Trần Hoàng Blog

Archive for Tháng Bảy, 2011

Truyện Ngắn

Posted by hoangtran204 trên 31/07/2011

Cũng Một Kiếp Người

Tác giả: Đỗ Trường
» Thể lọai: Truyện ngắn
» Số lần xem: 6490

nguồn

Bây giờ hắn nằm đó bất động như một xác mướp khô. Hai chân hắn co quắp,khẳng khưu, đầu gối vồng lên như những mắt tre bị ai đó chặt chém nham nhở .Da của hắn chùng xuống nhăn nheo, đeo thêm những cục sẹo trong chiến tranh và bị đánh trong tù, to tướng nặng nề lệch hẳn sang một bên, đung đưa đung đưa, mỗi khi hắn co chân lên như những hòn đọi của mấy ông thợ xây.

Đầu hắn trọc lốc, hai mắt đờ dại, sâu hoắn vô hồn. Miệng hắn chẳng còn cái răng nào dúm lại ,méo mó .Tiếng thở của hắn phì phà,phì phò, nhiều lúc rít lên như tiếng nhị, môi hắn tím ngắt,phập phà phập phùng,nhìn vào như da trống rách của mấy lão thợ cúng gần nhà hắn. Hai tay hắn quờ quạng,và hắn đang sờ soạng vào bóng của mình trên tường, dưới ánh đèn dầu lúc chạng vạng tối.

Hắn đã đi qua hết cuộc chiến tranh khốc liệt nhất trên quê hương hắn. Nhà tù của chế độ Việtnam cộng hòa, rồi nhà tù Thanh hóa sau 30-4-75 hắn cũng đã vượt qua. Ấy vậy mà căn bệnh ung thư phổi đã quật ngã hắn, hắn đang nằm chờ chết,một cái chết đau đớn về thể xác lẫn tâm hồn.

Vì là con ông chú, nên hắn phải gọi tôi bằng anh, nhưng hắn lớn hơn tôi đến chục tuổi. Ông nội hắn là người giầu có tiếng tăm ở Nam Định.

Ông hắn mua rất nhiều ruộng đất ở vùng hạ sông Đáy. Ông hắn bắt vợ chồng bác cả và bố hắn về ở hẳn đó trông coi. Để trói chân bố hắn ở đó lâu dài, ông hắn lập mưu cưới vợ cho bố hắn là người địa phương . Lúc đầu bố hắn phản đối quyết liệt, nhưng sau đó không rõ thế nào , hay vì mẹ hắn nết na ,hiền thục ,chăm chỉ ,nên dần dà bố hắn cũng chịu.

Hắn là con thứ hai, sau hắn lóc nhóc còn sáu em nữa. Đến tuổi vào học lớp vỡ lòng (lớp 1),là lúc đội cải cách về thu ruộng đất của gia đình hắn . Bác cả của hắn sợ quá chạy một mạch ra Qủang yên. Vì còn vướng đàn con nhỏ ,bố hắn không kịp chạy nên bị bà con bần cố nông bắt giữ.

Bố hắn bị giam vào chuồng lợn của chính gia đình hắn. Nhà chính của bác cả và gia đình hắn bị chia cho bà con bần cố.Gia đình hắn phải chuyển xuống nhà bếp.

Hàng ngày hắn phải mang cơm cho bố ( nói là cơm cho sang vậy thôi ,thực ra chỉ là cháo bí ngô đỏ, hoặc khoai lang luộc mà thôi ) phải đi qua sân trước nhà cũ của hắn,hắn sợ lắm. Bọn bạn cũ con bần cố nông ,từ trong nhà hắn réo tên hắn chửi :  –  Thằng địa chủ con, đại gian đại ác, chúng ông không chơi với mày nữa.

Hắn lầm lũi cúi mặt bước đi. Hắn cũng nghe lỏm được, bác Âm chị gái bố hắn bị bà con bần cố nông và cô con gái nuôi đấu tố làm nhục,  ức quá thắt cổ tự tử.

Ông hắn ở trên quê, cũng bị nhốt vào chuồng trâu,tự bóp cổ mấy lần,  mặt xưng to như cái cơi trầu, bà nội hắn biết được nên cứu sống. Hôm đội mang ông hắn ra xử bắn,thì có lệnh dừng lại -sửa sai- thóat chết.

Bố hắn may mắn cũng được thả , vì ruộng đất trên giấy tờ vẫn là của ông hắn được hạ thành phần xuống trung nông.

Mới chín, mười tuổi, hắn đã phải lao động cật lực như một lão nông thực sự. Hắn và bố hắn hàng ngày phải cầy cầy,bừa bừa,lăn lộn, trên chính mảnh đất của cha ông hắn, để tính công điểm với hợp tác xã.

Chằng chuộc mãi hắn cũng học qua được bậc tiểu học. Mười bảy tuổi mà hắn còi cọc nhỏ thó như đứa trẻ mười bốn,mười lăm.Người hắn gầy như cây sậy,da xanh rớt như tầu lá.Cái đói thường trực trong con người hắn,có lẽ cả năm chỉ có ngày mùng một tết là hắn được ăn no.

Cái ngày ấy đi bộ đội tức là đi vào chỗ chết,người ta cũng phải xét lý lịch. Thành phần ông địa chủ, bố không cùng với giai cấp bần cố, lại có chú theo ngụy quân, ngụy quyền vào nam, muốn đi bộ đội còn lâu nhé. – Cho mày đi ,mày theo chú mày chống lại chúng ông à. Người ta bảo hắn thế,khi hắn viết đơn xung phong vào bộ đội.

Bố hắn thì chì chiết:

_Đi bộ đội, mày định mang súng vào Nam để giết chú mày hay sao? Đồ mất dậy.

Mặc xác mọi người,hắn vẫn quyết tâm xin đi. Cũng may bên ngọai hắn có mấy ông bác, ông cậu làm việc ngòai xã, cậy cục mãi ,người ta cũng chấp nhận cho hắn đi khám sức khỏe. Hôm khám,hắn phải đeo thêm mấy cục đá mới đủ cân.

Nhìn cái dáng loắt choắt của hắn có người thương tình hỏi:– Còn bé tý ,sao lại muốn lăn vào chỗ chết như vậy ?. Hắn hồn nhiên trả lời:– Đi bộ đội cháu sẽ được ăn no.

Cuối năm 1980 hay 81, nhà tôi lúc này còn ở trong ngõ chợ Khâm thiên. Không ngủ được, mẹ tôi thường đi chợ sớm.

Sáng hôm ấy trời nắng ráo ,có mưa gió gì đâu, lại có một người đàn ông ăn mặc kỳ cục, áo mưa kín mít như đàn bà đẻ, chân đi đôi guốc tự đẽo, lọet quẹt theo mẹ tôi vào nhà. Tôi nghệt mặt ra nhìn.

Mẹ tôi hỏi :– Không nhận ra ai sao ? tôi lắc đầu  —  Đam con chú Khôi ,vừa ở tù ra. Thì ra ông trời đánh này, nghe đã nhiều hôm nay mới gặp.

Ngày hắn đi bộ đội, tôi mới có năm, sáu tuổi, không nhớ được.  Nếu như mọi người trong gia đình không thường xuyên nhắc đến hắn, có lẽ tôi chẳng biết  còn có hắn ở trên cõi đời này.

Năm ấy hắn mới ngòai ba chục, ấy vậy nhìn hắn như ông già sáu mươi. Răng hắn cái mất cái còn ,vàng khè,ngỡ từ lúc sinh ra đến giờ,hắn chưa bao giờ biết đánh răng vậy. Da hắn bủng beo,xám xịt ,có lẽ hắn vừa trải qua trận sốt rét rừng ? Tóc hắn bết lại thành từng khóm ,tỏa mùi khét lẹt. Hai má hắn tóp lại, xương cằm chồi ra làm đôi môi đen xì của hắn hơi bị sole.

Hắn chỉ còn đôi mắt ngầu ngầu hơi đục, thi thỏang tóat lên sự sống. Chân hắn đi lại cà nhắc cà nhắc. Hắn bảo chân hắn ba lần bị thương, lần đầu dính đạn của lính VNCH, lần sau trúng đạn của bộ đội. Một lần nữa hắn bị quản giáo vụt gẫy chân, vì can tội đào trộm sắn ăn sống khi ở trong trại cải tạo.

Mẹ tôi phân công hắn ngủ cùng giường với tôi. Nhưng mấy đêm đầu hắn như bị ma ám. Đang ngủ ,hắn dựng người dậy ,nói mê lảm nhảm

_Lạnh quá,lạnh quá, tôi chết mất…

Tôi ấn người hắn xuống

_Đây là nhà mình rồi,không phải ở tù nữa đâu. Hắn đổ cả mồ hôi hột,

_Vậy hả, giời đất ơi, em cứ tưởng đang bị đứng dưới hố nước chứ. Nghĩa là thế nào ? tôi hỏi hắn.

_Trong trại có một cái hố sâu đầy nước, người ta bỏ một tấm ván gỗ trên mặt nước. Vào mùa đông ,thằng nào bị phạt phải đứng ngâm mình trên tấm ván đó ,nước tới cổ,trong tư thế cân bằng ,nếu không tấm ván sẽ bị lật, uống no nước bẩn.

Nghe hắn kể những lần sốt rét rừng không có thuốc ,phải nuốt giun đất sống ,làm tôi rùng mình. Hắn bảo nghĩ thì sợ ,nhưng trong hòan cảnh đó phải chấp nhận thôi, nhưng cái anh giun đất trị sốt rét tốt ra phết đấy.

Tôi hỏi hắn : Ông đang là bộ đội ,làm thế quái nào ông chuyển thành lính VNCH ?. Hắn lặng người đi, dường như hắn đang xúc động lắm. ….

Vào bộ đội được ba tháng, đơn vị hắn được lệnh hành quân vào Nam. Hắn được huấn luyện sơ sài . Hắn thú thật ,lúc đó chưa sử dụng súng đạn thuần thục.

Mấy tháng ròng, luồn rừng,trèo đèo, lội suối, đơn vị hắn mới đến được nơi tập kết, nhưng rơi rụng hết một phần ba. Hắn được bổ xung vào một đơn vị mới đóng sát biên giới Campuchia.

Hắn chưa được tham gia những trận đánh lớn, ngòai mấy trận đụng độ lẻ tẻ. Hắn bị bắt trong một trận như vậy ,khi hắn bị thương ở chân, và lạc đơn vị .

Hắn được đưa về Sài gòn điều trị vết thương,và tạm giam. Lúc đầu hắn cũng lớn tiếng ,hung hăng đả đảo chế độ VNCH, đúng như lời đồng chí chính trị viên căn dặn. Nhưng dần dần hắn cũng hiểu ra ,họ không hòan tòan như đồng chí chính trị viên đã nói.

Hắn được đối xử ở bệnh viện quân đội ,như những người lính VNCH. Khi vết thương đã lành, hắn phải vào nhà tù, từ đây hắn trở thành tù nhân của chiến tranh. Hắn được ăn uống đầy đủ,hắn không bị đói- Ôi! hắn sợ đói lắm,dường như cái đói cứ ám ảnh cả cuộc đời hắn. Hắn sợ đói ngay cả lúc hắn no.

Hắn biết ,hắn chỉ là thằng lính tò te, ít học ,lại còn ngốc nghếch nữa, chẳng có gì để họ quan tâm ,khai thác cả. Nhưng hiện tại hắn đang mất tự do, ngày ngày trôi qua, hắn cảm thấy vô vị.

Năm sau, hắn cùng một số bạn tù khác xin hồi chánh. Biết hắn ít học,lại còn trẻ,nên chính phủ cho hắn vào trường học nghề, nhưng hắn không chịu ,hắn muốn đi làm ngay để kiếm tiền. Vật lộn mấy năm làm thuê, lúc ở Sàigòn, khi ở Biênhòa,hắn đâm chán nản.

Đầu năm 1970,gặp lại mấy ông bạn tù cũ cùng cảnh ,rủ vào lính biệt kích không số quân, do Mỹ trả lương,vì họ đang cần tuyển những người tứ cố vô thân như hắn.

Tôi hỏi hắn: – Ông có ông chú ruột lúc đó đang là sĩ quan VNCH, và là dân biểu tỉnh Bìnhđịnh sao ông không tìm đến ?

Hắn bảo khi bị bắt ,hắn đã khai không có ai quen biết,họ hàng nào ở miền nam cả, sau này sợ phiền ,nên hắn không tìm chú hắn. Khi hắn là lính biêt kích- đóng ở Hòai nhơn,Bìnhđịnh, đó là quê vợ của chú hắn, cũnglà địa bàn đóng quân của ông.

Hắn thường xuyên thấy hình ông chú trên báo,nhưng hắn quyết tâm không tìm. Điều tất nhiên ông chú không biết hắn đang ở cạnh ông.

Dù hắn có giải thích,hoặc bằng bất kỳ lý do nào ,cũng không làm cho tôi thỏa mãn. Tôi bảo hắn; Nếu như  gặp ông chú có lẽ số phận ông sẽ đổi khác. Hắn im lặng không nói gì. Tôi còn giữ cả số lính- 76.106619- (đã lâu không biết còn chính xác không?)đơn vị sau năm 1972,

Khi Mỹ rút, hắn chuyển sang quân đội VNCH.  Số là năm 1993 em gái út lấy chồng, tôi có về Hànội. Công việc xong xuôi,tôi về thăm quê,và thăm hắn. Lúc này hắn đang đói lắm.

Nghe đâu hắn theo người ta ra mãi Quảngninh làm thợ xây. Chẳng hiểu các bố lắp đặt giàn giáo thế nào chạm vào vào dây điện chạy ngang, hắn bị giật cháy xém cả mảng da,ngã lộn cổ. Hắn không chết, nhưng bị thương nặng ,chuồn về quê tĩnh dưỡng.

Gặp hắn tôi hỏi , đã tởn chưa?  Hắn chống tay ngồi dậy ,tựa lưng vào tường ,với điếu cầy bắn liền tù tì hai ,ba phát,rồi vỗ vào miệng điếu kêu đồm độp.Hắn nuốt khói thuốc lào ừng ực ,cứ như người ta uống bia vậy. Lim dim một lúc hắn trả lời nhát gừng :

_Sợ có mà chết đói à.

Tôi hỏi:

_Sao không làm đơn sang Mỹ theo diện HO, để vợ con nheo nhóc như thế này. Hắn cười buồn

_Ở đây tù mù quá, em không biết thủ tục như thế nào ,ghi cho bác số lính, đơn vị,nhờ bác hỏi giúp.

Ngày đó Mỹ chưa có sứ quán ở Hànội,tôi cầm sang Đức nhờ anh Trần hữu Phúc biên tập báo HướngViệt,nơi tôi thường xuyên gửi bài. Anh Phúc hướng dẫn tỷ mỉ,bảo hắn phải vào Sàigòn nộp. Chẳng hiểu lý do gì hắn không vào.

Mãi đến năm 2007 hắn mới chịu làm tiếp hồ sơ. Người ta gọi khám sức ,căn bệnh ung thư phổi của hắn đã đến giai đọan cuối, chuẩn bị ngồi trên nóc tủ rồi ,còn đi với đứng gì nữa.

Có một câu chuyện hắn kể đã lâu ,có thể hắn phịa ra,hoặc thêm mắm thêm muối vào,làm tôi ám ảnh mãi. Là thám báo,nên  hắn thương phải họat động riêng lẻ. Chuyến đi đông người nhất là vụ nhảy dù xuống nhà tù nhốt phi công Mỹ ở Sơntây. Hắn làm nhiệm vụ tiếp ứng ngòai tầu biển. Sau mỗi phi vụ ,bọn hắn được xả láng cả tháng. Người Mỹ cũng vậy ,nhàn cư bất thiện. Hết trò,có vài lính Mỹ thuê các cô gái điếm vào trại cho chó đến kỳ động đực chơi. Động đến tự trọng dân tộc,bọn hắn vác súng đến sống chết với lính dù Mỹ.Chuẩn bị đánh đấm đến nơi, các cấp chỉ huy phải hỏa tốc đến , điều đình ,can thiệp mã mới ổn. Rù rà ,rù rì hắn kể đại lọai rất nhiều chuyện như vậy. Tôi không tin nhũng chuyện đó là thật, nhưng không hiểu tại sao tôi lại thích nghe.

Năm 1972, hắn chuyển về làm tiểu đội trưởng thuộc trung đội 3, đại đội 3,tiểu đoàn3,trung đòan 48,sư đoàn 18 bộ binh, với cái tên mới Nguyễn tấn Tước,( vì nhiệm vụ bảo mật nên hắn thay đổi tên tuổi ,ngày tháng năm sinh khi đổi đơn vị)cho đến ngày hắn bị bắt tại Xuânlộc.

Sau 30-4-75, hắn bị giải ra bắc. Tòa án quân khu 3 tại KiếnAn xử hắn gần sáu năm tù. Hắn ghé vào tai tôi nói nhỏ, em không khai báo thời gian đi lính biệt kích  cho Mỹ,  không thì có lẽ em khó có ngày về. Tôi hỏi lại hắn:

_Ông không phải là sỹ quan , mà sao người ta phải đưa ông ra bắc , mà tù lâu đến như vậy.

Hắn giải thích:

_Em nguyên là bộ đội xuất thân từ Nam định,nên họ xử em về tội chiêu hồi . Họ đánh giá thành phần bọn em còn nguy  hiểm hơn cả sỹ quan.

Từ đó đến nay, thời gian qua đã lâu,hắn cũng xắp tới cầu Nại hà,nên tôi mới dám viết điều này. Trông hắn cũ người như vậy ,thế mà có duyên ra phết. Ở Xuânlộc hắn cũng có vợ, chẳng biết có cưới xin gì hay không, nhưng đẻ cho hắn hai thằng con trai .Từ ngày hắn đi tù,vợ hắn cũng mất tích luôn, có lẽ đã lấy chồng khác.

Ngày mãn tù, người ta bắt hắn phải về quê để quản thúc, chứ không cho xuôi Nam.  Với cái bộ mặt dúm dó,và cái lý lịch đen như mực , ây vậy mà về quê có ít ngày ,hắn cưa đổ cô hàng xóm xinh đẹp ,nết na ra phết về làm vợ. Con cái cứ năm một ra đời, cái đói không bao giờ buông tha hắn .

Hôm trước, tôi có gọi điện về hỏi thăm, qua điện thoại người hàng xóm nhà hắn, hắn nói năng nặng nhọc lắm rồi.Tôi hỏi còn nguyện vọng gì nữa không. Hắn bảo:

_Ước nguyện thì nhiều,nhưng lúc xắp phải về thế giới bên kia, chỉ muốn được gặp đồng đội cũ  sư đoàn 18 bộ binh. Ước muốn là như vậy,nhưng khó lắm phải không bác…

Sau vài giây im lặng ,tôi nghe thấy tiếng… nấc nghẹn nghẹn…ở đầu dây bên kia.

Câu chuyện này, tôi viết ra đều theo lời kể của hắn, chẳng biết đúng sai thế nào, vì tôi chưa bao giờ trải qua gian khổ  éo le như hắn. Nhưng không hiểu tại sao, viết xong đọc lại, tôi cứ thấy rờn rợn ./.

Advertisements

Posted in Hồi Ký, Truyện Ngắn | Leave a Comment »

Truyện Ngắn: Gỏi Nhệch

Posted by hoangtran204 trên 31/07/2011

Đỗ Trường

Thật ra quê gốc của tôi không phải vùng ven biển Nghĩa Hưng, Nam Định. Quê nội tôi, họ Đỗ sống nhiều đời ở Trực Ninh. Ông nội tôi trong cải cách ruông đất được đội(cải cách) phong là địa chủ cường hào đại gian đại ác. Theo báo Nam Định, tài sản của ông tôi bị tịch thu nhiều đứng thứ ba của tỉnh. Lệnh sửa sai, đã kịp thời cứu sống ông tôi từ nơi trường bắn. Chỉ tội cho ông Phi chủ tịch lâm thời huyện, người đã được ông tôi nuôi giấu khi còn hoạt động trong bóng tối, bị gán cho cái tội quốc dân đảng, ức quá tự mổ bụng, chết tức tưởi trước mặt đồng chí của mình hiện là những ông đội, ông phán.

Quê ngoại tôi họ Đặng làng Hành Thiện, Xuân Trường. Dòng họ khoa bảng rất nhiều người thành đạt trong học vấn, và nhiều người làm quan to ở thời nào, chế độ nào cũng có. Như mẹ tôi chẳng được học hành nhiều, vậy mà khi về già vẫn còn đọc sách tiếng pháp toanh toách tôi nghe ù hết cả tai, chữ viết cứ tròn vành vạnh, tính toán, nữ công gia chánh đâu ra đấy. Không hiểu chế độ thực dân thối nát, nhồi nhét, đào tạo kiểu gì mà tài thế. Ngay bốn ông cậu em ruột mẹ tôi, ông chức vụ bé nhất cũng là vụ trưởng vụ kỹ thuật của một bộ.

Có lẽ tôi không được thừa hưởng tý ti nào gen bên ngoại, nên học hành vào dạng làng nhàng, độn sổ, năm học nào cũng nhận điểm vớt. Học hành đã dốt nát, lớn lên, đi làm chuyên chọc ngoáy cán bộ, nên luôn luôn được xếp vào dạng cá biệt, đã thế tôi còn khắc khẩu với các bác, các cậu bên ngoại. Có lần trong đám giỗ, có bác chức to đùng cùng đoàn tùy tùng, bảo vệ đến tham dự. Tôi dạng con cháu, ngồi mâm dưới. Đang chuyện gia đình, các bác chuyển sang học hành, và chuyện xã hội. Người đã khật khừ, tôi còn can tội nói leo, nói bậy làm phật ý các bác, bị ông cậu thứ hai bịt miệng, túm cổ lôi ra ngoài, bàn giao cho mấy ông cháu áp tải về nhà. Từ lần sau giỗ chạp, nếu tôi lò dò tới, chỉ được phép ngồi mâm các bà.

Ông ngoại tôi là sếp ở sở giây thép Hà Nội, chẳng biết là sếp to hay sếp bé nhưng về khoản cô đầu, cô đít thật sự ông tôi là sếp lớn, nổi tiếng đất Hà Thành. Ngày bà ngoại tôi còn sống hay cằn nhằn, ông ấy ăn chơi như vậy, thế mà Cả Khu ( TBT Trường Chinh) móc nối, rủ đi làm “giặc cỏ” đấy. Yêu cô đầu, con hát còn hơn cả vợ con, làm sao ông ấy bỏ đi được. (Vai vế trong họ, bà ngoại tôi là chị cụ Bốn Đễ thân sinh ra ông Trường Chinh – ngày đó trong họ, và chính quyền Pháp thuộc đều gọi ông Cả Khu là giặc cỏ, vì có ai biết cách mạng cách mẽo gì đâu, chỉ biết ông đang bị chính quyền truy bắt vậy thôi, nói như từ ngữ của ta bây giờ, tội phạm hình sự – Đây là lời kể của bà tôi và cô Đặng Thị Uẩn em kế ông Trường Chinh).

Tôi không nghĩ ông bà ngoại tôi ham giầu, mà cho mẹ tôi từ Hà Nội về làm dâu làng Cát Chử, Trực Ninh. Con nhà giầu ngày xưa làm việc còn cực hơn người ở. Mẹ tôi chửa xắp đến ngày sinh anh cả tôi, trời rét căm căm vẫn phải lội xuống ao vớt bèo, băm cám lợn.

Ông nội tôi mua rất nhiều ruông, đất vùng hạ Nghĩa Hưng. Nơi đây đất mới, ruông đồng mầu mỡ, lại được kẹp giữa hai con sông Ninh Cơ, và sông Đáy nên tôm cá rất nhiều. Từ đây ra biển chỉ một vài cây số, vì vậy hầu như nhà nào cũng có Te để đánh bắt tôm cá ven biển. (Te hình chữ V, mở ra khép vào như chiếc com pa, khung được làm từ hai cây tre khô, thẳng, người ta dùng dây đay đan thành lưới như một cái vợt, dụng cụ nặng nề này chỉ có đàn ông khỏe mạnh sử dụng được, dùng hớt cá ven bờ).

Ông tôi cho bác cả, và ông chú dưới bố tôi về đây trông coi. Nghe tin đội cải cách rục rịch về, ông tôi bắt bố mẹ tôi trốn về Nghĩa Hưng. Vừa tới nơi,chú tôi giật mình bảo, anh chị đưa các cháu về Hà Nội ngay, ở đây có lẽ còn căng hơn ở trên quê đấy. Đêm đó bố mẹ tôi tìm đường ngược về Hà Nội nương nhờ bên ngoại.

Sửa sai được mấy tháng, bà nội tôi tay bị, tay gậy lên Hà nội kêu với trung ương xin lại cái từ đường họ Đỗ vừa để thờ và ở, vì ruộng đất nhà cửa bị tịch thu cả, hiện hai ông bà già đang phải tá túc ở cái chòi ngoài đồng, trước đây là nơi canh lúa. Bà ngoại tôi dẫn bà nội đi tìm cụ Bốn Đễ lúc này đang lang thang ngoài phố, viết câu đối bán. Chẳng hiểu cụ Bốn Đễ nói gì với ông Trường Chinh, hay văn phòng quốc hội, thời gian sau ông bà tôi được chính quyền trả lại cho cái từ đường.

Có lẽ do hoàn cảnh gia đình và Mỹ ném bom Hà Nội, nên mẹ gửi tôi cho ông chú ở vùng biển Nghĩa Hưng. Nhờ vậy tôi có năm tháng tuổi thơ đi qua miền đồng quê sông nước, với những mùa rạm trôi tháng tám, và những cánh đồng vỡ ải, thơm lừng khói bếp quyện mùi rươi rán đầu mùa. Khi mùa nếp đã chín vàng, là từng đàn két tụ về vạt sú ven đê. Mùa này chõ xôi của các bà các cô quê tôi không thể thiếu thịt két hấp béo ngậy, trong se se lạnh chớm đông.

Trong cái se lạnh ấy, lũ trẻ chúng tôi sau những nhận thư hùng bằng những ván bi, ván đáo, thường tụ tập nhau trên những gò giữa đồng đang gặt, tìm bắt những con muôm muỗm béo tròn, đốt lửa lên, chúng tôi nướng. Hương của rơm mới bay đi với mùi thơm chín vàng rộm, bóng mượt của muôm muỗm, cho vào miệng, cảm giác bùi, béo ngọt, man mát như chiếc đòng đòng non khi lúa đương thì con gái, cho đến hôm nay đầu đã hai thứ tóc, nhưng khi nghĩ đến nó, tâm hồn tôi lại như được trở về với tuổi thơ.

Nhà chú tôi nằm chơ vơ giữa cánh đồng, nơi này trước đây là gò đất, bác cả cho dựng nhà tạm làm nơi nghỉ trưa của thợ cấy, thợ gặt. Cải cách, bác cả chạy thoát ra Quảng Yên, còn lại chú tôi nhà cửa, của cải, ruộng vườn bị tịch thu cả. Bị giam mấy tháng, đội đinh trục xuất về trên quê, nhưng chú tôi đã lấy vợ người địa phương, nên tạm thời cho ra ở ngoài này. Sau nhà con mương dẫn nước tưới cho cánh đồng lúa. Khi trời mưa rào, hoặc cống chính ngoài sông Đáy mở, nước lên, cá dưới mương quẫy đẻ nghe ùm ụp sau nhà. Những đêm như thế này, bao giờ đăng, đó của chú cũng đầy tôm, cá.

Chú từ bé đã sống ở thành phố Nam Định vì ông tôi cũng có nhà ở đó. Nhưng chẳng lo học hành, chỉ mải đàn ca, sáo nhị, năm hai mươi tuổi, ông tôi bắt chú về Nghĩa Hưng cho bác cả kèm cặp, và trông nom ruộng vườn. Nhưng chú cũng chẳng bỏ được cái thú chơi bời đó, có khi bỏ nhà đi rong chơi cả tháng, kể cả lúc đã có vợ có con. Ấy vậy mà chú tôi đã thay đổi hẳn tính nết, sau mấy tháng bị đấu tố, giam chung với lợn trong cải cách ruộng đất. Bây giờ nghe tiếng cá quẫy chú đã biết đó là loại cá gì, to hay bé. Chú đã là người sát cá nổi tiếng trong vùng.

Hì họ, giật hầy, dừng ọ…ọ .. con trâu, và chiếc cầy trên tay chú dừng hẳn lại. Quẹt tay lau mồ hôi trên trán, chú bảo tôi, gẫy mấy cái lưỡi cầy 51, mới được như thế này đấy. Chú tôi đã lột xác thành lão nông thật sự, và đang cầy cầy, bừa bừa chính trên mảnh đất của mình. Trước và sau chú đều là chủ, nhưng bản chất quả thật hoàn toàn khác nhau.

Chú tự từ bỏ tất cả mọi thú vui, hay mọi thứ vui đã bỏ chú ra đi, nhưng cái mà chú không thể từ bỏ đó là rượu với gỏi nhệch hay gỏi cá mè, một thứ ăn quê dân dã, dễ tìm, dễ kiếm. Khi đã ngà ngà say chú thường hay ngồi bờ mương sau nhà thổi sáo, hoặc đánh đàn Mandolin hát đến thâu đêm. Tôi còn nhỏ quá nên không hiểu hết những tâm sự, u hoài của chú, nhưng tiếng sáo vọng trong đêm, giữa cánh đồng mênh mông, dưới ánh trăng mờ đục cuối tháng, gió nâng tiếng sáo lên, như tiếng hú gọi hồn làm tôi cứ chờn chờn, rợn rợn. Đàn Mandolin thường đệm, hòa âm cho những bài hát có giai điệu vui rộn ràng, nhưng không hiểu sao khi nghe chú đàn hát, tôi thấy chẳng khi nào vui. Buồn đến nỗi có lần chú đàn hát bài “Tình Đồng Chí” ông chủ tịch xã đi qua tưởng chú hát nhạc vàng, nhạc phản động. Cấm. Chú bảo đó là của ông Chính Hữu, làm tướng tá trong quân đội đấy, ông lên Hà Nội mà bắt.

Khi ông mặt trời đỏ rực lên rồi tắt ngấm ở phía Tây, đâu đó chỉ còn một vài vệt sáng hắt lên từ cuối chân trời, chú tôi vác Te, đi kheo ra hướng biển. Chú đi cà kheo lênh khênh như các diễn viên hề ở đoàn xiếc, nước biển càng sâu, cà kheo thấp dần xuống, khi nước biển đã tới ngang hông người, chiếc sào được cắm xuống, đèn bão được treo lên, một đêm đánh cá bắt đầu. Đứng trên đê nhìn trong đêm ánh đèn như những con đom đóm lập lòe trên mặt biển mênh mông.

Sáng, khi mặt trời tròn như một chiếc thúng bơi lên khỏi những con sóng nhấp nhô, hàng ngàn tia nắng sớm lung linh, muôn mầu như đang rụng xuống biển xanh. Những con còng còng hoa nhớn nhác đi tìm những ụ cát mới để ẩn náu, cũng là lúc những người đánh cá kết thúc một đêm ngâm mình vật lộn với sóng gió. Tôi và thằng Năm (con thứ năm của chú) chạy ra hướng biển. Chú đã buộc Te gọn gẽ, rọ cá đã được mang lên mặt đê như chờ chúng tôi. Nửa dưới người ướt sũng, da bấy nhợt, chú cười hỏi:

_Hai thằng mày ngủ quên hay sao?

Thằng Năm nhìn rọ cá reo lên:

_Hôm nay bố bắt được cả nhệch!

Chú vác Te đi trước, tôi và Năm dùng sào làm đòn khiêng rọ cá lẽo đẽo theo sau. Tới nhà thím tôi chọn những con nhệch cỡ trung bình cho vào chum sành đậy lại, chiều làm gỏi. Còn lại thím mang ra chợ bán. Không hiểu sao chú tôi chỉ thích ăn cá đồng hay cá bắt dưới ao, chứ ít khi tôi thấy chú ăn cá nước mặn, ngoài nhệch ra. Khi bán cá có tiền chú hay dẫn tôi và thằng Năm ra hiệu sách cách nhà cả chục cây số, mua truyện. Truyện chú mua, tôi thích nhất cuốn truyện dịch của nước ngoài “Chú Bé Đánh Trống”.

Hôm nào đẹp trời; nước rút (xuống thấp), bãi biển bồi nơi cửa sông tật (lộ) ra, chú cho tôi và thằng Năm đi theo đào nhệch. Chú mang theo kẹp móc sắt trông như bát xà mâu của ông Trương Phi trong Tam Quốc để làm vũ khí chiến đấu. Nhìn những mà (lỗ) trơn, nhẵn chú đào, còn tôi và thằng Năm chạy loanh quanh nhặt những vỏ ốc được sóng đánh dạt vào bờ, tìm bắt những con còng mầu sắc sặc sỡ đùa nghịch. Lần đầu theo chú, đào được con nhệch to bằng cổ tay, dài ngoằng, chú đã kẹp vào đầu nó, thân và đuôi nó uốn ngược lên, tôi định đè nó xuống, chú hất tay tôi ra bảo, nó cuốn bẻ gẫy tay đó, xương nó cứng lắm.

Xung quanh nhà chú tôi trồng đủ cây có liên quan đến gỏi, từ cây xung, khế, chuối xanh đến đinh lăng, xương sông diếp cá, gừng nghệ, tía tô, mơ, húng, mùi tầu .. .. Và hũ mẻ gác bếp chú cũng chăm sóc kỹ lưỡng. Bình thường ít khi chú vào bếp, nhưng món gỏi nhệch tuyệt đối chú không cho thím, hoặc bất kỳ ai động đến. Chú bảo món này không cầu kỳ nhưng nhệch nhiều nhớt, nên phải dùng lá lúa để tuốt và nước tro để rửa. Lọc thịt phải mỏng, khéo và nhanh tay dùng giấy bản thấm khô, rồi tẩm thính gạo tám thơm, bột đậu xanh, riềng, nước nghệ, bột ngọt, muối tiêu ngay khi thịt còn mầu hồng. Chú dùng mẻ, đường, gừng một chút bột ngọt, ớt… nấu thành một thứ nước sền sệt đó dấm bỗng, sau đó pha thêm hai bát nước chấm, một bát với nước mắm, một bát với mắm tôm, bát nào cũng sóng sánh cùng tiêu gừng, ớt, sả…

Khi thím mang bánh đa vừng ra quạt, chú cho những khúc nhệch còn lại vào nồi canh củ chuối hột thái nhỏ như miến lên bếp, lúc này thằng Năm làm nhiệm vụ đi mời mấy ông bạn trong tổ cầy của chú. Tôi vừa rửa xong rổ rau thơm, đã nghe tiếng í ới ngoài ngõ, vào đến nhà ông nào cũng rút từ trong bụng ra chai rượu quốc lủi nút lá chuối khô, nhìn nhau cười ngất ngưởng.
Lúc đầu tôi sợ, chú tôi lấy những lá rau thơm đặt lên đó một chút da nhệch rán giòn, cho thịt vào rưới thêm một chút dấm bỗng cuộn tròn lại đưa cho tôi, bảo ăn thử. Tôi nhắm mắt lại, cho vào miệng, từ từ cắn, cảm giác thấy bùi bùi, ngọt của thịt, giòn giòn của da, tê tê nơi đầu lưỡi vị chua ngọt, cay cay của dấm như đang chảy vào trong cuống họng. Hương thơm của lá nhẹ nhàng đẩy cao lên cơ quan khứu giác, người thấy nhè nhẹ, như người ốm khỏe lại sau một nồi nước xông vậy. Tôi từ từ mở mắt, thằng Năm hỏi ngon không. Tôi gật đầu. Chú tôi cười khà khà bảo, ngon thì chiến đấu tiếp, xuống mâm dưới thằng Năm dậy cuốn, cái món này tự tay cuốn ăn mới ngon.

Sau này tôi được đi nhiều nơi, được ăn nhiều loại gỏi, trong đó có gỏi nhệch, tuy rằng mỗi vùng, mỗi người có cách chế biến khác nhau một chút, nhưng có lẽ trong đời ai đã một lần ăn gỏi nhệch, thì không bao giờ quên được cái dân dã, “thi vị” tuyệt vời đó. Và mỗi lần ngồi vào bàn ăn, tôi thấy dường như có chú còn đang ngồi đó, cuốn cho tôi chiếc gỏi nhệch đầu tiên.

Ngày nông nhàn, hoặc ngày giỗ, chú bảo tôi và thằng Năm lội xuống ao cầm xào đập để cá chạy, chú dùng vó bắt. Cá mè, chú lấy khúc giữa lọc để làm gỏi, cách làm, gia vị chế biến không khác gì gỏi nhệch. Tất nhiên món này nhiều người cho rằng không ngon bằng gỏi nhệch, nhưng nó được ăn chung với đầu cá mè nấu với hoa chuối, mẻ rất ngon, rất đặc biệt.

Năm sau thím tôi bị bệnh thấp khớp không lội ruộng được nữa, nên chú phải làm việc ngoài đồng nhiều hơn để tính công điểm với hợp tác xã. Mấy năm đó lúa bị sâu bọ nhiều, nên phải phun thuốc sâu, công việc nguy hiểm nặng nhọc này chẳng ai chịu làm, nên chú đảm nhận cả. Vài vụ như vậy, người chú gầy rộc, và ngã bệnh. Khám bệnh viện huyện, tỉnh người ta bảo chú bị nhiễm thuốc sâu, đã cháy các túi đựng oxy của phổi, chứ không phải bị lao phổi, nên không chữa được. Nghe giải thích nôm na như vậy, lúc đó y học chưa phát triển lại chiến tranh nữa, nên tôi cũng chẳng hiểu ra sao cả. Chỉ thấy chú nằm đó ngày một tiều tụy, thở vô cùng khó nhọc. Hiệp định Paris đã được ký kết, chiến tranh có lẽ xắp kết thúc, nhưng người con cả, con thứ của chú ở ngoài chiến trường năm, sáu năm không có tin tức, càng làm cho chú chán nản. Mẹ tôi về, định đưa chú lên Hà Nội khám, chữa, chú dứt khoát không đi. Hàng ngày vẫn có người của trạm xá xã đến tiêm thuốc kháng sinh cho chú. Mấy năm như vậy tấm lưng gầy gò của chú nổi trai từng cục, không còn chỗ để người ta chọc mũi kim vào để bơm thuốc.
Sau này tôi có hỏi mấy người bạn là bác sỹ chuyên gia về bệnh phổi, bảo có thể chú bị ung thư phổi. Có lẽ mấy ông bạn tôi nói đúng vì người con cả của chú, sau khi bị lính VNCH bắt làm tù binh mấy năm, sau năm 1975 lại bị bộ đội bắt tù, ra tù một thời gian bị bệnh ung thư, hình hài của hắn giống hệt chú nằm trên giường trước khi về với thế giới bên kia.

Trong truyện ngắn “Cũng Một Kiếp Người” tôi đã viết về hắn “Bây giờ hắn nằm đó như một xác mướp khô. Hai chân hắn co quắp, khẳng khưu, đầu gối vồng lên như những mắt tre bị ai đó chém chặt nham nhở. Da của hắn trùng xuống nhăn nheo đeo thêm những cục sẹo trong chiến tranh và bị đánh trong tù, to tướng nặng nề, lệch hẳn sang một bên, đung đưa, đung đưa mỗi khi co chân lên như những hòn đọi của mấy ông thợ xây. Đầu hắn trọc lốc, hai mắt đờ dại sâu hoắm, vô hồn. Miệng hắn chẳng còn cái răng nảo, rúm lại, méo mó. Tiếng thở của hắn phì phà, phì phò, nhiều lúc rít lên như tiếng nhị. Môi hắn tím ngắt, phập phà, phập phùng, nhìn vào như da trống rách của mấy lão thợ cúng gần nhà…..”

Mẹ tôi định đưa tôi về Hà Nội, nhưng chú thím bảo cứ để tôi học hết năm rồi hãy tính. Tôi cũng không muốn xa chú, và thằng Năm trong hoàn cảnh này. Thím tôi đã khỏi bệnh và thay chú đi làm đồng. Mẹ tôi vẫn gửi tiền về, hàng tháng chú thím được lĩnh tiền đi B của hai người con đầu. Tôi và thằng Năm vẫn đi be bờ, đơm đó bắt cá, tôm nên chúng tôi không bị đói và thiếu thốn. Khác chăng chúng tôi không đi đào nhệch, và không còn tiếng sáo trúc réo rắt trong đêm nữa.

Sáng hôm đó chú tỉnh lắm, trước khi tôi và thằng Năm đi học chú còn ngồi trên võng, bảo tôi và thằng Năm đu võng và quạt cho chú một lúc, hình như chú định nói gì với chúng tôi rồi lại thôi. Đến giờ tôi và thằng Năm đi học bình thường. Lúc sau có người đến báo chú tôi sắp mất về ngay. Chúng tôi chạy vội về nhà đã thấy mọi người quây quần bên chú, hỏi chú muốn ăn gì nữa không, chú lắc đầu và bảo chú thèm một hớp bia thôi. Mọi người bảo may ra chỉ phố huyện Liễu Đề mới có, nhưng xa đến gần hai mươi km. Mọi người chưa biết làm thế nào, tôi kéo thằng Năm ra sân bảo, mày ở nhà xem chú thế nào nhé, tao đạp xe lên huyện tìm mua bia, may ra thì kịp. Ngày đó phương tiện đi lại vô cùng khó khăn, cả xóm chỉ tôi có xe đạp của cậu út đi nghiên cứu sinh ở Ba Lan về cho.

Nói là phố huyện nhưng chỉ có mấy nóc nhà, lèo tèo vài ba hàng nước, và sửa chữa xe đạp. Góc đường có cửa hàng bách hóa huyện, nhưng hàng hóa trống trơn. Khi đi luống cuống, tôi quên mang theo tiền. Tôi đánh liều vào mấy quán nước hỏi, nhưng không hàng nào có. Sang cửa hàng bách hóa chị bán hàng bảo chỉ có xy rô thôi chứ không có bia. Tôi đứng tần ngần, nước mắt như muốn trào ra. Thấy lạ bác sửa xe đạp hỏi, cháu còn nhỏ mua bia làm gì thế này. Nghe tôi kể, bác sửa xe có vẻ thông cảm bảo, ngồi vào đây, bác chạy vào hỏi chị này hay lên Nam Định và Hà Nội cất hàng, may ra có. Lúc sau bác mang về một chai bia Trúc Bạch nhỏ. Tôi thú thật với bác quên mang tiền, xin bác trả tiền giúp, tôi có thể tháo một số phụ tùng xe lại để bác làm tin. Do dự một chút rồi bác bảo, thôi đạp nhanh về, xong việc lên trả cũng được, tôi tin ở cậu.

Về đến đầu xóm, mấy thằng bạn học gọi giật tôi lại bảo chú mày đã mất rồi. Chai bia như tuột khỏi tay, ngồi bệt xuống vệ cỏ, nước mắt tôi trào ra. Vậy là chú đã không đợi tôi về. Mấy ông bạn cầy của chú mở chai bia để bên cạnh bát cơm quả trứng.

Chú mất đi để lại một khoáng trống thật mênh mông, những con chim chích chòe, chim sáo dường như chúng cũng nhớ tiếng đàn, tiếng sáo của chú, mấy ngày đầu chúng xà xuống đậu quanh sân, trên nóc nhà, sục sạo, kiếm tìm, rồi bay đi, cứ cách vài ngày tôi lại thấy chúng quay trở lại….

Về nước lần nào tôi cũng về thăm quê thăm mộ của chú. Thằng Năm vẫn ở quê, ngôi nhà cũ của chú nó đã đập đi xây lại, con mương sau nhà nó cạn khô nước, là nơi chứa rác. Những cây họ nhà gỏi nó nhổ sạch, chỉ tay vào những chậu cây cảnh nó bảo toàn tiền triệu trở lên đấy. Mùa hè nhà nó bây giờ cũng phải dùng quạt máy rồi. Nghe kể nó làm đủ nghề, từ buôn gỗ đến mổ lợn bán. Dáng đi của nó như cua bò, bụng chứa toàn bia to như đàn bà chửa. Tôi hỏi còn đi đào nhệch về làm gỏi nữa không, nó bảo thời gian đâu mà đi hở bác, muốn ăn vào mấy quán trong làng, thích đi xa sang Kim Sơn Phát Diệm, hoặc vào Nga Sơn Thanh Hóa, phục vụ tới bến. Nói xong nó kéo tay tôi bảo hôm nay bác thích ăn gỏi nhệch trong làng hay đi xa em chiều bác. Tôi viện cớ bụng không được khỏe, từ chối.

Buổi tối thấy nó cứ mở bia bôm bốp, tu ừng ực, làm tôi nhớ lại chuyện chú tôi thèm một ngụm bia trước khi mất, ngoài trời không có gió mà sao tôi cứ nghe thấy tiếng hát karaoke của quán nào đó đập thình thình bên tai.

Đức Quốc 22-7-2011

ĐỖ TRƯỜNG

Posted in Truyện Ngắn, Uncategorized | Leave a Comment »

Nhà nước Trung Quốc ra lệnh cho Luật sư không được nhận hồ sơ cuả gia đình các nạn nhân kiện vụ lật tàu điện cao tốc

Posted by hoangtran204 trên 31/07/2011

Bắc Kinh – Giới tư pháp nhà nước ở Trung Quốc ra lệnh cho luật sư không được thụ lý hồ sơ từ những gia đình có thân nhân là nạn nhân của tai nạn tàu điện cao tốc thảm khốc xảy ra cuối tuần rồi, cùng lúc các viên chức ngành tư pháp đứng ra xin lỗi việc này.
Ba ngày sau khi tai nạn xảy ra gần thành phố Wenzhou ở miền đông Trung Quốc, các công ty luật ở thành phố này đã nhận một “bản thông báo khẩn” nhân danh Văn phòng Tư pháp thành phố Wenzhou và Hội Luật sư Wenzhou, theo thông tấn xã Xinhua cho hay hôm qua thứ Bảy ngày 30 tháng Bảy năm 2011.

Bản thông báo trên nói là luật sư nên báo cáo cho hai cơ quan này “ngay lập tức sau khi những hành khách bị thương và gia đình của những hành khách chết trong tai nạn này đến tìm luật sư nhờ giúp đỡ pháp lý,” theo Xinhua.

Bốn mươi người bị thiệt mạng khi hai chiếc tàu điện cao tốc đâm vào nhau hôm thứ Bảy tuần rồi ở ngoại ô thành phố Wenxhou. Nguồn hình: AP


Bản thông báo này cũng nói là luật sư không được “đáp ứng và thụ lý hồ sơ kiện một cách không có thẩm quyền,” vì “tại nạn này là một vấn đề nhạy cảm rất lớn lao liên quan đến sự ổn định xã hội.”

Bốn mươi người bị thiệt mạng khi hai chiếc tàu điện cao tốc đâm vào nhau hôm thứ Bảy tuần rồi ở ngoại ô thành phố Wenxhou, gây nên một tai nạn kinh hoàng nhất từ trước đến nay cho hệ thống xe điện cao tốc đang được phát triển một cách nhanh chóng ở Trung Quốc.

Đã có nhiều sự chỉ trích đối với chuyện nhà nước Trung Quốc giải quyết tai nạn này và hệ qủa của nó trên mạng Internet và giới truyền thông, và việc ra lệnh cho các luật sư không được thụ lý hồ sơ kiện này đã gây nên một làn sóng phẫn nộ khi bản thông báo này bị tiết lộ và được công bố trên mạng.

nguon dcvonline.net     

source  AFP 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Posted in Chinh tri Trung Quoc | Leave a Comment »

►Sự tuyên truyền đóng một vai trò rất lớn ở bất cứ thời nào… Trường hợp của Trung Tướng Đặng Văn Quang

Posted by hoangtran204 trên 28/07/2011

Lời Tựa: Để giữ cho đầu óc độc lập và sáng suốt, hãy tránh nghe những lời tuyên truyền một chiều.

 

Đọc tiếp »

Posted in Nhan Vat | Leave a Comment »

►Có bao nhiêu người Việt ra đi khỏi nước sau 1975?

Posted by hoangtran204 trên 27/07/2011

Sự hình thành Cộng đồng Người Việt Hải ngoại

Trần Gia Phụng

(Trình bày tại Viện Việt Học, California ngày 23-7-2011)

Trong lịch sử Việt Nam, có một số trường hợp, người Việt ra nước ngoài tập thể: Ví dụ khi nhà Lý sụp đổ năm 1225, hoàng thân Lý Long Tường (nhà Lý) lo ngại bị nhà Trần đàn áp, nên cùng đoàn tùy tùng qua Triều Tiên lập nghiệp năm 1226. Năm 1789, vua Quang Trung chiến thắng oanh liệt ở Đống Đa; vua Lê Chiêu Thống (nhà Lê) sợ bị trả thù, liền cùng các cận thần qua Trung Hoa lưu vong.

Dưới thời Pháp thuộc, trong thế chiến I (1914-1918) và thế chiến II (1939-1945), Pháp đưa hàng trăm ngàn binh sĩ Việt qua Pháp chiến đấu. Sau khi chiến tranh chấm dứt, một số người ở lại bên đó sinh sống rải rác nhiều nơi. Ngoài ra, trong thập niên 30 của thế kỷ trước, nhiều người Việt bị thực dân Pháp mộ phu, đưa qua quần đảo Tân Calédonie, ngoài khơi Thái Bình Dương, rồi ở luôn bên đó.

Tuy đã nhiều lần ra nước ngoài, nhưng chưa lần nào người Việt tổ chức thành cộng đồng như Cộng đồng Người Việt Hải ngoại (CĐNVHN) sau năm 1975.

Diễn hành đầu Xuân tại Little Saigon, Caliofornia
Nguồn: OntheNet


1. Nguyên nhân

Có hai nguyên nhân chính đưa đến sự thành lập CĐVNHN sau năm 1975.

Thứ nhất là sự sụp đổ của chính quyền Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) ngày 30-4-1975, khiến nhiều người Việt bỏ nước ra đi.

Thứ hai, người Việt di tản và vượt biên có cùng một mẫu số chung là tỵ nạn cộng sản, nên người Việt tự động tập họp với nhau, đầu ít, sau nhiều và dần dần đưa đến sự hình thành CĐNVHN.

2. Di tản và vượt biên

Cuộc ra đi lần nầy của người Việt có thể chia thành bốn giai đoạn. Những số liệu dưới đây dựa vào thống kê của Cao Uỷ Tỵ Nạn Liên Hiệp Quốc (United Nations High Commissioner for Refugees = UNHCR)

Giai đoạn 1: Trước khi cộng sản kiểm soát được Sài Gòn ngày 30-4-1975 và sau đó vài ngày sau nữa, khoảng 150,000 người di tản ra nước ngoài, trong đó 140,000 qua Hoa Kỳ, 10,000 đến các nước Âu Châu và các nước khác.

Giai đoạn 2 (từ 1975 đấn 1979): Khi người Việt ra nước ngoài đông đảo, nhất là qua Hoa Kỳ, tổng thống Gerald R. Ford (thay thế tổng thống Richard Nixon từ chức tháng 8-1974) ban hành đạo luật “Indochina Migration and Refugee Act” (Đạo luật về Di trú và Tỵ nạn Đông Dương) được quốc hội thông qua ngày 23-5-1975, theo đó “những người Nam Việt Nam và Cao Miên được phép nhập cư vào Hoa Kỳ theo một quy chế đặc biệt và sẽ được trợ cấp để tái định cư.” Các tổ chức thiện nguyện như Civitan International, The United States Conference of Catholic Bishops, The International Rescue Committee, và The Church World Service, sẽ bảo trợ những người đến định cư.(1)

Từ tháng 6-1975 đến 1979, tổng cộng 326,000 người Việt vượt biên , trong đó có 311,400 thuyền nhân, và 14,600 người đi bằng đường bộ qua Cambodia, Thái Lan.(2) Người ta ra đi nhiều trong thời gian nầy vì Đỗ Mười, bí thư trung ương đảng Cộng Sản Việt Nam (CSVN), vào Nam năm 1978, phát động chiến dịch cải tạo công thương nghiệp, nhưng thực chất là đánh giới tư sản, kể cả tư sản người Việt gốc Hoa. Trong các tháng 3 và 4-1978, khoảng 30,000 doanh nghiệp lớn nhỏ của người Hoa bị đóng cửa.(Wikipedia: “Thuyền nhân”.) Vì vậy, nhiều người Việt gốc Hoa đóng vàng cho nhà nước CS để được thoát khỏi Việt Nam theo chương trình ra đi “bán chính thức”. Phía Trung Quốc gọi là “nạn kiều”.

Giai đoạn 3 (từ 1980 đến 1989, trước thời điểm UNHCR ra lệnh khóa sổ các trại tỵ nạn, không nhận người vượt biên): Trước tình hình người Việt ra đi tỵ nạn đông đảo trên đây, chính phủ Hoa Kỳ ban hành thêm đạo luật “Refugee Act” (Đạo luật Tỵ nạn) ngày 17-3-1980 nhằm “cung cấp quy chế có tính cách hệ thống và vĩnh viễn để tiếp nhận và tái định cư một cách hiệu quả người tỵ nạn dựa trên những nhu cầu nhân đạo đặc biệt.” (3)

Trong giai đoạn nầy, khoảng 450,000 người ra đi, gồm có 428,500 thuyền nhân và 21,500 người đi đường bộ, đến các đảo Hồng Kông, Palawan (Phi Luật Tân), Bidong (Malaysia), Galang (Indonesia), các trại ở Thái Lan, rồi từ đó đi định cư khắp thế giới.

Giai đoạn 4 (từ 1990 đến 1995, tức từ khi Liên Hiệp Quốc khóa sổ năm 1989 cho đến lúc giải tán vĩnh viễn các trại tỵ nạn năm 1996): Số người ra đi vẫn tiếp diễn, tổng cộng khoảng 63,100 người, trong đó 56,400 là thuyền nhân và 6,700 người đi đường bộ.

Như thế từ khi Sài Gòn bị cưỡng chiếm ngày 30-4-1975 cho đến cuối năm 1995, trong bốn đợt ra đi, tổng số người Việt bỏ nước ra đi, theo thống kê của UNHCR là 989,100 người, cả đường biển lẫn đường bộ. Số người tử nạn trên đường vượt biên không thể thống kê chính xác được. Người ta phỏng chừng có khoảng từ 400,000 đến 500,000 thuyền nhân bỏ mình trên biển cả hay bị hải tặc bắt giết.

Thuyền nhân
Nguồn: OntheNet


Những người di tản đầu tiên ngay sau ngày 30-4-1975, được đi định cư tương đối dễ dàng. Những người vượt biên sau đó phải trải qua nhiều thủ tục khó khăn rườm rà mới được đi định cư.

Trong giai đoạn đầu, thoát khỏi Việt Nam, người vượt biên đến tạm cư ở những nước lân cận Việt Nam như Malaysia, Indonesia, Phi Luật Tân, Hồng Kông… và phải trải qua các thủ tục sau đây: Thứ nhất, là UNHCR phỏng vấn. Trong cuộc phỏng vấn nầy, người vượt biên phải chứng minh mình đúng là nạn nhân của chế độ cộng sản, mới được đi định cư. (Người nào không chứng minh được thì không được chấp nhận quy chế tỵ nạn.) Thứ hai, người tỵ nạn còn phải qua cuộc phỏng vấn của đại diện nước mà đương sự muốn xin đi định cư (Hoa Kỳ, Canada, Úc…). Nếu được chấp nhận mới có thể lên đường.

Năm 1989, UNHCR quyết định đóng cửa các trại tỵ nạn Malaysia, Indonesia, Phi Luật Tân, Hồng Kông. Từ đây các thuyền nhân phải trải qua một cuộc thanh lọc chặt chẽ hơn, phải chứng minh đầy đủ giấy tờ là cá nhân hay gia đình thực sự bị chế độ cộng sản ngược đãi. Vượt qua cuộc thanh lọc (tức “đậu thanh lọc”), đương sự mới được đi định cư, nếu không vượt qua cuộc thanh lọc (tức “hỏng thanh lọc”), đương sự sẽ bị trả về Việt Nam. Những người đậu thanh lọc còn phải qua thêm một cuộc phỏng vấn của phái đoàn quốc gia mình muốn xin định cư, và nếu bị bác đơn thì phải xin đi nước khác.

3. Ra đi có trật tự, H.O., con lai, du học, xuất khẩu lao động

Ngoài đa số người ra đi bằng thuyền, còn có khá nhiều người ra đi bằng đường hàng không, theo hai chương trình O. D. P. và H.O. Orderly Departure Program viết tắt là O. D. P. tức chương trình “Ra đi có trật tự” do thân nhân bảo lãnh, bắt đầu từ 1979.

Văn phòng O.D.P. lúc đầu mở tại Bangkok, thủ đô Thái Lan vào tháng 1-1980. Chương trình O.D.P. đã đưa gần 500,000 người Việt tái định cư ở Hoa Kỳ. Văn phòng O.D.P. ở Bangkok ngưng nhận hồ sơ từ ngày 14-9-1994 và đến năm 1999 thì văn phòng nầy đóng cửa. Tòa lãnh sự Hoa Kỳ ở Sài Gòn từ đây phụ trách việc xin cứu xét hồ sơ bảo lãnh.(4)

H.O. là chữ người Việt thường dùng để gọi chương trình The Special Released Reeducation Center Detainee Resettlement Program (Chương trình tái định cư cựu tù cải tạo được phóng thích), hay còn gọi là Humanitarian Operation Program (Chương trình H.O.). Chương trình nầy bắt đầu từ năm 1989, do chính phủ Hoa Kỳ chấp nhận cho các nhân viên và quân nhân VNCH bị ba năm tù cộng sản trở lên, cùng gia đình, tái định cư tại Hoa Kỳ. Có tài liệu cho rằng từ 1989 đến 2002, số cựu tù nhân chính trị cùng thân nhân, kể cả những người đi theo diện tỵ nạn trong chương trình Tu chính án McCain (McCain Amendment Program), đến Hoa Kỳ định cư lên đến hơn 210,000 người.(5)

Ca sĩ Phi Nhung
Nguồn: OntheNet


Bên cạnh đó, còn có chương trình “Con lai” Mỹ. Trẻ Lai Mỹ được chính phủ Hoa Kỳ định nghĩa là “Ngoại kiều sinh tại Việt Nam sau ngày 1 tháng 1 năm 1962 và trước ngày 1 tháng 1 năm 1976 và có cha là công dân Hoa Kỳ” . Số con lai Mỹ cùng gia đình đến Hoa Kỳ định cư lên đến khoảng 100,000 người.(6)

Thêm vào đó, sau năm 1975 có một số người ra đi do du học hoặc xuất khẩu lao động qua Liên Xô và các nước Đông Âu. Khi chế độ cộng sản tại các nước nầy sụp đổ vào những năm 1990-1991, nhiều sinh viên du học hay những người xuất khẩu lao động đã xin ở lại tỵ nạn. Số nầy lên đến khoảng trên 100,000 người (số liệu trong nước cho biết khoảng 300,000 người), rải rác ở Nga, Ba Lan, Tiệp Khắc, Hungaria, Đông Đức… Hiện nay nhiều người trong số nầy đã chuyển qua các nước phương tây định cư.

4. Cộng đồng Người Việt Hải ngoại

Dầu di tản hay vượt biên từ năm 1975, hoặc ra đi theo các chương trình O.D.P., H.O., hay xin tỵ nạn từ các nước Đông Âu, và dầu hiện nay người Việt ở hải ngoại theo nhiều khuynh hướng chính trị khác nhau, nhưng căn nguyên của tất cả người Việt ở hải ngoại trên thế giới hiện nay đều mang tính cách chung là người Việt tỵ nạn cộng sản. Như thế căn cước của Cộng đồng người Việt hiện nay trên thế giới là cộng đồng người Việt tỵ nạn cộng sản. Nếu ai cho rằng mình không phải là người tỵ nạn cộng sản thì đã được mời về nước ngay từ đầu. Chính vì cùng một mẫu số chung (tỵ nạn cộng sản), người Việt dễ dàng thông cảm nhau và dần dần tập họp lại với nhau thành những nhóm nhỏ (hội đồng hương, hội đồng nghiệp…), rồi tập họp thành CĐNVHN, chứ sau ngày 30-4-1975, những thành viên cũ trong chính phủ Việt Nam Cộng Hòa không thành lập chính phủ lưu vong nhằm quy tụ người Việt.

Người Việt tỵ nạn tập trung đông nhất tại Hoa Kỳ, sau đó đến Úc Châu, Canada và Âu Châu. Có một số ít ở vài nước Á Châu như Nhật, Singapore, Phi Luật Tân. Riêng tại Hoa Kỳ, thống kê dân số năm 2007 cho thấy người Mỹ gốc Việt là 1,642,950, chiếm 0,55% dân số Hoa Kỳ.(7) Người Việt vốn quen với khí hậu nắng ấm miền nhiệt đới ở Việt Nam, nên sau khi nhập cư vào Hoa Kỳ, tạm thời ổn định đời sống, người Việt thường tìm đến sinh sống ở các tiểu bang nắng ấm miền nam Hoa Kỳ như California, Florida, Texas. Tại California, ở Orange County, các thành phố Garden Grove, Westminster, Santa Ana, Fountain Valley họp thành trung tâm Little Sài Gòn, được xem là thủ đô của người Việt tỵ nạn trên thế giới.

Tính chung, tổng số người Việt ở hải ngoại hiện nay được ước lượng khoảng ba triệu người. Dân số nầy sẽ còn tăng nữa theo thời gian. Nhờ sống tại các nước TỰ DO DÂN CHỦ, người Việt hải ngoại có điều kiện học hỏi, phát triển khả năng, đỗ đạt nhiều và đỗ đạt cao, làm việc chăm chỉ, nên người Việt càng ngày càng thành công tại các nước định cư. Nhờ thế CĐNVHN nhanh chóng lớn mạnh.

Về phương diện tôn giáo, người Việt hải ngoại tiếp tục theo những tôn giáo ở trong nước, và phát triển tôn giáo của mình một cách mạnh mẽ. Nhiều chùa Việt được xây dựng khắp nơi trên thế giới. Nhiều họ đạo Ky-Tô có nhà thờ riêng cho người Việt. Đạo Cao Đài và Phật giáo Hòa Hảo được tự do truyền đạo và hành đạo, không bị đàn áp, ngược đãi như hiện nay ở trong nước.

Về phương diện văn hóa, tại bất cứ nước nào, các cộng đồng người Việt hiện nay đều hoạt động tự phát rất tích cực. Ở một số địa phương, Việt ngữ trở nên một môn học chính thức trong học đường. Nhiều
trường dạy tiếng Việt cho con cháu được mở ra. Tuy không phải là quê hương ruột thịt của mình, nhưng ở một số thị trấn, sinh hoạt hầu như hoàn toàn bằng tiếng Việt.

Nhờ hệ thống chính trị tự do dân chủ nơi quê người, văn học, nghệ thuật, âm nhạc, nghiên cứu, tiểu thuyết, báo chí người Việt hải ngoại rất đa dạng và phát triển mạnh mẽ. Nếu tính theo tỷ lệ dân số, thì ở hải ngoại, văn hóa phát triển mạnh mẽ hơn trong nước hiện nay. Nếu tính theo chiều không gian, thì báo chí, tác phẩm văn học Việt Nam ở hải ngoại bao trùm rộng rãi cả thế giới. Từ Mỹ Châu, qua Âu Châu, đến Úc Châu. Ngoài những tác giả viết sách bằng tiếng Việt, nhiều tác giả viết sách bằng tiếng nước ngoài, cũng như nhiều tác phẩm Việt ngữ đã được dịch ra tiếng nước ngoài.

Về phương diện chính trị, sau khi tạm ổn định đời sống nơi vùng đất mới, đồng bào tỵ nạn hải ngoại tiếp tục cuộc tranh đấu chống cộng đang còn dang dở. Lúc đầu, nhiều người tham gia phong trào võ trang chiến đấu, tìm đường trở về phục quốc. Tuy nhiên, do những yếu tố chủ quan cũng như khách quan, các phong trào nầy đã thất bại. Sau đó, theo cách thức tranh đấu tại các nước tự do dân chủ, người Việt quay qua vận động chính trị bất bạo động và chống cộng sôi nổi khắp nơi trên thế giới.

Sau hai thập niên tỵ nạn, sang đầu thế kỷ 21, CĐNVHN bắt đầu đi vào chính lưu (mainstream) sinh hoạt chính trị tại những nơi mình sinh sống. Nhiều người Việt Hoa Kỳ, Canada, Úc, Anh, Pháp … đắc cử vào các Hội đồng địa phương, các cơ quan hành pháp và lập pháp ở mọi cấp.

Về phương diện kinh tế, người Việt vốn thông minh, chăm chỉ, cần cù, chịu khó, tiết kiệm, giản dị, nên khá thành công trong sinh hoạt kinh tế, đóng góp không ít vào các nước định cư. Hiện nay, nhìn chung đời sống người Việt ở hải ngoại tương đối sung túc, nhất là những người lập nghiệp từ năm 1975. Một số người Việt bắt đầu làm chủ các cơ xưởng vừa, một số bước vào giới triệu phú nhỏ.

5. Biểu tượng Cộng đồng Người Việt Hải ngoại

Khi rời đất nước ra đi tìm dự do, người Việt mang theo trong trái tim mình toàn bộ hình ảnh quê hương gia đình, bà con, bạn bè thân thiết và đặc biệt hình ảnh tượng trưng cho chế độ dân chủ tự do mà mình đã sống, dù chế độ đó chưa được hoàn thiện: đó là lá CỜ VÀNG BA SỌC ĐỎ của Quốc Gia Việt Nam và sau đó Việt Nam Cộng Hòa.

Biểu tượng của người Việt tại Hoa Kỳ
Nguồn: OntheNet


Trong hầu hết các sinh hoạt cộng đồng đều có làm lễ chào cờ quốc gia địa phương và chào cờ VNCH. Dần dần, khi đi vào chính lưu dòng sinh hoạt chính trị Hoa Kỳ, người Mỹ gốc Việt vận động các cấp lập pháp địa phương thừa nhận lá cờ VNCH là biểu tượng chính thức của cộng đồng người Việt.

Đầu tiên, ngày 19-2-2003, thành phố Westminster ở California ra nghị quyết số 3750, thừa nhận Lá cờ vàng ba sọc đỏ là biểu tượng chính thức của Cộng đồng Việt Nam Westminster. Từ đó, nhiều thành phố và nhiều tiểu bang tại Hoa Kỳ đã theo gương Westminster, thừa nhận biểu tượng của CĐNVHN. Cho đến năm 2009, trên toàn nước Mỹ, có 14 tiểu bang, 7 quận hạt (county) và 88 thành phố công nhận Cờ vàng ba sọc đỏ là biểu tượng của CĐNVHN.(8)

6. Ảnh hưởng của CĐNVHN đối với Việt Nam

Ngay từ những ngày đầu được hình thành, CĐNVHN chẳng những đóng góp cho các nước mình đang định cư, mà còn tác động ngược trở về trong nước.

Về kinh tế, sau khi định cư, người Việt cặm cụi làm ăn vừa để nuôi sống gia đình, vừa để có tiền gởi về giúp thân nhân. Lúc đầu là những thùng quà và chuyển ngân bất hợp pháp qua các tư nhân. Sau đó, những đại lý chuyển tiền mọc ra khắp nơi.

Số tiền gởi về càng ngày càng nhiều. Theo nguồn tin của đài phát thanh RFA ngày 05-01-2011, thì vào năm 2010, số tiền người Việt ở nước ngoài gởi về giúp đỡ thân nhân và đầu tư lên đến khoảng 8 tỷ Mỹ kim. (Web đài RFA, trang lưu trữ, ngày 5-01-2011.) Dầu số tiền nầy chỉ để giúp bà con, gia đình, nhưng gia đình là đơn vị căn bản của xã hội, nên viện trợ cho gia đình còn có nghĩa là viện trợ cho xã hội, do đó số tiền lớn lao nầy cũng đã nâng đỡ rất nhiều nền kinh tế hiện nay trong nước. (Năm 1975, để có thể tiếp liệu cho chiến trường, tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, xin chính phủ Hoa Kỳ viện trợ 300 triệu Mỹ kim, mà Quốc hội Hoa Kỳ từ chối.)

Về chính trị, CĐNVHN là những người tỵ nạn CS. Lập trường của đại đa số trong CĐNVHN là lập trường chống cộng. CĐNVHN luôn luôn vinh danh lá Cờ vàng ba sọc đỏ và đồng thời chận đứng sự xuất hiện của cờ CS. Nơi nào có cờ CS xuất hiện là CĐNVHN kiếm cách triệt hạ ngay.

Đặc biệt hơn, vào tháng 5-2004, Hội đồng hai thành phố Westminster và Garden Grove ở Little Sài Gòn đã ra “Nghị quyết không hoan nghênh” (Unwelcome Resolution) buộc cơ quan Cảnh sát địa phương phải thông báo cho Hội Đồng Thành phố trước mười bốn ngày để xin bảo vệ an ninh khi có phái đoàn chính thức của CHXHCNVN đến viếng thăm thành phố.

Ngoài ra, CĐNVHN theo dõi thật sát những diễn tiến chính trị ở trong nước, lên án những vụ vi phạm nhân quyền, những cuộc bắt giam tù nhân lương tâm của nhà nước cộng sản. Những cuộc vận động nầy phần nào tác động đến nhà cầm quyền CS, làm cho họ giảm bớt việc thủ tiêu, hay đàn áp đẫm máu những nhà tranh đấu đối lập như trước đây, đồng thời tạo nên điểm tựa tinh thần, yểm trợ những phong trào đòi hỏi dân chủ ở trong nước.

Ở hải ngoại, sống trên đất nước tự do, mỗi người có quyền tự do suy nghĩ, hành động độc lập, nên trong CĐNVHN có một thiểu số muốn “hòa giải hòa hợp” với cộng sản. Những người nầy có hai lý do: Hoặc họ cộng tác làm ăn với một số tổ chức nước ngoài đang qua Việt Nam đầu tư, nhất là từ khi chính phủ Hoa Kỳ bỏ cấm vận Việt Nam năm 1995. (Chính phủ hay thương nhân nước ngoài hành động theo quyền lợi của riêng họ.) Hoặc chính những người nầy trực tiếp về Việt Nam đầu tư kinh doanh, đưa sản phẩm về tiêu thụ, in ấn sách vở. Tốt nhất, những ai muốn hòa hợp hòa giải với chế độ cộng sản trong nước, nên đem vợ con, gia đình về hẳn trong nước sinh sống, thì sẽ có cơ hội tận hưởng được sự hòa hợp hòa giải nầy, chứ đừng ở nước ngoài xúi người khác làm những điều đầu môi chót lưỡi.

Bên cạnh đó, nhà nước cộng sản Việt Nam đang cố gắng tuyên truyền để triển khai thực hiện nghị quyết 36/NQ-TW ngày 26-3-2004 của Bộ Chính trị đảng CSVN, nhắm lôi cuốn người Việt định cư ở nước ngoài trở về hợp tác với nhà nước CSVN và chia rẽ CĐNVHN. Tuy nhiên, nghị quyết nầy không đạt được tác dụng như ý của CSVN vì qua tin tức gia đình, qua mạng lưới thông tin quốc tế, qua lời truyền miệng của những người đã từng về Việt Nam, CĐNVHN nắm biết rất rõ thực trạng độc tài, tham nhũng và nhất là hèn nhát đối với Bắc Kinh của chế độ hiện nay ở trong nước.

Về văn hóa, khi chiếm được miền Nam, Cộng sản Việt Nam đốt sách miền Nam, quyết tâm tiêu diệt nền văn hóa dân tộc cổ truyền còn được bảo lưu ở miền Nam, và thay thế bằng văn hóa Mác-xít. Ai cũng thấy rõ tình trạng văn hóa và giáo dục đang càng ngày càng suy đồi. Trong khi đó, ra nước ngoài, người Việt làm tất cả các cách phát huy nền văn hóa tự do, nhân bản, khai phóng cổ truyền của dân tộc. Trên nền tảng văn hoá dân tộc, người Việt hải ngoại còn được thêm cơ hội học hỏi, nghiên cứu văn hóa các nước trên thế giới, tạo thành dòng văn hóa và văn học Việt Nam hải ngoại hết sức sinh động.

Ngoài sự tiếp xúc văn hóa trong đời sống bình thường giữa người Việt trong và ngoài nước (thăm viếng, du lịch), dòng văn hóa và văn học Việt Nam hải ngoại được đưa lên các mạng lưới toàn cầu, truyền về trong nước, góp phần làm dồi dào đời sống văn hóa trong nước, giúp mở mang kiến thức giới trẻ, vốn bị CS nhồi sọ trong nền văn hóa Mác-xít.

Cộng đồng Người Việt tại Úc biểu tình phản đối Trung cộng
Nguồn: OntheNet


Kết luận

Sự thành lập CĐNVHN là một hiện tượng đặc biệt trong lịch sử Việt Nam. Đặc biệt vì các lý do sau đây:

Thứ nhất, thông thường, khi chiến tranh xảy ra, người ta bỏ xứ đi nơi khác để tránh lửa đạn; đến khi hòa bình trở lại, người ta hồi hương về chốn cũ. Đàng nầy, sau ngày 30-4-1975, chiến tranh chấm dứt, hòa bình trở lại mà người Việt lại bỏ xứ ra đi hết sức đông đảo. Đây là nghịch lý thứ nhất.

Thứ hai, nghịch lý thứ hai là khi người Việt bỏ nước ra đi, nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam ngăn chận, bắn giết, tù đày, ngược đãi, sỉ nhục, chửi mắng những người di tản và vượt biên. Ngay ngày 30-4-1975, Trịnh Công Sơn đã lên đài phát thành Sài Gòn gọi những người di tản là “phản quốc”. Trong khi đó, khi được tái định cư ở một nước khác, người Việt nhanh chóng xây dựng đời sống mới. Chẳng những đóng góp cho quê hương thứ hai của mình, chính những người Việt bị gọi là phản quốc đó đã gởi tiền về cứu giúp thân nhân trong nước, từ đó cứu vãn luôn nền kinh tế suy sụp bấp bênh của Việt Nam dưới chế độ cộng sản.

Thứ ba, khi ra nước ngoài từ 1975, nhờ cùng mẫu số chung là tỵ nạn cộng sản, người Việt hải ngoại dần dần tự động tập họp thành CĐNVHN. Càng ngày CĐNVHN càng phát triển, đưa đến nhiều ảnh hưởng quan trọng ngược về trong nước về kinh tế, chính trị, văn hóa, và thúc đẩy những thay đổi hiện nay ở trong nước.

Trước đây, trong lịch sử thế giới, những người Trung Hoa hải ngoại đã giúp nâng cao trình độ hiểu biết chính trị về thế giới của những người trong nước, ảnh hưởng rất nhiều đến cuộc Cách mạng Tân Hợi năm 1911. Sau đó, những người Ba Lan lưu vong từ năm 1945, đã cổ võ, viện trợ và thúc đẩy cuộc cách mạng ở Ba Lan vào cuối thập niên 80 vừa qua.

Với đà phát triển như hiện nay, chắc chắn CĐNVHN tiếp tục lớn mạnh và tiếp tục tác động mạnh hơn nữa vào xã hội trong nước, cũng như tiếp tay với những phong trào đòi hỏi dân chủ ở trong nước, nhằm chấm dứt chế độ độc tài cộng sản, mới mong xây dựng một nước Việt Nam tự do, độc lập và phú cường.


Bài, do tác giả gởi. DCVOnline biên tập và minh hoạ. Chú thích của tác giả.

