Trần Hoàng Blog

Kẻ cướp nhà, cướp đất của công tử Bạc Liêu là…chính quyền cách mạng, nôm na là đảng cướp

Posted by hoangtran204 on 26/04/2016

Thứ hai, 27/9/2010 | 17:47 GMT+7
Chia sẻ bài viết lên facebook Chia sẻ bài viết lên twitter Chia sẻ bài viết lên google+ Email cho bạn bè

Cuộc đời nghèo khó của con trai công tử Bạc Liêu

“Đốt tiền nấu trứng” là câu đồn thổi về công tử Bạc Liêu. Vậy mà ngày nay con trai ông lại đang phải chạy vạy kiếm từng bữa ăn trên chính mảnh đất của tổ tiên.

Trong căn nhà trọ nhỏ ở thị xã Bạc Liêu, ông Trần Trinh Đức – con trai của Công tử Bạc Liêu buồn bã ngắm nhìn cô con gái bị bệnh tâm thần phân liệt, cứ vô tư ngồi cười hềnh hệch. Bằng giọng trầm nhỏ, người đàn ông tuổi đã quá 60 cho hay, cuộc sống của gia đình ông hiện tại là chạy cơm mỗi bữa, tài sản duy nhất là chiếc xe máy để chạy xe ôm kiếm sống.

Ảnh dinh thự cũ của Công tử Bạc Liêu

Theo ông Đức, dòng họ ông bắt đầu gặp khó khăn về kinh tế từ khi cha ông mất. Anh em ông bán căn biệt thự ở đường Nhất Linh, nay là đường Nguyễn Huy Tưởng, quận Gò Vấp, TP HCM để chia mỗi người một phần. Riêng ông thì chuyển về ở nhờ nhà vợ tại đường Huỳnh Tịnh Của, quận 3. Dù buôn bán lặt vặt ở đất Sài Gòn nhưng nhờ được kế thừa một phần tài sản của Công tử Bạc Liêu nên cuộc sống tạm ổn. Thế rồi đứa con gái duy nhất của ông sa vào bài bạc, bị lừa cả tình lẫn tiền dẫn đến mắc nợ và bị bệnh tâm thần phân liệt. Vợ chồng ông phải bán hết tài sản còn lại để trả nợ cho con nhưng vẫn không đủ đành dắt díu nhau sang Campuchia lánh nợ với đủ thứ nghề.

Giọng nghèn nghẹn, ông Đức kể, sau hai năm trốn nợ bên đất khách quê người, năm 2000 ông Đức dẫn vợ con về lại TP HCM sống với nghề chạy xe ôm. Ông phải làm việc từ 5h sáng đến tận nửa đêm nhưng cuộc sống vẫn mãi nghèo túng vì ngoài chi phí sinh hoạt, gia đình ông phải mua thuốc điều trị cho con gái. Đến tháng 7 vừa qua, gia đình ông về cố hương tìm chốn dung thân.

y7

Tài sản duy nhất của ông Đức giờ chỉ còn chiếc xe máy.

Trở lại khuôn viên dinh thự của dòng họ Trần Trinh giàu nhất xứ Bạc Liêu xưa, nay được trùng tu thành khách sạn Công tử Bạc Liêu, ông Đức con trai của Công tử Bạc Liêu với người vợ thứ hai quê Mỹ Tho cho biết cha mình có đến 4 người vợ. Ngay từ lúc lọt lòng, ông Đức đã mồ côi mẹ nên cùng anh trai là Trần Trinh Nhơn được cha đón về sống trong “nhà lớn”, chị ông Đức là bà Trần Thị Thảo sống với bà ngoại ở Mỹ Tho.

“Tôi sinh ra lúc ba tôi còn giàu có nên hồi 7 tuổi đã được ông gửi học tại Trường Lasan Taberd (nay là Trường THPT Lê Lợi, TP Sóc Trăng) thuộc dòng La Salle Saigon, cuối tuần lại rước về “nhà lớn”. Vài năm sau, ông đưa anh em tôi lên Sài Gòn học để cùng nhau quản lý tài sản là các dãy nhà phố và sống tại biệt thự số 117 Nguyễn Du. Sau này chúng tôi chuyển qua ở biệt thự trên đường Nhất Linh”, ông Đức bồi hồi nói.

Xuất thân giàu có, ảnh hưởng sự phong lưu của cha nên những năm tháng vàng son, không chỗ vui chơi nào ở Sài Gòn mà ông Đức không biết đến bởi đêm nào cũng đi nhảy đầm. Người em cô cậu ruột của ông là ông Phan Kim Khánh khi ấy cũng học ở Sài Gòn và “ham vui” có tiếng. Ông này biết trong “nhà lớn” có 5 cặp bình màu xanh lục (lục bình) có dấu ấn vua chúa được ông ngoại Hội đồng Trạch mua được từ bên Tàu. Mỗi lần vui chơi hết tiền, ông Khánh được một đại gia nổi tiếng trong giới kinh doanh xe máy ở Sài Gòn “xúi” về quê “chôm” cặp lục bình mang lên bán với giá 250.000-300.000 đồng/cặp (thời ấy giá lúa chỉ có 1,7 đồng/giạ) để lấy tiền tiêu xài. Đến năm 1975, khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, ông Khánh chính là người trực tiếp bàn giao 3 cặp lục bình còn lại cùng với toàn bộ tài sản là khu “nhà lớn”, đất đai, các khu phố… ở Bạc Liêu cho chính quyền cách mạng.

Cũng theo hậu duệ của Công tử Bạc Liêu, dòng họ Trạch thời đó sở hữu điền sản cò bay thẳng cánh với 145.000 ha ruộng lúa và 10.000 ha ruộng muối nằm dọc theo biển Bạc Liêu. Ngày cha ông về nước sau 3 năm du học bên Pháp, ông nội tất bật lên Sài Gòn mua ngay chiếc xe Ford mới cáu để đón “quý tử”, cũng là để làm rạng mặt dòng họ Trần Trinh lúc bấy giờ.

d

Dinh thự của Công tử Bạc Liêu giờ thành khách sạn.

Người dân Bạc Liêu vẫn còn truyền lại câu chuyện nhờ cái mác “học bên Tây” về nên Ba Huy được cha rất ưu ái, mua hẳn ca-nô và máy bay để đi làm ăn, thu nợ và… thăm ruộng lúa, ruộng muối. Vậy là, ngoài vua Bảo Đại, Ba Huy là người dân sở hữu máy bay tư nhân đầu tiên ở Việt Nam. Có lần qua Rạch Giá thăm ruộng, Ba Huy hứng chí lái luôn máy bay ra Hà Tiên chơi. Do mải bay nên xăng hết không hay buộc lòng phải đáp khẩn cấp xuống đất Thái Lan (nước Xiêm). Trong lần “nhập cảnh trái phép” này Ba Huy bị bắt giữ và phạt 200.000 giạ lúa, buộc họ Trạch phải đưa một đoàn ghe dài chở lúa qua chuộc “quý tử” về.

Xung quanh chuyện giàu có của cha ông, ông Đức luôn cho đó là những kỷ niệm đáng nhớ mang theo suốt đời vì cái tên Công tử Bạc Liêu đã “vang danh” cả nước. Tuy nhiên, không ai “giàu ba họ” nên giờ đây nhiều người con của Công tử Bạc Liêu đang sống trong cảnh khốn khó, trong đó có ông.

Ông Đức kể, năm 1974 cha ông qua đời tại Sài Gòn, anh em ông đưa thi hài về quê an táng và lập mộ tại khu nhà mồ ở khu đất hương hỏa 1.000 ha tại Cái Dầy, thị trấn Châu Hưng (Vĩnh Lợi, Bạc Liêu). Lúc đó, dù đất hương hỏa rộng lớn nhưng con cái tứ tán nên bị lấn chiếm, sang bán dẫn đến mất gần hết tài sản. Khu nhà mồ dòng họ Trần Trinh hiện nay đường đi rất khó khăn bởi cỏ mọc cao hơn đầu người.

Đầu năm 2009, một doanh nghiệp ở Bạc Liêu hay tin con trai Công tử Bạc Liêu sống đời cơ cực nên đã gợi ý với ông là về Bạc Liêu. Trong một lần về giỗ cha tại khách sạn Công tử Bạc Liêu, ông Đức đã gặp ông Nguyễn Chí Luận (giám đốc Công ty Cổ phần Địa ốc Bạc Liêu) và bày tỏ nguyện vọng muốn về quê lập nghiệp. Chính vì vậy mà vị giám đốc này đã cho ông mượn khu đất rộng 300 m2 với thời gian 50 năm, nằm đối diện khu du lịch Hồ Nam. Đầu tháng 11/2009, ông Luận và nhà văn Phan Trung Nghĩa cùng với ông Đức ra nền đất ấy thắp nhang động thổ xây dựng nhà ở, kết hợp phủ thờ Công tử Bạc Liêu. Tuy nhiên, đã gần một năm trôi qua nhưng khu đất vẫn chỉ là một bãi cỏ mọc um tùm.

“Động thổ để cất nhà lâu rồi mà đất vẫn còn hoang vu, cây cỏ mọc um tùm nên tôi phải ở đậu. Tôi tuổi già thế này thì khó xin được việc. Giờ mỗi ngày cứ phải chạy vạy khắp nơi vay mượn tiền mua gạo và thuốc thang cho con gái”, ông Đức buồn bã nói.

Trao đổi với VnExpress.net, ông Nguyễn Chí Luận cho biết, theo đề nghị của Chủ tịch UBND tỉnh Bạc Liêu, ông sẽ nhanh chóng ứng tiền mua khung nhà gỗ từ huyện Hòa Bình, san lấp mặt bằng trên khu đất cỏ mọc um tùm hiện nay để xây nhà kết hợp phủ thờ Công tử Bạc Liêu giúp ông Đức.

Theo ông Luận, lý do ông cho ông Đức mượn đất 50 năm là vì công ty của ông cũng chỉ được phép sử dụng đất tại khu đô thị Địa ốc Bạc Liêu trong khoảng thời gian ấy. Khoản tiền ông tạm ứng ra để cất nhà sẽ được hoàn lại bằng tiền mà Hội Nhà báo tỉnh Bạc Liêu vận động giúp ông Đức.

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

►Thư của một sinh viên ở Sầm Sơn, Thanh Hóa, gửi lãnh đạo tỉnh

Posted by hoangtran204 on 08/03/2016

FB Sầm Sơn – Vẻ đẹp bất tận

6-3-2016

Khi tôi đăng bài viết này lên đây, có nghĩa những gì tôi viết ở dưới có thể không được để ý. vì vậy, tôi mong các bạn quê mình đọc nó và xem như là vũ khí cho cuộc biểu tình này.

Tôi gửi bức thư này đến tòa soạn báo, đến cộng đồng Thanh Hóa 24h, đến Cổng thông tin điện tử Tỉnh Thanh Hóa, với hy vọng những gì tôi viết trên đây có thể được đăng tải, và các đồng chí lãnh đạo Tỉnh cũng như bạn bè trong và ngoài tỉnh có thể bớt chút thời gian quý báu của mình để đọc nó.

____

Kính gửi Chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hóa cùng các công nhân viên cán bộ trong hệ thống chính quyền tỉnh.

Tôi là: Văn Thị Hương SN 1996

Tại: Sầm Sơn – Thanh Hóa

Hiện là sinh viên năm nhất, khoa Ngôn ngữ Anh đại học Đông Đô.

Tôi gửi bức thư này đến Cổng thông tin điện tử của Tỉnh để kính mong cán ban ngành, các đồng chí lãnh đạo xem xét, giải quyết vấn đề quy hoạch bãi biển Sầm Sơn một cách sáng suốt, hợp lý, hợp tình nhất.

Tôi tin rằng, khi đã được ngồi vào các vị trí lãnh đạo ở cấp Tỉnh, hay bất kì cấp nào khác, các đồng chí đã hơn những người dân rất nhiều phương diện từ văn hóa, trình độ học vấn… cho đến công việc, địa vị xã hội. Tôi chắc rằng, các đồng chí cũng hiểu rất rõ về Sầm Sơn, bởi nó đang là mối quan tâm hàng đầu, nóng hổi và bức xúc nhiều ngày qua.

Người dân Sầm Sơn chúng tôi bao đời nay, từ cha ông cho đến thế hệ chúng tôi, tất cả đều nhờ biển mà sống, mà lớn lên, mà học hành, mà thành người. Biển cho chúng tôi cá ăn, cũng cung cấp cá cho các đồng chí và nhiều người khác. Biển cho chúng tôi được đến trường, được học hành, giúp hàng nghìn hộ chúng tôi có công ăn việc làm, xóa đói, giảm nghèo, đóng góp một phần cho Ngân sách Nhà nước. Điều đó tôi không nói, các đồng chí cũng hiểu rõ.

Du lịch Sầm Sơn khá phát triển song là du lịch mùa vụ, là ngành kinh tế mũi nhọn của địa phương, song không giải quyết hết số lượng lao động thất nghiệp trong địa bàn thị xã, không xóa đói giảm nghèo cho tất cả các hộ dân, du lịch phát triển mà không cho ngư dân kiếm sống, các đồng chí có thấy hố sâu ngăn cách nghèo giàu ngày càng lớn?

Nhìn về hệ thống tổ chức bộ máy chính quyền ở tỉnh và địa phương Sầm Sơn, các đồng chí nghĩ gì khi mình đang ngồi ở vị trí lãnh đạo, khi đang đảm nhiệm những chức vụ công quyền? Khi mà gần đây nhất, ông Trịnh Huy Triều, nguyên là chủ tịch UBND thị xã Sầm Sơn đã sai phạm hàng loạt trong dự án khu nghỉ dưỡng và sân gofl của Tập đoàn FLC cũng như việc xây dựng các ki-ốt kinh doanh du lịch ở địa bàn thị xã đang đương chức ở một vị trí cao hơn – Bí thư Thị ủy? Thân là lãnh đạo cấp cao hơn, các đồng chí tự vấn bản thân mình như thế nào? Trong khi đó, vụ việc về giải phóng mặt bằng ở TX Sầm Sơn đã bao lần người dân có đất bị thu hồi đã gửi đơn kiến nghị đến các đồng chí?

Giờ đây, các đồng chí bất chấp lời kêu van, ý kiến của nhân dân chúng tôi, phớt lờ trước sự an toàn đến thân thể, tính mạng của chúng tôi để quy hoạch bãi biển, các đồng chí thấy thế nào? Hiến pháp 1992 quy định “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền XHCN, của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Tất cả quyền lực thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ tri thức”. Xin hỏi, các đồng chí đã thực hiện đúng mực theo Hiến pháp nước ta chưa?

Ngư nghiệp là một nét đặc trưng văn hóa của Sầm Sơn. Nhìn về khía cạnh khác, hàng trăm năm nay, họ bám biển, đấu tranh với thiên nhiên để bảo vệ con người, thử hỏi, khi những cơn bão đến, các đồng chí có ai sẵn sàng xắn tay áo lên, đẩy tàu bè của dân vào bờ cùng họ, có ai bất kể mưa gió, tình nguyện dứt mình trong chăn ấm nệm êm với vợ, với con cùng họ đấu tranh với thiên nhiên để bảo vệ tính mạng, bảo vệ tài sản chưa? Hay tất cả chỉ là mím môi thực hiện chỉ đạo suông ở trên? Các đồng chí có thấy hổ thẹn với nhân dân vì không thể cùng họ những thời khắc một mất một còn như thế?

Tôi đồng ý rằng, quy hoạch và xây dựng bờ biển nó làm thay đổi căn bản bộ mặt của thị xã, song, bộ mặt của nhân dân trong thị xã sẽ như thế nào? Có chăng cũng là thay đổi, nhưng là thay đổi tương đồng với bộ mặt thị xã, hay là các tệ nạn, thất nghiệp, thất học, mù chữ?

Tôi thử hỏi, 100 triệu các đồng chí bồi thường cho mỗi hộ dân, họ làm gì khi nguồn thực phẩm chính của họ bị mất, đất đai ruộng vườn không còn, khu công nghiệp không có, giá đất tăng vọt, lạm phát tăng, tệ tham nhũng chưa hết? Thử hỏi, các đồng chí lương bổng một tháng bao nhiêu, hay các đồng chí làm những gì mà đi xe ô tô đắt tiền hạng sang, nhà tầng vài ba khu, bữa ăn hàng triệu đồng không sót? Nếu các đồng chí có cách làm ăn gì khấm khá đến thế, sao không chỉ cho dân để cùng làm giàu?

Dân chúng tôi ít học, không hiểu rõ luật pháp, song vẫn biết cái gì là nên, cái gì không được làm. Thử hỏi, các đồng chí có bao giờ quan tâm đến trình độ học thức của từng người dân, tuyên truyền và phổ biến cho họ biết về Hiến pháp và pháp luật nước ta, chủ trương, đường lối của Đảng để từ đó họ biết mà thực hiện? Lấy ví dụ thực tế trong chính bản thân các đồng chí, không chỉ cho các đồng chí cách kéo lưới sao cho đúng, cho an toàn, các đồng chí có làm được không?

Giờ dân chúng tôi đang kêu khóc ngoài cổng trụ sở các đồng chí làm việc, người ở nhà thì bị đánh bị thương nặng, các đồng chí làm gì trước tình hình đó? Chúng tôi bầu các đồng chí lên làm lãnh đạo, không phải chỉ để các đồng chí giải quyết trên bàn giấy, trên lý thuyết mà là để các đồng chí nhìn về thực tế đời sống của người dân chúng tôi mà làm việc. Chúng tôi đánh bắt cá trên biển kiếm sống, phục vụ hàng triệu lượt khách du lịch, thế thì chúng tôi neo đậu tàu thuyền là mất mĩ quan đô thị, là sai trái sao?

Như cái xe ô tô của các đồng chí đang đi, các đồng chí có muốn gửi nó ở một nơi cách xa nhà đồng chí 10km, khi mà từ nhà đến trụ sở chỉ cách 1km? các đồng chí thử trưng cầu ý dân xem, hình ảnh người ngư dân kéo lưới dưới ánh bình minh đẹp hơn, hay là hình ảnh một con đường nhựa trơn nhẵn?

Dọc nhiều tuyến phố tại Tp Thanh Hóa, hàng nghìn người dân kêu khóc, từ người lớn đến trẻ nhỏ, người đáng tuổi cha, mẹ các đồng chí, kẻ đáng tuổi con, tuổi cháu các đồng chí, có nhà không thể về, mưa nắng dãi dầu vẫn ở đó đợi chờ sự đồng ý của các đồng chí, các đồng chí có động lòng mảy may? Tôi chắc là không đâu, bởi các đồng chí còn thực hiện cả một kế hoạch khởi tố chúng tôi vì tội “gây rối trật tự công cộng” cơ mà.

Thực sự chúng tôi không thể hiểu các đồng chí nghĩ gì khi dân khóc than, nằm vạ vật dọc đường, đấu tranh, biểu tình vì cuộc sống của hàng nghìn người, ấy thế mà, các đồng chí, người ngồi nhà cao chỉ tay năm ngón, kẻ đứng quay phim lấy bằng chứng kiện dân? Các đồng chí sinh ra từ dân, hoạt động cho nhân dân, sống nhờ đồng tiền của nhân dân, các đồng chí không thấy hổ thẹn với chính mình, với nhân dân, với Đảng, với Bác, với các thế hệ cha anh đã hi sinh để cho các đồng chí cuộc sống yên bình như ngày nay sao?

Các đồng trả lời báo giới rằng là vì dân chúng tôi sao? Vì dân chúng tôi mà tính mạng của chúng tôi đang bị đe dọa, cuộc sống bình yên no đủ của chúng tôi đang đứng trước nguy cơ mất đi, là do lời nói của các đồng chí, thế là vì chúng tôi sao? Các đồng chí nói rằng đang tìm ra biện pháp tốt nhất sao? Hàng trăm người, với hàng trăm cái đầu hơn cả hàng chục nghìn cái đầu của dân đen chúng tôi mà vẫn chưa tìm được sao?

Để tôi cho các đồng chí một biện pháp thiết thực nhất nhé. Các đồng chí có thể quy hoạch tất cả tàu bè lại một điểm đỗ trên tổng số 3,5km bờ biển đó, xây dựng thành một bến đỗ có quy mô, tổ chức và quy định, phát triển điểm đỗ đó thành một trong những điểm tham quan của du khách, chẳng phải là vẹn cả đôi đường sao?

Tôi hy vọng rằng, các đồng chí sẽ tự vấn bản thân mình từ những việc đã qua, tôn trọng ý kiến của dân và đưa ra quyết định đúng đắn nhất.

Tôi xin cảm ơn!

____

FB Sầm Sơn – Vẻ đẹp bất tận

THƯ NGỎ Gửi Các Bạn Trẻ Tuần Hành Phản đối Chính Quyền ở Sầm Sơn

4-3-2016

Quyết định khởi tố hình sự của Công an Thanh Hóa. Nguồn ảnh: FB Sầm Sơn - Vẻ đẹp bất tận.

Quyết định khởi tố hình sự của Công an Thanh Hóa. Nguồn ảnh: FB Sầm Sơn – Vẻ đẹp bất tận.

Gửi các bạn trẻ đang cùng bà con tham gia tuần hành phản đối chính quyền giao biển giao đất quê hương cho doanh nghiệp và triệt cái nghiệp chài lưới muôn đời của bà con.

Theo tình hình mới, cơ quan công quyền đã đi một nước cờ mới đó là ra quyết định khởi sự tố tội gây rối mất trật tự với bà con. Bà con yên tâm. Đây là nước đi hoàn toàn sai lầm của chính quỳên. Nó sẽ là giọt nước tràn ly, nó sẽ thổi bùng lên ngọn lửa đấu tranh và hướng về ủng hộ của bà con cả nước. Đó cũng sẽ là lý do để bạn bè tiến bộ thế giới hướng về bà con.

Tuy nhiên, để thay đổi cách thức đấu tranh theo tình hình mới. Như một đối sách phản ứng lại nước đi sai lầm của chính quỳên. Các bạn trẻ hãy chia sẻ để bà con tránh sa vào vi phạm pháp luật hiện hành. Các bạn trẻ hãy cùng bà con tiến hành phương thức đấu tranh “bất bạo động”. Đường lối mà thánh Gandhi đã thực hành cho nhân dân Ấn Độ trong quá trình dành lại độc lập dân tộc khỏi thực dân Anh.

Các bạn hãy cùng bà con đọc kỷ 15 điều tâm niệm để thực hành đường lối đó. Đó sẽ là kim chỉ nam giúp bà con đạt được tâm nguyện mà bản thân sẽ luôn cảm thấy thoải mái và nhẹ nhàng khi thực hành nó. Chúc các bạn trẻ, bà con thành công và đòi được công lý cho quê hương.

