Trần Hoàng Blog

Archive for Tháng Năm, 2009

VN và TQ Lo sợ Diễn biến Hòa bình

Posted by hoangtran204 trên 27/05/2009

177.VN và TQ Lo sợ Diễn biến Hòa bình

Đăng bởi hoangtran204 on 27/05/2009

The New York Times

Lo sợ Diễn biến Hòa bình

ROGER COHEN

Ngày 24-5-2009

HCM City, VIỆT NAM – Đảng Cộng sản Việt Nam, giống như đảng anh em của họ ở Trung Quốc, đã nhận ra mối đe doạ số 1 mà họ phải đối mặt. Mối nguy hiểm hiện ra lờ mờ được gọi là “diễn biến hòa bình.”

Điều đó có thể nghe tuồng như là người dự báo thời tiết đang cảnh báo về mối đe doạ giữa lúc bầu trời trong vắt và chan hòa ánh nắng. Thế nhưng các kiến trúc sư của Chủ nghĩa Lenin-kết hợp với nền kinh tế thị trường, những người đã mang chủ nghĩa tư bản phát triển nhanh chóng tới cho những quốc gia Á châu độc đảng, thì tỏ ra nghiêm túc.

Những cơn ác mộng mà họ đang nằm mơ không phải là về cuộc chính biến hay nổi dậy bằng bạo lực của cuộc cách mạng, mà là sự nhỏ giọt, nhỏ giọt, nhỏ giọt lớn dần của sự tự do dân chủ.

Hai mươi năm sau biến cố ở Quảng trường Thiên An Môn, cuộc nổi dậy đang ngũ yên và các sinh viên tỏ ra ngoan ngoãn, thuần hóa, dễ bảo từ Bắc Kinh cho tới Hà Nội. Các sinh viên đã gia nhập làm thành viên cho các tổ chức phát triển nhiều hơn là thành viên của các tổ chức dân chủ trong một tương lai có thể nhìn thấy trước được. Họ có thể muốn được tự do hơn, song không tới cái mức tự do mà họ sẽ phải đương đầu với nhà cầm quyền cộng sản, như những người thuộc thế hệ Thiên An Môn đã từng làm.

“Nhiệm vụ chính đối với Trung Quốc giờ đây là phát triển,” một giáo viên trưởng ngành sinh thái học của trường Đại học Bắc Kinh tên là Song Chao đã nói với đồng nghiệp của tôi Sharon LaFraniere như thế. Đó cũng là tâm trạng của các thanh niên ở Việt Nam nữa, nơi đây đang chuyển từ xe gắn máy hai bánh lên xe hơi, chuyện nầy hầu như chắc chắn là đang làm bận tâm thế hệ kế tiếp hơn là thúc đẩy cho nền dân chủ đa đảng.

Cũng giống như Trung Quốc, quan điểm thực dụng này có quan hệ tới sự chấn thương. Các hai nước đã chứng kiến các cuộc nội chiến trong nửa sau của thế kỷ 20, cuộc nội chiến đó đã bắt họ phải trả những cái giá to lớn khủng khiếp. Vì thế sự ổn định chỉ là giải thưởng, đặc biệt khi sự ổn định đã và đang đem tới những tiêu chuẩn sống cao hơn trong thời gian ngắn.

Thế nhưng, cùng đi theo với sự chuyển đổi ấy còn có nhiều chuyện khác hơn nữa đã và đang biến “cuộc diễn biến hòa bình” thành một loài ác quỷ, làm cho các nhân vật trong bộ chính trị của các nước Á châu đêm đêm không ngũ được.

Công nghệ (thông tin) đã và đang dẫn dắt “tất cả” mọi người ra khỏi chế độ chuyên chế độc tài. Đêm đen của linh hồn của chủ nghĩa Stalin hay Mao đã được cất giữ vào lịch sử bởi những xã hội trên mạng internet. Cả Trung Quốc và Việt Nam đều không có tự do. Cùng lúc đó, không nước nào trong hai nước nầy mất sự tự do nhiều đến nổi làm cho công dân của họ phải quá khao khát quyền tự do.

Shi Guoliang, thuộc trường Đại học Thanh niên Trung Quốc ở Bắc Kinh ngành Khoa học Chính trị, đang nghiên cứu về quan điểm xã hội của tầng lớp thanh niên, đã nói với tờ Financial Times rằng: “Các sinh viên không thực hiện những cuộc biểu tình ngồi, họ [diễn đạt ý kiến của họ trên] blog và sử dụng mạng xã hội Twitter.”

Tất nhiên, các nhà chức trách Trung Quốc đang chặn một số trang Web mà họ cho là thù nghịch. Tự do trên Internet bị hạn chế. Ngay tại đây Việt Nam, nơi mà mọi thứ nói chung đều lỏng lẻo hơn là ở trên phía bắc, thì quyền tự do đó lớn hơn nhiều. (Bên dưới tất cả thứ tình anh em theo nghi thức, sự kình địch của Việt Nam với Trung Quốc là đều đặn không thay đổi.)

Tại cả hai nước này, truyền thông và thế giới mạng trực tuyến được sử dụng như những chiếc van an toàn cho những quốc gia độc đảng, nơi mà Chủ nghĩa cộng sản chỉ hơn cái nhãn hiệu một chút được ban cho sự duy trì quyền lực.

Đại khái, tôi có thể nói rằng thời đại của các cuộc cách mạng đã qua rồi. Google đã ăn ngấu nghiến cái cơn bốc đồng muốn nổi dậy khởi nghĩa. Đó là sự khác biệt chính giữa thế hệ Thiên An Môn và “Thế hệ Toàn cầu” đang nổi lên ở châu Á. Nhiệt huyết nổi lên trong một không gian bị hạn chế (của mạng internet). Khi những bức tường và biên giới bị chọc thủng (qua việc viết blog phản kháng trên mạng), nhiệt huyết đó bị lan tỏa ra và tiêu tan.

Vậy thì, chức năng của đảng là gì, những người đang gặm nhắm các bài học của ông Mao hay ông Hồ, để bực dọc về những thứ gì nữa nếu không phải là “diễn biến hòa bình?”

Cuộc sụp đổ không ồn ào của hệ thống Sô Viết và những cuộc cách mạng nhung ở trung tâm châu Âu đã tạo nên một ấn tượng không thể xóa nhòa đối với các nhà kiến trúc sư của thế kỷ 21 chuyên đàn áp mạng internet. Họ tỏ ra cảnh giác không phải từ những tiếng nổ mà là từ những tiếng rên rỉ thút thít.

Hệ thống trấn áp của họ là không ồn ào. Hệ thống của họ không dựa trên sự khủng bố và các trại giam cải tạo kiểu như ở qu
ần đảo Gulag, mà là sự thiết lập các đường ranh giới đỏ nhằm ngăn chận và hạn chế quyền tự do ở nơi nào mà sự tự do bắt đầu có ý nghĩa là quyền để tố cáo nhà chức trách hay quyền tổ chức thành lập hội đoàn phản đối lại nhà nước.

Vì vậy, điều mà những người canh giữ của Chủ nghĩa cộng sản lấy đàn áp làm tính nguyên tắc vì lo sợ phải đối điện với chủ nghĩa tư bản không phải là những chi bộ cách mạng được trang bị bằng những khẩu AK-47 mà là những tổ chức phi chính phủ có danh tính nghe chừng như vô hại (NGOs).

Họ đang canh phòng những người TQ có lý tưởng được giáo dục ở phương Tây và có khuôn mặt đầy đặn. Những người hay bàn tán về nhân quyền và sự cai trị bằng luật pháp; họ có thể sẽ làm lu mờ đi những đường ranh giới đỏ và hút hết sức mạnh, đặc tính và phẩm chất chủ yếu của những cán bộ Cộng sản.

“Quí vị có thể đăng ký mở một công ty ở đây trong vòng một ngày, thế nhưng hãy quên đi chuyện đăng ký thành lập một tổ chức phi chính phủ [NGO] hay một hội từ thiện,” Jonathan Pincus, người đang điều hành một chi nhánh thuộc Trường Kennedy của Harvard tại Thành phố Hồ Chí Minh, đã nói với tôi như vậy. Một phái đoàn của Nga đã tới Việt Nam hồi gần đây đã đưa ra lời khuyên về cách thức làm thế nào để chống lại mối đe doạ của các tổ chức phi chính phủ.

Điều đó là đáng tiếc song cực kỳ tai hại. Tốt nhất không nên là kẻ thù của việc làm từ thiện. Sự vươn dậy nhanh chóng của Trung Quốc và Việt Nam, tính gộp lại là khoảng 20% dân số địa cầu, đã đưa hàng trăm triệu người dân thoát khỏi cảnh đói nghèo kể từ khi Chủ nghĩa cộng sản chuyên chế sụp đổ. Phương Tây ở trong vị trí để mà nói rằng họ biết rõ hơn ai hết về điều đó.

Có điều gì đó ở đây về một học thuyết đơn lẻ cho rằng: cản trở hành động nhân đạo là cách làm sai lầm. Trong một khoảng khắc ngắn ngủi, sau khi Bức tường Berlin sụp đổ, thị trường tự do, những hệ thống-tự-do –có-đa-đảng có vẻ dường như đã thành lập để quét sạch mọi thứ trên con đường chiến thắng của họ. Thế nhưng, những phản ứng đã xuất hiện từ Moscow tới Bắc Kinh cho tới Hà Nội. Các nền kinh tế thị trường và chủ nghĩa dân tộc đã dồn ép sự tự do và các cuộc bầu cử đến bước đường cùng; tinh thần cao cả của cuộc nổi dậy ở Thiên An Môn vào mùa xuân 1989 và sự sụp đổ bức tường Bá Linh vào mùa đông 1989 đã phai mờ rồi.

Nước Mỹ, được sinh ra vì lý tưởng dành cho tự do, phải trung thành với lý tưởng tự do và cổ vỏ thúc đẩy những giá trị của sự tự do. Thế nhưng, dù đã tỉnh ngộ ra rồi và không còn tiền nữa, thì Hoa Kỳ cũng nên tỏ ra kiên nhẫn. Khi những tầng lớp trung lưu của Việt Nam và Trung Quốc nổi lên (ngày càng nhiều) họ trở thành đòi hỏi nhiều hơn nữa những gì mà họ tiêu thụ, lúc ấy họ cũng sẽ là những người tiêu dùng đòi hỏi nhiều hơn nữa về chính quyền.

Họ sẽ muốn minh bạch hơn, muốn có những bộ luật có thể dự báo được những bước phát triển của xã hội, hệ thống chăm sóc sức khoẻ tốt hơn, ít tham nhũng hơn, nền giáo dục khoáng đạt hơn, tự do ngôn luận hơn và giảm bớt đi những đường ranh giới đỏ ngăn cấm họ.

Các nhà nước độc đảng sẽ bị áp lực mạnh hơn để cung cấp những đòi hỏi đó. 25 năm sắp tới đây, tôi dám cá là có nhiều tự do và dân chủ hơn ở Bắc Kinh và Hà Nội, họ sẽ đạt được những điều ấy thông qua diễn biến hòa bình, chứ không thể nào kém hơn được.


Hiệu đính: Trần Hoàng

Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2009

nhấp chuột vào tên tác giả để đọc bài tiếng Anh

Advertisements

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

Entry for May 27, 2009

Posted by hoangtran204 trên 27/05/2009

177.VN và TQ Lo sợ Diễn biến Hòa bình

Đăng bởi hoangtran204 on 27/05/2009

The New York Times

Lo sợ Diễn biến Hòa bình

ROGER COHEN

Ngày 24-5-2009

HCM City, VIỆT NAM – Đảng Cộng sản Việt Nam, giống như đảng anh em của họ ở Trung Quốc, đã nhận ra mối đe doạ số 1 mà họ phải đối mặt. Mối nguy hiểm hiện ra lờ mờ được gọi là “diễn biến hòa bình.”

Điều đó có thể nghe tuồng như là người dự báo thời tiết đang cảnh báo về mối đe doạ giữa lúc bầu trời trong vắt và chan hòa ánh nắng. Thế nhưng các kiến trúc sư của Chủ nghĩa Lenin-kết hợp với nền kinh tế thị trường, những người đã mang chủ nghĩa tư bản phát triển nhanh chóng tới cho những quốc gia Á châu độc đảng, thì tỏ ra nghiêm túc.

Những cơn ác mộng mà họ đang nằm mơ không phải là về cuộc chính biến hay nổi dậy bằng bạo lực của cuộc cách mạng, mà là sự nhỏ giọt, nhỏ giọt, nhỏ giọt lớn dần của sự tự do dân chủ.

Hai mươi năm sau biến cố ở Quảng trường Thiên An Môn, cuộc nổi dậy đang ngũ yên và các sinh viên tỏ ra ngoan ngoãn, thuần hóa, dễ bảo từ Bắc Kinh cho tới Hà Nội. Các sinh viên đã gia nhập làm thành viên cho các tổ chức phát triển nhiều hơn là thành viên của các tổ chức dân chủ trong một tương lai có thể nhìn thấy trước được. Họ có thể muốn được tự do hơn, song không tới cái mức tự do mà họ sẽ phải đương đầu với nhà cầm quyền cộng sản, như những người thuộc thế hệ Thiên An Môn đã từng làm.

“Nhiệm vụ chính đối với Trung Quốc giờ đây là phát triển,” một giáo viên trưởng ngành sinh thái học của trường Đại học Bắc Kinh tên là Song Chao đã nói với đồng nghiệp của tôi Sharon LaFraniere như thế. Đó cũng là tâm trạng của các thanh niên ở Việt Nam nữa, nơi đây đang chuyển từ xe gắn máy hai bánh lên xe hơi, chuyện nầy hầu như chắc chắn là đang làm bận tâm thế hệ kế tiếp hơn là thúc đẩy cho nền dân chủ đa đảng.

Cũng giống như Trung Quốc, quan điểm thực dụng này có quan hệ tới sự chấn thương. Các hai nước đã chứng kiến các cuộc nội chiến trong nửa sau của thế kỷ 20, cuộc nội chiến đó đã bắt họ phải trả những cái giá to lớn khủng khiếp. Vì thế sự ổn định chỉ là giải thưởng, đặc biệt khi sự ổn định đã và đang đem tới những tiêu chuẩn sống cao hơn trong thời gian ngắn.

Thế nhưng, cùng đi theo với sự chuyển đổi ấy còn có nhiều chuyện khác hơn nữa đã và đang biến “cuộc diễn biến hòa bình” thành một loài ác quỷ, làm cho các nhân vật trong bộ chính trị của các nước Á châu đêm đêm không ngũ được.

Công nghệ (thông tin) đã và đang dẫn dắt “tất cả” mọi người ra khỏi chế độ chuyên chế độc tài. Đêm đen của linh hồn của chủ nghĩa Stalin hay Mao đã được cất giữ vào lịch sử bởi những xã hội trên mạng internet. Cả Trung Quốc và Việt Nam đều không có tự do. Cùng lúc đó, không nước nào trong hai nước nầy mất sự tự do nhiều đến nổi làm cho công dân của họ phải quá khao khát quyền tự do.

Shi Guoliang, thuộc trường Đại học Thanh niên Trung Quốc ở Bắc Kinh ngành Khoa học Chính trị, đang nghiên cứu về quan điểm xã hội của tầng lớp thanh niên, đã nói với tờ Financial Times rằng: “Các sinh viên không thực hiện những cuộc biểu tình ngồi, họ [diễn đạt ý kiến của họ trên] blog và sử dụng mạng xã hội Twitter.”

Tất nhiên, các nhà chức trách Trung Quốc đang chặn một số trang Web mà họ cho là thù nghịch. Tự do trên Internet bị hạn chế. Ngay tại đây Việt Nam, nơi mà mọi thứ nói chung đều lỏng lẻo hơn là ở trên phía bắc, thì quyền tự do đó lớn hơn nhiều. (Bên dưới tất cả thứ tình anh em theo nghi thức, sự kình địch của Việt Nam với Trung Quốc là đều đặn không thay đổi.)

Tại cả hai nước này, truyền thông và thế giới mạng trực tuyến được sử dụng như những chiếc van an toàn cho những quốc gia độc đảng, nơi mà Chủ nghĩa cộng sản chỉ hơn cái nhãn hiệu một chút được ban cho sự duy trì quyền lực.

Đại khái, tôi có thể nói rằng thời đại của các cuộc cách mạng đã qua rồi. Google đã ăn ngấu nghiến cái cơn bốc đồng muốn nổi dậy khởi nghĩa. Đó là sự khác biệt chính giữa thế hệ Thiên An Môn và “Thế hệ Toàn cầu” đang nổi lên ở châu Á. Nhiệt huyết nổi lên trong một không gian bị hạn chế (của mạng internet). Khi những bức tường và biên giới bị chọc thủng (qua việc viết blog phản kháng trên mạng), nhiệt huyết đó bị lan tỏa ra và tiêu tan.

Vậy thì, chức năng của đảng là gì, những người đang gặm nhắm các bài học của ông Mao hay ông Hồ, để bực dọc về những thứ gì nữa nếu không phải là “diễn biến hòa bình?”

Cuộc sụp đổ không ồn ào của hệ thống Sô Viết và những cuộc cách mạng nhung ở trung tâm châu Âu đã tạo nên một ấn tượng không thể xóa nhòa đối với các nhà kiến trúc sư của thế kỷ 21 chuyên đàn áp mạng internet. Họ tỏ ra cảnh giác không phải từ những tiếng nổ mà là từ những tiếng rên rỉ thút thít.

Hệ thống trấn áp của họ là không ồn ào. Hệ thống của họ không dựa trên sự khủng bố và các trại giam cải tạo kiểu như ở qu
ần đảo Gulag, mà là sự thiết lập các đường ranh giới đỏ nhằm ngăn chận và hạn chế quyền tự do ở nơi nào mà sự tự do bắt đầu có ý nghĩa là quyền để tố cáo nhà chức trách hay quyền tổ chức thành lập hội đoàn phản đối lại nhà nước.

Vì vậy, điều mà những người canh giữ của Chủ nghĩa cộng sản lấy đàn áp làm tính nguyên tắc vì lo sợ phải đối điện với chủ nghĩa tư bản không phải là những chi bộ cách mạng được trang bị bằng những khẩu AK-47 mà là những tổ chức phi chính phủ có danh tính nghe chừng như vô hại (NGOs).

Họ đang canh phòng những người TQ có lý tưởng được giáo dục ở phương Tây và có khuôn mặt đầy đặn. Những người hay bàn tán về nhân quyền và sự cai trị bằng luật pháp; họ có thể sẽ làm lu mờ đi những đường ranh giới đỏ và hút hết sức mạnh, đặc tính và phẩm chất chủ yếu của những cán bộ Cộng sản.

“Quí vị có thể đăng ký mở một công ty ở đây trong vòng một ngày, thế nhưng hãy quên đi chuyện đăng ký thành lập một tổ chức phi chính phủ [NGO] hay một hội từ thiện,” Jonathan Pincus, người đang điều hành một chi nhánh thuộc Trường Kennedy của Harvard tại Thành phố Hồ Chí Minh, đã nói với tôi như vậy. Một phái đoàn của Nga đã tới Việt Nam hồi gần đây đã đưa ra lời khuyên về cách thức làm thế nào để chống lại mối đe doạ của các tổ chức phi chính phủ.

Điều đó là đáng tiếc song cực kỳ tai hại. Tốt nhất không nên là kẻ thù của việc làm từ thiện. Sự vươn dậy nhanh chóng của Trung Quốc và Việt Nam, tính gộp lại là khoảng 20% dân số địa cầu, đã đưa hàng trăm triệu người dân thoát khỏi cảnh đói nghèo kể từ khi Chủ nghĩa cộng sản chuyên chế sụp đổ. Phương Tây ở trong vị trí để mà nói rằng họ biết rõ hơn ai hết về điều đó.

Có điều gì đó ở đây về một học thuyết đơn lẻ cho rằng: cản trở hành động nhân đạo là cách làm sai lầm. Trong một khoảng khắc ngắn ngủi, sau khi Bức tường Berlin sụp đổ, thị trường tự do, những hệ thống-tự-do –có-đa-đảng có vẻ dường như đã thành lập để quét sạch mọi thứ trên con đường chiến thắng của họ. Thế nhưng, những phản ứng đã xuất hiện từ Moscow tới Bắc Kinh cho tới Hà Nội. Các nền kinh tế thị trường và chủ nghĩa dân tộc đã dồn ép sự tự do và các cuộc bầu cử đến bước đường cùng; tinh thần cao cả của cuộc nổi dậy ở Thiên An Môn vào mùa xuân 1989 và sự sụp đổ bức tường Bá Linh vào mùa đông 1989 đã phai mờ rồi.

Nước Mỹ, được sinh ra vì lý tưởng dành cho tự do, phải trung thành với lý tưởng tự do và cổ vỏ thúc đẩy những giá trị của sự tự do. Thế nhưng, dù đã tỉnh ngộ ra rồi và không còn tiền nữa, thì Hoa Kỳ cũng nên tỏ ra kiên nhẫn. Khi những tầng lớp trung lưu của Việt Nam và Trung Quốc nổi lên (ngày càng nhiều) họ trở thành đòi hỏi nhiều hơn nữa những gì mà họ tiêu thụ, lúc ấy họ cũng sẽ là những người tiêu dùng đòi hỏi nhiều hơn nữa về chính quyền.

Họ sẽ muốn minh bạch hơn, muốn có những bộ luật có thể dự báo được những bước phát triển của xã hội, hệ thống chăm sóc sức khoẻ tốt hơn, ít tham nhũng hơn, nền giáo dục khoáng đạt hơn, tự do ngôn luận hơn và giảm bớt đi những đường ranh giới đỏ ngăn cấm họ.

Các nhà nước độc đảng sẽ bị áp lực mạnh hơn để cung cấp những đòi hỏi đó. 25 năm sắp tới đây, tôi dám cá là có nhiều tự do và dân chủ hơn ở Bắc Kinh và Hà Nội, họ sẽ đạt được những điều ấy thông qua diễn biến hòa bình, chứ không thể nào kém hơn được.


Hiệu đính: Trần Hoàng

Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2009

nhấp chuột vào tên tác giả để đọc bài tiếng Anh

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

Posted by hoangtran204 trên 26/05/2009

Hình ảnh Hà Nội VS Sài Gòn trước 75

so sánh Sài gòn với Hà Nội thời đó đúng là cách xa một trời một vực

đường phố Hà Nội toàn là xe đạp với nón cối

xem xong mấy hình này so với Sài Gòn thì từ ”giải phóng” hết có ý nghĩa rồi

nguồn chú cuội: http://www.x-cafevn.org/forum/showthread.php?t=25850

(nguồn http://www.x-cafevn.org/forum/showthread.php?t=25850)
Click the image to open in full size.

Click the image to open in full size.

Click the image to open in full size.

Click the image to open in full size.

Click the image to open in full size.

Sài Gòn

Click the image to open in full size.

Click the image to open in full size.

Click the image to open in full size.

Click the image to open in full size.

Click the image to open in full size.

Hà Nội thời bao cấp

Sổ và phiếu mua lương thực:

Click the image to open in full size.

Click the image to open in full size.

Một cửa hàng mậu dịch quốc doanh:
Click the image to open in full size.

Khu tập thể dành cho cán bộ công nhân viên nhà nước có sổ gạo:
Click the image to open in full size.

Và khu ổ chuột cho dân thị thành không sổ gạo:
Click the image to open in full size.

Một quầy hàng bán báo, tạp chí:
Click the image to open in full size.

Một cách miễn phí tàu điện:
Click the image to open in full size.

Vỉa hè là chợ công nhân:
Click the image to open in full size.

Thủ đô duy nhất trên thế giới mà một số tuyến phố có biển cấm xe bò:
Click the image to open in full size.

Vâng, không có gì quý hơn độc lập, tự do!!!
Click the image to open in full size.

————————————————————————————————————————————————————————-

Nguồn: Gã nhà Quê

Đây, Hà Nội mới đây, hoàn toàn mới đấy:

Click the image to open in full size.

Click the image to open in full size.

Click the image to open in full size.

Click the image to open in full size.

Click the image to open in full size.

Click the image to open in full size.

Click the image to open in full size.

Click the image to open in full size.

Click the image to open in full size.

Click the image to open in full size.

Click the image to open in full size.

Click the image to open in full size.

Click the image to open in full size.

Click the image to open in full size.

Click the image to open in full size.

Click the image to open in full size.

__________________

Và đây nữa:

Click the image to open in full size.

Click the image to open in full size.

Click the image to open in full size.

Click the image to open in full size.

Click the image to open in full size.

Click the image to open in full size.

Click the image to open in full size.

Click the image to open in full size.

Click the image to open in full size.

Click the image to open in full size.

Click the image to open in full size.

Click the image to open in full size.

Click the image to open in full size.

Click the image to open in full size.

Click the image to open in full size.

Click the image to open in full size.

Click the image to open in full size.

Click the image to open in full size.

Click the image to open in full size.

Click the image to open in full size.

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

Rùa quí hiếm ở Việt Nam

Posted by hoangtran204 trên 25/05/2009

:Các nhà Nghiên cứu của Vườn thú Cleveland Tìm thấy Rùa Khổng lồ Hiếm có tại Việt Nam

Trang 219:Các nhà Nghiên cứu của Vườn thú Cleveland Tìm thấy Rùa Khổng lồ Hiếm có tại Việt Nam magnify

Bức ảnh không ghi ngày tháng này được Vườn thú Cleveland Metroparks cung cấp, cho thấy một con rùa thuộc loài mai mềm Swinhoe tại tỉnh Thanh Hóa, Việt Nam. Các nhà nghiên cứu của Vườn thú vừa phát hiện ra một trong những con rùa khổng lồ hiếm có đang sống trong tự nhiên tại miền bắc Việt Nam (Cleveland Metroparks Zoo/AP)

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

bauxite 460 million dollars contract

Posted by hoangtran204 trên 25/05/2009

Bộ Tài Nguyên và Môi Trường.

Trung Quốc đã ký một hợp đồng trị giá 460 triệu đô la ở Việt Nam

Author: Phuong Hoa

(16:47 17/07/2008)

Vinacomin, hãng sản suất Than lớn nhất ở Viêt Nam, đã ký một hợp đồng với một công ty Trung Quốc để xây dựng một xí nghiệp sản suất Alumina trị giá 460 triệu đô la ở Cao Nguyên Trung Phần (Tây Nguyên), theo một thông báo của chính quyền Hà Nội.

Vào hôm chủ Nhật, Vinacomin đã ký một hợp đồng* với nhà thầu xây dựng Chalieko (China Aluminum International Engineering Company). Công ty Chalieko là một chi nhánh của Tập đoàn Chalco.

Theo hợp đồng nầy, Chalieko sẽ xây dựng một hãng sản suất Alumina trong thời hạn 2 năm, một lời loan báo đã được đưa ra vào tuần nầy cho biết thế.

Hãng alumina nầy, được dự tính làm ra 600.000 tấn alumina một năm, là một phần của khu công nghiệp liên hợp các nhà máy nhôm và bauxite ở cao nguyên Trung phần tỉnh Lâm Đồng, cách tp HCM 300 km về hướng Đông Bắc.

Vào năm 2006, Việt Nam đã bắt đầu xây dựng khu công nghiêp liên hợp Alumina và bauxite đầu tiên ở Tân Rai, nhưng vì thiếu tiền và thiếu điện đã buộc các nhà xây dựng hãng nầy ở Tân Rai không sản suất Nhôm trong khu công nghiệp liên hợp.

Công ty Chalieko là một chi nhánh của Tập đoàn Chalco, tập đoàn kim loại- không- chứa- chất- sắt lớn nhất của Trung Quốc.

Chalieko đã ký một đơn đặt hàng với tập đoàn Marubeni của Nhật, theo hợp đồng ấy hãng Nhật sẽ hổ trợ và cố vấn về các đề tài luật pháp và đại diện quyền sở hữu (cho hãng Chalieko) cho dự án nầy, dự án nầy sẽ hoàn tất vào năm 2010, Marubeni đã cho biết trong một thông báo hôm thứ Ba.

Vinacomin sẽ bắt đầu các cuộc thương lượng khác vào quý 4 (năm 2008) cho một hợp đồng khác để xây dựng một hãng sản suất Alumina tương tự như khu công nghiệp liên hợp ở tỉnh Lâm Đồng, hãng ở Nhân Cơ cũng sản suất 600.000 tấn Alumina một năm. Tổng Giám Đốc Vinacomin là ông Đoàn văn Kiện cũng đã được trích dẫn trong một văn bản của chính quyền cũng nói như thế.

Mỏ bauxite của Việt Nam được đánh giá khoảng 5,6 tỉ đến 8.3 tỉ tấn, đứng hang thứ 3 của thế giới sau hai nước Guinea và Úc.

Bauxite là nguyên liệu được dùng cho việc sản suất alumina (oxit nhôm), một loại bột màu trắng dùng để sản suất nhôm.

Việt Nam đang cho biết là cần có 15,6 tỉ đô la để đầu tư vào các dự án tinh luyện alumina và bauxite từ đây cho đến năm 2025, để sử dụng nguồn tài nguyên quặng bô xít lộ thiên rất to lớn ở vành đai trồng cây café vùng Cao Nguyên Trung Phần.

Vào tháng 5, 2008, chính quyền Việt Nam đã cho biết họ sẽ chấp thuận cho công ty Alcoa của Mỹ làm chủ 40% một dự án tinh luyện alumina chính ở Cao Nguyên Trung Phần thuộc tỉnh Đắc Nông.

Nhôm, được dùng trong máy bay, võ nước ngọt, đã vượt kỷ lục vào tuần trước sau khi các công ty nấu nhôm của Trung quốc, đứng hang đầu thế giới, đã đồng ý cắt giảm mức sản suất vào khoảng 10% vào tháng 9-2008.

Sự thiếu điện từ Trung Quốc cho tới Nam Phi đã và đang làm gia tăng những quan ngại rằng các hàng hóa tồn kho có thể bị giảm bớt đi khi các giá cả sản suất gia tăng. Hai tấn alumina làm ra một tấn nhôm.

Kế Hoạch của Công Ty Alcoa của Mỹ.

Công ty Alcoa, nhà sản suất nhôm đứng thứ 3 trên thế giới, có thế mua một phần trong một hãng luyện alumina 600.000 tấn ở Việt Nam, thông qua một hợp doanh với công ty Alumina, công ty Alcoa  đã cho biết như thế trong một thông báo ngày 24-6-2008.

Thông báo nầy cũng nói rằng: hãng Alcoa World Alumina and Chemicals, do công ty Alcoa làm chủ 60%, đang xem xét việc mua  một cổ phần trị giá 40% của hãng ở Nhân Cơ và một mỏ bauxite gần đó ở miền Nam Việt Nam.

Thông báo nầy còn cho biết nếu cuộc mua bán được tiến hành, hãng Than và khoáng Sản VN hay Vinacomin  sẽ làm chủ 51%, và 9% còn lại sẽ do các nhà đầu tư khác mua.

Chalco đã và đang tiến hành cuộc nghiên cứu  tính khả thi của mỏ để phát triển dự án bauxite ở Đắc Nông với tập đoàn Than và Khoáng Sản Việt Nam.

Người dịch Trần Hoàng

China, Japan in Vietnam’s $460 million alumina deal

Tue Jul 15, 2008 5:02am EDT

http://www.reuters.com/article/rbssDiversifiedTradingDistribution/idUSHAN26152520080715

By Ho Binh Minh

HANOI, July 15 (Reuters) – Vinacomin, Vietnam’s largest coal producer, has signed a contract with a Chinese company to build a $460 million alumina plant in the Central Highlands, the Hanoi government said.

Vinacomin signed an Engineering, Procurement and Construction (EPC) deal with China Aluminium International Engineering Co (Chalieco) on Sunday, and Chalieco would build the plant within two years, the statement issued late on Monday said.

The alumina plant, projected to turn out 600,000 tonnes of alumina a year, is part of the bauxite and aluminium complex in the central highland province of Lam Dong, 300 kilometres (190 miles) northeast of Ho Chi Minh City.

