Trần Hoàng Blog

Archive for the ‘Lịch Sử’ Category

►Về một tòa nhà ở Quận 1, Sài Gòn có 120 năm lịch sử sắp bị đập (29-4-2018) 

Posted by hoangtran204 trên 30/04/2018

.

Dinh Thượng thơ – tòa nhà được xây theo kiến trúc thuộc địa Pháp đã có hơn 120 năm tuổi.

 

 

Đọc tiếp »

Advertisements

Posted in Lịch Sử, Lưu manh đỏ | Leave a Comment »

►Nếu Việt Nam là một khu tự trị của Trung Quốc thì sẽ ra sao? (Trần Đình Sử, 7-08-2015)

Posted by hoangtran204 trên 22/02/2018

 

 

Đọc tiếp »

Posted in Lịch Sử | Leave a Comment »

►SỐC: Báo Nhân Dân tố cáo ngược: “Mỹ và tay sai trắng trợn đã phá hoại ngày Tết của nhân dân ta”– Nhưng thơ Bác Hồ xác nhận bác ra lệnh, ngược với nội dung báo đã viết — Mậu Thân 1968

Posted by hoangtran204 trên 30/01/2018

Phát hiện này quả là chấn động. Vì xưa nay, báo Nhân Dân chẳng bao giờ dám cả gan nói Bác Hồ là kẻ phá hoại…

Nhưng bằng chứng thực tế là không thể đảo ngược. Theo đó, thơ của Hồ Chủ tịch đọc trên đài phát thanh vào đúng lúc giao thừa 1968 sẽ là hiệu lệnh tấn công. Vậy mà báo Nhân Dân xuất bản có nội dung tố cáo  ngược cho rằng Mỹ và tay sai…

Hai bằng chứng lịch sử dưới đây đưa đến 2 câu hỏi:

Giữa bác Hồ và báo Nhân Dân: ai là kẻ nói láo?

Giữa Hồ Chủ tịch, và Mỹ cùng tay sai: Ai là kẻ trắng trợn phá hoại ngày tết của nhân dân ta?

Nếu dựa vào tựa đề báo đảng viết vậy, nhưng sau khi đọc xuất xứ và nội dung bài thơ của Hồ Chủ tích, một số người có thể hiểu rằng:

Hồ Chủ tịch, Lê Duẩn, đảng CSVN, bộ đội Bắc Việt chính là những kẻ trắng trợn phá hoại ngày Tết của nhân dân ta.

Phát hiện này quá sốc. 

 

Đọc tiếp »

Posted in Lịch Sử, Mậu Thân 1968 | Leave a Comment »

►Một vài khảo sát về mạch nước ngầm tại đồng bằng Sông Cửu Long của VNCH và Mỹ trước 1975

Posted by hoangtran204 trên 28/01/2018

Tóm lược các tài liệu ghi nhận được nhằm ghi lại các nguồn nghiên cứu khoa học khởi đầu của Việt nam Cộng Hòa hợp tác với chính phủ Hoa Kỳ (USAID).

Nói về kết cấu địa tầng của Đồng bằng sông Cửu Long và tìm kiếm nguồn nước ngọt ngầm dưới các lớp phù sa cổ đại, công việc này đòi hỏi rất nhiều nỗ lực của cả hai chính phủ Việt Nam Cộng Hòa và Hoa Kỳ vì vào thời điểm này, chiến tranh VN đang diễn ra khốc liệt.

 

Đọc tiếp »

Posted in Khoa Học, Lịch Sử | Leave a Comment »

►Đồng bằng Cửu Long trước những tác động của con người (RFI, 11-12-2017)

Posted by hoangtran204 trên 28/01/2018

 

Đọc tiếp »

Posted in Lịch Sử, Miền Nam sau 30-4-1975, Nong Dan Viet Nam | Leave a Comment »

►300 năm ĐB Sông Cửu Long, đến với con KÊNH VĨNH TẾ

Posted by hoangtran204 trên 28/01/2018

Đọc bài này để có kiến thức về nông nghiệp, thủy lợi, đời sống, lịch sử về đồng bằng Sông Cửu Long, nơi có 21 tỉnh, và 18 triệu người VN sinh sống. Vùng này cung cấp 90% lúa gạo xuất khẩu và nuôi cả nước.  Miền Bắc, từ vĩ tuyến 17 ra Lạng Sơn, không có đủ lúa gạo để ăn từ 1954-1989. Chế độ tem phiếu là một bằng chứng. 

 

 

Đọc tiếp »

Posted in Lịch Sử | Leave a Comment »

►Hôm nay, 27-1-2018, là ngày kỷ niệm 45 năm ký kết Hiệp định Hòa Bình Paris 27-1-1973

Posted by hoangtran204 trên 27/01/2018

Quân đội Mỹ đã hoàn tất  95-98% rút quân khỏi VN trước tháng 6 năm 1972.

Năm 1972, quân đội Mỹ đã mang theo những chiến đấu cơ mới được trang bị và quân viện cho không quân VNCH trong năm 1970 và 1971 và viện cớ là bảo trì. Họ ngừng cung cấp các bộ phận thay thế trong các phản lực cơ và máy bay trực thăng. 

Họ được lệnh tháo gỡ các súng đại bác tối tân được gắn trên các chiến hạm của hải quân VNCH lấy cớ bảo trì. 

Nhiều sĩ quan Mỹ đã chia tay với lời nói như vĩnh biệt các sĩ quan bạn bè trong quân đội VNCH, một số nhỏ trong bọn họ đã không tiếc lời nguyền rủa Henry Kissinger và bọn chính trị gia ở thủ đô Washington…

 

 

Đọc tiếp »

Posted in Chien Tranh Viet Nam, Lịch Sử | Leave a Comment »

►GIÁNG SINH 1991- Ngày Cuối cùng của Liên Bang CHXHCN Xô Viết (25-12-1991)

Posted by hoangtran204 trên 24/12/2017

Không bao lâu nữa, sẽ đến phiên CH XHCN VN lụi tàn. Tự do và dân chủ sẽ thật sự đến với VN.

 

Đọc tiếp »

Posted in Cách Mạng Đông Âu 1989- Sụp đổ của chế độ Cộng Sản, Lịch Sử | Leave a Comment »

►Đem tâm tình viết lịch sử- Thân gởi các vị sĩ quan Hoa Kỳ gốc Việt

Posted by hoangtran204 trên 04/08/2016

Bằng Phong Đặng Văn Âu

3-8-2016

Ông Đặng Văn Việt - "hùm xám" đường 4, người anh chú bác của tác giả, ở bên kia chiến tuyến. Ảnh: internet

Ông Đặng Văn Việt – “hùm xám” đường 4, người anh chú bác của tác giả, ở bên kia chiến tuyến. Ảnh: internet

Lời mở đầu: Trung Cộng không còn theo chủ nghĩa cộng sản của Karl Marx – Lénine. Chúng tái lập tượng thờ Khổng Tử để thực hiện chủ nghĩa Đại Hán. Các quốc gia Châu Á sẽ không chấp nhận tham vọng bành trướng của Trung Cộng, nên họ cần có sự hiện diện của sức mạnh Hoa Kỳ.  Bọn cầm quyền Việt Cộng ngu si, tin tưởng bám vào Trung Cộng thì “Còn Đảng, Còn Mình”. Cho nên, chúng sẽ thẳng tay đàn áp quần chúng Việt nổi dậy, tàn ác hơn cả vụ Thiên An Môn để được tiếp tục làm đầy tớ Trung Cộng. Việt Nam là một vị trí chiến lược quan trọng nên sẽ không tránh khỏi làm địa điểm giao tranh của thế giới. Và dân Việt Nam sẽ không tránh khỏi thảm họa một lần nữa.

Tôi tin rằng cuộc đụng độ (dưới hình thức nào đó chưa biết) sẽ xảy ra giữa Hoa Kỳ và Trung Cộng trong tương lai (không rõ bao xa). Các cấp chỉ huy quân sự gốc Việt trong Quân lực Hoa Kỳ trong cuộc chiến mới sẽ đóng vai trò khôn ngoan hơn, hiểu biết dân tộc Việt hơn những tướng lĩnh Hoa Kỳ giúp ta trong thế kỷ trước. Tôi mong rằng loạt bài của tôi có cơ duyên được những sĩ quan Hoa Kỳ gốc Việt để mắt tới.

Thành phố Westminster, California, ngày 1 tháng 8 năm 2016

Thân chào quý anh chị sĩ quan trong Quân lực Hoa Kỳ,

Có lẽ ông bà thân sinh của quý anh chị không bao giờ tưởng tượng được rằng một ngày kia con mình sẽ là cấp chỉ huy trong Quân lực Hoa Kỳ, một Quân lực hùng mạnh, tân tiến về kỹ thuật và nhân ái nhất hoàn cầu. Một Quân lực từng hai lần giải phóng Âu châu, xóa tan tham vọng Đại Đông Á của Nhật, đẩy lùi cuộc xâm lăng Liên quân Trung Cộng – Bắc Hàn. Một Quân lực đi cứu trợ thiên tai cho nhân loại. Và tôi cũng không ngờ sau một cuộc chiến chinh khốc liệt trên quê hương mà tôi còn có thể sống sót để được chứng kiến sự thành tựu của quý anh chị mà hy vọng nòi giống Việt của mình sẽ trường tồn. Tôi sẽ giải thích dần dần cho các anh chị hiểu tại sao tôi đặt kỳ vọng nơi các anh chị.

Việt Nam có một nhà văn tên là Nguyễn Mạnh Côn, viết cuốn sách“Đem Tâm Tình Viết Lịch Sử” kể lại hoàn cảnh nước nhà vào thời đại của ông cho thế hệ mai sau hiểu. Tôi tuy không phải là văn, mà chỉ là nhà binh, nhưng cũng muốn theo bước chân người đi trước để thuật lại những sự kiện mà mình đã trải qua cho thế hệ trẻ hơn mình hay. Biết đâu mai sau cũng sẽ có người tiếp tục công việc của tôi? Biết đâu mai sau một trong các anh chị vốn mang dòng máu thiên tài quân sự Trần Hưng Đạo, Quang Trung mà trở thành danh tướng như Douglas MacArthur, một danh tướng mà tôi rất chuộng với câu nói bất hủ:Old soldiers never die; they just fade away”. Nghĩa là: Những người lính già không bao giờ chết, họ chỉ tan biến đi mà thôi.

Tôi tình nguyện gia nhập vào Quân đội, chọn nghề nhà binh làm sự nghiệp, không phải vì sự thôi thúc do lòng yêu nước của người trai thời loạn đứng lên đáp lời sông núi, mà bởi vì một lý do lãng mạn rất sôi nổi: Tôi ước muốn sống cuộc đời ngang dọc, tung mây lướt gió của chàng phi công. Nhờ ơn di truyền của cha mẹ, tôi đã vượt qua rào cản của điều kiện sức khỏe như mắt, tai, tim, phổi phải tốt và phản ứng tay chân đồng bộ nhịp nhàng. Nhờ bay lên cao, tôi khám phá quê hương mình quá đẹp, núi non quá hùng vĩ, nước biển xanh quanh bờ cát trắng thay đổi sắc màu mỗi buổi hừng đông và mỗi buổi chiều tà. Từ đó tình yêu đất nước trong tôi càng ngày càng nẩy nở dạt dào. Những đêm bay bao vùng canh chừng cho đồng bào an giấc: Hễ thấy nơi nào xuất phát đạn pháo của địch phóng vào thành phố hoặc đồn bót nào bị địch tấn công là bay đến can thiệp.

Tôi bay loại phi cơ hỏa long (fire dragon) trang bị ba khẩu “minigun” sáu nòng, mỗi phút bấm cò thì có 18 ngàn viên đạn tuôn ra cùng với tiếng gầm dữ dội giống như con rồng phun lửa, nên chống biển người rất hiệu quả. Có những đêm phải bay hai phi vụ; có những đêm yên lành thì ôm cần lái bay lòng vòng trong khi phi hành đoàn ngủ gà ngủ gật. Trong những lúc nhàn rỗi như thế, tôi lao lung suy nghĩ về thân phận mình, thân phận dân tộc và cảm thấy sự phi lý của cuộc chiến tranh nồi da xáo thịt.

Tôi bay ngăn ngừa địch pháo kích, vừa để bảo vệ mạng sống những người vô tội, vừa để bảo vệ mạng sống những con chuột, những con rắn như Huỳnh Tấn Mẫm, Lê Hiếu Đằng, Trương Tấn Sang, Lê Văn Đầy, Hạ Đình Nguyên … đang chui rúc trong các ngõ ngách làm giao liên cho những tên đặc công Việt Cộng, đặt chất nổ hoặc mạng sống của những ông Tướng, những ông chính trị đang âm mưu với những tên Việt Cộng trá hình làm sư sãi nhằm lật đổ chính quyền. Khi nghe báo cáo kết quả con số địch quân bỏ xác quanh đồn do cuộc xạ kích đêm qua, tôi không cảm thấy vui, mà lại cảm thấy buồn, buồn vì mình đã giết nhiều mạng người bị mấy thằng ở Bắc Bộ Phủ đẩy vào cảnh huynh đệ tương tàn bởi chiêu bài giải phóng láo lếu.

Tôi biết trước phe mình sẽ thua trong cuộc chiến này vì không một Quân đội nào dù thiện chiến đến đâu, dù trang bị khí giới tối tân đến đâu cũng không thể chiến thắng được, khi mà những phần tử được ta bảo vệ lại là bọn nằm vùng chui rúc vào hầu hết các cơ quan hành pháp, lập pháp, tư pháp, tôn giáo, văn hóa, thương mãi. Hậu phương thường trực bị xáo trộn, thì tiền tuyến nào được yên lòng diệt giặc? Thà cứ ngây thơ, vô tư sống như cây tầm gửi, như bèo trôi dập dềnh theo con nước xuống lên, có lẽ tâm hồn mình sẽ thảnh thơi hơn, tôi chua xót nghĩ vậy!

Sau khi Thế Chiến II chấm dứt, Hoa Kỳ yêu cầu các quốc gia đồng minh của mình hãy trả độc lập cho các quốc gia thuộc địa để chống lại chiêu bài giải phóng các dân tộc bị trị của Liên Xô. Đế quốc Anh ý thức thời kỳ chế độ thuộc địa phải chấm dứt, nên sửa soạn cho dân bản xứ có khả năng cầm quyền, chống lại sự tuyên truyền láo khoét của cộng sản. Do đó, không một nước nào dưới sự cai trị của Thực dân Anh bị rơi vào tay cộng sản. Nếu Đế quốc Pháp cũng thức thời như Đế quốc Anh, thì nhà cách mạng chủ trương tranh đấu ôn hòa bất bạo động Phan Chu Trinh sẽ thành Thánh như Mahatma Gandhi. Trái lại, Thực dân Pháp vì tham lam, kiêu ngạo với chiêu bài khai sáng các dân tộc bán khai, tiếp tục chiếm giữ Việt Nam làm thuộc địa, khiến cho phong trào đấu tranh giành độc lập có chính nghĩa. Những nhà ái quốc như Nguyễn Thái Học, Lý Đông A, Trương Tử Anh, Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng … đi làm cách mạng vì yêu nước, vì lý tưởng giành độc lập cho dân tộc. Họ không hề được đào tạo kỹ thuật đấu tranh bạo lực và không hề được quốc gia nào viện trợ vũ khí, tài chánh. Trong khi Hồ Chí Minh làm đơn xin vào học Trường Thuộc địa của Thực dân Pháp bị từ chối, thì đi làm tay sai cho cộng sản Liên Xô, Trung Cộng (một loại Thực dân mới) để dâng Tổ Quốc cho đàn anh, chủ trương thế giới đại đồng, vô sản chuyên chính.

Khi còn bé, tôi được nghe mẹ tôi kể rằng bác sĩ nhãn khoa Lê Đình Thám, người khai sinh ra các khuôn hội Phật học, chơi thân với bố tôi, thuyết phục bố tôi – bác sĩ Đặng Văn Dư – tham gia vào đảng cộng sản. Bố tôi từ chối vì đơn giản lập luận rằng cộng sản là vô thần, coi tôn giáo là thuốc phiện, cần bị tiêu diệt. Hai người đều là Phật tử thì làm sao sống còn trong cái chủ nghĩa đó?

Mẹ tôi còn kể khi Nhật hoàng tuyên bố đầu hàng Hoa Kỳ vào ngày 15 tháng 8 năm 1945, viên Đại sứ người Nhật lai Pháp đề nghị với Thủ tướng Trần Trọng Kim, một nhà sử học, rằng họ sẵn sàng tiêu diệt Hồ Chí Minh và toàn bộ tay chân thân cận của hắn thì cụ Kim từ chối và bảo rằng chuyện nội bộ anh em trong nhà sẽ tự giải quyết với nhau. Cái chết của dân mình là vì nhà sử học Trần Trọng Kim cứ tưởng cộng sản là người anh em. Bố tôi lúc bấy giờ là thư ký riêng của cụ Kim, nghe lời từ chối của cụ Kim thì rất buồn bã, thất vọng. Mẹ tôi còn kể rằng bố tôi thường dặn dò các anh tôi đừng bao giờ đi theo phong trào cộng sản. Cho nên người anh ruột của tôi là Đặng Văn Châu và người anh thúc bá của tôi là Đặng Văn Việt cùng học trường Thanh Niên Tiền Tuyến, do luật sư Phan Anh lập ra dưới thời cụ Trần Trọng Kim, mà anh Việt thì theo cộng sản nhưng anh Châu tôi thì chống lại cộng sản.

Hồ Chí Minh ký Hiệp định Sơ bộ ngày 6 tháng 3 năm 1946, anh Châu tôi bèn lái xe của trường Thanh Niên Tiền Tuyến từ Huế ra Hà Nội phản đối, nhưng ngang Thanh Hóa thì bị Công An của Trần Quốc Hoàn bắt giải về giam ở nhà tù Hỏa Lò chờ lãnh án tử hình. Trần Quốc Hoàn cùng quê quán ở Nghệ An với dòng họ Đặng, sinh cùng năm 1916 với bác sĩ Đặng Văn Sung, người anh thúc bá khác của tôi (Thượng Nghị sĩ VNCH và Chủ nhiệm nhật báo Chính Luận). Phan Mỹ, em trai của Bộ trưởng Thanh Niên Phan Anh dưới thời Trần trọng Kim, vào nhà tù khuyên anh Châu tôi tuyên thệ vào Đảng Cộng sản thì được tha, nhưng anh tôi từ chối. Người bạn cùng trường Thanh Niên Tiền Tuyến – một đảng viên cộng sản – dẫn anh tôi ra pháp trường để xử tử thì vừa đúng lúc Thực dân Pháp đổ bộ vào Hải Phòng, tiến lên Hà Nội, nên cả hai đều bị Pháp bắt. Thế là anh tôi thoát chết dưới tay cộng sản.

