Trần Hoàng Blog

Archive for the ‘Miền Nam sau 30-4-1975’ Category

►Bán nước? (Nguyễn Văn Tuấn, 11-2-2016)

Posted by hoangtran204 trên 20/02/2018

 

 

Đọc tiếp »

Advertisements

Posted in Miền Nam sau 30-4-1975 | Leave a Comment »

►Đồng bằng Cửu Long trước những tác động của con người (RFI, 11-12-2017)

Posted by hoangtran204 trên 28/01/2018

 

Đọc tiếp »

Posted in Lịch Sử, Miền Nam sau 30-4-1975, Nong Dan Viet Nam | Leave a Comment »

►Cái chết trong tù CS của cựu Thủ Tướng Phan Huy Quát

Posted by hoangtran204 trên 26/12/2017

“…trong suốt cuộc đời tham chính, thành tựu của Bác Sĩ Phan Huy Quát có ý nghĩa lớn lao nhất, có ích cho quốc dân nhất, do đó quan trọng vào bậc nhất vì trực tiếp liên quan sâu sắc nhất đến tiền đồ tổ quốc, là ông đã giành được chủ quyền cho ngành giáo dục Việt Nam, khi ông được Cựu Quốc Trưởng Bảo Ðại phong ông làm Tổng Trưởng Bộ Giáo Dục 1949… 

Ông đã đặt nền móng vững chắc cho việc dùng Việt ngữ là ngôn ngữ chính trong mọi giáo trình, mở đầu kỷ nguyên cải cách giáo dục toàn diện từ tiểu học, qua trung học, lên tới đại học và trên đại học

Kế hoạch giáo dục Phan Huy Quát.”

Tên tuổi ông đã gắn liền với tương lai của biết bao thế hệ nam, nữ, thanh, thiếu niên trong lãnh vực giáo dục nó là chìa khóa của tiến bộ văn minh và phát triển văn hóa cho đất nước, cho dân tộc. Thành công nào có thể đẹp hơn, lâu bền hơn thành công của ông trong sự nghiệp giáo dục đào tạo con người?”

 

Đọc tiếp »

Posted in Chien Tranh Viet Nam, Miền Nam sau 30-4-1975, Nhan Vat Chinh tri | Leave a Comment »

►Đường Nguyễn Hữu Cảnh ngập dù có ‘siêu máy bơm’: Thấy chất ‘lạ’ nghẹt ống cống

Posted by hoangtran204 trên 20/10/2017

 

Đọc tiếp »

Posted in Miền Nam sau 30-4-1975, Thời Sự | Leave a Comment »

►Video phóng sự của đài SBTN từ Paris: Trịnh Vĩnh Bình kiện nhà cầm quyền Việt Nam 1,25 tỷ USD (2017-8-25)

Posted by hoangtran204 trên 27/08/2017

Tường An phỏng vấn: Nguyễn Quốc Nam, Lữ Thị Tường Uyên, Phạm Văn Thành, Sơn Hà. 

___

Tòa án Trọng tài Quốc tế (ICC, Paris)

Trịnh Vĩnh Bình vs. Nhà nước CHXHCN Việt Nam 

 

 

Đọc tiếp »

Posted in Công An, Cướp đất và chiếm đoạt tài sản của dân, Miền Nam sau 30-4-1975, Tham Nhung-Hoang Phí- Ăn Cắp, Việt kiều-Lịch Sử hình thành-Cuộc Sống | Leave a Comment »

►Loạt bài Trịnh Vĩnh Bình- Kỳ 5: Hai chữ ‘hợp lý’ trị giá tỷ đô (VOA, 19-8-2017)

Posted by hoangtran204 trên 26/08/2017

 

 

Đọc tiếp »

Posted in Công An, Cướp đất và chiếm đoạt tài sản của dân, Luật Pháp, Miền Nam sau 30-4-1975, Việt kiều-Lịch Sử hình thành-Cuộc Sống | Leave a Comment »

►Loạt bài Trịnh Vĩnh Bình – Kỳ 4: Căng thẳng Việt Nam – Hà Lan và Tòa trọng tài

Posted by hoangtran204 trên 26/08/2017

 

Đọc tiếp »

Posted in Công An, Cướp đất và chiếm đoạt tài sản của dân, Luật Pháp, Miền Nam sau 30-4-1975, Việt kiều-Lịch Sử hình thành-Cuộc Sống | Leave a Comment »

►Loạt bài Trịnh Vĩnh Bình – Kỳ 3: Vụ án “lên đến Bộ Chính trị” (VOA, 18-8-2017)

Posted by hoangtran204 trên 26/08/2017

 

Đọc tiếp »

Posted in Công An, Cướp đất và chiếm đoạt tài sản của dân, Luật Pháp, Miền Nam sau 30-4-1975, Việt kiều-Lịch Sử hình thành-Cuộc Sống | Leave a Comment »

►Loạt bài Trịnh Vĩnh Bình – Kỳ 2: Lên như diều gặp gió (VOA)

Posted by hoangtran204 trên 26/08/2017

 

Đọc tiếp »

Posted in Công An, Cướp đất và chiếm đoạt tài sản của dân, Luật Pháp, Miền Nam sau 30-4-1975 | Leave a Comment »

►Loạt bài Trịnh Vĩnh Bình – Kỳ 1: Đi theo tiếng gọi ‘Về nước đầu tư’

Posted by hoangtran204 trên 26/08/2017

 

Đọc tiếp »

Posted in Công An, Cướp đất và chiếm đoạt tài sản của dân, Luật Pháp, Miền Nam sau 30-4-1975 | Leave a Comment »

►Khám bệnh 125 Thương Phế Binh VNCH lần thứ 7 năm 2017 do phòng Công Lý & Hòa Bình DCCT Sài Gòn thực hiện – hỗ trợ lộ phí 500.000đ/1 người – Phát xe lăn, phát máy đo huyết áp làm chân tay giả

Posted by hoangtran204 trên 06/08/2017

Thông tin về việc hỗ trợ của USAID (Mỹ) dành cho người khuyết tật, thương phế binh truy cập:

https://www.usaid.gov/…/persons-with-disabilities-support-p…

 

 

Đọc tiếp »

Posted in Chinh Tri Xa Hoi, Miền Nam sau 30-4-1975, Tình Yêu- Lòng Yêu Nước, Tôn Giáo | Leave a Comment »

►42 năm, ở bên phía “triệu người vui” (*)

Posted by hoangtran204 trên 29/05/2017

Hoàng Thy Ban Mai

Đọc tiếp »

Posted in Công An, Miền Nam sau 30-4-1975, Đảng CSVN - còn đảng, còn mình... | Leave a Comment »

►Trư cuồng: Bi hài về chuyện nuôi lợn dưới thời Lê Duẩn!

Posted by hoangtran204 trên 06/05/2017

Kỳ lạ là, chẳng ai đặt câu hỏi, vì sao xã hội lại đến nông nỗi này?… CUỒNG LÊN VÌ LỢN vào những năm 1980 – 1985!

Đọc tiếp »

Posted in Chinh Tri Xa Hoi, Miền Bắc sau 30-4-1975: Đời sống nông dân, Miền Nam sau 30-4-1975 | Leave a Comment »

►Sài Gòn đã giải phóng tôi

Posted by hoangtran204 trên 30/04/2017

Nguyễn Quang Lập

30-4-2016

nguyenquanglap00

LTS: Bài của tác giả Nguyễn Quang Lập đã được phổ biến trên facebook cách đây đúng một năm nhân ngày 30/4.

Tác giả nói lên cảm xúc của mình một cách chân thật khi vào được SàiGòn và khám phá sự thật ai đã giải phóng mình.

******************

Đọc tiếp »

Posted in Miền Nam sau 30-4-1975 | Leave a Comment »

►Hồi ký Nguyễn Hiến Lê: Giới thiệu 40 trang bị cắt bỏ trong Chương XXXII (bị cắt 16.000 từ)

Posted by hoangtran204 trên 30/04/2017

NHỮNG CHƯƠNG BỊ KIỂM DUYỆT BỎ CỦA HỒI KÝ NGUYỄN HIẾN LÊ – 1

 

Đọc tiếp »

Posted in Miền Nam sau 30-4-1975, Sách-Hồi Ký-Bài Báo..., Tự Do ngôn Luận | Leave a Comment »

►Hồi tưởng của cựu binh Bắc Việt 42 năm sau chiến tranh (30-4-2017)

Posted by hoangtran204 trên 28/04/2017

Thanh Trúc, phóng viên RFA
2017-04-27

Đọc tiếp »

Posted in Cái giá của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc”., Chien Tranh Viet Nam, Miền Nam sau 30-4-1975 | Leave a Comment »

► 42 năm sau ngày 30.4.1975 qua cái nhìn của các bạn trẻ

Posted by hoangtran204 trên 28/04/2017

Cát Linh, phóng viên RFA
2017-04-20

 

Đọc tiếp »

Posted in Cái giá của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc”., Chien Tranh Viet Nam, Miền Bắc trước 30-4-1975- Đời Sống Cư Dân Đô Thị, Miền Nam sau 30-4-1975 | 2 Comments »

►Ai đã hủy hoại con đường sắt huyền thoại, không chỉ của Việt Nam, mà là của Châu á và của thế giới ? – Con đường sắt răng cưa Phan Rang – Đà Lạt

Posted by hoangtran204 trên 12/04/2017

Đường sắt răng cưa Phan Rang – đà lạt

Tác giả: Nguyễn Bảo Châu

Gọi là con đường huyền thoại vì đây là một trong hai tuyến đường sắt răng cưa leo núi của Thế giới: một của Việt nam và một của Thụy sĩ.

Đọc tiếp »

Posted in Miền Nam sau 30-4-1975, Đảng CSVN - còn đảng, còn mình... | Leave a Comment »

►Sài Gòn của tôi, 50 năm trước

Posted by hoangtran204 trên 10/02/2017

Sài Gòn của tôi, 50 năm trước

Nguyễn Ðạt – Giai Phẩm Người Việt Xuân Đinh Dậu

Ðặt chân tới Sài Gòn năm 1954, lúc ấy tôi là đứa bé 9 tuổi, theo gia đình từ miền Bắc di cư vào miền Nam tự do. Ký ức của đứa bé 9 tuổi hẳn nhiên không thể ghi nhận được gì nhiều; nhưng đứa bé lớn lên và sinh sống tại Sài Gòn từ thuở ấy tới bây giờ, đã giúp tôi dễ dàng gợi dậy trong ký ức, ít nhất là những hình ảnh đậm nét của Sài Gòn, 50 năm về trước.

Ấn tượng về Sài Gòn trong tôi từ lúc ấy tới bây giờ cũng không phai nhạt bao nhiêu, dù đã hơn nửa thế kỷ trôi qua. Ấn tượng sâu đậm, bởi Sài Gòn những ngày tháng ấy quá mới lạ trong tâm trí tôi, đứa trẻ đã trải qua một đoạn đời ấu thơ tại Hà Nội. 

Ðiều đầu tiên tôi nhận biết lúc ấy, tôi nói với cha tôi, là Sài Gòn có vẻ rất Tây so với Hà Nội. Cha tôi bảo, bởi vì một trăm năm Pháp thuộc, Sài Gòn và miền Nam là thuộc địa; trong khi Hà Nội của miền Bắc là bảo hộ.

Cha tôi làm thông ngôn trong quân đội Liên Hiệp Pháp, dạy tiếng Pháp cho các con từ nhỏ; nên tôi nhớ được rành rõ những tên Pháp ngữ đặt cho nhiều đường phố lớn của Sài Gòn lúc ấy. Căn nhà đầu tiên của gia đình chúng tôi khi vào Sài Gòn ở đường Bà Hạt, quận 10. Ðường Bà Hạt là đường phố nhỏ, một đoạn chạy ngang đường phố lớn mang tên Tây, là Lacaze – tức đường Nguyễn Tri Phương.

  

Vài năm sau, Tổng Thống Ngô Ðình Diệm cho thay thế tên Tây; vẫn giữ lại tên những danh nhân thế giới, dù danh nhân ấy là người Pháp, như Calmette, Pasteur, Alexandre de Rhodes… Những đường phố mang tên Tây, đa số là quan chức Pháp, được thay thế, như: Bonard – Lê Lợi; Charner – Nguyễn Huệ; Galliéni – Trần Hưng Ðạo; De la Grandrière – Gia Long; Catinat – Tự Do; Lacaze – Nguyễn Tri Phương… Tuy nhiên, nhiều năm sau đó, dân Sài Gòn vẫn nói: Ði bát phố Bô-na, Catinat; đi mua hàng ở thương xá Charner…, luôn là gọi tên Tây, cho 3 đường phố đẹp bậc nhất của Sài Gòn.

Phố phường Sài Gòn lúc ấy đa số là những con đường lớn rộng, dài dằng dặc. Và rất nhiều cổ thụ. Ðặc biệt loại cây có tên rất bình dân là cây dái ngựa – tên khoa học là Meliaceae – thân to nổi mấu gồ ghề, tỏa rộng cành lá, bóng mát ngợp đường Lê Ðại Hành, trước mặt Trường Ðua Phú Thọ, quận 11. Hàng cây me xanh mát mắt suốt con đường Gia Long, con đường có bệnh viện Grall do người Pháp lập nên, giữa vườn cây rộng rinh. Rừng cao su bát ngát, chạy dài theo con đường Nguyễn Văn Thoại, từ Trường Ðua Phú Thọ tới ngã tư Bảy Hiền…

Sài Gòn của tôi, 50 năm trướcNăm tôi còn nhỏ tuổi, cha vẫn dẫn đi chơi mỗi Chủ Nhật. Vào Vườn Ông Thượng, còn có tên Tây là Bờ-rô, sau đó mới gọi tên là Vườn Tao Ðàn; dẫn đi chơi ở Sở Thú-Thị Nghè… Cây trồng ở Sài Gòn phong phú là nhờ công sức của vị giám đốc Sở Thú đầu tiên, người Pháp; ông từng là chuyên viên nghiên cứu về cây trồng ở nhiều nơi trên thế giới; nhất là vùng nhiệt đới ở Phi Châu, có nhiều loại cây thích hợp với thổ nhưỡng Sài Gòn. Những năm sau này, lớn thêm vài tuổi, lại được anh cùng cho đi “bát phố Bô-na,” để thấy rõ Sài Gòn quả là rất Tây; tôi tha hồ thưởng ngoạn vẻ đẹp “Paris” của nó.

Tản bộ trên đường Catinat, từ nhà thờ Ðức Bà tới bến Bạch Ðằng, nhìn ngắm các cửa hiệu sang trọng thời thượng dọc con phố. Và Passage Eden, rất nên gọi là “Hành Lang Ði Bộ,” chính diện nhìn ra đường Catinat. Passage Eden gồm trong đó: bát phố; xem chiếu phim – trong rạp Eden giữa lòng hành lang; mua sắm; ăn kem uống cà phê ăn tối ở quán Givral liền bên… và để ngắm nhìn trai thanh gái lịch, quý ông quý bà Sài Gòn, cũng ở trong đó.

Trai thanh – quý ông thì áo sơ mi quần tây trắng lốp; mũ flechet; giày deux couleurs; đồng hồ quả quít đeo ở dây lưng. Gái lịch – quý bà thì áo dài Lemur-Cát Tường không thua phụ nữ Hà Nội, hoặc vận jupe như “bà đầm”; tay xách porte feuille, chân đi guốc cao gót; tóc búi cao hoặc uốn dợn sóng, cổ đeo kiềng vàng…

Sài Gòn của tôi, 50 năm trước

 

Ra vào Passage Eden nhiều lối, ưa thích ra vào lối nào cũng được. Anh tôi dẫn tôi vào lối cửa ở đường Charner, rồi đi vòng qua Bonard, rồi ra cửa Catinat… Rồi chúng tôi ghé hiệu sách Albert Portail – sau có tên là Xuân Thu – sát cạnh đó, toàn là sách từ bên Tây đưa sang, tha hồ mà đọc mà ngắm.

Rồi với bạn học cùng lớp cùng trường Chu Văn An, Trường-Trung-Học-Di-Chuyển-Bắc-Việt (có ghi ở bảng hiệu của trường như vậy, vì trường cũng di cư từ Hà Nội vào Sài Gòn) đi chơi và chụp ảnh lưu niệm Sài Gòn.

Bất cứ buổi sáng Chủ Nhật nào, góc thân thuộc nhất, tập trung nhiều nhất các “bác phó nhòm,” chính là quảng trường trước mặt quán Givral. Mái hiên cong kiều diễm của quán Givral, và con đường Catinat thẳng tắp, với hai hàng cây hai bên chạy dài ngút mắt, đã đi vào không biết bao nhiêu tấm ảnh lưu niệm Sài Gòn. Hoặc những tấm ảnh của cả gia đình, lưu niệm ngày đi mua sắm ở thương xá Charner; buổi dùng bữa cơm Tây ở một nhà hàng Pháp trên phố Bonard…

 

Sài Gòn của tôi, 50 năm trước

 

Những ngôi đền Ấn Ðộ giữa lòng Sài Gòn lúc ấy, cũng đi vào ký ức của đứa bé miền Bắc di cư khá đậm nét. Sao mà Sài Gòn nhiều đền đài của Ấn Giáo, với kiến trúc tinh tế kỳ công đến thế. Những ngôi đền uy nghi tọa lạc ở các con đường Tôn Thất Thiệp-Trương Ðịnh-Công Lý của quận 1, trung tâm Sài Gòn. Người Ấn Ðộ sinh sống tại Sài Gòn khá đông, chỉ không nhiều bằng người Hoa, ở cả một vùng Chợ Lớn. Tôi nghe dân Sài Gòn gọi họ là Chà Và. Sau này tôi mới hiểu, Chà Và là đọc trại từ Java, gọi chung cho người Ấn Ðộ và người Mã Lai; họ thường làm nghề mại bản, quản lý nhà đất, cho vay tiền, làm trung gian giữa người Việt và người Pháp…

Ðường Tôn Thất Thiệp, vào năm 1954 vẫn được xem là một tiểu Ấn Ðộ, với những ông Chà Và cho vay tiền, chủ quán cà ri nị, mở tiệm kim hoàn. Những người Ấn Ðộ gốc ở Bombay thường kinh doanh ngành vải; họ có nhiều cửa hiệu ở đường Catinat, Bonard, Hàm Nghi, Galliéni, và chợ Bến Thành. Từ lâu trước đó, cộng đồng người Ấn Ðộ ở quận 1 còn đông đảo hơn nhiều; đã có một đợt người Ấn Ðộ rời Sài Gòn sang định cư tại Pháp, vào năm 1945.

 

Sài Gòn của tôi, 50 năm trước

 

Có lẽ cái mới lạ, và thấy thân thương nhất, đối với người miền Bắc di cư vào Sài Gòn như tôi, là những quán tiệm bình dân, tiệm Hoa kiều. Hai thứ quán tiệm này khá giống nhau. Buổi sáng tới quán, những ông già Sài Gòn đọc-nhựt-trình (nhật báo), nói chuyện ưa chêm tiếng Pháp, xưng tôi là mỏa (moi); những bà già hút thuốc điếu; những anh tài xe xích lô máy chở cả vợ con trong lòng xe rộng bè, tới quán ăn hủ tíu uống cà phê, xong chở về nhà rồi mới đi chở khách.

Một thời gian trong năm 1954-55, khi có xài tiền 5 cắc bằng kim loại; thì tại Sài Gòn, cứ việc lấy giấy bạc một đồng – có hình Nam Phương Hoàng Hậu – mà xé làm hai, xài một nửa tương đương 5 cắc! Thật là thuận tiện, đơn giản.

Người Sài Gòn-Nam Bộ không cần thiết phải biết tên người mới quen; chỉ hỏi người này là con thứ mấy trong gia đình, để kêu anh Hai, anh Ba… Thân thương biết mấy!

Chuyện trò với người Sài Gòn-Nam Bộ, câu chuyện của họ giản dị, rõ ràng, không úp úp mở mở; không bắt người cùng trò chuyện với mình phải chịu đựng sự vòng-vo-tam-quốc, sự rào trước đón sau, như rất nhiều người miền Bắc và miền Trung, trong đó có dân di cư năm 1954 thường như vậy.

 

Tình thầy trò, đồng nghiệp nồng ấm đất Sài Gòn

Lê Ðại Anh Kiệt – Giai Phẩm Xuân Người Việt Đinh Dậu

Thầy Hệ thời trẻ (giữa) cùng các học sinh Marie Curie. (Hình tài liệu)

Người ta thường nói cuộc sống đô thị tình người lạt lẽo, con người khép kín. Thế nhưng, Sài Gòn, vùng đất bao dung cưu mang những người tứ xứ và nuôi dưỡng trong lòng đô thị những câu chuyện nghĩa tình.

Câu chuyện dưới đây như bài học mẫu mực cho đạo nghĩa thầy trò và tình đồng nghiệp. Bởi vì học trò và đồng nghiệp của ba ngôi trường cũ chung tay nuôi dưỡng, chăm sóc và tranh đấu đòi công lý cho một thầy giáo già đơn côi, mắc bệnh tâm thần, bị lừa lấy mất nhà. Những học trò nay đã là giáo viên hưu trí vẫn tương kính bạn của thầy như chính thầy mình.

Thầy Nguyễn Hữu Hệ từ miền Bắc một mình di cư vào Nam là giáo viên toán trải qua ba trường Trung Học Kiến Tường (Long An,1964-1968), Trung Học Kiểu Mẫu Thủ Ðức (1969-1975), sau 1975, trường Kiểu Mẫu giải thể thầy chuyển về trường Trung Học Marie Curie cho đến lúc về hưu.

Xưa nay, thầy sống một mình trong ngôi nhà thừa kế từ mẹ nuôi ở số 19 Duy Tân, quận Phú Nhuận, Sài Gòn.

Từ cuối năm 2015, thầy Hệ thuê cô Thu Huyền giúp việc và cho cô cùng hai con ở chung nhà. Cô Huyền tự giới thiệu mình là cháu của thầy, ai nghe cũng ngỡ thật.

Tháng Tư vừa rồi, nghe thầy bị va quẹt xe, bị đau chân, anh Quang Tuấn và chị Thủy Anh đại diện nhóm cựu học sinh Kiểu Mẫu Thủ Ðức mang đến tặng thầy $1,900. Bình thường, thầy luôn ăn mặc tươm tất khi tiếp khách nhưng lần này thầy mặc quần đùi, áo không cài nút. Chị Thủy Anh phải cài nút áo cho thầy và vẫn nghĩ là chuyện lơ đễnh bình thường.