1. Đợt nầy đa số là người Việt gốc Hoa vượt biên, theo phong trào “bán chính thức”. Khoảng một nửa số qua Trung Quốc, lúc đó đang đối đầu với Việt Nam cộng sản. Số còn lại qua Hồng Kông và các đảo Đông Nam Á.
2. Người Việt Trẻ, “Người Việt tỵ nạn và định cư”, bài 3: “Các làn sóng tỵ nạn Việt Nam”, Người Việt Online, California, ngày 28-10-2004.
3. http://en.wikipedia.org/wiki/Orderly_Departure_Program
4. Phan Đức Thông, “Những làn sóng người Việt định cư tại Hoa Kỳ” (http://www.ninh-hoa.com/LuatDiTruNhungLansongTiNan.htm)
5. David Lamb, “Children of the Vietnam War”, Smithsonian Magazine, Washington DC, June, 2009. Tạp chí nầy được đưa lên web site: http://www.smithsonianmag.com/people-places. Bài báo nầy cho biết số con lai khoảng 26,000 người đi cùng với gia đình và bà con khoảng 75,000 người. Theo tác giả Huỳnh Kim Khánh (New Jersey) viết ngày 17-7-2004, Đàn Chim Việt Online Edition đăng lại ngày 28-11-2010 thì từ 1979 đến 1999 những ngơời đến Hoa Kỳ theo chương trình con lai là 89.700 người
6. Wikipedia, “Người Việt ở Mỹ”. Năm 2007, tổng dân số Hoa Kỳ là 301 triệu. Năm 2010, tổng dân số Hoa Kỳ là 308, 745, 538 người.
7. Diễn đàn sinh viên Quân y, , bài “Tin tức thời sự: Khuyên các cụ”.

——————————————

*10-2-2013

Richard Holbrooke (1941 – 2010)

nhà ngọai giao lỗi lạc & nhà báo tài năng

Nhân đọc sách: The Unquiet American

Richard Holbrooke in the world

Edited by :  Derek Chollet & Samantha Power

Published by : Public Affairs, New York 2011

(Sách nguyên tác tiếng Anh dày 383 trang, bìa cứng)

Có bản E Book : www.publicaffairsbooks.com

*     *     *

Richard Holbrooke

Richard Holbrooke là một nhân vật kiệt xuất trong nền ngọai giao hiện đại của nước Mỹ. Ông còn là một nhà báo ngọai hạng được sự mến chuộng và tin tưởng của giới truyền thông báo chí. Không may, ông mất sớm vào cuối năm 2010, khi mới có 69 tuổi đang lúc còn làm việc trong chính quyền của Tổng thống Barack Obama. Bao nhiêu nhân vật lãnh đạo trong chính giới của Mỹ và của nhiều quốc gia trên thế giới đã bày tỏ lòng thương tiếc trước sự ra đi của một chính khách lỗi lạc này.

Riêng đối với số đông người tỵ nạn từ Đông Dương, thì Richard Holbrooke có thể coi như là một vị ân nhân thật đáng quý – bởi lý do ông là một người đã tận tình tranh đấu thuyết phục được Quốc Hội Mỹ chấp thuận cho nhập cư vào nước Mỹ mỗi năm 144,000 người chạy thóat khỏi chế độ độc tài cộng sản sau ngày 30 tháng 4 năm 1975.

Ngay sau khi ông mất, các bạn hữu thân quen đã hợp lại với nhau để cùng viết về những kỷ niệm sâu sắc với ông và cuốn sách được thành hình do sự biên tập chu đáo của hai nhà báo tên tuổi là Derek Chollet và Samantha Power.

Cuốn sách được xuất bản vào cuối năm 2011 với nhan đề chính là: “The Unquiet American” (Người Mỹ Không Thầm Lặng). Đó là do dụng ý của các tác giả khiến chúng ta nhớ đến cuốn sách có tên tương tự là: “The Quiet American” (Người Mỹ Thầm Lặng) của nhà văn nổi tiếng người Anh là Graham Greene – được xuất bản hồi giữa thập niên 1950 và đã hai lần được xây dựng thành phim vào năm 1958 và 2002 – (bản tiếng Pháp có nhan đề là: “Un Américain bien tranquille” được nhiều bà con ở Việt nam biết đến)

Trước khi giới thiệu chi tiết về cuốn sách, xin mời bạn đọc xem qua về tiểu sử của Richard Holbrooke.

I – Sơ lược về tiểu sử của Richard Holbrooke.

Sinh trưởng năm 1941 tại New York trong một gia đình mà cha mẹ có nguồn gốc Do Thái di cừ từ nước Nga sau cuộc cách mạng Bolshevik, Richard Holbrooke sớm có năng khiếu về ngành báo chí và bang giao quốc tế. Cha ông là một bác sĩ, nhưng không may bị mất sớm lúc Richard mới có 15 tuổi. Nhưng theo ý nguyện của cha, cậu đã siêng năng học tập và được học bổng để theo học tại Đại học danh tiếng Brown và đã sớm tham gia cộng tác với tờ nhật báo của Đại học này; đó là một tờ báo mà ít có một đại học nào có thể duy trì nổi.

Từ hồi còn theo bậc trung học, Richard kết thân với David Rusk là con của vị Giáo sư nổi danh Dean Rusk – mà sau này là Bộ trưởng Ngọai giao dưới thời các vị Tổng thống Kennedy và Johnson. Gia nhập ngành ngọai giao, Richard Holbrooke được bổ nhiệm tới làm việc ở Việt nam vào tháng 6 năm 1963, chỉ vài tuần sau cuộc tự thiêu của Hòa thượng Thích Quảng Đức ở Saigon. Các bạn đồng sự với Richard ở Việt nam vào thập niên 1960 như Tony Lake, John Negroponte v.v… mà nhiều giới chức Việt nam hay có dịp gặp gỡ tiếp xúc – thì sau này đều trở thành những nhân vật quan trọng trong chức vụ Cố vấn An ninh bên cạnh Tổng thống hay Đại sứ Mỹ tại Liên Hiệp Quốc.

Là chuyên viên có tài năng và nhiều kinh nghiệm, Richard Holbrooke đã  gặt hái được nhiều thành tích đáng kể trong lãnh vực ngọai giao dưới thời các vị Tổng thống thuộc Đảng Dân chủ – cụ thể như là Phụ tá Ngọai trưởng đặc trách về Á châu dưới thời Tổng thống Jimmy Carter, rồi làm Đại sứ Mỹ tại Liên Hiệp Quốc dưới thời Tổng thống Bill Clinton. Richard Holbrooke đặc biệt nổi danh và được nhiều người đánh giá cao trong công cuộc giàn xếp ổn thỏa cho vụ tranh chấp đẫm máu tại Bosnia thuộc Liên bang Nam Tư cũ – mà cụ thể là Thỏa ước Hòa bình được ký kết giữa các bên lâm chiến tại thành phố Dayton trong tiểu bang Ohio vào năm 1995 (Dayton Peace Agreement). Sau này, ông đã viết cuốn Hồi ký về chuyện này với nhan đề : “To End a War”, cuốn sách đã trở thành một thứ sách bán chạy nhất (bestseller).

Ông cũng còn là một nhà báo có tên tuổi với nhiều bài viết được đăng tải trên các tờ báo và tạp chí nổi tiếng như New York Times, Washington Post v.v… Đặc biệt ông còn làm Chủ bút trong nhiều năm cho tạp chí Foreign Policy (từ 1972 đến 1977). Cuốn sách khác ông viết chung với một người khác với nhan đề “Counsel to the President” cũng là một bestseller nữa.

Trong lãnh vực kinh doanh, Richard Holbrooke cũng giữ vai trò điều hành cho hai cơ sở tài chính quan trọng là Crédit Suisse First Boston và Lehman Brothers. Lọai công việc trong ngành tài chính ngân hàng này đã đem lại cho ông một nguồn lợi tức đáng kể.

Trong lãnh vực từ thiện nhân đạo cũng như văn hóa xã hội, ông cũng tham gia tích cực với các tổ chức có quy mô họat động rộng lớn điển hình như Global Business Coaliton nhằm chống lại bệnh HIV/AIDS hay viện Hàn Lâm Mỹ tại Berlin là một trung tâm trao đổi văn hóa giữa hai dân tộc Mỹ – Đức.

Về cuộc sống riêng tư gia đình, Richard Holbrooke có hai bà vợ trước đã ly dị – và người vợ sau cùng của ông là Kati Marton cũng là một nhà báo và tác giả nổi danh xuất thân từ một gia đình tỵ nạn cộng sản vào giữa thập niên 1950 từ nước Hungary ở khu vực Trung Âu.

II – Giới thiệu tổng quát về cuốn sách.

A – Điểm qua về một số tác giả có bài đóng góp (Contributors)

Cuốn sách được phân bố trong 12 chương với tất cả là 12 tác giả viết bài đóng góp trong mỗi chương đều có tiêu đề riêng. Và trong mỗi chương đều có kèm theo nhiều bài báo của chính Richard Holbrooke viết trước đây trong thời gian gần 50 năm họat động sôi nổi trong nhiều lãnh vực đa dạng của ông.

Xin kê ra một số tác giả là những nhà báo và tác giả nổi danh :

* Trước hết là chính phu nhân Kati Marton đã viết bài Giới thiệu cho cuốn sách. Bà là tác giả của 7 cuốn sách, trong đó cuốn mới nhất có nhan đề là : “Enemies of the People” được đánh giá cao mà người viết đã có dịp giới thiệu vào năm 2011. Bà làm việc lâu năm cho hãng Truyền hình ABC News, National Public Radio và hiện là Giám đốc Ủy Ban Bảo Vệ Ký Giả. Người chồng trước của bà là Peter Jennings cũng là một nhà hướng dẫn chương trình thật tài ba và duyên dáng của hệ thống truyền hình ABC trong nhiều năm trước đây nữa.

* Hai Biên tập viên  (Editors) : Derek Chollet và Samantha Power thì cũng đều là những nhà báo cộng tác với các tờ Washington Post, Financial Times, The New Yorker, The New Republic. Riêng Samantha Power còn được giải thưởng Pulitzer vì cuốn sách “A Problem from Hell: America in the Age of Genocide”. Còn Derek Chollet thì là tác giả cuốn sách “The Road to Dayton Accords: A Study of American Statecraft”. Ông cũng là người sọan diễn văn cho Richard Holbrooke khi ông này làm Đại sứ Mỹ tại Liên Hiệp Quốc nữa.

* Strobe Talbott là Thứ trưởng Ngọai giao trong Nội các của Tổng thống Bill Clinton. Hiện ông là Chủ tịch của \Brookings Institution một thứ Think Tank danh tiếng của nước Mỹ.

* Jonathan Alter : Là nhà bỉnh bút cho Bloomberg View và có thời đã từng làm ký giả Phân tích Thời sự (Analyst) cho hệ thống Truyền hình NBC.

* Gordon Goldstein : Từng viết cho các báo NY Times, Washington Post, Newsweek và là tác giả cuốn sách nổi tiếng : “McGeorge Bundy & the Path to War in Vietnam”.

B – Liệt kê một sô chương đáng chú ý.

Nói chung, thì cuốn sách do những nhà báo có tên tuổi viết – mà tất cả lại đều có sự quý trọng, thông cảm và quen biết lâu năm với Richard Holbrooke – nên bài nào, chương nào cũng đem lại những mới lạ thích thú cho người đọc. Quả thật Holbrooke là một viên chức lỗi lạc đã có những đóng góp thật quý báu cho nền ngọai giao của nước Mỹ trong gần nửa thế kỷ gần đây.

* Riêng đối với người Việt chúng ta, thì nên chú ý đến hai chương III và IV có tiêu đề như sau :

Chương III : “Richard Holbrooke and the Vietnam War : Past and Prologue” do Gordon Goldstein viết trải dài trong 20 trang từ trang 76 đến 95, kèm thêm 5 bài viết của chính Holbrooke từ năm 1969 đến năm 2008 (trang 96 – 113).

Chương IV : “Asia in the Carter Years” trong đó có bài “Restoring America’s Role in Asia” do Richard Bernstein viết trải dài từ trang (116 đến 131) – kèm theo 4 bài do chính Holbrooke viết từ 1975 đến 2008 (trang 132 – 161).

* Ngòai ra, thì cũng nên chú ý đến các chương V, VI, VII, VIII và IX nói về các đề tài :

Chương V : Europe in the Clinton Years

Chương VI : Bosnia & Dayton

Chương VII : The United Nations

Chương VIII : Fighting HIV/AIDS

Chương IX : Afghanistan & Pakistan

III – Để tóm lược lại.

A – Cuốn sách chứa đựng rất nhiều thông tin vừa chính xác, vừa sinh động về cuộc đời và sự nghiệp của một nhân vật kiệt xuất trong ngành ngọai giao và truyền thông báo chí tại nước Mỹ trong vòng gần nửa thế kỷ gần đây. Đúng như tác giả Strobe Talbott đã viết trong bài đầu với nhan đề : “Thinker, Doer, Mentor, Friend”, quả thật Richard Holbrooke  là một con người có sự suy nghĩ chín chắn vững vàng, mà cũng là một người hành động khôn ngoan cương quyết. Ông cũng là một người cố vấn, hướng dẫn tận tình cho lớp đàn em đặc biệt trong ngành truyền thông báo chí, mà Richard cũng còn là một người bạn thân tình ngay thẳng chân thật. Ít có viên chức cao cấp nào trong chính phủ Hoa kỳ mà lại có được cảm tình quý mến sâu đậm của nhiều người trên khắp thế giới như là Richard Holbrooke.

B – Ngay từ thời còn theo học ở Đại học Brown, lúc mới ở tuổi 18 – 19, Richard đã biết tìm đến phỏng vấn lãnh tụ Alexander Kerensky năm 1959 ở San Francisco, ông này lúc đó đã 78 tuổi. Kerensky là lãnh tụ đầu tiên của nước Nga sau khi chế độ Sa Hòang bị lật đổ năm 1917 và chính ông đã phải sớm đào thóat khỏi chế độ Bolshevik y hệt như người cha của Richard vậy.

Năm 1960, Richard còn được tờ nhật báo của Đại học Brown cử đi Paris để theo dõi Phiên họp Thượng đỉnh Eisenhower với Khrushev, nhưng phiên họp bị bãi bỏ vì Khrushev viện cớ Mỹ cho phi cơ U-2 do Francis Gary Powers lái để do thám Liên Xô mà bị bắn hạ trên đất Nga. Nhờ nói thông thạo tiếng Pháp, nên Holbrooke dễ thành công trong công tác ngọai giao sau này ở Việt nam cũng như ở Âu châu.

C – Nhân tiện, cũng xin ghi chi tiết hơn về việc Holbrooke tranh đấu vận động với Quốc Hội Mỹ chấp thuận cho nhập cư mỗi năm 144,000 dân tỵ nạn từ Đông Dương. Tại trang 130 trong sách, nhà báo Richard Bernstein có tường thuật lại chứng từ của John Negroponte rằng : “Richard  Holbrooke có chỉ thị cho ông phải tìm cách thuyết phục Quốc Hội Mỹ chấp thuận nhận cho nhập cư mỗi tháng 12,000 dân tỵ nạn từ Đông Dương – như vậy mỗi năm tổng cộng là 144,000 người…” Lúc đó là vào năm 1978, Holbrooke đang là Phụ tá ngọai trưởng đặc trách về Á châu trong chính phủ Carter, nên ông đã tận tình lo lắng cho số phận người tỵ nạn chúng ta.  Dù nay ông đã quy tiên, tôi cũng xin được thay mặt cho các đồng bào tỵ nạn để bày tỏ lòng biết ơn sâu xa và chân thành đối với vị ân nhân đáng quý này vậy.

San Clemente California, Tháng Hai 2013

© Đoàn Thanh Liêm

© Đàn Chim Việt

http://www.danchimviet.info/archives/73111/richard-holbrooke-1941-2010/2013/02

——————————————

Bà Khúc Minh Thơ

nguon:  http://chungtoimuontudo.wordpress.com/category/tai-li%E1%BB%87u/tl-v%E1%BB%81-ba-khuc-minh-th%C6%A1-va-v%E1%BB%A5-ho/

————————

Robert Funseth

http://articles.latimes.com/1989-10-29/local/me-561_1_united-states

————————

15-10-1989

THE NATION; The Next Wave From Vietnam: A New Disability

——————–

http://www.vietnam.ttu.edu/exhibits/apahm/index.htm

Posted in Chien Tranh Viet Nam, Việt kiều-Lịch Sử hình thành-Cuộc Sống | 1 Comment »

Tai nạn Xe lủa cao tốc ở trung Quốc đã làm người dân gia tăng sự lo lắng về các tiêu chuẩn an toàn

Posted by hoangtran204 trên 26/07/2011

Trong khi chính quyền Hà Nội ca ngợi sự phát triển “thần kỳ” của Trung Quốc thiếu điều quỳ lạy, thì rất nhiều tai nạn lớn ở Trung Quốc đã bị chính quyền và giới truyền thông tìm đủ mọi cách che dấu rất kỹ, đến nổi  tờ báo của đảng CS Trung Quốc Nhân Dân Nhật  Báo vào tháng trước, đã không còn chịu đựng nổi, đành phải nói thẳng thắng và thành thật rằng: “đừng khoan dung cho sự che dấu các tai nạn nghiêm trọng”.

Tuần trước ở Trung Quốc có 4 cây cầu bị sập, rồi xe lửa cao tốc đang chạy thì chết máy và rồi bị một chiếc xe lửa cao tốc khác húc vào làm 43 người chết và 210 người bị thương.

Các tai nạn ở Trung Quốc là do các công trình được xây dựng một cách cẩu thả, do các nhà thầu TQ rút bớt các vật liệu xây dựng, do TQ đánh cắp các kỹ thuật xây dựng và phát minh của các nước phương Tây nên không nắm rõ được các chi tiết tinh vi khi thực hành…Nhưng dù cẩu thả đến thế, nhưng các công ty TQ hiện đang có dịp trau dồi tay nghề cho thuần thục mà vẫn kiếm được tiền nhờ chính phủ Việt Nam giúp đỡ.

Theo báo chí VN, trong suốt nhiều năm qua, các công ty Trung Quốc đã trúng thầu 95% các công trình xây dựng ở Việt Nam. Hiện nay các công ty Trung Quốc đang xây dựng cầu, xây dựng nhà máy điện, xây dựng đập thủy điện khắp cả nước, và  chính phủ VN cũng đang mon men nhờ Trung Quốc xây dựng đường tàu cao tốc vì…giá rẻ, và vì Trung Quốc gạ cho mượn tiền. Hy vọng bài báo nầy sẽ làm người dân VN ý thức hơn nữa về sự “giao trứng cho ác” của chính quyền Hà Nội.

Mời các bạn đọc bài dịch sau đây từ báo The New York Time

Tai nạn Xe lủa cao tốc ở trung Quốc đã làm người dân gia tăng sự lo lắng về các tiêu chuẩn an toàn

Zhaoyun/European Pressphoto Agency

Ít nhất có 43 người đã chết gần Wenzhou khi hai xe lửa đụng nhau.  Có nhiều điều mập mờ về nguyên nhân gây ra tai nạn nầy.

By IAN JOHNSON
Published: July 24, 2011

Tai nạn xe lửa cao tốc ở Trung Quốc gây thiệt mạng 43 người và bị thương 210 người vào tối thứ Bảy 23-7-2011 vì chiếc xe nầy đang chạy thì bị chết máy và rồi sau đó bị một chiếc xe lửa khác húc vào phía sau.

6 toa xe lửa cao tốc đã bị trật đường rầy và 4 toa rơi xuống cầu (cạn) trong tai nạn nầy làm 210 người bị thương.

Chủ tịch  Hồ Cẩm Đào tuyên bố phải ưu tiên cứu người bị nạn. Chính quyền thông báo là chịu trách nhiệm lỗi lầm về tai nạn đã xảy ra và đã đuổi việc 3 nhân viên cao cấp thuộc bộ đường sắt.

Bộ trưởng đường sắt đã bị các phóng viên báo chí rất giận dữ dồn vào góc tường vì trước đó ông đã tránh né các cuộc phỏng vấn. Ông bộ trưởng nầy mới lên nhận chức trong năm nay vì ông bộ trưởng đường sắt tiền nhiệm đã bị đuổi vì tham nhũng.

Các báo cáo tại hiện trường cho hay là bộ đường sắt đang vội vả chôn dấu các bộ phận của các chiếc xe lửa gần nơi xảy ra tai nạn, ngay lập tức các nhà chỉ trích nói rằng các mảnh vở nầy cần được xem xét một cách cẩn thận để tìm ra các nguyên nhân của sự hư hỏng máy móc. Nhưng ông bộ trưởng đường sắt cho rằng các xe lửa cao tốc nầy chứa đựng  kỹ thuật rất có giá trị cao ở mức độ quốc gia, các kỹ thuật nầy có thể bị đánh cắp và vì thế nên cần được chôn giấu ngay! Mặc dầu các công ty nước ngoài từ lâu nay đã phàn nàn rằng kỹ thuật đường xe lửa cao tốc của họ đã bị Trung Quốc ăn trộm.

Nhiều điều mập mờ đã xuất hiện thông qua các nổ lực để cố dàn dựng chẳng hạn như thiên nhiên là nguyên nhân gây ra tai nạn. Vào đêm thứ Bảy sau khi tai nạn xảy ra, Thông tấn xã Xinhua của nhà nước nói rằng xe lửa cao tốc đã bị mất điện sau khi bị sét đánh và rồi các đài truyền hình thi nhau đưa các hình ảnh sét đánh trong vùng có tai nạn. Nhưng về sau, thông tấn xã Xinhua lại loan tin là chiếc xe lửa cao tốc đang chạy thì bị chết máy, và rồi sau đó chiếc xe lửa cao tốc thứ nhì đã đụng vào chiếc kia.  Và thông tấn xã Xinhua đã không cắt nghĩa được tại sao các đèn tín hiệu đã không làm cho chiếc xe lửa cao tốc thứ nhì ngừng lại trước khi đụng vào chiếc thứ nhất!

Vụ xe lửa cao tốc đụng nhau chỉ là một trong các tai nạn liên quan đến hệ thống giao thông công cộng trong tuần qua. Vào ngày thứ Sáu, một xe buýt chở quá nhiều người đã bị hỏa hoạn và làm 41 người chết tại tỉnh  Hồ Nam (Henan Province), một thang cuốn trong một trạm xe lửa ở Bắc Kinh đã bị đổ sụm xuống làm cho một người chết và 28 người bị thương. Và chỉ trong vòng 1 tuần trước, đã có 4 chiếc cầu bị sập ở nhiều thành phố khác nhau ở Trung Quốc.

Trong một bài xã luận được viết thành thật một cách bất thường vào tháng trước trên tờ  Nhật báo Nhân Dân của đảng, một nhà bình luận nói rằng  nhiều tai nạn đã bị che dấu nhưng đất nước nầy cần phải:  “đừng khoan dung cho sự che dấu các tai nạn nghiêm trọng” chẳng hạn như một vụ rò rỉ dầu rất lớn đã bị che dấu không cho công luận hay biết gì hết trong hơn một tháng trời.

Lo ngại rằng tính minh bạch và an toàn đã trở thành thứ yếu so với mối quan tâm khác đang xuất hiện trong nhiều mạng xã hội Weibo đăng vào ngày Chủ nhật.  Cụ thể, một blogger  đã đăng lời kêu gọi hùng hồn cho việc cần chăm sóc và thận trọng hơn trong phát triển nhanh chóng của Trung Quốc: “Trung Quốc, xin vui lòng dừng bớt tốc độ phát triển như bay của bạn, hãy chờ đợi cho người dân của bạn theo kịp, chờ đợi cho linh hồn của đất nước theo kịp, chờ đợi cho đạo đức của bạn theo kịp đà tiến triển, hãy chờ cho lương tâm của bạn theo kịp! Không để cho tàu chạy trật đường rầy, không để cầu bị sụp đổ, không để cho những con đường trở thành cạm bẫy, không để cho ngôi nhà trở thành những đống gạch vụn. Hãy phát triển một cách từ từ, cho phép mọi người có được sự tự do và nhân phẩm. Không ai bị bỏ lại phía sau bởi thời đại chúng ta. ”

The New York Times

The train wreck happened near Wenzhou.

BEIJING — A deadly train accident in eastern China has added to a national sense of unease that safety may have been sacrificed in the country’s rush to modernize.

By Sunday evening, 43 bodies had been recovered from the wreckage near Wenzhou, where a high-speed train that had lost power was struck from behind by another train on Saturday night, the official Xinhua news agency reported. Six cars derailed and four fell off a viaduct in the accident, which also injured 210 people.

In official, government-approved accounts of the accident, officials moved quickly to take charge of the situation. On Sunday morning, President Hu Jintao declared that rescue efforts were a top priority. The government also announced that three senior officials in the Railway Ministry had been fired. The railway minister was said to have taken charge of the rescue operation.

But competing narratives already began emerging Sunday. On the feisty microblogging site Sina Weibo, postings said that the minister, Sheng Guangzu, who took over this year when his predecessor was fired for corruption, had been cornered by angry journalists after he dodged interview requests.

Other reports on the site said the ministry was burying parts of the wrecked trains near the site, prompting critics to say that the wreckage needed to be carefully examined for causes of the malfunction. The Railway Ministry said the trains contained valuable “national level” technology that could be stolen and thus must be buried — even though foreign companies have long complained that the technology was actually stolen from their trains.

More confusion emerged over efforts to portray nature as the culprit in the accident. Xinhua reported Saturday that the first train lost power when it was hit by lightning, and national television broadcasts emphasized pictures of lightning storms in the area. But later reports by Xinhua said the supposedly stalled train was under way when it was struck by the other train. Also left unexplained was why railway signals did not stop the second train before it hit the first one.

An editorial with the headline “No Development Without Safety” on People’s Net, the government-run Web site affiliated with the party’s leading newspaper, People’s Daily, said the Railway Ministry had warned of the risks of lightning in a notice four days before the crash. It said new procedures were needed to prevent accidents. But it noted that these measures had not been put into effect, implying that the railway had no emergency plans for trains struck by lightning.

The editorial also made a broader point that spoke to widespread public dissatisfaction over safety.

“From public transport safety to coal mine safety to food safety, these accidents show that theoretically there is no problem with the conception of safety plans,” the influential site said. “But they are not executed properly.”

The train collision was one of several high-profile public transportation accidents in China recently. Early Friday morning, 41 people were killed when an overloaded bus caught fire in central Henan Province. Earlier this month, an escalator at a new subway station in Beijing collapsed, killing one person and injuring 28. Last week alone, four bridges collapsed in various Chinese cities.

Signaling the official concern over growing public unease, the government issued a directive on Saturday calling for “intensified efforts in preventing major deadly accidents.”

The discussion of accidents in China, however, is haphazard. In an unusually frank editorial in People’s Daily this month, a commentator said that many disasters were covered up but that the country needed “zero tolerance for concealing major accidents,” like a large oil spill that was hidden from the public for more than a month.

Fears that transparency and safety have become secondary to other concerns was present in many Weibo postings on Sunday. One blogger in particular posted an eloquent appeal for more care and caution in China’s rapid development: “China, please stop your flying pace, wait for your people, wait for your soul, wait for your morality, wait for your conscience! Don’t let the train run out off track, don’t let the bridges collapse, don’t let the roads become traps, don’t let houses become ruins. Walk slowly, allowing every life to have freedom and dignity. No one should be left behind by our era.”

(sẽ dịch sau)

Text: Obama address on debt ceiling impasse

WASHINGTON (Reuters) – Following is the full text of President Barack Obama’s Monday evening address on the debt ceiling impasse in Washington, as prepared for delivery:

Good evening. Tonight, I want to talk about the debate we’ve been having in Washington over the national debt – a debate that directly affects the lives of all Americans.

For the last decade, we have spent more money than we take in. In the year 2000, the government had a budget surplus.

But instead of using it to pay off our debt, the money was spent on trillions of dollars in new tax cuts, while two wars and an expensive prescription drug program were simply added to our nation’s credit card.

As a result, the deficit was on track to top $1 trillion the year I took office. To make matters worse, the recession meant that there was less money coming in, and it required us to spend even more – on tax cuts for middle-class families; on unemployment insurance; on aid to states so we could prevent more teachers and firefighters and police officers from being laid off. These emergency steps also added to the deficit.

Now, every family knows that a little credit card debt is manageable. But if we stay on the current path, our growing debt could cost us jobs and do serious damage to the economy. More of our tax dollars will go toward paying off the interest on our loans. Businesses will be less likely to open up shop and hire workers in a country that can’t balance its books. Interest rates could climb for everyone who borrows money – the homeowner with a mortgage, the student with a college loan, the corner store that wants to expand. And we won’t have enough money to make job-creating investments in things like education and infrastructure, or pay for vital programs like Medicare and Medicaid.

Because neither party is blameless for the decisions that led to this problem, both parties have a responsibility to solve it. And over the last several months, that’s what we’ve been trying to do. I won’t bore you with the details of every plan or proposal, but basically, the debate has centered around two different approaches.

The first approach says, let’s live within our means by making serious, historic cuts in government spending. Let’s cut domestic spending to the lowest level it’s been since Dwight Eisenhower was President. Let’s cut defense spending at the Pentagon by hundreds of billions of dollars. Let’s cut out the waste and fraud in health care programs like Medicare – and at the same time, let’s make modest adjustments so that Medicare is still there for future generations. Finally, let’s ask the wealthiest Americans and biggest corporations to give up some of their tax breaks and special deductions.

This balanced approach asks everyone to give a little without requiring anyone to sacrifice too much. It would reduce the deficit by around $4 trillion and put us on a path to pay down our debt. And the cuts wouldn’t happen so abruptly that they’d be a drag on our economy, or prevent us from helping small business and middle-class families get back on their feet right now.

This approach is also bipartisan. While many in my own party aren’t happy with the painful cuts it makes, enough will be willing to accept them if the burden is fairly shared.

While Republicans might like to see deeper cuts and no revenue at all, there are many in the Senate who have said “Yes, I’m willing to put politics aside and consider this approach because I care about solving the problem.” And to his credit, this is the kind of approach the Republican Speaker of the House, John Boehner, was working on with me over the last several weeks.

The only reason this balanced approach isn’t on its way to becoming law right now is because a significant number of Republicans in Congress are insisting on a cuts-only approach – an approach that doesn’t ask the wealthiest Americans or biggest corporations to contribute anything at all. And because nothing is asked of those at the top of the income scales, such an approach would close the deficit only with more severe cuts to programs we all care about – cuts that place a greater burden on working families.

So the debate right now isn’t about whether we need to make tough choices. Democrats and Republicans agree on the amount of deficit reduction we need. The debate is about how it should be done. Most Americans, regardless of political party, don’t understand how we can ask a senior citizen to pay more for her Medicare before we ask corporate jet owners and oil companies to give up tax breaks that other companies don’t get.

How can we ask a student to pay more for college before we ask hedge fund managers to stop paying taxes at a lower rate than their secretaries? How can we slash funding for education and clean energy before we ask people like me to give up tax breaks we don’t need and didn’t ask for?

That’s not right. It’s not fair. We all want a government that lives within its means, but there are still things we need to pay for as a country – things like new roads and bridges; weather satellites and food inspection; services to veterans and medical research.

Keep in mind that under a balanced approach, the 98% of Americans who make under $250,000 would see no tax increases at all. None. In fact, I want to extend the payroll tax cut for working families. What we’re talking about under a balanced approach is asking Americans whose incomes have gone up the most over the last decade – millionaires and billionaires – to share in the sacrifice everyone else has to make. And I think these patriotic Americans are willing to pitch in. In fact, over the last few decades, they’ve pitched in every time we passed a bipartisan deal to reduce the deficit. The first time a deal passed, a predecessor of mine made the case for a balanced approach by saying this:

“Would you rather reduce deficits and interest rates by raising revenue from those who are not now paying their fair share, or would you rather accept larger budget deficits, higher interest rates, and higher unemployment? And I think I know your answer.”

Those words were spoken by Ronald Reagan. But today, many Republicans in the House refuse to consider this kind of balanced approach – an approach that was pursued not only by President Reagan, but by the first President Bush, President Clinton, myself, and many Democrats and Republicans in the United States Senate. So we are left with a stalemate.

Now, what makes today’s stalemate so dangerous is that it has been tied to something known as the debt ceiling – a term that most people outside of Washington have probably never heard of before.

Understand – raising the debt ceiling does not allow Congress to spend more money. It simply gives our country the ability to pay the bills that Congress has already racked up.

In the past, raising the debt ceiling was routine. Since the 1950s, Congress has always passed it, and every President has signed it. President Reagan did it 18 times. George W. Bush did it 7 times. And we have to do it by next Tuesday, August 2nd, or else we won’t be able to pay all of our bills.

Unfortunately, for the past several weeks, Republican House members have essentially said that the only way they’ll vote to prevent America’s first-ever default is if the rest of us agree to their deep, spending cuts-only approach.

If that happens, and we default, we would not have enough money to pay all of our bills – bills that include monthly Social Security checks, veterans’ benefits, and the government contracts we’ve signed with thousands of businesses.

For the first time in history, our country’s Triple A credit rating would be downgraded, leaving investors around the world to wonder whether the United States is still a good bet.

Interest rates would skyrocket on credit cards, mortgages, and car loans, which amounts to a huge tax hike on the American people. We would risk sparking a deep economic crisis – one caused almost entirely by Washington.

Defaulting on our obligations is a reckless and irresponsible outcome to this debate. And Republican leaders say that they agree we must avoid default. But the new approach that Speaker Boehner unveiled today, which would temporarily extend the debt ceiling in exchange for spending cuts, would force us to once again face the threat of default just six months from now. In other words, it doesn’t solve the problem.

First of all, a six-month extension of the debt ceiling might not be enough to avoid a credit downgrade and the higher interest rates that all Americans would have to pay as a result. We know what we have to do to reduce our deficits; there’s no point in putting the economy at risk by kicking the can further down the road.

Posted in Tham Nhung-Hoang Phí- Ăn Cắp | Leave a Comment »

Cuộc Biểu Tình ngày 25-7-2011 vẫn diễn ra ở Hà Nội…

Posted by hoangtran204 trên 25/07/2011

Cách đây 1 tuần, nhiều nguồn tin trong và ngoài nước đã tiên đoán rằng: cuộc biểu tình sẽ không xảy ra vào ngày 25-7-2011.

Trên tuần báo Time số ra ngày 18-7, Helen Clark viết rằng: “Các cuộc tụ tập và phản đối chính trị đều không được chính phủ Việt Nam đồng ý tán thành và không phổ biến ở Việt Nam. Khi chúng xảy ra, thường đó là để bày tỏ sự bất bình về các vần đề có tính cách địa phương như chiếm đất, lương bổng, hay sự tàn bạo của công an. Và thực vậy, chính quyền Việt Nam sẽ không còn dung thứ làn sóng biểu tình hiện nay”.

Giáo sư Carl Thayer, một nhà chuyên gia về các vấn đề liên quan đến Việt Nam của Học viện Quốc Phòng Úc, đã tiên đoán rằng: “bất cứ ai tham gia vào cuộc biểu tình vào ngày 25-7-2011 sẽ bị bắt giữ”.

Sáng chủ nhật 25-7-2011, công an Hà Nội đã  bố trí 5-6 xe buýt  đậu quanh gần khu vực của Tòa Đại Sứ Trung Quốc và nhiều người đoán là để bắt người biểu tình như họ đã từng làm vào tuần trước.  Cùng lúc ấy, xe công an đi tuần quanh đường phố phát loa và treo biểu ngữ trên xe để báo cho mọi người biết  các cuộc biểu tình không xin phép là cản trở lưu thông và vi phạm luật pháp…

Tuy vậy, những đồng bào, nhân sĩ, trí thức, học sinh và sinh viên vẫn tiếp tục biểu tình hôm chủ nhật 25-7-2011. Đoàn biểu tình đã khôn ngoan tránh một cuộc chạm trán với công an bằng cách …đi trên lề đường vòng quanh Hồ Gươm.

Đoàn biểu tình mang đầy biểu ngữ và hô vang các khẩu hiểu: đả đảo  Trung Quốc, Hoàng sa và Trường Sa là của  Việt Nam, và rất nhiều người mang các tờ giấy khổ lớn, viết tên của các binh sĩ và sĩ quan đã tử trận trong các cuộc đánh nhau với Trung Cộng ở quần đảo Hoàng  Sa hồi năm 1974 và Trường Sa năm 1988.

Chính quyền Hà Nội có vẻ như đã bị bối rối và không thể bắt bớ người dân vì cuộc biểu tình đã diễn ra trên lề đường, vòng quanh Hồ Gươm, không ảnh hưởng gì đến lưu thông và nhất là không diễn ra ở khu vực Tòa  Đại sứ Trung Quốc.

Người biểu tình đã đạt được mục đích của họ vì tạo ra nhiều tiếng vang khi họ đi vòng quanh Hồ Gươm, nơi có nhiều người Việt  Nam qua lại và các du khách cũng đi lại nhiều hơn.

“Tiếp theo đây sẽ là phần tường thuật trực tiếp biểu tình  tại Hà Nội sáng nay …

6h45’: Trước hai đầu đường Hoàng Diệu dẫn tới ĐSQ TQ đã giăng dây ngăn không cho người vào. Trời Hà Nội mát mẻ sau 1 trận mưa rào nhỏ.

7h00’: Trước tượng đài Lý Thái Tổ nơi hình như dự định tổ chức tưởng niệm các liệt sĩ đã hy sinh trong trận Hoàng Sa, chiến tranh biên giới, Trường Sa, toàn bộ khuôn viên bờ hồ trước tượng “Quyết tử cho Tổ Quốc Quyết sinh” không khí thanh bình, không có một bóng công an.

TS Nguyễn Quang A cho biết ông đang bị công an quấy rầy, “…tối qua có  2 an ninh đến khuyên anh ngày mai không đi biểu tình“. Nhà văn Nguyễn Quang Lập: “Có thể rất nguy hiểm cho bác A. Các bác quen biết bác A nên gần gũi bác ấy trong lúc này“. KTS Trần Thanh Vân: “Anh NQA vẫn lên đường. Đề nghị giữ liên lạc. Nếu có “sự cố xẩy ra”, chắc tuần tới sẽ có chuyện vui? Có điều, ta đừng oán giận mấy đ/c cán bộ tổ dân phố, họ chẳng hiểu truyền thông mạng là gì? Còn báo bán trên sạp? Ôi báo chí lề phải? Báo phục vụ ai nhỉ?

Độc giả Cao Vi Hiển: “Như vậy là Việt Nam ta đã, đang, sẽ có minh quân, có nhiều minh quân rồi bà con ơi ! Đọc lời anh Nguyễn Quang A kể thái độ của anh đối với việc an ninh đến nhà ngăn đi biểu tình sáng nay sẽ rỏ thêm. Xin nói rỏ tôi là đảng viên cộng sản, cán bộ hưu chứ không phải phản động nói đâu nha! Tiến sỹ A kính! Vì quá xa (Kon Tum) chưa có điều kiện chứ nếu ở Hà Nội thì tôi chạy ngay đến nhà anh rồi và sẽ đi biểu tình cùng anh. Tôi sẽ làm, làm tất cả vì tổ quốc, vì dân tộc cùng các anh. Chắc chắn”.

Một số trí thức nổi tiếng đã email động viên TS Nguyễn Quang A, như Nhà văn Nguyên Ngọc: “Kiên định và bình tĩnh. Sẵn sàng với mọi tình huống. Rất tin Quang A“. Bác Nguyễn Trung, cựu cố vấn Ban Nghiên cứu của Thủ tướng (Phan Văn Khải): “Mọi chuyện đều có thể xảy ra. Anh QA cần sẵn sàng đối mặt với tất cả, kiên định lòng yêu nước, nhưng dứt khoát đừng để mắc bẫy. Tất cả những người yêu nước đứng bên cạnh anh“.

8h00′: Chặn lối vào Sứ quán Trung Quốc trên đường Hoàng Diệu.

8h05′: Bắt đầu có một số công an, dân phòng trên sân trước tượng Lý Thái Tổ. Tại bãi đậu xe Bờ Hồ có khoảng 5-7 chiếc xe bus trống không, trên mũi xe để tấm bảng “Xe huy động“. Hic! Tức là để hốt người yêu nước đi tưởng niệm các liệt sĩ chớ gì?

8h20′: Không khí quanh vườn hoa Lenin đã khá căng thẳng, thấy cả vài bóng Kiểm soát Quân sự, nhiều nhân viên đồng phục áo tím, không biết lực lượng nào.

8h30′: Trước tượng Lý Thái Tổ đã có một đám đông khoảng 20 người và một số nhân viên an ninh, công an, trật tự.

8h40′: Đám đông nhiều thêm, họ đứng thành vòng tròn tay giơ cao những tờ giấy khẩu hiệu A4, công an loay hoay lúng túng.

 Không khí đang rất náo nhiệt rõ ràng đây là một địa điểm lý tưởng. Nhiều xe công an, xe gắn loa đang thông báo việc tụ tập phải xin phép chính quyền, nếu không sẽ bị xử lý theo pháp luật.

8h45’: Đoàn người bắt đầu diễu hành, ước khoảng hơn 200, đặc biệt dân chúng đi qua dừng lại theo dõi rất đông, Họ hô vang khẩu hiệu “Đả đảo Trung Quốc xâm lược!” Rõ ràng cách biểu tình như vậy rất hiệu quả, thay cho hơn 700 tờ báo quốc doanh đang câm lặng.

8h50′: Đoàn người đã lên tới khoảng 300, rất trật tự, tới Hàng Khay trên vỉa hè phía hồ, xe công an theo vài chiếc, loa inh ỏi, vui như trẩy hội, hiệu quả kinh người.

9h00’: Quanh khu vực SQ Trung Quốc vắng như Chùa Bà Đanh. Hic! Nhưng công an vẫn phải bao quanh. Bà con biểu tình yêu nước và nhà nước có…thêm kinh nghiệm!

Blogger Lê Dũng

 

9h10′: Đoàn biểu tình đang ngang qua Thủy Tạ tiếng hô dậy đất vô cùng náo nhiệt. Xin lỗi bà con, mạng chậm, đưa hình lên không kịp, nhiều quá trời.

TS Lê Đăng Doanh email chia sẻ, động viên TS Nguyễn Quang A :”Cám ơn anh Quang A đã chia sẻ thông tin. Có thể nhận định đây là một chiến thuật mới nhằm hạn chế hoạt động của anh. Mong anh cảnh giác, bình tĩnh và hành động cương quyết để tự bảo vệ mình. Chúng tôi luôn ở bên cạnh anh.“

TS Tô Văn Trường gửi email cho các bạn bè và TS Nguyễn Quang A: “Đọc ‘diễn văn của Tổng bí thư’, số phiếu bầu ở Quốc hội và thông tin mới nhất, công an đang tìm cách cản trở TS Nguyễn Quang A, một trong các trí thức tên tuổi hàng đầu ở VN có thể đoán được tình hình đất nước sẽ đi về đâu? Chưa có bao giờ trí thức và các nhà báo chân chính lại chịu nhiều thử thách cam go như ngày nay. Nếu những người ‘quét rác’  không phải ‘bới rác’ mà cũng bị ‘kìm tỏa’ thì chẳng còn gì để mà comment!

9h20′: Đoàn biểu tình đang ngang qua bãi đậu xe, trước tòa nhà Hàm Cá Mập. Vẫn hô vang khẩu hiệu “Đả đảo Trung Quốc xâm lược“. Xe công an chạy theo lóc nhóc, cả xe mô tô cảnh sát giao thông với loa phóng thanh trên ô tô dẹp đường.

9h25′: Ngang qua Cầu Thê Húc. Số người xem chừng đông hơn nữa, hô cả khẩu hiệu: “Giặc đến nhà đàn bà cũng đánh“, hiệu quả cổ động cực kỳ ‘ấn tượng’, nhiều phóng viên phương Tây, các khách du lịch ngoại quốc quan sát, chup hình rất đông, cho một kinh nghiệm: không đâu biểu tình hiệu quả bằng Bờ Hồ Gươm (hic! Trừ … Lăng … nha!)

9h30′: TS Lê Đăng Doanh gọi điện, rất lo lắng, cho biết ông gọi cho TS Nguyễn Quang A mà không thấy nghe máy, ông hỏi có thấy TS Quang A ngoài đó không. Theo BS thì, với tình hình này TS Quang A không nhất thiết phải ra, không khí đang tưng bừng, thành công lắm rồi. Chúng ta còn phải “Trường kỳ kháng chiến (chống bành trướng Bắc Kinh)…” cơ mà. Hơn nữa, cũng nên “chiều” nhà chức trách một chút thông cảm họ đang xính vính quá, mà thói đời thì ai cũng biết (lúng) túng (dễ) làm liều!

9h35′: Quanh khuôn viên SQ Khựa đã vắng  bóng công an nhưng vẫn ngăn đường qua cửa sứ quán.

9h40′: BS vừa gọi điện cho TS Nguyễn Quang A, nhưng không thấy ông nghe máy Nhân đây xin nói thêm: GS Chu Hảo và TS Nguyễn Quang A bữa qua cho biết, mấy ngày nay điện thoại di động của các ông rất hay bị chặn chiều gọi đi.

Nhà nghiên cứu Đinh Kim Phúc vừa cho biết, tình hình Sài Gòn đang “im ắng”. Rất đông an ninh, nên các nhóm biểu tình không thể ráp với nhau được.

9h50′: Nhà báo VVT từ trong Nam điện cho biết: ông vừa gọi vô nhà TS Quang A, vợ TS cho biết cháu nó vừa đưa ông ấy ra thì công an chặn giữ ông ấy, giờ gọi điện không thấy trả lời. Như vậy là TS Nguyễn Quang A đã bị giữ trái phép?

9h51’: Nguyễn Văn Phương cho biết: “đoàn biểu tình đã đi 1 vòng quanh Hồ Gươm. Không thấy TS Nguyễn Quang A có mặt. Đoàn đông khoảng 500-600 trăm người. Có 2 phụ nữ mặc áo dài. 9h50, vợ TS A cho biết, anh A đi từ sớm. Cháu chở anh A ra khỏi nhà khoảng 10m thì bị công an giữ anh A, cháu quay xe về nhà báo tình hình. Hiện giờ vợ anh A chưa liên lạc được với chồng, không biết số phận anh ra sao, rất lo lắng”.

10h00’: Gọi điện cho TS Quang A, ông cho biết đang trong đoàn biểu tình đã đi được 2 vòng. Hic! Ơn đảng ơn chánh phủ.

Độc giả Đăng Quang tường thuật bổ sung: “Tường thuật bổ xung vài chi tiết thấy trong cuộc BT hôm nay với ABS.

Tôi đi gần những hàng đầu đoàn BT,khoảng 10h kém thì thấy TS Nguyễn Quang A vượt lên phía đầu đoàn,trả lời phỏng  vấn của nữ phóng viên nước ngoài(Ông nói tiếng Anh?vì ồn ào  tôi không rõ)
đến 10h15,ông rời  đoàn BT,vòng ra ngoài nói chuyện với 1 cảnh sát áo xanh vài phút(có ảnh),sau không thấy ông nữa,có lẽ ông xuống phía cuối đoàn nói chuyện với 1 số nhân sĩ,khi đoàn về chỗ tượng đài Cảm tử lại thấy ông.
-Tiếp đó,LS Lê Quốc Quân trả lời phỏng vấn nữ phóng viên bằng tiếng Pháp.
-Có 1 cháu bé khoảng 2 tuổi ngước nhìn bác Trí Hải chơi đàn,Phạm Xuân Nguyên kiệu cháu này hẳn lên đầu(có ảnh).Một bác trai đội mũ phớt trắng đưa cho bác Trí Hải miếng sâm ngậm để tăng lực.Quá đã(Có ảnh).
Lúc đến tượng đài Cảm tử,thật cảm động khi không biết ai đã đặt 1 bình nước và 1số cốc nhựa gần đó,xế ra vỉa hè để kô làm ảnh hưởng tới đoàn,nhưng có lẽ vì vậy mà ít người biết để lấy uống.
-khoảng 11h kém,chị Hằng tay cầm  cốc nước,trả lời trước camera và 1,2 người nữa,có lẽ là nhân viên An Ninh.Thấy thái độ chị rất đàng hoàng,phát biểu mạch lạc,nhân viên công vụ gật gù,không tỏ phản ứng gì.Nhiệt liệt hoan hô chị Hằng .Nhiệt liệt!Nhiệt liệt!Nhiệt liệt.”

10h20′: Kẹt cứng tuyến phố Lê Thái Tổ mặc dù đường đôi Chiếc loa trên xe Cảnh sát vẫn ra rả Nghị định 38CP “Cưỡng chế người có hành vi vi phạm …

Hiện có 1.229 độc giả đang vào blog xem cập nhật tin tức biểu tình.

Video biểu tình:

10h25′: Đoàn biểu tình tiếp tục hướng về Thủy Tạ không khí vẫn cực kỳ sôi động. Du khách ngồi trên những chiếc xe điện du lịch chạy quanh Bờ Hồ tha hồ ngắm, chụp hình. Hề hề! Sẽ có hàng trăm “nhà báo nhân dân” thay cho đám báo quốc doanh đang ngậm miệng.

Đã có bức hình đầu tiên của TS Nguyễn Quang A sau khi đào thoát khỏi vòng tay của các đ/c “công an nhân dân“. Bên phải là Blogger Gốc Sậy-TS Nguyễn Hồng Kiên

“Tội đồ … yêu nước” đang kể với ký giả ngoại quốc về cuộc đào thoạt nghẹt thở của mình? Bên phải là LS Lê Quốc Quân

Chàng trai nào mê đắm thì hãy đọc “GÁC THÙ NHÀ, ĐÁP LỜI SÔNG NÚI” và … cùng cô xuống đường

Hic! Phóng viên lề trái làm lề phải thèm rỏ rãi …

Nguyễn Quang Thạch, kẻ khơi mào chương trình “Tủ sách dòng họ” và Phóng viên Hãng thông tấn Mỹ AP

Khác chính kiến, nhưng cùng hy sinh vì dân vì nước – họ phải được vinh danh như nhau

Đâu cần lắm lời “hòa giải, hòa hợp”, chỉ cần một hình ảnh này thôi, “ông Nhà nước ạ”!

Các anh hy sinh trong im lặng gần phần tư thế kỷ rồi!

“Cấm … ” đủ thứ, trừ …BIỂU TÌNH! Hề hề! Người dân được làm những gì Luật pháp không cấm.

Thay cho “Người phát ngôn” Nguyễn Phương Nga

Không phải là “ngụy”, anh là người anh hùng!

Đừng dọa đuổi học cháu, các chú công an nhé!

Anh Nguyễn Văn Phương, người đã đứng trước thềm Nhà hát Lớn Hà Nội đọc bản Tuyên cáo trong cuộc biểu tình ngày 10/7,  sau đó anh bị gây khó khăn rất nhiều trong cuộc sống

Rào sắt, mũi chông đâu phải để cản ngăn lòng yêu nước

Không biết có ông bà nghị nào lặng lẽ ra đón nhận dòng chữ này?

Ráng nín đi vệ sinh, không là lỡ dịp may ngàn năm có một!

10h30′: Có cả các cháu bé xíu, các cháu thiếu nhi đeo khăn quàng đỏ Hu hu! Các vị đại biểu Quốc hội đâu rồi ta? Có nhìn thấy gì không? Tội quá!

Xuân Bình, Nhà báo tự do, từng nổi lên trong cuộc biểu tình chống bành trướng Bắc Kinh năm 2007 khi cùng con trai tham gia (cũng như Nhà văn Trang Hạ, cùng con gái). Nhưng mấy cuộc biểu tình qua, không thấy anh. Nghe nói anh đã ký giấy không tham gia biểu tình? Bữa nay chắc chỉ đi “tác nghiệp”?

10h35′: Khoảng 300 người đi ngang nhà hàng Thủy Tạ, vẫn liên tục hô vang khẩu hiệu “Đả đảo Trung Quốc xâm lược!”

Người phụ nữ vận áo dài là chị Bích Hằng, nhân vật nổi bật trong cuộc biểu tình tuần trước qua đoạn video trên xe bus, từng bị mấy “chính khách sa-lông … gỗ” phê phán là ăn nói “man rợ”, “vô liêm sỉ”

Cớm chìm? Không phải! Mà là kẻ làm cớm chìm rất mệt – Blogger Người Buôn Gió

Có lẽ đây sẽ là bức hình đẹp, ấn tượng nhất cho cuộc biểu tình tuyệt diệu ngày 24/7/2011

10h50′: Đoàn biểu tình đang tập trung trước tượng đài “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”, khoảng 500-600 người, lực lượng công an vẫn rất đông, chỉ để dẹp trật tự, không nghe nói có vụ bắt bớ nào. Hic! Sự đời nhiều khi cũng hay, không biết có nên cảm ơn tay Đại úy Minh?

11h15′: Cuộc biểu tình đã kết thúc

11h55′: Lúc này tại quán cà phê Thủy Tạ đang có rất nhiều thành viên đoàn biểu tình trong đó có Nguyễn Tiến Nam Nguyễn Chí Đức

14h10′ – Vào hồi 13h40′, một cơn mưa rào rất lớn kéo dài 20 phút. Thật lạ! Có lẽ ông Trời và anh linh các liệt sĩ đã phù hộ cho những người dân yêu nước.

Hình ảnh vẫn đang được tiếp tục đưa lên …

Trong một diễn biến mới, các khẩu hiệu của cuộc biểu tình lần này đề nghị vinh danh cho các chiến sĩ Quân lực Việt Nam Cộng Hòa bị tàu Trung Quốc giết trong đợt tiến chiếm Hoàng Sa năm 1974, và các chiến sĩ Hải quân Quân Đội Nhân dân Việt Nam ở Trường Sa năm 1988.

Nhiều thanh thiếu niên, trí thức cầm biểu ngữ ghi tên các binh sĩ bị Trung Quốc giết trong hai trận hải chiến đọ́

Gs Lâm Quang Thiệp, cựu Vụ trưởng của Bộ Giáo dục và Đào tạo, nguyên Chủ tịch Hội đồng Giáo dục Quốc gia của Chính phủ; Gs Nguyễn Quang A,  Phạm Xuân Nguyên (mặc áo trắng)

Đây Là Con Gái Ông Trịnh Xuân Tùng , Người Đã Bị Công An Đánh Gãy Cổ

Cô là Trịnh Kim Tiến. Cha cô là Trịnh Xuân Tùng đã bị công an đánh gãy cổ và sau đó giam tại trụ sở công an phường Thịnh Liệt, quận Hoàng Mai (HN). Cuối cùng, ông đã qua đời ngày 8 tháng 3 năm 2011 tại Bệnh viện Việt – Đức. Hôm nay, cô gác tạm thù cha, xuống đường cùng đồng bào Hà Nội biểu tình phản đối TQ. Đây là lần thứ 5 cô tham gia các cuộc biểu tình chống Trung Quốc tại Hà Nội.

Nguyễn văn  Phương mặc áo đen, người ký tên và đọc kiến nghị muốn biết thứ trưởng Hồ Xuân Sơn

đã đồng ý điều gì với Trung Quốc về Biển Đông trong cuộc họp ngày 25-6-2011.

 

 

View Post

 

 

 
(mạng quá chậm, sẽ post hình sau)

Posted in Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa, Biểu Tình và Lập Hội | Leave a Comment »

►Hồi Ký của bác sĩ Lâm Hoàng Mạnh viết về cuộc sống thuyền nhân di tản qua Hồng Kong, qua Anh, và đặc biệt cuộc sống ở miền Bắc trước 1979

Posted by hoangtran204 trên 23/07/2011

Bác sĩ Lâm Hoàng  Mạnh tốt nghiệp Đại Học Y Khoa Hà Nội trước năm 1972. Ông hành nghề ở  ngoài Bắc cho đến năm 1979 thì phải nghĩ việc vì vụ trục xuất người gốc  Hoa ra khỏi Việt Nam.

Ông đi vượt biên qua Hồng  Kong, và sau đó được định cư ở Anh…Tác giả thường viết và đăng bài trên Talawas.org, với lối hành văn sáng sủa và câu văn rất ngắn gọn đã làm độc giả đọc say mê các bài hồi ký của ông. Các bạn có thể vào google.com và viết chữ “Bác sĩ Lâm  Hoàng  Mạnh” và search để tìm các bài viết về miền Bắc trước năm 1979.

Hồi ký của bác sĩ Lâm Hoàng Mạnh là tuyển tập đầy đủ của nhiều bài  được đăng trên talawas.

Đọc “Buồn Vui Đời Thuyền Nhân” của Lâm Hoàng Mạnh (I)

Uyên Thao

Lâm Hoàng Mạnh là một thuyền nhân và tập hồi ký Buồn Vui Đời Thuyền Nhân kể về cảnh ngộ mà bản thân người viết đã trải. Do đó, tác phẩm chỉ ghi lại một phần hình ảnh cực nhỏ của khu rừng có tên Thuyền Nhân mà Michelle Tauriac từng than dài trong tác phẩm Viet Nam Le Dossier Noir Du Communism: “Biết đến bao giờ người ta mới hiểu hết những bất hạnh đã xẩy ra quanh danh từ đó.”

Nhà văn Pháp Michelle Tauriac thông thạo tiếng Việt, sống nhiều năm tại Việt Nam, từng gặp gỡ nhiều thành phần xã hội từ các cấp lãnh đạo hai miền đến người vơ vất trên vỉa hè các thành phố, người lưu lạc tại các vùng đất xa xôi ở trời Tây nên có cả một kho dữ liệu so với số vốn thực tế trong giới hạn bản thân của Lâm Hoàng Mạnh. Với tầm mức đó, Michelle Tauriac vẫn cất tiếng than như vậy thì không thể đòi hỏi Lâm Hoàng Mạnh phải lấp biển vá trời để vẽ lại mọi nét vui buồn của hàng triệu thuyền nhân.

Nhưng Lâm Hoàng Mạnh có ưu thế trải nghiệm thực tế Việt Nam, kể cả chịu dập vùi giữa biển cả để không chỉ cất lên tiếng nói chứng nhân mà còn là tiếng nói nạn nhân. Vì thế, qua Buồn Vui Đời Thuyền Nhân, ngưởi đọc không chỉ tới với các cảnh đời lưu lạc mà còn nhiều lần đối diện với đời sống Việt Nam — cũng chính là lời minh giải trực tiếp một phần nguồn cội đưa đến tấn thảm kịch thuyền nhân không riêng trong lịch sử Việt Nam mà là lịch sử chung của nhân loại.

Tác phẩm của Lâm Hoàng Mạnh đã đưa người đọc về với nhiều cảnh sống mà chỉ người từng sống tại Việt Nam mới tin nổi là chuyện thực. Chẳng hạn chuyện rất nhỏ xẩy ra tại các cửa hàng ăn mậu dịch quốc doanh:

“… Ở thị xã Thái Bình, cửa hàng ăn mậu dịch quốc doanh rất khang trang. Một Chủ Nhật hè năm 1963, sau khi dạo chơi, hai thằng chúng tôi rẽ vào, mua mỗi thằng một tô phở 5 hào.
Tôi vừa bưng ra đặt xuống bàn, một lỏi tỳ khoảng 6 hay 7 tuổi nhổ ngay bãi nước bọt vào bát phở.Tát nó à? Nó bé quá, không nỡ. Thôi, xin biếu bố trẻ.Thằng bạn tôi, số phận chẳng hơn gì.Vừa lấy thìa húp tí nước dùng, ba ngón tay đen ngòm, toàn đất cát thò ngay vào, bốc luôn miếng thịt bò trong bát, bỏ mồm.Cũng đành đứng dậy, thôi nhường bố trẻ luôn.Chiêu này diễn lại đều đều, các chị các cô phục vụ đuổi không xuể vì chúng khá đông…
Cửa hàng ăn phố Hoàng Văn Thụ, thành phố Nam Định cũng có lũ lỏi tỳ kiếm ăn… Chúng tụ tập trước cửa, mỗi đứa một cái vung nồi đất, vừa làm bát xin ăn vừa chơi trò xoay vung coi vung nồi đứa nào xoay lâu nhất…Khách mua bát phở, hai đứa kèm hai bên, chìa hai vung nồi, “anh ơi, chú ơi, ông ơi, chị ơi… cho cháu xin một tí, nước không cũng được.”

Làm thế, bố ai nuốt nổi. Thôi nhường cho mấy bố trẻ.

Kiếp trước chắc nợ các bố, vừa bảnh mắt đã bị ám.”

Thực tế khó tin này đã là chuyện bình thường và phổ biến vì toàn xã hội bị kiểm soát nghiệt ngã về cả chuyện ăn uống hàng ngày của mọi người với tên gọi chế độ tem phiếu.

“Nếu tôi nhớ không nhầm, chế độ tem phiếu bắt đầu từ 1959 hay 1960. Hè năm ấy, bọn học sinh Hải Phòng chúng tôi được thành phố trưng dụng đi làm sổ gạo …Mỗi ngày đi làm, ủy ban hành chính phường trả công 6 hào, ăn bữa cơm trưa tập thể mất 5 hào, còn dư 1 hào chỉ đủ mua 1 que kem hay 2 bát nước chè xanh. Lương mạt hạng, mặt mũi vẫn phải vui và tươi roi rói. Không đi có mà ăn đất! Đừng có mơ vào đại học hay trung cấp chuyên nghiệp. Lý lịch sẽ ghi: Có tư tưởng và hành động chống đối chủ nghĩa xã hội! Đời mờ! Đời tàn liền!”
Lâm Hoàng Mạnh kể lại chế độ tem phiếu chia người dân làm ba loại tuyệt đối tuân theo các tiêu chuẩn quy định.
Loại 1 gồm cán bộ, viên chức có tiêu chuẩn mua mỗi năm 5 mét vải, mỗi tháng từ 13 ký rưỡi gạo tới 25 ký và từ nửa ký thịt tới 2 ký rưỡi tuỳ chức vụ.
Loại 2 gồm người dân tại các đô thị lớn như Hà Nội, Hải Phòng … có tiêu chuẩn mua đồng đều mỗi năm 4 mét vải, mỗi tháng 13 ký rưỡi gạo và 100 gram thịt.
Tiêu chuẩn dành cho cán bộ cao cấp được giữ kín,
còn nông dân và người dân tại các thị trấn được xếp vào loại 3 không có tiêu chuẩn, kể cả trẻ em.

“Tất cả những người này là con số không tròn trĩnh.
Họ bị coi như công dân hạng 2 trong xã hội …Nhiệm vụ và quyền hạn của họ cũng như toàn dân Việt Nam, có thể tóm tắt trong 7 chữ vàng:
Đóng thuế – Đi lính – Câm cái mồm!Không tem phiếu, kể cả phiếu vải — động vật nên không cần quần áo?Mỗi xã có một cửa hàng Hợp Tác Xã Nông Nghiệp … chẳng có mặt hàng gì quý giá, chỉ có: cày, cuốc, mai, thuổng, bát đĩa loại phế phẩm, vài phong thuốc lào hạng bét. Thuốc lào Tiên Lãng, Hải Phòng không đến lượt. Đôi khi có nước mắm loại khắm và mặn chát, thỉnh thoảng có cá khô … mua về muối nhiều hơn cá vì nhân viên bán hàng trộn thêm muối để ăn cắp cá …Năm 1967, chúng tôi sang giảng cho lớp y sĩ xã, thấy các em ăn 1 phần cơm 3 phần sắn khô, có hôm ăn ngô răng ngựa — loại ngô dành cho gia súc, bung lên nở to gần bằng ngón tay cái — với canh rau muống nấu muối …”
Với cảnh sống đó, không có gì ngạc nhiên khi xuất hiện khắp nơi những đám trẻ nhỏ 5, 7 tuổi đã có mọi mánh khoé trộm cắp để kiếm miếng ăn. Thực ra, người lớn cũng không thể giữ nếp sống bình thường và ngay các thành phần được ưu đãi như giáo viên, bác sĩ … cũng phải tìm đủ cách kiếm thêm tiền để có thể mua chui một số thực phẩm:

“Thị xã tôi, Hoà Bình, thời ấy có 4 nghề kiếm tiền:
1– Vào rừng chặt gỗ, bương, nứa, cây chít (làm chổi quét), kiếm củi…
2 – Trồng rau, nuôi lợn.
3 – Đan cót.
4 – Cạo nứa.
Chủ nhật, đàn ông, thanh niên vào rừng như chảy hội. Đàn bà ở nhà lột cật nứa, bện chổi chít. Trẻ con đan cót. Ngày thường, hết giờ làm việc, cơm xong cả nhà làm cật lực cho đến khuya. Bốn nghề thật vất vả, nhưng vào rừng chặt gỗ, cạo tinh nứa, theo tôi, khốn khổ nhất …
Tiếng dao cạo vào tinh nứa, két két, ghê tai, sợ lắm, răng như muốn rụng. Đàn ông phải khỏe, dai sức mới làm nổi nghề này. Người ngả về phía trước, hai tay cầm lưỡi dao nghiêng 35-40 độ, kéo cật lực về phía sau, tinh nứa mới bong ra từng phoi xanh xanh cuộn tròn rơi xuống đất. Giống hệt anh thợ bào gỗ. Mùa hè, may-ô quần đùi, “của quý” trong quần các bố cứ lắc lư, lên xuống, ngang dọc theo nhịp kéo dao. Có anh bác sĩ, gia đình ở quê Thái Bình, lương gửi về nuôi vợ con, cũng tham gia hội cạo nứa. Trông thấy anh cạo, có người đùa, phong chức trưởng khoa Đầu Gật Gù, Dái Lắc Lư…”
Sự ngột ngạt không chỉ ở mức cùng cực của đời sống áo cơm mà trùm phủ đời sống tinh thần và tình cảm mọi người, ngay giữa các đồng nghiệp trong cùng một cơ quan:

“Năm 2004, chúng tôi về Việt Nam … nhân tiện lên thăm anh em bệnh viện cũ … Bác sĩ Đinh Tất Thắng, đồng nghiệp cũ mời chúng tôi bữa cơm mừng tái ngộ sau một phần tư thế kỷ xa cách.
Trong buổi hàn huyên, Thắng cười, kể:
– Anh chị còn nhớ y tá Tiêm không?
– Nhớ chứ. Cô Tiêm, phòng Đón Tiếp khu Đa Khoa, gần nhà mình chứ gì?
– Phải. Hè 1980, công đoàn tổ chức lợp nhà giúp Tiêm, trong lúc rỡ mái, em nhặt được túi vải buộc kỹ lắm, giấu ở xà ngang. Mọi người tán “Chết nhá, phen này giàu to.” Ai cũng tưởng quỹ đen giấu chồng, ai ngờ, sổ tay của y tá Tiêm theo dõi gia đình anh chị năm 1978, 1979. Cuốn sổ ghi, ai đến chơi, ngày giờ, cả biển số xe đạp. Anh chị biết không, có cả biển số xe đạp của em và bác sĩ Đắc…
Thắng cười, tiếp:
– Hồi anh chị đi Hong Kong, cả bệnh viện đồn ầm, anh là gián điệp nhị trùng của Mỹ – Trung Quốc nằm vùng. Cô Tuyển bên Nhà Trẻ, cô Thoan bên Kế Toán, cô Lan bên Dược kể nhiều đêm trước đó đã nấp trong bụi chuối sau nhà, rình anh chị bị muỗi đốt quá chừng vẫn phải ngồi im không dám động đậy, sợ lộ.”
Cùng với chuyện nghe qua lời kể đó là chuyện đã xẩy ra với bản thân mà Lâm Hoàng Mạnh còn nhớ cả ngày giờ:

“Sáng sớm ngày 9 tháng 4 năm 1979, phòng tổ chức mời vợ tôi lên. Cuộc gặp mặt gồm Bùi Đình Phảng, bí thư đảng ủy, Nguyễn Đình Mão, phó bí thư kiêm bệnh viện phó, Nguyễn Gia Hòa, đảng ủy viên, trưởng phòng Tổ Chức Hành Chính cùng một số nhân viên …
Sau vài lời rào đón, Nguyễn Đình Mão bảo vợ tôi:– Việt Nam và Trung Quốc đã xảy ra chiến sự, Chúng ta đang chống quân bá quyền, bành trướng Trung Quốc. Chị là người Việt, nhưng chồng chị là người Hoa. Chúng tôi đang giải quyết anh ấy nghỉ chế độ mất sức. Còn chị muốn tiếp tục công tác, chị phải làm đơn ly dị và trả lại 3 cháu cho anh ấy, nộp cho chúng tôi.Vợ tôi bàng hoàng … Thấy vợ tôi im lặng, trưởng phòng tổ chức Nguyễn Gia Hòa an ủi:– Chúng tôi muốn giúp đỡ, cho chị lối thoát chứ không có ý gì khác.
Huỳnh Như Thùy, nhân viên phòng tổ chức, nhắc:Chị nghĩ kỹ đi, đừng để mất cơ hội. Viết xong nộp cho tôi.”
Tôi bỗng nhớ tới một cô gái thuyền nhân Việt Nam đã có 30 năm định cư tại Đức qua nhắc nhở của tạp chí Del Spiegel nhân dịp kỷ niệm ngày các thuyền nhân Việt Nam xuất hiện tại đất nước này — ngày 3 tháng 12 năm 1978.
Vào một ngày tháng 10 năm 1978, cô gái vừa tròn 18 tuổi phải gạt nước mắt rời cha mẹ, rời thành phố Sài Gòn bước lên chiếc thuyền cũ nát không biết sẽ đưa mình tới đâu. Dù vậy, nếu không kể nỗi buồn gia đình chia lìa do cha mẹ phải hy sinh ở lại thì cô gái vẫn gặp nhiều may mắn. Trước hết, cô may mắn ra đi trong tư thế hợp pháp do có gốc người Hoa và cha mẹ gom nổi số vàng 60 lượng theo đòi hỏi để cô có bốn anh chị em cùng đi. May mắn hơn là vào lúc con thuyền bị nghiêng ngả giữa biển cả lại gặp một con tàu tỵ nạn lớn hơn. Nhờ thế anh chị em cô thoát chết và tìm được một góc trú ẩn, dù thêm số người từ con thuyền nhỏ, con tàu phải chở tới 2054 người.
May mắn lớn nhất là khi hơn hai ngàn thuyền nhân trở thành tù nhân trong căn nhà tù nổi ngoài cảng Kelang Mã Lai đang chờ chết do đói khát và đã chịu đựng quá dài cảnh ban ngày nắng như đổ lửa, ban đêm lạnh buốt thấu xương thì cảnh ngộ của họ được loan truyền qua nửa địa cầu.
Một chính khách Đức đã vận động chính quyền gấp rút chấp thuận đưa họ tới Đức định cư, đồng thời gấp rút chuyển cho họ các điều kiện tối thiểu để duy trì hơi thở.
Do đó, 7 giờ sáng ngày 3-12-1978, cô gái có mặt trong số 163 thuyền nhân Việt Nam đầu tiên bay tới Hanover. Khi cô run rẩy đặt chân xuống sân bay Langenhagen giữa cái lạnh mùa Đông, nhân viên tiếp cứu choàng lên vai cô tấm mền dạ cũ màu nâu của Hội Hồng Thập Tự Đức có in 3 chữ DRK. Tấm mền mỏng sờn cũ này kể từ ngày 3-12-1978 trở thành vật bất ly thân của cô và có thể sẽ ở bên cô tới phút cuối đời. Vì cho tới năm 2008, khi kỷ niệm 30 năm định cư tại Đức với cuộc sống vững vàng và đang bước qua tuổi về chiều, cô vẫn không rời tấm mền đã thực sự mòn cũ. Cô không bao giờ giải thích, nhưng tôi nghĩ tới làn hơi ấm từ tấm mền thấm vào cơ thể cô và cảm giác bình an dấy lên giữa phút giây đầu tiên đối diện với cuộc sống chan chứa yêu thương. Có lẽ suốt 45 ngày dài quằn quại thoi thóp vì nắng mưa đói khát trên biển cả lạnh lùng, cô đã triền miên ước có một phút giây êm ả nồng đượm tình người. Ao ước đó trở thành hiện thực khi một bàn tay xa lạ choàng lên vai cô tấm mền sờn cũ. Tấm mền với làn hơi ấm đã là biểu tượng cụ thể của tình người nên cô không dám từ bỏ. Bởi thực tế đã cho cô thấy cuộc sống tàn khốc ra sao khi tình người vắng thiếu.
Tự nhiên tôi gặp lại cảm giác từng có khi đón nhận vòng tay, nụ cười của bằng hữu, của người thân vào những lần tôi rời khỏi nhà tù. Kể cả khi đặt hai bàn chân trần trên mặt đường nhựa nóng cháy, tôi vẫn thấy toàn thân mát dịu với một cảm giác êm ả tuyệt vời trùm phủ. Những lúc đó, tôi không thể nào lên tiếng, chỉ có nổi nụ cười lặng lẽ trước mọi cử chỉ, mọi lời chia vui, trong khi một ý nghĩ luôn hiện đến là đoá hoa tình người đang toả hương cực độ và trấn áp hết thẩy mọi lo buồn, mọi hiểm hoạ vẫn hiện diện đầy rẫy khắp nơi. Từ đây, một ước mong và một nỗi ray rứt đã hiện hình để trở thành gánh nặng triền miên. Tôi ước mong có thể kéo dài được thời gian toả hương cực độ của những đoá hoa kia, đồng thời không thể ngừng thắc mắc về những cảnh sống cay nghiệt đang tiếp diễn.
Quyết định không bỏ tấm mền cũ của cô gái khiến tôi nghĩ cô cũng có cùng ước mong tôi đã có và lập tức khơi dậy thắc mắc đã trở thành gánh nặng của tôi.Đã nhiều đêm, tôi không chợp mắt nổi vì tấm bia tại Jakarta tưởng niệm các nạn nhân vùi thây giữa biển cả bị đục vỡ. Tấm bia không còn là tấm bia mà hiện ra trong hình vóc một con người với phần bia bị đục vỡ trở thành cặp mắt mở lớn hướng về phía trước trống rỗng mịt mù. Cặp mắt như hố thẳm với cái nhìn khẩn nài đau đớn từ một chiều sâu vô tận đặt tôi vào giữa vùng âm vang thảm thiết của những tiếng gào tuyệt vọng.
Tôi không dập xoá nổi âm vang những lời cuối trong một lá thư tuyệt mệnh gửi cho người chị gái: “Chị thương, hôm nay em đã bị từ chối tư cách tỵ nạn chính trị. Rạng sáng mai, em sẽ treo cổ tự tử để thoát mọi đau khổ. Nhưng lúc nào em cũng sẽ ở bên cạnh chị để che chở cho chị và các cháu.” Người viết là Nguyễn Văn Hai 27 tuổi, treo cổ tại Trại Cấm Whitehead Hong Kong đêm 16 tháng 2 năm 1990.Âm vang những lời cuối ấy trở thành dòng suối cuồn cuộn dồn lên không biết bao nhiêu cái tên, bao nhiêu nấc nghẹn, bao nhiêu con người đột ngột hiện ra … Đây là Lâm Văn Hoàng với hình vóc còn chưa hết nét trẻ thơ vì chỉ vừa 22 tuổi. Cái hình vóc ấy đã từ đỉnh cao một vách đá trại Pulau Bidong, Mã Lai lao thẳng xuống biển khơi vào tháng 1-1991. Ngọn sóng cuốn trôi thân xác chàng trai lại bùng lên ngọn lửa cuồng loạn thiêu đốt những thân xác quằn quại với những cái tên Trịnh Thị Kim Hương, Lưu Thị Hồng Hạnh … Kim Hương 28 tuổi tự thiêu tại Trại Galang, Nam Dương ngày 30-8-1991. Hồng Hạnh 16 tuổi tự thiêu tháng 2-1993 với chi tiết “không có ai là thân thích” nên Cao Uỷ Tỵ Nạn LHQ không cho hưởng quy chế tỵ nạn. Ngay cạnh trường hợp Hồng Hạnh là trường hợp Hoàng Thị Thu Cúc hoàn toàn trái ngược. Thu Cúc có cha bị chết trong trại tù, gia đình bị tịch thu nhà cửa, cưỡng bách đi Khu Kinh Tế Mới nên 5 anh chị em phải tìm đường vượt biên. Các chi tiết cụ thể đó vẫn bị gạt bỏ khiến Thu Cúc đã tự treo cổ tại trại Sikiew Thái Lan tháng 12-1992 khi vừa 26 tuổi.