Vietnam began building in 2006 its first bauxite and alumina complex, the $490 million Tan Rai plant, but a lack of money and domestic power shortages forced the plant developers to skip aluminium production in the complex.

Chalieco is the engineering arm of Aluminium Corp of China Ltd (Chalco) (2600.HK), China’s largest nonferrous metal company.

Chalieco has placed an order with Marubeni Corp (8002.T), under which the Japanese firm would support and provide advice on legal and procurement issues on the project, which is due for completion in 2010, Marubeni said in a statement on Tuesday.

Vinacomin would start negotiations in the fourth quarter for another EPC contract to build the Nhan Co alumina plant in the same Lam Dong complex, also to produce 600,000 tonnes of alumina per year, Vinacomin Chairman Doan Van Kien was quoted in the government statement as saying.

Vietnam’s bauxite ore reserves are estimated at between 5.6 billion and 8.3 billion tonnes, the world’s third-largest after Guinea and Australia and mostly unmined.

Bauxite is the raw material used for making alumina, a white powder for producing aluminium.

Vietnam has said it needed about $15.6 billion to invest in major bauxite and alumina refining projects by 2025, to make use of its vast and largely unmined bauxite ore reserves, most of them in the Central Highlands coffee belt.

In May, the government said it would allow Alcoa Inc (AA.N) to own up to 40 percent of a major alumina mining and refining project in the central highland province of Dak Nong [ID:nSP155046]. (Additional reporting by Miho Yoshikawa in TOKYO) (Editing by Ben Tan

Ministry of Natural and Resources and Enviromental

Vinacomin, Vietnam’s largest coal producer, has signed a contract with a Chinese company to build a US$460 million alumina plant in the Central Highlands, according to a Hanoi government statement.

Vinacomin signed an engineering, procurement and construction (EPC) deal with China Aluminum International Engineering Co. (Chalieco) on Sunday.

Under the agreement, Chalieco will build the plant within two years, a statement issued this week said.

The alumina plant, projected to turn out 600,000 tons of alumina a year, is part of a bauxite and aluminum complex in the Central Highlands province of Lam Dong, 300 kilometers northeast of Ho Chi Minh City.

In 2006, Vietnam began building its first bauxite and alumina complex, the $490 million Tan Rai plant, but a lack of money and domestic power shortages forced the plant developers to skip aluminum production in the complex.

Chalieco is the engineering arm of Aluminum Corp. of China Ltd. (Chalco), China’s largest nonferrous metal company.

Chalieco has placed an order with Marubeni Corp., under which the Japanese firm would support and provide advice on legal and procurement issues on the project, which is due for completion in 2010, Marubeni said in a statement Tuesday.

Vinacomin will start negotiations in the fourth quarter for another EPC contract to build the Nhan Co alumina plant in the same Lam Dong complex, also to produce 600,000 tons of alumina per year, Vinacomin Chairman Doan Van Kien was quoted in the government statement as saying.

Vietnam’s mostly unmined bauxite ore reserves are estimated at between 5.6 billion and 8.3 billion tons, the world’s third-largest after Guinea and Australia.

Bauxite is the raw material used for making alumina, a white powder for producing aluminum.

Vietnam has said it needed about $15.6 billion to invest in major bauxite and alumina refining projects by 2025, to make use of its vast and largely unmined bauxite ore reserves, most of them in the Central Highlands coffee belt.

In May, the government said it would allow Alcoa Inc. to own up to 40 percent of a major alumina mining and refining project in the Central Highlands province of Dak Nong.

Aluminum, used in aircraft and beverage cans, jumped to a record last week after Chinese smelters, the largest in the world, agreed to cut output by as much as 10 percent through September.

Power shortages from China to South Africa have increased on concerns supplies may be curtailed as production costs rise.

Two tons of alumina produce a ton of aluminum.

Alcoa plan

Alcoa Inc., the world’s third-largest aluminum producer, may buy a stake in a proposed 600,000 ton alumina refinery in Vietnam, through a joint venture with Alumina Ltd., New York-based Alcoa said in a June 24 statement.

Alcoa World Alumina and Chemicals, 60 percent owned by Alcoa, is considering buying a 40 percent stake in the proposed Nhan Co refinery and nearby bauxite mine in southern Vietnam, the statement said.

If the transaction proceeds, Nhan Co will be 51 percent owned by Vietnam National Coal-Mineral Industries Group, or Vinacomin, and the remaining 9 percent will be controlled by other investors, Alcoa said.

Chalco has been conducting a feasibility study to develop Vietnam’s Dak Nong bauxite project with Vietnam National Coal-Mineral Industries.

http://www.monre.gov.vn/monreNet/default.aspx?tabid=256&ItemID=46970

Phuong Hoa.

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

Việt Nam bị cú đòn nặng nề bởi tình trạng suy sụp kinh tế

Posted by hoangtran204 trên 24/05/2009

Việt Nam bị cú đòn nặng nề

bởi tình trạng suy sụp kinh tế

John Boudrreau

Ngày 21-5-2009

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH, Việt Nam – Trên những đường phố ồn ào tiếng còi xe của trung tâm thương mại này, thật khó lòng để cho ta nhìn thấy những gợi ý nói về một cơn suy thoái kinh tế đang diễn ra.

Những nhà hàng cao cấp đang đông nghẹt người, những phụ nữ trẻ tuổi ăn mặc đúng mốt đứng chật kín các cửa hàng thời trang thanh lịch, và người nào dường như cũng đang nói chuyện qua những chiếc điện thoại di động trong khi cưỡi trên xe gắn máy dạo quanh các bùng binh đầy nghẹt những chiếc xe tay ga hiệu Honda và taxi loại xe đa dụng [SUV-sport-utility vehicle]. Thị trường chứng khoán chính của Việt Nam, sau khi sụt giảm 66% vào năm ngoái, đã và đang lướt đi ở một mức cao trong bảy tháng qua, tăng hơn 20% trong năm nay.

Thế nhưng lối tiêu pha đáng ngờ nầy đang che giấu một thực tế rằng sự suy sụp kinh tế toàn cầu đang loang ra khắp Thái Bình Dương và đang làm choáng váng quốc gia Cộng sản ở Đông Nam Á này, Việt Nam đã từng  hăng hái cưỡi trên ngọn sóng toàn cầu hóa dâng cao.

Các hãng sản xuất nhỏ những sản phẩm công nghệ cấp thấp của Đài Loan đã lặng lẽ đóng cửa hoạt động  trong đợt đón Năm mới vừa qua mà không nói cho công nhân của họ  biết.

Thị trường bất động sản từng một thời nóng bỏng này đang chứng kiến giá nhà rớt xuống tới 40% tại một vài nơi. Và nền công nghiệp công nghệ thông tin non trẻ của Việt Nam – đại diện cho sự gia nhập của đất nước này vào vũ đài thế giới – cũng đang bị ảnh hưởng bởi các cuộc thất nghiệp lan rộng và sự nhận ra tình trạng thực tế đáng nghiêm trọng giữa những nhân công trẻ rằng kinh doanh trên phạm vi toàn cầu là nguy hiểm hơn nhiều so với những gì họ đã từng nghĩ.

“Tuổi trung bình của người Việt Nam là 27. Hầu hết người dân khởi đầu sự nghiệp của mình trong vòng bảy năm qua. Bởi vậy, phần lớn những người làm việc trong lĩnh vực công nghệ chỉ có kinh nghiệm trong gian đoạn bùng nổ kinh tế,” theo nhận xét của Jonah Levey, giám đốc điều hành Navigos Group, một hãng chuyên tìm kiếm các nhà quản trị cho doanh nghiệp tại Thành phố Hồ Chí Minh. “Đó là một cú sốc nghiêm trọng”.

Cơn suy thoái, bị châm ngòi bởi sự tan rã của các cơ quan tài chính tại nửa bán cầu phía Tây, đã gây choáng váng cho các công nhân trên khắp Á châu là những người từng được nhìn thấy những khoản thu nhập được gia tăng đáng kể trong những năm gần đây khi các quốc gia này bám theo những vận may của họ với phương Tây bằng cách cung cấp mọi thứ từ những chiếc áo thun cho tới phần mềm máy tính và máy nghe nhạc iPod.

Việt Nam đã bị chậm trễ trước nền kinh tế toàn cầu, đi theo sau sự vươn dậy của những người láng giềng Trung Quốc và Ấn Độ. Thế nhưng VN đã bù đắp lại quãng thời gian đã mất trong những năm gần đây, bằng cách khuyến dụ các nhà đầu tư nước ngoài, hợp tác với các hãng khổng lồ như Intel và các kỹ sư công nghệ người Mỹ gốc Việt từ Thung lũng Silicon (California) để khởi động nền công nghiệp trong lĩnh vực công nghệ thông tin của họ.

Hơn bất cứ điều gì, nền công nghiệp kỹ thuật mới ra ràng của Việt Nam tiêu biểu rõ ràng nhất cho tham vọng của một đất nước muốn tự mình vươn dậy. “Nền công nghiệp công nghệ thông tin đã là một con đường nhanh chóng để mở ra với thế giới,” theo lời Steve Cook, từng là nhà quản trị ở Thung lũng Silicon, giờ là chủ tịch hãng Enclave, một công ty phần mềm đóng tại Đà Nẵng. “Nó là một sự phù hợp hoàn hảo cho Việt Nam, với sự nhấn mạnh nặng nề vào nền giáo dục dựa vào khoa học.”

Năm 2007, tổng sản phẩm quốc nội GDP của Việt Nam đã tăng 8,3% (tăng vào khoảng 5 tỉ đô la) so với năm trước, được châm mồi thêm bởi nhiều tỉ đô la đầu tư nước ngoài và bùng nổ sản xuất công nghiệp. Hãng Intel đã giành một khoản đầu tư 1 tỉ đô la để xây dựng một nhà máy sản xuất chất bán dẫn khổng lồ dọc con Xa lộ Hà Nội ở Thành phố Hồ Chí Minh.

Các công ty khác – như Hewlett-Packard, IBM, Sun Microsystems – đã đổ xô vào mở ra các trung tâm kỹ nghệ trong một đất nước từng bị ngăn cấm giao thương với các doanh nghiệp Hoa Kỳ chỉ mới cách đây vài năm.

Đặc biệt, Việt Nam coi Intel như có tính chất rất quan trọng cho những hy vọng về kinh tế của họ. Các quan chức chính quyền đang hỏi vị giám đốc Thân Trọng Phúc của hãng Intel ở Việt Nam với tâm trạng lo lắng rằng: không biết việc xây dựng nhà máy ở đây, nơi mà rốt cục sẽ cung cấp khoảng 4.000 công ăn việc làm, vẫn còn tiếp tục diễn ra như trong kế hoạch hay không.

“Không có gì thay đổi hết,” ông Phúc trả lời trong một cuộc phỏng vấn, một tia hy vọng giữa tất cả những tin tức xấu.

Nhưng trong các cách khác, sự suy thoái kinh tế toàn cầu đã làm tê liệt và chậm lại giấc mơ của Việt Nam

Công nghiệp xuất khẩu những sản phẩm rẻ tiền của Việt Nam – từ áo quần may mặc cho tới cà phê – đã làm giảm bớt phần nào nổi đau bởi vì nó không bị tổn hại so với những cắt giảm mức tiêu thụ các mặt hàng đắt tiền ở các nước phương Tây giống như các nước khác như Đài Loan đang gánh chịu (Phương Tây cắt giảm tiêu thụ các sản phẩm đắt tiền làm kinh tế Đài Loan chết đứng, buộc Đài Loan phải thay đổi chính sách xích lại gần gủi hơn TQ từ đầu năm cuối năm 2008 cho đến nay và đã làm cho toàn dân Đài Loan biểu tình phản đối chính phủ Mã Anh Cửu bắt tay với Trung Cộng).

Tuy nhiên, mức tăng trưởng GDP của Việt Nam được cho là sẽ rút lại từ 6,2% giữa năm 2007 và 2008 xuống còn 3,3% cho tới cuối năm nay, theo như Quỹ Tiền tệ Quốc tế đánh giá. Các ngành công nghiệp dễ bị ảnh hưởng bởi các thị trường toàn cầu – đặc biệt là công nghệ thong tin – đã cảm nhận được tác động chính của sự suy thoái kinh tế.

Hầu như tất cả các công ty Internet của thành phố này đều phải cắt giảm nhân công, theo blogger Nguyễn Thị Khanh “Chip” Huyen, một nhân vật chuyên quảng bá cho công nghệ ePi, một loại cổng thông tin cho truyền thông đặt tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Trong khi đó, hàng trăm, nếu như không nói là hàng ngàn, các công việc làm trong lĩnh vực phần mềm đã bị mất việc và một số ít công ty phần mềm thậm chí đã phải đóng cửa. Ngành công nghiệp phần mềm doanh thu 600 triệu đô la một năm, từng tăng trưởng khoảng 30% một năm về lợi tức và trực tiếp thuê mướn khoảng 60.000 nhân công, có thể sẽ không nhìn thấy sự tăng trưởng trong năm nay, theo các hiệp hội kỹ thuật trong nước cho biết.

Chỉ ít tháng trước, các kỹ sư như Nguyễn Sơn và Vũ Dương đã được nhiều công ty lung kiếm, rất nhiều lần họ đã nhận được nhiều lời mời đề nghị làm việc. Thế nhưng, cách đây một vài tuần, họ đã nhận được tờ giấy màu hồng (báo tin bị sa thải) cùng một loạt với nhiều người khác bởi công ty CSC  có căn cứ đóng tại Virginia.  (Công ty CSC chuyên nhận hợp đồng từ các công ty khác; và để giảm chi phí, họ đã gởi công việc ấy ra nước ngoài và thuê những người như Sơn và Vũ thực hiện các công việc).

“Chúng tôi đã không nghĩ rằng chúng tôi có tên trong danh sách bị sa thải,” Nguyễn cho biết, anh ta ngồi trong một quán cà phê vào một ngày trong tuần với người bạn cũ cùng làm việc trước đây. “Họ cần cắt giảm chi phí. Họ cần giảm bớt những nhân công có mức lương cao.”

Các kỹ sư này, đều trạc tuổi 30, đã kiếm được khoảng 1.200 đô la* một tháng – một mức lương như ông hoàng ở một đất nước mà nhiều người vẫn còn phải sống với chưa tới một đô la một ngày.

Một số nhân công đã từng tưởng  rằng họ sẽ gắn bó toàn bộ sự nghiệp của họ với công ty, theo lời người kỹ sư bị thất nghiệp Vũ Ngọc Phan. “Một số người đã rất hoảng hốt gần như điên lên khi họ nhận được quyết định nghỉ việc,” anh nói. “Họ gào lên. Họ cảm thấy tức giận. Nhiều cô gái chỉ biết khóc mà thôi.”

Cách đây không lâu, những kỹ sư có tài đó có thể nhận được thêm việc làm ngoài giờ – và hưởng thêm 50% tiền lương cao hơn (lương 10 đô/ 1 giờ trong 8 giờ làm việc chính, sẽ được trả thành 15 đô mỗi giờ kể từ giờ thứ 9), theo chủ tịch Levey của công ty Navigos, người cũng trông nom trang Vietnamworks.com,  một trang tìm kiếm việc làm; Caravat.com, một trang nối mạng cho các doanh nghiệp; và trang Vietnamskills.com, một nơi quãng cáo giới thiệu các chương trình huấn luyện đào tạo.

Các nhà lãnh đạo ngành công nghiệp biết rõ những thời điểm thuận lợi hơn thế nào cũng sẽ quay trở lại. Họ đang quan tâm nhiều hơn về những trở ngại lâu dài đối diện với nền công nghiệp công nghệ thông tin non trẻ, bao gồm việc giáo dục đào tạo công nghệ tốt hơn, theo lời anh Phí Anh Tuấn, phó chủ tịch Hiệp hội Máy tính Thành phố Hồ Chí Minh. Intel, là một ví dụ, đã và đang phàn nàn lớn tiếng về một tình trạng khan hiếm các nhân công thành thạo kỹ thuật  tốt nghiệp đại học.

Thế nhưng cơn suy thoái đã làm cho một số sinh viên đại học đang  suy nghĩ lại về nghề nghiệp của họ.

“Hai hoặc ba năm trước, mọi người đều muốn học công nghệ,” một blogger tên Huyền nhận xét. “Giờ thì họ muốn học cái gì đó thực tế hơn, như là tiếp thị [marketing] hay quan hệ công chúng [public relation] chẳng hạn.”

Nhà kinh doanh từng ở Thung lũng Silicon Thịnh Nguyễn đã nhận thấy các đơn đặt hàng cho công ty Pyramid Software Development của ông ở Thành phố Hồ Chí Minh giảm bớt  30%.

Ông Nguyễn Thịnh tin rằng nếu như ông có thể chỉ cần nhận được một ít dự án nhỏ thôi thì ông cũng sẽ có thể tránh được chuyện phải sa thải công nhân, đây là những người mà gia đình của họ thường phải gom góp tất cả các nguồn tiền bạc để gửi những đứa con của họ vào học một ngành công nghệ và một dự định bước chân vào tầng lớp trung lưu. “Đối với một dự án cần 20-30 người làm, quí vị sẽ nhận được sự chú ý của toàn thể chúng tôi,” ông Thịnh cho biết.

Một số trong những người bị mất việc làm đã biểu lộ thái độ tức giận về những gì mà họ nhìn nhận như là hành động thiếu cẩn thận của Hoa Kỳ. Dầu vậy, hầu hết hiểu rằng đó là cái giá cho việc gắn chặt số phận của nền kinh tế nước họ với số phận của nền kinh tế  của các nước khác trên thế giới.

“Chúng tôi giờ đây đã hội nhập với thế giới,” kỹ sư Phan nói. “Mọi thứ đều lien hệ với nhau.’

Hiệu đính: Trần Hoàng

Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2009

*Ở các nước ngoài, công việc của những người nầy có thể  được trả lương từ 4000-7000 một tháng hoặc hơn nữa (chứ không phải là 1200 đô/1 tháng).

Chỉ cần lợi dụng thời buổi thất nghiệp nầy và học thêm tiếng Anh đàm thoại để vài ba năm sau tự mình nhận được các hợp đồng trực tiếp từ các công ty khác mà không cần phải qua các công ty trung gian như CSC.

Một cách khác nữa là tự quãng cáo về công việc của họ. Cứ 20-30 chục người lập thành một nhóm, có tên doanh nghiệp, có một website, hoặc thậm chí lập một blog (facebook, hay myspace.com…) tự giới thiệu công việc nào mà họ thành thạo nhất, có kinh nghiệm làm việc nhất trong 5-10 năm qua…với CSC

Hoặc cùng nhau thực hiện và hoàn thành một dự án (project) và giới thiệu kết quả của dự án ấy lên websit, nói rõ ứng dụng của dự án ấy vào lãnh vực nào (tài chánh, kế toán, thống kê, game, lãnh vực y tế…

Các sinh viên nước ngoài cũng tự mình làm lấy và quãng cáo về resume của họ trên các website, các blog, và làm sẵn  dự án để phô trương với các công ty.

Năm 2008, khi quốc hội thảo luận đòi cắt giảm người nhập cư vào Hoa Kỳ, đích thân Bill Gate đã phản đối và ông đã ra điều trần tại quốc hội. Bill Gate yêu cầu quốc hội cho phép nhân công ngoại quốc có kỹ thuật cao không bị cắt giảm số lượng mà còn được ưu tiên cấp giấy nhập cảnh loại H1B vào làm việc ở Hoa Kỳ. Nhờ vậy, hãng  Microsoft và các công ty con của họ đã thu nhận được các nhân công nói tiếng Anh thành thạo từ các quốc gia nghèo như Ấn  Độ, Philippines, vào Mỹ làm việc.

Riêng các sinh viên Mỹ thì trong 9 năm qua có khuynh hướng không chọn ngành computer nữa mà lại chọn các ngành  như public relation, tiếp thị, hoặc doanh nghiệp… để thưởng thức cuộc sống. Họ khá sợ hải về vụ sụp đổ của ngành computer từ năm 2000, và sự kiện các hãng, các tập đoàn, ngân hàng, tài chánh, chuyển hướng qua Ấn Độ thuê mướn các nhân công trong ngành công nghệ thông tin thực hiện các công việc cho họ. Nhưng trong khoảng mấy năm gần đây (trước khi có khủng hoảng tài chánh 2008), các sinh viên tốt nghiệp ngành công nghệ thông tin ở Hoa kỳ lại kiếm việc rất dễ dàng và lương cao. Nay, trong gói kích cầu 787 tỉ đô la, có nhiều mục liên quan tới ngành computer, và nhiều lãnh vực khác như ngành y tế đang bị bắt buộc phải dùng hồ sơ điện tử để quản lý bệnh nhân…ngành computer lại thu hút nhân công trở lại.


——————————————————-

Daily News

Vietnam hit hard by downturn

By John Boudreau
Mercury News

Updated: 05/21/2009 03:42:55 PM PDT

HO CHI MINH CITY, Vietnam — It’s hard to see hints of an economic downturn on the horn-blaring streets of this commercial hub.

High-end restaurants are overflowing, fashionably dressed young women fill chic stores, and everyone seems to be talking on cell phones while plowing motorbikes through roundabouts swarming with Honda scooters and SUV taxis. Vietnam’s main stock market, after losing 66 percent last year, has been riding a seven-month high, up more than 20 percent this year.

But the conspicuous consumption masks the reality that the global economic implosion is rippling across the Pacific and jolting this Communist Southeast Asian country, which had enthusiastically ridden the rising tide of globalization. Small Taiwanese manufacturers of low-end tech products silently closed for good during the New Year Tet celebration without telling workers. The once-sizzling real estate market has seen home prices drop by as much as 40 percent in some areas. And Vietnam’s young information technology industry — the embodiment of the country’s entrance on the world stage — is being hit by widespread layoffs and the sober realization among young workers that global business is far riskier than they ever thought.

“The median age in Vietnam is 27. Most people started careers within the last seven years. So most people in the tech industry have only experienced boom times,” said Jonah Levey, chief executive of Navigos Group, an executive search firm in Ho Chi Minh City. “This has been a massive shock.”

The downturn, triggered by the meltdown of financial institutions on the other side of the globe, has stunned workers across Asia who had seen earnings improve dramatically in recent years as countries hitched their fortunes to the West by furnishing everything from T-shirts to software and iPods.

Vietnam was late to the global economy, following the rise of neighbors China and India. But it made up for lost time in recent years, courting foreign investors, corporate giants like Intel and Vietnamese-American technologists from Silicon Valley to jump-start its IT industry.

More than anything, Vietnam’s nascent tech industry best represents the country’s ambitions to lift itself up. “The IT industry has been a fast-track for opening up to the world,” said former Silicon Valley executive Steve Cook, now chairman of Enclave, a Da Nang-based software company. “It’s a perfect fit for Vietnam, with its heavy emphasis on science education.”

In 2007, Vietnam’s GDP increased by 8.3 percent from the previous year, fueled by billions of dollars in foreign investment and booming industrial production. Intel made a $1 billion investment to build a massive semiconductor factory along the Hanoi Highway in Ho Chi Minh City.

Other companies — Hewlett-Packard, IBM, Sun Microsystems — rushed to open up operations in the nation that had been off limits to U.S. businesses until just a few years ago.

Vietnam views Intel in particular as critical to its economic hopes. Government officials nervously ask Intel’s Vietnam country manager Than Trong Phuc if the construction of its plant, which eventually will provide some 4,000 jobs, is still on track.

“Nothing has changed,” he said in an interview, a ray of hope amid all the bad news.

But in many other ways, the global recession has dampened the Vietnam Dream.

Vietnam’s low-end export industry — from clothing to coffee — has blunted some of the pain because it was not as exposed to high-end spending cutbacks in the West as countries such as Taiwan are. Nonetheless, Vietnam’s GDP growth is expected to shrink from 6.2 percent between 2007 and 2008 to 3.3 percent this year over last, according to the International Monetary Fund. Industries exposed to global markets — particularly technology — have felt the brunt of the downturn.

Just about all of the city’s Internet companies have slashed jobs, said blogger Nguyen Thi Khanh “Chip” Huyen, a technology evangelist for ePi Technologies, a media portal based in Ho Chi Minh City. Meanwhile, hundreds, if not thousands, of software positions have been lost and a few software companies have even folded. The $600 million a year software industry, which had been growing at about 30 percent a year in terms of revenue and directly employs about 60,000 people, could see no growth this year, according to local tech associations.

Just a few months ago, engineers like Son Nguyen and Vu Duong were hotly sought after by companies, at times receiving multiple offers. A few weeks ago, though, they were handed pink slips along with scores of others by Virginia-based outsourcer CSC.

“We didn’t think we were on the list,” said Nguyen, who sat in a cafe on a weekday with this fellow former work mate. “They needed to cut costs. They needed to cut some people with high salaries.”

The engineers, both in their 30s, earned about $1,200 a month — a princely salary in a country where many still live on less than a dollar a day.

Some workers assumed they’d stay with their companies their entire careers, said unemployed engineer Vu Ngoc Phan. “Some people are very panicked when they get laid off,” he said. “They scream. They feel angry. A lot of girls just cry.”

It wasn’t long ago that talented engineers could get job offers overnight — and 50 percent pay hikes, said Navigos CEO Levey, who also oversees Vietnamworks.com, a jobs site; Caravat.com, a business networking site; and Vietnamskills.com, a marketplace for training programs.

Industry leaders know better times will return. They are more concerned with longer-term obstacles facing the young IT industry, including better technical education, said Phi Anh Tuan, vice president of the Ho Chi Minh City Computer Association. Intel, for one, has complained loudly about a dearth of technically adept workers coming out of college.

But the slowdown has some college students rethinking careers.

“Two or three years ago, everyone wanted to study technology,” said Huyen, the blogger. “Now, they want to study something more realistic, like marketing or PR.”

Veteran Silicon Valley entrepreneur Thinh Nguyen has seen orders for his Ho Chi Minh City company Pyramid Software Development drop 30 percent. Nguyen believes if he could just pick up a few small projects he’ll be able to avoid layoffs of workers whose families often pooled all their resources to give their children a technology education and a shot at the middle class. “For a 20, 30-person project, you’ll get our full attention,” he said.

Some of those laid off have expressed anger at what they see as reckless behavior on the part of the United States. Most, though, understand it’s the price for tying their country’s economic fate with that of the rest of the world.

“We are now integrated with the world,” engineer Phan said. “Everything is connected.”

Reach John Boudreau at jboudreau@mercurynews.com.


Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

Sihanouk, the Khmer Rouge, and the United Nations in Cambodia

Posted by hoangtran204 trên 22/05/2009

December 2008

Dancing in Shadows: Sihanouk, the Khmer Rouge, and the United Nations in Cambodia

Reviewed by Stephen J. Morris

Posted December 5, 2008

Dancing in Shadows: Sihanouk, the Khmer Rouge, and the united nations in Cambodia
by Benny Widyono

Rowman and Littlefield,356 pages, $29.95

In the sad history of 20th century Cambodia, a bright light of hope for its long suffering people came from the peace plan, adopted by the United Nations Security Council in 1990, and signed by the warring Cambodian parties in Paris in October 1991. That plan authorized the holding of free elections in a “politically neutral environment,” under the supervision of U.N. peacekeepers and a United Nations Temporary Administration in Cambodia. The primary purpose of the Agreement was to end the war between competing Cambodian factions, two of which were rival communist organizations, and two of which were noncommunist. The second purpose of the plan was to give the Cambodian people the chance to determine their own future in a nonviolent way, by creating a culture of tolerance and social pluralism, and a set of liberal democratic political institutions.

It is now clear that while armed conflict eventually ended in 1999, it was not because of the Paris Agreement that had been applied in 1992-93. It is also clear that the will of the Cambodian people, as expressed in the victory of the noncommunists in the elections of 1993, was ignored. The election’s loser—the communist Cambodian People’s Party—bullied its way into retaining real power with threats of massive violence. Prince Norodom Sihanouk and the force-averse U.N. “peacekeepers” caved in to Hun Sen’s demand for an ostensible but in fact bogus “coalition” with the election’s winners. Consequently, Cambodia did not then and does not now have a government freely chosen by its people.

Why this U.N. failure was allowed to happen has never been systematically analyzed in a sober and objective way. However, the appearance of a memoir by Indonesian-born U.N. diplomat Benny Widyono is welcome. Mr. Widyono’s book mostly recalls his personal experiences as the senior UNTAC official in Siem Reap province during the election preparations, campaign and balloting of 1992-93, and as the U.N. secretary general’s personal representative in Cambodia from 1993-97.

For the already well informed and objective scholar, Mr. Widyono’s account has several things to recommend it. He ably describes the profound failings of the UNTAC administration as he witnessed them at the local level. UNTAC was expected, by the terms of the Paris Agreement, to exercise control over the key ministries of the existing administration of Cambodia. But Mr. Widyono shows how hopelessly understaffed UNTAC was for the designated task. It was also ill equipped linguistically, with most of the few Khmer speakers assigned to the Information Division. The UNTAC leadership itself was in disarray at the beginning of the operation. UNTAC was unable to ensure that the CPP-controlled government did not finance the CPP’s political campaign, and UNTAC would not stop partisan violence during the elections.

But while informed scholars can glean many interesting details of the failings of UNTAC from Mr. Widyono’s account, it is defective as an overall objective analysis for either scholars or the broader public.

First, Mr. Widyono clearly has preferences between the various contenders for political power. He exposes the many political and personal flaws in the leader of the royalist funcinpec party, Prince Ranariddh: his vacillation, his weakness and his corruption. The royalist funcinpec party is treated with derision. Most of Mr. Widyono’s charges against the royalists, especially Ranariddh, have long been known to astute observers of Cambodia.

At the same time, Mr. Widyono applies different standards in his treatment of the CPP and its government structure, the State of Cambodia. Though not uncritical of the CPP, the author gives CPP strongman Hun Sen and his regime a fairly gentle evaluation.

For instance, Mr. Widyono ignores evidence of the Hun Sen regime’s direct involvement in drug trafficking, human trafficking and forest defoliation. In a cover story entitled “Medellin on the Mekong?,” which appeared in the REVIEW in 1995, former review and Washington Post journalist Nate Thayer explained the close link between political figures and criminal syndicates in Cambodia. Mr. Widyono quotes the review often, but not for this revealing analysis.

Moreover, he accurately describes the notorious head of the National Police, Hok Lundi, as “one of the most feared men in Cambodia,” but the details are not spelled out. Nowhere in the book does Mr. Widyono hold Lundi (who died in a helicopter crash last month) responsible for the torture and murder of the political opposition, or for his continuing involvement in human trafficking.

Or consider Mr. Widyono’s coverage of the May 1997 grenade attack on a peaceful political rally by opposition leader Sam Rainsy, which killed 19 people and wounded 150. The author suggests that the culprits for this atrocity were not obvious; he tries to muddy the evidential waters by claiming that different parties had been blamed. Yet despite Mr. Widyono’s agnosticism, numerous analyses by journalists since that event have provided compelling evidence that the Hun Sen regime was directly involved in the atrocity. Hun Sen is always portrayed as a tough and wily politician, but not as a ruthless dictator.

At the beginning of the book, Mr. Widyono writes that the whole peace process was flawed because the Khmer Rouge was part of it. But one is compelled to ask how there could have been a peace process without one of the main belligerents? Mr. Widyono’s illogical view was precisely the political position of the Hun Sen regime and its foreign supporters up until the moment it agreed to sign the Paris Peace Agreements. No wonder then that when Mr. Widyono’s time was up as U.N. representative in Cambodia in May 1997, Hun Sen begged the U.N. secretariat to allow him to stay on.

The informed observer could have guessed where Mr. Widyono’s sympathies lay from his choice of Ben Kiernan to write his foreword. Mr. Kiernan was a devoted supporter of Pol Pot’s Khmer Rouge from 1975-77 who subsequently became a propagandist for the Heng Samrin-Hun Sen led faction of Khmer Rouge’s defectors, now known as the CPP.
Unfortunately, what could have been a shorter and less controversial memoir of events, has extended itself unnecessarily into a work of advocacy for the current dictatorship that rules Cambodia. But even as a piece of advocacy it has its value, for it gives us insight into the thinking of some U.N. bureaucrats who performed so poorly. And by exposing his own prejudices in favor of the CPP dictatorship, Mr. Widyono inadvertently illuminates one reason why the 1991 Paris Agreements failed to bring peace or democracy to Cambodia.