Tình thầy trò, đồng nghiệp nồng ấm đất Sài Gòn
Từ trái: thầy Út, thầy Hệ, chị Thủy Anh. (Hình: Lê Ðại Anh Kiệt)

Ðầu Tháng Sáu, anh Bình Phương, cựu học sinh Marie Curie (định cư ở Canada) đến thăm thấy thầy có dấu hiệu hoang tưởng nên khuyên cô Huyền đưa thầy nhập viện Tâm Thần Chợ Quán. Cô Huyền cũng gọi điện báo tin cho nhóm cựu học sinh Marie Curie, nhóm này đã quyên góp giúp thầy 22 triệu đồng để điều trị.

Chị Thủy Anh cũng được tin và đến bệnh viện thăm thì biết thầy Hệ không còn nhận thức được nên báo tin cho các cựu học sinh và thầy cô trường Kiểu Mẫu. Từ Mỹ, thầy Nguyễn Ðình Loạt là đồng nghiệp với thầy Hệ ở cả hai trường Kiến Tường và Kiểu Mẫu đã email cho anh Trần Ngọc Bách, cựu học sinh Kiến Tường báo tin thầy Hệ bệnh.

Từ đây, ba nhóm cựu học sinh ba trường đã gặp nhau cùng hợp sức chăm sóc cho thầy. Anh Bách thuê người chăm sóc thầy 24/24. Chị Tuyết Nhung, cựu học sinh Marie Curie, hằng ngày lo cơm nước.

Ðiều kỳ lạ là bác sĩ điều trị khuyên nên đưa thầy về nhà điều trị ngoại trú sẽ tốt hơn nhưng cô Huyền cứ kiếm cớ nhà đang sửa, rồi đưa thầy Hệ hết bệnh viện này đến bệnh viện khác. Từ Tâm Thần Chợ Quán, sang Chợ Rẫy, Trung Tâm Phục Hồi Chức Năng quận 8 đến bệnh viện Bình Dân.

Không chỉ học trò cũ mà các đồng nghiệp cũ như thầy Bùi Quang Hân (Kiểu Mẫu Thủ Ðức, hiện là chuyên gia đào tạo học sinh giỏi, tác giả nhiều bộ sách giáo khoa Vật Lý), thầy Nguyễn Ngọc Long và thầy Nguyễn Văn Út (Marie Curie) cùng nhau lo lắng cho thầy Hệ.

Tình thầy trò, đồng nghiệp nồng ấm đất Sài Gòn
Chị Thủy Anh gài nút áo cho thầy Hệ trong lần đến nhà thăm và trao $1,900. (Hình: Lê Ðại Anh Kiệt)

Thầy Út đã vận động các cựu giáo viên Marie Curie năm triệu đồng và bỏ tiền túi hai triệu đồng giúp thầy Hệ.

Khi hình ảnh thăm viếng thầy Hệ đưa lên trang web trường Kiểu Mẫu, một cựu học sinh nhận ra và báo động là cô Thu Huyền giúp việc có nhiều tai tiếng bất hảo về tiền bạc.

Các cựu học sinh tìm hiểu thì hóa ra bằng cách nào đó cô Huyền đã làm giấy mua nhà thầy Hệ và đã bán, giao nhà cho người khác. Căn nhà trị giá 6 tỉ đồng đã “bán” cho cô Huyền 700 triệu đồng, sau đó cô Huyền bán lại 3.9 tỉ đồng ngay trong tháng. Tất cả tiền bạc giúp đỡ và cả giấy tờ tùy thân, sổ lương hưu của thầy Hệ cô ấy đều giữ.

Vì vậy, cựu học sinh và các thầy bàn nhau phải tìm chỗ ở an toàn cho thầy Hệ sau khi xuất viện. Việc bàn tính đưa thầy đến Trung Tâm Nuôi Dưỡng Người Già được đặt ra nhưng bất thành vì thầy không có người thân bảo lãnh.

Lúc đầu, mọi người dự định đưa thầy về nhà một cựu học sinh ở Hóc Môn nhưng người quản lý nhà lại không ở lại ban đêm nên không ổn. Ðêm đầu tiên sau khi xuất viện, thầy Hệ về nhà thầy Út. Do thầy Hệ không tự tiêu tiểu được, thầy Út (80 tuổi) đã tự tay chăm sóc tắm rửa lau dọn chất thải cho thầy Hệ. Tự tay thầy Út bón cơm cho bạn như người ruột thịt.

Tình thầy trò, đồng nghiệp nồng ấm đất Sài Gòn
Thầy Út bón cơm cho thầy Hệ ngày đầu tiên rời bệnh viện về nhà mình. (Hình: Lê Ðại Anh Kiệt)

Sau đó, chị Tuyết Nhung (Marie Curie) rước thầy Hệ về nhà mình chăm sóc hai tuần. Hằng ngày thầy Út chạy xe gắn máy hơn 20 phút từ nhà mình sang nhà Tuyết Nhung để tập thể dục dưỡng sinh cho bạn. Trong suốt thời gian ấy Tuyết Nhung và Bảo Nhân đã chăm sóc thầy như cha ruột.

Vào đầu Tháng Chín, có tin nhà thầy Hệ đang mở cửa, nhóm cựu học sinh quyết định đưa thầy về lại nhà. Nhưng chỉ ở đây được ba ngày, người mua nhà đã thuê côn đồ ném thầy Hệ ra đường. May mắn là khi xảy ra tranh chấp với người mới mua nhà, chòm xóm đã cung cấp cho họ số điện thoại của anh Nguyễn Hoài Ðức, cháu ruột thầy Hệ. Hóa ra, Thu Huyền còn giấu nhẹm việc thầy Hệ có cháu và giấu thông tin thầy Hệ bị bệnh với người cháu.

Các thầy và học trò cũ tiếp tục sát cánh với gia đình anh Ðức điều trị bệnh cho thầy và làm đơn tố cáo cô Huyền, đòi trả lại nhà và các giấy tờ tùy thân cho thầy.

Ba nhóm cựu học sinh của ba ngôi trường khác nhau đã quần tụ thành một nhóm. Những thầy đồng nghiệp của thầy Hệ trở thành thầy của cả ba nhóm cựu học sinh. Họ tự giác chia sẻ công việc dưới sự bảo ban của các thầy, những việc quan trọng đều xin ý kiến các thầy.

Anh Trần Ngọc Bách và Nguyễn Thanh Phong (Kiến Tường) chuyên trách đưa đón thầy Bùi Quang Hân và Nguyễn Văn Út, Nguyễn Ngọc Long trong mỗi lần hội họp. Chị Tuyết Nhung (Marie Curie) dù là giám đốc doanh nghiệp tư nhân, hào phóng đảm nhận hầu hết các chi phí cho thầy Hệ nhưng nhất nhất mọi việc đều trao đổi với các anh Bách, Phong hoặc anh chị Quang Tuấn, Thủy Anh (Kiểu Mẫu) như một người em út trong nhà.

Tình thầy trò, đồng nghiệp nồng ấm đất Sài Gòn
Từ trái: thầy Út, thầy Long, thầy Hân và anh Bách – những thầy trò từ ba trường khác nhau trở thành thân thiết. (Hình: Lê Ðại Anh Kiệt)

Ngay với các cựu học sinh đang định cư ở nước ngoài như Bình Phương, Phú (Marie Curie) cũng thường xuyên liên thông với Bách, Phong. Chỉ cần một người có thông tin là cả nhóm đều biết tin. Do uy tín và tình cảm của thầy Hệ sâu đậm với nhiều thế hệ cựu học sinh nên điều đáng ngại nhất là việc lợi dụng danh nghĩa và hoàn cảnh thầy Hệ để trục lợi.

Thực tế đã xảy ra. Một thanh niên tự xưng là công an viết giấy cam kết sẽ trả lại nhà trong vòng một tháng. Nhưng trước sự nhạy cảm của các cựu học sinh, họ đã giăng bẫy và báo tin cho công an quận 10 để bắt khi người này kèn cựa ra giá số tiền 15 triệu đồng.

Chuyện ông thầy bị lừa chiếm nhà rõ mười mươi nhưng với nền tư pháp Việt Nam sự vụ cứ đong đưa từ công an quận này sang quận khác mà không ai xử lý. Các cựu học sinh lại họp nhau tìm cách.

Trực tiếp tham dự hai cuộc họp của nhóm cựu học sinh, tôi bàng hoàng xúc động thấy mình như lạc trở về không gian của lớp học thời trung học 40 năm về trước. Từng anh chị, trong đó nhiều người đã là thầy giáo về hưu như Quang Tuấn, Thủy Anh (Kiểu Mẫu), Hòa, Bách, Phong (Kiến Tường) lần lượt trình bày với các thầy phần việc của mình và các đề xuất. Phần các thầy cũng hiền hòa khoan ái nhưng không thiếu trang nghiêm mực thước răn dạy dù đó là học trò của bạn mình.

Tôi như ngấm mãi lời dạy của thầy Bùi Quang Hân nói với cả ba nhóm trong cuộc họp ngày 18 Tháng Chín, 2016: “Ở đây có các em là cựu học sinh thế hệ 1963-1964 đến nay đã hơn 50 năm vẫn giữ tình cảm với thầy Hệ như thế thật đáng quý. Trên đời này hiếm có người hạnh phúc như thầy Hệ. Thay mặt bạn mình, thầy cám ơn các em. Với thầy Hệ chúng ta có ba việc cần lo là điều trị phục hồi sức khỏe, có chỗ trú ngụ an toàn, và đòi lại tài sản. Hai việc trước đã ổn, việc pháp lý thầy không rành tùy các em trù liệu. Nhưng thầy nhắc nhở việc thông tin chia sẻ chuyện thầy Hệ, phải chọn đúng người, đúng chỗ, thái độ cho đúng. Trên mạng, có một vài em bàn chuyện này như đàm tiếu chuyện tò mò là không nên, có em lại ‘like.’ Có gì vui mà ‘like’ chứ!”

Lời nói ngắn nhưng là tầm nhìn, tấm lòng của nhà mô phạm. Thầy Hân không chỉ chăm sóc bảo vệ sức khỏe, tài sản mà còn giữ gìn cho bạn cả giá trị tinh thần, danh dự, uy tín của người thầy.

Nguoi-viet.com

Posted in Miền Nam sau 30-4-1975, Miền Nam trước ngày 30-4-1975, Sách-Hồi Ký-Bài Báo... | Leave a Comment »

►Ly Rượu Mừng giữa cuộc bể dâu (Tuấn Khanh, viết từ Sài Gòn)

Posted by hoangtran204 trên 31/01/2017

Nhạc sĩ Tuấn Khanh, viết từ Sài Gòn
30-1-2017
 

Hình bìa nhạc phẩm Ly Rượu Mừng của Phạm Đình Chương in trước 1975.

Hình bìa nhạc phẩm Ly Rượu Mừng của Phạm Đình Chương in trước 1975.

Mùng một Tết Đinh Dậu, trong một buổi chiều xuống, thành phố như tan vào một dấu lặng thanh thản, tôi chợt nghe bài Ly Rượu Mừng của nhạc sĩ Phạm Đình Chương vang lên.

Rót đầy mơ ước tự do

Giai điệu như ngọn gió xuân dịu dàng, đáp xuống mái hiên của các ngôi nhà cao tầng, len vào từng căn phòng nhỏ, chảy vào trong tim người giữa mùi hương trầm nhè nhẹ.

Ly Rượu Mừng lại vang lên, bất hủ, rót thật đầy vào không khí đón Tết trong lòng người bao thế hệ.

Bấm vào đây để nghe bài hát Ly Rượu Mừng

Bài hát như nói thay giấc mơ của nước Nam về một tương lai mới, mà con người khát khao biết mấy về một tương lai sẽ được tắm trong tự do và an bình.

“Nhấc cao ly này. Hãy chúc ngày mai sáng trời tự do”

Bài hát mơ về tự do đó, đã bị giam cầm hơn 41 năm. Chỉ mới năm ngoái, khi những câu hát này vang lên trong ngỏ hẻm, bên ly cà phê vỉa hè, khe khẽ trên môi những người yêu nhạc… cũng đồng nghĩa với thái độ chống lại Nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam, vì đó là một bài hát nằm trong danh sách bị đóng dấu cấm.

Như một giấc ngủ dài đến mức quên thức dậy, bất chợt một ngày, người ta hay tin bài hát Ly Rượu Mừng đã không còn bị cấm nữa. Chuyện được nghe, được hát Ly Rượu Mừng chỉ như điều thoảng qua tai, mà lý do cấm hay không còn cấm đều mơ hồ như nhau.

Vì bởi không cần việc nhà cầm quyền cho phép, những con người Việt Nam vẫn hát và vẫn lắng nghe nó từ Nam chí Bắc, thản nhiên, từ rất lâu rồi.

Tung hô sau 41 năm cấm đoán

Trên các trang báo nhà nước, người ta dễ dàng tìm thấy trong lúc này các bài viết tung hô việc thôi cấm đoán bài hát Ly Rượu Mừng, với cách nói như là một sự “giải oan”.

Ở nơi đâu đó, nhạc sĩ  Phạm Đình Chương và những tiền nhân ắt hẳn đã nhìn nhau bật cười, “oan gì mà giải”? Những người đã đóng góp và xây dựng nên đất nước này từ bao đời nay, từ Nguyễn Ánh, Phan Thanh Giản, Phạm Quỳnh… cho đến Phạm Đình Chương nếu có nỗi niềm gì, có lẽ cũng chưa cần đến sự lên tiếng đơm đặt của những người dựa trên tinh thần chủ nghĩa cộng sản.

Nếu có phán xét, đó là quyết định và quyền của nhân dân Việt Nam trên tinh thần chủ nghĩa dân tộc chứ không phải là một hệ thống kiểm duyệt văn hóa dựa vào tư duy chính trị ngoại bang, của Mác hoặc Mao.

Trong câu chuyện về bài hát Ly Rượu Mừng, thật buồn cười khi nhìn lại cách thức của chế độ kiểm duyệt văn hóa được kiểm soát kiên trì ở Việt Nam từ bao nhiêu năm nay.

Những người có trách nhiệm luôn luôn giỏi trong các vai diễn lố bịch của mình: khi cấm thì cao giọng với đủ lý do quan trọng tầm ruồng, nhưng khi ngừng cấm thì cũng giỏi trình diễn sự nhân đạo hay cao cả  vô nghĩa nào đó.

Vẫn còn là ước mơ…

Dù không còn bị cấm, nhưng ước mơ trong bài hát Ly Rượu Mừng, về tự do và bình đẳng, dường như vẫn còn quá xa vời.

Sau năm 1975. Sách vở của miền Nam bị đốt, bị cấm. Hàng ngàn bài hát bị đưa vào song sắt. Con người và tri thức miền Nam Việt Nam bị phế bỏ hoặc bị tước đoạt các giá trị của mình.

Năm 1992, ca sĩ Ngọc Sơn bị bắt và kết án tù do hát và ghi âm hàng trăm bài hát “không được cấp phép”. Nhưng rồi từ năm 2012, các ca khúc như vậy lại xuất hiện một cách bình thường trên truyền hình. Dòng nhạc bolero từ năm 1977 bị hàng trăm các bài báo, truyền hình… phê phán trong chiến dịch bài xích “một nền văn hóa đồi trụy”.

Thế rồi, hôm  nay, 2017, lại là những bài hát được các nhà sản xuất và biên tập viên xã hội chủ nghĩa săn đón và giới thiệu nồng nhiệt trên truyền hình.

Năm tôi 7 tuổi. Khi ngồi ở trước hiên nhà trên đường Trần Quý Cáp, trên tay là cuốn truyện tranh Tintin, bất ngờ tôi bị kéo giật đi bởi một nhóm người mang băng đỏ – những người của “Bên Thắng Cuộc” được lệnh truy lùng và hủy diệt sách vở miền Nam.

Ngay sau đó, nhà tôi bị ập vào lục soát. Sách kiếm hiệp của Kim Dung, truyện Quỳnh Dao, và những cuốn truyện tranh Spirou (Phan Tân Sĩ Phú), Strumpf (Xì Trum), Johan and Peewitt (Lữ Hân Phi Lục)… bị mang ra trước nhà đốt bỏ, như một trong những cuộc hành hình văn hóa đang diễn ra khắp nơi lúc đó.

Rồi 20 năm sau, tôi lại nhìn thấy những cuốn sách đó được phát hành với những lời giới thiệu trân trọng đến mức có thể tạo nên những nụ cười mỉa.

…sáng trời tự do

Bài hát Ly Rượu Mừng vang bên tai tôi, khiến gợi nhớ biết bao điều. Nhớ những tác phẩm văn học miền Nam bị đem ra đấu tố như những tội đồ.

Nhớ những nhạc sĩ miền Nam im lặng nhìn nhau, nói nhỏ về những tác phẩm của mình đang bị xé bỏ.

Nhớ những thế hệ Việt Nam bị kết tội vì nhân thân, đã không được vào đại học, đã vào trại tù cải tạo…

Hôm nay, mọi thứ như đang tốt dần lên. Có người nói với tôi rằng Ly Rượu Mừng được xóa án là một niềm vui của đổi mới. Nhưng tôi thì thấy đó là một trong những lần chùi rửa vội vàng của bộ máy kiểm duyệt, nhằm che bớt đi sự thù hằn và đen tối trên gương mặt, để có thể bước vào thế kỷ văn minh.

Bấm vào đây để nghe bài hát Ly Rượu Mừng

Bài hát chúc một non sông thanh bình, khiến ai yêu nước Việt cũng đều thấy day dứt. Ly Rượu Mừng xuân được nâng lên vào thời khắc này, xao xuyến nhắc quê hương đang đứng trước cuộc bể dâu khôn cùng bởi những kẻ tham tàn và bọn phản bội.

Giấc mơ một ngày mai sáng trời tự do lại dậy lên trong lòng tôi về một ngày mai sáng trời tự do. Mong tổ tiên dẫn lối dân tộc này. Ngày ấy, ắt phải đến.

Tuấn Khanh, Sài Gòn Tết Đinh Dậu. 2017

*Nội dung bài viết không phản ành quan điểm của RFA

Posted in Bắt bớ-Tù Đày-Đánh đập-Đàn Áp, Chinh Tri Xa Hoi, Miền Nam sau 30-4-1975 | Leave a Comment »

►Thương Phế Binh VNCH – Họ là ai?

Posted by hoangtran204 trên 01/01/2017

..

Lê Văn Sơn

“Bên nhau đi nốt cuộc đời” là chủ đề chính trong chuỗi ngày tri ân Thương Phế Binh. Tôi may mắn được dìm mình vào các hoạt động thuộc khu vực dành cho các tình nguyện viên trợ giúp các Thương Phế Binh việc đi lại để họ dễ dàng hơn khi đến tham dự chương trình. Từ sáng sớm đến chiều tối, hàng ngàn TPB từ khắp nơi lũ lượt đưa nhau tới vui như trẩy hội.

15748964_391361317878730_950057597_o.jpg

 Tri Ân Thương Phế Binh VNCH tại Dòng Chúa Cứu Thế, đường Kỳ Đồng, Quận 3, Sài Gòn.

Những ngày cuối năm Bính Thân này ai có cơ hội đặt chân đến Dòng Chúa Cứu Thế Sài Gòn, (đường Kỳ Đồng, Quận 3), thì cảm nhận được một suối nguồn tình yêu đang chan chứa nơi đây. Đó là một thứ tình yêu diệu vời nối kết con người của các thế hệ, của nhiều tầng lớp, cả Nam – Bắc Việt Nam. Sự liên đới này được tỏ hiện qua chương trình Tri ân Thương Phế Binh Việt Nam Cọng Hòa mà Dòng Chúa Cứu Thế đang tổ chức từ 27 đến 30 tháng 12 năm 2017.

Họ là những người lính Việt Nam Cộng Hòa đã bị lãng quên từ sau năm 1975 khi cộng sản miền Bắc đặt quyền bính tại miền Nam. Họ là những người đui mù, cụt tay, mất chân, câm điếc…vì chiến tranh, họ đã để lại nơi xa trường một phần thân thể của mình. Tất cả họ đều chiến đấu vì Tổ Quốc Trên Hết, thế nhưng, lịch sử do người cộng sản viết nên lại biến họ trở thành “ngụy quân”.

 

Với sự tuyên truyền từ bộ máy cai trị của cộng sản Bắc Việt đã khiến cho biết bao thế hệ trẻ bị tê liệt não trạng, đã đẩy những con người Việt Nam miền Nam vào những trạng thái đau khổ và tồi tệ. Cộng sản VN đã tạo nên một xã hội Việt Nam trước và sau 1975 đầy nghi kỵ và dối trá, con người trở nên bất nhân với nhau nhiều hơn, và hàng chục ngàn TPB Việt Nam Cộng Hòa là những nạn nhân thực thụ.

Tôi ngắm nhìn từng khuôn mặt khắc khổ, từng thước da đen sạm, từng vết thương hằn sâu, chứng kiến từng sự khó khăn trong sinh hoạt khi đi lại hay lúc vệ sinh của họ mới thấy hết được những đau đớn cả về thể xác và tinh thần mà họ đã, đang phải gánh chịu.

Một bác hơn 70 tuổi ngồi xe lăn, người Sài Gòn, bác rất lịch sự, nhã nhặn, tôi đẩy bác di chuyển đi lại vào nhà vệ sinh, bác đứng không vững, bác hết lời cám ơn tôi. Bác nói về những trận binh biến đã qua mới thấy được tấm lòng của bác đối với anh em cùng trang lứa ngoài Bắc. Bác nói: “ Cộng sản rất tàn ác. Nhưng tôi vẫn yêu mến những người lính bên kia chiến tuyến, họ cũng là dòng máu Lạc Hồng, cũng là anh em của mình. Trong đời lính tôi đã nhiều lần nhiều cách giúp những lính bại trận miền Bắc được sống và đối xử với họ nhân đạo”.

15750314_391367507878111_1151619893_n.jpg

 Paulus Lê Sơn đang đẩy xe lăn

Bỗng nhiên tôi nhớ đến một người lính Bắc Việt mà tôi đã từng trò chuyện, ông này nói rằng: “ Dù trong chiến đấu sinh tử nhưng người lính VNCH họ có cái nhân tâm lớn, trong số những người tôi được tiếp xúc thì họ là người có trí thức, lòng yêu nước và hiểu biết. Tuy nhiên, quá khứ đã đi vào lịch sử, khi đó buộc chúng tôi phải cầm súng bắn họ, nếu thời gian quay trở lại thì chúng tôi sẽ không bao giờ làm con thiêu thân để huynh đệ tương tàn như xưa nữa”.

Trên khóe mắt nhăm rúm của nhiều người lính già VHCH đang hiện diện hôm nay có những giọt lệ thâm sâu. Những giọt nước mắt của niềm hạnh phúc và ấm áp tình người. “ đã lâu lắm, lâu lắm rồi đấy anh bạn trẻ ạ, chúng tôi mới có được cảm nhận của tình yêu thương mà mọi người đem lại cho chúng tôi” –một bác cầm tay tôi bày tỏ. Khóe mắt tôi cay xè cùng sự ấm áp của hai bàn tay, hai thế hệ, hai miền Nam Bắc.

 

Những người lính già nua này vẫn thể hiện được cái tinh hoa của tuổi trẻ, sự tài tử, hào hoa và phong lưu qua những bài hát về đời lính, qua sự hứng khởi nhún nhẩy theo nhịp đàn, tiếng hát, sự reo hò vui tươi sau những lời nói đượm chất hài hước. Là người lính nhưng họ không khô khan, không sắt máu, không lạnh lung. Dù thời gian có lùi xa vào dĩ vãng, dù bị kiềm hãm, chôn vùi, nhưng những đức tính của họ có lẽ không bị mai một, mất đi.

Là một người trẻ chìm mình vào với các TPB VNCH. Tôi thiết nghĩ, lịch sử phải trả lại cho họ sự thật, xã hội phải trả lại tên cho họ đúng nghĩa, họ xứng đáng được xã hội tôn trọng và tri ân. Mười người lính già đều trả lời như một: “Chúng tôi chiến đấu để bảo vệ tổ quốc Việt Nam, Tổ Quốc Trên Hết, chiến đấu vì tự do và nền dân chủ của Tổ Quốc”, trước câu hỏi của tôi: “Các bác đã chiến đấu vì cái gì?”.

Paulus Lê Sơn

______

Mọi đóng góp để tri ân người lính Việt Nam Cọng Hòa xin liên lạc và gởi về đây:

Bài mới đăng

http://www.tinmungchonguoingheo.com/?p=16135&preview=true

Trên facebook: Nguyễn Huyền Trang

 

Posted in Cái giá của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc”., Chien Tranh Viet Nam, Miền Nam sau 30-4-1975 | Leave a Comment »

►Chúng tôi có bị sỉ nhục không?

Posted by hoangtran204 trên 24/09/2016

FB Ngô Nhật Đăng

23-9-2016

Hôm rồi café Sài Gòn. Bạn bảo: Công nhận các anh ngoài đó chống cộng thật nhiệt huyết, nhưng dù sao vẫn cứ gợn gợn trong lòng. Các anh vẫn có nguồn gốc cộng sản nòi, hoặc sống chung nhiều năm với cộng sản.

Chạnh lòng nhớ tới những người quen biết, như Cù Huy Hà Vũ hay anh Ba Sàm Nguyễn Hữu Vinh (người bị xử án hôm qua)… Những tráng sỹ đang đứng giữa hai làn đạn, sự cố gắng của các anh phải gấp đôi bình thường cũng như phải chịu một áp lực gấp đôi. Mà thôi, cắt nghĩa chuyện này phải tốn rất nhiều giấy mực, chỉ thấy thì ra cái nọc độc tư tưởng (cs) ấy ghê gớm thật. Hỏi bạn vì sao lại có cảm giác ấy, bạn nói rất nghiêm trang:

– Các anh không hiểu được cái cảm giác bị nhục mạ như chúng tôi phải chịu từ sau 75.

Ra vậy, người ta có thể chịu đựng được đau đớn, nghèo đói, bệnh tật v.v… Nhưng cảm giác bị hạ nhục, phải cúi đầu nuốt cái nhục để thấy mình hèn nhát, nó thật khó chịu đựng. Khó mà quên trong suốt cuộc đời. Nhớ một lần xuống miệt vườn chơi, anh Năm tay cầm ly rượu, nước mắt giàn rụa:

– Em Đăng. Anh Năm có bằng tú tài từ trước 75. “Giải phóng” về, tay trung úy công an đập bàn trước mặt anh: “Thứ mày thì tú tài gì, không bằng lớp 2 của tụi tao”. Anh nhớ mãi.

Nhưng chúng tôi có bị hạ nhục không?

Tôi ra đời khi bà nội đã mất nhiều năm (trong cải cách ruộng đất) nên tôi không biết bà nghĩ gì khi tự sát vì bị đấu tố. Có lẽ vì bà quá thất vọng khi hôm qua những người mà bà phải cưu mang, cho ruộng đất, thậm chí mang về nhà nuôi nấng khi họ bị mồ côi…thì hôm nay họ bỗng đổi khác, xắn váy, quai cồng, mặt đỏ tía tai, miệng xùi bọt, xỉa xói vào mặt bà xưng mày tao, gọi bà là tên hút máu nông dân (Nhà tôi có khu ruộng từ hàng trăm năm trước, hoa lợi chỉ cần đủ dùng cho việc cúng tế hàng năm ở nhà thờ cụ tổ của chi họ, người đã khai phá vùng đất này. Quy định, phải luân phiên có một người con trai về coi sóc, nên ông nội tôi đang ở Pháp phải trở về).

Nhưng tôi hiểu cảm giác của bác tôi khi ông kể: Nghe tin bà, bác vội chạy về (Lúc đó ông đang dạy tiếng Pháp, văn học và triết học cho mấy tay lãnh đạo Việt Minh, kiến thức lộ cộ muốn khoác cho mình cái vẻ học thức. Bác tôi tốt nghiệp Cao đẳng Sư phạm thời Pháp, từng là học sinh giỏi nhất xứ Trung, Bắc kỳ), đến đầu làng du kích chặn lại: “Anh là cán bộ không được phép gặp con mụ địa chủ”. Ông nói thêm: “Chúng nó gọi mình bằng anh và gọi mẹ mình là con mụ”.

Tôi hiểu cảm giác của ông anh họ, khi đó lên 10. Đội (cán bộ cải cách) hỏi:

– Mày là cậu ấm (bố anh ấy làm quan) có ăn được trái mít non?

– Dạ được.

– Bây giờ phải tập ăn thêm cục cứt bò này. Lũ chúng mày từ nay phải ăn cứt.

Và đêm đó anh trốn đi khỏi làng.

Nhưng tôi không hiểu, tại sao bố tôi không bao giờ nhắc chuyện này, cho đến năm tôi 20 tuổi ông mới nói: “Con phải nhớ, bà nội con bị chết trong CCRĐ”. Và, mãi sau khi ông chết, chú tôi mới kể:

“…Bố mày về, câu đầu tiên: ‘Mẹ đâu?’, chú khóc chỉ lên bàn thờ. Ông ấy đổ vật xuống, nằm lỳ trong nhà 7 ngày không ra khỏi cửa, ngày thứ 8 lôi trong ba lô ra cái áo bông và cái áo len mua về cho mẹ, chặt nhỏ, châm lửa đốt rồi đi thẳng, mấy chục năm không thấy quay trở về”.

Chúng tôi có bị hạ nhục không?

“Anh là cộng sản nòi” – Câu đó đúng là sỉ nhục thật, nhưng tôi không thanh minh. Một ông tướng QĐND, nguồn gốc bần cố nông, có câu nói nổi tiếng:

– Tiểu tư sản 10 năm lên 1 cấp là nhanh. Bần cố nông 1 năm lên một cấp là chậm.

Bố tôi, học xong Lục quân năm 1950 (pháo binh), khi phong quân hàm là trung úy, sau 30 năm quân ngũ đúng là lên được 3 cấp. Vẫn nhanh.

Chúng tôi có bị sỉ nhục không?

Chắc những thế hệ này vẫn còn nhớ, bị ghi lý lịch “con cái ngụy quân, ngụy quyền”, bị gọi là bọn “xỏ nhầm giầy”, đừng mơ học đại học ngoài 2 trường bị coi rẻ là Nông nghiệp và Sư phạm. Một người chị tôi quen, con gái phố Hàng, xinh đẹp, dịu dàng. Chị học Sư phạm, ra trường phải đi miền núi, tay cán bộ phòng giáo dục (bần nông quê Nghệ An) hứa lo cho chị ở lại Hà Nội với điều kiện… lấy hắn. Chị ở nhà đan len, phụ cha, một nhạc sỹ tiền chiến dạy nhạc lý cho chúng tôi mỗi mùa hè khi chúng tôi đến học guitare ở nhà ông.

Chúng tôi có bị sỉ nhục không?

Khi vào lính để “bảo vệ Tổ quốc”, chúng tôi vẫn nằm trong diện “25 đối tượng cần sưu tra”. Số phận chắc chắn sẽ là nằm trên chốt tuyến đầu nơi hòn tên mũi đạn.

… còn nhiều lắm.

Vì thế bạn ơi, khi miền Nam “được giải phóng”, chúng tôi ngoài kia đã biết các bạn sẽ phải chịu đựng những gì. Thông cảm và thương thầm vì biết sẽ khó hơn chúng tôi, các bạn đã được sống qua một thời có nền dân chủ.

Rồi chúng tôi cũng có chút ghen tị, các bạn còn được thế giới biết đến và lên tiếng, các bạn còn có con đường thoát đó là vượt biển với giá đắt, còn được những bàn tay giơ ra giúp đỡ.

Còn chúng tôi, lúc đó chúng tôi biết kêu ai? Và ai nghe thấy? Những người vượt bức màn tre đến được với chúng tôi hóa ra lại là những kẻ như cô minh tinh Mỹ có biệt danh “Jane Hà Nội”. Và chúng tôi biết vượt đi đâu? Một người bạn tôi, mới hơn 2 tuổi, ngồi bên xác mẹ bên bờ sông giới tuyến. Bà ôm con định trốn vào Nam, bị bắn chỉ vì trong người mang nhiều vàng bạc. Sau thời hạn di cư năm 54, vẫn còn nhiều người tìm cách trốn vào Nam nhưng số phận của họ đều như vậy. Đến bây giờ, tóc đã hoa râm, bạn tôi vẫn đau đáu nỗi niềm không biết mẹ của cô hiện nằm ở nơi nào.

….. 

Vì thế chúng tôi chống cộng, không oán thù cá nhân mà căm thù cái nọc độc tư tưởng ấy. Chúng tôi chống một cách tuyệt vọng, đôi lúc cô đơn nhưng không khi nào hết kiên nhẫn. Chúng tôi chống nó chỉ biết bằng cách trục cái nọc độc đó ra khỏi tâm hồn mình, ra khỏi những người thân yêu của mình và hy vọng biết đâu trục nó ra khỏi tâm hồn người khác. Từ bé tôi đã thề: “Không vào đội, vào đoàn, vào đảng, không đi làm cho nhà nước”. Bây giờ, gần hết cuộc đời, kiểm điểm lại tôi tự hào là mình đã làm được và càng tự hào khi con mình cũng đang làm được.

Hôm qua trước phiên tòa anh Vinh Ba Sàm cũng nói: “Tôi tự hào…”

Chắc bạn đã hiểu vì sao, người bạn Sài Gòn.

_________________

Ngoài mặt thì họ hạ nhục, nhưng trong lòng thì họ có mặc cảm thua sút. Những cán bộ, đảng viên, bộ đội, công an,… có mặc cảm thua sút (về học lực, văn hóa, nếp sống, văn minh,) với dân chúng VNCH ngay sau khi vào Sài Gòn 1975. Nên ngay sau 1976, họ đi học bổ túc văn hóa.

Đặc biệt, đầu thập niên 1990, đảng CSVN đã ra nghị quyết, theo đó, các đồng chí nào thuộc diện cơ cấu lên làm lãnh đạo cơ quan, xã, phường, quận, huyện, tỉnh, thành, bộ đội, công an, bệnh viện, trường học, các bộ, cục,… đều phải có bằng cấp đại học. Thế là nở rộ phong trào mua bằng cấp, học bổ túc, tại chức, để có văn bằng đại học, luật sư, thạc sĩ, tiến sĩ, và phải có hàm phó giáo sư, giáo sư… chuyện này ông trung tướng Võ Viết Thanh tiết lộ một đoạn nào đó trong bài  (rất dài)  Tướng Giáp trong “Bên Thắng Cuộc”- Vụ án Năm Châu -Sáu Sứ 1991.

Kết quả của nghị quyết đầu thập niên 1990s này là đẻ ra chuyện “lò ấp tiến sĩ, phó tiến sĩ, giáo sư tiến sĩ, tiến sĩ luật sư, tiến sĩ bác sĩ, luật sư…”… đến nổi giờ đây, nếu cán bộ lãnh đạo quận, huyện, công an, bộ đội, cơ quan, doanh nghiệp, các bộ, cục, bệnh viện… nào mà không có các bằng cấp phẩm hàm này nọ như trên thì thuộc loại quí và hiếm. Đến ngay như thủ tướng ba X cũng biến thành luật sư, Nguyễn Chí Vịnh thành giáo sư tiến sĩ, và Trần Đại Quang, và Tô Lâm cũng không ngoại lệ. Đến ngay chị Kim Ngân cũng không ngoại lệ. Nhưng dẫu bằng cấp cở nào đi nữa, thì văn hóa thể hiện ra ngoài khi xem video chị và Obama cho cá ăn và đọc những lời chị tuyên thệ, thì mới biết thực chất ra sao. 

 

 

Posted in Chinh Tri Xa Hoi, Miền Bắc trước 30-4-1975- Đời Sống Cư Dân Đô Thị, Miền Nam sau 30-4-1975 | Leave a Comment »

►Nghệ sĩ Kim Tuyến: “Tôi chọn tự do và không hối tiếc”

Posted by hoangtran204 trên 29/08/2016

Nghệ sĩ Kim Tuyến: “Tôi chọn tự do và không hối tiếc”

28-8-2016

Tuấn Khanh, nhạc sĩ.

 
Nữ nghệ sĩ Kim Tuyến
(Tuấn Khanh) Tình cờ gặp được chi Kim Tuyến, một trong nghệ sĩ tài danh của giới biểu diễn miền Nam trước 1975. Dù ở trong các tuồng diễn của gánh hát Kim Chung hay Dạ Lý Hương, thì cái tên Kim Tuyến luôn đứng cùng với Hùng Cường, Tấn Tài, Thanh Hải… Khán giả của thập niên 60 luôn đánh giá tài năng của chị không khác gì Ngọc Giàu, Bích Sơn, Phượng Liên, Thanh Thanh Hoa…  Giọng hát và lối trình diễn của chị là sự thu hút đặc biệt trên sân khấu của Sài Gòn. Nhưng có lẽ cũng vì vậy mà chị gặp không ít khó khăn sau tháng 4-1975 bởi chọn lựa của mình.
Tháng 7/2016, chị Kim Tuyến có kể về cuộc gặp giữa chị và nghệ sĩ Kim Cương. Giữa trùng phùng đó, người nghệ sĩ của Little Saigon đã bất ngờ bật ra câu hỏi với nghệ sĩ Kim Cương rằng vì sao bà lại là một cán chính nằm vùng.
Câu hỏi đó, cũng bật tung cánh cửa quá khứ, mở ra những điều âm ỉ chưa ai nói hết. Lịch sử ghi lại vô số những dữ kiện lớn lao, nhưng đôi khi vẫn thiếu những câu chuyện đời mà khiến ai nấy đều phải trầm ngâm suy nghĩ.
Ngày chiến tranh ấy xa rồi, nhưng có những vết thương không bao giờ có thể lành.
Về nghệ sĩ Kim Cương, thật mới mẻ khi nghe kể lại qua lời của một đồng nghiệp – mà hơn nữa là mặt đối mặt chứ không phải là chuyện thêu dệt. Trong chuyện kể ấy, nghệ sĩ Kim Cương đã ngại ngùng ra đi, để tránh phải trả lời nghệ sĩ Kim Tuyến. Cuộc đời, quả thật khó ngờ hôm nay và mai sau. Cũng ít ai biết, trong những tháng ngày của chế độ mới, nhiều người kể rằng nếu không có ông Võ Văn Kiệt lên tiếng bênh vực thì bà Kim Cương cũng đã gặp nhiều búa rìu từ các cán bộ bảo thủ thâm căn – coi bà Kim Cương cũng cùng một loại “văn hóa đồi trụy”, không nên sử dụng trong chế độ XHCN.
Cám ơn chị Kim Tuyến, một nghệ sĩ tài danh và là một người thẳng thắn kể lại mọi thứ trong bài phỏng vấn dưới đây. Những gì chị nói ra, sẽ là phần tham khảo sống động nhất cho thế hệ mai sau về sân khấu, con người và cuộc đời của Sài Gòn trong ký ức của những ai yêu thương nơi chốn ấy.
Tôi giữ lại câu chuyện  này với sự tôn trọng người kể, với tư cách hậu bối, và cũng sẳn lòng dành thời gian với với những ý kiến cải chính khác gửi đến, trong tinh thần sẳn sàng rộng đường dư luận. Trân trọng.
Tuấn Khanh
(28-8-2016)
 
Thật bất ngờ khi gặp lại chị ở Mỹ, đặc biệt là qua trường hợp chị nói rất thẳng thắn với nghệ sĩ Kim Cương, về những hoạt động không có tính cách văn nghệ của bà. Có vẻ như còn rất nhiều thứ về cuộc đời mình mà chị chưa có dịp chia sẻ với khán giả. Nếu không bất tiện, chị có thể cho biết sau ngày 30-4-1975, cột mốc của đời chị đã như thế nào?
Kim Tuyến: Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, theo lời kêu gọi của Đài Phát Thanh Sài Gòn (quân cán chính phải đến trình diện), tôi đến sở làm là Tiểu Đoàn 50 Chiến Tranh Chính Trị trình diện. Đến nơi tôi thấy một đống rác khổng lồ ngay lối cổng ra vào và đầy cả trong sân. Bỗng có người nói: “Không phải ở đây mà phải trình diện ở Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị ở đường Thống Nhất”.
Đến Tổng Cục CTCT, anh Vân Sơn (ban AVT) giúp tôi lấy tờ đơn khai lý lịch từ một cán bộ cộng sản đưa cho tôi. Tôi đang điền vào thì một cán bộ khác bước ra nói: “Các ban nhạc trong Nam này chỉ có vài nhạc công, ngoài Bắc chúng tôi có cả trăm nhạc công ấy”. Tôi hơi bực nói : “Nhưng sao ca sĩ các anh hát giống tiếng Tàu quá, chỉ nghe chí chí chéo chéo không hà, chúng tôi không hiểu gì cả”.
Nhìn vào tờ khai lý lịch, tôi nhanh trí điền vào hai chữ “tài xế” ở phần nghề nghiệp. Xong mọi thủ tục, anh Vân Sơn đưa tôi đến trước cổng Ban Văn Nghệ Hoa Tình Thương và Biệt Đoàn Văn Nghệ Trung Ương. Anh Vân Sơn chào từ giả với gương mặt thật buồn. Về sau tôi được tin anh Vân Sơn đã nhảy xuống sông Thị Nghè tự tử vì bất mãn với chế độ.
Sau đó theo lời kêu gọi của chị Kim Cương, tôi đến họp tại Hội Nghệ Sĩ. Rất đông các cô chú và anh chị nghệ sĩ tân cổ tụ tập bên hông trụ sở và phía sân sau. Khi thấy tôi và nghệ sĩ Tùng Lâm ngồi trò chuyện, chị Kim Cương ngồi xuống bên cạnh tôi. Tôi nói “Chị ơi em buồn quá”. Chị Kim Cương  kéo đầu tôi ngả vào vai chị, một tay vuốt tóc  vỗ về: “Đừng buồn em, chị em mình rồi sẽ được giải phóng ra khỏi bốn bức tường”. Tôi sững sờ nhìn chú Tùng Lâm. Chị Kim Cương nói lớn“Mọi người vào trong, đến giờ họp. Chị nắm tay tôi, kéo tôi theo chị vào phòng họp. Chị ngồi vào đầu bàn chủ tọa. Chị dõng dạc tuyên bố: “Ngày xưa bọn Thiệu Kỳ bán nước còn hiện diện trên quê hương ta, tôi phải núp dưới danh nghĩa Làng Cô Nhi Long Thành. Hôm nay chúng ta đã đánh cho Mỹ cút Ngụy nhào. Tôi ra lệnh cho anh Nguyễn Đức (nhạc sĩ) lập những tiểu tổ để chúng ta thành lập Biệt Đội Văn Nghệ …”. Chú Tùng Lâm nghiêng đầu nói nhỏ vào tai tôi: “Tuyến, khóc nữa đi con, mầy khóc nữa đi con”.
Tôi thất vọng não nề. Trong khi chị Kim Cương thao thao bất tuyệt, tôi không còn nghe hay không muốn nghe gì nữa cả. Trời ơi, thần tượng sụp đổ ! Kim Cương là Việt Cộng nằm vùng đã giúp cho cộng sản cướp đoạt miền Nam, áp bức bóc lột người dân, đưa đất nước đến chỗ sắp bị diệt vong, mà sao lại dám nói là mình yêu nước ???
Vài tuần sau, tôi gặp bác Bảy Nam, mẹ của chị Kim Cương, đi xích lô máy ngừng trước nhà. Thấy tôi Bác hỏi : “Kim Tuyến, con đi đâu đây?”. Tôi chào Bác và trả lời “Dạ, đây là nhà con”.Bác nói tiếp: “Bác vào thăm ông Trần Tấn Quốc, vì nghe ổng sắp dọn về Cao Lãnh ẩn dật. À, con có nhận được thơ của chị Kim mời con tham gia ban kịch không? Chị Kim thích con đóng kịch với chị lắm. Ngày phát role (*chọn người vào vai) chị Kim chờ con quá trời”. Tôi chỉ còn biết đáp: “Dạ…Dạ…tại con bịnh”.
Sau đó mấy ngày Má Bảy Phùng Há nhắn tôi đến nhà. Bà mặc áo dài chờ tôi, Bà cho biết Bà muốn đưa tôi lên Sở Thông Tin Văn Hóa trình diện để hát cho đoàn Sài Gòn 1 với nghệ sĩ Thành Được. Trước đó tôi luôn được Má Bảy mời hát chánh cho ban cải lương Phụng Hảo và Vân Kiều trên TV với anh Thanh Sang, và lần sau cùng với anh Thành Được tuồng Cạm Bẫy Đô Thành của soạn giả Ngọc Điệp. Má Bảy bảo tôi về thay áo dài cho đàng hoàng,“cách mạng không thích ăn mặc như vậy đâu con”, vì tôi đang mặc quần ống loa và áo thun màu vàng  với chữ Have a nice day, áo bỏ trong quần, đeo dây belt to tướng. Tôi chào Má Bảy, trở về nhà tôi, và trốn luôn Má Bảy.
Nhưng rồi sau 1975, chị có tiếp tục sinh hoạt văn nghệ bình thường không? Những ngày đó như thế nào?
Sau ngày 30/04/1975, văn nghệ sĩ, nhạc sĩ miền Nam hầu như thất nghiệp hết. Cứ một hoặc hai ngày là có ba người bộ đội mang dép râu đi vào nhà tôi, ngang nhiên đi từ trước ra sau, rồi ngồi chồm hỗm trên salon và nói là “Chúng con đến thăm Mạ (Mẹ tôi)”. Lần lượt cán bộ, rồi tới  ‘Cách Mạng 30’ (*thành phần hưởng ứng với chế độ mới ngay sau ngày 30-4) kéo tới nhà tôi kêu gọi tôi tham gia. Họ bảo:“Chị là nghệ sĩ nên sẽ có tác động lớn đối với quần chúng, chị sẽ ca hát và hướng dẫn quần chúng. Mới giải phóng nên cách mạng còn nghèo. Chúng tôi sẽ cấp cho chị một chỗ ngủ nghỉ tại trụ sở ngoài đường Lê Quang Định, nơi chúng tôi tịch thu của bọn bám chân đế quốc Mỹ, chúng tôi cung cấp cho chị một bữa ăn cho một ngày… “.  Tiền lương thì không có.
Họ yêu cầu tôi theo họ ra Quận và định chở tôi bằng xe đạp. Tôi bảo họ cứ đi trước, tôi sẽ chạy xe theo. Quận của họ là bãi đất trống ngay ngã 5 Bình Hòa. Một nhóm người, già trẻ bé lớn đứng bao quanh một thanh niên nhỏ con, ốm nhách đang ôm cây đàn, vừa hát vừa chỉ dẫn tất cả hát và diễn tả bằng chân: “Ta lên giây đàn… từng tưng…”. Mọi người nhìn theo anh nầy, cùng hát cùng co chân, đưa đầu gối cao ngang bụng, hai tay cũng làm bộ như đang cầm cây đàn. Tôi thầm nghĩ “trình diễn kiểu gì mà giống như một bầy khỉ đột vậy?” Tôi cảm thấy xấu hổ cho cậu thanh niên, và tội nghiệp cho những người dân đang bị bắt làm những trò quái đản. Mặt tôi nóng bừng, tay chân tôi lạnh, chắc là bị lên máu. Tôi nói với anh cán bộ là tôi bị bệnh rồi và tôi phải về nhà chữa bệnh gấp.
Cả xóm nhà vùng tôi ở rất bực mình vì những cái loa tuyên truyền láo khoét. Mới hừng sáng loa phát rùm lên kêu mọi người thức dậy tập thể dục, nghe rất chói tai nhức óc. Có lần họ cho người đến từng nhà trong xóm kiểm kê xem nhà có cầu tiêu không? Loại nào? Ngồi bàn hay ngồi chồm hỗm có cái lỗ ?…
Hoàn cảnh chị thì như vậy, nhưng bạn bè quen biết trong nghề thì thế nào? Họ có gặp những nghịch cảnh như chị không hay mọi thứ dễ dàng hòa nhập hơn?
Tôi có người bạn tên Mai, nhà chị ở đường Ngô Tùng Châu, Gia Định. Một dịp tôi đến nhà chị thì thấy một nhóm công an phường ngồi đầy nhà. Chị nói nhỏ với tôi là họ ngang nhiên vào nhà, họ còn tự động lấy thức ăn trong tủ lạnh. Tôi bênh bạn nói: “Chị này ở một mình, không có chồng, tại sao các anh tự nhiên vào nhà người ta vậy?”  Họ đáp “À, thì chỉ là đến thăm chị Mai thôi”. Tôi chợt nhớ đến chị bạn có chồng nhạc sĩ cổ nhạc đang là quân nhân của Biệt Đoàn Văn Nghệ Trung Ương và đang có nhà trong khu gia binh, tôi hỏi: “Mấy gia đình vợ con lính VNCH sống trong trại gia binh, bây giờ có được tiếp tục ở không?”.  Tên Ba Tấn, mặt mày gian ác, trả lời: “Chúng đã tiếp tay  cho bọn Thiệu Kỳ bán nước, chúng không có quyền ở”. Tôi hỏi: “Vậy ai sẽ ở?”.Hắn đáp: “Chúng tôi, những người có công với cách mạng”.Tôi nói tiếp: “Theo tôi, các anh là cách mạng giải phóng miền Nam, nên dành những căn nhà đó và các biệt thự của cái bọn mà các anh cho là bám chân đế quốc Mỹ bỏ lại, đem cấp cho các người nghèo khổ đang ở gầm cầu xó chợ. Còn các anh nên che chòi ở, thì dân chúng sẽ phục các anh vô cùng. Các anh vào ở các nhà này tôi e dân chúng sẽ nghĩ lầm về cái từ giải phóng của các anh. Còn xe tăng, xe nhà binh, máy bay của đế quốc Mỹ bỏ lại, các anh nên bắt chước Campuchia đốt bỏ hết đi, đừng nên xài bất cứ cái gì của Mỹ Ngụy để lại”.
Ba Tân tức giận gọi đồng bọn. Mấy chiếc xe mô tô hụ còi rầm rộ chạy đến, chĩa súng bắt tôi giải đi về phường. Đến chiều, một thanh niên trẻ ôm 1 tập giấy tờ mở cửa sắt vào gặp tôi.  Em có vẻ ngạc nhiên nói: “Trời ! Chị Tuyến, sao chị vào đây? Em là Đạt bạn của thằng em chị, em học ở Đạt Đức. Em có đến nhà chị hoài mà không gặp chị, chị đi hát hoài nên không biết em”. Rồi Đạt hỏi tôi chuyện gì xảy ra và Đạt đề nghị tôi viết vào một tờ giấy, nhận rằng mình không hiểu rõ đường lối của cách mạng, xin lỗi cách mạng, ký tên, rồi Đạt sẽ trình cấp trên và họ sẽ thả tôi. Tôi không chịu viết vì nghĩ mình không có tội gì cả. Đạt khuyên tôi: “Họ đã ghi vào hồ sơ và buộc chị vào tội phản động, họ sẽ đưa chị đi xa lắm…Hay là vầy, em viết gì kệ em, chị chỉ ký tên vào, họ sẽ thả chị ra”.Nghĩ đến con, đến Má tôi và các em rất cần tôi, tôi ứa nước mắt ký vào.
Vài ngày sau, anh Vinh từng là quản lý của các đoàn cải lương trước 1975 đến nhà tôi và cho biết Cục An Ninh Nội Chính mời tôi về làm đào chánh cho đoàn. Tôi nói với anh Vinh: “Nếu thương em, xin anh về nói với họ là em đang bệnh. Anh biết không, vì cái cục R nầy mà em bị lên tăng xông, bệnh gần chết”.
Vài tuần sau, chị Bạch Lan Thanh đến nhà mời tôi đi hát với nghệ sĩ Tùng Lâm và anh Giang Tử, do anh Tony Quang ảo thuật gia tổ chức. Chương trình văn nghệ bỏ túi có ca tân cổ, có kịch, có ảo thuật và xiệc. Trong đêm trình diễn ở 1 quận ở miền Tây, có cả bộ đội mang dép râu, ngồi chồm hỗm trên những băng ghế dài bằng cây, xem có vẽ thích thú vỗ tay và yêu cầu tôi hát tân cổ bản“Những Đồi Hoa Sim”, rồi “Tình Đầu Tình Cuối”,“Tình Đời”song ca với Giang Tử. Sau đó là phần ảo thuật và hài kịch. Vãn hát xong, thì  Thông Tin Văn Hóa xuống họp với chúng tôi. Một cán bộ với giọng Bắc nói:“Sao tên của Tùng Lâm và Kim Tuyến to thế ? Ngoài Bắc chúng tôi không có cá nhân đấy nhé. Yêu cầu anh Tùng Lâm đừng diễu nữa nhé”.  Tôi nghĩ thầm:“Danh hài mà không cho diễu là sao?”. Mọi người yên lặng, tôi lên tiếng: “Xin lỗi anh, anh tên gì ?” Anh ta đáp: “Chị cứ gọi tôi là anh Ba”. Tôi nói tiếp: “Anh Ba, theo tôi có lẽ ca nghệ sĩ văn công ở ngoài Bắc hát được nhà nước trả lương. Nhưng ở đây là do tư nhân tổ chức, cần bán vé vào cửa, nên phải quảng cáo tên nghệ sĩ để khán giả biết mà mua vé vào xem, nhờ đó chúng tôi mới có chén cơm”. Anh Ba nhìn tôi lên giọng: “Yêu cầu chị Kim Tuyến và anh Giang Tử không được mặc đồ Mỹ Ngụy mà phải mặc đồ bà ba đen, quấn khăn rằn giống Bác ấy”.  Trước khi ra về, có hai cán bộ đứng dậy đặt tấm giấy lên bàn, nghiêm giọng nói: “Yêu cầu chị Kim Tuyến hát bài nầy”.  Tôi nhìn vào, thấy dòng chữ: Vọng Cổ Bà Mẹ Việt Nam bắn Mỹ cứu quốc. Khi họ đi rồi tôi nói : “Chú Lâm, chắc con nghỉ hát”. Các em trong ban nhạc nhốn nháo: “Chị Tuyến về, tụi em cũng ôm đàn về luôn”.
Tối hôm đó tôi trở về căn nhà của dân do Tony Quang mướn. Bước ra phía sau nhà, tôi thấy chú Tùng Lâm ngồi bó gối trầm ngâm bên chai rượu dưới ánh trăng. Tôi ngồi xuống, bưng chai rượu uống một hơi, dù tôi không hề biết uống rượu, uống để chia sớt nỗi đau với chú, và uống để cho vơi đi nỗi uất hận và tủi nhục mà kẻ chiến thắng muốn áp đặt quyền dạy dỗ chúng tôi. Niềm đau tủi đã dâng trào … Hai chú cháu gục đầu vào nhau khóc nức nở. Hôm sau tôi từ giã chú Lâm, về lại Sài Gòn và tìm cách vượt biên.
 Những ngày đầu sau 30 tháng Tư, tôi thấy  TV phát hình vở cải lương hồ quảng của các nghệ sĩ miền Bắc. Họ không có đôi hài để mang, họ mang dép râu, trang phục rất nghèo nàn. Có một vở kịch mà diễn viên mặc áo đầm Liên Sô nói về điện Cẩm Linh chiếu trên TV và các ca nghệ sĩ phải chào cờ của Liên Sô. So sánh với miền Nam, các nghệ sĩ cải lương hồ quảng ăn mặc rất đẹp. Các kịch sĩ không hề diễn kịch về Tòa Bạch Ốc và chúng tôi không hề phải chào cờ Mỹ. Chúng tôi làm việc cho Ban văn Nghệ Hoa Tình Thương/ Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị và cơ quan thông tin JUSPAO, chúng tôi chỉ hát những bài ca ngợi quê hương, tình yêu và ca ngợi sư hy sinh của những chiến sĩ VNCH, chứ không hề có những bài ca sắt máu kiểu Cộng Sản “Thề phanh thây uống máu quân thù”.
Với nghệ sĩ thì như vậy, chung quanh chị, còn những người Sài Gón khác ra sao? Chị có còn nhớ một vài điều gì đáng nhớ vào thời điểm đó?
Một buổi trưa, nằm nghe tiếng hát lạ : “Thăm thẳm chiều trôi… khuya anh đi rồi sao trời đưa lối…” tiếng hát đầy xúc cảm như muốn xé cả ruột gan. Tôi bước ra lan can nhìn xuống đường ngay gốc cây trước nhà tôi, một người đàn ông mặc quần lính VNCH và chiếc áo thun cũ, cụt 2 chân, đang ôm đàn hát…Tôi xúc động rơi nước mắt nhớ lại những ngày hát cho các anh chiến sĩ tại các tiền đồn Pleiku, Kontum, Bệnh Viện Cộng Hòa, Bệnh Viện Lê Hữu Sanh v.v… Hình ảnh quá đau xót của những thương phế binh bị đuổi khỏi bệnh viện đi qua nhà tôi trong buổi chiều 30/04/1975, hình ảnh một người đàn ông ngã quỵ trước cửa trong đêm tối, tôi và các em tôi phụ đưa anh vào nhà, nấu nước trà gừng và pha sữa, rồi cạo gió cho anh, lúc anh tỉnh dậy chúng tôi mới biết anh là lính VNCH. Hôm sau, lại một phụ nữ ngã gục trước nhà tôi vì đói quá, chúng tôi giúp chị qua cơn đói.
Được biết chị vượt biển đi từ rất sớm, đến Mỹ, chị có gặp lại đồng nghiệp và nối lại nghề diễn của mình?
Tôi vượt biên vào cuối năm 1978 với gia đình, đứa con nhỏ nhất của tôi mới 10 ngày tuổi. Chuyến vượt biển hãi hùng như bao nhiêu nạn nhân vượt biển khác. Cuối cùng chiếc tàu nhỏ bị lật  vì sóng to và đụng đá ngầm trước khi vào đến bờ biển Mã Lai, làm cho một số người chết. Gia đình tôi may mắn được cứu thoát và sau đó được định cư tại Hoa Kỳ với tư cách tỵ nạn chính trị.
Những ngày đầu đến Mỹ, tôi cũng như bao nhiêu người tỵ nạn khác, được chính phủ Mỹ giúp đỡ. Tôi đến trường học tiếng Anh.  Chị Túy Hồng là người đầu tiên mời tôi hát trên đất Mỹ. Tôi dành một buổi hát tại Los Angeles cho anh Bảo Ân. Sau đó lịch trình diễn của tôi khá bận rộn: hát gây quỹ cho Chùa, Nhà Thờ, Kháng Chiến… hát cho các phòng trà, vũ trường, đại nhạc hội… thu video cho nhiều vở kịch và tuồng cải lương và các bài tân nhạc, trình diễn nhạc kịch cho NS Hoàng Thi THơ, trình diễn văn nghệ tại Âu Châu và các nước Canada, Nhật Bản, Úc…
Đã có lúc nào chị quay lại Việt Nam, để nhìn lại, nhớ lại?
Tôi có trở về Việt Nam sau khi Mẹ tôi mất năm 2010, lý do là lo giải quyết tro cốt của Ba tôi để lại từ năm 1973. Trong thâm tâm tôi nguyện lo xong là không bao giờ muốn trở về khi chế độ cộng sản vẫn còn trên quê hương Việt Nam. Trong chuyến đi này tôi có gặp lại vài người bạn thân quen từ thuở nhỏ, những người bà con và vài người bạn đồng nghiệp. Lúc tạm trú tại một khách sạn tại Sài Gòn tôi gặp những người làm việc ở đó nói toàn giọng Bắc mới sau 75 rất khó nghe.
Hầu như những người Bắc 75 đã vào chiếm cứ hết những căn nhà mặt đường khu thương mại của Sài Gòn, trong đó có ngôi nhà trước kia của tôi. Sài Gòn trở nên quá chật chội, lưu thông tắc nghẽn, khói bụi mịt mù, không tôn trọng luật lệ, cảnh sát giao thông làm tiền trắng trợn. Đạo đức suy đồi, tham nhũng tràn lan. Không có một quốc gia nào trên thế giới mà muốn vào hoặc ra khỏi phi trường là phải nộp tiền mãi lộ nếu muốn được yên thân. Đi đâu tôi cũng thấy biểu ngữ:“Quyết tâm làm sạch đường phố”… hết ‘quyết tâm’ này đến‘quyết tâm’ kia, hết ‘phường văn hóa’ đến ‘khóm văn hóa’, mà cán bộ và công an thì đối xử với dân rất vô văn hóa. Tôi chưa từng thấy nước nào giăng quá nhiều biểu ngữ dạy dỗ dân như Việt Nam Cộng Sản.  Tôi cảm thấy xa lạ và cô đơn trên chính quê hương của mình.
Chị chọn lựa ra đi và thật sự không hối tiếc? Được biết chế độ mới ở Việt Nam cũng nhiều lần mời chị trở lại sân khấu và sống với nghề như cũ. Thử nghĩ lại, chị ra đi chỉ vì bất mãn tạm thời hay có thêm những kinh nghiệm nào khác?
Sau 10 năm định cư trên nước Mỹ tôi mới nộp đơn xin gia nhập quốc tịch Mỹ. Ngày tuyên thệ tôi thấy lòng ngậm ngùi nghĩ đến thân phận mình cũng có một quê hương, tại sao hôm nay mình phải xin được trở thành công dân của một nước khác không cùng màu da? Nước mắt tủi hờn lại có dịp rơi.
Sau khi quyết định nghỉ hát tại Việt Nam (1975), tôi không theo dõi các chương trình TV và ít giao thiệp, nên không rõ các sự việc xảy ra cho các nghệ sĩ đồng nghiệp ở Việt Nam. Kỷ niệm đáng nhớ trước khi ra đi là có một ngày anh Nhật Trường đến nhà tìm tôi để mời tôi hát cho anh lưu diễn miền Tây, nhưng tôi bận rộn lo chuyện vượt biên.  Một kỷ niệm khác là vào một buổi tối, tôi gặp Bà Năm Sa Đéc trước một tiệm phở trên đường Hiền Vương (*nay là đường Võ Thị Sáu). Bà Năm Sa Đéc (Má Năm) có đóng chung với tôi trong phim  “Đỉnh Núi Mây Hồng”.  Má Năm vừa đưa tay chỉ lên đầu vừa nói với tôi: “Tụi nó bắt Má Năm học tập cải tạo, nhưng đầu này có sạn rồi… còn lâu ! “. Ánh mắt Má Năm sáng rực nỗi  phẫn uất trong đêm tối.
Tôi có một người em kết nghĩa tên Nguyễn Văn Trảng là đệ tử của ông Anh Lân, khi viết kịch hay viết báo em lấy biệt hiệu là Vương Thế Trung. Em tiếp tục học và đã tốt nghiệp kỹ sư (Phú Thọ), tôi có dự lễ tốt nghiệp của Trảng năm 1973. Mẹ Trảng tu ở chùa Cao Đài, Ba Trảng mất sớm. Một ngày nọ (1975), Trảng ghé nhà tôi và cho biết em đang hoạt động cho Phục Quốc Quân tại Tây Ninh, tôi gởi cho em một số tiền để em hoạt động. Năm 1978 tôi được tin Trảng đã bị bắt.
Năm  1983, soạn giả Trần Trung Quân từ Pháp sang mời tôi thu hình vở cải lương “Nước Mắt Người Đi” với Dũng Thanh Lâm, nội dung kể lại cuộc đời của các chiến sĩ phục quốc anh hùng. Tôi kể chuyện tôi có cậu em kết nghĩa tên Trảng theo Phục Quốc Quân bị cộng sản bắt, không biết giờ ra sao. Bất ngờ, anh Trần Trung Quân cho biết anh có bà Mẹ hay đi chùa Cao Đài ở Tây Ninh vừa qua Pháp đoàn tụ với anh, bà Mẹ kể rằng Hiền Tài Nguyễn Văn Trảng hoạt động phục quốc bị cộng sản gài bắt và đưa ra xử trước tòa án nhân dân. Cộng sản kết tội Nguyễn Văn Trảng là phản động. Trảng hiên ngang hét lớn: “Tôi không phản động, Hồ Chí Minh mới là kẻ phản động”. Trảng bị bắn chết ngay tại chổ. Anh Trần Trung Quân nói anh đã đưa câu nói này của Hiền Tài Trảng vào trong vở tuồng do Dũng Thanh Lâm đóng vai chiến sĩ VNCH. Tôi  lặng người đau đớn nát cả lòng, nhớ đến hình ảnh Trảng đạp xe đạp lộc cộc đến chỗ tập kịch. Tôi đề nghị giúp Trảng mua xe mobilette để làm phương tiện di chuyển. Trảng hứa trả lại sau khi ra trường làm việc. Tôi thương em như thương chính tôi vì nhớ cảnh tôi phải bỏ dở việc học để đi hát kiếm tiền phụ giúp Cha Mẹ nuôi các em, khi Ba tôi gặp khó khăn tài chánh vì Việt Cộng liên tục đắp mô đặt mìn trên tuyến đường Sài Gòn – Vĩnh Bình, làm cho chiếc xe đò của Ba tôi không hoạt động được. Tôi nói Trảng cứ yên tâm, tôi tặng Trảng vì nghèo, mồ côi cha, hiếu học, xem như tôi đóng 2 show kịch TV không lãnh thù lao. Trảng cảm động rưng rưng nước mắt.
Năm 1995, điêu khắc gia Nguyễn Thanh Thu tác giả bức tượng Tiếc Thương ở nghĩa trang quân đội Biên Hòa gọi điện thoại tìm tôi. Anh cho biết anh có 1 cô bạn là nữ quân nhân vừa qua Mỹ đang ở Boston đi diện HO có biết một số tin tức về Nguyễn Văn Trảng. Tôi hẹn gặp chị tại nơi anh Thu cư trú ở Garden Grove, California. Chị  cho tôi biết là có 1 thời gian ngắn chị bị giam chung với Trảng,  Trảng thường nhắc đến Kim Tuyến và nói nếu chị ra được khỏi tù thì nhờ chị tìm gặp chị Tuyến, nhắn rằng em lúc nào cũng thương chị Tuyến. Nhưng tiếc thương thay cộng sản đã giết Em. Anh Nguyễn Thanh Thu có ý định tạc một bức tượng của Trảng, nhưng không thành vì lúc đó không ai có được một bức hình của Trảng. Chắc anh Nguyễn Thanh Thu còn nhớ câu chuyện của Trảng.
Tôi mong được gặp lại chị nữ quân nhân mà tôi đã gặp 20 năm trước. Nhớ đến Trảng tôi cảm thương và liên tưởng đến các thanh niên nam nữ trẻ tuổi như Trảng đã anh dũng tham gia phong trào Phục Quốc bị tra tấn, tù đày và sát hại. Tôi có một ông cậu ruột (cậu Lữ Minh Bạch) là một sĩ quan hải quân VNCH, cũng hoạt động phục quốc, đã bị cộng sản bắt và bị kết án 18 năm tù.
Tôi đã khóc khi đọc những bài viết của những người Tù chính trị sau khi định cư ở Mỹ qua diện HO kể về những nhục hình mà những người Cộng sản đã trả thù tàn độc, tôi lại càng căm thù chủ nghĩa Cộng sản.
Tuấn Khanh: Sau một thời gian sống và làm việc ở Mỹ, chắc chị rồi cũng dần dần gặp lại ít nhiều các đồng nghiệp trong Việt Nam qua Mỹ du lịch hoặc biểu diễn, cảm giác của chị thế nào?
Kim Tuyến: Bận rộn với gia đình và các sinh hoạt văn nghệ ở Mỹ, nhưng tôi vẫn thường liên lạc với chị Như Mai và Kim Hoàng vì có mối thân tình từ lúc chị mời tôi đóng vai chánh trong các vở kịch và tuồng cải lương trên TV, đài phát thanh và đóng  phim “Vực Nước Mắt”.
Lúc chị Như Mai điều hành Chùa Nghệ Sĩ, tôi có trợ giúp cho chi phí xây một bức tường quanh nghĩa trang nghệ sĩ.
Năm 1993, tình cờ tôi được biết qua chị Như Mai là Lê Duy Hạnh, chủ tịch Hội Sân Khấu trong Việt Nam, đang có kế hoạch giao lưu văn hóa. Bắt đầu họ sẽ gởi một hai ca nghệ sĩ ít hoặc không bị chống đối đến Mỹ hát trước để tránh bị biểu tình phản đối, sau đó họ sẽ tiếp tục gởi tiếp nhiều ca nghệ sĩ khác ra hải ngoại. Chị Út Bạch Lan đến Mỹ trước tiên. Cô chủ nhà hàng Anh Thy và cô Sáu Châu gọi báo cho tôi biết và muốn tôi cùng gặp chị  Út Bạch Lan. Tôi đến nhà hàng Anh Thy, nhìn thấy anh Duy Khánh và Lâm Tường Dũ, hai anh đưa cho tôi xem tờ quảng cáo quay roneo có hàng chữ: Tái ngộ sầu nữ Út Bạch Lan… với sự bảo trợ của  Duy Khánh, Kim Tuyến, Lâm Tường Vũ.
Họ tự động ghi tên tôi vào thành phần ban tổ chức mà không hề hỏi xem tôi có đồng ý không. Tôi nói: “Tôi chỉ muốn đến thăm chị Út Bạch Lan như một đồng nghiệp đàn em chào mừng chị, nhưng tôi không muốn có tên trong danh sách bảo trợ hay ban tổ chức, dù rằng tôi thương mến chị Út Bạch Lan”.
Sau đó tôi được biết  nhà hàng Seafood World từ chối cho thuê để tổ chức văn nghệ vì ngại sẽ có cuộc biểu tình chống đối, nên tất cả kéo về tổ chức tại quán Anh Thy, một nhà hàng nhỏ hơn.
Từ năm 1993 khi được biết cộng sản phát động kế hoạch giao lưu văn hóa, tôi có suy nghĩ nếu tiếp tục hoạt động văn nghệ thì vô tình tôi tiếp tay cho cộng sản thực hiện ý đồ ru ngủ và đánh phá cộng dồng người Việt tỵ nạn. Tôi đã bất hợp tác từ Việt Nam và đã vượt qua quá nhiều nghiệt ngã, cuối cùng thoát khỏi cộng sản VN, thì tại nơi đất Mỹ này tôi vẫn có cơ hội sống bằng trí óc và đôi tay của mình. Tôi quyết định ngưng hát. Từ năm 1993 tôi chỉ hát một lần để ủy lạo các gia đình H.O. theo lời mời của anh Nguyễn Mậu Quý, chủ tịch Hội Cựu Tù Nhân Chính Trị. Trong thời điểm đó, nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ đã book tour bên Âu Châu và mời tôi tiếp tục trình diễn nhạc kịch Ả Đào Say, nhưng tôi từ chối. Em Chí Tâm cũng muốn tôi kết hợp trình diễn với anh Thành Được, và rất nhiều nơi mời tôi đi hát, nhưng tôi vẫn không nhận lời mời. Điều tôi suy nghĩ có thể không đúng với những người khác, nhưng tôi không thể, hay đúng hơn không muốn giải bày.
Năm 2002, anh Nhật Trường mời tôi hát giúp cho 2 đêm Văn Nghệ Giã Từ Sân Khấu, tôi nhận lời vì tôi cùng quan điểm với anh khi nghe anh nói anh chống lại kế hoạch giao lưu văn hóa và không muốn đứng chung sân khấu với các nghệ sĩ do cộng sản đưa sang.
Năm 2002, chị Bạch Tuyết qua Mỹ và gọi điện thoại cho tôi, chị nói muốn đến nhà thăm tôi. Tôi vui mừng vì chúng tôi đã từng đi hát chung ở đoàn Thống Nhứt lúc tôi còn là “đào con”. Chị Bạch Tuyết may mắn giờ chót được thay thế vai của chị Diệu Hiền trong vở “Đẹp Duyên Chùa Tháp” tức “Tiếng Hát Muồng Tênh” của soạn giả Mộc Linh. Hai ông bầu Út Trà Ôn và Hoàng Giang sắp xếp cho Bạch Tuyết  thế vai vì Diệu Hiền bỗng nhiên biến mất, trong khi Bạch Tuyết chưa có vai trò nào trong vở tuồng này, còn tôi được đóng vai người em gái nhỏ. Thời gian sau tôi rất thích chị đóng chung với anh Hùng Cường ở đoàn Dạ Lý Hương, vì hai người diễn rất sống động, rất thật trong các vở tuồng xã hội cùng với Ngọc Giàu, Văn Chung, Dũng Thanh Lâm, Thanh Tú.
Phương Uyên lái xe chở chị Bạch Tuyết đến nhà chúng tôi. Sau khi chụp vài tấm ảnh kỷ niệm, tôi mời chị và Uyên đi ăn tối tại restaurant COCO. Chị bảo là chị ăn chay và chỉ ăn được món nào có tôm. Tôi tưởng chị là người Công Giáo.  Tôi hỏi thăm về tin chồng chị là ông Đức bị bắt và bị Việt Cộng tịch thu tài sản, và chắc chị khổ  với Việt Cộng vì ngày xưa chị có bức hình đội nón sắt có hàng chữ “Bỏ Bom Hà Nội” và chị đưa ngón tay cái lên. Chị nói ” Em ơi… ờ thì…nhưng chị không coi trọng tiền bạc, vật chất. Chị tu rồi em ơi, thỉnh thoảng chị được thầy  Thích Thanh Từ là thầy của chị, vì bận quá, phật tử đông quá, đã giao cho chị đi thuyết pháp. Vấn đề anh Đức ở tù thì khi hoạn nạn mình phải chấp nhận, khi nào trời quang mây tạnh thì hai đứa che dù đi chung”.
Tôi hỏi thăm về sinh hoạt và cuộc sống của chị tại VN  thì chị cho biết chị có nhiều bạn trẻ thương yêu, các bạn này có hãng nước uống và cho chị vào một phần hùn nhỏ để sống nên chị không phải bận tâm.  Chia tay ra về tôi thấy vui cho chị vì nghĩ rằng chị đã tu đến mức đã đạt được chữ “ngộ” rồi, vì nhà cửa bị tịch thu, chồng bị bắt bỏ tù mà không oán hận. Tôi thầm nghĩ, nếu là tôi thì tôi sẽ thù ghét CS lắm.
Bạch Tuyết điện thoại cho tôi:“Chị có thằng con trai học Bang Giao Quốc Tế ở bên Anh quốc. Hôm đám cưới cháu chị không qua được, chỉ có cô em kết nghĩa là mẹ nuôi của nó đứng ra tổ chức. Chị muốn nó ra mắt cô chú đồng nghiệp cho phải lễ. Chị mời em và ông xã đến rồi tụi mình đập bồn đập trống cho vui”.  Tôi nhận lời ngay. Đến nhà hàng Palace Seafood nơi tổ chức tôi nhận thấy đây là một đám cưới vì cô dâu chú rễ mặc khăn đống áo dài theo trang phục đám cưới. Có nhiều ca nghệ sĩ đến tham dự và chúng tôi cùng ca hát đóng góp thật sôi nổi với MC Trần Quốc Bảo. Cô dâu Mỹ trông khá xinh xắn dễ thương. Trước khi tiệc tàn, chị đến siết tay tôi và hẹn đến chơi nhà tôi vài hôm trước khi về lại Việt Nam.
Một buổi chiều, trên đường đến rước chị, chúng tôi ghé mua tờ Việt Báo. Tôi giở tờ báo ra xem thì giật mình khi thấy hình chị Bạch Tuyết đang quỳ lạy khán giả trên sân khấu tại San Jose với hàng tít to: “Bạch Tuyết đã quỳ lạy khán giả vì bị biểu tình phản đối”. Chúng tôi rước chị ở khu mobile home trên đường Bolsa. Trong khi ông xã tôi đổ thêm xăng tại góc đường Brookhurst và Hazard thì chị cầm tờ Việt Báo lên đọc rồi chị nói lớn: “Cũng thằng Mỹ nữa”. Tôi nói : “Chuyện gì vậy chị?”. Chị tiếp: “Thằng Mỹ không có tư cách gì để lật đổ chế độ Taliban”. Tôi hỏi: “Sao vậy chị ?”. Chị nói “Em ở Mỹ lâu mà em không biết gì sao Tuyến, thằng Mỹ làm giàu nhờ bán vũ khí, nó muốn quậy lên để bán vũ khí”.
Trời ơi, sao luận điệu và giọng nói này của Bạch Tuyết giống y như phát ngôn viên Việt Cộng Phan Thúy Thanh mà mỗi sáng lái xe di làm tôi hay nghe tin tức từ đài VOA và BBC.
Về đến nhà, chị cầm tay tôi xem, thoạt đầu, tôi nghĩ chị biết coi bói. Chị hỏi : “Tuyến, em có bao nhiêu căn nhà?”. Tôi đáp: ” Một căn nhà mà còn trả chưa xong đây chị”.
Chị lại hỏi: “Em có bao nhiêu tiền trong nhà băng?”. Tôi ngạc nhiên với 2 câu hỏi này. Chị bảo tôi về Việt Nam chơi và ở với chị. Tôi nói: “Em ghét Việt Cộng. Vượt biên suýt chết rồi chị”.
Chị nói: “Thôi mà em, đừng nghĩ vậy, chế độ bây giờ tốt đẹp hơn chế độ trước nhiều lắm”.
Ông xã tôi bất bình nói: “Chị nói chế độ bây giờ tốt đẹp tại sao sau khi chấm dứt chiến tranh họ lại bắt sĩ quan, công chức và những nhà trí thức VNCH giam cầm đày ải bỏ đói cho đến chết trong các trại tù cải tạo?”.
Chị lại nói: “Anh không biết chứ Tuyết vô thư viện bên Anh đọc sách, có nhiều nước tan chiến tranh rồi họ đem bắn bỏ hết, rồi ai làm gì họ”. Tôi bực mình nói: “Tốt đẹp gì chị, chế độ gì không có tự do tôn giáo, như Linh Mục Nguyễn Văn Lý bị nhốt vào tù, Hòa Thượng Thích Quảng Độ bị quản chế”. Bạch Tuyết nói: “Ai biểu sống trong chế độ của người ta mà chống đối thì là chuyện đương nhiên”.
Tôi thất vọng ở tầm kiến thức nhỏ hẹp lệch lạc và lối lý luận sặc mùi cộng sản của ‘tiến sĩ’ Bạch Tuyết. Chị còn hết lời ca tụng tâng bốc Nguyễn Minh Triết  nói anh ta giỏi đủ mọi thứ, trong khi ở thời điểm đó Nguyễn Minh Triết còn hoạt động ở Sài Gòn và tôi chưa biết anh ta là ai.
Khi cuộc bàn luận quá căng thẳng tôi đổi đề tài để nói về văn nghệ. Tôi nói “Má em hay  xem cải lương, thỉnh thoảng em cũng xem  và thấy Tài Linh diễn xúc động, chắc Tài Linh hiền lắm hả chị?”. Bạch Tuyết nói :“Những người nổi tiếng không ai hiền hết em”.
Rồi chị kể về anh Hùng Cường, chị bảo là Hùng Cường yêu chị lắm và muốn cưới chị nhưng chị từ chối (?). Chị không biết rằng trong thời gian sống ở Mỹ anh Hùng Cường rất thân với chúng tôi và hay kể về những cuộc tình của anh, dĩ nhiên trong đó có Bạch Tuyết, anh Hùng Cường đã có mối quan hệ sâu đậm từ Bạch Tuyết ra sao, và chị đã năn nỉ anh thế nào. Tôi nghĩ nếu Hùng Cường còn sống tôi sẽ gọi anh đến để nghe Bạch Tuyết nói dóc. Đêm khuya quá, chẳng lẽ tôi đẩy Bạch Tuyết ra khỏi nhà, còn đưa về thì tôi mệt rồi sau một ngày dài làm việc.  Chị hỏi tôi có muốn gởi tiền giúp Chùa Nghệ Sĩ không, tôi nói đã giúp rồi, và lần này chỉ gởi ít tiền tặng Má Bảy Phùng Há.
Trước đây theo lời kêu gọi của Má Bảy và 2 chị Như Mai Kim Hoàng, Chùa Nghệ Sĩ không có rào nên thỉnh thoảng phát giác ra mồ mả bị đào bới vì họ muốn kíếm vàng bạc, đồng thời số nghệ sĩ già không nhà cửa phải sống lang thang, nên yêu cầu chúng tôi giúp đỡ tiền xây rào và mua tôn lợp phía sau chùa cho các cô bác có chỗ tạm trú. Chúng tôi đã gởi tiền giúp.  Sau đó chị Như Mai cho biết ông Võ Văn Kiệt chấp thuận cấp cho 1 miếng đất ở quận 8 để xây Nhà Dưỡng Lão Nghệ Sĩ. Tiền chúng tôi đã gởi, chị Như Mai lo xây rào và trùng tu trong Chùa vẫn còn dư. Tôi yêu cầu chị Như Mai bỏ số tiền đó vào bank để lấy lời lo thuốc thang cho những nghệ sĩ già đau yếu, còn Nhà Dưỡng Lão hãy để cho chính quyền cộng sản lo.
Tôi không bao giờ quên ơn Má Bảy Phùng Há, người mời tôi đóng nhiều vở tuồng trên TV, đã chỉ dạy thêm cho chúng tôi từ anh Thanh Sang đến anh Thành Được. Má Bảy cũng từng nói:“Mấy ổng muốn mời Má làm chức này chức kia, nhưng  Má nói Má không thích làm chính trị, Má chỉ thích làm Văn Nghệ mà thôi”. Tôi lấy 100 dollars bỏ vào bao thơ trao cho chị Bạch Tuyết nhờ chị đem về trao cho Má Bảy. Vài tuần sau tôi gọi điện thoại thăm Má Bảy và hỏi xem Má Bảy có nhận được tiền không. Lúc đó có mặt ông bầu Xuân, tôi nghe tiếng Má Bảy nói lớn: “Ông Xuân ơi, Kim Tuyến nói có gởi Bạch Tuyết đem về cho tôi 100 mà sao không thấy?”.Ông Xuân nói: “Bạch Tuyết bảo sung vào quỹ của Chùa”. Tôi không hiểu tại sao chị Bạch Tuyết lại làm khác lời dặn của tôi, để cuối cùng Má Bảy không nhận được gì cả !
Một lần nọ anh Hùng Cường dẫn anh Sáu Thanh đến nhà thăm chúng tôi. Anh Sáu Thanh là 1 đại thương gia trước năm 1975, chính anh là người cung cấp toàn bộ tiền bạc và phương tiện để thành lập đoàn cải lương Hùng Cường – Bạch Tuyết. Sáu Thanh giao đoàn cải lương cho Hùng Cường và chị Bạch Tuyết vì anh rất bận với các công ty lớn của anh. Đoàn cải lương này là một đại ban, được khán giả nhiệt tình ủng hộ, lần trình diễn nào cũng bán hết vé, thế mà Bạch Tuyết khai lỗ. Trước mặt chúng tôi, anh  anh Sáu Thanh nói với Hùng Cường:“Anh lập đoàn hát này cho chú mầy mà chú mầy ham chơi quá, để cho con Tuyết lộng hành, nó đưa người nhà của nó vào, nó kiểm soát mọi chi thu, cứ khai lỗ, để cuối cùng phải giải tán đoàn hát”.
Ngày 27/10/2002 Bạch Tuyết tổ chức ra mắt CD Kinh Pháp Cú chuyển thể cải lương tại Chùa Việt Nam trên đường Magnolia của Thượng Tọa Thích Pháp Châu. Ông Thượng Tọa này từng có tai tiếng vì đã lăng nhăng tình ái với một nữ Phật tử trẻ. Cuộc điện đàm hẹn hò dâm dục ở hotel của ông sư này với cô gái đã bị thu băng toàn bộ. Vì vậy cho nên truyền thông và báo chí hải ngoại kêu gọi biểu tình chống Việt Cộng Bạch Tuyết và Thượng Tọa Pháp Châu. Hôm đó có rất nhiều người đến biểu tình, trong đó có tôi, trước cửa chùa. Người biểu tình cho phát thanh cuốn tape dâm dục của Thượng Tọa Pháp Châu và hô đả đảo Bạch Tuyết. Tôi nghĩ nếu anh Hùng Cường còn sống chắc anh cũng sẽ đến biểu tình chống Bạch Tuyết, vì anh là người rất căm thù cộng sản. Dù rằng khi còn sống anh đã từng kể chính anh là người giới thiệu anh Đức (một “Việt Kiều Yêu Nước” tại Pháp) cho Bạch Tuyết sau vụ Bạch Tuyết bị vợ của ĐT Hoàng Đức Ninh làm nhục.
Trong một dịp thăm nhà thơ Nguyễn Chí Thiện và đi ăn tối với anh, chúng tôi có kể cho anh nghe về Bạch Tuyết và Kim Cương. Trong một lần nói chuyện trên Radio, anh Thiện đã có đề cập đến Việt Cộng Kim Cương và Bạch Tuyết. Tôi quý mến anh Nguyễn Chí Thiện vì tư cách và sự dũng cảm của anh. Chỉ vì can đảm dám nói lên sự thật của lịch sử và sự thật tàn ác của chế độ cộng sản mà anh bị gần 30 năm tù ở miền Bắc. Trong tù anh vẫn đứng thẳng, hiên ngang làm thơ vạch trần sự dã man của chế độ và dám chửi thẳng Hồ Chí Minh.
Những gì tôi kể về Bạch Tuyết là hoàn toàn sự thật, không thêm bớt, không trái với lương tâm. Một số đông trong đó có tôi vẫn còn nhiều hoài nghi về Bạch Tuyết:
– Bạch Tuyết không học Trung Học, không học Đại Học  thì làm sao có bằng Tiến Sĩ  ?
– Bạch Tuyết không rành tiếng Anh làm sao vào thư viện của Anh đọc sách và tài liệu.
– Bạch Tuyết không nói và viết lưu loát tiếng Anh, tiếng Pháp và tiếng Đức thì làm Luận Án Tiến Sĩ  bằng tiếng gì ? Không lẽ làm luận án ở ngoại quốc mà dùng tiếng Việt ?
– Bạch Tuyết có biết rằng mọi người đều biết trên thế giới có nhiều bằng Tiến Sĩ Danh Dự được cấp do sự giới thiệu hay quen biết. Có các trường Đại Học dỏm, không được chấp nhận, chỉ cần nộp cho họ vài ngàn dollars là có bằng Tiến Sĩ giấy.
– Bạch Tuyết thù ghét Mỹ, vậy tại sao thích đi sang Mỹ, cho con học ở Mỹ, đi làm ở Mỹ, lấy vợ Mỹ. Phải chăng Bạch Tuyết muốn tìm một “bãi đáp an toàn” sau này ở  Mỹ ?
Những câu chuyện của hôm qua bao giờ cũng thật xúc động, dù chỉ là kỷ niệm. Nhưng có khi nào chị nhìn thấy sân khấu ở quê nhà, sự rộn rịp hoặc giàu có của giới đồng nghiệp mà chạnh lòng? Hoặc chị có lúc nào nghĩ rằng nếu chị nhượng bộ, ở lại, thì cũng đã có một cuộc sống sinh hoạt sôi nổi, nhiều thu nhập như các nghệ sĩ khác?
Sau 37 năm sống trên đất Mỹ và 41 năm miền Bắc cai trị miền Nam, tôi vẫn thường theo dõi các tin tức từ quê nhà và rất buồn khi thấy cộng sản đã tạo ra một giai cấp mới, giai cấp cán bộ, con ông cháu cha, tư bản đỏ, giai cấp này lộng hành, áp bức bóc lột người dân khốn cùng. Luân lý, đạo đức suy đồi, cuộc sống bất an, luật pháp bất minh, môi trường nhiểm độc, tham nhũng tràn đầy… Trong khi đó chính quyền lại “ác với dân, hèn với giặc” trước hiểm họa mất nước vào tay giặc Tàu.
Tôi không dùng danh từ “chính quyền” cho CSVN, vì không ai bầu cái Đảng cướp này cả. Chúng cưỡng chiếm miền Nam, áp đặt chể độ độc tài đảng trị, thì không thể dùng danh từ Chính quyền. CSVN thắng VNCH do tuyên truyền dối trá, quỷ quyệt, gian manh do HCM đem chủ thuyết ngoại lai quái đản từ Liên Sô,Trung Cộng đặt lên đầu dân VN. CSVN xem văn nghệ sĩ là bộ môn tuyên truyền hữu hiệu nhất, họ dùng nghệ sĩ để ru ngủ đồng bào quên đi tội ác mà chúng gây ra. Kim Cương là một điển hình cùng một số văn nghệ sĩ được họ sử dụng.
Tôi thấy mình đã quyết định đúng khi vượt biên rời khỏi chế độ cộng sản VN để cho gia đình và con cháu tôi có một cuộc sống an lành và tốt đẹp hơn. Tôi đã quyết định đúng khi chọn nước Mỹ, một nước tôn trọng tự do dân chủ và nhân quyền, một nước thật sự của dân, do dân và vì dân.
Dạ, xin cám ơn chị,
28/7/2016
Tuấn Khanh (ghi)

Posted in Miền Nam sau 30-4-1975, Nhan Vat, Phỏng Vấn | Leave a Comment »

►Lời điếu cho một cây cầu- Phải đập bỏ, xây lại, để có tiền bỏ túi?

Posted by hoangtran204 trên 29/10/2015

Bình Luận Án

Lời điếu cho một cây cầu

28-10-2015

Cầu Đúc sẽ không còn nữa! Nguồn ảnh: internet

BLA: Chiều nay 28-10-2015, trên trang facebook cá nhân của Nhà báo Lê Đại Anh Kiệt có đăng một Thư ngỏ gửi Bí thư thành ủy thành phố Tân An tỉnh Long An, tha thiết đề nghị giữ lại cây cầu Đúc nằm tại trung tâm thành phố Tân An, vì cho rằng cây cầu này là một cây cầu cổ, có giá trị lịch sử, văn hóa. Tuy nhiên có vẻ đề nghị này đã quá trễ, khi có tin cầu đang bị đập bỏ. Như vậy, lá thư tâm huyết này của nhà báo có thể xem như là lời điếu vĩnh biệt cầu Đúc. 

Về quan điểm cá nhân, chúng tôi ủng hộ đề nghị của Nhà báo Anh Kiệt. Ngay tại TP. HCM, một cây cầu sắt khá đẹp là Cầu Móng, với tuổi đời cỡ cầu Đúc cũng đã và đang được gìn giữ cho con cháu đời sau. Thật đáng tiếc và không khỏi có chút xót xa khi mất đi một cây cầu như cầu Đúc.

————-

Nội dung Thư ngỏ như sau (trích gọn):

THƯ NGỎ

Kính gởi: Bí Thư Thành Ủy TP Tân An (tỉnh Long An).

Qua facebook, tôi thật sự bàng hoàng trước thông tin đập bỏ, xây mới cây cầu Đúc Tân An mà không biết nói với ai, chỉ biết trải lòng mình lên fb.

Hôm nay, tra cứu thông tin trên mạng, được biết anh đã là tân Bí Thư Thành Ủy và anh cũng đồng tình thực hiện dự án đập bỏ xây mới này. Một lần nữa tôi lại bàng hoàng và viết thư này tâm sự với anh xem như là lời cầu cứu cuối cùng cho sinh mạng cây cầu cổ khi án đã tuyên, pháp trường đã dọn.

Cây cầu Đúc dù chưa có số liệu chính xác nhưng ước lượng nó nhất định có trên dưới trăm năm tuổi.

Tôi xin có đôi lời phản biện:

Về nhu cầu giao thông: 

Hiện trạng đường Nguyễn Trung Trực của hai đầu cầu đã không còn là đường xuyên tâm chính của TP, mà vai trò đó đã chuyển về đường Hùng Vương và đập Bảo Định. Chợ tỉnh Tân An ngày xưa cuối đường Nguyễn Trung Trực chỉ còn là chợ Phường 1. Mai này khi Trung tâm Hành chính Tỉnh chuyển về khu vực mới thì lưu lượng giao thông ở đây còn giảm nhiều.

Hà huống chi, song song với cầu Đúc cả hai bên đã có hai cây cầu mới Bảo Định và Trương Công Định. Hoàn toàn có thể phân luồng tuyến cho các xe trọng tải nặng đi sang hai cầu này.

Nói cầu Đúc già nua thì đúng, nhưng nói nó quá tải thì e rằng gượng ép. Với tuổi tác và vị thế của nó bây giờ hoàn toàn có thể dùng làm cầu cho người đi bộ, xe máy, và xe tải trọng nhỏ. Thậm chí với cảnh quan mới cải tạo hiện nay những bờ kè, công viên dọc hai bên kênh Bảo Định nó cũng có thể là cây cầu du lịch đơn thuần.

Về kỹ thuật: 

Có thể cầu đã bị rỉ sét gì đó. Nhưng tôi không tin rằng với kỹ thuật thời nay chúng ta không đủ sức gia cố tăng tuổi thọ cho cây cầu kiên cố như vậy. Ngay trong nước ta, ở miền Nam những tỉnh khác vẫn làm được điều này. Có người đã nhắc đến cầu Hoàng Diệu ở Long Xuyên xây năm 1937 cùng kết cấu chất liệu như cầu Đúc của Tân An vẫn còn đang sử dụng.

Vấn đề ở đây là văn hóa, lịch sử

Tôi nghĩ rằng, khi lập dự án này, các anh đã hướng đến tương lai, nghĩ đến xây dựng TP Tân An hiện đại, to đẹp. Tôi tin rằng với kỹ thuật, phương tiện hiện nay đủ sức thiết kế xây dựng cây cầu mới to hơn, đẹp hơn cây cầu Đúc hiện giờ nhiều lần.

Nhưng có điều chắc chắn là không ai, tất cả các kiến trúc sư trên đời này không cá nhân nào có thể thiết kế và xây dựng được lịch sử, không ai có thể xây dựng được ký ức của hàng vạn, hàng triệu lượt người đã in bóng trong cây cầu ấy.

TP Tân An hiện nay còn được bao nhiêu công trình cổ trên dưới trăm năm tuổi? Có lẽ chưa đầy số ngón của một bàn tay. Trong ký ức của tôi chỉ có nhà Bảo Tàng, Trường Nữ tiểu học cũ, Lăng Nguyễn Huỳnh Đức và hết.

Cây cầu Đúc này với bao nhiêu năm tồn tại của nó đã gắn liền với ký ức của hàng triệu con người Tân An nói riêng và Long An nói chung.

Ai hồi nhỏ chẳng từng một lần lên tỉnh đi chợ tết, chẳng từng dẫm bước trên cây cầu này. Vắng nó, câu chuyện kể cho cháu con sẽ thiếu đi vật chứng quan trọng. Nếu chúng ta không giữ gìn, bảo tồn thì chúng ta sẽ xây dựng một thành phố không có ký ức, lịch sử. Giữ lại cây cầu là giữ ký ức, lịch sử cho con cháu đời sau.

Tôi hy vọng rằng, con cháu của tôi, của anh sẽ tự hào là Long An không chỉ có Trung Tâm Bưu Chính Viễn Thông hay những công trình hiện đại mà còn có cây cầu Đúc trên trăm năm tuổi được thế hệ cha chú giữ gìn.

Thế hệ trẻ sẽ đi trên cầu cổ và nhắc lại bài học lịch sử là, ba bốn thế kỷ trước, Chưởng cơ Nguyễn Cửu Vân đã đào kênh Vũng Gù này nối Sông Vàm Cỏ với sông Tiền làm đường chuyển quân lương để giúp vua Khmer, sau đó đã đóng quân ở Vũng Gù lập đồn điền.

Khi Gia Long lên ngôi mới đặt tên kênh là Bảo Định hà. Khi Pháp chiếm miền Nam, Phan Văn Đạt đã bị treo thân ở đầu vàm kênh này còn Thủ Khoa Huân bị chém đầu ở đoạn giữa kênh thuộc xã Phú Kiết. Người Pháp đã dời Phủ Tân An từ Cai Tài về đây và lập Châu Thành Tân An.

Cây cầu Đúc này được xây từ buổi đó. Buổi đầu chưa có điện nên người ta làm đèn khí đá, những trụ cao trên cầu là những cột đèn khí đá.

Bài học lịch sử của con cháu ta sẽ không chỉ nằm trên giấy mà có vật thể, hình hài cụ thể.

Giá trị của lịch sử thì không thể tính bằng tiền và cũng giống như sinh mạng một con người đã xử tử thì không thể nào hồi sinh được.

Một vấn đề nữa cũng xin chân thành trao đổi với anh là về chính trị. Thú thật, tôi cũng là một đảng viên hơn 30 năm tuổi đảng, chưa đáng 1/3 tuổi của cây cầu nhưng không là lãnh đạo, tôi gần dân hơn và nghe tiếng nói của dân. Nhiều người trên fb của tôi và các trang khác cho rằng, chính quyền hiện nay có chủ trương đập phá hết các công trình xây dựng của chế độ trước.

Tôi không tin là Đảng ta có chủ trương như thế. Ai cũng biết câu “nếu anh bắn vào quá khứ bằng súng lục thì tương lai sẽ bắn vào anh bằng đại bác”. Huống hồ chi ngân sách chúng ta đâu dư dả lắm để làm chuyện ấy. Tôi vẫn nghĩ rằng các anh thật lòng muốn hiện đại hóa Thành Phố Tân An nhưng chưa lưu tâm lắm về lịch sử với những giá trị vô hình của nó.

Đây là tấm lòng, mong muốn không chỉ riêng tôi mà của khá nhiều người Long An dù đang sống trong tỉnh hay đã tha hương. Xin hãy giữ lại cho quê hương những dấu tích lịch sử, những vốn quý không gì so sánh được.

Lê Đại Anh Kiệt

——————

Tham khảo:

Cầu Móng được Sài Gòn lưu giữ

Cầu Mống là một cây cầu bắc qua kênh Bến Nghé, nối liền giữa Quận 1 và Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh. Đây được coi là một trong những cây cầu cổ xưa nhất tại thành phố này.

Cầu do Công ty vận chuyển hàng hải Messageries Maritimes của Pháp bỏ vốn xây dựng vào năm 1893-1894, dài 128 mét, rộng 5,2 mét, lề bộ hành rộng 0,5 mét, xây bằng thép kiên cố. Cầu làm theo kiểu vòng mống cho nên dân gian gọi là cầu Mống.

Trong giai đoạn thi công Đại lộ Đông – Tây và Đường hầm sông Sài Gòn, cầu Mống được tháo dỡ hoàn toàn, sau khi công trình này hoàn tất thì cầu Mống đã được lắp ghép lại theo nguyên bản và gia cố thêm phần trụ móng kèm trang bị chiếu sáng mỹ thuật.

(Theo Wikipedia)
nguồn: anhbasam

Posted in Miền Nam sau 30-4-1975, Tham Nhung-Hoang Phí- Ăn Cắp | Leave a Comment »

►Người Sài Gòn bỏ xế hộp tiền tỷ, lội nước cống về nhà

Posted by hoangtran204 trên 17/09/2015

Cán bộ cộng sản bản thân ít học và dốt, nên sau khi chiếm được Sài Gòn, chúng chiếm đất đai, lấp đất, và làm nhà trên vùng đất mà trước đây chính quyền Pháp và VNCH để dành dùng để thoát nước khi có mưa lớn. Hậu quả của việc lấp đất và làm nhà trên các vùng trũng làm cho nước mưa không có lối thoát, dần đến tình trạng hiện nay là đường phố Sài Gòn bị ngập sau mỗi cơn mưa. 

Kết quả ” đánh thắng giặc Mỹ ta sẽ xây dựng hơn 10 ngày nay” là đây

Người Sài Gòn bỏ xế hộp tiền tỷ, lội nước cống về nhà

 

 – Mưa to ở TP.HCM không chỉ gây khổ cho những ai đi xe gắn máy. Một số người dân vì lý do nước ngập quá sâu, muốn về được nhà phải bỏ lại xe ô tô, xắn quần lội bộ trong nước cống.

Chiều tối qua, sau trận mưa to kéo dài, TP.HCM ngập lụt trên diện rộng. Người dân khốn khổ bởi vừa kẹt xe, vừa ướt sũng nước mưa và… nước cống.

Nhìn thấy trường con mà đi cả giờ không tới

Anh Trần Văn Hải, ngụ tại khu đô thị Phú Mỹ Hưng, Q7 là một trong những nạn nhân của vụ ngập lụt, kẹt xe kỷ lục này.

xế hộp, ô tô, TP.HCM, Sài Gòn, nước ngập, ngập lụt, kẹt xe

Mưa ngập làm nhiều xe ô tô bị “thủy kích” nằm chịu chết. Ảnh: Người dân cung cấp

xế hộp, ô tô, TP.HCM, Sài Gòn, nước ngập, ngập lụt, kẹt xe
Đẩy xế hộp tiền tỷ trên phố Sài Gòn trong cơn mưa chiều tối 15/9. Ảnh: Bạn đọc cung cấp

Lúc 4h30 chiều, lo kẹt xe giờ tan tầm nên anh Hải định lấy xe máy đi đón con cho tiện. Tuy nhiên lúc này mưa to quá, sợ cháu ướt hết nên anh Hải đi bằng ô tô.

“Trường của con cách nhà có 2km mà mãi gần 7 giờ tối tôi mới đón được cháu về đến nhà. Xe hơi bị kẹt cứng không thể nhúc nhích, xe máy thì chết máy dắt bộ, giao thông hỗn loạn. Nhìn thấy trường con ngay bên tay phải mà cả tiếng vẫn không tới nơi, tôi chỉ muốn vứt xe lại, lội bộ cho rồi”, anh Hải kể.

Chị Thủy, ngụ tại khu đô thị Hoàng Anh Gia Lai, quận 7 cũng ngán ngẩm về cảnh mưa gió, ngập lụt không kém anh Hải.

“Đi xe 2 bánh cũng khổ mà 4 bánh càng khổ. Mưa thì còn mặc áo mưa, đi xe hơi, taxi để tránh, nhưng ngập thì chẳng cách nào tránh được. Mỗi lần sắp chết ngộp với khói bụi, kẹt xe và lụt lội trong trời mưa dơ bẩn tôi chán nản vô cùng”, chị Thủy nói.

Theo chị Thủy, ô tô khó thoát thân nhất khi kẹt xe. Xui xẻo bị “thủy kích” mà chết máy kiếm cứu hộ vô cùng nhiêu khê, cứ xác định tối mịt chưa mò về được nhà.

Bỏ xế hộp lội 1km về nhà

Chị Nguyễn Thị Lệ Thu, Giám đốc kinh doanh Bệnh viện FV tối qua lái ô tô từ chỗ làm ở quận 7 về nhà ở khu Thảo Điền quận 2.

Tối mịt vẫn chưa về tới nhà, đường ngập quá sâu, cuối cùng chị phải bỏ xe ô tô lại cùng các tư trang đồ đạc như máy tính xách tay, tài liệu, tháo giầy cao gót, tay xách đồ ăn, vai đeo túi, lội chân trần trong nước ngập 1km về nhà…

xế hộp, ô tô, TP.HCM, Sài Gòn, nước ngập, ngập lụt, kẹt xe

Để về được nhà kịp chuẩn bị bữa tối, chị Thu đành bỏ xe hơi, lội nước 1km

Tôi lái xe lòng vòng mãi không thể tìm được đường về vì nước ngập sâu quá. Đành kiếm chỗ ít ngập nhất, tấp xe vào rồi bỏ luôn xe ô tô ở đó dù biết có khả năng xe sẽ bị bẻ kính, hoặc mất đồ. Khi ra khỏi xe, nước ngập tới đầu gối”, chị Thu chia sẻ.

Một số cư dân ở khu đô thị Sài Gòn Pearl (đường Nguyễn Hữu Cảnh, quận Bình Thạnh) cũng dở khóc dở cười vì mưa gió.

Một cư dân chia sẻ: “Khu vực Sài Gòn Pearl ngập nặng quá, dưới chân cầu Thủ Thiêm cũng vậy, nội bất xuất, ngoại bất nhập”.

xế hộp, ô tô, TP.HCM, Sài Gòn, nước ngập, ngập lụt, kẹt xe
Tới 22h ngày 15/9, tình trạng ngập vẫn vô cùng nặng nề. Ảnh: Người dân cung cấp

Theo ghi nhận của phóng viên, tới 10 giờ đêm đường Nguyễn Hữu Cảnh, quận Bình Thạnh vẫn bị ngập rất nặng, thậm chí nước dâng cao tới tận cabin xe ô tô.

Các con đường bị nước ngập nặng ở quận Phú Nhuận, Bình Thạnh, Tân Phú, Bình Tân, quận 12. Tình trạng ngập từ khung giờ cao điểm 17- 18 giờ chiều và hơn 21h đêm nhưng nhiều nơi nước vẫn chưa rút.

Sáng nay, TP.HCM vẫn mưa rất to, dự đoán tình cảnh ngập lụt còn kéo dài.

Thanh Huyền

Posted in Miền Nam sau 30-4-1975, Moi Truong bi O nhiem | 1 Comment »

►Hòa giải, những bàn tay gỗ

Posted by hoangtran204 trên 05/05/2015

Blog RFA

CanhCo

02-05-2015

Ba mươi ngày trong tháng Tư của năm 2015 âm thầm theo dõi những bài viết, hình ảnh trong và ngoài nước là dịp may nhận chân gần như toàn bộ quá khứ, một quá khứ rất gần bởi chỉ 40 năm, thời gian chưa đủ hình thành được một chu kỳ mà lịch sử cần, nhưng lại quá đủ để thấy được diện mạo của hai phía trong ngày kỷ niệm 40 năm này.

Bên thắng cuộc, chữ của Huy Đức, định hình đảng cộng sản Việt Nam một cách cay đắng, vẫn cười rất tươi và hát rất vui về cái ngày mà phía ngược lại chưa lau khô hết được nước mắt.

Hình ảnh của VNCH từ cách ăn mặc, cho tới sinh hoạt trong học đường, chợ búa, ngay cả những lần đồng bào đi bỏ phiếu được khoe đầy trên Facebook khiến lứa trẻ sinh sau 30 tháng 4 có thể hình dung ra một thời kỳ mà Sài Gòn hãnh diện là hòn ngọc viễn đông. Những tấm ảnh ấy đa số do phóng viên nước ngoài chụp trước khi miền Nam sụp đổ. Càng về sau năm 75 càng hiếm dần những hình ảnh sống động tiếp tục miêu tả những gì mà người dân Sài Gòn sống cùng.

Gần 5 tháng sau ngày giải phóng, ngày 22/ 9/1975, Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng Hoà miền nam Việt Nam đã tổ chức cuộc đổi tiền trên toàn miền nam để đưa đồng tiền mới lấy tên là “Tiền Ngân hàng Việt Nam”, còn gọi là tiền giải phóng, với tỷ lệ 1 đồng NHVN ăn 500 đồng tiền của chế độ cũ.

Không một phóng viên nào chụp được vẻ mặt thẫn thờ tuyệt vọng của dân chúng trong ba lần đổi tiền. Gia tài dành dụm bao nhiêu năm không cánh mà bay. Người cha trở về nhà với một nhúm giấy bạc xấu xí mà giá trị chỉ sống được một tháng. Toàn bộ số tiền có thể mua vài căn nhà nay đã ra tro. Không giải thích, không trả lời người dân, các ông bà chủ mới của “Ngân hàng không tiền gửi Việt Nam” lạnh lùng phát cho dân một số tiền như nhau và phấn khởi báo cáo với Chủ tịch nước đã làm tròn bổn phận.

Ba năm sau, ngày 2/5/1978 Nhà nước tiếp tục công bố đổi tiền lần thứ 2 trên phạm vi toàn quốc, với tỷ lệ 1đồng tiền NHNN cũ ở miền Bắc hoặc 0,8 đồng tiền Giải phóng ở miền Nam ăn 1đồng NHNN mới.

7 năm sau đó, vào ngày 14/9/1985 Nhà nước lại công bố đổi tiền theo tỷ lệ 10 đồng tiền NHNN cũ ăn 1 đồng tiền NHNN mới để phục vụ cuộc cách mạng về giá và lương. Lần đổi tiền thứ ba này đã thật sự lột sạch tới những đồng bạc ki cóp cuối cùng trong những gia đình miền Nam, trong khi đó miền Bắc không bị ảnh hưởng bao nhiêu vì đã quen với chế độ tem phiếu và thắt lưng buộc bụng từ những ngày chiến tranh chống Mỹ.

Đổi tiền là cách trưng thu tài sản đồng đều cho mọi người dân miền Nam vì thực tế dân miền Bắc không có bao nhiêu tiền để mà mất. Chính quyền “cách mạng” còn tiến thêm một bước qua việc đánh “tư sản mại bản” một cách khốc liệt trên toàn miền Nam. Hình thức cướp cạn có văn bản, có nghị quyết này đã giết bao nhiêu gia đình lúc ấy và chẳng những thế còn bao nhiêu gia đình phải sống mòn trong suốt 38 năm sau đó?

Năm 1977 chính quyền cách mạng đã phát động cuộc tố cáo và truy nã các thành phần mà họ gọi là tư sản mại bản tại Sài Gòn và các tỉnh miền Nam. Hình ảnh cải cách ruộng đất tại miền Bắc được lập lại, hàng chục ngàn gia đình bị đuổi ra khỏi nhà, tài sản bị tịch thu và số phận của những con người bị chụp cho cái mũ tư sản mại bản ấy không khác gì những con thú hoang không còn nơi ẩn núp.

Theo Huy Đức trong Bên Thắng cuộc thì ngày đánh tư sản mại bản xảy ra các nhân vật gốc Hoa như Lý Sen, Lưu Trung, Trương Dĩ Nhiên, Lý Long Thân, Trần Thành cùng lúc trước sau bị bắt giam để trả lời tại sao họ lại giàu có như vậy. Có tội hay không có tội là chuyện của họ và bên thắng cuộc nhưng hàng chục ngàn gia đình khác bị đám 30 tháng tư chỉ điểm cũng cùng một số phận trắng tay thì ai sẽ là người trách nhiệm đây?

Sau cuộc đánh tư sản mại bản chính quyền cách mạng tiếp tục đánh dân miền Nam bằng một chính sách rất ác độc mang một tên gọi mỹ miều là Xây dựng vùng kinh tế mới.

Kinh tế mới là những khu đất hoang hóa, hay rừng sâu nước độc khó canh tác thành công nếu không có một kế hoạch tổng lực và dồi dào phương tiện. Hàng trăm ngàn người dân đang sống đạm bạc nhưng an lành trong thành phố bị cưỡng ép bằng những ngôn từ đầy hăm dọa lên xe về nơi mà con người khó có khả năng thích hợp. Những chuyến xe chất đầy quang gánh, quần áo tả tơi hướng về Lộc Ninh, Phước Long, Buôn Mê Thuột, Bù Gia Mập cùng hàng trăm địa diêm nổi tiếng khác của miền Nam, ghé vào và vất họ xuống với vài căn nhà mới vội vã dựng lên xiêu vẹo và chắp vá. Họ đi không nỡ ở không xong, cuộc hành trình về vùng kinh tế mới đã khép lại với hàng chục ngàn người bỏ thây vì muỗi mòng rắn rít.

Từ đó ba chữ Kinh tế mới ám ảnh họ như ma quỷ, như ác thú. Bốn mươi năm sau khi nhớ lại đoạn đường này nhiều gia đình vẫn còn ngơ ngác tự hỏi tại sao chính quyền cách mạng lại thúc ép dân vào nơi hang hùm nọc rắn như vậy? Ý đồ đích thực của họ là gì? Tận diệt một thế hệ miền Nam không thích nghi được với chủ nghĩa cộng sản hay tư duy kinh tế kiểu cộng sản đã khiến họ mù quàng chơi những canh bạc mà vốn liếng duy nhất họ có chỉ là mạng sống của người dân?

Bốn mươi năm, các bài viết nói về hòa hợp hòa giải giữa chính quyền hiện tại và hàng triệu người bị bắt, bị cải tạo cũng như hàng triệu đồng bào vượt biển tìm tự do đã bỏ mình hay suốt đời mang hận vì cướp biển Thái Lan rộ lên khắp các trang mạng. Chính quyển, họ, những khuôn mặt bóng nhẫy, láng bóng nói lời hòa giải như đào kép trong một gánh hát đình. Họ thể hiện sự ban ơn một lần nữa như họ đã giải phóng miền Nam là đã ban ơn cho đám lưu dân mất gốc này. Cách nói, cách thể hiện qua các nghị quyết hòa giải dân tộc khẳng định một thái độ: ban phát, xin cho.

Hãy nói về tù nhân cải tạo.

Ừ thì chiến tranh, người thắng kẻ thua. Thắng được phép giam giữ và cho ra khỏi trại giam lúc nào thuộc về kẻ giữ chìa khóa. Quốc tế cũng phải đứng ngoài vì quốc tế đối với cộng sản cũng chỉ là chiếc phao trong lúc túng cùng bị gậy. Bây giờ hòa giải là hòa giải thế nào? Chìa tay ra nói với anh: thôi mình bỏ qua nhé, anh đánh tôi không chết thì tôi nhốt anh cho vui, nếu lỡ tay có người chết thì cũng đâu bằng bom thả chùm chùm lên miền Bắc? thế nhé, ta cùng ngồi nâng chén giải oan hát bài hòa giải có vui hơn không?

Nếu thái độ ấy diễn ra như kịch bản này phác thảo không biết có mấy người đưa tay hòa giải? Huống chi bàn tay mà phe thắng cuộc đưa ra là bàn tay giả, chúng có thể rớt bất cứ lúc nào nếu người được hòa giải xiết nó quá mạnh.

Gia đình tôi không có liên quan tới VNCH nên chúng tôi không cần sự hòa giải của bên thắng cuộc. Nhưng gia đình tôi là nạn nhân của cả ba vụ, từ đổi tiền đến đánh tư sản mại bản và cuối cùng là chết dần chết mòn trên vùng kinh tế mới.

Tôi không cần chính quyền này nói lời hòa giải với tôi.

Điều tôi cần là chính quyền phải kéo nhau tới nhà của từng thành viên trong gia đình tôi, bây giờ còn lại 30 người, cúi đầu thật thấp và xin lỗi với thái độ chân thành. Tài sản bị mất tôi kể như xung vào công quỹ quốc gia mặc dù tôi biết chắc cán bộ thành phố là những kẻ tận thu và tư túi những tài sản ấy.

Phải sòng phẳng với lịch sử và nhận trách nhiệm trước nạn nhân. Hòa giải chỉ là chiêu bài không thể thực hiện từ một phía. Chúng tôi không chấp nhận hòa giải vì mình là nạn nhân trực tiếp cũng như hàng chục triệu người miền Nam khác. Các ông là thủ phạm làm cho bao người sống trong nước mắt thì phải xin lỗi thật tâm nếu lương tâm con người trong các ông cắn rứt. Chỉ có lời xin lỗi mới đúng với các ông, đúng với tinh thần dành cho kẻ phạm tội với nhân dân, với lịch sử.

Posted in Chính Sách Kinh Tế-Tài Chánh, Cướp đất và chiếm đoạt tài sản của dân, Miền Nam sau 30-4-1975 | 1 Comment »

►Không còn chào mừng nữa, mà là học tập cải tạo

Posted by hoangtran204 trên 29/04/2015

Không còn chào mừng nữa, mà là giáo dục cải tạo

Börries Gallasch (02/06/1975, từ Sài Gòn)

Phan Ba dịch từ Der Spiegel 23/1975

Những giây phút kinh hoàng ở Sài Gòn: một người tự thiêu trên cái bục của tượng đài chiến sĩ ở cạnh Quảng trường Lam Sơn, giống như trên một bàn thờ.

Không ai biết người này đã hy sinh vì điều gì – (bởi vì) những người bộ đội đã giật lấy giấy tờ nằm cạnh thân thể đang cháy, những cái có thể đưa ra một lời giải thích, ra khỏi tay của nhà báo. Phim bị tịch thu, đám đông bị giải tán. (Họ tịch thu phim của nhà báo và giải tán đám đông)

Mặc dù vậy, vụ tự sát của con người vô danh đó vẫn có tác động trực tiếp: sự thay đổi bầu không khí ở Sài Gòn đã có thể cảm nhận được. Nỗi lo sợ lại xuất hiện ở trên bề mặt.

“Sài Gòn, tháng Năm 1975

Niềm hân hoan của những ngày đầu tiên đã qua rồi, tiếp theo tiếng reo hò mừng chiến tranh kết thúc, tiếp theo sự nhẹ nhỏm vì đã không xảy ra những vụ xử án kinh hoàng mà người ta từng lo ngại trước đó, là một sự bất an không rõ ràng. Vì tinh thần hòa giải, cái mà các ông chủ mới nói về nó không biết mệt, đã bắt đầu mất hình dạng. Không có hành động phù hợp đi theo lời nói – thay vào đó, điều ngược lại thường hay xảy ra nhiều hơn.

Năm ngày sau vụ tự thiêu, một phiên tòa của tín ngưỡng: không chỉ “Playboy” và “Penthouse”, cả sách của Graham Greene và Kenneth Galbraith cũng bị đưa lên giàn hỏa thiêu … Trong một cửa hiệu cạnh đường Tự Do, một gia đình nằm trong vũng máu của họ. Người Ấn Độ đó đã từ chối không chịu hy sinh “văn hóa đồi trụy” đó cho những ngọn lửa của cách mạng. Các bộ đội trẻ tuổi trả lời cho sự bướng bỉnh tư sản bằng súng tiểu liên, họ đã giết ông ta, kể cả vợ con.

“Chính miệng của mình là một vũ khí để tự sát”, Tướng “Big” Minh nói, con người im lặng đó, người đã là tổng thống cuối cùng trong hai ngày và là người thanh lý Nam Việt Nam cũ, và bây giờ đang tưới hoa lan trong ngôi vườn của ông như là một người về hưu không có lương hưu.

Sài Gòn, 29 tháng Năm 1975, học sinh sinh viên biểu tình chống “văn hóa đồi trụy phản động” như là một phần của chiến dịch đốt sách ở Nam Việt Nam. Ước tính có hàng chục ngàn quyển sách và băng thu đã bị đốt cháy kể từ khi chiến dịch bắt đầu vao ngày 21 tháng Năm. Tất cả các nhà sách đều bị đóng cửa bởi sắc lệnh cấm bán sách và băng ghi được sản xuất trong thời gian của chế độ cũ.

Với sự ngây thơ của trẻ con, vô tư lự, như thể không có gì xảy ra, người Sài Gòn vào lúc đầu đã tiếp tục sống như cũ. Linda, cô gái mại dân từ niềm say mê, sau những lời thề thốt cải thiện đã lại trở về chỗ quen thuộc của cô trên hàng hiên của khách sạn Continental Palace, và cùng với cô là những người nữ đồng nghiệp. Đổi tiền lậu. Chợ tình – tất cả đều như cũ.

Sự phù phiếm của Sài Gòn lúc đầu còn được những người cầm quyền mới khoan dung cho: “Chúng tôi muốn để cho những người anh em ở Sài Gòn của chúng tôi hiểu rõ rằng chúng tôi không phải là những con quái vật”, theo một sĩ quan báo chí trong Bộ Ngoại giao. Thế nhưng sự kiên nhẫn của giới quân đội là có giới hạn, và các viên tướng lãnh vẫn còn có quyền quyết định ở Sài Gòn. Không ai biết được rằng tại sao Chính phủ Cách mạng Lâm thời còn chưa nhậm chức. “Ủy Ban Quân Quản”, chính phủ quân sự dưới viên tướng cách mạng Trần Văn Trà, đã dọn vào trong Dinh Tổng thống – có vẻ như cho một thời gian dài.

Tuy là một vài thành viên của Chính phủ Cách mạng Lâm thời đã ở lại trong thành phố sau lần duyệt binh lớn mừng chiến thắng vào ngày 15 tháng Năm, thậm chí họ còn có một vài văn phòng trong ngôi nhà làm việc của thủ tướng cũ ở trên đường Thống Nhất – nhưng các bộ trước đây, mà thời gian sau này đã hoạt động trở lại, đều đứng trực tiếp dưới quyền của chính phủ quân sự.

“Ủy Ban Quân Quản”, theo một sinh viên y khoa thất vọng, không cầm quyền, và quản lý thì còn ít hơn nữa. Họ chỉ cấm đoán thôi. Và thật sự là: tất cả các đảng phái chính trị đều bị cấm, hồ bơi đóng cửa, quán rượu và vũ trường, từ sáu tuần nay là cả ngân hàng.

Không còn chào mừng nữa, mà là giáo dục cải tạo: nhân viên nhà nước, quân nhân, sinh viên, trẻ con. Trong khu người Hoa Chợ Lớn, học sinh năm đến mười tuổi phải có mặt ở trường lúc năm giờ sáng, phần lớn còn chưa ăn sáng. Khi những đứa bé than đói, người thầy giáo trả lời: Hãy để chúng ta cầu nguyện đến Chúa của các em, để xem ông ấy có giúp đỡ gì không. Vào lúc mười giờ, cuối cùng người thầy có một ý tưởng tốt hơn. Ông ấy đọc một bài thơ về Hồ Chí Minh và rồi nói rằng: “Bác Hồ luôn sống cùng chúng ta, bác yêu tất cả những đứa cháu như nhau.” Thế rồi người thầy phân phát cơm ăn.

Từ những cái loa trên đường phố, cho tới khi chiến bại đã rè rè phát đi những câu khẩu hiệu tuyên truyền của chế độ cũ, bây giờ vang ra các âm thanh mới: “Việt Nam là một” là một trong những bài hát được phát ra từ sáng sớm cho tới chiều tối.

Việt Nam là một, vâng, nhưng không ai biết thật sự là theo cách nào. Tại cuộc duyệt binh mừng chiến thắng, các nhân vật xã hội chủ nghĩa nổi tiếng từ miền Bắc và miền Nam chen chúc nhau trên cái khán đài lớn bằng gỗ. Các viên tướng trong bộ quân phục được cắt may theo mẫu Xô viết hoàn toàn đồng nhất, mà chỉ các phù hiệu khác nhau mới biểu lộ họ là sĩ quan Bắc Việt hay Nam Việt, thành viên của Bộ Chính trị từ Bắc và Nam, chủ tịch nước Bắc, thủ tướng Nam, và tất nhiên là Lê Đức Thọ và Madame Bình. Một màn trình diễn sự thống nhất.

Hình: Francoise de Mulder/CORBIS

Đúng là như vậy: những gì mà các chính trị gia miền Nam thể hiện dường như chỉ là trang trí. Hàng ngàn cán bộ hiện giờ đã được chở máy bay từ miền Bắc vào, một phần đến bằng tàu thủy. “Hà Nội quyết định, chính phủ quân sự thi hành – và Chính phủ Cách mạng Lâm thời thậm chí còn không được hỏi đến”, một cựu dân biểu của chính quyền cũ phân tích tình hình.

Và tuy vậy cũng có một vài điều ủng hộ, rằng người ta sẽ phải chờ đợi cuộc tái thống nhất chính thức, theo luật pháp quốc tế, thêm ít lâu nữa. Luật sư Hà Huy Đỉnh, người làm việc trong bí mật hai năm trời cho cách mạng, tin rằng ông biết tại sao: “Sự khác biệt xã hội và độ chênh lệch về kinh tế là quá lớn cho một cuộc thống nhất ngay lập tức. Vì vậy mà sẽ có một giai đoạn chuyển tiếp. Nó có thể kéo dài cho tới hai năm.”

Sự khác biệt xã hội hiện ra ở mọi góc đường trong Sài Gòn: chợ đen mua bán máy ảnh và radio, với xăng bị đánh cắp chứa trong những chai rượu Whisky trước những trạm xăng đã bị bỏ lại của các tập đoàn đa quốc gia – ai muốn cấm họ mà không tước đi những nguồn thu nhập của nhiều gia đình? Quán cà phê đầy sinh viên, những người ngồi đó trầm ngâm suy nghĩ hàng giờ với một ly Coca Cola, rằng thời gian học đại học cho tới bây giờ của họ chỉ là một sự lãng phí thời gian: quản lý và quản trị kinh doanh – nền kinh tế kế hoạch đang dần xuất hiện hoạt động khác với những thứ đó.

Sài Gòn, 29 tháng Năm: Những người bán hàng chợ đen vẫn kinh doanh như bình thường các món hàng trộm ra từ PX. Nhưng người mua bây giờ là những người lính của Chính phủ Lâm thời.

Trong thời gian chuyển tiếp được Đỉnh dự đoán thì theo ông sẽ tiếp tục tồn tại sự chia cắt về hình thức, cái mà hiện giờ đã thể hiện trên giấy tờ chính thức qua cái tên tạm thời của Nam Việt Nam: “Cộng hòa Miền Nam Việt Nam” – một phần đặc biệt của tổng thể.

Và lợi ích tài chính của những người chiến thắng dường như cũng có ảnh hưởng tới các chiến thuật thận trọng của Hà Nội. “Chúng tôi yêu cầu các quốc gia chịu trách nhiệm cho sự tàn phá Nam Việt Nam phải bồi thường”, một sĩ quan báo chí từ Hà Nội nói, và nhấn mạnh thêm vào đó: “Đặc biệt là từ Hoa Kỳ và Cộng hòa Liên bang Đức, nước đã hỗ trợ mạnh mẽ cho cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ cho tới cuối cùng.”

Thật sự là người ta thấy rõ rằng trong số tất cả các đại sứ quán được di tản trước khi người cộng sản chiến thắng thì chỉ có đại sứ quán của Hoa Kỳ và Cộng hòa Liên bang Đức là còn chưa được sử dụng làm trại lính hay nhà giải trí cho những người chiến thắng: người ta dọn dẹp trước đại sứ quán Mỹ, tòa nhà đóng cửa, khu đất có nhiều trạm canh gác, trong khi những người lính từ trong rừng ra phơi quần áo lót màu xanh ô liu của họ trên hàng rào và trong các cửa sổ của đại sứ quán Anh đối diện.

Nếu như có thể thấy rõ tính toán chính trị trong trường hợp của tòa đại sứ Mỹ thì tình huống có khác đi trong trường hợp của đại sứ quán Đức. Ở đó, một người lính lê dương trước đây, trong một cuộc chiến đấu anh hùng cô độc đã ngăn chận được những gì tồi tệ nhất: người trông nom nhà Arno Knöchel, rất thích để cho người ta gọi mình là ông đại sứ, vào ngày giải phóng đã nhanh chóng thu hồi con đại bàng của Liên bang Đức và phô bày ra một lá cờ mới – lá cờ của Mặt trận Giải phóng.

Cùng với hàng chục người bạn Việt và các thành viên gia đình, Knöchel sống trong ngôi nhà đại sứ quán dưới một tấm ảnh của Thống chế Rommel và cố thủ vị trí – ở thế tấn công: sau ba tuần, con đại bàng Liên bang Đức lại leo lên cao trên cột cờ, nơi mà bây giờ nó minh chứng cho sự chung sống trong hòa bình với ngôi sao vàng của Mặt trận Giải phóng.

Phan Ba dịch từ Der Spiegel 23/1975 (02/06/1975):http://www.spiegel.de/spiegel/print/d-

Posted in Cái giá của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc”., Chien Tranh Viet Nam, Miền Nam sau 30-4-1975, Đảng CSVN - còn đảng, còn mình... | Leave a Comment »

►Sai lầm khi “coi thường” thành quả VNCH

Posted by hoangtran204 trên 29/04/2015

28-4-2015

Việt Nam đã để lỡ mất cơ hội phát huy những thành quả của miền Nam để lại do chìm đắm trong tư tưởng của bên thắng cuộc, theo Tiến sỹ Vũ Minh Khương

Việt Nam đã để mất cơ hội trở thành một cường quốc sau năm 1975 do coi thường các thành quả trong chính sách của Việt Nam Cộng hòa.

Nhận định trên được Tiến sỹ Vũ Minh Khương, từ Trường Chính sách công Lý Quang Diệu, Singapore, đưa ra trong cuộc phỏng vấn với BBC ngày 25/4.
Cũng theo ông Khương, chính thái độ này đã khiến cho Việt Nam “tổn thất một nguồn lực rất lớn”, không khai thác được ý chí dân tộc và “tình cảm giữa người dân hai miền”.

BBC: Ông đánh giá thế nào về các chính sách kinh tế của miền Nam trước năm 1975?
Ông Vũ Minh Khương: Tôi nghĩ chính quyền miền Nam trước đây đã có những nỗ lực rất lớn trong phát triển kinh tế, dù trong hoàn cảnh chiến tranh rất ác liệt và tâm trí của họ không dành được nhiều cho vấn đề này.

Việc hỗ trợ cho kinh tế tư nhân, hội nhập quốc tế và hỗ trợ kinh tế nội địa, theo tôi là những điểm sáng.

Tôi thì không được chứng kiến trực tiếp việc họ thực thi chính sách như thế nào, nhưng sau năm 75, tôi vào làm việc ở TP.HCM thì thấy trình độ quản lý của các cơ sở tiếp quản từ doanh nghiệp miền Nam rất tốt, kể cả từ mặt thiết bị, tính chuyên nghiệp, sổ sách, tính quy hoạch.

Rõ ràng là có dấu ấn của nỗ lực khá tốt trong việc xây dựng một nền kinh tế thị trường có hiệu quả.

BBC: Sau năm 1975 thì thái độ học hỏi những chính sách, thành quả kinh tế của miền Nam thời bấy giờ từ phía ‘thắng cuộc’ là thế nào, thưa ông?

Ông Vũ Minh Khương: Tôi thấy trong bối cảnh của miền Nam mới giải phóng thì ý thức học hỏi của Việt Nam rất hạn chế vì tâm lý là người chiến thắng. Khi đó miền Bắc nhìn nhận mọi vấn đề ở miền Nam một cách rất coi thường, đánh giá thấp, không trân trọng những gì họ đã làm được.

Đó là một não trạng mà đến nay chúng ta phải rút kinh nghiệm rất là nhiều.

Cái thứ hai là lòng thôi thúc để xây dựng một đất nước hùng cường chưa rõ, vẫn còn bị ảnh hưởng vì chiến thắng.

Bên cạnh đó, chúng ta còn nghĩ rằng vì mình là đồng minh của Liên Xô, cứ học hỏi Liên Xô, là có thể trở thành một quốc gia XHCN thành công rồi. Nỗ lực học hỏi tinh hoa của thế giới còn rất hạn chế.

BBC: Nếu như những người tiếp quản miền Nam nghiêm túc nghiên cứu về những chính sách cũ để từ đó chắt lọc và tiếp tục áp dụng thì theo ông điều đó sẽ tạo ra sự khác biệt gì?

Thay Tôi thấy chúng ta rõ ràng đã làm tổn thất một nguồn lực rất lớn, từ ý chí dân tộc đến tính chuyên nghiệp đã được đào tạo ở chế độ cũ, cũng như tình cảm gắn bó giữa người dân hai miền.
Tiến sỹ Vũ Minh Khương

Ông Vũ Minh Khương: Tôi cho rằng điều đó sẽ tạo nên sự thần kỳ. Tất cả chúng ta phải thấy xót xa, khắc khoải vì mất đi một thời cơ quý giá vô cùng như thế.

Giá như với ý thức cao, chúng ta có thể tiếp thu những gì ở miền Nam, cái gì dở thì sửa chữa, cái gì tốt thì học hỏi và đặt câu hỏi vì sao họ làm được như thế.

Tôi từng làm việc ở một trung tâm tính toán và thấy tính chuyên nghiệp của đội ngũ cán bộ ở đó rất cao. Họ tận tình chỉ bảo nhau rất kĩ càng mà tôi là người mới vào, được chỉ dẫn rất rõ.

Hệ thống IBM hiện đại lúc đó còn để lại, duy trì hàng chục năm mà vẫn còn giúp cho miền Bắc rất nhiều, từ xây dựng Thủy điện Sông Đà, tới tuyển sinh và quản lý hoàn toàn hệ thống điện lực ở miền Nam, rất hiệu quả.

Cũng không hề có tham nhũng tiêu cực ở đó, tính chuyên nghiệp rất cao. Đồng lương thì khiêm nhường thôi, nhưng anh em làm việc ở đó gắn bó tình cảm lắm. Sau này thì mọi người ly tán, mỗi người đi một nơi, xuất cảnh ra nước ngoài.

Sau này nghĩ lại tôi thấy chúng ta rõ ràng đã làm tổn thất một nguồn lực rất lớn, từ ý chí dân tộc đến tính chuyên nghiệp đã được đào tạo ở chế độ cũ, cũng như tình cảm gắn bó giữa người dân hai miền.

BBC: Từ góc độ của một nhà quan sát, ông có cho rằng đã có sự thay đổi từ phía các nhà làm chính sách trong cách nhìn nhận, nghiên cứu những kinh nghiệm của miền Nam ngày trước chưa?

Ông Vũ Minh Khương: Khi nói về năng lực học hỏi thì thường người ta nhìn ở ba khía cạnh. Khía cạnh thứ nhất là khả năng tiếp thu có tốt hay không, thứ hai là sự khát khao để học hỏi cái mới, và thứ ba là cơ chế khuyến khích, tức là người chịu khó học hỏi vươn lên có được tưởng thưởng hay không.

Ở Việt Nam thì tôi thấy hạn chế nhất là lòng thôi thúc chưa được cao. Thứ hai là cơ chế tưởng thưởng người khát khao học hỏi cũng hạn chế.
Học ở chế độ cũ là một việc, học từ toàn thế giới lại càng quan trọng hơn.

Cán bộ của mình khả năng tiếp thu không yếu. Những anh em cán bộ từ Bắc chuyển vào Nam làm quản lý sau 75 thì cũng cố gắng tiếp thu những cái cũ khá nhiều.

Nếu có cơ chế khuyến khích họ mạnh mẽ khai thác những cái hay của chế độ cũ, bên cạnh đó có những nỗ lực vươn lên, thì tôi cho rằng Việt Nam có thể đạt dược những thành quả lớn hơn nhiều.

Posted in Cái giá của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc”., Chien Tranh Viet Nam, Miền Nam sau 30-4-1975 | Leave a Comment »

►Chiến tranh Việt Nam có thực sự cần thiết? (Nguyễn Hưng Quốc)

Posted by hoangtran204 trên 29/04/2015

Liên quan đến biến cố 30 tháng Tư 1975, có một câu nói của một quan sát viên quốc tế mà tôi rất tâm đắc: “Không có ai chiến thắng cả. Tất cả đều là nạn nhân” (There were no winners, only victims).

Nhưng tại sao lại không có người chiến thắng?

Trước hết, không còn hoài nghi gì nữa, người miền Nam chắc chắn là những người thua cuộc và từ đó, là những nạn nhân không những của chiến tranh mà còn của hoà bình với hàng trăm ngàn người bị bắt đi cải tạo, hàng triệu người liều mạng vượt biển để tìm tự do và hầu như tất cả đều sống trong cảnh vừa lầm than vừa bị áp bức.

Mỹ cũng không phải là những kẻ chiến thắng. Nói cho đúng, họ thắng trong cuộc chiến tranh lạnh với khối xã hội chủ nghĩa bằng việc phân hoá Trung Quốc và Liên Xô đồng thời bằng cách vô hiệu hoá hiệu ứng liên hoàn, gắn liền với thuyết domino vốn là nguyên nhân chính khiến họ tham dự vào cuộc chiến tranh ở Việt Nam. Về phương diện quân sự, họ không thắng không bại: họ đã rút quân ra khỏi Việt Nam mấy năm trước khi cuộc chiến tranh chấm dứt. Tuy nhiên, về phương diện chính trị, họ đã thất bại trong nỗ lực bảo vệ một đồng minh là chế độ Việt Nam Cộng Hoà ở miền Nam. Sau đó, về phương diện tâm lý, họ là những nạn nhân với hội chứng Việt Nam, một ám ảnh đầy day dứt trong lương tâm của những người từng tham chiến. Đó là chưa kể hơn 58.000 người lính bỏ mình tại Việt Nam cũng như hàng mấy trăm ngàn người bị thương tật trở thành một gánh nặng trong xã hội Mỹ.

Thế còn miền Bắc?

Đương nhiên họ là những người thắng cuộc. Thắng về quân sự: đánh bại được quân đội Việt Nam Cộng Hoà. Thắng về chính trị: thống nhất được đất nước sau 20 năm chia cắt. Tuy nhiên, bên cạnh những chiến thắng ấy, họ cũng gánh chịu không ít thất bại. Những thất bại ấy làm cho chiến thắng của họ trở thành một tai hoạ cho mọi người.

Trước hết, như là hệ quả của việc chà đạp lên hiệp định Paris, xua quân cưỡng chiếm miền Nam, Việt Nam phải gánh chịu sự cô lập hoàn toàn với thế giới bên ngoài. Trừ Liên Xô và khối xã hội chủ nghĩa, họ không có một người bạn nào cả. Ngay cả với một nước đồng minh thân cận từng giúp đỡ họ cả mấy chục năm, Trung Quốc, cũng biến thành kẻ thù với hậu quả là, ngay sau chiến tranh Nam -Bắc chấm dứt, Việt Nam phải chịu đựng thêm hai cuộc chiến tranh mới: chiến tranh với Campuchia và chiến tranh với Trung Quốc.

Hệ quả của tất cả những điều vừa nêu là, về phương diện kinh tế, Việt Nam hoàn toàn kiệt quệ. Lạm phát tăng nhanh; nạn đói lúc nào cũng lởn vởn trước mắt mọi người. Trong nhiều năm, ngay cả lúa gạo, nguồn thực phẩm chính và cũng là điểm mạnh của miền Nam, cũng bị thiếu hụt nghiêm trọng. Dân chúng phải thường xuyên ăn độn hoặc ăn bo bo để thế cơm. Việt Nam trở thành một trong những quốc gia nghèo khó và chậm phát triển nhất thế giới.

Về phương diện xã hội, hầu như mọi người đều bị lâm vào cảnh khốn cùng. Mâu thuẫn giữa hai miền Nam và Bắc càng lúc càng sâu sắc. Sự thống nhất chỉ có trên phương diện chính trị và hành chính, nhưng về tâm lý, nhìn nhau, dân chúng giữa hai miền vẫn đầy những nghi kỵ và đố kỵ.

Về phương diện chính trị, dân chúng không còn chút tự do nào cả. Tự do tư tưởng: Không. Tự do ngôn luận: Không. Tự do cư trú và tự do đi lại: Không. Tất cả các quyền tự do căn bản của dân chủ, từ tự do hội họp đến tự do thành lập và tham gia vào đảng phái đều bị tước sạch.

Có thể nói, trong hơn mười năm, từ 1975 đến 1985, khi phong trào đổi mới xuất hiện, ở Việt Nam, dân chúng trong cả nước đều chia sẻ nỗi bất hạnh chung xuất phát từ việc miền Bắc thắng miền Nam. Không có gì quá đáng nếu chúng ta nói, trừ giới lãnh đạo cộng sản, tất cả mọi người đều là nạn nhân của biến cố 30 tháng Tư 1975. Không phải chỉ những người bị bắt đi học tập cải tạo hoặc bị lùa đi kinh tế mới mới là nạn nhân: Tất cả mọi người đều là nạn nhân. Không phải chỉ những người bị bỏ mình trên biển mới là nạn nhân, ngay cả những người may mắn vượt thoát và được định cư ở nước ngoài cũng là nạn nhân: họ phải xa lìa tổ quốc để sống tha hương, không lúc nào nguôi nỗi khắc khoải trông ngóng về đất nước cũ.

Nhưng nếu mọi người đều là nạn nhân, cuộc chiến tranh Nam Bắc vốn kéo dài hai mươi năm có thực sự cần thiết hay không?

Bộ máy tuyên truyền của miền Bắc trước năm 1975 cũng như trong cả nước sau năm 1975 nêu lên ba lý do chính tại sao miền Bắc phát động cuộc chiến tranh ấy: Một, để giải phóng miền Nam; hai, để phát triển chủ nghĩa xã hội sang nửa phần lãnh thổ còn chịu khổ nạn dưới ách “áp bức” của Mỹ và “nguỵ”; và ba, để đánh bại sự “xâm lược” của “đế quốc” Mỹ.

Xin nói về nguyên nhân thứ ba trước. Đó chỉ là một nguỵ biện. Việc Mỹ đổ cả nửa triệu quân vào miền Nam chỉ là để giúp miền Nam chống lại sự xâm lấn của miền Bắc. Như vậy, nó chỉ là hậu quả chứ không phải là nguyên nhân. Nói cách khác, nếu miền Bắc không mưu toan đánh chiếm miền Nam, chả có lý do gì để Mỹ đổ quân vào miền Nam cả.

Về nguyên nhân thứ hai, người ta dễ dàng nhận thấy là hoàn toàn không chính đáng. Sau sự sụp đổ của Liên Xô và các nước cộng sản tại Đông Âu, hầu như ai cũng biết chủ nghĩa xã hội đồng nghĩa với áp bức và nghèo đói. Mở rộng chủ nghĩa xã hội từ miền Bắc sang miền Nam, do đó, thực chất là việc xuất cảng áp bức và nghèo đói. Đó là một tai hoạ.

Chỉ có nguyên nhân thứ nhất là cần phân tích kỹ. Trước hết, không ai có thể phủ nhận sự cần thiết của việc thống nhất đất nước, một di sản của tổ tiên từ ngàn đời trước. Đó là một mệnh lệnh của lịch sử, của đạo lý và của tình cảm. Tuy nhiên, vấn đề là: sự thống nhất ấy có thể được thực hiện bằng cách nào và được trả bằng giá nào? Nó có cần thiết để cả nước phải trải qua hai chục năm chiến tranh tàn khốc với trên ba triệu người bị giết chết? Lịch sử cung cấp hai bài học chính: Thứ nhất, Đông Đức và Tây Đức đã được thống nhất mà không cần phải trải qua cuộc chiến tranh nào cả. Thứ hai, Nam và Bắc Triều Tiên đến nay vẫn bị chia cắt. Nhưng sự chia cắt ấy được đền bù bằng mức phát triển cực nhanh và cực cao của Nam Triều Tiên. Sự thống nhất không sớm thì muộn, không bằng cách này thì bằng cách khác cũng sẽ xảy ra, nhưng khi nó xảy ra, Đại Hàn cũng đã có một nền tảng kinh tế và chính trị vững chắc là Nam Triều Tiên (như trường hợp của Tây Đức và Đông Đức). Ở đây, sự chia cắt không có gì đáng phàn nàn hay ân hận cả.

Chúng ta tưởng tượng: nếu miền Bắc đừng phát động chiến tranh thì tình hình chính trị Việt Nam hiện nay sẽ ra sao? Thì tất cả những tai hoạ nêu lên ở phần đầu bài viết này sẽ không có. Thì cả hai miền sẽ có hoà bình và nhờ hoà bình, sẽ được phát triển nhanh chóng. Ngay cả khi hai miền Nam và Bắc chưa được thống nhất thì, tuy về phương diện tình cảm, vẫn là một nỗi nhức nhối, nhưng trên mọi phương diện khác, đó lại là một điều may mắn.

Nguyễn Hưng Quốc Nhà phê bình văn học, nguyên chủ bút tạp chí Việt (1998-2001) và đồng chủ bút tờ báo mạng Tiền Vệ (http://tienve.org). Hiện là chủ nhiệm Ban Việt Học tại trường Đại Học Victoria, Úc. Đã xuất bản trên mười cuốn sách về văn học Việt Nam.

Posted in Cái giá của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc”., Chien Tranh Viet Nam, Miền Nam sau 30-4-1975, Đảng CSVN - còn đảng, còn mình... | Leave a Comment »

►30/04: Ân hận một thời Trường Sơn

Posted by hoangtran204 trên 25/04/2015

30/04: Ân hận một thời Trường Sơn

Nhà văn Bùi Ngọc Tấn

Tới nay, sau 40 năm, vẫn còn không ít người Việt Nam, cả ở hải ngoại, dân HO nữa, khi nhắc lại một cái mốc thời gian, không thấy ngại dùng tiếng ” giải phóng ” hay gọi nhà cầm quyền cộng sản ở Việt Nam là  “cách mạng” . Thậm chí có khi tự nhận mình là “ngụy” không hề mặc cảm. Thế mới thấy tác dụng ghê gớm của sức mạnh ngôn ngữ và ảnh hưởng của tuyên truyền chánh trị.

Nhưng “giải phớng” và ” cách mạng”, chỉ ít lâu sau ngày 30/04, bị ngay thực tế xã hội định nghĩa lại chính xác, đúng nghĩa thật của nó.

Hơn ai hết, chính lớp tuổi trẻ ở Miền Bắc bị đảng cộng sản lùa vượt Trường Sơn vào Nam làm chiến tranh giải phóng định nghĩa lại “giải phóng” và “cách mạng” bằng thực tề cuộc sống của bản thân mình sau ngày 30/04. Chị Trung Sĩ, tựa và nhơn vật trong truyện ngắn của nhà văn Bùi Ngọc Tấn là điển hình để phơi bày bản chất cộng sản khi nắm quyền.

Vài hàng về nhà văn Bùi Ngọc Tấn

Cỏ May viết vài hàng về tác giả truyện Trung Sĩ để tưởng niệm nhà văn mới qua đời ngày 18/12/2014, sau những năm tháng chống chọi với bệnh ung thư  đã ghé qua thăm thành phố nhỏ Roissy en Brie ở ngoại ô Paris cùng với bà Hoàng Minh Chính nhân chuyến hai người đi một vòng ngắn Âu châu, trước khi Ông Hoàng Minh Chính đi qua Mỹ chữa bịnh.

Hôm ấy, Bùi Ngọc Tấn ít nói. Người rất khiêm tốn và dễ gây thiện cảm.

Ông vào làng báo khi theo đội Thanh niên Xung phong tiếp quản Hà Nội tháng 10/0954 với vai trò phóng viên cho tờ Tiền Phong. Ông viết văn dưới tên khác để tránh cái lệnh cấm nhà báo không được viết truyện.

Cái dễ thương ở ông là viết, muốn được viết phải né tránh nhưng vẫn giữ khoảng cách với hàng ngũ “nhà văn cung đình”.

Ông xin chuyển về quê quán Hải phòng, với “ước mong thâm nhập công nông để viết được tác phẩm của đời mình”.

Tháng 11/1968, Bùi Ngọc Tấn bị ở tù về tội “tuyên truyền phản cách mạng” trong vụ án “nhóm xét lại chống đảng, làm tay sai cho nước ngoài”. Và tác phẩm dự định viết chưa viết được. Bùi Ngọc Tấn chưa bao giờ là đảng viên đảng cộng sản ở Hà Nội. Ông cũng chưa hề biết cái tội mà ông bị tù.

Đến khi Hiệp định Paris kết thúc chiến tranh ở Việt Nam ký kết, ông được nhà cầm quyền ở Hà Nội trả tự do. Nhưng ra tù, ông lại rùng mình ghê sợ hơn lúc ở tù:

“Ông làm nghề bốc vác, kéo xe bò để sống qua ngày . …Ông phát hiện một điều: tất cả những người trên đường không một ai cười. Giống nhau . Xam xám . Đăm chìêu. Đồng phục quần áo. Đồng phục mặt người ….

Các ông ấy bần cùng hóa nhân dân ghê quá” . Người bạn của ông bảo “Cuộc sống này gần với cuộc sống loài vật . Đâu phải cuộc sống con người”.

Bùi Ngọc Tấn vất vả tận cùng để kiếm cơm áo nhưng không khổ bằng bị công an theo dõi, cách ly, dọa nạt, tra hỏi dưới nhiều hình thức mọi lúc khi cần, làm cho ông bị ám ảnh như có một người vô hình bám sát ông, cả khi ngủ.

Năm 2012, tại Paris, truyện “Biển và Chim bói cá” của Bùi Ngọc Tấn được Festival Livre et Mer phát giải thưởng. Nhân dịp này, Ông François Bourgeon, kịch sĩ và nhà văn, người sáng lập giải thưởng, nói về Bùi Ngọc Tấn:
“ Từ khi lập ra giải thưởng này, tác phẩm của Bùi Ngọc Tấn đã làm chúng tôi thỏa mãn . Tác giả là người Việt nam . Ông tặng cho chúng ta một tác phẩm nhân văn …Bùi Ngọc Tấn biết cái giá của tự do …” (Bùi Ngọc Tấn, Hậu Chuyện Kể Năm 2000 , NXB Tiếng Quê Hương , Virginia , USA 2004) .

Trung Sĩ Lan Anh

Trong truyện này, Bùi Ngọc Tấn viết về cuộc đời của Trung Sĩ Lan Anh, một phụ nữ trẻ đẹp ở Hà Nội, theo lệnh đảng cộng sản, vượt Trường Sơn vào Miền Nam làm chiến tranh cách mạng để giải phóng đồng bào Miền Nam thoát khỏi Mỹ Ngụy kìm kẹp, không đủ cơm ăn, áo mặc . Sau ngày 30/04, hết chiến tranh, đất nước thống nhứt dưới chế độ xã hội chủ nghĩa, Lan Anh tìm được việc làm “ bốc dỡ cá” . Vìệc làm vất vả vì phải làm việc trong hầm lạnh và nặng nhọc. Nhưng có việc làm vẫn hơn thất nghiệp như bao nhiêu người khác.

Làm việc được hơn bảy năm, cơ sở đánh cá dẹp tiệm vì tàu hư, biển hết cá. Cơ quan giải tán. Mọi người từ sếp tới công nhân đều được vứt hết ra vỉa hè, tự do đi tìm việc làm khác.

Lan Anh tìm được vìệc làm trong một nhà hàng ăn sang trọng. Làm tiếp viên (làm điếm trá hình).

Một hôm, Lan Anh gặp lại người bạn thân củ lúc ở Trường Sơn. Anh này làm tài xế đưa sếp và khách của sếp tới đây để đãi đằng theo tập quán làm ăn kinh doanh của thời mở cửa. Hai người bạn cũ xa cách nhau lâu ngày, nay tình cờ gặp lại nên mừng rỡ vô cùng. Lan Anh tự nhiên nắm tay người bạn. Và cũng một phần do phản ứng tự nhiên của nghề nghiệp khi tiếp khách. Nhưng, Lan Anh vội buông tay bạn ra, thụt lùi lại và biến mất khi bạn kêu “Trung Sĩ”, tên gọi thân mật lúc ở Trường Sơn và cũng là cấp bực trong quân đội nhân dân của Lan Anh.

Vài phút sau, Lan Anh trở ra với áo đầm mỏng, không tay, tiến tới người bạn cũ:
“Khi nảy, anh gọi em Trung Sĩ làm cho em xấu hổ quá. Em phải đi thay đồ, bỏ chiếc quần bò đi để trông cho hết ngố”.

Từ lâu lắm rồi, không có ai gọi Lan Anh theo cấp bực trong quân đội. Nay bạn cũ gọi làm cho nàng giựt mình, nghĩ cách ăn mặc giống như bộ đội cách mạng của mình trước đây là ngố, là nhà quê thô kệch. Xấu hổ lắm.

Cũng chính anh bạn này, ngày Sài gòn được “giải phóng”, đã chở Lan Anh và các cô bạn của Lan Anh từ Trường Sơn ra trên một đoạn đường dài ra quốc lộ.

Ngồi trên xe, mọi người trố mặt nhìn nhà cửa, xe cộ ngược xuôi, …Các cô y tá, hộ lý ấy như bay lên. Không phải họ đang ngồi trên xe nữa, mà bay lên tận trời xanh kia kìa. Ai mà không thấy ngay trước mắt mình, cả một thiên đàng đang mở cửa đón chào.

Các cô xúm lại, ùa vào một “cửa hàng mỹ phẩm”, thật ra chỉ là một quán tạp hóa bên đường, bày bán đủ thứ từ bánh kẹo, quần áo may sẵn, ít son phấn, nước hoa rẻ tiền, xà bông thơm của Mỹ như Cadum, Camay, Dove, quần áo lót phụ nữ, … Mắt các cô sáng lên. Lần đầu tiên từ ngày rời Hà Nội, nay mọi người mới trông thấy những thứ lộng lẫy, sang trọng đó. Trước đây, những thứ này, trong mơ, cũng không thể hình dung ra được nữa.

Giờ đây, các cô có ai còn đủ can đảm, còn đủ phẩm chất cách mạng để nhớ lại những ngày ở Trường Sơn, săn sóc thương binh, chôn cất bao nhiêu đồng chí hi sinh cho chiến tranh giải phóng đồng bào Miền Nam?

Làm nghề hoàn toàn lương thiện, trong sạch

Lan Anh làm tiếp viên trong một nhà hàng sang. Cùng với một nhóm trẻ mười tám hai mươi. Lan Anh lớn tuổi, đáng má của nhóm đồng nghiệp nhưng cô nàng vẫn kiếm tiền được. Ngoài khách hàng là cán bộ cao cấp nhiều tiền tới chọn tìếp viên trẻ, còn có ít khách hàng lớn tuổi. Những người này chọn Lan Anh vì các cô trẻ đáng tuổi cháu, có gọi “ anh ” ngọt xớt, có âu yếm, cũng chỉ gượng ép, không thể tự nhiên được. Vả lại, tuổi ngoài bốn mươi nhưng Lan Anh còn giữ được gương mặt dễ coi và thân mình khá quyến rũ. Cô vẫn thường ân hận phải chi còn được cái tuổi hai mươi như lúc ở Trường Sơn!

Biết người bạn cũ nghĩ xa xôi về mình, Lan Anh nắm tay bạn và nói, giọng chắc nịch:

“Anh muốn nghĩ về em thế nào thì nghĩ . Em không làm việc gì xấu . Em không ăn cắp, không tham nhũng, không lấy tiền của nhân dân về xây biệt thự . Em chỉ đem bản thân của em ra kiếm sống. Nếu em chết đi ở Trường Sơn như bao nhiêu người khác thì cũng chẳng còn cái thân này để nay đem ra bán kiếm sống và nuôi con ăn học …” .

Như nhau cả

Lan Anh hỏi người bạn tuần tới có đi về Hà nội không để xin quá giang cùng xe . Anh bạn của Lan Anh cho biết có đi, chở ông Giám đốc đi Hà Nội nhưng ông này rất kỵ xe chở phụ nữ và ông đi cùng xe với phụ nữ . Lan Anh không tin có người làm Giám đốc mà lại như vậy. Bạn của cô phải giải thích thêm. Ông này người gầy gò, khắc khổ. Nói sa sả. Mắng chửi cán bộ vuốt mặt không kịp. Không bia rượu, không thuốc lá, không nhà hàng. Nhứt là không gái, không biết tiếp viên là gì. Tiếp khách, là chỉ cử sếp phó đi. Lúc nào cũng nói đến công việc, nói đến xí nghiệp. Bạn của Lan Anh cố giải thích để Lan Anh hiểu mà đừng nài nỉ xin đi theo xe về Hà Nội. Nhưng Lan Anh, với kinh nghiệm sống dày dặn, không nghe và còn lớn tiếng trả lời:
“Chúng nó như nhau cả . Như nhau …. . Những thứ bề ngoài như vậy mới là cực gian, cực ác!” .

Lan Anh nói với bạn là cô ta ly dị vì chồng nghiện ngập, …Nhưng thật ra, Lan Anh đã thôi chồng vì chọn nghề này mà chồng không đồng ý.

Sau khi xí nghiệp cá dẹp tiệm vì biển hết cá, Lan Anh phải xoay sở nuôi gia đình 4 miệng ăn, con trai đi học khá tốn kém.

Với người mẹ, đứa con là tài sản vô giá. Không có thứ gì có giá trị vượt qua đứa con được. Lan Anh làm tiếp viên nuôi bà mẹ già, đứa con trai đi học. Ai bảo là xấu?
Lan Anh là tiếp viên, xã hội thừa nhận. Nhưng những cán bộ đảng viên không phải là thứ “tiếp viên” theo một ý nghĩa nào đó  sao?

Người đọc truyện Trung Sĩ của Bùi Ngọc Tấn (Truyện ngắn, NXB Hải Phòng 2003,  các trang 227-246), ai có thể không suy nghĩ thêm lời nhận xét: “Trong mỗi chúng ta ít nhiều đều mang chất tiếp viên”.

Chúng ta ở đây, tức cán bộ và đảng viên ở Vìệt Nam, những người làm cách mạng giải phóng thân phận con người thoát khỏi đời sống bị giai cấp cường hào ác bá, tư sản bóc lột, có thừa tiền cần hưởng thụ, đều mang ít nhiều chất “tiếp viên”?

© Nguyễn thị Cỏ May

© Đàn Chim Việt

Tác giả: 

http://www.danchimviet.info/archives/author/nguyenthicomayhvcblnkwpwad-nmlmwa7r8l5snafq2shqvh5

Posted in Cái giá của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc”., Chạy trốn chủ nghĩa Cộng sản, Chien Tranh Viet Nam, Miền Nam sau 30-4-1975 | Leave a Comment »