Trần Hoàng Blog

Archive for Tháng Một, 2012

Vụ việc ở Tiên Lãng ỏ Hải Phòng: Báo Đối ngoại Vietnam Economic News (VEN) của Bộ Công Thương đã “vào cuộc” từ năm 2008

Posted by hoangtran204 trên 31/01/2012

Đôi lời: Một bất ngờ khi độc giả phát hiện và cho biết đã có loạt phóng sự về Cống Rộc, huyện Tiên Lãng do báo Vietnam Economic News (Tin Kinh Tế Việt Nam) của Bộ Công Thương thực hiện từ năm 2008.
Không cầm được nước mắt khi thấy tấm hình Đoàn Văn Vươn, áo quần xốc xếch, đứng bên khu đầm nuôi tôm từ dạo đó.

Nhiều dấu hỏi muốn gửi tới những người cầm quyền từng hoàn toàn dựa vào nông dân để cướp được chính quyền.

Nhưng bữa nay chỉ xin hỏi 3 cơ quan quản lý báo chí (Ban Tuyên giáo, Bộ 4T, Bộ Công an). Các vị thường soi xét những bài viết, tờ báo đưa tin “không lợi” cho đảng, nhà nước, cả cá nhân người lãnh đạo, rồi đưa ra hình thức kỷ luật, phạt, bỏ tù. Thế nhưng có (dám/muốn) phạt những tờ báo to quyền, có lắm tiền, nhưng chỉ lớn giọng lúc đầu khi người dân phạm luật, còn tới lúc vỡ chuyện hé lộ tội trạng của người trong chính quyền thì im re, thậm chí còn lờ đi cả văn bản chỉ đạo của Thủ tướng? Đó là các báo Nhân dân, Công An Nhân Dân, Công An TP Hồ Chí Minh, v.v..? Và đặc biệt là các vị có khen thưởng những nhà báo, tờ báo đã dũng cảm, công phu cảnh báo sớm và vạch trần tội trạng người trong chính quyền từ nhiều năm trước, trong một vụ việc “nhạy cảm” hiếm có (ở Cống Rộc, huyện Tiên Lãng) kiểu này không?

Giá như từ ngày đó, các vị được đọc loạt bài phóng sự đăng trên báo VEN, hoặc đọc mà không bỏ qua, thì (biết đâu) sẽ có thể không xảy ra tấn thảm kịch cho đại gia đình Đoàn Văn Vươn và cả 6 chiến sĩ bộ đội, công an, và sẽ không có cái hậu quả rất có thể mang tới nguy cơ khó tưởng tượng cho chế độ như ngày hôm nay.

Vụ việc ở Tiên Lãng (Hải Phòng):
Báo Đối ngoại VEN (Vietnam Economic News) đã “vào cuộc” từ năm 2008

Cập nhật lúc: 10:10 17/01/2012

(VEN) – Những ngày gần đây, dư luận đặc biệt quan tâm đến vụ việc diễn ra ở huyện Tiên Lãng (Hải Phòng) ngày 5/1/2012. Vụ việc chống lại người thi hành công vụ lực lượng cưỡng chế thuộc khu vực Cống Rộc, xã Vinh Quang, huyện Tiên Lãng, Hải Phòng diễn ra làm 6 cán bộ, chiến sĩ công an, bộ đội bị thương.

Đã có nhiều luồng thông tin khác nhau về sự việc nhưng chủ yếu là những thông tin diễn ra sau ngày 5/1 hoặc một số vấn đề ngay trước đó mà chưa có dịp tiếp cận với những gì đã có từ nhiều năm trước – khi Cống Rộc còn là “nỗi kinh hoàng” của người dân Tiên Lãng.

Dẫu vậy, bằng nhiều nguồn khác nhau, bản chất của sự việc dần được nêu ra tường tận.

Báo đối ngoại Vietnam Economic News (VEN) của Bộ Công Thương, ngay từ năm 2008, báo đã có loạt bài phóng sự “Cống Rộc – Thách thức không đến từ biển”. Trên cơ sở đơn thư khiếu nại khẩn thiết của người dân, Tòa soạn đã cử phóng viên về “ba chung” tại Cống Rộc và nghiêm túc nghiên cứu hồ sơ, thực hiện chặt chẽ các quy trình trước khi cho đăng trên ấn phẩm Kinh tế Việt Nam, sau đó đăng lại trên trang điện tử http://www.ven.vn – thuộc Báo Đối ngoại Vietnam Economic News.

Tổng Biên tập Báo Đối ngoại VEN – cho biết: “Dù đã gần 4 năm, nhưng vẫn nhớ rất rõ vì đã phải xem xét kỹ càng hồ sơ vụ việc tới từng chi tiết trước khi duyệt đăng những bài này”.

Đúng ra, loạt phóng sự này ban đầu gồm 6 kỳ. Tuy nhiên, do là tuần báo và theo đề nghị của Ban biên tập nên sau đó tác giả loạt phóng sự này đã rút thành 3 kỳ.

Để có tài liệu và hình ảnh cho loạt phóng sự, phóng viên đã phải nhiều lần tới Vinh Quang cùng sống, ăn, ngủ những người dân giữa đầm nuôi tôm (khu vực mới bị cưỡng chế). Trong lần nghỉ lại giữa đầm tôm này, phóng viên đã có lúc phải cùng người dân thức trắng đêm do muỗi và mưa to bất ngờ ập đến. Cũng trong các chuyến công tác, phóng viên không ít lần phải giấu đi những giọt nước mắt khi nghe câu chuyện về quá trình lấn biển của ông Vươn cũng như chứng kiến tận mắt nỗi vất vả, khó khăn của những người dân nơi đây.

Thể theo nguyện vọng của đông đảo bạn đọc và nhằm cung cấp thêm thông tin liên quan đến “sự kiện 5/1/2012” ở Hải Phòng, Tòa soạn xin đăng tải lại 3 kỳ “Cống Rộc – Thách thức không đến từ biển” đã xuất bản trên ấn phẩm Kinh tế Việt Nam số 30 (ra ngày 22/7/2008), số 31 (ra ngày 29/7/2008), số 32 (ra ngày 5/8/2008) trên trang tin điện tử http://www.ven.vn./.

Ngày 5/1/2012, khi hơn 100 cảnh sát, bộ đội cưỡng chế, thu hồi đất của gia đình ông Đoàn Văn Vươn, một số người đã gài mìn tự chế trong vườn, cầm súng hoa cải chống lại. Bốn cảnh sát và hai cán bộ huyện đội bị thương. Ngày 10/1, 4 bị can gồm: Đoàn Văn Quý (46 tuổi), Đoàn Văn Vươn (49 tuổi), Đoàn Văn Sịnh (55 tuổi) và Đoàn Văn Vệ (38 tuổi) bị khởi tố, bắt tạm giam về tội giết người. Phạm Thị Báu (tức Hiền, vợ ông Quý) và Nguyễn Thị Thương (vợ ông Vươn) bị khởi tố về tội chống người thi hành công vụ, song được tại ngoại và cho áp dụng biện pháp ngăn chặn là cấm đi khỏi nơi cư trú.

Chí Trung

*********************

Cống Rộc – Thách thức không đến từ biển (Kỳ I)

Cập nhật lúc: 09:40 22/07/2008

(VEN) – Ôm theo gần 2kg đơn thư, tài liệu cầu cứu của những người dân ven biển huyện Tiên Lãng, chúng tôi đến Hải Phòng đúng ngày trời đổ mưa lớn đầu mùa. Vượt qua những quãng đường đất đá dưới cơn mưa tầm tã, cuối cùng chúng tôi cũng đã đến và biết được câu chuyện cảm động của những người “mở đất” và việc một số cá nhân ở huyện Tiên Lãng đang bất chấp quy định của pháp luật và đạo lý, muốn biến hàng trăm ha đất cùng hàng chục tỷ đồng của những người dân nơi đây thành việc của… “biển”.

Kỳ I: Người mang tên Vươn và hàng trăm ha đất ở Tiên Lãng đã “vươn” ra biển như thế nào?

Theo tài liệu của UBND huyện Tiên Lãng, thì hơn 100ha đất bồi thuộc khu vực bãi triều ven biển (ngoài đê) thuộc khu vực cống Rộc (xã Vinh Quang, Tiên Lãng) trước đây là nơi “đầu sóng ngọn gió”, mênh mông nước biển, thường xuyên đe dọa đến sự an nguy của những người dân địa phương. Mặc dù ở đây có một con đê chắn sóng quốc gia, nhưng do phía ngoài đê trống trải nên mỗi lần gió Nam mạnh cũng làm đê sạt lở, chưa nói khi mùa bão lũ đến. Người dân nơi này không ít lần chứng kiến cảnh vỡ đê và thường đi sơ tán mỗi khi nghe tin bão về.

Ông Mai Công Chính – 82 tuổi, nguyên cán bộ Sở Thuỷ sản Hải Phòng – kể: “Đã bao nhiêu năm gia đình tôi ở đây nên biết rất rõ nỗi cơ cực do sóng biển đe dọa. Trước đây phía Nam cống Rộc này rất đáng sợ. Chỗ nhà tôi từng bị nước biển tràn vào và chịu cảnh ngập lụt không biết bao nhiêu lần”. Còn ông Phạm Văn Danh – 79 tuổi, nguyên Bí thư Đảng uỷ xã Vinh Quang, nguyên Thường vụ huyện uỷ Tiên Lãng – thì cho biết: “Cống Rộc khi trước kinh hãi lắm, nước biển mênh mông. Không ai dám nghĩ có ngày ở đó được yên ổn chứ nói gì đến việc bỏ công sức ra đầu tư để sản xuất đâu”. Ông Danh còn kể: Khi nghe tin anh Vươn tuyên bố nhận làm ở khu cống Rộc, ông Đinh Quang Hiên – người nhiều năm đầu tư khai thác vùng ven biển ở Tiền Hải (Thái Bình) và phía Bắc xã Vinh Quang – thách đố: “Nếu thằng Vươn làm thành công tôi sẽ mất với nó một chiếc xe máy đẹp”. Đó là câu chuyện diễn ra cách nay đã hơn 15 năm.

Còn ngày nay, đứng trên đê quốc gia nhìn ra biển, bất cứ ai cũng có thể nhận ra những đầm nuôi trồng thuỷ sản đã được hình thành vững chắc, ổn định với diện tích rộng hàng trăm ha. Ông Chính bảo: “Nhờ có việc đầu tư công sức và hàng chục tỷ đồng của anh Vươn và những hộ dân nên tuyến đê biển này đã thực sự an toàn, người dân trong vùng được yên tâm sinh sống”. Còn để chỉnh trị vùng ven biển này, ông Chính khẳng định: “Quá trình anh Vươn làm ở đây, những con đê bảo vệ cũng vỡ nhiều lần. Có khi đắp sáng, chiều vỡ, đắp tối thì sáng hôm sau vỡ. Việc làm bấy giờ của anh ấy ví như con dã tràng xe cát. Bây giờ không thể nào nói hết công lao của anh ấy”. Ông Danh tiếp lời: “Nhiều người gàn lắm. Tôi cũng ngăn cản. Không ai ngờ là anh ấy làm được đâu. Anh Vươn như đi cải tạo 6-7 năm trời. Cả gia đình anh ấy cũng lao đao, khổ theo. Ngay đứa con gái đầu lòng của anh ấy cũng chết ở ngoài đó”… Những người dân ở Tiên Lãng vẫn kể cho nhau nghe câu chuyện này mỗi khi nhớ về quá trình lấn biển ở vùng cống Rộc. Còn với “người trong cuộc” Đoàn Văn Vươn thì sao?

Sinh ra trong một gia đình có truyền thống cách mạng ở xã Bắc Hưng (Tiên Lãng), định mệnh đã gắn cuộc đời của ông với biển khơi, như chính cái tên “Vươn” cùng bao khát vọng chinh phục biển – điều mà cha ông – một cán bộ đảng lâu năm – mong muốn. Sau khi rời quân ngũ năm 1986, chàng thanh niên Đoàn Văn Vươn trở về địa phương với quyết tâm tìm cách chế ngự thiên nhiên, biến nỗi kinh hoàng của biển khơi thành tiềm năng phục vụ con người.

Ông Đoàn Văn Vươn bên đầm nuôi trồng thuỷ sản ở Vinh Quang (Tiên Lãng)Đã không ít người hồ nghi và coi việc làm của Vươn khi ấy chỉ là sự ngông cuồng của tuổi trẻ. Ông Vươn kể: “Sau khi nghiên cứu địa hình, tôi cho rằng nếu làm được, thì khu vực ấy (cống Rộc) không những sẽ mang lại hiệu quả kinh tế mà còn có ý nghĩa xã hội lớn. Do đó, tôi đã lập luận chứng kinh tế kỹ thuật và huy động mọi nguồn lực để tiến hành cắt dòng chảy, từng bước khoanh vùng đắp đập ngăn nước”.

Hơn nửa năm trời, người ta chứng kiến hơn 750 nhân công cùng 13 tàu, xe cơ giới ngày đêm vật lộn với sóng biển ở cống Rộc. Ước tính đã có trên 23.000m3 đất đá được chuyển từ Thuỷ Nguyên (Hải Phòng) và trong vùng đổ xuống biển. Từ năm 1994-1998 hàng ngàn cây giống đã được ông bỏ công sức chuyển từ đất liền ra trồng, nhưng tất cả đều bị sóng biển cuốn trôi. Không nản chí, ông tiếp tục nghiên cứu và từng bước kiên trì để tạo nên hàng rào chắn sóng bằng hàng chục tấn đất đá, cùng khoảng 140 tấn xi măng để xây kè và hàng nghìn cây bần, vẹt. Để rồi, máu cùng nước mắt có ngày được đền công: dòng chảy phía ngoài cống Rộc chuyển hướng, chân đê từ chỗ sâu 1,65m (cốt âm) được nâng lên cốt dương và hàng chục ha đất bồi cùng 60ha rừng vẹt ngăn sóng hình thành. Thành công từ việc trồng rừng chắn sóng của ông Vươn còn được các chuyên gia Nhật Bản đến tìm hiểu, nghiên cứu.

Nam cống Rộc được chế ngự đã giúp cho hàng trăm ha đất ven biển ở Tiên Lãng được bồi đắp mạnh hơn, tuyến đê biển được đẩy lùi vào hàng chục nghìn mét và trở nên vững chãi. Cảm khái trước tâm huyết và công sức của con người dũng cảm dám đối đầu với thiên nhiên, tết năm 1994, người con cao tuổi nhất bấy giờ của làng Chùa (Vinh Quang) đã đem pháo ra cống Rộc đốt và nói: “Việc làm của anh Vươn đã làm thay đổi cuộc sống của người dân Vinh Quang. Con cháu chúng tôi sẽ phải ghi nhớ công ơn này. Và nếu được, tôi đề nghị phải đắp tượng anh Vươn”.

Tuy nhiên, để biến ước mơ thành hiện thực, ông Vươn đã phải chấp nhận chuyển cả gia đình đến sống chung với bão lũ; và để có vốn, ông đã phải bán những tài sản có giá trị của gia đình, vay lãi ngân hàng, huy động người thân vào công việc lấn biển và việc ông mất đi cô con gái đầu lòng cho biển cống Rộc.

Sự nỗ lực góp phần chỉnh trị dòng chảy, giữ an toàn cho tuyến đê biển và tạo nên những đầm nuôi trồng thuỷ sản như hiện nay của ông Vươn là cả một quãng thời gian dài với bao công sức, tiền của. Những ngày đầu năm 2008, ông vẫn tiếp tục đầu tư hơn 100 triệu đồng để kè đá cho đầm tôm. Cùng với ông Vươn, ở Tiên Lãng hiện còn nhiều hộ gia đình đang sử dụng đất bồi ven biển để nuôi trồng thuỷ sản, trong đó có không ít những người như ông Vươn. Điều muốn nói ở đây là họ đã và đang đối mặt với những thách thức mới, không những từ biển mà còn từ những việc làm không tuân thủ pháp luật, thiếu tình người của một số người có trách nhiệm ở Tiên Lãng./.

Đón đọc kỳ II: Những việc làm ngẫu hứng khiến lòng người nổi sóng

Chí Trung

——————

Cống Rộc đang “độc” vì ai?   (Kỳ II)

Cập nhật lúc: 09:46 29/07/2008

(VEN) – Là người có công trong việc mở mang diện tích đất bồi ven biển và có luận chứng kinh tế, hồ sơ về thuỷ lợi, nên ngày 4/10/1993, UBND huyện Tiên Lãng đã có Quyết định số 447/QĐ-UB giao 21ha bãi bồi ven biển thuộc xã Vinh Quang (cống Rộc) cho ông Đoàn Văn Vươn sử dụng vào mục đích nuôi trồng và khai thác thuỷ sản.

Kỳ II: Cống Rộc – Thách thức không đến từ biển

Ngày 1/12/2007, ông Vươn nhận được Thông báo số 225/TB-UBND của UBND huyện Tiên Lãng về việc dừng đầu tư vùng nuôi trồng thuỷ sản với lý do thời hạn giao đất ghi 14 năm đã hết. Tiếp đó, ngày 23/4/2008 UBND huyện Tiên Lãng lại có Quyết định số 460/QĐ-UB về việc thu hồi và yêu cầu phải bàn giao lại toàn bộ 21ha đất đang sử dụng cùng các công trình có trên đất cho xã Vinh Quang quản lý trong thời gian… 15 ngày.

Điều đáng nói là, theo đề án và luận chứng kinh tế kỹ thuật mà ông Vươn cung cấp thì thời gian ông đăng ký nhận đầu tư 21ha đất bồi là 30 năm. Đặc biệt, theo quy định của pháp luật thì, đối với loại đất bãi triều ven biển và đất mặt nước ven biển (ngoài đê) là đối tượng được khuyến khích đầu tư sử dụng và được Nhà nước hỗ trợ. Nội dung này được thể hiện khá rõ trong Luật Đất đai, Quyết định số 327-CT, ngày 15/9/1992 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (nay là Thủ tướng Chính phủ), Nghị định 181/2004/NĐ-CP của Chính phủ, Thông tư số 01/2005/TT-BTNMT của Bộ Tài nguyên và Môi trường và tại Quyết định số 567/QĐ-UB, ngày 22/4/1992 của UBND TP. Hải Phòng. Cụ thể, tại khoản 1, Điều 67 Luật Đất đai năm 2003 ghi “Thời hạn giao đất, cho thuê đất được tính từ ngày giao đất, cho thuê đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền; trường hợp đất được Nhà nước giao, cho thuê trước ngày 15/10/1993 thì thời hạn giao đất, cho thuê đất được tính từ ngày 15/10/1993”. Tại điểm 3, mục I, Thông tư số 01/2005/TT-BTNMT, ngày 13/4/2005 của Bộ Tài nguyên – Môi trường cũng đã hướng dẫn cụ thể về điều này.

Chưa cần dẫn chiếu các văn bản khác cũng có thể thấy Quyết định 460/QĐ-UB, ngày 23/4/2008 của UBND huyện Tiên Lãng là trái với tinh thần của pháp luật hiện hành về thời hạn giao đất. Chưa hết, tại Điều II quyết định này, UBND huyện Tiên Lãng còn giao Phòng Tài nguyên và Môi trường và UBND xã Vinh Quang làm thủ tục thu hồi đất cùng toàn bộ công trình có trên đất, mà không bồi thường gì (!). Điều này là không đúng với quy định. Bởi, tại Điều 9 Quyết định số 327-CT ghi “Đối với các dự án sử dụng bãi bồi, đất trống ven biển, mặt nước nuôi trồng thuỷ sản có quy mô khoảng 700ha, ngang mức dân một xã, mỗi hộ gia đình được giao một số đất để nuôi tôm, cua, rau câu và 700m2 đất để làm vườn. Nhà nước đầu tư hỗ trợ xây dựng cơ sở hạ tầng theo nguyên tắc hoàn vốn bằng khấu hao. Việc xây dựng công trình nội đồng, nuôi trồng thuỷ sản do hộ gia đình đầu tư bằng vốn tự có hoặc vay vốn ngân hàng. Các bãi bồi, mặt nước nhỏ dưới 700ha do địa phương đầu tư hoặc giao cho các hộ tự làm”. Căn cứ vào nội dung của quyết định này thì gia đình ông Vươn thuộc diện được ưu tiên, tạo điều kiện để quản lý, sử dụng và còn được Nhà nước hỗ trợ trong quá trình xây dựng cơ sở hạ tầng đối với diện tích đất trên.

Đơn thư, tài liệu do người dân cung cấpTrong khi “Nhà nước khuyến khích mạnh mẽ các doanh nghiệp, công ty cổ phần, công ty và các hộ tư nhân, kể cả liên doanh giữa công ty hoặc tư nhân với nước ngoài đầu tư vào việc trồng trọt, chăn nuôi ở vùng đất mới” (Điều 11, Mục B Quyết định 327-CT) và tại khoản 3, Điều 67 Luật Đất đai quy định “Khi hết thời hạn, người sử dụng đất được Nhà nước xem xét gia hạn sử dụng đất nếu có nhu cầu tiếp tục sử dụng…”, nhưng UBND huyện Tiên Lãng lại không xem xét tới những điều này của Luật Đất đai và Quyết định 327-CT. Qua tìm hiểu, được biết, kể từ khi được giao đất vào năm 1993 đến nay, gia đình ông Vươn luôn chấp hành nghiêm chỉnh các quy định về quản lý và sử dụng đất. Thậm chí, ông còn bỏ khá nhiều công sức, tiền của để củng cố đê kè, góp phần tích cực cải tạo vùng đất bồi hiệu quả và giữ yên cho cả vùng. Mặt khác, ông Vươn còn được tín nhiệm bầu làm Chủ tịch Liên chi hội Nuôi trồng thuỷ sản nước lợ huyện Tiên Lãng từ năm 1993 đến nay và ông đã có nhiều đơn xin được tiếp tục giao 21ha trên để sản xuất, nhưng không được giải quyết. Vậy nguyên nhân và động cơ nào khiến UBND huyện Tiên Lãng ban hành Quyết định 460/QĐ-UB?

Trước quyết định “ngẫu hứng” này, ông Vươn tiếp tục khiếu nại, nhưng tất cả vẫn bị rơi vào quên lãng. Ông Vươn phẫn uất: “Tôi đã bỏ bao tâm huyết, tiền bạc vào đây, chấp nhận để cả gia đình cơ cực để lo làm ăn, góp phần giữ đất, giữ quê. Thậm chí, con gái tôi cũng chết vì khu cống Rộc này, vậy mà… Nhưng ở đây còn nhiều người khác cũng đang khổ sở, như ông Luân, ông Trong, ông Tin, ông Đọc, ông Tiêu….”. Còn những người dân ở Vinh Quang thì lại bất bình và bức xúc cho ông. Đối với nguyên Uỷ viên thường vụ Huyện uỷ Tiên Lãng Phạm Văn Danh thì: “Khi anh Vươn trình dự án lên UBND huyện năm 1993, huyện cho rằng hão huyền. Vậy mà làm được, góp phần làm bồi nhanh cho cả khu vực”. Ông Danh bức xúc tuyên bố: “Nếu theo quyết định của Chủ tịch huyện (Quyết định 460/QĐ-UB) là cướp trắng của người ta”.

Sự phẫn nộ về những quyết định và việc làm kỳ quặc được phát ra từ UBND huyện Tiên Lãng sẽ còn được đề cập trong bài viết tiếp sau. Ở đây chỉ nói lên một thực tế là niềm tin của người dân nơi đây đối với chính quyền địa phương đang bị phai nhạt dần vì một số vụ việc va chạm giữa dân và các cơ quan chính quyền địa phương đã diễn ra từ nhiều năm nay. Trong thời gian có mặt ở Hải Phòng, chúng tôi đã tận mắt chứng kiến nỗi bức xúc và tiếp nhận một khối lượng lớn đơn thư, tài liệu do người dân cung cấp xung quanh những quyết định liên quan đến vấn đề đất đai do UBND huyện Tiên Lãng ban hành./.

Kỳ cuối: Hàng trăm hécta đất cùng nhiều tỷ đồng của dân có phải là việc của… biển?

Liêu Chí Trung

_________________________________________________

Cống Rộc – Thách thức không đến từ biển (Kỳ III)

Cập nhật lúc: 10:00 05/08/2008

(VEN) – Như đã đề cập, cùng với gia đình ông Vươn, chúng tôi còn nhận được đơn thư và phán ánh của hơn 20 hộ gia đình nuôi trồng thủy sản ở huyện Tiên Lãng.

Kỳ cuối: Hàng trăm hécta đất cùng nhiều tỷ đồng của dân có phải là việc của… biển?

Lá đơn tập thể của hơn 20 hộ gia đình ở xã Vinh Quang, huyện Tiên Lãng.Trong lá đơn dài 11 trang của ông Vũ Văn Luân (xóm 9, xã Hùng Thắng, Tiên Lãng) gửi các cơ quan chức năng, có đoạn viết: “Căn cứ vào Quyết định số 471 ngày 2/8/1999 và căn cứ vào Quyết định giao đất số 415 ngày 10/3/2000, chúng tôi khẳng định UBND huyện Tiên Lãng giao đất trái pháp luật”. Cùng với việc phân tích về những việc làm “chẳng giống ai” của chính quyền địa phương, ông Luân cho biết, gia đình ông đã làm nhiều đơn thư và được các cơ quan có trách nhiệm ở trung ương yêu cầu UBND huyện Tiên Lãng giải quyết dứt điểm vụ việc theo đúng pháp luật, nhưng đã hơn 2 năm vẫn không có hồi âm. Chung cảnh ngộ với hộ ông Vươn, ông Luân, còn có gia đình các ông Lương Văn Trong, Hoàng Văn Tin, Nguyễn Văn Tiêu, Nguyễn Thế Đọc… cũng đang chịu nỗi cơ cực vì “bão tố” không đến từ biển. Xin lưu ý, từ tháng 1/1992 đến trước ngày 15/10/1993 – trước khi Luật Đất đai năm 1993 có hiệu lực – UBND huyện Tiên Lãng đã làm thủ tục giao đất nuôi trồng thủy sản cho 18 hộ với tổng diện tích trên 370ha.

Ngày 2/6/2008, chúng tôi tìm đến UBND huyện Tiên Lãng để tìm câu trả lời của những người có trách nhiệm. Trước những bức xúc của các hộ gia đình đang nuôi trồng thủy sản ở xã Vinh Quang, ông Ngô Văn Khánh – Chánh văn phòng UBND huyện Tiên Lãng – khẳng định “Những đầm đến bây giờ hết hạn, chúng tôi sẽ thu hồi để giao cho địa phương, cho xã quản lý, để đỡ gây nên phức tạp. Hơn nữa, quản lý của huyện thực tế cũng không thường xuyên, trực tiếp”. Giải thích về việc tại sao huyện lại không giao cho hộ ông Vươn và những hộ khác thời gian 20 năm như quy định của pháp luật mà chỉ là 12 đến 15 năm, ông Khánh trả lời bằng cách… chuyển đề tài, rồi lấy lý do bận việc và giới thiệu chúng tôi đến gặp lãnh đạo Phòng Tài nguyên và Môi trường, vì “đó là nơi trực tiếp quản lý tài liệu, giấy tờ”.

Vẫn với những thắc mắc trên, chúng tôi nhận được giải thích từ Phó phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Tiên Lãng – Phạm Văn Trống: “Trong quyết định có ghi thời hạn giao đất, nên khi hết thời hạn thì Nhà nước thu hồi theo Điều 38, Điều 45 của Luật Đất đai”. Nhưng khi đối chiếu với Luật Đất đai và các văn bản pháp luật khác, chúng tôi không tìm thấy quy định nào phù hợp hoặc liên quan đối với trường hợp này. Khi được hỏi: “Vì sao các hộ gia đình ông Vươn, ông Trong, ông Tin…, dù chấp hành tốt các quy định, được giao đất trước ngày 15/10/1993 và đã có đơn xin tiếp tục được giao đất nhiều lần lại không được chấp nhận. Trong khi, tại Báo cáo số 68/BC-UBND ngày 25/12/2006 (sau khi có Kế hoạch 58/KH-UB) lại có 18 hộ ở Vinh Quang được huyện giao mới 67,45ha đất với thời hạn… 20 năm?”. Ông Trống “giải thích” rằng: “Đối với 18 hộ ở Vinh Quang, anh em tôi có ra quyết định giao, cho thuê đất. Đến thời điểm này quyết định vẫn chưa thực hiện và anh em tôi cũng đang báo cáo để xem xét lại việc giao đất năm 2005”.

Xin nói thêm, một trong những “căn cứ” để thu hồi đất của các hộ nói trên là Kế hoạch số 58/KH-UB, được UBND huyện này ban hành vào ngày 1/12/2004. Chưa nhắc tới nội dung, ngay từ khi ra đời văn bản này đã có vấn đề. Theo quy định tại khoản 3, Điều 26 Luật Đất đai năm 2003 thì “UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương xét duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của đơn vị hành chính cấp dưới trực tiếp”. Tuy nhiên, Kế hoạch 58/KH-UB của UBND huyện Tiên Lãng lại không được gửi cho UBND TP. Hải Phòng, nhưng vẫn được dùng làm cơ sở để ban hành hàng loạt các quyết định quy hoạch, giao và thu hồi đất (!). Chưa hết, trong phần thu hồi đất, Kế hoạch 58 ghi “Không được đền bù tiền đất và công trình xây dựng đã đầu tư trên diện tích thu hồi”. Điều này có nghĩa, những hộ gia đình được giao đất trước ngày 15/10/1993 ở Vinh Quang sẽ bị thu hồi mà không được bồi thường. Như vậy là trái với quy định của Điều 41, Điều 42 Luật Đất đai.

Về quyết định thu hồi đối với diện tích đất giao cho các hộ (từ 12 đến 15 năm) trước ngày 15/10/1993, trái với quy định tại Điều 67, Luật Đất đai và các văn bản pháp luật, ông Trống cho rằng “tùy từng địa phương, người ta giao cho bao nhiêu, quyết định thời hạn là bao nhiêu, mà không cứ phải 20 năm”.

Chưa kể, theo “quan điểm” mà “Kế hoạch 58” đưa ra thì huyện Tiên Lãng chủ trương sẽ xé nhỏ hàng trăm ha đất mà các hộ gia đình đang được giao sử dụng ổn định để cho đấu thầu theo các lô, có diện tích từ 1-5ha/lô. Nghe qua, tưởng hay, nhưng điều này là vô cùng nguy hiểm. Bởi, diện tích đất trên không giống như nền trụ sở UBND huyện Tiên Lãng, mà là đất bồi ven biển – mới được hình thành hơn 10 năm gần đây, nền đất còn nhiều biến động. Càng phi thực tế hơn khi những nền đất này để hình thành nên những đầm nuôi trồng thủy sản ven biển – vốn cần quy hoạch chắc chắn, có thời gian đầu tư lâu dài ổn định. Điều này còn mâu thuẫn với mong muốn “hình thành một vùng nuôi trồng thủy sản bền vững, hiệu quả theo hướng công nghiệp” như các văn bản mà chính quyền huyện Tiên Lãng dùng để báo cáo với cấp trên và làm cơ sở để quy hoạch phát triển.

Cũng cần nói thêm, thời gian qua UBND huyện Tiên Lãng đã giao hàng trăm ha đất cho Công ty Việt Mỹ và hàng chục ha cho Tổng đội thanh niên xung phong với thời hạn từ 27 đến 40 năm, cùng với mục đích nuôi trồng thủy sản, nhưng vẫn chưa sử dụng có hiệu quả. Trong khi đó, các hộ gia đình như ông Vươn, ông Luân, ông Tin, ông Đọc… không những đã có công trong việc đầu tư, khai khẩn, đang làm ăn ổn định và mong muốn được tiếp tục nhận giao đất để sản xuất theo đúng quy định của pháp luật thì lại bị từ chối theo cái “lý” của UBND huyện Tiên Lãng (?!)

Xin chuyển những vấn đề này tới các cơ quan có thẩm quyền với mong muốn những băn khoăn của người dân sẽ sớm được làm rõ./.

Chí Trung

Nguồn: Vietnam Economic News (VEN)

Nguồn: anhbasam

Advertisements

Posted in Cướp Đất Đai, Cướp đất và chiếm đoạt tài sản của dân, Đảng CSVN | Leave a Comment »

Bộ tài Chánh báo cáo: tổng nợ phải trả của các tập đoàn, tổng công ty là trên 1 triệu tỷ đồng hay 50 tỷ đô la Mỹ!

Posted by hoangtran204 trên 31/01/2012

Lời tựa:

*”Theo báo cáo của Bộ Tài chính, tổng nợ phải trả của các tập đoàn, tổng công ty là trên 1 triệu tỷ đồng, bình quân bằng 1,67 lần vốn chủ sở hữu. Tuy nhiên, có tới 30 tập đoàn, tổng công ty nợ phải trả lớn hơn mức quy định (ba lần vốn điều lệ). Trong đó, có 7 đơn vị nợ trên 10 lần vốn, 9 tổng công ty nợ 5-10 lần vốn và 14 công ty nợ phải trả gấp 3-5 lần vốn. Sự hoang tàng của những đứa “con cưng” này đã khiến cho Chính phủ phải đau đầu để tính chuyện ứng phó.

Chúa ơi! Các tập đoàn và tổng công ty Nợ 1 triệu tỷ đồng = 50 tỷ đô la.

Nợ công là tiền nhà nước đi vay của nước ngoài, tính đến cuối 2010 là 57 tỷ đô la.

=> Vậy, tổng cộng nợ công và nợ của các tập đoàn và tổng công ty = 107 tỷ đô la.

GDP của VN khoảng 90 tỷ.  Mà nợ lên đến 107 tỷ, tức là gần 120% của tổng sản lượng sản suất và dịch vụ của cả nước.

Hai  năm trước, các nguồn tin tài chánh cũng đã nói phong phanh rằng VN mắc nợ khoảng 120 tỷ đô la. Nay thì Bộ Tài Chánh đã tuyên bố công khai.

*******************************

Con dao phải đủ sắc để cắt những cục

cưng lỗi thời

29-1-2012

“Trong quá trình cải cách sẽ có người mất… Nhóm lợi ích đã trở nên rất hùng hậu, mà nay vượt qua không dễ”.

Trong các ý kiến thảo luận về tái cơ cấu, có nhiều chuyên gia kinh tế đề xuất rằng, các doanh nghiệp nhà nước chỉ thật sự cần thiết được duy trì trong những lĩnh vực dịch vụ công ích. Nếu chúng lỗ hoặc vỡ nợ, thì chúng nên được phá sản như các doanh nghiệp khác. Nhà nước không nên có hình thức đảm bảo hoặc trả nợ nào cho chúng

Những “cục cưng” được kỳ vọng

Trên thực trạng nền kinh tế Việt Nam lâu nay, những con số thống kê ngày càng lộ diện vấn nạn “cục cưng”.

Nổi bật là những doanh nghiệp nhà nước (DNNN). Các DN này chiếm tới 70% tổng số vốn đầu tư từ xã hội, 50% vốn đầu tư nhà nước, 60% vốn tín dụng của các ngân hàng thương mại, 70% vốn ODA ở Việt Nam.

Họ được hưởng mọi loại ưu đãi về vốn, cơ chế, một số DN còn được ngồi trên các “mỏ vàng độc quyền”, như kinh doanh xăng dầu, điện… Ở dưới trông lên, kỳ vọng da diết của nhân dân là các “cục cưng” này sẽ đóng vai trò chủ đạo trong nền kinh tế, đem lại phồn vinh cho xã hội.

Mặc dù vậy, hiệu quả đầu tư từ nhóm DN này quá thấp, chỉ đóng góp vào GDP khoảng 38%. Chi phí làm ra cùng một mặt hàng, cùng một  chất lượng cao gấp hai lần so với doanh nghiệp tư nhân (DNTN) không được đầu tư đồng nào từ vốn nhà nước và không có bất cứ ưu đãi gì từ cơ chế chính sách…

Còn theo Bộ trưởng Tài chính Vương Đình Huệ, tỷ suất lợi nhuận trên vốn của DNNN chưa bao giờ qua được 6% trong suốt hơn 10 năm qua. Hiện nay, các “cục cưng” này chiếm tới khoảng 70% “nợ khó đòi” – nghĩa là không đòi được – của các ngân hàng thương mại. Nhiều tập đoàn, công ty độc quyền đã thua lỗ trong nhiều năm.

Nếu là lãnh đạo DNTN, họ sẽ phải cầm cố tài sản, bán tháo nhà cửa, thậm chí phải tự tử để cứu vãn danh dự cho gia đình. Nhưng vì là những “cục cưng”, nên các ông chủ này vẫn ung dung, phớt lờ dư luận, đổ trách nhiệm cho người khác, vẫn tự chia cho mình những khoản thu nhập cao chót vót, và báo lỗ vô tội vạ.

Từ năm 2009 đến nay, nhiều DNNN gây thất thoát. Không chỉ DN không được độc quyền, mà cả những DN quá được ưu đãi về cơ chế kinh doanh, như Tập đoàn Điện lực Việt Nam và Tổng công ty Xăng dầu cũng luôn gánh trên mình những món nợ khổng lồ, nhưng lại đặt ra vô số nghi hoặc về nguồn gốc.

Theo báo cáo của Bộ Tài chính, tổng nợ phải trả của các tập đoàn, tổng công ty là trên 1 triệu tỷ đồng, bình quân bằng 1,67 lần vốn chủ sở hữu. Tuy nhiên, có tới 30 tập đoàn, tổng công ty nợ phải trả lớn hơn mức quy định (ba lần vốn điều lệ). Trong đó, có 7 đơn vị nợ trên 10 lần vốn, 9 tổng công ty nợ 5-10 lần vốn và 14 công ty nợ phải trả gấp 3-5 lần vốn. Sự hoang tàng của những đứa “con cưng” này đã khiến cho Chính phủ phải đau đầu để tính chuyện ứng phó.

Ứng phó, tái cơ cấu, hiệu quả đến đâu chưa biết, nhưng giải pháp đầu tiên mà Bộ Tài chính đưa ra là cho “uống thuốc bổ”. Đương nhiên, dù cách nào, cũng là bằng tiền thắt lưng buộc bụng của dân.

Theo Bộ trưởng Tài chính Vương Đình Huệ, Bộ Tài chính đang xem xét phải dành hơn 50.000 tỷ đồng nhằm tái cấu trúc nợ, cấp thêm vốn điều lệ… cho các DNNN được tái cơ cấu. “Việc sắp xếp lại DN phải có tiền. Tôi báo cáo với Chính phủ phải có bồi bổ trước, rồi mới dùng kháng sinh, chứ con bệnh đang sốt cao mà chữa ngay là không chịu được”. Ông còn cho biết, Tập đoàn Sông Đà sẽ “đi tiên phong” trong tái cơ cấu DN, song chi phí cho họ lên tới 10 triệu USD. Số tiền này vay của Ngân hàng Phát triển châu Á.

Và những “đứa trẻ” không được “uống thuốc bổ”

Có ai nghĩ đến chuyện xoa dịu vết thương và cứu giúp những DN nhỏ và vừa – hầu hết là DNTN, chẳng bao giờ được “uống thuốc bổ” không? Đó là lực lượng làm nên nền kinh tế thị trường thực sự.

Chỉ cần bớt ít chút vô cảm, nghiêng mình xuống gần đất hơn, ta sẽ phải thương khóc cho cái chết của vô số DNTN nhỏ và vừa – những đứa con sinh ra bởi kinh tế thị trường, góp phần thực sự lớn vào tài sản xã hội, giải quyết việc làm cho nhiều công dân. Nhưng họ chẳng bao giờ được uống “thuốc bổ”, mà còn phải chịu đựng nhiều áp lực.

Áp lực chi phí liên tục tăng do lạm phát, do bị cạnh tranh không lành mạnh, thị trường bị thu hẹp…, khiến hệ thống DN, đặc biệt là DNTN, bị ép cả từ nhiều phía và “phần đông hầu như chỉ còn thoi thóp thở”. Khác với những “cục cưng”, những Doanh Nghiệp Tư Nhân hầu hết phải tự vật lộn và xoay xở bằng chính đồng vốn và năng lực của mình.

Theo Tổng cục Thuế, mặc dù 2010 là năm có số DN phá sản tới mức báo động, nhưng vẫn không thể so sánh với tốc độ phá sản của năm 2011. Thống kê chưa đầy đủ, năm 2011, có tới khoảng 49.000 DN giải thể hoặc ngừng kinh doanh, tăng hơn 22% so với cùng kỳ năm ngoái. Riêng Hà Nội đã có tới hơn 3.000 DN phá sản hoặc ngừng hoạt động.

Họ phá sản có thể do năng lực yếu kém, do bị “chết lây” vì khủng hoảng kinh tế, vì lạm phát, vì thiếu may mắn hoặc có thể do những “giật cục” bất thường của chính sách… Khác với những DNNN, DNTN phải trả giá cho sự phá sản bằng chính sinh mạng mình và gia đình mình, mặc dù bản thân họ đã cố gắng hết sức để giảm giá thành sản phẩm và tiết kiệm tối đa mọi chi phí.

Mỗi một DN phá sản ảnh hưởng tới hàng chục, thậm chí hàng trăm, hàng ngàn thành viên của DN. Trong đó, mỗi thành viên này lại ảnh hưởng đến cuộc sống của cả một gia đình. Chưa kể các vụ vỡ nợ, giật hụi, lừa đảo… trị giá hàng chục, hàng trăm tỷ đồng xuất hiện ngày càng nhiều gần đây, khiến cho hàng triệu người phải khốn đốn, mất nhà cửa, tài sản, tha phương cầu thực.

Nếu họ có tài sản thế chấp và chịu chi phí “bôi trơn”, DN ngắc ngoải của họ có thể vay được vốn ngân hàng với tỷ lệ lãi suất thuộc hàng cao nhất thế giới: 18-27%/năm. Chỉ cần một khâu trục trặc của thị trường hoặc chính sách thay đổi, họ không có cách nào tránh khỏi cái chết được báo trước đối với lãi suất ấy.

Với tỷ lệ lạm phát được nhận xét là cao nhất châu Á và đứng thứ nhì thế giới. Với sự phá sản của hàng loạt DN, lại thêm gánh nặng nợ nần từ các DNNN chất lên vai, cùng với nguy cơ nợ xấu và sự đóng băng của thị trường bất động sản, thị trường chứng khoán…,  làm lung lay dữ dội sự an nguy của các ngân hàng trong nước. Cộng thêm ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế toàn cầu, dù đã có nhiều cố gắng, nhưng theo nhiều chuyên gia kinh tế, nền kinh tế nước nhà đang lâm vào thời kỳ khó khăn nhất kể từ 20 năm qua.

Cần một con dao mổ sắc bén

Để khắc phục tình trạng trên, Chính phủ đã nhấn mạnh việc tái cơ cấu mạnh mẽ nền kinh tế.

Cả Hội nghị Trung ương Đảng, Quốc hội và Chính phủ đã khẳng định nhiệm vụ tái cơ cấu với ba trọng tâm là tái cơ cấu đầu tư công, ngân hàng và DNNN.

Thủ tướng Chính phủ đã nêu ra một trong những mục tiêu trọng điểm của các năm tới là “đổi mới mô hình tăng trưởng và cơ cấu lại nền kinh tế theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả sức cạnh tranh”.

Để thực hiện nhiệm vụ này, nhiều ngành, nhiều cấp đã có những hội thảo lớn. Nhưng nếu sửa bằng cách “cho uống thuốc bổ”, thì lại tốn thêm nhiều tỷ USD vào nền kinh tế đang vô cùng khó khăn, nợ nần quốc gia thêm chồng chất. Cho uống thuốc bổ mà không phẫu thuật “khối u phát bệnh”, thì chỉ làm bệnh càng nặng thêm.

Câu hỏi đặt ra là, đối tượng nào sẽ được lợi nhiều nhất sau những chương trình tái cấu trúc DN; và nợ của DN sẽ do ai gánh chịu?

Do đó, vấn đề cấp thiết là phải sửa từ nhận thức chiến lược, từ tư duy chỉ đạo. Theo nhiều chuyên gia kinh tế, mọi sự sửa từ nhiều năm nay cuối cùng cũng chỉ là tạo mọi điều kiện để DNNN được có mọi ưu tiên để “đóng vai trò chủ đạo”. Chúng cũng là nơi vô tình sinh sôi của các nhóm đặc quyền đặc lợi, tham nhũng và bòn rút tài nguyên quốc gia. Điều này đã làm tha hoá một bộ phận đội ngũ cán bộ, công chức và ảnh hưởng đến lòng tin của dân chúng.

Để thực hiện mục tiêu từ cắt giảm đầu tư công, tái cơ cấu, cải cách DNNN đến sắp xếp lại hệ thống ngân hàng…, tất cả đều vấp phải trở lực quyết liệt từ các nhóm lợi ích đầy thế lực tìm cách ngăn cản.

Lực cản đó nằm giữa lợi ích của các bộ, ngành chủ quản, của tầng nấc lãnh đạo DNNN, của các cá nhân có trách nhiệm về sai lầm, thất thoát của DN trong quá khứ. Để tái cấu trúc ngân hàng, liệu đã ai thấy có đủ sức mạnh để triệt tiêu lợi ích của các “quyền lực ẩn” đằng sau các ngân hàng này và các DN mà sự sống chết của họ gắn liền với sự hưng vong của các ngân hàng có chức năng và quyền lợi từ “bơm máu chùa”?

Nếu không khống chế và triệt tiêu được các lực ẩn này, thì quy định được ghi trong văn bản đại hội Đảng: “Các thành phần kinh tế đều bình đẳng, cạnh tranh lành mạnh…” đã bị vô hiệu hóa. Và mục tiêu của Chính phủ đề ra sẽ không thực hiện được.

Ai cũng hiểu rằng, tái cơ cấu là sửa lại cơ cấu hiện có. Nhưng một khi còn chưa rõ ràng về quan điểm, nhất là về vai trò của DNNN trong nền kinh tế, thì đường hướng sẽ bị ách tắc.

Thủ tướng Chính phủ phân định: muốn đổi mới DNNN thành công, khung thể chế đóng vai trò quyết định.

Nhiều chuyên gia cho rằng, việc tiếp tục duy trì một cách duy ý chí các DNNN chỉ làm sai lệch chiến lược phát triển kinh tế của đất nước.

Phó chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ, Phó trưởng ban Chỉ đạo đổi mới DNNN Phạm Viết Muôn nói rằng, khó khăn lớn nhất trong cải cách DNNN là thống nhất tư duy. Ông nói: “Chúng ta nói nhiều mà làm chưa được bao nhiêu. Tôi cho khó khăn lớn nhất là chính sách cần để đổi mới thì làm quá lâu, khi có thì không còn phù hợp với thực tế. Đi bắt con thỏ mà huy động nhân lực cả tháng, ra đến nơi thì nó chạy mất rồi”.

Tiến sĩ Võ Trí Thành, Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương nói: “Cải cách DNNN đến nay tư duy còn đầy tranh cãi”. “Trong quá trình cải cách sẽ có người mất… Nhóm lợi ích đã trở nên rất hùng hậu, mà nay vượt qua không dễ”.

Trong các ý kiến thảo luận về tái cơ cấu, có nhiều chuyên gia kinh tế đề xuất rằng, các DNNN chỉ thật sự cần thiết được duy trì trong những lĩnh vực dịch vụ công ích.

“Nếu chúng lỗ hoặc vỡ nợ, thì chúng nên được phá sản như các DN khác. Nhà nước không nên có hình thức đảm bảo hoặc trả nợ nào cho chúng” (theo báo cáo của Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương).

Đó là những ý kiến hợp lý và đầy trách nhiệm. Chính phủ nên sử dụng “con dao mổ sắc bén” ấy cho một cuộc đại phẫu thuật cắt bỏ khối u và làm lành vết thương cho nền kinh tế.

Võ Thị Hảo

đầu tư chứng khoán

Vietstock.vn

——————————————

Điếu văn đầu năm của thị trường chứng khoán Việt Nam

Chứng khoán: Vùng đáy và sự đổ vỡ cuối cùng

Tác giả: Việt Thắng
Bài đã được xuất bản.: 30/01/2012 06:00 GMT+7

(VEF.VN) – Một năm quyết định sinh tử đang hiện ra trước số phận của TTCK. Có thể hiểu tâm trạng “được ăn cả ngã về không” của thị trường, khi đó đây đã âm thầm những lời cầu nguyện cho một năm mới tốt lành, hoặc dù gì cũng không thể tồi tệ như năm cũ.

Về phần mình, chúng tôi muốn mở đầu năm âm lịch Con Rồng bằng một nhận định lạc quan. Thái độ lạc quan này khác hẳn với tâm thế bi quan trong dự cảm về “linh cảm xấu” của chúng tôi vào đầu năm dương lịch 2012.

Hiển nhiên, đã có những thay đổi nào đó để dẫn dắt từ cách nhìn bi quan sang lạc quan.

Cần nhắc lại, trong suốt năm 2011, hầu hết nhận định và dự báo của chúng tôi đều chuyên chú cho xu hướng thị trường giá xuống. Chỉ có xuống và xuống chứ chẳng là gì khác. Có thể xem đó là cách mô tả một chiều mà đã trở thành phiến diện hoặc cực đoan, thậm chí tiêu biểu cho “thế lực đánh xuống” trong mắt rất nhiều nhà đầu tư, cũng như đã làm cho tuyệt đại đa số người ôm cổ phiếu tuyệt đối không thể hài lòng.

Nhưng biết làm sao được, thị trường vốn là vậy, và dù sự thật chỉ lấp ló một nửa thân mình của nó từ bóng tối, thì đó vẫn là một sự thật nguyên vẹn. Kết thúc năm 2011, chỉ số HNX đã lập đáy thấp nhất trong lịch sử của nó.

Trong bối cảnh trầm luân đến “mạt vận” của TTCK, vào trung tuần tháng 11/2011, chúng tôi đã lần đầu tiên đưa ra một dự báo trung hạn cho thị trường này: chỉ số chứng khoán sẽ trượt theo kiểu Hy Lạp, sớm nhất cũng phải đến giữa năm 2012 mới lập đáy.

Từ thời điểm đó đến nay, có lẽ quan điểm của chúng tôi đã không thể “cực đoan” hơn trong mắt của nhà đầu tư, nếu chịu khó so sánh đồ thị trượt giảm của chỉ số HNX với đường biểu diễn trôi trượt của chỉ số FTSE của TTCK Hy Lạp.

Lẽ ra, mọi việc sẽ có thể diễn biến xấu hơn. Lẽ ra, viễn cảnh OTC hóa của thị trường niêm yết sẽ không quá xa xôi, vì chỉ cần 6 tháng nữa mà không giải quyết được bài toán tự thân tồn tại thì đại đa số các công ty chứng khoán sẽ bị từ chối cơ hội cuối cùng đứng chân trong thị trường này.

Nếu như không phát lộ một vài tín hiệu nhỏ nhoi từ cuối tháng 11, đầu tháng 12/2011…

Lẽ dĩ nhiên, vào thời gian đó đã chẳng có một thông tin nào được công bố. Mà chỉ đã diễn ra một sự đổi thay mang tính “nội bộ” trong những bộ ngành có liên quan gián tiếp, và sau đó là trực tiếp, với TTCK.

Sự phát triển của một giả thuyết thường được xác nhận bằng những định đề. Nối tiếp cho phác thảo ban đầu “Nhà nước không bỏ rơi thị trường nào cả” là sự xuất hiện của một nhân vật tối quan trọng: Ngân hàng nhà nước.

Tất nhiên, sẽ không có chuyện Ủy ban chứng khoán nhà nước được chuyển giao trực thuộc NHNN như một số lời đồn đoán. Cũng sẽ không có chuyện NHNN bơm tiền trực tiếp để cứu chứng khoán như nhiều người vẫn hy vọng.

Thay vào đó, TTCK phải được tái tạo chức năng “huy động vốn”, trước khi hoàn thành sứ mạng “kênh dẫn vốn” của nó.

Không phải vô cớ mà cả thống đốc NHNN Nguyễn Văn Bình, bộ trưởng tài chính Vương Đình Huệ, Phó chủ tịch Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia Lê Xuân Nghĩa đều cùng chung cách nhìn về xu thế của TTCK trong năm 2012.

Cùng với bước ngoặt êm nhẹ từ chính sách, còn những dấu hiệu khác nữa, thuộc về nội tại thị trường, tuy rất kín đáo nhưng vẫn tiếp nối nhau lộ dần ra…

Những tín hiệu và dấu hiệu như thế càng phát lộ rõ hơn từ đầu năm dương lịch, để đến thời gian giáp Tết Nguyên đán, chúng tôi đã có tạm đủ cơ sở để đi đến một kết luận rất quan trọng: TTCK có thể phục hồi trong không bao lâu nữa.

Đó chính là một kết luận đậm đà tính khiên cưỡng, bởi ở Việt Nam chẳng có gì xảy ra một cách tự nhiên.

Cũng bởi, chứng khoán sẽ chẳng có ý nghĩa gì với tư cách tự thân của nó, mà sự tồn tại của nó phải gắn liền với bài toán giải quyết những vấn đề khó khăn và mang tính tổng thể hơn.

Nhưng trước khi được phục hồi, chứng khoán lại thường phải chịu đau lần cuối. Nhát cắt cuối cùng đó cũng có thể làm nhà đầu tư nhỏ lẻ bị tổn thương không kém thua những lần bị “đâm dao sau lưng” trước đây.

Những tán thán mừng vui quá sớm của nhà đầu tư vào trước Tết sẽ có cơ hội chuyển thành lời ta thán than khóc sau Tết – thêm một lần nữa trong vô số lần từ đầu năm 2011 đến nay. Nếu không có gì thay đổi, mục tiêu của những người cầm trịch thị trường là ép HNX xuống dưới mốc 50 điểm. Trong trường hợp “thành công” nhất, HNX sẽ rơi xuống vùng 42-46 điểm.

Nhiều khả năng 42-50 điểm cũng là vùng đáy của thị trường, sẽ được xác lập trong không bao lâu nữa.

Nếu khả năng trên biến thành hiện thực, HNX sẽ mất từ 14 đến 28% so với giá trị hiện nay.

Nhưng hy vọng đó sẽ là mất mát cuối cùng của chu kỳ tuột dốc trong hơn hai năm qua, và là đổ vỡ duy nhất trong sóng xuống của năm 2012.

Nếu hy vọng trên thành hình thành khối thì không chừng chúng tôi sẽ lại trở thành “thế lực đánh lên” trong mắt của không ít nhà đầu tư.

Chỉ có điều, những ai đã vượt qua đợt đại phẫu và lần đổ vỡ cuối cùng của thị trường sẽ chắc chắn được trời đất ban cho cơ hội nhận ra một nửa còn lại của sự thật.

——–

 

Coi thêm về nợ ở đây:

http://khoahocnet.com/2012/02/14/lam-van-be-oda-fdi-n%E1%BB%A3-cong-va-tham-nhung-%E1%BB%9F-vi%E1%BB%87t-nam-ph%E1%BA%A7n-i/

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

Tin mới nhất về Vụ Cưỡng chế đất ở huyện Tiên Lãng

Posted by hoangtran204 trên 31/01/2012

Tin rất nóng: Tiên Lãng đã phát nổ một quả bom sự thật

Nhà văn Nguyễn Quang Vinh

Sau nhiều ngày, với nhiều lý lẽ rất loăng quăng, tiền hậu bất nhất, dối trá, cố đấm ăn xôi của các cấp lãnh đạo Hải Phòng, Tiên Lãng về vụ cưỡng chế đất của gia đình anh Đoàn Văn Vươn; sau nhiều ngày chỉ nghe tiếng nói phản đối một phía từ báo chí, các quan chức, nhân sĩ trí thức, dư luận, các cơ quan nhà nước Trung ương về những sai phạm của chính quyền Hải Phòng, Tiên Lãng trong việc cấp đất, thu hồi và cưỡng chế đất; sau nhiều ngày cảm tưởng như hệ thống cơ quan ban ngành ở Tiên Lãng một lòng một dạ, cố sống cố chết bảo vệ sai trái của lãnh đạo huyện…Hôm nay, chúng tôi có trong tay văn bản báo cáo chính thức của Hội nuôi trồng thủy hải sản huyện Tiên Lãng (một đơn vị trực thuộc sự lãnh đạo của huyện Tiên Lãng) đã phát một văn bản báo cáo, vạch trần toàn bộ sự thật về những sai trái, thậm chí phạm pháp của lãnh đạo của mình, nó có sức mạnh như một quả bom tấn, nó là tiếng nói của một tổ chức có tư cách pháp nhân, đóng dấu đỏ…Những sự thật trong văn bản sẽ làm ngả ngửa giới chức lãnh đạo Tiên Lãng vì nó phanh phui những bí mật động trời…Văn bản ngay lập tức trong chiều nay đã được gửi cho rất nhiều các cơ quan Đảng, Nhà nước, Chính phủ, các Bộ…

Người trong cuộc đã lên tiếng vì sự thật.

Một thông tin rất nóng và cần thiết vào lúc này. Một tài liệu quan trọng cho các đoàn kiểm tra Trung ương. Văn bản như một quả bom sự thật của chính người trong cuộc đã châm ngòi.

Chúng tôi có niềm vui được công bố lần đầu văn bản này

Tặng những cựu chiến binh của Cu Vinh và các bác bài hát VÌ NHÂN DÂN QUÊN MÌNH, nghe bài này trong lúc đọc mới sướng.

b1_0.jpg
b2_0.jpg
b3_0.jpg
b4_0.jpg
b5_0.jpg
b6_0.jpg
b7_0.jpg
b8.jpg
b9.jpg
b10.jpg
b11.jpg

______________________

Các bác yêu dấu.

Lúc này, một lá đơn của người dân Tiên Lãng, một báo cáo của một tổ chức xã hội nghề nghiệp (như báo cáo này), một tiếng nói của một cán bộ, đảng viên ở địa phương…tất cả là đường dẫn cho các cơ quan kiểm tra tìm đến các ngóc ngách, bằng chứng của sự thật. Với công tác điều tra, những thông tin này quý giá như vàng. Ví dụ, sở Tư pháp Hải Phòng đã phát công văn yêu cầu huyện Tiên Lãng thu hồi văn bản trái pháp luật mà huyện không thu hồi, ví dụ một số văn bản của huyện về một số chủ trương không báo cáo Thành phố mà thực hiện lén lút…v..v..Tất cả những điều đó sẽ biến thành sự thật chính thống của các đoàn kiểm tra. Có đường dẫn này, các đoàn kiểm tra sẽ giảm đi rất nhiều thời gian tìm kiếm sự thật. Với Cu Vinh, văn bản này đọc xong, chỉ có cách uống cốc trà, phả khói thuốc và he he he.

Với công việc điều tra sai phạm, đôi khi chỉ là mấy dòng chữ viết rất vội trên võ bao thuốc lá mà phanh phui ra cả một tội tày đình các bác ạ.
Cái giá trị văn bản báo cáo này nằm ở chỗ đó.

Nguồn: danluan.org

*Ban Chấp Hành Liên Chi Hội Nuôi Trồng Thủy Sản Nước Lợ = BCH LCH NTTS NL

Posted in Cướp Đất Đai, Cướp đất và chiếm đoạt tài sản của dân, Đảng CSVN | Leave a Comment »

Phim về Hoàng Sa đến châu Âu

Posted by hoangtran204 trên 31/01/2012

Điều nghịch lý là phim này đảng CSVN không cho chiếu ở Việt Nam! Khi phim nầy chuẩn bị trình chiếu ở Sài Gòn, thì thành ủy và chủ tịch UBND sai công an tới ra lệnh cúp điện và ngăn không cho ông Hồ Cương Quyết chiếu phim cho bạn bè và một nhóm người VN xem. Ông Hồ Cương Quyết giận quá, và ông ta đã viết 1 lá thư hỏi chủ tịch UBND Tp HCM về chuyện tại sao ngăn không cho chiếu phim này ở Sài Gòn. Mời các bạn xem thư này được post1 ở cuối bài này.

Lý do của chuyện này rất dễ hiểu: đảng CSVN và ông Hồ chí Minh đã đồng ý nhường đảo Hoàng Sa và Trường Sa cho Trung Cộng vào năm 1958, đổi lại, Trung Cộng sẽ viện trợ vũ khí cho Miền Bắc đánh Việt Nam Cộng hòa. Nay, nếu VN đòi chủ quyền của Hoàng Sa và Trường Sa thì coi như đảng và nhà nước thất hứa, và Trung Cộng sẽ bạch hóa các tài liệu chi tiết về cuộc đổi chác này. Bức công hàm post ở cuối bài này cũng do chính tay Trung Cộng tung ra mấy năm gần đây để cảnh cáo đảng CSVN và nhà nước CHXHCN VN không được lộn xộn về chuyện chủ quyền quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa nữa, nếu không, Trung Cộng sẽ trưng ra thêm nhiều bằng cớ khác, rất bất lợi cho đảng và nhà nước.

Phim về Hoàng Sa đến châu Âu

Ngày 28.1, trao đổi với PV Thanh Niên, ông André Menras – Hồ Cương Quyết, người có hai quốc tịch Pháp – Việt và là tác giả kịch bản, đạo diễn phim Hoàng Sa Việt Nam: Nỗi đau mất mát, cho biết sẽ thực hiện một chuyến đi các nước châu Âu để giới thiệu bộ phim.

Qua email, ông André nhấn mạnh “sẽ vận động người yêu chuộng hòa bình và công lý đăng ký để trở thành công dân danh dự của Hoàng Sa, nhằm khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa yêu quý”.

Ông André Menras – Hồ Cương Quyết (thứ hai từ trái sang) trong một buổi giới thiệu

văn hóa Việt Nam do Hiệp hội Trao đổi sư phạm Pháp – Việt tổ chức tại Pháp –

Ảnh: do ông André Menras-Hồ Cương Quyết cung cấp

Theo ông André Menras – Hồ Cương Quyết, chuyến đi chiếu phim tại châu Âu này do cộng đồng người Việt tại Pháp, Đức và Cộng hòa Czech hỗ trợ. Tại Pháp, đợt khởi chiếu phim Hoàng Sa Việt Nam: Nỗi đau mất mát, giao lưu với sinh viên và khán giả của ông André Menras – Hồ Cương Quyết sẽ bắt đầu vào ngày 5.2 tại thành phố Lyon, tiếp đến là chiếu phim và giao lưu với ngư dân miền Nam nước Pháp, tiếp tục chiếu phim tại thành phố Toulouse… Ông cho biết sau đó sẽ đưa phim đến chiếu ở Đức, Cộng hòa Czech và một số nước khác ở châu Âu.

Ông André Menras – Hồ Cương Quyết cũng cho biết vừa qua tại cuộc họp mặt đầu xuân tại Pháp do Hiệp hội Trao đổi sư phạm Pháp – Việt (ADEP) tổ chức, với sự tham dự của 150 thành viên, nhiều người đã tích cực hưởng ứng chương trình chiếu phim xuyên châu Âu của ông và lên tiếng tích cực ủng hộ sự đấu tranh giành lại chủ quyền quần đảo Hoàng Sa của Nhà nước và nhân dân Việt Nam.

Được biết, ngày 28.6.2011, bộ phim Hoàng Sa Việt Nam: Nỗi đau mất mát đã được chiếu tại Paris cho cộng đồng những người bạn Pháp ủng hộ Việt Nam và kiều bào xem trong buổi tọa đàm Thách thức địa chiến lược ở Đông Nam Á và những tranh chấp ở biển Đông. Bộ phim đã nhận được sự đồng cảm sâu sắc của khán giả đối với cuộc sống gian khổ, nỗi đau cùng cực của ngư dân khi đánh bắt ở vùng biển Hoàng Sa. Sau đó, ngày 19.1 vừa qua, bộ phim lại một lần nữa được chiếu tại Paris, do Hội Hữu nghị Pháp – Việt (AAFV) phối hợp Trung tâm thông tin về Việt Nam tổ chức cho cộng đồng người Việt ở Pháp xem. Sau khi xem phim, AAFV và Tổ chức Secours Populaire Francais (tổ chức ủng hộ Việt Nam trong chiến tranh và hòa bình) đã bày tỏ ý định giúp đỡ các ngư dân Việt Nam.

T.T.Bình

——————

Thư của ông Hồ Cương Quyết André Menras gửi Chủ tịch TPHCM

2-12-2011

Ông André Menras phỏng vấn vợ một ngư dân mất tích, trước ngôi mộ gió ở Bình Châu (Quảng Ngãi) – Ảnh: Lê Hưng-TN

Kính gửi: Chủ Tịch UBND TP Hồ Chí Minh, Ông Lê Hoàng Quân và các ủy viên Ủy ban nhân Dân TP HCM

Thưa ông Lê Hoàng Quân và các bạn,

Chắc quý vị đã biết về sự cố nghiêm trọng mới xảy ra vào chiều và tối ngày 29 tháng 11 năm 2011 tại khu du lịch Văn Thánh của TP HCM.

Cụ thể là: lực lượng An ninh của Thành Phố, quận và phường, khoảng gần hai mươi người mặc thường phục đã ra lệnh cấm, ngăn chặn một cách bất ngờ và thô bạo buổi chiếu phim tài liệu « Hoàng Sa Việt Nam: nỗi đau mất mát » của tôi tại Khu Du lịch Văn Thánh.

Hành vi mang tính uy hiếp tinh thần những người bạn của tôi đến xem phim bằng việc quay phim, chụp ảnh và ghi âm. Cho đến bây giờ, tôi vẫn còn bị sốc và rất phẫn nộ về hành động này !

Với tư cách là công dân Việt Nam, tôi khẳng định rằng những hành động đó là vi phạm các điều 69 và 77 của Hiến Pháp nước Việt Nam Xã hội Chủ Nghĩa.

Đặc biệt những điều về tự do ngôn luận, báo chí, quyền được thông tin của mỗi công dân.

Hành động ấy hoàn toàn đi ngược lại tuyên bố của Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng trước quốc hội khi Ông khẳng định: « Chủ trương nhất quán của Đảng, Nhà Nước ta và Chính Phủ là luôn luôn trân trọng, biểu dương, khen thưởng xứng đáng đối với các hoạt động, đối với tất cả những việc làm của tất cả mọi người dân của chúng ta thật sự vì mục tiêu yêu nước, thật sự vì mục tiêu bảo vệ chủ quyền quốc gia. »

Như các bạn đã biết, phim tài liệu của tôi chủ yếu là tiếng nói của các đồng bào ngư dân Bình Châu và Lý Sơn đã và đang gặp khó khăn ngày càng lớn, thậm chí nguy hiểm cả tính mạng khi họ ra khơi đánh bắt cá tại ngư trường truyền thống Hoàng Sa thuộc về chủ quyền Việt Nam.

Tôi cho rằng, chính họ nằm ở tiền tuyến để khẳng định chủ quyền.

Vậy, tại sao những người làm công tác bảo vệ sự an toàn cho dân lại dám bịt miệng họ bằng cách cấm chiếu bộ phim của tôi?

Làm sao chúng ta « quốc tế hóa » vấn đế về Biển Đông để được thế giới ủng hộ bằng hành động phi nghĩa như vậy?

Làm sao các công dân Việt Nam yêu nước vẫn còn bị coi thường như thế?

Nhiều người cho rằng tôi quá ngây thơ và quá tin vào tính bất nhất của chính sách. Chủ trương Chính phủ đúng nhưng các cấp bên dưới lại thực thi theo ý của mình.

Tôi không tin nhưng hôm nay, sau khi có những tuyên bố dứt khoát và bản lĩnh của Thủ tướng tại kỳ họp Quốc hội, TP.HCM lại để xảy ra tình trạng này, thì tôi tin.

Và đây là sự xúc phạm không chỉ đối với một công dân bình thường như tôi mà là xúc phạm và coi thường vị đứng đầu Chính phủ, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng.