Stephen Morris is a senior fellow at Johns Hopkins University’s School of Advanced International Studies in Washington D.C., and author of Why Vietnam Invaded Cambodia (Stanford University Press, 1999)

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

Kinh Tế Việt Nam tháng 5-2009: Thất Nghiệp sẽ Tăng

Posted by hoangtran204 trên 22/05/2009

Những cơn đau do lối phát triển kinh tế

theo lối định hướng XHCN của VN

Far Eastern Economic Review (Tạp chí Kinh Tế Viễn Đông)

Số tháng 5-2009

Long S. Le

Ngày 19-5-2009

Thành tích kinh tế của Việt Nam trong quý 1 năm nay gợi lên rằng những nguy cơ trong ngắn hạn của đất nước này quả thực ở phía bất lợi.

Theo Viện Quản lý Kinh tế Trung ương, một bộ phận nghiên cứu thuộc Bộ Kế hoạch và Đầu tư, mức tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội GDP là 3,1% trong quý 1- nhịp độ chậm nhất trong 10 năm qua. Đây là một sự sút giảm quan trọng kể từ mức 7,3% trong quý 1 năm 2008.

Không may cho Việt Nam, bất lợi đó có thể chỉ là bước khởi đầu. Bởi vì đất nước này đang phụ thuộc hơn vào nền kinh tế toàn cầu so với cách đây 10 năm. Việt Nam cũng dễ bị tổn thương hơn trước cơn suy thoái kinh tế toàn cầu.

Trong những năm qua, xuất khẩu của nước này chiếm tới 70% tổng thu nhập. Tuy nhiên, những thị trường xuất khẩu then chốt của Việt Nam, là Liên hiệp châu Âu, Hoa Kỳ, và Nhật Bản, được dự báo là sẽ có mức tăng trưởng âm 2% trong năm nay – trong trường hợp Nhật Bản là âm 5%. Theo một số tính toán, nhập khẩu cho các thị trường này đang được trông đợi là sẽ giảm xuống 52% và , bởi vậy, các ngành xuất khẩu của Việt Nam sẽ phải chịu cú đòn rất nặng nề.

Vậy nên, tổ chức Economist Intelligence Unit vào giữa tháng Ba đã tiên đoán một kịch bản u ám: mức tăng trưởng GDP của Việt Nam sẽ chỉ là 0,3% trong năm nay, giảm từ mức 6,2% năm 2008 và mức 8,48% năm 2007; sự hồi phục không được trông đợi cho mãi tới giữa năm 2010 khi mức tăng trưởng được cho là sẽ leo lên 2%.

Trái lại, mặc dù Quỹ Tiền tệ Quốc tế IMF và Ngân hàng Thế giới WB mới đây đã hạ thấp mức tăng trưởng của Việt Nam theo tiên đoán lần lượt là 4,7% và 5%, họ tin là việc chính phủ quyết định cắt giảm lãi suất và giảm mức dự trữ bắt buộc như là một hành động đáp ứng tình trạng phát triển quá nóng trong năm ngoái đã đặt nước này vào một vị thế chịu đựng được cơn khủng hoảng.

Chắc chắn là thật khó lòng mà đánh giá thấp nền kinh tế Việt Nam.

Theo một bản báo cáo mới đây của Nielson, nhan đề “Việt Nam – Bùng nổ hay Sụp đổ năm 2009,” giới tiêu thụ hàng hóa người Việt Nam nói chung dường như tự tin hơn so sánh với các quốc gia khác, họ cho rằng tình trạng lạm phát-vật giá gia tăng và nạn thất nghiệp ở VN là hậu quả của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu chứ không phải là do sự ham hố muốn phát triển.

Trong khi đó lượng tiền[trong nước thường gọi là kiều hối] thu được từ 3,5 triệu người Việt Nam định cư ở nước ngoài (lượng tiền nầy trong năm 2007 chiếm tới 10% GDP) chắc chắn là để làm vật đệm cho những bó buộc mang tính văn hóa. Nói cách khác, người Việt Nam ở nước ngoài sẽ giúp đỡ các thành viên trong gia đình ở Việt Nam mà không cần quan tâm đến tình hình kinh tế trong nước. Hơn nữa, người Việt Nam ở nước ngoài với vốn tư bản ngày càng tỏ ra thích hợp hơn để trở thành những nhà đầu tư trong giai đoạn suy thoái nầy, đặc biệt nếu như những quy định mới đang đặt ra để đối xử với tất cả người Việt ở nước ngoài tương tự như nhau (thí dụ: không có sự đối xử khác biệt giữa những người ở phía phương Tây so với những người ở phía Đông Âu).

Bởi vậy có vẻ như là Việt Nam trong thời gian ngắn sẽ tránh được một cuộc khủng hoảng, thế nhưng các nhà lãnh đạo của nước này sẽ nhận thấy rất khó khăn để đạt được mục tiêu của họ là một mức tăng trưởng 5% cho năm 2009.

Nền kinh tế tương đối vững mạnh của Trung Quốc không thể giúp được gì nhiều cho Việt Nam – xuất khẩu của Việt Nam sang Trung Quốc sẽ vẫn còn ít ỏi và thường được sử dụng như là những nguồn nguyên liệu cho các sản phẩm của Trung Quốc để xuất lại sang phương Tây.

Trên thực tế, Bộ Công thương vào cuối tháng Tư đã phải điều chỉnh mục tiêu tăng trưởng xuất khẩu của nước này trong năm 2009 từ 13% xuống còn 3%.

Ấy thế mà những nhà lãnh đạo Việt Nam có vẻ như không chịu thừa nhận những tai ương kinh tế của nước mình. Vào tháng Hai vừa qua, thủ tướng Dũng đã nói rằng nước ông sẽ có khả năng đạt được mức tăng trưởng 6,5% trong năm 2009.

Một tháng sau vị thủ tướng đã phải sửa lại dự báo là từ 5% đến 5,5%. Thế nhưng văn phòng của ông ta vẫn tỏ ra lạc quan rằng vào cuối năm nay lực lượng lao động và thị trường trong nước của Việt Nam “sẽ chắc chắn” thúc đẩy đất nước quay trở lại những mức tăng trưởng kinh tế giống như trước khi xảy ra cuộc khủng hoảng toàn cầu.

Điều này không được trợ giúp bởi thực tế rằng nhịp độ cổ phần hóa của các công ty do nhà nước việt Nam làm chủ đang đảo chiều. Theo Bộ Tài chính, số lượng các công ty quốc doanh chuyển đổi thành cổ phần hóa (hay tư nhân) đã sụt giảm từ 724 năm 2005 xuống còn 640 năm 2006, 150 năm 2007, và 73 năm 2008.

Mặc dù những bằng chứng gợi lên rằng hầu hết các công ty đã và đang được cổ phần hóa đã làm ăn có lời và trả những khoản cổ tức cao sau khi được cổ phần hóa, nhưng nhà nước sẽ vẫn tiếp tục làm chủ các ngành công nghiệp chiến lược vô hạn định. Các ngành công nghiệp
mà nhà nước nắm giữ bao gồm dịch vụ viễn thông, ngân hàng và tài chính, và giáo dục đào tạo để nhằm mục đích bảo vệ trật tự xã hội chủ nghĩa. [1]

Vì thế mà “khi những nhà lãnh đạo ở đây nói là họ muốn một nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa, thì họ thực sự có ý muốn nắm giữ các ngành dịch vụ và công nghiệp nói trên,” theo lời của kinh tế gia Jonathan Pincus.

Vì vậy không có gì ngạc nhiên khi quyền lợi của đảng được nêu bật một cách rõ ràng trong gói kích thích kinh tế của chính phủ. (thí dụ) Trong số tiền 1 tỉ đô la đầu tiên đã được phân phối thì vào khoảng 75% là dành cho các công ty do nhà nước làm chủ [SOE], 20% cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ [SME], và 5% cho các dự án xây nhà cho những người có thu nhập thấp.

Đây là thái độ bất chấp tình trạng kém hiệu quả đã được biết đến của các doanh nghiệp nhà nước, những công ty quốc doanh không tạo ra công ăn việc làm cho đất nước nầy.

Kế hoạch kích thích kinh tế lần thứ hai cũng sẽ mang lại quyền lợi to lớn cho các doanh nghiệp nhà nước và làm chút ít để giải quyết tỉ lệ thất nghiệp. Tỉ lệ thất nghiệp sẽ chắc chắn gia tăng lên gấp đôi từ 4,7% năm 2008 lên 8,2% năm nay (không kể khu vực có lao động không chính thức).

Lời buộc tội rằng: điều gì sẽ giữ VN lại, thì có tính chất chính trị và không phải là không biết cách làm (kinh tế) đã được làm nổi bật lên bởi Chương trình Việt Nam của Đại học Harvard. Lời tuyên án của bản báo cáo nầy đã được công bố vào tháng 1-2008 là dành cho Việt Nam, “sự thành công tùy thuộc vào điều mà mình chọn lựa” *, song trên thực tế bản báo cáo nầy “không khác gì với một huấn luyện viên bóng đá; ông huấn luyện viên ra quân bằng cách đưa vào đội hình những cầu thủ yếu kém nhất trong một trận cầu tranh chức vô địch.”

Việt Nam sẽ tiếp tục nếm trải những cơn đau trong thời kỳ phát triển kinh tế cho tới khi nào mà những điều đó thay đổi [2]. (ý nói là các công ty quốc doanh phải biến mất thành các công ty cổ phần tư nhân).

Dr. Long S. Le là một giáo sư và là giám đốc những sáng kiến quốc tế của Viện nghiên cứu Toàn cầu thuộc Viện Đại học Houston, nơi ông cũng là một nhà đồng sáng lập/người giảng dạy cho các lớp học nghiên cứu về Việt Nam.

Hiệu đính: Trần Hoàng

Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2009


* Tác giả nhắc đến bản báo cáo Lựa Chọn Thành Công đã được công bố lần đầu tiên trên basam.tk từ đầu năm 2008, nhưng nó sẽ có giá trị ít nhứt là tới năm 2020, mời bà con đọc toàn bài ấy ngay trên mục đầu trang nầy.

Lời bình cuả TH

Nếu mức phát triển kinh tế Việt Nam của quí 1 xuống thấp như hiện nay là 3%, và các quí 2, 3, 4 xuống nữa và tính chung toàn năm 2009 là 0,3%, thì chắc chắn tình trạng thất nghiệp của VN sẽ kéo dài cho đến hết giữa năm 2010 (nếu như không muốn nói là cho đến hết năm 2011)

Theo nguồn tin của TTX Vĩa hè, hiện nay nếu các bạn nào có về miền Tây thì sẽ thấy: dân chúng ở đấy khổ hơn rất nhiều. Họ không còn có tiền để mua những món bình thường nữa ngoài việc mua đồ ăn. Nhiều dân nghèo chỉ mua xương cá, gan cá (của các công ty xuất khẩu hải sản) để sống lây lất. Các món nầy trước đây vứt bỏ hoặc mua về xay nhuyễn hoặc bằm cho heo ăn, thì nay thì càng nhiều gia đình mua ăn. Vì thiếu thức ăn, các trẻ em bị suy dinh dưỡng nhiều hơn.

Hôm qua, Ngân hàng dự trữ Liên bang Hoa kỳ báo cáo cho biết: nền kinh tế của Mỹ sẽ giảm bớt đi từ 1,23% -2% chứ không phải là 0.3-1,23% như đã suy đoán vào đầu năm 2009. Và ngân hàng nầy còn cho biết rằng: tình trạng suy thoái kinh tế và khủng hoảng tài chánh tính từ đầu năm 2009 đến nay chỉ là mới bắt đầu. Và bồi thêm một cú chót: từ tháng 5 cho đến cuối năm 2009, tình hình kinh tế và tài chánh của Mỹ sẽ còn xuống thấp nữa. Sau khi tin nầy vừa được đưa lên mạng internet, thì thị trường chứng khoán toàn thế giới sụt giảm (chút ít) ngay.

Nếu Mỹ cứ tiếp tục khủng hoảng tài chánh và suy thoái kinh tế, thì hậu quả mức nhập khẩu hàng hóa của Mỹ sẽ giảm bớt và kéo dài trong thời gian từ đây đến cuối năm và lan ra năm 2010, lúc ấy cả thế giới sẽ ngất ngư; bởi vì Mỹ là quốc gia nhập khẩu tất cả các mặt hàng của thế giới sản suất và bán ra như dầu, đồ phụ tùng xe, các hàng điện tử, hàng may mặc, vải, hải sản, thực phẩm…và vì nền kinh tế của Mỹ chiếm 25% nền kinh tế của toàn cầu. [ GDP của Mỹ là hơn 13 ngàn tỉ so với GDP của toàn cầu là 53 ngàn tỉ Mỹ kim; còn GDP của VN là 70 tỉ)]

[1] Chắc chắn các bạn đọc trang Ba Sàm đã nhận ra Dr. Song Lê của bài báo nầy đã quên đề cập tới loại công nghiệp béo bở khác mà nhà nước VN đang làm chủ đó là các công ty quốc doanh về năng lượngnguyên liệu như dầu hỏa, than và khoáng sản…

Theo báo TT, VNN… thì tiền bán dầu hỏa của VN từ tháng 9-2007 đến tháng 9-2008 là 10 tỉ Mỹ kim. Số tiền nầy đi về đâu thì không một người dân nào trong nước được biết. Trái lại, giá xăng mà người VN mua hàng ngày còn cao hơn 25% giá xăng được bán ra tại các phương tây và Mỹ.

  1. Các quốc gia có mỏ dầu thường bán xăng cho dân chúng của họ với giá rẻ, vì chính phủ của họ cho rằng: tài nguyên xăng dầu của đất nước nếu khai thác được thì phải chia lại cho người dân được hưởng chứ không phải nằm trong tay của chính phủ muốn quyết định làm gì thì làm. V
    ì vậy, ở hơn 20 quốc gia sản suất dầu hỏa, họ bán xăng cho dân chúng xài chỉ bằng ¼ giá bán tại các nước như Mỹ, các nước phương Tây (và Việt Nam). Cụ thể trong thời gian giá xăng cao nhất 1 lít gần bằng 1 đô la tại các nước phương tây và ở Mỹ, thì giá 1 lít xăng ở các nước sản suất dầu hỏa là 25 xu đến 30 xu.

[2] Ý nói là chỉ khi nào mà nhà nước không làm chủ các ngân hàng, tài chánh, giáo dục và đào tạo, dịch vụ viễn thông (internet, bưu điện, truyền hình…) nghĩa là cái đuôi “định hướng chủ nghĩa XH” bị rụng thì lúc ấy mới có sự phát triển kinh tế thật sự.

Tuy vậy trên đời nầy dễ thường làm gì có chuyện tự dưng AI Đó chê tiền nên không muốn làm ĐẦY TỚ nữa. Thực tế là họ đã ngang nhiên coi rằng chức vụ đầy tớ “nên được cha truyền con nối” từ mấy chục năm qua; không phải chỉ ở Trung ương mới xẩy ra, mà chính sách cha truyền con nối là điều quá phổ biến ở các cấp thành phố, tỉnh, huyện, xã.

*Mời các bạn đọc thêm về tình trạng các công ty quốc doanh ở Việt Nam từ 1990-2006 là như thế nào trong link nầy, kể từ trang 16, mục IV. SOEs and Privatization in Vietnam

http://swopec.hhs.se/eijswp/papers/eijswp0228.pdf


May 2009

Vietnam’s Growing Pains

by Long S. Le

Posted May 19, 2009


Vietnam’s economic performance in the first quarter of this year suggests the country’s short-term risks are indeed on the downside. According to the Central Institute for Economic Management, a research arm of the Ministry of Planning and Investment, the GDP growth rate was 3.1% in the first quarter—the slowest pace in at least a decade. This was a significant fall from the 7.4% in the first quarter of 2008. Unfortunately for Vietnam, such downside may be just beginning. Because the country is more dependent on the global economy than 10 years ago, it is also more vulnerable to the global economic downturn.

In past years the country’s exports accounted for up to 70% of its revenue. However, Vietnam’s key export markets, the European Union, the U.S. and Japan, are forecast to have minus 2% growth rates this year—in the case of Japan, minus 5%. By some accounts, imports for these markets are expected to plunge by 52% and, thus, Vietnam’s exports will be hit hard. As such, the Economist Intelligence Unit in mid-March predicted a gloomy scenario: Vietnam’s GDP growth rate will be just 0.3% this year, down from 6.2% in 2008 and 8.48% in 2007; recovery isn’t expected until mid-2010 when the growth rate is expected to climb to 2%.

By contrast, although the IMF and the World Bank have recently downgraded Vietnam’s growth forecast to 4.7% and 5% respectively, they believe the government’s slashing of interest rates and lowering banks’ reserve requirements as a response to last year’s overheating has put the country in a position to weather the crisis. To be sure, it is hard to underestimate Vietnam’s economy. According to a recent Nielson’s report, “Vietnam – Boom or Doom in 2009,” Vietnamese consumers overall appear to be more confident compared to other countries, citing inflation and unemployment are the result of global economic crisis and not greed.

Meanwhile inward remittances (which in 2007 equals 10% of GDP) from the 3.5 million Vietnamese overseas are likely to be buffered by cultural obligations. In other words, overseas Vietnamese will help family members in Vietnam regardless of economic conditions. Furthermore, overseas Vietnamese with capital are more likely to become investors during the slowdown, especially if new laws are in place that treat all overseas Vietnamese the same (i.e., those in the West versus those in Eastern Europe).

Therefore it is likely that Vietnam in the short run will avoid a crisis, but its leaders will find it very difficult to achieve their goal of a 5% economic growth rate for 2009. China’s relatively robust economy may not be of much help to Vietnam—Vietnamese exports to China are still small and often used as inputs for Chinese products shipped to the West. In fact, the Ministry of Industry and Commerce in late April had to adjust the country’s export target growth for 2009 from 13% to 3%.

Still, Vietnamese leaders seem to be in denial over the country’s economic woes. This February the prime minister said the nation would be able to achieve a growth rate of 6.5% for the year. A month later the prime minister had to revise the country’s forecast to 5%-5.5%. But his office remains optimistic that Vietnam’s labor force and domestic markets “will certainly” push the country back to pre-global crisis growth levels by the end of this year.

This is not helped by the fact that Vietnam’s equitization rate is reversing. According to the Ministry of Finance, the number of SOEs equitized decreased from 724 in 2005 to 640 in 2006, 150 in 2007, and 73 in 2008. Even though evidence suggests that most companies that have equitized have made profits and paid high dividends after equitization, the state will hold on to strategic industries indefinitely. This includes telecommunications, banking and financial services, and education and training in order to safeguard the socialist order.

So that “when leaders here say they want a socialist market economy, they really mean it,” says economist Jonathan Pincus. Not surprisingly, party interest is clearly highlighted in the government’s stimulus package. Of the first $1 billion been distribute about 75% are reserved to SOEs, 20% for SMEs, and 5% for housing projects for low-income earners. This is despite the known inefficiency of SOEs, which do not create employment for the country. The second stimulus package underway will also largely benefit SOEs and do little to address unemployment rates, which will likely double from 4.7% in 2008 to 8.2% for this year (not including the informal sector).

The indictment that what will hold back Vietnam is politics and not know-how has been highlighted by a report by Harvard Vietnam Program. The report’s verdict published in January 2008 was that for Vietnam “success is a choice” but in practice it was “no different from a soccer coach who starts his weakest players in the championship match.”

Until that changes Vietnam will continue to experience growing pains.

Long S. Le is a professor and director of international initiatives for Global Studies at the University Houston, where he is also a co-founder/lecturer of Vietnamese studies courses.

Posted in Uncategorized | 2 Comments »

Bauxite và Bùi Minh Quốc

Posted by hoangtran204 trên 21/05/2009

Tôi hoan nghênh một nửa TT Dũng và cực lực phản đối nửa kia !

Bùi Minh Quốc

Một nửa mà tôi hoan nghênh là hình ảnh thủ tướng khi đến thăm đại tướng Võ Nguyên Giáp ngày 07.05.2009 đã nói với đại tướng: “Chính phủ xin tiếp thu ý kiến của đại tướng về dự án bô-xít Tây Nguyên”.

Nửa kia mà tôi cực lực phản đối là hình ảnh thủ tướng trong cuộc tiếp xúc với cử tri Hải Phòng ngày 09.05.2009 lại khẳng định: “đưa ngành công nghiệp khai thác quặng bô-xít trở thành một ngành công nghiệp lớn của đất nước; góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế-xã hội vùng Tây nguyên”, nghĩa là ngược hẳn với ý kiến đại tướng mà 2 ngày trước thủ tướng vừa trịnh trọng tuyên bố tiếp thu.

Ý kiến của đại tướng là rất rõ ràng và dứt khoát, đã nhắc đi nhắc lại nhiều lần: không nên khai thác bô-xít Tây Nguyên. Đây là một ý kiến đúng; đúng với các kết luận khoa học, đúng với chủ trương của Đảng trước đại hội 9, đúng với chủ trương “hạn chế xuất khẩu tài nguyên thô” ghi trong báo cáo chính trị của đại hội 9, và bao trùm lên tất cả là đúng với lòng dân, ý dân, chí dân, bày tỏ bước đầu qua hàng ngàn chữ ký đã được gửi đến Quốc hội, chính phủ, và hàng nghìn người đang tiếp tục ký.

“Tiếp thu” nghĩa là chân thành tiếp nhận nhằm thực hiện theo điều đúng, sửa chữa điều sai.

Thấy hiện ra một tình hình ngược nhau giữa ý kiến của đại tướng Võ Nguyên Giáp – cũng là của đa số đảng viên và nhân dân – với chủ trương của Bộ chính trị.

Chủ trương của Bộ chính trị hiển nhiên là sai, sai từ gốc, rất nghiêm trọng, lại càng trở nên hết sức nghiêm trọng khi hợp tác với Trung Quốc.

Trước đại hội 9, không có chuyện bô-xít, vì, như đại tướng Võ Nguyên Giáp đã nêu rõ, sau khi cân nhắc kỹ ý kiến tư vấn của chính phủ Liên Xô (lúc ấy là bạn chí thiết, luôn là nước giúp đỡ lớn nhất cho Việt Nam và đang rất cần nhôm), ta không chủ trương khai thác bô-xít ở Tây Nguyên.
Tại đại hội 9, chữ “bô-xít” – mà nay đang vang lên nhức nhối hàng ngày hàng giờ trong lòng mỗi người dân Việt – chỉ xuất hiện, có vẻ như thoáng qua, trong báo cáo kinh tế. Còn trong báo cáo chính trị, một văn kiện quan trọng bao trùm, thì ghi rõ “hạn chế xuất khẩu tài nguyên thô”. Các đại biểu đại hội Đảng lần thứ 9 khi biểu quyết thông qua các văn kiện, liệu có mấy người hiểu được ý nghĩa tiềm ẩn của cái chữ “bô-xit” chìm lẫn giữa hàng loạt tên các tài nguyên khác trong báo cáo kinh tế ? Chắc là không có mấy người.Nhưng Bộ chính trị, ít nhất là các ủy viên chủ chốt trong bộ chính trị thì hiểu.Và 6 tháng sau thì cái ý nghĩa tiềm ẩn ấy bắt đầu bộc lộ khi chữ bô-xít xuất hiện trong thông cáo chung Nông Đức Mạnh – Giang Trạch Dân ngày 03 tháng 12.2001.

Tuy hai nước Việt – Trung đã có quan hệ ngoại giao bình thường, nhưng thế lực bành trướng Bắc kinh vẫn không ngừng xúc tiến chiến lược bao vây, xâm lấn, xâm nhập phá hoại nhiều mặt nhằm kiềm chế, khống chế đi tới thôn tính đất nước ta.Trung Quốc đại lục với Đài Loan tuy xung khắc nhau về chính trị nhưng lại đồng hành trong chủ nghĩa bành trướng (gần đây thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh, thiếu tướng Lê Văn Cương, kỹ sư Doãn Mạnh Dũng lại nhấn mạnh và nêu thêm những cảnh báo cập nhật).Bộ chính trị biết rất rõ điều đó, thế thì tại sao tổng bí thư Nông Đức Mạnh lại tự tiện đem một nguồn tài nguyên quốc gia quan trọng trên một địa bàn chiến lược hiểm yếu vào bậc nhất để hợp tác làm ăn với thế lực ấy ? Khi ký thông cáo chung này, tổng bí thư Nông Đức Mạnh đứng trên lập trường chính trị nào ? Lập trường Tổ Quốc trên hết, quyền dân trên hết, hay lập trường ý thức hệ giai cấp là thống soái, bộ chỉnh trị là cơ quan quyền lực trùm lên đất nước, Quốc hội trong thực chất cũng chỉ là cơ quan thừa hành của Bộ chính trị ?

Sau thông cáo chung nêu trên, việc hợp tác với Trung Quốc khai thác bô-xít Tây Nguyên đã được âm thầm xúc tiến theo qui trình lộn ngược một cách khuất tất, đến khi lộ ra thì mọi người mới giật mình trước tình trạng mà đại biểu quốc hội Dương Trung Quốc gọi là “việc đã rồi”.Xin mời đọc lại những dòng tâm huyết gửi Bộ chính trị của thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh, nguyên đại sứ nước ta tại Trung Quốc từ năm 1974 đến năm 1989: “… mãi đến gần đây được đọc thư của Đại tướng Võ Nguyên Giáp và hàng trăm ý kiến không đồng tình của các nhà khoa học, cán bộ và người dân ở khắp Bắc – Trung – Nam, tôi mới biết ta đồng ý cho Trung Quốc khai thác bauxit ở Tây Nguyên. Nguy hiểm quá !”.

Tôi (BMQ) xin nhắc lại: “Nguy hiểm quá!”

Chủ thể gây ra tình hình nguy hiểm ấy là ai ? Là Bộ chính trị.

Cùng với tiếng than sửng sốt của vị tướng lão thành cách mạng 70 tuổi đảng là tiếng cảnh báo gay gắt khẩn thiết của nhiều nhà khoa học, nhà văn hóa, nhà quân sự : đây là thảm họa hủy diệt môi trường thiên nhiên và văn hóa, gây xáo động xã hội, là tạo chỗ đứng chân cho thế lực bành trướng tại mái nhà Việt Nam và Đông Dương.

Theo tôi, Bộ chính trị đã phạm mấy sai lầm hết sức nghiêm trọng như sau :

– Làm ngược lại chủ trương của Đảng trước đại hội 9 và trái với báo cáo chính trị của đại hội 9.
– Xa rời lập trường dân tộc, làm hại cho đất nước, làm lợi cho thế lực bành trướng, vi phạm Hiến pháp, luật pháp, tự cho mình vượt quyền cơ quan quyền lực cao nhất là quốc hội để đem tài nguyên quốc gia đi hợp tác với một đối tượng đang chiếm đóng một phần lãnh thổ nước ta.
– Không chấp hành chủ trương dân biết dân bàn của Đảng, đặt toàn Đảng toàn dân trước một việc đã rồi, giấu diếm nhân dân để làm việc sai trái.

Các việc làm sai trái nêu trên không diễn ra đơn lẻ, tình cờ, mà diễn ra một cách có hệ thống liên quan chặt chẽ với các việc sai trái khác như :

– Dung túng cho tổng cục 2 tiến hành hoạt động phá hoại có hệ thống kéo dài
– Phá hội trường Ba Đình, một di tích lịch sử liên quan đến chủ tịch Hồ Chí Minh và nhiều sự kiện trọng đại của Đảng và Nhà nước (tôi chắc rằng cái ngày mà mảng tường đầu tiên của hội trường Ba Đình vỡ toang dưới những nhát búa choòng trong tay các công nhân Việt Nam thì mấy ông trùm bành trướng ở Bắc kinh rung đùi nâng cốc bảo nhau : Hảo lớ ! Việt Nam lại vừa được ban cho một bài học nữa, nhưng lần này do chính Hà Nội thực hiện tại Ba Đình lịch sử !).
– Mở rộng Hà Nội một cách vô căn cứ.
– Đàn áp những người biểu tình chống giặc bành trướng xâm chiếm Hoàng Sa Trường Sa.Trong lịch sử dân tộc ta, lần đầu tiên có một triều đại tự nhận là yêu nước lại đàn áp người dân xuống đường bày tỏ lòng yêu nước !
– Cấm đoán việc tái bản và xuất bản các công trình nghiên cứu, các tác phẩm văn học nghệ thuật về đề tài chủ nghĩa bành trướng Trung Quốc, về cải cách ruộng đất và chỉnh đốn tổ chức, về cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam và giúp nước bạn Cam-pu-chia thoát họa diệt chủng, về cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc, về cuộc chiến chống bành trướng Trung Quốc trên biển Đông…, trong khi đó thì vừa dung túng cho nhà xuất bản Văn Học in trên bìa 4 cuốn “Ma chiến hữu” những lời ca tụng cuộc chiến tranh Trung Quốc xâm lấn nước ta năm 1979 lại vừa đàn áp nhà xuất bản Đà Nẵng, báo Du lịch vì 2 cơ quan này đã mạnh dạn đề cập đến các đề tài nêu trên, đồng thời suốt nhiều năm dài kể cả trong dịp kỷ niệm 30 năm (1979 – 2009) lại không tổ chức tưởng niệm xứng đáng các liệt sĩ đã hy sinh tại các mặt trận ấy.Tất cả những việc làm đó gây hậu quả rõ rệt là làm suy yếu tinh thần chiến đấu của quân đội ta, nhân dân ta, suy yếu nội lực dân tộc.

Bảo rằng khai thác bô-xít Tây Nguyên là chủ trương lớn của Đảng, vậy mục tiêu dân chủ ghi trong di chúc của chủ tịch Hồ Chí Minh và trong cương lĩnh chính trị từ đại hội Đảng lần thứ 9 không phải là chủ trương lớn ư ? Nhìn thẳng vào sự thật, nói đúng nói rõ sự thật, dân biết dân bàn công khai, đó không là chủ trương lớn ư ? Bộ chính trị hầu như không làm gì để thực hiện mà lại luôn hoạt động chống lại các chủ trương lớn ấy, trong khi ngấm ngầm và hối hả lao vào xúc tiến “chủ trương lớn” khai thác bô-xít Tây Nguyên bất chấp bao nhiêu cảnh báo và phản đối.

Còn nhiều vấn đề nghiêm trọng khác nữa, tôi chỉ nêu một số việc nổi cộm nhất.

Tóm lại, theo nhận xét của riêng tôi, các việc làm của Bộ chính trị mà tôi vừa kể chính là hành vi nội xâm, là hành động Lê Chiêu Thống hiện đại núp sau thẻ đỏ ngồi giữa nhà đỏ. Bộ chính trị cần “tự xem lại mình” (cụm từ của ủy viên Bộ chính trị Nguyễn Minh Triết) xem có đúng thế không ? Tôi thấy sự thật đúng là như thế, một sự thật đau lòng chưa từng có trong cuộc đời tôi, mà chắc chắn là cả trong cuộc đời đại đa số đảng viên và toàn thể những người dân Việt đã một lòng theo Đảng.

Trong Bộ chính trị có bao nhiêu phần trăm biểu quyết tán thành các quyết định sai lầm nêu trên ? Bao nhiêu phần trăm không tán thành ? Tôi chưa biết.Nhưng bây giờ thì thấy ít nhất có một nửa thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng biểu thị thái độ muốn nhích chân tách khỏi trách nhiệm về các quyết định sai lầm đó để đến đứng gần hơn với đại tướng Võ Nguyên Giáp, với nhân dân.Nhiều anh em bảo tôi, cái nửa này là giả, cái nửa hiện ra ở Hải Phòng mới là thật, nhưng tôi cứ tạm tin lời phát biểu của thủ tướng với đại tướng Võ Nguyên Giáp hôm 07.05.2009 là thật lòng, vì thủ tướng từng tuyên bố rất hùng hồn: “Tôi ghét nhất sự dối trá” .

Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết, tác giả của lời phát biểu gây được nhiều chú ý/thiện cảm “tôi thấy cần phải tự xem lại mình” bây giờ đang nghĩ gì? Ông thuộc vào cái phần trăm đa số hay phần trăm thiểu số trong Bộ chính trị?

Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng thì tỏ rõ một thái độ công chức chỉn chu và lạnh lùng: “Không phải bất kỳ vấn đề nào cũng đưa ra lấy ý kiến của Quốc hội mà còn tùy thuộc vào quy mô, tầm cỡ của các dự án. Trong khi đó, quy mô mỗi dự án bô-xít Tân Rai và Nhân Cơ mới chỉ là hơn 600 triệu đôla”. Người đứng đầu cơ quan đại diện cho dân được Hiến pháp qui định là cơ quan quyền lực tối cao lại dửng dưng đứng ngoài mối bức xúc nóng bỏng của nhân dân về an ninh quốc phòng mà ông thừa biết đã được nói giùm qua bức thư của lão thành cách mạng Nguyễn Trọng Vĩnh: “Chúng ta đều biết Trung Quốc xây dựng căn cứ hải quân hùng mạnh ở Tam Á đảo Hải Nam, nói thẳng ra là không phải để chống kẻ thù xâm lược nào, mà là đe doạ Việt Nam và sẵn sàng chờ thời cơ thôn tính nốt Trường Sa của chúng ta, sau khi đã nhanh tay chiếm Hoàng Sa từ tay Chính quyền Sài Gòn. Nay lại để Trung Quốc khai thác bauxit ở Tây Nguyên thì sẽ có năm, bảy nghìn hoặc một vạn công nhân hay quân nhân Trung Quốc đến cư trú và hoạt động tại đây, sẽ hình thành một “thị trấn Trung Hoa”, một “căn cứ quân sự” trên địa bàn chiến lược vô cùng xung yếu của chúng ta (vũ khí đưa vào thì không khó gì). Phía Bắc nước ta, trên biển có căn cứ hải quân hùng mạnh, phía Tây Nam nước ta có căn cứ lục quân trang bị đầy đủ thì độc lập, chủ quyền mà chúng ta đã phải đổi bằng hàng triệu sinh mạng cùng xương máu sẽ như thế nào?!”

Còn bộ trưởng Bộ quốc phòng Phùng Quang Thanh ?

Không biết giờ đây đại tướng bộ trưởng Bộ quốc phòng Phùng Quang Thanh nghĩ gi ? Liệu trong ông còn đập trái tim của người lính Việt Nam ? Trước tình hình nguy hiểm này, ông có thấy cần phải gọi hồn các đồng đội đã bỏ mình ở biên giới Tây Nam, ở Cam-pu-chia, ở biên giới phía Bắc, trên biển Đông, hãy bật mồ đứng dậy hỏi thẳng Bộ chính trị : tại sao mấy chục năm qua lại cấm không cho sách báo nhắc gì đến họ ? Ông ăn nói thế nào đây với các gia đình liệt sĩ, gia đình quân nhân, với các chiến sĩ, sĩ quan đang ngày đêm phơi mình sương gió giữ từng tấc đất tấc biển khi Bộ chính trị âm thầm để cho những binh đội trá hình của Trung Quốc luồn vào cắm ở Tây Nguyên ? Những người lính lấy đâu tinh thần để xông lên diệt giặc khi họ biết rằng nếu họ bỏ mình vì Tổ Quốc thì những người lãnh đạo tối cao cũng sẽ không cho nhắc nhở gì tới sự hy sinh của họ ? Họ làm sao còn đủ ý chí cầm nổi khẩu súng nhằm về phía giặc khi nhận ra thực chất họ đang phải sống thân phận của người canh giữ túi vàng két bạc cho những kẻ đứng trên đầu họ ngoài miệng luôn cao giọng hô to Tổ Quốc nhưng bàn tay ngấm ngầm đưa giặc vào ngự trên sống lưng Tổ Quốc ?

Tóm lại, Bộ chính trị đang tự đặt mình vào vị trí để nhân dân xem xét về tư cách yêu nước. Và Bộ chính trị đang đẩy toàn thể đảng viên vào tình thế nếu giữ tư cách đảng viên thì mất tư cách yêu nước.

Nay mai khi đưa ra thảo luận ở Quốc hội, nếu các đại biểu là đảng viên làm theo chỉ thị của Bộ chính trị phải biểu quyết cho thực hiện dự án khai thác bô-xít Tây Nguyên (như đã từng làm với vụ phá hội trường Ba Đình và vụ mở rộng Hà Nội) thì nhân dân sẽ coi các đại biểu đó không còn tư cách yêu nước, không còn tư cách đại diện cho dân mà chỉ là cánh tay nối dài của Bộ chính trị.
Lão thành cách mạng Nguyễn Trọng Vĩnh nghiêm khắc cảnh tỉnh:

“Đành rằng các đồng chí có quyền, muốn làm gì cũng được, quyết định thế nào cũng được, nhưng cũng nên quan tâm dư luận, lắng nghe những lời phân tích lợi, hại, phải, trái mà suy nghĩ cân nhắc. Từ xưa đến nay, ở triều đại nào cũng vậy, chủ trương, chính sách ích quốc, lợi dân thì được dân ủng hộ, chủ trương chính sách sai trái tổn quốc, hại dân thì dân oán. Dân oán, mất lòng tin thì khó yên ổn và thịnh vượng được. “Quan nhất thời, dân vạn đại”, “vua cũng nhất thời, dân vạn đại”.

Lâu nay Bộ chính trị luôn hành xử theo cung cách “lẽ phải thuộc về kẻ mạnh” thâu tóm quyền lực độc tôn vào tay mình, lấy quyền lực thay cho lẽ phải, coi thường ý kiến của các lão thành, của giới trí thức và nhân dân, coi thường sức mạnh của lẽ phải.

Nhưng nhân dân và đại đa số đảng viên tuy không còn tin ở Bộ chính trị nữa song không bao giờ mất niềm tin ở sức mạnh của lẽ phải, một sức mạnh muôn đời, muôn nơi, muôn người và nhất định sẽ chiến thắng bạo quyền.Ngay giữa lòng Bộ chính trị, nơi chóp đỉnh bộ máy quyền lực luôn ở thế độc tôn không có sự giám sát độc lập, không có cơ chế hãm, khiến con người từng ngày từng giờ bị cuốn theo mê lộ của những tham vọng vị kỷ, thì hạt mầm sức mạnh của lẽ phải vẫn luôn tồn tại, dù rất nhỏ nhoi và chỉ mới thoáng hiện ở một nửa con người thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng trong buổi đến thăm đại tướng Võ Nguyên Giáp nhân dịp kỷ niệm 55 năm chiến thắng Điện Biên Phủ.Và tôi tin rằng không chỉ có một nửa con người thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và dẫu một nửa này chưa phải là sự thành tâm thì ít ra cũng là một sự thức thời.

Thức thời để nhận thấy rằng đã xuất hiện ngay trong Đảng một đòi hỏi phải tách Đảng ra làm hai, đại đa số đảng viên tử tế tất yếu sẽ tiến tới một sự lựa chọn xé rào mới bằng bản lĩnh và phương pháp Kim Ngọc và Võ Văn Kiệt, dứt khoát không tiếp tục cam chịu làm con rối, làm bình phong cho trò xiếc về tổ chức mà nguyên phó ban tổ chức trung ương Nguyễn Đình Hương đã thẳng thắn vạch rõ là thủ đoạn sắp đặt nhân sự trong tay một nhóm người.Cái con người tách đôi của thủ thướng Nguyễn Tấn Dũng chính là biểu hiện cái sự thật đau đớn và ghê tởm kinh niên không còn che giấu được nữa : trong lòng một đảng cầm quyền cùng chung danh xưng từ lâu đã chứa đựng hai đảng đối nghịch nhau về tiêu chí chính trị, về lẽ sống, lối sống, mức sống.

Tách Đảng ra làm hai chính là đáp ứng một yêu cầu cả khách quan lẫn chủ quan không gì cưỡng nổi, như thế vừa dễ xử cho mọi đảng viên vừa là thức thời trước sức ép của qui luật : một đảng của số ít các quan chức hoạt động để giữ ghế, một đảng của số đông các đảng viên tử tế nguyện dâng trọn đời vì dân vì nước, quyết giữ trọn tư cách yêu nước, tư cách người chiến sĩ cách mạng chiến đấu vì độc lập dân tộc và vì quyền tự do của mỗi con người.Hai đảng thi đua nhau, cạnh tranh nhau làm đầy tớ thật sự của nhân dân, dân thấy đảng nào đúng là đầy tớ thật của mình thì dân chọn và tự nguyện đóng góp gạo mắm để nuôi.Vậy thôi, đơn giản và rõ ràng vậy thôi, cần chi lý lẽ vòng vo tam quốc về chỉnh đốn với xây dựng, về phê với tự phê lặp đi lặp lại đến phát nhàm.

Đà lạt 17.05.2009

——-

Hồ Gươm

Chào các bác,

Đọc phần cuối bài này của bác Bùi Minh Quốc em lại nhớ tới câu hỏi của em đang đặt ra cho cụ Nguyễn Minh Cần bên X-cafe về “cuộc vận động” hiện nay để đảng Ta chia ra làm hai.

Đây là một đề nghị em thấy mới xuất hiện bắt đầu từ bài viết của cụ Trần Lâm, sau đó em lại thấy trong bài viết của bác Đào Hiếu:

http://www.talawas.org/?p=4594

Và bây giờ là trong bài viết của bác Bùi Minh Quốc ở Dân Luận.

Các bác có bình luận gì về hiện tượng này???

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

Hợp Đồng Bauxite đã ký kết từ 14-7-2008

Posted by hoangtran204 trên 21/05/2009

Đăng bởi hoangtran204 on 21/05/2009

Bộ Tài Nguyên và Môi Trường

Trung Quốc đã ký một hợp

đồng trị giá 460 triệu đô la

ở Việt Nam vào ngày 14-7-2008

xây dựng xí nghiệp khai thác bauxite

ở Nhân cơ


Phuong Hoa

(16:47 – 17/07/2008)

Vinacomin, hãng sản suất Than lớn nhất ở Viêt Nam, đã ký một hợp đồng với một công ty Trung Quốc để xây dựng một xí nghiệp sản suất Alumina trị giá 460 triệu đô la ở Cao Nguyên Trung Phần (Tây Nguyên), theo một thông báo của chính quyền Hà Nội.

Vào hôm chủ Nhật, Vinacomin đã ký một hợp đồng* với nhà thầu xây dựng Chalieco (China Aluminum International Engineering Company). Công ty Chalieco là một chi nhánh của Tập đoàn Chalco.

Theo hợp đồng nầy, Chalieco sẽ xây dựng một hãng sản suất Alumina trong thời hạn 2 năm, một lời loan báo đã được đưa ra vào tuần nầy cho biết thế.

Hãng alumina nầy, được dự tính làm ra 600.000 tấn alumina một năm, là một phần của khu công nghiệp liên hợp các nhà máy nhôm và bauxite ở cao nguyên Trung phần tỉnh Lâm Đồng, cách tp HCM 300 km về hướng Đông Bắc.

Vào năm 2006, Việt Nam đã bắt đầu xây dựng khu công nghiêp liên hợp Alumina và bauxite đầu tiên ở Tân Rai, nhưng vì thiếu tiền và thiếu điện đã buộc các nhà xây dựng hãng nầy ở Tân Rai không sản suất Nhôm trong khu công nghiệp liên hợp.

Công ty Chalieco là một chi nhánh của Tập đoàn Chalco, tập đoàn kim loại- không- chứa- chất- sắt lớn nhất của Trung Quốc.

Chalieco đã ký một đơn đặt hàng với tập đoàn Marubeni của Nhật, theo hợp đồng ấy hãng Nhật sẽ hổ trợ và cố vấn về các đề tài luật pháp và đại diện quyền sở hữu (cho hãng Chalieco) cho dự án nầy, sẽ hoàn tất vào năm 2010, Marubeni đã cho biết trong một thông báo hôm thứ Ba.

Vinacomin sẽ bắt đầu các cuộc thương lượng khác vào quý 4 (năm 2008) cho một hợp đồng khác để xây dựng một hãng sản suất Alumina tương tự như khu công nghiệp liên hợp ở tỉnh Lâm Đồng, hãng ở Nhân Cơ cũng sản suất 600.000 tấn Alumina một năm. Tổng Giám Đốc Vinacomin là ông Đoàn văn Kiểm đã được trích dẫn trong một văn bản của chính quyền cũng nói như vậy.

Mỏ bauxite của Việt Nam được đánh giá khoảng 5,6 tỉ đến 8.3 tỉ tấn, đứng hang thứ 3 của thế giới sau hai nước Guinea và Úc.

Bauxite là nguyên liệu được dùng cho việc sản suất alumina (oxit nhôm), một loại bột màu trắng dùng để sản suất nhôm.

Việt Nam đang cho biết là cần có 15,6 tỉ đô la để đầu tư vào các dự án tinh luyện alumina và bauxite từ đây cho đến năm 2025, để sử dụng nguồn tài nguyên quặng bô xít lộ thiên rất to lớn ở vành đai trồng cây café vùng Cao Nguyên Trung Phần.

Vào tháng 5, 2008, chính quyền Việt Nam đã cho biết họ sẽ chấp thuận cho công ty Alcoa của Mỹ làm chủ 40% một dự án tinh luyện alumina chính ở Cao Nguyên Trung Phần thuộc tỉnh Đắc Nông.

Nhôm, được dùng trong máy bay, vỏ nước ngọt, đã vượt kỷ lục vào tuần trước sau khi các công ty nấu nhôm của Trung Quốc, đứng hàng đầu thế giới, đã đồng ý cắt giảm mức sản suất vào khoảng 10% vào tháng 9-2008.

Tình trạng thiếu điện năng từ Trung Quốc cho tới Nam Phi đã và đang làm gia tăng những quan ngại rằng các hàng hóa tồn kho có thể bị giảm bớt đi khi các giá cả sản suất gia tăng. Hai tấn alumina làm ra một tấn nhôm.

Kế Hoạch của Công Ty Alcoa của Mỹ.

Công ty Alcoa, nhà sản suất nhôm đứng thứ 3 trên thế giới, có thế mua một phần trong một hãng luyện alumina 600.000 tấn ở Việt Nam, thông qua một hợp doanh với công ty Alumina, công ty Alcoa đã cho biết như thế trong một thông báo ngày 24-6-2008.

Thông báo nầy cũng nói rằng: hãng Alcoa World Alumina and Chemicals, do công ty Alcoa làm chủ 60%, đang xem xét việc mua một cổ phần trị giá 40% của hãng ở Nhân Cơ và một mỏ bauxite gần đó ở miền Nam Việt Nam.

Thông báo nầy còn cho biết nếu cuộc mua bán được tiến hành, hãng Than và khoáng Sản VN hay Vinacomin sẽ làm chủ 51%, và 9% còn lại sẽ do các nhà đầu tư khác mua.

Chalco đã và đang tiến hành cuộc nghiên cứu tính khả thi của mỏ để phát triển dự án bauxite ở Đắc Nông với tập đoàn Than và Khoáng Sản Việt Nam.

Người dịch Trần Hoàng

Bản Tiếng Việt © Ba Sam

*EPC = đây là một loại hợp đồng có nghĩa rất rộng và bao gồm nhiều nghĩa. Than và Khoáng Sản Việt Nam đã ký hợp đồng với công ty Chalieco của Trung Quốc theo kiểu EPC.

Công ty Chalieco là công ty chuyên môn hóa việc thi hành những dự án lớn, làm từ các giai đoạn đầu, qua đến xây dựng hãng xưởng, và chạy thử vận hành máy móc vào thời gian đầu. Chalieco cũng cung cấp các vấn đề kỹ thuật cho các công ty điều hành hãng và bảo hành máy móc.

  1. Công ty Chalieco sẽ làm công tác điều tra mỏ từ đầu cho đến cuối công đoạn, xây dựng lắp đặt nhà máy, hãng xưởng, cho đến khi hoàn tất dự án, sản suất ra mẻ sản phẩm đầu tiên, và cung cấp bảo hành. Công ty Chalieco sẽ chịu trách nhiệm điều tra trử lượng quặng Bauxite, tính khả thi và sinh lợi của mỏ. Xây dựng hãng alumina, chạy thử các máy móc, sản suất ra alumina trong thời gian đầu và giao lại cho một c
    ng ty (chủ) khác chính thức điều hành (có thể là Than và Khoáng Sản VN).

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

Những gì thực sự đã xảy ra ở Thiên An Môn

Posted by hoangtran204 trên 18/05/2009

Những gì thực sự đã

xảy ra ở Thiên An Môn

Một cuộc đấu đá trong nội bộ ban lãnh đạo Đảng Cộng sản đã dẫn tới cuộc đổ máu.

THE WALL STREET JOURNAL

Bao Du

Ngày 15-5-2009

Hai mươi năm sau khi những đơn vị quân đội đè bẹp những người biểu tình trên Quảng trường Thiên An Môn, tia sáng mới giờ đây đã rọi vào biến cố nầy bởi hồi ký sắp được công bố của Triệu Tử Dương. Vị cựu thủ Tướng và tổng bí thư nầy đã mất vào năm 2005, sau khi bị cưỡng bức sống cách biệt và không được liên hệ về mặt xã hội với bất cứ ai khác trong 16 năm vì lý do bênh vực phong trào dân chủ.

Trong những năm sống cách biệt với xã hội, ông đã xoay xở để ghi âm lại lời chứng vào những cuộn băng. Hồi ký của ông đã tiết lộ rằng cuộc đổ máu có thể tránh cho khỏi xẩy ra vào năm 1989.

Những cải cách kinh tế của Trung Quốc vào những năm 1980 đã dẫn đến một sự rạn nứt trong ban lãnh đạo cao nhất của Trung Quốc giữa những người ủng hộ cải cách và những người chống đối lại.

Các sinh viên biểu tình trên Quảng trường Thiên An Môn đã yêu cầu có cuộc cải cách sâu rộng hơn, trong đó có chế độ dân chủ. Lãnh đạo tối cao Đặng Tiểu Bình, Thủ tướng Lý Bằng và những phần tử bảo thủ khác đã chống lại các sinh viên và đồng lòng đưa ra hành động đối phó một cách tàn khốc.

Tổng Bí Thư Triệu Tử Dương đã nhìn những cuộc biểu tình của sinh viên theo một cách khác. Ông đã viết “Tôi cảm thấy rằng nếu như các cuộc biểu tình của sinh viên có thể được giải quyếtdân chủ và theo luật pháp, thông qua việc đối thoại và làm nhẹ bớt những mối căng thẳng, thì có lẽ đã có thể thúc đẩy được cuộc cải cách của Trung Quốc, bao gồm cải cách chính trị.”

Thời điểm chuyển hướng đầy bi kịch hướng tới bạo lực đã xảy đến khi ông Lý trực tiếp hành động để cho công bố những lời nhận xét gay gắt của ông Đặng về những người biểu tình trên một bài xã luận của tờ Nhân dân Nhật báo ra ngày 26 tháng 4, 1989. Khi ấy ông Triệu Tử Dương lần đầu tiên nghe được những lời nhận xét của ông Đặng Tiểu Bình trong lúc ông đang có chuyến viếng thăm cấp nhà nước tới Bắc Triều Tiên, ông đã viết, “Ý nghĩ đầu tiên của tôi là một cuộc chiến khác chống lại chủ nghĩa tự do có thể đã bắt đầu.”

Thế nhưng trước sự ngạc nhiên của chính quyền, các sinh viên đã tỏ tức giận điên lên và cảm giác bị xỉ nhục bởi những lời phỉ báng về các hoạt động của họ và sinh viên đã đáp ứng lại bằng những cuộc biểu tình ngày 27 tháng 4, đó là cuộc biểu tình tự phát lớn nhất từ trước tới nay của sinh viên trong lịch sử Trung Hoa hiện đại. Vào thời điểm đó ông Triệu đã quan sát thấy rằng “ngay cả biểu tượng của nhà lãnh đạo tối cao cũng đã mất đi sự hiệu lực của nó.”

Ván bài giờ đây đã được đẩy lên cao. Thủ tướng Lý Bằng và các đồng minh của ông ta không chỉ đánh bạc với nghị trình chính trị của họ mà còn với cả sự nghiệp của họ nữa. Ông Triệu nói: “Họ đã cực kỳ lo ngại rằng bài xã luận ngày 26 tháng Tư có thể bị lật ngược tình thế … Yan Mingfu [giám đốc Ban Liên lạc] đã báo cáo với tôi rằng ông Lý Bằng đã nói với anh ta là nếu như, vào lúc tôi trở về [từ Bắc Triều Tiên], mà tôi không ủng hộ bài xã luận ngày 26 tháng Tư của Đặng Tiểu Bình, thì ông Lý sẽ không có lựa chọn nào khác ngoài việc từ chức .”

Ước muốn vây bè kéo cánh của Lý Bằng nhằm tránh bị đổ lỗi cho việc gây ra sự tức giận của sinh viên hóa ra lại trở thành vật chướng ngại quan trọng nhất cho một cách giải quyết êm thấm. Họ đã chống lại việc đối thoại với các sinh viên, “mà chỉ đưa ra lời nói không thành thật, theo cách tương tự y như họ vẫn thường giải quyết với các phóng viên nước ngoài tại cuộc họp báo, phô bày một hình ảnh làm lợi cho riêng họ về mặt chính trị.” Hiển nhiên các sinh viên cảm thấy rằng chính phủ không thành thực với ước muốn giả vờ của họ để lắng nghe những lời than phiền của sinh viên.

Ông Triệu Tử Dương đã phải tìm kiếm giải pháp khác. Ngày 4 tháng 5, 1989, ông đã đọc một bài phát biểu có tính chất hòa giải hơn tại cuộc họp hàng năm của Ngân hàng Phát triển Á châu ở Bắc Kinh. Ông đã nhấn mạnh đến việc giải quyết xung đột theo những nguyên tắc “dân chủ và luật pháp” và đã tập trung vào xoa dịu những căng thẳng. Ông đề nghị những giải pháp tiếp theo để đương đầu với tình trạng tham nhũng và chấp thuận sự kiểm soát chính phủ công khai hơn, ví dụ như lập một uỷ ban chống tham nhũng “với quyền hành thực sự”.

Các đối thủ (trong đảng) của ông đã không bị thuyết phục. Kế hoạch nầy đòi hỏi phải được sự hậu thuẫn chính trị có tính chất quyết định. Hy vọng duy nhất còn lại là thuyết phục ông Đặng Tiểu Bình. Ông Triệu Tử Dương kể, “Vào thời điểm đó tôi đã hy vọng rằng ông Đặng có thể chỉ cần nới lỏng mọi chuyện một chút xíu thôi, ví dụ như, bằng cách nói cái gì đó như là ‘Dường như rằng khi Thủ tướng Lý Bằng đưa cho tôi bản báo cáo ngày 25 tháng Tư, chúng ta đã phản ứng quá mạnh trước tình thế đó. Giờ đây thì có vẻ rằng các cuộc biểu tình của sinh viên không còn là một vấn nạn quá lớn để mà không vượt qua được.’ Với hành động nào đó tương tự như vậy để làm việc, tôi có thể xoay chuyển được tình hình mà thậm chí không cần phải đặt ra bất cứ trách nhiệm nào lên ông Đặng.

“Thế nhưng điều này sẽ đòi hỏi ông Đặng rút lại những phát biểu của riêng ông ta. Ông Đặng đã không chịu nắm lấy ưu thế. Bị kích động bởi niềm đam mê và hiển nhiên là đ
i với những cuộc đấu đá mờ ám trong nội bộ Đảng, các sinh viên đã phát động một cuộc biểu tình tuyệt thực vào ngày 13 tháng Năm, và các phản ứng lan rộng từ mọi tầng lớp xã hội đã nổ ra trong thái độ đồng cảm.

Ở thời điểm đó, thái độ nhân từ của chế độ là điều đáng nghi ngờ. Thế nhưng phe nhóm ông Lý trước đó đã đặt tiền quá nhiều vào một canh bạc và chờ xem kết quả nên không còn quan tâm gì nữa đến chuyện bàn thảo. Thủ tướng Lý Bằng đã hỏi Tổng Bí Thư Triệu Tử Dương: “Anh sẽ không còn tiếp tục sử dụng những giải pháp mềm dẻo để giải quyết các cuộc biểu tình của sinh viên nữa, có phải không? Sau quá nhiều thời gian đã trôi qua, không phải là những giải pháp ôn hòa đó đã chứng tỏ là vô ích hay sao?”

Với việc cả thế giới đang nhìn vào, những gì xảy ra tiếp theo sau là việc sử dụng bạo lực cưỡng bức thuần túy vốn đã cho thấy ác tâm làm hại con người của hệ thống cai trị độc tài này. Ông Triệu Tử Dương đã không có vai trò nào về hành động sát nhân đó.

“Vào cái đêm mùng 3 tháng 6, 1989, trong khi đang ngồi trong sân nhà với cả gia đình, tôi đã nghe tiếng súng nổ dữ dội. Một tấn thảm kịch gây xúc động cho cả thế giới đã không được ngăn chặn, và sau cùng nó đang xảy ra.”

Vì những nỗi lo sợ của các đối thủ của ông, ông Triệu Tử Dương đã phải trả giá bằng sự mất tự do trong suốt những năm tháng còn lại của cuộc đời.

Ông Bao là một trong những người dịch và biên tập cuốn “Người tù của Nhà nước: Nhật ký bí mật của Thủ tướng Triệu Tử Dương,” được phát hành bởi nhà xuất bản Simon & Schuster ngày 19 tháng Năm.

Hiệu đính: Trần Hoàng

Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2009

*Triệu Tử Dương làm thủ tướng từ 1980-1987 và Tổng Bí thư từ 1987-1989

*Đặng Tiểu Bình: lãnh tụ tối cao của TQ

*Lý Bằng: Thủ tướng 1988-1998

http://en.wikipedia.org/wiki/Zhao_Ziyang

http://en.wikipedia.org/wiki/Tiananmen_Square_protests_of_1989

http://en.wikipedia.org/wiki/Li_Peng

http://en.wikipedia.org/wiki/Paramount_leader#List_of_Paramount_leaders

http://en.wikipedia.org/wiki/Deng_Xiaoping

THE WALL STREET JOURNAL

What Really Happened at Tiananmen

A leadership struggle in the Communist Party led to bloodshed.

  • MAY 15, 2009

By BAO PU

Twenty years after Chinese troops crushed demonstrators in Tiananmen Square, new light has now been shed on the incident by the forthcoming memoirs of Zhao Ziyang. The former general secretary died in 2005, after living in forced seclusion for 16 years for supporting the pro-democracy movement. In those years of seclusion, he managed to record a testimony in audiotapes. His memoirs reveal that bloodshed could have been avoided in 1989.

China’s economic reforms in the 1980s led to a rift in the top Chinese leadership between those who supported the reforms and those who opposed them. The students demonstrating in Tiananmen Square were calling for the deepening of reform, including democracy. Paramount Leader Deng Xiaoping, Premier Li Peng and other conservatives opposed them and were predisposed to respond harshly.

Zhao saw the student demonstrations differently. “I felt that if the student demonstrations could be resolved along the principles of democracy and law, through dialogue and an easing of tensions, it could possibly boost China’s reform, including political reform,” he wrote.

The tragic turning point toward violence came when Mr. Li maneuvered to publish Deng’s harsh comments about the protestors in a People’s Daily editorial on April 26. When Zhao first heard of Deng’s remarks while on a state visit to North Korea, he wrote, “[M]y first thought was that another campaign against liberalism might begin.”

But much to the government’s surprise, the students were shocked and insulted by the defamation of their motives and responded with the April 27 demonstrations, the biggest spontaneous student protest ever in modern China’s history. Zhao observed at this time that “even the symbol of the paramount leader had lost its effectiveness.”

The stakes had now been raised. Mr. Li and his associates were not only gambling with their political agenda but their careers as well. Zhao says: “They were extremely worried that the April 26 editorial might be overturned. . . . Yan Mingfu [director of Liaison Department] reported to me that Li Peng had told him that if, upon my return [from North Korea], I did not support the April 26 editorial, Li would have no choice but to resign.”

The Li faction’s desire to avoid blame for provoking the students turned out to be the most important obstacle to a peaceful resolution. They resisted dialogue with the students, “merely paying lip service, in the same way they had always handled foreign reporters at press conference, presenting an image that would benefit themselves politically.” Students naturally felt that the government was insincere in its professed desire to hear their grievances.

Zhao had to find another solution. On May 4, he delivered a more conciliatory speech at the annual meeting of the Asian Development Bank in Beijing. He insisted on resolving the conflict along the principles of “democracy and law” and focused on defusing tensions. He proposed follow-up measures to deal with corruption and allow more public scrutiny of government, such as a commission against corruption “with real authority.”

His opponents would not be persuaded. The plan required critical political backing. The only remaining hope was to persuade Deng. Zhao said, “I hoped at the time that he could just relax things a little bit, for example, by saying something like ‘It seems that when Li Peng gave his report on April 25, we overreacted to the situation. It now appears that the student demonstrations are not such an overwhelming problem.’ With something like this to work with, I could turn the situation around without even putting any of the liability on Deng.” But th
is would require Deng to take back his own words. Deng refused to budge. Fueled by passion and oblivious to the opaque inner-Party struggles, students launched a hunger strike on May 13, and widespread protests from all levels of society broke out in sympathy.

At this point, the benevolence of the regime was called into question. But the Li faction had gambled too much on the outcome to care. Mr. Li asked Zhao: “You’re not going to continue to use soft measures to deal with the student demonstrations, are you? After so much time has elapsed, haven’t they already been proven useless?”

With the world watching, what followed was the use of pure coercive power that showcased the malevolence of authoritarian rule. Zhao would have no part of it. “On the night of June 3rd, while sitting in the courtyard with my family, I heard intense gunfire. A tragedy to shock the world had not been averted, and was happening after all.”

For his opponents’ fears, Zhao paid with the freedom of all his remaining years.

Mr. Bao is one of the translators and editors of “Prisoner of the State: The Secret Journal of Premier Zhao Ziyang,” to be released by Simon & Schuster on May 19.

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

Entry for May 17, 2009

Posted by hoangtran204 trên 17/05/2009

Quan Tòa phán quyết gia đình

không được quyền từ chối

việc điều trị bằng hóa trị (thuốc)

cho đứa con trai

Một quan tòa của tiểu bang Minesota đã phán quyết vào hôm thứ sáu rằng: một bệnh nhân bị bệnh ung thư 13 tuổi phải được khám bởi một bác sĩ để xác định xem liệu cậu bé nầy sẽ có lợi gì không trong việc tái điều trị bằng phương pháp hóa trị (bơm thuốc vào tỉnh mạch) mặc dù có sự phản đối từ phía cha mẹ của cậu (là không muốn cho con trị bệnh bằng phương pháp nầy).

Trong một phán quyết dài 58 trang, quan tòa John Rodenberg thuộc quận County Brown phát hiện rằng cha mẹ của Daniel Hauser, là bà Colleen và ông Anthony Hauser, đã và đang hờ hửng chuyện thuốc men cho con trai của họ và rằng cậu bé Daniel đang cần được chăm sóc bởi các cơ quan bảo vệ trẻ em.

Trong lúc nầy quan tòa chấp thuận cho Daniel sống với cha mẹ của cậu, quan tòa cho gia đình Hauser đến ngày thứ 3 nầy (5 ngày sau khi phán quyết) phải đi chụp hình X rays cho cậu con trai của họ và phải chọn một bác sĩ chuyên khoa về ung bướu cho con của họ.

Quan tòa nói rằng: Nếu việc đánh giá hình X rays cho thấý rằng bệnh ung thư đã trầm trọng tới một mức mà hóa trị liệu pháp (thuốc bơm vào cơ thể theo đường truyền dịch) và xạ trị không còn có ích nữa, ông ta sẽ không ra lệnh cho cậu bé điều trị.

Tuy vậy, quan tòa nói, nếu (sau khi chẩn đoán và đánh giá qua phim x rays và các phương pháp khác) bác sĩ ra lệnh dùng hóa trị, và gia đình vẫn còn từ khước thuốc men, thì Daniel sẽ được đưa vào trong bệnh viện để được chăm sóc tạm thời.

Quan tòa viết rằng cậu bé Daniel chỉ có “một sự hiểu biết sơ sài về các nguy cơ và các ích lợi của việc dùng hóa trị liệu pháp…(thậm chí) cậu bé nầy không tin là cậu ta hiện nay đang bị bệnh. Thế nhưng, thực tế (các xét nghiệm) cho thấy cậu ta đang bị bệnh rất nặng.”

Người ta vẫn chưa rõ làm cách nào bơm thuốc vào người của cậu nếu cậu bé phản đối chống lại. Bác sĩ Bruce Bostrom, một bác sĩ chuyên khoa ung bướu trẻ em tại bệnh viện trẻ em Children and Clinics of Minnesota, đã cho biết vào tuần trước rằng ông ta sẽ gặp khó khăn (nếu) ép buộc Daniel truyền thuốc vào tỉnh mạch ở tay. Bác sĩ Bostrom nói thêm rằng bệnh viện trẻ em có các nhà tâm lý học, các nhà chuyên môn về trẻ em và các nguồn nhân lực khác để giúp làm nhẹ đi các nổi lo sợ của Daniel. Bác sĩ Bostrom cũng nói rằng một tiểu ban về đạo đức hành nghề y sẽ họp nhau vào tuần tới để bàn thảo trước về tất cả mọi tình huống mà các bác sĩ (chữa trị cho em Daniel) sẽ đối đầu.

Luật sư được sự bổ nhiệm của tòa án dành cho em Daniel, ông Philip Elbert, đã gọi quyết định của quan tòa là không vui (cho gia đình em). Ông nói: “Tôi nghĩ rằng quyết định ấy là một đòn đánh vào nhiều gia đình” và “ Phán quyết ấy đặt qua một bên những quyết định mà các bậc cha mẹ đang đối diện hàng ngày liên quan tới việc chăm sóc y tế cho con cái của họ. Chuyện ấy thật sự khẳng định vai trò của chính quyền là tốt hơn hết trong việc đưa ra các quyết định thay cho chúng ta.”

Luật sư Elbert cho biết rằng ông ta vẫn chưa nói chuyện được với cậu bé Daniel. Đường dây điện thoại ở nhà Hauser tại thị trấn Sleepy Eye thou miền tây nam Minesota bị bận vào ngày thứ Sáu. Luật sư của cha mẹ Daniel không đưa ra lời phê bình nào cả, nhưng đã có kế hoạch để đưa ra một lời tuyên bố.

Daniel đã bị chẩn đoán bị bệnh có bướu ung thư của hệ thống miễn nhiễm (non Hodgkin’s lymphoma) và đã ngưng điều trị bằng hóa học liệu pháp (thuốc truyền vào tỉnh mạch như ta truyền nước biển vào người) vào tháng 2-2009 sau khi điều trị 1 lần.

Thay vì đó Daniel và cha mẹ của em đã chọn cách dùng các phương thuốc trị liệu thay thế khác (thuốc dược thảo, thuốc gia truyền, kiêng khem thực phẩm, lời cầu nguyện…) căn cứ vào các niềm tin tôn giáo của họ.

Các nhân viên bảo vệ trẻ em cáo buộc cha mẹ của Daniel về sự hờ hửng chuyện thuốc men; nhưng bên trong tòa án, mẹ của cậu bé nầy đã nhấn mạnh rằng cậu Daniel đã không dùng hóa trị liệu pháp ( thuốc) vì các lý do tôn giáo và người mẹ nói rằng bà ta sẽ không chấp hành nếu tòa án ra lệnh dùng trị liệu bằng hóa trị.

Các bác sĩ cho rằng bệnh ung thư của Daniel có 90% cơ may điều trị lành hẳn bằng phương pháp hóa trị bơm thuốc qua tỉnh mạch và xạ trị (dùng tia x quang chiếu vào vùng bị ung thư). Nếu không dùng các phương cách điều trị đó, các bác sĩ cho biết là cơ may sống sót của Daniel chỉ có 5%.

Cha mẹ của Daniel hổ trợ cái mà họ nói là quyết định của họ là dùng điều trị bệnh ung thư tuyến bạch huyết loại Hodgkin’s bằng cách ăn uống các thực phẩm và điều trị bằng các phương pháp khác theo giáo phái Nemenhah Band.

Đây là nhóm tôn giáo có địa bàn đóng ở tiểu bang Missouri tin vào các phương pháp lành bệnh theo con đường tự nhiên được hổ trợ bởi một số các nhóm người Mỹ da đỏ.

Sau đợt điều trị bằng liệu pháp hóa trị vào tháng 2-2009, gia đình Hauser cho biết họ muốn hỏi lại các thầy thuốc khác về việc diều trị lấy ý kiến thứ nhì , bác sĩ Bostrom cho biết thế. Bác sĩ Bostrom là một nhà chuyên môn về ung thư trẻ em, ông ta muốn em Daniel dùng hóa trị và xạ trị (bằng tia X quang).

Sau đó, cha mẹ của Daniel đã thông báo cho bác sĩ Bostrom rằng cậu bé Daniel sẽ không điều trị bằng thuốc truyền qua tỉnh mạch nữa. Bác sĩ Bostrom cho biết bướu của Daniel đã co nhỏ lại sau đợt điều trị đầu tiên, nhưng nay thì hình chụp X-rays cho thấy là cái bướu nầy đã phát triển lớn hơn kể từ khi Daniel ngưng dùng thuốc.

Tuần trước, mẹ của Daniel là Coleen Hauser khai trước tòa rằng “Con tui vào lúc nầy không còn bị nguy hiểm gì hết nữa,”. Bà mẹ này nói trước tòa rằng: cậu bé Daniel là một người thày thuốc và là một người có chức sắc cao cấp trong tôn giáo Nemenhah Band.

Luật sư của gia đình, ông Calvin Johnson, cho biết Daniel tự mình quyết định từ ch
ối dùng hóa trị vô thuốc vào tỉnh mạch, nhưng tòa án hạt Brown lại cho rằng: Daniel chẳng hiểu chút gì hết về ý nghĩa: một thầy thuốc hay một chức sắc cao cấp trong tôn giáo Memenhah Band.

Các hồ sơ của Tòa án cũng phô bày cho thấy rằng Daniel không thể đọc được và thiếu khả năng học hành.

Gia đình Hauser có 8 đứa con. Người mẹ là Coleen Hauser nói với phóng viên tờ báo New Ulm Journal rằng: Công giáo của gia đình bà và lòng trung thành với giáo phái Nemenhah Band là không có gì mâu thuẩn nhau, và rằng bà đã và đang sử dụng các liều thuốc tự nhiên để điều trị bệnh.

Giáo phái Nemenhah đã được Philip Cloudpiler Landis thành lập vào những năm 1990s. Ông Landis phát biểu vào hôm thứ Năm rằng ông ta đã từng bị tù 4 tháng ở tiểu bang Idaho vì tội lừa gạt vì có liên hệ tới các phương thuốc dùng theo lối thiên nhiên (để chữa bệnh).

Landis cho biết ông đã tìm thấy niềm tin ấy sau khi đối diện sự chẩn đoán của ông ta về một bệnh ung thư tương tự như của Daniel Hauser. Landis nói ông đã điều trị bệnh ấy bằng các chọn lựa các thức ăn đồ uống theo kiểu kiêng khem, ăn cái nầy không nên ăn thức kia, viếng thăm một chỗ xông hơi cho đổ mồ hôi ra và các phương thuốc trong tự nhiên khác.

Người dịch: Trần Hoàng

Lời bình:

Theo luật pháp ở Mỹ và các nước phương tây, bất cứ ai cũng có quyền tự dùng thuốc chữa trị cho mình. Nhưng người ấy không được quyền chữa trị cho người khác dù việc chữa bệnh ấy là vị lợi hay vô vị lợi hoặc người đó là con của mình. Và người ấy cũng không được quyền quãng cáo và bán các loại thuốc gia truyền, thuốc bí mật do mình tìm ra.

Tất cả thuốc bán trên thị trường cho công chúng đều phải thông qua các biện pháp nghiêm ngặt, có lý luận, có thử nghiệm trên súc vật, trên người có sự theo dõi của các bác sĩ và tuân theo phương pháp y tế chính thống để kết luận thuốc có hiệu quả điều trị về một bệnh nào đó; và thuốc nầy sau đó được cơ quan quản trị Thực Phẩm và Thuốc của chính quyền thử nghiệm cho phép. Ngày nay, các hãng thuốc chỉ tìm ra được 1 loại thuốc trên 10.000 các cuộc nghiên cứu chế tạo thuốc; và để cho thuốc nầy đem vào sử dụng, phải mất 10 năm để nghiên cứu, thử thuốc và tốn khoảng 1 tỉ đô la để giới thiệu loại thuốc mới ấy.

Các loại dược thảo, thuốc bắc, thuốc nam thì không được ghi ngoài bao bì những chữ như là: thuốc nầy nhằm chữa trị bệnh …Tuy nhiên các loại nầy chỉ được ghi là: “các dược thảo thien nhiên nầy nhằm trợ giúp các người có các bệnh như sau:…dù vậy, điều ghi nhận hổ trợ nầy vẫn không được Cục quản trị Thực Phẩm và Thuốc công nhận.”

nguồn:

On the Net:

Hauser case final argument briefs: http://www.courts.state.mn.us/?pageNewsItemDisplay&item45848

x

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

50 ngàn công nhân Trung Quốc Đang có mặt ỏ VN

Posted by hoangtran204 trên 10/05/2009

Đúng là chuyện . . . . không cười không được.

“Khai thác Bô Xít là Chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước” ====>

Dọa nạt không xong thì đem BCT ra để . . . . Dọa tiếp.

====>Thấy không có hiệu quả, lập tức chủ tịch Quốc Hội Nguyễn Phú Trọng cười đểu: “Dự án Nhân Cơ có tổng vốn đầu tư hơn 600 triệu đôla , chưa thuộc dự án phải đặt dưới sự giám sát của Quốc hội”

Nhưng theo lời phát biểu ấy, ông Trọng chỉ nhắc 1 điểm tiền bạc (quên bén lời tuyên bố sẽ đầu tư 15 tỉ đô la vào Bô Xít) và không hề nhắc đến 4 điểm khác cho thấy dự án khai thác bauxite phải có giám sát của quốc hội.

——————————————————————–
50 ngàn công nhân Trung Quốc Đang có mặt

tại Việt Nam

Nam Nguyên, RFA

09.05.2009

Hàng trăm công nhân Trung Quốc đang sống và làm việc ở dự án bauxite Tân Rai, Lâm Đồng.

Trong khi những báo nhiều độc giả như Tuổi Trẻ Online bất ngờ dừng loạt bài về công nhân TQ ở Tây Nguyên, làng báo TPHCM vẫn còn một tờ tiếp tục các bài viết về vấn đề này.

Một nhà báo lâu năm ở VN nói với chúng tôi rằng, không phải ngẫu nhiên một số báo phải ngưng một đề tài và báo khác lại được tiếp tục. Theo lời ông, có một vài biệt lệ và những báo làm đề tài nhậy cảm thường tiếp cận vấn đề rất khéo léo, một hình thức lách để viết mà vẫn tường trình được sự việc.

Saigon Tiếp Thị là báo in và có thêm bản điện tử sgtt.com.vn, ngày 14/4/2009 tờ báo có phóng sự ghi nhận sự kiện hàng trăm công nhân TQ đang sống và làm việc ở dự án bauxite Tân Rai Lâm Đồng. Gần đây nhất ngày 6 /5/2009, Saigon Tiếp Thị đưa lên mạng bài ‘Người Quảng Tây ở Quảng Nam’ dưới hình thức phóng sự, ghi nhận sự kiện hơn 500 công nhân Trung Quốc đã vào VN từ ba năm qua, lao động tại các công trường thủy điện ở tỉnh Quảng Nam.

Công nhân TQ đã có mặt ‘trên từng cây số’

Trước khi trở lại với bài báo SGTT, chúng tôi muốn tìm câu trả lời là thực sự đã có bao nhiêu công nhân TQ hoạt động ở VN, đặc biệt là lực lượng lao động phổ thông.

Cuối tháng Tư, các báo ở VN đều đưa tin ông Nguyễn Thanh Hòa Thứ trưởng Bộ Lao Động Thương Binh Xã Hội cho biết, có khoảng 50 ngàn người nước ngoài đang làm việc tại VN và 30% trong số này thuộc diện vào Việt Nam làm việc không hợp pháp.

Con số chính thức 50.000 này có thể chưa phản ánh đúng thực tế, vì theo số liệu của Bộ Xây Dựng và Hiệp Hội Doanh Nghiệp Cơ Khí, các nhà thầu Trung Quốc đang nắm giữ vị trí tổng thầu nhiều dự án ở VN, bao gồm thủy điện nhiệt điện, nhà máy xi măng và phân bón.

Theo Tổng Hội Xây Dựng VN thì đã có hàng vạn công nhân TQ có mặt ở các công trình mà doanh nghiệp TQ trúng thầu. Doanh nghiệp TQ có thói quen mang theo công nhân làm việc kể cả lao động phổ thông, gồm luôn anh nuôi chị nuôi, công nhân vệ sinh và bảo vệ.

Công nhân TQ đã có mặt ‘trên từng cây số’ theo cách nói vui của người bình dân. Trong dịp trả lời đài ACTD, TS Nguyễn Quang A Viện trưởng Viện Nghiên Cứu Phát Triển, một tổ chức độc lập ở Hà Nội đưa ra nhận định:

“Chắc chắn có khá nhiều công nhân lao động phổ thông nước ngoài đang làm việc ở VN một cách bất hợp pháp. Con số cụ thể là bao nhiêu thì tôi cũng chỉ được biết qua thông tin trên báo chí, nhưng mà người dân có thể cảm nhận được việc này qua một số dự án mà các nhà đầu tư nước ngoài trúng thầu.”

Trở lại bài báo ‘Người Quảng Tây ở Quảng Nam’ trên báo SGTT bản điện tử ngày 6/5. Bài báo được dẫn nhập, Trên cung đường Hồ Chí Minh, đoạn đi qua huyện Đông Giang tỉnh Quảng Nam có một làng công nhân người Quảng Tây Trung Quốc. Họ đã đến đây hơn ba năm để xây dựng hai công trình thủy điện Za Hung và Sông Kôn 2.

Phóng viên Đoàn Nguyễn tác giả bài phóng sự ghi nhận rằng, cho đến thời điểm cuối tháng 4 trên đại công trường này, có 523 công nhân Trung Quốc. Dự án thủy điện này sắp hoàn thành, người TQ đã có ngay công trình thủy điện mới, cũng ở miền Trung Việt Nam để thi công tiếp.

Nỗi đau của nước nhược tiểu

Công ty Cổ Phần Za Hưng thuộc tập đoàn Hà Đô, Bộ Quốc Phòng, địa chỉ 25 Láng Hạ, Ba Đình, Hà Nội, là chủ đầu tư công trình thủy điện Za Hung. Ông Nguyễn Văn Đảm, phó tổng giám đốc công ty, cho biết tổng đầu tư cho công trình là 600 tỉ đồng, người Trung Quốc đã thắng hai trong ba gói thầu xây lắp thuộc về công ty cổ phần Quế Năng, gói thầu lắp đặt thiết bị thuộc Công Ty Cổ Phần Quế Võng. Theo chân hai công ty này có 340 người Trung Quốc.

Vẫn theo SGTT, ông Nguyễn Văn Đảm nhận xét, công nhân Trung Quốc làm việc hiệu quả hơn công nhân Việt Nam, thể hiện ở ba khía cạnh, sức khỏe tốt hơn, chuyên nghiệp hơn và có ý thức kỷ luật cao hơn. Tờ báo trích lời ông Nguyễn Văn Tê trưởng công an huyện Đông Giang cho biết, trong ba năm ở hai công trình của người Trung Quốc chỉ xảy ra 2 vụ ẩu đả với người địa phương, nếu so với những công trình chỉ có lao động Việt Nam là quá êm thắm.

Vừa rồi là một phần bài Người Quảng Tây ở Quảng Nam trên báo mạng SGTT ngày 6/5/2009. Trong phóng sự này, nhà báo dành cơ hội cho giới chức Trung Quốc được lên tiếng, ông Ngô Hải Hoa 30 tuổi, phó giám đốc dự án công trình thủy điện Za Hung, người trực tiếp cai quản 300 lao động Trung Quốc phát biểu rằng, công nhân TQ muốn có việc làm chứ không muốn định cư. Ông Hoa tâm sự là bên TQ không dễ kiếm việc, làm việc ở vùng rừng núi này của VN tuy xa nhà nhưng thu nhập cao hơn
.

Thu nhập lao động phổ thông 4.000 tệ mỗi tháng, chúng tôi tính ra tiền đồng VN tương đương gần 10 triệu 400 ngàn đồng. Lao động phổ thông lương như thế quả là quá cao so với công nhân VN. Còn với lương cán bộ quản lý như cá nhân ông Hoa vào khoảng 6.000 nhân dân tệ tức gần 16 triệu tiền Việt. Cán bộ quản lý Ngô Hải Hoa thêm rằng, cuộc sống ở công trình Za Hung không có gì phàn nàn. Thức ăn thì có đầu bếp Trung Quốc nấu, mùa nào thức nấy, chợ không thiếu thứ gì. Chỗ ở cũng không chật chội, mỗi công nhân 4 mét vuông, tổ trưởng thì hai người một phòng 20 mét vuông, còn cán bộ quản lý thì được phòng riêng.

Cán bộ TQ Ngô Hải Hoa cho biết tại công trình có internet, có chảo vệ tinh bắt được 30 đài TQ, có sân bóng đá, bóng chuyền điều ông Hoa cho là không khác gì đang ở nhà bên TQ.

Quả là cách tiếp cận vấn đề của báo mạng SGTT rất khéo léo, phải đến những dòng cuối cùng mới thấy được nỗi đau của người nhược tiểu.

Tác giả Đoàn Nguyễn ghi nhận rằng, ở hai công trình thủy điện Za Hung và Sông Kôn số 2 này, người Việt đã bị gạt ra trong cuộc kiếm tìm việc làm ở ngay trên quê hương mình. Đây là những công việc phổ thông ai làm cũng được. Ông Đỗ Tài, Phó chủ tịch UBND huyện Đông Giang tỉnh Quãng Nam xác định là khi triển khai hai dự án vừa nói, chính quyền địa phương đã yêu cầu nhà đầu tư phải ưu tiên sử dụng lao động địa phương. Theo lời ông Tài nhà đầu tư đã chỉ tuyển vài ba người ở địa phương và con số thật quá nhỏ bé nếu so với lao động Trung Quốc.

Chính sách Trung Quốc

Nhận định về sự kiện lao động TQ hoạt động ở VN trong khi công nhân VN không có nhiều cơ hội tìm việc. Trả lời Mặc Lâm đài ACTD, nguyên Thứ Trưởng Bộ Xây Dựng TS Phạm Sĩ Liêm phát biểu:

“Trung Quốc có chính sách hẳn hoi rõ ràng là người ta khuyến khích những nhà thầu Trung Quốc khi đi nhận thầu, thì đem được càng nhiều lao động Trung Quốc ra nước ngoài càng tốt. Cũng như sử dụng càng nhiều càng tốt vật liệu xây dựng do Trung Quốc sản xuất. Hình như chính phủ họ còn đặc biệt ưu đãi những doanh nghiệp sử dụng được trên 35% tổng giá trị vật liệu sử dụng của công trình.”

Một khía cạnh khác trong bài ‘Người Quảng Tây ở Quảng Nam’ của báo mạng SGTT, mặc dầu các công trình thủy điện ở huyện miền núi Đông Giang dân cư địa phương là người dân tộc thiểu số, thế nhưng những cuộc tình giữa công nhân TQ và cư dân địa phương vẫn diễn ra. Trong bài có đoạn nói về ‘Đứa con trắng bóc của người Cơ Tu’ mô tả khá rõ ràng chuyện một bé gái lai Tàu ra đời, kết quả của một vụ ngoại tình giữa một phụ nữ người dân tộc Cơ Tu và công nhân TQ. Bà vợ người Thượng này còn dọa bỏ chồng đi theo người TQ khi các công trình ở Đông Giang hoàn tất.

Thưa quí thính giả câu chuyện ‘Người Quảng Tây ở Quảng Nam’ của báo mạng SGTT mới chỉ là một nét chấm phá, một vệt nhỏ trong bức tranh sẫm màu về sự kiện công nhân TQ đang có mặt khắp nơi ở VN, từ Quảng Ninh, Hải Phòng, Quảng Nam, Tây Nguyên và tới tận miền Đông Nam Bộ, miền Tây (Tiền Giang, Cà Mau). Hy vọng còn được đọc nhiều bài báo khác sinh động như vậy.

Nguồn: RFA

*”Bài báo ghi nhận rằng sau khi Việt Nam áp dụng chính sách mở cửa hai thập niên trước Trung Quốc đã ồ ạt đầu tư vào Việt Nam (từ 1994), và hiện nay họ nắm hầu hết các công trình đầu tư có tính quốc phòng như hệ thống giao thông, khai thác hầm mỏ và xây dựng các trung tâm sản xuất điện lực, các cơ sở chế biến xi măng và các cơ sở hóa chất (2008).

Theo ông Nguyễn Văn Thu, Chủ tịch Hiệp hội Kỹ nghệ Cơ giới (Vietnam’s Association of Mechanical Industries) thì người Trung Quốc (với sự sắp xếp bên trong về phía chính quyền Việt Nam?) đấu thầu với giá thấp nên thường trúng thầu và các công trình xây cất đều được xây dưới tiêu chuẩn an toàn. Nhưng điều đáng lo nhất là hằng chục ngàn thợ thuyền Trung Quốc nhập Việt mà cơ quan di trú Việt Nam không theo dõi chặt chẽ được gồm cả đầu bếp, công nhân giặt dịa. Họ mang vào Việt Nam ngay cả những vật đơn sơ như cái cầu vệ sinh… là những thứ Việt Nam sản xuất được.

Tiết lộ của ông Nguyễn Văn Thu đưa đến một câu hỏi: Người Trung Quốc có điều gì cần dấu diếm mà phải bố trị nhân sự như vậy. Và chính quyền Việt Nam ở đâu mà không đặt thành vấn đề, một vấn đề liên quan đến chủ quyền quốc gia.”

———————————————————————————————————————–

Mặc Dù tuyên bố “Khai thác Bauxite ở Tây Nguyên là chính sách lớn của Đảng và nhà nước ta” Nhưng

Quốc hội sẽ không giám sát dự án Nhân Cơ?

Tiếp xúc với cử tri Hà Nội, Chủ tịch Quốc hội Việt Nam Nguyễn Phú Trọng nói dự án khai thác bauxite Nhân Cơ (Đăk Nông) chưa thuộc diện phải có sự giám sát của Quốc hội.

Ông Trọng cũng nhấn mạnh chủ trương khai thác bauxite ở Tây Nguyên “đã được thống nhất trong các Nghị quyết 9, 10 của Đảng” nhưng “phải làm từng bước, làm vững chắc”.

Hôm thứ Hai 04/05, ông Chủ tịch và đoàn đại biểu Quốc hội Hà Nội đã tiếp xúc cử tri tại quận Ba Đình.

Các dự án khai thác bauxite nổi lên như chủ đề ‘nóng’ và được các cử tri đề cập đến nhiều.

Báo Việt Nam đưa tin một số cử tri đã trình bày thẳng thắn trong cuộc tiếp xúc, rằng “Quốc hội nên lắng nghe ý kiến của các nhà khoa học. Từ đó, đảm bảo phát triển kinh tế gắn với các vấn đề môi trường, quốc phòng an ninh”.

Có cử tri đề nghị Quốc hội thực hiện giám sát với dự án khai thác bauxite ở Tây Nguyên ngay từ kỳ họp này.

Đáp lại, Chủ tịch QH Nguyễn Phú Trọng nói việc khai thác bauxite đã thống nhất.

“Vấn đề đặt ra là khai thác thế nào cho hiệu quả trên nhiều mặt kinh
tế, quốc phòng an ninh, văn hóa…”

Ông Trọng cũng giải thích rằng “đã có quy định về quy mô các dự án Quốc hội giám sát”.

“Dự án Nhân Cơ có tổng vốn đầu tư hơn 600 triệu đôla , chưa thuộc dự án phải đặt dưới sự giám sát của Quốc hội.”

Trước đó, Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng nói Chính phủ sẽ trình Quốc hội các dự án khai thác bauxite ở Đăk Nông và Lâm Đồng.

Giám sát của Quốc hội

Theo Nghị quyết của Quốc hội về dự án, công trình quan trọng quốc gia mà Quốc hội quyết định chủ trương đầu tư, dự án và công trình quan trọng quốc gia phải có một trong năm tiêu chí:

1- Quy mô vốn đầu tư từ hai mươi nghìn tỷ đồng Việt Nam trở lên đối với dự án, công trình có sử dụng từ ba mươi phần trăm vốn nhà nước trở lên.

2- Dự án, công trình có ảnh hưởng lớn đến môi trường hoặc tiềm ẩn khả năng ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường

3- Dự án, công trình phải di dân tái định cư từ hai mươi nghìn người trở lên ở miền núi, từ năm mươi nghìn người trở lên ở các vùng khác.

4- Dự án, công trình đầu tư tại địa bàn đặc biệt quan trọng đối với quốc gia về quốc phòng, an ninh hoặc có di tích quốc gia có giá trị đặc biệt quan trọng về lịch sử, văn hóa.

5- Dự án, công trình đòi hỏi phải áp dụng cơ chế, chính sách đặc biệt cần được Quốc hội quyết định.

Nếu tính về số vốn đầu tư thì các dự án khai thác bauxite Tân Rai và Nhân Cơ đều chưa thuộc diện dự án trọng điểm quốc gia.

Tuy nhiên, về ý nghĩa kinh tế, môi trường và chiến lược an ninh quốc phòng, thì nhiều đại biểu Quốc hội cũng cho rằng việc báo cáo lên Quốc hội về các dự án khai thác bauxite là hợp lý.

Kỳ họp thứ 5, Quốc hội Việt Nam khóa XII, chuẩn bị họp trong một tháng, bắt đầu từ 20/05 tới.

http://www.bbc.co.uk/vietnamese/viet…_bauxite.shtml

———————————————————————————————————————

http://www.businessspectator.com.au/…cument&src=sph

Thứ Năm, 23/10/2008, 08:19 (GMT+7)

Tây nguyên sẽ “chết” vì… khai thác bôxit

Một góc khu vực mỏ bôxit đang được khai thác tại Bảo Lộc (Lâm Đồng) – Ảnh: N.H.T.

TT – Đây là cảnh báo của những nhà khoa học tại hội thảo với chủ đề “Tìm giải pháp giảm thiểu tác động tiêu cực do khai thác, chế biến quặng bôxit, sản xuất alumin và luyện nhôm tại khu vực Tây nguyên và Nam Trung bộ” do UBND tỉnh Đắc Nông, Viện Tư vấn và phát triển (CODE) và Tập đoàn Công nghiệp than và khoáng sản VN (TKV) tổ chức ngày 22-10 tại tỉnh Đắc Nông.

Báo cáo của đại diện TKV về chương trình khai thác quặng bôxit tại các tỉnh Tây nguyên do tập đoàn này làm “tổng chỉ huy” đã hứng ngay một “trận lũ quét” những ý kiến phản biện. Không chỉ những nhà khoa học xuất thân từ vùng đất Tây nguyên hoặc có nhiều năm nghiên cứu về Tây nguyên lên tiếng phản đối mà chính cả cán bộ của TKV cũng cho rằng đây là một dự án “chẳng giống ai”.

Sai lầm chiến lược?

Theo TKV, mục tiêu của dự án là khai thác nguồn quặng khổng lồ có trữ lượng quặng tinh hơn 3,4 tỉ tấn đang nằm im dưới lòng đất Tây nguyên để phát triển kinh tế, đánh thức tiềm năng của vùng đất này. Tuy nhiên, bài phản biện dài 75 phút của TS Nguyễn Thành Sơn – giám đốc Công ty năng lượng Sông Hồng, thuộc TKV – bác bỏ gần như hoàn toàn dự án này và cho rằng đây là một sai lầm chiến lược chứa đựng những rủi ro không thể lường hết.

Ông Sơn đánh giá quy hoạch khai thác quặng bôxit được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt và giao TKV làm đầu mối để triển khai ở Tây nguyên là quá nhiều tham vọng. Bởi vì nhôm không phải là kim loại quý và chưa có quốc gia nào coi bôxit là khoáng sản chiến lược để dốc sức khai thác như VN. Theo ông Sơn, kế hoạch của TKV mới chỉ chú trọng việc khai thác quặng rồi chế biến thành alumin để xuất khẩu thì hiệu quả kinh tế không cao và chỉ có tác dụng phục vụ các đại gia luyện nhôm nước ngoài vốn không muốn tốn nhiều chi phí cho việc khai thác.

Chưa kể chương trình khai thác, chế biến quặng bôxit của TKV chứa đựng nhiều rủi ro không thể kiểm soát được. Nhu cầu nhôm trong nước không nhiều và cũng không thể có đủ điện để có thể xây dựng các nhà máy luyện nhôm phục vụ xuất khẩu. Trong khi đó, quá trình khai thác đòi hỏi một nguồn vốn lớn, một nền tảng khoa học công nghệ cao sẽ đặt VN vào thế phụ thuộc nước ngoài. Đặc biệt, các rủi ro về môi trường, sinh thái bị hủy hoại đến nay chưa được nghiên cứu, chưa được đề cập đến nơi đến chốn.

Ông Sơn kiến nghị lập ngay một ủy ban quốc gia về phát triển bền vững cho vùng Tây nguyên, đồng thời tổ chức những cuộc tranh luận khoa học “đến đầu đến đũa” các tác động của việc khai thác bôxit đến kinh tế, văn hóa, xã hội và môi trường. Trong khi tranh luận chưa ngã ngũ thì các dự án đang triển khai phải dừng lại để hạn chế những hậu quả đáng tiếc.

Tàn phá môi trường

Khai thác quặng bôxit chế biến thành alumin để luyện nhôm là một quy trình tiêu tốn lượng nước và điện khổng lồ, đồng thời phát thải một lượng khí thải nhà kính và bùn đỏ có sức hủy diệt môi trường rất ghê gớm. GS Đào Công Tiến – nguyên hiệu trưởng Đại học Kinh tế TP.HCM – cảnh báo: “Nguồn nước của Tây nguyên những năm gần đây sụt giảm nghiêm trọng, nếu trưng dụng nguồn nước cho khai thác bôxit, chắc chắn Tây nguyên sẽ chết vì thiếu nước”.

Chưa kể theo quy trình hiện nay, muốn sản xuất 1 tấn nhôm cần phải có 2 tấn alumin, tức phải khai thác ít nhất 4 tấn quặng bôxit. Và quá trình này thải ra đến 3 tấn bùn đỏ là một chất thải cực kỳ nguy hại, thậm chí chứa phóng xạ mà ngay cả các nước phát triển như M
, Nhật cũng không có cách nào xử lý ngoài việc chôn lấp. TS Nguyễn Thành Sơn trưng ra những hình ảnh các bãi chứa bùn đỏ ở các nước tiên tiến như Pháp, Úc và cho rằng ý tưởng trồng cây trên những bãi bùn đỏ mà TKV đưa ra là ảo tưởng.

Hiện nay không có cách nào khác là chôn lấp bùn đỏ ngay tại Tây nguyên và với vị trí thượng nguồn của các con sông lớn, những bãi bùn đỏ sẽ trở thành những núi “bom bẩn” nếu xảy ra thiên tai, lũ quét gây tràn vỡ. “Khi đó không chỉ các tỉnh Tây nguyên mà người dân các tỉnh Nam Trung bộ, Đông Nam bộ sẽ lãnh đủ hậu quả” – ông Sơn khẳng định.