Anh Đặng Văn Việt đánh tan hai binh đoàn LePage và Charlton trên Đường Số 4, Bắc Việt, được Thực dân Pháp phong là Con Hùm Xám, nhưng sự nghiệp chiến trận vẻ vang của anh Việt dừng ngang chức Trung tá Trung đoàn trưởng Trung Đoàn 74 cho tới ngày nay, vì cái tội con nhà quan lại. Trong khi đó thuộc cấp của anh Đặng Văn Việt có người được thăng lên cấp Tướng.

Bố tôi vốn khỏe mạnh, thường đi săn bắn và đánh quần vợt với vua Bảo Đại, nhưng đột ngột qua đời lúc mới 55 tuổi. Trong dòng họ Đặng Văn và dòng họ Cao Xuân, ai nấy đều nghĩ rằng bố tôi chết tự nhiên. Về sau, đọc cuốn sách “Từ Triều Đình Huế Đến Chiến Khu Việt Bắc” của Phạm Khắc Hòe, quan Đổng lý Ngự Tiền văn phòng vua Bảo Đại, tôi ngờ rằng bố tôi chết đột ngột có thể do cộng sản thanh toán vì sợ bố tôi tiết lộ bác sĩ Lê Đình Thám, Phạm Khắc Hòe là cán bộ cộng sản nằm vùng. Nên nhớ rằng, đối với cộng sản, dù cha con hay anh em, vợ chồng cũng sẵn sàng giết nhau vì quyền lợi của Đảng; chứ đừng nói là bạn hữu.

Ông Ngô Đình Diệm là người theo đạo Công Giáo, là một tín đồ vô cùng ngoan đạo, nhưng trên hết ông là người yêu nước, yêu dân Việt Nam. Được vua Bảo Đại chỉ định làm Thượng thư Bộ Lại (tức là chức Thủ tướng ngày nay) lúc mới 33 tuổi. Ông yêu cầu Thực dân Pháp thay đổi đường lối cai trị, cho người dân bị đô hộ có quyền tự do hơn, nhưng người Pháp không chấp nhận, nên ông khẳng khái từ chức; chứ nhất định không chịu làm tay sai cho Thực dân. Con người dám từ bỏ chức quyền tột đỉnh như thế, chắc chắn phải có tình yêu nước cao độ.

Năm 1954, vua Bảo Đại một lần nữa yêu cầu ông Ngô Đình Diệm làm Thủ tướng ở Miền Nam để đương đầu với Hồ Chí Minh ở Miền Bắc. Ông Diệm là người nhân đức, không ra lệnh giết ông Hà Thúc Ký – Chủ tịch Đảng Đại Việt Cách Mạng – từng kéo quân ra chiến khu Ba Lòng chống ông, hoặc không ra lệnh giết Hà Minh Trí ám sát hụt ông ở Ban Mê Thuột. Lời đồn đãi ông Ngô Đình Diệm kéo lê máy chém khắp Miền Nam để chém đầu những nhà cách mạng (cộng sản) yêu nước là sự tuyên truyền vu khống của cộng sản và bọn tay sai thân Cộng phụ họa. (Máy chém rất nặng, 20 tấn, và rất cao. Không xe nào vào thời 1950s chở nổi.)

Nếu ông Ngô Đình Diệm là một Phật tử thuần thành, cộng sản vẫn dùng cán bộ đội lốt nhà sư để gây nên phong trào đấu tranh Phật giáo đòi hỏi quyền tự do tín ngưỡng để hạ bệ. Bằng chứng là cuốn
Bạch Thư của Hòa thượng Thích Tâm Châu nơi trang 24 tiết lộ sự man rợ, tàn bạo của bọn cán bộ cộng sản đội lốt nhà sư trong băng đảng Ấn Quang như sau: “Tôi về tới VN Quốc Tự (VNQT), bước chân vào cửa văn phòng viện trưởng Viện Hóa Đạo (VHĐ) của tôi thì có một biểu ngữ nền vàng chữ đỏ ghi: MUỐN QUẦN CHÚNG TUÂN THEO KỶ LUẬT THÌ PHẢI THEO QUẦN CHÚNG. Tôi vào tới bàn giấy của tôi thì có một đĩa máu, một con dao và một huyết thư: ‘YÊU CẦU CÁC THƯỢNG TỌA TRONG VIỆN HÓA ĐẠO, KHÔNG ĐƯỢC THEO THƯỢNG TỌA TÂM CHÂU’. Tôi định lên chánh điện VNQT lễ Phật, tại đây có mấy vị tăng thanh niên không cho tôi vào chánh điện VNQT và hăm dọa, ai muốn vào chùa hãy bước qua xác chết của họ.

Tôi vô cùng chán nản, không biết cách nào vãn hồi trật tự được. Tôi trở về chùa Từ Quang. Về chùa Từ Quang cũng có một đĩa máu, một con dao và một huyết thư CẤM TÔI KHÔNG ĐƯỢC HOẠT ĐỘNG NỮA. Và người trong chùa cho biết là họ hăm dọa sẽ đốt xe, ám sát. Và, chính các vị tăng thanh niên đang tụ tập tại Niệm Phật Đường Quảng Đức (Bàn Cờ) định sang chùa Từ Quang giết tôi. May có sư cô Vân biết được, cấp báo cho tôi biết. Tôi trốn thoát”.

Cộng sản đã chuẩn bị ngón đòn “tranh đấu” (hay trâu đánh?) dưới danh nghĩa Phật Giáo này từ khi sai ông bác sĩ nhãn khoa Lê Đình Thám đi thành lập các khuôn hội Phật giáo khắp nước từ khuya rồi. Các vị Hòa thượng đạo cao đức trọng, suốt ngày chỉ biết tụng kinh niệm Phật, không thể nào hiểu được âm mưu thâm độc của cộng sản. Nói rằng Phật Giáo lật đổ chế độ độc tài Ngô Đình Diệm là nói láo mà ngày nay vẫn có người tin. Việt Cộng núp bóng Phật Giáo chủ động chuyện khuynh đảo. Về sau có những ông Tướng, ông chính trị gia xôi thịt, cơ hội chạy theo bợ đỡ những ông sư bà vãi nằm vùng để kiếm chức, kiếm địa vị; chứ họ làm gì có lý tưởng quốc gia với lại có đức tin vào Đức Phật? Tôi xin báo cho quý anh chị sĩ quan trong Quân lực Hoa Kỳ đừng bao giờ tin có phong trào đấu tranh Phật giáo dưới chế độ Việt Nam Cộng Hòa. Đó là sự đánh tráo khái niệm danh từ của bọn cộng sản tự đặt ra cái gọi là hàng Giáo Phẩm để thành phần phật tử ngu muội vái lạy mà thôi.

Các anh chị sĩ quan gốc Việt trong Quân lực Hoa Kỳ thân mến,

Với tư cách là người lính trong Quân lực Việt Nam từng cầm súng chống lại chủ nghĩa cộng sản, tôi đem những kinh nghiệm về cộng sản từ gia đình để kể cho anh chị hiểu những thủ đoạn ghê gớm của bọn bán nước. Mối thù cộng sản đã tàn hại gia đình họ Đặng chúng tôi ở Nghệ An là chuyện riêng tư; nhưng mối thù đối với bọn cầm quyền toa rập với kẻ thù truyền kiếp để tiêu diệt nòi giống Việt thì bất luận người khác chính kiến, khác quốc tịch đều phải có nghĩa vụ chống lại. Bởi vì đến như loài sinh vật trong thiên nhiên hoang dã có nguy cơ bị tuyệt chủng còn được nhân loại bảo tồn, huống hồ là một giống nòi của con người? Chẳng lẽ dòng Lạc Việt trong Bách Việt sẽ bị tuyệt chủng, đều trở thành người Hán cả hay sao?

Xin hẹn quý anh chị thư sau.

Trân trọng,

Bằng Phong Đặng văn Âu

TTX-Ba Sàm  

Posted in Lịch Sử | Leave a Comment »

►20/11: Chuyện từ những người Thầy

Posted by hoangtran204 trên 22/11/2013

Phạm Minh Hoàng

Tác giả gửi tới Dân Luận

Thường thì ngày 20/11 người ta viết về thầy để tri ân công ơn dạy dỗ. Nhưng bài này thì khác, tôi viết về một câu hỏi ray rứt suốt những năm tháng trên ghế nhà trường và còn kéo dài mãi về sau.

Ngày 20/11 còn là ngày Nhà giáo Việt Nam, nghĩa là chỉ liên quan đến Việt Nam, nhưng bài này tôi lại viết về người thầy Pháp của mình.

Tên thầy là Yves Meyer, giáo sư toán. Năm nay thầy 74 tuổi.

Tôi còn nhớ mãi những ngày tháng khai giảng của niên khóa 1974-1975 khi tôi bỡ ngỡ bước chân vào giảng đường 333 của Đại học khoa học Orsay, còn gọi là Đại học Paris-Sud. Phong thái của thày toán quả bao giờ cũng khác các thầy cô vật lý hay hóa học, nghĩa là hơi có vẻ bụi bụi. Tôi chưa hề thấy thầy Meyer đeo cà-vạt, lúc nào củng một cái pull cổ cao và bộ veste nhung màu rêu. Cách dạy của thày cũng “style” không kém, thày thường ra một câu hỏi, đứa nào trả lời trúng thưởng 5 quan. Thày đứng tuốt dưới bảng đen và liệng đồng cắc lên đứa đáp trúng. Nói chung thì thầy không dạy xuất sắc nhưng vui vẻ và dễ hiểu.

Nhưng điều tôi nhớ nhất ở thầy nằm ở một câu nói, và câu nói đó chẳng dính dáng gì đến toán.

Có một hôm trong tiết của thầy, tôi đang căng tai và cố gắng viết càng nhiều càng tốt thì bất chợt tôi nghe thầy nói một câu mà nó còn vang vọng trong tai tôi đến hàng chục năm sau:

– Les avions américains bombardent le Nord-vietnam. (tạm dịch là “máy bay Mỹ ném bom Bắc Việt”).

Thời gian ấy tiếng Pháp tôi còn kém lắm (mới sang chưa đầy một năm), chỉ có thể hiểu được cỡ 20 đến 30% nhưng không hiểu tai sao tôi lại nghe và hiểu rõ mồn một câu nói ấy, nhất nữa là trong khi tôi đang húi húi chép túi bụi.

Sau câu hỏi ấy tôi thấy thầy thao thao nói một tràng dài, mặt thầy đanh lại. Tôi chẳng hiểu ất giáp gì. Tại sao thầy lại tương cái câu thời sự này vào buổi học toán? Cuối cùng thầy kết thúc “c’est lamentable” (thật thê thảm). Không khí giảng đường căng thẳng. Nhưng người căng thẳng nhất phải là tôi. Vì không cần phải giỏi tiếng Pháp ai cũng hiểu là thầy đang bênh cho cộng sản Bắc Việt. Vào thời buổi ấy, chiến sự Việt Nam gia tăng, tinh thần anh em du sinh chúng tôi cũng sục sôi không kém. Học xong là anh em vứt tập vở, xuống đường “ứng chiến” với tụi sinh viên VN thân cộng. Nhóm chúng tôi chỉ có 5 thằng đối đầu với một “lực lượng địch” đông gấp 3 gồm cả Tây cộng (Tây đen,Tây trắng lẫn Tây nâu).

Tâm trạng căng thẳng nhưng không biết phản ứng thế nào. Giơ tay lên nói thì không dám (vì tiếng Pháp yếu quá) mà để yên thì không chịu được. Lúc về nhà đem nói với lũ bạn thì chúng nó đều bàn ra:

– Mày mà đến gây sự với ông ấy thì tiêu đời. Mày có thấy các trợ giảng cũng thân cộng như ổng không? Nó trù thì mày chỉ có chết.

Quả đúng như thế, trong các trợ giảng thì còn có một người Việt Nam tên Bạch Vân, cũng là một người theo cộng sản. Rồi còn bà Tâm, bà Phạm mình cũng chưa biết chính kiến các bà ấy như thế nào.

Phải nói trong thập niên 70, chủ nghĩa cộng sản bao trùm hơn nửa trái đất. Ngoài Liên Xô, Trung quốc còn khối Varsovie, Cuba, Nicaragua, Angola… đó là chưa kể các nước “hồng hồng” như Ấn độ, các nước Bắc phi. Thuở ấy, đảng cộng sản Pháp chiếm một lượng cử tri kỷ lục, họ nắm 1/4 ghế trong Quốc hội và thao túng các công đoàn. Tôi còn nhớ có lần ông Pierre Juquin, một ủy viên bộ chính trị đảng công sản Pháp đến Đại học Orsay, người ta đã căng một tấm băng-rôn chào mừng ngay tại cổng chính. Thậm chí bộ trưởng đến thăm cũng chưa được cái vinh dự ấy. Thanh thế đàng cộng sản và chủ nghĩa cộng sản lên cao chưa từng thấy. Tóm lại đâu cũng gặp “kẻ thù”.

Ảnh hưởng của chủ nghĩa cộng sản còn đặc biệt ảnh hưởng lên giới trí thức. Tại Pháp cũng như nhiều nước Âu châu lúc ấy đi theo chủ nghĩa cộng sản gần như là một phong trào, một cái mốt. Người ta theo đơn thuần chỉ là “thấy thằng lớn oánh thằng nhỏ là bênh thằng nhỏ”, cũng giống như ở VN hễ cứ xe hơi đụng xe máy là xe hơi lỗi….

Tôi nghĩ thầy Meyer cũng là một trong những số đó. Nhưng nói gì thì nói, tôi nhất quyết không “bỏ qua” vụ này. Đối với tôi, tôi phải “rửa hận” cho các chiến sĩ VNCH đang căng người ra bảo vệ đất nước trước làn sóng xâm lăng của hơn 10 sư đoàn đang ồ ạt vượt sông Bến Hải, cho dù hiệp định Paris ký kết còn chưa ráo mực. Tôi biết là thầy “chỉ có chết” khi tôi nói về vụ thảm sát Mậu thân năm 68 và gần đó nhất là vụ quân cộng sản pháo kích vào trường tiểu học Cai Lậy (nay thuộc tỉnh Tiền Giang) làm gần 100 em nhỏ chết và bị thương năm 1974. Tôi đã “thủ” sẵn các câu nói cũng như hình ảnh, chỉ chờ thầy đề cập đến chuyện này lần nữa là “tung chưởng” ngay giữa giảng đường, rồi mặc kệ chuyện nó ra đâu thì ra.

Nhưng cái ngày ấy đã không tới, sau năm đó tôi chuyển ngành và không có dịp gặp lại thầy. Điều đó đã ray rứt tâm hồn tôi trong nhiều năm liền. Tôi có cảm tưởng đã không làm tròn trách nhiệm của mình, cho dù chẳng có ai phó thác cho tôi cái sứ mạng ấy.

Năm tháng trôi qua, tôi trở về VN và bắt đầu công việc giảng dạy toán ứng dụng ở Đại học Bách Khoa TP.HCM. Thỉnh thoảng nhờ gu-gồ mà tôi biết được thầy vẫn còn làm việc, thậm chí thầy còn đạt được rất nhiều thành công. Vang dội nhất là thầy trở thành thành viên của Viện Hàn Lâm Khoa Học Pháp và được giải Gauss trong cùng buổi lễ mà giáo sư Ngô Bảo Châu được trao giải Fields tại Ấn Độ. Tôi nghĩ sẽ chẳng bao giờ có dịp nhắc lại chuyện cũ, mà có lẽ giờ này thầy cũng không nhớ.

Nhưng cuộc đời lại quyết định theo một hướng khác.

Tháng 8/2010 tôi bị nhà nước VN bắt và bị kết án 17 tháng tù theo điều 79 Bộ Luật Hình sự: Âm mưu lật đổ chính quyền. Ra tù tôi nằm chèo queo ở nhà để lãnh tiếp 3 năm quản chế.

Tháng 8/2012 tôi bất ngờ tiếp hai người khách từ phương xa, giáo sư Michel Waldschmidt và giáo sư Pierre Cartier. Những tên tuổi lớn của toán học Pháp. Tôi quen thầy Waldschmidt tử hồi dạy ở ĐHBK qua một buổi thuyết trình về hàm diophante. Tôi đã đưa thầy đi tham quan ba ngôi chùa ở Sàigòn và chúng tôi trở nên bạn nhau từ đấy. Khi tôi bị tù, thầy có đến tận nhà thăm hỏi và sau đó lập một kiến nghị lên chính phủ Pháp có những biện pháp để trả tự do cho tôi. Kiến nghị đã được nhiều giáo sư Pháp hưởng ứng. Nghe tôi được tự do ông đã thu xếp và nhân tham dự Hội nghị Toán học tại Huế, ông đã đến hỏi “cho ra lẽ” câu chuyện của tôi. Ông dẫn theo người bạn là giáo sư Cartier.

Gs Cartier năm nay đã ngoài 80, ông là một chuyên gia về hình học đại số và hiện vẫn còn làm việc cho một Trung tâm nghiên cứu. Cả hai nhà toán học ngồi lặng nghe câu chuyện của tôi, vừa thích thú vừa xót xa. Kết thúc câu chuyện, thầy Waldschmidt nói:

– Tôi rất hiểu những khó khăn tình trạng cô lập này, nhưng cậu đừng lo, chúng tôi sẽ cố gắng giúp đỡ và giới thiệu cậu đến các đồng nghiệp. Họ sẽ biết và nhớ đến cậu. Lúc ấy thầy Cartier mới lên tiếng.

– Michel (tên gọi của thầy Waldschmidt) đã kể hết cho tao nghe chuyện của mày. Tao rất thông cảm và chia sẻ khó khăn này. Để tao kể cho mày nghe, trong bài phát biểu của tao trước Hội nghị, tao đã kết luận rằng “Chỉ trong môi trường tự do toán học mới có thể phát triển tốt đẹp”. Nói rồi thầy cười, một nụ cười tinh nghịch như vừa làm được một cái gì thích thú. Nhưng đối với tôi, đây có lẽ là lời động viên hay nhất mà tôi nghe được từ khi ra tù. Tôi nhìn sâu vào mắt của thầy để gởi gấm hết tấm lòng biết ơn của mình. Sau đó chúng tôi lan man sang các chuyện khác. Đến một lúc thầy Cartier buột miệng hỏi:

– Mày có biết tên tuổi các nhà toán học Pháp chứ? Thầy Cartier gãi ngay chỗ ngứa, tôi phun ra một lô tên: Descartes, Lagrange, Laplace, Galois, Cauchy, Poisson…

– Đúng phóc, thế các nhà toán học gần đây, mày có biết ai không? Chà! chỗ này không phải là chỗ ngứa, nhưng tôi cũng tìm ra được Henri Cartan [1] và Laurent Schwartz. Thầy Cartier gật gù ra vẻ thán phục. Nhưng tôi thì chưa hài lòng, phải chứng tỏ kiến thức của mình. Trong lúc bối rối, chợt nhớ đến thầy cũ:

– Ông có biết Yves Meyer không? thầy Cartier trợn tròn con mắt màu xanh ve chai của mình:

– Mày cũng biết Meyer à?

– Dạ, đó là thầy của em ở Đại Học Orsay.

Thầy Cartier nở một nụ cười ranh mãnh:

– Vậy thì tao lả… ông nội của mày rồi!

Đến lượt tôi căng con mắt ra:

– Thế ra là…

– Ừ, tao là thầy của Yves Meyer!

Quả trái đất tròn thật. Tôi ào ào kể cho thầy những kỷ niệm về thầy Meyer nhưng tuyệt không nhắc đến chuyện máy bay Mỹ. Thầy Waldschmidt bất ngờ xen ngang nói:

– Này! Meyer cũng ký vào bản kiến nghị trả tự do cho cậu đấy!

Thật à! Tôi sững người!

– Thế cậu chưa xem website của tớ à?

Và đó là điều đầu tiên tôi làm khi về đến nhà. Quả thực như thế. Nằm giữa tên các nhà khoa học Pháp là chữ Yves Meyer sờ sờ. Tôi yên lặng một hồi lâu rồi gởi cho thầy một email cảm ơn. Thầy phúc đáp ngay và nói cho tôi biết rằng thầy đã vận động và gởi kiến nghị đến những địa chỉ có uy tín trong làng giáo dục Pháp.

Nhưng câu chuyện cũ ngày xưa vẩn âm ỉ trong tôi và tôi mong có câu trả lời thỏa đáng. Tôi ngồi viết một email dài dòng nhưng nghĩ sao xóa sạch chỉ giữ lại câu cuối: “Em cảm ơn thầy đã nghĩ đến em, nhưng em muốn biết động cơ nào khiến thầy đi tranh đấu cho một người chống lại cái chế độ mà trước đây thầy đã ra sức bênh vực nó”. Rồi tôi bấm nút Send.

Đợi một ngày, hai ngày rồi một tuần, hai tuần vẫn không thấy hồi âm….

Đọc tiếp ở đây >>>>>> pmhoang.blogspot.com

Posted in Chinh Tri Xa Hoi, Lịch Sử | Leave a Comment »

►Tướng Giáp trong “Bên Thắng Cuộc”- Vụ án Năm Châu -Sáu Sứ 1991

Posted by hoangtran204 trên 08/10/2013

 

 

Đọc tiếp »

Posted in Lịch Sử, Đảng CSVN | 12 Comments »

►NĂM 1989 – SINH VIÊN SAIGON ĐÃ BIỂU TÌNH

Posted by hoangtran204 trên 24/02/2013

NĂM 1989 – SINH VIÊN SAIGON ĐÃ BIỂU TÌNH

 BỔ SUNG CHI VIẾT VỀ VỤ BIỂU TÌNH THÁNG 7-1989 CỦA SINH VIÊN KTX NGÔ GIA TỰ

Tác giả  


KTX NGÔ GIA TỰ ngày nay (hình từ Internet) 

Quá khứ tưởng đã ngủ kỹ trong ngăn kéo ký ức, và ngỡ rằng sự kiện ấy đã mất tăm như viên sỏi ném vào dòng sông đầy ắp các diễn biến lịch sử.

Hôm nay đọc phần II-Quyền Bính (Bên Thắng Cuộc của Huy Đức), đến chương 13-Đa Nguyên, mục Sinh Viên và Các Phong Trào Tự Phát thấy tác giả Huy Đức có nhắc qua cuộc biểu tình tháng 7/1989 của sinh viên KTX Ngô Gia Tự, ký ức tưởng đã vùi quên qua bao nhiêu năm vật lộn mưu sinh chợt ùa về như thác lũ. Mình xin bổ sung thêm một số chi tiết về cuộc biểu tình này ở góc độ một quần chúng tham gia trong cuộc…

Mời các bạn ghé blog của Nguyễn Phú đọc tiếp phần còn lại. 

NGUỒN: blog của  

 

Posted in Biểu Tình và Lập Hội, Lịch Sử | Leave a Comment »

►Chuyện thảm sát Tết Mậu Thân 1968 đang được đảng ra sức tuyên truyền và khơi dậy theo chiều hướng khác – Viết lại lịch sử

Posted by hoangtran204 trên 25/01/2013

Xin mời các bạn xem giáo sư HPNT trả lời phỏng vấn 1982 và so sánh với bài phỏng vấn 1997.

Hoang Phu Ngoc Tuong, 1982 Chien tranh Vietnam war

 

 

 


Thụy Khuê

Nói chuyện với Hoàng Phủ Ngọc Tường về biến cố Mậu Thân ở Huế

(RFI, 12 tháng 7, 1997)

Thụy Khuê: Thưa anh Hoàng Phủ Ngọc Tường, đây là lần đầu tiên anh đến Pháp? Lý do gì đã khiến anh được đi? Xin anh cho biết cảm tưởng của anh.

Hoàng Phủ Ngọc Tường: Đúng là lần đầu tiên tôi tới Pháp. Tôi sang Pháp qua cửa ngõ của nước Đức, ở đấy tôi đã nhận được sự bảo trợ của hiệp hội Schmitz Stiftung để đi dự tuần Việt Nam của tổ chức “Chung Một Thế Giới” ở thành phố Freiberg. Tiếp theo tôi đi dự hội thảo Euro-Việt III tại Amsterdam. Và sau đó tôi sang Pháp chơi.

Ấn tượng mạnh nhất của tôi sau gần một tháng lãng du bên Tây là như thế này: Trước mắt tôi là một cuốn sách mà tưởng chừng như tôi đã biết hết mọi cái ở trong đó, nhưng chính lúc này tôi lại đang giở ra những trang đầu. Cuốn sách đó tên gọi là Châu Âu.

TK: Thưa anh, nhân dịp này xin hỏi anh một vài vấn đề liên quan đến biến cố Mậu Thân ở Huế mà từ bao nhiêu năm nay, anh đã bị một số dư luận xem như anh có dính líu vào, hoặc anh là một trong những “thủ phạm” vụ Mậu Thân. Trước hết, xin anh cho biết: Mọi việc thực sự đã xẩy ra như thế nào?

HPNT: Hàng chục năm nay, mỗi năm cứ tới dịp 30 tháng 4, hoặc dịp Tết thì nhiều tờ báo hải ngoại lại đưa tên tôi ra làm con vật tế thần, bằng cách nói đi nói lại, y như thật, rằng tôi là một tên đồ tể Mậu Thân ở Huế. Thực ra thì đó là một sự bịa đặt, mang ý định vu khống hoàn toàn. Sự thực là tôi đã từ giã Huế lên rừng tham gia kháng chiến vào mùa hè năm 1966, và chỉ trở lại Huế sau ngày 26 tháng 3 năm 1975. Như thế nghĩa là trong thời điểm Mậu Thân 1968, tôi không có mặt ở Huế.

Sau năm 1975, ít ra là đã có ba tài liệu sau đây xác nhận rằng tôi không có mặt ở Huế hồi Mậu Thân:

1. Nhiều người hay nhớ lõm bõm bài trả lời phỏng vấn của anh Lê Văn Hảo trên báo Quê Mẹ, xuất bản ở Paris, để buộc tội tôi. Thực ra thì trong bài này, tôi đã đọc kỹ, thấy anh Hảo nói rất đúng rằng, hồi Tết Mậu Thân, cả anh Hảo và tôi đều đang ở trên một vùng núi, cách xa Huế gần 50 cây số, và không hề có chuyện tôi về Huế để giết người.

2. Bài viết của anh Đặng Tiến đăng trên báo Thông Luận, Paris, trong đó Đặng Tiến dẫn chứng nhiều nguồn tư liệu đã công bố ở trong nước, do nhiều nhân vật khác nhau cung cấp, bác bỏ những lời lẽ xảo ngôn lệnh sắc trên báo Thông Luận buộc tội tôi về chuyện giết người ở Huế trong năm Mậu Thân.

3. Trong cuốn Giải Khăn Sô Cho Huế, của Nhã Ca in sau biến cố Mậu Thân, tác giả cũng nói rằng: Phủ (tức là tôi), không về Huế, và nếu có về thì chắc cũng không giết người. Tôi thành thật cảm ơn chị Nhã Ca đã dành cho tôi điều nhìn nhận khách quan rất quan trọng này, dù trong cảnh tượng máu lửa hỗn quan hỗn quân của Huế Mậu Thân.

Đã không có mặt ở Huế thì làm sao tôi -Hoàng Phủ Ngọc Tường- lại có thể làm cái việc ghê gớm gọi là “đồ tể” Mậu Thân ở Huế được?  …

Mời các bạn đọc tiếp ở đây

http://thuykhue.free.fr/tk97/nchpngoctuong.html

Cuộc phỏng vấn giáo sư HPNT video 1982 cho thấy ông ta thừa nhận ông có mặt ở Huế trong Tết Mậu Thân, Nhưng trong cuộc phỏng vấn của nhà văn Thụy Khuê 1997, giáo sư HPNT đã  nói là ông không có mặt ở Huế: “Sự thực là tôi đã từ giã Huế lên rừng tham gia kháng chiến vào mùa hè năm 1966, và chỉ trở lại Huế sau ngày 26 tháng 3 năm 1975. Như thế nghĩa là trong thời điểm Mậu Thân 1968, tôi không có mặt ở Huế.”

“Đã không có mặt ở Huế thì làm sao tôi -Hoàng Phủ Ngọc Tường- lại có thể làm cái việc ghê gớm gọi là “đồ tể” Mậu Thân ở Huế được?” 

*Đảng CSVN thông qua Lê Duẫn và Lê Đức Thọ đã lên kế hoạch tấn công vào năm 1967. HCM là người phê duyệt kế hoạch tổng tấn công vào dịp Tết Mậu Thân 1968.  Hồ Chí Minh viết bài thơ có hàng chữ:

Xuân này hơn hẳn các xuân qua, Chiến thắng tin vui khắp mọi nhà…”  1-1-1968, nguon http://nguoicaotuoi.org.vn/Story.aspx?ID=153

Và bề ngoài, ông còn giả bộ như không nhúng tay vào chuyện này, (ông bị bệnh, qua Trung Quốc nghĩ dưỡng sức), nhưng bài thơ của ông và tài liệu lịch sử của đảng CSVN để lại cho thấy ông là người sau dùng phê duyệt kế hoạch tấn công, ông chính là người chỉ huy cao cấp nhất…ông HCM là vị chỉ huy cao nhất, ông phê duyệt kế hoạch, ban lệnh tấn công, và làm như thế này đây, nguon Duiker, trang 557, chuong 15

Cho thấy rằng ông HCM  rất thủ đoạn: nếu chiến dịch Mậu Thân 1968 thành công thì ông sẽ ra nhận công lao, còn nếu thất bại thì ông không mang tiếng.

 

Lợi dụng lệnh ngưng bắn, mà cả hai phe cùng thỏa thuận trước đó để ăn Tết, bộ đội và cán bộ cộng sản đã đánh chiếm thành phố Huế ngày 30-1-1968.

Họ đã đi từng nhà kêu gọi và lùng bắt các đàn ông, thanh niên, sinh viên học sinh, dân quân cán chính VNCH đang ở nhà ăn Tết với gia đình. Sau đó, họ gom những người này ở trong các trường học, các hội trương…Và ban đêm, họ xử án, kêu từng người một ra ngoài, bắt nạn nhân khác đào các hố sâu, rồi dùng búa đánh vào đầu và đẩy cho nạn nhân xuống các hố để chôn sống nạn nhân, có nạn nhân thì bị bắn và đẩy xuống hố. Các nhân chứng là  dân chúng có nhà ở gần trường Trung Học Gia Hội, Bãi Dâu…đã nghe các tiếng la thất thanh trong đêm, và họ lén rình xem chuyện gì đã xẩy ra…Sau khi Việt Cộng bị đánh bật, thua cuộc và rút khỏi thành phố Huế, các nhân chứng thuật lại chuyện cho mọi người nghe. Người ta đã đi tìm và phát hiện hàng trăm mồ chôn tập thể. Suốt năm 1968 và 1969, gần như hàng tuần trên truyền hình đều có chiếu phim phóng sự sống, tường thuật việc phát hiện các mồ chôn tập thể, đào xác nạn nhân lên để nhận diện. Các hình ảnh và phim cho thấy các nạn nhân tay bị trói, vẫn còn mặc áo quần, xương sọ bị bể, trên người không có vết đạn…Ở nơi khác thì nạn nhân bị bắn vào đầu, bị bắn từ sau lưng, và chết trong tư thế nằm sấp, mặt úp xuống đất..  

Đây là một tội tác mà chứng cớ quá rõ ràng mà các đài truyền hình hồi ấy đã ghi lại qua phim ảnh, và chiếu cho hàng chục triệu người dân miền Nam xem, các phóng viên ngoại quốc đã đến Huế săn tin và chụp ảnh…rất khó lòng che dấu và chối cải. Gia đình của các nạn nhân hiện nay vẫn còn sống, các nhân chứng vẫn còn sống, có nạn nhân may mắn trốn thoát khỏi bị giết chết trong dịp Tết Mậu Thân… Đảng biết rõ việc làm và các tội ác này, nhưng hơn 40 năm quan họ không hé môi, không thừa nhận, vì tài liệu và các bằng cớ quá nhiều và quá rõ về tội thảm sát hơn 7000 người học sinh, sinh viên, dân quân cán chính của VNCH trong Tết Mậu Thân 1968 chỉ vì trước đó họ tin rằng cả hai phe đã cam kết: ngưng chiến để ăn 3 ngày tết.

Nhưng Ban Tuyên Giáo của đảng CSVN đã bỏ ra kinh phí 10 năm và trả lương cho một đạo diễn đi chứng minh ngược lại về tội thảm sát do đảng CSVN đã chỉ đạo trong dịp Tết Mậu Thân 1968.

——

Lật lại những câu chuyện lịch sử “nhạy cảm” trong chiến dịch Mậu Thân 1968

24-1-2013

Đã có nhiều nguồn tin trái chiều về những cuộc thảm sát trả thù đẫm máu bên trong thành Huế sau khi Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam chiếm được cố đô. Chính sự đẫm máu thảm khốc, trong một thời gian dài, người ta né tránh nhắc đến chiến dịch Mậu Thân năm 1968.

Cuộc tổng tiến công và nổi dậy dịp Tết Mậu Thân năm 1968 của quân và dân ta đã đánh dấu bước ngoặt lớn trong cuộc chiến với Mỹ. Vào thời điểm ấy, quân đội Mỹ đã hoàn toàn sa lầy trong cuộc chiến tranh với Việt Nam. Quân đội Mỹ không thể bình định được miền Nam Việt Nam, cũng không thể rút quân về nước. Trong tình hình đó, dư luận thế giới, dư luận của chính nội bộ nhân dân Mỹ phản đối chiến tranh tại Việt Nam ngày càng mạnh mẽ, quyết liệt. Nắm lấy thời cơ này, Bộ Chính trị đã quyết định đánh một trận gây tiếng vang lớn, “Một cú đập lớn để tung tóe ra các khả năng chính trị” (Lê Duẩn). Chiến dịch Mậu Thân năm 1968 đã bất thần được quyết định như thế để tạo bước ngoặt lớn trong chiến tranh, buộc Mỹ phải xuống thang, đi tới đàm phán.

Sáng sớm ngày 31/1/1968, trong dịp Tết Nguyên đán Mậu Thân, quân ta đã đồng loạt tấn công bất ngờ vào nhiều thành phố, trong đó có những thành phố lớn như Sài Gòn, Đà Nẵng, Huế… Cuộc tổng tấn công và nổi dậy Tết Mậu Thân năm 1968 được đánh giá là một thắng lợi có tầm vóc lớn về chiến thuật của quân ta, tạo tiền đề quan trọng để Mỹ xuống thang chiến tranh, đi đến đàm phán tại Hội nghị Paris năm 1973.


Quân ta trong chiến dịch Mậu Thân năm 1968Tuy nhiên, trong suốt một thời gian dài, nhiều nguồn thông tin nhiễu loạn đã khiến chiến dịch Mậu Thân năm 1968 trở thành câu chuyện lịch sử nhạy cảm, ít được nhắc đến. Những thông tin về các ngôi mộ tập thể được tìm thấy ở Huế, thông tin về những cuộc thảm sát đẫm máu mang tính trả thù cá nhân sau khi Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam chiếm được thành Huế… được lan truyền một cách ẩn ức trong dư luận suốt một thời gian.

Khi câu chuyện về chiến dịch Mậu Thân năm 1968 vẫn tồn tại như một câu chuyện lịch sử nhiều bí ẩn, một nữ đạo diễn Việt Nam đã âm thầm chuẩn bị tài liệu trong suốt 10 năm để lật lại, để truy tìm sự thật, để nói đến tận cùng về những câu chuyện “nhạy cảm” năm 1968.


Lính Mỹ trong thành cổ Huế năm 1968. Cuộc giao tranh 26 ngày đêm ở Huế diễn ra khốc liệt.
Lý do của 10 năm đổ công sức, tiền bạc đi tìm tài liệu, đi tìm nhân chứng về cuộc tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân năm 1968 của nữ đạo diễn Lê Phong Lan khiến người viết thực sự cảm động. Chị nói, “Có một động lực vô hình nào đó thôi thúc tôi đi tìm hiểu về chiến dịch Mậu Thân năm 1968. Trong quá trình đi tìm tài liệu, đi tìm những nhân vật là chứng nhân lịch sử của cả hai chiến tuyến, tôi đã nhìn thấy những tấm ảnh tư liệu ghi lại hình ảnh chiến sỹ giải phóng của ta hy sinh như thế nào, đổ xương đổ máu ra sao… Tôi không tin những người lính ấy lại có thể tạo ra những cuộc thảm sát”.Theo đạo diễn Lê Phong Lan, “Lịch sử đã trải qua 45 năm, thời gian đã có đủ độ lùi để chúng ta nhìn nhận lại về chiến dịch Mậu Thân năm 1968. Thời thế đã đổi thay. Tôi nghĩ đã đến lúc chúng ta nói chuyện với nhau thật thẳng thắn về tất cả những câu chuyện xảy ra từ 45 năm trước. Trong 10 năm ròng, tôi đã đi, đã tìm kiếm, đã gặp gỡ, phỏng vấn, để xây cất nên 12 tập phim tài liệu về chiến dịch Mậu Thân năm 1968. Tôi gặp gỡ cả những người lính ở hai chiến tuyến, tôi gặp gỡ hỏi chuyện cả những người chỉ huy ở cả hai chiến tuyến. Ở cấp chỉ huy, ở cấp lính, mỗi người đều có cái nhìn khác nhau về cuộc chiến. Suốt 10 năm tôi đi và đi, phỏng vấn và phỏng vấn… Và tôi nghĩ, 12 tập phim tài liệu xây cất trong 10 năm ròng của tôi sẽ giúp khán giả giải mã được sự thật còn gây tranh cãi của chiến dịch Mậu Thân năm 1968”.

 


Nữ đạo diễn Lê Phong Lan và nhà báo, nhà sử học Mỹ Stanley Karnow trong quá trình thực hiện bộ phim tài liệu 12 tập “Mậu Thân- 1968”12 tập phim tài liệu với tựa đề “Mậu Thân- 1968” là sự nhìn nhận, đánh giá của chính những người trong cuộc sau độ lùi 45 năm thời gian. Tính đến thời điểm hiện tại, 2/3 số nhân vật được phỏng vấn trong 12 tập phim tài liệu của đạo diễn Lê Phong Lan đã ra đi. 10 năm không mệt mỏi để một nữ đạo diễn bươn chải, tìm cho bằng được những sự thật về “Mậu Thân-1968”.

Và với những gì tìm được, nữ đạo diễn trả lời, “Tôi đã gặp những nhà báo Mỹ, những người lính bên kia chiến tuyến, họ đã nói, tất cả những thông tin về vụ thảm sát năm 1968 tại Huế chỉ là sự vu cáo của Mỹ và chính quyền Việt Nam cộng hòa đổ lên đầu Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam. Để khỏa lấp cho sự thất bại nặng nề, phía Mỹ và Việt Nam cộng hòa đã phát động những tin đồn nhảm gây nhiễu loạn như một cuộc chiến tranh tâm lý, và nó đã kéo dài trong một thời gian. Nhưng sự thật là sự thật. Chiến dịch Mậu Thân trải qua thời gian càng khẳng định là bản anh hùng ca vĩ đại của quân dân Việt Nam”.


Nước Mỹ đã “khủng hoảng niềm tin” sau Chiến dịch Mậu Thân 1968“Tôi chỉ có một câu hỏi, “Tại sao cha ông chúng ta, thế hệ những người trẻ như tôi, như bạn thời ấy lại có thể sẵn sàng hy sinh mạng sống, hy sinh gia đình của mình vì độc lập, tự do của Tổ quốc? Vậy, độc lập, tự do là gì? Tại sao người ta có thể hy sinh ghê gớm đến thế vì độc lập, tự do. Nếu các bạn cũng như tôi, đã đọc, đã tìm hiểu, đã nhìn tận mắt những hình ảnh về chiến tranh Việt Nam, các bạn sẽ thấy đó là một huyền thoại. Lịch sử Việt Nam đã được viết bằng những huyền thoại”- Đạo diễn Lê Phong Lan chia sẻ sự xúc động.

Nữ đạo diễn tin rằng, thế hệ trẻ bây giờ thờ ơ với lịch sử là vì họ không hiểu lịch sử, họ gần như không biết gì về lịch sử với những bài học giản đơn ở trường lớp. Nếu đã hiểu, họ cũng sẽ yêu vô cùng những huyền thoại đã được viết bằng máu của đất nước mình.

Máu đã viết nên huyền thoại về đất nước, nếu ai đã lắng nghe, đã thấu hiểu, cũng sẽ cúi đầu trước những huyền thoại ấy.

Trích dẫn lời của một trong những nhân vật của 12 tập phim tài liệu- “Mậu Thân- 1968”:

Ông Larry Berman- GS. Sử học Mỹ “Tết Mậu Thân là một bước chuyển mang tính quyết định, chấm dứt leo thang chiến tranh Việt Nam. Người Mỹ sử dụng cụm từ “khủng hoảng lòng tin”. Cuộc tấn công bộc lộ cho người Mỹ thấy rằng, toàn bộ cuộc chiến này dựa trên cơ sở của một lời dối trá”.

Cũng trong nhiều tài liệu nghiên cứu sử học của Mỹ đã phải thừa nhận, những thông tin về vụ thảm sát tại Huế sau khi Quân giải phóng miền Nam Việt Nam chiếm được cố đô là hoàn toàn vu cáo./.

Hiền Hương

——————————–

Báo Người Cao Tuổi đăng

http://nguoicaotuoi.org.vn/Story.aspx?ID=153

(Thứ Bẩy, 02/02/2008-9:50 AM)

“Xuân này hơn hẳn mấy xuân qua”

Có lẽ ít có một dân tộc nào trên thế giới lại có cái Tết Nguyên đán thẫm đượm cõi tâm linh gây nhiều xúc động hướng thiện như người Việt Nam. Thơ khai bút đầu xuân của ông cha ta đã thành nét đẹp truyền thống khơi mạch dự cảm của một năm mới.

Đến Bác Hồ, thì thơ khai bút dưới hình thức chúc Tết đồng bào, chiến sĩ trở nên một sự sáng tạo, một hình thức độc đáo, bởi hiếm có một nguyên thủ quốc gia nào trên thế giới, một chủ tịch nước lại là một nhà thơ như Chủ tịch Hồ Chí Minh. Những lời chúc thành thơ ấy mang khí vị tết, đồng thời có một ý nghĩa vô cùng quan trọng trong đời sống tinh thần của dân tộc ta. Trước khí thế sục sôi cách mạng và chiến thắng liên tiếp như hoa mùa xuân đua nở, Tết Đinh Mùi – 1967 Bác vui hơn và có thơ:

Xuân về xin có một bài ca

Gửi tới đồng bào cả nước ta

Đánh Mỹ hai miền đều thắng lợi

Tin mừng thắng trận nở như hoa

Kẻ thù trước sự thất bại càng điên cuồng đánh phá miền Bắc, đem quân ồ ạt vào miền Nam. Tướng Oét-mô-len tổng chỉ huy quân viễn chinh Mỹ ở miền Nam Việt Nam khi về nước Mỹ đã huyênh hoang tuyên bố: “Đã 4 năm nay ở Việt Nam nhưng chưa bao giờ tôi phấn khởi như hiện nay. Chúng ta đang tiến bộ thật sự. Năm 1968 là giai đoạn mới đang bắt đầu. Việt Cộng đã hết hơi và quân Mỹ sẽ đánh cho họ gãy xương sống”. Sau đó, Oét trở lại Việt Nam cũng dịp gần tết, trận tổng tiến công Mậu Thân nổ ra. Bác Hồ đã nhìn thấy sự tất thắng của ta và báo trước một mùa xuân thắng lợi. Ngày 01-01-1968, Bác gửi thư chúc mừng năm mới:

Xuân này hơn hẳn mấy xuân qua

Thắng trận tin vui khắp nước nhà

Nam Bắc thi đua đánh giặc Mỹ

Tiến lên!

Toàn thắng ắt về ta

Bấy giờ bài thơ Xuân 68 của Bác gây ấn tượng mạnh mẽ nhất. Ẩn trong lời thơ là điều dự báo trọng đại mà ngày ấy chưa ai hiểu được dự cảm, ý nghĩa hiện thực của câu thơ. Sau sự kiện xảy ra rồi toàn dân mới rõ. Sau lời chúc tết đêm giao thừa ấy, chiến công vang dội, nối tiếp truyền thống tiến công và đánh giặc của anh hùng Quang Trung trước đây. 20 ngày sau, đêm 20 rạng ngày 21-01-1968, mặt trận Khe Sanh nổ súng, giặc Mỹ hốt hoảng. Tướng Oét-mô-len vội vã tăng cường lực lượng chống giữ. Nhà Trắng và Lầu Năm Góc dự đoán có thể có “Một cái gì giống như Điện Biên Phủ”. Đòn nghi binh Khe Sanh, đòn chính của quân chủ lực ta nổ súng 10 ngày trước Tết Mậu Thân tạo thế bất ngờ, nhằm tiêu diệt, tiêu hao một bộ phận, vây hãm, giam chân chúng, tạo điều kiện cho các chiến trường miền Nam tổng tiến công và nổi dậy. Đúng đêm giao thừa và đêm Mồng 1 Tết Mậu Thân (30 và 31-01-1968) miền Nam đồng loạt tiến công và nổi dậy, một đòn thật mạnh, thật hiểm, thật bất ngờ và đồng loạt đánh vào các cơ quan đầu não chiến tranh của Mỹ ngụy ở các đô thị. Trong đó có những trận gây chấn động lớn như tòa đại sứ Mỹ, dinh độc lập ngụy, bộ tổng tham mưu quân ngụy Sài Gòn và 25 ngày đêm làm chủ thành phố Huế. Sài Gòn cùng với 34/44 tỉnh lị, 5/6 thành phố lớn, 64/242 huyện lị của Mỹ ngụy bị đồng loạt tiến công. Đồng thời nhân dân nông thôn cũng nổi dậy diệt ác phá kìm. Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 như một đòn sấm sét làm choáng váng trùm xâm lược Mỹ và chấn động toàn cầu. Tướng Oét bị cách chức. Bộ trưởng quốc phòng Mác-na-ma-ra từ chức. Tổng thống Mỹ Giôn-xơn phải tuyên bố ngừng đánh phá miền Bắc, nhận đàm phán với ta tại hội nghị Pa-ri và không ra tranh cử tổng thống nhiệm kì 2 nữa. Dân chúng Mỹ càng bất mãn với chính phủ về cuộc chiến tranh phi nghĩa ở Việt Nam. Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Xuân 68 đã tạo bước ngoặt của cuộc kháng chiến chống Mỹ của dân tộc ta và khởi đầu quá trình đi xuống về chiến lược của đế quốc Mỹ, từ chiến lược “Chiến tranh cục bộ” sang “Việt Nam hóa chiến tranh”. Bài thơ Xuân 68 phản ánh hiện thực ta giành thắng lợi trong kháng chiến chống Mỹ qua cuộc tổng tiến công nổi dậy đồng loạt trên khắp chiến trường miền Nam. Bác Hồ đặc biệt vui mừng nên chưa xuân nào Bác làm nhiều thơ bằng Xuân 68. Bên cạnh bài thơ “Mừng Xuân 68” còn có bài “Khen 11 cháu dân quân gái thành phố Huế” (03-1968) có câu: “Đánh giặc Hoa Kỳ phải nát xương”. Và dù “Đã lâu chưa làm bài thơ nào” nhưng có tin thắng trận là Bác vui làm bài thơ “Không đề” (3-1968) có câu “Bỗng nghe vần thắng vút lên cao”.

Trần Kim Đồng

————————————

Phan hoi tren danluan.org

*

1968 (khách viếng thăm) gửi lúc 21:39, 25/01/2013 – mã số 77575

Logic của toàn bộ câu chuyện này rất đơn giản: Người Mỹ không chủ trương giành chiến thắng tại Việt Nam. Họ chỉ có mục đích chia rẽ Nga, Trung Quốc và giữ nguyên hiện trạng miền Nam Việt Nam. Đỉnh điểm là chiến tranh Nga – Trung 1969. Đạt được mục đích, người Mỹ biến khỏi Việt Nam ngay, Trung Quốc chiếm Hoàng Sa cũng bật đèn xanh luôn.

Càng hăng đít vịt bao nhiêu thì cuối cùng bên chuốc cay đắng nhiều nhất vẫn là Việt Nam. Nhà báo Huy Đức mới vừa đưa ra thêm những bằng chứng cho điều này trong cuốn Quyền Bính.

Mậu Thân 1968 là sản phẩm của cuộc đảo chính tiếm quyền lực của bác Lê Duẩn, Lê Đức Thọ hạ bệ bác Võ Nguyên Giáp, Nguyễn Văn Vịnh, Đỗ Đức Kiên, Kim Giang, Hoàng Minh Chính… “Phe ta” thừa nhận đau đớn tưởng như không gượng dậy được, Bác Hồ chịu không nổi đã chuyển qua từ trần. Lê Duẩn, Lê Đức Thọ rơi vào thế yếu trước con mắt các tướng lĩnh, cố đấm ăn xôi “nổi dậy” thêm mấy phát nữa trong cùng năm để vớt vát, vẫn không ăn thua.

Nhưng may quá, chiến tranh Nga – Tàu xảy ra, người Mỹ đã xong việc và tự động rút quân nhanh chưa từng thấy (từ hơn nửa triệu xuống còn 20000) mà chưa cần Hiệp định Paris xuống thang xuống nấc gì hết.

————————–

——————————

maile (khách viếng thăm) gửi lúc 22:52, 25/01/2013 – mã số 77582

Điều cần nhắc lại ở đây là có cam kết ngưng bắn, đình chiến trong 3 ngày Tết truyền thống của VN giữa 3 bên VNDCCH, CHMNVN và VNCH.

Đa số quân nhân VNCH đã được cho về nhà ăn Tết, có rất ít người ở lại đơn vị.

Cuộc tổng tấn công Tết Mậu Thân là một vi phạm trắng trợn của chính phủ VNDCCH và CHMNVN vào cam kết ngưng bắn cũng như đã ngồi xổm lên truyền thống trọng đại linh thiêng của Dân Tộc VN trong ngày Tết.

1. Người Huế (khách viếng thăm) gửi lúc 20:43, 25/01/2013 – mã số 77563

Lê Phong Lan nói láo một cách trơ trẽn, dốt nát. Đi về xứ Huế mà hỏi năm 1968 ai chôn sông người dân, binh lính VNCH bị bắt thì rõ ngay.
Tháng giêng này nhiều nhà có giỗ vì có thân nhân bị chết do CSVN chôn sống trong các hố chôn tập thể.
Hỏi một vài người thì biết ngay Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hoàng Phủ Ngọc Phan có tham gia; Nguyên Đắc Xuân cũng tham gia xét xử trong một tòa án nhân dân tại Bãi dâu, Huế.
Gần 7000 người bị hảm sát dã man, ghê rợn.
Bọn cộng sản giết người dã man.

2. nguyễn hoàng dũng (khách viếng thăm) gửi lúc 21:01, 25/01/2013 – mã số 77568

giờ lòi ra thêm một con Vẹm trơ tráo !!!

3. Khách Lỡ Đường (khách viếng thăm) gửi lúc 21:16, 25/01/2013 – mã số 77570

Dân trí mà được nuôi bằng những ‘thức ăn’ như thế này thì chẳng mấy chốc được ‘khai’ bốc trời 🙂

Người chết không nói được, nhất là những ai bị đứt cuống họng, nhưng thân nhân họ thì chắc còn nhớ dai lắm. Khi nào hết sợ, do bị ám ảnh bởi chính cái chết của thân nhân, thì tha hồ mà nghe họ kể!

Phiên Ngung gửi lúc 21:49, 25/01/2013 – mã số 77573

Chị đạo diễn này không biết có phỏng vấn tên này không?

Nhìn cái mặt sát máu của hắn khi nói về việc “xử tội tay sai Mỹ ngụy” thì đủ hiểu. Tên này vì say men chiến thắng 4/75 mà mắc phải lỗi lầm kia chứ như Lê Khả Phiêu, là Trung đoàn trưởng và chỉ huy mặt trận Huế chẳng dám hó hé gì mãi đến khi về hưu mà cũng chỉ phiên phiến về Huế và Mậu thân 68 thôi.

Thế mới biết tại sao trong một thời gian dài, người ta né tránh nhắc đến chiến dịch Mậu Thân năm 1968.

————–

Posted in Lịch Sử | 3 Comments »

►Hôm nay là đúng 58 năm, kỷ niệm ngày chia đôi đất nước 20-7-1954

Posted by hoangtran204 trên 20/07/2012

Nước Việt Nam đã không may vì đã thua cộng sản hai lần qua việc ký  2 hiệp định, Hiệp Định Geneve 1954 và Hiệp Định Paris 1973.

Hiệp Định Geneve 20-7-1954 đã chia Việt Nam ra làm 2 nước. Miền Bắc theo chế độ cộng sản, và Miền Nam theo chế độ dân tự do dân chủ;  TT Ngô Đình Diệm đã từ chối không ký Hiệp định Geneve 1954. Trung Quốc đã dùng áp lực quân sự và ngoại giao giúp đảng CSVN chiếm được Miền Bắc bằng Hiệp Định Geneve 1954.

Sự giúp đỡ của TQ dành cho ông HCM và Đảng LĐVN là kết quả của cuộc đi cầu viện của ông Hồ Chí Minh vào đầu năm 1950.  Ông HCM qua Trung Quốc gặp Mao Trạch Đông và qua Liên Xô gặp Stalin vào mùa xuân 1950 để xin quân đội Trung Quốc qua VN giúp đánh Pháp, và xin vũ khí, quân trang quân dụng và lương thực.  Tình báo của Đài Loan và Pháp cho biết, vào năm 1950,  Mao đã hứa giúp ông HCM sau khi cả hai đã ký một hiệp định bí mật.

Những biểu hiện của đảng CSVN trong suốt thời gian từ 1956-2012  cho thấy hiệp định bí mật ấy là có thật. Theo đó,  ông HCM và đảng Lao Động Việt Nam (tức đảng csvn) đã hứa đền ơn cho Trung Quốc quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, thác Bản Giốc, Ải Nam Quan, và núi Lão Qua…nếu như Trung Quốc giúp ông HCM đánh Pháp, và lấy Miền Bắc 1954 và Miền Nam 1975.

Sau khi giúp ông HCM và đảng LĐVN (tức đảng CSVN) chiếm được Miền Bắc bằng thủ đoạn chính trị rất cáo già qua Hiệp Định Geneve 20-7-1954, Trung Quốc lấy công lần thứ nhất bằng cách chiếm một số đảo thuộc quần đảo Hoàng Sa vào năm 1956. Để hợp pháp hóa sự công nhận về chủ quyền,  ngày 4-9-1958 Trung Quốc ra công bố về chủ quyền biển đảo, và ông HCM đã sai TT Phạm Văn Đồng ký Công Hàm 14-9-1958, nội dung là đống ý chủ quyền vùng biển đảo, và lãnh hải của Trung Quốc.  

http://www.youtube.com/watch?v=JtyVPmQl_zM   

Sau khi bắt tay với Mỹ năm 1972, TQ đã dò hỏi và biết được cuộc chiến VN sẽ kết thúc năm 1973. Trung Quốc lấy công lần thứ 2 bằng cách chiếm một số đảo khác trong quần đảo Hoàng Sa.  Hải Quân VNCH tấn công các chiến hạm của Trung Quốc và0  ngày 19-1-1974 để bảo vệ chủ quyền các hòn đảo này. (Trong khi ấy, mời các bạn đọc  Tư Liệu Lịch Sử, để thấy lập trường của đảng CSVN qua phát biểu của Lê Đức Thọ với tướng Lê Quang Hòa vào 1973.).     

Có thể nói,  Hiệp định Geneve 20-7-1954 là thành công bước đầu và quan trọng nhất trong lịch sử của đảng CSVN.  Trước đó, từ ngày thành lập đảng từ 1930 cho đến 1954, đảng CSVN phải trốn chui, trốn nhủi, và phải đổi tên rất nhiều lần, đảng hoàn toàn không có văn phòng đại diện, không có cơ sở chính danh ở bất cứ thành phố nào ở Việt Nam hay bất cứ nơi đâu. Nhưng sau hiệp định Geneve 1954, ông HCM và đảng nghiễm nhiên trở thành ông chủ của một nửa nước Việt Nam. Đó là một ‘thắng lợi’ lớn nhất, quan trọng nhất kể từ ngày thành lập đảng CS Đông Dương vào năm 1930.

Hiệp định Ba Lê 27-1-1973 là chiến thắng của cộng sản lần thứ 2, đẩy cả nước VN dưới ách độc tài và cai trị của đảng CSVN.  Hoàng Sa, Trường Sa, Thác Bản Giốc, Ải Nam Quan, Núi Lão Sơn, nhiều vùng ở tỉnh Móng Cái…nay nằm trong tay của Trung Quốc cũng vì đảng CSVN và ông HCM đã cầu viện Trung Quốc năm 1950.

Ôn lại lịch sử

Đảng CSVN và Nhà Nước luôn tìm cách viết lại lịch sử  bằng cách nhấn mạnh đến các hoạt động của họ vào năm 1945. Nhưng nếu ta bình tỉnh đặt câu hỏi: tại sao cuốn phim nói về ngày độc lập 2-9-1945 chỉ kéo dài có 20 giây? Ai mời Pháp trở lại Việt Nam qua Hiệp định 6-3-1946, để  rồi mượn cớ kháng chiến chống Pháp để  kêu gọi sự  hợp tác với các đảng phái quốc gia. Khi các đảng phái quốc gia hợp tác với đảng CSĐD, thì đảng sai người ban đêm  ám sát giết chết các nhà lãnh đạo của các đảng phái này, một mặt, bí mật  báo cho quân Pháp bắt các cán bộ của các đảng phái quốc gia, và mặt khác tiêu diệt các trí thức nhân sĩ như  Phạm Quỳnh, Dương Bá Trạc,… và giết các nhà lãnh đạo tôn giáo như  Huỳnh Phú Sổ, Lý Đông A, Ngô Đình Khả?

Khi nhắc lại giai đoạn lịch sử 1945, ông bà cha mẹ ta thường nói “…Việt Minh CƯỚP chính quyền vào tháng 8, năm 1945…”, họ dùng chữ CƯỚP là rất đúng. Vì trước đó, nước Việt Nam, Lào, Kampuchea đã được Nhật khuyến khích: hãy tuyên bố độc lập khỏi tay nước Pháp.

Vua Bảo Đại đã tuyên bố nước Việt Nam độc lập từ ngày 16-3-1945, và chính phủ đầu tiên của nước Việt Nam độc lập do Thủ tướng Trần Trọng Kim thành lập, và ra mắt 10 bộ trưởng vào ngày 17-4-1945, tấm hình ra mắt quốc dân đồng bào vào ngày 17-4-1945 vẫn trong sách sử. (Vì ghen tức về chuyện này, đảng và nhà nước giấu bén chuyện hội đồng chính phủ do Thủ Tướng Trần Trọng Kim đứng đầu nội các, thậm chí trong sách lịch sử dạy cho học sinh, đảng CSVN cũng không viết về tên các nhân vật và các biến cố ấy. Thay vào đó, đảng cứ tuyên truyền với dân là: nước VNDCCH do HCM thành lập, và tuyên bố độc lập vào ngày 2-9-1945. 

*Mời các bạn đọc thêm bài này

Cách Mạng Mùa Thu 1945 không hề xảy ra]

Tại sao chiến tranh Việt Nam kết thúc?

_Chiến lược của  Mỹ  ở  Việt Nam đã thay đổi khi  TT Nixon bắt tay với Trung Quốc năm 1972. Lúc ấy, Mỹ muốn dùng Trung Quốc để cầm chân 2 triệu quân đội Liên Xô phải đóng quân dọc theo biên giới  Liên Xô- Trung Quốc; việc này làm cho sức mạnh của Liên Xô bị chia đôi và yếu hẳn đi bên phía Âu Châu, và cùng lúc đẩy Liên Xô ở vào thế  nằm giữa hai gọng kềm (giữa TQ và các nước thuộc khối NATO (Tây âu và Mỹ). 

Chiến lược của Mỹ từ 1963-1972 là đem quân Mỹ vào miền Nam, và dùng miền Nam Việt Nam như một tiền đồn chống cộng. Họ cho rằng nếu mất Miền Nam, thì các nước khác như Thái Lan, Mã Lai, Indonesia… sẽ rơi vào tay cộng sản (đây gọi là học thuyết Domino). Vì sự tham dự của quân đội Mỹ ở  Việt Nam kéo dài từ 1965-1972 mà cuộc chiến gần như không có dấu hiệu kết thúc bằng biện pháp quân sự, đồng thời sự thiệt mạng và bị thương của lính Mỹ được báo chí Mỹ  thống kê và đếm hàng tuần đã làm cho dân chúng Mỹ buồn bả và mất tinh thần, và khi ra tranh cử TT năm 1968, TT Nixon đã hứa nếu đắc cử, ông sẽ rút quân đội Mỹ về nước trước khi nhiệm kỳ của ông kết thúc vào 20-1-1973…Bước ngoặc đã đến với TT Nixon khi ông và bộ tham mưu nhận ra Trung Quốc đang ve vãn muốn đi đêm với Mỹ  (Trung Quốc tự nhiên đứng ra làm trung gian, giúp Mỹ đàm phán với miền Bắc VN, và qua đó tiếp xúc và bí mật bàn bạc với Mỹ về các vấn đề khó khăn của họ…); kinh tế , tài chánh, công nghiệp và nông nghiệp của  TQ  sụp đổ từ 1966, đặc biệt nạn đói ở TQ lúc ấy đang tràn lan khắp nước, dân chúng chết hàng 20 triệu người…mọi người đều phải ăn cháo…An ninh lương thực bị đe dọa, TQ cũng muốn kết thân với Mỹ để rảnh tay khỏi giúp 2 tỷ đô la viện trợ miền Bắc Việt Nam, và dùng Mỹ như một đồng minh để thoát khỏi sự đe dọa của Liên Xô (cả hai nước cộng sản LX và TQ đã  dàn quân đánh nhau  chí chết ở biên giới vào năm 1969).

Tóm lại, khi Mỹ bắt tay được với Trung Quốc 1972, Mỹ được lợi, Trung Quốc được lợi, và chiến tranh Việt Nam đã phải kết thúc.

***

*Nhân đây, phải nhắc đến tài nhìn xa trông rộng của ông Ngô Đình Nhu. vào tháng 9- 1963, ông Nhu nói: nếu TT Ngô Đình Diệm không còn làm TT nữa, thì Miền Nam VN chỉ đứng vững được 10 năm.  Quá chính xác. Mỹ rất ghét ông Ngô Đình Nhu, vì ông Nhu quá tài giỏi.  (Mỹ luôn luôn tìm cách ép TT Diệm đẩy ông Nhu ra nước ngoài). Ông Nhu dùng Ấp Chiến Lược triệt hạ được 98% cộng sản ở miền Nam,

Phỏng vấn: Ông Cao Xuân Vỹ Kể Việc Ông Ngô Đình Nhu Bí Mật Gặp Ông Phạm Hùng Ở Khu Rừng Tánh Linh Bình Tuy

Posted in Lịch Sử | 2 Comments »

►Phỏng vấn: Ông Cao Xuân Vỹ Kể Việc Ông Ngô Đình Nhu Bí Mật Gặp Ông Phạm Hùng Ở Khu Rừng Tánh Linh Bình Tuy

Posted by hoangtran204 trên 12/07/2012

Ông Cao Xuân Vỹ Kể Việc Ông Ngô Đình Nhu Bí Mật Gặp Ông Phạm Hùng Ở Khu Rừng Tánh Linh Bình Tuy

Minh Võ
June 14, 2012


Ô. Cao Xuân Vỹ, TT. Ngô Đình Diệm &
Ô. Ngô Đình Nhu

Như đã hứa, (1)  ông Cao Xuân Vỹ, sau ba lần vào cấp cứu và điều trị tại bệnh viện, đã vui lòng dành cho chúng tôi một cuộc phỏng vấn để cống hiến bạn đọc một số hồi ức và kỷ niệm của ông trong thời gian đi theo Việt Minh kháng chiến rồi về hợp tác với chính phủ Ngô Đình Diệm với tư cách là người phụ tá thân cận của ông Ngô Đình Nhu, bào đệ và là cố vấn chính trị của Tổng Thống Ngô Đình Diệm.

1. Hỏi: Thưa ông, nghe nói ông cùng quê Nghệ An với ông Hồ Chí Minh?

Đáp: Phải. Tôi người làng Thịnh Mỹ, phủ Diễn Châu ở về phía biển, còn ông Hồ ở xã Kim Liên huyện Nam Đàn về phía núi.

2. Hỏi: Ông có thể cho biết gia đình ông có liên hệ gì với gia đình ông Hồ không?

Đáp: Tôi được biết ông cố tôi là cụ Cao Xuân Dục, thượng thư bộ học thuộc triều đình Huế có giúp đỡ thân phụ ông Hồ là Nguyễn Sinh Sắc về tài chính và khuyến khích, giúp đỡ ông ấy nhiều trong việc học hành để có thể đi thi và đậu phó bảng. Một phần vì ông Nguyễn Sinh Sắc là bạn học với ông nội tôi là Cao Xuân Tiếu. Đây là hình căn nhà ông nội tôi cho ông cử Sắc. (Ông Vỹ đưa xem hình căn nhà.)

3. Hỏi: Có tài liệu của phía Cộng Sản, như của Sơn Tùng và Nguyễn Đắc Xuân nói, khi thấy ông Nguyễn Sinh Sắc thi hỏng khoa Ất Mùi, (năm 1895), ông Cao Xuân Dục đã giúp cho ông Nguyễn Sinh Sắc được vào Huế, để có phương tiện và đủ sách vở hầu tiếp tục việc học và có thể thành đạt. Điều này có đúng không?

Đáp: Đúng. Ông cố tôi còn can thiệp để cho ông Nguyễn Sinh Sắc, dù không phải là con quan cũng được vào học ở Quốc Tử Giám. Đến khoa thi năm Tân Sửu (1901) chánh chủ khảo Cao Xuân Dục thấy khóa sinh Sắc không trúng tuyển đã cho lệnh xét lại bài thi của 4 thí sinh để rồi xin vua Thành Thái cho ông ta đậu phó bảng. Khóa ấy có 9 tiến sĩ, 13 phó bảng. Ông Sắc đậu phó bảng thứ 11.

4. Hỏi: Hồi còn nhỏ ông có biết về hoạt động của Cộng sản ở quê nhà và có chứng kiến các cuộc nổi dậy của Cộng Sản thường được gọi là phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh không?

Đáp: Có. Phong trào này mạnh nhất ở hai huyện Nam Đàn và Thanh Chương. Nhiều người bị chết oan. Cộng Sản đã giết hai tri phủ. Vì thế phản ứng của chính quyền bảo hộ cũng rất quyết liệt. Pháp đem bom thả cũng giết nhiều người, trong số ấy có cả Cộng Sản lẫn thường dân. Cha tôi có kể lại rằng để đối phó với phong trào này, ông Nguyễn Hữu Bài, thượng thư bộ Lại của Triều Đình Huế, (tương đương với chức thủ tướng thời nay), đã cho áp dụng một kế hoạch chiêu dụ Cộng Sản khá thành công. Lúc ấy ông cố tôi cùng ở trong nội các Nguyễn Hữu Bài.

5. Hỏi: Khi Việt Minh cướp chính quyền ông ở đâu? và có ủng hộ họ không?

Đáp: Lúc ấy tôi đang học ở Hà Nội. Tôi nhớ là mấy tháng trước khi Việt Minh cướp chính quyền, thanh niên sinh viên Hà Nội chúng tôi rất hăng hái ủng hộ chính phủ Trần Trọng Kim, vì là chính phủ của Việt Nam độc lập đầu tiên, dù phải nhờ có người Nhật lật đổ người Pháp. Nhưng chúng tôi rất phấn khởi và đã ủng hộ hết mình. Tiếc rằng bỗng nhiên chính phủ này từ chức ngày 7 tháng 8 (1945). Thật khó hiểu. Tuy từ chức nhưng chính phủ Trần Trọng Kim vẫn xử lý theo lệnh nhà vua. Khi mà Việt Minh tới trám vào chỗ trống chính trị này thì chúng tôi đã đi theo Việt Minh. Chúng tôi không biết Việt Minh là Cộng Sản. Thực ra lúc ấy chả mấy người biết Việt Minh là Cộng Sản.

6. Hỏi: Ông có gặp ông Hồ bao giờ không?

Đáp: Có. Hồi ấy tôi ở trong phong trào thanh niên sinh viên tranh đấu. Chúng tôi được hai ông Hoàng Minh Giám và Phan Mỹ giới thiệu để gặp ông Hồ ở Bắc Bộ Phủ. Lúc ấy ông ấy có cái vẻ bề ngoài rất ân cần và dễ mến. Về sau tôi mới hiểu tại sao ông ấy đã chiêu dụ được nhiều người đi theo ủng hộ Việt Minh. Cho đến giờ này tôi vẫn nghĩ ông ta thật là thông minh và xảo quyệt. Lại được tay Võ Nguyên Giáp cũng rất thông minh trợ tá đắc lực. Tôi học với Võ Nguyễn Giáp 4 năm, Tôi biết ông ta rất rõ. Ngay khi còn ngồi trên ghế nhà trường đã tỏ ra sắc sảo và quả đoán… Rất “độc tài”. Nhưng dầu sao Võ Nguyên Giáp không thể sánh được với Ngô Đình Nhu. Còn Phạm Văn Đồng thì không đáng là học trò Ngô Đình Nhu.

7. Hỏi: Rồi tại sao ông lại bỏ Việt Minh?

Đáp: Vì chúng tôi kết án ông Hồ đã ký thỏa ước mồng 6 tháng 3, nhượng bộ Pháp quá nhiều. Hơn nữa họ đã hãm hại nhiều người yêu nước bất đồng chính kiến. Chúng tôi chạy sang phía Việt Cách của các ông Nguyễn Hải Thần và Nghiêm Kế Tổ…

8. Hỏi: Khi nào thì các ông rời Hà Nội?

Đáp: Liền khi cuộc chiến giữa Việt Minh và Pháp bùng nổ ngày 19-12-46. Lúc ấy ông Hồ và đại bộ phận Việt Minh chạy lên Việt Bắc kháng chiến. Thì chúng tôi gồm 36 nhà trí thức và thanh niên sinh viên tranh đấu chạy vào khu Tư, gồm Thanh Nghê Tĩnh, để cùng với một số Việt Minh ôn hòa lập một phòng tuyến mới phi Cộng Sản chống thực dân và giúp dân mở mang về kinh tế và văn hóa. Có thể nói Liên Khu Tư lúc ấy như là một khu tự trị.

9. Hỏi: Ông có thể cho biết tên một số trong 36 nhà trí thức mà ông bảo đã rời Hà Nội vào Liên Khu Tư sau kháng chiến bùng nổ không?

Đáp: Tôi còn nhớ chẳng hạn có Luật Sư Trần Chánh Thành, các ông Trần Hữu Dương, Hồ Đắc Điềm, Phạm Thành Vinh, sau này trở thành rể của ông Hồ Đắc Điềm, ông Nguyễn Duy Quang, người của ông Bảo Đại, ông Phan Huy Xương, anh của bác sĩ Phan Huy Đán tức Phan Quang Đán, ông Tôn Thất Trạch v.v… Các ông này về sau đã hợp tác với thủ tướng Ngô Đình Diệm. Ông Trần Chánh Thành từng là bộ trưởng phủ thủ tướng, với ông Tôn Thất Trạch là đổng lý văn phòng. Ngoài ra, về phía thường dân tôi nhớ còn có bà Hòa Tường là một thương gia giầu có ở phố Hàng Đào cũng đi theo.

Tôi xin nói thêm ông biết điều này, là những vị này và tôi hồi đầu theo Việt Minh. Nhưng tất cả đều không phải Cộng Sản. Và ngay từ 1930 thì đã có hai phe cùng chống Pháp một bên là Đảng Cộng Sản, lúc ấy chưa có Việt Minh. Một bên là các nhân vật và tổ chức quốc gia phi Cộng Sản trong đó ngoài những người như ông Ngô Đình Diệm đã bắt đầu hoạt động từ đó, còn có các chiến sĩ Việt Nam Quốc Dân Đảng, mà đảng trưởng là Nguyễn Thái Học và 13 đồng chí đã bị Pháp xử bắn.


ông Ngô Đình Nhu

10. Hỏi: Khi nào ông rời Liên Khu Tư vào Sài Gòn và gặp ông Ngô Đình Nhu?

Đáp: Chúng tôi rời Liên Khu Tư ra Hà Nội. Chứ chưa vào Sài Gòn. Lúc ấy là vào khoảng đầu năm 1953. Ông Hồ Chí Minh theo lệnh Stalin và Mao Trạch Đông khỉ sự chuẩn bị mở chiến dịch Giảm Tô và cải cách ruộng đất. Có người thân trong Việt Minh cho chúng tôi biết. Nên tìm đường chạy trước. Về sau trong họ tôi có nhiều người có chút tư điền bị đem ra đấu tố. Chị ruột tôi cũng bị giết. Tôi “dinh Tề” qua ngả Phúc Nhạc, Phát Diệm là khu an toàn tự trị dưới quyền trông coi của giám mục Lê Hữu Từ. Khó khăn lắm mới tới được Hà Nội. Hà Nội lúc ấy đang sống an bình dưới chính quyền Bảo Đại. Tôi đi thoát được là nhờ có người chú họ ở trong tổ chức Việt Minh cấp cho một giấy thông hành. Ở Hà Nội tôi gặp lại các ông Đặng Văn Sung, Phan Huy Quát từng hoạt động chung với chúng tôi thời 1945.

Trong thời gian còn ở Liên Khu Tư chúng tôi nghe biết cán bộ Cộng Sản trong tổ chức Việt Minh chịu ảnh hưởng rất lớn bởi cán bộ Trung Cộng. Sau khi Mao Trạch Đông chiếm trọn lục địa vào cuối năm 1949, ông ta đã bắt Hồ Chí Minh gửi một số lớn cán bộ Việt Cộng sang Tầu để tẩy não, cải tạo tư tưởng, bắt học tập chủ nghĩa Mao-ít. Vì cái chủ nghĩa này mà các chiến dịch giảm tô và cải cách ruộng đất đã đẫm máu với những vụ con tố cha, vợ tố chồng và nông dân tàn sát lẫn nhau thật rùng rợn. Làng tôi có ông hàn Lương biết mình sắp bị đưa ra đấu tố đã nhảy xuống giếng tự tử, vậy mà đội cải cách đã lôi xác ông lên để đấu cái thây ma. Chúng đánh nát bấy cái thây ấy. Tôi mong có người thâu thập những tin tức khắp nước về cuộc Cải Cách Ruộng Đất thời gian đó để cho mọi người biết Cộng Sản dã man chừng nào.

11. Hỏi: Khi nào thì ông gặp ông Ngô Đình Nhu?

Đáp: Cuối năm 1953. Tôi vào Sài Gòn thì gặp lại ông Trần Chánh Thành. Ông Thành giới thiệu tôi với ông Nhu. Ông Thành vào Sài Gòn năm 1952 cùng một lượt với phần lớn trong số 36 nhà trí thức đã vào Liên Khu Tư để kháng chiến chống Pháp nhưng bất hợp tác với Việt Minh. Lúc gặp lại tôi thì ông Thành đang làm cho tờ báo Xã Hội của ông Nhu, đồng thời tập sự luật sư với Luật Sư Trương Đình Du…

12. Hỏi: Theo chỗ chúng tôi biết thì ông Ngô Đình Nhu từng có 5 nhiệm vụ quan trọng: một là dân biểu Quốc Hội, hai là Cố Vấn Chính Trị của Tổng Thống, ba là thủ lãnh Thanh Niên Cộng Hòa, bốn là Tổng Bí Thư đảng Cần Lao Nhân Vị, và sau hết vào năm cuối cùng ông còn là chủ tịch ủy ban liên bộ về Ấp Chiến Lược. Vậy ông ấy có một lực lượng nhân sự nào đáng kể để giúp thi hành chừng ấy nhiệm vụ không? Ví dụ ông ấy có mấy văn phòng? Có bao nhiêu nhân viên được ăn lương?

Đáp: Ông ấy chỉ có một mình thiếu tá Phạm Thu Đường làm chánh văn phòng, thường được gọi là chánh văn phòng ông Cố Vấn. Và dưới quyền thiếu tá Đường chỉ có 5 nhân viên, hầu hết tự túc. Không có ngân khoản nào dành cho ông Cố Vấn. Và phải nói thực khó hiểu là chính chức Cố Vấn này cũng chẳng được một văn kiện nào bổ nhiệm hay quy định nhiệm vụ. Thực tế ông Nhu chỉ giúp việc cho riêng ông Diệm với tư cách là phụ tá cho Tổng Thống. Người ta thấy việc ông làm thì gọi ông là Cố Vấn vậy thôi. Vì thế ông không có quyền hạn và nhiệm vụ gì chính thức.

Còn về thủ lãnh Thanh Niên Cộng Hòa, thì ông chỉ thị cho chúng tôi, phải tự túc. Mọi đoàn viên đều tự nguyện và tự túc theo tinh thần cách mạng. Cho nên cũng chẳng có quyền lợi gì.

Về văn phòng dân biểu, ông cũng không có. Thực ra ông ấy rất ít đi họp Quốc Hội. Chỉ khi nào có vấn đề chính sách quan trọng như Ấp Chiến Lược chẳng hạn, hay vấn đề “Giáo Dục nhân bản”, vấn đề “kinh tế tư hữu cơ bản” v.v.. thì ông mới tới trình bày mà thôi. Cho nên mọi thứ một mình ông cáng đáng. Tôi thật phục sức làm việc của ông Nhu.

13. Hỏi: Thế còn chức chủ tịch ủy ban liên bộ về Ấp Chiến Lược thì sao? Có văn thư nào quy định không?

Đáp: Chức này thì có. Nhưng cũng chỉ là một thông tư của phủ Tổng Thống gửi đến các bộ, để việc ông chủ tọa các phiên họp Ủy Ban Liên Bộ được danh chính ngôn thuận. Ông Nhu quan niệm chương trình Ấp Chiến Lược là một cuộc cách mạng xã hội và chính trị, chứ không phải chỉ là một chiến lược để đối phó với sự xâm nhập và khủng bố của Cộng Sản mà thôi. Ông thúc đẩy các tỉnh trưởng khai hóa người dân quê theo tinh thần tam túc, nghĩa là tự túc về tư tưởng, tự túc về tổ chức và tự túc về kỹ thuật, để có thể làm chủ cuộc đời mình, làm chủ được xã hội, không bị lệ thuộc vào bên ngoài, vào ngoại bang. Ông để rất nhiều thì giờ đích thân soạn những bài thuyết trình có tính lý luận cao dành cho các cấp lãnh đạo chính phủ và cán bộ cao cấp, chỉ cho họ cách thức đưa những tư tưởng cao vào đầu óc thường dân qua những hình ảnh và ngôn ngữ bình dân dễ hiểu. Mục đích của ông là tiến dần tới một xã hội có tổ chức cao, có đầy đủ các phương tiện truyền thông, giao tế, kinh tế, văn hóa cao trong đó mỗi con người, “mỗi nhân vị”, đều được quan tâm đồng đều, chứ không biến con người thành những “cái đinh, con ốc” trong một guồng máy xã hội theo kiểu Cộng Sản. Ông tin tưởng rằng phương pháp đó về lâu về dài sẽ làm cho CS phải đầu hàng. Chứ không phải chỉ dựa vào những hàng rào giây kẽm gai. Dĩ nhiên ban đầu thì việc rào ấp là cần thiết để giữ cho Ấp Chiến Lược được an toàn trước sự phá hoại và tấn công của du kích CS. Quốc sách Ấp Chiến Lược mà thành công thì Cộng Sản sẽ thành cá bị tát ra khỏi ao, nằm trên đất.

14. Hỏi: Về đảng Cần Lao Nhân Vị, nó thành hình ra sao, và ai là những đồng chí cốt cán nhất của ông Nhu?

Đáp: Hai người cùng với ông Nhu sáng lập ra đảng Cần Lao Nhân Vị là các ông Trần Quốc Bửu và Huỳnh Hữu Nghĩa. Nhưng ban đầu các ông không gọi tên đảng là Cần Lao mà gọi là đảng Công Nông. Nhưng vì không muốn gợi ý về cái liên minh công nông của Cộng Sản, nên về sau các ông đổi ra là Cần Lao. Còn vế Nhân Vị thì sau nữa mới thêm vào theo đề nghị của ông Nhu. Ông Bửu, chủ tịch Liên Đoàn Lao Công có kinh nghiệm về đấu tranh nghiệp đoàn, đã quen ông Nhu khi còn ở bên Pháp. Và ông Huỳnh Hữu Nghĩa một tín đồ Cao Đài, là cố vấn chính trị của tướng Trình Minh Thế. Ông Nghĩa đã giúp ông Nhu chinh phục được tướng Thế, chứ không phải như có người Mỹ cho rằng ông Nhu có được ông Thế là nhờ đại tá Edward Lansdale. Ông Lansdale có can thiệp để quân của tướng Thế được hợp thức hóa và trả lương như Quân Đội Quốc Gia thì đúng. Người nào bảo Lansdale dùng tiền mua Tướng Thế là cố tình xuyên tạc để hạ uy tín của một vị tướng kiên cường anh dũng, thanh liêm mà anh em ông Diệm rất quý trọng. Khi nghe tin tướng Thế tử trận Tổng Thống Diệm đã ngất xỉu. Điều này tướng Lansdale có ghi trong hồi ký.

Văn phòng Tổng Bí Thư đảng Cần Lao cũng do một mình Thiếu Tá Phạm Thu Đường quán xuyến, kiêm nhiệm.


TT. Ngô Đình Diệm

15. Hỏi: Ông Ngô Đình Diệm có giữ vai trò gì trong đảng Cần Lao không?

Đáp: Không. Ông ấy hoàn toàn ở ngoài và trên đảng Cần Lao. Với ông Diệm chỉ có Tổ Quốc và Quốc Dân.

Tôi còn nhớ khoảng năm 1956, Tổng Thống gọi tôi vào bảo tôi lên cao nguyên đèo heo hút gió để quan sát nghiên cứu tìm ra những địa điểm thích hợp để lập các khu dinh điền, hòng đưa người kinh lên trấn giữ địa điểm mà ông bảo là vô cùng quan trọng về mặt chiến lước. Tôi thấy mình đi thì ông Nhu thiếu một trợ lý. Lại cũng hơi ngán cảnh cô đơn ở nơi xa lạ. Tôi bèn thưa với Tổng Thống: Công tác đoàn thể của ông Cố Vấn đang thiếu người. Tổng Thống nói: Đoàn thể gì. Dẹp. Tuy nhiên rồi ông cũng đấu dịu. Cứ đi đi. Thỉnh thoảng tôi sẽ lên với anh…

Cũng cần thêm rằng ông Diệm rất quan tâm đến vùng cao nguyên. Ông thường nói: giữ được cao nguyên thì giữ được miền Nam. Và ông tìm cách đưa nhiều cán bộ và những người dân có kinh nghiệm với Cộng Sản lên đó lập nghiệp.

16. Hỏi: Ông nghĩ gì về việc chính phủ Ngô Đình Diệm tổ chức trưng cầu dân ý truất phế ông Bảo Đại?

Đáp: Nhiều người chê ông Diệm, là nhà Nho mà bất trung, không giữ lời thề trung thành với cựu hoàng. Nhưng tôi thấy không đúng. Trước hết chính cựu hoàng bảo ông Diệm chỉ thề trước Thánh Giá trung thành với Tổ Quốc. Thứ nữa, khi cựu hoàng triệu ông sang Pháp, ông Diệm đã sẵn sàng lên đường, dù biết sang đó sẽ mất chức thủ tướng.

Nhưng chính nhóm liên khu Tư chúng tôi đã thuyết phục ông, gần như làm áp lực với ông, để ông bỏ ý định sang Cannes . Chúng tôi xúm vào yêu cầu ông ở lại lấy cớ tình hình không cho phép vắng mặt. Chúng tôi phải nói với thủ tướng rằng nếu Cụ bỏ chúng tôi lại mà đi một mình thì sinh mệnh chúng tôi ai sẽ lo? Chúng tôi đã bỏ tất cả vào đây là vì cụ, vì tin cụ sẽ bảo vệ phần đất tự do còn lại này, bảo vệ chúng tôi. Nay cụ nỡ lòng nào bỏ chúng tôi, bỏ đất nước này cho Thực dân, Cộng Sản?

Rồi nhiều đoàn thể họp nhau lại đặt ông Diệm trước sự việc đã rồi là tự ý hạ bệ ông Bảo Đại. Cuộc trưng cầu dân ý của chính phủ Ngô Đình Diệm tổ chức sau đó chỉ là để hợp pháp hóa hành động của chúng tôi.

17. Hỏi: Có sử gia Mỹ bảo ngày 22 tháng 8 năm 1963, Thanh Niên Cộng Hòa đã tấn công chùa Xá Lợi cùng với Cảnh Sát và Lực Lượng Đặc Biệt. Điều này có đúng không?

Đáp: Hoàn toàn bịa đặt. Tổ chức này không phải để dùng vào những việc như vậy. Nó là tổ chức phi vũ trang mà.

18. Hỏi: Sử gia Mark Mayor viết trong tác phẩm Triumph Forsaken rằng gần ngày đảo chính, tỉnh trưởng Định Tường báo cáo với ông Nhu rằng đại tá Có là phụ tá của tướng Đính rủ ông ta làm đảo chính. Ông Nhu hỏi lại tướng Đính, thì tướng Đính xin đi chém đầu Có. Ông có biết vụ này không?

Đáp: Không cần tỉnh trưởng Định Tường báo cáo thì ông Nhu đã biết rồi. Nhưng ông muốn cứ để vậy để theo dõi.

19. Hỏi: Khi ông cùng ông Nhu đi gặp Phạm Hùng ở Bình Tuy, ông Nhu có cho ông biết hai người họ bàn chuyện gì không?

Đáp: Lúc ấy thì không. Chỉ biết chúng tôi cùng đến Quận Tánh Linh ở đây có một vùng do Cộng quân kiểm soát. Ban đầu cứ tưởng đi săn cọp như mọi khi. Nhưng đến nơi ông Nhu bảo chúng tôi ở ngoài, còn ông đi về phía trước độ vài trăm mét. Có Phạm Hùng chờ ở đó. Sau này về nhà tôi cũng không tiện hỏi ông Nhu. Nhưng qua những gì ông tự ý nói ra vào một lúc nào đó thì, nội dung câu chuyện trên một tiếng đồng hồ, gồm nhiều điều cho đến nay vẫn chưa được tiết lộ. Có một điều mà phía họ rất quan ngại, nếu không bảo là sợ, rất sợ chương trình Ấp Chiến Lược.

Họ yêu cầu cho biết ai là người chủ trương và mục đích để làm gì? Ông Nhu trả lời: đó chỉ là một chủ trương của chính phủ nhằm bảo vệ sinh mạng và tài sản của người dân, ngăn ngừa sự xâm nhập, phá phách của du kích các ông… Các ông bảo cán bộ đừng tìm cách đánh phá làng xã, thì chúng tôi sẽ bỏ luật 10/59. Cán bộ các ông có thể về sống với dân lành tại các ấp…

Về các điều kiện để hiệp thương thì nhiều lần Tổng Thống Diệm đã nói, phải có 6 giai đoạn:

– Bắt đầu bằng việc cho dân hai miền trao đổi thư tín tự do.
– Rồi cho dân qua lại tự do
– Thứ 3 là cho dân hai bên được tự do chọn đinh cư sang bên kia nếu muốn
– Thứ 4 mới đến giai đoạn trao đổi kinh tế. Ví dụ miền Nam đổi gạo lấy than đá của miền Bắc chẳng hạn.
– Qua được các giai đoạn đó rồi mới tiến tới hiệp thương.
– Và sau cùng là tổng tuyển cử.

Có lần ông Nhu tính với chúng tôi: Ông dự đoán rằng, nếu cho dân tự do chọn nơi định cư, thì căn cứ theo tình trạng về tự do dân chủ tồi tệ và kinh tế kiệt quệ của miền Bắc lúc ấy, sẽ có khoảng 3 triệu người dân sẽ dần dần vào định cư ở miền Nam. Vì vậy “mình” phải chuẩn bị đất cho dân. Ông cũng tính rằng hiện dân số miền Bắc có tới 23 triệu, trong khi dân số miền Nam chỉ có 17 triệu. Nếu có được 3 triệu dân Bắc vào định cư ở miền Nam thì dân số 2 bên sẽ cân bằng. Bầu cử tự do, với sự giám sát của Quốc Tế thì chắc mình sẽ thắng.

20. Hỏi: Lần ông tháp tùng ông Nhu đi dự lễ đăng quang của quốc vương Ma-rốc năm 1962, ông có cho biết là sau đó các ông đến Paris gặp ông Pinay, đại diện Tổng Thống Charles De Gaulle, bàn chuyện hiệp thương với ông Hồ. Lúc ấy có mặt giáo sư Bửu Hội không?

Đáp: Dĩ nhiên là có. Vì Giáo sư Bửu Hội là đại sứ của VNCH ở Ma-rốc, và là bạn học với ông Nhu ở bên Pháp. Ông Bửu Hội lại từng là cố vấn cho Hồ Chí Minh. Nên trong việc này, có thể nói vai trò của ông Bửu Hội cũng quan trọng không kém ông Nhu. Ông Nhu và chúng tôi ở khách sạn Grillon cả tháng. Cuộc tiếp xúc xảy ra nhiều lần mà hầu như lần nào cũng có sự hiện diện của giáo sư Bửu Hội. Ông Nhu cho biết lúc ấy ông Hồ Chí Minh đã nhờ ông Jean Sainteny xin Tổng Thống De Gaulle giúp. Ông Hồ biết là ông De Gaulle đang có chủ trương trung lập Đông Dương, lại hận Mỹ đã “hất cẳng” Pháp. Ông Hồ nhờ Sainteny xin Tổng Thống De Gaulle can thiệp để tiếp xúc với Sài Gòn. Tổng Thống Pháp rất sốt sắng trong việc này. Sau chuyến đi này ít tháng thì xảy ra vụ ông Nhu “đi săn cọp” ở Tánh Linh.

21. Hỏi: Gần ngày đảo chính đại sứ Cabot Lodge có điện đàm với Tổng Thống Diệm. Lúc đó ông có ở bên cạnh Tổng Thống không?

Đáp: Không.

22. Hỏi: Trong cuốn Nhớ Lại Những Ngày ở Cạnh Tổng Thống Ngô Đình Diệm, cựu đại tá Nguyễn Hữu Duệ viết rằng ông ta xin phép Tổng Thống đem xe tăng thiết giáp lên bộ tổng Tham Mưu để bắt các tướng và dẹp đảo chính. Nhưng Tổng Thống không cho. Ông có biết chuyện này không?

Đáp: Lúc ấy tôi đang ở bên Tổng Thống Diệm và ông Nhu tại dinh Gia Long. Chính tôi nghe điện thoại của ông Duệ và trình lên Tổng Thống.

Tổng Thống la tôi: Các anh muốn gì? Ở với tôi bấy lâu mà không hiểu ý tôi sao? Dân Nghệ An các anh chỉ thích làm loạn. Đem quân đội chống quân đội là cách bảo vệ tổ quốc hả?

Tôi thưa: Nhưng người ta đánh mình thì mình phải đánh lại chứ Tổng Thống. Chẳng lẽ để phải chết sao?

Ông quát lên: Chết thì đã sao.

Đúng, đối với ông chết thì đã sao. Nhưng đối với chúng ta thì cái chết của ông là cái chết dần của miền Nam. Ông còn nói quân đội là để bảo vệ tổ quốc chứ không phải để bảo vệ cá nhân Tổng Thống.

Ông bảo tôi liên lạc với ông Trương Vĩnh Lễ, chủ tịch Quốc Hội yêu cầu cho triệu tập Quốc Hội để ông ra từ chức trước Quốc Hội, hòng tránh cảnh đổ máu. Nhưng tôi gọi ông Lễ 4 lần không được.

Lúc ấy không phải chỉ có Lữ Đoàn xin lên tấn công tổng hành dinh của nhóm đảo chính. Mà còn có cả một đại đội biệt kích thuộc Lực Lượng Đặc Biệt đi hành quân ở Tây Ninh vừa về đến Sài Gòn cũng báo cáo là lực lượng phòng vệ của các tướng đảo chính ở Tổng Tham Mưu rất yếu, đại đội biệt kích xin phối hợp với 2 tiểu đoàn của Lữ Đoàn Phòng Vệ phủ Tổng Thống để đột kích vào bắt hết các tướng đảo chính. Tướng Nguyễn Văn Phú, lúc ấy còn là Thiếu Tá đã tiếp xúc với tôi về việc này. Nhưng như vừa nói. Tổng Thống không chấp thuận.

Viên đại úy đại đội trưởng Biệt Kích đề nghị cho lực lượng của Lữ Đoàn Phòng Vệ Phủ Tổng Thống có xe bọc thép dẫn đầu tiến tới bao vây bộ Tổng Tham Mưu, còn đại đội của anh ta sẽ đột kích bọc hậu từ phía sân vận động vào bắt sống các tướng. Tôi rất buồn bực và lấy làm khó hiểu tại sao ông cụ lại không cho đánh. Ông Nhu ngồi cạnh đó cũng chẳng nói gì.

23. Hỏi: Theo ông trong số các tướng lãnh lúc ấy ai có khả năng nhất?

Đáp: Tôi hầu như không tiếp xúc với các tướng. Ngay cả Phó Tổng Thống cũng vậy. Hầu như chẳng bao giờ gặp. Nhưng tôi có nghe ông Nhu nói ông Nguyễn Văn Thiệu, lúc ấy mang lon đại tá, là một tư lệnh (sư đoàn 5) giỏi nhất. Ông Nhu có nhận xét đó sau khi nghe ông Thiệu thuyết trình ở hội trường Suối Lồ Ồ.

Còn các tướng thì rất sợ Tổng Thống Diệm mỗi khi phải thuyết trình cho ông về tình hình an ninh. Bởi vì ông nắm vững tình hình và nhất là địa hình địa vật… địa lý của từng vùng. Kiến thức về quân sự của ông cũng rất uyên bác. Tôi được biết, khi mới về nước làm thủ tướng, ông đã yêu cầu tổng lãnh sự ở Hồng Kông mua cho ông tất cả tác phẩm của Mao Trạch Đông, Chu Đức, Lâm Bưu, Bành Đức Hoài để đọc và bắt ông Nhu phân tích nghiên cứu trình lên.

24. Hỏi: Nghe nói ông bà Nhu có một biệt thự đẹp lắm ở Đà Lạt. Ông có tới đó bao giờ không?

Đáp: Ông nói đến cái biệt thự này, tôi lại nhớ tới cái ông luật sư Trương Phú Thứ ở Seattle . Ông ấy muốn tìm cách phỏng vấn bà Ngô Đình Nhu mà không sao được. Chẳng rõ tại sao ông ta biết nhà tôi, tìm đến xin tôi giới thiệu với bà Nhu. Tôi biết đã từ lâu bà ấy ẩn dật không muốn báo chí nhắc tới. Nhưng tôi biết bà ấy hãy còn quyến luyến ngôi nhà hai phòng ngủ của một người Pháp, bỏ hoang đã lâu mà anh em chúng tôi hùn tiền mua cho ông bà ấy vào khoảng năm 1960, mà không đủ tiền sửa chữa, cho nên đến khi ông Nhu bị sát hại và bà Nhu sống lưu vong, cũng mới chỉ sửa được phần nửa.

Tôi bảo ông Thứ hãy về Việt Nam, lên Đà Lạt chụp ảnh ngôi nhà ấy rồi mang theo sang Pháp, tìm cách đưa tấm hình đó tận tay bà Nhu thì may ra bà ấy cho gặp. Thì quả thật chắc ông đã biết, ông Thứ đã viết một bài cho tờ Văn Nghệ Tiền Phong nói về bà Nhu ở tuổi gần bát tuần sống như một nhà tu ở Paris. Tôi mong ông Thứ có dịp phổ biến tấm hình này để độc giả thấy cái “ngôi biệt thự xinh đẹp” của ông bà Nhu.

25. Hỏi: Thống tướng Maxwell Taylor, Đại sứ Frederick Nolting và nữ ký giả Marguerite Higgins đều nói được Tổng Thống Diệm tiếp hơn kém khoảng 5 giờ đồng hồ. Ông có biết điều đó và có ý kiến gì không?

Đáp: Lúc ấy nhiều người nói tổng thống tiếp khách lâu quá. Tôi có trình ông, bảo người ta phê bình tổng thống độc thoại!

Ông cười. Ông bảo: Người Mỹ họ ít hiểu về dân tôc mình về lịch sử của nước mình. Mình phải lợi dụng lúc họ chịu nghe để nói cho họ hiểu chứ. Mấy người này đều chăm chú nghe tôi và đặt nhiều câu hỏi. tôi phải trả lời cho họ chứ.

26. Hỏi: Gần ngày đảo chính Tổng Thống có mời ông bà Đại Sứ Mỹ lên Đà Lạt nghỉ tại biệt điện của Tổng Thống và dự dạ tiệc thân mật. Ông có biết họ thảo luận về việc gì không?

Đáp: Tôi có biết và nhớ là Tổng Thống đề nghị chính phủ Mỹ thông cảm những khó khăn của miền Nam và đừng ép ông phải cải cách gấp rút. Ông cũng hứa sẽ xem xét những đề nghị của chính phủ Mỹ một cách nghiêm chỉnh. Nhưng cần phải có thời gian. Phía ông Lodge thì nằng nặc đòi Tổng Thống phải đưa ngay ông Nhu ra ngoại quốc. Nhưng dĩ nhiên không bao giờ Tổng Thống nhượng bộ điều này được.

27. Hỏi: Xin ông tha lỗi, ông là Phật tử chứ ạ? Và trong vụ Phật Giáo có ai nhờ ông làm trung gian để thương lượng giàn xếp giữa chính quyền và bên Phật Giáo đấu tranh không?

Đáp: Phải, tôi là Phật tử đã quy y… – Ông vào phòng lấy ra một cuộn giấy mở cho tôi thấy tờ PHÁI QUY Y rồi nói tiếp – Tôi quy y với thầy Thích Minh Châu. Khi vụ Phật Giáo xảy ra tôi có ra Huế gặp thầy Thích Trí Thủ để nhờ thầy can thiệp với Thượng Tọa Thích Trí Quang… nhưng Hòa Thượng Trí Thủ nói bây giờ các thầy trẻ học thức nhiều, họ có đường lối riêng, các sư già chúng tôi nói họ không nghe. Nên không kết quả. Nhiều người khác cũng can thiệp nhiều ngả khác, cũng không hơn gì. Hồi ấy còn cả một ủy ban của chính phủ gồm nhiều Phật tử đứng đầu là phó Tổng Thống Nguyễn Ngọc Thơ cố gắng dàn xếp. Nhưng bên Phật Giáo tranh đấu chỉ muốn lật đổ chính phủ thôi. Nên họ cố đưa ra những yêu sách không cách nào làm được. Tôi rất ân hận là không giúp gì được với tư cách là một Phật tử.

28. Hỏi: Theo ông thì ai cố ý giết hai ông?

Đáp: Theo tôi thì người ra lệnh trực tiếp là tướng Dương Văn Minh. Còn ông Minh có nhận lệnh ở trên nào không thì không biết. Sở dĩ tôi dám quả quyết ông Minh, là vì chính ông Minh sai cận vệ của ông ta là đại úy Nguyễn Văn Nhung cùng đi với tướng Mai Hữu Xuân, để “thi hành nhiệm vụ”(!). Và Nhung đã leo lên xe bọc thép trong đó có hai anh em Tổng Thống. Nhung là một tay giết người không gớm tay, y còn khắc dấu vào cán dao găm mỗi lần giết được một người. Ngay tối mồng hai y còn khoe “con dao lịch sử” của y với con của tướng Đôn cơ mà. Đó là theo chính lời của tướng Đôn thuật lại trong Việt Nam Nhân Chứng. Còn tướng Xuân thì khi “đi đón ông cụ” về và ông cụ đã chết rồi, đã tới trước Dương Văn Minh giơ tay làm dấu, miệng nói: “Mission accomplie” (Nhiệm vụ hoàn thành). Cứ theo những lời trên của tướng Đôn, thì không nghi ngờ gì người chủ trương và ra lệnh giết hai ông là tướng Big Minh.

29. Hỏi: Thời gian quấy rầy ông đã quá dài. Nhất là trong lúc ông còn bịnh nhiều. Xin cám ơn ông đã mất công trả lời những câu hỏi của chúng tôi. Và nếu có thể được xin ông cho một cảm tưởng chung về Tổng Thống Ngô Đình Diệm và ông Ngô Đình Nhu.

Đáp: Tôi cũng xin cám ơn ông đã tốn công đi từ xa đến để cho tôi được có dịp nói lên vài điều trong số những gì mình còn nhớ được về thời gian dài phục vụ Đất Nước bên cạnh hai nhân vật lịch sử mà tôi hằng kính mến.

Cứ mỗi lần nhớ đến hai cụ, tôi đều ngậm ngùi xót xa. Nhất là đối với cụ Diệm. Ông quá ngay thẳng, quá quân tử, quá rộng lượng, lúc nào cũng nghĩ tới làm cho dân được ấm no hơn. Vậy mà người ta nỡ hãm hại ông. Không phải chỉ có những ngày giỗ hai ông tôi mới khóc.

Cụ Vỹ dằn cơn xúc động bắt tay tôi khi tôi từ biệt ra về…

Minh Võ, San Diego

www.vietthuc.org

Posted in Chinh Tri Viet Nam, Lịch Sử, Phỏng Vấn | 1 Comment »

►Bí Mật lịch sử Trung-Việt 1990 (1)

Posted by hoangtran204 trên 07/01/2012

Thời kỳ ‘Bắc thuộc mới’

Bùi Tín, viết riêng cho đài VOA

19-7-2011

Đầu năm 1979, tại khu vực biên giới Việt-Trung đã nổ ra một cuộc xung đột khốc liệt được nhà báo Mỹ Nayan Chanda gọi là «cuộc chiến tranh giữa những người anh em thù địch».

Nhưng chỉ 11 năm sau đó, vào tháng 10-1990, một bước ngoặt lớn đã được mở ra, đưa quan hệ Hà Nội-Bắc Kinh chuyển hẳn sang thời kỳ liên minh thân thiết, tiêu biểu bởi «16 chữ vàng» và phương châm «4 tốt».

Cái mốc chuyển từ kẻ thù truyền thống (như được ghi trong Hiến pháp Việt Nam) thành bạn thân thiết là cuộc gặp gỡ bí mật cấp cao Trung – Việt ở Thành Đô, thủ phủ tỉnh Tứ Xuyên, Trung Quốc, vào 2 ngày, 3 và 4 tháng 9 năm 1990, theo sáng kiến của đại mưu sĩ Đặng Tiểu Bình.

Đại diện cho phía Việt Nam tại cuộc gặp gỡ này là Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh, Thủ tướng Đỗ Mười và cố vấn Phạm Văn Đồng, còn phía Trung Quốc là Tổng bí thư Giang Trạch Dân và Thủ tướng Lý Bằng.

Có rất ít thông tin chính xác về nội dung thật sự của cuộc gặp này được tiết lộ, nhưng ý đồ đen tối của những người lãnh đạo Bắc Kinh đến phó hội đối với tương lai của đất nước ta đã không che mắt được ai. Đến nỗi ngoại trưởng Việt Nam lúc bấy giờ, ông Nguyễn Cơ Thạch, người bị gạt ra ngoài rìa của cuộc họp lịch sử này, đã phải than thở: «Thế là một cuộc Bắc thuộc mới rất nguy hiểm đã bắt đầu!».(*)

Rất nhiều diễn biến và sự kiện đã chứng minh sự chính xác của nhận xét có tính tiên tri đó của người đứng đầu ngành ngoại giao Hà Nội. Tính đến nay, «cuộc Bắc thuộc mới» đã kéo dài được 22 năm, với biết bao thiệt thòi, tủi nhục cho đất nước và nhân dân ta trên tất cả các lĩnh vực – từ chính trị, ngoại giao, kinh tế, tài chính, thương mại, văn hóa, từ lãnh thổ, lãnh hải, hải đảo đến tài nguyên và an ninh, chủ quyền. Đây là thời kỳ đen tối nhất trong lịch sử dân tộc Việt Nam ta, mà những thành tựu kinh tế, đổi mới, xây dựng, phát triển khá cao vẫn không sao khỏa lấp được.

Đến nay, khi nhóm lãnh đạo ở Bắc Kinh đã khống chế được gần như hoàn toàn những người cầm quyền ở Hà Nội, họ liền trở mặt, gây sự ở vùng Biển Đông của ta, với thái độ trịch thượng kẻ cả dùng sức mạnh áp đảo cùng với những thủ đoạn vừa ăn cướp vừa la làng.

Hiện nay Bộ Chính trị Đảng CS Việt Nam đang bị kẹt cứng giữa 2 gọng kìm, một bên là sự chất vấn đầy phẫn nộ chính đáng và sự phản kháng của nhân dân, một bên là những hành động xâm lược cực kỳ ngang ngược của thế lực bành trướng hung hãn.

Nhóm lãnh đạo Bắc Kinh là những người chưa hề chùn tay trước một thủ đoạn thâm độc nào. Ai có thể độc ác hơn những kẻ dám đem đương kim Chủ tịch nước Lưu Thiếu Kỳ ra đấu tố hạ nhục trên đường phố? Ai có thể tàn bạo hơn những kẻ mang đương kim Nguyên soái Bành Đức Hoài ra hỏi tội, bắt đội mũ lừa, bắt liếm bát mỳ sợi trong chảo, hành hạ cho đến khi chết không có một người thân vuốt mắt? Ai có thể bất nhân, phản dân tộc hơn những kẻ vui mừng khi đặt 200 tên lửa, rồi nay là 600 tên lửa đạn đạo chĩa thẳng vào đồng bào ruột thịt của mình ở Đài Loan, dọa dẫm không chút hổ thẹn là sẵn sàng dìm trong biển máu cả 23 triệu dân mà họ từng leo lẻo là anh chị em chí thiết, còn là một nguồn đầu tư lớn cho lục địa.

Và mới đây ai ngang nhiên vu cáo ngược là «Việt Nam chiếm nhiều đảo nhất, tỏ ra hung hăng nhất, gây ra nhiều ảnh hưởng xấu nhất trong vùng biển Trung Hoa thuộc chủ quyền không thể bàn cãi của Trung Quốc», «bọn Việt Nam giết ngư dân Trung Quốc», «cần dạy cho Việt Nam vô ân bạc nghĩa một bài học lớn hơn trước đây». Vậy mà báo chí chính thức trong nước vẫn im lặng, không cất lên được một tiếng nói dõng dạc nào để bác bỏ những luận điệu vu khống trắng trợn của thế lực bành trướng và bảo vệ thanh danh dân tộc.

Khi Tân Hoa xã đưa tin là «Hai bên đã thỏa thuận không để nước thứ ba ở bên ngoài can thiệp vào vùng biển Trung Hoa», ngụ ý gạt hẳn Hoa Kỳ ra ngoài, báo chí Việt Nam cũng không dám cải chính. Cho nên việc giới trí thức, giới truyền thông lề trái và công luận quốc tế hoài nghi dai dẳng là 2 bên đã đi đêm với nhau là hoàn toàn có cơ sở.

Mong rằng những người lãnh đạo Việt Nam sớm nhìn ra sự thật để chủ động thoát khỏi ách Bắc thuộc cực kỳ nguy hiểm đã kéo dài 22 năm, trước khi quá muộn. Mong rằng họ sớm tỉnh táo nhận ra sai lầm của lập luận cho rằng do vị trí địa lý và cũng vì cùng chung chế độ XHCN, Việt Nam buộc phải gắn bó keo sơn với nước láng giềng Trung Quốc (xem các Nghị quyết Đại Hội đảng từ khóa VII đến khoá XI).

Họ hãy tỏ ra tự tin hơn để thấy rằng nương tựa hoàn toàn vào Bắc Kinh không phải là một kế tồn tại lâu dài, bền vững, an toàn và đáng tin cậy cho chính bản thân họ, và lại càng không phải cho tiền đồ của tổ quốc và dân tộc ta. Họ chớ nên quên rằng, theo đánh giá của nhiều chuyên gia quốc tế, Trung Quốc hung hăng nhưng không mạnh, kỹ thuật quân sự lạc hậu đến 20 năm so với Hoa Kỳ, chính trị cực yếu do chà đạp nhân quyền, kinh tế tài chính tuy có dự trữ ngoại tệ lớn nhưng rất bấp bênh, có nguy cơ đổ vỡ, dựa vào họ như dựa vào cột mục.

Gắn bó với thế giới dân chủ rộng lớn, hùng mạnh, văn minh, với các nước châu Á khác ở quanh ta như Ấn Độ, Nhật Bản, Nam Triều Tiên, với các nước Đông Nam Á như Indonesia, Malaysia, và giữ quan hệ bình đẳng với Trung Quốc là đường lối đối ngoại sáng suốt duy nhất hiện nay.

Điều quan trọng nhất là những người lãnh đạo Việt Nam có đủ sáng suốt để nhìn ra bản chất độc ác của chủ nghĩa bành trướng Đại Hán hay không.

(*) Ông Thạch lập tức bị gạt ra khỏi cương vị phó thủ tướng kiêm ngoại trưởng, và mất luôn chiếc ghế ủy viên Bộ Chính trị, ủy viên Trung ương Đảng.

* Blog của Nhà báo Bùi Tín là blog cá nhân. Các bài viết trên blog được đăng tải với sự đồng ý của Ðài VOA nhưng không phản ánh quan điểm hay lập trường của Chính phủ Hoa Kỳ.

.

.

Cuộc gặp Thành Đô giữa lãnh đạo Trung-Việt (3-9-1990).
Hàng trước từ trái sang: Hoàng Bích Sơn, trưởng ban đối ngoại T.Ư.(1), Phạm Văn Đồng,
cố vấn BCHTƯ (3), Nguyễn Văn Linh, tổng bí thư (4), Giang Trạch Dân (5), Lý Bằng (6), Đỗ Mười (7), Hồng Hà (9)
.

http://www.trinhanmedia.com/2012/09/oc-lai-ho-so-ban-nuoc-hoi-nghi-thanh-o.html

 

——————-

 

Bối cảnh dẫn đến cuộc Họp Mặt ở  Thành Đô  (Bắc Kinh) 1990 – Vì sao đảng và nhà nước ngoan ngoãn thần phục Bắc Kinh

Sau khi “tổ quốc Liên Xô” của ông Lê Duẩn tan rã năm 1989, thì từ thời Nguyễn Văn Linh cho đến thời Lê Khả Phiêu, các tổng bí thư vẫn coi việc quy phục Trung Quốc là cách duy nhất để cứu vãn cơ đồ thống trị của đảng trên nước Việt Nam.
.
Nhưng lấy lý do nào để biện minh cho việc quay về thần phục Trung Quốc, sau khi đã bị quân đội Trung Cộng tấn công ở biên giới năm 1979 và ở Trường Sa năm 1988?
.
Các ông tổng bí thư này phải nêu lý do cao siêu hơn quyền lợi. Họ giải thích hai nước “đồng chí anh em” là những thành trì cuối cùng bảo vệ cái thứ gọi là “chủ nghĩa xã hội!”. Từ đó, Việt Cộng bắt đầu xáp lại và đi theo con đường lệ thuộc Trung Cộng. Cho nên, trong ngôn ngữ ngoại giao của Cộng Sản Việt Nam, khi nào còn đề cao chủ nghĩa xã hội là còn chủ trương mối bang giao với Trung Cộng là trọng tâm chiến lược.Tổng Bí Thư Nguyễn Văn Linh là người có kinh nghiệm cá nhân đau đớn khiến chính bản thân ông coi việc quy phục Trung Cộng là điều không thể tránh được.
.
Tháng 10 năm 1989, Nguyễn Văn Linh tới Berlin dự quốc khánh Ðông Ðức, được chứng kiến cảnh giễu võ giương oai của “Cộng Hoà Dân Chủ Ðức” với các cuộc mít tinh hàng trăm ngàn người hô các khẩu hiệu chủ nghĩa cộng sản muôn năm đầy “hồ hởi phấn khởi.” Trong cuộc tiếp tân, Nguyễn Văn Linh được lãnh tụ cộng sản Ðông Ðức Honecker báo tin là chế độ Cộng Sản Ðức sẽ tồn tại vĩnh viễn mặc dù làn sóng người Ðông Ðức đang chạy ào ào qua Hung, Tiệp rồi qua Tây Ðức.
.
Khi Nguyễn Văn Linh về tới Hà Nội thì bức tường Berlin bị sập, Honecker bị chính các đàn em lật đổ. Theo cuốn hồi ký Hồi Ức và Suy Nghĩ của Trần Quang Cơ, viết năm 2001, thì trong cuộc đại lễ ở Berlin, Linh cũng gặp lãnh tụ Rumani là Chủ Tịch Ceaucescu. Lãnh tụ tối cao cha già dân tộc Rumani và “anh Linh xem ra tâm đầu ý hợp trong việc bàn chuyện tâm huyết cứu vãn sự nghiệp xã hội chủ nghĩa thế giới đang lâm nguy”. Nhưng ngay sau đó, Linh nghe tin cả hai vợ chồng Ceaucescu bị các đàn em đảo chính và đem bắn. Những kinh nghiệm đó khiến Linh phải lo lắng cho số phận của chính mình và các lãnh tụ cộng sản Việt Nam khác. Phải tìm cách tự cứu!“Trước tình hình ấy”, Trần Quang Cơ viết, trong nội bộ Ðảng Cộng Sản ViệtNam “nổi lên một ý kiến… phải bằng mọi giá bắt tay ngay với Trung Quốc để bảo vệ chủ nghĩa xã hội”. .Xin nhấn mạnh những chữ “bằng mọi giá” và “ngay” lập tức.
.
Cựu Thứ Trưởng Ngoại Giao Trần Quang Cơ mô tả luận điểm của Nguyễn Văn Linh dùng để thuyết phục Bộ Chính Trị nên chịu thua Trung Cộng là: “Dù bành trướng thế nào, Trung Quốc vẫn là một nước xã hội chủ nghĩa”. Linh đã nhấn mạnh lý luận trên khi Bộ Chính Trị thảo luận về kết quả cuộc gặp gỡ các lãnh tụ Trung Cộng ở Thành Ðô năm 1990, trong đó, Linh đã chấp nhận ngay phương cách giải quyết cuộc chiến ở Căm Pu Chia do Trung Cộng đề nghị, mặc dù Bộ Trưởng Ngoại Giao Nguyễn Cơ Thạch đã chống nên không được mời sang Tàu.
Trước đó, khi Liên Xô bắt đầu giảm bớt viện trợ kinh tế (1980-1986 và hoàn toàn cắt đứt viện trợ cuối năm 1986), mà các chính sách xã hội chủ nghĩa của Cộng Sản Việt Nam đã đưa quốc dân đến kiệt quệ, năm 1988 đảng đã đành nhẫn nhục, tự sửa cả điều lệ đảng lẫn Hiến Pháp, chịu xoá bỏ những câu ngu dốt viết trong thời Lê Duẩn, gọi tên “Trung Quốc là kẻ thù trực tiếp và nguy hiểm nhất”.
.
Ngày 5 tháng 6 năm 1990, để xin hoà trước khi sang Thành Ðô, Nguyễn Văn Linh đã mời Ðại Sứ Trung Cộng Trương Ðức Duy tới, và tự thú nhận là Ðảng Cộng Sản Việt Nam đã sai lầm, đồng thời khoe công nay đã thay đổi: “Trong 10 năm qua có nhiều cái sai. Có cái đã sửa như việc sửa đổi lời nói đầu Hiến Pháp, có cái sai đang sửa.” Linh ngỏ ý muốn sang Tầu gặp các nhà lãnh đạo Trung Quốc đểbảo vệ chủ nghĩa xã hội”; vì “đế quốc đang âm mưu thủ tiêu chủ nghĩa xã hội!”. Lời nói của Nguyễn Văn Linh được Trần Quang Cơ thuật lại nguyên văn như sau:“Chúng tôi muốn cùng những người cộng sản chân chính bàn vấn đề bảo vệ chủ nghĩa xã hội… Tôi sẵn sàng sang Trung Quốc… Các đồng chí cứ kêu một tiếng là tôi đi ngay… Trung Quốc cần giương cao ngọn cờ chủ nghĩa xã hội, kiên trì chủ nghĩa Mác-Lênin…”. Lúc đó Nguyễn Văn Linh là người lãnh đạo cao nhất nước mà tự hạ mình nói, “các đồng chí cứ kêu một tiếng là tôi đi ngay!” Không có cách nào “khiêm tốn” hơn!

Hội nghị thành đô năm 1990.

Ba ngày trước khi Linh, Ðỗ Mười, Phạm Văn Ðồng lên đường sang Thành Ðô, Bộ Chính Trị họp ngày 30 tháng 8 năm 1990. Trần Quang Cơ kể:
Anh Linh nêu ý kiến là sẽ bàn hợp tác với Trung Quốc để bảo vệ chủ nghĩa xã hội chống đế quốc…” Linh được Lê Ðức Anh ủng hộ, mặc dầu có những người không tin việc hợp tác với Trung Cộng có thể thực hiện được, như Nguyễn Cơ Thạch, Võ Chí Công.

Sau cuộc họp Thành Ðô, khi các lãnh tụ cộng sản Việt Nam bay sang Cam Pu Chia giải thích phương cách giải quyết này với Hunsen, Lê Ðức Anh nói thêm cho rõ: “Mỹ muốn cơ hội này xoá bỏ cộng sản. Nó đang xoá ở Ðông Âu… Ta phải tìm đồng minh. Ðồng minh này là Trung Quốc”.

Qua những lời tường thuật trung thực của Trần Quang Cơ, một người tỏ ra rất trung thành với đảng và kính trọng Nguyễn Văn Linh, chúng ta thấy động cơ khiến Linh và tập đoàn lãnh đạo Cộng Sản Việt Nam đã lựa chọn con đường hợp tác với Trung Cộng chỉ vì họ thấy hoàn toàn cô đơn, không còn biết nương tựa vào đâu để “bảo vệ chủ nghĩa xã hội.” Trong thực tế là bảo vệ quyền hành của họ. Nguyễn Cơ Thạch, Trần Quang Cơ sau này đều bị loại dần dần ra khỏi Bộ Chính Trị và Trung Ương Ðảng Cộng Sản vì không “nhất trí!”

Nguyễn Văn Linh đã khởi xướng chủ trương quy phục Trung Cộng, có thể chỉ vì biết mình đã được lọt vào mắt xanh giới lãnh đạo cộng sản bên Tầu. Tháng 10 năm 1989, tổng bí thư Ðảng Cộng Sản Lào là Kayson Phomvihan đã qua Bắc Kinh, được Ðặng Tiểu Bình tiếp đãi trong 70 phút, trong đó 60 phút là nói chuyện về Việt Nam. Qua Kayson, Ðặng Tiểu Bình đã “bắn tin” cho các lãnh tụ Hà Nội. Trần Quang Cơ viết:

“Trong khi không tiếc lời phê phán Lê Duẩn, Ðặng đã hết lời ca ngợi Nguyễn Văn Linh. Ðặng kể lại khi làm tổng bí thư Ðảng Cộng Sản Trung Quốc, năm 1963 (Ðặng) đã tổ chức đưa Nguyễn Văn Linh từ miền Nam (Việt Nam) sang Hồng Kông để đi Bắc Kinh gặp nhau, (Ðặng) khen Anh Linh là ‘người tốt, sáng suốt, có tài’; nhờ Kayson chuyển lời thăm anh Linh…”.

Không thể nói Nguyễn Văn Linh đã ngả theo Trung Cộng vì bị “ăn bánh phỉnh” của Ðặng Tiểu Bình. Bởi vì chính sách quy phục Trung Cộng không do một cá nhân quyết định là vì đa số các lãnh tụ Cộng Sản Việt Nam thời đó đồng ý. Vì họ không có chỗ tựa nào khác. Muốn dựa vào Trung Cộng, họ phải nêu một lý do cao cả hơn quyền lợi của nhóm thiểu số cầm quyền này, lý do cao cả đó là “bảo vệ chủ nghĩa xã hội”. Mặc dù không ai biết chủ nghĩa đó thực hiện thế nào, ngoài chế độ công an trị và hệ thống doanh nghiệp nhà nước!

Ðiều tội nghiệp cho Việt Cộng là Trung Cộng hoàn toàn thờ ơ với ý kiến hoàn toàn lý thuyết cao siêu đó. Họ chỉ nghĩ tới quyền lợi quốc gia của họ, và sẵn sàng đánh sau lưng Ðảng Cộng Sản Việt Nam.

Trung Cộng đã “mở bài” làm “lộ tẩy” những bí mật trong cuộc đàm phán về Cam Pu Chia giữa hai nước. Trần Quang Cơ kể: “Hiểm độc nhất là Trung Quốc đã thông báo khá rộng rãi với các nước những điều Nguyễn Văn Linh và Lê Ðức Anh nói riêng với Trương Ðức Duy” (đại sứ Trung Cộng ở Hà Nội). “Sáng ngày 26 tháng 6, 1990 đại sứ Cộng Hoà Liên Bang Ðức gặp Bộ Ngoại Giao ta, cho biết là ngày 22 tháng 6 Trung Quốc đã thông báo cho đại sứ các nước Liên Hiệp Âu Châu ở Bắc Kinh nội dung cuộc họp giữa Từ Ðôn Tín và tôi (Trần Quang Cơ) và đưa ra kết luận: ‘Việt Nam là những người rất xảo trá, rất xấu xa…’”

Một tháng sau cuộc họp ở Thành Ðô, Ngoại Trưởng Mỹ James Baker nói với các nhà báo rằng Trung Quốc tố cáo các lãnh đạo Cộng Sản Việt Nam nói rồi không giữ lời. Baker được Trung Cộng mớm cho, tuyên bố thẳng, “Không thể tin được ngay cả lãnh đạo cao cấp nhất của Việt Nam”. Trần Quang Cơ thuật lại: “Baker còn nói rằng Trung Quốc đã bác bỏ đề nghị… ‘Việt Nam và Trung Quốc đoàn kết bảo vệ chủ nghĩa xã hội…’” mà giới lãnh đạo cao cấp của ViệtNam đưa ra. Bắc Kinh nói một cách công khai, lại khuyến khích ngoại trưởng Mỹ nhắc lại, để làm mất mặt nhóm lãnh tụ ở Hà Nội. Nhưng nhóm lãnh tụ này vẫn cắn răng chịu đựng!

Trước những thủ đoạn xảo trá của Bắc Kinh như vậy, thật không thể hiểu được tại sao các Ðảng Cộng Sản Việt Nam vẫn bám lấy con đường hợp tác với Bắc Kinh để bảo vệ chủ nghĩa xã hội! Ðến thời Tổng Bí Thư Lê Khả Phiêu, ông ta còn đi sang Tàu năn nỉ tái lập một tổ chức quốc tế cộng sản, với Việt Nam,Cuba, Bắc Hàn, mà Trung Cộng đứng lãnh đạo!

Có phải các lãnh tụ cộng sản bây giờ vẫn muốn trung thành với di sản chủ nghĩa xã hội do Hồ Chí Minh để lại, hay không?

Ðiều này khó tin. Vì tất cả các lãnh tụ trung ương đều đang lo vơ vét của cải cho vợ, con, gia đình. Họ chỉ lo bảo vệ những của cải đó chứ không thiết tha đến chủ nghĩa nào cả.

Vậy tai sao cuộc họp Trung Ương Ðảng Cộng Sản vừa qua vẫn nhấn mạnh đến khẩu hiệu “Tiến lên chủ nghĩa xã hội” trên “giai đoạn quá độ” dài dằng dặc không biết bao giờ tới bờ bên kia?

Vì khẩu hiệu đó cũng là một tín hiệu về ngoại giao. Hô khẩu hiệu đó là cho biết đảng vẫn tiếp tục chính sách của Nguyễn Văn Linh, Lê Khả Phiêu: Vẫn tuyệt đối trung thành với các đồng chí Trung Quốc. Kể từ thời Nguyễn Văn Linh, bất cứ ai lên cầm quyền ở Hà Nội, đều phải được Bắc Kinh phê chuẩn. Trung Cộng không cho Nguyễn Cơ Thạch đi trong phái đoàn sang Thành Ðô năm 1990. Thế là sau đó Thạch bị rút ra khỏi Bộ Chính Trị và Trung Ương Ðảng, suốt đời không còn ngóc lên được nữa. Trung Cộng mời Phó Thủ Tướng Vũ Khoan sang Bắc Kinh năm 2005, nhưng Khoan tới nơi bèn bị bỏ rơi giữa chợ, không cho gặp một nhân vật quan trọng nào cả. Thế là mọi người đều hiểu: Vũ Khoan không thể lên chức thủ tướng được, mặc dù đã có công vận động để ký thỏa ước thương mại song phương với Mỹ cho Việt Nam vào Tổ Chức Thương Mại Thế Giới. Vì thế Nguyễn Tấn Dũng, một phó thủ tướng khác, đã lên ngồi ghế thủ tướng cho tới bây giờ.

Chỉ khi nào Ðảng Cộng Sản Việt Nam chính thức từ bỏ chủ nghĩa Mác Lê, đổi tên đảng, bỏ những chữ “xã hội chủ nghĩa” trong tên nước; khi nào dân Việt Nam được sống làm người Việt bình thường không theo chủ nghĩa nào cả, không bám lấy cường quốc nào để nhận làm anh em cả, thì lúc đó Việt Nam mới thực sự độc lập!

Nguồn: on the net

 

Bài Liên Quan:

►Hội Nghị Thành Đô ngày 3 và 4-9-1990- Những sự thật cần phải biết (Phần 27)

 Bối cảnh dẫn tới hội nghị Thành Đô 1990

 

Hồi ký Trần Quang Cơ — Diễn Đàn Forum

 

 

 

 

—————-

Posted in Hội nghị Thành Đô 3-9-1990, Lịch Sử | 13 Comments »