Phim của tôi, cả về nội dung và bình luận chưa thể hiện cụ thể điều mà Thủ tướng mới tuyên bố là sẽ « đòi lại Hoàng Sa từ Trung Quốc bằng biện pháp hòa bình».

Phim chỉ giới thiệu về hoàn cảnh địa lý, lịch sử, văn hóa, kinh tế của cộng đồng ngư dân tại vùng đó để dư luận hiểu biết, thông cảm thậm chí chia sẻ với họ.

Bộ phim hoàn toàn nhân văn, hoàn toàn khách quan, tuyệt đối loại trừ bất cứ những lời phát biểu chính trị nào.

Chính vì đó, Bộ ngọai Giao đã cho phép quay và mang ra nước ngoài. Chính vì đó, Ông Nguyễn Minh Triết, lúc đó còn là Chủ Tịch nước, đã tạo điều kiện cho tôi được quay phim ấy. Chính vì đó, ông giám đốc hãng phim TFS của TP HCM đã giúp đỡ tôi thực hiện phim tài liệu rất quý ấy như chưa từng được thực hiện tại Việt Nam.

Như các bạn đều biết, tôi đã giới thiệu phim này tại Paris rồi. Ông Đại sứ Việt Nam tại Pháp đã hứa với tôi là ông sẽ giúp tôi giới thiệu phim tại nhà văn Hóa Việt Nam tại Paris vào tháng Giêng năm 2012 sắp tới.

Tôi có một chương trình để chiếu phim này tại các thành phố lớn như Lyon, Bordeaux, Marseille, Toulouse, Montpellier…

Điều đó, các lãnh đạo Việt Nam đều công khai hoan nghênh.

Tại sao các công dân Pháp có quyền biết các vấn đề ấy trong khi các công dân Việt Nam, những người trong cuộc, lại không? Tôi thấy điều đó hoàn toàn vô lý.

Hơn nữa, các bạn đều biết rằng, ngoài mục đích giúp đỡ dư luận ý thức về vấn đề chủ quyền tại Biển Đông trong khi tuyên truyền của Trung Quốc mạnh lên và tràn lan trên các phương tiện thông tin quốc tế, bộ phim này còn nhằm lập một quỹ hỗ trợ các ngư dân đã mất tài sản do thiên tai và nhân tai tại vùng biển đảo Hoàng Sa, mà họ đang đối diện với nhiều món nợ khổng lồ. Quỹ ấy chủ yếu để giúp đỡ các vợ góa, các cháu mồ côi cha tại Bình Châu và Lý Sơn.

Như vậy việc lực lượng An ninh TP. HCM (tôi không biết chính xác là ai vì không ai đứng ra tự chịu trách nhiệm và giới thiệu rõ ràng để làm việc với tôi khi tôi yêu cầu) ngăn cấm chiếu phim này hoàn toàn ngược lại hướng cư xử của Đảng, Nhà nước và Chính phủ Việt Nam.

Công an hay cơ quan an ninh TP.HCM đã vi phạm Hiến pháp Việt Nam một cách nghiêm trọng, không cho chiếu phim, đồng nghĩa không cho đồng bào ngư dân Miền Trung nói, ngăn chận sự hỗ trợ đa phương mà họ đang rất cần.

Hành động là phương hại cho Việt Nam, không tôn trọng Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, làm hại đồng bào ngư dân và có nguy cơ ảnh hưởng xấu uy tín của Đảng và Chính Phủ đối với nhân dân trong nước và ở nước ngoài.

Xin cho tôi hỏi thẳng các bạn: các lực lượng an ninh đã ngăn cản chúng tôi chiếu phim đang phục vụ cho ai? Ai đã ra lệnh cho họ hành động tồi tệ như vậy?

Họ đã đối xử với tôi và các bạn bè của tôi như là kẻ thù. Trong khi chúng tôi đang cố gắng bỏ tiền từ túi của mình, dành thời gian để tổ chức buổi chiếu phim tốt đẹp cho những người bạn tốt trong một không khí rất hợp pháp, hòa bình, văn hóa, hết sức xây dựng và đầy trách nhiệm. Ai đã cho phép họ phá không khí này, phá hoại những gì tôi và các bạn tôi đang làm chỉ vì mục đích chính là yêu nước và bảo vệ tổ quốc.

Chính họ đã tạo một không khí rất căng thẳng, mất đoàn kết. Họ đe dọa phó giám đốc Khu du lịch Văn Thánh là sẽ đóng cửa khu du lịch và cách chức ông ta nếu ông ta không đuổi chúng tôi (!?). Trong khi họ rất biết việc ấy nằm ngoài khả năng của ông ta. Họ không chịu gặp tôi để trao đổi bình tĩnh về bộ phim, nội dụng của nó, các giấy phép chính thức… Họ không thèm trả lời khi tôi yêu cầu văn bản chính thức từ cấp trên để biện minh sự can thiệp của họ…

Thưa ông Lê Hoàng Quân, Chủ Tịch UBND TP HCM, thưa các bạn, chúng ta biết nhau từ lâu rồi. Có ai dám nói với tôi rằng tôi là một kẻ phản động? Có ai dám nói với tôi rằng tôi không yêu nước Việt Nam?

Các bạn biết rõ tôi là ai, biết sự gắn bó thiêng liêng của tôi với dân tộc và đất nước này. Tôi đã không bao giờ phản bội một chút các giá trị mình đã phải hy sinh để nước Việt Nam được giải phóng, thống nhất và phát triển hiện nay trong hòa bình và độc lập.

Hôm nay, tôi nói rất rõ với các bạn: không có một thế lực nào có thể cấm được tôi hỗ trợ giúp đỡ đồng bào ngư dân Miền Trung, không có một thế lực nào có thể bịt miệng tôi về tình trạng bi thương, bất công, đau khổ họ phải chịu hàng ngày. Đó là một điều mà tôi có thể bảo đảm với các bạn.

Tôi vẫn còn hy vọng Ông Chủ tịch UBND TP Hồ Chí Minh và các bạn sẽ xử lý sự cố vừa qua một cách khách quan và tỉnh táo, cân nhắc đúng những hậu quả của sự mất đoàn kết giữa chúng ta, giữa các bạn bè ủng hộ Việt Nam trên trường ngoại giao nhân dân quốc tế, không nên đặt chúng tôi phải đối mặt với những thách thức mới.

Trong tinh thần ấy, tôi xin các bạn vui lòng xét lại vụ việc vừa qua và nên tạo điều kiện tốt để bộ phim được chiếu tại TP HCM một cách công khai, lành mạnh, trong một không khí văn hóa, nhân văn và hòa bình. Tôi cũng yêu cầu các bạn cho phép chính thức để tôi có thể giới thiệu phim này tại IDECAF trước cộng đồng người Pháp tại TP HCM. Để họ có thể đánh giá đến mức nào về mặt nhân đạo mình phải hỗ trợ các ngư dân Miền Trung.

Trân trọng cảm ơn Ông Chủ Tịch thành phố và các bạn.

Hồ Cương Quyết, André Menras, (Đạo diễn phim « Hoàng Sa Việt Nam : nỗi đau mất mát » và Chủ tịch Hội ADEP Pháp-Việt).

TP HCM Ngày 2 Tháng 12 năm 2011

Theo ABS

Bức Công hàm ngày 14-9-1958 của Chính phủ nước Việt Nam Dân Chủ Cộng hòa do Thủ tướng Phạm Văn Đồng ký

Posted in Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa, Đảng CSVN | Leave a Comment »

Sau khi Phi Luật Tân mời gọi và chấp thuận cho nhiều quân đội Mỹ đóng quân trên đất Phi, Trung Quốc sợ hải, dịu giọng và kêu gọi các nổ lực cho Hòa Bình và ổn định trong miền nầy

Posted by hoangtran204 trên 30/01/2012

Hóa ra:  Trung Quốc chỉ làm con ngáo ộp và dọa được đảng csvn! Mới đây, Trung Quốc hùng hổ hăm dọa Phi Luật Tân, nhưng chính phủ Phi Luật Tân không phải là loại ươn hèn. Đó là một chính phủ do dân bầu lên. Bài báo dưới đây cho thấy chính phủ Phi Luật Tân đá một cú vào mặt chính quyền Trung Quốc rất đau. Chính phủ Miến Điện cũng không thuộc loại hèn nhát, họ ra lệnh ngừng thi công xây dựng đập thủy điện vào cuối năm 2011. Đập này do Trung Quốc thầu và thiết kế từ 2009. Trung Quốc từ lâu cũng đã không dám hó hé với Bắc Triều Tiên. Chắc các bạn đọc biết rõ: Trung Quốc có chung đường biên giới vài ngàn km với Miến Điện và Bắc Triều Tiên.

 

Trung Quốc kêu gọi (các nước) hãy bình tỉnh sau khi Phi Luật Tân mời Mỹ đến đóng quân trên đất Phi

Tin AFP

Manila hôm thứ Sáu ngày 27 tháng Một nói là họ có kế hoạch thao diễn quân sự hỗn hợp với Hoa Kỳ nhiều hơn nữa và cho phép quân đội Hoa Kỳ đóng luân chuyển ở Phi Luật Tân – một đề nghị được Hoa Kỳ hoan nghênh trong lúc Hoa Thạnh Đốn đang tìm cách gia tăng sức mạnh quân sự của mình ở châu Á.

“Chúng tôi hy vọng những bên liên quan sẽ có thêm nỗ lực hướng về hoà bình và ổn định trong vùng,” bộ Ngoại giao Trung Quốc nói qua một bản thông cáo ngắn đã được gởi cho hãng thông tấn AFP.

Phản ứng của nhà nước Trung Quốc khác hoàn toàn với một bài xã luận sắc bén đi trên tờ Thời báo Hoàn cầu – được xem như là tiếng nói cho quan điểm quốc gia của Trung Quốc – qua đó, bài xã luận cho rằng Bắc Kinh nên áp dụng sự cấm vận đối với Phi Luật Tân qua chuyện trên.

Trung Quốc nên sử dụng “cái đòn bẩy của mình để ngưng những hoạt động kinh tế giữa Phi Luật Tân và các nước Đông Nam Á châu khác và nên cân nhắc việc giảm lại những quan hệ kinh tế với nước láng giềng nhỏ của mình,” theo bài xã luận đi trên tờ Thời báo Toàn cầu bằng cả hai ngôn ngữ Anh văn và Hoa văn.

“Trung Quốc nên bày tỏ cho các nước lân bang thấy là cân bằng với Trung Quốc bằng cách theo Hoa Kỳ không là một sự chọn lựa tốt đẹp,” theo bài xã luận.

“Cấm vận có tính toán dành cho Phi Luật Tân sẽ làm cho Phi Luật Tân cân nhắc sự chọn lựa giữa việc mất đi một người bạn như Trung Quốc và là một đối tác hão huyền, phù phiếm với Hoa Kỳ.”

Trung Quốc và Phi Luật Tân, cùng với Việt Nam có tranh chấp chủ quyền ở vùng Biển Nam Hải, là nơi có những tuyến đường giao thương trên biển quan trọng nhất trên thế giới và người ta tin là có chứa nhiều dầu khí trong lòng biển ở khu vực này.

Đài Loan, Brunei và Mã Lai Á cũng cho mình có chủ quyền trong vùng biển Nam Hải.

Manila và Hà Nội đã liên tục than phiền trong năm rồi, theo những gì họ nói là hành động ngày càng hung hăng của Trung Quốc, chẳng hạn như việc tàu hải quân của Trung Quốc bắn cảnh cáo ngư phủ Phi Luật Tân, làm tăng sự sợ hãi cho các nước trong vùng đối với Trung Quốc khi sức mạnh quân sự và chính trị của Trung Quốc đang gia tăng.

Hoa Kỳ đã và đang tìm kiếm cách để gia tăng sự hiện diện quân sự trong vùng Á châu Thái Bình Dương qua một sự thay đổi chiến lược làm Bắc Kinh giận dữ.

Tổng thống Hoa Kỳ ông Barack Obama nói hôm tháng Mười Một năm rồi là Hoa Kỳ sẽ điều 2.500 lính Thủy quân Lục chiến qua đóng ở vùng bắc Úc Đại Lợi (Australia). Tháng sau đó, một đô đốc Hoa Kỳ viết trong một bài viết của ông là Hoa Kỳ hy vọng sẽ cho nhiều chiến hạm của hải quân Hoa Kỳ nằm ở Singapore.

© DCVOnline


Nguồn:

(1) China calls for calm after Philippine offer to US. AFP, 29 January 2012

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

►Các cô gái người Ukraine cởi trần, biểu tình ở Diễn Đàn Kinh tế Thế giới đang họp ở Thụy Sĩ

Posted by hoangtran204 trên 29/01/2012

người dịch: Trần Hoàng

Trong khi diễn đàn Kinh tế Thế Giới đang họp ở Davos, Thụy Sĩ, vào ngày 28-1-2012, thì các cô gái người Ukraine đã leo qua hàng rào, cởi áo ra, và biểu tình phản đối các nhà lãnh đạo chính trị và kinh tế của các nước đang họp bên trong.

Họ biểu tình kêu gọi các nhân vật quan trọng này hãy chú ý đến các nhu cầu của người nghèo trên khắp thế giới.

Các cô gái trẻ hoạt động xã hội thuộc nhóm Femen, nhóm này đang trở thành được yêu chuộng ở Ukraine; họ  thường họp thành những nhóm nhỏ, cởi trần, biểu tình phản đối chống lại các chính quyền đàn áp các nhà đối lập chính trị. Họ cũng tổ chức các cuộc biểu tình trong các quốc gia khác.

Các biểu ngữ cầm tay của họ:

_Các cuộc khủng hoảng được thực hiện ở Davos

_Nghèo vì Chúng mày (dân chúng nghèo đi vì hành động của chúng mày)

_Các băng đảng trộm cướp đang họp mặt ở Davos

(Femen là nhóm phụ nữ thuộc các trường đại học ở Ukraine, thành lập năm 2008. Hiện nay nhóm này có 300 người và hàng ngàn thành viên hổ trợ.]

Activists from the Ukrainian female rights organisation “Femen”
Image by: GLEB GARANICH

Activists from the Ukrainian female rights organisation “Femen”.
Image by:GLEB GARANICH

Activists from the Ukrainian female rights organization “Femen”.
Image by: GLEB GARANICH
                                    ———————————-

Chú ý: Các bạn có thể xem phim qua màn ảnh rộng (lớn hơn) bằng cách nhấp chuột (click) vào 4 mũi tên, nằm bên trái của chữ  Vimeo. Sau khi coi xong phim, bạn gõ vào nút ESC, nằm trên cao, bên trái bàn phím (keyboard.) để quay trở lại blog này.

****************************************

Nhớ lại cuối năm 2008, khi TT Obama vừa mới đắc cử vào tháng ngày 4-11-2008, giáo sư đại học Aaron Friedberg viết bài “Châu Á Đứng Dậy” *** đăng trên Tạp Chí Đối Ngoại số tháng 1 và 2 năm 2009 (tạp chí tới tay bạn đọc vào đầu tháng 12-2008). Trong bài này, tác giả khuyến cáo TT Obama nên làm những gì ở Châu Á để bảo vệ quyền lợi của Hoa Kỳ và các nước đồng minh trước thảm họa của Trung Quốc…năm 2011, TT Obama và bà Ngoại Trưởng Clinton đã thực hiện đúng hầu như 100% những điểm mà giáo sư Aaron Friedberg đã viết trong bài này.

Trái lại, ở VN, khi các học giả trong nước và ngoài nước đề nghị đảng CSVN nên thi hành chính sách gì có lợi cho Việt Nam, thì đảng và nhà nước cho các ý kiến ấy vào thùng rác. Lúc đầu, mọi người không hiểu nên cứ tưởng là đảng muốn tiếp tục lãnh đạo vì muốn kể công. Nhưng về sau, các bloggers và nhà báo khui ra những vụ làm ăn của đảng viên cao cấp thì mọi người đã hiểu.

Thì ra, nguồn lợi của 30 tỷ đô la tiền khai thác mỏ dầu và khí đốt mà PetroVietnam bán ra hàng năm,** cọng thêm với hàng trăm triệu tấn than xuất cảng qua Trung Quốc, và việc khai thác hàng chục triệu mét khối gỗ quý trong các khu rừng ở cao nguyên trung phần ở Việt Nam (đã được quân đội nhân dân VN bảo kê) để bán cho Thái Lan và Âu Châu, và quyền lợi khai thác  các sòng bài dọc theo biên giới Kampuchea được VN bảo kê, hàng chục ngàn bất động sản từ thành thị đến các khu vực du lịch ven biển, các đảng viên cao cấp nhất còn nắm độc quyền viễn thông, cung ứng điện thoại di động, điện thoại quốc tế, các đường dây chuyển tiền 9 tỷ đô la hàng năm do các Việt kiều gởi về VN…đã được các cán bộ cao cấp nhất trong Ủy ban Trung Ương Đảng và Bộ chính Trị cùng quân đội làm chủ và chia nhau hưởng trong suốt hơn 20 năm nay. Vì thế mà sẽ không bao giờ có chuyện đảng nghe lời các học giả trong nước và ngoài nước để thay đổi chính sách, cải thiện dân chủ, tự do ngôn luận, tự do báo chí,  tự do bầu cử,…quyền lợi mà đảng viên cao cấp đang thụ hưởng quá nhiều và quá lớn nên không thể nào có chuyện từ bỏ được. Quyền lợi ấy nay đang được sang tay lại cho thế hệ con cái như:

Nguyễn Thanh Nghị (“được bổ nhiệm giữ chức thứ trưởng Bộ Xây dựng ngày 11 tháng 11 năm 2011, người được bầu làm Ủy viên Dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương tại Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam XI. [6])

-Nguyễn Xuân Anh (“Tại Đại hội Đảng lần thứ XI, ông Nguyễn văn Chi thôi không tham gia Ban Chấp hành Trung ương. Tuy vậy, Đại hội đã bầu con trai lớn của ông là Nguyễn Xuân Anh, Phó chủ tịch UBND TP Đà Nẵng làm Ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương.”)

Nguyễn Chí Vịnh  

-Và các “đầy tớ” của dân, cấp nhỏ hơn:   Tài sản và Sự Ăn chơi Sa đọa của các đầy tớ dân Việt

** “Thay mặt lãnh đạo PVN, Tổng giám đốc Đỗ Văn Hậu đọc bản báo cáo tình hình sản xuất kinh doanh năm 2011 và nhiệm vụ năm 2012. Năm qua, PVN đã hoàn thành toàn diện và vượt mức tất cả các chỉ tiêu kế hoạch đề ra và có mức tăng trưởng cao so với cùng kỳ năm 2010. Tổng doanh thu đạt 675,3 nghìn tỉ đồng, tăng 41,2% so với năm 2010. Nộp NSNN đạt 160,8 nghìn tỉ đồng, tăng 25% so với năm 2010.”

***Châu Á Đứng Dậy

và post ở đây: anhbasam

và ở đây: danluan

Posted in Biểu Tình và Lập Hội | 2 Comments »

Nixon và Hòa bình trong Danh dự

Posted by hoangtran204 trên 28/01/2012

Các bài liên quan tới bài nầy:

Chăn Gối với Kẻ Thù -Bộ trưởng Hải Quân James Webbs

Tác giả: Trọng Đạt

TT Richard Nixon

Nhậm chức đầu năm 1969, Nixon bắt đầu cho rút quân tháng 7- 1969 và thương thuyết với Cộng sản Bắc Việt để tìm hòa bình danh dự cho Hoa Kỳ như đã hứa khi tranh cử. Hòa đàm Paris bắt đầu từ ngày 10-5-1968 dưới thời Tổng thống Johnson nhưng thực sự bắt đầu đàm phán dưới nhiệm kỳ Tổng thống Nixon.

Sơ Lược về Hòa Đàm Paris

Từ 1968 cho tới giũa 1972 nói chung cuộc đàm phán không có dấu hiệu tiến bộ, phía CSBV lợi dụng hòa đàm để tuyên truyền chống Mỹ, họ dai dẳng lì lợm, ngoan cố. Phái đoàn BV đòi hai điều kiên tiên quyết Hoa Kỳ phải rút quân khỏi miền Nam VN vô điều kiện và lật đổ chính phủ Nguyễn Văn Thiệu thay bằng chính phủ ba thành phần. Nixon đã thực hiện rút quân tháng 7-1969 theo đề nghị của bộ trưởng quốc phòng Laird vì người dân không còn ủng hộ cuộc chiến tranh Việt Nam và thay thế bằng Việt Nam hóa chiền tranh.

Suốt 4 năm đàm phán, BV vẫn khăng khăng đòi phải loại bỏ chính phủ Thiệu, nhưng Nixon và Kissinger nhất quyết bác bỏ yếu sách của BV mặc dù hành pháp Mỹ đang yếu thế.

Theo Nixon (trong No more Vietnams trang 127) CSBV đã thừa cơ nước đục thả câu lợi dụng phong trào phản chiến và áp lực của Quốc hội để lì ra không chịu ký kết khiến hòa đàm kéo dài như vô tận.

Tháng 10-1972 một khúc quành lớn trong cuộc đàm phán diễn ra khi BV thay đổi lập trường, nhượng bộ một số điều khoản chính như không đòi TT Thiệu phải từ chức, không đề cập tới chính phủ ba thành phần. Sở dĩ họ nhượng bộ vì biết Nixon sẽ thắng cử tháng 11-1972, theo thăm dò, ông vượt xa McGovern vì sự can dự của Mỹ vào cuộc chiến Việt Nam đã giảm, BV sợ: nếu Nixon đắc cử ông sẽ không nhượng bộ, cuộc đàm phán sẽ bất lợi cho họ. Ngày 9 tháng 10 buổi họp định mệnh, BV đã nhượng bộ một số điều khoản như trên.

Kissinger mừng rỡ nói đây là ngày hồi hộp nhât trong cuộc đời chính trị ngoại giao của ông, cái ngày mà ông trông đợi sau bốn năm hòa đàm mệt mỏi dậm chân tại chỗ nay đã tới.

Phiên họp ngày 11-8 dài nhất, 16 giờ, nội dung gồm những điểm chính mà hai bên ký kết sau này vào cuối tháng 1-1973. Ngày 12-8 Kissinger rời Paris về Mỹ báo cho Nixon biết, ông nói “Tổng thống đã thắng được 3 trên 3, (You’ve got 3 for 3) ý nói vấn đề Trung Cộng, Nga Sô, Việt Nam nay đã được giải quyết xong (Larry Berman, No Peace No Honor trang 159).

Mới đầu Nixon chưa tin là thật, Kissinger tức mình bèn mở cặp lấy hồ sơ mật ra và nói đã đòi được nhiều điều hơn mong đợi: Thiệu vẫn làm Tổng thống, ngưng bắn tại chỗ ngày 30 hay 31-8, Mỹ sẽ rút quân trong 60 ngày, trà tù binh…Nixon vô cùng phấn khởi bèn sai mở chai rượu Lafite-Rothschild 1957 cùng các phụ tá nhậu ăn mừng kết quả hòa đàm.

Ngày 18-10-1972, Kissinger bay đến Sài gòn để thuyết trình với TT Thiệu về Sơ thảo Hiệp Định, hôm sau họp với Thiệu, nhưng bị chống đối dữ dội, ông Thiệu cho là Mỹ phản bội đồng minh.

Buổi họp dự trù hôm sau bị hủy bỏ, Kisiinger tức giận bảo: Tôi là đặc phái viên Tổng thống Mỹ các ông không thể coi tôi như trẻ con được !

TT Thiệu nghe lời khuyên của bí thư Hoàng đức Nhã không tiếp Kissinger, nhưng ông ta năn nỉ xin họp tiếp, ông ta bảo TT Thiệu cứ ký đi không sao đâu, TT Nixon sẽ trừng trị BV nếu họ vi phạm ngưng bắn, nhưng ông Thiệu vẫn từ chối.

Kissinger tức giận nói: Chúng tôi đã chiến đấu 4 năm, dồn hết nỗ lực ngoại giao để bảo vệ cho một quốc gia. Sau mấy ngày ở Sài Gòn, Kissinger về Mỹ thất vọng hoàn toàn. Nixon gửi thư trấn an Thiệu, hứa bảo vệ đồng minh đến cùng.

Ngày 7-11-1972 Richard Nixon thắng cử McGovern trên 49 của 50 tiểu bang Mỹ, sở dĩ ông thắng lợi vẻ vang vì đã kiểm soát được những vấn đề cực kỳ xấu tệ kể cả Việt nam; tuy hòa bình chưa hẳn trong tay, nhưng ông đã đưa được gần hết quân Mỹ tại miền Nam Việt Nam về nước. (bên cạnh đó) Nixon đã đạt được hai thành tích vô cùng lớn lao : bang giao với Trung Cộng tháng 2-1972 và hòa hoãn với Nga Sô tháng 5-1972.

Ông Thiệu đưa ra 69 điểm cần sửa đổi và đã được Kissinger đưa ra phiên họp với Lê Đức Thọ, hòa đàm tan vỡ, Thọ phản đối Kissinger cho là đã đánh lừa họ. Tháng 11 hòa đàm trở ngại vì VNCH đòi sửa nhiều khoản, Mỹ chỉ trích miền Nam VN gây trở ngại hòa đàm. TT Nixon khuyên TT Thiệu nên chấp thuận sơ thảo vì sợ Quốc hội ra luật chấm dứt chiến tranh, cắt hết viện trợ cho miền Nam , hạ tuần tháng 11 Nixon muốn tỏ ra cứng rắn với cả hai miền.

Trong thời gian này, TT Nixon đã được các trưởng khối Tại Thượng và Hạ viện cảnh cáo cho biết nếu VNCH gây trở ngại hòa đàm thì Quốc hội sẽ ra luật rút quân để đổi lấy tù binh, cắt hoàn toàn viện trợ , đưa ra hạ viện với tỷ lệ 2-1, nếu không có viện trợ Sài Gòn sẽ chết ngay.

Đó là lời nhắn của Quốc hội Mỹ dành cho TT Thiệu, họ muốn nói gần như công khai sẵn sàng đánh đổi Đông Dương lấy 580 tù binh Mỹ còn bị BV giam giữ, đối với họ chỉ có sinh mạng của tù binh Mỹ mới là quan trọng, sinh mạng của cả Đông Dương không nghĩa lý gì.

Về điểm này, trong No More Vietnams trang 142, Nixon cũng nói như vậy, nhưng ông Thiệu vẫn không tin cho là họ chỉ hù dọa chứ không dám bỏ Đông dương, cho tới tháng 3-1975 ông vẫn không tin Mỹ bỏ miền nam VN và đã tháu cáy giả vờ thua chạy, cho rút khỏi Pleiku giữa tháng 3-1975 để dụ cho Mỹ trở lại, hậu quả đưa tới sụp đổ VNCH thật nhanh chóng.

TT Nixon luôn khuyên TT Thiệu nên thức thời chấp nhận hòa đàm, không ai hết lòng với đồng minh VNCH bằng ông, Kissinger có lần nói với người phụ tá “Ông nói cho ông Thiệu biết nay chỉ có tôi và Tổng Thống là bạn ông ấy” (sách đã dẫn, trang 146), thật vậy số người ủng hộ Hành pháp cũng như TT Thiệu tại Quốc hội nay đã từ bỏ hết, diều hâu đã đổi lông cánh biến thành bồ câu, người ta quá chán chiến tranh Đông Dương.

Ngày 13-12-72 hòa đàm tan vỡ, BV bỏ hội nghị không họp hy vọng Quốc hội Mỹ sẽ nhóm họp trong đầu tháng 1-73 ra luật chấm dứt chiến tranh. Nixon và Kissinger dùng biện pháp mạnh, cuộc oanh tạc bằng B-52 trong mười ngày từ 18-12 tới cuối tháng 12 đã lôi cổ BV trở lại bàn hội nghị. Ngày 2 -1-1973, đảng Dân chủ hạ viện bầu cử nội bộ bỏ phiếu cắt hết viện trợ Đông Dương để đổi tù binh và rút hết quân về nước, ngày 4-1 Ủy ban bầu cử thượng viện đảng Dân chủ bầu nội bộ thông qua đạo luật hạ viện với tỷ lệ 30-12, trên thực tế Quốc hội đang tiến hành luật chấm dứt chiến tranh (sách đã dẫn trang 221).

Mặc dù đã được TT Nixon hứa hẹn nhiều lần sẽ trừng trị BV bằng B-52 nếu họ vi phạm Hiệp định, nhưng ông Thiệu vẫn cứng rắn không chịu ký kết đòi BV phải rút hết về Bắc, theo Nixon vấn đề BV còn đóng quân ở miến Nam 120 ngàn người không quan trọng, người Mỹ coi Hiệp định chỉ là một mảnh giấy, mực trên Hiệp định không quan trọng bằng sắt thép và bom đạn của máy bay chiến lược B-52 ( No Peace No Honor, p. 197). Sự cứng rắn của ông Thiệu nay đã lỗi thời, số người không ủng hộ chiến tranh VN chiếm hầu hết Quốc hội và số ủng hộ đếm trên đấu ngón tay, lập trường của ông Thiệu nay không có kết quả gì hơn là làm mất cảm tình của Quốc hội, trong khi sinh mạng của cả Đông Dương đang nằm trong tay họ. Từ ngày phong trào phản chiến lớn mạnh những năm 1969, 70 cho tới 1972, nó đã làm lệch cán quân quyền lực tại Mỹ, theo như nguyên tắc phân quyền Lập Pháp, Hành pháp, Tư pháp ngang hàng nhau, nay quyền lực vào tay Quốc hội, hành pháp mất gần hết chủ quyền.

Hiệp định Paris được ký kết ngày 27-1-1973, TT Nixon tuyên bố ông đã thực hiện được thỏa hiệp danh dự (an honorable agreement)., không phản bội đồng minh, không bỏ rơi tù binh. Hiệp định Paris trên thực tế vẫn không đem lại hòa bình cho Đông Dương, hơn hai năm sau ngày ký kết, BV đem đại binh tấn công miền Nam VN đưa tới sụp đổ ngày 30-4-1975, VNCH biến mất trên bản dồ thế giới. Nay người ta giải thích về thất bại của Hiệp định và sụp đổ miền Nam VN.

– Nixon và Kissinger nói họ thắng cuộc chiến nhưng Quốc Hội làm mất hòa bình, hai nhà lãnh đạo đổ lỗi cho Quốc hội đã không cho Hành pháp khả năng giám sát Hiệp định và cắt hết viện trợ bỏ rơi đồng minh.

– Hiệp định thể hiện một khoảng cách vừa đủ, decent interval để quân Mỹ rút đi, lấy tù binh còn lại người Việt tự giải quyết số phận đất nước, Hoa Kỳ không muốn CS thắng quá nhanh. Theo Frank Snepp, nhà phân tích chiến lược CIA tại VN trong cuốn Decent interval nói Hiệp định Paris chỉ là cách trốn tránh nhiệm vụ của Mỹ, chỉ là để Mỹ rút ra khỏi VN.

Hòa bình giả của Nixon

Nhưng nay Larry Berman đã ghi lại (trong No Peace No Honor) những hồ sơ mật ong giải mã đã cho thấy những viễn tượng tệ hơn những cảnh đã sẩy ra. Sực thực trái ngược với giả thuyết decent interval và khác xa những điều Nixon và Kissinger tuyên bố. Hồ sơ có ghi là chính phủ Hoa Kỳ muốn rằng Hiệp định đã ký sẽ bị vi phạm ngay và sẽ đưa tới sự giáng trả dữ dội bằng vũ lực. Chiến tranh thường trực bằng B-52 sẽ được Nixon và Kissinger khởi động từ cái gọi là Hiệp định Paris. Nixon tin nó là con đường duy nhất được dân Mỹ chấp thuận khả năng trừng trị và giám sát thi hành Hiệp định, ông cho rằng tìm hòa bình hay chiến thắng đều không làm được và đã lên kế hoạch giải quyết sự bế tắc triền miên bằng B-52.

Nixon muốn lịch sử ghi nhớ mình như một vị Tổng thống có một chính sách ngoại giao vĩ đại, đã thực hiện được ba thành quả lớn lao.

Bang giao với Trung Cộng.
Hòa hoãn với Nga Xô.
Bảo vệ được miền Nam VN.

Nixon cần có một miến nam VN không CS để giữ lại một di vật đã gồm cả sự hòa hoãn với Nga, bang giao với Trung Cộng, nam VN mất không thể là điều ông mong ước. Quyết tâm bảo vệ miền Nam VN của Nixon trước hết để bảo tồn một di sản cho sự nghiệp chính trị của ông hơn là để bảo vệ tự do cho VNCH hay nói khác đi bảo vệ miền Nam thể hiện một quyền lợi của chính ông, một cách để lưu danh thiên cổ. Ngày 12-8 Kissinger ở Paris về nói với Nixon “Tổng thống đã thắng được 3 trên 3, You’ve got 3 for 3”, có nghĩa là đã giải quyết được ba vấn đề lớn lao như đã nói.

Nay nhiều sự thật được tiết lộ, sáng 30-11-1972, trước ngày ký Hiệp định Paris hai tháng Tổng thống Nixon họp Ban tham mưu liên quân, Kissinger thuyết trình về bản dự thảo Hiệp định ngưng bắn. Ông nói tổng thống muốn tập trung vào tình trạng khẩn trương nhất gồm hai sự kiện: Nếu hòa đàm tan vỡ, giải pháp quân sự nào? Thứ hai nếu hòa đàm thành công nhưng nếu Hiệp định bị vi phạm ta sẽ phải làm gì? Khi ấy Nixon thêm vào: “Ta cần biết Sài Gòn đang được Mỹ yểm trợ và Hoa Thịnh Đốn sẽ giám sát Hiệp định Paris”. Hà Nội nói họ không có quân ở miền Nam, nếu họ đưa quân vào ta sẽ trừng trị thích đáng. Kissinger kết luận Hiệp định Paris thuận lợi hơn Hiệp Định Geneve 1954 vì nay ta là một bên của Hiệp Định.

TT Nixon nói tới đoạn cuối nếu Hà Nội vi phạm, họ sẽ bị trả đũa nặng nề. Đô đốc Moorer đã thảo kế hoạch khẩn trương 3 và 6 ngày cho kế hoạch đòi hỏi để tấn công BV. Ban tham mưu phải thực hiện chặt chẽ kế hoạch, gài mìn trở lại và xử dụng B-52 oanh tạc Hà Nội, nếu BV vi phạm Mỹ sẽ giáng trả hết cỡ, chúng ta phải giữ một lực lượng tại địa điểm để thi hành. Sự giáng trả BV phải ồ ạt hữu hiệu, trước hết B-52 phải nhắm vào Hà Nội.

Đô đốc Elmo zumWalt Tư lệnh hải quân đã ghi lại cảm tưởng về buổi họp, ông nhận ra sự lường gạt của Nixon “Tổng thống nói về tình trạng ngưng bắn khiến tôi có cảm tưởng đang ở trên một hành tinh khác .. Lúc ấy chúng tôi thấy rõ: hứa viện trợ ồ ạt cho miền nam VN và sự giáng trả vi phạm trầm trọng của Hà Nội để bảo đảm ngưng bắn và thực thi hoàn toàn những lời hứa đó là yếu tố khẩn cấp để giữ hòa bình. Thế mà chính phủ không bao giờ cho người dân và Quốc hội biết chuyện bí mật này.

Nay nhờ những hồ sơ ‘mật ong’ được giải mã người Mỹ chỉ trích Nixon đã đánh lừa nhân dân, đánh lừa Quốc hội, hòa bình mà Nixon, Kissinger tìm kiếm chỉ là hòa bình giả, (a sham peace). Hai tháng trước khi ký Hiệp định Paris, họ đã chuẩn bị chiến tranh để trừng phạt BV bằng B-52 vì tin chắc địch sẽ vi phạm Hiệp định. Nixon tin tưởng sẽ thuyết phục được dân chúng ủng hộ ông sau khi ký Hiệp định để trừng phạt BV suốt nhiệm kỳ thứ hai của ông cho tới 1976. Nixon nói sắt thép, bom đạn mạnh hơn văn kiện, chỉ có pháo đài bay mới bảo đảm được sự thi hành Hiệp định.

Hồ sơ mật giải mã (No Peace No Honor p.260) về cuộc nói chuyện gặp gỡ cho thấy kế hoạch quanh co của hòa bình giả. Cuộc họp với Lý Quang Diệu Thủ tướng Singapore ngày 4-8-1973, Kisinger nói ông tin rằng oanh tạc là cách duy nhất, hữu hiệu nhất để bảo vệ VNCH không bị sụp đổ, cuộc đối thoại cho ta thấy rất nhiều. Kissinger đã nhìn nhận ký hiệp định xong tháng 1, tôi cảm thấy chúng ta phải tái oanh tạc BV vào tháng 4 hay tháng 5, ông ta nói: “ Nếu BV vi phạm Hiệp định chúng ta sẽ tái oanh tạc” ông đã xác nhận điều mà Tướng Haig đã nói với Thủ tướng Lào Phouma cũng như cái mà TT Nixon đã nói với TT Thiệu và cái mà Đô đốc Zumwalt đã kết luận cuối tháng 11-1972 tại buổi họp Tham mưu trưởng liên quân (Joint chief of staff). Đó là hòa bình giả trong kế hoạch đánh lửa dân Mỹ với những từ ngữ văn vẻ hào nhoáng “danh dự cho Mỹ”. Ông biết BV sẽ lừa gạt Hoa Kỳ và sửa soạn kế hoạch tái oanh tạc, mạt cưa mướp đắng gặp nhau.

Khi Kissinger nâng ly chúc Lê Đức Thọ và nói chữ hòa bình tháng 1- 1973 và TT Nixon đọc diễn văn trên toàn quốc tuyên bố hòa bình trong danh dự tại Việt Nam. Cả hai người đều biết rằng vừa khi người tù binh Mỹ cuối cùng trở về nhà, cuộc oanh tạc bằng pháo đài bay để trừng phạt Hà Nội vi phạm sẽ bắt đầu, với Nixon cuộc oanh tạc kéo dài cho tới 1976 và với Kissinger sẽ kéo dài cho tới khi ông lãnh giải Nobel hòa bình…

Hôm 27-4-1975, William Buckley viết trên Wall Street Journal cho rằng Watergate đã làm cho kế hoạch nghiền nát Bắc Việt của Nixon bị trật đường rầy. Nixon với sự khuyến khích của Kissinger đã làm gì nếu sự chống đối trong nước mạnh mẽ khi mà vài tuần sau Hiệp định Paris, Bắc Việt không đếm xỉa gì tới nó.

Nixon tin rằng người dân sẽ ủng hộ ông trong kế hoạch trừng trị sự vi phạm ngưng bắn, nhưng Kissinger khách quan hơn, sau này ông nghĩ rằng người dân sẽ không ủng hộ. Tác giả Larry Berman cho rằng không ai có thể trả lời như vậy. (No Peace, No Honor p.180)

Nixon chuẩn bị chiến tranh bằng pháo đài bay B-52 sau khi ký kết Hiệp định ngưng bắn, nhưng vấn dề là người dân có ủng hộ ông hay không?

Theo cuộc thăm dò của Gallup poll, dựa vào cuộc phỏng vấn trong ngày ký Hiệp định Paris cho thấy sự chủ quan của TT Nixon.

– Khi Mỹ rút khỏi VN, bạn có nghĩ một chính quyền mạnh ở nam VN có thể chống lại được áp lực CS hay không? 54% tin rằng chính quyền miền nam không thể tồn tại, 27% tin chính phủ nam VN sẽ tồn tại, 19% không có ý kiến.

– Sau khi Mỹ rút đi bạn có nghĩ Bắc Việt trong những năm sau như lại muốn chiếm VNCH có đúng không? 70% nghĩ rằng BV sẽ gắng sức chiếm miền nam, 16% nghĩ rằng không, 14% không ý kiến.

– Giả sử sau khi Mỹ rút, Bắc Việt lại đem quân chiếm miền nam VN, bạn có nghĩ Hoa Kỳ sẽ gửi viện trợ quân sự cho VN hay không? 50% tin là Mỹ sẽ không gửi, 38% tin là có, 12% không ý kiến.

– Nếu Bắc Việt lại đem quân đánh chiếm nam VN, bạn có nghĩ Mỹ sẽ oanh tạc Bác Việt hay không? 71% nói sẽ không có ném bom, 17% nói có, 12% không ý kiến.

– Nếu Bác Việt lại đánh chiếm miền nam VN, bạn có nghĩ Mỹ sẽ đem quân giúp VN hay không? 79% chống đối việc gửi quân, 13% ủng hộ, 8% không ý kiến.

Nhận định của tác giả Walter Isaacson dưới đây có lẽ là khách quan hơn hết.

Một khi người Mỹ đã tìm được con đường ra khỏi Việt Nam, cả Quốc hội lẫn người dân đều đã không muốn tham chiến trở lại, dù có hay không vụ Watergate”

(Kissinger A Biography p. 487)

Hoặc

Bất kể có hay không có vụ Watergate, người Mỹ không còn muốn dính dáng gì với Việt Nam” (p.487)

Người dân Mỹ đã quá ghê tởm cuộc chiến tranh bẩn thỉu của Hà Nội.

Gió đã đổi chiều, hoài bão của Tổng thống Nixon để giữ một miền nam Việt Nam không Công Sản cuối cùng chỉ là ảo tưởng vĩ đại”

Mồng 4 tết Nhâm thìn, nhân dịp 39 năm ngày ký Hiệp định Paris

© Trọng Đạt

© Đàn Chim Việt

—————————————

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Larry Berman: No Peace No Honor, Nixon, Kissinger and Betrayal in Vietnam-The Free press 2001
Richard Nixon: No More Vietnams, Arbor House, New York 1985
Walter Isaacson: Kissinger A Biography Simon & Schuster 1992.
Henry Kissinger: Years of Renewal- Simon & Schuster 1999
Robert Dallek: Partners In Power, Nixon and Kissinger – Harper Collins publishers 2007
The Word Almanac Of The Vietnam War: John S. Bowman – General Editor, A Bison-book 1985
Stanley Karnow: Vietnam, A History, A Penguin Books 1991
Nguyễn Kỳ Phong: Vũng Lầy Của Bạch Ốc, Người Mỹ Và Chiến Tranh Việt Nam 1945-1975, Tiếng Quê Hương 2006
Wikipedia: Opposition to the US involvement in the Vietnam war

THEO DÒNG SỰ KIỆN:

  1. 1971: Thảo luận giữa Chu Ân Lai, Lê Duẩn, L.Đ.Thọ và Ieng Sary
  2. Nixon và Việt Nam [2]
  3. Nixon và Việt Nam[1]
  4. Hiệp Định Paris, một bản án tử hình?
  5. Âm mưu gài tình báo vào Hà Nội bị thất bại của Nixon và Kissinger
  6. Bàn về một số chương trong cuốn Tâm Tư Tổng Thống Thiệu

Nguồn danchimviet.info

Posted in Chien Tranh Viet Nam | Leave a Comment »

Hiệp định Hòa Bình Paris đã được ký kết vào ngày này, 27-1-1973, chấm dứt sự can thiệp của Mỹ vào Việt Nam

Posted by hoangtran204 trên 28/01/2012

Các bài liên quan tới bài này:

Chăn Gối với Kẻ Thù -Bộ trưởng Hải Quân James Webbs

Vào Ngày này:Hiệp định Hòa Bình Paris được ký kết, chấm dứt sự can thiệp của Mỹ ở Việt Nam

By Finding Dulcinea Staff

Ngày 27 tháng Một năm 1973, đại biểu của Hoa Kỳ, Nam Việt Nam, Bắc Việt Nam và Chính phủ Cách mạng Lâm thời của Việt Cộng đã ký một Thỏa hiệp Chấm dứt Chiến tranh và Phục hồi Hoà bình cho Việt Nam, đã đưa đến việc ngừng bắn và kêu gọi quân đội Hoa Kỳ rút ra khỏi Việt Nam.

Hiệp định Hoà bình Paris

Những cuộc thảo luận cho hòa bình đầu tiên giữa Hoa Kỳ, đồng minh của mình là Nam Việt Nam và kẻ thù của họ là Bắc Việt bắt đầu năm 1968 dưới thời tổng thống Lyndon Johnson. Cuộc thảo luận này không đi đến đâu và bị khựng lại ở cuộc tranh cải vô bổ về hình dáng của bàn thương thảo (DCVOnline: bàn dài, bàn tròn hay bầu dục..).

Thương thảo tiếp tục sau năm 1969 lúc Richard Nixon đang vận động tranh cử, có hứa đến “một nền hoà bình trong danh dự,” thay thế ông Johnson. Mặc dù những cuộc thảo luận chính bao gồm phái đoàn Nam Việt Nam và Chính phủ Cách mạng Lâm thời, là một chính phủ do Cộng sản miền Bắc dựng lên ở miền Nam, tuy nhiên cuộc thương thảo để đưa đến hiệp ước hoà bình đã xảy ra một cách bí mật giữa Cố vấn Hội đồng An ninh Quốc gia Henry Kissinger và nhà lãnh đạo miền Bắc Việt Nam Lê Đức Thọ.

Cuộc thương thảo hoà bình này không gặt hái nhiều kết qủa cho đến năm 1972. Nixon, đối diện với bầu cử, nên cho việc rút quân ra khỏi Việt Nam là một ưu tiên hàng đầu. Bắc Việt cũng rất muốn ngưng bắn khi thấy hai đồng minh cộng sản lớn của mình, Trung Quốc và Liên bang Xô-Viết, đang cải thiện mối quan hệ của họ với Hoa Kỳ.

Hai ông Kissinger và Thọ đã đạt được một sự đồng thuận có ý nghĩa vào tháng Mười năm 1972. Cả hai đều có một sự nhượng bộ có ý nghĩa: Kissinger đồng ý cho phép quân đội Bắc Việt nằm lại ở miền Nam Việt Nam, trong lúc Thọ đồng ý để cho Tổng thống Nam Việt Nam Nguyễn Văn Thiệu vẫn nắm chính quyền ở miền Nam.

Hiệp định Hòa bình Ba-Lê ký ngày 27 tháng Một năm 21973. Nguồn: Robert Leroy Knudsen/National Archives Nixon White House Photographs.


Thiệu biết là cho phép khoảng 150.000 bộ đội miền Bắc nằm ở miền Nam trong lúc một nữa triệu lính Hoa Kỳ rời miền Nam có nghĩa là một sự sụp đổ hầu như chắc chắn cho miền Nam, ông đã phản đối quyết liệt, làm cho cuộc hội đàm ngưng lại. Nixon hứa với Thiệu là sẽ gia tăng viện trợ quân sự nhiều hơn và nói với Thiệu là Hoa Kỳ sẽ trở lại Việt Nam nếu cộng sản Bắc Việt lại tấn công miền Nam. Nixon cũng hăm dọa là sẽ rút hết tất cả yểm trợ nếu Thiệu từ chối lời đề nghị của ông, điều này đã bắt buộc Thiệu dịu lại.

Cuộc thương thảo hòa bình được tiếp tục lại vào ngày 8 tháng Một năm 1973, không lâu sau ngày Hoa Kỳ thả bom miền Bắc liên tục trong 12 ngày đêm trong mùa Giáng Sinh năm đó với mục đích muốn cho Bắc Việt thấy sự trung kiên của Hoa Kỳ đối với miền Nam và cũng để ép miền Bắc Việt tiếp tục cho tới cùng việc thỏa hiệp hòa bình. Ngày 23 tháng Một, Kissinger và Thọ đồng ý với nhau một cuộc mặc cả được chính thức ký bốn ngày sau đó.

Cuộc mặc cả, được gọi là Thỏa thuận Chấm dứt Chiến tranh và Phục hồi Hòa bình cho Việt Nam, kêu gọi một cuộc ngừng bắn nhằm cho phép Hoa Kỳ rút quân ra khỏi Việt Nam trong vòng 60 ngày. Tất cả tù nhân chiến tranh Hoa Kỳ sẽ được Bắc Việt thả. Sự thỏa thuận này cũng kêu gọi những cuộc thảo luận tiếp nối trong tương lai giữa chính phủ Việt Nam Cộng hòa và Chính phủ Cách mạng Lâm thời Miền Nam Việt Nam để đưa đến một cuộc tổng tuyển cử dân chủ và tự do ở miền Nam.

Vào cuối năm 1973, Kissinger và Lê Đức Thọ được trao giảo Nobel Hòa bình; Thọ từ chối vì ông tin là hòa bình chưa đạt được.

Sự tái diễn và Chấm dứt Chiến tranh

Hiệp định Hoà bình Ba-Lê (Paris) chấm dứt việc liên quan trực tiếp của Hoa Kỳ vào Cuộc chiến Việt Nam, nhưng hiệp định này đã không đóng góp gì để chấm dứt sự xung đột giữa hai miền Nam Bắc Việt Nam, vốn tiếp tục đánh nhau ngay sau đó trong cùng năm. Tổng thống Thiệu tuyên bố hiệp định này không còn có giá trị vào tháng Một năm 1974.

Quân đội miền Bắc dồn vào và tấn công miền Nam và vào mùa xuân năm 1975 đã tiến vào gần tới thủ đô Sài Gòn của miền Nam. Thiệu yêu cầu người kế vị Nixon thêm viện trợ, nhưng bị từ chối. Ngày 21 tháng Tư năm 1975, ông từ chức và trong bài diễn văn cuối cùng ông lên án Hoa Kỳ phản bội miền Nam Việt Nam và lên án ông Kissinger đã buộc ông ký hiệp định Paris và chính đó là điều đưa đến sự thất bại của ông. Quân đội miền Bắc chiếm Sài Gòn vào ngày 30 tháng Tư năm 1975, bắt miền Nam đầu hàng và chấm dứt cuộc chiến tranh từ đó.

© DCVOnline


Nguồn:

(1) On This Day: Paris Peace Accords Signed, Ending American Involvement in Vietnam War. By Finding Dulcinea Staff, 27 January 2012

Ông Hồ chí Minh và Trường Chinh chơi chiến thuật đu dây; muốn lợi dụng cả Liên Xô và Trung Quốc để nhận viện trợ từ cả hai phía Trung Cộng và Liên Xô. Nhưng 2 nước này vốn thiếu thốn, không sản suất đủ lương thực cho dân chúng no đủ.
Đảng CS thành lập từ 1930, nhưng cứ thoát xác đổi tên xoành xoạch như con cắc kè. Chỉ trong 20 năm mà đảng đổi tên 5 lần 7 lượt vì đảng trưởng và đảng viên đều là những người học lực quá kém, chính sách chuyên chính vô sản thì quá tàn bạo, ai không theo thì giết (ban đêm tới nhà ám sát, chặt đầu, cột người trong bao bố và thả xuống nước, cắt đứt gót chân, đốt nhà, thu thuế, thu lúa gạo) . Người Việt Nam mà nghe nói đến cộng sản hay Việt Minh là đều run sợ.  Đảng biết thanh danh của họ chẳng ra gì, nên bấm bụng đổi tên 5-7 lần để dụ dỗ người Việt Nam nhẹ dạ tham gia. Lớp trí thức ngây thơ, chỉ biết có chuyên môn nhưng thiếu kiến thức xã hội và chính trị nên đã ăn bả mà đi theo kháng chiến chống Pháp;  giới trẻ 13, 14 tuổi cũng đi theo vì bị dụ dỗ và ham vui; riêng người nghèo và học lực kém cỏi theo rất đông vì ở nhà cũng không có gạo ăn, đi theo Việt Minh còn cướp được chút gì để ăn cho đỡ đói.

Posted in Chien Tranh Viet Nam | Leave a Comment »

►Mẹ của nhạc sĩ Việt Khang: Hy vọng gia đình sớm đoàn tụ

Posted by hoangtran204 trên 28/01/2012

Mẹ Việt Khang: Hy vọng gia đình sớm đoàn tụ

Trước dịp lễ Giáng sinh, anh Võ Minh Trí, người được biết đến với tên gọi Việt Khang, đã bị bắt giam.

Anh Việt Khang là tác giả hai bài hát “Việt Nam tôi đâu” và “Anh Là Ai?” nói về lòng yêu nước và phản đối thái độ trấn áp người biểu tình của công an Việt Nam. Một tháng sau khi anh bị tạm giam điều tra, bà Chung Thị Thu Vân, mẹ anh Việt Khang cho biết gia đình rất mong sớm được đoàn tụ.

Mời quý vị theo dõi cuộc trò chuyện của bà Chung Thị Thu Vân với Quỳnh Chi sau đây:

Bà Chung Thị Thu Vân: Chúng tôi chỉ biết Trí bị giữ trên Sài Gòn, thỉnh thoảng chúng tôi có đi thăm.

Quỳnh Chi: Anh Trí bị tạm giam bao lâu rồi thưa bà?

Bà Chung Thị Thu Vân: Từ tháng 12.

Quỳnh Chi: Đã hơn một tháng, gia đình bà đi thăm anh Trí được bao nhiêu lần?

Bà Chung Thị Thu Vân: Ba lần.

Quỳnh Chi:
 Chính xác là anh Trí bị giam ở  đâu?

Bà Chung Thị Thu Vân: Trí bị giam ở số 4 Phan Đăng Lưu, quận Bình Thạnh (Cơ quan an ninh điều tra TPHCM – PV).

Quỳnh Chi: Vậy trong những lần thăm như thế bà thấy sức khỏe và tinh thần anh Trí như thế nào?

Bà Chung Thị Thu Vân: Chúng tôi không được thấy mặt mà chỉ thông qua người của trại giam. Chúng tôi cũng được nghe nói sức khỏe Trí bình thường.

Quỳnh Chi: Thưa, do đâu gia đình biết anh Trí bị giam ở số 4 Phan Đăng Lưu?

Bà Chung Thị Thu Vân: Chúng tôi có nhận được giấy báo của chính quyền.

Quỳnh Chi: Vâng, giấy báo đó có nói lý do vì sao anh bị bắt?

Bà Chung Thị Thu Vân: Tôi không nhớ rõ nhưng đại khái là tội “tuyên truyền chống phá (nhà nước – PV)”.

Quỳnh Chi: Trước khi sự việc xảy ra, gia đình có biết anh Trí có một tên khác là Việt Khang?

Bà Chung Thị Thu Vân: Chúng tôi không biết.

Quỳnh Chi: Xin bà nói sơ qua tính cách cũng như công việc của anh Trí?

Bà Chung Thị Thu Vân: Đối với mọi người thì Trí rất cởi mở. Đối với chị em thì Trí rất hoà thuận. Còn đối với cha mẹ thì Trí rất hiếu thảo. Công việc thì Trí chơi trống cho đám tiệc hội hè để sinh sống.

Quỳnh Chi: Anh Trí sinh sống ở đâu ạ?

Bà Chung Thị Thu Vân:
 Ơ ̉ thành phố  Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang cùng với chúng tôi. Nhà của vợ chồng Trí ở cách nhà tôi hai căn.

Quỳnh Chi: Thưa, công việc cũng như quan hệ bạn bè của anh Trí như thế nào?

Bà Chung Thị Thu Vân:
 Bạn của Trí đa số là giới nghệ sĩ. Thường gặp gỡ uống cà phê mà thôi. Trí không biết uống rượu. Trí chỉ hút thuốc mà cứ bị gia đình “rầy” hoài.

Quỳnh Chi: Còn gia đình riêng của anh Trí thì như thế nào?

Bà Chung Thị Thu Vân:
 Trí có một đứa con trai sắp tròn 4 tuổi.

Quỳnh Chi: Khi biết tin anh Trí bị tạm giam, gia đình có bất ngờ không?

Bà Chung Thị Thu Vân: Chúng tôi rất bất ngờ vì nói đúng ra chuyện công việc của Trí chúng tôi không được biết. Chúng tôi cũng buồn lắm.

Quỳnh Chi: Sau khi anh bị bắt thì bao lâu sau thì gia đình nhận được giấy thông báo tạm giam?

Bà Chung Thị Thu Vân: Tôi không nhớ rõ nhưng chắc là dưới một tháng.

Quỳnh Chi: Hôm nay là ngày Tết, vợ con anh Trí có ở đây ăn Tết?

Bà Chung Thị Thu Vân: Hai mẹ con về bên ngoại. Con dâu tôi nói ở đây thì nó buồn vì nhớ chồng. Thỉnh thoảng thì cháu về thăm tôi. Con dâu tôi nói là bây giờ ra đường nhìn đâu cũng thấy bóng dáng chồng và rất buồn.

Quỳnh Chi: Xin chia buồn cùng gia đình. Vậy trong thời gian này, chính quyền có tiếp xúc gia đình không?

Bà Chung Thị Thu Vân:
 Không có, chỉ có bà con lối xóm hỏi thăm thôi.

Quỳnh Chi: Vâng, năm mới, gia đình có hy vọng gì không thưa bà?

Bà Chung Thị Thu Vân:
 Chúng tôi chỉ có hy vọng duy  nhất là gia  đình được đoàn tụ. Trí được ra ngoài để chăm sóc gia đình, con cái. Những ngày Tết này gia đình người khác sum vầy làm gia đình Trí cũng tủi thân lắm.

Con của Trí cũng vậy. Nếu không dẫn về nhà thì thôi chứ về nhà là cháu thấy hình ba nó rồi cứ hỏi. Cho đến bây giờ chúng tôi vẫn nói dối cháu là ba nó đi làm xa, không về nhà được, cũng không gọi điện thoại được. Cháu cũng đòi về nhà ở nhưng mẹ nó cũng tìm cách nói dối nó. Bởi mỗi lần về nhà là cháu hỏi ba cho nên mẹ nó cũng đau lòng lắm. Tôi cũng hy vọng là Trí sớm được đoàn tụ với gia đình.

Quỳnh Chi: Xin chia sẻ cùng gia đình và hy vọng gia đình sẽ sớm được gặp anh Trí. Cám ơn bà.

Việt Khang, sinh năm 1978, tên thật là Võ Minh Trí. Anh được biết đến qua hai bài hát “Anh là ai?” và “Việt Nam tôi đâu?” sáng tác vào tháng 8 năm ngoái, khi phong trào biểu tình phản đối Trung Quốc xâm phạm lãnh hải Việt Nam đang sôi nổi. 

Nguồn: RFA

Posted in Tù Chính Trị | Leave a Comment »

Chính quyền lại cướp đất của dân ở Bắc Giang, dân chống cự và bị công an đánh chết

Posted by hoangtran204 trên 27/01/2012

Công an Bắc Giang lại đánh chết người

Quỳnh Chi, phóng viên RFA, Bangkok

2012-01-26

Một người dân ở xã Tiền Phong, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang đã thiệt mạng sau khi bị cảnh sát đánh trong một vụ cưỡng chế đất cách đây gần một tháng. Quỳnh Chi tường trình:

Source TTXVA.orgNhững người dân bị mất đất kéo lên tỉnh biểu tình nhằm phản đối lại việc cưỡng chế.

Lộng hành trong các vụ cưỡng chế đất

Người chết tên Nguyễn Văn Hùng, 50 tuổi, ngụ tại xóm 2 thôn Quyết Tiến, xã Tiền Phong, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang. Ông Hùng vừa tắt thở lúc 4 giờ sáng ngày 26 tháng 1, tức mùng 4 Tết âm lịch sau khoảng hơn 3 tuần cầm cự. Vợ ông Hùng, bà Thân Thị Bình cho biết tình trạng của ông trước khi chết:

“Ông bị đánh từ hôm chính quyền đến cưỡng chế đất. Từ đó ông không ăn được. Ngủ thì ít mà không ăn được, thỉnh thoảng lại ho ra máu, đi tiểu ra máu. Ông đi lại được nhưng không đi xa được”.

Theo lời người dân ở đây thuật lại, cách đây khoảng 3 tuần, rất nhiều cảnh sát, dân phòng và cán bộ xã, huyện được trang bị dùi cui và chó săn đến thực hiện cưỡng chế đất. Một người dân nơi đây cho biết diễn biến của đợt cưỡng chế:

“Tôi cũng là một trong những người bị cưỡng chế. Lúc khoảng 6 giờ 30 sáng hôm 23 tháng 12 năm ngoái thì lực lượng cưỡng chế đến và lấy đất. Chúng tôi đem cờ và ảnh Bác Hồ ra để có tính biểu tượng và hy vọng là họ sẽ sợ. Nhưng họ không sợ. Họ dồn hết dân vào, ai chống cự thì bị đánh. Họ xé ảnh, xé cờ. Họ thả chó săn đuổi dân. Vừa công an, vừa dân quân tự vệ…”

Năm 2010- Biểu tình ở Bắc Giang vì công an đánh chết người chiều chủ nhật 25 tháng 7 năm 2010. Trong hình, công an đang lôi kéo một người (mặc áo đỏ). RFA file

Đợt cưỡng chế đầu tiên vào ngày 23 tháng 12 năm 2011. Ngày 10 tháng 1 vừa qua là đợt cưỡng chế đất lần hai ở đây.

Theo bà con nơi đây, chính quyền không thực hiện họp dân, cũng không đọc lệnh cưỡng chế trong hai lần cưỡng chế trên. Hầu hết bà con nơi đây sống bằng nghề nông hoặc làm thuê nên không đồng ý với việc cưỡng chế. Theo bà Bình, từ 10 ngày nay, tất cả mấy trăm hộ bị mất đất trong thôn ngày nào cũng thay nhau kéo lên tỉnh biểu tình nhằm phản đối lại việc cưỡng chế.

Ông Nguyễn Văn Hùng và bà Thân Thị Bình có ba người con, trong đó có một người đang nhập ngũ, nhưng chỉ có khoảng 4 sào đất để canh tác. Cho đến đợt cưỡng chế lần hai vừa qua, gia đình đã bị lấy 1 sào đất.

Trong lần cưỡng chế đầu tiên, xót của, ông Hùng xông ra ngăn cản chính quyền và bị đánh. Người dân nơi đây cho biết:

“Anh Hùng đã nhào ra giữ ruộng thì bị nhiều người vào đánh đập đến hộc máu mồm. Tất cả chúng tôi đều trông thấy”.

Theo nguồn tin RFA nhận được, ngoài ông Hùng, còn có 3 người khác nữa bị đánh, trong số họ có hai người trên 60 tuổi, cũng là dân bị mất đất trong đợt cưỡng chế.

Sau khi bị đánh, vì gia đình nghèo túng nên ông Hùng không được đưa đi bệnh viện và chết tại nhà vào sáng sớm nay. Bà Thân Thị Bình cho biết:

Những người dân ở xã Tiền Phong, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang bị mất đất kéo lên tỉnh biểu tình nhằm phản đối lại việc cưỡng chế. Source TTXVA.org

“Gia đình nghèo túng, lại không có bảo hiểm. Nhà có vài tạ thóc, nếu bán thì không có gì ăn cho nên không đưa ông đi bệnh viện mà mua thuốc dán cho ông”.

Anh Hùng đã nhào ra giữ ruộng thì bị nhiều người vào đánh đập đến hộc máu mồm. Tất cả chúng tôi đều trông thấy

» Một người dân

Được biết, phía chính quyền đã có trưởng thôn và bí thư xã Tiền Phong đến chia buồn cùng gia đình:

“Họ có đến và chỉ động viên tinh thần thôi chứ cũng không thấy nói giúp đỡ”.

Khi được hỏi chia sẻ của gia đình về việc cưỡng chế cũng như cái chết của ông Hùng, bà Bình cho biết:

“Gia đình rất bức xúc nhưng không kêu được vì thấp cổ bé họng. Chỉ biết nhờ các nhà báo và pháp luật mà thôi”.

Dự kiến, ông Hùng sẽ được chôn cất vào ngày mai.

Cũng cần nói thêm, theo báo Dân Việt, huyện Yên Dũng (Bắc Giang) đã có hàng trăm ha đất giải phóng mặt bằng 10 năm nay nhưng đều để hoang và không xây dựng công trình mới. Tuy nhiên, “vừa qua UBND tỉnh vẫn quyết định thu hồi thêm hàng chục ha đất hai vụ lúa để xây dựng nhà máy sản xuất gạch”, theo tờ báo này.

Dự án này của công ty Thạch Bàn, đã được cấp giấy phép chứng nhận đần tư. Và UBND huyện Yên Dũng đã 2 lần tổ chức cưỡng chế thu hồi đất cho dự án này.

Trao đổi với phóng viên báo Dân Việt, ông Nguyễn Thế Cường – Tổng Giám đốc Công ty cổ phần Tập đoàn Thạch Bàn cho biết vì đất đã giải phóng tuy bị bỏ hoang nhưng giá cao nên phải lấy đất trồng lúa của bà con nơi đây để “giá thành rẻ hơn”. Ông này cũng cho biết, Tỉnh cũng đã đồng ý đề xuất này của công ty Thạch Bàn.

Copyright © 1998-2011 Radio Free Asia. All rights reserved.

*Con Đường trở thành Ông chủ đất.

Trước khi chiếm được miền Bắc vào ngày 20-7-1954, thì trước đó chừng 2-3 năm, đảng đã phát động Cải Cách Ruộng Đất. Khắp miền Bắc, đảng viên xúi dục nông dân nghèo và tá điền làm mướn nổi dậy, đấu tố những ai có đất, và đảng làm quan tòa trong các vụ đấu tố. Sau khi giết được 174000 chủ đất, và cướp được đất đai ruộng vườn của họ, đảng ra lệnh cho nông dân vào nông xã và hợp tác xã sản suất nông nghiệp.

Nông xã hay hợp tác xã nộng nghiệp có duy nhất một mục đích: Nông dân trồng lúa được bao nhiêu thì nông xã và hợp tác xã cho giữ lại một ít để gia đình ăn, số lúa còn lại phải giao nộp cho nhà nước. Tóm lại, đảng ngồi không mà hưởng hết sản phẩm lúa gạo của nông dân làm ra. Ai làm chủ đất đai sau cuộc cải cách ruộng đất?

Quyền sở hữu đất đai được đảng định nghĩa rất mập mờ, đánh lận hết tất cả giới có học thời ấy bằng câu: Đất đai là sở hữu của toàn dân…hàng chữ mập mờ này có nghĩa là: đất đai do quốc doanh làm chủ, hay nói rõ hơn là do nhà nước làm chủ. Đảng lãnh đạo nhà nước, nên có nghĩa là đảng làm chủ. Do đó, việc nhà nước (đảng) tịch thu đất đai để làm việc gì, có kế hoạch gì, xây dựng gì…là để cho các cán bộ cao cấp và gia đình của họ hưởng lợi, chứ dân chúng và nông dân chắc chắn là không được hưởng.

Vụ anh Đoàn Văn Vươn đi thuê đất của nhà nước là điển hình cho mọi người biết ai là chủ đất. Muốn biết chi tiết về Đoàn Văn Vươn, chỉ cần vào google.com, bing.com, hay yahoo.com, và viết chữ Đoàn Văn Vươn bị cưỡng chế đất ở Tiên Lãng, Hải Phòng…

Một vụ cướp ruộng đất của nông dân ở Hà Đông 2010

Ngày 9/3/2010, nhiều người dân Dương Nội bất ngờ khi thấy một đoàn xe ủi, dưới sự điều hành của lãnh đạo phường Dương Nội, do ông Lê Khánh Đồng, Chủ tịch phường trực tiếp chỉ huy, đang cày ủi cánh đồng thuộc thôn La Dương.


Cưỡng chế mặt bằng thôn La Dương, Hà Đông. Ảnh từ video.
Trên cánh đồng này có nghĩa trang Tha ma Giải Phướn – như người dân mô tả – chôn vài trăm ngôi mộ từ những năm 1945 trở lại đây, trong đó có những mộ chôn tập thể nhiều người, có mộ mới hung táng, có cả mộ các trẻ em xấu số. Sau đây là các tài liệu, biên bản, ảnh và băng ghi hình tại buổi giải phóng mặt bằng nghĩa trang La Dương (còn gọi là Tha ma Giải Phướn), thuộc địa bàn thôn La Dương, phường Dương Nội, quận Hà Đông. Xe ủi va đập làm một phụ nữ bị thương.

