Trần Hoàng Blog

►Kỷ niệm CM tháng 8 và 2/9: Hãy chôn “chiếc bẫy” xuống địa ngục

Posted by hoangtran204 on 27/08/2015

Blog RFA

Võ Thị Hảo

24-08-2015

“Du kích mấy người bèn đặt bà ta nằm trên miệng cỗ áo rồi nhảy lên vừa giẫm vừa hô: “Chết còn ngoan cố này, ngoan cố nổi với các ông nông dân không này?…”

(Theo hồi ký “Đèn cù” của  Trần Đĩnh)

Những oan hồn tạo ra từ 70 năm nay trên con đường cách mạng ấy đã và đang rộn ràng hòa vào những đôi mắt sống của người dân. Những mắt ấy mở chong đêm ngày theo dõi và tính sổ những cuộc bội phản nhân dân, đợi ngày kết thúc cái chính thể phi tự nhiên ấy , tới  một cuộc Đại Giải Oan cho nước Việt.

  •  Giết và giẫm đạp cả thi thể “Mẹ nuôi cách mạng”

Những chứng nhân của thời Cải cách ruộng đất hoặc những người đã đọc, đã nghe kể qua câu chuyện này thì không thể không bị ám ảnh về số phận đau thương của bà và hàng triệu người VN khác bởi chính sự phản trắc, sự tàn ác của chính những người đứng đầu đất nước và cán bộ đội cải cách thời đó. Không một lý do nào có thể biện minh  cho những tội ác ấy.

Người ta vẫn phải nhắc đến người đàn bà ấy, gần 70 năm nay, từ ngày bà bị chính quyền cách mạng xử tử . Không năm nào không nhắc, nhất là mỗi khi đến dịp rầm rộ kỷ niệm cách mạng tháng 8 và quốc khánh 2/9. Chuyện không thể cũ đi, vì nỗi oan chưa được giải và nguyên nhân của những cuộc oan mới ngày càng chồng chất trên đầu nhân dân VN.

Oan hồn của người đàn bà ấy, và hàng triệu người VN khác đương nhiên không thể không bay lượn trên bầu trời Ba Đình, chong triệu đôi mắt đợi ngày kết thúc của cái thể chế phản trắc ấy, bởi cái gì dối trá và đi ngược lại quyền lợi đất nước thì sẽ đến ngày tự hoại.

 “Khi du kích đến đưa bà ta đi, bà ta đã cảm thấy có gì nên cứ lạy van “các anh làm gì thì bảo em trước để em còn tụng kinh.” Du kích quát: “đưa đi chỗ giam khác thôi, im!.” Bà ta vừa quay người thì mấy loạt tiểu liên nổ ngay sát lưng…Mua áo quan được thì không cho bà ta vào lọt. Du kích mấy người bèn đặt bà ta nằm trên miệng cỗ áo rồi nhảy lên vừa giẫm vừa hô: “Chết còn ngoan cố này, ngoan cố nổi với các ông nông dân không này?” Nghe xương kêu răng rắc mà tớ không dám chạy, sợ bị quy là thương địa chủ. Cuối cùng bà ta cũng vào lọt, nằm vẹo vọ như con rối gẫy vậy…”(Qua lời kể của Tiêu Lang, phóng viên báo Cứu quốc trong đội cải cách ruộng đất- Trần Đĩnh ghi)

Ngày ấy Việt Minh cướp chính quyền thành công và có ngày Cách mạng tháng Tám 1945.

Bà Nguyễn Thị Năm, chủ hiệu buôn Cát Hanh Long ngây ngất hạnh phúc vào ngày ấy. Lý tưởng giải phóng nô lệ, tự do dân chủ bình đẳng bác ái mà bà theo đuổi nay đã được Việt Minh hứa thực thi trên đất nước của bà.

Người đàn bà ấy đã “phóng xe nhà có cắm cờ đỏ sao vàng, từ Hải Phòng lên Thái Nguyên nơi quân Nhật còn chiếm đóng, đến tận Đình Cả Võ Nhai để báo tin cho con trai và đồng chí của mình tin Hà Nội đã giành được chính quyền”.

Tư liệu cho biết, bà được người Việt Minh tôn xưng là “Mẹ nuôi của cách mạng”, mẹ nuôi của Phạm Văn Đồng, Lê Đức Thọ và Trường Chinh. Cái người đàn bà ngây thơ một lòng tin yêu cách mạng ấy đã cứu  giúp rất nhiều đầu lĩnh cao cấp nhất của Việt Minh như , Hoàng Quốc Việt, Hoàng Hữu Nhân, Võ Nguyên Giáp, Nguyễn Chí Thanh, Hoàng Tùng, Vũ quốc Uy, Hoàng Thế Thiện, Lê Thanh Nghị …

Bà  không biết rằng chính bà và nói đúng hơn là hầu hết dân VN, đã sập một cái bẫy lớn nhất, tàn bạo  nhất, chỉ do đã quá ngây thơ tin vào những lừa mỵ. Bà đã đặt quá nhiều ảo tưởng vào một miếng mồi đặt sẵn trong bẫy.

Đó là miếng mồi được phun thứ nước hoa gây áo giác về lý tưởng giải phóng dân tộc và xóa áp bức, nô lệ.

Dù bà có công lớn với Việt Minh bao nhiêu đi nữa, dù bà có là mẹ nuôi cách mạng, thì cửa bẫy cũng đã sập xuống. Thân xác bà không lâu sau sẽ tan nát bởi các con nuôi của chính bà – những người đã qua thời hàn vi, nay chững chạc đứng trong hàng nguyên thủ quốc gia hãm hại. 

Bà Năm vốn là một người lam lũ làm lụng mà có tài kinh doanh. Bắt đầu từ buôn sắt vụn, bà dần tậu ruộng vườn, đồn điền và hiệu buôn.

Theo nhiều tư liệu để lại thì bà Năm đã làm theo lời ngon ngọt của Tổng Thư ký Hội nhà văn VN Nguyễn Đình Thi. Ông Thi cũng có được đức lớn như nhiều người cầm bút VN khác,  là thành danh và lập nghiệp, vinh thân phì gia suốt đời bởi tài năng dẫn dụ kẻ khác bỏ tiền của ra và chết bỏ xác cho cách mạng, còn số phận của những người đã nghe theo ông thì ông phủi tay.

Bà Năm đã bỏ phần lớn tài sản ra để giuisp đỡ nuôi nấng nhiều đoàn quân và và nhiều đầu lĩnh quyền lực nhất của Việt Minh trong đó có Hồ Chí Minh…

Đó là thời Việt Minh còn hàn vi trứng nước, bất cứ lúc nào cũng có thể chết đói hoặc bị bắt giam bởi quân chính phủ Pháp nên họ cần bà và những nhà địa chủ, tư sản, những trí thức nổi tiếng và họ cần xương máu của dân để lập nên ngai vàng cho họ. Thuở ấy, ngay cả việc mua vài khẩu súng thì Việt Minh cũng phải trông vào tài ăn nói để khuyến dụ  dân bỏ vàng ra cho họ thông qua “Tuần lễ vàng”  ….

Bà Năm là một trong những người đóng góp công của  lớn nhất cho Cách mạng Tháng tám. Ngoài nhà cửa, lương thực vải vóc thóc gạo thuốc men vô kể, bà đã đóng góp tương đương 700 lạng vàng. Sau cách mạng 1945, bà cũng theo cách mạng tản cư lên Thái Nguyên, mua lại đồn điền của một ông Tây và tiếp tục dùng đồn điền, tiền bạc  hỗ trợ kháng chiến. Nhiều cán bộ cách mạng, nhiều đơn vị bộ đội đã được che chở và nuôi nấng trong đồn điền của bà.

Khi chính phủ VNDCCH tổ chức Tuần lễ vàng, bà lại đóng góp hơn 100 lạng vàng. Khi thực hiện lệnh “tiêu thổ kháng chiến”, bà tự tay san bằng khu biệt thự Đồng Bẩm tại Thái Nguyên để hưởng ứng.

Người VN không lạ gì điển tích bát cơm Xiếu mẫu ngày xưa, Hàn Tín thuở hàn vi đói khát, gặp được bà Xiếu mẫu giặt sợi bên sông mang cho bát cơm ăn. Sau này  hiển đạt, ông đã  mời bà Xiếu mẫu đến để bái tạ, trả ơn cả ngàn lạng vàng.

Các cán bộ Việt Minh và cách mạng tháng 8 cùng quan chức VN sau này thì luôn làm ngược lại ông Hàn Tín và đức cư xử của người Việt. Họ ăn vô số bát cơm của bà Năm, mặc quần áo bà, ở nhà bà. Bà nuôi quân, bà cho tiền mua súng, nhưng họ trả ơn bằng cách chà đạp và giết bà cũng như giết nhiều ân nhân khác của cách mạng.

Vì bà chỉ có công, không có tội nên để giết bà, các con nuôi, bây giờ đã là chủ tich, phó chủ tịch nước và toàn những chức danh thuộc hàng đứng đầu nước VNDCCH đã gán cho Mẹ nuôi tội   “giả dối nhằm chui sâu leo cao vào hàng ngũ cách mạng để phá hoại” và tội “tư sản địa chủ cường hào gian ác”.

Nhiều người đưa ra chứng cứ khẳng định rằng Hồ Chí Minh đã viết bài ““Địa chủ ác ghê” ký bút danh là C.B(của Bác) đăng trên báo Nhân dân ngày 21/7/1953. Chính bài báo này là đòn sấm sét, đổ cho bà tội “làm chết 23 gia đình gồm có 200 người…Giết chết 14 nông dân, tra tấn đánh đập hàng chục nông dân…, đã thông đồng với Pháp và Nhật để bắt bớ cán bộ. Sau Cách mạng tháng Tám chúng đã thông đồng với giặc Pháp và Việt gian bù nhìn để phá hoại kháng chiến…”.

Thuở các vị này còn phải sống nhờ vào “bát cơm Siếu mẫu” của bà, họ âu yếm gọi bà là Mẹ Nuôi. Khi cách mạng thành công, vài năm sau, chính quyền đã đủ lông đủ cánh, có Trung quốc tư vấn dạy dỗ và nuôi nấng, lại có cả mấy chục triệu dân đóng sưu thuế cung phụng, thì chính những đầu lĩnh đó đã ký lệnh đem bà ra đấu tố, lăng mạ bà. Bà bị họ phát động cho cả ngàn người đổ tội và chửi rủa, tịch thu hết tài sản.

Rồi bà bị bắn bằng một loạt đạn hèn hạ từ sau lưng.

Nhớ công ơn nuôi nấng của bà, các con nuôi ưu tiên cho Mẹ cho bà được xử chết đầu tiên để làm điểm tựa phát động “cuộc cách mạng long trời lở đất”.

Chưa đủ, họ còn cho đội cải cách ruộng đất nhảy lên giẫm đạp xác bà cho gẫy nát để  lọt vào cỗ áo quan rẻ mạt. Hai con trai của bà, dù cũng đã tham gia cách mạng lập công lớn nhưng cũng bị đấu tố, dù còn sống sót nhưng cả đời cũng bị trù dập và suốt đời sống trong địa ngục vì nỗi oan khuất trút lên đầu cả dòng họ.

* “Người bịt râu”

Con bà Năm đội đơn gần 70 năm đi đòi công lý cho bà và gia đình nhưng tận đến bây giờ, dù  đảng và nhà nước VN biết rõ, những tác giả gây ra tội ác ất chết từ lâu nhưng nhà cầm quyền hiện tại cũng không chịu trả lại công bằng cho gia đinh bà.

Để làm được cách mạng tháng 8 và xây dựng được thể chế cộng sản và vận hành nó, người ta phải có gan đem Mẹ nuôi cách mạng ra hành hạ, giết chết rồi giẫm đạp lên xác. Cũng phải có gan  tráo trở đổ tội và giết hại bao đồng chí mình – những đồng chí đã vì lý tưởng mà đem của nhà, đem tri thức ra để xây dựng những chi bộ đầu tiên cho cách mạng, làm cái nôi nuôi nấng đưa Việt Minh, đưa kháng chiến đến thắng lợi?!

Để làm được cuộc cách mạng và thể chế cộng sản, họ cũng phải có gan đổ tội cho người vô tội, dám chửi bới nhục mạ cha mẹ theo số đông để sống sót hoặc để tiến thân. Họ phải đủ gan để “thà giết nhầm mười người còn hơn bỏ sót một địch” và đào tận gốc trốc tận rễ trí thức cùng những người tài giởi giàu có!

Theo hồi ký “Đèn cù “ của Trần Đĩnh thì lúc đó ông là phóng viên báo Nhân dân được Trường Chinh cử viết bài tường thuật về vụ đấu tố. Hồ Chí Minh đã ngụy trang bằng cách bịt râu, Trường Chinh thì đeo kính râm bí mật tới dự vụ đấu tố.

Đến khi sửa sai cải cách ruộng đất, oan án của bà Năm, dù những người có quyền lực nhất đều biết nhưng cũng không chịu làm chỉ vì họ không thể thừa nhận cái sai và tội ác của chính họ trực tiếp gây ra và tiếp tục che giấu.

Cải cách Ruộng đất đi kèm Chỉnh đốn Đảng là quà tặng mang tính “bom nguyên tử”, “bom chất độc” đầu tiên mà cách mạng đã giáng cho những ân nhân của họ và người  dân VN. Bằng việc vu oan, cướp, tra khảo và giết, họ đã đem ruộng đất cướp được chia cho bần cố nông nhưng để cướp đoạt lại vĩnh viễn vào 3 năm sau đó – 1959 cho đến tận bây giờ dưới mỹ từ “sở hữu toàn dân”.

Từ 1959 đến nay, rồi qua và Hiến pháp 1980, Luật Hợp tác xã 1990, người VN bị tước đoạt quyền sở hữu ruộng đất, sống vật vờ hồn xác trên mảnh đất mình đổ mồ hôi xương máu. Riêng nông dân cũng phải gánh hơn một ngàn loại và lệ phí ngoài sưu cao thuế nặng để nuôi bộ máy tham nhũng một cổ ba tròng. Chưa đủ, họ hoàn toàn có thể bị chính quyền kết hợp với một lực lượng bạo quyền nào đó cướp đi bất cứ lúc nào và khi họ có phản ứng kêu oan thì sẽ bị đàn áp, bắt giam thậm chí đánh chết trong đồn công an và con cháu, anh em gia đình cũng bị trả thù thành không chốn nương thân.

* Hãy chôn chiếc bẫy xuống địa ngục vì đây là thế giới Người

Đó là thành quả Cách mạng Tháng Tám. Thành quả của một chính thể độc tài cộng sản. Đó chính là chiếc bẫy khổng lồ với bộ răng sắc nhọn trường tồn đã 70 năm trên đầu dân VN. Chiếc bẫy đó đã quy định đường ray vận hành cho nó: bất cứ ai lên cầm quyền cũng phải quay ra phản bội quyền lội nhân dân, đất nước và dân tộc để giữ ghế và quyền lợi riêng cùng phe nhóm.

Lẽ ra người VN đã có thể an lòng lắng dịu với những số phận đau thương do những chính sách và hành vi sai lầm của chính quyền cách mạng gây nên, nếu như những nhà cầm quyền thế hệ ấy và thế hệ sau biết cư xử công bằng, minh oan, đền bù cho họ và vận hành bộ máy cầm quyền theo đúng những điều họ đã hứa ban đầu khi hô hào dân nổi dậy giúp họ giành chính quyền.

 Nhưng không, ngay cả thế hệ sau này không liên quan gì đến tội ác thời các thế hệ tiền bối đã làm nhưng họ cũng không sửa sai, lại tiếp tục lừa mỵ và phản trắc người dân

Người oan đã chết, thân xác họ đã tan hòa vào đất, nhưng nỗi oan và món nợ mà xã hội nợ họ thì tồn tại mãi mãi trong người sống. Nỗi oan đó chỉ lắng dịu đi khi xã hội giải oan cho họ bằng hành động, chứ không chỉ bằng lời nói.

Hãy chôn chiếc bẫy xuống địa ngục, vì đây là thế giới Người.

Và không chỉ dân đâu, chính những người có quyền lực đang hành ác hiện nay cũng cần thoát khỏi chiếc bẫy đó, vì chẳng quyền lực, địa vị, tiền bạc nào tồn tại được mãi mãi. Họ và con cháu họ cũng cần được trở lại làm người, sống trong tự trọng và bình an.

Posted in Cách Mạng Mùa Thu 1945 không hề xảy ra, Cải Cách Ruộng Đất 1951-1956 | Leave a Comment »

►Chúng ta còn tiếp tục sống như thế này đến bao giờ?

Posted by hoangtran204 on 27/08/2015

Nguyễn Tường Thụy

Nguyễn Thị Từ Huy

24-08-2015

Tác giả Nguyễn Thị Từ Huy vừa gia nhập Hội nhà báo Độc lập Việt Nam. Chị gửi bài viết sau đây, “coi như sản phẩm ra mắt” Hội.

Tựa đề bài viết này của tôi lấy cảm hứng từ một câu châm ngôn của các trí thức Nga : “Chúng ta không thể tiếp tục sống như thế này thêm nữa », trong một phân tích rất đáng đọc « Mọi điều bạn tưởng bạn biết về sự sụp đổ của Liên Xô đều sai », của Leon Aron, do Trần Ngọc Cư dịch, đăng trên tạp chí Nghiên cứu quốc tế: Mọi điều bạn tưởng bạn biết về sự sụp đổ của Liên Xô đều sai

Tôi không muốn xâm phạm tự do đọc và tự do tiếp nhận của quý độc giả, mọi người sẽ có cảm nhận và đánh giá của mình về bài viết của Leon Aron. Ở đây tôi chỉ nêu ra một tiếp nhận của tôi.

Tác giả bài viết cho thấy rằng Liên Xô sụp đổ hoàn toàn không phải do bị các thế lực phản động tác động, cũng không phải do áp lực về kinh tế, mà là do ý thức về nhân phẩm và đạo đức của người dân Nga và của cả lãnh đạo Liên Xô. Họ không muốn và không thể tiếp tục sống trong «suy đồi tinh thần và những hệ quả xói mòn đạo lý của thời đại Xít-ta-lin». (Cá nhân tôi có lẽ sẽ lựa chọn chữ «đạo đức» để dịch, nhưng tôi tôn trọng cách dịch này của dịch giả Trần Ngọc Cư).

Chính là sự phán xét của lương tâm, chính là sự đau khổ nội tâm của từng cá nhân đã thúc đẩy sự thay đổi toàn bộ cấu trúc xã hội. Hãy đọc câu này của Aleksandr Yakovlev, một cựu đại sứ Nga, để hiểu người Nga đã chịu đựng những dằn vặt nội tâm như thế nào:

“Đủ lắm rồi! Chúng ta không thể tiếp tục sống như thế này thêm nữa. Mọi việc phải được thực hiện theo một đường lối mới. Chúng ta phải xét lại tư duy, đường lối, quan điểm về quá khứ và tương lai của chúng ta… Một sự đồng thuận ngấm ngầm: giản dị là, chúng ta không thể tiếp tục sống như chúng ta đã sống trước đây – một cách nhục nhã, ngoài mức chịu đựng”.

Ý kiến trên phản ánh tâm trạng của những người dân Nga. Còn dưới đây là tâm trạng của một lãnh đạo thuộc hàng cao cấp:

“[Chúng ta] ăn cắp từ chính bản thân của chúng ta, nhận và đưa hối lộ, láo khoét trong các báo cáo, trên báo chí, láo khoét từ các diễn đàn cấp cao, đắm mình trong láo khoét, rồi trao huân chương cho nhau. Và tất cả những điều này đã diễn ra – từ trên xuống dưới và từ dưới lên trên”.

Không có một thế lực thù địch nào từ bên ngoài có thể làm cho chế độ toàn trị Liên Xô sụp đổ. Cái chế độ phi nhân ấy chỉ có thể bị thay thế khi chính những con người trong hệ thống ấy, lãnh đạo cũng như người dân, ý thức được sự nhục nhã của đời sống vô đạo đức và quyết định tự tìm lại phẩm giá cho mình.

Chúng ta, những người Việt Nam ở thế kỷ XXI, chúng ta hãy đọc bài báo của Leon Aron và hãy thử nói xem: chúng ta còn tiếp tục sống như thế này đến bao giờ?

Paris, 24/7/2015

Posted in Chinh Tri | Leave a Comment »

Thế hệ tôi, một thế hệ cúi đầu….Những công dân ngoan hiền của chế độ, những người dân thành thị nay đã bị thuần hóa

Posted by hoangtran204 on 25/08/2015

Tìm niềm vui trong nổi bất tiện…Không ai than vãn…

Thế hệ tôi, một thế hệ cúi đầu

FB Hoàng Dũng

Gia Hiền

24-08-2015

Ảnh: Nam Nguyễn (Chiều 21/8/2015, người dân trong ngõ 814 đường Láng (Đống Đa) chia nhau từng xô nước)

Thế hệ tôi, một thế hệ cúi đầu
Cúi đầu trước tiền tài, cúi đầu sau mông người khác
Cúi đầu trước chính mình, cúi đầu bạc nhược
Chỉ ngẩng đầu…
…vì…
…đôi lúc…
…phải cạo râu!


Thế hệ tôi, cơm áo gạo tiền níu thân sát đất
Cuộc sống bon chen
Tay trần níu chặt
Bàn chân trần không dám bước hiên ngang.

Thế hệ tôi, nhận quá nhiều những di sản hoang mang
Đâu là tự do, đâu là lý tưởng?
Đâu là vì mình, và đâu là vì nước
Những câu hỏi vĩ mô cứ luẩn quẩn loanh quanh…

Thế hệ tôi, ngày và đêm đảo lộn tanh bành
Đốt ngày vào đêm, và đốt đêm không ánh sáng
Nếu cho chúng tôi một nghìn ngày khác
Cũng chẳng để làm gì, có khác nhau đâu?

