt nghèo trước đây, sang khóa XI khi ông Nguyễn Văn An làm chủ tịch Quốc hội, tại các kỳ họp ở hội trường Ba Đình, báo chí được tạo điều kiện tối đa gặp gỡ, tiếp xúc, phỏng vấn đại biểu Quốc hội vào giờ nghỉ giải lao giữa các phiên họp. Cũng ở nhiệm kỳ này, lần đầu tiên các phiên họp Ủy ban Thường vụ Quốc hội được mở cửa cho báo chí theo dõi, đưa tin.

Tại giờ nghỉ giữa các phiên họp Thường vụ Quốc hội hàng tháng này, phóng viên nghị trường được tiếp xúc, trò chuyện với những người dự họp ngay ngoài hành lang phòng họp.

Tuy nhiên, sang Quốc hội khóa XII, cơ hội gặp gỡ, tiếp xúc nguồn tin ở các phiên họp Thường vụ Quốc hội hàng tháng bị đóng lại. Phóng viên vẫn được theo dõi diễn biến phiên họp qua truyền hình dường như không được đến khu vực sảnh, nơi người dự họp nghỉ giải lao.

Tới khóa XIII, cánh cửa nghị trường hình như còn khép kín, hơn khi có những ý kiến đặt lại vấn đề nên hay không cho báo chí theo dõi phiên họp Thường vụ Quốc hội. Còn với kỳ họp Quốc hội mỗi năm, từ kỳ họp thứ hai lần trước đã bắt đầu xảy ra việc nhân viên bảo vệ nhắc nhở phóng viên không được phỏng vấn tại hành lang. Đến kỳ họp thứ ba này, qua hai ngày đầu, lệnh cấm ấy càng được thực hiện gắt gao hơn.

Cho nên chặng đường của báo chí tham dự Quốc hội vẫn còn khá là gian nan.

RFI Có vẻ như Ủy ban Thường vụ Quốc hội đang muốn thể hiện một thứ quyền lực riêng, trong khi ở các nước phương Tây không chỉ báo chí mà người dân bình thường cũng có thể tham dự các phiên họp của quốc hội ?

Tôi có cảm giác là như vậy, và tôi cũng cho là như vậy đáng buồn. Tôi có nghe những câu chuyện như ở Pháp người ta có thể cho mười người dân đầu tiên đăng ký tham dự công khai một phiên họp Quốc hội. Còn ở đây thậm chí là báo chí bị – dùng từ ở trong nước gọi là « cấm cửa », không được tham dự một số phiên nào đó, mà thật ra không có thông tin gì gọi là bí mật.

Báo chí trong nước đặt ra câu hỏi “Càng ngày càng siết”, thì điều đó lại giằng xé trong chính nghị trường được coi là “của dân, do dân và vì dân”.

Chúng ta hãy tự hỏi, Quốc hội vẫn thường yêu cầu Chính phủ và các bộ ngành phải minh bạch tình hình điều hành quản lý và các số liệu, nhưng vì sao Quốc hội lại không minh bạch việc bỏ phiếu tín nhiệm với dân chúng thông qua báo chí?

Chúng ta cũng tự hỏi rằng, việc cấm báo chí tham dự bỏ phiếu tín nhiệm là chủ trương của Văn phòng Quốc hội hay từ những người cao nhất trong Quốc hội?

Quốc hội là do dân cử, báo chí cũng là của dân. Không cho báo chí tham dự thì Quốc hội có còn là của dân hay không?

Không cho báo chí tham dự, Quốc hội trở nên độc đoán và mất dân chủ chính trong môi trường nghị trường. Vậy thì câu hỏi cuối cùng là : Quốc hội là của ai ???

RFI Xin chân thành cảm ơn nhà báo tự do Phạm Chí Dũng, hiện ở Thành phố Hồ Chí Minh, đã vui lòng dành thì giờ trao đổi với RFI Việt ngữ.

www.viet.rfi.fr

Posted in Tu Do ngon Luan | Leave a Comment »

►Nợ công của Việt Nam, nếu tính hết phần vay nợ của các doanh nghiệp Nhà nước, có thể lên đến 95% GDP,–Tình hình kinh tế gay go lắm rồi! (Phó chủ tịch nước )

Posted by hoangtran204 trên 27/05/2013

Trích  ” nếu tính thêm cả khoản nợ của khu vực doanh nghiệp Nhà nước mà không được Chính phủ bảo lãnh như: nợ nước ngoài, trái phiếu trong nước và nợ hệ thống ngân hàng thì nợ công Việt Nam lên xấp xỉ 95% GDP, vượt xa so với ngưỡng an toàn 60% GDP được các tổ chức quốc tế khuyến cáo…”

Có phải vì thế mà phó chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan la lên rằng:  

Tình hình kinh tế gay go lắm rồi!

 tại phiên họp ngày 14-5 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, khi nghe các báo cáo của Chính phủ và Ủy ban Kinh tế, Ủy ban Tài chính – ngân sách về tình hình kinh tế – xã hội và thu ngân sách những tháng đầu năm 2013.

http://www.baomoi.com/Tinh-hinh-kinh-te-gay-go-lam-roi/126/11023482.epi

100 đồng GDP, 95 đồng nợ

27-5-2013

kinhdoanh.vnexpress.com

Nợ công của Việt Nam, nếu tính hết phần vay nợ của các doanh nghiệp Nhà nước, có thể lên đến 95% GDP, vượt xa ngưỡng an toàn các tổ chức quốc tế khuyến cáo.

Đến hết năm 2011, nợ công Việt Nam theo báo cáo của Bộ Tài chính vẫn chỉ chiếm khoảng 54,9% GDP. Tuy nhiên, trong báo cáo “Nợ công và tính bền vững ở Việt Nam: Quá khứ, hiện tại và tương lai” vừa được Ủy ban Kinh tế của Quốc hội công bố hôm qua cho rằng mầm mống đe dọa tính bền vững lại đến từ những khoản nợ xấu của khu vực doanh nghiệp Nhà nước mà ngân sách nhà nước có thể phải đứng ra trả thay.

Số liệu nợ công từ năm 2003 theo thống kê của Bộ Tài chính (MoF).
Số liệu nợ công từ năm 2003 (tính trên %GDP) theo thống kê của Bộ Tài chính (MoF).

Theo cách tính của World Bank và Tổ chức tiền tệ Quốc tế (IMF), nợ công được xác định là tổng khoản vay mượn và trái phiếu phát hành hoặc được bảo lãnh phát hành bởi chính quyền Trung ương, địa phương và cả doanh nghiệp Nhà nước. Trong khi đó, cách định nghĩa nợ công của Việt Nam lại chỉ tính nợ của doanh nghiệp Nhà nước bảo lãnh mà “gạt” đi nhiều khoản nợ rất lớn của doanh nghiệp Nhà nước, kể cả những doanh nghiệp mà Nhà nước sở hữu trên 50% vốn. 

Do đó, nếu tính thêm cả khoản nợ của khu vực doanh nghiệp Nhà nước mà không được Chính phủ bảo lãnh như: nợ nước ngoài, trái phiếu trong nước và nợ hệ thống ngân hàng thì nợ công Việt Nam lên xấp xỉ 95% GDP, vượt xa so với ngưỡng an toàn 60% GDP được các tổ chức quốc tế khuyến cáo.

Như vậy, tổng sản phẩm quốc nội được làm ra của đất nước là 100 đồng nhưng người dân cũng đang “cõng” 95 đồng vay  nợ.

Các tổ chức quốc tế cũng đưa ra những con số khác xa về thâm hụt ngân sách của Việt Nam so với báo cáo của Bộ Tài chính. Chỉ tính riêng năm 2009, thâm hụt không bao gồm chi trả nợ gốc theo báo cáo của MoF là 3,7% GDP nhưng theo Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) và IMF cao hơn nhiều, lần lượt là 3,9% và 7,2% GDP. Các tác giả của báo cáo này cũng cho rằng, nhiều khoản chi ngân sách từ nguồn trái phiếu cho các dự án giáo dục, thủy lợi, y tế.. không được tính đầy đủ vào thâm hụt ngân sách (xem biểu đồ dưới đây)

[Caption]
Những con số về thâm hụt ngân sách qua báo cáo của Bộ Tài chính (MoF) được cho rằng chưa phản ánh đúng thâm hụt tài khóa của Việt Nam.

“Vì hầu hết các doanh nghiệp Nhà nước đều thuộc diện ‘quá lớn’ nên các khoản nợ xấu cuối cùng vẫn do Ngân sách Nhà nước gánh trả”, các tác giả của bản báo cáo này nêu. Nhiều các công ty nhà nước lâm vào cảnh phá sản đã được Chính phủ hỗ trợ ở mức tối đa dưới hình thức bổ sung vốn, khoanh nợ, giãn nợ, chuyển nợ, xóa nợ. Những “ngân sách mềm” này theo đánh giá của Ủy ban Kinh tế, cuối cùng sẽ khiến chi tiêu ngân sách tăng và trở nên liên tục thâm hụt. “Để bù đắp phần chi tiêu ngân sách cho doanh nghiệp Nhà nước, Nhà nước buộc phát hành trái phiếu. Như vậy nợ công sẽ càng tăng”, báo cáo này phân tích.

Đầu tiên là những khoản vay gián tiếp mà khối doanh nghiệp Nhà nước vay từ Ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB). Nợ xấu của VDB vào cuối năm 2010 ở mức 12,05%. Thế nhưng, với tình hình nợ xấu toàn hệ thống năm 2011 cao hơn năm 2010 và năm 2012 lại tiếp tục cao hơn 2011 thì nợ xấu của VDB theo đánh giá của Ủy ban Kinh tế còn cao hơn rất nhiều con số 12,05%.

Thứ hai là nguy cơ đến từ các khoản vay nợ tại những ngân hàng thương mại mà khi khó khăn, Nhà nước cũng thu xếp trả thay bằng nguồn ngân sách. Số lượng doanh nghiệp Nhà nước thuộc diện này đã giảm nhưng mức hỗ trợ lại tăng lên nhiều lần. 

Báo cáo của Ủy ban Kinh tế đã dẫn ra một loạt những dẫn chứng cho thấy, tuyên bố cơ chế “tự vay tự trả” nhưng khi các “ông lớn” gặp khó, ngân sách “mềm” vẫn được rót để cứu. Đầu tiên là với hình thức khoanh nợ áp dụng cho “quả đấm thép” Vinashin, trên thực tế Chính phủ vẫn phải bỏ ra một phần tiền để bù đắp. Tương tự, khi chuyển nợ của Vinashin, Vinalines hay PetroVietnam thì các doanh nghiệp Nhà nước khác sẽ lâm vào khó khăn và để rồi, gánh nặng vẫn đè lên vai ngân sách Nhà nước. “Hình thức bổ sung vốn qua việc tăng vốn điều lệ cho Vinashin từ 9.000 tỷ lên 14.655 tỷ đồng thì vẫn là tiền từ ngân sách Nhà nước”, nghiên cứu của Ủy ban Kinh tế dẫn giải.

Dung-Quat-SY-0[1132090319].jpg
Báo cáo cho rằng các khoản ngân sách “mềm” vẫn được rót để cứu các “ông lớn”. Ảnh: AFP

Một ví dụ khác là với khoản vay 45 triệu USD từ Ngân hàng ANZ cho dự án Xi măng Đồng Bành. Dự án này do Tổng công ty Cơ khí Xây dựng (COMA) hay Tổng công ty Máy và Thiết bị Công nghiệp (MIE) đầu tư và khi rơi vào thua lỗ mà không còn khả năng chi trả, Bộ Tài chính vẫn phải đứng ra bảo lãnh.

Không những vậy, đóng góp của các “quả đấm thép” còn chưa tương xứng với kỳ vọng và sự đầu tư của toàn xã hội. Báo cáo niên độ ngân sách năm 2011 được Kiểm toán Nhà nước gửi đại biểu Quốc hội cũng cho thấy, khu vực này khá dựa dẫm vào nguồn vốn tín dụng. Trong số 27 đơn vị được kiểm toán có rất nhiều doanh nghiệp nợ phải trả chiếm gần 70% tổng nguồn vốn. “Điều này cho thấy các đơn vị hoạt động chủ yếu bằng vốn vay và vốn chiếm dụng”, Kiểm toán Nhà nước đánh giá.

Chiếm 40% tổng đầu tư cả nước nhưng khu vực này chỉ tạo ra khoảng 10% việc làm. Ngược lại, khu vực kinh tế ngoài nhà nước chỉ nhận được 35% tổng đầu tư nhưng mang tới 87% việc làm cho xã hội. 

Do đó, không ít chuyên gia cho rằng cần thay đổi tư duy đối với doanh nghiệp Nhà nước. Nếu vẫn giữ quan niệm doanh nghiệp Nhà nước “khó được phép” phá sản và đối tượng này vẫn dễ nhận được ngân sách “mềm” từ Chính phủ thì gánh nặng nợ sẽ dồn ép khá lớn lên nợ công. 

Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế Quốc hội Nguyễn Văn Giàu cũng cho rằng đã đến lúc cần có một cuộc cải cách tài khóa triệt để và toàn diện để đưa ngân sách dần trở về trạng thái cân bằng nhằm bảo đảm tính bền vững của nợ công và duy trì sự ổn định cho nền kinh tế.

Hơn nữa, một bài học đau xót nhất từ cuộc khủng hoảng nợ công Hy Lạp là việc Chính phủ giấu giếm, che đậy các con số thống kê về nợ công. Chính phủ vay nợ rất nhiều trên các thị trường tài chính để đảm bảo bù đắp bội chi ngân sách. Đến khi vượt quá sức chịu đựng và khủng hoảng bùng nổ thì đã quá muộn, họ đã phải thừa nhận sai lầm và điều chỉnh tăng vọt tới 110% GDP.

Thanh Thanh Lan

 

Trích: ”

Một số bài học kinh nghiệm cho Việt Nam Là một quốc gia kém phát triển đang chuyển mình sang nền kinh tế thị trường, Việt Nam vẫn phải dựa nhiều vào đầu tư công để thực hiện các mục tiêu phát triển. Thâm hụt ngân sách liên tục trong
một thời gian dài cũng làm gia tăng nợ công của quốc gia. Đến ngày 31/12/2011, nợ công là 54,9% và ước tính năm 2012 nợ công là khoảng 55,4% GDP5 cao hơn nhiều so với mức 36% GDP vào năm 2001 và 44% vào năm 2005. (trang 38)

[http://ecna.gov.vn/ct/tt/Lists/NghienCuu/Attachments/17/No%20cong%20va%20tinh%20ben%20vung%20o%20Viet%20Nam.pdf ]

—-

*Các ông chủ cộng sản ban phát cho nhau những đặc quyền như: tiêu chuẩn ô tô, có tài xế lái xe, và được đổ xăng không tốn tiền. Dùng tiền thuế của dân mua ô tô, dùng tiền thuế của dân mua xăng đi làm, và dùng tiền thuế của dân trả tiền thuê tài xế chở cán bộ cao cấp đi làm việc hàng ngày.  