Cảm giác đến với tôi vào những đêm khuya đối diện tấm bia bị đục vỡ luôn là cảm giác ngộp thở. Vì dòng suối âm vang cuồn cuộn khiến tôi bị vây nghẹt giữa không biết bao nhiêu cái tên, bao nhiêu tiếng gọi cất lên từ nhiều địa phương Thái Lan, Mã Lai qua Nam Dương đến Hong Kong …

Tôi không thể nhớ hết những cái tên, những trường hợp xẩy ra, nhưng luôn dừng lại với mấy lời cuối của người thanh niên 25 tuổi tên Nguyễn Ngọc Dũng. Ngày 3-5-1993, Nguyễn Ngọc Dũng tới trước văn phòng Cao Uỷ Tỵ Nạn LHQ trại Sungei Mã Lai tự tay đâm mũi dao nhọn vào giữa trái tim mình và gục chết bên dòng chữ: “Tôi chết đi không phải vì tuyệt vọng mà vì muốn đem lại niềm hy vọng và sự sống cho nhiều người khác.” Nguyễn Ngọc Dũng tự huỷ mình để tạo một tiếng gào kêu gọi sự cảm thông với cảnh ngộ bị đoạ đày của đồng loại trong cảnh sống vắng thiếu tình người.

Lời kêu gào vẫn cất lên, nhưng được đáp ứng ra sao?

Ngày 22-8-2007, tại đại hội Cựu Chiến Binh Mỹ ở Kansas Missouri, tổng thống Bush nhắc đến cuộc chiến Việt Nam qua một câu tóm gọn: “Bất kể bạn ở vị thế nào trong cuộc tranh luận thì cái di sản Việt Nam đã hỉển lộ vẫn chính là cái giá phải trả cho cuộc triệt thoái quân đội Mỹ bởi hàng triệu người vô tội mà những nỗi thống khổ của họ đã tạo thêm cho ngôn ngữ chúng ta các từ mới như “thuyền nhân”, “trại cải tạo” và những “cánh đồng chết”…(1)

Phát biểu ngắn gọn gợi nhắc thực tế Việt Nam sau ngày 30-4-1975 cũng bày tỏ nỗi tiếc xót về hậu quả một hành động sai lầm di hoạ cho những con người nhỏ bé vô tội, và ý muốn cảnh báo về một sai lầm tương tự. Dù là người xa lạ, ông Bush cho thấy không hoàn toàn vô cảm trước những thống khổ mà người dân Việt Nam gánh chịu quanh hai tiếng “thuyền nhân” — bao gồm cảnh ngộ buộc mọi người phải rời bỏ quê hương và những thảm nạn trên biển cả mênh mông luôn chứa đầy tai hoạ bão táp, hải tặc và cả thái độ lạnh lùng của những người ngoại cuộc nhẫn tâm…

Nhưng sự bày tỏ một chút tình đồng loại ấy đã lập tức bị phản bác bởi những người đang ở vị thế quyết định số phận mọi con dân Việt Nam. Ngay sau ngày 22-8 cho tới cuối tháng 9-2007, báo chí Việt Nam liên tiếp phổ biến nhiều bài viết và phát biểu chê bai ông Bush sai lầm và xuyên tạc. Trên báo Quân Đội Nhân Dân ngày 31-8-2007, tướng Nguyễn Đình Ước viện trưởng Viện Lịch Sử Quân Sự Việt Nam phát biểu “nạn thuyền nhân là chuyện có thật” nhưng nguyên nhân vì “sau chiến tranh, đất nước bị tàn phá nặng nề mà Việt Nam còn bị bao vây, cấm vận về kinh tế.” Viên tướng này diễn tả xã hội Việt Nam hoàn toàn tốt đẹp, không có chuyện bức chế bất kỳ ai, không có nỗi thống khổ nào và khẳng định nạn thuyền nhân là “âm mưu hậu chiến của Mỹ”, bởi sau khi cấm vận gây khó khăn kinh tế cho Việt Nam, “họ lại kích động, đưa ra viễn cảnh thiên đường ở bên ngoài gây nên tình trạng có một bộ phận người Việt Nam bỏ đất nước ra đi. Không ít người đã thiệt mạng trên biển do bị chìm thuyền, bị bọn đưa người vượt biên trái phép lừa gạt giết chết. Đó đúng là một thảm cảnh nhưng là hệ quả do những chính sách chống phá Việt Nam từ bên ngoài.”

Nguyễn Đình Ước và những cây bút cuồng nhiệt đả kích lời phát biểu của ông Bush đã cho thấy họ không hề động tâm trước sự việc xẩy ra cho chính đồng bào của mình mà ngược lại còn kết buộc các nạn nhân tự chuốc tai hoạ bởi nghe lời ngoại nhân kích động, bỏ đất nước ra đi. Nếu cứ giả dụ những người này nói đúng thì phải biện giải ra sao về lý do Việt Nam viện dẫn để đòi phá bỏ tấm bia tưởng niệm tại Jakarta, khi tờ Jakarta Post ngày 20-6-2005 loan báo Chủ Tịch Nước CHXHCNVN (CSVN) Trần Đức Lương yêu cầu Nam Dương “khẩn cấp đập tượng đài” trên vì “nó xúc phạm tới Việt Nam.” Tấm bia xúc phạm Việt Nam như thế nào khi chính quyền Việt Nam khẳng định các nạn nhân chết thảm chỉ vì “chính sách chống phá Việt Nam từ bên ngoài?” Vả lại, bày tỏ tình cảm xót thương nhớ tiếc những người cùng huyết mạch đã khuất có thể là hành vi gây tổn hại uy danh dân tộc chăng?

Mọi nguyên tắc đạo lý trên trái đất này đều không chứng minh cho kiểu suy diễn đó, nhất là khi hết thẩy người đã khuất đều là nạn nhân vô tội đáng thương, trong số có không ít trẻ thơ và những người vợ, người mẹ chân yếu tay mềm. Bằng cách nhìn nào thì cũng phải khẳng định tấm bia đó chỉ gợi nhắc tội ác của những kẻ đã biến hàng loạt người vô tội thành nạn nhân trong tấn thảm kịch thuyền nhân, và bất kể là ai, nếu còn mang trái tim con người sẽ không bao giờ tránh khỏi xót xa trước cảnh tượng ngọn lửa điên cuồng trùm phủ thân hình nhỏ nhoi yếu đuối của một cô bé mới 16 tuổi như ngọn lửa hoả thiêu thân xác cô bé có tên Lưu Thị Hồng Hạnh.

Bỏ qua mọi lý lẽ để chỉ nhìn vào thực tế xảy ra quanh hai tiếng “thuyền nhân” sẽ không thể quên trường hợp con thuyền mắc cạn tại một hòn đảo trong quần đảo Trường Sa và trường hợp chấm dứt binh nghiệp của một hạm trưởng hải quân Mỹ.

Theo Washington Post ngày 29-03-1989, hạm trưởng hải vận hạm USS Dubuque cho biết sẽ rời Hải Quân sau 26 năm phục vụ, dù ước nguyện của ông là được sống trọn đời với biển cả. Ông phải chọn điều này vì ngày 24-02-1989, toà án quân sự Mỹ đã tuyên xử ông thiếu xót trách nhiệm và ông tin rằng bản án thực sự chấm dứt binh nghiệp của ông. Trên thực tế, ông bị ngưng chức hạm trưởng, bị truy tố ra toà từ ngày 27-08-1988, và các phiên xử kéo dài 2 tuần lễ khởi từ trung tuần tháng 2-1989 đã kết thúc với bản án trên. Lý do là ngày 9-06-1988, hải vận hạm USS Dubuque gặp một thuyền tỵ nạn Việt Nam lênh đênh giữa biển. Các thuyền nhân cho biết thuyền bị hư máy trôi giạt đã 18 ngày khiến có hơn 20 người bị chết. Còn lại trên thuyền lúc đó có 83 người gồm nhiều phụ nữ, trẻ em, hết thẩy đều kiệt sức. Nhưng lời khẩn cầu hải vận hạm USS Dubuque cứu vớt bị từ chối. Vị hạm trưởng chỉ hạ lệnh chuyển qua con thuyền một số thực phẩm và nước uống đủ dùng mấy ngày rồi tiếp tục ra đi, bỏ mặc con thuyền bập bềnh tại chỗ.

19 ngày sau, ngày 28-06-1988, con thuyền được một tàu đánh cá Phillipines cứu đưa vào bờ thì đã có thêm 31 người bị chết và số người sống sót kể lại phải qua những ngày khủng khiếp là duy trì hơi thở bằng cách nhai nuốt chính thân xác các bạn đồng thuyền đã chết. Tin về cảnh ngộ 52 thuyền nhân sống sót loan truyền khắp mặt báo chí và Bộ Quốc Phòng Mỹ tức khắc ra lệnh truy tố vị hạm trưởng.

Trước toà, vị hạm trưởng viện lý do cần hoàn tất nhiệm vụ nên không dám bỏ thời gian cho việc tiếp cứu. Nhưng quan điểm của toà là không có lý do nào biện giải cho hành vi làm ngơ trước cảnh lâm nguy của đồng loại.

Bản án đã khẳng định vị thế tột cùng của tình người và gợi nhắc một trường hợp từng xẩy ra 10 năm trước đó. Một ngày tháng 4-1979, con tàu là chiếc ghe đi biển mà ngư dân gọi là “3 lốc đầu bạc” chở 130 thuyền nhân rời đảo Hòn Tre ngoài khơi Nha Trang vượt Biển Đông. Sau ba ngày êm ả, một cơn bão bất ngờ ập tới giữa đêm. Cơn bão khiến con tàu điên đảo quay cuồng, sau đó hoàn toàn mất phương hướng. Giữa lúc nguy cấp, người trên tàu bỗng thấy có ánh đèn loé lên từ một khoảng không xa. Tài công lập tức hướng về phía đó với hy vọng là một hòn đảo Philippines.

Không may, con tàu mắc kẹt đá ngầm lúc tới cách hòn đảo chỉ hơn trăm thước. Lâm cảnh vô phương tiến thoái, một nhóm người quyết định lội vào đảo tìm sự tiếp cứu. Vừa đặt được chân lên bãi cát, nhóm người bỗng nghe tiếng loa phóng thanh bằng tiếng Việt ra lệnh: “Tất cả đứng lại!”

Cả nhóm chết sững đứng im, nhưng thầm an ủi nhau nếu bị bắt trở về đất liền thì dù phải đi tù vẫn bình yên, khỏi vùi xác giữa biển cả. Ý nghĩ đó không thành thực tế. Vì nhóm người đứng thẳng hàng với hai tay đưa lên trời đã lập tức trở thành những tấm bia cho hàng loạt đạn từ trong bờ xối xả bắn tới. Gần 20 mạng người gục ngã trong chớp mắt, chỉ còn ba người thoát chạy trở lại được con tàu.

Do mắc kẹt đá ngầm, con tàu không thể nhúc nhích nên đành đưa hết đàn bà trẻ nít lên mui, hướng vào đảo quỳ khóc xin tha mạng. Cảnh tượng đó diễn ra lúc trời đã rạng sáng giúp mọi người thấy rõ trên đảo nhiều toán bộ đội tới lui nhộn nhịp và vợ con họ đứng chen lấn nhìn ra con tàu.

Đám đàn bà trẻ nít trên tàu la khóc lớn hơn xin cứu giúp. Nhưng đó cũng là lúc mà đủ loại súng nối nhau nhả đạn vào đám đàn bà trẻ nít đang uốn mình cúi lạy trên mui tàu…

Các chi tiết về giây phút cuối cùng của con tàu do một nhân chứng sống sót kể lại:

– “Chúa ơi cứu con với!”
Tiếng thét đau đớn, hãi hùng của người phụ nữ nằm sát cạnh tôi, cùng lúc với một dòng nước ấm văng vào mặt khiến tôi phải lấy tay vuốt mặt và bàng hoàng nhận ra toàn là máu. Máu nóng đã ập vào mặt tôi từ người phụ nữ bên cạnh. Tôi ngẩng đầu lên một chút để nhìn. Người phụ nữ oằn oại với vết thương bên đùi vỡ toác, máu tuôn xối xả …Đạn vẫn tiếp tục nổ, tiếng la hét, kêu gào của những người bị trúng đạn quyện thành một thứ âm thanh hỗn loạn đến rợn người … Trước mặt tôi, chung quanh tôi, máu thịt văng tung tóe, thây người nằm la liệt … Thần kinh tôi tê cứng vì sợ hãi khiến tôi muốn khụy xuống, nhưng bản năng sống còn thúc tôi phóng xuống biển vừa lúc một cơn sóng chụp tới cuốn tôi rời xa con tàu.”

Kẻ may mắn được sóng cuốn đi, sau đó được xô tới bên một chiếc thuyền câu cũng đang dật dờ trên mặt biển:

“Thoạt đầu, tôi cứ tưởng bộ đội hạ quyết tâm đuổi tận, giết tuyệt nên không dám bơi lại gần. Nhưng nhìn kỹ, tôi nhận ra chiếc thuyền hoàn toàn im lặng, không có sự di động của bất cứ người nào trên thuyền. Tôi hơi vững tâm, cố bơi lại gần. Nắm được be thuyền và leo lên thì tôi thấy có người trên thuyền, nhưng mọi người đang nằm ở tư thế ẩn nấp. Thấy tôi leo lên, họ sụp lạy, xin tha mạng. Tôi không có thời giờ giải thích gì cả, bật ngửa ra nằm bất động …Sau khi đã hoàn hồn và hỏi chuyện nhau, tôi mới vỡ ra họ cũng trôi giạt vào đây và cũng bị bắn. Thuyền của họ xuất phát từ Phước Tỉnh, Bà Rịa, có 13 người gồm 11 người đàn ông và 2 đứa trẻ, bé chị 9 tuổi, cậu em 6 tuổi. Cha của hai em bé này đã bị bắn vỡ đầu nằm chết ở mũi thuyền, một thanh niên khác bị bắn nát phần vai hai bên, đang nằm thoi thóp dưới hầm máy.”

Con thuyền là một thuyền câu dài vỏn vẹn 6 thước, rộng 2 thước cứ dật dờ trôi nhưng tiếp đó đã nhận thêm 4 người khác thoát chết từ con tàu bị mắc cạn để ấp ủ 16 mạng người, sau khi anh thanh niên bị thương trút hơi thở cuối. Điều kỳ lạ là 16 người trong số có hai đứa trẻ đều còn thoi thóp tới ngày thứ 30 lênh đênh trên biển khi được một tàu buôn Nhật Bản phát hiện. Vị thuyền trưởng người Đại Hàn từng được nhắc nhở sẽ bị đuổi việc nếu vớt người vượt biên. Nhưng trước chiếc thuyền câu nhỏ với 16 túi da bọc xương đang hấp hối, ông đã chọn chấp nhận mọi hậu quả, lệnh cho thủy thủ đưa họ lên thuyền cấp cứu rồi chở họ tới cảng Okinawa.Hơn 30 ngày trước, hai con thuyền chở 143 người lúc này chỉ còn vỏn vẹn 16 người. Nỗi gian khổ của họ được báo chí Nhật Bản và quốc tế kể lại nhiều ngày kèm theo hình ảnh những con người chỉ là những bộ xương với hộp sọ nhô cao.

Hành động quay lưng không cứu người lâm nạn của vị hạm trưởng hải vận hạm USS Dubuque gây ra cái chết cho 31 người đã khiến Bộ Quốc Phòng Mỹ lập tức quyết định đưa ra toà xét xử ngay sau khi báo chí loan tin. Trong khi đó, những kẻ nhẫn tâm tàn sát 120 mạng người vô tội gồm nhiều phụ nữ và trẻ thơ đang khốn đốn giữa sóng gió cho tới nay hơn 30 năm sau vẫn hoàn toàn thoải mái.

Không biết bao nhiêu thắc mắc đã được đưa ra nhưng đều rơi vào hư vô. Nhưng, những thắc mắc đó chắc chắn vẫn sẽ vang lên mỗi khi có ai nhắc đến hai tiếng “thuyền nhân” để gom lại thành một thắc mắc cuối cùng: Những kẻ đã ra lệnh bắn giết người ra đi và những kẻ thản nhiên thi hành lệnh bắn giết đó còn có thể gọi là con người được không?

Trong Buồn Vui Đời Thuyền Nhân, Lâm Hoàng Mạnh lập lại cùng thắc mắc khi kể về một tai hoạ tương tự đe doạ con thuyền trên đó có gia đình tác giả:

“Trưa ngày 18-6-1979, vợ con tôi cũng như nhiều phụ nữ và trẻ con khác say sóng, nôn mửa, nằm bệt dưới khoang. Tôi đang loay hoay lau chùi dọn dẹp, lấy thuốc chống say cho vợ con, bỗng nhiên nghe tiếng loa phóng thanh oang oang:– Không được vi phạm hải phận của chúng tôi.

Tất cả mọi người choàng tỉnh. Tôi vội lên sạp thuyền xem sự thể ra sao. Một tàu chiến hải quân Trung Quốc đang dần dần áp sát thuyền chúng tôi. Trên boong tàu, thủy thủ Trung Quốc trong quân phục hải quân, lăm lăm tiểu liên, một dàn đại liên, đại bác chĩa nòng vào thuyền. Một sĩ quan tay cầm loa phóng thanh nói bằng hai thứ tiếng Việt và Quảng rất rành rọt:

– Yêu cầu thuyền không được xâm phạm hải phận chúng tôi. Phải rời ngay hải phận, không sẽ bị tiêu diệt.

Tôi không thể tin được tai mình.

Đây là đồng bào, đồng chí của tổ quốc Trung Hoa vĩ đại của chúng tôi ư?

Mới ngày 15-6 khi chưa rời bến Máy Chai, chúng tôi vẫn được chính quyền Đặng Tiểu Bình trên đài phát thanh Bắc Kinh khoác cho chiếc áo “Hoa kiều yêu nước” với biết bao mỹ từ tươi đẹp, kêu gọi hồi hương. Giờ đây thuyền chúng tôi mới mấp mé hải phận “tổ quốc vĩ đại, thân yêu”, chính hải quân của Đặng Tiểu Bình đe dọa nổ súng, tiêu diệt nếu thuyền không rời xa lãnh hải.
Hơn 200 người trên thuyền là người dân vô tội, đàn bà trẻ con, không tấc sắt trong tay.

Khi tàu hải quân Trung Quốc áp sát, chúng tôi già trẻ lớn bé hơn 200 người đứng lố nhố trên sàn thuyền. Tất cả đăm đăm nhìn bọn họ. Những mũi súng máy của lính hải quân chĩa thẳng vào chúng tôi như sẵn sàng nhả đạn.

Trước khi ra đi, chúng tôi thường nghe BBC Việt ngữ, anh Đỗ Văn đưa tin, rất nhiều thuyền tỵ nạn gặp tàu nước ngoài đuợc cứu trợ, đưa đến nơi an toàn. Không ngờ, thuyền chúng tôi gặp tàu hải quân Trung Quốc, họ không cứu giúp lại tìm cách đẩy chúng tôi ra xa hơn giữa trùng dương nguy hiểm.

Họ là ai? Họ chính là người Trung Quốc, là đồng bào, trong huyết quản họ và chúng tôi có chung dòng máu Trung Hoa. Sao họ tàn ác đến như vậy?
Họ là người hay loài mãnh thú?”

Thắc mắc mà Lâm Hoàng Mạnh lập lại có lẽ không còn cần trả lời. Nhưng từ đây lại dấy lên một thắc mắc rất cần được trả lời: Tại sao loài mãnh thú có thể tồn tại lâu như vậy ở vị thế đè đầu cưỡi cổ con người?Tôi không tin có một loài thú nào dù hung dữ tới đâu lại đủ sức khống chế một cộng đồng dân tộc từng đạp bằng mọi hiểm hoạ gian nguy cùng cực để tồn tại suốt hơn bốn ngàn năm. Quá trình đó đã biểu hiện cụ thể một ý chí bất khuất và truyền thống bảo toàn các giá trị tất yếu của cuộc sống gọi là cuộc sống con người. Ý chí và truyền thống đó chắc chắn không bao giờ tàn lụi. Vậy do đâu cả một cộng đồng dân tộc đã phải khoanh tay gục đầu trước nanh vuốt của chỉ một bày ác thú?

Hàng loạt dấu hỏi quay cuồng với hàng loạt giải đáp nhưng mỗi giải đáp lại khơi thêm nỗi hoang mang ngờ vực khiến trước mắt tôi bỗng hiển hiện một rừng dấu hỏi nhảy múa điên loạn và chập chờn chuyển hoá thành đủ thứ hình thù. Dù chưa từng vượt biển, chưa từng đặt chân đến một hòn đảo nào, tôi bỗng thấy mình đang đứng giữa quần đảo Trường Sa và những dấu hỏi mịt mù đã biến thành một đám người say mê nhả đạn với nét mặt hả hê trước những thân hình nạn nhân gục ngã. Rồi tôi lại nghe vẳng lên giọng kể trĩu nặng ưu tư của Lâm Hoàng Mạnh về vài cảnh sống của một số thuyền nhân khi đã rời xa hẳn những con thuyền:

“Chuyện ly hôn của người Việt trở thành đề tài nóng bỏng. Tôi quen một số gia đình cũng bị hút vào vòng xoáy này. Đến chơi, khi hỏi chuyện thật hư, có gia đình, không những không ngượng, cô vợ còn cười tươi, bảo “quanh đây ai cũng đều thế cả, chỉ có gia đình anh chị chưa làm thôi. Em á, không những làm, em còn xúi người ta. Tội gì không làm, chết ai đâu? Đây này, chúng em ra tòa ly dị. Có giấy ly hôn hẳn hoi, ông xã lấy cớ thăm con, vẫn ngủ ở nhà đấy chứ. Chỉ khi nào council cho người đến kiểm tra mới “tạm sơ tán” thôi…Đấy, ông xã nhà này vẫn đi làm đều, chỉ phải đóng thêm chút thuế, theo diện độc thân, còn em và tụi trẻ bây giờ khỏe re, lĩnh tiền trợ cấp single parent cao, tiền nhà khỏi phải đóng, các cháu được miễn phí bữa trưa. Sướng chưa! Anh chị còn chần chừ gì nữa mà không làm….”

Tôi ngán ngẩm ra về và từ đó ít giao lưu. Chỉ vì một chút lợi ích vật chất, họ đã cắt luôn dây thần kinh xấu hổ, làm những điều không thể chấp nhận đối với lương tâm, đạo đức của người bình thường …”

Lâm Hoàng Mạnh không chỉ ưu tư trước cảnh sống này mà còn đưa người đọc tới nhiều vùng đất Việt Nam cũng như Anh quốc cùng nỗi trăn trở về khoảng thời gian tồn tại khó biết ra sao của những câu ca dao đã có từ hàng ngàn năm như:Công cha như núi Thái sơn
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra
Một lòng thờ mẹ kính cha
Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con …

Tôi không còn theo kịp mức chuyển hoá của khu rừng dấu hỏi nữa, dù vẫn tin chắc ý chí bất khuất và truyền thống bảo toàn các giá trị tất yếu của cuộc sống con người chẳng bao giờ rời xa tim óc mọi người Việt Nam ở bất kỳ nơi đâu. Mọi nguyên do thống khổ dẫn tới hai chữ “thuyền nhân”, mọi tai ương thảm nạn khắc hoạ thành hai chữ đó có thể ghi dấu mãi một đoạn đường ngập tràn những não bộ tối tăm, những con tim dã thú, nhưng trong diễn trình lịch sử, mọi đoạn đường luôn chỉ là một bước thăng trầm không thể kéo dài mãi mãi.

Tôi bỗng nhớ tới giọng ca từng là thần tượng một thời của lớp tuổi chúng tôi từ thập niên 1950, nữ ca sĩ Hy Lạp Nana Mouskouri. Nana Mouskouri cuốn hút không chỉ do giọng ca mà còn qua nhiều lời ca vẫn thường bất ngờ vẳng lại:

Quand tu chantes je chante avec toi, liberté
Dans la joie ou les larmes je t’aime
Les chansons de l’espoir ont ton nom et ta voix
La chemin de l’histoire nous conduira vers toi
Liberté, liberté …
(2)

Tôi rời những trang hồi ký của Lâm Hoàng Mạnh trong ước mong được nghe lời ca trên vang dội mọi nẻo đường Việt Nam qua một dàn đồng ca, dù dư âm giọng ca của Nana Mouskouri vẫn ngọt ngào quyến rũ.

Virginia May 20, 2011.

© DCVOnline

Buồn Vui Đời Thuyền Nhân, Hồi ký của Lâm Hoàng Mạnh

Tủ sách Tiếng Quê Hương xuất bản. Phát hành tháng 7/2011. Địa chỉ liên lạc: Tiếng Quê Hương, P.O Box 4653, Falls Church – VA 22044


(1) “… Whatever your position is on that debate, one unmistakable legacy of Vietnam is that the price of America’s withdrawal was paid by millions of innocent citizens whose agonies would add to our vocabulary new terms like ‘boat people,’ ‘re-education camps,’ and ‘killing fields’.” President Bush’s speech to the Veterans of Foreign Wars National Convention in Kansas City, August 22, 2007.
“Bất kể bạn ở vị thế nào trong cuộc tranh luận thì cái di sản Việt Nam để lại mà ta không thể nhầm lẫn được là: cái giá  cho cuộc triệt thoái quân đội Mỹ đã được trả bởi hàng triệu người vô tội mà những nỗi bi kịch và thống khổ của họ đã tạo thêm cho ngôn ngữ chúng ta các từ mới như “thuyền nhân”, “trại cải tạo” và những “cánh đồng chết”…
(HT dịch)

Posted in Hồi Ký | Leave a Comment »

Đọc lại bài nói chuyện của Tướng Nguyễn Cao Kỳ tại Đại Học DeAnza, California

Posted by hoangtran204 trên 23/07/2011

Tướng Nguyễn Cao Kỳ đã chết trong bệnh viện ở  Malaysia vì khó thở vào ngày 22-7-2011. Nguyên nhân chính xác của cái chết đang được tìm hiểu.

——-

Mời các bạn đọc lại

Bài nói chuyện của Tướng Nguyễn Cao Kỳ tại Đại

Học DeAnza, Cupertino, California

LTS: Quan hệ giữa Mỹ và Việt Nam đang ấm dần lên qua vấn đề Biển Đông, ĐCV đăng tải lại bài phát biểu của Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ tại Đại học DeAnza, trong cố gắng thuyết phục Hoa Kỳ bắt tay với CSVN ngăn chặn Trung Quốc, gây nhiều tranh cãi trước đây.

Lời người dịch: Ngày 13 tháng 6 năm 2003, Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ được giáo sư John K. Swensson, Khoa truởng Khoa Ngôn Ngữ của trường Đại Học DeAnza, Cupertino, California mời nói chuyện về cuộc chiến tranh ở Việt Nam. Nhân cuộc hành trình của Tướng Kỳ gây nhiều sôi nổi trong cộng đồng, tôi phiên dịch bài diễn văn này ra quốc ngữ để cống hiến bạn đọc. Hy vọng các bạn đọc sẽ chia sẻ đuợc tâm ưu của Người Lính Già Nguyễn Cao Kỳ, có cái nhìn xa về thời cuộc mà phải hứng chịu nhiều hiểu nhầm của dư luận ngày hôm nay. Ông ta đã chiến đấu và đã không ngừng mưu cầu cho dân tộc có một tương lại tươi sáng hơn.

Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ

Trước tiên, tôi xin cảm ơn các bạn sinh viên và quý trường đã cho tôi có dịp để chia sẻ vài cảm nghĩ của tôi. Đặc biệt xin cảm tạ bà Martha Kanter và ông Khoa truởng John Swenson đã có nhã ý mời tôi đến nói chuyện hôm nay.

Vào tháng Tư của 27 năm truớc, sau 20 năm chống trả anh dũng, Miền Nam Việt Nam đã rơi vào tay kẻ thù. Bao biến đổi từ đó. Nhiều nguời trong số các bạn chưa ra đời; với những người nào còn nhớ lại ngày đen tối đó, những nguời mà sau bao năm tháng, thời gian đã in hằn trên khuôn mặt những nếp nhăn và tóc đã điểm mầu sương khói, đã bảo toàn danh dự trong những giờ phút khó khăn, không làm mất đi lý tưởng mà các bạn theo đuổi. Các bạn đã trưởng thành, sự hy sinh và nhiệt huyết của tuổi trẻ đã mang lại sự thành công và trách nhiệm ở những địa vị xứng đáng trong xã hội Mỹ. Còn đối với tôi, như các bạn thấy, tôi không còn khoác khăn quàng tím, mặc áo bay đen, lưng đeo súng lục. Tôi đã chôn tất cả dưới đáy rương, kỷ vật của một thời quá khứ. Cuộc chiến đã lùi dần vào lịch sử, sự thất bại về dân chủ ở Việt Nam đã để lại những dấu ấn trong lương tâm của hai quốc gia. Những câu hỏi đặt ra từ năm 1975 vẫn chưa được giải đáp thỏa đáng. Làm sao với một đồng minh Mỹ vô địch về kinh tế, chính trị và quân sự cộng thêm sự hỗ trợ của các nước đồng minh khác mà Nam Việt Nam lại bị đánh bại bởi một quân đội lạc hậu, nghèo đói của Bắc Việt?  Hôm nay tôi xin đưa ra những câu trả lời về vấn đề này.

Thưa qúy vị,

Sử liệu của Hoa Kỳ thường cho rằng sự thất trận xảy ra vì cuộc chiến thiếu chính danh, vì chính phủ và quân đội Miền Nam tham nhũng, vì lính Nam Việt hèn nhát, vì Mỹ bỏ rơi Nam Việt vv… Tuy nhiên, không một điều kể trên được chấp nhận như một định nghĩa đúng. Tôi muốn nói: “Chúng ta thất trận vì hai lý do. Vì bang giao giữa Mỹ và Nam Việt không đồng nhất, không quân bình, đôi khi trịch thượng. Và cũng bởi vì chiến lược của chúng ta là chiến tranh tự vệ, một chiến thuật tự nó đã đưa đến sự thất bại và sau cùng là sự thất trận”. Làm sao điều này đã thật sự xảy ra? Là một nguời sinh ra và lớn lên trong cuộc chiến, một nguời đã từng tham dự và chỉ huy, đã chứng kiến và chia sẻ sự khổ đau của dân tộc và nhân dân tôi, tôi sẽ cố trình bày một cách khách quan về những sự kiện và những nhận xét đã đưa tới câu tuyên bố táo bạo này.  Đêm nay, thật là khó khăn khi phải trực diện nó, các bạn sẽ nghe được những sự thật mà các bạn chưa bao giờ nghe và tôi tin là các bạn sẽ đồng ý với lời kết luận của tôi.

Sau hiệp định Genève 1954, Việt Nam bị chia đôi. Trên giấy tờ, Bắc và Nam Việt Nam là hai quốc gia song sinh được sinh ra cùng một thời điểm. So sánh với Miền Bắc qủy quyệt, thì Miền Nam chỉ là một đứa trẻ thơ dại. Có nghĩa là từ nhiều năm, trước khi có sự chia đôi đất nước, Hà Nội đã chứng tỏ là một thực thể chính trị đáng nể sau khi đã tham dự hàng loạt các hội nghị quốc tế và theo đuổi cuộc chiến tranh du kích chống Pháp. Hồ Chí Minh đã có tiếng vang trên chính truờng quốc tế qua sự lãnh đạo cuộc chiến chống thực dân Pháp. Chính quyền Hà Nội nắm quyền lực với một thành tích là đánh đuổi ngoại xâm và tranh đấu cho quốc gia độc lập. Họ tự cho họ là những nguời giải phóng nhân dân. Lúc đầu, họ nhận được sự ngưỡng mộ và thiện cảm của đa số các nuớc “bị trị” thuộc Khối Không Liên Kết của Thế Giới Thứ Ba, dĩ nhiên sẽ đối nghịch với những nước giàu có như Pháp và Hoa Kỳ. Bắc Việt còn được sự yểm trợ tối đa của hai siêu cường cộng sản là Nga Sô và Trung Cộng. Điều này đã làm họ tuyệt đối tin tưởng là cuối cùng họ sẽ thắng. Tôi muốn đào sâu vấn đề hơn.

Ai cũng hiểu là nếu không có sự giúp đỡ vĩ đại của các siêu cường Cộng Sản, Bắc Việt không thể kéo dài cuộc chiến xâm lăng trong nhiều năm được. Nga Sô và Trung Cộng rất kín đáo về sự trợ giúp của họ. Trong suốt cuộc chiến, không một viên chức Nga hay Trung Cộng nào có lời tuyên bố can thiệp lộ liễu vào nội bộ của Bắc Việt. Trái lại, những nhà lãnh đạo Bắc Việt luôn luôn đuợc đẩy ra ngoài ánh sáng quốc tế, đuợc trình diện như những người theo chủ nghĩa Dân Tộc, những nhà ái quốc, những nhà tranh đấu cho chính nghĩa, lật đổ đế quốc thực dân và tư bản hầu giải phóng nhân dân Việt ra khỏi ách thống trị. Chẳng bao lâu bộ mặt Mác-Lê bị lật tẩy, Hà Nội cũng bị mất cảm tình chút ít trên thế giới, nhưng sự ngưỡng mộ vẫn còn. Nếu họ không còn có chính nghĩa là đánh đuổi thực dân nữa, đối tượng để tranh đấu chính trị sẽ không còn, thì họ chẳng còn gì để mà tranh đấu.

Về phía Miền Nam, sự việc khác hẳn. Nam Việt phải xây dựng từ số không, và ngay từ đầu đã lệ thuộc quá nhiều vào các siêu cường Tây Phương. Thí dụ như một người sống nhờ vào tiền an sinh xã hội, càng ngày càng lệ thuộc vào sẽ khó dứt bỏ đuợc. Trong những năm của thập niên 50, những hoạt động chính trị và quân sự ở Việt Nam đã chịu ảnh hưởng nặng nề của Pháp, một ông chủ thực dân, về tất cả những quyết định quan trọng. Nguời Pháp đưa ông Bảo Đại ra làm Quốc Trưởng, vị vua cuối cùng của Triều Nguyễn dưới thời bảo hộ Pháp. Tất cả nội các của ông Bảo Đại đều là những người có thời liên hệ với Pháp. Họ không được sự ủng hộ của quần chúng trong nuớc. Chỉ khi ông Ngô Đinh Diệm xuất hiện thì Nam Việt mới có một thể chế và lãnh đạo xứng đáng. Rất tiếc là sau vài năm ngắn ngủi, chính quyền Nam Việt Nam bị băng hoại vì sự áp dụng độc tài gia đình trị. Nhưng so với sự độc tài đảng trị của cộng sản Việt Nam thì sự độc tài ở Miền Nam không thể nào sánh bằng. Khi ảnh hưởng của Pháp bắt đầu mờ dần, sự xuất hiện của Mỹ đã trực tiếp ảnh hưởng hàng ngày vào những quyết định của Nam Việt Nam, thì một vị Tổng Thống có tinh thần quốc gia cấp tiến mà cứng đầu như ông Diệm bắt buộc phải bị lật đổ.

Thưa các bạn,Bang giao giữa Mỹ và Nam Việt Nam chưa bao giờ thể hiện được bình đẳng trong sự hợp tác. Cuộc chiến trở thành “cuộc chiến tranh của Johnson” thay vì chúng ta chiến đấu cho tự do và độc lập. Từ quan niệm trên mà Nam Việt Nam chỉ được xem như là một tiền đồn để chống chủ nghĩa cộng sản. Cuộc chiến đấu giành tự do của chúng ta là một việc cao qúy nhưng chúng ta không cho đó là vấn đề chủ yếu để giải thích cho dân chúng Mỹ và Việt Nam hiểu rằng đây không phải là một cuộc nội chiến giữa chính quyền và quân phản loạn ở Nam Việt Nam, mà là một sự xâm lăng trắng trợn một quốc gia Nam Việt Nam bởi một quốc gia khác có tên gọi là Bắc Việt Nam. Vào giữa thập niên 60, Hoa Kỳ đã đổ nửa triệu quân vào Miền Nam. Mười tỷ đô la đã đổ vào để sử dụng cho quân đội và viện trợ kinh tế, và còn nhiều số tiền lớn khác được chi ra. Sự hiện diện của Hoa Kỳ được thấy rõ trong nhiều lãnh vực hoạt động, ở bất cứ một giai tầng nào trong chính phủ. Ngay cả trong giai cấp lãnh đạo, kể cả Tổng Thống, cũng được chỉ định một vị cố vấn đặc biệt. Sự có mặt và ảnh huởng của Mỹ thật là quá rõ rệt. Nhiều đến nỗi một nguời dân Việt ở ngoài phố đã thốt lên rằng “Ông Đại sứ Mỹ là Quan Toàn Quyền giống như dưới thời Pháp thuộc”. Ảnh hưởng của báo chí và chính giới Mỹ còn tệ hại hơn nữa, luôn luôn muốn nhấn mạnh vai trò của người Mỹ tại Việt Nam, họ đã biến chiến tranh Việt Nam thành một sự đối kháng giữa Hoa Kỳ và Bắc Việt, đẩy nhân dân, chính phủ và quân đội của Nam Việt vào vai trò phụ. Điều này càng được khuyếch đại bởi bộ máy tuyên truyền của cộng sản quốc tế. Vì thế chính quyền Nam Việt Nam dưới con mắt nguời dân trong nuớc và cả thế giới đã trở thành một chế độ bù nhìn được dùng cho quyền lợi của tư bản Mỹ. Hậu quả là mặc dù chúng ta có chính nghĩa, nhưng chúng ta không bao giờ có được một chính danh cần thiết để được lòng nhân dân, một yếu tố tối cần thiết cho sự chiến thắng.

Thưa các bạn,

Chúng ta đều hiểu rằng trong chiến tranh, yếu tố chính trị và quân sự phải hỗ tương. Điều này rất đúng tại Việt Nam. Không những chúng ta bị thất lợi về chính trị mà chúng ta còn áp dụng một căn bản sai lầm trong binh pháp khi chúng ta chọn chiến đấu trong một trận chiến giới hạn và tự vệ. Hải Quân và Không Quân hùng mạnh của Hoa Kỳ đã không được dùng để tấn công vũ bão vào lực luợng địch, buộc họ phải qui hàng, như đã xảy ra trong cuộc chiến Vùng Vịnh và Afghanistan. Hoa Kỳ đã không thi triển sự chớp nhoáng của Không Quân chiến luợc hay sự hùng hậu của Đệ Thất Hạm Đội để tiêu diệt những căn cứ địch, để ngăn cản đường tiếp tế trên bộ cũng như trên biển, để phong tỏa những hải cảng của địch.

Vì phải chiến đấu trong một cuộc chiến giới hạn và tự vệ, Hoa Kỳ đã cho phép kẻ thù liên tục tiếp tế cho quân lính họ ở chiến truờng. Những chính trị gia của Hoa Kỳ vì e ngại Trung Cộng sẽ can thiệp và gây ra một cuộc chiến Triều Tiên khác. Nước Mỹ đã và đang có một Hải Quân hùng mạnh nhất thế giới, nhưng vì sợ mích lòng Nga, đã không chịu phong tỏa Hải Phòng. Hàng tấn vũ khí đã đưa qua hải cảng này để chuyển vào đánh Nam Việt và các đồng minh.

Đã từ lâu, trước khi Hoa Kỳ quyết định ngưng chiến, tôi đã nhận thấy sự thất bại là một kết quả không thể tránh được khi mà Hoa Kỳ thiếu quyết tâm chiến thắng. Tôi đã yêu cầu tình nguyện lãnh đạo một cuộc “Bắc Tiến”. Tôi chỉ đòi hỏi Hoa Kỳ một điều kiện duy nhất là họ sẽ yểm trợ về Không Lực vì quân đội Hoa Kỳ cũng đã có mặt ở Miền Nam để bảo vệ những nơi đông dân cư. Mục đích của tôi không phải là để xâm lăng Miền Bắc, mà chỉ để ép buộc Hà Nội phải rút quân từ phía Nam về để chống đỡ và từ đó sẽ đưa đến thương thuyết hòa bình.

Các bạn cũng như tôi có thể không phải là nhà chiến lược giỏi, nhưng chúng ta cũng phải biết là “Tiên hạ thủ vi thượng sách”, ngay cả lúc chúng ta ở thế bị động. Cái được gọi là chiến dịch “truy kích và tiêu diệt” cũng chỉ được dùng trong ranh giới của chúng ta. Căn cứ địa của địch vẫn luôn luôn là hậu cứ an toàn. Địch đã dùng các nước lân bang như Lào và Campuchia để làm trạm giao liên, căn cứ tiếp liệu và trung tâm dưỡng quân của họ.

Những tuớng lãnh của địch đã áp dụng một kế hoạch hành động là luôn luôn chủ động mở cuộc tấn công. Khi quân mạnh thì họ tấn công, khi họ suy yếu hay mệt mỏi thì họ rút lui về hậu cần để nghỉ ngơi, để an dưỡng và tái phối trí.

Bên phía chúng ta, dân chúng Mỹ đã chờ đợi quá lâu mà không thấy ánh sáng cuối đường hầm, họ đã mất kiên nhẫn. Họ đòi hỏi phải có chiến thắng huy hoàng, một điều không thể nào thực hiện được trong tư thế hoàn toàn bị động của chúng ta. Tinh thần quân lính xuống thấp vì họ bị buộc phải chiến đấu với đôi tay bị trói sau lưng. Mặc dù sự thật là địch đã bị đánh bại và tổn thất nặng nề, cuộc tấn công Tết Mậu Thân 1968 đã là một chiến thắng vẻ vang cho phe địch. Dù thua trên trận địa chiến, họ đã thành công trong việc chia rẽ chính quyền và quần chúng Hoa Kỳ, một yếu tố quan trọng trong chiến lược và đem lại khích động tối đa cho các phong trào phản chiến.

Tòa Bạch Ốc và Ngũ Giác Đài đã trực tiếp điều khiển cuộc chiến qua hàng ngàn dặm đường, đã chỉ thị những chính sách mâu thuẫn với những quyết định không ngừng đưa đến sự lúng túng của các đơn vị trưởng ngoài mặt trận. Việc ra lệnh trải bom B-52 của Tổng Thống Nixon lúc gần cuối cuộc chiến đã quá trễ và quá ít. Điều này chỉ dùng vào một mục đích duy nhất là ép buộc cộng sản phải ngồi vào bàn hội nghị tại Paris để Hoa Kỳ có thể sửa soạn một cuộc rút quân khỏi Việt Nam trong danh dự. Sau vụ Watergate, Hoa Kỳ như con thuyền không lái. Việt Nam đã bị bỏ rơi, trôi theo dòng định mệnh. Sự rã ngũ của Tháng Tư năm 1975 là một kết thúc không thể tránh đuợc. Điều chúng ta tiếc nuối nhất là nó đã kết thúc trong nhục nhã và bi đát.

Thưa các bạn,

Các sỹ quan QK5, Vùng 3 Hải Quân và Không quân tham quan, trao đổi kinh nghiệm với các đồng nghiệp Mỹ trên tàu USS George Washington. Ảnh: nhận được từ thân hữu ĐCV

Tham nhũng và khả năng chiến đấu của quân đội Nam Việt Nam là một trong những lý do được lý giải đưa đến sự thất trận. Dĩ nhiên là có sự tham nhũng ở Việt Nam. Nhưng xin các bạn hãy nêu lên tên của một quốc gia nào mà không có tham nhũng, kể cả những quốc gia dân chủ và xã hội tân tiến nhất. Vẫn biết rằng vì chiến tranh và nghèo đói, mức độ tham nhũng ở Nam Việt Nam có cao hơn mức độ trung bình của quốc tế, nhưng hãy cho phép tôi mở một dấu ngoặc ở đây để thông báo rằng cũng từ ngày làm chủ lãnh thổ Việt Nam thì cộng sản đã tự biểu lộ cho thấy họ cũng hăng hái trong trò chơi tham nhũng này. Ý chí chiến đấu của quân đội Nam Việt nếu các bạn nhìn vào đời binh nghiệp của tôi như một điển hình, các bạn sẽ thấy rằng những chiến công của tôi cũng không thua gì những quân nhân của các nước khác. Phải nói rằng đa số chiến hữu của tôi đều có một tinh thần chiến đấu cũng cao như tôi. Hãy nhìn vào con số thống kê các quân nhân tử trận, những người lính chiến đấu đã hy sinh trong suốt 25 năm chiến tranh, các bạn phải công nhận họ là những người xuất chúng nhất của chúng ta. Rất tiếc là họ đã không được dùng và được yểm trợ đúng mức, và họ đã bị bỏ rơi một cách nhục nhã.

Một vài nhà trí thức tự do thường chỉ trích chế độ Nam Việt là một chế độ độc tài quân phiệt. Thế kỷ vừa qua là một thế kỷ của quyền lực thực sự cai trị. Tất cả sự khác biệt về chủ thuyết và kinh tế  đều được giải quyết bằng vũ lực. Sức mạnh của quân đội là một điều cần thiết cho việc bảo vệ chủ quyền, tự do, độc lập của một quốc gia. Ngoại trừ những nước tiên tiến đã có một quá trình dân chủ lâu dài, một đời sống hòa bình và thịnh vuợng, tất cả những nước nghèo đói, lạc hậu, bị chiến tranh tàn phá của Thế Giới Thứ Ba đều sống dưới một chế độ ảnh hưởng bởi quân đội cả.

Nam Việt Nam cũng không đi ra ngoài biệt lệ đó. Muốn Việt Nam vừa chống chiến tranh xâm luợc vừa xây dựng Dân Chủ là một điều không thực tế. Xây dựng dân chủ ở Tây phương, Anh quốc và Hoa Kỳ cần phải tranh đấu đến hàng trăm năm. Nhưng người Việt Nam chúng tôi chỉ có thể xây dựng dân chủ sau khi hoàn tất hòa bình và độc lập. Cho dù có hoàn tất đi chăng nữa thì dân chủ cũng không thể có ngay lập tức, mà phải xây dựng từng giai đoạn một để hòa nhịp với nếp sống văn hóa, xã hội và kinh tế của mỗi nguời dân. Chỉ trích Nam Việt Nam đã không xây dựng được một chế độ dân chủ để rồi lấy đó làm cái cớ để bỏ rơi Nam Việt Nam là một sự phản bội phũ phàng đối với một đồng minh đã đặt niềm tin vào lời nói của Hoa Kỳ.

Năm 1968, khi lực lượng cộng sản chọn ngày Tết để tổng tấn công vào những thành phố chính của Miền Nam, khi mà những nguời lính Nam Việt Nam bị bao vây và bị tràn ngập, họ đã kêu gọi các lực lượng đồng minh Hoa Kỳ đến yểm trợ hỏa pháo và phi pháo, thì những người Việt Nam chúng tôi chỉ gặp phải những lời giải thích bí ẩn bảo rằng không có một phi cơ hay trọng pháo nào sẵn sàng, hoặc là đơn vị cần phải chờ lệnh của thượng cấp. Khi đó tôi có thể nhìn ra từ phía nhà tôi, và thấy rằng hàng dãy phi cơ khu trục của Hoa Kỳ nằm án binh bất động. Tại sao đồng minh chúng tôi lại không tiếp cứu chúng tôi tức khắc khi chúng tôi kêu cứu? Chỉ có một điều để giải thích cho sự việc này là, có một nhân vật cao cấp nào đó trong chính phủ của Hoa Kỳ đã can thiệp vào vụ tấn công này, muốn nó sẽ thành công đến một mức độ mà nhà cầm quyền Nam Việt phải nhượng đất cho “Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam”, một cánh tay của quân xâm lăng Bắc Việt.

Trong thời gian Hòa Đàm Paris, ông Đại Sứ Mỹ Averell Harriman đã nhấn mạnh rằng “Mặt Trận Giải Phóng” phải được ngồi ngang hàng với Nam và Bắc Việt Nam. Ông ta đã từ chối không nghe lời phản đối của chính quyền chúng tôi.

Thưa các bạn,

Khuôn mẫu của Hoa Kỳ là tự do, cơ hội học vấn và kinh tế tài chính, là lối sống, là sự giàu sang và hoàn mỹ của một quốc gia và dân tộc đã đưa đến sự ganh tị trong các nước văn minh. Ngày nay, ở Việt Nam, con cháu của những người đã một thời chống Mỹ cách đây hai thập niên, tất cả đều yêu chuộng mọi điều thuộc Mỹ quốc. Cách đây vài năm, hàng ngàn cựu chiến binh Hoa Kỳ đã viếng thăm Việt Nam, đã được quần chúng đón chào và ngưỡng mộ. Khi Tổng thống Bill Clinton viếng thăm Việt Nam cách đây hai năm, mọi nguời dân từ Nam chí Bắc đều chen chúc nhau để được nhìn thấy ông. Bởi vì cho dù những nhà lãnh đạo ở Việt Nam có tuyên bố gì trong quá khứ đi chăng nữa thì đại đa số nguời dân Việt Nam (hiện giờ là 83 triệu) đều theo Mỹ cả. Hoa Kỳ tượng trưng cho một đời sống tốt đẹp hơn, cơ hội và hy vọng. Điều mà tất cả những nguời lính Hoa Kỳ và Nam Việt Nam trước kia đã chiến đấu để mang lại cho đất nước chúng tôi. Sự niềm nở đón tiếp ông Clinton hay những người Mỹ khác cũng vậy, là một bằng chứng cụ thể rằng những người chiến đấu cho dân chủ và tự do đã đứng ở phía chính danh.

Vì thế tôi muốn nói hôm nay với những cựu chiến binh Việt Nam, Hoa Kỳ, Úc, Tân Tây Lan, Thái, Nam Hàn và tất cả những người đã ủng hộ cho cuộc chiến vì tự do của chúng tôi, chúng ta không có gì để mà xấu hổ. Với ba mươi năm dưới sự cai trị tồi tệ của Đảng Cộng Sản đã chứng tỏ là chúng ta chống chế độ cộng sản là đúng. Do đó, chúng ta hãy bỏ qua mặc cảm tội lỗi, cái gọi là “Hội Chứng Chiến Tranh Việt Nam” và tự hãnh diện về chúng ta và những cố gắng của chúng ta. Thế giới đã thay đổi rất nhiều trong thập niên vừa qua. Những nước theo cộng sản ở Đông Âu đã từ bỏ chủ thuyết Mác-Lê và du nhập những nguyên tắc kinh tế thị trường vào kinh tế của quốc gia mình.

Tập đoàn cộng sản lãnh đạo ở Việt Nam đã qui tiên rồi:  “Hồ Chí Minh đã mất, Phạm văn Đồng đã đi, Trường Chinh, Lê Duẩn, Võ Chí Công đã mất. Ngay cả những nhà lãnh đạo cuộc chiến chống họ như ông Richard Nixon và ông Lyndon Johnson đều đã mất. Những nhà lãnh đạo Miền Nam như ông Ngô Ðình Diệm đã qua đời. Ông Nguyễn văn Thiệu đã chết. Ông Dương văn Minh cũng đã chết. Riêng chỉ còn mình tôi. Tôi là người cuối cùng. Và tôi muốn nói rằng đây là lúc mà thế hệ của tôi gọi là “nguời Việt chống Cộng” hãy bỏ quên đau buồn và thù hận để nhường buớc cho thế hệ trẻ hơn, những con em của chúng ta, có cơ hội mang người Việt Nam xích lại với nhau. Đây là thời điểm mà thế hệ của tôi nên chấm dứt kêu gọi hận thù.

Giống như hầu hết những người Việt chống Cộng khác, tôi là một chiến sĩ. Tôi chiến đấu hết mình và tôi rất hãnh diện về những điều mà tôi đã hoàn thành trong thời chiến. Tôi rất thương tiếc những đồng đội can đảm của tôi đã chết cho chính nghĩa tự do. Và tôi cũng thấu hiểu những anh chị em đã chịu đựng sự đau khổ dưới chế độ cộng sản. Tôi hiểu rằng họ đã chịu đựng nỗi khổ đau của cái gọi là trại tù cải tạo, rằng họ đã mất đi người thân, mất đi tự do cá nhân, mất đi cả nhà cửa và tài sản.  Điều này thật bất công và đau đớn. Nhưng quá khứ đã qua. Chúng ta giờ đã quá già, tương lai Việt Nam không còn trông cậy vào chúng ta nữa. Hãy để cho thế hệ trẻ tự tìm ra hướng đi về tương lai mà không phải mang gánh nặng tạo ra bởi cha ông chúng. Đây là thời điểm để cho thế hệ chúng ta ngưng rao giảng sự thù hận và cay đắng. Có lợi gì để tranh cãi ai đúng, ai sai?

Do đó hôm nay tôi muốn nói, chúng ta, những người đã già, hãy bỏ qua một bên những sự thù hận. Nếu chúng ta không thể tha thứ thì chúng ta hãy quên đi. Chúng ta hãy để cho một thế hệ mới tự đi tìm con đường của họ, bởi vì Việt Nam sẽ chỉ phát triển khi có sự đoàn kết. Việt Nam đã đến lúc cần phải có những quyết định dứt khoát. Trung Hoa dường như muốn biến đất nước chúng ta thành một thuộc địa về kinh tế, một nguồn cung cấp tài nguyên, một thị truờng cho các hàng tiêu thụ. Việt Nam sẽ phải quay sang Trung Hoa vì đó là nguồn gốc của đa số di sản văn hóa hay là thiết lập một bang giao bền vững với Hoa Kỳ dựa trên mô thức của sự tương kính và hỗ tương quyền lợi kinh tế mà vẫn giữ được độc lập? Điều mà những thường dân mong muốn rất rõ ràng qua sự đón chào thân thiện với du khách Mỹ. Bây giờ mọi nguời đã biết là nguời Cộng Sản Việt Nam đã chết.

Đồng bào chúng tôi muốn bắt chước như Nam Hàn, Singapore, Đài Loan và Hồng kông. Họ muốn biến Việt Nam thành một tiểu long th̗ứ năm. Điều đó không phải dễ. Việt Nam phần lớn vẫn là một quốc gia nông nghiệp, vẫn cần sự giúp đỡ phát triển hiện đại hóa cơ sở hạ tầng. Vấn đề tham nhũng vẫn tồn tại, mặc dầu cuối cùng thì chính quyền Hà Nội cũng đã nhận thức đuợc điều gì phải làm để thanh lọc và giảm thiểu tham nhũng đến mức bình thường được quốc tế chấp nhận. Tôi tin tưởng rằng sự thay đổi của nền kinh tế và cơ chế của Việt Nam đã bắt đầu.

Sự hồi sinh kinh tế Việt Nam đã bắt đầu để có thể khuyến khích những người tị nạn trở về. Hơn ba triệu người trong chúng ta, hai phần ba ở Bắc Mỹ. Nếu so sánh với một người Việt Nam trung bình ở quê nhà thì chúng ta có kiến thức và nhiều khả năng chuyên môn hơn. Có nguời cho rằng giới trẻ sinh ra ở đây hay đã rời xa quê hương lúc còn nhỏ sẽ không muốn từ bỏ nếp sống thoải mái ở Mỹ, Gia Nã Đại, Pháp hay Úc. Nhưng tôi tin rằng có rất nhiều bạn trẻ mong muốn giúp nuớc nhà phát triển. Bao năm qua, tôi đã đi tới nhiều nơi trên đất Mỹ, gặp gỡ và thăm hỏi nhiều bạn trẻ, đã cho họ biết rằng họ là rường cột của tương lai Việt Nam, rằng đất nuớc cần đến khối óc và bàn tay của họ. Và tôi cũng vui mừng thông báo cùng các bạn là trong số những nguời trẻ mà tôi có dịp nói chuyện, nhiều người cũng có lòng yêu nuớc không kém ước vọng cá nhân, họ sẽ trở về quê nhà khi thấy có cơ hội để áp dụng sở trường của họ.

Những nguời Hoa Kỳ đến Việt Nam để tìm môi trường buôn bán sẽ nhận thấy một tình thế khác hẳn thời gian những quân lính đến vì chiến tranh. Họ sẽ không còn là những “Anh Hai” đến để giúp chiến đấu. Họ sẽ là những cổ phần viên, những nhà thầu. Nhưng để xây dựng cây cầu nối lại những hiểu lầm không thể tránh được giữa Đông và Tây sẽ là những người trẻ Việt Nam sinh trưởng hay theo Đại Học tại Hoa Kỳ. Trong vòng mười, mười lăm năm nữa, hầu hết những công ty thương mại thành công sẽ được quản trị bởi những người có kiến thức và tư duy theo kiểu Mỹ.

Tôi rất lạc quan về thế hệ lãnh đạo Việt Nam kế tiếp. Bây giờ thì Hiệp Uớc Thương Mại đã được phê chuẩn. Sự giao thiệp giữa hai quốc gia đã gia tăng. Những viên chức của Đảng Cộng Sản đã viếng thăm Mỹ quốc, tiếp xúc với nhiều người Mỹ, tôi tin tưởng rằng họ sẽ sớm thay đổi những điều luật kinh tế đã hạn chế Việt Nam mấy chục năm nay. Vì thể chế chính trị được xây dựng trên nền tảng luật lệ kinh tế, thay đổi luật lệ chính trị sẽ theo sau, việc quốc doanh nhường chỗ cho chủ nghĩa tư bản. Hậu quả sẽ lung lay tới mọi giai tầng xã hội, kể cả tư pháp và lập pháp. Hiện giờ đã có những chuyên gia và doanh gia hăng hái tham dự vào những quyết định hàng ngày của chính phủ. Một khi Việt Nam đã theo đường hướng tư bản, thì dân chủ và luật lệ sẽ đi theo. Chủ nghĩa Cộng sản Việt Nam kéo dài chưa đầy năm mươi năm, nhưng khi chúng ta nhìn lại Việt Nam với bốn ngàn năm văn hiến thì sẽ thấy năm mươi năm chỉ là một nháy mắt. Tuy tôi không còn là một thanh niên, nhưng sức khỏe vẫn còn tráng kiện, hy vọng sẽ sống thêm nhiều năm nữa. Tôi muốn sống để nhìn thấy một nước Việt Nam tái sinh. Xin tất cả cá bạn giúp một bàn tay để điều này thành sự thật.

Thưa các bạn,

Để kết luận, cho phép tôi được nói là tôi rất sung sướng được hiện diện ở đây. Tôi sinh ra và lớn lên trong chiến tranh. Tôi đã chiến đấu bên cạnh các chiến binh Hoa Kỳ và đã cùng đổ mồ hôi, máu và nuớc mắt với nhau. Tôi lấy làm vinh dự được chia sẻ những nỗi vui, buồn của những nhà lãnh đạo đáng kính của quí quốc. Trong suốt hai mươi bảy năm sống đời tị nạn, tôi đã từng làm việc mười bốn tiếng một ngày trong một tiệm rượu, và tôi cũng đã từng là một ngư phủ sống trên biển hàng tuần để câu tôm cá. Tôi đã thấy các con tôi trưởng thành và tự lập và tôi cũng đã qua bao thăng trầm của cuộc sống. Điều an ủi lớn nhất trong đời tôi là lần đầu tiên ở nơi đất khách, dù trong hoàn cảnh nào, tôi luôn luôn được người Mỹ đón tiếp nồng nàn. Nước Mỹ đã cưu mang tôi và gia đình tôi trong suốt hai mươi bảy năm yên lành trên một đất nước thịnh vượng và hoàn mỹ nhất thế giới. Hoa Kỳ là quê hương thứ hai của tôi. Tuy nhiên, tôi quyết định một ngày không xa, tôi sẽ trở về chôn nhau cắt rốn, được sống và chết nơi quê nhà. Xin cảm ơn lòng tốt và bao dung của các bạn và nhân dân Hoa Kỳ. Thay mặt tất cả những người Việt Nam, tôi xin đa tạ 58 ngàn người Mỹ đã hy sinh bỏ mình cho tự do của dân tộc tôi. Tôi cũng xin tỏ lòng biết ơn hàng triệu người đã quên thân mình cho dân tộc tôi, những người đã gác bỏ ước vọng riêng tư để giúp đỡ những người khốn cùng mà không mong được trả ơn. Cảm ơn lòng can đảm, lòng vị tha và bao hy sinh đau đớn của các bạn.

Năm nay tôi đã 72 tuổi (năm 2003), một người lính già. Và như Douglas McAthur, một trong những danh tuớng của các bạn đã nói: “Người lính già không bao giờ chết, họ sẽ dần dần mờ nhạt đi thôi”. Trong những năm tháng còn lại, người lính già này luôn hướng về Việt Nam, quê cha đất tổ. Tôi xin dâng hiến phần đời còn lại để phụng sự cho quê mẹ và cho dân tộc tôi mà không có một tham vọng nào và không đòi hỏi một sự báo đáp nào. Tôi kêu gọi các bạn, nhất là các chiến hữu Hoa Kỳ của tôi, hãy giúp sức xây dựng một nhịp cầu thân hữu nối lại giữa hai quốc gia. Sự yêu thương hay thù hận hãy quên đi. Thù hận phải được thay thế bằng tình hữu nghị giữa hai dân tộc. Cám ơn sự theo dõi của các bạn. Và bây giờ tôi xin trả lời các câu hỏi.

Người dịch:  Nguyễn Lệ Hà

Speech by Gen Nguyen Cao Ky, 13 Jun 2003

Students, faculty, administrators and staff, I thank you for this opportunity to share a few thoughts. I am particularly indebted to President Martha Kanter and to Dean John Swensson for your kind invitation to speak today.
Twenty-seven years ago last April, after 20 years of heroic resistance, South Vietnam fell to the enemy. Much has happened since. Many of you were not yet born-but those who still recall that dark day, those to whom over the years time has added lines to your faces and gray to your heads, who served through those difficult times with honor-you have not lost the dedication to liberty inspired by your high ideals. You have matured, and the sacrifices and passions of your youth have given way to the rewards and responsibilities that accompany your positions of esteem in American society. As for me, as you can see, I am no longer wearing my purple scarf, my flight suit, my six-shooter. I have put them all away at the bottom of my trunk, memorabilia of a time past.
If the war has faded into history, democracy’s defeat in Vietnam has left deep marks in the consciousness of both nations. The questions asked since 1975 have yet to bring satisfactory answers. How could an alliance of the 25 million people and armed forces of South Vietnam with the colossal American political, economic and military apparatus, along with the forces of other allied nations, have been defeated by the small, impoverished people and army of North Vietnam?
Today I will offer my own answers to those questions.

LADIES AND GENTLEMEN:

American history books postulate that the war was lost because it lacked legitimacy, because of corruption in the government and armed forces of South Vietnam, because of the cowardliness of South Vietnamese troops, because America abandoned South Vietnam, and so forth. None of these, however, is accepted as definitive.
I say to you now: We lost the war for two reasons: Because of the ill-conceived, unequal, and often condescending relationship between the United States and South Vietnam.
And because our overall strategy was defensive war, a strategy that by itself would have led to failure and eventual defeat.
And how did this happen, exactly? As someone born and raised during that war, one who participated in and led it, who has witnessed and shared in the sufferings of his country and of his people, I will attempt to present as objectively as I can the facts and observations that lead me to such a bold statement. Tonight, as difficult as it may be to face them, you will hear facts that you have not heard before, and I trust you will share my conclusions.
LADIES AND GENTLEMEN:

After the 1954 Geneva international conference, Vietnam was divided into two parts. On paper, North and South Vietnam were twin countries born at the same moment. Compared to the sophisticated North, however, the government of South Vietnam was a very young and innocent sibling. To explain: Many years prior to the partition, through participation in a series of international conferences, and by pursuing a guerrilla war against a European power, the Hanoi leadership had demonstrated that they were a formidable political reality.

Through leadership of the fight against French colonialism, Ho Chi Minh had made a name for himself in the international political arena. The Hanoi government took power with a record of resistance against the colonialists and of struggle for national independence.
Claiming to be the liberators of the people, the North Vietnamese enjoyed from the beginning the admiration and sympathy of the majority of the Third World’s non-aligned nations, which suffers from “oppressed peoples’ complex” and are naturally against such mighty and wealthy countries as France and the United States.

Furthermore, the North Vietnamese had the full support of the two communist superpowers-the Soviet Union and Communist China-and this gave them absolute confidence in their final victory.
I would like to dwell a little on that support. We all know that without the massive assistance of the communist superpowers, North Vietnam could not have prolonged its war of invasion for so many years. But the Soviet Union and Communist China were very quiet about their aid. Indeed, during the entire war, no Soviet or Chinese official made any statement that sounded like instructions or smacked of interference in the internal affairs of North Vietnam. Quite the contrary.  North Vietnamese leaders were always pushed into the international limelight, presented as nationalists, as patriots, as fighters in a noble cause, seeking to overthrow colonialists and imperialists, and to liberate the oppressed people of Vietnam.
When they were later revealed as Marxist-Leninists, the Hanoi regime lost some sympathy around the world, but continued to benefit from lingering admiration. If they no longer had a just cause-the expulsion of a colonial power-they maintained the appearance of legitimacy because they had no significant political opposition. They had none, because they had taken great pains to eliminate it.
In the South, however, things were very different. South Vietnam had to be built from scratch and, from the very beginning, depended far too much on the Western superpowers. As in the case of a person on public welfare, this dependency, which became greater with each day, was quite difficult to shake.
During the Fifties, political and military activities in Vietnam were heavily influenced by the French, who as recent colonial masters, made all-important decisions. The French installed as the first head of state Bao Dai, last emperor of the Nguyen dynasty that ruled  Vietnam when it was under French domination. All the men selected to assist Bao Dai had a past that was closely linked with the French colonial era. They had no support among those they governed.
Only with the advent of Mr. Ngo Dinh Diem did South Vietnam have a worthy regime and a dignified leadership. It is regrettable that within a few short years, as power corrupts, the South Vietnamese regime deteriorated into a family dictatorship. But it was no match for the dictatorship of the communist party in the North. At a time when the French influence was fading and when the American presence was directly affecting even day-to-day decisions in South Vietnam, a stubborn radical nationalist like Mr. Diem was bound to be overthrown.
LADIES AND GENTLEMEN:

The relationship between the US and South Vietnam never appeared to be a partnership between equals. Instead, our struggle for freedom and independence became “Mr. Johnson’s War.”
From its inception, South Vietnam was only considered to be an outpost in the war against communism. Our fight for freedom was a noble undertaking, but we committed a major political blunder because we did not give top priority to explaining to the American and Vietnamese people that this was not a civil war between the government and rebels in South Vietnam, but a blatant invasion of the country of South Vietnam by another country, a country called North Vietnam.
By the mid-sixties, the United States had poured more than half a million troops into South Vietnam.  Tens of billions of dollars had been spent for military expenditures and economic assistance, and even larger sums were earmarked. The American presence was felt in every field activity, at every level of government. Even the top leaders of South Vietnam, including the President, were each assigned a special advisor. The American presence and influence were strikingly blatant. So much so that the Vietnamese man in the street referred to the US Ambassador as the Governor General, as the French had called their top colonial official.

The influence of the American media and politicians was even more devastating. Always emphasizing the role of the Americans in Vietnam, they transformed the Vietnam war into a conflict between the United States and North Vietnam, relegating the people, the government and the armed forces of South Vietnam to a subordinate role. This situation was further misrepresented by the propaganda machine of international communists. The government of South Vietnam thus became, in the eyes of the peoples of Vietnam and of the world, a puppet regime serving the interests of American imperialists.
Consequently, although our cause was just, we never acquired the appearance of legitimacy necessary to win the hearts and minds of the people, an essential ingredient of victory.
LADIES AND GENTLEMEN:

We all know that in war the political and military factors have to complement each other.  This was particularly true in Vietnam. We were not only politically at a disadvantage, but we also committed a basic blunder in military strategy when we chose to fight a limited and defensive war.
The might of the US Air Force and US Navy was not used in lightning attacks to  force the enemy to his knees, as it was in Afghanistan and in the Gulf War. America did not unleash its vaunted Strategic Air Force or its massive Seventh Fleet to destroy enemy bases, to interdict their lines of supply on land and sea, to blockade enemy ports.
By fighting a limited, defensive war, America permitted the enemy to endlessly re-supply their field armies. American politicians were afraid that the Chinese might intervene and create another Korean war.  The US was and is the world’s leading naval power, but, fearing to offend the Soviets, failed to blockade Haiphong.  A river of munitions flowed through that port to be used against South Vietnam and its allies.
Long before America decided to quit the war, I realized that this would be the inevitable result of America’s lack of commitment to victory. I offered to lead a South Vietnamese attack on North Vietnam, which was defended by a single division of regular troops. All I required from the US was air support, and that US troops already in my country would defend population centers. My purpose was not to conquer, but to force Hanoi to withdraw its divisions from the South in order to defend the North, and thus to bring about genuine peace negotiations.
You and I may not be brilliant strategists, but we should all know that the best defense is a good offense. Moreover, even our defense was passive. So-called “Search and Destroy” operations were kept within our borders. Enemy territory was always a safe rear base. The enemy also used neighboring Laos and Cambodia to establish lines of communication, supply bases, recuperation centers for their troops. The enemy general staff had adopted a plan of action calling on them to always take the initiative. When their troops are strong, they would attack, but when they were tired and weak they would withdraw to their rear bases to rest, recuperate and regroup.
On our side, because the American people had waited too long without seeing the light at the end of the tunnel, they became impatient. They demanded glorious military victories, an impossible achievement in view of our totally defensive posture. Troop morale plunged because they were asked to fight with their hands tied behind their backs. In spite of the fact that they were beaten back and suffered great losses, the Tet offensive of 1968 was a major enemy victory.  Even though they lost on the battlefield, they accomplished an essential strategic objective by breaking the resolve of the U.S. government and American people, and giving maximum impetus to the anti-war movements.
The White House and the Pentagon directly conducted the war from thousands of miles away, issuing contradicting policies with ever- changing directives that created confusion in commanders at the front. The B-52 carpet bombings ordered by President Nixon toward the end came too late and were too short-lived. They served only to pressure the Communists to come to the Paris peace talks so that America could prepare for an honorable withdrawal from Vietnam.   After Watergate, America was a ship without a rudder. Vietnam was left to its own devices, drifting along towards its fate. The disintegration of April 1975 was an unavoidable conclusion. Our only regret and sorrow was that that ending was shameful and tragic.

LADIES AND GENTLEMEN:

Among the reasons apologies have advanced to explain the defeat was the corruption and the fighting capability of the troops in South Vietnam. Of course there was corruption in Vietnam. But please name one country, including the most democratic and the most advanced societies, where there is no corruption to take its toll. I recognize, however, that due to the war and poverty, the degree of corruption in South Vietnam was somewhat above the international average.  But allow me to open a parenthesis here and report that, since taking over the control of all Vietnam, the Communists have shown themselves quite adept at the game of corruption.
Concerning the will to fight of the South Vietnamese troops, if you take my military career as typical for most of the fighting men of South Vietnam, you will find that my achievements will compare favorably to those of any other military man in any other country.   I must say that the majority of my comrades-in-arms have the same spirit and the same fighting capability as I do. Look at the number of our soldiers killed in action. Consider the privations and the sacrifices of these South Vietnamese fighting men during 25 years of war, and you will have to recognize that they were our best and brightest. It’s too bad that they were not used and supported adequately, and that they were shamelessly abandoned.
LADIES AND GENTLEMEN:

Some liberal intellectuals used to criticize the South Vietnamese regime as a military dictatorship. The century just past is one in which sheer force always ruled. Every economic or doctrinal difference had to be resolved by force. Military strength is necessary to protect sovereignty, the freedom and independence of a country. With the exception of those advanced countries that had a long democratic tradition and were lucky to live in peace and prosperity, all the poor, backward, war-torn countries of the Third World lived under the direct influence of the army.
South Vietnam was no exception. To insist that Vietnam fight a war while at the same time building democracy was impractical. Building democracy in the West, in England and then in the United States, took centuries of struggle. We Vietnamese could only begin to build democracy after achieving peace and independence. And even then, democracy could not be achieved overnight, but must be built in stages and in harmony with the cultural, social and economic traditions of each people. To accuse South Vietnam of not establishing a democratic regime and to use that as an excuse for abandoning South Vietnam was a blatant betrayal of a trusting ally that had put all his faith in the word of America.
In 1968, when the communist forces chose the Lunar New Year, known as Tet, to launch a coordinated attack against major South Vietnamese cities, beleaguered and outnumbered South Vietnamese defenders called upon neighboring US forces for fire support, for air support, for troop support. We Vietnamese were met with cryptic explanations that no aircraft or artillery were available, or that the unit had to wait for instructions from high headquarters. I could look out of my house at this time and see rows of US fighter-bombers parked in revetments. Why did our allies not come to our aid immediately? There can be only one explanation, and that is that someone, high in the US Government, anticipated this attack, and wanted it to succeed to the degree where South Vietnam would have to cede territory to the NLF, which, as history has shown, was merely an arm of the North Vietnamese invasion force.
Nevertheless, during the Paris Peace Talks US Ambassador Averill Harriman insisted that the NLF be seated at the negotiating table as an equal to South Vietnam and North Vietnam. He refused to listen to my government’s pleas.
LADIES AND GENTLEMEN:

The idea of America – its freedom, its financial and educational opportunities, the lifestyle, wealth and beauty of the country and its people, remains the envy of the civilized world. In Vietnam today the sons and daughters of those who fought against American soldiers for two decades love everything American. Over the last few years, tens of thousands of American veterans have visited Vietnam and encountered a populace that welcomes and admires them.

When President Bill Clinton visited Vietnam two years ago, Vietnamese from Hanoi in the north to Saigon in the south turned out in droves, eager for even a glimpse of him. Because whatever Vietnam’s leadership may have said in the past, the great masses of Vietnamese people, now numbering 83 million, are for America. The US represents a better life, opportunity, hope – everything that American and South Vietnamese soldiers fought to bring to our country so many years ago. The tremendous outpouring of affection for Mr. Clinton, no less than for all Americans, is proof that those who fought for freedom and democracy were on the right side.
Therefore I say today that the veterans of that lost war, Vietnamese and Americans, Australians and New Zealanders, Thais and South Koreans and all the others who supported our fight for freedom – we have no cause for shame. Thirty years of misrule prove conclusively that we who opposed the Communist regime were right!
So, let us each now put aside our feelings of guilt, the so-called “Vietnam War Syndrome,” and be proud of ourselves and our efforts.
The world has changed a lot in the last dozen years. The formerly Communist nations of Eastern Europe have renounced Marxist dogma and adopted free market principles in their national economies.  And the communist cadres who ran Vietnam for decades now sleep with their ancestors.  Ho Chi Minh is gone. Pham Van Dong is gone. Truong Chinh, Le Duan, Vo Chi Cong – all dead.
And so are the American leaders who fought them: Mr. Richard Nixon and Mr. Lyndon Johnson – both gone.   Of the leaders of the South, Ngo Dinh Diem is gone. Nguyen Van Thieu passed from this world. Duong Van Minh is gone.