Thế hệ tôi, tự ái đâu đâu
Và tự hào vì những điều huyễn hoặc
Tự lừa dối mình, cũng như lừa người khác
Về những niềm tin chẳng chút thực chất nào!

Chúng tôi nghe và ngắm những siêu sao
Chỉ với mươi lăm nghìn cho vài ba tin nhắn
Văn hóa ngoại giao là trà chanh chém gió
Và nồi lẩu tinh thần là những chiếc I-phone

Thế hệ tôi, ba chục đã quá già
Và bốn chục, thế là đời chấm hết
Không ghế để ngồi, thì thôi, ngồi bệt
Mối lo hàng ngày là tiền trong tài khoản có tăng lên?

Thứ đắt nhất bây giờ là từng lạng NIỀM TIN
Thứ rẻ nhất, lại là LỜI HỨA
Sự dễ dãi đớn hèn khuyến mại đến từng khe cửa
Có ngại gì mà không phản bội nhau?

Không, tôi không đại diện thế hệ mình đâu!
Và thế hệ tôi cũng không đại diện cho điều gì sất!
Trăm năm sau, lịch sử sẽ ghi vài dòng vắn tắt:
Có một thế hệ buồn, đã nhạt nhẽo đi qua…

_____

Kênh 14/ Trí Thức Trẻ

Bi hài người dân viết “cáo phó nước” vì chờ mãi chẳng thấy nước đâu

Định Nguyễn

22-08-2015

Bị mất nước sạch kéo dài khiến cuộc sống của nhiều người dân ở phường Láng Thượng, Hà Nội rơi vào cảnh khốn đốn dở khóc dở cười, nhiều người đã “nổi cáu” viết “cáo phó nước”.

Gần nửa tháng nay, người dân tổ 36, phường Láng Thượng, Đống Đa, Hà Nội bị mất nước sạch, thiếu nước sinh hoạt trầm trọng, cuộc sống của nhiều người rơi vào cảnh khốn đốn, dở khóc dở cười.

Nhiều ngày nay, người dân phải khổ sở vì thiếu nước, nghe tin xe chở nước sạch sẽ đến, người dân háo hức mang xô thùng chờ từ sớm.

Mất nước sạch quá lâu, nhiều người "nổi cáu" viết và dán "cáo phó nước" ngay trước các ngõ hẻm.

Có lẽ vì quá “nổi cáu” người dân đã dán “cáo phó nước” tại các con ngõ phản ánh tình trạng mất nước sạch kéo dài và yêu cầu cơ quan chức năng sớm cấp nước sạch trở lại để phục vụ sinh hoạt. Nhiều hộ dân mua máy bơm áp với giá 2 triệu đồng và thức đêm chờ bơm nước nhưng không thể sử dụng được vì đường ống không có nước.

Theo ông Toàn, Tổ trưởng tổ dân phố 36 cho biết, sau khi có một xe nước cung cấp nước cho người dân vào chiều 20/8, ông phải gọi điện lên công ty nước sạch Đống Đa yêu cầu cấp một xe nữa.

H1

Cảnh mang xô chậu chờ đợi tấp nập

Một người dân phấn khởi trong lúc chờ lấy nước

Chiều 21/8, khi biết tin xe chở nước miễn phí đến, nhiều người dân vô cùng phấn khởi, tập trung lại để chờ nước.

Cầm theo nhiều xô đi hứng nước mong có nước đủ sinh hoạt, bà Hằng, một người dân trong phố chia sẻ, suốt những ngày mất nước sạch vừa qua cuộc sống của gia đình bà bị đảo lộn, khốn khổ.

“Việc tắm rửa cũng phải tiết kiệm, mọi người trong gia đình chia nhau đi đâu đó để tắm nhờ hoặc tranh thủ tắm ở cơ quan. Mấy ngày nay thời tiết thủ đô oi nóng, cuộc sống của người dân rất cần đến nước nhưng không biết đến khi nào chúng tôi mới có nước sinh hoạt trở lại”, bà Hằng tâm sự.

Khi xe téc chở nước sạch miễn phí được đưa tới...

Cùng chung nỗi khổ như bà Hằng, gia đình anh Hùng có tất cả 5 nhân khẩu cũng phải lao đao vì mất nước sạch. Anh Hùng cho biết, gia đình anh ở tận sâu trong ngõ nên suốt những ngày qua không có một giọt nước nào để dùng.

“Gia đình tôi phải mua nước bình tốn kém rất nhiều nhưng không biết làm cách nào khác, chỉ dám đánh răng, nấu cơm và tận dụng một ít nước rửa rau. Để tiết kiệm nước, gia đình chỉ mua các loại củ quả về ăn để ít phải dùng đến nước rửa”, anh Hùng phân trần.

Nhiều người không chen được vào trong đành đứng chờ bên ngoài.

H1

H1

Một phụ nữ hồ hởi khi hứng được nhiều xô nước về nhà mình.

Anh Nguyễn Kim Huy, nhân viên công ty nước sạch Đống Đa cho biết, sẽ hỗ trợ người dân đến hết tuần này theo chỉ đạo của cấp trên.

https://anhbasam.wordpress.com/2015/08/24/4846-the-he-toi-mot-the-he-cui-dau/#more-151264

Posted in Chinh Tri Xa Hoi | Leave a Comment »

► Chương trình Giáo dục ở VN tuân theo mệnh lệnh của ai?

Posted by hoangtran204 on 22/08/2015

Giáo dục – Mệnh lệnh của ai?

21-8-2015

Theo FB Mạnh Kim

Như một ngôi nhà cũ mục, từng mảng vữa bục ra rồi rơi vụn chất thành đống đổ nát với hình hài quái gở kinh dị, đó là hình ảnh nền giáo dục đổ đốn và thối nát chúng ta đang chứng kiến. Đã có người nói rằng giáo dục là vấn đề của mọi người. Nó không phải là trách nhiệm riêng của ông Bộ trưởng hay Bộ giáo dục. Mọi người không thể đổ hết lỗi lên đầu ngành quản lý giáo dục… Có người nói rằng trong cái văn hóa đổ lỗi phổ biến tràn lan hiện tại, mọi người nên tự nhìn lại bản thân và “giáo dục” chính mình, trước khi trút tội cho cơ quan quản lý giáo dục… Đó là những ý kiến ngụy biện, ngoa ngôn và hèn nhát. 

Trừ khi trở về văn hóa “ăn lông, ở lỗ”, chúng ta không thể không thấy rằng vấn đề giáo dục, y tế và các dịch vụ công nói chung là những thiết chế căn bản của một xã hội hiện đại định hình sau hàng ngàn năm tiến hóa. Nó giúp phân biệt một xã hội “công bằng, dân chủ, văn minh” với một xã hội rừng rú nơi không tồn tại những khái niệm đại loại “hoạch định chính sách”. Nó giúp phân biệt một xã hội loài người với “xã hội” loài vật. Không mô hình xã hội nào, tư bản hay cộng sản, có thể vất bỏ vai trò của chính sách và người hoạch định chính sách. Và không người dân nào, kể cả phương Tây, có thể thoát khỏi ảnh hưởng của chính sách. Người dân không thể tự là bác sĩ, không thể tự là giáo viên, không thể tự là luật sư. Do đó, người dân luôn cần những thiết chế được thiết kế để bảo vệ họ. Và việc bảo vệ họ là đương nhiên. Vì họ đã phải đóng thuế để nuôi những thiết chế đó. Như một qui luật thị trường, họ có quyền chỉ trích khi thiết chế không làm tròn vai trò và khi thiết chế không đáp ứng được kỳ vọng của họ. 

““Ai cũng biết vai trò quan trọng then chốt của giáo dục đối với tiền đồ dân tộc. Thế nhưng, từ nhiều năm, chúng ta đã để cho giáo dục VN tụt hậu khá xa so với các nước trong khu vực và trên thế giới. Chưa bao giờ tình hình giáo dục trở nên bức xúc như hiện nay. Nhìn chung cả nước, hệ thống giáo dục chưa ra khỏi trạng thái lộn xộn bất bình thường, hoạt động không theo quy luật khoa học, hiệu quả kém, chất lượng thấp… Chúng ta đã có nhiều cố gắng để vực giáo dục lên, song những căn bệnh chính của nó không hề giảm, trái lại ngày càng trầm trọng và kéo dài chưa biết đến bao giờ. Điều đó cho thấy nguyên nhân trì trệ không phải chỉ do những sai lầm cục bộ về điều hành quản lý (tuy phần trách nhiệm của bộ máy quản lý không nhỏ), mà chủ yếu là sai lầm từ gốc, sai lầm từ nhận thức, quan niệm, tư duy cơ bản. Nói vắn tắt, là sai lầm có tính chất hệ thống, sai lầm thiết kế, không thể khắc phục bằng những biện pháp điều chỉnh chắp vá, sai đâu sửa đó, càng sửa càng rối, mà cần phải cương quyết xây dựng lại từ gốc…””.

Đoạn trích trên có thể giúp một số người đang nhìn nền giáo dục nước nhà bằng góc hẹp qua kẽ hở bàn tay có thể gạt bớt cái mông muội ngụy biện đi để mà hiểu ra rằng, bàn về giáo dục không phải là việc phát biểu nông cạn một cách vô giáo dục. Phần trích trên là của giáo sư Hoàng Tụy, trong bài viết “Kiến nghị về chấn hưng giáo dục”, đưa ra từ tháng 11-2004. Kể từ đó đến nay, bức tranh giáo dục có khá hơn không? Những vấn đề giáo sư Hoàng Tụy nêu ra đến nay có thay đổi gì tích cực? “Chấn hưng giáo dục, mệnh lệnh từ cuộc sống” – báo Tuổi Trẻ từng “gào” lên một cách thảm thiết nhân Kiến nghị Hoàng Tụy – đến nay kết quả thế nào? 

Có người nói, nền giáo dục quốc gia không thể chấn chỉnh nếu chỉ “ngồi đó mà chửi” mà không có đóng góp ý kiến ôn hòa. Nhưng có ý kiến ôn hòa nào, từ những nhà giáo dục học thực thụ, được lắng nghe và được thực hiện? Có quan chức giáo dục nào đủ cam đảm để con cái họ được học và được dạy bằng “sản phẩm giáo dục” mà họ đẻ ra? Tại sao có hiện tượng người dân, dù phải chấp nhận bán nhà, vẫn lo cho con đi “tỵ nạn giáo dục”? Có người khá giả nào mà không cho con học trường quốc tế? Đó có phải là “mệnh lệnh từ cuộc sống” từ thực tế, khi mà người dân cay đắng nhận ra rằng cái chính sách giáo dục nước nhà mà họ đang được “thụ hưởng” như một thiết chế của “xã hội văn minh” đã hoàn toàn bế tắc và đổ nát? Ai chịu trách nhiệm, nếu không phải những người thiết kế chính sách?

—————

Posted in Giao Duc | Leave a Comment »

►”Cách mạng Mùa Thu” là sản phẩm của sự tuyên truyền

Posted by hoangtran204 on 22/08/2015

Quốc Khánh phải là ngày: Đánh dấu chấm dứt chế độ “độc tài”

Hoàng Thanh Trúc
 

“Chưa đúng lúc, bởi chế độ độc tài CS còn cai trị, nhưng trong tương lai không xa lịch sử dân tộc Việt Nam sẽ khẳng định chỉ ra: 2 tháng 9-1945 chính là ngày quốc nạn, ngày khởi đầu của cuồng tín, tội lỗi, gây nên núi xương sông máu cho cả dân tộc mà trừ chế độ CSVN ra không một quốc gia nào trên thế giới này phạm phải, giống như vậy”.

Quốc Khánh là một trong những ngày lễ quan trọng ở hầu hết các nước. Ý nghĩa phổ quát của quốc khánh là ngày khai sinh ra quốc gia hoặc đánh dấu một sự kiện lịch sử trọng đại, chính trị hay văn hóa mà dù muốn hay không thì thành quả của nó mang lại ít ra cũng phải bao hàm các nhân tố tạo nên những yếu tố “chân, thiện, mỹ”, 3 giá trị nhân văn cốt lõi mà xã hội loài người ở bất cứ nơi đâu, thuộc chế độ nào, trong vai trò lãnh đạo dân tộc nhất thiết đều phải hướng đến.

Chữ “Khánh” đi kèm với Quốc cũng có nhiều giải thích khác nhau nhưng tựu trung là: Khởi sự, thành lập hoặc vui mừng.

Vì vậy nếu ai thấm đẫm chân lý tốt đẹp của ngày Quốc Khánh thì rõ ràng không thể lấy ngày 2 tháng 9 -1945 để vui mừng hân hoan khi mà bản chất của ngày này là nền móng của sự dối trá mà ông Hồ Chí Minh và những người CSVN đã xây trên đó “lâu đài XHCN”, không phải bằng sự thịnh vượng hạnh phúc của toàn dân mà là bằng máu xương, tang tóc, trầm luân khổ ải suốt 2/3 thế kỷ của cả dân tộc mà di lụy sai lầm từ đó đến tận ngày nay vẫn còn tiếp diễn (tranh chấp biển Đông).

Nhân ngày 2 tháng 9 sắp tới, chúng ta thử hoài niệm kiểm lại một lần nữa xem có đúng là như thế không, giá trị thật của ngày này mà “nhà nước CSVN” lấy đó làm “quốc khánh” để huy động toàn dân chào mừng khoa trương.

Đến hôm nay qua tư liệu, nhân chứng, vật chứng trong và ngoài nước thì khá nhiều người Việt Nam đều đã biết, ông Hồ chí Minh và CSVN vận dụng những thủ đoạn cực đoan xảo trá và bạo lực nhuộm màu chủ nghĩa cộng sản để cướp chính quyền non trẻ Trần Trọng Kim của Vương Triều hoàng gia Việt Nam được Vua Bảo Đại phê chuẩn ngày 17-4-1945 ra mắt Quốc dân ngày 19-4-1945.

(Trần Trọng Kim qua Việt Nam Sử Lược là một người yêu nước thành tâm, một nhà sử học chân chính, trung thực, và Chính phủ Trần Trọng Kim là nhân tố của tình thế và thời đại với hoài bão bước đầu thực thi thể chế Quân chủ lập hiến đặt nền móng hướng đến mô hình “Dân chủ Đại nghị” mà khuôn mẫu là các Hoàng Gia của nhiều nước phát triển văn minh trên thế giới hiện nay) (Nguồn: Tạp chí Xưa & Nay số 346 -12/2009- Tổng biên tập/ ĐB/QH ông Dương Trung Quốc).

htt_quocKhanhPhaiLaNgay01
htt_quocKhanhPhaiLaNgay02
Vua Bảo Đại và Chính Phủ Trần Trọng Kim ra mắt quốc dân

htt_quocKhanhPhaiLaNgay03
Dù bị Hồ chí Minh ép “thoái vị” nhưng năm 1949 Vua Bảo Đại vẫn được nhân dân Hà Nội chào đón với cờ vàng 3 sọc mà không thấy cờ đỏ sao vàng (tư liệu Văn khố Pháp).

htt_quocKhanhPhaiLaNgay04
Dân chúng Sài Gòn mít tinh, 1947, yêu cầu vua Bảo Đại trở lại chấp chính. Hàng chục ngàn người với một rừng biểu ngữ

Vì vậy đối diện với lịch sử, khi nhà Nguyễn và Vương Triều vua Bảo Đại đang chấp chính (dù có bị thực dân khống chế một phần) vẫn là một triều đại hợp pháp của Việt Nam đang hiện hữu tại thời điểm ấy (1945) mà 2 thế lực Pháp và Nhật đều nhìn nhận thì việc Hồ Chí Minh và CSVN cướp chính quyền (chính phủ) Trần Trọng Kim, tạo áp lực ép cho Vua Bảo Đại phải thoái vị là hành vi bất hợp pháp của bọn “phản quốc, nghịch tặc” dù núp bóng dưới khẩu hiệu “Bài phong, đã thực”.

Mới đây, một thông tin từ báo Tuổi Trẻ ra ngày 27/8 cho biết, để tuyên truyền phụ họa cho ngày “quốc khánh 2/9” sắp tới, Bảo tàng Lịch sử và cách mạng tỉnh Thừa Thiên – Huế vừa mở cửa phòng trưng bày tái hiện sự kiện vua Bảo Đại thoái vị; trong đó có “đắp tượng” mô hình cảnh vua Bảo Đại trao ấn kiếm cho phái đoàn Chính phủ lâm thời Việt Nam Dân chủ cộng hòa (ảnh dưới). Bảo tàng sẽ mở cửa miễn phí cho nhân dân và du khách tham quan vào ngày 2-9.

htt_quocKhanhPhaiLaNgay05

“Tuyên truyền” là truyền bá những thông tin lệch lạc để quảng bá cho một mục tiêu chính trị bất chính hay một quan điểm bất minh, thì bên cạnh tin trên chúng ta cũng nên tham khảo lại một đoạn ngắn có liên quan trong “Hồi ký của Vua Bảo Đại” (*) để thêm một góc nhìn khác của sự kiện “thoái vị”.

Trích đoạn nguyên văn:

“… Tạ Quang Bửu, là người báo cho tôi (vua Bảo Đại) biết có một nhóm kháng chiến được thành lập ở miền thượng du, vùng Cao Bằng có tên là “Liên đoàn Việt Minh”. Cầm đầu nhóm này là Võ Nguyên Giáp người của Việt Minh”.

“… Có rất nhiều tin xấu đến tai tôi. Nguyễn Văn Sâm, người đại diện của tôi ở Sài Gòn chưa thấy tới nhiệm sở. Nghe tin ông ấy bị ám sát sau khi rời khỏi Huế trên đường vào Sài Gòn. Ai đã giết ông ấy??… Ở Hà Nội cũng đang xảy ra những biến cố rất quan trọng. Ngay sau khi Nhật đầu hàng, có những toán xung phong dưới quyền Võ Nguyên Giáp đột nhập vào thành phố Ngày 17-8, dưới sự xúi dục của những toán này, trong một cuộc biểu tình tụ tập 20 ngàn người trước Nhà Hát Lớn. Mọi người đều hô to “Độc lập” và trương cờ mới màu đỏ sao vàng, Cờ vàng 3 sọc đỏ của Đế quốc Việt Nam bị giựt xuống…

“Sau đó ít lâu, giám đốc Bưu điện Huế xin được gặp tôi. Ông ta đưa cho tôi một điện tín gửi đi từ Hà Nội. Nội dung bức điện tín: “Trước lòng quyết tâm của toàn thể dân tộc sẵn sàng hy sinh để bảo vệ nền độc lập quốc gia, chúng tôi kính cẩn xin Hoàng Thượng làm một cử chỉ lịch sử là trao quyền lại”. Điện tín này được ký bởi “Ủy ban Nhân dân Cứu quốc đại diện mọi đảng phái và mọi tầng lớp nhân dân”. Nhưng không có tên ai ký…” (hết trích)

… “kính cẩn xin Hoàng Thượng”… cũng có nghĩa công nhận là thần dân của một Vương Triều, vậy lấy tư cách gì để buộc một Quốc Vương đang trị vì vừa thành lập Tân Chính Phủ mở đầu cho sứ mạng lấy lại độc lập trọn vẹn phải từ chức trao quyền lại cho một nhóm người vô danh tiểu tốt từ trong hang hốc núi rừng mới chui ra (Ủy ban Nhân dân Cứu quốc đại diện mọi đảng phái và mọi tầng lớp nhân dân), và… nhân dân nào? phúc quyết bao giờ? dựa trên cơ sở pháp lý từ đâu? ai công nhận?

Nói tới cái chiêu bài “bài phong đã thực” (bài bác Hoàng gia phong kiến và đánh đuổi thực dân) thì không thể không chỉ ra sự dối trá và cuồng tín chủ nghĩa cộng sản nên mù lòa thế giới quan của Hồ Chí Minh và CSVN.

Bối cảnh thế giới và tiến trình văn minh của nhân loại đã chứng minh cho CSVN thấy gần với Việt Nam, cùng thời điểm, một loạt các quốc gia Đông Nam Á đã lấy lại độc lập bằng giải pháp hòa bình mà chẳng có quốc gia nào phải hao tốn máu xương như CSVN để “đả Thực” dân cả!

Có thể nói rằng cuối thế kỷ 20 sau thế chiến II khi guồng máy phát xít xâm lược Đức, Ý, Nhật bị đập tan, dấy lên tinh thần văn minh xóa bỏ hình thức thuộc địa từ Hội Quốc Liên (LHQ) các quốc gia bị đô hộ trên thế giới (sớm hay muộn) sẽ lấy lại độc lập trong hòa bình là xu thế tất yếu như ánh bình minh vươn lên mà không cần phải phụ thuộc vào bất cứ tiếng gà gáy nào.

Còn “bài Phong” kiến ư? Tại thời điểm 1945 và hiện nay, thế giới vô số các Hoàng Gia và Vương triều ngự trị hòa bình cùng thần dân mình trong quang minh chính đại, gần Việt Nam như: Campuchia, Thailand, Malaysia, Brunei, Nhật Bản; Trung Đông như: Ả Rập Saudi, Bahrain, Bhutan, Jordan, Kuwait, Oman, Qatar… Xa hơn, Châu Âu như: Vương quốc Anh, Bắc Ireland, Bỉ, Đan Mạch, Hà Lan, Na Uy, Tây Ban Nha, Thụy Điển v.v… (Canada, Australia, New Zealand vài thế kỷ qua vẫn một lòng tôn thờ nữ hoàng Anh) mà nhà nước CSVN đang ngửa tay hàng năm ăn mày viện trợ khá nhiều từ các Vương Quốc này, thì cái khẩu hiệu “bài phong đã thực” ngày đó chỉ là rác rưởi trang điểm trong nhất thời cho thủ đoạn mưu đồ du nhập và áp đặt chủ nghĩa XH/CS ngoại lai vào đất nước Việt Nam mà thôi.