Việt Nam có hơn 34.000 ôtô công

26-5-2013

kinhdoanh.vnexpress.net

Tài sản Nhà nước đến hết năm 2012 là hơn 865.000 tỷ đồng, trong đó quyền sử dụng đất và nhà chiếm hơn 75%. Riêng 34.000 chiếc ôtô công đang sử dụng có giá hơn 18.000 tỷ đồng. 

Chính phủ vừa báo cáo các  Đại biểu Quốc hội về tình hình quản lý, sử dụng tài sản Nhà nước năm 2012. Đến hết 31/12/2012, tổng giá trị tài sản Nhà nước đạt 865.801 tỷ đồng gồm 4 loại tài sản là đất và nhà thuộc trụ sở làm việc, cơ sở hoạt động sự nghiệp; ôtô các loại và những tài sản khác có nguyên giá từ 500 triệu đồng trở lên.

Xe-cong-0_1369460599[1132090319].jpg
34.000 chiếc xe công có trị giá sổ sách hơn 18.000 tỷ đồng. Ảnh minh họa: Nhật Minh

Cụ thể, tài sản là quyền sử dụng đất có giá trị hơn 630.000 tỷ trong khi tài sản là nhà là hơn 182.000 tỷ. Hiện cả nước có hơn 34.565 chiếc ô tô công và có nguyên giá hơn 18.251 tỷ đồng. Các tài sản khác có nguyên giá từ 500 triệu đồng trở lên có tổng giá trị gần 34.500 tỷ đồng. 

Đất đai giữ vai trò quan trọng nhất trong các loại tài sản Nhà nước. Theo báo cáo tổng hợp, tổng quỹ đất đang quản lý và sử dụng khoảng 2.168,4 triệu m2, tổng giá trị 631.000 tỷ đồng, chiếm 72,82% tổng giá trị toàn bộ tài sản Nhà nước.

Nhà là loại tài sản chiếm vị trí lớn thứ hai và được ngân sách nhà nước trực tiếp đầu tư xây dựng, mua sắm qua các thời kỳ. Tổng Quỹ nhà đang sử dụng trên 118 triệu m2 với nguyên giá trên 182.000 tỷ đồng.

Xe ôtô công chiếm 2,11% tổng giá trị tài sản của Nhà nước và được phân theo 3 nhóm: xe phục vụ các chức danh có tiêu chuẩn (996 chiếc), xe phục vụ công tác chung (hơn 23.000 chiếc) và xe chuyên dùng  (hơn 10.000 chiếc). Tuy nhiên, theo báo cáo, phần lớn xe ô tô công đã sử dụng quá nửa thời gian theo chế độ quy định

Năm ngoái, các đơn vị đã thanh lý 677 xe quá cũ, không đảm bảo an toàn, trị giá 276 tỷ đồng. Tuy nhiên, cũng trong năm 2012, lượng xe tăng thêm lên tới gần 2.400 chiếc, tương đương 2.756 tỷ đồng . 

Thanh Thanh Lan

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

►Nhân ngày Phật Đản 24-5-2013: “TỪ BỎ THẾ GIỚI DUY ÁC ĐỂ THÀNH PHẬT”

Posted by hoangtran204 trên 25/05/2013

Cần phân biệt:

– Giáo hội Phật giáo Việt Nam (thành lập 1981) là giáo hội Phật giáo duy nhất được chính phủ Việt Nam công nhận hiện nay[1]và là thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

-Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất (thành lập 1964 ở miền Nam), không được nhà nước công nhận, giáo hội này không chịu để cho MTTQ Việt Nam chỉ huy và quản lý). Hòa thượng Thích Quãng Độ là Tăng Thống của GHPGVN Thống Nhất hiện đang bị quản thúc tại Thanh Minh Thiền Viện đường Trần Huy Liệu quận Phú Nhuận. 

TỪ BỎ THẾ GIỚI DUY ÁC ĐỂ THÀNH PHẬT

 Trần Mạnh Hảo

 “Chao ôi thành Phật rồi sao nhỉ ?”  (thơ T.M.H.)

 ( Viết nhân kỷ niệm 2637 năm ngày Phật đản : (15 – 04 âm lịch Qúy Tỵ) dương lịch ngày  24-05-2013)

2

Chúng tôi viết bài báo này trước hết để mừng lễ Phật Đản lần thứ 2637 .

Nhân đây cũng xin thỉnh các thầy của “ Giáo hội Phật giáo Việt Nam”, một giáo hội của “Nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”, một nhà nước vô thần, theo thuyết Marx-Lenine chủ trương diệt tôn giáo, rằng với tiêu chí : “ GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM – Đạo pháp – Dân tộc – Chủ nghĩa xã hội” liệu có đúng với tôn chỉ đạo cứu khổ, đạo từ bi của Phật Tổ hay không ?

Đạo Phật chủ trương duy thiện, chủ nghĩa Marx – Lenin chủ trương duy ác ( xin xem thêm hai bài viết của chúng tôi : “ Bàn qua về hội chứng tuyệt đối trong chủ nghĩa duy ác của Marx” và bài “ Karl Marx ông là ai mà đầy đọa dân tộc tôi mãi thế ?” – quý vị chỉ cần đánh tên hai bài viết này vào công cụ tìm kiếm google.com là có thể đọc được).

Cũng xin quý bạn đọc xem qua tiêu chí của “Giáo hội Phật giáo Việt Nam”, một giáo hội chủ trương hòa trộn Phật vào Marx, hòa trộn thiện vào ác, hòa trộn từ bi vào chủ trương bạo lực ( giết người) của thuyết đấu tranh giai cấp, hòa trộn việc tôn nghiêm phát triển chùa chiền vào hành vi phá chùa, ném trôi sông tượng Phật ( sẽ dẫn chứng sau) :

“Giáo hội Phật giáo Việt Nam

1

Trụ sở Giáo hội Phật giáo Việt Nam tại chùa Quán Sứ, Hà Nội

Giáo hội Phật giáo Việt Nam là giáo hội Phật giáo duy nhất được chính phủ Việt Nam công nhận hiện nay[1]và là thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Giáo hội được thành lập sau Đại hộiPhật giáo Việt Nam tổ chức tại tùng lâm Quán SứHà Nội vào ngày 7 tháng 11 năm1981 nhằm thống nhất tất cả sinh hoạt Phật giáo của tăng ni, phật tử Việt Nam. Pháp chủ của Giáo hội Phật giáo Việt Nam nhiệm kỳ VI (2007-2012) là đại lão hòa thượngThích Phổ Tuệ.

Phương châm của Giáo hội là: “Đạo pháp, Dân tộc, Chủ nghĩa xã hội.””

http://vi.wikipedia.org/wiki/Gi%C3%A1o_h%E1%BB%99i_Ph%E1%BA%ADt_gi%C3 %A1o_Vi%E1%BB%87t_Nam

Trên báo “Văn Nghệ” của Hội nhà văn Việt Nam số mừng tết Qúy Tỵ 2013 vừa qua, trong bài :” Năm tháng gọi về” của nhà văn Đỗ Chu ( người vừa được giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật), có đoạn viết về việc các nhà lãnh đạo của chế độ xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc Việt Nam hồi năm 1955, 1956 mở chiến dịch triệt phá chùa chiền tàn khốc, cụ thể là việc phá chùa ở vùng núi Yên tử, nơi Phật hoàng Trần Nhân Tông khai mở thiền phái Trúc Lâm của Phật giáo Đại Việt, như sau :

“ Hỏi các vị bô lão trong vùng mới biết có chùa là do Tây đốt, có chùa là do ta đốt, ta đốt phá mới nhiều mới dữ. Một cụ chống gậy lọm khọm bước đến trước tôi kể, chính tôi hồi ấy đã được cấp trên gọi đi đốt phá cả chục ngôi chùa, tượng lớn tượng nhỏ cho trôi sông tuốt. Rồi ông cụ tặc lưỡi cười rất thành thực, thì cái thời nó thế, tôi lúc đó trẻ đang hăng lắm, được phong làm trưởng ban phá hoại huyện.

( trích bài “ NĂM THÁNG GỌI VỀ” –ĐỖ CHU)

http://www.vanvn.net/news/9/3118-nam-thang-goi-ve.html

Ở làng tôi, đền chùa miếu mạo, nhà thờ họ, mộ cổ, rừng cổ, cây cổ thụ đã bị phá trụi, không còn gì để phục hồi nữa

(Trích trong tác phẩn “Chuyện Làng Ngày Ấy” của nhà văn Võ Văn Trực” do NXB Lao Động ấn hành tháng 6 năm 1993. )

Người viết bài này do trình độ yếu kém nên chưa hiểu được chuyện uyên thâm của các quý thầy lãnh đạo “ Giáo hội Phật Giáo Việt Nam ngoài việc thờ Phật, các vị còn thờ cả học thuyết duy ác của Marx-Lênine trong hệ thống hàng nghìn ( có khi hàng vạn?) ngôi chùa trên khắp đất nước ta là sao ? Kính xin chư thầy chỉ giáo cho kẻ vô minh này, xin cám ơn quý thầy (!)

Ngài ( Đức Thế Tôn) đến thế giới này không để làm vua, mặc dù Ngài là thái tử sẽ nối ngôi vua cha. Ngài đến thế giới này không để làm thần linh nắm cả trời đất trong lòng bàn tay, đặng ban phát chân lý cho mọi người. Ngài đến thế giới này không để làm một tiên tri biết trước mọi sự, hay làm một anh hùng cứu thế, làm một thánh nhân ngụ trong linh hồn trường tồn bất diệt.

Vâng, Ngài đến thế giới này chỉ để làm một con người, hơn nữa là một con người nghèo khổ, một con người bình thường như mọi con người vô danh ẩn mình trong thế giới khổ đau. Có điều, con người mà Ngài đạt tới là một con người được tu luyện bằng thiền định vươn tới một trí tuệ trác việt, vươn tới sự giác ngộ vượt thoát mọi khổ đau sinh diệt vô thường. Từ con người bình thường đến Phật chừng như chỉ cần vượt qua lằn ranh của một sợi tóc, hay một khoảng thời gian nhỏ nhất gọi là sát-na…

Dường như Ngài ( tồn tại trong phần thiện căn của Tâm tha nhân) dẫn dắt chúng sinh đến bờ của sợi tóc ấy, sát na ấy để chúng sinh tự mình vượt qua bản ngã ( ảo ngã, hư ngã), giữ lấy chân ngã  mà thành Phật. Ngài đã vượt qua trùng trùng trở ngại để tự mình đến tới bờ của sợi tóc ấy bằng 35 năm trầm tư mặc tưởng, khổ luyện tu hành; và trong một sát na lóe sáng đốn ngộ, Ngài thăng hoa giác ngộ, bước qua sợi tóc kia mà thành Phật. Sợi tóc mà Ngài đã vượt qua sau 49 ngày thiền định dưới gốc bồ đề kia, với chúng sinh có khi là nghìn trùng sông núi…

Phật chỉ cho ta con đường đến cõi giác ngộ nằm ở chính trong ta mà sao ta không tìm thấy ? Khi tâm ta và thân ta lạc mất nhau thì sao ta ngộ được điều kỳ diệu : “ Phật tại tâm” ? Hãy ngồi xuống trong tĩnh lặng, quên đi mọi khổ đau dục vọng muộn phiền tìm lại tâm mình đang trôi dạt ngoài cõi ta bà, để tâm nhập làm một với thân ta mà thiền định, sẽ thấy Phật trong từ bi hỉ xả nơi chính tâm hồn mình…

Không có môi trường đa nguyên tự do tư tưởng, tự do tôn giáo, tự do chính trị của thời đại Ngài- tiểu vương quốc Kapilavatsu, tuyệt nhiên không thể có Phật giáo. Ngày ấy, khi Ngài trốn ( cùng đệ tử Xa-nặc)  khỏi lầu son gác tía đi tìm con đường giải thoát khỏi bể khổ trần gian vô thường, ở thế kỷ thứ 6 trước công nguyên, ngoài tư tưởng chính thống của Bà-la-môn, còn có hai trào lưu tư tưởng khác không chính thống nhưng không bị chính quyền xua đuổi hay cấm cản là các hiền giả không theo thuyết chân lý tuyệt đối Bà-la-môn mà tu theo trường phái khổ hạnh hành xác; ngoài ra, một số hiền giả còn chủ trương duy vật vô thần, chỉ tin vào chủ nghĩa khoái lạc gọi là học phái Carvaka/Lokoyata…

Năm 35 tuổi sau 49 ngày thiền định đạt tới sự giác ngộ triệt để để thành Phật, Ngài trả lời Bà Tất Tra trong kinh Trường A Hàm, quyển 16 như sau :

“ Nếu Bà La Môn thông Tam Minh kia không thấy Thượng Đế ( Brahman), tiên sư của Bà La Môn thông Tam Minh cũng không thấy Brahman, các Bà La Môn thông Tam Minh, những cựu tiên nhân như A Tra Ma… cũng không một ai thấy Brahman. Thế thì biết rằng những điều Bà La Môn thông Tam Minh nói không phải sự thật”.

Ngài thiền định để phá bỏ tiểu ngã ( Atman) và đại ngã ( Brahman) của Bà La Môn, phá bỏ những gì bất biến trường tồn để thành Phật, lẽ nào khi vừa sinh ra, Ngài đã tự phụ trỏ vào ngực mình mà nói một câu không hề có tính Phật : “Thiên thượng thiên hạ duy ngã độc tôn” như người đời tôn sùng Ngài quá mà gán cho Ngài lời nói của phàm phu tục tử tự cao tự đại dường ấy ?

Không, Phật không hề lộng ngôn như thế : “Thiên thượng thiên hạ duy ngã độc tôn” là ai đó ngụy tạo gán cho Ngài, đi ngược lại bản chất từ bi hỉ xả khiêm cung giản dị của Ngài.  Trong bài : “Thiên thượng, thiên hạ duy ngã độc tôn ám chỉ điều gì ?” của tác giả Master Duy Tuệ viết trên Internet ngày 24/01/2010 lại xuyên tạc câu nói kia mà có ai đó từ xa xưa đã gán cho Đức Phật,  bằng cách giải thích không đúng rằng :

“Thiên thượng thiên hạ, duy ngã độc tôn” là câu nói của con người. Câu nói này nhằm mang lại lợi ích cho người nghe, để cho người nghe thức tỉnh về giá trị làm người của họ. Cho nên câu nói trên có thể giải thích rằng là: Trên trời dưới đất này, đời sống của con người là đặc biệt có giá trị, là đặc biệt hay! Hãy tìm hiểu giá trị đặc biệt của mình chứ đừng tìm hiểu giá trị đặc biệt nào nằm ngoài con người của mình, trước nhất là cần tìm giá trị đặc biệt nơi chính mình trước. Khi mình đã tìm thấy giá trị đặc biệt nơi chính mình rồi thì hãy đem giá trị đặc biệt ấy để ứng dụng vào cuộc sống mà chúng ta đang hiện hữu. Nếu chúng ta không hiểu được giá trị đặc biệt của chính mình thì mình sẽ bị lầm lạc trong cuộc sống, mình sẽ rắc rối trong cuộc đời.”

http://duytuequote.blogspot.com/2011/05/140-thien-thuong-thien-ha-duy-nga-oc.html

Thần thánh hóa Ngài đến mức hoang đường như bịa chuyện bà mẹ Ngài mộng thấy một con voi trắng từ trời chui vào bụng bà thành sự hoài thai thái tử Tất -Đạt – Đa là không đúng bản chất và giáo lý của Ngài, rằng :

”Hoàng hậu Ma Da (Maya), vợ của vua Tịnh Phạn (Suddhodana), trong lúc ngủ đã có một giấc mơ tuyệt diệu. Bà mơ thấy một luồng ánh sáng trắng từ bầu trời chiếu xuống thân thể mình, theo luồng ánh sáng này là một con voi chiến, thân hình trắng xóa với sáu chiếc ngà.

