Trần Hoàng Blog

Archive for Tháng Năm, 2009

VN và TQ Lo sợ Diễn biến Hòa bình

Posted by hoangtran204 trên 27/05/2009

177.VN và TQ Lo sợ Diễn biến Hòa bình

Đăng bởi hoangtran204 on 27/05/2009

The New York Times

Lo sợ Diễn biến Hòa bình

ROGER COHEN

Ngày 24-5-2009

HCM City, VIỆT NAM – Đảng Cộng sản Việt Nam, giống như đảng anh em của họ ở Trung Quốc, đã nhận ra mối đe doạ số 1 mà họ phải đối mặt. Mối nguy hiểm hiện ra lờ mờ được gọi là “diễn biến hòa bình.”

Điều đó có thể nghe tuồng như là người dự báo thời tiết đang cảnh báo về mối đe doạ giữa lúc bầu trời trong vắt và chan hòa ánh nắng. Thế nhưng các kiến trúc sư của Chủ nghĩa Lenin-kết hợp với nền kinh tế thị trường, những người đã mang chủ nghĩa tư bản phát triển nhanh chóng tới cho những quốc gia Á châu độc đảng, thì tỏ ra nghiêm túc.

Những cơn ác mộng mà họ đang nằm mơ không phải là về cuộc chính biến hay nổi dậy bằng bạo lực của cuộc cách mạng, mà là sự nhỏ giọt, nhỏ giọt, nhỏ giọt lớn dần của sự tự do dân chủ.

Hai mươi năm sau biến cố ở Quảng trường Thiên An Môn, cuộc nổi dậy đang ngũ yên và các sinh viên tỏ ra ngoan ngoãn, thuần hóa, dễ bảo từ Bắc Kinh cho tới Hà Nội. Các sinh viên đã gia nhập làm thành viên cho các tổ chức phát triển nhiều hơn là thành viên của các tổ chức dân chủ trong một tương lai có thể nhìn thấy trước được. Họ có thể muốn được tự do hơn, song không tới cái mức tự do mà họ sẽ phải đương đầu với nhà cầm quyền cộng sản, như những người thuộc thế hệ Thiên An Môn đã từng làm.

“Nhiệm vụ chính đối với Trung Quốc giờ đây là phát triển,” một giáo viên trưởng ngành sinh thái học của trường Đại học Bắc Kinh tên là Song Chao đã nói với đồng nghiệp của tôi Sharon LaFraniere như thế. Đó cũng là tâm trạng của các thanh niên ở Việt Nam nữa, nơi đây đang chuyển từ xe gắn máy hai bánh lên xe hơi, chuyện nầy hầu như chắc chắn là đang làm bận tâm thế hệ kế tiếp hơn là thúc đẩy cho nền dân chủ đa đảng.

Cũng giống như Trung Quốc, quan điểm thực dụng này có quan hệ tới sự chấn thương. Các hai nước đã chứng kiến các cuộc nội chiến trong nửa sau của thế kỷ 20, cuộc nội chiến đó đã bắt họ phải trả những cái giá to lớn khủng khiếp. Vì thế sự ổn định chỉ là giải thưởng, đặc biệt khi sự ổn định đã và đang đem tới những tiêu chuẩn sống cao hơn trong thời gian ngắn.

Thế nhưng, cùng đi theo với sự chuyển đổi ấy còn có nhiều chuyện khác hơn nữa đã và đang biến “cuộc diễn biến hòa bình” thành một loài ác quỷ, làm cho các nhân vật trong bộ chính trị của các nước Á châu đêm đêm không ngũ được.

Công nghệ (thông tin) đã và đang dẫn dắt “tất cả” mọi người ra khỏi chế độ chuyên chế độc tài. Đêm đen của linh hồn của chủ nghĩa Stalin hay Mao đã được cất giữ vào lịch sử bởi những xã hội trên mạng internet. Cả Trung Quốc và Việt Nam đều không có tự do. Cùng lúc đó, không nước nào trong hai nước nầy mất sự tự do nhiều đến nổi làm cho công dân của họ phải quá khao khát quyền tự do.

Shi Guoliang, thuộc trường Đại học Thanh niên Trung Quốc ở Bắc Kinh ngành Khoa học Chính trị, đang nghiên cứu về quan điểm xã hội của tầng lớp thanh niên, đã nói với tờ Financial Times rằng: “Các sinh viên không thực hiện những cuộc biểu tình ngồi, họ [diễn đạt ý kiến của họ trên] blog và sử dụng mạng xã hội Twitter.”

Tất nhiên, các nhà chức trách Trung Quốc đang chặn một số trang Web mà họ cho là thù nghịch. Tự do trên Internet bị hạn chế. Ngay tại đây Việt Nam, nơi mà mọi thứ nói chung đều lỏng lẻo hơn là ở trên phía bắc, thì quyền tự do đó lớn hơn nhiều. (Bên dưới tất cả thứ tình anh em theo nghi thức, sự kình địch của Việt Nam với Trung Quốc là đều đặn không thay đổi.)

Tại cả hai nước này, truyền thông và thế giới mạng trực tuyến được sử dụng như những chiếc van an toàn cho những quốc gia độc đảng, nơi mà Chủ nghĩa cộng sản chỉ hơn cái nhãn hiệu một chút được ban cho sự duy trì quyền lực.

Đại khái, tôi có thể nói rằng thời đại của các cuộc cách mạng đã qua rồi. Google đã ăn ngấu nghiến cái cơn bốc đồng muốn nổi dậy khởi nghĩa. Đó là sự khác biệt chính giữa thế hệ Thiên An Môn và “Thế hệ Toàn cầu” đang nổi lên ở châu Á. Nhiệt huyết nổi lên trong một không gian bị hạn chế (của mạng internet). Khi những bức tường và biên giới bị chọc thủng (qua việc viết blog phản kháng trên mạng), nhiệt huyết đó bị lan tỏa ra và tiêu tan.

Vậy thì, chức năng của đảng là gì, những người đang gặm nhắm các bài học của ông Mao hay ông Hồ, để bực dọc về những thứ gì nữa nếu không phải là “diễn biến hòa bình?”

Cuộc sụp đổ không ồn ào của hệ thống Sô Viết và những cuộc cách mạng nhung ở trung tâm châu Âu đã tạo nên một ấn tượng không thể xóa nhòa đối với các nhà kiến trúc sư của thế kỷ 21 chuyên đàn áp mạng internet. Họ tỏ ra cảnh giác không phải từ những tiếng nổ mà là từ những tiếng rên rỉ thút thít.

Hệ thống trấn áp của họ là không ồn ào. Hệ thống của họ không dựa trên sự khủng bố và các trại giam cải tạo kiểu như ở qu
ần đảo Gulag, mà là sự thiết lập các đường ranh giới đỏ nhằm ngăn chận và hạn chế quyền tự do ở nơi nào mà sự tự do bắt đầu có ý nghĩa là quyền để tố cáo nhà chức trách hay quyền tổ chức thành lập hội đoàn phản đối lại nhà nước.

Vì vậy, điều mà những người canh giữ của Chủ nghĩa cộng sản lấy đàn áp làm tính nguyên tắc vì lo sợ phải đối điện với chủ nghĩa tư bản không phải là những chi bộ cách mạng được trang bị bằng những khẩu AK-47 mà là những tổ chức phi chính phủ có danh tính nghe chừng như vô hại (NGOs).

Họ đang canh phòng những người TQ có lý tưởng được giáo dục ở phương Tây và có khuôn mặt đầy đặn. Những người hay bàn tán về nhân quyền và sự cai trị bằng luật pháp; họ có thể sẽ làm lu mờ đi những đường ranh giới đỏ và hút hết sức mạnh, đặc tính và phẩm chất chủ yếu của những cán bộ Cộng sản.

“Quí vị có thể đăng ký mở một công ty ở đây trong vòng một ngày, thế nhưng hãy quên đi chuyện đăng ký thành lập một tổ chức phi chính phủ [NGO] hay một hội từ thiện,” Jonathan Pincus, người đang điều hành một chi nhánh thuộc Trường Kennedy của Harvard tại Thành phố Hồ Chí Minh, đã nói với tôi như vậy. Một phái đoàn của Nga đã tới Việt Nam hồi gần đây đã đưa ra lời khuyên về cách thức làm thế nào để chống lại mối đe doạ của các tổ chức phi chính phủ.

Điều đó là đáng tiếc song cực kỳ tai hại. Tốt nhất không nên là kẻ thù của việc làm từ thiện. Sự vươn dậy nhanh chóng của Trung Quốc và Việt Nam, tính gộp lại là khoảng 20% dân số địa cầu, đã đưa hàng trăm triệu người dân thoát khỏi cảnh đói nghèo kể từ khi Chủ nghĩa cộng sản chuyên chế sụp đổ. Phương Tây ở trong vị trí để mà nói rằng họ biết rõ hơn ai hết về điều đó.

Có điều gì đó ở đây về một học thuyết đơn lẻ cho rằng: cản trở hành động nhân đạo là cách làm sai lầm. Trong một khoảng khắc ngắn ngủi, sau khi Bức tường Berlin sụp đổ, thị trường tự do, những hệ thống-tự-do –có-đa-đảng có vẻ dường như đã thành lập để quét sạch mọi thứ trên con đường chiến thắng của họ. Thế nhưng, những phản ứng đã xuất hiện từ Moscow tới Bắc Kinh cho tới Hà Nội. Các nền kinh tế thị trường và chủ nghĩa dân tộc đã dồn ép sự tự do và các cuộc bầu cử đến bước đường cùng; tinh thần cao cả của cuộc nổi dậy ở Thiên An Môn vào mùa xuân 1989 và sự sụp đổ bức tường Bá Linh vào mùa đông 1989 đã phai mờ rồi.

Nước Mỹ, được sinh ra vì lý tưởng dành cho tự do, phải trung thành với lý tưởng tự do và cổ vỏ thúc đẩy những giá trị của sự tự do. Thế nhưng, dù đã tỉnh ngộ ra rồi và không còn tiền nữa, thì Hoa Kỳ cũng nên tỏ ra kiên nhẫn. Khi những tầng lớp trung lưu của Việt Nam và Trung Quốc nổi lên (ngày càng nhiều) họ trở thành đòi hỏi nhiều hơn nữa những gì mà họ tiêu thụ, lúc ấy họ cũng sẽ là những người tiêu dùng đòi hỏi nhiều hơn nữa về chính quyền.

Họ sẽ muốn minh bạch hơn, muốn có những bộ luật có thể dự báo được những bước phát triển của xã hội, hệ thống chăm sóc sức khoẻ tốt hơn, ít tham nhũng hơn, nền giáo dục khoáng đạt hơn, tự do ngôn luận hơn và giảm bớt đi những đường ranh giới đỏ ngăn cấm họ.

Các nhà nước độc đảng sẽ bị áp lực mạnh hơn để cung cấp những đòi hỏi đó. 25 năm sắp tới đây, tôi dám cá là có nhiều tự do và dân chủ hơn ở Bắc Kinh và Hà Nội, họ sẽ đạt được những điều ấy thông qua diễn biến hòa bình, chứ không thể nào kém hơn được.


Hiệu đính: Trần Hoàng

Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2009

nhấp chuột vào tên tác giả để đọc bài tiếng Anh

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

Entry for May 27, 2009

Posted by hoangtran204 trên 27/05/2009

177.VN và TQ Lo sợ Diễn biến Hòa bình

Đăng bởi hoangtran204 on 27/05/2009

The New York Times

Lo sợ Diễn biến Hòa bình

ROGER COHEN

Ngày 24-5-2009

HCM City, VIỆT NAM – Đảng Cộng sản Việt Nam, giống như đảng anh em của họ ở Trung Quốc, đã nhận ra mối đe doạ số 1 mà họ phải đối mặt. Mối nguy hiểm hiện ra lờ mờ được gọi là “diễn biến hòa bình.”

Điều đó có thể nghe tuồng như là người dự báo thời tiết đang cảnh báo về mối đe doạ giữa lúc bầu trời trong vắt và chan hòa ánh nắng. Thế nhưng các kiến trúc sư của Chủ nghĩa Lenin-kết hợp với nền kinh tế thị trường, những người đã mang chủ nghĩa tư bản phát triển nhanh chóng tới cho những quốc gia Á châu độc đảng, thì tỏ ra nghiêm túc.

Những cơn ác mộng mà họ đang nằm mơ không phải là về cuộc chính biến hay nổi dậy bằng bạo lực của cuộc cách mạng, mà là sự nhỏ giọt, nhỏ giọt, nhỏ giọt lớn dần của sự tự do dân chủ.

Hai mươi năm sau biến cố ở Quảng trường Thiên An Môn, cuộc nổi dậy đang ngũ yên và các sinh viên tỏ ra ngoan ngoãn, thuần hóa, dễ bảo từ Bắc Kinh cho tới Hà Nội. Các sinh viên đã gia nhập làm thành viên cho các tổ chức phát triển nhiều hơn là thành viên của các tổ chức dân chủ trong một tương lai có thể nhìn thấy trước được. Họ có thể muốn được tự do hơn, song không tới cái mức tự do mà họ sẽ phải đương đầu với nhà cầm quyền cộng sản, như những người thuộc thế hệ Thiên An Môn đã từng làm.

“Nhiệm vụ chính đối với Trung Quốc giờ đây là phát triển,” một giáo viên trưởng ngành sinh thái học của trường Đại học Bắc Kinh tên là Song Chao đã nói với đồng nghiệp của tôi Sharon LaFraniere như thế. Đó cũng là tâm trạng của các thanh niên ở Việt Nam nữa, nơi đây đang chuyển từ xe gắn máy hai bánh lên xe hơi, chuyện nầy hầu như chắc chắn là đang làm bận tâm thế hệ kế tiếp hơn là thúc đẩy cho nền dân chủ đa đảng.

Cũng giống như Trung Quốc, quan điểm thực dụng này có quan hệ tới sự chấn thương. Các hai nước đã chứng kiến các cuộc nội chiến trong nửa sau của thế kỷ 20, cuộc nội chiến đó đã bắt họ phải trả những cái giá to lớn khủng khiếp. Vì thế sự ổn định chỉ là giải thưởng, đặc biệt khi sự ổn định đã và đang đem tới những tiêu chuẩn sống cao hơn trong thời gian ngắn.