Cướp được chính quyền rồi, vài tháng sau, ngày 2 tháng 9 tại Ba Đình, Hà Nội CSVN tổ chức một buổi mít tinh huy động người dân tham dự nghe Hồ Chí Minh đọc bản tuyên ngôn độc lập mà CSVN lấy ngày ấy làm “Quốc Khánh 2 tháng 9” hôm nay. 

Nội dung bản tuyên ngôn mà ngay chính đảng CSVN cũng nhìn nhận là “copy” từ hai bản tuyên ngôn nổi tiếng trong lịch sử nhân loại của hai nước lớn là bản “Tuyên ngôn độc lập 1776” của Mỹ và bản “Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền” của Pháp. 

“Sử dụng hai bản tuyên ngôn này, Bác đã khẳng định quyền tự do độc lập của dân tộc ta”!? (Báo điện tử CSVN) (**)

Liền sau đó, “Bác” chứng minh “không có gì quí hơn độc lập tự do”, “khẳng định quyền tự do độc lập của dân tộc ta” bằng cách đích thân sang Tàu và Liên xô gặp Mao Trạch Đông, Chu Ân Lai và Stalin-LeNin để “xin chỉ tiêu” (số lượng) rồi về đè dân mình ra đấu tố “đào tận gốc trốc tận rễ” gây nỗi kinh hoàng khắp các tỉnh thành miền Bắc, giết người như giết gà vịt đếm số lượng cho “đủ chỉ tiêu” báo cáo cho CS/Nga Tàu để lập công xin chính thức gia nhập vào khối quốc tế CS và cầu viện vũ khí! để làm “tiền đồn” XHCN.

Trong tuyển tập “Lịch sử kinh tế Việt Nam” (tập hai) xuất bản tại Hà Nội ghi nhận đã có 172.008 người đã bị giết trong CCRĐ. (***)

htt_quocKhanhPhaiLaNgay06
htt_quocKhanhPhaiLaNgay07
Thành quả “Độc Lập” 2-9 (Trung Quốc chỉ đạo CSVN làm theo- 1953)

htt_quocKhanhPhaiLaNgay08
Đây là thành quả “Độc Lập” 2-9, CSVN mang lại cho đồng bào Miền Nam (đặt chất nổ giết hại dân lành, không cho các đô thị miền Nam thanh bình).

Trong khi 2 tháng 9-1945 Hồ Chí Minh đọc tuyên ngôn dõng dạc lên án chế độ thực dân “Chúng tắm các cuộc khởi nghĩa của nhân dân ta trong những bể máu” thì đồng bào mình (hai miền Nam Bắc) đang yên lành đôn hậu làm ăn chẳng có ai “khởi nghĩa” gì ráo trọi, bỗng nhiên “Bác” nghe lời 2 đồng chí Nga Tàu ra lệnh đấu tố “tắm máu” giết gần hai trăm ngàn dân ta một cách tàn bạo, bất nhân, gây nên đảo lộn luân thường đạo lý làm tan nát ly tán hàng vạn gia đình đang êm ấm!? Cốt chỉ để lập thành tích “báo công” với quốc tế CS! 100 năm đô hộ, thực dân Pháp cũng không hề giết dân Việt tàn bạo như vậy!

Thử hỏi trên thế giới (trừ CS) thì có đảng phái, nhà nước, chính phủ quốc gia nào vô nhân đạo, cuồng tín, điên rồ bằng hành vi khát máu man rợ với ngay chính đồng bào của mình như trường hợp này?

Xương thịt của hàng trăm ngàn đồng bào bị giết oan dường như chưa tan hết nhưng hàng ngày, hàng năm, báo chí “đảng ta” vẫn cứ ra rả như thế này: “Bản Tuyên ngôn độc lập là một văn bản chính luận hiện đại với hệ thống lý lẽ đanh thép có sức thuyết phục cao. Nó là kết quả của tầm nhìn sâu rộng, của bao suy nghĩ trăn trở, và hơn cả là của một tấm lòng luôn luôn hướng về đất nước, về nhân dân của Hồ chí Minh…”!?

Hướng về “đất nước, nhân dân” hay hướng về “Nga Tàu và quốc tế CS? -172.000 oan hồn CCRĐ nếu được sống lại chắc phải sôi gan “hộc máu” chết thêm một lần nữa khi nghe những luận điệu xảo trá, đạo đức giả, nêu trên!

htt_quocKhanhPhaiLaNgay09

Cũng vì “một tấm lòng luôn luôn hướng về đất nước, về nhân dân của Hồ chí Minh…” mà hàng triệu đồng bào miền Bắc “sợ quá” phải gạt nước mắt từ giã quê cha đất tổ lũ lượt kéo nhau vào miền Nam tự do lánh nạn CS, một cuộc di cư lớn nhất sau thế chiến 2 (1954)

htt_quocKhanhPhaiLaNgay10
“Nhớ đấy, ta Độc Lập là vào Nam nổ súng đánh cho Liên Xô-Trung Quốc”

htt_quocKhanhPhaiLaNgay11
Hy sinh đánh cho “Liên Xô-TQ” cho Mỹ ra về, cho Tàu Cộng vào biển Đông. Hàng hàng lớp lớp thanh niên miền Bắc nằm xuống như thế này. Họ không hề biết máu xương họ ông HCM và CSVN lợi dụng như lót đường rước con voi TQ một mình một cõi vào biển Đông như dày lên mả tổ VN hôm nay.

Cũng từ tuyên ngôn 2 tháng 9 “nhà nước đảng ta” rất tuyệt đối độc lập, nhưng… “ta vào Nam nổ súng là đánh cho quốc tế CS Nga, Tàu” (Lê Duẫn) để đưa tiển vong linh hàng triệu thanh niên “sinh Bắc tử Nam” và nữa triệu đồng bào miền Nam hồn lìa khỏi xác mà mắt mở trừng trừng như gào thét oán than “Chúng tôi đâu có yêu cầu, sao các ông lại vào miền Nam giải phóng, giết chúng tôi khi chúng tôi đang ấm no hạnh phúc trong ngôi nhà của chính mình”!?.

htt_quocKhanhPhaiLaNgay12
“Bằng, Dân” hỏi: giá thật lòng?
“Linh” cười phấn khởi: “Mười Đồng” bán ngay.
(Thành Đô 3/9/1990)

Năm 1990, CSVN thể hiện sự “độc lập” lên cao trào là khi Liên Xô và quốc tế cộng sản thi nhau sụp đổ, chới với hốt hoảng không còn nơi “nương tựa” các chóp bu CSVN quay qua Trung Quốc xin chấp nối lại “tình đồng chí cũ”. Cuối năm, sau nhiều lần tích cực chủ động “ngoại giao đi đêm” các chóp bu CSVN đã chấp nhận một cuộc họp “bí mật” giữa 2 đảng CS Việt-Trung do các chóp bu CSTQ bố trí tại Thành Đô thay vì phải là chính thức tại Bắc Kinh (tránh tai mắt các hãng thông tấn và bào chí quốc tế thường trú đưa tin không có lợi).

Di lụy cuộc họp sau đó dẫn tới 900km2 đất đai (trong đó có ải Nam Quan) Bắc biên giới và hàng trăm ngàn km2 lãnh hải vịnh Bắc bộ đã thuộc về lãnh thổ Trung Quốc (và còn xin trong tương lai cho VN làm một phần lãnh thổ tự trị thuộc TQ!?).

Văn kiện cuộc họp Thành Đô tới nay là 24 năm, công luận trong nước trăn trở bức xúc lên tiếng hỏi nhưng các chóp bu CSVN vẫn dấu kín, giữ cho văn kiện “độc lập” tới cùng? Không cho ai xâm phạm mở ra, chỉ có nội bộ chóp bu “đảng ta” sống để dạ, chết mang theo!

Thêm một lần nữa chúng ta đọc lại một vài đoạn nổi bật trong Bản tuyên ngôn Độc Lập ngày 2 tháng 9 mà “bác ta” hùng biện:

“Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi – Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được” (HCM)

Tuy nhiên, chỉ riêng đảng CSVN là có quyền chối cãi, từ thượng tầng nhà nước trung ương đến hạ tầng cơ sở xã, huyện địa phương và các cơ quan kinh tế tài chánh ngoài xã hội khắp các tỉnh thành phố trong cả nước với hàng triệu chổ ngồi “màu mỡ, thơm tho” mà hơn 85 triệu người dân phải đổ mồ hôi sôi nước mắt đóng thuế tạo ra nhưng chỉ dành riêng cho con cháu bầy đàn những đảng viên CS ngự trị, đó là: “luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi – Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được” (HCM).

Vâng! đúng là như vậy, cười ra nước mắt của tự do và bình đẳng “không ai chối cãi được”. Dưới chế độ độc tài CS toàn dân Việt Nam bầu Quốc Hội cơ quan quyền lực cao nhất của mình nhưng duy nhất chỉ được phép chọn lựa các ửng cử viên ĐB/QH là đảng viên CS do đảng CSVN đưa ra mà thôi. “Đó là bình đẳng, là lẽ phải không ai chối cãi được”(HCM)!

Một sự kiện khác, năm 1945 lịch sử ghi nhận, nương theo chiều gió chính trị ngày 11 tháng Ba năm 1945, vua Bảo Đại triệu cố vấn tối cao của Nhật là đại sứ Yokoyama vào điện Kiến Trung để tuyên bố: Nước Việt Nam độc lập. Cùng đi với Yokoyama là tổng lãnh sự Konagaya Akira và lãnh sự Watanabe Taizo. Bản tuyên ngôn đó có chữ ký của sáu vị thượng thư trong Cơ mật Viện Triều đình, chiếu chỉ đề ngày 27 Tháng Giêng ta năm thứ 20 niên hiệu Bảo Đại (nguyên văn):

“Cứ theo tình hình thế giới nói chung và hiện tình Á Châu, chính phủ Việt Nam long trọng công bố rằng: Kể từ ngày hôm nay, Hòa ước Bảo Hộ ký kết với nước Pháp được hủy bỏ và vô hiệu hóa. Việt Nam thu hồi hoàn toàn chủ quyền của một Quốc gia Độc lập”. (Vua Bảo Đại)

Theo đó triều đình hoàng gia Việt Nam hủy bỏ Hòa ước Patenotre ký với Pháp năm 1884 vốn đã áp đặt nền bảo hộ thực dân lên toàn cõi nước Việt. Tiếp theo Vua Bảo Đại ban hành Dụ số 1 ra ngày 17 tháng 3 /1945 lấy khẩu hiệu “Dân Vi Quý” (民爲貴) làm phương châm trị quốc. Nhà sử học Trần Trọng Kim được nhà vua triệu ra Huế giao nhiệm vụ thành lập Nội các (chính phủ) mới. (Wikipedia) (****)

Tuy nhiên, vào ngày 2-9-1945, sau khi cướp được chính quyền của CP Trần Trọng Kim, ép vua Bảo Đại thoái vị – “Bác ta” copy gần như nguyên si nội dung lời tuyên bố của Vua Bảo Đại đưa vào bản tuyên ngôn để “hùng biện” trước toàn dân:

“Bởi thế cho nên, chúng tôi, lâm thời Chính phủ của nước Việt Nam mới, đại biểu cho toàn dân Việt Nam, tuyên bố thoát ly hẳn quan hệ với Pháp, xóa bỏ hết những hiệp ước mà Pháp đã ký về nước Việt Nam, xóa bỏ tất cả mọi đặc quyền của Pháp trên đất nước Việt Nam” (HCM)

Hai bối cảnh, một tuyên ngôn, nội dung bản chất tương tự nhau, Vua Bảo Đại trước, Hồ Chí Minh sau.

Từ Vua Bảo Đại và Chính phủ Trần Trọng Kim hướng Việt Nam đến một Hoàng Gia Dân chủ Đại nghị vốn là khuôn mẫu là các Hoàng Gia khả kính của nhiều nước phát triển văn minh trên thế giới hiện nay.

Từ Hồ Chí Minh, mang một ý đồ bịp bợm ru ngủ toàn dân để du nhập, tròng lên đầu dân ta một cái thong lọng chủ nghĩa XH/CS ngoại lai ảo vọng gây nên núi xương sông máu mà hiện nay nhân loại của thế giới đang kinh tởm nguyền rủa chôn lấp từ bỏ nó. 

Hiện tại, khi CNXH/CS sụp đổ suy tàn dù đảng CSVN biến thể như con tắc kè thay đổi màu da, ra sức tuyên truyền dối trá bóp méo tiền sử rằng “đảng” có công lãnh đạo “thống nhất đất nước vì độc lập tự do” (chứ không còn là cho quốc tế CS Nga Tàu nữa), nhưng không khó lắm để chúng ta, toàn dân Việt, nhận diện toàn cục, cụ thể hai mặt phải trái lươn lẹo trí tráo của vấn đề này.

htt_quocKhanhPhaiLaNgay13
htt_quocKhanhPhaiLaNgay14
“Độc Lập 6 sao” và công nhận biển đảo nước mình là của “thiên hạ”

Đúc kết lại, ông Hồ Chí Minh biến ngày 2 tháng 9-1945 thành một cổ máy mà CSVN vận hành, trình tự tạo ra những sản phẩm:

– 1954 Du nhập CNCS, chia đôi đất nước, làm ly tán lòng người hàng chục vạn gia đình với hàng triệu người miền Bắc chạy trốn vào Nam.

– 1953-1956 Triển khai đấu tố CCRĐ, thảm sát 172.000 đồng bào vô tội. 

– 1958 Ký công hàm bán nước (một vấn nạn VN nan giải với Trung cộng hiện nay). 

– 1945-1975 Tạo ra nội chiến cốt nhục tương tàn, 30 năm một thế hệ thanh niên hy sinh vô nghĩa.

– 1975 Phá hoại Hiệp định Paris, đánh chiếm miền Nam, hủy diệt (cải tạo công thương nghiệp) một nền kinh tế miền Nam trù phú đang năng động phát triển đồng bộ với các quốc gia Đông Nam Á.

– 1975 Kết thúc chiến tranh, vẫn còn đày đọa vô nhân đạo giết hại trong lao tù rừng sâu nước độc hàng trăm ngàn nhân sĩ, quân cán chính tinh hoa của miền Nam, của đất nước, là đồng bào anh em với chính họ.

– 1990 Hội Nghị “bí mật” Thành Đô (làm hao hụt cương thổ quốc gia).

– Lấy vũ khí Trung cộng đẩy Mỹ đi bằng máu xương Việt Nam, thay đổi diện mạo “địa chính trị” cho Tàu cộng có cơ hội một mình một cõi vào biển Đông xâm lược biển đảo thách thức đe dọa an ninh và chủ quyền của quốc gia hiện nay.

Và điều đáng suy nghĩ rất đớn đau trong trái tim mọi người dân Việt, khởi đầu từ ngày 2 tháng 9 năm 1945, 70 năm hao tốn thời gian và xương máu cho một chủ nghĩa XH/CS mà ngày nay bị nhân loại nguyền rủa, đang lụi tàn, còn Việt Nam lại là một trong 4 nước XHCN/CS độc tài lạc hậu lẻ loi còn sót lại trên 190 quốc gia tư bản tự do hay đa nguyên dân chủ, mà hàng năm “nhà nước, đảng ta” phải cúi mặt xin ăn mày viện trợ “tư bản giãy chết” và mấy trăm ngàn con em Việt Nam phải tha phương cầu thực hành nghề vợ hờ, osin, bán sức lao động như nô lệ nơi hai nước giàu mạnh nằm ở tóp hàng đầu thế giới là Đài Loan và Hàn Quốc, hai quốc gia có cùng số phận lãnh thổ bị chia cắt do ý thức hệ CS như VN nhưng mục tiêu tối thượng của Đài Loan và Hàn Quốc là trước hết “dân phải giàu thì nước mới mạnh” chứ dứt khoát không “thống nhất” bằng mọi giá, nhất là giá máu xương của nhân dân cho chủ nghĩa cộng sản… như CSVN.

Khái quát dẫn chứng cụ thể như thế để chúng ta, những người dân Việt hiểu rằng, lịch sử bản chất vốn dĩ là một đường thẳng tuyệt đối, không một thế lực nào uốn cong hay bẻ gãy được. Giống như vậy, tội ác ghi bằng máu của đồng bào là một vết nhơ không một chất cường toan nào có thể xóa nổi, nó lưu lại mãi trong ký ức và trong mọi trái tim nhân bản Việt, dù có là hàng ngàn năm sau nữa.

Nếu không vì thiếu hiểu biết hay mất trí hoặc điên khùng, thì chỉ có phường lưu manh bịp bợm mới hân hoan “bắn pháo hoa” chào mừng cái ngày 2 tháng 9, một ngày bất hạnh tạo nên chất chồng những sự kiện đáng buồn không thể chối cãi ấy của đất nước dân tộc, mà đơn giản dễ hình dung ra nhất (xin lập lại) là hãy nhìn sang Hàn Quốc, họ chưa cần “thống nhất” với Bắc triều Tiên, nhưng hàng trăm ngàn con cháu Việt Nam phải tự nguyện xếp hàng thi nhau sang Hàn Quốc “ở đợ”? và CSVN tự hào là “thống nhất” nhưng phải “cống hiến” một phần đất trời biển đảo (chắc chắn không bao giờ lấy lại được) của cha ông cho “đồng chí” xâm lược Trung cộng.

Và vì vậy, nhà nước CSVN bản chất vốn dĩ hay tuyên truyền và dối trá nên họ nói gì thì cứ nói, nhưng có “khua môi múa mỏ” như thế nào chăng nữa thì thế giới đã chứng minh XHCN chỉ là ảo vọng, không hề có thật và “Chủ nghĩa Cộng Sản là tội ác chống nhân loại” với hàng trăm triệu nạn nhân trong đó có Việt Nam mà Hồ Chí Minh là một trong những thủ phạm đã được nhận diện chỉ danh đích thị (*****) thì Quốc Khánh của Việt Nam phải là (một ngày nào đó): Chấm dứt chế độ “CS/độc tài” mới mang đầy đủ ý nghĩa cao đẹp của chính nó.

(Có thể “ai đó” cho rằng luận điệu này là xuyên tạc, phản động thì xin phản biện “chỉ giáo” ra những cái phản động, xuyên tạc trong bài viết trên, tại trang mạng này). Hy vọng và cám ơn lắm thay!

Hoàng Thanh Trúc

(*)http://www.viet-studies.info/kinhte/BaoDai_HCM_DL.htm
(**)http://dangcongsan.vn/cpv/Modules/News/NewsDetail.aspx?co_id=30505&cn_id=57830
(***)http://lichsuvn.net/forum/showthread.php?t=30947
(****)vi.wikipedia.org/wiki/Đế_quốc_Việt_Nam
(*****)http://www.danchimviet.info/archives/74055/thoi-bao-ba-lan-xep-hang-ho-chi-minh/2013/03

https://doithoaionline.wordpress.com/2014/08/31/quoc-khanh-phai-la-ngay-danh-dau-cham-dut-che-do-doc-tai/
31/8/2014

Nguồn: http://www.geocities.ws/xoathantuong/htt_quocKhanhPhaiLaNgay.htm 

Posted in Cách Mạng Mùa Thu 1945 không hề xảy ra, Lịch Sử Việt Nam | Leave a Comment »

►Các cường quốc và VN sau thế chiến II – (Bối cảnh cộng sản VN cướp chính quyền)

Posted by hoangtran204 on 21/08/2015

Các cường quốc và VN sau thế chiến II

Tác giả: 

19-8-2015

Phái đoàn Nhật Bản trên boong tàu Michouri

1.- THẾ CHIẾN THỨ 2 CHẤM DỨT TẠI Á CHÂU

Lãnh tụ Đức Quốc Xã Adolf Hitler tự tử ngày 30-4-1945. Đức Quốc Xã đầu hàng Đồng minh ngày 7-5-1945. Thế chiến thứ 2 chấm dứt tại Âu Châu.

Tại Á Châu, Nhật Bản tiếp tục chiến đấu chống Trung Hoa, Anh và Hoa Kỳ. Lúc đó Nhật Bản vẫn còn bang giao với Liên Xô. Nhật Bản ký hòa ước bất tương xâm với Liên Xô từ ngày 13-4-1941. Khi tự biết sắp thua trận, bộ Ngoại giao Nhật báo cho đại sứ Nhật ở Moscow (thủ đô Liên Xô) ngày 12-7-1945 rằng Nhật hoàng muốn nhờ Liên Xô đứng làm trung gian với Đồng minh, để thương thuyết việc chấm dứt chiến tranh. Đại sứ Nhật ở Moscow trình bày lại ý định của chính phủ Nhật với bộ Ngoại giao Liên Xô. Chính phủ Liên Xô làm thinh, không trả lời.

Ngày 6-8-1945, Hoa Kỳ thả quả bom nguyên tử đầu tiên xuống thành phố Hiroshima (Nhật Bản), giết chết 130,000 người. Liên Xô biết Nhật sẽ phải đầu hàng, liền mời đại sứ Nhật tại Moscow đến bộ Ngoại giao Liên Xô lúc 5 giờ chiều 8-8-1945 và ngoại trưởng Mikhailovich Molotov (Liên Xô) thông báo cho đại sứ Nhật biết rằng Liên Xô quyết định tuyên chiến với Nhật. (Basil Collier, The Second World War: a Military History, Gloucester, Mass.: Peter Smith, 1978, tt. 529-530.)

Sáng sớm hôm sau (9-8-1945), Liên Xô tràn quân qua chiếm Mãn Châu, và vùng đông bắc Trung Hoa, chỉ vài giờ trước khi Hoa Kỳ dội thêm quả bom nguyên tử thứ hai xuống thành phố Nagasaki, giết chết 75,000 người.