Posted in Cướp Đất Đai, Cướp đất và chiếm đoạt tài sản của dân, Đảng CSVN | Leave a Comment »

Tình báo và chính sách của Mỹ không nhất thiết có liên hệ với nhau

Posted by hoangtran204 trên 26/01/2012

Tình báo và chính sách

Lời người dịch: Mới đây ông Paul R. Pillar viết một bài về tình báo đăng trong Tạp chí Foreign Policy số Tháng Giêng – Hai, 2012 đề cập đến quan hệ giữa Tình Báo và Chính Sách nhan đề “Think Again: Intelligence”. Ông Pillar là phó Giám đốc Trung tâm Chống Khủng bố thuộc Cơ quan Trung ương Tình báo Hoa Kỳ (CIA) từ 1997 đến 1999 . Ông hiện là giáo sư của Chương trình Nghiên cứu An ninh (Security Studies Program) của đại học Georgetown. Ông là tác giả của cuốn “Intelligence and U. S. Foreign Policy: Iraq, 9/11, and Misguided Reform”.

Bài viết của ông có mục đích đặt lại cái nhìn chung mà ông cho là không đúng, rằng Tình báo sao thì chính sách vậy, nghĩa là các nhà lãnh đạo chính trị lúc nào cũng dựa vào báo cáo của cơ quan tình báo để lấy quyết định. Ông dẫn chứng nhiều trường hợp nhà lãnh đạo có chính sách đúng mà không cần tình báo, thậm chí đôi khi ngược lại với cái khuyến cáo của bên tình báo. Đọc bài viết của ông Pillar, độc giả có cảm tưởng rằng tình báo đối với nhà lãnh đạo như một con dao bén đối với thức ăn do một đầu bếp nấu. Không có con dao bén thức ăn bầm dập không ngon. Nhưng con dao bén không phải là tất cả. Chất liệu, gia vị, và trên hết tài nghệ của người đầu bếp là chính.

Sau đây là các nét chính bài viết của giáo sư Paul Pillar.
(Think again: Intelligence by Paul R. Pillar)

————————————————

Paul Pillar

Có phải các vị tổng thống Hoa Kỳ đều dựa vào tình báo để làm chính sách không?

Không. Mỗi năm Hoa Kỳ chi tiêu 80 tỉ mỹ kim cho tình báo. Hằng tuần ông tổng thống nhận được một báo cáo phân tích tỉ mỉ tình hình chống khủng bố và khả năng quân sự của Trung quốc và những tin tức tình báo cần thiết khác giúp cho ông tổng thống có cái nhìn bao quát vào thực trạng . Cách xử lý công việc hằng ngày (TBN: thí dụ khi trả lời một câu hỏi của báo chí …) bị ảnh hưởng bơi các báo cáo này. Tuy nhiên các báo cáo này không ảnh hưởng bao nhiêu đến các chính sách lớn, như mở một trận chiến (thí dụ đánh Iraq năm 2003) hay thay đổi chính sách ngoại giao đối với một vùng chiến lược (như tổng thống Obama đang tính thay đổi chính sách tại Trung đông). Các chính sách lớn thường có sẵn trong đầu các ông tổng thống khi các ông ấy bước vào tòa Bạch Ốc, do kinh nghiệm chiến lược riêng, do kinh nghiệm bản thân, do những gì đã học học hỏi được, do nhu cầu trước mắt của quốc gia, do dư luận của các học giả (conventional wisdom) và quan trọng hơn cả do tâm trí (neurosis) của ông tổng thống.

Tổng thống Johnson nhận được nhiều báo cáo tình báo và quân sự cho biết chính phủ Nam Việt Nam khó đứng vững trước sức công phá của cộng sản và Hoa Kỳ sẽ phải trả giá đắt cho chính sách can thiệp vào Nam Việt Nam. Tuy nhiên vì sợ Đông Nam Á và Nam Á sẽ bị tràn ngập bởi làn sóng đỏ (domino theory – a conventional wisdom) nên tổng thống Johnson cứ tiếp tục chính sách can thiệp. Tổng thống Harry Truman quyết định nhảy vào cuộc chiến Triều Tiên vì rút kinh nghiệm đồng minh do dự khi Hitler lấn chiếm Âu châu đã làm nổ ra trận Thế giới Chiến tranh II, cũng như sự can thiệp thành công của đồng minh chận đứng sự lấn lướt của cộng sản tại Hy Lạp và Berlin. Tổng thống Nixon, mặt khác, đã mở cửa bắt tay với Trung quốc vì ông ta là người từng ấp ủ mộng chơi trò chơi lớn. Và hiện nay tổng thống Obama cảnh giác về hiểm họa nguyên tử của Iran vì nhu cầu nội bộ chứ không do một báo cáo tình báo quan trọng nào cả.

Có phải tình báo kém đã đưa đến cuộc chiến Iraq không?

Không. Các báo cáo tình báo không đóng góp gì đến quyết định của tổng thống Bush khởi động cuộc chiến tranh tại Iraq, mặc dù lúc đó ai cũng có cảm tưởng như vậy. Trên thực tế nếu rút một kết luận gì do các bản báo cáo tình báo mang lại thì đó là nên tránh gây chiến tranh tại Iraq. Báo cáo tình báo năm 2001 sau khi tổng thống Bush nhậm chức không nói gì đến Saddam Hussein có vũ khí nguyên tử hay vũ khí vi trùng và hóa học. Trong năm 2002 tòa Bạch Ốc không yêu cầu CIA cho biết ý kiến về vũ khí “không quy ước” của Iraq. Và, hình như tổng thống Bush và bà Cố vấn An ninh Quốc gia Condoleezza Rice cũng không buồn đọc báo cáo của năm 2002, vì một lẽ đơn giản là lúc CIA đang viết bản báo cáo này bộ máy chiến tranh đánh Iraq đã được chuyển bánh.

Nếu tổng thống Bush đọc báo cáo năm 2002 của CIA thì ông ta sẽ thấy chính sách đánh Iraq là đi ngược lại với mọi kết luận của bên tình báo. Bản báo cáo đánh gía rằng nếu Iraq có vũ khí không quy ước, Saddam Hussein cũng không dùng hay cung cấp cho quân khủng bố để đánh Hoa Kỳ, ngoại trừ Hoa Kỳ tấn công Iraq. Giới tình báo cũng không tin Saddam Hussein có dính líu gì với al Qaeda (như tổng thống Bush hay nhắc đi nhắc lại), và rằng việc xây dựng dân chủ tại Iraq sẽ rất khó khăn. Các báo cáo trước chiến tranh (Iraq) viết rõ rằng xây dựng một chế độ chính trị mới tại Iraq sẽ rất “khó khăn, lâu dài và chắc là sinh ra nhiều nhiễu lọan” (nguyên văn: long, difficult and probably turbulent) và rằng bất cứ chính quyền nào thiết lập sau Saddam Hussein sẽ phải đối diện với “một xã hội chia rẽ, và các nhóm tranh chấp quyền lực trong nước sẽ đâm chém nhau, trừ phi có một lực lượng bên ngoài ngăn cản” (nguyên văn: deeply divided society with a significant chance that domestic groups would engage in violent conflicts with each other unless an occupying force prevented them from doing so) . Những gì chúng ta đã nghe như quân đội Hoa Kỳ sẽ được chờ đón bằng những chùm hoa, và cuộc chiến sẽ không tiêu tốn gì (TBN: vì sẽ có dầu hỏa bù lại) chỉ là những thứ có trong hoang tưởng.

Sự thất bại của tình báo làm hỏng chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ

Cũng không chắc. Trong thế kỷ trước tình báo Hoa Kỳ đã không tiên đoán chính xác tình hình quốc tế trong nhiều trường hợp. Nhưng có những tiên đóan đúng cũng đã không thay đổi được gì. CIA đã tiên đóan cuộc tấn công năm 1967 của Do Thái đánh các nước A Rập, nhưng tổng thống Johnson cũng đã không làm gì để ngăn cuộc tấn công. Trái lại năm 1973 CIA không tiên đoán được Ai Cập sẽ đánh Do Thái, nhưng nhờ có cuộc chiến đó tổng thống Nixon mới hòa giải được với Do Thái và làm cho khối Arab xích lại gần với Tây phương hơn.
Năm 1979 CIA không tiên đoán được cuộc cách mạng tại Iran. Nhưng dù có tiên đoán trước cũng không làm thay đổi cách suy nghĩ của tổng thống Carter và bộ tham mưu của ông. Bộ tham mưu của ông Carter không chút quan tâm đến những biến chuyển tại Iran khi ông Shah gần chết. Và ngay cả khi dân Iran ồ ạt xuống đường tại Teheran tòa Bạch Ốc vẫn dành thì giờ ưu tiên cho cuộc thương thuyết Ai Cập – Do Thái và lo lắng đến cuộc cách mạng của nhóm Sandinista tại Nicaragua . Tổng thống Carter và cố vấn an ninh quốc gia Brzezinski không hề cho triệu tập một buổi họp cao cấp nào để thảo luận tình hình Iran. Sau này ông Brzezinki nói rằng lúc đó chính phủ bị tràn ngập bởi các chuyện quan trọng khác!

Việc CIA không tiên đoán được sự sụp đổ của Liên bang Xô viết cũng không là một điều gì quan trọng. Trong thập niên 1980 chính sách của Hoa Kỳ đối với Liên bang Xô viết không do các bản báo cáo tinh báo mà do “trực giác” của tổng thống Reagan. Từ khi vào Bạch Ốc, tổng thống Reagan đã nghĩ rằng đế quốc Liên xô là một đế quốc ma quỹ phải sụp đổ.

Tình báo Hoa Kỳ đánh giá thấp Al Qaeda trước cuộc khủng bố 9/11

Không đúng. Tình báo Hoa Kỳ đã tiên đóan và cảnh giác sự đe dọa của Al Qaeda đúng mức. CIA chỉ thất bại ở chỗ không tiên đoán dứt khoát Al Qaeda sẽ thực hiện một cuộc tấn công qui mô như vậy. Năm 1996 CIA đã thành lập một bộ phận theo dõi hoạt động của al Qaeda. Và theo khuyến cáo của CIA, năm 1998 tổng thống Clinton đã ký một quyết định mật (A finding) cho phép CIA bắt Osama bin Laden trước khi al Qaeda đánh bom 2 tòa đại sứ Hoa Kỳ tại Phi châu. Khi trao quyền cho tổng thống Bush, bộ phận phụ trách an ninh quốc gia của tổng thống Clinton đã cảnh giác phía tổng thống Bush về sự đe dọa của al Qaeda. Cố vấn An ninh Quốc gia Sandy Berger nói với bà Rice, Cố vấn An ninh Quốc gia mới rằng: “Trong 4 năm tới bà sẽ mất nhiều thì giờ lo lắng nạn khủng bố đặc biệt là sự đe dọa của al Qaeda hơn bất cứ vấn đề gì khác” (nguyên văn: You are going to spend more time during your four years on terrorism generally and al Qaeda specially than on any other issues) . Tóm lại báo cáo tình báo tháng 2/2001 không nói gì đến vũ khí không quy ước của Iraq (TBN: vì không có gì để nói) nhưng đã ưu tiên nhấn mạnh đến khủng bố và al Qaeda trước khi nói đến sự lan truyền vũ khí nguyên tử và sự lớn mạnh của Trung quốc.

Tình báo Hoa Kỳ là một tổ chức khép kín và không chịu thay đổi

Không có gì sai sự thật bằng. Cơ quan CIA đã thực hiện nhiều cải tổ nội bộ để đáp ứng với tình hình quốc tế nhưng không công bố rộng rãi trên báo chí như các cơ quan chính phủ khác. CIA đã gộp hai phòng phân tích tình báo phụ trách Đông & Tây Đức làm một trước khi Đức thật sự thống nhất (năm 1990). Cải tổ lớn khác vào năm 1986 khi CIA thành lập Trung Tâm Chống Khủng Bố và thay đổi chương trình huấn luyện chuyên viên giải đoán tình báo và đặt nặng nhu cầu ngoại ngữ (như tiếng A Rập) để đáp ứng với thế giới Hồi giáo.

Cuộc cải tổ sâu rộng nhất do quyết định của Quốc Hội dựa vào khuyến cáo của Ủy ban Điều tra 9/11, đặt 16 cơ quan tình báo Hoa Kỳ dưới một vị Giám đốc chung, và thành lập Trung Tâm Quốc gia Chống Khủng bố (National Counterterrorism Center) không nằm trong CIA. Thực tế các cải tổ này chỉ làm nặng nề thêm bộ máy tình báo và không làm cho sự phối hợp tình báo hữu hiệu hơn để nắm bắt kịp thời sự các mối đe dọa. Bằng chứng là Umar Farouk Abdulmutallab xuýt làm nổ một chuyến bay hàng không dân sự từ nước ngoài bay đến Detroit vào dịp Christmas năm 2009 (TBN: chận được nhờ bố mẹ thông báo cho Hoa Kỳ biết thái độ bất thường của hắn).

Tình báo Hoa Kỳ sau vụ 9/11 hữu hiệu hơn

Đúng vậy. Nhưng chính yếu do tình báo được tự do hành động, có nhiều tiền hơn và được tòa Bạch Ốc đặt ưu tiên cao hơn. Nhờ ngân sách rộng rãi CIA mua được nhiều tin tức giá trị và theo dõi hữu hiệu các tay khủng bố trên thế giới. Và nhờ chính phủ Hoa Kỳ đặt ưu tiên cao nên sự quan hệ của CIA với các cơ quan tình báo nước ngoài được dễ dàng hơn, nhất là sự hợp tác quốc tế nhằm ngăn chận nguồn tài chánh và sự lưu thông tiền bạc của bọn khủng bố.

Hiện nay nổi kinh hoàng của vụ 9/11 bắt dầu đi vào quên lãng, sự hợp tác tình báo giữa Hoa Kỳ và các nước khác (TBN: đặc biệt giữa Hoa Kỳ và Pakistan) bắt đầu lỏng lẻo. Nhưng bài học của vụ 9/11 là: chính sách đối ngoại là một yếu tố rất cần thiết cho một bộ máy tình báo hữu hiệu .

Tình báo sắc bén giúp chúng ta tránh khỏi sự bất ngờ

Hy vọng vậy. CIA đã không tiên đoán vụ “Mùa Xuân Arập”. Đầu tháng 2 /2011 khi các cuộc biểu tình tại Cairo sắp lật đổ tổng thống Mubarak, Thượng nghị sĩ Dianne Feinstein (Dân Chủ, California), Chủ tịch Ủy ban Tình báo Thượng nghị viện trong một buổi điều trần của CIA mỉa mai rằng : “Tổng thống, Bộ trưởng Ngoại giao và Quốc hội làm chính sách Ai Cập dựa vào báo cáo kịp thời của cơ quan tình báo… thì hình như quý vị đã không làm tròn nhiệm vụ này”.

Không phải một mình bà Feinstein chỉ trích cơ quan CIA trong vụ này. Nhưng họ quên rằng tình báo chỉ có thể vẽ một bức tranh lớn, chứ không thể tiên đoán trước mọi sự việc có tính bất ngờ.

Sau vụ tấn công Trân Châu Cảng năm 1941, người ta chê tình báo Hoa Kỳ dở. Đo đó trong 70 năm qua tình báo đã luôn luôn cố gắng cải thiện để có thể làm tốt hơn. Nhưng thực tế là dù có tưởng tượng ra cả trăm thế trận để nghiên cứu cũng không thể tiên đoán trước cái gì sẽ xẩy ra. Có trời mới đoán được Mohamed Bouaziza, một người đàn ông trung niên bán rau cải trên đường phố của thành phố Sidi Bouzid ở Tunisia sẽ tự thiêu vì bất mãn một vụ phạt vạ của cảnh sát và vụ tự thiêu đã tạo ra trận bão đòi dân chủ tại Trung đông.

Tình báo có thể giải đoán tình hình, nêu ra những gì có thể biết, và những gì không thể biết. Các nhà lãnh đạo chính trị cần phải chấp nhận thực tế đó và chuẩn bị tinh thần chờ đón sự bất ngờ.

Ông Donald Rumsfeld từng nói (TBN: có lẽ để biện minh cho sự thất bại của ông tại Iraq) đại ý rằng, chẳng những chúng ta không có câu trả lời đúng cho mọi vấn đề, chúng ta còn không có khả năng đặt những câu hỏi đúng.

Jan 24, 2012

© Trần Bình Nam

© Đàn Chim Việt

 

Posted in Chinh Tri Hoa Ky | Leave a Comment »

Dầu Hỏa, chiếm 33% GDP, là nguồn lợi lớn nhất của nền kinh tế Việt Nam

Posted by hoangtran204 trên 25/01/2012

Petrovietnam phải khẳng định vị thế đầu tàu kinh tế quốc gia

7:04 chiều | Tháng Một 18, 2012

(Petrotimes)Chiều 18/1, tại Viện Dầu khí Việt Nam, Tập đoàn Dầu khí Việt Nam đã tổ chức Hội nghị tổng kết công tác năm 2011 và triển khai kế hoạch năm 2012.

Đến dự buổi lễ có đồng chí Nguyễn Quang Dương, Phó bí thư thường trực Đảng ủy Khối doanh nghiệp Trung ương; đồng chí Lê Dương Quang, Thứ trưởng Bộ Công Thương; đồng chí Phạm Mạnh Thắng, Tổng cục trưởng Tổng cục Năng lượng (Bộ Công Thương).

Về phía Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN) có đồng chí Phùng Đình Thực, Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch Hội đồng Thành viên Tập đoàn; đồng chí Đỗ Văn Hậu, Phó Bí thư Đảng ủy, Tổng giám đốc Tập đoàn; cùng các đồng chí trong Ban chấp hành Đảng bộ, Đảng ủy, Hội đồng Thành viên, Ban Tổng giám đốc, Đoàn Thanh niên, Hội Cựu chiến binh Tập đoàn…

Thay mặt lãnh đạo PVN, Tổng giám đốc Đỗ Văn Hậu đọc bản báo cáo tình hình sản xuất kinh doanh năm 2011 và nhiệm vụ năm 2012. Năm qua, PVN đã hoàn thành toàn diện và vượt mức tất cả các chỉ tiêu kế hoạch đề ra và có mức tăng trưởng cao so với cùng kỳ năm 2010. Tổng doanh thu đạt 675,3 nghìn tỉ đồng, tăng 41,2% so với năm 2010. Nộp NSNN đạt 160,8 nghìn tỉ đồng, tăng 25% so với năm 2010.

Gia tăng trữ lượng dầu khí đạt 35,3 triệu tấn thu hồi, bằng 101,0% kế hoạch năm (ở trong nước đạt 35 triệu tấn và ở nước ngoài đạt 0,3 triệu tấn). Ký 7 hợp đồng/thoả thuận dầu khí mới, trong đó ở trong nước 6 hợp đồng và ở nước ngoài 1 thoả thuận. PVN đã có 3 phát hiện dầu khí mới, đưa 5 mỏ dầu khí mới vào khai thác, trong đó ở trong nước 3 mỏ và ở nước ngoài 2 mỏ.

Tổng sản lượng khai thác quy dầu năm 2011 đạt 23,91 triệu tấn. Sản lượng khai thác dầu đạt 15,21 triệu tấn. Tập đoàn đạt mốc khai thác tấn dầu thứ 280 triệu vào tháng 10/2011.

Sản lượng khai thác khí đạt 8,7 tỉ m3. Tập đoàn đạt mốc khai thác m3 khí thứ 70 tỉ vào tháng 9/2011. Sản xuất và cung cấp cho lưới điện quốc gia đạt 13,35 tỉ kWh. Tập đoàn đạt mốc sản xuất kWh điện thứ 35 tỉ vào tháng 10/2011.

Nhà máy Đạm Phú Mỹ đã sản xuất tấn phân đạm thứ 5 triệu vào tháng 8/2011.

Công tác bảo dưỡng tổng thể Nhà máy Lọc dầu Dung Quất lần thứ nhất vượt tiến độ 2 ngày. Sản phẩm sản xuất từ Nhà máy Lọc dầu Dung Quất đạt 5,43 triệu tấn. Hoạt động dịch vụ dầu khí tiếp tục được đẩy mạnh, doanh thu dịch vụ dầu khí năm 2011 đạt trên 200 nghìn tỉ đồng.

Tiến độ thực hiện các dự án trọng điểm nhà nước về dầu khí và các dự án trọng điểm của Tập đoàn được kiểm soát chặt chẽ đảm bảo theo kế hoạch đề ra. PVN rà soát và đình hoãn 12 dự án, giãn tiến độ 44 dự án đầu tư với tổng giá trị trên 7,25 nghìn tỉ đồng. Giá trị thực hiện đầu tư năm 2011 đạt trên 90 nghìn tỉ đồng.

Trong năm 2011, toàn Tập đoàn đã khởi công mới 16 công trình, hoàn thành đầu tư và đưa vào vận hành 47 công trình, trong đó có các công trình trọng điểm như: đưa vào khai thác mỏ Visovoi (lô số 2) thuộc Dự án Thăm dò khai thác dầu khí 04 lô tại Khu tự trị Nhenhetxky – Liên Bang Nga (ngày 29/7), mỏ Đại Hùng pha 2 (ngày 12/8), mỏ Tê Giác Trắng (ngày 22/8); hạ thuỷ khối chân đế giàn Mộc Tinh 1 thuộc dự án Biển Đông 1 (ngày 27/8); hạ thủy giàn khoan 90 nước (ngày 10/9), đưa chu trình hỗn hợp Nhà máy Nhiệt điện Nhơn Trạch 2 vào vận hành (ngày 16/10/2011), kho nổi Bạch Hổ FSO5 (ngày 15/01)…

Công tác đổi mới, tái cấu trúc doanh nghiệp được triển khai theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ. Hoạt động khoa học công nghệ và đào tạo được triển khai tích cực, công tác an ninh, an toàn dầu khí, an toàn môi trường, an toàn lao động, phòng chống cháy nổ trên các công trình dầu khí được giám sát chặt chẽ và thực hiện nghiêm túc. Công tác an sinh xã hội được triển khai thực hiện cao hơn so với cam kết, tổng số tiền thực hiện công tác an sinh xã hội toàn Tập đoàn năm 2011 đạt trên 613 tỉ đồng so với kế hoạch cam kết từ đầu năm là 600 tỉ đồng.

Kế hoạch năm 2012, PVN vẫn bám sát 5 lĩnh vực chính, đó là: Tìm kiếm, thăm dò và khai thác dầu khí; Lọc hóa dầu; Công nghiệp Khí; công nghiệp Điện; dịch vụ kỹ thuật dầu khí chất lượng cao. Tiếp tục rà soát nâng cao hiệu quả đầu tư các dự án; thu xếp đủ vốn và tổ chức thực hiện đúng tiến độ các dự án trọng điểm.

Trong đó, khai thác Dầu khí 24,81 triệu tấn, doanh thu 660 nghìn tỉ đồng, nộp ngân sách đạt 134,8 nghìn tỉ đồng.

Chung sức cùng tháo gỡ khó khăn

Cũng tại hội nghị, lãnh đạo các đơn vị thành viên của PVN đã phát biểu tham luận.

Ông Nguyễn Vũ Trường Sơn, Tổng giám đốc Tổng công ty Thăm dò Khai thác Dầu khí (PVEP) cho biết PVEP là đơn vị chủ lực của PVN, đã làm gia tăng trữ lượng dầu khí lên 37,8 triệu tấn dầu qui đổi. Sản lượng khai thác đạt 16,18 triệu tấn dầu qui đổi. Doanh thu của PVEP đạt hơn 50 nghìn tỉ đồng. PVEP đã đưa 4 mỏ mới vào khai thác gồm mỏ Đại Hùng giai đoạn 2, mỏ Tê Giác Trắng, mỏ Chim Sáo, mỏ Dana. PVEP cũng đẩy nhanh tiến độ đưa vào khai thác các mỏ Junin 2 ở Venezuela và mỏ Bir Seba – Lô 433a&416b (Algeria).

Liên doanh Việt – Nga Vietsovpetro cũng là đơn vị chủ lực khai thác dầu khí của PVN. Năm qua, Vietsovpetro đã khai thác 6,4 triệu tấn dầu. Doanh thu bán dầu đạt 5,6 tỉ USD, nộp ngân sách Nhà nước và lợi nhuận phía Việt Nam đạt 3,55 tỉ USD, lợi nhuận phía Nga là 580 triệu USD. Vietsovpetro đưa ra mục tiêu hàng năm phải đưa ít nhất 2 giàn khai thác mới vào khai thác để đảm bảo khai thác an toàn 6,14 triệu tấn trong năm 2012.

Thay mặt Công ty TNHH 1TV Lọc hóa dầu Bình Sơn, Tổng giám đốc Nguyễn Hoài Giang cho biết kế hoạch sản xuất kinh doanh của Nhà máy Lọc dầu (NMLD) Dung Quất năm qua đã đạt được những con số ấn tượng như tổng doanh thu đạt 116 nghìn tỉ đồng, nộp ngân sách 14 nghìn tỉ đồng. Giữa năm 2011, NMLD Dung Quất tạm ngừng hoạt động, bảo dưỡng lần đầu tiên một cách thành công sau khi hoàn thành từ tháng 2/2009. Tổng giám đốc Nguyễn Hoài Giang kỳ vọng các đơn vị thuộc PVN sẽ hỗ trợ NMLD Dung Quất hơn nữa để cùng nhà máy tháo gỡ khó khăn, hoạt động hiệu quả hơn.

Trong năm qua, một số đơn vị của PVN gặp nhiều khó khăn trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Tập đoàn Điện lực Việt Nam đang nợ Tổng công ty Điện lực Dầu khí (PV Power) khoảng 14 nghìn tỉ đồng. Do đó, PV Power rất khó khăn trong việc huy động vốn cho các dự án điện. Nhà máy Thủy điện Hủa Na sẽ hoàn thành trong quý IV/2012 và PV Power đang nỗ lực thu xếp vốn còn lại cho dự án này.

Cũng trong thời kỳ đã khai thác 169,94 triệu tấn chiếm 42% còn lại 232,06 triệu tấn. Trong số trữ lượng còn lại, trữ lượng đã và đang phát triển là 200,4 triệu tấn (~ 80%) ở 9 mỏ đang khai thác (kể cả mỏ dầu – khí), số còn lại chuẩn bị phát triển trong thời gian tới. Trữ lượng dầu tập trung chủ yếu ở bể Cửu Lòng chiếm tới 86% (khoảng 340,8 triệu tấn) trữ lượng dầu Việt Nam, trong đó trữ lượng dầu từ móng nứt nẻ trước Đệ Tam là 262 triệu tấn, chiếm 63% tổng trữ lượng dầu.

Theo quy mô mỏ, có 7 mỏ có trữ lượng trên 13 triệu tấn (>100MMSTB) chiếm 80% trữ lượng dầu thuộc mỏ dầu quy mô lớn – khổng lồ, trong đó mỏ dầu Bạch Hổ có trữ lượng trên 190 triệu tấn (~ 56%) ở bể Cửu Long là mỏ lớn nhất ở thềm lục địa Việt Nam. Theo phân loại của Hội nghị năng lượng thế giới (WEC), chất lượng dầu của các mỏ đang khai thác ở thềm lục địa Việt Nam chủ yếu thuộc loại nhẹ có tỉ trọng từ 380 đến 40,20 API, là loại dầu ngọt có hàm lượng lưu huỳnh rất thấp (0,03 ÷ 0,09% TL), sạch (hàm lượng các chất nhiễm như V, Ni, N thấp), có nhiều parafin (hàm lượng parafin rắn 15 ÷ 28%), có điểm chảy rất cao (22 ÷ 360).

Xu thế nguồn trữ lượng bổ sung

Mặc dù sản lượng khai thác tăng nhanh trong thời gian qua từ 5,5 triệu tấn (năm 1992) lên 20,34 triệu tấn (năm 2004), nhưng trữ lượng vẫn duy trì tăng cao hơn sản lượng khai thác, điều đó cho thấy sự thành công thăm dò gia tăng trữ lượng bù đắp được khối lượng dầu đã khai thác. Sự thành công trong việc gia tăng trữ lượng là do Nhà nước đã có chính sách thu hút đầu tư nước ngoài nhằm mở rộng hoạt động thăm dò ra các vùng mới có tiềm năng và sự thành công trong thăm dò, thẩm lượng gia tăng trữ lượng trong thời gian qua từ các mỏ đã phát hiện chiếm khoảng 45% trữ lượng được bổ sung. Đồng thời giải pháp tăng hệ số thu hồi dầu (bơm ép nước duy trì áp suất vỉa cũng đã được nghiên cứu áp dụng lần đầu ở mỏ Bạch Hổ và sau đó được triển khai ở các mỏ khác như: Đại Hùng, Rồng, Rạng Đông, và Sư Tử Đen đã góp phần đáng kể tăng nguồn trữ lượng bổ sung.

Đặc trưng của công tác thăm dò dầu khí là với mức độ rủi ro cao, ngay cả ở những mỏ đã phát triển vẫn còn có rủi ro, bởi vậy sự thành công thăm dò gia tăng trữ lượng chẳng những phụ thuộc vào sự hiểu biết các đối tượng từ các thông tin thu được từ khoan thẩm lượng và phát triển, mà còn phụ thuộc vào áp dụng các giải pháp công nghệ mới trong thăm dò đặc biệt là công nghệ thu nổ, xử lý, minh giải tài liệu địa chấn 3D để làm rõ cấu trúc địa chất của các đối tượng thăm dò. Đó chính là chìa khóa cho sự thành công trong thăm dò gia tăng trữ lượng trong tương lai.

Phát triển và khai thác dầu

Tất cả trữ lượng dầu của các mỏ được phát hiện cho đến thời điểm hiện tại đều ở thềm lục địa dưới 200 m nước. Vì vậy việc phát triển và khai thác các mỏ ngoài khơi đòi hỏi kiến thức chuyên môn trong thăm dò, thẩm lượng, phát triển và khai thác mỏ. Trữ lượng và khả năng khái thác của giếng cần thiết cho việc xác định giá trị tới hạn (ngưỡng) để xác định chi phí đầu tư, vận hành và thời gian kéo dài của đề án ở môi trường ngoài khơi. Công nghệ khai thác dầu ngoài khơi Việt Nam đã được bắt đầu, mở rộng và tăng trưởng nhanh từ 0,04 triệu tân/năm (1986) lên 20,34 triệu tấn/năm vào năm 2004.

Từ năm 1988 sau khi phát hiện và đưa vào khai thác dầu trong móng phong hóa nứt nẻ trước Đệ Tam của mỏ Bạch Hổ, sản lượng khai thác dầu thô hàng năm của XNLD Vietsovpetro nói riêng và của ngành dầu khí nói chung tăng lên không ngừng. Từ năm 1988 đến 2004, ngoài mỏ Bạch Hổ đã được đưa vào khai thác nhiều mỏ dầu mới. Sau 18 tháng ký hợp đồng PSC nhà điều hành BHP đã đưa mỏ Đại Hùng vào khai thác sớm (10/1994), XNLD Vietsovpetro đưa mỏ dầu thứ 2 (mỏ Rồng) vào khai thác tháng 12/1994. Mỏ Bunga Kekwa – Cái Nước đưa vào khai thác tháng 7/1997 là kết quả của sự hợp tác giữa Petrovietnam và Petronas với nhà điều hành IPC ở vùng thỏa thuận thương mại (CAA) giữa hai nước Việt Nam và Malaysia. Tiếp theo nhà thầu JVPC (lô 15-2) đã đưa mỏ Rạng Đông vào khai thác.

Trong những năm đầu bước sang thiên niên kỷ mới, Công ty điều hành chung Cửu Long đã phát triển mỏ Sư Tử Đen và đưa vào khai thác từ tháng 10 – 2003. Tổng sản lượng khai thác dầu đến hết năm 2004 là 169,94 triệu tấn (~1.300 triệu thùng) với sản lượng khai thác hiện tại khoảng 60 nghìn tấn/ngày (460 nghìn thùng/ngày), trong đó tổng sản lượng dầu khai thác từ móng nứt nẻ trước Đệ Tam là 139,63 triệu tấn chiếm 82% tổng lượng dầu đã khai thác. Với trữ lượng dầu còn lại vẫn có thể duy trì mức sản lượng khai thác như năm 2004 trong một thời gian từ 5 đến 7 năm, sau đó sản lượng sẽ dần dần giảm xuống, tuy nhiên thời gian khai thác còn có thể duy trì kéo dài được khoảng 15 năm nữa.

Các mỏ dầu đang khai thác ở thềm lục địa Việt Nam đều được phát triển và khai thác trong đá chứa cát kết thuộc địa tầng Miocen, Oligocen; đá móng phong hóa nứt nẻ trước Đệ Tam là đối tượng khai thác chính ở các mỏ: Bạch Hổ, Rồng, Rạng Đông, Hồng Ngọc và Sư Tử Đen – Sư Tử Vàng thuộc bể Cửu Long.

Hầu hết các mỏ dầu đã và đang được thiết kế khai thác ban đầu theo chế độ năng lượng tự nhiên đàn hồi của dầu và khí hòa tan. Để nâng cao hệ số thu hồi dầu, lần đầu tiên mỏ Bạch Hổ đã áp dụng giải pháp bơm ép nước duy trì áp suất vỉa ở cả hai đối tượng cát kết Miocen, Oligocen và đặc biệt móng nứt nẻ trước Đệ Tam. Công nghệ khai thác thứ cấp (bơm ép nước) đã cho phép gia tăng đáng kể thu hồi dầu so với khai thác sơ cấp đơn thuần chỉ sử dụng năng lượng tự nhiên của vỉa, hệ số thu hồi dầu cuối cùng có thể đạt tới 0,35 – 0,4 theo các phương án phát triển mỏ Bạch Hổ đã được phê duyệt và triển khai. Chính vì vậy giải pháp bơm ép nước duy trì áp suất vỉa đã lần lượt được áp dụng mở rộng ở các mỏ: Đại Hùng, Rồng, Rạng Đông và ở mỏ Sư Tử Đen – Sư Tử Vàng.

Nhằm phát triển nhanh, linh hoạt, hệ thống thiết bị khai thác được lựa chọn áp dụng phụ thuộc vào độ sâu nước biển, quy mô nhỏ…hệ thống khai thác giàn cố định (giàn đầu giếng, xử lý), hoàn thiện đầu giếng bề mặt và tàu chứa/xử lý dầu đã được áp dụng để khai thác các mỏ có độ sâu nước biển từ 40 đến 70 m. Thực tế cho thấy hệ thống này tỏ ra khá thích hợp, hiệu quả đối với các mỏ vùng nước nông ở bể Cửu Long (mỏ Bạch Hổ, Rồng, Hồng Ngọc, Rạng Đông, Sư Tử Đen) và bể Malay – Thổ Chu (Bunga Kekwa – Cái Nước, Bunga Raya, Bunga Seroja). Duy nhất mỏ Đại Hùng ở vùng nước sâu trên 100 m đã sử dụng hệ thống khai thác nổi di động, kết nối với các giếng khai thác được hoàn thiện bằng đầu giếng ngầm ở đáy biển , đường ống dẫn mềm và tàu chứa xuất dầu nổi để phát triển khai thác sớm phần phía Bắc của mỏ.

Tuy hệ thống này có tính linh hoạt và đưa mỏ vào khai thác nhanh, song công việc sửa chữa, bảo dưỡng trong giếng gặp nhiều khó khăn hơn, chưa kể cả các rủi ro tiềm ẩn về an toàn. Kinh nghiệm trên thế giới cho thấy các giàn cố định bảo đảm khai thác mỏ an toàn hơn mà vẫn kinh tế ngay cả ở độ sâu nước biển đến trên 200 m. Bởi vậy trong tương lai cần cân nhắc giữa giải pháp giàn cố định và giàn nổi (bán chìm) để phát triển khai thác các mỏ có độ sâu nước tương tự mỏ Đại Hùng ở bể Nam Côn Sơn.

Để có thể giữ ổn định trong thời gian dài mức khai thác khoảng 50 đến 60 nghìn tấn/ngày (400 đến 450 nghìn thùng/ngày) đang đẩy mạnh phát triển các mỏ đang khai thác và sớm đưa các mỏ đang khai thác và sớm đưa các mỏ mới vào khai thác.

Trong tương lai khai thác dầu ngoài khơi ở Việt Nam số lượng mỏ nhỏ, hay còn gọi là mỏ biên trên góc độ kinh tế ngày càng tăng. Để khai thác hiệu quả các mỏ này, cần nghiên cứu áp dụng hệ thống khai thác theo quan điểm “thiết bị/giàn tối thiểu” với các kiểu giàn nhẹ đầu giếng và một tàu nổi có công suất thích hợp cho chứa/xử lý/xuất dầu.

Đồng thời đẩy mạnh việc nghiên cứu áp dụng các giải pháp tăng cường thu hồi dầu sau khi đã áp dụng khai thác thứ cấp, đặc biệt đối với các đối tượng móng nứt nẻ trước Đệ Tam của các mỏ dầu ở bể Cửu Long đang là vấn đề cực kỳ cấp thiết khi sản lượng các mỏ này bắt đầu suy giảm nhanh.

Theo Nguyễn Văn Đắc ( Địa chất và tài nguyên dầu khí)

Phát biểu chỉ đạo hội nghị, Thứ trưởng Bộ Công Thương Lê Dương Quang nhiệt liệt biểu dương những thành tích mà PVN đã đạt được trong năm 2011. “Đây là thành tích đáng tự hào của PVN trong bối cảnh kinh tế thế giới và Việt Nam gặp rất nhiều khó khăn. Tôi tin tưởng rằng các giải pháp của PVN sẽ thực hiện thành công để tăng tốc phát triển trong năm 2012 và các năm tiếp theo” – Thứ trưởng Lê Dương Quang nhấn mạnh.

Bộ Công Thương đề nghị PVN đẩy mạnh các giải pháp đột phá, tăng tốc phát triển trong năm 2012. PVN hãy phát huy bản lĩnh dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm. Đồng bộ thực hiện 3 khâu đột phá là nguồn nhân lực, khoa học công nghệ và quản lý. Đồng thời, PVN phải đi đầu trong việc tái cấu trúc doanh nghiệp theo tinh thần chỉ đạo của Ban chấp hành Trung ương Đảng tại Hội nghị lần thứ III (10/2011). PVN phát huy cao nội lực, ưu tiên dùng hàng trong nước cho các hoạt động kinh doanh.

Phát biểu tiếp thu ý kiến, Tổng giám đốc Đỗ Văn Hậu cám ơn lãnh đạo Bộ Công Thương, các Cục, Vụ, Viện của Bộ Công Thương đã có những giúp đỡ để PVN hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ kinh doanh năm qua. Tổng giám đốc Đỗ Văn Hậu sẽ cùng tập thể người lao động Dầu khí phát huy truyền thống Anh hùng, lao động hết mình, sáng tạo, kiên quyết giữ vững vị thế là tập đoàn hàng đầu của nền kinh tế nước nhà.

Nhân dịp này, thay mặt lãnh đạo Tập đoàn, Tổng giám đốc Đỗ Văn Hậu phát động thi đua năm 2012, trong đó tập trung hoàn thành tốt 5 nhiệm vụ: Thực hành tiết kiệm; Tái cấu trúc doanh nghiệp trên cơ sở bền vững, hiệu quả; Triển khai mạnh mẽ 3 giải phát đột phá: nguồn nhân lực, khoa học công nghệ và quản lý; Triển khai sâu rộng cuộc vận động Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, xây dựng tổ chức Đảng, tổ chức chính trị vững mạnh; Chăm lo cải thiện đời sống vật chất và tinh thần cho người lao động Dầu khí.

Tại hội nghị, Thứ trưởng Bộ Công Thương Lê Dương Quang đã trao Huân chương Lao động hạng Nhất, Nhì, Ba của Chủ tịch nước cho các cá nhân và tập thể có thành tích xuất sắc giai đoạn 2006 – 2010; trao tặng Huân chương Lao động hạng Nhất cho đồng chí Hoàng Xuân Hùng – Phó chủ tịch HĐTV, đồng chí Vũ Quang Nam – Phó tổng giám đốc Tập đoàn, đồng chí Nguyễn Tiến Dũng – Phó tổng giám đốc Tập đoàn; trao tặng Huân chương Lao động hạng Nhì cho Tổng công ty Dung dịch và Hóa phẩm Dầu khí (DMC), đồng chí Nguyễn Xuân Sơn – Phó tổng giám đốc Tập đoàn, đồng chí Đỗ Văn Đạo – Trưởng văn phòng đại diện khu vực châu Mỹ, đồng chí Bùi Ngọc Quang – Trưởng ban dự án khí Đông Nam Bộ, đồng chí Trương Văn Ba – Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng giám đốc Công ty CP Vật tư Tổng hợp Phú Yên (Tổng công ty Dầu Việt Nam).

Ban Xây dựng Tập đoàn, Ban Luật và Quan hệ quốc tế Tập đoàn, Đội công nghệ cao số 1 Xí nghiệp Địa vật lý giếng khoan (Liên doanh Việt – Nga), Văn phòng Tập đoàn nhận Huân chương Lao động hạng Ba.

Thứ trưởng Bộ Công Thương cũng trao 22 Huân chương Lao động hạng Ba cho các cá nhân có thành tích xuất sắc.

Chủ tịch HĐTV Phùng Đình Thực trao tặng danh hiệu Chiến sĩ Thi đua toàn quốc cho 6 cá nhân.

Tổng giám đốc Đỗ Văn Hậu trao Cờ thi đua của Thủ tướng Chính phủ cho 14 tập thể đã hoàn thành xuất sắc, toàn diện các nhiệm vụ công tác năm 2011.

23 tập thể cũng nhận Cờ thi đua của Bộ trưởng Bộ Công Thương.

Đảng bộ Khối doanh nghiệp Trung ương trao cờ cho 10 tổ chức cơ sở Đảng trong sạch vững mạnh tiêu biểu; 9 cơ sở Đảng trong sạch, vững mạnh; 4 tổ chức cơ sở Đảng hoàn thành tốt nhiệm vụ và 4 cơ sở Đảng hoàn thành nhiệm vụ.

Tại hội nghị, 31 đơn vị thuộc Tập đoàn được trao cờ thi đua và 20 cá nhân đạt danh hiệu doanh nhân, nhà quản lý tiêu biểu được trao cúp và chứng nhận của Tổng giám đốc Tập đoàn.

Đức Chính

Ảnh: Mạnh Thắng

 

Posted in Kinh Te | Leave a Comment »

Cuộc bầu cử TT Mỹ 2012 và các ứng cử viên của đảng Cộng Hòa

Posted by hoangtran204 trên 25/01/2012

Ở Mỹ, suốt 6 tháng qua, đảng Cộng Hòa đang tuyển chọn 1 ứng cử viên ra tranh cử  chức vụ Tổng Thống Mỹ để đối đầu với TT Obama. Hàng chục cuộc tranh luận được tổ chức để cho dân chúng nhìn thấy hình dáng, nét mặt, cách ăn nói đối đáp, sự biểu lộ cá tính, cách ứng xử , các mối quan hệ trong xã hội, gia đình, tài chánh, việc làm, và trình độ giáo dục cùng kiến thức của 9 ứng cử viên. Qua các lời tuyên bố và tranh luận, dân chúng Mỹ biết được quan điểm ra tranh cử của họ, cách giải quyết của họ trước các vấn nạn của Mỹ hiện nay như  chính sách kinh tế, tìm kiếm công ăn việc làm cho hơn 30 triệu người đang thất nghiệp, vấn nạn y tế, quan điểm về các vấn đề xã hội, tôn giáo, giáo dục…

Sau 6 tháng sàng lọc, các đối thủ nay đã biết sức nhau, biết được sự ủng hộ của các cử tri đối với họ như thế nào, và kết quả là 5 ứng cử viên đã tự ý từ bỏ cuộc chơi sau khi có cuộc bầu cử  sơ bộ phiếu diễn ra hôm đầu tháng 3 ở tiểu bang Iowa.

Tiếp theo sau là cuộc bầu cử sơ bộ của đảng cộng hòa đã diễn ra ở  Massachusetts, và South Carolina. 3 ứng cử viên Santorum (thắng ở Iowa), Romney (thắng ở Massachusetts ), và Gingrich (South Carolina) cho thấy các cử tri đảng viên của đảng Cộng Hòa chưa đồng thuận chọn lựa được một ứng cử viên duy nhất đại diện cho họ. Trong lúc này thì TT Obama vẫn chưa để ý tới họ, ông và bộ tham mưu có lẻ đã và đang sắp xếp cho một cuộc đối đầu sẽ diễn ra rất mạnh mẻ với ứng cử viên của đảng Cộng Hòa vào 9 tháng sắp tới.

Chỉ số chứng khoán Dow Jones đang gia tăng dần dần, từ  gần 12000 trong nhiều tháng qua, nay đã lên 12 780. Sức khỏe của nền kinh tế và tài chánh Mỹ được đo lường bằng chỉ  số này. Nếu chỉ số này ngày càng gia tăng đến khoảng 13000 trong 9 tháng tới, điều đó có nghĩa là kinh tế Mỹ đang phục hồi, số lượng người kiếm được việc làm gia tăng, và số thất nghiệp giảm xuống chừng 7%, lúc ấy, TT Obama có hy vọng thắng cử.

Ngược lại, nếu các chỉ số trên giữ  nguyên như hiện nay, thì có nguy cơ cao là TT Obama sẽ thất cử.

Người dân Mỹ không chấp nhận một TT Mỹ đương nhiệm để cho tình trạng thất nghiệp kéo dài, dù là bất cứ lý do nào. Trong mấy chục năm qua, lịch sử  Mỹ cho thấy TT đương nhiệm đã thất cử vì nạn thất nghiệp cao, kinh tế suy thoái, điển hình là TT Jimmy Carter (đảng Dân Chủ) đã thất cử năm 1980, và TT Georger H. W. Bush (đảng Cộng Hòa) đã thất cử 1992. Và khi kinh tế suy thoái vào cuối năm 2007, ứng viên TT của đảng Cộng hòa John Mc Cain cũng đã thất cử trước TT Obama.

Dân chúng Mỹ luôn luôn quan tâm ứng cử viên nào có khả năng nào tạo ra nhiều công ăn việc làm cho 4 năm sắp tới. Và như thế, chắc có lẻ là  TT Obama sẽ đối đầu với cựu Thống đốc Mitt Romney, đảng viên đảng Cộng Hòa.

Posted in Chinh Tri Hoa Ky | Leave a Comment »

Lại bị Trung Quốc cảnh cáo, răn đe coi thường như con nít mà cứ xưng là có độc lập, tự do và quang vinh!

Posted by hoangtran204 trên 24/01/2012

Trung Quốc cảnh cáo Việt Nam không nên gần với Mỹ trong vấn đề Biển Đông

DCVOnline– (Tin Mainichi Japan)HÀ NỘI (Kyodo) – Trong chuyến thăm chính thức hồi tháng trước Phó Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đã cảnh cáo Việt Nam phải giữ khoảng cách với Hoa Kỳ về vấn đề nhạy cảm – tranh chấp lãnh thổ ở Biển Nam Trung Hoa (Biển Đông), các nguồn tin của Đảng Cộng sản Việt Nam cho hay. Cận Bình, người sẽ trở thành người lãnh đạo số một của Trung Quốc cuối năm nay, nhắc lại lời cảnh cáo trong các cuộc họp riêng với Tổng thư ký Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang và Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng trong chuyến thăm của ông từ 20 đén 22 Tháng 12, năm ngoái, các nguồn tin cho biết.

Tầu ngầm TQ
Nguồn ảnh: chinapost.com.tw


Người ta tin rằng Trung Quốc được đã làm áp lực với Việt Nam – nước láng giềng đã có những tranh chấp căng thẳng về hai quần đảo ở vùng Biền Đông – như một phản ứng để chống lại chính sách khiêu khích “bao vây” và “ngăn chặn” Trung Quốc mà chính quyền của Tổng thống Mỹ Barack Obama đang theo đuổi, và đã tuyên bố sẽ đẩy nâng cấp cam kết của Mỹ trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương.

Sự kiện này xảy ra sau khi Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton cuối năm trước làm Trung Quốc khó chịu vì đã khăng khăng đòi vần đê tranh chấp Biển Đông phải là một đề tài thảo luận trong diễn đàn trong khu vực như Hội nghị Thượng đỉnh Đông Á và tại Diễn đàn khu vực ASEAN, bất chấp sự phản đối của Trung Quốc cho rằng các thế lực bên ngoài không có ký do gì để can thiệp vào các vấn đề tranh chấp tại đây.

Hồ tháng Mười Một, Chủ tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Đào đã đưa ra một cảnh cáo tương tự với Việt Nam về việc đu dây quá gần với Hoa Kỳ khi Đào gặp Sang (Chủ tịch Nước CHXHCNVN) tại Hawaii trên bên lề hội nghị hợp tác kinh tế thượng đỉnh châu Á-Thái Bình Dương hàng năm, theo các nguồn tin của Đảng CSVN.

Những nguồn tin này cho biết các nhà lãnh đạo Việt Nam gặp gỡ tháng trước với Cận Bình đã yêu cầu Trung Quốc bình tĩnh và dè dặt, đòng thời nhấn mạnh rằng Việt Nam theo đuổi một chính sách ngoại giao đa chiều.

Trong cuộc họp giữa Cận Bình với Trọng, phó chủ tịch TQ, theoTân Hoa Xã đưa tin, đã nói rằng hai nước “nên xử lý đúng đắn những khác biệt và mâu thuẫn đôi bên một cách tích cực và dựa trên nguyên tắc ưu tiên dành cho tình hữu nghị và phát triển của hai nước để bảo vệ sự ổn định trong khu vực.”

Thứ trưởng Ngoại giao Trung Quốc Zhang Zhijun (Trương Chí Quân) nói với các phóng viên hai bên đã đạt được một “đồng thuận quan trọng về xử lý đúng cách trong tranh chấp Biển Đông” và “đồng ý để làm có nỗ lực chung để thực hiện nghiêm túc và có hiệu quả trong việc duy trì sự ổn định ở Biển Nam Trung Hoa (Biển Đông).”

© DCVOnline


Nguồn: China warns Vietnam not to cozy up to U.S. on S. China Sea issue. Mainichi Japan, January 21, 2012.

Posted in Chinh tri Trung Quoc, Chinh Tri Viet Nam, Đảng CSVN | Leave a Comment »

Chính quyền coi dân chúng như là súc vật: Muốn bắt ai, là bắt; hăm dọa cưỡng chế bất cứ ai có tư tưởng khác biệt

Posted by hoangtran204 trên 23/01/2012

LS Lê Quốc Quân bị ‘giáo dục’ tại phường 6 tháng

HÀ NỘI 21-1 (NV) – Luật Sư Lê Quốc Quân, một luật sư nhân quyền từng bị bỏ tù không án, vừa bị nhà cầm quyền ra “quyết định” “giáo dục” 6 tháng ở địa phương.

143414-VN_LeQuocQuan_GiayMoi_012112_400.jpg
“Giấy mời” của công an phường Yên Hòa đòi LS Lê Quốc Quân đi “làm việc” ngày 11 tháng 1, 2012 nhưng ông từ chối.Trong cuộc nói chuyện với báo Người Việt hôm 21 tháng 1 năm 2012, ông cho biết một số chi tiết về chuyện này.

Ông phổ biến trên Facebook cái “Quyết định” của phường Yên Hòa, quận Cầu Giấy Hà Nội, ép “giáo dục” ông ở địa phương từ ngày 13 tháng 1, 2012 đến 13 tháng 7, 2012. Ðồng thời ông cũng cho phổ biến luôn trên Facebook cái “Giấy mời” ngày 18 tháng 1, 2012 đi tới phường để nhận cái “quyết định” nói trên. “Giấy mời” chỉ đề “đại diện” để nhận cho ông thay vì chỉ đích danh người phải tới để nhận là ông.

Buổi sáng ngày 20 tháng 1 năm 2012, LS Lê Quốc Quân, LS Nguyễn Văn Ðài và Bác Sĩ Phạm Hồng Sơn, 3 người đấu tranh vận động dân chủ hóa Việt Nam, đã gặp phái đoàn 4 nghị sĩ Mỹ ở khách sạn Metropole, Hà Nội, để vận động nhân quyền cho đất nước. Luật Sư Ðài thì bị lôi tới phường để thẩm vấn suốt 3 tiếng đồng hồ trong khi LS Quân thì nhận những tờ giấy liên quan tới “giáo dục” ông.

Quyết định thì có hiệu lực từ ngày 13 tháng 1 nhưng “giấy mời” đi nhận quyết định thì lại đề ngày 18 tháng 1, theo lời LS Quân thì “Tôi không nhận theo lệnh gọi nên nó ra như vậy”. Thêm nữa, ông cho biết “Quyết định có trước, còn giấy mời đó là để đi công bố cho toàn bộ tổ dân phố, ai cũng được nhận”. Ông nói thêm là “Quyết định có trước nhưng bọn họ ngâm, đi đấu tố trước và mãi đến ngày 19 tháng 1 tức là sau khi đi đấu tố mà tôi không tham dự thì mới đưa đến nhà”.

143414-quan.jpg
LS Lê Quốc Quân.

Khi được hỏi “Giáo dục tại xã, phường là gì, khác như kiểu đưa đi luôn như bà Bùi Minh Hằng?” Ông nói “Cái này chỉ là thông báo cho gia đình và cho tổ trưởng tổ dân phố để thường xuyên qua lại nhà tôi, khuyên nhủ, bảo ban và nếu đi đâu quá 10 ngày là phải báo cáo phường.”

Theo ông, “6 tháng có thể là bước đầu, sau đó có thể phải đi 2 năm như chị Bùi Thị Minh Hằng”.

Buổi tối ngày 10 tháng 1 năm 2012, công an phường Yên Hòa đã gửi “Giấy mời” ông đi “làm việc”. Trên cái giấy mời này không cho biết lý do đích xác gì cả mà chỉ để “làm việc”. Luật Sư Lê Quốc Quân đã viết trên đó mấy chữ: “Tôi Lê Quốc Quân nhận giấy này nhưng không đi. Tôi thấy nhà nước quấy nhiễu và làm phiền tôi rất nhiều. Tôi phản đối và bất hợp tác toàn diện với chính quyền.”

Hồi tháng 3 năm ngoái, ông nộp đơn ứng cử đại biểu Quốc Hội thì lá đơn bị lờ đi trong khi cá nhân ông bị lôi ra phường đấu tố. Năm 2007, ông bị bắt giam 3 tháng rồi thả mà không có lý do chính thức nào, sau khi ông tham dự một khóa huấn luyện về xã hội dân sự ở Hoa Kỳ của tổ chức NED.

Từ đó trở đi, ông sống trong sự khủng bố thường xuyên của nhà cầm quyền CSVN.

Ông bị tước giấy phép hành nghề luật sư nhưng mở một văn phòng dịch vụ tư vấn cho giới đầu tư ngoại quốc thì bị phá, bao vây cô lập.

Ông đã bị bắt giam ít ngày hồi đầu tháng 4, 2011 khi đến tòa án Hà Nội xem xử Tiến Sĩ Cù Huy Hà Vũ.

326396_365013780179541_100000127652230_1627602_204285078_o.jpg

327895_365014156846170_100000127652230_1627603_272060672_o.jpg

_________________________________

                            Nhạc sĩ Việt Khang bị bắt

Tin từ một người bạn của nhạc sĩ Việt Khang cho hay, công an Mỹ Tho đã bắt đi nhạc sĩ Việt Khang vào trước lễ Noel vừa rồi. Việt Khang có tên thật là Võ Minh Trí là cộng tác viên trẻ thuộc Đoàn Nghệ Thuật Tổng Hợp Tiền Giang.

Lý do Việt Khang bị bắt giữ có thể liên quan tới một ca khúc do chính anh sáng tác và biểu diễn. Ca khúc có tên “Việt Nam Tôi Đâu”. Bài hát ca ngợi tình yêu nước, chống Trung Quốc và bảo vệ chủ quyền biển đảo của Việt Nam. Cùng với lời ca là  các hình ảnh biểu tình chống Trung Quốc ở Hà Nội, Sài Gòn, video do anh sáng tác được phát tán rộng rãi trên mạng.

Bài hát có đoạn “Hoàng Trường Sa đã bao người dân vô tội chết ngậm ngùi vì tay súng giặc Tầu...”, tiếp theo đó là lời kêu gọi đứng lên “chống giặc tầu và những kẻ bán nước”…

Những hình ảnh biểu tình xuất hiện trong video clip của Việt Khang
Các bạn có thể  nghe nhạc của Việt khang tại đây

http://youtu.be/_KEPmduvlAg

Posted in Tự Do ngôn Luận, Đảng CSVN | Leave a Comment »

Mừng Xuân 2012

Posted by hoangtran204 trên 22/01/2012

Mến Chúc các bạn đọc Một Năm Mới An Lành và Hạnh Phúc


Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

Chẳng có người dân nào phá nhà ông Vươn!

Posted by hoangtran204 trên 21/01/2012

Cán bộ địa phương thông tin quanh co, bất nhất. Trong khi đó, người dân khẳng định nhà của gia đình ông Vươn bị cơ quan chức năng dùng máy xúc phá.

Đoàn giám sát thuộc MTTQ kiểm tra hiện trường ngôi nhà ông Đoàn Văn Vươn bị san phẳng

Ngày 19-1, đoàn giám sát của Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam đã về làm việc với MTTQ huyện Tiên Lãng, chính quyền xã Vinh Quang (huyện Tiên Lãng, TP Hải Phòng) về vụ việc cưỡng chế thu hồi đất nuôi trồng thủy sản của ông Đoàn Văn Vươn tại xã Vinh Quang.

Thu đất làm sân bay (?)

Tại cuộc làm việc, đại diện các cơ quan của Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam là GS Nguyễn Lang, Phó Chủ nhiệm Hội đồng Tư vấn kinh tế; luật sư Lê Đức Tiết, Phó Chủ nhiệm Hội đồng Dân chủ pháp luật; ông Nguyễn Công Nguyên, Trưởng Ban Kinh tế đối ngoại và ông Nguyễn Anh Đức, Thường trực Hội đồng Tư vấn kinh tế, cùng đặt nhiều câu hỏi với lãnh đạo MTTQ huyện Tiên Lãng, Ban Dân vận huyện ủy Tiên Lãng và lãnh đạo xã Vinh Quang về những vấn đề xung quanh vụ cưỡng chế thu hồi đất của gia đình ông Đoàn Văn Vươn và các hộ khác.

GS Nguyễn Lang đặt câu hỏi: “Sự việc xảy ra trong nhiều năm, có khiếu kiện của dân, vậy với vai trò bảo vệ quyền lợi hợp pháp của dân, MTTQ huyện đã làm việc cụ thể những gì?”.
Ông Hoàng Anh Tuấn, Trưởng Ban Dân vận Huyện ủy Tiên Lãng, khẳng định: Việc thu hồi đất của gia đình ông Đoàn Văn Vươn và các hộ khác là đúng quy định của pháp luật vì nơi đó sẽ làm sân bay (?) và huyện sẽ quai đê lấn biển lần 2 để di dân ra đó”.

Trong khi đó, trả lời báo chí trước đây, chính quyền xã Vinh Quang đã từng khẳng định việc thu hồi đầm của ông Vươn để sau này sẽ chia nhỏ ra, tổ chức đấu thầu cho người khác thuê. Chánh văn phòng UBND huyện Tiên Lãng Ngô Ngọc Khánh lại từng khẳng định rằng cứ thu hồi đát trước đã, sau đó giao cho ai sẽ tính sau.

Tại buổi làm việc, ông Phạm Đăng Hoan, Bí thư Đảng ủy xã Vinh Quang, đưa ra những căn cứ khẳng định việc thu hồi đất của gia đình ông Đoàn Văn Vươn là đúng pháp luật.

Ông nói: “Ông Đoàn Văn Vươn và Vũ Văn Luân đều không có hộ khẩu tại xã Vinh Quang, được nhận giao đất bãi bồi ven biển. Đất này được xác định là đất chưa ổn định và không phải đất nông nghiệp vì đây là vùng ngoài đê quốc gia, nên việc giao đất phải có hạn. Riêng nhà anh Vươn xây trên đất không cấp để ở, chỉ để trông coi. Nhân dân rất không đồng tình với việc chống nhà chức trách của gia đình ông Vươn” – ông Hoan khẳng định.

Cũng theo ông Hoan, do vợ con ông Đoàn Văn Vươn và ông Đoàn Văn Quý không có hộ khẩu tại địa phương nên việc bảo đảm cuộc sống của họ, xã cũng chỉ có trách nhiệm phần nào.

Trái ngược hoàn toàn với sự khẳng định trước đó của ông Đỗ Trung Thoại, Phó Chủ tịch UBND TP Hải Phòng, rằng “người dân bất bình phá nhà ông Vươn”, ông Nguyễn Duy Hòa, Chủ tịch Hội Nông dân xã Vinh Quang, khẳng định: “Nhà của ông Vươn là do lực lượng chức năng dùng máy xúc phá”.

Cưỡng chế sao lại lấy tài sản của dân?

Đoàn giám sát cũng đã gặp gỡ một số người dân địa phương để nắm bắt thêm tình hình. Trả lời thành viên đoàn giám sát – luật sư Lê Đức Tiết, ông Mai Công Chứng, 85 tuổi, 50 năm tuổi Đảng, ở thôn Chùa Trên, xã Vinh Quang, bộc bạch: “Tôi lập nhà ở sát Cống Rộc gần 50 năm nay, trước đây nơi này là biển nước, chỉ có vài cây sú, bần, cói không mọc nổi. Từ ngày ông Vươn đổ tiền của, công sức đắp kè, làm đầm, trồng cây chắn sóng thì nhiều gia đình khác như nhà tôi không còn nơm nớp lo vỡ đê chạy bão”.

Chia sẻ với GS Nguyễn Lang, ông Vũ Hồng Khê (thôn Đông Dưới, xã Vinh Quang) bày tỏ: “Việc của ông Vươn không chỉ là chuyện riêng của xã Vinh Quang mà Nhà nước cần vào cuộc, làm rõ. Chính quyền lại dùng máy xúc san phẳng nhà dân rồi để người lạ đến chia “chiến lợi phẩm” từ gà chó, chặt chuối đến cả việc bắt cá tôm. Dân bất bình lắm”.

Cùng bức xúc như ông Kê, bà Giót – một người dân sở tại – nói: “Cưỡng chế thì phải niêm phong, giữ nguyên hiện trường chứ sao lại phá nhà dân rồi thu vén như vậy”.

Anh Nguyễn Xuân Trường (thôn Rừng Thông, xã Vinh Quang) bất bình: “Thật khó hiểu với chính quyền xã khi đất của anh Vươn thu hồi buổi sáng thì buổi tối đã có người tên K. đến tiếp quản. Thực tế chẳng có người dân nào có thể vào để phá nhà ông Vươn cả”.

Trao đổi với ông Nguyễn Anh Đức, Thường trực Hội đồng Tư vấn kinh tế, ông Phạm Văn Bài (thôn Chùa Trên) khẳng định ông Vươn tấn công người thi hành công vụ là sai nhưng việc ông làm cho người dân xã Vinh Quang là rất lớn và là người rất tốt với mọi người xung quanh. “Có lẽ do bị dồn vào bước đường cùng nên ông Vươn mới hành động như vậy” – ông Bài nhận định.

Đến 20 giờ cùng ngày, đoàn giám sát của Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam mới rời xã Vinh Quang, Tiên Lãng để về TP Hải Phòng. Dự kiến, sáng nay (20-1), đoàn giám sát sẽ làm việc với lãnh đạo MTTQ TP Hải Phòng.

Luật sư Lê Đức Tiết cho biết tất cả những trình bày, báo cáo của chính quyền, cơ quan chức năng xã Vinh Quang, huyện Tiên Lãng, TP Hải Phòng và tâm tư, chia sẻ của người dân sẽ được tổng hợp để báo cáo lãnh đạo Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam và Trung ương.

Đoàn giám sát thăm gia đình ông Vươn

Thay mặt đoàn giám sát, luật sư Lê Đức Tiết đã gặp gỡ và thăm hỏi bà Nguyễn Thị Thương, vợ ông Đoàn Văn Vươn và bà Phạm Thị Hiền, vợ ông Đoàn Văn Quý.

Bà Hiền cho biết hiện gia đình bà và gia đình bà Thương vẫn đang tá túc tại nhà anh Đoàn Văn Thoại (em trai út của ông Vươn).

Bà Thương chia sẻ: “Gia đình tôi chỉ mong muốn được các ban ngành Trung ương quan tâm, xem xét làm rõ sự việc. Gia đình chúng tôi mong muốn vụ án được xét xử công bằng, toàn diện, đúng pháp luật“.

Nguồn: Người Lao Động

nguồn: danchimviet

Posted in Cướp Đất Đai, Cướp đất và chiếm đoạt tài sản của dân | Leave a Comment »

Trần Trọng Kim với Việt Nam Sử Lược- Chính phủ đầu tiên của nước Việt Nam độc lập và thống nhất xuất hiện vào tháng 4-1945

Posted by hoangtran204 trên 21/01/2012

Chính phủ đầu tiên của nước Việt Nam độc lập và thống nhất đã ra đời vào tháng 4-1945 với 11 thành viên trong nội các do Thủ Tướng Trần Trọng Kim đứng đầu đã làm cho ông Hồ Chí Minh và đảng cộng sản Việt Nam ghen tức và tung tin, nói xấu, chụp mũ chính phủ này là bù nhìn của Nhật. Một trong những cách đánh giá người nào, ta hãy đọc qua những gì mà họ viết. Với Thủ tướng Trần Trọng Kim, ta hãy đọc qua một trong những tác phẩm có giá trị nhất theo nhiều sử gia Việt Nam đánh giá.

Cuốn Việt Nam Sử Lược của sử gia Trần Trọng Kim ấn bản trên mạng, gồm 252 trang, download 3 Mb. Cuốn sử này cũng được post trên vnthuquan.net. “là tác phẩm do nhà sử học Trần Trọng Kim biên soạn năm 1919. Tác phẩm này là cuốn sách lịch sử Việt Nam đầu tiên viết bằng chữ quốc ngữ, hệ thống lại toàn bộ lịch sử nước Việt (cho đến thời Pháp thuộc) và được đánh giá là một trong những cuốn sách sử Việt Nam có phong cách ngắn gọn, súc tích và dễ hiểu. Sách được xuất bản lần đầu tiên vào năm 1921 và được tái bản rất nhiều lần, có lúc đã được dùng làm sách giáo khoa tại miền Nam trước năm 1975.

Trích dẫn từ Việt Nam sử lược của Wikipedia, Bách khoa Toàn thư Mở.


Trần Trọng Kim với Việt Nam Sử Lược

danluan.org

Mai Khắc Ứng
ttk.jpg

                                                       ảnh: Trần Trọng Kim

Một buổi chiều cuối năm 1962, sau hồi kẻng “thu không” khoảng 15, tôi theo thầy Trần Quốc Vượng ra khỏi lớp. Lúc đó, mấy lối đi về phía nhà ăn của Ký túc xá Láng học trò trường Trung học Trung Hoa và sinh viên Khoa Xã hội trường Đại học Tổng hợp đã gõ đũa vào bát lanh canh.

Là một học sinh xuất thân từ trường Bổ túc Văn hoá Công Nông Nghệ An, vì trường ở Cổng Chốt cháy phải ra Đông Triều rồi vào Đại học, tôi có tuổi đờì xấp xỉ tuổi thầy, nên tình thầy trò cũng là tình anh em. Thân thiện và cởi mở đã tạo cho tôi nhiều cơ hội gần gũi các thầy.