Thế nhưng, cùng đi theo với sự chuyển đổi ấy còn có nhiều chuyện khác hơn nữa đã và đang biến “cuộc diễn biến hòa bình” thành một loài ác quỷ, làm cho các nhân vật trong bộ chính trị của các nước Á châu đêm đêm không ngũ được.

Công nghệ (thông tin) đã và đang dẫn dắt “tất cả” mọi người ra khỏi chế độ chuyên chế độc tài. Đêm đen của linh hồn của chủ nghĩa Stalin hay Mao đã được cất giữ vào lịch sử bởi những xã hội trên mạng internet. Cả Trung Quốc và Việt Nam đều không có tự do. Cùng lúc đó, không nước nào trong hai nước nầy mất sự tự do nhiều đến nổi làm cho công dân của họ phải quá khao khát quyền tự do.

Shi Guoliang, thuộc trường Đại học Thanh niên Trung Quốc ở Bắc Kinh ngành Khoa học Chính trị, đang nghiên cứu về quan điểm xã hội của tầng lớp thanh niên, đã nói với tờ Financial Times rằng: “Các sinh viên không thực hiện những cuộc biểu tình ngồi, họ [diễn đạt ý kiến của họ trên] blog và sử dụng mạng xã hội Twitter.”

Tất nhiên, các nhà chức trách Trung Quốc đang chặn một số trang Web mà họ cho là thù nghịch. Tự do trên Internet bị hạn chế. Ngay tại đây Việt Nam, nơi mà mọi thứ nói chung đều lỏng lẻo hơn là ở trên phía bắc, thì quyền tự do đó lớn hơn nhiều. (Bên dưới tất cả thứ tình anh em theo nghi thức, sự kình địch của Việt Nam với Trung Quốc là đều đặn không thay đổi.)

Tại cả hai nước này, truyền thông và thế giới mạng trực tuyến được sử dụng như những chiếc van an toàn cho những quốc gia độc đảng, nơi mà Chủ nghĩa cộng sản chỉ hơn cái nhãn hiệu một chút được ban cho sự duy trì quyền lực.

Đại khái, tôi có thể nói rằng thời đại của các cuộc cách mạng đã qua rồi. Google đã ăn ngấu nghiến cái cơn bốc đồng muốn nổi dậy khởi nghĩa. Đó là sự khác biệt chính giữa thế hệ Thiên An Môn và “Thế hệ Toàn cầu” đang nổi lên ở châu Á. Nhiệt huyết nổi lên trong một không gian bị hạn chế (của mạng internet). Khi những bức tường và biên giới bị chọc thủng (qua việc viết blog phản kháng trên mạng), nhiệt huyết đó bị lan tỏa ra và tiêu tan.

Vậy thì, chức năng của đảng là gì, những người đang gặm nhắm các bài học của ông Mao hay ông Hồ, để bực dọc về những thứ gì nữa nếu không phải là “diễn biến hòa bình?”

Cuộc sụp đổ không ồn ào của hệ thống Sô Viết và những cuộc cách mạng nhung ở trung tâm châu Âu đã tạo nên một ấn tượng không thể xóa nhòa đối với các nhà kiến trúc sư của thế kỷ 21 chuyên đàn áp mạng internet. Họ tỏ ra cảnh giác không phải từ những tiếng nổ mà là từ những tiếng rên rỉ thút thít.

Hệ thống trấn áp của họ là không ồn ào. Hệ thống của họ không dựa trên sự khủng bố và các trại giam cải tạo kiểu như ở qu
ần đảo Gulag, mà là sự thiết lập các đường ranh giới đỏ nhằm ngăn chận và hạn chế quyền tự do ở nơi nào mà sự tự do bắt đầu có ý nghĩa là quyền để tố cáo nhà chức trách hay quyền tổ chức thành lập hội đoàn phản đối lại nhà nước.

Vì vậy, điều mà những người canh giữ của Chủ nghĩa cộng sản lấy đàn áp làm tính nguyên tắc vì lo sợ phải đối điện với chủ nghĩa tư bản không phải là những chi bộ cách mạng được trang bị bằng những khẩu AK-47 mà là những tổ chức phi chính phủ có danh tính nghe chừng như vô hại (NGOs).

Họ đang canh phòng những người TQ có lý tưởng được giáo dục ở phương Tây và có khuôn mặt đầy đặn. Những người hay bàn tán về nhân quyền và sự cai trị bằng luật pháp; họ có thể sẽ làm lu mờ đi những đường ranh giới đỏ và hút hết sức mạnh, đặc tính và phẩm chất chủ yếu của những cán bộ Cộng sản.

“Quí vị có thể đăng ký mở một công ty ở đây trong vòng một ngày, thế nhưng hãy quên đi chuyện đăng ký thành lập một tổ chức phi chính phủ [NGO] hay một hội từ thiện,” Jonathan Pincus, người đang điều hành một chi nhánh thuộc Trường Kennedy của Harvard tại Thành phố Hồ Chí Minh, đã nói với tôi như vậy. Một phái đoàn của Nga đã tới Việt Nam hồi gần đây đã đưa ra lời khuyên về cách thức làm thế nào để chống lại mối đe doạ của các tổ chức phi chính phủ.

Điều đó là đáng tiếc song cực kỳ tai hại. Tốt nhất không nên là kẻ thù của việc làm từ thiện. Sự vươn dậy nhanh chóng của Trung Quốc và Việt Nam, tính gộp lại là khoảng 20% dân số địa cầu, đã đưa hàng trăm triệu người dân thoát khỏi cảnh đói nghèo kể từ khi Chủ nghĩa cộng sản chuyên chế sụp đổ. Phương Tây ở trong vị trí để mà nói rằng họ biết rõ hơn ai hết về điều đó.

Có điều gì đó ở đây về một học thuyết đơn lẻ cho rằng: cản trở hành động nhân đạo là cách làm sai lầm. Trong một khoảng khắc ngắn ngủi, sau khi Bức tường Berlin sụp đổ, thị trường tự do, những hệ thống-tự-do –có-đa-đảng có vẻ dường như đã thành lập để quét sạch mọi thứ trên con đường chiến thắng của họ. Thế nhưng, những phản ứng đã xuất hiện từ Moscow tới Bắc Kinh cho tới Hà Nội. Các nền kinh tế thị trường và chủ nghĩa dân tộc đã dồn ép sự tự do và các cuộc bầu cử đến bước đường cùng; tinh thần cao cả của cuộc nổi dậy ở Thiên An Môn vào mùa xuân 1989 và sự sụp đổ bức tường Bá Linh vào mùa đông 1989 đã phai mờ rồi.

Nước Mỹ, được sinh ra vì lý tưởng dành cho tự do, phải trung thành với lý tưởng tự do và cổ vỏ thúc đẩy những giá trị của sự tự do. Thế nhưng, dù đã tỉnh ngộ ra rồi và không còn tiền nữa, thì Hoa Kỳ cũng nên tỏ ra kiên nhẫn. Khi những tầng lớp trung lưu của Việt Nam và Trung Quốc nổi lên (ngày càng nhiều) họ trở thành đòi hỏi nhiều hơn nữa những gì mà họ tiêu thụ, lúc ấy họ cũng sẽ là những người tiêu dùng đòi hỏi nhiều hơn nữa về chính quyền.

Họ sẽ muốn minh bạch hơn, muốn có những bộ luật có thể dự báo được những bước phát triển của xã hội, hệ thống chăm sóc sức khoẻ tốt hơn, ít tham nhũng hơn, nền giáo dục khoáng đạt hơn, tự do ngôn luận hơn và giảm bớt đi những đường ranh giới đỏ ngăn cấm họ.

Các nhà nước độc đảng sẽ bị áp lực mạnh hơn để cung cấp những đòi hỏi đó. 25 năm sắp tới đây, tôi dám cá là có nhiều tự do và dân chủ hơn ở Bắc Kinh và Hà Nội, họ sẽ đạt được những điều ấy thông qua diễn biến hòa bình, chứ không thể nào kém hơn được.


Hiệu đính: Trần Hoàng

Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2009

nhấp chuột vào tên tác giả để đọc bài tiếng Anh

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

Posted by hoangtran204 trên 26/05/2009

Hình ảnh Hà Nội VS Sài Gòn trước 75

so sánh Sài gòn với Hà Nội thời đó đúng là cách xa một trời một vực

đường phố Hà Nội toàn là xe đạp với nón cối

xem xong mấy hình này so với Sài Gòn thì từ ”giải phóng” hết có ý nghĩa rồi

nguồn chú cuội: http://www.x-cafevn.org/forum/showthread.php?t=25850

(nguồn http://www.x-cafevn.org/forum/showthread.php?t=25850)
Click the image to open in full size.

Click the image to open in full size.

Click the image to open in full size.

Click the image to open in full size.

Click the image to open in full size.

Sài Gòn

Click the image to open in full size.

Click the image to open in full size.

Click the image to open in full size.

Click the image to open in full size.

Click the image to open in full size.

Hà Nội thời bao cấp

Sổ và phiếu mua lương thực:

Click the image to open in full size.

Click the image to open in full size.

Một cửa hàng mậu dịch quốc doanh:
Click the image to open in full size.

Khu tập thể dành cho cán bộ công nhân viên nhà nước có sổ gạo:
Click the image to open in full size.

Và khu ổ chuột cho dân thị thành không sổ gạo:
Click the image to open in full size.

Một quầy hàng bán báo, tạp chí:
Click the image to open in full size.

Một cách miễn phí tàu điện:
Click the image to open in full size.

Vỉa hè là chợ công nhân:
Click the image to open in full size.

Thủ đô duy nhất trên thế giới mà một số tuyến phố có biển cấm xe bò:
Click the image to open in full size.

Vâng, không có gì quý hơn độc lập, tự do!!!
Click the image to open in full size.

————————————————————————————————————————————————————————-

Nguồn: Gã nhà Quê

Đây, Hà Nội mới đây, hoàn toàn mới đấy:

Click the image to open in full size.

Click the image to open in full size.

Click the image to open in full size.

Click the image to open in full size.

Click the image to open in full size.

Click the image to open in full size.

Click the image to open in full size.

Click the image to open in full size.

Click the image to open in full size.

Click the image to open in full size.

Click the image to open in full size.

Click the image to open in full size.

Click the image to open in full size.

Click the image to open in full size.

Click the image to open in full size.

Click the image to open in full size.

__________________

Và đây nữa:

Click the image to open in full size.

Click the image to open in full size.

Click the image to open in full size.

Click the image to open in full size.

Click the image to open in full size.

Click the image to open in full size.

Click the image to open in full size.

Click the image to open in full size.

Click the image to open in full size.

Click the image to open in full size.

Click the image to open in full size.

Click the image to open in full size.

Click the image to open in full size.

Click the image to open in full size.

Click the image to open in full size.

Click the image to open in full size.

Click the image to open in full size.

Click the image to open in full size.

Click the image to open in full size.

Click the image to open in full size.

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

Rùa quí hiếm ở Việt Nam

Posted by hoangtran204 trên 25/05/2009

:Các nhà Nghiên cứu của Vườn thú Cleveland Tìm thấy Rùa Khổng lồ Hiếm có tại Việt Nam

Trang 219:Các nhà Nghiên cứu của Vườn thú Cleveland Tìm thấy Rùa Khổng lồ Hiếm có tại Việt Nam magnify

Bức ảnh không ghi ngày tháng này được Vườn thú Cleveland Metroparks cung cấp, cho thấy một con rùa thuộc loài mai mềm Swinhoe tại tỉnh Thanh Hóa, Việt Nam. Các nhà nghiên cứu của Vườn thú vừa phát hiện ra một trong những con rùa khổng lồ hiếm có đang sống trong tự nhiên tại miền bắc Việt Nam (Cleveland Metroparks Zoo/AP)

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

bauxite 460 million dollars contract

Posted by hoangtran204 trên 25/05/2009

Bộ Tài Nguyên và Môi Trường.

Trung Quốc đã ký một hợp đồng trị giá 460 triệu đô la ở Việt Nam

Author: Phuong Hoa

(16:47 17/07/2008)

Vinacomin, hãng sản suất Than lớn nhất ở Viêt Nam, đã ký một hợp đồng với một công ty Trung Quốc để xây dựng một xí nghiệp sản suất Alumina trị giá 460 triệu đô la ở Cao Nguyên Trung Phần (Tây Nguyên), theo một thông báo của chính quyền Hà Nội.

Vào hôm chủ Nhật, Vinacomin đã ký một hợp đồng* với nhà thầu xây dựng Chalieko (China Aluminum International Engineering Company). Công ty Chalieko là một chi nhánh của Tập đoàn Chalco.

Theo hợp đồng nầy, Chalieko sẽ xây dựng một hãng sản suất Alumina trong thời hạn 2 năm, một lời loan báo đã được đưa ra vào tuần nầy cho biết thế.

Hãng alumina nầy, được dự tính làm ra 600.000 tấn alumina một năm, là một phần của khu công nghiệp liên hợp các nhà máy nhôm và bauxite ở cao nguyên Trung phần tỉnh Lâm Đồng, cách tp HCM 300 km về hướng Đông Bắc.

Vào năm 2006, Việt Nam đã bắt đầu xây dựng khu công nghiêp liên hợp Alumina và bauxite đầu tiên ở Tân Rai, nhưng vì thiếu tiền và thiếu điện đã buộc các nhà xây dựng hãng nầy ở Tân Rai không sản suất Nhôm trong khu công nghiệp liên hợp.

Công ty Chalieko là một chi nhánh của Tập đoàn Chalco, tập đoàn kim loại- không- chứa- chất- sắt lớn nhất của Trung Quốc.

Chalieko đã ký một đơn đặt hàng với tập đoàn Marubeni của Nhật, theo hợp đồng ấy hãng Nhật sẽ hổ trợ và cố vấn về các đề tài luật pháp và đại diện quyền sở hữu (cho hãng Chalieko) cho dự án nầy, dự án nầy sẽ hoàn tất vào năm 2010, Marubeni đã cho biết trong một thông báo hôm thứ Ba.