Mười lăm (15) điều tâm niệm của một người hành động theo tinh thần bất bạo động bao gồm:

  1. Không bao giờ tức giận.
  2. Chấp chận chịu đựng đau khổ đến từ sự tức giận của địch thủ.
  3. Chấp nhận sự đánh đập của đối thủ mà không đánh trả, nhưng sẽ không đầu hàng bởi vì bị đối thủ trừng phạt.
  4. Chấp nhận bị bắt giữ và không chống đối khi tài sản bị chính quyền tước đoạt.
  5. Khi phải giữ tài sản cho người khác thì không thể để bị cướp đi và phải tận lực bảo vệ tài sản đó cho đến chết, nhưng không bao giờ đánh trả lại.
  6. Chủ trương không đánh trả, không trả thù bao gồm thái độ không chửi bới nguyền rủa.
  7. Không chửi rủa đối thủ.
  8. Không phục tùng những đòi hỏi yêu cầu dừng đấu tranh của chính quyền, nhưng cũng không chửi rủa nhân viên an ninh mà chính quyền giao làm nhiệm vụ (vì trong thâm tâm họ cũng thương bà con và ko muốn làm điều đó một chút nào).
  9. Phải sẵn sàng can ngăn và bảo vệ người bị chính quỳên giao nhiệm vụ thực thi pháp luật khi họ bị chửi bới hay đánh đập (đó là bạn đang bảo vệ bà con mình khỏi vòng lao lý).
  10. Khi bị bắt đi thì tôn trọng cán bộ quản thúc và chấp hành các luật lệ đúng với lương tâm, nhưng không thể chấp nhận những việc có thể hạ thấp nhân phẩm.
  11. Ở trong tạm giam thì xử sự như mọi người khác mà không tự xem mình quan trọng hơn. Có quyền đòi hỏi cán bộ ban phát thêm phương tiện cho đời sống tinh thần và sức khỏe cá nhân.
  12. Ở trong khám, không nên tuyệt thực để đòi hỏi thêm phương tiện không cần thiết cho nhân phẩm.
  13. Khi hành động thì vui vẻ tuân theo hiệu lệnh của trưởng nhóm ngay cả khi không đồng ý với hiệu lệnh.
  14. Lập tức thi hành hiệu lệnh mặc dầu không đồng ý, rồi sau này mới kháng nghị lên cấp trên. Khi không đồng ý với đường lối của tổ chức thì có thể rút lui; nhưng khi còn ở trong tổ chức thì không được làm trái điều lệ của tổ chức.
  15. Không đòi hỏi cho gia đình của mình được chăm sóc mà chỉ tin tưởng vào sự trợ giúp của đồng bào.

Kẻ chờ thời hay đón gió để hành động không phải là người thực sự thi hành đúng đường lối bất bạo động. Người theo bất bạo động không thể chỉ chờ đợi cho đến khi các điều kiện trở nên hoàn hảo mới hành động, mà ngược lại phải hành động với bất cứ vật nào trong tay. Song song, bất bạo động không phải là cái vỏ che chở kẻ nhát gan mà là phẩm chất cao quý nhất của người can đảm. Lòng nhát gan hoàn toàn trái ngược với bất bạo động và không bao giờ song hành với bất bạo động như nước khắc lửa.

Người thi hành bất bạo động là người sẵn sàng hy sinh cả mạng sống của mình để bảo vệ sự thật. ‘Sự hy sinh mạng sống cho sự thật chính là chánh điểm của bất bạo động.’ Người thi hành bất bạo động không bao giờ chạy trốn sự hiểm nghèo khi hành động một mình hay chung với người khác và nhất quyết hoàn thành trách nhiệm ngay cả khi phải hy sinh mạng sống cá nhân. Người thi hành bất bạo động phải sẵn sàng hy sinh với nụ cười trên môi mà không có ý trả thù hay ý oán thù trong tim.

Một vài người nghĩ sai là sách lược bất bạo động chỉ có nghĩa là đi tù, hay là bị đánh đập nhưng không còn gì hơn nữa; theo Gandhi, phương pháp bất bạo động loại này không đem lại độc lập cho quốc gia. Bà con muốn giành được biển và nghiệp ông cha để lại thì người thi hành bất bạo động phải học hỏi cách dấn thân hy sinh mạng sống cá nhân mà không sát hại đối phương.

Ps: Các bản trẻ hãy đọc kỷ 15 điều này và hướng dẫn bà con thực hành tốt điều đó, thì nhất định chúng ta sẽ hoàn thành tâm nguyện. Kính chúc bà con khoẻ và thành công!

____

FB Sầm Sơn – Vẻ đẹp bất tận

Thông tin cập nhật ngày hôm nay

6-3-2016

H1Nguồn ảnh: FB Sầm Sơn – Vẻ đẹp bất tận

Phe đối phương:

Phía thị xã vẫn đang tiếp xúc và vận động bà con không biết mệt mỏi trên bàn chè chén”. Hôm nay phòng giáo dục và các thầy cô đã có động thái lên tận hiện trường bà con đấu tranh, để vận động học sinh quay về trường duy trì học tập.

Về phía UB tỉnh, để đối phó tình hình ngày hôm nay, đã có động thái tăng cường bộ đội, công an PCCC… và thật vi diệu là có sự tăng cường của đội ngũ tù nhân mặc thường phục… trà trộn vào đội hình bà con hòng gây rối, đánh trộm và chạy thoát thân dưới sự bảo vệ và giám sát chặt chẽ của xxx… (Động thái đê tiện nhằm gây ức chế để kích đông bà con ta bạo động. Sau đó chúng sẽ vin vào cớ để chúng úp sọt bắt bớ– bà con cần sáng suốt kiên trì đấu tranh “bất bạo động”, quyết không rơi vào bẫy của đối phương).

Và một thông tin mới chưa chính thức là, ngày mai, Bí thư hoặc chủ tịch tỉnh sẽ có cuộc làm việc với các bên liên quan tại Sầm Sơn. (thông tin này bà con cần theo sát để nắm tình hình).

Về đấu tranh bà con ta vẫn duy trì như thường niên, bà con quyết bám hiện trường và tinh thần vẫn rất cao dù thời tiết không thuận lợi. Phía thị xã vẫn đang tiếp xúc và vận động bà con không biết mệt mỏi “trên bàn chè chén”. Hôm nay phòng giáo dục và các thầy cô đã có động thái lên tận hiện trường bà con đấu tranh, để vận động học sinh quay về trường duy trì học tập.

Phe ta:

Về tình hình vụ việc chị Hải ngày hôm qua, thì hôm nay ad đã dõi theo bước chân các bạn sinh viên Sầm Sơn ta tại Hà Nội. Chị đã ổn định và đang duy trì điều trị. Ad cũng đã xác thực từ hai phía, đó là vụ việc chưa rõ nguyên nhân (vì bên gây án không thể gặp, còn phía nạn nhân thì cũng không hiểu vì sao. (hai bên đều có mối quan hệ tốt vì mới hôm trước ngày xảy ra, đối tượng gây án và chồng chị Hải vẫn còn ngồi uống nước cùng nhau).

Nhưng có một điều xác thực từ bà con hàng xóm và cơ quan chức năng cho hay: Vụ việc không liên quan đến việc ép lấy tiền bồi thường giản bản tầu thuyền như dư luận hai ngày qua. Nguyên nhân vụ việc này chúng tôi sẽ có thông báo, khi thông tin được xác thực một cách chính xác nhất từ hai phía. (không đưa tin không dấu đỏ và phỏng đoán mơ hồ một chiều làm nhiễu thông tin và ảnh hưỡng tới nạn nhân cũng như tinh thần đấu tranh của bà con).

Về thông tin gây nhiễu trong cộng đồng mạng xã hội ngày hôm qua, là do chủ quan lẫn khách quan… Lỗi này chủ yếu do các bạn trẻ đã vội đăng đàn, khi bị các đối tượng lợi dụng cuộc đấu tranh đòi công lý của bà con để mưu sự cá nhân. Chúng tung tin nhãm làm phức tạp tình hình và rối loạn tinh thần đấu tranh của bà con. Việc này các bạn trẻ cần rút kinh nghiệm vì cuộc đấu tranh của bà con dự là còn lâu dài vì chính quyền chưa có động thái nhượng bộ. Nhưng trong cái hại chúng ta lại có cái lợi dù là không mong muốn và cố tình. Đó là chúng ta đã được sự quan tâm của nhân dân cả nước và cộng đồng Việt Nam tại hải ngoại hướng về. Đó sẽ là một lợi thế vô cùng to lớn cho bà con và là áp lực cho chính quyền.

Trên đây là những chuyển động mới của ngày hôm nay. Ad rất mong nhận được những thông tin chia sẻ của các bạn. Ad sẽ có trách nhiệm sàng lọc và xác thực một cách chính xác nhất để chuyển đến bà con.

Chúc bà con mạnh khỏe và vững tâm trên con đường tranh đấu đòi lẽ phải và quền lợi chính đáng cho bản thân, cho gia đình và cho quê hương.

   anhbasam

Posted in Cướp đất và chiếm đoạt tài sản của dân, Dối trá -Gạt gẫm-Tuyên truyền, tư bản đỏ, lưu manh đỏ, Đảng CSVN - còn đảng, còn mình... | Leave a Comment »

►Thanh Hóa tạm ngưng thu hồi đất sau các cuộc biểu tình, nhưng họ sẽ bắt bớ và cướp đất vài tháng sắp tới

Posted by hoangtran204 on 07/03/2016

VOA

Trà Mi

7-3-2016

Hàng trăm người dân tập trung trước trụ sở UBND tỉnh Thanh Hóa đòi FLC trả lại bãi biển. Ảnh: Dân Làm Báo

Hàng trăm người dân tập trung trước trụ sở UBND tỉnh Thanh Hóa đòi FLC trả lại bãi biển. Ảnh: Dân Làm Báo

Giới hữu trách Thanh Hóa loan báo dừng việc thu hồi một bến thuyền cho dự án du lịch gây tranh cãi sau 11 ngày biểu tình quyết liệt của ngư dân.

Truyền thông nhà nước dẫn thông báo của Bí thư tỉnh, Chủ tịch Hội đồng Nhân dân Thanh Hóa, Trịnh Văn Chiến, tại cuộc đối thoại trực tiếp với dân chúng địa phương sáng nay (7/3) cho biết trước mắt bà con được tiếp tục ra khơi, tỉnh chưa ban hành quyết định thu hồi bến.

Diễn tiến này xảy ra sau khi hàng trăm ngư dân xã Quảng Cư, thị xã Sầm Sơn, hơn tuần qua kéo về bao vây trụ sở Ủy ban Nhân dân tỉnh và Tỉnh ủy Thanh Hóa, yêu cầu trả lại bãi biển Sầm Sơn.

Họ phản đối quyết định của chính quyền thu hồi và giao 3,5 km đất ven biển cho Tập đoàn FLC phát triển dự án du lịch, dự kiến hoàn thành vào giữa tháng 4 tới đây, để phục vụ du khách mùa hè năm nay. 

Dự án quy hoạch phía Đông đường Hồ Xuân Hương với tổng vốn đầu tư 325 tỷ đồng do tỉnh Thanh Hóa phê duyệt hồi tháng 10 năm ngoái chiếm trọn bờ biển kể cả một bến thuyền, kế sinh nhai duy nhất của ngư dân địa phương từ bao đời nay.

Người dân đề nghị chính quyền chừa lại ít nhất từ 300m đến 1,5km bờ biển để họ neo đậu tàu bè, tiếp tục ra khơi.

Bí thư Trịnh Văn Chiến, tại buổi họp với người dân sáng nay, tỏ ý lấy làm tiếc và nhận trách nhiệm về sự việc khiến dân tập trung biểu tình trước các cơ quan công quyền hơn tuần nay.

Báo chí nhà nước dẫn lời ông Chiến nói ‘Dù dưới gốc độ nào, chúng tôi cũng thấy có lỗi với bà con.’ Tuy nhiên, ông khẳng định việc người dân tụ tập đông người ‘gây mất an ninh trật tự’ là vi phạm pháp luật.

Hàng trăm lực lượng an ninh đã được huy động trong những ngày qua trong lúc dân chúng bao vây các trụ sở chính quyền khiến giao thông thành phố tê liệt.

Công an Thanh Hóa cách đây hai ngày loan báo đã bắt đầu điều tra các cáo trạng về tội ‘gây rối trật tự công cộng’ liên quan đến các cuộc biểu tình này, một cáo buộc thường được giới hữu trách trong nước sử dụng để đối phó với các cuộc biểu tình của dân chúng giữa bối cảnh người dân chưa được thực thi quyền này trên thực tế dù Hiến pháp có công nhận.

Anh Nguyễn Lân Thắng là một nhà hoạt động tích cực cổ xúy phát triển xã hội dân sự tại Việt Nam cũng là một ký giả độc lập từng theo sát các vụ việc tương tự trước nay để phản ánh thông tin trên các trang mạng xã hội.

Quan sát, đối chiếu diễn tiến ở Sầm Sơn với các vụ tranh chấp đất đai giữa chính quyền với dân chúng, anh Thắng nói giới hữu trách Thanh Hóa đang lùi một bước để tiến tới nhiều bước:

“Việc ở Sầm Sơn giống như rất nhiều dự án khác đã từng xảy ra trên đất Việt Nam này. Thường khi sự phản đối của dân chúng quá lớn thì các cấp chính quyền tìm cách xoa dịu. Nhưng sau đó, khi sức phản đối của người dân bắt đầu chùn xuống, họ bắt đầu sử dụng lực lượng công an-an ninh để điều tra, sàng lọc tất cả những người tham gia, tìm những người dẫn dắt quần chúng để bắt giam, khởi tố. Khi những người đi đầu bị tấn công, sức phản kháng sẽ tụt hẳn xuống. Rồi nhà nước lại tiếp tục lấy đất của dân, tiếp tục dự án thôi. Tình trạng đó rất phổ biến nhiều năm qua, chẳng hạn như vụ ở Ninh Hiệp hay Văn Giang. Sự tấn công của họ rất bài bản, rất tinh vi. Người dân thiếu hiểu biết pháp luật rất dễ bị tấn công.”

Theo giới hoạt động xã hội, trong một đất nước thiếu dân chủ, đầy rẫy tham nhũng, và mọi việc đều bị kiểm soát chặt chẽ như Việt Nam, phương tiện duy nhất có thể giúp người dân bảo vệ lẽ phải, chống lại sự áp bức-bất công chính là truyền thông xã hội:

“Hỗ trợ bằng truyền thông rất quan trọng. Dù trong các sự việc, chúng tôi không có sự hợp tác ở phía người dân, nhưng có những biến động gì hay vấn đề gì chúng tôi đều vẫn thông tin qua mạng xã hội để khai mở vấn đề. Tác động đến với khối quần chúng, tuy không thể ngay được, nhưng sẽ tác động đến nhận thức của quần chúng về lâu về dài, và họ sẽ dần dần thức tỉnh.”

Nhà hoạt động này kêu gọi các tổ chức xã hội dân sự độc lập cần quan tâm, tham gia mạnh mẽ vào các vụ việc như ở Sầm Sơn để hỗ trợ những người dân thấp cổ bé miệng, tăng cường sức mạnh cho những tiếng nói của các nạn nhân bị mất đất, đảm bảo công lý được thực thi.

Bình luận về sự việc ở Sầm Sơn, một blogger trên mạng xã hội nói ‘Các dự án được vẽ ra để ăn chia, khi vấp phải phản ứng của người dân chịu ảnh hưởng, thay vì tìm lối thoát bền vững và đặt mục tiêu phát triển lên tối cao để tạo sự chuyển biến lâu dài về kinh tế xã hội cho địa phương, đám quan chức này chỉ đơn giản là lùi bước. Đây không phải là cai trị để phát triển, mà là cai trị để ăn hút và bảo tồn ghế ngồi khi có căng thẳng.’

Blogger này viết tiếp ‘Bà con Sầm Sơn Thanh Hóa đã dành được chiến thắng. Nhưng cần phải đề phòng mưu hèn, kế bẩn của bọn chính quyền’.

Tranh chấp đất đai là nội dung của đại đa số các đơn khiếu kiện tại Việt Nam và cũng là một trong những nguyên nhân chính gây bất ổn xã hội.

____

Doanh nghiệp VN

Bài 1: Hé lộ hàng loạt sai phạm của FLC tại Thanh Hoá

Huệ Nguyễn

7-3-2016

Ngư dân Sầm Sơn tập trung tại bến thuyền phản đối quyết định thu hồi đất giao cho FLC. Ảnh: DNVN

Ngư dân Sầm Sơn tập trung tại bến thuyền phản đối quyết định thu hồi đất giao cho FLC. Ảnh: DNVN

(DNVN) – Bên cạnh những vấn đề gây “nóng” dư luận và người dân Thanh Hoá trong thời gian qua liên quan đến dự án xây dựng khu du lịch FLC Sầm Sơn tại thị xã Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hoá, Tập đoàn FLC tiếp tục bị phát lộ thêm nhiều sai phạm trong việc đầu tư xây dựng dự án tại đây.

Theo báo cáo kết luận thanh tra của Thanh tra tỉnh Thanh Hoá ngày 05/11/2015, hàng loạt sai phạm của UBND thị xã Sầm Sơn liên quan đến dự án của Công ty cổ phần Tập đoàn FLC (Tập đoàn FLC) đã được chỉ rõ.

Ngoài việc Tập đoàn FLC phá nát hàng chục héc ta rừng phòng hộ và chiếm dụng 15,4 héc ta đất rừng phòng hộ, đất ven biển để “gộp” vào dự án được phê duyệt, công ty này cũng bị người dân “tố” tiếp tay cho cát lậu, một số đơn vị bơm hút cát trái phép để bán cho FLC san lấp mặt bằng.

Vào thời điểm thanh tra, Tập đoàn FLC ngang nhiên khai thác cát trái phép khi chưa được cấp quyền khai thác từ UBND tỉnh Thanh Hoá, với số tiền phê duyệt cấp quyền, thuế tài nguyên và phí bảo vệ môi trường lên tới hơn 2 tỷ đồng.

Kết luận cũng nêu rõ sai phạm của Tập đoàn FLC liên quan đến việc tự ý thi công tuyến đường Hồ Xuân Hương kéo dài, khi chưa được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt và đồng ý cho thi công. Theo đó, sau khi UBND tỉnh Thanh Hoá phê duyệt dự án đầu tư với hạng mục đường Hồ Xuân Hương kéo dài có giá trị xây lắp trên 120 tỷ đồng, giao cho UBND thị xã Sầm Sơn làm chủ đầu tư.

Ngày 15/7/2015, Chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hoá có Quyết định số 2603/QĐ-UBND về việc phê duyệt Kế hoạch lựa chọn nhà thầu. Gói thầu xây lắp tổ chức lựa chọn nhà thầu theo hình thức đấu thầu rộng rãi trong phạm vi cả nước.

Tuy nhiên, UBND thị xã Sầm Sơn đã “cầm đèn chạy trước ô tô” khi tổ chức kiểm đếm, chi trả trước một phần kinh phí cho các hộ để bàn giao mặt bằng cho Công ty FLC thi công khi chưa có quyết định thu hồi đất và phương án bồi thường GPMB.

Công ty FLC đã tự lập hồ sơ thiết kế và tiến hành thi công thảm nhựa mặt đường, lát đá vỉa hè, hệ thống thoát nước, dải phân cách… khi chưa được các cấp có thẩm quyền đồng ý.

Ngoài việc chưa thực hiện đầy đủ thủ tục về đầu tư xây dựng nhưng đã triển khai thi công, Tập đoàn FLC còn ngang nhiên xây dựng cổng bảo vệ, chiếm trọn đoạn đường này làm “của riêng”, ngăn cấm người dân địa phương đi lại.

Nhiều người dân tại đây tỏ ra bất bình, bởi đây là công trình do UBND tỉnh giao cho UBND thị xã Sầm Sơn làm chủ đầu tư, xây dựng để phục vụ mục đích phát triển du lịch của tỉnh, nhưng không hiểu vì lý do gì, đơn vị thi công lại tự ý chiếm dụng để phục vụ mục đích riêng.

Liên quan đến các dự án của FLC tại đây, nhiều ngày qua, hàng trăm người dân tại các xã Quảng Cư, phường Trung Sơn, Bắc Sơn, Trường Sơn của thị xã Sầm Sơn đã tập trung “vây” kín cổng UBND tỉnh Thanh Hoá để phản đối việc giao đất cho Công ty FLC thực hiện dự án Không gian du lịch ven biển phía Đông đường Hồ Xuân Hương.

Một số ngư dân cho rằng, việc thu hồi đất bến thuyền của họ gây ảnh hưởng lớn tới việc đi lại, đánh bắt, chặn đường mưu sinh của họ.

Chiều qua 6/3, Ban tuyên giáo Tỉnh uỷ Thanh Hoá phát đi công văn cho biết, vào lúc 8h sáng nay 7/3, ông Trịnh Văn Chiến – Uỷ viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh uỷ Thanh Hoá sẽ đối thoại trực tiếp với người dân bị ảnh hưởng bởi quy hoạch dự án.

Doanh nghiệp Việt Nam sẽ tiếp tục thông tin!

____

Mời xem lại: Thư của một sinh viên ở Sầm Sơn, Thanh Hóa, gửi lãnh đạo tỉnh (FB Sầm Sơn/ BS). – FLC ‘không liên quan’ vụ Thanh Hóa? (BBC).

FLC ‘không liên quan’ vụ Thanh Hóa?

6-3-2016

H1

Người dân ngồi ngoài đường để đòi quyền sử dụng bãi biển neo đậu tàu đánh cá. Ảnh: Contributor

Một tập đoàn kinh doanh đa lĩnh vực trong đó có bất động sản ở Việt Nam mới ra tuyên bố khẳng định họ ‘không liên quan’ trong vụ việc tranh chấp giữa người dân ở tỉnh Thanh Hóa ở miền Trung Việt Nam và chính quyền tỉnh này.

Hôm thứ Sáu, Tập đoàn FLC trong một thông cáo trên trang web chính thức của mình nói đã “tạo hàng ngàn công ăn việc làm cho người lao động” và “Dự án này hoàn toàn không liên quan gì đến những thông tin mà các báo mạng trên có đăng tải”.

Thông cáo của tập đoàn này cũng cho biết dự án bãi biển phía đông đường Hồ Xuân Hương là “chủ trương lớn của tỉnh Thanh Hóa”.

Thông cáo của tập đoàn hôm 04/3/2016 viết:

“Tập đoàn FLC không liên quan gì đến các khiếu kiện khiếu nại của người dân cũng như việc người dân tập trung đông người tại UBND tỉnh Thanh Hóa.

“Trách nhiệm này thuộc về chính quyền địa phương liên quan đến các chính sách đền bù, hỗ trợ người dân… Tập đoàn FLC nhận mặt bằng sạch từ chủ đầu tư và đang tích cực triển khai dự án.”

BBC đã và đang tìm cách liên hệ với FLC và đang đợi phản hồi từ Tập đoàn này về các thông tin mà doanh nghiệp này đưa ra.

Vụ việc người dân Thanh Hóa ‘đòi bãi biển’ ở tỉnh này và biểu tình trong mấy ngày nay để đòi giải quyết nguyện vọng tiếp tục nằm trong sự chú ý của dư luận.

Hôm Chủ nhật, Một người dân Thanh Hóa miêu tả với BBC Tiếng Việt về hiện trạng vụ việc.

Người dân này nói “loạn hết cả xã Quảng Cư” và cho hay người biểu tình “nằm giữa đại lộ” trong vụ biểu tình đòi quyền sử dụng biển để neo đậu tàu đánh cá tại Thanh Hóa.

Trước đó, từ ngày 29/2, hàng trăm người tập trung tại trụ sở Ủy ban Nhân dân tỉnh và ở khu vực xung quanh.

Báo Vnpexpress mô tả “hàng trăm người tràn xuống đường, ngồi la liệt trên các con phố ở trung tâm Thành phố Thanh Hóa khiến giao thông tê liệt”.

Đám đông hỗn loạn

H1Một số người biểu tình nấu mì tôm ăn tại nơi xuống đường. Ảnh: Contributor

Ngày 5/3, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thanh Hóa khởi tố vụ án gây rối trật tự công cộng vì người dân thị xã Sầm Sơn tràn xuống đường phản đối dự án quy hoạch không gian du lịch ven biển phía Đông đường Hồ Xuân Hương, Sầm Sơn.

Trước đó, từ ngày 3/3, các đại lộ Lê Lợi, trước Ủy ban tỉnh Thanh Hóa đã có hàng trăm người nằm, ngồi, mang theo các biển hiệu “Trả lại biểu cho người dân Sầm Sơn”, “Trả lại biển Sầm Sơn”…

Đến chiều 5/3, hàng trăm người đến công an phường Trường Sơn, Sầm Sơn để đòi giải thích việc một phụ nữ bị đánh trọng thương tại nhà.

Báo Vnexpress dẫn lời một người dân ở gần đó:

“Tôi đang ngủ thì nghe tiếng súng nổ, bật dậy chạy sang thì thấy bà Thắng ngất xỉu, mặt mũi sưng vù, có cả máu chảy nên tức tốc gọi xe đưa đi cấp cứu”.