Đi dọc hành lang từ lớp ra đường trục, thầy Vượng đảo mắt rất nhanh rồi khe khẽ nhắc tôi: “Hãy tìm cuốn Việt Nam Sử Lược của Trần Trọng Kim mà đọc”. Lời căn dặn dè dặt chỉ đủ cho tôi nghe nhưng sao mà ấm áp vậy. Việt Nam Sử Lược như một dòng sữa ngọt rót vào tâm hồn tôi từ buổi chiều đáng nhớ đó.

“Thánh nhân đãi khù khờ”. Thầy Đặng Huy Vận đã lôi dưới đáy rương ra cho tôi mượn cuốn sách mà thầy Vượng khuyên tìm đọc. Việt Nam Sử Lược của Trần Trọng Kim thời đó là sách cấm. Phòng đọc hạn chế của Thư viện Quốc gia ở số 31 đường Trường Thi cũng không ló ra.

Thế là từ buổi chiều thủ thỉ ấy, tôi nhận biết một Trần Quốc Vượng bên trong Trần Quốc Vượng trên bục giảng của đời sống hiện đại. Theo chỉ bảo của thầy Vượng, tôi nghiền ngẫm cuốn sách này và mãi cho đến nay, mỗi lần cần viện đến chứng cứ lịch sử, tôi vẫn phải nhờ Trần Trọng Kim.

Lời khuyên thật lòng đó với tôi hơn vạn bài giảng văn hoa cao xa dông dài. Viết như vậy mới đích thực là nhà sử học. Có nói có. Không nói không. Sai nói sai. Đúng nói đúng. Dường như mọi diễn biến lịch sử trên đất nước ta trước thế kỷ XX, tác giả không bỏ sót một sự kiện quan trọng nào. Minh bạch, mạch lạc, rõ ràng trình ra trên từng dòng, từng trang sách. Tác giả không đứng về một họ chỉ để viết cho dòng họ ấy mà đứng trên cái chung để viết cho mọi độc giả. Quan điểm riêng của người viết là ở phần nhận xét đánh giá kết luận. Công bằng và khách quan đấy chứ. Điều đó khác với mọi cuốn sử, sách giáo khoa văn sử về sau. Đương nhiên tác giả cũng là một con người. Đã là con người thì mấy ai tránh khỏi lệ “nhân vô thập toàn”. Hạn chế của tác giả nằm vào năm 1919 khi ông mới ngoài 30 tuổi, mà phần nhân loại sinh tụ trên lãnh thổ Việt Nam còn tối tăm mù mịt. Pháp đó. Vua quan đó. Người viết phải lách là điều hiển nhiên. Không lách là không có sách. Lách nhưng không hèn. Một ngôi sao trong đêm tối toả sáng đến vậy là đủ dẫn dắt rồi. Đó là điều đáng kính phục. Trần Trọng Kim không làm hài lòng ai khi ông nặng lời lên án Hồ Quý Ly tàn bạo, gian manh, lên án Mạc Đăng Dung cướp ngôi nhượng đất. Về lịch sử, ông viết hoàn toàn dựa trên cứ liệu lịch sử. Về quan điểm khen hay chê thuộc quyền riêng của mỗi người. Điều bất bình thường hiện nay là hễ ai không phụ hoạ mình là xấu, là sai, là thù. Cái lẽ nhất thời này không nằm trong phương pháp luận sử học. Ngoài ông, ngoài tôi còn có bàn dân, còn có mai sau.

“Nhìn về quá khứ để xây dựng tương lai bền vững” đang được nhiều quốc gia phát triển chọn làm phương châm xử thế. Sử học góp phần giúp điều chỉnh xã hội chính là chỗ đó. Ngược lại. Đương nhiên là lộn đường.

Xin trích vài đoạn trong Việt Nam Sử Lược:

4. Nghệ Tông thất chính – Vua Nghệ Tông tuy giữ quyền chính trị, nhưng việc gì cũng do ở Lê Qúi Ly. Triều thần thì chỉ có những mặt xu nịnh, người nào cũng chỉ lo lấy thân mà thôi, việc nước an nguy thế nào không ai lo nghĩ đến. Những người tôn thất như Trần Nguyên Đán thấy quốc chính rã rời, xin về trí sĩ. Một hôm Thượng hoàng đến thăm bàn đến hậu sự, Nguyên Đán tâu rằng: “Xin bệ hạ thờ nhà Minh như cha, yêu nước Chiêm thành như con, thì quốc gia sẽ không việc gì, mà lão thần chết cũng không hẩm!” Ấy là chỉ bàn những chuyện làm tôi tớ mà thôi, chứ không có chí muốn cho nước mình cường thịnh. Nguyên Đán biết rằng Quí Ly rồi tất cướp ngôi nhà Trần, liên kết làm thông gia, vì thế cho nên sau dòng dõi nhà Trần chết cả, duy chỉ có con cái nhà Nguyên Đán được phú quý mà thôi.

Nghệ Tông Thượng hoàng thì cứ mờ mịt không biết ai trung ai nịnh, vẫn tưởng là Lê Quí Ly hết lòng với nhà vua, bèn cho Lê Quí Ly gươm và cờ có chữ đề rằng: “Văn võ toàn tài, quân thần dũng đức”. Lê Quí Ly làm thơ nôm dâng tạ.

5. Lê Quí Ly mưu giết đế hiền – Bấy giờ Đế Hiển thấy Thượng hoàng yêu dùng Quí Ly, mới bàn với các quan rằng nếu không trừ đi rồi sau tất thành ra vạ to. Quí Ly biết mưu ấy, đến kêu van với Thượng hoàng rằng: cổ lai chỉ bỏ cháu nuôi con, chứ chưa thấy ai bỏ con nuôi cháu bao giờ. Thượng hoàng nghe lời, xuống chiếu trách Đế Hiển còn tính trẻ con và lại có ý hại kẻ công thần, làm nguy xã tắc; vậy phải giáng xuống làm Minh đức đại vương, và lập Chiêu định vương là con Nghệ tông lên nối ngôi.

Khi tờ chiếu ấy bố cáo ra ngoài, có mấy người tướng quân đã toan đưa quân vào điện cứu Đế Hiển ra, nhưng vua viết hai chữ “giải giáp” và không cho được trái mệnh của Thượng hoàng. Sau Đế Hiển bị thắt cổ chết, còn những tướng sĩ đồng mưu giết Quí Ly đều bị hại cả” (Việt Nam Sử Lược, tr. 174, 175, tái bản lần thứ 6, Sài Gòn, 1960)

3. Nghệ Tông mất-Đến tháng chạp năm giáp tuất (1394) thì Thượng hoàng mất. Trị vì được 3 năm, làm Thái Thượng hoàng 27 năm, thọ 74 tuổi.

Nghệ tông là ông vua rất tầm thường, chí khí đã không có, trí lự cũng kém hèn, để cho kẻ gian thần lừa đảo, giết hại cả con cháu họ hàng, xa bỏ những kẻ trung thần nghĩa sĩ; cứ yêu dùng một Quí Ly, cho được quyền thế, đến nỗi làm xiêu đổ cơ nghiệp nhà Trần.

Dẫu rằng đến khi vận nước đã suy, không có điều này cũng có điều nọ, tựa hồ người đã già không phải bệnh nọ thì cũng mắc bệnh kia, nhưng cứ sự thực mà xét, thì cũng vì vua Nghệ tông cho nên cơ nghiệp nhà Trần mới mất về tay Quí Ly; mà cũng vì sự rối loạn ấy, cho nên giặc nhà Minh mới có cơ sở mà sang cướp phá nước Nam trong 20 năm trời.

Một điều Trần Trọng Kim không viết, nhưng chắc ông cũng thừa biết là Trần Nghệ Tông đã thay Trần Thủ Độ trả món nợ cũ cho nhà Lý đấy thôi.

Nhân – Quả mà.

Quí Ly bắt Thuận tông nhường ngôi rồi, lập Thái tử là Án lên làm vua. Thái tử bấy giờ mới có 3 tuổi, tức là Thiếu đế, niên hiệu là Kiến tân

Lê Quí Ly làm phụ-chính tự xưng làm Khâm-đức hưng liệt đại vương, rồi sai người giết Thuận tông đi.

Bấy giờ triều đình có những người như là Thái bảo Trần Nguyên Hãn, Thượng tướng quân Trần Khát Chân lập hội để mưu trừ Quí Ly, chẳng may sự lộ ra, bị giết đến 370 người.

Lê Quí Ly lại xưng là Quốc tổ chương hoàng, ở cung Nhân thọ, ra vào dùng nghi vệ của Thiên tử. Đến tháng hai năm canh thìn (1400) Quí Ly bỏ Thiếu đế rồi tự xưng làm vua thay ngôi nhà Trần”. (Sdd, tr.177 – 181)

Sau đó không lâu thì lời thề “Nếu hạ thần không hết lòng, hết sức giúp nhà vua, thì trời tru đất diệt” ứng nghiệm.

Có hay không những điều như thế ở thời Trần mạt là điều cần bàn, cần xác minh. Còn việc khen hay chê Lê/Hồ Quí Ly lại thuộc về nhận thức, quan điểm, thái độ của mỗi cá nhân. Người cho như thế là bất lương gian hùng, thì chê. Thiết nghĩ khen hay chê đều thuộc về nhân tâm, về nhận thức mà cũng là quyền sơ đẳng của mỗi con người.

Một người viết lịch sử rạch ròi, phân minh như Trần Trọng Kim, thì hẳn nhân cách của ông ra sao cũng là điều đáng cho ta suy ngẫm.

Trần Trọng Kim bị/được chỉ định thành lập Chính phủ, trình danh sách Nội các lên vua Bảo Đại phê chuẩn vào ngày 17-4-1945 và ra mắt Quốc dân 2 ngày sau đó (19 – 4 – 1945)

Như chúng ta đều biết, vào thời điểm này Chiến tranh thế giới lần thứ hai đã bước vào giai đoạn kết. Hồng quân Liên Xô đang dũng mãnh tấn công phát xít Đức. Phe Đồng Minh mở mặt trận mới. Nhật liên tiếp chiến bại chịu nhiều tổn thất nặng nề. Paris đã được giải phóng. Charles de Gaulle lăm le giành lại thuộc địa. Các nước phương Đông đang tìm cách thoát khỏi ách thống trị thực dân. Nước ta trong khoảnh khắc đó giống như một con thuyền giữa sóng gió giông bão chưa rõ người chống chèo. Trong lúc nguy nan, ai dám nhảy ra nên được coi là tiên phong dũng cảm. Bởi nước là của chung. Mọi người yêu nước đều có quyền cứu nước theo suy nghĩ, hiểu biết, tấm lòng và năng lực của mình. Sự lựa chọn của số nhân sĩ trí thức tập hợp chung quanh Trần Trọng Kim diễn ra giữa bối cảnh Pháp sắp quay lại, Nhật sẽ ra đi. Từ tình thế nước sôi lửa bỏng lúc đó nên chọn ai? Pháp hay Nhật? Tìm điểm tựa mà thực hiện mục tiêu giành độc lập dân tộc một cách ôn hoà không đổ máu giữa hai đối tượng này cũng là một bài toán theo yêu cầu tình thế. Phong trào Đông du để đánh Pháp của Phan Sào Nam chưa xa, nhất là đối với người Nghệ. Phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh còn gần hơn mà tầng lớp nhân sĩ, trí thức lại sợ “Trí, phú, địa, hào đào tận gốc, trốc tận rễ” là chuyện đã xảy ra. Xin đừng coi sự lựa chọn trong tình cảnh chẳng đặng đừng để nhờ vả mà tìm một lối thoát cho quốc gia dân tộc là cúi đầu làm tay sai. Đã đến lúc phải nói với nhau rằng không phải hễ khác mình đều là kẻ thù. Trăm nẻo đường có thể đến cùng một đích. Xin hãy trọng nhau sự chung lòng đó.

Là một học giả sinh ra không để làm chính trị, không hề có tham vọng quyền lực, Trần Trọng Kim thực sự chưa hề chuẩn bị làm chính khách đứng ra thành lập Chính phủ. Nhân tình thế chủ quan, khách quan của đất nước nửa đầu năm 1945 và qua những lần tiếp xúc với một nhà ngoại giao Thái Lan, Trần Trọng Kim trăn trở, vỡ lẽ, nhận ra con đường thực thi phận sự công dân trước vận mệnh Tổ quốc. Hình hài về một thể chế Quân chủ Lập hiến kiểu Thái Lan bắt đầu manh nha trong tấm lòng nhà sử học – tác giả của một tác phẩm lịch sử để đời.

Tôi muốn nói điều này vì Chính phủ Trần Trọng Kim thành lập đơn giản bao nhiêu thì cáo chung cũng nhẹ nhàng, thanh thản bấy nhiêu. Dường như không có ai trong số những người được cơ cấu Nội các Trần Trọng Kim cay cú bực dọc phản ứng thù hận. Và, nếu họ là bù nhìn tay sai Nhật thực sự thì ngay thời điểm đó và cả sau này nữa, nhiều lần ta cần viện đến họ, vẫy gọi họ làm gì! “Hãy nói rõ bạn anh cho tôi. Tôi sẽ biết anh là người thế nào”.

Xin liệt kê ra đây danh sách Nội các Trần Trọng Kim:

1. Trần Trọng Kim, Giáo sư, Học giả, nhà Sử học: Thủ tướng.
2. Trần Văn Chương, Luật sư: Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao.
3. Trần Đình Nam, Y sĩ: Bộ trưởng Nội vụ.
4. Trịnh Đình Thảo, Luật sư: Bộ trưởng Tư pháp.
5. Hoàng Xuân Hãn, Thạc sĩ Toán: Bộ trưởng Giáo dục và Mỹ nghệ.
6. Vũ Văn Hiền, Luật sư: Bộ trưởng Tài chính.
7. Phan Anh, Luật sư: Bộ trưởng Thanh niên.
8. Lưu Văn Lang, Kỹ sư: Bộ trưởng Công chính.
9. Vũ Ngọc Anh, Bác sĩ: Bộ trưởng Y tế.
10. Hồ Tá Khanh, Bác sĩ: Bộ trưởng Kinh tế.
11. Nguyễn Hữu Thi, cựu Y sĩ: Bộ trưởng Tiếp tế.

Ngoài 11 thành viên Nội các, Chính phủ Trần Trọng Kim còn bổ nhiệm mấy vị sau đây đảm nhận trọng trách ở các địa phương xung yếu:

– Phan Kế Toại: Khâm sai Bắc bộ.

– Nguyễn Văn Sâm: Khâm sai Nam bộ.

– Trần Văn Lai: Đốc lý Hà Nội.

– Đặng Văn Hướng: Tổng đốc Nghệ An.

– Kha Vạn Kân: Đô trưởng Sài Gòn.

Trong số 16 người trên, phần nhiều về sau đã trở thành cán bộ cao cấp của Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.

Thiết nghĩ nếu họ là bù nhìn tay sai Nhật thì sao được vậy. Chẳng lẽ cùng Nội các mà Thủ tướng là bù nhìn tay sai Nhật, còn các thành viên khác thì không? 10 thành viên Nội các với 5 quan chức trọng trấn gắn bó chung quanh Trần Trọng Kim toàn là người có học vị, có uy tín. Nghĩa là đủ trình độ nhận biết bản chất vị Thủ tướng của mình. Họ thực lòng cộng sự đã nói lên nhân cách và uy tín của Trần Trọng Kim.

Điều không may cho Trần Trọng Kim là trước áp lực của tình thế với sự chỉ định của Quốc trưởng và tín nhiệm của đồng liêu ông phải làm Thủ tướng. Giá như Hoàng Xuân Hãn hoặc Phan Anh, Trịnh Đình Thảo hay Phan Kế Toại, thậm chí Trần Văn Lai, Kha Vạn Kân làm Thủ tướng thì Trần Trọng Kim tránh được “búa rìu của dư luận”. Và, nếu như Trần Trọng Kim thành lập Chính phủ bù nhìn thân Nhật sau ngày 19 – 8 – 1945 thì rõ ràng đúng như Giáo sư Vũ Ngọc Khánh viết: “Ông đã chọn lầm đường để chịu búa rìu dư luận”. Nhưng tháng 4 trước tháng 8 những 4 tháng. Thời điểm đó, Nhật không thể liên minh với Pháp để cùng chia sẻ Đông Dương. Người Việt Nam không thể dựa vào Pháp để giành độc lập. Tạm thời bắt tay với Nhật để yên thân thành lập một Chính phủ hợp hiến tìm sự ủng hộ của công luận trong và ngoài nước, trước khi Pháp gây hấn là toan tính khôn khéo của Trần Trọng Kim và Chính phủ. Pháp lo sợ điều này và săn đuổi Trần Trọng Kim là lẽ đương nhiên. Chẳng lẽ vì Pháp nghi ngờ nên ta cũng nghi ngờ theo. Một điều không nói ra nhưng ai cũng biết là Pháp quay lại Việt Nam lần này với hai sứ mạng. Một là giành Đông Dương từ tay Nhật bại trận. Hai là ngăn chặn sự phát triển của chủ nghĩa Cộng sản. Chính phủ Trần Trọng Kim là trở lực của hai sứ mạng đó.

Tôi thích thú khi đọc được những dòng sau đây: “cho đến nay ta chưa phát hiện được tài liệu gì về vấn đề này (tay sai Nhật). Do ông và cả Nhật cố tình giữ kín nên không ai biết”. Không ai biết sao lại viết “ông và cả người Nhật cố tình giữ kín!”. Thì ra chê để vòng vo mà thanh minh, mà trình làng rằng mọi lời buộc tội Trần Trọng Kim làm tay sai Nhật đều là vũ đoán, đồn đại, không có cơ sở. Tất cả chỉ để vu vạ kiểu “cả vú lấp miệng em” đó thôi. Bởi, nếu cho rằng mọi sự bắt tay trong quan hệ bang giao là tay sai thì tội cho những người trước và sau Trần Trọng Kim lắm lắm.

Có một chi tiết đáng được lưu ý là Trần Trọng Kim và thành viên Nội các đang lựa chọn sắp xếp, khẩn thiết yêu cầu Nhật mở cửa các nhà tù của Pháp, ân xá toàn bộ chính trị phạm không điều kiện ngay lập tức trước khi thành lập Chính phủ. Nhật đã nhượng bộ. Nhờ vậy, Trương Văn Lĩnh cùng nhiều chiến sĩ ra khỏi nhà tù Hoả Lò và các nhà tù khác trên cả nước từ tháng 3 – 1945, kịp thời tham gia Tổng khởi nghĩa.

Với tôi, Trần Trọng Kim qua Việt Nam Sử Lược là một người yêu nước thành tâm, một nhà sử học chân chính, trung thực, một người cầm bút có nhân cách, một học giả xuất sắc đã cống hiến phần trí tuệ, chí ít cho các thế hệ nửa đầu thế kỷ XX và Chính phủ Trần Trọng Kim là sản phẩm của tình thế với hoài bão bước đầu thực thi thể chế Quân chủ lập hiến đặt nền móng cho mô hình “Dân chủ Đại nghị” cổ điển về sau, của lớp nhân sĩ tri thức cũ biết lường trước hoạ binh đao nên tha thiết nhân nhượng, dung hoà.

Để cùng lớn lên xin đừng sợ sự thật.

Nguồn: Tạp chí Xưa&Nay
Số 346 (12/2009)

Posted in Cách Mạng Mùa Thu 1945 không hề xảy ra, Sách- Báo- Hồi Ký | 1 Comment »

►Biến cố Đoàn Văn Vươn cho thấy lịch sử Việt Nam có thể bước vào một ngã rẽ

Posted by hoangtran204 trên 20/01/2012

Ngô Nhân Dụng

Theo Diễn Đàn Thế Kỷ

Nhưng sự thật đâu là nguyên ủy gây ra vụ cướp đất dã man này? Nếu không có cái chế độ độc tài toàn trị của đảng cộng sản Việt Nam thì làm sao sinh ra hai anh em Lê Văn Hiền và Lê Văn Liêm bao che nhau, đưa nhau lên làm chủ tịch, trên dưới một bè?

Nếu hai anh em này sống trong một chế độ khác, có nền tư pháp độc lập, có đảng chính trị đối lập trong quốc hội, có báo chí tự do, thì làm sao họ dám bầy mưu lập kế suốt năm năm để cướp đất đai do công khai phá mấy chục năm trời của gia đình Đoàn Văn Vươn?

Phải gọi đó là một biến cố. Biến cố này đánh dấu một khúc quanh. Chúng ta chưa thể tiên đoán cuối cùng sẽ ra sao, nhưng sẽ còn biến chuyển, và có thể đưa tới các biến cố khác. Tên anh Đoàn Văn Vươn sẽ đi vào lịch sử Việt Nam, như tên anh Mohamed Bouazizi trong lịch sử nước Tunisie.

Trong bài báo cuối tuần qua, Lê Phan đã nhìn thấy những điểm tương đồng trong hoàn cảnh hai người. Họ đều là những người dân bình thường cố gắng vươn lên trong xã hội. Họ đều dùng sức lao động của mình, làm việc cực nhọc và có sáng kiến. Hai người không ai muốn “sinh sự,” không ai muốn chống đối chế độ, vì họ không mong gì hơn là lo cho gia đình.

Bouazizi, một sinh viên tốt nghiệp, sống ở thành phố thì xoay sở bằng nghề bán trái cây dạo. Đoàn Văn Vươn là nông dân, người nông dân Việt Nam tiêu biểu, đổ mồ hôi trên đất bùn phèn mặn để biến thành ruộng, vườn, ao cá. Cả hai người cùng bị chế độ độc tài tham nhũng ở xứ họ đẩy tới “bước đường cùng.” Quả là bước đường cùng, không tìm đâu ra lối thoát. Anh Bouazizi, 26 tuổi, đã tự thiêu. Cái chết của anh khiến giới thanh niên phẫn nộ nổi lên lật đổ chế độ; châm ngòi cho Mùa Xuân Á Rập năm 2011.

Anh Đoàn Văn Vươn may mắn còn sống sót. Với tuổi 49, anh đủ đức tin và can đảm để không tự hủy mình; anh đủ kiên nhẫn để đi khiếu nại hết bàn giấy này tới bàn giấy khác xin người ta đừng cướp công lao khó nhọc của gia đình mình. Nhưng anh và gia đình anh cũng bị đẩy tới “bước đường cùng” không khác gì Bouazizi; và họ đã phản kháng bằng chất nổ.

Vụ Đoàn Văn Vươn có thể châm ngòi cho một cuộc nổi dậy của nông dân Việt Nam hay không? Dù chưa ai nghĩ sẽ có một cuộc nổi dậy, nhưng biến cố mà anh gây ra cho thấy lịch sử Việt Nam có thể bước vào một ngã rẽ. Lâu nay, những vụ nông dân biểu tình đòi đất, xô xát với đám khuyển mã của chế độ cướp đất, đều là những hành động tập thể. Nhiều người cùng kêu oan, tiếng kêu la lớn hơn. Đi trong đám đông, người nọ dựa người kia, nếu có xô xát thì trách nhiệm cũng được san sẻ cho nhiều người.

Đoàn Văn Vươn là một biến cố đặc biệt. Vì đây là lần đầu tiên một nông dân thấp cổ bé miệng, một thân một mình, đứng dậy khiếu oan; khi kêu oan mãi không được thì quyết tâm kháng cự lúc quân cướp kéo tới chiếm đất chiếm nhà mình.

Kế hoạch cướp đất của huyện Tiên Lãng chỉ nhắm vào sản nghiệp của một gia đình Đoàn Văn Vươn chứ không liên quan đến người khác. Đoàn Văn Vươn không thể cầu cứu hàng xóm láng giềng, cũng không thể nào nhờ những phương tiện của giới truyền thông hay các đại biểu của cái quốc hội bù nhìn giúp. Anh hoàn toàn “đơn thương độc mã” như Triệu Tử Long đứng trước mặt trận quân Tào (Tháo)!

Quân Tào đây là cả một đảng Cộng sản với hai đại biểu là Lê Văn Hiền, Lê Văn Liêm. Hai anh em ruột làm chủ tịch huyện Tiên Lãng và chủ tịch xã Quang Vinh, đã bầy mưu lập kế, quyết tâm cướp cho bằng được mảnh đất mà anh Vươn khai phá, từ năm sáu năm nay. Họ đã bài binh bố trận, sử dụng hàng trăm công an, lôi theo cả bộ đội và lính biên phòng, một lực lượng vũ trang hùng hậu của chế độ độc tài đảng trị, kéo nhau đi cướp đất của một nông dân. Trong thế cô đơn như thế, gia đình anh phải dùng bạo lực đối phó lại guồng máy bạo lực. Đúng là con giun bị xéo mãi phải quằn lên.

Đoàn Văn Vươn là một biến cố, vì nó đã gây chấn động tới những lãnh tụ to đầu nhất của đảng cầm quyền. Có hai tay “cố vấn tối cao” vẫn còn ngồi phía sau sân khấu điều khiển đám lãnh tụ đương quyền, là Đỗ Mười và Lê Ðức Anh. Bình thường các ông già đang chuẩn bị ngày tang lễ này không bao giờ bàn đến công việc trị dân của đám đàn em. Nhưng tuần này một người đã phá lệ; chứng tỏ tầm quan trọng của biến cố Đoàn Văn Vươn. Lê Ðức Anh, từng đóng vai chủ tịch nước từ năm 1992 đến 1997, đã phải mượn bài phỏng vấn của một tờ báo đảng để “chạy tội.”

Tại sao nói là Lê Ðức Anh muốn chạy tội? Thứ nhất, muốn gỡ tội cho cả đảng Cộng sản; Lê Ðức Anh nói, “Có thể khẳng định chính quyền sai từ xã đến huyện!” Nói vậy tức là trút hết trách nhiệm lên cấp dưới, các chính quyền huyện và xã, và giới hạn trách nhiệm trong phạm vi nhỏ đó mà thôi.

Nhưng sự thật đâu là nguyên ủy gây ra vụ cướp đất dã man này? Nếu không có cái chế độ độc tài toàn trị của đảng cộng sản Việt Nam thì làm sao sinh ra hai anh em Lê Văn Hiền và Lê Văn Liêm bao che nhau, đưa nhau lên làm chủ tịch, trên dưới một bè?

Nếu hai anh em này sống trong một chế độ khác, có nền tư pháp độc lập, có đảng chính trị đối lập trong quốc hội, có báo chí tự do, thì làm sao họ dám bầy mưu lập kế suốt năm năm để cướp đất đai do công khai phá mấy chục năm trời của gia đình Đoàn Văn Vươn?

Ông Lê Ðức Anh phê bình các cấp thừa hành đã “để sự việc kéo dài quá nhiều năm.” Ông Vươn đã khiếu oan, kêu cứu bao năm trời, nhưng phủ bênh phủ, huyện bênh huyện. Họ đã có kế hoạch làm sân bay quốc tế mới trong vùng huyện Tiên Lãng. Khu đất bùn mà anh Đoàn Văn Vươn biến thành đất thịt sẽ có giá ngàn vàng. Cán bộ nắm quyền cho đất hay lấy lại đất, họ còn sợ ai nữa? Cả chế độ là một guồng máy đồng lõa với nhau trong kế hoạch ăn cướp, miếng ngon như vậy bỏ sao được?

Nếu không có đảng Cộng sản Việt Nam thì ai ngăn cấm đoán quyền sở hữu đất đai, ai dành độc quyền làm chủ ruộng đất cho guồng máy nhà nước; bắt người nông dân chỉ được hưởng quyền sử dụng đất trong 20 năm, rồi nhà nước có quyền đòi lại!

Nhà nước là đứa nào khi đưa ra những quyết định cho phép sử dụng hoặc đòi lại quyền sử dụng? Người dân nhìn lên chỉ thấy các quan chức cán bộ cộng sản toàn quyền quyết định. Không có báo chí tự do, không có hội đoàn, không đảng phái độc lập, người dân không có một cửa ngõ nào để lên tiếng phản đối những bất công áp bức. Một chế độ như vậy chắc chắn khuyến khích cán bộ lộng quyền làm bậy. Phải nói, một chế độ như thế đã tạo cơ hội mời gọi các cán bộ làm bậy; không ai có thể cưỡng mà không tham nhũng.

Như thế mà ông Lê Ðức Anh lại muốn đổ hết tội lỗi lên đầu cá nhân các cán bộ cấp huyện và xã. Đúng là ông chỉ muốn gỡ tội cho đảng cộng sản. Nói rõ hơn: Gỡ tội những kẻ điều khiển đảng; những kẻ đã lập ra đảng cộng sản; những kẻ đã dùng đảng cộng sản cướp chính quyền; những kẻ từ năm 1945 có dã tâm chiếm độc quyền chính trị nên tàn sát bao nhiêu người yêu nước không cùng chính kiến; những kẻ lợi dụng lòng yêu nước của dân Việt Nam để củng cố độc quyền chính trị, độc quyền kinh tế cho một nhóm người.

Bài phỏng vấn Lê Ðức Anh là một chỉ thị cho ban Tuyên huấn, đưa xuống cho các báo các đài thi hành: Được phép tha hồ phê bình hai anh em nhà Lê Văn Hiền, Lê Văn Liêm; nhưng giới hạn tới đó thôi. Tuyệt đối không đụng tới cấp cao hơn! Đó cũng trở thành chỉ thị cho Nguyễn Tấn Dũng, phải mở cuộc điều tra, kết tội hai anh em nhà đó, nhưng không đi xa hơn một bước! Tất cả đồng lòng chối bỏ tội lỗi của đảng!

Nhưng, trong thực tế ông Lê Ðức Anh còn muốn gỡ tội cho chính ông ta nữa. Các lãnh tụ cộng sản về hưu thường chỉ lên tiếng nói khi muốn chạy tội. Còn khi đang cầm quyền thì họ chỉ ngậm miệng mà ăn thôi! Nếu đảng Cộng sản sụp đổ thì ai chịu trách nhiệm?

Sau biến cố Đoàn Văn Vươn mọi người đã nhìn thấy cơn phẫn nộ bùng lên khắp nước. Hỏi nhau: Chuyện gì sẽ xẩy ra? Không ai biết trước được. Mùa Xuân Á Rập đã tỏa hương sang tới bên Miến Điện. Cảnh tượng Miến Điện dân chủ hóa có thể thúc đẩy những nhà trí thức và thanh niên Việt Nam muốn nhìn xa hơn, và can đảm hơn. Ai biết được chuyện gì sẽ xẩy ra? Ông Lê Đức Anh chắc phải được công an báo cáo tình hình nghiêm trọng như thế nào, cho nên ông mới phải xuất hiện công khai một lần nữa.

Nhân khi đổ tội cho cấp xã, cấp huyện, ông nói thêm, “Nếu thành phố Hải Phòng và trung ương không xử lý nghiêm việc này thì rất nguy hại.” Nói như vậy là để báo động cả guồng máy đảng trước nguy cơ sụp đổ. Nhưng cũng cốt ý nói rằng nếu chế độ sụp đổ vì một biến cố này thì “Tôi đã bảo mà! Tôi không có trách nhiệm nữa nhé!”

Việc xuất hiện của Lê Đức Anh để báo đảng phỏng vấn cho thấy họ đang run thật. Biến cố Đoàn Văn Vươn nếu chưa gây ra một cuộc nổi dậy của nông dân Việt Nam như cảnh tượng bên Tunisie sau vụ anh Mohamed Bouazizi tự sát thì cũng đánh dấu một khúc quanh. Đảng Cộng sản Việt Nam đang run sợ. Vì run sợ, ít nhất họ sẽ lo tìm hiểu, học tập kế thoát thân tập thể của bọn quân phiệt Miễn Điện; thay vì chỉ lo một mình ôm tiền chạy, hoặc từng anh lo riêng “hạ cánh an toàn.” Nếu vậy thì biến cố Đoàn Văn Vươn cũng vẫn là một khúc quanh quan trọng.

Posted in Cướp Đất Đai, Cướp đất và chiếm đoạt tài sản của dân | Leave a Comment »

Phỏng Vấn người dân- ở xã Vinh Quang, huyện Tiên Lãng- có tham gia vụ cưỡng chế đất

Posted by hoangtran204 trên 20/01/2012

Chuyện động trời ở Tiên Lãng – thông tin lần đầu công bố

danluan00052.jpgĐây là nhà của Lê Văn Hiền, chủ tịch Tiên Lãng
(đối diện với cơ quan huyện ủy)

Trưởng thôn Khoai Lang tôi (Tức nhà văn Nguyễn Quang Vinh – DL) đã có trong tay băng ghi âm quan trọng, ghi lại lời kể của hai cán bộ cốt cán có chức sắc tại xã Vinh Quang huyện Tiên Lãng và một chiến sĩ dân quân, người trực tiếp vụ cưỡng chế đất và nhà anh Đoàn Văn Vươn. Lời lể chân thật, không giấu diếm, tuy nhiên chúng tôi chưa thể công bố tên của họ. Nghe xong cuộc nói chuyện này, chắc chắn không một ai không giật mình trước một sự thật khó tưởng tượng về chủ tịch xã Vinh Quang Lê Văn Liêm, về hành vi cưỡng chế, mục đích cưỡng chế và những bí mật bỉ ổi của vụ việc này.Trong quá trình rã băng ghi âm, chúng tôi giữ nguyên cách nói, cách dùng từ của người kể.Đây là một câu chuyện động trời.

Ông Liêm chủ tịch xã Vinh Quang trước đây chỉ là một thằng bán bia chứ là gì. Dân người ta bảo xã này thiếu cha gì mà lại đưa thằng bán bia lên làm chủ tịch. Ông ấy có phải là cán bộ nguồn đâu. Đầu tiên làm bí thư chi bộ, rồi sau đó mấy tháng làm phó chủ tịch HĐND và lên làm chủ tịch luôn. Nhanh thôi!. Ngay trong năm 2008, khi Lê Văn Hiền lên chức Chủ tịch UBND huyện Tiên Lãng thì cùng thời điểm đó, Lê Văn Liêm được “cấu” vào nhân sự làm bí thư chi bộ thôn Đồn Dưới, tiếp đến cấu lên chức Phó chủ tịch Hội đồng nhân dân xã và cuối cùng cả hai anh em Lê Văn Hiền và Lê Văn Liêm người lên chức chủ tịch huyện, người lên chức chủ tịch xã ngay trong năm 2008.

Hôm xảy ra chiến sự, một chị nhà báo phải vào nói với dân là cho mượn cái giỏ, một bộ quần áo để cải trang làm người dân đi bắt cáy mới tiếp cận được gần đầm để tác nghiệp. Còn lại một số phóng viên, báo chí phải đứng trên đê, bí mất chụp ảnh, ghi hình, ghi âm.

Em nghĩ sai lầm lớn nhất của lãnh đạo thành phố là đổ tội cho dân, chết ở cái chỗ đấy. Em nói thế này để anh hiểu này: Sau khi vợ ông Vươn, vợ ông Quý được thả, đi xe máy về đến cái đầu đê dốc chỗ Cống Rộc ý, đến nỗi người dân người ta móc tiền trong túi ra, người thì 50.000, người thì 100.000 đ, như kiểu là vợ ông Vươn hành khất luôn, họ vui lòng bỏ tiền ra. Hôm nọ anh Ngọc ở Đài THVN về tí nữa thì bị công an đánh. Xã chỉ thị cho công an, cho dân quân, nếu mà phóng viên báo chí về, thứ nhất là mời họ đi, nếu họ không đi, đuổi họ đi, nếu đuổi không đi thì cứ tự xử rồi là tội vạ đâu xã chịu. Anh tính, xã chỉ thị như thế đấy…! – Ông Liêm chỉ thị như thế. Nói thật là bây giờ người dân ta bức xúc lắm!

Ngày cưỡng chế, ông Liêm cho tập hợp một số dân quân, một số công an viên và nó giao nhiệm vụ tại trụ sở Ủy ban.. Chính ông Ngô Ngọc Khánh, Chánh VP UBND huyện nói rằng cấm các đồng chí không được bỏ máy điện thoại ra chụp, quay. Đấy, chính cái hôm nổ súng đấy.

Anh là phóng viên, em không biết là anh bênh ai, bênh huyện hay bênh ông Vươn, nhưng các anh nên lắng nghe người dân, bênh cái lẽ phải.. Phải gặp dân cơ, không gặp cán bộ được. Mấy xã này người dân ta bức xúc lắm. Cứ bảo được lòng dân nhưng thực chất toàn dối trên, chúng nói cứ nói điêu, dân người ta chán rồi đấy! Ông Vươn sử dụng vũ khí trái phép, chống người thi hành công vụ thì phải đi tù, nhưng ông Vươn không làm thế liệu trên có biết không? Chính đốn Đảng thì hãy bắt đầu từ Tiên Lãng đi.

Hôm nay thằng P ở Hải Phòng gọi điện về bảo, người dân ngoài Hải Phòng người ta bảo ông Hiền sắp không có đất mà chui xuống nữa.

Em biết nhiều chuyện, nhưng bây giờ em nói ra không khéo mà lộ, tối bọn xã hội đen đến nhà đâm chết em ngay. Vì bây giờ cái đầm ấy xã hội đen quản lý. Lấy của dân về giao cho xã hội đen, công an xuống đánh bạc cả đêm. Anh biết không? Biên phòng cũng vào đấy đánh bạc cả đêm. Đấy! anh thấy đấy! Còn gọi gì là chính quyền nữa. Đấy nói thẳng là đi ăn cướp! Hỏng hết rồi!

Đổ tội oan cho nhân dân Vinh Quang! Đặc biệt là nhân dân xóm Chùa. Không nghĩ ông Đỗ Trung Thoại lại phát ngôn hồ đồ thế!

Chính vì cái vị trí quan trọng của cái đầm đấy cho nên ông Vươn mới bị thế. Nếu không có cái sân bay ở đấy xem người ta có đòi lại không? Không bao giờ có chuyện đòi lại!

Cái đầm của ông Luân kia nữa, nếu không có đường cao tốc duyên hải đi qua đấy thì liệu có cưỡng chế ông Luân không?, Đấy cái đường đi qua đấy! Đi qua Tiên Lãng sang Thái Bình, vào Ninh Bình đấy! Đấy, đều là lý do kinh tế hết.

Người dân nói, từ hôm đấy đến nay, Báo An ninh Hải Phòng, Báo Hải Phòng, Đài Truyền hình Hải Phòng nói về vụ việc này có bài nào ra hồn đâu. Báo Trung ương với báo mạng người ta nói sắc nét đấy chứ! Đài truyền hình Hải Phòng có nói nhưng mà nói bênh vực. Đấy cho nên là thối nát rồi, dân không tin vào chính quyền nữa đâu anh ạ! Nếu mà không làm khéo thì khắp nơi họ bùng nên liệu có giữ được Đảng không? Muốn giữ được Đảng thì phải giữ được dân đã! Tôi cũng chỉ là nông dân thôi, hiểu đến đâu nói đến thế thôi! Nếu lần này mà cứ bênh thì mất hết, dân không còn tin Đảng nữa! Bây giờ Hải Phòng này với huyện, với xã, chúng tôi không tin đâu. Chúng tôi chỉ còn hy vọng và tin ở Trung ương nữa thôi.

Em lại nói với anh, sau khi cưỡng chế người ta xem có bao nhiêu đồ đạc thì phải niêm phong đúng không? Niêm phòng đưa về xã hay đưa về huyện, rồi sau này bàn giao lại cho người ta. Đấy gọi là tang chứng, vật chứng. Họ phá xong rồi họ hôi của. Ông nào nhặt được cái gì thì nhặt! Bây giờ em nói thẳng nói thật luôn, ngay cả tay Xã đội phó nó còn bê trộm cả cái ổn áp của nhà ông Vươn về, chả còn cái gì để nói nữa. Di ảnh của bố và con ông Vươn bị đốt – Đấy là vấn đề tâm linh đấy. Bây giờ anh cứ vào hỏi toàn bộ người dân xóm Chùa đấy, ông Vươn không phải người ở đây, dân người ta khách quan nói khách quan thôi. Anh chứ vào đấy người ta sẽ trả lời cho anh hết. Còn bây giờ cứ cố ra đầm ấy là người ta đánh anh đấy. Công an không đánh đâu, họ giật dây cho xã hội đen đánh đấy. Anh cứ xuống đấy người ta đuổi anh lên đê là có bọn khác nó làm việc anh ngay. Xe máy, xe ô tô có biển HP còn đỡ đấy, chứ biển 29, 30, 80 và biển lạ là về đây không ổn rồi. Bọn em được chỉ thị là hàng ngày ngồi uống nước, mỗi ngày trả 100.000, cơm nuôi trưa, cơm nuôi tối, chỉ ngồi để săn các nhà báo thôi. Em đi mấy ngày, hôm qua hôm nay em mới nghỉ đấy chứ! Ừ thì mình làm đầy tớ cho chính quyền, người ta bảo sao thì nghe vậy, có điều mình thấy bức xúc! Ông Liêm nói là cứ ra kia ngồi, nhà báo đi đâu thì các đồng chí đi theo. Chính ông Liêm nói đấy nhé! Các ông cần vào đâu, vào nhà ông A, ông B, ông C tôi dẫn ông vào. Ông phỏng vấn tôi ngồi nghe, nếu người dân nói, phát ngôn hay nhà báo hỏi cái gì quá tôi có quyền can thiệp, tội vạ đâu chính quyền lo. Đấy chính là ông Liêm nói đấy! Còn những cái chỉ đạo ngầm kia thì em không muốn nói ra. Ông Liêm nói đấy!

Hôm em nói với anh Ngọc bên THVN đấy, là hôm nay em nói với anh, nếu lộ ra mà bọn xã hội đen nó biết thì ngày mai cái mạng em không chắc đã còn….

Không còn gì để bình luận.

Trưởng thôn Khoai Lang có trách nhiệm liên hệ và giao băng ghi âm, giao trực tiếp cho anh Vũ Trọng Kim, Tổng thư ký Ủy ban Trung ương Mặt trận TQ Việt Nam làm tài liệu để chuyển cho Đoàn thanh tra cuả Chính phủ về Hải Phòng sắp tới.

Mong cả nhà CM mạnh mẽ nhưng tử tế để toàn bộ CM bình luận này cũng được in ra để trao cùng tài liệu trên với nhiều tài liệu khác mà do tính chất điều tra, chưa thể công bố hết. Xin trân trọng các bác.

Posted in Cướp Đất Đai, Cướp đất và chiếm đoạt tài sản của dân | Leave a Comment »

►Tư liệu: Tuyên cáo của Chính phủ và Bộ Ngoại Giao Việt Nam Cộng Hòa về hành động gây hấn của Trung Quốc tại Hoàng Sa (19.01.74)

Posted by hoangtran204 trên 19/01/2012

Khi bị một nước khác xâm lấn biên giới và biển đảo, một quốc gia có độc lập và có chủ quyền sẽ hành động như sau. Một mặt họ sẽ dùng quân đội để ngăn cản và đánh  kẻ xâm lăng, mặt khác sẽ  thông báo cho nhân dân của họ biết rõ sự kiện đang xảy ra, đồng thời ra tuyên cáo phản đối và tố cáo hành động xâm lăng cho các nước khác và các tổ chức quốc tế biết. Chính quyền VNCH đã thực hiện tất cả các biện pháp nói trên, làm đúng sứ mạng mà dân chúng giao cho họ khi phát hiện quần đảo Hoàng Sa bị Trung Cộng xâm chiếm vào tháng 1-1974.

Trái lại, vào năm 1974, khi có sự kiện này xảy ra, đảng Cộng sản Việt Nam và chính quyền của họ, tuy biết rõ, nhưng đã làm ngơ, không dám phản đối và tố cáo Trung Quốc xâm chiếm biển đảo ở Hoàng Sa. Họ đã cho rằng Trung Cộng chiếm Hoàng Sa giúp nhà nước CHDC VN và đảng CSVN! (Cần biết rằng một số hòn đảo thuộc quần đảo Hoàng Sa nằm dưới vĩ tuyến 17, là thuộc về miền Bắc)

Qua sự kiện này, các bạn nhận định gì về đảng CSVN quang vinh?

Khi hải quân Trung Cộng chiếm quần đảo Trường Sa năm 1988, những người ngoài Miền Bắc đã được nghe đảng CSVN và nhà nước của họ thông báo cho các bạn biết hay không?

Đảng CSVN và nhà nước, vào năm 1988, đã có ra tuyên cáo phản đối Trung Cộng về hành động này hay không?

Bộ Ngoại Giao nước CHXHCN VN có ra tuyên cáo phản đối Trung Cộng về sự xâm chiếm quần đảo Trường Sa vào năm 1988?

Đảng CSVN lãnh đạo, nhà nước quản lý CHXHCN VN có tố cáo hành động xâm chiếm Trường Sa trước diễn đàn Liên Hiệp Quốc và thế giới hay không?

Nếu đảng lãnh đạo và nhà nước CHXHCN VN đã hoàn toàn im lặng trước cuộc xâm lăng của Trung Quốc và0 quần đảo Trường Sa vào năm 1988 và Hoàng Sa 1974, thì ta nên gọi họ là gì?

TUYÊN CÁO CỦA BỘ TRƯỞNG NGOẠI GIAO VIỆT NAM CỘNG HÒA
VỀ NHỮNG HÀNH ĐỘNG GÂY HẤN CỦA TRUNG CỘNG TRONG KHU VỰC ĐẢO HOÀNG SA (NGÀY 19.1.1974)

Nguyên văn:

Sau khi mạo nhận ngày 11.1.1974 chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng – Sa và Trường-Sa của Việt Nam Cộng-Hòa, Trung cộng đã đưa Hải-quân tới khu vực Hoàng- Sa, và đổ bộ quân lính lên các đảo Cam -Tuyền, Quang -Hòa và Duy -Mộng.

Lực lượng Hải -quân Trung -Cộng gồm 11 chiến đỉnh thuộc nhiều loại và trọng lượng khác nhau, kể cả một tàu loại Komar có trang bị hỏa tiễn.

Để bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ và nền an ninh quốc gia trước cuộc xâm lăng quân sự này, các lực lượng Hải quân Việt-Nam Cộng-Hòa trấn đóng trong khu vực này đã ra lệnh cho bọn xâm nhập phải rời khỏi khu vực.

Thay vì tuân lệnh, các tàu Trung-Cộng, kể từ 18.1.1974, lại có những hành động khiêu khích như đâm thẳng vào các chiến đỉnh Việt-Nam.

Sáng ngày nay, 19.1.1974 hồi 10h20, một hộ-tống hạm Trung-Cộng thuộc loại Kronstadt đã khai hỏa bắn vào khu vực hạm “Trần Khánh Dư” mang số HQ-04 của Việt-Nam Cộng-Hòa. Để tự vệ, các chiến hạm Việt-Nam đã phản pháo và gây hư hại cho hộ tống hạm Trung Cộng. Cuộc giao tranh hiện còn tiếp diễn và đang gây thiệt hại về nhân mạng và vật chất cho cả đôi bên.

Các hành động quân sự của Trung Cộng là hành vi xâm phạm trắng trợn vào lãnh thổ Việt-Nam Cộng-Hòa, và một lần nữa vạch trần chánh sách bành trướng đế quốc mà Trung Cộng liên tục theo đuổi, đã được biểu lộ qua cuộc thôn tính Tây Tạng, cuộc xâm lăng Đại Hàn và Ấn Độ trước kia.

Việc Trung Cộng ngày nay xâm phạm lãnh thổ Việt Nam Cộng-Hòa không những chỉ đe dọa chủ quyền an ninh của Việt Nam Cộng Hòa mà còn là một hiểm họa đối với nền hòa bình và ổn cố của Đông Nam Á và toàn thế giới.

Với tư cách một nước nhỏ bị một cường quốc vô cớ tấn công. Việt Nam Cộng Hòa kêu gọi toàn thể các dân tộc yêu chuộng công lý và hòa bình trên thế giới hãy cương quyết lên án các hành vi chiến tranh thô bạo củaTrung Cộng nhằm vào một quốc gia độc lập và có chủ quyền để buộc Trung Cộng phải tức khắc chấm dứt các hành động nguy hiểm đó.

Làm ngơ để cho Trung Cộng tự do tiến hành cuộc xâm lấn trắng trợn này là khuyến khích kẻ gây hấn tiếp tục theo đuổi chánh sách bành trướng của chúng và sự kiện này đe dọa sự sống còn của những nước nhỏ đặc biệt là những nước ở Á Châu.

Trong suốt lịch sử, dân tộc Việt Nam đã đánh bại nhiều cuộc ngoại xâm. Ngày nay, Chánh phủ và nhân dân Việt Nam Cộng Hòa cũng nhất định bảo vệ sự toàn vẹn của lãnh thổ quốc gia.

(Tài liệu ronéo của Bộ Ngoại Giao, Sài Gòn, Số 015/BNG/ TTBC/ TT)

TUYÊN CÁO CỦA CHÍNH PHỦ VIỆT NAM CỘNG HÒA
VỀ CHỦ QUYỀN CỦA VIỆT NAM CỘNG HÒA
TRÊN NHỮNG ĐẢO Ở NGOÀI KHƠI BỜ BIỂN
VIỆT NAM CỘNG HÒA

Nguyên văn:

Nghĩa vụ cao cả và cấp thiết của một chánh phủ là bảo vệ chủ quyền, độc lập và sự vẹn toàn lãnh thổ của quốc gia. Chánh phủ Việt Nam Cộng Hòa cương quyết làm tròn nghĩa vụ này, bất luận những khó khăn trở ngại có thể gặp phải và bất chấp những sự phản đối không căn cứ dầu phát xuất từ đâu.

Trước việc Trung Cộng trắng trợn xâm chiếm bằng vũ lực quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam Cộng Hòa, Chánh phủ Việt Nam Cộng Hòa thấy cần phải tuyên cáo long trọng trước công luận thế giới cho bạn cũng như thù biết rõ rằng:

Quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa là những phần bất khả phân của lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa. Chánh phủ và nhân dân Việt Nam Cộng Hòa không bao giờ chịu khuất phục trước bạo lực mà từ bỏ tất cả hay một phần chủ quyền của mình trên những quần đảo ấy.

Chừng nào còn một hòn đảo thuộc lãnh thổ ấy của Việt Nam Cộng Hòa bị nước ngoài chiếm giữ bằng bạo lực thì chừng ấy Chánh phủ và nhân dân Việt Nam Cộng Hòa còn đấu tranh để khôi phục những quyền lợi chính đáng của mình.

Kẻ xâm chiếm phải chịu hoàn toàn trách nhiệm về mọi tình trạng căng thẳng có thể do đó mà có.

Trong dịp này, Chánh phủ Việt Nam Cộng Hòa cũng long trọng tái xác nhận chủ quyền của Việt Nam Cộng Hòa trên những hải đảonằm ở ngoài khơi bờ biển Trung Phần và bờ biển Nam Phần Việt Nam, từ trước tới nay vẫn được coi là một phần lãnh thổ của Việt Nam Cộng Hòa căn cứ trên những dữ kiện địa lý, lịch sử, pháp lý và thực tại không chối cãi được.

Chánh phủ Việt Nam Cộng Hòa cương quyết bảo vệ chủ quyền quốc gia trên những đảo ấy bằng mọi cách.

Trung thành với chánh sách hòa bình cố hữu của mình, Chánh phủ Việt Nam Cộng Hòa sẵn sàng giải quyết bằng đường lối thương lượng những vụ tranh chấp quốc tế có thể xảy ra về những hải đảo ấy, nhưng nhất định không vì thế mà từ bỏ chủ quyền của Việt Nam Cộng Hòa trên những phần đất này.

Làm tại Saigon, ngày 14 tháng 2 năm 1974.

Nguồn: Tập san Sử Địa, tập 29.

—————————-

(Chuyện kể lại của người bảo vệ tướng Lê Quang Hòa, thuộc Phái đoàn Liên hợp Quân sự 4 bên về việc Giám sát thi hành Hiệp định Paris. Thiếu tướng Lê Quang Hòa là trưởng phái đoàn Việt nam Dân chủ Cộng hòa chủ trì tại Sài gòn.)

1. Quế Lâm

Quế Lâm, một trong những địa danh du lịch nổi tiếng nhất Trung quốc thuộc tỉnh Quảng Tây. Tại đây có một bệnh viện nằm ngoại ô thành phố, chuyên điều trị cho những thương binh nặng hay cán bộ trung cấp Việt nam bệnh nặng. Anh chị em bệnh nhân dự định  ngày  Chủ nhật 20-1-1974  sẽ cùng nhau vào thành phố và đi thăm một số nơi đã cưu mang giúp đỡ các thiếu sinh quân Việt nam.

Sáng  đó trời nắng đẹp, nhưng tất cả các hành lang đều có các bác sỹ và y tá án ngữ : Không ai được ra khỏi phòng bệnh. Điều này cũng xảy ra tại Quảng châu, nơi các cán bộ cao cấp đang an dưỡng. Điều lạ lùng này xảy ra giống hệt hai năm trước, năm 1972 khi Tổng thống Nixon đang thăm Bắc kinh. Nhưng hôm đó, không một ai trong số các bệnh nhân đó biết rằng : Trung quốc đã xâm chiếm quần đảo Hoàng sa. Do vậy họ quản chặt bệnh nhân Việt nam vì sợ nổi loạn.

Tôi đã gặp ông N. đại tá ,thương binh thành cổ  Quảng trị và ông C. cựu cán bộ Đài Phát thanh Truyền hình Việt nam kể lại ngày ấy. Hành động của họ mạnh tới mức, bà H., một người xu nịnh Trung quốc bằng cách luôn mang sách đỏ Mao tuyển, nghĩ rằng mình được lòng Bệnh viện xưa nay, cứ xin ra ngoài, nói tiếng Tàu ba xí, ba tú , liền bị hai người mặc quân phục kèm lên Văn phòng Khoa ngồi suốt ngày.

2. Sài gòn      

Hôm sau, phiên họp của Phái đoàn Liên hợp quân sự 4 bên về việc Giám sát thi hành Hiệp định Paris do Thiếu tướng Lê Quang Hòa, trưởng phái đoàn Việt nam Dân chủ Cộng hòa chủ trì tại Sài gòn. Trong phiên họp này, phía Việt nam Cộng hòa đã đưa văn bản đề nghị chính thức Chính phủ VN Dân Chủ Cọng Hòa cùng với mình ra thông cáo lên án hành động xâm lược lãnh thổ-lãnh hải của Việt nam. Đề nghị này còn lên kế hoạch chi tiết, trong đó yêu cầu quân Bắc Việt nam và quân của Chính Phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt nam giảm áp lực tại quân đoàn 2 của VNCH. Trong đó đề nghị cụ thể không tiến công quấy rối Đà nẵng, Nha trang và các sân bay ở khu vực này để quân lực VNCH có thể rảnh tay tập trung tái chiếm quần đảo Hoàng sa.

Theo lời kể lại của  ông H., nguyên sỹ quan bảo vệ an ninh cho đoàn, ông Thiếu tướng Lê Quang Hòa đã điện về xin ý kiến Trung ương.

Đích thân ông Lê Đức Thọ phê bình “lập trường chính trị của các anh để đâu? Đang có chiến tranh, lại phối hợp hoạt động với địch à? Cuộc chiến tranh gay go của ta rất cần sự ủng hộ của Trung quốc, mà lại nói quay sang chống bạn. Họ có giải phóng giúp ta, thì sau này cũng trả lại cho ta thôi.’’

Sau đó, phía VNCH đề nghị họp bất thường. Lần này,Trung tướng Ngô Du chủ trì phiên họp. Mở đầu, ông ta nói :

-Trong phiên họp này, tôi đề nghị không cáo buộc, cãi nhau về những vụ xâm phạm lãnh thổ, vi phạm hiệp định nữa. Trung cộng đã ngang nhiên xâm lược và chiếm giữ toàn bộ quần đảo Hoàng sa. Đất của chúng tôi thì cũng như đất của các anh vì cùng là đất tổ tiên chúng ta để lại cả. Vì thế, chúng ta nên xếp ba bốn cái vụ  tranh cãi lại, để ngồi cùng nhau bàn bạc về việc phối hợp hoạt động chống lại sự xâm lăng này.

Cũng như đề nghị bằng văn bản, tướng Ngô Du ngoài sáng kiến giảm bớt áp lực quân sự thuộc quân đoàn 2 ra, ông ta còn đòi phía VNDCCH  gửi công hàm lên án tại Liên hiệp quốc, vận động phe XHCN  cũng như Thế giới lên tiếng phản đối (Trung Quốc).

Phái đoàn Mỹ, người bảo trợ cho tất cả các hoạt động quân sự của VNCH im lặng, không có ý kiến gì.

Ông Lê Quang Hòa cũng tảng lờ, không đáp lại đề nghị này. Ông biết tướng Ngô Du, một thời cũng là cựu đồng ngũ, đã là cán bộ tiểu đoàn thuộc Vệ quốc đoàn, sau đó đảo ngũ và sang phía bên kia , cũng đã một vài lần nói chuyện có vẻ ‘’hòa hợp dân tộc’’. Ông Hòa tưởng tảng lờ đề nghị đó cho qua chuyện,, nhưng ông Ngô Du nổi đóa. Ông chửi tục, nói chúng mày tảng lờ , là tiếp tay cho Trung Cộng, là bán nước mà còn tiếp tục định đánh không cho chúng tao giành lại đất đai của ông cha.

Cáu đến đỉnh điểm, ông Ngô Du vớ lấy cái gạt tàn thuốc lá bằng thủy tinh ném thẳng vào mặt ông Lê Quang Hòa. Ông Hòa né được, gạt tàn đập vào tường vỡ tung tóe.

Sỹ quan bảo vệ, ông H. lao đến, định chộp cổ ông Ngô Du, nhưng bị mấy người lính cận vệ phía bên kia khóa tay.

Cũng trong mấy ngày đó, đài Sài gòn và BBC liên tục đưa tin về sự kiện Hoàng sa. Những người nghe lén đài địch phát rất rõ đã rỉ tai nhau về việc này tại Hà nội. Nhưng giải thích mơ hồ, ngây ngô  và vắn tắt từ trên đưa xuống tới  các chi bộ  Tiểu khu (cấp phường) là bạn giải phóng giúp, sẽ trả lại sau này làm dư luận bớt xầm xì.

Hơn một năm sau, lúc Hải quân Việt nam (VNDCCH) giải phóng các đảo thuộc phía bên kia, sự ngây thơ trên bị đáp lại phũ phàng bẳng việc trả lời đanh thép của phía Trung quốc trước đề nghị cho nhận lại  quần đảo của Việt nam.

Có ai đồng tình lên án hành động xâm lăng đó ?

Sau biến cố đau thương đó, chỉ có Liên xô là nước duy nhất lên án hành động xâm lược trắng trợn, dã man của Trung quốc với một nước nhỏ phía Nam. Họ cũng đã nếm trải hành động này 15 năm trước đó. Hai hòn đảo thuộc cù lao Damansky trên song Usuri bị chiếm đóng, dân cư bị sát hại /2/. Từ đó, các đảo này bị Trung quốc sáp nhập vào lãnh thổ. Vết nhục này đến nay chưa phai trong lòng người Nga. Cuộc chiến trả đũa lớn  dự kiến đánh vào Lopno và khắp miền  bắc Trung quốc vì sao không xảy ra sẽ được viết trong bài sau.

Cũng như với Damansky, rồi gần đây có bài viết tự nhận Siberia của mình,Trung quốc luôn cố chứng minh, họ đã là chủ Biển Đông từ 2 ngàn năm trước.

Cần tránh lối mòn nhàm, chán    

Rất buồn, nhiều người Việt nam cũng luôn dựa vào sự  chiếm hữu lịch sử  như trên là luận điểm cơ bản mong thuyết phục. Nhưng cả Tàu lẫn Việt không hiểu tâm tính người phương Tây và không quan tâm gì đến những quy ước mới về đất biển. Tôi rất đồng tình với /1/ cho rằng  Công pháp quốc tế mới đòi hỏi phải hội đủ 4 điều kiện sau đây mới được coi là có quyền sở hữu, chấp hữu đảo và lãnh hải : (1) Sự chấp hữu phải công khai và minh bạch; (2) Sự chấp hữu phải hoà bình; (3) Sự chấp hữu phải liên tục và không gián đoạn và (4) Sự chấp hữu phải với tư cách là sở hữu chủ.

Để giải thích thêm điều này ta hãy quan sát thái độ người châu Âu, nơi mà đường biên giới thay đổi  trong suốt nửa đầu Thế kỷ trước. Lãnh thổ của Hungari thành của Rumani và nước khác. Lãnh thổ Balan thành của Ucraina và Bạch Nga, Lãnh thổ Ý thành một phần của Nam Tư, v.v. Vậy nên, việc sở hữu lịch sử không phải là chứng cứ họ quan tâm nhiều. Điển hình như Israel, nước luôn nêu lãnh thổ lịch sử từ trên 2000 năm trước, được cả Thế giới công nhận, cũng không thể là cớ để xâm lược các nước Ả rập đang chiếm hữu mảnh đất đó được.

Theo tình hình đó,chủ trương của Việt nam cũng như người Việt nói chung phải thay đổi. Thay vì cày xới chứng minh sở hữu lịch sử, chúng ta cần nghiên cứu và công bố trước Thế giới việc chấp hữu công khai, minh bạch, liên tục, hòa bình và  sở hữu chủ. Về điểm này,Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã phát biểu đúng/3/.

 Như vậy,việc củng cố vị trí của các đảo còn lại chưa bị xâm lược trên quần đảo Trường sa là rất quan trọng. Việc tăng cường phòng ngự không chỉ là việc của chính quyền mà còn là nhiệm vụ của mỗi người dân. Người dân Nga trước kia ăn khoai tây, bán bột mỳ đi lấy tiền cá nhân góp nhau mua tặng Hồng quân máy bay, xe tăng thì người Việt nam cũng có thể có nhiệt tình như thế. Tôi rất xúc động khi thấy thanh niên ở một số Diễn đàn trên Internet không chỉ đến thăm, ủy lạo các gia đình lính đảo mà còn gửi quà, động viên gia đình dân thường sinh sống ở các đảo đó. Hành động nhỏ bé hơn ngàn lần nói suông. Hoàng sa mất rồi, Trường sa cố giữ.

38 năm qua,việc thua trận hải chiến  Hoàng sa 1974 không lúc nào không nhức nhối trong lòng người Việt. Đứng vững tại địa điểm chiến lược, Trung quốc  tung thòng lọng chín khúc thít chặt vào cổ Việt nam và mấy nước nhỏ bé khác.

(Ta) Phải làm gì đây?

Tác giả gửi cho Quê choa

(Bài vở gửi đăng QC là chủ kiến riêng của tác giả, không hẳn là chủ kiến của QC)

Posted in Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa, Đảng CSVN | 7 Comments »

►Lập trường của Đảng CSVN về Hoàng Sa khi Trung Cộng xâm chiếm vào ngày 19-1-1974

Posted by hoangtran204 trên 19/01/2012

Tướng Ngô Du nói gì với tướng Lê Quang Hòa và Lê Đức Thọ vào ngày 21-1-1974

Tướng Ngô Du, đại diện cho VNCH tại Ủy Ban Quân Sự 4 bên

Tướng Lê Quang Hòa, đại diện cho VN DC CH

Lê Đức Thọ, Ủy viên Bộ Chính Trị của Đảng  CSVN, (tức đảng LĐVN),

Chuyện dưới đây do sĩ quan bảo vệ an ninh của đoàn do tướng Lê Quang Hòa cầm đầu phái đoàn, và các cựu cán bộ của đảng CSVN kể lại.

1. Quế Lâm

Quế Lâm, một trong những địa danh du lịch nổi tiếng nhất Trung quốc thuộc tỉnh Quảng Tây. Tại đây có một bệnh viện nằm ngoại ô thành phố, chuyên điều trị cho những thương binh nặng hay cán bộ trung cấp Việt nam bệnh nặng. Anh chị em bệnh nhân dự định  ngày  Chủ nhật 20-1-1974  sẽ cùng nhau vào thành phố và đi thăm một số nơi đã cưu mang giúp đỡ các thiếu sinh quân Việt nam.

Sáng  đó trời nắng đẹp, nhưng tất cả các hành lang đều có các bác sỹ và y tá án ngữ : Không ai được ra khỏi phòng bệnh. Điều này cũng xảy ra tại Quảng châu, nơi các cán bộ cao cấp đang an dưỡng. Điều lạ lùng này xảy ra giống hệt hai năm trước, năm 1972 khi Tổng thống Nixon đang thăm Bắc kinh. Nhưng hôm đó, không một ai trong số các bệnh nhân đó biết rằng : Trung quốc đã xâm chiếm quần đảo Hoàng sa. Do vậy họ quản chặt bệnh nhân Việt nam vì sợ nổi loạn.

Tôi đã gặp ông N. đại tá, thương binh thành cổ  Quảng trị và ông C., cựu cán bộ Đài Phát thanh Truyền hình Việt nam kể lại ngày ấy. Hành động của họ mạnh tới mức, bà H., một người xu nịnh Trung quốc bằng cách luôn mang sách đỏ Mao tuyển, nghĩ rằng mình được lòng Bệnh viện xưa nay, cứ xin ra ngoài, nói tiếng Tàu ba xí, ba tú , liền bị hai người mặc quân phục kèm lên Văn phòng Khoa ngồi suốt ngày.

2. Sài gòn      

Hôm sau, phiên họp của Phái đoàn Liên hợp quân sự 4 bên về việc Giám sát thi hành Hiệp định Paris do Thiếu tướng Lê Quang Hòa, trưởng phái đoàn Việt nam Dân chủ Cộng hòa chủ trì tại Sài gòn. Trong phiên họp này, phía Việt nam Cộng hòa đã đưa văn bản đề nghị chính thức Chính phủ VN Dân Chủ Cọng Hòa cùng với mình ra thông cáo lên án hành động xâm lược lãnh thổ-lãnh hải của Việt nam.

Đề nghị này còn lên kế hoạch chi tiết, trong đó yêu cầu quân Bắc Việt nam và quân của Chính Phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt nam giảm áp lực tại quân đoàn 2 của VNCH. Trong đó đề nghị cụ thể không tiến công quấy rối Đà nẵng, Nha trang và các sân bay ở khu vực này để quân lực VNCH có thể rảnh tay tập trung tái chiếm quần đảo Hoàng sa.

Theo lời kể lại của  ông H., nguyên sỹ quan bảo vệ an ninh cho đoàn, ông Thiếu tướng Lê Quang Hòa đã điện về xin ý kiến Trung ương.

Đích thân ông Lê Đức Thọ phê bìnhlập trường chính trị của các anh để đâu? Đang có chiến tranh, lại phối hợp hoạt động với địch à? Cuộc chiến tranh gay go của ta rất cần sự ủng hộ của Trung quốc, mà lại nói quay sang chống bạn. Họ có giải phóng giúp ta, thì sau này cũng trả lại cho ta thôi.’’

Sau đó, phía VNCH đề nghị họp bất thường. Lần này,Trung tướng Ngô Du chủ trì phiên họp. Mở đầu, ông ta nói :

-Trong phiên họp này, tôi đề nghị không cáo buộc, cãi nhau về những vụ xâm phạm lãnh thổ, vi phạm hiệp định nữa. Trung cộng đã ngang nhiên xâm lược và chiếm giữ toàn bộ quần đảo Hoàng sa. Đất của chúng tôi thì cũng như đất của các anh vì cùng là đất tổ tiên chúng ta để lại cả. Vì thế, chúng ta nên xếp ba bốn cái vụ  tranh cãi lại, để ngồi cùng nhau bàn bạc về việc phối hợp hoạt động chống lại sự xâm lăng này.

Cũng như đề nghị bằng văn bản, tướng Ngô Du ngoài sáng kiến giảm bớt áp lực quân sự thuộc quân đoàn 2 ra, ông ta còn đòi phía VNDCCH  gửi công hàm lên án tại Liên hiệp quốc, vận động phe XHCN  cũng như Thế giới lên tiếng phản đối (Trung Quốc).