Nhật hoàng Hiro Hito (trị vì 1926-1989) tuyên bố đầu hàng Đồng minh vô điều kiện ngày 14-8-1945. Hiệp ước đầu hàng được ký kết trên chiến hạm Missouri (Hoa Kỳ), thả neo trong vịnh Đông Kinh (Tokyo) ngày 2-9-1945. Như thế là thế chiến thứ 2 hoàn toàn chấm dứt ở Á Châu.

2.- HỘI NGHỊ YALTA (4-2 đến 14-2-1945)

Ở Âu Châu, trước khi Đức đầu hàng, đại diện ba cường quốc Anh, Hoa Kỳ, Liên Xô họp hội nghị thượng đỉnh tại Yalta, một thành phố nghỉ mát ở Crimea, phía tây nam Liên Xô từ 4-2 đến 14-2-1945. Tại đây, Winston Churchill (thủ tướng Anh), Franklin Roosevelt (tổng thống Hoa Kỳ), và Joseph Stalin (bí thư thứ nhứt đảng CS Liên Xô), bàn về việc phân chia vùng ảnh hưởng ở Âu Châu, chính là phân chia Đức và các nước chịu ảnh hưởng của Đức, việc thành lập Liên Hiệp Quốc và việc Liên Xô tham chiến chống Nhật Bản ở Á Châu, vì lúc đó Liên Xô chưa tuyên chiến với Nhật Bản.

Riêng về vấn đề Đông Dương, thuộc địa cũ của Pháp, ngoại trưởng Hoa Kỳ là Edward Reilly Stettinius chính thức trình bày kế hoạch Quốc tế quản trị (International trusteeship) cho Đông Dương trong phiên họp ngày 9-2-1945 tại hội nghị Yalta. Theo kế hoạch nầy, sau khi Nhật Bản đầu hàng, Đông Dương sẽ được đặt dưới quyền của một Hội đồng Quốc tế quản trị gồm đại diện Hoa Kỳ, Trung Hoa, Pháp, Liên Xô, các nước Đông Dương và Phi Luật Tân. Hội đồng quản trị sẽ hoạt động trong vòng năm mươi (50) năm, cho người Đông Dương đủ sức tự trị, rồi mới giao trả độc lập cho các nước Đông Dương, giống như kinh nghiệm nước Phi Luật Tân. Thủ tướng Anh Winston Churchill cực lực phản đối kế hoạch International trusteeship. (W. A. Williams, T. McCormick, L. L. Gardner, W. LaFerber, America in Vietnam, New York: W. W. Norton, 1989, tr. 31.)

Theo Franklin Roosevelt, tại Yalta lãnh tụ Liên Xô là Joseph Stalin đồng ý kế hoạch nầy. (Chính Đạo, Việt Nam niên biểu, tập A: 1939-1945, Houston: Nxb. Văn Hóa: 1996, tr. 204.) Tuy nhiên, tháng 8-1945, ngoại trưởng Liên Xô là Molotov lại phủ nhận việc Quốc tế quản trị ở Đông Dương. (Đặng Phong, Lịch sử kinh tế Việt Nam 1945-2000, tập I: 1945-1954, Hà Nội: Nxb. Khoa Học Xã Hội, 2002, tr. 221.)

Tổng thống Franklin Roosevelt từ trần ngày 12-4-1945 trong lúc đương nhiệm. Phó tổng thống Harry Truman lên thay, và thay luôn chính sách Hoa Kỳ về Đông Dương. Lý do thay đổi có thể do Truman lo ngại kế hoạch International Trusteeship ở Đông Dương làm mất lòng Pháp, và Pháp có thể gây khó khăn trong việc ngăn chận sự bành trướng của Liên Xô ở Âu Châu. Vì vậy, Truman chủ trương tôn trọng chủ quyền Pháp ở Đông Dương, để Pháp ủng hộ Hoa Kỳ tại châu Âu. (Robert S. McNamara, In Restrospect, New York: Times Books, 1995, tr. 31.) Đây là một thay đổi quan trọng trong chính sách của Hoa Kỳ đối với Đông Dương.

3.- HỘI NGHỊ POTSDAM (17-7 đến 2-8-1945)

Sau khi Đức thất trận và đầu hàng ngày 7-5-1945, đại diện Hoa Kỳ là tổng thống Harry Truman, đại diện nước Anh lúc đầu là thủ tướng Winston Churchill, sau là Clement Attlee (lãnh tụ đảng Lao Động, thắng cử ngày 25-7, lên làm thủ tướng thế Churchill), đại diện Liên Xô là Joseph Stalin, bí thư thứ nhất đảng CSLX, cùng họp hội nghị thượng đỉnh tại thị trấn Potsdam, cách 17 dặm về phía tây nam Berlin (Đức), từ ngày 17-7 đến 2-8-1945. Hội nghị có mục đích bàn về các vấn đề hậu chiến tại Đức, phân chia các khu vực chiếm đóng, việc tái thiết nước Đức và các điều kiện đưa ra cho nước Đức thất trận.

Bên cạnh đó, cũng tại Potsdam, đại diện các nước Hoa Kỳ, Anh và Trung Hoa (tổng thống Tưởng Giới Thạch không họp, nhưng đồng ý qua truyền thanh), không tham khảo ý kiến của Pháp, cùng gởi một tối hậu thư cho Nhật ngày 26-7-1945. Lúc đó, Nhật còn tiếp tục chiến đấu ở Á Châu. Liên Xô không tham dự vào tối hậu thư vì Liên Xô chưa tham chiến ở Á Châu và chưa tuyên chiến với Nhật.

Tối hậu thư nầy, thường được gọi là tối hậu thư Potsdam, buộc Nhật phải đầu hàng vô điều kiện, chấp nhận những điều kiện của Đồng minh, như chấm dứt quân phiệt, giải giới quân đội, từ bỏ đế quốc… Riêng về Đông Dương, quân Nhật sẽ bị giải giới do quân đội Trung Hoa ở bắc và do quân đội Anh ở nam vĩ tuyến 16. (Ngang qua thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam.) Tối hậu thư Potsdam không đề cập đến ai sẽ cai trị Đông Dương sau khi quân Nhật bị giải giới và rút về nước, nghĩa là không đưa ra một giải pháp chính trị cho tương lai Đông Dương.

Điều nầy sẽ tạo ra một khoảng trống hành chính và chính trị tại Đông Dương một khi những quyết định trong tối hậu thư Potsdam được thi hành, vì nếu Nhật đầu hàng, chính phủ Trần Trọng Kim do Nhật bảo trợ, sẽ sụp đổ, thì ai sẽ là người có thẩm quyền tại Đông Dương? Phải chăng Anh và Hoa Kỳ cố tình bỏ ngỏ khoảng trống chính trị để tạo điều kiện cho Pháp trở lại Đông Dương?

4.- NGƯỜI HOA KỲ LIÊN LẠC VỚI VIỆT MINH

Tại Cao Bằng, ngày 11-11-1944, một máy bay trinh sát Hoa Kỳ bị lâm nạn vì hỏng máy ở biên giới Hoa Việt. Trung uý phi công Rudolph Shaw nhảy dù ra khỏi phi cơ và được một đơn vị du kích Việt Minh (VM) tìm thấy. Họ đưa Shaw đến gặp Hồ Chí Minh (HCM) ở Pắc Bó. (William Duiker, Ho Chi Minh a life, New York: Hyperion, 2000, tt. 282-283.)

Đây là cơ hội tốt cho HCM, vì từ lâu HCM muốn kiếm cách liên lạc với người Hoa Kỳ để nhờ giúp đỡ. Hồ Chí Minh đích thân đưa phi công Rudolph Shaw đến căn cứ Hoa Kỳ tại Côn Minh (Vân Nam), trả lại cho quân đội Hoa Kỳ. Nhân cơ hội nầy, HCM xin tiếp kiến tướng Claire L. Chennault, tư lệnh Không đoàn 14 của Hoa Kỳ tại Hoa Nam, nhưng bị từ chối. (R. Bartholomew-Feis, The OSS and Ho Chi Minh, unexpected Allies in the War against Japan, University Press of Kansas, 2006, tr. 111.)
Tuy nhiên, sau khi quân đội Nhật đảo chánh Pháp ở Đông Dương ngày 9-3-1945, người Hoa Kỳ bắt đầu thay đổi thái độ đối với VM và HCM. Ngoài những hậu quả chính trị trực tiếp, cuộc đảo chánh nầy đưa đến vài hậu quả ngầm đáng chú ý như sau:

Thứ nhứt, các lực lượng Pháp trên toàn cõi Đông Dương bị tê liệt. Quân đội người Việt thuộc quyền chỉ huy của Pháp như lính khố đỏ, lính khố xanh, lính khố vàng, cũng ngưng hoạt động. Chính phủ Trần Trọng Kim được thành lập ngày 17-4-1945, không có bộ Quốc phòng, không có quân đội. Quân đội Nhật thay thế quân đội Pháp, nhưng quân đội Nhật chỉ kiểm soát các thành phố, các trục lộ giao thông, và chú tâm lo việc rút quân về nước. Nhật không tổ chức quân đội địa phương người Việt, không kiểm soát được an ninh các vùng nông thôn và rừng núi.

Việt Minh nhân cơ hội nầy hoạt động và phát triển mạnh mẽ, xây dựng lực lượng hạ tầng, tổ chức các đội du kích địa phương, nhất là vùng rừng núi. Lúc đó, nạn đói đang trầm trọng. Việt Minh cướp các kho gạo (Philippe Devillers, Histoire du Viêt-Nam de 1940 à 1952, Paris: Éditions Du Seuil, 1952, tr. 131), hoặc VM âm thầm chận bắt những chuyến xe hay những chuyến ghe chở gạo từ miền Nam ra, rồi đem tiếp tế cho mật khu của họ. (David G. Marr, Vietnam 1945, The Quest for Power, University of California Press, Berkeley, 1995, tt. 102-103.)

Việt Minh dùng thực phẩm cướp được làm phương tiện tuyên truyền, chiêu dụ dân chúng gia nhập VM. Ai theo VM thì có thực phẩm mà ăn. Ví dụ nhạc sĩ Văn Cao (1923-1995) về sau tự thú nhận rằng ông theo VM vì bản thân và gia đình quá đói. (Văn Cao, “Tại sao tôi viết Tiến quân ca”, viết ngày 7-7-1976, đăng lại trong sách Thiên Thai, tuyển tập nhạc Văn Cao, TpHCM: Nxb Trẻ, 1988, tt. 14-17.)

Thứ hai, Pháp bị Nhật lật đổ. Tình báo Pháp ở Đông Dương bị hạn chế, trong khi đó quân Đồng minh cần tin tức về hoạt động của quân đội Nhật Bản bên trong Đông Dương. Người Hoa Kỳ không tin tưởng những tổ chức chính trị và những đảng phái Việt Nam thân Nhật trong nước, hay có liên hệ với Nhật, nên không nhờ đến họ. Việt Minh chống các đảng phái nầy và chống quân đội Nhật. Do đó, trước đây người Hoa Kỳ không muốn quan hệ với HCM. Nay người Hoa Kỳ thay đổi thái độ, muốn nhờ VM cung cấp tin tức hoạt động của quân đội Nhật Bản ở Đông Dương.

Chiều 17-3-1945, trung uý Charles Fenn, sĩ quan O.S.S., lần đầu tiên đến gặp HCM tại Côn Minh (Kunming) thuộc tỉnh Vân Nam (Yunnan). Ba ngày sau (20-3-1945), hai bên gặp nhau lần thứ hai, bàn chuyện HCM trở về Việt Nam, thiết lập những trạm tình báo, trang bị máy vô tuyến của O.S.S., và O.S.S. sẽ huấn luyện chuyên viên người Việt. O.S.S. tức Office of Strategic Services (Sở tình báo chiến lược) là tiền thân của C.I.A. (Central Intelligence Agency).

Charles Fenn đặt cho HCM một bí danh là Lucius. Hồ Chí Minh xin Charles Fenn cho gặp tướng Claire L. Chennault. Fenn đồng ý với điều kiện HCM không được yêu cầu Chennault giúp đỡ bất cứ viện trợ gì. Cuối cuộc gặp gỡ ngày 29-3-1945, HCM xin tướng Chennault tặng một tấm hình lưu niệm và được Chennault chấp thuận. (Archimedes L. A. Patti, Why Viet Nam?, California: University of California Press, Berkely, 1980, tr. 58.) Dưới tấm hình, Claire Chennault viết: “Yours Sincerely, Claire L. Chennault.” Có tài liệu kể rằng trong một cuộc họp ở chiến khu trước năm 1945, HCM dùng tấm hình nầy để tuyên truyền rằng ông ta được quân đội Hoa Kỳ ủng hộ.

5.- HOẠT ĐỘNG CỦA O.S.S. TẠI VIỆT NAM

Có hai toán O.S.S. phụ trách vấn đề Việt Nam. Toán thứ nhứt là O.S.S. 202 do thiếu tá Archimedes L. A. Patti làm trưởng toán, đóng trụ sở ở Côn Minh (Kunming, Vân Nam, Trung Hoa). Toán thứ hai là O.S.S. 404 do trung tá Peter Dewey làm trưởng toán, đóng trụ sở ở Tích Lan (Ceylon tức Sri Lanka).

Khoảng giữa tháng 4-1945, HCM cùng hai nhân viên vô tuyến của O.S.S. về Cao Bằng. Từ đây, O.S.S. chính thức hợp tác với VM. Ngày 16-7-1945, A. Patti gởi một toán tình báo hỗn hợp Mỹ-Pháp, do thiếu tá Allison K. Thomas chỉ huy, gồm 6 người, nhảy dù xuống làng Kim Lộng (Tân Trào, Tuyên Quang). Toán tình báo nầy bắt tay ngay vào việc, lập một phi trường tạm thời cho phi cơ nhỏ hạ cánh, chọn 100 cán bộ VM để huấn luyện. (Chính Đạo, Hồ Chí Minh, con người & huyền thoại, tập 2: 1925-1945, Houston: Nxb. Văn Hóa, tt. 358-359.)

Sau khi Nhật đầu hàng ngày 14-8-1945, thiếu tá A. Patti, trưởng toán O. S. S. 202, đến Hà Nội ngày 22-8-1945 bằng phi cơ. Patti khá thân thiện với giới lãnh đạo VM, đã giúp HCM soạn và sửa lại bản Tuyên ngôn độc lập ngày 2-9-1945. (A. Patti, sđd. tr. 223.) Đây là bản Tuyên ngôn độc lập thứ hai. Bản Tuyên ngôn độc lập đầu tiên do vua Bảo Đại công bố tại Huế ngày 11-3-1945.

Những sĩ quan O.S.S. khuyến khích VM đòi độc lập, tách ra khỏi nước Pháp, hướng về phía Hoa Kỳ, và hứa hẹn Hoa Kỳ có thể giúp Việt Nam xây dựng lại nền kinh tế đã suy sụp, tái thiết lại các hải cảng và các thiết lộ. (Philippe Devillers, sđd. tr. 202.)

Tại Nam Kỳ, theo kế hoạch Embarkment, để điều tra tội phạm chiến tranh ở Đông Dương, trung tá Peter Dewey, trưởng toán O.S.S. 404 (Hoa Kỳ) ở nam Đông Dương, đến Sài Gòn ngày 2-9-1945. Ngày 26-9-1945, trung tá Dewey bị bắn chết trên đường từ phi trường về trụ sở O.S.S.. Nguyên nhân do phía VM đưa ra là vì tướng Douglas Gracey, tư lệnh lực lượng Anh đến Sài Gòn giải giới quân đội Nhật, không cho phép Peter Dewey trương cờ Mỹ khi di chuyển, nên Dewey bị tưởng lầm là người Pháp và bị bắn.

Sau biến cố nầy, ngày 29-9-1945, thiếu tá A. Patti ở Hà Nội được lệnh rút khỏi Việt Nam. Ngày 1-10-1945, A. Patti rời Hà Nội đi Côn Minh (Kunming, Trung Hoa), chấm dứt nhiệm vụ của ông tại Việt Nam. (A. Patti, sđd. tr. 364.) Toán tình báo O.S.S. bị rút khỏi Việt Nam có thể vừa vì cả Pháp lẫn VM đều không muốn toán O.S.S. có mặt ở Hà Nội.

Dư luận về phía Pháp cho rằng toán O.S.S. chống lại sự trở lui của người Pháp. Có thể vì dư luận nầy, ngày 5-10-1945, thứ trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ Dean Acheson (từ 1945 đến 1947) gởi cho đặc phái viên O.S.S. ở Côn Minh một điện văn báo cho biết rằng Hoa Kỳ “không phản đối cũng không tham dự việc Pháp tái lập sự kiểm soát Đông Dương.” (“neither opposed nor assisted reestablishment of French control in Indochina”). (A. Patti, sđd. tr. 379).

Về phía VM, khi nhóm O.S.S. đến Việt Nam, tuy bề ngoài thân thiện, nhưng VM lo ngại các nhân viên O.S.S. theo chế độ dân chủ, lại chịu ảnh hưởng của nhà cầm quyền Quốc Dân Đảng Trung Hoa, sẽ ủng hộ VNQDĐ, Việt Cách, Đại Việt, là các đảng phái chính trị theo lý tưởng dân tộc, dân chủ, đối lập với VM cộng sản. Nhân viên O.S.S. rút đi là điều VM mong muốn, vì không có người nước ngoài, VM sẽ dễ thi hành kế hoạch tiêu diệt các đảng phái đối lập, chiếm độc quyền chính trị.

6.- CÁC NƯỚC CỘNG SẢN

Khi VM chiếm chính quyền năm 1945, đảng Cộng Sản Trung Hoa (CSTH) do Mao Trạch Đông lãnh đạo đang tranh đấu với Quốc Dân Đảng Trung Hoa do Tưởng Giới Thạch đứng đầu, nên đảng CSTH chưa giúp được gì nhiều cho VM.

Hồ Chí Minh về Hà Nội vào tháng 8-1945 để chuẩn bị cướp chính quyền, thì Stephane Solosieff, người Liên Xô, có thể là nhân viên tình báo, có mặt ở Hà Nội để theo dõi tình hình. Tại Hà Nội, Solosieff chủ động tìm gặp trưởng toán tình báo Hoa Kỳ (O.S.S) ở Hà Nội là thiếu tá A. Patti. (A. Patti, sđd. tr. 178.) Phải chăng Solosieff muốn báo cho phía Hoa Kỳ biết rằng đại diện của Liên Xô cũng đang có mặt ở Hà Nội để theo dõi tình hình? Lúc đó, không ai biết Solosieff liên lạc như thế nào với HCM?

Ngày 28-8-1945, đại sứ Liên Xô ở Pháp là A. E. Bogomolov gởi về Moscow một công điện đề nghị áp dụng chế độ Quốc tế quản trị (International trusteeship) tại Việt Nam. Ngoại trưởng Liên Xô là Mikhailovich Molotov đã chỉ thị rằng “Liên Xô không có lập trường như vậy”. (Đặng Phong, sđd. tr. 221.) Chỉ thị của Molotov cho thấy Liên Xô không đồng ý chủ trương Quốc tế quản trị. Lúc đó Liên Xô mới đặt nền thống trị tại các nước Đông Âu do quân đội Liên Xô chiếm đóng sau khi Đức bại trận. Liên Xô không muốn các nước khác xen vào chuyện Đông Âu và không muốn có chuyện Quốc tế quản trị ở Đông Âu, nên Liên Xô bác chuyện Quốc tế quản trị ở Việt Nam. Hơn nữa, Liên Xô muốn lấy lòng Pháp để vận động Pháp chống lại kế hoạch của Hoa Kỳ ở Tây Âu.

Hồ Chí Minh ra mắt chính phủ VNDCCH tại Hà Nội ngày 2-9-1945. Ngày 22-9-1945, HCM ký dưới tên là Hoshimin, gởi cho Stalin một công điện thông báo việc thành lập nước VNDCCH, nhưng không được Moscow trả lời hay chúc mừng. Ngày 21-10-1945, Hoshimin gởi một công điện thứ hai. Công điện nầy đến tay V. G. Dekanzonov, thứ trưởng Ngoại giao Liên Xô. Ông nầy chuyển bức công điện cho Vụ trưởng vụ châu Âu I của Liên Xô với ghi chú: “Đề nghị không trả lời, đưa vào lưu trữ.” (Đặng Phong, sđd. tr. 221.)

Trong khi đó, lễ đầu hàng và giải giới quân đội Nhật Bản tại Việt Nam chính thức được tổ chức ngày 28-9-1945 ở Hà Nội tại phủ toàn quyền Pháp cũ, dưới sự chủ trì của Lư Hán và đại diện Đồng minh. Trong phòng hành lễ treo bốn lá cờ Hoa Kỳ, Anh Quốc, Trung Hoa và Liên Xô, không có cờ Pháp. Ngoài đại diện các nước Đồng minh, còn có sự hiện diện của đại diện Liên Xô là Stephane Solosieff. (A. Patti, sđd. tt. 360-361.)

Tại Hà Nội không có phái bộ ngoại giao của Liên Xô. Phái đoàn Ba Lan (Poland) thay mặt cho Liên Xô trong những liên lạc ngoại giao với Việt Nam. (Bảo Đại, Con rồng Việt Nam, California: Nxb. Xuân Thu, 1990, tr. 233.) Lúc đó, sau thế chiến thứ 2, Liên Xô bận rộn giải quyết những khó khăn kinh tế trong nước và nhất là đang lo đối phó với những khó khăn ở các nước Đông Âu mà Liên Xô mới chiếm đóng. Hơn nữa, chiến tranh lạnh chưa xảy ra, Liên Xô ít có quyền lợi ở Viễn đông nên chưa mấy chú ý đến Việt Nam. Tuy vậy, chắc chắn Liên Xô không ngừng theo dõi tình hình chính trị Việt Nam, và không ai biết rõ sự liên lạc bí mật giữa hai đảng cộng sản của hai nước như thế nào?