Vinacomin sẽ bắt đầu các cuộc thương lượng khác vào quý 4 (năm 2008) cho một hợp đồng khác để xây dựng một hãng sản suất Alumina tương tự như khu công nghiệp liên hợp ở tỉnh Lâm Đồng, hãng ở Nhân Cơ cũng sản suất 600.000 tấn Alumina một năm. Tổng Giám Đốc Vinacomin là ông Đoàn văn Kiện cũng đã được trích dẫn trong một văn bản của chính quyền cũng nói như thế.

Mỏ bauxite của Việt Nam được đánh giá khoảng 5,6 tỉ đến 8.3 tỉ tấn, đứng hang thứ 3 của thế giới sau hai nước Guinea và Úc.

Bauxite là nguyên liệu được dùng cho việc sản suất alumina (oxit nhôm), một loại bột màu trắng dùng để sản suất nhôm.

Việt Nam đang cho biết là cần có 15,6 tỉ đô la để đầu tư vào các dự án tinh luyện alumina và bauxite từ đây cho đến năm 2025, để sử dụng nguồn tài nguyên quặng bô xít lộ thiên rất to lớn ở vành đai trồng cây café vùng Cao Nguyên Trung Phần.

Vào tháng 5, 2008, chính quyền Việt Nam đã cho biết họ sẽ chấp thuận cho công ty Alcoa của Mỹ làm chủ 40% một dự án tinh luyện alumina chính ở Cao Nguyên Trung Phần thuộc tỉnh Đắc Nông.

Nhôm, được dùng trong máy bay, võ nước ngọt, đã vượt kỷ lục vào tuần trước sau khi các công ty nấu nhôm của Trung quốc, đứng hang đầu thế giới, đã đồng ý cắt giảm mức sản suất vào khoảng 10% vào tháng 9-2008.

Sự thiếu điện từ Trung Quốc cho tới Nam Phi đã và đang làm gia tăng những quan ngại rằng các hàng hóa tồn kho có thể bị giảm bớt đi khi các giá cả sản suất gia tăng. Hai tấn alumina làm ra một tấn nhôm.

Kế Hoạch của Công Ty Alcoa của Mỹ.

Công ty Alcoa, nhà sản suất nhôm đứng thứ 3 trên thế giới, có thế mua một phần trong một hãng luyện alumina 600.000 tấn ở Việt Nam, thông qua một hợp doanh với công ty Alumina, công ty Alcoa  đã cho biết như thế trong một thông báo ngày 24-6-2008.

Thông báo nầy cũng nói rằng: hãng Alcoa World Alumina and Chemicals, do công ty Alcoa làm chủ 60%, đang xem xét việc mua  một cổ phần trị giá 40% của hãng ở Nhân Cơ và một mỏ bauxite gần đó ở miền Nam Việt Nam.

Thông báo nầy còn cho biết nếu cuộc mua bán được tiến hành, hãng Than và khoáng Sản VN hay Vinacomin  sẽ làm chủ 51%, và 9% còn lại sẽ do các nhà đầu tư khác mua.

Chalco đã và đang tiến hành cuộc nghiên cứu  tính khả thi của mỏ để phát triển dự án bauxite ở Đắc Nông với tập đoàn Than và Khoáng Sản Việt Nam.

Người dịch Trần Hoàng

China, Japan in Vietnam’s $460 million alumina deal

Tue Jul 15, 2008 5:02am EDT

http://www.reuters.com/article/rbssDiversifiedTradingDistribution/idUSHAN26152520080715

By Ho Binh Minh

HANOI, July 15 (Reuters) – Vinacomin, Vietnam’s largest coal producer, has signed a contract with a Chinese company to build a $460 million alumina plant in the Central Highlands, the Hanoi government said.

Vinacomin signed an Engineering, Procurement and Construction (EPC) deal with China Aluminium International Engineering Co (Chalieco) on Sunday, and Chalieco would build the plant within two years, the statement issued late on Monday said.

The alumina plant, projected to turn out 600,000 tonnes of alumina a year, is part of the bauxite and aluminium complex in the central highland province of Lam Dong, 300 kilometres (190 miles) northeast of Ho Chi Minh City.

Vietnam began building in 2006 its first bauxite and alumina complex, the $490 million Tan Rai plant, but a lack of money and domestic power shortages forced the plant developers to skip aluminium production in the complex.

Chalieco is the engineering arm of Aluminium Corp of China Ltd (Chalco) (2600.HK), China’s largest nonferrous metal company.

Chalieco has placed an order with Marubeni Corp (8002.T), under which the Japanese firm would support and provide advice on legal and procurement issues on the project, which is due for completion in 2010, Marubeni said in a statement on Tuesday.

Vinacomin would start negotiations in the fourth quarter for another EPC contract to build the Nhan Co alumina plant in the same Lam Dong complex, also to produce 600,000 tonnes of alumina per year, Vinacomin Chairman Doan Van Kien was quoted in the government statement as saying.

Vietnam’s bauxite ore reserves are estimated at between 5.6 billion and 8.3 billion tonnes, the world’s third-largest after Guinea and Australia and mostly unmined.

Bauxite is the raw material used for making alumina, a white powder for producing aluminium.

Vietnam has said it needed about $15.6 billion to invest in major bauxite and alumina refining projects by 2025, to make use of its vast and largely unmined bauxite ore reserves, most of them in the Central Highlands coffee belt.

In May, the government said it would allow Alcoa Inc (AA.N) to own up to 40 percent of a major alumina mining and refining project in the central highland province of Dak Nong [ID:nSP155046]. (Additional reporting by Miho Yoshikawa in TOKYO) (Editing by Ben Tan

Ministry of Natural and Resources and Enviromental

Vinacomin, Vietnam’s largest coal producer, has signed a contract with a Chinese company to build a US$460 million alumina plant in the Central Highlands, according to a Hanoi government statement.

Vinacomin signed an engineering, procurement and construction (EPC) deal with China Aluminum International Engineering Co. (Chalieco) on Sunday.

Under the agreement, Chalieco will build the plant within two years, a statement issued this week said.

The alumina plant, projected to turn out 600,000 tons of alumina a year, is part of a bauxite and aluminum complex in the Central Highlands province of Lam Dong, 300 kilometers northeast of Ho Chi Minh City.

In 2006, Vietnam began building its first bauxite and alumina complex, the $490 million Tan Rai plant, but a lack of money and domestic power shortages forced the plant developers to skip aluminum production in the complex.

Chalieco is the engineering arm of Aluminum Corp. of China Ltd. (Chalco), China’s largest nonferrous metal company.

Chalieco has placed an order with Marubeni Corp., under which the Japanese firm would support and provide advice on legal and procurement issues on the project, which is due for completion in 2010, Marubeni said in a statement Tuesday.

Vinacomin will start negotiations in the fourth quarter for another EPC contract to build the Nhan Co alumina plant in the same Lam Dong complex, also to produce 600,000 tons of alumina per year, Vinacomin Chairman Doan Van Kien was quoted in the government statement as saying.

Vietnam’s mostly unmined bauxite ore reserves are estimated at between 5.6 billion and 8.3 billion tons, the world’s third-largest after Guinea and Australia.

Bauxite is the raw material used for making alumina, a white powder for producing aluminum.

Vietnam has said it needed about $15.6 billion to invest in major bauxite and alumina refining projects by 2025, to make use of its vast and largely unmined bauxite ore reserves, most of them in the Central Highlands coffee belt.

In May, the government said it would allow Alcoa Inc. to own up to 40 percent of a major alumina mining and refining project in the Central Highlands province of Dak Nong.

Aluminum, used in aircraft and beverage cans, jumped to a record last week after Chinese smelters, the largest in the world, agreed to cut output by as much as 10 percent through September.

Power shortages from China to South Africa have increased on concerns supplies may be curtailed as production costs rise.

Two tons of alumina produce a ton of aluminum.

Alcoa plan

Alcoa Inc., the world’s third-largest aluminum producer, may buy a stake in a proposed 600,000 ton alumina refinery in Vietnam, through a joint venture with Alumina Ltd., New York-based Alcoa said in a June 24 statement.

Alcoa World Alumina and Chemicals, 60 percent owned by Alcoa, is considering buying a 40 percent stake in the proposed Nhan Co refinery and nearby bauxite mine in southern Vietnam, the statement said.

If the transaction proceeds, Nhan Co will be 51 percent owned by Vietnam National Coal-Mineral Industries Group, or Vinacomin, and the remaining 9 percent will be controlled by other investors, Alcoa said.

Chalco has been conducting a feasibility study to develop Vietnam’s Dak Nong bauxite project with Vietnam National Coal-Mineral Industries.

http://www.monre.gov.vn/monreNet/default.aspx?tabid=256&ItemID=46970

Phuong Hoa.

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

Việt Nam bị cú đòn nặng nề bởi tình trạng suy sụp kinh tế

Posted by hoangtran204 trên 24/05/2009

Việt Nam bị cú đòn nặng nề

bởi tình trạng suy sụp kinh tế

John Boudrreau

Ngày 21-5-2009

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH, Việt Nam – Trên những đường phố ồn ào tiếng còi xe của trung tâm thương mại này, thật khó lòng để cho ta nhìn thấy những gợi ý nói về một cơn suy thoái kinh tế đang diễn ra.

Những nhà hàng cao cấp đang đông nghẹt người, những phụ nữ trẻ tuổi ăn mặc đúng mốt đứng chật kín các cửa hàng thời trang thanh lịch, và người nào dường như cũng đang nói chuyện qua những chiếc điện thoại di động trong khi cưỡi trên xe gắn máy dạo quanh các bùng binh đầy nghẹt những chiếc xe tay ga hiệu Honda và taxi loại xe đa dụng [SUV-sport-utility vehicle]. Thị trường chứng khoán chính của Việt Nam, sau khi sụt giảm 66% vào năm ngoái, đã và đang lướt đi ở một mức cao trong bảy tháng qua, tăng hơn 20% trong năm nay.

Thế nhưng lối tiêu pha đáng ngờ nầy đang che giấu một thực tế rằng sự suy sụp kinh tế toàn cầu đang loang ra khắp Thái Bình Dương và đang làm choáng váng quốc gia Cộng sản ở Đông Nam Á này, Việt Nam đã từng  hăng hái cưỡi trên ngọn sóng toàn cầu hóa dâng cao.

Các hãng sản xuất nhỏ những sản phẩm công nghệ cấp thấp của Đài Loan đã lặng lẽ đóng cửa hoạt động  trong đợt đón Năm mới vừa qua mà không nói cho công nhân của họ  biết.

Thị trường bất động sản từng một thời nóng bỏng này đang chứng kiến giá nhà rớt xuống tới 40% tại một vài nơi. Và nền công nghiệp công nghệ thông tin non trẻ của Việt Nam – đại diện cho sự gia nhập của đất nước này vào vũ đài thế giới – cũng đang bị ảnh hưởng bởi các cuộc thất nghiệp lan rộng và sự nhận ra tình trạng thực tế đáng nghiêm trọng giữa những nhân công trẻ rằng kinh doanh trên phạm vi toàn cầu là nguy hiểm hơn nhiều so với những gì họ đã từng nghĩ.

“Tuổi trung bình của người Việt Nam là 27. Hầu hết người dân khởi đầu sự nghiệp của mình trong vòng bảy năm qua. Bởi vậy, phần lớn những người làm việc trong lĩnh vực công nghệ chỉ có kinh nghiệm trong gian đoạn bùng nổ kinh tế,” theo nhận xét của Jonah Levey, giám đốc điều hành Navigos Group, một hãng chuyên tìm kiếm các nhà quản trị cho doanh nghiệp tại Thành phố Hồ Chí Minh. “Đó là một cú sốc nghiêm trọng”.

Cơn suy thoái, bị châm ngòi bởi sự tan rã của các cơ quan tài chính tại nửa bán cầu phía Tây, đã gây choáng váng cho các công nhân trên khắp Á châu là những người từng được nhìn thấy những khoản thu nhập được gia tăng đáng kể trong những năm gần đây khi các quốc gia này bám theo những vận may của họ với phương Tây bằng cách cung cấp mọi thứ từ những chiếc áo thun cho tới phần mềm máy tính và máy nghe nhạc iPod.

Việt Nam đã bị chậm trễ trước nền kinh tế toàn cầu, đi theo sau sự vươn dậy của những người láng giềng Trung Quốc và Ấn Độ. Thế nhưng VN đã bù đắp lại quãng thời gian đã mất trong những năm gần đây, bằng cách khuyến dụ các nhà đầu tư nước ngoài, hợp tác với các hãng khổng lồ như Intel và các kỹ sư công nghệ người Mỹ gốc Việt từ Thung lũng Silicon (California) để khởi động nền công nghiệp trong lĩnh vực công nghệ thông tin của họ.

Hơn bất cứ điều gì, nền công nghiệp kỹ thuật mới ra ràng của Việt Nam tiêu biểu rõ ràng nhất cho tham vọng của một đất nước muốn tự mình vươn dậy. “Nền công nghiệp công nghệ thông tin đã là một con đường nhanh chóng để mở ra với thế giới,” theo lời Steve Cook, từng là nhà quản trị ở Thung lũng Silicon, giờ là chủ tịch hãng Enclave, một công ty phần mềm đóng tại Đà Nẵng. “Nó là một sự phù hợp hoàn hảo cho Việt Nam, với sự nhấn mạnh nặng nề vào nền giáo dục dựa vào khoa học.”

Năm 2007, tổng sản phẩm quốc nội GDP của Việt Nam đã tăng 8,3% (tăng vào khoảng 5 tỉ đô la) so với năm trước, được châm mồi thêm bởi nhiều tỉ đô la đầu tư nước ngoài và bùng nổ sản xuất công nghiệp. Hãng Intel đã giành một khoản đầu tư 1 tỉ đô la để xây dựng một nhà máy sản xuất chất bán dẫn khổng lồ dọc con Xa lộ Hà Nội ở Thành phố Hồ Chí Minh.

Các công ty khác – như Hewlett-Packard, IBM, Sun Microsystems – đã đổ xô vào mở ra các trung tâm kỹ nghệ trong một đất nước từng bị ngăn cấm giao thương với các doanh nghiệp Hoa Kỳ chỉ mới cách đây vài năm.