Phái đoàn Mỹ, người bảo trợ cho tất cả các hoạt động quân sự của VNCH im lặng, không có ý kiến gì.

Ông Lê Quang Hòa cũng tảng lờ, không đáp lại đề nghị này. Ông biết tướng Ngô Du, một thời cũng là cựu đồng ngũ, đã là cán bộ tiểu đoàn thuộc Vệ quốc đoàn, sau đó đảo ngũ và sang phía bên kia , cũng đã một vài lần nói chuyện có vẻ ‘’hòa hợp dân tộc’’. Ông Hòa tưởng tảng lờ đề nghị đó cho qua chuyện,, nhưng ông Ngô Du nổi đóa. Ông chửi tục, nói chúng mày tảng lờ , là tiếp tay cho Trung Cộng, là bán nước mà còn tiếp tục định đánh không cho chúng tao giành lại đất đai của ông cha.

Cáu đến đỉnh điểm, ông Ngô Du vớ lấy cái gạt tàn thuốc lá bằng thủy tinh ném thẳng vào mặt ông Lê Quang Hòa. Ông Hòa né được, gạt tàn đập vào tường vỡ tung tóe.

Sỹ quan bảo vệ, ông H. lao đến, định chộp cổ ông Ngô Du, nhưng bị mấy người lính cận vệ phía bên kia khóa tay.

Cũng trong mấy ngày đó, đài Sài gòn và BBC liên tục đưa tin về sự kiện Hoàng sa. Những người nghe lén đài địch phát rất rõ đã rỉ tai nhau về việc này tại Hà nội. Nhưng giải thích mơ hồ, ngây ngô  và vắn tắt từ trên đưa xuống tới  các chi bộ  Tiểu khu (cấp phường) là bạn giải phóng giúp, sẽ trả lại sau này làm dư luận bớt xầm xì.

Hơn một năm sau, lúc Hải quân Việt nam (VNDCCH) giải phóng các đảo thuộc phía bên kia, sự ngây thơ trên bị đáp lại phũ phàng bẳng việc trả lời đanh thép của phía Trung quốc trước đề nghị cho nhận lại  quần đảo của Việt nam.

Tướng Ngô Du  (hình lấy từ nguyenthaihocfoundation.org)

Tướng Lê Quang Hòa

Có ai đồng tình lên án hành động xâm lăng đó ?

Sau biến cố đau thương đó, chỉ có Liên xô là nước duy nhất lên án hành động xâm lược trắng trợn, dã man của Trung quốc với một nước nhỏ phía Nam. Họ cũng đã nếm trải hành động này 15 năm trước đó. Hai hòn đảo thuộc cù lao Damansky trên song Usuri bị chiếm đóng, dân cư bị sát hại /2/. Từ đó, các đảo này bị Trung quốc sáp nhập vào lãnh thổ. Vết nhục này đến nay chưa phai trong lòng người Nga. Cuộc chiến trả đũa lớn  dự kiến đánh vào Lopno và khắp miền  bắc Trung quốc vì sao không xảy ra sẽ được viết trong bài sau.

Cũng như với Damansky, rồi gần đây có bài viết tự nhận Siberia của mình,Trung quốc luôn cố chứng minh, họ đã là chủ Biển Đông từ 2 ngàn năm trước.

Cần tránh lối mòn nhàm, chán    

Rất buồn, nhiều người Việt nam cũng luôn dựa vào sự  chiếm hữu lịch sử  như trên là luận điểm cơ bản mong thuyết phục. Nhưng cả Tàu lẫn Việt không hiểu tâm tính người phương Tây và không quan tâm gì đến những quy ước mới về đất biển. Tôi rất đồng tình với /1/ cho rằng  Công pháp quốc tế mới đòi hỏi phải hội đủ 4 điều kiện sau đây mới được coi là có quyền sở hữu, chấp hữu đảo và lãnh hải : (1) Sự chấp hữu phải công khai và minh bạch; (2) Sự chấp hữu phải hoà bình; (3) Sự chấp hữu phải liên tục và không gián đoạn và (4) Sự chấp hữu phải với tư cách là sở hữu chủ.

Để giải thích thêm điều này ta hãy quan sát thái độ người châu Âu, nơi mà đường biên giới thay đổi  trong suốt nửa đầu Thế kỷ trước. Lãnh thổ của Hungari thành của Rumani và nước khác. Lãnh thổ Balan thành của Ucraina và Bạch Nga, Lãnh thổ Ý thành một phần của Nam Tư, v.v. Vậy nên, việc sở hữu lịch sử không phải là chứng cứ họ quan tâm nhiều. Điển hình như Israel, nước luôn nêu lãnh thổ lịch sử từ trên 2000 năm trước, được cả Thế giới công nhận, cũng không thể là cớ để xâm lược các nước Ả rập đang chiếm hữu mảnh đất đó được.

Theo tình hình đó,chủ trương của Việt nam cũng như người Việt nói chung phải thay đổi. Thay vì cày xới chứng minh sở hữu lịch sử, chúng ta cần nghiên cứu và công bố trước Thế giới việc chấp hữu công khai, minh bạch, liên tục, hòa bình và  sở hữu chủ. Về điểm này,Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã phát biểu đúng/3/.

 Như vậy,việc củng cố vị trí của các đảo còn lại chưa bị xâm lược trên quần đảo Trường sa là rất quan trọng. Việc tăng cường phòng ngự không chỉ là việc của chính quyền mà còn là nhiệm vụ của mỗi người dân. Người dân Nga trước kia ăn khoai tây, bán bột mỳ đi lấy tiền cá nhân góp nhau mua tặng Hồng quân máy bay, xe tăng thì người Việt nam cũng có thể có nhiệt tình như thế. Tôi rất xúc động khi thấy thanh niên ở một số Diễn đàn trên Internet không chỉ đến thăm, ủy lạo các gia đình lính đảo mà còn gửi quà, động viên gia đình dân thường sinh sống ở các đảo đó. Hành động nhỏ bé hơn ngàn lần nói suông. Hoàng sa mất rồi, Trường sa cố giữ.

38 năm qua,việc thua trận hải chiến  Hoàng sa 1974 không lúc nào không nhức nhối trong lòng người Việt. Đứng vững tại địa điểm chiến lược, Trung quốc  tung thòng lọng chín khúc thít chặt vào cổ Việt nam và mấy nước nhỏ bé khác.

Phải làm gì đây ?

Tác giả gửi cho Quê choa

(Bài vở gửi đăng QC là chủ kiến riêng của tác giả, không hẳn là chủ kiến của QC)

nguồn blog của nhà văn  Nguyễn Quang Lập

Posted in Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa, Tư Liệu Lịch Sử, Đảng CSVN | 41 Comments »

►Kỷ niệm Trận Hải Chiến Hoàng Sa 19-1-1974

Posted by hoangtran204 trên 18/01/2012

Phần 1 : Mở Đầu

Vào đầu năm 1974, trong lúc tình hình chiến sự tại Việt Nam trở nên vô cùng sôi động với các trận đánh lớn diễn ra trên khắp bốn vùng chiến thuật thì ngoài khơi Biển Đông đã xảy ra một trận hải chiến có tầm vóc lịch sử giửa Hải Quân VNCH và Hải Quân Trung Cộng. Đây là lần đầu tiên kể từ khi Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn dưới thời Nhà Trần đánh thắng quân Mông Cổ, Nam quân lại đụng độ với Bắc quân trên mặt biển. Và cũng như những lần trước, tuy lực lượng của kẻ thù phương Bắc mạnh hơn gấp nhiều lần, các chiến sĩ Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa noi gương Thánh Tổ đã anh dũng chiến đấu, gây cho địch những tổn thất nặng nề.

Vào thời điểm đó, Tổng Thống Nixon trước đây đã dùng chính sách “ngoại giao bóng bàn” ve vãn được Trung Cộng nên nhiều dư luận cho rằng Hoa Kỳ đã gián tiếp bàn giao quần đảo Hoàng Sa cho Trung Cộng cũng như bán đứng miền Nam Việt Nam chỉ một năm sau đó. Nghi vấn này sẽ được bàn tới ở phần sau. Điều quan trọng cần nói ở đây là ngay trong thời gian trận hải chiến xảy ra cách đây gần một phần tư thế kỷ, chính các sĩ quan Hải Quân Hoa Kỳ cũng không giám nghĩ rằng Hải Quân Việt Nam sẽ tham chiến vì lực lượng đôi bên quá chênh lệch. Những “cố vấn” kiêm chuyên gia về Hải Quân này dự trù rằng các chiến hạm Việt Nam sẽ lặng lẽ rút lui bỏ mặc quần đảo Hoàng Sa thân yêu rơi vào tay giặc.

Những ước đoán trên được căn cứ vào thái độ của Hải Quân Hoa Kỳ lúc đó đang làm bá chủ Biển Đông nhưng cho biết họ đứng ngoài vòng tranh chấp. Ngoài ra, họ cũng không đồng ý việc xử dụng các khinh tốc đĩnh (PT boat) tại Đà Nẵng, tuy với thủy thủ đoàn Việt Nam điều khiển nhưng lại do Hoa Kỳ kiểm soát. Ngay tới khi trận hải chiến đã kết thúc, lực lượng HQ Hoa Kỳ vẫn còn từ chối tiếp cứu những thủy thủ Việt Nam lâm nạn, một điều trái ngược với qui luật của người đi biển. Cho tới nay, chúng tôi đã nhiều lần viết thư yêu cầu phòng Quân Sử của Hải Quân Hoa Kỳ cung cấp những dữ kiện đã được giải mật về trận Hải Chiến Hoàng Sa, nhưng lúc nào họ cũng trả lời “không có bất cứ một tài liệu nào liên quan trong hồ sơ lưu trữ”. Đây là một điều rất khó tin vì lúc đó, Hải Đoàn 77 (Task Force 77) của HQ Hoa Kỳ gồm nhiều mẫu hạm và các chiến chạm yểm trợ tổng Cộng gần 20 tầu chiến đang hoạt đng đang hoạt động tại vị trí “Yankee” (Yankee Station) cách Hoàng Sa về phía Đông Bắc không xa. Thật sự Hoa Kỳ có hoàn toàn “không biết” hay đứng ngoài vụ tranh chấp hay không? Vì lý do gì? Mời độc giả tuần tự theo dõi các diễn biến của trận hải chiến tại Hoàng Sa để tìm câu trả lời.

Tác phẩm “Biển Đông Nổi Sóng” của Trần Đỗ Cẩm sẽ được phát hành trong tương lai. Bài “Trận hải chiến tại quần đảo Hoàng Sa” là một phần tài liệu được trích từ trong tác phẩm này. Tác giả giữ bản quyền. Nếu trích đăng, yêu cầu ghi rõ xuất sứ. Cảm ơn.

Tác phẩm “Biển Đông Nổi Sóng” của Trần Đỗ Cẩm sẽ được phát hành trong tương lai. Bài “Trận hải chiến tại quần đảo Hoàng Sa” là một phần tài liệu được trích từ trong tác phẩm này. Tác giả giữ bản quyền. Nếu trích đăng, yêu cầu ghi rõ xuất sứ. Cảm ơn.

Nhưng ngoài sự dự đoán của Hoa Kỳ cũng như của Trung Cộng, Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa dù đơn độc và cô thế cũng đã dùng hết sức tham chiến. Các chiến sĩ áo trắng đã can đảm nổ súng vào quân xâm lăng và chiến đấu đến tận cùng khả năng của mình. Sau trận hải chiến, dư luận báo chí quốc tế đã bày tỏ nhiều thiện cảm qua những bài bình luận rất thuận lợi cho Việt Nam trong khi lên án bọn xâm lược Trung Cộng.

Trước hết, tưởng cũng cần nêu lên một vài điểm liên quan đến việc sưu tầm tài liệu để viết bài này. Nói chung, đây là việc rất khó khăn vì đa số đã bị thất lạc hoặc vùi chôn trong quá khứ. Thứ nhất, trận hải chiến xảy ra cách đây đã lâu nên những chi tiết ngay cả đối với những người đã trực tiếp tham dự không ít thì nhiều cũng bị mai một với thời gian. Vả lại, mỗi nhân chứng tùy theo vị trí và hoàn cảnh sẽ có tầm nhìn và nhận xét khác nhau, do đó việc tường thuật trung thực như một máy quay phim thiết tưởng không thể nào thực hiện được. Thứ hai, tuy đã có một số bài viết về Hoàng Sa nhưng những tài liệu này phần lớn dựa vào ký ức nên kém chính xác và chưa đủ để nói lên tầm vóc quan trọng của biến cố lịch sử này. Thứ ba, vì miền Nam đã bị Cộng Sản xâm chiến nên những tài liệu chính thức như các phúc trình hậu hành quân của các chiến hạm tham chiến cũng như của BTL/HQ rất khó sao lục lại. Theo HQ Trung Tá Vũ Hữu San, báo Le Courier du Vietnam cho biết ngày nay còn có một bản Tổng Kết Hải Chiến Hoàng Sa của BTL/HQ trình BTTM/QLVNCH lưu giữ tại Hà Nội. Chúng tôi nghe nói HQ Đại Tá Hà Văn Ngạc đang sử soạn viết về trận hải chiến tại Hoàng Sa, dự trù hoàn tất vào năm 1999 là ngày kỷ niệm 25 năm trận đánh. Đây là một nguồn tin rất đáng khích lệ, vì chắc chắn Đại tá là người biết nhiều nhất và đủ thẩm quyền nhất để tường thuật về trận đánh do chính ông chỉ huy.

Vì những lý do trên, tuy khả năng và hoàn cảnh hạn hẹp, chúng tôi cũng cố gắng viết lại trận hải chiến tại Hoàng Sa, càng gần với sự thật càng tốt, căn cứ vào những tài liệu thâu thập được cũng như những lời kể lại của các nhân chứng.

Tác giả may mắn và hãnh diện được là bạn cùng khóa 11 SQHQ Nha Trang với hai trong số bốn vị Hạm Trưởng tham chiến, đó là HQ Trung Tá Vũ Hữu San, Hạm Trưởng Khu Trục Hạm Trần Khánh Dư HQ-4 và HQ Trung Tá Phạm Trọng Quỳnh, Hạm Trưởng Tuần Dương Hạm Trần Bình Trọng HQ-5. Hai Hạm Trưởng còn lại là HQ Trung Tá Lê Văn Thự (Tuần Dương Hạm Lý Thường Kiệt HQ-16) thuộc khóa 10 SQHQ Nha Trang và cố HQ Trung Tá Ngụy Văn Thà thuộc khoá 12 SQHQ Nha Trang là các khóa sát trên và dưới trong lúc cùng học tại Nha Trang nên cũng có dịp quen biết ít nhiều.

Ngoài ra, chúng tôi cũng có dịp tiếp chuyện nhiều lần với HQ Đại Tá Hà Văn Ngạc là Sĩ Quan Chỉ Huy Chiến Thuật trong trận hải chiến tại Hoàng Sa. Chúng tôi cũng cám ơn anh bạn trẻ Trương Văn Quang hiện cư ngụ tại Úc Châu đã trợ giúp sưu tầm nhiều hình ảnh và chi tiết hiếm có. Nhưng dù sao, bài viết này chắc chắn sẽ còn rất nhiều thiếu sót và kém chính xác, tác giả mong mỏi sẽ được những người biết chuyện thăng thắn phê bình xây và bổ túc để phần tài liệu về trận hải chiến Hoàng Sa được thêm đầy đủ.

Để dễ dàng theo trận hải chiến lịch sử tại Hoàng Sa, trước khi tường thuật chi tiết về trận, chúng tôi sẽ nói qua về quần đảo này và sau cùng sẽ nêu lên vài nhận xét và bình luận.

Khái lược về quần đảo Hoàng Sa
(Xem bản đồ vùng Đông Nam Á)

1. Biển Đông: Xác Định một Danh Từ

Trên các bản đồ cũng như hải đồ quốc tế, vùng biển cực Tây của Thái Bình Dương nằm về phía Nam lục địa Trung Hoa thường được gọi là South China Sea. Theo thông lệ, các nhà hàng hải thời xưa thường lấy tên khu vực đất liền lân cận để đặt tên vùng biển tiếp giáp. Vì vậy, trên bản đồ, chúng ta thấy những tên biển quen thuộc như: Biển Ấn Độ hay Ấn Độ Dương (Indian Ocean), Biển Nhật Bản (Sea of Japan), Vịnh Bắc Việt (Gulf of Tonkin), Vịnh Thái Lan (Gulf of Thailand) hay Vịnh Mễ Tây Cơ (Gulf of Mexico) v.v…

Do đó, South China Sea chỉ đơn thuần được dùng để chỉ vùng biển nằm về phía Nam lục địa Trung Hoa. Tuy có chữ “China” trong đó nhưng danh từ này không bao hàm ý nhĩa “của” hay “thuộc về” Trung Hoa, cũng như Vịnh Mễ Tây Cơ không phải là tài sản riêng của Mexico. Sở dĩ cần xác định như trên để tránh những hiểu lầm, vì rất có thể khi thấy chữ “China”, một số người người có thể ngộ nhận là “của Trung Hoa”. Riêng đối với người Việt Nam, tuy South China Sea ở phía Nam Trung Hoa, nhưng lại nằm về phía Đông của Việt Nam, nên thiết tưởng “Biển Đông” là tên chính xác để mệnh danh vùng biển thân yêu này. Từ ngàn xưa, tổ tiên ta đã có danh từ Biển Đông. Bằng chứng là những câu ca dao quen thuộc như:

“Dã tràng xe xát Biển Đông,
Nhọc mình mà chẳng nên công cán gì”

Hoặc “Thuận vợ thuận chồng, tát Biển Đông cũng cạn”.

Trong bài “Văn Tế Cá Sâu” bằng tiếng Nôm của đại học sĩ Nguyễn Thuyên cũng có câu như sau:

“Ngạc ngư kia hỡi mày có hay,
Biển Đông rộng rãi là nơi mày,
Phú Lương đây thuộc nơi Thánh vực,
Lạc lối đâu mà lại tới đây?”

Nhận xét như trên, chúng tôi mạnh dạn đề nghị các sách báo của người Việt nên dùng danh xưng Biển Đông để thay thế cho từ ngữ Nam Hải hay South China Sea. Đây không những là một việc làm “danh chính ngôn thuận”, mà còn nhắc nhở chúng ta luôn luôn nhớ đến vùng biển thân thiết đã gắn liền với vận mạng dân tộc qua những thăng trầm của lịch sử.

2. Vị Trí

Trên bản đồ hàng hải, quần đảo Hoàng Sa là một chuỗi gồm trên 100 đảo nhỏ nằm ngoài khơi Việt Nam, giữa kinh tuyến 111 độ – 113 độ Đông và vĩ tuyến 15 độ 45 – 17 độ 05 Bắc. Nói khác đi, quần đảo này cách bờ biển Đà Nẵng chừng 170 hải lý (khoảng 300 cây số) về hướng Đông và có khoảng cách từ 400 hải lý đến 500 hải lý (720 cây số đến 900 cây số) đối với các hải cảng Sài Gòn, hải Phòng, Hương cảng và Manila. Theo tục truyền, toán thám sát dưới triều vua Gia Long báo cáo quần đảo này có nhiều bãi cát vàng, vì vậy nên được đặt tên là Hoàng Sa.

3. Địa Thế

Trên các hải đồ quốc tế, quần đảo Hoàng Sa được gọi là Paracel Islands hay Paracels. Có người cho rằng tên Paracel bắt nguồn từ chữ Bồ Đào Nha “Paracel” có nghĩa là “đá ngầm”. Giả thuyết này nghe cũng khá hợp lý vì mấy thế kỷ trước đây, dân Bồ Đào Nha (Portugal) và Tây Ban Nha (Spain) có rất nhiều đi hải thuyền nổi tiếng chu du thám hiểm vòng quanh thế giới. Đi tới đâu, họ dùng tên của nước mình để đặt cho những vùng biển hay đãt lạ chưa được ghi chép trên bản đồ. Hơn nữa, các đảo trong vùng Hoàng Sa thường rất thấp, chỉ cao chừng vài ba thước trên mặt biển nên trông như những bãi đá ngầm khi thủy triều lên. Giả thuyết thứ hai cho rằng “Paracel” là tên một thương thuyền thuộc công ty Đông Ấn của người Anh bị mắc cạn và chìm tại vùng Hoàng Sa vào khoảng thế kỷ thứ 16. Chúng tôi thiết nghĩ giả thuyết thứ hai này có vẻ hữu lý hơn, vì trong quần đảo Hoàng Sa có nhóm đảo Amphitrite là tên của một tàu Pháp gặp nạn tại Hoàng Sa khi vượt biển buôn bán với Trung Hoa vào thế kỷ thứ 17.

Theo các bản đồ cổ của Việt Nam, quần đảo Hoàng Sa mang tên bãi Cát Vàng hay Cồn Vàng vì cát tại đây thường có màu vàng, nhất là tại đảo Quang Hòa. Người Trung Hoa gọi vùng này là Hsisha hay Xisha Quandao tức là Tây Sa quần đảo. Quần đảo Hoàng Sa gồm có rất nhiều đảo lớn, đảo nhỏ, cồn cát, bãi cát, đá ngầm v.v… nên rất khó xác định có tổng cộng bao nhiêu “đơn vị”. Đảo cao nhất là Rocky Island nhô cao khỏi mặt nuớc chừng 20 thước. Sách cổ Việt Nam cho biết có cả thảy chừng 130 đảo, cồn v.v… Tuy nhiên, trên các hải đồ quốc tế chúng ta thấy chỉ ghi nhận vài ba chục đảo lớn. Tưởng cũng cần nói thêm, ngoài các đảo, cồn và đá nổi cao khỏi mặt nước, vùng Hoàng Sa còn có hai bãi ngầm (Bank hay Shoal) rất lớn luôn luôn chìm dưới mực nước biển, đó là Macclesfield và Scarborough Shoal nằm về hướng Đông. Những bãi ngầm hay vùng nước cạn giữa biển này rất nguy hiểm cho các tàu bè qua lại vì khi thời tiết tốt, mặt biển trông rất phẳng lặng bình yên không có dấu hiệu de dọa nào, chỉ khi trời nổi sóng gió mới thấy những lượng sóng bạc đầu trên các vùng bã hay đá ngầm.

Nếu chỉ kể riêng những đảo (đá, đất, bãi cát, cồn … cao hơn mặt biển), quần đảo Hoàng Sa được các nhà hàng hải chia thành hai nhóm chính: đó là nhóm Trăng Khuyết và nhóm An Vĩnh.

A. Nhóm Trăng Khuyết (Crescent Group)
(Xem bản đồ quần đảo Hoàng Sa)

Những đảo thuộc nhóm này kết hợp lại thành một hình cánh cung hay lưỡi liềm nên được đặt tên là Trăng Khuyết hay Nguyệt Thiềm, tên quốc tế là Crescent hay Croissant. Đây là nhóm đảo quan trọng nhất nằm về phía Tây của quần đảo Hoàng Sa, tức là gần với đất liền Việt Nam nhất. Nhóm này gồm 7 hòn đảo chính và một số bãi ngầm.

1. Đảo Hoàng Sa (Pattle Island): Đây là hòn đảo chính của quần đảo, nhưng lại không phải là đảo lớn nhất. Đảo này hình bầu dục, chiều dài khoảng 950 thước, chiều rng khoảng 650 thước. các cơ sở quân sự, đài khí tượng, hải đăng, cầu tàu … đều đặt trên hòn đảo này. Những cơ sở này đa số được thiết lập từ thời Pháp thuộc, đều thuộc quyền sở hữu của VNCH. Ngoài ra còn có các kiến trúc khác như Miếu Bà, Nhà Thờ, bia chủ quyền Việt Nam và đường xe gờng dẫn ra cầu tầu để chuyển vận phân bón. Vì là đảo chính có nhiều cơ sở hành chánh nên thường dùng làm tên chung cho cả quần đảo.

Đảo Hoàng Sa đủ lớn để thiết lập một phi đạo ngắn tầm. Vào đầu năm 1974, VNCH dự trù xây cất một phi trường tại đây nhưng khi toán công binh thám được tầu Hải Quân chở ra tới nơi thì đảo bị Trung Cộng cưỡng chiếm. Dưới thời VNCH, có một trung đội Địa Phương Quân thuộc chi khu Hòa Vang thuộc tiểu khu Quảng Nam đồn trú .

2. Đảo Cam Tuyền (hay Hữu Nhật – Robert Island): Đảo mang tên một xuất đội dưới triều nhà Nguyễn tên thật là Nguyễn Hữu Nhật. Diện tích đảo này chừng 0.32 cây số vuông, nằm cách đảo Hoàng Sa chừng 3 hải lý về hướng Nam. Đảo có một vòng san hô bao chung quanh, có chỗ ăn liền tới bờ đảo.

3. Đảo Duy Mộng (Drummond Island): Hình bầu dục, cao chừng 4 thước trên mặt biển, diện tích chừng 0.41 cây số vuông. Nước tương đối sâu, tầu lớn có thể vào sát bờ chỉ cách vài ba trăm thước. Trong trận hải chiến tại Hoàng Sa vào tháng 1 năm 1974, đa số các chiến hạm trung Cộng tập trung quanh đảo này.

4. Đảo Quang Ảnh (hay Vĩnh Lạc – Money Island): Quang Ảnh là tên một vị đi trưởng dưới triều Nguyễn tên thật là Phạm Quang Ảnh. Vào thời vua Gia Long, vị đội trưởng này thường đem hải thuyền ra Hoàng Sa để thu lượm hải vật. Đảo cao chừng 6 thước, diện tích gần nửa cây số vuông. Chung quanh đảo có nhiều đá ngầm và san hô rất nguy hiểm cho tầu bè.

5. Đảo Quang Hòa (Duncan Island): Là hòn đảo lớn nhất trong nhóm trăng khuyết với diện tích chừng nửa cây số vuông. Quanh đảo là bãi cát mầu vàng, có lẽ vì vậy mà cả quần đảo mang tên Hoàng Sa, bãi Cát Vàng hay Cồn Vàng. Vì có nhiều đảo nhỏ nối liền với nhau bằng những giải cát nên có một số hải đồ chia đảo này thành hai đảo Quang Hòa Đông và Quang Hòa tây. Chung quanh đảo có vòng san hô bao bọc. Trong trận hải chiến giữa HQ VNCH và Trung Cộng, chiến hạm đôi bên đã đụng độ nhau tại mặt Tây, chỉ cách đảo mấy hải lý.

6. Đảo Bạch Qủy (Passu Island): Đảo cấu tạo bằng san hô, rất thấp, chỉ nhô lên khỏi mặt nước khi thủy triều xuống. Đảo rất trơ trọi khiến người khó có thể sinh sống.

7. Đảo Tri Tôn (Triton Island): Gần với đất liền Việt Nam nhất. Đảo trơ trọi toàn đá và san hô chết.

8. Các bãi ngầm: Ngoài các đảo chính nêu trên trong vùng biển thuộc nhóm Trăng Khuyết còn có một số bãi ngầm đáng kể và rất nguy hiểm cho tầu bè qua lại sau đây:

Bãi Antelope Reef: Gồm toàn san hô ngầm, nằm về phía Nam đảo Hữu Nhật và phía Đông đảo Quang Ảnh.
Bãi Vuladdore: Nằm về hướng Đông Nam của nhóm Trăng Khuyết, các chừng 20 hải lý.
Bãi Discovery Reef: Là bãi ngầm lớn nhất. Đây là một vòng rng toàn san hô, chiều dài chừng 15 hải lý và rộng chừng 5 hải lý. B. Nhóm An Vĩnh (Amphitrite Group)

Nằm về hướng Đông Bắc quần đảo Hoàng Sa. An Vĩnh nguyên là tên của một xã thuộc tỉnh Quảng Ngãi thời trước. Sách Đại Nam Thực Lục Tiên Biên chép về xã này như sau: “Ngoài biển xã An Vĩnh, huyện Bình Sơn, Quảng Ngãi có hơn 100 cồn cát kéo dài tới không biết mấy ngàn dậm, tục gọi là Vạn Lý Hoàng Sa Châu … Hồi quốc sơ đầu triều Nguyễn có đặt đi Hoàng Sa gồm 70 người lấy dân xã An Vĩnh sung vào, hàng năm cứ đến tháng ba cưỡi thuyền ra đảo, ba đêm thì tới nơi … ”

Nhóm An Vĩnh còn có tên là Amphitrite hay Tuyên Đức, gồm nhiều đảo tương đối lớn và cao. Sau đây là một số đảo chính:

Đảo Phú Lâm.
Đảo Cây, còn gọi là đảo Cù Mộc.
Đảo Lincoln.
Đảo Trung.
Đảo Bắc.
Đảo Nam.
Đảo Tây.
Đảo Hòn Đá. Hải đảo quan trọng nhất trong nhóm An Vĩnh là đảo Phú Lâm, còn gọi là Woody Island nằn cạnh đảo Hòn Đá nhưng diện tích lớn hơn nhiều. Trước đệ nhị thế chiến, ngưới Pháp tại Đông Dương đã khai thác những đảo thuộc nhóm An Vĩnh. Họ cũng thiết lập tại đây một đài khí tượng giống như trên đảo Hoàng Sa.

Bản đồ quần đảo Hoàng Sa

 

Sau thế chiến thứ hai, Pháp phái chiến hạm Savorgnan de Brazza đến chiếm lại các đảo tại vùng Hoàng Sa từ tay người Nhật vào tháng 6 năm 1946. Nhưng sau đó vì chiến tranh Việt Pháp bùng nổ, Pháp phải rút quân về đất liền. Lợi dụng cơ hội Hoàng Sa bị bỏ trống, Trung Hoa lấy cớ giải giới quân Nhật đã lén đổ quân lên đảo Phú Lâm rồi chiếm đóng luôn đảo này.

Ngoài ra, họ cũng tiến xa hơn về phía Nam, chiếm luôn đải Thái Bình (Itu Aba) thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam. Vào ngày 13 tháng 1 năm 1947, người Pháp tại Đông Dương chính thức phản kháng hành động chiếm đóng các hải đảo bất hợp pháp của Trung Hoa và phái chiến hạm le Tonkinois ra Hoàng Sa. Thấy đảo Phú Lâm đã bị chiếm đóng và phòng thủ kỹ lưỡng, chiến hạm này quay về đảo Hoàng Sa (Pattle Island) để đổ 10 quân nhân Pháp và 17 quân nhân Việt Nam lên chiếm đóng đảo này.

Khi Trung Hoa Dân Quốc phải bỏ Hoa Lục chạy sang Đài Loan, họ cũng rút quân ở đảo Phú Lâm và Thái Bình về. Mãi tới 7 năm sau khi làm chủ được lục dịa, Trung Cộng mới cho quân chiếm đóng Đảo Phú Lâm vào đêm 20 rạng ngày 21 tháng 2 năm 1956.

Trong nhóm An Vĩnh, ngoài Phú Lâm còn có một hòn đảo quan trọng khác, đó là đảo Lincoln, nằm về phía Đông của nhóm. Đây là đảo lớn nhất trong quần đảo Hoàng Sa với diện tích chừng 1.6 cây số vuông hay tương đương 400 acres, bề cao chừng 3 – 4 thước. Hiện nay, dự đoán có chừng 4,000 quân Trung Cộng trên các đảo tại vùng Hoàng Sa.

4. Chủ Quyền Việt Nam Tại Quần Đảo Hoàng Sa

Vào thế kỷ thứ 18, bộ sách “Phủ Biên Tạp Lục” của ông Lê Quí Đôn đã có nói tới Hoàng Sa và Trường Sa. Cuốn sách này cũng kể việc người Việt Nam đã khai thác hai quần đảo này ngay từ thời Lê mạt. Các tài liệu khác nói về chủ quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa và Trường Sa là bộ “Hoàng Việt Địa Dư Chí” được ấn hành vào năm Minh Mạng thứ 16 tức là năm 1834. Cuốn “Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí” của Phan Huy Chú (1782 – 1840).

Hơn nữa, bộ “Đại Nam Nhất Thống Chí” trong cuốn nói về tỉnh Quảng Ngãi có kể việc Chúa Nguyễn cho thành lập đội Hoàng Sa gồm 70 người cứ mỗi năm vào tháng 3 thì ra đảo thu lượm hải vật rồi trở về vào tháng 8. Vào năm Minh Mạng thứ 16, nhà vua cũng sai quan quân dùng thuyền chở gạch đá ra dựng một ngôi chùa và bia chủ quyền tại đảo Hoàng Sa có khắc hàng chữ nôm “Minh Mạng năm thứ 16″. Ngoài các sử gia bản xứ, một số các tác giả người Pháp cũng nói tới chủ quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa và Trường Sa. Vào năm 1836 Đức giám mục Taberd đã viết trong cuốn sách “Địa dư, lịch sử và mô tả mọi dân tộc cùng với tôn giáo và phong tục của hộị” (Univer, histoire et description de tous les peuples, de leurs religion et coutumes) như sau:

“Tôi không kể dài dòng về những đảo thuộc Nam Kỳ, nhưng chỉ nhận xét rằng từ 34 năm nay, người Nam Kỳ đã chiếm cứ nhóm quần đảo Paracels mà người An Nam gọi là Cát Vàng hay Hoàng Sa, thực là những hòn đảo nhỏ bí hiểm, gồm những mỏm đá xen lẫn với các bãi cát mà những người đi biển đều kinh hãi. Tôi không rõ họ có thiết lập cơ sở gì ở đó không, nhưng chắc chắn rằng Hoàng Đế Gia Long nhất định muốn mở rộng lãnh thổ của Hoàng Triều bằng cách chiếm quần đảo này, và vào năm 1816, ngài đã long trọng trương lá cờ tại đây”.

Trong tác phẩm “Hồi ký về Đông Dương”, ông Jean Baptiste Chaigneau cũng ghi rằng vua Gia Long đã chính thức thu nhận quần đảo Hoàng Sa vào năm 1816. Khi người Pháp đặt nền bảo hộ trên toàn cỏi Đông Dương, họ cũng tiếp tục lãnh nhiệm vụ bảo vệ Hoàng Sa. Vào các năm 1895 và 1896, có hai chiếc thương thuyền tên Bellona và Iruezi Maru chở đồng cho người Anh bị đắm tại nhóm đảo Tuyên Đức và bị người Trung Hoa đến đánh cướp. Đại diện người Anh tại Bắc Kinh đòi nhà Thanh phải bồi thường vì có một số đồng được đem về bán tại đải Hải Nam. Nhưng chính quyền nhà Thanh không chịu bồi thường, viện cớ quần đảo Hoàng Sa không thuộc chủ quyền của Trung Hoa.

Các quốc gia trong vùng Đông Nam Á cũng mặc nhiên công nhận chủ quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa. Vào đầu thế kỷ 20, một công ty Nhật tên Motsli Bussan Kaisha đã đệ đơn xin chính quyền Pháp tại Đông Dương cấp quyền đặc nhượng khai thác phosphate tại đây. Năm 1925, tàu Lanessan chở phái đoàn nghiên cứu của Hải Học Viện Nha Trang ra thám sát quần đảo Hoàng Sa. Phái đoàn này xác nhận Hoàng Sa là một phần của lãnh thỗ Việt Nam vì dính liền với thềm lục địa Việt Nam.

Tại hội nghị San Francisco vào ngày 7 tháng 9 năm 1951, Thủ Tướng Trần Văn Hữu, trưởng phái đoàn Việt Nam cũng đã lên tiếng xác nhận chủ quyền Việt Nam tại hải đảo thuộc Biển Đông. Ông tuyên bố truớc hội nghị: “Chúng ta cần phải lợi dụng mọi cơ hội để dập tắt mầm mống chiến tranh, vì vậy chúng tôi xác nhận chủ quyền của Việt Nam trên các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa từ trước đến nay vẫn luôn luôn là những thành phần của lãnh thổ Việt Nam”. Trong tổng số 51 quốc gia tham dự, không một quốc gia nào – kể cả Trung Hoa – lên tiếng phản đối nên lời tuyên bố này đã được ghi vào biên bản của hội nghị.

Dưới thời Pháp thuộc, Việt Nam đã thiết lập những cơ sở hành chánh tại Hoàng Sa qua nghị định số 156-SC ngày 15-6-1932 của Toàn Quyền Đông Dương. Trong đạo dụ số 10 ký ngày 30-3-1938, Hoàng Đế Bảo Đại sát nhập quần đảo Hoàng Sa vào tỉnh Thừa Thiên. Ngày 5-5-1938, Toàn Quyền Đông Dương thiết lập hai đơn vị hành cháng tại quần đảo Hoàng Sa. Đó là đơn vị Trăng Khuyết và phụ cận (délégation du Croissant et dépendences) và đơn vị Tuyên Đức và phụ cận (délégation de l’Amphitrite et dépendences). Ngày 13-7-1961 dưới thời Đệ Nhất Cộng Hòa, Tổng Thống Ngô Đình Diệm ban hành sắc lệnh số 175-NV đặt quần đảo Hoàng Sa thuộc tỉnh Quảng Nam thay vì tỉnh Thừa Thiên và đặt tên là xã Định Hải thuộc quận Hòa Vang. Dưới thời Đệ Nhị Cộng Hòa, nghị định số 709-BNV-HC ngày 21-10-1969 của Thủ Tướng Chính Phủ đã sát nhập xã Định Hải vào xã Hòa Long cũng thuộc quận Hòa Vang, tỉnh Quảng Nam.

5. Bằng cớ bán nước của Việt Cộng

(Xem Văn thư Phạm Văn Đồng gửi Chu Ân Lai)Trong lúc miền Nam Việt Nam ra sức bảo vệ các quần đảo tại Biển Đông chống lại các hành động xâm lăng của ngoại quốc thì Việt Cộng tại miền Bắc lại nịnh bợ, thản nhiên công nhận chủ quyền của Trung Cộng tại các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Sau đây là các bằng cớ: – Vào năm 1956, ngoại trưởng Việt Cộng là Ung Văn Khiêm tuyên bố:” Hà Nội nhìn chủ quyền của Trung Cộng đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa mà Trung Cộng gọi là Tây Sa và Nam Sa.”

– Trong số báo phát hành ngày 22-9-1958, tờ Nhân Dân, cơ quan ngôn luận chính thức của Việt Cộng đã đăng một bản tin với tựa đề “Chính phủ nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa công nhận quyết định về hải phận của Trung Quốc.” Nguyên văn bản tin này như sau:

“Sáng ngày 21-9-1958, đồng chí Nguyễn Khang, Đại sứ nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa tại Trung quốc, đã gặp đồng chí Cơ Bằng Phi, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa và đã chuyển bức công hàm sau đây của Chính phủ ta:

“Thưa đồng chí Tổng Lý,
Tổng lý Quốc vụ viện nuớc Cộng hòa nhân dân Trung hoa,Chúng tôi in trân trọng báo tin để đồng chí Tổng lý rõ:

Chính phủ nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4 tháng 9 năm 1958, của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, quyết định về hải phận của Trung quốc. Chính phủ nước Việt nam dân chủ Cộng hòa tôn trọng quyết định ấy và sẽ chỉ thị cho các cơ quan nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung quốc rong mọi quan hệ với nước Cộng hòa nhân dân Trung hoa trên mặt biển.

Chúng tôi xin kính gửi đồng chí Tổng lý lời chào rất trân trọng.Hà Nội ngày 14 tháng 9 năm 1958

Phạm Văn Đồng
Thủ tướng Chính phủ
Nước Việt nam dân chủ Cộng hòa

– Sau khi chiếm được miền Nam Việt Nam, tờ báo Sài Gòn Giải Phóng vào tháng 5 năm 1976 đã đăng một bài xã luận liên quan tới quần đảo Hoàng Sa, trong đó có những câu nịnh bợ Trung Cộng rất ngớ ngẩn như sau:

“Trung quốc vĩ đại đối với chúng ta không chỉ là người đồng chí mà còn là người thầy tin cẩn, đã cưu mang chúng ta nhiệt tình để chúng ta có được ngày hôm nay, thì chủ quyền Hoàng Sa thuộc Trung quốc hay thuộc ta cũng vậy thôi (Việt Nam, Trung Quốc, sông liền sông, núi liền núi). Khi nào chúng ta muốn nhận lại quần đảo này, Trung quốc sẽ sẵn sàng giao lại.”

Về sau, vào năm 1979, hai đồng chí thầy trò “sông liền sông, núi liền núi” này đã dậy nhau một bài học đẫm máu tại vùng biên giới Hoa – Việt. Tới năm 1988, người thầy tín cẩn Trung Cộng đã chẳng những không giao lại quần đảo Hoàng Sa cho tên đày tớ Việt Cộng mà còn xua quân chiếm luôn quần đảo Trường Sa. Ngày 14-3-1988, tàu chiến Trung Cộng bắn chìm 3 chiến hạm của hải quân Việt Cộng (một chiếc thuộc loại Shangai do Trung Cộng viện trợ trước đây, một tuần duyên hạm PGM cũ của Hải Quân VNCH, một hải vận hạm do Nga Sô viện trợ) khiến trên 100 lính Việt Cộng thương vong. Trung Cộng đã dùng những bức công hàm của Việt Cộng công nhận chủ quyền của Trung Cộng tại Biển Đông để làm bằng cớ. Bị bí lối, Việt Cộng trâng tráo giải thích trên tờ báo Nhân Dân số ra ngày 26-4-1988:

“Đúng là có những lời tuyên bố đó. Cần phải đặt những lời tuyên bố này đúng trong bối cảnh lịch sử của nó … Trong cuộc chiến đãu một mất một còn, chống một kẻ thù xâm lược có sức mạnh quân sự lớn hơn mình rất nhiều, Việt Nam tranh thủ được Trung quốc gắn chặt với cuc chiến đấu của Việt Nam càng nhiều bao nhiêu và ngăn chận Mỹ xử dụng hai quần đảo cũng như vùng Biển Đông chống lại Việt nam, thì càng tốt bấy nhiêu. Phải đứng trên tinh thần đó và trong bối cảnh đó để hiểu các tuyên bố nói trên.”

————————————————————————————

trở về (zurück)

—–
III. Những Diễn Biến Trước Trận Hải ChiếnVụ tranh chấp chủ quyền tại Biển Đông đột ngột trở nên sôi động vào ngày 11-1-1974 khi Trung Cộng ngang nhiên tuyên bố các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đang nằm trong tay Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) là một phần lãnh thổ của họ.
Để làm hậu thuẫn cho những lời tuyên bố vô căn cứ, Trung Cộng (TC) phái nhiều tầu đánh cá võ trang xâm nhập hải phận Hoàng Sa và đổ quân giả dạng ngư phủ lên các đảo không có lực lượng VNCH chiếm đóng.
Ngay ngày hôm sau 12-1-74, Ngoại Trưởng Vương Văn Bắc của VNCH đã cực lực bác bỏ luận điệu ngang ngược và lên án hành động xâm lăng gây hấn của Trung Cộng, đồng thời Bộ Tư Lệnh HQ/VNCH cũng chuẩn bị tăng cường chiến hạm tuần tiễu tại vùng biển Hoàng Sa. Lúc đó, chỉ có một trung đội Địa Phương Quân thuộc chi khu Hòa Vang thuộc tiểu khu Quảng Nam gồm 24 người đóng tại đảo Hoàng Sa cùng với 4 nhân viên thuộc đài khí tượng. Các đảo khác trong nhóm Nguyệt Thiềm không có quân VNCH trú đóng.
Trong các ngày kế tiếp, TC tiếp tục đổ người lên các đảo khác.

Tính cho đến ngày 15-1-74, quân TC đã chiếm đóng các đảo Cam Tuyền (Robert), Vĩnh Lạc (Money), Quang Hòa (Duncan) và Duy Mộng (Drummond).1. Tuần Dương Hạm Lý Thường Kiệt (HQ-16) tới Hoàng SaĐể bảo vệ chủ quyền chính đáng tại Biển Đông, ngày 15-1-74, BTL/HQ/VNCH ra lệnh cho HQ-16 trực chỉ Hoàng Sa để tăng cường cho lực lượng trú phòng, đồng thời dùng biện pháp ôn hòa yêu cầu lực lượng Trung Cộng rời khỏi lãnh hải VNCH. Tuần Dương Hạm (TDH) Lý Thường Kiệt còn chở thêm một phái đoàn Công Binh 6 người thuộc BTL/Quân Đoàn I gồm 1 Thiếu Tá trưởng đoàn, 1 cố vấn dân sự Hoa Kỳ, 2 Trung Úy và 2 Trung Sĩ Công Binh. Tháp tùng theo phái đoàn còn có một người Hoa Kỳ bận đồ dân sự và HQ Đại Úy Trần Kim Diệp thuộc BTL/HQ/V1DH. Phái đoàn này có nhiệm vụ thám sát địa thế để thiết lập một phi trường nhỏ trên đảo Hoàng Sa.

HQ-16 do HQ Trung Tá Lê Văn Thự (khóa 10 SQHQ Nha Trang) làm Hạm Trưởng. Hạm Phó là HQ Thiếu Tá Trần Văn Hoa Em (khóa 11 SQHQ Nha Trang) lúc đó nghỉ phép không có mặt trên chiến hạm. Cơ khí trưởng là Đại Úy CK Hiệp (khóa 14 SQHQ Nha Trang). Đúng ra, HQ-16 đã mãn hạn tuần dương tại vùng I và đang chuẩn bị trở về Sài Gòn nghỉ bến, chuẩn bị ăn tết Giáp Dần. Công tác phụ trội tại Hoàng Sa của HQ-16 đuợc dự trù sẽ chấm dứt trong vòng 5 ngày. Tình trạng chiến hạm khiển dụng tương đối khả quan, nhưng quân số không được đầy đủ vì gần Tết nên nhiều người đi phép, chờ chiến hạm trở về Sài Gòn mới trình diện.

Sáng ngày 16 tháng 1, HQ-16 tới Hoàng Sa, sau đó thả một xuồng đổ bộ gồm 4 nhân viên cơ hữu để đưa 6 người trong phái đoàn thám sát lên đảo Hoàng Sa. Công tác hoàn tất tốt đẹp không có gì trở ngại.

Sau đó, chiến hạm tiếp tục công tác tuần dương và phát hiện một số tầu lạ đang quanh quẩn trong vùng đảo Cam Tuyền (Robert) về phía Nam. HQ -16 liền đổi đường tới gần để điều tra. Đây là những tầu tương đối nhỏ như loại tầu đánh cá sơn màu xanh đậm có bề ngang hơi lớn với đài chỉ khá lớn như loại tầu quân sự.

Chiến hạm dùng đèn hiệu để liên lạc yêu cầu các tầu lạ cho biết xuất xứ theo đúng qui luật hàng hải quốc tế nhưng không được trả lời. Khi đến gần hơn mới nhìn rõ những chiếc tầu này treo cờ Trung Cộng. Tuần Dương Hạm (TDH) Lý Thường Kiệt một mặt lập tức báo cáo sự phát hiện về BTL/HQ/V1ZH tại Đà Nẵng, đồng thời dùng cờ, đèn và cả máy phóng thanh bằng tiếng Trung Hoa yêu cầu các tầu Trung Cộng phải lập tức rời khỏi lãnh hải Việt Nam.

Nhưng các tầu Trung Cộng vẫn không trả lời, một số nhân viên mặc quân phục mầu xanh nhạt còn đứng trên boong buông những lời lẽ khiếm nhã và cử chỉ trêu chọc. HQ-16 vẫn kiên nhẫn dùng loa phóng thanh liên lạc, sau cùng phía tầu Trung Cộng cũng lên tiếng, đòi hỏi ngược lại, yêu cầu HQ-16 rời khỏi lãnh hải của họ!

Cứ như vậy, đôi bên dằng co suốt ngày 16 tháng 1, không bên nào chịu nhượng bộ cho tới tối TDH Lý Thường Kiệt phải di chuyển xa hơn ra ngoài khơi để tránh vùng đá ngầm nước cạn nguy hiểm cho sự an toàn của chiến hạm.

Cùng ngày tại Sài Gòn, hãng thông tấn UPI loan tin chiến hạm và binh sĩ Việt Nam đã nổ súng vào một toán người đang cắm cờ Trung Cộng tại đảo Cam Tuyền. Không rõ phía Trung Cộng có bắn trả hay không.

Trong lúc đó, các giới chức cao cấp trong chính phủ cũng đang họp khẩn để tìm cách đối phó với sự hiện diện đáng nghi ngờ của Trung Cộng tại Hoàng Sa. Trong một cuộc họp báo, Ngoại Trưởng Vương Văn B¡c cho biết tầu Trung Cộng đã xâm nhập hải phận Hoàng Sa và đổ bộ người lên các hải đảo và “hành động này đã mang đến sự đe dọa cho nề an ninh chung trong vùng”.

Sáng sớm ngày 17-1, khi HQ-16 quay trở lại vùng đảo Cam Tuyền thấy có tầu Trung Cộng vẫn còn ở đó. Ngoài ra, gần đảo Vĩnh Lạc (Money) lân cận cũng có thêm tầu Trung Cộng xuất hiện với hàng trăm lá cờ mầu đỏ cằm rải rác ven bờ biển dọc theo bãi cát trắng. Có lẽ những chiếc tầu mới này đã đổ người lên đảo c¡m cờ trong đêm để mạo nhận chủ quyền của Trung Cộng. Hai chiếc tầu dùng để chở quân của Trung Cộng mang số 402 (tên Nam Ngư) và 407.

Tại Sài Gòn, nguồn tin Reuters cho biết Trung Cộng đã gửi hai chiến hạm đến Hoàng Sa sau khi các binh sĩ VNCH b¡n vào toán người Trung Cộng trên các hải đảo. Phát ngôn viên quân sự, Trung Tá Lê Trung Hiền cũng cho biết Hải Quân đã phái 6 chiến hạm lớn nhất ra Hoàng Sa để theo dõi các chiến hạm Trung Cộng. Trung Tá Hiền tuyên bố tiếp “Trong lúc này, chúng tôi chưa thể nói sẽ hành động ra sao – gửi thêm lực lượng tăng viện hay chỉ đuổi toán Trung Cộng ra khở hòn đảo Cam Tuyền”.

2. Khu Trục Hạm Trần Khánh Dư (HQ-4) nhập vùng

Ngay khi nhận được báo cáo của HQ-16 phát hiện nhiều tầu Trung Cộng xâm nhập hải phận Hoàng Sa, BTL/HQ/V1DH lập tức phản ứng. Phó Đề Đốc Hồ Văn Kỳ Thoại, Tư Lệnh HQ/V1DH chỉ thị KTH Trần Khánh Dư HQ-4 ra Hoàng Sa tăng cường, đồng thời ra lệnh cho HQ-16 đổ bộ nhân viên cơ hữu lên đảo Cam Tuyền để triệt hạ cờ Trung Cộng.

Khu Trục Hạm (KTH) Trần Khánh Dư do Hải Quân Trung Tá Vũ Hữu San làm Hạm Trưởng. Trung Tá San, xuất thân Khóa 11 Sĩ Quan Hải Quân Nha Trang. Tác phong đứng đắn, luôn luôn tuân hành và hoàn tất chu đáo mọi chỉ thị của thượng cấp, Trung Tá San không những là một sĩ quan hải quân tài giỏi, mà còn là một hạm trưởng được xếp vào hàng xuất s¡c nhất của Hải Quân Việt Nam. Hạm phó của KTH Trần Khánh Dư là Hải Quân Thiếu Tá Nguyễn Thành Sắc, bạn cùng khóa 11 SQHQ Nha Trang với Hạm Trưởng Vũ Hữu San.

Tại cầu tầu của bán đảo Tiên Sa, Đà Nẵng, lúc đó HQ-4 đang nhận dầu, nước ngọt cũng như thực phẩm, được lệnh hoàn tất việc tiếp tế và lên đường càng sớm càng tốt vì tình hình tại Hoàng Sa mỗi lúc một căng thẳng thêm. Mọi nhân viên trên chiến hạm đều ráo riết chuẩn bị và làm việc không ngưng nghỉ để kịp thời lên đường.

Vào khoảng nữa đêm 16 rạng ngày 17 tháng 1, KTH Trần Khánh Dư vận chuyển tách bến Đà Nẵng trực chỉ Hoàng Sa, chở theo một trung đội Biệt Hải thuộc Sở Phòng Vệ Duyên Hải do Đại Úy Nguyễn Văn Tiến chỉ huy.

Tới xế trưa ngày 17-1, khoảng 2 giờ chiều, chiến hạm ra tới vùng hành quân, hợp cùng với HQ-16 tuần tiễu tại Hoàng Sa. Trong thời gian này, Trung Tá San được Phó Đề Đốc TL/HQ/V1ZH chỉ định làm Chỉ Huy Trưởng cuộc Hành Quân Bảo Vệ Quần Đảo Hoàng Sa, chịu trách nhiệm điều động cả hai chiến hạm.

HQ-4 Trần Khánh Dư

Khi vừa nhập vùng, Hạm Trưởng HQ-4 đã có những hành động tức thời để uy hiếp lực lượng Trung Cộng.

HQ-16 được lệnh vận chuyển từ phía Bắc (đảo Hoàng Sa) xuống, trong khi HQ-4 từ hướng Nam (đảo Vĩnh Lạc) tiến lên tạo thành thế gọng kìm xiết chặt hai chiếc tầu Trung Cộng vào giữa.

Thấy lực lượng VNCH được tăng cường và nhất là có phản ứng mạnh hơn so với ngày hôm trươc, hai chiếc tầu Trung Cộng lảng xa khỏi đảo Cam Tuyền nhưng vẫn bám chặt vùng. Đôi bên lại dùng loa phóng thanh để trao đổi yêu sách, bên này đòi bên kia phải rời khỏi hải phận của mình.

Thấy dằng co hồi lâu không đạt được kết quả mong muốn, Trung Tá San ra lệnh cho HQ – 4 húc nhẹ mũi tầu của mình vào một tầu Trung Cộng như muốn đẩy xa ra ngoài khơi để cảnh cáo. Vì mũi tầu HQ-4 cao lớn nên đã làm đài chỉ huy của tầu Trung Cộng thấp hơn bị bể một lỗ lớn. Trước hành động quyết liệt đó, hai chiếc tầu Trung Cộng đành phải nhượng bộ, rời vùng chạy về phía hai đảo Duy Mộng và Quang Hòa ở hướng Đông Nam.

Sau khi đuổi được hai tầu Trung Cộng đi chỗ khác, TDH Lý Thường Kiệt lập tức đổ bộ một toán nhân viên cơ hữu gồm 15 người lên đảo Vĩnh Lạc để dẹp cờ Trung Cộng và c¡m cờ VNCH. Toán nhân viên này đa số được lựa trong ngành trọng pháo quen tác chiến, mang theo súng ống, đạn được và lương khô đủ dùng trong vòng ba ngày. Trưởng toán đổ bộ là Trung Úy Lâm Trí Liêm xuất thân khóa 10 OCS được đào tạo tại Trường Hải Quân tại Rhodes Island, Hoa Kỳ. Trung uý Liêm trước đây đã từng phục vụ tại các giang đoàn chiến đấu trong các sông rạch miền Nam nên tương đối có nhiều kinh nghiệm tác chiến trên bộ.

Toán đổ bộ lên đảo Vĩnh Lạc không gặp sức kháng cự nào, chỉ tìm thấy mấy ngôi mộ mới và vài lá cờ Trung Cộng. Tất cả những dấu tích ngụy tạo này đều bị binh sĩ VNCH phá hủy. Tiếp đó, theo đúng lệnh hành quân, HQ-4 đổ bộ 13 nhân viên cơ hữu lên đảo Cam Tuyền. Tại đây, Trung Cộng có 3 tầu neo gần đảo và mấy chiếc xuồng nhỏ để liên lạc với những người trên đảo. Khi thấy lực lượng VNCH đổ quân, những chiếc tầu Trung Cộng lặng lẽ thu quân rút lui không chống trả. Toán đổ bộ lục soát tìm thấy một lá cờ Trung Cộng mới c¡m vài ngày trước. Các dấu tích cũ của VNCH vẫn còn trên đảo gồm một tấm bia ghi ngày 5-12-1963 của Thủy Quân Lục Chiến, 2 bể chứa nước mưa bằng xi măng và một ngôi miếu nhỏ có hàng chữ đề ngày 31-11-1963.

Khoảng 6 giờ chiều ngày 17-1, hai chiến hạm của Hải Quân Trung Cộng loại Kronstadt trang bị hải pháo 100 ly và 37 ly mang số 271 và 274 xuất hiện. Có lẽ những chiến hạm này xuất phát từ căn cứ hải quân Yulin ở phía Nam đảo Hải Nam đến tăng cường theo lời cầu cứu của mấy chiếc tầu chở quân.

Hai chiếc Kronstadt từ phía đảo Quang Hòa xả hết tốc độ hướng về các HQ-4 và HQ-16 với thái độ khiêu khích thách thức. Tuy nhiên các chiến hạm VNCH vẫn bình tĩnh và ôn hòa dùng đèn hiệu yêu cầu tầu Trung Cộng hãy rời khỏi hải phận Việt Nam.

Phía Trung Cộng cũng dùng quang hiệu trả lời, yêu cầu các chiến hạm VNCH rời khỏi hải phận của họ. Đôi bên trao đổi tín hiệu chừng một tiếng đồng hồ không có kết quả, nhưng trước thái độ cương quyết của phía VNCH, hai chiếc Kronstadt đành nhập đoàn với những tầu Trung Cộng khác lui về bố trí tại hai đảo Quang Hòa và Duy Mộng. Dường họ có ý định củng cố lực lượng và bảo vệ toán quân đã được đổ bộ lên đảo.

Trước đó, thấy tình hình càng thêm căng thẳng vì Trung Cộng có ý đồ nhất quyết chiếm giữ quần đảo Hoàng Sa bằng võ lực, BTL/HQ/V1DH tại Đà Nẵng đã ban hành lệnh hành quân Hoàng Sa 1 (số 50.356, nhóm ngày giờ 180020H/01/74).

Nội dung được tóm tắt như sau:

a. Nhiệm vụ: Chiếm lại các đảo Cam Tuyền, Quang Hòa, , Duy Mộng và Vĩnh Lạc.

b. Thi hành: HQ-16 chiếm đảo Vĩnh Lạc bằng nhân viên cơ hữu. HQ-4 nhận 32 nhân viên Biệt Hải tại Đà Nẵng có nhiệm vụ đổ bộ chiếm đảo Cam Tuyền, Duy Mộng và Quang Hòa. HQ-5 chở toán Hải Kích từ Đà Nẵng ra Hoàng Sa để phối hợp và tăng cường cho toán Biệt Hải. Các đảo sau khi chiếm được sẽ giao cho Trung Đội Địa Phương Quân trấn giữ. Toán đổ bộ phải cố g¡ng dùng biện pháp ôn hòa nhưng cứng r¡n để yêu cầu người và tàu bè xâm nhập bất hợp pháp ra khỏi lãnh hải VNCH.

c. Chỉ huy: TL/HQ/V1ZH chỉ huy tổng quát. HQ Đại Tá Hà Văn Ngạc là Sĩ Quan chỉ huy công tác trên mặt biển. (Ghi chú của người viết: trong suốt cuộc hành quân, Tư Lệnh Hải Quân Vùng 1 Duyên Hải (TL/HQ/V1ZH) là Phó Đề Đốc Hồ Văn Kỳ Thoại ở tại bản doanh Đà Nẵng, còn Đại Tá Ngạc mãi tới ngày 18-1 mới ra tới vùng hành quân nên trước đó Trung Tá San được chỉ định làm SQ chỉ huy công tác trên mặt biển như trên đã nói).

3. Tuần Dương Hạm Trần Bình Trọng HQ-5 và Hộ Tống Hạm Nhật Tảo HQ-10 ra Hoàng Sa

Được tin Hải Quân Trung Cộng gửi thêm nhiều chiến hạm từ căn cứ Yulin thuộc đảo Hải Nam đến Hoàng Sa, Hải Quân VNCH cũng tăng cường thêm chiến hạm. Tuần Dương Hạm Trần Bình Trọng HQ-5 được lệnh tiếp tế khẩn cấp tại Đà Nẵng và rời quân cảng trong thời gian sớm nhất, còn Hộ Tống Hạm Nhật Tảo đang trên đường ra Đà Nẵng tiếp ứng.

Hạm Trưởng HQ-5 là HQ Trung Tá Phạm Trọng Quỳnh, cùng khóa 11 SQ/HQ Nha Trang với Hạm Trưởng HQ-4. Trung Tá Quỳnh là người rất mực thước, đứng đắn, ngay từ khi còn thụ huấn tại quân trường đã tỏ ra có nhiều đức tính tốt cần thiết để trở thành một vị Hạm Trưởng thành công. Trung Tá Quỳnh vừa nhận lãnh quyền chỉ huy Tuần Dương Hạm Trần Bình Trọng tại Vũng Tàu khi được lệnh từ BTL Hạm Đội trực chỉ Vùng I ngay vì nhu cầu hành quân. Chiến hạm ra tới Đà Nẵng và cập cầu Tiên Sa tại bán đảo Sơn Chà vào ngày 17-1. Lúc đó, tại Hoàng Sa tình tình đã rất khẩn trương vì HQ-16 và HQ-4 đang phải đương đầu với một lực lượng thủy bộ khá mạnh của Trung Cộng.

Về chiếc Hộ Tống Hạm Nhật Tảo, Hạm Trưởng là HQ Thiếu Tá Ngụy Văn Thà, xuất thân khóa 12 SQHQ Nha Trang. Thiếu Tá Thà là một vị Hạm Trưởng trẻ tuổi có nhiều kinh nghiệm hành quân trong sông, xứng đáng là một cấp chỉ huy trong Hải Quân. Hạm Phó của HQ-10 là HQ Đại Úy Nguyễn Thành Trí, xuất thân khóa 17 SQHQ Nha Trang.

HQ Đại Tá Hà Văn Ngạc, được TL/HQ/V1DH chỉ định làm Sĩ Quan chỉ huy công tác trên mặt biển, đặt Bộ Chỉ Huy trên HQ-5. Là một sĩ quan nhiều kinh nghiệm hải hành và với chức vụ đương nhiệm Chỉ Huy Trưởng Hải Đội 3 Tuần Dương gồm nhiều chiến hạm chủ lực. Lúc bấy giờ, có lẽ Đại Tá Ngạc là người hợp lý và xứng đánh nhất để được tuyển chọn làm Sĩ Quan Chỉ Huy Chiến Thuật (OTC). Ngày 18-1, hồi 11 giờ 30 đêm, từ soái hạm HQ-5, ông gửi đi một công điện hành quân “Thượng Khẩn” tới các chiến hạm HQ-4, HQ-16 và HQ-10 thuộc quyền.

Nội dung được tóm t¡t như sau:

Nhiệm vụ: Hành quân thủy bộ cấp tốc chiếm đảo Quang Hòa.

Thi hành: Hoàn tất nhiệm vụ bằng đường lối ôn hòa. Nếu địch khai hỏa kháng cự, tập trung hỏa lực tiêu diệt địch.

Kế hoạch: Hai chiến hạm HQ-16 và HQ-10 có nhiệm vụ yểm trợ cho lực lượng đổ bộ bằng cách bám sát hai chiến hạm Kronstadt mang số 271 và 274 của Trung Cộng. Nếu địch khai hỏa, HQ-16 và HQ-10 phải lập tức dùng hỏa lực cơ hữu để tiêu diệt. HQ-4 có nhiệm vụ đổ bộ toán Biệt Hải vào mặt Tây đảo Quang Hòa và yểm trợ hải pháo cho lực lượng đổ bộ. Chiến hạm cũng được lệnh canh chừng và sẵn sàng tiêu diệt các tầu đánh cá võ trang và tầu nhỏ của địch.

Ngày N là ngày 19/1/74; giờ H là 6 giờ sáng (0600H).

Qui luật khai hỏa: được căn cứ trên hai trường hợp căn bản sau đây:

Nếu địch khai hỏa trước: Ta phản ứng bằng hỏa lực cơ hữu để tiêu diệt lực lượng địch càng nhiều càng tốt. Ưu tiên hỏa lực nh¡m vào các đơn vị quan trọng như Kronstadt hoặc loại chiến hạm lớn hơn nếu có.

Nếu địch tỏ vẻ ôn hòa: Ta dè dặt và cảnh giác tối đa với sự ôn hòa tương ứng, đồng thời tiếp tục thi hành nhiệm vụ chiếm đảo Quang Hòa bằng cách thương lượng quyết liệt để địch rút lui. Sau đó sẽ trương quốc kỳ Việt Nam và tổ chức phòng thủ trên đảo.

Nếu địch không khai hỏa trước nhưng không chịu rút lui: Đối với lực lương hải quân địch, áp dụng qui luật quốc tế để yêu cầu rời khỏi lãnh hải. Nếu địch ngoan cố, áp dụng những huấn thị căn bản về việc ngăn chận các chiến hạm và chiến thuyền xâm nhập hải phận. Đối với lực lượng địch trên đảo, phản ứng thích nghi tùy thuộc vào kết quả của việc thương lượng.

Với Chỉ Huy Trưởng Hải Đội có mặt trên chiến hạm, HQ-5 ráo riết chuẩn bị cho cuộc hành quân thủy bộ tái chiếm Hoàng Sa. Sau đây là các hoạt động chính của Tuần Dương Hạm Trần Bình Trọng và Hộ Tống Hạm Nhật Tảo, một thành phần của Phân Đoàn Đặc Nhiệm 213.7.1. Những hoạt động này được căn cứ vào phúc trình số 001/HQ.5/PT/K ngày 21 tháng 2 năm 1974 của TDH Trần Bình Trọng:

Ngày 17 tháng 1, HQ-16 tới Đà Nẵng nhận tiếp tế dầu nước và đón Đại Đội Hải Kích gồm có 49 người do Hải Quân Đại Úy Nguyễn Minh Cảnh (khóa 20 SQHQ Nha Trang) chỉ huy. Nửa đêm 17 rạng ngày 18-1, hồi 180012H (sau nửa đêm 12 phút), HQ-16 khởi hành từ Đà Nẵng đi Hoàng Sa. Hồi 3 giờ 15 sáng (180315H), chiến hạm tới điểm hẹn vớI HQ-10 tại vị trí cách hải đăng Tiên Sa 9 hải lý về hướng Đông (ngoài khơi cửa biển Đà Nẵng). Theo báo cáo, tình trạng kỹ thuật của HQ-10 không được khả quan: chỉ còn một máy chánh, máy kia bị hư hỏng chưa kịp sửa chữa nên vận tốc bị giảm trên 50%, radar hải hành cũng bị hư không xử dụng được. Sau khi gặp nhau, hai chiến hạm đổi đường hướng về Hoang Sa, đi hình hàng dọc theo thứ tự HQ-10, HQ-5. Sau khi hải hành được chừng 15 phút, hồi 0327H, vì HQ-5 cần tới Hoàng Sa đúng giờ hẹn như đã dự trù, nhưng vận tốc của HQ-10 quá chậm nên Sĩ Quan Chỉ Huy Chiến Thuật (OTC) ra lệnh cho HQ-5 tăng máy, tách khỏi đi hình trực chỉ đảo Cam Tuyền. Theo lời thuật lại của Hạm Trưởng HQ-5, tuy bỏ lại HQ-10 phía sau, nhưng HQ-5 vẫn dùng radar để hướng dẫn tầu bạn trên đường tới Hoàng Sa.

Hồi 3 giờ chiều (1500H) ngày 18-1, HQ-5 tới Hoàng Sa. Lúc đó, lực lượng hải quân đôi bên như sau: ta có 3 chiến hạm là HQ-4, HQ-5 và HQ-16; phía Trung Cộng có hai tầu Kronstadt mang số 271 và 272, hai tầu chở quân võ trang mang số 402 (tên Nam Ngư) và 407, một tầu vận tải và môt ghe buồm. Hai chiến hạm Kronstdat chủ lực của địch di chuyển quanh các đảo Quang Hòa và Duy Mộng để bảo vệ lực lượng bộ binh đã chiếm đóng đảo. Các chiến hạm ta vào nhiệm sở tác chiến toàn diện vào lúc 3 giờ 15 chiều.