Luồng ánh sáng và con voi này bay càng lúc càng gần và cuối cùng nhập vào thân bà. Lúc ấy Hoàng hậu Ma Da tỉnh dậy với một niềm hoan hỷ tràn đầy, chưa từng có trước đây…

Sau đó vào đêm trăng tròn tháng tư, năm 625 trước Tây lịch, Ðức Phật ra đời tại vườn Lâm-tì-ni. Sau khi sinh ra, Ngài bước bảy bước, mỗi bước có hiện ra một hoa sen nâng đở chân Ngài. Ngài tuyên bố là Ngài là người đáng tôn thờ nhất ( duy ngã độc tôn).”

http://www.viengiac.vn

Phật không công nhận Phạm Thiên ( Brahman), Ngài coi đấng Đại Ngã này là sự bịa đặt như vừa dẫn trên, lẽ nào chúng sinh sau này lại hoang đường nói chính Brahman và Tứ đại Thiên vương ( mà Ngài không cộng nhận) đã nhờ Ngài giáng trần như quan niệm thiếu Phật tính sau đây :

Trước khi giáng trần, thái tử Tất-đạt-đa (Siddhattha) đã trải qua nhiều kiếp tu hành chứng quả vị Bồ-tát, hiệu là Hộ Minh, an trú tại cung trời Đâu-suất. Theo lời thỉnh cầu của Phạm Thiên và Tứ Đại Thiên Vương, Bồ-tát giáng trần

http://tongiaovadantoc.com  (ban này  do một ủy viên trung ương đảng CSVN đứng đầu. Có quyền lực sai công an bắt bớ, đánh đập, bỏ tù bất cứ ai mà họ cho là bọn tôn giáo phản động…)

Chúng tôi xin quý Phật tử và qúy Tăng Ni : “ Cái gì của Phật hãy trả về cho Phật, cái gì của Bà La Môn ( đạo hữu thần) hãy trả về cho Bà La môn”; rằng nếu chúng ta cứ tiếp tục thần thánh hóa Đức Phật, chúng ta sẽ không thể nào tới được cõi GIÁC NGỘ của Ngài. Xin dẫn ra đây mấy lời Phật dạy :

Hỡi các Tỳ Kheo, khi mà Ngã hay bất cứ cái gì thuộc về Ngã không có, thì quan điểm tư duy này: Vũ trụ là linh hồn, ta sẽ là linh hồn sau khi chết, sẽ trường cửu, tồn tại, vĩnh viễn bất biến, và ta sẽ hiện hữu như thế cho đến vô tận thời gian – quan điểm ấy có phải là hoàn toàn điên rồ chăng?” (Trung Bộ Kinh)

– “Hết thảy các hành là vô thường và khổ đau”.

Hết thảy các Pháp là vô ngã”

Ngay cả khi cúng bái niệm Phật, hay trong những lúc nguy nan, người Việt hay khấn, ví dụ : “ Cầu xin Trời Phật độ trì cứu giúp”, hoặc : “Cầu xin Thần Phật độ trì chúng sinh”…Đức Phật, hay đạo Phật không công nhận có Thượng Đế ( Trời), không công nhận có thần linh, sao lại ghép cái không có làm một với Phật như thế ?

Nên nhớ, khi thái tử Tất Đạt Đa đi tìm sự giải thoát, Ngài đã thử tìm trong một số lối hành đạo cực đoan, ví dụ việc suốt 06 năm ngài tu theo phái hành xác của trường phái khổ hạnh nhưng không đạt đạo; Ngài bèn tìm ra con đường trung đạo ( xóa cực đoan) để tìm giải thoát đích thực sau này.

Đọc kinh Phật ta thấy một số điều cực đoan, quá trớn được cho là lời Phật dạy, thậm chí có những điều trái ngược nhau được chép trong cùng một pho kinh cũng được cho là lời Phật. Có lẽ còn khá nhiều bộ kinh do các tổ đời sau trước tác, viết ý chủ quan, thiếu tính Phật của mình để lộng giả thành chân biến thành lời Phật dạy chăng ? Ví dụ như câu nói về diệt dục rất cực đoan, rất dung tục sau đây lại được gán cho lời Phật dạy :

Ký giả Mỹ Simon Alex hỏi vị sư Tích Lan Bhante Gunaratana câu nói dưới đây có phải lời  Phật dạy không : “Thà rằng đưa dương vật vào miệng một con rắn độc hay một con rắn hổ mang kinh tởm có lẽ còn tốt hơn là đưa nó vào một người đàn bà”. Nhà sư thường đi giảng kinh Phật trên khắp các đại học danh tiếng trên thế giới thừa nhận rằng đúng là lời này có ghi trong kinh Phật.

(Trích bài :’Thời Đức Phật, nhiều người tin rằng tình dục rất thánh thiện’ (http://www.nguoiduatin.vn/thoi-duc-phat-nhieu-nguoi-tin-rang-tinh-duc-rat-thanh-thien-a81110.html)(Ký giả Simon Alev của tờ “Giác ngộ là gì” (What is Enlightenment) của Hoa Kỳ phỏng vấn một nhà sư Tích Lan, ngài Bhante Gunaratana về chủ đề Phật giáo và tình dục.)

Dục nghĩa là ham muốn, mà ham muốn lớn nhất trong dục là ái dục, tức tình yêu trai gái. Dục ( ham muốn) là bản năng của sinh vật nói chung, con người nói riêng. Khát nước đòi uống là dục, đói đòi ăn là dục, ham muốn ái tình là dục, thở khí oxy vào để sống là dục, tham giàu là dục, tham chức quyền là dục ( nằm trong bản năng thống trị kẻ khác của sinh vật), tham sống sợ chết là dục, ham muốn được giải thoát, được giác ngộ cũng có thể được coi là dục…

Nói tóm lại, DỤC phần lớn là bản năng tự nhiên, sinh ra đã có trong con người. Cho nên về nguyên tắc DỤC KHÔNG THỂ DIỆT vì DỤC là bản năng con người, chỉ có thể TIẾT DỤC mà thôi. Ngay đến cả Đức Thích Ca Màu Ni sau khi giác ngộ thành Phật lúc 35 tuổi, cho tới khi Ngài viên tịch năm 80 tuổi vẫn còn bị DỤC đeo đẳng; vì Ngài vẫn chưa thoát khỏi vô thường đói ăn khát uống, còn phụ thuộc vào các hành như phải thở, phải ăn, phải uống, phải làm các hành vi trao đổi chất của con người, thì sao lại đề ra tiêu chí DIỆT DỤC cực đoan như thế ? Nên nhớ là Đức Phật tổ năm 80 tuổi đã viên tịch vì ngộ độc thức ăn; chính Ngài khi tại thế cũng chưa thoát khỏi vô thường…Sau khi viên tịch, Ngài nhập Niết Bàn. Còn Niết Bàn là gì, ở đâu, tồn tại trong dạng thức nào thì Phật không nói. Chúng sinh phải tự tìm ra Niết Bàn trong tâm mình khi đã giác ngộ thoát khỏi tham, sân, si, đạt tới cõi từ bi hỉ xả…

Việc một số kinh sách được gán cho là lời Phật dậy( ngụy tạo) có thái độ lên án gay gắt, thậm chí phỉ nhổ, nguyên rủa hành vi tính giao của con người là một sự vô lối, một ứng xử thiếu văn hóa người, mà thiếu văn hóa người thì cũng thiếu văn hóa Phật…Thử hỏi ai trong chúng ta, kể cả Đức Thế Tôn không được sinh ra bởi hành vi giao phối giữa cha và mẹ mình ? Nên nhớ là từ thời Đức Phật còn theo đạo Bà La Môn, Ngài cũng từng qùy lạy hiện thân của thần Siva là Linga ( dương vật) và Yoni ( âm vật) ? Một số chi nhánh của đạo Bà La Môn ( Ấn độ giáo sau này) còn coi hành vi tính giao là hành vi giúp con người được giải thoát, là hành vi đạt đến cõi thần Siva, biểu hiện của nhập thể Atman vào đại thể Brahman. Người viết bài này từng được chiêm ngưỡng nhiều phù điêu đắp nổi trong các đền thờ Ấn độ giáo mô tả cảnh thần Siva trần truồng làm tình với vợ mình là thần Uma trong rất nhiểu kiểu dáng giao hợp khác nhau, một biểu tượng giải thoát hữu hiệu giúp tiểu ngã ( linh hồn cá nhân) nhập vào đại ngã là linh hồn vũ trụ ( Brahman)…Ngay cả Đức Phật ngày còn trong cung điện chưa đi tìm đạo giải thoát cũng có vợ ( nàng Da-đu-đà) có con ( La-hầu-la), có cung tần mỹ nữ hầu xung quanh Ngài…

Nếu hành vi tính dục phải bị triệt tiêu trong chúng sinh như nhiều ngụy thư mạo lời Phật dạy thì than ôi, ngày nay làm gì còn chùa chiền, làm gì còn đạo Phật, làm gì còn PHẬT PHÁP TĂNG ?  Vì ngụy thư kia cho hành vi truyền giống là nhơ bẩn nên con người đã bị tuyệt diệt từ ngót hai nghìn năm nay rồi ? Phật không cấm hành vi tính dục trong hôn nhân. Phật chỉ dạy con người cần tiết dục và không được hoang dâm vô độ, không được ngoại tình. Chuyện một số kinh sách ngụy tạo lời Phật dạy cho rằng chỉ có các vị chân tu trong chùa, không có hành vi tính giao mới có thể giác ngộ, còn những người tu tại gia có vợ có chồng thì không thể giác ngộ, không thể thành Phật là những lời sàm tấu thiếu tính Phật…

Không phải bỗng dưng mà nhà bác học Albert Eienstein đã vinh danh đạo Phật như sau :

Tôn giáo của tương lai sẽ là một tôn giáo vũ trụ.  Tôn giáo ấy phải vươt lên Thượng đế của cá nhân và tránh giáo điều cùng lý thuyết thần học.  Bao trùm cả tự nhiên và tâm linh, nó phải được căn cứ trên cảm nhận phát sinh từ kinh nghiệm của tất cả mọi thứ tự nhiên và tâm linh như một sự hợp nhất đầy đủ ý nghĩa.  Đạo Phật trả lời cho những sự mô tả này.  Nếu có một tôn giáo mà có thể đương đầu với những nhu cầu của khoa học hiện đại đấy sẽ là Đạo Phật.( Albert Einstein)

(Albert Einstein, 1954) From Albert Einstein:The Human Side, edited by Helen Dukas and Banesh Hoffman, Princeton University Press)(http://www.daophatngaynay.com/vn/phatgiao-qt/con-nguoi-qt/5136-Albert-Einstein-voi-Thuong-de-va-Phat-giao.html)

 Khoa học càng phát triển càng gần với Phật giáo về vũ trụ luận, về thuyết nhân quả, về tính không của vạn vật, về sự không thể cắt rời của vạn pháp, về sự vô thường của tự nhiên và con người…Khoa học lấy sự hiểu biết làm mục đích. Phật giáo lấy sự giác ngộ, sự giải thoát của con người làm mục đích. Đạo Phật nói cho cùng là một liệu pháp tâm lý để giúp con người diệt khổ. Còn khoa học dùng tư duy để tìm kiếm chân lý của thế giới vật chất.

Hãy nhìn Đức Phật như nhìn một con người, một con người đã giác ngộ, đã bỏ được tham sân si, chứ đừng nhìn Ngài như nhìn một vị thần linh hay một đấng cứu nhân độ thế.

Nhận thức đầu tiên của thái tử Tất Đạt Đa về thực tại khi Ngài có dịp ra ngoài cung điện của vua cha là thế giới này là một thế giới khổ đau. Càng tiếp xúc với chúng sinh, Ngài càng cảm thấy trần gian này là bể khổ. Con người từ sinh, lão, bệnh, tử …cái nào cũng khổ. Làm sao tìm ra một con đường cứu khổ cho chính Ngài và cho chúng sinh ? Một vị thái tử sống trong cung vàng điện ngọc, sống với cung tần mỹ nữ, với vợ đẹp con khôn như Ngài làm sao lại có thể gọi là khổ ? Vâng, nỗi khổ tinh thần dày vò Ngài khi Ngài nhìn thấy chúng sinh khổ đau. Lấy nỗi đau khổ của tha nhân làm nỗi đau khổ của bản thân mình, thái tử Tất Đạt Đa, một tín đồ Bà La Môn chỉ còn biết trầm tư mặc tưởng đắm mình vào bản thể tuyệt đối của vị thần tối cao ( Thượng Đế) Brahman để cầu cứu đấng toàn năng giúp Ngài và chúng sinh thoát khỏi bể khổ…

Với trí thông minh trác việt, Ngài hầu như đã thuộc lòng bộ kinh Vệ Đà, kinh “Áo nghĩa thư- Upanisad” khởi nguồn cho thần học Bà La Môn. Thế giới trong kinh Vệ Đà là một thế giới thần linh ở lẫn giữa con người, thực hư lẫn lộn, đàn bò thì bay như mây còn mây thì gặm cỏ như bò, các vị thần cũng hoan lạc, yêu đương, làm tình như chim muông, các đạo sĩ hóa phép thần thông trong sự biến hóa của Atman như những con sứa bay nhảy trong biển cả Brahman vô tận vô cùng…Nơi khổ đau và khoái lạc thay đổi cho nhau như thần linh thay áo…Nơi sống chết hoán vị cho nhau trong hòa điệu tuyệt đối của các linh hồn ( Atman) trường cửu li ti như sao trời trong vòng tay các thiên hà vũ trụ Brahman…

Thái tử Tất Đạt Đa ngồi kiết già kiểu Bà La Môn để thoát khỏi ý thức, đặng nhập tiểu ngã ( Atman) là linh hồn mình vào làm một với Đại ngã tuyệt đối Brahman. Nhưng sau hàng nghìn buổi kiết già kia, thái tử Tất Đạt Đa vẫn thấy mình cô đơn ngồi giữa vũ trụ vô cùng, vẫn thấy nỗi sợ, nỗi khổ vây bủa Ngài như giặc. Và cái quan trọng nhất, Ngài buồn vì đấng Thượng Đế toàn năng Brahman đã bỏ rơi Ngài, bỏ rơi chúng sinh trong bể khổ mà không hề đưa tay cứu vớt…

 Ngài đã cầu nguyện, nhập thiền, đã hòa tan linh hồn mình ( Atman) vào linh hồn tuyệt đối Brahman như giọt nước hòa vào biển cả. Nhưng tiếng cầu xin, tiếng kêu thương của Ngài xin Thượng Đế tam vị nhất thể Brahman –Shiva- Vishnu cứu khổ chúng sinh vẫn chừng như vô vọng…

May mà truyền thống Vệ Đà là một truyền thống mở, khá tự do cho người ta lựa chọn tín ngưỡng, chấp nhận trong niềm tin tuyệt đối vẫn còn sự hoài nghi.

Ngay cả trong kinh Rig – Veda ca ngợi tuyệt đối thần sáng tạo vũ trụ Brahman vẫn thấy nỗi hoài nghi day dứt con người về sự tồn tại của vị Chúa tể của Bà La Môn giáo :

 Buổi đó, hoàn toàn chẳng có gì cả, mặt trời rực rỡ kia không có,

Mà vòm trời là cái khăn phủ mênh mang kia, cũng không có.

Vậy thì cái gì trùm lên, che phủ, chứa chất vạn vật?

Phải chăng là vực nước sâu thẳm?

Thời đó không có chết — vậy mà không có gì là bất tử,

Không phân biệt ngày và đêm,

Cái Nhất, cái Ðộc Nhất, không có hơi mà tự thở lấy được.

Ngoài Cái đó ra không có cái gì khác nữa.

Tối tăm, và hồi đầu cái gì cũng chìm trong cảnh tối tăm mù mịt — như biển không ánh sáng — Cái mầm khuất trong cái vỏ

Bỗng nẩy ra, duy nhất, dưới sức nóng nung nấu.

Thế là lần đầu tiên, lòng thương yêu xuất hiện, nó là dòng suối mới

Của tinh thần, các thi sĩ suy tư và thấy được trong lòng mình

Mối liên lạc giữa cái không được tạo ra với những vật được tạo ra.

Tia sáng đó chiếu ra, xâm chiếm hết, nó phát xuất từ trời hay từ đất?

Giống đã gieo và người ta thấy các năng lực cao cả xuất hiện

Ở dưới thấp là thiên nhiên, ở trên cao là quyền năng và ý lực.

Ai là người vén được màn bí mật? Ai là người cho ta biết

Sự sáng tạo muôn vật đó từ đâu mà có?

Chính các thần linh cũng chỉ xuất hiện sau này.

Vậy thì ai là người biết được sự sáng tạo mầu nhiệm đó từ đâu mà có?

Ðấng nào đã gây ra sự sáng tạo đẹp đẽ đó.

Là do vô tình hay hữu ý?

Ðấng Tối Cao trên tầng trời cao nhất kia

Biết được — nhưng biết đâu chừng, có thể chính Ngài cũng không biết nốt.”

(Lịch sử văn minh Ấn Ðộ,

NXB Văn Hóa, năm 1996, tt 58- 59 phần thơ trên do Nguyễn Hiến Lê dịch)

Từ khi biết chúng sinh ngoài cung điện của vua cha đều chìm trong bể khổ, thái tử Tất Đạt Đa đã cầu nguyện Thượng Đế Brahman cứu giúp, rằng chỉ cần đấng tuyệt đối búng ngón tay là chúng sinh thoát khổ liền. Chẳng lẽ đấng tuyệt đối của vũ trụ này không biết thương xót con người ư ? Nỗi hoài nghi về sự tồn tại của Brahman trong lòng thái tử Tất Đạt Đa mỗi ngày mỗi lớn; cho đến lúc Ngài kết luận dứt khoát : không hề có Thượng Đế, không hề có thần linh, chỉ có con người đau khổ phải tự cứu mình và cứu đồng loại cùng thoát khổ, đặng tìm ra niềm vui sống bằng sự giác ngộ của tâm thức mà thôi.

Trong quyết định lìa bỏ tất cả để theo con đường khổ hạnh tìm chân lý giải thoát thì sự từ bỏ Thượng Đế nơi thái tử Tất Đạt Đa là sự từ bỏ khó khăn nhất, đau khổ nhất, quằn quại nhất. Barhman đã bao nhiêu năm là máu thịt, là khát vọng của Ngài về một sự bất tử của linh hồn ( tiểu ngã) hòa cùng tuyệt đối đại ngã Thượng Đế…

Vĩnh biệt Thượng Đế, vĩnh biệt ngai vàng mà vua cha đã dành cho Ngài, vĩnh biết cha mẹ, vĩnh biệt vợ con, vĩnh biệt cung vàng điện ngọc…thái tử Tất Đạt Đa cùng với đệ tử Xa-Nặc nửa đêm trốn khỏi cung điện để làm một nhà tu khổ hạnh, chân đất, áo vải gai, không nhà không cửa, một mình khất thực đi tìm con đường giải thoát cho chính Ngài và cho chúng sinh…

Mỗi chúng sinh cần phải đi lại con đường gian khó chông gai tìm đạo của Ngài không phải trên trần gian mà chính ở ngay trong tâm mình. Ngài đã dùng 80 năm trong cuộc tại thế của mình để mở cho chúng sinh con đường tìm ra Niết Bàn ngay chính trong lòng mình. Con đường ấy Ngài đã phải đi qua 06 năm tu hành theo phái khổ hạnh, hành hạ thân xác mình đến tàn tạ, héo khô như rơm rạ, xuýt đã mất mạng nếu không có một người con gái dâng cho Ngài bát cơm trộn sữa.

Ngài đã đi qua con đường của vua chúa để chuẩn bị làm vua mà vẫn không thoát khổ

Ngài đã đi qua con đường xa hoa khoái lạc với cung tần mỹ nữ mà vẫn không thoát khổ.

Ngài đã đi qua con đường hôn nhân của một gia đình tuyệt mỹ với vợ đẹp con khôn, giàu sang không ai sánh mà vẫn không thoát khổ

Ngài đã tin tưởng tuyệt đối vào Thượng Đế Brahman mà Thượng Đế vì không có thật nên vẫn không thoát khổ

Ngài đã bỏ cung điện ra đi làm người hành khất để tìm chân lý qua sự hành xác là con đường tu khổ hạnh mà vẫn không thoát khổ

Ngài bèn ngồi dưới gốc bồ đề để từ bỏ mọi con đường trên mặt đất, đặng ngồi kiết già, dùng tâm chiếu rọi vào bên trong, tìm ra con đường vào chính mình bằng sự thiền định suốt 49 ngày đặng thoát khỏi vọng ngã, thoát khỏi mê lầm vọng tưởng…

Và Ngài đã giác ngộ, đóa sen đốn ngộ đã xòe nở dưới chân Ngài. Ngài đã vượt qua sinh diệt, vượt qua sắc không, vượt qua mọi giới hạn vô thường…mà thành Phật…

Đức Thích Ca Mầu Ni một con người vĩ đại nhất nhưng khiêm cung giản dị nhất trần gian đã đến thế giới khổ đau này để ban tặng chúng sinh niềm vui. Đạo từ bi của Ngài là từ bi trong hỉ xả, trong niềm vui sống trút hết lòng ta vào với lòng người. Trong toàn cõi Ấn Độ cách đây hơn 2600 năm, sự phân biệt giai cấp còn rất kinh khủng và tàn khốc. Đa số dân nghèo ở đẳng cấp nô lệ còn khổ hơn súc vật.

 Ngài đã đến thế giới này để xóa bỏ mọi rào ngăn giai cấp, chẳng lẽ lại để một giai cấp vô sản ( không có thật) giết hại các giai cấp khác để độc tôn cầm quyền như lý thuyết Marx –Lenine đang được các vị thầy chùa của “ Phật giáo quốc doanh” có tên là “ Giáo hội Phật giáo Việt Nam” đưa vào thờ chung với Phật bằng tiêu chí : “ Đạo pháp-Dân tộc- chủ nghĩa xã hội” hay sao ? Ngài đã đến thế giới này để xóa bỏ cái ác, xác lập chân thiện mỹ trong loài người, lẽ nào lại để các để tử của Ngài rước chủ nghĩa duy ác Marx – Lenine vào chùa hòa cùng tiêu chí diệt ác của Ngài sao ?

Trong bài : “Một nơi an lành cho Bác” của Tưởng Năng Tiến in trên website Dân Làm báo, viết về chiến dịch thần thánh hóa ông Hồ Chí Minh theo kiểu Dũng Lò Vôi đưa tượng ông Hồ vào chùa của “Lạc cảnh Đại Nam quốc tự” (ở Bình Dương) để thờ như một ông Phật, tác giả viết  :

Sự kiện này được phóng viên của Đàn Chim Việt, thường trú tại Varsovie, tường thuật như sau: 

 “Trong phần nghi lễ chính, đại sứ Nguyễn Hoằng và phu nhân đã cùng làm lễ hô thần nhập tượng chủ tịch Hồ Chí Minh. Trong nghi lễ, việc ‘mời’ linh hồn Hồ Chí Minh để nhập vào tượng trực tiếp từ Lăng trên quảng trường Ba Đình hay từ hang Pác bó, và Bác sang Ba Lan bằng phương tiện giao thông nào là một điều bí hiểm thuộc ‘bí mật ngoại giao’ mà ông Hoằng đại sứ giữ kín không tiết lộ.”

2Ông đại sứ và phu nhân trong nghi lễ nhập hồn vào tượng. Ảnh:ĐCV

http://danlambaovn.blogspot.fr/2012/09/mot-noi-lanh-cho-bac.html#.UZyjW9gwmf1

Cũng theo bài báo trên, quận ủy quận Tây Hồ Hà Nội đã chỉ thị cho các làng xã đưa tượng ông Hồ Chí Minh vào các đình làng thờ như thành hoàng của các làng trong toàn quận, như sau :

Thiên hạ đang xôn xao về việc “Hồ Chí Minh sẽ làm thành hoàng tại các đình làng. Theo chỉ đạo của Quận ủy & UBND quận Tây Hồ, Ban Quản lý đình làng Phú Xá (làng Sù – phường Phú Thượng, Tây Hồ, HN) đưa tượng Hồ Chí Minh vào đình làng này để thờ cùng thành hoàng làng (vốn ngự ở đình đã gần 300 năm). Cũng theo chỉ đạo, 3 nhà sư trong trang phục Phật giáo đã sử dụng 1 đầu trâu và 3 bát máu tươi để cúng cho hồn tượng thêm ‘linh.’ 

“Dự buổi lễ khánh thành tượng Hồ Chí Minh ở đình làng vào sáng hôm sau có các quan chức: Bí thư Quận ủy, Chủ tịch UBND quận Tây Hồ, đại diện các ban ngành đoàn thể của quận, phường. Tổng giám đốc Khu đô thị Nam Thăng Long, Tổng giám đốc Tổng công ty Cổ phần Bao bì xuất khẩu (hai đơn  vị tài trợ chính) đã tham dự. Giá trị bức tượng khoảng hơn 2 tỉ đồng.Tới đây, quận sẽ chỉ đạo các Ban quản lý đình làng trên địa bàn quận học tập và làm theo để phấn đấu mọi đình làng đều phải có tượng Hồ Chí Minh được thờ cùng thành hoàng làng.”

(http://youtu.be/j7VXAIRbBSE)

http://danlambaovn.blogspot.fr/2012/09/mot-noi-lanh-cho-bac.html#.UZyjW9gwmf1

Cứ đà này, chẳng mấy chốc, “ Giáo hội Phật giáo Việt Nam” với tiêu chí : “ĐẠO PHÁP – DÂN TỘC – CHỦ NGHĨA XÃ HỘI” nhất định sẽ đưa tượng ông Hồ Chí Minh vào các chùa quốc doanh để thờ như thờ một vị Bồ Tát; lấy đà đưa tượng các ông Marx, Lenine, Stalin, Mao Trạch Đông, Pôn-Pốt, Kim Nhật Thành… vào chùa để thờ như những vị Phật cộng sản, những vị “Phật” đã từng ra lệnh giết chết hàng trăm triệu người dân vô tội mà thế giới văn minh đã từng lên án.

Nhân dịp mừng ngày Phật đản năm nay 24-5- 2013, kẻ viết bài này xin thỉnh các thầy của “ Giáo hội Phật giáo Việt Nam” rằng có phải nền Phật học Việt Nam vốn nhân đạo thâm sâu, cao vời thánh thiện, siêu việt viên mãn đức từ bi hỉ xả từ độ Lý Trần, liệu có phải đang đến thời kỳ mạt pháp ? A Di đà Phật, xin cám ơn các quý thầy và chờ sự thỉnh giáo của các quý thầy trên Internet.,.

Sài Gòn ngày 22-5-2013

Trần Mạnh Hảo

http://badamxoevietnam2.wordpress.com/2013/05/22/tu-bo-the-gioi-duy-ac-de-thanh-phat/#more-2902

Posted in Hội Nghị Thành Đô 1990, Tôn Giáo | Leave a Comment »

►3 nhóm cầm quyền trong đảng CSVN: Bảo Thủ, Cấp Tiến và Trục Lợi

Posted by hoangtran204 trên 24/05/2013

 

nguồn: Báo Người Việt

Khi phân tích các cuộc đấu chính trị trong nội bộ đảng Cộng sản Việt Nam, người ta hay gắn cho các phe phái những nhãn hiệu như Bảo Thủ, hay Cấp Tiến; hoặc cho là có phe thân Trung Cộng, phe thân Nga, hay muốn ngả sang Mỹ. Phân loại theo cách đó có phần lý thuyết quá, chỉ mô tả các hiện bên ngoài mà không nêu rõ động cơ căn bản của mỗi phe nhóm. Nếu nhìn từ bên trong, sẽ thấy bên Bảo Thủ thì nhấn mạnh tới quyền, bên Cấp Tiến chú trọng đến tiền hơn.

Bản chất những người mang danh hiệu Bảo Thủ là nặng óc giáo điều: Họ lo sợ phải từ bỏ các lý thuyết của Mác-Lênin, sợ mất cái nhãn hiệu “xã hội chủ nghĩa” dù có lúc cũng thú nhận họ chẳng biết nội dung nó là gì. Những người được gọi là Ðổi Mới, là Cấp Tiến, phần lớn là do lối nhìn thực tế thúc đẩy. Có thay đổi thì mới tạo cơ hội làm giầu bằng “kinh tế thị trường.” Ngay một lãnh tụ bảo thủ nhất là Ðỗ Mười cũng từng chúc Tết cả nước bằng một câu: “Chúc đồng bào làm ăn phát tài.”

Phe giáo điều coi việc bảo vệ quyền là quan trọng nhất; phải dùng các khẩu hiệu trong chủ nghĩa, lý thuyết để biện minh cho quyền của đảng, vì đảng “đi đúng hướng của lịch sử.” Phe thực tế thì trước hết nhắm làm sao có tiền.

Nhiều người thực tâm muốn đời sống dân chúng khá giả hơn; mà họ thấy chỉ có một cách là phải thay đổi chế độ nhiều hơn nữa, vì thế được gọi là Cấp Tiến.

Nhưng trong cả hai phe đều có một “thành phần thứ ba” chen vào, đó là những người “thực tế nhất.” Nhóm này có thể tuyên bố theo cả hai giọng, nói giọng Bảo Thủ được, nói giọng Cấp Tiến cũng được, miễn là đạt mục đích sau cùng của họ, là trục lợi. Người ta còn gọi đám này là theo ‘chủ nghĩa cơ hội.” Thành ra, trên sân đấu chính trị nội bộ đảng Cộng sản có tới ba đội banh. Hai đội Bảo Thủ và Cấp Tiến đá với nhau, nhóm nào kéo được thành phần Trục Lợi vào đông hơn thì cán cân sẽ ngả về phía đó. Trong hai kỳ hội nghị Trung Ương Ðảng 6 và 7 vừa qua, phe Bảo Thủ của Nguyễn Phú Trọng thua nặng vì thành phần Trục Lợi ngả sang Nguyễn Tấn Dũng; vì phe đó mới có khả năng ban phát cơ hội kiếm tiền. Khi Nguyễn Tấn Dũng lên làm thủ tướng thì “Ban Kinh Tế” trong Trung Ương Ðảng cũng bị giải tán; quyền lực kinh tế được thu về một mối. Nhưng nếu gọi phe nhóm Nguyễn Tấn Dũng là Cấp Tiến thì cũng sai, vì mục đích chính của họ cũng chỉ là Trục Lợi.

Xưa nay, trừ các bậc chân tu rất hiếm hoi, Danh, Lợi và Quyền vẫn là những động cơ thúc đẩy hành vi của con người, nhất là các nhà chính trị. Nhưng họ cần biện minh cho các động cơ thầm kín của mình, cho nên ngoài việc sử dụng guồng máy đàn áp còn phải nói tới những mục đích hoặc lý tưởng cao xa hơn. Phe Bảo Thủ khoác bộ mặt giáo điều cũng vì họ cần nhân danh “Chủ nghĩa Mác-Lênin,” cần nhắc đi nhắc lại nhãn hiệu này. Ðể chứng tỏ họ có quyền nắm đầu người khác vì vẫn “mang sứ mệnh lịch sử.” Nửa thế kỷ trước đây, các tiền nhân của họ đã làm chết hàng triệu, hàng chục triệu người dân Nga, dân Trung Quốc với các chính sách kinh tế tàn bạo và ngu ngốc; tất cả đã được biện minh bằng các lý thuyết do các ông Karl Marx và Lenin “soi sáng.” Ngày nay, phe Bảo Thủ ở Việt Nam vẫn dùng các khẩu hiệu đó để chứng tỏ Ðảng Cộng sản chỉ tiếp tục “sứ mạng” do “lịch sử trao phó” từ hồi nào không biết. Chủ nghĩa Mác-Lênin bảo đảm uy tín của nhóm người cầm quyền, nói văn hoa hơn thì gọi là “tính chính thống” (legitimacy) của chế độ.

Còn phe Cấp Tiến, họ lấy gì để biện minh cho độc quyền thống trị của đảng? Bây giờ mà còn nói đến các chủ nghĩa xưa cũ thì dân không ai tin nữa. Phải viện ra những điều thực tế hơn. Như khi hô khẩu hiệu “Dân giầu, nước mạnh, xã hội văn minh;” nói theo lối chuyên môn gọi là dùng “hiệu quả kinh tế” để biện minh việc cầm quyền. Nếu được đủ ăn, kinh tế phát triển đều đặn, thì chắc dân cũng thỏa mãn, không ai đặt vấn đề lý thuyết về “tính chính thống” nữa.

Còn nhóm thứ ba, phái Trục Lợi, họ có thể sử dụng các khẩu hiệu của cả hai phe; miễn sao bảo vệ và tạo thêm cơ hội làm giầu. Họ sẵn sàng nói như phe Cấp Tiến, vì khi kinh tế được cởi trói thì chính họ là những người được tư bản hóa đầu tiên. Nếu việc cởi trói tiếp tục mà họ thấy có thể mở thêm cửa cho họ làm giầu, thì họ sẽ ủng hộ.

Nhưng nhóm tư bản Trục Lợi khác với các nhà kinh doanh khai sơn phá thạch ở các nước tư bản thật sự; những người đó thường tự bỏ sức, bỏ công phu và sáng kiến tạo ra các sản phẩm, dịch vụ mới. Những đại gia đỏ khác, vì họ không cần đóng góp gì cho đời sống kinh tế quốc dân; chìa khóa thành công (kiếm tiền) của họ là móc ngoặc, quan hệ. Cho nên các đại gia sẽ không còn ủng hộ những thay đổi mới, khi nào họ thấy sẽ mở cửa cho những người khác có thể bước vào cạnh tranh với họ. Khi đó, nhóm Trục Lợi sẽ nói năng giống như những người Bảo Thủ.

Về mặt đối ngoại, phe Bảo Thủ tự nhiên phải dựa trên đảng Cộng sản Trung Hoa. Bởi vì Trung Quốc là quốc gia lớn duy nhất trên thế giới vẫn còn đề cao chủ nghĩa cộng sản. Dựa vào Trung Cộng, phe Bảo Thủ có thể thừa hưởng uy tín của “mô hình Trung Quốc.” Nhưng phe Cấp Tiến cũng vẫn phải chiều theo Trung Cộng, vì đó là quốc gia duy nhất có khả năng gây rối, phá hoại bất cứ chính quyền Việt Nam nào. Họ có một mạng lưới tình báo lan rộng và xâm nhập sâu nhất; một mạng lưới bao bọc bằng lợi lộc trùm lên nhiều người nhất. Như một anh con trai của một ông bộ trưởng Việt Nam đã khoe rằng anh được mời làm phó tổng giám đốc một công ty bên Trung Quốc, mà chẳng phải làm gì cả. Anh muốn đi Trung Quốc lúc nào cũng được; ở bên đó có nhà, có xe đi, không ai bắt đến sở, tự do muốn làm gì thì làm. Nếu một ông con trai của một vị bộ trưởng cũng được ưu ái như thế, thì không biết còn bao nhiêu người Việt khác được Trung Cộng tặng những bổng lộc lớn lao hơn? Những người đó có thể thuộc cả ba thành phần Bảo Thủ, Cấp Tiến, và Trục Lợi.

Cho nên phân chia các lãnh tụ Cộng sản Việt Nam ra hai phe, phe thân Trung Quốc và phe chống, là điều không cần thiết. Với mỗi cá nhân thì chắc không có người Việt nào muốn thân Trung Quốc. Nhưng khi hành động cụ thể thì không một người nào dám chống Trung Quốc.

Cuộc đấu Dũng-Trọng đã trở thành tranh chấp giữa hai cá nhân; không còn mang tính phe phái, không có thể phân biệt bằng đường lối hay khuynh hướng khác nhau nữa. Nhiều người cho đây là cuộc đấu giữa hai tổ chức, là Ðảng và Nhà nước. Nhưng đó chỉ là sự phân biệt về hình thức; vì Nguyễn Phú Trọng đứng đầu Ðảng, Nguyễn Tấn Dũng nắm Nhà nước. Nhưng tất cả 175 ủy viên trung ương dự hội nghị cũng chính là đảng. Họ vẫn lo bảo vệ đảng; vì nếu không còn đảng thì họ mất địa vị quyết định số phận của 90 triệu người dân. Phe đa số trong hội nghị này vừa là đảng, vừa là nhà nước; họ bỏ phiếu theo Nguyễn Tấn Dũng vì thấy đó là cách có lợi nhất, chứ không phải vì họ theo nhà nước, chống đảng.

Từ lâu nay phe Bảo Thủ trong đảng phải tỏ ra thân thiện với Trung Quốc hơn; vì đó là chỗ dựa về chủ nghĩa, khi mà họ còn phải đề cao giáo điều để biện minh cho quyền hành của đảng. Ông Nguyễn Phú Trọng vẫn được coi là người cầm cờ trong nhóm này. Nhưng nhưng chắc Cộng sản Trung Hoa cũng không lo lắng gì khi Nguyễn Phú Trọng thua Nguyễn Tấn Dũng. Bởi vì họ giống như một chủ sòng bài. Các con bạc vào sòng bài sát phạt nhau, có bên thắng, bên thua, nhưng chủ sòng lúc nào cũng thu tiền.

Ðiều có thể khiến Trung Cộng phải quan tâm là chính phe được gọi bảo thủ có thể bắt đầu tự tách họ ra khỏi nhãn hiệu cũ. Một nhà quan sát trong nước đã nhận xét: Bài diễn văn bế mạc hội nghị Trung Ương 7 của ông Nguyễn Phú Trọng dài 4812 chữ nhưng không thấy một chữ nào nhắc đến Chủ nghĩa Xã hội, không nhắc tới một chữ Mác-Lê nào. Ðiều này cho thấy cầu thủ Trọng sẵn sàng thay đổi nhãn hiệu. Hay là ông ta cũng muốn thay đổi luật chơi trên sân banh? Trong thời gian tới chúng ta phải theo dõi mới thấy được kịch bản mới sẽ diễn ra thế nào.

Báo Đất Việt – 25/05/2013 14:41

SAO VIỆT ĐẾN LIÊN HOAN PHIM CANNES:  Hóa ra đi… ‘bán rượu’ Chivas

Posted in Chinh Tri Xa Hoi | Leave a Comment »

►HỌ ĐÃ BẮT Anh Trần Huỳnh Duy Thức NHƯ THẾ NÀO hôm 24-5-2009?

Posted by hoangtran204 trên 24/05/2013

Chọn Đường

24-5-2013

Lê Thăng Long
Chia sẻ bài viết này

Kính gửi: BBT báo Dân Luận

Tôi xin gửi đến BBT báo Dân Luận bài viết dưới đây nhân đúng 4 năm ngày anh Trần Huỳnh Duy Thức bị nhà cầm quyền Việt Nam bắt.

Rất mong BBT báo Dân Luận quan tâm và chia sẻ cho cộng đồng.

Xin chân thành cảm ơn và mến chúc BBT báo Dân Luận phát triển và thành công!

Lê Thăng Long

Tôi ra tù đã gần 1 năm. Vụ án chúng tôi đã tròn 4 năm.

Gần đây, từ cuối năm 2012, trong những lần làm việc với các sĩ quan an ninh, họ thường nói với tôi rằng: “Đảng và nhà nước cũng đã phần nào nhận ra sai lầm… và cũng đang cố gắng thay đổi. Các anh cũng không nên làm quá sẽ gây khó xử.” Những thành viên khác của phong trào Con đường Việt Nam khi bị nói chuyện với an ninh cũng nghe họ thừa nhận những gì anh Thức cảnh báo đã được thực tế chứng minh. Họ còn nói rằng vụ án của anh Thức sẽ phải xét lại, tuy nhiên không thể là ngày một ngày hai. Những hành xử của các cơ quan an ninh và những bản án chính trị của chính quyền mới đây khiến người ta thật khó tin vào những thiện ý như vậy. Nhưng một điều có thể thấy rõ là vụ án Trần Huỳnh Duy Thức, Lê Công Định, Nguyễn Tiến Trung, Lê Thăng Long đã tác động sâu sắc đến suy nghĩ của những người cầm nắm quyền lực. Trong những buổi làm việc với an ninh, vào những lúc mà họ gọi là tâm tình ngoài nhiệm vụ, họ thường tỏ thái độ khâm phục tầm nhìn của anh Thức, anh Định và giải bày rằng chẳng qua họ phải làm vì nhiệm vụ.

Không ai không thấy được thực tế xấu đã và đang xảy ra chính là những gì các anh đã cảnh báo và không muốn đất nước gặp phải. Chia sẻ những điều trên với người dân, tôi nhận thấy rằng tất cả họ đều hoài nghi vào thiện chí của chính quyền nhưng lại tin tưởng rằng lẽ phải sẽ nhanh chóng được trả về đúng vị trí của nó. Họ tỏ ra rất tiếc nuối cho đất nước vì đã không có một cơ chế biết lắng nghe hiền tài để tránh được những thảm hoạ làm dân chúng khốn khổ. Họ cũng buồn tiếc cho tôi và những người bạn Thức, Định, Trung. Nhưng tôi nói nếu được lựa chọn lại thì tôi vẫn sẽ chọn con đường chúng tôi đã đi và không có gì phải ân hận. Có người nói rằng nếu tôi không cùng anh Thức kinh doanh thì giờ đây tôi đã là một quan chức đang thăng tiến, chứ không phải một cựu tù chính trị đang bị chính quyền quản chế. Điều đó có thể đúng. Nhưng nếu vậy thì tôi chắc chắn rằng lương tâm tôi lúc này đang bị dằn vặt và ân hận về con đường mình đã chọn khi phải chứng kiến tương lai của đất nước, của con cháu mình đi vào ngõ cụt. Hậu quả đó có trách nhiệm của mình. Điều đáng mừng là tôi chứng kiến tâm trạng như vậy đang diễn ra với hầu hết những người cộng sản. Điều đó cho tôi niềm tin vào một sự thay đổi tốt đẹp không xa nữa.

Nếu được lựa chọn lại thì tôi vẫn sẽ chọn Trần Huỳnh Duy Thức, Lê Công Định, Nguyễn Tiến Trung là những người bạn đồng chí hướng và cùng nhau dấn thân đấu tranh vì một Việt Nam dân chủ và thịnh vượng cho dù biết trước sự lựa chọn đó sẽ dẫn đến những gian nguy, thử thách.

Hôm nay 24/5/2013, tròn 4 năm Trần Huỳnh Duy Thức bị tước đoạt tự do một cách tuỳ tiện. Có nhiều người nói nếu 4 năm qua anh không bị bắt thì anh đã làm được rất nhiều việc có ích cho gia đình, cho cộng đồng và lĩnh vực công nghệ thông tin viễn thông của đất nước. Hẳn là như vậy. Nhưng tôi lại nghĩ 4 năm tù của anh đã tạo ra những giá trị lớn hơn nhiều. Làm cho rất nhiều người phải suy nghĩ và thay đổi nhận thức một cách đúng đắn là điều không hề dễ dàng. Áp đặt một tư tưởng bằng quyền lực thì dễ, còn thuyết phục để người ta hiểu đúng và tự nguyện chấp nhận lẽ phải là điều rất khó và có khi phải hy sinh. Đó chính là cuộc CÁCH MẠNG SUY TƯỞNG mà Thức theo đuổi vì anh tin rằng dân tộc Lạc Hồng chỉ có thể ngẩng cao đầu khi nào người dân nhận thức đúng về quyền con người của mình để hành động như những người chủ đích thực của đất nước. Nếu không thì nhân dân sẽ luôn là những người nô lệ bị trị. Cuộc đấu tranh để con người hiểu ra chân lý thường rất gian khổ và nguy hiểm. Nhất là trong một bối cảnh mà sự giáo điều và phản động ngự trị nhiều năm trời bằng bạo quyền. Nhưng thành công của những cuộc đấu tranh này luôn là những phần thưởng rất giá trị và vĩ đại cho nhân loại.

Nếu được lựa chọn lại tôi vẫn sẽ đồng hành cùng Trần Huỳnh Duy Thức dù biết rằng hành trình đó sẽ trải qua tù đày. Gần một năm ra tù và đối diện với bao nhiêu thử thách nguy nan, tôi nhận ra rằng mình đã bản lĩnh và vững vàng gấp bội trước khi vào tù. Đó là một khoảng thời gian để tu thân tuyệt vời nhất mà không phải ai cũng có được cơ duyên ấy. Tôi tự hào vì là bạn học, đồng nghiệp và bạn tù của Thức. Tôi vẫn sẽ chọn đi cùng anh vì tôi thấy rõ con đường mà chúng tôi đã chọn sẽ dẫn đến một tương lai tươi sáng không còn xa nữa. Và vì tôi đã được thấy ngày càng nhiều người bước vào con đường đó – Con đường Việt Nam – Con đường phát triển đất nước tốt đẹp trên nền tảng quyền con người.

Tôi khâm phục tầm nhìn chính trị của Thức. Trong kinh doanh anh là người luôn nhìn ra các đích nhắm chiến lược chỉ đòi hỏi những nguồn lực nhỏ hơn nhưng giúp đạt được những mục tiêu cuối cùng lớn hơn. Đến giờ anh lại cho thấy anh không chỉ có khả năng quản trị chiến lược trong kinh doanh mà cả trong chính trị. Quyền con người vừa là một mục tiêu chung của tất cả mọi người, vừa là một đích nhắm chiến lược hiệu quả cho cuộc đấu tranh dân chủ hoá đất nước và làm cho dân giàu nước mạnh. Khi các mục tiêu đấu tranh hội tụ về đích nhắm này thì sẽ không có sự độc tài, toàn trị nào có thể tồn tại trên đất nước mãi về sau.

Tôi rất vui khi thấy ngày càng nhiều người nhận ra chiến lược đó. Và ngày càng có nhiều người thấy được và mong muốn Trần Huỳnh Duy Thức trở về để đóng góp cho đất nước vượt qua khó khăn và phát triển tốt đẹp. Tôi tin ngày đó sẽ không lâu nữa.

Tôi cũng tin rằng ngay bây giờ nếu được lựa chọn giữa phải từ bỏ con đường đã chọn để được trở lại thành doanh nhân thành đạt, hoặc sẽ chấp nhận gian khổ để tiếp tục con đường đó thì Thức sẽ chọn gian khổ. Anh không phải là người hy vọng vào ánh sáng cuối đường hầm. Anh hiểu rõ và biết mình phải làm gì, trải qua những gì để đi về đích.

Lê Thăng Long, Phong trào Con đường Việt Nam.

TB: thể theo yêu cầu của nhiều người muốn biết “họ đã bắt chúng tôi như thế nào và hành xử trong tù ra sao?”, hôm nay tôi xin được kể phần của anh Thức trước.

HỌ ĐÃ BẮT ANH THỨC NHƯ THẾ NÀO?

Thứ sáu 22/05/2009, ban lãnh đạo công ty One-Connection Internet (OCI) họp tại TpHCM thông qua quyết định khởi kiện sở Thông tin truyền thông TpHCM về những quyết định hành chánh sai trái của cơ quan này đối với OCI. Cũng trong cuộc họp này anh Thức phân công những người kế nhiệm trong trường hợp mình bị bắt vì anh tin rằng Sở Thông tin Truyền thông TpHCM sẽ tìm cách hình sự hóa vấn đề để né tránh trách nhiệm làm sai của họ. Anh Thức cũng cho biết rằng thời gian đó xuất hiện nhiều người lạ mặt lảng vảng trước cửa nhà anh. Sau cuộc họp anh Thức nói chuyện tiếp với tôi trên điện thoại nhận định rằng nếu họ không hình sự hóa được vấn đề thì họ sẽ chính trị hóa nó. Anh dặn tôi cẩn thận nhưng phải chuẩn bị tinh thần cho tình huống xấu nhất và kiên định những gì đã chọn. Tôi cũng bắt đầu linh cảm những chuyện chẳng lành.

Thứ bảy 23/05/2009, anh Thức gặp luật sư Lê Công Định để chia sẻ tất cả các nội dung trên. Anh Định đảm nhiệm về pháp lý cho vụ kiện sở Thông tin truyền thông TpHCM của OCI. Anh Thức nhờ anh Định nếu anh bị bắt thì anh Định tiếp tục hỗ trợ cho các lãnh đạo kế nhiệm của OCI theo tiếp vụ kiện tới cùng. Tuy nhiên nếu họ chính trị hóa vấn đề thì không loại trừ anh Định cũng sẽ bị bắt. Trong thời gian này. Thanh tra bộ Thông tin truyền thông đang tiếp nhận đơn khiếu nại của OCI và bắt đầu xem xét các trách nhiệm của sở Thông tin truyền thông TpHCM trong việc xử phạt OCI. Cùng lúc đó đài truyền hình Việt Nam (VTV) liên tục phát đi những phóng sự cho thấy sự sai trái và vi phạm pháp luật của sở Thông tin truyền thông TpHCM trong sự việc này. Nhiều tờ báo như Sài Gòn Tiếp thị, Thời báo kinh tế Việt Nam cũng bắt đầu có những phân tích chỉ ra sự lạm quyền của sở Thông tin truyền thông TpHCM. Dư luận đã thấy rõ sự đuối lý của cơ quan này.

Chủ Nhật 24/5/2009, khoảng 8h00 tối, tôi hay tin được đăng trên tờ Công an nhân dân online là anh Thức bị bắt vì tội “trộm cước viễn thông”. Gọi cho Trần Huỳnh Duy Tân, em trai anh Thức thì được biết đang có đến cả trăm người tràn ngập sân, hẻm và nhà anh Thức.

Lúc này tôi đang ở Hà Nội nên không thể đến được với anh. Họ ập vào lúc 4h30 chiều, quần nát trong nhà đến 10h30 tối thì đưa anh đến văn phòng công ty OCI. Họ lục soát văn phòng làm việc của anh Thức gần 2 tiếng và thu toàn bộ hồ sơ OCI khởi kiện sở Thông tin truyền thông TpHCM. Nếu không bị bắt thì hồ sơ này sẽ được nộp cho tòa án hành chính TpHCM vào ngày hôm sau. 0h30 khuya hôm đó họ rời OCI và chở anh về trại giam B34 (Nguyễn Văn Cừ, Q1, TpHCM) và hỏi cung anh đến hơn 2h sáng.

Ngay khi họ nhốt anh vào phòng giam thì một cơn mưa trên toàn thành phố trút xuống. Sài Gòn gần như chưa bao giờ mưa to trên diện rộng đến như vậy. Mưa như thác đổ liên tục từ khoảng 2h00 đến 7h00 sáng mới ngơi dần, nhưng mãi đến trưa hôm đó mới tạnh. Kể cũng lạ, ngày chúng tôi ra tòa sơ thẩm, một cơn mưa kéo dài suốt 2 ngày đêm trên khắp miền Nam. Ngày đó nhiệt độ ở Sài Gòn theo thông báo của đài phát thanh là xuống thấp kỷ lục. Điều kỳ lạ hơn đó là cơn mưa rất to nhưng trái mùa. Lúc đó là tháng Chạp năm Kỷ Sửu (tháng 1/2010). Những cơn mưa phùn tháng Chạp gần như không thấy, đừng nói là mưa rào và giông liên tục 2 ngày.

Hai ngày sau khi anh Thức bị bắt, tôi bay vào Sài Gòn để lo việc công ty OCI và an ủi gia đình anh ấy. Tôi được nghe thuật lại lời kể của những người hàng xóm.

Vào tối anh bị bắt, trước cổng, sân, hẻm nhà anh rất đông công an với nhiều loại lực lượng khác nhau. Theo ý kiến của những người hàng xóm thì trong số này không phải chỉ toàn những người đến bắt anh mà có cả những người có mục đích ngược lại. Có những lúc họ tranh cãi nhau rất căng và phải chờ điện thoại chỉ thị từ cấp trên để phân định.

Người dân ở đây nghe được những lời nói trên điện thoại rằng: “Không được bắt, không nên bắt”. Họ bao vây kín cả khu vực, có cả các xe chuyên dụng và xe kỹ thuật. Hàng xóm xung quanh còn nghe thấy các nhân viên an ninh bàn tán với nhau về việc chưa thống nhất từ các lãnh đạo cấp cao, chỉ đạo từ trung ương trong việc bắt này (người đồng ý, người không đồng ý). Cuối cùng có một người nhận điện thoại rồi truyền đạt lại cho nhóm đại ý rằng quyết định cuối cùng là bắt. Rồi anh ta cùng với toán người của mình rút khỏi hiện trường. Cùng lúc đó một người đàn ông khác bước từ trong xe hơi ra và ra lệnh: “bắt đi”. Sau khi ra tù, tôi đọc lại những thông tin về vụ án này thì biết được bộ chính trị của đảng Cộng sản Việt Nam bị chia rẽ nặng nề đối với vụ án này. Đây có lẽ là lý do cho những tranh cãi giữa các lực lượng công an nói trên.

Còn những chi tiết về sự ngược đãi, truy bức, nhục hình trong tù thì khá dài. Những bạn nào quan tâm xin hãy đón đọc quyển sách về anh Thức và Con Đường anh chọn sắp ra mắt.

Thân mến,
Lê Thăng Long

 

Trần Huỳnh Duy Thức, Lê Thăng Long cùng những người bạn. Ảnh: Fanpage Trần Huỳnh Duy Thức

——

Rước họa vào thân do thuốc tẩy nốt ruồi  

Posted in Hội Nghị Thành Đô 1990, Đảng CSVN - còn đảng, còn mình... | Leave a Comment »

►Cuộc chiến tranh tiền tệ giữa các quốc gia ảnh hưởng đến tỷ giá giữa đồng nội tệ VNĐ và các loại ngoại tệ khác, đang hội tụ và ngày càng tạo ra những vùng áp lực đánh vào chế độ độc tài toàn trị

Posted by hoangtran204 trên 24/05/2013

Những cơn lốc xoáy thiên địch đang đến với độc tài toàn trị

Oanh Yến Thị Phạm

theo blog Huỳnh Ngọc Chênh 

Mùa mưa 2013 có vẻ đến sớm hơn mọi năm khi chỉ mới bắt đầu bước vào tuần lễ cuối của tháng 5 Dương lịch. Những cơn mưa đã bắt đầu dần nặng hạt hơn trên cả ba miền. Trước đó những cơn lốc xoáy, mưa đá cũng đã gây thiệt hại tại nhiều khu vực. Những cơn mưa, giông, lốc xoáy đến sớm như một điềm báo chẳng lành cho một năm đầy bất trắc cho nền kinh tế và chính trị tại Việt Nam mà những mâu thuẩn vốn luôn tiềm ẩn đã được che đậy bằng những “thỏa hiệp được định hướng” trước đây, nay ngày càng thoát khỏi từ trường của nguyên tắc Tập trung Dân chủ, một nguyên tắc sống còn của Xây dựng Đảng và Nhà nước theo mô hình nhà nước Độc tài toàn trị.

*Những tác nhân sẽ gây nên cơn lốc xoáy tỷ giá đa phương giữa đồng nội tệ VNĐ và các loại ngoại tệ khác, đang hội tụ và ngày càng tạo ra những vùng áp lực hình thành rốn xoáy. Với trên 80% nguyên, phụ liệu, phụ thuộc vào nhập khẩu từ Trung quốc trong bối cảnh NHNN Trung quốc đang áp dụng chính sách đồng tiền mạnh khi cho phép nới biên độ co giản tỷ giá song phương giữa đồng Nguyên (renminbi) và USD. Từ tỷ giá 1 USD đổi được 6,735 (lấy tròn) (nhân dân tệ= renminbi), nay 1 USD chỉ còn 6,235 (lấy tròn). Chính phủ Trung quốc đang áp dụng chính sách đồng Nguyên (nhân dân tệ) mạnh để đối phó với khủng hoảng nợ công và hạn chế tiêu dùng trong nước trong bối cảnh tỷ lệ tăng trưởng kỳ vọng, có dấu hiệu suy giảm nghiêm trọng. Nguồn nguyên, phụ liệu đầu vào của nền sản xuất tại Việt Nam, đang bị đẩy lên cao.

Ngược lại những thị trường xuất khẩu truyền thống và chủ yếu của Việt Nam là Mỹ và các nước trong khối EU, Nhật Bản, đồng nội tệ (của các nước này) đang được các chính phủ áp dụng chính sách đồng nội tệ yếu. Tỷ giá song phương giữa đồng Yen/USD đã bất ngờ tuột giá trong nữa cuối tháng 5, khi tỷ giá bình quân đang từ 1USD/77 Yen đã tăng lên 1USD/99,7 – 99,8 Yen. Cũng tương tự,  Tỷ giá song phương bình quân giữa USD và đồng EURO, đang từ 1USD/0,765 đã bất ngờ tăng lên quanh trục 1USD/0,779 – 0,776. Đồng USD, trên thực tế đã mất giá trên 24% so với VNĐ từ những tháng đầu năm 2012.

-Rõ ràng hàng xuất khẩu của Việt Nam vào các thị trường truyền thống và chủ yếu này đang kém cạnh tranh vì đã trở nên quá đắt do cuộc chiến tiền tệ giữa các nước.

-Cơn lốc xoáy lãi xuất cao do khủng hoảng thanh khoản kép của hệ thống NHVN, đã giật sập trên 100.000 Doanh nghiệp và đẩy trên 65% Doanh nghiệp lâm vào cảnh làm ăn thoi thóp lỗ lã.

-Việc NHNNVN, với độc quyền sản xuất và kinh doanh vàng miếng, đã bán đấu giá vàng với giá cao, đã tạo chênh lệch giữa giá vàng trong nước và thế giới luôn ở mức cao từ 18 cho đến 20%, cũng đã tạo nên áp lực tăng tỷ giá song phương giữa USD/VNĐ.

-NHNNVN, đang cố kiềm chế tỷ giá song phương giữa USD/VNĐ để áp dụng chính sách đồng nôi tệ mạnh vì hai lý do:

1-Cố gắng cứu sự sụp đổ theo hiệu ứng domino do khủng hoảng thanh khoản kép của hệ thống NHVN.

2-Nợ công của Chính phủ Việt Nam ngày càng phình to.

-Áp lực phá giá VNĐ để hổ trợ xuất khẩu cứu những doanh nghiệp còn sống sót và áp lực giữ ổn định tỷ giá song phương USD/VND để giảm nợ công và cứu hệ thống NHVN khỏi sụp đổ, đã càng làm tăng tác nhân hình thành “rốn xoáy” của cơn lốc xoáy tiền tệ lên đến cực đại.

*Cơn lốc xoáy trên chính trường qua hai Hội nghị BCHTW6 và BCHTW7, đã giật phăng cây đũa thần nguyên tắc Tập trung dân chủ trong tay Giáo sư, Tiến sỹ Xây dựng Đảng TBT Nguyễn Phú Trọng và bẻ gẩy vụn qua việc không kỷ luật được đồng chí X và hai ứng cử viên do đích thân TBT giới thiệu vào BCT bị gạt ra lề.

-Việc những cuộc họp của BCHTWĐCS VN vừa qua được tổ chức họp kín như trong thời chiến tranh cũng như cuộc họp bỏ phiếu tín nhiệm của Quốc hội đang diễn ra cho thấy “rốn xoáy” đã hình thành trên chính trường Việt Nam.

*Bên cạnh đó việc ngày càng có nhiều lớp người tuổi trẻ Việt Nam như các em Đỗ Thị Minh Hạnh, Đoàn Huy Chương, Nguyễn Hoàng Quốc Hùng, Nguyễn Phương Uyên, Đinh Nguyên Kha và 14 thanh niên công giáo ở Nghệ An quê hương Bác, đã can đảm, kiên định dấn thân vào con đường đấu tranh cho Dân chủ, Tự do, Nhân quyền cho đồng bào và họ đã nhận được sự ủng hộ và đồng thuận của đại đa số dân chúng và ngay cả những người còn giữ thẻ đảng. Đối lập lại là những bản án và thái độ nhò nhen của Đảng CS VN và Chính phủ VN, là tác nhân hình thành một rốn xoáy thứ hai trên chính trường Việt Nam.

*Ba “rốn xoáy” của nền Kinh tế và Chính trị Việt Nam sẽ giao thoa và cộng hưởng để đạt đến bước sóng cực đại làm bật đến tận gốc trốc tới tận rễ mọi thứ rác rưởi đang ngăn cản vòng xoay của bánh xe lịch sử
……

Hãy chuẩn bị.

Berlin, 05/24/2013

Oanh Yến Thị Phạm

—–

►Tình hình kinh tế gay go lắm rồi! Phó CT nước Nguyễn Thị Doan

Mấy tháng qua nhà nước phát động phong trào Góp Ý Hiến Pháp, rồi kêu dân thảo luận đòi đổi Quốc Huy, đổi tên nước…tất cả các chuyện này đều nhằm đánh lừa dân chúng, thu hút dân chúng VN vào các trò chơi chữ nghĩa để dân chúng quên đi các sự thực khó khăn của chính họ và của đất nước do tài lèo lái, chỉ đạo tài tình của đảng và nhà nước. Nhưng các bạn hãy coi kỹ bài báo dưới đây sẽ thấy:  

Tình hình kinh tế gay go lắm rồi!

15/05/2013
TT -Đó là nhận xét của Phó chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan tại phiên họp ngày 14-5 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, khi nghe các báo cáo của Chính phủ và Ủy ban Kinh tế, Ủy ban Tài chính – ngân sách về tình hình kinh tế – xã hội và thu ngân sách những tháng đầu năm 2013.

Còn Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng cho rằng: “Tình hình doanh nghiệp bi đát, tôi nghĩ có tới 100.000 doanh nghiệp chết chứ không phải chỉ mấy chục nghìn, tỉ lệ doanh nghiệp lỗ có thể còn hơn 65%”.

Bà Doan đề nghị: “Phải nhìn thẳng vào tình hình khó khăn của đất nước để giải quyết vấn đề. Nếu kỳ họp Quốc hội này mà không đưa ra được giải pháp đủ mạnh thì những khó khăn sẽ thêm trầm trọng”.

Khó khăn ngày càng lớn

“Tình hình đúng là hết sức đáng lo ngại, tăng trưởng sản xuất giảm ở cả lĩnh vực công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ, bức tranh vô cùng ảm đạm. Chỉ cần nhìn số lượng hàng chục nghìn doanh nghiệp phá sản, phần còn lại thì đến 65% báo lỗ thì biết khả năng phục hồi kinh tế khó khăn đến mức nào”Ông Nguyễn Xuân Cường(phó trưởng Ban Kinh tế trung ương)

“Dấu hiệu suy giảm kinh tế ngày càng rõ nét hơn, tổng cầu nền kinh tế sụt giảm mạnh, thu ngân sách gặp nhiều khó khăn; nợ xấu, tồn kho, khó khăn thị trường bất động sản và khả năng hấp thụ đầu vào của khu vực sản xuất chưa được cải thiện” – Ủy ban Kinh tế đánh giá.

Theo Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế Nguyễn Văn Giàu, việc thực hiện tái cơ cấu và đổi mới mô hình tăng trưởng chưa đem lại kết quả rõ rệt, chính sách kích thích tăng trưởng bị giới hạn bởi thâm hụt ngân sách, trong khi thị trường vốn và tăng dư nợ tín dụng cho nền kinh tế vẫn ở mức quá thấp.

Ba tháng đầu năm, số lượng doanh nghiệp thành lập mới là 15.700 doanh nghiệp (giảm 6,8% về số lượng, giảm 16% về vốn so với cùng kỳ năm trước); trong khi đó số doanh nghiệp ngừng hoạt động, giải thể là 15.300 (tăng 14,6% so với quý 1-2012).

Thay mặt Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch – đầu tư Bùi Quang Vinh nhận định: sức mua của nền kinh tế khó có thể tăng mạnh trở lại trong thời gian ngắn khi việc làm và thu nhập của người lao động giảm sút, hoạt động sản xuất kinh doanh vẫn gặp khó khăn, số lượng doanh nghiệp thu hẹp sản xuất, giải thể và phá sản nhiều, tồn kho vẫn ở mức cao.

Tăng trưởng tín dụng có thể sẽ khó tăng cao trong ngắn hạn và thấp hơn nhiều so với tốc độ tăng trưởng tiền gửi tại các tổ chức tín dụng nếu nợ xấu không sớm được giải quyết, các ngân hàng thương mại không có các giải pháp hữu hiệu phân loại đối tượng cho vay mà vẫn siết chặt điều kiện cho vay sẽ ảnh hưởng đến phục hồi nền kinh tế. “Nếu các khó khăn nêu trên không được xử lý thì khả năng GDP đạt 5,5% như mục tiêu Quốc hội đề ra cho năm 2013 là rất khó khăn” – ông Vinh nói.

Ông Nguyễn Xuân Cường – phó trưởng Ban Kinh tế trung ương – nói: “Tình hình đúng là hết sức đáng lo ngại, tăng trưởng sản xuất giảm ở cả lĩnh vực công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ, bức tranh vô cùng ảm đạm. Chỉ cần nhìn số lượng hàng chục nghìn doanh nghiệp phá sản, phần còn lại thì đến 65% báo lỗ thì biết khả năng phục hồi kinh tế khó khăn đến mức nào”.

Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng phán đoán: “Tình hình doanh nghiệp bi đát, tôi nghĩ có tới một trăm nghìn doanh nghiệp chết chứ không phải chỉ mấy chục nghìn, tỉ lệ doanh nghiệp lỗ có thể còn hơn 65%”.

Các con số chưa đáng tin cậy 

Hỗ trợ thỏa đáng ngư dân đánh cá ở Hoàng Sa, Trường SaTăng cường công tác nắm bắt, phân tích, dự báo tình hình để có chủ trương, đối sách phù hợp, đặc biệt là các vấn đề biên giới, biển đảo, thực hiện các đề án, giải pháp bảo đảm an ninh, trật tự tại các vùng chiến lược. Cần có chính sách hỗ trợ thỏa đáng đối với ngư dân đánh bắt cá ở vùng biển quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa thuộc chủ quyền của nước ta. 

(trích báo cáo của Ủy ban Kinh tế)

Lấy con số dư nợ tín dụng ngân hàng từ đầu năm chỉ tăng hơn 1%, trong khi huy động tiền gửi tăng 5,5%, Phó chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan khẳng định “tiền tệ đã đóng băng, tình hình như thế này là nguy lắm rồi”.

Bà nói: “Doanh nghiệp không tiếp cận được nguồn vốn thì không giải quyết được vấn đề gì đâu. Bây giờ doanh nghiệp nợ như thế thì có khoanh nợ, giãn nợ, cho vay tiếp không? Phải tập trung bàn về chính sách tiền tệ, giải quyết dòng vốn ra vào, đây là nút thắt”.

Trong khi đó, Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội Nguyễn Hạnh Phúc đề cập đến thực trạng “ngân hàng lúc nào cũng tuyên bố là sẵn sàng cho vay, nhưng doanh nghiệp nói là muốn vay đâu có dễ, đang nợ thì không thể vay được mà lãi suất cho vay vẫn cao nên chỉ có nước phá sản”.

Ngoài việc khai thông nút thắt tiền tệ, Phó chủ tịch nước đề nghị tập trung vào giải pháp thực hành tiết kiệm, chống lãng phí: “Phải mạnh dạn cắt giảm, thậm chí xóa bỏ những chương trình không cần thiết. Tôi thấy tình trạng chồng chéo, lãng phí, cái gì cũng dang dở, bộ nào cũng muốn nắm một tí tiền. Chúng ta cần nhìn thẳng vào những khó khăn của đất nước, tiết kiệm chi tiêu công, dừng mua sắm xe công, phương tiện đắt tiền, giảm đi nước ngoài…”.

Một số thành viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội đề nghị Chính phủ “nghiêm túc và thật thà” trong các con số báo cáo. “Báo cáo của Chính phủ cho thấy tỉ lệ nghèo vẫn giảm nhanh. (Thế thì) Tại sao kinh tế khó khăn như vậy, doanh nghiệp đình đốn, công nhân mất việc, sản xuất ra không bán được hàng hóa mà lại giảm nghèo tốt như vậy? Tôi xuống thực tế thấy nghèo tăng lên chứ không có giảm” – Phó chủ tịch Quốc hội Huỳnh Ngọc Sơn nói.

Ông Nguyễn Văn Giàu kể thêm: “Hoàn thuế VAT hôm trước nói 20.000 tỉ, mới có vài ngày mà hôm nay nói là 33.000 tỉ. Không thể tưởng tượng được!”.

Chủ tịch Hội đồng Dân tộc Ksor Phước đề nghị các bộ, ngành hãy nhìn vào khó khăn của đất nước mà báo cáo đúng tình hình, đừng đưa ra các con số báo cáo “vì cái ghế của mình”.

Dầu khí cứu ngân sách

Báo cáo của Chính phủ cho thấy thu ngân sách nhà nước năm 2012 tăng hơn 2.600 tỉ đồng (tỉ lệ tăng thu thấp nhất trong nhiều năm gần đây), chủ yếu nhờ vào thu từ dầu thô và thu viện trợ không hoàn lại.

Đặc biệt, thu từ dầu thô vượt dự toán cao nhờ vào cả hai yếu tố giá và sản lượng đều tăng, đồng thời phát sinh 9.800 tỉ đồng từ khoản thu lãi nước chủ nhà năm 2012 và 10.000 tỉ đồng lãi dầu khí được chia cho nước chủ nhà từ năm 2006-2011.

Vì vậy, thu từ dầu thô tăng hơn 53.000 tỉ đồng so với dự toán. Ủy ban Tài chính – ngân sách cho rằng nếu không có số thu thêm từ lãi dầu khí nước chủ nhà từ các năm trước thì ngân sách nhà nước năm 2012 sẽ hụt thu, mất cân đối, ảnh hưởng đến nhiệm vụ chi.

Tình hình thu ngân sách nhà nước năm 2013 được dự báo còn căng thẳng hơn. Bốn tháng đầu năm mới ước đạt hơn 244.000 tỉ, bằng 29,9% dự toán.

Thứ trưởng Bộ Tài chính Nguyễn Công Nghiệp thừa nhận tình trạng căng thẳng trong việc đảm bảo nhiệm vụ thu năm 2013, “nhiều ý kiến cảnh báo về khả năng hụt thu”. Do đó, Ủy ban Tài chính – ngân sách đề nghị phải triệt để tiết kiệm, cắt giảm các khoản chi không hợp lý, tiếp tục rà soát các dự án đầu tư công, tinh giản biên chế… để đảm bảo cân đối thu chi, an toàn ngân sách.

Chủ nhiệm Ủy ban Tài chính – ngân sách Phùng Quốc Hiển cho biết năm nay sẽ không còn trông chờ được vào dầu khí nữa vì sản lượng ổn định và giá dự toán đã ở mức 90 USD/thùng.

Kết thúc cuộc thảo luận, Phó chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân đề nghị Chính phủ tiếp tục hoàn thiện báo cáo để trình Quốc hội xem xét tại kỳ họp tới. “Chưa đặt vấn đề điều chỉnh chỉ tiêu tăng trưởng, thu ngân sách…, nhưng nên lường trước tình huống cho kịch bản xấu nhất để xử lý tình hình” – bà Ngân gợi ý.

* TS Lê Thẩm Dương (trưởng khoa quản trị kinh doanh ĐH Ngân hàng TP.HCM):Chỉ rối phải gỡ từ từCó nhiều nguyên nhân dẫn đến tăng trưởng tín dụng chậm hiện nay, về phía doanh nghiệp đó là do hàng tồn kho. Chính vì hàng tồn nên dù lãi suất thấp họ cũng không vay vì sản xuất ra bán cho ai? Bốn tháng đầu năm tình trạng hàng tồn vẫn chưa gỡ được bao nhiêu. Còn về phía ngân hàng (NH) do áp lực nợ xấu. Thời gian qua NH đã nỗ lực xử lý nợ xấu bằng cách bán tài sản đảm bảo, trích dự phòng… nhưng nợ xấu vẫn cao khiến NH nhát tay trong xét cho vay.Với những vấn đề hiện nay, nếu để NH và doanh nghiệp tự giải quyết với nhau thì sẽ không bao giờ giải quyết được vì có tình trạng như hiện nay còn có nguyên nhân từ nền kinh tế. Cơ quan quản lý phải xắn tay cùng với NH và doanh nghiệp trong việc ban hành và thực thi các chính sách tháo gỡ khó khăn, củng cố niềm tin, củng cố thị trường trong nước, làm ấm thị trường bất động sản… Về phía NH, phải hạ dần lãi suất đầu ra, đa dạng hóa tài sản đảm bảo, nâng dần tỉ lệ cho vay tín chấp. Phần doanh nghiệp cũng phải khắc phục những vướng mắc thì mới giải quyết được các vấn đề khó khăn hiện nay.* PGS.TS Trần Hoàng Ngân (phó hiệu trưởng Trường ĐH Kinh tế TP.HCM):Cần ủy ban khẩn cấp ngăn chặn “dịch” phá sảnDư nợ tín dụng từ đầu năm đến nay có tăng nhưng ở mức độ thấp: 1,44%. Đây chính là điều đáng lo ngại. Mặt khác, số lượng doanh nghiệp phá sản ba năm qua liên tục theo chiều hướng gia tăng kéo theo số nợ xấu tăng thêm…Thời gian qua, nhiều chính sách tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp được ban hành nhưng chưa thể đi vào cuộc sống vì nhiều lý do. Theo tôi, đã đến lúc cần lập một ủy ban khẩn cấp để ngăn chặn “dịch” phá sản của doanh nghiệp. Ủy ban này sẽ đứng ra để trực tiếp giải quyết những vấn đề của doanh nghiệp hiện nay. Còn thời gian qua, giải quyết khó khăn nhưng cơ quan quản lý chỉ kêu gọi một chiều NH giảm lãi suất cho doanh nghiệp, nhưng khi NH giảm lãi suất thì doanh nghiệp cũng không thể tiếp cận được vốn. Chưa kể NH, doanh nghiệp mỗi nơi nói một kiểu, rốt cuộc chính sách được ban ra nhưng vướng mắc vẫn còn nguyên không giải quyết được.

ÁNH HỒNG ghi

LÊ KIÊN

http://tuoitre.vn/Chinh-tri-Xa-hoi/548381/tinh-hinh-kinh-te-gay-go-lam-roi!.html?page=3

 

Các bài được bạn đọc ưa thích nhất trong ngày hôm qua:

►Có bao nhiêu người Việt ra đi khỏi nước sau 1975?
Lạm Phát ở Việt Nam: Tiền Đồng VN 3 lần đoạt giải nhất thế giới là đồng tiền ít có giá trị nhất vào năm 2006, 2008, và 2009. Hiện nay thì tiền đồng Việt Nam chỉ đứng dưới 1 nước, Somali và trên hạng 279 nước
►Tình yêu của một phóng viên dành cho những người bị thua trận (Phóng viên người Đức viết về CSVN thảm sát Mậu Thân và tội ác diệt chủng của VC)
 

Nhân ngày 30-4: Câu chuyện về 16 tấn vàng, đảng đút túi, nhưng tung tin đổ thừa cho Tổng Thống Thiệu lấy

Người Campuchia nói chuyện về chính quyền Việt Nam
►Việt Khang đang ở tù, nhưng anh không cô đơn vì đã có hơn 100 ngàn người Việt ở Mỹ ký thỉnh nguyện thư gởi tòa Bạch Ốc
 

►Đại sứ quán VN ở Nga,Công an nhân dân, Bà chủ nhà thổ gốc Nghệ An, và 15 cô gái Việt Nam bị gạt sang Nga làm nhà hàng, nhưng bị bắt vào động mãi dâm của bà Thúy An ở Moscow

Khai thác Xăng dầu và khí đốt năm 2010, 2011, 2012 và kế hoạch năm 2013
Cuộc triển lãm Thương Thuyết tại xứ Cộng Hòa Phi Lý…dẫn đến chuyện Cấm Nhập Cảnh vào Việt Nam – Chuyện có thật!
Other posts

Posted in Tài Chánh-Thuế | Leave a Comment »

►Các lâm tặc VN và đồng lõa đã bỏ túi 139 tỷ USD trong hai thập niên 1990 và 2000

Posted by hoangtran204 trên 22/05/2013

 

Global Witness Và Nước Mắt Môi Trường

T/S Alan Phan

22 May 2013

Con người phải hiểu rằng chúng ta không thể sống nếu không có Mẹ Trái Đất, nhưng hành tinh này vẫn có thể sống mà không cần chúng ta. Evo Morales

Phá Rừng

Kinh tế phá rừng

Dù đau xót khi chứng kiến sự tàn phá vô cảm của con người với rừng (lá phổi của trái đất), tôi vẫn chưa nghĩ ra sự thiệt hại về kinh tế cho đến khi đọc bài blog của B/S Hồ Hải vè giá trị của lâm sản. Theo B/S Hải, mỗi m3 của gỗ trắc tốt Việt Nam có giá khoảng 36,000 USD trong khi loại gỗ rẻ nhất cũng thu về hơn 15,000 USD mỗi m3.  (http://www.gocnhinalan.com/bai-cua-khach/mc-tiu-bin-kh-hu-bt-kh-thi.html) Một vòng qua google về giá cả của các cây rừng nguyên sinh xác nhận khung giá này.

Năm 1993, tổng số gỗ trong các khu rừng Việt là 1,025 triệu m3 (khoảng 76 m3/mẫu-hectare trên 14 triệu mẫu diện tích). Vài nghiên cứu khác chỉ ghi nhận đến 728 triệu m3.
Giai đoạn 1993 đến 2009, cả nước mất khoảng 7,650 mẫu mỗi năm hay 122,400 mẫu trong 16 năm tương đương với 9.3 triệu m3 gỗ. Nếu tính giá bèo là 15,000USD mỗi m3 gỗ bán ra, các lâm tặc và đồng lõa đã bỏ túi 139 tỷ USD.
Đây là một mất mát lớn gấp 30 lần Vinashin, bằng 115% GDP của Viêt Nam trong 2012 và gấp 3 lần số nợ xấu của các ngân hàng theo báo cáo hiện nay.
Số tiền này có thể xây 7 triệu nhà xã hội (20,000 USD mỗi căn) để tặng không cho các hộ nghèo; hay trả tiền ăn học cho 25 triệu trẻ em miền sâu miền xa trong 12 năm học (trung bình 500 USD/năm/em).

Dĩ nhiên, tôi và đến 99% dân số không có thẩm quyền gì về pháp luật nên những phân tích…chỉ là những phân tích. Tuy nhiên, sự im lặng tuyệt đối của xã hội với một vấn nạn kinh tế tầm cỡ này là một điều khó nuốt cho mỗi bữa ăn.

Global Witness (GW)

Nhìn lại hoạt động của Global Witness (GW) trong 20 năm vừa qua, chúng ta nhận thấy là GW đã trung thực đi đúng với tôn chỉ và mục tiêu của tổ chức. Một là giúp cho những hộ nghèo ở vùng có tài nguyên không bị các thế lực tư bản hay quan chức “móc túi” cho nghèo thêm; hai là bảo vệ môi trường “sống” cho toàn cư dân của trái đất. Họ đã thành công ngăn chận “kỹ nghệ kim cương máu” [bloody diamond] ở Phi Châu cũng như những tàn phá rừng và khai thác gỗ ở Campuchia thời Khmer Đỏ, ở Indonesia, ở Liberia, ở Myanmar…

Phương thức hoạt động của họ không nhắm vào quan chức hay công ty địa phương, mà vào các nhà tư bản Tây phương đang đổ tiền tài trợ cho các dự án này Trong phi vụ kim cương máu”, mục tiêu chính là tập đoàn kim cương lớn nhất thế giới, DeBeers. Khi bị áp lực của dư luận người tiêu dùng không muốn vấy bẩn vào “kim cương máu”, DeBeers ngưng thu mua và thị trường teo tóp ngay qua đêm. Mục tiêu khi tấn công vào việc phá rừng khai thác lâm sản của các quốc gia đã nêu tên là vào các nhà tài trợ dự án và các công ty mua bán gỗ.

GW làm việc hoàn toàn dựa trên nguyên lý tư bản,” Khi dòng tiền ngưng chảy vào một lãnh vực kinh doanh, các dự án sẽ tự hủy diệt theo thời gian”. Người Tàu hay nói, “con cá nó sống vì nước”.

Vì được tài trợ một phần bởi các chánh phủ Anh, Mỹ, Âu…GW không bao giờ đụng trực tiếp đến các tầng lớp chánh phủ hay quan chức, vì đây là phạm trù của Bộ Ngoại Giao của các chánh phủ tài trợ cho họ. GW biết nên không bao giờ lấn sân qua các hoạt động chánh trị hay đánh đấm với các công ty địa phương.

Cho nên khá khôi hài khi các công ty Việt Nam có tên trong bản cáo buộc của GW lên tiếng phản bác, phủ nhận hay mời GW dến thăm quan cơ sở. Cũng như khi các chánh phủ Việt, Miên, Lào…vội kết tội “phản động” cho GW với chiếc mũ “thế lực thù địch”. Cả trăm tờ báo lề phải được huy động hay trả tiền để bới móc, lăng mạ GW hay nhà sáng lập George Soros.

Các ngài đã phản ứng quá nhanh, quá nhậy và tốn tiền cũng như thời giờ vô ích. Tất cả các mạng truyền thông thế giới không chút quan tâm đến các phản bác của các ngài và chỉ đợi phản ứng chính thức từ các nhà tư bản tài trợ như Deutsche Bank, IFC, Temasek Holdings, BIDV hay quỹ Jaccar…

Tư bản có trách nhiệm

GW là một công cụ của thế giới tư bản để chống lại những lạm dụng quá đà của quyền lực. Những nhà tư bản thường cho là mình “bất bại” và trong mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận cho công ty, các nhà quản lý đôi khi vượt qua ranh giới của lương tâm để đạt “chiến thắng”. Những hoạt động vô vụ lợi của GW là tiếng còi báo động sớm cho các công ty đa quốc, các ngân hang, quỹ đầu tư thế giới cũng như các mạng truyền thông chính thống khác.

GW (và các nhóm vô vụ lợi khác của toàn cầu) cộng với tự do ngôn luận là những rào cản hữu hiệu để nền kinh tế tư bản có được một chuẩn mực đạo đức và trách nhiệm với xã hội chung quanh. Vì lòng tham con người là vô hạn nên chúng ta cần những công cụ như GW, dựa trên những lý tưởng đáng ca ngợi của tuổi trẻ còn biết cảm xúc với những nỗi đau của con người và thiên nhiên. Đó mới thực sự là cốt lõi của văn hóa và văn minh nhân loại.

Lại chuyện mất hay được?

Một câu hỏi khác của một nhà báo cũng làm tôi phải suy nghĩ. Là người Việt, ông phải ủng hộ doanh nhân Việt chống lại bọn “ngoại xâm”. Ông nghĩ thế nào về hậu quả kinh tế cho ngành cao su Việt Nam khi đối diện với cáo buộc của GW?

Thú thật, tôi yêu quê hương nhưng không có một lòng ái quốc cuồng tín. Tôi tự hào với thành quả tốt đẹp mà các sinh viên, các khoa học gia, các doanh nhân Việt đã gặt hái trên khắp thế giới. Nhưng tôi cũng xấu hổ khi đọc về những tội phạm ma túy, xã hội đen Việt…trên các mạng truyền thông toàn cầu. Tôi xấu hổ khi phần lớn đối tác, bạn bè, sinh viên ngoại…vẫn nghĩ đến Việt Nam như là một banana republic (cộng hòa quả chuối).

Về hệ quả kinh tế, chúng ta sẽ thâu nhặt những gì chúng ta đã gây trồng. Nếu các nhóm môi trường và các định chế truyền thông khác tham gia để tăng cường độ của lời cáo buộc, tôi nghĩ là nhiều cổ đông hay quỹ đầu tư sẽ rút ra khỏi các dự án cao su của Đông Dương để tránh tai tiếng. Ngoài sự thiếu hụt cho dòng tiền luân chuyển, các công ty có thể còn bị sức ép về giá cả nếu các nhà tiêu dùng lớn tìm nguồn cung cấp khác ngoài Đông Dương. Đây là rủi ro lớn nhất về lâu dài.

Tuy nhiên, sau khi bỏ túi ngon lành 139 tỷ đô la trong 16 năm qua, các đại gia Việt có thể mất vài tỷ đô la? Chỉ là muối bỏ biển. Các chân dài kiếm nhiều hơn thế từ các đại gia trong 6 năm qua.

Alan Phan

Nguon:  http://www.gocnhinalan.com/bai-tieng-viet/global-witness-nc-mt-mi-trng.html

Câu hỏi: Ai đã đứng sau lưng và đỡ đầu cho ĐNĐ (một anh thợ mộc) trở thành đại gia tỷ phú ?

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

►Hãy treo cổ – kẻ đã dám khao khát tự do

Posted by hoangtran204 trên 22/05/2013

Không, tôi không cần sự khoan hồng
Nếu ngày mai bọn chúng đến đây bắt tôi,
tôi sẽ không cần tự biện hộ,
tôi sẽ không cần ai biện hộ cho tôi,
tôi cũng không cần một gã luật sư công chức
– kẻ chỉ biết đứng trước toà và nói: “Xin hãy khoan hồng…”
Không, tôi không cần sự khoan hồng
vì tôi không có tội.
Tôi chỉ khao khát sự tự do cho đất nước này
và tôi sẵn sàng chết cho điều đó.
Hãy treo cổ tôi lên với bản án: “Đây là kẻ ngoan cố
– kẻ đã dám khao khát tự do.”
Ở đất nước này mọi bản án đều đã được viết sẵn
và đã được để sẵn trong hộc bàn của những quan toà.
Lũ hèn nhát sẽ lấy một bản án ra và điền tên tôi vào,
và tôi sẽ nghe bọn chúng đọc thuộc lòng
những ngôn từ mà mọi người đều đã biết.
Không, tôi không cần sự khoan hồng cho tôi,
vì tôi cũng sẽ không khoan hồng cho bất cứ kẻ nào
dám giẫm đạp lên sự tự do như giẫm đạp lên rác rưởi.
 Không, tôi không cần sự khoan hồng.
Ở đất nước này mọi bản án đều đã được viết sẵn.
Nguồn: http://www.tienve.org/….

Hãy treo cổ – kẻ đã dám khao khát tự do

Nhà thơ Cu Ba Alvara Marino: “Không, tôi không cần sự khoan hồng”

Alvaro Marino (1959-1981?) là một sinh viên văn khoa ở đại học La Habana và là một nhà thơ trẻ. Từ năm 1979 đến 1980, Alvaro đã bị công an tạm giữ và thẩm vấn nhiều lần vì “thái độ chính trị”. Ngày 11 tháng 3 năm 1981, trong khi đang dán một tấm bích chương chống chế độ độc tài Fidel Castro, anh đã bị bắt bởi một nhóm người mặc thường phục. Alvaro Marino vĩnh viễn mất tích kể từ đó. Ofelia González, người yêu của anh, còn giữ được cuốn nhật ký của anh, trong đó có một số tuỳ bút và 3 bài thơ. Cô đã lén gửi cuốn nhật ký ấy ra nước ngoài, và sau đó, bài thơ “No, yo no necesito el perdón” [“Không, tôi không cần sự khoan hồng”] đã được đăng trong tuyển tập Los poetas cubanos disidentes [Những nhà thơ bất thoả hiệp ở Cuba] do Xavier Mudarra biên tập, xuất bản tại San Martín, Peru, năm 1992.

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »