Trần Hoàng Blog

Archive for Tháng Bảy, 2011

Truyện Ngắn

Posted by hoangtran204 trên 31/07/2011

Cũng Một Kiếp Người

Tác giả: Đỗ Trường
» Thể lọai: Truyện ngắn
» Số lần xem: 6490

nguồn

Bây giờ hắn nằm đó bất động như một xác mướp khô. Hai chân hắn co quắp,khẳng khưu, đầu gối vồng lên như những mắt tre bị ai đó chặt chém nham nhở .Da của hắn chùng xuống nhăn nheo, đeo thêm những cục sẹo trong chiến tranh và bị đánh trong tù, to tướng nặng nề lệch hẳn sang một bên, đung đưa đung đưa, mỗi khi hắn co chân lên như những hòn đọi của mấy ông thợ xây.

Đầu hắn trọc lốc, hai mắt đờ dại, sâu hoắn vô hồn. Miệng hắn chẳng còn cái răng nào dúm lại ,méo mó .Tiếng thở của hắn phì phà,phì phò, nhiều lúc rít lên như tiếng nhị, môi hắn tím ngắt,phập phà phập phùng,nhìn vào như da trống rách của mấy lão thợ cúng gần nhà hắn. Hai tay hắn quờ quạng,và hắn đang sờ soạng vào bóng của mình trên tường, dưới ánh đèn dầu lúc chạng vạng tối.

Hắn đã đi qua hết cuộc chiến tranh khốc liệt nhất trên quê hương hắn. Nhà tù của chế độ Việtnam cộng hòa, rồi nhà tù Thanh hóa sau 30-4-75 hắn cũng đã vượt qua. Ấy vậy mà căn bệnh ung thư phổi đã quật ngã hắn, hắn đang nằm chờ chết,một cái chết đau đớn về thể xác lẫn tâm hồn.

Vì là con ông chú, nên hắn phải gọi tôi bằng anh, nhưng hắn lớn hơn tôi đến chục tuổi. Ông nội hắn là người giầu có tiếng tăm ở Nam Định.

Ông hắn mua rất nhiều ruộng đất ở vùng hạ sông Đáy. Ông hắn bắt vợ chồng bác cả và bố hắn về ở hẳn đó trông coi. Để trói chân bố hắn ở đó lâu dài, ông hắn lập mưu cưới vợ cho bố hắn là người địa phương . Lúc đầu bố hắn phản đối quyết liệt, nhưng sau đó không rõ thế nào , hay vì mẹ hắn nết na ,hiền thục ,chăm chỉ ,nên dần dà bố hắn cũng chịu.

Hắn là con thứ hai, sau hắn lóc nhóc còn sáu em nữa. Đến tuổi vào học lớp vỡ lòng (lớp 1),là lúc đội cải cách về thu ruộng đất của gia đình hắn . Bác cả của hắn sợ quá chạy một mạch ra Qủang yên. Vì còn vướng đàn con nhỏ ,bố hắn không kịp chạy nên bị bà con bần cố nông bắt giữ.

Bố hắn bị giam vào chuồng lợn của chính gia đình hắn. Nhà chính của bác cả và gia đình hắn bị chia cho bà con bần cố.Gia đình hắn phải chuyển xuống nhà bếp.

Hàng ngày hắn phải mang cơm cho bố ( nói là cơm cho sang vậy thôi ,thực ra chỉ là cháo bí ngô đỏ, hoặc khoai lang luộc mà thôi ) phải đi qua sân trước nhà cũ của hắn,hắn sợ lắm. Bọn bạn cũ con bần cố nông ,từ trong nhà hắn réo tên hắn chửi :  –  Thằng địa chủ con, đại gian đại ác, chúng ông không chơi với mày nữa.

Hắn lầm lũi cúi mặt bước đi. Hắn cũng nghe lỏm được, bác Âm chị gái bố hắn bị bà con bần cố nông và cô con gái nuôi đấu tố làm nhục,  ức quá thắt cổ tự tử.

Ông hắn ở trên quê, cũng bị nhốt vào chuồng trâu,tự bóp cổ mấy lần,  mặt xưng to như cái cơi trầu, bà nội hắn biết được nên cứu sống. Hôm đội mang ông hắn ra xử bắn,thì có lệnh dừng lại -sửa sai- thóat chết.

Bố hắn may mắn cũng được thả , vì ruộng đất trên giấy tờ vẫn là của ông hắn được hạ thành phần xuống trung nông.

Mới chín, mười tuổi, hắn đã phải lao động cật lực như một lão nông thực sự. Hắn và bố hắn hàng ngày phải cầy cầy,bừa bừa,lăn lộn, trên chính mảnh đất của cha ông hắn, để tính công điểm với hợp tác xã.

Chằng chuộc mãi hắn cũng học qua được bậc tiểu học. Mười bảy tuổi mà hắn còi cọc nhỏ thó như đứa trẻ mười bốn,mười lăm.Người hắn gầy như cây sậy,da xanh rớt như tầu lá.Cái đói thường trực trong con người hắn,có lẽ cả năm chỉ có ngày mùng một tết là hắn được ăn no.

Cái ngày ấy đi bộ đội tức là đi vào chỗ chết,người ta cũng phải xét lý lịch. Thành phần ông địa chủ, bố không cùng với giai cấp bần cố, lại có chú theo ngụy quân, ngụy quyền vào nam, muốn đi bộ đội còn lâu nhé. – Cho mày đi ,mày theo chú mày chống lại chúng ông à. Người ta bảo hắn thế,khi hắn viết đơn xung phong vào bộ đội.

Bố hắn thì chì chiết:

_Đi bộ đội, mày định mang súng vào Nam để giết chú mày hay sao? Đồ mất dậy.

Mặc xác mọi người,hắn vẫn quyết tâm xin đi. Cũng may bên ngọai hắn có mấy ông bác, ông cậu làm việc ngòai xã, cậy cục mãi ,người ta cũng chấp nhận cho hắn đi khám sức khỏe. Hôm khám,hắn phải đeo thêm mấy cục đá mới đủ cân.

Nhìn cái dáng loắt choắt của hắn có người thương tình hỏi:– Còn bé tý ,sao lại muốn lăn vào chỗ chết như vậy ?. Hắn hồn nhiên trả lời:– Đi bộ đội cháu sẽ được ăn no.

Cuối năm 1980 hay 81, nhà tôi lúc này còn ở trong ngõ chợ Khâm thiên. Không ngủ được, mẹ tôi thường đi chợ sớm.

Sáng hôm ấy trời nắng ráo ,có mưa gió gì đâu, lại có một người đàn ông ăn mặc kỳ cục, áo mưa kín mít như đàn bà đẻ, chân đi đôi guốc tự đẽo, lọet quẹt theo mẹ tôi vào nhà. Tôi nghệt mặt ra nhìn.

Mẹ tôi hỏi :– Không nhận ra ai sao ? tôi lắc đầu  —  Đam con chú Khôi ,vừa ở tù ra. Thì ra ông trời đánh này, nghe đã nhiều hôm nay mới gặp.

Ngày hắn đi bộ đội, tôi mới có năm, sáu tuổi, không nhớ được.  Nếu như mọi người trong gia đình không thường xuyên nhắc đến hắn, có lẽ tôi chẳng biết  còn có hắn ở trên cõi đời này.

Năm ấy hắn mới ngòai ba chục, ấy vậy nhìn hắn như ông già sáu mươi. Răng hắn cái mất cái còn ,vàng khè,ngỡ từ lúc sinh ra đến giờ,hắn chưa bao giờ biết đánh răng vậy. Da hắn bủng beo,xám xịt ,có lẽ hắn vừa trải qua trận sốt rét rừng ? Tóc hắn bết lại thành từng khóm ,tỏa mùi khét lẹt. Hai má hắn tóp lại, xương cằm chồi ra làm đôi môi đen xì của hắn hơi bị sole.

Hắn chỉ còn đôi mắt ngầu ngầu hơi đục, thi thỏang tóat lên sự sống. Chân hắn đi lại cà nhắc cà nhắc. Hắn bảo chân hắn ba lần bị thương, lần đầu dính đạn của lính VNCH, lần sau trúng đạn của bộ đội. Một lần nữa hắn bị quản giáo vụt gẫy chân, vì can tội đào trộm sắn ăn sống khi ở trong trại cải tạo.

Mẹ tôi phân công hắn ngủ cùng giường với tôi. Nhưng mấy đêm đầu hắn như bị ma ám. Đang ngủ ,hắn dựng người dậy ,nói mê lảm nhảm

_Lạnh quá,lạnh quá, tôi chết mất…

Tôi ấn người hắn xuống

_Đây là nhà mình rồi,không phải ở tù nữa đâu. Hắn đổ cả mồ hôi hột,

_Vậy hả, giời đất ơi, em cứ tưởng đang bị đứng dưới hố nước chứ. Nghĩa là thế nào ? tôi hỏi hắn.

_Trong trại có một cái hố sâu đầy nước, người ta bỏ một tấm ván gỗ trên mặt nước. Vào mùa đông ,thằng nào bị phạt phải đứng ngâm mình trên tấm ván đó ,nước tới cổ,trong tư thế cân bằng ,nếu không tấm ván sẽ bị lật, uống no nước bẩn.

Nghe hắn kể những lần sốt rét rừng không có thuốc ,phải nuốt giun đất sống ,làm tôi rùng mình. Hắn bảo nghĩ thì sợ ,nhưng trong hòan cảnh đó phải chấp nhận thôi, nhưng cái anh giun đất trị sốt rét tốt ra phết đấy.

Tôi hỏi hắn : Ông đang là bộ đội ,làm thế quái nào ông chuyển thành lính VNCH ?. Hắn lặng người đi, dường như hắn đang xúc động lắm. ….

Vào bộ đội được ba tháng, đơn vị hắn được lệnh hành quân vào Nam. Hắn được huấn luyện sơ sài . Hắn thú thật ,lúc đó chưa sử dụng súng đạn thuần thục.

Mấy tháng ròng, luồn rừng,trèo đèo, lội suối, đơn vị hắn mới đến được nơi tập kết, nhưng rơi rụng hết một phần ba. Hắn được bổ xung vào một đơn vị mới đóng sát biên giới Campuchia.

Hắn chưa được tham gia những trận đánh lớn, ngòai mấy trận đụng độ lẻ tẻ. Hắn bị bắt trong một trận như vậy ,khi hắn bị thương ở chân, và lạc đơn vị .

Hắn được đưa về Sài gòn điều trị vết thương,và tạm giam. Lúc đầu hắn cũng lớn tiếng ,hung hăng đả đảo chế độ VNCH, đúng như lời đồng chí chính trị viên căn dặn. Nhưng dần dần hắn cũng hiểu ra ,họ không hòan tòan như đồng chí chính trị viên đã nói.

Hắn được đối xử ở bệnh viện quân đội ,như những người lính VNCH. Khi vết thương đã lành, hắn phải vào nhà tù, từ đây hắn trở thành tù nhân của chiến tranh. Hắn được ăn uống đầy đủ,hắn không bị đói- Ôi! hắn sợ đói lắm,dường như cái đói cứ ám ảnh cả cuộc đời hắn. Hắn sợ đói ngay cả lúc hắn no.

Hắn biết ,hắn chỉ là thằng lính tò te, ít học ,lại còn ngốc nghếch nữa, chẳng có gì để họ quan tâm ,khai thác cả. Nhưng hiện tại hắn đang mất tự do, ngày ngày trôi qua, hắn cảm thấy vô vị.

Năm sau, hắn cùng một số bạn tù khác xin hồi chánh. Biết hắn ít học,lại còn trẻ,nên chính phủ cho hắn vào trường học nghề, nhưng hắn không chịu ,hắn muốn đi làm ngay để kiếm tiền. Vật lộn mấy năm làm thuê, lúc ở Sàigòn, khi ở Biênhòa,hắn đâm chán nản.

Đầu năm 1970,gặp lại mấy ông bạn tù cũ cùng cảnh ,rủ vào lính biệt kích không số quân, do Mỹ trả lương,vì họ đang cần tuyển những người tứ cố vô thân như hắn.

Tôi hỏi hắn: – Ông có ông chú ruột lúc đó đang là sĩ quan VNCH, và là dân biểu tỉnh Bìnhđịnh sao ông không tìm đến ?

Hắn bảo khi bị bắt ,hắn đã khai không có ai quen biết,họ hàng nào ở miền nam cả, sau này sợ phiền ,nên hắn không tìm chú hắn. Khi hắn là lính biêt kích- đóng ở Hòai nhơn,Bìnhđịnh, đó là quê vợ của chú hắn, cũnglà địa bàn đóng quân của ông.

Hắn thường xuyên thấy hình ông chú trên báo,nhưng hắn quyết tâm không tìm. Điều tất nhiên ông chú không biết hắn đang ở cạnh ông.

Dù hắn có giải thích,hoặc bằng bất kỳ lý do nào ,cũng không làm cho tôi thỏa mãn. Tôi bảo hắn; Nếu như  gặp ông chú có lẽ số phận ông sẽ đổi khác. Hắn im lặng không nói gì. Tôi còn giữ cả số lính- 76.106619- (đã lâu không biết còn chính xác không?)đơn vị sau năm 1972,

Khi Mỹ rút, hắn chuyển sang quân đội VNCH.  Số là năm 1993 em gái út lấy chồng, tôi có về Hànội. Công việc xong xuôi,tôi về thăm quê,và thăm hắn. Lúc này hắn đang đói lắm.

Nghe đâu hắn theo người ta ra mãi Quảngninh làm thợ xây. Chẳng hiểu các bố lắp đặt giàn giáo thế nào chạm vào vào dây điện chạy ngang, hắn bị giật cháy xém cả mảng da,ngã lộn cổ. Hắn không chết, nhưng bị thương nặng ,chuồn về quê tĩnh dưỡng.

Gặp hắn tôi hỏi , đã tởn chưa?  Hắn chống tay ngồi dậy ,tựa lưng vào tường ,với điếu cầy bắn liền tù tì hai ,ba phát,rồi vỗ vào miệng điếu kêu đồm độp.Hắn nuốt khói thuốc lào ừng ực ,cứ như người ta uống bia vậy. Lim dim một lúc hắn trả lời nhát gừng :

_Sợ có mà chết đói à.

Tôi hỏi:

_Sao không làm đơn sang Mỹ theo diện HO, để vợ con nheo nhóc như thế này. Hắn cười buồn

_Ở đây tù mù quá, em không biết thủ tục như thế nào ,ghi cho bác số lính, đơn vị,nhờ bác hỏi giúp.

Ngày đó Mỹ chưa có sứ quán ở Hànội,tôi cầm sang Đức nhờ anh Trần hữu Phúc biên tập báo HướngViệt,nơi tôi thường xuyên gửi bài. Anh Phúc hướng dẫn tỷ mỉ,bảo hắn phải vào Sàigòn nộp. Chẳng hiểu lý do gì hắn không vào.

Mãi đến năm 2007 hắn mới chịu làm tiếp hồ sơ. Người ta gọi khám sức ,căn bệnh ung thư phổi của hắn đã đến giai đọan cuối, chuẩn bị ngồi trên nóc tủ rồi ,còn đi với đứng gì nữa.

Có một câu chuyện hắn kể đã lâu ,có thể hắn phịa ra,hoặc thêm mắm thêm muối vào,làm tôi ám ảnh mãi. Là thám báo,nên  hắn thương phải họat động riêng lẻ. Chuyến đi đông người nhất là vụ nhảy dù xuống nhà tù nhốt phi công Mỹ ở Sơntây. Hắn làm nhiệm vụ tiếp ứng ngòai tầu biển. Sau mỗi phi vụ ,bọn hắn được xả láng cả tháng. Người Mỹ cũng vậy ,nhàn cư bất thiện. Hết trò,có vài lính Mỹ thuê các cô gái điếm vào trại cho chó đến kỳ động đực chơi. Động đến tự trọng dân tộc,bọn hắn vác súng đến sống chết với lính dù Mỹ.Chuẩn bị đánh đấm đến nơi, các cấp chỉ huy phải hỏa tốc đến , điều đình ,can thiệp mã mới ổn. Rù rà ,rù rì hắn kể đại lọai rất nhiều chuyện như vậy. Tôi không tin nhũng chuyện đó là thật, nhưng không hiểu tại sao tôi lại thích nghe.

Năm 1972, hắn chuyển về làm tiểu đội trưởng thuộc trung đội 3, đại đội 3,tiểu đoàn3,trung đòan 48,sư đoàn 18 bộ binh, với cái tên mới Nguyễn tấn Tước,( vì nhiệm vụ bảo mật nên hắn thay đổi tên tuổi ,ngày tháng năm sinh khi đổi đơn vị)cho đến ngày hắn bị bắt tại Xuânlộc.

Sau 30-4-75, hắn bị giải ra bắc. Tòa án quân khu 3 tại KiếnAn xử hắn gần sáu năm tù. Hắn ghé vào tai tôi nói nhỏ, em không khai báo thời gian đi lính biệt kích  cho Mỹ,  không thì có lẽ em khó có ngày về. Tôi hỏi lại hắn:

_Ông không phải là sỹ quan , mà sao người ta phải đưa ông ra bắc , mà tù lâu đến như vậy.

Hắn giải thích:

_Em nguyên là bộ đội xuất thân từ Nam định,nên họ xử em về tội chiêu hồi . Họ đánh giá thành phần bọn em còn nguy  hiểm hơn cả sỹ quan.

Từ đó đến nay, thời gian qua đã lâu,hắn cũng xắp tới cầu Nại hà,nên tôi mới dám viết điều này. Trông hắn cũ người như vậy ,thế mà có duyên ra phết. Ở Xuânlộc hắn cũng có vợ, chẳng biết có cưới xin gì hay không, nhưng đẻ cho hắn hai thằng con trai .Từ ngày hắn đi tù,vợ hắn cũng mất tích luôn, có lẽ đã lấy chồng khác.

Ngày mãn tù, người ta bắt hắn phải về quê để quản thúc, chứ không cho xuôi Nam.  Với cái bộ mặt dúm dó,và cái lý lịch đen như mực , ây vậy mà về quê có ít ngày ,hắn cưa đổ cô hàng xóm xinh đẹp ,nết na ra phết về làm vợ. Con cái cứ năm một ra đời, cái đói không bao giờ buông tha hắn .

Hôm trước, tôi có gọi điện về hỏi thăm, qua điện thoại người hàng xóm nhà hắn, hắn nói năng nặng nhọc lắm rồi.Tôi hỏi còn nguyện vọng gì nữa không. Hắn bảo:

_Ước nguyện thì nhiều,nhưng lúc xắp phải về thế giới bên kia, chỉ muốn được gặp đồng đội cũ  sư đoàn 18 bộ binh. Ước muốn là như vậy,nhưng khó lắm phải không bác…

Sau vài giây im lặng ,tôi nghe thấy tiếng… nấc nghẹn nghẹn…ở đầu dây bên kia.

Câu chuyện này, tôi viết ra đều theo lời kể của hắn, chẳng biết đúng sai thế nào, vì tôi chưa bao giờ trải qua gian khổ  éo le như hắn. Nhưng không hiểu tại sao, viết xong đọc lại, tôi cứ thấy rờn rợn ./.

Advertisements

Posted in Hồi Ký, Truyện Ngắn | Leave a Comment »

Truyện Ngắn: Gỏi Nhệch

Posted by hoangtran204 trên 31/07/2011

Đỗ Trường

Thật ra quê gốc của tôi không phải vùng ven biển Nghĩa Hưng, Nam Định. Quê nội tôi, họ Đỗ sống nhiều đời ở Trực Ninh. Ông nội tôi trong cải cách ruông đất được đội(cải cách) phong là địa chủ cường hào đại gian đại ác. Theo báo Nam Định, tài sản của ông tôi bị tịch thu nhiều đứng thứ ba của tỉnh. Lệnh sửa sai, đã kịp thời cứu sống ông tôi từ nơi trường bắn. Chỉ tội cho ông Phi chủ tịch lâm thời huyện, người đã được ông tôi nuôi giấu khi còn hoạt động trong bóng tối, bị gán cho cái tội quốc dân đảng, ức quá tự mổ bụng, chết tức tưởi trước mặt đồng chí của mình hiện là những ông đội, ông phán.

Quê ngoại tôi họ Đặng làng Hành Thiện, Xuân Trường. Dòng họ khoa bảng rất nhiều người thành đạt trong học vấn, và nhiều người làm quan to ở thời nào, chế độ nào cũng có. Như mẹ tôi chẳng được học hành nhiều, vậy mà khi về già vẫn còn đọc sách tiếng pháp toanh toách tôi nghe ù hết cả tai, chữ viết cứ tròn vành vạnh, tính toán, nữ công gia chánh đâu ra đấy. Không hiểu chế độ thực dân thối nát, nhồi nhét, đào tạo kiểu gì mà tài thế. Ngay bốn ông cậu em ruột mẹ tôi, ông chức vụ bé nhất cũng là vụ trưởng vụ kỹ thuật của một bộ.

Có lẽ tôi không được thừa hưởng tý ti nào gen bên ngoại, nên học hành vào dạng làng nhàng, độn sổ, năm học nào cũng nhận điểm vớt. Học hành đã dốt nát, lớn lên, đi làm chuyên chọc ngoáy cán bộ, nên luôn luôn được xếp vào dạng cá biệt, đã thế tôi còn khắc khẩu với các bác, các cậu bên ngoại. Có lần trong đám giỗ, có bác chức to đùng cùng đoàn tùy tùng, bảo vệ đến tham dự. Tôi dạng con cháu, ngồi mâm dưới. Đang chuyện gia đình, các bác chuyển sang học hành, và chuyện xã hội. Người đã khật khừ, tôi còn can tội nói leo, nói bậy làm phật ý các bác, bị ông cậu thứ hai bịt miệng, túm cổ lôi ra ngoài, bàn giao cho mấy ông cháu áp tải về nhà. Từ lần sau giỗ chạp, nếu tôi lò dò tới, chỉ được phép ngồi mâm các bà.

Ông ngoại tôi là sếp ở sở giây thép Hà Nội, chẳng biết là sếp to hay sếp bé nhưng về khoản cô đầu, cô đít thật sự ông tôi là sếp lớn, nổi tiếng đất Hà Thành. Ngày bà ngoại tôi còn sống hay cằn nhằn, ông ấy ăn chơi như vậy, thế mà Cả Khu ( TBT Trường Chinh) móc nối, rủ đi làm “giặc cỏ” đấy. Yêu cô đầu, con hát còn hơn cả vợ con, làm sao ông ấy bỏ đi được. (Vai vế trong họ, bà ngoại tôi là chị cụ Bốn Đễ thân sinh ra ông Trường Chinh – ngày đó trong họ, và chính quyền Pháp thuộc đều gọi ông Cả Khu là giặc cỏ, vì có ai biết cách mạng cách mẽo gì đâu, chỉ biết ông đang bị chính quyền truy bắt vậy thôi, nói như từ ngữ của ta bây giờ, tội phạm hình sự – Đây là lời kể của bà tôi và cô Đặng Thị Uẩn em kế ông Trường Chinh).

Tôi không nghĩ ông bà ngoại tôi ham giầu, mà cho mẹ tôi từ Hà Nội về làm dâu làng Cát Chử, Trực Ninh. Con nhà giầu ngày xưa làm việc còn cực hơn người ở. Mẹ tôi chửa xắp đến ngày sinh anh cả tôi, trời rét căm căm vẫn phải lội xuống ao vớt bèo, băm cám lợn.

Ông nội tôi mua rất nhiều ruông, đất vùng hạ Nghĩa Hưng. Nơi đây đất mới, ruông đồng mầu mỡ, lại được kẹp giữa hai con sông Ninh Cơ, và sông Đáy nên tôm cá rất nhiều. Từ đây ra biển chỉ một vài cây số, vì vậy hầu như nhà nào cũng có Te để đánh bắt tôm cá ven biển. (Te hình chữ V, mở ra khép vào như chiếc com pa, khung được làm từ hai cây tre khô, thẳng, người ta dùng dây đay đan thành lưới như một cái vợt, dụng cụ nặng nề này chỉ có đàn ông khỏe mạnh sử dụng được, dùng hớt cá ven bờ).

Ông tôi cho bác cả, và ông chú dưới bố tôi về đây trông coi. Nghe tin đội cải cách rục rịch về, ông tôi bắt bố mẹ tôi trốn về Nghĩa Hưng. Vừa tới nơi,chú tôi giật mình bảo, anh chị đưa các cháu về Hà Nội ngay, ở đây có lẽ còn căng hơn ở trên quê đấy. Đêm đó bố mẹ tôi tìm đường ngược về Hà Nội nương nhờ bên ngoại.

Sửa sai được mấy tháng, bà nội tôi tay bị, tay gậy lên Hà nội kêu với trung ương xin lại cái từ đường họ Đỗ vừa để thờ và ở, vì ruộng đất nhà cửa bị tịch thu cả, hiện hai ông bà già đang phải tá túc ở cái chòi ngoài đồng, trước đây là nơi canh lúa. Bà ngoại tôi dẫn bà nội đi tìm cụ Bốn Đễ lúc này đang lang thang ngoài phố, viết câu đối bán. Chẳng hiểu cụ Bốn Đễ nói gì với ông Trường Chinh, hay văn phòng quốc hội, thời gian sau ông bà tôi được chính quyền trả lại cho cái từ đường.

Có lẽ do hoàn cảnh gia đình và Mỹ ném bom Hà Nội, nên mẹ gửi tôi cho ông chú ở vùng biển Nghĩa Hưng. Nhờ vậy tôi có năm tháng tuổi thơ đi qua miền đồng quê sông nước, với những mùa rạm trôi tháng tám, và những cánh đồng vỡ ải, thơm lừng khói bếp quyện mùi rươi rán đầu mùa. Khi mùa nếp đã chín vàng, là từng đàn két tụ về vạt sú ven đê. Mùa này chõ xôi của các bà các cô quê tôi không thể thiếu thịt két hấp béo ngậy, trong se se lạnh chớm đông.

Trong cái se lạnh ấy, lũ trẻ chúng tôi sau những nhận thư hùng bằng những ván bi, ván đáo, thường tụ tập nhau trên những gò giữa đồng đang gặt, tìm bắt những con muôm muỗm béo tròn, đốt lửa lên, chúng tôi nướng. Hương của rơm mới bay đi với mùi thơm chín vàng rộm, bóng mượt của muôm muỗm, cho vào miệng, cảm giác bùi, béo ngọt, man mát như chiếc đòng đòng non khi lúa đương thì con gái, cho đến hôm nay đầu đã hai thứ tóc, nhưng khi nghĩ đến nó, tâm hồn tôi lại như được trở về với tuổi thơ.

Nhà chú tôi nằm chơ vơ giữa cánh đồng, nơi này trước đây là gò đất, bác cả cho dựng nhà tạm làm nơi nghỉ trưa của thợ cấy, thợ gặt. Cải cách, bác cả chạy thoát ra Quảng Yên, còn lại chú tôi nhà cửa, của cải, ruộng vườn bị tịch thu cả. Bị giam mấy tháng, đội đinh trục xuất về trên quê, nhưng chú tôi đã lấy vợ người địa phương, nên tạm thời cho ra ở ngoài này. Sau nhà con mương dẫn nước tưới cho cánh đồng lúa. Khi trời mưa rào, hoặc cống chính ngoài sông Đáy mở, nước lên, cá dưới mương quẫy đẻ nghe ùm ụp sau nhà. Những đêm như thế này, bao giờ đăng, đó của chú cũng đầy tôm, cá.

Chú từ bé đã sống ở thành phố Nam Định vì ông tôi cũng có nhà ở đó. Nhưng chẳng lo học hành, chỉ mải đàn ca, sáo nhị, năm hai mươi tuổi, ông tôi bắt chú về Nghĩa Hưng cho bác cả kèm cặp, và trông nom ruộng vườn. Nhưng chú cũng chẳng bỏ được cái thú chơi bời đó, có khi bỏ nhà đi rong chơi cả tháng, kể cả lúc đã có vợ có con. Ấy vậy mà chú tôi đã thay đổi hẳn tính nết, sau mấy tháng bị đấu tố, giam chung với lợn trong cải cách ruộng đất. Bây giờ nghe tiếng cá quẫy chú đã biết đó là loại cá gì, to hay bé. Chú đã là người sát cá nổi tiếng trong vùng.

Hì họ, giật hầy, dừng ọ…ọ .. con trâu, và chiếc cầy trên tay chú dừng hẳn lại. Quẹt tay lau mồ hôi trên trán, chú bảo tôi, gẫy mấy cái lưỡi cầy 51, mới được như thế này đấy. Chú tôi đã lột xác thành lão nông thật sự, và đang cầy cầy, bừa bừa chính trên mảnh đất của mình. Trước và sau chú đều là chủ, nhưng bản chất quả thật hoàn toàn khác nhau.

Chú tự từ bỏ tất cả mọi thú vui, hay mọi thứ vui đã bỏ chú ra đi, nhưng cái mà chú không thể từ bỏ đó là rượu với gỏi nhệch hay gỏi cá mè, một thứ ăn quê dân dã, dễ tìm, dễ kiếm. Khi đã ngà ngà say chú thường hay ngồi bờ mương sau nhà thổi sáo, hoặc đánh đàn Mandolin hát đến thâu đêm. Tôi còn nhỏ quá nên không hiểu hết những tâm sự, u hoài của chú, nhưng tiếng sáo vọng trong đêm, giữa cánh đồng mênh mông, dưới ánh trăng mờ đục cuối tháng, gió nâng tiếng sáo lên, như tiếng hú gọi hồn làm tôi cứ chờn chờn, rợn rợn. Đàn Mandolin thường đệm, hòa âm cho những bài hát có giai điệu vui rộn ràng, nhưng không hiểu sao khi nghe chú đàn hát, tôi thấy chẳng khi nào vui. Buồn đến nỗi có lần chú đàn hát bài “Tình Đồng Chí” ông chủ tịch xã đi qua tưởng chú hát nhạc vàng, nhạc phản động. Cấm. Chú bảo đó là của ông Chính Hữu, làm tướng tá trong quân đội đấy, ông lên Hà Nội mà bắt.

Khi ông mặt trời đỏ rực lên rồi tắt ngấm ở phía Tây, đâu đó chỉ còn một vài vệt sáng hắt lên từ cuối chân trời, chú tôi vác Te, đi kheo ra hướng biển. Chú đi cà kheo lênh khênh như các diễn viên hề ở đoàn xiếc, nước biển càng sâu, cà kheo thấp dần xuống, khi nước biển đã tới ngang hông người, chiếc sào được cắm xuống, đèn bão được treo lên, một đêm đánh cá bắt đầu. Đứng trên đê nhìn trong đêm ánh đèn như những con đom đóm lập lòe trên mặt biển mênh mông.

Sáng, khi mặt trời tròn như một chiếc thúng bơi lên khỏi những con sóng nhấp nhô, hàng ngàn tia nắng sớm lung linh, muôn mầu như đang rụng xuống biển xanh. Những con còng còng hoa nhớn nhác đi tìm những ụ cát mới để ẩn náu, cũng là lúc những người đánh cá kết thúc một đêm ngâm mình vật lộn với sóng gió. Tôi và thằng Năm (con thứ năm của chú) chạy ra hướng biển. Chú đã buộc Te gọn gẽ, rọ cá đã được mang lên mặt đê như chờ chúng tôi. Nửa dưới người ướt sũng, da bấy nhợt, chú cười hỏi:

_Hai thằng mày ngủ quên hay sao?

Thằng Năm nhìn rọ cá reo lên:

_Hôm nay bố bắt được cả nhệch!

Chú vác Te đi trước, tôi và Năm dùng sào làm đòn khiêng rọ cá lẽo đẽo theo sau. Tới nhà thím tôi chọn những con nhệch cỡ trung bình cho vào chum sành đậy lại, chiều làm gỏi. Còn lại thím mang ra chợ bán. Không hiểu sao chú tôi chỉ thích ăn cá đồng hay cá bắt dưới ao, chứ ít khi tôi thấy chú ăn cá nước mặn, ngoài nhệch ra. Khi bán cá có tiền chú hay dẫn tôi và thằng Năm ra hiệu sách cách nhà cả chục cây số, mua truyện. Truyện chú mua, tôi thích nhất cuốn truyện dịch của nước ngoài “Chú Bé Đánh Trống”.

Hôm nào đẹp trời; nước rút (xuống thấp), bãi biển bồi nơi cửa sông tật (lộ) ra, chú cho tôi và thằng Năm đi theo đào nhệch. Chú mang theo kẹp móc sắt trông như bát xà mâu của ông Trương Phi trong Tam Quốc để làm vũ khí chiến đấu. Nhìn những mà (lỗ) trơn, nhẵn chú đào, còn tôi và thằng Năm chạy loanh quanh nhặt những vỏ ốc được sóng đánh dạt vào bờ, tìm bắt những con còng mầu sắc sặc sỡ đùa nghịch. Lần đầu theo chú, đào được con nhệch to bằng cổ tay, dài ngoằng, chú đã kẹp vào đầu nó, thân và đuôi nó uốn ngược lên, tôi định đè nó xuống, chú hất tay tôi ra bảo, nó cuốn bẻ gẫy tay đó, xương nó cứng lắm.

Xung quanh nhà chú tôi trồng đủ cây có liên quan đến gỏi, từ cây xung, khế, chuối xanh đến đinh lăng, xương sông diếp cá, gừng nghệ, tía tô, mơ, húng, mùi tầu .. .. Và hũ mẻ gác bếp chú cũng chăm sóc kỹ lưỡng. Bình thường ít khi chú vào bếp, nhưng món gỏi nhệch tuyệt đối chú không cho thím, hoặc bất kỳ ai động đến. Chú bảo món này không cầu kỳ nhưng nhệch nhiều nhớt, nên phải dùng lá lúa để tuốt và nước tro để rửa. Lọc thịt phải mỏng, khéo và nhanh tay dùng giấy bản thấm khô, rồi tẩm thính gạo tám thơm, bột đậu xanh, riềng, nước nghệ, bột ngọt, muối tiêu ngay khi thịt còn mầu hồng. Chú dùng mẻ, đường, gừng một chút bột ngọt, ớt… nấu thành một thứ nước sền sệt đó dấm bỗng, sau đó pha thêm hai bát nước chấm, một bát với nước mắm, một bát với mắm tôm, bát nào cũng sóng sánh cùng tiêu gừng, ớt, sả…

Khi thím mang bánh đa vừng ra quạt, chú cho những khúc nhệch còn lại vào nồi canh củ chuối hột thái nhỏ như miến lên bếp, lúc này thằng Năm làm nhiệm vụ đi mời mấy ông bạn trong tổ cầy của chú. Tôi vừa rửa xong rổ rau thơm, đã nghe tiếng í ới ngoài ngõ, vào đến nhà ông nào cũng rút từ trong bụng ra chai rượu quốc lủi nút lá chuối khô, nhìn nhau cười ngất ngưởng.
Lúc đầu tôi sợ, chú tôi lấy những lá rau thơm đặt lên đó một chút da nhệch rán giòn, cho thịt vào rưới thêm một chút dấm bỗng cuộn tròn lại đưa cho tôi, bảo ăn thử. Tôi nhắm mắt lại, cho vào miệng, từ từ cắn, cảm giác thấy bùi bùi, ngọt của thịt, giòn giòn của da, tê tê nơi đầu lưỡi vị chua ngọt, cay cay của dấm như đang chảy vào trong cuống họng. Hương thơm của lá nhẹ nhàng đẩy cao lên cơ quan khứu giác, người thấy nhè nhẹ, như người ốm khỏe lại sau một nồi nước xông vậy. Tôi từ từ mở mắt, thằng Năm hỏi ngon không. Tôi gật đầu. Chú tôi cười khà khà bảo, ngon thì chiến đấu tiếp, xuống mâm dưới thằng Năm dậy cuốn, cái món này tự tay cuốn ăn mới ngon.

Sau này tôi được đi nhiều nơi, được ăn nhiều loại gỏi, trong đó có gỏi nhệch, tuy rằng mỗi vùng, mỗi người có cách chế biến khác nhau một chút, nhưng có lẽ trong đời ai đã một lần ăn gỏi nhệch, thì không bao giờ quên được cái dân dã, “thi vị” tuyệt vời đó. Và mỗi lần ngồi vào bàn ăn, tôi thấy dường như có chú còn đang ngồi đó, cuốn cho tôi chiếc gỏi nhệch đầu tiên.

Ngày nông nhàn, hoặc ngày giỗ, chú bảo tôi và thằng Năm lội xuống ao cầm xào đập để cá chạy, chú dùng vó bắt. Cá mè, chú lấy khúc giữa lọc để làm gỏi, cách làm, gia vị chế biến không khác gì gỏi nhệch. Tất nhiên món này nhiều người cho rằng không ngon bằng gỏi nhệch, nhưng nó được ăn chung với đầu cá mè nấu với hoa chuối, mẻ rất ngon, rất đặc biệt.

Năm sau thím tôi bị bệnh thấp khớp không lội ruộng được nữa, nên chú phải làm việc ngoài đồng nhiều hơn để tính công điểm với hợp tác xã. Mấy năm đó lúa bị sâu bọ nhiều, nên phải phun thuốc sâu, công việc nguy hiểm nặng nhọc này chẳng ai chịu làm, nên chú đảm nhận cả. Vài vụ như vậy, người chú gầy rộc, và ngã bệnh. Khám bệnh viện huyện, tỉnh người ta bảo chú bị nhiễm thuốc sâu, đã cháy các túi đựng oxy của phổi, chứ không phải bị lao phổi, nên không chữa được. Nghe giải thích nôm na như vậy, lúc đó y học chưa phát triển lại chiến tranh nữa, nên tôi cũng chẳng hiểu ra sao cả. Chỉ thấy chú nằm đó ngày một tiều tụy, thở vô cùng khó nhọc. Hiệp định Paris đã được ký kết, chiến tranh có lẽ xắp kết thúc, nhưng người con cả, con thứ của chú ở ngoài chiến trường năm, sáu năm không có tin tức, càng làm cho chú chán nản. Mẹ tôi về, định đưa chú lên Hà Nội khám, chữa, chú dứt khoát không đi. Hàng ngày vẫn có người của trạm xá xã đến tiêm thuốc kháng sinh cho chú. Mấy năm như vậy tấm lưng gầy gò của chú nổi trai từng cục, không còn chỗ để người ta chọc mũi kim vào để bơm thuốc.
Sau này tôi có hỏi mấy người bạn là bác sỹ chuyên gia về bệnh phổi, bảo có thể chú bị ung thư phổi. Có lẽ mấy ông bạn tôi nói đúng vì người con cả của chú, sau khi bị lính VNCH bắt làm tù binh mấy năm, sau năm 1975 lại bị bộ đội bắt tù, ra tù một thời gian bị bệnh ung thư, hình hài của hắn giống hệt chú nằm trên giường trước khi về với thế giới bên kia.

Trong truyện ngắn “Cũng Một Kiếp Người” tôi đã viết về hắn “Bây giờ hắn nằm đó như một xác mướp khô. Hai chân hắn co quắp, khẳng khưu, đầu gối vồng lên như những mắt tre bị ai đó chém chặt nham nhở. Da của hắn trùng xuống nhăn nheo đeo thêm những cục sẹo trong chiến tranh và bị đánh trong tù, to tướng nặng nề, lệch hẳn sang một bên, đung đưa, đung đưa mỗi khi co chân lên như những hòn đọi của mấy ông thợ xây. Đầu hắn trọc lốc, hai mắt đờ dại sâu hoắm, vô hồn. Miệng hắn chẳng còn cái răng nảo, rúm lại, méo mó. Tiếng thở của hắn phì phà, phì phò, nhiều lúc rít lên như tiếng nhị. Môi hắn tím ngắt, phập phà, phập phùng, nhìn vào như da trống rách của mấy lão thợ cúng gần nhà…..”

Mẹ tôi định đưa tôi về Hà Nội, nhưng chú thím bảo cứ để tôi học hết năm rồi hãy tính. Tôi cũng không muốn xa chú, và thằng Năm trong hoàn cảnh này. Thím tôi đã khỏi bệnh và thay chú đi làm đồng. Mẹ tôi vẫn gửi tiền về, hàng tháng chú thím được lĩnh tiền đi B của hai người con đầu. Tôi và thằng Năm vẫn đi be bờ, đơm đó bắt cá, tôm nên chúng tôi không bị đói và thiếu thốn. Khác chăng chúng tôi không đi đào nhệch, và không còn tiếng sáo trúc réo rắt trong đêm nữa.

Sáng hôm đó chú tỉnh lắm, trước khi tôi và thằng Năm đi học chú còn ngồi trên võng, bảo tôi và thằng Năm đu võng và quạt cho chú một lúc, hình như chú định nói gì với chúng tôi rồi lại thôi. Đến giờ tôi và thằng Năm đi học bình thường. Lúc sau có người đến báo chú tôi sắp mất về ngay. Chúng tôi chạy vội về nhà đã thấy mọi người quây quần bên chú, hỏi chú muốn ăn gì nữa không, chú lắc đầu và bảo chú thèm một hớp bia thôi. Mọi người bảo may ra chỉ phố huyện Liễu Đề mới có, nhưng xa đến gần hai mươi km. Mọi người chưa biết làm thế nào, tôi kéo thằng Năm ra sân bảo, mày ở nhà xem chú thế nào nhé, tao đạp xe lên huyện tìm mua bia, may ra thì kịp. Ngày đó phương tiện đi lại vô cùng khó khăn, cả xóm chỉ tôi có xe đạp của cậu út đi nghiên cứu sinh ở Ba Lan về cho.

Nói là phố huyện nhưng chỉ có mấy nóc nhà, lèo tèo vài ba hàng nước, và sửa chữa xe đạp. Góc đường có cửa hàng bách hóa huyện, nhưng hàng hóa trống trơn. Khi đi luống cuống, tôi quên mang theo tiền. Tôi đánh liều vào mấy quán nước hỏi, nhưng không hàng nào có. Sang cửa hàng bách hóa chị bán hàng bảo chỉ có xy rô thôi chứ không có bia. Tôi đứng tần ngần, nước mắt như muốn trào ra. Thấy lạ bác sửa xe đạp hỏi, cháu còn nhỏ mua bia làm gì thế này. Nghe tôi kể, bác sửa xe có vẻ thông cảm bảo, ngồi vào đây, bác chạy vào hỏi chị này hay lên Nam Định và Hà Nội cất hàng, may ra có. Lúc sau bác mang về một chai bia Trúc Bạch nhỏ. Tôi thú thật với bác quên mang tiền, xin bác trả tiền giúp, tôi có thể tháo một số phụ tùng xe lại để bác làm tin. Do dự một chút rồi bác bảo, thôi đạp nhanh về, xong việc lên trả cũng được, tôi tin ở cậu.

Về đến đầu xóm, mấy thằng bạn học gọi giật tôi lại bảo chú mày đã mất rồi. Chai bia như tuột khỏi tay, ngồi bệt xuống vệ cỏ, nước mắt tôi trào ra. Vậy là chú đã không đợi tôi về. Mấy ông bạn cầy của chú mở chai bia để bên cạnh bát cơm quả trứng.

Chú mất đi để lại một khoáng trống thật mênh mông, những con chim chích chòe, chim sáo dường như chúng cũng nhớ tiếng đàn, tiếng sáo của chú, mấy ngày đầu chúng xà xuống đậu quanh sân, trên nóc nhà, sục sạo, kiếm tìm, rồi bay đi, cứ cách vài ngày tôi lại thấy chúng quay trở lại….

Về nước lần nào tôi cũng về thăm quê thăm mộ của chú. Thằng Năm vẫn ở quê, ngôi nhà cũ của chú nó đã đập đi xây lại, con mương sau nhà nó cạn khô nước, là nơi chứa rác. Những cây họ nhà gỏi nó nhổ sạch, chỉ tay vào những chậu cây cảnh nó bảo toàn tiền triệu trở lên đấy. Mùa hè nhà nó bây giờ cũng phải dùng quạt máy rồi. Nghe kể nó làm đủ nghề, từ buôn gỗ đến mổ lợn bán. Dáng đi của nó như cua bò, bụng chứa toàn bia to như đàn bà chửa. Tôi hỏi còn đi đào nhệch về làm gỏi nữa không, nó bảo thời gian đâu mà đi hở bác, muốn ăn vào mấy quán trong làng, thích đi xa sang Kim Sơn Phát Diệm, hoặc vào Nga Sơn Thanh Hóa, phục vụ tới bến. Nói xong nó kéo tay tôi bảo hôm nay bác thích ăn gỏi nhệch trong làng hay đi xa em chiều bác. Tôi viện cớ bụng không được khỏe, từ chối.

Buổi tối thấy nó cứ mở bia bôm bốp, tu ừng ực, làm tôi nhớ lại chuyện chú tôi thèm một ngụm bia trước khi mất, ngoài trời không có gió mà sao tôi cứ nghe thấy tiếng hát karaoke của quán nào đó đập thình thình bên tai.

Đức Quốc 22-7-2011

ĐỖ TRƯỜNG

Posted in Truyện Ngắn, Uncategorized | Leave a Comment »

Nhà nước Trung Quốc ra lệnh cho Luật sư không được nhận hồ sơ cuả gia đình các nạn nhân kiện vụ lật tàu điện cao tốc

Posted by hoangtran204 trên 31/07/2011

Bắc Kinh – Giới tư pháp nhà nước ở Trung Quốc ra lệnh cho luật sư không được thụ lý hồ sơ từ những gia đình có thân nhân là nạn nhân của tai nạn tàu điện cao tốc thảm khốc xảy ra cuối tuần rồi, cùng lúc các viên chức ngành tư pháp đứng ra xin lỗi việc này.
Ba ngày sau khi tai nạn xảy ra gần thành phố Wenzhou ở miền đông Trung Quốc, các công ty luật ở thành phố này đã nhận một “bản thông báo khẩn” nhân danh Văn phòng Tư pháp thành phố Wenzhou và Hội Luật sư Wenzhou, theo thông tấn xã Xinhua cho hay hôm qua thứ Bảy ngày 30 tháng Bảy năm 2011.

Bản thông báo trên nói là luật sư nên báo cáo cho hai cơ quan này “ngay lập tức sau khi những hành khách bị thương và gia đình của những hành khách chết trong tai nạn này đến tìm luật sư nhờ giúp đỡ pháp lý,” theo Xinhua.

Bốn mươi người bị thiệt mạng khi hai chiếc tàu điện cao tốc đâm vào nhau hôm thứ Bảy tuần rồi ở ngoại ô thành phố Wenxhou. Nguồn hình: AP


Bản thông báo này cũng nói là luật sư không được “đáp ứng và thụ lý hồ sơ kiện một cách không có thẩm quyền,” vì “tại nạn này là một vấn đề nhạy cảm rất lớn lao liên quan đến sự ổn định xã hội.”

Bốn mươi người bị thiệt mạng khi hai chiếc tàu điện cao tốc đâm vào nhau hôm thứ Bảy tuần rồi ở ngoại ô thành phố Wenxhou, gây nên một tai nạn kinh hoàng nhất từ trước đến nay cho hệ thống xe điện cao tốc đang được phát triển một cách nhanh chóng ở Trung Quốc.

Đã có nhiều sự chỉ trích đối với chuyện nhà nước Trung Quốc giải quyết tai nạn này và hệ qủa của nó trên mạng Internet và giới truyền thông, và việc ra lệnh cho các luật sư không được thụ lý hồ sơ kiện này đã gây nên một làn sóng phẫn nộ khi bản thông báo này bị tiết lộ và được công bố trên mạng.

nguon dcvonline.net     

source  AFP 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Posted in Chinh tri Trung Quoc | Leave a Comment »

Sự tuyền truyền đóng một vai trò rất lớn ở bất cứ thời nào…

Posted by hoangtran204 trên 28/07/2011

Lời Tựa: Để giữ cho đầu óc độc lập và sáng suốt, hãy tránh nghe những lời tuyên truyền một chiều. Bất cứ nghe một lời ca ngợi về một lãnh tụ vĩ đại nào, một loại thuốc trị bá bịnh nào, một lời chỉ trích nào…hãy tra cứu tận gốc xem ai nói điều đó? Có chứng cớ hay không? Các chứng cớ có đáng tin hay không?  Người nói ra điều ấy có thu được lợi lộc gì từ việc tung tin? Người (hay nguồn) nói ra điều ấy có uy tín,  và đáng trọng không? Họ nói ra nhằm mục đích gì?  Các lời ấy có thật không, hay chỉ là tin đồn từ miệng người nầy qua miệng người khác và không ai nhìn thấy chứng cớ?

Cứ xem lão Mao Trạch Đông,  lão ác hay nhân từ cở nào thì chỉ có người Trung Quốc biết. Nhưng khi lão chết năm 1976, phim về đám ma của lão do đảng CSTQ trình chiếu cho thấy từ cụ già 80, đến em bé lên 8 người TQ đều khóc lóc thê thảm. Cứ cho rằng họ khóc là một phản ứng tự vệ cho chính họ, vì sợ tụi đảng viên CS báo cáo…Nhưng  trong phim đám tang Mao,  hình ảnh tụi tây đàn ông con trai đứng sắp hàng mà  cũng quẹt nước mắt nước mũi khóc lóc còn hơn cha mẹ chết là một sự kiện đáng ngạc nhiên và nghi ngờ!

Sau năm 1975, người  Việt  Nam sinh sống khắp nơi, có mặt khắp các nước Châu Âu và Mỹ…chắc nhiều người đã  từng đi đám ma tụi tây cũng nhiều, nhưng thử hỏi trong các đám tang ấy, có ai đã  từng thấy tụi tây, đàn ông con trai mà khóc lóc người thân của gia đình một cách thảm thiết giông như trong phim đám tang của lão Mao Trạch Đông không? Sự tuyên truyền của đảng CSTQ đạt trình độ tuyệt đỉnh, có khả năng đánh lừa cả tỉ người hết thế hệ nầy qua thế hệ khác.

*Đám Ma của Mao [www.youtube.com]

28-7-2011

Nha phiến, tham nhũng và công lý ở Afghanistan và VN: Một chuyện cần xét lại

Tác giả: Merle L. Pribbenow
Nguyễn Kỳ Phong Dịch

Nhật báo The New York Times số ra ngày 27 tháng 10, 2009 có đăng một bài viết rất sôi động về ông Ahmed Wali Karzai, bào đệ của tổng thống Afghanistan Hamid Karzai.

Bài viết cáo buộc ông em tổng thống là một tay buôn bán nha phiến lớn và đồng thời cũng là một nhân viên ăn lương của cơ quan tình báo CIA.

Bài báo do ba tác giả ký tên, trong đó có James Risen, một tác giả có tiếng với tác phẩm mới xuất bản gần đây là State of War, nói về những kế hoạch tình báo của Hoa Kỳ dưới thời tổng thống Bush.

Nhưng cũng giống như những cáo trạng mà tác giả Risen đã đưa ra trong State of War, những tin tức trong bài viết trên báo Times gần như dựa hoàn toàn vào những nguồn tin nặc danh.

Trong khi lưu ý độc giả là ông Ahmed Wali Karzai đã phủ nhận một cách khẳng định những liên hệ đến tin đồn chuyển nhận nha phiến và cũng không có làm việc ăn lương cho CIA, tác giả Risen tiếp tục trích theo nhiều viên chức nặc danh “trong giới quân sự và chính trị,” cho rằng liên hệ của Nha Tình Báo CIA với Ahmed Karzai là  “đầu mối của nhiều bực bội cho giới chức quân sự và chính trị trong nội các Tổng Thống Obama.”

Trong khi thú nhận những bằng chứng về hoạt động của Ahmed Karzai đều là những bằng chứng “gián tiếp,” bài viết lên án sự liên hệ của Amed Karzai đến nha phiến đã biến ông thành một tệ trạng, “một lực lượng không tốt” (một danh từ rất đặc biệt và nhạy cảm) ở Afghanistan.

Bài viết đồng thời lập lại chỉ trích đến từ những nguồn tin nặc danh của Nha Bài Trừ Ma Túy Hoa Kỳ, cho rằng chánh phủ Mỹ đã không hành động thích nghi trước những nguồn tin về Ahmed Karzai và liên hệ của ông ta với nha phiến.

Là một nhân viên CIA đã nghỉ hưu và từng phục vụ ở Việt Nam, bài viết trên nhật báo Times về Ahmed Karzai đem lại cho tôi một âm hưởng quen thuộc. Vài thập niên trước đây trong thời chiến, một vụ vu khống tương tự xảy ra cho Trung Tướng Đặng Văn Quang, một viên chức có nhiều thế lực và rất thân cận với Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu.

Mặc dù đã về hưu hơn mười năm, và chính cá nhân tôi không biết sự chính xác của cáo trạng về người em tổng thống. Nhưng tôi tin rằng, trước khi báo chí, công luận nước Mỹ, và những viên chức trong chánh phủ Obama mù quáng tin vào cáo trạng đăng trên nhật báo Times, xét lại trường hợp ở Việt Nam trước đây là một điều có ích. Bài học về trường hợp của tướng Quang có thể áp dụng được vào trường hợp em của Tổng Thống Karzai.

Những tin đồn độc hại

Đặng Văn Quang, phụ tá an ninh đặc biệt của TT Nguyễn Văn Thiệu. Ảnh washingtondecoded.com

Tướng Đặng Văn Quang là phụ tá đặc biệt cho Tổng Thống Thiệu về Quân Sự và An Ninh Quốc Gia. Đồng thời ông ta cũng là bạn và người tín cẩn của tổng thống Việt Nam Cộng Hòa, từ thời cả hai mới vào quân ngũ.

Vào cuối thập niên 1960 và đầu thập niên 1970, ở Sài Gòn có tin đồn tướng Quang buôn bán bạch phiến; một nhân viên ăn lương của CIA; và là người đi thâu tiền tham nhũng cho Tổng Thố ng Thiệu. Những tin đồn này được đối thủ chính trị (trong đó có nhóm theo phe Phó Tổng Thống Nguyễn Cao Kỳ) của Tổng Thống Thiệu tung ra, rồi được báo chí trong và ngoài nước đăng tải rộng rãi.

Tiếng đồn về hành vi của tướng Quang không những được các hãng thông tấn loan tải ở Mỹ, những vu cáo đó còn được viết như một đề tài chánh trong quyển The Politics of Heroin in Southeast Asia, một tác phẩm phổ quát, vẫn được trích dẫn thường xuyên, của tác giả Alfred McCoy, hiện đang dạy tại đại học Wisconsin-Madison.

Như mọi trường hợp về tin đồn, nhất là tin đồn có dính dáng đến những người làm việc trong bóng tối, ở lãnh vực an ninh quốc gia và tình báo như tướng Quang, những vu cáo này   được chuyền tai và dần có một hiện hữu riêng của nó tự tại. Không lâu sau, hầu như mọi người — kể luôn giới truyền thông Mỹ, và ngay cả nhân viên tòa Đại Sứ và nhân viên Nha Bài Trừ Nha Phiến Hoa Kỳ — bắt đầu coi những tin đồn về tướng Quang là sự thật.

Những lời đồn về tướng Quang không tránh khỏi sự chú ý của Sở CIA Sài Gòn. CIA Sài Gòn quan tâm đến tiế ng đồn vì sự liên hệ giữa Sở và tướng Quang, người được Tổng Thống Thiệu chỉ định đại diện để liên lạc với CIA.

Tài liệu được giải mật gần đây cho biết CIA Sài Gòn theo dõi những tin đồn và gởi một tường trình về CIA Hoa Thịnh Đốn, thẩm định tính chất hư thực của tin đồn. Sự hiện hữu của bản phúc trình này — được giữ kín từ trước đến giờ — lộ ra ánh sáng trong một sử liệu nghiên cứu vừa được giải mật tên là CIA and the Generals: Covert Support to the Military Government in South Vietnam, do sử gia của CIA, Thomas Ahern, soạn thảo.

Tài liệu giải mật này hiện nay được công bố ở trang web site của CIA. Dưới đây là một đoạn ngắn trong tài liệu nghiên cứu CIA and the Generals, nói về bản báo cáo của CIA Sài Gòn đối với những tin đồn về tướng Quang:

Sau hiệp ước ngưng bắn tháng 1-1973, từ vai trò nguyên thủy như một công cụ của chánh phủ Hoa Kỳ dùng để gây ảnh hưởng và cung cấp tin tức cho các tướng lãnh, CIA Sài Gòn gia tăng hoạt động trong những lãnh vực như vấn đề tham nhũng; ấn tượng của công luận Mỹ về VNCH; và chiều hướng viện trợ Hoa Kỳ trong tương lai. Từ lâu, công chức tham nhũng là một vấn nạn của chánh phủ Sài Gòn. Trong những người CIA Sài Gòn đang liên lạc, Trung Tướng Quang là người dễ đem lại tranh luận khi vấn đề tham nhũng được đề cập.

Dáng người hơi mập, có giọng cười the thé từng đoạn trong những giây phút căng thẳng, người phụ tá cho Tổng Thống Thiệu thường bị  một số người Mỹ coi thường. Với hy vọng giải quyết những tin đồn về chuyện tướng Quang tham nhũng, khoảng năm 1974, Trưởng Sở CIA Sài Gòn chỉ định [tên người này bị xóa bỏ] dùng mọi nguồn và phương tiện để thẩm định xuất xứ tiền bạc và tài sản của tướng Quang. Nhưng [tên bị xóa] không tìm thấy một dấu hiệu nào, và sau đó viết một báo cáo với chủ ý: nếu báo cáo không giải oan cho tướng Quang, thì cũng cho thấy những vu khống về tướng Quang tham nhũng cũng không chứng minh được [một vài hàng bị kiểm duyệt bỏ].

Tôi biết rõ nội dung báo cáo của CIA về tướng Quang, vì tôi là tác giả của báo cáo đó. Từ trước đến giờ tôi nghĩ, tướng Quang không phải là một người thánh thiện; và tôi cũng chưa hề nói ông ta hoàn toàn vô tội với tất cả những cáo trạng về tham nhũng. Nhưng ông ta hoàn toàn không liên hệ đến chuyện mua bán nha phiến.

Tôi biết chắc một số người sẽ nghi ngờ kết luận của tôi và của Sở CIA Sài Gòn. Để đi đến một nhận định trung thực về những kết luận trên, tôi nghĩ chúng ta nên nhìn kỹ chuyện gì đã xảy ra cho tướng Quang sau khi ông rời Việt Nam lúc quốc gia đó bị cộng sản cưỡng chiếm.

Sau khi thất thủ

Khi Sài Gòn sụp đổ vào cuối tháng 4, 1975, tướng Quang và gia đình di tản đến Hoa Kỳ. Đầu tiên, cả gia đình được đưa vào trại tị nạn ở Arkansas, sống chung với hàng chục ngàn người tị nạn.

Có cảm tưởng đang bị nhiều người tị nạn đe dọa — những người đã nghe tiếng đồn về nạn tham nhũng, và tin rằng ông cũng là một trong những nguyên do đưa đến sự thất trận ê hề c ủ a VNCH — ông và gia đình rời trại đi qua Canada định cư.

Ở Canada, từ những báo cáo của giới chức thẩm quyền, đa số dựa vào tin tức và tiếng đồn đến từ báo chí, chánh phủ Canada ra lệnh trục xuất tướng Quang.

Rồi sau đó, cũng từ những lời đồn thường xuyên về  tướng Quang, Hoa Kỳ và không nước nào cho phép ông đến định cư (chánh phủ Cộng Sản Việt Nam đồng ý sẽ nhận tướng Quang, nhưng không bảo đảm với chánh phủ Canada là sẽ không xử bắn nếu ông ta bị cưỡng ép hồi hương).

Dưới trường hợp đó, tướng Quang đã sống hơn 10 năm ở Canada trong một hoàn cảnh bất hợp pháp: không phải là di dân thường trú; không được cấp giấy phép làm việc; và đối diện với một án lệnh trục xuất đang còn hiệu lực.

Mặc dù với tin đồn ông ta có bạc triệu đến từ các vụ buôn bán nha phiến, cuộc sống của tướng Quang và gia đình ở Canada rất thiếu thốn. Họ sống trong một chung cư tồi tệ, rẽ tiền, trong khi ông Quang đi làm mọi công việc thấp nhất trong xã hội , như quét dọn và rửa ve chai.

Dăm ba lần, ông ta bị đuổi việc và phải dọn nhà đi chổ khác, sau khi các ký giả Canada tìm ra ông, viết những bài phóng sự “vạch mặt,” để chỉ điểm nơi tên “buôn nha phiến” đang làm việc bất hợp pháp!

Năm 1989 tướng Quang được  Hoa Kỳ cho phép định cư. Giống như phần lớn người Việt tị nạn, ông định cư ở miền nam California. Giống khi còn ở Canada, tình trạng tài chánh của tướng Quang rất khiêm nhường.

Những năm đầu thập niên 1990 tướng Quang nuôi gia đình bằng nghề khuân vác hành lý ở phi trường Los Angeles. Gần đây, theo nhật báo Sacramento News & Review, số ra ngày 4 tháng 12, 2008, tướng Quang, với sức khoẻ suy giảm trong những năm gần đây, đang sống trong một viện bệnh lão ở Sacramento, California.

Sự nghèo khổ, nghị tội, và đề án về tướng Quang sau khi Sài Gòn thất thủ, là một bằng chứng rõ ràng nhất cho thấy tiếng đồn (và mọi người cho là sự thật) tướng Quang là triệu phú, là đầu đảng buôn bán nha phiến, là sai.

Kinh nghiệm và lý luận cho thấy những đầu đảng buôn bán nha phiến thường đem thứ tiền trộm cắp đó dấu đi ở những ngân hàng ngoại quốc. Nếu tướng Quang thuộc vào lọai đó, tham nhũng và có tiền như báo chí Mỹ và những trung tâm loan tin đồn đã nói, thì ông ta đã đem phần lớn tiền của ông ra ngoại quốc vào những tuần lễ cuối cùng của miền Nam, khi ai cũng thấy sự chiến thắng của cộng sản gần như là chắc chắn. Một số tướng lãnh và lãnh tụ VNCH di tản, trong đó có Tổng Thống Thiệu, Thủ Tướng Trần Thiện Khiêm, và Đại Tướng Tổng Tham Mưu Trưởng Cao Văn Viên*, họ sống nhiều năm lưu đày ở đất Mỹ một cách tương đối an nhàn. Có nhà, sống nhờ vào tiền đã “dành dụm” mà không cần phải đi làm nuôi thân một ngày trong đời của họ. Trong khi rất khó để chứng minh tướng Quang vô tội, trong trường hợp này, tôi nghĩ, những người quan sát vô tư chỉ có thể kết luận những vu cáo tướng Quang buôn bán nha phiến là sai.

Điều này đưa chúng ta trở lại những nghi cáo về người em Tổng Thống Afghanistan Karzai. Giống như những nghi cáo về tướng Quang, những cáo buộc này, nhìn ngoài mặt, chỉ là những lời đồn mơ hồ, thiếu bằng chứng rõ rệt hỗ trợ. Giống như những nghi cáo về tướng Quang, những nghi cáo này được tung ra từ đối thủ chánh trị của thầy của Ahmed Wali Karzai (là ông anh; tổng thống Afghanistan), hay từ những nguồn tin nặc danh đến từ Mỹ và Afghanistan.

Tôi sẳn sàng thú nhận, tôi không có tin từ bên trong để biết hư thực về những nghi cáo. Cũng có thể Ahmed Wali Karzai là loại ngưòi đê tiện như bài báo đã mô tả. Tôi thông cảm cho các ký giả có được những “tin nóng,” phải viết để có tên mình trên tranh nhất, và tôi cũng nhận ra rõ những các tòa báo cần phải làm tiền.

Tuy nhiên tôi xin đề nghị với báo The New York Times, với James Risen, với các ký giả và cơ quan truyền thông, là ký giả có trách nhiệm — những ký giả quan tâm đến sự thật như chính cá nhân họ  tuyên dương sự thật — trước nhất phải thật lòng tìm biết những bằng chứng cụ thể để  hỗ trợ cho những nguồn tin nặc danh, trước khi quyết định đăng tải loại bài nói trên. Đồng thời tôi cũng lưu ý  công luận và chánh phủ Hoa Kỳ phải thật cẩn thận trước khi chấp nhận những bài viết chỉ dựa vào những nguồn tin nặc danh, mơ hồ, những đồn đãi vô căn.

Đã quá trễ để lấy lại những tổn thương do những tin đồn vô căn cứ đã gây ra cho tướng Quang. Nhưng có thể  thí dụ về tướng Quang giúp chúng ta tránh được lỗi lầm tương tự trong tương lai.
——————————————–

Nguyễn Kỳ Phong dịch theo “Drugs, Corruption, and Justice in Vietnam and Afghanistan: A Cautionary Tale,

Merle L. Pribbenow, tác giả bài viết “Limits to Interrogation: The Man in the Snow White Cell,” là cựu nhân viên CIA và là một chuyên viên ngôn ngữ, phục vụ ở Việt Nam từ năm 1970 đến 1975. “Limits to Interrogation: The Man in the Snow White Cell” nói về cuộc thẩm vấn mấ y năm với Nguyễn Văn Tài, một cán bộ tình báo cao cấp nhấ t của CSBV bị VNCH bắt giữ.

© 2009 by Merle L. Pribbenow

Bản dịch qua tiếng Việt do tác giả Trọng Đạt gửi tới.

Bài báo gốc bằng anh ngữ được post ở cuối cùng của loạt bài nầy.

*comment on Vietlandnews

I met General Cao Van Vien 3 times in VA. He lived in a retirement apartment complex, drove a $3000 car, did not seem to have much money at all. I was told by other people living there that he lived, ate, very poorly.

I don’t believe he tooke bribes or stole any money.

My grand uncle General Nguyen Vinh Nghi is living very poorly now in Arkansas too. He would not want to get any help from anybody. He told me he NEVER took any money for himself.

He did get money from Chinese rice sellers to protect their rice trucks from being attacked by VC, but he divided the money among his soldiers. It was very little anyway, like a ton of rice.

No doubt, I think there were briberies, extortions, cronyism, nepotism, etc., in VNCH.

But they were in much smaller number and magnitude than in VN today.

The evidence is ample: the family of most VNCH generals lived very poorly both in VN after 1975 and in the US now. There are no reasons for them to hide their illegal money now.

I was told, first-handedly, by many VN generals that they took something like some tons of rice, some packages of condensed milk, some rolls of barbed wire, etc., but those were for dead soldiers’ family, their children, or live soldiers’ food and beer.

The briberies were never enough for them to stash away in foreign banks to buy a manson or anything close to that.

*Thưa các bạn , trước đây tôi cũng nghĩ những cơ quan thuộc lảnh vực thông tin , tuyên truyền , ngoại giao … của VNCH không có khả năng thi hành nhiệm vụ của mình ở hải ngoại .
Nhưng sau này , nghe các anh em sinh viên vào thời đó kể lại rằng họ rất tức tối giới truyền thông phương tây vu cáo , xuyên tạc , làm nhục VNCH bất kể sự thật có thể thấy rõ trước mắt , họ bèn hợp nhau lại viết nhiều bài biện minh mang đến các tờ báo lớn ở Âu Châu , nhưng đều bị từ chối , không phải vì không tin mà vì có nhiều lý do để không thể đi ngược lại cơn lốc lớn …
Phản chiến , cs thế giới vô cùng mạnh , tiếng nói VNCH nghèo nàn , đơn côi không phát ra được .
Hơn nữa người ta cần có đối tượng để gánh thay họ cái nhục phản bội , thất bại , nên dựng ra những chuyện nước lã khuấy nên hồ .
Mặt khác những lời nói chuyền tai thiếu căn bản xác định thì không thể kết tội ai được .
Cầu xin TT Đặng văn Quang bình yên trong cõi vĩnh hằng .

*(General Cao Van Vien) That, I don’t know. His daughter might support him, she was a professor.

Also, he worked for US gov for some time after coming to the US. He might have SS money if he paid tax for 10 yrs. He might be on a grant, or a sibsidized plan, to pay for the apt.

But even if he received welfare, so what. He worked for the Free World for over 20 yrs.

He deserved to be paid millions of dollars by G7, all other countries in South East Asia, because he helped to protect them from Kommunism for over 20.

*(General Cao Van Vien) He never lived on welfare. He used to work with department of defense as translator in the 70s and early 80s n earned enough credits to receive social security. His daughter, a successful lawyer once in NY and now a professor at law school of Williams and Marry University had helped him with his living expenses before he passed away. So come on, don’t assume when you do not know.

Nguồn

————

Đời bi kịch của một vị tướng

Tác Giả: Bùi Văn Phú Gửi cho BBC từ California

Trung tướng Đặng Văn Quang, nguyên cố vấn quân sự và an ninh quốc gia của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu qua đời tại Hoa Kỳ khép lại cuộc đời một vị tướng miền Nam phản ánh của bi kịch chính trường Sài Gòn và quan hệ giữa Hoa Kỳ với Việt Nam Cộng hòa

Ông Đặng Văn Quang được phong Trung tướng của Quân lực Việt Nam Cộng Hòa năm 1965

Ông rời Việt Nam trong những ngày cuối tháng 4-1975, đến trại tị nạn ở bang Arkansas. Sau đó tướng Quang vội vã rời đây vì e ngại nỗi uất hận của đồng hương bột phát sẽ không an toàn cho bản thân ông, vì có một số lời đồn đại không tốt từ thời chiến.

Ông sang Canada thăm con và khi trở lại Hoa Kỳ thì chính phủ Mỹ không cho nhập cảnh mà không nêu lý do. Canada cũng không muốn sự có mặt của tướng Quang trên đất nước họ vì những cáo buộc liên hệ đến ông và muốn trả ông về Việt Nam. Sự việc đã làm xôn xao dư luận người Việt hải ngoại trong thời gian đầu định cư ở nước ngoài.

 

Ra đi vất vả

 

Theo cựu trưởng phân tích gia của CIA Frank Snepp viết trong tác phẩm Decent Interval xuất bản năm 1977, ngày 29-4 tướng Quang đến trước Đại sứ quán Mỹ ở Sài Gòn trong lúc đông người đang chen lấn mong được di tản.

Từ trong sân toà đại sứ, giám đốc CIA tại Việt Nam Tom Polgar nhận ra tiếng tướng Quang gọi và ra lệnh cho lính thủy quân lục chiến mở cổng cho vào. Vào bên trong, tướng Quang tiếp tục tìm cách cầu cứu vì đã bỏ lại người con và cháu bên ngoài.

 

Theo Snepp, lúc này tướng Quang chẳng còn là người quan trọng đối với Hoa Kỳ vì ông đã “phản bội người Mỹ” khi không báo cho CIA biết về kế hoạch bỏ cao nguyên của Tổng thống Thiệu. Chiều hôm đó tướng Quang được di tản ra khỏi Việt Nam bằng trực thăng.

 

Trong Decent Interval còn ghi chi tiết là trước đó vài hôm tướng Nguyễn Cao Kỳ đã muốn bắt giam tướng Quang khi các tướng có mặt tại Bộ Tổng tham mưu, nhưng ông đã lẩn thoát được.

 

Những bất đồng giữa tướng Kỳ và Tổng thống Thiệu trong thời gian nắm quyền lãnh đạo miền Nam, trong khi tướng Quang lại được ông Thiệu tín cẩn, đã gây nhiều hiềm khích giữa tướng Kỳ và tướng Quang với nhiều đồn đoán. Có dư luận cho rằng do phe tướng Kỳ đưa ra, về tham nhũng, buôn bán bạch phiến dính tới tướng Quang mà người dân miền Nam có một thời gian được nghe biết.

 

Hai tổng thống Nguyễn Văn Thiệu và Johnson tại Honolulu năm 1968 trong thời kỳ rất khó khăn của VNCH


Tuy nhiên những ghi nhận trong các tác phẩm Decent Interval xuất bản năm 1977 và CIA and the Generals của Thomas L. Ahern, Jr. xuất bản năm 2009 đưa ra những tài liệu được giải mật cho thấy tướng Quang không liên hệ đến các cáo buộc buôn bạch phiến.

 

Vì tướng Quang được ông Thiệu tin cẩn và ông còn là người liên lạc giữa Dinh Độc lập với CIA nên cơ quan tình báo Mỹ đã có những điều tra riêng về nhân cách và biết rõ ông không liên quan đến bạch phiến như những tin đồn hay thông tin được nhà báo Mỹ Alfred W. McCoy viết trong tác phẩm The Politics of Heroin in Southeast Asia xuất bản vào đầu thập niên 1970.

 

Nhiều thông tin trong sách này đã được các nhóm chống đối chính quyền của ông Thiệu, điển hình như phong trào chống tham nhũng của linh mục Trần Hữu Thanh, dịch và phát tán tại Việt Nam trong những năm sau khi Hiệp định Paris được kí kết vào tháng 1-1973.

 

Tổng thống Thiệu lúc đó cho rằng các phong trào chống chính phủ của các tôn giáo Phật giáo, Công giáo là có người Mỹ đứng sau giật dây.

 

Theo Frank Snepp, tướng Quang là người giao tiếp giữa Dinh Độc lập và Đại sứ quán Mỹ. Ông đã có rất nhiều cuộc gặp với giám đốc cũng như nhân viên cao cấp của CIA ở Sài Gòn để trao đổi tin tức, phân tích tình hình chính trị, quân sự và chính sách của lãnh đạo Việt Nam Cộng hoà với người Mỹ.  Frank Snepp nhận xét tướng Quang có nếp sống với chuẩn mực đạo đức cao, sòng phẳng về tiền bạc.

 

Vì thế, câu chuyện tướng Đặng Văn Quang sau khi rời Việt Nam không được chính phủ Mỹ cho định cư, còn Canada đòi trục xuất đã làm xôn xao dư luận một thời.

Sống tạm dung ở Canada tướng Quang đã làm đủ mọi việc để kiếm sống.

 

Phuc hồi danh tiếng

 

Năm 1988, một sĩ quan Lực lượng Đặc biệt của Mỹ, cựu Trung tá Dan Marvin từng phục vụ tại Quân đoàn IV khi tướng Quang là tư lệnh, biết được việc chính phủ Hoa Kỳ không cho phép ông vào Mỹ nên đã vận động để trả lại sự thực và đòi công đạo cho một vị tướng Việt Nam Cộng hoà bị quá nhiều tai tiếng.

 

Marvin coi tướng Quang là người đã cứu mạng ông trong một tranh chấp lúc chiến tranh khi ông làm cố vấn tại làng Hoà hảo An Phú trong vùng đồng bằng sông Cửu Long. Sự kiện này được Dan Marvin ghi trong tác phẩm Expandable Elite xuất bản năm 2003.

 

Tác giả đưa ra giả thuyết chính phủ Mỹ không cho tướng Quang nhập cư vì ông đã không tán đồng kế hoạch của Hoa Kỳ nhằm ám sát Thái tử Norodom Sihanouk của Cam Bốt vào năm 1966.

 

Dan Marvin đã kiến nghị đến các dân cử, ban ngành liên hệ và cả với Tổng thống George H.W. Bush (Cha). Cựu giám đốc CIA tại Sài Gòn Tom Polgar, người đã có rất nhiều dịp gặp gỡ, tham khảo với tướng Quang khi còn làm việc, trong một bản tường trình ủng hộ cho ông được vào Hoa Kỳ.

 

Tướng Đặng Văn Quang có cuộc sống khá vất vả kể cả sau khi được định cư tại Hoa Kỳ

 

Ông Marvin đưa ra nhận xét là tướng Quang và gia đình lúc ở Việt Nam đã không có một cuộc sống giầu sang, phú quý và những cáo buộc liên quan đến chuyện ông buôn bán bạch phiến là không có cơ sở vì theo những điều tra riêng của CIA thời đó, trước khi tổ chức này tin và liên lạc với ông, tướng Quang không có dính líu gì đến bạch phiến.

 

Sau đó chính quyền Canada hủy bỏ những cáo buộc liên quan đến tướng Quang và chính phủ Mỹ đồng ý cho ông định cư.

 

Đến Mỹ vào tháng 9-1989, hai ông bà có lúc sống ở Atlanta, khi ở nam California. Ông tiếp tục làm những việc lao động và vợ là bà Đỗ Thị Năm cũng làm bánh bán để kiếm sống.

 

Sau này vì tuổi già sức yếu, hai ông bà được sự giúp đỡ của cựu Thiếu tá Trần Văn Ngà, nguyên Trưởng ban Thông tin Báo chí Quân đoàn IV, đưa về sống trong một chung cư dành cho người già ở Sacramento, thủ phủ của bang California.

 

Mùa hè năm ngoái tôi có dịp đến thăm tướng Quang nhân cùng đi với đoàn quay phim của Hội Bảo tồn Lịch sử và Văn hoá Người Mỹ Gốc Việt (VAHF) đang thực hiện phỏng vấn 500 người để lưu lại trong thư viện Đại học Texas ở Austin. Tướng Quang đã yếu và trí nhớ kém nhiều vì tuổi già.

 

Hỏi ông về những biến cố trong đời có điều ông nhớ, có điều không. Tôi có hỏi ông trong đời ông mang ơn ai nhất, tướng Quang nói đó là Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu.

 

Đối với những người đã gây phiền lụy, tướng Quang nói ông tha thứ hết.

 

Cựu Trung tướng Đặng Văn Quang sinh ngày 21-6-1929 tại Sóc Trăng.  Ông là một vị tướng trẻ nhất của quân đội Việt Nam Cộng hoà, từng giữ chức tư lệnh Sư đoàn 21 Bộ binh, tư lệnh Quân đoàn IV Vùng IV Chiến thuật. Chức vụ sau cùng của ông là phụ tá đặc biệt về quân sự và an ninh quốc gia cho Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu.

 

Ông qua đời hôm 15-7-2011 tại Sacramento, California, hưởng thọ 82 tuổi, để lại vợ, 7 người con và 9 cháu nội ngoại.

Tang lễ cựu Trung tướng Đặng Văn Quang đã được cử hành theo nghi thức công giáo tại nhà thờ Các Thánh Tử đạo Việt Nam ở Sacramento, California vào chiều ngày 20-7-2011 và nghi thức hoả táng diễn ra vào trưa

ngày hôm sau.

 

Tác giả Bùi Văn Phú hiện dạy đại học cộng đồng và sống tại vùng Vịnh San Francisco.

—————-

TRUNG TƯỚNG ĐẶNG VĂN QUANG 

tac gia: Trích Hồi Ký – Trần Văn Ngà

 

(Cựu Thiếu Tá Trần Văn Ngà
Nguyên Trưởng Ban Thông Tin Báo Chí Quân Đoàn 4 & Vùng 4 Chiến Thuật.)

Những ai từng phục vụ trong các đơn vị thuộc Vùng 4 Chiến Thuật thời gian 1964 – 65 – 66… có thể công nhận rằng, Trung Tướng Đặng Văn Quang giữ chức vụ Tư Lệnh Quân Đoàn 4 & Vùng 4 Chiến Thuật kiêm Đại Biểu Chánh Phủ Miền Tây rất “mát tay”, là thời điểm kiêu hùng nhất của quân dân miền Tây, chiến thắng nối tiếp chiến thắng, an ninh lãnh thổ được vững chắc nhất.

Với 3 sư đoàn bộ binh tinh nhuệ cùng các đơn vị Biệt Động Quân biệt lập, các trại Lực Lượng Đặc Biệt biên phòng ở dọc theo biên giới từ Hà Tiên qua Châu Đốc, Kiến Phong và Kiến Tường, trên 200 cây số làm rào cản sự xâm nhập vũ khí, tiếp liệu và bộ đội chính quy CSBV xâm nhập qua từ bên xứ Chùa Tháp – Kampuchia.

Cũng thời Trung Tướng Đặng Văn Quang, 3 sư đoàn cơ hữu của QĐ4 : Sư Đoàn 7, 9, 21 Bộ Binh – bộ binh là hoàng hậu của chiến trường như một vị tướng của quân đội Pháp đã nói. Các đơn vị này đều tạo nhiều chiến thắng vẻ vang liên tục, đặt tên riêng các cuộc hành quân cấp sư đoàn.

Khu Chiên Tiền Giang với Sư  Đoàn 7 Bộ Binh, tên cuộc hành quân là Tiền Giang (Tiền Giang 1,2,3…). Khu 41 Chiến Thuật với tên cuộc hành quân của SĐ9BB là Cửu Long và SĐ21BB – Khu 42 Chiến Thuật với tên gọi là Dân Chí.

Riêng Sư Đoàn 21 Bộ Binh, từ lúc Đại Tá Đặng Văn Quang về làm Tư Lệnh, ông đã đặt tên Dân Chí cho các cuộc hành quân sư đoàn. Các cuộc hành quân nhỏ cấp Tiểu khu và Trung đoàn cơ hữu của Khu 42 Chiến Thuật cũng dùng tên Dân Chí và kèm theo TK là cấp tiểu khu và TRĐ ở cấp trung đoàn…

Vì vậy, khi Tướng Quang về Cần Thơ, ông đã ra lệnh 3 SĐ thuộc quyền cũng đều có tên như nêu trên. Thời điểm này, Ban Thông Tin Báo Chi của chúng tôi được cưng chìu nhất và đích thân Trung Tướng Quang cho thêm nhiều phương tiện, thiết lập được 1 nhà in để in bán nguyệt san Chiến Sĩ Miền Tây mà tôi là Tổng Thư Ký Tòa Soạn.

Ban Thông Tin Báo Chí được tăng cường thêm nhiều người có khả năng như nhà văn Nguyên Vũ – Vũ Ngự Chiêu, nhà thơ Tô Thùy Yên – Đinh Thành Tiên, giáo sư triết: Lê Văn Tấn – Nguyễn Văn Oánh (họ và chữ lót có thể sai), giáo sư Pháp văn Phan Thông Hảo, kỷ sư Canh nông Nguyễn văn Hoàng, luật sư Võ Tứ Cầu, Mai Hòa – một phóng viên chiến trường nổi tiếng, cơ hữu của Ban TTBC/QĐ4…có sĩ quan vừa ra trường được xin hoặc thuyển chuyển về đây.

Ban Thông Tin Báo Chí lúc này lên cao điểm và mở rộng về thông tin, viết phóng sự chiến trường cung cấp cho phát thanh và cả báo chí trung ương. Nhà in riêng của QĐ4 (in truyèn đơn, báo bán nguyệt san Chiến Sĩ Miền Tây, in 2 tập sách cái nhìn mới mẻ về xây dựng nông thôn, chính Trung Tướng Quang gọi anh Tấn và anh Oánh lên văn phòng, ông chỉ thị 2 anh viết về đề tài này do sự chỉ đạo của ông Tướng và đích thân ông sửa chửa, hiệu đính hoàn chỉnh mới xuất bản).

Ngoài ra chúng tôi có chương trình phát thanh trên hệ thống Đài Phát Thanh Ba Xuyên gọi là Tiếng Nói Vùng 4 Chiến Thuật (Đài PT Ba Xuyên ở trên đường từ Thị xã Khánh Hưng – Sóc Trăng đi Bãi Xào – quận lỵ Châu Thành hay Mỹ Xuyên, nơi bán đuông chà là sống và món nhậu tại chỗ, nhiều nhất ở miền Tây).

Tóm lại, thời Trung Tướng Đặng Văn Quang “trị vì’ miền Tây là thời cực thịnh của Ban Thông Tin Báo Chí do tôi làm Trưởng Ban, bên cạnh có 1 Thiếu Tá và 2 Đại Úy Mỹ làm cố vấn cùng với nhân viên 8 người, quân số ngang bằng với Ban TTBC của QĐ4.

Chúng tôi làm việc rất dễ dàng, khi nghe có tin chiến thắng hay những cuộc hành quân lớn cấp sư đoàn với tên Tiền Giang, Cửu Long, Dân Chí chúng tôi biết thuộc khu chiến thuật nào, xin trực thăng đưa ký giả VN hoặc ngoại quốc đang ở Sài Gòn đến ngay mặt trận. Nếu phía VN chưa có phương tiện thì cố vấn Mỹ xin cho chúng tôi ngay.

Thí dụ cuộc hành quân Tiền Giang, chiến thắng vẻ vang, ông Tướng Vùng ra lệnh Ban Thông Tin Báo Chí mời ký giả từ Sài Gòn xuống quay phim, chụp hình, thực hiện phóng sự. Chúng tôi liên lạc với SĐ7 đưa xe về Sài Gòn đón ký giả xuống Mỹ Tho và đến BTL/SĐ7 ở Mỹ Tho để có thể giúp phương tiện trực thăng đưa đến chiến địa.

Khi Sư Đoàn 21 BB có cuộc hành quân Dân Chí ở rừng U Minh – Cà Mau và chiến thắng lớn, muốn mời ký giả xuống thì chúng tôi phải vận động, xin cấp 1 hay 2 chiếc trực thăng từ Sài Gòn (sau này, thường thông qua Khối Thông Tin Giao Tế Dân Sự của Tổng Cục Chính Trị mời giúp và xin phương tiện với Tổng Cục Tiếp Vận).

Nếu tôi nhớ không lầm, tên các cuộc hành quân của các Sư đoàn không thay đổi khi Thiếu Tướng Nguyễn Văn Mạnh về thay thế Trung Tướng Đặng Văn Quang.

Trung Tướng Nguyễn Đức Thắng về thay thế Thiếu Tướng Nguyễn Văn Mạnh sau vụ Tết Mậu Thân 68, Trung Tướng Thắng có thay tên các cuộc hành quân, tên một vị tướng anh hùng đã chống quân ngoại xâm Pháp tại chiến trường miền Tây: Trương Công Định…

Năm 1966, Trung Tướng Đặng Văn Quang được Thiếu Tướng Chủ Tịch Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương Nguyễn Cao Kỳ “mời” về giữ chức vụ nghe thì lớn lắm, Tổng Ủy Viên Kế Hoạch trong Nội Các Chiến Tranh.

Đây là chức vụ “ngồi chơi xơi nước”, Trung Tướng Quang là một vị tướng trẻ (35-36 tuổi đã đeo 3 sao) và đã hoàn thành chức trách tuyệt vời ở miền Tây tạo nhiều chiến thắng vẻ vang và được lòng dân chúng, nhất là lực lượng giáo phái Phật Giáo Hòa Hào tin tưởng và kính trọng.

Có thế nói Tướng Quang là Tướng Vùng Chiến Thuật có nhiều uy tín nhất lúc bấy giờ. Ông lại có công rất lớn trong việc vận động đặt nền móng thành lập Viện Đại Học Cần Thơ, chính Trung Tướng Quang là vị tướng Vùng đã xây dựng một nghĩa trang Quân Đội rộng lớn khang trang tại Cần Thơ chỉ thua tầm vóc Nghĩa Trang Quân Đội (Biên Hòa).

Trung Tướng Đặng Văn Quang đã hổ trợ hết mình nhà văn nhà báo An Khê Nguyễn Bính Thinh xuất bản tờ nhựt báo Miền Tây, tòa soạn đặt gần bến Ninh Kiều mà tôi là “con thoi” ( lo giúp đở tờ báo) giữa Trung Tướng Đặng Văn Quang và nhà văn An Khê (sau này thời Thiếu Tướng Nguyễn Văn Mạnh tờ báo sống ngoắc ngoải, đến Trung Tướng Nguyễn Đức Thắng về thì nhựt báo Miền Tây “tắt thở”).

Tờ nhựt báo Miền Tây là tờ báo đầu tiên trong lịch sự báo chí VN xuất bản tại miền Tây. Hiện nay, Ban biên tập của nhựt báo Miền Tây do nhà văn An Khê làm chủ nhiệm (cựu Thiếu Tá Tiểu Đoàn Trưởng bị thương nặng thành phế binh và anh An Khê đã chết ở Pháp chừng hơn 10 năm) có một người hiện đang hoạt động báo chí, văn học tại thung lũng hoa vàng San Jose: nhà báo nhà văn Nguyễn Thiếu Nhẫn tức Lão Móc có thể biết sự kiện lịch sử này.

Chính xác hơn, Vùng 4 Chiến Thuật kiêu hùng nhất là thời điểm 64 – 65 – 66 hơn hẳn các ông Tướng từng chỉ huy ở vùng này trước đó (và có thể nói sau này, cho đến ngày 30.4.75).

Trung Tướng Đặng Văn Quang là tướng lãnh gần gũi nhất với Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu (cùng Khóa 1 Đập Đá ở Huế tức là Khóa Quốc Trưởng Bảo Đại, tiền thân của Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam – Đà Lạt) và là cấp chỉ huy đại đơn vị tài giỏi được Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu tin cậy và đề bạt thay thế ông ở đồng bằng sông Cửu Long.

Ông là người thân cận với Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu trong những chức vụ cao cấp nhất như Phụ Tá (Cố Vấn) Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu về Quân Sự, An Ninh & Tình Báo Quốc Gia, Tổng Thơ Ký Hội Đồng An Ninh Quốc Gia… cho đến ngày Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu từ chức trao quyền lại Phó Tổng Thống Trần Văn Hương… Trung Tướng Đặng Văn Quang đeo 3 sao từ năm 1965 và cho đến 30.4.75, 10 năm dài.

Tôi xin mở dấu ngoặc ở đây, tại sao Trung Tướng Đặng Văn Quang, người hùng của miền Tây bị Tướng Kỳ “chơi” bằng nhiều cách phao tin ông Tướng vốn sinh đẻ tại Phú Lâm Châu Đốc, sống và lớn lên ở Sóc Trăng (cùng quê vớí Trung Tướng Dương Văn Đức) là kỳ thị Nam Bắc và “xào nấu”, thổi phồng lên là tướng lãnh tham nhũng gộc.

Tình báo CSBV muốn Tướng Quang phải thân bại danh liệt, mất uy tín của cấp chỉ huy tài giỏi nên chúng phao tin xấu như buôn bán bạch phiến, thuốc tây lậu, tiền gời ngân hàng Thụy Sĩ nhiều triệu dollars…cho ông Tướng Quang, nhằm trả thùCách điều quân tài tình của ông, đánh tan tành các đơn vị chính quy của CSBV xâm nhập bằng đường biển và đường biên giới Kampuchia. Tướng Quang là cánh tay đắc lực của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu sau này.

Kế đên, ông Tướng cùng với giới trí thức, dân miền Tây, Giáo Hội Phật Giáo Hòa Hảo xin thiết lập Viện Đại Học Cần Thơ. Không biết vì lý do gì, thời uy quyền Tướng Kỳ nắm hết trong tay (Nội Các Chiến Tranh) cương quyết không đồng ý. Tướng Quang theo phe miền Tây xin cho bằng được thành lập Viện Đại Học Cần Thơ nên làm phật ý Tướng Kỳ.

Khi Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu lập liên danh ra ứng cử Tổng Thống năm 1967, Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ cũng có liên danh tranh cử. Cả 2 ông Tướng cùng ra tranh cử 2 liên danh khác nhau, chia phiếu quân nhân, có thể cả 2 liên danh đều thất cử và liên danh dân sự như liên danh Trương Đình Dzu (luật sư, thiên tả) hay liên danh dân sự nào khác sẽ đắc cử. Vì vậy Hội Đồng Tướng Lãnh mới có cuộc họp quyết định sáp nhập 2 liên danh của Trung Tướng Thiệu và Thiếu Tướng Kỳ làm một.

Tôi nghe kể lại buổi họp đó rất gây cấn, các ông Tướng vốn xuất thân từ khóa 1 Nam Định (cùng khóa với Tướng Kỳ) đều nhiệt liệt ủng hộ Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ. Đối nghịch lại, Trung Tướng Đặng Văn Quang hết lòng ủng hộ Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu và nhiều tướng lãnh khác gốc miền Trung, miền Nam cũng ủng hộ, nên có thể là cái lý do Tướng Kỳ “ghét” Tướng Quang thậm tệ nên chuyện phao tin, thêu dệt Tướng Quang tham nhũng gộc được phe Tướng Kỳ khuấy động dữ dội thời điểm đó.

Chuyện này còn kéo dài đến trại tập trung người tỵ nạn CS ở Texas năm 1975, cũng có người muốn hành hung, nói ông Tướng Quang “đầu nậu’ tham nhũng nên mất nước…

Ngoài ra, còn một yếu tố quan trọng khác, thời Trung Tướng Đặng Văn Quang làm Tư Lệnh Vùng 4 Chiến Thuật, cố vấn Mỹ đề nghị đưa vài đơn vị lớn của Mỹ về V4CT kể cả Đại Tướng Mỹ Westmoreland cũng có ý kiến đó nữa. Trung Tướng Đặng Văn Quang viện nhiều lý do là QLVNCH được sự tích cực ủng hộ của dân chúng và các đơn vị giáo phái tân tuyển có tinh thần chiến đấu tuyệt vời; các đơn vị chủ lực và địa phương của các tiểu khu đủ sức ngăn chặn sự xâm nhập của bộ đội CSBV và luôn chiến thắng nên không cần có các đơn vị lớn của Hoa Kỳ và xin Hoa Kỳ tăng cường giúp các Vùng Chiến Thuật khác. Nghĩa là Tướng Quang mạnh dạn từ chối Hoa Kỳ đổ quân xuống miền Tây.

Có một lần Tướng Quang tâm sự với chúng tôi cùng ngồi trên trực thăng chỉ huy C & C, nếu quân Mỹ ồ ạt đổ vào miền Tây thì chúng ta mất phần nào chánh nghĩa chống quân CSBV mà chúng ta dư sức, ăn thua đủ với quân chánh quy CSBV.

Một vụ khác CIA, cố vấn Mỹ muốn Tướng Quang phải triệt hạ Đại Úy Lực Lượng Đặc Biệt Dan Marvin cùng với 5 nhân viên Mỹ khác và triệt hạ luôn cả trại biệt kích, hoặc bắt Đại Úy Dan Marvin giải giao về Sài Gòn. Lý do, Đại Uý Dan Marvin không thi hành lịnh ám sát Quốc Trưởng Sihanouk ở Kampuchia (nhằm bịt miệng vụ tai tiếng này).

Điều cần lưu ý toán LLĐB này đang làm cố vấn cho Trại Biệt Kích biên phòng Dân Nam thuộc quận An Phú – Châu Đốc rất được sự mến mộ của dân chúng địa phương và Giáo Hội Phật Giáo Hòa Hảo. Trại Biệt Kích biên phòng Dân Nam do các cựu chiến sĩ Hòa Hảo dưới quyền chỉ huy của Thiếu Tá Lê Văn Phồi (Trung Tá Phồi đang định cư ở Hoa Kỳ) điều hành chỉ huy. Nếu sử dụng đơn vị chính quy QLVNCH tiêu diệt trại này thì sẽ có hàng trăm chiến sĩ chống cộng nhiệt thành cũng bị chết lây. Vì vậy, Tướng Quang cũng chống và ông tự giải quyết tốt đẹp nên cũng không được lòng Hoa Kỳ, không ngoan ngoản làm theo bất cứ cái gì cố vấn Hoa Kỳ muốn.

Thời gian sau khi Tướng Quang về Trung ương thì Mỹ đã đưa cả Sư Đoàn 9 BB đặt bản doanh tại căn cứ Đồng Tâm – Mỹ Tho, đơn vị này cũng chẳng tạo được thành tích chiến thắng vẻ vang nào như QLVNCH. Vì vậy, có thể vài phóng viên của Hoa Kỳ mượn cớ bên phía VNCH, CSBV tung tin Tướng Quang tham nhũng số 1 của chế độ và các cơ quan truyền thông bị nhiễm nộc độc của Tướng Kỳ lại phóng đại lần nữa, nên giới truyền thông Mỹ lại nêu đích danh Tướng Quang tham nhũng gộc…nên có nhiều người Việt tỵ nạn CS tin mới làm phiền ông Tướng đáng thương.

Chuyện tình báo CSBV phao tin Tướng Quang buôn bán bạch phiến và thuốc Tây lậu khi ông làm Tư Lệnh V4CT (và sau này khi Tướng Quang làm Phụ Tá Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu). Chuyện 1 ông Tướng ở miền Tây mà buôn bán ma tuý và thuốc Tây lậu thì quả thật là chuyện của cõi trên mà cũng có người tin cho tới ngày nay mới là lạ.

Hiện nay, ông và bà Tướng cùng đang nằm trong Nursing Home ở Sacramento do 2 vợ chồng đệ tử, làm dưới quyền ông năm xưa ở QĐ4 hết lòng chăm sóc, thăm viếng vì tất cả 7 đứa con của ông bà Tướng Quang đều ở xa như Pháp, Úc, Canada và 2 người ở Maryland và Indiana. Cuộc sống của 2 ông bà hiện nay chỉ tính bằng tháng thôi vì lớn tuổi vào hàng 8, ông bị bệnh Alzheimer, bà bị bệnh tim và tiểu đường…

Xin mời các chiến hữu và độc giả tìm đọc bài báo viết về cuộc đời của Tướng Quang với những thử thách bi thảm từ Sài Gòn đến Sacramento, với cái tít: The Trial of General Dang – From Saigon to Sacramento, a South Vietnamese General’s Journey Proves Old Soldiers Don’t Fade Away, They Stick Together của nhà báo R.V. Scheide(email: rvscheide@newsrewiew.com) đăng trên tờ tuần báo Sacramento News & Review (SN & R), phát hành tại Sacramento và có ấn bản ở nhiều thành phố khác ở miền Bắc Cali.

Bài báo có kèm theo nhiều tấm hình hồi còn oai quyền của Trung Tướng Quang mà cựu Trung Tá LLĐB Dan Marvin có được, và ông đã viết thành sách với tựa đề “Expendable Elite – One Soldier’s Journey Into Covert Warfare”, xuất bản năm 2003 nói về cuộc đời của ông Dan, 1 sĩ quan LLĐB Mỹ tham chiến tại VN, và có lồng theo câu chuyện Tướng Quang cứu mạng tác giả.

Bài báo này có trong số Volume 20, Issue 27, ngày thứ năm 4.12.08. Địa chỉ tòa soạn 1015 20th Street – Sacramento, CA. 95811, tel: 916.498.1234 và Editorial Fax: 916.498.7920 hoặc lên Web site: www. newsreview.com trong mục Local Stories.

Bài báo có trích dẫn lời của ông Tom Polgar, trùm tình báo CIA ở Sài Gòn lên tiếng chánh thức: Tướng Quang không tham nhũng, không có tiền gởi ngân hàng Thụy Sĩ và những chuyện ly kỳ khác mà người ta áp đặt tham nhũng cho một ông Tướng trẻ và thực tài của QLVNCH trong hơn 40 năm qua.

Nhờ có sự xác minh của trùm CIA, Thượng Nghị sĩ, Dân Biểu Liên Bang và có đơn thỉnh nguyện của Trung tá Dan Marvin gởi lên Tổng Thống Bush (Bush cha), Bộ Ngoại Giao Mỹ cho Tướng Quang nhập cảnh và định cư ở Hoa Kỳ thập niên 90.

Trước đó Bộ Ngoại Giao Mỹ từ chối cấp Visa cho Tướng Quang với 2 lý do vì ông bỏ trại tỵ nạn ở Texas hơn 1 tháng như quy định và quan trọng ông bị ghép tội tham nhũng nên không được vào nước Mỹ…

Có một lần, cách nay chừng 6 năm khi cựu Trung Tướng Đặng Văn Quang còn ở Atlanta – Georgia, tôi, từ Sacramento có bay sang thăm “thầy cũ” và đem câu hỏi ông bị tố tham nhũng gộc của chế đô VNCH mà CSBV, phe ta Quốc gia và cơ quan truyền thông Mỹ cùng “bề hội đồng” mà nay sao ông Tướng lại nghèo xơ xác.

Trung Tướng Quang nói rằng, thiên hạ kể cả người Việt quốc gia, CSBV và vài nhà báo Mỹ thêu dệt đủ điều nào tôi buôn bán bạch phiến, đầu cơ tích trữ thuốc tây nhập vào để chuyển lên Sài Gòn bán, có tiền đến nhiều triệu dollars Mỹ gởi ngân hàng Thụy Sĩ…Tôi (đại ý lời TT Quang) như cái thùng rác họ liệng vô những gì dơ bẩn của chế độ, tôi không lên tiếng vì tôi tin có Chúa biết là đủ, ngoài ra Tổng Thống Thiệu biết và lương tâm tôi biết, còn người đời nói gì mặc kệ họ.

Vì những lời nói chân tình đó của một người thầy cũ mà vợ chồng tôi hết lòng giúp đỡ mời ông bà Tướng về định cư tại Sacramento, cách nay hơn 3 năm, và chúng tôi tự nguyện lo cho 2 ông bà Tướng đến ngày được Chúa bổ nhậm lần cuối về Vùng 5 Chiến Thuật.

nguon:  vietlandnews.com

 

 

 

Drugs, Corruption, and Justice in Vietnam and Afghanistan:

A Cautionary Tale

By Merle L. Pribbenow

          On October 27, 2009, The New York Times published a dramatic article about  Ahmed Wali Karzai, the brother of the president of Afghanistan, Hamid Karzai. The article alleged that the president’s brother is a major Afghan drug trafficker as well as being a paid asset of the American Central Intelligence Agency (CIA). The byline to the article listed three names, including that of James Risen, the well-known author of State of War, a recent and controversial book about US intelligence operations under the Bush Administration. And like the sensational allegations Risen made in State of War, the Times article was based almost entirely on anonymous sources.

    While noting that Ahmed Wali Karzai categorically denied any involvement in drug  trafficking, and that he also denied being a paid agent of the CIA, the article went on to quote unnamed U.S. “military and political” officials as stating that the Agency’s relationship with Karzai had become a source of “anger and frustration among American military officers and other officials of the Obama administration.” While admitting that the evidence against Wali Karzai was “largely circumstantial,” the article charged that Karzai’s alleged involvement in the opium trade meant that Karzai was viewed as a “malevolent force” in Afghanistan (a peculiar and incendiary choice of words). The article also repeated critical comments made by anonymous US Drug Enforcement Agency (DEA) sources about the US government’s failure to take action against Karzai and his alleged narcotics connections.

    As a retired CIA officer who served in South Vietnam, the Times story struck a very familiar chord with me.  Several decades ago, strikingly similar wartime allegations were made against a powerful government official, Lieutenant General Dang Van Quang, who was very close to South Vietnamese President Nguyen Van Thieu. Although I retired from the CIA more than a decade ago and have absolutely no personal knowledge, one way or the other, about the accuracy of the charges made against President Karzai’s brother, I believe that before the press, the American public, and senior Obama administration officials blindly accept as accurate the charges made in the Times article, it might be useful to review the earlier Vietnamese case. Lessons from General Quang’s case may be applicable to the allegations being made about President Karzai’s brother.


Virulent Rumors

 General Dang Van Quang was President Thieu’s special assistant for Military and National Security Affairs. He was also Thieu’s friend and confidant, and had a Quang relationship with the South Vietnamese president that stretched back to the earliest days of their military careers.  In the late 1960s and early 1970s, rumors began to circulate in Saigon to the effect that Quang was one of South Vietnam’s leading heroin traffickers; that he was a paid agent of the CIA; and that he was Thieu’s “bag-man” for collecting corruption payments. These rumors, many of which were reportedly being spread by President Thieu’s political opponents (including followers of Vice President Nguyen Cao Ky), were picked up by the Vietnamese and American press and given wide circulation. In addition to being reported in American newspapers and on network television news broadcasts, the charges were also featured prominently in a book entitledThe Politics of Heroin in Southeast Asia, a widely-read and still frequently referenced publication written by Alfred W. McCoy, now a professor at the University of Wisconsin in Madison.

     As is often the case with rumors, especially hearsay involving people who, like General Quang, work in the shadowy worlds of national security and intelligence, the allegations soon took on a life of their own.  Before long virtually everyone, including most of the American press and even some US embassy officials and DEA officers, began to accept them as true.

    The stories did not go unnoticed by the CIA’s Saigon Station, which was particularly concerned by these claims because of the Station’s close working relationship with General Quang, whom President Thieu had designated as his principal liaison to the CIA. The Station monitored the stories and, as has recently been revealed, at one point prepared and forwarded to Washington a review and assessment of the accuracy of the charges.  The existence of this review, heretofore highly classified, came to light earlier this year in a newly-declassified CIA historical study entitled CIA and the Generals: Covert Support to the Military Government in South Vietnam, written by Agency historian Thomas Ahern.  This declassified document is now available to the general public on the electronic FOIA page of the CIA’s official website.  The brief section of the historical study that discusses the Station’s review of the allegations against General Quang reads as follows:

    After the January 1973 cease-fire agreement, the traditional role of the Vietnam Station as a US channel of influence and information to the Saigon generals increasingly involved it in issues like corruption, South Vietnam’s image in the United States, and the prospects of continued US military aid.  Official corruption had long counted as one of Saigon’s more intractable problems. Among Station contacts, the most controversial in this respect was Lt. Gen. Dang Van Quang, the portly aide to Thieu whom some Americans were inclined to take lightly because of his high-pitched giggle in moments of tension.  Sometime in 1974, hoping to resolve the issue of Quang’s alleged corruption, the COS [Chief of Station] designated [name deleted] to do an all-source review of Quang’s financial probity.  [name deleted] could find no smoking gun, and did a report whose thrust was, if not vindication, at worst “not proven.” [several lines deleted].

    I am familiar with the contents of the Station’s review, since I was its author.  I believed then and I still believe today that, while General Quang was by no means a saint, and although I would never contend he was totally innocent of all the varied charges of corruption leveled against him, Quang was not involved in narcotics trafficking in any way.

    I can certainly understand that some might be suspicious of the conclusions reached by me and by the CIA’s Saigon Station.  In order to come to an objective assessment of the accuracy of these conclusions, I believe one should take a careful look at what happened to General Quang after he fled South Vietnam when the communists captured that country in 1975.

After the Fall

     When Saigon collapsed at the end of April 1975, General Quang fled to the United States with his family. They were initially housed in a camp in Arkansas alongside thousands of other South Vietnamese refugees. Feeling threatened by many of his fellow refugees who believed the rumors about his corruption, and who blamed him for being at least partially responsible for the ruinous defeat, General Quang and his family fled the camp and traveled to Canada to resettle there.

    The Canadian government ordered General Quang deported based on the press stories and rumors about him that had found their way into official government reporting channels. However, again based on the ubiquitous stories and rumors about Quang, neither the United States nor any other country would accept him (the communist Vietnamese regime did agree to take him but refused to give the Canadian government assurances that Vietnam would not summarily execute Quang if he was forcibly returned).  As a result, Quang lived in Canada in a state of legal limbo for more than a decade—no legal residence status, no work permit, and with a standing deportation order against him. 

   

Despite the stories that he was a multi-millionaire from drug trafficking, in Canada General Quang and his family were destitute.  They lived in cheap, cramped, run-down apartments and Quang supported himself and his family by working in a succession of menial jobs on the fringes of society, including as a janitor and a bottle-washer. On several occasions, he was fired and forced to relocate after Canadian investigative journalists ran him down and wrote “exposés” for their newspapers, each time revealing where this infamous “narcotics trafficker” was working illegally.

    In 1989 Quang was finally allowed to immigrate to the United States. Like many Vietnamese refugees, he settled in southern California.  As had been the case in Canada, his financial situation in America was very modest, and in the early 1990s he supported his family by working as a baggage handler at the Los Angeles International Airport. Currently, according to a December 4, 2008 article in the Sacramento News & Review, General Quang, who has been in poor health for several years, lives in an assisted-living facility in Sacramento, California.

    Quang’s poverty and his many trials and tribulations following the fall of Saigon provide the clearest possible evidence that the widespread (and almost universally- accepted) allegations about him being a

multi-millionaire drug king-pin were simply Saigon false.  Both logic and experience indicate that drug lords always squirrel away much of their ill-gotten gains in international bank accounts. If Quang had been,  in fact, as rich and corrupt as the Saigon rumor-mill and the American press portrayed him, he surely would have transferred the bulk of his riches out of South Vietnam during the final weeks of that country’s existence, when it was clear to everyone that a communist victory was inevitable. A number of other South Vietnamese generals and political leaders who fled, including President Thieu, Prime Minister Tran Thien Khiem, and Joint General Staff Commander General Cao Van Vien, were able to live out their long years of exile in the United States in relative comfort, buying homes and living off their “savings” without ever having to work for even a single day to support themselves. While it is notoriously difficult to prove a negative, in this case I believe any objective observer could only conclude that the drug-trafficking charges against General Quang must have been false.

    This brings us back to the allegations against the brother of Afghan President Karzai.  Like the allegations against General Quang, these charges seem, on the surface at least, to consist of vague rumors unsupported by solid evidence.  Like the allegations against General Quang, they are being spread mostly by political opponents of Ahmed Wali Karzai’s political mentor (his brother) or by anonymous sources, both Afghan and American. I readily admit that I have no inside information about the truth of the allegations, and for all I know Ahmed Wali Karzai may, in fact, be the scumbag that the article portrays him to be. I understand the need for journalists to get “scoops” and write articles that will get their names on the front page, and I recognize the need for newspapers to make money.

    I would, however, respectfully suggest to The New York Times, James Risen, and other reporters and media outlets that responsible journalists—journalists who are as interested in the truth as they are in personal acclaim—should first make an honest effort to dig out some solid evidence to support the claims of their anonymous sources before they proceed to publish these kinds of stories.  I would also suggest that US government officials and the American public should be extremely cautious about accepting any such news stories that are based solely on anonymous sources and vague, unsubstantiated rumors.

    It is too late to undo the harm that was done to General Dang Van Quang by such unfounded rumors. But perhaps his example may help us avoid making similar mistakes in the future.


Merle L. Pribbenow, the author of “Limits to Interrogation: The Man in the Snow White Cell,” Studies in Intelligence, is a retired CIA operations officer and Vietnamese linguist who served in Vietnam from 1970 to 1975. This is his second article for Washington Decoded.
Nguồn: Thép Súng

Posted in Nhan Vat | Leave a Comment »

►Có bao nhiêu người Việt ra đi khỏi nước sau 1975?

Posted by hoangtran204 trên 27/07/2011

Sự hình thành Cộng đồng Người Việt Hải ngoại

Trần Gia Phụng

(Trình bày tại Viện Việt Học, California ngày 23-7-2011)

Trong lịch sử Việt Nam, có một số trường hợp, người Việt ra nước ngoài tập thể: Ví dụ khi nhà Lý sụp đổ năm 1225, hoàng thân Lý Long Tường (nhà Lý) lo ngại bị nhà Trần đàn áp, nên cùng đoàn tùy tùng qua Triều Tiên lập nghiệp năm 1226. Năm 1789, vua Quang Trung chiến thắng oanh liệt ở Đống Đa; vua Lê Chiêu Thống (nhà Lê) sợ bị trả thù, liền cùng các cận thần qua Trung Hoa lưu vong.

Dưới thời Pháp thuộc, trong thế chiến I (1914-1918) và thế chiến II (1939-1945), Pháp đưa hàng trăm ngàn binh sĩ Việt qua Pháp chiến đấu. Sau khi chiến tranh chấm dứt, một số người ở lại bên đó sinh sống rải rác nhiều nơi. Ngoài ra, trong thập niên 30 của thế kỷ trước, nhiều người Việt bị thực dân Pháp mộ phu, đưa qua quần đảo Tân Calédonie, ngoài khơi Thái Bình Dương, rồi ở luôn bên đó.

Tuy đã nhiều lần ra nước ngoài, nhưng chưa lần nào người Việt tổ chức thành cộng đồng như Cộng đồng Người Việt Hải ngoại (CĐNVHN) sau năm 1975.

Diễn hành đầu Xuân tại Little Saigon, Caliofornia
Nguồn: OntheNet


1. Nguyên nhân

Có hai nguyên nhân chính đưa đến sự thành lập CĐVNHN sau năm 1975.

Thứ nhất là sự sụp đổ của chính quyền Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) ngày 30-4-1975, khiến nhiều người Việt bỏ nước ra đi.

Thứ hai, người Việt di tản và vượt biên có cùng một mẫu số chung là tỵ nạn cộng sản, nên người Việt tự động tập họp với nhau, đầu ít, sau nhiều và dần dần đưa đến sự hình thành CĐNVHN.

2. Di tản và vượt biên

Cuộc ra đi lần nầy của người Việt có thể chia thành bốn giai đoạn. Những số liệu dưới đây dựa vào thống kê của Cao Uỷ Tỵ Nạn Liên Hiệp Quốc (United Nations High Commissioner for Refugees = UNHCR)

Giai đoạn 1: Trước khi cộng sản kiểm soát được Sài Gòn ngày 30-4-1975 và sau đó vài ngày sau nữa, khoảng 150,000 người di tản ra nước ngoài, trong đó 140,000 qua Hoa Kỳ, 10,000 đến các nước Âu Châu và các nước khác.

Giai đoạn 2 (từ 1975 đấn 1979): Khi người Việt ra nước ngoài đông đảo, nhất là qua Hoa Kỳ, tổng thống Gerald R. Ford (thay thế tổng thống Richard Nixon từ chức tháng 8-1974) ban hành đạo luật “Indochina Migration and Refugee Act” (Đạo luật về Di trú và Tỵ nạn Đông Dương) được quốc hội thông qua ngày 23-5-1975, theo đó “những người Nam Việt Nam và Cao Miên được phép nhập cư vào Hoa Kỳ theo một quy chế đặc biệt và sẽ được trợ cấp để tái định cư.” Các tổ chức thiện nguyện như Civitan International, The United States Conference of Catholic Bishops, The International Rescue Committee, và The Church World Service, sẽ bảo trợ những người đến định cư.(1)

Từ tháng 6-1975 đến 1979, tổng cộng 326,000 người Việt vượt biên , trong đó có 311,400 thuyền nhân, và 14,600 người đi bằng đường bộ qua Cambodia, Thái Lan.(2) Người ta ra đi nhiều trong thời gian nầy vì Đỗ Mười, bí thư trung ương đảng Cộng Sản Việt Nam (CSVN), vào Nam năm 1978, phát động chiến dịch cải tạo công thương nghiệp, nhưng thực chất là đánh giới tư sản, kể cả tư sản người Việt gốc Hoa. Trong các tháng 3 và 4-1978, khoảng 30,000 doanh nghiệp lớn nhỏ của người Hoa bị đóng cửa.(Wikipedia: “Thuyền nhân”.) Vì vậy, nhiều người Việt gốc Hoa đóng vàng cho nhà nước CS để được thoát khỏi Việt Nam theo chương trình ra đi “bán chính thức”. Phía Trung Quốc gọi là “nạn kiều”.

Giai đoạn 3 (từ 1980 đến 1989, trước thời điểm UNHCR ra lệnh khóa sổ các trại tỵ nạn, không nhận người vượt biên): Trước tình hình người Việt ra đi tỵ nạn đông đảo trên đây, chính phủ Hoa Kỳ ban hành thêm đạo luật “Refugee Act” (Đạo luật Tỵ nạn) ngày 17-3-1980 nhằm “cung cấp quy chế có tính cách hệ thống và vĩnh viễn để tiếp nhận và tái định cư một cách hiệu quả người tỵ nạn dựa trên những nhu cầu nhân đạo đặc biệt.” (3)

Trong giai đoạn nầy, khoảng 450,000 người ra đi, gồm có 428,500 thuyền nhân và 21,500 người đi đường bộ, đến các đảo Hồng Kông, Palawan (Phi Luật Tân), Bidong (Malaysia), Galang (Indonesia), các trại ở Thái Lan, rồi từ đó đi định cư khắp thế giới.

Giai đoạn 4 (từ 1990 đến 1995, tức từ khi Liên Hiệp Quốc khóa sổ năm 1989 cho đến lúc giải tán vĩnh viễn các trại tỵ nạn năm 1996): Số người ra đi vẫn tiếp diễn, tổng cộng khoảng 63,100 người, trong đó 56,400 là thuyền nhân và 6,700 người đi đường bộ.

Như thế từ khi Sài Gòn bị cưỡng chiếm ngày 30-4-1975 cho đến cuối năm 1995, trong bốn đợt ra đi, tổng số người Việt bỏ nước ra đi, theo thống kê của UNHCR là 989,100 người, cả đường biển lẫn đường bộ. Số người tử nạn trên đường vượt biên không thể thống kê chính xác được. Người ta phỏng chừng có khoảng từ 400,000 đến 500,000 thuyền nhân bỏ mình trên biển cả hay bị hải tặc bắt giết.

Thuyền nhân
Nguồn: OntheNet


Những người di tản đầu tiên ngay sau ngày 30-4-1975, được đi định cư tương đối dễ dàng. Những người vượt biên sau đó phải trải qua nhiều thủ tục khó khăn rườm rà mới được đi định cư.

Trong giai đoạn đầu, thoát khỏi Việt Nam, người vượt biên đến tạm cư ở những nước lân cận Việt Nam như Malaysia, Indonesia, Phi Luật Tân, Hồng Kông… và phải trải qua các thủ tục sau đây: Thứ nhất, là UNHCR phỏng vấn. Trong cuộc phỏng vấn nầy, người vượt biên phải chứng minh mình đúng là nạn nhân của chế độ cộng sản, mới được đi định cư. (Người nào không chứng minh được thì không được chấp nhận quy chế tỵ nạn.) Thứ hai, người tỵ nạn còn phải qua cuộc phỏng vấn của đại diện nước mà đương sự muốn xin đi định cư (Hoa Kỳ, Canada, Úc…). Nếu được chấp nhận mới có thể lên đường.

Năm 1989, UNHCR quyết định đóng cửa các trại tỵ nạn Malaysia, Indonesia, Phi Luật Tân, Hồng Kông. Từ đây các thuyền nhân phải trải qua một cuộc thanh lọc chặt chẽ hơn, phải chứng minh đầy đủ giấy tờ là cá nhân hay gia đình thực sự bị chế độ cộng sản ngược đãi. Vượt qua cuộc thanh lọc (tức “đậu thanh lọc”), đương sự mới được đi định cư, nếu không vượt qua cuộc thanh lọc (tức “hỏng thanh lọc”), đương sự sẽ bị trả về Việt Nam. Những người đậu thanh lọc còn phải qua thêm một cuộc phỏng vấn của phái đoàn quốc gia mình muốn xin định cư, và nếu bị bác đơn thì phải xin đi nước khác.

3. Ra đi có trật tự, H.O., con lai, du học, xuất khẩu lao động

Ngoài đa số người ra đi bằng thuyền, còn có khá nhiều người ra đi bằng đường hàng không, theo hai chương trình O. D. P. và H.O. Orderly Departure Program viết tắt là O. D. P. tức chương trình “Ra đi có trật tự” do thân nhân bảo lãnh, bắt đầu từ 1979.

Văn phòng O.D.P. lúc đầu mở tại Bangkok, thủ đô Thái Lan vào tháng 1-1980. Chương trình O.D.P. đã đưa gần 500,000 người Việt tái định cư ở Hoa Kỳ. Văn phòng O.D.P. ở Bangkok ngưng nhận hồ sơ từ ngày 14-9-1994 và đến năm 1999 thì văn phòng nầy đóng cửa. Tòa lãnh sự Hoa Kỳ ở Sài Gòn từ đây phụ trách việc xin cứu xét hồ sơ bảo lãnh.(4)

H.O. là chữ người Việt thường dùng để gọi chương trình The Special Released Reeducation Center Detainee Resettlement Program (Chương trình tái định cư cựu tù cải tạo được phóng thích), hay còn gọi là Humanitarian Operation Program (Chương trình H.O.). Chương trình nầy bắt đầu từ năm 1989, do chính phủ Hoa Kỳ chấp nhận cho các nhân viên và quân nhân VNCH bị ba năm tù cộng sản trở lên, cùng gia đình, tái định cư tại Hoa Kỳ. Có tài liệu cho rằng từ 1989 đến 2002, số cựu tù nhân chính trị cùng thân nhân, kể cả những người đi theo diện tỵ nạn trong chương trình Tu chính án McCain (McCain Amendment Program), đến Hoa Kỳ định cư lên đến hơn 210,000 người.(5)

Ca sĩ Phi Nhung
Nguồn: OntheNet


Bên cạnh đó, còn có chương trình “Con lai” Mỹ. Trẻ Lai Mỹ được chính phủ Hoa Kỳ định nghĩa là “Ngoại kiều sinh tại Việt Nam sau ngày 1 tháng 1 năm 1962 và trước ngày 1 tháng 1 năm 1976 và có cha là công dân Hoa Kỳ” . Số con lai Mỹ cùng gia đình đến Hoa Kỳ định cư lên đến khoảng 100,000 người.(6)

Thêm vào đó, sau năm 1975 có một số người ra đi do du học hoặc xuất khẩu lao động qua Liên Xô và các nước Đông Âu. Khi chế độ cộng sản tại các nước nầy sụp đổ vào những năm 1990-1991, nhiều sinh viên du học hay những người xuất khẩu lao động đã xin ở lại tỵ nạn. Số nầy lên đến khoảng trên 100,000 người (số liệu trong nước cho biết khoảng 300,000 người), rải rác ở Nga, Ba Lan, Tiệp Khắc, Hungaria, Đông Đức… Hiện nay nhiều người trong số nầy đã chuyển qua các nước phương tây định cư.

4. Cộng đồng Người Việt Hải ngoại

Dầu di tản hay vượt biên từ năm 1975, hoặc ra đi theo các chương trình O.D.P., H.O., hay xin tỵ nạn từ các nước Đông Âu, và dầu hiện nay người Việt ở hải ngoại theo nhiều khuynh hướng chính trị khác nhau, nhưng căn nguyên của tất cả người Việt ở hải ngoại trên thế giới hiện nay đều mang tính cách chung là người Việt tỵ nạn cộng sản. Như thế căn cước của Cộng đồng người Việt hiện nay trên thế giới là cộng đồng người Việt tỵ nạn cộng sản. Nếu ai cho rằng mình không phải là người tỵ nạn cộng sản thì đã được mời về nước ngay từ đầu. Chính vì cùng một mẫu số chung (tỵ nạn cộng sản), người Việt dễ dàng thông cảm nhau và dần dần tập họp lại với nhau thành những nhóm nhỏ (hội đồng hương, hội đồng nghiệp…), rồi tập họp thành CĐNVHN, chứ sau ngày 30-4-1975, những thành viên cũ trong chính phủ Việt Nam Cộng Hòa không thành lập chính phủ lưu vong nhằm quy tụ người Việt.

Người Việt tỵ nạn tập trung đông nhất tại Hoa Kỳ, sau đó đến Úc Châu, Canada và Âu Châu. Có một số ít ở vài nước Á Châu như Nhật, Singapore, Phi Luật Tân. Riêng tại Hoa Kỳ, thống kê dân số năm 2007 cho thấy người Mỹ gốc Việt là 1,642,950, chiếm 0,55% dân số Hoa Kỳ.(7) Người Việt vốn quen với khí hậu nắng ấm miền nhiệt đới ở Việt Nam, nên sau khi nhập cư vào Hoa Kỳ, tạm thời ổn định đời sống, người Việt thường tìm đến sinh sống ở các tiểu bang nắng ấm miền nam Hoa Kỳ như California, Florida, Texas. Tại California, ở Orange County, các thành phố Garden Grove, Westminster, Santa Ana, Fountain Valley họp thành trung tâm Little Sài Gòn, được xem là thủ đô của người Việt tỵ nạn trên thế giới.

Tính chung, tổng số người Việt ở hải ngoại hiện nay được ước lượng khoảng ba triệu người. Dân số nầy sẽ còn tăng nữa theo thời gian. Nhờ sống tại các nước TỰ DO DÂN CHỦ, người Việt hải ngoại có điều kiện học hỏi, phát triển khả năng, đỗ đạt nhiều và đỗ đạt cao, làm việc chăm chỉ, nên người Việt càng ngày càng thành công tại các nước định cư. Nhờ thế CĐNVHN nhanh chóng lớn mạnh.

Về phương diện tôn giáo, người Việt hải ngoại tiếp tục theo những tôn giáo ở trong nước, và phát triển tôn giáo của mình một cách mạnh mẽ. Nhiều chùa Việt được xây dựng khắp nơi trên thế giới. Nhiều họ đạo Ky-Tô có nhà thờ riêng cho người Việt. Đạo Cao Đài và Phật giáo Hòa Hảo được tự do truyền đạo và hành đạo, không bị đàn áp, ngược đãi như hiện nay ở trong nước.

Về phương diện văn hóa, tại bất cứ nước nào, các cộng đồng người Việt hiện nay đều hoạt động tự phát rất tích cực. Ở một số địa phương, Việt ngữ trở nên một môn học chính thức trong học đường. Nhiều
trường dạy tiếng Việt cho con cháu được mở ra. Tuy không phải là quê hương ruột thịt của mình, nhưng ở một số thị trấn, sinh hoạt hầu như hoàn toàn bằng tiếng Việt.

Nhờ hệ thống chính trị tự do dân chủ nơi quê người, văn học, nghệ thuật, âm nhạc, nghiên cứu, tiểu thuyết, báo chí người Việt hải ngoại rất đa dạng và phát triển mạnh mẽ. Nếu tính theo tỷ lệ dân số, thì ở hải ngoại, văn hóa phát triển mạnh mẽ hơn trong nước hiện nay. Nếu tính theo chiều không gian, thì báo chí, tác phẩm văn học Việt Nam ở hải ngoại bao trùm rộng rãi cả thế giới. Từ Mỹ Châu, qua Âu Châu, đến Úc Châu. Ngoài những tác giả viết sách bằng tiếng Việt, nhiều tác giả viết sách bằng tiếng nước ngoài, cũng như nhiều tác phẩm Việt ngữ đã được dịch ra tiếng nước ngoài.

Về phương diện chính trị, sau khi tạm ổn định đời sống nơi vùng đất mới, đồng bào tỵ nạn hải ngoại tiếp tục cuộc tranh đấu chống cộng đang còn dang dở. Lúc đầu, nhiều người tham gia phong trào võ trang chiến đấu, tìm đường trở về phục quốc. Tuy nhiên, do những yếu tố chủ quan cũng như khách quan, các phong trào nầy đã thất bại. Sau đó, theo cách thức tranh đấu tại các nước tự do dân chủ, người Việt quay qua vận động chính trị bất bạo động và chống cộng sôi nổi khắp nơi trên thế giới.

Sau hai thập niên tỵ nạn, sang đầu thế kỷ 21, CĐNVHN bắt đầu đi vào chính lưu (mainstream) sinh hoạt chính trị tại những nơi mình sinh sống. Nhiều người Việt Hoa Kỳ, Canada, Úc, Anh, Pháp … đắc cử vào các Hội đồng địa phương, các cơ quan hành pháp và lập pháp ở mọi cấp.

Về phương diện kinh tế, người Việt vốn thông minh, chăm chỉ, cần cù, chịu khó, tiết kiệm, giản dị, nên khá thành công trong sinh hoạt kinh tế, đóng góp không ít vào các nước định cư. Hiện nay, nhìn chung đời sống người Việt ở hải ngoại tương đối sung túc, nhất là những người lập nghiệp từ năm 1975. Một số người Việt bắt đầu làm chủ các cơ xưởng vừa, một số bước vào giới triệu phú nhỏ.

5. Biểu tượng Cộng đồng Người Việt Hải ngoại

Khi rời đất nước ra đi tìm dự do, người Việt mang theo trong trái tim mình toàn bộ hình ảnh quê hương gia đình, bà con, bạn bè thân thiết và đặc biệt hình ảnh tượng trưng cho chế độ dân chủ tự do mà mình đã sống, dù chế độ đó chưa được hoàn thiện: đó là lá CỜ VÀNG BA SỌC ĐỎ của Quốc Gia Việt Nam và sau đó Việt Nam Cộng Hòa.

Biểu tượng của người Việt tại Hoa Kỳ
Nguồn: OntheNet


Trong hầu hết các sinh hoạt cộng đồng đều có làm lễ chào cờ quốc gia địa phương và chào cờ VNCH. Dần dần, khi đi vào chính lưu dòng sinh hoạt chính trị Hoa Kỳ, người Mỹ gốc Việt vận động các cấp lập pháp địa phương thừa nhận lá cờ VNCH là biểu tượng chính thức của cộng đồng người Việt.

Đầu tiên, ngày 19-2-2003, thành phố Westminster ở California ra nghị quyết số 3750, thừa nhận Lá cờ vàng ba sọc đỏ là biểu tượng chính thức của Cộng đồng Việt Nam Westminster. Từ đó, nhiều thành phố và nhiều tiểu bang tại Hoa Kỳ đã theo gương Westminster, thừa nhận biểu tượng của CĐNVHN. Cho đến năm 2009, trên toàn nước Mỹ, có 14 tiểu bang, 7 quận hạt (county) và 88 thành phố công nhận Cờ vàng ba sọc đỏ là biểu tượng của CĐNVHN.(8)

6. Ảnh hưởng của CĐNVHN đối với Việt Nam

Ngay từ những ngày đầu được hình thành, CĐNVHN chẳng những đóng góp cho các nước mình đang định cư, mà còn tác động ngược trở về trong nước.

Về kinh tế, sau khi định cư, người Việt cặm cụi làm ăn vừa để nuôi sống gia đình, vừa để có tiền gởi về giúp thân nhân. Lúc đầu là những thùng quà và chuyển ngân bất hợp pháp qua các tư nhân. Sau đó, những đại lý chuyển tiền mọc ra khắp nơi.

Số tiền gởi về càng ngày càng nhiều. Theo nguồn tin của đài phát thanh RFA ngày 05-01-2011, thì vào năm 2010, số tiền người Việt ở nước ngoài gởi về giúp đỡ thân nhân và đầu tư lên đến khoảng 8 tỷ Mỹ kim. (Web đài RFA, trang lưu trữ, ngày 5-01-2011.) Dầu số tiền nầy chỉ để giúp bà con, gia đình, nhưng gia đình là đơn vị căn bản của xã hội, nên viện trợ cho gia đình còn có nghĩa là viện trợ cho xã hội, do đó số tiền lớn lao nầy cũng đã nâng đỡ rất nhiều nền kinh tế hiện nay trong nước. (Năm 1975, để có thể tiếp liệu cho chiến trường, tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, xin chính phủ Hoa Kỳ viện trợ 300 triệu Mỹ kim, mà Quốc hội Hoa Kỳ từ chối.)

Về chính trị, CĐNVHN là những người tỵ nạn CS. Lập trường của đại đa số trong CĐNVHN là lập trường chống cộng. CĐNVHN luôn luôn vinh danh lá Cờ vàng ba sọc đỏ và đồng thời chận đứng sự xuất hiện của cờ CS. Nơi nào có cờ CS xuất hiện là CĐNVHN kiếm cách triệt hạ ngay.

Đặc biệt hơn, vào tháng 5-2004, Hội đồng hai thành phố Westminster và Garden Grove ở Little Sài Gòn đã ra “Nghị quyết không hoan nghênh” (Unwelcome Resolution) buộc cơ quan Cảnh sát địa phương phải thông báo cho Hội Đồng Thành phố trước mười bốn ngày để xin bảo vệ an ninh khi có phái đoàn chính thức của CHXHCNVN đến viếng thăm thành phố.

Ngoài ra, CĐNVHN theo dõi thật sát những diễn tiến chính trị ở trong nước, lên án những vụ vi phạm nhân quyền, những cuộc bắt giam tù nhân lương tâm của nhà nước cộng sản. Những cuộc vận động nầy phần nào tác động đến nhà cầm quyền CS, làm cho họ giảm bớt việc thủ tiêu, hay đàn áp đẫm máu những nhà tranh đấu đối lập như trước đây, đồng thời tạo nên điểm tựa tinh thần, yểm trợ những phong trào đòi hỏi dân chủ ở trong nước.