Trên mạng xã hội Facebook, một clip quay cảnh người phụ nữ nằm trên băng ca được đưa đi trong đám đông hỗn loạn.

Dường như người phụ nữ này đã bị thương tích chảy máu ở vùng đầu.

Một người dân mô tả với BBC:

“Dân cứ lên nằm giữa đại lộ, tắc hết đường xá. Họ mang con trẻ con nít nằm đêm nằm hôm ngoài đường.”

Trang tin VOV dẫn chính sách của Ủy ban tỉnh Thanh Hóa “hỗ trợ tháo dỡ, phá bỏ các loại tàu, bè nhỏ công suất dưới 20CV với mức 70 triệu đồng mỗi bè, 50 triệu đồng mỗi thuyền thúng. Ngư dân phải cam kết không đóng mới bè, mủng.

Các hộ có tàu, thuyền dưới 20 CV tháo dỡ, phá bỏ đồng thời được hỗ trợ 30kg gạo/khẩu/tháng (trong 6 tháng) để ổn định đời sống.”

‘Đói không chịu được’

Trả lời BBC khi cập nhật tình hình vụ việc, một người dân nói:

“Họ chỉ đòi quyền lợi tí chỗ bờ biển quy hoạch lại cho người ta có một chỗ để mủng đi biển. Đưa người ta đi sông thì người ta không đi được, biển cách nhà người ta 7- 8 km người ta cũng không đi”

H1Người dân cầm bảng hiệu trong cuộc xuống đường. Ảnh: other

Người dân này nói thêm:

“Tôi làm nghề đánh cá theo mùa, tháng hai và tháng tư là đánh. Đánh gần bờ đi sáng tối về thôi.”

“Ngày trúng được vài triệu, không có thì được vài ba trăm hàng ngày. Tháng cũng đi được hơn hai chục ngày. Kiếm tiền học cho con cái, cháu chắt, mẹ già.”

“Không thể làm nghề mới được, nhận 50 triệu ăn vài tháng hết rồi.”

Người dân này cũng nói:

“Làm khu du lịch thì rất đẹp, khu vui chơi giải trí, sân golf đồ. Đẹp thì đẹp thật đấy. Nhưng đói thì người dân không chịu được.”

Dự án quy hoạch không gian du lịch ven biển phía Đông đường Hồ Xuân Hương do Tập đoàn FLC thầu, được tỉnh Thanh Hóa phê duyệt tháng 10/2015.

Posted in Cướp đất và chiếm đoạt tài sản của dân, Dối trá -Gạt gẫm-Tuyên truyền, Đảng CSVN - còn đảng, còn mình... | Leave a Comment »

►FLC và “vấn nạn tập đoàn kinh tế tư nhân”

Posted by hoangtran204 on 06/03/2016

FLC và “vấn nạn tập đoàn kinh tế tư nhân”

TS.Nguyễn Quang A (viết riêng cho Dân Việt)

2-3-2016

Sự kiện: Dân phản đối giao đất cho Tập đoàn FLC

(Dân Việt) Việc xây dựng tập đoàn kinh tế nhà nước từ cuối 2005 đến nay đã hơn 10 năm. Vào đỉnh điểm đã có 13 tập đoàn kinh tế nhà nước. Các doanh nghiệp tư nhân cũng noi theo tật vĩ cuồng này và rất nhiều công ty tư nhân cũng gắn từ “tập đoàn” vào tên mình.

flc va “van nan tap doan kinh te tu nhan" hinh anh 1

FLC trong một lần ký kết ghi nhớ đầu tư với Thanh Hóa

10 năm trước, trên Lao động (3.4.2006) tôi đã bàn về hiện tượng này và kết luận “hãy để cho bất cứ doanh nghiệp nào trở thành “tập đoàn” nếu nó tự phát triển một cách tự nhiên trên cơ sở cạnh tranh bình đẳng, còn nếu lại phân loại về mặt pháp lý các nhóm công ty thành loại thường và loại đặc biệt thì chỉ tạo ra sự bất bình đẳng trong môi trường kinh doanh mà thôi.”

>> XEM THÊM: Vụ dân phản đối giao đất cho FLC: Khởi tố vụ án hình sự

Sau đó tôi đã phân tích chính sách này và cảnh báo về sự thất bại không tránh khỏi của các tập đoàn kinh tế nhà nước. Lập luận chính của tôi khi đó là: việc sao chép các mô hình keiretsu của Nhật Bản và chaebol của Hàn Quốc vào Việt Nam là không thích hợp, chúng đã lỗi thời; bản thân chúng là các nhóm công ty tư nhân chứ không phải doanh nghiệp nhà nước; chúng phải cạnh tranh trên thị trường quốc tế và có ràng buộc ngân sách cứng (không được ưu ái); còn các tập đoàn kinh tế nhà nước ở Việt Nam không phải cạnh tranh và được nhà nước ưu ái, được nhà nước cứu vớt nên ỷ lại cho nên không hiệu quả và không hiệu thì nhất định thất bại.

Hóa ra mô hình tập đoàn kinh tế nhà nước còn dở hơn mô hình tồi của các tổng công ty (90 và 91) trước đó. Các tổng công ty đó còn thuộc “Bộ chủ quản” nào đó và các bộ khác (Kế hoạch Đầu tư, Tài chính, Môi trường, …) còn có quyền giám sát nhất định đối với chúng. Nay thuộc “Thủ tướng chủ quản” nên chúng nghênh ngang hơn, thậm chí coi thường các bộ đó. Việc này khiến cho sự giám sát nhà nước vốn đã tồi trở nên tồi hơn. Và đó cũng là một nguyên nhân thêm vào các nguyên nhân nêu trên khiến cho mô hình tập đoàn kinh tế nhà nước thất bại mà Vinashin, Vinalines chỉ là cái chóp của tảng băng chìm.

>> XEM THÊM: “Bão cạn” do FLC gây ra ở Sầm Sơn

Việc “khuyến khích phát triển các doanh nghiệp lớn của tư nhân, các tập đoàn kinh tế tư nhân” là một chủ trương đúng và tôi đã nhiệt liệt cổ vũ ngay từ đầu.

Tuy vậy, cách hình thành các tập đoàn kinh tế tư nhân “một cách tự nhiên trên cơ sở cạnh tranh bình đẳng” đã không xảy ra và vẫn còn quá nhiều việc đáng bàn.

Hàn Quốc lúc đầu đã ưu đãi chọn lọc một số công ty tư nhân để xây dựng tiềm lực của chúng, nhất là công nghệ, để hướng tới cạnh tranh quốc tế. Còn ở Việt Nam tuyệt đại đa số các tập đoàn tư nhân phất lên nhờ bất động sản, chưa đầu tư gì mấy vào công nghệ và không phải đối mặt với cạnh tranh quốc tế.

Đại đa số các tập đoàn kinh tế tư nhân đã và đang tận dụng các quy định “đất đai thuộc sở hữu toàn dân” để làm giàu gây ra không biết bao căng thẳng xã hội, nhất là giữa những người dân mất kế sinh nhai vì bị tước đoạt đất. Chính quyền hầu như luôn đứng về phía các công ty tư nhân chiếm đất này. Sự câu kết giữa các “đại gia tư nhân” với chính quyền là một hiện tượng nhức nhối ai cũng thấy, nhất là trong việc thu hồi đất của người dân cho các dự án tư nhân này.

>> XEM THÊM: Bảo vệ FLC đuổi ngư dân cào ngao, đánh cá dưới biển

Các tập đoàn kinh tế tư nhân này cũng chèn ép các doanh nghiệp tư nhân khác gây ra sự phát triển méo mó của khu vực kinh tế tư nhân với sự đồng lõa vô tình hay hữu ý của chính quyền các cấp. Thí dụ về người dân Sầm Sơn, Thanh Hóa phản đối việc giao đất cho “tập đoàn FLC” mới đây chỉ là một trong muôn vàn thí dụ.

Vấn nạn của chủ nghĩa cánh hẩu đã và đang thịnh hành ở nước ta. Người ta ưu ái không chỉ cho các công ty tư nhân “con ông cháu cha” mà cả cho nhiều tập đoàn kinh tế tư nhân khác nữa.

Để khắc phục tình trạng nhức nhối này nhà nước phải thật công bằng với các doanh nghiệp, phải có các biện pháp giám sát và để xã hội giám sát chúng một cách hữu hiệu, nhất là các công ty lớn.

Chính sách phát triển các tập đoàn kinh tế nhà nước đã thất bại. Chủ trương khuyến khích, phát triển các tập đoàn kinh tế tư nhân là đúng, nên ủng hộ, nhưng phải chấn chỉnh những lêch lạc rất nguy hiểm mà ở trên chỉ nêu sơ qua. Nhà nước phải làm đúng chức năng của mình, phải tạo điều kiện cho người dân và xã hội dân sự vào cuộc một cách tích cực để chấn chỉnh những căn bệnh mới phát sinh nhưng đã rất trầm trọng trong việc phát triển các tập đoàn kinh tế tư nhân. Chỉ có thế nền kinh tế của chúng ta mới có sức cạnh tranh, mới có thể phát triển trong thế giới đầy biến động và hội nhập này để mang lại sự thịnh vượng cho tất cả mọi người, chứ không phải cho số rất rất ít người.

 

Posted in Cướp đất và chiếm đoạt tài sản của dân, Lưu manh đỏ, nhóm lợi ích, Tập Đoàn-Tổng công Ty quốc doanh, Tham Nhung-Hoang Phí- Ăn Cắp | Leave a Comment »

►Ông Đinh La Thăng giúp phục hồi ‘Hòn ngọc Viễn Đông’!

Posted by hoangtran204 on 06/03/2016

 

VOA

6-3-2016

Cuộc xuống đường trấn áp nạn cướp giật ở thành phố diễn ra gần nửa tháng sau khi Bí thư thành ủy Đinh La Thăng làm việc với công an. Ảnh: VNE (web screenshot)

Cuộc xuống đường trấn áp nạn cướp giật ở thành phố diễn ra gần nửa tháng sau khi Bí thư thành ủy Đinh La Thăng làm việc với công an. Ảnh: VNE (web screenshot)

Bí thư Thành ủy Sài Gòn “lệnh” cho công an thành phố phải nỗ lực giảm tình trạng cướp giật, trộm cắp và tội phạm tràn lan trong vòng 3 tháng.

Hôm nay, công an nơi từng được coi là “Hòn ngọc Viễn Đông” đã mở một cuộc ra quân phòng chống tội phạm quy mô lớn với nhiều lực lượng tham gia tại các khu vực trọng điểm.

Cuộc xuống đường trấn áp nạn cướp giật ở thành phố diễn ra gần nửa tháng sau khi Bí thư thành ủy Đinh La Thăng làm việc với công an, gợi ý tái lập lực lượng “Săn bắt cướp” để bảo vệ người dân và du khách.

Người được báo chí mệnh danh là “Đinh tư lệnh” được báo điện tử VnExpress  trích lời nói: “Cuộc sống người dân đầy đủ, no ấm nhưng lúc nào cũng thấp thỏm về trộm cắp, cướp giật thì không thể là thành phố có chất lượng sống tốt, văn minh, hiện đại, nghĩa tình được”.

“Trong vòng 3 tháng tới, công an thành phố phải nỗ lực hơn nữa để tình hình tội phạm được kéo giảm một cách rõ rệt”, ông Thăng nói thêm.

Lãnh đạo đảng bộ Sài Gòn còn yêu cầu “xử lý nghiêm những ai không hoàn thành nhiệm vụ, làm cho chính quyền mất uy tín với dân”.

Cuộc ra quân của công an Sài Gòn sau chỉ đạo của ông Thăng đã nhận được sự ủng hộ của dân chúng, trong bối cảnh tình trạng cướp giật tài sản công khai trên đường phố khiến người dân lo lắng mỗi khi ra đường.

‘Minh chứng sống’

Trong ý kiến gửi cho VOA, một bạn đọc tên Người Nha Trang viết: “Tôi là minh chứng sống. Bộ trưởng Đinh La Thăng có lắng nghe tiếng than của dân”.

Báo chí trong nước gần đây đã cho đăng nhiều bài viết về tình trạng “cướp giật táo tợn và liều lĩnh” ở Sài Gòn.

Số liệu của công an thành phố cho biết năm 2015 xảy ra hơn 6 nghìn vụ phạm pháp hình sự trên địa bàn, trong đó tội trộm cắp, cướp giật vẫn chiếm tỷ lệ cao, tới gần 85%.

Theo VnExpress, tại quận 1, trung tâm của Sài Gòn, trong 345 vụ phạm pháp hình sự, có đến 109 vụ cướp giật tài sản (chiếm hơn 31%), 177 vụ trộm cắp (hơn 51%), trong đó, có đến 55 nạn nhân bị cướp giật là người nước ngoài.

Hồi đầu năm, ông Thăng đã được Ban Chấp hành Trung ương Đảng bầu làm một trong số gần 20 ủy viên của Bộ Chính trị đầy quyền lực ở Việt Nam. Sau đó, ông được giao nhiệm vụ mới là Bí thư thành ủy Sài Gòn.

Với những tuyên bố cũng như hành động mạnh mẽ khi còn làm Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải, ông Thăng được người dân kỳ vọng sẽ xử lý được các vấn đề còn tồn tại ở trung tâm tài chính của Việt Nam.

Trong một tuyên bố mới hôm qua khi bàn về vấn đề di dời, cải tạo các chung cư cũ đang gây bức xúc trong nhân dân Sài Gòn, ông Thăng nói: “Quan trọng là làm sao dân không phải nơm nớp lo sợ khi sống trong nhà có thể sập bất cứ lúc nào. Mà nhà sập thì mấy ông lãnh đạo cũng… sập”.

——————–

*Ngoc Nhi Nguyen: Danh tiếng của Hòn Ngọc Viễn Đông đã có hơn 50 năm trước. Tự dưng xua quân đánh chiếm và cướp đoạt với danh nghĩa ” giải phóng “. Chiếm xong,  “Giải phóng” xong thì làm cho nó thành tan hoang thê thảm, lụn bại và tụt hậu… rồi bây giờ lo đi khôi phục ?

Thật là không chửi không được mà !

*Ngân An:  “Có công mài sắt có ngày NÊN kim” (Nên chứ ko phải Lên). “Sách cho thiếu nhi thế này bảo sao lớp trẻ bây giờ cứ ngô nghê như gà công nghiệp. Hay là chủ trương ngu dân, nhỉ?”

Ngân An's photo.

Posted in Chinh Tri Xa Hoi, Dối trá -Gạt gẫm-Tuyên truyền, Nhan Vat Chinh tri | Leave a Comment »

►Linh Mục Vũ Khởi Phụng, một chiến sĩ tích cực dấn thân mưu tìm công lý, sự thật và hòa bình đã ra đi

Posted by hoangtran204 on 06/03/2016

“Là một linh mục dấn thân, chứ không phải một cha bề trên làm việc trong văn phòng, ngài gắn bó với cuộc sống thường ngày của người dân, của Giáo Hội và Đất Nước.”

Nhớ Cha Mattheu Vũ Khởi Phụng

Tác giả Linh Mục Nguyễn Văn Khải , DCCT

3-4-2016

Một chiến sĩ tích cực dấn thân mưu tìm công lý, sự thật và hòa bình

NHỚ CHA MÁTTHÊU VŨ KHỞI PHỤNG (kỳ III)

Những gì ngài nói, những gì ngài viết, những gì ngài làm, những gì diễn ra ở DCCT Thái Hà, Hà Nội và DCCT Kỳ Đồng, Sài Gòn trong những năm qua, là những bằng chứng nói cho chúng ta biết ngài đã dấn thân thế nào trong lãnh vực công lý, sự thật và hòa bình.

Lúc này tôi chỉ muốn nói thêm rằng: theo tôi được biết, thì ngài là một trong những người sớm gửi thư kiến nghị Hội đồng Giám mục Việt Nam mạnh dạn thành lập Ủy Ban Công lý và Hòa bình.

Ngài là một trong những anh em tích cực nhất và có vai trò quan trọng nhất của DCCT Việt Nam trong việc dấn thân cho công lý, sự thật và hòa bình.

Ngài đã sẵn lòng đảm nhiệm vai trò Bề trên-Chính xứ Thái Hà ở vào một trong những thời điểm mà ngài biết là đang gặp khó khăn, thử thách, nguy hiếm nhất trong lịch sử gần 90 năm hiện diện của tu viện này.

Ngài đã không thỏa hiệp trước những đề nghị của nhà cầm quyền để mưu tìm lợi ích riêng cho DCCT của mình. Trái lại, ngài hiệp nhất chặt chẽ với Tổng giáo phận Hà Nội, chấp nhận đồng sinh đồng tử với giáo dân, giáo sĩ và giáo quyền. Chấp nhận bằng hành động cụ thể chứ không phải bằng lời nói.

Yêu cầu của ngài về công lý, sự thật và hòa bình rất cao. Trong tư tưởng cũng như trên thực tế hành độn. Liên quan đến điều này, tôi thấy rằng trong tổng thể cũng như trong từng phương diện, thường thì ý của ngài là 10 phần, thì chúng tôi cố gắng hết sức cũng chỉ thực hiện được khoảng 5 hay 6 phần.

Ngài chủ trương dấn thân mưu tìm CÔNG LÝ, SỰ THẬT VÀ HÒA BÌNH, là bởi vì ngài xác tín rằng cái gốc rễ của của những đổ vỡ và rối loạn về mọi phương diện hiện nay trong xã hội Việt Nam đều phát xuất từ BẤT CÔNG-DỐI TRÁ VÀ BẠO LỰC do chế độ đã và đang thi hành.

Đêm chúa nhật 20 rạng ngày 21 tháng 9 năm 2008, khi nhà cầm quyền huy động những thành phần bất hảo đến bao vây tu viện Thái Hà, phá phách Đền thánh Giêrađô và hô hoán đòi giết ngài, ngài vẫn không nao núng, sợ hãi. Thậm chí hôm sau, trong thánh lễ Mátthêu, lễ bổn mạng ngài, tại nhà thờ, ngài còn có thể ca hát và có những lời hài hước khiến cộng đoàn cười nghiêng ngả, đủ biết niềm tin, tình yêu và niềm hy vọng của ngài lớn lao thế nào.

Còn những điều khác liên quan đến ngài trong lĩnh vực này, dần dần lích sử sẽ làm sáng tỏ.

Một linh mục thông minh và uyên bác

Cha Mátthêu Vũ Khởi Phụng là người có tư chất thông minh. Hơn nữa, ngài còn rất chịu khó học tập nên kiến thức của ngài rất uyên bác.

Hình ảnh người ta có về ngài là con người khi đi, đứng, khi ăn, khi ngồi dường như lúc nào cũng kè kè bên cạnh là quyển sách hay tờ báo làm bạn, dường như không còn để tâm đến sự gì khác chung quanh. Nhờ thế, ngài có một vốn văn hóa rất sâu rộng về các lĩnh vực khác nhau, đặc biệt trong lãnh vực thần học, lịch sử và văn chương Kitô giáo.

Ngài nghiên cứu rất sâu rộng về thần học. Những tuyển tập thần học, những tuyển tập thần học kinh điển và quan trọng hàng đầu của thế kỷ XX như Nouvelle Theologie, Unam Sanctam đều được ngài nghiền gẫm. Ngài rất thích lịch sử và văn chương Latin. Những bộ sách lịch sử quan trọng, đồ sộ như của Fliche et Martin vẫn đọc hết. Đọc đi đọc lại. Ngài là một trong số ít người ngay từ hồi trước 1975 ngài đã tìm đọc bộ giáo phụ latin hơn 200 cuốn của cha Jean Paul Migne, mà ngài nói là còn ở Trung tâm Công giáo bên đường Trần Quốc Toản, Sài Gòn.

Từ những năm 1970, ngài là một trong những linh mục giảng thuyết được yêu mến ở nhà thờ Kỳ Đồng, cùng thời gian ấy, ngài thường xuyên được mời đi giảng tĩnh tâm cho các giáo xứ, các dòng tu và các giáo phận.

Ngài cũng làm giáo sư của các lớp thần học bí mật đây đó tại Sài Gòn, đồng thời làm giáo sư Học viện DCCT và sau này còn dạy tại Học viện Liên Dòng. Ngài dạy thần học nhập môn, Giáo phụ học và cả Lịch sử Giáo hội. Ngài bàn giải các tác giả, các vấn đề rất kỹ lưỡng, rất sâu rộng, rất hệ thống, luôn luôn mới mẻ; nội dung có mật độ suy tư thần học rất cao, rất độc đáo và hấp dẫn. Tôi thấy ngài đáng được gọi là nhà thần học.

Một trong những ơn Chúa ban cho ngài là ơn nói các thứ tiếng. Ngài có thể diễn đạt tư tưởng cách dễ dàng và chuẩn xác bằng tiếng Anh, tiếng Pháp và tiếng Latin. Nói cũng như viết. Đặc biệt là dịch thuật. Trong Dòng, ngài thường được mời làm người thông dịch chính thức mỗi khi các đấng bề trên hay anh em ngoại quốc tới Việt Nam. Hồi cách đây mấy năm, Phái đoàn Đức Tổng Giám Mục Đại Diện không thường trú tại Việt Nam đi thăm các giáo phận ở Miền Bắc, ngài cũng được mời đi theo làm người thông dịch.

Liên quan đến việc này, tôi thấy nếu mình cứ nói tiếng Việt đều đều, không cần dừng, thì ngài vừa nghe, vừa có thể dịch trực tiếp ra tiếng Anh, tiếng Pháp, hoặc dịch ngược lại từ tiếng Anh hoặc tiếng Pháp ra tiếng Việt. Dù dịch xuôi hay dịch ngược thì ngài cũng đều diễn tả được cái hồn của nguyên ngữ, khiến người ta có cảm tưởng như đang nghe trình bày bằng trực tiếp bằng ngôn ngữ mẹ đẻ của mình. Từ ta đến tây tôi thấy hiếm người có được khả năng thông dịch kỳ tài như ngài.

Một con người hiếu hòa và được việc

Ngài là típ người trí thức nhưng lại rất hiếu hòa. Gần 30 năm sống với ngài trong Dòng, tôi chưa bao giờ thấy ngài nổi nóng và nặng lời với ai. Ngài luôn tôn trọng mọi người, lắng nghe và tỏ lòng cảm thông với mọi người. Nếu có ai lớn tiếng, ngài thường tránh đi hoặc im lặng lắng nghe, rồi nhỏ nhẹ hỏi thăm hoặc tham gia ý kiến và ý kiến của ngài rất quân bình, rất có tính cách xây dựng. Ngài có thể dung hòa khác khác biệt bằng một giải pháp tốt đẹp đến mức bất ngờ, hợp lý hợp tình mà hầu như ai cũng lấy làm hài lòng. Vì vậy, ngài được mọi người chung quanh yêu mến, kính trọng và tin tưởng. Bởi vậy, từ năm 1975 đến năm 2015, ngài luôn được anh em trong Dòng bầu cử và bổ nhiệm vào những chức vụ quan trọng.

Căn cứ vào những lần phê chuẩn của các vị bề trên tổng quyền, tôi đếm được 4 lần, tức trong 24 năm ngài được bầu cử làm thành viên của Tổng Công nghị; 11 nhiệm kỳ tức 33 năm được bầu làm cố vấn, thành viên hội đồng quản trị Tỉnh Dòng; 4 nhiệm kỳ, tức 12 năm được bầu làm Phó Giám Tỉnh; 2 nhiệm kỳ tức 6 năm được bổ nhiệm làm Bề trên tu viện DCCT và Chánh xứ giáo xứ Đức Mẹ HCG, Sài Gòn; 2 nhiệm kỳ, trong 7 năm làm Bề trên Tu viện DCCT Thái Hà, trong đó có 3 năm kiêm Chính xứ Thái Hà, Hà Nội; hơn 5 nhiệm kỳ tức 16 năm làm Giám học Học viện; 2 nhiệm kỳ làm Phó Tập sư; 2 nhiệm kỳ làm Giám đốc Dự tập; 2 nhiệm kỳ làm Trưởng Ban Truyền thông; 1 nhiệm kỳ làm Giám đốc Hậu Học viện; 1 nhiệm kỳ làm Trưởng Ban Tông đồ Mục vụ.