Sau khi HQ-5 tới Hoàng Sa, các chiến hạm ta lập tức vận chuyển theo đi hình tác chiến để quan sát và thăm dò phản ứng địch. Hồi 4 giờ chiều, khởi đi từ vị trí nằm về hướng Đông Đông Nam và cách đảo Cam Tuyền chừng 3 hải lý, ba chiến hạm vào đi hình hàng dọc theo thứ tự HQ-16, HQ-5 và HQ-4, trực chỉ phía Tây đảo Quang Hòa là nơi các chiến hạm Trung Cộng đang tập trung. Tới 4 giờ 16 chiều, thấy các chiến hạm VNCH tới gần, lực lượng Trung Cộng cũng phản ứng. Hai chiến hạm Kronstadt vận chuyển về hướng Tây Nam đảo để nghênh cản và chận đường. Hai toán chiến hạm càng tiến gần nhau, tình hình càng căng thẳng. Đôi bên đều vào nhiệm sở tác chiến nhưng các hải pháo vẫn còn ở vị thế nằm ngang, chưa nh¡m thẳng vào nhau. Vì chỉ muốn tham dò phản ứng địch, trước tình trạng gay cấn đó, các chiến hạm VNCH tạm bỏ ý định tiến đến gần đảo Quang Hòa và ngưng máy thả trôi tại vùng giữa đảo Cam Tuyền và Quang Hòa. Lực lượng Trung Cộng cũng không giám gây hấn, trở lại quanh quẩn tại chỗ cũ.

Các chiến sĩ VNCH phòng thủ Hoàng Sa

Hồi 5 giờ 15 chiều, theo lệnh của Sĩ Quan Chỉ Huy Chiến Thuật, HQ-5 thả xuồng đưa một số hải kích qua HQ-16 và nhận lại toán thám sát Hoàng Sa thuộc Quân Đoàn I gồm 1 Thiếu Tá, 2 Trung Úy Công Binh, 2 binh sĩ Công Binh, 1 Đại Úy Hải Quân thuộc BTL/V1ZH, 1 nhân viên thuộc Đài Khí Tượng Hoàng Sa và một người Mỹ. Sau đó, chiến hạm tiếp tục tuần tiễu trong vùng trách nhiệm thuộc phía Đông Đông Nam

của đảo Cam Tuyền. Khi lên HQ-5, thấy tình hình giữa các chiến hạm Việt Nam đang ráo riết chuẩn bị đổ bộ tác chiến và tình hình quá căng thẳng, nhân viên dân sự Hoa Kỳ trong nhóm thám sát yêu cầu được rời chiến hạm, trở về đảo Hoàng Sa.

Vì vậy, vào lúc 9 giờ tối, SQ/CHCT ra lệnh cho HQ-5 tới gần đảo Hoàng Sa rồi thả xuồng đưa 7 người trong nhóm thám sát lên đảo. Riêng HQ/Đại Úy Trần Kim Diệp thuộc BTL/V1DH ở lại chiến hạm. Có lẽ nhân viên Hoa Kỳ trong nhóm thám sát đã được nguồn tin riêng thông báo sẽ có đụng độ giữa hai lực lượng nên không muốn hiện diện trên chiến hạm Việt Nam, có thể gây r¡c rối về mặt ngoại giao giữa Hoa Kỳ và Trung Cộng. Trong đêm 18 rạng ngày 19-1, các chiến hạm HQVNCH thả trôi và tuần tiểu trong vùng biển phía Tây Hoàng Sa, bên ngoài các đảo của nhóm Nguyệt Thiềm để tránh những khu vực đá ngầm nguy hiểm và cũng để tránh sự quan sát của lực lượng Trung Cộng. Lúc này, HQ-10 cũng đã tới khu vực hành quân. Như vậy, lực lượng HQVNCH đã có 4 chiến hạm trong vùng Hoàng Sa.

Sáng sớm ngày 19-1, vào lúc 3 giờ 50 sáng, SQ/CHCT ra lệnh cho các chiến hạm VNCH chia làm cánh cùng di chuyển từ vùng biển bên ngoài vòng sâu về phía Nam đảo Vĩnh Lạc, hướng tới đảo Quang Hòa. Phân đội 1 gồm HQ-5 và HQ-4 có nhiệm vụ đổ bộ toán Biệt Hải và Hải Kích để chiếm lại đảo, trong khi phân đội 2 gồm HQ-16 và HQ-10 lãnh nhiệm vụ yểm trợ hải pháo cũng như ngăn chận các chiến hạm Trung Cộng. Vì trời còn tối nên đi hình các chiến hạm Việt Nam di chuyển rất thận trọng, dự trù sẽ tới mục tiêu lúc trời vừa rạng sáng.

Tới 5 giờ sáng, các chiếm hạm tới vị trí Tây B¡c, cách đảo Vĩnh Lạc chừng 3 hải lý. Nhiệm sở tác chiến toàn diện được ban hành lúc 5 giờ 25 sáng khi đội hình bằt đầu vào bên trong các hải đảo của nhóm Nguyệt Thiềm.

Lúc 6 giờ sáng, các chiến hạm tới vị trí Đông Nam, cách đảo Vĩnh Lạc chừng 5 hải lý. Lúc này, trời đã rạng sáng. Lúc 6 giờ 40 sáng, hai phân đội đã vào vị trí được ấn định trước như sau: Phân đội 1 (Nam) gồm 2 chiến hạm HQ-5 và HQ-4 ở phía Nam đảo Quang Hòa. Phân đội 2 (B¡c) gồm 2 chiến hạm HQ-16 và HQ-10 ở phía Tây Tây B¡c đảo Quang Hòa.

Lực lượng Trung Cộng lúc này đang tập trung tại phía Đông đảo Quang Hòa và đã được tăng cường thêm 2 trục lôi hạm (tầu vớt mìn) loại T.43 mang số 389 và 396 trong đêm. Trên đảo, địch đã dựng 5 dãy nhà tiền chế sơn màu xanh đậm để trú quân và các công sự phòng thủ đã được bố trí chu đáo để đề phòng các cuộc đổ bộ. Ngoài ra, sát bờ đảo còn có một số ghe nhỏ dùng để tiếp tế.

IV. Lực lượng đôi bên

Tính cho tới ngày 19 tháng 1 là lúc xảy ra trận hải chiến, lực lượng hải quân đôi bên tại Hoàng Sa được ghi nhận như sau. Lực lượng tham chiến Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa gồm 4 chiến hạm: Soái hạm, Tuần Dương Hạm Trần Bình Trọng HQ-5. Tuần Dương Hạm Lý Thường Kiệt HQ-16. Khu Trục Hạm Trần Khánh Dư HQ-4. Hộ Tống Hạm Nhựt Tảo HQ-10

Sau đây là đặc tính của mỗi chiến hạm

Tuần Dương Hạm Trần Bình Trọng HQ-5—>(Hình ảnh và đặc tính của chiến hạm)

Nguyên là tầu thuộc lực lượng tuần duyên Hoa Kỳ (USCG – US Coast Guard) mang tên Castle Rock (WHEC 383). Đóng tại thủy xưởng Lake Washington thuộc tiểu bang Washington. Hạ thủy ngày 11/5/1944 và b¡t đầu hoạt động kể từ ngày 8/10/1944. Được chuyển giao cho HQVN vào ngày 21-12-1971. Trọng tải: 1766 tấn tiêu chuẩn, 2800 tấn tối đa. Kích thước: dài 310.75 ft, chiều ngang 41.1 ft, tầm nước 13.5 ft. Máy chánh: 2 máy dầu cặn loại Fairbank Morse 6080 mã lực, 2 chân vịt. Vận tốc tối đa

: chừng 18 knots. Vũ khí: 1 khẩu 127 ly (5 inch) phía trước mũi, 1 đại bác 40 ly đôi cũng ở sân trước nhưng ở sân thượng phía trên khẩu 127 ly, 2 khẩu 40 ly bên tả và hữu hạm tại sân sau và 2 khẩu đại bác 20 ly đôi ở hai bên hông đài chỉ huy. Thủy thủ đoàn: chừng 200 người. Tuần Dương Hạm Lý Thường Kiệt HQ-16 —>(Hình ảnh và đặc tính của chiến hạm)

Nguyên thuộc lực lượng tuần duyên Hoa Kỳ, trước đây mang tên Chicoteague (WHEC 375). Đóng tại thủy xưởng Lake Washington thuộc tiểu bang Washington. Hạ thủy ngày 15/4/1942 và b¡t đầu hoạt động kể từ ngày 12/4/1943. Được chuyển giao cho HQVN vào ngày 21/6/1972. Đặc tính: Tương tự như HQ-5 (xem phần trên). Tuần Dương Hạm là loại chiến hạm lớn nhất của HQVN và có súng cỡ 127 ly cũng lớn nhất. Các loại vũ khí chống tầu ngầm đã bị c¡t bỏ khi chuyển giao cho HQVN.

Khu Trục Hạm Trần Khánh Dư HQ-4 —>(Hình ảnh và đặc tính của chiến hạm)

Nguyên là USS Foster DER 334 của Hải Quân Hoa Kỳ. Đóng tại thủy xưởng Consolidated Steel Corporation, Orange tiểu bang Texas. Hạ thủy ngày 13/11/1943 và b¡t đầu hoạt động kể từ ngày 25/1/1944. Được chuyển giao cho HQVN vào ngày 25/9/ 1971. Trọng tải: 1590 tấn tiêu chuẩn, 1850 tấn tối đa. Kích thước: dài 306 ft, ngang 36.6 ft, tầm nước 14 ft. Máy chánh: 2 máy dầu cặn loại Fairbank Morse 6,000 mã lực. Vận tốc tối: đa 21 knots. Vũ khí: 2 đại bác 76 ly, một tại sân trước có pháo tháp và một tại sân sau lộ thiên cùng một số đại bác 20 ly. Thủy thủ đoàn: chừng 170 người.

HQ-4 nguyên là một Khu Trục Hạm thuần túy có nhiệm vụ yểm trợ phòng không và chống tầu ngầm, nhưng sau thế chiến thứ hai đã được hoàn toàn tân trang và g¡n loại radar TACAN (Tactical Aircraft Navigation) để trở thành loại chiến hạm chuyên dùng radar để phát hiện hỏa tiễn địch (radar picket). Chiến hạm này đã từng tham dự chiến dịch Market Times ngoài khơi Việt Nam để ngăn chận sự xâm nhập của Cộng sản bằng đường biển.

Hộ Tống Hạm Nhựt Tảo HQ-10 —>(Hình ảnh và đặc tính của chiến hạm)

Nguyên là USS Serene (MSF 300). Đây là loại tầu chuyên được dùng để rà mìn ngoài đại dương (MSF – Mine Sweeper Fleet). Đóng tại thủy xưởng Winslow Marine & SB Co., Winslow, tiểu bang Washington. Được chuyển giao cho HQVN vào tháng 1/1964 cùng với Hộ Tống Hạm Chí Linh. Trọng tải: 650 tấn tiêu chuẩn, 945 tấn tối đa. Kích thước: Dài 184.5 ft, ngang 33 ft, tầm nước 9.75 ft. Máy chánh: 2 máy dầu cặn Cooper Bessemer 1710 mã lực, 2 chân vịt. Vận tốc tối đa: 14 knots. Vũ khí: 1 đại bác 76 ly l thiên ở sân trước, 2 đại bác 40 ly đơn bên tả và hữu hạm ở sân giữa, 4 đại bác 20 ly đôi ở hai bên đài chỉ huy và ở sân sau. Thủy thủ đoàn: Chừng 80 người.

Khi được chuyển giao cho HQVN, chiến hạm được biến cải từ tầu vớt mìn thành tầu hộ tống. Các dụng cụ rà mìn được c¡t bỏ. Các vũ khí chống tầu ngầm được thêm vào gồm 2 giàn thả thủy lựu đạn (depth charge) ở sân sau và một giàn phóng thủy lựu đạn loại Hedgehog ở sân trước.

b. Hải Quân Trung Cộng

Tổng Cộng gồm 11 chiếc tầu đủ loại, trong số này có 2 Hộ Tống Hạm (Submarine Chaser) loại Kronstadt mang số 271 & 274 và 2 chiếc Trục Lôi Hạm (tầu rà mìn) loại T.43 mang số 389 & 396 trực tiếp tham chiến là có hỏa lực đáng kể. Những chiếc khác là tầu chở quân hay ngư thuyền võ trang. Ngoài ra, lực lượng tiếp viện của Trung Cộng còn có các Khinh Tốc Đĩnh Hỏa Tiễn Komar và có thể cả loại Osa và Khu Trục hạm loại Kiangnan.

Sau đây là đặc tính của các chiến hạm Trung Cộng

Hộ Tống Hạm Kronstadt—>(Hình ảnh và đặc tính của chiến hạm)

Sáu chiếc Kronstadts đầu tiên trong HQ Trung Cộng do Nga chế tạo vào khoảng năm 1950-53 và chuyển giao vào năm 1956-1957. Sau này Trung Cộng tự đóng thêm 12 chiếc nữa tại các xưởng đóng tầu Thượng Hải và Quảng Đông, chiếc sau cùng hoàn tất vào năm 1957. Đặc tính của loại Kronstadt là mình hẹp, lườn thấp và có vận tốc cao để săn đuổi tầu ngầm. Trước năm 1974, lại tầu Kronstadt mang chiến số từ 600 trở lên, sau này được đổi lại với chiến số loại 200 sơn ngoài vỏ tầu. Trọng tải: 310 tấn tiêu chuẩn, 380 tấn tối đa. Kích thước: dài 170 ft, ngang 21.5 ft, tầm nước 9 ft (52 m x 6.5 x 2.7) Máy chánh: 2 máy dầu cặn 3,300 mã lực, 2 chân vịt. Vận tốc tối đa: 24 knots. Vũ khí: 1 đại bác 100 ly (3.5 inch) ở sân trưóc và 2 đại bác 37 ly ở sân sau, 2 giàn thủy lựu đạn và 2 giàn thả mìn. Thủy thủ đoàn: chừng 65 người.

Trục Lôi Hạm T.43—>(Hình ảnh và đặc tính của chiến hạm)

Hai chiếc đầu tiên do Nga chế tạo và chuyển giao vào khoảng năm 1954-55. Sau đó Trung Cộng tự đóng thêm 18 chiếc nữa. Trọng tải: 500 tấn tiêu chuẩn, 610 tấn tối đa. Kích thước: dài 190.2 ft, ngang 28.2 ft, tầm nước 6.9 ft (58 m x 6.1 x 2.6) Máy chánh: 2 máy dầu cặn 2,000 mã lực, 2 chân vịt. Vận tốc tối đa: 17 knots. Thủy thủ đoàn: chừng 40 người.

Lực lượng trừ bị ứng chiến của Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa

Gồm 2 chiến hạm: Tuần Dương Hạm Trần Quốc Toản HQ-6. Hộ Tống Hạm Chí Linh HQ-11. Những chiến hạm này vì được điều động từ xa tới nên không thể có mặt tại Hoàng Sa trước ngày 19 tháng 1.

Về Không Quân, tuy có tin các phi đoàn phản lực cơ F-5 và A-37 được lệnh túc trực tại phi trường Đà Nẵng nhưng thật ra những phi cơ này có tầm hoạt động rất ngắn không thể ra tới Hoàng Sa. Cũng có nguồn tin không chính thức cho biết đã có ý định xử dụng các Dương Vận Hạm (LST – Landing Ship Tank) như mẫu hạm tạm thời để chở các trực thăng võ trang ra Hoàng Sa nhưng kế hoạch này không được thực hiện. Tóm lại, các chiến hạm HQ/VNCH không có phi cơ trợ chiến.

Lực lượng trừ bị ứng chiến của Hải Quân Trung Cộng

Gồm nhiều chiến hạm đủ loại và phi cơ Mig đủ loại: 4 Phi Tiễn Đĩnh loại Komar. Nhiều Khu Trục Hạm mang hỏa tiễn loại Kianjiang. Một hay nhiều tiềm thủy đĩnh. Các phi cơ Mig.

Tốc Đĩnh Hỏa Tiễn Komar—>(Hình ảnh và đặc tính của chiến hạm)

Chiếc Komar đầu tiên do Nga chuyển giao vào năm 1965, 2 chiếc khác vào năm 1967 và 7 chiếc nữa trong khoảng năm 1968-71. Sau đó Trung Cộng tự đóng thêm chừng 10 chiếc khác và đặt tên là “Hoku”. Loại chiến hạm này tuy nhỏ nhưng rất nguy hiểm vì có vận tốc nhanh, dễ vận chuyển nên là một mục tiêu rất khó bằn trúng. Ngoài ra, loại hỏa tiễn Styx có thể b¡n trúng mục tiêu cách xa vài chục cây số. Chính một quả hỏa tiễn này do Ai Cập b¡n này đánh chìm Khu Trục Hạm Eilath, chiếc tầu lớn nhất của Hải Quân Do Thái trong trận chiến tranh năm 1967. Trọng tải: 70 tấn tiêu chuẩn, 80 tấn tối đa. Kích thước: dài 83.7 ft, ngang 19.8 ft, tầm nước 5 ft (25.5 m x 6 x 1.8) Hỏa tiễn: 2 giàn phóng hỏa tiễn loại Styx dùng để b¡n chiến hạm. Máy chánh: 2 máy dầu cặn 4,800 mã lực, 2 chân vịt. Vận tốc tối đa: 40 knots Vũ khí: 2 đại bác 25 ly (1 giàn đôi g¡n đàng trước mũi). Thủy thủ đoàn: chừng 10 người.

Khinh Tốc Đĩnh Hỏa Tiển Osa—>(Hình ảnh và đặc tính của chiến hạm)

Chiếc Osa đầu tiên do Nga chuyển giao vào tháng 1 năm 1965. Bốn chiếc khác chuyển giao vào năm 1966-67 và 2 chiếc nữa vào năm 1968. Trung Cộng cũng tự đóng lấy một số khác và đặt tên là “Hola”. Trọng tải: 165 tấn tiêu chuẩn, 200 tấn tối đa. Kích thước: Dài 128.7 ft, ngang 25.1 ft, tầm nước 5.9 ft (39.3 m x 7.7 x 1.8). Máy chánh: 3 máy dầu cặn, 13,000 mã lực. Vận tốc tối đa: 32 knots Vũ khí: 4 đại bác 30 ly (2 giàn đôi, 1 trước mũi và 1 sau lái). Thủy thủ đoàn: chừng 25 người.

V. tương quan lực lượng

Nếu chỉ so sánh về vũ khí, phía VNCH có phần trội hơn vì các Tuần Dương Hạm được trang bị hải pháo 127 ly, trong khi các Kronstadt của Trung Cộng chỉ được g¡n súng cỡ 100 ly, nhưng trong một trận hải chiến khi đôi bên gần nhau, cỡ súng lớn chưa ch¡c đã chiếm được lợi thế vì không tận dụng được tầm bắn xa và nhịp bắn lại chậm.

Phần các chiến hạm Trung Cộng có vận tốc cao lại nhỏ nhẹ dễ vận chuyển nên chiếm được ưu thế trong lúc hải chiến. Hơn nữa, các chiến hạm VNCH không những vừa to, cao lại xoay trở tương đối chậm nên là mục tiêu rất dễ dàng cho địch thủ nhắm bắn. Chính Trung Tá San, Hạm Trưởng HQ-4 cho biết vì các chiến hạm Trung Cộng nằm rất thấp gần sát mặt nước nên rất khó bắn trúng. Trong khi các khẩu hải pháo VNCH vì nằm trên cao nên phải rất khó khăn hạ cao độ xuống dưới đường chân trời mới có thể nh¡m trúng mục tiêu, các chiến hạm Trung Cộng vì thấp hơn nên dễ dàng nâng cao độ của những khẩu đại bác chừng 5-10 độ là đã có thể tác xạ hữu hiệu.

So sánh những sở trường và sở đoản của từng loại chiến hạm, trong trận hải chiến một chọi một tại Hoàng Sa, lực lượng đôi bên có vẻ tương đồng, việc hơn thua phần lớn sẽ do các cấp chỉ huy và tinh thần của thủy thủ đoàn quyết định. Tuy nhiên, kể về lực lượng trừ bị ứng chiến, phía Trung Cộng chiếm ưu thế tuyệt đối, nhất là về mặt không yểm. Có thể nói dù đánh chìm hết các tầu Trung Cộng trong ngày 19/1, các chiến hạm HQ/VNCH cũng không thể ở lại Hoàng Sa vì không thể đương đầu với lực lượng tăng viện của địch.

————————————————————————————

————————–

Tường-Thuật Trận Hải-Chiến Lịch-Sử Hoàng-Sa

Hải Quân Ðại Tá Hà Văn Ngạc

(Trích Nguyệt San Ðoàn Kết, Austin Texas)

Lời Tòa Soạn:

Chúng tôi vừa nhận được hung tin: Hải Quân Ðại Tá Hà Văn Ngạc, Hải Ðội Trưởng Hải Ðội III Tuần Dương HQVNCH, người chỉ huy trận hải chiến tại quần đảo Hoàng Sa vào năm 1974, đã đột ngột từ trần tại Dallas, Texas vào hồi 10 giờ 30 sáng Thứ Sáu ngày 12 tháng 2 năm 1999, hưởng thọ 64 tuổi.

Trong khoảng 10 năm vừa qua, chúng tôi liên lạc rất thường xuyên với Ðại Tá Ngạc để yêu cầu ông viết về trận hải chiến Hoàng Sa, nhưng vì nhiều lý do, ông vẫn do dự.

Mãi tới cuối năm 1998, vào dịp Lễ Giáng Sinh, ông mới gửi tới Tòa Soạn Nguyệt San Ðoàn Kết bài “Tường Thuật Về Trận Hải Chiến Hoàng Sa” do chính ông viết nhân dịp kỷ niệm 25 năm trận đánh lịch sử này. Ngoài ra, ông cũng đã cho phép chúng tôi phỏng vấn và cung cấp nhiều hình ảnh hiếm có cùng những chi tiết qúi báu về vị trí của các chiến hạm tham chiến để Tòa Soạn có thể sửa lại các phóng đồ về trận hải chiến cho thêm chính xác.

Chúng tôi dự định xuất bản số đặc biệt về trận Hải Chiến Hoàng Sa nhân ngày Quân Lực 19 tháng 8 năm nay, nhưng chưa kịp thực hiện thì Hải Ðội Trưởng Hà Văn Ngạc đã vội vã giã từ các chiến hữu. Xin thành thật phân ưu cùng tang quyến.

Ðúng 25 năm trước, vào mùa Xuân Giáp Dần năm 1974 , Hải Ðội Trưởng Hà Văn Ngạc đã anh dũng chỉ huy các chiến hạm Hải Quân VNCH chận đánh quân xâm lăng Trung Cộng tại Hoàng Sa. Giờ đây, hương linh chiến hữu Hà Văn Ngạc vừa trở lại với Hoàng Sa để tiếp tục bảo vệ chủ quyền chính đáng của Tổ Quốc Việt Nam tại Biển Ðông.

Trân trọng.

Trần Ðỗ Cẩm
Chủ Nhiệm Nguyệt San Ðoàn Kết, Austin Texas

______________________________________

Ðôi lời trước khi viết

Ðã 25 năm kể từ ngày tôi tham-dự trận hải-chiến Hoàng-Sa, tôi chưa từng trình bầy hay viết mô-tả lại về trận đánh này, ngay cả có nhiều lần tôi đã thất hứa với các bậc tiên-sinh yêu-cầu tôi thuật lại chi-tiết của cuộc đụng-độ. Dù thắng hay bại, chỉ có một điều duy-nhứt không thể chối cãi được là các chiến-hữu các cấp của Hải-quân Việt-Nam Cộng-Hòa trong trận hải-chiến đã anh-dũng chiến-đấu bằng phương-tiện và kinh-nghiệm có trong tay để chống lại một kẻ xâm-lăng truyền-kiếp của dân-tộc hầu bảo-vệ lãnh-thổ của Tổ-quốc. Trước một thù-địch có sức mạnh gấp bội, dù cuộc-chiến có hạn-chế hay kéo dài hoặc mở rộng, phần cuối là chúng ta vẫn phải tạm lùi bước trước các cuộc cường-tập của đối-phương để tìm-kiếm một cơ-hội thuận-tiện khác hầu khôi-phục lại phần đất đã bị cưỡng-chiếm.

Hôm nay nhân ngày Tết Kỷ-Mão, tôi viết những giòng này để tưởng-niệm anh-linh các liệt-sĩ đã hy-sinh khi cùng tôi chiến-đấu chống kẻ xâm-lăng trên các mảnh đất xa vời của Quốc-Tổ, một số đã vĩnh-viễn nằm lại trong lòng biển Hoàng-Sa như để thêm một chứng-tích lịch-sử của chủ-quyền quốc-gia, một số khác đã bỏ mình trên biển cả khi tìm đường thoát khỏi sự tàn-bạo của người phương bắc.

Có nhiều chiến-hữu Hải-quân đã từng hăng-say viết lại một trang-sử oai-hùng của Hải-quân và toàn Quân-lực Việt-Nam của nền Ðệ-Nhị Cộng-Hòa, nhưng đã thiếu-xót nhiều chi-tiết chính-xác mà vào những năm trước 1975 chưa được phép phổ-biến, và cũng vì phải lưu-lạc khắp thế-giới tự-do nên các chiến-hữu đó đã không thể liên-lạc để tham-khảo cùng tôi.

Nhiều chi-tiết về giờ-giấc và về vị-trí bạn và địch, cũng như tên họ của các cấp có liên-hệ tới biến cố, vì không có tài-liệu truy-lục, nên chỉ có thể viết vào khoảng gần đúng nhất. Tôi chỉ tường-thuật trung-thực những chi-tiết theo khía-cạnh của một người chỉ-huy chiến-thuật được biết và cũng mong-mỏi các chiến-hữu nào còn có thể nhớ chắc-chắn các chi-tiết quan-trọng khác, tôi sẽ sẵn-sàng tiếp-nhận qua tòa-soạn này, để sửa lại tài-liệu này cho đúng.

Hà-Văn-Ngạc

“Tân xuân Giáp-Dần Hoàng-Sa-chiến
Nam-ngư hải-ngoại huyết lưu hồng”

Hai câu thơ với lối hành-văn vận theo sấm Trạng-Trình đã được truyền-khẩu rất nhanh khi Hải-đội Ðặc-nhiệm Hoàng-Sa trở về tới Ðà-nẵng vào sáng sớm ngày 20 tháng 4 năm 1974. Và câu thơ này do chính Hải-quân Ðại-Tá Nguyễn-Viết-Tân (thủ-khoa Khóa 5 của tôi) lúc đó đang giữ chức-vụ Chỉ-huy-trưởng Sở Phòng-Vệ Duyên-hải, đọc cho tôi nghe. Từ ngày đó tới nay đã đúng 25 năm, và do sự khuyến-khích của các bậc thượng-trưởng của Hải-quân Việt-Nam, những chi-tiết về diễn-tiến chưa tùng tiết-lộ của trận hải-chiến cần được ghi lại để làm chứng-liệu lịch-sử.

Sau trận hải-chiến, những ưu và khuyết điểm về chiến-thuật và chiến-lược của Hải-quân Việt-Nam Cộng-Hòa đến nay nếu nêu ra thì sẽ không còn một giá-trị thực-tiễn nào để có thể làm những bài học cho những biến-cố kế-tiếp. Vì vậy một vài điều nếu có nêu ra tại đây thì chỉ để ghi lại tình-trạng và khả-năng khi Hải-quân Việt-Nam Cộng-Hòa khi đã phải đương đầu với Trung-cộng, là một quốc-gia vào thời-điểm đó, đã sẵn có một lực-lượng hùng-hậu về hải-lục-không-quân gấp bội của Việt-Nam Cộng-Hòa.

Một điểm hãnh-diện cho Hải-quân Việt-Nam Cộng-Hòa lúc bấy giờ là đã không những phải sát-cánh với lực-lượng bạn chống lại kẻ nội-thù là cộng-sản miền bắc trong nội-địa, lại vừa phải bảo-vệ những hải-đảo xa-xôi, mà lại còn phải chiến-đấu chống kẻ xâm-lăng, đã từng biết bao lần dầy xéo đất nước trong suốt lịch-sử lập-quốc và dành quyền độc-lập của xứ sở.

So-sánh với các cuộc hành-quân ngoại-biên vào các năm 1970-71 của Quân-lực VNCH sang đất Kampuchia va Hạ-Lào, thì quân-lực ta chỉ chiến đấu ngang ngửa vơi cộng-sản Việt-Nam ẩn náu trên đất nước láng-giềng mà thôi. Phải thành-khẩn mà nhận rằng Hải-quân Việt-Nam Cộng-Hòa ngoài nội-thù còn phải chống ngoại-xâm mà đã rất khó tiên-liệu để chuẩn-bị một cuộc chiến chống lại một lực-lượng hải-quân Trung-cộng tương-đối dồi-đào hơn cả chúng ta về phẩm cũng như lượng. Hải-quân Việt-Nam ta đã có những gánh nặng về hành-quân để yểm-trợ lực-lượng bạn và hành-quân ngăn-chận các vụ chuyển-quân lén-lút của Việt-cộng qua biên-giới Miên-Việt trong vùng sông ngòi cũng như các vụ tiếp-tế quân-dụng của chúng vào vùng duyên-hải.

Trước khi đi vào chi-tiết của trận hải-chiến lịch-sử này, chúng ta thử nhắc sơ-lược lại cấu-trúc nhân-su của thượng-tầng chỉ-huy và của các đơn-vị tham-chiến của Hải-quân vào lúc biến-cố:
– Tư-lệnh Hải-quân: Ðề-Ðốc Trần-văn-Chơn
– Tư-lệnh-phó Hải-quân: Phó Ðề-Ðốc Lâm-ngươn-Tánh
– Tham-mưu-Trưởng Hải-quân: Phó Ðề-Ðốc Diệp-quang-Thủy
– Tư-lệnh Hạm-đội: HQ Ðại-tá Nguyễn-xuân-Sơn
– Tư-lệnh HQ Vùng 1 Duyên-hải: Phó Ðề-Ðốc Hồ-văn Kỳ-Thoại
– Chỉ-huy-trưởng Hải-đội tuần-dương: HQ Ðại-tá Hà-văn-Ngạc, (Hải-đội 3) và là Sĩ-quan chỉ-huy chiến-thuật trận hải-chiến.
– Hạm-trưởng Khu-trục-hạm HQ4: HQ Trung-Tá Vũ-hữu-San
– Hạm-trưởng Tuần-dương-hạm HQ5: HQ Trung-Tá Phạm -trọng- Quỳnh
– Hạm-trưởng Tuần-dương-hạm HQ16: HQ Trung-Tá Lê-văn-Thự
– Hạm-trưởng Hộ-tống-hạm HQ10: HQ Thiếu-Tá Ngụy-văn-Thà (truy-thăng HQ Trung-Tá)
– Trưởng toán Hải-kích đổ-bộ: HQ Ðại-Úy Nguyễn-minh-Cảnh.

Lý-do tôi đã có mặt tại Hoàng-Sa

Rất nhiều chiến-hữu trong Hải-quân đã không rõ nguyên-cớ nào mà tôi đã có mặt để đích-thân chỉ-huy tại chỗ trận hải-chiến Hoàng-Sa. Sự có mặt của tôi bắt nguồn từ khi tôi được Hội-đồng Ðô-đốc chỉ-định tôi tăng-phái cho Vùng I duyên-hải khoảng từ cuối năm 72 đầu 1973.

Lý do tăng-phái của tôi đến Vùng I duyên-hải tôi không được biết trước cho đến khi tôi tới Quân-Khu 1, tôi mới được biết nhiệm-vụ chính của tôi là chuẩn-bị một trận thư-hùng giữa Hải-quân VNCH và hải-quân Bắc-Việt mà lúc đó, tin tình-báo xác-nhận là cộng-sản đã được viện-trợ các cao-tốc-đĩnh loại Komar của Nga-sô trang-bị hỏa-tiễn hải-hải (surface to surface).

Vào thời-gian đó Hải-quân VNCH chỉ có khả-năng chống-đỡ thụ-động loại vũ-khí này. Cuộc hải-chiến tiên-liệu có thể xẩy ra khi lực-lượng hải-quân cộng-sản tràn xuống để hỗ-trợ cho quân-bộ của chúng khi chúng muốn tái-diễn cuộc cường-tập xuất-phát từ phía bắc sông Bến-Hải như vào ngày cuối tháng 3 năm 1972 để khởi phát các cuộc tấn-công suốt mùa hè đỏ lửa 1972.

Tôi lưu lại Vùng I duyên-hải chừng hai tuần lễ hầu nghiên-cứu để thiết-kế. Kế-hoạch chính của cuộc hải-chiến này là xử-dụng nhiều chiến-hạm và chiến-đỉnh (WPB và PCF) để giảm bớt sự thiệt-hại bằng cách trải nhiều mục-tiêu trên mặt biển cùng một lúc. Song-song với việc này là các chiến-hạm và chiến-đĩnh phải xử-dụng đạn chiếu-sáng và hỏa-pháo cầm-tay như là một cách chống hỏa-tiễn thụ-động. Ngoài ra Hải-quân cũng cần đặt ra sự yểm-trợ của pháo-binh của Quân-đoàn I để tác-xạ ngăn-chặn và tiêu-diệt lực-lượng hải-quân cộng-sản tại phía bắc Cửa Việt trước khi họ tràn xuống phía nam để đủ tầm phóng hỏa-tiễn.

Sau khi đã thuyết-trình tại Bộ-Tư-Lệnh Hải-quân Vùng I duyên-hải cùng các Chỉ-huy-trưởng các đơn-vị duyên-phòng và duyên-đoàn, Tư-lệnh HQ Vùng I duyên-hải chấp-thuận kế-hoạch và đưa kế-hoạch lên thuyết-trình tai Bộ-Tư-Lệnh Quân-đoàn I và Quân-Khu I. Buổi thuyết-trình tại BTL/Quân-đoàn I do đích-thân Trung-Tướng Ngô-quang-Trưởng chủ-tọa, ngoài Tư-lệnh HQ Vùng I duyên-hải còn có Ðại-Tá Hà-mai-Việt Trưởng Phòng 3 Quân-đoàn, Ðại-tá Khiêu-hữu-Diêu, Ðại-Tá Nguyễn-văn-Chung Chỉ-huy-trưởng pháo-binh Quân-đoàn và một số rất ít các sĩ-quan phụ-tá. Nhu-cầu yểm-trợ pháo-binh cho cuộc hải-chiến được chấp-thuận ngay và Chỉ-huy-trưởng pháo-binh quân-đoàn hứa sẽ phối-trí pháo-binh, đặc-biệt là pháo-binh 175 ly để thỏa-mãn kế-hoạch của Hải-quân, khi được yêu-cầu.

Kể từ khi được chỉ-định tăng-phái, tôi thường có mặt tai Vùng I duyên-hải mỗi tháng chừng hai tuần tùy theo công-việc của tôi tại Hải-đội, nhưng chưa lần nào Bộ-Tư-lệnh HQ, Bộ-Tư-lệnh Hạm-đội hoặc Vùng I Duyên-hải chỉ-thị tôi phải có mặt trong vùng. Khi có mặt tại vùng tôi thường tìm-hiểu tình-hình tổng-quát tại Quân-Khu I cũng như đi hoặc tháp-tùng Tư-lệnh HQ vùng I duyên-hải thăm-viếng các đơn-vị lục-quân bạn cấp sư-đoàn, lữ-đoàn hay trung-đoàn.

Trở lại trận hải-chiến Hoàng-Sa, vào khoảng ngày 11 tháng giêng năm 1974, chỉ khoảng vài ngày sau khi Ngoại-trưởng Hoa-Kỳ Kissinger rời Trung-cộng, thì đột-nhiên Ngoại-trưởng Trung-cộng lại một lần nữa tuyên-bố về chủ-quyền của họ trên các quần-đảo Hoàng Sa và Trường-Sa. Tôi rất lưu-ý tin này vì tôi đã chỉ-huy công-cuộc đặt quân trú-phòng đầu tiên trên đảo Nam-Yết vùng Trường-Sa vào cuối mùa hè 1973.

Vài ngày sau, vì Ngoại-trưởng VNCH Vương-văn-Bắc còn bận công-cán ngoại-quốc, thì phát-ngôn-viên Bộ Ngoại-giao VNCH bác-bỏ luận-cứ của Trung-cộng và tái xác-nhận một lần nữa chủ-quyền của VNCH trên các quần-đảo đó.

Ngày 16 tháng giêng năm 1974, tôi từ Sàigòn đi Vũng-Tầu để chủ-tọa lễ trao-quyền chỉ-huy Tuần-dương-hạm HQ5 Trần-bình-Trọng đang neo tại chỗ, cho tân-hạm-trưởng là Hải-quân Trung-tá Phạm-trọng-Quỳnh (tôi không còn nhớ tên cựu hạm-trưởng). Khi trở về Sàigòn, lúc theo dõi bản tin-tức hàng ngày của đài truyền-hình thì thấy Ngoại-trưởng Vương-văn-Bắc hùng-hồn và nghiêm-trọng khi tuyên-bố chủ-quyền của VNCH trên 2 quần-đảo Hoàng và Trường-Sa. Tôi thấy có chuyện bất-ổn có thể xẩy ra tại Vùng I duyên-hải nhất là Việt-cộng có lẽ được Trung-cộng hỗ-trợ tạo ra tình-thế rắc-rối ngoài hải-đảo để thu-hút lực-lượng của Hải-quân Việt-Nam, và đương nhiên cộng-sản sẽ lợi-dụng để tràn-xuống dưới vĩ-tuyến 17 như đã dự-liệu.

Nên sáng sớm ngày 17, không kịp thông-báo đến Tư-lệnh Hạm-đội,tôi lên phi-trưởng Tân-sơn-Nhứt và đến thẳng ngay Trạm hàng-không quân-sự. Tôi gặp ngay một vị Thượng-sĩ không-quân trưởng-trạm và nói là tôi cần đi gấp ra Ðà-nẵng. Vị Thượng-sĩ trình với tôi là danh-sách hành-khách đã đầy-đủ cho chuyến bay và giới-thiệu tôi gặp vị Trung-úy phi-công-trưởng phi-cơ C130. Sau khi trình-bầy lý-do khẩn-cấp đi Ðà-nẵng của tôi, vị phi-công-trưởng trang-trọng mời tôi lên phi-cơ ngồi vào ghế phụ trong phòng phi-công.

Ðến Ðà-nẵng khoảng 9:00 sáng, tôi mới kêu điện-thoại cho HQ Ðại-tá Nguyễn-hữu-Xuân, Tư-lệnh-phó Vùng cho xe đón tôi tại phi-trường. Ðến BTL/HQ Vùng I duyên-hải tôi mới được biết chi-tiết những gì đang xẩy ra tại Hoàng-Sa, và được biết thêm là chiếc tuần-dương-hạm HQ5, mà tôi vừa chủ-tọa trao quyền chỉ-huy ngày hôm qua tại Vũng-Tàu sẽ có mặt tại quân-cảng vào buổi chiều tối cùng với biệt-đội hải-kích.

Tư-lệnh HQ vùng I duyên-hải cũng cho tôi hay và giơ một tờ giấy nhỏ nói là ông có thủ-bút của Tổng-thống vừa tới thăm bản-doanh trước đây, nhưng tôi không hỏi về chi-tiết cũng như xin xem thủ-bút vì tôi nghĩ đó là chỉ-thị riêng tư giữa Tổng-Thống và một vị Tướng-lãnh. Vị Tư-lệnh này còn cho tôi hai chọn-lựa: một là chỉ-huy các chiến-hạm ngay tại Bộ-Tư-lệnh Vùng, hai là đích-thân trên chiến-hạm. Tôi đáp trình ngay là: Tôi sẽ đi theo các đơn-vị của tôi.

Từ ngày được thuyên-chuyển về Hạm-đội, không như các vị tiền-nhiệm, tôi thường xa Bộ-chỉ-huy để đi theo các chiến-hạm trong công-tác tuần-dương. Mỗi chuyến công-tác, sự hiện-diện của tôi đã mang lại cho nhân-viên chiến-hạm niềm phấn-khởi sau nhiều ngày phải xa căn-cứ. Tôi thường lưu ý các vị hạm-trưởng đến việc huấn-huyện nội-bộ hoặc thao-dượt chiến-thuật với chiến-hạm khác khi được phép.

Ðến khoảng buổi chiều thì Tư-lệnh vùng I duyên-hải còn hỏi tôi có cần thêm gì, tôi trình xin thêm một chiến-hạm nữa vì cần hai chiếc khi di-chuyển trong trường-hợp bị tấn-công trên hải-trình, chứ không phải vì số lượng chiến-hạm Trung-cộng đang có mặt tại Hoàng-Sa. Chiếc Hộ-tống-hạm (PCE) HQ10 Nhựt-Tảo đựơc chỉ-định xung vào Hải-đoản đặc-nhiệm, với lý-do chính là chiếc Hộ-tống-hạm này đang tuần-dương ngay khu-vực cửa khẩu Ðà-nẵng nên giảm bớt thời-gian di-chuyển, chiến-hạm chỉ có một máy chánh khiển-dụng mà thôi. Ngoài ra vị Tư-lệnh HQ vùng còn tăng-phái cho tôi HQ Thiếu-Tá Toàn (Ghi chú của Trần Ðỗ Cẩm: HQ Thiếu Tá Nguyễn Chí Toàn, Khóa 11 SQHQ/Nha Trang), mà tôi chưa biết khả-năng nên trong suốt thời-gian tăng-phái tôi chỉ trao nhiệm-vụ giữ liên-lạc với các Bộ Tư-lệnh cho vị sĩ-quan này.

Tôi dùng cơm chiều gia-đình cùng Tư-lệnh HQ Vùng I tại tư-thất trong khi chờ đợi Tuần-dương-hạm HQ5 tới. Sau bữa ăn, Tư-lệnh HQ Vùng đích-thân đi bộ tiễn-chân tôi ra cầu quân-cảng. Sau trận-chiến, vị Phó Ðề-đốc này có thổ-lộ cùng tôi là ông đã tưởng đó là bữa cơm cuối cùng của ông với tôi. Như vậy là trận hải-chiến đã dự-liệu là sẽ có thể xẩy ra, và chắc vị Phó Ðề-đốc đã mật-trình về Tư-lệnh Hải-quân thường có mặt tại Bộ-Tư-lệnh.

Tuần-dương-hạm HQ5 rời bến khoảng 09:00 tối và tôi trao nhiệm-vụ đi tới Hoàng-Sa cho Hạm-trưởng HQ5 là vị hạm-trưởng thâm-niên hơn (Ghi chú của Trần Ðỗ Cẩm: HQ5 và HQ10 cùng đi Hoàng Sa, Hạm Trưởng HQ5 là Trung Tá Quỳnh thuộc khóa 11 SQHQ Nha Trang, thâm niên hơn Hạm Trưởng HQ10 là Thiếu Tá Thà thuộc khóa 12 SQHQ Nha Trang). Sự hiện-diện của tôi trên chiến-hạm này đã làm tân-hạm-trưởng, vừa nhậm-chức 2 ngày trước, được vững-tâm hơn vì chắc tân-hạm-trưởng chưa nắm vững được tình-trạng chiến-hạm cũng như nhân-viên thuộc-hạ. Các chiến-hạm đều giữ im-lặng vô-tuyến ngoại trừ các báo-cáo định-kỳ về vị-trí.

Những diễn-tiến ngày hôm trước trận hải-chiến
Khoảng 8 hay 9:00 giờ sáng ngày 18 tháng 1, hai chiến-hạm HQ5 và HQ10 đã đến gần Hoàng-Sa, và trong tầm âm-thoại bằng máy VRC46 (hậu-thân của máy PRC25 nhưng với công-xuất mạnh hơn) để liên-lạc bằng bạch-văn, vì tầm hữu-hiệu của máy chỉ ở trong vùng Hoàng-Sa mà thôi, tôi nói chuyện với Hạm-trưởng HQ4 HQ Trung-tá Vũ-hữu-San, lúc đó đang là sĩ-quan thâm-niên hiện-diện, để được am-tường thêm tình-hình cũng như thông-báo về sự hiện-diện của tôi, vừa là Chỉ-huy-trưởng Hải-đội vừa là để thay-thế quyền chỉ-huy mọi hoạt-dộng, theo đúng thủ-tục ghi trong Hải-quy. Sau khi được trình bầy chi-tiết các diễn-tiến, tôi có lời khen ngợi Hạm-trưởng này và chia sẻ những khó-khăn mà vị này đã trải qua trong những ngày trước khi tôi có mặt tại vùng.
Vào khoảng xế trưa, thì cả 4 chiến-hạm (Ghi chú của Trần Ðỗ Cẩm: HQ4, HQ5, HQ10 và HQ16) đều tập-trung trong vùng lòng chảo của quần-đảo Hoàng-Sa và Hải-đoàn đặc-nhiệm được thành hình. Nhóm chiến-binh thuộc Tuần-dương-hạm HQ16 và Khu-trục-hạm HQ4 đã đổ-bộ và trương quốc-kỳ VNCH trên các đảo Cam-Tuyền (Robert), Vĩnh-Lạc (Money) và Duy-mộng (Drummond) từ mấy ngày qua vẫn được giữ nguyên vi-trí phòng-thủ để giữ đảo.
Sau khi quan-sát các chiến-hạm Trung-cộng lởn vởn phía bắc đảo Quang-Hòa (Duncan), tôi quyết-định ngay là hải-đoàn sẽ phô-trương lực-lượng bằng một cuộc thao-diễn chiến-thuật tập-đội để tiến về phía đảo Quang-Hòa với hy-vọng là có thể đổ-bộ hải-kích như các chiến-hạm ta đã làm trước đây. Lúc này trời quang-đãng, gió nhẹ và biển êm. Tất cả chiến-hạm đều phải vào nhiệm-sở tác-chiến, nhưng các dàn hải-pháo và vủ-khí đại-liên phải ở trong thế thao-diễn. Khởi hành từ nam đảo Hoàng-Sa để tiến về đảo Quang-Hòa, 4 chiến-hạm vào đội-hình hàng dọc, dẫn đầu là Khu-trục-hạm HQ4, theo sau là tuần-dương-hạm HQ5 làm chuẩn-hạm đã có trương hiệu-kỳ hải-đội, thứ ba là tuần-dương-hạm HQ16 và sau cùng là Hộ-tống-hạm HQ10, tốc-độ chừng 6 gút, khoảng cách giữa các chiến-hạm là hai lần khoảng cách tiêu-chuẩn (tức 1000 yard), phương-tiện truyền-tin là kỳ-hiệu và quang-hiệu, và âm-thoại bằng VRC46 hoặc PRC25 chỉ xử-dụng để tránh hiểu-lầm ám-hiệu vận-chuyển chiến-thuật mà thôi.
Chừng nửa giờ sau khi hải-đoàn vận-chuyển vào đội-hình hướng về phía đảo Quang-Hòa thì hai chiến-hạm Trung-cộng loại Kronstad mang số-hiệu 271 và 274 bắt đầu phản-ứng bằng cách vận-chuyển chặn trước hướng đi của hải-đoàn, nhưng hải-đoàn vẫn giữ nguyên tốc-độ, trong khi đó thì hai chiếc chiến-hạm khác nhỏ hơn mang số 389 và 396 (Ghi chú của Trần Ðỗ Cẩm: đây là hai trục lôi hạm tức là tầu vớt mìn loại T43) cùng 2 chiếc ngư-thuyền ngụy-trang 402 và 407 (Ghi chú của Trần Ðỗ Cẩm: ngư thuyền số 402 mang tên Nam Ngư) của họ vẫn nằm nguyên vị-trí sát bờ bắc đảo Quang-Hòa. Tôi đã không chú-tâm đến 2 chiếc chiến-hạm nhỏ của địch vì cho rằng, hai chiếc này chỉ là loại phụ mà thôi (sau này, khi sưu tầm tài liệu về trận hải chiến Hoàng Sa, HQ Thiếu-Tá Trần-Ðỗ-Cẩm truy ra theo số-hiệu là loại trục-lôi-hạm và chắc trang-bị vũ-khí nhẹ hơn) còn hai chiếc tầu tiếp-tế ngụy-trang như ngư-thuyền thì không đáng kể.
Hành-động chận đường tiến của chiến-hạm ta đã từng được họ xử-dụng trong mấy ngày trước đây khi các chiến-hạm ta đổ quân lên các đảo Cam-tuyền, Vĩnh-lạc và Duy-mộng để xua quân của Trung-cộng rời đảo. Chiếc Kronstad 271 bắt đầu xin liên-lạc bằng quang-hiệu để xin liên-lạc, Tuần-dương-hạm HQ5 trả lời thuận và nhận công-điện bằng Anh-ngữ: “These islands belong to the People Republic of China (phần này tôi nhớ không chắc-chắn) since Ming dynasty STOP Nobody can deny” (Phần này tôi nhớ rất kỹ vì tôi có phụ nhận quang-hiệu). Tôi cho gởi ngay một công-điện khái-quát như sau: “Please leave our territorial water immediately.
Công-điện của chiến-hạm Trung-cộng được lập đi lập lại ít nhất 3 lần sau khi họ nhận được công-điện của Hải-đoàn đăc-nhiệm VNCH, và chiến-hạm ta cũng tiếp-tục chuyển lại công-điện yêu-cầu họ rời khỏi lãnh-hải của VNCH.
Vì 2 chiến-hạm Kronstad Trung-cộng cố-tình chặn đường tiến của Hải-đoàn đặc-chiệm với tốc-độ khá cao, nếu Hải-đoàn tiếp-tục tiến thêm thì rất có thể gây ra vụ đụng tầu, tôi đưa Hải-đoàn trở về phía nam đảo Hoàng-Sa và vẫn giữ tình-trạng ứng-trực cũng như theo dõi các chiến-hạm Trung-cộng, họ cũng lại tiếp-tục giữ vị-trí như cũ tại phía bắc và tây-bắc đảo Quang-Hòa. Sự xuất-hiện thêm 2 chiến-hạm của Hải-quân Việt-Nam vào trong vùng chắc-chắn đã được chiếc Kronstad 271 của Trung-cộng, được coi như chiến-hạm chỉ-huy, báo cáo về Tổng-hành-dinh của họ, và việc tăng-viện có thể được coi như đã được chuẩn-bị.
Với hành-động quyết-liệt ngăn-chặn ta không tiến được đến đảo Quang-Hòa, tôi cho rằng họ muốn cố-thủ đảo này. Việc đổ-bộ quân để xua đuổi họ ra khỏi đảo, lúc đó tôi hy-vọng, chỉ có thể phải thực-hiện bất-thần để tránh hành-động ngăn-chặn của họ và có lực-lượng hải-kích với trang-phục người nhái, may ra họ có thể phải nhượng-bộ, như Tuần-dương-hạm HQ16 và Khu-trục-hạm HQ4 đã thành-công trong mấy ngày trước đó. Nếu họ tấn-công thay vì nhượng-bộ, Hải-đoàn đặc-nhiệm buộc phải sẵn-sàng chống-trả.
Vào khoảng 8 giờ tối, tôi yêu-cầu Tuần-dương-hạm HQ16 chuyển phái-đoàn công-binh của Quân-đoàn I sang Tuần-dương-hạm HQ 5 bằng xuồng. Phái-đoàn công-binh Quân-đoàn I do Thiếu-tá Hồng hướng-dẫn đã vào gặp tôi tại phòng ăn Sĩ-quan có theo sau Ông Kosh thuộc cơ-quan DAO Hoa-Kỳ tại Ðà-nẵng. Tôi cho cả hai hay là tình-hình sẽ khó tránh khỏi một cuộc đụng-độ nên tôi không muốn các nhân-viên không Hải-quân có mặt trên chiến-hạm và tôi sẽ đưa họ lên đảo. Tôi cũng yêu-cầu Tuần-dương-hạm HQ5 cấp cho tất cả một ít lưong-khô. Riêng ông Kosh thì tôi yêu-cầu Hạm-trưởng HQ5 đưa cho ông 1 bịch thuốc lá 10 bao Capstan. Tôi tiễn chân tất cả phái-đoàn xuống xuồng và vẫy tay chào họ khi xuồng bắt đầu hướng về đảo Hoàng-Sa. Kể từ giờ phút đó tới nay tôi không có dịp nào gặp lại ông Kosh để thăm hỏi ông và yêu-cầu ông cho trả lại Tuần-dương-hạm HQ5 bịch thuốc lá Capstan vì thuốc lá này thuộc quân-tiếp-vụ của chiến-hạm xuất ra ứng trước. Riêng Thiếu-tá Hồng thì tôi đã có dịp thăm hỏi ông tại Los Angeles vào năm 1996, cũng theo lời ông thì ông đã viết xong vào trước năm 1975, một cuốn ký-sự về thời-gian bị bắt làm tù-binh trong lục-dịa Trung-Hoa nhưng không được Tổng Cục Chiến-tranh Chính-trị cho xuất bản vì chưa phải lúc thuận-tiện.
Vào khoảng 10 giờ tối, tôi trực-tiếp nói chuyện bằng vô-tuyến với tất cả hạm-trưởng để cho hay là tình-hình sẽ khó tránh được một cuộc đụng-độ, và yêu-cầu các vị này chuẩn-bị các chiến-hạm và huy-động tinh-thần nhân-viên để sẵn-sàng chiến-đấu. Tôi biết rõ cuộc chiến nếu xẩy ra thì tất cả nhân-viên đều không đủ kinh-nghiệm cho các cuộc hải-chiến, vì từ lâu các chiến-hạm chỉ chú-tâm và đã thuần-thuộc trong công-tác tuần-dương ngăn-chặn hoặc yểm-trợ hải-pháo mà thôi, nếu có những nhân-viên đã phục-vụ trong các giang-đoàn tại các vùng sông ngòi thì họ chỉ có những kinh-nghiệm về chiến-đấu chống các mục-tiêu trên bờ và với vũ-khí tương-đối nhẹ hơn và dễ-dàng trấn-áp đối-phương bằng hỏa-lực hùng-hậu.
Vào khoảng 11:00 giờ tối ngày 18, một lệnh hành-quân, tôi không còn nhớ được xuất-xứ, có thể là của Vùng I duyên-hải, được chuyển mã-hóa trên băng-tần SSB (single side band) (Ghi chú của Trần Ðỗ Cẩm: đây là công điện Mật/Khẩn chiến dịch mang số 50.356, nhóm ngày giờ 180020H/01/74 do BTL/HQ/V1ZH gửi với tiêu đề: Lệnh Hành Quân Hoàng Sa 1) .
Lệnh hành-quân vừa được nhận vừa mã-dịch ngay nên không bị chậm-trễ, và lệnh này ghi rõ quan-niệm hành-quân như sau: tái-chiếm một cách hòa-bình đảo Quang-Hòa. Lệnh hành-quân cũng không ghi tình-hình địch và lực-lượng trừ-bị nhưng những kinh-nghiệm từ trước tới nay nhất là trong hai năm tôi đảm-nhận trách-vụ Tham-mưu-phó hành-quân tại BTL/HQ, tôi dự-đoán Trung-cộng, vì đã thiết-lập một căn-cứ tiền-phưong tại đảo Phú-lâm thuộc nhóm Tuyên-đức nằm về phía đông-bắc đảo Hoàng-Sa sát vĩ-tuyến 17, nên họ đã có thể đã phối-trí tại đây lực-lượng trừ-bị, và hơn nữa trên đảo Hải-Nam còn có một căn-cứ Hải-quân rất lớn và một không-lực hùng-hậu với các phi-cơ MIG 19 và 21 với khoảng cách gần hơn là từ Ðà-nẵng ra.
Việc Trung-cộng lấn-chiếm những đảo không có quân trú-phòng của ta trong vùng Hoàng-Sa, đã phải được họ chuẩn-bị và thiết-kế chu đáo từ lâu trước khi tái tuyên-bố chủ-quyền. Trong khi đó việc Hải-quân VNCH phát-hiện sự hiện-diện của họ chỉ có từ khi Tuần-dương-hạm HQ16 được lệnh đến thăm-viếng định-kỳ và chở theo phái-đoàn công-binh Quân-đoàn I ra thám-sát đảo để dự-kiến việc thiết-lập một phi-đạo ngắn.
Ngay sau khi hoàn-tất nhận lệnh hành-quân, tôi chia Hải-đoàn thành hai phân-đoàn đặc-nhiệm: Phân-đoàn I là nỗ-lực chính gồm Khu-trục-hạm HQ4 và Tuần-dương-hạm HQ5 do Hạm-trưởng Khu-trục-hạm HQ4 chỉ-huy; Phân-đoàn II là nỗ-lực phụ gồm Tuần-dương-hạm HQ16 và Hộ-tống-hạm HQ10 do Hạm-trưởng Tuần-dương-hạm HQ16 chỉ-huy. Nhiệm-vụ là phân-đoàn II giữ nguyên vị-trí trong lòng chảo Hoàng-Sa để tiến về đảo Quang-Hòa vào buổi sáng.
Phân-đoàn I khởi hành vào 12:00 đêm đi bọc về phía tây rồi xuống phía nam sẽ có mặt tại nam đảo Quang-Hòa vào 06:00 sáng ngày hôm sau tức là ngày 19 để đổ-bộ biệt-đội hải-kích. Phân-đoàn I phải đi bọc ra phía tây quần-đảo thay vì đi thẳng từ đảo Hoàng-Sa xuống đảo Quang-Hòa là để tránh việc các chiến-hạm Trung-cộng có thể lại vận-chuyển ngăn-chặn đường tiến của chiến-hạm như họ đã làm vào buổi chiều, vả lại việc hải-hành tập-đội về đêm trong vùng có bãi cạn và đá ngầm có thể gây trở-ngại cho các chiến-hạm, nhất là Khu-trục-hạm còn có bồn SONAR (máy dò tiềm-thủy-đĩnh), hy-vọng hải-trình như vậy sẽ tạo được yếu-tố bất ngờ. Hơn nữa về mùa gió đông-bắc, việc đổ-bộ vào phía tây-nam sẽ tránh được sóng biển cho xuồng-bè.
Nên ghi-nhận tại điểm này là kể từ năm 1973, toán cố-vấn HQ Hoa-kỳ tại Hạm-đội mà trưởng toán là HQ Ðại-tá Hamn (tên họ) đã nhiều lần yêu-cầu tháo gỡ máy Sonar trên các khu-trục-hạm. Phó Ðề-đốc Nguyễn-thành-Châu (lúc đó còn mang cấp HQ Ðại-tá) Tư-lệnh Hạm-đội đã trao nhiệm-vụ cho tôi thuyết-phục họ giữ máy lại để dùng vào việc huấn-luyện.
Mãi đến khi HQ Ðại-tá Nguyễn-xuân-Sơn nhận chức Tư-lệnh Hạm-đội một thời-gian, tôi vẫn tiếp-tục liên-lạc với toán cố-vấn, và sau cùng họ mới bằng lòng giữ máy lại với tính-cách để huấn-luyện. Thực ra một khu-trục-hạm mà thiếu máy thám-xuất tiềm-thủy-đĩnh thì khả-năng tuần-thám và tấn-công sẽ giảm đi nhiều.

Diễn-tiến trận hải-chiến ngày 19 tháng giêng năm 1974

Ðúng 6:00 sáng ngày 19, trời vừa mờ sáng, Phân-đoàn I đã có mặt tại tây-nam đảo Quang-Hòa, thủy-triều lớn, tầm quan-sát trong vòng 1.50 đến non 2.00 hải-lý, trời có ít mây thấp nhưng không mưa, gió đông-bắc thổi nhẹ, biển tương-đối êm tuy có sóng ngầm. Phân-đoàn I tiến sát đảo khoảng hơn 1 hải-lý, Tuần dương-hạm HQ5 nằm gần bờ hơn một chút để thuận-tiện đổ-bộ hải-kích. Hai chiếc Kronstad 271 và 274 bị bất ngờ rõ-rệt nên thấy họ đã vận-chuyển lúng-túng và không thực-hiện được hành-động ngăn-cản như họ đã từng làm vào chiều hôm trước. Tôi cũng bị bất-ngờ là hai chiếc chủ-lực địch lại có mặt cùng một nơi để sẵn-sàng đối đầu mà tôi không phải tìm-kiếm họ vì tôi đã coi họ như là muc-tiêu chính. Họ đã phải luồn ra khỏi khu lòng chảo vào ban đêm, nhưng không hiểu là họ có theo dõi được đuờng tiến-quân của Phân-đoàn I hay không. Vào giờ này thì họ đã phải biết rõ là Tuần-dương-hạm HQ5 là chiến-hạm chỉ-huy của ta và cũng đã phải biết được hỏa-lực của chiếc khu-trục-hạm.

Biệt-đội hải-kích do HQ Ðại-úy Nguyễn-minh-Cảnh chỉ-huy đã được tôi chỉ-thị là không được nổ súng và lên bờ yên-cầu toán quân Trung Cộng rời đảo. Trong biệt-đội này có một chiến-sĩ hải-kích Ðỗ-văn-Long và luôn cả HQ Ðại-Úy Nguyễn-minh-Cảnh là những chiến-sĩ đã tham-dự cuộc hành-quân đầu-tiên Trần-hưng-Ðạo 22 (nếu tôi không lầm) cũng do tôi chỉ-huy để xây-cất doanh-trại và đặt quân trú-phòng đầu-tiên trên đảo Nam-Yết thuộc quần-đảo Trường-Sa vào cuối mùa hè năm 1973.

Một lần nữa, khi biệt-đội hải-kích xuồng xuồng cao-su, tôi đích-thân ra cầu thang căn-dặn và nhấn mạnh về việc đổ-bộ mà không được nổ súng, và khi bắt liên-lạc được với họ thì yêu-cầu họ rời khỏi đảo.

Tôi không chắc là cuộc đổ-bộ sẽ thành-công vì quân Trung-cộng trên đảo đã phải tổ-chức bố-phòng cẩn-mật tiếp theo sự thất-bại của họ trên các đảo khác đã nói ở trên, trong khi đó biệt-đội hải-kích lại không có được hỏa-lực chuẩn-bị bãi đổ-bộ. Một lần nữa tôi lại chỉ-thị cho các hạm-trưởng chuẩn-bị để chiến-đấu. Nếu cuộc đổ-bộ thất-bại thì với hỏa-lực của 2 khẩu 76 ly tự-động trên Khu-trục-hạm HQ4, một chiến-hạm chủ-lực của Hải-đoàn đăc-nhiệm, sẽ có đủ khả-năng loại ít nhất là hai chiến-hạm chủ-lực Trung-cộng ra khỏi vòng chiến không mấy khó-khăn, còn quân-bộ của Trung-cộng trên-đảo thì tôi tin chỉ là một mục-tiêu thanh-toán sau cùng.

Tôi còn có ý-định là sẽ điều-động chiếc khu-trục-hạm vượt vùng hơi cạn trực-chỉ hướng bắc vào thẳng vùng lòng chảo để tăng-cường cho Phân-đoàn II nếu cần sau khi đã loại xong 2 chiếc Kronstad mà tôi luôn-luôn cho là mục-tiêu chính. Tôi rất vững lòng vào hỏa-lực của chiến-hạm chủ-lực vì tôi đã được tường-trình đầy-đủ về khả-năng của hải-pháo 76 ly tự-động khi Khu-trục-hạm này yểm-trợ hải-pháo tại vùng Sa-hùynh trong nhiệm-kỳ hạm-trưởng của HQ Trung-Tá Nguyễn-quang-Tộ.
Biệt-đội hải-kích tiến vào đảo bằng 2 xuồng cao-su, từ chiến-hạm ta, việc quan-sát sự bố-phòng của Trung-cộng trên đảo không được rõ ràng. Các chiến-hạm Trung-cộng cũng không có phản-ứng gì đối với xuồng của hải-kích. Theo báo-cáo của Biệt-đội-trưởng hải-kích thì chiến-sĩ hải-kích Ðỗ-văn-Long là người đầu-tiên tiến vào đảo và vừa nổ súng vừa tiến vào trong nên đã bị hỏa-lực trong bờ bắn tử-thương ngay tại bãi-biển. HQ Trung-Úy Lê-văn-Ðơn (xuất-thân từ bộ-binh) tiến vào để thâu-hồi tử-thi của liệt-sĩ Long cũng lại bị tử-thương ngay gần xuồng nên tử-thi vị sĩ-quan này được thâu-hồi ngay.

Việc thất-bại đổ-bộ được báo-cáo ngay về Bộ-Tư-lệnh HQ vùng I duyên-hải và chừng ít phút sau đó (vào khoảng 09:30 sáng) thì đích thân Tư-lệnh HQ VNCH hay Tư-lệnh Vùng I duyên-hải ra lệnh vắn-tắt có hai chữ: “khai-hỏa” bằng bạch-văn cho Hải-đoàn đặc-nhiệm và không có chi-tiết gì khác hơn. Tôi nhận biết được khẩu-lệnh trên băng siêu-tần-số SSB (single side band) không phải là của nhân-viên vô-tuyến mà phải là của cấp Ðô-đốc, nhưng từ đó đến nay tôi vẫn tin rằng là của Tư-lệnh Hải-quân mà tôi đã quen-thuộc giọng nói, nên tôi đã không kiểm-chứng thêm về sau.

Tôi trở nên yên-tâm hơn vì khẩu-lệnh khai hỏa đã giải-tỏa trách-nhiệm của tôi ghi trong phần quan-niệm của lệnh hành-quân là tái-chiếm một cách hòa-bình. Tôi đích-thân vào máy siêu-tần-số trình ngay là chưa có thể khai-hỏa được vì phải chờ triệt-thối Biệt-đội hải-kích về chiến-hạm, họ còn trên mặt biển và ở vào vị-thế rất nguy-hiểm. Riêng tử-thi của liệt-sĩ hải-kích Ðỗ-văn-Long tôi lệnh không cho vào lấy vì có thể gây thêm thương-vong. Tôi tin rằng tử-thi của Liệt-sĩ Long sẽ không khó-khăn để thâu-hồi khi toán quân-bộ Trung-cộng được tiêu-diệt sau đợt các chiến-hạm của họ bị loại hoàn-toàn khỏi vòng chiến.

Vào khoảng gần 10:00 giờ sáng, biệt-đội hải-kích được hoàn-tất thu-hồi về Tuần-dương-hạm HQ5 cùng với HQ Trung-Úy Lê-văn-Ðơn tử-thương. Trong khi đó thì tôi chỉ-thị cho các chiến-hạm chuẩn-bị tấn-công, mỗi chiến-hạm tấn-công một chiến-hạm địch, và bám sát địch trong tầm hải-pháo 40 ly (khoảng 3 cây-số), vì loại hải-pháo này có nhịp tác-xạ cao, dễ điều-chỉnh và xoay hướng nhanh hơn. Tôi không tin-tưởng nhiều vào hải-pháo 127 ly và khả-năng điều-khiển chính-xác của nhân-viên vì hải-pháo chỉ có thể tác-xạ từng phát một, nạp đạn nặng-nề và chậm xoay hướng nên tốt hơn là trực-xạ.Tất cả các chiến-hạm phải  cùng khai-hỏa một lúc theo lệnh khai-hỏa của tôi để tạo sự bất ngờ và sẽ gây thiệt-hại trước cho các chiến-hạm Trung-cộng.

Vì tầm quan-sát còn rất hạn-chế, nên từ Tuần-dương-hạm HQ5 không quan-sát được Tuần-dương-hạm HQ16 và Hộ-tống-hạm HQ10 cũng như hai chiến-hạm khác và hai ngư-thuyền ngụy-trang của Trung-cộng nên tôi không rõ các chiến-hạm này bám-sát các chiến-hạm Trung-cộng được bao nhiêu, nhưng tôi đã tin rằng Phân-đoàn II không có bận tâm về việc đổ-bộ nên có nhiều thì-giờ hơn để thi-hành kế-hoạch tấn-công và sẽ dễ-dàng chế-ngự được hai chiến-hạm phụ của địch cùng hai ngư-thuyền. Riêng Tuần-dương-hạm HQ5 và Khu-trục-hạm HQ4 đã nghiêm-chỉnh thi-hành lệnh.

Trước khi ban-hành lệnh khai-hỏa tôi lần nữa hỏi các chiến-hạm đã sẵn-sàng chưa và nhấn-mạnh một lần nữa là phải khai-hỏa đồng-loạt để đạt yếu-tố bất-ngờ. Các hạm-trưởng đích-thân trên máy VRC46 lần-lượt báo-cáo sẵn-sàng. Tôi rất phấn-khởi vì giờ tấn-công hoàn-toàn do tôi tự-do quyết-định, không phải lệ-thuộc vào lệnh của thượng-cấp và vào ý-đồ chiến-thuật của địch. Ðịch lúc này đã tỏ ra không có một ý-định gì cản-trở hay tấn-công chiến-hạm ta.

Hải-quân Ðại-Tá Ðỗ-Kiểm, Tham-mưu-phó hành-quân tại Bộ-Tư-lệnh Hải-quân còn đặc-biệt cho tôi hay là có chiến-hạm bạn ở gần, nhưng với sự hiểu-biết của tôi, tôi không có một chút tin-tưởng gì vào đồng-mình này vì kể từ tháng 2 năm 1972 khi Hoa-Kỳ và Trung-cộng đã chấm-dứt sự thù-nghịch nên Hải-quân của họ sẽ không một lý do gì lại tham-dự vào việc hỗ-trợ Hải-quân Việt-Nam trong vụ tranh-chấp về lãnh-thổ. Họa chăng họ có thể cứu-vớt những người sống-sót nếu các chiến-hạm HQVN lâm-nạn. Nhưng thực-tế cho thấy trong suốt cuộc tìm-kiếm những nhân-viên từ Hộ-tống-hạm HQ10 và các toán đã đổ-bộ lên trấn giữ các đảo đã đào-thoát để trở về đất liền, chúng ta không nhận thấy một hành-động nhân-đạo nào từ phía đồng-minh kể cả của phi-cơ không-tuần.

Khoảng 10:24 sáng thì lệnh khai-hỏa tấn-công được ban-hành và tôi vào trung-tâm chiến-báo trực-tiếp báo cáo bằng máy siêu-tần-số SSB, tôi đã cố ý giữ ống nói sau khi tôi chấm-dứt báo-cáo để tiếng nổ của hải-pháo cũng được truyền đi trên hệ-thống này. Cuộc khai-hỏa tấn-công đã đạt được yếu-tố bất ngờ cho các chiến-hạm địch vì tôi cho rằng họ vẫn tin là các hành-động của chiến-hạm cũng tương-tự như trong những vài ngày trước, khi Hải-quân Việt-Nam đổ-quân trên các đảo Cam-tuyền, Vĩnh-lạc và Duy-mộng và nhất là cuộc phô-diễn lực-lượng của hải-đoàn đặc-nhiệm ngày hôm trước Hải-quân Việt-Nam đã không có một hành-dộng khiêu-khích nào, mà còn chấp-thuận giữ liên-lạc bằng quang-hiệu.

Chiếc Kronstad 271 nằm về hướng tây gần đảo Quang-Hòa, hướng mũi về phía tây là mục-tiêu của Tuần-dương-hạm HQ5 đang hướng mũi vào bờ tức là phía đông, đặt mục-tiêu về phía tả-hạm (tức là phía bắc). Chiếc này bị trúng đạn ngay từ phút đầu, vận-chuyển rất chậm-chạp nên đã là mục-tiêu rất tốt cho Tuần-dương-hạm HQ5. Hỏa-lực của chiếc Kronstad 271 này không gây nhiều thiệt-hại cho Tuần-dương-hạm HQ5, nhưng có thể đã gây thiệt-hại nặng cho Hộ-tống-hạm HQ10 nằm về phía bắc.

Khu-trục-hạm HQ4 nằm về phía tây-nam của Tuần-dương-hạm HQ5 đặt mục-tiêu là chiếc Kronstad 274 nằm về phía bắc tức là tả-hạm của chiến-hạm. Nhưng chẳng may, HQ4 báo cáo bị trở-ngại tác-xạ ngay từ phút đầu-tiên và phải chờ sửa-chữa. Việc này đã làm đảo lộn các dự-tính của tôi và làm tôi bối-rối. Sau vài phút thì chiến-hạm này xin bắn thử và kết-quả là vẫn bị trở-ngại và cần tiếp-tục sửa chữa thêm, nhưng tôi vẫn còn chút hy-vọng. Khu-trục-hạm HQ4 vài phút sau lại xin tác-xạ thử lần thứ ba nhưng vẫn không có kết-quả, tuy-nhiên chiến-hạm này vẫn phải tiếp-tục bám-sát mục-tiêu của mình trong tầm các loại đại-liên nên đã bị thiệt-hại nhiều bởi hỏa-lực của chiếc Kronstad 274, và đại-liên đã không áp-đảo được hỏa-lực của địch.

Trên Tuần-dương-hạm HQ5, tôi xử-dụng chiếc máy PRC 25 trước ghế hạm-trưởng bên hữu-hạm của đài chỉ-huy để liên-lạc với các chiến-hạm, tôi vừa rời ghế để ra ngoài quan-sát hai phía thì một trái đạn loại nổ mạnh gây một lỗ lủng khoảng nửa thước đường kính và làm nát máy PRC25, nên từ phút này trở đi tôi phải vào tận Trung-tâm chiến-báo để dùng máy VRC46. Hạm-trưởng Tuần-dương-hạm HQ5 đứng cạnh đài chỉ-huy bên tả-hạm với sĩ-quan hải-pháo để dễ quan-sát mục-tiêu được chỉ-định, nên tôi thường nói trực-tiếp với hạm-trưởng tại nơi này. Trung-tâm chiến-báo của chiến-hạm này chỉ quen-thuộc dùng radar vào việc hải-hành, vả lại trời mù, mây thấp, radar có nhiều nhiễu-xạ nên tôi không được rõ về vị-trí của Phân-đoàn II và các chiến-hạm của địch còn nằm trong khu lòng-chảo Hoàng-Sa.

Sau chừng 15 phút thì Tuần-dương-hạm HQ16 báo-cáo là bị trúng-đạn hầm máy, tầu bị nghiêng nên khả-năng vận-chuyển giảm-sút, buộc phải lui ra ngoài vòng chiến để sửa-chữa và cũng không còn liên-lạc được với Hộ-tống-hạm HQ10, không biết rõ tình-trạng và chỉ thấy nhân-viên đang đào-thoát. Tôi nhận thấy một tuần-dương-hạm đã vận-chuyển nặng-nề mà chỉ còn một máy và bị nghiêng, nếu tiếp-tục chiến-đấu thì sẽ là một mục-tiêu tốt cho địch, nên tôi đã không ra phản-lệnh.

Khu-trục-hạm HQ4 đã bị thiệt-hại nhiều sau khi phải bám-sát chiến-hạm địch trong tầm đại-liên, nên tôi ra lệnh cho Khu-trục-hạm HQ4 phải rút ra khỏi vòng-chiến ngay và chỉ-thị cho Tuần-dương-hạm HQ5 yểm-trợ cho chiếc này khi tiến ra xa, vì tất-nhiên Hải-đội đặc-nhiệm không thể để bị thiệt-hại một khu-trục-hạm mà Hải-Quân VNCH chỉ có tổng-cộng 2 chiếc mà thôi.

Khi khu-trục-hạm HQ4 ra khỏi vùng chiến, lại không bị chiếc Kronstad 274 truy-kích hoặc tác-xạ đuổi theo, ngược lại chiếc này của địch có phần rảnh tay hơn để tấn-công Tuần-dương-hạm HQ5 vào phía hữu-hạm hầu giảm-bớt hỏa-lực của chiến-hạm ta như để cứu vãn chiếc 271 đang bị tê-liệt.

Vào giờ này thì tin-tức từ Bộ-Tư-lệnh Hải-quân tại Sàigòn do chính Tham-mưu-phó hành-quân cho hay là một phi-đội khu-trục-cơ F5 đã cất-cánh để yểm-trợ cho Hải-đoàn đặc-nhiệm. Do sự liên-lạc từ trước với Bộ-Tư-lệnh Sư-đoàn I Không-quân tại Ðà-nẵng, tôi hiểu là phi-cơ F5 chỉ có thể yểm-trợ trong vòng 5 tới 15 phút mà thôi vì khoảng-cách từ Ðà-nẵng tới Hoàng-Sa quá xa so với nhiên-liệu dự-trữ. Tôi vẫn tin rằng loan tin việc phi-cơ cất-cánh, Bô-Tư-lệnh Hải-quân đã cho rằng tin này có thể làm cho tôi vững-tâm chiến-đấu.

Một điều nữa là từ trước tới giờ phút đó tôi chưa được thấy có cuộc thao-dượt hỗn-hợp nào giữa Không-quân và Hải-quân nên tôi rất lo-âu về sự nhận-dạng của phi-công để phân-biệt giũa chiến-hạm của Hải-quân Việt-Nam và chiến-hạm Trung-cộng, nhất là lúc có mây mù thấp, nên phi-cơ có thể gây tác-xạ nhầm mục-tiêu.

Máy VRC 46 trong Trung-tâm chiến-báo phải chuyển sang tần-số không-hải và đích thân tôi dùng danh-hiệu để bắt liên-lạc với phi-cơ. Một viên đạn xuyên-nổ trúng ngay Trung-tâm chiến-báo từ hữu-hạm, sát gần ngay nơi tôi đứng, làm trung-tâm bị phát-hỏa. Các nhân-viên trong trung-tâm còn mải núp sau bàn hải-đồ thì tôi nhanh tay với một bình cứu-hỏa gần chỗ tôi đứng dập tắt ngay ngọn lửa. Tôi bị té ngã vì vấp chân vào bàn hải-đồ, bàn chân trái bị đau mất vài ngày. Tôi vẫn vẫn tiếp-tục liên-lạc với phi-cơ nhưng sau chừng 5 tới 10 phút vẫn không thấy đáp-ứng nên tôi phải ngưng và chuyển tần-số về liên-lạc với các chiến-hạm khác vì cuộc giao-tranh đã đến độ khốc-liệt hơn.

Sau phút này thì Tuần-dương-hạm HQ5 bị trúng nhiều đạn làm sĩ-quan trưởng-khẩu 127 ly tử-thương và hải-pháo bị bất-khiển-dụng vì phần điện điều-khiển pháo-tháp tê-liệt, và máy siêu-tần-sớ SSB không còn liên-lạc được vì giây anten trời bị sập rớt xuống sàn tầu, hiệu-kỳ hải-dội bị rách nát phần đuôi. Tôi ra ngoài quan-sát phía tả-hạm và được nghe báo cáo là hầm-đạn phát-hỏa. Tôi nói ngay với hạm-trưởng là cần phải làm ngập hầm-đạn. Khẩu hải-pháo 40 ly đơn tả-hạm bị bất khiển-dụng vì bị trúng đạn vào khối nạp-đạn và khẩu 40 ly hữu-hạm bị hư-hại nhẹ. Tôi yêu-cầu hạm-trưởng là chỉ nên cho tác-xạ từng viên mà thôi, vì nhu-cầu phòng-không rất có thể xẩy ra trong một thời-gian ngắn.

Bất thần về phía đông vào khoảng 11:25 sáng, cách xa chừng 8 đến 10 hải-lý, xuất hiện một chiến-hạm của Trung-cộng loại có trang bị mỗi bên một dàn phóng kép hỏa-tiễn loại hải-hải (Ghi chú của Trần Ðỗ Cẩm: đây là loại khinh tốc đĩnh Komar) đang tiến vào vùng giao-tranh với một tốc-độ cao, quan-sát được bằng mắt viễn-kính và không một chiến-hạm nào báo-cáo khám-phá được bằng radar từ xa. Tôi dự-đoán loại chiến-hạm này ít khi được điều-động từng chiếc một, và tin là có thể thêm ít nhất một chiếc theo sau. Với tình-trạng của Hải-đội đăc-nhiệm: một hộ-tống-hạm bị loại khỏi vòng-chiến; một tuần-dương-hạm bị thương nơi hầm máy; một khu-trục-hạm và một tuần-dương-hạm chỉ còn hỏa-lực rất hạn-chế; cộng với nguy-cơ bị tấn-công bằng cả hỏa-tiễn hải-hải cũng như bằng phi-cơ rất có thể xẩy ra, nên tôi triệt-thoái phần còn lại của lực-lượng là Khu-trục-hạm HQ4 và Tuần-dương-hạm HQ5 ra khỏi vùng Hoàng-Sa tiến hướng đông-nam về phía Subic Bay (Hải-quân công-xưởng của Hoa-Kỳ tại Phi-luật-tân). Tôi cũng cầu-nguyện Ðức Thánh Trần, Thánh-Tổ của Hải-quân VNCH ban cho tôi một trận mưa để giảm tầm quan-sát và khả-năng tấn-công của phi-cơ địch.

Sau khi hai chiến-hạm còn lại rút ra khỏi vùng giao-tranh chừng 10 phút thì một trận mưa nhẹ đã đổ xuống toàn vùng quần-đảo Hoàng-Sa. Các chiến-hạm ta đã không bị truy-kích và phi-cơ địch cũng chưa xuất-hiện. Mục-đích tôi hướng về phía đông-nam là để tránh bị phục-kích của tiềm-thủy-đĩnh Trung-cộng tại hải-trình Hoàng-Sa Ðà-nẵng, và khi ra ngoài xa lãnh-hải thì nếu còn bị tấn-công bằng phi-cơ hoặc tiềm-thủy-đĩnh thì may ra đồng-minh Hải-quân Hoa-Kỳ có thể cấp-cứu chúng tôi dễ-dàng hơn theo tinh-thần cấp-cứu hàng-hải quốc-tế. Nếu chúng tôi không còn bị tấn-công thì việc đến Subic Bay Phi-luật-tân để xin sửa-chữa trước khi hồi-hương là một điều khả-dĩ được thượng-cấp chấp-thuận.

Tuần-dương-hạm HQ5 phải mất gần một giờ mới kéo lên được giây trời khẩn-cấp để tái-lập sự liên-lạc bằng máy siêu-tần-số SSB. Hầm đạn phía mũi của chiến-hạm đã bị làm ngập, mũi bị chúc xuống nên tốc-độ có bị thuyên-giảm. Chính trong thời-gian mất liên-lạc, Bộ Tư-lệnh tại Sàigòn cũng như tại Ðà-nẵng rất bối-rối cho sự an-toàn của hai chiến-hạm và bản-thân tôi. Chính Tư-lệnh Hạm-đội tại Sàigòn cũng đã đưa tin mất liên-lạc đến với gia-đình tôi.

Vào khoảng 01:00 trưa, hai chiến-hạm HQ4 và HQ5 đã cách Hoàng-Sa chừng 10 hải-lý, trời nắng và quang-đãng. Tư-lệnh Hải-quân đích thân ra lệnh cho cả hai chiến-hạm phải trở lại Hoàng-Sa và đánh chìm nếu cần, tôi nhận được giọng nói của Ðô-đốc. Lệnh đã được thi-hành nghiêm-chỉnh ngay tức khắc. Sau khi liên-lạc vô-tuyến siêu-tần-số được điều-hòa trở-lại thì mọi báo-cáo chi-tiết về tổn-thất và tình-trạng lúc bấy giờ của các hai chiến-hạm được chuyển đầy-đủ.

Trên Tuần-dương-hạm HQ5 tôi cũng được thông-báo về Tuần-dương-hạm HQ16 sẽ được Tuần-dương-hạm HQ6 tới hộ-tống về Căn-cứ Hải-quân Ðà-nẵng.

Ðến khoảng 02:30 chiều, khi cả hai chiến-hạm đang trở về Hoàng-Sa, quá ngang Hòn Tri-Tôn, nghĩa là còn cách đảo Hoàng-Sa chừng 1 giờ rưỡi hải-hành nữa, thì hai chiến-hạm được phản-lệnh trở về Ðà-nẵng. Lúc này trời đã nắng, mây cao nên rất dễ-dàng cho việc hải-hành. Trong một cuộc đến thăm Tư-lệnh Hải-quân VNCH tại tư-dinh vào khoảng tháng 2 năm 1974, thì vị Ðô-Ðốc này đã tiết-lộ rằng nếu biết được sớm tình-trạng của Hải-đoàn đặc-nhiệm thì Tư-lệnh đã cho lệnh trở về căn-cứ trước sớm hơn.

Trên đường về, tôi vẫn ra lệnh cho các chiến-hạm giữ nguyên nhiệm-sở tác-chiến và nhất nhất các nhân viên không ở trong nhiệm-sở phòng máy phải túc-trực trên boong để tránh tổn-thất về nhân-mạng trong trường-hợp bị tiềm-thủy-đĩnh Trung-cộng phục-kích bằng ngư-lôi. Nhưng may-mắn là điều tôi dự-liệu đã không xẩy ra. Các chiến-hạm đã khởi-sự ngay thu-dọn các tổn-thất về vật-liệu và thu-hồi các dư-liệu tác-xạ.

Tôi tò-mò mở đài phát-thanh BBC vào sáng sớm ngày 20, thì họ chỉ vỏn-vẹn loan tin một trận hải-chiến đã xẩy ra trong vùng quần-đảo Hoàng-Sa giữa Hải-quân Việt-Nam Cộng-Hòa và Cộng-Hòa Nhân-dân Trung-Hoa, mỗi bên thiệt-hại 1 chiến-hạm và không thêm một chi-tiết nào khác. Tôi tỏ ra khâm-phục đài nay về sự loan-tin nhanh chóng và xác đáng.

Tôi đã không hút thuốc từ nhiều tháng qua, nhưng tôi muốn hút một vài điếu thuốc cho tinh-thần bớt căng-thẳng sau gần 48 tiếng đồng-hồ liên-tục không được nghỉ-ngơi, tôi yêu cầu Hạm-trưởng dùng hệ-thống liên-hợp để loan-báo xem có nhân-viên nào còn thuốc lá cho tôi xin một ít để hút. Tôi không ngờ là các nhân-viên tuần-tự mang đến cho tôi hơn 2 chục bao cả loại trong khẩu-phần C của đồng-minh và các loại thuốc trong thương-trường lúc bấy giờ, tôi lấy làm cảm-động về sự ưu-ái của các nhân-viên trên chiến-hạm này.

Vào khoảng 2 giờ đêm tôi soạn-thoản một sơ-đồ hành-quân và các chi-tiết về tổn-thất để chuẩn-bị thuyết-trình khi về tới căn-cứ.

Khoảng 7:00 sáng ngày 20 tháng giêng thì hai chiến-hạm của Phân-đoàn I về tới căn-cứ an-toàn. Tuần-dương-hạm HQ16 cũng đã về bến trước đó ít lâu. Một điều mà các nhân-viên của các chiến-hạm và riêng tôi rất cảm-động là trên cầu Thương-cảng Ðà-nẵng là nơi đã được chỉ-định cho các chiến-hạm cặp bến, đã có sự hiện-diện của các vị Ðề-Ðốc Tư-lệnh và Tư-lệnh-phó HQ VNCH, Phó Đề-Ðốc Tư-lệnh HQ Vùng I Duyên-hải, một số đông sĩ-quan cùng nhân-viên của các đơn-vị HQ vùng Ðà-nẵng cùng các trại gia-binh đã túc-trực đón đoàn chiến-hạm trở về với rừng biểu-ngữ :

“Hải-quânViệt-Nam quyết-tâm bảo-vệ lãnh-thổ đến giọt máu cuối cùng”.
“Một ý-chí : chống cộng.Một lời thề : bảo-vệ quê-hương”.
“Hoan-hô tinh-thần chiến-đấu anh-dũng của các chiến-sĩ Hải-quân tham-dự Hải-chiến Hoàng-Sa”.
“Hoan-hô tinh-thần bất-khuất của các chiến-sĩ Hải-chiến Hoàng-Sa”.

Sau khi di-tản các chiến-sĩ thương-vong và tử-vong lên căn-cứ thì chỉ có 3 vị Ðề-Ðốc cùng HQ Ðại-tá Nguyễn-viết-Tân Chỉ-Huy-Trưởng Sở Phòng-vệ Duyên-hải lên Tuần-dương-hạm HQ5 và vào phòng-khách của Hạm-trưởng để dự cuộc thuyết-trình về trận đánh. Ba vị Hạm-trưởng đều có mặt để trình bầy chi-tiết về chiến-hạm của mình. Các vị Ðề-đốc cũng không hỏi thêm tôi về những yếu-tố đã đưa đến những quyết-định chiến-thuật của tôi, nhất là quyết-định triệt-thoái phần còn lại của Hải-đoàn đặc-nhiệm ra khỏi vùng Hoàng-Sa. Sau phần thuyết-trình các vị Ðề-Ðốc đã đi quan-sát sự thiệt-hại của các chiến-hạm và úy-lạo nhân-viên các cấp. Tôi cũng được nghe Ðề-đốc Tư-lệnh-phó đề-nghị với Tư-lệnh HQ là sẽ không có thuyết-trình cho Tư-lệnh Quân-đoàn I

Sau chừng một giờ thì Trung-tướng Tư-lệnh Quân-đoàn I/Quân-Khu I cũng tới thăm-viếng và được hướng-dẫn quan-sát một vòng các chiến-hạm để nhận-định sự thiệt-hại…

Kết-quả của trận-hải-chiến

Một cách tổng-quát thì sự thiệt hại của hai đối-thủ được kể như tương-đương trong trận hải-chiến. Mỗi bên bị tổn-thất một chiến-hạm, như đài BBC loan tin vào sáng sớm ngày 20 tháng giêng, phía VNCH là Hộ-tống-hạm HQ10, phía Trung-cộng là chiếc Kronstad 271(được coi là chiến-hạm chỉ-huy) còn một số khác thì chịu một sự hư-hại trung-bình hoặc trên trung-bình. Hai chiếc nhỏ hơn 389 và 396 cùng hai ngư-thuyền ngụy-trang theo tôi ước-lượng chỉ hư-hỏng hơi nặng mà thôi vì tầm hỏa-lực của ta trội hơn. Riêng chiếc Kronstad 271 có thể bị tổn-thất nhiều nhân-viên hơn vì trúng nhiều hải-pháo của Tuần-dương-hạm HQ5 vào thương-tầng kiến-trúc, trong khi đó chiếc 274 thì tổn-thất được coi là nhẹ hơn cả vì chỉ bị tấn-công nhiều bằng đại-liên và ít hải-pháo về sau này.

Tuy-nhiên trong các trận hải-chiến thì người ta thường kể về số chiến-hạm bị loại khỏi vòng chiến hơn là số thương-vong về nhân-mạng. Riêng trên Hộ-tống-ham HQ10, theo các nhân-viên đã đào-thoát về được đất liền, thì vị Hạm-trưởng và Hạm-phó đều bị thương-nặng, nhưng Hạm-trưởng đã từ-chối di-tản và quyết ở lại tuẫn-tiết cùng chiến-hạm của mình theo truyền-thống của một sĩ-quan hải-quân và một nhà hàng-hải. Hạm-phó được nhân-viên dìu đào-thoát được nhưng đã phải bỏ mình trên mặt biển vì vết thương quá nặng. Vụ này làm tôi nhớ lại, theo lời kể của các bậc tiên-sinh, thì khi hải-quân Pháp hành-quân trên sông (nếu không lầm thì là Sông Ðáy) một chiến-hạm loại trợ-chiến-hạm (LSSL) hay Giang-pháo-hạm (LSIL) đã bị trúng đạn đài-chỉ-huy, làm tử-thương cả hai hạm-trưởng và hạm-phó cùng một lúc, sĩ-quan cơ-khí đã phải lên thay thế tiếp-tục chỉ-huy. Sau kinh-nghiệm này, hải-quân Pháp không cho hạm-trưởng và hạm-phó có mặt cùng một nơi khi lâm-trận. Cá-nhân tôi lúc đó đã không có chút thì giờ để nhớ tới kinh-nghiệm mà các bậc tiên-sinh đã truyền lại tôi mà áp-dụng.

Một điều lạ là Trung-cộng có đủ khả-năng tuy khiêm-nhượng, vào lúc cuối trận-chiến, vì có thêm tăng-viện đến kịp thời, nhưng đã bỏ rơi cơ-hội truy-kích khi lực-lượng ta triệt-thoái, hay xử-dụng hỏa-tiễn hải-hải vì lực-lượng ta vẫn còn nằm trong tầm hữu-hiệu của loại vũ-khí này. Tôi cho rằng có thể họ đã bận-tâm vào việc cứu vãn chiếc Kronstad 271 và quân bộ trên đảo Quang-Hòa, hoặc họ đã không nhận được lệnh tấn-công, và chỉ đương-nhiên chống-trả tự-vệ mà thôi. Tôi nhận rằng ước-tính của tôi về phản-ứng của địch đã cao hơn như thực-tế đã xẩy ra. Việc Hải-quân Viêt-Nam khai-hỏa tấn-công sau khi thất-bại đổ-bộ đã tạo cho Trung-cộng có nguyên-cớ vì bị tấn-công mà phải hành-động, nên đã dùng cường-lực cưỡng-chiếm các đảo vào ngày sau.

Theo các quân-nhân trú-phòng trên đảo Hoàng-Sa thì sáng sớm ngày hôm sau tức là ngày 20 tháng giêng, Trung-cộng đã huy-động một lưc-lượng hùng-hậu kết -hợp hải-lục-không-quân đổ-bộ tấn-chiếm đảo Hoàng-Sa và các đảo kế-cận mà các chiến-binh hải-quân đang chiếm-giữ. Theo ký-giả Lê-Vinh, một cựu sĩ-quan hải-quân, đã từng đảm-trách chức-vụ thư-ký cũa ủy-ban nghiên-cứu trận hải-chiến cho biết, thì vào thời-gian trận hải-chiến, Hải-quân Hoa-Kỳ đã chuyển cho Hải-quân Việt-Nam một tin-tức về 42 chiến-hạm Trung-cộng với 2 tiềm-thủy-đĩnh đang tiến xuống Hoàng-Sa. Dù nhiều hay ít thì lực-lượng của họ sẽ trội hẳn lực-lượng Hải-quân Việt-Nam có thể điều-động tới.

Nếu hai chiến-hạm còn lại của Hải-đoàn đặc-nhiệm phải lưu-lại Hoàng-Sa như lệnh ban ra lúc đầu, với khả-năng chiến-đấu đã bị giảm-sút nhiều thì sự bảo-tồn của hai chiến-hạm này rất mong-manh. Thế cho nên phản-lệnh cho hai chiến-hạm phải trở về căn-cứ được kể như là đúng lúc và sát với thực-tế hơn.

Trung-cộng đã bắt giữ tất cả quân-nhân và dân-chính Việt-Nam trên đảo Hoàng-Sa và toán hải-quân đổ-bộ thuộc Khu-trục-hạm HQ4 trên đảo Vĩnh-Lạc (sát phía nam đảo Hoàng-Sa) mà trưởng toán là HQ Trung-Uý Lê-văn-Dũng (sau được vinh-thăng HQ Ðại-Uý tại mặt-trận), làm tù-binh đưa về giam-giữ đầu tiên tại đảo Hải-nam. Riêng ông Kosh là nhân-viên của cơ-quan DAO Hoa-Kỳ tại Ðà-nẵng thì được trao trả cho Hoa-Kỳ sớm nhất tại Hồng-Kông. Còn các nhân-viên Việt đã bị họ nhồi-sọ về chủ-nghĩa của họ trong suốt thời-gian tại Quảng-Ðông, và trao trả về Việt-Nam tại ranh-giới HồngKông và Trung-cộng.

Ðề-đốc Tư-lệnh-phó HQ đã được đề-cử đích-thân đến HồngKông tiếp-nhận. Các chiến-sĩ từ Trung-cộng hồi-hương đều được đưa vào Tổng-Y-viện Cộng-Hòa điều-trị về các bệnh-trạng gây ra do các hành-động ngược-đãi trong khi bị giam-cầm trên lục-địa Trung-Hoa.

Thế là cuối cùng thì Việt-Nam Cộng-Hòa đã mất nốt nhóm đảo Nguyệt-Thiềm phía nam của cả quần-đảo Hoàng-Sa cho tới ngày hôm nay.

Các chiến-sĩ Hải-quân đào-thoát từ Hoàng-Sa, sau nhiều ngày trôi-dạt trên mặt biển, một số đã được chính các tuần-duyên-đĩnh của Hải-quân cứu vớt, một số đã được các thương-thuyền trên hải-trình Singapore HồngKông bắt gặp. Tất cả các chiến-sĩ thoát-hiểm được đưa về diều-trị tại các Tổng-y-viện Duy-Tân (Ðà-nẵng) hay Cộng-Hòa, và còn được Thủ-tướng chính-phủ, các vị Tư-lệnh Quân-đoàn, và các vị Ðô-đốc Hải-quân đến thăm hỏi và úy-lạo.

Công-cuộc chuẩn-bị tái-chiếm Hoàng-Sa

Khi phần thăm-viếng của thượng-cấp kết-thúc, thì tất cả các chiến-hạm bắt tay ngay vào việc sửa-chữa và tái tiếp tế đan-dược để chuẩn-bị tấn-kích tái-chiếm Hoàng-Sa. Một toán thợ thượng-thặng của Hải-quân công-xưởng cũng đã được điều-động từ Sàigòn ra để phụ-lực với chuyên-viên của Thủy-xưởng Ðà-nẵng. Riêng Tuần-dương-hạm HQ16, tuy không bị hư-hại nhiều trên thượng-tầng kiến-trúc, nhưng các chuyên-viên đã tháo-gỡ được đầu viên đạn đã xuyên lủng hầm máy. Viên đạn này là một loại đạn xuyên-phá và không nổ 127 ly của Tuần-dương-hạm HQ5 bị lạc. Kinh-nghiệm cho thấy là loại đầu đạn không nổ nếu trúng nước thì đạn-đạo sẽ thay đổi rất nhiều vì đầu đạn nhọn bị nước làm chuyển hướng đi rất xa. Tin này do đích thân Tư-lệnh phó Hải-quân mang đến cho tôi. Ðó là một điều không may-mắn cho Hải-đoàn đặc-nhiệm Hoàng-Sa, nhưng trong bất cứ một cuộc chiến-tranh nào, sự nhầm-lẫn về mục-tiêu, về bạn và địch, về vị-trí tác-xạ đều đã xẩy ra ít nhất là tại chiến-trường Việt-Nam. Hơn nữa trong cuộc hải-chiến này, Tuần-dương-hạm HQ5 đã tác-xạ cả trăm đại-pháo 127 ly, mà chỉ có một viên bị lạc, nên vẫn còn là điều may-mắn. Việc chiến-hạm bị trúng 1 viên đạn của bạn, cộng với việc hai khẩu hải-pháo 76 ly tự-động trên khu-trục-hạm HQ4 đã bị trở-ngại kỹ-thuật ngay từ phút đầu của cuộc chiến, là hai nhược-điểm chiến-thuật mà Hải-quân VNCH chỉ muốn phổ-biến hạn-chế vào đầu năm 1974 là thời điểm, mà nhiều sự phân-tích đáng tin cho rằng Tổng-Thống Nguyễn-văn-Thiệu đã lợi-dụng biến-cố Hoàng-Sa để tránh-né sự chỉ-trích của các phần-tử đối-lập lúc đó đang rất-mạnh.

Sau ít ngày sửa chữa, thì Tuần-dương-hạm HQ16 chỉ đủ khả-năng tự hải-hành về quân-cảng Sàigòn và được đón-tiếp trọng-thể. Khu-trục-hạm HQ4 không sửa chữa tại chỗ được hai khẩu 76 ly tư-động. Tuần-dương-hạm HQ5, sau khi tái tiếp-tế đạn và hàn vá các hư-hại đã cùng HQ6 ra khơi tìm-kiếm các nhân-viên đào-thoát khỏi vùng Hoàng-Sa. Các phi-cơ C130 đã bay lượn trong một vùng duyên-hải hạn-chế để tránh sự hiểu nhầm về hành-động khiêu-khích của Việt-Nam đối với Trung-cộng. Các phi-cơ hướng-dẫn các chiến-hạm xem xét các vật trôi trên mặt biển nhưng vẫn chưa cấp-cứu được nhân-viên nào ngoại trừ vỏ một thùng xăng dự-trữ . Tôi vẫn có mặt trên Tuần-dương-hạm HQ5 để tham-dự cuộc tìm-kiếm.

Riêng hộ-tống-hạm HQ10, vì mất liên-lạc nên tôi đã không biết được tình-trạng cuối cùng của chiến-hạm, nhưng chúng tôi vẫn còn một hy-vọng tuy mong-manh là chiến-hạm này chưa chìm hẳn và có thể trôi dạt về phía duyên-hải miền Trung trong mùa gió đông-bắc.
Với Tuần-dương-hạm HQ6 đã có mặt trong vùng và vừa hoàn-tất hộ-tống Tuần-dương-hạm HQ16 từ nửa đường Hoàng-Sa Ðà-nẵng về bến, cộng với HQ17 (Hạm-trưởng HQ Trung-Tá Trần-đình-Trụ) điều-động từ Trường-Sa tới tăng-cường đã kết-hợp với Tuần-dương-hạm HQ5 thành một Hải-đoàn đặc-nhiệm mới với nhiệm-vụ chuẩn-bị tái-chiếm Hoàng-Sa. Mặc dầu nhiều sĩ-quan thâm-niên hơn tôi có mặt tại chỗ, nhưng tôi vẫn được chỉ-định tiếp-tục chỉ-huy.

Một cuộc thao-dượt chiến-thuật và thực-tập tác-xạ đã diễn ra trong vòng một ngày tại vùng một đảo nhỏ nằm về phía bắc vùng Cù-lao Chàm phía đông-nam Ðà-nẵng. Sau cuộc thao-dượt, tôi trình bầy kết-quả việc huấn-luyện trong các buổi thuyết trình hành-quân tại Bộ-Tư-lệnh Hải-quân vùng, vẫn được Tư-lệnh-phó Hải-quân chủ-tọa.

Nhưng cuối cùng thì công-cuộc tái-chiếm Hoàng-Sa được hủy-bỏ. Tuy vẫn được tín-nhiệm để chỉ-huy, nhưng tôi tin rằng cuộc phản-kích tái-chiếm sẽ thất-bại ngoại trừ đó là một chiến-thuật thí-quân nằm trong một chiến-lược cao hơn. Với các tuần-dương-hạm cũ-kỹ (WHEC) xử-dụng trong lực-lượng phòng-vệ duyên-hải Hoa-Kỳ (US Coast guard) từ lâu, được trang-bị vào công-tác tuần-tiễu hơn là để chiến-đấu, vừa chạm-chạp và vận-chuyển nặng-nề, nên khó chống trả lại với các chiến-hạm chiến-đấu tối-tân hơn. Loại này chỉ có một hải-pháo 127 ly, còn 2 hải-pháo 40 ly đã được Hải-quân Việt-Nam đặt thêm vào lái tầu là nơi đã được dùng làm sàn đáp trực-thăng.

Trong thời-gian tại căn-cứ, Tư-lệnh-phó HQ ít nhất đã hai lần tập-hợp nhân-viên tất cả các chiến-hạm có mặt tại chỗ để chỉ-thị không được có hành-động kiêu-ngạo về chiến-tích của Hải-quân VNCH. Ðể làm gương cho tất cả nhân-viên thuộc quyền, tôi đã giữ một thái-độ rất khiêm-nhượng và im-lặng. Tôi chưa bao giờ thảo-luận hoặc trình bày chi-tiết với bất cứ một ai hay một tổ chức nào, về những yếu-tố đã đưa đến các quyết-định chiến-thuật của tôi trong trận đánh.

Tôi lưu-lại Vùng I duyên-hải chừng hơn một tuần-lễ, đã được cùng Phó Ðề Ðốc Tư-lệnh HQ vùng I Duyên-hải xuất-hiện trên đài chỉ-huy cũng của Tuần-dương-hạm HQ5 để thực-hiện một phóng-sự cho đài truyền-hình quân-đội. Sau đó tôi trở về nhiệm-sở chính tại Sàigòn. Tôi còn được đến phòng thâu-hình của quân-đội cùng các vị hạm-trưởng và một vài hạ-sĩ-quan trưởng pháo-khẩu để trình bầy các chiến-tích. Tuy nhiên tôi không đề-cập nhiều chi-tiết và nhường lời lại nhiều hơn cho các hạm-trưởng vì tôi nghĩ rằng các vị này đáng được đề-cao vì đã đích-thân huy-động tinh-thần nhân-viên và can-dảm trực-tiếp chiến-đấu.

Ít lâu sau tôi phải theo học Khóa Chỉ-huy Tham-mưu đặc-biệt tại Long-Bình, đặc-biệt vì khóa gồm nhiều các sĩ-quan đang đảm-trách những vai-trò then-chốt của quân-lực và các đại-đơn-vị. Khi Phó-Ðề-đốc Phụ-tá hành-quân biển của Tư-lệnh-Hải-quân đến thuyết trình tại trường về tổ-chức của Hải-quân Việt-Nam, thì một câu hỏi đầu-tiên của khóa-sinh là về hải-chiến Hoàng-Sa. Vị Phó Ðề-đốc đã chuyển câu hỏi này cho tôi đang ngồi trong hội-trường, quả thật vị này đã trao cho tôi một trái banh khó đỡ. Tôi đáp lại câu hỏi vỏn-vẹn ngay là: Các quí-vị đã nghiên cứu về trận đánh Ấp-Bắc, thì trận hải-chiến Hoàng-Sa cũng gần tương-tự. Sau câu trả lời của tôi thì không một câu hỏi nào về trận Hoàng-Sa được nêu ra thêm. Xin ghi thêm vào nơi này, trận Ấp-Bắc đã làm cho quân-lực bị bất ngờ về chiến-thuật của địch, có sự sai lầm về ước-tính tình-báo và nhầm-lẫn về chiến-thuật điều-quân.

Vào những năm tháng cuối cùng của cuộc-chiến Việt-Nam tôi được biệt-phái giữ chức-vụ Phụ-Tá Hải-quân cho Trung-tướng Chỉ-Huy-trưởng Trường Chỉ-huy Tham-mưu Liên-quân đồn-trú tại Long-Bình

Phần sau trận hải-chiến

Sau trận hải-chiến, Hải-quân được nhiều vinh-danh nhờ trận-chiến đã nêu cao và nối-tiếp được tinh-thần chống bắc-xâm của dân-tộc. Trận hải-chiến được liên-tục ca-ngợi hàng ngày trên các phương-tiện truyền-thông của quân-đội cũng như ngoài dân-sự để thêm vào với: Bình-long anh-dũng, Kontom kiêu-hùng v.v….

Hoàng-Trường-Sa với Việt-Nam là một

Cũng nhờ trận hải-chiến mà phần đông nhân-dân Việt-Nam mới được biết đến phần lãnh-thổ nằm xa vời trong Biển-Ðông mà Hải-quân VNCH từ ngày thành-lập đã âm-thần bảo-vệ và tuần-tiễu.

Nói về trận hải-chiến, dù Hải-quân VNCH giả thử có thắng được trận ngày đầu, thì chúng ta khó lường được sự tổn-thất nếu Hải-quân còn ở lại để cố-thủ Hoàng-Sa. Phó Ðề-Ðốc Chủ-tịch Ủy-Ban nghiên-cứu về trận hải-chiến (đích thân thăm-viếng Khu-trục-hạm HQ4, khi đang nằm trong ụ lớn sửa chữa) đã nói riêng với tôi: thế là vừa đủ. Ý của vị này nói là không nên tiếp-tục chiến-đấu thêm ít nhất là vào thời-điểm đó vì Hải-quân còn phải đảm-nhận nhiều công-tác tiễu-trừ cộng-sản trong đất liền. Ðó là chưa kể việc tấn-chiếm phần còn lại của quần-đảo Hoàng-Sa có thể đã nằm trong các đường lối đi-đêm chiến-lược của các cường-quốc.

Tôi nghĩ rằng nếu chiếc khu-trục-hạm HQ4 không bị trở-ngại kỹ-thuật và trận-chiến đã xẩy ra gần như tôi đã dự-liệu và mong-muốn, nghĩa là ta thắng trận đầu, thì cường-lực hải-lục-không quân của chúng huy-động ngày hôm sau không những đủ sức tràn ngập quân trú-phòng và lại còn đủ sức truy-kích Hải-quân VNCH trong một vùng rộng lớn hơn.

Tôi đã tin-tưởng rằng Quân-đoàn I/Quân-khu I đã phải đặt trong tình-trạng báo-động đề-phòng sự tấn-công của Trung-cộng ngay sau khi trận hải-chiến diễn ra. Một phi-tuần chiến-đấu-cơ F5 của Sư-đoàn I Không-quân tại Ðà-nẵng đã sẵn-sàng trên phi-đạo, nhưng không được lệnh cất cánh từ cấp cao để yểm-trợ cho Hải-quân vì có thể là e-ngại sẽ châm ngòi cho một cuộc chiến mới, hoặc chỉ hạn-chế trận-chiến tới mức có thể chấp-nhận được trong một thế chính-trị.

Một lần nữa, giả-dụ rằng ta cứ để Trung-cộng có mặt trên đảo Quang-Hòa, trận hải chiến đã không xẩy ra thì chúng ta vẫn có thể tiếp-tục hiện-diện trên đảo Hoàng-Sa, tuy nhiên có thể phải trải thêm quân trên các đảo Cam-Tuyền, Vĩnh-Lạc và Duy-Mộng, để tránh sự lấn-chiếm, cộng thêm là Hải-quân Việt-Nam phải thường-xuyên tuần-tiễu với một hải-đoàn tương-đối mạnh. Nhưng dần dà họ cũng sẽ lấn chiếm theo kế hoạch bành trướng thế lực của họ trong vùng Ðông Nam Á. Có thể Trung-cộng đã trả đũa hay dập theo khuôn-mẫu Việt-Nam Cộng-Hòa khi ta đã đặt quân trú-phòng trên đảo Nam-Yết và Sơn-Ca nằm phía nam và đông cùng trên một vòng-đai san-hô với đảo Thái-Bình, đã bị Trung-Hoa Dân-quốc (Ðài-Loan) chiếm-đóng từ khi Nhật-Bản thua trận đệ-nhị thế-chiến. Người Trung-Hoa dù là lục-địa hay hải-đảo, đã từng nhiều lần tuyên-bố là lãnh-thổ của họ, không những vùng này mà thôi mà cả toàn vùng Hoàng-Sa Trường-Sa. Phải thành-khẩn mà nhận rằng, khi Việt-Nam Cộng-Hòa đặt quân trú-phòng trên các đảo còn bỏ trống trong vùng Trường-Sa như Nam-Yết, Sơn-Ca, Song-Tử-đông, Song-Tử-tây, Trường-Sa v.v.., chúng ta đã không gặp một hành-động đối-kháng về quân-sự nào từ phía Trung-Hoa Dân-quốc hoặc Phi-Luạt-Tân hay Mã-Lai-Á.

Một suy-luận nữa là có thể trận hải-chiến là một cuộc điều-chỉnh sự nhường quyền chiếm-giữ từ một nhược-tiểu đến một cường-quốc theo một chiến-lược hoàn-cầu mà vài cường-quốc đã ngầm thỏa-thuận trước. Chúng ta có thể nhớ lại cuộc tấn-công hùng-hậu của Anh-quốc trong cuộc tranh-chấp đảo Falkland (Nam Mỹ-Châu) vào thập-niên 80, mà Á-căn-đình (Argentina) vẫn luôn coi như lãnh-thổ của họ. Họ đã chiến-đấu mạnh-mẽ trên mặt ngoại-giao và buộc phải chiến-đấu trên mặt quân-sự sau khi ngoại-giao thất-bại. Về mặt quân-sự, họ biết trước là khó chống lại Anh-quốc với lực-lượng khá dồi-dào, nhưng họ đã phải chiến-đấu trong khả-năng của họ, họ biết tự kiềm-chế cường-độ chiến-tranh để giảm-thiểu tổn-thất. Kết-quả là đảo Falkland đã về tay Anh-quốc. Tuy đảo Falkland rộng lớn hơn về diện-tích và nguồn-lợi cũng như dân-số, quân-lực hai đối-thủ đưa vào cuộc đụng-độ hùng-hậu hơn, mức-độ chiến-tranh nặng hơn, nhưng hai trận Falkland và Hoàng-Sa đã gần tương-tự nhau về tính-chất của một cuộc chiến.

Người Pháp, trong chiến-tranh tại Ðông-dương sau 1945, vì chiến-cuộc gia-tăng tại nội-địa, đã phải bỏ-ngỏ hoàn-toàn nhóm đảo Tuyên-đức phía bắc, và bỏ-ngỏ nhóm Nguyệt-thiềm phía nam trong vài năm. Riêng nhóm Tuyên-đức phía bắc đã do Trung-Hoa Dân-quốc cưỡng-chiếm trong ít lâu, nhưng sau đó họ đã phải rút về vì sự thất-trận của họ trong lục-địa (1949). Về sau, hiệp-định Balê 1954 lại đề ra khu phi-quân-sự dọc theo vĩ-tuyến 17, đã làm cho Việt-Nam Cộng-Hòa đã không thể tích-cực hiện-diện tại nhóm Tuyên-Ðức bắc đảo Hoàng-Sa thuộc nhóm Nguyệt-thiềm.

Xét về sự phòng-thủ, so sánh với đảo Thái-Bình trong vùng Trường-Sa thì thế bố-trí trên đảo Hoàng-Sa của VNCH đã thua kém rất xa, và không thể đủ sức để cố-thủ chống lại một cuộc cường-kích thủy-bộ. Trên đảo không có công-sự nặng, chỉ có khỏang một trung-đội địa-phương-quân với vũ-khí cá-nhân và một vài quan-sát viên khí-tượng. Trong khi đó Ðảo Thái-Bình, khi Nhật chiếm-đóng trong đệ-nhị thế-chiến, họ đã xây-cất nhiều công-sự nặng. Sau này khi Trung-Hoa dân-quốc (Ðài-Loan) chiếm-đóng, chắc-chắn họ đã tăng-cường mọi cơ-cấu phòng-thủ, lại có trang-bị các khẩu đại-pháo chống chiến-hạm, đưa quân-số trú-phòng có thể tới cấp hơn tiểu-đoàn và do một vị Ðại-tá Thủy-quân lục-chiến chỉ-huy.

Ngoài ra việc tuyên-bố chủ-quyền của Trung-cộng trên cả hai quần-đảo Hoàng-Sa và Trường-Sa được nhận-xét chỉ diễn ra sau cuộc thăm-viếng Trung-cộng của Ngoại-trưởng Hoa-Kỳ Kissinger. Ít nhất là Hoa-Kỳ và Trung-cộng đã ngầm có nhiều thỏa-thuận về chiến-lược hay ít nhất cũng đồng-ý là Hoa-kỳ sẽ không can-thiệp vào các hành-động của Trung-cộng trong vùng.

Ðối với Việt-Nam Cộng-Hòa, Hoa-Kỳ đã không muốn can-dự vào sự bảo-vệ lãnh-thổ. Trong ngày hải-chiến thì các đối-tác-viên tại Bộ-Tổng-Tham-mưu đã khẳng-định đó là công chuyện riêng của Việt-Nam .

Quan-niệm của Hoa-Kỳ trong việc mở-rộng lưc-lượng Hải-quân chỉ là vừa đủ để hành-quân yểm-trợ hỏa-lực và ngăn-chặn trong vùng sông-ngòi và duyên-hải mà thôi. Công-cuộc xây-cất một hệ-thống thám-báo liên-tục từ Bến-Hải đến Vịnh Thái-lan là một công-tác cao, cả về kỹ-thuật lẫn tài-chánh, với mục-tiêu duy-nhất là kiểm-soát hữu-hiệu sự xâm-nhập lén-lút bằng đường-biển của cộng-sản Bắc-Việt vào vùng duyên-hải. Việc viện-trợ hai chiếc khu-trục-hạm, vì là loại tấn-công, nên sau 1973 họ đã nhiều lần đòi tháo gỡ máy dò tiềm-thủy-đĩnh như đã trình-bầy, làm như vậy là sẽ giảm khả-năng của loại này một nửa.

Vũ-khí tấn-công trên mặt biển và trên không của khu-trục-hạm là hai dàn hải-pháo 76 ly tự-động với nhịp tác-xạ khỏang 60 viên một phút. Với hỏa-lực tấn-công mạnh-mẽ như vậy, Hải-quân Hoa-Kỳ, vào những năm cuối của cuộc chiến, song-song với kế-hoạch rút lui, đã không bỏ sót cơ-hội cắt đứt hay ít nhất cũng trì-hoãn việc tiếp-tế cơ-phận thay-thế cho loại hải-pháo tối-tân này.

Sau trận hải-chiến, để nêu gương hy-sinh của các chiến-sĩ bỏ mình trên đại-dương, Bộ-Tư-lệnh HQ đã có nghiên-cứu một kiến-trúc dự-định xin phép Ðô-thành Saigòn Chợ-lớn xây cất trong khu-vực cột-cờ Thủ-Ngữ bên sông Sàigòn. Riêng Hội-đồng Ðô-thành đã đồng-ý trên nguyên-tắc là sẽ có một đường-phố mang tên Ngụy-văn-Thà. Một buổi lễ kỷ-niệm lần thứ nhất trận hải-chiến Hoàng-Sa đã được tổ-chức vào ngày 19 tháng giêng năm 1975 do Tư-lệnh Hải-quân, Ðề-Ðốc Lâm-ngươn-Tánh chủ-tọa, nhưng tôi đã không được thông-báo để đến tham-dự.

Hàng năm cứ mỗi Tết nguyên-đán đến, dù vào tháng giêng hay không, tôi luôn luôn có ít phút tưởng-niệm dành cho các liệt-sĩ đã hy-sinh và cũng tưởng nhớ tới chiến-sĩ đã anh-dũng cùng tôi chiến-đấu trong trận-hải-chiến Hoàng-Sa, mà số đông đang lưu-lạc trong vùng đất tự-do. Họ là những anh-hùng đã xả-thân để bảo-vệ lãnh-thổ của tiền-nhân xây-dựng từ bao thế-kỷ. Mong rằng tài-liệu này sẽ mang lại niềm hãnh-diện cho toàn-thể các chiến-sĩ Hải-quân đã tham-dự trận đánh mà tôi đã có vinh-dự chỉ-huy.

Dallas, Texas , mùa Xuân Kỷ-Mão

Hà Văn Ngạc

nguồn

Posted in Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa | 4 Comments »

Người của chính quyền xã và huyện Tiên Lãnh thu hoạch thủy sản trong đầm của Đoàn Văn Vươn và Đoàn văn Quý

Posted by hoangtran204 trên 17/01/2012

Ở trong miền Nam, mấy năm trước, cũng có một vụ ngân hàng đòi tịch thu đất của nông dân Trần Trường. Đại khái là Trần Trường mượn tiền ngân hàng mua đất làm hồ nuôi cá và nuôi tôm. Khi chưa đến hạn trả nợ, nhưng ngân hàng theo chỉ đạo của ‘ai đó” và đã bán đất của Trần Trường mà ông ta không biết gì cả.  Cuộc cải vả như sau

Video

Thuỷ sản tại đầm của Đoàn Văn Vươn bị vơ vét?

– 40,3ha đầm nuôi trồng thủy sản bị cưỡng chế của Đoàn Văn Vươn đang bị một nhóm người lạ sử dụng các phương tiện đánh bắt bằng điện vơ vét hải sản trong nhiều ngày qua.

Phản ánh với VietNamNet, chị Phạm Thị Hiền (SN 1982, vợ của Đoàn Văn Quý) và chị Nguyễn Thị Thương (SN 1963, vợ của Đoàn Văn Vươn) cho biết, nhiều ngày nay, rất nhiều người lạ mặt đã sử dụng các phương tiện đánh bắt bằng điện như kích điện, te điện… thu hoạch số thủy hải sản mà gia đình các chị đầu tư, nuôi thả từ đầu năm 2011.Theo chị Hiền, diện tích 19,3ha nằm trong diện bị cưỡng chế ngày 05/1/2012 và 21ha không thuộc diện cưỡng chế đã được chính quyền huyện Tiên Lãng bàn giao cho chính quyền xã.

Hiện tại, một chiếc đầm của Vươn và Quý đã bị rút nước để bắt thủy sản, chỉ trơ lại đáy đầm khô cạn.

Nhiều người dân tại đây cũng cho biết, người tiếp nhận diện tích đầm này là các ông K., H., C. cư trú tại các xã Vinh Quang, Tiến Hưng và Bắc Hưng (huyện Tiên Lãng).

Tuy nhiên, điều đáng nói, những chủ đầm mới này đã cho người sử dụng các phương tiện đánh bắt thủy sản bằng điện (kích điện, te điện…) để thu hoạch những vật nuôi trồng mà gia đình Đoàn Văn Vươn, Đoàn Văn Quý chăn thả.

Tất cả những giống nuôi này, theo kế hoạch của Vươn, Quý sẽ được khai thác vào cuối năm 2011, thời điểm cận Tết.

Theo đó, tổng số tiền mà Vươn, Quý mua con giống lên tới 400 triệu đồng, bao gồm giống cá vược (5.000 con); tôm sú; cá trắm (7.000 con); cua giống ở đầm trong do Đoàn Văn Quý thả 3.000 con giống; khu vực đầm ngoài, Đoàn Văn Vươn thả hàng vạn cua giống.

Tất cả các loại thủy sản kể trên được thả nuôi vào khoảng tháng 2/2011. Thời điểm được khai thác rơi vào tháng 12/2011. Tuy nhiên, Vươn, Quý chưa kịp khai thác thì xảy ra sự việc cưỡng chế như đã biết.

Theo lời chị Hiền: giá thành của 1kg tôm sú loại ba hoa (ba con tôm được 1 lạng) dao động từ 200 – 250 ngàn đồng/kg; loại năm hoa (hai con được 1 lạng) giá lên tới 450 ngàn đồng/kg.

Giá cua vào thời điểm cuối năm lên tới 600 – 700 ngàn đồng/kg.

Cá trắm nuôi trong đầm thời điểm hiện tại đã đạt trọng lượng 3kg/con; cá vược đạt trọng lượng trên dưới 1kg/con.

Dùng kích điện, te điện để khai thác tận diệt thủy sản trong đầm vừa bị cưỡng chế.

Ngoài ra, đầm còn có rất nhiều tôm lược, tôm giảo (tôm có trong tự nhiên) và tép. Những năm trước, kể từ khi huyện Tiên Lãng ban hành quyết định thu hồi đầm kèm theo thông báo các hộ không được đầu tư, nguồn thủy sản tự nhiên (tôm lược, tôm giảo và tép…) là nguồn thu chính của các chủ đầm.

Có thời điểm, một ngày gia đình chị Hiền bắt được cả tạ tôm giảo, vài chục kg tép. Giá một kg tép bán ra ngoài thị trường là 90.000 đồng/kg.

Với con số đầu tư chăn thả các giống vật nuôi kể trên, sản lượng thủy sản đến tuổi đánh bắt hiện có trong 40,3ha đầm của Vươn, Quý lên tới hàng chục tấn. Tính theo giá thị trường, số tiền thu được từ việc khai thác những loại vật nuôi này lên đến nhiều tỷ đồng.

Chị Hiền xót xa: “Chưa bao giờ chúng em sử dụng phương tiện đánh bắt bằng điện để khai thác thủy sản trong đầm, vì như thế là hủy diệt môi trường, hủy diệt trứng của các loại thủy sản trong tự nhiên. Em chỉ lo, mai này mà được trả lại đầm, chắc chẳng còn loài nào sống sót, vì nó đã bị kích điện, te điện diệt hết cả từ khi còn trong trứng nước!”.

Hiện tại, một chiếc đầm của Vươn và Quý đã bị rút nước để bắt thủy sản, chỉ trơ lại đáy đầm khô cạn. Mỗi ngày, hàng chục nhân công dùng kích điện, te điện chà xát khu vực đầm.

Số thủy sản đánh bắt được được cân ngay trong ngày, có người vào tận đầm để mua.

Đầm cống Rộc, đầm xóm Vam… tại xã Vinh Quang nằm ở cửa sông Thái Bình. Do đó, các đầm tại vị trí này có nguồn lợi thủy sản rất phong phú cũng như rất thuận lợi để nuôi trồng. Rất nhiều hộ nông dân đã thoát nghèo khi chuyển sang mô hình nuôi trồng thuỷ sản tại đây.

Ông Vũ Văn Luân, Thư ký Liên chi hội nuôi trồng thủy sản nước lợ huyện Tiên Lãng, trực thuộc Thành hội Nghề cá Hải Phòng cũng là một chủ đầm nuôi trồng thuỷ sản tại xã Vinh Quang xác nhận: việc đánh bắt, khai thác thủy sản tại đầm của Đoàn Văn Vươn, Đoàn Văn Quý đã được nhóm người này tiến hành trong nhiều ngày qua, sau khi việc cưỡng chế thu hồi hoàn thành.

Nhiều người dân xã Vinh Quang cũng khẳng định: từ sau ngày 5/1/2012, chính quyền xã Vinh Quang đã cử lực lượng canh giữ không cho người lạ vào khu vực đầm của Đoàn Văn Vươn, Đoàn Văn Quý.

Như thế, việc khai thác tận diệt này diễn ra dưới sự chứng kiến của nhiều người, và đều là những người có nhiệm vụ thực thi pháp luật.

Sáng 16/01/2012, chúng tôi đã cố gắng liên lạc với ông Lê Văn Hiền, chủ tịch UBND huyện Tiên Lãng để xác minh sự việc, nhưng ông Hiền không trả lời.

Trao đổi với báo chí trước đó, Chánh Văn phòng UBND huyện Tiên Lãng, ông Ngô Ngọc Khánh thông tin: Diện tích đầm bãi bị thu hồi sẽ được tổ chức cho những người có nhu cầu thuê đấu thầu. Tuy nhiên, với diện tích đầm bãi của Đoàn Văn Vươn, Đoàn Văn Quý lại không được đấu thầu.

Chị Phạm Thị Hiền – vợ của Đoàn Văn Quý.

Chị Hiền cho biết, các chị sẽ làm đơn phản ánh việc nhiều người sử dụng phương tiện đánh bắt theo kiểu tận diệt để khai thác hải sản nuôi thả trong đầm của gia đình.

“Đó là tài sản của chúng tôi. Huyện cưỡng chế để thu lại đầm chứ không có nghĩa là thu cả những vật nuôi thả mà chúng tôi chưa kịp khai thác” – chị Hiền nói.

Với diện tích 21ha đầm bị cưỡng chế “quá tay”, được biết, Đoàn Văn Vươn đã có đơn khiếu nại quyết định thu hồi này (QĐ 460) nhưng UBND huyện Tiên Lãng chưa giải quyết, và cũng chưa có quyết định thu hồi.

Như thế, theo quy định của pháp luật, đối với diện tích đang xảy ra tranh chấp, khiếu kiện, chính quyền có trách nhiệm giữ nguyên hiện trạng. Tuy nhiên, ở đây thì không!

Kiên Trung

__________________________________________

báo Tuổi Trẻ

Thứ Ba, 17/01/2012, 06:37 (GMT+7)

Chánh án vừa học cấp III vừa học đại học?

TT – Thời gian gần đây, nhiều cán bộ công chức và cán bộ hưu trí tỉnh Đồng Tháp liên tục gửi đơn tố cáo ông Nguyễn Thanh Ngọc (48 tuổi, chánh án TAND huyện Tam Nông) sử dụng bằng cấp giả. Họ đề nghị TAND tỉnh Đồng Tháp xác minh xem bằng tốt nghiệp THPT hay bằng đại học giả để xử lý theo quy định của pháp luật.

Theo ông Huỳnh Nam Sơn – trưởng phòng tổ chức cán bộ TAND tỉnh Đồng Tháp, hiện ông Ngọc đã có giải trình. Cụ thể bằng tốt nghiệp THPT (hệ bổ túc) của ông Ngọc có được sau khi thi tại hội đồng thi Trường Quân sự Quân khu 7, kỳ thi ngày 4-6-2004. Còn bằng tốt nghiệp ĐH Luật Hà Nội (hệ tại chức) ngành pháp luật kinh tế và luật quốc dân loại trung bình cũng tốt nghiệp năm 2004, cấp bằng ngày 30-3-2005.

Tuy nhiên chiều 16-1, trao đổi với Tuổi Trẻ, đại diện khoa đào tạo tại chức ĐH Luật Hà Nội xác nhận nếu ông Nguyễn Thanh Ngọc giải trình được cấp bằng tốt nghiệp ĐH Luật Hà Nội (hệ tại chức) ngành pháp luật kinh tế và luật quốc dân loại trung bình năm 2004 thì chắc chắn bằng ĐH luật của ông Ngọc là bằng giả.

Theo TS Lê Văn Long – trưởng khoa tại chức, văn bằng hệ tại chức của ĐH Luật Hà Nội không có sự phân chia chuyên ngành mà chỉ là bằng tốt nghiệp ĐH luật nói chung. Hiện TAND tỉnh Đồng Tháp đang tiến hành làm rõ vụ việc.

THANH TÚ – NGỌC HÀ

Posted in Cướp Đất Đai, Cướp đất và chiếm đoạt tài sản của dân | Leave a Comment »

Vợ ông Đoàn Văn Vươn (Tiên Lãng, Hải Phòng) cho biết: Gia đình tôi năm nay không có Tết!

Posted by hoangtran204 trên 17/01/2012

 

Thụy My
tienlang2.jpg

Lực lượng cưỡng chế rà mìn trên lối vào khu đầm của ông Đoàn Văn Vươn. thanhnien.com.vn/PHS

Gần đây dư luận hết sức xôn xao về vụ chính quyền huyện Tiên Lãng, Hải Phòng huy động một lực lượng đông đảo công an và quân đội cưỡng chế khu đầm đã cho gia đình ông Đoàn Văn Vươn thuê từ năm 1993, và đã bị phản kháng bằng mìn tự tạo và súng hoa cải, làm cho bốn công an và hai bộ đội bị thương. Công an Hải Phòng đã khởi tố vụ án « giết người và chống người thi hành công vụ ».

Đây là lần đầu tiên người dân dám đứng lên đương đầu một cách mạnh mẽ như thế với lực lượng cưỡng chế thu hồi đất. Vụ này đang gây nhiều tranh luận, đặt lại các vấn đề quan trọng từ Luật đất đai cho đến Hiến pháp, mà hiện nay một số chính quyền địa phương cấp huyện, xã đang tùy tiện ứng xử với quyền hành quá lớn trong tay, gây oan ức cho nhiều người nông dân bị mất đất.

Riêng vụ ông Đoàn Văn Vươn ở Cống Rộc, xã Vinh Quang, huyện Tiên Lãng, Hải Phòng, thật ra ban đầu huyện chỉ giao 21 hecta đất bãi bồi ven biển. Sau đó với kiến thức của một kỹ sư nông nghiệp và với quyết tâm, ông đã lấn ra biển thêm được 19,3 hecta, rồi được hợp thức hóa bằng cách giao đất bổ sung. Không chỉ đổ mồ hôi nước mắt, tiền bạc vay mượn, ông Vươn còn bị mất đi một đứa con và một người cháu tại đây. Thế nhưng chưa hết thời hạn hợp đồng, chủ tịch huyện đã ra quyết định cưỡng chế để giao lại cho người khác mà không hề bồi thường, và ngôi nhà của người em là Đoàn Văn Quý – người đã nổ súng vào lực lượng cưỡng chế – dù không nằm trong phần đất bị thu hồi cũng đã bị san bằng. Hiện ông Vươn, ông Quý đang bị giam giữ và bị truy tố, cùng với hai người khác trong gia đình.

Trả lời phỏng vấn của chúng tôi, bà Nguyễn Thị Thương, vợ ông Đoàn Văn Vươn đã bày tỏ sự bức xúc.

RFI: Kính chào bà Thương. Thưa bà, tình hình gia đình hiện giờ như thế nào?

Hiện tại gia đình em lúc này thật sự là khó khăn, bởi vì hai chị em em và các cháu không có chỗ ở, vẫn đang ở nhờ nhà thím vì nhà cửa người ta đã phá nát và đốt hết rồi ạ.

RFI: Bà có tin tức gì của ông Vươn không?

Đến bây giờ gia đình em hiện có bốn người ở trong trại giam Trần Phú nhưng mà không liên lạc được, và cũng không biết tin tức như thế nào, bởi vì họ không cho gặp.

RFI: Còn sự việc hôm đó diễn ra như thế nào thưa bà?

Gia đình em nhận được cái quyết định cưỡng chế, và gia đình em đã nỗ lực làm đơn, đi kêu gọi tất cả các ban ngành từ cấp trung ương đến cấp địa phương nhưng đều không được trả lời. Và đến ngày 5/1 là cái ngày định mệnh đã xảy ra, do nhà em bức bách quá và cũng là bộc phát thôi. Chúng em từ trước đến giờ vẫn là người làm ăn chân chính, không có tiền án tiền sự và cũng không có một cái gì gọi là vướng mắc đối với bà con chung quanh cả.

Bởi vì nhà em làm cái đầm này rất là vất vả. Từ trước đến giờ đổ không biết bao nhiêu là mồ hôi, xương máu và cả con người nữa. Cả con cả cháu em đều mất ở cái đầm này, và cũng trả giá rất là nhiều. Đến bây giờ thì nhà em đã vay mượn, sau gần chục năm thì mới hoàn thiện được cái đầm, và đến bây giờ đã bắt đầu được thu hoa lợi để trả công trả nợ. Năm năm nay thì nhà em cũng trả nợ được hai phần ba rồi, nhưng hiện tại vẫn còn nợ khoảng hơn ba tỉ nữa.

Huyện đã cưỡng chế và không bồi thường cho gia đình em một thứ gì cả, mà quyết định thu trắng! Cũng vì bức xúc, nên gia đình em nghĩ là, dù gì cũng chết. Nếu như mà huyện không cho mình con đường sống, thì không biết mình sống thế nào. Cũng vì bị ép, dồn tới chân tường mà gia đình em đã làm những việc như thế này.

Hôm ấy thì chị em em cái vùng cưỡng chế thì người ta đã khoanh vùng, chúng em không xuống được nhà mình. Tối hôm ấy chúng em đã di dời hết toàn bộ phụ nữ và trẻ em vào trong làng để ở nhờ. Ngay sau đó thì cánh đàn ông nhà em chắc là họ không cam tâm, nên là họ không chịu di dời.

Bảy rưỡi đoàn cưỡng chế sẽ bắt đầu xuống, nhưng mà chưa đến sáu giờ thì họ đã đưa đoàn cưỡng chế xuống đầm nhà em rồi. Khi chúng em chạy lên đê nhìn xuống thì khoảng một lúc sau, khi mà cuộc chạm súng đã xảy ra thì khoảng tầm mười một giờ, họ đã bắt mấy chị em em, và cả anh trai lớn của em ở ngay trên đê.

Cũng không biết là họ bắt vì lý do gì, mà bây giờ họ cứ ghép cho chúng em cái tội là chồng em biết thì chúng em cũng phải biết. Và họ cứ quy trách nhiệm cho chúng em là tham gia vào mưu đồ chống lại người thi hành công vụ. Nhưng thật ra chúng em chỉ là phụ nữ, không biết cái gì cả, mà có chuyện gì thì cánh đàn ông nhà em cũng không cho phụ nữ và trẻ em biết. Cho nên chúng em cũng không được biết bất cứ một cái thông tin gì, chỉ thấy xót xa, đứng trên đê để nhìn xuống thôi, mà họ cũng bắt ! Và ngay cháu đang học lớp 11 cũng bị bắt.

Khi họ bắt chúng em thì họ đối xử rất là tàn tệ. Họ dùng dùi cui điện và gậy sắt họ đánh rất là đau. Và khi lên chỗ công an thành phố thì họ cũng lấy lời khai và cũng đánh. Đánh đến nỗi mà mình không nhận rồi cũng phải nhận, không có cũng phải nhận, đến lúc nhận họ mới thôi. Họ lấy dùi cui họ thúc vào bụng em rất là đau, lúc ấy là em không đi được nữa và cũng không nói được cái gì nữa. Em nghĩ lúc ấy nếu em mà có thai thì chắc là sẽ không giữ nổi, vì họ đánh rất đau.

Đến bây giờ em được tại ngoại rồi nhưng vẫn phải dùng thuốc, và mọi người cứ động viên em đi khám bệnh, nhưng mà bây giờ bọn em cả sức khỏe lẫn tinh thần đều bị tổn thương và chỉ ở nhà thôi, chẳng đi đâu cả.

RFI: Còn tài sản của gia đình ở trong nhà cũng bị mất mát phải không thưa bà?

Vâng ạ. Bởi vì chúng em không nghĩ là chính quyền của cái huyện Tiên Lãng này lại ra tay độc ác đến như vậy! Chúng em nghĩ cái quyết định cưỡng chế này thì cũng không đến mức nào, vì cái quyết định ấy rất là sai trái và họ sẽ không làm. Vì vậy mà bọn em vẫn tin là sẽ quay lại đầm nhà em và tiếp quản tiếp. Thế nên bọn em không có di dời bất cứ một cái tài sản gì cả.

Sau cái buổi chiều hôm ấy, khi mà gia đình em đã vừa bị bắt vừa di tản hết, thì họ đã cho ngay lực lượng khác xuống để tiếp quản đầm nhà em. Và toàn bộ những ngôi nhà, những trang trại mà em xây dựng trên đất của gia đình em, thì họ phá hủy nốt hết. Cả những bàn thờ – bàn thờ gia tiên, bàn thờ Thiên Chúa đều bị họ phá hủy hết. Ảnh của gia đình em thì trôi nổi trên sông, những người dân đi biển họ còn vớt họ mang về cho gia đình em.

RFI: Hàng xóm chung quanh có thái độ như thế nào, có giúp đỡ được gì không?

Hiện tại nhà em đang sống nhờ nhà thím ở đông Tiên Lãng – em út nhà em. Bà con hàng xóm, anh em họ hàng và bạn bè nữa, cũng giúp đỡ bọn em rất là nhiều. Trong những lúc khó khăn như thế này, người thì quyên tiền, người gạo thóc rồi quần áo…Họ rất là quan tâm, đồng tình ủng hộ.

Việc nhà em làm là trái pháp luật, nhưng tại sao gia đình em biết là sai mà vẫn làm, và nhà em xác định rằng có thể là mình phải trả giá, có thể mình cũng phải đổi mạng sống của mình nhưng vẫn phải làm…Tất cả tài sản của gia đình em nó như thế, mà bây giờ công nợ vẫn còn rất nhiều. Nếu gia đình em không làm thế thì chắc chắn là họ sẽ cướp trắng của gia đình em. Không chỉ gia đình em mà còn rất nhiều những hộ dân nuôi trồng thủy sản ở huyện Tiên Lãng này nữa.

RFI: Hồi ông Vươn quyết định đầu tư cải tạo cái đầm này có lẽ rất nhiều khó khăn, bản thân bà chắc cũng lo lắng?

Dạ, rất nhiều nỗi lo, vì anh ấy quyết định ra đấy làm là ra chỗ đầu sóng ngọn gió. Cũng rất nhiều người gàn nhưng mà anh ấy nói là anh ấy sẽ làm được, và cuối cùng đúng là anh đã làm được. Và khi mà nhà em làm được cái đầm ấy thì bà con ở cái xứ này cũng bớt khổ. Họ bảo là trước đây khi mà mỗi mùa nước to lên, nước lũ đấy ạ, là tất cả bà con dân làng đều phải sơ tán hết. Đến bây giờ nhà em đã đắp cái đầm ấy lên thì họ nói họ rất là cám ơn. Sau cái vụ đụng độ vừa rồi, họ còn nói nếu sau này anh Vươn có chết ở tại cái đầm này thì chúng tôi sẽ làm miếu thờ anh ấy ở đây.

… Sau cái đợt đấy em thấy anh ấy quyết tâm như vậy thì em cũng rất là ủng hộ. Không những bản thân em là vợ, mà tất cả những người thân, họ hàng đều ủng hộ anh ấy. Nhưng mà bao nhiêu cái cố gắng, nỗ lực của anh với của cả gia đình em, đến bây giờ không được ghi công mà người ta lại có mưu đồ cướp trắng.

Người ta bảo gia đình em không có công lao gì, hết hạn thì họ lấy mà không bồi thường một cái gì. Trong khi đó mình lật từ mặt đất mà đi…Ngày xưa cái hòn đất sáng nhà em đắp lên thì tối nó đã xóa mất bởi vì sóng nó to như thế. Bây giờ họ phủ nhận hết công lao của anh ấy, họ ra cái quyết định cưỡng chế, thu trắng không bồi thường. Em nghĩ là không chỉ gia đình em mà bất kỳ ai cũng sẽ có phản kháng như vậy.

RFI: Từ hôm đó đến giờ báo chí có tiếp xúc với bà chưa, và bà có biết được dư luận xung quanh vụ này không?

Từ khi xảy ra vụ việc thì nhà em được báo chí truyền thông rồi các cơ quan ban ngành đều hướng về gia đình nhà em. Họ động viên và tìm mọi cách để giải cứu, rồi những lời kêu gọi…và bây giờ có những hội luật sư đã đề nghị về bào chữa miễn phí cho nhà em trong vùng này. Nên bước đầu em cũng thấy được an ủi rất là nhiều, vì mọi người đã không quay lưng lại với gia đình nhà em.

RFI: Có các luật sư cũng đã bức xúc lên tiếng về việc hủy hoại tài sản của gia đình bà, như vậy gia đình có định khởi kiện không?

Dạ có ạ. Cái đấy chắc chắn sẽ có bởi vì em nghĩ là họ làm sai thì họ phải chịu trách nhiệm. Mới đầu họ chỉ ghi trong văn bản là cưỡng chế 19,3 hecta, trong khi đấy gia đình em tổng là 40,3 hecta, còn lại 21 hecta vẫn thuộc quyền của gia đình em. Ngôi nhà kiên cố mà em xây trên đấy vẫn nằm trong diện tích 21 hecta, mà họ đã phá hủy hoàn toàn. Không những phá hủy mà còn đốt…Em nghĩ rất là đau lòng như thế, thì tất nhiên là chúng em sẽ khởi kiện.

RFI: Chính quyền địa phương có tiếp xúc với gia đình không, và bà có về được khu nhà cũ không ?

Cách đây hai hôm em có ra để anh em hiệp vào, bà con có đề nghị ra dựng lại cho em cái lều để mẹ con em ăn Tết, và cũng thu lợi từ những gì còn lại ở cái mảnh đầm đấy để sống qua ngày và lo mọi việc cho các anh em, chồng con ở trong nhà lao.

Thế nhưng mà khi bọn em xuống thì có một số công an viên của xã và cả một số xã hội đen nữa, họ không cho chúng em xuống. Họ cứ trả lời tất cả bây giờ là phải xuống ủy ban nhân dân xã để giải quyết, và xin chữ ký.

Thế thì em cầm đơn xuống ủy ban đề nghị là cho anh em bạn bè chúng tôi xuống giúp đỡ để dựng lại cho chị em tôi và các cháu một cái lều để sống qua ngày và được đón Tết ở cái mảnh đất nhà tôi. Thế nhưng họ nói là đây không thuộc trách nhiệm của họ, để họ còn hỏi ý kiến cấp trên. Tức là ông em là chủ tịch xã còn hỏi anh ông ấy là chủ tịch huyện xem là sẽ giải quyết thế nào.

Và em chỉ hỏi một câu, thế bây giờ chính quyền có công nhận 21 hecta đấy vẫn còn thuộc quyền sở hữu của chúng tôi hay không. Thì ông chủ tịch có nói: huyện chỉ giao cho xã 19,3 hecta, còn lại 21 hecta thì tôi nghĩ là vẫn thuộc quyền sở hữu của gia đình.

Thế nhưng mà trong khi đấy em đề nghị là được xuống mảnh đất của nhà mình còn lại, nhưng họ vẫn không đồng ý. Thì em cũng không hiểu lý do gì ạ. Em đã làm đơn tố giác lên cả Phòng tiếp dân của Văn phòng Chính phủ. Chưa biết Nhà nước Việt Nam sẽ giải quyết như thế nào, để tìm lại sự công bằng cho chúng em. Đến bây giờ chúng em còn đang rất là hoang mang.

RFI: Bây giờ sắp Tết rồi thì gia đình có chuẩn bị được gì chưa ạ?

Bọn em nghĩ là bây giờ thì bọn em với cháu chắc chắn sẽ không bao giờ có Tết năm nay nữa ạ ! Tại vì nhiều việc nó lu bu, em không biết như thế nào nữa. Bây giờ chỉ cầu mong là mọi người được sức khỏe, đừng có việc gì xảy ra nữa. Còn tất cả những việc khác là còn chờ sự phân giải của Nhà nước, không biết là họ có tìm lại sự công bằng cho gia đình em hay không.

RFI: RFI Việt ngữ xin rất cảm ơn bà Nguyễn Thị Thương đã vui lòng trả lời phỏng vấn của chúng tôi hôm nay.

Posted in Cướp Đất Đai, Cướp đất và chiếm đoạt tài sản của dân | Leave a Comment »

Vài câu hỏi về vụ Đoàn Văn Vươn

Posted by hoangtran204 trên 16/01/2012

Vụ tịch thu đất ở huyện Tiên Lãnh, tỉnh Hải Phòng cho ta thấy rõ sự yếu kém về khả năng đọc hiểu các văn bản hành chánh của chính quyền cấp huyện và xã. Một học sinh lớp 9 cũng có thể nhận ra được hợp đồng 20 năm, ký kết tháng 7/ 1993, thì phải đến tháng 7/2013 mới hết hạn hợp đồng.  Không những thế, chính quyền cấp tỉnh cũng quá yếu kém về khả năng đọc hiểu, họ đã không phát hiện ra những sai lầm cơ bản này.

Điều đáng chú ý là: 19,3 mẫu đất do anh Đoàn Văn Vươn và gia đình -tự bỏ tiền ra mua 20 ngàn mét khối đất đá, đổ lấn ra biển, trồng cây, đắp đê để tạo thành hồ nuôi trồng thuỷ sản-sau đó đã được chính quyền huyện coi là đất thuộc quyền sở hữu của huyện, và ký hợp đồng cho anh Vươn thuê lại từ năm 1997! Thật là một chính quyền ngang ngược chưa từng có. Qua chuyện đất đai này, ta hiểu rõ câu ” đất đai thuộc quyền sở hữu của toàn dân” thực chất chỉ là: đất đai thuộc quyền sở hữu của nhà nước, mà chính quyền (quận, huyện) là đại diện; chính quyền huyện là chủ đất (thực sự), còn người nông dân như  anh Đoàn Văn Vươn là người đi mướn đất, là tá điền.

Năm 1951-1955 là thời gian Cải Cách Ruộng Đất ngoài miền Bắc. Chính quyền cộng sản của Hồ Chí Minh, Trường Chinh, (Lê Duẫn, Phạm Văn Đồng…) đã đấu tố, giết các chủ đất, và tịch thu toàn bộ ruộng đất của họ, và đem chia lại cho các thành phần nông dân không có đất. Nhưng chỉ vài 3 năm sau là toàn bộ số đất ấy được đưa vào hợp tác xã. Đàng sau các hợp tác xã là nhân vật có quyền lực cao nhất, chủ tịch xã và  xã ủy (hay đảng ủy cấp xã). Chủ quyền đất đai từ tư nhân nay chuyển thành thuộc quốc doanh. Kể từ đó, đảng / nhà nước trở thành chủ đất đai và họ muốn ban bố đất đai cho ai thì người đó hưởng.   Và họ gọi chính quyền làm được chuyện ấy là chính quyền cách mạng, chính quyền vô sản, chính quyền XHCN. Thực chất chỉ có vậy.

Trong bài dưới đây ta thấy các tổ chức như  công an, bộ đội làm nhiệm vụ như  những tay sai của chủ đất là chính quyền huyện.

Vài câu hỏi về vụ Đoàn Văn Vươn

Nguyễn Quang A

Năm 2012 mở đầu bằng một vụ cưỡng chế thu hồi đất tai họa. Tại cống Rộc, xã Vinh Quang, huyện Tiên Lãng, Hải Phòng, bốn công an và hai bộ đội tham gia thi hành cưỡng chế thu hồi đất ngày 5-1-2012 đã bị mìn tự tạo và súng săn của những người bị thu hồi đất làm trọng thương. Ngày 7-1-2012 Cơ quan cảnh sát điều tra Hải Phòng đã khởi tố vụ án “giết người và chống người thi hành công vụ”.

Đây là một vụ hết sức nghiêm trọng, sẽ đi vào lịch sử tư pháp Việt Nam và chắc chắn sẽ gây nhiều tranh cãi và tác động sâu sắc đến luật đất đai sắp tới.

Bài này chỉ  nêu ra vài câu hỏi dựa trên những thông tin do báo chí  cung cấp để góp phần vào cuộc tranh luận đó nhằm tránh những sự cố đáng tiếc như vụ cưỡng chế thu hồi đất này.

 

Trước khi nêu ra các câu hỏi đó, cần tóm tắt các sự kiện do báo chí đưa cho đến 13-1-2012.

Theo đó, anh Đoàn Văn Vươn, một người lính, một kỹ sư nông lâm, khi ra quân năm 1986, đã trở về địa phương lấn biển, trồng cây, đắp đê để tạo thành hồ nuôi trồng thuỷ sản. Nhiều năm trời, Đoàn Văn Vươn cùng anh em họ hàng đã vật lộn với biển, bão tố và quần quật lao động đưa hơn 20.000 m3 đất, đá về để lấn, cải tạo biển thành đầm nuôi tôm. Anh đã mất đứa con gái yêu 8 tuổi chính tại nơi đây.

Trong cuộc họp báo ngày 12-1-2012 của Ủy Ban Nhân Dân thành phố  Hải Phòng, ông Lê Văn Hiền chủ tịch UBND huyện Tiên Lãng cho biết: năm 1993, huyện chỉ giao 21 ha đất bãi bồi ven biển cho ông Vươn, sau đó ông Vươn lấn ra biển thêm 19,3 ha phía ngoài, rồi đề nghị hợp thức hóa, được huyện ra quyết định giao đất bổ sung.

Như thế  tổng cộng huyện đã giao cho anh Vươn 40,3 ha.

Theo ông Bùi Quang Sản, Giám đốc Sở TN&MT TP Hải Phòng, huyện Tiên Lãng giao 21ha đất bãi bồi cho ông Vươn vào ngày 4-10-1993 trước khi Luật Đất đai 1993 có hiệu lực (15-10-1993) và theo ông là căn cứ vào Luật Đất đai năm 1987. Còn khu đầm 19,3 ha của ông Vươn được UBND huyện Tiên Lãng ra quyết định giao đất vào năm 1997. 

Theo Người Lao Động, hết thời hạn, UBND huyện ra quyết định thu hồi khu đầm này. Sau đó, các hộ dân đã khởi kiện ra TAND huyện Tiên Lãng yêu cầu hủy quyết định thu hồi diện tích đầm trên. Tháng 11-2009, TAND huyện mở phiên sơ thẩm, bác đơn khởi kiện của các hộ dân.

Các hộ  dân này đã kháng cáo lên TAND TP Hải Phòng. Trong quá  trình thụ lý vụ  án, ngày 9-4-2010, thẩm phán Ngô  Văn Anh đã lập “biên bản tạo  điều kiện cho các đương sự  tự thỏa thuận với nhau về  việc giải quyết vụ án”  có đóng dấu của TAND TP Hải Phòng. Theo biên bản này, ông Đoàn Văn Vươn sẽ rút  đơn kiện, còn UBND huyện Tiên Lãng đồng ý cho ông Vươn và  các hộ dân tiếp tục thuê  lại đầm. Tuy nhiên, vừa qua, UBND ra quyết  định thu hồi đất của  ông Vươn và tổ chức cưỡng chế  vào ngày 5-1.” 

Ông chủ tịch huyện Tiên Lãng thừa nhận “ngôi nhà bị phá sập nằm trong phần diện tích đầm chưa bị cưỡng chế nhưng là nơi chủ đầm tấn công lực lượng cưỡng chế”. Nói cách khác các lực lượng cưỡng chế đã tiến vào khu vực không bị cưỡng chế, và việc nổ mìn, bắn súng đã xảy ra trên phần đất đó, chứ hoàn toàn không phải trên phần đất của anh Vươn mà chính quyền muốn cưỡng chế.

Vấn  đề mấu chốt ở đây là phải rạch ròi giữa  đất công (do nhà nước hay một cộng đồng sở  hữu) và đất tư (do các cá nhân hay các tổ  chức của họ sở hữu).

Theo luật tự nhiên, đất hoang được ai khai phá là đất của người ấy. Người dân có thể sở hữu  đất bằng cách khai khẩn đất vô chủ, mua hay nhận chuyển nhượng đất đã có chủ (từ  các chủ trước mà có thể nhà nước, cộng đồng hay các cá nhân khác). Theo luật tự nhiên, đầm do người dân lấn biển để nuôi trồng thủy sản ở xã Vinh Quang, Tiên Lãng phải thuộc sở hữu của họ.

Nói như  thế không có nghĩa là các cá nhân có  thể xâm phạm đất đã có chủ (dù  là của nhà nước hay của các chủ khác); khi họ khai khẩn đất được cho là đất hoang (nếu không có chủ sở hữu nào khác chứng minh đất đó thuộc sở hữu của mình) thì nhà nước phải thừa nhận đất hoang được họ khai khẩn là đất của họ. Đất do nhà nước sở hữu cũng phải có hồ sơ quyền sở hữu như của cá nhân và cộng đồng, thí dụ đất của phủ chủ tịch cũng phải có hồ sơ (sổ đỏ) giao cho một cơ quan đại diện chủ sở hữu nhà nước nhất định (Văn phòng chủ tịch nước chẳng hạn) và phải được lưu trữ trong hồ sơ của cơ quan quản lý đất đai giống như đất thuộc sở hữu khác.

Đáng tiếc từ các năm 1980 đến nay nhà nước Việt Nam quy định “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý” ngược với luật tự nhiên mà luật pháp của hầu hết các nước (kể cả Việt Nam trước kia) đều chấp nhận (tức là thừa nhận sở hữu tư nhân về đất và có sự phân định rạch ròi giữa đất công và đất tư). Đấy là điểm mấu chốt (bên cạnh việc nới rộng hạn điền để khuyến khích tích tụ ruộng đất) mà luật đất đai (sửa đổi hay mới) phải nên đưa vào.

Dưới đây, chúng ta bám theo các luật đất đai hiện hành, bất chấp sự thiếu sót nghiêm trọng nêu trên mà luật đất đai mới phải sửa đổi, để nêu ra vài câu hỏi.

1.     Rành rành chủ tịch huyện Tiên Lãng đã vi phạm các luật đất đai hiện hành: huyện không được phép giao diện tích đất lớn như vậy theo bất cứ luật đất đai hiện hành nào. Hạn mức đất nêu trong các luật đó quá nhỏ không phù hợp với và cản trở sự phát triển của sản xuất và hiện đại hóa. Luật đã lạc hậu và tất cả các cơ quan nhà nước đều đã ngầm cho phép vượt rào về hạn mức. Và sự vi phạm này của các cơ quan nhà nước lại đáng hoan nghênh và lỗi hoàn toàn thuộc về Quốc Hội do đã chần chừ trong việc bãi bỏ hay nới rộng hạn mức.

2.     Rành rành chủ tịch huyện Tiên Lãng đã vi phạm quy định về thời hạn giao đất: theo Điều 20 Luật Đất Đai 1993 và Điều 67 của Luật Đất Đai 2003, thời hạn giao đất để nuôi trồng thủy sản là 20 năm, chứ không hơn, không kém.

3.     Và theo quy định của luật thì thời hạn của 21 ha phải đến 2014 mới hết 20 năm (không thể vin vào lý do giao đất 11 ngày trước khi Luật 1993 có hiệu lực vì khi đó chủ tịch huyện còn phạm tội cố ý lách luật do Luật này được ban hành ngày 14-7-1993 và có hiệu lực vào ngày 15-10-1993 và 11 ngày sau cũng phải hiệu chỉnh thời hạn); và thời hạn của 19,3 ha đất được giao năm 1997 phải đến 2018 mới hết hạn. Đó là chưa nói đến diện tích hồ do người dân lấn biển tạo ra mà thực chất phải thuộc quyền sở hữu của người khai phá có được coi là đất hay không, có thuộc phạm vi quy định của các luật đất đai hay không. Hơn nữa, chỉ được thu hồi đất theo Điều 26 và 27 của Luật đó (hay Điều 39 của Luật Đất Đai 2003) mà rõ ràng theo các điều này thì không thể thu hồi như quyết định của chủ tịch huyện Tiên Lãng.

Dựa vào thông tin diễn biến và 3 điểm nêu trên có thể  nêu ra vài cấu hỏi như sau:

4.     Tại sao không xử lý chủ tịch huyện Tiên Lãng về những sự vi phạm pháp luật rành rành nêu ở điểm 2 và 3 kể trên trong suốt thời gian rất dài? Tại sao những kẻ lộng hành và thiếu hiểu biết về pháp luật lại được đưa vào các chức vụ quan trọng như vậy? Các nhà chức trách của thành phố Hải Phòng và trung ương tại sao đã không xử lý?

5.     Tại sao chủ tịch UBND huyện Tiên Lãng lại muốn thu hồi hơn 40 ha của anh Vươn để chia nhỏ rồi giao cho những người khác? Vì việc chia nhỏ không phù hợp với sự phát triển của kinh doanh nuôi trồng, phá hoại sản xuất. Và những người khác này là ai? Liệu có sự cấu kết giữa ông anh chủ tịch UBND huyện và ông em chủ tịch UBND xã? Việc thu hồi không đền bù là sự cướp đoạt tài sản một cách trắng trợn và trái luật và ông chủ tịch UBND huyện Tiên Lãng có phạm tội lạm quyền?

6.     Liệu quyết định thu hồi đất của chủ tịch huyện Tiên Lãng là trái luật? (Theo các thông tin nêu ở các điểm 2 đến 3 kể trên, thì quyết định thu hồi đất là hoàn toàn trái luật và việc người dân kiện chính quyền và việc tòa yêu cầu 2 bên hòa giải là minh chứng rõ ràng về sự vi phạm luật đó của chính quyền; chúng ta không bàn ở đây về chuyện “hòa giải” và biên bản hòa giải của tòa án, cũng như hành xử của chính quyền sau đó).

7.     Nếu quyết định thu hồi đất là trái luật, thì việc cưỡng chế thu hồi đất là trái luật và trong trường hợp đó những người tham gia cưỡng chế có thể được coi là “những người thi hành công vụ” hay không? Việc lực lượng cưỡng chế tiến vào đất không bị cưỡng chế đã minh chứng rõ ràng về việc làm sai trái của họ và như thế khó có thể gọi họ là những người “thi hành công vụ” mà phải gọi là “những kẻ lạm hành công vụ”. Và nếu như vậy thì quyết định khởi tố vụ án “chống người thi hành công vụ” liệu có trái luật hay là sự lạm quyền?

8.     Tại sao bộ đội lại tham gia? Nếu bộ đội công binh được huy động để gỡ mìn chỉ sau khi mìn đã nổ thì còn có thể hiểu được. Nếu bộ đội được huy động để tham gia cưỡng chế từ đầu, thì không thể chấp nhận được; quân đội không được phép làm việc đó; sứ mạng của quân đội là chống ngoại xâm chứ không được tham gia giải quyết tranh chấp dân sự; trong trường hợp này phải đưa người đã lệnh cho bộ đội tham gia cưỡng chế ra trước tòa án binh. Bộ Quốc phòng phải làm rõ các vấn đề này để nhân dân được biết và nếu sai (tức là bộ đội được huy động từ đầu) thì phải xử lý nghiêm những kẻ vi phạm để bảo vệ uy tín của quân đội.

9.     Tại sao những người cưỡng chế lại mang vũ khí tiến vào khu nhà 2 tầng của anh Đào Văn Quý mà khu vực đó không phải là khu vực bị chính quyền thu hồi? Hành động đó có vi phạm chủ quyền của chủ nhà và các quyền công dân khác? Theo tôi là có, và vì thế họ không được coi là những người thi hành công vụ và hành động chống trả phải được xem là phòng vệ chính đáng.

Theo tôi, nguyên nhân chính của vụ đáng tiếc xảy ra ngày 5-1-2012 tại cống Rộc, Quang Vinh, Tiên Lãng, Hải Phòng là những sự vi phạm luật liên tiếp của chủ tịch huyện Tiên Lãng như nêu ở trên và trong các câu hỏi ở các điểm 4-7 và điểm 9 ở trên, cũng như sự vi phạm luật của chính quyền trong việc ra quyết định cưỡng chế và tổ chức cưỡng chế. Những người lộng hành và vi phạm luật như ông chủ tịch huyện phải bị trừng trị. Chính sự lộng quyền, sự vi phạm pháp luật trắng trợn của người đứng đầu huyện Tiên Lãng đã đẩy gia đình anh Vươn vào bước đường cùng.

Và khi xem xét hành động đáng tiếc của anh Đào Văn Quý (người đã bắn) phải lưu ý đến bối cảnh ấy.

10.Theo điểm 7 và 9 nêu trên, liệu hành động chống trả của anh Đào Văn Quý có phải là hành vi “phòng vệ chính đáng” hoặc hành vi “vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng” theo Điều 15 của Bộ Luật Hình sự?

11.Tại sao Hội Nông Dân và Hội cựu chiến binh không can thiệp để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các hội viên của mình trong suốt thời gian tranh chấp cũng như sau khi vụ việc đã xảy ra? Hay tổ chức xã hội dân sự nào có thể giúp những người cựu chiến binh và nông dân bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình trước sự lộng hành của các quan chức địa phương?

Để trả lời cho các câu hỏi trên không thể giao cho chính quyền Hải Phòng xem xét, như việc Bộ Tài nguyên môi trường giao cho sở Tài nguyên môi trường làm rõ, mà các cơ quan trung ương phải nhanh chóng vào cuộc.

Và có  thể còn phải đặt ra nhiều câu hỏi khác, thí  dụ vai trò và trách nhiệm của Quốc Hội  đến đâu?

Vụ đáng tiếc ở Tiên Lãng ngày 5-1-2012 là vụ hết sức nghiêm trọng. Chúng ta chờ xem Quốc Hội, Chính phủ và các cơ quan tư pháp hành xử ra sao. Nếu dung túng các quan chức địa phương, không nghiêm trị các hành vi phạm pháp luật của họ, nếu xử không công bằng đối với những người vừa bị bắt, thì hậu quả có thể rất khó lường.

N.Q.A

Vài câu hỏi về vụ Đoàn Văn Vươn 

Nguyễn Quang A 

Năm 2012 mở đầu bằng một vụ cưỡng chế thu hồi đất tai họa. Tại cống Rộc, xã Vinh Quang, huyện Tiên Lãng, Hải Phòng, bốn công an và hai bộ đội tham gia thi hành cưỡng chế thu hồi đất ngày 5-1-2012 đã bị mìn tự tạo và súng săn của những người bị thu hồi đất làm trọng thương. Ngày 7-1-2012 Cơ quan cảnh sát điều tra Hải Phòng đã khởi tố vụ án “giết người và chống người thi hành công vụ”.

Đây là một vụ hết sức nghiêm trọng, sẽ đi vào lịch sử tư pháp Việt Nam và chắc chắn sẽ gây nhiều tranh cãi và tác động sâu sắc đến luật đất đai sắp tới.

Bài này chỉ  nêu ra vài câu hỏi dựa trên những thông tin do báo chí  cung cấp để góp phần vào cuộc tranh luận đó nhằm tránh những sự cố đáng tiếc như vụ cưỡng chế thu hồi đất này.

Trước khi nêu ra các câu hỏi đó, cần tóm tắt các sự kiện do báo chí đưa cho đến 13-1-2012.

Theo đó, anh Đoàn Văn Vươn, một người lính, một kỹ sư nông lâm, khi ra quân năm 1986, đã trở về địa phương lấn biển, trồng cây, đắp đê để tạo thành hồ nuôi trồng thuỷ sản. Nhiều năm trời, Đoàn Văn Vươn cùng anh em họ hàng đã vật lộn với biển, bão tố và quần quật lao động đưa hơn 20.000 m3 đất, đá về để lấn, cải tạo biển thành đầm nuôi tôm. Anh đã mất đứa con gái yêu 8 tuổi chính tại nơi đây.

Trong cuộc họp báo ngày 12-1-2012 của Ủy Ban Nhân Dân thành phố  Hải Phòng, ông Lê Văn Hiền chủ tịch UBND huyện Tiên Lãng cho biết: năm 1993, huyện chỉ giao 21 ha đất bãi bồi ven biển cho ông Vươn, sau đó ông Vươn lấn ra biển thêm 19,3 ha phía ngoài, rồi đề nghị hợp thức hóa, được huyện ra quyết định giao đất bổ sung.

Như thế  tổng cộng huyện đã giao cho anh Vươn 40,3 ha.

Theo ông Bùi Quang Sản, Giám đốc Sở TN&MT TP Hải Phòng, huyện Tiên Lãng giao 21ha đất bãi bồi cho ông Vươn vào ngày 4-10-1993 trước khi Luật Đất đai 1993 có hiệu lực (15-10-1993) và theo ông là căn cứ vào Luật Đất đai năm 1987. Còn khu đầm 19,3 ha của ông Vươn được UBND huyện Tiên Lãng ra quyết định giao đất vào năm 1997. 

Theo Người Lao Động, hết thời hạn, UBND huyện ra quyết định thu hồi khu đầm này. Sau đó, các hộ dân đã khởi kiện ra TAND huyện Tiên Lãng yêu cầu hủy quyết định thu hồi diện tích đầm trên. Tháng 11-2009, TAND huyện mở phiên sơ thẩm, bác đơn khởi kiện của các hộ dân.

Các hộ  dân này đã kháng cáo lên TAND TP Hải Phòng. Trong quá  trình thụ lý vụ  án, ngày 9-4-2010, thẩm phán Ngô  Văn Anh đã lập “biên bản tạo  điều kiện cho các đương sự  tự thỏa thuận với nhau về  việc giải quyết vụ án”  có đóng dấu của TAND TP Hải Phòng. Theo biên bản này, ông Đoàn Văn Vươn sẽ rút  đơn kiện, còn UBND huyện Tiên Lãng đồng ý cho ông Vươn và  các hộ dân tiếp tục thuê  lại đầm. Tuy nhiên, vừa qua, UBND ra quyết  định thu hồi đất của  ông Vươn và tổ chức cưỡng chế  vào ngày 5-1.” 

Ông chủ tịch huyện Tiên Lãng thừa nhận “ngôi nhà bị phá sập nằm trong phần diện tích đầm chưa bị cưỡng chế nhưng là nơi chủ đầm tấn công lực lượng cưỡng chế”. Nói cách khác các lực lượng cưỡng chế đã tiến vào khu vực không bị cưỡng chế, và việc nổ mìn, bắn súng đã xảy ra trên phần đất đó, chứ hoàn toàn không phải trên phần đất của anh Vươn mà chính quyền muốn cưỡng chế.

Vấn  đề mấu chốt ở đây là phải rạch ròi giữa  đất công (do nhà nước hay một cộng đồng sở  hữu) và đất tư (do các cá nhân hay các tổ  chức của họ sở hữu).

Theo luật tự nhiên, đất hoang được ai khai phá là đất của người ấy. Người dân có thể sở hữu  đất bằng cách khai khẩn đất vô chủ, mua hay nhận chuyển nhượng đất đã có chủ (từ  các chủ trước mà có thể nhà nước, cộng đồng hay các cá nhân khác). Theo luật tự nhiên, đầm do người dân lấn biển để nuôi trồng thủy sản ở xã Vinh Quang, Tiên Lãng phải thuộc sở hữu của họ.

Nói như  thế không có nghĩa là các cá nhân có  thể xâm phạm đất đã có chủ (dù  là của nhà nước hay của các chủ khác); khi họ khai khẩn đất được cho là đất hoang (nếu không có chủ sở hữu nào khác chứng minh đất đó thuộc sở hữu của mình) thì nhà nước phải thừa nhận đất hoang được họ khai khẩn là đất của họ. Đất do nhà nước sở hữu cũng phải có hồ sơ quyền sở hữu như của cá nhân và cộng đồng, thí dụ đất của phủ chủ tịch cũng phải có hồ sơ (sổ đỏ) giao cho một cơ quan đại diện chủ sở hữu nhà nước nhất định (Văn phòng chủ tịch nước chẳng hạn) và phải được lưu trữ trong hồ sơ của cơ quan quản lý đất đai giống như đất thuộc sở hữu khác.

Đáng tiếc từ các năm 1980 đến nay nhà nước Việt Nam quy định “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý” ngược với luật tự nhiên mà luật pháp của hầu hết các nước (kể cả Việt Nam trước kia) đều chấp nhận (tức là thừa nhận sở hữu tư nhân về đất và có sự phân định rạch ròi giữa đất công và đất tư). Đấy là điểm mấu chốt (bên cạnh việc nới rộng hạn điền để khuyến khích tích tụ ruộng đất) mà luật đất đai (sửa đổi hay mới) phải nên đưa vào.

Dưới đây, chúng ta bám theo các luật đất đai hiện hành, bất chấp sự thiếu sót nghiêm trọng nêu trên mà luật đất đai mới phải sửa đổi, để nêu ra vài câu hỏi.

1.     Rành rành chủ tịch huyện Tiên Lãng đã vi phạm các luật đất đai hiện hành: huyện không được phép giao diện tích đất lớn như vậy theo bất cứ luật đất đai hiện hành nào. Hạn mức đất nêu trong các luật đó quá nhỏ không phù hợp với và cản trở sự phát triển của sản xuất và hiện đại hóa. Luật đã lạc hậu và tất cả các cơ quan nhà nước đều đã ngầm cho phép vượt rào về hạn mức. Và sự vi phạm này của các cơ quan nhà nước lại đáng hoan nghênh và lỗi hoàn toàn thuộc về Quốc Hội do đã chần chừ trong việc bãi bỏ hay nới rộng hạn mức.

2.     Rành rành chủ tịch huyện Tiên Lãng đã vi phạm quy định về thời hạn giao đất: theo Điều 20 Luật Đất Đai 1993 và Điều 67 của Luật Đất Đai 2003, thời hạn giao đất để nuôi trồng thủy sản là 20 năm, chứ không hơn, không kém.

3.     Và theo quy định của luật thì thời hạn của 21 ha phải đến 2014 mới hết 20 năm (không thể vin vào lý do giao đất 11 ngày trước khi Luật 1993 có hiệu lực vì khi đó chủ tịch huyện còn phạm tội cố ý lách luật do Luật này được ban hành ngày 14-7-1993 và có hiệu lực vào ngày 15-10-1993 và 11 ngày sau cũng phải hiệu chỉnh thời hạn); và thời hạn của 19,3 ha đất được giao năm 1997 phải đến 2018 mới hết hạn. Đó là chưa nói đến diện tích hồ do người dân lấn biển tạo ra mà thực chất phải thuộc quyền sở hữu của người khai phá có được coi là đất hay không, có thuộc phạm vi quy định của các luật đất đai hay không. Hơn nữa, chỉ được thu hồi đất theo Điều 26 và 27 của Luật đó (hay Điều 39 của Luật Đất Đai 2003) mà rõ ràng theo các điều này thì không thể thu hồi như quyết định của chủ tịch huyện Tiên Lãng.

Dựa vào thông tin diễn biến và 3 điểm nêu trên có thể  nêu ra vài cấu hỏi như sau:

4.     Tại sao không xử lý chủ tịch huyện Tiên Lãng về những sự vi phạm pháp luật rành rành nêu ở điểm 2 và 3 kể trên trong suốt thời gian rất dài? Tại sao những kẻ lộng hành và thiếu hiểu biết về pháp luật lại được đưa vào các chức vụ quan trọng như vậy? Các nhà chức trách của thành phố Hải Phòng và trung ương tại sao đã không xử lý?

5.     Tại sao chủ tịch UBND huyện Tiên Lãng lại muốn thu hồi hơn 40 ha của anh Vươn để chia nhỏ rồi giao cho những người khác? Vì việc chia nhỏ không phù hợp với sự phát triển của kinh doanh nuôi trồng, phá hoại sản xuất. Và những người khác này là ai? Liệu có sự cấu kết giữa ông anh chủ tịch UBND huyện và ông em chủ tịch UBND xã? Việc thu hồi không đền bù là sự cướp đoạt tài sản một cách trắng trợn và trái luật và ông chủ tịch UBND huyện Tiên Lãng có phạm tội lạm quyền?

6.     Liệu quyết định thu hồi đất của chủ tịch huyện Tiên Lãng là trái luật? (Theo các thông tin nêu ở các điểm 2 đến 3 kể trên, thì quyết định thu hồi đất là hoàn toàn trái luật và việc người dân kiện chính quyền và việc tòa yêu cầu 2 bên hòa giải là minh chứng rõ ràng về sự vi phạm luật đó của chính quyền; chúng ta không bàn ở đây về chuyện “hòa giải” và biên bản hòa giải của tòa án, cũng như hành xử của chính quyền sau đó).

7.     Nếu quyết định thu hồi đất là trái luật, thì việc cưỡng chế thu hồi đất là trái luật và trong trường hợp đó những người tham gia cưỡng chế có thể được coi là “những người thi hành công vụ” hay không? Việc lực lượng cưỡng chế tiến vào đất không bị cưỡng chế đã minh chứng rõ ràng về việc làm sai trái của họ và như thế khó có thể gọi họ là những người “thi hành công vụ” mà phải gọi là “những kẻ lạm hành công vụ”. Và nếu như vậy thì quyết định khởi tố vụ án “chống người thi hành công vụ” liệu có trái luật hay là sự lạm quyền?

8.     Tại sao bộ đội lại tham gia? Nếu bộ đội công binh được huy động để gỡ mìn chỉ sau khi mìn đã nổ thì còn có thể hiểu được. Nếu bộ đội được huy động để tham gia cưỡng chế từ đầu, thì không thể chấp nhận được; quân đội không được phép làm việc đó; sứ mạng của quân đội là chống ngoại xâm chứ không được tham gia giải quyết tranh chấp dân sự; trong trường hợp này phải đưa người đã lệnh cho bộ đội tham gia cưỡng chế ra trước tòa án binh. Bộ Quốc phòng phải làm rõ các vấn đề này để nhân dân được biết và nếu sai (tức là bộ đội được huy động từ đầu) thì phải xử lý nghiêm những kẻ vi phạm để bảo vệ uy tín của quân đội.

9.     Tại sao những người cưỡng chế lại mang vũ khí tiến vào khu nhà 2 tầng của anh Đào Văn Quý mà khu vực đó không phải là khu vực bị chính quyền thu hồi? Hành động đó có vi phạm chủ quyền của chủ nhà và các quyền công dân khác? Theo tôi là có, và vì thế họ không được coi là những người thi hành công vụ và hành động chống trả phải được xem là phòng vệ chính đáng.

Theo tôi, nguyên nhân chính của vụ đáng tiếc xảy ra ngày 5-1-2012 tại cống Rộc, Quang Vinh, Tiên Lãng, Hải Phòng là những sự vi phạm luật liên tiếp của chủ tịch huyện Tiên Lãng như nêu ở trên và trong các câu hỏi ở các điểm 4-7 và điểm 9 ở trên, cũng như sự vi phạm luật của chính quyền trong việc ra quyết định cưỡng chế và tổ chức cưỡng chế. Những người lộng hành và vi phạm luật như ông chủ tịch huyện phải bị trừng trị. Chính sự lộng quyền, sự vi phạm pháp luật trắng trợn của người đứng đầu huyện Tiên Lãng đã đẩy gia đình anh Vươn vào bước đường cùng.

Và khi xem xét hành động đáng tiếc của anh Đào Văn Quý (người đã bắn) phải lưu ý đến bối cảnh ấy.

10.Theo điểm 7 và 9 nêu trên, liệu hành động chống trả của anh Đào Văn Quý có phải là hành vi “phòng vệ chính đáng” hoặc hành vi “vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng” theo Điều 15 của Bộ Luật Hình sự?

11.Tại sao Hội Nông Dân và Hội cựu chiến binh không can thiệp để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các hội viên của mình trong suốt thời gian tranh chấp cũng như sau khi vụ việc đã xảy ra? Hay tổ chức xã hội dân sự nào có thể giúp những người cựu chiến binh và nông dân bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình trước sự lộng hành của các quan chức địa phương?

Để trả lời cho các câu hỏi trên không thể giao cho chính quyền Hải Phòng xem xét, như việc Bộ Tài nguyên môi trường giao cho sở Tài nguyên môi trường làm rõ, mà các cơ quan trung ương phải nhanh chóng vào cuộc.

Và có  thể còn phải đặt ra nhiều câu hỏi khác, thí  dụ vai trò và trách nhiệm của Quốc Hội  đến đâu?

Vụ đáng tiếc ở Tiên Lãng ngày 5-1-2012 là vụ hết sức nghiêm trọng. Chúng ta chờ xem Quốc Hội, Chính phủ và các cơ quan tư pháp hành xử ra sao. Nếu dung túng các quan chức địa phương, không nghiêm trị các hành vi phạm pháp luật của họ, nếu xử không công bằng đối với những người vừa bị bắt, thì hậu quả có thể rất khó lường.

 

nguồn

Posted in Cướp Đất Đai | Leave a Comment »

Những tiếng gọi bạn thống thiết dưới màn sương

Posted by hoangtran204 trên 15/01/2012

Trong buổi sáng âm u của vùng sơn cước, tôi cầm ô đứng dưới làn mưa bụi dày đặc nhìn vào bên trong khu trại qua hàng rào sắt. Đằng xa bác Phan Trọng Khang cùng Ngô Duy Quyền đầu trần đang lững thững trong mưa đi bộ đến bên tôi. Cả ba chúng tôi đứng yên lặng bên nhau, cùng nhìn đau đáu vào bên trong, hy vọng dẫu chỉ một lần, được nhìn thấy Bùi Hằng từ xa. Chỉ sau dăm phút, nhác trông thấy ba bóng người đi qua khu nhà để xe, tôi và bác Khang căng mắt nhìn, đoán già đoán non không biết đó có phải là Bùi Hằng không. Rồi Quyền chợt kêu lên thảng thốt:

– Chị Bùi Hằng kia rồi!
Không biết có đúng hay không, nhưng tôi cũng bắt đầu kêu lên theo, tim như muốn nhảy ra khỏi lồng ngực:

– Hằng ơi! Hằng ơi! Hằng ơi! Phượng đây! Bác Khang đây! Quyền đây! Hằng ơi!…

Cả bác Khang và Quyền cũng kêu lên gọi Bùi Hằng. Tôi thấy Bùi Hằng dừng lại, cúi xuống nhìn ra ngoài đường qua những tán cây. Cô ấy giơ cả hai tay lên. Chúng tôi gọi liên tục, không biết nói gì, chỉ gọi mỗi tên cô ấy. Mọi người đang đứng từ xa, thấy chúng tôi gọi tên Bùi Hằng liền tất tưởi chạy đến, nhưng họ đã đưa Bùi Hằng đi khuất vào bên trong rồi. Những người không được nhìn thấy Bùi Hằng đều vô cùng nuối tiếc, nhưng rồi lại tự an ủi rằng sẽ lại được nhìn thấy cô ấy khi trở ra.

Tôi không nhớ mình có khóc hay không, nhưng bác Khang nói thấy những giọt nước mắt trên mi tôi. Chỉ biết rằng giây phút được nhìn thấy Bùi Hằng dẫu có cách xa hàng trăm mét và bị ngăn cách bởi hàng rào sắt và những rặng cây, nhưng cũng đủ khiến cho tôi xúc động biết chừng nào. Trời Tam Đảo vẫn mù mịt sương giăng, chúng tôi hết đứng lại ngồi, đếm từng giọt thời gian trôi. Hơn 11 giờ, đoán chừng sắp hết giờ thăm nuôi, tất cả chúng tôi lại kéo nhau ra đứng bên hàng rào sắt ngóng đợi. Thấp thoáng thấy bóng người đi ra từ khu nhà thăm nuôi, chúng tôi bắt đầu lấy hết sức gọi thật to:

– Hằng ơi! Chị Hằng ơi! Cô Hằng ơi! Bác Trai đây, chị Hiền đây, T30 đây, Phương đây…

Những tiếng kêu, tiếng gọi như vỡ òa ra trong niềm sung sướng, sau ngần ấy ngày đằng đẵng cách biệt. Dường như Bùi Hằng dùng dằng không muốn đi tiếp, cứ cố nán lại và cúi xuống nhìn ra ngoài. Thế là họ không cho Bùi Hằng đi qua khu nhà xe nữa mà bắt lộn trở lại. Dẫu không nhìn thấy bóng dáng cô ấy nữa, nhưng chúng tôi vẫn không ngừng gọi tên cô ấy. Lân Thắng lấy hết sức gào to:

– Chị Hằng giữ gìn sức khỏe nhé.

– Ừ!

Cô ấy trả lời đấy! Mọi người sung sướng bảo nhau.

Trong mỗi trái tim bạn bè đều thổn thức một niềm thương cảm khôn nguôi với người bạn đang bị giam hãm bên trong hàng rào sắt kia. Những cánh hoa đào đem đến cho Bùi Hằng bị trả lại dường như cũng héo úa. Trên chặng đường về, tôi mới có thời gian để nhớ lại giây phút khi nhìn thấy bóng dáng Bùi Hằng. Lúc này mới có thời gian để cho nước mắt rơi. Bùi Nhân nói thấy mẹ đang khóc khi bước vào nhà thăm nuôi. Có lẽ cũng như chúng tôi, sau ngần ấy ngày bị giam cầm, mới được nhìn thấy nhau, làm sao không khỏi rơi nước mắt? Tôi đoán đêm nay trong trại giam (chúng tôi gọi cái cơ sở giáo dục đó là trại giam), hẳn nước mắt Bùi Hằng vẫn chưa ngừng rơi.

Có lẽ trong lịch sử của cái trại giam này chưa từng có một cuộc thăm nuôi nào xúc động đến thế. Liệu những tiếng gọi bạn thống thiết qua hàng rào sắt kia có lay động được chút tình thương yêu đồng loại nào, trong tâm hồn những con người đang cai quản ở cái trại giam này hay không? Tôi gạt nước mắt nghĩ: ác gì mà ác thế? Chỉ có nhìn nhau thôi mà cũng không cho người ta nhìn nhau. Ác gì mà ác thế không biết!

Posted in Công An, Trại Tù | Leave a Comment »

Clinton: Hoa Kỳ sẵn sàng phục hồi mối quan hệ ngoại giao với Myanmar

Posted by hoangtran204 trên 15/01/2012

Miến Điện có chung đường biên giới dài 2185 km với Trung Quốc và chịu ảnh hưởng về chính trị và kinh tế của Đại Hán kể từ mấy chục năm qua. Khi Miến Điện đàn áp dân chúng (và từ chối thừa nhận các kết quả cuộc bầu cử Quốc hội Nhân dân năm 1990 của chế độ quân sự), Mỹ và Âu châu đã cấm vận Miến Điện từ 1988. Trung Quốc nhảy vào giúp đỡ chế độ độc tài quân phiệt Miến và lợi dụng sự lệ thuộc về kinh tế và quân sự của Miến Điện, TQ đã dời cột mốt biên giới giữa hai nước, cắm cột mốc mới tiến sâu vào trong lãnh thổ Miến Điện, và xua dân Trung Quốc tràn qua các thành thị và biên giới Miến điện để thành lập các khu phố Tàu, xây dựng nhiều trường học chợ búa.

Lấy lý do là để bảo đảm an toàn cho chính phủ quân phiệt, Trung Quốc đã cung cấp tài chánh và cố vấn cho chính phủ Miến Điện để xây dựng thủ đô mới ở sâu trong nội địa, cách thủ đô cũ Ngưỡng Quãng chừng vài trăm km. (Đáng ngạc nhiên và trùng hợp là sau đó Việt Nam cũng đã đưa ra kế hoạch mở rộng Hà Nội cách đây hai năm.)

Đầu tháng 2/2011, Quốc hội Miến Điện bầu cựu Thủ tướng Thein Sein trở thành Tổng thống dân sự; cuối năm 2011, đã có cuộc bầu cử 2/3 các dân biểu Quốc Hội, và lần đầu tiên dân chúng Miến Điện được đi bầu (kể từ lần bầu phiếu tự do sau cùng vào năm 1990). Cuộc bầu cử Quốc hội 2011 bị dân chúng và các nhiều tổ chức đối lập tẩy chay, nhưng cuộc bầu cử 1/3 dân biểu quốc hội vào tháng 4/ 2012 sẽ là lần đâu tiên có sự tham dự của Liên Đoàn Quốc Gia vì Dân Chủ do bà Aung San Suu Kyi  lãnh đạo.

Mời các bạn đọc thêm ở đây về Miến Điện.

Clinton: Hoa  Kỳ sẵn sàng phục hồi mối quan hệ ngoại giao với Myanmar

Bộ trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ bà Hillary Clinton nói hôm thứ Sáu ngày 13 tháng Một là Hoa Kỳ sẵn sàng để bắt đầu tiến trình trao đổi đại sứ với Myanmar cùng lúc Hoa Kỳ khuyến khích chính phủ dân sự mới của Myanmar có nhiều cải cách hơn nữa.

“Đây là một ngày trọng yếu cho người dân Burma đủ mọi tầng lớp,” bà Clinton nói khi tuyên bố quyết định nâng cấp mối quan hệ giữa hai nước theo sau quyết định thả tự do cho tối thiểu là 200 tù nhân chính trị của chính quyền Myanmar hôm thứ Sáu.

Trước đó, tổng thống Obama lên tiếng cho rằng quyết định thả tù nhân chính trị của nhà nước độc tài này là “một bước có gía trị và quan trọng hướng về cải cách dân chủ.”

Nilar Thein, một người hoạt động trong Nhóm Sinh viên Thế hệ 88 chào các bạn đồng nghiệp của mình ở phi trường Yangoon sau khi được thả ra khỏi nhà tù Theyet ở Myanmar. Chị là một trong hằng trăm tù nhân chính trị được thả tự do hôm thứ Sáu tuần rồi. Nguồn hình: AP


Sự việc xảy ra ngay sau khi ông Obama quyết định gởi bà Hillary Clinton đi Myanmar hôm tháng Mười Hai năm rồi như là phương cách làm sâu đậm sự cam kết hợp tác và tìm kiếm phương cách nhằm khuyến khích những dấu hiệu cởi mở của chính phủ mới ở Myanmar.

Lãnh tụ đảng Cộng hòa ở Thượng viện Hoa Kỳ ông Mitch McConnell, đơn vị tiểu bang Kentucky cũng sẽ viếng thăm Myanmar vào tuần tới.

Hoa Kỳ cho rằng thả tù nhân chính trị là một điều kiện quan trọng cho sự hợp tác sâu đậm hơn và cũng có khả năng giúp cho cấm vận chính trị và kinh tế được bãi bỏ.

Tổng thống Hoa Kỳ ông Obama nói là ông khen ngợi quyết định của tổng thống Myanmar ông Thein Sein, ông Obama cũng nhắc là người lãnh đạo phe đối lập ở Myanmar bà Aung San Suu Kyi cũng đã chào mừng những bước tiến bộ hướng về cải cách.

© DCVOnline.net

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

Làm thiện nguyện viên ở Cô nhi Viện Bùi Chu cũng bị theo dõi

Posted by hoangtran204 trên 15/01/2012

Mai Xuân Dũng

Các bạn mật thám thân mến,

Trong những ngày cuối năm vừa qua, tôi đã chứng kiến công việc của các bạn mới thấy cảm thông với nỗi vất vả của các bạn cả về thể xác lẫn tinh thần. Tôi trăn trở nhiều đêm về các bạn, muốn viết về các bạn trước khi những tờ lịch năm cũ vẫn chưa bị bóc xuống để coi như thay một lời chúc mừng năm mới, nhưng cứ lần lữa mãi vì chưa chọn được đại từ nhân xưng nào khả dĩ để gọi các bạn cho đúng. Đó chính là sự muộn màng của bài viết này. Còn giờ đây khi đã gọi các bạn bằng từ “Mật thám” thì tôi cũng phải có đôi lời giải thích tránh cho những hiểu lầm không đáng có từ phía các bạn.

Không cần phải tra từ điển tiếng Việt, các bạn chắc cũng hiểu đây là từ không mấy tốt đẹp dành để chỉ những người làm công việc theo dõi, dò xét, thu thập thông tin về một người hay một tổ chức nào đó một cách bí mật nhằm phục vụ cho một tổ chức hoặc một đảng phái nào đó.

Trong thời Pháp thuộc, Mật thám là công cụ đắc lực bảo vệ chế độ thực dân. Mật thám có thể là quan chức trong ngành Cảnh sát như Bazin là kẻ đã ra lệnh đàn áp cuộc biểu tình của học sinh Trường Pétrus Ký, bắn chết sinh viên Trần Văn Ơn. Mật thám cũng có thể là người hoạt động cách mạng chống Pháp rồi trở thành chỉ điểm cho mật thám Pháp như Lâm Đức Thụ, kẻ bán đứng Phan Bội Châu, về sau bị dân quân giết tại quê hương làng Vũ Trung, huyện Kiến Xương tỉnh Thái Bình. Nói sơ qua như thế để thấy Mật thám là một nghề xấu xa luôn bị người đời căm ghét, khinh bỉ. Chả thế mà bài Á tế Á ca trong sách giáo khoa chúng ta đã học có câu: Lũ mật thám chó săn khéo rúc…

Dù muốn tránh gọi các bạn bằng từ mật thám, nhưng quả thật cũng chẳng thể gọi các bạn là thám tử-một từ có nghĩa khác hẳn công việc các bạn đang làm, cũng như không thể gọi các bạn là An ninh vì ai dám nói các bạn đang làm việc cho lực lượng Công an nhân dân?

Một ngày nọ, anh chị em Thiện nguyện viên đem sách về tặng các cháu thiếu nhi nông thôn và thăm một Cô nhi viện của Bùi Chu, nơi đang chăm sóc các cháu nhỏ tật nguyền. Ai đã đến nơi này không thể cầm được nước mắt khi thấy hàng trăm cháu bé không may mắn bị khiếm khuyết về thể chất lại bị bỏ rơi không nơi nương tựa. Các cháu được Cô nhi viện Thánh An tiếp nhận chăm sóc, nuôi nấng chỉ bằng nguồn kinh phí của những ân nhân xa gần.

conhivienthanhanbuichu.jpgCô nhi viện Bùi Chu đã có từ năm 1852 do Đức cha Joseph Diaz Sanjurjo người Tây Ban Nha thành lập nhằm nuôi dưỡng trẻ mồ côi khuyết tật từ 12 tuổi trở xuống không phân biệt lương giáo. Trải qua 156 năm, Cô nhi viện đã nuôi dưỡng không biết bao nhiêu các cháu nhỏ. Trải qua các thăng trầm của lịch sử cả về những cấm cách về đức tin cũng như nạn đói hoành hành, có thời điểm Cô nhi viện đã phải tiếp nhận tới 2000 cháu bé (Sử ký địa phận miền Trung, trang 237-238) và tồn tại đến ngày nay.

Tại Cô nhi viện Bùi Chu, đi tới đâu cũng có người bám theo các Thiện nguyện viên. Ban đầu không ai để ý, nhưng khi các bạn Thiện nguyện viên bị theo từng bước và có những những người khác lén quay phim trong suốt hành trình, suốt thời gian và trong tất cả công việc thì ai cũng hiểu rằng mình đã bị giám sát. Có lẽ các chị làm việc ở đây đã quen với các hoạt động mật thám như thế nên nói nhỏ với các bạn Thiện nguyện viên rằng: Các anh chị đang bị theo dõi đấy, họ đứng đầy cả bên ngoài kia kìa.

Khi những thùng sách quyên góp chủ yếu là sách giáo khoa, truyện cổ Grim, truyện tranh Cô bé quàng khăn đỏ… vv…được mở ra trao cho các cháu nhỏ thì các bạn mật thám đã xông tới tận nơi lật từng cuốn ra xem không cần sự đồng ý của chủ nhân. Những hành động vượt quá phạm vi mật thám như thế đã làm cho không khí trở nên hết sức căng thẳng. Nó giống như một hình thức đàn áp tinh thần.

Một phụ nữ người Úc (Australia) có nhiều năm chuyên làm các công việc thiện nguyện trên khắp thế giới khi đang đẩy xe lăn cho một cháu nhỏ ra hóng nắng tình cờ gặp chúng tôi cũng nhắc nhở rằng: “Các bạn đang bị chụp ảnh lén đấy. Ở đây đôi khi tôi cũng bị người ta đòi xem passport khi đang chăm sóc các cháu nhỏ. Làm việc thiện nguyện ở Việt nam thật khó”.

Có thể có ai đó lợi dụng các hình thức thiện nguyện để làm những việc xấu như “âm mưu lật đổ chế độ, tuyên truyền nói xấu đảng” chẳng hạn, nhưng thực tế tất cả các hoạt động từ thiện đều mang đến cho mọi người kém may mắn tình thương yêu, sự cảm thông chia sẻ với những mất mát của đồng loại. Hầu hết kinh phí làm từ thiện đều được chắt chiu tằn tiện từ nguồn thu nhập ít ỏi của những người có tấm lòng bác ái được chia sẻ một cách âm thầm vô vị lợi. Điều đó khác hẳn với những cuộc làm từ thiện bằng tiền ngân sách rầm rộ vẫn thấy trên ti vi.

Có thể các bạn mật thám được giao nhiệm vụ theo dõi các đối tượng được cho là nguy hiểm, nhưng thực tế, các bạn đã thấy rõ rằng những cuốn sách giáo khoa, chuyện cổ tích cho trẻ thơ kia là hoàn toàn chẳng có gì là tài liệu tuyên truyền chống phá đảng. Những giọt nước mắt, những vòng tay ôm, những an ủi vỗ về của các Thiện nguyện viên với các cháu bé tật nguyền kia chẳng có gì là biểu hiện xúi dục của các thế lực thù địch cả thì các bạn có nghĩ gì không?

Đáng lẽ ra, nhiệm vụ của các bạn đáng lẻ là phát hiện những con mọt Nước tham ô hàng triệu đô như vụ PMU 18, vụ in tiền Polyme, phát hiện ra những vụ đánh bạc tiền tỷ ở Cần thơ, chứ những việc Thiện nguyện như chăm sóc trẻ mồ côi ở Cô nhi Viện Bùi Chu đâu phải là việc để các bạn phải tốn công sức, tốn tiền và làm tốn ngân sách như vậy. Giám sát những việc Thiện nguyện tốt lành (khác hẳn công việc của các bạn đang làm) và duy trì công việc làm cho rất nhiều người như các bạn là một khoản chi quá lớn, làm giảm đi bát cơm của người nghèo và tăng thêm sự bất bình của xã hội với các bạn.

Sức trẻ của các bạn lẽ ra phải ở nơi biên cương bảo vệ Tổ Quốc chứ đâu phải để làm cái việc dò la những người tử tế như các bạn đã làm, hoặc hè nhau giành giật, khiêng, bắt những người biểu tình yêu nước chống trung Quốc gây hấn bắn giết bộ đội ta ở đảo Gạc ma, bắt bớ dân chài Quảng Ngãi, cắt cáp tàu Việt nam?

Khi tiếp xúc với chúng tôi, các bạn thấy dù thế nào chúng tôi cũng luôn nhìn vào mắt các bạn và nói rõ ràng chúng tôi là ai, dù rằng chúng tôi chẳng có trách nhiệm phải nói với các bạn điều đó. Còn các bạn đã phải nói dối khi chúng tôi hỏi các bạn là ai, và các bạn phải nói dối những việc các bạn đang làm. Trong tiềm thức, các bạn chắc phải công nhận rằng việc chúng tôi làm là những việc tốt, và hẳn các bạn cảm thấy xấu hổ về những việc các bạn đang làm: Mật thám.

Người ta thường nói: Trâu chết để da, người chết để tiếng. Có thể đến một lúc nào đó khi đến tuổi về hưu, hoặc khi như quả chanh đã bị vắt hết nước, trở về cuộc sống đời thường, các bạn sẽ nhận được sự thương hại, hoặc tệ hơn là sự khinh bỉ của mọi người xung quanh về những việc các bạn đã làm. Lúc ấy, các bạn sẽ thấy cuộc đời các bạn sẽ vô nghĩa và đớn hèn biết bao khi các bạn sống hoàn toàn không vì tha nhân, vì sự dâng hiến cao đẹp, mà các bạn chỉ làm việc vì muốn có tiền để tồn tại.

Trong thời đại ngày nay tôi cam đoan với các bạn mật thám rằng chẳng có ai tự hào khoe ra là đang làm mật thám cả. Đúng hơn, chính các bạn cũng rất ngại ngùng bởi công việc này chẳng đáng để người ta cho là công việc tử tế.

Nếu có bạn nào đó làm mật thám một cách mẫn cán đến nhẫn tâm để mong được cất nhắc lên một vị trí cao hơn nhằm mưu lợi lộc cá nhân thì tôi không cần phải nói với bạn nữa vì những điều tôi nói là vô ích. Với các bạn mật thám làm việc vì miếng cơm manh áo thì các bạn cũng nên bớt thời gian ăn nhậu để đọc sách tìm hiểu xem cuộc đời của các nhân vật mật thám trong toàn bộ lịch sử thế giới đã gặt hái được gì và trả giá ra sao.

Cuối cùng, những điều tôi viết ra đây có thể không khiến các bạn mật thám tức giận mà lại làm cho ai đó vô cùng tức giận thì người đó cũng nên tự hỏi rằng nhân cách con người mình có bằng được với tên mật thám hay không?

Thiện nguyện viên chương trình Sách cho Trẻ em.

Posted in Đảng CSVN | Leave a Comment »

Tiếc cho anh Vươn, phải chi anh được đưa ra tòa án của Pháp vào năm 1928

Posted by hoangtran204 trên 13/01/2012

BS Huy
di tich dong noc nan.jpeg
Nọc Nạn xưa.
Mấy ngày này bị đánh vỗ mặt quá,choáng không định thần ngồi viết được. Hết vụ Hoàng Khương đến Đoàn Văn Vươn… Đành rằng cái niềm tin của mình vào thể chế này đã xuống gần bằng không từ lâu rồi, nhưng không ngờ nó lại đẩy qua phía âm một cách mau lẹ vậy. Phát súng từ Đồng Nọc Nạn thời hiện đại đã đập cho mình một cú khá dội để tỉnh luôn mà rằng: “Hết thật rồi”.Mãi hôm nay vào trang Bọ Lập thấy bài viết chi tiết về vụ án Đồng Nọc Nạn. Hồi còn đi học, vẫn được biết loáng thoáng qua sách vở rằng đây là vụ người nông dân bị chèn ép, bị cướp khống mảnh đất mà họ đổ bao mồ hôi lẫn máu để có được, tức nước vỡ bờ họ đã vùng đứng lên chống trả theo đúng như Marx dạy: “Đâu có áp bức, đấy có đấu tranh”. Ông Marx sai đâu không biết, nhưng câu này ông tuyệt đối đúng, vì người nông dân như Biện Toại chẳng cần biết tới ông Marx là ông nào, họ cũng quỳ lạy mẹ lần chót rồi lao ra đương đầu với súng đạn.Giống như Biện Toại, anh Vươn cũng bán mặt cho đất, bán lưng cho trời để cải tạo lại vùng Cống Rộc, từ một bãi lầy ven biển luôn hứng chịu cơn thịnh nộ của thần biển, với bao mồ hôi, thậm chí một đứa con 8 tuổi của anh cũng đã vĩnh viễn nằm lại ở Cống Rộc. Rồi bao nhiều tiền của từ bán nhà, bán đất, rồi đi vay… để có được cơ ngơi ngày nay làm ngon mắt bọn cướp ngày.

baovay (5).JPG
Tiên Lãng – Nọc Nạn bây giờBằng sự tham tàn bạo ngược, bằng sự tráo trở lật lọng, bọn quan phủ, quan huyện ngày nay đã giở trò định cướp khống thành quả lao động của gia đình anh. Người nông dân không tấc sắt phải đối đầu với hàng trăm cảnh sát cơ động, bộ đội biên phòng dẫn đầu bởi tên cò Tournier hiện đại. Họ phải làm gì? Chỉ có cái này, biết không? Câu nói cuối cùng của Chí Phèo trước khi văng dao vào Bá Kiến. Đúng, chỉ có cái này. Khi tiếng nói của pháp luật đã tắt lịm trước bạo quyền, thì người nông dân chỉ còn con dao hay là súng hoa cải.

Ai đã đẩy họ vào con đường cùng? Tại sao một chế độ luôn nhân danh nhân dân, của dân, do dân mà giờ đây, công an chỉ có mỗi việc đi bắn nhau, đánh nhau với nhân dân?

Nhưng đọc tiếp vụ Đồng Nọc Nạn, tôi lại thấy tiếc cho anh Vươn. Giá như anh sinh ra hồi ấy, cách nay hơn 80 năm, thời Việt Nam còn bị thực dân Pháp đô hộ và bóc lột đến tận cùng xương tủy như trong Bản án chế độ thực dân Pháp của Nguyễn Ái Quốc đã tố cáo, thì khi ra tòa đại hình, anh đã gặp được một viên công tố Moreau công bình, những luật sư như Tricon và Zévaco…, và trên hết, viên chánh án De Rozario chủ trì phiên tòa chỉ biết thượng tôn pháp luật. Họ không đứng về phía kẻ bạo quyền. Họ đấy, họ đang cố xây dựng một chế độ độc tài, sự độc tài của tình người: Chúng ta, những người Pháp, nên xây dựng ở xứ này một chế độ độc tài. Không phải độc tài bằng sức mạnh của súng đạn, nhưng là sự độc tài của tình cảm cao đẹp (Non pas de la dectature de la forc du mousqueton, mais de la dictature du coeur).

Thật không may cho anh Vươn. Rồi đây khi ra tòa, chắc anh sẽ gặp những kiểm sát viên kiểu Viện trưởng Viện kiểm sát Cần Giuộc nhậu để gái chết đuối, anh sẽ gặp những thẩm phán kiểu phó văn phòng TAND Cà Mau nghỉ với vợ người khác. Họ sẽ bảo vệ ai? Chắc chắn là họ sẽ đứng về phía những tay quan phủ như Ngô Văn H. Và cơ may để được trắng án của anh, cũng như chỉ số niềm tin của tôi vào sự tồn tại của công lý trên xứ này, là gần như bằng không.

Tiếc cho anh, và tôi càng thấm thía hơn lời nói của một ai đó: “Độc lập mà không có tự do, không có hạnh phúc thì độc lập ấy có ích gì” để ước hộ anh rằng, anh sẽ được ra tòa trong phiên tòa Đồng Nọc Nạn năm xưa.

nguồn 2 danluan.org

****************

Posted in Cướp Đất Đai, Cướp đất và chiếm đoạt tài sản của dân, Đảng CSVN | Leave a Comment »