Đặc biệt, Việt Nam coi Intel như có tính chất rất quan trọng cho những hy vọng về kinh tế của họ. Các quan chức chính quyền đang hỏi vị giám đốc Thân Trọng Phúc của hãng Intel ở Việt Nam với tâm trạng lo lắng rằng: không biết việc xây dựng nhà máy ở đây, nơi mà rốt cục sẽ cung cấp khoảng 4.000 công ăn việc làm, vẫn còn tiếp tục diễn ra như trong kế hoạch hay không.

“Không có gì thay đổi hết,” ông Phúc trả lời trong một cuộc phỏng vấn, một tia hy vọng giữa tất cả những tin tức xấu.

Nhưng trong các cách khác, sự suy thoái kinh tế toàn cầu đã làm tê liệt và chậm lại giấc mơ của Việt Nam

Công nghiệp xuất khẩu những sản phẩm rẻ tiền của Việt Nam – từ áo quần may mặc cho tới cà phê – đã làm giảm bớt phần nào nổi đau bởi vì nó không bị tổn hại so với những cắt giảm mức tiêu thụ các mặt hàng đắt tiền ở các nước phương Tây giống như các nước khác như Đài Loan đang gánh chịu (Phương Tây cắt giảm tiêu thụ các sản phẩm đắt tiền làm kinh tế Đài Loan chết đứng, buộc Đài Loan phải thay đổi chính sách xích lại gần gủi hơn TQ từ đầu năm cuối năm 2008 cho đến nay và đã làm cho toàn dân Đài Loan biểu tình phản đối chính phủ Mã Anh Cửu bắt tay với Trung Cộng).

Tuy nhiên, mức tăng trưởng GDP của Việt Nam được cho là sẽ rút lại từ 6,2% giữa năm 2007 và 2008 xuống còn 3,3% cho tới cuối năm nay, theo như Quỹ Tiền tệ Quốc tế đánh giá. Các ngành công nghiệp dễ bị ảnh hưởng bởi các thị trường toàn cầu – đặc biệt là công nghệ thong tin – đã cảm nhận được tác động chính của sự suy thoái kinh tế.

Hầu như tất cả các công ty Internet của thành phố này đều phải cắt giảm nhân công, theo blogger Nguyễn Thị Khanh “Chip” Huyen, một nhân vật chuyên quảng bá cho công nghệ ePi, một loại cổng thông tin cho truyền thông đặt tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Trong khi đó, hàng trăm, nếu như không nói là hàng ngàn, các công việc làm trong lĩnh vực phần mềm đã bị mất việc và một số ít công ty phần mềm thậm chí đã phải đóng cửa. Ngành công nghiệp phần mềm doanh thu 600 triệu đô la một năm, từng tăng trưởng khoảng 30% một năm về lợi tức và trực tiếp thuê mướn khoảng 60.000 nhân công, có thể sẽ không nhìn thấy sự tăng trưởng trong năm nay, theo các hiệp hội kỹ thuật trong nước cho biết.

Chỉ ít tháng trước, các kỹ sư như Nguyễn Sơn và Vũ Dương đã được nhiều công ty lung kiếm, rất nhiều lần họ đã nhận được nhiều lời mời đề nghị làm việc. Thế nhưng, cách đây một vài tuần, họ đã nhận được tờ giấy màu hồng (báo tin bị sa thải) cùng một loạt với nhiều người khác bởi công ty CSC  có căn cứ đóng tại Virginia.  (Công ty CSC chuyên nhận hợp đồng từ các công ty khác; và để giảm chi phí, họ đã gởi công việc ấy ra nước ngoài và thuê những người như Sơn và Vũ thực hiện các công việc).

“Chúng tôi đã không nghĩ rằng chúng tôi có tên trong danh sách bị sa thải,” Nguyễn cho biết, anh ta ngồi trong một quán cà phê vào một ngày trong tuần với người bạn cũ cùng làm việc trước đây. “Họ cần cắt giảm chi phí. Họ cần giảm bớt những nhân công có mức lương cao.”

Các kỹ sư này, đều trạc tuổi 30, đã kiếm được khoảng 1.200 đô la* một tháng – một mức lương như ông hoàng ở một đất nước mà nhiều người vẫn còn phải sống với chưa tới một đô la một ngày.

Một số nhân công đã từng tưởng  rằng họ sẽ gắn bó toàn bộ sự nghiệp của họ với công ty, theo lời người kỹ sư bị thất nghiệp Vũ Ngọc Phan. “Một số người đã rất hoảng hốt gần như điên lên khi họ nhận được quyết định nghỉ việc,” anh nói. “Họ gào lên. Họ cảm thấy tức giận. Nhiều cô gái chỉ biết khóc mà thôi.”

Cách đây không lâu, những kỹ sư có tài đó có thể nhận được thêm việc làm ngoài giờ – và hưởng thêm 50% tiền lương cao hơn (lương 10 đô/ 1 giờ trong 8 giờ làm việc chính, sẽ được trả thành 15 đô mỗi giờ kể từ giờ thứ 9), theo chủ tịch Levey của công ty Navigos, người cũng trông nom trang Vietnamworks.com,  một trang tìm kiếm việc làm; Caravat.com, một trang nối mạng cho các doanh nghiệp; và trang Vietnamskills.com, một nơi quãng cáo giới thiệu các chương trình huấn luyện đào tạo.

Các nhà lãnh đạo ngành công nghiệp biết rõ những thời điểm thuận lợi hơn thế nào cũng sẽ quay trở lại. Họ đang quan tâm nhiều hơn về những trở ngại lâu dài đối diện với nền công nghiệp công nghệ thông tin non trẻ, bao gồm việc giáo dục đào tạo công nghệ tốt hơn, theo lời anh Phí Anh Tuấn, phó chủ tịch Hiệp hội Máy tính Thành phố Hồ Chí Minh. Intel, là một ví dụ, đã và đang phàn nàn lớn tiếng về một tình trạng khan hiếm các nhân công thành thạo kỹ thuật  tốt nghiệp đại học.

Thế nhưng cơn suy thoái đã làm cho một số sinh viên đại học đang  suy nghĩ lại về nghề nghiệp của họ.

“Hai hoặc ba năm trước, mọi người đều muốn học công nghệ,” một blogger tên Huyền nhận xét. “Giờ thì họ muốn học cái gì đó thực tế hơn, như là tiếp thị [marketing] hay quan hệ công chúng [public relation] chẳng hạn.”

Nhà kinh doanh từng ở Thung lũng Silicon Thịnh Nguyễn đã nhận thấy các đơn đặt hàng cho công ty Pyramid Software Development của ông ở Thành phố Hồ Chí Minh giảm bớt  30%.

Ông Nguyễn Thịnh tin rằng nếu như ông có thể chỉ cần nhận được một ít dự án nhỏ thôi thì ông cũng sẽ có thể tránh được chuyện phải sa thải công nhân, đây là những người mà gia đình của họ thường phải gom góp tất cả các nguồn tiền bạc để gửi những đứa con của họ vào học một ngành công nghệ và một dự định bước chân vào tầng lớp trung lưu. “Đối với một dự án cần 20-30 người làm, quí vị sẽ nhận được sự chú ý của toàn thể chúng tôi,” ông Thịnh cho biết.

Một số trong những người bị mất việc làm đã biểu lộ thái độ tức giận về những gì mà họ nhìn nhận như là hành động thiếu cẩn thận của Hoa Kỳ. Dầu vậy, hầu hết hiểu rằng đó là cái giá cho việc gắn chặt số phận của nền kinh tế nước họ với số phận của nền kinh tế  của các nước khác trên thế giới.

“Chúng tôi giờ đây đã hội nhập với thế giới,” kỹ sư Phan nói. “Mọi thứ đều lien hệ với nhau.’

Hiệu đính: Trần Hoàng

Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2009

*Ở các nước ngoài, công việc của những người nầy có thể  được trả lương từ 4000-7000 một tháng hoặc hơn nữa (chứ không phải là 1200 đô/1 tháng).

Chỉ cần lợi dụng thời buổi thất nghiệp nầy và học thêm tiếng Anh đàm thoại để vài ba năm sau tự mình nhận được các hợp đồng trực tiếp từ các công ty khác mà không cần phải qua các công ty trung gian như CSC.

Một cách khác nữa là tự quãng cáo về công việc của họ. Cứ 20-30 chục người lập thành một nhóm, có tên doanh nghiệp, có một website, hoặc thậm chí lập một blog (facebook, hay myspace.com…) tự giới thiệu công việc nào mà họ thành thạo nhất, có kinh nghiệm làm việc nhất trong 5-10 năm qua…với CSC

Hoặc cùng nhau thực hiện và hoàn thành một dự án (project) và giới thiệu kết quả của dự án ấy lên websit, nói rõ ứng dụng của dự án ấy vào lãnh vực nào (tài chánh, kế toán, thống kê, game, lãnh vực y tế…

Các sinh viên nước ngoài cũng tự mình làm lấy và quãng cáo về resume của họ trên các website, các blog, và làm sẵn  dự án để phô trương với các công ty.

Năm 2008, khi quốc hội thảo luận đòi cắt giảm người nhập cư vào Hoa Kỳ, đích thân Bill Gate đã phản đối và ông đã ra điều trần tại quốc hội. Bill Gate yêu cầu quốc hội cho phép nhân công ngoại quốc có kỹ thuật cao không bị cắt giảm số lượng mà còn được ưu tiên cấp giấy nhập cảnh loại H1B vào làm việc ở Hoa Kỳ. Nhờ vậy, hãng  Microsoft và các công ty con của họ đã thu nhận được các nhân công nói tiếng Anh thành thạo từ các quốc gia nghèo như Ấn  Độ, Philippines, vào Mỹ làm việc.

Riêng các sinh viên Mỹ thì trong 9 năm qua có khuynh hướng không chọn ngành computer nữa mà lại chọn các ngành  như public relation, tiếp thị, hoặc doanh nghiệp… để thưởng thức cuộc sống. Họ khá sợ hải về vụ sụp đổ của ngành computer từ năm 2000, và sự kiện các hãng, các tập đoàn, ngân hàng, tài chánh, chuyển hướng qua Ấn Độ thuê mướn các nhân công trong ngành công nghệ thông tin thực hiện các công việc cho họ. Nhưng trong khoảng mấy năm gần đây (trước khi có khủng hoảng tài chánh 2008), các sinh viên tốt nghiệp ngành công nghệ thông tin ở Hoa kỳ lại kiếm việc rất dễ dàng và lương cao. Nay, trong gói kích cầu 787 tỉ đô la, có nhiều mục liên quan tới ngành computer, và nhiều lãnh vực khác như ngành y tế đang bị bắt buộc phải dùng hồ sơ điện tử để quản lý bệnh nhân…ngành computer lại thu hút nhân công trở lại.


——————————————————-

Daily News

Vietnam hit hard by downturn

By John Boudreau
Mercury News

Updated: 05/21/2009 03:42:55 PM PDT

HO CHI MINH CITY, Vietnam — It’s hard to see hints of an economic downturn on the horn-blaring streets of this commercial hub.

High-end restaurants are overflowing, fashionably dressed young women fill chic stores, and everyone seems to be talking on cell phones while plowing motorbikes through roundabouts swarming with Honda scooters and SUV taxis. Vietnam’s main stock market, after losing 66 percent last year, has been riding a seven-month high, up more than 20 percent this year.

But the conspicuous consumption masks the reality that the global economic implosion is rippling across the Pacific and jolting this Communist Southeast Asian country, which had enthusiastically ridden the rising tide of globalization. Small Taiwanese manufacturers of low-end tech products silently closed for good during the New Year Tet celebration without telling workers. The once-sizzling real estate market has seen home prices drop by as much as 40 percent in some areas. And Vietnam’s young information technology industry — the embodiment of the country’s entrance on the world stage — is being hit by widespread layoffs and the sober realization among young workers that global business is far riskier than they ever thought.

“The median age in Vietnam is 27. Most people started careers within the last seven years. So most people in the tech industry have only experienced boom times,” said Jonah Levey, chief executive of Navigos Group, an executive search firm in Ho Chi Minh City. “This has been a massive shock.”

The downturn, triggered by the meltdown of financial institutions on the other side of the globe, has stunned workers across Asia who had seen earnings improve dramatically in recent years as countries hitched their fortunes to the West by furnishing everything from T-shirts to software and iPods.

Vietnam was late to the global economy, following the rise of neighbors China and India. But it made up for lost time in recent years, courting foreign investors, corporate giants like Intel and Vietnamese-American technologists from Silicon Valley to jump-start its IT industry.

More than anything, Vietnam’s nascent tech industry best represents the country’s ambitions to lift itself up. “The IT industry has been a fast-track for opening up to the world,” said former Silicon Valley executive Steve Cook, now chairman of Enclave, a Da Nang-based software company. “It’s a perfect fit for Vietnam, with its heavy emphasis on science education.”

In 2007, Vietnam’s GDP increased by 8.3 percent from the previous year, fueled by billions of dollars in foreign investment and booming industrial production. Intel made a $1 billion investment to build a massive semiconductor factory along the Hanoi Highway in Ho Chi Minh City.

Other companies — Hewlett-Packard, IBM, Sun Microsystems — rushed to open up operations in the nation that had been off limits to U.S. businesses until just a few years ago.

Vietnam views Intel in particular as critical to its economic hopes. Government officials nervously ask Intel’s Vietnam country manager Than Trong Phuc if the construction of its plant, which eventually will provide some 4,000 jobs, is still on track.

“Nothing has changed,” he said in an interview, a ray of hope amid all the bad news.

But in many other ways, the global recession has dampened the Vietnam Dream.

Vietnam’s low-end export industry — from clothing to coffee — has blunted some of the pain because it was not as exposed to high-end spending cutbacks in the West as countries such as Taiwan are. Nonetheless, Vietnam’s GDP growth is expected to shrink from 6.2 percent between 2007 and 2008 to 3.3 percent this year over last, according to the International Monetary Fund. Industries exposed to global markets — particularly technology — have felt the brunt of the downturn.

Just about all of the city’s Internet companies have slashed jobs, said blogger Nguyen Thi Khanh “Chip” Huyen, a technology evangelist for ePi Technologies, a media portal based in Ho Chi Minh City. Meanwhile, hundreds, if not thousands, of software positions have been lost and a few software companies have even folded. The $600 million a year software industry, which had been growing at about 30 percent a year in terms of revenue and directly employs about 60,000 people, could see no growth this year, according to local tech associations.