Ngày cũng tích cực tham gia phục vụ trong các công việc chung của TGP hay của Giới Liên Tu sĩ tại Sài Gòn. Từ năm 1975 cho đến năm 2008, ngài liên tục hoặc là thành viên trong Ban Đại diện, hoặc Ban Nghiên cứu Thần học của Hiệp hội Bề trên Thượng Cấp Việt Nam, hoặc là Chủ tịch Liên Tu sĩ TGP Sài Gòn, hoặc làm tổ trưởng tổ công tác, phụ trách các sinh hoạt thường kỳ của giới Liên Tu sĩ. Sách Gương Chúa Giêsu nói người hiếu hòa được việc hơn người trí thức. Ngài có cả hai, cho nên cuộc đời ngài từ khi làm linh mục, luôn ngập tràn trong trách nhiệm và bổn phận phục vụ ở các vai trò và vị trí khác nhau giữa lòng Giáo Hội.

Một linh mục không đam mê quyền lực

Là người trí thức, sống với những giá trị cốt yếu của đức tin, của đời tu, ngài không ham mê quyền lực. Những ai sống ở gần ngài đều thấy ngài là một trong số ít người không muốn quyền lực.

Có lần anh em trong Dòng tính bầu ngài làm Giám Tỉnh. Tuy nhiên, trước ngày bầu cử ít hôm, thầy Giuse Thuyết, một người cùng lớp Tập viện với ngài, nhưng là bậc niên trưởng trong Dòng và là người rất có uy tín đối với các anh em, than rằng: “Bét mẹ cái anh Phụng anh ấy nhờ mình việc khó quá mà không làm thì cũng tội cho anh ấy. Anh ấy nói với tôi là xin thầy đi nói với anh em đừng bầu con làm Giám Tỉnh, nếu không thì con bị cầm chân không còn đi giảng dạy đây đó được nữa, trong khi Nhà Dòng còn có những anh em khác làm bề trên tốt hơn.”

Không làm Giám Tỉnh, nhưng ngài cũng vẫn phải làm bề trên những tu viện lớn và đông anh em và quan trọng nhất của Tỉnh Dòng tại Sài Gòn và Hà Nội. Trong tư cách là bề dưới của ngài trong nhiều năm, không khi nào tôi cảm thấy ngài có ý thể hiện quyền của ngài trên các cá nhân hay trên cộng đoàn.

Tôi thấy ngài rất tôn trọng anh em dưới quyền, dù hầu hết đều là học trò của ngài. Là bề trên, nhưng khi ngài muốn điều gì thì thực ra là ngài đi xin bề dưới hơn là truyền lệnh cho bề dưới. Ngài cho người ta một cảm nhận đích thực rằng chức vụ để phục vụ chứ không phải là để cai trị, càng không phải để thống trị và thỏa mãn tham vọng của mình.

Ngài đối xử với những người cộng tác rất tế nhị. Nếu có sáng kiến mục vụ nào hay, thì ngài tìm lúc thích hợp để chia sẻ với các anh em và mời gọi anh em cộng tác. Nếu anh em thực hiện tốt, thì ngài khen ngợi; nếu không được như ý thì ngài cũng quảng đại chấp nhận và từ từ tìm giải pháp.

Ở Sài Gòn cũng như ở Hà Nội, khi làm Bề trên-Chính xứ ngài thường nói: tôi là bề trên nhưng thực ra tôi chẳng làm gì cả. Tất cả những thành quả tốt đẹp thực ra đều do anh em và quý ông bà anh chị em giáo dân thực hiện cả.

Ngài đối xử với các cộng tác viên rất nhân hậu và phải đạo. Lúc ở Hà Nội tôi thấy mỗi khi có thể được ngài thường đến thăm những gia đình những người phục vụ trong giáo xứ. Tu viện nhờ một xơ Dòng Mân Côi Trung Linh làm văn phòng giáo xứ. Thấy xơ làm việc tích cực, chu đáo, vượt mức yêu cầu, làm hài lòng mọi người, cho nên ngày tết ngài đích thân xuống chúc tết Dòng Mân Côi và ngài nói rằng “cám ơn Nhà Dòng đã cho tôi một cha phó xứ rất đắc lực”.

Một tu sĩ có tinh thần vâng phục

Dù là người rất có uy tín, nhưng ngài rất khiêm nhường, luôn tế nhị và mau mắn đón nhận ý muốn của các vị bề trên. Ngài không tìm ý riêng mình. Không tìm cách để thay đổi ý định của bề trên. Nếu bề trên có ý muốn việc này thì ngài cố gắng thực hiện. Nếu bề trên có ý không muốn việc kia, thì ngài mau mắn chấm dứt.

Ngài không muốn làm Bề trên-Chính xứ ở Sài Gòn , nhưng khi cha Giám Tỉnh Cao Đình Trị muốn, thì ngài chấp nhận. Thời gian đấy, ngài đặc biệt quan tâm phục vụ sinh viên, bởi vậy ngài dành cho sinh viên một phòng hội lớn tại lầu 1 của Nhà Hiệp Nhất B, các bạn coi đấy như là nhà của mình, là thế giới riêng của mình, có cả một hệ thống tủ sách riêng và tủ đựng đồ đoàn riêng của các bác. Các bạn có thể tổ chức sinh hoạt thường xuyên định kỳ ở đó. Ý là hàng tuần. Lâu lâu cũng có cuộc hội lớn. Nhất là khi những dịp sinh viên công giáo ở các thành phố hội lại với nhau. Có lần đến 500 sinh viên. Thời đầu thập niên 1990 mà tụ họp sinh viên như vậy là lớn lắm. Sau đó, sợ ảnh hưởng của phong trào sinh viên, nhà nước đã làm áp lực lên Tỉnh Dòng và lên Tòa Giám Mục. Mặc dù ngài chẳng e ngại áp lực của công an, nhưng vì lợi ích chung của toàn Giáo phận và Nhà Dòng, ngài đã tạm ngưng các cuộc tập hợp kia của sinh viên.

Cũng trong tinh thần tuân phục ấy, tôi biết điều này: mặc dù ông bà cố của ngài ở tại Hà Nội, nhưng ngài rất gắn bó với môi trường mục vụ ở Sài Gòn; ngài không muốn ra Hà Nội. Tuy nhiên, anh em muốn và Cha Giám Tỉnh cũng muốn, thế là ngài đã vâng lời làm Bề trên-Chính xứ Thái Hà vào những năm khó khăn nhất trong lịch sử của Tu viện này.

Một linh mục không đam mê tiền bạc và quảng đại giúp đỡ người nghèo

Ngài cũng không đam mê tiền bạc và quảng đại giúp đỡ mọi người. Có người quên mọi thứ nhưng tiền thì không quên. Ngài thì ngược lại, có thể nhớ mọi thứ nhưng tiền thì không. Tâm ngài không dính vào tiền. Sự thực là vậy.

Tôi nhớ hồi những năm trước 2008, biết ngài ra Hà Nội ăn tết với ông bà cố, thì cha Giám Tỉnh gửi ngài tiền mừng tuổi cho anh em nhà Hà Nội. Ấy vậy mà ngài cứ quên đi quên lại, có khi nhớ mang ra tới Hà Nội, nhưng rồi quên trao cho các anh em và vì thế lại mang vào Sài Gòn. Cứ thế vào ra cuối cùng đến giữa năm tiền mừng tuổi với đến được chúng tôi.

Trước đó, hồi năm 1992, khi ngài bị tai nạn, ngài nhờ tôi và cha Phong vào dọn phòng. Tôi thấy trong túi quần áo cũ còn tiền từ đời nảo đời nào. Nhiều quyển sách bên trong còn cặp các phong bao lì xì chứa tiền Việt Nam Cộng Hòa. Tôi biết là ngài không để ý tới.

Nếu có tiền và nếu có nhớ tới, thì ngài thường chỉ dùng để mua sách và thường xuyên hơn là giúp đỡ người nghèo. Tại tu viện Kỳ Đồng, tôi thấy người nghèo bấm chuông tìm kiếm ngài nhiều nhất. Như thế ngài có bị lợi dụng và mắc lừa? Ngài nói rằng, thôi thì nếu người ta có thể lợi dụng được mình một tý thì cứ để cho người ta lợi dụng! Người ta chẳng biết chạy đến đâu nữa mới chạy đến mình. Thà rằng mình bị mắc lừa còn hơn là linh mục mà để người ta thấy mình thiếu tình thương.

Cũng tinh thần ấy, lúc ngài làm bề trên ở Hà Nội, có những người nghèo từ xa về Thái Hà hành hương, ngài thường giúp đỡ họ. Có lần tôi gặp một nhóm rất đáng thương, tôi trình bày với ngài là nên nói cha quản lý của tu viện giúp đỡ, thì ngài bảo rằng: “Thôi, tớ có tiền, để tớ đi lấy đưa cho cậu giúp họ. Khỏi dùng tiền của cộng đoàn.”

Một nhà rao giảng bằng ngòi bút

Là một linh mục dấn thân, chứ không phải một quan chức văn phòng, cho nên ngài gắn bó với cuộc sống thường ngày của người dân, của Giáo Hội và Đất Nước.

Ngài quan niệm rằng linh mục thời nay một tay phải mang sách Phúc âm và tay kia là tờ báo. Có nghĩa rằng Tin mừng phải gắn liền với cuộc sống hiện tại ở đây và lúc này. Ngài giảng cho chúng tôi như vậy. Trong ý thức đấy, ngài không chỉ thích đọc báo, mà hơn thế còn thích làm báo. Bởi thế, từ hơn 50 năm trước, cho đến cách đây khoảng 1 năm, trong khi sức khỏe còn cho phép, ngài thường xuyên viết bài cho các báo công giáo trong ngoài nước.

Ngài là người có sức viết dồi dào hiếm thấy. Ngài viết về những con người khác nhau, về các sự kiện khác nhau và về các vấn đề khác nhau tùy theo tình hình Giáo Hội và xã hội ở từng thời điểm. Ngài viết rất hay, rất thời sự, văn chương rất mượt mà, súc tích. Vốn có óc trào phúng, ngài chỉ ra những khía cạnh thú vị, đọc ra được những ý nghĩa sâu xa của sự việc, hiện tượng mà người khác vốn thấy là bình thường.

Ngoài ra ngài cũng tham gia trả lời phỏng vấn của các hãng thông tấn, các đài báo quốc tế. Nhiều bài viết và bài phỏng vấn liên quan đến tình hình Việt Nam còn được còn được các báo tây đăng lại và còn thấy trong danh mục của các tuyển tập kê khai tư liệu liên quan đến Việt Nam.

Ngài không thờ ơ với con người và ngài quan niệm rằng báo chí là một phương thế rao giảng Tin mừng. Tòa giảng và hay tòa báo đều là nơi thi hành sứ vụ. Viết báo là một cách đưa đạo vào đời, một cách ngài đối thoại với môi trường mình rao giảng. Việc đối thoại ấy diễn ra liên lỉ ở mọi nơi ngài có mặt trong mọi thời điểm.

Các đấng bề trên trong Dòng cũng biết ngài có năng lực báo chí và có quan niệm đúng đắn về truyền thông, cho nên ngay khi ngài vừa thụ phong linh mục, ngài đã được bổ nhiệm làm Thư ký Tòa soạn và Chủ bút của Báo Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp. Rồi gần 10 năm vừa qua, gắn liền với các sự kiện ở Thái Hà và Kỳ Đồng, cũng là thời gian ngài được bổ nhiệm làm Trưởng Ban Truyền Thông của Tỉnh Dòng Chúa Cứu Thế.

Tu viện Thánh Gioacchino Roma, ngày 3 tháng 4 năm 2016
Lm. Phêrô Nguyễn Văn Khải DCCT

Một chiến sĩ tích cực dấn thân mưu tìm công lý, sự thật và hòa bình

Những gì ngài nói, những gì ngài viết, những gì ngài làm, những gì diễn ra ở DCCT Thái Hà, Hà Nội và DCCT Kỳ Đồng, Sài Gòn trong những năm qua, là những bằng chứng nói cho chúng ta biết ngài đã dấn thân thế nào trong lãnh vực công lý, sự thật và hòa bình.

Lúc này tôi chỉ muốn nói thêm rằng: theo tôi được biết, thì ngài là một trong những người sớm gửi thư kiến nghị Hội đồng Giám mục Việt Nam mạnh dạn thành lập Ủy Ban Công lý và Hòa bình.

Ngài là một trong những anh em tích cực nhất và có vai trò quan trọng nhất của DCCT Việt Nam trong việc dấn thân cho công lý, sự thật và hòa bình.

Ngài đã sẵn lòng đảm nhiệm vai trò Bề trên-Chính xứ Thái Hà ở vào một trong những thời điểm mà ngài biết là đang gặp khó khăn, thử thách, nguy hiếm nhất trong lịch sử gần 90 năm hiện diện của tu viện này.

Ngài đã không thỏa hiệp trước những đề nghị của nhà cầm quyền để mưu tìm lợi ích riêng cho DCCT của mình. Trái lại, ngài hiệp nhất chặt chẽ với Tổng giáo phận Hà Nội, chấp nhận đồng sinh đồng tử với giáo dân, giáo sĩ và giáo quyền. Chấp nhận bằng hành động cụ thể chứ không phải bằng lời nói.

Yêu cầu của ngài về công lý, sự thật và hòa bình rất cao. Trong tư tưởng cũng như trên thực tế hành độn. Liên quan đến điều này, tôi thấy rằng trong tổng thể cũng như trong từng phương diện, thường thì ý của ngài là 10 phần, thì chúng tôi cố gắng hết sức cũng chỉ thực hiện được khoảng 5 hay 6 phần.

Ngài chủ trương dấn thân mưu tìm CÔNG LÝ, SỰ THẬT VÀ HÒA BÌNH, là bởi vì ngài xác tín rằng cái gốc rễ của của những đổ vỡ và rối loạn về mọi phương diện hiện nay trong xã hội Việt Nam đều phát xuất từ BẤT CÔNG-DỐI TRÁ VÀ BẠO LỰC do chế độ đã và đang thi hành.

Đêm chúa nhật 20 rạng ngày 21 tháng 9 năm 2008, khi nhà cầm quyền huy động những thành phần bất hảo đến bao vây tu viện Thái Hà, phá phách Đền thánh Giêrađô và hô hoán đòi giết ngài, ngài vẫn không nao núng, sợ hãi. Thậm chí hôm sau, trong thánh lễ Mátthêu, lễ bổn mạng ngài, tại nhà thờ, ngài còn có thể ca hát và có những lời hài hước khiến cộng đoàn cười nghiêng ngả, đủ biết niềm tin, tình yêu và niềm hy vọng của ngài lớn lao thế nào.

Còn những điều khác liên quan đến ngài trong lĩnh vực này, dần dần lích sử sẽ làm sáng tỏ.

Tu viện Thánh Gioacchino Roma, ngày 3 tháng 4 năm 2016
Lm. Phêrô Nguyễn Văn Khải DCCT

Một chiến sĩ tích cực dấn thân mưu tìm công lý, sự thật và hòa bình

Những gì ngài nói, những gì ngài viết, những gì ngài làm, những gì diễn ra ở DCCT Thái Hà, Hà Nội và DCCT Kỳ Đồng, Sài Gòn trong những năm qua, là những bằng chứng nói cho chúng ta biết ngài đã dấn thân thế nào trong lãnh vực công lý, sự thật và hòa bình.

Lúc này tôi chỉ muốn nói thêm rằng: theo tôi được biết, thì ngài là một trong những người sớm gửi thư kiến nghị Hội đồng Giám mục Việt Nam mạnh dạn thành lập Ủy Ban Công lý và Hòa bình.

Ngài là một trong những anh em tích cực nhất và có vai trò quan trọng nhất của DCCT Việt Nam trong việc dấn thân cho công lý, sự thật và hòa bình.

Ngài đã sẵn lòng đảm nhiệm vai trò Bề trên-Chính xứ Thái Hà ở vào một trong những thời điểm mà ngài biết là đang gặp khó khăn, thử thách, nguy hiếm nhất trong lịch sử gần 90 năm hiện diện của tu viện này.

Ngài đã không thỏa hiệp trước những đề nghị của nhà cầm quyền để mưu tìm lợi ích riêng cho DCCT của mình. Trái lại, ngài hiệp nhất chặt chẽ với Tổng giáo phận Hà Nội, chấp nhận đồng sinh đồng tử với giáo dân, giáo sĩ và giáo quyền. Chấp nhận bằng hành động cụ thể chứ không phải bằng lời nói.

Yêu cầu của ngài về công lý, sự thật và hòa bình rất cao. Trong tư tưởng cũng như trên thực tế hành độn. Liên quan đến điều này, tôi thấy rằng trong tổng thể cũng như trong từng phương diện, thường thì ý của ngài là 10 phần, thì chúng tôi cố gắng hết sức cũng chỉ thực hiện được khoảng 5 hay 6 phần.

Ngài chủ trương dấn thân mưu tìm CÔNG LÝ, SỰ THẬT VÀ HÒA BÌNH, là bởi vì ngài xác tín rằng cái gốc rễ của của những đổ vỡ và rối loạn về mọi phương diện hiện nay trong xã hội Việt Nam đều phát xuất từ BẤT CÔNG-DỐI TRÁ VÀ BẠO LỰC do chế độ đã và đang thi hành.

Đêm chúa nhật 20 rạng ngày 21 tháng 9 năm 2008, khi nhà cầm quyền huy động những thành phần bất hảo đến bao vây tu viện Thái Hà, phá phách Đền thánh Giêrađô và hô hoán đòi giết ngài, ngài vẫn không nao núng, sợ hãi. Thậm chí hôm sau, trong thánh lễ Mátthêu, lễ bổn mạng ngài, tại nhà thờ, ngài còn có thể ca hát và có những lời hài hước khiến cộng đoàn cười nghiêng ngả, đủ biết niềm tin, tình yêu và niềm hy vọng của ngài lớn lao thế nào.

Còn những điều khác liên quan đến ngài trong lĩnh vực này, dần dần lích sử sẽ làm sáng tỏ.

Một nhà thừa sai trong lãnh vực văn hóa và nghệ thuật

Ngài cũng thừa hưởng ít nhiều năng khiếu nghệ thuật của ông bà cố. Những năm tôi ở Sài Gòn, nhất là thời điểm 1989-1992, khi ngài chưa bị tại nạn gãy chân, hầu như tuần nào ngài cũng rủ tôi đạp xe[1]cùng ngài, lang thang đến các phòng triển lãm tranh ở đường Pasteur và đường Đồng Khởi, hoặc các bảo tàng, các nhà văn hóa, các danh lam thắng cảnh ở nội ngoại thành để thưởng thức những giá trị văn hóa nghệ thuật. Đôi khi có phim hay trình chiếu ở đâu đó thì ngài cũng kêu tôi đi xem cùng, tôi thấy thường là ở Trung tâm Văn hóa Pháp, vì có những phim nơi khác cấm ở đấy vẫn có thể chiếu. Nếu ngài bận việc, thì ngài nói tôi đi xem rồi về thuật lại.

Nhưng nơi mà ngài thường lui tới nhất là các nhà sách và các điểm bán sách báo ngoại ngữ của du khách Tây phương mang theo đọc xong rồi bỏ lại, hay bán lại[2]. Ngài đi xem sách cốt yếu để biết. Dù vậy thấy sách nào cần thiết, sách nào có giá trị và giá cả trong mức độ chấp nhận được thì ngài cũng mua. Tôi biết ngài sưu tập được một ít tạp chí Đô thành Hiếu cổ (Bulletin des Amis du Vieux Hue) và Nam Phong Tạp chí. Cả hai thứ quý này hy vọng là vẫn còn lại trong phòng ngài ở Sài Gòn.

Ngài cũng rất quan tâm đến văn chương kim cổ của thế giới và của Việt Nam. Ngài thường tìm đọc những tác phẩm văn chương đoạt giải Nobel hoặc đoạt giải thưởng của Hội Nhà Văn Việt Nam. Thời sự văn chương Việt Nam hay dở thế nào thì ngài nắm bắt khá kịp thời. Ngài coi văn chương không những là phương tiện giải trí, mà còn là một cách thức để ngài tiếp cận thực tại xã hội, gợi ý cho ngài trong việc rao giảng và hơn nữa còn là một phương tiện hiệu quả để truyền bá Tin mừng.

Ngài rất quan tâm đến mảng văn thơ công giáo Việt Nam. Ngài cổ vũ những ai có khả năng tham gia sáng tác văn học công giáo. Những năm ở Hà Nội tôi thấy ngài cũng rất quý trọng nhà văn Nguyễn Hoàng Đức[3]. Có lần chiều mùng một tết, trong lúc mọi người về quê với gia đình, tu viện cũng vắng vẻ hơn ngài thường, cha Vũ Khởi Phụng bảo tôi kêu anh Nguyễn Hoàng Đức đến Nhà Dòng cùng ngài và tôi đi ăn chiều và bàn chuyện văn thơ, triết học.

Năm rồi, sau một cuộc tĩnh tâm Cursillo, tôi có dịp hàn huyên với cha Nguyễn Tầm Thường, một văn sĩ công giáo được yêu thích, tôi hỏi con đường nào dẫn ngài đến nghiệp văn chương, thì ngài cho biết: trước 1975, lúc ngài đang làm chủng sinh ở Long Xuyên, thì ngài bắt đầu tập làm thơ, viết văn rồi gửi cho báo Tuổi Hoa và báo Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp. Khi nhận được, cha Vũ Khởi Phụng đã viết thư cho ngài, đánh giá rất tốt các bài viết của ngài và đã khuyên ngài tiếp tục sáng tác. Từ đó ngài tự tin vào ơn gọi văn chương và ngài theo nó đến bây giờ.

Ngài cách đích thân tổ chức các buổi giới thiệu các tác giả và tác phẩm công giáo. Có khi ít thì 5, 3 người. có khi nhiều cũng được 20, 30 người. Tôi nhớ hai lần cuối ngài tổ chức mà tôi có tham dự, thì một lần giới thiệu về tác giả và tác phẩm của nhà thơ Đình Bảng, lần còn lại giới thiệu về nhà thơ nào đó mà nay tôi quên đã quên tên; tôi chỉ còn nhớ là anh còn đang sống, đang bị bệnh phong như Hàn Mặc Tử và là người đã viết tiếp vở kịch thơ Quần Tiên Hội của Hà Mặc Tử.

Cha Mátthêu quan niệm rằng đức tin của người Công giáo Việt Nam chưa diễn tả được thành thơ thì đức tin chưa thực sự bén rễ sâu xa để sinh hoa kết quả tốt đẹp trong lòng dân tộc Việt Nam này.

Theo tinh thần đó, bản thân ngài thỉnh thoảng cũng làm thơ, nhân dịp có sự kiện vui buồn gì đó. Chẳng hạn năm 1992, khi đang đạp xe lên Dòng Mến Thánh Giá Gò Vấp giảng tĩnh tâm, đến chỗ sân gôn Gia Định, chỗ gần ngã ba Chú Ía, thì ngài bị cái xe benz đụng gẫy chân. Cha già Jean Thính, người rất mến mộ ngài, đã gửi tặng ngài mấy câu thơ con cóc rằng:

Vũ Khởi Tiên Sinh bị gãy giò

Thế mà phải nói số còn to.

Vụ xe cán nghiến ghê rung rợn.

Hậu quả thông thường: ngủ hũ tro

                       Cóc Đại Cồ Việt

Và ngài đã họa lại rằng:

Mở mắt thì ra chỉ gãy giò.

Tưởng về với Chúa kiếm lời to.

Thiên đình khó tính chưa cho nhập.

Thôi thế xin từ biệt hũ tro.

Mười mấy năm nay dường như không thấy ngài làm thơ nữa. Tôi hỏi tại sao, ngài bảo từ hồi cụ Jean Thính mất, ngài cũng không còn hứng làm thơ nữa.