Only I remain. I am the last.
And I say that it is now time for the so-called anti-Communist Vietnamese, my generation, to let go of our pain and anger, to allow the younger generation, our sons and daughters, to have their chance to bring Vietnam together. It is time for my generation to stop preaching hate and bitterness.
Like most of the old Anti-Communists, I am a fighter. I fought hard, and I take pride in what I was able to accomplish during the war.

I still mourn my brave comrades who died fighting for freedom. And so I understand how my brothers and sisters suffered under Communism. I know that they endured the agonies of the so-called re-education camps, that they lost loved ones, lost their personal liberty, lost their homes and property.  It was unjust. It was humiliating. It was painful.
But our time has passed. We are now too old; the future of Vietnam no longer depends on us. It is only right that the new generation find their path to the future without having to carry the heavy burdens created by their parents. So it is time for my generation to stop preaching hate and bitterness. What is the point in arguing now about who was right and who was wrong?
So I say today, let us older people put aside our own feelings of pain and anger. If we cannot forgive, then let us forget.  Let us allow the new generation to find its own way, because Vietnam will realize its potential only through unity.
Vietnam now approaches a crossroads. China seems to want to turn my country into an economic colony, a source of raw materials, a market for its manufactured goods. Should Vietnam turn toward China, source of much of its cultural heritage, or, by establishing an enduring partnership with America based on a new paradigm of mutual respect and shared interests, remain independent?
What most ordinary Vietnamese want is very clear from the friendly reception given to visiting Americans.
Now everyone knows that Vietnamese Communism is dead. The business of Vietnam is now business. My countrymen want to emulate South Korea and Singapore, Taiwan and Hong Kong. They want to turn Vietnam into the fifth Small Dragon.
This is not an easy task. Vietnam remains a largely agrarian nation that still needs to develop a modern infrastructure. The problem of corruption remains, though it appears that at long last the Hanoi government realizes what must be done to clean its house and reduces corruption to internationally accepted norms. I am confident that the transformation of Vietnam’s economy and institutions have already begun.

Vietnam’s economic rebirth has already begun to encourage many exiles to return. There are more than three million of us, two-thirds in North America, and compared to the average Vietnamese we are better educated and have superior skills.
While some worry that the younger generation, those born in exile or who left Vietnam as small children, may not want to give up comparatively easy lives in the US, Canada, France and Australia, I believe that many will want to help develop the land of their fathers. I have crisscrossed America for years, meeting and spending time with this younger generation, telling them that they are important to the future of Vietnam, that the country needs their brains and their hard work. And I am happy to report that among those with whom I have spoken, many young Vietnamese, motivated by patriotism no less than personal ambition, will return to their homeland when they see ways to employ their skills.

Americans who come to Vietnam to pursue business opportunities will find a much different situation than the soldiers who came during the war. They will not be big brothers come to help fight. They will be partners, contractors. Helping to bridge the inevitable misunderstandings between East and West will be the generation of Vietnamese born or educated in America.  In ten or fifteen years, most successful Vietnamese enterprises will be run by those who have learned American techniques and American thinking.
I am optimistic about the next generation of Vietnamese leaders. Now that the trade agreement is ratified, there has been a sharp increase in contacts between the two countries.  As Communist Party officials see more of America and meet more Americans,  I am confident that they will see the wisdom of moving Vietnam toward the West. I believe that they will soon change the economic rules that have limited Vietnam for decades.
Because political systems are built on a foundation of economic rules, changes in political rule will follow as state ownership gives way to private capitalism. The effects will ripple through every corner of society, including the courts and the legislature. Already, bright technocrats and entrepreneurs have begun to make the day-to-day decisions of government and business. Once Vietnam embraces capitalism, democracy and the rule of law will follow.
Communism in Vietnam lasted less than 50 years. When you consider that Vietnamese culture is thousands of years old, that half-century is really not much more than a temporary pause, the blink of an eye. If I am no longer a young man, my health is good and I expect to live many more years. And so I believe that with the help of America, I will live to see Vietnam reinvent itself.  I invite you to all to find ways to make that possible.

LADIES AND GENTLEMEN:

In conclusion, allow me to say that I am very happy to be here meeting with you. I was born and grew up during war. I have fought alongside American fighting men and women, and together with them I have shed blood, sweat and tears. I have been privileged to share many joys and sorrows with the remarkable men who were the leaders of your country. During my 27 years living in exile, I have worked years of 14-hour days in a liquor store, and I have been a fisherman who spent weeks at a time on the open sea to catch fish and shrimp. I have watched my children grow up and start their own families, and I have experienced enough ups and downs to last a lifetime.
My biggest consolation is that in what were at first alien surroundings, and under any circumstance, I have always been welcomed by Americans. You have accepted me and given me and my family 27 peaceful years in the wealthiest and most beautiful country in the world. Although I am determined to someday return to my homeland, and when my time comes, to return to the soil where my ancestors sleep, I accept America as my second home. I thank each of you for the abundance of kindness and courtesy that you and your countryman have extended.
And, on behalf of all Vietnamese, I thank the 58,000 Americans who so many years ago made the ultimate sacrifice in defense of my country’s liberty. I am equally grateful to the millions of others who risked life and limb for my country, who put aside careers and personal aspirations to come to the aid of desperate people that they did not even know. Thank you for your courage, your compassion, your many painful sacrifices.

I am 72 years old now, an old soldier, and as Douglas MacArthur, one of your most celebrated generals, has said, “Old soldiers never die, they just fade away.” In his fading years, this old soldier still yearns for Vietnam, the land of his ancestors. I offer the remaining years of my life to the service of my motherland and to my people without any ambition and without asking for anything in return. I am appealing to you and especially to my American comrades-in-arms, to try and build this bridge of friendship between our two countries. This love and hate affair has to end. Hate needs to be replaced with a new deep sympathy between our two people.
Thank you for your kind attention, and I will now take a few questions.

THE END

 

Former South Vietnam leader Nguyen Cao Ky dies

Nguyen Cao Ky, the flamboyant former air force general who ruled South Vietnam with an iron fist for two years during the Vietnam War, died Saturday. He was 80.

By DAISY NGUYEN and SEAN YOONG; Associated Press
Published: 07/22/11 6:12 pm | Updated: 07/23/11
KUALA LUMPUR, Malaysia — Nguyen Cao Ky, the flamboyant former air force general who ruled South Vietnam with an iron fist for two years during the Vietnam War, died Saturday. He was 80.

Ky died at a hospital in Kuala Lumpur, Malaysia, where he was being treated for a respiratory complication, his nephew in Southern California told The Associated Press.

“He was in good health, but in the last couple of weeks he had been weak,” Peter Phan said. He said Ky split his time between his home in California and Vietnam.

One of Ky’s daughters, a prominent Vietnamese-American entertainer, told the AP in an email message that she was flying from Los Angeles to Malaysia to find out the exact cause of death.

One of his nation’s most colorful leaders, Ky served as prime minister of U.S.-backed South Vietnam in the mid- 1960s. He had been commander of South Vietnam’s air force when he assumed the post in 1965, the same year U.S. involvement in the war escalated.

He was known as a playboy partial to purple scarves, chic nightclubs and beautiful women. In power during some of the war’s most tumultuous times, he was a low-key but sometimes ruthless leader.

“It’s true that I did have absolute power when I was made premier,” he said in a 1989 Associated Press interview. “You may recall there was no congressional body in South Vietnam at that time. For more than two years, my word was the absolute law.”

From 1967 to 1971, he was vice president under his frequent rival, Gen. Nguyen Van Thieu.

When Thieu’s government in Saigon fell to North Vietnamese troops in 1975, Ky fled by piloting a helicopter to a U.S. Navy ship. He and his family eventually settled in the United States, where he led a quiet life largely away from politics. He made headlines in 2004 when he made a controversial visit back to his homeland, praising the communists, his former enemies.

Born in Son Tay province west of Hanoi in 1930, Ky grew up under French colonialist rule and became involved as a youth in the national liberation movement led by Ho Chi Minh.

He left the movement, however, when he fell ill with malaria. He eventually enlisted in the army, where he trained as a pilot and rose through the ranks during the French fight against the insurgency. He was one of the roughly 1 million who fled south following France’s defeat at Dien Bien Phu in 1954. The French withdrawal divided the country into the communist North and noncommunist South.

Ky rose steadily in South Vietnam’s fledgling air force and was chosen as prime minister by a junta of generals even though he had no political experience.

He was able to end a disruptive cycle of coups and countercoups that followed the assassination of Ngo Dinh Diem, whose repressive regime was overthrown by military generals in 1963.

But Ky proved overly optimistic about the U.S. prospects for victory.

In a New York Times interview in 1966, Ky said U.S. air strikes would “very soon” force the North to request a cease fire and said of U.S. Senate war critics: “They know nothing about Vietnam. … They just represent the minority.”

Saying he wanted to end corruption, Ky threatened to shoot merchants manipulating the country’s rice market. A businessman convicted of war profiteering was executed by a firing squad in March 1966; Ky attended the trial’s opening session.

During a Buddhist-led uprising in Da Nang that same year, Ky moved troops in and suppressed the demonstrators. He then placed the country’s leading Buddhist cleric and his most vocal critic, Thich Tri Quang, under house arrest.

In his memoir, Ky said he did not regret taking action in Da Nang despite efforts by Americans to use diplomacy. By crushing the revolt, he said, he helped prolong South Vietnam’s stability for a few more years, something he considered his biggest achievement.

“While I served as prime minister, I gave no American cause to suppose that I was their puppet,” Ky wrote in his 2002 book “Buddha’s Child: My Fight to Save Vietnam.”

But when it came time for the country’s presidential election in 1967, Ky yielded power to his longtime rival, Thieu, who at the time held the ceremonial post of chief of state. Ky served as Thieu’s vice president until 1971, when he was briefly a rival candidate to Thieu’s re-election as president.

He went on to watch Thieu preside over the fall of Saigon. Thieu was forced to step down as North Vietnamese troops closed in. He eventually left the country and died in Boston in 2001 at age 78.

“My biggest mistake was allowing the wrong man the opportunity to lead a guaranty of defeat,” Ky said in his book. “For this I beg forgiveness of those who fled into exile, of those who remained, and from those then unborn.”

Author Neil Sheehan, who won a Pulitzer Prize for his book on Vietnam, “A Bright Shining Lie,” told the AP in 1989 that Ky and Thieu were “corrupt Young Turks” who rose to power as U.S. involvement dramatically increased.

Ky flatly denied the characterization, saying, “If I had stolen millions of dollars I could live like a king in this country, but obviously I don’t live like a king. Believe me, I was a soldier fighting for freedom, not a politician interested in power and money.”

Ky made headlines in 2004 when, after 29 years in exile, he made a homecoming trip to Vietnam, dropping his vitriolic anti-communist rhetoric and calling for peace and reconciliation.

His decision to return was angrily condemned by some Vietnamese immigrant activists, who said the visit bestowed legitimacy on a corrupt government.

“What I’m trying to do now is help my country. I only have a duty to my country,” Ky told the AP when he visited Hanoi. “I have my record. No one can say I’m not patriotic.”

Ky, who was married three times, is survived by six children and, according to his memoir, 14 grandchildren. He had five children by his first wife, a French woman. He and his second wife, a Vietnamese woman, had a daughter, Nguyen Cao Ky Duyen, a prominent Vietnamese-American entertainer. He met his third wife while living temporarily in Bangkok.

Funeral plans were pending, according to family members.

https://hoangtran204.wordpress.com/2010/08/15/bai-noi-chuy%E1%BB%87n-c%E1%BB%A7a-t%C6%B0%E1%BB%9Bng-nguy%E1%BB%85n-cao-k%E1%BB%B3-t%E1%BA%A1i-d%E1%BA%A1i-h%E1%BB%8Dc-deanza-cupertino-california/

Posted in Chien Tranh Viet Nam | Leave a Comment »

►Bút Ký Đêm Cao Miên

Posted by hoangtran204 trên 23/07/2011

Tưởng Năng Tiến

Lời thưa đầu: Cách đây đúng 13 năm (TNT viết bài này năm 2001), vào tháng 7 năm 1988, người viết theo chân một đơn vị kháng chiến quân VN đi từ Thái Lan vào Kampuchea để tìm kiếm một nguời bạn bị mất tích giữa vùng biên giới Thái-Miên.

Mới đây, vào ngày 20 tháng 7 năm 2001, kẻ bị coi như đã thất tung (có tên là V. H.) đã được một tổ chức chính trị ở hải ngoại chính thức thừa nhận là đã hy sinh, nhưng – vì hoàn cảnh – họ đã «không thể thông báo sớm hơn»! Bút ký ngắn ngủi này xin được phổ biến như một nén hương lòng (muộn màng) để gửi đến những người đã khuất.

Khi chúng tôi bước chân vào được đất Cao Miên thì trời đã ngả chiều. Tuy nắng đã nhạt nhưng trời chiều mùa hạ nơi đây vẫn còn hừng hực nóng. Sẵn với định kiến là mình sẽ đi vào một vùng đất chết, tôi hơi thoáng ngỡ ngàng khi không nhìn thấy xung quanh dấu tích của sự đổ vỡ do bom đạn. Khó mà có thể ngờ rằng, cách đây không bao lâu, mảnh đất khô cằn nắng hạn này lại là nơi giao tranh bằng chiến xa và đại pháo của nhiều đạo quân khác nhau.

Dư vị của chiến chinh chỉ còn cảm thấy được qua không khí chết chóc, và sự đe dọa rình rập trên từng tấc đất. Tôi được căn dặn nhiều lần là luôn luôn phải bước đúng vào bước chân của người đi trước vì ngoài con đường mòn đã được sử dụng ra, bất cứ lùm cây bụi cỏ nào cũng có thể là nơi ẩn mình của «mìn hộp gỗ» -một loại mìn bẫy trông nhỏ bé và xinh xắn y như hộp bút chì màu nhưng thừa sức làm nát bấy đôi chân của kẻ nào vô phước dẵm nhầm phải nó.

Vùng đất hiểm nghèo này cũng còn đuợc gọi đùa là «sân banh cộng sản». Lý do: người ta ước tính rằng cứ mỗi lần nhà cầm quyền Hà Nội xua quân tràn qua biên giới để đánh đuổi kháng chiến Cao Miên lùi vào đất Thái thì ít nhất cũng phải có vài trăm cặp giò của «cầu thủ bộ đội» phải để lại nơi đây. Đó cũng là lý do tại sao vừa bước chân vào đất Cao Miên người ta đã ngửi thấy ngay mùi tử khí.

Bất giác tôi quay nhìn về đất Thái và không dưng mà thoáng thấy ngậm ngùi. Chỉ cách nhau có một lằn ranh định mệnh nhưng đời sống dân chúng của hai nước Miên – Thái hoàn toàn khác hẳn nhau. Bên kia là những căn nhà sàn xinh xắn, và những tàn lá rậm rì xanh mát của đủ thứ loại cây ăn trái: chôm chôm, xoài, ổi, mẵng cầu, sầu riêng, măng cụt, nhãn, mít… Bao nhiêu lần đi ngang qua đó tôi đều nhớ đến một đoạn văn mà mình đã đọc đến thuộc lòng, trong tác phẩm Mùa Hè, Một Nơi Khác của chị Phan Thị Trọng Tuyến: «…vườn ngoại có xanh um những cây dừa, cây chuối, những trái quýt đường to vàng bóng láng, những trái mận trắng điểm những tia nắng hồng ngọt lịm, những mương tôm đầy tăm mặt nước…»

Không hiểu những người dân Thái đang sống ở nơi đây có ai biết được rằng mái nhà sàn đơn sơ của họ – với khoảnh sân đầy cây ăn trái, với «những mương tôm đầy tăm mặt nước…» – là hình ảnh của một thiên đường đã lỡ, hay một giấc mơ quá xa tầm tay với đối với một người Việt lưu lạc như tôi, và với tất cả dân tộc Cao Miên láng giềng không?

Cảnh nghèo nàn, tang tóc ở Cao Miên – tất nhiên – khó có thể giải thích được đơn thuần bằng lý do địa dư hay khí hậu. Điều «kỳ diệu» là cả hai đài phát thanh Hà Nội và Khmer Đỏ (nghe được rất rõ nơi đây) đều nêu ra được những lý do rất thỏa đáng về tình trạng bi thảm này, dù lập luận của họ hoàn toàn dị biệt và – đôi lúc- tương phản với nhau rõ rệt.

Theo đài phát thanh thứ nhất thì thủ phạm gây ra cảnh chiến tranh điêu tàn diệt chủng cho dân tộc Cao Miên chính là bọn khát máu Pol Pot và Ieng Sari, tay sai của bọn giặc bá quyền Trung Quốc. Còn theo đài phát thanh thứ hai thì thủ phạm gây ra một nước Cao Miên đau thương tang tóc chính là tập đoàn lãnh đạo Hà Nội, tay sai của quan thầy Liên Xô.

Thêm vào đó là những thông báo về những chiến tích quân sự «không thể nào tin nổi» của cả đôi bên, cùng với những lời lẽ chửi rủa nặng nề đến độ thô tục bẩn thỉu mà Hà Nội và Khmer Đỏ chăm chỉ và đều đặn gửi đến nhau đôi ba lần trong một ngày. Điểm tương đồng duy nhất của cả hai đài phát thanh này, hay nói đúng hơn là của cả Hà Nội và Khmer Đỏ, là họ cùng cố quên đi một sự kiện căn bản và giản dị như sau: dù hiện thân hay đội lốt dưới bất cứ hình thức nào, nơi đâu có mặt chủ nghĩa cộng sản là nơi đó hóa lầm than hay tang tóc, mà thường là cả hai. Trường hợp Kampuchia chỉ là một thí dụ điển hình.

Đơn vị được lệnh dừng chân. Mọi người ngồi dựa lưng vào ba lô nghỉ ngay tại chỗ, tay vẫn lăm lăm cầm chặt súng. Thấy dáng điệu lớ ngớ của tôi, người cán bộ chỉ huy đoàn quân quay lại nói nhỏ:
– Đây là bộ chỉ huy tiền phương của sư đoàn… thuộc lực lượng Para (Son Sann).

Tôi tròn xoe mắt nhìn. Trước mắt tôi chỉ là những túp lều tranh nho nhỏ, nằm ẩn mình dưới những bụi tre già. Ngoài cần ăng ten ngụy trang của máy truyền tin, và những công sự phòng thủ đã cũ nát ra, đây không có vẻ gì là một căn cứ quân sự cả, đừng nói chi đến cái tên gọi to lớn là bộ chỉ huy tiền phương của cả một sư đoàn.

Đọc được sự kinh ngạc qua ánh mắt của tôi, anh bạn cười hềnh hệch tiếp:
– Bên Thái đã nhiều chuyện lạ, bên Miên này còn nhiều chuyện lạ hơn. Từ từ rồi ông sẽ thấy.

Tôi gật đầu nhẹ hều bày tỏ sự đồng tình yếu ớt, với một nụ cười chắc hẳn là trông vô cùng mệt mỏi. Tôi mệt thiệt và mệt lắm. Tôi đã sống ở Mỹ gần mười năm và đến Thái Lan chưa được mười ngày. Mười năm qua tôi di chuyển bằng thang máy, bằng máy bay phản lực, bằng xe hơi với hộp số và tay lái tự động. Bỏ những tiện nghi này ra là tôi biến ngay thành một thứ ốc sên không có vỏ.

Để che dấu cái mặc cảm này, tôi luôn luôn cố giữ bộ mặt «tỉnh như ruồi» cùng với thái độ «ai tới đâu tui tới đó» và «muốn tới đâu thì tới». Hiện tại thì tôi đã «tới» Cao Miên và đây còn là vùng đất tương đối an toàn thuộc phạm vi kiểm soát của kháng chiến quân Son Sann. Không hiểu đơn vị sẽ còn đi thêm bao xa nữa? Tôi vẫn giữ lập trường «ai tới đâu tui tới đó» nhưng hình như đôi chân của tôi thì không. Chúng bắt đầu lung lay và lạng quạng… Cán bộ chỉ huy đơn vị, cùng với hai kháng chiến quân Kampuchia có nhiệm vụ dẫn đường, đi vào doanh trại bên trong. Không bao lâu anh trở ra, chỉ tay về phía những bụi cây thật rậm ở phía bên phải chúng tôi, nói lớn:

– Đêm nay ngủ tại chùa. Di chuyển liền qua bên đó. Cơm nước phải xong trước khi trời tối.

Tôi nhìn mặt trời đang xuống thật thấp, gần đụng đỉnh núi xa mờ ở phía Tây, với sự lo âu bâng quơ. Chậm lắm thì chừng hơn một giờ nữa thôi, trời sẽ tối. Khác với bóng tối đô thị mà tôi đã từng quen, đêm tối nơi đây chắc chắn phải ẩn tàng nhiều đe dọa và bất trắc.

Trái với tâm trạng bất an của tôi, một kháng chiến quân ngồi ngay ở phía sau bỗng buột miệng nói sung sướng như reo:
– Bên chùa có chợ. Giờ này dám chợ còn họp lắm. Ở bển họ có bán nước đá, anh ơi.

Đất Cao Miên quả có nhiều chuyện lạ. Chợ và chùa tuyệt nhiên không có dính dáng liên hệ gì với nhau, theo như tôi biết. Sao lại có chuyện «bên chùa có chợ» được kìa? Tôi càng thắc mắc hơn nữa khi nhìn thấy nét hớn hở của người bạn nhỏ khi nói đến hai chữ «nước đá». Tôi ngắm kỹ khuôn mặt trẻ thơ của em rồi bất chợt hỏi một câu lảng xẹc:
– Em sinh năm mấy ?
– 68.
– Như vậy là em vừa đúng hai mươi há?
– Dạ, tháng tới anh.

Em trả lời với đôi mắt sáng và nụ cười hồn nhiên quá khiến tôi không khỏi trạnh lòng. Ôi chao cái tuổi hai mươi! Tôi bỗng nghĩ đến nó mà buồn đến ngẩn ngơ. Ủa, chớ nó bỏ đi đâu mất hồi nào vậy cà? Nó mới vừa còn loáng thoáng đâu đó mà. Nhiều chuyện tôi tưởng như mới xảy ra hồi hôm, hay tuần rồi chứ không phải là đã hai mươi năm trước.

Lúc bằng y chang tuổi của chú em đây tôi cũng bắt đầu bước vào cuộc đời lính chiến. Có điều là tôi chả bao giờ trông vô tư và hăng hái như em hiện tại. Tôi không nhớ rõ là hồi đó mình đã ước ao cái gì khi di hành trong những lúc nóng bỏng và nắng cháy như thế này? Nhu cầu của tôi thường rất nhiều, nhiều đủ thứ, và tốn kém lắm nha. Chắc đại khái thì ít nhất cũng phải là năm bẩy chai bia ướp lạnh, chớ đâu có đơn sơ giản dị chỉ là vài cục nước đá như anh chàng kháng chiến quân trẻ con này.

Toán quân đã bắt đầu di chuyển. Tôi vội vã đứng dậy, chăm chú bước theo mọi người, cắt đứt những hoài niệm vu vơ. Đi loanh quanh thêm một lúc nữa, qua những con đường mòn mà cỏ dại mọc cao đến ngực, rồi chúng tôi nhìn thấy ngôi chùa.

Bắt đầu là sân chùa lát đá với cái được gọi là «chợ trời» nằm chình ình trên đó. Thực tại vốn phong phú, da dạng và… lộn xộn trong khi khả năng diễn đạt của ngôn ngữ lại vô cùng giới hạn nên tôi bắt buộc phải dùng chữ «chợ», chỉ thêm được chữ «trời», để mô tả một cách gắng gượng về cảnh “thị tứ” nhỏ bé và nghèo nàn đến độ thảm thiết này. Ở ba góc sân chùa, người ta trải ra ba tấm ny lông độ một mét vuông. Trên đó bầy vài chai nước ngọt, mấy bao thuốc lá, năm bẩy nải chuối chín đen, cùng với bàn chải đánh răng, khăn mặt, xà phòng và… chấm hết!

Câu «trăm người bán vạn người mua» xem ra có vẻ mỉa mai trước cảnh xơ xác của cái chợ mini mà tôi nhìn thấy chiều nay ở Cao Miên.Tôi đếm được ba người bán và chỉ chừng năm bẩy người mua. Có lẽ họ đều là những binh sĩ thuộc lực lượng Son Sann đồn trú gần đây, và thái độ của họ trông có vẻ nặng phần «tham quan» hơn là có ý định mua bán thật.

Sự xuất hiện bất ngờ của chúng tôi chỉ làm cho những người đang hiện diện ngạc nhiên đôi chút, chứ không gây nổi chút xôn xao nào cho cái chợ vô sinh khí này. Không riêng gì tôi mà cả toán quân đều tự động dừng chân, đưa mắt nhìn ngắm những món hàng được bầy bán. Giữa vùng đất chết này thì nước ngọt, kem đánh răng, xà phòng, thuốc lá… đều có vẻ như những xa xỉ phẩm được mang đến từ một thế giới văn minh an bình nào đó.

Sau khi biết chắc là người ta có bán nước đá, tôi thân mật mời người bạn nhỏ một chai «lemonade» với thật nhiều đá. Khác hẳn với thái độ hăm hở lúc ban đầu, bây giờ thì em lại tỏ vẻ chần chừ:
– Mà đều họ bán mắc lắm anh ơi.
– Mắc là bao nhiêu ?
Em quay sang hỏi người bán hàng, chả hiểu bằng tiếng Miên hay tiếng Thái, rồi trả lời tôi buồn bã:
– Nếu trả bằng tiền Thái thì tới mười hai «baht» lận. Mắc gấp đôi bên kia.

Mười hai đồng tiền Thái chỉ cỡ năm mươi xu theo bản vị Mỹ Kim. Lúc ở phi trường Vọng Các tôi đã đổi hai trăm đô la ra tiền «tical» mà chưa dùng tới cắc nào. Ngay bây giờ tôi có thể mời em… tắm bằng bốn trăm chai Sprite chứ đừng nói chi là uống. Tôi cười hào sảng:
– Cứ mua uống đi em. Uống tới mệt thì thôi. Anh có tiền đây mà.
– Để em xin phép đã.

Tôi chợt nhận ra một điều nữa. Nơi đây mọi người đều không được quyền có nhu cầu nào riêng tư cả. Họ sống chết bên nhau, chia sẻ mọi gian lao cùng cực, cũng như tất cả những ngọt bùi mà hoàn cảnh khó khăn dành cho mình. Hiểu như thế nên tôi nói vội:
– Để anh xin phép cho.

Em nhỏ gật đầu cười nhẹ nhõm, trong khi tôi đưa đề nghị với cán bộ chỉ huy mời mỗi người dùng một chai nước ngọt. Tôi cũng quơ vội hết những bao thuốc lá Samit và Krongthip mà người ta bầy bán và phân phát đồng đều cho mọi người.

Rồi chúng tôi tiến vào chùa. Vị sãi già, một ông sư Cao Miên, cỡ chừng một trăm tuổi hay có thể là hơn thế nữa – người đầy vết xâm trên da thịt nhăn nheo răn rúm – run rẩy đứng nhìn toán quân với đôi mắt ưu phiền và ái ngại.

Bên cạnh ông là hai vị sãi con, tuổi chỉ cỡ mười hai mười ba chi đó, cũng đen đủi và gầy gò y như sư phụ, và cũng nhìn chúng tôi với ánh mắt rất bất an. Chợ họp trước sân chùa đã là một điều phiền; lính ở luôn trong chùa thì còn phiền dữ nữa. Nếu mà Phật dự kiến được mọi hệ lụy của kiếp nhân sinh của thế kỷ hai mươi, tôi e là ngài sẽ trừng phạt nặng nề cái kẻ láu táu nào đó đã phát ngôn rằng «cửa thiền luôn rộng mở».

Khi đi qua mặt ba vị sãi, hai người cán bộ chỉ huy toán quân cung kính chắp hai tay lên trán, theo đúng như tập tục chào hỏi của người… Thái. Tôi không tin là người Miên và người Thái có chung một lối chào nhưng cũng vội vã bắt chiếc làm theo y như mọi người cho nó…chắc ăn. Ba ông sãi đều chắp tay chào lại và miệng thì lẩm bẩm không ngừng. Tôi hy vọng là họ niệm Phật bằng ngôn ngữ bản xứ, chứ không phải là đang chúc dữ cho số phận chúng tôi.

Tôi bớt áy náy hẳn về chuyện «xâm nhập chùa chiền» khi bước vào bên trong và nhìn thấy cổng chùa đã sập. Bên trong không còn gì ngoài những tảng đá xanh rơi đổ lổng chổng lên nhau. Bây giờ thì tôi hiểu tại sao, nhìn từ xa, không ai có thể ngờ được dưới những lùm cây rậm rạp lại có một ngôi chùa.

Cùng lúc, tôi cũng tự giải thích được chuyện chợ họp trên sân chùa. Người ta cần một khoảnh sân bằng đá bằng phẳng để bầy hàng buôn bán. Ngoài sân chùa ra, xung quanh đây có nơi nào mà không mọc đầy cỏ dại, và không bị gài mìn?
Thấy vẻ thẫn thờ của tôi, một kháng chiến quân đứng gần giải thích:
– Hồi 85 tụi nó mang tăng vô tới tận đây đó anh.
– T 54 hả?
– Dạ.
– Thứ này tôi có biết. Đại bác của nó không công phá dữ dằn tới vậy đâu. Còn đại liên 12 ly 7 thì đâu có làm gì được những tảng đá xanh bự tổ mẹ này.
– Tụi nó pháo mà.
– Em nói ai? Tụi Khmer đỏ, Heng Samrin hay là Việt Cộng?
– Chớ còn ai nữa ? Nói tình ngay thì tụi Miên, dù Miên nào cũng vậy, không có phá chùa đâu. Bởi vậy đêm nay mình nằm đây vững lắm.
Tôi gật đầu biểu đồng tình cho vui lòng người đối thoại chứ thực tâm tôi chưa bao giờ thấy «vững lắm» kể từ lúc xuống máy bay đến giờ, dù ở bên này hay bên kia biên giới Thái.
– Ông vô trong này lễ Phật không?
Một anh cán bộ khác mà trách nhiệm, tôi đoán, hơi nặng phần chính trị vỗ vai tôi hỏi nhỏ. Tôi gật đầu như máy bước theo anh vào bên trong.
Và tôi bất ngờ nhìn thấy Phật mà không khỏi sinh lòng… ái ngại. Vì nóc chùa đã đổ nên người ta che đỡ mấy liếp tranh trên đầu cho ngài, trông đỡ dãi dầu mưa nắng. Bụi bặm và máng nhện giăng đầy áng thờ. Giữa cái không khí hoang liêu cô tịch nơi đây, tôi nghe rõ có tiếng… muỗi vo ve! Nhang đèn, tất nhiên, là miễn có; đừng nói chi đến xôi chè, oản chuối… khiến Phật thêm buồn. Đến như Phật mà còn thê thảm tới cỡ này thì cả dân tộc Cao Miên tránh sao khỏi chuyện te tua, bầm dập!
Chu đáo như một chính trị viên, anh bạn đã chuẩn bị sẵn nhang đèn và có cả một túi chôm chôm đã héo. Sự thán phục đọc trong ánh mắt của tôi được giải thích liền:
– Ở Miên cũng như ở Thái, cách tốt nhất để làm đẹp lòng người dân địa phương là mình phải tỏ ra là một Phật tử thuần thành.
Sự thực thì anh bạn không chỉ «tỏ ra» mà tôi thấy rõ là anh ta vô cùng trang nghiêm và thành khẩn khi khấn vái. Sống trong một hoàn cảnh bất an thường trực thì tất nhiên Phật, Chúa, Thánh Thần… luôn luôn phải ở rất gần.

Bữa cơm chiều với thức ăn duy nhất là món canh mì gói. Nó đạm bạc một cánh thảm thiết, và ngon miệng một cách khó hiểu. Sau đó, tôi nhận đuợc thêm nửa ca nước trà nóng hổi, đậm đen. Tôi uống từng ngụm nhỏ, suýt xoa, hít hà, đã đời, thấm thía.

Được miễn gác nên tôi yên tâm mắc võng, nằm tận hưởng hương vị đậm đà của điếu thuốc Thái Lan. Những tàn lá cây trên đầu cũng vừa trở mầu đen sậm, và bầu trời đã nhấp nháy những ngôi sao mọc sớm. Đêm nhiệt đới dường như kỳ bí và huyền ảo hơn là đêm ở những vùng đất khác.
Nếu có dịp làm cố vấn cho những công ty du lịch thì tôi sẽ ân cần khuyên bảo du khách điều này khi họ đến Cao Miên: coi chừng tụi Khmer Đỏ và muỗi mòng ở nơi đây. Dù lực lượng Khmer Đỏ đang cố tạo một bộ mặt «hiền hậu» và «dễ mến», bất cứ ai hễ đã đỏ thì dù họ có biến thành hồng chúng ta vẫn nên tìm cách tránh xa -cho nó chắn ăn.

Còn muỗi mòng ở Kampuchia thì có thừa khả năng đâm xuyên qua võng ny lông và chích thẳng ngòi vào da thịt của những tên du khách khờ khạo như tôi. Đã vậy, trong lúc ngủ, tôi còn sơ ý để hở lớp võng ny lông che người cho năm bẩy chú muỗi lọt vào bên trong. Tôi nhổm ngay người dậy, nhẩy xuống đất, lục tìm chai thuốc muỗi bôi vội vào mặt, vào cổ, vào tay…

Cùng lúc, tôi nghe tiếng khúc khích cười. Trong vòng ánh sáng mờ ảo của một cây nến nhỏ, tôi thấy năm bẩy người ngồi quay quần bên nhau, và tất cả đang hướng mắt nhìn về phía tôi. Thái độ hốt hoảng vừa rồi của tôi chắc là lố bịch lắm khiến họ phải bật cười. Hơi ngượng, tôi lại nằm yên trên võng. Còn họ thì dường như vẫn tiếp tục câu chuyện gì đó mà tôi đoán là có vẻ hào hứng đang bỏ dở. Thỉnh thoảng tôi mới nghe ba tiếng «trời đất ơi» đệm vào giữa câu chuyện bằng tiếng Miên mà tôi nhận ra được ngay là giọng nói của Thạch T.

Trong số những kháng chiến quân Khrom (người Việt gốc Miên) mà tôi gặp nơi đây, tôi gần gũi với anh ta nhất. Thạch T. cởi mở và vui tính. Cách đây hơn một tuần khi còn ở căn cứ trong đất Thái, có hôm tôi đã thức gần đến sáng để nghe anh kể chuyện đi tu, đi lính, «những chuyện tình không may», và cuộc đời lưu lạc của anh. Dù giọng nói của Thạch T. có «accent», tiếng Việt anh vô cùng thông thạo.

Tôi tự hỏi không hiểu sao hôm nay anh lại nói tiếng Miên và những người ngồi xung quanh anh là ai. Lặng lẽ, tôi tuột người xuống võng đi đến bên họ tìm một chỗ ngồi. Thấy bóng dáng tôi, Thạch T. nói như reo:
– Em tưởng anh mệt qúa nên ngủ luôn rồi chớ.
Tôi gật đầu chào mọi người, rút bao thuốc lá ra mời họ hút, và nói vu vơ:
– Muỗi quá há!

Rõ ràng là không ai quan tâm đến chuyện «vu vơ» đó. Mọi cặp mắt đều dán chặt vào bao thuốc lá Winston đang chuyền qua tay từng người. Thạch T. chỉ vào tôi, và nói với mọi người như một lời giới thiệu. Mắt họ cùng lúc đều mở tròn xoe, kinh ngạc. Tôi nhìn Thạch T. dò hỏi. Anh cười thích thú nói:
– Em nói anh từ Mỹ tới đây.
Giọng Thạch T. hãnh diện như thể anh vừa tuyên bố với một đám đông hiếu kỳ rằng tôi là bạn thân của anh, và tôi vừa đến từ… một hành tinh khác! Sau đó, anh ân cần giới thiệu từng người:
– Thằng này là thằng cháu. Nó đi bên ông Sonn San. Em mới gặp lại nó chiều nay thôi.
– Chào em.
Người cháu của Thạch T. lắc đầu cười bẽn lẽn khiến anh lại vội vàng giải thích:
– Nó đẻ bên Miên mà, không biết nói tiếng Việt đâu. Má nó mới biết. Còn mấy đứa này là bạn nó. Ở chung một chỗ Siemriep với nhau hết. Thằng này thì đi lính cho Heng Samrin, mới đào ngũ tức thì.
Người thứ hai vừa được giới thiệu nhìn tôi với đôi mắt hơi nghi ngại. Anh nghiêm trang hỏi Thạch T. có phải tôi làm việc cho CIA không? Tôi lắc đầu cười khổ, trong lúc Thạch T. vẫn vui vẻ liếng thoắng giới thiệu tiếp:
– Còn thằng này thì ở bên Khmer đỏ. Cũng đào ngũ luôn.
Tôi suýt nhẩy nhổm người lên như kẻ bất ngờ bị đạp đinh. Cuốn phim «The Killing Field» bỗng quay lại thật lẹ trong đầu. Hình ảnh bộ đội Khmer Rouge áo quần đen bó sát, ống quần tay áo xắn cao, chân đi dép râu, khăn rằn quấn kín đầu, mặt đằng đằng sát khí, tay lăm lăm AK 47, sẵn sàng chỉa súng vào mặt bất cứ ai và…bóp cò cái bộp!

Tôi mở mắt thật lớn nhìn, thoáng một chút ngỡ ngàng vì khuôn mặt chất phác và hồn nhiên của người đối diện. Cùng lúc, em nhìn lại tôi với nụ cười thật hiền lành và ngây thơ. Cuộn phim trong đầu tôi chợt tắt. Qua nụ cười của em, tôi chỉ thấy là sao da em đen quá mà răng em trắng quá, thế thôi. Em còn quá trẻ để có thể tham dự vào thảm kịch tàn sát tập thể xẩy ra trên quê hương mình đã hơn mười năm trước. Ân hận vì thành kiến của mình, tôi vội xiết chặt lấy tay em. Tôi muốn «âm thầm» gửi đến em một lời xin lỗi.

Chúng ta đang sống trong một thế giới mà thiên hạ sẵn sàng dán nhãn hiệu lên trán của nhau. Thực sự những người đang ngồi trước mặt tôi đâu có dính dáng, can dự gì đến quyền lợi của đảng phái này hay lực lượng nọ ở Cao Miên đâu. Tự nhiên người ta chia phe, trưng bảng hiệu, may cờ, vẽ vòng… rồi bắt ép các em phải đứng vào phe này hay phe nọ để cầm súng giết nhau.

Tình trạng ở quê hương tôi cũng chả khác gì. Ngồi cạnh tôi đêm nay là Bằng, là Thu, là Hoàng Hải, là Quốc… những người trẻ Việt Nam mà tôi đã quen nên Thạch T. không cần giới thiệu. Chỉ mới cách đây một hoặc hai năm thôi, các em đều còn có tên gọi là bộ đội Việt Nam, một đạo quân có tiếng là hung hãn và ngu xuẩn nhất của thế kỷ này. Và mới chỉ cách đây chừng hai tuần thôi, tôi còn nghĩ đến các em với ít nhiều thành kiến. Tôi quên bẵng đi một điều giản dị là các em đâu có quyền lựa chọn «không» là bộ đội.

Chợt nhớ ra một điều quan trọng khác, tôi vội hỏi trống không:
– Ở đây có ai đi lính cho ông Hoàng Sihanouk không?
– Không.
Vậy chỉ thiếu có một nhân vật nữa thôi là đêm nay tôi đã gặp đủ tất cả «đại diện» của những phe đang lâm chiến ở Cam bốt rồi: Khmer Đỏ, Heng Samrin, Son Sann, và Sihanouk. Tất nhiên là tôi muốn nghe chuyện của họ. Qua sự thông dịch của Thạch T., tôi hỏi người bạn nhỏ bỏ về từ phía Heng Samrin trước:
– Em ở với Heng Samrin bao lâu rồi?
– Gần ba năm, từ hồi 1985 lận.
– Sao bỏ đi ?
– Người Cam bốt không thích ở với Heng Samrin đâu. Nó là «tay sai» của Việt Nam mà.

– Còn em, sao không ở với Pol Pot và Ieng Sari nữa?
– Cực lắm, chịu không nổi.
– Rồi hai em có tính ở lại đây đầu quân bên Son Sann không ?
– Không, bên Son Sann không có mạnh đâu. Ở với ổng cũng khó sống lắm. Chắc tụi tui rủ thằng này (chỉ người cháu Thạch T. thuộc lực lượng Son Sann) đi vô Site II tị nạn luôn.

– Mấy em tính đi Mỹ hả ?
– Nghe nói không cho đi Mỹ nữa đâu. Không được đi nước nào hết. Nó nhốt luôn mà.
– Vậy vô đó làm chi ?
– Chớ ở ngoài này dễ chết quá mà không có ăn nữa.
– Mấy em có biết là Việt Cộng đã rút quân không?
– Biết chớ nhưng ăn thua gì. Nó còn cả đống mà.
– Nếu không có bộ đội Việt Cộng thì lính Son Sann và lính Sihanouk đánh được Heng Samrin không?
– Làm sao biết được nhưng lính Son Sann và Sihanouk cũng không có thuận nhau đâu.
– Lính Heng Samrin đánh giặc giỏi không ?
– Không giỏi đâu. Tụi nó nhờ có Việt Cộng mới mạnh thôi.
– Sao Khmer Đỏ lại đánh giặc giỏi như vậy?
– Cũng không giỏi đâu. Tụi nó nhờ có nhiều súng đạn thôi.
– Nếu bây giờ được tự do lựa chọn thì mấy em làm gì ?
Tụi tui trở về Biển Hồ đánh cá nuôi mẹ, nuôi cha.
– Lấy vợ nữa chớ ?
– Cái đó phải có cha mẹ đi nói con gái nó mới chịu.
– Còn không về được thì sao ?
– Cũng chưa biết tính sao nữa ?

Tôi cố nén một tiếng thở dài và không dưng mà thấy mắt mình cay. Ngọn nến tàn dần. Ánh lửa nhỏ nhoi đột nhiên hóa màu đỏ sậm, rồi biến thành lập lòe xanh lét khiến khuôn mặt mọi mgười trông đều có vẻ ma quái. Tôi nghe tiếng Quốc nhắc Hoàng Hải lục ba lô tìm nến, rồi tiếng nói ngái ngủ của một anh cán bộ:
– Thôi ngủ đi mấy ông. Ai gác thì lo canh gác đàng hoàng, còn lại thì ngủ đi. Mai đi «hóc» lắm chứ không phải chơi đâu.

Ngọn nến tắt hẳn. Đêm đen thui. Cùng lúc là tiếng đại pháo ầm ì ở xa xa. Trong bóng tối, em nhỏ về từ phía Khmer Đỏ chợt nắm nhẹ lấy tay tôi và nói một điều gì đó nghe rất ân cần. Thạch T. cười nhỏ dịch lại:
– Nó biểu anh đừng có sợ. Pháo bắn ở xa lắm.
Nếu nói được ngôn ngữ của em, có lẽ tôi sẽ trả lời rằng «tôi không sợ gì hết, chỉ buồn thôi.» Lẫn trong tiếng pháo, tôi chợt nghe tiếng gà gáy sáng – cũng ở xa xa. Chắc mới canh một. Còn lâu, lâu lắm trời mới sáng, và không có gì hứa hẹn là ngày mai cuộc đời sẽ sáng sủa và dễ thở hơn cho bất cứ ai nơi vùng đất bất hạnh này.

Tưởng Năng Tiến

——————————————————–

Mời các đọc giả qua đây đọc thêm một bài khác để nhìn thấy chính quyền ta tươi đẹp, khoan hồng và nhân đạo ra sao:

Cảm Nghĩ về Người  tù Bất Tử , bài của nữ  sinh viên Trần Mỹ Hạnh, tưởng niệm về một người vừa mới khuất.

Đây

———

Và nhân vật Võ Hoàng, người mà tác giả TNT đi tìm ở Cao Miên, được một người khác viết bài tưởng niệm như sau:

Võ Hoàng, kẻ dám sống trước nhân vật

Đêm 10/8/2001
tac_gia_le_thi_hue.jpg
tác giả Lê Thị Huệ
…Đi đi anh
nào phải chúng ta là kẻ ra đi một mình
sa trường đã ngập lụt
máu và nước mắt
triệu triệu tiếng chân người đồng hành
hoặc tất cả chúng ta cùng sống
hoặc tất cả chúng ta cùng chết
Đi đi anh
có em sẽ chờ anh nơi bờ đê
mùa gió lên rơm rạ nở đầy trời
mảnh đất đã thấm đẫm oan khiên
vẫn thơm mùi lúa khoai mới gặt
em sẽ vốc lấy một nhúm và buộc chặt
vào bâu áo
làm bùa chú tặng anh
có anh linh của người nằm xuống
có bóng hình của kẻ đang sống
chỉ còn niềm tin này
là bùa hộ mệnh của đôi ta
những lân tinh hào sảng của nó
sẽ thổi hết đài đài búa liềm
sẽ bẻ cong quặp hết những gọng súng
thắt nơ đỏ
chúng ta phải tin và phải tin
vào mặt đất
đầy bùa phép của chính nó
thổi dạt hết thảm hoạ này
kế tiếp thảm hoạ nọ…
    Lúc đó, tôi vào độ tuổi ngoài ba mươi. Cái tuổi mà tri thức và cảm tình đòi hỏi phải được phát biểu một cách độc lập. Cái tuổi đủ chững chạc để lên tiếng về một lập trường của đời sống mình. Cái tuổi khoẻ mạnh nhất để suy xét, ta và tha nhân cuộc đời nên hỗ trợ nhau như thế nào, đặng còn chung vốn làm ăn những năm tháng trước mặt. Nói tóm lại, những năm đầu ba mươi là những năm những chàng và những nàng tuổi trẻ mới thực sự dấn thân hành động trong cái ý thức sáng tỏ có chọn lựa nhất.
    Tôi đã gặp Võ Hoàng trong những năm đầu tuổi ba mươi xuân sắc ấy.
    Thật sự chúng tôi chạm mặt và nhìn sâu vào mắt nhau chỉ một lần. Đó là lần ở tiệm in của Vũ Tiến Thủy góc đường The Amaden lộng gió. Tôi nhớ tối hôm ấy tôi đến trao cho Vũ Tiến Thủy tâp truyện ngắn Bụi Hồng để anh ấy đưa lên bàn in.
     Cuộc gặp gỡ ấy xảy ra trong một buổi tối hoàng hôn, ngày hè êm dịu ở San Jose. Tôi mặc một chiếc váy hái hoa mỏng manh phất phơ, trang điểm điệu nghệ nhởn nhơ xuân thì, lái xe một mình, đến địa chỉ của một nhà in nho nhỏ rất văn nghệ Việt Nam, dưới phố San Jose.
     Khi tôi mở cánh cửa thì thấy một bầy mấy tên đàn ông đứng lô nhô sau cái quầy gỗ theo nhòm tôi từ từ đi vào. Nhìn lên cái đám đàn ông xôn xao ong bướm đó, tôi đụng cái cốp ngay khuôn mặt đáng yêu của một cố nhân của tôi. Tôi không ngờ là kể từ ngày tôi rời bỏ New York có mấy tháng chung sống thơ mộng, về lại San Jose, cố nhân cũng bỏ lớp bỏ trường Columbia đi lang bạt Cali, Hawaii; năn nỉ mấy tôi cũng nhất định không ngoảnh mặt lại. Vậy mà giờ đây bất ngờ gặp hắn tại nơi này. Chỉ nhìn thấy cố nhân tối hôm ấy, cũng đã đủ làm cho lòng tôi giao động. Nhưng tôi cũng rán nhìn lên điểm mặt, ngoài hắn ra còn những ai. Tôi chỉ nhớ ngoài anh Thủy ra, có ba tên nữa. Tên cao lồng ngồng không thể lẫn vào đâu được là Tưởng Năng Tiến. Tên thứ hai thì đã có lần đi uống cà phê chung là Hoàng Phủ Cương. Còn tên thứ ba thì tôi biết tỏng, đấy là Võ Hoàng.
   Dĩ nhiên cố nhân của tôi thì cười mỉm rạng ngời, vì biết trước sau gì cũng sẽ bắt chẹt được tôi sau khi tôi công tác với ông chủ nhà in về quyển sách. Còn người chào hỏi tôi vồn vã nhất lúc đó là Tưởng Năng Tiến. Rất ư là lịch sự và nhẹ nhàng, Tưởng Năng Tiến một chị Huệ hai chị Huệ ngọt ơi là ngọt. Đó là cái cảm tưởng lần đầu tiên tôi gặp Tưởng Năng Tiến. Y nhìn thì biết mình làm sao là chị Hai của y được. Nhưng Tưởng Năng Tiến có cái khí hậu trò chuyện khéo léo nghệ thuật thiệt là trớ trêu, với tướng mạo ngang tàng, và một giọng văn sòng phẳng sắc sảo chinh phục độc giả. Đúng là điển hình một thứ đàn ông văn nghệ sĩ có nhiều bẫy ngầm.
     Và trong cái buổi tối đáng nhớ ấy tôi không bao giờ quên được ánh mắt của Võ Hoàng mỗi lúc nhìn qua vai những người bạn trai trẻ ấy để thăm hỏi tôi. Suốt khoảng ba mươi phút tối mùa hè đáng nhớ đó, Võ Hoàng im lặng từ đầu đến cuối. Anh nhìn tôi rất vui, rất thân mật, rất mừng rỡ, nhưng tuyệt nhiên anh im lặng giữa những câu chọc ghẹo cười đùa nhẹ nhàng của đám đàn ông con trai xôn xao với một đứa con gái rập rượng.
     Sự im lặng và tia mắt nhìn rất vui mừng thân mật của Võ Hoàng dành cho tôi tối hôm ấy là điều gì rất mạnh mẽ mà tôi không bao giờ quên được. Tôi không bao giờ quên ánh mắt như chợt loé lên một gửi trao dường như đã là một thoả thuận ngầm, chúng ta sẽ cùng chiến đấu nhé. Điều này là một xác tín đã trở lại với tôi trong một chiều sau đó, khi ngồi với cố nhân ở một quán nước, hắn đã nhẹ nhàng báo cho tôi hay hắn đang ở trong cùng một tổ chức với Võ Hoàng. Và sau đó trong một tờ báo rất đầu tiên của Mặt Trận Quốc Gia Giải Phóng Việt Nam của tướng Hoàng Cơ Minh, lúc Lê Thiệp còn làm chủ báo Kháng Chiến, tôi đã ký tên khác viết một tâm bút “Thư Gửi Người Đi” cảm động lắm đi lận
Trong tập truyện Bụi Hồng tôi giao cho nhà in của Vũ Tiến Thủy tối hôm ấy, có chuyện ngắn “Cơn Sốt” của tôi. Chuyện đã được đăng trước đấy trên báo Văn của ông Mai Thảo vào năm 1981. Chuyện ngắn lấy bối cảnh cơn ốm nhớ thương đất nước của một cặp tình nhân trẻ ở khung trời náo nhiệt New York. Đoạn cuối của chuyện mô tả người tình nam ám ảnh bởi một công cuộc giải phóng đất nước, cách mạng quốc gia đã đặt lên môi người tình nữ một nụ hôn nồng nàn hứa hẹn.
     “Cho đến khuya khi Ngữ tỉnh dậy, chàng trở người sang và gặp nàng đang nằm cạnh.
      -Anh biết em đã nằm cạnh anh rất lâu.
       Mồ hôi toát  ra ướt đẫm trán chàng và nhỏ từng giọt xuống ngực nàng. Ngữ hất tung đống chăn cuộn trên mình. Tấm biểu ngữ rơi xuống đất.
      Thoa trăn trở.
      -Em nhớ nhà quá.
      Ngữ đặt lên môi nàng một nụ hôn, nụ hôn nóng của hai bờ môi ốm sốt.
    -Anh sẽ đi. Mai một anh sẽ đưa em về. Chàng nói.”
    Thuở ấy, Võ Hoàng và Tưởng Năng Tiến đang là một đôi văn sáng như sao trên vòm trời văn học hải ngoại. Tập chuyện Măng Đầu Mùa của Tưởng Năng Tiến và Võ Hoàng là một ngọn hải đăng trong đám những nhà văn trẻ hải ngoại đầu thập niên 1980. Không biết ở đâu ra mà có một đôi bạn văn sáng sủa như vậy. Tự nhiên xuất hiện đôi song ca có một lối viết hết sức thân mật với đời sống. Đó là cách viết rất văn chương di truyền lớn lên trong nước Việt Nam Cọng Hoà của hai ông Ngô Đình Diệm và Nguyễn Văn Thiệu. Cách viết của những con người yêu văn chương, phơi phới tình người, và rất hào sảng cho văn chương và đời sống những tiếng nói róc rách trong tác phẩm. Cái cõi văn chương rất thoải mái chia sớt tận tình với đời đó không thể nào kiếm thấy ở những con người lớn lên ngoài Miền Bắc áp bức nghẹt cầu nghẹt đường đời Cọng Sản của Bác Hồ Chí Minh và bác Lê Duẩn.
Lật những trang chữ của Võ Hoàng và Tưởng Năng Tiến đọc sẽ thấy khác những trang viết của Trần Đăng Khoa, Nguyễn Huy Thiệp. Chữ nghĩa của Tưởng Năng Tiến và Võ Hoàng chân hơn, sáng hơn, tự tin hơn, gần với con người quanh ta hơn. Trong khi chữ nghĩa của Nguyễn Huy Thiệp và Trần Đăng Khoa mánh hơn, đểu hơn, vẹo hơn, để luồn lèn lớn lên trong một xã hội mà cứ bốn người là có một anh công an dòm ngó. Hai cõi tác phẩm xiển dương hai thế sống khác từ nhừng xã hội mà hắn được nuôi dưỡng. Tuyên dương cõi này mà bỏ lơ cõi khác là hội chứng chậm tiến của hành trình tiêu hoá những tác phẩm.
     Cái điều sáng tỏ của Võ Hoàng, nhà văn vào thời điểm đó, chính là thái độ chọn lựa. Võ Hoàng không chỉ viết. Võ Hoàng dám hiện thực điều chàng viết bằng hành động.
      Sau một trận lột xác và lột hồn vì cơn địa chấn bị vứt ra khỏi quê hương, là một kẻ mẫn cảm, thông minh, tràn đầy nghị lực, có tất cả thời gian của tuổi trẻ vào thời điểm sau 1975 ấy, Võ Hoàng dám xông xáo đi tìm một phương hướng giải quyết những thôi thúc trong người.  Cái thôi thúc lãng mạn phục vụ quê hương có thể là thừa kế của người quân nhân lính thủy Võ Hoàng Oanh của mấy năm binh nghiệp trước đó; nhưng cái bi kịch hùng tráng của Võ Hoàng ở đây chính là chính hành động lựa chọn sứ mệnh chiến đấu để chứng nghiệm đời sống, thay vì tưởng tượng đời sống qua ngòi bút.
       Cái chân dung mà tôi không thể nào không bị khích động, là lúc ấy Võ Hoàng đang ở vào một vị trí ăn ảnh đời người nhất. Võ Hoàng có tuổi trẻ, y chỉ là tên đàn ông vừa ngoài ba mươi. Võ Hoàng có tự do, y vừa mới đến xứ sở Hoa Kỳ nơi mà Nữ Thần Tự Do đã ban tặng cho y một quyền tự do sống hoàn toàn thảnh thơi theo bất cứ cách thế nào y muốn nhất. Võ Hoàng có mái ấm, vợ con vừa sang đoàn tụ. Võ Hoàng có danh vọng, y vừa mới là nhà văn nổi tiếng. Một trang thanh niên tài hoa hiểu ra mình đang ở vào một vị thế có hào sảng, tư trang của cải, căn cước tuổi trẻ, sinh lực, tài năng nhất. Thế mà trong cái huy hoàng của thời thế tuổi trẻ rực rỡ ấy, y đã chọn một con đường chiến đấu cho một siêu hình niềm tin vào danh tự có tên gọi là Quê Hương.
      Nỗi đau bị bứng vứt ra khỏi quê hương như một thứ nha phiến làm cho giấc mơ trở về quê hương là một mời gọi vô cùng hấp dẫn. Tình yêu quê hương là một nguồn sống còn mãnh liệt hơn cả chính tình yêu. Nhà văn Ai Cập Naguib Mahfouz trong chuyện dài Sugar Street đã viết một câu bất hủ “Perhaps patriotism, like love, is a force to which we surrender, whether or not we believe in it.” Mặt đất này đã thấm đẫm những giòng máu nuôi danh tự Quê Hương. Ngày đó chúng tôi ra đi từ những địa danh Rạch Giá, Vũng Tàu, Nha Trang, Hà Tiên. Điểm xuất phát trở thành điểm trở về. Chúng tôi cũng chỉ là những đứa con mọn của một thứ mặt đất tham lam luôn luôn đòi chúng tôi trở về phục vụ nó. Mặt đất hay Quê Hương như một bà mẹ khắc nghiệt không muốn bứt rời đứa con của bà. Võ Hoàng ra đi từ Phú Quốc, chắc là chàng cũng bị cái tiếng gọi của bà mẹ Phú Quốc kêu riết nên chàng mới tìm đường trở về.
Con đường trở về bằng ngôn ngữ Phú Quốc của một nhà văn Võ Hoàng hình như chưa đủ. Những sáng tác của Võ Hoàng trong mấy năm ngắn ngủi lìa xứ, 1979-1984, là những chuyện tràn đầy tính chất Nam Bộ. Giọng văn Nam Kỳ là một nét đặc sắc của văn chương Việt Nam khởi đi từ những cái tên như Nguyễn Đình Chiểu, Hồ Biểu Chánh, Sơn Nam, Võ Hoàng, Nguyễn Văn Sâm, Hồ Trường An…Với tôi, chỉ trong vài truyện ngắn đầu tay, Võ Hoàng đã lấp lánh một tài năng lớn của văn chương Nam Kỳ. Lối dựng chuyện của anh không thừa thãi, lấy chữ đè chuyện. Văn vẻ của Võ Hoàng rất tươi rói như vừa mới vốc ra từ Phú Quốc. Đọc chuyện của Võ Hoàng cứ như thấy những con người Nam Kỳ dẻo miệng của anh đang gõ gàng trước mặt mình.
Thế nhưng cõi viết không thôi hình như không đủ chỗ để dung chứa sức sống tràn trề của một đứa con trai yêu của quê hương là Võ Hoàng Oanh. Cho nên chàng thanh niên tên là Võ Hoàng Oanh đã vứt bỏ danh vọng đang lên của nhà văn trẻ Võ Hoàng, ném trả cho xứ người lạ hoắc chút tài sản văn chương mà chàng vừa cắm dùi được . Chàng chọn lựa phiêu lưu vào lịch sử, thách thức lịch sử, với ước muốn giành lại và chiến đấu cho quê hương mà người ta đã chiếm đoạt mất của chàng.
Có thể nói đứa con yêu của tổ quốc Võ Hoàng Oanh đã chọn lựa vai trò kẻ chiến đấu để thí nghiệm con người văn chương tên là Võ Hoàng. Võ Hoàng Oanh đã ra sa trường chiến đấu dũng cảm với mặt trận đất đá súng đạn và kẻ thù ở Nam Lào, vào cái lúc mà tên tuổi nhà văn Võ Hoàng đang lên cao rực rỡ nhất. Sự chiến đấu bằng võ lực là một cách chiến đấu chẳng đặng đừng vào thời điểm ấy. Lúc mà khối Cọng Sản còn chắc nịch như một thứ đế quốc không ai xuyên phá được. Sự chọn lựa con đường đi sang Lào để về chiếm lại quê hương vào bối cảnh đó là một hình ảnh đẹp tuyệt vời trong lòng mọi người Việt lưu vong. Võ Hoàng Oanh con chim trống cũng chỉ muốn khoe đôi cánh vạm vỡ của mình để biểu dương sự chiến đấu bảo vệ lấy quê hương của nhiều người đang bị bọ hung, chuột, dán, bọ chét hút máu. Một nhóm đàn ông con trai đã đi làm anh hùng, lịch sử. Hoàng Cơ Minh, Võ Hoàng, Trần Thiện Khải, Lê Hồng… là những anh hùng của chúng tôi vào thời điểm đấy. Nhất là trước đấy đã có vị anh hùng trí thức dấn thân như sinh viên Trần Văn Bá đã cũng xuống xuồng đi về phía Quê Hương và đã gục ngã.
Cái chết của Trần Văn Bá (Đường Trần Văn Bá, thơ Lê Thị Huệ) đã càng bồi đắp cái hình tượng cái chết nào của những đứa con của Quê Hương cũng đều là những cái chết đẹp và hiển hách hơn cái chết bệnh tật già lụm khụm nơi quê người. Võ Hoàng Oanh đã chọn lựa theo con đường xuống xuồng chèo về phía Quê Hương dù biết là phía trước mình có người anh sinh viên trí thức Trần Văn Bá vừa ngã gục. Một thái độ chọn lựa hết sức ngạo mạn, lãng mạn, phiêu lưu, thách đố chỉ xảy ra cho những con người dám sống theo tính cách huyền thoại trên bia đá, trong lịch sử, trong truyện và trong kịch. Con người nhỏ nhẻ im im, nghiêng nghiêng nụ mỉm cười thân mật ấy lại chọn lựa một cách chiến đấu bão bùng khốc liệt.
Hoặc tất cả chúng ta cùng sống hoặc tất cả chúng ta cùng chết (thơ Lê Thị Huệ) thì đúng là con người nhà văn Võ Hoàng đã muốn bảo vệ, đã muốn chiến đấu dùm cho những nhân vật huyền thoại. Cái dũng của con người nhà văn Võ Hoàng là muốn chứng minh và chiến đấu điều mình tin bằng chính hành động chèo xuồng đi về phía Quê Hương trước khi cầm bút mô tả lại sự việc. Cái hách của nhà văn Võ Hoàng là trước khi y vung bút múa cho đời một điệu văn thì y đã dám thử nghiệm bằng chính con người và cuộc đời y trước. Thật là khác xa với những tay sống thì không dám sống nhưng chỉ mơ ước vẽ vời rồi để cho kẻ lạ sống dùm hoặc mời gọi người khác sống theo sự tưởng tượng của tác phẩm bày ra. Với tất cả những nét đặc biệt nêu trên, con người này đã thiết lập được một huyền thoại cao ngạo, quyến rũ, tài hoa của riêng danh tiếng Võ Hoàng.
LTH
Đêm 10/8/2001

nguồn

Posted in Hồi Ký, Kampuchea | Leave a Comment »

Ráng sống tiết kiệm…Kinh tế Âu Châu và thế giới sẽ còn tiếp tục xấu trong 3-4 năm tới…

Posted by hoangtran204 trên 23/07/2011

Điều gì sẽ xảy ra nếu một trong các quốc gia dưới đây bị vỡ nợ?

Chính phủ Hy lạp đang nợ 495 tỉ đô la. Chủ nợ là các ngân hàng nước ngoài, các cơ sở tín dụng và tài chánh, và các chính quyền ngoại quốc.

Chính phủ Ý đang nợ 2 200 tỉ đô la. Chủ nợ cũng là các thành phần nói trên, trong đó Pháp có 393 tỷ và Đức có 162 tỷ.

Hy Lạp, Bồ Đào Nha và Ý sẽ có nguy cơ vỡ nợ rất lớn. Mặc dù trong 2 năm qua, châu âu đã cố gắng giúp đỡ bằng cách gánh vác mua lại một phần các món nợ, nhưng xem ra, độ lớn, tầm lan tỏa, và sự  liên hệ của các ngân hàng, các quỷ bảo hiểm và hưu trí dính dáng vào việc cho 3 quốc gia nầy vay mượn trong nhiều năm qua… hết sức lớn lao và phức tạp. Chỉ cần một sự sụp đổ nhỏ của một ngân hàng, của một công ty lớn ở Âu châu, một quỹ hưu trí…là sẽ kéo theo sự  sụp đổ của các công ty khác và sụp đổ tài chánh của các quốc gia kể trên.

Mấy hôm nay có tin Pháp và Đức đang họp với nhau để  đề ra thêm các biện pháp cứu 3 nước nầy. Vì chỉ  một trong các quốc gia nầy bị sụp đổ kinh tế, thì  nhiều công ty liên quan sẽ vỡ  nợ,  sụp đổ, sẽ có nhiều người thất nghiệp, và nền xuất nhập khẩu sẽ sa sút trầm trọng, nhiều nước sẽ  không còn đủ tiền để nhập các hàng hóa từ  Á Châu.

Các hãng ở Á châu sẽ đóng cửa giảm bớt số công nhân. Tình trạng xã hội của các nước á châu sẽ rối loạn vì các quốc gia ở á châu  mới giàu lên trong 20 năm gần đây không có các bảo hiểm xã hội lâu dài và chặt chẻ để cứu trợ người dân. Chiến tranh có thể xảy ra giữa các quốc gia và các cuộc cách mạng đòi hỏi cơm no áo ấm,  dân chủ, tự  do sẽ bùng nổ ở các quốc gia nầy.

Khi Mỹ bị khủng hoảng tài chánh vào năm 2008, cảthế giới đều bị anh hưởng như thế nào trong 3 năm qua, thì khi châu âu rơi vào khủng hoảng tài chánh trong 2-3 năm tới, tất cả các nước còn lại sẽ chịu đựng gian khổ thêm một khoảng thời gian giống như  sau năm 2008, vì dân số và độ lớn của toàn thể nền kinh tế của châu âu tương đương với Mỹ.

Tóm lại,  với tình hình kinh tế khó khăn sẽ còn kéo dài,  cố gắng sống tiết kiệm, đầu tư  vào giáo dục và sức khỏe để chờ cơ hội làm việc sau khi cơn khủng hoảng qua đi; có thể là sau năm 2016 thì tình hình kinh tế và tài chánh mới bắt đầu hồi sinh.

What happens if a country goes bust?

July 20, 2011

If Greece, Portugal or Italy fails, America should watch out.

BERLIN, Germany — Let’s say Greece declared tomorrow that it was bust. The government took a look at the estimated $495 billion it owes to banks, other institutional investors and foreign governments and decided it simply couldn’t pay.

Who would actually lose their money? The answer, not surprisingly, is complicated.

Much of the focus has been on the debt owned by European banks and fear that a Greek default could spark a “contagion” — in which banks losing money owed by Greece would cut back their lending, causing the financial system to seize up as it did in 2008 after the collapse of Lehman Brothers.

But beyond the focus on banks, there are all kinds of pension funds and other institutional investors that hold large amounts of Greek debt. These debt holders are much harder to identify because, unlike banks, the investors don’t reveal it in annual reports and through stress tests.

The other mystery factor is credit default swaps, a derivative that creditors buy to effectively insure themselves against a default by a debtor. These are what draws the United States into the fraught euro zone web. While the United States has little direct exposure to Greek debt, it owns a lot of these CDSs on Greek debt — meaning Americans fear a Greek default for a good reason.

So who owns Greek debt?

French and German banks are the biggest foreign holders, according to last week’s “stress tests,” in which banks had to report, among other numbers, their sovereign debt holdings. French banks have more than $50 billion exposure, German banks about $34 billion.

BNP Paribas (France) — $7.4 billion

Dexia (Belgium) — $5 billion

Commerzbank (Germany) — $4.2 billion

Societe Generale (France) — $4 billion

ING Groep (The Netherlands) — $3.4 billion

Deutsche Bank (Germany) — $2.5 billion

Groupe BPCE (France) — $1.8 billion

That obviously leaves a lot unaccounted for. Greek banks own about $85 billion of the country’s debt, according to a research note from Goldman Sachs. The European Central Bank owns about $71 billion worth of Greek debt, which it began buying up more than a year ago — much of it from banks — through its Securities Market Program, to shore up investor confidence. U.S. banks don’t have much direct exposure to Greek debt, just $7.3 billion, according to CNN.

But the lurking danger is with the unknown amounts held by pension funds and insurers. Debt is held all over the place. For instance, the German state of North Rhine-Westphalia has about $311 million of Greek debt held in pension funds, according to business weekly Wirtschaftswoche.

“If you work backwards and look at Greek public debt and try to understand who owns what, you have a hole of $198 billion held by asset managers, pension funds and the like, but there is very little information on the details of those holdings,” Gilles Moec, an economist at Deutsche Bank in London, recently told the New York Times. “It’s a much bigger pot than what is actually held by banks, but we don’t know who owns how much, or in which country.”

Of those other countries, Portugal could be next to default if Greece fails.

So who owns Portuguese debt?

The same European banks would hit by a Portuguese default, the stress tests show.

BNP Paribas (France) — $3.3 billion

Dexia (Belgium) — $2.8 billion

Commerzbank (Germany) — $1.4 billion

Credit Agricole (France) — $1.7 billion

Societe Generale (France) — $1.3 billion

So what about Italy?

Italy is the big kahuna in the debt crisis. It is Europe’s third largest economy. It owes $2.2 trillion, or 120 percent of its GDP, making it one of the most indebted nations on Earth. Worse, much of its debt is coming to maturity soon — $500 billion in the next three years. About half the total is held domestically but that still leaves huge amounts owned by banks around the world.

French banks are exposed to Italian debt to the staggering tune of $393 billion, German banks of $162 billion. The stress tests show:

BNP Paribas (France) — $40 billion

Dexia (Belgium) — $22.3 billion

Commerzbank (Germany) — $15.7 billion

Credit Agricole (France) — $15.3 billion

Societe Generale (France) — $12.4 billion

Deutsche Bank (Germany) — $10.9 billion

Hypo Real Estate (Germany) — $10 billion

British banks, who don’t have a lot of Greek or Portuguese debt, would be heavily affected by an Italian default. They have $77 billion in Italian debt, according to the Financial Times.

So what about credit default swaps?

As Stefan Homburg, director of the Institute for Public Finance at Hannover’s Leibniz University, explains: “The simple answer is, there is no easy way to say how exposed banks are, because in order to find out the risk expositions, you have to know the respective [credit default swap] positions.”

Credit default swaps, which banks buy to offset their risk, are a murky area that banks and insurance companies don’t have to report on in detail. However it is clear that they make U.S. institutions vulnerable.

“The immediate problem is that with a lot of the bank debt … they’ve bought insurance for this debt and a lot of the insurance is from American companies. If the debt was defaulted … it would be a hit on the American insurance industry, so there’d be that knock-on effect,” said Bruce Stokes, senior transatlantic fellow at the German Marshall Fund of the United States.

According to the Bank for International Settlements, while U.S. creditors have just 5 percent of the direct exposure to Greek debt, they have 56 percent of the indirect exposure through CDSs. Similarly, the United States has 25 percent of indirect exposure to Ireland and 44 percent to Portugal. That equals about $33.6 billion for Greece, $54 billion for Ireland and $41 billion for Portugal.

Unfortunately, the market for CDSs is notoriously opaque. They are known as “over the counter” securities, meaning they can be bought and sold without anyone having to declare much information. Kash Mansori, an economist who writes the respected blog The Street Light, recently wrote that there were two serious concerns for the United States:

“First, I fear that this may have the potential consequence of exacerbating the flight to safety that will happen in the event of Greece’s default; if you have no idea who is really going to be on the hook and ultimately liable for CDS payments, your best strategy may be to trust no one.

“Second, I wonder if there’s a public relations disaster just lying in wait for the big US banks. After all, how will you feel (assuming you don’t work on Wall Street) when you read the headline that Big Bank X lost money because it sold billions of dollars of credit default insurance while it was on taxpayer life-support? Rightly or wrongly, I’m guessing that Big Bank X will not be very popular for a while.”

The “Winner”

The banks detailed above hold more than $165 billion in Greek, Portugese and Italian debt. But there is one clearly more exposed than the others: France’s BNP Paribas, with more than $50 billion in the troubled European countries’ debt. The next most exposed is Belgium’s Dexia, with more than $30 billion owed. The most exposed German bank, Commerzbank, holds more than $21 billion.

Posted in Kinh Te | Leave a Comment »

Công an Hà nội đạp vào mặt người biểu tình…

Posted by hoangtran204 trên 20/07/2011

Những nhân sĩ và trí thức Hà Nội đang dùng ngòi bút để tố cáo hành động thô bạo của công an Hà Nội dùng bạo lực đạp một người biểu tình ôn hòa.

—————-

Hà Nội, ngày 19 tháng 07 năm 2011

Kính gửi: Ông Nguyễn Đức Nhanh
Giám đốc Công an thành phố Hà Nội

1. Chúng tôi những người tham gia biểu tình phản đối Trung Quốc gây hấn tại biển Đông hoan nghênh Công an thành phố Hà Nội (CATPHN) đã phần nào tạo điều kiện cho một số cuộc biểu tình tại Hà Nội cho đến ngày 03/07/2011.

2. Đáng tiếc, hai cuộc biểu tình tự phát gần đây đã bị CATPHN trấn áp, đặc biệt là cuộc biểu tình diễn ra sáng ngày 17/07/2011. Chúng tôi đề nghị ông Giám đốc CATPHN trả lời trước công luận về mấy nội dung sau:

a. Căn cứ theo quy định nào của Pháp luật, CATPHN đã bắt giữ người mà không có lệnh hợp pháp trong cuộc biểu tình ngày 17/07/2011 bắt giữ người biểu tình ôn hòa (ít nhất 46 người).

b. Bức ảnh bốn Công an “khiêng” một công dân trong cuộc biểu tình trên đã được nhiều hãng thông tấn Quốc tế truyền tin khắp thế giới. Công dân này bị “khiêng” đến một chiếc xe buýt và một nhân viên an ninh mặc thường phục trên xe buýt đã dùng chân đạp vào mặt, miệng công dân đó nhiều lần. Video Clip về cảnh này cũng được truyền khắp trên Internet. Việc đàn áp thô bạo này có phải là theo lệnh của lãnh đạo CATPHN không? Nếu là hành vi tự ý của nhân viên an ninh, lãnh đạo CATPHN có xử lý gì đối với nhân viên này?

3. Nếu CATPHN tiếp tục đàn áp thô bạo, bắt giữ không có căn cứ Pháp luật đối với những người biểu tình ôn hòa phản đối Trung Quốc gây hấn tại biển Đông trong thời gian tới, chúng tôi sẽ đề nghị xem xét trách nhiệm của người đứng đầu lực lượng CATPHN.

Kính chào Ông

Những công dân Việt Nam tham gia biểu tình ôn hòa phản đối Trung Quốc gây hấn tại biển Đông tại Hà Nội ký tên:

Nguyễn Quang A
Lê Dũng
Phạm Duy Hiển
Đỗ Minh Tuấn
Nguyễn Trọng Tạo
Phạm Xuân Nguyên
Nguyễn Xuân Diện
Nguyễn Huệ Chi
Nguyễn Văn Phương
Đặng Bích Phượng

P1200421.JPGP1200419.JPGP1200423.JPGP1200424.JPGnguồnTheo blog Nguyễn Xuân Diệndanluan.org

Công an ở Hà nội bắt một người biểu tình, khiêng lên xe buýt, và đạp vào mặt của người nầy.

(H14) Bạn đọc cho biết, người mặc áo trắng đang chỉ tay là Trung tá tên Canh, phó CA quận Hoàn Kiếm. Người áo vàng bên phải, đang khoang tay nhận chỉ đạo là Đại úy Minh – người đã đạp vào mặt người biểu tình tên Đức. Chiếc xe biển số xanh : 31A-5788, chung quanh là một dàn an ninh đàn em.
Ngoài ra, bạn đọc còn cho biết thêm, người mặc áo đen, đeo kính cận rất đáng ngờ. Một số người nghi ngờ đây là người TQ.
—–
Người bị đạp vào mặt:

Người bị công an khiêng lên xe buýt và đạp vào mặt là Nguyễn Trí Đức, sinh 1976, cầm bó hoa, đeo kính, áo kẻ dọc phớt hồng (nguồn Nguyễn Tường Thụy)

*Coi thêm ở đây:  danlambao

ở đây

Posted in Biểu Tình và Lập Hội, Công An, Đảng CSVN | Leave a Comment »

Công an đã bắt được người xúi dục dân chúng biểu tình…

Posted by hoangtran204 trên 19/07/2011

Ai xúi dục biểu tình ?

Sau khi bị đưa về đồn công an, từng người đi biểu tình bị tách ra để thẩm vấn. Câu hỏi chung của công an là

 

– Ai xúi dục đi biểu tình ?

 

Mọi người đều trả lời chung là xuất phát từ tinh thần yêu nước, tự nguyện đi không ai xúi dục.

 

Câu này hầu như công an biết được trước, nên họ có nhiều cách đối phó, người thì họ mai mỉa là chắc đi được ai cho gì mới đi hăng thế. Người khác thủ thỉ nhà nước lo hết rồi, không phải bận tâm biểu tình làm gì, mất trật tự, an ninh khiến kẻ xấu lợi dụng.

 

Cuối cùng đến một cụ già, công an hỏi:

 

– AI xúi dục đi biểu tình ?

 

Cụ già ngơ ngác:

 

– Các ông xui tôi, giờ lại hỏi thế là sao ?

 

Công an:

 

– Sao lại nói chúng tôi xui, chúng tôi là người nhà nước cơ mà

 

Cụ già:

 

– Thì nhà nước xui .

 

Lúc này thì công an ngơ ngác, sau đó đập bàn:

 

– Ông già không được nói linh tinh.

 

Cụ già hỏi:

 

– Thế tôi hỏi anh, chúng tôi ra đó trước hay các anh ?

 

Công an:

 

– Chúng tôi ra trước, nhưng để bảo đảm an ninh trật tự.

 

Cụ già:

 

– Tôi chỉ hỏi ai ra trước, các anh ra từ sáng sớm, căng dây, cho người bảo vệ. Tôi thấy thế cho là nhà nước tổ chức biểu tình, tôi mới tham gia. Chứ ở chỗ khác không có công an , không có cơ động, không căng dây. Tôi biết làm sao được là chỗ đó có biểu tình mà đến. Lần nào các anh cũng đến trước chuẩn bị sẵn, sao lại bảo là ai xui.  Tôi ở quê, quê tôi mỗi lần có hội nhà nước tổ chức, y rằng là có dân quân xã căng dây, cấm đường, rồi cảnh sát cũng dẹp đường,  tôi lên Hà Nội, thấy y chang mọi thứ từ trước, mới nghĩ rằng nhà nước tổ chức mới tham gia. Lần sau các anh đừng có ở đấy, thì tôi không đến đó làm gì, còn có các anh thì chúng tôi mới đến.

 

Công an và cụ già đôi co, cụ già vẫn nhất quyết cho rằng nhà nước tổ chức biểu tình. Công an bắt cụ không được biểu tình, cụ già bảo nếu các anh không ra đó trước thì tôi cũng sẽ không ra. Còn các anh đã ra thì tôi cũng ra.

 

Nói tóm lại cụ già cho rằng, nếu công an không ra đó, cụ cũng không ra làm gì .

 

Công an hỏi cung nói sẽ đề nghị ý kiến của cụ lên cấp trên, để lần sau chính quyền sẽ không phái công an, dân phòng, an ninh ra chăng dây ở nơi vườn hoa là chỗ vui chơi công cộng, kẻo nhân dân hiểu lầm là nhà nước tổ chức hội hè, hay mít tinh gì mọi người lại đến dự.

Nguoibuongio1972

Posted in Giải Trí | Leave a Comment »

Đảng CSVN đang đu dây với Mỹ và Trung Quốc ra sao

Posted by hoangtran204 trên 18/07/2011

Bài “Tái ngộ Mỹ-Việt” của Xavier Monthéard, được đăng trên nguyệt san Le Monde Diplomatique, tháng Sáu 2011, đã bị kiểm duyệt tại Việt Nam. RFI xin giới thiệu bản dịch.

36 năm sau chiến tranh: Tái ngộ Mỹ – Việt

Bản báo cáo bí mật mang tựa đề ‘‘Quan hệ Mỹ-Việt, 1945 – 1967’’, vốn tiết lộ những lời giả dối của chính quyền Mỹ trong việc đưa quân tham chiến Việt Nam, vừa được giải mật để cho công chúng được quyền tham khảo. Về phía mình, chính quyền Hà Nội đã lật qua trang sử. Hơn thế nữa, mùa hè vừa qua, các cuộc tập trận hỗn hợp Mỹ-Việt diễn ra ngay tại nơi mà những người lính GI đầu tiên đã đổ bộ cách đây hơn 40 năm…

* *

Bán đảo Cam Ranh, ở miền trung Việt Nam (*). Trời gió lộng làm nhấp nhô cụm sóng trên biển « Hoa Nam » mà người Việt gọi là « Biển Đông ». Bị thu hẹp bởi hàng rào kẽm gai, một con đường ngoằn ngoèo dẫn đến căn cứ hải không quân mà quân đội Hoa Kỳ đã dựng lên trong thời chiến tranh Việt Nam. Các đồn lính cũ kỹ, tựa như một lớp áo, được khoác lên mảnh đất khô cằn trơ trụi. Binh lính và nhân viên hải quan thơ thẩn qua lại. Bến cảng quân sự không tiếp đón khách thăm viếng, mà họ có đến thì để làm gì ? Từ nhiều năm qua, hoạt động ở vịnh Cam Ranh diễn ra chầm chậm.

Tháng 10 năm 2010, Cam Ranh như thể bừng tĩnh sau giấc ngủ uể oải : Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã tuyên bố mở cảng Cam Ranh để tiếp đón tàu thuyền của tất cả các nước. Hoa Kỳ là ứng viên.

Kể từ năm 2003, khoảng một chục chiến hạm Mỹ đã ghé vào các cảng của quốc gia cựu thù. Lần này, những người lính của Chú Sam, không vũ khí cũng như không hành trang, đã thực sự trở lại xứ sở của Bác Hồ – với tư các là thượng khách. Mọi chuyện diễn ra như thể những năm tháng chiến tranh, do 5 vị chủ nhân Nhà Trắng (1) liên tục tiến hành không còn nằm trong ký ức Việt Nam.

20 năm xung đột khốc liệt, ghê rợn kết thúc vào tháng Tư năm 1975 với việc chiếm được Sài Gòn, như thể bị lãng quên, người ta dường như cũng quên cả thái độ sau đó của chàng khổng lồ bị làm nhục, quyết tâm phong toả viện trợ quốc tế đối với một chú lùn đã đánh bại mình và cấm vận thương mại đã được duy trì cho đến năm 1994.

Khu trục hạm « USS John S. McCain » ghé cảng Đà Nẵng

Vào tháng 8 năm 2010, cuộc đối thoại quốc phòng Mỹ-Việt đầu tiên diễn ra tại Hà Nội.

Trong cùng tháng, ở ngoài khơi Đà Nẵng – ngay tại nơi mà những người lính Mỹ đầu tiên đổ bộ vào năm 1965 – các sĩ quan cao cấp của Việt Nam ra biển tham quan tàu Mỹ USS George Washington, biểu tượng hàng đầu của hạm đội Bẩy và là một trong 11 hàng không mẫu hạm Hoa Kỳ.

Trong khi đó, khu trục hạm USS John S. McCain thì thả neo ở Đà Nẵng. Tại Hà Nội, tên của ông John McCain, ứng viên đảng Cộng Hoà ra tranh cử tổng thống Mỹ năm 2008, không còn làm chói tai. Nguyên là phi công oanh tạc cơ, và như vậy bị xem như là ‘‘một tội phạm chiến tranh’’, theo như lời ông nói sau nay, ông John McCain đã bị cầm tù trong vòng 5 năm rưỡi tại Việt Nam. Được trao tặng huân chương chiến công vì những nỗi thống khổ phải chịu đựng trong lúc bị bắt, ông trở thành một vị anh hùng đối với một bộ phận công luận Mỹ.

Tính chính đáng này đã giúp cho ông John McCain thuyết phục được phe bảo thủ, giúp cho tổng thống đảng Dân Chủ Bill Clinton tuyên bố bình thường hoá quan hệ giữa hai nước. Không thù oán, phía Việt Nam quan tâm đến giai đoạn sự nghiệp sau này của ông McCain. Và các bức ảnh chụp tổng thống Bill Clinton nhân chuyến viếng thăm Việt Nam lần đầu tiên vẫn được treo tại cửa hàng bán thức ăn nhanh tại thành phố Hồ Chí Minh…

Còn giờ đây, vợ của vị tổng thống này, bà Ngoại trưởng Hillary Clinton thì hoan nghênh về chặng đường mà hai nước đã trải qua: « Thay vì là cựu thù, chúng ta đã biết coi nhau như là những đối tác, đồng nghiệp và bạn hữu. Chính quyền Obama sẵn sàng nâng quan hệ Mỹ-Việt lên một tầm mức cao hơn (2) ».

Nhìn từ phía Hà Nội, việc xích lại gần Hoa Kỳ trước hết là theo logic kinh tế. Từ khi hiệp định thương mại song phương có hiệu lực vào năm 2001, trao đổi mậu dịch giữa hai nước gia tăng đều đặn. Vào năm 2000, trao đổi thương mại ở mức 1 tỷ đô la, đến năm 2010, thì đã lên đến 18,3 tỷ đô la. Chủ tịch Phòng Thương mại Mỹ tại Việt Nam, bà Jocelyn Trần, nhắm tới mục tiêu 35 tỷ đô la từ đây cho đến năm 2020 (3).

Cán cân thương mại nghiêng hẳn về phía Hà Nội, các xuất khẩu sang Hoa Kỳ, – chủ yếu là hàng may mặc và giầy dép – mang về cho Việt Nam 14,8 tỷ đô la năm 2010, tương đương hơn một phần năm tổng thu nhập từ bên ngoài.

Mối quan hệ kinh tế chặt chẽ với Washington giúp cho Việt Nam hội nhập vào hệ thống thương mại quốc tế. Vào năm 2007, Việt Nam trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO). Từ đó trở đi, mức bình quân thu nhập hàng năm tính theo đầu người vượt qua ngưỡng một ngàn đô la. Theo cách tính của Ngân hàng Thế giới, Việt Nam được xếp vào danh sách các quốc gia có mức thu nhập trung bình.

Cái giá phải trả của sự khởi đầu phồn thịnh này là cần phải lật qua trang sử với 3 triệu người chết trong chiến tranh, các khu vực đất đai bị tàn phá, các gia đình bị tan nát. Để làm việc này, cần phải suy nghĩ kỹ và viết lại ký ức.

Theo nhà sử học Wynn W. Gadkar-Wilcox, « Sau năm 1990, các nhà nghiên cứu Việt Nam bắt đầu giảm nhẹ tầm quan trọng của thời kỳ 1954-1975, trong quan hệ với Mỹ, và ưu tiên đề cập đến giai đoạn 1941-1945. Trong giai đoạn này, Hoa Kỳ đã hợp tác với Việt Minh, và nhiều thành viên của cơ quan tình báo OSS (Office of Strategic Services, tiền thân của CIA) đã có quan hệ gắn bó cá nhân với ông Hồ Chí Minh. (…)

Dựa vào các tập nghiên cứu của ông Robert Hopkins, mang tựa đề Hoa Kỳ và Việt Nam, 1787-1941, chuyên gia Phạm Xanh đã nhấn mạnh đến sự quan tâm của tổng thống Mỹ Thomas Jefferson (1801-1809) đối với các vụ lúa tại miền nam Việt Nam, cũng như nhiều cuộc thám hiểm mà Mỹ đã thực hiện tại Việt Nam vào đầu thế kỷ thứ XIX (4). »

Một nửa dân số Việt Nam dưới 26 tuổi. Quá khứ chiến tranh đối với họ rất xa vời và hình ảnh của Hoa Kỳ tạo trong tâm trí của họ niềm say mê. Sức quyến rũ đó không chỉ xuất phát từ đồng đô la xanh, mà còn nảy sinh từ « Giấc mơ kiểu Mỹ »: ai cũng có thể làm giàu nếu chịu khó và quyết tâm làm việc. 13 ngàn du học sinh – một kỷ lục đối với các nước Đông Nam Á – đã ghi tên vào một trường đại học ở phía bên kia bờ Thái Bình Dương.

Thỏa thuận đang thai nghén trong lĩnh vực hạt nhân dân sự

Miền nam Việt Nam, do lịch sử, rất sẵn sàng đón tiếp các đầu tư bằng đô la. Việc tập đoàn khổng lồ Intel chuyên sản xuất mạch vi xử lý đặt một nhà máy ở ngoại ô thành phố Hồ Chí Minh (trước kia là Sài Gòn) có giá trị biểu tượng : đó là cơ sở lắp ráp và kiểm tra lớn nhất của tập đoàn này trên thế giới, với tổng đầu tư ước tính 1 tỷ đô la. Trên một blog của website thuộc doanh nghiệp này, ngay từ tháng 9 năm 2009, người ta có thể đọc thấy hàng chữ « We are back in Saigon ! » (« Chúng tôi trở lại Sài Gòn »)…

Mối diễm tình này không có nghĩa là không còn một vài tỵ hiềm, bởi vì Hoa Kỳ ngay lập tức đã tự coi mình là những người bảo vệ nhân quyền.

Trong năm 2010, 80 người đã bị bắt – trong số này 14 người bị kết án – vì đã bày tỏ quan điểm trái ngược với đường lối của đảng Cộng sản. Nhiều nhà báo và viết blog nằm trong số này. Trong một cuộc họp báo được tổ chức tại Hà Nội, ngày 10/12/2010, đại sứ Mỹ Michael W. Michalak đã nhẹ nhàng tuyên bố « rất tiếc, trong ba năm nhiệm kỳ của tôi, những tiến bộ trong lĩnh vực nhân quyền còn không đồng đều ».

Ở mặt đối lập, kỷ niệm sống động về sự dính líu của các tổ chức Mỹ trong các « cuộc cách mạng mầu » tại Đông Âu, nuôi dưỡng sự nghi kỵ. Phải chăng chính quyền Mỹ sẽ không khuyến khích một kịch bản « diễn biến hòa bình », mà đối với Hà Nội, đồng nghĩa với ý đồ gạt bỏ chế độ và bản sắc văn hóa Việt Nam ?

Thế nhưng, những đụng chạm này chỉ là một sự phản ánh nhạt nhòa những thù hận trong quá khứ.

Thậm chí, năm 2011 có thể sẽ chứng kiến hai nước thiết lập quan hệ đối tác chiến lược. Một thỏa thuận hợp tác trong lĩnh vực hạt nhân dân sự đang được hoàn tất. Bản thỏa thuận liên quan đến việc chuyển giao công nghệ và phát triển các cơ sở hạ tầng, mở cửa cho các doanh nghiệp Mỹ tiếp cận với một thị trường hứa hẹn : Việt Nam mong muốn xây dựng 13 nhà máy điện hạt nhân, với tổng công suất là 16 000 MW, trong 20 năm tới. Các điều khoản của bản thỏa thuận không cấm việc làm giàu uranium – cho phép, về mặt lý thuyết, thực hiện một chương trình hạt nhân quân sự – trong khi Hoa Kỳ thường xuyên gây sức ép buộc các nước khác từ bỏ quyền được làm giàu uranium như vậy. Nhiều nhà bình luận đã so sánh các điều khoản này, có lợi cho Việt Nam, với các điều khoản của bản thỏa thuận Ấn Độ – Hoa Kỳ về hạt nhân năm 2007 (5).

Tuy nhiên, ông Brahma Chellaney (6), giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Chính trị New Delhi cũng giảm thiểu những điểm đồng nhau này : « Do Ấn Độ không phải là thành viên hiệp ước không phổ biến hạt nhân (TNP), nước này phải chịu nhiều hạn chế đặc biệt chiếu theo luật lệ của Mỹ. Do vậy, chính phủ Mỹ cần phải có được một sự miễn trừ đặc biệt từ phía Quốc hội. Trong trường hợp của Việt Nam, nước ký kết TNP, một sự đòi hỏi như vậy không cần thiết. Vả lại, vì Ấn Độ là một quốc gia có vũ khí nguyên tử, thỏa thuận song phương cần phải được xây dựng một cách chuyên biệt. »

Như vậy, hai thỏa thuận này gần giống nhau là do mục đích của chúng chứ không phải do bản chất. Ông Chellaney thẩm định : « Hoa Kỳ sử dụng các thỏa thuận hạt nhân ký với Ấn Độ và Việt Nam như một công cụ chiến lược để xây dựng một sự hợp tác thân thiết ».

Do đó, Việt Nam chắc chắn sẽ có được một thỏa thuận tốt nhất trong nhóm « các quốc gia hạt nhân trỗi dậy », đó là những nước vừa mới bắt đầu thực hiện một chương trình hạt nhân dân sự.

Ngược lại với trường hợp Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất, ví dụ thỏa thuận giữa Hoa Kỳ và Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất năm 2009 ghi rõ Tiểu vương quốc này từ bỏ quyền làm giàu uranium trên lãnh thổ của mình. Phải chăng « nhất bên trọng, nhất bên khinh ? » Khi còn là phát ngôn viên bộ Ngoại giao, ông Philip J.Crowley đành phải nói rằng « Hoa Kỳ đàm phán những hiệp định như vậy theo từng trường hợp, đối với từng nước, từng vùng (7) ».

« Một hoàn cảnh mong manh như vỏ trứng »

Đối với Washington, việc củng cố các quan hệ quân sự và hợp tác hạt nhân có một mục tiêu : đó là duy trì sự ưu thế của Mỹ tại Thái Bình Dương.

Do vậy, trong năm 2010, Hoa Kỳ đã bán 6 tỷ đô la thiết bị quân sự cho Đài Loan ; thông báo nối lại mối quan hệ với lực lượng đặc biệt Indonesia (Kopassus), cho dù lực lượng này có dính líu đến những vụ tàn sát ở Timor, Aceh và Papua ; bảo vệ quyền tự do lưu thông ở Biển Đông và coi đây là lợi ích quốc gia của Hoa Kỳ, theo lời bà Ngoại trưởng Clinton ; tiến hành các hoạt động quân sự chung với Hàn Quốc ở Hoàng Hải ; khi xẩy ra va chạm tại vùng quần đảo Điều Ngư/Senkaku mà Trung Quốc và Nhật Bản đều coi thuộc chủ quyền của mình, Hoa Kỳ đã nhắc lại rằng Nhật Bản sẽ được hậu thuẫn nếu cần thiết, theo tinh thần hiệp ước phòng thủ chung.

Đa số các biện pháp này, nếu không nói là tất cả, đều nhằm đối phó với sự lớn mạnh của Trung Quốc : sự bật dậy của đế chế Trung Hoa tất đương nhiên dẫn đến việc Hoa Kỳ nâng cao giá trị chiến lược của các quốc gia láng giềng với Trung Quốc.

Tạp chí Mỹ về Quốc phòng 2010, bốn năm ra một lần (US Quadrennial Defense Review 2010) nói đến Indonesia, Malaysia và Việt Nam như là những đối tác tiềm tàng trong lĩnh vực an ninh. Ông Kurt Campbell, trợ lý Ngọai trưởng phụ trách Đông Á và Thái Bình Dương còn nói rõ hơn : « Khi nhìn vào tất cả những quốc gia bạn bè của chúng ta ở Đông Nam Á, tôi nghĩ rằng chính với Việt Nam mà chúng ta sẽ có những triển vọng tốt đẹp nhất » (8).

Đối với cường quốc Hoa Kỳ, lại một lần nữa, đất nước này là một con tốt cần thiết, nhưng lần này, không phải để chống chủ nghĩa cộng sản, mà chống lại cái gọi là chủ nghĩa bành trướng Trung Quốc.

Mối ám ảnh này có được sự đồng thanh. Từ nhiều thế kỷ qua, Việt Nam xoay trong quỹ đạo của đế chế Trung Hoa đồng thời tìm cách thoát ra khỏi sức hút của nó.

Sự phụ thuộc về kinh tế của Việt Nam vẫn còn rất lớn – nhập khẩu từ láng giềng phương Bắc chiếm một tỷ lệ cực kỳ cao. Do vậy, ông Carlyle Thayer, giáo sư danh dự tại đại học Souh New Wales, Canberra, chuyên gia về Việt Nam, đánh giá rằng « không một nước nào có thể tự tin và có ảnh hưởng như Trung Quốc trong quan hệ với Hà Nội (9) ».

Về cơ bản, ngoại giao Việt Nam tìm cách hòa thuận với càng nhiều nước càng tốt để thoát ra khỏi Bắc Kinh, nhưng đồng thời lại muốn duy trì quan hệ ưu tiên với nước láng giềng lớn – đây là mối bận tâm mà ngoại giao Việt Nam chia sẻ với nhiều nước Đông Nam Á.

Cựu đại sứ Đinh Hoàng Thắng không coi nhẹ những khó khăn : « Nếu Việt Nam có thể thuyết phục được Trung Quốc rằng việc cải thiện quan hệ Mỹ-Việt sẽ không ảnh hưởng đến các quyền lợi của nựớc thứ ba, thì đó sẽ là một thành công lớn (10) ».

Công việc này cũng không phải là dễ dàng đối với Mỹ. Ông Brantly Womack, giáo sư Quan hệ Quốc tế tại đại học Virginia Hoa Kỳ (11) nhắc lại rằng « sự xa cách giữa Hoa Kỳ và châu Á và mối quan hệ song song của Mỹ vừa với Trung Quốc vừa với Việt Nam tiếp tục làm biến dạng sự hiểu biết về mối quan hệ song phương này ».

Phía Trung Quốc cũng đưa ra những mệnh lệnh đôi khi mạnh mẽ : « Việt Nam phải hiểu rằng, bị kẹp giữa hai cường quốc, họ đang chơi một trò chơi nguy hiểm, với hoàn cảnh vừa bấp bênh vừa mong manh như vỏ trứng », người ta có thể đọc thấy những dòng này trên Nhân dân nhật báo, cơ quan ngôn luận của đảng Cộng sản Trung Quốc (…) « Nếu Trung Quốc và Việt Nam thực sự dẫn đến đối đầu quân sự với nhau, thì không có một tàu chở sân bay nào, của bất kỳ một nước nào, có thể bảo đảm an ninh cho Việt Nam ».(12)

Một cuộc tranh chấp lãnh thổ trên Biển Đông liên quan đến quần đảo Hoàng Sa – Paracels và Trường Sa – Spratleys đã tích tụ vào cuối thế kỷ XX (13). Cho dù vừa qua đã củng cố hạm đội của mình, Hà Nội không thể tranh đua với hải quân Trung Quốc. Do vậy, theo phân tích của ông Richard Bitzinger, chuyên gia về các vấn đề quốc phòng tại châu Á-Thái Bình Dương, « Việt Nam muốn thấy có nhiều quốc gia hơn nữa can thiệp vào Biển Đông. Đối với Việt Nam, đây sẽ là một sự bảo vệ. Việt Nam cũng muốn nhận được sự hỗ trợ để mở rộng và hiện đại hóa các cơ sở hạ tầng của cảng trong vịnh Cam Ranh. Tôi nghĩ rằng hải quân Mỹ sẽ tranh thủ vị trí chiến lược này, hải quân các nước khác cũng sẽ làm như vậy – đương nhiên, chỉ có hải quân Trung Quốc là sẽ vắng mặt !»

Cuộc xung đột 1979 với Bắc Kinh bị bỏ qua

Liệu một ngày nào đó, người ta sẽ thấy Hoa Kỳ ủng hộ Việt Nam chống lại đế chế Trung Hoa ? Quả sẽ là trớ trêu quá mức, nếu như người ta nhớ lại rằng sau khi tuyên bố độc lập ngày 2/09/1945, Trung Quốc của Mao Trạch Đông là nước đầu tiên công nhận nền dân chủ cộng hòa non trẻ này, vào tháng Giêng năm 1950, trước Liên Xô khoảng 12 ngày… Giữ cân bằng giữa hai nước bảo trợ cộng sản, mà 2 nước này sau đó lại trở thành đối thủ của nhau, là một phương trình mà Hồ Chí Minh và những người kế tục ông đã giải quyết thành công trong 25 năm.

Viện trợ của Liên Xô đã biến mất khi chiến tranh lạnh kết thúc. Cuộc xung đột công khai giữa Việt Nam và Trung Quốc vào cuối những năm 1970, đã trở thành vấn đề húy kỵ nhất trong chính sách đối ngoại.

Hơn 30 năm sau khi xẩy ra cuộc xung đột, vẫn không thể nào nói đến cuộc chiến tranh ngắn ngủi trong tháng Hai tháng Ba năm 1979 đã làm hàng chục ngàn người thiệt mạng. Báo chí cũng như sách giáo khoa không nói đến cuộc chiến tranh này. Về mặt chính thức, tất cả mọi việc đều tốt đẹp với Bắc Kinh.

Lịch sử đã cho thấy những nguy hiểm đối với Việt Nam khi nước này rơi vào những tính toán địa-chính trị của những siêu cường láng giềng.

Ỏ Hà Nội, liệu có ai sẽ quên điều này ? Nhà ngoại giao Hoàng Anh Tuấn vừa nhắc lại rằng Việt Nam « là nước duy nhất trên thế giới đã tiến hành những cuộc đàm phán dồn dập và kéo dài với Hoa Kỳ (…) Cho dù lòng tin và sự hiểu biết lẫn nhau đã có những tiến triển đáng kể, nhưng không có gì bảo đảm là những hiểu nhầm chiến lược lại không xuất hiện (…) Do vậy, quan hệ song phương chỉ có thể được thiết lập một cách bền vững trên cơ sở bình đẳng nếu như mối bang giao này được xây dựng nhằm phục vụ các lợi ích quốc gia của Việt Nam cũng như của Hoa Kỳ, chứ không chỉ nhằm phục vụ các lợi ích địa – chính trị của một bên.(14) ».

Hiện nay, có nhiều điềm tốt. Thế nhưng « sự hung dữ của vị trí địa lý (15) » có thể vẫn chưa thôi định hướng số phận quốc gia Việt Nam.

* *
Chú thích

(*) Trong bài, tác giả viết là Cam Ranh ở miền nam Việt Nam

(1) Dwight Eisenhower (giữa 1954 và 1961), John F. Kennedy (1961-1963), Lyndon B. Johnson (1963-1969), Richard Nixon (1969-1974) et Gerald Ford (giữa 08/1974 và 04/1975).

(2) Diễn văn đọc tại Hà Nội, ngày 21/07/2010 bên lề cuộc gặp lần thứ 43 cấp Ngoại trưởng Hiệp hội các nước Đông Nam Á – ASEAN.

(3) Báo Tuổi Trẻ, Hà Nội, 20/12/2010.

(4) Wynn W. Gadkar-Wilcox, « Mối quan hệ không rõ ràng : Những ấn tượng về Hoa Kỳ trong giảng dậy lịch sử tại Việt Nam 1989 – 2009 – An ambiguous relationship : Impressions of the United States in Vietnamese historical scholarship, 1986-2009 », World History Connected, tập 7, n° 3, Washington, DC, 10/2010.

(5) Đọc Siddharth Varadarajan, « Ấn Độ khao khát được thừa nhận », Le Monde diplomatique, 11/ 2008.

(6) Tác giả của cuốn « Sức mạnh châu Á: Sự vươn lên của Trung Quốc, Ấn Độ và Nhật Bản », HarperCollins, New York, 2006. Ngoại trừ có chỉ dẫn ngược lại, tất cả những trích dẫn của các nhà phân tích đều xuất phát từ các cuộc trao đổi.

(7) Được trích dẫn trong bài của Daniel Ten Kate và Nicole Gaouette, « Hoa Kỳ, Việt Nam tiến hành các cuộc đàm phán về công nghệ hạt nhân như là những đối tác tranh giành hợp đồng », Bloomberg, 06/08/2010.

(8) Agence France-Presse, 07/2010.

(9) Carlyle Thayer, « Quan hệ của Việt Nam với Trung Quốc và Hoa Kỳ », hội thảo được tổ chức tại Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Hà Nội, 10/12/2010.

(10) Phỏng vấn dành cho VietNamNet (ấn bản điện tử), 17/02/2010.

(11) Brantly Womack, « Hoa Kỳ và mối quan hệ Trung-Việt », The Asia-Pacific Journal: Japan Focus (ấn bản điện tử), 2008.

(12) Lý Hồng Mai, “Khuyên Việt Nam không nên đùa với lửa », Nhân dân nhật báo, Bắc Kinh, 17/08/2010.

(13) Trung Quốc dùng quân đội chiếm đóng quần đảo Hoàng Sa từ tháng Giêng 1974 nhưng Việt Nam và Đài Loan vẫn đòi hỏi chủ quyền của mình ở đây. Trung Quốc, Việt Nam, Malaysia, Philippines và Đài Loan chiếm đóng các đảo khác nhau trong quần đảo Trường Sa (Brunei có đòi hỏi chủ quyền nhưng không đưa quân đội đến đây). Phân tích về các vấn đề chính trị và tìm kiếm giải pháp, xem Stein Tønnesson, trong « Những thay đổi sắp tới của Trung Quốc tại biển Hoa Nam », Harvard Asia Quarterly, Cambridge (Massachusetts), 12/2010

(14) Hoàng Anh Tuấn, « Sự nhích lại gần nhau giữa Việt Nam và Hoa Kỳ : Một câu trả lời », Contemporary Southeast Asia, tập. 32, n° 3, Singapour, 2010.

(15) Carlyle Thayer, « Sự hung dữ của vị trí địa lý : Những chiến lược của Việt Nam nhằm kiềm chế Trung Quốc tại biển Hoa Nam», International Studies Association, Montréal, 03/2011.

Posted in Chính Sách Đối Ngoại | Leave a Comment »

sự tham lam của các viên chức cao cấp của đảng

Posted by hoangtran204 trên 18/07/2011

Tất cả nguồn lợi của việc khai thác dầu hỏa ở Việt Nam trong hơn 20 năm qua đều rơi vào túi của các viên chức cao cấp của đảng CSVN. Họ nhập khầu xe 4 bánh ban phát cho nhau và đổ xăng mà không cần phải trả tiền. Còn dân chúng VN thì phải mua xăng với giá cao ngất ngưỡng, cao hơn cả giá xăng đang bán tại Mỹ.
Bài báo dưới đây cho thấy nguồn lợi khai thác dầu và ga ở Biển Đông hàng năm rất lớn, khoảng 54 tỉ đô la hàng năm, nhưng dân chúng VN suốt hơn 20 năm qua không được hưởng, vì sự tham lam của các viên chức cao cấp của đảng.

Chủ Nhật, 17/07/2011

Vietsovpetro sắp có giàn khoan “siêu khủng”

Đây là giàn khoan “khủng”, sẽ “trình làng” trong khoảng 30 tháng tới, về quy mô sẽ không kém cạnh so với giàn khoan khủng mà Trung Quốc mới hoàn thành.
Tại buổi lễ kỷ niệm 30 năm thành lập Liên doanh Dầu khí Việt Xô (Vietsovpetro) tổ chức hôm qua tại Bà Rịa – Vũng Tàu, ông Đặng Minh Hồng, Bí thư đảng ủy xí nghiệp Vietsovpetro, cho biết lần đầu tiên liên doanh này chế tạo, lắp ráp thành công hệ thống giàn khoan 90m nước với tỷ lệ nội địa hóa cao nhất từ trước đến nay, giảm dần trang thiết bị, chuyên gia và nhân lực…

Đây là giàn khoan “khủng”, sẽ “trình làng” trong khoảng 30 tháng tới, về quy mô sẽ không kém cạnh so với giàn khoan mà Trung Quốc mới hoàn thành.

Vietsovpetro đã khai thác được trên 193 triệu tấn dầu và trên 23 tỷ m3 khí đồng hành, góp phần quan trọng bảo đảm an ninh năng lượng đất nước, đóng góp lớn cho xuất khẩu, tạo nguồn thu cho Việt Nam và LB Nga. Tổng doanh thu bán dầu thô đạt 54,3 tỷ USD, nộp ngân sách Nhà nước và lợi nhuận của phía Việt Nam gần 34,4 tỷ USD, lợi nhuận phía Nga đạt 8,8 tỷ USD.Đến dự lễ kỷ niệm, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đánh giá Vietsovpetro có tác động mạnh mẽ, mở ra một giai đoạn phát triển mới của ngành công nghiệp Dầu khí Việt Nam.Thủ tướng đề nghị Tập đoàn Dầu khí Việt Nam nói chung và Vietsovpetro nói riêng tiếp tục đẩy mạnh công tác tìm kiếm, thăm dò mà hướng phát triển chủ yếu là thềm lục địa Việt Nam, ưu tiên tìm kiếm, thăm dò ở các vùng nước sâu, xa bờ. Tích cực nghiên cứu, tìm kiếm cơ hội để mở rộng vùng hoạt động tìm kiếm – thăm dò – khai thác ở LB Nga, các nước thuộc Liên Xô trước đây và các nước thứ ba. Chú trọng đầu tư nghiên cứu áp dụng công nghệ tiên tiến để khai thác một cách an toàn và hiệu quả hệ thống công nghệ hiện có, tận thu tối đa nguồn tài nguyên dầu khí tại mỏ Bạch Hổ và mỏ Rồng.

Thủ tướng tin tưởng, Vietsovpetro tiếp tục đóng góp thiết thực cho đất nước; góp phần giữ gìn và bảo vệ chủ quyền biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc.
Theo Đang Thư
nguồn báo Dân Trí

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

Cuoc Bieu Tinh tiep dien o Ha Noi va Saigon

Posted by hoangtran204 trên 17/07/2011

 

Tiếp theo đây sẽ là phần tường thuật trực tiếp cuộc biểu tình  tại Hà Nội sáng nay …

Bắt đầu 5h50′: Khu vực quanh Sứ quán Trung Quốc chưa thấy một bóng nhân viên an ninh, trật tự nào …

6h10′ – Vẫn không một bóng công an quanh vườn hoa Lenin, trên đường Hoàng Diệu trước SQTQ … Hic! Ớn đảng ớn chính phủ bữa nay cho thả dàn hay sao đây?

6h20′  – He he! Đừng có mơ nha … một xe đầy nhóc Cơ động đang đổ xuống … đường Điện Biên-vườn hoa Lenin

6h30′ – Bắt đầu giăng dây cấm đường …

8h -BS đang tranh thủ nạp nhiên liệu, độc giả QM từ vườn hoa Lenin nhắn tin cho biết “công an dày đặc, nhiều xe bus sẵn sàng, chưa thấy bóng dáng nhân dân” …

8h35 – Đã cấm cả ngã tư Hoàng Diệu-Điện Biên Phủ cho đến ngã tư Trần Phú Điện Biên Phủ, nhưng các nhân sĩ trí thức đã tập trung đông đấu tranh. Hiện công an vừa dỡ dây thừng cho phép vào khu vực vườn hoa Lenin.

Nhưng xe cộ bị cấm lưu thông toàn bộ khuôn viên Hoàng Diệu-Điện Biên-Trần Phú, rộng hơn các lần trước. Nghe tin một số người đã bị hốt lên xe bus …

8h55′ – CS Cơ động dàn hàng ngang ép một đoàn biểu tình ra xa khu vực Bảo tàng Quân đội, trước vườn hoa Lenin, hướng về phía cổng tư thất TS Cù Huy Hà Vũ … Có mặt rất đông các trí thức như TS Nguyễn Quang A, GS Phạm Duy Hiển, Nhà văn Phạm Viết Đào … với nét mặt rất bức xúc …

9h – Anh Nguyễn Văn Phương, người đã đứng lên đọc bản tuyên cáo trước Nhà hát lớn trong cuộc biểu tình trước (3/7) gọi điện cho một nhà báo và cho biết anh đang bị hốt lên xe bus cùng khoảng 20 người, xe đang hướng về Mỹ Đình. Qua điện thoại, nghe có tiếng phụ nữ tranh cãi gay gắt …

Một độc giả ở Sài Gòn cho biết: lúc này ở công viên Thống nhất, các anh vẫn…đến hẹn lại lên, có mặt đầy đủ đông hơn mọi lần, tuy nhiên vẫn cho xe cộ lưu thông bình thường qua đường NTMK, PNT

9h10′ – “Đoàn diễu hành bất đắc dĩ” đã qua cổng tư thất TS CHHV, tới ngang ba-ri-e xe lửa Điện Biên Phủ, các nhân sĩ cùng thanh niên đi trước, công an sau …

Bức ảnh này cũng sẽ đi vào lịch sử … chống ngoại xâm của Nhân dân Việt Nam (ảnh do CTV NH chụp)

Bắt người biểu tình đưa lên xe bus “chuyên dụng” …

GS Huệ Chi và Nhà văn-blogger Phạm Viết Đào

Hai phóng viên hãng thông tấn Mỹ AP

9h30′ – Đoàn biểu tình bị ép ra tới đâu cấm đường tới đó, hiện đã cấm tại khúc Trần Phú-Lý Nam Đế-Phùng Hưng

Sài Gòn : 9h25 – Đoàn biểu tình đang ở gần phía chợ Bến Thành, số lượng khoảng hơn 20 người, nhưng đang bị hàng trăm công an bao vây. Cần được tiếp ứng khẩn cấp  <<<==Tin từ Dân Làm BáoSài Gòn : – 9h31 – Một nhóm biểu tình khác đang bị cô lập ngay tại công viên 23/9 – Một bạn đọc DLB nhắn tin mọi người hãy hỗ trợ kêu gọi bà con cùng tiếp ứng <<<==DLB

    Sài Gòn : – 09h38 –  Ca sĩ Diên An đã bị bắt <<==DLB
9h50′ – Đoàn đã bị chia cắt, một số đang ở Trần Phú, một số khác đang tiến đến gần Nhà hát Lớn …
10h – Đoàn tới Nhà hát lớn, tập trung trong quán kế bên, bên ngoài sân nhà hát không khí bình yên, có lẽ kết thúc ở đây?
10h10′ – Một nhà báo cho biết anh Nguyễn Văn Phương nhắn tin đang bị giữ tại đồn công an số 1, Mỹ Đình, nghe công an kháo nhau là đã bắt 46người. Mọi người đang phải viết tường trình …
10h15′ – Có tin từ blog Nguyễn Hữu Quý cho biết chị Nguyên Bình, con gái Tướng Nguyễn Trọng Vĩnh cũng đã bị bắt … Một tin khác cho biết TS Nguyễn Hồng Kiên-blog Gocsay cũng bị bắt …
10h35′ – Khu vực quanh SQTQ đã vắng tanh, nhưng lực lượng công an vẫn còn nhiều cùng xe công vụ, 2 xe bus …
10h55′ – Trước Nhà hát lớn, một số người biểu tình cùng các nhân sĩ trí thức ra trước thềm nhà hát chụp hình, nhưng đã bị lực lượng công an can thiệp mời đi chỗ khác …

 

—————————–

Sài Gòn : Tin từ bạn đọc Dân Làm Báo cho biết, sau khi qua khỏi chợ Bến Thành, thì nhóm biểu tình bị công an quây lại và buộc phải quay về công viên 23/9. Một bạn trẻ bị bắt lên xe đặc chủng, những người khác phản ứng hành vi bắt người này. Ngay lập tức các anh “mặc thường phục” xông vào đánh đập nhóm biểu tình dã man.

Nhân chứng cho biết, người biểu tình trong đó có nhiều phụ nữ, người già cũng đã bị CA đánh đập không nương tay bằng những đòn “lên gối, xuống chỏ”. Một người đứng gần đó còn cho biết tiếp, lực lượng An ninh còn sử dụng đến cả roi điện để trấn áp

Video biểu tình tại Hà Nội


 

Biểu tình Hà Nội : Xe Bus của công an nhốt người yêu nước (Ảnh : Cộng tác viên Dân Làm Báo)
Bắt người (Ảnh : CTV Dân Làm Báo)

“Âm binh quái thú” của CA Hà Nội

Sài Gòn :  09h55 – Tin cho biết, hàng chục người biểu tình bị bắt đều đã bị cách ly, một số bị đưa về CA phường Phạm Ngũ Lão, một số khác thì bị đưa về CA phường Bến Thành

09h48 –  Tin mới nhận cho biết, CA đã áp tải những người biểu tình bị bắt về đồn CA phường Nguyễn Thái Bình (Địa chỉ : số 19-21 Phạm Ngũ Lão Quận 1, TP.HCM). Số điện thoại CA :            + 84 8 3829 3026      

– 09h46 – Tất cả những người biểu tình tại công viên đều đã bị công an bắt hết

– 09h41 –  Một xe áo xanh của Thanh niên Xung Phong đổ xuống và bắt khoảng 20 người ở chợ Bến Thành. Hiện tại không biết những người này bị đưa về đâu

 – 09h39 : Tất cả người biểu tình đều đã bị quây bắt tại 68 – Bùi Viện … 

– 09h38 –  Ca sĩ Diên An đã bị bắt

 

 

 

 Chùm ảnh CA Hà Nội đàn áp, bắt bớ người biểu tình yêu nước (Ảnh : Bạn đọc danlambao)

 

Sài Gòn sáng 17/07 – Các nhóm thanh niên ngồi chờ đợi (Ảnh : Nhóm Ngày Chủ Nhật)


 

Sài Gòn sáng 17/07 (Ảnh : Nhóm Ngày Chủ Nhật)

Sài Gòn : – 09h31 – Một nhóm biểu tình khác đang bị cô lập ngay tại công viên 23/9 – Một bạn đọc DLB nhắn tin mọi người hãy hỗ trợ kêu gọi bà con cùng tiếp ứng

Hà Nội : – 9h30′ – Đoàn biểu tình bị ép ra tới đâu cấm đường tới đó, hiện đã cấm tại khúc Trần Phú-Lý Nam Đế-Phùng Hưng

Sài Gòn : 09h25 – Đoàn biểu tình đang ở gần phía chợ Bến Thành, số lượng khoảng hơn 20 người, nhưng đang bị hàng trăm công an bao vây. Cần được tiếp ứng khẩn cấp 

Hà Nội : 09h25 – Hà Nội : Có 3 xe buýt, 2 xe dừng lại ở Cột Cờ để bắt người, 1 xe đứng ở đó cách 300m. Đã bắt hơn 200 người, ai ở trong đoàn biểu tình thì không thoát ra được.

Nhóm trí thức, nhân sỹ bị quây lại cuối cùng. Và đã giải tán biểu tình!

 Ảnh : anhbasam

 ***

Sài Gòn : 09h15 – Lúc này, đã có hơn 20 người tham gia đoàn biểu tình, và đã xuất hiện các khuôn mặt “lạ” đi theo đoàn.


Hà Nội : 0920 – Rất đông người biểu tình bị bắt đưa lên xe bus chở về hướng Mỹ Đình.

Đoàn biểu tình tiếp tục bị trấn áp và xé lẻ

***

 

Biểu tình ở Hà Nội (Ảnh : Bạn đọc danlambao)

Hà Nội : 09h05 – Đoàn biểu tình bị trấn áp dữ dội – Rất đông người đã bị bắt đưa lên 4 chiếc xe bus gần đóNhiều người bị bắt bớ và đánh đập rất dã man

Theo anhbasam : 9h – Anh Nguyễn Văn Phương, người đã đứng lên đọc bản tuyên cáo trước Nhà hát lớn trong cuộc biểu tình trước gọi điện cho một nhà báo và cho biết anh đang bị hốt lên xe bus cùng khoảng 20 người, xe đang hướng về Mỹ Đình. Qua điện thoại, nghe có tiếng phụ nữ tranh cãi gay gắt …

Sài Gòn : 08h55 – Hàng chục người đang đứng và hát những bài ca yêu nước ngay tại công viên 23/9, gần khu vực chợ Bến Thành.

Hiện tại đoàn biểu tình đang hát hò rất khí thế tại góc Phạm Ngũ Lão – Đề Thám. Ngay khi nhận được bản tin này, các bạn hãy mau chóng nhắn tin, gọi điện thoại cho bạn bè kéo đến ủng hộ

Trước đó, một nhóm 10 người bắt đầu xuất phát tại Đề Thám – Phạm Ngũ Lão lúc 08h47

 

 

 Ảnh biểu tình ở Hà Nội (Ảnh : Bạn đọc danlambao)

 

 

Ảnh : Người Buôn Gió

Hà Nội : 08h45 – Tiếng hô :  “Bảo vệ những người biểu tình yêu nước” vang lên. Ít nhất có khoảng hàng chục người đã bị công an xông vào bắt bớ đưa đi đâu không rõ.

– Đoàn biểu tình vẫn tiếp tục vừa tuần hành, vừa hô vang khẩu hiệu

Tin từ Người Buôn Gió:

Khoảng 60 người biểu tình vừa tập trung được 10 phút, lực lượng an ninh ngầm phối hợp với cảnh sát đã ập đến bắt giữ rất nhiều người đưa lên xe buýt, hiện giờ tình trạng rất hỗn loạn và phức tạp. Người biểu tình phản đối dữ dội, công an vẫn tiếp tục bắt người đưa lên xe, chiếc xe buýt chạy lùi, chạy xuôi theo đoàn để tiện việc bắt giữ . Ước tính có gần 20 người bị giữ, bố con nhà Lê Dũng nằm trong số bị bắt này.

Sài Gòn : 08h50 – Tại công viên 23/09 đã thấy 1 nhóm mặt áo đỏ xuất hiện, chuẩn bị cầm băng rôn

 Ảnh : CTV Dân Làm Báo

  

Ảnh : Người Buôn Gió

 

***

Hà Nội : 8h30′ – Cuộc biểu tình đã bắt đầu bùng nổ.

– Sau khi đã tập hợp thành công, đoàn biểu tình hô vang các khẩu hiệu chống Trung Quốc, bảo vệ HS – TS.

– Lực lượng công an chìm nổi với số đông áp đảo đang ra sức trấn áp và ra tay giải tán đoàn biểu tình. Nhiều người đã bị bắt giữ ngay sau khi chỉ tập hợp được ít phút

Sài Gòn : 8h30′ – Hiện tại đã có một nhóm đứng sẵn ở công viên 23/9

– Khu LSQ TQ rất đông đảo lực lượng công an

– Phía Nhà thờ Đức Bà nhìn bề ngoài có vẻ yên tĩnh

– Công viên có khoảng 100 người ngồi, đang chờ thêm mọi nguời. Một bạn đọc DLB nhắn mọi người tiếp tục dùng điện thoại, nhắn tin SMS kêu gọi bạn bè kéo về phía công viên. Tại đây thấy có khoảng 7-8 công an thường phục.

Nguon:Read here 

and here 

 

—-

Posted in Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa, Biểu Tình và Lập Hội | Leave a Comment »

Các nhân sĩ, trí thức và cựu cán bộ cao cấp ở Hà Nội lại bị Bộ Ngoại Giao không tiếp và bị gạt gẫm 2 lần…

Posted by hoangtran204 trên 13/07/2011

Một chính quyền mà chỉ chuyên gạt gẩm và lừa dối, tìm đủ thứ các mánh khóe nhỏ nhặt nhất để dối gạt. Lần nầy, họ lừa đảo ngay cả những công dân có trách nhiệm, muốn biết sự thật về chuyện gì đã xẩy ra trong cuộc đàm phán giữa TQ và  VN liên quan tới chủ quyền của quần đảo  Hoàng Sa và Trường  Sa

Loạt bài và tin tức dưới đây gồm 5 bài, diễn ra từ ngày 2-7 đến 13 tháng 7, cho ta thấy rõ sự trí trá của những người tự xưng là chính quyền!  Tóm tắt, loạt bài nầy có nội dung như sau;.

_18 người viết đơn yêu cầu bộ Ngoại Giao cung cấp tin tức về cuộc gặp gỡ đàm phán hôm 25-6-2011 giữa ông Thứ  Trưởng Hồ Xuân Sơn và phía  TQ liên quan về chủ quyền của các đảo Hoàng  Sa và Trường  Sa …

_Bộ Ngoại  Giao nhận đơn và hứa hẹn bằng điện thoại rằng họ sẽ liên lạc và đồng ý tiếp nhóm 18 người ở văn phòng Bộ Ngoại  Giao vào ngày 8-7…Nhưng đến hẹn, thì họ thay đổi ngày hẹn, và hẹn tới tuần sau là ngày 13-7…Suốt thời gian nầy, được hỏi tại sao không gởi thư mời cho có tính chính danh, bộ trả lời là: vì cấp bách, gởi thư e không đủ thời gian! Về sau, nhóm người nầy còn phát hiện là Bộ Ngoại  Giao chỉ gọi phone mời 4 người, chứ không mời cả nhóm 18 người như đã hứa…trong điện thoại.

_Đến kỳ hẹn, Bộ Ngoại  Giao thực hiện các điều tráo trở khác. Trong khi 8 trong nhóm 18 người tưởng là Bộ Ngoại Giao giữ đúng lời hứa, nên họ đã ngồi chờ mỏi mòn ngoài quán cafe  (ngay trước cổng bộ ngoại giao) từ lúc 7- 8:30 sáng, để hy vọng được vào gặp ông  thứ trưởng  Hồ Xuân  Sơn như bộ ngoại giao đã hứa hẹn. Tuy nhiên, vào buổi sáng 13-8, Bộ Ngoại  Giao  cho biết người giải đáp các yêu cầu trong bản Kiến nghị lại là một Phó ban Biên giới, ông Trần Duy Hải,  chứ không phải ông Thứ trưởng Hồ Xuân Sơn. Và nhân viên Bộ Ngoại Giao cũng không bước qua đường mời nhóm 8 người đang ngồi chờ trong quán cafe ngay trước cổng B.N.G.
Rút cuộc, cuộc hẹn đã không xảy ra, các nhân sĩ rời khỏi quán cafe ra về…

Đối với các nhân sĩ, trí thức, cựu cố vấn của Thủ Tướng, cựu đại sứ, và các cán bộ cấp tướng, cấp tá đã về hưu, có tuổi đời từ 60-90, mà chính quyền Hà  Nội còn tìm cách gạt gẫm, hứa hẹn, rồi lật lọng 2-3 lần; đến ngày hẹn, lại tìm cách thay người khác ra tiếp, và còn hạ nhục cả nhóm người nầy bằng cách không cho một nhân viên thư ký sang quán cafe mời cả nhóm 8 người vào gặp, thì ai mà dám vào, với cách làm đó, B.N.G. đã coi khinh cả nhóm 18 người nầy như những đứa con nít, thì chắc chắn chính quyền nầy coi dân chúng của họ cũng chẳng ra gì.

Kết luận: Nên đổi tên Bộ Ngoại Giao thành Bộ Giảo Hoạt mới xứng. Ngẫm nghĩ lại, lời nói nổi tiếng nhất của cựu TT Ng. Văn  Thiệu cách đây hơn 40 năm vẫn luôn luôn đúng.

Chi tiết như sau:

—-

Chúng tôi đi gặp Bộ Ngoại giao

Nguyễn Huệ Chi

Sau khi bản Kiến nghị yêu cầu Bộ Ngoại giao cung cấp thông tin liên quan đến quan hệ với Trung Quốc đề ngày 2-7-2011 do 18 người ký tên được LS Trần Vũ Hải trực tiếp đưa đến Bộ Ngoại giao ngày 4-7-2011 và nhận được chữ ký của người tiếp nhận là ông Nguyễn Văn Vượng, Phó phòng tiếp nhận công văn hành chính của Bộ, hết thảy những người đã ký vào Kiến nghị đều trong tâm trạng chờ đợi, hy vọng một sự đáp ứng chân thành, nghiêm túc của Bộ Ngoại giao Việt Nam.

Tối ngày 12-7-2011 tôi đang làm việc thì nhận được một cú điện thoại từ Bộ Ngoại giao gọi đến, xưng danh đầu dây bên kia là một phụ nữ tên Loan trao đổi với tôi. Chị Loan cho biết Bộ có lời mời tôi, một trong những người ký tên vào Kiến nghị đúng 9 giờ sáng mai, 13-7-2011 đến Bộ để được nghe giải đáp về những gì bản Kiến nghị đề xuất. Tôi hỏi lại : “ Tại sao Bộ không gửi giấy mời đến từng người mà dùng hình thức gọi điện ? ” Trả lời : “ Thời gian eo hẹp không gửi giấy kịp khắp tất cả, cho nên đành phải gọi điện cho nhanh ”. Hỏi tiếp : “ Người tiếp chúng tôi trong cuôc họp sẽ là ai ? ”. Trả lời : “ Theo cháu biết thì có một lãnh đạo Bộ ra tiếp và trả lời các bác ”. “ Cũng được ” – tôi nghĩ vậy và cám ơn người gọi rồi ngưng máy.

Xong cuộc gọi điện ấy khoảng 15 phút tôi lại nhận được cú điện thứ hai của một thành viên trong số người ký tên là LS Trần Vũ Hải. Anh báo tin : anh em muốn rằng sáng mai, chúng ta có mặt tại 36 Điện biên Phủ lúc 7 giờ 30 sáng để trao đổi xem ta nên đề nghị vị lãnh đạo Bộ cho ta biết những gì, cốt hướng người giải đáp vào mục tiêu cần hỏi của chúng ta, làm cho cuộc gặp thêm phần hiệu quả.

Lời anh Hải quả hợp ý tôi. Tôi bèn lướt vội các trang mạng Trung Quốc để tìm thêm một số tin mà các trang mạng chính thống Trung Quốc đã đưa về cuộc họp giữa ông Hồ Xuân Sơn với các đồng nhiệm Trung Quốc trong ngày 25-6-2011. Hóa ra tìm được nhiều vô số, trang nào cũng nói những ý tương tự như văn bản tiếng Anh cúa Tân Hoa xã mà Kiến nghị đã lược trích. Rõ ràng là bên họ có sự “ chúng khẩu đồng từ ”, còn bên ta thì lời lẽ xem ra … tránh né và lúng túng. Tìm xong, tôi in sẵn một loạt đề mục chính làm bằng cứ rồi mới yên tâm lên giường nằm ngủ, bấy giờ đã 1 giờ sáng.

Đúng 6 giờ, còn chưa tỉnh giấc thì đã có một cú điện dựng dậy : điện thoại của nhà cách mạng lão thành Nguyễn Trọng Vĩnh. Cụ cho biết tối hôm qua cụ cũng nhận được điện từ Bộ Ngoại giao. Bộ còn có nhã ý đưa xe đến đón cụ, ưu tiên người cựu lãnh đạo cao niên của bộ. Cũng vì thế, cụ đổi ý là sẽ lên xe đi thẳng đến Bộ luôn cho tiện, còn anh em chờ nhau tại Café Trung Nguyên thì cứ có mặt ở đấy, đến giờ tất cả cùng vào. Nghe điện cụ xong, không ngủ nán được nữa, tôi trở dậy chuẩn bị làm vệ sinh cá nhân và uống tạm một cốc sữa đậu nành rồi lên đường lúc 7 giờ.

Đến 36 Điện Biên Phủ rất mừng là anh chị em có mặt đã khá đông. Gặp lại các anh Phạm Duy Hiển, Nguyễn Quang A, Phạm Xuân Nguyên, Trần Nhương, Nguyễn Xuân Diện, Nguyễn quang Thạch, và em Nguyễn Văn Phương, người đọc bản tuyên cáo tại Nhà Hát Lớn trong ngày biểu tình hôm 3-7-2011… Ai nấy đều rất vui. Cảm động nhất là sự hiện diện của GS Hoàng Tụy, người đang có những nỗi buồn riêng trong gia đình thế mà vẫn đến rất đúng giờ.

hca

Từ trái sang : Nguyễn Huệ Chi, Phạm Xuân Nguyên, Nguyễn Quang A, Trần Nhương, Nguyễn Văn Phương, người đứng là Trần Vũ Hải

Chuyện trò một lúc chúng tôi xoay vào yêu cầu chính mà bản Kiến nghị đã đề xuất : Rất cần bộ Ngoại giao cho biết nội dung bản thỏa thuận giữa lãnh đạo cấp cao Việt Nam và Trung Quốc gồm những điểm gì ; ngoại trừ những vấn đề thuộc phạm vi bí mật Nhà nước ra còn thì cần được bạch hóa tất cả mọi điều khoản đã ký kết, và càng cần được bạch hoá bản ký kết cuối cùng, ít nhất cũng là trích yếu các điều khoản đó.

Vì đây là vấn đề thiêng liêng thuộc phạm vi lãnh thổ lãnh hải muôn đời của Tổ quốc, Chính phủ muốn ký kết bất cứ nội dung gì đều phải trưng cầu ý dân, ký xong phải thông báo cho dân được rõ. Đây cũng là dịp tìm hiểu xem người đóng vai “ đặc sứ ” của ta (cách gọi ông Hồ Xuân Sơn trong các bản tin Trung Quốc) có rút kinh nghiệm đối phó với con cáo già phương Bắc hay không hay là vẫn cứ dẫm phải vết chân người đi trước, hớ hênh này tiếp theo hớ hênh nọ, mắc mưu người mà cứ tưởng mình “ ăn ” được người (“ Dại rồi còn biết khôn làm sao đây ”).

Ngoài ra, có một đề tài vẫn luôn luôn được Trung Quốc vin vào để biện hộ cho hành vi lấn chiếm biển đảo, trắng trợn bắn giết bộ đội và ngư dân chúng ta trong hàng mấy chục năm nay, đó là bức Công hàm gửi ông Chu Ân Lại của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng; Bộ Ngoại giao cần cho biết quan điểm chính thức của Nhà nước ta đối với bức công hàm này cũng như những luận cứ Nhà nước đã dùng để trả lời Trung Quốc về bức công hàm này – điều đáng nói là tại sao cho đến nay Nhà nước vẫn chưa công khai hóa quan điểm của Nhà nước về bức công hàm không có giá trị pháp lý đó trước toàn dân ? v.v…

hvb
GS Hoàng Tụy ngồi giữa, bên trái là GS Phạm Duy Hiển, bên phải là tác giả, đang trao đổi về những vấn đề sẽ nêu lên trong cuộc gặp gỡ sắp diễn ra với vị Thứ trưởng

Tuy vậy, khi hỏi nhau rằng ai nhận được điện của Bộ Ngoại giao vào tối hôm qua thì mới biết, chỉ có 4 người : Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh, nhà văn Nguyên Ngọc, GS Phạm Duy Hiển và GS Nguyễn Huệ Chi.

Sao lại như vậy chứ? 4 người trên con số 18 nói lên điều gì? 4 người có đại diện được cho cả 18 người cùng ký vào Kiến nghị không? Vì lẽ gì đến một công dân đáng kính như Giáo sư Hoàng Tụy cũng không nhận được điện mời của Bộ ? Chúng tôi loay hoay mãi mà không tìm ra lời giải cho mấy câu hỏi đầy băn khoăn ám ảnh đó. Ai cũng cảm thấy buổi gặp mặt do Bộ Ngoại giao bố trí có điều gì hơi bất thường, nếu không thì cũng là quá vội vàng, cốt làm cho xong, thiếu một sự chuẩn bị kỹ lưỡng.

Anh Phạm Duy Hiển cho biết nhà văn Nguyên Ngọc cũng đã gọi điện báo tin anh sẵn sàng từ Đà Nẵng bay ra ngay Hà Nội để dự cuộc gặp sáng hôm nay nếu như trong tay anh có một mảnh giấy của Bộ Ngoại giao đến đúng lúc… Những tín hiệu trước cuộc “ hội ngộ ” như thế quả thực gợi lên nhiều nan đề khó mà tự giải đáp với nhau.

Cuối cùng, đành tìm ra một phương án tạm thời như sau : mọi người hãy ngồi lại để LS Trần Vũ Hải và TS Nguyễn Quang A sang trước xem xét tình hình và đề đạt một thỉnh cầu đầy thiện chí : Bộ Ngoại giao đã muốn gặp cả 18 người ký Kiến nghị thì mời Bộ cử một phái viên sang quán café Trung Nguyên nói một lời mời chính thức để anh chị em yên tâm cùng nhau sang, nếu không, người được mời và người không được mời đều rất khó xử. Hai người tức tốc ra đi.

Một chốc sau anh Nguyễn Quang A trở về cho biết, trước cổng bộ Ngoại giao là cô Loan cùng với hai cán bộ nữa đang đợi chúng ta. Nhưng cô Loan từ chối sang quán café nói lời mời với đoàn, vì theo cô, nơi đấy là một tụ điểm ăn sáng, sang mời không tiện (Hay nhỉ, gửi giấy mời cho tất cả không tiện, gọi điện cho tất cả không tiện, khi anh chị em đến đông đủ, cần một lời mời chính thức cũng không tiện nốt, thế thì phải thế nào mới tiện đây?).

Anh Nguyễn Quang A còn cho biết thêm, xe đón Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh đã đến, Thiếu tướng đang có ý chờ anh em mình. LS Trần Vũ Hải đã vào theo cụ. Tuy nhiên người giải đáp các yêu cầu trong bản Kiến nghị lại là một Phó ban Biên giới, ông Trần Duy Hải,  chứ không phải ông Thứ trưởng Hồ Xuân Sơn.

Tất cả đều ồ lên một tiếng như một tiếng đáp đồng thanh : Thế thì còn nói gì nữa. Người ta mong là mong nghe những điều đang làm lòng dân xôn xao và nóng hết mọi cái đầu yêu nước, xoay quanh những bản thông cáo báo chí chèo nhau giữa ta và Trung Quốc hơn mười ngày qua, chứ vấn đề biên giới thì các vị đã ký từ đời tám hoánh nào rồi, đâu phải là nhu cầu bức thiết phải giải đáp vào lúc này.

Không cần chờ đợi lâu, đã có ngay một quyết định dứt khoát, dù không ai bàn với ai : TS Nguyễn Xuân Diện thay mặt mọi người sang trả lời với quý Bộ rằng cả 17 người sẽ không sang nếu Bộ không có một lời mời chính thức, vì chúng tôi không cầu mong đến nghe thông tin của Bộ Ngoại giao về biên giới mà theo luật, Bộ Ngoại giao có nhiệm vụ trả lời nghiêm chỉnh Kiến nghị của công dân.

Mặt khác, nội dung bản Kiến nghị liên quan đến những vấn đề hệ trọng vượt ra ngoài quyền hạn một Phó ban Biên giới của Bộ, vì thế nếu không có ông Hồ Xuân Sơn đứng ra giải đáp các thắc mắc của nhân sĩ trí thức nhằm làm sáng tỏ những điều vẫn được đồn đại trong dân chúng về việc “ đi đêm ” giữa ta và Trung Quốc quanh chủ quyền biển đảo, thì cuộc gặp gỡ này hoàn toàn không cần thiết.

Anh Diện nhận lời đóng vai “ ngoại giao ” cho đoàn và chỉ mười phút sau anh trở lại thông báo nhiệm vụ đã được hoàn thành xuất sắc : anh đã nói lên điều cần thiết có tính chính danh là một lời mời của Bộ, còn không thì đoàn Kiến nghị trước sau cũng có cách để lấy được bản thỏa ước giữa lãnh đạo cấp cao hai nước, đó là quyền lợi chính đáng của cả dân tộc chứ không phải là một trái núi Făng-si-păng để bày ra thách đố, trong khi, hiện không ít báo chí nước ngoài đang chờ đợi cuộc gặp để hỏi ý kiến về kết quả cũng như tinh thần trao đổi của Đoàn.

Nghe anh Diện nói xong, lần lượt GS Hoàng Tụy, GS Phạm Duy Hiển rồi Trần Nhương, Phạm Xuân Nguyên… mọi người đứng lên, nhìn nhau cười một cái –  nụ cười trầm ngâm nhiều ý nghĩa – và nhẹ nhàng chia tay.

Còn câu chuyện ở trong Bộ Ngoại giao, theo lời cụ Nguyễn Trọng Vĩnh kể lại thì diễn ra theo kịch bản sau : cụ và Trần Vũ Hải đi vào, phòng họp đã có đại diện các ban phòng vụ viện đủ cả. Ông Trần Duy Hải Phó ban Biên giới nói rằng sở dĩ ông được giao đứng ra tiếp đoàn vì ông ta đích thân đi theo Thứ trưởng Hồ Xuân Sơn nên nắm được đầy đủ diễn biến các cuộc gặp gỡ giữa ta và Trung Quốc. Ông cũng cho hay Bộ Ngoại giao đã quyết định mở cổng chính để mời Đoàn sang, nhưng cử một người đi sang đó mời thì không thể làm được. Cụ Nguyễn Trọng Vĩnh đáp lời ông : “ Bên ấy hiện có những trí thức nổi tiếng, là chuyên gia hàng đầu trong nhiều ngành nhiều lĩnh vực, các Giáo sư thứ thiệt chứ không phải loại dỏm, cho nên sự tự trọng đối với họ là biểu hiện nhân cách, không có một lời mời thì họ sang sao được ”. LS Trần Vũ Hải tiếp lời cụ Vĩnh : “ Nếu các ông quyết định không sang mời các vị nhân sĩ trí thức thì hay là ông làm văn bản trả lời chúng tôi có được không ? ” Ông Phó ban Biên giới lắc đầu : “ Có cụ Nguyễn Trọng Vĩnh đây là người biết rõ, trong nguyên tắc ngoại giao, nhiều điều nói được mà viết ra không được. Hay là thôi, cụ Vĩnh đã có mặt đây rồi, coi như cụ là Trưởng đoàn, tôi cứ xin báo cáo, cụ đại diện cho cả Đoàn nghe vậy ”. Cụ Vĩnh xua tay ngay : “ Không được đâu. Nếu anh coi tôi là người cũ của Bộ, dẫn tôi sang một phòng riêng, kể cho tôi nghe tình hình cuộc gặp gỡ giữa ta và Trung Quốc thì nghe cũng chẳng sao, nhưng còn ngồi ở đây để anh báo cáo thì đâu có được, vì tôi chỉ là một cá nhân ký vào Kiến nghị, tôi làm sao mà thay mặt được cho cả Đoàn, tôi cũng có thì giờ đâu đi báo cáo lại với từng người một. Xin nói lại, những bậc trí thức không sang vì không nhận được lời mời chứng tỏ họ là người coi sự tự trọng là một phẩm chất. Vậy thôi, cuộc họp không thành, xin dừng lại ở đây ”. Thế là cụ và LS Trần Vũ Hải bắt tay quý vị trong bộ Ngoại giao và lên xe ra về.

N.H.C.

—-

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

******

Hà Nội, ngày 2  tháng 7 năm 2011

 

KIẾN NGHỊ

 YÊU CẦU BỘ NGOẠI GIAO CUNG CẤP THÔNG TIN

 LIÊN QUAN ĐẾN QUAN HỆ VỚI TRUNG QUỐC

 

Kính gửi:  Bộ Ngoại giao Việt Nam         

1.          Theo các thông tin báo chí, chúng tôi được biết ngày 25/6/2011, ông Hồ Xuân Sơn, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Việt Nam, đã có buổi gặp gỡ và làm việc với Ông Trương Chí Quân, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Trung Quốc, Ông Đới Bỉnh Quốc, Ủy viên Quốc vụ Trung Quốc.

2.           Ngày 28/6/2011, trên bản tin tiếng Anh của Tân Hoa Xã, đã có bài China urges consensus with Vietnam on South China Sea issue về cuộc gặp gỡ  này trong đó có những thông tin:

(i) Both countries are opposed to external forces getting involved in the dispute between China and Vietnam and vow to actively guide public opinion and guard against remarks or actions that undermine the friendship and trust between the people of the two countries, Hong said.”, tạm dịch như sau:

“Cả hai nước đều phản đối những thế lực bên ngoài can dự vào tranh chấp giữa Trung Quốc và Việt Nam và nguyện sẽ tích cực hướng dẫn công luận và ngăn ngừa những lời bình luận hoặc hành động làm tổn hại tới tình hữu nghị và sự tin cậy giữa nhân dân hai nước, theo ông Hồng Lỗi” ( Người phát ngôn Bộ ngoại giao Trung Quốc)

(ii)Chinese historical records show that in 1958, the Chinese government claimed the islands in the South China Sea as part of China’s sovereign territory, and then Vietnamese Premier Pham Van Dong expressed agreement in his diplomatic note to then Premier Zhou Enlai.”,  tạm dịch như sau:

“Những hồ sơ lịch sử của Trung Quốc đã cho thấy rằng năm 1958, chính phủ Trung Quốc đã khẳng định các hòn đảo trên Biển Hoa Nam như là bộ phận thuộc lãnh thổ quốc gia của Trung Quốc, và kế đó Thủ tướng Việt Nam Phạm Văn Đồng đã bày tỏ sự tán đồng trong bức thư ngoại giao ngắn của mình gửi tới Thủ tướng khi đó là ông Chu Ân Lai.”

Những thông tin trên chúng tôi không thấy đăng trên báo chí của Việt Nam.

3.           Chúng tôi, những công dân Việt Nam ký tên dưới đây, căn cứ vào Điều 53- Hiến pháp của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam 1992 (HP 1992) “Công dân có quyền … tham gia thảo luận các vấn đề chung của cả nước và địa phương, kiến nghị với cơ quan Nhà nước,…”, và Điều 69 – HP 1992 “Công dân …có quyền được thông tin;…”,  kiến nghị Bộ Ngoại giao Việt Nam như sau:

a.) Yêu cầu ông Hồ Xuân Sơn cho biết thông tin do Tân Hoa Xã đưa như đã trích  mục 2 (i) nêu trên có đúng sự thật không ?

Trong trường hợp những thông tin trên của Trung Quốc không chính xác, yêu cầu phía Trung Quốc phải cải chính và xin lỗi.

b.) Cho biết quan điểm của Việt Nam về bức thư  ngoại giao của Ông Phạm Văn Đồng năm 1958 nêu trong mục 2 (ii) trên đây ?

c.) Thông tin chi tiết (toàn văn) thỏa thuận đã đạt được (nếu có) giữa Ông Hồ Xuân Sơn và đại diện Trung Quốc trong buổi gặp đó.

Chúng tôi rất mong Bộ Ngoại giao sớm trả lời kiến nghị của công dân, thể hiện tôn trọng các quyền của công dân đã được ghi trong Hiến pháp.

Trân trọng,

Những người ký tên vào Bản kiến nghị này:

– Nguyễn Trọng Vĩnh
– Nguyễn Huệ Chi
– Hoàng Tụy
– Chu Hảo
– Phạm Duy Hiển
– Lê Hiếu Đằng
– Nguyên Ngọc
– Nguyễn Quang A
– Ngô Đức Thọ
– Trần Nhương
– Nguyễn Xuân Diện
– Phạm Xuân Nguyên
– Nguyễn Quang Thạch
– Cao Thị Vũ Hương
– Trần Vũ Hải
– Trần Kim Anh
– Hoàng Hồng Cẩm
– Nguyễn Văn Phương



Ghi chú: Bản Kiến nghị này đã được gửi tới Bộ Ngoại giao sáng nay, 4-7-2011.  Bản DPF: Ban kien nghi.  Tham khảo thêm bản tiếng Anh do độc giả dịch bên trang Nguyễn Xuân Diện.  Mời đọc thêm: 141. Trung Quốc thúc giục sự đồng thuận với Việt Nam trên vấn đề Biển Hoa Nam


———-

Thư của LS Trần Vũ Hải Gửi Bộ Ngoại về bản  Kiến Nghị 2/7/2011

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh Phúc

*****

Hà nội, ngày 11/7/2011

Kính gửi Bộ Ngoại giao Việt Nam

V/v: Buổi làm việc giữa đại diện Bộ Ngoại giao và những người ký tên Kiến nghị 2/7/2011.

Tôi – công dân Trần Vũ Hải, đang hành nghề luật sư, người chuyển Kiến nghị của 18 công dân Việt Nam yêu cầu Bộ Ngoại giao Việt Nam cung cấp thông tin về quan hệ với Trung Quốc (dưới đây viết tắt là Kiến nghị 2/7/2011) – được biết ngày 8/7/2011 đại diện Bộ Ngoại giao (ông Trần Duy Hải, Phó Chủ nhiệm Ủy ban biên giới quốc gia thuộc Bộ Ngoại giao) đã trao đổi với trợ lý của Luật sư Trần Vũ Hải (LS TVH) để xác định thời gian làm việc giữa đại diện Bộ Ngoại giao và 18 vị ký tên vào Kiến nghị trên. Ông Trần Duy Hải (TDH) đã đề nghị LS TVH thông tin cho các vị trên rằng 9 giờ sáng 13/7/2011, đại diện Bộ Ngoại giao (Ủy ban biên giới quốc gia) sẽ tiếp các công dân ký tên vào Kiến nghị tại trụ sở Bộ Ngoại giao (số 1 Tôn Thất Đàm). Trước đó, ông TDH đã liên lạc qua điện thoại với ông Chu Hảo, một vị ký tên Kiến nghị 2/7/2011, để mời 18 vị ký Kiến nghị này gặp đại diện Bộ Ngoại giao vào ngày 8/7/2011, và ngay sau đó, trợ lý của LS TVH đã liên lạc với ông TDH đề nghị Bộ Ngoại giao chuyển giấy mời riêng hoặc giấy mời chung thông qua văn phòng LS TVH để chuyển đến 18 vị trên

Tôi đã thông tin nội dung trên cho các vị ký tên Kiến nghị 2/7/2011. Hầu hết các vị hoan nghênh tinh thần cầu thị của Bộ Ngoại giao,  cho biết sẵn sàng tham dự buổi làm việc giữa đại diện Bộ Ngoại giao và những người ký tên vào Kiến nghị. Các vị này cho rằng, đây sẽ là buổi làm việc chính thức, nghiêm túc, công khai giữa một Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền với công dân, nên Bộ Ngoại giao cần có xác nhận bằng văn bản về buổi làm việc này, trong đó nêu rõ thời gian, địa điểm Buổi Làm việc, tên lãnh đạo Bộ Ngoại giao tham dự Buổi Làm việc, tên những người ký Kiến nghị 2/7/2011 được mời.  Tôi kính đề nghị Bộ Ngoại giao gửi văn bản với những nội dung trên tới Văn Phòng Luật sư Trần Vũ Hải, 81 Chùa Láng, Đống Đa, Hà nội, hoặc theo số fax: 3835.2455 để chúng tôi chuyển đến các vị ký Kiến nghị trên.

Chúc Buổi Làm việc giữa đại diện Bộ Ngoại giao và những người ký tên Kiến nghị 2/7/2011 sẽ diễn ra.

Nơi nhận:                                                                                                                                Trân Trọng

-Như trên.

-Các vị ký tên vào Kiến nghị 2/7/2011                                                                                Ký Tên

———-

Ngày 6-7-2011

Nguồn

“Lãnh đạo Bộ (Ngoại  Giao) phân công ông liên lạc với các vị tham gia ký tên vào bản Kiến nghị để thông báo mời các vị đến Bộ Ngoại giao vào thứ Sáu tuần này để gặp và trao đổi…”

Hồi 18h50′, thứ Tư, 6/7/11, – Chiều nay, một cán bộ cấp cao thuộc Bộ Ngoại giao đã gọi điện cho một trong các vị nhân sĩ tham gia ký tên trong bản Kiến nghị (BS xin không nêu tên cả hai người) và cho biết:

Lãnh đạo Bộ phân công ông liên lạc với các vị tham gia ký tên vào bản Kiến nghị để thông báo mời các vị đến Bộ Ngoại giao vào thứ Sáu tuần này để gặp và trao đổi. Khi được vị nhân sĩ cho biết ông đang đi công tác, đề nghị Bộ liên lạc với những người cùng ký tên, ông cán bộ BNG cho biết mình chỉ có số điện thoại của vị nhân sĩ này thôi.