Quan trọng hơn, mặt đất sau khai thác quặng sẽ như thế nào? Mặc dù TKV dẫn kinh nghiệm của các nước để cho rằng khả năng hoàn thổ, phục hồi thổ nhưỡng là gần như đạt 100% nhưng các nhà khoa học chứng minh ngược lại. Theo ông Sơn, với địa hình đồi dốc và mưa lũ hằng năm của Tây nguyên, toàn bộ mặt đất sau khai thác sẽ bị nước cuốn trôi và không thể nào có hi vọng tái tạo.

Cư dân bản địa, văn hóa dân tộc sẽ về đâu?

Là người con Tây nguyên, TS Tuyết Nhung Buôn Krông phản biện bằng cách công bố công trình nghiên cứu dài 36 trang của nhóm Đại học Tây nguyên về khảo sát xã hội tại khu vực TKV đang triển khai nhà máy khai thác ở xã Nhân Cơ. Bà Tuyết Nhung khẳng định: “TKV nói rằng khu vực khai thác bôxit là những vùng rừng không phát triển, cây trồng không sống được trong khi thực tế cho thấy khu vực này đang phát triển rất mạnh cây cà phê và đời sống người dân đang ổn định”.

Theo bà, với dự án đang triển khai tại Nhân Cơ đe dọa không gian văn hóa truyền thống của người dân bản địa. Nếu mất “bon” (làng của người M’Nông), mô hình làng truyền thống và văn hóa của người M’Nông sẽ bị triệt tiêu.

Từ đó kéo theo hàng loạt vấn đề về văn hóa – xã hội, thậm chí là các vấn đề an ninh, chính trị. Cơ hội việc làm cho người lao động gần như không có, vì người dân tộc không có trình độ học vấn để có thể đào tạo thành công nhân phục vụ các nhà máy. Không có đất người dân bản địa sẽ đi đâu? Văn hóa Tây nguyên sẽ về đâu?” – bà Nhung hỏi. Theo bà, người dân mong mỏi ở các cấp chính quyền và chủ đầu tư một cam kết về vấn đề việc làm và bảo đảm một không gian văn hóa một khi phải nhường đất cho các dự án khai thác bôxit.

Cả hội trường lặng đi khi tác giả của Đất nước đứng lên – nhà văn Nguyên Ngọc – bước lên bục. Con người của vùng đất Tây nguyên này cho rằng điều cần cân nhắc nhất không hẳn là vấn đề môi trường mà trước hết và quan trọng hơn hết là chuyện xã hội – văn hóa. Ông Ngọc nhắc lại: sau năm 1975 chúng ta đã tổ chức một cuộc di dân chưa từng có từ đồng bằng lên Tây nguyên với cường độ, tốc độ rất lớn và đến nay đã chứng tỏ đó là một sai lầm lớn.

Ông Ngọc cho rằng: “Chúng ta đã hành động ở Tây nguyên rất thản nhiên, không hề quan tâm đến chỗ đây là một vùng đất và người rất đặc biệt về nhiều mặt. Thậm chí có thể nói chúng ta đã làm mọi việc ở Tây nguyên như là trên một vùng đất không người”.

Theo ông, nếu tiếp tục triển khai dự án như kế hoạch của TKV, chắc chắn không gian sống, không gian văn hóa của cư dân bản địa Tây nguyên sẽ bị đảo lộn, nếu không nói là bị xóa sổ. Người M’Nông, chủ nhân ngàn đời của vùng đất Đắc Nông, sẽ đi về đâu? Lời hứa của những người chủ trương dự án, những nhà đầu tư và thực thi dự án hứa với đồng bào M’Nông có bao nhiêu căn cứ?

Những câu hỏi này chưa được giải đáp và cuộc hội thảo còn tiếp tục đến hết hôm nay. Chúng tôi xin mượn lời của nhà văn Nguyên Ngọc để tạm kết thúc bài viết này: “Theo tôi, chúng ta đang đứng trước một quyết định mất còn. Và sẽ rất kỳ lạ nếu chúng ta làm chuyện quá ư to lớn này ở đây mà không hề nghĩ, không hề nhớ đến những gì đã diễn ra trong 30 năm qua. Những bài học lớn, sâu và cay đắng 30 năm ấy còn để lại, sờ sờ ra đấy, rất có thể lại dạy ta lần nữa, và thường vẫn vậy, lần sau bao giờ cũng nghiêm khắc hơn lần trước”!

Bôxit Bảo Lộc: Gây ô nhiễm nặng

Hoạt động liên tục suốt 32 năm qua, chủ quản mỏ bôxit Bảo Lộc là Công ty Hóa chất cơ bản miền Nam (thuộc Tổng công ty Hóa chất VN, Bộ Công thương). Mỏ này tuyển ra bôxit thương phẩm để đưa về Nhà máy hóa chất Tân Bình (TP.HCM) sản xuất hydroxit nhôm (Al(OH)3); từ chất này sẽ được dùng để sản xuất phèn nhôm lọc nước, chất phụ gia trong ngành sành sứ, hay vật liệu chịu lửa. Mỏ bôxit Bảo Lộc hằng năm sản xuất ra 120.000 tấn quặng tinh. Để tuyển ra nguồn quặng tinh này, khối lượng quặng nguyên khai hằng năm là 260.000 tấn. Theo giám đốc mỏ bôxit Bảo Lộc Huỳnh Minh Trí, mỏ chỉ giải quyết được 94 lao động, thuế đóng cho địa phương là… 1,2-1,5 tỉ đồng/năm.

Toàn bộ hạ lưu của mỏ bôxít Bảo Lộc là suối Damrông, thuộc khu Minh Rồng (thượng nguồn sông La Ngà, tên gọi khác của sông Đồng Nai, đoạn chạy qua vùng Định Quán) đã biến thành “vùng đất chết” do hoạt động của mỏ này. Chính quyền thị xã Bảo Lộc liên tục “được” người dân vùng hạ lưu Minh Rồng “kêu cứu” vì ô nhiễm…

N.H.T

NGUYỄN TRIỀU

http://www.tuoitre.com.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=284505&ChannelID=17

———————————————————————

Bauxite và Trọng Điểm Chiến Lược Cao Nguyên

Cựu TT Lữ Lan

Về tầm quan trọng của vị thế chiến lược Cao Nguyên Trung Phần.

Khởi đi từ quan niệm cổ xưa của các binh gia qua mọi thời đại, cấp chỉ huy nào ở ngoài chiến trường, cũng mau tìm chiếm nơi cao địa để dành lấy thế thượng phong. Điều đó đã trở thành một quy luật chung cho mọi chiến lược gia Đông, Tây, Kim, Cổ.

Do quan niệm đó, vị thế chiến lược của cao nguyên Trung phần Việt Nam xưa nay vẫn đóng một vai trò quyết định trong mọi hành động quân sự. Quyết định trong cả thế công cũng như thế thủ, trong thể loại chiến tranh du kích cũng như trong thể loại chiến tranh vận động.

Từ đầu thế kỷ 20, rồi trong suốt cuộc chiến Đông Dương (1946/1954) cho đến chiến tranh Việt Nam (1960/1975), câu nói đầu môi của cấp bộ lãnh đạo chiến tranh là: ai kiểm soát được cao nguyên, người đó dành được thế chủ động trong trận địa toàn miền Nam. Một bằng chứng lịch sử đã xác nhận điều đó: tháng 3 năm 1975, Bắc cộng đã huy động 12 sư đoàn dã chiến quyết tâm dứt điểm Ban Mê Thuột của Việt Nam Cộng Hòa (VNCH). Tiếp sau đó, các tỉnh duyên hải, từ Phú Yên đến Phan Rang tiếp nối nhau thất thủ như một loạt domino.

Nay Trung Cộng được quyền khai thác những quặng mõ bauxite trên một diện tích được coi là bóc đi 2 phần 3 diện tích rừng ở Lâm Đồng và Dakrong thì Trung cộng sẽ làm được gì về mặt quân sự và quốc phòng?

Đây là một biến cố vô cùng trọng đại đối với sự tồn vong của Việt Nam. Trước hết, phóng tầm nhìn suốt chiều dài lịch sử Việt Nam từ nghìn xưa, Trung quốc chưa bao giờ buông bỏ mưu đồ hãm hại dân tộc Việt Nam và xâm chiếm nước ta.

Đối với một quân nhân có chút cảm quan chiến lược do bởi kinh nghiệm sống và chiến đấu ở Cao Nguyên Trung phần trong nhiều năm giữ chức vụ chỉ huy Quân Đoàn II cũng như Sư Đoàn 23 trước đó, tôi nghĩ rằng giá trị chiến lược của Cao Nguyên Lạng Biên và Daclac vượt xa mọi giá trị vật chất của quặng mõ bauxite đang được khai quật lên. Nói cách khác, mấy triệu tấn nhôm được khai thác chế biến sau này bán cho Trung quốc chẳng đáng giá gì so với việc nhập cư một nhân số ngoại lai đông đúc không rõ xuất xứ, vào một địa bàn yết hầu của trận địa chủ yếu trong cuộc phòng thủ Cao Nguyên Trung phần.

Đọc quân sử, không ai lạ gì các mưu đồ “đạo quân thứ 5”, nội công ngoại kích, chuyện “Con Ngựa Thành Troie” cực kỳ khốn nạn. Đó là chưa nói đến tác hại lâu đời của bauxite. Vốn là một loại quặng để biến chế thằnh nhôm qua 2 đợt. Đợt 1, khi khai quật ra khỏi lòng đất , nghiã là bóc gở lớp đất hoa màu ở trên từ 1 đến 4 thước, nó trở thành một độc chất vô cùng nguy hại hiện chưa ai tìm được phương thức khử độc. Chính do vậy mà thế giới chỉ khai thác những vùng xa xôi, hẽo lánh, không có cư dân và hoa màu. Trung quốc cũng có khá nhiều mỏ bauxite, nhưng sợ đầu độc môi sinh nên không dám khai thác.

Thêm nữa, bauxite bốc lên phải dùng một lượng nước khổng lồ để rửa sạch trước khi biến chế sang đợt 2. Nước rửa này gọi là bùn đỏ (red sludge) cùng với bụi đỏ trong không khí là một độc chất, chảy tới đâu huỹ hoại mùa màng, giết chết muông thú, nhiễm độc suối nguồn vô thời hạn.

Tại Ba Tây và Úc châu, người ta tìm ra những khu lòng chảo, núi đá bao bọc, địa chất đất sét không thấm rỉ ra ngoài và dùng ống bê tong bơm bùn đỏ vào một vùng cô lập hoang vu, chứa tại đó cho đến khi nào khoa học tìm ra được phương thức khử độc. Ở Việt Nam chúng ta hiện nay, khai thác bauxite ở Daknong là vùng đầu nguồn của các nhánh sông Krong Ana, Đồng Nai chảy nhập về sông Saigon, các nhánh sông Bé, sông La Ngà, sông Vàm Cỏ chảy về miền Đông và châu thổ Nam phần. Nghĩ cho cùng, phải chăng đây là một thâm ý hãm hại lâu dài nòi giống Việt Nam!

Trong lúc này, các sản phẩm Cà Phê, Trà, Tiêu, Cao Su v.v.. là những loại phẩm chất có tiếng trên thế giới, sẽ nhường chỗ cho một loại cỏ dại dị tướng chưa hề thấy mọc lên sau đó.

Trở lại vấn đề giá trị chiến lược của Cao Nguyên Trung phần. Đây là một kỳ quan chiến lược Trời Đất đã phú cho Việt Nam, một sự cấu tạo vô cùng tinh xảo của tạo hóa. Như một thành trì thiên nhiên bao gồm năm tỉnh hạt ở cao độ trung bình 1200 thước trên mặt biển, được bao bọc về hướng Đông bởi một bình nguyên duyên hải phì nhiêu, một hệ thống sông Ba Ngòi chảy vào một hải cảng thiên nhiên. Đó là Vịnh Cam Ranh với đầy đủ các điều kiện và lợi thế của một quân cảng chiến lược thủy bộ mà bao cường quốc Đông Tây đã ngấp nghé dòm ngó và đã có cơ hội sử dụng từ đầu thế kỷ 20.

Như trường hợp của hạm đội Thái Bình Dương của Hoàng gia Nga, dưới quyền thủy sư Đô Đốc Nebogatov đã được Toàn Quyền Pháp ở Đông Dương cho cập bến Cam Ranh sau một cuộc hải hành 18 ngàn hải lý từ Bắc Hải đến đây để tái tiếp tế than, dầu, và nước ngọt trước khi lên đường đến Hoàng Hải để giao tranh với hải quân Phù Tang ngày 27-5-1905.

Bộ Thuộc Địa và Bộ Chiến Tranh của Pháp quốc đã từng vận động ngân sách để chấn hưng Cam Ranh thành một căn cứ hùng mạnh ở Đông Nam Á. Kế hoạch chưa kịp thực hiện thì Đệ Nhị Thế Chiến đã xảy ra. Trong tiến trình thống lãnh Đông Nam Á, hải quân Nhật Bản đã điều động chiến hạm đến neo trong Vịnh, thiết trí một hệ thống lưới thép ngầm để ngăn chống tàu ngầm địch len lõi vào trong vịnh. Đại bác tầm xa cũng được gắn trong nhiều lô cốt kiên cố để chống trả mọi tấn công.

Trong chiến tranh Việt Nam vừa qua, quân lực Hoa Kỳ cũng đã canh tân, thiết bị cho Cam Ranh đủ tiện nghi của một quân cảng kể cả một phi đạo cho phản lực cơ dài 2 dặm. Khi quân Mỹ triệt thoái và chiến tranh Việt Nam chấm dứt, đến lượt Nga Sô thương lượng với Hà Nội muốn thuê Cam Ranh dài hạn để làm căn cứ hải quân ở Thái Bình Dương, thay thế cho Vladivostok ở Tây Bá Lợi Á bất tiện vì tù túng trong biển Nhật Bản và khí hậu mùa Đông khắc nghiệt. Nhưng kế hoạch trên bất thành vì Sô Viết toàn cầu tan hàng, rả ngũ. Hơn nữa, dễ gì Trung cộng để một sự việc như vậy xãy ra.

Ngày nay, Trung cộng đang ở cao điểm bành trướng thế lực ở Đông Nam Á như Nhật Bản trong Đệ Nhị Thế Chiến, lẻ nào không dòm ngó Cam Ranh? Đã ngang nhiên gom hết tất cả các hải đảo nằm giữa bán đảo Đông Dương và Phi Luật Tân làm đặc khu kinh tế của Trung cộng và thọc sâu xuống tận hải phận của Mã Lai Á và Nam Dương, tất nhiên cần có một cứ điểm song hành để bảo vệ cạnh sườn phía Tây. Đông Dương là trọng điểm chiến lược của Đông Nam Á. Và Cao Nguyên Trung phần là trọng điểm của Đông Dương.

Đó là
lý do vì sao Trung cộng đã dồn áp lực hối thúc ký nhanh hiệp ước bauxite. Có những nguồn tin xuất phát từ thượng tầng của Mặt Trận Tổ Quốc thì thầm về những lời đe dọa của Trung quốc đối với Đảng, và mua chuộc đối với nhà nước Việt Nam. Cao nguyên chính là mục tiêu. Bauxite chỉ là cái cớ. Trung cộng đã vồ được một mối “nhất cử lưỡng tiện”. Chỉ có Việt Nam là mọi bề thua lỗ. Đang gặp hoàn cảnh kinh tế suy sụp, toàn bộ đồn điền cao nguyên phen này tiêu vong đời đời.

Cộng Sản Việt Nam có thể làm gì để chống lại mưu đồ Trung cộng?

Tối thiểu và cấp kỳ là nhà nước cộng sản Việt Nam phải bày tỏ thái độ ngay trước khi quá muộn. Bày tỏ thái độ để cho khói ASEAN lên tiếng phản kháng Trung quốc. Không gây hấn, nhưng tiếp đến là phải bày quân bố trí các địa thế xung yếu ở Cao Nguyên để nói lên rằng nếu Trung quốc quá lộng hành, ắt phải có phản ứng, có phản ứng tất nhiên Liên Hiệp Quốc phải lưu ý, và các nước ASEAN phải quan tâm.

Không lẽ “quân đội nhân dân anh hùng” từ nửa thế kỷ nay, với quân số hơn một triệu, cảnh sát công an thêm một triệu tay súng, lại cam tâm quỳ mẹp trước gót giày của quân cướp nước? Hãy noi gương của hải quân Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa ở Hoàng Sa năm 1974, đánh một trận để lưu danh muôn thuở.

Cao Nguyên và Cam Ranh là thành trì thiên nhiên của Đông Nam Á, hãy tích cực xây dựng công sự phòng ngự để tự vệ. Chết vinh là ở đó mà Sống nhục cũng là ở đó.

Trong quá trình chi phối toàn bộ chính trị kinh tế quân sự của Trung quốc đối với Việt Nam trong mấy thập niên qua, nhân dân Việt Nam đã sẳn sàng câu trả lời:

Hồ Cẩm Đào nói “Láng giềng hữu nghị, Hợp tác toàn diện, Ổn định lâu dài, Hướng tới tương lai”.

Nhân dân Việt Nam đã đáp lại: Láng giềng khốn nạn, cướp đất toàn diện, lấn biển lâu dài, thôn tính tương lai.

Hãy biến Đông Dương thành nấm mồ chôn quân xâm lược để cứu nguy giống nòi và đất nước Việt Nam.

CỰU Trung Tướng LỮ LAN

Cựu Trung Tướng : Lữ Lan ( Chỉ Huy Trưởng Cao Đẳng Quốc Phòng )

– Tư Lệnh, Sư Đoàn 25 Bộ Binh, 1962; Sư Đoàn 23 Bộ Binh, 1964; Sư Đoàn 10 Bộ Binh, 1965
– Tổng Cục Trưởng Tổng Cục Quân Huấn, TTM, 1966
– Tư Lệnh Quân Đoàn II, 1968-1970
– Tổng Thanh Tra Quân Lực, 1972-1974
– Chỉ Huy Trưởng, trường Cao Đẳng Quốc Phọng, 1974-1975

http://www.vietbao.com/?ppid=45&pid=115&nid=143366

TRích TRên Mạng Sina

Trích lục những đoạn trong các bài viết của Trung Quốc trên mạng Sina

“Hiện nay, Việt Nam là mối đe dọa chủ yếu nhất đối với an ninh lãnh thổ Trung Quốc, là trở ngại lớn nhất đối với sự trỗi dậy của Trung Quốc. Nhìn từ góc độ khác cho thấy Việt Nam cũng là đầu mối và trung tâm chiến lược của toàn bộ khu vực Đông Nam Á. Muốn kiểm soát lại Đông Nam Á cần chinh phục Việt Nam. Chinh phục Việt Nam là bước đầu tiên cũng là bước quan trọng nhất để Trung Quốc mở rộng về phía Nam

Việc thực hiện đòn đột kích mang tính hủy diệt đối với khu vực trung tâm của địch là điều then chốt để giành chiến thắng trên mặt đất. Khu vực ven biển miền Trung Việt Nam có một địa phương gọi là Thanh Hoá. Khu vực này là mũi cực Nam của đồng bằng sông Hồng, là cửa đi ra biển của sông Mã. Từ Thanh Hoá hướng về phía Nam và Đông Tây, địa hình đột nhiên thu hẹp lại giống như cổ con rắn, chia cắt Việt Nam thành 2 phần Nam-Bắc hoàn toàn khác nhau.
Còn một điểm nữa là Mỹ luôn nhòm ngó vào Việt Nam . Chỉ cần chúng ta tiến hành chiến tranh với Việt Nam , Mỹ nhất định sẽ tìm cách ngăn cản. Chỉ cần nhanh chóng đưa lực lượng mặt đất vào, biến Việt Nam thành một chiến trường thực sự, hình thành cục diện hỗn chiến, thì mới có thể triệt để ngăn chặn Mỹ thọc tay vào

“Hiện nay, Việt Nam là nước gây phiền phức nhất ở Biển Đông , cũng là nước tranh giành được nhiều lợi ích nhất. Trung Quốc cần phải trừng phạt Việt Nam để răn đe các nước Đông Nam Á khác tranh cướp Biển Đông của chúng ta, để các nước khác biết rằng nước nào dám xâm phạm lợi ích của Trung Quốc, Trung Quốc sẽ tiến hành ngăn chặn răn đe chiến lược, đánh nhỏ đối với Việt Nam không có hiệu quả lớn, phải đánh để cho Việt Nam không bao giờ quên.”

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

Món quà bauxite cho Trung Quốc

Posted by hoangtran204 trên 10/05/2009

ôm qua 7/5 Bauxite Việt nam đưa tin này từ trang nhà của The Financial Times F►, nhưng vẫn còn nhiều nghi ngại, ở chỗ nội dung, nay trở thành tiêu đề của BBC

BXVN

“Món quà bauxite cho Trung Quốc”

8 tháng 5, 2009

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng có vòng công du một tuần sang Trung Quốc

Sau hàng loạt bài trên các báo quốc tế về vụ khai thác bauxite gây điều tiếng ở Việt Nam, nay tờ Financial Times của Anh nói hẳn rằng đây chính là “món quà của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng” cho phía Trung Quốc.

Bài của David Pilling hôm 06/05/2009 nhìn vào cách thức một “nước Trung Hoa đang vươn lên” tìm cách làm lu mờ Nhật Bản và tăng sức ép lên các nước láng giềng.

Nhưng trong hoàn cảnh của Việt Nam, tác giả nói vụ khai thác bauxite là vấn đề nổi bật, cho thấy thực chất mối quan hệ với Trung Quốc.

Lần đầu tiên, một báo lớn ở Phương Tây dùng từ “quốc gia phụ thuộc” (client states) để nói về cách mối quan hệ này đang hướng tới.

Theo tác giả, Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng có vòng công du một tuần thời gian gần đây để “được tiếp kiến” các lãnh đạo Trung Quốc.

Hiển nhiên, điều này không nói lên gì về cá nhân Thủ tướng Dũng vì ông cũng chỉ làm như Tổng thống Pháp Nicolas Sarkozy “tự đến khách sạn để được gặp ông Hồ Cẩm Đào” trong dịp Hội nghị G20 ở London vừa qua.

Nhưng điểm quan trọng là, theo bài báo, thủ tướng Việt Nam “đã mang theo các món quà bauxite của Việt Nam, thứ tài nguyên tạo ra nhôm” (nguyên văn: He brought with him gifts of Vietnamese bauxite, the main raw material for aluminium).

Tác giả David Pilling gọi đây là cách “triều kiến Trung Quốc” (pay tribute to China) và nói về tương quan thế lực hai bên.

Việt Nam đã hoàn toàn bất lực khi Trung Quốc đuổi ExxonMobil ra khỏi dự án với PetroVietnam. Bình luận của Financial Times

Thâm hụt mậu dịch của Việt Nam với Trung Quốc cũng là vấn đề được hàng loạt báo chí quốc tế như trên Wall Street Journal, New York Times, The Economist hay Asia Times nêu ra như một lý do vì sao chính quyền Việt Nam cứ quyết tâm thúc đẩy vụ bauxite.

Nhưng David Pilling nói Việt Nam “đã hoàn toàn bất lực khi Trung Quốc đuổi ExxonMobil ra khỏi dự án với PetroVietnam” năm ngoái.

Trong khi không có ai ở Việt Nam, nước từng bị Trung Quốc “chiếm đóng 1000 năm” muốn vội vã trải thảm đón đầu tư của Trung Quốc Financial Times viết rằng chính quyền Việt Nam đã cấm một tờ báo nêu ra vấn đề gai góc về lãnh thổ với Trung Quốc.

Nhắc đến những phản đối vì lý do môi trường tại Việt Nam khi nhà nước đưa ra dự án bauxite, bài báo nói “Chính quyền cũng chỉ nói cho qua chuyện những lo ngại về môi sinh”.

So sánh với khu vực

Một điểm đáng chú ý khác là sự so sánh vị thế và cách hành xử của Hàn Quốc và Việt Nam trong quan hệ với Bắc Kinh.

Bài báo nói Trung Quốc cũng là bạn hàng lớn nhất của Hàn Quốc và ngược lại, các công ty Nam Hàn đã đầu tư tới 40 tỷ đô vào Trung Quốc.

Trung Quốc nắm trong tay lá bài Bắc Hàn khiến Nam Hàn phải e ngại

Mặt khác, Trung Quốc cũng nắm con bài Bắc Hàn vốn là yếu tổ an ninh chủ đạo cho sự sống còn của nhà nước Nam Hàn.

Hàn Quốc cũng có lúc công khai tỏ thái độ khi định nghĩa các quyền lợi chiến lược và ngoại giao của họ đối với Trung Quốc.

Financial Times, bản trên mạng đưa tin rằng Bộ Ngoại giao Hàn Quốc giữa tháng Tư đã công bố một bản phúc trình nói rằng “ảnh hưởng gia tăng của Trung Quốc có thể khiến nỗ lực ngoại giao của Seoul nhằm đảm bảo an ninh về tài nguyên bị nguy hại”.

Sự việc đã gây ra một cú chao đảo nhỏ trong quan hệ hai bên, nhất là vì báo cáo cũng đề nghị Seoul phải “có biện pháp chống đỡ đối với Trung Quốc”, nhưng rút cuộc các quan chức ngoại giao Hàn Quốc đã phải tìm cách giải tỏa căng thẳng vì quan hệ song phương quá quan trọng.

Còn đối với Đài Loan, đây là ví dụ thứ ba cho thấy sức hút của Trung Quốc.

Tuy Đài Bắc vẫn mua 6,5 tỷ đôla vũ khí từ Hoa Kỳ để phòng thủ trước Trung Quốc, có vẻ như bên cạnh chiến lược cải thiện quan hệ kinh tế, ngoại giao với Bắc Kinh vẫn được xúc tiến.

Vẫn Financial Times nói chính phủ Mã Anh Cửu gần đây cũng cho các công ty Trung Quốc vào đầu tư và rất có thể sẽ chuẩn thuận vụ công ty China Mobile mua 12% cổ phần trị giá 533 triệu đô trong công ty Far EasTone chuyên về điện thoại di động ở Đài Loan.

Không biết có phải tình cờ hay không mà cùng lúc Trung Quốc đã đồng ý Đài Loan hưởng quy chế quan sát viên tại Tổ chức Y tế Thế giới.

Bài báo kết luận rằng với thế lực của Nhật Bản ngày càng giảm sút vì kinh tế trì trệ, Trung Quốc đang tìm cách gây sức ép lên các nước láng giềng, trong đó Việt Nam là nước bị ép nhiều nhất.

Nguồn: http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/2009/05/090508_ft_china_vietnam.shtml

Ascendant China eclipses trailblazing Japan

Published: May 6 2009 22:39 | Last updated: May 6 2009 22:39

0){if (nl.getElementsByTagName(“p”).length>= paraNum){nl.insertBefore(tb,nl.getElementsByTagName(“p”)[paraNum]);}else {if (nl.getElementsByTagName(“p”).length == 3){nl.insertBefore(tb,nl.getElementsByTagName(“p”)[2]);}else {nl.insertBefore(tb,nl.getElementsByTagName(“p”)[0]);}}}}
// –>

There has been much chatter about the “G2” lately. But the idea that the US and China can together, and semi-exclusively, take on the world’s biggest problems is overdone. That day may come. For the moment, though, there are limits to how much an authoritarian government presiding over a relatively poor country can contribute to global problem-solving. For now, the rise of China and the relative decline of the US is more likely to mean a multi-polar than a bipolar world.

Yet China’s growing economic weight and its more assured strut on the world stage is having a definite impact regionally. A recent editorial in South Korea’s Chosun Ilbo newspaper struck an awestruck tone on the subject of “China’s clout”. It described a meeting on the fringes of last month’s Group of 20 summit in London in which Nicolas Sarkozy, France’s president, told Hu Jintao, his Chinese counterpart, that Paris would not support Tibetan independence. Almost more important than what it termed the “white flag of surrender” over Tibet was the detail that Mr Sarkozy had to travel to Mr Hu’s hotel for an audience. In Asia, etiquette is everything. Even Hillary Clinton, not usually known for her reticence, was said to have been quiet on human rights, Taiwan and Tibet. The editorial offered a simple explanation: “China owns $1,400bn [€10,530bn, £9,320bn] of US assets.”

There is a mixed sense of pride and trepidation at the rise of an Asian superpower. Especially when it comes to smaller nations in China’s penumbra, there are signs that, like client states of old, countries are pragmatically paying tribute to Beijing. Take Nguyen Tan Dung, Vietnam’s prime minister. He recently spent a week touring China, having, like Mr Sarkozy, travelled for the privilege of a hearing. He brought with him gifts of Vietnamese bauxite, the main raw material for aluminium, humbly beseeching China for investments of up to $15bn in what are the world’s third largest reserves of the ore. Hanoi is understandably anxious to close its $11bn trade deficit with China through mineral exports.

Not everyone in Vietnam, a colony of China for 1,000 years, is happy about spreading out the investment welcome mat so readily. Dissenters have opposed Chinese bauxite investments on environmental grounds, one of the few safe avenues of protest in one-party Vietnam. The government has paid lip-service to those concerns, but has clamped down on at least one publication that risked Beijing’s ire by drawing attention to well-known territorial disputes Vietnam has with China. Last year, Hanoi was powerless to stop Beijing warning off ExxonMobil from a deal with PetroVietnam in waters China considers its own.

South Korea, which has an altogether sturdier economy than Vietnam, does not have to pussyfoot around to the same extent. But small incidents are revealing. In mid-April, South Korea’s finance ministry caused a low-level diplomatic stir by issuing a report called the “Beijing Consensus”, in which it said that China’s growing influence over developing countries “could put Korea’s diplomatic efforts to secure natural resources in peril”. Seoul, it said, should come up with measures to counter Beijing’s expanding clout.

That report caused some embarrassment for South Korean diplomats stationed in Beijing, who scrambled to play it down. As one South Korean China-hand confided, the stakes are high. China is the only country with anything resembling leverage over North Korea and its rogue nuclear weapons programme. As with Vietnam, China is Korea’s biggest trading partner. South Korean companies have invested $40bn in China and 5.8m people travel between the two countries each year, quite an increase from the 40,000 who made the short hop during the 1980s. “When the rooster crows in Shandong, you can hear it in Korea,” goes one saying. It must be particularly audible when the rooster in question is a member of the Communist party apparatus.

Taiwan is a third example of Beijing’s magnetic pull. The island state, which recently bought $6.5bn of US arms to help defend itself from mainland China, has simultaneously been scrambling to patch up diplomatic and economic relations wrecked by the previous government’s rhetoric about formal independence. The government of Ma Ying-jeou agreed last month to open up investment to Chinese companies and is likely to approve China Mobile’s $533m purchase of a 12 per cent stake in Far EasTone, a Taiwanese mobile operator. Coincidentally, or not, Beijing has deigned to allow Taiwan observer status at the World Health Organisation’s annual assembly, dropping its customary objection to the attendance of an island state it considers a mere province of China. Taiwan’s stock market has jumped nearly 15 per cent in a few days at the prospect of closer ties.

The sort of sway Beijing exerts contrasts markedly with Tokyo’s rather forlorn attempts at regional leadership. Certainly, postwar Japan has had a very real impact on Asian development from South Korea to Thailand (even China itself) through its trailblazing example and through its aid, investment and transfer of technology. But, hampered by its failure to heal wartime rancour, Japan has struggled to translate its huge economic advantage into diplomatic influence. Now, Japan’s economic lead is being eroded daily by China. Tokyo has never worn the mantle of regional leader all that convincingly. Beijing looks ready to don it as to the manor born.

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

Posted by hoangtran204 trên 09/05/2009

Bài đọc thêm:

Can đảm là chống cự lại với nổi sợ, làm chủ nổi sợ, nhưng không thiếu vắng sự sợ hải

1./ On Courage

Dan Millman

A little girl was suffering from a rare and serious disease. Her only chance of recovery appeared to be a blood transfusion from her five-year-old brother, who had miraculously survived the same disease because he had developed the antibodies needed to combat the illness.

The doctor explained the situation to her little brother and asked him whether he was ready to transfer blood. He hesitated for only a moment, then took a deep breath and said, “Yes, I’ll do it if it will make my sister healthy.”

As the transfusion progressed, he lay in a bed next to his sister. He smiled as seeing the color returning to her cheeks. Then his face grew pale and his smile faded. He looked up at the doctor and asked with a trembling voice, “Will I start to die right away? Please save my dear sister.”

Being young, the boy had misunderstood the doctor; he thought he was going to have to give her all his blood.

Courage is resistance to fear, mastery of fear, not absence of fear.

Mark Twain

————————————————

Ở nơi nào có tình yêu, thì nơi đó có thành công và giàu có đi kèm

Love, Wealth and Success

A woman came out of her house and saw 3 old men with long white beards sitting in her front yard. She did not recognize them. She said “I don’t think I know you, but you must be hungry. Please come in and have something to eat.”

“Is the man of the house home?”, they asked.

“No”, she replied. “He’s out.”

“Then we cannot come in”, they replied.

In the evening when her husband came home, she told him what had happened.

“Go tell them I am home and invite them in!”

The woman went out and invited the men in.

“We do not go into a House together,” they replied.

“Why is that?” she asked.

One of the old men explained: “His name is Wealth,” he said pointing to one of his friends, and said pointing to another one, “He is Success, and I am Love.” Then he added, “Now go in and discuss with your husband which one of us you want in your home.”

The woman went in and told her husband what was said. Her husband was overjoyed. “How nice!!”, he said. “Since that is the case, let us invite Wealth. Let him come and fill our home with wealth!”

His wife disagreed. “My dear, why don’t we invite Success?” Their daughter-in-law was listening from the other corner of the house. She jumped in with her own suggestion: “Would it not be better to invite Love? Our home will then be filled with love!”

“Let us heed our daughter-in-law’s advice,” said the husband to his wife.

“Go out and invite Love to be our guest.”

The woman went out and asked the 3 old men, “Which one of you is Love? Please come in and be our guest.”

Love got up and started walking toward the house. The other 2 also got up and followed him. Surprised, the lady asked Wealth and Success: “I only invited Love, Why are you coming in?”

The old men replied together: “If you had invited Wealth or Success, the other two of us would’ve stayed out, but since you invited Love, wherever He goes, we go with him. Wherever there is Love, there is also Wealth and Success!”

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

Ăng Ghen Nói thật nổi lòng mình…

Posted by hoangtran204 trên 06/05/2009

Những phụ nữ tham gia đấu tranh

chính trị, xã hội là bạn hay thù?

Tristram Hunt

người dịch : Trần Hoàng

Ông tổ của đảng cộng sản, Frederic Engels, đã từng lên án chuyện đĩ điếm nhưng chính ông ta ưa thích chuyện ấy; ông kêu gọi sự bình đẵng, nhưng không thừa nhận quyền bầu cử của người phụ nữ. Tristram Hunt viết một cuốn sách về Engels và nhận xét rằng: Engels đối xử với phụ nữ không công bình một cách kỳ lạ, nhưng lại là người đi khai sáng cho họ.

“Điều quan trọng tuyệt đối là bạn nên rời khỏi nước Bỉ đáng chán ấy một lần và đến Paris, và về phần tôi thì tôi có một ước muốn rất to lớn là đi uống rượu cho thật say, đùa giỡn và quậy phá cùng với bạn,” Engels đã viết thư gởi tới Karl Marx năm 1846 như thế đó.

Engels viết tiếp “Nếu tôi có khoảng 5000 đồng tiền Pháp, tôi sẽ không làm việc gì hết ngoại trừ làm tình với các phụ nữ và tự làm cho mình vui sướng với bọn họ cho đến khi tôi bị tan vỡ ra thành từng mảnh nhỏ. Nếu không có các phụ nữ Pháp, đời sống sẽ không còn gì đáng sống nữa. Nhưng trong lúc có các cô gái trẻ người Pháp ở tầng lớp hạ lưu [các gái điếm] thì đời thật là sung sướng và ngọt ngào làm sao!”

Đời sống của Engels, (một nhà Marxist làm chủ hãng), là một trong những gì tự trái nghĩa cực độ nhất – đặc biệt khi nói đến phong trào đấu tranh mang lại bình đẳng cho nữ giới.

Engels là một người theo chủ nghĩa xã hội, ông là người đã lên án chuyện chơi gái điếm như là “sự lợi dụng bằng cách đụng chạm tiếp xúc – trực tiếp tấn công vào cơ thể người phụ nữ – với người công nhân của bọn trưởng giả”, thế nhưng Engels lại là người thường trực thưởng thức sự phục vụ của gái điếm.

Engels đã đòi hỏi quyền bình đẵng cho nữ giới, nhưng ông lại không thể nào chịu đựng nổi việc làm bạn với các phụ nữ có đạo đức.

Trong tác phẩm Nguồn Gốc của Gia Đình, Tư Sản, và Quốc Gia, viết từ những năm 1880 của Engels, ông viết rằng hành động sinh đẻ của phụ nữ nên được xem là có giá trị bằng với sự sản suất theo ý nghĩa của sự hiện hữu.

Sự trỗi dậy của nữ giới được hình thành một phần là do một nỗ lực rộng lớn hơn của Engels đã dò dẫm theo sự thăng trầm về quyền lực của người phụ nữ bên trong xã hội phương tây. Sau nhiều năm đắm chìm trong việc nghiên cứu môn nhân loại học và lịch sử thời cổ đại, Engels đã kết luận rằng trong các xã hội nguyên thủy các thói quen về mối quan hệ, cưới hỏi nói chung và thói liên hệ tình dục bừa bãi,…đã nói lên rằng nguồn gốc tổ tiên của một đứa bé chỉ có thể được thiết lập bằng chế độ mẫu hệ. Vì thế các phụ nữ đã được đối xử bằng một sự kính trọng cao độ và được hưởng nhiều quyền lực xã hội rất lớn*.

Nhưng cấu trúc của gia đình đã thay đổi một cách nhanh chóng trong nhiều thế kỷ tiếp sau đó. Khi các giai đoạn của việc sản suất phát triển dần dần từ thô sơ, tới thiếu văn minh và rồi văn minh, gia đình đã thành hình từ một sự trải dài ra như thế, việc “cùng một huyết thống” thành lập ra một kiểu mẫu: chồng, vợ và hai con.

Trong thế kỷ thứ 19, điều làm thay đổi gia đình là phương cách sản suất của chủ nghĩa tư bản đã báo hiệu cho cái chết của các quyền phụ nữ (chấm dứt chế độ mẫu hệ).

Các hệ thống của việc thừa tự về vật chất đã xuất hiện cùng lúc với sự xuất hiện của quyền tư hữu. Để truyền tài sản tới cho các con cái, những người cha đòi hỏi rằng phụ-hệ phải được thiết lập một cách chắc chắn, và kết quả là, phái nam đặt ra những giới hạn nghiêm khắc về sự độc quyền trước kia của phụ nữ (trong chế độ mẫu hệ, phụ nữ có khả năng hành động và đưa ra các quyết định mà không bị kiểm soát bởi nam giới).

Chủ nghĩa tư bản xuất hiện trên “thế giới đánh bại vai trò lịch sử của phái nữ. Đàn ông nắm quyền chỉ huy trong gia đình, người phụ nữ bị hạ thấp và giảm xuống còn vai trò phục vụ; phụ nữ trở thành người nô lệ theo ước muốn tình dục của đàn ông và thành một công cụ dành cho việc sinh đẻ ra các em bé.”

Theo Angels, trong các xã hội cộng sản nguyên thủy cổ xưa, các phụ nữ được tự do và được vinh danh. Nhưng sau khi có sự tan rã của các xã hội cộng sản nguyên thủy, thì những người phụ nữ đã bắt đầu trở nên bị đè nén nhiều hơn.

Điều mà lịch sử của sự phân biệt về giới tính đã chứng mình là: chẳng có điều gì mà không thay đổi được về chuyện coi người đàn ông là độc tôn (cái gì cũng tốt hơn và ưu việt hơn nữ giới): Sự bất bình đẵng giữa nam và nữ là sản phẩm của các hệ thống kinh tế cụ thể nào đó, thay vì thực tế sinh học.

Engels đã chứng kiến được các hậu quả của sự bất bình đẵng như thế vây chung quanh ông ta. Nền văn hóa trong giai đoạn từ 1845-1900 rất ưa chuộng hình thức của một gia đình hạt nhân theo kiểu thượng lưu ở thời ấy. Marx và Engels đã chất vấn trong cuốn Cộng Sản Luận: “căn cứ vào đâu mà người ta cho rằng đấy là một gia đình trưởng giả thượng lưu?” Rồi hai ông trả lời: “Dựa vào tiền bạc, tài sản, dựa vào mức thu nhập riêng tư mà họ được coi là một gia đình trưởng giả. Gia đình kiểu nầy chỉ hiện hữu giữa giới trưởng gia thượng lưu” Nhưng giữa các gia đình thuộc giai cấp thợ thuyền thì lại vắng mặt các tiêu chuẩn ấy.

“Tất cả những thành tựu của chế độ một vợ một chồng của Thanh Giáo ở Anh là một mối liên hệ vợ chồng của buồn chán nặng
nề, được biết như là ‘hạnh phúc trong nhà’.

Người vợ thuộc giai cấp trưởng giả khác với cô đĩ điếm ở điểm người vợ ấy không biết làm việc như một người công nhân lãnh lương, nhưng bán hết đời mình một lần cho kiếp nô lệ.”

Nhưng nếu có cuộc cách mạng xảy ra, những điều nầy sẽ là khác. Một khi mà sự giàu có mang tính chất di truyền được trả lại vào bể chung của tài sản xã hội, sau đó các nền tảng cơ bản về kinh tế của gia đình sẽ tan rã ra. “Sự bình đẳng thật sự giữa nam nữ có thể trở thành một thựcc tế chỉ khi nào việc sử dụng tiền bạc của cả hai giới nam nữ bị xóa sạch,” Engels cắt nghĩa.

Với sự xóa bỏ quyền tư hữu [xóa bỏ chủ nghĩa tư bản], nam nữ có thể cưới nhau vì ưa thích lẫn nhau, chứ không phải là vì tiền bạc; nhiều người có thể thay đổi bạn tình theo ý muốn và tránh cái cột mốc vô dụng của việc tiến hành các thủ tục ly dị” và các hệ thống của cộng đồng dành cho việc nuôi dạy trẻ sẽ dạy các nguyên lý và học thuyết [cộng sản] cho thế hệ kế tiếp.

“Gia đình” sẽ phát triển thành một nước hậu tư bản về chủ nghĩa cộng sản gia đình và về tình dục giống như tổ tiên nguyên thủy của họ.

Vào những năm 1920, ủy viên giáo dục Anatoli Lunacharski đã có nỗ lực đưa một phiên bản trong học thuyết của Engels vào thực tế ở Nga. Ông ta giải thích: “Vấn nạn bây giờ của chúng ta là chấm dứt làm việc nhà và giải phóng người phụ nữ khỏi việc chăm sóc cho trẻ em.”

Và đã từng có những nỗ lực của nhiều nước cộng sản suốt thế kỷ thứ 20 để đương đầu với những điều cơ bản về sự bất bình đẳng trong kinh tế bằng cách mang người phụ nữ vào lực lượng lao động, xã hội hóa các đơn vị gia đình, và bảo đảm quyền bình đẳng giáo dục.

Đối với quan điểm của Engels, khái niệm gia đình phải biến mất.

Những đối tác sống chung trọn đời với Engels là hai chị em không biết chữ – lúc đầu, Engel sống với Mary, sau đó sống chung với Lizzy Burns – thuộc “dòng máu công nhân người Ái Nhĩ Lan thuần chủng”, Engels có thể đã gặp được những người phụ nữ này ở hãng do người cha của ông làm chủ.[ngược lại,] Bản thân Engels trước đó lại lên án khuynh hướng của các tay chủ hãng là lợi dụng việc nắm tay đàn bà con gái; còn chính bản thân Engels thì ông ta làm đúng y như vậy (và còn nhiều gấp mấy lần hơn vậy nữa).

Và thêm vào việc sống chung với hai chị em Mary Burns và Lizzy Burns, Engels còn có một đống các tình nhân người Pháp, những cuộc tình trăng hoa khắp mọi nơi, và thậm chí là một vụ cáo buộc về tội cưỡng hiếp (Engels đã chối bỏ chuyện nầy trong giận dữ).

Engels đã chăm sóc cho cả hai chị em Mary và Lizzy Burns trong những ngày hấp hối của họ — và ngay cả cưới Lizzy vài giờ trước khi Lizzy qua đời. Engel đồng ý ước nguyện sau cùng của Giáo Hội Công Giáo Ái Nhĩ Lan là cho phép họ đứng ra làm phép cưới, trái nghịch với sự không ưa thích mạnh mẽ của ông ta đối với “thói đạo đức giả về phép cưới của bọn trưởng giả”

Engels đã hỗ trợ cho các bạn bè phái nữ qua việc tiến hành các thủ tục ly dị và thậm chí đã bầu cho các ứng cử viên phụ nữ trong các cuộc tuyển cử vào hội đồng giáo dục* vì “các phụ nữ nầy thì rất đáng ghi nhận vì rằng họ nói rất ít mà làm nhiều – trung bình là hơn 3 người đàn ông”.

Chỉ có một vài ba nhà tư tưởng vĩ đại là có thể sống khác hẳn với lý tưởng của họ, và Engels thì sống trái nghịch nhất so với bất cứ nhà tư tưởng nào.

người dịch : Trần Hoàng

Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2009


*Trong chế độ mẫu hệ, phụ nữ là người ban phát tình yêu cho người đàn ông nào mà họ muốn. Họ có quyền lấy nhiều người đàn ông theo ý thích của họ, và con cái lấy họ mẹ.

Lưu ý: người dịch lượt bỏ một vài đoạn so với bản gốc,vì tác giả viết đi ra ngoài ý chính, và các đoạn ấy không liên quan gì với Engels, có thể sẽ làm bạn đọc cảm thấy chán.

———–

Feminist friend or foe?

Friedrich Engels condemned prostitution but enjoyed it himself; called for equality but dismissed female suffrage. Tristram Hunt on a strangely enlightened sexist

———–

“It is absolutely essential that you get out of boring Brussels for once and come to Paris, and I for my part have a great desire to go carousing with you,” Friedrich Engels wrote to Karl Marx in 1846. “If I had an income of 5000 francs I would do nothing but work and amuse myself with women until I went to pieces. If there were no Frenchwomen, life wouldn’t be worth living. But so long as there are grisettes [prostitutes], well and good!”

The life of Friedrich Engels, the mill-owning Marxist, was one of supreme self-contradiction – particularly when it came to feminism. He was a socialist who condemned the use of prostitutes as “the most tangible exploitation – one directly attacking the physical body – of the proletariat by the bourgeoisie”, but then regularly enjoyed their services. He demanded female equality, but couldn’t bear the company of high-minded women. Engels was the intellectual architect of socialist feminism, and an old-fashioned sexist.

In today’s public culture, when the personal is forever political, we seem to find it impossible to disassociate such personal exposés from the philosophical legacy. But in doing so, we risk dismissing in Engels one of the most creative modern thinkers on gender and the family.

Engels’ relevance rests on a now little-read tract from the 1880s, The Origin of the Family, Private Property and the State. Its controversial starting point was that the female act of reproduction should be regarded as of equal worth as the production of the means of existence, of which there were few higher human callings in Marx and Engels’ materialist template. With that stroke, the role and function of women in Mar
xist society was understood as something more profound.

This elevation of womanhood formed, in turn, part of a broader attempt by

Engels to trace the rise and fall of female power within western society. Following years of immersion in anthropology and ancient history, Engels concluded that in primeval societies the habits of kinship, common marriage and promiscuity meant that a child’s lineage could only be established with any certainty along the matrilineal line. As a result, women were treated with a high degree of respect and enjoyed much greater social authority.

But the family structure changed dramatically down the centuries. As the stages of production evolved from savagery to barbarism to civilization, so the family developed from extended, “consanguine” forms down to the husband, wife and two kids model. In the 19th century, what underpinned the family was the capitalist mode of production that, in turn, signalled the death knell for women’s rights.

With the arrival of private property came systems of inheritance. To pass property on to their biological offspring, fathers now demanded that paternity be established beyond doubt and, as a result, imposed strict limitations on female autonomy.

Capitalism ushered in “the world historical defeat of the female sex. The man took command in the home also, the woman was degraded and reduced to servitude; she became the slave of his lust and a mere instrument for breeding children.”

All of which meant sexism was a historical and sociological construct. In primitive communist societies, Engels suggested, women were “free and honourable”. But following the disintegration of such societies, women started to become more oppressed. What this history of discrimination proved was that there was nothing immutable about male chauvinism: inequality was the product of specific economic systems, rather than biological fact.

And Engels witnessed the effects of such inequality all around him. Mid-Victorian culture had made a fetish of the nuclear family form – symbolised most readily in the irredeemably middle-class monarchy of Victoria and Albert. “On what foundation is the present family, the bourgeois family, based?” Marx and Engels had first asked in The Communist Manifesto. “On capital, on private gain. In its completely developed form, this family exists only among the bourgeoisie. But this state of things finds its complement in the practical absence of the family among the proletarians, and in public prostitution.”

For beneath the covered table legs, there festered hypocrisy. “All that this Protestant monogamy achieves is a conjugal partnership of leaden boredom, known as ‘domestic bliss’.” The bourgeois wife “differs from the ordinary courtesan in that she does not let out her body on a piecework as a wage worker, but sells it once and for all into slavery.”

But come the revolution, things would be different. Once inheritable wealth was turned back into a shared pool of social property then the narrow, economic foundations of the restrictive “pairing” family would disintegrate. “True equality between men and women can become a reality only when the exploitation of both by capital has been abolished,” Engels explained.

With the elimination of private property, men and women could marry for “mutual affection”, not money;

people could change partners at will and avoid “the useless mire of divorce proceedings”; and communal systems of child-rearing would indoctrinate the next generation. The “family” would evolve to a post-capitalist state of sexual and familial communism remarkably like its primitive forebears.

In the 1920s, Anatoli Lunacharski, the Soviet commissar of education, attempted to put a vulgarised version of Engels’ thinking into practice. “Our problem now is to do away with the household and to free women from the care of children,” he expounded.

And there was a concerted attempt by many communist states during the 20th century to confront the economic underpinnings of inequality by bringing women into the labour force, socialising the family unit and ensuring equal access to education.

Nowhere more so than in China, where “the face of Engels,” as one sociologist in the 1980s put it, “is familiar to every Chinese citizen.” From its inception, the People’s Republic of China theoretically committed itself to improving the economic rights of women.

In the west, Engels has inspired numerous feminist socialists. Kate Millett recorded in her 1970 book, Sexual Politics, how Engels’ treatment of marriage and the family as historical institutions, “subject to the same processes of evolution as other social phenomena … laid the sacred open to serious criticism, analysis, even to possible drastic reorganisation … The radical outcome of Engels’ analysis is that the family, as that term is presently understood, must go.”

If truth be told, Engels would have found the company of Millett hard to bear.

He had no time for the views of “affected, ‘eddicated’” ladies, be they the theosophist Annie Besant or the women’s rights campaigner Gertrud Guillaume-Schack.

And as for “these little madams, who clamour for women’s rights”, Engels regarded the campaign for female suffrage as a distinctly middle-class distraction.

His lifetime partners were two illiterate sisters – first Mary, then Lizzy Burns – of “genuine Irish proletarian blood”, who he might have picked up from his father’s mill. Engels had once condemned the tendency of mill owners to take advantage of female hands; here, he did just that. And alongside the Burns sisters were a series of French mistresses, affairs and even an allegation of rape (furiously denied by Engels).

He cared for both Mary and Lizzy in their dying days – even marrying the latter on her deathbed, granting an Irish Catholic’s last wish despite his ideological aversion to the “bourgeois hypocrisy of marriage”.

He supported female friends going through divorce proceedings and even voted for female candidates in school board elections as “the ladies here are notable for the fact that they do very little talking and a great deal of working – as much on average as three men”.

Few great thinkers are able to live out their ideals, and Engels was more contradictory than most. But the personal is not always political; philosophy exists beyond the person. And if much of Engels’ life no longer appears very enlightened, in an era when part-time male workers earn some 36% more than their female equivalents and one third of British women in work take home less than £100 per week, his insights into the economic foundations of sexual inequality seem as relevant as ever.

• The Frock-coated Communist: The Revolutionary Life of Friedrich Engels by Tristram Hunt is published by Allen Lane, priced £25. To order a c
opy for £23 with free UK p&p, go to guardian.co.uk/bookshop or call 0330 333 6846.

Posted in Uncategorized | 1 Comment »

Economic Relations between the United States and China and China’s Role in the Global Economy

Posted by hoangtran204 trên 05/05/2009

Bang Giao Trung Quốc-Mỹ: Những Sự Kiện Lớn 1972-2005

(10/08/2005) (Xem: 20390)
Tác giả : Vương Hồng Anh
– Theo ghi nhận của các phân tích gia, cách đây hơn 33 năm,vào hạ tuần tháng 2/1972, khi Tổng thống Richard Nixon công du Hoa Lục, gặp Mao Trạch Đông và Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai, Hoa Kỳ đã xác định được mục tiêu chiến lược là sẵn sàng muốn chấm dứt hơn 20 năm thù địch, cô lập Hoa Lục để giảm bớt những khó khăn khi rút khỏi cuộc chiến Việt Nam theo mô thức “Việt nam hóa chiến tranh” mà Tổng thống Nixon đề ra từ năm 1969, đồng thời làm lệch cán cân quân sự với Nga, khi mà Mạc Tư Khoa và Bắc Kinh đang có những bất đồng lớn về chính trị. Từ sau chuyến viếng thăm của Tổng thống Nixon, mặc dù có sự khác biệt trong ý thức hệ, có hệ thống xã hội, kinh tế, chính trị đối nghịch, nhưng Hoa Kỳ và Trung Quốc đã bắt tay với nhau. Và ngày 1/1/1979 Hoa Kỳ và Trung Quốc đã công nhận nhau và thiết lập mối quan hệ ngoại giao kể từ ngày này. Sau đây là những sự kiện lớn về quan hệ giưã Trung Quốc và Mỹ từ 1972 đến tháng 9/12005.
*Những điểm đồng thuận giữa Hoa Kỳ và Hoa Lục trong thông báo chung ngày 1/1/1979 khởi đầu cho mối bang giao.
Trong bản tuyên bố chung, Hoa Kỳ và Trung Quốc đồng thuận những điểm sau đây.
-Hoa Kỳ công nhận Chính phủ Trung Quốc là Chính phủ hợp pháp duy nhất của nước Trung Hoa. Trong khuôn khổ này, người dân Hoa Kỳ sẽ duy trì quan hệ văn hóa, thương mại cùng các quan hệ không chính thức khác với người dân Đài Loan.
-Hoa Kỳ và Trung Quốc tái khẳng định những nguyên tắc đã được hai bên đồng thuận trong Thông cáo chung Thượng Hải và một lần nữa nhấn mạnh rằng:
1, Hai bên đều mong muốn giảm bớt nguy cơ xung đột quân sự quốc tế.
2, Cả hai đều không mong muốn tìm kiếm ưu thế bá chủ tại khu vực châu Á-Thái Bình Dương hay bất kỳ khu vực nào khác trên thế giới; cả hai đều phản đối nỗ lực của bất kỳ quốc gia nào hoặc nhóm quốc gia nào khác muốn thiết lập địa vị bá chủ ấy.
3, Cả hai không sẵn sàng thương lượng đại diện cho bất kỳ bên thứ ba nào hoặc không tham gia vào những thoả thuận song phương nhằm vào các nước khác.
4. Chính phủ Hoa Kỳ thừa nhận lập trường của Trung Quốc rằng chỉ có một Trung Quốc và Đài Loan là một bộ phận của Trung Quốc.
5. Cả hai tin rằng việc bình thường hố quan hệ Trung Hoa-Hoa Kỳ không chỉ nằm trong lợi ích của người dân hai nước mà còn đóng góp vào sự nghiệp hoà bình ở châu Á và trên thế giới.
Hoa Kỳ và Trung Quốc đồng thuận trao đổi Đại sứ và thiết lập Sứ quán vào ngày 1/3/1979.
*Những sự kiện lớn trong bang giao Trung Quốc-Hoa Kỳ
Từ ngày 1992 đến nay, mối bang giao giữa Hoa Kỳ – Trung mang ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với tình hình khu vực và thế giới. Sau đây là những sự kiện lớn trong quan hệ ngoại giao giữa Trung Quốc và Mỹ kể từ năm 1972.
-Ngày 21 – 28/2/1972: Tổng thống Hoa Kỳ Richard Nixon thăm Hoa Lục, ra tuyên bố chung Thượng Hải vào ngày 28/2, khởi đầu cho tiến trình bang giao giữa Hoa Kỳ và Hoa Lục.
-Ngày 22/2/1973: Hoa Kỳ và Trung Quốc tuyên bố thành lập văn phòng liên lạc.
-Từ ngày 1 đến ngày 5/12/1975: Tổng thống Hoa Kỳ Gerald Ford thăm Hoa Lục.
-Ngày 16/12/1978: Hoa Kỳ và Trung Quốc ra thông cáo chung để nghị thiết lập quan hệ ngoại giao. Bản thông cáo chung ghi rằng cả hai nước đều công nhận lẫn nhau và chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao vào 1/1/1979. Theo đó, hai nước sẽ trao đổi đại sứ và mở đại sứ quán vào 1/3/1979.
-Ngày 1/1/1979: Hoa Kỳ và Trung Quốc chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao. Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ chính thức thông báo với chính quyền Đài Loan rằng, Hiệp ước phòng thủ chung Hoa Kỳ – Đài Loan (US-Taiwan Mutual Defense Treaty) chấm dứt vào 1/1/1980.
-Từ ngày 28/1 đến 5/2/1979: Phó Thủ tướng Trung Quốc Đặng Tiểu Bình và phu nhân thăm chính thức Hoa Kỳ theo lời mời của Tổng thống Hoa Kỳ Jimmy Carter.
-Ngày 28/2/1979: Hoa Kỳ và Đài Loan đóng cửa ”các sứ quán”.
-Ngày 10/4/1979: Tổng thống Hoa Kỳ Carter ký Đạo luật Quan hệ Đài Loan (Taiwan Relations Act).
-Ngày 31/12/1979: Hoa Kỳ chấm dứt Hiệp ước phòng thủ chung Hoa Kỳ – Đài Loan ký năm 1954.
-Ngày 17/8/1982: Hoa Kỳ và Trung Quốc ra thông cáo chung về việc giảm dần và giải quyết vấn đề Hoa Kỳ ván vũ khí cho Đài Loan.
-Ngày 10-16/1/1984: Thủ tướng Trung Quốc Triệu Tử Dương thăm Hoa Kỳ.
-Từ 26/4 đến 1/5/1984: Tổng thống Hoa Kỳ Ronald Reagan thăm Trung Quốc.
-Từ 22 đến 31/7/1985: Chủ tịch Trung Quốc Lý Tiên Niệm thăm Hoa Kỳ.
-Từ 24 đến 27/2/1989: Tổng thống Hoa Kỳ George Bush (cha) thăm Trung Quốc.
-Ngày 2/10/1989: Phó Thủ tướng Trung Quốc Tiền Kỳ Tham đưa ra 4 đề nghị tăng cường quan hệ Hoa Kỳ – Trung Quốc.
-Tháng 6/1991: Hoa Kỳ tuyên bố áp đặt 3 lệnh trừng phạt đổi với Trung Quốc – ngừng xuất cảng vệ tinh và các linh kiện liên quan, hạn chế xuất cảng máy điện tốnh tốc độc cao, cấm xuất cảng các sản phẩm liên quan tới hỏa tiễn cho một số công ty của Trung Quốc.
-Ngày 19/11/1993: Chủ tịch Trung Quốc Giang Trạch Dân hội kiến với Tổng thống Mỹ Bill Clinton tại Seattle, Washington, bên lề Hội nghị thượng đỉnh APEC.
-Ngày26/5/1994: Tổng thống Hoa Kỳ Bill Clinton tuyên bố gia hạn quy chế tối huệ quốc cho Trung Quốc.
-Ngày 14/11/1994: Chủ tịch Trung Quốc Giang Trạch Dân và Tổng thống Hoa Kỳ Clinton hội kiến tại Nam Dương trong khuôn khổ hội nghị không chính thức của các nhà lãnh đạo APEC.
-Ngày 24/10/1995: Chủ tịch Trung Quốc Giang Trạch Dân gặp gỡ với Tổng thống Hoa Kỳ Bill Clinton trong khuôn khổ hội nghị thượng đỉnh kỷ niệm 50 năm thành lập Liên Hiệp Quốc.
-Ngày 24/11/1996: Chủ tịch Trung Quốc Giang Trạch Dân hội đàm với Tổng thống Hoa Kỳ Clinton tại Phi Luật Tân trong khuôn khổ hội nghị không chính thức của các nhà lãnh đạo APEC.
-Ngày 24-25/3/1997: Phó Tổng thống Hoa Kỳ Al Gore thăm Trung Quốc.
-Ngày 19/5/1997: Tổng thống Hoa Kỳ Bill Clinton tuyên bố gia hạn quy chế Tối huệ quốc cho Trung Quốc thêm một năm nữa.
-Ngày 26/10 đến 2/11/1997: Chủ tịch Trung Quốc Giang Trạch Dân thăm chính thức Mỹ.
-Ngày 6-14/4/1999: Thủ tướng Trung Quốc Chu Dung Cơ thăm chính thức Hoa Kỳ.
-Tháng 3/2001: Phó Thủ tướng Trung Quốc Tiền Kỳ Tham thăm Hoa Kỳ.
-Tháng 4/2001, một phi cơ chiến đấu của Trung Quốc và phi cơ do thám Mỹ đụng độ trên bầu trời đảo Hải Nam, khiến quan hệ song phương trở nên căng thẳng.
-20-21/2/2002: Tổng thống Mỹ Bush (con) thăm Trung Quốc.
-27/4/2002- 3/5/2002: Phó Chủ tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Đào thăm Hoa Kỳ.
-22/10/2002 – 25/10/2002: Chủ tịch Trung Quốc Giang Trạch Dân thăm Hoa Kỳ.
-22/9/2003: hai chiến hạm có hỏa tiễn dẫn hướng của Hoa Kỳ đã cập quân cảng Trạm Giang ở tỉnh Quảng Đông, căn cứ của hạm đội Hải quân phía nam Trung Quốc. Đây là một trong những hoạt động nhằm tăng cường quan hệ quân sự đôi bên. Hai chiến hạm này là Tuần dương hạm USS Cowpens và tàu khu trục USS Vandegrift là đại diện đầu tiên của Hải quân Hoa Kỳ tới căn cứ miền nam của Trung Quốc
*Sự kiện lớn bên lề hội nghị thượng đỉnh kỷ niệm 60 năm thành lập Liên Hiệp Quốc
-Ngày13-9-2005: Chủ Tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Đào và Tổng Thống George W. Bush nói chuyện tại bên lề cuộc họp của Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc ở New York, cam kết sẽ tiếp tục hợp tác để chấm dứt chương trình vũ khí hạch tâm. Chủ tịch TQ Hồ Cẩm Đào phát biểu qua một thông dịch viên rằng ông sẽ tìm cách làm giảm “những va chạm” giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ, nhưng ông không tỏ ý tán thành sự vận động của Hoa Kỳ để cấm vận Iran.Nhắc tới những liên hệ Hoa Kỳ-Trung Quốc, Chủ tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Đào nói rằng việc “xử lý thích đáng” về Đài Loan, mà Trung Quốc coi là một tỉnh ly khai của Hoa Lục và Bắc Kinh quyết sẽ tái thống nhất đảo này với Hoa Lục, là điều thiết yếu đối với sự hợp tác giưã Trung Quốc và Hoa Kỳ trong tương lai. Ông Hồ Cẩm Đào nói: “Tôi hy vọng Hoa Kỳ sẽ phối hợp với Trung Quốc để bảo đảm hòa bình và ổn định ngang qua Eo Biển Đài Loan và chống đối ý định đòi độc lập của Đài Loan.”Trong dịp này, Tổng Thống Bush thúc đẩy nhà lãnh đạo Trung Quốc về vấn đề nhân quyền, và các viêni chức của chính phủ Hoa Kỳ đã trao cho các đồng nhiệm trong phái đoàn của Hồ Cẩm Đào một danh sách gồm những trường hợp vi phạm nhân quyền đáng quan tâm.
——

Các Mối Quan Hệ giữa Mỹ và Trung Quốc và Vai Trò của Trung Quốc trong Nền Kinh Tế Toàn Cầu

Economic Relations between the United States and China and

China’s Role in the Global Economy

John B. Taylor

Under Secretary of Treasury for International Affairs

Committee on Ways and Means

House of Representatives

October 30, 2003

Chairman Thomas, Ranking Member Rangel, Members of the Committee, thank you for giving me the opportunity to testify on economic relations between the United States and China and on China’s role in the global economy.