Nhưng ca hát và sáng tác thánh ca thì ngài vẫn tiếp tục. Ngài thừa hưởng năng khiếu âm nhạc của bà cố; hơn nữa trong Nhà Dòng, ngài được các cha Canada đào tạo âm nhạc rất bài bản về âm nhạc như các anh em cùng thế hệ như Thành Tâm, Sĩ Tín, Hoàng Đức, Tiến Lộc.

Năm 1994, khi Đức cha Hoàng Văn Tiệm gặp tôi ở Nhà thờ Fatima Bình Triệu, ngài nói: “Ông còn trẻ mới vào tu nên không biết. DCCT các ông trước ở Đà Lạt quậy lắm. Các thầy mặc âu phục hát nhạc vào đời nên bị “đào” vời ra sạch cả! Tai tiếng lắm!”.

May mà tôi biết chuyện nên có thể giải thích cho Đức Cha. Vì trước đó có lần cha Phụng đã kể cho tôi biết rằng thực ra thời đấy thế hệ ngài cũng có nhiều anh em bỏ tu. Nhưng anh em về vì những chuyện khác chứ không phải vì hát nhạc vào đời. Thành viên của ban nhạc Alleluia hát nhạc vào đời vẫn còn nguyên cả đấy: Vũ Khởi Phụng, Thành Tâm, Trần Sĩ Tín, Nguyễn Đức Mầu, Trần Ứng Tường, Tiến Lộc, Trần Văn Quang, Lê Vĩnh Thủy. etc. Những thành viên Ban Alleluia còn tu và còn sống cả và phần nhiều đều đàn hát và sáng tác được cả.

Cha Vũ Khởi Phụng có giọng tenore rất hay và rất sang. Mỗi khi ngài, cùng quý cha Tiến Lộc, Trần Sĩ Tín, Cao Đình Trị, Thành Tâm cùng đồng ca thì ai nghe cũng thấy cảm động. Một trong những lần trình diễn hay nhất mà tôi ghi nhớ trong ký ức là dịp các ngài hát với cha Labonté, thầy cũ của các ngài từ Canada sang Việt Nam năm 1994.

Ngài thích hát và thích khuyến khích người khác hát thánh ca. Vì vậy, trong những năm khó khăn sau 1975 ngài đã làm linh hướng cho Ca đoàn Trùng Dương, thường gọi là ca đoàn lang thang. Thỉnh thoảng ngài lại mời ca đoàn này trình diễn theo kiểu hát cho nhau nghe theo một chủ đề gì đó, hoặc trong cuộc hội ngộ nào đó; có khi chỉ để cùng nhau suy niệm và cầu nguyện bằng thánh ca nhân Mùa Vọng hoặc Mùa Chay.

Ngài cũng có khả năng sáng tác âm nhạc. Nếu ngài theo chí hướng âm nhạc thì ngài cũng có thể thành ca sĩ, nhạc sĩ như một số người khác. Nhưng không! Ngài biết đâu là sứ vụ chính của ngài. Ngài không sống chết với âm nhạc. Đam mê của ngài không phải là âm nhạc. Đam mê của ngài là người nghèo và phục vụ người nghèo. Ngài chủ yếu coi âm nhạc như là một phương thế rao giảng Tin mừng.

Vì nhu cầu rao giảng, trong từng hoàn cảnh ngài đã cùng anh em trong Dòng ngẫu hứng sáng tác nhiều bài hát. Những bài hát ngài sáng tác, thường lấy ý tưởng từ Kinh thánh và từ hiện thực cuộc sống, có lời ca rất súc tích, duyên dáng, lại thấm đẫm chất thơ, thấm đậm tình tự của ngài đối với Chúa, đối với người nghèo, đối với Giáo Hội và Quê Hương. Thí dụ bài Tin vui cho bạn nghèo, một trong những bài hát mà mỗi lần hát hay nghe người khác hát, tôi cảm động phát khóc lên được:

TK.1:Ngài sai tôi đi rao giảng Tin mừng cho người nghèo khó; ngài sai tôi loan Tin mừng ơn cứu độ chứa chan nơi người. TK.2:Ngày đi xuân tươi hoa cỏ, với bao nỗi niềm thân thương, đường xa nên duyên nên nợ, bao nhiều người vấn vương vui buồn. TK 3: Nhiều phen ngang qua gian khổ, xin mang theo làm hành trang, trời khuya muôn sao đua nở, dõi bóng người đớn đau băng ngàn. TK 4: Gặp anh em tôi bé nhỏ. Xót thương phận bèo lênh đênh. Rồi nghe miên man tâm sự, những mối tình nước non quê mình. ĐK: Bạn nghèo, bạn nghèo, hãy sống ước ao. Bạn nghèo, bạn nghèo hãy sống khát khao Nước Trời. Bạn nghèo, bạn nghèo, có Đức Kitô. Bạn nghèo, bạn nghèo được phúc đầy no ơn trời.

Lời bài hát đấy tiêu biểu cho phong cách sốngcủa ngài, tiêu biểu cho phong cách mục vụ của ngài, và có thể nói rằng tiêu biểu cho chính cuộc đời của ngài.

Và đây bài hát này, có lẽ ít nhiều là tâm tình của ngài hôm nay, khi ngài vừa nằm xuống:

Trên đường về nhà Cha, từng lớp người đi tới. Có muôn dân thế giới, cùng hát một bài ca. Trên đường về nhà Cha, người đông đoài nam bắc. Mang hoa thơm cỏ lạ của rừng sâu đảo xa. 1. Cánh tay Cha chờ đợi luôn đón mời. Lòng bao dung mở ra trời đất mới. Là biển khơi gội sạch mọi tội lỗi. Như nhắn lời mau về đây với tình Cha. 2. Lữ khách bao ngày dài đã khát khô. Nặng âu lo vì thất bại đây đó. Đường mưa gió gập ghềnh nhiều gian khó. Nay đã về vui mừng gặp gỡ lại Cha.

20160305_chaphung

Hình Đức Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt, cha Vũ Khởi Phụng và các cha DCCT Hà Nội cùng một số cộng tác viên tại Tòa Giám Mục Hà Nội năm 2008.

Tôi kể đã dài, mà chưa hết chuyện ngài.

Tuy nhiên, một cách vắn tắt có thể nói thế này về ngài: Cha Mátthêu Vũ Khởi Phụng là người thông minh và hiểu biết; là linh mục hiền lành, thánh thiện, có chiều sâu tâm linh và có khả năng hướng dẫn người khác; là người không ham mê quyền lực, không đam mê tiền bạc và luôn sẵn lòng tuân theo sự hướng dẫn của các bề trên. Không bao giờ có ai có thể chê trách ngài điều gì liên quan đến những phương diện căn bản của đời tu là đời sống độc thân, khó nghèo và tuân phục.

Đối với tha nhân, ngài có lòng bác ái lớn lao, luôn tôn trọng mọi người, lắng nghe và tỏ lòng cảm thông với mọi người và tận tình giúp đỡ mọi người về vật chất và tinh thần trong khả năng của mình. Vì vậy, ngài được mọi người chung quanh yêu mến và kính trọng.

Ngài sống hiền hòa, nhưng vì con người và vì hạnh phúc của con người, ngài luôn thao thức đến các vấn đề của Giáo Hội, của Dân Tộc và của Đất Nước, bởi vây không bao giờ khoan nhượng với những bất công, dối trá và bạo lực của các cá nhân hay của chế độ. Vì thế, cùng những người khác ngài sẵng sàng xả thân mưu tìm CÔNG LÝ, SỰ THẬT VÀ HÒA BÌNH, nhằm mang lại hạnh phúc cho người dân, sự thịnh vượng cho Giáo Hội và cho Đất Nước.

Một cách ngắn gọn, có thể nói rằng đối với Nhà Dòng, với Giáo Hội, với Dân Tộc và Đất Nước, ngài cũng đã yêu mến hết tình và phục vụ hết mình. Phục vụ bằng lời cầu nguyện, bằng tấm lòng chia sẻ, bằng khả năng giảng dạy của mình, bằng năng khiếu viết văn, làm thơ và sáng tác thánh ca. Ngài là một tu sĩ chân chính Dòng Chúa Cứu Thế, một linh mục thánh thiên của Giáo Hội, một mục tử đích thực như lòng Chúa mong muốn, một công dân sống có trách nhiệm nhất đối với Dân Tộc và đất nước Việt Nam đầy đau thương và bất hạnh này./.

[1] Đạp xe lóc cóc từ nhà sang Phú Lâm, hay sang Thủ Đức hay xa hơn đối với cha Vũ Khởi Phụng là chuyện thường. Chưa bao giờ thấy ngài có xe máy và đi xe máy.

[2] Ở Sài Gòn, tôi không thấy ai mê sách hơn cha Phụng và không ai mê đồ cổ hơn cha Nguyễn Hữu Triết. Chỉ có một khác biệt này nơi hai vị đáng kính: Cha Phụng thấy sách, mê sách nhưng không biết làm sao để sách đẻ ra sách; trong khi cha Triết thấy đồ cổ, mê đồ cổ và biết cách làm sao để đồ cổ đẻ ra đồ cổ. Tuy nhiên, cả hai lối ứng xử ấy của hai vị đều đáng phục và đều rất tốt đẹp. Cả hai đều sống giản dị, nghèo khó và đều cố công tìm cách bảo tồn và phát triển những di sản văn hóa và đức tin.

[3] Nguyễn Hoàng Đức, nguyên là công an cộng sản, được ĐHY Nguyễn văn Thuận cảm hóa, anh đã bỏ nghề công an, chấp nhận sống nghèo và sống trong cô đơn, cô độc để theo Chúa, nghiên cứu Kinh Thánh, thần học và sáng tác thơ văn công giáo. Anh đã được cha Nguyễn Xuân Thủy ở nhà thờ lớn rửa tội. Dịp kết thúc cấp giáo phận án phong chân phúc ĐHY Thuận, anh được mời sang Roma tham dự và làm chứng nhân, nhưng giờ cuối anh bị nhà cầm quyền cộng sản cấm xuất cảnh.

—————-

Với niềm tin, con người có thể làm được những điều phi thường

5-3-2016

Đặng Bích Phượng

Kinh nghiệm muộn màng.

Nếu bạn định làm gì, hãy cố làm sớm chừng nào có thể, kẻo bạn sẽ ân hận khi không còn cơ hội nữa. Khi nghe tin Cha Matthêu Vũ Khởi Phụng bị bệnh, tôi đã muốn đến bệnh viện thăm Cha. Chưa kịp thực hiện ý định của mình, thì đã nghe tin Cha về với Chúa của Ngài rồi.

Chiều hôm qua đến viếng Cha ở nhà thờ Thái Hà, nhìn rất đông bà con giáo dân chít khăn tang cho người cha tinh thần của họ, tôi xúc động đến ứa nước mắt.

DangPhuongBich_HinhletangchaPhung1

Giáo dân trong lễ An táng Linh mục Mattheu Vũ Khởi Phụng Hình: Đặng Bích Phượng

Mong Cha cũng cảm nhận được sự tiếc thương của một kẻ ngoại đạo như con.

Nhiều năm trước, qua những gì được đọc, tôi có cái nhìn méo mó, khá cực đoan về Công giáo. Thậm chí, tôi chưa bao giờ tiếp xúc với ai đi theo đạo Công giáo. Cho đến năm 2011, khi theo dõi trên mạng vụ luật sư Lê Quốc Quân và bác sĩ Phạm Hồng Sơn bị bắt trong phiên xử ông Cù Huy Hà Vũ, chứng kiến sự đoàn kết và sự yêu thương lẫn nhau của người Công giáo, quan niệm của tôi về người Công giáo bắt đầu thay đổi.

Sau những cuộc biểu tình chống Trung Quốc năm 2011, tôi kết giao với nhiều người bạn Công giáo. Tôi đến nhà thờ Thái Hà, tham dự các thánh lễ cầu nguyện, cảm nhận được sự thân thiện, khiêm nhường của các Cha Dòng Chúa Cứu Thế ở nhà thờ Thái Hà như Cha Matthêu Vũ Khởi Phụng, Cha Giuse Nguyễn Văn Phượng, Cha Gioan Nguyễn Ngọc Nam Phong … cũng như của bà con giáo dân ở đây.

50namlm3

Các nhân sĩ, trí thức ngoài Công giáo chúc mừng Linh mục Vũ Khởi Phụng 50 năm khấn Dòng. Hình: JB Nguyễn Hữu Vinh

Tôi đã được những người bạn Công giáo kể cho tôi nghe về đời sống, sự hy sinh, dấn thân và kiến thức của các linh mục Công giáo, nhất là các Cha trong Dòng Chúa Cứu Thế, trong đó có Cha Phụng, người mà Cha Nguyễn Văn Khải nhận xét là đã “vượt lên trên bi kịch bản thân và gia đình”.

Đọc tiểu sử của Cha Phụng, mới thấy rằng trong xã hội này, nếu người dân thấp cổ bé họng cơ cực một, thì người Công giáo cơ cực gấp rất nhiều lần.

Tuy nhiên, tôi không hề thấy sự hận thù nào trong ánh mắt, lời nói, cũng như thái độ của Cha. Lúc nào Cha Matthêu Vũ Khởi Phụng cũng hiền hậu, pha chút hóm hỉnh. Các tín đồ của Ngài kề, khi có kẻ phỉ báng Ngài, Ngài chỉ ngạc nhiên, thậm chí thấy khổ thân những người không biết chính họ đang làm gì.

Tôi sẽ ráng học ở Ngài điều đó. Sắp tới, nếu họ có cố tình “đấu tố” tôi, vì tôi dám tự ứng cử vào quốc hội, tôi sẽ không tức giận mà sẽ chỉ mỉm cười.

 

Để biết về một tôn giáo đã tồn tại hàng ngàn năm, với số lượng tín đồ lên tới cả tỷ người trên thế giới, cần phải đọc rất nhiều tài liệu. Nhưng đôi lúc lại không cần nói gì nhiều, mà chỉ cần làm một phép so sánh, xem tín ngưỡng của những nước giàu có hay nghèo đói trên thế giới là có thể tìm ra câu trả lời.

DangPhuongBich_HinhletangchaPhung2

Hàng ngàn giáo dân về tiễn đưa vị cha linh hồn của mình. Ảnh: Đặng Phương Bích

Tôi nghĩ rằng, khi có niềm tin, con người ta có thể làm được những điều phi thường.

Đến tiễn biệt Cha Matthêu Vũ Khởi Phụng, tôi thấy linh cữu của Cha rất đơn sơ và giản dị. Không quá nhiều hoa, chỉ có quá nhiều tấm lòng người còn sống dành cho Cha. Đó là phần thưởng không phải ai cũng có được.

Nếu những đám tang của các quan chức đời thường mang nặng tính vay trả vật chất, thì đám tang của Cha Matthêu Vũ Khởi Phụng chỉ giàu về tấm lòng.

Một bạn nhận xét rất hay: “Khi sinh ra mọi người cười mình khóc. Hãy sống để đến khi mình ra đi mọi người khóc còn mình cười”. 

Ca đoàn hát: “Xin vĩnh biệt mọi người. Tôi ra đi lần cuối, không bao giờ trở lại. Hẹn gặp trên nước Trời!”

Vâng!

Cha đi nhé. Vĩnh biệt Cha.

Hà Nội, Đêm 5/3/2016
Đặng Bích Phượng

Nguồn: http://www.chuacuuthe.com/2016/03/nho-cha-mattheu-vu-khoi-phung-ky-v/

DÒNG CHÚA CỨU THẾ

Posted in Cướp đất và chiếm đoạt tài sản của dân, Tôn Giáo | Leave a Comment »

►Trung Quốc là kẻ bắt nạt, chúng ta cần đứng lên vì không ai có thể an toàn ở TQ ngày nay

Posted by hoangtran204 on 05/03/2016

03-03-2016

Tác giả: Benedict Rogers

Jonathan London dịch

Hai mươi bốn năm trước, tôi đã đến Trung Quốc để dạy tiếng Anh. Khi đó tôi mười tám tuổi và vụ thảm sát Thiên An Môn mới sảy ra được ba năm. Tôi yêu Trung Quốc, yêu con người, lịch sử và văn hóa Trung Quốc; Tôi học một íttiếng Trung Quốc; và trong những năm tiếp theo tôi đi du lịch thường xuyên khắp nước này. Tôi không nhớ đã đến Trung Quốc bao nhiêu lần nhưng có lẽ phải vài chục.Tôi sống ở Hồng Kông trong năm năm đầu tiên khi nơi này được đặtdưới quyền Trung Quốc, từ 1997 đến 2002.

Cho đến tận gần đây, tôi đã hy vọng vào Trung Quốc. Tôi tin tưởng rằng khi họ đã mở ra kinh tế thì họ phải cải cách chính trị. Khi Tổ chức Ân xá Quốc tế đã công bố một báo cáo có tựa đề “Không ai an toàn ở Trung Quốc” tròn hai mươi năm trước đây, tôi cho rằng họ đã cường điệu hóa. Những người bạn Trung Quốc của tôi – sinh viên, giáo viên, doanh nhân – tất cả dường như đều ‘an toàn’. Dù thừa nhận rằng họ vi phạm nhân quyền nghiêm trọng và có các công cụ đàn áp, tôi đã lạc quan tin rằng Trung Quốc sẽ tự do hoá.

Khi Tập Cận Bình trở thành Chủ tịch nước, nhiều người, trong đó có tôi, tin rằng ông có thể là người thúc đẩy cải cách chính trị.

Giờ đây, sau ba năm cầm quyền của Tập Chủ tịch, tôi đã hoàn toàn thay đổi quan điểm. Ngày nay, hai mươi năm kể từ khi bản báo cáo có tựa đề gay gắt của Ân xá Quốc tế ra đời, tôi kết luận rằng họ đã đúng, báo cáo của họ là lời tiên tri và tiêu đề báo cáo rất thích hợp.

Ba năm qua, nhân quyền ở Trung Quốc đã giảm đáng kể. Một số người cho rằng chúng ta đang chứng kiến sự đàn áp các nhà bất đồng chính kiến nghiêm trọng và rộng lớn nhất kể từ khi vụ thảm sát Thiên An Môn. Và cuộc đàn áp tàn nhẫn đang mở rộng vượt ra ngoài Trung Quốc đại lục, tới Hồng Kông và giới bất đồng chính kiến Trung Quốc ở nước ngoài. Trung Quốc của Tập Cận Bình trở về với thời Cách mạng Văn hóa với việc đưa lên đài truyền hình quốc gia cảnh buộc ‘nhận tội’ và bắt cóc người theo phong cách BắcHàn.

Vào tháng Bảy năm ngoái, một cuộc đàn áp chưa từng có tới các luật sư đã bắt đầu. Hơn 300 luật sư, các cộng sự và người thân của họ đã bị bắt và bị giam. Trong những gì được gọi là “Chiến dịch 709″, bởi vì nó bắt đầu vào ngày 09 tháng Bảy, một số đã bị bỏ tù, một số mất tích, một số đã được thả nhưng phải chịu sự giám sát liên tục và quấy rối. Kể từ đó, vào đầu năm nay ít nhất mười lăm người đã bị bắt và chính thức bị buộc tội lật đổ. Mức án tối đa với tội này là tù chung thân, trong khi kích động lật đổ có thể chịu đến mười lăm năm tù. Những người bị kết tội gồm các luật sư nổi tiếng Wang Yu và Li Heping, và nhà hoạt động Christian Liu Yongping và Gou Hongguo. Người trẻ nhất là Bao Zhuoxuan , con trai 16 tuổi của Wang Yu đã bị bắt cóc hai lần sau khi trốn thoát.

Luật sư Zhang Kai, người đã bị giam giữ kể từ cuối tháng Tám, đã bị diễu trên truyền hình quốc gia vào tuần trước với cảnh “thú tội” và thừa nhận “gây rối trật tự xã hội”, “gây nguy hiểm cho an ninh quốc gia” và hành xử một cách chuyên nghiệp. Gần như chắc chắn ông đã bị buộc phải nhận tội.

Đối với các nhà đầu tư quốc tế, nguyên tắc “thượng tôn pháp luật” chắc chắn là quan trọng. Các nhà đầu tư cần phải được tin rằng các khoản đầu tư của họ được bảo vệ hợp pháp.Tuy nhiên, bắt hàng trăm luật sư thì hầu như không thể hiện tinh thần thượng tôn pháp luật. Trung Quốc thời Tập Cận Bình quan tâm nhiều hơn đến việc “cai trị bằng luật”- đưa ra các đạo luật bất công để áp bức- hơn là “thượng tôn pháp luật” mà theo đó tất cả mọi người, bao gồm các quan chức của chế độ, phải chịu trách nhiệm trước pháp luật. Theo cách “cai trị bằng luật” thì việc đưa ra hai bộ luật mới là Luật An ninh và Luật về các tổ chức phi chính phủ (NGO) đều đáng báo động về hạn chế tự do.

Trong năm 2013, các nhà chức trách ở tỉnh Chiết Giang thuộc miền nam Trung Quốc đã bắt đầu một chiến dịch phá hủy thánh giá trên các nhà thờ. Kể từ đó, hơn một ngàn cây thánh đã bị phá hủy, bao gồm cách nhà thờ bị Nhà nước xử phạt chính thức. Đạo hữu Kitô và các luật sư lên tiếng chống lại sự phá hủy thánh giá đã bị bắt giữ và một số mục sư bị bắt giam.

Có lẽ đáng báo động hơn cả là cách Bắc Kinh đối xử với Hồng Kông. Ít nhất là năm nhà buôn sách ở Hồng Kông đã mất tích. Họ được cho là đã bị điệp viên Trung Quốc bắt cóc từ Hồng Kông vì đã bán sách chỉ trích các nhà lãnh đạo Trung Quốc. Điều này, kết hợp với sự đàn áp dần dần các hoạt động ủng hộ dân chủ ở Hồng Kông, đưa Joshua Wong và bạn bè anh ra tòa, phản ứng giận dữ của chính phủ Hồng Kông khi cảnh báo Mỹ không nên ‘can thiệp’, và từ chối thẳng thừng những yêu cầu bầu cử phổ thông đầu phiếu qua phong trào Cách mạng Dù năm 2014, cho thấy rằng Bắc Kinh đã xé rách Tuyên bố chung Trung-Anh và Luật Cơ bản, hai văn kiện có ý nghĩa tạo nền tảng ổn định cho Hồng Kông trong năm mươi năm đầu tiên dưới sự cai trị của Trung Quốc. Như cựu Thư ký trưởng Hồng Kông Anson Chan cho biết, tất cả điều này đã gióng lên “hồi chuông báo tử cho chính sách ‘một quốc gia, hai hệ thống’”.

Đáng quan tâm không kém là vụ đàn áp mới của Trung Quốc tới các nhà bất đồng chính kiến ở nước ngoài. Các nhà hoạt động nhân quyền đã không bao giờ được chào đón tại Trung Quốc, nhưng trong quá khứ thì bị trục xuất là kết cục tồi tệ nhất mà họ phải đối mặt. Tuy nhiên, vào tháng Giêng, nhà hoạt động người Thụy Điển Peter Dahlin bị giam trong vài tuần, không được tiếp cận với đại sứ quán của mình, và chỉ được thả sau khi lên truyền hình “xưng tội”, thừa nhận vi phạm luật pháp Trung Quốc.

Năm ngoái người đã được trao vương miện “Hoa hậu Thế giới Canada” là Anastasia Lin, không chỉ là một nữ diễn viên Canada gốc Hoa xinh đẹp mà còn trở thành kẻ thù của nhà nước trong con mắt của Bắc Kinh. Là một nhà hoạt động thẳng thắn được sinh ra ở Trung Quốc, cô đã bị từ chối nhập cảnh để tham dự vòng chung kết Hoa hậu Thế giới vì các hoạt động của mình. Các bài phát biểu, bài viết và video về nhân quyền tại Trung Quốc của cô rất đáng xem.

Việc tiếp cầm tù ông Lưu Hiểu Ba –chủ nhân giải Nobel Hòa bình – và các nhà bất đồng chính kiến khác như Hu Jia không phải là điềm tốt cho cải cách ở Trung Quốc. Tương tự, cách họ đối xử với nhà bảo vệ nhân quyền khiếm thị Chen Guangcheng trước khi ông trốn thoát sang Hoa Kỳ vào năm 2012 đã gây sốc. Cuốn sách của ông, “Luật sư chân đất: Hồi ký nổi bật của nhà hoạt động chính trị dũng cảm nhất Trung Quốc” là cần đọc cho bất cứ ai muốn hiểu Trung Quốc ngày hôm nay, cũng như cuốn hồi ký xuất sắc Bob Fu “Điệp viên hai mang của Chúa: Câu chuyện đấu tranh cho Tự do của một giáo hữu Kitô Trung Quốc”.

Trên tất cả là việc tôn thờ cá nhân có tính cách giáo phái mới nổi của Tập Cận Bình, điều đã không thấy kể từ thời Mao, cùng với việc ngày càng phổ biến tuyên truyền, kiểm duyệt và đàn áp tự do báo chí. Chưa nói đến sự tiếp tục đàn áp với người Tây Tạng, Tân Cương và học viên Pháp Luân Công.Trong một động thái bất thường, Tập Cận Bình cấm người Hồi giáo ở Tân Cương dự lễ Ramadan từ năm ngoái.

Suy giảm rõ rệt này trong nhân quyền ở Trung Quốc diễn ra vào một thời điểm khó xử cho Vương quốc Anh khi năm ngoái họ tuyên bố về một “kỷ nguyên vàng” trong quan hệ Trung-Anh và bày tỏ nguyện vọng được là “người bạn tốt nhất” của Trung Quốc .

Khi Tập Cận Bình đã đến London trong cuộc thăm cấp Nhà nước đầu tiên của một Chủ tịch Trung Quốc trong một thập kỷ qua, Anh Quốc không chỉ trải thảm đỏ mà đã treo cờ trắng đầu hàng cùng với lá cờ đỏ của Đảng Cộng sản Trung Quốc. Hàng ngàn người Trung Quốc đứng đầy các đường phố từ Trung tâm mua sắm tới cung điện Buckingham – không phải để lên tiếng đấu tranh cho tự do mà họ đã được Đại sứ quán Trung Quốc trả tiền và đưa xe bus chở tới để cổ vũ gã bạo chúa của họ và làm át tiếng nói của những người bất đồng chính kiến. Tôi bị đẩy ra khỏi con đường nhiều lần khi tôi chỉ cố gắng để quan sát đoàn xe của ngài Chủ tịch. Khi một tên côn đồ được thuê cầm cờ Anh và cờ Trung Quốc đứng chắn trước mặt, tôi đã nói với đồng nghiệp của mình rằng rõ ràng hắn chủ ý làm vậy. “Những lá cờ này không dành cho ông,” tay điệp viên Trung Quốc trả lời tôi. “Nhưng lá cờ đó là của chúng tôi,” tôi trả lời và chỉ vào cờ Liên hiệp Anh. Hắn ta cười nhăn nhó nhưng giữ vẻ mặt đe dọa, và một người đàn ông Trung Quốc nữa đeo tai nghe (thường nhân viên anh ninh mới đeo tai nghe để dễ nhận lệnh chỉ huy -ND) cũng lảng vảng gần đó. Cùng ngày hôm đó, cảnh sát Anh bắt giữ và lục soát nhà của một nhà bất đồng chính kiến người Trung Quốc đang sống lưu vong là Shao Giang, một nạn nhân của vụ thảm sát Thiên An Môn. Không hài lòng với viện đơn giản là làm câm lặng tiếng nói chỉ trích tại quê nhà, Trung Quốc khăng khăng chà đạp quyền tự do ngôn luận ở nước ngoài. Theo cách học giả Perry Link đặt tiêu đề trong một bài báo xuất sắc mười bốn năm trước, Trung Quốc đang là “con mãng xà nấp trong chùm đèn “.

Các vụ bắt cóc giới bất đồng chính kiến người Trung Quốc diễn ra ở Thái Lan và các nơi khác là kinh khủng. Nhưng sốc hơn cả là điều này đã được phần còn lại của thế giới im lặng hưởng ứng.Tất cả đều im lặng, ngoài một thành viên của Quốc hội Anh lên tiếng trong chuyến thăm của Tập và người này sau đó bị kỷ luật. Là Chủ tịch của Ủy ban Nhân quyền của Đảng Bảo thủ, Dân biểu Fiona Bruce đã ví von rằng Trung Quốc đã được hưởng lợi dưới đèn mờ, bây giờ phải đưa họ ra đèn sân khấu.

Trên tất cả các vấn đề về quyền con người, ngày này người ta có xu hướng xem tín hiệu từ đồng Đô la chứ không phải là từ con người, chiêm ngưỡng chùm đèn đẹp mà bỏ qua con mãng xà nguy hiểm đang giấu mình, và khấu đầu thay vì lên tiếng. Như cựu Toàn quyền Hồng Kông Chris Patten đã nói trong cuốn phim tài liệu xuất sắc “Vị Thống đốc cuối cùng”, có một số người trong chính giới ngoại giao ở Anh Quốc và các nước khác có thể sẽ nói thế này nếu Trung Quốc ra chính sách giết đứa con đầu lòng “Có lẽ chính sách này không phải là không hợp lý trong một số trường hợp. Bạn biết không, bạn phải cho phép chuyện đó sảy ra vì truyền thống văn hóa khác nhau” Ý tôi là, chúng ta có biết điểm dừng ở đâu không không?

Chúng ta cần phải có điểm dừng. Rất ít người sẽ đề nghị rằng chúng ta không nên xây dựng quan hệ với Trung Quốc, một số ít sẽ kêu gọi chấm dứt giao dịch, và một số ít cho rằng cần cắt đứt quan hệ. Không thể bỏ qua Trung Quốc, cả về mặt kinh tế lẫn chính trị. Dĩ nhiên là vì lợi ích kinh tế và chiến lược của chúng ta mà hợp thương mại, đầu tư và tìm cách để làm việc với Trung Quốc. Nhưng đồng thời, khi Trung Quốc trở thành một kẻ bắt nạt thì chúng ta cần đứng lên. Như James MacGregor, chủ tịch của công ty tư vấn APCO có trụ sở tại Thượng Hải, đã nói trên chương trình ”Hôm Nay” của Đài phát thanh BBC số 4 : “Nếu bạn hành động như một con chó con thở hổn hển, đối tượng sẽ nghĩ rằng họ đã kiểm soát được bạn qua một dây xích. Trung Quốc không tôn trọng những người quỵ lụy họ”. Như cựu cố vấn chiến lược của Thủ tướng Anh Steve Hilton đã nói, cúi đầu quỳ lạy là sai lầm về đạo đức và thiển cận về kinh tế.

Lợi ích của chúng ta không phải là để cho quy tắc thượng tôn pháp luật bị bẻ cong ở Trung Quốc và để chứng kiến hàng trăm luật sư bị bắt, giam giữ, bị sách nhiễu và bêu trên truyền hình quốc gia như con tin của một nhóm khủng bố. Không thể vì lợi ích của chúng ta mà cho phép các hành vi vi phạm nghiêm trọng các quyền tự do tôn giáo hoặc tự do chính kiến không bị thách thức. Không thể vì lợi ích của chúng ta mà cho phép kẻ dân chủ cuội Tập Cận Bình dùng tiền gây ảnh hưởng. Không thể vì lợi ích của chúng ta mà dẹp bỏ tất cả các giá trị chúng ta yêu mến chỉ để lấy một vài tỷ Bảng từ giao dịch kinh doanh. Hơn nữa, đó không phải là một sự lựa chọn có hoặc không. Các quốc gia khác đã chỉ ra rằng có vừa thể kinh doanh với Trung Quốc vừa lên tiếng về nhân quyền. Khi Angela Merkel đến thăm Trung Quốc, bà ấy đã lên tiếng về nhân quyền – và nước Đức kinh doanh rất tốt với Trung Quốc. Vua Hà Lan cũng làm như vậy.

Anh Quốc muốn trở thành “người bạn tốt nhất” của Trung Quốc ở phương Tây.Tuy nhiên, câu hỏi đặt ra là làm bạn với ai?

Tình hữu nghị giữa nhân dân Anh và Trung Quốc chắc chắn là một cái gì đó để vươn tới thông qua trao đổi học thuật, văn hóa và kinh tế. Có lẽ về lâu dài những trao đổi như vậy có thể góp phần hướng tới việc Trung Quốc cởi mở về chính trị.

Chắc chắn là nên làm bạn với những người ở Trung Quốc đang đấu tranh cho dân chủ, nhân quyền, pháp quyền và nhân phẩm cơ bản. Đây chính là những người chúng ta phải làm bạn với. Tôi ao ước nhìn thấy một Trung Quốc được lãnh đạo bởi những người như ông Lưu Hiểu Ba, ông Cao Trí Thịnh, Zhang Kai, Ngải Vị Vị và những người khác ở Trung Quốc đại lục và Hồng Kông được lãnh đạo bởi Martin Lee, Christine Loh, Emily Lau, Joshua Wong và Đức Hồng Y Zen. Chúng ta nên là bạn với những người như Anastasia Lin, Wang Yu và Đức Đạt Lai Lạt Ma chứ không phải là bọn xã hội đen ở Bắc Kinh.

Tình bạn giữa hai chính phủ không bao giờ có thể thành thật khi Tập Cận Bình tiếp tục chính sách đàn áp đang đẩy Trung Quốc thụt lùi chứ không phải tiến lên. Tình bạn thật sự dựa trên những giá trị chung. Ở Trung Quốc ngày nay, các luật sư bị bao vây, bỏ tù hoặc chỉ đơn giản là mất tích chỉ vì họ làm công việc của họ; thánh đường Kitô giáo bị phá không có lý do; mục sư Thiên Chúa giáo bị giam giữ; bất đồng chính kiến bị tra tấn; nội tạng người bị lấy ra và bán cho người trả giá cao nhất. Đó là một vùng đất ép buộc người ta phá thai, giết trẻ sơ sinh vì kỳ thị giới tính, và buôn bán người; một vùng đất nơi mà phụ nữ từ Miến Điện và Bắc Triều Tiên đang bị bán làm nô lệ tình dục, trẻ em bị bán làm nô lệ lao động và các tù nhân chính trị buộc phải bán nội tạng cuả họ. Đó là một vùng đất của án tử hình, một vùng đất nơi mà các nhà phê bình từ Hồng Kông hay bất đồng chính kiến đang sống ở Thái Lan đang bị chế độ bắt cóc rồi biệt tích, một vùng đất nơi có một người Tây Tạng hoặc một học viên Pháp Luân Công hoặc một người Hồi giáo Tân Cương hay một người tị nạn Bắc Triều Tiên đặt cược mạng sống của họ vào tay bạn, một vùng đất của sự kiểm duyệt và tuyên truyền, nơi các phương tiện truyền thông làm theo đơn đặt hàng chỉ để quảng bá hình ảnh của Chủ tịch và Đảng Cộng sản cầm quyền. Đây là quốc gia mà Anh Quốc cho biết họ muốn làm “người bạn tốt nhất”?Đây là “vàng thời đại” của quan hệ Trung-Anh?Chúng ta có chắc chắn về điều này không?Tôi thì không.

Bạn có thể nói chuyện với một kẻ bắt nạt và một kẻ côn đồ, bạn có thể cố giải thích với một gã gangster hay khủng bố, nhưng bạn có thể không bao giờ xây dựng một tình bạn thật sự cho đến khi họ đưa ra tín hiệu thay đổi cung cách, và đặc biệt là không nếu bạn hành động như một kẻ hèn nhát hay kẻ thuần phục. Chế độ của Tập Cận Bình cũng như vậy. Đã đến lúc chúng ta duỗi thẳng đầu gối, đừng khấu đầu quỳ lạy nữa mà đứng dậy và để lên tiếng. Giống như tất cả những kẻ bắt nạt, Trung Quốc sẽ tôn trọng chúng ta hơn nếu chúng ta làm như vậy – và có lẽ khi đó, sẽ có cơ hội để Trung Quốc thay đổi. Tại thời điểm này, hai mươi năm sau khi bản báo cáo Tổ chức Ân xá Quốc tế ra đời, vẫn không có ai là an toàn ở Trung Quốc.

———————

Tác giả là Nhà hoạt động nhân quyền, nhà văn và Ứng cử viên của đảng Bảo thủ, Anh Quốc.

do bạn Sơn Nghiêm và các bạn khách dịch. bản gốc: China Is a Bully We Need to Stand Up To – Because No One Is Safe in China Today

Posted by adminbasam on 04/03/2016

 
 

Posted in Chinh tri Trung Quoc, Chinh Tri Xa Hoi, Dân Chủ và Nhân Quyền | Leave a Comment »

►Bị địa phương chiếm đất, đền bù quá rẻ, ra Hà Nội kiện, bị chính quyền trùm bao bố bắt giam, phạt 3 năm 6 tháng tù giam

Posted by hoangtran204 on 04/03/2016

KẾT QUẢ PHIÊN TÒA DÂN OAN NGUYỄN VĂN THÔNG

Đôn An Võ

4-3-2016

Sáng nay ngày 04/3/2016, Tòa án huyện Gò Dầu mở phiên tòa sơ thẩm (lần 2), xử anh Nguyễn Văn Thông, phạm tội “Lợi dụng các quyền tự do dân chủ”.

Tòa án chỉ triệu tập duy nhất một mình anh Thông đến tòa, không triệu tập bất kỳ người làm chứng, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan nào đến dự phiên tòa để làm sáng tỏ vụ án. Điều này hoàn toàn không đúng qui định của pháp luật.

Tại tòa anh Thông một mực kêu oan, vì cho rằng anh chỉ là người đi khiếu nại để đòi nhà nước chi trả tiền bồi thường đúng qui định pháp luật, chứ không có mục đích lợi dụng các quyền tự do dân chủ như quy kết của Viện kiểm sát.

Viện kiểm sát và Hội đồng xét xử cho rằng việc anh Thông viết đơn khiếu nại gửi lên các cơ quan ở trung ương và sử dụng trang Facebook cá nhân viết bài đã làm mất uy tin cán bộ lãnh đạo huyện Gò Dầu và lãnh đạo tỉnh Tây Ninh, làm quốc tế nghĩ xấu về tình trạng nhân quyền tại Việt Nam.

Các luật sư bào chữa cho anh Thông đều đưa ra những chứng cứ chứng minh việc anh Thông khiếu nại là đúng, các quyết định bồi thường là sai nghiêm trọng. Khi nói đến sự thật này Chủ tọa phiên tòa liên tục ngắc lời bào chữa của các luật sư, làm cho luật sư và mọi người dự phiên tòa rất bức xúc.

Các luật sư đã đưa ra nhiều lập luận chứng minh những quy kết của Viện kiểm sát và Hội đồng xét xử là không có căn cứ, việc khiếu nại của anh Thông không làm mất uy tín của lãnh đạo huyện Gò Dầu mà ngược lại làm tăng uy tín lãnh đạo huyện Gò Dầu, cụ thể là khi anh Thông khiếu nại ông Võ Văn Dũng làm Chủ tịch huyện Gò Dầu, nay ông Võ Văn Dũng lên chức Bí thư huyện Gò Dầu là tăng uy tín lãnh đạo, chứ không giảm…

Kết thúc phiên tòa Hội đồng xét xử tuyên phạt anh Nguyễn Văn Thông 03 năm 06 tháng tù giam, làm các luật sư và hàng trăm người có mặt tại hội trường vô cùng ngỡ ngàng, thất vọng. Sau đó lực lượng cảnh sát vội vàng áp giải anh Thông lên xe thùng chở về trại giam, cùng tiếng khóc than ai oán của người nhà anh Thông.

Bước ra khỏi phòng xử án, hòa theo dòng người mang theo tâm trạng của những người nông dân bị mất đất, lòng tôi buồn rười rượi !

 
Đôn An Võ's photo.
Mời xem video Clip quay trước cổng Tòa an Gò Dầu, Tây Ninh ngay sau khi kết thúc phiên tòa xử bất công anh Nguyễn Văn Thông, người đi đòi quyền lợi dài ngày ở HN vì cho rằng việc đền bù đất đai cho anh là không thỏa đáng.  (Tran Bang)

“quá bất công anh ơi!…chồng tôi không có tội!…anh Thông bị oan…”

Chị Trần Kim Đơn vợ của anh Nguyễn Văn Thông, người vừa bị tòa sơ thẩm huyện Gò Dầu, Tây Ninh xét xử sơ thẩm lần 2 vô cùng thất vọng và bức xúc đến mức như là đang trong ác mộng khi tòa tuyên anh Thông 3 năm 6 tháng tù theo khoản 2 Điều 258 BLHS…chỉ vì anh Thông đi ra Hà Nội khiếu nại, kêu oan ở các cơ quan Trung Ương về việc đền bù đất đai cho gia đình anh không thỏa đáng…

Khi thấy chị Chị Đơn trước cổng tòa, chị như bị ” cứng đơ ” cảm xúc…
Chị Đơn nói ” quá bất công anh ơi!…chồng tôi không có tội…anh Thông bị oan…”
Chị còn nhớ chi tiết ” họ bắt anh ấy rất dã man, họ trói tay, trói chân, lấy bao đen trùm lên đầu anh…, xã hội đen bắt anh hay công an bắt anh????……”,

Qua chi tiết chị Đơn nói về chồng mình có thể hiểu đại thể : nhà chức trách không thực hiện đúng quy trình tố tụng khi bắt người (anh Thông), chẳng hạn như không giao cho anh “bản sao quyết định khởi tố vụ án…”… như Bộ Luật TTHS quy định. Họ đã chà đạp lên quyền con người…

———————–

Nnguyễn Lâm Trúc Có một số bạn từ nhỏ đến lớn sống ở thành phố không hiểu và cũng không hình dung được cộng sản cướp đất người dân như thế nào, nên có bạn cho là em MaiTrung Tuấn tạt ca axit vào chú côn an là hỗn, mình thưa với các bạn rằng thử nhà bạn ở vùng quê nghèo nàn, cả gia đình bạn sinh sống trông chờ vào mảnh đất mà gia đình hiện có, thì đùng một cái có thằng công ty chó chết nào đó có dự án chết tiệt, mà miếng đất kế sinh nhai nhà bạn nằm trong dự án chết tiệt . Thằng chủ đầu tư chệch chó nào đó đến thương lượng với gia đình bạn để mua lại mảnh đất , nhưng giá bèo quá , tất nhiên gia đình bạn sẽ không bán . Thằng chệch chó áp dụng phương án kế tiếp , cho tiền chính quyền , mà chính quyền là ai , là mấy thằng cộng sản tham ăn hốc uống , ăn tiền của chủ đầu tư đến vận động bán đất cho nó , nếu gia đình không bán , thì lúc này đây côn an hiện hình là một lũ cướp đến cưỡng chế nhà bạn , nó chà đạp lên đầu lên cổ cha mẹ bạn , người thân gia đình bạn , tới lúc này mình nghĩ bạn sẽ hành động hơn em NM Trung Tuấn , Cho nên các bạn hãy nhận thức rõ rằng cộng sản không có nhân đạo , mà cộng sản là lủ cướp của dân nghèo.

Nnguyễn Lâm Trúc's photo.

Posted in Cướp đất và chiếm đoạt tài sản của dân, Dối trá -Gạt gẫm-Tuyên truyền | Leave a Comment »

►GS Nguyễn Ngọc Bích, Giám Đốc đầu tiên của Ban Việt ngữ RFA từ trần, hưởng thọ 79 tuổi

Posted by hoangtran204 on 04/03/2016

Ông mất (trên máy bay) trên đường từ Washington D.C. đến Manila để tham dự một hội nghị về Biển Đông. Với mọi người, ông là một học giả, một người hăng say làm việc, sẵn sàng tham gia mọi sinh hoạt, sẵn lòng gánh vác những việc nặng nhọc nhất. Với anh chị em chúng tôi, ông là một người thầy, một người anh và là một người bạn rất chân tình. Vì thế, không ai ngạc nhiên khi ngay sau khi được báo tin Ông mất, những người bạn và những người biết Ông đều sửng sốt, có người bảo với anh em chúng tôi rằng con người đáng quý nhất trên cõi đời này không còn nữa.

GS Nguyễn Ngọc Bích, Giám Đốc đầu tiên của Ban Việt ngữ RFA từ trần, hưởng thọ 79 tuổi

Nguyễn Khanh, RFA

2016-03-03

Bich-DiemThi-622.jpg

GS Nguyễn Ngọc Bích đến thăm studio của RFA nhân kỷ niệm 15 năm ngày thành lập Đài Á Châu Tự Do.

RFA

Tôi là Nguyễn Khanh của Ban Việt Ngữ Đài Á Châu Tự Do. Thưa quý vị, trong nỗi đau buồn, chúng tôi xin được báo tin Ông Nguyễn Ngọc Bích, vị Giám Đốc đầu tiên và đáng kính của anh chị em Ban Việt Ngữ chúng tôi vừa từ trần, hưởng thọ 79 tuổi.

Ông mất trên đường từ Washington D.C. đến Manila để tham dự một hội nghị về Biển Đông.

Với mọi người, ông là một học giả, một người hăng say làm việc, sẵn sàng tham gia mọi sinh hoạt, sẵn lòng gánh vác những việc nặng nhọc nhất. Với anh chị em chúng tôi, ông là một người thầy, một người anh và là một người bạn rất chân tình. Vì thế, không ai ngạc nhiên khi ngay sau khi được báo tin Ông mất, những người bạn và những người biết Ông đều sửng sốt, có người bảo với anh em chúng tôi rằng con người đáng quý nhất trên cõi đời này không còn nữa.

Trong suốt thời gian cả chục năm trời giữ vai trò của người điều hành Ban Việt Ngữ, điều tất cả chúng tôi đều nhìn thấy và không bao giờ quên là hình ảnh một Sếp Bích bắt đầu ngày làm việc với nụ cười, và kết thúc ngày làm việc cũng bằng một nụ cười. Vì thế, bài học lớn nhất mà Ông để lại cho chúng tôi là bài học bao dung, tha thứ, không bao giờ giận hờn ai, xem tất cả mọi chuyện đều quá nhỏ, chỉ có tình anh em, gia đình mới là điều đáng phải quan tâm.

Đó cũng chính là ước nguyện của ông ngay từ ngày đầu tiên khi bước vào nhận trách nhiệm xây dựng đại gia đình Ban Việt Ngữ, chăm sóc chương trình phát thanh hàng ngày từ khi chương trình còn là một đứa bé nằm nôi, cho đến ngày nhìn thấy đứa bé thật sự trưởng thành, và gia đình Ban Việt Ngữ mà ông đã bỏ nhiều công sức để gầy dựng ngày một lớn hơn, vững mạnh hơn và biết thương yêu nhau hơn, đúng như ý ông mong muốn trước ngày chia tay với chúng tôi để về nghỉ hưu.

Một lần nữa, trong nỗi đau buồn, toàn Ban Việt Ngữ Đài Á Châu Tự Do chúng tôi xin được thông báo cùng quý vị: Ông Nguyễn Ngọc Bích, vị Giám Đốc đầu tiên và đáng kính của chúng tôi vừa từ trần, hưởng thọ 79 tuổi.

Ở đây, anh chị em chúng tôi xin cúi đầu chia tay với sếp Bích, thầy Bích, anh Bích, cùng nhau xin thắp nén hương tiếc thương một người sếp, một người thầy và một ông anh mà chúng tôi may mắn được gặp, được làm việc chung, và không bao giờ có thể quên.

Giáo sư Nguyễn Ngọc Bích đột ngột qua đời

4-3-2016

VOA Tiếng Việt

Giáo sư Nguyễn Ngọc Bích đột ngột qua đời lúc 12 giờ sáng ngày 3/3 (giờ miền đông Hoa Kỳ) khi đang trên chuyến bay tới thủ đô Philippines tham dự một hội nghị cổ xúy cho chủ quyền Việt Nam ở Biển Đông.

Giáo sư Nguyễn Ngọc Bích đột ngột qua đời lúc 12 giờ sáng ngày 3/3 (giờ miền đông Hoa Kỳ) khi đang trên chuyến bay tới thủ đô Philippines tham dự một hội nghị cổ xúy cho chủ quyền Việt Nam ở Biển Đông.

Giáo sư Nguyễn Ngọc Bích, một học giả uy tín và cũng là một nhà hoạt động vì dân chủ-nhân quyền cho Việt Nam, vừa đột ngột qua đời khi đang trên chuyến bay tới thủ đô Philippines tham dự một hội nghị cổ xúy cho chủ quyền Việt Nam ở Biển Đông.

Giáo sư Nguyễn Ngọc Linh từ bang Virginia, anh trai giáo sư Bích, cho VOA Việt ngữ biết ông nhận được hung tin lúc 12 giờ sáng ngày 3/3 (giờ miền đông Hoa Kỳ) từ vợ giáo sư Bích, Tiến sĩ Đào Thị Hợi. Giáo sư Nguyễn Ngọc Linh:

“Nhận được tin báo do bà Bích gọi từ máy bay về trong khi máy bay còn chưa tới Manila, báo tin ông Bích mới bị cơn đau tim và đi rồi.”

Hiện giờ bạn bè và người quen của giáo sư Bích đang túc trực ở sân bay tại Manila chờ  máy bay đáp xuống để lo các thủ tục nhận xác.

Ông tới Manila lần này để tham dự hội nghị Biển Đông mà các thành viên trong tổ chức Họp mặt Dân chủ  phối hợp với một số đoàn thể người Philipines đồng tổ chức, thảo luận về tranh chấp Biển Đông, chủ quyền Việt Nam, và cách ứng phó với sự bành trướng của Trung Quốc.

Cùng có mặt trên chuyến bay với ông có giáo sư Đoàn Viết Hoạt, một nhà tranh đấu dân chủ lâu năm của Việt Nam.

Giáo sư Bích được nhiều người biết tiếng vì các hoạt động không ngừng nghỉ của ông ở hải ngoại nhằm cổ võ một nền dân chủ, nhân quyền cho người dân tại Việt Nam.

Ông góp mặt trong rất nhiều các sinh hoạt chính trị-văn hóa-xã hội của người Việt tại Mỹ và thường xuyên là khách mời danh dự, diễn giả của rất nhiều sự kiện quan trọng liên quan tới nhân quyền Việt Nam.

Giáo sư Linh cho biết tình trạng sức khỏe của giáo sư Bích trước chuyến đi ổn định và cơn đau tim đột tử có thể là kết quả của những năm tháng miệt mài tận lực làm việc của giáo sư Bích vì cộng đồng người Việt, vì những đồng bào trong nước khát khao một nền dân chủ đích thực:

“Ông ấy trước đó vẫn làm việc bình thường, vẫn hăng say. Buổi tối vẫn làm việc tới 2 giờ sáng. Tôi vẫn nhắc ông ấy phải đi bác sĩ coi sức khỏe, phải kiêng cữ, nhưng ông ấy bận quá. Ai nhờ việc gì cũng làm, ông ấy làm việc nhiều quá.”

Giáo sư Bích là một nhà sư phạm am tường văn chương-ngôn ngữ, một chuyên gia dịch thuật, một nhà biên khảo kỳ cựu, và nguyên là Giám đốc đầu tiên của Ban Việt Ngữ Đài Á Châu Tự Do (RFA). Ông cũng từng được bổ nhiệm làm Giám đốc Song ngữ của Bộ Giáo dục Liên bang Hoa Kỳ thời Tổng thống George W.H Bush.

Trước khi mất, ông giữ chức Chủ tịch ‘Nghị hội Toàn quốc của Người Việt tại Hoa Kỳ’ và vừa hoàn thành bộ Việt Sử cùng với Giáo sư Lê Mạnh Hùng xuất bản cách đây không lâu.

Giáo sư Nguyễn Ngọc Bích sinh năm 1937 tại Hà Nội. Năm 1954, ông du học Mỹ theo chương trình học-bổng Fulbright và tốt nghiệp ngành Chính trị học năm 1958.

Về Việt Nam năm 1972, ông cùng vợ là Tiến sĩ Đào Thị Hợi lập Viện Đại Học Cửu Long ở Sài Gòn và kiêm chức Cục trưởng Cục Thông Tin Quốc Ngoại của Bộ Dân Vận Chiêu Hồi.

Từ sau 30/4/1975, Giáo sư Bích rời Việt Nam sang Hoa Kỳ tị nạn chính trị và định cư tại bang Virginia.

 

——

Cựu giám đốc RFA Tiếng Việt qua đời

BBC

3-3-2016

Image copyrightBao Nguoi Viet

Giáo sư Nguyễn Ngọc Bích, giám đốc đầu tiên của Ban Việt Ngữ Ðài Á Châu Tự Do, đột ngột qua đời trên máy bay từ Washington DC đi Manila tối 2/3.

Báo Người Việt ở California dẫn lời anh trai giáo sư Bích, Nguyễn Ngọc Linh.

Theo ông Linh, vợ của giáo sư Bích đã kể lại rằng ông “vào phòng vệ sinh trên máy bay, khi về lại chỗ ngồi thì lên cơn mệt và mất ngay tại ghế ngồi”.

Người anh trai cho biết ông Bích du học Mỹ từ 1954 theo học bổng Fulbright ở Đại học Princeton, tốt nghiệp ngành Chính trị học năm 1958.

Sau nhiều năm ở một số nước, ông quay về miền Nam Việt Nam năm 1972, thành lập Viện Đại Học Cửu Long ở Sài Gòn.

Image captionGS Nguyễn Ngọc Bích trả lời báo chí tại Quốc hội Ba Lan nhân hội nghị về Nghiệp đoàn Độc lập Việt Nam tháng 10/2006

Ông cũng giữ chức Cục trưởng Cục Thông Tin Quốc Ngoại của Bộ dân Vận Chiêu Hồi.

Sau tháng Tư 1975, ông sang Mỹ, định cư tại bang Virginia đến nay.

Năm 1997, ông trở thành giám đốc đầu tiên của Ban Việt Ngữ Đài Á Châu Tự Do (RFA) cho đến năm 2003.

Ngoài công việc báo chí, giáo sư Bích có sự nghiệp dịch thuật văn học lâu dài.

Ông đã dịch thơ Nguyễn Chí Thiện sang tiếng Anh năm 1996, dịch cuốn Mây mùa thế kỷ của Đại tá Bùi Tín năm 2004.

Ông còn dịch cả danh tác Cung Oán Ngâm Khúc của Nguyễn Gia Thiều và viết biên khảo về thơ Hồ Xuân Hương.

—————-

  • GS Nguyễn Ngọc Bích đột ngột qua đời trên máy bay qua Philippines họp, chúng ta đã mất đi một nhân vật hàng đầu trong việc đấu tranh cho chủ quyền Biển Đông, Hoàng Sa, và Trường Sa.  

Tin, bài liên quan

———-

Giáo Sư Nguyễn Ngọc Bích, Cựu Giám Đốc Ban Việt Ngữ Đài Á Châu Tự Do (RFA) vừa đột ngột qua đời (Trần Việt – SBTN North Carolina)

.https://www.youtube.com/watch?v=P56Au82zFYE&feature=share

 

———-

Giáo sư Nguyễn Ngọc Bích

Trưởng Ban Dịch thuật Việt Anh – Anh Việt Viện Việt-Học

Nguồn: Viethoc.com

Hiện là chủ-tịch Nghị-hội Toàn-quốc Người Việt tại Hoa-kỳ. Trước khi về hưu vào năm 2003, ông đã từng làm giám-đốc Ban Việt-ngữ tại Đài phát thanh Á Châu Tự Do trong 7 năm trời.

Chủ-yếu là một nhà giáo, ông Bích trước đó đã giảng dạy tại các đại-học George Mason (1979-89), Trinity College (1979-81) và Georgetown University (1980-86) về những môn như văn-học, văn-minh văn-hoá VN, giáo-dục song ngữ và ngôn-ngữ-học lịch-sử. Do ngành chuyên-môn này, ông đã được Tổng-thống George H.W. Bush chỉ-định vào chức Phó, rồi Quyền Tổng-giám-đốc Giáo-dục Song ngữ trên toàn-quốc (1991-93).

Ngoài dạy học và làm truyền thông, ông Bích cũng còn là một nhà biên khảo và dịch-giả có uy tín về văn thơ VN. Trong những sách nổi tiếng của ông phải kể: A Thousand Years of Vietnamese Poetry (“Một nghìn năm thi ca VN,” Knopf, 1975), A Mother’s Lullaby (dịch Trường Ca Lời Mẹ Ru của Trương Anh Thuỵ, Cành Nam, 1989), War & Exile: A Vietnamese Anthology (“Chiến-tranh và Lưu Đày: Tuyển-tập văn-học hiện-đại của VN,” Văn-bút Miền Đông, 1989), dịch thơ Nguyễn Chí Thiện (Ngục Ca / Prison Songs, VICANA, 1982; Hoa Địa Ngục / The Flowers of Hell và Hạt Máu Thơ / Blood Seeds Become Poetry, cả hai do Tổ Hợp XBMĐ Hoa Kỳ xb, 1996), và Cung Oán Ngâm Khúc / Complaints of an Odalisque, dịch thơ Ôn Như hầu Nguyễn Gia Thiều (Tổ Hợp XBMĐ Hoa Kỳ, 2006).

Ngoài việc hiệu đính thơ Hồ Xuân Hương: Tác-phẩm (Tổ Hợp XBMĐ Hoa Kỳ, 2000), ông cũng đã dịch hai cuốn sách về mỹ-thuật VN, Vietnamese Architecture (Sứ-quán VNCH tại Mỹ, 1972) và An Ocean Apart: Contemporary Vietnamese Art from the United States and Vietnam (“Nghìn Trùng Xa Cách,” Smithsonian, 1995) cũng như giới-thiệu thơ Ba-tư trong cuốn Omar Khayyam: Thơ và Đời (Tổ Hợp XBMĐ Hoa Kỳ, 2002).

Educational Background

  • June 1955 Baccalauréat I (Classical Studies, Latin & Greek Section), Lycée Chasseloup Laubat (Saigon, Vietnam)
  • Jun 1956 Baccalauréat II (Philosophy Section), Magna cum Laude, Lycée Chasseloup Laubat (Saigon, Vietnam)
  • Jun 1958 B.A. in Political Science and Economics, Princeton University (Princeton, New Jersey)
  • Apr 1962 Preliminary and Oral Examinations completed for Ph.D. Program in Japanese Literature, Columbia University (New York, NY)
  • Summer 1962 Summer studies in German Language and Literature, Universities of Vienna (Austria) and Munich (Germany)
  • 1962-1963 Doctoral research, supported by a President’s Fellowship from Columbia University, in Japanese Heian Literature at Kyoto University (Kyoto, Japan)
  • 1969-1970 Russian-language studies at the USDA Graduate School (Washington, DC)
  • 1974-1975 Studies in Mandarin Chinese, Foreign Service Training Center (Saigon, Vietnam)
  • 1977-1979 Graduate studies in Education, Trinity College (Washington, DC)
  • 1979 Teaching Certificate, State of Virginia, for High School Social Studies
  • Jun 1985 Double M.A.T. (Master of Arts in Teaching), TESL and Bilingual Education, Georgetown University (Washington, DC)
  • 1982-1986 Doctoral Program in Theoretical (Historical) Linguistics, with a Minor in Bilingual Education (Spanish Linguistics), Georgetown University (Washington, DC)

Employment History

  • 1997-Present Director, Vietnamese Service, Radio Free Asia (RFA), 2025 “M” Street, NW, Suite 300, Washington, DC 20036
  • Senior Teacher Trainer, COMSIS (Silver Spring, MD), in charge of training bilingual teachers in eight mid-Atlantic states
  • 1993-1995 Educational Consultant with VICANA (Springfield, VA) on all aspects of Asian Bilingual Education
  • 1991-1993 Deputy, then Acting Director, OBEMLA (Office of Bilingual Education and Minority Languages Affairs), U.S. Department of Education
  • 1987-1991 Multicultural Coordinator, Arlington County Government, Arlington, Virginia
  • 1980-1986 Teacher Trainer, GU-BESC (Georgetown University Bilingual Education Service Center)
  • 1978-1980 Bilingual Resource Teacher, Title VII Project at Wakefield High School, Arlington, Virginia
  • 1976-1978 Vietnamese Community Coordinator, Teacher Corps Cycle XI Project at Key Elementary School, Arlington, Virginia

Relevant Experience and Roles in Major Projects

  • Directing Vietnamese radio program to Vietnam: As Director of the Vietnamese Service at Radio Free Asia (RFA) since January 1997, I ran a surrogate radio program in Vietnamese aimed at Vietnam. In this capacity I have had to keep myself abreast of all developments in Vietnam, including educational issues, since more than half of our broadcast hours (two hours a day) are directly concerned with Vietnam.
  • Directing Personnel: As Deputy Director of OBEMLA, 1991-1993, was in charge of all personnel matters within the office including monitoring and evaluating 51 persons and handling labor disputes.
  • Budget Planning and Oversight: As Acting Director of OBEMLA, 1992, did budget planning for FY94 and oversaw a national budget of $240 million.
  • Training and Technical Assistance: Training Specialist and Teacher Trainer, Georgetown University Bilingual Education Service Center, 1980-1986; Bilingual Resource Teacher, 1978-1980; Trinity College Adjunct Faculty, 1977-1978.
  • Writing, Editing and Translating: Editor/translator of A Thousand Years of Vietnamese Poetry (Knopf, 1975) and War and Exile: A Vietnamese Anthology (Vietnamese P.E.N., East Coast U.S.A., 1989); Translator of Vietnamese Architecture (Vietnamese Embassy, 1970) and Nguyen Chi Thien’s Prison Songs (VICANA, 1982); Compiler of An Annotated Atlas of the Republic of Vietnam (Vietnamese Embassy, 1972); Author of more than 150 articles in both specialized and popular magazines and journals covering such areas as Vietnamese culture, language, music, literature, arts and crafts, Indochinese cultures and languages, refugee education concerns, and historical linguistics; Translator with Vu Thi Dung of Bilingual Syntax Measure, 1977; Chief Editor of Lua Viet and The Viet Center Bulletin, National Center for Vietnamese Resettlement, Washington, DC, 1975-1976; Editor of monthly bulletins for the Embassy of Vietnam, Washington, DC, 1966-1972; Multilingual translator, Joint Publications Research Service, U.S. Department of Commerce, 1959-1984.
  • Conference Planning and Coordination: Conference Coordinator for many local, state, regional, national and international organizations, including World Federation of Vietnamese Associations Overseas (WFVAO), National Congress of Vietnamese in America (NCVA), National Association for Vietnamese American Education (NAVAE), National Association for Asian and Pacific American Education (NAAPAE), East Coast Asian Education Conference, Ohio TESOL, Maryland Association for Bilingual Education, Baltimore Area TESOL, Virginia ESOL-Bilingual Education Conference, and the Smithsonian’s American Folklife Festivals, 1979-1981.
  • Asian and Vietnamese Community Involvement and Leadership: Secretary General, 1986-1991, then President, Executive Board, NCVA, 1993-1997; President, NAVAE, 1984-1986; Regional Representative, NAAPAE, 1979-1983; Vietnamese Community Liaison, Arlington Public Schools, 1976-1978; Director, Vietnamese Community Center, 1977-1978; Founder, Vietnamese Parent Association (VPA) and Vietnamese Senior Citizens Association, 1977; Editor, National Center for Vietnamese Resettlement, 1975-1976; Member of NABE, NAAPAE, NAVAE, NAFEA (National Association for the Education and Advancement of Cambodian, Lao and Vietnamese Americans), and Chairman, Board of Directors, Boat People S.O.S., Inc. and VICANA.
  • Bilingual Curriculum and Test Development: Developed the text for Vietnamese Language Arts (two levels, K-3 and 4-6), Practical Vietnamese for American Educators (co-authored with Dao Thi Hoi), Vietnamese Bilingual Test (Social Studies), and Bilingual Curriculum Guides for U.S.-Virginia History and for World History (co-authored with Do Dien Nhi), Arlington Public Schools, 1978-1980.

Major Presentations and Papers

In the last five years, he has given numerous papers and presentations about the situation in Vietnam, in English, Vietnamese and French, at such venues as the European Community in Brussels, Belgium, the Kim Daejung Foundation, Seoul, South Korea, and a variety of international conferences (in Canada, France, Germany, and numerous universities and colleges in the U.S.).

  • Panel Discussant, Asian and Pacific American Education Forum, New York City, NY, June 1995.
  • Keynote Speaker (“How to Introduce Vietnamese Language and Culture Courses into the University Curriculum?”), Vietnamese Student Association, University of Minnesota, Minneapolis, MN, April 1995.
  • Major Speaker (“Asian Bilingual Teacher Recruitment Model Programs”), NSBA Council of Urban School Boards of Education (CUBE), 55th NSBA Conference, San Francisco, CA, March 1995.
  • Presenter (“The War in Vietnamese Imagination: The Southern Perspectives”), Modern Languages Association Convention, San Diego, CA, December 1994.
  • Major Speaker (“The United Nations: Conflict Resolution in Asia”), Fifth United Nations Conference of the UN Association/National Capital Area, Washington, DC, October 1994.
  • Presenter (“Asian Bilingual Materials Development”), Asian and Pacific American Education Forum, Pomona, CA, August 1994.
  • Keynote Speaker (“The Asian American Contributions to America”), 12th Annual Asian/Pacific American Heritage Day Celebration, Cleveland, OH, May 1994
  • Keynote Speaker (“Vietnamese Folksongs”), Vietnamese Student Association, John Hopkins University, Baltimore, MD, April 1994.
  • Presenter (“American Business in Vietnam: Opportunities and Obstacles in the Post-Embargo Era”), The Heritage Foundation, April 1994.
  • Keynote Speaker (“Marriage of Song and Poetry in the Vietnamese Tradition”), Vietnamese Culture Night, Columbia University, New York, NY, April 1994.
  • Presenter (“Advanced Area Studies – Vietnam”), Foreign Service Institute, Arlington, VA, March-April 1994.
  • Presenter (“Tet, the Vietnamese New Year”), Vietnam Club, Wakefield High School, Arlington, VA, February 1994.
  • Keynote Speaker (“Characteristics of Today’s Vietnamese Literature,” in Vietnamese), Vietnamese Physicians of Texas Convention, Houston, TX, June 1993. Keynote Speaker (“Asian and Pacific American Contributions to Arlington County”), Asian and Pacific American Heritage Celebration, Arlington County, VA, May 1993.
  • Keynote Speaker (“The Vietnamese Tradition of Tet”), Vietnam Club, Wakefield High School, Arlington, VA, February 1993.
  • Presenter (“The U.S., a Multilingual Society”), The European Institute, Washington, DC, November 1992.
  • Major Presenter (“Vietnamese Poetry: The Cultured State”), Academy of American Poets and Asia Society, New York, NY, April 1992.
  • Presenter (“The War in Modern Vietnamese Fiction”), AAS/Mid-Atlantic Conference, Loch Haven, PA, November 1991.
  • Presenter (“Literature and Politics in the Socialist Republic of Vietnam: An Update and Assessment”), AAS/Mid-Atlantic Conference, Rutgers University, New Brunswick, NJ, October 1990.
  • Presenter (“Vietnamese Workers in Eastern Europe and in the Soviet Union: A Situation Report on Their Rights” and “Freedom of Expression: Where Are We in Vietnam?”), 2nd International Conference on Human Rights Vilnius-Leningrad, Leningrad, USSR, September 1990.
  • Presenter (“Terminology of the Vietnam War”), University of Tennessee, July 1990.
  • Presenter (“Reassessing Vietnam: Some Meta-Theory Considerations”), AAS/ Mid-Atlantic Conference, Georgetown University, Washington, DC, October 1989.
  • Presenter (“New Challenges Facing Vietnamese Literature Outside Vietnam,” in Vietnamese), Vietnamese Writers Abroad P.E.N. Center Conference, Montreal, Canada, September 1989.
  • Presenter (“Music of Vietnam”), Southeast Asian New Year Celebration: A Performance Program, National Museum of Natural History, Washington, DC, April 1989.
  • Presenter (“Socialist Literature in Reforming Vietnam”), Association of Asian Studies Conference, Washington, DC, March 1989.
  • Keynote Speaker (“Romans in East Asia: Cultural Encounters of the Creative Kind”), East Asian Language Conference, Arlington, VA, June 1988.
  • Presenter (“Vietnamese Culture and the Vietnam War”), Symposium on the Teaching of the Vietnam War, George Mason University, Fairfax, VA, April 1988.
  • Presenter (“A Resurgence of Criticism and Independence in Vietnamese Socialist Realist Literature”), Association of Asian Studies Conference, Boston, MA, April 1987.
  • Keynote Speaker, Sixth Annual Cleveland City Schools Bilingual Multicultural Conference, May 1986.
  • Keynote Speaker, Seventh Annual Conference on Indochinese Education and Social Services, March 1986.
  • Presenter (“Vietnamese Literature in Exile”), Sixth Annual Symposium on International Cultural Perspectives in Literature and Language, George Mason University, November 1985.
  • Presenter (“The Literature of Dissent in Socialist Vietnam”), SEASSI (Southeast Asian Studies Summer Institute), University of Michigan, Ann Arbor, MI, July 1985.
  • Presenter (“The Power and Relevance of Vietnamese Myths” and “Vietnamese Poetry: The Classical Tradition”), Asia Society, New York, NY, April 1985.
  • Keynote Speaker, Virginia State Bilingual/ESL Conference, February 1985.
  • Presenter (“The Rugged Road to Socialist Realism: Vietnamese Literature Under Communism”), Chattanooga, TN, January 1985.
  • Presenter (“The Teaching of Culture in Literature,” a workshop series), Arlington Public Schools, Arlington, VA, 1984.
  • Presenter (“From Script to Phonology: The Case of Chu Nom,” in Vietnamese), Vietnamese Studies Symposium, NAVAE ‘84, Orange County, CA, March 1984.
  • Presenter (“The State of Chu Nom Studies: The Demotic Script of Vietnam”), Southeast Conference of the Association of Asian Studies, Appalachian State University, Boone, NC, January 1984.
  • Keynote Speaker, New York State Indochinese Conference, New York, NY, May 1983.
  • Presenter (“The Teaching of Vietnamese in the United States”), NAAPAE ‘83, Chicago, IL, April 1983.
  • Presenter (“Language Strata in the History of the Vietnamese Language,” in Vietnamese), Second Vietnamese Studies Symposium, George Mason University Metro Campus, Arlington, VA, April 1983.
  • Presenter (“Vietnamese-Language Tests: What Is There? What Are They Good For?”), NAVAE ‘83 (Fourth Annual National Conference on Indochinese Education and Social Services), Vienna, VA, March 1983.
  • Keynote Speaker (“Student Bilinguality and the Classroom Teacher”), Virginia ESOL/Bilingual Conference, Fredericksburg, VA, February 1983.
  • Presenter (“The Discovery of Vietnamese Literature”), Southeast Conference, Association of Asian Studies, Emory College, Atlanta, GA, January 1983.
  • Presenter (“Vietnamese Slave Labor in the Soviet Union”), Freedom Federation, Washington, DC, January 1983.
  • Keynote Speaker, Maryland ESOL/Bilingual Conference, Baltimore, MD, November 1982.
  • Presenter (“Tet, the Vietnamese New Year”), Smithsonian Institution Festivals of Nations Program, Renwick Gallery, Washington, DC, February 1982.
  • Presenter (“Language as an Affirmation of Our Place in the World,” in Vietnamese), First Vietnamese Studies Symposium, George Mason University, Fairfax, VA, December 1980.
  • Presenter (“Vietnamese Games, Arts and Crafts”), Festival of American Folklife, Smithsonian Institution National Park Service, October 1980.
  • Presenter (“Vietnamese Music”), Festival of American Folklife, Smithsonian Institution National Park Service, October 1979.

Major Publications

LINGUISTICS

  • 1983 (Co-authored with Dào Thi Hoi, Ed.D.) Nhung dia-tâng ngôn ngu trong lich-su tiêng Viêt (“Language Strata in the History of the Vietnamese Language”), Springfield, VA: VICANA.
  • 1983 “Thu doc lai Quôc-âm thi-tâp cua Nguyên Trãi: Chung quanh vân-de van-ban” (“A Re-reading of Nguyen Trai’s Poetry Collection in the National Language: The Question of Manuscripts”), Van Hoa (bilingual newsletter of the Vietnamese Cultural Association in Minnesota), Vol II, 7&8 (Nov-Dec 1983).
  • 1984 The State of Chu Nôm Studies: The Demotic Script of Vietnam, George Mason University Indochina Institute.
  • 1985 “Ngôn-ngu-hoc Viêt-nam dang di dâu, vê dâu?” (“Where is Vietnamese Linguistics heading?”), Van Hoc Nghê Thuât (Garden Grove, CA), November 1985.
  • 1985 “Thu phân-dinh lai các thòi-ky trong lich-su tiêng Viêt” (“Revisiting the periodization question in the history of the Vietnamese language”), Van Hoc Nghê Thuât (Literature and Art) 8 & 9 (Dec 1985-Jan 1986). Also in Quê Me (Motherland, published in Paris), New Year issue, 1986.
  • 1993 “Truong hop chu RIT (phát âm theo miên Nam) và cách viêt Nôm cua nó” (“The Case of RIT and the Nôm character for it”), Essays on Vietnamese Language and Writing, Campbell, CA: Dòng Viêt, pages 101-16.
  • 1994 “Tiêng Viêt, tiêng Nhât và ho Mã Lai-Ða Ðao” (“Vietnamese, Japanese and the Malayo-Polynesian Family of Languages”), Essays on Vietnamese Language and Literature 2-Fascicle II, Campbell, CA: Dòng Viêt, pages 437-80.

LITERATURE

  • 1965 “Far Eastern Literature,” Funk and Wagnalls New International Yearbook.
  • 1966 “Môt vài nhân xét vê van-hoc Viêt-nam hiên-dai” (“Some observations on modern Vietnamese literature”), Chuông Viêt (The Bell of Vietnam, published in Chicago), Nos. 145 and 146.
  • 1968 “Vietnamese Psychedelic Poetry,” Chuông Viêt, No. 156 (July 1968).
  • 1969 “The Poetic Tradition of Vietnam,” The Asian Student (published by the Ford Foundation in San Francisco).
  • 1971 “The Poetic Tradition of Vietnam,” Some Aspects of Vietnamese Culture, Carbondale, IL: Southern Illinois University, pages 19-38.
  • 1972 “Humor in Vietnamese Poetry,” Vietnam Report (Saigon), No. 21 (November 1).
  • 1973 “Vietnamese Children’s Songs,” Vietnam Magazine (Saigon).
  • 1982 “A Voice from the Hanoi Underground,” Asiaweek, July 30, 1982.
  • 1983 The Discovery of Vietnamese Literature, Springfield, VA: VICANA.
  • 1985 “The Rugged Road to Socialist Realism: Vietnamese Literature Under Communism,” Association of Asian Studies Southeast Conference Annals, Vol VII: pages 36-54.
  • 1985 “Muoi nam van-hoc Viêt-nam o hai-ngoai” (“Ten years of Vietnamese literature outside Vietnam”), Nhân Ban (Paris), Dôc Lâp (Stuttgart), and Ngày Nay (Houston, TX), Têt issue.
  • 1985 “The Power and Relevance of Vietnamese Myths,” Vietnam: Essays on History, Culture & Society, New York: The Asia Society, pages 61-78.
  • 1985 “Vietnamese Poetry: The Classical Tradition,” Vietnam: Essays on History,
  • Culture & Society, New York: The Asia Society, pages 79-99.
  • 1986 “1985, nam cua nhung tác-phâm lon” (“1985, year of great works”), Dôc Lâp and Ngày Nay, Têt issue.
  • 1987 “Vi-trí trung-tâm cua van-hoc Viêt-nam hai-ngoai” (“The central position of Vietnamese literature abroad”), Nhung vân-de cua chúng ta (“Issues of Concern”), a NCVA publication.
  • 1988 “Tình-hình van-hoc hai-ngoai 1987” (“The situation of Vietnamese literature outside of Vietnam”), Ngày Nay, Têt issue.
  • 1989 “Môt nam van-hoc no rô: Tiêu-thuyêt” (“A harvest year in fiction”), Dôc Lâp and Ngày Nay, Têt issue.
  • 1989 “Tu tâm huyêt cua nguoi van-nghê-si sáng-tác dên nhu-câu cua dôc-gia: Nhung thách dô mói cua nên van-hoc hai-ngoai” (“From the creative writer’s inner needs to the readers’ demands: New challenges facing Vietnamese literature outside Vietnam”), read at the Vietnamese Writers Abroad Convention (Montreal, September 29, 1989).
  • 1989 “Cho môt nên van nghê thuc-su tu do” (“For a truly free literature and arts”), Hoa Thinh Dôn Viêt Bao.
  • 1990 “Môt vòng qua các tiêm sách, hay là Môt sô thành-tuu lón cua nam 1989” (“A swing through the bookstores, or Some big achievements of 1989”), Dôc Lâp and Ngày Nay, Têt issue.
  • 1991 “Nhung huóng phát triên cua van-hoc Viêt-nam hai-ngoai 1990” (“Development trends in Vietnamse literature outside Vietnam, 1990”), Dôc Lâp and Ngày Nay, Têt issue.
  • 1992 “1991: Tan man vê môt nam van-hoc hai-ngoai” (“1991: Jottings on one year of Vietnamese literature outside Vietnam”), Dôc Lâp and Ngày Nay, Têt issue.
  • 1993 “Van-hoc Viêt-nam hai-ngoai 1992: Anh-huong manh cua chính-tri” (“Vietnamese literature outside Vietnam in 1992: The strong influence of politics”), Dôc Lâp and Ngày Nay, Têt issue.
  • 1994 “Van-hoc hai-ngoai 1993: Môt nam de suy gâm” (“Vietnamese literature outside Vietnam: A year with lots of food for thought”), Ngày Nay, Têt issue.
  • 1994 “Southeast Asian Literature,” The Oxford Companion to Women’s Writing in the United States, Cathy N. Davidson and Linda Wagner-Martin, eds., New York- Oxford: Oxford University Press, pages 826-28.
  • 1995 “1994: Nam cua nghiên cúu và dôi-thoai” (“1994, year of research and dialogue”), Ngày Nay, Têt issue, and The Ky 21, February issue.
  • 1995 “The War in Vietnamese imagination: the Southern perspectives,” The Ky 21 (Twenty-first Century), pages 45-49.

TRANSLATIONS FROM THE VIETNAMESE

  • 1967 “Lament of a Warrior’s Wife” (eighteenth century classic by Dang Tran Con, translated with Burton Raffel), The Texas Quarterly (Autumn 1967).
  • 1967 “War Poems from the Vietnamese” (poems by Huyên Quang, Phùng Khác Khoan, Tô Huu, Tù Kê Tuòng, Tru Vu, Triêu Vu, Pham Nhã Uyên and Tê Hanh), Hudson Review (Autumn 1967).
  • 1969 The Poetry of Vietnam (26 poems from the Vietnamese ranging from the tenth to the twentieth centuries, first appearing in Asia, Spring 1969, then brought out as a booklet), New York: The Asia Society. Cited by The Encyclopaedia Britannica 3 (1981 edition) as an “important work to consult.”
  • 1970 “Summons to the Souls” (minor classic by Nguyên Du, 1766-1820, the premier poet of Vietnam), The Antioch Review (Spring 1970).
  • 1970 Translation of ten Vietnamese poems (folk and modern), Transpacific (published in Japan), #3, #4 and #5.
  • 1970 Translation of eight Vietnamese poems in Quadrant (published in Australia), May-June 1970.
  • 1973 Translation of six modern Vietnamese poems by Thê Lu, Tô Huu, Tê Hanh, Nguyên Thi Vinh, Minh Dung and Tru Vu, Voices of Modern Asia, Dorothy L. Shimer, ed., New York: New American Library.
  • 1974 Translation of eight Vietnamese poems (folk and modern) in Antaeus, Fall 1974.
  • 1974 The Music of Verses, a translation of Cao Tiêu’s poems in the collection Dang Trinh (“Setting Out”), Saigon: Bôi Ngoc.
  • 1975 A Thousand Years of Vietnamese Poetry, Nguyên Ngoc Bích, ed., with Burton Raffel and W.S. Merwin, New York: Alfred A. Knopf. The first major anthology of Vietnamese poetry (170 poems) in English translation.
  • 1979 Translation of four poems by Hô Xuân Huong (eighteenth-nineteenth centuries) in The Penguin Book of Women Poets, Carol Cosman, Joan Keefe, and Kathleen Weaver, eds., Penguin Books.
  • 1988 Translation of two poems by Cao Tân in Visions 26 and of one poem of Trân Kha in Visions 27.
  • 1989 Truong Ca Loi Me Ru / A Mother’s Lullaby (Vietnamese epic by Truong Anh Thuy, English version by Nguyên Ngoc Bích, illustrations by Võ-Dình Mai), Arlington, VA: Canh Nam Publishers.
  • 1989 Translation of contemporary poems and essays in War and Exile: A Vietnamese Anthology, Nguyên Ngoc Bích, ed., Springfield, VA: Vietnamese PEN/East Coast U.S.A.
  • 1989 Translation of ten poems by Trân Kha in Program Book of Dêm Chinh Phu’ Ngâm / Ballad of a Warrior’s Wife (Music by Cung Tiên), St. Paul, MN.
  • 1991 Translation of poems by Trân Kha in Colors (published in Minnesota).
  • 1992 Translation of one poem by Ngô Chi Lan (fifteenth century) in Art and Nature, Kate Farrell, ed., New York: Metropolitan Museum of Art.
  • 1993 Translation of poems and songs by Xuân Diêu, Quang Dung, Pham Thiên Thu, Thanh Tâm Tuyên/Trân Kha, and Cung Tiên in Program Book of Dêm Huong Xua / Perfumes of the Past, Houston, TX.
  • Translation of poem by Du Tu Lê in The New York Times, April 24, 1994.
  • Translation of Nguyên Chí Thiên’s Hoa Dia Nguc / The Flowers of Hell,
  • Arlington, VA: East Coast U.S.A. Vietnamese Publishers Consortium
  • 1996 Translation of Nguyên Chí Thiên’s Hat Máu Tho / Blood Seeds Become Poetry,
  • Arlington, VA: East Coast U.S.A. Vietnamese Publishers Consortium

ART

  • 1970 Translation and English adaptation of Nguyên Nang Dác and Nguyên Quang Nhac, Vietnamese Architecture, Washington, DC: Embassy of Vietnam.
  • 1982 “The Art of Trân Cao Linh,” introductory essay to Exhibit Catalogue of Trân Cao Linh’s photographic works (New Orleans, December 1982).
  • 1983 “Nghê-thuât Trân Cao Linh,” Vietnamese version of the above, Dôc Lâp, Têt issue.
  • 1984 “Vestiges of the Past,” translation of original essay in Vietnamese by Trân Cao Linh, Vietnam Quê Huong Muôn Thuo / Mon pays de toujours / My Country for Ever, Paris: Aide à l’Enfance du Vietnam.
  • 1984 “My Country and the World,” translation of original essay in Vietnamese by Trân Cao Linh, Vietnam… (same as above).
  • 1985 “The Vietnamese Tradition and Võ Dình’s Woodcuts,” Vietnam Forum, Vol 6.
  • 1990 “The SRV Campaign Against Writers and Artists,” Writers and Artists in Vietnamese Gulags, Trân Da Tù, ed., Westminster: Century Publishing House.
  • 1993 “Dô gôm Viêt-nam: Tù thuo khai nguyên dên dòi nhà Lý” (“Vietnamese Ceramics: From Prehistory to the Ly Dynasty (1010-1225)”), Ngày Nay.
  • 1993 “Hiên-tình thu-tich dô gôm Viêt-nam” (“A Current Bibliography of Vietnamese Ceramics”), Thê Ky 21, September 1993, pages 35, 38-39.
  • 1995 Translation of An Ocean Apart / Nghìn Trùng Xa Cách, catalogue of an exhibit of Vietnamese and Vietnamese American contemporary paintings, Washington, DC: Smithsonian Institution Traveling Exhibit Service.

MUSIC

  • 1972 “The Holeless Flute, or Pham Duy: Revolutionary Songwriter & Truth Seeker,” Vietnam Report, Vol I Nos. 5 and 6 (1 and 15 March 1972).
  • 1973 Translation of the Vietnamese lyrics in Pham Duy, Hoan Ca / Songs of Joy, Saigon.
  • 1975 15 Ca-khúc mung Giáng-sinh (“Fifteen Christmas Carols,” bilingual Vietnamese and English songs), Washington, DC: National Center for Vietnamese Resettlement.
  • 1979 “Pham Duy còn dó khí hùng” (“The Heroic is still there in Pham Duy”), Viêt Báo, April 1979.
  • 1980 “Vietnamese Music,” Indochinese Performing Arts, Karl Signell, ed., Washington, DC: Indochinese Community Center.
  • 1980 “Nhac Viêt o My” (“Vietnamese music in the U.S.”), Indochinese Performing
  • Arts (same as above).
  • 1982 English singing versions of Nguyên Chí Thiên’s Nguc Ca / Prison Songs, set to music by Pham Duy, Springfield, VA: VICANA.
  • 1983 “Tám nam âm-nhac Viêt-nam (hai-ngoai)” (“Eight years of overseas Vietnamese music”), Van Hoc. Also, in Viet Nam Ky Su (Minnesota).
  • 1985 “Hai nam qua, nhac Viêt có gì mói?” (“What is new in Vietnamese music in the last two years?”), Van Hoc.
  • 1985 “Tho Hoàng Câm, nhac Pham Duy: Tù Kháng-chiên I dên Kháng-chiên III” (“Hoang Cam’s poetry set to music by Pham Duy: From Resistance I to Resistance III”), Nhân Ban (published in Paris), Spring issue.
  • 1985 “Pham Duy: Muòi nam sáng-tác o hai-ngoai” (“Pham Duy: Ten years of creativity outside of Vietnam”), Nhân Ban, April 1985. Revised version appeared in Pham Duy: Thâm thoát muòi nam (“Pham Duy: Ten Years Flitting By”), Arlington, VA: Tô Hop Xuât Ban Miên Dông.
  • 1991 “Tìm vê nguôn dê làm mói” (“Reaching into one’s roots to renovate”), Thê Ky 21, November 1991.
  • 1995 “Môt vài cam nghi vê Pham Duy” (“Some remarks on Pham Duy”), introduction to Xuân Vu, Nua thê ky Pham Duy (“Half a Century of Pham Duy”), San Jose, CA: Thang Mõ.

EDUCATION

  • 1976 “Mid-Autumn Festival” (The Children’s Festival of Vietnam) (Handout).
  • 1977 “Vietnam and the Vietnamese: A Reference List” (Developed as part of a course on Language in Culture: Intra- and Intercultural Communicaton, offered by Trinity College, Washington, DC).
  • 1977 Non-verbal Communication: Vietnamese Hand Signals, Arlington, VA: Vietnamese Community Center. Reprinted many times in various publications, including Meeting the Needs of Indochinese Students, Bilingual Education Service Center, Arlington Heights, IL, 1979.
  • 1977 Bilingual Syntax Measure, Vietnamese version, co-authored with Vu Thi Dung, Teacher Corps Cycle XI (Arlington, VA).
  • 1977 Vietnamese Language Arts, A Teacher’s Guide, Grades 1-3, Arlington, VA: Arlington Public Schools.
  • 1977 Vietnamese Language Arts, A Teacher’s Guide, Grades 4-6, Arlington, VA: Arlington Public Schools.
  • 1978 “The Vietnamese Learner: Hints for the American Teacher,” co-authored with Dao Thi Hoi, Ed.D., Teaching for Crosscultural Understanding, Arlington Public Schools Ethnic Heritage Handbook, Arlington, VA, 1979.
  • 1979 “The Indochinese Students in America: Differences and Commonalities” (Handout).
  • 1979 Practical Vietnamese for Educational Personnel, co-authored with Dào Thi Hoi, Ed.D., Arlington Teacher Corps Project (Arlington, VA).
  • 1979 “Vietnamese Culture and Its Impact on the School,” Indochinese Education Guide, Indochinese Center for Materials Development and Resources, Bilingual Education Service Center, Arlington Heights, IL.
  • 1979 “The Chinese Schools in Vietnam,” Indochinese Education Guide (same as above).
  • 1979 “Administrative Concerns Dealing with Indochinese Students,” co-authored with Dao Thi Hoi, Ed.D., Indochinese Education Guide (same as above).
  • 1979 Bilingual Curriculum Guide for U.S. and Virginia History, co-authored with Dang Dinh Khiêt and Dô Diên Nhi, Arlington Public Schools, Arlington, VA.
  • 1979 Bilingual Curriculum Guide for World History (Vietnamese version), co-authored with Dô Diên Nhi, Arlington Public Schools, Arlington, VA.
  • 1980 Handbook on Indochinese Culture, co-authored with Vu Thi Dung, Pomona, CA: Minority Affairs Institute.
  • 1980 “Vietnamese Names: Historical Background” (Title VII Secondary Project, Arlington, VA, handout).
  • 1980 “Vietnamese Names” (Title VII Secondary Project, Arlington, VA, handout).
  • 1980 “Refugee Education” (Georgetown University Bilingual Education Service Center, GU-BESC, handout).
  • 1980 An Annotated Bibliography of English-Language Materials on Vietnam and the Vietnamese (Annotates nearly 100 titles on Culture, Festivals, Poetry, Music, Religion, etc.), a Gu-BESC handout.
  • 1980 “Intergroup Tensions in the Schools: Where Are We?” (GU-BESC Handout).
  • 1981 “The Vietnamese-English Bilingual Program in Arlington, VA” (GU-BESC Handout).
  • 1981 “Crosscultural Issues: Dating” (GU-BESC Handout).
  • 1981 “Crosscultural Issues: Sports” (GU-BESC Handout).
  • 1981 “Vietnamese Religion” (GU-BESC Handout).
  • 1981 “Vietnamese Literature in English: A List” (GU-BESC Handout).
  • 1981 “Annotated List of Bilingual Vietnamese-English Materials Available from GU- BESC” (GU-BESC Handout).
  • 1981 “Social Studies Materials for Vietnamese Bilingual Programs” (an annotated bibliography of materials) (GU-BESC Handout).
  • 1981 “Vietnamese Education: A Comparative View” (of North and South Vietnam before 1975) (GU-BESC Handout).
  • 1982 Indochinese Cultural Activities (set of handouts covering songs, games, paper folding, folk tales), co-authored with Vu Thi Dung and Sivone Brahm, Washington, DC: GU-BESC.
  • 1982 “Patterns of Asian Immigration” (GU-BESC Handout).
  • 1982 “School Adjustment of Indochinese Students” (GU-BESC Handout).
  • 1982 “List of Vietnamese Dictionaries Available in the U.S.” (GU-BESC Handout).
  • 1982 “Educational Needs of Indochinese Refugee Children: A Maslowian Analysis” (GU-BESC Handout).
  • 1983 “Patterns of Asian Immigration” (GU-BESC Handout)

FILMS AND VIDEOS

  • 1982 Counseling Indochinese Students, a 3-hour video recording of Nguyên Ngoc Bích’s presentation on the topic, produced by Hunter College Bilingual Education Service Center (arranged by Shirley Yu).
  • 1983 Hidden Treasures, two video productions of the New York State Department of Education on how to handle non-native English speakers in U.S. schools and treasure what they bring with them (Appearance next to Dick van Patten).
  • 1984 Vietnam: The Real Story, a corrective to the PBS 13-part series, Vietnam: A Television History. Produced by AIM (Accuracy in Media, Inc.), this was narrated by Charlton Heston, and subsequently shown nationally many times on public television. (Bich appeared in one segment of the video.)
  • 1985 Vietnam, the Impact of the Media, also produced by AIM to refute some of the contentions of the PBS series. (Bich appeared in this to discuss the impact of Tet 1968.)
  • 1988 Refugee Adolescents, a video on counselin refugee adolescents produced by Elizabeth Salett of ICC (International Counseling Center, Inc.). (Bich is the main presenter in this production on how to counsel Vietnamese refugee adolescents.)
  • 1989 U.S. Census Bureau advertising spot for television showing. (Bich appeared in this together with Dao Thi Hoi to encourage Vietnamese Americans to fill out the 1990 Census forms.)

Posted in Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa, Nhan Vat, Thời Sự | Leave a Comment »

►Chính phủ lại xin lùi việc trình Quốc hội xem xét dự án Luật biểu tình

Posted by hoangtran204 on 03/03/2016

Chính phủ lại xin lùi dự án Luật biểu tình – CafeF

17-2-2016

Đây không phải lần đầu tiên, trước đó Chính phủ đã nhiều lần xin lùi việc trình Quốc hội xem xét dự án Luật biểu tình khiến Quốc hội đã nhiều lần phải “đưa vào, rút ra” trong chương trình làm việc.

Tờ trình của Chính phủ mới được ký ngày 16-2 vừa được Bộ trưởng Bộ Tư pháp Hà Hùng Cường trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội cách đây ít phút.

Dự án Luật biểu tình từng được nhiều đại biểu Quốc hội kiến nghị ban hành, trong đó có Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng. [3-X giả vờ kiến nghị]

Tại phiên họp thường kỳ tháng 12-2015 của Chính phủ, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã không đồng tình với đề xuất rút dự án Luật biểu tình ra khỏi chương trình nghị sự của Quốc hội. [3-X lại làm động tác giả đánh lừa dư luận]

Trình bày trước Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Bộ trưởng Hà Hùng Cường cho biết Chính phủ đã phân công và chỉ đạo Bộ Công an soạn thảo dự án Luật biểu tình. Bộ Công an đã tiến hành tổng kết pháp luật về lĩnh vực này, tiến hành khảo sát, nghiên cứu, biên dịch…

“Tại phiên họp thường kỳ tháng 1-2016, Chính phủ đã thảo luận vấn đề này, nhưng ý kiến của các thành viên Chính phủ còn rất khác nhau về nội dung dự thảo luật” – ông Cường cho hay.

Vì vậy, để có thêm thời gian nghiên cứu, chỉnh lý Luật biểu tình đảm bảo chất lượng, Chính phủ đề nghị Quốc hội cho phép lùi dự án Luật biểu tình từ kỳ họp cuối của Quốc hội Khóa XIII (tháng 3-2016)  sang chương trình kỳ họp thứ 2 Quốc hội Khóa XIV (cuối năm 2016). [đây mới là mục tiêu của 3-X và đảng]

(Theo Lê Kiên- Tuổi Trẻ)

 

TÔI SAI VỀ X..
Năm ngoái đây thôi, ổng còn tuyên bố PR khắp báo chí đề nghị Quốc hội thông qua luật biểu tình… Đến giờ lại “tiếp tục xin lùi dự án Luật biểu tình”

Tui xin cúi đầu lậy Cụ Nguyễn Văn Thiệu ba lậy, vì cụ nói đúng quá, không thể tin những gì họ nói..

Dân ta (kể cả tui) vẫn cứ thích gieo xúc xắc để mong CS thay đổi, mong có Minh Quân từ họ thì chắc là muôn năm sau nha.

An phận thì kiếm tiền để đóng thuế phí giá – năm nay sẽ tiếp tục tăng đi, ‘nghỉ việc tập thể’ , hay ra đường đòi quyền lợi, không khéo bị CA xiên phát là toi.

Posted in Biểu Tình và Lập Hội, Chinh Tri Xa Hoi, Đảng CSVN | Leave a Comment »

 
Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.