    Theo quan điểm riêng của một số vị nhân sĩ, trí thức cùng ký tên vào bản Kiến nghị:

1- Hoan nghênh quyết định trên của BNG.

2- Bộ Ngoại giao đã biết rõ những người tham gia ký tên, nhưng nếu cần thiết, có thể liên lạc với Văn phòng Luật sư Trần Vũ Hải (nơi đã trực tiếp chuyển bản Kiến nghị tới BNG) để thông báo việc này.

3- Để thể hiện tinh thần nghiêm túc, trọng thị và minh bạch trước việc làm cao cả của các nhân sĩ trí thức về một sự việc trọng đại của đất nước, Bộ Ngoại giao cần có giấy mời cho từng vị ký tên trong bản Kiến nghị.

———-

Ngày 7-7-2011

Nguồn

TIN MỚI NHẤT TỪ VĂN PHÒNG LUẬT SƯ TRẦN VŨ HẢI

Văn phòng Luật sư Trần Vũ Hải vừa cho biết. 9h sáng nay, Văn phòng (VP LS TVH) đã liên lạc được với Bộ Ngoại giao (BNG). Nội dung như sau:

– VP LS TVH hỏi về việc phúc đáp và mời họp của Bộ Ngoại giao;

– Cán bộ BNG nói đã liên hệ bằng điện thoại với Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh – Lão thành Cách mạng, Nguyên Đại sứ Đặc mệnh toàn quyền Việt Nam tại Trung Quốc và Giáo sư Chu Hảo. BNG chỉ có số ĐT của 02 vị này. Nhưng hiện nay cả hai vị đều không đang ở Hà Nội. Vì vậy có thể chuyển sang Thứ Ba hoặc Thứ Tư tuần tới (12 hoặc 13 tháng 07) được không?

– VP LS TVH trả lời, việc đó VP không thể trả lời được. Và cuộc gặp không nhất thiết phải đủ 18 người đã ký Kiến nghị. Nhưng xin cung cấp đầy đủ địa chỉ, số điện thoại, số fax để BNG liên hệ gửi thư mời và VP sẽ chuyển đến tận tay 18 vị ký Kiến nghị. (Nếu thư gửi chung thì trong thư mời cần ghi rõ đầy đủ họ tên các vị đó, để VP làm bản sao gửi đi).

– Cán bộ BNG nói: Vậy thì sẽ xin ý kiến chỉ đạo của cấp trên và sẽ thông báo sau.

Như vậy, ngày mai, Thứ Sáu ngày 8 tháng 07 năm 2011, chưa có cuộc tiếp xúc giữa đại diện Bộ Ngoại giao với 18 người ký Kiến nghị “Yêu cầu Bộ Ngoại giao cung cấp thông tin liên quan đến quan hệ với Trung Quốc“.
Theo tôi được biết, có rất nhiều người dân và các cơ quan thông tấn báo chí trong và ngoài nước quan tâm đến việc này. Đây là một việc hoàn toàn công khai. Vì vậy, mọi người và các cơ quan báo chí, các blogger có thể liên hệ với Ông Trần Duy Hải, Phó Ban Biên giới của Bộ Ngoại giao, là người được giao việc liên hệ với chúng tôi để xin đăng ký tham dự, chứng kiến cuộc gặp gỡ, làm việc giữa Bộ Ngoại giao và 18 nhân sĩ, trí thức đã ký tên trong bản Kiến nghị.

Nguyễn Xuân Diện-Blog kính báo

—————

Thứ tư, 13 tháng 7, 2011

tin của BBC

Cuộc gặp với Bộ Ngoại giao  ‘bất thành’

Biểu tình chống Trung Quốc ở Hà Nội

Cuộc gặp giữa nhóm nhân sỹ trí thức yêu cầu cung cấp thông tin về quan hệ với Trung Quốc và Bộ Ngoại giao Việt Nam, dự tính diễn ra vào lúc 9 giờ sáng thứ Tư 13/07, đã không thành.

Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh, một trong số 18 nhân sỹ trí thức hàng đầu Việt Nam ký tên trong kiến nghị yêu cầu ‘cung cấp thông tin liên quan đến quan hệ với Trung Quốc’, nói với BBC từ Hà Nội rằng chỉ có một mình ông có mặt trong cuộc gặp, “nên tôi không nghe và ra về”.

Đáp lại kiến nghị của các nhân sỹ trí thức về thông tin cuộc gặp giữa Thứ trưởng Ngoại giao Hồ Xuân Sơn và đồng nhiệm Trung Quốc hôm 25/06, Bộ Ngoại giao đã sắp xếp cuộc gặp vào sáng thứ Tư.

Tuy nhiên, chỉ có ông Nguyễn Trọng Vĩnh, cựu đại sứ Việt Nam ở Bắc Kinh, là nhận được lời mời qua điện thoại và được Bộ Ngoại giao điều xe tới nhà riêng đón vào lúc 8:30 sáng.

Những người còn lại được chuyển lời hẹn gặp qua đại diện nhóm là luật sư Trần Vũ Hải.

Tiến sỹ Nguyễn Quang A cho hay ông cùng 7-8 người khác đã có mặt tại một quán cà phê đối diện Bộ Ngoại Giao trên phố Tôn Thất Đàm từ đầu giờ sáng để chờ lời mời sang làm việc.

“Thế nhưng họ không mời một cách đàng hoàng, nên tất cả đã quyết định bỏ về.”

Trong số các nhân sỹ chờ đợi trong quán cà phê, ngoài Luật sư Hải và Tiến sỹ Quang A, có Giáo sư Hoàng Tụy, Giáo sư Nguyễn Huệ Chi, Giáo sư Phạm Duy Hiển, Nhà văn Trần Nhương, Nhà văn Phạm Xuân Nguyên và Tiến sỹ Nguyễn Xuân Diện.

‘Công dân có quyền chất vấn’

Kiến nghị yêu cầu cung cấp thông tin của các nhân sỹ trí thức được ký ngày 02/07 và được chuyển tới Bộ Ngoại giao hôm 04/07.

Cũng những người này một tuần trước đó đã ký tên vào bản Tuyên cáo về ‘các hành động gây hấn của Trung Quốc’ ở Biển Đông, hiện được hàng nghìn người hưởng ứng.

Nói về cuộc gặp bất thành sáng 13/07, Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh giải thích: “Tôi ra về, vì không thể nghe thay cho cả 17 vị kia được”.

Ý nguyện của các vị nhân sỹ trí thức là được tiếp xúc với bản thân Thứ trưởng Hồ Xuân Sơn, người đã có tiếp xúc và hội đàm trong tư cách đặc phái viên của lãnh đạo cao cấp Việt Nam với Ủy viên Quốc vụ Trung Quốc Đới Bỉnh Quốc và Thứ trưởng Ngoại giao Trung Quốc Trương Chí Quân về vấn đề Biển Đông tại Bắc Kinh.

Ông Nguyễn Trọng VĩnhÔng Nguyễn Trọng Vĩnh nói dân có quyền chất vấn chính quyền

Nhưng người được Bộ Ngoại giao phân công tiếp họ vào sáng thứ Tư là ông Trần Duy Hải, Phó chủ nhiệm Ủy ban Biên giới.

Tướng Vĩnh cho hay yêu cầu của các nhân sỹ ký tên trong kiến nghị rất đơn giản: “Thứ nhất là họ có thể trả lời bằng văn bản”.

“Thứ hai, nếu họ muốn mời gặp, thì mời tất cả chúng tôi. Còn thứ ba, họ có thể không trả lời.”

Theo ông Nguyễn Trọng Vĩnh, công dân hoàn toàn “có quyền chất vấn chính quyền, có quyền kiến nghị cơ quan nhà nước”, bởi vậy yêu cầu của các nhân sỹ trí thức là “chuyện hoàn toàn bình thường”.

Hiện chưa rõ nhóm nhân sỹ trí thức có tiếp tục theo đuổi kiến nghị của mình hay không.

Công khai minh bạch

Hôm 25/06, trong cuộc gặp với phía Trung Quốc của Thứ trưởng Hồ Xuân Sơn, hai bên đã thống nhất đẩy nhanh tiến độ đàm phán để sớm ký kết “Thỏa thuận về các Nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển giữa Việt Nam và Trung Quốc”.

Kiến nghị của các trí thức viết “theo các thông tin báo chí, chúng tôi được biết” về các cuộc gặp trên, cũng như tường thuật của Tân Hoa Xã (Trung Quốc) về hai cuộc gặp.

“Những thông tin trên chúng tôi không thấy đăng trên báo chí của Việt Nam.”

Họ yêu cầu Bộ Ngoại giao xác nhận tính chính xác của thông tin mà Tân Hoa Xã đưa ra, nếu không đúng “yêu cầu phía Trung Quốc phải cải chính và xin lỗi”.

Họ cũng kiến nghị bộ này giải thích quan điểm của Việt Nam về bức thư ngoại giao của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng gửi người đồng nhiệm Trung Quốc năm 1958 về chủ quyền ở Biển Đông.

Bản kiến nghị còn yêu cầu cung cấp “thông tin chi tiết (toàn văn) thỏa thuận đã đạt được (nếu có) giữa ông Hồ Xuân Sơn và đại diện Trung Quốc” hôm 25/06.

Posted in Chinh Tri Viet Nam, Đảng CSVN | Leave a Comment »

Tạp chí Forbes có lẻ nghĩ rằng nước CH XHCN Việt Nam đã được sáp nhập vào Trung Quốc nên đã không xếp VN vào danh sách những nước có nền kinh tế tồi tệ nhất hiện nay!

Posted by hoangtran204 trên 12/07/2011

Không hiểu sao tạp chí Forbes không đếm xỉa gì đến VN trong bảng xếp hạng nầy. Mặc dầu GDP tính trên đầu người của những nước sau đây so ra cao hơn  VN rất nhiều, còn chỉ số lạm phát của họ chỉ bằng 1/3 so với  VN. (GDP per capital của  VN chỉ vào khoảng dưới $1000 và lạm phát 28%)

Lẻ nào tụi tư bản coi thường nước ta đến thế, dù gì đi nữa thì nước ta cũng là một thiên đường, nơi có các đỉnh cao trí tuệ đang trị vì dẫn dắt, có đảng và nhà nước lo lắng hết mọi chuyện cho dân chúng…

Hay tạp chí Forbes nghĩ rằng nước CH XHCN Việt Nam đã được sáp nhập vào Trung Quốc?

Ukraine

This former Soviet Republic has rich farmland and generous mineral resources and could become a leading European economy — yet per-capita GDP trails far behind even countries like Serbia and Bulgaria. The U.S. State Dept. blames “complex laws and regulations, poor corporate governance, weak enforcement of contract law by courts, and particularly corruption.” GDP per capita: $3,483 Inflation: 10%

————-

Jamaica

Jamaica

The poverty rate has been cut almost in half to 10% in recent years while literacy has increased to 88%, according to the World Bank. But the global financial crisis took a toll on this vacation island’s economy, with GDP shrinking 4% in the last two years and expected to grow at less than 3% through 2015. High inflation and a persistent current-account deficit make increasing the wealth of the average citizen a challenging goal. GDP per capita: $5,473.09 Inflation: 7%

——

Venezuela

Venezuela

Miguel Gutierrez/AFP/Getty Images

Venezuela

Perhaps the serious illness of dictator Hugo Chavez will bring deliverance to this troubled country, which manages to keep its people poor despite an embarrassment of natural wealth. The only thing healthy about Venezuela’s economy is its oil-fueled current account surplus. But 32% inflation and subpar GDP growth demonstrate the ineptitude of Hugo’s management. GDP per capita: $9,886 Inflation: 32%

———–

Worst Economies

7 of 11 « Back Next »

Kyrgyzstan

This Central Asian republic ranked 164 out of 178 countries in Transparency International’s Corruption Perceptions Index and suffers 11% unemployment. Rich in natural resources (except for oil and gas, which it must import) Kyrgyzstan has trouble attracting foreign capital for mining and metallurgy projects because, as the State Dept. puts it, “local business conditions are very challenging to most companies.”GDP per capita: $943 Inflation rate: 12.6%

———

Swaziland

Swaziland

A rapidly growing population and lack of jobs keeps the poverty rate in this African nation above 60%, despite rich farmland, sugar exports and a vibrant tourism industry. Swaziland had more than 30,000 people employed in its apparel industry, which benefited from U.S. tariff protection, until the world financial crisis and the rising South African rand (Swaziland’s currency is linked) crimped demand.GDP per capita: $3,109 Inflation rate: 7.3%

———

Nicaragua

Onetime socialist dictator Daniel Ortega has had plenty of time to turn this into a worker’s paradise. Nicaragua’s per-capita GDP of $1,197, less than a third of neighboring El Salvador, suggests he might not be the right man for the job. The second-poorest country in the western hemisphere after Haiti, Nicaragua actively discourages foreign investment and its citizens suffer from blackouts, water shortages and high energy costs that disproportionately hurt the poor. Almost half of Nicaraguans live below the poverty line, according to the World Bank. GDP per capita: $1,197 Inflation rate: 9%

——

Islamic Republic of Iran

The Islamic Republic has 10% of the world’s proved reserves of oil according to the Energy Information Administration. Yet its economy, hobbled by insider control of vital industries, international sanctions, and mismanagement, is growing at less than a third the world’s average rate. Per-capita GDP of $5,493 puts Iran far closer to war-torn Iraq than oil-rich peers like Saudi Arabia and Kuwait. GDP per capita: $5,493 Inflation rate: 15%

———

Guinea

This West African nation sits on half the world’s accessible bauxite reserves but has trouble attracting productive investment. Poorly maintained roads, a 2008 military coup and “insecurity created by government hostility toward investment” have slowed economic development, according to the U.S. State Department. The 2010 election of Alpha Conde as president appears to have reduced fears somewhat, and Abu Dhabi and BHP Billiton are proceeding with a $5 billion alumina project. GDP per capita: $440 Inflation rate: 17%

————

Armenia

With a 15% contraction in GDP in 2009 and mediocre growth forecast for the next few years, this landlocked former Soviet republic is struggling to keep up with the rest of the world. Per-capita GDP of $3,000 is less than a third of neighboring Turkey, and with inflation running at 7%, Armenia’s citizens are getting poorer. GDP per capita: $2,959 Inflation: 7%

———

Madagascar

Madagascar

The retail price of rice has doubled in Madagascar over the past two years, while the country has lost thousands of jobs in its textile sector after a military coup in 1999 forced the U.S. to yank it from its African Growth and Opportunity Act which provides preferential access to U.S. markets. With its politics still in turmoil, there’s little chance of rising foreign investment in this island nation this year. GDP per capita: $387 Inflation: 8.5%

nguồn  Forbes

Posted in Kinh Te | 1 Comment »

Hồng tốt hơn chuyên để lại các hậu quả khắp nơi, nhưng ở ngành y tế thì hậu quả thường rất bi đát

Posted by hoangtran204 trên 10/07/2011

Rất nhiều bác sĩ làm tại các bệnh viện huyện và tỉnh là các bác sĩ không học trường đại học y khoa 6 năm. Họ có được danh hiệu là bác sĩ thông qua một lối đào tào mà chỉ có ở các nước XHCN.

Sau khi học xong lớp 12, họ vào học 3 năm để trở thành y sĩ. Sau khi ra trường, một số đi làm việc, còn đa số học thêm lớp đào tạo tại chức 3 năm nữa, và khi ra trường họ được cấp bằng bác sĩ. Các y tá muốn trở thành bác sĩ cũng đi theo con đường nầy. (Trong chiến tranh VN, các y tá đi làm việc lâu năm thì họ cũng trở thành bác sĩ).

Bởi vậy, khi nào các bạn đi khám ở các bệnh viện huyện, tỉnh, cần phải biết là có nhiều bác sĩ được đào tạo theo kiểu tại chức, chuyên tu (rồi thành bác sĩ). Biết vậy để mà phòng thân. Đặc biệt, các bác sĩ đào tạo theo lối chuyên tu và tại chức thường trở thành giám đốc  BV hoặc phó GĐ bệnh viện, hoặc là các trưởng khoa hoặc bí thư đảng ủy của bệnh viện.

 

Bi hài bác sĩ miệt vườn

Thứ Bảy, 09/07/2011 00:09

Vụ một thiếu nữ chết tức tưởi ở Năm Căn – Cà Mau mới đây thêm một lần nữa báo động về tay nghề, y đức của không ít bác sĩ vùng sâu, vùng xa vốn gây ra nhiều chuyện dở khóc, dở cười

Trong một lần bị tai nạn giao thông nhẹ, anh Nguyễn Hải Triều (27 tuổi, ngụ tại xã Tân Duyệt, huyện Đầm Dơi – Cà Mau) vào Bệnh viện (BV) Đa khoa Cà Mau bó bột. Song, anh không thể ngờ mình phải bị cưa mất một chân bởi một chấn thương không nghiêm trọng.

“Không sao” mà phải cụt chân

Sáng 30-4, anh Triều đang đi xe máy thì bị va quệt nhẹ trên đường. Bác sĩ BV Đa khoa Cà Mau chụp X-quang và chẩn đoán anh trật khớp gối, khả năng bị đứt dây chằng cao nên cho nhập viện. Sau đó, anh Triều được đưa lên Khoa Ngoại chấn thương chỉnh gối và bó bột từ bắp đùi xuống đến gần mắt cá chân.

Hôm sau, bàn chân trái bị tím đen, đau nhức toàn chân, không cử động được nên anh Triều báo với bác sĩ. “Bác sĩ cho chụp X-quang lại và nói không sao, có thể do bó bột chặt quá, máu không lưu thông được xuống chân nên chỉ định cắt bớt một đoạn bột bó trên đùi, đồng thời yêu cầu tôi nằm viện một tuần theo dõi. Hôm sau, tôi vẫn thấy không khả quan, gia đình liền xin chuyển lên tuyến trên nhưng BV không đồng ý. Nhân viên điều dưỡng còn nạt lại tôi, nói tôi không biết gì, phải 2 tuần mới đi lại được”- anh Triều bức xúc.

Anh Nguyễn Hải Triều bỗng dưng bị cụt chân (trái) và ông Trương Minh Tuấn (phải) chữa đau bao tử bị cưa cụt tay

Ngày tiếp theo, do chân anh Triều bầm tím và trở lạnh nên gia đình một lần nữa

Ngày tiếp theo, do chân anh Triều bầm tím và trở lạnh nên gia đình một lần nữa yêu cầu kiểm tra nhưng bác sĩ vẫn quả quyết “không sao” và từ chối chuyển tuyến trên. Bất bình, gia đình quyết định tự ý đưa anh Triều lên BV Chấn thương Chỉnh hình TPHCM khám, sau đó chuyển sang BV Chợ Rẫy. Bác sĩ ở BV này chẩn đoán anh tổn thương động mạch khoeo gây hoại tử nên phải cưa chân!

Đau bao tử, bị… cưa tay!

Ông Trương Minh Tuấn, 56 tuổi, hiện sống cùng vợ con tại chợ Xẻo Quau, thị trấn Sông Đốc, huyện Trần Văn Thời – Cà Mau. Ở thị trấn này, ai cũng biết ông Tuấn cụt tay, chính vì câu chuyện hy hữu đã xảy ra với ông cách đây hơn 10 năm.

Hôm đó, sau bữa cơm, bụng đau dữ dội nên gia đình nhanh chóng đưa ông Tuấn đến Trung tâm Y tế huyện Thới Bình – Cà Mau và được các bác sĩ chẩn đoán viêm dạ dày nặng, phải nhập viện điều trị. Được 3 ngày, bệnh sắp khỏi thì ê kíp trực gồm bác sĩ Nguyễn Trọng Tính, y sĩ Chính và y tá Nguyễn Kiều Tiên khám bệnh cho toa thuốc rồi y tá Tiên chích cho ông Tuấn một mũi thuốc.

Khi chích thuốc vào cánh tay phải, một cảm giác như xé thịt nổi lên khiến ông Tuấn phải gạt tay y tá Tiên ra. Cô y tá giận dỗi bỏ đi, mặc cho bệnh nhân kêu la đau đớn. Bà Huỳnh Thị Thủy, vợ ông Tuấn, kể: “Xót ruột quá, tôi tìm cô Tiên thì cô ta đang ngồi đánh bài và trả lời: “Tại thuốc nó đau như vậy, ráng chịu một chút sẽ hết”. Trước thái độ của y tá Tiên, tôi tìm đến bác sĩ trực ca là ông Nguyễn Trọng Tính nhưng ông Tính bảo cô Tiên đến thăm bệnh, còn ông ta bỏ về nhà ăn cơm”.

Chiều hôm ấy, cánh tay phải của ông Tuấn từ đỏ bầm đã đen sẫm, lúc này trung tâm y tế mới huy động bác sĩ đến chẩn đoán nhưng cũng không tìm được lời giải đáp. Đến 16 giờ cùng ngày, trung tâm y tế làm thủ tục chuyển bệnh nhân lên tuyến trên nhưng phương tiện gia đình phải tự lo. Ông Tuấn được chuyển viện bằng chiếc xuồng máy hằng ngày vợ chồng ông vẫn mua bán gạo, từ huyện Thới Bình ra thị xã Cà Mau mất trên 3 giờ. “Trên đường đi, y sĩ Chính kêu thèm thuốc lá, phải ghé vào quán ven sông mua. Xong, đi được hơn 3 km thì anh ta kêu toáng lên rằng đã bỏ quên hồ sơ bệnh án tại nơi mua thuốc. Lúc này tôi đau quá, không thể quay xuồng lại được”- ông Tuấn nhớ lại. 

Sau nhiều giờ, ông Tuấn đã được đưa đến BV Minh Hải. BV này yêu cầu trình hồ sơ chuyển viện thì ông Chính nói bỏ mất trên đường vận chuyển bệnh nhân. Cuối cùng, trước tình trạng cánh tay ông Tuấn bị hoại thư nặng, BV Minh Hải đã tiến hành phẫu thuật, cắt bỏ cánh tay phải để giữ mạng sống cho ông! Theo kết luận của Tổ chức Giám định pháp y tỉnh Cà Mau, ông Tuấn bị tai biến trong điều trị, tỉ lệ thương tật vĩnh viễn 65%.

Bỏ quên gạc, tăm…

Sau nhiều ngày điều trị tại BV Đa khoa Kon Tum do bị một vết thương thấu ngực vì tai nạn, năm 2010, ông Nguyễn Ngọc Oánh, ngụ thị trấn Sa Thầy, huyện Sa Thầy – Kon Tum, được xuất viện. Tuy nhiên, về đến nhà, vết thương vẫn còn chảy mủ và thỉnh thoảng ông Oánh thấy bụng đau dữ dội. Sau đó, gia đình quyết định đưa ông đến BV Quân y 211 – Gia Lai để khám và kiểm tra. Sau khi chụp X-quang, các bác sĩ ở đây phát hiện có dị vật nằm trong bụng ông Oánh nên tiến hành phẫu thuật và lấy ra một miếng gạc y tế rộng khoảng 25 x 35 cm…

Bức xúc, gia đình ông Oánh đã làm đơn kiến nghị gửi tới BV Đa khoa Kon Tum yêu cầu xem xét giải quyết.

Một trường hợp tương tự cũng xảy ra ở Đắk Nông. Sau khi đến một BV mổ lưng chữa áp-xe về, ông Hoàng Văn Giang (45 tuổi, ngụ xã Thuận Hà, huyện Đắk Song) cảm thấy ngày càng đau ở lưng như có vật nhọn đâm vào xương sống. Bác sĩ BV Đa khoa Đắk Nông nội soi và phát hiện một dị vật nằm cạnh xương sống phía sau lưng của ông Giang. Tiến hành mổ, các bác sĩ lấy ra một… chiếc tăm xỉa răng bằng tre nhọn 2 đầu, dài  khoảng 8 cm!

Ông Oánh và miếng gạc từng nằm trong bụng mình. Ảnh: BẢO CHÂU

Ngày tiếp theo, do chân anh Triều bầm tím và trở lạnh nên gia đình một lần nữa yêu cầu kiểm tra nhưng bác sĩ vẫn quả quyết “không sao” và từ chối chuyển tuyến trên. Bất bình, gia đình quyết định tự ý đưa anh Triều lên BV Chấn thương Chỉnh hình TPHCM khám, sau đó chuyển sang BV Chợ Rẫy. Bác sĩ ở BV này chẩn đoán anh tổn thương động mạch khoeo gây hoại tử nên phải cưa chân!

Đau bao tử, bị… cưa tay!

Ông Trương Minh Tuấn, 56 tuổi, hiện sống cùng vợ con tại chợ Xẻo Quau, thị trấn Sông Đốc, huyện Trần Văn Thời – Cà Mau. Ở thị trấn này, ai cũng biết ông Tuấn cụt tay, chính vì câu chuyện hy hữu đã xảy ra với ông cách đây hơn 10 năm.

Hôm đó, sau bữa cơm, bụng đau dữ dội nên gia đình nhanh chóng đưa ông Tuấn đến Trung tâm Y tế huyện Thới Bình – Cà Mau và được các bác sĩ chẩn đoán viêm dạ dày nặng, phải nhập viện điều trị. Được 3 ngày, bệnh sắp khỏi thì ê kíp trực gồm bác sĩ Nguyễn Trọng Tính, y sĩ Chính và y tá Nguyễn Kiều Tiên khám bệnh cho toa thuốc rồi y tá Tiên chích cho ông Tuấn một mũi thuốc.

Khi chích thuốc vào cánh tay phải, một cảm giác như xé thịt nổi lên khiến ông Tuấn phải gạt tay y tá Tiên ra. Cô y tá giận dỗi bỏ đi, mặc cho bệnh nhân kêu la đau đớn. Bà Huỳnh Thị Thủy, vợ ông Tuấn, kể: “Xót ruột quá, tôi tìm cô Tiên thì cô ta đang ngồi đánh bài và trả lời: “Tại thuốc nó đau như vậy, ráng chịu một chút sẽ hết”. Trước thái độ của y tá Tiên, tôi tìm đến bác sĩ trực ca là ông Nguyễn Trọng Tính nhưng ông Tính bảo cô Tiên đến thăm bệnh, còn ông ta bỏ về nhà ăn cơm”.

Chiều hôm ấy, cánh tay phải của ông Tuấn từ đỏ bầm đã đen sẫm, lúc này trung tâm y tế mới huy động bác sĩ đến chẩn đoán nhưng cũng không tìm được lời giải đáp. Đến 16 giờ cùng ngày, trung tâm y tế làm thủ tục chuyển bệnh nhân lên tuyến trên nhưng phương tiện gia đình phải tự lo. Ông Tuấn được chuyển viện bằng chiếc xuồng máy hằng ngày vợ chồng ông vẫn mua bán gạo, từ huyện Thới Bình ra thị xã Cà Mau mất trên 3 giờ. “Trên đường đi, y sĩ Chính kêu thèm thuốc lá, phải ghé vào quán ven sông mua. Xong, đi được hơn 3 km thì anh ta kêu toáng lên rằng đã bỏ quên hồ sơ bệnh án tại nơi mua thuốc. Lúc này tôi đau quá, không thể quay xuồng lại được”- ông Tuấn nhớ lại. 

Sau nhiều giờ, ông Tuấn đã được đưa đến BV Minh Hải. BV này yêu cầu trình hồ sơ chuyển viện thì ông Chính nói bỏ mất trên đường vận chuyển bệnh nhân. Cuối cùng, trước tình trạng cánh tay ông Tuấn bị hoại thư nặng, BV Minh Hải đã tiến hành phẫu thuật, cắt bỏ cánh tay phải để giữ mạng sống cho ông! Theo kết luận của Tổ chức Giám định pháp y tỉnh Cà Mau, ông Tuấn bị tai biến trong điều trị, tỉ lệ thương tật vĩnh viễn 65%.

Posted in Hồng Tốt hơn Chuyên, Y te | Leave a Comment »

Trùm lâm tặc là…em trai Hạt trưởng Kiểm lâm

Posted by hoangtran204 trên 09/07/2011

Ở thành phố Bình Dương:  Công an và bọn cướp cùng một phe,

Ở trong rừng Quãng Ninh, miền Bắc:  Trùm lâm tặc là…em trai Hạt trưởng Kiểm lâm

Nguồn báo  TiềnPhong

08/07/2011

Về nơi lâm tặc lộng hành:

Trùm lâm tặc là…em trai Hạt trưởng Kiểm lâm

> Tàn sát rừng phòng hộ

TP – Việc rừng phòng hộ Long Đại bị tàn phá đã 3 năm nay, người dân ai cũng biết, song những người có trách nhiệm giữ rừng không biết hay làm ngơ? Nhiều người khẳng định, có sự bắt tay, bao che cho lâm tặc phá rừng.

Khu vực rừng bị phá chỉ cách Trạm KSLS Hang Chuồn chừng 7km Khu vực rừng bị phá chỉ cách Trạm KSLS Hang Chuồn chừng 7km.

Không biết hay làm ngơ?

Rừng phòng hộ Long Đại nằm trên địa phận 2 xã Trường Sơn và Trường Xuân, địa điểm phá rừng nằm ở bản Nà Lâm, giáp ranh 2 xã. Để vào hoặc ra khu vực bản Nà Lâm chỉ duy nhất một con đường độc đạo. Con đường này mới được mở cách đây đúng 3 năm khi Làng thanh niên lập nghiệp Trường Xuân thành lập và Cty TNHH Hồng Đức vào khai hoang trồng cao su.

Hàng chục cư dân của làng Trường Xuân và công nhân của Hồng Đức khi được hỏi về lâm tặc đều lắc đầu. Duy chỉ có một nữ công nhân đã luống tuổi rỉ tai PV: “Lâm tặc ở đây gớm lắm chú ơi, không ai dám nói mô. Chú coi, để đưa gỗ ra là họ phải đi qua vườn cao su của bọn tui. Hai đầu vườn đều có cổng gỗ kiên cố rứa mà họ ngang nhiên húc đổ để cho xe chạy qua. Làm căng thì sợ họ trả thù, hai cái cổng ni phải làm đi làm lại không biết mấy lần rồi”.

Trạm Kiểm soát lâm sản (KSLS) Hang Chuồn, thuộc BQL Rừng phòng hộ (BQLRPH) Long Đại nằm ngay trên con đường độc đạo này và chỉ cách địa điểm phá rừng chừng 5km. Ông Dương Công Luyện, Phó Giám đốc BQLRPH Long Đại tức tốc có mặt tại trạm khi được tin báo PV đến làm việc. “Ở đây không có chuyện phá rừng quy mô và nghiêm trọng mà người dân chỉ lén lút vào rừng khai thác thủ công, chặt vài cây gỗ về làm nhà thôi” – ông Luyện nói như đinh đóng cột.

Khi PV đưa ra những bức ảnh chứng minh rừng phòng hộ Long Đại đang bị tàn phá nặng nề, ông Luyện lại kêu khó: “Nói thật với anh, rừng thì rộng mà quân số của ban thì ít nên không thể nắm hết được, có chi anh em thông cảm, tạo điều kiện cho ban với. Ban cũng thường xuyên chỉ đạo, giám sát anh em nhưng đôi lúc cũng có gỗ lọt qua trạm”.

Được biết, khi được báo về vụ phá rừng ở Nà Lâm, BQLRPH Long Đại đã truy quét và thu gom được hơn 5m3 gỗ của lâm tặc để lại. Trong đó, bao gồm cả số gỗ trên một chiếc xe của lâm tặc bị lật, nhưng chỉ thu gỗ mà không thu xe. Đặc biệt có nguồn tin cho rằng, BQLRPH Long Đại đã thuê trâu và xe của lâm tặc để thu gom gỗ với cách ăn chia 50/50 số gỗ thu được.

Trạm KSLS Hang Chuồn nằm trên con đường độc đạo
Trạm KSLS Hang Chuồn nằm trên con đường độc đạo.

“Dư luận nói bậy đó”

Một số người dân Nà Lâm cho biết, chủ chòm trong vụ phá rừng phòng hộ Long Đại là người có tên Vinh, em trai Hạt trưởng Kiểm lâm huyện Quảng Ninh – ông Võ Văn Thanh. Chị Hồ Thị Phúc (SN 1975, ở bản Nà Lâm) cho biết, cách đây 3 năm ông Vinh vào Nà Lâm quản lí vườn bạch đàn cho ông Thanh. Ông Vinh đã cưới chị Phúc, dù lúc đó ông Vinh đã có vợ ở quê Quảng Trạch. Khi cưới được chị rồi ông Vinh vào ra làm quen với dân bản và bắt đầu tổ chức đưa người vào khai thác gỗ lậu cho đến nay. “Con người ấy (chỉ ông Vinh – PV) bạc tình, bạc nghĩa lắm. Khi mới vào lạ nước, lạ cái thì phỉnh phờ lấy em làm vợ, khi làm ăn giàu có rồi là hắt hủi em” – chị Phúc nói.

Khi được hỏi về ông Vinh, ông Võ Văn Thanh cho rằng: Em trai ông chỉ vào Nà Lâm để trông giữ vườn bạch đàn, chứ không có chuyện phá rừng. Sau khi vườn bạch đàn, được Làng thanh niên lập nghiệp Trường Xuân đền bù, lấy đất, em trai ông Thanh đã về quê, không ở Nà Lâm nữa. Tuy nhiên, ông Thanh thừa nhận ông Vinh có một chiếc ô tô hiệu IFA đang còn nằm ở Nà Lâm. “Nó mua chiếc xe ấy dùng để chở bạch đàn, chứ không phải chở gỗ lậu như người ta nói. Tôi sao mà bao che cho em mình phá rừng được. Còn có bao nhiêu lực lượng có chức năng bắt gỗ lậu nữa chứ, tôi làm sao mà bao hết được. Dư luận họ nói bậy đó” – Ông Thanh nói.

Tuy nhiên, theo tìm hiểu của PV Tiền Phong, vườn bạch đàn của ông Thanh và em trai đang còn nhỏ, chưa hề khai thác và nay do Làng Thanh niên lập nghiệp Trường Xuân quản lý. Chiếc ô tô của ông Vinh chưa một lần chở bạch đàn như ông Thanh nói, mà chuyên chở gỗ lậu.

Con đường bị hằn sâu do lâm tặc dùng ô tô chở gỗ lậu
Con đường bị hằn sâu do lâm tặc dùng ô tô chở gỗ lậu .

“Chính em trai ông Hạt trưởng phá rừng”

Thượng tá Đặng Huy Chương – Chính trị viên Đồn Biên phòng 597 – Làng Mô cho biết: Mặc dù bản Nà Lâm nằm cách đồn chỉ vài km nhưng do núi non cách trở nên muốn đến đó phải đi vòng mất hơn 40km. Việc phá rừng ở Nà Lâm, Đồn biết từ lâu và đã nhiều lần báo cho BQLRPH để có biện pháp ngăn chặn. Việc lâm tặc nổ mìn làm đường mới đây là do chiến sỹ của Đồn phát hiện. Đồn đã báo cho phía BQLRPH và yêu cầu cùng phối hợp đẩy đuổi lâm tặc.

Theo thượng tá Chương, đây là vụ phá rừng quy mô lớn nhất từ trước tới nay trên địa bàn Đồn quản lí. “Chủ chòm trong vụ này là ông Vinh em ông Thanh và nhóm người từ xã Xuân Ninh lên. Chúng tôi đã báo cáo lên Biên phòng tỉnh, UBND huyện Quảng Ninh và đang phối hợp với Công an huyện để nắm rõ những đối tượng tham gia. Theo tôi, cần khởi tố vụ án để điều tra, làm rõ đối tượng phá rừng” – thượng tá Chương nói.

Hoàng Nam

——-

Về nơi ‘lâm tặc’ lộng hành

Kỳ 1: Tàn sát rừng phòng hộ

Đăk Lăk: Lâm tặc uy hiếp trụ sở xã ‘đòi’ gỗ lậu

TP – Trong vai người đi tìm trầm hương, doanh nhân tìm đất trồng cao su, PV Tiền Phong đã tận thấy sào huyệt của lâm tặc giữa ngút ngàn rừng sâu ở miền tây Quảng Bình.

PV Tiền Phong bên một cây cổ thụ vừa bị lâm tặc đốn hạ, chưa kịp chuyển đi
PV Tiền Phong bên một cây cổ thụ vừa bị lâm tặc đốn hạ, chưa kịp chuyển đi.

Lâm tặc ngang nhiên dùng mìn để phá đá mở đường, bắc cầu… ngay trong rừng phòng hộ. Hàng trăm mét khối gỗ được lâm tặc đưa ra khỏi rừng bằng con đường này.

Nổ mìn phá đá, làm đường

Một người mang theo xấp ảnh, sơ đồ nơi rừng đang bị phá, lặn lội cả mấy chục cây số về TP Đồng Hới tìm gặp PV Tiền Phong: “Nhà báo mà không vào cuộc vụ này thì rừng phòng hộ Long Đại sẽ không còn một cây gỗ để ngắm, họ đang bắt tay nhau phá rừng”.

Trước khi chia tay, người này cho biết thêm, các cơ quan chức năng của huyện Quảng Ninh đã biết vụ này nhưng họ đang muốn ém nhẹm vì tính chất quá nghiêm trọng và liên quan nhiều quan chức địa phương (?!).

Trong vai những người đi tìm đất để trồng cao su, PV Tiền Phong tìm về bản Nà Lâm (xã Trường Xuân, huyện Quảng Ninh) – nơi người kia cho biết, rừng đang bị tàn phá nghiêm trọng. Vào được khu vực này, chỉ duy nhất một con đường độc đạo nối từ đường Hồ Chí Minh, đi qua trung tâm xã Trường Xuân, Làng thanh niên lập nghiệp Trường Xuân, vườn trồng cao su của Cty TNHH Hồng Đức, với chiều dài hơn 20km.

Vừa vượt qua vườn cao su của Cty Hồng Đức, PV bắt gặp một người đàn ông chừng 45 tuổi, đang chăn hơn chục con trâu. Người này cho biết tên Lâm, ở xã Xuân Ninh, được đầu nậu thuê lên đây đốn gỗ mấy năm nay.

“Mấy bữa ni động nên anh em rút hết. Tui được giao ở lại chăn trâu để chờ tình hình lắng xuống” – Ông Lâm nói. Ông Lâm còn khoe, đàn trâu của ông có 18 con, giá mỗi con 25 triệu đồng, được đầu nậu gỗ tậu về.

Theo sơ đồ được cung cấp, phía bắc bãi thả trâu của lâm tặc là con đường vận chuyển gỗ. Lâm tặc ngang nhiên dùng mìn phá đá, khai thông một con đường dài chừng 3km. Ngay đầu con đường xuất hiện nhiều vết chân trâu, vệt gỗ trượt trên nền đất.

Những gốc cây to bị chặt sát gốc nằm nhan nhản hai bên đường. Cách cửa rừng chừng 300m, chúng tôi gặp một con dốc khá cao và quanh co, hai bên sườn đá dựng đứng. Nhiều phiến đá to được bẫy lao xuống vực minh chứng cho những vụ nổ mà lâm tặc từng gây ra ở đây.

Ngay phía sau con dốc là dấu vết của 2 lán trại lâm tặc còn để lại, xoong nồi, vật dụng cá nhân nằm ngổn ngang. Ở đây là một khu rừng khá bằng phẳng, chủ yếu chuối rừng và cây cổ thụ, nhiều cây có đường kính lên đến vài ba mét.

Theo quan sát của PV, có vẻ lâm tặc khai thác theo dạng đơn đặt hàng, chỉ tập trung chặt một loại cây. Phần lớn những gốc cây mà lâm tặc cắt gốc bằng cưa máy có đường kính từ 70cm đến vài mét. Dọc theo con đường lâm tặc mở, chúng tôi đếm được trên 50 gốc cây như thế bị đốn hạ còn ứa nhựa.

Con dốc được lâm tặc dùng mìn xuyên thủng
Con dốc được lâm tặc dùng mìn xuyên thủng .

Dân bản kêu không thấu

Bản Nà Lâm có hơn 10 nóc nhà và 42 nhân khẩu nằm ngay cửa rừng. Già làng Hồ Xe cho biết: Lâm tặc vào phá rừng ở đây chừng 3 năm nay và cũng chừng ấy thời gian ông đi gõ cửa các cơ quan chức năng của huyện Quảng Ninh (bằng miệng có, bằng đơn cũng có), nhưng không ai quan tâm.

Cuộc sống của dân bản bị đảo lộn từ khi lâm tặc xuất hiện. Hoa màu bị bầy trâu kéo của lâm tặc tàn phá, bản từng cử người ra canh giữ nhưng không thành vì bầy trâu rất hung dữ, sẵn sàng tấn công người lạ…

Già làng Hồ Xe khẳng định, lâm tặc đưa vào đây 18 con trâu kéo, 1 xe IFA và hai xe công nông đầu ngang. Ít nhất mỗi ngày có 2 xe chở đầy gỗ ra khỏi bản. “Dân bản bất bình nên cử già đi kiện. Không tính hết đã mấy lần già về xã, về huyện phản ánh nhưng không có ai tin lời già.

Sức già thì có hạn nên không đi tỉnh và đi T.Ư được. Rừng đây là rừng phòng hộ không chỉ cho dân bản mà cả xã, cả huyện ni, họ phá như rứa rồi dân bản phải gánh hết sự trừng phạt của thần rừng, thần núi thôi” – già làng Hồ Xe nói.

Khi được biết ở những gốc cây bị chặt hạ có ghi nguyên nhân là do người dân tộc chặt, già làng Hồ Xe bức xúc: “Cả bản chỉ có 42 con người mà toàn là đàn bà trẻ con, sức mô mà đi chặt gỗ? Già biết họ đã bắt tay với nhau cho lâm tặc phá rừng, vì rứa mà già này kiện không thấu. Họ ghi rứa là để đổ tội cho dân bản, mà tránh tội cho lâm tặc đó”.

Hoàng Nam

——–

20/06/2011

Đăk Lăk: Lâm tặc uy hiếp trụ sở xã ‘đòi’ gỗ lậu

TP – Tin từ Hạt kiểm lâm Ea H’Leo cho biết: Tối 17, rạng sáng 18-6, lực lượng kiểm lâm huyện Ea H’leo bắt quả tang 3 xe máy cày đang vận chuyển gỗ trái phép trên địa bàn xã Ea Wi với tổng khối lượng 8 phách (gỗ dầu).

Số gỗ này ban đầu được xác định là của một đối tượng tên là Y Rúi (ở xã Ea Ral, huyện Ea H’leo). Được sự hỗ trợ của lực lượng công an, xã đội…, kiểm lâm đã đưa toàn bộ phương tiện và tang vật về UBND xã Ea Wi để xử lý.

Tuy nhiên, trong khi lực lượng chức năng đang đo đếm khối lượng gỗ, bất ngờ có khoảng 40 thanh niên mang theo gậy gộc kéo đến UBND xã Ea Wi la lối, chửi bới đập phá xe (phương tiện vi phạm) và đổ xăng lên xe hăm dọa là sẽ đốt nếu như không được thả xe. Lực lượng chức năng đành phải cho nhóm người này mang xe về, riêng số gỗ hiện vẫn đang được tạm giữ.

Trước đó, rạng sáng 16-6, trên địa bàn xã Ea Wi, lực lượng kiểm lâm huyện Ea H’leo cũng đã bắt được 2 xe máy cày chở gỗ lậu của một đối tượng tên là Y Soan. Sau khi bắt giữ, các đối tượng vi phạm cũng đã huy động thanh niên cả buôn Tùng Thăng vào gây rối tại UBND xã Ea Wi, lấy được cả xe và gỗ về.

Vạn Tiếp

Posted in Moi Truong bi O nhiem, Pháp Luật | Leave a Comment »

Một bài tường thuật tuyệt vời của một nữ lưu…

Posted by hoangtran204 trên 09/07/2011

Thật là thú vị khi đọc bài tường thuật của Luật sư Lê thị  Công Nhân. Chị ghi lại một cách hóm hỉnh câu chuyện ông công an khu vực đến nhà vào buổi tối thứ Năm 7-7-2011 để tuyên truyền vận động ngăn cản chồng của chị, là anh Ngô Quyền, không nên đi biểu tình vào chủ nhật sắp tới. Cuộc đối thoại rất hào hứng về một vấn đề thời sự giữa một công an đại diện cho quan điểm của chính quyền của đảng CSVN và của một luật sư đấu tranh cho nhân quyền.
Thoạt đầu, người đọc chuyện tưởng là chị sẽ tường thuật lại vụ đi biểu tình của anh chồng và rồi công an đến nhà đe dọa như đã xẩy ra với bao nhiêu người khác. Nhưng hóa ra là ông công an nầy đã bị rơi vào tình cảnh bối rối một cách thảm hại. Và càng đọc, ta càng bị cuốn hút theo câu chuyện vì tác giả viết rất hài hước, các câu đối đáp của tác giả rất là thẳng thắn, không kiêng dè và sợ hải ông công an khu vực. Đặc biệt cách dùng chữ của tác giả rất chính xác mà dễ hiểu, cách lập luận đơn giản nhưng sắc bén. Qua câu chuyện nầy, đọc giả thấy ngay quan điểm của chính quyền về vấn đề nầy khó lòng mà thuyết phục được ai, ngoài trừ một số các đảng viên vâng lời một cách tuyệt đối. Chứng cớ là bản thân của ông công an dù nghe lệnh đến nhà chỉ CN để cấm không cho chồng chị đi biểu tình, nhưng rồi ông ta bị đuối lý mà không thể nào cải lại được.
Khi một người phụ nữ đáng kính đã vượt qua được thử thách, bị tù đày đã quả quyết rằng chế độ độc tài nầy sẽ sớm sụp đổ, ta thấy niềm tin ấy càng vững chắc hơn bao giờ hết. Qua bài nầy, ta còn thấy được một người sắp làm mẹ mà hàng ngày, hàng tuần vẫn luôn ưu tư với vận mạng của đất nước, và bất cứ khi nào cũng muốn đấu tranh với chính quyền CS để lấy lại quyền của con người.
Trong tương lai, sau khi đảng CSVN không còn cầm quyền nữa, và rồi chương trình giáo dục được cải tổ, thì bài nầy rất  xứng đáng được đưa vào sách giáo khoa cho các em sinh viên học sinh học tập để biết quan điểm của đảng và nhà nước ra sao, và các đảng viên cao cấp của đảng CSVN lệ thuộc và sợ hải  TQ đến cở nào.
Mời các bạn đọc:

Chồng tôi đi biểu tình

Tác giả: Lê Thị Công Nhân

Lê Thị Công Nhân cùng chồng (anh Ngô Quyền)

Chuyện chồng tôi đi biểu tình cũng chẳng có gì nhiều mà kể ngoài việc hắn cứ vui vẻ khấp khởi cách kỳ lạ như con nít vào những ngày Chúa nhật vừa qua.

Ba ngày Chúa Nhật 5 tháng 6, 12 tháng 6, 19 tháng 6 hắn đều đi biểu tình, tôi thì bầu bí bí bầu sang tháng thứ 6, trời nóng bức khủng khiếp, không có người chở đi nhà thờ, đi taxi vừa tốn tiền lại vừa say xe nên ở nhà. Tôi bảo (hắn) dù không khí có nóng bỏng sôi nổi đến mấy thì cũng chỉ đi đến trưa là phải về nhà ăn cơm, nghỉ  ngơi đảm bảo sức khỏe lần sau còn đi tiếp, và vấn đề là nếu về nhà được vào buổi trưa thì có nghĩa chưa bị mật vụ bắt đi mất. Thế là bỗng dưng tôi lại được 3 ngày Chúa nhật hồi hộp gần chết, nhìn thấy chồng mặt đen thui lui, mồ hôi mồ kê đầm đìa về đến nhà ăn cơm trưa trong lòng thật vui mừng và hạnh phúc!

Tôi nói với hắn “U thật là sung sướng! Dù 37 tuổi mới được đi biểu tình lần đầu trong cuộc đời! Thế là hơn em rồi”

Ba ngày Chúa nhật không đi nhà thờ vậy mà vợ chồng tôi đã được các “thế lực thù địch” là mật vụ đội lốt con chiên ở nhà thờ tung tin là “Vợ chồng Nhân- Quyền chửi nhau như mổ bò, bỏ nhau rồi. Thằng Quyền cuỗm của con Công Nhân 10.000 usd rồi trốn mất tăm.” (Gớm quá!!!) rồi thì “Công Nhân đẻ rồi, con trai, có bầu từ hè năm ngoái cơ mà.” (Ối giời ạ! Được thế thì cũng tốt vì như thực tại bây giờ mang bầu trong suốt mùa hè đến tháng cuối tháng 10 mới sinh thì quả là mệt mỏi vô cùng, mà siêu âm lại là con gái nhé!).

Đến hôm biểu tình lần thứ 4 Chúa nhật 26/6 thì hai vợ chồng quyết định đi nhà thờ. Đến nhà thờ nhiều người hỏi thăm là tháng vừa rồi nghỉ sinh con à (!?) người thì hỏi thăm mọi việc vẫn ổn chứ. Ôi chao! Thật là rắc rối làm sao chồng tôi đi biểu tình!

Đến hôm biểu tình lần thứ 5 Chúa nhật 3/7 chồng mình lại tranh thủ tan lễ nhà thờ sớm tiếp tục tham gia biểu tình, lại gặp các chú các bác, có cả bác Gió, anh em cười hớn hở bắt tay nhau.

Nhưng chuyện kinh dị thật sự chỉ bắt đầu xảy đến vào tối nay, thứ 5 ngày 7-7-2011. Chuyện là thế này,

Mẹ tôi và chồng tôi đi học đào tạo Vision là mạng lưới kinh doanh đa cấp thực phẩm chức năng từ 6.30h tối. Tôi ở nhà nấu cơm, 8h tối mà trời nóng như chảo rang, không khí hầm hập lại đứng nấu ăn trong bếp mồ hôi ròng ròng tóc tai dựng ngược. Tôi thấy ngạt thở ! Bỗng dưng ông cảnh sát khu vực Nguyễn Xuân Sơn tự động mở cổng đi vào.

Tôi quay ra hơi khó chịu vì sự tự tiện của ông này, nhưng vẫn nói “Chào chú! Có việc gì vậy ạ?” ông ta nói mẹ có nhà không, tôi bảo không, lại hỏi “Quyền có nhà không?” tôi bảo “ Không ạ. Có việc gì chú cứ nói luôn đi” và không hề có ý cũng như là nói ra lời mời ông ta vào nhà. Ông ta đứng ngay cửa nhìn chăm chăm bộ dạng xấu xí của tôi một lúc rồi với vẻ mặt vừa cười vừa mếu vừa trơ, tự bỏ giày ra định vào nhà.

Tôi đứng ngay cửa ngăn lại (bếp nhà tôi ở ngay cửa ra vào nhà) nói thẳng “Này cháu không mời chú vào nhà đâu, có việc gì chú cứ nói luôn đi, cháu đang bận nấu bếp, nóng kinh khủng, với lại cháu không tiếp công an.” Ông ta vẫn giữ bộ mặt kỳ quái của mình và cứ thế đi thẳng vào nhà ngồi vào ghế như đúng rồi! (ý là cứ như được mời vậy).

Tôi bực mình quá đi theo vào nhà, bật cái quạt lên quay thẳng vào người ông ta vì thấy mồ hôi chảy thành dòng trên mặt và trán của cả ông ta và tôi. Tôi nói “Có việc gì chú nói nhanh lên.”

Ông ta tỏ vẻ quan trọng đủng đỉnh nói “Tất nhiên là có vài việc thì tôi mới đến. Thứ nhất là báo cho cô ngày mai ra phường trình diện theo quy định. Mà sao dạo này cô không đi trình diện ?”

Tôi ngạc nhiên nghĩ hình như ông này cũng chả để tâm gì vào việc mình làm, bất đắc dĩ thì phải làm cho xong thôi, tôi bảo “Ôh, hay nhỉ ! Cháu đã bao giờ đi trình diện đâu. Cháu thấy đi trình diện nó cứ thế nào ấy, buồn cười chết đi được. Cái mặt mình thế này tự dưng ra đấy (đồn công an) bảo tôi ra trình diện đây  này.”

Ông ta im lặng không nói gì, tôi thì chạy ra chạy vào xem chảo cá rán có cháy không, ngó nghiêng nhà tắm xem nước hứng dự trữ trong chậu đã đầy chưa.

Chú Sơn-cảnh sát khu vực nét mặt đăm chiêu chọn lựa thời điểm như thể sắp tuyên bố điều gì quan trọng lắm vậy, cuối cùng cũng thốt nên lời “Việc thứ hai tôi muốn nói là tình hình dạo này cậu Quyền xuất hiện hơi nhiều ở khu vực đại sứ quán Trung Quốc. Làm như vậy là không được, không đúng quy định pháp luật, cho nên vì mối bang giao tốt đẹp giữa Việt Nam và Trung Quốc yêu cầu là..là.. cậu Quyền là..là.. không được đến đấy nữa. Mình là công dân làm gì cũng phải theo chỉ đạo của chính quyền.

Có Chúa chứng giám tôi phải kềm chế lắm mới không cười phá lên. Tôi nghĩ “Cái quái gì thế này ? Thỏ răng vâu nhà mình oai ghớm nhỉ!? Có tầm ảnh hưởng đến cả “mối bang giao tốt đẹp giữa Việt Nam và Trung Quốc” cơ đấy.” Mà thế nào là hơi nhiều, hơi ít, hay vừa đủ?

Tôi tức quá, thấy câu chuyện lố bịch và ngang trái quá, nói với ông ta “Chú giỏi thật đấy ! Chú là công an khu vực mà lại biết chuyện chồng cháu đi biểu tình trong khi không một tờ báo, một bản tin, tivi không đưa một lời nào về mấy vụ biểu tình đó (nhắc lại với quý vị là báo đỏ đưa tin về cuộc biểu tình là “cuộc tụ tập của một nhóm người” rồi thì là “một nhóm người đi qua đại sứ quán Trung Quốc”). Mật vụ lại bảo chú đến chứ gì? Chú là cảnh sát khu vực cố mà lo giữ an ninh trật tự khu vực, dạo này phường mình trộm cắp, tệ nạn như rươi ấy. Mà chú thôi ngay cái kiểu vu cho chồng cháu là làm ảnh hưởng đến bang giao giữa Việt nam và Trung Quốc đi nhé, nói thế mà không biết ngượng àh”

Ông ta bảo “Sao cô lại nói là mật vụ bảo tôi?”

Tôi nói “Không phải mật vụ thì là ai? Có đất nước nào, chế độ nào mà người dân đi biểu tình chính quyền lại theo dõi rình mò từng gương mặt từng hình người rồi sai công an đến từng nhà gặp từng người để đe dọa bắt bớ đủ kiểu như xã hội đen để cấm người ta đi biểu tình như vậy không. Chỉ có lũ ma quỷ, bọn quái thai bán nước mới làm như vậy. Nếu cảm thấy mình làm đúng thì cứ việc ra luật ra thông báo cấm biểu tình đi.” Chú Sơn-cảnh sát khu vực chìm trong im lặng.

Được vài giây, ông ta lại nói “Mọi việc đã có nhà nước lo, mình là công dân thì phải tuân theo pháp luật.” Tôi bảo “Vâng. Thế nên cháu cứ tưởng chú đến là để khen tặng anh Quyền nhà cháu cơ đấy. Bọn Tàu mất dạy tàn ác ngang ngược như thế, bắn giết dân mình, đánh phá tàu thuyền của mình, dân đi biểu tình ôn hòa như thế là còn quá hiền, quá ít ỏi đấy, lẽ ra phải khuyến khích họ, mà chú có biết chuyện bọn Tàu nó làm như thế không, hay là lại chẳng biết gì?

Ông ta không trả lời mà cứ khăng khăng “Nhưng biểu tình như thế là mất trật tự, ảnh hưởng đến ngoại giao?

Tôi muốn phát khùng với cái đầu quả nho của ông này, tôi nói “Mất trật tự là thế nào, biểu tình ôn hòa như thế còn muốn thế nào nữa, ngoại giao là ngoại giao biểu tình là biểu tình, hai cái đó chẳng ảnh hưởng ngáng trở gì đến nhau cả. Mà chú có biết mình đang nói gì không đấy? Sống trên đời phải biết nhục, phải có lòng tự trọng chứ. Tàu nó làm như thế mà ngồi yên ở xó nhà rồi gào lên là tôi yêu nước mà được à. Rồi đợi khi  nào đảng và nhà nước cho phép biểu tình thì mới đi biểu tình à. Mà chú có biết biểu tình là nhân quyền cơ bản của mọi người không, được quy định to tướng trong hiến pháp đấy. Chú là công an mà ăn nói bậy bạ thế à. Cháu nói thật là không thể tôn trọng tư cách công an của chú được.

Tôi nói tiếp “Thôi được rồi, thế này nhá, cứ cho là chú mê tít đảng cộng sản đi, đợi khi nào nó bảo đi biểu tình thì mới đi. Mà suy cho cùng cũng chẳng ai bắt chú đi biểu tình cả, nên chú không đi thì tuỳ chú, còn chồng cháu đi thì kệ hắn, chú không ủng hộ thì thôi đừng có mà làm điều quái đản như thế này.

Ông ta im thin thít !

Chú Sơn-cảnh sát khu vực xuống giọng “Thì tôi có nói là cấm đi biểu tình đâu, nhưng phải có sự chỉ đạo và cho phép của nhà nước. Với lại khu vực đại sứ quán Trung Quốc là mình không được qua lại làm mất trật tự.

Đến đoạn này thì đúng là hết chịu nổi, tôi nói to tiếng “Này, này, chú  nói bậy vừa thôi nhá. Phố Hoàng Diệu là của bọn Tàu à mà không được qua lại, mà cứ giả dụ là cấm người Việt nam qua lại đó đi thì chú về bảo chính quyền là đặt biển “Cấm người qua lại” hoặc “Cấm người Việt nam qua lại” rồi hẵng đến đây nói chuyện tiếp. Chú có biết 4 người dân ở đấy thì chỉ có 1 người là dân đi biểu tình thật thôi, 3 người còn lại là mật vụ, công an các kiểu. Cháu nói thế là còn ít đây, người ta còn tính là 1/5 cơ. Có cái chính quyền nào quái thai thối tha nào như thế không. Mà chú có biết các làng Tàu ở trên Tây Nguyên nó đặt cả biển cấm người Việt to tướng đấy. Chú có thấy nhục không. Cháu thì thấy nhục lắm, nhục ơi là nhục !”

Bỗng dưng chú Sơn-cảnh sát khu vực rút từ trong chiếc cặp đen ra một xấp giấy với cây bút bi và bắt đầu dòng chữ mị dân trơ tráo “Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt nam, Độc lập-Tự do-Hạnh Phúc” , tôi hơi ngạc nhiên, nói “Chú lập biên bản đấy à, lập biên bản việc gì vậy?”

Ông ta bảo “Ờh, thì đấy là việc của tôi.”

Tôi nói “Vâng. Cháu không ký cọt gì đâu đấy nhé, trừ khi chú viết nguyên văn tất cả những gì mà cháu và chú nói, cháu sẽ ký ngay. Nếu không thì tự viết tự ký.” Tôi nói thêm “Àh, mà chú có máy ghi âm không vậy ? Chú bảo họ trang bị cho máy ghi âm thì tốt quá, cháu rất thích nếu chú có máy ghi âm, sau này mà minh bạch hồ sơ đàn áp dân chủ thì hay lắm đấy.” Ông ta chối phắt “Tôi làm gì có máy ghi âm.”

Có vẻ như không còn gì để nói và cũng chẳng muốn nghe thêm gì nữa, ông ta đổi đề tài trong khi vẫn tiếp tục viết viết cái gì đó “Mà sao cô lại bảo là tôi nói bậy, tôi nói gì mà cô bảo là tôi nói bậy ?”

Tôi nói “ Chú nói như vậy mà không phải là nói bậy à ? Nói bậy là ý tôi nói chú nói tầm bậy tầm bạ, không biết mình đang nói gì, chứ không phải nói tục chửi bậy. Mà chú nói ít thôi, xong nhiệm vụ rồi mời chú về cho, mật vụ mà hỏi cháu để xác minh xem chú làm tròn nhiệm vụ chưa thì chú cứ yên tâm, cháu thật thà lắm, có gì nói nấy. Cháu khuyên chú là nên chuẩn bị cho tương lai của mình, cái chế độ quái thai thối tha này cùng lắm là vơ vét được 4 hay 5 năm nữa thôi. Đến lúc đó chú cháu mình gặp nhau chú lại ngượng chết, bụng bảo dạ “Eo ôi, xấu hổ quá, ngày trước bọn mật vụ cứ bắt mình phải gặp con bé này rồi nói liên thiên bát đảo, tầm bậy tầm bạ, giờ chỉ mong nó quên đi cho.” Nên từ giờ đến lúc nó sụp đổ thì bọn mật vụ mù quáng cố mà bảo vệ chế độ độc tài để tâng công còn cảnh sát công khai minh bạch như chú đừng có dại dột mà theo bọn nó, kẻo hối không kịp”.

Ồng ta tròn xoe mắt nhìn tôi chẳng nói câu gì. Tôi nói tiếp “Àh, chắc chú biết phong trào cách mạng dân chủ lật đổ độc tài ở Ai Cập, Tunisia , Lybia v..v.. việc đầu tiên sau khi lật đổ độc tài là giải tán bọn mật vụ và ngay lập tức truy cứu tội ác của bọn chúng dưới thời độc tài. Báo đỏ đưa tin đấy nhá. Nước mình rồi cũng vậy thôi, nhưng e rằng dân chúng nước mình còn căm thù công an và mật vụ hơn cả ở những nước ấy nữa đó.

Nghĩ ngợi một lúc, có vẻ như quyết định ra về, chú Sơn-cảnh sát khu vực cố gắng kết thúc nhiệm vụ của mình bằng việc nhắc lại lệnh của mật vụ “Tóm lại là hôm nay tôi đến đây nhưng vì nhà mình đi vắng nên yêu cầu cô truyền đạt với anh Quyền là yêu cầu anh Quyền không được đến khu vực đại sứ quán Trung Quốc nữa. Tôi cũng chỉ là người truyền đạt lại thế thôi.

Tôi đáp “Vâng. Dù sao thì cũng phải nói rằng hôm nay chú thật là lịch sự, vì những người bạn biểu tình cùng chồng cháu còn bị bắt qua đêm, thẩm vấn đe dọa đủ kiểu, nhiều người trong Sài Gòn còn bị đánh đập bắt giam. Thế nên chồng cháu mới bị mật vụ cảnh cáo như thế này là còn quá nhẹ nhàng lịch sự. Thế đấy, cháu thấy chính quyền Việt Nam giờ quá đốn mạt, quái thai, chẳng lẽ chú không thấy điều đó?

Ông ta cố nói thêm “Tôi không nói là cảnh cáo cậu Quyền mà chỉ truyền đạt là yêu cầu không được tham gia biểu tình nữa thôi.” Tôi đáp “Chú yên tâm, cháu sẽ truyền đạt nguyên văn. Còn nội dung mà chú nói thì chính nó là sự cảnh cáo của mật vụ đấy, khó mà có thể hiểu khác được. Chính quyền và mật vụ sẽ phải trả giá về điều này, rồi chú xem. Mà chú cứ bình tĩnh, yên tâm làm tốt việc của mình, chú là cảnh sát công khai cơ mà, có phải là mật vụ đâu mà nhiệt tình thế.” và ông ta ra về.

Gần 10h tối thì mẹ và chồng tôi về, tôi kể việc ông Sơn đến nhà và nguyên văn cuộc đối thoại. Chồng tôi bảo “Hèn gì, ông ta gọi cho anh suốt cả buổi tối, lại còn yêu cầu ra đồn công an gặp ông ta dù có về muộn, nhưng anh từ chối, anh bảo “Anh sợ ra đồn công an lắm, nhất là buổi tối, bao nhiêu người dân bị công an gọi lên đồn làm việc rồi chết ở đấy luôn, ghê lắm!” Chồng tôi đã từng nói điều này vài lần với công an trong lúc chờ tôi được thả khi tôi bị mật vụ bắt giữ nhiều lần trước đây.

Chồng tôi nói “Tuần này lại đi biểu tình.”

Má tôi bảo “Sao con không bảo chú Sơn đi biểu tình luôn cho vui, thể hiện lòng yêu nước, bảo ông ấy yên tâm là hoàn toàn đúng pháp luật.”

Tôi đáp “Vâng. Lần sau con sẽ bảo ông ấy đi, biết đâu lại đi.”

Bài do Lê Thị Công Nhân gửi tới

© Đàn Chim Việt

Polls

Posted in Chinh Tri Xa Hoi, Dân Chủ và Nhân Quyền | Leave a Comment »

Ngày hội chạy với Bò Tót ở Tây Ban Nha

Posted by hoangtran204 trên 08/07/2011

Ngày hội đuổi bò tót có từ thế kỷ 14, được tổ chức hàng năm từ ngày 6-14 của tháng 7. Những con bò tót bị rượt đuổi khởi đầu vào ngày 7, bò tót từ các xe vận chuyển bò ở ngoài thành phố, được thả ra khỏi xe, và chạy dọc theo những lối đi đã được ngăn che hai bên đường, bò chạy theo hướng đã định sẵn để vào đấu trường. Các thanh niên trên 18 tuổi nào cũng có thể tham dự vào cuộc chạy nầy để chứng tỏ sự can đảm của họ. Các con bò tót bị kéo ra khỏi chuồng, bị rượt đuổi, gần như điên lên vì nhìn thấy màu đỏ của áo quần và tiếng la hét của người đi xem hội…Khoảng đường chạy khoảng chừng 826 mét, tốc độ chạy của các con bò tót khoảng 15 km/ giờ, thường chạy qua 4 đường phố trước khi vào đấu trường.

Trong 30 năm qua, có 9 người chết, trong sô đó có 6 người chết vì bị sừng bò húc vào các năm 1995, 2005, và 2009. Nhiều người phản đối ngày hội nầy, nhưng nhiều người vẫn cứ thích tham gia. Nguồn 

  1. Revelers run next to Torrestrella ranch fighting bulls during the running of the bulls at the San Fermin fiestas on Thursday, July 7, 2011, in Pamplona, Spain. (AP Photo/Daniel Ochoa de Olza)
  1. Runners lead Torrestrella ranch bulls during the first bull run of the San Fermin Festival in Pamplona
  1. Fiesta De San Fermin Running Of The Bulls - Day 2Fiesta De San Fermin Running Of The Bulls - Day 2
  1. Fiesta De San Fermin Running Of The Bulls - Day 2

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

Liên Kết là tạo nên sức mạnh vô song mà không một lực lượng nào có thể đối địch được

Posted by hoangtran204 trên 07/07/2011

Cuộc chiến đấu giành lại những gì đã mất bao giờ cũng cần có thời gian dài cho các yếu tố cùng hội tụ, cần có sự đồng thuận, và liên kết của một đám đông có cùng chí hướng.  Khi thời gian đã chín mùi, lại cần có thêm sự xung phong của một vài cá nhân khởi xướng cho đến khi đạt được mục tiêu.

Cuộc chiến tại Kruger

Posted in Dân Chủ và Nhân Quyền | Leave a Comment »

Cùng bị TQ lấn áp, nhưng hai chính phủ có hai lối đối xử khác nhau…

Posted by hoangtran204 trên 07/07/2011

Trong khi các giới chức  Trung Quốc coi chính quyền Hà Nội như những đứa bé, họ thường đối xử và trách mắng nhà nước và đảng  CSVN như một ông chủ trách móc đứa đầy tớ ngụ dại. Dù bị đối xử làm mất mặt như thế, nhưng lạ lùng thay, đảng và nhà nước CHXH CNVN  lại tỏ ra sợ hải Trung Quốc một phép. 14 ủy viên  BCT và Thủ tướng đương quyền NTD,  thậm chí giới truyền thông báo chí  VN sợ đến  nổi không dám cải lại những câu nói, những lời tuyên bố trịch thượng của  TQ mà ai theo dõi tình hình thời sự giữa  VN và TQ trong mấy tuần qua đều không khỏi cảm thấy ứa gan, và rồi thắc mắc tại sao chính quyền VN lại có hai bộ mặt. Một bộ mặt thì chính phủ VN tỏ ra rất nhu nhược với  TQ, gần như rất sợ hải, bị lệ thuộc vào  Trung Quốc và không có một chút độc lập hay chủ quyền nào hết. Còn bộ mặt kia, thì họ lại thì đối xử với dân chúng VN một cách hùng hổ và hung bạo không khác gì một bạo chúa độc tài.

Đọc bài báo dưới đây ta mới thấy chính phủ Phi đúng là một nhà nước độc lập và có chủ quyền.

 

Chính phủ Phi cấm đệ nhất tham vụ toà đại sứ Trung Quốc

Manila – Viên chức Phi Luật Tân đã cấm một nhà ngoại giao Trung Hoa không được tham sự những buổi họp với Phi Luật Tân trong tương lai vì thái độ thô lỗ, kém văn minh của ông ta, trong biến cố mới nhất liên quan đến chuyện xung đột ở quần đảo Trường Sa.

Viên chức bộ ngoại giao Phi nói hôm thứ Ba ngày 5 tháng Bảy rằng Đệ nhất Tham vụ Toà Đại sứ Trung Quốc Li Yongsheng đã lớn tiếng với một viên chức Phi Luật Tân tháng rồi trong khi họ đang bàn thảo chuyện tàu Trung Quốc bị lên án xâm phạm quần đảo Trường Sa mà Phi Luật Tân cho là của mình.

Một bản thông báo của văn phòng Á châu Thái Bình Dương của Phi Luật Tân nói là ông Li đã bày tỏ “sự thiếu tư cách của một nhà ngoại giao” và toà đại sứ Trung Quốc đã được thông báo là ông ta sẽ không được phép tham sự những buổi họp tới ở văn phòng này trong tương lai.

Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Phi Luật Tân ông Voltaire Gazmin nói sự việc xảy ra hôm 4 tháng Sáu nằm phía tây tỉnh Palawan là sự xâm phạm lãnh hải Phi gần đây nhất. Nguồn: Onthenet


Cũng liên quan đến chuyện tranh chấp lãnh hải giữa Trung Quốc và Phi Luật Tân, giới quân sự Phi cho hay là có một máy bay “lạ” đã làm ngư dân Phi Luật Tân sợ hãi và bỏ chạy ở gần quần đảo Trường Sa.

Người ta chưa xác định được nguồn gốc chiếc máy bay này, đã bay rất sát – chỉ cách vài mét – một chiếc tàu đánh cá chở nhiều ngư dân Phi trên tàu ở vùng biển thuộc Phi Luật Tân gần quần đảo Trường Sa đang còn nằm trong tranh chấp.

Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Phi Luật Tân ông Voltaire Gazmin nói sự việc xảy ra hôm 4 tháng Sáu nằm phía tây tỉnh Palawan là sự xâm phạm lãnh hải Phi gần đây nhất, và giới quân đội Phi trước đây đã từng lên án tàu dân sự cũng như quân sự Trung Quốc đã xâm nhập lãnh hải Phi bất hợp pháp.

Những ngư dân này tuy bàng hoàng nhưng đã không có ai bị thương, rời khu vực gọi là Dalagang Bukid Shoal cách tỉnh Palawan, thuộc quần đảo Balabac 210 cây số ngay lập tức. Những ngư dân này không xác định được nguồn gốc chiếc máy bay này, bay cách cột antenna trên tàu họ khoảng 6 mét.

Bộ trưởng Gazmin từ chối không đưa ý kiến suy đoán về nguồn gốc chiếc máy bay này nhưng ông nói hầu hết các cuộc xâm phạm lãnh hải của Phi trước đây và gần quần đảo Trường Sa đã là tàu của Trung Quốc.

© DCVOnline


Nguồn:

(1) Filipino officials ban diplomat amid Spratlys spat. The Associated Press, 5 July 2011
(2) Warplane scares Filipino fishermen near Spratlys. The Associated Press, 5 July 2011

Posted in Chinh Tri | Leave a Comment »

Los Angeles cấm dùng bao nylông

Posted by hoangtran204 trên 04/07/2011

 

 

 

 

 

 

Bao ny-lông rất tiện dụng nhưng xem ra quá nguy hại cho môi trường, động vật và ảnh hưởng nguồn nước nước uống vì tính chất không phân hủy của nhựa.

Vì bị nhiều nhóm xã hội dân sự phản ảnh, các cơ quan môi trường của nhiều tiểu bang ở Mỹ đã bắt buộc các nhà máy chế tạo loại bao ny lông tự phân hủy. Sau chừng thời gian 6 tháng, dù có xử dụng hay còn để trong kho, các bao ny lông tự bể ra thành các mảnh nhỏ như móng tay khi ta sờ vào.

Ngược lại, các bao ny lông ở VN được làm bằng loại hóa chất rất chắc chắn, không tự phân hủy, có thể để lâu nhiều năm trời và tái xử dụng với thời gian vô hạn. Đây là điều quá tổn hại cho môi trường.

 

Los Angeles cấm dùng bao nylông

  

Hiệu lực 1 tháng 7 tại những vùng trực thuộc quận

 

 

 

 

 

LOS ANGELES (LAT) – Lệnh cấm sử dụng bao ny-lông bắt đầu có hiệu lực vào ngày 1 tháng 7 này, ở các khu trực thuộc quận Los Angeles, theo tin báo LA Times.

Hình minh họa một số bao plastic dùng khi mua sắm nay bị cấm bắt đầu từ 1 tháng 7. (Nguồn: Tim Simms/Wikipedia)

Lệnh cấm được các giám sát viên quận ca tụng như là một biện pháp để bảo vệ môi sinh, giúp quận thoát khỏi nạn ô nhiễm ở những bãi rác lẩn tránh tình trạng rác đổ dồn ra biển.

Bao giấy vẫn còn được lưu hành nhưng khách hàng phải trả 10 xu cho mỗi bao.

Nỗ lực này nhằm khuyến khích khách hàng mang theo bao dùng rồi để đi chợ.

Lệnh cấm sử dụng bao ny-lông có ảnh hưởng đến những ai đi mua sắm ở các thành phố trực thuộc quận hạt Los Angeles như: Rowland Heights, Hacienda Heights, Altadena, La Crescenta, Topanga Canyon, Marina del Rey, Baldwin Hills, Athens, Willowbrook, Florence, Rancho Dominguez, Valencia, East Pasadena và East Los Angeles. Có khoảng 1.1 triệu người sống ở khu vực trực thuộc quận Los Angeles.

Kể từ ngày 1 tháng 7, 67 siêu thị và tiệm thuốc tây lớn phải ngưng cung cấp bao ny-lông cho khách hàng. Sang tháng 1, 2012, lệnh cấm sẽ áp dụng luôn đối với khoảng 1,000 tiệm nhỏ hơn.

Các giám sát viên thông qua lệnh cấm này hồi năm ngoái với tỷ số phiếu 3 trên 1.

Sự sử dụng bừa bãi bao plastic gây tàn phá môi sinh. Loạt bài được giải Pulitzer của báo LA Times năm 2006, cho thấy bao ny-lông làm tắt nghẽn biển cả như thế nào. Tại một vùng biển Thái Bình Dương nằm giữa San Francisco và Hawaii, một khối rác lớn gấp đôi tiểu bang Texas đang xoáy vòng theo chiều kim đồng hồ, trong đó phần lớn là túi plastic, chim chóc và các sinh vật hoang dã khác đang tụ lại để ăn. (TP)

nguồn

Posted in Moi Truong bi O nhiem | Leave a Comment »

Hồ Hữu Tường – Lòng Dạ Đàn Bà – Những Ngày Cuối Đời

Posted by hoangtran204 trên 03/07/2011

Lòng Dạ Đàn Bà !

Mặt trời chen lặn, ngọn gió lao rao. Dọc theo đường Cái-Tắc đi Long-Mỹ, lúa gần chín, nên trông ra ruộng có đám ửng vàng, có đám còn xanh lét.

Ngang mấy xóm, người ta thừa hứng cái cảnh trời chiều mát-mẻ, nên lăng-xăng ngoài đường, người thì chấp tay sau đít, bước chẫm-rãi, mắt ngó mông vô đồng; kẻ thì ngồi dựa bên lề, mặt tươi cười, miệng nhai nhóc-nhách; khúc thì dụm năm dụm ba hỏi nhau lúa trúng ước mấy giạ một công; chỗ thì con gái con trai trửng-giởn chạy tứ tung, nói cười inh-ỏi.

Cái cảnh vui-vẻ dường ấy, con người thảnh thơi dường ấy, mà sao trước nhà của ông Hội-Ðồng Lê-Tấn-Thành, cũng ở dựa bên khúc lộ nầy, lại vắng-hoe, trong nhà lặng-lẽ, ngoài ngõ im-lìm. Hàng rào dưới xây gạch, trên song sắt, chạy dọc theo đường bị cỏ mọc che khuất nhiều khúc, coi chẳng khác rào hư. Cái cửa ngõ sắt, một cánh mở hé, còn một cánh thì khép hoài, nên chốt bị sét đóng, xô mở không nổi.

Trong sân thì kiểng vật ê-hề, nhưng mà mấy hàng cây tây trồng dài theo đường đi, không săn sóc, không tỉa nhánh sửa lá, nên bụi rặm-rịt tàn lan, bụi ngã xiên ngã xó. Mấy chậu kiểng không tưới nước, không bắt sâu, nên chậu nứt đất bày rễ, chậu rụng lá khô gốc. Cái nhà rộng lớn đò-sộ, giá cất đến bạc muôn, mà cửa đóng bì-bịt, thềm đầy lá khô, trông ra thì đã biết đã lâu rồi chủ nhà không tiếp khách.

Thình-lình có một cái xe hơi thùng kiếng còn mới tinh, ở Long-Mỹ chạy ra đậu ngay cửa ngõ ông Hội-Ðồng Thành. Anh sớp-phơ mặc đồ tây vàng, đội kết vàng, đi giày trắng, nhảy xuống mở cửa xe rồi đứng nép một bên, bộ cung kỉnh người đi xe lắm. Trên xe thủng-thẳng bước xuống một cô, mặc áo quần lụa màu trứng gà, đầu choàng khăn sạt cũng màu trứng gà, vai mang cái choàng tơ màu xám thiếc.

Cô trạc chừng 30 tuổi, gương mặt tròn-trịa, nước da trắng trong, má bầu mà lại ửng hồng, mài vòng nguyệt mà lại nhỏ rức, răng trắng mà khít rịt, môi mỏng mà đỏ au, miệng vui vẻ tươi cười, mắt long-lanh chói sáng. Bước xuống xe rồi, cô thủng-thẳng lột cái choàng mà liệng vào xe, mùi dầu thơm bay ngọt-ngào. Con tỳ-nữ còn trong xe, chụp lấy cái choàng ngồi mà xếp. Cô đứng ngó vô cửa mà nói rằng: “Phải cái nhà nầy rồi, mà thế chủ nhà đi khỏi hay sao nên cửa đóng bì-bịt vậy kìa? Trong a! Xách cái bốp đi vô đây với cô”. Con tỳ-nữ ôm một cáp bốp da lớn leo xuống xe mà đi theo.

Cô mỹ-nữ nầy bước vô sân, thấy kiểng-vật tiều-tụy, đường-sá bịt bùng, cảnh xem vắng-hoe lòng bắt ái-ngại. Cô thủng-thẳng đi dọc theo chái nhà mà vòng vô phía sau. Có hai con chó vàng nằm lim-dim tại cửa sau, thấy dạng khách lạ thì tuôn ra mà sủa. Một ông già ở trần, lưng đen trạy, ăn trầu, miệng bô-bô, bước ra la chó. Cô mỹ-nữ hỏi có ông bà Hội-Ðồng ở nhà hay không, thì ông già đáp rằng: “Thưa, có một mình bà tôi ở nhà. Ông tôi ở trên Sài-gòn”.

Cô mỹ-nữ theo ông già mà vô nhà sau, rồi bắt đó đi thẳng ra nhà lớn. Cô vừa bước chơn lên thềm thì la lớn rằng: “Bà Hội-Ðồng ở đâu? Có khách xa tới xin cơm đây nè”. Cô vừa bước vô và nói và cười ngất.
Bà Hội-Ðồng đương nằm tại bộ ván dựa cửa, bà giựt mình lồm-cồm ngồi dậy. Cô gái lớn của bà là cô Kim-Lang, 14 tuổi, ngồi thêu một bên đó, cũng buông cây kim, ngước mặt lên ngó. Bà Hội-Ðồng vùng la: “Ủa, cô tư! Vậy mà tôi tưởng là ai đâu chớ! Cô đi đâu xuống tới dưới nầy? Mạnh giỏi há?”.

Cô mỹ-nữ ấy cười mà đáp rằng: “Ờ, tôi xuống thăm chị, chớ đi đâu. Tôi mạnh giỏi luôn-luôn. Còn chị làm giống gì mà ốm dữ vậy? Chị đau hay sao? Anh Hội-Ðồng đi đâu mà đóng cửa bì-bịt vậy?” Bà Hội-Ðồng nghe hỏi tới chồng, thì đổi sắc, bộ buồn-bực lắm và thở ra mà nói: “Từ hồi làm Hội-Ðồng tới giờ, cứ đeo ở trên Sài-gòn hoài, có ở nhà đâu”.

Bà Hội-Ðồng tên là Kim-Diệp, năm nay được 35 tuổi. Hồi còn xuân-xanh, bà là một gái vừa có sắc, vừa có hạnh, mà lại cha mẹ có tiền nhiều, bởi vậy những con nhà giàu, những người có học-thức, ai cũng trầm-trồ gấm-ghé. Lúc nhỏ cô Kim-Diệp học tại Nhà Trắng Sài-gòn, tới 19 tuổi mới thôi học mà lấy chồng. Cô ở với ông Hội-Ðồng Lê-Tấn-Thành có ba đứa con, một đứa con gáî tên Kim-Lang, 14 tuổi, đứa con trai tên Tấn-Ðức, 10 tuổi và một đứa con gái út tên Kim-Cúc, mới 4 tuổi.

Còn cô mỹ-nữ tới thăm đây tên là Thanh-Thủy, vồn là chị em bạn học với bà Hội-Ðồng. Hồi 18 tuổi, cô lấy chồng là một quan lương-y bổn-quốc có danh ở Sài-gòn, đến 25 tuổi, rủi chồng mất, cô không có con, mà có của, cô mới mua một cái nhà thiệt đẹp ở đường Mayer ( Ðinh Tiên Hoàng Cầu Bông ngày nay ), trước có sân rộng, hai bên có trồng cây mát-mẻ, mà ở với một đứa cháu gái, tên là Thanh-Bạch, 15 tuổi, rồi mua hột xoàn đi lục tỉnh bán chơi, không thèm lấy chồng khác.

Tuy hai cô Kim-Diệp và Thanh-Thủy lớn lên có chồng mỗi người ở một nơi, nhưng mà tình chị em vẫn còn thân thiết , nghĩa đồng-song vẫn còn mặn-mòi như xưa. Từ ngày cô Thanh-Thủy đi mua bán hột xoàn thì cô thường hay ghé thăm cô Kim-Diệp, duy có năm rồi, miệt Rạch-giá, Cần-thơ, Sóc-trăng, Bạc-liêu, thiên hạ bị khuẩn-bách nặng-nề, ít mua hột xoàn, cô không xuống mấy tỉnh nầy, nên cô không có ghé.

Cô Kim-Diệp thấy có khách mới sai con kêu trẻ ở nhà mà biểu đi đốt đèn, trải chiếu lăng-xăng.
Cô Thanh-Thủy ngồi nói om-sòm, hỏi lia-lịa một hồi, rồi nói rằng:

– Mới năm ngoái với năm nay tôi không xuống miệt nầy, nên không gặp chị. Bây giờ tôi coi sao vóc chị ốm nhiều, mà sắc chị lại buồn lắm vậy chị?
– Vì tôi buồn việc nhà nên tôi hư lung lắm.
– Ối, việc nhà hơi đâu mà buồn. Cuộc kinh-tế khủng-hoảng nầy lâm-nguy cho thiên-hạ hết thảy, chớ phải có một mình chị bị hay sao mà chị buồn. Ðừng có buồn giống gì hết. Lên Sài-gòn chơi, lên ở nhà tôi uống thuốc. Tôi coi chị ốm lắm đa, phải uống thuốc mới được.

Cô Kim-Diệp nghe mấy lời thì cô ứa nước mắt rồi chậm-rãi đáp rằng:
– Cái phần của cô sung-sướng, cô tưởng ai cũng như cô vậy hết, nên việc gì cô tính nghe cũng dễ như chơi được. Phải tôi mà được như cô thì nói gì!
– Trời ơi! Bây giờ chị nầy chỉ phân-bì với tôi chớ! Phận tôi góa bụa không con, ở tròi-trọ một mình. Còn chị thì có chồng, làm tới chức đại-biểu của dân, danh-giá lừng-lẫy, có con gái con trai đủ hết, lại có nhà cửa lớn, ruộng đất nhiều nữa, mà chị trở lại phần-bì với tôi chớ. Tôi biết rồi, chắc anh Hội-Ðồng chơi bời mắc nợ mắc nần, làm cho chị cực lòng chớ gì, phải vậy hay không, chị Hai?
– Chuyện nhà của tôi, nói không hết được. Ủa, mà trời đã tối rồi tôi quên biểu bầy trẻ lo cơm nước cho cô ăn chớ. Kim-Lang a, con xuống biểu bầy trẻ bắt vịt làm thịt đặng dọn cơm riết cho dì con ăn, nghe con.
– Trời ơi, tôi đói bụng, mà đợi làm vịt, rồi chừng nào mới có cơm ăn.
– Không sao đâu, làm một chút thì rồi. Lâu gặp cô, nên gặp tôi mừng quá. Tôi bắt cô ở lại đây, tôi không cho đi.
– Bắt ở lại chi vậy?
– Chị em lâu gặp nên nói chuyện chơi.

– À ạ! Tôi tưởng chị bắt ở đặng làm bé ảnh nữa chớ. Tôi nói trước cho chị biệt, cái đó không được a. Ảnh thiệt kỳ quá, từ ngày nhà tôi mất, hễ ảnh gặp tôi là ảnh theo chọc ghẹo tôi hoài.

– Cái tánh vậy đó đa, thấy ai cũng muốn hết. Chớ chi mà được cô, là chị em, thì tốt lắm, ngặt …

– É! Chị khéo nói thì thôi! Ai mà chịu vậy nà!
Cô Thanh-Thủy và nói và cười ngất.

Ăn cơm tối rồi, cô Kim-Diệp cầm cô Thanh-Thủy ở lại ngủ. Từ ngày ở Nhà Trắng hai chị em phân rẽ nhau tới nay chẳng có dịp nào mà được gần-gũi nhau cho nhiều ngày giờ. Hôm nay nhà vắng-vẻ, đêm im-lìm, ngoài sân gió bấc thổi lao-rao, trong vườn bóng trăng soi vặc-vặc. Hai chị em nằm chung một ván, to nhỏ tâm sự với nhau. Nhờ cái dịp ấy, cô Thanh-Thủy mới hiểu cô Kim-Diệp buồn-rầu đến nỗi ốm là tại ông Lê-Tấn-Thành từ ngày đắc cử làm nghị-viên Hội-Ðồng Quản-Hạt, ông giao-thiệp rộng, lên xuống Sài-gòn thường, rồi ông sa-đắm một cô mỹ-nữ, tên là Ba Huyền, 22 tuổi, nhan-sắc thiệt là xinh đẹp, mà tánh-nết thiệt là lả-lơi, mua một cái nhà tại Phú-Nhuận mà ở với cô, sắm xe hơi cho cô đi chơi, mua hột xoàn cho cô trang-điểm, ngày như đêm say-sưa mê-mẩn cùng duyên mới, không kể gì đến vợ hiền-đức, con thơ-ngây ở nhà.

Cô Kim-Diệp thuật hết mọi việc rồi cô khóc tấm-tức tấm-tưởi mà nói thêm rằng: „Tôi không dè cái đời của tôi mà phải trêu cay nuốt đắng như thế nầy. Con gái lớn đương học tại trường đầm, hôm tháng trước tôi phải rút về đặng mẹ con hủ-hỉ giải buồn. Thằng con trai đã 10 tuổi rồi, mà không có ai lo kiếm trường cho nó học. Còn ruộng đất thì lúa đã khởi sự chín, mà không ai sắp-đặt thâu góp, day trở trong ngoài chỉ có một mình tôi. Tôi nói thiệt, nếu tôi không có mấy đứa nhỏ thì tôi đã chết rồi, chết cho khuất mắt, chết cho hết cực lòng, nhọc trí lo ngày đêm nữa .

Cô Thanh-Thủy nghe những lời thảm-thiết, thấy cái sắc ưu-sầu của chị em bạn, thì cô động lòng, nên cô cũng ứa nước mắt. Cô nằm gác tay qua trán mà thở ra, rồi vùng ngồi dậy nói rằng: „Ðời nầy có chồng thì phải giữ-gìn. Tại chị hơ-hỏng quá, nên mới ra cớ đỗi như vậy. Mà thôi, chị đừng có buồn rầu nữa. Người phải, không lẽ trời hại đâu. Chị phải gượng làm vui, mà nuôi con. Tôi về ít bữa thì chị sẽ được tin tôi. Tưởng là ai lạ, chớ con Ba Huyền tôi biết nhiều“.
Sáng bữa sau, cô Thanh-Thủy từ cô Kim-Diệp mà về, cô ôm mấy đứa con của cô Kim-Diệp mà hun từ đứa và nói rằng: “Con như vầy mà bỏ đành, cái anh nầy thiệt là tệ!” Trước khi lên xe cô lại nắm tay cô Kim-Diệp mà nói rằng: “Xin chị hãy nghe lời tôi, chị đừng buồn nữa. Ở nhà cứ lo góp lúa và dạy con, nếu chị buồn mà chị đau thì tôi giận chị lắm đa”.

II

Ở Phú-nhuận Sài Gòn, gần ngã tư qua Bà-Chiểu có một cái nhà kiểu “banh ít”, nhà tuy nhỏ song kiểu đẹp-đẽ vô cùng. Trước nhà có một cái sân rộng lớn. Chính giữa sân có một cái bồn bông tròn trồng cây đủ màu, nhờ tưới nước săn-sóc mỗi ngày nên cây sum-sê, lá tươi-tốt. Từ ngoài cửa ngõ có làm một cái đường chạy vô tới gần bồn bông rồi tẻ ra làm hai ngã, đi vòng theo hai chái nhà, ngã tay mặt thì vô nhà để xe hơi, còn ngã tay trái thì vô nhà bếp. Dọc theo lề mấy đường ấy, thì lên liếp rồi trồng, khúc bông huệ trắng, khúc bông ngải tây, bởi vậy ban ngày sân chói đủ màu, ban đêm mùi thơm bát-ngát. Dựa hàng rào, hai bên thì trồng mãng-cầu xiêm xen lộn với mít tố nữ, cây trồng dày, lá rậm-rộp, nên dầu trưa nắng, cũng có khi mát-mẻ như sớm mơi.
Trong nhà thì ghế, giường, ván, đều sắm theo kiểu kim-thời. Chính giữa dọn sa-long ghế thấp thấp, mặt đều lót nệm ruột gà, có gối dựa lưng, có gối gác cẳng. Trong bốn góc phòng có để bốn chậu kiểng, lá sum-sê cho mát-mẻ. Tại bàn giữa thường có để một bình bông, bông thay hằng ngày, nên coi tươi rói. Cái phòng bên tay mặt thì dọn bàn ăn, có tranh tứ thời, có tủ đựng rượu. Cái phòng bên tay trái thì lót một cái đi-hoăn thiệt đẹp, có nệm, có gối, để nghỉ trưa, lại có ghế dựa, ghế dài, để nằm đọc sách. Phía trong một bên thì dọn phòng ngủ, một bên thì phòng văn; phòng ngủ để giường đồng, tủ áo hẳn-hòi, phòng văn để bu-rô, kệ sách rất đẹp. Cái nhà nầy là nhà của ông Lê-Tấn-Thành mua mà ở với cô Ba Huyền.

Tối thứ bảy, ăn cơm rồi, ông Lê-Tấn-Thành ngồi trên cái đi-hoăn kề vai vào một cái gối dựa gòn rất êm, vừa hút thuốc, vừa đọc nhựt-trình, cô Ba Huyền, ở trong buồng đi ra, mặt giồi phấn, môi thoa son, hai gò má ửng hồng, cặp chơn mày nhỏ rứt, tóc uốn vặn khu ốc, cổ đeo chuỗi lòng-thòng, mình mặc một bộ đồ màu khói nhang, chơn mang một đôi giày thêu cao gót, tai đeo một đôi bông xoàn thiệt lớn, tay xách một cái bốp da bọc nhung, miệng chúm-chím cười có duyên, dầu thơm bay mùi bát-ngát. Cô lại ngồi trong lòng ông Hội-đồng, lấy tay vỗ mặt ông nhẹ nhẹ, đưa năm ngón tay vừa dài, vừa trắng trong. Cô mơn-trớn rồi miệng hun ông và nói nhỏ nhỏ rằng: “Sao bữa nay coi bộ mình không vui vậy mình?”

Ông Hội-đồng buông tờ nhựt-trình rồi ngó cô mà cười và đáp rằng:
– Có gì đâu mà không vui.
– Tôi chắc mình giấu tôi. Tôi biết rồi, hồi nãy tôi rủ mình đi coi hát bóng, mình không chịu đi, tôi nói tôi đi một mình, nên mình phiền tôi chớ gì?
– Trọn một tuần nay đi luôn luôn; để tôi nhớ coi, ừ, thứ hai đi ăn cơm trên Biên-hòa, thứ ba đi coi hát cải-lương, thứ tư đi vô nhà xét, thứ năm đi coi hát bóng, thứ sáu đi Xuân-Trường nữa, đi hoài, đêm nào cũng một hai giờ khuya mới về, nên tôi mệt quá, bữa nay tôi nghỉ ở nhà đọc nhựt-trình. Mình không mệt thì mình đi chơi, chớ phiền giống gì.
– Tôi đi chơi một mình không ghen hay sao?
– Không.
– Vậy thì tôi hết muốn đi.
– Sao vậy?
– Tôi vẫn biết tánh mình ghen lắm, bữa nào tôi đi một mình, chừng về mình cũng theo hỏi đon hỏi ren sớp-phơ hoài, nhứt là tôi đi Chợ-lớn, mình ghét lắm. Bữa nay sao mình lại xúi tôi đi chơi một mình. Tôi biết rồi, chắc mình muốn cho tôi đi, đặng mình ở nhá lén viết thơ cho vợ hay cho con chớ gì. Tôi không thèm đi.
– Không có đâu, ai viết thơ làm chi. Mệt nên ở nhà nghỉ chớ. Mình muốn đi coi hát bóng thì đi hay là muốn ở nhà tự ý.
– Mình nói mình không có ý muốn viết thơ cho vợ con, thôi mình thề đi. Thề tôi mới tin.
– Thề sao?
– Thề sao đó mình thề, tôi có biết đâu.
– Tôi có bụng muốn ở nhà đặng viết thơ cho vợ thì lịnh ông Quan Ðế bẻ cổ tôi đi, mình tin chưa.

Cô Ba Huyền cười đưa hai hàm răng trắng trong và nhỏ rít, rồi ôm đầu ông Hội-đồng mà hun trơ hun trất.
Cô đứng dậy xách bốp và nói rằng: „Gần tám giờ rưỡi rồi, thôi đi đa”.
Ông Hội-đồng giặc đầu và nói: „Ði đi, vãn hát rồi về liền, nghe hôn?“.

Cô vừa bước chơn đi, mà cô nghe lời dặn như vậy thì cô đưa tay chỉ ông Hồi-đồng mà nói: „Ðó, ló mòi ghen rồi đó!” Ông Hội-đồng cười. Cô trở lại nắm tay ông và nói:
– Ờ, quên nữa, mai đi coi đua ngựa, nghe hôn mình. Người ta nói mai đua độ hội có con la Gazelle chắc về nhứt lắm. Mai mình lên coi, tôi xề kiếm vài trăm dễ như chơi.
– Ối thứ cá ngựa tôi ghét quá!
– Tại sao mà ghét. Chúa-nhựt nào họ cũng đi cá rần-rần, dưới tỉnh người ta còn lên, huống chi mình ở một bên mà không đi.
– Bày gian lận bậy bạ.
– Gian lận chỗ nào? Mình thua là tại con mắt mình coi dở chớ. Mình nói nghe hơi nhà quê quá.
– Thà tôi chịu tiếng quê, chớ tôi không ưa đánh bạc.
– Thôi mai mình cho tôi hai ba trăm tôi cá chơi nghé.

Cô Ba Huyền ra đi. Ông Hội-đồng đi theo ra cửa, đứng coi cô lên xe hơi mà đi, rồi ông thủng-thẳng đi vòng theo bồn bông mà hứng mát. Ông đương đứng ngó trời nhìn hoa, bỗng thấy một cái xe hơi ngừng ngay cửa. Ông men-men đi ra coi xe nào. Một người sớp-phơ leo xuống đi vô cửa, dở kết chào ông và nói rằng:

– Bẩm ông, phải nhà ông Hội-đồng Quản-Hạt đây hôn?
Ông gặc đầu. Người sớp-phơ hỏi tiếp:
– Không biết có ông ở nhà hay không?
– Tôi đây. Em hỏi chi vậy?
– Cô tôi biểu hỏi.
– Cô của em là ai?
– Bẩm, cô Tư thầy thuốc ở đường Mayer.

Người sớp-phơ lật-đật trở ra xe. Ông Hội-đồng ngó theo, nhờ có bóng đèn giọi, nên thấy trên xe thùng kiếng kiểu Aérodynamique có hai người ngồi, tên sớp-phơ nói nhỏ ít tiếng rồi mở cửa xe cho một người mỹ-nữ bước xuống. Tuy đứng xa xa, đèn lu-lu, nhưng mà ông Hội- đồng thấy cô mỹ-nữ ấy nước da trắng, gương mặt tròn, lại mặc một bộ đồ màu trứng sáo choàng khăn cũng màu ấy, rồi da mặt giọi khăn, khăn giọi da mặt, nên coi thiệt là đẹp. Cô mỹ-nữ tay xách bốp, chơn thủng thẳng bước dịu dàng mà vô sân, chưng lại gần tới ông Hội-đồng, cô mới nói lớn rằng: “Anh Hai! Anh ở đây mà em có dè đâu? Chị Hai mạnh giỏi há? Năm nay anh được mấy đứa cháu?”

Tiếng nói lạ hoắc, làm cho ông Hội-đồng không biết là ai, mà lời hỏi lại chồng-chập, ông không biết đâu mà đáp. Chừng ông coi kỹ-lưỡng lại, thấy rõ mặt mày, ông mới la lớn rằng: “Ủa, cô Tư! Cô đì đâu đây?”.

Cồ Tư Thanh-Thủy cười ngất rồi đáp rằng:
– Cái anh nầy thiệt là vô tình quá! Ði kiếm mà thăm ảnh, ảnh không mang ơn, lại hỏi đi đâu, ai muốn vay tiền vay bạc gì hay sao mà anh sợ, nên anh hỏi kỳ-cục vậy?
– Xin lỗi cô, vì cô trốn lánh tôi, không cho tôi gặp mặt lâu quá, nay tình-cờ tôi được gặp, tôi mừng quýnh nên hỏi bất-tử vậy mà, chớ có phải là vô-tình đâu. Tôi có tình lắm chớ, đối với cô cũng vậy hoài, có bao giờ tôi quên.
– Anh quỉ nầy, hễ gặp thì cứ nói pha-lửng hoài. Tại vậy đó, nên mấy năm nay tôi không thèm cho thấy mặt, đáng lắm.
– Nói chơi vậy mà, có hại gì đâu.
– Sao lại không hại. Người ngoài họ nghe họ đàm tiếu chớ.
– Anh em mà đàm-tiếu giống gì?
– Anh em rồi chọc nhau vậy sao? Anh nói chơi mà rủi chị Hai chỉ ghen, phải là tôi
– Mang xấu hay không?
– Chị Hai ở đâu đây mà hay.
– Uả, mà tôi tới tôi thăm anh rồi anh bắt tôi đứng hoài ngoài sân hay sao? Anh nầy vô tình thiệt không ai có! Anh sợ tốn nước, nên không dám mời vô nhà. Anh không mời tôi cũng vô đặng tôi thăm chị Hai. Ðể tôi mét với chị Hai, tôi nói anh chọc tôi đặng anh bị rầy chơi.

Cô Tư Thanh-thủy nói chưa dứt lời thì cô ngoe-ngoảy đi thẳng vô nhà. Ông Hội-đồng đi theo sau mà nói rằng: “Có ở nhà tôi trên đây đâu, nhưng mà tôi cũng mời cô vô nhà chơi chớ. Tại cô cứ nói hoài nên tôi chưa kịp mời”.

Cô Tư đứng lại ngó ông Hội-đồng mà hỏi rằng: „Không có chị Hai ở nhà sao? Anh nói thiệt hay là nói chơi? Vậy chớ ai nhắn biểu tôi đem hột xoàn vô đặng mua, lại xưng là Bà Hội-đồng Thành”.

Lúc ấy cô Tư đứng ngay yếng sáng, ngọn đèn trong nhà chói ra. Ông Hội-đồng thấy cô tỏ-rõ, mặt thiệt là xinh đẹp, mắt thật là hữu tình, miệng thiệt là hữu duyên, dóc thiệt là yểu-điệu. Ngọn lửa tình ông nhen-nhúm từ ngày trước mà không được, bây gìờ nó lại muốn phừng lên, làm cho ông quên trả lời mấy câu hỏi và ông bước lại gần mà nói nhỏ rằng: “Cô Tư … Mời cô vô nhà….Cô vô rồi tôi sẽ nói chuyện cho cô nghe”.

Cô Tư liếc mà mỉm cười rồi đi vô, mùi dầu thơm bay bát-ngát, làm cho ông Hội-đồng đi gần, ông càng thêm ngơ-ngẩn. Vô tới phòng khách, cô không đợi mời, cô để cái bốp trên cái bàn nhỏ, rồi lựa cái ghế khuất trong góc, dựa bên chậu cau vàng sum-sê mà ngồi. Ông Hội- đồng thấy vậy cũng ngồi cái ghế gần đó.

Cô Tư cười mà hỏi rằng:
– Ủa! Sao tôi hỏi, mà anh không trả lời? Anh nói chị Hai không có ở trên nầy, vậy chớ ai mạo xưng “Bà Hội-đồng Thành” mà kêu tôi đây? Thế khi anh giả-mạo đặng gài bẩy cho tôi mắc chớ gì?
– Không có đâu. Thế khi cô Ba, cổ muốn mua xoàn nên cổ nhắn cô chớ gì.
– Cô Ba nào?
– Cô Ba Huyền.
– Ủa! Con Ba Huyền sao dám xưng là Bà Hội-đồng Thành?
– Nó làm bé tôi gần một năm nay.
– Chà chà! Anh có vợ bé vợ mọn đồ nữa há! Vậy mà tôi có hay đâu! Xin anh cho trẻ mời bà Hội-đồng nhỏ ra đây đặng coi hột xoàn.
– Nó đi coi hát rồi, không có ở nhà.
– Sao nhắn tôi vô rồi lại bỏ đi coi hát?
– Xin cô đừng phiền. Chắc cô Ba cổ quên. Mà cái quên của cổ là cái may của tôi, vì nhờ cổ quên, tôi mới được gặp cô, tôi gặp một mình và có lẽ còn gặp nữa.
– Chọc nữa chớ! Có vợ lớn, vợ bé đủ hết mà còn theo chọc hoài, ngộ quá. Bộ anh muốn kiếm thêm vợ bé nữa sao?
– Tôi có vợ bé là tại cô đa.
– Tại tôi là sao?
– Tôi thương cô quá, mà cô cứ nạng tôi ra hoài, tôi buồn nên mới sanh la sự đó đa.
– Làm bậy rồi đổ tội cho tôi chớ! Anh đã có vợ có con, mà còn thương tôi nỗi gì? Anh đừng có nói vậy. Ví dầu thiệt anh có tình nặng với tôi mà tôi không chịu đi nữa, thì bất quá anh buồn rầu, anh đau tưong-tư, chớ sao anh quên tôi anh lấy con Ba Huyền rnà gọi rằng anh thương tôi? Theo con mắt tôi xem, thì anh không phải là người có tình. Anh là một người ăn chơi tầm-thường lắm.

– Tại sao cô nói vậy?
– Anh lấy con Ba Huyền mà làm vợ bé được, thì anh tầm-thường quá, dầu anh có tình thì cái tình ấy thiệt thấp lắm. Con Ba Huyền ở Sài-gòn nầy ai mà không biết nó, duy có anh là người nhà quê, ở Lục Tỉnh lên, anh mê nó mà rước về làm vợ bé, chớ có ai dám làm như vậy đâu. Ối! Mà thôi chuyện của anh, anh làm sao anh làm, tôi không căn-cớ gì mà xen miệng vô cho mích-lòng, để bán hột xoàn kiếm tiền xài.

Cô Tư ngồi cười ngất. Ông Hội-đồng xích ghế lại gần cô một chút rồi hỏi rằng:
– Cô nói đi rồi cô trở lại như vậy, thiệt tức tôi quá! Cô chê tôi nhà quê thì tôi chịu. Mà còn cô nói tôi lấy con Ba Huyền là tôi dại, xin cô cho tôi biết coi tôi dại chỗ nào?
– Tôi đâu dám nói anh dại. Ý tôi nói anh gan ruột lắm chớ.
– Gan làm sao?
– Ối thôi, đừng có hỏi dần-lân. Anh hỏi riết tôi đổ nùi ra, rồi anh oán tôi chớ ích gì.
– Không oán đâu, dầu cô nói giống gì tôi cũng không giận hết. Biết cô Ba Huyền làm sao, đâu cô nói nghe thử coi mà.
– Tôi nói ra té ra tôi nói hành người ta, mà dầu tôi nói ngay đi nữa, anh cũng không tin.
– Cô nói thì tôi tin lắm.
– Tin thiệt hay sao?

Cô Tư cười ngất rồi cô làm tỉnh lại, ngồi suy nghĩ. Ông Hội-đồng ngó chăm-chỉ, đợi cô nói ra sao. Ông sánh cô Tư với cô Ba Huyền thì cô Tư tuy lớn tuổi hơn nhưng mà dung-nhan cô xinh đẹp hơn, tướng-mạo cô thuần-hậu hơn bội phần.
Cô Tư chống tay dựa gò má mà suy nghĩ một chút, cô muốn nói mà rồi cô ngừng lại. Cách một hồi lâu, cô mới hỏi nhỏ nhỏ rằng:
– Từ hồi anh gặp con Ba Huyền tới giờ chắc anh tốn hao nhiều lắm há?
– Không bao nhiêu. Ăn xài chút đỉnh vậy thôi.
– Anh còn giấu nữa chớ. Anh giấu thôi tôì về.
– Khoan, khoan, ở nói chuyện chơi một chút mà.
– Thì nói thiệt đi.
– Thiệt, tôi lấy cô Ba Huyền hơn một năm nay tôi hao chừng vài muôn, mà trong số đó có mua cái nhà nầy hết 8.000 đồng và mua cái xe hơi 3 ngàn rưỡi.
– Tốn như vậy anh tiếc hôn?
– Không tiếc gì mấy.
– Trước khi anh lấy con Ba Huyền, anh biết gốc-gác nó hôn?
– Cổ nói thiệt cổ gốc con Triều-châu, hồi nhỏ đi vá bao mướn trong Bình-tây. Sau cổ có chồng An-nam, chồng mê vợ bé đánh đuổi cổ lưu-lạc một lúc.
– Trúng lắm, nói trúng lắm. Rồi sao nữa?
– Có sao đâu?
– Có lắm chớ. Bây giờ chồng nó làm giống gì ở đâu, nó có nói cho anh biết hay không?
– Chồng cô bỏ cô lâu rồi mà.
– Anh quê lắm! Bỏ cái gì? Chồng nó là thằng Bảy Cu, làm đầu bọn du-côn trong X… còn sờ-sờ đó, bỏ cái gì? Bảy Cu cho vợ nó đi làm nghề cám-dỗ đặng lật lưng đờn-ông lấy tiền cho nó đánh me, cá ngựa. Nhiều người bị con quỉ đó mà hết nhà hết cửa, còn ai dám ngó tới nó nữa, duy có một mình anh gan; anh dám lấy nó đây chớ.
– Có lý nào kỳ-cục như vậy!
– Anh không tin thì cứ lấy nó rồi sau anh sẽ biết. Tôi hỏi anh vậy chớ xưa rày nó có hay đi Chợ-lớn, hoặc hay lên Trường đua hay không?
– Cái đó có.
– Ờ, anh coi tôi nói trúng hay là nói bậy. Nó đi đó là đi đưa tiền của anh cho chồng nó đa.

Ông Hội-đồng biến sắc, ngồi châu mày suy nghĩ. Cô Tư Thanh-Thủy liếc ngó ông, thấy ông đã thắm thuốc rồi, cô muốn giục cho mau, bèn đứng dậy lấy cái bốp và nói rằng: “Thôi, tôi về để mai có con Ba Huyền về rồi tôi sẽ lại. Chuyện tôi mới nói với anh đó, anh đừng có học lại cho con Ba Huyền biết đa. Nếu nó hay tôi vạch, đố khỏi nó xúi chồng nó đâm tôỉ chết”.
Ông Hội-đồng cũng đứng dậy nói rằng: „Ai nói làm chi. Mà cô ở nói chuyện chơi với tôi, chớ cô về tôi buồn lắm”.

Cô Tư mắt liếc hữu tình, miệng cười chúm-chím mà đáp rằng:
– Nói chuyện gì nữa? Khuya rồi, để tôi về. Ngồi lâu quá người ta đàm-tiếu.
– Không có sao đâu mà.
– Thôi nà.
Cô Tư bỏ đi ra cửa. Ông Hội-đồng đi theo ra tới chỗ tối, ông kêu mà hỏi:
– Cô Tư, tôi đi theo cô đuợc hôn?
Ông và hỏi và vói nắm tay cô. Cô Tư giựt tay và cười mà hỏi:
– Ði theo làm chi?
– Tôi thuơng cô quá, tôi muốn tỏ hết tình của tôi cho cô biết. Tại cô phụ-rãy tôi, nên tôi mới máng con quỉ nầy đó.
Cô Tư suy nghĩ một chút rồi lắc đầu nói rằng:
– Anh đi theo bây giờ không tiện. Xe có sốp-phơ, có con nhỏ ở, nói chuyện gì được. Thôi để bữa nào anh lại nhà tôi, rồi anh muốn nói gì thì nói. Tôi ở đường Mayer,( Ðinh Tiên Hoàng ) số 563 anh biết hôn?
Ông Hội-đồng mừng quá, gặc đầu lia-lịa mà nói:
– Biết, biết. Ðể mai tôi lại. Cô phải ở nhà chờ tôi đa.
– Cồ Tư lắc đầu nói:
– Mai không được, vì tôi mắc có khách ở Vĩnh-long lên thăm.
– Thôi mốt.
– Mốt thì được. Mà tối rồi anh sẽ lại nghe hôn. Anh đừng có lại ban ngày, xóm-riềng họ thấy họ dị-nghị. Tối mốt tôi cho con cháu tôi đi coi hát và cho phép bồi bếp đi chơi, đặng nói chuyện cho dễ.
Cô nói dứt lời, rồi cô bươn-bả ra cửa ngõ, leo lên xe mà đi. Ông Hội-đồng đứng ngó theo, trong lòng ngơ-ngẩn

III

Ngày hẹn đã đến. Ông Hội-đồng Thành kiếm chước nói có mấy người bạn mời ăn cơm đặng bàn tính quốc-sự, nên vừa chạng-vạng tối thì ông rửa mặt chải đầu, thay quần đổi áo, sửa-soạn mà đi. Cô Ba Huyền có việc riêng, cô cũng muốn đi Chợ-lớn, cô nghe ông Hộ-đồng nói như vậy thì cô mừng thầm, song cô làm tỉnh mà nói rằng: “ Mình đi khuya, ở nhà buồn chết, ai chịu nổi. Thôi, mình đi hội, thì tôi đi coi hát”.

Ông Hội-đồng trong trí đầy cái hình-trạng của cô Tư Thanh-Thủy, ông không cần biết cô Ba Huyền đi đâu, nên ông hứa hễ ông xuống tới nhà hàng rồi thì ông trả xe về cho cô muốn đi đâu thì đi. Chừng hội rồi ông xe kéo cũng đươc.

Thiệt quả xuống tới nhà hàng thì ông biểu sớp-phơ đem xe về liền. Ông ăn sơ-sịa vài món rồi kêu xe kéo mà trở lên đường Mayer. Ông ngồi trên xe, đèn hai bên đường chấp-chóa, gió thổi hiu-hiu, trí quơ-quẩn nhớ cô Tư, lòng phập-phòng trông gặp mặt. Ông nghĩ những lời cô Tư châm-chích đêm nọ, ông nhớ thiệt quả cô Ba Huyền hay đi Chợ-lớn, ưa vô Trường đua, ông lại nhớ một lần kia ông đi mua đồ với cô Ba Huyền tại đường Ca-ti-na, ông vô nhà hàng, cô ngồi ngoài xe, chùng ông bước ra thì thấy cô đương nói chuyện với một người ngồi trên xe kéo, người ấy đội một cái nón đa thiệt to, mặc một bộ đồ xá-xị còn mới, mặt mày dữ-tợn, hình vóc dình-dàng, người ấy thấy ông thì biểu xe kéo đi, song còn nói vói rằng: “Mai phải có đa”. Ông hỏi người ấy là ai, thì cô nói: “Anh nầy là chồng chị Hai Cán, hồi trước chỉ có mượn tôi mười đồng bạc, tôi gặp ảnh tôi đòi, ảnh hẹn mai ảnh lãnh tiền rồi ảnh trả”.

Lúc ấy ông Hội-đồng tin như lời, bây giờ có cô Tư Thanh-Thủy châm-chích, ông lại đoán quyết người ấy là chồng của cô Ba Huyền, lời dặn “mai phải có” đó là biểu đem bạc đưa cho nó. Ông vừa giận vừa hổ thầm, giận vì chúng lấy tiền bạc của mình mà nuôi thiên-hạ, hổ vì mình có học thức, có tên tuổi, mà còn bị điếm-đàng lường gạt. Ông thầm nghĩ nếu ông được gần cô Tư Thanh-Thủy thì ông sẽ đuổi cô Ba Huyền liền, ông chẳng tiếc chút nào hết; cô Thanh-Thủy tuy lớn tuổi hơn, nhưng cô có sắc, cô có hạnh, cô hiền-đức, cô thông- minh, cô khôn-ngoan, cô thành-thiệt hơn bội phần.

Xe kéo ngừng trước cửa cô Tư Thanh-Thủy thì trong trí ông Hội-đồng Thành đương quyết-định như vậy đó. Ông trả tiền xe, miệng cườí ngỏn-ngoẻn.

Nhà ba căn, đèn khí đốt sáng trưng, nhưng mà cửa giữa với cửa bên tay mặt đóng kín, chỉ căn bên tay trái cửa còn mở một cánh mà thôi. Ông Hội-đồng thấy cảnh như vậy thì ông mừng thầm, chắc rằng cô Tư rước mình mà sợ thiên-hạ thấy, nên cô mới sắp-đặt kỹ-lưỡng dường ấy. Ông đi nhẹ-nhẹ, lóng nghe trong nhà vắng hoe. Ông vừa bước vô cửa thì cô Tư Thanh-Thủy ở trong buồng cũng vừa đi ra phía trước; cô trang điểm cũng như sửa-soạn đi chợ, hay đi coi hát vậy, mặt giồi phấn, môi thoa son, áo quần nhổn-nha, tóc tai chải-chuốt, coi còn đầm-thấm, còn mặn-mòi hơn đêm nọ nữa. Cô thấy ông thì cô cúi đầu chào rất hữu đuyên, miệng chúm-chím cười như hoa nở.

Cô chỉ một cái ghế mà mời ông ngồi, rồí nói nhỏ nhỏ rằng: „Tôi cho bày trẻ đi chơi từ hồi tối tới giờ. Sao lại khuya vậy?” Cô liền lấy cái bình trà để trên bàn mà rót một tách, rồi bưng lại mời ông uống. Cô đứng trước mặt ông, cách ông chừng vài gang, chống một cánh tay trên cái bàn, mình uốn-éo, mắt long-lanh, mùi dầu thơm bay bát-ngát, làm cho ông mê-mẩn tâm thần. Ông vói nắm tay cô mà nó rằng: “Cô Tư, đứng xít lại đây tôi nói chuyện. Thiệt tôi không dè mà có ngày nay… Tôi thương cô quá! ….”.

Cô giựt tay, đứng nghiêm-chỉnh, ngó ngay ông mà hỏi lớn rằng: “Anh làm cái gì vậy? Tôi mời anh lại nhà tôi đặng tôi nói chuyện cho anh nghe, chớ có gì khác đâu. Anh tưởng tôi tổ-chức cuộc gió trăng hay sao, mà anh nắm tay tôi? Anh đã lớn tuổi, đã có vợ con, mà cứ giữ cái tánh hồi còn con trai hoài, không chịu bỏ! Anh tưởng tôi như con Ba Huyền vậy hay sao? Không, tôi không phải thuộc về cái hạng người ấy đâu. Tôi thương anh lắm, mà tôi lại thương chị Hai còn nhiều hơn nữa. Vì tôi thương chị Hai, tôi không đành giết chỉ, nên mấy năm nay anh theo ve-vãn mà tôi kháng-cự hoài. Anh thiệt ác lắm! Anh có một người vợ hiền-đức, tối ngày lo giữ của, lo nuôi con, biết thương chồng, biết trọng chồng, anh lại không thương, đành theo con đĩ mà bỏ vợ ở nhà sầu-não vóc ốm mình gầy, bỏ sấp con dại thân-sơ thất-sở. Sao anh đành-đoạn dữ vậy, anh Hai? Chị Hai phải chết … Trong một vài tháng nữa đây chớ không lâu đâu …”.

Cô Thanh-Thủy nói tới đó, cô té ngồi trên một cái ghế úp mặt vào một bàn tay mà khóc rấm-rứt.
Ông Hội-đồng Thanh ban đầu chưng-hửng, chừng ông nghe những lời thê-thảm, thấy cái bộ bi-ai của cô Tư thì lần-lần ông cảm-động, ngồi buồn-hiu, không biết lấy lời chi mà đối-đáp.

Ðương lúc ông Hội-đồng tâm-thần bất định đó, thình-lình ba đứa con của ông là Kim-Lang, Tấn-Ðức và Kim-Cúc, ở trong buồng ào chạy ra kêu ba, rồi xúm lại ôm ông mà khóc, đứa thì hỏi: “Ba đành giết chết má hay sao ba“, đứa thì than: “Ba nỡ bỏ con hay sao ba”. Cái cảm chan-chứa đã đầy rồi, bị ba đứa con nó cho cảm thêm nữa, nên tự-nhiên phải tràn-trề. Ông Hội-đồng ngồi trân-trân như hình đá, mà hai hàng nước mắt chảy ròng-ròng.

Cô Tư Thanh-Thủy day vô buồng mà kêu: “Chị Hai, chị ra đây”. Cô Kim-Diệp bước ra thấy cái cảnh cha con líu-nhíu, cha khóc con than, thì cô động lòng, nên cũng té ngồi trên một cái ghế mà khóc, chớ hông nói tiếng chi được hết.

Cô Tư Thanh-Thủy thừa cái cơ-hội ấy, cô và lau nước mắt và nói: “Anh Hai, anh thấy chị Hai đó hay không? Ngày anh cưới chỉ có phải chỉ như vậy đâu. Tại anh mà ngày nay chỉ còn da bọc xương, anh coi cái tội của anh lơ là dường nào hử? Làm chồng thì quyết giết vợ, làm cha thì không thương con, anh ăn ở chi mà ác lắm vậy?”.

Ông Hộỉ-đồng càng khóc nhiều hơn nữa, mà vợ con ông cũng đồng khóc với ông. Ông khóc một hồi rồi ông mới nói rằng: “Tôi quấy với má bày trẻ nhiều lắm, nhờ cô Tư vén cái màn hắc-ám giùm cho tôi, thiệt tôi cám ơn không biết chừng nào. Tôi ngồi giữa nhà nầy, tôi thề quyết từ rày về sau, tôì không hề xa vợ lìa con, chẳng hề làm cho vợ con buồn rầu nữa. Tôi xin má bày trẻ cũng vậy, quên hết cái lỗi cũ của tôi đi, đặng cho tôi an lòng mà ăn-năn sám-hối”.

Cô Tư Thanh-Thủy nói: “Nếu anh biết thương vợ con anh, thì chẳng những là tôi không giận anh, mà tôi còn thương anh nữa”.

Ông Hội-đồng dã-lã với vợ, dan-díu với con tới 10 giờ rồi ông từ mà về Phú-nhuận, ông hứa khuya ông sẽ trở lại đặng rước vợ con về Cái Tắc.

Ông về nhà thì cô Ba Huyền đi chưa về. Ông ngồi viết một bức thơ mà từ cô và cho đứt cô nhà cửa cùng các tài-vật trong nhà. Ông bỏ quần áo vào hoa-ly rồi vô mùng mà ngủ. Cách một lát, cô Ba Huyền về, ông hay mà ông không thức dậy.

Ðến 4 giờ khuya ông dậy, ông để phong thơ tại đầu nằm cô Ba Huyền, xách hoa-ly ra xe, rồi kêu sớp-phơ dậy mà đi. Xuống đường Mayer, ông ghé nhà cô Tư Thanh-Thủy mà rước vợ con.

Khi dắt con lên xe mà về với chồng, cô Kim-Diệp nắm tay cô Tư Thanh-Thủy và khóc và nói rằng: “Có như vầy mới biết chỗ nào thiệt, chỗ nào giả. Chị đã nói với em từ hồi hôm tới giờ, từ rày về sau chị em mình phải ở chung với nhau một nhà. Ðể ít bữa, chị mạnh rồi chị sẽ tính. Em phải nghe lời chị, đừng có ái-ngại chi hết”.

Cô Tư Thanh-Thủy châu mày và ngó lơ, không đối-đáp chi hết. Nhưng mà xe rút chạy, cô đứng ngó theo cho tới chừng xe quẹo khuất rồi, cô mới thủng-thẳng trở vô nhà, miệng cười ngỏn-ngoẻn.

Sài-gòn, Avril 1935.

————————————————————————————————————–

Hồ Hữu Tường – Những ngày cuối đời

Tác giả Phan Chính

 

Hồ Hữu Tường với tư thế một đại thụ trên lĩnh vực báo chí và văn học còn là một nhà chính trị độc lập nổi tiếng ở miền Nam trước năm 1975. Cuộc đời ông có cái duyên nợ với mảnh đất La Gi – Hàm Tân (Bình Thuận) như một tình cờ, nhưng với tôi lại có những điều đáng nhớ. Tập Kể chuyện(Huệ Minh xuất bản 1965) gồm 9 câu chuyện kể, viết cùng Nguiễn Ngu Í, một nhà văn nhiều giai thoại và cách tân chữ viết, quê ở Hàm Tân.

Như một định mệnh, Hồ Hữu Tường có những ngày cuối đời sau 70 năm thăng trầm khổ ải rồi dừng lại ở đây.Trên một số websiteở nước ngoài đều ghi rằng sau những năm cải tạo, Hồ Hữu Tường được trả tự do và mất tại Gia Định. Có trang viết một cách mập mờ là “Hồ Hữu Tường – một người chết u uẩn”, có gì đó ám chỉ về chế độ lao tù.

Nhưng đều chính xác ngày mất của Hồ Hữu Tường là ngày 26.6.1980. Thời gian này tôi đang làm việc tại Bệnh viện huyện Hàm Tân (tỉnh Thuận Hải, năm 1992 trở lại tên Bình Thuận) phụ trách Phòng Y vụ, một bộ phận trực tiếp với Giám đốc về chuyên môn.

Đây là cơ sở cũ, trước ngày giải phóng 23/4/1975 là Bệnh viện Phối hợp Dân Quân y tỉnh Bình Tuy mà tôi cũng từng làm việc ở đây dưới lớp áo Quân y Việt Nam Cộng hoà.Năm 1980, bệnh viện này là tuyến huyện với 120 giường, tình trạng trang thiết bị hầu như tận dụng lại những gì đã có, tiếp tục hư hỏng ngày càng nhanh và nhếch nhác. Số bác sĩ cũ không còn, một số có trình độ trung cấp, sơ học được sử dụng lại, gọi là lưu dụng, nhưng lần lượt bị loại dần do lý lịch… bù vào số cán bộ từ khu về, từ miền Bắc chi viện.

Ngoài năm hay sáu bác sĩ còn lại, rất nhiều chức danh y sĩ (xếp ngang trình độ trung cấp y tế sau này), được quyền mang ống nghe khám bệnh kê đơn, giữ các chức vụ Bệnh viện phó, Trưởng khoa, nhưng các tên thuốc Tây trên toa thuốc chỉ viết bằng phiên âm theo cách đọc. Trong khi đó cán sự điều dưỡng học 4 năm chỉ xếp là y tá trung cấp, thực hiện chỉ định của y sĩ.

Có lúc chiếc máy X-quang làm chức năng chụp phim chẩn đoán rất hiện đại, đặt trong phòng có vách chì cản tia phóng xạ độc hại cho người, lại bị đập bỏ cho rộng và chỉ dùng bộ phận rọi (gọi là rọi kiếng), tức xem trực tiếp theo kiểu cũ cách đó trên 20 năm. Kết quả thế nào tùy thuộc do nét bút vẽ mô tả của y sĩ đứng máy, thay vì có phim như trước đây.

Thuốc men thì cũng rất khó khăn, phải phát động phong trào Đông Tây y kết hợp. Loại thuốc xuyên tâm liên trị bá bệnh, tức bệnh nào cũng uống được, mỗi lần hàng chục viên, đắng đến nỗi… hết bệnh. Trị sốt xuất huyết thì có cây cỏ mực sao tẩm nấu thành xi-rô, trị sốt rét có lá mãng cầu ta sao sắc uống… Các loại vitamine tiêm thì cao cấp hơn như B1, B6, B12 được mua hoá chất từng ký, về hòa nước cất, sản xuất tại chỗ, vào ampule hoặc lọ pénicillin đã dùng… Dịch truyền loại 5%, 10% cũng vậy.

Dây truyền, kim tiêm phải luộc đi luộc lại nhiều lần để tiết kiệm, được coi là có sáng kiến cải tiến kỹ thuật.[1] K hông có băng keo cố định kim tiêm dịch truyền cho bệnh nhân được thay bằng sợi dây nang lá buông. Bệnh dù có nặng mấy đi nữa cũng phải đi theo hệ thống tuyến xã, huyện, tỉnh, trung ương… cơ quan, đơn vị ở địa bàn nào cũng theo con đường đó.

Từ bệnh viện huyện muốn chuyển bệnh nhân lên bệnh viện tỉnh phải có biên bản tập thể do y bác sĩ các khoa hội chẩn, cho nên có truờng hợp bệnh sản đẻ khó mà bác sĩ, y sĩ khoa Nhi hoặc Đông y cũng được tham dự và cho ý kiến. Có khi phải xin ý kiến Bí thư Chi bộ, dù anh ta chỉ là cán bộ chính trị. Có sự ràng buộc đó cũng vì sự khắt khe quái ác của các chỉ tiêu tử vong, chuyển viện… Nhiều quá thì mất điểm thi đua.

Như vậy thì không thể nào có bệnh nhân được chuyển thẳng về các Bệnh viện ở Sài Gòn, dù biết bệnh tình có ra Phan Thiết cũng chào thua.Trước đó không lâu, tôi là một trong những người trực tiếp tiếp xúc với trường hợp đại sứ Đinh Bá Thi, là đại sứ đại diện Chính phủ CHXHCNVN tại Liên hợp quốc (tại Mỹ) về nước công tác tại Bộ Ngoại giao. Chuyến xe đi mua hàng thực phẩm mỗi sáng sớm của Trại giam Z30C chở 4 nạn nhân và 1 trẻ em đến bệnh viện.

Ông Thi bị vết thương ở đầu, lột cả mảng da tóc khá rộng, còn người vợ bị nhiều chấn thương đã hôn mê. Người chị vợ, anh lái xe và đứa cháu ngoại của ông Thi chỉ xây xát nhẹ. Lúc vào viện, ông Thi còn tỉnh táo và bảo cố gắng chăm sóc người khác, ông không tự giới thiệu mình là ai! May mà anh lái xe còn tỉnh táo, mới cho biết đó là ông Đinh Bá Thi trên đường công tác sau đêm ngủ tại nhà khách Uỷ ban Tỉnh ở Phan Thiết, sáng đi Thành phố Hồ Chí Minh, đến căn cứ 8 thì bị một chiếc xe tải cùng chiều ép, làm cho chiếc Comanca lật nhào mấy vòng.

Tôi nhận ra đây là một yếu nhân, biết tiếng ông từng là người cùng bà Nguyễn Thị Bình đại diện cho Chính phủ Cộng hoà miền Nam Việt Nam tại bàn hoà đàm Paris. Sau này biết thêm, ông trên đường đi truyền đạt chỉ thị quan trọng trước sự đe dọa can thiệp của Trung Quốc dưới chiêu bài cứu nạn kiều Sài Gòn trong chiến tranh biên giới vừa nổ ra. Sau mấy giờ cấp cứu chờ xe 05 của Bệnh viện Tỉnh đưa đội phẫu thuật vào thì ông Đinh Bá Thi tắt thở, xác quàn tạm ngay trong phòng mổ chờ ý kiến của tỉnh.

Huyện giao cho Xí nghiệp Cơ khí gấp rút làm chiếc hòm kẽm có thêm một lớp chứa được đá lạnh để giữ tươi thi hài, đem đặt tại hội trường Ủy ban Huyện. Khuya đêm đó xe của Văn phòng Đại diện Bộ Ngoại giao phía Nam ra và chuyển vào áo quan, đem về Sài Gòn. Nhắc đến sự kiện này để thấy tình trạng nghèo nàn của hệ thống y tế dù đã gần 6 năm giải phóng. Nhiều người so sánh, nếu có máy bay cấp thời chở ông Thi về Chợ Rẫy, có khả năng ông qua khỏi.

Cách bệnh viện chừng 300 mét, phía sau nhà bưu điện bây giờ, trước giải phóng có một sân bay trực thăng, bất cứ đêm ngày có bệnh nặng cần chuyển cấp cứu đều đáp xuống chở ra Hạm đội 7 hoặc Bệnh viện Long Bình.Trở lại trường hợp Hồ Hữu Tường, khoảng đầu tháng 6 năm 1980, xe của Trại giam Z30C chở đến với yêu cầu điều trị. Trên địa bàn Hàm Tân, xã Tân Minh lúc này có 2 trại giam Z30C và Z30D nằm liền kề, còn gọi là trại Thủ Đức, rộng hàng ngàn hec-ta đất rừng tiếp giáp Núi Bể và cặp đường quốc lộ I, giáp ranh đất tỉnh Đồng Nai.

Tù nhân cải tạo hầu hết là thành phần quan chức, sĩ quan tướng tá chế độ cũ và mắc tội chính trị chống đối sau này. Nay nhập một gọi là Trại Z30D thuộc Cục Quản lý Trại giam (V26) Bộ Công an, xe chạy Bắc – Nam ngang qua thấy trạm xăng Đức Khải rất bề thế với màu sắc đỏ mà chủ nhân là người có tên Anh Lâm, trước đây bị án chung thân về tội buôn lậu, cũng là tù nhân “đặc biệt” của trại này.

Trước khi đến Trại giam Z30C, từ năm 1977 Hồ Hữu Tường đã vào tù, từng qua các trại giam Phan Đăng Lưu, Chí Hoà và Long Bình… Theo cán bộ canh giữ, ông được giao chăm sóc vườn thuốc nam thuộc bệnh xá của Trại.

Hồ Hữu Tường cao lớn, cặp vành tai của tướng mạo trường thọ, tóc đậm sắc muối tiêu, còn đi đứng được. Trong hồ sơ có ghi đến chức vụ của ông tham gia tổ chức phản động là Thủ tướng Chính phủ Cộng hòa Trung lập Phục quốc Việt Nam gì đó, tôi nhớ chưa đầy đủ lắm!

Chẩn đoán là xơ gan cổ chướng, bụng ông to độn lên áo trông thấy rõ. Nhập vào Khoa Nội 2, bác sĩ Nguyễn Văn Thảo phụ trách. Tên tuổi của Hồ Hữu Tường từng khuấy động sân khấu chính trị miền Nam từ thời Diệm đến thời Thiệu… Mới đó, với danh nghĩa dân biểu Hạ nghị viện, ông đã cùng giới báo chí làm cuộc biểu tình “Ngày ký giả ăn mày” (10/1974) đòi tự do báo chí.

Năm 1926 sang Pháp học Đại học Marseille, đậu thạc sĩ toán Đại học Lyon… rồi làm chính trị, làm báo, viết văn…, rồi thời Pháp thuộc, đến lúc Mỹ sang và sau cùng là Thiệu, tù tội với ông đều có, Diệm từng kêu án tử hình và có văn hào Pháp Albert Camus viết thư can thiệp.

 

Trong hàng chục tác phẩm của Hồ Hữu Tường, tôi chỉ nhớ được một ít tựa sách và chỉ đọc đôi quyển như Phi lạc sang Tàu, Phi lạc đại náo Hoa Kỳ, Kể chuyện, Luận lâm, Người Mỹ ưu tư… Trong bài tựa của tập Kể chuyện, ông viết: ”Mục đích của tôi là lập một cuộc tạ ơn những vị giáo sư đã dạy tôi viết văn nhà quê, hoang đường, trào lộng và châm biếm, đặc biệt của nông dân miền Tây Nam bộ vào đầu thế kỷ XX này…

Sinh ra ở Cái Răng, Cần Thơ, thấm đậm cái chân chất Nam bộ, nhưng ông là con người có tư tưởng xuất chúng hiếm hoi.. Ông thật lòng nói, “thầy dạy là những người bạn có lúc đồng chí hướng như Phan Văn Hùm khuyến khích và chịu khó năn nỉ dạy không công cho tôi viết văn, tôi lại lười biếng“!

 

Nhiều chính khách nhận xét về Hồ Hữu Tường, rằng ông là con người của chủ nghĩa dân tộc, người đề xướng giải pháp trung lập chế v.v… Với những điều đó tôi hiểu rất lờ mờ, đơn giản chỉ thấy lay động trước tên tuổi một Hồ Hữu Tường.

Ngay chiều ấy tôi ghé nhà cậu ĐĐC – Châu Anh báo tin này vì Châu Anh là bạn Nguiễn Ngu Í, biết Hồ Hữu Tường khi làm báo ở Sài Gòn, nhưng cậu ngại không đến thăm. Là tù nhân chính trị nên trại cử một anh công an theo canh giữ, không ai dám đến gần bắt chuyện, dù là nhân viên y tá trong khoa. Tôi có lợi thế là làm công tác y vụ, tức bộ phận quản lý điều hành chuyên môn ở bệnh viện, nên có lý do tiếp xúc với ông công khai mà không bị ai dòm ngó.

Ông than với tôi rằng chiếc mùng vải xô của bệnh viện phát bị thủng rách nhiều chỗ quá, muỗi chui vào cắn không ngủ được. Thêm nữa, tôi hỏi ông thèm ăn gì. Ông nói cá, cá… Nhà tôi ở xóm Phò Trì, cách bệnh viện 2 cây số, đi làm bằng chiếc xe đạp cọc cạch thường tuột xên, nhà chỉ có một chiếc xe này, may là vợ tôi đi dạy học ở một trường nhỏ gần nhà. Vợ tôi mua mấy lát cá thu, chỉ tẩm một ít gia vị, chút nước mắm nhạt vì bệnh ông không được ăn mặn. Hai lát cá thu vừa đủ trong một hộp nhựa để mang đi kín đáo. Ông ăn một cách ngon lành và trông ông hiền từ như ông Phật. Tôi gói mấy đoạn chỉ và kim may để ông vá lại các lỗ thủng chiếc mùng. Ông cứ loay hoay vá, lại vá, tôi hỏi bác làm gì nhọc vậy. Ông cười, quen rồi đời tôi cũng thế, phải vá mãi!

Trong cái túi đồ dùng của ông có nhiều thuốc Tây ngoại và ma-gi (xì dầu) cũng ngoại, ông nói nhờ các con ở nước ngoài gởi về. Khi ông có chút tin tôi, ông mới nhờ tôi nhắn tin cho gia đình. Lúc ấy chỉ có viết thư điện tín ở bưu điện, chuyển bằng moọc tích tích te te.

Hai ngày sau vợ ông, bà Nguyễn Huệ Minh, đi xe than từ Sài Gòn ra đến bệnh viện gần cuối chiều. Hai ông bà ôm chầm lấy nhau một cách tự nhiên ở ngay hiên khoa nội, làm ai cũng thấy lạ nhưng thật bùi ngùi. Tôi lén lút đưa bà về nhà tôi để tắm rửa và bàn chuyện bệnh tình của ông vì sau mấy ngày nhập viện bệnh ông có triệu chứng nặng hơn, theo chuyên môn phải chuyển viện, mỗi ngày phải dùng bơm tiêm lớn chọc dò, rút ra cả lít dịch axit từ màng bụng ông mới dễ thở. Chỉ báo lại trại Z30C, họ sẽ mang ông ra bệnh viện Phan Thiết thôi, là xong. Nhưng ra đó là chết và coi như chết trong tù, chôn cất theo tù… Tôi nghĩ đến điều đó phải xảy ra.

Tôi không có một xu hướng chính trị nào, trước đây cũng vậy, dù cộng sản hay quốc gia, chỉ mong đợi hoà bình, bên nào cũng được… Hồi năm 1974, thiếu tướng Nguyễn Xuân Trang, Tham mưu phó Bộ Tổng tham mưu Quân lực Việt Nam Cộng hoà ký lệnh thuyên chuyển số 11075 đẩy tôi về Bệnh viện Tiểu khu An Xuyên (Cà Mau) với lý do ghi rõ: “Có tư tưởng hành động chống chánh phủ cũng như chánh quyền địa phương”, cho đến sau ngày giải phóng tuy còn tiếp tục làm việc với ngành y nhưng không phải yên ổn gì, mỗi năm không ít hơn ba bốn lần khai lại lý lịch.

Những câu hỏi của cơ quan an ninh từ một hồ sơ nào đó trong tàng thư của cơ quan Cảnh sát Việt Nam Cộng hoà để lại (sau này tôi biết có phiếu điều tra lý lịch của Ty Cảnh sát Quốc gia Bình Tuy lập 5/5/1974) ghi về mối quan hệ anh em giữa tôi với dân biểu Trần Ngọc Châu và điệp báo cộng sản Trần Ngọc Hiền (Trần Ngọc Hiền vào Nam hoạt động lúc Trần Ngọc Châu làm tỉnh trưởng Kiến Hoà tức Bến Tre và Hiền bị bắt lúc Châu là dân biểu Tổng thư ký Hạ viện).Sự thực Trần Ngọc Châu với tôi là anh em cùng mẹ khác cha, còn Trần Ngọc Hiền với Châu là anh em cùng cha khác mẹ. Nhưng lúc này Trần Ngọc Châu đã bị Tổng thống Thiệu bỏ tù, không liên quan gì.

Với Hồ Hữu Tường, tôi ngưỡng mộ ông ở văn tài, con người minh triết, chứ tôi không mê ông ở phương pháp hành động. Truyện ngắn “Con thằn lằn chọn nghiệp” trong tập Những truyện ngắn hay nhất của quê hương chúng ta (NXB Sóng, Sài Gòn 1974), theo bà Huệ Minh là truyện ông tâm đắc nhất. Phải chăng kiếp con thằn lằn có gì đó là hình ảnh của kiếp người ông đang cưu mang? Suốt đời lầm lũi tìm đủ phương kế ngăn chặn kẻ cuồng tín, u mê, tự hủy hoại, giết hại nhau… vì một mục đích hão huyền, lại cho đó là thiên đường!

Chuyện kể trong tù, một hôm có người tù trẻ cùng phòng hỏi Hồ Hữu Tường: “Bác Tường ơi, bác biết tại sao từ thời Pháp đến Mỹ, rồi cả bây giờ bác cứ ở tù dài dài không?” – Ông nói, “Mày trả lời giùm tao đi!” Anh ta nhanh nhẩu: “Dễ quá, Bác có tên là Hữu Tường nên bác ‘hưởng tù’ dài dài thôi!” Ông trầm ngâm, “Có thể thằng này nói đúng.”

Như có cùng một suy nghĩ, bác sĩ Thảo làm rất đầy đủ bệnh án của một bệnh nhân bị đe dọa tử vong bất cứ lúc nào. Bác sĩ Thảo học y khoa Huế trước giải phóng và sau giải phóng mới tốt nghiệp, rồi xin về Hàm Tân. Sau này lấy vợ cùng ngành rồi đi theo đường bảo lãnh qua Mỹ.

Tôi nhanh chóng hoàn tất hồ sơ cho Giám đốc bệnh viện Vương Xuân Long ký với yêu cầu Z30C sớm đưa về chữa trị ở Sài Gòn, đây là một ngoại lệ. Có sự bàn bạc thế nào đó ở trại giam và họ báo với bà Huệ Minh phải làm đơn bảo lãnh xin đưa về Sài Gòn. Sau đó bà Minh về lại Sài Gòn và thay bà là người em gái của ông. Mấy ngày sau, Z30C có văn bản của Bộ Công an quyết định tạm tha Hồ Hữu Tường để đi điều trị. Có lẽ ai cũng tiên lượng được tình trạng bệnh tật của ông đã liền kề cái chết và cũng tránh dư luận xấu về cách đối xử với  một nhân vật nổi tiếng nên dễ dàng có một quyết định như thế.

Được biết trước khi ông chuyển về trại Z30C, có phái đoàn Ân xá Quốc tế đến thăm hỏi và can thiệp. Có được giấy tạm tha, nhưng người em gái của ông, tuổi ngoài 60 chân quê, không tính toán được gì và tôi phải làm một cái gì giúp ông. Tôi gặp người bạn Nguyễn Phát Minh, anh có chiếc xe tải Daihatsu chở cá ướp đá chạy đường quốc lộ 46 – La Gi, giá xăng xe 200 đồng, để gấp rút chở ông về Sài Gòn. Xe ghé nhà tôi lấy chiếc nệm giường cá nhân, lót lên sàn xe và lên bệnh viện nhận bệnh. Lúc ấy bác sĩ Nguyễn Văn Khánh, chuyên khoa răng – muốn về thăm nhà, tôi can thiệp để bác sĩ Khánh nhận làm y tá chuyển bệnh. Tôi báo lại cơ quan có việc nhà xin nghỉ phép, về nhà dắt con gái Bảo Vy 6 tuổi lên đầu dốc Tân An đón xe chở ông lên.

Xe đến Tân Minh thì trời mưa tầm tã, phải dừng lại để kiểm tra khi qua mấy trạm quản lý thị trường, vì đây là loại xe thường chở hàng hải sản. Chai dịch truyền đong đưa dưới mui xe cạn dần và tôi phải tiêm cho ông mấy mũi campho… Xe đến Gia Định khoảng 5 giờ chiều, hướng về nhà ông ở Đa Kao vì trước đây bà Huệ Minh nói nếu đưa được ông về Sài Gòn thì có mấy người bạn thân là bác sĩ Lương Phán, bác sĩ Nguyễn Thị Lợi chăm lo. Theo giấy chuyển viện, chỉ được chuyển đến Bệnh viện Chợ Rẫy thôi, nhưng tôi chuẩn bị thêm một giấy chuyển viện ký khống để dự phòng, với ý định ghé nhà để hỏi ý kiến vợ ông quyết định.

Chỉ còn khoảng 100 mét quanh qua góc đường Trần Quang Khải là đến nhà, thì Hồ Hữu Tường tắt thở trên xe. Lúc này cảnh nhà trống vắng không có ai, mới biết bà Huệ Minh vừa ra Hàm Tân hồi sáng nay. Người em gái ông loay hoay cùng tôi và Minh khiêng xác ông vào nhà. Tôi chỉ kịp thấy căn nhà lầu bề thế, phòng khách có một bức tranh rất rộng treo trên tuờng. Chuyện tiền xe lúc này tôi không dám hỏi để trả cho Minh đổ xăng vòng về, nhưng có hỏi thì biết ai. Chúng tôi về Phú Thọ ngủ đêm ở nhà em tôi và sáng ghé qua nhà ông, bà Huệ Minh chưa thể về kịp, người em gái ông gởi lại tiền xăng cho Phát Minh…

Từ ngày đó tôi không còn liên lạc gì, dù nhiều lần về Sài Gòn, vì không muốn vương víu đến chuyện nghĩa ơn. Sau này bà Huệ Minh cho tôi biết, khi bà từ Hàm Tân về nhà thì tin dữ đến với gia đình. Hồ Xích Tú, người con trai đầu của ông bà, bị bắt tại Bến Tre do vượt biên. Trước giải phóng, Tú là giám đốc Nha nhân viên Hàng không, nhưng trong những ngày cuối cùng Sài Gòn sụp đổ, Tú chần chờ cùng với cha ra đi, nhưng Hồ Hữu Tường tin rằng mình là người yêu nước, quyết định ở lại.

Sau này nghe nhà báo Lê Phương Chi nói, đám ma Hồ Hữu Tường đông lắm, có nhiều người không dám nhập vào đám đưa tang mà âm thầm đi trên lề đường đưa tiễn. Anh còn gợi ý tôi viết lại chi tiết những ngày cuối của Hồ Hữu Tường, đó là một nhân vật đặc biệt kỳ tài.Khoảng tháng sau, tôi nhận được vài dòng thư của bà Huệ Minh: “Chú Chính, không biết lời nào để nói hết được lòng biết ơn của gia đình tôi đối với chú” kèm theo 30 đồng. Tôi mới nhớ lại, hôm bà ra chăm sóc ông, đến ngày phải về Sài Gòn bà lúng túng bảo rằng không còn tiền và tôi vét được 30 đồng đưa cho bà. Lương tôi lúc đó là 47 đồng, tiêu chuẩn gạo tháng 13 kg nhưng trên 60% là độn bột mì hoặc bo bo…

Nói đến chuyện cơm áo thời đó, có khi kể lại thì thế hệ trẻ bây giờ cho là cổ tích, hoang đường. Không đâu, có một gia đình, anh chồng làm nhân viên đưa thư, vợ nấu bếp cho cửa hàng thương nghiệp mà phải nuôi 6 đứa con. Tiêu chuẩn mỗi gia đình chỉ được 2 nhân khẩu lương thực ăn theo. Hai vợ chồng phải đưa nhau ra tòa ly dị (tất nhiên là giả) để có thêm tiêu chuẩn lương thực ăn theo! Thời ấy còn khổ lắm, những người trước đây sống bằng đồng lương công chức, làm lính chế độ cũ đối mặt với sự thay đổi, bị hụt hẫng nên rất sợ lao động ruộng rẫy và không có một việc làm nào để sống, lại phải đi vùng kinh tế mới âm u. Mà bám vào một tập thể cỡ hợp tác xã hay cơ quan nhà nước thì coi như một cái phao cứu sinh.

Anh bạn Đỗ Hồng Hùng là dược sĩ Đại học Y Sài Gòn, bị động viên mang lon trung úy, nay xin làm xã viên hợp tác xã phân hữu cơ, ngày 4 tiếng đồng hồ phải gầm mình xuống Bưng Ngang, đỉa bám vào da, anh trân mình móc từng vốc bùn trộn tro rơm rạ chế biến phân bón. Mãi sau này bệnh viện mới nhận anh vào để “pha chế” thuốc Đông y. Trong bản lý lịch cá nhân luôn có phần kê khai hai, ba người bạn thân nhất, bóp bụng và dẹp sĩ diện lục tìm trong trí nhớ cho được người bạn nào đó có thành tích cách mạng, nếu đương chức quyền uy thì càng hay.

Nói đến điều này, tôi lại tự hỏi mình, có những quan hệ với Hồ Hữu Tường trong tình cảnh đó có phải là “liều” lắm không? Trong lòng tôi khi ấy không có gì lưỡng lự và thật sự thấy rất nhẹ nhàng. Khi ghi lại những dòng này thì câu chuyện tưởng mới đây mà đã trôi qua 28 năm rồi, nghe đâu bà Nguyễn Huệ Minh cũng đã mất. Đời người sao ngắn ngủi quá!La Gi 10/2008© 2008 talawas

Nguồn

[1] Đây có thể là một lý do cắt nghĩa tại sao hiện nay người VN bị bệnh siêu vi gan B và C rất nhiều. Các đảng viên cộng sản trung cấp đổ thừa là do Mỹ cấm vận nên VN không có thiết bị y tế. Nhưng thật ra Mỹ muốn bang giao với VN vào đầu năm 1976, dưới thời tổng thống Jimmy Carter. Nhưng đảng đòi hỏi Mỹ phải bồi thường chiến tranh bất chấp phải đoàn thương thuyết của TT Carter nói rằng họ sẽ viện trợ cho VN còn nhiều hơn số tiền ấy, nhưng với một tên gọi khác và với một nguồn tiền khác; không nên nhắc đến chữ bồi thường chiến tranh vì công luận Mỹ vì sau 1975, cả âu châu, và quốc hội đã chán ghét và không còn muốn nghe chữ Việt Nam nữa.

Sau hơn 2 năm thương thảo với VN về chuyện bình thường hóa ngoại giao bị bế tắc vì sự cố chấp của đảng  CSVN, sự việc nầy đã thất bại hoàn toàn khi đảng CSVN bắt đầu tranh giành nhau quyền lực, Lê Duẫn muốn làm lãnh tụ ở VN, còn Lê Đức  Thọ và Lê Đức Anh muốn chiếm Kampuchea và  Lào làm vương bên ấy vì không thể tranh chấp với Lê Duẫn. Với  chuyện tấn công vào  Kampuchea,  TT Carter biết là tuyệt vọng, nên phái đoàn  Mỹ không còn lý do nào để thương thuyết nữa. VN tìm cớ tấn công vào Kampuchea cuối năm 1978, ở lại đó trên 12 năm với tổn thất trên 100 000 bộ đội và thanh niên xung phong bị chết, và hơn 200 000 người bị thương tật nguyền vĩnh viễn.

(nhiều nhà chính trị nói rằng: Sau khi chiến tranh VN kết thúc 1975, Mỹ không muốn đảng  CSVN xuất cảng cách mạng để nhuộm đỏ Thái Lan và các nước  Đông Nam Á; còn Trung Quốc thì không muốn VN giải phóng  Kampuchea và Lào để mở rộng liên bang Đông Dương.  Vì vậy, Đặng Tiểu  Bình công du qua Mỹ vào tháng 1-1979, đàm phán với Mỹ nhờ Mỹ và âu châu đầu tư tiền bạc và kỹ thuật giúp đỡ Trung Quốc phát triển, đổi lại, TQ sẽ cung cấp súng đạn cho Polpot, chặn bộ đội VN và làm cho suy yếu, không thể xuất cảng làn sóng đỏ qua các nước vùng  Đông Nam Á. (Ngay khi Đặng Tiểu  Bình còn ở bên  Mỹ vào tháng 1/1979, Đ. T. Bình đã cảnh cáo là sẽ dạy cho VN một bài học…). Mỹ đồng ý với kế hoạch của  TQ, nên mọi chuyện tiếp diễn như sau.

Sau khi Đặng  Tiểu Bình ở Mỹ về, Trung Quốc tấn công miền Bắc VN đầu vào tháng 2/1979 để buộc VN rút quân khỏi  Kampuchea.

Suốt thời gian 12 năm nầy, Mỹ, âu châu và LHQ kêu gọi VN rút quân về, nhưng  đảng csvn không chịu. Kết quả là VN bị cấm vận cho đến 1988.

Vào thời điểm 1986-1988, đảng  CSVN chịu hết nổi vì bị cả thế giới cấm vận, còn các nước cộng sản  Đông  Âu và Liên Xô lúc nầy đều đã bị suy yếu về kinh tế nên cúp luôn viện trợ thực phẩm như lúa mì, bo bo và xăng dầu.

Ở trong nước, đảng CSVN hồ hởi bắt tất cả nông dân nộp đất đai của họ vào hợp tác xã nông nghiệp từ 1976-1986, các nông dân bị ép buộc phải giao nộp đất đai để vào nông xã. Nhưng nông xã không sản xuất được đủ gạo suốt hơn 10 năm liền như sách của Mác và Lê nin đã ghi…Do đó cả nước VN ở bên lề nạn đói, dân ở Quỳnh  Lưu, Nghệ An nổi dậy chống chính quyền. VN bị đói suốt 12 năm 1976-1988, và  nạn đói hoành hành khắp cả nước, và lúc nầy Lê Duẫn bị tiểu đường và đã chết 1986, đảng chịu hết nổi nên đã phải đồng ý với LHQ và  Mỹ để rút quân khỏi  Kampuchea.

Viện trợ y tế cho VN được Mỹ tái lập vào năm 1987-1988. Thực phầm cứu đói cũng được Âu Châu và  Mỹ mua và chở đến  VN. Xăng dầu cũng được viện trợ vào  VN vào các năm nầy. Xe chạy bằng than bắt đầu biến mất khỏi các tuyến đường dài.

Đổi lại cho việc đảng  CSVN rút quân khỏi Kampuchea, Mỹ đã bỏ hẳn cấm vận và ra hiệu cho các nước  Đài  loan, Thái  Lan, Mã Lai Á, Nhật, Nam Hàn …đầu tư vào  VN từ năm 1988 để giúp đỡ phát triển kinh tế cho VN. Vì bị ngượng về chuyện nầy, nên các cố vấn nước ngoài gợi ý cho VN dùng chữ Đổi  Mới để các đảng viên CSVN trung thành với đường lối  Mác- lê không thắc mắc, và sau đó dùng thêm chữ “nền kinh tế thị trường theo đường hướng XHCN”…để làm im tiếng những ai vẫn còn thắc mắc, chứ trong sách Mác Lê Nin, Mao,…chữ nên kinh tế thị trường theo định hướng  XHCN  không bao giờ  hiện hữu.

Posted in Nhan Vat Chinh tri | Leave a Comment »

Công An và Cướp cùng một phe…

Posted by hoangtran204 trên 03/07/2011

Từ lâu, nhiều blogger ở VN nhận định rằng: Công an bảo kê cho bọn cướp. Chỉ khi nào bọn cướp lộng hành quá đáng, giết người quá lộ liễu, thì mới bị công an tóm. Bình thường, bọn cướp “đi ăn hàng”, và đóng góp tiền hàng tháng nuôi công an.Đổi lại, công an sẵn sàng bao che bọn cướp.

Vì lý do đó nên khi bọn cướp bị các thanh niên tình nguyện phòng chống tội phạm (TNTN PCTP) bắt về giao cho công an, thì chỉ vài giờ sau hoặc 1 ngày sau, công an lại thả bọn cướp ra, và bọn cướp kiếm các TNTN PCTP và chém trả thù.  Vào bệnh viện nằm thì bọn cướp vào tới nơi…thương lượng. Thanh niên tình nguyện PCTP quá lo sợ, bèn kêu gọi phóng viên báo  Lao Động nhờ đưa tin…kêu cứu.

Nhưng thật đáng ngạc nhiên dân chúng đi biểu tình phản đối TQ một cách ôn hòa vào đầu tháng 6 năm nay, thì công an đứng đầy đường, vây bủa khắp nơi, trà trộn vào người biểu tình để bắt bớ và hăm dọa. Họ coi bôn cướp không đáng sợ bằng người dân đi biểu tình.

“Hiệp sĩ” bắt cướp nghiệp dư: Mong manh tính mạng

Thứ Tư, 29.6.2011 | 07:22 (GMT + 7)

Nhiều “hiệp sĩ” ở Bình Dương đã làm, thậm chí quá nhiệt tình, quá tốt trách nhiệm và nghĩa vụ của công dân khi tay không, liều cả tính mạng để bắt trộm cướp giao cho công an.

Thế nhưng rất nhiều lần, những tên trộm, cướp lại “tung tăng” ngoài phố chỉ 1 – 2 ngày sau khi cơ quan công an tiếp nhận, khiến cho các “hiệp sĩ” không khỏi lo lắng đến tính mạng mình và gia đình…

Giang hồ “hỏi thăm” hiệp sĩ?

Có mặt nhiều giờ đồng hồ buổi sáng hôm qua (28.6) tại Bệnh viện Thủ Đức, TPHCM, xung quanh Tiên, vòng trong vòng ngoài, hơn chục hiệp sĩ thuộc CLB phòng, chống tội phạm (PCTP) phường Phú Hòa (thị xã Thủ Dầu Một – Bình Dương) và nhóm thanh niên tình nguyện (TNTN) PCTP phường An Bình (đồng đội của Tiên) đến bảo vệ bởi lo đám côn đồ kia tiếp tục truy sát. “Chỉ có chúng tôi bảo vệ đồng đội mình suốt từ tối hôm trước đến giờ thôi!”. “Hiệp sĩ” Nguyễn Thanh Hải (Đội trưởng CLB PCTP phường Phú Hòa) chua chát!

Đối tượng mặc áo thun trắng được các “hiệp sĩ” xác định có “chơi” với băng Tuấn “chó” đang “hỏi thăm” anh Tiên trên giường bệnh sáng 28.6. 	Ảnh: Ngô Nguyên
Đối tượng mặc áo thun trắng được các “hiệp sĩ” xác định có “chơi” với băng Tuấn “chó” đang “hỏi thăm” anh Tiên trên giường bệnh sáng 28.6. Ảnh: Ngô Nguyên

Khoảng 9h, quan sát của PV, có 2 đối tượng vào tận giường anh Tiên đang nằm. Anh Nguyễn Văn P (thuộc nhóm TNTN PCTP phường An Bình) khẳng định trong 2 người có 1 đối tượng mặc áo thun trắng dáng cao gầy có “chơi” với băng nhóm do Tuấn “chó” cầm đầu (theo anh Tiên, Tuấn “chó” đã cầm mã tấu chém anh). Đối tượng này ngồi lên giường anh Tiên hỏi thăm sức khỏe rồi thì thào thỏa thuận gì đó, chúng tôi nghe không rõ, chỉ nghe anh Tiên lớn tiếng: “Mặc mấy anh làm gì thì làm, tôi không biết, tôi không bỏ nghề bắt cướp đâu!”.

Một “hiệp sĩ” chỉ dám “chụp lén” đối tượng này từ phía sau lưng. Đến khoảng 10h30, PV mới thấy một sắc phục công an đến yêu cầu người không có liên quan ra khỏi phòng để anh ta ghi nhận trình bày của Tiên về vụ việc.

Kẻ bắt, người tha

Tới 11h cùng ngày, anh T (chủ nhà trọ trên đường Bình Đường, phường An Bình, Bình Dương) báo tin qua điện thoại với “hiệp sĩ” Nguyễn Văn Phương: “Người phụ nữ thuê phòng trọ đã dọn đồ trốn đi từ tối hôm qua rồi. Tôi vừa làm việc với công an xong!”. Trước khi bị chém, ngày 25.6 anh Tiên cùng các “hiệp sĩ” của nhóm TNTN PCTP phường An Bình phát hiện tại phòng trọ của người phụ nữ thuê trên có nhiều đối tượng nghi vấn và hàng chục biển số xe tháo rời, giấy đăng ký xe, CMND của nhiều người, bèn báo công an.

Sau đó, Công an phường An Bình tới kiểm tra và đưa tang vật cùng 6 đối tượng cho Công an thị xã Dĩ An xử lý. Tuy nhiên, đến tối cùng ngày thì 6 người này được công an cho về.

Hai đối tượng trộm giàn giáo bị TNTN PCTP phường An Bình bắt giao cho công an, nhưng chỉ 1 ngày sau lại thấy chúng “dạo phố”.

Anh Tiên cho biết, đêm hôm sau (26.6) nhóm giang hồ do Tuấn “chó” cầm đầu từng muốn gặp anh để “thương lượng”, nhưng anh từ chối. Tuấn “chó” giận dữ vì cho rằng anh phá “nồi cơm” của chúng và tuyên bố sẽ xử anh.

Theo các hiệp sĩ, đây không phải lần đầu tiên họ phát hiện tố giác bắt trộm, cướp và giao cho công an để rồi sang ngày sau lại thấy chúng “tung tăng” ngoài phố. Anh Nguyễn Văn P cho hay, vào ngày 17.6, nhóm TNTN PCTP phường An Bình bắt được 2 đối tượng từng nhiều lần ăn trộm giàn giáo ở kho của một công trình xây dựng tại khu phố Bình Đường 3 và giao cho Công an phường An Bình. Vài giờ sau, các anh sững người khi thấy 1 trong 2 đối tượng trên phanh ngực áo khoe hình xăm chằng chịt trên người, nghênh ngang ngoài đường.

Trước đó, vào tháng 5.2011 thành viên CLB PCTP phường Phú Hòa phải đuổi gần 10km mới bắt được 2 đối tượng khi bọn chúng lẻn vào cửa hàng điện thoại ở phường Định Hòa “đá” chiếc xe Novo nhưng bị chủ nhà giằng lại được. Hai đối tượng trên được giao cho Công an thị xã Thủ Dầu Một và đích thân chủ tài sản lên nhận mặt khẳng định. Ấy nhưng, các “hiệp sĩ” đã “lạnh sống lưng” khi sang ngày hôm sau thấy bọn chúng đang… dạo phố!

Ngô Nguyên

báo Lao Động

 

———–

Nguồn báo  TiềnPhong

08/07/2011

Về nơi lâm tặc lộng hành:

Trùm lâm tặc là em trai Hạt trưởng Kiểm lâm

> Tàn sát rừng phòng hộ

TP – Việc rừng phòng hộ Long Đại bị tàn phá đã 3 năm nay, người dân ai cũng biết, song những người có trách nhiệm giữ rừng không biết hay làm ngơ? Nhiều người khẳng định, có sự bắt tay, bao che cho lâm tặc phá rừng.

 

Khu vực rừng bị phá chỉ cách Trạm KSLS Hang Chuồn chừng 7km Khu vực rừng bị phá chỉ cách Trạm KSLS Hang Chuồn chừng 7km.

Không biết hay làm ngơ?

Rừng phòng hộ Long Đại nằm trên địa phận 2 xã Trường Sơn và Trường Xuân, địa điểm phá rừng nằm ở bản Nà Lâm, giáp ranh 2 xã. Để vào hoặc ra khu vực bản Nà Lâm chỉ duy nhất một con đường độc đạo. Con đường này mới được mở cách đây đúng 3 năm khi Làng thanh niên lập nghiệp Trường Xuân thành lập và Cty TNHH Hồng Đức vào khai hoang trồng cao su.

Hàng chục cư dân của làng Trường Xuân và công nhân của Hồng Đức khi được hỏi về lâm tặc đều lắc đầu. Duy chỉ có một nữ công nhân đã luống tuổi rỉ tai PV: “Lâm tặc ở đây gớm lắm chú ơi, không ai dám nói mô. Chú coi, để đưa gỗ ra là họ phải đi qua vườn cao su của bọn tui. Hai đầu vườn đều có cổng gỗ kiên cố rứa mà họ ngang nhiên húc đổ để cho xe chạy qua. Làm căng thì sợ họ trả thù, hai cái cổng ni phải làm đi làm lại không biết mấy lần rồi”.

Trạm Kiểm soát lâm sản (KSLS) Hang Chuồn, thuộc BQL Rừng phòng hộ (BQLRPH) Long Đại nằm ngay trên con đường độc đạo này và chỉ cách địa điểm phá rừng chừng 5km. Ông Dương Công Luyện, Phó Giám đốc BQLRPH Long Đại tức tốc có mặt tại trạm khi được tin báo PV đến làm việc. “Ở đây không có chuyện phá rừng quy mô và nghiêm trọng mà người dân chỉ lén lút vào rừng khai thác thủ công, chặt vài cây gỗ về làm nhà thôi” – ông Luyện nói như đinh đóng cột.

Khi PV đưa ra những bức ảnh chứng minh rừng phòng hộ Long Đại đang bị tàn phá nặng nề, ông Luyện lại kêu khó: “Nói thật với anh, rừng thì rộng mà quân số của ban thì ít nên không thể nắm hết được, có chi anh em thông cảm, tạo điều kiện cho ban với. Ban cũng thường xuyên chỉ đạo, giám sát anh em nhưng đôi lúc cũng có gỗ lọt qua trạm”.

Được biết, khi được báo về vụ phá rừng ở Nà Lâm, BQLRPH Long Đại đã truy quét và thu gom được hơn 5m3 gỗ của lâm tặc để lại. Trong đó, bao gồm cả số gỗ trên một chiếc xe của lâm tặc bị lật, nhưng chỉ thu gỗ mà không thu xe. Đặc biệt có nguồn tin cho rằng, BQLRPH Long Đại đã thuê trâu và xe của lâm tặc để thu gom gỗ với cách ăn chia 50/50 số gỗ thu được.

 

Trạm KSLS Hang Chuồn nằm trên con đường độc đạo
Trạm KSLS Hang Chuồn nằm trên con đường độc đạo.

“Dư luận nói bậy đó”

Một số người dân Nà Lâm cho biết, chủ chòm trong vụ phá rừng phòng hộ Long Đại là người có tên Vinh, em trai Hạt trưởng Kiểm lâm huyện Quảng Ninh – ông Võ Văn Thanh. Chị Hồ Thị Phúc (SN 1975, ở bản Nà Lâm) cho biết, cách đây 3 năm ông Vinh vào Nà Lâm quản lí vườn bạch đàn cho ông Thanh. Ông Vinh đã cưới chị Phúc, dù lúc đó ông Vinh đã có vợ ở quê Quảng Trạch. Khi cưới được chị rồi ông Vinh vào ra làm quen với dân bản và bắt đầu tổ chức đưa người vào khai thác gỗ lậu cho đến nay. “Con người ấy (chỉ ông Vinh – PV) bạc tình, bạc nghĩa lắm. Khi mới vào lạ nước, lạ cái thì phỉnh phờ lấy em làm vợ, khi làm ăn giàu có rồi là hắt hủi em” – chị Phúc nói.

Khi được hỏi về ông Vinh, ông Võ Văn Thanh cho rằng: Em trai ông chỉ vào Nà Lâm để trông giữ vườn bạch đàn, chứ không có chuyện phá rừng. Sau khi vườn bạch đàn, được Làng thanh niên lập nghiệp Trường Xuân đền bù, lấy đất, em trai ông Thanh đã về quê, không ở Nà Lâm nữa. Tuy nhiên, ông Thanh thừa nhận ông Vinh có một chiếc ô tô hiệu IFA đang còn nằm ở Nà Lâm. “Nó mua chiếc xe ấy dùng để chở bạch đàn, chứ không phải chở gỗ lậu như người ta nói. Tôi sao mà bao che cho em mình phá rừng được. Còn có bao nhiêu lực lượng có chức năng bắt gỗ lậu nữa chứ, tôi làm sao mà bao hết được. Dư luận họ nói bậy đó” – Ông Thanh nói.

Tuy nhiên, theo tìm hiểu của PV Tiền Phong, vườn bạch đàn của ông Thanh và em trai đang còn nhỏ, chưa hề khai thác và nay do Làng Thanh niên lập nghiệp Trường Xuân quản lý. Chiếc ô tô của ông Vinh chưa một lần chở bạch đàn như ông Thanh nói, mà chuyên chở gỗ lậu.

 

Con đường bị hằn sâu do lâm tặc dùng ô tô chở gỗ lậu
Con đường bị hằn sâu do lâm tặc dùng ô tô chở gỗ lậu .

“Chính em trai ông Hạt trưởng phá rừng”

Thượng tá Đặng Huy Chương – Chính trị viên Đồn Biên phòng 597 – Làng Mô cho biết: Mặc dù bản Nà Lâm nằm cách đồn chỉ vài km nhưng do núi non cách trở nên muốn đến đó phải đi vòng mất hơn 40km. Việc phá rừng ở Nà Lâm, Đồn biết từ lâu và đã nhiều lần báo cho BQLRPH để có biện pháp ngăn chặn. Việc lâm tặc nổ mìn làm đường mới đây là do chiến sỹ của Đồn phát hiện. Đồn đã báo cho phía BQLRPH và yêu cầu cùng phối hợp đẩy đuổi lâm tặc.

Theo thượng tá Chương, đây là vụ phá rừng quy mô lớn nhất từ trước tới nay trên địa bàn Đồn quản lí. “Chủ chòm trong vụ này là ông Vinh em ông Thanh và nhóm người từ xã Xuân Ninh lên. Chúng tôi đã báo cáo lên Biên phòng tỉnh, UBND huyện Quảng Ninh và đang phối hợp với Công an huyện để nắm rõ những đối tượng tham gia. Theo tôi, cần khởi tố vụ án để điều tra, làm rõ đối tượng phá rừng” – thượng tá Chương nói.

Hoàng Nam

 

Posted in Công An, Đảng CSVN | 1 Comment »

Không thể cứ tiếp tục quyết định thay cho nhân dân!

Posted by hoangtran204 trên 01/07/2011

“Người dân từ lâu đã được “khuyên răn” rằng: không nên bận tâm đến chính trị, mọi chuyện đã có đảng và nhà nước lo.”

Bất cứ ai đã từng bị công an bắt vì đi biểu tình phản đối hành vi phá hoại và cướp bóc của  Trung Quốc trong vùng lãnh hải của  VN và nếu họ bị công an bắt, thì sẽ được nghe một công an nào đó nói: “đảng và nhà nước biết hết mọi việc, chúng mày đừng lo, đảng và nhà nước ta đã dàn xếp với TQ xong rồi.”

Dẫu ta có nhọc công đi hỏi 10000 công an, 10000 đảng viên hay bộ đội có tham gia vào ĐCSVN thì họ cũng đều phát biểu đúng câu nói trên. Tài thật. Sự giáo dục của đảng dành cho đảng viên, công an và bộ đội về bất cứ vấn đề gi đều liên quan tới chính trị thì gần như là lời chúa dạy trong kinh thánh và các giáo dân phải tuyệt đối nghe theo. Đảng viên ĐCSVN gọi sự vâng lời dạy bảo đó là: quán triệt đường lối của đảng và nhà nước.

Và nếu có ai chất vấn phản đối, thì các đảng viên, công an, bộ đội sẽ không cần biết đúng sai, cứ nhảy vào bảo vệ đảng, bắt bớ, đánh đập, bỏ tù người ấy và họ gọi đó là: chấp hành đúng chỉ thị của đảng giao cho.

Các đảng viên ĐCSVN sợ nhất trên đời nầy là bị đảng của họ khai trừ. Đảng kỷ luật họ. Đảng không cho họ sinh hoạt đảng nữa. Ta có cảm tưởng như họ nghĩ rằng “xa đảng, chắc chết”. Ngay cả lực lượng công an đông đảo, hung hăng, tàn bạo đến thế mà cũng trở nên yếu đuối, sợ còn thua cả các cụ già lãnh tiền trợ cấp ở nước ngoài, mà còn phải viết khẩu hiệu dán trước trụ sở với dòng chữ:  “”còn đảng còn mình”. Ta biết ngay: Các đảng viên không còn có tình cảm và tự ý thức được như một người bình thường.

Ta cứ xét những người ngoài đảng (không cần phải là công an, bộ đội, đảng viên) đang ở ngoài miền Bắc, họ trung thành đến mức mất gần như bị thuần hóa. Đọc các tác phẩm do nhiều nhà văn miền  bắc viết, chúng ta rút ra được kết luận rằng: Chính phủ chỉ cần cấp cho công nhân viên căn nhà nhỏ, thậm chí là một phòng 20-40 mét, 4 người ở, thì chính họ tự coi như cuộc đời của họ đã tạm ổn.  Và từ đây xin đảng cứ yên tâm, dẫu cho kẹo, suốt phần đời còn lại của họ, họ cũng sẽ  không dám nói ngược lại với ý đảng. Thậm chí nếu người nầy được ra nước ngoài đi du lịch, họ cũng chẳng dám hó hé nói ngược ý đảng, dẫu họ biết rằng đảng ở cách xa họ hàng chục vạn dặm đường. Họ cứ làm như đảng có tai mắt ở khắp nơi, sẽ nghe tất cả mọi lời nói của họ, rồi sẽ phạt!

Xây dựng các hình tượng, tuyên truyền và tôn thờ lãnh tụ, bắt buột mọi người phải vâng lời, bỏ tù bất cứ ai nói ngược với ý đảng, tự cho mình là đúng, tự đặt các đảng viên của đảng lên vị trí lãnh đạo, che dấu những thất bại, làm hết mọi quyết định mà không cần cho dân chúng biết…là nguyên nhân gây ra sự nghèo đói, suy đồi giáo dục, thất bại kinh tế, bế tắc về ngoại giao quốc tế, bị cô lập hiên nay. Đảng là nguyên nhân của các thất bại đau đớn gây các thiệt hại vô cùng to lớn cho đất nước  VN…đã được đạo diễn Song Chi tường thuật trong bài dưới đây.

Không thể cứ tiếp tục quyết định thay cho nhân dân!

 

Song Chi
Đạo Diễn


 


Từ trước đến nay, các thế hệ lãnh đạo đảng và nhà nước cộng sản VN luôn luôn hành xử như thể đất nước VN là “tài sản” riêng của đảng, hơn thế nữa, là của một nhóm những người giữ vị trí cao nhất-ta thường gọi là 14 ông vua tập thể trong Bộ chính trị.

 

Người dân từ lâu đã được “khuyên răn” rằng: không nên bận tâm đến chính trị, mọi chuyện đã có đảng và nhà nước lo.

Trước tất cả mọi vấn đề có liên quan đến vận mệnh đất nước, dân tộc, nhà cầm quyền giấu nhẹm thông tin với nhân dân, lẳng lặng và tùy tiện quyết định. Thời buổi này thì thông tin cũng khó mà giữ kín được mãi, nhưng nếu sau đó, người dân có tình cờ biết được điều gì thì cũng là “sự đã rồi”.

Như cái chuyện công hàm năm 1958 của ông cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng, mãi sau này người dân mới được biết nội dung của nó, nhưng nhà nước thì vẫn lặng không có một lời giải thích. Thậm chí, khi Trung Quốc sử dụng công hàm này để bắt bẻ phía VN đã công nhận chủ quyền của họ trên biển Đông mà họ gọi là biển Hoa Nam, bao gồm cả các hòn đảo Hoàng Sa-Trường Sa như là một bộ phận thuộc lãnh thổ quốc gia của TQ, bây giờ lại “trở mặt”, đổi ý, Hà Nội cũng cứ nhất mực im lặng, coi như không nghe không thấy.

Các Hiệp ước biên giới trên đất liền được ký kết năm 1999 và Hiệp định phân định Vịnh Bắc bộ VN-TQ năm 2000 nội dung ra sao, nhà nước VN đã nhân nhượng và chịu thiệt thòi quá nhiều cho phía Trung Quốc như thế nào, chúng ta đã mất chính xác bao nhiêu kilomet vuông đất, bao nhiêu dặm trên biển…nhân dân hoàn toàn không biết. Chỉ biết rằng những cái gì có thể nhìn thấy bằng mắt thường như toàn bộ Ải Nam Quan, phần chính thác Bản Giốc hay Cao điểm 1509 thuộc xã Thanh Thủy, huyện Yên Minh, tỉnh Hà Giang (bây giờ Tàu gọi là Lão Sơn)…nay không còn thuộc về VN nữa!

Thác Bản Giốc đẹp tuyệt vời, nay VN chỉ còn sở hữu phần thác phụ và một nửa thác chính, TQ sở hữu một nửa thác chinh. Ảnh: panoramio.com

Vụ bauxite Tây Nguyên cũng vậy, một mình ông Tổng Nông Đức Mạnh qua mặt cả Bộ chính trị, cam kết với Trung Quốc. Sau đó cả bộ sậu 14 ông vua cứ thế mà thông qua dự án này, mặc cho sự phản đối của hàng trăm hàng ngàn nhân sĩ, trí thức, nhà khoa học cũng như sự không đồng tình của đông đảo người dân.

Có thể kể ra hàng hà sa số những ví dụ để thấy rằng đất nước này không phải thuộc về của chung của 90 triệu người dân VN đang sống ở trong và ngoài nước, mà chỉ thuộc về họ-các thế hệ lãnh đạo đảng và nhà nước cộng sản VN, cùng với những ông quan to quan nhỏ trong bộ máy nhà nước từ trên xuống dưới. Nên họ muốn làm gì thì làm.

Còn hơn cả vua quan thời phong kiến.

Nhân dân thì liên tục bị lừa.

Gần đây, biển Đông lại dậy sóng bởi cách hành xử ngang ngược, hiếu chiến của Trung Quốc. Phản ứng của nhà nước VN được dư luận đánh giá là có vẻ cứng rắn hơn từ trước đến nay, nhưng vẫn có những sự mập mờ khó hiểu, tiền hậu bất nhất khiến người dân không thật sự an tâm.

Một mặt, báo chí trong và ngoài nước vẫn tiếp tục lên án, chỉ trích những hành động của nhà cầm quyền Trung Quốc. Người dân đã xuống đường phản đối TQ và vẫn tiếp tục kêu gọi xuống đường. Các học giả VN vẫn tiếp tục lên tiếng bày tỏ quan điểm về chủ quyền của VN trên biển Đông tại những cuộc hội thảo quốc tế. Một số nhân vật cao cấp trong hàng ngũ lãnh đạo của Đảng kể cả ông Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cũng cam kết sẽ làm tất cả để bảo vệ chủ quyền, lãnh thổ lãnh hải của VN. Hải quân VN thì tuyên bố tập trận bắn đạn thật. Lại có cả Nghị định 42/2011/NĐ-CP về việc “Các trường hợp được miễn gọi nhập ngũ trong thời chiến” có hiệu lực thi hành từ ngày 1/8/2011. Cứ như thể có chiến tranh đến nơi. VN cũng lên tiếng kêu gọi sự giúp đỡ của quốc tế, kể cả Hoa Kỳ, để làm giảm những căng thẳng, xung đột trên biển Đông. Cứ như thể, nhà nước VN cũng đồng lòng quyết tâm cùng với nhân dân, bảo vệ đất nước!

Nhưng bên cạnh đó, ngay lập tức lại có những hành động ngược lại.

Ngay giữa những ngày tình hình đang “nóng” nhất do tàu hải giám TQ ngang nhiên cắt cáp tàu Bình Minh 2 của VN, ông Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải liền chỉ đạo các cơ quan liên quan của thành phố khẩn trương “triển khai Dự án tổng thể xây dựng Cung hữu nghị Việt – Trung tại xã Mễ Trì, huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội….” Dự án này “do Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam chủ trì, xây dựng từ nguồn vốn viện trợ không hoàn lại 200 triệu nhân dân tệ (hơn 30 triệu USD) của Chính phủ Trung Quốc và một phần ngân sách của Việt Nam…” (Theo VNMedia).

Ngày 5.6, khi hàng trăm người ở Hà Nội và hàng ngàn ngưởi ở Sài Gòn nồng nhiệt xuống đường biểu tình phản đối những hành động hung hăng của nhà cầm quyền Trung Quốc, tất cả các diễn đàn độc lập, báo chí của người Việt ở hải ngoại và nước ngoài đều đưa tin, hình đầy đủ, thậm chí có cả video clip minh họa…Thì TTXVN lại đưa tin là “có một số ít người đã tự phát tụ tập, đi ngang qua Đại sứ quán Trung Quốc ở Hà Nội và Tổng Lãnh sự quán Trung Quốc ở TP.HCM….Những người này tụ tập một cách trật tự, bày tỏ thái độ một cách ôn hòa, và sau khi được các đoàn thể, các cơ quan chức năng của Việt Nam giải thích, họ đã tự giải tán, ra về.” Đơn giản chỉ nhằm xoa dịu Trung Quốc, sợ TQ “mích lòng”!

Và những cuộc biểu tình sau đó đã có những hành vi bắt bớ, đàn áp diễn ra. Nhất là tại Sài Gòn. Các nghệ sĩ, trí thức, bloggers đã có mặt trong buổi biểu tình ngày 5.6 hoặc đã từng có những hành động tương tự vào năm 2007, đều bị bao vây, cô lập và ngăn chặn để họ không thể có mặt cùng các sinh viên, quần chúng!

Ngày 9.6, trong khi tàu TQ vẫn đang rượt đuổi, cướp tài sản của ngư dân VN, khi người dân vẫn đang sôi sục uất ức thì Đoàn Mặt trận Tổ quốc Việt Nam-tổ chức được gọi là của dân-lại đi thăm Trung Quốc. TTXVN đưa tin, thay mặt đoàn, “Phó Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Trần Hoàng Thám khẳng định Việt Nam rất coi trọng mối quan hệ với Trung Quốc, đồng thời hy vọng hai bên sẽ kế thừa và phát huy tình cảm hữu nghị mà các lãnh đạo tiền bối nước đã dày công vun đắp, đưa quan hệ hợp tác Việt Nam-Trung Quốc phát triển lên tầm cao mới.”!

Chiều 18.6, hai tàu hải quân VN lại cùng với tàu của Hải quân Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc tham gia chuyến tuần tra liên hợp trên vùng biển vịnh Bắc Bộ!

Cùng lúc, báo chí TQ vẫn tiếp tục cao giọng “mắng mỏ” VN, đòi “tát cho VN vỡ mặt”, truyền hình TQ còn chiếu cả kế hoạch tấn công VN.

Tất cả những diễn biến này khiến dư luận trong nước cũng như trên thế giới không rõ đường lối, chính sách của Hà Nội như thế nào. Rõ là Hà Nội vẫn sợ. Đánh võ mồm thế thôi chứ vẫn sợ.

Thật ra, như nhiều nhà phân tích, bình luận chính trị trong ngoài nước cũng đã nhận xét, nguy cơ xảy ra chiến tranh vì những tranh chấp trên biển Đông là rất thấp, hầu như bằng không, ít nhất là trong thời điểm hiện tại cho tới vài năm nữa. Bởi, Bắc Kinh thừa hiểu rằng nếu xảy ra chiến tranh giữa TQ và các nước láng giềng ví dụ như VN, điều đó hoàn toàn không có lợi cho TQ. Trung Quốc chưa đủ mạnh đến mức muốn làm gì thì làm, bất chấp thế giới. Vả chăng, cứ thử nghĩ xem, trong khu vực châu Á, và ngay cả trên toàn thế giới, những quốc gia nào thực sự là bạn, là đồng minh của TQ?

Thực tế những ngày vừa qua cho thấy, mọi sự hung hăng gây hấn của TQ chỉ tạo điều kiện cho các nước láng giềng xích lại gần Hoa Kỳ và Hoa Kỳ có cơ hội để quay trở lại khu vực này, là điều mà TQ hoàn toàn không muốn chút nào.

Ngay trong Hội thảo an ninh biển Đông được tổ chức tại Trung tâm nghiên cứu chiến lược quốc tế ở Washington từ ngày 20 đến 21.6 đã cho thấy TQ bị thế giới chỉ trích khá nhiều về yêu sách đường lưỡi bò phi lý trên biển Đông cũng như cách hành xử trong thời gian qua.

Tiếp theo, ngày 27.6, Thượng viện Hoa Kỳ vừa nhất trí thông qua một nghị quyết không tán thành việc các tàu Trung Quốc sử dụng vũ lực tại Biển Đông, và khẳng định tiếp tục hỗ trợ cho hoạt động của quân đội Hoa Kỳ nhằm “giúp tự do lưu thông trong hải phận và trên không phận quốc tế ở Biển Đông”.

Có lẽ hơn ai hết, những cái đầu nóng ở Bắc Kinh đã hiểu rằng chưa đến lúc, và cần phải tạm lùi lại.

Tuy nhiên, không một ai ngây thơ mà tin rằng TQ sẽ từ bỏ tham vọng chiếm cứ biển Đông, cũng như tham vọng là nước giàu nhất, mạnh nhất, bá chủ toàn cầu trong một ngày không xa. Khi chưa làm được điều đó, Bắc Kinh sẽ tiếp tục luận điệu “trỗi dậy hòa bình” để trấn an các nước, tiếp tục “thao quang dưỡng hối” và chuẩn bị thêm vể mọi mặt.

Đảo Hoàng Sa của VN, nay đã thuộc về TQ. Ảnh: giacngo.vn

Đây cũng là cơ hội…cuối cùng, là thời gian cho VN kịp chuẩn bị về phần mình để tránh không bị rơi vào thế cờ chiếu bí khi TQ mạnh hơn nữa và quyết định dùng quân sự để giài quyết vấn đề biển Đông. Chuẩn bị có nghĩa là rút ra bài học từ những sai lầm trong quá khứ, trong việc lựa chọn con đường đi cho đất nước và chọn “bạn” mà chơi. Là tiến hành cải cách triệt để về mô hình thế chế chính trị, để đưa đất nước thoát khỏi sự nghèo nàn lạc hậu bế tắc hiện tại, lựa chọn các nước giàu mạnh, dân chủ, tiến bộ là bạn, là đồng minh v.v…

Thay vì như thế, người dân lại nhỉn thấy những dấu hiệu khác, từ phía nhà nước VN.

Và điều làm người dân lo lắng nhất là thông tin Thứ trưởng Ngoại giao Hồ Xuân Sơn, đặc phái viên của lãnh đạo cấp cao Việt Nam đã gặp Ủy viên Quốc vụ Trung Quốc Đới Bỉnh Quốc ngày 25.6. Thông cáo báo chí chung VN-TQ đăng trên TTXVN tuyên bố rằng hai bên sẽ “đẩy nhanh tiến độ đàm phán để sớm ký kết “Thỏa thuận về các nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển giữa Việt Nam-Trung Quốc”; thúc đẩy việc thực hiện Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) và các công việc tiếp theo, cố gắng sớm đạt tiến triển thực chất.”

Không rõ hai bên cam kết những gì nhưng bản tin “Trung Quốc thúc giục sự đồng thuận với Việt Nam trên vấn đề Biển Hoa Nam” trên Tân Hoa Xã ngày 28.6 viết:

“Trung Quốc hôm nay thứ Ba đã kêu gọi Việt Nam hãy thực hiện đầy đủ một thỏa thuận song phương trên vấn đề Biển Hoa Nam (Biển Đông) vốn đã đạt được trong thời gian diễn ra chuyến viếng thăm của phái viên đặc biệt của Việt Nam Hồ Xuân Sơn vào tuần trước…”. Rằng: “Cả hai nước đều phản đối những thế lực bên ngoài can dự vào tranh chấp giữa Trung Quốc và Việt Nam.” Đồng thời không quên nhắc lại: “Trung Quốc đã nhiều lần tuyên bố về chủ quyền không thể tranh cãi của mình tại các hòn đảo trên Biển Hoa Nam và những vùng biển xung quanh các hòn đảo này.

Những hồ sơ lịch sử của Trung Quốc đã cho thấy rằng năm 1958, chính phủ Trung Quốc đã khẳng định các hòn đảo trên Biển Hoa Nam như là bộ phận thuộc lãnh thổ quốc gia của Trung Quốc, và kế đó Thủ tướng Việt Nam Phạm Văn Đồng đã bày tỏ sự tán đồng trong bức thư ngoại giao ngắn của mình gửi tới Thủ tướng khi đó là ông Chu Ân Lai.

Chưa từng có sự bất đồng nào từ bất cứ quốc gia nào đối với chủ quyền của Trung Quốc trên khu vực này cho tới những năm 1970, khi các nước bao gồm Việt Nam và Philippines tuyên bố chủ quyền từng phần ở đây.”

Giọng điệu của phía TQ rõ ràng đã thành công trong việc gây ra sự hoang mang cho người dân VN khi không biết nhà nước VN đã thỏa thuận những gì, liệu có đầu hàng và “đi đêm” với TQ không. Đồng thời các nước, nhất là Hoa Kỳ cũng nửa tin nừa ngờ. Từ trước đến nay có lẽ một trong những lý do khiến Hoa Kỳ chưa mặn mà ủng hộ VN trong việc xung đột với TQ trên biển Đông, ngoài nguyên nhân do thể chế chính trị độc tài của VN, còn vì Hoa Kỳ sợ VN sẽ tìm cách đi dây giữa hai nước rồi một lúc nào đó lại thỏa hiệp với TQ.

Nay với mũi tên cùng lúc bắn cả hai con chim này, nhà cầm quyền TQ đang triệt để cô lập nhà cầm quyền VN, với chính người dân trong nước và với quốc tế để dễ bề tiến tới ép VN phải nhân nhượng về lãnh hải. Vì rõ ràng hiện nay chỉ có VN là quốc gia dễ bị ép nhất, VN không có đồng minh, VN đang phải đối diện với quá nhiều vấn đề trong nước, kinh tế VN lại đang phụ thuộc nặng nề vào TQ… Không có thời cơ nào hơn cho TQ lúc này để ép VN như đã từng ép thành công trước kia.

Sự im lặng, không minh bạch rõ ràng của nhà nước VN thực sự bất lợi cho họ về nhiều mặt, nhưng có vẻ như họ vẫn chưa chịu nhìn ra điều này.

Chỉ trừ phi họ nhân cơ hội này, thức tỉnh, chấp nhận hy sinh quyền lợi vì vận mệnh của đất nước, dân tộc. Song, cay đắng thay, điều đó chẳng khác nào ngồi mơ trúng số!

Chắc chắn Đảng và nhà nước cộng sản VN sẽ lại lựa chọn con đường đầu hàng, thỏa hiệp với TQ. Bởi vì đó là sự lựa chọn dễ dàng nhất, cho những kẻ đớn hèn và bất tài.

Nếu tiếp tục nhân nhượng, lãnh hải của VN rồi sẽ còn lại như thế này, theo đúng tham vọng của TQ! Ảnh: tuoitre.vn

Nghĩ mà thương cho người dân. Nhân dân xuống đường bị bắt bớ, sôi sục ký tên vào những bản tuyên cáo phản đối TQ…để cuối cùng “các ông vua tập thể” lại tiếp tục tự mình quyết định mọi việc.

Đã đến lúc người dân cần phải tỏ rõ thái độ với những người đang nắm quyền lãnh đạo đất nước rằng: đất nước là của chung mọi người VN, không của riêng một đảng phái, một chế độ, một nhúm người. Người dân có quyền được biết mọi chuyện liên quan đến vận mệnh đất nước. Hoặc họ phải minh bạch và dứt khoát đứng về phía nhân dân, chọn lựa con đường đúng để cứu nước, hoặc người dân phải đứng lên giành lấy quyền cứu nước trước khi quá muộn.

nguồn

Không thể cứ tiếp tục quyết định thay cho nhân dân!

Posted in Đảng CSVN | Leave a Comment »

Cựu Tổng Giám Đốc IMF Dominique Kahn có thể được tha bổng vì lời khai bị hiếp dâm của cô hầu phòng không đáng tin

Posted by hoangtran204 trên 01/07/2011

Cập nhật tối thứ Sáu ở NY: Dominique Kahn đã được tự do mà không cần đóng tiền thế chân. Nay thì đến phiên các Công tố viện đang ở thế kẹt; họ đang bị rơi vào thế sẽ phải trả lời các cuộc chỉ trích của công luận, ở Pháp lẫn ở  Mỹ vì họ đã có thành kiến với ông Dominique rồi quá nhanh nhẩu ra lệnh bắt giam Cựu Tổng Giám Đốc IMF hồi ngày 14/5/2011 mà không chịu điều tra xem lời cáo buộc của cô bồi phòng có đáng tin hay không.

Tối thứ Sáu, 1 -7-2011, các Công tố viên chính phủ của thành phố  New York đã thú nhận là họ có những nghi ngờ rất có cơ sở về sự thật trong lời cáo buộc của cô bồi phòng về chuyện bị ông Dominique tấn công tình dục.

Phiên tòa về vụ nầy sẽ được tiếp tục trong thời gian tới.  nguồn

Coi thêm về vụ nầy hồi tháng 5-2011


———-

Khi ông Dominique Strauss-Kahn bị bắt vì bị nghi ngờ đã tấn công tình dục cô dọn phòng ở khách sạn Sofitel ở NEW York vào tháng 5/ 2011, (các viên Biện lý ở New York trong lòng đã có sẵn) những hồ nghi về thái độ rất hay sấn sổ với gái trong quá khứ của ông ta, và chuyện nầy đã hỗ trợ thêm vụ bắt giữ ông Dominique.

(Sau hơn 1 tháng điều tra,) Những điều đáng nghi ngờ về quá khứ của cô hầu phòng khách sạn đã làm cho văn phòng  Biện Lý New York không còn tin cậy về lời khai của cô ta khi cô ta khai rằng cô đã bị ông Tổng  Giám  Đốc  IMF hiếp dâm trong khách sạn hôm 14/5/2011.

Hãng tin AP (Associated Press) loan tin rằng một nguồn tin có thẩm quyền ở New York cho biết người dọn phòng đã nói láo trong vụ cáo buộc cựu chủ tịch IMF đã hiếp dâm cô ta vào ngày 14/5/2011 trong khách sạn Sofitel ở New York.

Nguồn tin của báo  The New York Time nói rằng cô hầu phòng 32 tuổi nầy có thể có mối quan hệ tới giới buôn bán thuốc phiện và rửa tiền. Các nhân viên cảnh sát điều tra còn cho biết là cô nầy đã nói láo về chuyện đã từng bị hiếp dâm ở bên xứ Guinea, quê của cô ta. Cô ta còn nói láo trong hồ sơ tị nạn để xin nhập cư vào nước Mỹ.

Các viên chức điều tra cho văn phòng biện lý (tương đượng với viện Kiểm Sát ở VN) đã khám phá ra rất nhiều sự khác biệt giữa lời khai trong hồ sơ và lời khai gần đây của cô ta. Chính sự khác biệt nầy đã làm cho họ không còn tin lời cáo buộc của cô ta đã khai rằng cựu Tổng Giám Đốc  IMF đã hiếp dâm cô ta trong khách sạn.

Nguồn tin của báo Times cho biết thêm: Vào ngày sau khi xảy ra sự kiện tố cáo bị hiếp dâm, cô hầu phòng đã gọi phone nói với một người đàn ông đang bị ở tù (vì tích trử vận chuyển 210 kg thuốc phiện marijuana) rằng: cô ta có thể sẽ kiếm được nhiều tiền sau khi tố cáo chuyện bị hiếp dâm.

Các cảnh sát điều tra còn phát hiện rằng người đàn ông đang bị tù nầy đã ký gởi vào trương mục ngân hàng của cô hầu phòng 100 000 đô la trong 2 năm qua. Những món tiền ký gởi vào trương mục đã xẩy ra ở 4 tiểu bang Arizona, New York, Pennsylvania, Georgia. Cô hầu phòng nói rằng cô không hay biết gì về số tiền ký gởi nầy, và (sau đó nói) là các món tiền nầy do hôn phu và các bạn bè của ông ta ký gởi vào trương mục ngân hàng của cô ta.

Các nhân viên điều tra còn phát hiện thêm: mặc dù cô hầu phòng nói cổ chỉ có duy nhất 1 số điện thoại, nhưng giấy tờ cho thấy cô trả tiền điện thoại cho (5 số điện thoại của) 5 công ty điện thoại khác nhau.

Cô hầu phòng cũng nói với các cảnh sát là cô đã từng khai báo về chuyện bị hiếp dâm mấy năm trước đó trong đơn xin tị nạn ở Mỹ, nhưng khi coi lại trong đơn xin di trú của cô ta, thì các nhân viên điều tra đã không thấy ghi chép gì về chuyện cô ta khai bị hiếp dâm ở Guinea.

Một nhân viên có thẩm quyền nói với hãng tin AP rằng: cô ta đã tường thuật lại toàn bộ câu chuyện với các nhân viên Biện Lý, và rồi sau đó cô nói câu chuyện hiếp dâm là chuyện nói láo.

Cô cũng đã từng khai rằng với các nhà điều tra là cô bị thiến bớt, cắt bỏ bớt một phần (hoặc toàn bộ) bộ phận sinh dục nữ, (một hủ tục vô nhân đạo ở Châu Phi, nhằm hạn chế sự đòi hỏi nhu cầu sinh dục tự nhiên của phụ nữ). Nhưng khi coi lại hồ sơ xin di trú của cô ta hồi mấy năm trước đây, thì các nhân viên điều tra đã không nhìn thấy có ghi chép gì về chuyện nầy.

Luật sư của cô hầu phòng cho biết là cô ta đã chuẩn bị ra đối chứng mặc dù hiện đang có “một cuộc vận động bôi bẩn” nhằm chống lại cô ta.

Còn các viên  Biện Lý (Kiểm Sát viên) thì lại đang tìm cách giảm bớt tiền đóng thế chân 6 triệu dô la của cựu Tổng Giám  Đốc IMF, và nguồn tin báo chí còn cho biết là ông Dominique Kahn có thể được tha bổng.

ông Dominique hiện phải trả khoảng 200 000 đô/ 1 tháng cho tiền bị câu lưu có thuê bảo vệ canh gác (theo đòi hỏi của tòa án) tại gia, và phải trả 50 000 đô tiền mướn nhà mỗi tháng.

Bản dịch 2011 @ Trần Hoàng  dịch từ Nguồn

(CBS/AP) 

Strauss-Khan accuser’s credibility in focus

When Dominique Strauss-Kahn was arrested for the alleged sexual assault of a New York City hotel maid in May, questions about his past aggressive behavior toward women seemed to bolster the case against him.

Now, however, questions about his accuser’s past have cast doubt on her credibility and may scuttle the French politician’s prosecution.

According to a New York Times report, the 32-year-old hotel maid may be linked to drug dealing and possible money laundering. The unidentified woman also lied to investigators about previously being raped in her native Guinea, officials told the paper.

Dominique Strauss-Kahn case crumbling?
“Seismic changes” to case against Strauss-Kahn
DSK’s political life revived amid case stunner?

The case began on May 14, when the maid told police that Strauss-Kahn chased her down a hallway in his $3,000-a-night suite in New York’s Sofitel hotel, tried to pull down her pantyhose and forced her to perform oral sex before she broke free.

“In the beginning, it was a strong case. There was a victim and several witnesses and forensic evidence that supported the victim’s claim,” a law enforcement official told the Associated Press.

The woman was in Strauss-Kahn’s room only briefly before the alleged attack, his semen was found on her uniform, and she quickly reported the alleged assault and told a consistent story about it to investigators and prosecutors, the official said.

But from the beginning, Strauss-Kahn’s attorneys have claimed to have the hotel encounter wasn’t forcible, and that they have unreleased information that could “gravely undermine the credibility” of the housekeeper. The defense was using private investigators to aggressively check out the victim’s background and her story, but the Times reported that it was investigators for the prosecution who uncovered discrepancies.

Among the revelations reported by the Times:

  • In the day following her accusations against Strauss-Kahn, the woman had a phone conversation with a man imprisoned and charged with possession of 400 pounds of marijuana. In the conversation, which was recorded, she spoke about possible benefits of pursuing the case, two officials told the paper.
  • Investigators discovered the imprisoned man was one of several people who deposited around $100,000 in cash in the woman’s bank account over the last two years. The deposits were made from around the country – in Arizona, Georgia, New York and Pennsylvania. The woman claimed to know nothing about the deposits, saying they were made by her fiancé and his friends.
  • The woman was also paying phone bills to five different companies, though she told investigators that she owned just one phone.
  • The woman told investigators that she reported a previous rape on her asylum application, but the application contained no such account.”She actually recounted the entire story to prosecutors and later said it was false,” an official told the AP.
  • She also told investigators that she had been subjected to genital mutilation but that information also differed from what appeared on the application.

The woman’s lawyer has said she is prepared to testify despite a “smear campaign” against her. She remains unnamed because she is still an alleged victim of sexual assault.

Prosecutors are now taking the extraordinary step of seeking to substantially reduce Strauss-Khan’s pricey bail, according to people familiar with the case. The Times reports that Strauss-Khan’s house arrest may even be lifted, with him being released on his own recognizance.

Video: DSK scandal sparks French sexism debate

But an official told the AP that prosecutors haven’t necessarily reached a new conclusion about the allegations against Strauss-Kahn and have not decided whether to downgrade the charges.

A court hearing is set Friday for 62-year-old Strauss-Kahn.

He was held without bail for nearly a week after his May arrest. His lawyers ultimately persuaded a judge to release him by agreeing to extensive — and expensive — conditions, including an ankle monitor, surveillance cameras and armed guards. He can leave for only for court, weekly religious services and visits to doctors and his lawyers, and prosecutors must be notified at least six hours before he goes anywhere.

The security measures were estimated to cost him about $200,000 a month, on top of the $50,000-a-month rent on a town house in trendy TriBeCa. He settled there after a hasty and fraught house hunt: A plan to rent an apartment in a tony building on Manhattan’s Upper East Side fell through after residents complained about the hubbub created by reporters, police and gawkers.

Under New York law, judges base bail decisions on factors including defendants’ characters, financial resources and criminal records, as well as the strength of the case against them — all intended to help gauge how likely they are to flee if released.

Defendants and prosecutors can raise the issue of bail at any point in a case. It’s common, if asking a judge to revisit a bail decision, to argue that new information or new proposed conditions change how one or more of the factors should be viewed.

https://hoangtran204.wordpress.com/2011/05/18/rise-and-fall-of-imf-chief-dsk/

Posted in Nhan Vat Chinh tri | Leave a Comment »

Khi bị Trung Quốc uy hiếp và gây hấn trên Biển Đông, Chính phủ Việt Nam và Philippines phản ứng khác nhau ra sao?

Posted by hoangtran204 trên 01/07/2011

Trước những hành vi hung hãn và láo xược của các tàu Trung Quốc như cắt cáp tàu Bình  Minh 2, uy hiếp tàu Viking 2 đang thăm dò địa chấn trong vùng lãnh hải của VN trong tháng 5 và 6 vừa qua, thái độ của chính phủ VN, (của bộ TTTT, và ban Tuyên  Huấn) đối với các hành động nầy thật lạ lùng. Ta thử xem các nước khác trong vùng hành xử ra sao khi các tàu Trung Quốc vi phạm vùng lãnh hải đang còn tranh chấp.

Nước Nhật chỉ có Cuc Phòng  Vệ và theo luật pháp họ chưa thành lập bộ quốc phòng. Năm 2004, khi Nhật phát hiện 1 tàu ngầm hạt nhân của Trung Quốc ở hải phận quốc tế, nhưng nằm trong vùng lãnh hải 200 dặm (= 320 km) của một chuổi đảo thuộc đảo Okinawa, cách Tokyo 1000 km, Cục Phòng  Vệ Nhật Bản liền phái một máy bay tuần sát  PC-3, một khu trục hạm, và (ít nhất là) một trực thăng đuổi theo chiếc tàu ngầm nầy và coi xem tàu ngầm đang hướng tới địa điểm nào.  Thủ tướng Nhật Koizumi phát biểu: “Đây chắc chắn là một việc không tốt. Chúng tôi sẽ tiếp tục theo dõi tình trạng nầy”. Còn 6 đại biểu thuộc quốc hội Nhật đòi chính phủ cắt tiền viện trợ mà Nhật đang giúp đỡ cho Trung Quốc. Báo chí Nhật đăng tải cho toàn dân Nhật biết biến cố nầy.

Năm 2010, hai chiến hạm Nhật ví bắt thủy thủ đoàn của 1 tàu đánh cá Trung Quốc xâm phạm hải phận Nhật bản, mặc cho chính phủ và dân chúng TQ phản đối, Nhật đã giam toàn bộ thủy thủ đoàn vài tháng rồi sau đó mới thả. Lực lượng Tuần Duyên của  Nhật còn phái các tàu tuần tra liên tục quanh quần đảo Diaoyu để đuổi các tàu đánh cá của  TQ và Đài  Loan lảng vảng gần quần đảo đang tranh chấp nầy. Biết Nhật Bản cương quyết và sẽ dùng các biện pháp mạnh, từ đó đến nay, tàu dánh cá TQ và Đài  Loan lánh xa các quần đảo  Diaoyu.

Gần đây, Philippines là một nước có quân đội trang bị vũ khí rất lạc hậu , thậm chí các tàu hải quân của họ đang dùng là các chiến hạm thời…1945. Nhưng khi các tàu Trung Quốc bén mảng tới gần các quần đảo thuộc vùng tranh chấp giữa Philippines và Trung Quốc, Tổng thống Benigno Aquino,(sinh 1960), đã ra lệnh cho không quân và hải quân  Philippines ra đuổi các tàu TQ lãng vãng gần các quần đảo nầy,  nhổ các cọc của  TQ xây trên các đảo tranh chấp, kêu cứu với Mỹ nhờ giúp đỡ, kiện TQ ra Liên Hiệp Quốc… Vì thái độ cương quyết ấy của Philippines, TQ rất quê độ và không dám lên giọng dạy bảo (như họ đang làm với  chính phủ VN).

Indonesia và Malaysia cũng đã từng tống giam các tàu đánh cá Trung Quốc khi các tàu nầy vi phạm vùng lãnh hải của hai nước nầy. Họ đưa ra tòa án và xử rất thẳng thừng. Kết quả, các tàu đánh cá TQ không dám tái phạm.

Còn chuyện trên bộ, Ba Lan đuổi thẳng cổ các công ty xây dựng Trung Quốc sau khi họ trúng thầu bằng thủ đoạn bỏ giá thấp nhất, (bỏ thầu chỉ bằng 50% các hãng thầu khác để trúng thầu xây dựng đường cao tốc ở  Ba Lan), và khi thực hiện công việc thì làm chẳng ra gì. (Các công ty xây dựng của  TQ đang hoạt động tại  VN cũng dùng  các thủ đoạn bỏ thầu rất thấp, giá bỏ thầu của họ chỉ bằng 50% giá công trình; nhờ thế TQ đã trúng thầu 95% tất cả các công trình ở VN. Sau khi trúng thầu, họ đem các công nhân  TQ vào làm việc nhẫn nha, chọn việc dễ làm trước, việc khó thì kéo dài vài năm, sau đó thì bỏ chạy, làm cho công trình bị dỡ dang hàng 2-3 năm trời. Báo chí VN đưa tin, chụp hình, phân tích rất rõ và đầy đủ. Chính phủ VN và các bộ ban ngành biết rất rõ chuyện nầy, nhưng họ đều không dám nói gì hết!)

Đảng vẫn im tiếng (không biết sau nầy có viết sách kể công gì về vấn đề im tiếng nầy không?) Trước mắt, chỉ thấy chính phủ VN sai công an xử lý đẹp người dân trong nước đi biểu tình phản đối  TQ  trong 5 tuần qua thì chúng ta càng hiểu thêm mối quan hệ tôi tớ như thế nào, dẫu chủ đánh mắng bao nhiêu thì tớ vẫn nhịn. Riêng blogger Nguyễn Hưng  Quốc thì vẫn còn nhiều thắc mắc về mối quan hệ VN và TQ như trong bài viết dưới đây.

Việt Nam và Philippines

Nguyễn Hưng Quốc

Thời gian vừa qua, liên quan đến Biển Đông, Trung Quốc không phải chỉ uy hiếp Việt Nam mà còn gây hấn với cả Philippines. Trước khi tàu hải giám của Trung Quốc nhào tới cắt dây cáp thăm dò của tàu Bình Minh 02 và Viking 2 của công ty dầu khí Việt Nam, họ đã từng gây hấn với tàu thăm dò MV Venture của Philippines ở khu vực bãi Cỏ Rong (Reed Bank), cách đảo Palawan 200 cây số, nơi Philippines tuyên bố là thuộc vùng kinh tế đặc quyền của họ vào ngày 2 tháng 3. Sau đó, tàu Trung Quốc liên tiếp uy hiếp các tàu thăm dò của Philippines thêm một số lần nữa.

Điều đáng chú ý là trước thái độ gây hấn thô bạo của Trung Quốc, phản ứng của Việt Nam và Philippines khác hẳn nhau. Điều đó có thể thấy rõ ngay trên báo chí chính thống ở Việt Nam.

Trong khi trên báo chí chính thống ở Việt Nam, ngoài vài bản tin và lời phát biểu chung chung ngay sau hai biến cố cắt cáp vào ngày 26/5 và 9/6, chỉ thấy một sự im lặng lạ lùng và khó hiểu từ phía chính quyền thì, ngược lại, người ta thấy có khá nhiều bài tường thuật các phản ứng của Philippines đối với Trung Quốc. Các phản ứng ấy bao gồm: chỉ trích gay gắt Trung Quốc trên báo chí trong nước cũng như trên các diễn đàn quốc tế; điều tàu chiến và máy bay chiến đấu (gồm cả máy bay ném bom) ra hộ tống các tàu thăm dò dầu khí; nâng cấp căn cứ Rancula thuộc quần đảo Trường Sa; tăng cường tuần tra không quân và hải quân trên vùng tranh chấp; nỗ lực phát triển quốc phòng; tháo gỡ các cột trụ mà Trung Quốc đã lắp đặt tại ba bãi đá ngầm trong khu vực tranh chấp; báo cáo hành động xâm lấn ngang ngược của Trung Quốc lên Liên Hiệp Quốc; đề nghị Indonesia hợp tác khai thác dầu khí chung trên biển Đông, gần khu vực Trường Sa; kêu gọi các nước trong khu vực có tiếng nói và hành động chung nhằm đối phó với Trung Quốc; tham gia tập trận chung với Mỹ; gợi ý thành lập một đoàn ngoại giao chuyên trách để đàm phán với các nước ASEAN về việc thành lập một khối liên kết để giải quyết vấn đề ở Biển Đông và kết nối với Liên Hiệp Quốc để giải quyết các tranh chấp lãnh thổ ở Trường Sa, v.v…

Không phải chỉ nói suông. Họ làm thật. Và một cách hiệu quả, ít nhất là ở bước đầu: Họ thuyết phục được chính phủ Úc ủng hộ lập trường của họ trong cuộc họp cấp bộ trưởng gữa hai nước vào ngày 16/6. Họ cũng thuyết phục được sự ủng hộ mạnh mẽ của chính phủ Mỹ qua lời phát biểu của Đại sứ Mỹ tại Philippines: “Tôi đảm bảo với các vị rằng Mỹ sẽ sát cánh với Philippines trong tất cả các vấn đề. Mỹ và Philippines là những đồng minh chiến lược. Chúng tôi sẽ tiếp tục tham vấn và hợp tác với nhau trong các vấn đề, bao gồm cả Biển Đông””. Mới đây, họ thuyết phục được sáu nước thành viên trong khối ASEAN (trong đó có Việt Nam) ủng hộ lời kêu gọi cho một giải pháp hòa bình do họ đưa ra.

Ngoài việc tường thuật các chính sách và các lời phát biểu của giới lãnh đạo cao cấp, bao gồm cả Tổng thống Benigno Aquino của Philippines, báo chí trong nước cũng tường thuật cả dư luận của quần chúng và trí thức Philippines trước sự đe dọa của Trung Quốc. Một số bài viết đăng trên báo lớn ở Philippines được nhắc nhở, trong đó có bài mang nhan đề “Kẻ du côn trong khu vực” (Regional bully) nói về cách hành xử của chính quyền Trung Quốc. Nhiều bài báo gọi đích danh Trung Quốc đang “trực tiếp xâm phạm lãnh thổ Philippines” và tuyên bố: “Sự việc này một lần nữa cho thấy, Trung Quốc thật là đáng sợ, chứ không phải là quốc gia hiền lành như các nhà ngoại giao nước này rao giảng.”

Ở đây, có hai điều chúng ta cần lưu ý: Thứ nhất, mức độ đe dọa của Trung Quốc đến chủ quyền và lãnh thổ cũng như lãnh hải của Philippines chắc chắn không trầm trọng như là Việt Nam, một nước giáp biên giới với Trung Quốc và có một lịch sử xung đột gần như triền miên với Trung Quốc; và thứ hai, như chính chính quyền Philippines nhìn nhận, lực lượng quân sự, cả không quân lẫn hải quân, của họ rất yếu. Không những yếu hơn Trung Quốc mà còn yếu hơn Việt Nam rất nhiều.

Một nước yếu và không trực tiếp đối diện với nguy cơ xâm lược của Trung Quốc như vậy nhưng cách phản ứng của họ rõ ràng là mạnh mẽ, quyết liệt, nhất quán và có tầm chiến lược hơn Việt Nam nhiều. Đó là điều đáng cho chúng ta suy nghĩ.

Từ trước đến nay, lúc nào Việt Nam cũng tự hào là đi đầu trong các cuộc chống ngoại xâm và các cuộc bành trướng quốc tế: xưa, Việt Nam đi đầu trong việc chống lại đế quốc Mông Cổ đang dẫm nát gần trọn châu Á và một phần châu Âu; sau, Việt Nam đi đầu trong việc chống lại chủ nghĩa thực dân cả cũ lẫn mới.

Còn bây giờ?

Đối diện với sự đe dọa trắng trợn từ Trung Quốc, Việt Nam lại chọn một thái độ nhịn nhục gần như bất động. Họ cố lừa dối dư luận trong nước là họ đang âm thầm giải quyết tranh chấp qua con đường đàm phán trực tiếp với Trung Quốc. Nhưng luận điệu ấy không thể dối gạt được ai cả. Người ta không thể ngồi vào bàn đàm phán mà không có một chiến lược rõ ràng và không có một sự hậu thuẫn nào hết, kể cả hậu thuẫn của dân chúng và quốc tế, hoặc ít nhất, trong khu vực. Sự im lặng và bất động của chính quyền Việt Nam, do đó, phải được hiểu như một sự đầu hàng.

Đầu hàng ngay từ đầu.

Có một điều hình như giới truyên truyền ở Việt Nam chưa nhận ra được: việc họ loan tin các phản ứng của Philippines mà không hề tường thuật bất cứ phản ứng nào từ phía Việt Nam, kể cả các cuộc biểu tình tự phát của dân chúng, cho thấy, hoặc ít nhất gợi cảm giác, là họ nhường trận địa chống Trung Quốc lại cho Philippines: Không phải Việt Nam mà chính Philippines mới là quốc gia xông xáo và quyết liệt nhất trong việc chống trả và ngăn chận âm mưu xâm chiến Biển Đông cũng như khu vực quần đảo Trường Sa.

Điều mỉa mai là giới truyền thông chính thống Việt Nam, một mặt, làm điều đó; mặt khác, lại tỏ vẻ đứng về phía Trung Quốc hơn là phía Philippines. Trên tờ báo mạng nổi tiếng của Việt Nam, Vietnamnet, ngày 8/6, có bài viết nhan đề “Trung Quốc mắng Philippines ‘tuyên bố vô trách nhiệm’”. Nội dung của bài viết là tường thuật lại lời phát biểu của người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc Hồng Lỗi do hãng Tân Hoa Xã loan đi: “Trung Quốc yêu cầu phía Philippines ngừng làm tổn hại tới chủ quyền và các quyền hàng hải cũng như lợi ích của Trung Quốc, dẫn tới các hành động đơn phương làm leo thang và phức tạp vấn đề tranh chấp Biển Đông. Phía Philippines nên ngừng đưa ra các tuyên bố vô trách nhiệm không phù hợp với thực tế.”

Một lời phát biểu như thế, từ phía Trung Quốc, chả có gì đáng ngạc nhiên cả. Họ cũng đã từng nói như vậy với Việt Nam. Vậy tại sao tác giả bài báo lại dùng động từ “mắng”: “Trung Quốc mắng Philippines”?

Thứ nhất, ai cũng biết không nên dùng chữ “mắng” để mô tả các cuộc tranh cãi ngoại giao giữa hai nước.

Thứ hai, việc dùng chữ “mắng” trong văn cảnh như vậy, người viết – và giới lãnh đạo tuyên huấn Việt Nam nói chung – có vẻ đồng tình với Trung Quốc: Kẻ đáng trách ở đây, do đó, không phải là cái kẻ ỷ mạnh xâm lấn lãnh thổ và lãnh hải của nước khác mà lại là kẻ đang phản đối điều đó.

Nên giải thích việc này như thế nào đây?

Thực tình, tôi không hiểu.

Không thể nào hiểu được.

Nguồn: Blog Nguyễn Hưng Quốc (VOA)

THEO DÒNG SỰ KIỆN:

  1. Mỹ ủng hộ Philippines khi căng thẳng trên biển Đông bùng phát
  2. GS Thayer: Xung đột biển Đông và mối quan tâm của Hoa Kỳ
  3. Trung Quốc sắp tung giàn khoan khổng lồ ra biển Đông
  4. Hoa Kỳ đưa chiến hạm vào biển Ðông
  5. Mỹ quan ngại về vụ leo thang tranh chấp ở biển Đông
  6. Cảnh giác với hình thái “tư bản thân hữu”

———

Trong khi chính quyền VN thậm thà thậm thụt, sai ông  Hồ Xuân  Sơn qua tận TQ đàm phán chuyện lãnh hải ở Hoàng  Sa Trường  Sa một cách bí mật, và không ai biết nội dụng của cuộc thương lượng ấy ra sao, thì Phi Luật Tân chọn cách giải quyết chính danh: Sẽ Kiện TQ ra Tòa án Liên Hiệp Quốc.

7-11-2011

Manila: Sẽ kiện Trung Quốc ra toà án Liên Hiệp Quốc

Manila – Viên chức cao cấp nhất của ngành ngoại giao Phi Luật Tân đã thông báo cho đối tác Trung Hoa của ông ta biết là Manila có kế hoạch mang chuyện tranh chấp lãnh hải ở quần đảo Trường Sa ra toà án Liên Hiệp Quốc.

Bộ trưởng Ngoại giao Phi Luật Tân ông Albert del Rosario nói hôm nay thứ Hai ngày 11 tháng Bảy là Bộ trưởng Ngoại giao Trung Quốc ông Yang Jiechi đã không có thái độ đáp ứng khi ông nói với ông ta ở Bắc Kinh tuần rồi về kế hoạch mang chuyện tranh chấp lãnh hải ra Toà án Luật Biển Quốc tế.

Bộ trưởng Ngoại giao Phi Luật Tân: Sẽ kiện Trung Quốc ra toà án Liên Hiệp Quốc. Nguồn hình: Reuters


Ông Del Rosario nói ông Yang lập lại là Trung Quốc cho mình có chủ quyền trên toàn bộ biển Nam Hải và các quần đảo có tiềm năng chứa nhiều dầu và khí đốt và ông nhắc lại là Bắc Kinh muốn giải quyết chuyện tranh chấp lãnh hải này với các nước khác một cách song phương.

Ông Del Rosario cho hay ông đã nói với ông Yang là Phi Luật Tân thích một diễn đàn đa phương hơn, như là Liên Hiệp Quốc để giải quyết chuyện tranh chấp này.

© DCVOnline


Nguồn:

(1) Manila tells China it’s taking spats to UN court. The Associated Press, 11 July 2011
——–

Cuộc họp ngày 25 tháng 6 tại Bắc Kinh, giữa Thứ Trưởng Ngoại Giao Hồ Xuân Sơn,

đặc phái viên của lãnh đạo cấp cao Việt Nam, và Ủy Viên Quốc Vụ Trung Quốc Ðới Bỉnh Quốc.

Một sự kiện gần nhất đang làm người dân Việt Nam hết sức hoang mang lo lắng, là cuộc họp ngày 25 tháng 6 tại Bắc Kinh, giữa Thứ Trưởng Ngoại Giao Hồ Xuân Sơn, đặc phái viên của lãnh đạo cấp cao Việt Nam, và Ủy Viên Quốc Vụ Trung Quốc Ðới Bỉnh Quốc.

Thông cáo báo chí chung Việt Nam-TQ đăng trên TTX Việt Nam tuyên bố rằng hai bên sẽ “đẩy nhanh tiến độ đàm phán để sớm ký kết ‘Thỏa thuận về các nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển giữa Việt Nam-Trung Quốc’; thúc đẩy việc thực hiện Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Ðông (DOC) và các công việc tiếp theo, cố gắng sớm đạt tiến triển thực chất.”

Không rõ hai bên cam kết những gì nhưng bản tin trên Tân Hoa Xã ngày 28 tháng 6 thúc giục:

“Việt Nam hãy thực hiện đầy đủ một thỏa thuận song phương trên vấn đề Biển Hoa Nam (Biển Ðông) vốn đã đạt được trong thời gian diễn ra chuyến viếng thăm của phái viên đặc biệt của Việt Nam Hồ Xuân Sơn vào tuần trước…

Rằng: “Cả hai nước đều phản đối những thế lực bên ngoài can dự vào tranh chấp giữa Trung Quốc và Việt Nam.”

Rằng: “Trung Quốc đã nhiều lần tuyên bố về chủ quyền không thể tranh cãi của mình tại các hòn đảo trên Biển Hoa Nam và những vùng biển xung quanh các hòn đảo này.”

Ðồng thời không quên “nhắc nhở” Việt Nam về bức thư ngoại giao của Thủ Tướng Việt Nam Phạm Văn Ðồng năm 1958 gửi tới Thủ Tướng TQ lúc bấy giờ là Chu Ân Lai, đã công nhận chủ quyền này.

Người dân Việt Nam có cảm giác như vừa mới bị ăn một cái tát từ chính nhà nước. Không bẽ bàng, nhục nhã, uất ức sao được khi người dân sôi sục xuống đường, sôi sục viết tuyên cáo phản đối TQ… Học giả Việt Nam khi tham gia Hội Thảo An Ninh về Biển Ðông tại Washington vừa qua thì đem hết sức ra chứng minh sự sai trái của TQ và khẳng định lập trường kiên quyết bảo vệ lãnh thổ, lãnh hải của Việt Nam.

Còn những người lãnh đạo lại lẳng lặng tìm cách thỏa hiệp với TQ, sẵn sàng phản bội lợi ích của dân tộc, đất nước như đã hàng trăm hàng ngàn lần như thế!

Thế giới cũng có cảm giác như bị lừa khi vừa lên tiếng bênh vực, ủng hộ Việt Nam, chỉ trích TQ. Thế mà bây giờ hai nước lại quay ngoắt như vậy.

Chả biết thực hư thế nào nhưng tháng 7 này, giàn khoan dầu khổng lồ của TQ sẽ hạ thủy xuống Biển Ðông. Trong khi đó thì Việt Nam vẫn chưa có một phương cách nào để ngăn chặn. Cũng không có một dấu hiệu gì cho thấy họ sẽ nhân dịp này thoát khỏi mối quan hệ bất xứng và đầy thiệt thòi, nguy hiểm đối với TQ hoặc sẽ can đảm cải cách chính trị để cứu nước.

Người dân Việt Nam thì vẫn như đang mê ngủ. Có thể đa số đã nhận thấy mối nguy từ phương Bắc nhưng không phải ai cũng nhìn ra hoặc dám thừa nhận, cái nguy lớn hơn, gốc rễ của cái họa mất nước, thực ra là từ chính ÐCS Việt Nam và cái mô hình thể chế chính trị này.”   Đạo diễn phim, Song Chi

“”

Một sự kiện gần nhất đang làm người dân Việt Nam hết sức hoang mang lo lắng, là cuộc họp ngày 25 tháng 6 tại Bắc Kinh, giữa Thứ Trưởng Ngoại Giao Hồ Xuân Sơn, đặc phái viên của lãnh đạo cấp cao Việt Nam, và Ủy Viên Quốc Vụ Trung Quốc Ðới Bỉnh Quốc.

Thông cáo báo chí chung Việt Nam-TQ đăng trên TTX Việt Nam tuyên bố rằng hai bên sẽ “đẩy nhanh tiến độ đàm phán để sớm ký kết ‘Thỏa thuận về các nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển giữa Việt Nam-Trung Quốc’; thúc đẩy việc thực hiện Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Ðông (DOC) và các công việc tiếp theo, cố gắng sớm đạt tiến triển thực chất.”

Không rõ hai bên cam kết những gì nhưng bản tin trên Tân Hoa Xã ngày 28 tháng 6 thúc giục:

“Việt Nam hãy thực hiện đầy đủ một thỏa thuận song phương trên vấn đề Biển Hoa Nam (Biển Ðông) vốn đã đạt được trong thời gian diễn ra chuyến viếng thăm của phái viên đặc biệt của Việt Nam Hồ Xuân Sơn vào tuần trước…

Rằng: “Cả hai nước đều phản đối những thế lực bên ngoài can dự vào tranh chấp giữa Trung Quốc và Việt Nam.”

Rằng: “Trung Quốc đã nhiều lần tuyên bố về chủ quyền không thể tranh cãi của mình tại các hòn đảo trên Biển Hoa Nam và những vùng biển xung quanh các hòn đảo này.”

Ðồng thời không quên “nhắc nhở” Việt Nam về bức thư ngoại giao của Thủ Tướng Việt Nam Phạm Văn Ðồng năm 1958 gửi tới Thủ Tướng TQ lúc bấy giờ là Chu Ân Lai, đã công nhận chủ quyền này.

Người dân Việt Nam có cảm giác như vừa mới bị ăn một cái tát từ chính nhà nước. Không bẽ bàng, nhục nhã, uất ức sao được khi người dân sôi sục xuống đường, sôi sục viết tuyên cáo phản đối TQ… Học giả Việt Nam khi tham gia Hội Thảo An Ninh về Biển Ðông tại Washington vừa qua thì đem hết sức ra chứng minh sự sai trái của TQ và khẳng định lập trường kiên quyết bảo vệ lãnh thổ, lãnh hải của Việt Nam.

Còn những người lãnh đạo lại lẳng lặng tìm cách thỏa hiệp với TQ, sẵn sàng phản bội lợi ích của dân tộc, đất nước như đã hàng trăm hàng ngàn lần như thế!

Thế giới cũng có cảm giác như bị lừa khi vừa lên tiếng bênh vực, ủng hộ Việt Nam, chỉ trích TQ. Thế mà bây giờ hai nước lại quay ngoắt như vậy.

Chả biết thực hư thế nào nhưng tháng 7 này, giàn khoan dầu khổng lồ của TQ sẽ hạ thủy xuống Biển Ðông. Trong khi đó thì Việt Nam vẫn chưa có một phương cách nào để ngăn chặn. Cũng không có một dấu hiệu gì cho thấy họ sẽ nhân dịp này thoát khỏi mối quan hệ bất xứng và đầy thiệt thòi, nguy hiểm đối với TQ hoặc sẽ can đảm cải cách chính trị để cứu nước.

Người dân Việt Nam thì vẫn như đang mê ngủ. Có thể đa số đã nhận thấy mối nguy từ phương Bắc nhưng không phải ai cũng nhìn ra hoặc dám thừa nhận, cái nguy lớn hơn, gốc rễ của cái họa mất nước, thực ra là từ chính ÐCS Việt Nam và cái mô hình thể chế chính trị này.

Posted in Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa, Chinh Tri Viet Nam | 1 Comment »