International Economic Strategy

Our economic relations with China are an important part of our overall economic strategy. The goal of that strategy is to strengthen the current economic recovery and establish conditions that will lead to a long economic expansion in the United States.  The economic expansions of the 1980s and the 1990s were the first and second longest peacetime expansions in American history, and with the right policies there is no reason to expect that the current expansion will not be as long or longer.  The Jobs and Growth package enacted into law this summer, is an essential part of the policy, as are the President’s proposals for tort reform, regulatory reform, and health care reform.

But even with these policy reforms in the United States there are barriers to economic growth in other countries.  And these barriers have ramifications for economic growth in the United States. This is why the international component of our economic strategy is so important.

The strategy has been to urge the removal of rigidities and barriers wherever they exist, and to encourage pro-growth and pro-stability policies that benefit the United States and the whole world. The international strategy is built on bilateral economic relationships, including, of course, our

relationship with China.  It also has a multilateral foundation, including the meetings of groups such as the G-20, where China is included, or the newly established talks between economic officials from China and the G-7.

Global Economic Recovery (Sự phục hồi kinh tế toàn cầu)

Thanks to the recent fiscal and monetary policy actions, the United States economy is now expanding much more rapidly.  Consumer spending is growing at a very strong pace, housing remains solid, and business investment is picking up. The latest data also show exports to be gaining strength compared with the first half of the year. The September employment data showed a promising increase in jobs as well.

Global growth is also improving. There is continuing evidence of stronger economic growth in the Japan, Canada, and the United Kingdom. An increase in business and consumer confidence in the Euro area is a welcome sign that economic recovery is on the way there too.  Much of Asia seems to have bounded back from the SARS induced slowdown in the first part of the year. Growth in China recovered sharply in the third quarter following a decline in the second quarter.  Growth in other emerging markets is also picking up as the number of crises is down, capital flows are up, and interest rate spreads are low compared with the late 1990s

Pressing Ahead on the Global Economic Expansion

Despite this progress, we need to do more.  Last month the G7 launched a new Agenda for Growth. For the first time each G7 country will take part in a process of benchmarking and reporting actions to spur growth and create jobs.  Another example is the new United States-Brazil Group for Growth through which we will work together to identify pro-growth strategies at the micro as well as macro levels. Exchange rate policy also has bearing on growth and stability. Earlier today the Treasury issued its latest Report on International Economic and Exchange Rate Policies.  This report examines exchange rate policies in major countries around the world.  The Report reiterated our view that flexible exchange rates are desirable for large economies.  However, the report documents that a number of countries continued to use pegged exchange rates and/or to intervene substantially in the foreign exchange market.  The Administration strongly believes that a system of flexible, market-based exchange rates is best for major economies.  For this reason, the Bush Administration is aggressively encouraging our major trading partners to adopt policies that promote flexible market-based exchange rates combined with a clear price stability goal and a transparent system for adjusting the policy instruments.

The move by several large emerging market countries—such as Brazil, Korea, and Mexico—to flexible exchange rates combined with clear price stability goals and a transparent system for adjusting the policy instruments is one of the reasons we are seeing fewer crises and greater stability. We emphasize that the choice of an exchange rate regime is one where country ownership is particularly important. We also recognize that, especially in the case of small open economies, there are benefits from a “hard” exchange rate peg, whether dollarizing, as with El Salvador, joining a currency union, as with Greece, or using a credible currency board, as in Bulgaria.

The Economy of China and its Links to the United States and the Global Economy

Let me now address China’s economy.  Economic reforms in China have increased economic growth and transformed China into a major economy in the world, both in terms of total production and in terms of purchases and sales of goods with the rest of the world. Yet, with per capita income of only about $1,000 per year and with financial, legal and regulatory systems in need of reform, China still faces challenges in its effort to catch up with developed economies.

China’s global current account surplus was under 3 percent of GDP in 2002 and declined to 1.8 percent in the first half of 2003.  Despite the relatively small overall surplus, China has a large trade surplus with the United States. This means, of course, that China has a large deficit with the rest of the world. China’s bilateral trade surplus with the United States was $103 billion in 2002 while China’s trade deficit with the rest of the world was about $73 billion, leaving an overall surplus of $30 billion.   Many imports from China are goods from other Asian economies that are processed or finished off in China before shipping to the United States and other countries. Other East Asian economies increasingly send goods to China for final processing before they are shipped to the United States. China accounted for 11 percent of U.S. imports in 2002, up from 3 percent in 1990. Meanwhile, the combined share of Japan, Korea and Taiwan in U.S. imports declined to 17 percent from 27 percent over the same period. Thus, the total share of U.S. imports coming from these four Asian countries has remained steady since 1990, actually falling slightly from 30 percent to 29 percent.

U.S. imports from China are about 1 percent of U.S. GDP, or 11 percent of total U.S. imports. U.S. imports from China have been increasing rapidly, between 20 and 25 percent in 2002 and 2003. In general, these imports result from China using low-skilled labor to assemble and process imported parts and materials originating in other countries-mostly from other Asian countries that have traditionally exported directly to the United States. Consequently, the share of U.S. imports from these other countries has declined just as China’s share has increased. Asia’s share of U.S. imports has declined slightly. Much of the increase in U.S. imports from China has come at the expense of imports that once came directly from other Asian countries.

At the same time, U.S. merchandise exports to China grew 21 percent in the first 8 months of this year.  Growth has been especially rapid in recent years for U.S. exports to China of transportation equipment (including aircraft engines), machinery, chemicals, and semiconductors.

The U.S. trade deficit with China should be viewed in the context of the overall trade deficit of the United States.  The U.S. trade deficit is spread across many countries of the world in addition to China. For instance, the overall trade deficit reached $468 billion last year with 1) the Americas accounting for $105 billion, 2) Western Europe $89 billion, 3) Japan $70 billion, and 4) China $103 billion. The U.S. overall trade and current account deficit is best understood in terms of the gap between investment and saving in the United States. If this gap were reduced through an increment in savings, the overall deficit could shrink as would the size of the bilateral deficits.  Increased growth abroad is also crucial to increasing U.S. exports.

China’s Exchange Rate Regime

For nearly ten years now (1993-2003), the Chinese have maintained a fixed exchange rate for their currency relative to the dollar. The rate has been pegged at about 8.28 yuan/dollar for the entire period. Thus, as the dollar has appreciated or depreciated in value relative to other currencies, such as the euro or the yen, the yuan has appreciated or depreciated by the same amount relative to these other countries.

To maintain this fixed exchange rate, the central bank of China has had to intervene in the foreign exchange market. It sells yuan in exchange for dollar denominated assets when the demand for the yuan increases and it buys yuan with dollar denominated assets when the demand for the yuan decreases. Recently the central bank has intervened very heavily in the markets to prevent the yuan from appreciating. Since the end of 2001, dollar buying has been so great that the foreign reserves held by the Chinese government have risen by $171 billion to $384 billion (as of end-September).

This accumulation of foreign exchange reserves would tend to expand China’s money supply, although in recent months the Chinese central bank has moved to reign in monetary expansion. Among other measures to sterilize reserve accumulation, the central bank has—for the first time—begun issuing central bank paper to restrict growth of the monetary base. Nevertheless, the broader money supply continues to grow very rapidly: M2 climbed 21 percent over the 12 months ending in September 2003.

It is also important to recognize that China still has significant capital controls. China’s capital controls allow for more inflows than outflows, thus bolstering foreign exchange reserves. China is gradually loosening some controls, and outflows are likely to grow as new channels develop for Chinese to seek diversification and better returns than those offered by low domestic interest rates. Indeed, there is already significant leakage of capital. A relaxation of controls on outflows would reduce upward pressure on the yuan.

Economic Relations between the United States and China

With its rapid growth and substantial foreign exchange reserves, China is now in a position to show leadership on the important global issue of exchange rate flexibility. China represents one of the largest economies in the world, and a flexible exchange rate regime would be a good policy for China. It would allow China to open the nation to capital flows and reduce macroeconomic imbalances. We have been urging China to move to a flexible exchange rate.

We have also urged the Chinese to move forward in two other areas: reductions in barriers to trade and capital flows. In the area of trade, it is important for China to fully implement, and even surpass, the commitments it made to the World Trade Organization. It is important that China continue to open markets to U.S. services, agricultural and industrial products, and to effectively enforce intellectual property laws.

China’s restrictions on capital flows are one of the major rigidities interfering with market forces. The authorities understand this and are beginning to reduce barriers to capital flows and develop more open and sophisticated capital markets. They are also working to strengthen the banking system and liberalize capital flows in order to prepare for a more flexible exchange rate.

Secretary Snow traveled to Beijing last month to urge further progress.  He met Premier Wen, Vice Premier Huang, Central Bank Governor Zhou, and Finance Minister Jin. He met again with the Finance Minister and Central Bank Governor last week in Mexico.

President Bush recently met with President Hu.  He discussed each of these economic issues.  He stressed the importance of reducing barriers to trade, of removing restrictions on the transfer of capital, and of moving to a flexible, market-based, exchange rate.  Recently, both Secretary Evans and US Trade Representative Robert Zoellick traveled to China to stress the importance market opening, especially in the area of trade in goods and services.  In an important recent development, Vice Premier Huang has accepted an invitation to come to the United States to engage in high-level talks with Secretary Snow.

All of Secretary Snow’s meetings have been detailed and candid.  He stated publicly, “the establishment of flexible exchange rates, of a flexible exchange rate regime, would benefit both our nations as well as our regional and global trading partners.” The Chinese reported that they intend to move to a market-based flexible exchange rate as they open the capital account. The central bank governor stated publicly that reform of the exchange rate regime is a central part of their foreign exchange reforms.

Secretary Snow’s visit to Beijing achieved significant progress, including new policy announcements by China’s central bank; liberalized regulations for foreign firms managing their foreign exchange; and significantly liberalized provisions to allow Chinese travelers to take foreign currency out of the country and to do so more frequently. The United States will continue to urge the Chinese to make rapid progress in these areas.

We intend to continue both technical work and high-level talks and on this subject. We have just established a United States-China Technical Cooperation Program in the financial area that will help China develop its financial market infrastructure, including the foreign exchange market.

The Chinese and the G7 agreed to engage in talks about these economic issues. This represents another example of how China, the United States and other affected parties can come together to work on an issue of vital interest to them all. The first meeting between senior officials from the G-7 and China’s finance ministry and central bank took place in September in Dubai, where the Chinese economy, the G7 economies, and other economic issues, were discussed. Further meetings will be scheduled on a regular basis with China, the United States and the other G7 countries. After the Dubai meeting, China’s central bank representative said that China is moving as fast as it can in its reform.

Conclusion

I am pleased to report that our economic strategy is showing progress: global economic growth is accelerating, led by an even stronger acceleration of economic growth in the United States.  Our efforts to engage in financial diplomacy are generating constructive responses, though much more needs to be done.  Active engagement with China and other countries is paving the way toward freer markets. The Administration’s effort to raise growth in the United States and abroad, and thereby create jobs at home is succeeding.

Posted in Chinh Tri Hoa Ky | Leave a Comment »

bô xit ỏ Lào

Posted by hoangtran204 trên 04/05/2009

Lào đầu tư 4 tỷ USD khai thác nhômTHU TRÀ14/07/2008 08:49 (GMT+7)Phản hồi (0) | In bài viết này | [+] Cỡ chữ [-] Ảnh: Để xem được Video bạn cần phải cài Flash Player Video: Lào dự kiến vào đầu năm 2009 sẽ triển khai dự án khai thác quặng bôxít và xây nhà máy sản xuất nhôm, tổng vốn đầu tư 4 tỷ USD trên địa bàn hai tỉnh phía Nam là Champasak và Attapeu. Vừa qua tại thủ đô Vientiane, đại diện các nhà đầu tư (gồm Trung Quốc, Thái Lan và Lào), các quan chức Chính phủ và lãnh đạo chính quyền các tỉnh Attapeu và Champassak, đã có cuộc trao đổi, đánh giá báo cáo kết quả nghiên cứu về hiệu quả kinh tế, tác động môi trường, xã hội của dự án để tổng hợp ý kiến lần cuối chuẩn bị trình Chính phủ Lào. Ông Sisavath Vitasay, một quan chức của Cơ quan nguồn nước và môi trường Lào, cho biết theo kế hoạch, vào tháng 1/2009, công ty xuất khẩu Sino-Lao Aluminium sẽ bắt đầu xây dựng những nhà máy sản xuất nhôm ở huyện Sanamsay của tỉnh Attapeu. Nguồn quặng bôxít cung cấp cho các nhà máy được khai thác trên địa bàn gần huyện Paksong của tỉnh Champassak. Dự kiến các nhà máy sẽ bắt đầu đi vào sản xuất nhôm xuất khẩu từ tháng 4/2012. Sản phẩm của nhà máy là nhôm đã được tinh chế sẽ được xuất khẩu chủ yếu sang các nước ASEAN và Trung Quốc.
http://vneconomy.vn/58097P0C99/lao-dau-tu-4-ty-usd-khai-thac-nhom.htm

11/11/2008 10:01 (GMT+7)

<!–
function ShowImageByPath(imgpath,text)
{
var img = document.getElementById(‘imgTinChiTiet’);
img.src = imgpath;
var divDesc = document.getElementById(‘ctl00_ContentPlaceHolder1_ctl00_SlideShow1_divImg’);
if (divDesc)
{
divDesc.style.display = “”;
divDesc.innerHTML = text;
}
}
function ShowHideDiv(value)
{
var divAnh = document.getElementById(‘ctl00_ContentPlaceHolder1_ctl00_SlideShow1_divAnh’);
var divVideo = document.getElementById(‘ctl00_ContentPlaceHolder1_ctl00_SlideShow1_divVideo’);

if(value == ‘true’)
{
divAnh.style.display =””;
divVideo.style.display =”none”;
}
else
{
divAnh.style.display =”none”;
divVideo.style.display =””;
}
}
function InitMediaLienQuan()
{
var divMediaLienQuanChiTiet = document.getElementById(‘divMediaLienQuanChiTiet’);
if(divMediaLienQuanChiTiet!=null) divMediaLienQuanChiTiet.style.display = “”;

var divVachNganTrang = document.getElementById(‘VachNganTrang’);
if(divVachNganTrang!=null) divVachNganTrang.style.display = “”;

var hdLoadDiv = document.getElementById(‘ctl00_ContentPlaceHolder1_ctl00_SlideShow1_hdLoadDiv’);
ShowHideDiv(hdLoadDiv.value);
}
// –>

Ngân hàng Công thương Việt Nam (Vietinbank) đã quyết định tài trợ 1.200 tỷ đồng (tương đương 72 triệu USD) cho Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam (TKV), để thực hiện dự án nhôm lớn nhất Việt Nam tại Lâm Đồng.

Hợp đồng tài trợ tín dụng này đã được hai bên ký kết ngày 8/11, chỉ sau chưa đầy 1 tháng kể từ khi TKV ký hợp đồng tín dụng trị giá tương đương đầu tiên với Ngân hàng Cổ phần Ngoại thương Việt Nam (VCB) vào ngày 10/10.

Như vậy, với hai hợp đồng đã được ký kết, đến nay tổng số tiền mà các ngân hàng cam kết tài trợ cho dự án này đã lên tới 2.400 tỷ đồng, trong tổng số vốn đầu tư của dự án là 7.787,5 tỷ đồng.

Theo Vietinbank, khoản tín dụng ký ngày hôm nay này nằm trong gói tín dụng 1.650 tỷ đồng mà ngân hàng dành cho TKV. Ngoài ra, Vietinbank cũng đang dành cho các đơn vị thành viên của TKV số tiền trên 2.000 tỷ đồng để thực hiện phương án sản xuất kinh doanh hàng năm cũng như đầu tư vào các dự án lớn, trọng điểm của ngành than.

Dự án tổ hợp bôxít – nhôm Lâm Đồng có diện tích mặt bằng 142ha nằm trên địa bàn thị trấn Lộc Thắng – huyện Bảo Lâm của tỉnh Lâm Đồng. Dự kiến, đến năm 2010, dự án này sẽ đi vào sản xuất kinh doanh với công suất khai thác khoảng 4 triệu tấn quặng bôxít/năm và sản xuất 600.000 tấn alumin/năm, và tạo việc làm tối thiểu cho 500 lao động địa phương.

TKV cho biết, trong 10 năm nữa, tập đoàn còn cần tới 2,5 tỷ USD để đầu tư các dự án, đặc biệt ưu tiên là mở rộng diện khai thác than hầm lò thêm 10 mỏ mới, đáp ứng cho nhu cầu sử dụng than trong nước.

(TTXVN)

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

30 tháng 4 năm 2009 của Hoài Phi

Posted by hoangtran204 trên 01/05/2009

30 tháng Tư, Mẹ (không huyền thoại), và nhạc Trịnh

30/04/2009 | 10:53 chiều |

Tác giả: Hoài Phi

Chuyên mục: Chiến tranh Việt Nam, Văn học – Nghệ thuật
Thẻ: 30 tháng Tư > Trịnh Công Sơn

Bố kể, tối 30 tháng Tư 1975, bố mẹ đưa tôi “đi chơi Bờ Hồ” và mua bóng bay. Trong khi tôi đang bay bổng với niềm vui của một đứa trẻ sống thời bao cấp bỗng một lúc có những mấy quả bóng bay, và trong khi mọi người xung quanh cười nói rộn ràng, bố thấy hoang mang. “Hòa bình ập tới phũ phàng, choáng váng đất trời và xiêu đảo lòng người, gây bàng hoàng, gây đau đớn nhiều hơn là mừng vui.”[1] Khi đó, đại gia đình người Nam kẻ Bắc của bố chưa (và một số sẽ không) được “Nối vòng tay lớn”[2], cũng chưa biết “Gia tài của mẹ”[3] còn/mất những gì. Nhưng bố biết, từ đây mọi sự sẽ khác xưa. Khác như thế nào, bố không hình dung nổi.

Chỉ một tháng sau, gia đình tôi đón mừng thay đổi đầu tiên. Tháng Năm, mẹ vào Sài Gòn (gia đình mẹ tập kết ra Bắc năm 54) 10 ngày. Mẹ về, cuộc đời tôi mở sang trang mới.

Những món quà mẹ mang về (”miền Nam nhận họ, miền Bắc nhận hàng”) thời ấy làm cả phố trầm trồ, gồm 1 chiếc máy quay đĩa (loại đĩa nhựa), 5 băng (cối) nhạc, ít vải may quần áo, xoài và cau biếu hàng xóm và đồng nghiệp. Tôi được mấy bộ quần áo mới và một đôi dép nhựa bước kêu chút chít. Quà cho bố là ít thuốc lá và ba cuốn sách: Dòng sông định mệnh của Doãn Quốc Sỹ, Vòng tay lửa của Nguyên Vũ, và Mây mưa Thụy Sĩ (trong bộ Z.28) của Người Thứ Tám (aka Bùi Anh Tuấn).[4] Đến giờ tôi vẫn không hiểu tại sao lại là ba cuốn sách đó mà không phải là những cuốn khác.

Trong 5 băng nhạc, tôi còn nhớ được 2: Khánh Ly[5]Sơn ca 7, và Thanh Tuyền – Chế Linh.[6] Phải có một tuổi thơ như (chúng) tôi, mới hiểu được cú sốc và ảnh hưởng văn hóa do nốt “mi thứ” “tủi thân bi đát” của Sơn ca 7 mang lại như thế nào.

Thời đi nhà trẻ thì “yêu chú bộ đội đánh Mỹ tài ghê, tàu bay Mỹ đến đây chú bắn cho tan tành.”[7] Cấp 1 (tiểu học) thì có “đường vinh quang xây xác quân thù,”[8] rồi “Cùng nhau ta đi lên… cố gắng xứng đáng cháu ngoan Bác Hồ.”[9] Và tất nhiên, không thể thiếu món “Năm điều Bác Hồ dạy” yêu (và làm) một số thứ. Cấp 2 và cấp 3 thay “Đội ca” bằng “Đoàn ca.” 18 tuổi (hoặc thiếu chút chút) thì chích tay lấy máu viết đơn, “anh là trai, phải ra chiến trận phen này” vì (đằng nào cũng có) “em chờ anh, với bao chiến công huy hoàng.”[10] Để chàng yên tâm ra mặt trận, cần rất nhiều điều kiện. Thiếp “mặc bom rơi pháo sáng mịt mùng,… vẫn mở đường để xe đi tới”, anh dũng đến “núi (cũng phải) ngả cúi đầu.”[11] Còn vũ khí giết giặc? Thô sơ thì có “mũi chông nhọn sắc căm thù” mà “em (Tây Nguyên – Bauxite) không ngừng tay vót”;[12] hiện đại thì có “Chị em mình đi tải đạn,” và

… mỗi trái đạn đây mang tấm lòng ta

Cùng các anh góp lửa diệt thù
Dù bom rơi, dù bao bốt đồn

mong các anh yên lòng,

từng trái pháo đến tay anh[13]

Còn lương thực?

Cách mạng cần gạo nhiều để đánh Mỹ,
sóc Bom bo sẵn có cối chày đây
người Bom bo sẵn có đôi bàn tay
với tình yêu nước và thù giặc ngày ngày
[14]

Rồi em “gánh gạo”, hái rau, lấy măng (”Muỗi bay rừng già cho dài mà tay áo. Hết rau rồi em có lấy măng không?“)[15] em “nổi lửa” thổi cơm (để “đánh Mỹ đêm ngày”), vì:

vũ khí ta mang đâu có là tên lửa

chỉ bếp than hồng này ủ chín hơi cơm.

Bát nước chè xanh

nhẹ gối bước dồn thêm sức mạnh trên đường đi đánh Mỹ.[16]

Người ra mặt trận đã
ược phục vụ từ A-Z như vậy. Còn người ở lại?

Em “xinh đẹp, đảm đang, việc nước việc nhà vẹn toàn,” tăng gia sản xuất “lúa năm tấn”[17] (chứ không phải như Tây nó đồn là “Từ ngày anh đi ở nhà em đảm đang, đẻ đứa con trai nom giống cả làng”).

Nông thôn đã vậy, thành thị thì sao?

Em ơi tuy giờ đây hai miền còn cách xa
Niềm chia cắt thắt đau lòng chúng ta

Dù xa nhau trọn ngày đêm,

anh càng yêu em càng hăng say xây cho nhà cao cao mãi[18]

(Liệu có phải nhà anh xây? http://www.quocuy.com/?frame=newsview&id=1349)

Vậy chàng phải làm thế nào để xứng đáng với tinh thần phục vụ hăng say tới bến, như vậy? Đương nhiên là chàng phải chiến đấu “quên mình năm lại năm,”[19] cứ thế mà “pháo anh lên đồi cao nã vào đầu giặc Mỹ,”[20] để rồi (cùng tác giả Quốc ca Việt Nam Cộng hòa[21]), “Tiến về Sài Gòn, ta quét sạch giặc thù… tiến về đồng bằng, giải phóng thành đô.”[22]

Trên/dưới mái trường xã hội chủ nghĩa và những lúc chơi nghịch ngoài đường (qua hệ thống loa phường), dù đã sau 1975, tôi vẫn tiếp tục được các bài hát nói trên khuyến khích Nam tiến (one way ticket). Nhưng ở nhà, thì khác. Nhờ chiếc máy quay đĩa và Sơn ca 7, tôi mới (hình như) biết thế nào là “mưa rơi mênh mang, từng ngón tay buồn.”[23] Mưa Trịnh khác mưa Tố Hữu (”Trời mưa ướt áo tứ thân, mưa bao nhiêu hạt thương bầm bấy nhiêu” – “Bầm ơi”) đã đành. Mưa Trịnh cũng khác hẳn “mưa sa trên màu cờ đỏ” của Trần Dần.

Gió Trịnh cũng khác. Gió heo may lại về, chiều tím loang vỉa hè, và gió hôn tóc thề.[24] (Vâng, biết rồi, khổ lắm. Sáo mòn, sến, vân vân. Nói mãi.)

Ngoài Sơn ca 7, mẹ còn mang theo về nỗi ám ảnh với một bài hát mà mẹ được nghe khi ở Sài Gòn.

Tôi có người yêu chết trận Plei-me

Tôi có người yêu ở chiến khu D

Chết trận Đồng Xoài

Chết ngoài Hà Nội

Chết vội vàng, dọc theo biên giới

Tôi có người yêu chết trận Chu-prong
Tôi có người yêu bỏ xác trôi sông
Chết ngoài ruộng đồng, chết rừng mịt mùng
Chết lạnh lùng mình cháy như than

Mẹ không thuộc hết ca từ bài hát mà sau này tôi mới biết có tên là “Tình ca của người mất trí”[25], nhưng mẹ kể mẹ đã khóc khi nghe lần đầu. Với tôi, ấn tượng đầu tiên là sao cô ấy có nhiều người yêu thế. Mà sao ai cũng chết. Những địa danh như Plei-me, Đồng Xoài, Chu-prong nghe xa lạ hơn cả Paris, London. Còn chiến khu D thì tôi hình dung nó ở đâu đó xa hơn (đi) B. Mãi sau này tôi mới khóc. Và luôn nhớ mẹ mỗi khi nghe lại bản nhạc này.

Mưa Trịnh buồn. Gió Trịnh buồn. Tình Trịnh buồn (”một người về đỉnh cao, một người về vực sâu, để cuộc tình chìm mau…” – “Tình nhớ”). Đời Trịnh càng buồn hơn. Cát bụi mệt nhoài (”Cát bụi”). Cánh chim bỏ rừng,… trái tim bỏ tình. (”Cho một người nằm xuống”). Nhưng với tôi, nhạc Trịnh là liều thuốc giải.

Nhờ Sơn ca 7, “Từ ấy trong tôi”[26] đã biết buồn.[27]


[1] Bảo Ninh, Nỗi buồn chiến tranh. Chương 3: http://vnthuquan.net/truyen/truyen.aspx?tid=2qtqv3m3237nnntnnn0n31n343tq83a3q3m3237nnn

[2] Trịnh Công Sơn, “Nối vòng tay lớn,” http://www.youtube.com/watch?v=Tzf5YKlCHQs

[3] Trịnh Công Sơn, “Gia tài của mẹ,” http://www.youtube.com/watch?v=80VCegJzvCA

[4] Sở dĩ tôi nhớ rõ tên ba cuốn (hấp dẫn, nóng bỏng, li kì, toàn “vòng tay lửa” với lại “mây mưa”) ấy, vì sau này tôi tìm (mọi) cách đọc trộm chúng (và đã thành công, không thành danh), dù bố mẹ tôi đã cố giấu kỹ, vì sợ (không phải tôi).

[5] “Nhưng lần này, và cũng là lần đầu tiên, Sơn ca 7 sẽ đưa quý vị về với khung trời hoa bướm ngày xưa, với tiếng hát nồng nàn tình ái của Khánh Ly” – Lời giới thiệu, chép theo trí nhớ.


[6]
Tên băng được viết tay. Băng Thanh Tuyền – Chế Linh: tên Thanh Tuyền để trước, không biết liệu có phải nhằm nịnh đầm, hay đề cao nữ quyền không. Trong băng này, tôi còn nhớ được hai bài. Bài thứ nhất là “Tình bơ vơ,” rất thịnh hành ở các đám cưới thời hậu chiến, khi cô dâu chú rể “vui duyên mới” đã được phép không cần phải lo lắng tới việc “không quên nhiệm vụ” nữa. Bài thứ hai, “Vòng tay xin giữ trọn ân tình,” có những câu mà thời trẻ dại tuổi teen, tôi trót bị ảnh hưởng những câu “em yêu một người trai, lạnh lùng đi giữa đời, thường gục đầu vào cánh tay…” và đem lòng say nắng một “chàng” đáp ứng đúng tiêu chuẩn đó. Ít lâu sau, phát hiện ra nguyên nhân chàng gục đầu vào cánh tay và lạnh lùng là do chàng… dốt quá, không biết nói gì, tôi đã phải bỏ của chạy lấy người. May mà của hồi đó chỉ gồm mấy chiếc khăn (nhờ bạn) thêu (hộ).

[7] Trong bài này, tôi chỉ đề cập đến một phần rất nhỏ những bài hát nổi tiếng (và không chỉ có giá trị tuyên truyền) ở miền Bắc trong thập niên 60, 70 và sang cả nửa đầu thập niên 80. Bài chú bộ đội bắn tàu bay Mỹ: không rõ tên tác giả và tên bài.

[8] Văn Cao, “Quốc ca”.

[9] Phong Nhã, “Đội ca”.

[10] Hoàng Việt, “Lá xanh,” http://www.youtube.com/watch?v=InU2E_dQAtg

[11] Xuân Giao, “Cô gái mở đường” http://www.youtube.com/watch?v=QOlaFLhavJM&feature=related

[12] Hoàng Hiệp, “Cô gái vót chông,” http://www.youtube.com/watch?v=W0nDba8enuo

[13] Lư Nhất Vũ, “Cô gái Sài Gòn đi tải đạn,” http://www.youtube.com/watch?v=6CYJbrCtTus&feature=related

[14] Xuân Hồng, “Tiếng chày trên sóc Bombo,” http://www.youtube.com/watch?v=3F691xxkHpU&feature=related

[15] Hoàng Hiệp, “Trường Sơn đông, Trường Sơn tây,” http://www.youtube.com/watch?v=OocolyBar_w&feature=related

[16] Huy Du, “Nổi lửa lên em,” http://www.nghenhac.info/nhacvietnam_pm.asp?iFile=25363&iType=20

[17] Phó Đức Phương, “Những cô gái quan họ,” http://www.youtube.com/watch?v=PVIPWYBYFRw

[18] Phan Huỳnh Điểu, “Những ánh sao đêm,” http://www.youtube.com/watch?v=FV6WC89gWUQ

[19] Vũ Cao, “Núi đôi”.

[20] Phan Huỳnh Điểu, “Hành khúc ngày và đêm,” http://www.youtube.com/watch?v=zHWlWHc4HUk&feature=related

[21] http://www.youtube.com/watch?v=—UReVcUKc (Nhạc: Lưu Hữu Phước).

[22] Lưu Hữu Phước, “Tiến về Sài Gòn,” http://www.youtube.com/watch?v=Qs31DvTncD8&feature=related

[23] Trịnh Công Sơn, “Tuổi đá buồn,” http://www.youtube.com/watch?v=H9eFhwka4vg

[24] Trịnh Công Sơn, “Nhìn những mùa thu đi,” http://www.youtube.com/watch?v=gOY_fHWlqWg

[25] Trịnh Công Sơn, “Tình
ca người mất trí,” http://www.nghenhac.info/nhacvietnam_pm.asp?iFile=32704&iType=20

[26] Mượn “Từ ấy” của Tố Hữu.

[27] Buồn thế nào, kiểu nào và đến bao giờ, lại là chuyện khác.

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »