Trần Hoàng Blog

Archive for the ‘Miền Nam sau 30-4-1975’ Category

►42 năm, ở bên phía “triệu người vui” (*)

Posted by hoangtran204 trên 29/05/2017

Hoàng Thy Ban Mai

Đọc tiếp »

Posted in Công An, Miền Nam sau 30-4-1975, Đảng CSVN - còn đảng, còn mình... | Leave a Comment »

►Trư cuồng: Bi hài về chuyện nuôi lợn dưới thời Lê Duẩn!

Posted by hoangtran204 trên 06/05/2017

Kỳ lạ là, chẳng ai đặt câu hỏi, vì sao xã hội lại đến nông nỗi này?… CUỒNG LÊN VÌ LỢN vào những năm 1980 – 1985!

Đọc tiếp »

Posted in Chinh Tri Xa Hoi, Miền Bắc sau 30-4-1975: Đời sống nông dân, Miền Nam sau 30-4-1975 | Leave a Comment »

►Sài Gòn đã giải phóng tôi

Posted by hoangtran204 trên 30/04/2017

Nguyễn Quang Lập

30-4-2016

nguyenquanglap00

LTS: Bài của tác giả Nguyễn Quang Lập đã được phổ biến trên facebook cách đây đúng một năm nhân ngày 30/4.

Tác giả nói lên cảm xúc của mình một cách chân thật khi vào được SàiGòn và khám phá sự thật ai đã giải phóng mình.

******************

Đọc tiếp »

Posted in Miền Nam sau 30-4-1975 | Leave a Comment »

►Hồi ký Nguyễn Hiến Lê: Giới thiệu 40 trang bị cắt bỏ trong Chương XXXII (bị cắt 16.000 từ)

Posted by hoangtran204 trên 30/04/2017

NHỮNG CHƯƠNG BỊ KIỂM DUYỆT BỎ CỦA HỒI KÝ NGUYỄN HIẾN LÊ – 1

 

Đọc tiếp »

Posted in Miền Nam sau 30-4-1975, Sách-Hồi Ký-Bài Báo..., Tu Do ngon Luan | Leave a Comment »

►Hồi tưởng của cựu binh Bắc Việt 42 năm sau chiến tranh (30-4-2017)

Posted by hoangtran204 trên 28/04/2017

Thanh Trúc, phóng viên RFA
2017-04-27

Đọc tiếp »

Posted in Cái giá của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc”., Chien Tranh Viet Nam, Miền Nam sau 30-4-1975 | Leave a Comment »

► 42 năm sau ngày 30.4.1975 qua cái nhìn của người trẻ

Posted by hoangtran204 trên 28/04/2017

Cát Linh, phóng viên RFA
2017-04-20

 

Đọc tiếp »

Posted in Cái giá của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc”., Chien Tranh Viet Nam, Miền Bắc trước 30-4-1975- Đời Sống Cư Dân Đô Thị, Miền Nam sau 30-4-1975 | Leave a Comment »

►Ai đã hủy hoại con đường sắt huyền thoại, không chỉ của Việt Nam, mà là của Châu á và của thế giới ? – Con đường sắt răng cưa Phan Rang – Đà Lạt

Posted by hoangtran204 trên 12/04/2017

Đường sắt răng cưa Phan Rang – đà lạt

Tác giả: Nguyễn Bảo Châu

Gọi là con đường huyền thoại vì đây là một trong hai tuyến đường sắt răng cưa leo núi của Thế giới: một của Việt nam và một của Thụy sĩ.

Đọc tiếp »

Posted in Miền Nam sau 30-4-1975, Đảng CSVN - còn đảng, còn mình... | Leave a Comment »

►Sài Gòn của tôi, 50 năm trước

Posted by hoangtran204 trên 10/02/2017

Sài Gòn của tôi, 50 năm trước

Nguyễn Ðạt – Giai Phẩm Người Việt Xuân Đinh Dậu

Ðặt chân tới Sài Gòn năm 1954, lúc ấy tôi là đứa bé 9 tuổi, theo gia đình từ miền Bắc di cư vào miền Nam tự do. Ký ức của đứa bé 9 tuổi hẳn nhiên không thể ghi nhận được gì nhiều; nhưng đứa bé lớn lên và sinh sống tại Sài Gòn từ thuở ấy tới bây giờ, đã giúp tôi dễ dàng gợi dậy trong ký ức, ít nhất là những hình ảnh đậm nét của Sài Gòn, 50 năm về trước.

Ấn tượng về Sài Gòn trong tôi từ lúc ấy tới bây giờ cũng không phai nhạt bao nhiêu, dù đã hơn nửa thế kỷ trôi qua. Ấn tượng sâu đậm, bởi Sài Gòn những ngày tháng ấy quá mới lạ trong tâm trí tôi, đứa trẻ đã trải qua một đoạn đời ấu thơ tại Hà Nội. 

Ðiều đầu tiên tôi nhận biết lúc ấy, tôi nói với cha tôi, là Sài Gòn có vẻ rất Tây so với Hà Nội. Cha tôi bảo, bởi vì một trăm năm Pháp thuộc, Sài Gòn và miền Nam là thuộc địa; trong khi Hà Nội của miền Bắc là bảo hộ.

Cha tôi làm thông ngôn trong quân đội Liên Hiệp Pháp, dạy tiếng Pháp cho các con từ nhỏ; nên tôi nhớ được rành rõ những tên Pháp ngữ đặt cho nhiều đường phố lớn của Sài Gòn lúc ấy. Căn nhà đầu tiên của gia đình chúng tôi khi vào Sài Gòn ở đường Bà Hạt, quận 10. Ðường Bà Hạt là đường phố nhỏ, một đoạn chạy ngang đường phố lớn mang tên Tây, là Lacaze – tức đường Nguyễn Tri Phương.

  

Vài năm sau, Tổng Thống Ngô Ðình Diệm cho thay thế tên Tây; vẫn giữ lại tên những danh nhân thế giới, dù danh nhân ấy là người Pháp, như Calmette, Pasteur, Alexandre de Rhodes… Những đường phố mang tên Tây, đa số là quan chức Pháp, được thay thế, như: Bonard – Lê Lợi; Charner – Nguyễn Huệ; Galliéni – Trần Hưng Ðạo; De la Grandrière – Gia Long; Catinat – Tự Do; Lacaze – Nguyễn Tri Phương… Tuy nhiên, nhiều năm sau đó, dân Sài Gòn vẫn nói: Ði bát phố Bô-na, Catinat; đi mua hàng ở thương xá Charner…, luôn là gọi tên Tây, cho 3 đường phố đẹp bậc nhất của Sài Gòn.

Phố phường Sài Gòn lúc ấy đa số là những con đường lớn rộng, dài dằng dặc. Và rất nhiều cổ thụ. Ðặc biệt loại cây có tên rất bình dân là cây dái ngựa – tên khoa học là Meliaceae – thân to nổi mấu gồ ghề, tỏa rộng cành lá, bóng mát ngợp đường Lê Ðại Hành, trước mặt Trường Ðua Phú Thọ, quận 11. Hàng cây me xanh mát mắt suốt con đường Gia Long, con đường có bệnh viện Grall do người Pháp lập nên, giữa vườn cây rộng rinh. Rừng cao su bát ngát, chạy dài theo con đường Nguyễn Văn Thoại, từ Trường Ðua Phú Thọ tới ngã tư Bảy Hiền…

Sài Gòn của tôi, 50 năm trướcNăm tôi còn nhỏ tuổi, cha vẫn dẫn đi chơi mỗi Chủ Nhật. Vào Vườn Ông Thượng, còn có tên Tây là Bờ-rô, sau đó mới gọi tên là Vườn Tao Ðàn; dẫn đi chơi ở Sở Thú-Thị Nghè… Cây trồng ở Sài Gòn phong phú là nhờ công sức của vị giám đốc Sở Thú đầu tiên, người Pháp; ông từng là chuyên viên nghiên cứu về cây trồng ở nhiều nơi trên thế giới; nhất là vùng nhiệt đới ở Phi Châu, có nhiều loại cây thích hợp với thổ nhưỡng Sài Gòn. Những năm sau này, lớn thêm vài tuổi, lại được anh cùng cho đi “bát phố Bô-na,” để thấy rõ Sài Gòn quả là rất Tây; tôi tha hồ thưởng ngoạn vẻ đẹp “Paris” của nó.

Tản bộ trên đường Catinat, từ nhà thờ Ðức Bà tới bến Bạch Ðằng, nhìn ngắm các cửa hiệu sang trọng thời thượng dọc con phố. Và Passage Eden, rất nên gọi là “Hành Lang Ði Bộ,” chính diện nhìn ra đường Catinat. Passage Eden gồm trong đó: bát phố; xem chiếu phim – trong rạp Eden giữa lòng hành lang; mua sắm; ăn kem uống cà phê ăn tối ở quán Givral liền bên… và để ngắm nhìn trai thanh gái lịch, quý ông quý bà Sài Gòn, cũng ở trong đó.

Trai thanh – quý ông thì áo sơ mi quần tây trắng lốp; mũ flechet; giày deux couleurs; đồng hồ quả quít đeo ở dây lưng. Gái lịch – quý bà thì áo dài Lemur-Cát Tường không thua phụ nữ Hà Nội, hoặc vận jupe như “bà đầm”; tay xách porte feuille, chân đi guốc cao gót; tóc búi cao hoặc uốn dợn sóng, cổ đeo kiềng vàng…

Sài Gòn của tôi, 50 năm trước

 

Ra vào Passage Eden nhiều lối, ưa thích ra vào lối nào cũng được. Anh tôi dẫn tôi vào lối cửa ở đường Charner, rồi đi vòng qua Bonard, rồi ra cửa Catinat… Rồi chúng tôi ghé hiệu sách Albert Portail – sau có tên là Xuân Thu – sát cạnh đó, toàn là sách từ bên Tây đưa sang, tha hồ mà đọc mà ngắm.

Rồi với bạn học cùng lớp cùng trường Chu Văn An, Trường-Trung-Học-Di-Chuyển-Bắc-Việt (có ghi ở bảng hiệu của trường như vậy, vì trường cũng di cư từ Hà Nội vào Sài Gòn) đi chơi và chụp ảnh lưu niệm Sài Gòn.

Bất cứ buổi sáng Chủ Nhật nào, góc thân thuộc nhất, tập trung nhiều nhất các “bác phó nhòm,” chính là quảng trường trước mặt quán Givral. Mái hiên cong kiều diễm của quán Givral, và con đường Catinat thẳng tắp, với hai hàng cây hai bên chạy dài ngút mắt, đã đi vào không biết bao nhiêu tấm ảnh lưu niệm Sài Gòn. Hoặc những tấm ảnh của cả gia đình, lưu niệm ngày đi mua sắm ở thương xá Charner; buổi dùng bữa cơm Tây ở một nhà hàng Pháp trên phố Bonard…

 

Sài Gòn của tôi, 50 năm trước

 

Những ngôi đền Ấn Ðộ giữa lòng Sài Gòn lúc ấy, cũng đi vào ký ức của đứa bé miền Bắc di cư khá đậm nét. Sao mà Sài Gòn nhiều đền đài của Ấn Giáo, với kiến trúc tinh tế kỳ công đến thế. Những ngôi đền uy nghi tọa lạc ở các con đường Tôn Thất Thiệp-Trương Ðịnh-Công Lý của quận 1, trung tâm Sài Gòn. Người Ấn Ðộ sinh sống tại Sài Gòn khá đông, chỉ không nhiều bằng người Hoa, ở cả một vùng Chợ Lớn. Tôi nghe dân Sài Gòn gọi họ là Chà Và. Sau này tôi mới hiểu, Chà Và là đọc trại từ Java, gọi chung cho người Ấn Ðộ và người Mã Lai; họ thường làm nghề mại bản, quản lý nhà đất, cho vay tiền, làm trung gian giữa người Việt và người Pháp…

Ðường Tôn Thất Thiệp, vào năm 1954 vẫn được xem là một tiểu Ấn Ðộ, với những ông Chà Và cho vay tiền, chủ quán cà ri nị, mở tiệm kim hoàn. Những người Ấn Ðộ gốc ở Bombay thường kinh doanh ngành vải; họ có nhiều cửa hiệu ở đường Catinat, Bonard, Hàm Nghi, Galliéni, và chợ Bến Thành. Từ lâu trước đó, cộng đồng người Ấn Ðộ ở quận 1 còn đông đảo hơn nhiều; đã có một đợt người Ấn Ðộ rời Sài Gòn sang định cư tại Pháp, vào năm 1945.

 

Sài Gòn của tôi, 50 năm trước

 

Có lẽ cái mới lạ, và thấy thân thương nhất, đối với người miền Bắc di cư vào Sài Gòn như tôi, là những quán tiệm bình dân, tiệm Hoa kiều. Hai thứ quán tiệm này khá giống nhau. Buổi sáng tới quán, những ông già Sài Gòn đọc-nhựt-trình (nhật báo), nói chuyện ưa chêm tiếng Pháp, xưng tôi là mỏa (moi); những bà già hút thuốc điếu; những anh tài xe xích lô máy chở cả vợ con trong lòng xe rộng bè, tới quán ăn hủ tíu uống cà phê, xong chở về nhà rồi mới đi chở khách.

Một thời gian trong năm 1954-55, khi có xài tiền 5 cắc bằng kim loại; thì tại Sài Gòn, cứ việc lấy giấy bạc một đồng – có hình Nam Phương Hoàng Hậu – mà xé làm hai, xài một nửa tương đương 5 cắc! Thật là thuận tiện, đơn giản.

Người Sài Gòn-Nam Bộ không cần thiết phải biết tên người mới quen; chỉ hỏi người này là con thứ mấy trong gia đình, để kêu anh Hai, anh Ba… Thân thương biết mấy!

Chuyện trò với người Sài Gòn-Nam Bộ, câu chuyện của họ giản dị, rõ ràng, không úp úp mở mở; không bắt người cùng trò chuyện với mình phải chịu đựng sự vòng-vo-tam-quốc, sự rào trước đón sau, như rất nhiều người miền Bắc và miền Trung, trong đó có dân di cư năm 1954 thường như vậy.

 

Tình thầy trò, đồng nghiệp nồng ấm đất Sài Gòn

Lê Ðại Anh Kiệt – Giai Phẩm Xuân Người Việt Đinh Dậu

Thầy Hệ thời trẻ (giữa) cùng các học sinh Marie Curie. (Hình tài liệu)

Người ta thường nói cuộc sống đô thị tình người lạt lẽo, con người khép kín. Thế nhưng, Sài Gòn, vùng đất bao dung cưu mang những người tứ xứ và nuôi dưỡng trong lòng đô thị những câu chuyện nghĩa tình.

Câu chuyện dưới đây như bài học mẫu mực cho đạo nghĩa thầy trò và tình đồng nghiệp. Bởi vì học trò và đồng nghiệp của ba ngôi trường cũ chung tay nuôi dưỡng, chăm sóc và tranh đấu đòi công lý cho một thầy giáo già đơn côi, mắc bệnh tâm thần, bị lừa lấy mất nhà. Những học trò nay đã là giáo viên hưu trí vẫn tương kính bạn của thầy như chính thầy mình.

Thầy Nguyễn Hữu Hệ từ miền Bắc một mình di cư vào Nam là giáo viên toán trải qua ba trường Trung Học Kiến Tường (Long An,1964-1968), Trung Học Kiểu Mẫu Thủ Ðức (1969-1975), sau 1975, trường Kiểu Mẫu giải thể thầy chuyển về trường Trung Học Marie Curie cho đến lúc về hưu.

Xưa nay, thầy sống một mình trong ngôi nhà thừa kế từ mẹ nuôi ở số 19 Duy Tân, quận Phú Nhuận, Sài Gòn.

Từ cuối năm 2015, thầy Hệ thuê cô Thu Huyền giúp việc và cho cô cùng hai con ở chung nhà. Cô Huyền tự giới thiệu mình là cháu của thầy, ai nghe cũng ngỡ thật.

Tháng Tư vừa rồi, nghe thầy bị va quẹt xe, bị đau chân, anh Quang Tuấn và chị Thủy Anh đại diện nhóm cựu học sinh Kiểu Mẫu Thủ Ðức mang đến tặng thầy $1,900. Bình thường, thầy luôn ăn mặc tươm tất khi tiếp khách nhưng lần này thầy mặc quần đùi, áo không cài nút. Chị Thủy Anh phải cài nút áo cho thầy và vẫn nghĩ là chuyện lơ đễnh bình thường.

Tình thầy trò, đồng nghiệp nồng ấm đất Sài Gòn
Từ trái: thầy Út, thầy Hệ, chị Thủy Anh. (Hình: Lê Ðại Anh Kiệt)

Ðầu Tháng Sáu, anh Bình Phương, cựu học sinh Marie Curie (định cư ở Canada) đến thăm thấy thầy có dấu hiệu hoang tưởng nên khuyên cô Huyền đưa thầy nhập viện Tâm Thần Chợ Quán. Cô Huyền cũng gọi điện báo tin cho nhóm cựu học sinh Marie Curie, nhóm này đã quyên góp giúp thầy 22 triệu đồng để điều trị.

Chị Thủy Anh cũng được tin và đến bệnh viện thăm thì biết thầy Hệ không còn nhận thức được nên báo tin cho các cựu học sinh và thầy cô trường Kiểu Mẫu. Từ Mỹ, thầy Nguyễn Ðình Loạt là đồng nghiệp với thầy Hệ ở cả hai trường Kiến Tường và Kiểu Mẫu đã email cho anh Trần Ngọc Bách, cựu học sinh Kiến Tường báo tin thầy Hệ bệnh.

Từ đây, ba nhóm cựu học sinh ba trường đã gặp nhau cùng hợp sức chăm sóc cho thầy. Anh Bách thuê người chăm sóc thầy 24/24. Chị Tuyết Nhung, cựu học sinh Marie Curie, hằng ngày lo cơm nước.

Ðiều kỳ lạ là bác sĩ điều trị khuyên nên đưa thầy về nhà điều trị ngoại trú sẽ tốt hơn nhưng cô Huyền cứ kiếm cớ nhà đang sửa, rồi đưa thầy Hệ hết bệnh viện này đến bệnh viện khác. Từ Tâm Thần Chợ Quán, sang Chợ Rẫy, Trung Tâm Phục Hồi Chức Năng quận 8 đến bệnh viện Bình Dân.

Không chỉ học trò cũ mà các đồng nghiệp cũ như thầy Bùi Quang Hân (Kiểu Mẫu Thủ Ðức, hiện là chuyên gia đào tạo học sinh giỏi, tác giả nhiều bộ sách giáo khoa Vật Lý), thầy Nguyễn Ngọc Long và thầy Nguyễn Văn Út (Marie Curie) cùng nhau lo lắng cho thầy Hệ.

Tình thầy trò, đồng nghiệp nồng ấm đất Sài Gòn
Chị Thủy Anh gài nút áo cho thầy Hệ trong lần đến nhà thăm và trao $1,900. (Hình: Lê Ðại Anh Kiệt)

Thầy Út đã vận động các cựu giáo viên Marie Curie năm triệu đồng và bỏ tiền túi hai triệu đồng giúp thầy Hệ.

Khi hình ảnh thăm viếng thầy Hệ đưa lên trang web trường Kiểu Mẫu, một cựu học sinh nhận ra và báo động là cô Thu Huyền giúp việc có nhiều tai tiếng bất hảo về tiền bạc.

Các cựu học sinh tìm hiểu thì hóa ra bằng cách nào đó cô Huyền đã làm giấy mua nhà thầy Hệ và đã bán, giao nhà cho người khác. Căn nhà trị giá 6 tỉ đồng đã “bán” cho cô Huyền 700 triệu đồng, sau đó cô Huyền bán lại 3.9 tỉ đồng ngay trong tháng. Tất cả tiền bạc giúp đỡ và cả giấy tờ tùy thân, sổ lương hưu của thầy Hệ cô ấy đều giữ.

Vì vậy, cựu học sinh và các thầy bàn nhau phải tìm chỗ ở an toàn cho thầy Hệ sau khi xuất viện. Việc bàn tính đưa thầy đến Trung Tâm Nuôi Dưỡng Người Già được đặt ra nhưng bất thành vì thầy không có người thân bảo lãnh.

Lúc đầu, mọi người dự định đưa thầy về nhà một cựu học sinh ở Hóc Môn nhưng người quản lý nhà lại không ở lại ban đêm nên không ổn. Ðêm đầu tiên sau khi xuất viện, thầy Hệ về nhà thầy Út. Do thầy Hệ không tự tiêu tiểu được, thầy Út (80 tuổi) đã tự tay chăm sóc tắm rửa lau dọn chất thải cho thầy Hệ. Tự tay thầy Út bón cơm cho bạn như người ruột thịt.

Tình thầy trò, đồng nghiệp nồng ấm đất Sài Gòn
Thầy Út bón cơm cho thầy Hệ ngày đầu tiên rời bệnh viện về nhà mình. (Hình: Lê Ðại Anh Kiệt)

Sau đó, chị Tuyết Nhung (Marie Curie) rước thầy Hệ về nhà mình chăm sóc hai tuần. Hằng ngày thầy Út chạy xe gắn máy hơn 20 phút từ nhà mình sang nhà Tuyết Nhung để tập thể dục dưỡng sinh cho bạn. Trong suốt thời gian ấy Tuyết Nhung và Bảo Nhân đã chăm sóc thầy như cha ruột.

Vào đầu Tháng Chín, có tin nhà thầy Hệ đang mở cửa, nhóm cựu học sinh quyết định đưa thầy về lại nhà. Nhưng chỉ ở đây được ba ngày, người mua nhà đã thuê côn đồ ném thầy Hệ ra đường. May mắn là khi xảy ra tranh chấp với người mới mua nhà, chòm xóm đã cung cấp cho họ số điện thoại của anh Nguyễn Hoài Ðức, cháu ruột thầy Hệ. Hóa ra, Thu Huyền còn giấu nhẹm việc thầy Hệ có cháu và giấu thông tin thầy Hệ bị bệnh với người cháu.

Các thầy và học trò cũ tiếp tục sát cánh với gia đình anh Ðức điều trị bệnh cho thầy và làm đơn tố cáo cô Huyền, đòi trả lại nhà và các giấy tờ tùy thân cho thầy.

Ba nhóm cựu học sinh của ba ngôi trường khác nhau đã quần tụ thành một nhóm. Những thầy đồng nghiệp của thầy Hệ trở thành thầy của cả ba nhóm cựu học sinh. Họ tự giác chia sẻ công việc dưới sự bảo ban của các thầy, những việc quan trọng đều xin ý kiến các thầy.

Anh Trần Ngọc Bách và Nguyễn Thanh Phong (Kiến Tường) chuyên trách đưa đón thầy Bùi Quang Hân và Nguyễn Văn Út, Nguyễn Ngọc Long trong mỗi lần hội họp. Chị Tuyết Nhung (Marie Curie) dù là giám đốc doanh nghiệp tư nhân, hào phóng đảm nhận hầu hết các chi phí cho thầy Hệ nhưng nhất nhất mọi việc đều trao đổi với các anh Bách, Phong hoặc anh chị Quang Tuấn, Thủy Anh (Kiểu Mẫu) như một người em út trong nhà.

Tình thầy trò, đồng nghiệp nồng ấm đất Sài Gòn
Từ trái: thầy Út, thầy Long, thầy Hân và anh Bách – những thầy trò từ ba trường khác nhau trở thành thân thiết. (Hình: Lê Ðại Anh Kiệt)

Ngay với các cựu học sinh đang định cư ở nước ngoài như Bình Phương, Phú (Marie Curie) cũng thường xuyên liên thông với Bách, Phong. Chỉ cần một người có thông tin là cả nhóm đều biết tin. Do uy tín và tình cảm của thầy Hệ sâu đậm với nhiều thế hệ cựu học sinh nên điều đáng ngại nhất là việc lợi dụng danh nghĩa và hoàn cảnh thầy Hệ để trục lợi.

Thực tế đã xảy ra. Một thanh niên tự xưng là công an viết giấy cam kết sẽ trả lại nhà trong vòng một tháng. Nhưng trước sự nhạy cảm của các cựu học sinh, họ đã giăng bẫy và báo tin cho công an quận 10 để bắt khi người này kèn cựa ra giá số tiền 15 triệu đồng.

Chuyện ông thầy bị lừa chiếm nhà rõ mười mươi nhưng với nền tư pháp Việt Nam sự vụ cứ đong đưa từ công an quận này sang quận khác mà không ai xử lý. Các cựu học sinh lại họp nhau tìm cách.

Trực tiếp tham dự hai cuộc họp của nhóm cựu học sinh, tôi bàng hoàng xúc động thấy mình như lạc trở về không gian của lớp học thời trung học 40 năm về trước. Từng anh chị, trong đó nhiều người đã là thầy giáo về hưu như Quang Tuấn, Thủy Anh (Kiểu Mẫu), Hòa, Bách, Phong (Kiến Tường) lần lượt trình bày với các thầy phần việc của mình và các đề xuất. Phần các thầy cũng hiền hòa khoan ái nhưng không thiếu trang nghiêm mực thước răn dạy dù đó là học trò của bạn mình.

Tôi như ngấm mãi lời dạy của thầy Bùi Quang Hân nói với cả ba nhóm trong cuộc họp ngày 18 Tháng Chín, 2016: “Ở đây có các em là cựu học sinh thế hệ 1963-1964 đến nay đã hơn 50 năm vẫn giữ tình cảm với thầy Hệ như thế thật đáng quý. Trên đời này hiếm có người hạnh phúc như thầy Hệ. Thay mặt bạn mình, thầy cám ơn các em. Với thầy Hệ chúng ta có ba việc cần lo là điều trị phục hồi sức khỏe, có chỗ trú ngụ an toàn, và đòi lại tài sản. Hai việc trước đã ổn, việc pháp lý thầy không rành tùy các em trù liệu. Nhưng thầy nhắc nhở việc thông tin chia sẻ chuyện thầy Hệ, phải chọn đúng người, đúng chỗ, thái độ cho đúng. Trên mạng, có một vài em bàn chuyện này như đàm tiếu chuyện tò mò là không nên, có em lại ‘like.’ Có gì vui mà ‘like’ chứ!”

Lời nói ngắn nhưng là tầm nhìn, tấm lòng của nhà mô phạm. Thầy Hân không chỉ chăm sóc bảo vệ sức khỏe, tài sản mà còn giữ gìn cho bạn cả giá trị tinh thần, danh dự, uy tín của người thầy.

Nguoi-viet.com

Posted in Miền Nam sau 30-4-1975, Miền Nam trước ngày 30-4-1975, Sách-Hồi Ký-Bài Báo... | Leave a Comment »

►Ly Rượu Mừng giữa cuộc bể dâu (Tuấn Khanh, viết từ Sài Gòn)

Posted by hoangtran204 trên 31/01/2017

Nhạc sĩ Tuấn Khanh, viết từ Sài Gòn
30-1-2017
 

Hình bìa nhạc phẩm Ly Rượu Mừng của Phạm Đình Chương in trước 1975.

Hình bìa nhạc phẩm Ly Rượu Mừng của Phạm Đình Chương in trước 1975.

Mùng một Tết Đinh Dậu, trong một buổi chiều xuống, thành phố như tan vào một dấu lặng thanh thản, tôi chợt nghe bài Ly Rượu Mừng của nhạc sĩ Phạm Đình Chương vang lên.

Rót đầy mơ ước tự do

Giai điệu như ngọn gió xuân dịu dàng, đáp xuống mái hiên của các ngôi nhà cao tầng, len vào từng căn phòng nhỏ, chảy vào trong tim người giữa mùi hương trầm nhè nhẹ.

Ly Rượu Mừng lại vang lên, bất hủ, rót thật đầy vào không khí đón Tết trong lòng người bao thế hệ.

Bấm vào đây để nghe bài hát Ly Rượu Mừng

Bài hát như nói thay giấc mơ của nước Nam về một tương lai mới, mà con người khát khao biết mấy về một tương lai sẽ được tắm trong tự do và an bình.

“Nhấc cao ly này. Hãy chúc ngày mai sáng trời tự do”

Bài hát mơ về tự do đó, đã bị giam cầm hơn 41 năm. Chỉ mới năm ngoái, khi những câu hát này vang lên trong ngỏ hẻm, bên ly cà phê vỉa hè, khe khẽ trên môi những người yêu nhạc… cũng đồng nghĩa với thái độ chống lại Nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam, vì đó là một bài hát nằm trong danh sách bị đóng dấu cấm.

Như một giấc ngủ dài đến mức quên thức dậy, bất chợt một ngày, người ta hay tin bài hát Ly Rượu Mừng đã không còn bị cấm nữa. Chuyện được nghe, được hát Ly Rượu Mừng chỉ như điều thoảng qua tai, mà lý do cấm hay không còn cấm đều mơ hồ như nhau.

Vì bởi không cần việc nhà cầm quyền cho phép, những con người Việt Nam vẫn hát và vẫn lắng nghe nó từ Nam chí Bắc, thản nhiên, từ rất lâu rồi.

Tung hô sau 41 năm cấm đoán

Trên các trang báo nhà nước, người ta dễ dàng tìm thấy trong lúc này các bài viết tung hô việc thôi cấm đoán bài hát Ly Rượu Mừng, với cách nói như là một sự “giải oan”.

Ở nơi đâu đó, nhạc sĩ  Phạm Đình Chương và những tiền nhân ắt hẳn đã nhìn nhau bật cười, “oan gì mà giải”? Những người đã đóng góp và xây dựng nên đất nước này từ bao đời nay, từ Nguyễn Ánh, Phan Thanh Giản, Phạm Quỳnh… cho đến Phạm Đình Chương nếu có nỗi niềm gì, có lẽ cũng chưa cần đến sự lên tiếng đơm đặt của những người dựa trên tinh thần chủ nghĩa cộng sản.

Nếu có phán xét, đó là quyết định và quyền của nhân dân Việt Nam trên tinh thần chủ nghĩa dân tộc chứ không phải là một hệ thống kiểm duyệt văn hóa dựa vào tư duy chính trị ngoại bang, của Mác hoặc Mao.

Trong câu chuyện về bài hát Ly Rượu Mừng, thật buồn cười khi nhìn lại cách thức của chế độ kiểm duyệt văn hóa được kiểm soát kiên trì ở Việt Nam từ bao nhiêu năm nay.

Những người có trách nhiệm luôn luôn giỏi trong các vai diễn lố bịch của mình: khi cấm thì cao giọng với đủ lý do quan trọng tầm ruồng, nhưng khi ngừng cấm thì cũng giỏi trình diễn sự nhân đạo hay cao cả  vô nghĩa nào đó.

Vẫn còn là ước mơ…

Dù không còn bị cấm, nhưng ước mơ trong bài hát Ly Rượu Mừng, về tự do và bình đẳng, dường như vẫn còn quá xa vời.

Sau năm 1975. Sách vở của miền Nam bị đốt, bị cấm. Hàng ngàn bài hát bị đưa vào song sắt. Con người và tri thức miền Nam Việt Nam bị phế bỏ hoặc bị tước đoạt các giá trị của mình.

Năm 1992, ca sĩ Ngọc Sơn bị bắt và kết án tù do hát và ghi âm hàng trăm bài hát “không được cấp phép”. Nhưng rồi từ năm 2012, các ca khúc như vậy lại xuất hiện một cách bình thường trên truyền hình. Dòng nhạc bolero từ năm 1977 bị hàng trăm các bài báo, truyền hình… phê phán trong chiến dịch bài xích “một nền văn hóa đồi trụy”.

Thế rồi, hôm  nay, 2017, lại là những bài hát được các nhà sản xuất và biên tập viên xã hội chủ nghĩa săn đón và giới thiệu nồng nhiệt trên truyền hình.

Năm tôi 7 tuổi. Khi ngồi ở trước hiên nhà trên đường Trần Quý Cáp, trên tay là cuốn truyện tranh Tintin, bất ngờ tôi bị kéo giật đi bởi một nhóm người mang băng đỏ – những người của “Bên Thắng Cuộc” được lệnh truy lùng và hủy diệt sách vở miền Nam.

Ngay sau đó, nhà tôi bị ập vào lục soát. Sách kiếm hiệp của Kim Dung, truyện Quỳnh Dao, và những cuốn truyện tranh Spirou (Phan Tân Sĩ Phú), Strumpf (Xì Trum), Johan and Peewitt (Lữ Hân Phi Lục)… bị mang ra trước nhà đốt bỏ, như một trong những cuộc hành hình văn hóa đang diễn ra khắp nơi lúc đó.

Rồi 20 năm sau, tôi lại nhìn thấy những cuốn sách đó được phát hành với những lời giới thiệu trân trọng đến mức có thể tạo nên những nụ cười mỉa.

…sáng trời tự do

Bài hát Ly Rượu Mừng vang bên tai tôi, khiến gợi nhớ biết bao điều. Nhớ những tác phẩm văn học miền Nam bị đem ra đấu tố như những tội đồ.

Nhớ những nhạc sĩ miền Nam im lặng nhìn nhau, nói nhỏ về những tác phẩm của mình đang bị xé bỏ.

Nhớ những thế hệ Việt Nam bị kết tội vì nhân thân, đã không được vào đại học, đã vào trại tù cải tạo…

Hôm nay, mọi thứ như đang tốt dần lên. Có người nói với tôi rằng Ly Rượu Mừng được xóa án là một niềm vui của đổi mới. Nhưng tôi thì thấy đó là một trong những lần chùi rửa vội vàng của bộ máy kiểm duyệt, nhằm che bớt đi sự thù hằn và đen tối trên gương mặt, để có thể bước vào thế kỷ văn minh.

Bấm vào đây để nghe bài hát Ly Rượu Mừng

Bài hát chúc một non sông thanh bình, khiến ai yêu nước Việt cũng đều thấy day dứt. Ly Rượu Mừng xuân được nâng lên vào thời khắc này, xao xuyến nhắc quê hương đang đứng trước cuộc bể dâu khôn cùng bởi những kẻ tham tàn và bọn phản bội.

Giấc mơ một ngày mai sáng trời tự do lại dậy lên trong lòng tôi về một ngày mai sáng trời tự do. Mong tổ tiên dẫn lối dân tộc này. Ngày ấy, ắt phải đến.

Tuấn Khanh, Sài Gòn Tết Đinh Dậu. 2017

*Nội dung bài viết không phản ành quan điểm của RFA

Posted in Bắt bớ-Tù Đày-Đánh đập-Đàn Áp, Chinh Tri Xa Hoi, Miền Nam sau 30-4-1975 | Leave a Comment »

►Thương Phế Binh VNCH – Họ là ai?

Posted by hoangtran204 trên 01/01/2017

..

Lê Văn Sơn

“Bên nhau đi nốt cuộc đời” là chủ đề chính trong chuỗi ngày tri ân Thương Phế Binh. Tôi may mắn được dìm mình vào các hoạt động thuộc khu vực dành cho các tình nguyện viên trợ giúp các Thương Phế Binh việc đi lại để họ dễ dàng hơn khi đến tham dự chương trình. Từ sáng sớm đến chiều tối, hàng ngàn TPB từ khắp nơi lũ lượt đưa nhau tới vui như trẩy hội.

15748964_391361317878730_950057597_o.jpg

 Tri Ân Thương Phế Binh VNCH tại Dòng Chúa Cứu Thế, đường Kỳ Đồng, Quận 3, Sài Gòn.

Những ngày cuối năm Bính Thân này ai có cơ hội đặt chân đến Dòng Chúa Cứu Thế Sài Gòn, (đường Kỳ Đồng, Quận 3), thì cảm nhận được một suối nguồn tình yêu đang chan chứa nơi đây. Đó là một thứ tình yêu diệu vời nối kết con người của các thế hệ, của nhiều tầng lớp, cả Nam – Bắc Việt Nam. Sự liên đới này được tỏ hiện qua chương trình Tri ân Thương Phế Binh Việt Nam Cọng Hòa mà Dòng Chúa Cứu Thế đang tổ chức từ 27 đến 30 tháng 12 năm 2017.

Họ là những người lính Việt Nam Cộng Hòa đã bị lãng quên từ sau năm 1975 khi cộng sản miền Bắc đặt quyền bính tại miền Nam. Họ là những người đui mù, cụt tay, mất chân, câm điếc…vì chiến tranh, họ đã để lại nơi xa trường một phần thân thể của mình. Tất cả họ đều chiến đấu vì Tổ Quốc Trên Hết, thế nhưng, lịch sử do người cộng sản viết nên lại biến họ trở thành “ngụy quân”.

 

Với sự tuyên truyền từ bộ máy cai trị của cộng sản Bắc Việt đã khiến cho biết bao thế hệ trẻ bị tê liệt não trạng, đã đẩy những con người Việt Nam miền Nam vào những trạng thái đau khổ và tồi tệ. Cộng sản VN đã tạo nên một xã hội Việt Nam trước và sau 1975 đầy nghi kỵ và dối trá, con người trở nên bất nhân với nhau nhiều hơn, và hàng chục ngàn TPB Việt Nam Cộng Hòa là những nạn nhân thực thụ.

Tôi ngắm nhìn từng khuôn mặt khắc khổ, từng thước da đen sạm, từng vết thương hằn sâu, chứng kiến từng sự khó khăn trong sinh hoạt khi đi lại hay lúc vệ sinh của họ mới thấy hết được những đau đớn cả về thể xác và tinh thần mà họ đã, đang phải gánh chịu.

Một bác hơn 70 tuổi ngồi xe lăn, người Sài Gòn, bác rất lịch sự, nhã nhặn, tôi đẩy bác di chuyển đi lại vào nhà vệ sinh, bác đứng không vững, bác hết lời cám ơn tôi. Bác nói về những trận binh biến đã qua mới thấy được tấm lòng của bác đối với anh em cùng trang lứa ngoài Bắc. Bác nói: “ Cộng sản rất tàn ác. Nhưng tôi vẫn yêu mến những người lính bên kia chiến tuyến, họ cũng là dòng máu Lạc Hồng, cũng là anh em của mình. Trong đời lính tôi đã nhiều lần nhiều cách giúp những lính bại trận miền Bắc được sống và đối xử với họ nhân đạo”.

15750314_391367507878111_1151619893_n.jpg

 Paulus Lê Sơn đang đẩy xe lăn

Bỗng nhiên tôi nhớ đến một người lính Bắc Việt mà tôi đã từng trò chuyện, ông này nói rằng: “ Dù trong chiến đấu sinh tử nhưng người lính VNCH họ có cái nhân tâm lớn, trong số những người tôi được tiếp xúc thì họ là người có trí thức, lòng yêu nước và hiểu biết. Tuy nhiên, quá khứ đã đi vào lịch sử, khi đó buộc chúng tôi phải cầm súng bắn họ, nếu thời gian quay trở lại thì chúng tôi sẽ không bao giờ làm con thiêu thân để huynh đệ tương tàn như xưa nữa”.

Trên khóe mắt nhăm rúm của nhiều người lính già VHCH đang hiện diện hôm nay có những giọt lệ thâm sâu. Những giọt nước mắt của niềm hạnh phúc và ấm áp tình người. “ đã lâu lắm, lâu lắm rồi đấy anh bạn trẻ ạ, chúng tôi mới có được cảm nhận của tình yêu thương mà mọi người đem lại cho chúng tôi” –một bác cầm tay tôi bày tỏ. Khóe mắt tôi cay xè cùng sự ấm áp của hai bàn tay, hai thế hệ, hai miền Nam Bắc.

 

Những người lính già nua này vẫn thể hiện được cái tinh hoa của tuổi trẻ, sự tài tử, hào hoa và phong lưu qua những bài hát về đời lính, qua sự hứng khởi nhún nhẩy theo nhịp đàn, tiếng hát, sự reo hò vui tươi sau những lời nói đượm chất hài hước. Là người lính nhưng họ không khô khan, không sắt máu, không lạnh lung. Dù thời gian có lùi xa vào dĩ vãng, dù bị kiềm hãm, chôn vùi, nhưng những đức tính của họ có lẽ không bị mai một, mất đi.

Là một người trẻ chìm mình vào với các TPB VNCH. Tôi thiết nghĩ, lịch sử phải trả lại cho họ sự thật, xã hội phải trả lại tên cho họ đúng nghĩa, họ xứng đáng được xã hội tôn trọng và tri ân. Mười người lính già đều trả lời như một: “Chúng tôi chiến đấu để bảo vệ tổ quốc Việt Nam, Tổ Quốc Trên Hết, chiến đấu vì tự do và nền dân chủ của Tổ Quốc”, trước câu hỏi của tôi: “Các bác đã chiến đấu vì cái gì?”.

Paulus Lê Sơn

______

Mọi đóng góp để tri ân người lính Việt Nam Cọng Hòa xin liên lạc và gởi về đây:

Bài mới đăng

http://www.tinmungchonguoingheo.com/?p=16135&preview=true

Trên facebook: Nguyễn Huyền Trang

 

Posted in Cái giá của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc”., Chien Tranh Viet Nam, Miền Nam sau 30-4-1975 | Leave a Comment »