Ở hải ngoại, sống trên đất nước tự do, mỗi người có quyền tự do suy nghĩ, hành động độc lập, nên trong CĐNVHN có một thiểu số muốn “hòa giải hòa hợp” với cộng sản. Những người nầy có hai lý do: Hoặc họ cộng tác làm ăn với một số tổ chức nước ngoài đang qua Việt Nam đầu tư, nhất là từ khi chính phủ Hoa Kỳ bỏ cấm vận Việt Nam năm 1995. (Chính phủ hay thương nhân nước ngoài hành động theo quyền lợi của riêng họ.) Hoặc chính những người nầy trực tiếp về Việt Nam đầu tư kinh doanh, đưa sản phẩm về tiêu thụ, in ấn sách vở. Tốt nhất, những ai muốn hòa hợp hòa giải với chế độ cộng sản trong nước, nên đem vợ con, gia đình về hẳn trong nước sinh sống, thì sẽ có cơ hội tận hưởng được sự hòa hợp hòa giải nầy, chứ đừng ở nước ngoài xúi người khác làm những điều đầu môi chót lưỡi.

Bên cạnh đó, nhà nước cộng sản Việt Nam đang cố gắng tuyên truyền để triển khai thực hiện nghị quyết 36/NQ-TW ngày 26-3-2004 của Bộ Chính trị đảng CSVN, nhắm lôi cuốn người Việt định cư ở nước ngoài trở về hợp tác với nhà nước CSVN và chia rẽ CĐNVHN. Tuy nhiên, nghị quyết nầy không đạt được tác dụng như ý của CSVN vì qua tin tức gia đình, qua mạng lưới thông tin quốc tế, qua lời truyền miệng của những người đã từng về Việt Nam, CĐNVHN nắm biết rất rõ thực trạng độc tài, tham nhũng và nhất là hèn nhát đối với Bắc Kinh của chế độ hiện nay ở trong nước.

Về văn hóa, khi chiếm được miền Nam, Cộng sản Việt Nam đốt sách miền Nam, quyết tâm tiêu diệt nền văn hóa dân tộc cổ truyền còn được bảo lưu ở miền Nam, và thay thế bằng văn hóa Mác-xít. Ai cũng thấy rõ tình trạng văn hóa và giáo dục đang càng ngày càng suy đồi. Trong khi đó, ra nước ngoài, người Việt làm tất cả các cách phát huy nền văn hóa tự do, nhân bản, khai phóng cổ truyền của dân tộc. Trên nền tảng văn hoá dân tộc, người Việt hải ngoại còn được thêm cơ hội học hỏi, nghiên cứu văn hóa các nước trên thế giới, tạo thành dòng văn hóa và văn học Việt Nam hải ngoại hết sức sinh động.

Ngoài sự tiếp xúc văn hóa trong đời sống bình thường giữa người Việt trong và ngoài nước (thăm viếng, du lịch), dòng văn hóa và văn học Việt Nam hải ngoại được đưa lên các mạng lưới toàn cầu, truyền về trong nước, góp phần làm dồi dào đời sống văn hóa trong nước, giúp mở mang kiến thức giới trẻ, vốn bị CS nhồi sọ trong nền văn hóa Mác-xít.

Cộng đồng Người Việt tại Úc biểu tình phản đối Trung cộng
Nguồn: OntheNet


Kết luận

Sự thành lập CĐNVHN là một hiện tượng đặc biệt trong lịch sử Việt Nam. Đặc biệt vì các lý do sau đây:

Thứ nhất, thông thường, khi chiến tranh xảy ra, người ta bỏ xứ đi nơi khác để tránh lửa đạn; đến khi hòa bình trở lại, người ta hồi hương về chốn cũ. Đàng nầy, sau ngày 30-4-1975, chiến tranh chấm dứt, hòa bình trở lại mà người Việt lại bỏ xứ ra đi hết sức đông đảo. Đây là nghịch lý thứ nhất.

Thứ hai, nghịch lý thứ hai là khi người Việt bỏ nước ra đi, nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam ngăn chận, bắn giết, tù đày, ngược đãi, sỉ nhục, chửi mắng những người di tản và vượt biên. Ngay ngày 30-4-1975, Trịnh Công Sơn đã lên đài phát thành Sài Gòn gọi những người di tản là “phản quốc”. Trong khi đó, khi được tái định cư ở một nước khác, người Việt nhanh chóng xây dựng đời sống mới. Chẳng những đóng góp cho quê hương thứ hai của mình, chính những người Việt bị gọi là phản quốc đó đã gởi tiền về cứu giúp thân nhân trong nước, từ đó cứu vãn luôn nền kinh tế suy sụp bấp bênh của Việt Nam dưới chế độ cộng sản.

Thứ ba, khi ra nước ngoài từ 1975, nhờ cùng mẫu số chung là tỵ nạn cộng sản, người Việt hải ngoại dần dần tự động tập họp thành CĐNVHN. Càng ngày CĐNVHN càng phát triển, đưa đến nhiều ảnh hưởng quan trọng ngược về trong nước về kinh tế, chính trị, văn hóa, và thúc đẩy những thay đổi hiện nay ở trong nước.

Trước đây, trong lịch sử thế giới, những người Trung Hoa hải ngoại đã giúp nâng cao trình độ hiểu biết chính trị về thế giới của những người trong nước, ảnh hưởng rất nhiều đến cuộc Cách mạng Tân Hợi năm 1911. Sau đó, những người Ba Lan lưu vong từ năm 1945, đã cổ võ, viện trợ và thúc đẩy cuộc cách mạng ở Ba Lan vào cuối thập niên 80 vừa qua.

Với đà phát triển như hiện nay, chắc chắn CĐNVHN tiếp tục lớn mạnh và tiếp tục tác động mạnh hơn nữa vào xã hội trong nước, cũng như tiếp tay với những phong trào đòi hỏi dân chủ ở trong nước, nhằm chấm dứt chế độ độc tài cộng sản, mới mong xây dựng một nước Việt Nam tự do, độc lập và phú cường.


Bài, do tác giả gởi. DCVOnline biên tập và minh hoạ. Chú thích của tác giả.

1. Đợt nầy đa số là người Việt gốc Hoa vượt biên, theo phong trào “bán chính thức”. Khoảng một nửa số qua Trung Quốc, lúc đó đang đối đầu với Việt Nam cộng sản. Số còn lại qua Hồng Kông và các đảo Đông Nam Á.
2. Người Việt Trẻ, “Người Việt tỵ nạn và định cư”, bài 3: “Các làn sóng tỵ nạn Việt Nam”, Người Việt Online, California, ngày 28-10-2004.
3. http://en.wikipedia.org/wiki/Orderly_Departure_Program
4. Phan Đức Thông, “Những làn sóng người Việt định cư tại Hoa Kỳ” (http://www.ninh-hoa.com/LuatDiTruNhungLansongTiNan.htm)
5. David Lamb, “Children of the Vietnam War”, Smithsonian Magazine, Washington DC, June, 2009. Tạp chí nầy được đưa lên web site: http://www.smithsonianmag.com/people-places. Bài báo nầy cho biết số con lai khoảng 26,000 người đi cùng với gia đình và bà con khoảng 75,000 người. Theo tác giả Huỳnh Kim Khánh (New Jersey) viết ngày 17-7-2004, Đàn Chim Việt Online Edition đăng lại ngày 28-11-2010 thì từ 1979 đến 1999 những ngơời đến Hoa Kỳ theo chương trình con lai là 89.700 người
6. Wikipedia, “Người Việt ở Mỹ”. Năm 2007, tổng dân số Hoa Kỳ là 301 triệu. Năm 2010, tổng dân số Hoa Kỳ là 308, 745, 538 người.
7. Diễn đàn sinh viên Quân y, , bài “Tin tức thời sự: Khuyên các cụ”.

——————————————

*10-2-2013

Richard Holbrooke (1941 – 2010)

nhà ngọai giao lỗi lạc & nhà báo tài năng

Nhân đọc sách: The Unquiet American

Richard Holbrooke in the world

Edited by :  Derek Chollet & Samantha Power

Published by : Public Affairs, New York 2011

(Sách nguyên tác tiếng Anh dày 383 trang, bìa cứng)

Có bản E Book : www.publicaffairsbooks.com

*     *     *

Richard Holbrooke

Richard Holbrooke là một nhân vật kiệt xuất trong nền ngọai giao hiện đại của nước Mỹ. Ông còn là một nhà báo ngọai hạng được sự mến chuộng và tin tưởng của giới truyền thông báo chí. Không may, ông mất sớm vào cuối năm 2010, khi mới có 69 tuổi đang lúc còn làm việc trong chính quyền của Tổng thống Barack Obama. Bao nhiêu nhân vật lãnh đạo trong chính giới của Mỹ và của nhiều quốc gia trên thế giới đã bày tỏ lòng thương tiếc trước sự ra đi của một chính khách lỗi lạc này.

Riêng đối với số đông người tỵ nạn từ Đông Dương, thì Richard Holbrooke có thể coi như là một vị ân nhân thật đáng quý – bởi lý do ông là một người đã tận tình tranh đấu thuyết phục được Quốc Hội Mỹ chấp thuận cho nhập cư vào nước Mỹ mỗi năm 144,000 người chạy thóat khỏi chế độ độc tài cộng sản sau ngày 30 tháng 4 năm 1975.

Ngay sau khi ông mất, các bạn hữu thân quen đã hợp lại với nhau để cùng viết về những kỷ niệm sâu sắc với ông và cuốn sách được thành hình do sự biên tập chu đáo của hai nhà báo tên tuổi là Derek Chollet và Samantha Power.

Cuốn sách được xuất bản vào cuối năm 2011 với nhan đề chính là: “The Unquiet American” (Người Mỹ Không Thầm Lặng). Đó là do dụng ý của các tác giả khiến chúng ta nhớ đến cuốn sách có tên tương tự là: “The Quiet American” (Người Mỹ Thầm Lặng) của nhà văn nổi tiếng người Anh là Graham Greene – được xuất bản hồi giữa thập niên 1950 và đã hai lần được xây dựng thành phim vào năm 1958 và 2002 – (bản tiếng Pháp có nhan đề là: “Un Américain bien tranquille” được nhiều bà con ở Việt nam biết đến)

Trước khi giới thiệu chi tiết về cuốn sách, xin mời bạn đọc xem qua về tiểu sử của Richard Holbrooke.

I – Sơ lược về tiểu sử của Richard Holbrooke.

Sinh trưởng năm 1941 tại New York trong một gia đình mà cha mẹ có nguồn gốc Do Thái di cừ từ nước Nga sau cuộc cách mạng Bolshevik, Richard Holbrooke sớm có năng khiếu về ngành báo chí và bang giao quốc tế. Cha ông là một bác sĩ, nhưng không may bị mất sớm lúc Richard mới có 15 tuổi. Nhưng theo ý nguyện của cha, cậu đã siêng năng học tập và được học bổng để theo học tại Đại học danh tiếng Brown và đã sớm tham gia cộng tác với tờ nhật báo của Đại học này; đó là một tờ báo mà ít có một đại học nào có thể duy trì nổi.

Từ hồi còn theo bậc trung học, Richard kết thân với David Rusk là con của vị Giáo sư nổi danh Dean Rusk – mà sau này là Bộ trưởng Ngọai giao dưới thời các vị Tổng thống Kennedy và Johnson. Gia nhập ngành ngọai giao, Richard Holbrooke được bổ nhiệm tới làm việc ở Việt nam vào tháng 6 năm 1963, chỉ vài tuần sau cuộc tự thiêu của Hòa thượng Thích Quảng Đức ở Saigon. Các bạn đồng sự với Richard ở Việt nam vào thập niên 1960 như Tony Lake, John Negroponte v.v… mà nhiều giới chức Việt nam hay có dịp gặp gỡ tiếp xúc – thì sau này đều trở thành những nhân vật quan trọng trong chức vụ Cố vấn An ninh bên cạnh Tổng thống hay Đại sứ Mỹ tại Liên Hiệp Quốc.

Là chuyên viên có tài năng và nhiều kinh nghiệm, Richard Holbrooke đã  gặt hái được nhiều thành tích đáng kể trong lãnh vực ngọai giao dưới thời các vị Tổng thống thuộc Đảng Dân chủ – cụ thể như là Phụ tá Ngọai trưởng đặc trách về Á châu dưới thời Tổng thống Jimmy Carter, rồi làm Đại sứ Mỹ tại Liên Hiệp Quốc dưới thời Tổng thống Bill Clinton. Richard Holbrooke đặc biệt nổi danh và được nhiều người đánh giá cao trong công cuộc giàn xếp ổn thỏa cho vụ tranh chấp đẫm máu tại Bosnia thuộc Liên bang Nam Tư cũ – mà cụ thể là Thỏa ước Hòa bình được ký kết giữa các bên lâm chiến tại thành phố Dayton trong tiểu bang Ohio vào năm 1995 (Dayton Peace Agreement). Sau này, ông đã viết cuốn Hồi ký về chuyện này với nhan đề : “To End a War”, cuốn sách đã trở thành một thứ sách bán chạy nhất (bestseller).

Ông cũng còn là một nhà báo có tên tuổi với nhiều bài viết được đăng tải trên các tờ báo và tạp chí nổi tiếng như New York Times, Washington Post v.v… Đặc biệt ông còn làm Chủ bút trong nhiều năm cho tạp chí Foreign Policy (từ 1972 đến 1977). Cuốn sách khác ông viết chung với một người khác với nhan đề “Counsel to the President” cũng là một bestseller nữa.

Trong lãnh vực kinh doanh, Richard Holbrooke cũng giữ vai trò điều hành cho hai cơ sở tài chính quan trọng là Crédit Suisse First Boston và Lehman Brothers. Lọai công việc trong ngành tài chính ngân hàng này đã đem lại cho ông một nguồn lợi tức đáng kể.

Trong lãnh vực từ thiện nhân đạo cũng như văn hóa xã hội, ông cũng tham gia tích cực với các tổ chức có quy mô họat động rộng lớn điển hình như Global Business Coaliton nhằm chống lại bệnh HIV/AIDS hay viện Hàn Lâm Mỹ tại Berlin là một trung tâm trao đổi văn hóa giữa hai dân tộc Mỹ – Đức.

Về cuộc sống riêng tư gia đình, Richard Holbrooke có hai bà vợ trước đã ly dị – và người vợ sau cùng của ông là Kati Marton cũng là một nhà báo và tác giả nổi danh xuất thân từ một gia đình tỵ nạn cộng sản vào giữa thập niên 1950 từ nước Hungary ở khu vực Trung Âu.

II – Giới thiệu tổng quát về cuốn sách.

A – Điểm qua về một số tác giả có bài đóng góp (Contributors)

Cuốn sách được phân bố trong 12 chương với tất cả là 12 tác giả viết bài đóng góp trong mỗi chương đều có tiêu đề riêng. Và trong mỗi chương đều có kèm theo nhiều bài báo của chính Richard Holbrooke viết trước đây trong thời gian gần 50 năm họat động sôi nổi trong nhiều lãnh vực đa dạng của ông.

Xin kê ra một số tác giả là những nhà báo và tác giả nổi danh :

* Trước hết là chính phu nhân Kati Marton đã viết bài Giới thiệu cho cuốn sách. Bà là tác giả của 7 cuốn sách, trong đó cuốn mới nhất có nhan đề là : “Enemies of the People” được đánh giá cao mà người viết đã có dịp giới thiệu vào năm 2011. Bà làm việc lâu năm cho hãng Truyền hình ABC News, National Public Radio và hiện là Giám đốc Ủy Ban Bảo Vệ Ký Giả. Người chồng trước của bà là Peter Jennings cũng là một nhà hướng dẫn chương trình thật tài ba và duyên dáng của hệ thống truyền hình ABC trong nhiều năm trước đây nữa.

* Hai Biên tập viên  (Editors) : Derek Chollet và Samantha Power thì cũng đều là những nhà báo cộng tác với các tờ Washington Post, Financial Times, The New Yorker, The New Republic. Riêng Samantha Power còn được giải thưởng Pulitzer vì cuốn sách “A Problem from Hell: America in the Age of Genocide”. Còn Derek Chollet thì là tác giả cuốn sách “The Road to Dayton Accords: A Study of American Statecraft”. Ông cũng là người sọan diễn văn cho Richard Holbrooke khi ông này làm Đại sứ Mỹ tại Liên Hiệp Quốc nữa.

* Strobe Talbott là Thứ trưởng Ngọai giao trong Nội các của Tổng thống Bill Clinton. Hiện ông là Chủ tịch của \Brookings Institution một thứ Think Tank danh tiếng của nước Mỹ.

* Jonathan Alter : Là nhà bỉnh bút cho Bloomberg View và có thời đã từng làm ký giả Phân tích Thời sự (Analyst) cho hệ thống Truyền hình NBC.

* Gordon Goldstein : Từng viết cho các báo NY Times, Washington Post, Newsweek và là tác giả cuốn sách nổi tiếng : “McGeorge Bundy & the Path to War in Vietnam”.

B – Liệt kê một sô chương đáng chú ý.

Nói chung, thì cuốn sách do những nhà báo có tên tuổi viết – mà tất cả lại đều có sự quý trọng, thông cảm và quen biết lâu năm với Richard Holbrooke – nên bài nào, chương nào cũng đem lại những mới lạ thích thú cho người đọc. Quả thật Holbrooke là một viên chức lỗi lạc đã có những đóng góp thật quý báu cho nền ngọai giao của nước Mỹ trong gần nửa thế kỷ gần đây.

* Riêng đối với người Việt chúng ta, thì nên chú ý đến hai chương III và IV có tiêu đề như sau :

Chương III : “Richard Holbrooke and the Vietnam War : Past and Prologue” do Gordon Goldstein viết trải dài trong 20 trang từ trang 76 đến 95, kèm thêm 5 bài viết của chính Holbrooke từ năm 1969 đến năm 2008 (trang 96 – 113).

Chương IV : “Asia in the Carter Years” trong đó có bài “Restoring America’s Role in Asia” do Richard Bernstein viết trải dài từ trang (116 đến 131) – kèm theo 4 bài do chính Holbrooke viết từ 1975 đến 2008 (trang 132 – 161).

* Ngòai ra, thì cũng nên chú ý đến các chương V, VI, VII, VIII và IX nói về các đề tài :

Chương V : Europe in the Clinton Years

Chương VI : Bosnia & Dayton

Chương VII : The United Nations

Chương VIII : Fighting HIV/AIDS

Chương IX : Afghanistan & Pakistan

III – Để tóm lược lại.

A – Cuốn sách chứa đựng rất nhiều thông tin vừa chính xác, vừa sinh động về cuộc đời và sự nghiệp của một nhân vật kiệt xuất trong ngành ngọai giao và truyền thông báo chí tại nước Mỹ trong vòng gần nửa thế kỷ gần đây. Đúng như tác giả Strobe Talbott đã viết trong bài đầu với nhan đề : “Thinker, Doer, Mentor, Friend”, quả thật Richard Holbrooke  là một con người có sự suy nghĩ chín chắn vững vàng, mà cũng là một người hành động khôn ngoan cương quyết. Ông cũng là một người cố vấn, hướng dẫn tận tình cho lớp đàn em đặc biệt trong ngành truyền thông báo chí, mà Richard cũng còn là một người bạn thân tình ngay thẳng chân thật. Ít có viên chức cao cấp nào trong chính phủ Hoa kỳ mà lại có được cảm tình quý mến sâu đậm của nhiều người trên khắp thế giới như là Richard Holbrooke.

B – Ngay từ thời còn theo học ở Đại học Brown, lúc mới ở tuổi 18 – 19, Richard đã biết tìm đến phỏng vấn lãnh tụ Alexander Kerensky năm 1959 ở San Francisco, ông này lúc đó đã 78 tuổi. Kerensky là lãnh tụ đầu tiên của nước Nga sau khi chế độ Sa Hòang bị lật đổ năm 1917 và chính ông đã phải sớm đào thóat khỏi chế độ Bolshevik y hệt như người cha của Richard vậy.

Năm 1960, Richard còn được tờ nhật báo của Đại học Brown cử đi Paris để theo dõi Phiên họp Thượng đỉnh Eisenhower với Khrushev, nhưng phiên họp bị bãi bỏ vì Khrushev viện cớ Mỹ cho phi cơ U-2 do Francis Gary Powers lái để do thám Liên Xô mà bị bắn hạ trên đất Nga. Nhờ nói thông thạo tiếng Pháp, nên Holbrooke dễ thành công trong công tác ngọai giao sau này ở Việt nam cũng như ở Âu châu.

C – Nhân tiện, cũng xin ghi chi tiết hơn về việc Holbrooke tranh đấu vận động với Quốc Hội Mỹ chấp thuận cho nhập cư mỗi năm 144,000 dân tỵ nạn từ Đông Dương. Tại trang 130 trong sách, nhà báo Richard Bernstein có tường thuật lại chứng từ của John Negroponte rằng : “Richard  Holbrooke có chỉ thị cho ông phải tìm cách thuyết phục Quốc Hội Mỹ chấp thuận nhận cho nhập cư mỗi tháng 12,000 dân tỵ nạn từ Đông Dương – như vậy mỗi năm tổng cộng là 144,000 người…” Lúc đó là vào năm 1978, Holbrooke đang là Phụ tá ngọai trưởng đặc trách về Á châu trong chính phủ Carter, nên ông đã tận tình lo lắng cho số phận người tỵ nạn chúng ta.  Dù nay ông đã quy tiên, tôi cũng xin được thay mặt cho các đồng bào tỵ nạn để bày tỏ lòng biết ơn sâu xa và chân thành đối với vị ân nhân đáng quý này vậy.

San Clemente California, Tháng Hai 2013

© Đoàn Thanh Liêm

© Đàn Chim Việt

http://www.danchimviet.info/archives/73111/richard-holbrooke-1941-2010/2013/02

——————————————

Bà Khúc Minh Thơ

nguon:  http://chungtoimuontudo.wordpress.com/category/tai-li%E1%BB%87u/tl-v%E1%BB%81-ba-khuc-minh-th%C6%A1-va-v%E1%BB%A5-ho/

————————

Robert Funseth

http://articles.latimes.com/1989-10-29/local/me-561_1_united-states

————————

15-10-1989

THE NATION; The Next Wave From Vietnam: A New Disability

——————–

http://www.vietnam.ttu.edu/exhibits/apahm/index.htm

Posted in Chien Tranh Viet Nam, Việt kiều-Lịch Sử hình thành-Cuộc Sống | 1 Comment »

Tai nạn Xe lủa cao tốc ở trung Quốc đã làm người dân gia tăng sự lo lắng về các tiêu chuẩn an toàn

Posted by hoangtran204 trên 26/07/2011

Trong khi chính quyền Hà Nội ca ngợi sự phát triển “thần kỳ” của Trung Quốc thiếu điều quỳ lạy, thì rất nhiều tai nạn lớn ở Trung Quốc đã bị chính quyền và giới truyền thông tìm đủ mọi cách che dấu rất kỹ, đến nổi  tờ báo của đảng CS Trung Quốc Nhân Dân Nhật  Báo vào tháng trước, đã không còn chịu đựng nổi, đành phải nói thẳng thắng và thành thật rằng: “đừng khoan dung cho sự che dấu các tai nạn nghiêm trọng”.

Tuần trước ở Trung Quốc có 4 cây cầu bị sập, rồi xe lửa cao tốc đang chạy thì chết máy và rồi bị một chiếc xe lửa cao tốc khác húc vào làm 43 người chết và 210 người bị thương.

Các tai nạn ở Trung Quốc là do các công trình được xây dựng một cách cẩu thả, do các nhà thầu TQ rút bớt các vật liệu xây dựng, do TQ đánh cắp các kỹ thuật xây dựng và phát minh của các nước phương Tây nên không nắm rõ được các chi tiết tinh vi khi thực hành…Nhưng dù cẩu thả đến thế, nhưng các công ty TQ hiện đang có dịp trau dồi tay nghề cho thuần thục mà vẫn kiếm được tiền nhờ chính phủ Việt Nam giúp đỡ.

Theo báo chí VN, trong suốt nhiều năm qua, các công ty Trung Quốc đã trúng thầu 95% các công trình xây dựng ở Việt Nam. Hiện nay các công ty Trung Quốc đang xây dựng cầu, xây dựng nhà máy điện, xây dựng đập thủy điện khắp cả nước, và  chính phủ VN cũng đang mon men nhờ Trung Quốc xây dựng đường tàu cao tốc vì…giá rẻ, và vì Trung Quốc gạ cho mượn tiền. Hy vọng bài báo nầy sẽ làm người dân VN ý thức hơn nữa về sự “giao trứng cho ác” của chính quyền Hà Nội.

Mời các bạn đọc bài dịch sau đây từ báo The New York Time

Tai nạn Xe lủa cao tốc ở trung Quốc đã làm người dân gia tăng sự lo lắng về các tiêu chuẩn an toàn

Zhaoyun/European Pressphoto Agency

Ít nhất có 43 người đã chết gần Wenzhou khi hai xe lửa đụng nhau.  Có nhiều điều mập mờ về nguyên nhân gây ra tai nạn nầy.

By IAN JOHNSON
Published: July 24, 2011

Tai nạn xe lửa cao tốc ở Trung Quốc gây thiệt mạng 43 người và bị thương 210 người vào tối thứ Bảy 23-7-2011 vì chiếc xe nầy đang chạy thì bị chết máy và rồi sau đó bị một chiếc xe lửa khác húc vào phía sau.

6 toa xe lửa cao tốc đã bị trật đường rầy và 4 toa rơi xuống cầu (cạn) trong tai nạn nầy làm 210 người bị thương.

Chủ tịch  Hồ Cẩm Đào tuyên bố phải ưu tiên cứu người bị nạn. Chính quyền thông báo là chịu trách nhiệm lỗi lầm về tai nạn đã xảy ra và đã đuổi việc 3 nhân viên cao cấp thuộc bộ đường sắt.

Bộ trưởng đường sắt đã bị các phóng viên báo chí rất giận dữ dồn vào góc tường vì trước đó ông đã tránh né các cuộc phỏng vấn. Ông bộ trưởng nầy mới lên nhận chức trong năm nay vì ông bộ trưởng đường sắt tiền nhiệm đã bị đuổi vì tham nhũng.

Các báo cáo tại hiện trường cho hay là bộ đường sắt đang vội vả chôn dấu các bộ phận của các chiếc xe lửa gần nơi xảy ra tai nạn, ngay lập tức các nhà chỉ trích nói rằng các mảnh vở nầy cần được xem xét một cách cẩn thận để tìm ra các nguyên nhân của sự hư hỏng máy móc. Nhưng ông bộ trưởng đường sắt cho rằng các xe lửa cao tốc nầy chứa đựng  kỹ thuật rất có giá trị cao ở mức độ quốc gia, các kỹ thuật nầy có thể bị đánh cắp và vì thế nên cần được chôn giấu ngay! Mặc dầu các công ty nước ngoài từ lâu nay đã phàn nàn rằng kỹ thuật đường xe lửa cao tốc của họ đã bị Trung Quốc ăn trộm.

Nhiều điều mập mờ đã xuất hiện thông qua các nổ lực để cố dàn dựng chẳng hạn như thiên nhiên là nguyên nhân gây ra tai nạn. Vào đêm thứ Bảy sau khi tai nạn xảy ra, Thông tấn xã Xinhua của nhà nước nói rằng xe lửa cao tốc đã bị mất điện sau khi bị sét đánh và rồi các đài truyền hình thi nhau đưa các hình ảnh sét đánh trong vùng có tai nạn. Nhưng về sau, thông tấn xã Xinhua lại loan tin là chiếc xe lửa cao tốc đang chạy thì bị chết máy, và rồi sau đó chiếc xe lửa cao tốc thứ nhì đã đụng vào chiếc kia.  Và thông tấn xã Xinhua đã không cắt nghĩa được tại sao các đèn tín hiệu đã không làm cho chiếc xe lửa cao tốc thứ nhì ngừng lại trước khi đụng vào chiếc thứ nhất!

Vụ xe lửa cao tốc đụng nhau chỉ là một trong các tai nạn liên quan đến hệ thống giao thông công cộng trong tuần qua. Vào ngày thứ Sáu, một xe buýt chở quá nhiều người đã bị hỏa hoạn và làm 41 người chết tại tỉnh  Hồ Nam (Henan Province), một thang cuốn trong một trạm xe lửa ở Bắc Kinh đã bị đổ sụm xuống làm cho một người chết và 28 người bị thương. Và chỉ trong vòng 1 tuần trước, đã có 4 chiếc cầu bị sập ở nhiều thành phố khác nhau ở Trung Quốc.

Trong một bài xã luận được viết thành thật một cách bất thường vào tháng trước trên tờ  Nhật báo Nhân Dân của đảng, một nhà bình luận nói rằng  nhiều tai nạn đã bị che dấu nhưng đất nước nầy cần phải:  “đừng khoan dung cho sự che dấu các tai nạn nghiêm trọng” chẳng hạn như một vụ rò rỉ dầu rất lớn đã bị che dấu không cho công luận hay biết gì hết trong hơn một tháng trời.

Lo ngại rằng tính minh bạch và an toàn đã trở thành thứ yếu so với mối quan tâm khác đang xuất hiện trong nhiều mạng xã hội Weibo đăng vào ngày Chủ nhật.  Cụ thể, một blogger  đã đăng lời kêu gọi hùng hồn cho việc cần chăm sóc và thận trọng hơn trong phát triển nhanh chóng của Trung Quốc: “Trung Quốc, xin vui lòng dừng bớt tốc độ phát triển như bay của bạn, hãy chờ đợi cho người dân của bạn theo kịp, chờ đợi cho linh hồn của đất nước theo kịp, chờ đợi cho đạo đức của bạn theo kịp đà tiến triển, hãy chờ cho lương tâm của bạn theo kịp! Không để cho tàu chạy trật đường rầy, không để cầu bị sụp đổ, không để cho những con đường trở thành cạm bẫy, không để cho ngôi nhà trở thành những đống gạch vụn. Hãy phát triển một cách từ từ, cho phép mọi người có được sự tự do và nhân phẩm. Không ai bị bỏ lại phía sau bởi thời đại chúng ta. ”

The New York Times

The train wreck happened near Wenzhou.

BEIJING — A deadly train accident in eastern China has added to a national sense of unease that safety may have been sacrificed in the country’s rush to modernize.

By Sunday evening, 43 bodies had been recovered from the wreckage near Wenzhou, where a high-speed train that had lost power was struck from behind by another train on Saturday night, the official Xinhua news agency reported. Six cars derailed and four fell off a viaduct in the accident, which also injured 210 people.

In official, government-approved accounts of the accident, officials moved quickly to take charge of the situation. On Sunday morning, President Hu Jintao declared that rescue efforts were a top priority. The government also announced that three senior officials in the Railway Ministry had been fired. The railway minister was said to have taken charge of the rescue operation.

But competing narratives already began emerging Sunday. On the feisty microblogging site Sina Weibo, postings said that the minister, Sheng Guangzu, who took over this year when his predecessor was fired for corruption, had been cornered by angry journalists after he dodged interview requests.

Other reports on the site said the ministry was burying parts of the wrecked trains near the site, prompting critics to say that the wreckage needed to be carefully examined for causes of the malfunction. The Railway Ministry said the trains contained valuable “national level” technology that could be stolen and thus must be buried — even though foreign companies have long complained that the technology was actually stolen from their trains.

More confusion emerged over efforts to portray nature as the culprit in the accident. Xinhua reported Saturday that the first train lost power when it was hit by lightning, and national television broadcasts emphasized pictures of lightning storms in the area. But later reports by Xinhua said the supposedly stalled train was under way when it was struck by the other train. Also left unexplained was why railway signals did not stop the second train before it hit the first one.

An editorial with the headline “No Development Without Safety” on People’s Net, the government-run Web site affiliated with the party’s leading newspaper, People’s Daily, said the Railway Ministry had warned of the risks of lightning in a notice four days before the crash. It said new procedures were needed to prevent accidents. But it noted that these measures had not been put into effect, implying that the railway had no emergency plans for trains struck by lightning.

The editorial also made a broader point that spoke to widespread public dissatisfaction over safety.

“From public transport safety to coal mine safety to food safety, these accidents show that theoretically there is no problem with the conception of safety plans,” the influential site said. “But they are not executed properly.”

The train collision was one of several high-profile public transportation accidents in China recently. Early Friday morning, 41 people were killed when an overloaded bus caught fire in central Henan Province. Earlier this month, an escalator at a new subway station in Beijing collapsed, killing one person and injuring 28. Last week alone, four bridges collapsed in various Chinese cities.

Signaling the official concern over growing public unease, the government issued a directive on Saturday calling for “intensified efforts in preventing major deadly accidents.”

The discussion of accidents in China, however, is haphazard. In an unusually frank editorial in People’s Daily this month, a commentator said that many disasters were covered up but that the country needed “zero tolerance for concealing major accidents,” like a large oil spill that was hidden from the public for more than a month.

Fears that transparency and safety have become secondary to other concerns was present in many Weibo postings on Sunday. One blogger in particular posted an eloquent appeal for more care and caution in China’s rapid development: “China, please stop your flying pace, wait for your people, wait for your soul, wait for your morality, wait for your conscience! Don’t let the train run out off track, don’t let the bridges collapse, don’t let the roads become traps, don’t let houses become ruins. Walk slowly, allowing every life to have freedom and dignity. No one should be left behind by our era.”

(sẽ dịch sau)

Text: Obama address on debt ceiling impasse

WASHINGTON (Reuters) – Following is the full text of President Barack Obama’s Monday evening address on the debt ceiling impasse in Washington, as prepared for delivery:

Good evening. Tonight, I want to talk about the debate we’ve been having in Washington over the national debt – a debate that directly affects the lives of all Americans.

For the last decade, we have spent more money than we take in. In the year 2000, the government had a budget surplus.

But instead of using it to pay off our debt, the money was spent on trillions of dollars in new tax cuts, while two wars and an expensive prescription drug program were simply added to our nation’s credit card.

As a result, the deficit was on track to top $1 trillion the year I took office. To make matters worse, the recession meant that there was less money coming in, and it required us to spend even more – on tax cuts for middle-class families; on unemployment insurance; on aid to states so we could prevent more teachers and firefighters and police officers from being laid off. These emergency steps also added to the deficit.

Now, every family knows that a little credit card debt is manageable. But if we stay on the current path, our growing debt could cost us jobs and do serious damage to the economy. More of our tax dollars will go toward paying off the interest on our loans. Businesses will be less likely to open up shop and hire workers in a country that can’t balance its books. Interest rates could climb for everyone who borrows money – the homeowner with a mortgage, the student with a college loan, the corner store that wants to expand. And we won’t have enough money to make job-creating investments in things like education and infrastructure, or pay for vital programs like Medicare and Medicaid.

Because neither party is blameless for the decisions that led to this problem, both parties have a responsibility to solve it. And over the last several months, that’s what we’ve been trying to do. I won’t bore you with the details of every plan or proposal, but basically, the debate has centered around two different approaches.

The first approach says, let’s live within our means by making serious, historic cuts in government spending. Let’s cut domestic spending to the lowest level it’s been since Dwight Eisenhower was President. Let’s cut defense spending at the Pentagon by hundreds of billions of dollars. Let’s cut out the waste and fraud in health care programs like Medicare – and at the same time, let’s make modest adjustments so that Medicare is still there for future generations. Finally, let’s ask the wealthiest Americans and biggest corporations to give up some of their tax breaks and special deductions.

This balanced approach asks everyone to give a little without requiring anyone to sacrifice too much. It would reduce the deficit by around $4 trillion and put us on a path to pay down our debt. And the cuts wouldn’t happen so abruptly that they’d be a drag on our economy, or prevent us from helping small business and middle-class families get back on their feet right now.

This approach is also bipartisan. While many in my own party aren’t happy with the painful cuts it makes, enough will be willing to accept them if the burden is fairly shared.

While Republicans might like to see deeper cuts and no revenue at all, there are many in the Senate who have said “Yes, I’m willing to put politics aside and consider this approach because I care about solving the problem.” And to his credit, this is the kind of approach the Republican Speaker of the House, John Boehner, was working on with me over the last several weeks.

The only reason this balanced approach isn’t on its way to becoming law right now is because a significant number of Republicans in Congress are insisting on a cuts-only approach – an approach that doesn’t ask the wealthiest Americans or biggest corporations to contribute anything at all. And because nothing is asked of those at the top of the income scales, such an approach would close the deficit only with more severe cuts to programs we all care about – cuts that place a greater burden on working families.

So the debate right now isn’t about whether we need to make tough choices. Democrats and Republicans agree on the amount of deficit reduction we need. The debate is about how it should be done. Most Americans, regardless of political party, don’t understand how we can ask a senior citizen to pay more for her Medicare before we ask corporate jet owners and oil companies to give up tax breaks that other companies don’t get.

How can we ask a student to pay more for college before we ask hedge fund managers to stop paying taxes at a lower rate than their secretaries? How can we slash funding for education and clean energy before we ask people like me to give up tax breaks we don’t need and didn’t ask for?

That’s not right. It’s not fair. We all want a government that lives within its means, but there are still things we need to pay for as a country – things like new roads and bridges; weather satellites and food inspection; services to veterans and medical research.

Keep in mind that under a balanced approach, the 98% of Americans who make under $250,000 would see no tax increases at all. None. In fact, I want to extend the payroll tax cut for working families. What we’re talking about under a balanced approach is asking Americans whose incomes have gone up the most over the last decade – millionaires and billionaires – to share in the sacrifice everyone else has to make. And I think these patriotic Americans are willing to pitch in. In fact, over the last few decades, they’ve pitched in every time we passed a bipartisan deal to reduce the deficit. The first time a deal passed, a predecessor of mine made the case for a balanced approach by saying this:

“Would you rather reduce deficits and interest rates by raising revenue from those who are not now paying their fair share, or would you rather accept larger budget deficits, higher interest rates, and higher unemployment? And I think I know your answer.”

Those words were spoken by Ronald Reagan. But today, many Republicans in the House refuse to consider this kind of balanced approach – an approach that was pursued not only by President Reagan, but by the first President Bush, President Clinton, myself, and many Democrats and Republicans in the United States Senate. So we are left with a stalemate.

Now, what makes today’s stalemate so dangerous is that it has been tied to something known as the debt ceiling – a term that most people outside of Washington have probably never heard of before.

Understand – raising the debt ceiling does not allow Congress to spend more money. It simply gives our country the ability to pay the bills that Congress has already racked up.

In the past, raising the debt ceiling was routine. Since the 1950s, Congress has always passed it, and every President has signed it. President Reagan did it 18 times. George W. Bush did it 7 times. And we have to do it by next Tuesday, August 2nd, or else we won’t be able to pay all of our bills.

Unfortunately, for the past several weeks, Republican House members have essentially said that the only way they’ll vote to prevent America’s first-ever default is if the rest of us agree to their deep, spending cuts-only approach.

If that happens, and we default, we would not have enough money to pay all of our bills – bills that include monthly Social Security checks, veterans’ benefits, and the government contracts we’ve signed with thousands of businesses.

For the first time in history, our country’s Triple A credit rating would be downgraded, leaving investors around the world to wonder whether the United States is still a good bet.

Interest rates would skyrocket on credit cards, mortgages, and car loans, which amounts to a huge tax hike on the American people. We would risk sparking a deep economic crisis – one caused almost entirely by Washington.

Defaulting on our obligations is a reckless and irresponsible outcome to this debate. And Republican leaders say that they agree we must avoid default. But the new approach that Speaker Boehner unveiled today, which would temporarily extend the debt ceiling in exchange for spending cuts, would force us to once again face the threat of default just six months from now. In other words, it doesn’t solve the problem.

First of all, a six-month extension of the debt ceiling might not be enough to avoid a credit downgrade and the higher interest rates that all Americans would have to pay as a result. We know what we have to do to reduce our deficits; there’s no point in putting the economy at risk by kicking the can further down the road.

Posted in Tham Nhung-Hoang Phí- Ăn Cắp | Leave a Comment »

Cuộc Biểu Tình ngày 25-7-2011 vẫn diễn ra ở Hà Nội…

Posted by hoangtran204 trên 25/07/2011

Cách đây 1 tuần, nhiều nguồn tin trong và ngoài nước đã tiên đoán rằng: cuộc biểu tình sẽ không xảy ra vào ngày 25-7-2011.

Trên tuần báo Time số ra ngày 18-7, Helen Clark viết rằng: “Các cuộc tụ tập và phản đối chính trị đều không được chính phủ Việt Nam đồng ý tán thành và không phổ biến ở Việt Nam. Khi chúng xảy ra, thường đó là để bày tỏ sự bất bình về các vần đề có tính cách địa phương như chiếm đất, lương bổng, hay sự tàn bạo của công an. Và thực vậy, chính quyền Việt Nam sẽ không còn dung thứ làn sóng biểu tình hiện nay”.

Giáo sư Carl Thayer, một nhà chuyên gia về các vấn đề liên quan đến Việt Nam của Học viện Quốc Phòng Úc, đã tiên đoán rằng: “bất cứ ai tham gia vào cuộc biểu tình vào ngày 25-7-2011 sẽ bị bắt giữ”.

Sáng chủ nhật 25-7-2011, công an Hà Nội đã  bố trí 5-6 xe buýt  đậu quanh gần khu vực của Tòa Đại Sứ Trung Quốc và nhiều người đoán là để bắt người biểu tình như họ đã từng làm vào tuần trước.  Cùng lúc ấy, xe công an đi tuần quanh đường phố phát loa và treo biểu ngữ trên xe để báo cho mọi người biết  các cuộc biểu tình không xin phép là cản trở lưu thông và vi phạm luật pháp…

Tuy vậy, những đồng bào, nhân sĩ, trí thức, học sinh và sinh viên vẫn tiếp tục biểu tình hôm chủ nhật 25-7-2011. Đoàn biểu tình đã khôn ngoan tránh một cuộc chạm trán với công an bằng cách …đi trên lề đường vòng quanh Hồ Gươm.

Đoàn biểu tình mang đầy biểu ngữ và hô vang các khẩu hiểu: đả đảo  Trung Quốc, Hoàng sa và Trường Sa là của  Việt Nam, và rất nhiều người mang các tờ giấy khổ lớn, viết tên của các binh sĩ và sĩ quan đã tử trận trong các cuộc đánh nhau với Trung Cộng ở quần đảo Hoàng  Sa hồi năm 1974 và Trường Sa năm 1988.

Chính quyền Hà Nội có vẻ như đã bị bối rối và không thể bắt bớ người dân vì cuộc biểu tình đã diễn ra trên lề đường, vòng quanh Hồ Gươm, không ảnh hưởng gì đến lưu thông và nhất là không diễn ra ở khu vực Tòa  Đại sứ Trung Quốc.

Người biểu tình đã đạt được mục đích của họ vì tạo ra nhiều tiếng vang khi họ đi vòng quanh Hồ Gươm, nơi có nhiều người Việt  Nam qua lại và các du khách cũng đi lại nhiều hơn.

“Tiếp theo đây sẽ là phần tường thuật trực tiếp biểu tình  tại Hà Nội sáng nay …

6h45’: Trước hai đầu đường Hoàng Diệu dẫn tới ĐSQ TQ đã giăng dây ngăn không cho người vào. Trời Hà Nội mát mẻ sau 1 trận mưa rào nhỏ.

7h00’: Trước tượng đài Lý Thái Tổ nơi hình như dự định tổ chức tưởng niệm các liệt sĩ đã hy sinh trong trận Hoàng Sa, chiến tranh biên giới, Trường Sa, toàn bộ khuôn viên bờ hồ trước tượng “Quyết tử cho Tổ Quốc Quyết sinh” không khí thanh bình, không có một bóng công an.

TS Nguyễn Quang A cho biết ông đang bị công an quấy rầy, “…tối qua có  2 an ninh đến khuyên anh ngày mai không đi biểu tình“. Nhà văn Nguyễn Quang Lập: “Có thể rất nguy hiểm cho bác A. Các bác quen biết bác A nên gần gũi bác ấy trong lúc này“. KTS Trần Thanh Vân: “Anh NQA vẫn lên đường. Đề nghị giữ liên lạc. Nếu có “sự cố xẩy ra”, chắc tuần tới sẽ có chuyện vui? Có điều, ta đừng oán giận mấy đ/c cán bộ tổ dân phố, họ chẳng hiểu truyền thông mạng là gì? Còn báo bán trên sạp? Ôi báo chí lề phải? Báo phục vụ ai nhỉ?

Độc giả Cao Vi Hiển: “Như vậy là Việt Nam ta đã, đang, sẽ có minh quân, có nhiều minh quân rồi bà con ơi ! Đọc lời anh Nguyễn Quang A kể thái độ của anh đối với việc an ninh đến nhà ngăn đi biểu tình sáng nay sẽ rỏ thêm. Xin nói rỏ tôi là đảng viên cộng sản, cán bộ hưu chứ không phải phản động nói đâu nha! Tiến sỹ A kính! Vì quá xa (Kon Tum) chưa có điều kiện chứ nếu ở Hà Nội thì tôi chạy ngay đến nhà anh rồi và sẽ đi biểu tình cùng anh. Tôi sẽ làm, làm tất cả vì tổ quốc, vì dân tộc cùng các anh. Chắc chắn”.

Một số trí thức nổi tiếng đã email động viên TS Nguyễn Quang A, như Nhà văn Nguyên Ngọc: “Kiên định và bình tĩnh. Sẵn sàng với mọi tình huống. Rất tin Quang A“. Bác Nguyễn Trung, cựu cố vấn Ban Nghiên cứu của Thủ tướng (Phan Văn Khải): “Mọi chuyện đều có thể xảy ra. Anh QA cần sẵn sàng đối mặt với tất cả, kiên định lòng yêu nước, nhưng dứt khoát đừng để mắc bẫy. Tất cả những người yêu nước đứng bên cạnh anh“.

8h00′: Chặn lối vào Sứ quán Trung Quốc trên đường Hoàng Diệu.

8h05′: Bắt đầu có một số công an, dân phòng trên sân trước tượng Lý Thái Tổ. Tại bãi đậu xe Bờ Hồ có khoảng 5-7 chiếc xe bus trống không, trên mũi xe để tấm bảng “Xe huy động“. Hic! Tức là để hốt người yêu nước đi tưởng niệm các liệt sĩ chớ gì?

8h20′: Không khí quanh vườn hoa Lenin đã khá căng thẳng, thấy cả vài bóng Kiểm soát Quân sự, nhiều nhân viên đồng phục áo tím, không biết lực lượng nào.

8h30′: Trước tượng Lý Thái Tổ đã có một đám đông khoảng 20 người và một số nhân viên an ninh, công an, trật tự.

8h40′: Đám đông nhiều thêm, họ đứng thành vòng tròn tay giơ cao những tờ giấy khẩu hiệu A4, công an loay hoay lúng túng.

 Không khí đang rất náo nhiệt rõ ràng đây là một địa điểm lý tưởng. Nhiều xe công an, xe gắn loa đang thông báo việc tụ tập phải xin phép chính quyền, nếu không sẽ bị xử lý theo pháp luật.

8h45’: Đoàn người bắt đầu diễu hành, ước khoảng hơn 200, đặc biệt dân chúng đi qua dừng lại theo dõi rất đông, Họ hô vang khẩu hiệu “Đả đảo Trung Quốc xâm lược!” Rõ ràng cách biểu tình như vậy rất hiệu quả, thay cho hơn 700 tờ báo quốc doanh đang câm lặng.

8h50′: Đoàn người đã lên tới khoảng 300, rất trật tự, tới Hàng Khay trên vỉa hè phía hồ, xe công an theo vài chiếc, loa inh ỏi, vui như trẩy hội, hiệu quả kinh người.

9h00’: Quanh khu vực SQ Trung Quốc vắng như Chùa Bà Đanh. Hic! Nhưng công an vẫn phải bao quanh. Bà con biểu tình yêu nước và nhà nước có…thêm kinh nghiệm!

Blogger Lê Dũng

 

9h10′: Đoàn biểu tình đang ngang qua Thủy Tạ tiếng hô dậy đất vô cùng náo nhiệt. Xin lỗi bà con, mạng chậm, đưa hình lên không kịp, nhiều quá trời.

TS Lê Đăng Doanh email chia sẻ, động viên TS Nguyễn Quang A :”Cám ơn anh Quang A đã chia sẻ thông tin. Có thể nhận định đây là một chiến thuật mới nhằm hạn chế hoạt động của anh. Mong anh cảnh giác, bình tĩnh và hành động cương quyết để tự bảo vệ mình. Chúng tôi luôn ở bên cạnh anh.“

TS Tô Văn Trường gửi email cho các bạn bè và TS Nguyễn Quang A: “Đọc ‘diễn văn của Tổng bí thư’, số phiếu bầu ở Quốc hội và thông tin mới nhất, công an đang tìm cách cản trở TS Nguyễn Quang A, một trong các trí thức tên tuổi hàng đầu ở VN có thể đoán được tình hình đất nước sẽ đi về đâu? Chưa có bao giờ trí thức và các nhà báo chân chính lại chịu nhiều thử thách cam go như ngày nay. Nếu những người ‘quét rác’  không phải ‘bới rác’ mà cũng bị ‘kìm tỏa’ thì chẳng còn gì để mà comment!

9h20′: Đoàn biểu tình đang ngang qua bãi đậu xe, trước tòa nhà Hàm Cá Mập. Vẫn hô vang khẩu hiệu “Đả đảo Trung Quốc xâm lược“. Xe công an chạy theo lóc nhóc, cả xe mô tô cảnh sát giao thông với loa phóng thanh trên ô tô dẹp đường.

9h25′: Ngang qua Cầu Thê Húc. Số người xem chừng đông hơn nữa, hô cả khẩu hiệu: “Giặc đến nhà đàn bà cũng đánh“, hiệu quả cổ động cực kỳ ‘ấn tượng’, nhiều phóng viên phương Tây, các khách du lịch ngoại quốc quan sát, chup hình rất đông, cho một kinh nghiệm: không đâu biểu tình hiệu quả bằng Bờ Hồ Gươm (hic! Trừ … Lăng … nha!)

9h30′: TS Lê Đăng Doanh gọi điện, rất lo lắng, cho biết ông gọi cho TS Nguyễn Quang A mà không thấy nghe máy, ông hỏi có thấy TS Quang A ngoài đó không. Theo BS thì, với tình hình này TS Quang A không nhất thiết phải ra, không khí đang tưng bừng, thành công lắm rồi. Chúng ta còn phải “Trường kỳ kháng chiến (chống bành trướng Bắc Kinh)…” cơ mà. Hơn nữa, cũng nên “chiều” nhà chức trách một chút thông cảm họ đang xính vính quá, mà thói đời thì ai cũng biết (lúng) túng (dễ) làm liều!

9h35′: Quanh khuôn viên SQ Khựa đã vắng  bóng công an nhưng vẫn ngăn đường qua cửa sứ quán.

9h40′: BS vừa gọi điện cho TS Nguyễn Quang A, nhưng không thấy ông nghe máy Nhân đây xin nói thêm: GS Chu Hảo và TS Nguyễn Quang A bữa qua cho biết, mấy ngày nay điện thoại di động của các ông rất hay bị chặn chiều gọi đi.

Nhà nghiên cứu Đinh Kim Phúc vừa cho biết, tình hình Sài Gòn đang “im ắng”. Rất đông an ninh, nên các nhóm biểu tình không thể ráp với nhau được.

9h50′: Nhà báo VVT từ trong Nam điện cho biết: ông vừa gọi vô nhà TS Quang A, vợ TS cho biết cháu nó vừa đưa ông ấy ra thì công an chặn giữ ông ấy, giờ gọi điện không thấy trả lời. Như vậy là TS Nguyễn Quang A đã bị giữ trái phép?

9h51’: Nguyễn Văn Phương cho biết: “đoàn biểu tình đã đi 1 vòng quanh Hồ Gươm. Không thấy TS Nguyễn Quang A có mặt. Đoàn đông khoảng 500-600 trăm người. Có 2 phụ nữ mặc áo dài. 9h50, vợ TS A cho biết, anh A đi từ sớm. Cháu chở anh A ra khỏi nhà khoảng 10m thì bị công an giữ anh A, cháu quay xe về nhà báo tình hình. Hiện giờ vợ anh A chưa liên lạc được với chồng, không biết số phận anh ra sao, rất lo lắng”.

10h00’: Gọi điện cho TS Quang A, ông cho biết đang trong đoàn biểu tình đã đi được 2 vòng. Hic! Ơn đảng ơn chánh phủ.

Độc giả Đăng Quang tường thuật bổ sung: “Tường thuật bổ xung vài chi tiết thấy trong cuộc BT hôm nay với ABS.

Tôi đi gần những hàng đầu đoàn BT,khoảng 10h kém thì thấy TS Nguyễn Quang A vượt lên phía đầu đoàn,trả lời phỏng  vấn của nữ phóng viên nước ngoài(Ông nói tiếng Anh?vì ồn ào  tôi không rõ)
đến 10h15,ông rời  đoàn BT,vòng ra ngoài nói chuyện với 1 cảnh sát áo xanh vài phút(có ảnh),sau không thấy ông nữa,có lẽ ông xuống phía cuối đoàn nói chuyện với 1 số nhân sĩ,khi đoàn về chỗ tượng đài Cảm tử lại thấy ông.
-Tiếp đó,LS Lê Quốc Quân trả lời phỏng vấn nữ phóng viên bằng tiếng Pháp.
-Có 1 cháu bé khoảng 2 tuổi ngước nhìn bác Trí Hải chơi đàn,Phạm Xuân Nguyên kiệu cháu này hẳn lên đầu(có ảnh).Một bác trai đội mũ phớt trắng đưa cho bác Trí Hải miếng sâm ngậm để tăng lực.Quá đã(Có ảnh).
Lúc đến tượng đài Cảm tử,thật cảm động khi không biết ai đã đặt 1 bình nước và 1số cốc nhựa gần đó,xế ra vỉa hè để kô làm ảnh hưởng tới đoàn,nhưng có lẽ vì vậy mà ít người biết để lấy uống.
-khoảng 11h kém,chị Hằng tay cầm  cốc nước,trả lời trước camera và 1,2 người nữa,có lẽ là nhân viên An Ninh.Thấy thái độ chị rất đàng hoàng,phát biểu mạch lạc,nhân viên công vụ gật gù,không tỏ phản ứng gì.Nhiệt liệt hoan hô chị Hằng .Nhiệt liệt!Nhiệt liệt!Nhiệt liệt.”

10h20′: Kẹt cứng tuyến phố Lê Thái Tổ mặc dù đường đôi Chiếc loa trên xe Cảnh sát vẫn ra rả Nghị định 38CP “Cưỡng chế người có hành vi vi phạm …

Hiện có 1.229 độc giả đang vào blog xem cập nhật tin tức biểu tình.

Video biểu tình:

10h25′: Đoàn biểu tình tiếp tục hướng về Thủy Tạ không khí vẫn cực kỳ sôi động. Du khách ngồi trên những chiếc xe điện du lịch chạy quanh Bờ Hồ tha hồ ngắm, chụp hình. Hề hề! Sẽ có hàng trăm “nhà báo nhân dân” thay cho đám báo quốc doanh đang ngậm miệng.

Đã có bức hình đầu tiên của TS Nguyễn Quang A sau khi đào thoát khỏi vòng tay của các đ/c “công an nhân dân“. Bên phải là Blogger Gốc Sậy-TS Nguyễn Hồng Kiên

“Tội đồ … yêu nước” đang kể với ký giả ngoại quốc về cuộc đào thoạt nghẹt thở của mình? Bên phải là LS Lê Quốc Quân

Chàng trai nào mê đắm thì hãy đọc “GÁC THÙ NHÀ, ĐÁP LỜI SÔNG NÚI” và … cùng cô xuống đường

Hic! Phóng viên lề trái làm lề phải thèm rỏ rãi …

Nguyễn Quang Thạch, kẻ khơi mào chương trình “Tủ sách dòng họ” và Phóng viên Hãng thông tấn Mỹ AP

Khác chính kiến, nhưng cùng hy sinh vì dân vì nước – họ phải được vinh danh như nhau

Đâu cần lắm lời “hòa giải, hòa hợp”, chỉ cần một hình ảnh này thôi, “ông Nhà nước ạ”!

Các anh hy sinh trong im lặng gần phần tư thế kỷ rồi!

“Cấm … ” đủ thứ, trừ …BIỂU TÌNH! Hề hề! Người dân được làm những gì Luật pháp không cấm.

Thay cho “Người phát ngôn” Nguyễn Phương Nga

Không phải là “ngụy”, anh là người anh hùng!

Đừng dọa đuổi học cháu, các chú công an nhé!

Anh Nguyễn Văn Phương, người đã đứng trước thềm Nhà hát Lớn Hà Nội đọc bản Tuyên cáo trong cuộc biểu tình ngày 10/7,  sau đó anh bị gây khó khăn rất nhiều trong cuộc sống

Rào sắt, mũi chông đâu phải để cản ngăn lòng yêu nước

Không biết có ông bà nghị nào lặng lẽ ra đón nhận dòng chữ này?

Ráng nín đi vệ sinh, không là lỡ dịp may ngàn năm có một!

10h30′: Có cả các cháu bé xíu, các cháu thiếu nhi đeo khăn quàng đỏ Hu hu! Các vị đại biểu Quốc hội đâu rồi ta? Có nhìn thấy gì không? Tội quá!

Xuân Bình, Nhà báo tự do, từng nổi lên trong cuộc biểu tình chống bành trướng Bắc Kinh năm 2007 khi cùng con trai tham gia (cũng như Nhà văn Trang Hạ, cùng con gái). Nhưng mấy cuộc biểu tình qua, không thấy anh. Nghe nói anh đã ký giấy không tham gia biểu tình? Bữa nay chắc chỉ đi “tác nghiệp”?

10h35′: Khoảng 300 người đi ngang nhà hàng Thủy Tạ, vẫn liên tục hô vang khẩu hiệu “Đả đảo Trung Quốc xâm lược!”

Người phụ nữ vận áo dài là chị Bích Hằng, nhân vật nổi bật trong cuộc biểu tình tuần trước qua đoạn video trên xe bus, từng bị mấy “chính khách sa-lông … gỗ” phê phán là ăn nói “man rợ”, “vô liêm sỉ”

Cớm chìm? Không phải! Mà là kẻ làm cớm chìm rất mệt – Blogger Người Buôn Gió

Có lẽ đây sẽ là bức hình đẹp, ấn tượng nhất cho cuộc biểu tình tuyệt diệu ngày 24/7/2011

10h50′: Đoàn biểu tình đang tập trung trước tượng đài “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”, khoảng 500-600 người, lực lượng công an vẫn rất đông, chỉ để dẹp trật tự, không nghe nói có vụ bắt bớ nào. Hic! Sự đời nhiều khi cũng hay, không biết có nên cảm ơn tay Đại úy Minh?

11h15′: Cuộc biểu tình đã kết thúc

11h55′: Lúc này tại quán cà phê Thủy Tạ đang có rất nhiều thành viên đoàn biểu tình trong đó có Nguyễn Tiến Nam Nguyễn Chí Đức

14h10′ – Vào hồi 13h40′, một cơn mưa rào rất lớn kéo dài 20 phút. Thật lạ! Có lẽ ông Trời và anh linh các liệt sĩ đã phù hộ cho những người dân yêu nước.

Hình ảnh vẫn đang được tiếp tục đưa lên …

Trong một diễn biến mới, các khẩu hiệu của cuộc biểu tình lần này đề nghị vinh danh cho các chiến sĩ Quân lực Việt Nam Cộng Hòa bị tàu Trung Quốc giết trong đợt tiến chiếm Hoàng Sa năm 1974, và các chiến sĩ Hải quân Quân Đội Nhân dân Việt Nam ở Trường Sa năm 1988.

Nhiều thanh thiếu niên, trí thức cầm biểu ngữ ghi tên các binh sĩ bị Trung Quốc giết trong hai trận hải chiến đọ́

Gs Lâm Quang Thiệp, cựu Vụ trưởng của Bộ Giáo dục và Đào tạo, nguyên Chủ tịch Hội đồng Giáo dục Quốc gia của Chính phủ; Gs Nguyễn Quang A,  Phạm Xuân Nguyên (mặc áo trắng)

Đây Là Con Gái Ông Trịnh Xuân Tùng , Người Đã Bị Công An Đánh Gãy Cổ

Cô là Trịnh Kim Tiến. Cha cô là Trịnh Xuân Tùng đã bị công an đánh gãy cổ và sau đó giam tại trụ sở công an phường Thịnh Liệt, quận Hoàng Mai (HN). Cuối cùng, ông đã qua đời ngày 8 tháng 3 năm 2011 tại Bệnh viện Việt – Đức. Hôm nay, cô gác tạm thù cha, xuống đường cùng đồng bào Hà Nội biểu tình phản đối TQ. Đây là lần thứ 5 cô tham gia các cuộc biểu tình chống Trung Quốc tại Hà Nội.

Nguyễn văn  Phương mặc áo đen, người ký tên và đọc kiến nghị muốn biết thứ trưởng Hồ Xuân Sơn

đã đồng ý điều gì với Trung Quốc về Biển Đông trong cuộc họp ngày 25-6-2011.

 

 

View Post

 

 

 
(mạng quá chậm, sẽ post hình sau)

Posted in Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa, Biểu Tình và Lập Hội | Leave a Comment »

►Hồi Ký của bác sĩ Lâm Hoàng Mạnh viết về cuộc sống thuyền nhân di tản qua Hồng Kong, qua Anh, và đặc biệt cuộc sống ở miền Bắc trước 1979

Posted by hoangtran204 trên 23/07/2011

Bác sĩ Lâm Hoàng  Mạnh tốt nghiệp Đại Học Y Khoa Hà Nội trước năm 1972. Ông hành nghề ở  ngoài Bắc cho đến năm 1979 thì phải nghĩ việc vì vụ trục xuất người gốc  Hoa ra khỏi Việt Nam.

Ông đi vượt biên qua Hồng  Kong, và sau đó được định cư ở Anh…Tác giả thường viết và đăng bài trên Talawas.org, với lối hành văn sáng sủa và câu văn rất ngắn gọn đã làm độc giả đọc say mê các bài hồi ký của ông. Các bạn có thể vào google.com và viết chữ “Bác sĩ Lâm  Hoàng  Mạnh” và search để tìm các bài viết về miền Bắc trước năm 1979.

Hồi ký của bác sĩ Lâm Hoàng Mạnh là tuyển tập đầy đủ của nhiều bài  được đăng trên talawas.

Đọc “Buồn Vui Đời Thuyền Nhân” của Lâm Hoàng Mạnh (I)

Uyên Thao

Lâm Hoàng Mạnh là một thuyền nhân và tập hồi ký Buồn Vui Đời Thuyền Nhân kể về cảnh ngộ mà bản thân người viết đã trải. Do đó, tác phẩm chỉ ghi lại một phần hình ảnh cực nhỏ của khu rừng có tên Thuyền Nhân mà Michelle Tauriac từng than dài trong tác phẩm Viet Nam Le Dossier Noir Du Communism: “Biết đến bao giờ người ta mới hiểu hết những bất hạnh đã xẩy ra quanh danh từ đó.”

Nhà văn Pháp Michelle Tauriac thông thạo tiếng Việt, sống nhiều năm tại Việt Nam, từng gặp gỡ nhiều thành phần xã hội từ các cấp lãnh đạo hai miền đến người vơ vất trên vỉa hè các thành phố, người lưu lạc tại các vùng đất xa xôi ở trời Tây nên có cả một kho dữ liệu so với số vốn thực tế trong giới hạn bản thân của Lâm Hoàng Mạnh. Với tầm mức đó, Michelle Tauriac vẫn cất tiếng than như vậy thì không thể đòi hỏi Lâm Hoàng Mạnh phải lấp biển vá trời để vẽ lại mọi nét vui buồn của hàng triệu thuyền nhân.

Nhưng Lâm Hoàng Mạnh có ưu thế trải nghiệm thực tế Việt Nam, kể cả chịu dập vùi giữa biển cả để không chỉ cất lên tiếng nói chứng nhân mà còn là tiếng nói nạn nhân. Vì thế, qua Buồn Vui Đời Thuyền Nhân, ngưởi đọc không chỉ tới với các cảnh đời lưu lạc mà còn nhiều lần đối diện với đời sống Việt Nam — cũng chính là lời minh giải trực tiếp một phần nguồn cội đưa đến tấn thảm kịch thuyền nhân không riêng trong lịch sử Việt Nam mà là lịch sử chung của nhân loại.

Tác phẩm của Lâm Hoàng Mạnh đã đưa người đọc về với nhiều cảnh sống mà chỉ người từng sống tại Việt Nam mới tin nổi là chuyện thực. Chẳng hạn chuyện rất nhỏ xẩy ra tại các cửa hàng ăn mậu dịch quốc doanh:

“… Ở thị xã Thái Bình, cửa hàng ăn mậu dịch quốc doanh rất khang trang. Một Chủ Nhật hè năm 1963, sau khi dạo chơi, hai thằng chúng tôi rẽ vào, mua mỗi thằng một tô phở 5 hào.
Tôi vừa bưng ra đặt xuống bàn, một lỏi tỳ khoảng 6 hay 7 tuổi nhổ ngay bãi nước bọt vào bát phở.Tát nó à? Nó bé quá, không nỡ. Thôi, xin biếu bố trẻ.Thằng bạn tôi, số phận chẳng hơn gì.Vừa lấy thìa húp tí nước dùng, ba ngón tay đen ngòm, toàn đất cát thò ngay vào, bốc luôn miếng thịt bò trong bát, bỏ mồm.Cũng đành đứng dậy, thôi nhường bố trẻ luôn.Chiêu này diễn lại đều đều, các chị các cô phục vụ đuổi không xuể vì chúng khá đông…
Cửa hàng ăn phố Hoàng Văn Thụ, thành phố Nam Định cũng có lũ lỏi tỳ kiếm ăn… Chúng tụ tập trước cửa, mỗi đứa một cái vung nồi đất, vừa làm bát xin ăn vừa chơi trò xoay vung coi vung nồi đứa nào xoay lâu nhất…Khách mua bát phở, hai đứa kèm hai bên, chìa hai vung nồi, “anh ơi, chú ơi, ông ơi, chị ơi… cho cháu xin một tí, nước không cũng được.”

Làm thế, bố ai nuốt nổi. Thôi nhường cho mấy bố trẻ.

Kiếp trước chắc nợ các bố, vừa bảnh mắt đã bị ám.”

Thực tế khó tin này đã là chuyện bình thường và phổ biến vì toàn xã hội bị kiểm soát nghiệt ngã về cả chuyện ăn uống hàng ngày của mọi người với tên gọi chế độ tem phiếu.

“Nếu tôi nhớ không nhầm, chế độ tem phiếu bắt đầu từ 1959 hay 1960. Hè năm ấy, bọn học sinh Hải Phòng chúng tôi được thành phố trưng dụng đi làm sổ gạo …Mỗi ngày đi làm, ủy ban hành chính phường trả công 6 hào, ăn bữa cơm trưa tập thể mất 5 hào, còn dư 1 hào chỉ đủ mua 1 que kem hay 2 bát nước chè xanh. Lương mạt hạng, mặt mũi vẫn phải vui và tươi roi rói. Không đi có mà ăn đất! Đừng có mơ vào đại học hay trung cấp chuyên nghiệp. Lý lịch sẽ ghi: Có tư tưởng và hành động chống đối chủ nghĩa xã hội! Đời mờ! Đời tàn liền!”
Lâm Hoàng Mạnh kể lại chế độ tem phiếu chia người dân làm ba loại tuyệt đối tuân theo các tiêu chuẩn quy định.
Loại 1 gồm cán bộ, viên chức có tiêu chuẩn mua mỗi năm 5 mét vải, mỗi tháng từ 13 ký rưỡi gạo tới 25 ký và từ nửa ký thịt tới 2 ký rưỡi tuỳ chức vụ.
Loại 2 gồm người dân tại các đô thị lớn như Hà Nội, Hải Phòng … có tiêu chuẩn mua đồng đều mỗi năm 4 mét vải, mỗi tháng 13 ký rưỡi gạo và 100 gram thịt.
Tiêu chuẩn dành cho cán bộ cao cấp được giữ kín,
còn nông dân và người dân tại các thị trấn được xếp vào loại 3 không có tiêu chuẩn, kể cả trẻ em.

“Tất cả những người này là con số không tròn trĩnh.
Họ bị coi như công dân hạng 2 trong xã hội …Nhiệm vụ và quyền hạn của họ cũng như toàn dân Việt Nam, có thể tóm tắt trong 7 chữ vàng:
Đóng thuế – Đi lính – Câm cái mồm!Không tem phiếu, kể cả phiếu vải — động vật nên không cần quần áo?Mỗi xã có một cửa hàng Hợp Tác Xã Nông Nghiệp … chẳng có mặt hàng gì quý giá, chỉ có: cày, cuốc, mai, thuổng, bát đĩa loại phế phẩm, vài phong thuốc lào hạng bét. Thuốc lào Tiên Lãng, Hải Phòng không đến lượt. Đôi khi có nước mắm loại khắm và mặn chát, thỉnh thoảng có cá khô … mua về muối nhiều hơn cá vì nhân viên bán hàng trộn thêm muối để ăn cắp cá …Năm 1967, chúng tôi sang giảng cho lớp y sĩ xã, thấy các em ăn 1 phần cơm 3 phần sắn khô, có hôm ăn ngô răng ngựa — loại ngô dành cho gia súc, bung lên nở to gần bằng ngón tay cái — với canh rau muống nấu muối …”
Với cảnh sống đó, không có gì ngạc nhiên khi xuất hiện khắp nơi những đám trẻ nhỏ 5, 7 tuổi đã có mọi mánh khoé trộm cắp để kiếm miếng ăn. Thực ra, người lớn cũng không thể giữ nếp sống bình thường và ngay các thành phần được ưu đãi như giáo viên, bác sĩ … cũng phải tìm đủ cách kiếm thêm tiền để có thể mua chui một số thực phẩm:

“Thị xã tôi, Hoà Bình, thời ấy có 4 nghề kiếm tiền:
1– Vào rừng chặt gỗ, bương, nứa, cây chít (làm chổi quét), kiếm củi…
2 – Trồng rau, nuôi lợn.
3 – Đan cót.
4 – Cạo nứa.
Chủ nhật, đàn ông, thanh niên vào rừng như chảy hội. Đàn bà ở nhà lột cật nứa, bện chổi chít. Trẻ con đan cót. Ngày thường, hết giờ làm việc, cơm xong cả nhà làm cật lực cho đến khuya. Bốn nghề thật vất vả, nhưng vào rừng chặt gỗ, cạo tinh nứa, theo tôi, khốn khổ nhất …
Tiếng dao cạo vào tinh nứa, két két, ghê tai, sợ lắm, răng như muốn rụng. Đàn ông phải khỏe, dai sức mới làm nổi nghề này. Người ngả về phía trước, hai tay cầm lưỡi dao nghiêng 35-40 độ, kéo cật lực về phía sau, tinh nứa mới bong ra từng phoi xanh xanh cuộn tròn rơi xuống đất. Giống hệt anh thợ bào gỗ. Mùa hè, may-ô quần đùi, “của quý” trong quần các bố cứ lắc lư, lên xuống, ngang dọc theo nhịp kéo dao. Có anh bác sĩ, gia đình ở quê Thái Bình, lương gửi về nuôi vợ con, cũng tham gia hội cạo nứa. Trông thấy anh cạo, có người đùa, phong chức trưởng khoa Đầu Gật Gù, Dái Lắc Lư…”
Sự ngột ngạt không chỉ ở mức cùng cực của đời sống áo cơm mà trùm phủ đời sống tinh thần và tình cảm mọi người, ngay giữa các đồng nghiệp trong cùng một cơ quan:

“Năm 2004, chúng tôi về Việt Nam … nhân tiện lên thăm anh em bệnh viện cũ … Bác sĩ Đinh Tất Thắng, đồng nghiệp cũ mời chúng tôi bữa cơm mừng tái ngộ sau một phần tư thế kỷ xa cách.
Trong buổi hàn huyên, Thắng cười, kể:
– Anh chị còn nhớ y tá Tiêm không?
– Nhớ chứ. Cô Tiêm, phòng Đón Tiếp khu Đa Khoa, gần nhà mình chứ gì?
– Phải. Hè 1980, công đoàn tổ chức lợp nhà giúp Tiêm, trong lúc rỡ mái, em nhặt được túi vải buộc kỹ lắm, giấu ở xà ngang. Mọi người tán “Chết nhá, phen này giàu to.” Ai cũng tưởng quỹ đen giấu chồng, ai ngờ, sổ tay của y tá Tiêm theo dõi gia đình anh chị năm 1978, 1979. Cuốn sổ ghi, ai đến chơi, ngày giờ, cả biển số xe đạp. Anh chị biết không, có cả biển số xe đạp của em và bác sĩ Đắc…
Thắng cười, tiếp:
– Hồi anh chị đi Hong Kong, cả bệnh viện đồn ầm, anh là gián điệp nhị trùng của Mỹ – Trung Quốc nằm vùng. Cô Tuyển bên Nhà Trẻ, cô Thoan bên Kế Toán, cô Lan bên Dược kể nhiều đêm trước đó đã nấp trong bụi chuối sau nhà, rình anh chị bị muỗi đốt quá chừng vẫn phải ngồi im không dám động đậy, sợ lộ.”
Cùng với chuyện nghe qua lời kể đó là chuyện đã xẩy ra với bản thân mà Lâm Hoàng Mạnh còn nhớ cả ngày giờ:

“Sáng sớm ngày 9 tháng 4 năm 1979, phòng tổ chức mời vợ tôi lên. Cuộc gặp mặt gồm Bùi Đình Phảng, bí thư đảng ủy, Nguyễn Đình Mão, phó bí thư kiêm bệnh viện phó, Nguyễn Gia Hòa, đảng ủy viên, trưởng phòng Tổ Chức Hành Chính cùng một số nhân viên …
Sau vài lời rào đón, Nguyễn Đình Mão bảo vợ tôi:– Việt Nam và Trung Quốc đã xảy ra chiến sự, Chúng ta đang chống quân bá quyền, bành trướng Trung Quốc. Chị là người Việt, nhưng chồng chị là người Hoa. Chúng tôi đang giải quyết anh ấy nghỉ chế độ mất sức. Còn chị muốn tiếp tục công tác, chị phải làm đơn ly dị và trả lại 3 cháu cho anh ấy, nộp cho chúng tôi.Vợ tôi bàng hoàng … Thấy vợ tôi im lặng, trưởng phòng tổ chức Nguyễn Gia Hòa an ủi:– Chúng tôi muốn giúp đỡ, cho chị lối thoát chứ không có ý gì khác.
Huỳnh Như Thùy, nhân viên phòng tổ chức, nhắc:Chị nghĩ kỹ đi, đừng để mất cơ hội. Viết xong nộp cho tôi.”
Tôi bỗng nhớ tới một cô gái thuyền nhân Việt Nam đã có 30 năm định cư tại Đức qua nhắc nhở của tạp chí Del Spiegel nhân dịp kỷ niệm ngày các thuyền nhân Việt Nam xuất hiện tại đất nước này — ngày 3 tháng 12 năm 1978.
Vào một ngày tháng 10 năm 1978, cô gái vừa tròn 18 tuổi phải gạt nước mắt rời cha mẹ, rời thành phố Sài Gòn bước lên chiếc thuyền cũ nát không biết sẽ đưa mình tới đâu. Dù vậy, nếu không kể nỗi buồn gia đình chia lìa do cha mẹ phải hy sinh ở lại thì cô gái vẫn gặp nhiều may mắn. Trước hết, cô may mắn ra đi trong tư thế hợp pháp do có gốc người Hoa và cha mẹ gom nổi số vàng 60 lượng theo đòi hỏi để cô có bốn anh chị em cùng đi. May mắn hơn là vào lúc con thuyền bị nghiêng ngả giữa biển cả lại gặp một con tàu tỵ nạn lớn hơn. Nhờ thế anh chị em cô thoát chết và tìm được một góc trú ẩn, dù thêm số người từ con thuyền nhỏ, con tàu phải chở tới 2054 người.
May mắn lớn nhất là khi hơn hai ngàn thuyền nhân trở thành tù nhân trong căn nhà tù nổi ngoài cảng Kelang Mã Lai đang chờ chết do đói khát và đã chịu đựng quá dài cảnh ban ngày nắng như đổ lửa, ban đêm lạnh buốt thấu xương thì cảnh ngộ của họ được loan truyền qua nửa địa cầu.
Một chính khách Đức đã vận động chính quyền gấp rút chấp thuận đưa họ tới Đức định cư, đồng thời gấp rút chuyển cho họ các điều kiện tối thiểu để duy trì hơi thở.
Do đó, 7 giờ sáng ngày 3-12-1978, cô gái có mặt trong số 163 thuyền nhân Việt Nam đầu tiên bay tới Hanover. Khi cô run rẩy đặt chân xuống sân bay Langenhagen giữa cái lạnh mùa Đông, nhân viên tiếp cứu choàng lên vai cô tấm mền dạ cũ màu nâu của Hội Hồng Thập Tự Đức có in 3 chữ DRK. Tấm mền mỏng sờn cũ này kể từ ngày 3-12-1978 trở thành vật bất ly thân của cô và có thể sẽ ở bên cô tới phút cuối đời. Vì cho tới năm 2008, khi kỷ niệm 30 năm định cư tại Đức với cuộc sống vững vàng và đang bước qua tuổi về chiều, cô vẫn không rời tấm mền đã thực sự mòn cũ. Cô không bao giờ giải thích, nhưng tôi nghĩ tới làn hơi ấm từ tấm mền thấm vào cơ thể cô và cảm giác bình an dấy lên giữa phút giây đầu tiên đối diện với cuộc sống chan chứa yêu thương. Có lẽ suốt 45 ngày dài quằn quại thoi thóp vì nắng mưa đói khát trên biển cả lạnh lùng, cô đã triền miên ước có một phút giây êm ả nồng đượm tình người. Ao ước đó trở thành hiện thực khi một bàn tay xa lạ choàng lên vai cô tấm mền sờn cũ. Tấm mền với làn hơi ấm đã là biểu tượng cụ thể của tình người nên cô không dám từ bỏ. Bởi thực tế đã cho cô thấy cuộc sống tàn khốc ra sao khi tình người vắng thiếu.
Tự nhiên tôi gặp lại cảm giác từng có khi đón nhận vòng tay, nụ cười của bằng hữu, của người thân vào những lần tôi rời khỏi nhà tù. Kể cả khi đặt hai bàn chân trần trên mặt đường nhựa nóng cháy, tôi vẫn thấy toàn thân mát dịu với một cảm giác êm ả tuyệt vời trùm phủ. Những lúc đó, tôi không thể nào lên tiếng, chỉ có nổi nụ cười lặng lẽ trước mọi cử chỉ, mọi lời chia vui, trong khi một ý nghĩ luôn hiện đến là đoá hoa tình người đang toả hương cực độ và trấn áp hết thẩy mọi lo buồn, mọi hiểm hoạ vẫn hiện diện đầy rẫy khắp nơi. Từ đây, một ước mong và một nỗi ray rứt đã hiện hình để trở thành gánh nặng triền miên. Tôi ước mong có thể kéo dài được thời gian toả hương cực độ của những đoá hoa kia, đồng thời không thể ngừng thắc mắc về những cảnh sống cay nghiệt đang tiếp diễn.
Quyết định không bỏ tấm mền cũ của cô gái khiến tôi nghĩ cô cũng có cùng ước mong tôi đã có và lập tức khơi dậy thắc mắc đã trở thành gánh nặng của tôi.Đã nhiều đêm, tôi không chợp mắt nổi vì tấm bia tại Jakarta tưởng niệm các nạn nhân vùi thây giữa biển cả bị đục vỡ. Tấm bia không còn là tấm bia mà hiện ra trong hình vóc một con người với phần bia bị đục vỡ trở thành cặp mắt mở lớn hướng về phía trước trống rỗng mịt mù. Cặp mắt như hố thẳm với cái nhìn khẩn nài đau đớn từ một chiều sâu vô tận đặt tôi vào giữa vùng âm vang thảm thiết của những tiếng gào tuyệt vọng.
Tôi không dập xoá nổi âm vang những lời cuối trong một lá thư tuyệt mệnh gửi cho người chị gái: “Chị thương, hôm nay em đã bị từ chối tư cách tỵ nạn chính trị. Rạng sáng mai, em sẽ treo cổ tự tử để thoát mọi đau khổ. Nhưng lúc nào em cũng sẽ ở bên cạnh chị để che chở cho chị và các cháu.” Người viết là Nguyễn Văn Hai 27 tuổi, treo cổ tại Trại Cấm Whitehead Hong Kong đêm 16 tháng 2 năm 1990.Âm vang những lời cuối ấy trở thành dòng suối cuồn cuộn dồn lên không biết bao nhiêu cái tên, bao nhiêu nấc nghẹn, bao nhiêu con người đột ngột hiện ra … Đây là Lâm Văn Hoàng với hình vóc còn chưa hết nét trẻ thơ vì chỉ vừa 22 tuổi. Cái hình vóc ấy đã từ đỉnh cao một vách đá trại Pulau Bidong, Mã Lai lao thẳng xuống biển khơi vào tháng 1-1991. Ngọn sóng cuốn trôi thân xác chàng trai lại bùng lên ngọn lửa cuồng loạn thiêu đốt những thân xác quằn quại với những cái tên Trịnh Thị Kim Hương, Lưu Thị Hồng Hạnh … Kim Hương 28 tuổi tự thiêu tại Trại Galang, Nam Dương ngày 30-8-1991. Hồng Hạnh 16 tuổi tự thiêu tháng 2-1993 với chi tiết “không có ai là thân thích” nên Cao Uỷ Tỵ Nạn LHQ không cho hưởng quy chế tỵ nạn. Ngay cạnh trường hợp Hồng Hạnh là trường hợp Hoàng Thị Thu Cúc hoàn toàn trái ngược. Thu Cúc có cha bị chết trong trại tù, gia đình bị tịch thu nhà cửa, cưỡng bách đi Khu Kinh Tế Mới nên 5 anh chị em phải tìm đường vượt biên. Các chi tiết cụ thể đó vẫn bị gạt bỏ khiến Thu Cúc đã tự treo cổ tại trại Sikiew Thái Lan tháng 12-1992 khi vừa 26 tuổi.

Cảm giác đến với tôi vào những đêm khuya đối diện tấm bia bị đục vỡ luôn là cảm giác ngộp thở. Vì dòng suối âm vang cuồn cuộn khiến tôi bị vây nghẹt giữa không biết bao nhiêu cái tên, bao nhiêu tiếng gọi cất lên từ nhiều địa phương Thái Lan, Mã Lai qua Nam Dương đến Hong Kong …

Tôi không thể nhớ hết những cái tên, những trường hợp xẩy ra, nhưng luôn dừng lại với mấy lời cuối của người thanh niên 25 tuổi tên Nguyễn Ngọc Dũng. Ngày 3-5-1993, Nguyễn Ngọc Dũng tới trước văn phòng Cao Uỷ Tỵ Nạn LHQ trại Sungei Mã Lai tự tay đâm mũi dao nhọn vào giữa trái tim mình và gục chết bên dòng chữ: “Tôi chết đi không phải vì tuyệt vọng mà vì muốn đem lại niềm hy vọng và sự sống cho nhiều người khác.” Nguyễn Ngọc Dũng tự huỷ mình để tạo một tiếng gào kêu gọi sự cảm thông với cảnh ngộ bị đoạ đày của đồng loại trong cảnh sống vắng thiếu tình người.

Lời kêu gào vẫn cất lên, nhưng được đáp ứng ra sao?

Ngày 22-8-2007, tại đại hội Cựu Chiến Binh Mỹ ở Kansas Missouri, tổng thống Bush nhắc đến cuộc chiến Việt Nam qua một câu tóm gọn: “Bất kể bạn ở vị thế nào trong cuộc tranh luận thì cái di sản Việt Nam đã hỉển lộ vẫn chính là cái giá phải trả cho cuộc triệt thoái quân đội Mỹ bởi hàng triệu người vô tội mà những nỗi thống khổ của họ đã tạo thêm cho ngôn ngữ chúng ta các từ mới như “thuyền nhân”, “trại cải tạo” và những “cánh đồng chết”…(1)

Phát biểu ngắn gọn gợi nhắc thực tế Việt Nam sau ngày 30-4-1975 cũng bày tỏ nỗi tiếc xót về hậu quả một hành động sai lầm di hoạ cho những con người nhỏ bé vô tội, và ý muốn cảnh báo về một sai lầm tương tự. Dù là người xa lạ, ông Bush cho thấy không hoàn toàn vô cảm trước những thống khổ mà người dân Việt Nam gánh chịu quanh hai tiếng “thuyền nhân” — bao gồm cảnh ngộ buộc mọi người phải rời bỏ quê hương và những thảm nạn trên biển cả mênh mông luôn chứa đầy tai hoạ bão táp, hải tặc và cả thái độ lạnh lùng của những người ngoại cuộc nhẫn tâm…

Nhưng sự bày tỏ một chút tình đồng loại ấy đã lập tức bị phản bác bởi những người đang ở vị thế quyết định số phận mọi con dân Việt Nam. Ngay sau ngày 22-8 cho tới cuối tháng 9-2007, báo chí Việt Nam liên tiếp phổ biến nhiều bài viết và phát biểu chê bai ông Bush sai lầm và xuyên tạc. Trên báo Quân Đội Nhân Dân ngày 31-8-2007, tướng Nguyễn Đình Ước viện trưởng Viện Lịch Sử Quân Sự Việt Nam phát biểu “nạn thuyền nhân là chuyện có thật” nhưng nguyên nhân vì “sau chiến tranh, đất nước bị tàn phá nặng nề mà Việt Nam còn bị bao vây, cấm vận về kinh tế.” Viên tướng này diễn tả xã hội Việt Nam hoàn toàn tốt đẹp, không có chuyện bức chế bất kỳ ai, không có nỗi thống khổ nào và khẳng định nạn thuyền nhân là “âm mưu hậu chiến của Mỹ”, bởi sau khi cấm vận gây khó khăn kinh tế cho Việt Nam, “họ lại kích động, đưa ra viễn cảnh thiên đường ở bên ngoài gây nên tình trạng có một bộ phận người Việt Nam bỏ đất nước ra đi. Không ít người đã thiệt mạng trên biển do bị chìm thuyền, bị bọn đưa người vượt biên trái phép lừa gạt giết chết. Đó đúng là một thảm cảnh nhưng là hệ quả do những chính sách chống phá Việt Nam từ bên ngoài.”

Nguyễn Đình Ước và những cây bút cuồng nhiệt đả kích lời phát biểu của ông Bush đã cho thấy họ không hề động tâm trước sự việc xẩy ra cho chính đồng bào của mình mà ngược lại còn kết buộc các nạn nhân tự chuốc tai hoạ bởi nghe lời ngoại nhân kích động, bỏ đất nước ra đi. Nếu cứ giả dụ những người này nói đúng thì phải biện giải ra sao về lý do Việt Nam viện dẫn để đòi phá bỏ tấm bia tưởng niệm tại Jakarta, khi tờ Jakarta Post ngày 20-6-2005 loan báo Chủ Tịch Nước CHXHCNVN (CSVN) Trần Đức Lương yêu cầu Nam Dương “khẩn cấp đập tượng đài” trên vì “nó xúc phạm tới Việt Nam.” Tấm bia xúc phạm Việt Nam như thế nào khi chính quyền Việt Nam khẳng định các nạn nhân chết thảm chỉ vì “chính sách chống phá Việt Nam từ bên ngoài?” Vả lại, bày tỏ tình cảm xót thương nhớ tiếc những người cùng huyết mạch đã khuất có thể là hành vi gây tổn hại uy danh dân tộc chăng?

Mọi nguyên tắc đạo lý trên trái đất này đều không chứng minh cho kiểu suy diễn đó, nhất là khi hết thẩy người đã khuất đều là nạn nhân vô tội đáng thương, trong số có không ít trẻ thơ và những người vợ, người mẹ chân yếu tay mềm. Bằng cách nhìn nào thì cũng phải khẳng định tấm bia đó chỉ gợi nhắc tội ác của những kẻ đã biến hàng loạt người vô tội thành nạn nhân trong tấn thảm kịch thuyền nhân, và bất kể là ai, nếu còn mang trái tim con người sẽ không bao giờ tránh khỏi xót xa trước cảnh tượng ngọn lửa điên cuồng trùm phủ thân hình nhỏ nhoi yếu đuối của một cô bé mới 16 tuổi như ngọn lửa hoả thiêu thân xác cô bé có tên Lưu Thị Hồng Hạnh.

Bỏ qua mọi lý lẽ để chỉ nhìn vào thực tế xảy ra quanh hai tiếng “thuyền nhân” sẽ không thể quên trường hợp con thuyền mắc cạn tại một hòn đảo trong quần đảo Trường Sa và trường hợp chấm dứt binh nghiệp của một hạm trưởng hải quân Mỹ.

Theo Washington Post ngày 29-03-1989, hạm trưởng hải vận hạm USS Dubuque cho biết sẽ rời Hải Quân sau 26 năm phục vụ, dù ước nguyện của ông là được sống trọn đời với biển cả. Ông phải chọn điều này vì ngày 24-02-1989, toà án quân sự Mỹ đã tuyên xử ông thiếu xót trách nhiệm và ông tin rằng bản án thực sự chấm dứt binh nghiệp của ông. Trên thực tế, ông bị ngưng chức hạm trưởng, bị truy tố ra toà từ ngày 27-08-1988, và các phiên xử kéo dài 2 tuần lễ khởi từ trung tuần tháng 2-1989 đã kết thúc với bản án trên. Lý do là ngày 9-06-1988, hải vận hạm USS Dubuque gặp một thuyền tỵ nạn Việt Nam lênh đênh giữa biển. Các thuyền nhân cho biết thuyền bị hư máy trôi giạt đã 18 ngày khiến có hơn 20 người bị chết. Còn lại trên thuyền lúc đó có 83 người gồm nhiều phụ nữ, trẻ em, hết thẩy đều kiệt sức. Nhưng lời khẩn cầu hải vận hạm USS Dubuque cứu vớt bị từ chối. Vị hạm trưởng chỉ hạ lệnh chuyển qua con thuyền một số thực phẩm và nước uống đủ dùng mấy ngày rồi tiếp tục ra đi, bỏ mặc con thuyền bập bềnh tại chỗ.

19 ngày sau, ngày 28-06-1988, con thuyền được một tàu đánh cá Phillipines cứu đưa vào bờ thì đã có thêm 31 người bị chết và số người sống sót kể lại phải qua những ngày khủng khiếp là duy trì hơi thở bằng cách nhai nuốt chính thân xác các bạn đồng thuyền đã chết. Tin về cảnh ngộ 52 thuyền nhân sống sót loan truyền khắp mặt báo chí và Bộ Quốc Phòng Mỹ tức khắc ra lệnh truy tố vị hạm trưởng.

Trước toà, vị hạm trưởng viện lý do cần hoàn tất nhiệm vụ nên không dám bỏ thời gian cho việc tiếp cứu. Nhưng quan điểm của toà là không có lý do nào biện giải cho hành vi làm ngơ trước cảnh lâm nguy của đồng loại.

Bản án đã khẳng định vị thế tột cùng của tình người và gợi nhắc một trường hợp từng xẩy ra 10 năm trước đó. Một ngày tháng 4-1979, con tàu là chiếc ghe đi biển mà ngư dân gọi là “3 lốc đầu bạc” chở 130 thuyền nhân rời đảo Hòn Tre ngoài khơi Nha Trang vượt Biển Đông. Sau ba ngày êm ả, một cơn bão bất ngờ ập tới giữa đêm. Cơn bão khiến con tàu điên đảo quay cuồng, sau đó hoàn toàn mất phương hướng. Giữa lúc nguy cấp, người trên tàu bỗng thấy có ánh đèn loé lên từ một khoảng không xa. Tài công lập tức hướng về phía đó với hy vọng là một hòn đảo Philippines.

Không may, con tàu mắc kẹt đá ngầm lúc tới cách hòn đảo chỉ hơn trăm thước. Lâm cảnh vô phương tiến thoái, một nhóm người quyết định lội vào đảo tìm sự tiếp cứu. Vừa đặt được chân lên bãi cát, nhóm người bỗng nghe tiếng loa phóng thanh bằng tiếng Việt ra lệnh: “Tất cả đứng lại!”

Cả nhóm chết sững đứng im, nhưng thầm an ủi nhau nếu bị bắt trở về đất liền thì dù phải đi tù vẫn bình yên, khỏi vùi xác giữa biển cả. Ý nghĩ đó không thành thực tế. Vì nhóm người đứng thẳng hàng với hai tay đưa lên trời đã lập tức trở thành những tấm bia cho hàng loạt đạn từ trong bờ xối xả bắn tới. Gần 20 mạng người gục ngã trong chớp mắt, chỉ còn ba người thoát chạy trở lại được con tàu.

Do mắc kẹt đá ngầm, con tàu không thể nhúc nhích nên đành đưa hết đàn bà trẻ nít lên mui, hướng vào đảo quỳ khóc xin tha mạng. Cảnh tượng đó diễn ra lúc trời đã rạng sáng giúp mọi người thấy rõ trên đảo nhiều toán bộ đội tới lui nhộn nhịp và vợ con họ đứng chen lấn nhìn ra con tàu.

Đám đàn bà trẻ nít trên tàu la khóc lớn hơn xin cứu giúp. Nhưng đó cũng là lúc mà đủ loại súng nối nhau nhả đạn vào đám đàn bà trẻ nít đang uốn mình cúi lạy trên mui tàu…

Các chi tiết về giây phút cuối cùng của con tàu do một nhân chứng sống sót kể lại:

– “Chúa ơi cứu con với!”
Tiếng thét đau đớn, hãi hùng của người phụ nữ nằm sát cạnh tôi, cùng lúc với một dòng nước ấm văng vào mặt khiến tôi phải lấy tay vuốt mặt và bàng hoàng nhận ra toàn là máu. Máu nóng đã ập vào mặt tôi từ người phụ nữ bên cạnh. Tôi ngẩng đầu lên một chút để nhìn. Người phụ nữ oằn oại với vết thương bên đùi vỡ toác, máu tuôn xối xả …Đạn vẫn tiếp tục nổ, tiếng la hét, kêu gào của những người bị trúng đạn quyện thành một thứ âm thanh hỗn loạn đến rợn người … Trước mặt tôi, chung quanh tôi, máu thịt văng tung tóe, thây người nằm la liệt … Thần kinh tôi tê cứng vì sợ hãi khiến tôi muốn khụy xuống, nhưng bản năng sống còn thúc tôi phóng xuống biển vừa lúc một cơn sóng chụp tới cuốn tôi rời xa con tàu.”

Kẻ may mắn được sóng cuốn đi, sau đó được xô tới bên một chiếc thuyền câu cũng đang dật dờ trên mặt biển:

“Thoạt đầu, tôi cứ tưởng bộ đội hạ quyết tâm đuổi tận, giết tuyệt nên không dám bơi lại gần. Nhưng nhìn kỹ, tôi nhận ra chiếc thuyền hoàn toàn im lặng, không có sự di động của bất cứ người nào trên thuyền. Tôi hơi vững tâm, cố bơi lại gần. Nắm được be thuyền và leo lên thì tôi thấy có người trên thuyền, nhưng mọi người đang nằm ở tư thế ẩn nấp. Thấy tôi leo lên, họ sụp lạy, xin tha mạng. Tôi không có thời giờ giải thích gì cả, bật ngửa ra nằm bất động …Sau khi đã hoàn hồn và hỏi chuyện nhau, tôi mới vỡ ra họ cũng trôi giạt vào đây và cũng bị bắn. Thuyền của họ xuất phát từ Phước Tỉnh, Bà Rịa, có 13 người gồm 11 người đàn ông và 2 đứa trẻ, bé chị 9 tuổi, cậu em 6 tuổi. Cha của hai em bé này đã bị bắn vỡ đầu nằm chết ở mũi thuyền, một thanh niên khác bị bắn nát phần vai hai bên, đang nằm thoi thóp dưới hầm máy.”

Con thuyền là một thuyền câu dài vỏn vẹn 6 thước, rộng 2 thước cứ dật dờ trôi nhưng tiếp đó đã nhận thêm 4 người khác thoát chết từ con tàu bị mắc cạn để ấp ủ 16 mạng người, sau khi anh thanh niên bị thương trút hơi thở cuối. Điều kỳ lạ là 16 người trong số có hai đứa trẻ đều còn thoi thóp tới ngày thứ 30 lênh đênh trên biển khi được một tàu buôn Nhật Bản phát hiện. Vị thuyền trưởng người Đại Hàn từng được nhắc nhở sẽ bị đuổi việc nếu vớt người vượt biên. Nhưng trước chiếc thuyền câu nhỏ với 16 túi da bọc xương đang hấp hối, ông đã chọn chấp nhận mọi hậu quả, lệnh cho thủy thủ đưa họ lên thuyền cấp cứu rồi chở họ tới cảng Okinawa.Hơn 30 ngày trước, hai con thuyền chở 143 người lúc này chỉ còn vỏn vẹn 16 người. Nỗi gian khổ của họ được báo chí Nhật Bản và quốc tế kể lại nhiều ngày kèm theo hình ảnh những con người chỉ là những bộ xương với hộp sọ nhô cao.

Hành động quay lưng không cứu người lâm nạn của vị hạm trưởng hải vận hạm USS Dubuque gây ra cái chết cho 31 người đã khiến Bộ Quốc Phòng Mỹ lập tức quyết định đưa ra toà xét xử ngay sau khi báo chí loan tin. Trong khi đó, những kẻ nhẫn tâm tàn sát 120 mạng người vô tội gồm nhiều phụ nữ và trẻ thơ đang khốn đốn giữa sóng gió cho tới nay hơn 30 năm sau vẫn hoàn toàn thoải mái.

Không biết bao nhiêu thắc mắc đã được đưa ra nhưng đều rơi vào hư vô. Nhưng, những thắc mắc đó chắc chắn vẫn sẽ vang lên mỗi khi có ai nhắc đến hai tiếng “thuyền nhân” để gom lại thành một thắc mắc cuối cùng: Những kẻ đã ra lệnh bắn giết người ra đi và những kẻ thản nhiên thi hành lệnh bắn giết đó còn có thể gọi là con người được không?

Trong Buồn Vui Đời Thuyền Nhân, Lâm Hoàng Mạnh lập lại cùng thắc mắc khi kể về một tai hoạ tương tự đe doạ con thuyền trên đó có gia đình tác giả:

“Trưa ngày 18-6-1979, vợ con tôi cũng như nhiều phụ nữ và trẻ con khác say sóng, nôn mửa, nằm bệt dưới khoang. Tôi đang loay hoay lau chùi dọn dẹp, lấy thuốc chống say cho vợ con, bỗng nhiên nghe tiếng loa phóng thanh oang oang:– Không được vi phạm hải phận của chúng tôi.

Tất cả mọi người choàng tỉnh. Tôi vội lên sạp thuyền xem sự thể ra sao. Một tàu chiến hải quân Trung Quốc đang dần dần áp sát thuyền chúng tôi. Trên boong tàu, thủy thủ Trung Quốc trong quân phục hải quân, lăm lăm tiểu liên, một dàn đại liên, đại bác chĩa nòng vào thuyền. Một sĩ quan tay cầm loa phóng thanh nói bằng hai thứ tiếng Việt và Quảng rất rành rọt:

– Yêu cầu thuyền không được xâm phạm hải phận chúng tôi. Phải rời ngay hải phận, không sẽ bị tiêu diệt.

Tôi không thể tin được tai mình.

Đây là đồng bào, đồng chí của tổ quốc Trung Hoa vĩ đại của chúng tôi ư?

Mới ngày 15-6 khi chưa rời bến Máy Chai, chúng tôi vẫn được chính quyền Đặng Tiểu Bình trên đài phát thanh Bắc Kinh khoác cho chiếc áo “Hoa kiều yêu nước” với biết bao mỹ từ tươi đẹp, kêu gọi hồi hương. Giờ đây thuyền chúng tôi mới mấp mé hải phận “tổ quốc vĩ đại, thân yêu”, chính hải quân của Đặng Tiểu Bình đe dọa nổ súng, tiêu diệt nếu thuyền không rời xa lãnh hải.
Hơn 200 người trên thuyền là người dân vô tội, đàn bà trẻ con, không tấc sắt trong tay.

Khi tàu hải quân Trung Quốc áp sát, chúng tôi già trẻ lớn bé hơn 200 người đứng lố nhố trên sàn thuyền. Tất cả đăm đăm nhìn bọn họ. Những mũi súng máy của lính hải quân chĩa thẳng vào chúng tôi như sẵn sàng nhả đạn.

Trước khi ra đi, chúng tôi thường nghe BBC Việt ngữ, anh Đỗ Văn đưa tin, rất nhiều thuyền tỵ nạn gặp tàu nước ngoài đuợc cứu trợ, đưa đến nơi an toàn. Không ngờ, thuyền chúng tôi gặp tàu hải quân Trung Quốc, họ không cứu giúp lại tìm cách đẩy chúng tôi ra xa hơn giữa trùng dương nguy hiểm.

Họ là ai? Họ chính là người Trung Quốc, là đồng bào, trong huyết quản họ và chúng tôi có chung dòng máu Trung Hoa. Sao họ tàn ác đến như vậy?
Họ là người hay loài mãnh thú?”

Thắc mắc mà Lâm Hoàng Mạnh lập lại có lẽ không còn cần trả lời. Nhưng từ đây lại dấy lên một thắc mắc rất cần được trả lời: Tại sao loài mãnh thú có thể tồn tại lâu như vậy ở vị thế đè đầu cưỡi cổ con người?Tôi không tin có một loài thú nào dù hung dữ tới đâu lại đủ sức khống chế một cộng đồng dân tộc từng đạp bằng mọi hiểm hoạ gian nguy cùng cực để tồn tại suốt hơn bốn ngàn năm. Quá trình đó đã biểu hiện cụ thể một ý chí bất khuất và truyền thống bảo toàn các giá trị tất yếu của cuộc sống gọi là cuộc sống con người. Ý chí và truyền thống đó chắc chắn không bao giờ tàn lụi. Vậy do đâu cả một cộng đồng dân tộc đã phải khoanh tay gục đầu trước nanh vuốt của chỉ một bày ác thú?

Hàng loạt dấu hỏi quay cuồng với hàng loạt giải đáp nhưng mỗi giải đáp lại khơi thêm nỗi hoang mang ngờ vực khiến trước mắt tôi bỗng hiển hiện một rừng dấu hỏi nhảy múa điên loạn và chập chờn chuyển hoá thành đủ thứ hình thù. Dù chưa từng vượt biển, chưa từng đặt chân đến một hòn đảo nào, tôi bỗng thấy mình đang đứng giữa quần đảo Trường Sa và những dấu hỏi mịt mù đã biến thành một đám người say mê nhả đạn với nét mặt hả hê trước những thân hình nạn nhân gục ngã. Rồi tôi lại nghe vẳng lên giọng kể trĩu nặng ưu tư của Lâm Hoàng Mạnh về vài cảnh sống của một số thuyền nhân khi đã rời xa hẳn những con thuyền:

“Chuyện ly hôn của người Việt trở thành đề tài nóng bỏng. Tôi quen một số gia đình cũng bị hút vào vòng xoáy này. Đến chơi, khi hỏi chuyện thật hư, có gia đình, không những không ngượng, cô vợ còn cười tươi, bảo “quanh đây ai cũng đều thế cả, chỉ có gia đình anh chị chưa làm thôi. Em á, không những làm, em còn xúi người ta. Tội gì không làm, chết ai đâu? Đây này, chúng em ra tòa ly dị. Có giấy ly hôn hẳn hoi, ông xã lấy cớ thăm con, vẫn ngủ ở nhà đấy chứ. Chỉ khi nào council cho người đến kiểm tra mới “tạm sơ tán” thôi…Đấy, ông xã nhà này vẫn đi làm đều, chỉ phải đóng thêm chút thuế, theo diện độc thân, còn em và tụi trẻ bây giờ khỏe re, lĩnh tiền trợ cấp single parent cao, tiền nhà khỏi phải đóng, các cháu được miễn phí bữa trưa. Sướng chưa! Anh chị còn chần chừ gì nữa mà không làm….”

Tôi ngán ngẩm ra về và từ đó ít giao lưu. Chỉ vì một chút lợi ích vật chất, họ đã cắt luôn dây thần kinh xấu hổ, làm những điều không thể chấp nhận đối với lương tâm, đạo đức của người bình thường …”

Lâm Hoàng Mạnh không chỉ ưu tư trước cảnh sống này mà còn đưa người đọc tới nhiều vùng đất Việt Nam cũng như Anh quốc cùng nỗi trăn trở về khoảng thời gian tồn tại khó biết ra sao của những câu ca dao đã có từ hàng ngàn năm như:Công cha như núi Thái sơn
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra
Một lòng thờ mẹ kính cha
Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con …

Tôi không còn theo kịp mức chuyển hoá của khu rừng dấu hỏi nữa, dù vẫn tin chắc ý chí bất khuất và truyền thống bảo toàn các giá trị tất yếu của cuộc sống con người chẳng bao giờ rời xa tim óc mọi người Việt Nam ở bất kỳ nơi đâu. Mọi nguyên do thống khổ dẫn tới hai chữ “thuyền nhân”, mọi tai ương thảm nạn khắc hoạ thành hai chữ đó có thể ghi dấu mãi một đoạn đường ngập tràn những não bộ tối tăm, những con tim dã thú, nhưng trong diễn trình lịch sử, mọi đoạn đường luôn chỉ là một bước thăng trầm không thể kéo dài mãi mãi.

Tôi bỗng nhớ tới giọng ca từng là thần tượng một thời của lớp tuổi chúng tôi từ thập niên 1950, nữ ca sĩ Hy Lạp Nana Mouskouri. Nana Mouskouri cuốn hút không chỉ do giọng ca mà còn qua nhiều lời ca vẫn thường bất ngờ vẳng lại:

Quand tu chantes je chante avec toi, liberté
Dans la joie ou les larmes je t’aime
Les chansons de l’espoir ont ton nom et ta voix
La chemin de l’histoire nous conduira vers toi
Liberté, liberté …
(2)

Tôi rời những trang hồi ký của Lâm Hoàng Mạnh trong ước mong được nghe lời ca trên vang dội mọi nẻo đường Việt Nam qua một dàn đồng ca, dù dư âm giọng ca của Nana Mouskouri vẫn ngọt ngào quyến rũ.

Virginia May 20, 2011.

© DCVOnline

Buồn Vui Đời Thuyền Nhân, Hồi ký của Lâm Hoàng Mạnh

Tủ sách Tiếng Quê Hương xuất bản. Phát hành tháng 7/2011. Địa chỉ liên lạc: Tiếng Quê Hương, P.O Box 4653, Falls Church – VA 22044


(1) “… Whatever your position is on that debate, one unmistakable legacy of Vietnam is that the price of America’s withdrawal was paid by millions of innocent citizens whose agonies would add to our vocabulary new terms like ‘boat people,’ ‘re-education camps,’ and ‘killing fields’.” President Bush’s speech to the Veterans of Foreign Wars National Convention in Kansas City, August 22, 2007.
“Bất kể bạn ở vị thế nào trong cuộc tranh luận thì cái di sản Việt Nam để lại mà ta không thể nhầm lẫn được là: cái giá  cho cuộc triệt thoái quân đội Mỹ đã được trả bởi hàng triệu người vô tội mà những nỗi bi kịch và thống khổ của họ đã tạo thêm cho ngôn ngữ chúng ta các từ mới như “thuyền nhân”, “trại cải tạo” và những “cánh đồng chết”…
(HT dịch)

Posted in Hồi Ký | Leave a Comment »

Đọc lại bài nói chuyện của Tướng Nguyễn Cao Kỳ tại Đại Học DeAnza, California

Posted by hoangtran204 trên 23/07/2011

Tướng Nguyễn Cao Kỳ đã chết trong bệnh viện ở  Malaysia vì khó thở vào ngày 22-7-2011. Nguyên nhân chính xác của cái chết đang được tìm hiểu.

——-

Mời các bạn đọc lại

Bài nói chuyện của Tướng Nguyễn Cao Kỳ tại Đại

Học DeAnza, Cupertino, California

LTS: Quan hệ giữa Mỹ và Việt Nam đang ấm dần lên qua vấn đề Biển Đông, ĐCV đăng tải lại bài phát biểu của Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ tại Đại học DeAnza, trong cố gắng thuyết phục Hoa Kỳ bắt tay với CSVN ngăn chặn Trung Quốc, gây nhiều tranh cãi trước đây.

Lời người dịch: Ngày 13 tháng 6 năm 2003, Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ được giáo sư John K. Swensson, Khoa truởng Khoa Ngôn Ngữ của trường Đại Học DeAnza, Cupertino, California mời nói chuyện về cuộc chiến tranh ở Việt Nam. Nhân cuộc hành trình của Tướng Kỳ gây nhiều sôi nổi trong cộng đồng, tôi phiên dịch bài diễn văn này ra quốc ngữ để cống hiến bạn đọc. Hy vọng các bạn đọc sẽ chia sẻ đuợc tâm ưu của Người Lính Già Nguyễn Cao Kỳ, có cái nhìn xa về thời cuộc mà phải hứng chịu nhiều hiểu nhầm của dư luận ngày hôm nay. Ông ta đã chiến đấu và đã không ngừng mưu cầu cho dân tộc có một tương lại tươi sáng hơn.

Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ

Trước tiên, tôi xin cảm ơn các bạn sinh viên và quý trường đã cho tôi có dịp để chia sẻ vài cảm nghĩ của tôi. Đặc biệt xin cảm tạ bà Martha Kanter và ông Khoa truởng John Swenson đã có nhã ý mời tôi đến nói chuyện hôm nay.

Vào tháng Tư của 27 năm truớc, sau 20 năm chống trả anh dũng, Miền Nam Việt Nam đã rơi vào tay kẻ thù. Bao biến đổi từ đó. Nhiều nguời trong số các bạn chưa ra đời; với những người nào còn nhớ lại ngày đen tối đó, những nguời mà sau bao năm tháng, thời gian đã in hằn trên khuôn mặt những nếp nhăn và tóc đã điểm mầu sương khói, đã bảo toàn danh dự trong những giờ phút khó khăn, không làm mất đi lý tưởng mà các bạn theo đuổi. Các bạn đã trưởng thành, sự hy sinh và nhiệt huyết của tuổi trẻ đã mang lại sự thành công và trách nhiệm ở những địa vị xứng đáng trong xã hội Mỹ. Còn đối với tôi, như các bạn thấy, tôi không còn khoác khăn quàng tím, mặc áo bay đen, lưng đeo súng lục. Tôi đã chôn tất cả dưới đáy rương, kỷ vật của một thời quá khứ. Cuộc chiến đã lùi dần vào lịch sử, sự thất bại về dân chủ ở Việt Nam đã để lại những dấu ấn trong lương tâm của hai quốc gia. Những câu hỏi đặt ra từ năm 1975 vẫn chưa được giải đáp thỏa đáng. Làm sao với một đồng minh Mỹ vô địch về kinh tế, chính trị và quân sự cộng thêm sự hỗ trợ của các nước đồng minh khác mà Nam Việt Nam lại bị đánh bại bởi một quân đội lạc hậu, nghèo đói của Bắc Việt?  Hôm nay tôi xin đưa ra những câu trả lời về vấn đề này.

Thưa qúy vị,

Sử liệu của Hoa Kỳ thường cho rằng sự thất trận xảy ra vì cuộc chiến thiếu chính danh, vì chính phủ và quân đội Miền Nam tham nhũng, vì lính Nam Việt hèn nhát, vì Mỹ bỏ rơi Nam Việt vv… Tuy nhiên, không một điều kể trên được chấp nhận như một định nghĩa đúng. Tôi muốn nói: “Chúng ta thất trận vì hai lý do. Vì bang giao giữa Mỹ và Nam Việt không đồng nhất, không quân bình, đôi khi trịch thượng. Và cũng bởi vì chiến lược của chúng ta là chiến tranh tự vệ, một chiến thuật tự nó đã đưa đến sự thất bại và sau cùng là sự thất trận”. Làm sao điều này đã thật sự xảy ra? Là một nguời sinh ra và lớn lên trong cuộc chiến, một nguời đã từng tham dự và chỉ huy, đã chứng kiến và chia sẻ sự khổ đau của dân tộc và nhân dân tôi, tôi sẽ cố trình bày một cách khách quan về những sự kiện và những nhận xét đã đưa tới câu tuyên bố táo bạo này.  Đêm nay, thật là khó khăn khi phải trực diện nó, các bạn sẽ nghe được những sự thật mà các bạn chưa bao giờ nghe và tôi tin là các bạn sẽ đồng ý với lời kết luận của tôi.

Sau hiệp định Genève 1954, Việt Nam bị chia đôi. Trên giấy tờ, Bắc và Nam Việt Nam là hai quốc gia song sinh được sinh ra cùng một thời điểm. So sánh với Miền Bắc qủy quyệt, thì Miền Nam chỉ là một đứa trẻ thơ dại. Có nghĩa là từ nhiều năm, trước khi có sự chia đôi đất nước, Hà Nội đã chứng tỏ là một thực thể chính trị đáng nể sau khi đã tham dự hàng loạt các hội nghị quốc tế và theo đuổi cuộc chiến tranh du kích chống Pháp. Hồ Chí Minh đã có tiếng vang trên chính truờng quốc tế qua sự lãnh đạo cuộc chiến chống thực dân Pháp. Chính quyền Hà Nội nắm quyền lực với một thành tích là đánh đuổi ngoại xâm và tranh đấu cho quốc gia độc lập. Họ tự cho họ là những nguời giải phóng nhân dân. Lúc đầu, họ nhận được sự ngưỡng mộ và thiện cảm của đa số các nuớc “bị trị” thuộc Khối Không Liên Kết của Thế Giới Thứ Ba, dĩ nhiên sẽ đối nghịch với những nước giàu có như Pháp và Hoa Kỳ. Bắc Việt còn được sự yểm trợ tối đa của hai siêu cường cộng sản là Nga Sô và Trung Cộng. Điều này đã làm họ tuyệt đối tin tưởng là cuối cùng họ sẽ thắng. Tôi muốn đào sâu vấn đề hơn.

Ai cũng hiểu là nếu không có sự giúp đỡ vĩ đại của các siêu cường Cộng Sản, Bắc Việt không thể kéo dài cuộc chiến xâm lăng trong nhiều năm được. Nga Sô và Trung Cộng rất kín đáo về sự trợ giúp của họ. Trong suốt cuộc chiến, không một viên chức Nga hay Trung Cộng nào có lời tuyên bố can thiệp lộ liễu vào nội bộ của Bắc Việt. Trái lại, những nhà lãnh đạo Bắc Việt luôn luôn đuợc đẩy ra ngoài ánh sáng quốc tế, đuợc trình diện như những người theo chủ nghĩa Dân Tộc, những nhà ái quốc, những nhà tranh đấu cho chính nghĩa, lật đổ đế quốc thực dân và tư bản hầu giải phóng nhân dân Việt ra khỏi ách thống trị. Chẳng bao lâu bộ mặt Mác-Lê bị lật tẩy, Hà Nội cũng bị mất cảm tình chút ít trên thế giới, nhưng sự ngưỡng mộ vẫn còn. Nếu họ không còn có chính nghĩa là đánh đuổi thực dân nữa, đối tượng để tranh đấu chính trị sẽ không còn, thì họ chẳng còn gì để mà tranh đấu.

Về phía Miền Nam, sự việc khác hẳn. Nam Việt phải xây dựng từ số không, và ngay từ đầu đã lệ thuộc quá nhiều vào các siêu cường Tây Phương. Thí dụ như một người sống nhờ vào tiền an sinh xã hội, càng ngày càng lệ thuộc vào sẽ khó dứt bỏ đuợc. Trong những năm của thập niên 50, những hoạt động chính trị và quân sự ở Việt Nam đã chịu ảnh hưởng nặng nề của Pháp, một ông chủ thực dân, về tất cả những quyết định quan trọng. Nguời Pháp đưa ông Bảo Đại ra làm Quốc Trưởng, vị vua cuối cùng của Triều Nguyễn dưới thời bảo hộ Pháp. Tất cả nội các của ông Bảo Đại đều là những người có thời liên hệ với Pháp. Họ không được sự ủng hộ của quần chúng trong nuớc. Chỉ khi ông Ngô Đinh Diệm xuất hiện thì Nam Việt mới có một thể chế và lãnh đạo xứng đáng. Rất tiếc là sau vài năm ngắn ngủi, chính quyền Nam Việt Nam bị băng hoại vì sự áp dụng độc tài gia đình trị. Nhưng so với sự độc tài đảng trị của cộng sản Việt Nam thì sự độc tài ở Miền Nam không thể nào sánh bằng. Khi ảnh hưởng của Pháp bắt đầu mờ dần, sự xuất hiện của Mỹ đã trực tiếp ảnh hưởng hàng ngày vào những quyết định của Nam Việt Nam, thì một vị Tổng Thống có tinh thần quốc gia cấp tiến mà cứng đầu như ông Diệm bắt buộc phải bị lật đổ.

Thưa các bạn,Bang giao giữa Mỹ và Nam Việt Nam chưa bao giờ thể hiện được bình đẳng trong sự hợp tác. Cuộc chiến trở thành “cuộc chiến tranh của Johnson” thay vì chúng ta chiến đấu cho tự do và độc lập. Từ quan niệm trên mà Nam Việt Nam chỉ được xem như là một tiền đồn để chống chủ nghĩa cộng sản. Cuộc chiến đấu giành tự do của chúng ta là một việc cao qúy nhưng chúng ta không cho đó là vấn đề chủ yếu để giải thích cho dân chúng Mỹ và Việt Nam hiểu rằng đây không phải là một cuộc nội chiến giữa chính quyền và quân phản loạn ở Nam Việt Nam, mà là một sự xâm lăng trắng trợn một quốc gia Nam Việt Nam bởi một quốc gia khác có tên gọi là Bắc Việt Nam. Vào giữa thập niên 60, Hoa Kỳ đã đổ nửa triệu quân vào Miền Nam. Mười tỷ đô la đã đổ vào để sử dụng cho quân đội và viện trợ kinh tế, và còn nhiều số tiền lớn khác được chi ra. Sự hiện diện của Hoa Kỳ được thấy rõ trong nhiều lãnh vực hoạt động, ở bất cứ một giai tầng nào trong chính phủ. Ngay cả trong giai cấp lãnh đạo, kể cả Tổng Thống, cũng được chỉ định một vị cố vấn đặc biệt. Sự có mặt và ảnh huởng của Mỹ thật là quá rõ rệt. Nhiều đến nỗi một nguời dân Việt ở ngoài phố đã thốt lên rằng “Ông Đại sứ Mỹ là Quan Toàn Quyền giống như dưới thời Pháp thuộc”. Ảnh hưởng của báo chí và chính giới Mỹ còn tệ hại hơn nữa, luôn luôn muốn nhấn mạnh vai trò của người Mỹ tại Việt Nam, họ đã biến chiến tranh Việt Nam thành một sự đối kháng giữa Hoa Kỳ và Bắc Việt, đẩy nhân dân, chính phủ và quân đội của Nam Việt vào vai trò phụ. Điều này càng được khuyếch đại bởi bộ máy tuyên truyền của cộng sản quốc tế. Vì thế chính quyền Nam Việt Nam dưới con mắt nguời dân trong nuớc và cả thế giới đã trở thành một chế độ bù nhìn được dùng cho quyền lợi của tư bản Mỹ. Hậu quả là mặc dù chúng ta có chính nghĩa, nhưng chúng ta không bao giờ có được một chính danh cần thiết để được lòng nhân dân, một yếu tố tối cần thiết cho sự chiến thắng.

Thưa các bạn,

Chúng ta đều hiểu rằng trong chiến tranh, yếu tố chính trị và quân sự phải hỗ tương. Điều này rất đúng tại Việt Nam. Không những chúng ta bị thất lợi về chính trị mà chúng ta còn áp dụng một căn bản sai lầm trong binh pháp khi chúng ta chọn chiến đấu trong một trận chiến giới hạn và tự vệ. Hải Quân và Không Quân hùng mạnh của Hoa Kỳ đã không được dùng để tấn công vũ bão vào lực luợng địch, buộc họ phải qui hàng, như đã xảy ra trong cuộc chiến Vùng Vịnh và Afghanistan. Hoa Kỳ đã không thi triển sự chớp nhoáng của Không Quân chiến luợc hay sự hùng hậu của Đệ Thất Hạm Đội để tiêu diệt những căn cứ địch, để ngăn cản đường tiếp tế trên bộ cũng như trên biển, để phong tỏa những hải cảng của địch.

Vì phải chiến đấu trong một cuộc chiến giới hạn và tự vệ, Hoa Kỳ đã cho phép kẻ thù liên tục tiếp tế cho quân lính họ ở chiến truờng. Những chính trị gia của Hoa Kỳ vì e ngại Trung Cộng sẽ can thiệp và gây ra một cuộc chiến Triều Tiên khác. Nước Mỹ đã và đang có một Hải Quân hùng mạnh nhất thế giới, nhưng vì sợ mích lòng Nga, đã không chịu phong tỏa Hải Phòng. Hàng tấn vũ khí đã đưa qua hải cảng này để chuyển vào đánh Nam Việt và các đồng minh.

Đã từ lâu, trước khi Hoa Kỳ quyết định ngưng chiến, tôi đã nhận thấy sự thất bại là một kết quả không thể tránh được khi mà Hoa Kỳ thiếu quyết tâm chiến thắng. Tôi đã yêu cầu tình nguyện lãnh đạo một cuộc “Bắc Tiến”. Tôi chỉ đòi hỏi Hoa Kỳ một điều kiện duy nhất là họ sẽ yểm trợ về Không Lực vì quân đội Hoa Kỳ cũng đã có mặt ở Miền Nam để bảo vệ những nơi đông dân cư. Mục đích của tôi không phải là để xâm lăng Miền Bắc, mà chỉ để ép buộc Hà Nội phải rút quân từ phía Nam về để chống đỡ và từ đó sẽ đưa đến thương thuyết hòa bình.

Các bạn cũng như tôi có thể không phải là nhà chiến lược giỏi, nhưng chúng ta cũng phải biết là “Tiên hạ thủ vi thượng sách”, ngay cả lúc chúng ta ở thế bị động. Cái được gọi là chiến dịch “truy kích và tiêu diệt” cũng chỉ được dùng trong ranh giới của chúng ta. Căn cứ địa của địch vẫn luôn luôn là hậu cứ an toàn. Địch đã dùng các nước lân bang như Lào và Campuchia để làm trạm giao liên, căn cứ tiếp liệu và trung tâm dưỡng quân của họ.

Những tuớng lãnh của địch đã áp dụng một kế hoạch hành động là luôn luôn chủ động mở cuộc tấn công. Khi quân mạnh thì họ tấn công, khi họ suy yếu hay mệt mỏi thì họ rút lui về hậu cần để nghỉ ngơi, để an dưỡng và tái phối trí.

Bên phía chúng ta, dân chúng Mỹ đã chờ đợi quá lâu mà không thấy ánh sáng cuối đường hầm, họ đã mất kiên nhẫn. Họ đòi hỏi phải có chiến thắng huy hoàng, một điều không thể nào thực hiện được trong tư thế hoàn toàn bị động của chúng ta. Tinh thần quân lính xuống thấp vì họ bị buộc phải chiến đấu với đôi tay bị trói sau lưng. Mặc dù sự thật là địch đã bị đánh bại và tổn thất nặng nề, cuộc tấn công Tết Mậu Thân 1968 đã là một chiến thắng vẻ vang cho phe địch. Dù thua trên trận địa chiến, họ đã thành công trong việc chia rẽ chính quyền và quần chúng Hoa Kỳ, một yếu tố quan trọng trong chiến lược và đem lại khích động tối đa cho các phong trào phản chiến.

Tòa Bạch Ốc và Ngũ Giác Đài đã trực tiếp điều khiển cuộc chiến qua hàng ngàn dặm đường, đã chỉ thị những chính sách mâu thuẫn với những quyết định không ngừng đưa đến sự lúng túng của các đơn vị trưởng ngoài mặt trận. Việc ra lệnh trải bom B-52 của Tổng Thống Nixon lúc gần cuối cuộc chiến đã quá trễ và quá ít. Điều này chỉ dùng vào một mục đích duy nhất là ép buộc cộng sản phải ngồi vào bàn hội nghị tại Paris để Hoa Kỳ có thể sửa soạn một cuộc rút quân khỏi Việt Nam trong danh dự. Sau vụ Watergate, Hoa Kỳ như con thuyền không lái. Việt Nam đã bị bỏ rơi, trôi theo dòng định mệnh. Sự rã ngũ của Tháng Tư năm 1975 là một kết thúc không thể tránh đuợc. Điều chúng ta tiếc nuối nhất là nó đã kết thúc trong nhục nhã và bi đát.

Thưa các bạn,

Các sỹ quan QK5, Vùng 3 Hải Quân và Không quân tham quan, trao đổi kinh nghiệm với các đồng nghiệp Mỹ trên tàu USS George Washington. Ảnh: nhận được từ thân hữu ĐCV

Tham nhũng và khả năng chiến đấu của quân đội Nam Việt Nam là một trong những lý do được lý giải đưa đến sự thất trận. Dĩ nhiên là có sự tham nhũng ở Việt Nam. Nhưng xin các bạn hãy nêu lên tên của một quốc gia nào mà không có tham nhũng, kể cả những quốc gia dân chủ và xã hội tân tiến nhất. Vẫn biết rằng vì chiến tranh và nghèo đói, mức độ tham nhũng ở Nam Việt Nam có cao hơn mức độ trung bình của quốc tế, nhưng hãy cho phép tôi mở một dấu ngoặc ở đây để thông báo rằng cũng từ ngày làm chủ lãnh thổ Việt Nam thì cộng sản đã tự biểu lộ cho thấy họ cũng hăng hái trong trò chơi tham nhũng này. Ý chí chiến đấu của quân đội Nam Việt nếu các bạn nhìn vào đời binh nghiệp của tôi như một điển hình, các bạn sẽ thấy rằng những chiến công của tôi cũng không thua gì những quân nhân của các nước khác. Phải nói rằng đa số chiến hữu của tôi đều có một tinh thần chiến đấu cũng cao như tôi. Hãy nhìn vào con số thống kê các quân nhân tử trận, những người lính chiến đấu đã hy sinh trong suốt 25 năm chiến tranh, các bạn phải công nhận họ là những người xuất chúng nhất của chúng ta. Rất tiếc là họ đã không được dùng và được yểm trợ đúng mức, và họ đã bị bỏ rơi một cách nhục nhã.

Một vài nhà trí thức tự do thường chỉ trích chế độ Nam Việt là một chế độ độc tài quân phiệt. Thế kỷ vừa qua là một thế kỷ của quyền lực thực sự cai trị. Tất cả sự khác biệt về chủ thuyết và kinh tế  đều được giải quyết bằng vũ lực. Sức mạnh của quân đội là một điều cần thiết cho việc bảo vệ chủ quyền, tự do, độc lập của một quốc gia. Ngoại trừ những nước tiên tiến đã có một quá trình dân chủ lâu dài, một đời sống hòa bình và thịnh vuợng, tất cả những nước nghèo đói, lạc hậu, bị chiến tranh tàn phá của Thế Giới Thứ Ba đều sống dưới một chế độ ảnh hưởng bởi quân đội cả.

Nam Việt Nam cũng không đi ra ngoài biệt lệ đó. Muốn Việt Nam vừa chống chiến tranh xâm luợc vừa xây dựng Dân Chủ là một điều không thực tế. Xây dựng dân chủ ở Tây phương, Anh quốc và Hoa Kỳ cần phải tranh đấu đến hàng trăm năm. Nhưng người Việt Nam chúng tôi chỉ có thể xây dựng dân chủ sau khi hoàn tất hòa bình và độc lập. Cho dù có hoàn tất đi chăng nữa thì dân chủ cũng không thể có ngay lập tức, mà phải xây dựng từng giai đoạn một để hòa nhịp với nếp sống văn hóa, xã hội và kinh tế của mỗi nguời dân. Chỉ trích Nam Việt Nam đã không xây dựng được một chế độ dân chủ để rồi lấy đó làm cái cớ để bỏ rơi Nam Việt Nam là một sự phản bội phũ phàng đối với một đồng minh đã đặt niềm tin vào lời nói của Hoa Kỳ.

Năm 1968, khi lực lượng cộng sản chọn ngày Tết để tổng tấn công vào những thành phố chính của Miền Nam, khi mà những nguời lính Nam Việt Nam bị bao vây và bị tràn ngập, họ đã kêu gọi các lực lượng đồng minh Hoa Kỳ đến yểm trợ hỏa pháo và phi pháo, thì những người Việt Nam chúng tôi chỉ gặp phải những lời giải thích bí ẩn bảo rằng không có một phi cơ hay trọng pháo nào sẵn sàng, hoặc là đơn vị cần phải chờ lệnh của thượng cấp. Khi đó tôi có thể nhìn ra từ phía nhà tôi, và thấy rằng hàng dãy phi cơ khu trục của Hoa Kỳ nằm án binh bất động. Tại sao đồng minh chúng tôi lại không tiếp cứu chúng tôi tức khắc khi chúng tôi kêu cứu? Chỉ có một điều để giải thích cho sự việc này là, có một nhân vật cao cấp nào đó trong chính phủ của Hoa Kỳ đã can thiệp vào vụ tấn công này, muốn nó sẽ thành công đến một mức độ mà nhà cầm quyền Nam Việt phải nhượng đất cho “Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam”, một cánh tay của quân xâm lăng Bắc Việt.

Trong thời gian Hòa Đàm Paris, ông Đại Sứ Mỹ Averell Harriman đã nhấn mạnh rằng “Mặt Trận Giải Phóng” phải được ngồi ngang hàng với Nam và Bắc Việt Nam. Ông ta đã từ chối không nghe lời phản đối của chính quyền chúng tôi.

Thưa các bạn,

Khuôn mẫu của Hoa Kỳ là tự do, cơ hội học vấn và kinh tế tài chính, là lối sống, là sự giàu sang và hoàn mỹ của một quốc gia và dân tộc đã đưa đến sự ganh tị trong các nước văn minh. Ngày nay, ở Việt Nam, con cháu của những người đã một thời chống Mỹ cách đây hai thập niên, tất cả đều yêu chuộng mọi điều thuộc Mỹ quốc. Cách đây vài năm, hàng ngàn cựu chiến binh Hoa Kỳ đã viếng thăm Việt Nam, đã được quần chúng đón chào và ngưỡng mộ. Khi Tổng thống Bill Clinton viếng thăm Việt Nam cách đây hai năm, mọi nguời dân từ Nam chí Bắc đều chen chúc nhau để được nhìn thấy ông. Bởi vì cho dù những nhà lãnh đạo ở Việt Nam có tuyên bố gì trong quá khứ đi chăng nữa thì đại đa số nguời dân Việt Nam (hiện giờ là 83 triệu) đều theo Mỹ cả. Hoa Kỳ tượng trưng cho một đời sống tốt đẹp hơn, cơ hội và hy vọng. Điều mà tất cả những nguời lính Hoa Kỳ và Nam Việt Nam trước kia đã chiến đấu để mang lại cho đất nước chúng tôi. Sự niềm nở đón tiếp ông Clinton hay những người Mỹ khác cũng vậy, là một bằng chứng cụ thể rằng những người chiến đấu cho dân chủ và tự do đã đứng ở phía chính danh.

Vì thế tôi muốn nói hôm nay với những cựu chiến binh Việt Nam, Hoa Kỳ, Úc, Tân Tây Lan, Thái, Nam Hàn và tất cả những người đã ủng hộ cho cuộc chiến vì tự do của chúng tôi, chúng ta không có gì để mà xấu hổ. Với ba mươi năm dưới sự cai trị tồi tệ của Đảng Cộng Sản đã chứng tỏ là chúng ta chống chế độ cộng sản là đúng. Do đó, chúng ta hãy bỏ qua mặc cảm tội lỗi, cái gọi là “Hội Chứng Chiến Tranh Việt Nam” và tự hãnh diện về chúng ta và những cố gắng của chúng ta. Thế giới đã thay đổi rất nhiều trong thập niên vừa qua. Những nước theo cộng sản ở Đông Âu đã từ bỏ chủ thuyết Mác-Lê và du nhập những nguyên tắc kinh tế thị trường vào kinh tế của quốc gia mình.

Tập đoàn cộng sản lãnh đạo ở Việt Nam đã qui tiên rồi:  “Hồ Chí Minh đã mất, Phạm văn Đồng đã đi, Trường Chinh, Lê Duẩn, Võ Chí Công đã mất. Ngay cả những nhà lãnh đạo cuộc chiến chống họ như ông Richard Nixon và ông Lyndon Johnson đều đã mất. Những nhà lãnh đạo Miền Nam như ông Ngô Ðình Diệm đã qua đời. Ông Nguyễn văn Thiệu đã chết. Ông Dương văn Minh cũng đã chết. Riêng chỉ còn mình tôi. Tôi là người cuối cùng. Và tôi muốn nói rằng đây là lúc mà thế hệ của tôi gọi là “nguời Việt chống Cộng” hãy bỏ quên đau buồn và thù hận để nhường buớc cho thế hệ trẻ hơn, những con em của chúng ta, có cơ hội mang người Việt Nam xích lại với nhau. Đây là thời điểm mà thế hệ của tôi nên chấm dứt kêu gọi hận thù.

Giống như hầu hết những người Việt chống Cộng khác, tôi là một chiến sĩ. Tôi chiến đấu hết mình và tôi rất hãnh diện về những điều mà tôi đã hoàn thành trong thời chiến. Tôi rất thương tiếc những đồng đội can đảm của tôi đã chết cho chính nghĩa tự do. Và tôi cũng thấu hiểu những anh chị em đã chịu đựng sự đau khổ dưới chế độ cộng sản. Tôi hiểu rằng họ đã chịu đựng nỗi khổ đau của cái gọi là trại tù cải tạo, rằng họ đã mất đi người thân, mất đi tự do cá nhân, mất đi cả nhà cửa và tài sản.  Điều này thật bất công và đau đớn. Nhưng quá khứ đã qua. Chúng ta giờ đã quá già, tương lai Việt Nam không còn trông cậy vào chúng ta nữa. Hãy để cho thế hệ trẻ tự tìm ra hướng đi về tương lai mà không phải mang gánh nặng tạo ra bởi cha ông chúng. Đây là thời điểm để cho thế hệ chúng ta ngưng rao giảng sự thù hận và cay đắng. Có lợi gì để tranh cãi ai đúng, ai sai?

Do đó hôm nay tôi muốn nói, chúng ta, những người đã già, hãy bỏ qua một bên những sự thù hận. Nếu chúng ta không thể tha thứ thì chúng ta hãy quên đi. Chúng ta hãy để cho một thế hệ mới tự đi tìm con đường của họ, bởi vì Việt Nam sẽ chỉ phát triển khi có sự đoàn kết. Việt Nam đã đến lúc cần phải có những quyết định dứt khoát. Trung Hoa dường như muốn biến đất nước chúng ta thành một thuộc địa về kinh tế, một nguồn cung cấp tài nguyên, một thị truờng cho các hàng tiêu thụ. Việt Nam sẽ phải quay sang Trung Hoa vì đó là nguồn gốc của đa số di sản văn hóa hay là thiết lập một bang giao bền vững với Hoa Kỳ dựa trên mô thức của sự tương kính và hỗ tương quyền lợi kinh tế mà vẫn giữ được độc lập? Điều mà những thường dân mong muốn rất rõ ràng qua sự đón chào thân thiện với du khách Mỹ. Bây giờ mọi nguời đã biết là nguời Cộng Sản Việt Nam đã chết.

Đồng bào chúng tôi muốn bắt chước như Nam Hàn, Singapore, Đài Loan và Hồng kông. Họ muốn biến Việt Nam thành một tiểu long th̗ứ năm. Điều đó không phải dễ. Việt Nam phần lớn vẫn là một quốc gia nông nghiệp, vẫn cần sự giúp đỡ phát triển hiện đại hóa cơ sở hạ tầng. Vấn đề tham nhũng vẫn tồn tại, mặc dầu cuối cùng thì chính quyền Hà Nội cũng đã nhận thức đuợc điều gì phải làm để thanh lọc và giảm thiểu tham nhũng đến mức bình thường được quốc tế chấp nhận. Tôi tin tưởng rằng sự thay đổi của nền kinh tế và cơ chế của Việt Nam đã bắt đầu.

Sự hồi sinh kinh tế Việt Nam đã bắt đầu để có thể khuyến khích những người tị nạn trở về. Hơn ba triệu người trong chúng ta, hai phần ba ở Bắc Mỹ. Nếu so sánh với một người Việt Nam trung bình ở quê nhà thì chúng ta có kiến thức và nhiều khả năng chuyên môn hơn. Có nguời cho rằng giới trẻ sinh ra ở đây hay đã rời xa quê hương lúc còn nhỏ sẽ không muốn từ bỏ nếp sống thoải mái ở Mỹ, Gia Nã Đại, Pháp hay Úc. Nhưng tôi tin rằng có rất nhiều bạn trẻ mong muốn giúp nuớc nhà phát triển. Bao năm qua, tôi đã đi tới nhiều nơi trên đất Mỹ, gặp gỡ và thăm hỏi nhiều bạn trẻ, đã cho họ biết rằng họ là rường cột của tương lai Việt Nam, rằng đất nuớc cần đến khối óc và bàn tay của họ. Và tôi cũng vui mừng thông báo cùng các bạn là trong số những nguời trẻ mà tôi có dịp nói chuyện, nhiều người cũng có lòng yêu nuớc không kém ước vọng cá nhân, họ sẽ trở về quê nhà khi thấy có cơ hội để áp dụng sở trường của họ.

Những nguời Hoa Kỳ đến Việt Nam để tìm môi trường buôn bán sẽ nhận thấy một tình thế khác hẳn thời gian những quân lính đến vì chiến tranh. Họ sẽ không còn là những “Anh Hai” đến để giúp chiến đấu. Họ sẽ là những cổ phần viên, những nhà thầu. Nhưng để xây dựng cây cầu nối lại những hiểu lầm không thể tránh được giữa Đông và Tây sẽ là những người trẻ Việt Nam sinh trưởng hay theo Đại Học tại Hoa Kỳ. Trong vòng mười, mười lăm năm nữa, hầu hết những công ty thương mại thành công sẽ được quản trị bởi những người có kiến thức và tư duy theo kiểu Mỹ.

Tôi rất lạc quan về thế hệ lãnh đạo Việt Nam kế tiếp. Bây giờ thì Hiệp Uớc Thương Mại đã được phê chuẩn. Sự giao thiệp giữa hai quốc gia đã gia tăng. Những viên chức của Đảng Cộng Sản đã viếng thăm Mỹ quốc, tiếp xúc với nhiều người Mỹ, tôi tin tưởng rằng họ sẽ sớm thay đổi những điều luật kinh tế đã hạn chế Việt Nam mấy chục năm nay. Vì thể chế chính trị được xây dựng trên nền tảng luật lệ kinh tế, thay đổi luật lệ chính trị sẽ theo sau, việc quốc doanh nhường chỗ cho chủ nghĩa tư bản. Hậu quả sẽ lung lay tới mọi giai tầng xã hội, kể cả tư pháp và lập pháp. Hiện giờ đã có những chuyên gia và doanh gia hăng hái tham dự vào những quyết định hàng ngày của chính phủ. Một khi Việt Nam đã theo đường hướng tư bản, thì dân chủ và luật lệ sẽ đi theo. Chủ nghĩa Cộng sản Việt Nam kéo dài chưa đầy năm mươi năm, nhưng khi chúng ta nhìn lại Việt Nam với bốn ngàn năm văn hiến thì sẽ thấy năm mươi năm chỉ là một nháy mắt. Tuy tôi không còn là một thanh niên, nhưng sức khỏe vẫn còn tráng kiện, hy vọng sẽ sống thêm nhiều năm nữa. Tôi muốn sống để nhìn thấy một nước Việt Nam tái sinh. Xin tất cả cá bạn giúp một bàn tay để điều này thành sự thật.

Thưa các bạn,

Để kết luận, cho phép tôi được nói là tôi rất sung sướng được hiện diện ở đây. Tôi sinh ra và lớn lên trong chiến tranh. Tôi đã chiến đấu bên cạnh các chiến binh Hoa Kỳ và đã cùng đổ mồ hôi, máu và nuớc mắt với nhau. Tôi lấy làm vinh dự được chia sẻ những nỗi vui, buồn của những nhà lãnh đạo đáng kính của quí quốc. Trong suốt hai mươi bảy năm sống đời tị nạn, tôi đã từng làm việc mười bốn tiếng một ngày trong một tiệm rượu, và tôi cũng đã từng là một ngư phủ sống trên biển hàng tuần để câu tôm cá. Tôi đã thấy các con tôi trưởng thành và tự lập và tôi cũng đã qua bao thăng trầm của cuộc sống. Điều an ủi lớn nhất trong đời tôi là lần đầu tiên ở nơi đất khách, dù trong hoàn cảnh nào, tôi luôn luôn được người Mỹ đón tiếp nồng nàn. Nước Mỹ đã cưu mang tôi và gia đình tôi trong suốt hai mươi bảy năm yên lành trên một đất nước thịnh vượng và hoàn mỹ nhất thế giới. Hoa Kỳ là quê hương thứ hai của tôi. Tuy nhiên, tôi quyết định một ngày không xa, tôi sẽ trở về chôn nhau cắt rốn, được sống và chết nơi quê nhà. Xin cảm ơn lòng tốt và bao dung của các bạn và nhân dân Hoa Kỳ. Thay mặt tất cả những người Việt Nam, tôi xin đa tạ 58 ngàn người Mỹ đã hy sinh bỏ mình cho tự do của dân tộc tôi. Tôi cũng xin tỏ lòng biết ơn hàng triệu người đã quên thân mình cho dân tộc tôi, những người đã gác bỏ ước vọng riêng tư để giúp đỡ những người khốn cùng mà không mong được trả ơn. Cảm ơn lòng can đảm, lòng vị tha và bao hy sinh đau đớn của các bạn.

Năm nay tôi đã 72 tuổi (năm 2003), một người lính già. Và như Douglas McAthur, một trong những danh tuớng của các bạn đã nói: “Người lính già không bao giờ chết, họ sẽ dần dần mờ nhạt đi thôi”. Trong những năm tháng còn lại, người lính già này luôn hướng về Việt Nam, quê cha đất tổ. Tôi xin dâng hiến phần đời còn lại để phụng sự cho quê mẹ và cho dân tộc tôi mà không có một tham vọng nào và không đòi hỏi một sự báo đáp nào. Tôi kêu gọi các bạn, nhất là các chiến hữu Hoa Kỳ của tôi, hãy giúp sức xây dựng một nhịp cầu thân hữu nối lại giữa hai quốc gia. Sự yêu thương hay thù hận hãy quên đi. Thù hận phải được thay thế bằng tình hữu nghị giữa hai dân tộc. Cám ơn sự theo dõi của các bạn. Và bây giờ tôi xin trả lời các câu hỏi.

Người dịch:  Nguyễn Lệ Hà

Speech by Gen Nguyen Cao Ky, 13 Jun 2003

Students, faculty, administrators and staff, I thank you for this opportunity to share a few thoughts. I am particularly indebted to President Martha Kanter and to Dean John Swensson for your kind invitation to speak today.
Twenty-seven years ago last April, after 20 years of heroic resistance, South Vietnam fell to the enemy. Much has happened since. Many of you were not yet born-but those who still recall that dark day, those to whom over the years time has added lines to your faces and gray to your heads, who served through those difficult times with honor-you have not lost the dedication to liberty inspired by your high ideals. You have matured, and the sacrifices and passions of your youth have given way to the rewards and responsibilities that accompany your positions of esteem in American society. As for me, as you can see, I am no longer wearing my purple scarf, my flight suit, my six-shooter. I have put them all away at the bottom of my trunk, memorabilia of a time past.
If the war has faded into history, democracy’s defeat in Vietnam has left deep marks in the consciousness of both nations. The questions asked since 1975 have yet to bring satisfactory answers. How could an alliance of the 25 million people and armed forces of South Vietnam with the colossal American political, economic and military apparatus, along with the forces of other allied nations, have been defeated by the small, impoverished people and army of North Vietnam?
Today I will offer my own answers to those questions.

LADIES AND GENTLEMEN:

American history books postulate that the war was lost because it lacked legitimacy, because of corruption in the government and armed forces of South Vietnam, because of the cowardliness of South Vietnamese troops, because America abandoned South Vietnam, and so forth. None of these, however, is accepted as definitive.
I say to you now: We lost the war for two reasons: Because of the ill-conceived, unequal, and often condescending relationship between the United States and South Vietnam.
And because our overall strategy was defensive war, a strategy that by itself would have led to failure and eventual defeat.
And how did this happen, exactly? As someone born and raised during that war, one who participated in and led it, who has witnessed and shared in the sufferings of his country and of his people, I will attempt to present as objectively as I can the facts and observations that lead me to such a bold statement. Tonight, as difficult as it may be to face them, you will hear facts that you have not heard before, and I trust you will share my conclusions.
LADIES AND GENTLEMEN:

After the 1954 Geneva international conference, Vietnam was divided into two parts. On paper, North and South Vietnam were twin countries born at the same moment. Compared to the sophisticated North, however, the government of South Vietnam was a very young and innocent sibling. To explain: Many years prior to the partition, through participation in a series of international conferences, and by pursuing a guerrilla war against a European power, the Hanoi leadership had demonstrated that they were a formidable political reality.

Through leadership of the fight against French colonialism, Ho Chi Minh had made a name for himself in the international political arena. The Hanoi government took power with a record of resistance against the colonialists and of struggle for national independence.
Claiming to be the liberators of the people, the North Vietnamese enjoyed from the beginning the admiration and sympathy of the majority of the Third World’s non-aligned nations, which suffers from “oppressed peoples’ complex” and are naturally against such mighty and wealthy countries as France and the United States.

Furthermore, the North Vietnamese had the full support of the two communist superpowers-the Soviet Union and Communist China-and this gave them absolute confidence in their final victory.
I would like to dwell a little on that support. We all know that without the massive assistance of the communist superpowers, North Vietnam could not have prolonged its war of invasion for so many years. But the Soviet Union and Communist China were very quiet about their aid. Indeed, during the entire war, no Soviet or Chinese official made any statement that sounded like instructions or smacked of interference in the internal affairs of North Vietnam. Quite the contrary.  North Vietnamese leaders were always pushed into the international limelight, presented as nationalists, as patriots, as fighters in a noble cause, seeking to overthrow colonialists and imperialists, and to liberate the oppressed people of Vietnam.
When they were later revealed as Marxist-Leninists, the Hanoi regime lost some sympathy around the world, but continued to benefit from lingering admiration. If they no longer had a just cause-the expulsion of a colonial power-they maintained the appearance of legitimacy because they had no significant political opposition. They had none, because they had taken great pains to eliminate it.
In the South, however, things were very different. South Vietnam had to be built from scratch and, from the very beginning, depended far too much on the Western superpowers. As in the case of a person on public welfare, this dependency, which became greater with each day, was quite difficult to shake.
During the Fifties, political and military activities in Vietnam were heavily influenced by the French, who as recent colonial masters, made all-important decisions. The French installed as the first head of state Bao Dai, last emperor of the Nguyen dynasty that ruled  Vietnam when it was under French domination. All the men selected to assist Bao Dai had a past that was closely linked with the French colonial era. They had no support among those they governed.
Only with the advent of Mr. Ngo Dinh Diem did South Vietnam have a worthy regime and a dignified leadership. It is regrettable that within a few short years, as power corrupts, the South Vietnamese regime deteriorated into a family dictatorship. But it was no match for the dictatorship of the communist party in the North. At a time when the French influence was fading and when the American presence was directly affecting even day-to-day decisions in South Vietnam, a stubborn radical nationalist like Mr. Diem was bound to be overthrown.
LADIES AND GENTLEMEN:

The relationship between the US and South Vietnam never appeared to be a partnership between equals. Instead, our struggle for freedom and independence became “Mr. Johnson’s War.”
From its inception, South Vietnam was only considered to be an outpost in the war against communism. Our fight for freedom was a noble undertaking, but we committed a major political blunder because we did not give top priority to explaining to the American and Vietnamese people that this was not a civil war between the government and rebels in South Vietnam, but a blatant invasion of the country of South Vietnam by another country, a country called North Vietnam.
By the mid-sixties, the United States had poured more than half a million troops into South Vietnam.  Tens of billions of dollars had been spent for military expenditures and economic assistance, and even larger sums were earmarked. The American presence was felt in every field activity, at every level of government. Even the top leaders of South Vietnam, including the President, were each assigned a special advisor. The American presence and influence were strikingly blatant. So much so that the Vietnamese man in the street referred to the US Ambassador as the Governor General, as the French had called their top colonial official.

The influence of the American media and politicians was even more devastating. Always emphasizing the role of the Americans in Vietnam, they transformed the Vietnam war into a conflict between the United States and North Vietnam, relegating the people, the government and the armed forces of South Vietnam to a subordinate role. This situation was further misrepresented by the propaganda machine of international communists. The government of South Vietnam thus became, in the eyes of the peoples of Vietnam and of the world, a puppet regime serving the interests of American imperialists.
Consequently, although our cause was just, we never acquired the appearance of legitimacy necessary to win the hearts and minds of the people, an essential ingredient of victory.
LADIES AND GENTLEMEN:

We all know that in war the political and military factors have to complement each other.  This was particularly true in Vietnam. We were not only politically at a disadvantage, but we also committed a basic blunder in military strategy when we chose to fight a limited and defensive war.
The might of the US Air Force and US Navy was not used in lightning attacks to  force the enemy to his knees, as it was in Afghanistan and in the Gulf War. America did not unleash its vaunted Strategic Air Force or its massive Seventh Fleet to destroy enemy bases, to interdict their lines of supply on land and sea, to blockade enemy ports.
By fighting a limited, defensive war, America permitted the enemy to endlessly re-supply their field armies. American politicians were afraid that the Chinese might intervene and create another Korean war.  The US was and is the world’s leading naval power, but, fearing to offend the Soviets, failed to blockade Haiphong.  A river of munitions flowed through that port to be used against South Vietnam and its allies.
Long before America decided to quit the war, I realized that this would be the inevitable result of America’s lack of commitment to victory. I offered to lead a South Vietnamese attack on North Vietnam, which was defended by a single division of regular troops. All I required from the US was air support, and that US troops already in my country would defend population centers. My purpose was not to conquer, but to force Hanoi to withdraw its divisions from the South in order to defend the North, and thus to bring about genuine peace negotiations.
You and I may not be brilliant strategists, but we should all know that the best defense is a good offense. Moreover, even our defense was passive. So-called “Search and Destroy” operations were kept within our borders. Enemy territory was always a safe rear base. The enemy also used neighboring Laos and Cambodia to establish lines of communication, supply bases, recuperation centers for their troops. The enemy general staff had adopted a plan of action calling on them to always take the initiative. When their troops are strong, they would attack, but when they were tired and weak they would withdraw to their rear bases to rest, recuperate and regroup.
On our side, because the American people had waited too long without seeing the light at the end of the tunnel, they became impatient. They demanded glorious military victories, an impossible achievement in view of our totally defensive posture. Troop morale plunged because they were asked to fight with their hands tied behind their backs. In spite of the fact that they were beaten back and suffered great losses, the Tet offensive of 1968 was a major enemy victory.  Even though they lost on the battlefield, they accomplished an essential strategic objective by breaking the resolve of the U.S. government and American people, and giving maximum impetus to the anti-war movements.
The White House and the Pentagon directly conducted the war from thousands of miles away, issuing contradicting policies with ever- changing directives that created confusion in commanders at the front. The B-52 carpet bombings ordered by President Nixon toward the end came too late and were too short-lived. They served only to pressure the Communists to come to the Paris peace talks so that America could prepare for an honorable withdrawal from Vietnam.   After Watergate, America was a ship without a rudder. Vietnam was left to its own devices, drifting along towards its fate. The disintegration of April 1975 was an unavoidable conclusion. Our only regret and sorrow was that that ending was shameful and tragic.

LADIES AND GENTLEMEN:

Among the reasons apologies have advanced to explain the defeat was the corruption and the fighting capability of the troops in South Vietnam. Of course there was corruption in Vietnam. But please name one country, including the most democratic and the most advanced societies, where there is no corruption to take its toll. I recognize, however, that due to the war and poverty, the degree of corruption in South Vietnam was somewhat above the international average.  But allow me to open a parenthesis here and report that, since taking over the control of all Vietnam, the Communists have shown themselves quite adept at the game of corruption.
Concerning the will to fight of the South Vietnamese troops, if you take my military career as typical for most of the fighting men of South Vietnam, you will find that my achievements will compare favorably to those of any other military man in any other country.   I must say that the majority of my comrades-in-arms have the same spirit and the same fighting capability as I do. Look at the number of our soldiers killed in action. Consider the privations and the sacrifices of these South Vietnamese fighting men during 25 years of war, and you will have to recognize that they were our best and brightest. It’s too bad that they were not used and supported adequately, and that they were shamelessly abandoned.
LADIES AND GENTLEMEN:

Some liberal intellectuals used to criticize the South Vietnamese regime as a military dictatorship. The century just past is one in which sheer force always ruled. Every economic or doctrinal difference had to be resolved by force. Military strength is necessary to protect sovereignty, the freedom and independence of a country. With the exception of those advanced countries that had a long democratic tradition and were lucky to live in peace and prosperity, all the poor, backward, war-torn countries of the Third World lived under the direct influence of the army.
South Vietnam was no exception. To insist that Vietnam fight a war while at the same time building democracy was impractical. Building democracy in the West, in England and then in the United States, took centuries of struggle. We Vietnamese could only begin to build democracy after achieving peace and independence. And even then, democracy could not be achieved overnight, but must be built in stages and in harmony with the cultural, social and economic traditions of each people. To accuse South Vietnam of not establishing a democratic regime and to use that as an excuse for abandoning South Vietnam was a blatant betrayal of a trusting ally that had put all his faith in the word of America.
In 1968, when the communist forces chose the Lunar New Year, known as Tet, to launch a coordinated attack against major South Vietnamese cities, beleaguered and outnumbered South Vietnamese defenders called upon neighboring US forces for fire support, for air support, for troop support. We Vietnamese were met with cryptic explanations that no aircraft or artillery were available, or that the unit had to wait for instructions from high headquarters. I could look out of my house at this time and see rows of US fighter-bombers parked in revetments. Why did our allies not come to our aid immediately? There can be only one explanation, and that is that someone, high in the US Government, anticipated this attack, and wanted it to succeed to the degree where South Vietnam would have to cede territory to the NLF, which, as history has shown, was merely an arm of the North Vietnamese invasion force.
Nevertheless, during the Paris Peace Talks US Ambassador Averill Harriman insisted that the NLF be seated at the negotiating table as an equal to South Vietnam and North Vietnam. He refused to listen to my government’s pleas.
LADIES AND GENTLEMEN:

The idea of America – its freedom, its financial and educational opportunities, the lifestyle, wealth and beauty of the country and its people, remains the envy of the civilized world. In Vietnam today the sons and daughters of those who fought against American soldiers for two decades love everything American. Over the last few years, tens of thousands of American veterans have visited Vietnam and encountered a populace that welcomes and admires them.

When President Bill Clinton visited Vietnam two years ago, Vietnamese from Hanoi in the north to Saigon in the south turned out in droves, eager for even a glimpse of him. Because whatever Vietnam’s leadership may have said in the past, the great masses of Vietnamese people, now numbering 83 million, are for America. The US represents a better life, opportunity, hope – everything that American and South Vietnamese soldiers fought to bring to our country so many years ago. The tremendous outpouring of affection for Mr. Clinton, no less than for all Americans, is proof that those who fought for freedom and democracy were on the right side.
Therefore I say today that the veterans of that lost war, Vietnamese and Americans, Australians and New Zealanders, Thais and South Koreans and all the others who supported our fight for freedom – we have no cause for shame. Thirty years of misrule prove conclusively that we who opposed the Communist regime were right!
So, let us each now put aside our feelings of guilt, the so-called “Vietnam War Syndrome,” and be proud of ourselves and our efforts.
The world has changed a lot in the last dozen years. The formerly Communist nations of Eastern Europe have renounced Marxist dogma and adopted free market principles in their national economies.  And the communist cadres who ran Vietnam for decades now sleep with their ancestors.  Ho Chi Minh is gone. Pham Van Dong is gone. Truong Chinh, Le Duan, Vo Chi Cong – all dead.
And so are the American leaders who fought them: Mr. Richard Nixon and Mr. Lyndon Johnson – both gone.   Of the leaders of the South, Ngo Dinh Diem is gone. Nguyen Van Thieu passed from this world. Duong Van Minh is gone.

Only I remain. I am the last.
And I say that it is now time for the so-called anti-Communist Vietnamese, my generation, to let go of our pain and anger, to allow the younger generation, our sons and daughters, to have their chance to bring Vietnam together. It is time for my generation to stop preaching hate and bitterness.
Like most of the old Anti-Communists, I am a fighter. I fought hard, and I take pride in what I was able to accomplish during the war.

I still mourn my brave comrades who died fighting for freedom. And so I understand how my brothers and sisters suffered under Communism. I know that they endured the agonies of the so-called re-education camps, that they lost loved ones, lost their personal liberty, lost their homes and property.  It was unjust. It was humiliating. It was painful.
But our time has passed. We are now too old; the future of Vietnam no longer depends on us. It is only right that the new generation find their path to the future without having to carry the heavy burdens created by their parents. So it is time for my generation to stop preaching hate and bitterness. What is the point in arguing now about who was right and who was wrong?
So I say today, let us older people put aside our own feelings of pain and anger. If we cannot forgive, then let us forget.  Let us allow the new generation to find its own way, because Vietnam will realize its potential only through unity.
Vietnam now approaches a crossroads. China seems to want to turn my country into an economic colony, a source of raw materials, a market for its manufactured goods. Should Vietnam turn toward China, source of much of its cultural heritage, or, by establishing an enduring partnership with America based on a new paradigm of mutual respect and shared interests, remain independent?
What most ordinary Vietnamese want is very clear from the friendly reception given to visiting Americans.
Now everyone knows that Vietnamese Communism is dead. The business of Vietnam is now business. My countrymen want to emulate South Korea and Singapore, Taiwan and Hong Kong. They want to turn Vietnam into the fifth Small Dragon.
This is not an easy task. Vietnam remains a largely agrarian nation that still needs to develop a modern infrastructure. The problem of corruption remains, though it appears that at long last the Hanoi government realizes what must be done to clean its house and reduces corruption to internationally accepted norms. I am confident that the transformation of Vietnam’s economy and institutions have already begun.

Vietnam’s economic rebirth has already begun to encourage many exiles to return. There are more than three million of us, two-thirds in North America, and compared to the average Vietnamese we are better educated and have superior skills.
While some worry that the younger generation, those born in exile or who left Vietnam as small children, may not want to give up comparatively easy lives in the US, Canada, France and Australia, I believe that many will want to help develop the land of their fathers. I have crisscrossed America for years, meeting and spending time with this younger generation, telling them that they are important to the future of Vietnam, that the country needs their brains and their hard work. And I am happy to report that among those with whom I have spoken, many young Vietnamese, motivated by patriotism no less than personal ambition, will return to their homeland when they see ways to employ their skills.

Americans who come to Vietnam to pursue business opportunities will find a much different situation than the soldiers who came during the war. They will not be big brothers come to help fight. They will be partners, contractors. Helping to bridge the inevitable misunderstandings between East and West will be the generation of Vietnamese born or educated in America.  In ten or fifteen years, most successful Vietnamese enterprises will be run by those who have learned American techniques and American thinking.
I am optimistic about the next generation of Vietnamese leaders. Now that the trade agreement is ratified, there has been a sharp increase in contacts between the two countries.  As Communist Party officials see more of America and meet more Americans,  I am confident that they will see the wisdom of moving Vietnam toward the West. I believe that they will soon change the economic rules that have limited Vietnam for decades.
Because political systems are built on a foundation of economic rules, changes in political rule will follow as state ownership gives way to private capitalism. The effects will ripple through every corner of society, including the courts and the legislature. Already, bright technocrats and entrepreneurs have begun to make the day-to-day decisions of government and business. Once Vietnam embraces capitalism, democracy and the rule of law will follow.
Communism in Vietnam lasted less than 50 years. When you consider that Vietnamese culture is thousands of years old, that half-century is really not much more than a temporary pause, the blink of an eye. If I am no longer a young man, my health is good and I expect to live many more years. And so I believe that with the help of America, I will live to see Vietnam reinvent itself.  I invite you to all to find ways to make that possible.

LADIES AND GENTLEMEN:

In conclusion, allow me to say that I am very happy to be here meeting with you. I was born and grew up during war. I have fought alongside American fighting men and women, and together with them I have shed blood, sweat and tears. I have been privileged to share many joys and sorrows with the remarkable men who were the leaders of your country. During my 27 years living in exile, I have worked years of 14-hour days in a liquor store, and I have been a fisherman who spent weeks at a time on the open sea to catch fish and shrimp. I have watched my children grow up and start their own families, and I have experienced enough ups and downs to last a lifetime.
My biggest consolation is that in what were at first alien surroundings, and under any circumstance, I have always been welcomed by Americans. You have accepted me and given me and my family 27 peaceful years in the wealthiest and most beautiful country in the world. Although I am determined to someday return to my homeland, and when my time comes, to return to the soil where my ancestors sleep, I accept America as my second home. I thank each of you for the abundance of kindness and courtesy that you and your countryman have extended.
And, on behalf of all Vietnamese, I thank the 58,000 Americans who so many years ago made the ultimate sacrifice in defense of my country’s liberty. I am equally grateful to the millions of others who risked life and limb for my country, who put aside careers and personal aspirations to come to the aid of desperate people that they did not even know. Thank you for your courage, your compassion, your many painful sacrifices.

I am 72 years old now, an old soldier, and as Douglas MacArthur, one of your most celebrated generals, has said, “Old soldiers never die, they just fade away.” In his fading years, this old soldier still yearns for Vietnam, the land of his ancestors. I offer the remaining years of my life to the service of my motherland and to my people without any ambition and without asking for anything in return. I am appealing to you and especially to my American comrades-in-arms, to try and build this bridge of friendship between our two countries. This love and hate affair has to end. Hate needs to be replaced with a new deep sympathy between our two people.
Thank you for your kind attention, and I will now take a few questions.

THE END

 

Former South Vietnam leader Nguyen Cao Ky dies

Nguyen Cao Ky, the flamboyant former air force general who ruled South Vietnam with an iron fist for two years during the Vietnam War, died Saturday. He was 80.

By DAISY NGUYEN and SEAN YOONG; Associated Press
Published: 07/22/11 6:12 pm | Updated: 07/23/11
KUALA LUMPUR, Malaysia — Nguyen Cao Ky, the flamboyant former air force general who ruled South Vietnam with an iron fist for two years during the Vietnam War, died Saturday. He was 80.

Ky died at a hospital in Kuala Lumpur, Malaysia, where he was being treated for a respiratory complication, his nephew in Southern California told The Associated Press.

“He was in good health, but in the last couple of weeks he had been weak,” Peter Phan said. He said Ky split his time between his home in California and Vietnam.

One of Ky’s daughters, a prominent Vietnamese-American entertainer, told the AP in an email message that she was flying from Los Angeles to Malaysia to find out the exact cause of death.

One of his nation’s most colorful leaders, Ky served as prime minister of U.S.-backed South Vietnam in the mid- 1960s. He had been commander of South Vietnam’s air force when he assumed the post in 1965, the same year U.S. involvement in the war escalated.

He was known as a playboy partial to purple scarves, chic nightclubs and beautiful women. In power during some of the war’s most tumultuous times, he was a low-key but sometimes ruthless leader.

“It’s true that I did have absolute power when I was made premier,” he said in a 1989 Associated Press interview. “You may recall there was no congressional body in South Vietnam at that time. For more than two years, my word was the absolute law.”

From 1967 to 1971, he was vice president under his frequent rival, Gen. Nguyen Van Thieu.

When Thieu’s government in Saigon fell to North Vietnamese troops in 1975, Ky fled by piloting a helicopter to a U.S. Navy ship. He and his family eventually settled in the United States, where he led a quiet life largely away from politics. He made headlines in 2004 when he made a controversial visit back to his homeland, praising the communists, his former enemies.

Born in Son Tay province west of Hanoi in 1930, Ky grew up under French colonialist rule and became involved as a youth in the national liberation movement led by Ho Chi Minh.

He left the movement, however, when he fell ill with malaria. He eventually enlisted in the army, where he trained as a pilot and rose through the ranks during the French fight against the insurgency. He was one of the roughly 1 million who fled south following France’s defeat at Dien Bien Phu in 1954. The French withdrawal divided the country into the communist North and noncommunist South.

Ky rose steadily in South Vietnam’s fledgling air force and was chosen as prime minister by a junta of generals even though he had no political experience.

He was able to end a disruptive cycle of coups and countercoups that followed the assassination of Ngo Dinh Diem, whose repressive regime was overthrown by military generals in 1963.

But Ky proved overly optimistic about the U.S. prospects for victory.

In a New York Times interview in 1966, Ky said U.S. air strikes would “very soon” force the North to request a cease fire and said of U.S. Senate war critics: “They know nothing about Vietnam. … They just represent the minority.”

Saying he wanted to end corruption, Ky threatened to shoot merchants manipulating the country’s rice market. A businessman convicted of war profiteering was executed by a firing squad in March 1966; Ky attended the trial’s opening session.

During a Buddhist-led uprising in Da Nang that same year, Ky moved troops in and suppressed the demonstrators. He then placed the country’s leading Buddhist cleric and his most vocal critic, Thich Tri Quang, under house arrest.

In his memoir, Ky said he did not regret taking action in Da Nang despite efforts by Americans to use diplomacy. By crushing the revolt, he said, he helped prolong South Vietnam’s stability for a few more years, something he considered his biggest achievement.

“While I served as prime minister, I gave no American cause to suppose that I was their puppet,” Ky wrote in his 2002 book “Buddha’s Child: My Fight to Save Vietnam.”

But when it came time for the country’s presidential election in 1967, Ky yielded power to his longtime rival, Thieu, who at the time held the ceremonial post of chief of state. Ky served as Thieu’s vice president until 1971, when he was briefly a rival candidate to Thieu’s re-election as president.

He went on to watch Thieu preside over the fall of Saigon. Thieu was forced to step down as North Vietnamese troops closed in. He eventually left the country and died in Boston in 2001 at age 78.

“My biggest mistake was allowing the wrong man the opportunity to lead a guaranty of defeat,” Ky said in his book. “For this I beg forgiveness of those who fled into exile, of those who remained, and from those then unborn.”

Author Neil Sheehan, who won a Pulitzer Prize for his book on Vietnam, “A Bright Shining Lie,” told the AP in 1989 that Ky and Thieu were “corrupt Young Turks” who rose to power as U.S. involvement dramatically increased.

Ky flatly denied the characterization, saying, “If I had stolen millions of dollars I could live like a king in this country, but obviously I don’t live like a king. Believe me, I was a soldier fighting for freedom, not a politician interested in power and money.”

Ky made headlines in 2004 when, after 29 years in exile, he made a homecoming trip to Vietnam, dropping his vitriolic anti-communist rhetoric and calling for peace and reconciliation.

His decision to return was angrily condemned by some Vietnamese immigrant activists, who said the visit bestowed legitimacy on a corrupt government.

“What I’m trying to do now is help my country. I only have a duty to my country,” Ky told the AP when he visited Hanoi. “I have my record. No one can say I’m not patriotic.”

Ky, who was married three times, is survived by six children and, according to his memoir, 14 grandchildren. He had five children by his first wife, a French woman. He and his second wife, a Vietnamese woman, had a daughter, Nguyen Cao Ky Duyen, a prominent Vietnamese-American entertainer. He met his third wife while living temporarily in Bangkok.

Funeral plans were pending, according to family members.

https://hoangtran204.wordpress.com/2010/08/15/bai-noi-chuy%E1%BB%87n-c%E1%BB%A7a-t%C6%B0%E1%BB%9Bng-nguy%E1%BB%85n-cao-k%E1%BB%B3-t%E1%BA%A1i-d%E1%BA%A1i-h%E1%BB%8Dc-deanza-cupertino-california/

Posted in Chien Tranh Viet Nam | Leave a Comment »

►Bút Ký Đêm Cao Miên

Posted by hoangtran204 trên 23/07/2011

Tưởng Năng Tiến

Lời thưa đầu: Cách đây đúng 13 năm (TNT viết bài này năm 2001), vào tháng 7 năm 1988, người viết theo chân một đơn vị kháng chiến quân VN đi từ Thái Lan vào Kampuchea để tìm kiếm một nguời bạn bị mất tích giữa vùng biên giới Thái-Miên.

Mới đây, vào ngày 20 tháng 7 năm 2001, kẻ bị coi như đã thất tung (có tên là V. H.) đã được một tổ chức chính trị ở hải ngoại chính thức thừa nhận là đã hy sinh, nhưng – vì hoàn cảnh – họ đã «không thể thông báo sớm hơn»! Bút ký ngắn ngủi này xin được phổ biến như một nén hương lòng (muộn màng) để gửi đến những người đã khuất.

Khi chúng tôi bước chân vào được đất Cao Miên thì trời đã ngả chiều. Tuy nắng đã nhạt nhưng trời chiều mùa hạ nơi đây vẫn còn hừng hực nóng. Sẵn với định kiến là mình sẽ đi vào một vùng đất chết, tôi hơi thoáng ngỡ ngàng khi không nhìn thấy xung quanh dấu tích của sự đổ vỡ do bom đạn. Khó mà có thể ngờ rằng, cách đây không bao lâu, mảnh đất khô cằn nắng hạn này lại là nơi giao tranh bằng chiến xa và đại pháo của nhiều đạo quân khác nhau.

Dư vị của chiến chinh chỉ còn cảm thấy được qua không khí chết chóc, và sự đe dọa rình rập trên từng tấc đất. Tôi được căn dặn nhiều lần là luôn luôn phải bước đúng vào bước chân của người đi trước vì ngoài con đường mòn đã được sử dụng ra, bất cứ lùm cây bụi cỏ nào cũng có thể là nơi ẩn mình của «mìn hộp gỗ» -một loại mìn bẫy trông nhỏ bé và xinh xắn y như hộp bút chì màu nhưng thừa sức làm nát bấy đôi chân của kẻ nào vô phước dẵm nhầm phải nó.

Vùng đất hiểm nghèo này cũng còn đuợc gọi đùa là «sân banh cộng sản». Lý do: người ta ước tính rằng cứ mỗi lần nhà cầm quyền Hà Nội xua quân tràn qua biên giới để đánh đuổi kháng chiến Cao Miên lùi vào đất Thái thì ít nhất cũng phải có vài trăm cặp giò của «cầu thủ bộ đội» phải để lại nơi đây. Đó cũng là lý do tại sao vừa bước chân vào đất Cao Miên người ta đã ngửi thấy ngay mùi tử khí.

Bất giác tôi quay nhìn về đất Thái và không dưng mà thoáng thấy ngậm ngùi. Chỉ cách nhau có một lằn ranh định mệnh nhưng đời sống dân chúng của hai nước Miên – Thái hoàn toàn khác hẳn nhau. Bên kia là những căn nhà sàn xinh xắn, và những tàn lá rậm rì xanh mát của đủ thứ loại cây ăn trái: chôm chôm, xoài, ổi, mẵng cầu, sầu riêng, măng cụt, nhãn, mít… Bao nhiêu lần đi ngang qua đó tôi đều nhớ đến một đoạn văn mà mình đã đọc đến thuộc lòng, trong tác phẩm Mùa Hè, Một Nơi Khác của chị Phan Thị Trọng Tuyến: «…vườn ngoại có xanh um những cây dừa, cây chuối, những trái quýt đường to vàng bóng láng, những trái mận trắng điểm những tia nắng hồng ngọt lịm, những mương tôm đầy tăm mặt nước…»

Không hiểu những người dân Thái đang sống ở nơi đây có ai biết được rằng mái nhà sàn đơn sơ của họ – với khoảnh sân đầy cây ăn trái, với «những mương tôm đầy tăm mặt nước…» – là hình ảnh của một thiên đường đã lỡ, hay một giấc mơ quá xa tầm tay với đối với một người Việt lưu lạc như tôi, và với tất cả dân tộc Cao Miên láng giềng không?

Cảnh nghèo nàn, tang tóc ở Cao Miên – tất nhiên – khó có thể giải thích được đơn thuần bằng lý do địa dư hay khí hậu. Điều «kỳ diệu» là cả hai đài phát thanh Hà Nội và Khmer Đỏ (nghe được rất rõ nơi đây) đều nêu ra được những lý do rất thỏa đáng về tình trạng bi thảm này, dù lập luận của họ hoàn toàn dị biệt và – đôi lúc- tương phản với nhau rõ rệt.

Theo đài phát thanh thứ nhất thì thủ phạm gây ra cảnh chiến tranh điêu tàn diệt chủng cho dân tộc Cao Miên chính là bọn khát máu Pol Pot và Ieng Sari, tay sai của bọn giặc bá quyền Trung Quốc. Còn theo đài phát thanh thứ hai thì thủ phạm gây ra một nước Cao Miên đau thương tang tóc chính là tập đoàn lãnh đạo Hà Nội, tay sai của quan thầy Liên Xô.

Thêm vào đó là những thông báo về những chiến tích quân sự «không thể nào tin nổi» của cả đôi bên, cùng với những lời lẽ chửi rủa nặng nề đến độ thô tục bẩn thỉu mà Hà Nội và Khmer Đỏ chăm chỉ và đều đặn gửi đến nhau đôi ba lần trong một ngày. Điểm tương đồng duy nhất của cả hai đài phát thanh này, hay nói đúng hơn là của cả Hà Nội và Khmer Đỏ, là họ cùng cố quên đi một sự kiện căn bản và giản dị như sau: dù hiện thân hay đội lốt dưới bất cứ hình thức nào, nơi đâu có mặt chủ nghĩa cộng sản là nơi đó hóa lầm than hay tang tóc, mà thường là cả hai. Trường hợp Kampuchia chỉ là một thí dụ điển hình.

Đơn vị được lệnh dừng chân. Mọi người ngồi dựa lưng vào ba lô nghỉ ngay tại chỗ, tay vẫn lăm lăm cầm chặt súng. Thấy dáng điệu lớ ngớ của tôi, người cán bộ chỉ huy đoàn quân quay lại nói nhỏ:
– Đây là bộ chỉ huy tiền phương của sư đoàn… thuộc lực lượng Para (Son Sann).

Tôi tròn xoe mắt nhìn. Trước mắt tôi chỉ là những túp lều tranh nho nhỏ, nằm ẩn mình dưới những bụi tre già. Ngoài cần ăng ten ngụy trang của máy truyền tin, và những công sự phòng thủ đã cũ nát ra, đây không có vẻ gì là một căn cứ quân sự cả, đừng nói chi đến cái tên gọi to lớn là bộ chỉ huy tiền phương của cả một sư đoàn.

Đọc được sự kinh ngạc qua ánh mắt của tôi, anh bạn cười hềnh hệch tiếp:
– Bên Thái đã nhiều chuyện lạ, bên Miên này còn nhiều chuyện lạ hơn. Từ từ rồi ông sẽ thấy.

Tôi gật đầu nhẹ hều bày tỏ sự đồng tình yếu ớt, với một nụ cười chắc hẳn là trông vô cùng mệt mỏi. Tôi mệt thiệt và mệt lắm. Tôi đã sống ở Mỹ gần mười năm và đến Thái Lan chưa được mười ngày. Mười năm qua tôi di chuyển bằng thang máy, bằng máy bay phản lực, bằng xe hơi với hộp số và tay lái tự động. Bỏ những tiện nghi này ra là tôi biến ngay thành một thứ ốc sên không có vỏ.

Để che dấu cái mặc cảm này, tôi luôn luôn cố giữ bộ mặt «tỉnh như ruồi» cùng với thái độ «ai tới đâu tui tới đó» và «muốn tới đâu thì tới». Hiện tại thì tôi đã «tới» Cao Miên và đây còn là vùng đất tương đối an toàn thuộc phạm vi kiểm soát của kháng chiến quân Son Sann. Không hiểu đơn vị sẽ còn đi thêm bao xa nữa? Tôi vẫn giữ lập trường «ai tới đâu tui tới đó» nhưng hình như đôi chân của tôi thì không. Chúng bắt đầu lung lay và lạng quạng… Cán bộ chỉ huy đơn vị, cùng với hai kháng chiến quân Kampuchia có nhiệm vụ dẫn đường, đi vào doanh trại bên trong. Không bao lâu anh trở ra, chỉ tay về phía những bụi cây thật rậm ở phía bên phải chúng tôi, nói lớn:

– Đêm nay ngủ tại chùa. Di chuyển liền qua bên đó. Cơm nước phải xong trước khi trời tối.

Tôi nhìn mặt trời đang xuống thật thấp, gần đụng đỉnh núi xa mờ ở phía Tây, với sự lo âu bâng quơ. Chậm lắm thì chừng hơn một giờ nữa thôi, trời sẽ tối. Khác với bóng tối đô thị mà tôi đã từng quen, đêm tối nơi đây chắc chắn phải ẩn tàng nhiều đe dọa và bất trắc.

Trái với tâm trạng bất an của tôi, một kháng chiến quân ngồi ngay ở phía sau bỗng buột miệng nói sung sướng như reo:
– Bên chùa có chợ. Giờ này dám chợ còn họp lắm. Ở bển họ có bán nước đá, anh ơi.

Đất Cao Miên quả có nhiều chuyện lạ. Chợ và chùa tuyệt nhiên không có dính dáng liên hệ gì với nhau, theo như tôi biết. Sao lại có chuyện «bên chùa có chợ» được kìa? Tôi càng thắc mắc hơn nữa khi nhìn thấy nét hớn hở của người bạn nhỏ khi nói đến hai chữ «nước đá». Tôi ngắm kỹ khuôn mặt trẻ thơ của em rồi bất chợt hỏi một câu lảng xẹc:
– Em sinh năm mấy ?
– 68.
– Như vậy là em vừa đúng hai mươi há?
– Dạ, tháng tới anh.

Em trả lời với đôi mắt sáng và nụ cười hồn nhiên quá khiến tôi không khỏi trạnh lòng. Ôi chao cái tuổi hai mươi! Tôi bỗng nghĩ đến nó mà buồn đến ngẩn ngơ. Ủa, chớ nó bỏ đi đâu mất hồi nào vậy cà? Nó mới vừa còn loáng thoáng đâu đó mà. Nhiều chuyện tôi tưởng như mới xảy ra hồi hôm, hay tuần rồi chứ không phải là đã hai mươi năm trước.

Lúc bằng y chang tuổi của chú em đây tôi cũng bắt đầu bước vào cuộc đời lính chiến. Có điều là tôi chả bao giờ trông vô tư và hăng hái như em hiện tại. Tôi không nhớ rõ là hồi đó mình đã ước ao cái gì khi di hành trong những lúc nóng bỏng và nắng cháy như thế này? Nhu cầu của tôi thường rất nhiều, nhiều đủ thứ, và tốn kém lắm nha. Chắc đại khái thì ít nhất cũng phải là năm bẩy chai bia ướp lạnh, chớ đâu có đơn sơ giản dị chỉ là vài cục nước đá như anh chàng kháng chiến quân trẻ con này.

Toán quân đã bắt đầu di chuyển. Tôi vội vã đứng dậy, chăm chú bước theo mọi người, cắt đứt những hoài niệm vu vơ. Đi loanh quanh thêm một lúc nữa, qua những con đường mòn mà cỏ dại mọc cao đến ngực, rồi chúng tôi nhìn thấy ngôi chùa.

Bắt đầu là sân chùa lát đá với cái được gọi là «chợ trời» nằm chình ình trên đó. Thực tại vốn phong phú, da dạng và… lộn xộn trong khi khả năng diễn đạt của ngôn ngữ lại vô cùng giới hạn nên tôi bắt buộc phải dùng chữ «chợ», chỉ thêm được chữ «trời», để mô tả một cách gắng gượng về cảnh “thị tứ” nhỏ bé và nghèo nàn đến độ thảm thiết này. Ở ba góc sân chùa, người ta trải ra ba tấm ny lông độ một mét vuông. Trên đó bầy vài chai nước ngọt, mấy bao thuốc lá, năm bẩy nải chuối chín đen, cùng với bàn chải đánh răng, khăn mặt, xà phòng và… chấm hết!

Câu «trăm người bán vạn người mua» xem ra có vẻ mỉa mai trước cảnh xơ xác của cái chợ mini mà tôi nhìn thấy chiều nay ở Cao Miên.Tôi đếm được ba người bán và chỉ chừng năm bẩy người mua. Có lẽ họ đều là những binh sĩ thuộc lực lượng Son Sann đồn trú gần đây, và thái độ của họ trông có vẻ nặng phần «tham quan» hơn là có ý định mua bán thật.

Sự xuất hiện bất ngờ của chúng tôi chỉ làm cho những người đang hiện diện ngạc nhiên đôi chút, chứ không gây nổi chút xôn xao nào cho cái chợ vô sinh khí này. Không riêng gì tôi mà cả toán quân đều tự động dừng chân, đưa mắt nhìn ngắm những món hàng được bầy bán. Giữa vùng đất chết này thì nước ngọt, kem đánh răng, xà phòng, thuốc lá… đều có vẻ như những xa xỉ phẩm được mang đến từ một thế giới văn minh an bình nào đó.

Sau khi biết chắc là người ta có bán nước đá, tôi thân mật mời người bạn nhỏ một chai «lemonade» với thật nhiều đá. Khác hẳn với thái độ hăm hở lúc ban đầu, bây giờ thì em lại tỏ vẻ chần chừ:
– Mà đều họ bán mắc lắm anh ơi.
– Mắc là bao nhiêu ?
Em quay sang hỏi người bán hàng, chả hiểu bằng tiếng Miên hay tiếng Thái, rồi trả lời tôi buồn bã:
– Nếu trả bằng tiền Thái thì tới mười hai «baht» lận. Mắc gấp đôi bên kia.

Mười hai đồng tiền Thái chỉ cỡ năm mươi xu theo bản vị Mỹ Kim. Lúc ở phi trường Vọng Các tôi đã đổi hai trăm đô la ra tiền «tical» mà chưa dùng tới cắc nào. Ngay bây giờ tôi có thể mời em… tắm bằng bốn trăm chai Sprite chứ đừng nói chi là uống. Tôi cười hào sảng:
– Cứ mua uống đi em. Uống tới mệt thì thôi. Anh có tiền đây mà.
– Để em xin phép đã.

Tôi chợt nhận ra một điều nữa. Nơi đây mọi người đều không được quyền có nhu cầu nào riêng tư cả. Họ sống chết bên nhau, chia sẻ mọi gian lao cùng cực, cũng như tất cả những ngọt bùi mà hoàn cảnh khó khăn dành cho mình. Hiểu như thế nên tôi nói vội:
– Để anh xin phép cho.

Em nhỏ gật đầu cười nhẹ nhõm, trong khi tôi đưa đề nghị với cán bộ chỉ huy mời mỗi người dùng một chai nước ngọt. Tôi cũng quơ vội hết những bao thuốc lá Samit và Krongthip mà người ta bầy bán và phân phát đồng đều cho mọi người.

Rồi chúng tôi tiến vào chùa. Vị sãi già, một ông sư Cao Miên, cỡ chừng một trăm tuổi hay có thể là hơn thế nữa – người đầy vết xâm trên da thịt nhăn nheo răn rúm – run rẩy đứng nhìn toán quân với đôi mắt ưu phiền và ái ngại.

Bên cạnh ông là hai vị sãi con, tuổi chỉ cỡ mười hai mười ba chi đó, cũng đen đủi và gầy gò y như sư phụ, và cũng nhìn chúng tôi với ánh mắt rất bất an. Chợ họp trước sân chùa đã là một điều phiền; lính ở luôn trong chùa thì còn phiền dữ nữa. Nếu mà Phật dự kiến được mọi hệ lụy của kiếp nhân sinh của thế kỷ hai mươi, tôi e là ngài sẽ trừng phạt nặng nề cái kẻ láu táu nào đó đã phát ngôn rằng «cửa thiền luôn rộng mở».

Khi đi qua mặt ba vị sãi, hai người cán bộ chỉ huy toán quân cung kính chắp hai tay lên trán, theo đúng như tập tục chào hỏi của người… Thái. Tôi không tin là người Miên và người Thái có chung một lối chào nhưng cũng vội vã bắt chiếc làm theo y như mọi người cho nó…chắc ăn. Ba ông sãi đều chắp tay chào lại và miệng thì lẩm bẩm không ngừng. Tôi hy vọng là họ niệm Phật bằng ngôn ngữ bản xứ, chứ không phải là đang chúc dữ cho số phận chúng tôi.

Tôi bớt áy náy hẳn về chuyện «xâm nhập chùa chiền» khi bước vào bên trong và nhìn thấy cổng chùa đã sập. Bên trong không còn gì ngoài những tảng đá xanh rơi đổ lổng chổng lên nhau. Bây giờ thì tôi hiểu tại sao, nhìn từ xa, không ai có thể ngờ được dưới những lùm cây rậm rạp lại có một ngôi chùa.

Cùng lúc, tôi cũng tự giải thích được chuyện chợ họp trên sân chùa. Người ta cần một khoảnh sân bằng đá bằng phẳng để bầy hàng buôn bán. Ngoài sân chùa ra, xung quanh đây có nơi nào mà không mọc đầy cỏ dại, và không bị gài mìn?
Thấy vẻ thẫn thờ của tôi, một kháng chiến quân đứng gần giải thích:
– Hồi 85 tụi nó mang tăng vô tới tận đây đó anh.
– T 54 hả?
– Dạ.
– Thứ này tôi có biết. Đại bác của nó không công phá dữ dằn tới vậy đâu. Còn đại liên 12 ly 7 thì đâu có làm gì được những tảng đá xanh bự tổ mẹ này.
– Tụi nó pháo mà.
– Em nói ai? Tụi Khmer đỏ, Heng Samrin hay là Việt Cộng?
– Chớ còn ai nữa ? Nói tình ngay thì tụi Miên, dù Miên nào cũng vậy, không có phá chùa đâu. Bởi vậy đêm nay mình nằm đây vững lắm.
Tôi gật đầu biểu đồng tình cho vui lòng người đối thoại chứ thực tâm tôi chưa bao giờ thấy «vững lắm» kể từ lúc xuống máy bay đến giờ, dù ở bên này hay bên kia biên giới Thái.
– Ông vô trong này lễ Phật không?
Một anh cán bộ khác mà trách nhiệm, tôi đoán, hơi nặng phần chính trị vỗ vai tôi hỏi nhỏ. Tôi gật đầu như máy bước theo anh vào bên trong.
Và tôi bất ngờ nhìn thấy Phật mà không khỏi sinh lòng… ái ngại. Vì nóc chùa đã đổ nên người ta che đỡ mấy liếp tranh trên đầu cho ngài, trông đỡ dãi dầu mưa nắng. Bụi bặm và máng nhện giăng đầy áng thờ. Giữa cái không khí hoang liêu cô tịch nơi đây, tôi nghe rõ có tiếng… muỗi vo ve! Nhang đèn, tất nhiên, là miễn có; đừng nói chi đến xôi chè, oản chuối… khiến Phật thêm buồn. Đến như Phật mà còn thê thảm tới cỡ này thì cả dân tộc Cao Miên tránh sao khỏi chuyện te tua, bầm dập!
Chu đáo như một chính trị viên, anh bạn đã chuẩn bị sẵn nhang đèn và có cả một túi chôm chôm đã héo. Sự thán phục đọc trong ánh mắt của tôi được giải thích liền:
– Ở Miên cũng như ở Thái, cách tốt nhất để làm đẹp lòng người dân địa phương là mình phải tỏ ra là một Phật tử thuần thành.
Sự thực thì anh bạn không chỉ «tỏ ra» mà tôi thấy rõ là anh ta vô cùng trang nghiêm và thành khẩn khi khấn vái. Sống trong một hoàn cảnh bất an thường trực thì tất nhiên Phật, Chúa, Thánh Thần… luôn luôn phải ở rất gần.

Bữa cơm chiều với thức ăn duy nhất là món canh mì gói. Nó đạm bạc một cánh thảm thiết, và ngon miệng một cách khó hiểu. Sau đó, tôi nhận đuợc thêm nửa ca nước trà nóng hổi, đậm đen. Tôi uống từng ngụm nhỏ, suýt xoa, hít hà, đã đời, thấm thía.

Được miễn gác nên tôi yên tâm mắc võng, nằm tận hưởng hương vị đậm đà của điếu thuốc Thái Lan. Những tàn lá cây trên đầu cũng vừa trở mầu đen sậm, và bầu trời đã nhấp nháy những ngôi sao mọc sớm. Đêm nhiệt đới dường như kỳ bí và huyền ảo hơn là đêm ở những vùng đất khác.
Nếu có dịp làm cố vấn cho những công ty du lịch thì tôi sẽ ân cần khuyên bảo du khách điều này khi họ đến Cao Miên: coi chừng tụi Khmer Đỏ và muỗi mòng ở nơi đây. Dù lực lượng Khmer Đỏ đang cố tạo một bộ mặt «hiền hậu» và «dễ mến», bất cứ ai hễ đã đỏ thì dù họ có biến thành hồng chúng ta vẫn nên tìm cách tránh xa -cho nó chắn ăn.

Còn muỗi mòng ở Kampuchia thì có thừa khả năng đâm xuyên qua võng ny lông và chích thẳng ngòi vào da thịt của những tên du khách khờ khạo như tôi. Đã vậy, trong lúc ngủ, tôi còn sơ ý để hở lớp võng ny lông che người cho năm bẩy chú muỗi lọt vào bên trong. Tôi nhổm ngay người dậy, nhẩy xuống đất, lục tìm chai thuốc muỗi bôi vội vào mặt, vào cổ, vào tay…

Cùng lúc, tôi nghe tiếng khúc khích cười. Trong vòng ánh sáng mờ ảo của một cây nến nhỏ, tôi thấy năm bẩy người ngồi quay quần bên nhau, và tất cả đang hướng mắt nhìn về phía tôi. Thái độ hốt hoảng vừa rồi của tôi chắc là lố bịch lắm khiến họ phải bật cười. Hơi ngượng, tôi lại nằm yên trên võng. Còn họ thì dường như vẫn tiếp tục câu chuyện gì đó mà tôi đoán là có vẻ hào hứng đang bỏ dở. Thỉnh thoảng tôi mới nghe ba tiếng «trời đất ơi» đệm vào giữa câu chuyện bằng tiếng Miên mà tôi nhận ra được ngay là giọng nói của Thạch T.

Trong số những kháng chiến quân Khrom (người Việt gốc Miên) mà tôi gặp nơi đây, tôi gần gũi với anh ta nhất. Thạch T. cởi mở và vui tính. Cách đây hơn một tuần khi còn ở căn cứ trong đất Thái, có hôm tôi đã thức gần đến sáng để nghe anh kể chuyện đi tu, đi lính, «những chuyện tình không may», và cuộc đời lưu lạc của anh. Dù giọng nói của Thạch T. có «accent», tiếng Việt anh vô cùng thông thạo.

Tôi tự hỏi không hiểu sao hôm nay anh lại nói tiếng Miên và những người ngồi xung quanh anh là ai. Lặng lẽ, tôi tuột người xuống võng đi đến bên họ tìm một chỗ ngồi. Thấy bóng dáng tôi, Thạch T. nói như reo:
– Em tưởng anh mệt qúa nên ngủ luôn rồi chớ.
Tôi gật đầu chào mọi người, rút bao thuốc lá ra mời họ hút, và nói vu vơ:
– Muỗi quá há!

Rõ ràng là không ai quan tâm đến chuyện «vu vơ» đó. Mọi cặp mắt đều dán chặt vào bao thuốc lá Winston đang chuyền qua tay từng người. Thạch T. chỉ vào tôi, và nói với mọi người như một lời giới thiệu. Mắt họ cùng lúc đều mở tròn xoe, kinh ngạc. Tôi nhìn Thạch T. dò hỏi. Anh cười thích thú nói:
– Em nói anh từ Mỹ tới đây.
Giọng Thạch T. hãnh diện như thể anh vừa tuyên bố với một đám đông hiếu kỳ rằng tôi là bạn thân của anh, và tôi vừa đến từ… một hành tinh khác! Sau đó, anh ân cần giới thiệu từng người:
– Thằng này là thằng cháu. Nó đi bên ông Sonn San. Em mới gặp lại nó chiều nay thôi.
– Chào em.
Người cháu của Thạch T. lắc đầu cười bẽn lẽn khiến anh lại vội vàng giải thích:
– Nó đẻ bên Miên mà, không biết nói tiếng Việt đâu. Má nó mới biết. Còn mấy đứa này là bạn nó. Ở chung một chỗ Siemriep với nhau hết. Thằng này thì đi lính cho Heng Samrin, mới đào ngũ tức thì.
Người thứ hai vừa được giới thiệu nhìn tôi với đôi mắt hơi nghi ngại. Anh nghiêm trang hỏi Thạch T. có phải tôi làm việc cho CIA không? Tôi lắc đầu cười khổ, trong lúc Thạch T. vẫn vui vẻ liếng thoắng giới thiệu tiếp:
– Còn thằng này thì ở bên Khmer đỏ. Cũng đào ngũ luôn.
Tôi suýt nhẩy nhổm người lên như kẻ bất ngờ bị đạp đinh. Cuốn phim «The Killing Field» bỗng quay lại thật lẹ trong đầu. Hình ảnh bộ đội Khmer Rouge áo quần đen bó sát, ống quần tay áo xắn cao, chân đi dép râu, khăn rằn quấn kín đầu, mặt đằng đằng sát khí, tay lăm lăm AK 47, sẵn sàng chỉa súng vào mặt bất cứ ai và…bóp cò cái bộp!

Tôi mở mắt thật lớn nhìn, thoáng một chút ngỡ ngàng vì khuôn mặt chất phác và hồn nhiên của người đối diện. Cùng lúc, em nhìn lại tôi với nụ cười thật hiền lành và ngây thơ. Cuộn phim trong đầu tôi chợt tắt. Qua nụ cười của em, tôi chỉ thấy là sao da em đen quá mà răng em trắng quá, thế thôi. Em còn quá trẻ để có thể tham dự vào thảm kịch tàn sát tập thể xẩy ra trên quê hương mình đã hơn mười năm trước. Ân hận vì thành kiến của mình, tôi vội xiết chặt lấy tay em. Tôi muốn «âm thầm» gửi đến em một lời xin lỗi.

Chúng ta đang sống trong một thế giới mà thiên hạ sẵn sàng dán nhãn hiệu lên trán của nhau. Thực sự những người đang ngồi trước mặt tôi đâu có dính dáng, can dự gì đến quyền lợi của đảng phái này hay lực lượng nọ ở Cao Miên đâu. Tự nhiên người ta chia phe, trưng bảng hiệu, may cờ, vẽ vòng… rồi bắt ép các em phải đứng vào phe này hay phe nọ để cầm súng giết nhau.

Tình trạng ở quê hương tôi cũng chả khác gì. Ngồi cạnh tôi đêm nay là Bằng, là Thu, là Hoàng Hải, là Quốc… những người trẻ Việt Nam mà tôi đã quen nên Thạch T. không cần giới thiệu. Chỉ mới cách đây một hoặc hai năm thôi, các em đều còn có tên gọi là bộ đội Việt Nam, một đạo quân có tiếng là hung hãn và ngu xuẩn nhất của thế kỷ này. Và mới chỉ cách đây chừng hai tuần thôi, tôi còn nghĩ đến các em với ít nhiều thành kiến. Tôi quên bẵng đi một điều giản dị là các em đâu có quyền lựa chọn «không» là bộ đội.

Chợt nhớ ra một điều quan trọng khác, tôi vội hỏi trống không:
– Ở đây có ai đi lính cho ông Hoàng Sihanouk không?
– Không.
Vậy chỉ thiếu có một nhân vật nữa thôi là đêm nay tôi đã gặp đủ tất cả «đại diện» của những phe đang lâm chiến ở Cam bốt rồi: Khmer Đỏ, Heng Samrin, Son Sann, và Sihanouk. Tất nhiên là tôi muốn nghe chuyện của họ. Qua sự thông dịch của Thạch T., tôi hỏi người bạn nhỏ bỏ về từ phía Heng Samrin trước:
– Em ở với Heng Samrin bao lâu rồi?
– Gần ba năm, từ hồi 1985 lận.
– Sao bỏ đi ?
– Người Cam bốt không thích ở với Heng Samrin đâu. Nó là «tay sai» của Việt Nam mà.

– Còn em, sao không ở với Pol Pot và Ieng Sari nữa?
– Cực lắm, chịu không nổi.
– Rồi hai em có tính ở lại đây đầu quân bên Son Sann không ?
– Không, bên Son Sann không có mạnh đâu. Ở với ổng cũng khó sống lắm. Chắc tụi tui rủ thằng này (chỉ người cháu Thạch T. thuộc lực lượng Son Sann) đi vô Site II tị nạn luôn.

– Mấy em tính đi Mỹ hả ?
– Nghe nói không cho đi Mỹ nữa đâu. Không được đi nước nào hết. Nó nhốt luôn mà.
– Vậy vô đó làm chi ?
– Chớ ở ngoài này dễ chết quá mà không có ăn nữa.
– Mấy em có biết là Việt Cộng đã rút quân không?
– Biết chớ nhưng ăn thua gì. Nó còn cả đống mà.
– Nếu không có bộ đội Việt Cộng thì lính Son Sann và lính Sihanouk đánh được Heng Samrin không?
– Làm sao biết được nhưng lính Son Sann và Sihanouk cũng không có thuận nhau đâu.
– Lính Heng Samrin đánh giặc giỏi không ?
– Không giỏi đâu. Tụi nó nhờ có Việt Cộng mới mạnh thôi.
– Sao Khmer Đỏ lại đánh giặc giỏi như vậy?
– Cũng không giỏi đâu. Tụi nó nhờ có nhiều súng đạn thôi.
– Nếu bây giờ được tự do lựa chọn thì mấy em làm gì ?
Tụi tui trở về Biển Hồ đánh cá nuôi mẹ, nuôi cha.
– Lấy vợ nữa chớ ?
– Cái đó phải có cha mẹ đi nói con gái nó mới chịu.
– Còn không về được thì sao ?
– Cũng chưa biết tính sao nữa ?

Tôi cố nén một tiếng thở dài và không dưng mà thấy mắt mình cay. Ngọn nến tàn dần. Ánh lửa nhỏ nhoi đột nhiên hóa màu đỏ sậm, rồi biến thành lập lòe xanh lét khiến khuôn mặt mọi mgười trông đều có vẻ ma quái. Tôi nghe tiếng Quốc nhắc Hoàng Hải lục ba lô tìm nến, rồi tiếng nói ngái ngủ của một anh cán bộ:
– Thôi ngủ đi mấy ông. Ai gác thì lo canh gác đàng hoàng, còn lại thì ngủ đi. Mai đi «hóc» lắm chứ không phải chơi đâu.

Ngọn nến tắt hẳn. Đêm đen thui. Cùng lúc là tiếng đại pháo ầm ì ở xa xa. Trong bóng tối, em nhỏ về từ phía Khmer Đỏ chợt nắm nhẹ lấy tay tôi và nói một điều gì đó nghe rất ân cần. Thạch T. cười nhỏ dịch lại:
– Nó biểu anh đừng có sợ. Pháo bắn ở xa lắm.
Nếu nói được ngôn ngữ của em, có lẽ tôi sẽ trả lời rằng «tôi không sợ gì hết, chỉ buồn thôi.» Lẫn trong tiếng pháo, tôi chợt nghe tiếng gà gáy sáng – cũng ở xa xa. Chắc mới canh một. Còn lâu, lâu lắm trời mới sáng, và không có gì hứa hẹn là ngày mai cuộc đời sẽ sáng sủa và dễ thở hơn cho bất cứ ai nơi vùng đất bất hạnh này.

Tưởng Năng Tiến

——————————————————–

Mời các đọc giả qua đây đọc thêm một bài khác để nhìn thấy chính quyền ta tươi đẹp, khoan hồng và nhân đạo ra sao:

Cảm Nghĩ về Người  tù Bất Tử , bài của nữ  sinh viên Trần Mỹ Hạnh, tưởng niệm về một người vừa mới khuất.

Đây

———

Và nhân vật Võ Hoàng, người mà tác giả TNT đi tìm ở Cao Miên, được một người khác viết bài tưởng niệm như sau:

Võ Hoàng, kẻ dám sống trước nhân vật

Đêm 10/8/2001
tac_gia_le_thi_hue.jpg
tác giả Lê Thị Huệ
…Đi đi anh
nào phải chúng ta là kẻ ra đi một mình
sa trường đã ngập lụt
máu và nước mắt
triệu triệu tiếng chân người đồng hành
hoặc tất cả chúng ta cùng sống
hoặc tất cả chúng ta cùng chết
Đi đi anh
có em sẽ chờ anh nơi bờ đê
mùa gió lên rơm rạ nở đầy trời
mảnh đất đã thấm đẫm oan khiên
vẫn thơm mùi lúa khoai mới gặt
em sẽ vốc lấy một nhúm và buộc chặt
vào bâu áo
làm bùa chú tặng anh
có anh linh của người nằm xuống
có bóng hình của kẻ đang sống
chỉ còn niềm tin này
là bùa hộ mệnh của đôi ta
những lân tinh hào sảng của nó
sẽ thổi hết đài đài búa liềm
sẽ bẻ cong quặp hết những gọng súng
thắt nơ đỏ
chúng ta phải tin và phải tin
vào mặt đất
đầy bùa phép của chính nó
thổi dạt hết thảm hoạ này
kế tiếp thảm hoạ nọ…
    Lúc đó, tôi vào độ tuổi ngoài ba mươi. Cái tuổi mà tri thức và cảm tình đòi hỏi phải được phát biểu một cách độc lập. Cái tuổi đủ chững chạc để lên tiếng về một lập trường của đời sống mình. Cái tuổi khoẻ mạnh nhất để suy xét, ta và tha nhân cuộc đời nên hỗ trợ nhau như thế nào, đặng còn chung vốn làm ăn những năm tháng trước mặt. Nói tóm lại, những năm đầu ba mươi là những năm những chàng và những nàng tuổi trẻ mới thực sự dấn thân hành động trong cái ý thức sáng tỏ có chọn lựa nhất.
    Tôi đã gặp Võ Hoàng trong những năm đầu tuổi ba mươi xuân sắc ấy.
    Thật sự chúng tôi chạm mặt và nhìn sâu vào mắt nhau chỉ một lần. Đó là lần ở tiệm in của Vũ Tiến Thủy góc đường The Amaden lộng gió. Tôi nhớ tối hôm ấy tôi đến trao cho Vũ Tiến Thủy tâp truyện ngắn Bụi Hồng để anh ấy đưa lên bàn in.
     Cuộc gặp gỡ ấy xảy ra trong một buổi tối hoàng hôn, ngày hè êm dịu ở San Jose. Tôi mặc một chiếc váy hái hoa mỏng manh phất phơ, trang điểm điệu nghệ nhởn nhơ xuân thì, lái xe một mình, đến địa chỉ của một nhà in nho nhỏ rất văn nghệ Việt Nam, dưới phố San Jose.
     Khi tôi mở cánh cửa thì thấy một bầy mấy tên đàn ông đứng lô nhô sau cái quầy gỗ theo nhòm tôi từ từ đi vào. Nhìn lên cái đám đàn ông xôn xao ong bướm đó, tôi đụng cái cốp ngay khuôn mặt đáng yêu của một cố nhân của tôi. Tôi không ngờ là kể từ ngày tôi rời bỏ New York có mấy tháng chung sống thơ mộng, về lại San Jose, cố nhân cũng bỏ lớp bỏ trường Columbia đi lang bạt Cali, Hawaii; năn nỉ mấy tôi cũng nhất định không ngoảnh mặt lại. Vậy mà giờ đây bất ngờ gặp hắn tại nơi này. Chỉ nhìn thấy cố nhân tối hôm ấy, cũng đã đủ làm cho lòng tôi giao động. Nhưng tôi cũng rán nhìn lên điểm mặt, ngoài hắn ra còn những ai. Tôi chỉ nhớ ngoài anh Thủy ra, có ba tên nữa. Tên cao lồng ngồng không thể lẫn vào đâu được là Tưởng Năng Tiến. Tên thứ hai thì đã có lần đi uống cà phê chung là Hoàng Phủ Cương. Còn tên thứ ba thì tôi biết tỏng, đấy là Võ Hoàng.
   Dĩ nhiên cố nhân của tôi thì cười mỉm rạng ngời, vì biết trước sau gì cũng sẽ bắt chẹt được tôi sau khi tôi công tác với ông chủ nhà in về quyển sách. Còn người chào hỏi tôi vồn vã nhất lúc đó là Tưởng Năng Tiến. Rất ư là lịch sự và nhẹ nhàng, Tưởng Năng Tiến một chị Huệ hai chị Huệ ngọt ơi là ngọt. Đó là cái cảm tưởng lần đầu tiên tôi gặp Tưởng Năng Tiến. Y nhìn thì biết mình làm sao là chị Hai của y được. Nhưng Tưởng Năng Tiến có cái khí hậu trò chuyện khéo léo nghệ thuật thiệt là trớ trêu, với tướng mạo ngang tàng, và một giọng văn sòng phẳng sắc sảo chinh phục độc giả. Đúng là điển hình một thứ đàn ông văn nghệ sĩ có nhiều bẫy ngầm.
     Và trong cái buổi tối đáng nhớ ấy tôi không bao giờ quên được ánh mắt của Võ Hoàng mỗi lúc nhìn qua vai những người bạn trai trẻ ấy để thăm hỏi tôi. Suốt khoảng ba mươi phút tối mùa hè đáng nhớ đó, Võ Hoàng im lặng từ đầu đến cuối. Anh nhìn tôi rất vui, rất thân mật, rất mừng rỡ, nhưng tuyệt nhiên anh im lặng giữa những câu chọc ghẹo cười đùa nhẹ nhàng của đám đàn ông con trai xôn xao với một đứa con gái rập rượng.
     Sự im lặng và tia mắt nhìn rất vui mừng thân mật của Võ Hoàng dành cho tôi tối hôm ấy là điều gì rất mạnh mẽ mà tôi không bao giờ quên được. Tôi không bao giờ quên ánh mắt như chợt loé lên một gửi trao dường như đã là một thoả thuận ngầm, chúng ta sẽ cùng chiến đấu nhé. Điều này là một xác tín đã trở lại với tôi trong một chiều sau đó, khi ngồi với cố nhân ở một quán nước, hắn đã nhẹ nhàng báo cho tôi hay hắn đang ở trong cùng một tổ chức với Võ Hoàng. Và sau đó trong một tờ báo rất đầu tiên của Mặt Trận Quốc Gia Giải Phóng Việt Nam của tướng Hoàng Cơ Minh, lúc Lê Thiệp còn làm chủ báo Kháng Chiến, tôi đã ký tên khác viết một tâm bút “Thư Gửi Người Đi” cảm động lắm đi lận
Trong tập truyện Bụi Hồng tôi giao cho nhà in của Vũ Tiến Thủy tối hôm ấy, có chuyện ngắn “Cơn Sốt” của tôi. Chuyện đã được đăng trước đấy trên báo Văn của ông Mai Thảo vào năm 1981. Chuyện ngắn lấy bối cảnh cơn ốm nhớ thương đất nước của một cặp tình nhân trẻ ở khung trời náo nhiệt New York. Đoạn cuối của chuyện mô tả người tình nam ám ảnh bởi một công cuộc giải phóng đất nước, cách mạng quốc gia đã đặt lên môi người tình nữ một nụ hôn nồng nàn hứa hẹn.
     “Cho đến khuya khi Ngữ tỉnh dậy, chàng trở người sang và gặp nàng đang nằm cạnh.
      -Anh biết em đã nằm cạnh anh rất lâu.
       Mồ hôi toát  ra ướt đẫm trán chàng và nhỏ từng giọt xuống ngực nàng. Ngữ hất tung đống chăn cuộn trên mình. Tấm biểu ngữ rơi xuống đất.
      Thoa trăn trở.
      -Em nhớ nhà quá.
      Ngữ đặt lên môi nàng một nụ hôn, nụ hôn nóng của hai bờ môi ốm sốt.
    -Anh sẽ đi. Mai một anh sẽ đưa em về. Chàng nói.”
    Thuở ấy, Võ Hoàng và Tưởng Năng Tiến đang là một đôi văn sáng như sao trên vòm trời văn học hải ngoại. Tập chuyện Măng Đầu Mùa của Tưởng Năng Tiến và Võ Hoàng là một ngọn hải đăng trong đám những nhà văn trẻ hải ngoại đầu thập niên 1980. Không biết ở đâu ra mà có một đôi bạn văn sáng sủa như vậy. Tự nhiên xuất hiện đôi song ca có một lối viết hết sức thân mật với đời sống. Đó là cách viết rất văn chương di truyền lớn lên trong nước Việt Nam Cọng Hoà của hai ông Ngô Đình Diệm và Nguyễn Văn Thiệu. Cách viết của những con người yêu văn chương, phơi phới tình người, và rất hào sảng cho văn chương và đời sống những tiếng nói róc rách trong tác phẩm. Cái cõi văn chương rất thoải mái chia sớt tận tình với đời đó không thể nào kiếm thấy ở những con người lớn lên ngoài Miền Bắc áp bức nghẹt cầu nghẹt đường đời Cọng Sản của Bác Hồ Chí Minh và bác Lê Duẩn.
Lật những trang chữ của Võ Hoàng và Tưởng Năng Tiến đọc sẽ thấy khác những trang viết của Trần Đăng Khoa, Nguyễn Huy Thiệp. Chữ nghĩa của Tưởng Năng Tiến và Võ Hoàng chân hơn, sáng hơn, tự tin hơn, gần với con người quanh ta hơn. Trong khi chữ nghĩa của Nguyễn Huy Thiệp và Trần Đăng Khoa mánh hơn, đểu hơn, vẹo hơn, để luồn lèn lớn lên trong một xã hội mà cứ bốn người là có một anh công an dòm ngó. Hai cõi tác phẩm xiển dương hai thế sống khác từ nhừng xã hội mà hắn được nuôi dưỡng. Tuyên dương cõi này mà bỏ lơ cõi khác là hội chứng chậm tiến của hành trình tiêu hoá những tác phẩm.
     Cái điều sáng tỏ của Võ Hoàng, nhà văn vào thời điểm đó, chính là thái độ chọn lựa. Võ Hoàng không chỉ viết. Võ Hoàng dám hiện thực điều chàng viết bằng hành động.
      Sau một trận lột xác và lột hồn vì cơn địa chấn bị vứt ra khỏi quê hương, là một kẻ mẫn cảm, thông minh, tràn đầy nghị lực, có tất cả thời gian của tuổi trẻ vào thời điểm sau 1975 ấy, Võ Hoàng dám xông xáo đi tìm một phương hướng giải quyết những thôi thúc trong người.  Cái thôi thúc lãng mạn phục vụ quê hương có thể là thừa kế của người quân nhân lính thủy Võ Hoàng Oanh của mấy năm binh nghiệp trước đó; nhưng cái bi kịch hùng tráng của Võ Hoàng ở đây chính là chính hành động lựa chọn sứ mệnh chiến đấu để chứng nghiệm đời sống, thay vì tưởng tượng đời sống qua ngòi bút.
       Cái chân dung mà tôi không thể nào không bị khích động, là lúc ấy Võ Hoàng đang ở vào một vị trí ăn ảnh đời người nhất. Võ Hoàng có tuổi trẻ, y chỉ là tên đàn ông vừa ngoài ba mươi. Võ Hoàng có tự do, y vừa mới đến xứ sở Hoa Kỳ nơi mà Nữ Thần Tự Do đã ban tặng cho y một quyền tự do sống hoàn toàn thảnh thơi theo bất cứ cách thế nào y muốn nhất. Võ Hoàng có mái ấm, vợ con vừa sang đoàn tụ. Võ Hoàng có danh vọng, y vừa mới là nhà văn nổi tiếng. Một trang thanh niên tài hoa hiểu ra mình đang ở vào một vị thế có hào sảng, tư trang của cải, căn cước tuổi trẻ, sinh lực, tài năng nhất. Thế mà trong cái huy hoàng của thời thế tuổi trẻ rực rỡ ấy, y đã chọn một con đường chiến đấu cho một siêu hình niềm tin vào danh tự có tên gọi là Quê Hương.
      Nỗi đau bị bứng vứt ra khỏi quê hương như một thứ nha phiến làm cho giấc mơ trở về quê hương là một mời gọi vô cùng hấp dẫn. Tình yêu quê hương là một nguồn sống còn mãnh liệt hơn cả chính tình yêu. Nhà văn Ai Cập Naguib Mahfouz trong chuyện dài Sugar Street đã viết một câu bất hủ “Perhaps patriotism, like love, is a force to which we surrender, whether or not we believe in it.” Mặt đất này đã thấm đẫm những giòng máu nuôi danh tự Quê Hương. Ngày đó chúng tôi ra đi từ những địa danh Rạch Giá, Vũng Tàu, Nha Trang, Hà Tiên. Điểm xuất phát trở thành điểm trở về. Chúng tôi cũng chỉ là những đứa con mọn của một thứ mặt đất tham lam luôn luôn đòi chúng tôi trở về phục vụ nó. Mặt đất hay Quê Hương như một bà mẹ khắc nghiệt không muốn bứt rời đứa con của bà. Võ Hoàng ra đi từ Phú Quốc, chắc là chàng cũng bị cái tiếng gọi của bà mẹ Phú Quốc kêu riết nên chàng mới tìm đường trở về.
Con đường trở về bằng ngôn ngữ Phú Quốc của một nhà văn Võ Hoàng hình như chưa đủ. Những sáng tác của Võ Hoàng trong mấy năm ngắn ngủi lìa xứ, 1979-1984, là những chuyện tràn đầy tính chất Nam Bộ. Giọng văn Nam Kỳ là một nét đặc sắc của văn chương Việt Nam khởi đi từ những cái tên như Nguyễn Đình Chiểu, Hồ Biểu Chánh, Sơn Nam, Võ Hoàng, Nguyễn Văn Sâm, Hồ Trường An…Với tôi, chỉ trong vài truyện ngắn đầu tay, Võ Hoàng đã lấp lánh một tài năng lớn của văn chương Nam Kỳ. Lối dựng chuyện của anh không thừa thãi, lấy chữ đè chuyện. Văn vẻ của Võ Hoàng rất tươi rói như vừa mới vốc ra từ Phú Quốc. Đọc chuyện của Võ Hoàng cứ như thấy những con người Nam Kỳ dẻo miệng của anh đang gõ gàng trước mặt mình.
Thế nhưng cõi viết không thôi hình như không đủ chỗ để dung chứa sức sống tràn trề của một đứa con trai yêu của quê hương là Võ Hoàng Oanh. Cho nên chàng thanh niên tên là Võ Hoàng Oanh đã vứt bỏ danh vọng đang lên của nhà văn trẻ Võ Hoàng, ném trả cho xứ người lạ hoắc chút tài sản văn chương mà chàng vừa cắm dùi được . Chàng chọn lựa phiêu lưu vào lịch sử, thách thức lịch sử, với ước muốn giành lại và chiến đấu cho quê hương mà người ta đã chiếm đoạt mất của chàng.
Có thể nói đứa con yêu của tổ quốc Võ Hoàng Oanh đã chọn lựa vai trò kẻ chiến đấu để thí nghiệm con người văn chương tên là Võ Hoàng. Võ Hoàng Oanh đã ra sa trường chiến đấu dũng cảm với mặt trận đất đá súng đạn và kẻ thù ở Nam Lào, vào cái lúc mà tên tuổi nhà văn Võ Hoàng đang lên cao rực rỡ nhất. Sự chiến đấu bằng võ lực là một cách chiến đấu chẳng đặng đừng vào thời điểm ấy. Lúc mà khối Cọng Sản còn chắc nịch như một thứ đế quốc không ai xuyên phá được. Sự chọn lựa con đường đi sang Lào để về chiếm lại quê hương vào bối cảnh đó là một hình ảnh đẹp tuyệt vời trong lòng mọi người Việt lưu vong. Võ Hoàng Oanh con chim trống cũng chỉ muốn khoe đôi cánh vạm vỡ của mình để biểu dương sự chiến đấu bảo vệ lấy quê hương của nhiều người đang bị bọ hung, chuột, dán, bọ chét hút máu. Một nhóm đàn ông con trai đã đi làm anh hùng, lịch sử. Hoàng Cơ Minh, Võ Hoàng, Trần Thiện Khải, Lê Hồng… là những anh hùng của chúng tôi vào thời điểm đấy. Nhất là trước đấy đã có vị anh hùng trí thức dấn thân như sinh viên Trần Văn Bá đã cũng xuống xuồng đi về phía Quê Hương và đã gục ngã.
Cái chết của Trần Văn Bá (Đường Trần Văn Bá, thơ Lê Thị Huệ) đã càng bồi đắp cái hình tượng cái chết nào của những đứa con của Quê Hương cũng đều là những cái chết đẹp và hiển hách hơn cái chết bệnh tật già lụm khụm nơi quê người. Võ Hoàng Oanh đã chọn lựa theo con đường xuống xuồng chèo về phía Quê Hương dù biết là phía trước mình có người anh sinh viên trí thức Trần Văn Bá vừa ngã gục. Một thái độ chọn lựa hết sức ngạo mạn, lãng mạn, phiêu lưu, thách đố chỉ xảy ra cho những con người dám sống theo tính cách huyền thoại trên bia đá, trong lịch sử, trong truyện và trong kịch. Con người nhỏ nhẻ im im, nghiêng nghiêng nụ mỉm cười thân mật ấy lại chọn lựa một cách chiến đấu bão bùng khốc liệt.
Hoặc tất cả chúng ta cùng sống hoặc tất cả chúng ta cùng chết (thơ Lê Thị Huệ) thì đúng là con người nhà văn Võ Hoàng đã muốn bảo vệ, đã muốn chiến đấu dùm cho những nhân vật huyền thoại. Cái dũng của con người nhà văn Võ Hoàng là muốn chứng minh và chiến đấu điều mình tin bằng chính hành động chèo xuồng đi về phía Quê Hương trước khi cầm bút mô tả lại sự việc. Cái hách của nhà văn Võ Hoàng là trước khi y vung bút múa cho đời một điệu văn thì y đã dám thử nghiệm bằng chính con người và cuộc đời y trước. Thật là khác xa với những tay sống thì không dám sống nhưng chỉ mơ ước vẽ vời rồi để cho kẻ lạ sống dùm hoặc mời gọi người khác sống theo sự tưởng tượng của tác phẩm bày ra. Với tất cả những nét đặc biệt nêu trên, con người này đã thiết lập được một huyền thoại cao ngạo, quyến rũ, tài hoa của riêng danh tiếng Võ Hoàng.
LTH
Đêm 10/8/2001

nguồn

Posted in Hồi Ký, Kampuchea | Leave a Comment »