Just a few months ago, engineers like Son Nguyen and Vu Duong were hotly sought after by companies, at times receiving multiple offers. A few weeks ago, though, they were handed pink slips along with scores of others by Virginia-based outsourcer CSC.

“We didn’t think we were on the list,” said Nguyen, who sat in a cafe on a weekday with this fellow former work mate. “They needed to cut costs. They needed to cut some people with high salaries.”

The engineers, both in their 30s, earned about $1,200 a month — a princely salary in a country where many still live on less than a dollar a day.

Some workers assumed they’d stay with their companies their entire careers, said unemployed engineer Vu Ngoc Phan. “Some people are very panicked when they get laid off,” he said. “They scream. They feel angry. A lot of girls just cry.”

It wasn’t long ago that talented engineers could get job offers overnight — and 50 percent pay hikes, said Navigos CEO Levey, who also oversees Vietnamworks.com, a jobs site; Caravat.com, a business networking site; and Vietnamskills.com, a marketplace for training programs.

Industry leaders know better times will return. They are more concerned with longer-term obstacles facing the young IT industry, including better technical education, said Phi Anh Tuan, vice president of the Ho Chi Minh City Computer Association. Intel, for one, has complained loudly about a dearth of technically adept workers coming out of college.

But the slowdown has some college students rethinking careers.

“Two or three years ago, everyone wanted to study technology,” said Huyen, the blogger. “Now, they want to study something more realistic, like marketing or PR.”

Veteran Silicon Valley entrepreneur Thinh Nguyen has seen orders for his Ho Chi Minh City company Pyramid Software Development drop 30 percent. Nguyen believes if he could just pick up a few small projects he’ll be able to avoid layoffs of workers whose families often pooled all their resources to give their children a technology education and a shot at the middle class. “For a 20, 30-person project, you’ll get our full attention,” he said.

Some of those laid off have expressed anger at what they see as reckless behavior on the part of the United States. Most, though, understand it’s the price for tying their country’s economic fate with that of the rest of the world.

“We are now integrated with the world,” engineer Phan said. “Everything is connected.”

Reach John Boudreau at jboudreau@mercurynews.com.


Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

Sihanouk, the Khmer Rouge, and the United Nations in Cambodia

Posted by hoangtran204 trên 22/05/2009

December 2008

Dancing in Shadows: Sihanouk, the Khmer Rouge, and the United Nations in Cambodia

Reviewed by Stephen J. Morris

Posted December 5, 2008

Dancing in Shadows: Sihanouk, the Khmer Rouge, and the united nations in Cambodia
by Benny Widyono

Rowman and Littlefield,356 pages, $29.95

In the sad history of 20th century Cambodia, a bright light of hope for its long suffering people came from the peace plan, adopted by the United Nations Security Council in 1990, and signed by the warring Cambodian parties in Paris in October 1991. That plan authorized the holding of free elections in a “politically neutral environment,” under the supervision of U.N. peacekeepers and a United Nations Temporary Administration in Cambodia. The primary purpose of the Agreement was to end the war between competing Cambodian factions, two of which were rival communist organizations, and two of which were noncommunist. The second purpose of the plan was to give the Cambodian people the chance to determine their own future in a nonviolent way, by creating a culture of tolerance and social pluralism, and a set of liberal democratic political institutions.

It is now clear that while armed conflict eventually ended in 1999, it was not because of the Paris Agreement that had been applied in 1992-93. It is also clear that the will of the Cambodian people, as expressed in the victory of the noncommunists in the elections of 1993, was ignored. The election’s loser—the communist Cambodian People’s Party—bullied its way into retaining real power with threats of massive violence. Prince Norodom Sihanouk and the force-averse U.N. “peacekeepers” caved in to Hun Sen’s demand for an ostensible but in fact bogus “coalition” with the election’s winners. Consequently, Cambodia did not then and does not now have a government freely chosen by its people.

Why this U.N. failure was allowed to happen has never been systematically analyzed in a sober and objective way. However, the appearance of a memoir by Indonesian-born U.N. diplomat Benny Widyono is welcome. Mr. Widyono’s book mostly recalls his personal experiences as the senior UNTAC official in Siem Reap province during the election preparations, campaign and balloting of 1992-93, and as the U.N. secretary general’s personal representative in Cambodia from 1993-97.

For the already well informed and objective scholar, Mr. Widyono’s account has several things to recommend it. He ably describes the profound failings of the UNTAC administration as he witnessed them at the local level. UNTAC was expected, by the terms of the Paris Agreement, to exercise control over the key ministries of the existing administration of Cambodia. But Mr. Widyono shows how hopelessly understaffed UNTAC was for the designated task. It was also ill equipped linguistically, with most of the few Khmer speakers assigned to the Information Division. The UNTAC leadership itself was in disarray at the beginning of the operation. UNTAC was unable to ensure that the CPP-controlled government did not finance the CPP’s political campaign, and UNTAC would not stop partisan violence during the elections.

But while informed scholars can glean many interesting details of the failings of UNTAC from Mr. Widyono’s account, it is defective as an overall objective analysis for either scholars or the broader public.

First, Mr. Widyono clearly has preferences between the various contenders for political power. He exposes the many political and personal flaws in the leader of the royalist funcinpec party, Prince Ranariddh: his vacillation, his weakness and his corruption. The royalist funcinpec party is treated with derision. Most of Mr. Widyono’s charges against the royalists, especially Ranariddh, have long been known to astute observers of Cambodia.

At the same time, Mr. Widyono applies different standards in his treatment of the CPP and its government structure, the State of Cambodia. Though not uncritical of the CPP, the author gives CPP strongman Hun Sen and his regime a fairly gentle evaluation.

For instance, Mr. Widyono ignores evidence of the Hun Sen regime’s direct involvement in drug trafficking, human trafficking and forest defoliation. In a cover story entitled “Medellin on the Mekong?,” which appeared in the REVIEW in 1995, former review and Washington Post journalist Nate Thayer explained the close link between political figures and criminal syndicates in Cambodia. Mr. Widyono quotes the review often, but not for this revealing analysis.

Moreover, he accurately describes the notorious head of the National Police, Hok Lundi, as “one of the most feared men in Cambodia,” but the details are not spelled out. Nowhere in the book does Mr. Widyono hold Lundi (who died in a helicopter crash last month) responsible for the torture and murder of the political opposition, or for his continuing involvement in human trafficking.

Or consider Mr. Widyono’s coverage of the May 1997 grenade attack on a peaceful political rally by opposition leader Sam Rainsy, which killed 19 people and wounded 150. The author suggests that the culprits for this atrocity were not obvious; he tries to muddy the evidential waters by claiming that different parties had been blamed. Yet despite Mr. Widyono’s agnosticism, numerous analyses by journalists since that event have provided compelling evidence that the Hun Sen regime was directly involved in the atrocity. Hun Sen is always portrayed as a tough and wily politician, but not as a ruthless dictator.

At the beginning of the book, Mr. Widyono writes that the whole peace process was flawed because the Khmer Rouge was part of it. But one is compelled to ask how there could have been a peace process without one of the main belligerents? Mr. Widyono’s illogical view was precisely the political position of the Hun Sen regime and its foreign supporters up until the moment it agreed to sign the Paris Peace Agreements. No wonder then that when Mr. Widyono’s time was up as U.N. representative in Cambodia in May 1997, Hun Sen begged the U.N. secretariat to allow him to stay on.

The informed observer could have guessed where Mr. Widyono’s sympathies lay from his choice of Ben Kiernan to write his foreword. Mr. Kiernan was a devoted supporter of Pol Pot’s Khmer Rouge from 1975-77 who subsequently became a propagandist for the Heng Samrin-Hun Sen led faction of Khmer Rouge’s defectors, now known as the CPP.
Unfortunately, what could have been a shorter and less controversial memoir of events, has extended itself unnecessarily into a work of advocacy for the current dictatorship that rules Cambodia. But even as a piece of advocacy it has its value, for it gives us insight into the thinking of some U.N. bureaucrats who performed so poorly. And by exposing his own prejudices in favor of the CPP dictatorship, Mr. Widyono inadvertently illuminates one reason why the 1991 Paris Agreements failed to bring peace or democracy to Cambodia.

Stephen Morris is a senior fellow at Johns Hopkins University’s School of Advanced International Studies in Washington D.C., and author of Why Vietnam Invaded Cambodia (Stanford University Press, 1999)

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

Kinh Tế Việt Nam tháng 5-2009: Thất Nghiệp sẽ Tăng

Posted by hoangtran204 trên 22/05/2009

Những cơn đau do lối phát triển kinh tế

theo lối định hướng XHCN của VN

Far Eastern Economic Review (Tạp chí Kinh Tế Viễn Đông)

Số tháng 5-2009

Long S. Le

Ngày 19-5-2009

Thành tích kinh tế của Việt Nam trong quý 1 năm nay gợi lên rằng những nguy cơ trong ngắn hạn của đất nước này quả thực ở phía bất lợi.

Theo Viện Quản lý Kinh tế Trung ương, một bộ phận nghiên cứu thuộc Bộ Kế hoạch và Đầu tư, mức tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội GDP là 3,1% trong quý 1- nhịp độ chậm nhất trong 10 năm qua. Đây là một sự sút giảm quan trọng kể từ mức 7,3% trong quý 1 năm 2008.

Không may cho Việt Nam, bất lợi đó có thể chỉ là bước khởi đầu. Bởi vì đất nước này đang phụ thuộc hơn vào nền kinh tế toàn cầu so với cách đây 10 năm. Việt Nam cũng dễ bị tổn thương hơn trước cơn suy thoái kinh tế toàn cầu.

Trong những năm qua, xuất khẩu của nước này chiếm tới 70% tổng thu nhập. Tuy nhiên, những thị trường xuất khẩu then chốt của Việt Nam, là Liên hiệp châu Âu, Hoa Kỳ, và Nhật Bản, được dự báo là sẽ có mức tăng trưởng âm 2% trong năm nay – trong trường hợp Nhật Bản là âm 5%. Theo một số tính toán, nhập khẩu cho các thị trường này đang được trông đợi là sẽ giảm xuống 52% và , bởi vậy, các ngành xuất khẩu của Việt Nam sẽ phải chịu cú đòn rất nặng nề.

Vậy nên, tổ chức Economist Intelligence Unit vào giữa tháng Ba đã tiên đoán một kịch bản u ám: mức tăng trưởng GDP của Việt Nam sẽ chỉ là 0,3% trong năm nay, giảm từ mức 6,2% năm 2008 và mức 8,48% năm 2007; sự hồi phục không được trông đợi cho mãi tới giữa năm 2010 khi mức tăng trưởng được cho là sẽ leo lên 2%.

Trái lại, mặc dù Quỹ Tiền tệ Quốc tế IMF và Ngân hàng Thế giới WB mới đây đã hạ thấp mức tăng trưởng của Việt Nam theo tiên đoán lần lượt là 4,7% và 5%, họ tin là việc chính phủ quyết định cắt giảm lãi suất và giảm mức dự trữ bắt buộc như là một hành động đáp ứng tình trạng phát triển quá nóng trong năm ngoái đã đặt nước này vào một vị thế chịu đựng được cơn khủng hoảng.

Chắc chắn là thật khó lòng mà đánh giá thấp nền kinh tế Việt Nam.

Theo một bản báo cáo mới đây của Nielson, nhan đề “Việt Nam – Bùng nổ hay Sụp đổ năm 2009,” giới tiêu thụ hàng hóa người Việt Nam nói chung dường như tự tin hơn so sánh với các quốc gia khác, họ cho rằng tình trạng lạm phát-vật giá gia tăng và nạn thất nghiệp ở VN là hậu quả của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu chứ không phải là do sự ham hố muốn phát triển.

Trong khi đó lượng tiền[trong nước thường gọi là kiều hối] thu được từ 3,5 triệu người Việt Nam định cư ở nước ngoài (lượng tiền nầy trong năm 2007 chiếm tới 10% GDP) chắc chắn là để làm vật đệm cho những bó buộc mang tính văn hóa. Nói cách khác, người Việt Nam ở nước ngoài sẽ giúp đỡ các thành viên trong gia đình ở Việt Nam mà không cần quan tâm đến tình hình kinh tế trong nước. Hơn nữa, người Việt Nam ở nước ngoài với vốn tư bản ngày càng tỏ ra thích hợp hơn để trở thành những nhà đầu tư trong giai đoạn suy thoái nầy, đặc biệt nếu như những quy định mới đang đặt ra để đối xử với tất cả người Việt ở nước ngoài tương tự như nhau (thí dụ: không có sự đối xử khác biệt giữa những người ở phía phương Tây so với những người ở phía Đông Âu).

Bởi vậy có vẻ như là Việt Nam trong thời gian ngắn sẽ tránh được một cuộc khủng hoảng, thế nhưng các nhà lãnh đạo của nước này sẽ nhận thấy rất khó khăn để đạt được mục tiêu của họ là một mức tăng trưởng 5% cho năm 2009.

Nền kinh tế tương đối vững mạnh của Trung Quốc không thể giúp được gì nhiều cho Việt Nam – xuất khẩu của Việt Nam sang Trung Quốc sẽ vẫn còn ít ỏi và thường được sử dụng như là những nguồn nguyên liệu cho các sản phẩm của Trung Quốc để xuất lại sang phương Tây.

Trên thực tế, Bộ Công thương vào cuối tháng Tư đã phải điều chỉnh mục tiêu tăng trưởng xuất khẩu của nước này trong năm 2009 từ 13% xuống còn 3%.

Ấy thế mà những nhà lãnh đạo Việt Nam có vẻ như không chịu thừa nhận những tai ương kinh tế của nước mình. Vào tháng Hai vừa qua, thủ tướng Dũng đã nói rằng nước ông sẽ có khả năng đạt được mức tăng trưởng 6,5% trong năm 2009.

Một tháng sau vị thủ tướng đã phải sửa lại dự báo là từ 5% đến 5,5%. Thế nhưng văn phòng của ông ta vẫn tỏ ra lạc quan rằng vào cuối năm nay lực lượng lao động và thị trường trong nước của Việt Nam “sẽ chắc chắn” thúc đẩy đất nước quay trở lại những mức tăng trưởng kinh tế giống như trước khi xảy ra cuộc khủng hoảng toàn cầu.

Điều này không được trợ giúp bởi thực tế rằng nhịp độ cổ phần hóa của các công ty do nhà nước việt Nam làm chủ đang đảo chiều. Theo Bộ Tài chính, số lượng các công ty quốc doanh chuyển đổi thành cổ phần hóa (hay tư nhân) đã sụt giảm từ 724 năm 2005 xuống còn 640 năm 2006, 150 năm 2007, và 73 năm 2008.

Mặc dù những bằng chứng gợi lên rằng hầu hết các công ty đã và đang được cổ phần hóa đã làm ăn có lời và trả những khoản cổ tức cao sau khi được cổ phần hóa, nhưng nhà nước sẽ vẫn tiếp tục làm chủ các ngành công nghiệp chiến lược vô hạn định. Các ngành công nghiệp
mà nhà nước nắm giữ bao gồm dịch vụ viễn thông, ngân hàng và tài chính, và giáo dục đào tạo để nhằm mục đích bảo vệ trật tự xã hội chủ nghĩa. [1]

Vì thế mà “khi những nhà lãnh đạo ở đây nói là họ muốn một nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa, thì họ thực sự có ý muốn nắm giữ các ngành dịch vụ và công nghiệp nói trên,” theo lời của kinh tế gia Jonathan Pincus.

Vì vậy không có gì ngạc nhiên khi quyền lợi của đảng được nêu bật một cách rõ ràng trong gói kích thích kinh tế của chính phủ. (thí dụ) Trong số tiền 1 tỉ đô la đầu tiên đã được phân phối thì vào khoảng 75% là dành cho các công ty do nhà nước làm chủ [SOE], 20% cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ [SME], và 5% cho các dự án xây nhà cho những người có thu nhập thấp.

Đây là thái độ bất chấp tình trạng kém hiệu quả đã được biết đến của các doanh nghiệp nhà nước, những công ty quốc doanh không tạo ra công ăn việc làm cho đất nước nầy.

Kế hoạch kích thích kinh tế lần thứ hai cũng sẽ mang lại quyền lợi to lớn cho các doanh nghiệp nhà nước và làm chút ít để giải quyết tỉ lệ thất nghiệp. Tỉ lệ thất nghiệp sẽ chắc chắn gia tăng lên gấp đôi từ 4,7% năm 2008 lên 8,2% năm nay (không kể khu vực có lao động không chính thức).

Lời buộc tội rằng: điều gì sẽ giữ VN lại, thì có tính chất chính trị và không phải là không biết cách làm (kinh tế) đã được làm nổi bật lên bởi Chương trình Việt Nam của Đại học Harvard. Lời tuyên án của bản báo cáo nầy đã được công bố vào tháng 1-2008 là dành cho Việt Nam, “sự thành công tùy thuộc vào điều mà mình chọn lựa” *, song trên thực tế bản báo cáo nầy “không khác gì với một huấn luyện viên bóng đá; ông huấn luyện viên ra quân bằng cách đưa vào đội hình những cầu thủ yếu kém nhất trong một trận cầu tranh chức vô địch.”

Việt Nam sẽ tiếp tục nếm trải những cơn đau trong thời kỳ phát triển kinh tế cho tới khi nào mà những điều đó thay đổi [2]. (ý nói là các công ty quốc doanh phải biến mất thành các công ty cổ phần tư nhân).

Dr. Long S. Le là một giáo sư và là giám đốc những sáng kiến quốc tế của Viện nghiên cứu Toàn cầu thuộc Viện Đại học Houston, nơi ông cũng là một nhà đồng sáng lập/người giảng dạy cho các lớp học nghiên cứu về Việt Nam.

Hiệu đính: Trần Hoàng

Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2009


* Tác giả nhắc đến bản báo cáo Lựa Chọn Thành Công đã được công bố lần đầu tiên trên basam.tk từ đầu năm 2008, nhưng nó sẽ có giá trị ít nhứt là tới năm 2020, mời bà con đọc toàn bài ấy ngay trên mục đầu trang nầy.

Lời bình cuả TH

Nếu mức phát triển kinh tế Việt Nam của quí 1 xuống thấp như hiện nay là 3%, và các quí 2, 3, 4 xuống nữa và tính chung toàn năm 2009 là 0,3%, thì chắc chắn tình trạng thất nghiệp của VN sẽ kéo dài cho đến hết giữa năm 2010 (nếu như không muốn nói là cho đến hết năm 2011)

Theo nguồn tin của TTX Vĩa hè, hiện nay nếu các bạn nào có về miền Tây thì sẽ thấy: dân chúng ở đấy khổ hơn rất nhiều. Họ không còn có tiền để mua những món bình thường nữa ngoài việc mua đồ ăn. Nhiều dân nghèo chỉ mua xương cá, gan cá (của các công ty xuất khẩu hải sản) để sống lây lất. Các món nầy trước đây vứt bỏ hoặc mua về xay nhuyễn hoặc bằm cho heo ăn, thì nay thì càng nhiều gia đình mua ăn. Vì thiếu thức ăn, các trẻ em bị suy dinh dưỡng nhiều hơn.

Hôm qua, Ngân hàng dự trữ Liên bang Hoa kỳ báo cáo cho biết: nền kinh tế của Mỹ sẽ giảm bớt đi từ 1,23% -2% chứ không phải là 0.3-1,23% như đã suy đoán vào đầu năm 2009. Và ngân hàng nầy còn cho biết rằng: tình trạng suy thoái kinh tế và khủng hoảng tài chánh tính từ đầu năm 2009 đến nay chỉ là mới bắt đầu. Và bồi thêm một cú chót: từ tháng 5 cho đến cuối năm 2009, tình hình kinh tế và tài chánh của Mỹ sẽ còn xuống thấp nữa. Sau khi tin nầy vừa được đưa lên mạng internet, thì thị trường chứng khoán toàn thế giới sụt giảm (chút ít) ngay.

Nếu Mỹ cứ tiếp tục khủng hoảng tài chánh và suy thoái kinh tế, thì hậu quả mức nhập khẩu hàng hóa của Mỹ sẽ giảm bớt và kéo dài trong thời gian từ đây đến cuối năm và lan ra năm 2010, lúc ấy cả thế giới sẽ ngất ngư; bởi vì Mỹ là quốc gia nhập khẩu tất cả các mặt hàng của thế giới sản suất và bán ra như dầu, đồ phụ tùng xe, các hàng điện tử, hàng may mặc, vải, hải sản, thực phẩm…và vì nền kinh tế của Mỹ chiếm 25% nền kinh tế của toàn cầu. [ GDP của Mỹ là hơn 13 ngàn tỉ so với GDP của toàn cầu là 53 ngàn tỉ Mỹ kim; còn GDP của VN là 70 tỉ)]

[1] Chắc chắn các bạn đọc trang Ba Sàm đã nhận ra Dr. Song Lê của bài báo nầy đã quên đề cập tới loại công nghiệp béo bở khác mà nhà nước VN đang làm chủ đó là các công ty quốc doanh về năng lượngnguyên liệu như dầu hỏa, than và khoáng sản…

Theo báo TT, VNN… thì tiền bán dầu hỏa của VN từ tháng 9-2007 đến tháng 9-2008 là 10 tỉ Mỹ kim. Số tiền nầy đi về đâu thì không một người dân nào trong nước được biết. Trái lại, giá xăng mà người VN mua hàng ngày còn cao hơn 25% giá xăng được bán ra tại các phương tây và Mỹ.

  1. Các quốc gia có mỏ dầu thường bán xăng cho dân chúng của họ với giá rẻ, vì chính phủ của họ cho rằng: tài nguyên xăng dầu của đất nước nếu khai thác được thì phải chia lại cho người dân được hưởng chứ không phải nằm trong tay của chính phủ muốn quyết định làm gì thì làm. V
    ì vậy, ở hơn 20 quốc gia sản suất dầu hỏa, họ bán xăng cho dân chúng xài chỉ bằng ¼ giá bán tại các nước như Mỹ, các nước phương Tây (và Việt Nam). Cụ thể trong thời gian giá xăng cao nhất 1 lít gần bằng 1 đô la tại các nước phương tây và ở Mỹ, thì giá 1 lít xăng ở các nước sản suất dầu hỏa là 25 xu đến 30 xu.

[2] Ý nói là chỉ khi nào mà nhà nước không làm chủ các ngân hàng, tài chánh, giáo dục và đào tạo, dịch vụ viễn thông (internet, bưu điện, truyền hình…) nghĩa là cái đuôi “định hướng chủ nghĩa XH” bị rụng thì lúc ấy mới có sự phát triển kinh tế thật sự.

Tuy vậy trên đời nầy dễ thường làm gì có chuyện tự dưng AI Đó chê tiền nên không muốn làm ĐẦY TỚ nữa. Thực tế là họ đã ngang nhiên coi rằng chức vụ đầy tớ “nên được cha truyền con nối” từ mấy chục năm qua; không phải chỉ ở Trung ương mới xẩy ra, mà chính sách cha truyền con nối là điều quá phổ biến ở các cấp thành phố, tỉnh, huyện, xã.

*Mời các bạn đọc thêm về tình trạng các công ty quốc doanh ở Việt Nam từ 1990-2006 là như thế nào trong link nầy, kể từ trang 16, mục IV. SOEs and Privatization in Vietnam

http://swopec.hhs.se/eijswp/papers/eijswp0228.pdf


May 2009

Vietnam’s Growing Pains

by Long S. Le

Posted May 19, 2009


Vietnam’s economic performance in the first quarter of this year suggests the country’s short-term risks are indeed on the downside. According to the Central Institute for Economic Management, a research arm of the Ministry of Planning and Investment, the GDP growth rate was 3.1% in the first quarter—the slowest pace in at least a decade. This was a significant fall from the 7.4% in the first quarter of 2008. Unfortunately for Vietnam, such downside may be just beginning. Because the country is more dependent on the global economy than 10 years ago, it is also more vulnerable to the global economic downturn.

In past years the country’s exports accounted for up to 70% of its revenue. However, Vietnam’s key export markets, the European Union, the U.S. and Japan, are forecast to have minus 2% growth rates this year—in the case of Japan, minus 5%. By some accounts, imports for these markets are expected to plunge by 52% and, thus, Vietnam’s exports will be hit hard. As such, the Economist Intelligence Unit in mid-March predicted a gloomy scenario: Vietnam’s GDP growth rate will be just 0.3% this year, down from 6.2% in 2008 and 8.48% in 2007; recovery isn’t expected until mid-2010 when the growth rate is expected to climb to 2%.

By contrast, although the IMF and the World Bank have recently downgraded Vietnam’s growth forecast to 4.7% and 5% respectively, they believe the government’s slashing of interest rates and lowering banks’ reserve requirements as a response to last year’s overheating has put the country in a position to weather the crisis. To be sure, it is hard to underestimate Vietnam’s economy. According to a recent Nielson’s report, “Vietnam – Boom or Doom in 2009,” Vietnamese consumers overall appear to be more confident compared to other countries, citing inflation and unemployment are the result of global economic crisis and not greed.

Meanwhile inward remittances (which in 2007 equals 10% of GDP) from the 3.5 million Vietnamese overseas are likely to be buffered by cultural obligations. In other words, overseas Vietnamese will help family members in Vietnam regardless of economic conditions. Furthermore, overseas Vietnamese with capital are more likely to become investors during the slowdown, especially if new laws are in place that treat all overseas Vietnamese the same (i.e., those in the West versus those in Eastern Europe).

Therefore it is likely that Vietnam in the short run will avoid a crisis, but its leaders will find it very difficult to achieve their goal of a 5% economic growth rate for 2009. China’s relatively robust economy may not be of much help to Vietnam—Vietnamese exports to China are still small and often used as inputs for Chinese products shipped to the West. In fact, the Ministry of Industry and Commerce in late April had to adjust the country’s export target growth for 2009 from 13% to 3%.

Still, Vietnamese leaders seem to be in denial over the country’s economic woes. This February the prime minister said the nation would be able to achieve a growth rate of 6.5% for the year. A month later the prime minister had to revise the country’s forecast to 5%-5.5%. But his office remains optimistic that Vietnam’s labor force and domestic markets “will certainly” push the country back to pre-global crisis growth levels by the end of this year.

This is not helped by the fact that Vietnam’s equitization rate is reversing. According to the Ministry of Finance, the number of SOEs equitized decreased from 724 in 2005 to 640 in 2006, 150 in 2007, and 73 in 2008. Even though evidence suggests that most companies that have equitized have made profits and paid high dividends after equitization, the state will hold on to strategic industries indefinitely. This includes telecommunications, banking and financial services, and education and training in order to safeguard the socialist order.

So that “when leaders here say they want a socialist market economy, they really mean it,” says economist Jonathan Pincus. Not surprisingly, party interest is clearly highlighted in the government’s stimulus package. Of the first $1 billion been distribute about 75% are reserved to SOEs, 20% for SMEs, and 5% for housing projects for low-income earners. This is despite the known inefficiency of SOEs, which do not create employment for the country. The second stimulus package underway will also largely benefit SOEs and do little to address unemployment rates, which will likely double from 4.7% in 2008 to 8.2% for this year (not including the informal sector).

The indictment that what will hold back Vietnam is politics and not know-how has been highlighted by a report by Harvard Vietnam Program. The report’s verdict published in January 2008 was that for Vietnam “success is a choice” but in practice it was “no different from a soccer coach who starts his weakest players in the championship match.”

Until that changes Vietnam will continue to experience growing pains.

Long S. Le is a professor and director of international initiatives for Global Studies at the University Houston, where he is also a co-founder/lecturer of Vietnamese studies courses.

Posted in Uncategorized | 2 Comments »

Bauxite và Bùi Minh Quốc

Posted by hoangtran204 trên 21/05/2009

Tôi hoan nghênh một nửa TT Dũng và cực lực phản đối nửa kia !

Bùi Minh Quốc

Một nửa mà tôi hoan nghênh là hình ảnh thủ tướng khi đến thăm đại tướng Võ Nguyên Giáp ngày 07.05.2009 đã nói với đại tướng: “Chính phủ xin tiếp thu ý kiến của đại tướng về dự án bô-xít Tây Nguyên”.

Nửa kia mà tôi cực lực phản đối là hình ảnh thủ tướng trong cuộc tiếp xúc với cử tri Hải Phòng ngày 09.05.2009 lại khẳng định: “đưa ngành công nghiệp khai thác quặng bô-xít trở thành một ngành công nghiệp lớn của đất nước; góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế-xã hội vùng Tây nguyên”, nghĩa là ngược hẳn với ý kiến đại tướng mà 2 ngày trước thủ tướng vừa trịnh trọng tuyên bố tiếp thu.

Ý kiến của đại tướng là rất rõ ràng và dứt khoát, đã nhắc đi nhắc lại nhiều lần: không nên khai thác bô-xít Tây Nguyên. Đây là một ý kiến đúng; đúng với các kết luận khoa học, đúng với chủ trương của Đảng trước đại hội 9, đúng với chủ trương “hạn chế xuất khẩu tài nguyên thô” ghi trong báo cáo chính trị của đại hội 9, và bao trùm lên tất cả là đúng với lòng dân, ý dân, chí dân, bày tỏ bước đầu qua hàng ngàn chữ ký đã được gửi đến Quốc hội, chính phủ, và hàng nghìn người đang tiếp tục ký.

“Tiếp thu” nghĩa là chân thành tiếp nhận nhằm thực hiện theo điều đúng, sửa chữa điều sai.

Thấy hiện ra một tình hình ngược nhau giữa ý kiến của đại tướng Võ Nguyên Giáp – cũng là của đa số đảng viên và nhân dân – với chủ trương của Bộ chính trị.

Chủ trương của Bộ chính trị hiển nhiên là sai, sai từ gốc, rất nghiêm trọng, lại càng trở nên hết sức nghiêm trọng khi hợp tác với Trung Quốc.

Trước đại hội 9, không có chuyện bô-xít, vì, như đại tướng Võ Nguyên Giáp đã nêu rõ, sau khi cân nhắc kỹ ý kiến tư vấn của chính phủ Liên Xô (lúc ấy là bạn chí thiết, luôn là nước giúp đỡ lớn nhất cho Việt Nam và đang rất cần nhôm), ta không chủ trương khai thác bô-xít ở Tây Nguyên.
Tại đại hội 9, chữ “bô-xít” – mà nay đang vang lên nhức nhối hàng ngày hàng giờ trong lòng mỗi người dân Việt – chỉ xuất hiện, có vẻ như thoáng qua, trong báo cáo kinh tế. Còn trong báo cáo chính trị, một văn kiện quan trọng bao trùm, thì ghi rõ “hạn chế xuất khẩu tài nguyên thô”. Các đại biểu đại hội Đảng lần thứ 9 khi biểu quyết thông qua các văn kiện, liệu có mấy người hiểu được ý nghĩa tiềm ẩn của cái chữ “bô-xit” chìm lẫn giữa hàng loạt tên các tài nguyên khác trong báo cáo kinh tế ? Chắc là không có mấy người.Nhưng Bộ chính trị, ít nhất là các ủy viên chủ chốt trong bộ chính trị thì hiểu.Và 6 tháng sau thì cái ý nghĩa tiềm ẩn ấy bắt đầu bộc lộ khi chữ bô-xít xuất hiện trong thông cáo chung Nông Đức Mạnh – Giang Trạch Dân ngày 03 tháng 12.2001.

Tuy hai nước Việt – Trung đã có quan hệ ngoại giao bình thường, nhưng thế lực bành trướng Bắc kinh vẫn không ngừng xúc tiến chiến lược bao vây, xâm lấn, xâm nhập phá hoại nhiều mặt nhằm kiềm chế, khống chế đi tới thôn tính đất nước ta.Trung Quốc đại lục với Đài Loan tuy xung khắc nhau về chính trị nhưng lại đồng hành trong chủ nghĩa bành trướng (gần đây thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh, thiếu tướng Lê Văn Cương, kỹ sư Doãn Mạnh Dũng lại nhấn mạnh và nêu thêm những cảnh báo cập nhật).Bộ chính trị biết rất rõ điều đó, thế thì tại sao tổng bí thư Nông Đức Mạnh lại tự tiện đem một nguồn tài nguyên quốc gia quan trọng trên một địa bàn chiến lược hiểm yếu vào bậc nhất để hợp tác làm ăn với thế lực ấy ? Khi ký thông cáo chung này, tổng bí thư Nông Đức Mạnh đứng trên lập trường chính trị nào ? Lập trường Tổ Quốc trên hết, quyền dân trên hết, hay lập trường ý thức hệ giai cấp là thống soái, bộ chỉnh trị là cơ quan quyền lực trùm lên đất nước, Quốc hội trong thực chất cũng chỉ là cơ quan thừa hành của Bộ chính trị ?

Sau thông cáo chung nêu trên, việc hợp tác với Trung Quốc khai thác bô-xít Tây Nguyên đã được âm thầm xúc tiến theo qui trình lộn ngược một cách khuất tất, đến khi lộ ra thì mọi người mới giật mình trước tình trạng mà đại biểu quốc hội Dương Trung Quốc gọi là “việc đã rồi”.Xin mời đọc lại những dòng tâm huyết gửi Bộ chính trị của thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh, nguyên đại sứ nước ta tại Trung Quốc từ năm 1974 đến năm 1989: “… mãi đến gần đây được đọc thư của Đại tướng Võ Nguyên Giáp và hàng trăm ý kiến không đồng tình của các nhà khoa học, cán bộ và người dân ở khắp Bắc – Trung – Nam, tôi mới biết ta đồng ý cho Trung Quốc khai thác bauxit ở Tây Nguyên. Nguy hiểm quá !”.

Tôi (BMQ) xin nhắc lại: “Nguy hiểm quá!”

Chủ thể gây ra tình hình nguy hiểm ấy là ai ? Là Bộ chính trị.

Cùng với tiếng than sửng sốt của vị tướng lão thành cách mạng 70 tuổi đảng là tiếng cảnh báo gay gắt khẩn thiết của nhiều nhà khoa học, nhà văn hóa, nhà quân sự : đây là thảm họa hủy diệt môi trường thiên nhiên và văn hóa, gây xáo động xã hội, là tạo chỗ đứng chân cho thế lực bành trướng tại mái nhà Việt Nam và Đông Dương.

Theo tôi, Bộ chính trị đã phạm mấy sai lầm hết sức nghiêm trọng như sau :

– Làm ngược lại chủ trương của Đảng trước đại hội 9 và trái với báo cáo chính trị của đại hội 9.
– Xa rời lập trường dân tộc, làm hại cho đất nước, làm lợi cho thế lực bành trướng, vi phạm Hiến pháp, luật pháp, tự cho mình vượt quyền cơ quan quyền lực cao nhất là quốc hội để đem tài nguyên quốc gia đi hợp tác với một đối tượng đang chiếm đóng một phần lãnh thổ nước ta.
– Không chấp hành chủ trương dân biết dân bàn của Đảng, đặt toàn Đảng toàn dân trước một việc đã rồi, giấu diếm nhân dân để làm việc sai trái.

Các việc làm sai trái nêu trên không diễn ra đơn lẻ, tình cờ, mà diễn ra một cách có hệ thống liên quan chặt chẽ với các việc sai trái khác như :

– Dung túng cho tổng cục 2 tiến hành hoạt động phá hoại có hệ thống kéo dài
– Phá hội trường Ba Đình, một di tích lịch sử liên quan đến chủ tịch Hồ Chí Minh và nhiều sự kiện trọng đại của Đảng và Nhà nước (tôi chắc rằng cái ngày mà mảng tường đầu tiên của hội trường Ba Đình vỡ toang dưới những nhát búa choòng trong tay các công nhân Việt Nam thì mấy ông trùm bành trướng ở Bắc kinh rung đùi nâng cốc bảo nhau : Hảo lớ ! Việt Nam lại vừa được ban cho một bài học nữa, nhưng lần này do chính Hà Nội thực hiện tại Ba Đình lịch sử !).
– Mở rộng Hà Nội một cách vô căn cứ.
– Đàn áp những người biểu tình chống giặc bành trướng xâm chiếm Hoàng Sa Trường Sa.Trong lịch sử dân tộc ta, lần đầu tiên có một triều đại tự nhận là yêu nước lại đàn áp người dân xuống đường bày tỏ lòng yêu nước !
– Cấm đoán việc tái bản và xuất bản các công trình nghiên cứu, các tác phẩm văn học nghệ thuật về đề tài chủ nghĩa bành trướng Trung Quốc, về cải cách ruộng đất và chỉnh đốn tổ chức, về cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam và giúp nước bạn Cam-pu-chia thoát họa diệt chủng, về cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc, về cuộc chiến chống bành trướng Trung Quốc trên biển Đông…, trong khi đó thì vừa dung túng cho nhà xuất bản Văn Học in trên bìa 4 cuốn “Ma chiến hữu” những lời ca tụng cuộc chiến tranh Trung Quốc xâm lấn nước ta năm 1979 lại vừa đàn áp nhà xuất bản Đà Nẵng, báo Du lịch vì 2 cơ quan này đã mạnh dạn đề cập đến các đề tài nêu trên, đồng thời suốt nhiều năm dài kể cả trong dịp kỷ niệm 30 năm (1979 – 2009) lại không tổ chức tưởng niệm xứng đáng các liệt sĩ đã hy sinh tại các mặt trận ấy.Tất cả những việc làm đó gây hậu quả rõ rệt là làm suy yếu tinh thần chiến đấu của quân đội ta, nhân dân ta, suy yếu nội lực dân tộc.

Bảo rằng khai thác bô-xít Tây Nguyên là chủ trương lớn của Đảng, vậy mục tiêu dân chủ ghi trong di chúc của chủ tịch Hồ Chí Minh và trong cương lĩnh chính trị từ đại hội Đảng lần thứ 9 không phải là chủ trương lớn ư ? Nhìn thẳng vào sự thật, nói đúng nói rõ sự thật, dân biết dân bàn công khai, đó không là chủ trương lớn ư ? Bộ chính trị hầu như không làm gì để thực hiện mà lại luôn hoạt động chống lại các chủ trương lớn ấy, trong khi ngấm ngầm và hối hả lao vào xúc tiến “chủ trương lớn” khai thác bô-xít Tây Nguyên bất chấp bao nhiêu cảnh báo và phản đối.

Còn nhiều vấn đề nghiêm trọng khác nữa, tôi chỉ nêu một số việc nổi cộm nhất.

Tóm lại, theo nhận xét của riêng tôi, các việc làm của Bộ chính trị mà tôi vừa kể chính là hành vi nội xâm, là hành động Lê Chiêu Thống hiện đại núp sau thẻ đỏ ngồi giữa nhà đỏ. Bộ chính trị cần “tự xem lại mình” (cụm từ của ủy viên Bộ chính trị Nguyễn Minh Triết) xem có đúng thế không ? Tôi thấy sự thật đúng là như thế, một sự thật đau lòng chưa từng có trong cuộc đời tôi, mà chắc chắn là cả trong cuộc đời đại đa số đảng viên và toàn thể những người dân Việt đã một lòng theo Đảng.

Trong Bộ chính trị có bao nhiêu phần trăm biểu quyết tán thành các quyết định sai lầm nêu trên ? Bao nhiêu phần trăm không tán thành ? Tôi chưa biết.Nhưng bây giờ thì thấy ít nhất có một nửa thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng biểu thị thái độ muốn nhích chân tách khỏi trách nhiệm về các quyết định sai lầm đó để đến đứng gần hơn với đại tướng Võ Nguyên Giáp, với nhân dân.Nhiều anh em bảo tôi, cái nửa này là giả, cái nửa hiện ra ở Hải Phòng mới là thật, nhưng tôi cứ tạm tin lời phát biểu của thủ tướng với đại tướng Võ Nguyên Giáp hôm 07.05.2009 là thật lòng, vì thủ tướng từng tuyên bố rất hùng hồn: “Tôi ghét nhất sự dối trá” .

Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết, tác giả của lời phát biểu gây được nhiều chú ý/thiện cảm “tôi thấy cần phải tự xem lại mình” bây giờ đang nghĩ gì? Ông thuộc vào cái phần trăm đa số hay phần trăm thiểu số trong Bộ chính trị?

Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng thì tỏ rõ một thái độ công chức chỉn chu và lạnh lùng: “Không phải bất kỳ vấn đề nào cũng đưa ra lấy ý kiến của Quốc hội mà còn tùy thuộc vào quy mô, tầm cỡ của các dự án. Trong khi đó, quy mô mỗi dự án bô-xít Tân Rai và Nhân Cơ mới chỉ là hơn 600 triệu đôla”. Người đứng đầu cơ quan đại diện cho dân được Hiến pháp qui định là cơ quan quyền lực tối cao lại dửng dưng đứng ngoài mối bức xúc nóng bỏng của nhân dân về an ninh quốc phòng mà ông thừa biết đã được nói giùm qua bức thư của lão thành cách mạng Nguyễn Trọng Vĩnh: “Chúng ta đều biết Trung Quốc xây dựng căn cứ hải quân hùng mạnh ở Tam Á đảo Hải Nam, nói thẳng ra là không phải để chống kẻ thù xâm lược nào, mà là đe doạ Việt Nam và sẵn sàng chờ thời cơ thôn tính nốt Trường Sa của chúng ta, sau khi đã nhanh tay chiếm Hoàng Sa từ tay Chính quyền Sài Gòn. Nay lại để Trung Quốc khai thác bauxit ở Tây Nguyên thì sẽ có năm, bảy nghìn hoặc một vạn công nhân hay quân nhân Trung Quốc đến cư trú và hoạt động tại đây, sẽ hình thành một “thị trấn Trung Hoa”, một “căn cứ quân sự” trên địa bàn chiến lược vô cùng xung yếu của chúng ta (vũ khí đưa vào thì không khó gì). Phía Bắc nước ta, trên biển có căn cứ hải quân hùng mạnh, phía Tây Nam nước ta có căn cứ lục quân trang bị đầy đủ thì độc lập, chủ quyền mà chúng ta đã phải đổi bằng hàng triệu sinh mạng cùng xương máu sẽ như thế nào?!”

Còn bộ trưởng Bộ quốc phòng Phùng Quang Thanh ?

Không biết giờ đây đại tướng bộ trưởng Bộ quốc phòng Phùng Quang Thanh nghĩ gi ? Liệu trong ông còn đập trái tim của người lính Việt Nam ? Trước tình hình nguy hiểm này, ông có thấy cần phải gọi hồn các đồng đội đã bỏ mình ở biên giới Tây Nam, ở Cam-pu-chia, ở biên giới phía Bắc, trên biển Đông, hãy bật mồ đứng dậy hỏi thẳng Bộ chính trị : tại sao mấy chục năm qua lại cấm không cho sách báo nhắc gì đến họ ? Ông ăn nói thế nào đây với các gia đình liệt sĩ, gia đình quân nhân, với các chiến sĩ, sĩ quan đang ngày đêm phơi mình sương gió giữ từng tấc đất tấc biển khi Bộ chính trị âm thầm để cho những binh đội trá hình của Trung Quốc luồn vào cắm ở Tây Nguyên ? Những người lính lấy đâu tinh thần để xông lên diệt giặc khi họ biết rằng nếu họ bỏ mình vì Tổ Quốc thì những người lãnh đạo tối cao cũng sẽ không cho nhắc nhở gì tới sự hy sinh của họ ? Họ làm sao còn đủ ý chí cầm nổi khẩu súng nhằm về phía giặc khi nhận ra thực chất họ đang phải sống thân phận của người canh giữ túi vàng két bạc cho những kẻ đứng trên đầu họ ngoài miệng luôn cao giọng hô to Tổ Quốc nhưng bàn tay ngấm ngầm đưa giặc vào ngự trên sống lưng Tổ Quốc ?

Tóm lại, Bộ chính trị đang tự đặt mình vào vị trí để nhân dân xem xét về tư cách yêu nước. Và Bộ chính trị đang đẩy toàn thể đảng viên vào tình thế nếu giữ tư cách đảng viên thì mất tư cách yêu nước.

Nay mai khi đưa ra thảo luận ở Quốc hội, nếu các đại biểu là đảng viên làm theo chỉ thị của Bộ chính trị phải biểu quyết cho thực hiện dự án khai thác bô-xít Tây Nguyên (như đã từng làm với vụ phá hội trường Ba Đình và vụ mở rộng Hà Nội) thì nhân dân sẽ coi các đại biểu đó không còn tư cách yêu nước, không còn tư cách đại diện cho dân mà chỉ là cánh tay nối dài của Bộ chính trị.
Lão thành cách mạng Nguyễn Trọng Vĩnh nghiêm khắc cảnh tỉnh:

“Đành rằng các đồng chí có quyền, muốn làm gì cũng được, quyết định thế nào cũng được, nhưng cũng nên quan tâm dư luận, lắng nghe những lời phân tích lợi, hại, phải, trái mà suy nghĩ cân nhắc. Từ xưa đến nay, ở triều đại nào cũng vậy, chủ trương, chính sách ích quốc, lợi dân thì được dân ủng hộ, chủ trương chính sách sai trái tổn quốc, hại dân thì dân oán. Dân oán, mất lòng tin thì khó yên ổn và thịnh vượng được. “Quan nhất thời, dân vạn đại”, “vua cũng nhất thời, dân vạn đại”.

Lâu nay Bộ chính trị luôn hành xử theo cung cách “lẽ phải thuộc về kẻ mạnh” thâu tóm quyền lực độc tôn vào tay mình, lấy quyền lực thay cho lẽ phải, coi thường ý kiến của các lão thành, của giới trí thức và nhân dân, coi thường sức mạnh của lẽ phải.

Nhưng nhân dân và đại đa số đảng viên tuy không còn tin ở Bộ chính trị nữa song không bao giờ mất niềm tin ở sức mạnh của lẽ phải, một sức mạnh muôn đời, muôn nơi, muôn người và nhất định sẽ chiến thắng bạo quyền.Ngay giữa lòng Bộ chính trị, nơi chóp đỉnh bộ máy quyền lực luôn ở thế độc tôn không có sự giám sát độc lập, không có cơ chế hãm, khiến con người từng ngày từng giờ bị cuốn theo mê lộ của những tham vọng vị kỷ, thì hạt mầm sức mạnh của lẽ phải vẫn luôn tồn tại, dù rất nhỏ nhoi và chỉ mới thoáng hiện ở một nửa con người thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng trong buổi đến thăm đại tướng Võ Nguyên Giáp nhân dịp kỷ niệm 55 năm chiến thắng Điện Biên Phủ.Và tôi tin rằng không chỉ có một nửa con người thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và dẫu một nửa này chưa phải là sự thành tâm thì ít ra cũng là một sự thức thời.

Thức thời để nhận thấy rằng đã xuất hiện ngay trong Đảng một đòi hỏi phải tách Đảng ra làm hai, đại đa số đảng viên tử tế tất yếu sẽ tiến tới một sự lựa chọn xé rào mới bằng bản lĩnh và phương pháp Kim Ngọc và Võ Văn Kiệt, dứt khoát không tiếp tục cam chịu làm con rối, làm bình phong cho trò xiếc về tổ chức mà nguyên phó ban tổ chức trung ương Nguyễn Đình Hương đã thẳng thắn vạch rõ là thủ đoạn sắp đặt nhân sự trong tay một nhóm người.Cái con người tách đôi của thủ thướng Nguyễn Tấn Dũng chính là biểu hiện cái sự thật đau đớn và ghê tởm kinh niên không còn che giấu được nữa : trong lòng một đảng cầm quyền cùng chung danh xưng từ lâu đã chứa đựng hai đảng đối nghịch nhau về tiêu chí chính trị, về lẽ sống, lối sống, mức sống.

Tách Đảng ra làm hai chính là đáp ứng một yêu cầu cả khách quan lẫn chủ quan không gì cưỡng nổi, như thế vừa dễ xử cho mọi đảng viên vừa là thức thời trước sức ép của qui luật : một đảng của số ít các quan chức hoạt động để giữ ghế, một đảng của số đông các đảng viên tử tế nguyện dâng trọn đời vì dân vì nước, quyết giữ trọn tư cách yêu nước, tư cách người chiến sĩ cách mạng chiến đấu vì độc lập dân tộc và vì quyền tự do của mỗi con người.Hai đảng thi đua nhau, cạnh tranh nhau làm đầy tớ thật sự của nhân dân, dân thấy đảng nào đúng là đầy tớ thật của mình thì dân chọn và tự nguyện đóng góp gạo mắm để nuôi.Vậy thôi, đơn giản và rõ ràng vậy thôi, cần chi lý lẽ vòng vo tam quốc về chỉnh đốn với xây dựng, về phê với tự phê lặp đi lặp lại đến phát nhàm.

Đà lạt 17.05.2009

——-

Hồ Gươm

Chào các bác,

Đọc phần cuối bài này của bác Bùi Minh Quốc em lại nhớ tới câu hỏi của em đang đặt ra cho cụ Nguyễn Minh Cần bên X-cafe về “cuộc vận động” hiện nay để đảng Ta chia ra làm hai.

Đây là một đề nghị em thấy mới xuất hiện bắt đầu từ bài viết của cụ Trần Lâm, sau đó em lại thấy trong bài viết của bác Đào Hiếu:

http://www.talawas.org/?p=4594

Và bây giờ là trong bài viết của bác Bùi Minh Quốc ở Dân Luận.

Các bác có bình luận gì về hiện tượng này???

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

Hợp Đồng Bauxite đã ký kết từ 14-7-2008

Posted by hoangtran204 trên 21/05/2009

Đăng bởi hoangtran204 on 21/05/2009

Bộ Tài Nguyên và Môi Trường

Trung Quốc đã ký một hợp

đồng trị giá 460 triệu đô la

ở Việt Nam vào ngày 14-7-2008

xây dựng xí nghiệp khai thác bauxite

ở Nhân cơ


Phuong Hoa

(16:47 – 17/07/2008)

Vinacomin, hãng sản suất Than lớn nhất ở Viêt Nam, đã ký một hợp đồng với một công ty Trung Quốc để xây dựng một xí nghiệp sản suất Alumina trị giá 460 triệu đô la ở Cao Nguyên Trung Phần (Tây Nguyên), theo một thông báo của chính quyền Hà Nội.

Vào hôm chủ Nhật, Vinacomin đã ký một hợp đồng* với nhà thầu xây dựng Chalieco (China Aluminum International Engineering Company). Công ty Chalieco là một chi nhánh của Tập đoàn Chalco.

Theo hợp đồng nầy, Chalieco sẽ xây dựng một hãng sản suất Alumina trong thời hạn 2 năm, một lời loan báo đã được đưa ra vào tuần nầy cho biết thế.

Hãng alumina nầy, được dự tính làm ra 600.000 tấn alumina một năm, là một phần của khu công nghiệp liên hợp các nhà máy nhôm và bauxite ở cao nguyên Trung phần tỉnh Lâm Đồng, cách tp HCM 300 km về hướng Đông Bắc.

Vào năm 2006, Việt Nam đã bắt đầu xây dựng khu công nghiêp liên hợp Alumina và bauxite đầu tiên ở Tân Rai, nhưng vì thiếu tiền và thiếu điện đã buộc các nhà xây dựng hãng nầy ở Tân Rai không sản suất Nhôm trong khu công nghiệp liên hợp.

Công ty Chalieco là một chi nhánh của Tập đoàn Chalco, tập đoàn kim loại- không- chứa- chất- sắt lớn nhất của Trung Quốc.

Chalieco đã ký một đơn đặt hàng với tập đoàn Marubeni của Nhật, theo hợp đồng ấy hãng Nhật sẽ hổ trợ và cố vấn về các đề tài luật pháp và đại diện quyền sở hữu (cho hãng Chalieco) cho dự án nầy, sẽ hoàn tất vào năm 2010, Marubeni đã cho biết trong một thông báo hôm thứ Ba.

Vinacomin sẽ bắt đầu các cuộc thương lượng khác vào quý 4 (năm 2008) cho một hợp đồng khác để xây dựng một hãng sản suất Alumina tương tự như khu công nghiệp liên hợp ở tỉnh Lâm Đồng, hãng ở Nhân Cơ cũng sản suất 600.000 tấn Alumina một năm. Tổng Giám Đốc Vinacomin là ông Đoàn văn Kiểm đã được trích dẫn trong một văn bản của chính quyền cũng nói như vậy.

Mỏ bauxite của Việt Nam được đánh giá khoảng 5,6 tỉ đến 8.3 tỉ tấn, đứng hang thứ 3 của thế giới sau hai nước Guinea và Úc.

Bauxite là nguyên liệu được dùng cho việc sản suất alumina (oxit nhôm), một loại bột màu trắng dùng để sản suất nhôm.

Việt Nam đang cho biết là cần có 15,6 tỉ đô la để đầu tư vào các dự án tinh luyện alumina và bauxite từ đây cho đến năm 2025, để sử dụng nguồn tài nguyên quặng bô xít lộ thiên rất to lớn ở vành đai trồng cây café vùng Cao Nguyên Trung Phần.

Vào tháng 5, 2008, chính quyền Việt Nam đã cho biết họ sẽ chấp thuận cho công ty Alcoa của Mỹ làm chủ 40% một dự án tinh luyện alumina chính ở Cao Nguyên Trung Phần thuộc tỉnh Đắc Nông.

Nhôm, được dùng trong máy bay, vỏ nước ngọt, đã vượt kỷ lục vào tuần trước sau khi các công ty nấu nhôm của Trung Quốc, đứng hàng đầu thế giới, đã đồng ý cắt giảm mức sản suất vào khoảng 10% vào tháng 9-2008.

Tình trạng thiếu điện năng từ Trung Quốc cho tới Nam Phi đã và đang làm gia tăng những quan ngại rằng các hàng hóa tồn kho có thể bị giảm bớt đi khi các giá cả sản suất gia tăng. Hai tấn alumina làm ra một tấn nhôm.

Kế Hoạch của Công Ty Alcoa của Mỹ.

Công ty Alcoa, nhà sản suất nhôm đứng thứ 3 trên thế giới, có thế mua một phần trong một hãng luyện alumina 600.000 tấn ở Việt Nam, thông qua một hợp doanh với công ty Alumina, công ty Alcoa đã cho biết như thế trong một thông báo ngày 24-6-2008.

Thông báo nầy cũng nói rằng: hãng Alcoa World Alumina and Chemicals, do công ty Alcoa làm chủ 60%, đang xem xét việc mua một cổ phần trị giá 40% của hãng ở Nhân Cơ và một mỏ bauxite gần đó ở miền Nam Việt Nam.

Thông báo nầy còn cho biết nếu cuộc mua bán được tiến hành, hãng Than và khoáng Sản VN hay Vinacomin sẽ làm chủ 51%, và 9% còn lại sẽ do các nhà đầu tư khác mua.

Chalco đã và đang tiến hành cuộc nghiên cứu tính khả thi của mỏ để phát triển dự án bauxite ở Đắc Nông với tập đoàn Than và Khoáng Sản Việt Nam.

Người dịch Trần Hoàng

Bản Tiếng Việt © Ba Sam

*EPC = đây là một loại hợp đồng có nghĩa rất rộng và bao gồm nhiều nghĩa. Than và Khoáng Sản Việt Nam đã ký hợp đồng với công ty Chalieco của Trung Quốc theo kiểu EPC.

Công ty Chalieco là công ty chuyên môn hóa việc thi hành những dự án lớn, làm từ các giai đoạn đầu, qua đến xây dựng hãng xưởng, và chạy thử vận hành máy móc vào thời gian đầu. Chalieco cũng cung cấp các vấn đề kỹ thuật cho các công ty điều hành hãng và bảo hành máy móc.

  1. Công ty Chalieco sẽ làm công tác điều tra mỏ từ đầu cho đến cuối công đoạn, xây dựng lắp đặt nhà máy, hãng xưởng, cho đến khi hoàn tất dự án, sản suất ra mẻ sản phẩm đầu tiên, và cung cấp bảo hành. Công ty Chalieco sẽ chịu trách nhiệm điều tra trử lượng quặng Bauxite, tính khả thi và sinh lợi của mỏ. Xây dựng hãng alumina, chạy thử các máy móc, sản suất ra alumina trong thời gian đầu và giao lại cho một c
    ng ty (chủ) khác chính thức điều hành (có thể là Than và Khoáng Sản VN).

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »