Trần Hoàng Blog

Archive for the ‘Hiệp định Geneve 20-7-1954’ Category

►Kỷ niệm ngày chia đôi đất nước: Hiệp định Genève 20-7-1954

Posted by hoangtran204 trên 20/07/2017

 

Đọc tiếp »

Posted in Hiệp định Geneve 20-7-1954 | Leave a Comment »

►Việc thi hành hiệp định Genève- (Trần Gia Phụng)

Posted by hoangtran204 trên 23/07/2014

.

Ho Chi Minh, president of the Democratic Republic of Vietnam, speaking at City Hall, Paris,

on 4 July 1946, during negotiations with the French. AP Photo

Nét mặt của ông HCM đã thay đổi rất nhiều từ 1945, 1946, và 1954. Hình của AP thì chắc chăc là không thể tô vẽ gì, tấm hình thứ 2 (1945?) có dấu vết chỉnh sửa làm cho sáng lên. Hình thứ 3 chụp chung với Chu Ân Lai cũng có dấu chỉnh sửa.

Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đại tướng Võ Nguyên Giáp tại chiến dịch Biên giới (1950) 

Nguồn: ngoisao.vn

http://en.wikipedia.org/wiki/Ho_Chi_Minh

Việc thi hành hiệp định Genève

Tác giả:

20-7-2014

eca86ba05494149e2cd538

Nhân kỷ niệm 60 năm hiệp định Genève (20-7-1954), chúng ta thử nhìn lại Cộng Sản Việt Nam (CSVN) dựa vào lý do nào để khởi binh tấn công Nam Việt Nam (NVN)?

Hiệp định Genève

Danh xưng chính thức đầy đủ của hiệp định Genève về Việt Nam là Hiệp định đình chỉ chiến sự ở Việt Nam. Hiệp định nầy được viết bằng hai thứ tiếng Pháp và Việt, có giá trị như nhau. Hai nhân vật chính ký vào hiệp định Genève là Henri Delteil, thiếu tướng, thay mặt Tổng tư lệnh Quân đội Liên Hiệp Pháp ở Đông Dương và Tạ Quang Bửu, thứ trưởng Bộ Quốc phòng chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (VNDCCH tức Việt Minh cộng sản). Đại diện các nước khác cùng ký vào hiệp định Genève còn có Anh, Liên Xô, Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa (Trung Cộng), Lào Cambodia. Chính phủ Quốc Gia Việt Nam (QGVN) và Hoa Kỳ không ký vào bản hiệp định nầy.

Hiệp định đình chỉ chiến sự ở Việt Nam (gọi tắt là hiệp định Genève)gồm có 6 chương, 47 điều, trong đó các điều chính như sau:

Việt Nam được chia thành hai vùng tập trung, ranh giới tạm thời từ cửa sông Bến Hải, theo dòng sông, đến làng Bồ-Hô-Su và biên giới Lào Việt. [Cửa sông Bến Hải tức Cửa Tùng, thuộc tỉnh Quảng Trị. Sông Bến Hải ở vĩ tuyến 17 nên người ta nói nước Việt Nam được chia hai ở vĩ tuyến 17.

Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ở phía bắc và Quốc Gia Việt Nam ở phía nam Viêt Nam. Dọc hai bên bờ sông, thành lập một khu phi quân sự rộng 5 cây số mỗi bên, để làm “khu đệm”, có hiệu lực từ ngày 14-8-1954. Thời hạn tối đa để hai bên rút quân là 300 ngày kể từ ngày hiệp định có hiệu lực. Cuộc ngưng bắn bắt đầu từ 8 giờ sáng ngày 27-7 ở Bắc Việt, 1-8 ở Trung Việt và 11-8 ở Nam Việt. Mỗi bên sẽ phụ trách tập họp quân đội của mình và tự tổ chức nền hành chánh riêng. Cấm phá hủy trước khi rút lui. Không được trả thù hay ngược đãi những người đã hợp tác với phía đối phương. Trong thời gian 300 ngày, dân chúng được tự do di cư từ khu nầy sang khu thuộc phía bên kia. Cấm đem thêm quân đội, vũ khí hoặc lập thêm căn cứ quân sự mới. Tù binh và thường dân bị giữ, được phóng thích trong thời hạn 30 ngày, kể từ khi thực sự ngừng bắn. Sự giám sát và kiểm soát thi hành hiệp định sẽ giao cho một Uỷ ban Quốc tế. Thời hạn rút quân riêng cho từng khu vực kể từ ngày ngừng bắn: Hà Nội (80 ngày), Hải Dương (100 ngày), Hải Phòng (300 ngày), miền Nam Trung Việt (80 ngày), Đồng Tháp Mười (100 ngày), Cà Mau (200 ngày). Đợt chót ở khu tập kết Trung Việt (300 ngày).

Ai vi phạm hiệp định Genève

Hiệp định này ký kết ngày 20-7-1954 chỉ là một hiệp định có tính cách thuần tuý quân sự. Cũng giống như hiệp ước đình chiến Bàn Môn Điếm ngày 27-7-1953 ở Triều Tiên, hiệp định không phải là một hòa ước, và không đưa ra một giải pháp chính trị nào cho tương lai Việt Nam.

Chính phủ QGVN dưới quyền quốc trưởng Bảo Đại và thủ tướng Ngô Đình Diệm lo tập trung và rút toàn bộ lực lượng của mình về miền Nam vĩ tuyền 17 đúng thời hạn và đúng theo quy định của hiệp định. Điều nầy chẳng những báo chí lúc bấy giờ đã trình bày, mà cho đến nay, chẳng có tài liệu sách vở nào cho thấy là chính phủ QGVN đã gài người hay lưu quân ở lại đất Bắc. Như thế, trong việc thi hành hiệp định Genève, chính phủ QGVN đã thi hành đúng đắn hiệp định.

Trái lại, nhà nước VNDCCH do Việt Minh cộng sản cầm đầu đã không tuân hành quy định trong hiệp định Genève. Sau đây là hai bằng chứng cụ thể do phía cộng sản đưa ra về sau:

Thứ nhứt, tại hội nghị Liễu Châu (Liuzhou) thuộc tỉnh Quảng Tây (Kwangsi), giữa thủ tướng Trung Cộng Chu Ân Lai và chủ tịch nhà nước VNDCCH Hồ Chí Minh từ ngày 3 đến ngày 5-7-1954, tức trước khi hiệp định Genève được ký kết, Hồ Chí Minh đã đưa ra kế hoạch là sẽ chỉ rút những người làm công tác chính trị bị lộ diện; phần còn lại thì ở lại để chờ đợi thời cơ nổi dậy. Số ở lại có thể đến 10,000 người. (Tiền Giang, Chu Ân Lai dữ Nhật-Nội-Ngõa hội nghị (Chu Ân Lai và hội nghị Genève) Bắc Kinh: Trung Cộng đảng sử xuất bản xã, 2005, bản dịch của Dương Danh Dy, tựa đề là Vai trò của Chu Ân Lai tại Genève năm 1954, chương 27 “Hội nghị Liễu Châu then chốt”. Nguồn: Internet).

Thứ hai, Việt Minh cộng sản chẳng những chôn giấu võ khí, lưu 10,000 cán bộ, đảng viên ở lại Nam Việt Nam, mà còn gài những cán bộ lãnh đạo cao cấp ở lại miền Nam như Lê Duẫn, Võ Văn Kiệt, Mai Chí Thọ, Cao Đăng Chiếm… (Huy Đức, Bên thắng cuộc, tập I: Giải phóng, New York: Osinbook, 2012, tt. 271-273), để chỉ huy Trung ương cục miền Nam (TƯCMN). Trung ương cục miền Nam được thành lập ngày 20-1-1951, chỉ huy toàn bộ hệ thống cộng sản ở Nam Việt Nam (Tháng 10-1954, TƯCMN đổi thành Xứ ủy Nam Bộ. Hội nghị lần thứ 3 Ban Chấp hành TƯĐ (khóa III) đảng LĐ (ngày 23-1-1961) ở Hà Nội, Xứ ủy Nam Bộ trở lại thành TƯCMN.)

Hai tài liệu trên đây do phía cộng sản Việt Nam tiết lộ, chứ không phải tài liệu tuyên truyền của NVN hay Tây Phương. Như vậy, rõ ràng trong khi chính phủ QGVN tôn trọng hiệp định Genève, nhà nước VNDCCH đã có kế hoạch vi phạm hiệp định đã ký kết.

Cộng sản đòi hỏi điều không có

Hiệp định Genève chỉ là một hiệp định đình chiến, thuần túy quân sự và không đưa ra một giải pháp chính trị. Thế mà ngày 19-7-1955, thủ tướng BVN là Phạm Văn Đồng gởi thư cho thủ tướng Nam Việt Nam (NVN) là Ngô Đình Diệm yêu cầu mở hội nghị hiệp thương bắt đầu từ ngày 20-7-1955, như đã quy định trong hiệp định Genève để bàn về việc tổng tuyển cử nhằm thống nhất đất nước. (John S. Bowman, The Vietnam War, Day by Day, New York: The Maillard Press, 1989, tr. 17.) Ngày 10-8-1955, thủ tướng Ngô Đình Diệm bác bỏ đề nghị của Phạm Văn Đồng, vì cho 1955 rằng chính phủ QGVN tức NVM không ký các văn kiện Genève nên không bị ràng buộc phải thi hành.

Tuy sau đó chính phủ Việt Nam Cộng Hòa (VNCH), thay chính phủ QGVN, nhiều lần từ chối, Phạm Văn Đồng vẫn nhắc lại đề nghị nầy hằng năm vào các ngày 11-5-1956, 18-7-1957, và 7-3-1958, để chứng tỏ BVN quan tâm đến chuyện thống nhứt đất nước, và nhằm tuyên truyền với các nước trên thế giới. Lần cuối, Ngô Đình Diệm, lúc đó là tổng thống VNCH, bác bỏ đề nghị của Phạm Văn Đồng vào ngày 26-4-1958.

Một điều lạ lùng là trong hiệp định Genève, không có một điều khoản nào nói đến việc tổ chức tổng tuyển cử để thống nhất đất nước mà nhà cầm quyền CS cứ nhất định đòi hỏi tổ chức tổng tuyển cử theo hiệp định Genève. Thật ra, sau khi hiệp định về đình chỉ chiến sự ở Việt Nam, ở Lào và ở Cambodia được ký kết, các phái đoàn tham dự hội nghị Genève họp tiếp vào ngày 21-7-1954, nhằm bàn thảo bản “Tuyên bố cuối cùng của Hội nghị Genève 1954 về vấn đề lập lại hòa bình ở Đông Dương”. Bản tuyên bố gồm 13 điều; quan trọng nhất là điều 7, ghi rằng: Hội nghị tuyên bố rằng đối với Việt Nam, việc giải quyết các vấn đề chính trị thực hiện trên cơ sở tôn trọng nguyên tắc độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, sẽ phải làm cho nhân dân Việt Nam được hưởng những sự tự do căn bản, bảo đảm bởi những tổ chức dân chủ thành lập sau tổng tuyển cử tự do và bỏ phiếu kín. Để cho việc lập lại hòa bình tiến triển đến mức cần thiết cho nhân dân Việt Nam có thể tự do bày tỏ ý nguyện, cuộc Tổng tuyển cử sẽ tổ chức vào tháng 7-1956 dưới sự kiểm soát của một Ban Quốc tế gồm đại biểu những nước có chân trong Ban Giám sát và Kiểm soát Quốc tế đã nói trong Hiệp định đình chỉ chiến sự. Kể từ ngày 20-7-1955 những nhà đương cục có thẩm quyền trong hai vùng sẽ có những cuộc gặp gỡ để thương lượng về vấn đề đó (Thế Nguyên, Diễm Châu, Đoàn Tường, Đông Dương 1945-1973, Sài Gòn: Trình Bày, 1973, tr. 53. Xem bản Pháp văn của tuyên ngôn nầy, vào: google.com.fr., chữ khóa: Déclaration finale de la Conférence de Genève en 1954.)

Chủ tịch phiên họp là Anthony Eden (ngoại trưởng Anh) hỏi từng phái đoàn, thì bảy phái đoàn là Anh, Pháp, Liên Xô, CHNDTH, VNDCCH, Lào và Cambodge trả lời miệng rằng “đồng ý”. (Hoàng Cơ Thụy, Việt sử khảo luận, cuốn 5, Paris: Nxb. Nam Á 2002, tr. 2642.) Tất cả bảy phái đoàn đều trả lời miệng chứ không có phái đoàn nào ký tên vào bản tuyên bố, nghĩa là bản tuyên bố không có chữ ký. Đây chỉ là lời tuyên bố (déclaration) của những phái đoàn, có tính cách dự kiến một cuộc tổng tuyển cử trong tương lai ở Việt Nam, không có chữ ký, thì chỉ có tính cách gợi ý, hướng dẫn chứ không có tính cách cưỡng hành. Một văn kiện quốc tế không có chữ ký thì làm sao có thể bắt buộc phải thi hành? Hơn nữa, những hiệp định với đầy đủ chữ ký mà còn bị CSVN vi phạm trắng trợn, huống gì là bản tuyên bố không chữ ký.

Phái đoàn QGVN và phái đoàn Hoa Kỳ không ký vào hiệp định Genève ngày 20-7-1954 và cũng không đồng ý bản “Tuyên bố cuối cùng của Hội nghị Genève 1954 về vấn đề lập lại hòa bình ở Đông Dương” ngày 21-7-1954. Hai phái đoàn QGVN và Hoa Kỳ đã đưa ra tuyên bố riêng của mỗi phái đoàn để minh định lập trường của chính phủ mình.

Cộng sản bịa đặt lý do để tấn công QGVN

Cộng sản BVN vi phạm hiệp định Genève, nhưng lại bịa đặt ra hai lý do để tấn công NVN: 1) Nam Việt Nam không tôn trọng hiệp định về việc tổ chức tổng tuyển cử thống nhất đất nước. 2) Nam Việt Nam là tay sai đế quốc Mỹ nên BVN quyết định chống Mỹ cứu nước.

Về lý do thứ nhứt, như trên đã viết, hiệp định Genève không đề cập đến giải pháp chính trị tương lai cho Việt Giải pháp tổng tuyển cử nằm trong điều 7 của bản “Tuyên bố cuối cùng của Hội nghị Genève 1954 về vấn đề lập lại hòa bình ở Đông Dương”. Bản tuyên bố nầy lại không có chữ ký của bất cứ phái đoàn nào, nên chỉ có tính cách khuyến cáo chứ không có tính cách bắt buộc phải thi hành.

Lý do thứ hai hoàn toàn có tính cách tưởng tượng vì sau năm 1954, Hoa Kỳ viện trợ kinh tế cho Nam Việt Nam tái thiết đất nước, ổn định cuộc sống của dân chúng sau chiến tranh, chứ Hoa Kỳ không viện trợ quân sự, chưa đem quân vào Việt Nam.

Nếu để cho VNCH yên bình xây dựng kinh tế với sự trợ giúp của Hoa Kỳ, thì đến một lúc nào đó chắc chắn VNCH với nền kinh tế tự do sẽ phát triển và vượt xa VNDCCH với nền kinh tế chỉ huy theo đường lối cộng sản. Đó chính là điều mà VNDCCH thực sự lo lắng. Sự giúp đỡ của Hoa Kỳ cho NVN chẳng những khiến BVN rất quan ngại, mà sự hiện diện của người Hoa Kỳ tại NVN còn khiến cho cả Trung Cộng chẳng yên tâm.

Lúc đó, Hoa Kỳ đang giúp Trung Hoa Dân Quốc bảo vệ Đài Loan chống Trung Cộng. Hoa Kỳ còn giúp bảo vệ Nam Triều Tiên và Nhật Bản, nên Trung Cộng mạnh mẽ chống đối Hoa Kỳ chẳng những tại Đông Á, mà còn chống Hoa Kỳ khắp nơi trên thế giới, hơn cả Liên Xô chống Hoa Kỳ. Nay người Hoa Kỳ lại có mặt ở NVN, gần sát với Trung Cộng, nên Trung Cộng rất quan ngại cho an ninh phía nam của chính Trung Cộng.

Hơn nữa, cho đến năm 1960 là năm BVN khởi động chiến tranh tấn công NVN, Hoa Kỳ chỉ viện trợ kinh tế cho NVN chứ Hoa Kỳ không đem quân vào NVN. Chỉ sau khi BVN tấn công và uy hiếp mạnh mẽ NVN, Hoa Kỳ mới đem quân vào giúp NVN năm 1965. Vì vậy, chiêu bài “chống Mỹ cứu nước” năm 1960 là hoàn toàn bịa đặt. Như thế, BVN cố tình đưa ra chiêu bài “chống Mỹ cứu nước” vừa để kêu gọi lòng yêu nước của người Việt Nam vốn có tinh thần chống ngoại xâm, vừa để xin viện trợ cộng sản quốc tế và thi hành nghĩa vụ quốc tế, như Lê Duẫn đã từng nói “Ta đánh Mỹ là đánh cho cả Trung Quốc, cho Liên Xô” (Nguyễn Mạnh Cầm, ngoại trưởng CSVN từ 1991-2000, trả lời phỏng vấn đài BBC ngày 24-1-2013.)

Kết luận

Hiệp định Genève là hiệp định đình chỉ quân sự. Chính thể QGVN hay VNCH tức NVN đã thi hành đúng hiệp định. Trong khi VNDCCH liên tục vi phạm hiệp định nầy. Do tham vọng quyền lực, do chủ trương bành trướng chủ nghĩa cộng sản và do làm tay sai cho Liên Xô và Trung Cộng, VNDCCH mở cuộc chiến từ năm 1960, tấn công Việt Nam Cộng Hoà dưới chiêu bài thống nhất đất nước và chống Mỹ cứu nước. Nhân kỷ niệm 60 năm hiệp định Genéve xin ôn lại điều nầy để giới trẻ trong và ngoài nước thấy rõ nguyên nhân của cuộc chiến 1960-1975, làm cho đất nước điêu tàn và khoảng 3 triệu người Việt tử vong, xuất phát từ VNDCCH hay BVN do đảng Lao Động hay đảng Cộng Sản Việt Nam điều khiển.

Điều nầy càng làm sáng tỏ chính nghĩa của VNCH, cương quyết chống lại CSBVN, bảo vệ nền tự do dân chủ ở NVN, chống lại sự xâm lăng của cộng sản và sự bành trướng của chủ nghĩa cộng sản. Dầu thất bại, chính nghĩa tự do dân chủ của VNCH vẫn luôn luôn sáng ngời và luôn luôn là mục tiêu tối hậu mà nhân dân Việt Nam hiện đang cố gắng vươn tới.

© Trần Gia Phụng
© Đàn Chim Việt

Tác giả:

Posted in Hiệp định Geneve 20-7-1954 | 1 Comment »

►Di cư vào miền Nam 1954

Posted by hoangtran204 trên 20/07/2014

 

Câu chuyện Di cư vào miền Nam của tôi

Tác giả: 

Nguồn: danchimviet.info

dicu1954_2

Năm 1954, tôi vừa tốt nghiệp văn bằng Tú tài II qua kỳ thi vào tháng 6 tại Hà nội, thì được tin quân đội quốc gia đã rút khỏi miền quê tôi tại Huyện Xuân Trường Tỉnh Nam Định để ra Hải phòng bằng đường thủy. Và một số bà con ruột thịt của tôi cũng tìm cách kiếm được thuyền bè để mà đi theo đoàn quân tới được thành phố cảng này. Tôi lại có ông anh cả thuộc đơn vị quân đội trú đóng ở Quảng Yên sát với mỏ than Hòn Gai. Nên vào đầu tháng 7, tôi đã tìm cách đi từ Hà nội đến Hải phòng để tìm gặp bà con và đi thăm gia đình ông anh luôn thể.

Trước khi rời Hà nội, tôi phải đến nhà Thầy Nguyễn Ngọc Cư là Phó Trưởng Ban Giám Khảo kỳ thi Tú Tài, để xin Thầy cấp cho một Giấy Chứng Nhận Đã Thi Đậu Tú Tài, để nộp kèm theo hồ sơ ghi danh vào Đại học. Dù đã biết rõ tôi là học trò của Thầy tại trường Chu Văn An, mà đã thi đậu trong kỳ thi vừa qua, Thầy vẫn phải cẩn thận rà lại danh sách các thí sinh trúng tuyển, rồi mới cấp cho tôi một “Giấy Chúng Nhận Tạm Thời” để tùy nghi sử dụng. Thầy nói : Giấy Chứng Nhận Chính Thức phải do Nha Học Chánh thuộc Bộ Giáo Dục cấp phát, chứ Ban Giám Khảo chỉ có thể cấp Giấy Chứng Nhận Tạm Thời mà thôi. Biết tôi có ý định vào miền Nam, Thầy cầu chúc tôi lên đường gặp nhiều may mắn.

Ở vào tuổi 20 lúc đó, tôi nhìn cuộc đời với nhiều lạc quan tin tưởng, nên chẳng hề e ngại trước cuộc phiêu lưu phải rời xa quê hương đất Bắc, để mà đi tới miền Nam xa xôi cả mấy ngàn cây số. Một phần đó là do tính ưa thích đi đây đi đó xông pha mạo hiểm của tuổi trẻ – như cụ Nguyễn Công Trứ nói : “Chí làm trai Nam Bắc Đông Tây – Cho phỉ sức vãy vùng trong bốn bể”. Nhưng phần lớn chính là do động cơ thúc đảy bởi cái chuyện “phải tránh thoát khỏi cái nạn cộng sản độc tài nham hiểm “, mà đang sắp sửa bủa vây, bao trùm xuống khắp miền Bắc.

Tôi phải ở lại thành phố Hải phòng đến hơn một tháng, thì mới tìm được phương tiện chuyên chở vào đến Sài gòn hồi giữa tháng 8. Đó là nhờ một ông chú là cháu của bà nội tôi, tên là chú Nhân. Chú làm việc tại cơ quan hành chánh phụ trách về việc sắp xếp tàu bè đi vào Nam, nên đã xin cấp trên ưu tiên cấp phát giấy tờ di chuyển cho tôi và một bà cô là Cô Nguyệt để leo lên được chiếc tàu khá lớn của quân đội Pháp có tên là Gascogne. Con tàu này chuyên môn chở quân trang quân dụng cho quân đội, nên không có đủ tiện nghi như là tàu chở hành khách thông thường. Nhưng mà lúc đó, lớp người di cư tỵ nạn chúng tôi đâu còn có sự lựa chọn nào khác, miễn là đi thoát khỏi miền Bắc cộng sản là được may mắn lắm rồi. Số lượng hành khách trên tàu lúc đó có đến 7 – 800 người, phần đông là từ các tỉnh xa thuộc đồng bằng sông Hồng mà sớm ra được tới Hải phòng để kịp đi vào Nam trong mấy chuyến đầu tiên được tổ chức cấp tốc sau ngày ký kết Hiệp Định Geneva 20 Tháng Bảy 1954, chia đôi đất nước. Mãi mấy tháng sau, thì mới có loạt các tàu của Mỹ với các tiện nghi thoải mái hơn để chuyên chở số lượng rất đông đảo người di cư từ Bắc vào Nam.

Con tàu chạy trong chừng ba ngày, thì đến Cap Saint Jacques, tức là cảng Vũng Tàu bây giờ, để chuẩn bị vào cửa sông đi đến bến Nhà Rồng của thành phố Sài gòn. Sau khi tàu cập bến ít lâu, thì chúng tôi được xe chuyên chở đưa tới nơi tạm cư là trường Tiểu học Tôn Thọ Tường trên đường Trần Hưng Đạo bây giờ (mà hồi đó vẫn còn mang tên Pháp là Boulevard Galliéni) cũng gần với Chợ Bến Thành.

Lúc đó bên phía đối diện với ngôi trường, thì có một tòa nhà lớn đang được xây cất, mà sau này chính là rạp chiếu phim Đại Nam. Bà con di cư chúng tôi được các công nhân ở đây thật là hào phóng cấp cho một số gỗ ván gỡ ra từ giàn “cốt pha”(coffrage), để dùng làm củi đun cơm, nấu nước. Đó thật là một nghĩa cử đầu tiên của người dân Sài gòn đối với lớp người mới chân ướt chân ráo từ ngòai Bắc vào miền Nam – chuyện này khiến cho tôi cứ nhớ hoài.

Chúng tôi được mấy bà con đến được Sài gòn vài ba tuần lễ trước, nên họ tìm đến để chỉ dẫn đường đi nước bước tại cái thành phố rộng mênh mông này. Riêng tôi thì gặp lại một số bạn bè cũng từ Hà nội hay từ Nam Định mà đến đây trước như Võ Thế Hào, Trần Ngọc Vân, Nguyễn Phi Hùng . Các bạn cũng giúp tôi việc này chuyện nọ trong bước đầu còn nhiều bỡ ngỡ.

I – Những kỷ niệm khó quên của Sinh viên Di cư.

Sau vài bữa, thì tôi làm xong thủ tục ghi danh ở Đại học Saigon và được nhận vào ở trong Trường Gia Long là nơi được dành riêng cho các sinh viên di cư. Tại đây, sinh viên chúng tôi được cư ngụ trong khu ký túc xá, nên có đày đủ tiện nghi về nơi ăn chốn ở, nhà vệ sinh, phòng tắm giặt thật là đàng hoàng tươm tất. Ban tiếp cư còn lo cho chúng tôi mỗi ngày ba bữa ăn đày đủ. Và mỗi tháng chúng tôi còn được cấp phát cho một số tiền nho nhỏ để chi tiêu lặt vặt.

Cũng tại nơi tạm cư này, có lần chúng tôi lại được tiếp đón cả Thủ Tướng Ngô Đình Diệm cùng phái đoàn chánh phủ đến thăm nom và úy lạo sinh viên nữa. Nói chung, thì sự chăm sóc của nhà nước đối với lớp người di cư đầu tiên trong mấy tháng cuối năm 1954 rõ ràng là đã được tổ chức hết sức chu đáo, gọn gàng. Đặc biệt là mấy trăm sinh viên từ Hanoi như tôi đã được hưởng một chế độ ưu đãi quá tốt đẹp, vượt xa ngoài sự mong ước của nhiều người trong hàng ngũ chúng tôi.

Nhưng rồi đến lúc các học sinh tựu trường, thì sinh viên chúng tôi phải di rời ra cư ngụ tại khu lều vải được dựng lên trên nền đất của Khám lớn Sài gòn cũ sát bên Tòa Án, để trả lại trường ốc cho nữ sinh Gia Long. Vào cuối năm, trời Saigon nắng nực nên vào ban trưa nhiều anh em chúng tôi phải tìm cách chạy đến các công sở lân cận, nơi có nhiều bóng cây che rợp cho bớt nóng. Và chúng tôi đã ăn cả hai cái Tết Tây và Tết Ta đầu năm 1955, tại khu lều vải tạm trú này.

II – Vài chuyện ngộ nghĩnh tại Khu Lều Khám Lớn.

Xin vắn tắt ghi lại vài chuyện vui vui ngộ nghĩnh trong dịp vui xuân năm Ất Mùi 1955 tại Khu Lều Khám Lớn như sau đây.

1 – Một nhà báo người Pháp của tờ “Le Parisien libéré” đến chụp hình và phỏng vấn sinh viên chúng tôi. Anh chụp ảnh lia lịa về cái cảnh anh Lưu Trung Khảo viết mấy câu đối Tết bằng chữ Hán. Từ đó mà sinh viên chúng tôi tặng cho anh Khảo cái biệt danh “Ông Đồ Khảo”.

Hồi đó sinh viên chúng tôi đều nói rành tiếng Pháp, nên đã trả lời các câu hỏi của anh nhà báo này một cách suôn sẻ thỏai mái. Tôi còn nhớ đã nói với anh ấy rằng : “Chúng tôi vừa là nạn nhân, vừa là chứng nhân của sự tàn bạo của người cộng sản độc tài. Do đó mà phải bỏ lại quê hương ở miền Bắc để đi tìm được tự do tại miền Nam này. Cụ thể là riêng trong gia đình tôi, thì đã có hai người bị cộng sản sát hại. Đó là vào năm 1947 công an cộng sản đã giết ông cậu là em của mẹ tôi tên là Tống Văn Dung và đem quăng xác ông xuống con sông Trì Chính ở Phát Diệm .Và họ còn đến tận nhà bắt cả cha tôi là Đoàn Đức Hải từ năm 1948 mang đi biệt tích luôn…”

2 – Cũng vào dịp Tết Ất Mùi này, Đoàn Sinh viên Di cư chúng tôi còn thực hiện được một tờ Đặc san lấy tên là “Lửa Việt’ với chủ đề là “Xuân Chuyển Hướng” với các cây bút sau này rất nổi danh, đó là Vũ Khắc Khoan, Nguyễn Sĩ Tế, Dõan Quốc Sĩ, Trần Thanh Hiệp, Mai Thảo, Thanh Tâm Tuyền v.v…

3 – Và riêng tại căn lều gồm 8 người của tôi, thì để mừng xuân anh bạn Bùi Đình Nam đã ra tay làm đầu bếp chiên cho chúng tôi một món bí tết thật đặc sắc. Chúng tôi lại còn được uống cả một chai rượu chát hiệu Beaujolais của Pháp nữa. Miếng ngon này làm cho bọn trẻ chúng tôi lúc đó mới ở vào cái tuổi đôi mươi, thì không bao giờ mà chúng tôi lại quên được.

Thật là những kỷ niệm khó quên của cái thời bọn thanh niên trai trẻ chúng tôi mới đến sinh sống nơi miền đất xa lạ Sài gòn này. Cuối cùng, thì vào khoảng sau Tết Âm lịch không lâu, chúng tôi được dọn đến khu Đại học xá Minh Mạng vừa mới xây cất xong. Sinh viên di cư chúng tôi là những người đầu tiên đến cư ngụ tại khu cư xá này với đày đủ tiện nghi phòng ốc, giường tủ, điện nước …Và cứ như vậy cuộc sống của chúng tôi lần hồi đi vào mức ổn định và hòa nhập được với nền nếp của cả thành phố thủ đô của miền Nam tự do, phồn thịnh và thanh bình.

III – Chuyện về các anh chị em trong gia đình của tôi.

Còn về phần riêng gia đình các anh chị em ruột thịt của tôi, thì kẻ trước người sau chúng tôi đều quy tụ lại được với nhau trên mảnh đất miền Nam an lành, và nâng đỡ bảo bọc nhau xây dựng lại cuộc sống mới. Lúc đó các anh chị lớn đều ra sức hợp với nhau mà chăm lo chu đáo cho mấy em còn nhỏ dại cỡ tuổi 10 – 16, vì cha mẹ chúng tôi đều đã khuất bóng từ trước rồi.

Và rồi đến lượt các cháu thuộc thế hệ thứ hai trong đại gia đình chúng tôi , thì các cháu đều đã thành đạt tại miền Nam này. Vì thế, khi các cháu khôn lớn, thì đều bày tỏ lòng biết ơn đối với cha mẹ vì đã hy sinh hết mình, để mà đem được các cháu vào miền Nam – và nhờ đó mà các cháu có được những cơ hội tốt đẹp để học tập và gặt hái được nhiều thành công trên đời. Điều này càng rõ rệt, vì sau năm 1975 chúng tôi được gặp lại bà con từ quê hương ngoài Bắc vào thăm, thì họ đều xác nhận là họ bị cán bộ cộng sản đàn áp, bóc lột, chèn ép kỳ thị tàn bạo đến độ túng đói khốn khổ điêu đứng vô cùng!

* * Năm 2014 này, nhân dịp kỷ niệm 60 năm Ngày Đặt Chân đến miền Nam Tự Do (1954 – 2014), tôi xin ghi lại một số kỷ niệm riêng tư của mình như là một chứng từ của một thanh niên là một thành viên của khối gần một triệu người di cư tỵ nạn cộng sản, mà đã phải bỏ lại tất cả tài sản nhà cửa, ruộng vườn, mồ mả cha ông trên đất Bắc để đi xây dựng cuộc sống mới tại miền đất tự do, no ấm và an hòa ở phía Nam của tổ quốc Việt nam.

Và nhân dịp này, với tư cách là một người thụ ơn, tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn đối với nhân dân các quốc gia đã góp phần yểm trợ cho công cuộc di chuyển và định cư vĩ đại của cả triệu đồng bào chúng tôi trong những ngày tháng đen tối đó. Và tôi cũng không quên công lao của các nhân viên Chánh phủ, của Quân đội miền Nam Việt nam, và của biết bao nhiêu cơ quan thiện nguyện khác mà đã lo lắng chăm sóc thật là chu đáo tận tình cho lớp người di cư chúng tôi vào thuở đó. Dù chỉ là một cá nhân nhỏ bé, lời nói của tôi lại hết sức trung thực, như là một biểu hiện của sự cảm thông sâu sắc và quý mến chân thành đối với tất cả các vị ân nhân đáng kính của cả một thế hệ người di cư từ miền Bắc Việt nam năm 1954 vậy.

Nhân tiện, tôi cũng thấy cần phải ghi lại nơi đây tấm lòng quảng đại nhân ái của nhân dân miền Nam – đã mở rộng vòng tay đón nhận và bao bọc che chở cho bà con ruột thịt là nạn nhân khốn khổ bất hạnh của nạn độc tài cộng sản, nên đã phải bỏ lại nơi chôn nhau cắt rốn ở ngòai Bắc để tìm tự do tại miền Nam. Ân nghĩa đó thật là cao cả rộng lớn như Trời Biển và đã góp phần củng cố thêm cho Sức mạnh tổng hợp của tòan thể Dân tộc chúng ta nữa.

Thành phố Costa Mesa California, tháng Bảy năm 2014

© Đoàn Thanh Liêm

© Đàn Chim Việt

 

—————-

 

Năm 1954, tại Hội An

 

20-7-2014

Phạm Xuân Đài

 

Tâm hồn tôi ngay từ khi còn bé đã được xây dựng với rất nhiều hình ảnh của đất Bắc, đặc biệt là Hà Nội, qua các sách tôi đọc. Sách Hồng, sách Truyền Bá Quốc Ngữ từ lúc vừa biết đọc, lớn lên một chút, tôi tiếp tục đọc sách Tự Lực Văn Đoàn và các tác giả khác: Nguyễn Tuân, Nguyễn Công Hoan, Lê Văn Trương, Vũ Trọng Phụng, Tô Hoài v.v… và tiếp nhận thông tin đủ mọi mặt của đời sống đất Bắc qua văn chương. Thuở ấy sách xuất bản từ Sài Gòn mà tôi có được thì tuyệt đối chỉ là truyện Tàu của nhà Yễm Yễm Thư Trang: Tam Quốc, Tây Du, Thủy Hử… rất hấp dẫn và có ích về kiến thức lịch sử, văn hóa Tàu, nhưng tất cả những gì về văn học Việt Nam thì đều đến từ Hà Nội. Nhưng cho đến cuộc di cư của đồng bào miền Bắc năm 1954 thì tôi mới thực sự bắt đầu tiếp xúc với người Bắc.

Mùa hè năm 1954 tôi đã là một thiếu niên, vừa đủ hiểu biết để theo dõi các chuyển biến quân sự chính trị của đất nước, từ trận Điện Biên Phủ đầu tháng Năm cho đến khi ký kết hiệp định Genève vào tháng Bảy, và tiếp theo đó là cuộc di cư của đồng bào ngoài Bắc vào Nam. Bây giờ đã lớn tuổi, nhớ lại quãng thời gian ấy, tôi thấy cậu thiếu niên là tôi lúc đó hầu như đã trưởng thành hẳn trong vòng có mấy tháng với những biến cố rung động cả đất nước và con người Việt Nam.

Cuộc di cư của đồng bào miền Bắc đối với tôi bắt đầu ngay từ sau khi hiệp định đình chiến và chia đôi đất nước được ký kết tại Thụy Sĩ. Tôi rúng động khi biết sẽ mất Hà Nội, và những ngày ấy tôi thường theo dõi đài phát thanh Hà Nội –thời đó gọi là đài Hirondelle (chim Én)– mà trước kia tôi chưa bao giờ nghe. Tôi còn nhớ buổi phát thanh cuối cùng của Tổng hội Sinh viên Hà Nội trước khi từ giã đất Bắc để vào Nam, nghe xong lòng tôi buồn như muốn khóc. Không biết trong buổi phát thanh đó có mặt các anh Trần Thanh Hiệp, Doãn Quốc Sỹ, Mai Thảo… hay không, sau này quen biết với các anh tôi chưa bao giờ hỏi điều ấy. Nhưng buổi phát thanh ấy đã hằn trên tâm hồn mới lớn của tôi một ấn tượng lớn lao về lịch sử, về sự chia cắt và nỗi nhớ thương một Hà Nội mà từ nay trở đi sẽ không còn là Hà Nội như tôi đã biết từ trước nữa.

Bài hát Hướng Về Hà Nội của Hoàng Dương phổ biến trong mùa hè ấy đối với tôi mãi mãi là một nhạc phẩm lớn ghi lại nỗi niềm, như tôi vừa viết, nhớ thương một Hà Nội từ nay sẽ không còn như xưa nữa. 

http://www.nhaccuatui.com/bai-hat/huong-ve-ha-noi-hoang-duong-le-dung.ASjiTCHNoN.html

 

Đó không phải chỉ là lời giã biệt của một chuyến đi, mà là giã biệt vĩnh viễn những thành tựu văn hóa ngàn năm cô đúc trong một đô thị đầy ắp lịch sử và các giá trị nhân văn của một dân tộc. Suốt bài hát những tiếng kêu khắc khoải Hà Nội ơi, Hà Nội ơi lặp đi lặp lại trước mỗi tiểu khúc mô tả kỷ niệm, nếp sống, vẻ đẹp của người, của cảnh… như là một cố gắng dựng lại bao cái tinh hoa của Hà Nội trước khi vĩnh viễn dứt lìa. Quả thế, kể từ đó, tất cả vẻ đẹp cổ điển của Hà Nội đã hoàn toàn bị xóa bỏ không còn bao giờ hồi phục được nữa.

Thế rồi vào một ngày cuối hè đầu thu năm ấy, thành phố Hội An nhỏ bé và cổ kính của chúng tôi bắt đầu đón tiếp người Bắc di cư. Mấy cái lều thật lớn được dựng lên trong khu vực sân quần vợt của thành phố, và một hôm đầy ắp người ở. Nhưng đó chỉ là nơi tạm trú, không lâu các gia đình ấy tản đi thế nào tôi không rõ, chỉ thấy lều trại được giở đi, và thành phố có thêm một số gia đình người Bắc cư ngụ đây đó, công sở có nhiều người Bắc làm việc hơn, niên khóa mới 1954-55 trường Trần Quý Cáp chúng tôi có thêm một số bạn học mới nói tiếng Bắc, trong đó có những “cô em Bắc Kỳ nho nhỏ” rất duyên dáng. Và từ thời điểm này một số giáo sư mới di cư bắt đầu về dạy tại trường, trong đó có thầy Dương Đức Nhự mà mãi cho đến bây giờ tôi vẫn giữ những liên hệ đầy tình cảm. Và, một tiệm phở được khai trương một cách tạm bợ ở một con đường gần chợ. Tiệm phở này tôi cho là một nét văn hóa ẩm thực Bắc Kỳ đầu tiên xuất hiện một cách rõ rệt tại cái thành phố rất kiên cố về mặt truyền thống của chúng tôi. Trên những chuyến xe đò Hội An – Đà Nẵng nay thường có mặt một số hành khách mới, đó là một số các bà di cư có lẽ đi buôn bán, khi bước lên xe thường nói “Tôi đi Tu Đoan” mãi sau tôi mới hiểu các bà muốn nói Tourane, tức Đà Nẵng gọi theo lối Pháp.

Làn sóng di cư đến với Hội An tương đối mỏng và nhẹ nhàng, tất cả bà con di cư hòa nhập vào nếp sống Hội An một cách êm đềm, không gây một xáo trộn nào trên vẻ trầm lặng của thành phố cổ này. Nhưng ai cũng biết tầm cỡ của cuộc di cư trên cả miền Nam thì rất lớn lao, đã đem lại nhiều thay đổi tích cực trên nhiều lãnh vực trong phần lãnh thổ phía nam vĩ tuyến 17. Điều ấy dễ hiểu, vì bỗng nhiên miền Nam có thêm gần một triệu công dân, trong đó có rất nhiều thành phần ưu tú của đất nước.

Từ đó đến nay 60 năm đã qua. Chẵn một chu kỳ 12 con giáp. Trong đời một người khó có chuyện gặp lại kỷ niệm lần thứ hai sáu mươi năm biến cố này.

PXĐ

Posted in Hiệp định Geneve 20-7-1954 | 1 Comment »

►Hôm nay là đúng 60 năm, kỷ niệm ngày chia đôi đất nước 20-7-1954

Posted by hoangtran204 trên 20/07/2014

Hiệp Định Genève 20-7-1954 chia đôi đất nước là do miền Bắc và các nước ngoài quyết định (Trung Quốc, Pháp, Mỹ), miền Nam Việt Nam phản đối và không ký vào bản hiệp định ấy

Sông Bến Hải

Tác giả: Phạm Hữu Trác

Hiệp định Genève 20-7-1954 (*) lấy sông Bến Hải làm ranh giới đình chiến giữa hai miền Nam Bắc, từ đó hai chữ Bến Hải đi vào lịch sử Việt Nam.

Sông Bến Hải còn có tên là Rào Thanh bắt nguồn từ vùng núi Động Chân, tỉnh Quảng Trị, thuộc dãy Trường Sơn, cao hơn mặt biển 500m, chẩy theo hướng từ tây nam sang đông bắc, đổ ra biển ở Cửa Tùng, thuộc quận Vĩnh Linh, Quảng Trị. Sông dài chừng 100km, nơi rộng nhất khoảng 200m, hai đầu sông rất hẹp, ở thượng nguồn nơi có nhà thờ Phước Sơn, sông chỉ rộng 20m, ở Cửa Tùng lòng sông rộng 30m. Sông Bến Hải cũng còn được gọi là sông Bến Hói, theo tiếng địa phương hói có nghĩa là dòng sông nhỏ, từ Bến Hói đọc trại ra là Bến Hải.

Từ đầu nguồn sông Bến Hải chẩy được 80km thì gặp sông Sa Lung từ phía tây bắc đổ vào, hai sông hợp lưu chẩy tiếp ra biển, qua làng Minh Lương ở bờ bắc nên có tên là sông Minh Lương. Do phải kiêng húy tên vua Minh Mạng, nên cả tên làng và tên sông đều đổi thành Hiền Lương, cây cầu gần ngã ba sông cũng mang tên là Hiền Lương.

Sông Bến Hải (Hình 1)
Nguồn: Google Maps

Cầu Hiền Lương nối liền quốc lộ số 1 bắc qua sông Bến Hải, nơi sông rộng hơn 150m, lui một ít về phía nam vĩ tuyến 17, thuộc quản hạt quận Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị. Tính đến nay đã có nhiều lần cấu trúc chiếc cầu bắc qua sông Bến Hải thay đổi, nhưng cây cầu lịch sử vẫn là cây cầu từ 1952 đên 1967. Cầu bắt đầu xây dựng bằng gỗ thô sơ năm 1922 dành cho người đi bộ, thay đổi nhiều lần đến khi xây lại năm 2003 tất cả là 8 lần.

Cây cầu mà tôi đã đứng trên đó do người Pháp xây dựng năm 1952 bằng bê tông cốt sắt dài 178m, rộng 4m, hai bên có thành chắn cao 1,2m, trọng tải tối đa 18 tấn, gồm 7 nhịp, mặt cầu lát bằng 894 tấm ván gỗ thông, chia ra miền bắc một nửa, miền nam một nửa, mỗi bên 89m. Ở giữa cầu ngăn ra bằng hai vạch song song, trừ cảnh sát hai bên có thể đi qua hết chiều dài của cầu, người khác chỉ được đứng trong phạm vi giới hạn nam bắc của mình. Cây cầu này tồn tại 15 năm từ 1952 cho đến 1967 khi máy bay Mỹ phá sập.

Mỗi đầu cầu có một đồn cảnh sát 16 người (phía bắc gọi là đồn công an) thường xuyên cử hai nhân viên tuần tiễu an ninh trên cầu. Nghe nói ở Cửa Tùng cũng có một đồn cảnh sát ở bờ bắc thuộc xã Vinh Quang và một đồn ở phía nam thuộc xã Cát Sơn. Sau năm 1965, khi chiến tranh leo thang thì hệ thống đồn bót dọc hai bên sông Bến Hải đều ngưng hoạt động.

                                         Câu Hiền Lương cũ và mới (Hình 2)   

http://www.giaothongvantai.com.vn/giao-thong-phat-trien/ha-tang/201401/vi-tuyen-17-va-dau-an-cau-hien-luong-446452/


Nguồn: Google Maps

Phục vụ tại sư đoàn 1 bộ binh từ 1963 đến 1965 (1), tôi đã nhiều lần ra thăm cầu Hiền Lương, mổi lần đối với tôi là một kỷ niệm khó quên. Vì là trong vùng 5 cây số phi quân sự, nên mỗi lần đến cầu đều phải mặc thường phục, nếu đi quân xa thì mang phải mang số ẩn tế, có khi vội thì lấy bùn bôi lấp đi bảng số quân xa.

Lần đầu tiên vào cuối năm 1963, lúc mới đến đơn vị mới là đã muốn đi thăm Bến Hải. Từ Huế theo quốc lộ số 1, qua Quảng Trị rồi Đông Hà, khi vào tới địa hạt Vĩnh Linh là đã thấy lòng nao nao vì nhớ nhà sau 9 năm xa miền Bắc. Dòng sông chẩy chậm, trên cầu gió nhẹ, đứng ở bên này vạch trắng mà nhớ lại những xót xa lúc xuống tầu há mồm rời miền Bắc.

Lần khác theo đoàn sinh viên Sài Gòn ra thăm Huế đi cùng với tướng Nguyễn Chánh Thi. Khi đoàn người tới chân cầu thì hai nhân viên công an miền Bắc sang bên này quan sát, quả nhiên không bao lâu sau thì có tin cộng sản phản đối sự hiện diện của tướng Thi ở vùng phi quân sự. Mấy ông Ấn Độ, Ba Lan, Gia Nã Đại trong Ủy hội Quốc tế Đình chiến từ đâu bỗng thấy kéo đến, bên ta trả lời là tướng Thi ngoài chức vụ tư lệnh sư đoàn có là đại biểu chính phủ tại khu 11 chiến thuật, một trách vụ hành chính. Thế là xong một hiệp, mà không biết trong vòng 21 năm đã có bao nhiêu vụ khiếu nại qua hai bên cầu.

Cầu Hiền Hương (cũ)
Nguồn: Panoramio (Google)

 

Cầu Hiền Lương nhìn từ miền Nam

Khoảng giữa tháng 9-1964 vài đồng nghiệp và tôi rủ nhau ra thăm Bến Hải. Hôm ấy tướng Lâm Văn Phát kéo quân vào Saigon áp lực đảo chính, ở ngoài giới tuyến nghe rõ nhạc hành quân trên đài phát thanh Saigon cùng với tin tức và kêu gọi của hai phe, đảo chính và phản đảo chính. Ở trên cầu Hiền Lương hai anh công an miền Bắc đến chào hỏi “đồng bào”, rồi tỏ ý chê bai, nói với chúng tôi là mấy anh tướng miền Nam thích đánh nhau tranh dành quyền hành, anh bạn Lý Hồng Sen nhanh trí đáp lại:

Bên tôi dân chủ như vậy đó, ai làm việc không được thì bắt xuống, bây giờ để chứng tỏ dân chủ, ở giữa cầu này, tôi hô đả đảo Nguyễn Khánh, đồng chí phải hô đả đảo Hồ Chí Minh.

Nói xong anh giơ tay hô lớn đả đảo Nguyễn Khánh, rồi đòi anh công an trả nợ phần của anh đối với Hồ Chí Minh. Dĩ nhiên anh công an bị ngọng, trách ngược lại người “đồng bào” kỳ cục. Chúng tôi bồi thêm, cật vấn anh ta tại sao chân cầu phía bắc lại có cái cổng lớn trên ghi bốn chữ “Nam Bắc Một Nhà”, giữa nhà sao lại xây cổng?

Khi Không quân Việt Nam Cộng Hòa bắt đầu oanh tạc bắc vĩ tuyến 17, nhiệm vụ của quân y sư đoàn là bay trên trực thăng phía nam sông Bến Hải để yểm trợ cứu cấp trường hợp phi công bị trúng thương. Tôi nhớ hình như hồi đó quân đội Việt Nam sử dụng trực thăng loại Huey, chở được tám người, hai cáng thương, thường bay hai chiếc để hỗ trợ lẫn nhau. Trường hợp may mắn, chúng tôi đã có hy vọng tiếp cứu đuợc phi công Phạm Phú Quốc, nếu máy bay trúng đạn của anh còn bay được sâu về phía nam. Cuối cùng chúng tôi chẳng cứu được ai mà trớ trêu hơn nữa, chính chúng tôi phải lo cho mình, số là hôm ấy một trong hai chiếc trực thăng hỏng máy, phải đáp xuống đất, tất cả dụng cụ trang bị quân sự và y khoa phải tháo gỡ cùng với phi hành đoàn đưa sang chiếc thứ hai bay về sân bay thành nội Huế.

Ngày 19-3-1965 tôi cũng muốn ra chứng kiến cảnh trục xuất giáo sư Tôn Thất Dương Kỵ, bác sĩ thú y Phạm Văn Huyến và ký giả Cao Minh Chiếm qua cầu Hiền Lương, nhưng vì bận công tác khác nên không thể ra coi được.

Năm 1967 cầu bị phi cơ Mỹ đánh sập, đến 1972 khi đem quân chiếm miền Nam, công binh cộng sản bắc cầu phao qua sông Bến Hải lùi 20m về phía thượng lưu cầu cũ. Năm 2003 công việc phục chế cầu Hiền Lương phỏng theo kiểu cũ hoàn thành, mặt cầu được lát bằng gỗ lim.

Tôi cứ băn khoăn về những yếu tố nào trong cuộc điều đình mặc cả giữa Pháp và Việt Minh trong cuộc đàm phán Genève đã đưa đến thỏa thuận nhận sông Bến Hải làm ranh giới, Cho đến mấy năm gần đây nhờ những tài liệu mới xuất bản (2) mới có thể lần ra manh mối việc chia đôi đất nước. Xin ghi lại ở đây những nét chính yếu.

Vào tuần lễ thứ ba của hội nghị, phương án vạch một giới tuyến nam bắc hầu như đã được công nhận, Phạm Văn Đồng đưa ra ý kiến lấy vĩ tuyến 13 làm ranh giới, các nước phương tây phản đối dữ dội.

Chu Ân Lai thấy cần phải thuyết phục phía Việt Minh, trên đường từ Genève trở về Bắc Kinh qua thăm Ấn Độ và Miến Điện, bèn triệu tập một phiên họp tại Quảng Tây với Hồ Chí Minh, Trường Chinh, Võ Nguyên Giáp, cùng hai cố vấn Trung Quốc bên cạnh Việt Minh là La Qúi Ba và Vi Quốc Thanh, để thông báo cho biết tình hình đàm phán và vấn đề chia vùng.

Cuộc gặp gỡ này diễn ra tại Liễu Châu (thành phố thuộc tỉnh Quảng Tây) trong 8 phiên họp từ ngày, từ 3 đến 5 tháng 7, 1954. Sau khi Võ Nguyên Giáp và Vi Quốc Thanh trình bày tình hình chiến trường, Chu Ân Lai thuyết giảng dài về vấn đề chiến tranh và hòa bình. Ông trình bày rất tỉ mỉ, cho rằng trước mắt có ba khả năng, thượng sách là hòa được, trung sách là đánh rồi hòa, hạ sách là đánh tiếp. Cuối cùng ông cho biết có hy vọng vạch đường phân giới tạm thời tại vĩ tuyến 16. Ông khuyến dụ: từ vĩ tuyến 16 trở ra bắc là nơi Việt Nam hưng quốc, có 13 triệu dân, có hải cảng, có thể xây dựng. Vì người Pháp đòi chia vùng ở vĩ tuyến 18 và vì vĩ tuyến 16 ở phía nam Đà Nẵng nên muốn trấn an người Pháp, ông bảo cảng Đà Nẵng, Huế và quốc lộ số 9 (từ Đông Hà sang Lào, ở phía bắc thị xã Quảng Trị) có thể đặc biệt lưu lại cho Pháp một hai năm, như thế chúng ta có thể đòi các điều kiện khác.

Hồ Chí Minh nói vào lúc xế chiều ngày 4 tháng 7, ông nói ta phải giúp Mendès-France khỏi đổ, hạ quyết tâm tranh thủ hòa bình. Buổi tối hôm đó Chu Ân Lai báo cáo về trung ương, xin lùi ngày về Bắc Kinh, họp thêm một ngày nữa liên quan đến phương án giải quyết cụ thể.

Trong phiên họp sáng ngày 5 tháng 7, 1954 Võ Nguyên Giáp biểu thị đồng ý chọn vĩ tuyến 16, nhưng nói thêm vì Phạm Văn Đồng đang đề xuất phương án vĩ tuyến 13, nên có thể lùi từng bước, đến vĩ tuyến 16 là giới hạn cuối cùng, khi rút quân miền Nam thì rút từ cấp tỉnh trở lên, nhưng từ cấp huyện trở xuống và đội du kích không rút, đem cất giấu vũ khí.

Vi Quốc Thanh đồng ý với ý kiến chủ hòa của Chu Ân Lai, nếu tiếp tục đánh, có thể đuổi được kẻ địch yếu, nhưng lại đưa vào kể địch mạnh (Mỹ). Đó là tình hình đòi hỏi chúng ta phải tránh né nhất. Chu Ân Lai nói xen vào: đó không phải là giả thiết mà là sự thật.

Khi kết quả hội nghị Liễu Châu đã thực hiện hoàn toàn theo dự kiến của Chu Ân Lai, Hồ Chí Minh phát biểu có tính cách tổng kết, hiện nay chúng ta đang đứng trước ngã tư đường, có khả năng hòa cũng có khả năng chiến, phương hướng chủ yếu là tranh thủ hòa chuẩn bị chiến. Bởi vì khẩu hiệu trước đây là kháng chiến đến cùng, bây giờ lại muốn hòa, đối với người bình thường thậm chí là cán bộ, rốt cuộc thì cái nào đúng đây. Nên vấn đề hàng đầu là đả thông tư tưởng, nếu chuẩn bị tiếp thu Hà Nội, thì phải chuẩn bị một loạt cán bộ mà hiện nay không đủ, vẫn cần các đồng chí cố vấn giúp đỡ.

Ngay trong ngày kết thúc hội nghị, Hồ Chí Minh đã tự tay thảo chỉ thị 5/7 gửi cho Phạm Văn Đồng, xác định “phương án thấp nhất trong đàm phán” (chấp nhận vĩ tuyến 16), chỉ thị này gửi qua Trung ương đảng Cộng sản Trung quốc trước, nếu không có ý kiến, sẽ chuyển cho đồng chí để tiến hành.

Tối ngày 5 tháng 7, cử hành phiên họp thứ tám, chủ yếu bàn về tình hình sau khi ngưng bắn, tiếp quản thành thị, hội nghị thảo luận và sửa chữa bốn điều trong “Bố cáo yên dân khi vào thành phố” do La Qúi Ba khởi thảo, tiếp theo bàn luận và sửa chữa “Chính sách vùng tiếp quản” cũng do La Qúi Ba khởi thảo. Cuối cùng Chu Ân Lai tuyên bố kết thúc hội nghị.

Một tuần lễ sau khi về Bắc Kinh, Chu Ân Lai trở lại Genève ngày 12-7-1954, nghe các phụ tá báo cáo tình hình đàm phán. Thứ trưởng Ngoại giao Trương Văn Thiên cho rằng đoàn đại biểu Việt Minh lần lữa không chịu theo chỉ thị 5/7 của Hồ Chí Minh là do đã đề cao lực lượng của mình và đặc biệt là đánh giá quá cao chiến thắng Điện Biên Phủ, vì thế đã không nhượng bộ thích ứng, đồng thời còn có tư tưởng Liên bang Đông Dương, không phân biệt nổi cách mạng nhân dân và đấu tranh giải phóng dân tộc là hai loại không cùng tính chất.

Khó khăn hiện nay là Pháp chủ trương lấy vĩ tuyến 18 làm giới hạn, trong khi Trung ương Cộng sản Trung Hoa và Việt Nam đồng ý lấy vĩ tuyến 16, nhưng đoàn đại biểu VN vẫn dừng lại ở vĩ tuyến 14-15.

Hoành Sơn Quan ở Kỳ Nam, huyện Kỳ Anh, Hà Tĩnh
Nguồn: Google maps

9 giờ 30 tối hôm đó Chu Ân Lai đến khách sạn của đoàn đại biểu Việt Nam hội đàm với Phạm Văn Đồng, Hoàng Văn Hoan, Phan Anh, Trần Công Tường thì được biết ngày 11 và 12-7-1954 Phạm Văn Đồng đã gặp Mendès-France, Phạm Văn Đồng thử thăm dò vĩ tuyến 16, nhưng Mendès-France ngang nhiên từ chối, kiên trì đòi vĩ tuyến 18. Đến nửa đêm, nhận thấy nơi Phạm Văn Đồng trú ngụ không đủ bảo đảm bí mật, Chu Ân Lai đề nghị về nơi ông trú ngụ tại biệt thự Vạn Hoa bàn tiếp, tại đây Chu Ân Lai cho Phạm Văn Đồng biết là nếu tiếp tục đánh nhau, ít ra cũng phải ba năm, thế nhưng Mỹ can thiệp là điều khó tránh khỏi, lúc đó không phải là vấn đề ba năm nữa.

Chu Ân Lai cho rằng nếu VN muốn giữ vùng tập kết tại Liên Khu Năm (Quảng Ngãi, Bình Định) thì phía Pháp cũng đòi giữ vùng tập kết tại đồng bằng sông Hồng. Nếu dứt khoát lấy ranh giới vĩ tuyến 16 thì có thể thành lập một dạng quốc gia ở phía bắc, qua phổ thông bầu cử mà hoàn thành thống nhất.

Chu Ân Lai còn cho biết sau chỉ thị 5/7, Mao Trạch Đông có thương nghị lại với Hồ Chí Minh và hai người đã đồng ý lấy đường số 9 làm giới tuyến, dù điểm này không viết trong văn kiện 5/7.

Ngày hôm sau, 13-7-1954, Chu Ân Lai tiếp Mendès-France lúc 10 giờ 30 sáng tại biệt thự Vạn Hoa. Thủ tướng Pháp trải ra một bản đồ trước mặt Chu Ân Lai và nói: không có đường giới tuyến nào thích hợp hơn vĩ tuyến 18. Nhất định ngài sẽ nói với tôi Việt Minh chiếm nhiều nơi giữa vĩ tuyến 13 đến 16, thế nhưng giữa vĩ tuyến 16 và 18 chúng tôi có vùng chiếm lĩnh.

Không thể lấy diện tích ra để so sánh, trên thực tế những thành phố như Hà nội Hải phòng, Huế, Tourane, đồng bằng sông Hồng, tính quan trọng về dân số, chính trị, kinh tế đều lớn hơn những vùng mà Việt Minh rút khỏi. Lấy dân số ra mà nói, vùng chúng tôi phải rút là 300.000 dân, còn Việt Minh chỉ phải rút có 30.000 người.


cổng An Nam tức là Hoành Sơn Quan do vua Minh Mạng cho xây năm 1833 trên đèo Ngang
Nguồn: OntheNet

Vạch đường giới tuyến về địa lý, lịch sử và logique đều nên lấy porte d’Annam (cổng An Nam tức là Hoành Sơn Quan do vua Minh Mạng cho xây năm 1833 trên đèo Ngang) gần vĩ tuyến 18 là hợp lý nhất. Vì biết Mendès-France chiều hôm ấy sẽ về Paris gặp Foster Dulles, Chu Ân Lai nhấn mạnh muốn để cho hòa bình được củng cố phải có sự bảo đảm của các nước tham dự, ám chỉ không muốn Mỹ đứng ngoài cuộc đàm phán, đồng thời khéo léo cho biết Việt Minh có khả năng nhượng bộ.


Hoành Sơn Quan do vua Minh Mạng cho xây năm 1833 trên đèo Ngang
Nguồn: OntheNet

Đến ngày 19 tháng 7, cuộc đàm phán vẫn chưa đạt được thỏa thuận cuối cùng, vấn đề vạch đường giới tuyến còn giằng co. Hồi 12 giờ 45 ngày hôm đó, Mendès-France và Eden cùng với các phụ tá đến gặp Chu Ân Lai thảo luận một giờ đồng hồ. Khi kết thúc Eden đề nghị phụ tá Caccia của ông sẽ gặp Trương Văn Thiên thảo luận thêm vào buổi chiều. Năm giờ bốn mươi lăm phút chiêù ngày 19-7-1954, thứ trưởng Trương Văn Thiên đến nơi ở của phái đoàn Anh, hội kiến với Caccia, phụ tá Eden. Trương Văn Thiên thông báo nhượng bộ cuối cùng, có thể chấp nhận đường giới tuyến khoảng 10 cây số về phía bắc đường số 9. Thiên nhấn mạnh nếu đối phương không tiếp nhận, chúng tôi chỉ có thể mua vé bay bay về nhà. Caccia nói 10 cây số sợ rằng hẹp quá. Thiên nói có thể bắt chước Triều Tiên, thiết lập khu phi quân sự 5 cây số ở mỗi bên. Caccia đề nghị là giữa đường số 9 và vĩ tuyến 17 có hai con sông, có thể chọn một trong hai con sông đó làm giới tuyến (Bến Hải và Sa Lung?). Tiếp đó hai người bàn đến vấn đề tổng tuyển cử…

Chiều tối ngày 20 tháng 7 năm 1954 vì đại biểu Campuchia, đại biểu Lào và đại biểu Việt Nam Ngô Đình Luyện lại có những đề nghị khác, cuộc thương lượng phải kéo dài thêm, mà hạn chót của Mendès-France đối với quốc hội Pháp là nửa đêm, nên đồng hồ trong phòng họp phải ngưng lại vào lúc 24 giờ. Mãi đến 3 giờ 20 sáng đại biểu quân sự hai bên mới có thể tề tựu tại đại sảnh của Liên Hiệp Quốc, thiếu tướng Delteil đại diện quân đội viễn chinh Pháp, thứ trưởng Quốc Phòng Tạ Quang Bửu đại diện Việt Minh ký tên trên hiệp định đình chiến. Sau khi ký xong Tạ Quang Bửu tươi cười tới trước mặt Delteil đề nghị bây giờ chúng ta hãy cùng uống một ly sâm banh. Delteil trả lời: chắc ông biết rõ là tôi không thể nhận lời, nói xong ông ta đi thẳng về phía phái đoàn của mình.

Sông Bến Hải đi vào lịch sử từ giờ phút đó.


Bài do tác giả gởi. DCVOnline biên tập và minh hoạ.(1) Hồi đó Sư đoàn 3 Bộ binh của Quân lực Việt Nam Công Hòa chưa thành lập, Sư đoàn I Bộ binh trách nhiệm hai tỉnh Quảng Trị và Thừa Thiên, tức là khu chiến thuật 11.
(2) Phần lớn tài liệu trích từ quyển “Chu Ân Lai dữ Nhật-Nội-Ngoã hội nghị” bản chữ Hán do Tiền Giang (钱江,Qian Jiang) viết xong 24-11-2004, bản dịch sang Việt ngữ “Vai trò của Chu Ân Lai tại Genève năm 1954” của Dương Danh Dy.
DCVOnline: (*)The Geneva Agreements of 1954 (còn gọi là “Geneva Accords”)
Nguồn bài báo: dcvonline.net
Bài liên quan:

►Hôm nay là đúng 60 năm, kỷ niệm ngày chia đôi đất nước 20-7-1954

Trần Hoàng

20-7-2014

Nước Việt Nam đã không may vì  thua cộng sản hai lần qua việc ký  2 hiệp định, Hiệp Định Geneve 1954 và Hiệp Định Paris 1973. 

Hiệp Định Geneve 20-7-1954 đã chia Việt Nam ra làm 2 nước. Miền Bắc theo chế độ cộng sản, và Miền Nam theo chế độ dân tự do dân chủ.  

TT Ngô Đình Diệm đã từ chối không ký Hiệp định Geneve 1954. Trung Quốc đã dùng áp lực quân sự và ngoại giao giúp đảng CSVN chiếm được Miền Bắc bằng Hiệp Định Geneve 1954.

Sự giúp đỡ của TQ dành cho ông HCM và Đảng LĐVN là kết quả của cuộc đi cầu viện của ông Hồ Chí Minh vào đầu năm 1950.  Ông HCM qua Trung Quốc gặp Mao Trạch Đông và sau đó qua Liên Xô gặp Stalin vào mùa xuân 1950 để xin quân đội Trung Quốc qua VN giúp đánh Pháp, và xin vũ khí, quân trang quân dụng và lương thực. 

HCM còn viết thư cầu cứu Stalin xin vũ khí và xin làm theo lời chỉ bảo của Stalin để giết nông dân VN trong vụ cải cách ruộng đất (nguồn trong phần ý kiến phản hồi -comment)

Tình báo của Đài Loan và Pháp cho biết, vào năm 1950,  Mao đã hứa giúp ông HCM sau khi cả hai đã ký một hiệp định bí mật.

Những biểu hiện của đảng CSVN trong suốt thời gian từ 1956-2012  cho thấy hiệp định bí mật ấy là có thật. Theo đó,  ông HCM và đảng Lao Động Việt Nam (tức đảng csvn) đã hứa đền ơn cho Trung Quốc quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, thác Bản Giốc, Ải Nam Quan, và núi Lão Qua…nếu như Trung Quốc giúp ông HCM đánh Pháp, và lấy Miền Bắc 1954 và Miền Nam 1975.

Sau khi giúp ông HCM và đảng LĐVN (tức đảng CSVN) chiếm được Miền Bắc bằng thủ đoạn chính trị rất cáo già qua Hiệp Định Geneve 20-7-1954, Trung Quốc lấy công lần thứ nhất bằng cách chiếm một số đảo thuộc quần đảo Hoàng Sa vào năm 1956. Để hợp pháp hóa quần đảo Hoàng Sa về tay Trung Cộng,  ngày 4-9-1958 Trung Quốc ra công bố về chủ quyền biển đảo, và  buộc Miền Bắc phải ký xác nhận. Ông HCM đã sai TT Phạm Văn Đồng ký Công Hàm 14-9-1958, nội dung là đồng ý chủ quyền vùng biển đảo, và lãnh hải của Trung Quốc.  

http://www.youtube.com/watch?v=JtyVPmQl_zM    

Sau khi bắt tay với Mỹ năm 1972, TQ đã dò hỏi và biết được cuộc chiến VN sẽ kết thúc năm 1973. Trung Quốc đã lấy công lần thứ 2 bằng cách chiếm một số đảo khác trong quần đảo Hoàng Sa.  Khi ấy, Hải Quân VNCH đã tấn công các chiến hạm của Trung Quốc và0  ngày 19-1-1974 để bảo vệ chủ quyền các hòn đảo này. (Mời các bạn đọc  Tư Liệu Lịch Sử, để thấy lập trường của đảng CSVN qua phát biểu của Lê Đức Thọ với tướng Lê Quang Hòa vào 1973.).     

►Lập trường của Đảng CSVN về Hoàng Sa khi Trung Cộng xâm chiếm vào ngày 19-1-1974

Có thể nói,  Hiệp định Geneve 20-7-1954 là thành công bước đầu và quan trọng nhất trong lịch sử của đảng CSVN.  Trước đó, từ ngày thành lập đảng từ 1930 cho đến 1954, đảng CSVN phải trốn chui, trốn nhủi, và phải đổi tên rất nhiều lần, thậm chí đảng còn phải giải tán và đi vào hoạt động bí mật như sau khi “cướp chính quyền 1945″. Đảng CSVN hoàn toàn không có văn phòng đại diện, không có cơ sở chính danh ở bất cứ thành phố nào ở Việt Nam hay bất cứ nơi đâu từ 1930 cho mãi đến năm 1954. Nhưng sau hiệp định Geneve 1954, ông HCM và đảng nghiễm nhiên trở thành ông chủ của một nửa nước Việt Nam. Đó là một ‘thắng lợi’ lớn nhất, quan trọng nhất kể từ ngày thành lập đảng CS Đông Dương vào năm 1930. Và, đó cũng là vận xui của nước VN và cả dân tộc VN bắt đầu. Vì các con quỷ đỏ đã cõng rắn vào nhà, để rồi con rắn độc Trung Cộng tiếp tục chiếm dần biển đảo và biên giới của VN trong giai đoạn  từ 1956-2000. Và cuộc chiến tranh kéo dài 21 năm, 1954-1975 mà Lê Duẫn gọi là “Ta đánh Miền Nam là đánh cho Liên Xô và Trung Quốc”

[Đảng CSVN và Nhà nước thường hay chửi rủa chế độ phong kiến, điển hình là chửi rủa các vị vua nhà Nguyễn là nhu nhược, tay sai, bán nước… Nhưng diện tích của nước VN dưới triều đại phong kiến, vua nhà Nguyễn và thời Pháp đô hộ vẫn rộng lớn hơn rất nhiều so với hiện nay do đảng CSVN và nhà nước cai trị.  

Cụ thể, dưới thời vua nhà Nguyễn, từ 1802 cho đến khi chính phủ đầu tiên của một nước VN độc lập và thống nhất của Thủ tướng Trần Trọng Kim tuyên bố độc lập vào ngày 17-4-1945, lãnh thổ và lãnh hải của VN bao gồm các Quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa, Ải Nam Quan, Thác Bản Giốc, Móng Cái, Núi Lão Sơn… rộng lớn hơn rất nhiều so với thời đảng CSVN chiếm quyền 59 năm qua. Sau khi bắt tay làm “đồng chí anh em” với Trung Cộng 1950.

Hiệp định Ba Lê 27-1-1973 là chiến thắng của cộng sản lần thứ 2, đẩy cả nước VN dưới ách độc tài và cai trị của đảng CSVN.  Hoàng Sa, Trường Sa, Thác Bản Giốc, Ải Nam Quan, Núi Lão Sơn, nhiều vùng ở tỉnh Móng Cái…nay nằm trong tay của Trung Quốc cũng vì đảng CSVN và ông HCM đã cầu viện Trung Quốc năm 1950.

Sau khi Trung Cộng chiếm Hoàng Sa 1974, và chiếm Trường Sa 1988, lẻ ra các đảng viên của đảng CSVN phải biết đó là nổi nhục mất đất đai biển đảo phải la lớn cho cả thế giới biết Trung Cộng chiếm biển đảo của ta, và cố tìm cách đòi lại. Nhưng không, đảng CSVN nhào qua thần phục Trung Cộng qua cuộc họp bí mật ở Thành Đô, ngày 3 và 4 tháng 9, 1990. Đồng bào VN không một ai được biết tới cuộc họp này, mà chính là Trung Cộng tung ảnh lên các trang mạng xã hội, để làm bằng cớ buộc đảng CSVN và nhà nước phải ký Hiệp Ước Biên Giới 31-12-1999. Trong các hình ảnh Trung Cộng tung lên mạng, mọi người có thể nhìn thấy Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười, Phạm Văn Đồng, Nguyễn Di Niên, Lê Khả Phiêu…đang rất hí hửng khi nói chuyện với chủ tịch TQ Giang Trạch Dân.  

Các hình ảnh ấy cho thấy: Đó là một lũ bán nước cầu vinh.  Để cho kẻ thù chiếm lấy đất đai biển đảo do tổ tiên để lại mà không cảm thấy nhục nhã, không biết lập ngày đêm bàn mưu tính kế, luyện tập quân đội và làm cho quốc gia phú cường dân giàu nước mạnh để chờ thời cơ đánh cho kẻ thù 1 trận, đòi lại đất đai biển đảo đã mất…Trái lại, suốt mấy chục năm qua, các đảng viên cao cấp của đảng CSVN còn xum xoe đi theo nịnh hót kẻ thù, và còn khoe khoang: TQ là “anh em 4 tốt, 16 chữ vàng”…

Các bạn thử đọc bài dưới đây thì sẽ thấy rõ tính nhất quán thần phục của đảng CSVN và nhà nước đối với Trung Cộng không phải chỉ mới hôm nay, mà là 40 năm về trước. 

►Lập trường của Đảng CSVN về Hoàng Sa khi Trung Cộng xâm chiếm vào ngày 19-1-1974

Ôn lại lịch sử

Đảng CSVN và Nhà Nước luôn tìm cách viết lại lịch sử  bằng cách nhấn mạnh đến các hoạt động của họ vào năm 1945. Nhưng nếu ta bình tỉnh đặt câu hỏi: tại sao cuốn phim nói về ngày độc lập 2-9-1945 chỉ kéo dài có 20 giây? Ai mời Pháp trở lại Việt Nam qua Hiệp định 6-3-1946? Chính là ông HCM.

Sau đó, ông và đảng CS của ông kêu gọi sự  hợp tác với các đảng phái quốc gia để chống Pháp (1946-1954). Khi các đảng phái quốc gia (vì cũng muốn nước nhà độc lập) hợp tác với đảng CSĐD, thì đảng CS do ông HCM lãnh đạo đã sai người ban đêm đi ám sát giết chết các nhà lãnh đạo của các đảng phái quốc gia, mặt khác đảng viên cộng sản  bí mật  báo cho quân Pháp đến chặn bắt các nhân vật trong các đảng phái quốc gia, và mặt khác tiêu diệt các trí thức nhân sĩ như  Phạm Quỳnh, Dương Bá Trạc, Huỳnh Thúc Kháng (rồi đổ tội cho Pháp)… và giết các nhà lãnh đạo tôn giáo như giáo chủ Hòa Hảo Huỳnh Phú Sổ (1947), Lý Đông A (  1947 ), giám mục Ngô Đình Khả…hàng  ngàn người yêu nước không theo cộng sản và đảng viên của các đảng phái quốc gia đã bị cộng sản ám sát, giết hại, chặt chân, bỏ vào bao bố thả trôi sông… 

Khi nhắc lại giai đoạn lịch sử 1945, ông bà cha mẹ ta thường nói “…Việt Minh CƯỚP chính quyền vào tháng 8, năm 1945…”, họ dùng chữ CƯỚP là rất đúng, mà chính đảng và nha nước cũng dùng chữ cướp chính quyền. Thật ra, trước đó khi Pháp đầu hàng Nhật vào tháng 3/1945, nước Việt Nam, Lào, Kampuchea đã được Nhật khuyến khích: hãy tuyên bố độc lập khỏi tay nước Pháp.

Vua Bảo Đại đã tuyên bố nước Việt Nam độc lập từ ngày 16-3-1945, và chính phủ đầu tiên của nước Việt Nam độc lập do Thủ tướng Trần Trọng Kim thành lập, và ra mắt 10 bộ trưởng vào ngày 17-4-1945, tấm hình ra mắt quốc dân đồng bào vào ngày 17-4-1945 vẫn trong sách sử. (Vì ghen tức về chuyện này, đảng và nhà nước giấu bén chuyện hội đồng chính phủ do Thủ Tướng Trần Trọng Kim đứng đầu nội các, thậm chí trong sách lịch sử dạy cho học sinh, đảng CSVN cũng không viết về tên các nhân vật và các biến cố ấy. Thay vào đó, đảng cứ tuyên truyền với dân là: nước VNDCCH do HCM thành lập, và tuyên bố độc lập vào ngày 2-9-1945. 

*Mời các bạn đọc thêm bài này

Cách Mạng Mùa Thu 1945 không hề xảy ra]

Tại sao chiến tranh Việt Nam kết thúc?

_Chiến lược đóng quân của  Mỹ  ở  Việt Nam đã thay đổi khi  TT Nixon bắt tay với Trung Quốc năm 1972. Lúc ấy, Mỹ muốn dùng Trung Quốc gây hấn thêm nữa với Liên Xô để buộc quân đội Liên Xô phải đóng 1 triệu quân dọc theo biên giới  Liên Xô- Trung Quốc; việc này ắt sẽ làm cho sức mạnh của Liên Xô bị chia đôi và yếu hẳn đi bên phía Âu Châu, và cùng lúc đẩy Liên Xô ở vào thế  nằm giữa hai gọng kềm (giữa TQ và các nước thuộc khối NATO (16 nước Tây âu và Mỹ). 

Chiến lược của Mỹ từ 1963-1972 là đem quân Mỹ vào miền Nam, và dùng miền Nam Việt Nam như một tiền đồn chống cộng. Họ cho rằng nếu mất Miền Nam, thì các nước khác như Thái Lan, Mã Lai, Indonesia… sẽ rơi vào tay cộng sản (đây gọi là học thuyết Domino).

Nhưng sự tham dự của quân đội Mỹ ở  Việt Nam kéo dài từ 1965-1972 mà cuộc chiến gần như không có dấu hiệu kết thúc bằng biện pháp quân sự, đồng thời sự thiệt mạng và bị thương của lính Mỹ được báo chí Mỹ  thống kê và đếm hàng tuần đã làm cho dân chúng Mỹ buồn bả và mất tinh thần. Và khi ra tranh cử TT năm 1968, TT Nixon đã hứa nếu đắc cử, ông sẽ rút quân đội Mỹ về nước trước khi nhiệm kỳ của ông kết thúc vào 20-1-1973…

Bước ngoặc đã đến với TT Nixon khi ông và bộ tham mưu nhận ra Trung Quốc đang ve vãn muốn đi đêm với Mỹ  (kinh tế của Trung Quốc bế tắc, cả nước rơi vào nạn đói kéo dài, Mao muốn tìm lối thoát, nên đứng ra làm trung gian, giúp Mỹ đàm phán với miền Bắc VN, và lợi dụng cơ hội tiếp xúc ấy để  bí mật bàn bạc với Mỹ về các vấn đề khó khăn của họ…các kế hoạch kinh tế 5 năm của TQ thất bại từ 1959-1972 ); kinh tế , tài chánh, công nghiệp và nông nghiệp của  TQ  sụp đổ từ 1966, đặc biệt nạn đói ở TQ lúc ấy đang tràn lan khắp nước, dân chúng chết hàng 20 triệu người…mọi người đều phải ăn cháo…An ninh lương thực bị đe dọa, và TQ cũng muốn kết thân với Mỹ để rảnh tay khỏi phải viện trợ 2 tỷ đô la hàng năm cho miền Bắc Việt Nam, và dùng Mỹ như một đồng minh để thoát khỏi sự đe dọa của Liên Xô (cả hai nước cộng sản LX và TQ đã  dàn quân đánh nhau  chí chết ở biên giới vào năm 1969).

Tóm lại, khi Mỹ bắt tay được với Trung Quốc 1972, Mỹ được lợi, Trung Quốc được lợi, và chiến tranh Việt Nam đã phải kết thúc. Nhưng, cái giá mà Hồ Chí Minh và đảng CSVN gây ra chiến tranh và chiếm cho bằng được Miền Nam là quá lớn. Hơn 1 triệu 300 ngàn bộ đội đã chết, 2 triệu thường dân đã hy sinh, 326 ngàn sĩ quan và binh sĩ của VNCH đã chết, 58 ngàn binh sĩ Mỹ đã tử thương. Tỉ lệ chết giữa Mỹ, VNCH, và bộ đội như sau. Cứ 1 lính Mỹ chết, thì có 5 lính VNCH hy sinh, và 20 bộ đội miền Bắc tử thương. Và cố Tổng thống Ronald Reagan đã nói thêm: “Chấm dứt chiến tranh Việt Nam không đơn thuần là chỉ rút quân về nhà là xong, vì lẽ cái giá phải trả cho loại hoà bình đó là ngàn năm tăm tối cho những thế hệ sinh ra tại Việt Nam về sau. 

———

*(Mỹ cắt quân viện cho miền Nam từ 1,5 tỷ đô la năm 1972, xuống còn 700 triệu đô la năm 1973, và rồi chỉ còn 300 triệu đô la năm 1975  trong bối cảnh giá xăng dầu năm 1973 gia tăng và kinh tế Mỹ (theo đúng chu kỳ) mỗi 7-10 năm đang rơi vào khủng hoảng).

***

*Nhân đây, phải nhắc đến tài nhìn xa trông rộng của ông Ngô Đình Nhu. vào tháng 9- 1963, ông Nhu nói: nếu TT Ngô Đình Diệm không còn làm TT nữa, thì Miền Nam VN chỉ đứng vững được 10 năm.  Quá chính xác. Mỹ rất ghét ông Ngô Đình Nhu, vì ông Nhu quá tài giỏi.  (Mỹ luôn luôn tìm cách ép TT Diệm đẩy ông Nhu ra nước ngoài). Ông Nhu dùng Ấp Chiến Lược triệt hạ được 98% cộng sản ở miền Nam,

 
nguồn danchimviet.info
Dưới đây là hai bức thư Hồ chí Minh gửi Stalin để xin chỉ thị về đề án Cải Cách Ruộng Đất diệt chủng Việt tộc :Thư thứ nhất :
 Đồng chí Stalin thân mến:Xin gửi ngài chương trình cải cách ruộng đất của Đảng lao động Việt Nam. Chương trình hành động được lập bởi chính tôi dưới sự giúp đỡ của đồng chí Lưu Shao Shi, Văn Sha San.Đề nghị ngài xem xét và cho chỉ dẫn.Gửi lời chào cộng sản.Hồ Chí Minh, 31/10/1952Nguồn tài liệu: Cục lưu trữ quốc gia Nga:
http://www.rusarchives.ru/evants/exh…tnam1/22.shtml
———-Thư thứ hai:Đồng chí Stalin kính mếnTôi đã bắt đầu soạn thảo đề án cải cách ruộng đất của Đảng Lao Động Việt Nam, và sẽ giới thiệu với đồng chí trong thời gian tới.
– Tôi gửi tới đồng chí một số yêu cầu, và hi vọng sẽ nhận được chỉ thị của đồng chí về những vấn đề này.
1. Cử một hoặc 2 đồng chí Liên Xô tới Việt Nam để làm quen và tìm hiểu thực trạng ở đó. Nếu như các đồng chí đó biết tiếng Pháp đủ để có thể giao tiếp với nhiều người. Từ Bắc Kinh tới chỗ chúng tôi đi đường mất khoảng 10 ngày.
2. Chúng tôi muốn gửi tới Liên Xô 50-100 du học sinh, với trình độ văn hóa lớp 9 ở Việt Nam, trong số họ có người là Đảng viên và cũng có ngừơi chưa phải là Đảng viên, độ tuổi của họ từ 17-22. Đồng chí nhất trí về vấn đề này chứ.
3. Chúng tôi muốn nhận từ phía các đồng chí 10 tấn thuốc kí ninh ( thuốc sốt rét) cho quân đội và dân thường, có nghĩa rằng 5 tấn trong nửa năm
4. Chúng tôi cần những loại vũ khí sau
(a) Pháo cao xạ 37 li cho 4 trung đoàn, tất cả là 144 khẩu và 10 cơ số đạn cho mỗi khẩu pháo.(b) Pháo trận địa 76,2 li cho 2 trung đoàn, tất cả là 72 khẩu và 10 cơ số đạn cho mỗi khẩu(c) 200 khẩu súng phòng không 12,7 li và 10 cơ số đạn cho mỗi khẩu
Sau khi nhận chỉ thị của đồng chí về những vấn đề trên, tôi dự định vào ngày mùng 8 hoặc là mùng 9 tháng 11 sẽ rời khỏi Moscow.
Gửi tới đồng chí lời chào cộng sản và lời chúc tốt đẹp nhất .Hồ Chí Minh
30-10-1952 đã kýhttp://vietvungvinh.com (link của bài viết này đã bị hỏng)———-

vybui says:

Thưa độc giả Trần Kha,

Khi tôi bỏ công viết những dòng này thì tôi tin là ông không biết nhiều lắm về chế độ CS tại VN, hay có biết cũng chỉ là biết những gì họ cho ông biết. Nếu có hơn thì cũng do sách vở, báo chí cả trong lẫn ngoài nước đề cập đến, chẳng hạn về cuộc Cải Cách Ruộng Đất mà ông và vài vị độc giả đang thảo luận.

Ông nói không sai, CCRĐ CHÍNH THỨC bắt đẩu vào ngày 19/12/1953 khi luật CCRĐ được ban hành. Nhưng trước đó, vào những năm 1951 ở Khu Tư( Thanh-Nghê-Tĩnh) thì nó đã được bắt đầu. Trước đó nữa vào năm 1949 qua một Thông Tư Liên Bộ, nó đã được đề cập đến. Nhưng thực ra, ngay từ khi Cách Mạng Tháng Tám thành công, những vùng do Việt Minh kiểm soát đã hình thành cuộc cải cách ruộng đất dù mới có tính cách sơ bộ do những nguyên nhân sau:
– Tình hình an ninh tại một số vùng làm cho người Pháp, Việt thân Pháp bỏ đi, ruộng đất của họ được phân phối cho nông dân để lôi kéo từng lớp chiếm đại đa số ở nông thôn Miền Bắc đi theo VM.
– Một số đia chủ vì sợ và có it nhiều hiểu biết về VM cũng bỏ đi và để lại ruộng đất.
-Dùng bạo lực quy kết những điền chủ là thông đồng với Pháp để cướp đoạt tài sản, ruộng đất cuả họ…

VM ngay từ những năm 1946, không những lấy đất của những thành phần trên, mà đối với những người có nhiều ruộng đang cho thuê, VM cũng đã cắt giảm điạ tô, bãi bỏ mọi khoản tiền(luá) thuê ruộng (của điền chủ). Theo tài liệu chính thức của Đảng CSVN( Đại Cương Lịch Sử VN, do Lê Mậu Hãn chủ biên, nhà xuất bản Giáo Dục, tháng 3, 2007) thì công cuộc CCRĐ đã được Đảng và CP TIẾP TỤC TỪNG BƯỚC GIẢI QUYẾT TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG PHÁP( từ 1946), nhưng chỉ đến 1953 mới ban hành luật và phát động quy mô trên cả nước (VNDCCH).

Đây là lời phát biểu cuả HCM tại phiên họp thứ 3 Quốc Hội (khoá I) :
“….Luật CCRĐ cuả ta chí nhân, chí nghĩa, hợp tình, hợp lý. Chẳng những là cho cố nông, bần nông, trung nông ở dưới có ruộng để cày, mà đồng thời CHIẾU CỐ “đồng bào” Phú Nông, “đồng bào” Địa Chủ…”

Chiếu cố như thế nào chắc mọi người đã rõ. Ai là ‘đồng bào’ cuả tên CS HCM/ Hồ Tập Chương thì miễn bàn.
Bao nhiêu “đồng bào” cuả CS đã hiến tiền bạc, tài sản, ngay cả sinh mạng cho chúng như mẹ con bà Cát Hanh Long, cha con ông Đặng Văn Hướng, Đặng Văn Việt Trung Đoàn Trưởng Trung Đoàn 174 khét tiếng và hàng chục, hàng trăm ngàn những người yêu nước bị giết vì thuộc thành phần trí thức thành thị, phú nông, trung nông, điền chủ ở thôn quê.
Một trường hợp khốn nạn là cụ Hoàng Giáp Nguyễn Khắc Niêm, từng là Tổng Đốc Thanh Hoá, một nhà nho trong sạch, yêu nước, dù bỏ quan về làm dân, CS cũng không tha. Năm 1954, cụ bị đấu tố, bị kết án 20 năm tù bị đưa đi “cải tạo”. Cụ đã nhịn đói cho đến chết khi bọn CS nhốt cụ vào cũi, tới bữa ăn, chúng đem cho it cơm để trong lá chuối đặt dưới đất và bắt cụ sủa gâu gâu như chó rồi mới được ăn. Dù cha CHẾT THẢM, CHẾT NHỤC như vậy, tên khốn nạn NGUYỄN KHẮC VIỆN (Bác Si) và bày em nó như NGUYỄN KHẮC PHÊ, NGUYỄN KHẮC PHI … vẫn một lòng đi theo CS và suốt đời phục vụ đắc lực cho Hồ và bè lũ. Cũng may trong số con cụ Nguyễn Khắc Niêm còn GS Nguyễn Khắc Dương, ( ĐH Đà Lạt) là đi theo đường khác, phục vụ Quốc Gia Dân Tộc, và bị đối xử vô cùng khắc nghiệt khi CS chiếm được Miền Nam.

http://www.danchimviet.info/archives/80869/afp-mot-nguoi-duc-kien-nha-cam-quyen-ha-noi/2013/10

Posted in Hiệp định Geneve 20-7-1954 | 1 Comment »