(Toronto, 18-08-2015)

© Trần Gia Phụng

© Đàn Chim Việt

Nguon: danchimviet.info

Bác sĩ Nguyễn Tường Bách-Người kết thúc chiến tranh quốc cộng 1945

Ông Nguyễn Tường Bách

Sự ra đi của Bác sĩ Nguyễn Tường Bách ngày 11/5/2013 tại Fountain Valley , Orange County, California, hưởng thọ 97 tuổi, đã hoàn toàn kết thúc cuộc chiến tranh Quốc-Cộng 1945…(về phe Quốc Gia). Phe Quốc Gia ở đây được định nghĩa là những người chống lại lý thuyết Mác Xít, chống lại Cộng sản. Phe Cộng sản thì vẫn còn một người thuộc thành phần lãnh đạo từ thời 1945 là Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Cũng nên biết thêm, cụ Bách là cộng tác viên thân cận của nhóm Tự Lực Văn Đoàn từ ngày nhóm này ra số báo Phong Hóa đầu tiên (thời gian này nhóm chưa lấy tên là TLVĐ).

Về quân sự cụ Võ Nguyên Giáp đi trước cụ Bách. Vào năm 1944 trong khi cụ Bách mới tốt nghiệp Đại học Y khoa Hà Nội thì theo tài liệu của Cộng sản, vào ngày 22-12-1944 tại Cao Bằng cụ Giáp thành lập Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân (tiền thân của quân đội nhân dân Việt Nam) tại chiến khu Trần Hưng Đạo, lúc đó có 34 người được trang bị 2 súng ngắn, 17 súng trường, 14 súng kíp và duy nhất một súng máy. Nhưng không có tài liệu hay chứng cớ nào cho thấy sau đó lực lượng vũ trang vài chục người đó được phát triển nhiều hơn. Lịch Sử đảng Cộng sản cũng thừa nhận sau khi Nhật thất trận, các tù nhân chính trị được chính phủ Trần Trọng Kim trả tự do, trong đó có cả những tù nhân cộng sản, thì số lượng đảng viên cộng sản chỉ khoảng 5 ngàn người. Đấy là con số do cộng sản công bố; con số thực có lẽ ít hơn nhiều.

Phe Quốc gia gồm Việt Nam Quốc Dân Đảng, và Đại Việt có lẽ số đảng viên cũng không nhiều hơn. Lúc đó Bác sĩ Nguyễn tường Bách sáng lập lực lượng Quốc Gia Thanh Niên Đoàn, đồng thời chỉ huy lực lượng quân sự của Việt Nam Quốc Dân Đảng. Bác sĩ Bách cũng thú nhận số đảng viên và lực lượng vũ trang của Việt Nam Quốc Dân Đảng cũng không nhiều và so với lực lượng của cộng sản có phần yếu hơn (xem hồi ký Việt Nam Một Thế Kỷ Qua và tập truyện Trên Sông Hồng Cuồn Cuộn của Ng. Tường Bách).

Do tình cờ lịch sử, cả hai cụ Võ Nguyên Giáp và Nguyễn Tường Bách đều có một số điểm tương đồng. Trước tiên, cả hai cụ cùng ở vị trí lãnh đạo cao cấp của hai lực lượng chống đối nhau thời 1945: Cụ Bách ở Việt Quốc, cụ Giáp ở Việt Minh, một tổ chức của Cộng Sản dựng lên để thu hút thành phần yêu nước cũng tương tự như tổ chức Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam sau này được Cộng Sản Miền Bắc lập nên năm 1960, trá hình là một tổ chức yêu nước của nhân dân miền Nam. Cả hai cụ đều là nhân vật lãnh đạo lực lượng vũ trang của tổ chức của mình. Và thật lạ lùng, cả hai cụ cùng trường thọ và là hai vị cuối cùng thuộc giới lãnh đạo cao cấp trong cuộc tranh chấp Quốc Cộng 1945. Bác sĩ Bách vừa mãn phần ở tuổi 97; cụ Võ Nguyên Giáp vẫn còn sống và đã 103 tuổi.

Cả hai cụ cùng là trí thức tiểu tư sản. Cụ Võ Nguyên Giáp xuất thân cử nhân luật và là giáo sư sử tại trường trung học Thăng Long, một trường trung học nổi tiếng vì có nhiều giáo sư nổi tiếng nhất Hà Nội thập niên 1930. Trong thời gian đó cụ Nguyễn Tường Bách học đại học Y khoa Hà Nội và tốt nghiệp Bác sĩ năm 1944, ở tuổi 28, cùng lớp với Giáo Sư Thạc Sỹ Y Khoa Trần Đình Đệ, cựu Khoa trưởng Đại học Y khoa miền Nam. Cụ Võ Nguyên Giáp lớn hơn Bác sĩ Bách 5 tuổi nên hoạt động chính trị có lẽ trước Bác sĩ Bách cũng khoảng từng ấy năm. Vào thập niên 1930 – 1940 thanh niên Việt Nam hoạt động trong các tổ chức bí mật chống Pháp ở tuổi rất trẻ. Trong hồi ký Việt Nam Một Thế Kỷ Qua ( hồi ký VNMTKQ) ở trang 36, cụ Bách cho biết tinh thần cách mạng chống Pháp của học sinh trường Bưởi như sau, “một bạn học năm thứ ba (ghi chú của người viết, tức là mới lớp 8) có đến tìm tôi (ghi chú của người viết, lúc đó cụ Bách mới 13 tuổi và học lớp 6), và đưa một tờ truyền đơn ký tên là “Thanh Niên Ái Quốc,” rủ tôi vào một tiểu tổ lúc đó thành lập ngay trong trường. Tôi ngỏ ý tán thành.” Sau này, Bác sĩ Bách khởi đầu hoạt động chính trị từ thời còn là sinh viên y khoa trong đảng Đại Việt Dân Chính do nhà văn Nhất Linh là anh ông thành lập khoảng 1939.

Cả cụ Võ Nguyên Giáp lẫn Bác sĩ Bách đều không được huấn luyện quân sự mà đều được tổ chức của mình trao nhiệm vụ lãnh đạo quân sự. Điều đó cho thấy lực lượng quân sự của cả hai bên lúc đó đều không đủ mạnh để đương đầu với thực dân Pháp. Cụ Bách từng cười mà nói với tôi, “Chú là bác sĩ mà anh em giao cho chỉ huy quân sự thì đủ hiểu là lực lượng mình không mạnh!”

Cả hai cụ đều là đại biểu trong Quốc Hội khóa 1 năm 1946. Cụ Giáp là đại biểu của Cộng sản (núp dưới danh xưng Việt Minh). Bác sĩ Bách là đại biểu của Việt Quốc.

Trong chính phủ Liên Hiệp Quốc Cộng cụ Giáp giữ chức Bộ Trưởng Nội Vụ. Bác sĩ Bách tuy không tham gia chính phủ Liên Hiệp nhưng khi tôi hỏi vấn đề này thì Bác Sĩ Bách cho biết cụ đã có hai người anh tham gia chính phủ Liên Hiệp với tư cách Bộ Trưởng rồi, đó là nhà văn Nhất Linh Nguyễn Tường Tam là Bộ Trưởng Ngoại Giao và nhà văn Hoàng Đạo Nguyễn Tường Long làm Bộ Trưởng Kinh Tế nên đảng Việt Quốc trao cho cụ trọng trách tổ chức nội bộ đảng. Nhưng cụ cũng cho biết trong công tác chính phủ hàng ngày cụ cũng tham gia với tư cách đại biểu của Việt Quốc, do đó cụ cũng nhiều lần trực tiếp gặp cụ Hồ Chí Minh và cụ Võ Nguyên Giáp cũng như các thành viên khác của Cộng Sản trong Quốc Hội và Chính Phủ.

Cả hai cụ đều là những nhân vật lãnh đạo cuối cùng của tổ chức của mình còn sống sót từ thời 1945 cho tới đầu thế kỷ 21. Bác sĩ Bách tuy khoảng hai năm cuối sức khỏe đã yếu, không đi lại được, nhưng tinh thần vẫn còn minh mẫn, vẫn còn trả lời những câu hỏi liên quan tới các hoạt động văn hóa của TLVĐ và các hoạt động vũ trang chống Cộng thời 1945 cho tới lúc cụ và lực lượng Việt Quốc thất bại phải bôn tẩu sang Trung Quốc năm 1946.

Trong hai, ba tháng cuối trước khi qua đời Bác sĩ Bách tuy còn tỉnh táo nhưng đã kém trí nhớ; cụ quên cả tên những người cháu tới thăm cụ, ngay cả tôi cụ cũng không nhớ tên, chỉ biết là cháu gọi bằng chú. Thời gian này chỉ kéo dài vài tháng và Bác sĩ Bách không phải trải qua giai đoạn dùng dụng cụ trợ sinh (life support) trước khi qua đời. Như thế Bác sĩ Bách đã có một sự ra đi mau mắn của người già, một điều mà những người già đều mơ ước. Đây là một may mắn cho cụ.

Cụ Võ Nguyên Giáp không may mắn bằng. Tuy “còn sống” nhưng nghe nói từ lâu cụ Giáp đã không còn biết gì hết, phải dùng dụng cụ trợ sinh (life support).

Là em út trong gia đình Nguyễn Tường, cụ Nguyễn Tường Bách đã là một trong những cây bút trẻ nhất góp mặt trong những số báo Phong Hóa đầu tiên của Tự Lực Văn Đoàn. Lúc đó cụ mới 17 tuổi, chưa xong trung học. Tôi hỏi cụ, “Lúc đó chú tới tòa báo với tư cách một chú em nhỏ tới chơi xem các anh của chú làm báo hay chú tới với tính cách ngang hàng của người cộng tác?” Cụ nói, “Tuy lúc đó chú nhỏ, nhưng chú tới với tính cách người cộng tác; chú viết mà.”

Tuy sau này khi từ giã gia đình ra đi làm cách mạng, Bác sĩ Bách ở hoàn cảnh một gia đình khá giả như chàng Dũng trong Đoạn Tuyệt hay Đôi Bạn, hai cuốn tiểu thuyết của Nhất Linh, nhưng khởi đầu cụ Bách sinh ra trong một gia đình nghèo. Có thể nói là cực nghèo (xem hồi ký về Gia Đình Nguyễn Tường của cụ Nguyễn Thị Thế, em gái cụ Nhất Linh). Tuy ông nội cụ làm tri huyện (tương đương quận trưởng hay chủ tịch huyện) Cẩm Giàng, nhưng qua đời đã lâu và gia đình trở nên túng quẩn. Bố cụ Bách lại hầu như cả đời không làm gì để nuôi gia đình. Mãi gần cuối đời bố cụ mới đi làm thông ngôn tòa sứ bên Lào. Theo gia phả bên họ Lê, tức bên họ mẹ các anh em Nguyễn Tường thì “ông Nhu làm thông ngôn ngạch tòa Công sứ”. “Ông Nhu” ở đây chính là bố của các cụ Nguyễn Tường. Bố các cụ không phải làm người bẻ ghi (người gác) ga xe lửa Cẩm Giàng như một số sách sau 1975 viết. Hồi ký của cụ bà Thế ở trang 48 cho biết bố các cụ làm thông ngôn cho ông Công Sứ Hải Tường một thời gian. Sau đó ông ta được đổi sang làm Công Sứ tỉnh Sầm Nứa bên Lào. Năm 1917, tình cờ gặp lại ông Công Sứ đó ở Hà Nội, ông Công Sứ mời bố các cụ sang làm thông ngôn cho ông ở bên Lào và ngày 31-8-1917 bố các cụ lên đường (hồi ký của cụ Thế trang 59). Nhưng bố các cụ chỉ làm được tám tháng thì qua đời vì bạo bệnh.

Kể từ đó gia đình 9 người gồm mẹ, 7 anh chị em và bà nội chỉ trông vào việc buôn gạo của mẹ cụ. Trong hồi ký VNMTKQ ở trang 8, cụ Bách viết, “Cảnh nghèo nàn thiếu thốn trong gia đình, dù mẹ tôi và bà tôi cố gắng xoay sở, cũng chưa giải quyết được vì đông con.” Trang 30, cụ lại viết về việc người con gái duy nhất trong gia đình, là chị Thế của cụ, không được đi học vì nhà nghèo, “Trong lúc gia đình khó khăn chị không được đi học nữa và về nhà giúp mẹ trong việc buôn bán…Chị cần cù đảm đương mọi việc trong gia đình, đã giúp đỡ không ít để các anh em yên tâm học hành, làm việc.”

Cảnh nghèo khiến nhiều năm gia đình Nguyễn tường không ăn tết. Trang 57 của hồi ký cụ Thế ghi, “Tết năm nay nhà không gói bánh chưng. Bà ngoại thấy tôi hỏi nhà cháu đã gói bánh chưa, tôi đáp thưa bà năm nay mợ cháu không có tiền nên không gói ạ.”Chẳng những không có tiền ăn tết mà mẹ các cụ có năm còn phải trốn nợ vào ngày cuối năm. Sau này vì lý do tuyên truyền chính trị, cộng sản lên án Tự Lực Văn Đoàn có cái nhìn xã hội của những kẻ thuộc giai tầng “bên trên” nhìn xuống.

Thực ra không phải vậy. Quan niệm xã hội của anh em Nguyễn Tường trong Tự Lực Văn Đoàn đã hình thành từ cái huyện Cẩm Giàng nghèo khổ, cực kỳ nghèo khổ mà gia đình Mẹ Lê trong truyện của Thạch Lam là điển hình và gia đình các nhà văn này cũng không khá hơn các gia đình nghèo trong phố huyện, nơi theo sự kể lại trong gia đình và trong các hồi ký, chỉ có mấy gia đình giầu là gia đình mấy “chú Tầu” chủ tiệm trên phố chính của huyện. Có thể nói vào thời đó, gần như cả huyện Cẩm Giàng đều nghèo như Nhà Mẹ Lê cho nên ngoài anh em nhà Nguyễn Tường không gia đình nào có con ra khỏi phố huyện sau khi “tốt nghiệp” sơ cấp (ba năm đầu của bậc tiểu học) để tiếp tục học cao hơn. Trong hồi ký VNMTKQ, ở trang 9, cụ Bách mô tả cái nghèo của dân huyện Cẩm Giàng, ” chung quanh, cảnh nghèo khổ, tiêu điều trong các gian nhà lụp xụp, cảnh chân lấm tay bùn của nông dân cặm cụi trên đồng ruộng lầm lội; những người chỉ có một cái khố che thân, cảnh chợ phiên lèo tèo…tất cả những cái đó đã ăn sâu vào trí óc chúng tôi. Về sau đã thúc dục chúng tôi muốn viết lên, muốn làm một cái gì để thay đổi tình trạng đó.” Bà chị gái của cụ, bà Thế, ở trang 53 hồi ký của riêng mình cũng ghi, “Xóm chợ gần nhà tôi toàn là người làm ruộng quê ở Hà Nam, Phủ Lý vì bị lụt lội không đủ sống nên đưa nhau đến đây. Đa số gia đình làm nghề đi kéo xe hoặc làm mướn như nhà bác Đối, đánh cá vớt tép như nhà bác Lê và còn nổi tiếng nghèo vì quá đông con.” Truyện ngắn Nhà Bác Lê nổi tiếng của Thạch Lam chính là dựa trên chuyện thực của gia đình bác Lê này. Và gia đình Nguyễn Tường cũng không khá hơn những gia đình trong xóm. Trong mấy tạp chí địa phương của Cẩm Giàng ngày nay, người dân địa phương cũng xác nhận cha ông họ thời trước 1945 thật là nghèo, không có tiền gửi con đi học ở bên ngoài phố huyện, nên toàn huyện không có người đỗ đạt, ngoại trừ mấy anh em nhà Nguyễn Tường. Cơ ngơi gọi là “Trang trại Nguyễn Tường, TLVĐ” tại Cẩm Giàng được tạo lập sau này, sau khi mấy anh em nhà Nguyễn Tường đã thành đạt ở Hà Nội, giúp mẹ trở về Cẩm Giàng lập trại để an dưỡng tuổi già (xem hồi ký về gia đình Nguyễn Tường của Nguyễn Thị Thế).

Anh em nhà Nguyễn tường sống trong hoàn cảnh gần như đáy cùng xã hội. Ở trang 54 cuốn hồi ký, cụ bà Thế viết tiếp, “Những năm mất mùa đói kém, xe kéo chẳng ai đi những gia đình này bữa cơm bữa cháo. Nhà tôi chưa phải ăn thiếu nhưng cũng chả giầu gì hơn họ.” Từ hoàn cảnh gần như đáy cùng xã hội đó, anh em Nguyễn Tường của cụ đã vươn lên qua sự thông minh và quyết tâm, và nhất là quyết tâm của một bà mẹ tuyệt vời. Trong hồi ký VNMTKQ, ở trang 30-31, cụ Bách vừa mô tả cái nghèo của gia đình vừa mô tả sự quyết tâm nuôi con ăn học của mẹ cụ qua đôi câu “cãi nhau” giữa mẹ cụ và Thạch Lam, ““Lâu nay không biết mày làm gì? Nhà đương túng bấn mà sao không mang được một đồng về? – Có lẽ vì anh bỏ trường rồi chưa làm việc gì. So với các anh lớn, có thể anh không làm cho mẹ vừa lòng lắm. Hai mẹ con cãi cọ một lúc, rồi không biết sao cả hai đều khóc. Ngạc nhiên, chúng tôi chạy ra ngoài. -Con xin lỗi mẹ, con sẽ đi làm.” Anh vừa nói vừa gạt nước mắt, trông cũng đáng thương. Chắc anh nghĩ rằng mình cũng chưa làm gì giúp mẹ. -Ừ thì mẹ cũng tha lỗi cho con. Nếu muốn đi học, thì dù thiếu thốn, cả nhà cũng sẽ giúp.””

Tất cả mấy anh em của cụ từ những năm đầu đi học đã học ở ngôi trường duy nhất, chỉ có bậc sơ cấp (3 lớp đầu bậc tiểu học) trong cái huyện Cẩm Giàng cực kỳ nghèo khổ đó. Như đã kể, dân huyện quá nghèo, không ai đủ điều kiện cho con cái theo đuổi sách đèn ở mức vượt khỏi lũy tre làng. Chỉ có mấy anh em cụ, nhờ quyết tâm của bà mẹ, là thoát khỏi sau bậc tiểu học để lên Hà Nội tiếp tục theo đuổi sách đèn. Mẹ các cụ, sau khi chồng mất, một mình phải lo kiếm tiền nuôi gia đình tổng cộng 9 miệng ăn kể cả mẹ chồng. Để vượt qua nhiệm vụ khó khăn đó, mẹ các cụ rất cương quyết, cho các con bỏ việc mặc áo tang cho hết sầu thảm, không khóc lóc để có tinh thần mà làm ăn. Ở trang 52 hồi ký cụ Thế, có ghi: ” Em Bẩy lúc đó mới có ba tuổi bà tôi cũng bắt đội khăn sô, tôi thì đầu chẳng có tóc cũng phải chít khăn như người lớn, quần may bằng vải chàm trông y mán vậy. Mẹ tôi bắt bỏ hết bảo chúng nó còn bé bắt để tang chi trông sầu thảm. Bà nội khóc thì mẹ tôi nói người chết đã yên phận rồi, bây giờ bà phải thương các cháu lo sao cho khỏi chết đói, để yên con phải lo buôn bán chứ cứ ngồi khóc hoài sao, người chết cũng chả sống lại được mà người sống thì chết đói.”

Mẹ các cụ là người bà mà thế hệ chúng tôi luôn ngưỡng mộ là một phụ nữ rất cứng rắn và cương quyết trong mục tiêu theo đuổi, nhưng lại rất dịu dàng với các con cháu. Mục tiêu theo đuổi cả đời của cụ là sự học của các con trai. Khi cụ mang cốt của phu quân từ bên Lào về chôn tại Cẩm Giàng, cụ mẹ chồng nghĩ phải tìm ngôi đất nào cho phát phú ngay chứ nghèo quá đi thôi (Hồi ký cụ Thế trang 64). Nhưng cũng chính trang hồi ký này ghi, “Thầy địa lý cho mời mẹ tôi tới bàn cãi bà muốn phát phú thì con cháu học dốt, hay quý và thọ thì nghèo, bà tính sao. Mẹ tôi nói ngay quý và thọ thôi chứ phú trọc mà làm gì.” Chẳng biết có phải nhờ ông thầy địa lý người Tầu đặt mộ hay không mà sau này mấy anh em ông đều phát Quí như độc giả đều biết (nhưng không phát Phú). Mặc dù nghèo gần như không đủ ăn, nhưng với chuyện học của các con thì cụ hết lòng, kể cả phải cho tiền mua sách từ bên Pháp về cho các con học. Và may mắn thay các con cụ đều học giỏi, người nào cũng từng nhiều lần đứng nhất lớp, nhất trường, hay nhất cuộc thi và cũng từng thi nhẩy hai lớp ở bậc trung học, rút ngắn được khá nhiều thời gian và tiền bạc. Trang 62 hồi ký của cụ Thế ghi, “Các anh tức lắm về bàn với mẹ tôi gửi mua bên Pháp đủ các thứ sách đem về học gấp. Năm sau đổi tuổi đi thi đậu thành ra đỡ được hai năm, đỡ tốn bao nhiêu công lao và tiền bạc. “

Mấy anh em của cụ rất quyết tâm và thông minh nên thường chiếm giải nhất hay học thi nhẩy lớp. Từ anh Cả, hầu như cụ nào cũng học nhẩy hai lớp (hồi ký cụ Thế trang 62). Trang 62 của cuốn hồi ký cụ Thế cũng ghi muốn học vượt lớp thì phải đổi giấy khai sinh cho thêm tuổi. Từ hồi bé, trong gia đình, nhiều lần tôi đã nghe chuyện tất cả các chú bác và bố tôi đều học giỏi nên phải khai thêm tuổi để đi thi, tôi thường thắc mắc làm thế nào để các anh em của bố tôi đổi tuổi? Mới đây, đọc kỹ trong hồi ký của cô tôi, ở trang 72, cụ Thế đã ghi, “Thỉnh thoảng chúng tôi lại sang chơi bên ấp Phiên Đình là ấp có ông lý trưởng đã đưa cả triện lý trưởng cho mẹ tôi muốn đóng vào đâu thì đóng. Chắc hẳn ông không thể ngờ được cái triện đó đã giúp cho mấy nhà văn nổi tiếng trong văn học sử sau này.” Hóa ra, để đổi tên, đổi tuổi của mấy anh em nhà Nguyễn Tường, bà nội tôi cứ lấy cái triện của ông lý trưởng ấp Phiên Đình, huyện Cẩm Giàng mà “ịn” vào giấy khai sinh mới do chính cụ làm lại là xong(?) Cụ Bách cũng nhẩy hai lớp, và thường được giải nhất cuối năm. Phần thưởng mang về phải chở bằng xe kéo. Nghe vậy anh em chúng tôi thấy thực dân Pháp tuy thế mà rất chuộng sự học, cho dù là sự học của dân bản xứ.

Việc học của cụ Bách thật buồn cười, và sự đối xử của mẹ cụ cùng các anh cụ đối với việc học của cụ cũng rất thoáng; có thể nói là quá thoáng so với cả tiêu chuẩn giáo dục gia đình bây giờ. Theo dõi việc học của cụ Bách ở bậc trung học thôi cũng giúp hiểu thêm về sinh hoạt của Tự Lực Văn Đoàn ngay từ buổi đầu ra báo Phong Hóa. Năm 1929 cụ Bách thi vào trường Bưởi và đỗ thứ 28 trong khi nhà trường chỉ lấy có 130 người trong số rất đông học sinh dự thi. Cụ đỗ cao nhờ bài Pháp Văn (hồi ký VNMTKQ trang 33 và 35).

Nhưng ngay trong ngày khai trường, cụ Bách đã cảm thấy một bầu không khí ngột ngạt, khó thở, mà cụ cho là bầu không khí thực dân. Ở trang 35 cụ viết, “Một bầu không khí thực dân…tôi nghĩ. Tôi liên tưởng đến những truyền đơn, báo bí mật và những tiếng đồn về các hội kín chống Pháp…Từ ngày ấy, đối với nhà trường, tự nhiên tôi đã không có thiện cảm.” Cuối cùng, sau khi mới lên năm thứ hai, tương đương lớp 7 ngày nay, cụ bỏ trường về Cẩm Giàng tự học thi Tú Tài Tây. Ở trang 41 hồi ký VNMTKQ cụ viết, “1931. Suy nghĩ vài tháng rồi, tôi lấy một quyết định mạo hiểm: bỏ học về nhà. Tôi sợ nói ra, mẹ tôi và các anh chị sẽ phê bình tới tấp và sẽ ngăn cản. Vì có ai dại mà bỏ đi một trường học tốt như vậy, không dễ thi vào. Và nếu tự học thì có làm nổi không, bằng Tú Tài đâu phải dễ lấy; mà tôi lúc này mới lên năm thứ hai.”

Gia đình cụ rất phóng khoáng, ngay cả trong việc học của con cái là việc quan trọng nhất trong mọi gia đình. Trang 44, cụ ghi nhận, “Khác hẳn với dự đoán của tôi, các anh tôi chẳng ai cho là việc đáng bàn, còn mẹ tôi sau khi do dự, cũng bằng lòng: “-Ừ thì mày về nhà mà học lấy. Nhưng phải chăm mới được.”

Năm 1933 cụ thi Tú Tài Tây phần thứ I và trượt. Tưởng cũng nên nhắc lại, năm 1929 cụ Bách mới thi đỗ vào năm thứ nhất trường Trung học Bưởi, tức là vào lớp 6. Năm 1931, ở năm lớp 7 cụ xin bỏ học để về Cẩm Giàng tự học. Thế mà năm 1933, tức là đáng lẽ mới hết lớp 9 (đệ tứ niên trường Bưởi) cụ đã đi thi Tú Tài Tây phần thứ nhất, tức là vượt 2 lớp (10, 11). Các anh em khác đều học vượt hai lớp như cụ. Mặc dù thi trượt nhưng cụ cũng đã đỗ phần thi viết, tức là đỗ các môn chính. Và cụ chỉ bị trượt vì vào vấn đáp môn Anh Văn. Anh văn cụ tự học nên phần phát âm sai hoàn toàn. Cũng trang 57 cụ kể, “gặp giám khảo hắc búa, bắt tôi đọc một một đoạn truyện “David Copperfield” của Dickens. Tôi gân cổ đọc, còn ông chỉ ngồi cười. Sau tôi mới hiểu, vì ông nghe chẳng hiểu gì hết với cái tiếng Anh lạ tại của tôi. Tất nhiên là trượt, về nhà học lại.” Đọc tới đây tôi lại nhớ tới kinh nghiệm của chính tôi. Năm 1962, tôi học đệ tam Hồ Ngọc Cẩn, Gia Định, thi nhẩy tú tài I, cũng đỗ thi viết, rồi vào vấn đáp cũng trượt vì vấn đáp tiếng Anh. Ông giám khảo nói tiếng Anh với tôi rằng, “tiếng Anh của anh khiến tôi thất vọng”. Như vậy chế độ thi cử của Pháp tuy khó về nội dung nhưng lại rất mềm dẻo về thủ tục, học sinh muốn thi là nộp đơn thi, không cần học bạ gì cả. Nhưng tại sao lại có vấn đề giới hạn tuổi đi thi thì tôi chưa tìm hiểu được. Tới thời Việt Nam Cộng Hòa thì thủ tục có khó hơn một chút, là muốn thi Tú Tài I thì phải có giấy đã học lớp 11 của một trường tư hay của bất cứ một tư nhân nào có bằng cử nhân chứng nhận. Việc chứng nhận chỉ cần ký tên rồi mang công chứng chữ ký, thủ tục không quá vài phút. Chế độ thi cử hiện nay thủ tục không được dễ như vậy, chặt chẽ hơn, nhưng trình độ học sinh lại kém hơn nhiều.

Một điều đáng ghi nhận là chính cái năm thi trượt Tú Tài phần I (hè 1933), tức là đáng lẽ mới học lớp 9, cụ Bách đã bắt đầu tham gia viết báo, làm thơ trên tờ Phong Hóa. Ở trang 57 hồi ký VNMTKQ, cụ viết: “Năm đó, thi bằng Tú Tài phần thứ nhất, tôi đã “trượt vỏ chuối,” tuy đã cuốc bở hơi tai trước kỳ thi.” Ở trang 58, cụ Bách viết tiếp, “Thế là lại phải cuốc một năm nữa…Cũng may, năm ấy, tôi bắt đầu bước vào nghề viết báo, làm thơ, nên thì giờ cũng dễ trôi qua.”

Năm sau, 1934 cụ mới đỗ Tú Tài Tây phần I nhờ ông giám khảo thi vấn đáp tiếng Anh không quá khó. Như vậy sau hai năm học trong trường và ba năm tự học vất vả mới đỗ được Tú Tài Tây phần thứ I, cụ thấy không tự học được nữa mà phải vào trường. Và cụ không trở lại trường Bưởi mà xin vào trường tây Albert Sarraut. Ở trang 55 hồi ký VNMTKQ cụ kể: “Một cách chật vật, tôi cũng qua được phần thứ nhất bằng Tú Tài Tây…Nhưng phải đối diện với phần thứ hai làm sao đây? Theo ý kiến của các bạn, muốn ăn chắc, nên xin vào học trong trường Trung Học Albert Sarraut.” Ông viết tiếp, “Mùi thực dân của trường này tất sẽ nặng nề, nhưng đành phải chịu.”

Ông giỏi triết và học thi Tú Tài Triết. Trang 59 ông kể, “Vì trước kia, tôi đã ưa đọc những sách triết học, nên được giáo sư dạy môn triết mến, những tác văn của tôi thường thường ông chỉ sửa chữa rất ít và khuyến khích.” Trong nói chuyện riêng tư cụ kể nửa năm đầu cụ vất vả vì tiếng Pháp thua đám học sinh gốc của trường và thua đám tây, đầm. Nhưng nửa năm sau thì cụ vượt lên đứng đầu. Cụ viết ở trang 55 hồi ký VNMTKQ: “Cuối năm, dù không dốc hết sức để ôn tập các bài vở, nhưng may mắn tôi cũng được giải nhất trong lớp và tương đối dễ dàng qua được phần thứ hai bằng Tú Tài…” Vị giáo sư Triết người Pháp rất thích cụ và cứ ngỡ sau này cụ sẽ theo ban triết trên đại học.

Như vậy cụ đỗ Tú Tài phần II vào năm 1935. Nhưng tại sao, mặc dù học giỏi, mãi 9 năm sau, năm 1944, cụ Bách mới đỗ Bác sĩ. Từng có nhiều dịp gần gũi cụ mà chúng tôi không để ý tới chi tiết này để hỏi. Thời gian này gia đình cụ đã vươn lên tới mức bề ngoài cũng không thua kém gia đình nào; mấy anh đầu đã đi làm có chức phận. Đặc biệt anh Tam của cụ (Nhất Linh) đã tốt nghiệp cử Nhân khoa học ở Pháp về và thành lập báo Phong Hóa.

Tuy gia cảnh đã thăng tiến cả về kinh tế lẫn tiếng tăm, nhưng cụ Bách lúc nào cũng đau nỗi đau “không duyên cớ” của chàng Dũng trong Đoạn Tuyệt & Đôi Bạn, hai tác phẩm của Nhất Linh được giới trẻ thời đó ưa thích. Cái nỗi đau không rõ ràng vì không liên hệ trực tiếp tới cuộc sống của bản thân và gia đình mình. Nhưng lúc nào cụ cũng suy nghĩ, muốn làm một cái gì đó…không rõ ràng. Có thể nói, tâm trạng của cụ Bách lúc đó là tâm trạng chung của giới trẻ ở cái thời có nhiều cuộc chuyển mình của đất nước từ sau cuộc khởi nghĩa bất thành đưa tới đoạn đầu đài của lãnh tụ Nguyễn Thái Học và 12 đồng chí của ông trong Việt Nam Quốc Dân Đảng. Cái tâm trạng đó chắc chắn cũng là tâm trạng của Nhất Linh từ thời rất trẻ và ông đã đưa được vào văn chương. Tất cả những điều này đã được cụ Bách mô tả ở trang 32 hồi ký VNMTKQ: “Sau 1925, là một giai đoạn rung động mạnh trong xã hội Việt Nam và cũng rung động đến cả tầng lớp học sinh nhỏ…Những tiếng đồn về các hội kín chống Pháp, về những truyền đơn bí mật như tờ “Hồn Nước”, in bằng thạch mà chúng tôi truyền nhau đọc, những cuộc bãi công, biểu tình, cái tên Nam Đồng thư xã v.v… đều ít nhiều khơi dậy lòng yêu nước của những tâm hồn trẻ thơ.” Và rồi cụ thể hơn, cụ viết rằng, chính cái đêm khởi nghĩa của Nguyễn Thái Học và Việt Nam Quốc Dân Đảng mà các anh em cụ chứng kiến, hồi hộp theo dõi tại Hà Nội đã ảnh hưởng và tạo nên Nhất Linh và Tự Lực Văn Đoàn sau này. Ở trang 37 hồi ký VNMTKQ, cụ Bách viết, “Một ngày tháng 2 năm 1930. Buổi tối, độ chín mười giờ…Bà, mẹ tôi đã đi ngủ. Nhớ lại còn ngồi trên gác đọc sách có anh Tam (Nhất Linh), anh Sáu (Thạch Lam) và tôi. Anh Cả đi làm ca đêm vắng nhà. Chung quanh im lặng. Bỗng đột ngột, vẳng từ xa đến mấy tiếng nổ, xem ra lớn hơn tiếng súng thường. Tiếng gì đây? mọi người sửng sốt. Súng? Bom, tạc đạn? Trong thời kỳ bất thường này chúng tôi nghĩ ngay tới một cuộc nổi dậy. Anh Tam chạy ra phía cửa sổ, hé mở cánh cửa nghe ngóng. Vài tiếng nổ thêm, lác đác. Trong thâm tâm, chúng tôi hi vọng đây sẽ là một cuộc tấn công lớn của cách mệnh; đều khát vọng cuộc khởi nghĩa sẽ đưa tới chấm dứt sự thống trị hung tàn của thực dân, dành được độc lập tự do cho dân tộc. Tiếng nổ hình như vọng tới từ trên, phía bờ sông. Nhưng rất nhanh, im lặng lại trở lại…Anh em chúng tôi chờ đợi một thời gian, không thấy có động tịnh gì khác, lại đặt mình xuống giường. Không ai nói với ai một câu nào, những đều biết là suốt đêm trằn trọc không ngủ được. Có lẽ ai cũng đã cảm thấy thất vọng sâu xa…Mặc dầu thất bại, nhưng tấm gương anh hùng ấy vẫn luôn in mãi trong trí óc anh em chúng tôi.” Và ở trang 39, cụ kết luận về ảnh hưởng của cái đêm “cách mạng Nguyễn Thái Học” đó đối với xã hội nói chung và đối với TLVĐ sau này như sau, “Tinh thần này không những sẽ phản ảnh trong các cuộc cách mệnh sau này, mà còn sẽ phản ảnh về các lãnh vực văn hóa, xã hội. Nếu không có tinh thần này, thì nói riêng, cũng sẽ không có Nhất Linh, Phong Hóa, và Tự Lực Văn Đoàn.”

Lược qua tình hình vừa nêu, người ta có thể hiểu tại sao cụ Bách lúc đó tuy học trường Tây nhưng nỗi đau “vô cớ” vẫn ám ảnh khôn nguôi. Tình yêu và lý tưởng luôn luôn là cuộc sống và nỗi ám ảnh của tuổi trẻ. Với cụ Bách cũng vậy. Cụ Bách trẻ, đẹp trai, tài hoa, chơi nhạc hay, khiêu vũ giỏi, học cũng giỏi, lại thuộc gia đình đang nổi tiếng vì thành lập được nhóm TLVĐ, dĩ nhiên không thiếu cô mê. Trong mấy cô gái trẻ có một cô cùng lớp mà tới những ngày cuối đời mới đây, khi tới thăm cụ, tôi vẫn được nghe cụ nhắc lại. Cô ta là đầm lai, học cùng lớp. Mỗi chiều tan học cô ta thường đạp xe theo cụ trên đường về. Thời đó “Hà Nội Ba Mươi Sáu Phố Phường” (tên của Hà Nội do Thạch Lam đặt) còn yên tĩnh với những con đường chìm dưới hai hàng cây, với Hồ Gươm lóng lánh bên hàng liễu rủ, biểu tượng của thủ đô ngàn năm văn vật, với Nghi Tàm, Quảng Bá, hai tụ điểm của trai thanh gái lịch vào mỗi cuối tuần, với những nam thanh nữ tú ngày ngày đạp xe đạp từ từ dong duổi trên các ngã đường. Hà nội của những năm xưa đó chưa có khói xe, chưa có kẹt đường. Hà Nội của mơ và mộng. Bây giờ mỗi khi nói tới một Hà Nội thời êm ấm đó nhiều người Hà Nội trung niên trở lên thường nói, “Hà nội thời Tự Lực Văn Đoàn”. Nhưng chàng thanh niên Nguyễn Tường Bách lúc nào cũng u-uẩn một tâm trạng. Trong đáy cùng tâm khảm, chàng tuổi trẻ Nguyễn Tường Bách luôn có một “chàng Dũng”, sau này xuất hiện trong Đoạn Tuyệt và Đôi Bạn. Không phải chỉ có cụ là có tâm trạng của chàng Dũng. Nhất Linh cũng vậy. Đã có một thời Nhất Linh trên đường lưu vong làm cách mạng đã đổi tên Nguyễn Tường Tam thành Nguyễn Tường Dũng để che dấu tung tích. Trong hồi ký VNMTKQ trang 140 cụ Bách kể: “Anh Tam lúc này lấy tên là Nguyễn Tường Dũng (đúng như tên anh chàng Dũng trong truyện Đoạn Tuyệt), bị giam vào một hang đá gần Liễu Châu…” Về cô đầm lai đó, cụ đã nói với tôi, “Cuối cùng chú nghĩ không thể yêu cô ta được, vì cô ta là đầm lai”. Và từ đó cụ cắt đứt liên hệ với cô ta. Tuy cũng như Dũng của Đoạn Tuyệt, lúc đầu chưa biết phải làm gì, nhưng việc đầu tiên đối với cụ Nguyễn Tường Bách là phải cắt đứt một “mối tình mới chớm”, chỉ vì cô ta có máu Tây.

Thế là con đường trước mặt của chàng Dũng Nguyễn Tường Bách đã khá được định hình: phải tìm cách đưa đất nước thoát vòng nô lệ thực dân Pháp. Cũng như Dũng đã giã từ Loan, dù chàng rất yêu, để lên đường làm một điều gì đó cho quê hương, chàng Dũng Nguyễn Tường Bách cũng cắt đứt một mối tình mới chớm để khởi đầu một con đường mới cho dân tộc. Ở hoàn cảnh của Cụ Bách, với 3 người anh đang mở tuần báo Phong Hóa cũng với ước vọng phải làm cuộc đổi mới cho quê hương, thì con đường hợp lý nhất và khả thi nhất đối với chàng Dũng Nguyễn Tường Bách là gia nhập cùng nhóm Phong Hóa với các anh để dùng tài văn chương của mình, qua các phóng sự, qua các bài viết, cho độc giả thấy được những nét đẹp về nước non và văn hóa dân tộc cùng những cảnh “Bùn Lầy Nước Đọng”, những cảnh khốn cùng của người dân nô lệ để từ đó mỗi người dân tự ý thức phải tìm một con đường cứu nước. Tự Lực Văn Đoàn đã khởi đi như thế; và chàng Dũng Nguyễn Tường Bách cũng khởi đi như thế.

Cụ Bách có tài văn chương và cụ mê văn chương. Cụ đã có những bài phóng sự hay. Cụ đã có ít ra là một truyện ngắn viết về một đêm Giao Thừa ở nhà thương thực cảm động. Khi hỏi về truyện ngắn này cụ Bách không còn nhớ. Tám mươi năm rồi còn gì! Tôi và Bác sĩ Nguyễn Tường Giang, con trai thứ của Thạch Lam trong nhiều lần nói chuyện với cụ có hỏi, “Tại sao chú không vào TLVĐ?” Cụ trả lời, “Vào TLVĐ đối với chú thì không khó, nhưng lúc đó việc vào TLVĐ đâu có quá quan trọng.” Chúng tôi hỏi tiếp, “TLVĐ lúc đó chưa nổi tiếng à?” Cụ cho biết, “Lúc đó TLVĐ cũng nổi tiếng rồi chứ, nhưng đâu ngờ nổi tiếng như sau này.”

Cụ có khiếu viết văn và thích viết văn. Vả lại cụ thích đọc sách triết và giỏi về triết mà. Cụ viết văn ở tuổi rất nhỏ. Ở trang 32 cuốn hồi ký, cụ viết: “qua việc đọc những tác phẩm thời ấy, tôi cũng thấy ngứa tay, và viết bừa ra mấy truyện ngắn khi còn 11, 12 tuổi.” Cụ cho biết cụ thích viết văn hơn làm bác sĩ nhưng cụ phải học đại học. Không thích nghề bác sĩ lắm nhưng cụ cho biết lúc đó toàn 3 nước Đông Dương (Việt, Miên, Lào) chỉ có một đại học Hà Nội. Mà đại học Hà Nội ngoài phân khoa Canh Nông cụ không thích thì chỉ còn lại có hai phân khoa Luật và Y. Cụ không thích Luật, học luật thời đó đa số chỉ để ra làm quan, quan huyện (quận trưởng) chẳng hạn. Tất cả các anh em cụ mặc dù có thừa điều kiện để đi vào quan trường nhưng không ai thích làm quan. Ở trang 29 hồi ký cụ viết: “Trong anh em chúng tôi, không ai thích làm quan, và cũng không thích quan. Chúng tôi không thích quan liêu, quyền quý, cũng như trọc phú chỉ biết trục lợi; không thích triều đình phong kiến và những kẻ cộng tác với bọn thực dân.”

Và thế giới quan-trường đã bị một trong các tác giả của TLVĐ là Khái Hưng chỉ trích trong tác phẩm “Gia Đình”. Như vậy cụ chỉ còn một con đường là học Y để ra làm bác sĩ. Cụ phải học bác sĩ nhưng cụ cũng luôn đau khổ vì không thích nghề này. Trong hồi ký VNMTKQ ở trang 97, cụ viết: “Trong đời tôi, có lẽ một sự lầm lẫn trong nhiều lầm lẫn khác, là việc vào học y khoa. Lấy nó làm một cái cần câu cơm hạng tốt, không hơn không kém. Vì tôi cũng như một số bạn hữu khác, lúc mới vào học, rất ít nghĩ đến tính chất “cứu nhân độ thế” hay là những câu châm ngôn của Hippocrate.” Nhưng dù sao, nghề y đã cứu cụ và gia đình cụ trong suốt gần 40 năm lưu vong bên Trung Cộng. Cụ cho biết chính nghề Y đã giúp cụ và gia đình tồn tại tương đối nhàn hạ và bình an hơn các người dân Trung Hoa cùng thời tại địa phương trong suốt mấy chục năm kẹt lại tại Trung Cộng. Đặc biệt, cụ kể, trong thời kỳ Cách Mạng Văn Hóa tại Trung Cộng (1966), những đồng nghiệp hay xếp của cụ bị Hồng Vệ Binh bắt mang đi diễu phố và đánh đập tàn nhẫn, thương tật, không ai giám cứu giúp, thì cụ, vì có qui chế ngoại kiều, nên không bị Hồng Vệ Binh hành hạ, do đó cụ có cơ hội kín đáo cứu chữa những người bị đánh đập. Sau này những người đó trở lại nắm quyền đều nhớ ơn cụ.

Khi hai chúng tôi hỏi sao cụ không tiếp tục vừa viết văn vừa học Y khoa thì cụ cho biết học y khoa rất bận rộn. Vào những năm chót y khoa thì tình hình chính trị lôi cuốn nên cụ càng bận rộn hơn. Đó là lý do cụ chấm dứt con đường văn chương ngoài việc sau khi đã tốt nghiệp y khoa cụ làm chủ nhiệm rồi chủ bút mấy tờ báo của Việt Quốc trong những năm đầu của cuộc tranh chấp Quốc Cộng 1945. Hồi ký của Hứa Bảo Liên ở trang 65 và 67 ghi rằng sau khi chế độ thực dân Pháp bị xụp đổ, tờ Ngày Nay bộ mới ra đời với cụ làm chủ nhiệm. Sau đó tờ này bị đình bản, tờ Bình Minh ra đời cụ lại làm chủ nhiệm. Không lâu sau tờ này lại bị đình bản, tờ Việt Nam Thời Báo ra đời, cụ làm chủ bút. Trong những tờ báo này chủ yếu cụ viết bình luận chính trị. Chẳng bao lâu sau, tờ Việt Nam Thời Báo lại bị đình bản, tờ Việt Nam ra đời. Tờ này là cơ quan ngôn luận của Việt Nam Quốc Dân Đảng đối chọi với tờ Cờ Giải Phóng của Việt Minh, cụ lại được anh em cử làm chủ nhiệm với sự cộng tác của các tác giả Khái Hưng, Hoàng Đạo. Hàng ngày cụ phải đọc kỹ tờ “Cờ Giải Phóng” của Việt Minh để đối chọi những quan điểm bất đồng. Ở trang 68, tác giả Hứa Bảo Liên (nàng Loan của Nguyễn tường Bách) viết tiếp, “Đầu năm 1946, anh Bách ở luôn nhà báo cho tiện làm việc. Mỗi khi ra ngoài phải có người bảo vệ. Anh bận rộn đến nỗi tóc không cắt, râu không cạo, đầu tóc bờm xờm như người “vô gia cư”.

Trụ sở của mấy tờ báo này chính là trụ sở của TLVĐ, số 80 Quan Thánh Hà Nội (hiện nay tòa nhà to lớn này vẫn còn mang số cũ và có nhiều người cư trú, nhưng không ai biết đó là căn nhà gắn liền với những biến động văn hóa và lịch sử đất nước của một thời gian gần 15 năm cho tới 1946 khi Bác sĩ Bách chỉ huy lực lượng vũ trang Việt Quốc rút lui khỏi Hà Nội lên chiến khu của Việt Quốc ở Vĩnh Yên.

Trong thời gian sinh hoạt văn nghệ với TLVĐ cụ Bách thân với một số những cây bút trẻ như Huy Cận, Xuân Diệu…và đặc biệt cụ hay nhắc tới nhà thơ Huyền Kiêu, một nhà thơ to, khỏe và nghèo, là người bạn thân nhất của cụ. Cụ Bách đã phù rể trong đám cưới của Huyền Kiêu. Tường Bách, Đinh Hùng, và Huyền Kiêu là ba trong số những người trẻ nhất trong đám văn hữu thân cận TLVĐ. Trong số những người văn nghệ sĩ trẻ kia có thể kể thêm Xuân Diệu và Huy Cận. Đinh Hùng đã gọi nhóm 3 người bạn thân này là “ba tiểu quỷ”. Có một giai thoại về Huyền Kiêu do Đinh Hùng kể, mà nghe qua vừa thấy bùi ngùi, vừa thấy được hết cái tình cảm thân thương của anh em văn nghệ sĩ thân cận với TLVĐ, vừa thấy được phần nào, cái “bề sâu” của TLVĐ. Giai thoại đó có tựa, “Khái Hưng và Nhất Linh trong thơ Huyền Kiêu” do nhà văn Quốc Nam thuật lại lời Đinh Hùng như sau (1):

Huyền Kiêu vốn là bạn thân thuở nhỏ của Đinh Hùng, ở Hà Nội … Là hàng xóm, gần nhà Thạch Lam nơi phường Trúc Bạch, tôi thường ghé thăm Thạch Lam, bàn chuyện thơ văn rất lấy làm tương đắc. Và rồi tôi dẫn Huyền Kiêu lại giới thiệu: “Huyền Kiêu, một nhà thơ rất có triển vọng! Tên thực anh ta là Bùi Kiều. KIÊU HUYỀN KIỀU! Huyền Kiêu, giản dị vậy!”

Thạch Lam cười xòa, vui vẻ dẫn hai bạn … thơ vào thư phòng trò chuyện. Nơi cư trú của gia đình nhà văn Thạch Lam, trong Tự Lực Văn Đoàn, là một ngôi nhà tranh đặc biệt, cất theo kiểu Nhà Ánh Sáng, do phong trào Nhà Ánh Sáng mà báo Ngày Nay phát động từ mấy năm trước. Có phòng khách, phòng ngủ, với đầy đủ tiện nghi …Tuy là nhà lợp tranh, vách bằng đất bùn nhồi rơm, láng xi măng, quét vôi sáng sủa, ngôi nhà trông thật bề thế vì vẻ cao ráo, thoáng mát của nó. Nhất là ở cạnh Hồ Tây quanh năm thoáng mát. Có vườn hoa trồng đủ cây cảnh lạ, đẹp. Một thú chơi tao nhã của tác giả “Hà Nội Băm Sáu Phố Phường”…

Một bữa vào cuối hè sang thu, Thạch Lam nhắn chúng tôi (vẫn lời Đinh Hùng) đến nhà anh dùng bữa cơm tối. Theo thông lệ, chúng tôi đến sớm, ngồi nơi vườn hoa, ngắm cảnh chiều tà trên gương hồ bát ngát … “gió rung trăng”. Thật thế đấy, nhằm đầu tháng ta, trăng mọc sớm, lơ lửng dưới làn nước trong; từng cơn gió nhẹ lướt mặt hồ, rung động …
Thạch Lam cười vui: 
– Huyền Kiêu làm thơ đi! Nếu cần, tớ gà cho. 
Tôi chẳng mấy ngạc nhiên, vì đã hơn lần được nghe Thạch Lam nói chuyện về Thơ, phẩm bình về các trường phái Thơ …
Tuy nhiên Huyền Kiêu vốn khiêm tốn, chỉ ậm ừ, cười bảo: 
– Để lát nữa. Có lẽ sau bữa cơm tối nay, trong lúc tửu hậu trà dư … chúng mình thơ thẩn … 
– Được lắm! 
Đúng lúc, có tiếng chị Thạch Lam gọi. Và Khái Hưng, Nhất Linh ở đâu tới, cũng ào ra vườn. Một lát lại có cả Thế Lữ nữa. 
Chủ nhà nhìn mọi người, khắp lượt, bảo: 
– Quần hùng tề tựu gần đủ. Thôi mời quý vị vào dùng bữa, kẻo nguội cả. 
Vào nhà thì đã thấy Nguyễn Tường Bách ở đấy từ bao giờ…

Cơm xong, chuyện vãn khá lâu. Mãi khuya đêm Nhất Linh mới bảo, vẻ thật trịnh trọng: “Lát nữa tôi sẽ phải rời xa các anh em, nên có thể đây là một đêm họp mặt để tạm biệt. Chuyến hành trình này sẽ không lâu đâu. Chúng ta sẽ còn gặp lại nhau. Bây giờ chúng ta có thể chia tay nhau được rồi. Riêng tôi, tôi còn có điều nói riêng với anh Khái Hưng, vậy các bạn ra vườn chơi, hoặc đi ngủ. Thành thật cảm ơn tất cả…”
Tôi nhớ đại ý thế, vì đã quá lâu ngày. Mọi người đều buồn nhưng không ai lên tiếng – không có can đảm lên tiếng hỏi, vì đều biết Nhất Linh là người hoạt động cách mạng. Đã đến lúc phải “mạnh tay” với thực dân Pháp, chứ không còn ở giai đoạn làm văn hóa để nâng cao dân trí người mình nữa …
Ba đứa tôi cùng kéo nhau ra vườn, ngồi nghe cá quẫy, nhìn trăng vời vợi. Có lẽ Thế Lữ đã về nhà gần đấy. Quanh quẩn vẫn chỉ có Huyền Kiêu, Thạch Lam và tôi thôi. Và Thạch Lam, lại chính là Thạch Lam, khơi mào sau khi đã nghĩ lung:
– Thơ … ra rồi! Này, hãy nghe đây! và anh đặng hắng, ngâm:
“Hiu hắt giăng khuya lạnh bốn bề …”
Đấy câu mở đầu đấy! Huyền Kiêu hãy làm tiếp đi! 
Huyền Kiêu và tôi ngơ ngác. Tôi không rõ vì sao bữa nay Thạch Lam lại nhiều … thi hứng đến thế.
– Được! Huyền Kiêu nói. “Hiu hắt giăng khuya lạnh bốn bề …” Ờ, được đấy. Và anh ngẫm nghĩ. Câu mở của Thạch Lam thật tuyệt. Nó gợi ý cho tôi về một cái gì có thể gọi là …”cổ kính”. Một đêm tiễn đưa nhau chẳng hạn. Hệt đôi bạn Khái Hưng và Nhất Linh trong đêm khuya nay … trước giờ ly biệt.
– A, khá! Thạch Lam cười. Anh nắm bắt được ý thơ rồi đấy. Vậy cứ thế mà tiếp nối. Tôi vào nhà đem trà nóng ra đây nhá. Nhân thể coi xem họ ra sao?
Một lát sau Thạch Lam đem bình trà và tách ra, bảo:
– Anh ba tôi và Khái Hưng im lìm ngồi trong thư phòng. Cả hai đều không nói năng gì cả. Phòng không đèn đóm nên bóng tối chan hòa. Ánh trăng mờ tỏ … Có con mèo tam thể tôi nuôi quyện dưới ghế Nhất Linh ngồi. Bên cửa sổ sát vách tường, bức liễn trúc treo rung động dường như cảm thông cho đôi bạn đang nhấp chén rượu suông trong phút giờ sắp ly biệt …
Tôi chợt lên tiếng: 
– Buồn thật. Mà cổ nhân cũng đã từng than: “Ôi! biệt ly sao mà buồn thế!” thật là chí lý.
Chúng tôi uống trà. Trăng vừa lặn. Gà rền tiếng gáy phía xa. Sao dần rơi … dần rơi và tôi chợt thấy lành lạnh.
Vẫn không thấy chút động tĩnh gì nơi Khái Hưng và Nhất Linh ở trên nhà. Tôi cảm nghĩ trong giờ phút thiêng liêng ấy, ta không nên vọng động. Cũng đừng hỏi han gì cả. Trời sắp sáng rồi.

Và quả thật, ở bên Hồ Tây bữa ấy, trong sân nhà Thạch Lam, ba đứa chúng tôi đều rất dè dặt, hạn chế từng câu nói, tiếng cười. Trong khi ấy Huyền Kiêu thầm lặng “làm việc”: suy tư về ý thơ và ý nghĩa của sự chia tay của đôi bạn văn Tự Lực Văn Đoàn.
Chợt Huyền Kiêu nói:
– Tôi thử đọc cho các anh nghe. Bài thơ nhan đề “Tương Biệt Dạ”. Hay, dở tùy nghi Thạch Lam và Đinh Hùng giúp sửa lại. Và anh khe khẽ ngâm sau khi dục Thạch Lam vào nhà lấy giấy bút ghi tốc ký, bất kể trời vừa sập tối lại vì trăng đã chẳng còn… Tình bạn thơ – văn giữa chúng tôi thắm thiết là thế đó.

Tương Biệt Dạ

Hiu hắt giăng khuya lạnh bốn bề 
Ý sầu lên vút tới sao Khuê 
Quý thay giây phút gần tương biệt 
Lưu luyến người đi với kẻ về.

Ngồi suốt đêm trường không nói năng 
Ngậm ngùi chén rượu ánh vừng giăng 
Người xưa lưu luyến ra sao nhỉ 
Có giống như mình lưu luyến chăng?

Đã tắt lò hương lạnh phím đàn 
Thư phòng sắp sẵn để cô đơn 
Trời cao mây nhạt ngàn sao rụng 
Một giải sương theo vạn dặm buồn

Sớm biệt ly nhau không nhớ nhau 
Nửa đêm chợt tỉnh bỗng dưng sầu 
Giăng mùa Xuân đó, ai tâm sự? 
Anh đã xa rồi, anh biết đâu?

Bài “Tương Biệt Dạ” của Huyền Kiêu, sáng tác vào chớm thu năm Canh Thìn – 1940, chỉ mấy tháng sau là bước sang năm Tân Tỵ – 1941… Khi hoàn thành bài “Tương Biệt Dạ”, vào nhà thì Nhất Linh đã lên đường từ lúc nào rồi …

Trong giới sinh viên tích cực hoạt động bí mật chống Pháp cụ Bách thân với cụ Dương Đức Hiền, lúc đó làm chủ tịch Tổng hội Sinh viên, sau này là chủ tịch Đảng Dân chủ. Hai cụ Nguyễn Tường Bách và Dương Đức Hiền cùng trong đảng Đại Việt Dân Chính do Nhất Linh thành lập. Trong hồi ký, ở trang 123, tình bạn của hai cụ được cụ Bách mô tả như sau: “Một buổi tối sau, có người lên gác trọ tìm tôi. Nhìn rõ, mới biết là anh Dương Đức Hiền. Chúng tôi vui mừng xiết tay nhau…cả hai đều chưa bị khó dễ. Anh Tam (ghi chú của người viết: tức Nhất Linh) vẫn mất tích. Sau có tin báo là anh đã trốn ra ngoài nước, đi Quảng Châu. Hai chúng tôi đồng ý tạm thời hãy nằm im, xem tình thế biến chuyển ra sao.”

Nhưng rồi chẳng bao lâu sau, vì khác chính kiến, tình bạn thắm thiết đó tan rã. Trong hồi ký của Hứa Bảo Liên, trang 64 ghi lại mối quan hệ chặt chẽ giữa cụ Bách và Cụ Dương Đức Hiền. Tác giả cuốn hồi ký viết, “…có người bạn anh Bách là anh Dương Đức Hiền tỏ ý muốn gặp anh Bách để bàn chuyện. Hiền trước kia là bạn cùng một chí hướng và cùng tham gia vào một tổ chức quốc gia. Sau này tổ chức bị Pháp khủng bố, qua một thời gian sau đó, anh ta tham gia vào phong trào Việt Minh và sáng lập đảng Dân Chủ.”

Một cách chi tiết hơn, trong hồi ký VNMTKQ ở trang 153 cụ Bách thuật lại: “Một hôm, vào tháng 6, tôi đương ngồi sửa bài tại tòa soạn thì ở dưới đưa lên một người lạ mặt. Anh ta bảo có thư riêng của một người bạn thân nhờ đưa đến. Rồi anh rút từ ống giầy ra một tờ giấy mỏng. Dưới ký tên một người mà tôi cũng không ngờ đến: Anh Dương Đức Hiền. Đã hơn một năm, tôi không được nghe tin tức gì về anh.” Trong thư cụ Dương Đức Hiền trước cùng đảng Đại Việt Dân Chính với cụ Bách nhưng nay đã đại diện Việt Minh, hẹn gặp để bàn luận việc cộng tác chung. Cụ Bách và cụ Khái Hưng được đề cử đi gặp cụ Dương Đức Hiền. Nơi gặp cách Hà Đông độ năm cây số. Cụ Bách viết tiếp, “Chúng tôi đạp xe gần tới Hà Đông thì rẽ vào một con đường nhỏ, lầy lội, có khúc phải vác cả xe lên vai, lội bùn mà đi. Gần đến bờ sông Nhuệ, tới một tòa miếu cổ, thì thấy một người mặc quần áo nâu ra đứng đợi. Tuy quần áo khác, nhưng vẫn nhận ra được anh Hiền, gầy hơn, mặt đen sạm, nhưng hai hàm răng lại quá trắng, chẳng cần là mật thám cũng biết đây là một nông dân giả hiệu.

Chúng tôi ngồi trên thềm miếu, nhìn xuống giòng sông Nhuệ nhỏ nước chảy êm đềm, trông hao hao giống con sông Sen ở quê nhà. Chung quanh vắng không có bóng người, chỉ có một người ngồi sau miếu, có lẽ là một tay súng hộ vệ.

Sau vài lời hàn huyên, anh cho biết là đã gia nhập vào Việt Minh, với tư cách lãnh đạo đảng Dân Chủ, và khuyên chúng tôi cùng các anh em Đại Việt Dân Chính khác cũng nên tham gia Việt Minh, không nên đứng lừng khừng nữa. Anh cầm tờ Ngày Nay trong tay, phê bình chủ trương của nó không triệt để, không cách mạng theo đường lối công nông. Anh nói Việt Minh nay đã phát triển mạnh, có căn cứ quân sự, được Đồng Minh ủng hộ…Chúng tôi chỉ nghe, không giải thích gì. Có lẽ vì thế mà anh thất vọng, rằn giọng nói,

-Nếu các anh cứ lừng khừng như thế mãi, thì có ngày Nhật sẽ beng đầu các anh, mà nếu không thì cách mạng sẽ beng đầu các anh!” Cụ Bách và Khái Hưng hơi ngạc nhiên, vì lời dọa dẫm lại do một đồng chí cũ đưa ra. Hai cụ chỉ cười, đưa mắt nhìn nhau. Cuối cùng cụ Bách đáp, “Cách mạng Việt Nam thì có nhiều con đường để đi, không nhất định là phải tham gia vào Việt Minh. Song về việc hợp tác, chúng tôi sẽ về bàn với các anh em rồi sẽ trả lời sau.”

Cuộc hẹn gặp lại sau đó một tuần đã không thành, vì Cụ Hiền nhắn là cụ phải đi lên miền trên có việc cần và sẽ liên lạc lại sau. Hai bên không gặp lại cho tới mấy tháng sau, bất ngờ cụ Bách lại gặp lại cụ Hiền trong một buổi hợp tác đảng phái, mà từ bạn hữu đã trở nên đối địch. Cụ Bách viết tiếp ở trang 155, “Âu cũng là định mệnh. Chúng tôi cũng muốn hợp tác vì công cuộc chung, góp sức với nhau để đuổi quân xâm lăng ra khỏi nước. Song thực ra, hai bên có thể chân thành cộng tác với nhau không, lại là một vấn đề khó giải.”

Sự chia tay của hai cụ, chính là điển hình sự chia tay của cả một thế hệ cùng ôm mộng đánh đổ thực dân Pháp, nhưng theo hai con đường khác nhau. Thậm chí, còn có sự chia rẽ của những anh em ruột thịt cùng một gia đình, hay của hai cha con, chỉ vì lý do tương tự. Trong hồi ký VNMTKQ ở trang 100, cụ Bách viết, “Nhưng, trong hàng ngũ người Việt chủ trương giải phóng dân tộc, dành độc lập, đã có những chia rẽ sâu xa về ý thức hệ, về sách lược và đường lối hoạt động.” Thế hệ 1945 là thế hệ của những người yêu nước, dù là cộng sản hay quốc gia. Tất cả đều có một điểm chung đẹp đẽ là đánh đuổi thực dân Pháp. Trong hồi ký VNMTKQ ở trang 101, cụ Bách viết, “Nhiều phần tử trí thức và sinh viên, bị thôi thúc bởi lòng yêu nước, sẽ kế tiếp nhau tham dự vào những phong trào chống Pháp, hoặc cộng sản hoặc không cộng sản.”

Thế hệ thanh niên thập niên 1940-45 là một thế hệ “đẹp” với nhiều ước vọng dành độc lập cho tổ quốc. Đặc biệt thế hệ 1945, ở cả hai khuynh hướng Quốc, Cộng, trong tình hình thế chiến thứ II, các dân tộc thuộc địa vươn lên dành độc lập, đã là một thế hệ “huyền thoại” trong lịch sử cận đại của Việt Nam với nhiệt tình yêu nước không bờ bến, sẵn sàng từ bỏ gia đình, người yêu để lên đường cứu nước. Thế hệ 1945 huyền thoại đã được Đằng Phương (bút hiệu của giáo sư Nguyễn Ngọc Huy) mô tả qua bài thơ Những Anh Hùng Vô Danh, mà những câu mở đầu thật cảm động và bi tráng: Họ là những anh hùng không tên tuổi – Sống âm thầm trong bóng tối mênh mông, Không bao giờ được hưởng ánh quang vinh, Nhưng can đảm và tận tình giúp nước.

Nhưng thế hệ đó cũng trải qua nhiều bi thảm. Cái bi thảm thể hiện trong tình bạn của cụ Bách với những người bạn thân thương nhất của cụ, mà sau này, mỗi lần nhắc lại cụ vẫn bùi ngùi. Trong những chia rẽ của tình bạn, có lẽ sự chia tay với Dương Đức Hiền làm cụ ray rứt nhất. Cả hai đều có nhiệt tình chống Pháp, lúc đầu cùng chung một hướng, cùng chung một đoàn thể. Nhưng rồi sau cả hai lại theo hai con đường khác nhau: Quốc Gia và Cộng Sản. Thực ra, thế hệ thanh niên với những người như cụ Dương Đức Hiền mang bầu nhiệt huyết theo Việt Minh không phải là theo Cộng Sản. Ngày nay, khá nhiều các đảng viên Cộng Sản lão thành từ thời 1945 và cuộc kháng chiến 9 năm đã thú nhận lúc đó không biết Cộng Sản là gì, không biết chủ thuyết Mác Lê là gì, chỉ một lòng chiến đấu vì độc lập, tự do của tổ quốc.

Người Cộng Sản đã thắng keo đầu khi họ chớp thời cơ, nhân một cuộc biểu tình của công chức Hà Nội ủng hộ chính phủ Trần Trọng Kim ăn mừng nước nhà Độc Lập, thoát khỏi ách thực dân Pháp. Cộng Sản đã nhanh tay biến cuộc biểu tình của nhân dân Hà Nội yêu nước thành cuộc biểu tình của Cộng Sản, dưới danh nghĩa Việt Minh. Và Cộng Sản đã cướp được chính nghĩa.

Chính phủ liên hiệp Quốc Cộng hình thành sau đó đã không có được điều cơ bản là sự tin tưởng lẫn nhau của cả hai phe. Cho nên sự liên hiệp sớm đi tới tan rã. Lịch sử hợp tan của gia đình Nguyễn Tường của cụ Bách cũng gắn liền với giai đoạn hợp tan này của lịch sử dân tộc. Một ngày, cụ Bách bất ngờ tới thăm người chị, bà Nguyễn Thị Thế, nhà ở đê Yên Phụ, cũng gần nhà Thạch Lam. Tuy cùng ở Hà Nội nhưng đã lâu rồi cụ Bách vì bận việc chính sự đã không tới thăm chị và mấy đứa cháu như thường xuyên trước kia. Lần tới thăm bất ngờ này khiến bà chị và mấy đứa cháu ngạc nhiên. Cuộc gặp gỡ đã được Thế Uyên, con của bà Thế, kể lại đại khái như sau: Bất ngờ thấy chú Bách tới sau một thời gian dài vắng mặt. Lần này lại thấy chú đi có một người hộ vệ đứng ở đầu ngõ. Cũng như mọi lần, Thế Uyên lục túi cụ Bách định tìm kẹo. Nhưng lần này chàng không thấy kẹo mà chỉ lôi ra được mấy viên đạn. Cuộc nói chuyện của cụ Bách với mẹ Thế Uyên lần này ngắn ngủi và có vẻ nghiêm trọng. Cụ cho chị cụ biết cụ phải ra đi, và ra đi khá lâu, không biết bao giờ về. Đi đâu thì cụ không nói. Dĩ nhiên cùng với sự chia tay với gia đình, cụ Bách cũng phải chia tay với “nàng Loan” của cụ.

Sau khi rời Hà Nội Cụ Bách lên chiến khu của Việt Nam Quốc Dân Đảng ở Vĩnh Yên. Theo hồi ký của “nàng Loan của Bách”, Cụ Bách ít gửi tin tức về. “Nàng Loan” của cụ Bách dự tính tiếp tục học đại học tại Trung Quốc. Trong hồi ký “Nguyễn Tường Bách và Tôi” của Bà Hứa Bảo Liên, phu nhân của Cụ Bách, “nàng Loan” của cụ Bách kể chuyện giã từ giữa “Loan và Dũng” ở trang 73 như sau:

“Tự nhiên tôi nghĩ có lẽ tôi phải lên chiến khu cho anh Bách biết tôi dự tính đi học. Kỳ thực lúc đó, tôi cũng không biết hiện anh đang ở đâu? Chiến khu ở chỗ nào? Sau hỏi ra rồi tôi mới đáp xe hơi, sau chuyển sang đi thuyền đến Việt Trì. Vừa đặt chân tới đất này, tôi cảm thấy nhẹ nhõm, nhưng rất mau tôi lại cảm thấy không khí khẩn trương, người đi lại rất ít. Thỉnh thoảng lại nghe có tiếng súng nữa. Tôi tìm đến trụ sở thì gặp ngay anh Bách và anh Vũ (ghi chú của người viết, tức cụ Vũ Hồng Khanh, một lãnh tụ quân sự của VNQDĐ). Có lẽ anh cũng không ngờ tôi đến thăm anh trong lúc này. Tôi cho anh biết tôi dự tính đi Trung Quốc học. Lúc đó chúng tôi cũng không biết bao giờ mới gặp lại nhau vì trong thời buổi loạn lạc này, không ai có thể tiên đoán được tương lai! Mà lúc đó anh cũng không nói cho tôi biết đảng bộ và quân đội của Việt Quốc đã dự định rút khỏi Việt Trì để lên Yên Báy. Sáng hôm sau, tôi đáp thuyền rồi đổi sang xe hơi trở về Hà Nội.”

Không đương cự nổi với Cộng Sản tại Hà Nội, cụ Bách phải dẫn lực lượng vũ trang của Việt Quốc lui về vùng chiến khu Việt Quốc ở Vĩnh Yên, nơi có đồn điền nổi tiếng của một đảng viên cao cấp của Việt Quốc là Đỗ Đình Đạo. Trên cuộc rút quân đó, lực lượng Việt Quốc và Cộng Sản (Việt Minh) đã đụng độ khốc liệt. Trong một lần giao tranh, cụ bắt được một cấp lãnh đạo của Việt Minh, sau này lên tướng. Trong tình cảm lãng mạn tiểu tư sản, cụ không trói hay đánh đập người “tù binh”, mà chỉ tước khí giới rồi cho ngủ chung với lực lượng vũ trang của cụ tại nơi đóng quân. Ngày hôm sau, hai chiếc xe hơi cắm cờ Việt Minh và cờ Việt Nam Quốc Dân Đảng từ Hà Nội tới, trên xe có đại diện hai phe trong chính phủ Liên Hiệp, yêu cầu trả tự do cho người “tù binh Việt Minh” và lãnh người “tù binh” đó về Hà Nội. Người đại diện Việt Quốc trên một trong hai xe hơi đó lại chính là nhà văn Hoàng Đạo Nguyễn Tường Long, anh thứ tư của cụ (xem Trên Sông Hồng Cuồn Cuộn của Nguyễn Tường Bách và Hồi ký của Hứa Bảo Liên)

Chẳng bao lâu sau sự chia rẽ của chính phủ Liên Hiệp Quốc Cộng đi tới chỗ tiêu diệt lẫn nhau một cách tàn khốc hơn. Tại làng Phượng Dực, quê của bà Nhất Linh, trong căn nhà của bà, Cộng Sản (dưới danh nghĩa Việt Minh), trên con đường truy lùng Nhất Linh Nguyễn Tường Tam và gia đình, đã bắt mang theo 4 người gồm có bà Nguyễn Tường Tam, con trai Nguyễn Tường Việt của cụ Nguyễn Tường Tam khi đó mới khoảng 14 tuổi, em ruột của bà Nguyễn Tường Tam, tên Tín, và bố tôi, cụ Nguyễn Tường Cẩm, anh thứ hai của cụ Nguyễn tường Tam. Cộng sản dắt 4 người tù họ gọi là “phản động” đi về vùng họ kiểm soát. Một hôm tình cờ, máy bay đồng minh tới bỏ bom. Văn phòng nơi giam giữ xụp đổ. Hai người tù đàn ông đang bị xích nên không thoát được. Chỉ có bà Nguyễn Tường Tam và người con trai 14 tuổi không bị trói nên thoát được. Lại vẫn là máu tiểu tư sản, anh Nguyễn Tường Việt mới đây kể lại, trước khi đi trốn, anh và mẹ đã nâng cái cây sườn nhà đổ xập đang đè lên một người cán bộ để cứu người cán bộ đang bị thương này. Sau đó hai mẹ con phải trốn 15 ngày dưới hầm trong căn nhà của một người giúp việc ngày xưa tốt bụng và trung thành mà chúng tôi gọi là anh Tí, trước khi anh giúp việc này tìm được cách đưa vợ con cụ Nhất Linh Nguyễn Tường Tam trốn về Hà Nội. Còn bố tôi và người em bà Nhất Linh, bị thủ tiêu mất tích kể từ đó. Cái sự bi thảm trong cuộc chiến Quốc Cộng đã xảy ra cho gia đình tất cả các anh em Nguyễn Tường của Cụ Bách cũng là những bi thảm tương tự xảy ra cho nhiều gia đình khác.

Khi bàn tới sự thất bại của phe Quốc gia trước đối thủ Cộng sản người ta thường nói tới sự quyết liệt và tài tổ chức khéo léo của phe Cộng Sản hơn hẳn phe Quốc Gia. Nhưng người ta ít bàn tới việc người Cộng Sản quyết liệt ra sao và họ tổ chức giỏi như thế nào.

Từ 1945 cho tới 1975 người Quốc Gia bị thua Cộng Sản vì thái độ “không quyết liệt với kẻ thù,” trong khi Cộng Sản thì hoàn toàn trái ngược. Trong những thanh toán nhau giữa hai phe, người Cộng Sản quyết liệt hơn ở điểm họ truy lùng toàn bộ bố mẹ, anh, chị, em, vợ con, kể cả con còn niên thiếu của đối thủ chính trị để tiêu diệt. Họ gọi chung những người đó là “thành phần phản động”. Một đòn hiểm ác hơn nữa là CS cô lập không những người bị cho là phản động mà còn cô lập cả gia đình họ. Cộng sản vận động, và đe dọa mọi người trong xóm, mọi bạn bè, họ hàng bà con không được quan hệ với cá nhân và gia đình của người bị họ cho lành “thành phần phản động”. Ngay cả những người bạn thân, học trò ruột ra đường trông thấy họ từ xa cũng né tránh sang bên kia đường, không dám chạm mặt, không dám chào hỏi dù chỉ một câu, sợ bị liên lụy có thể mang họa vào thân, nhẹ thì bị kiểm điểm, nặng thì bị đi tù. Sự cô lập, bỏ đói của Cộng sản đối với cụ Phan Khôi hay các nhà văn trong phong trào Nhân Văn Giai Phẩm, hoặc với các trí thức từng có công với Cộng Sản như Nguyễn Hữu Đang, Nguyễn Mạnh Tường, Trần Đức Thảo v.v… là những ví dụ cho thấy sự độc ác, quyết liệt của Cộng sản khác hẳn chủ trương, chính sách ôn hòa, hợp lý, hợp tình người của người Quốc Gia. Sự quyết liệt một cách độc ác của cộng sản đã được Luật gia Nguyễn Mạnh Tường mô tả khi trả lời phỏng vấn của nhà báo Hòa Khánh ở trang 712 cuốn Nhân Văn Giai Phẩm của Thụy Khuê. Hòa Khánh hỏi, “Luật sư có bị bắt, bị giam cầm gì không? Trả lời, “Không. Chỉ bị đuổi ra khỏi những nơi đang làm việc. Và độc ác nhất là bị cô lập hoàn toàn. Các anh cứ tưởng tượng suốt mấy chục năm trời, không ai dám đến gặp tôi cả. Họ sợ bị liên lụy đến bản thân, đến gia đình của họ. Có khi đi ngoài đường, nhìn thấy tôi từ xa, là bạn bè, học trò cũ của tôi phải tránh đi chỗ khác.” Hòa Khánh hỏi, “trong thời gian suốt mấy chục năm trời như vậy, luật sư làm gì để sống?” Trả lời, “Không làm gì cả. Xin việc gì người ta cũng không nhận…cứ bán dần đồ đạc trong nhà mà ăn tiêu…Rồi tất cả đồ đạc cạn dần…Tôi lại sống bằng sự bố thí của anh em, bạn bè.” Đọc hết tường thuật về sự đàn áp của cộng sản đối với gia đình tiến sĩ Nguyễn Mạnh Tường, người ta thấy kinh hãi tới độ không tưởng tượng được là có thể tàn bạo tới như vậy (2). Hoàn cảnh bị cô lập và đàn áp của tiến sĩ Trần Đức Thảo cũng kinh hãi tương tự. Và đỉnh điểm là bà vợ Tiến sĩ Trần Đức Thảo không chịu nổi phải nạp đơn ly dị với ông vào năm 1960 (3). Sau khi thống nhất đất nước năm 1975, chính sách cô lập, đàn áp, bỏ tù (gọi là cải tạo), tịch thu nhà cửa, đất đai, ruộng vườn, cửa tiệm, kho hàng, cơ xưởng sản xuất và triệt đường sinh sống lại được áp dụng trên qui mô rộng lớn toàn miền nam đối với hàng trăm ngàn quân nhân, công chức, doanh nhân và người Việt gốc Hoa. Và lần này không phải chỉ vài gia đình tan nát như ở miền bắc sau 1954, mà là cả chục ngàn gia đình vợ chồng bị tan nát, chia lìa.

Việc truy đuổi để tiêu diệt toàn thể bố mẹ, vợ con, anh chị em của đối thủ chính trị là điều không một tổ chức chính trị nào của người Quốc Gia chủ trương. Sự khác biệt về cách đối xử của người Quốc gia và Cộng sản đối với thành phần khác chính kiến bắt nguồn từ sự khác biệt trong lý thuyết hành động. Chủ thuyết Mác Lê dậy các cán bộ Cộng Sản phải phân loại nhân dân ra từng thành phần không chỉ dựa trên hành vi chính trị hay kinh tế của cá nhân người đó mà còn dựa trên lý lịch gia đình ba đời. Phe Quốc gia không buộc người dân khai lý lịch ba đời hay hai đời mà chỉ đòi hỏi người dân khai lý lịch về phần cá nhân họ mà thôi. Dựa trên lý lịch ba đời mỗi người dân bị Cộng sản phân loại vào một thành phần nào đó để hoặc được hưởng ân huệ hoặc bị đàn áp, triệt hạ. Ngày 5/6/2013, trên trang mạng “Bảo Tàng Xô Viết Nghệ Tĩnh“, trong bài Quá trình thành lập Xứ uỷ Trung Kỳ và các Tỉnh đảng bộ Nghệ Tĩnh, tác giả Nguyễn Thị Hồng Vân viết nguyên văn, “Xứ uỷ Trung Kỳ, nhất là đồng chí Bí thư ra chỉ thị thanh Đảng viết rõ từng chữ: thanh trừng trí phú, địa hào, đào tận gốc, trốc tận rễ,” Cho tới hiện nay, thế kỷ thứ 21, Cộng Sản vẫn còn áp dụng nguyên tắc của luật rừng này. Ngày nay họ đàn áp, triệt hạ tất cả cha mẹ, anh chị em của những phần tử đối kháng bằng nhiều cách như ép chủ nhà chấm dứt hợp đồng thuê nửa chừng, ép công ty họ đang làm việc phải sa thải họ v.v… Chưa kể họ còn cho công an mặc thường phục đóng vai côn đồ hành hung, gây tai nạn giao thông v.v…Cái thâm độc của CS ở đây còn thể hiện ở điểm họ không chủ trương gây tai nạn chết người mà chỉ gây thương tật nặng. Như vậy, nạn nhân vẫn còn sống và từ đó trở thành một gánh nặng cho toàn bộ gia đình. Ví dụ thì đầy dẫy trên báo chí lề trái (blogs). Mới đây, ngày 19/6/2013 trong bài “Đinh Nhật Uy bị bắt vì “không thuyết phục được Đinh nguyên Kha nhận tội“?” ký giả Trương Minh Đức viết, “Kể từ khi sinh viên Đinh Nguyên Kha bị bắt thì công an địa phương luôn sách nhiễu gia đình bằng nhiều thủ đoạn, họ thường xuyên gọi điện thoại với những khách hàng đến sửa chữa máy vi tính tại cơ sở của Đinh Nhật Uy (ghi chú của Ng. tường Tâm: người anh), công an hăm dọạ khách hàng là nếu làm ăn với gia đình “phản động” này thì hãy coi chừng đó! và cũng kể từ đó không ai dám đến làm ăn với cơ sở của Đinh Nhật Uy, thời gian vắng khách kéo dài Uy không chịu nổi với các khoản thuế, chi phí… Đành phải đóng cửa để về vườn làm bất cứ công việc gì cho gia đình. Từ một Kỹ Sư Công nghệ thông tin, chuyên gia máy tính đành phải về cuốc đất trồng rau, giăng lưới bắt từng con cá sặc để góp thêm cho mẹ Liên chờ đến chuyến thăm nuôi gởi cho em Nguyên Kha đang ở trong tù… đang thất nghiệp không giúp ích được gì nên tính lên Sài Gòn in tái bản thêm 400 cuốn sách kỹ thuật về sửa chữa máy Photocoppy mà Uy cùng mấy người bạn đồng xuất bản trước đây, nếu bán được cũng có ít tiền giúp mẹ để phụ giúp nuôi em Kha… nhưng khi vừa đến nhà in thì bị từ chối với lý do là tên của Nhật Uy có trong cuốn sách đó nên không được in tái bản!??..”

Ngày 19-6-2013 trong phản hồi bài: “Một gợi ý cho biểu tình ở VN: Đứng im để biểu tình ở Thổ …” Một khách với mã số 90908 đã viết, “Tôi không biết cách xử lý của cảnh sát các nước khắc nghiệt tới đâu, nhưng tôi biết rõ ở VN, không chỉ cảnh sát, cả một guồng máy sẽ ập xuống, không chỉ bản thân người đi biểu tình, cả gia đình thân quyền cũng vạ lây. Triệt đường sinh kế, cô lập sinh hoạt, triệu tập lên triệu tập xuống, rỉ tai, hù dọa, rồi nếu cần thì thuê mướn bọn xã hội đen hành xử kiểu côn đồ…Kể sơ sơ những thứ lồ lộ ra trước mắt mọi người thế chứ còn những chiêu ngầm gian xảo hơn, tàn bạo hơn, có thể tôi vẫn chưa kịp nắm rõ.

Phe Quốc Gia không có một lý thuyết hành động nào phân loại người dân theo lý lịch gia đình để có chính sách đối xử tương ứng cho nên không có chính sách đàn áp, tiêu diệt thân nhân, gia đình của các phần tử Cộng Sản. Trong suốt 21 năm của chính quyền miền Nam, không một người vợ nào của Cộng Sản nằm vùng bị bắt nếu không có bằng chứng chính người đó hoạt động cho Cộng Sản. Vợ con họ cũng không bị đuổi việc cho dù đang làm việc cho chính quyền. Các khách hàng làm ăn với vợ con họ cũng không bị đe dọa để chấm dứt buôn bán với họ. Không một người con nào của cán bộ cộng sản nằm vùng hay tập kết ra Bắc bị đuổi học hay không xin được việc làm trong công sở chỉ vì liên hệ gia đình. Nhiều khi người Quốc gia còn đối xử với các đối thủ Cộng sản một cách “Quân tử tầu” nữa. Sự việc này mới đây đã được nhiều “cộng sản nằm vùng” thuật lại. Bài “Có một giờ G khác vào năm 1974″ đăng trên báo Saigon Tiếp Thị (http://sgtt.vn/Loi-song/177101/Co-mot-gio-G-khac-vao-nam-1974.html) có lời thuật của “Đại tá, anh hùng phi công Nguyễn Thành Trung”. Người phi công của Không Quân Saigon ném bom Dinh Độc Lập ngày 8.4.1975 đã thuật lại việc Chính Quyền Saigon và Trung Tướng Tư Lệnh Không Quân Saigòn đối xử với vợ con ông sau khi ông theo Cộng Sản phản bội Việt Nam Cộng Hòa như sau: “…thời gian sống trong đội ngũ không lực Sài Gòn cho tôi một niềm tin rằng vợ tôi, một người phụ nữ không liên quan gì đến công việc của tôi, con tôi còn quá nhỏ (đứa lớn mới 5 tuổi, đứa nhỏ chưa tròn năm) sẽ không bị đối xử một cách tàn nhẫn. Thực tế diễn ra đúng như tôi dự đoán. Cánh an ninh không quân đưa xe đến nhà bắt vợ con tôi. Vợ tôi phản đối vì mình không biết gì về công việc của chồng. Họ từ tốn: “Thưa bà, chúng tôi không bắt bà (nếu bắt chúng tôi đã dùng còng số 8, trói bà chẳng hạn), chúng tôi tới đây mời bà vào phòng an ninh sư đoàn, với trách nhiệm bảo vệ sự an toàn tính mạng của bà và các con bà. Nếu bà có tài sản quý giá nào thì bà cứ mang theo”. Bài báo thuật tiếp, “Trong thời gian vợ tôi bị giam ở số 4 Nguyễn Bỉnh Khiêm, trung tướng không quân Trần Văn Minh đến thăm với tư cách người chỉ huy có một người lính phản chiến. Ông ấy hỏi vợ tôi có cần bạn bè, người thân đến chuyện trò gì không hay cần mua sắm gì thì ông sẽ giúp đỡ.” Người Quốc gia là như vậy, “tiểu tư sản”, lại thêm “quân tử tầu”, nên thua Cộng Sản là phải.

Còn nói về tài tổ chức khéo léo của Cộng Sản hơn hẳn người Quốc Gia thì phải hiểu rằng người Quốc Gia thua kém Cộng Sản chỉ vì khác hẳn Cộng Sản, người Quốc Gia tổ chức theo nguyên tắc Pháp Quyền (rules of law), trong khi Cộng Sản không có luật, hay chỉ có luật để trưng bày, trong thực tế họ dùng luật miệng, luật rừng. Chính vì nguyên tắc Pháp Quyền của Người Quốc Gia mà đại đa số cán bộ Cộng Sản nằm vùng đã được ung dung hoạt động để cuối cùng phá hỏng cái nền dân chủ Pháp Quyền đã từng bảo vệ người dân cũng như bảo vệ chính họ. Ngày nay, họ đang tranh đấu quyết liệt đòi chính quyền Cộng Sản phải trả lại cho họ những nhân quyền họ từng được hưởng ở miền Nam mà ngày xưa chính họ phá bỏ. Để hiểu rõ điều này, tốt hơn hết nên nghe tường thuật của cựu “Việt Cộng nằm vùng” Hạ Đình Nguyên trong bài “Nguyễn Phương Uyên, tôi có thể làm gì cho em?” đăng ngày 5-11-2012 trên trang mạng Việt-studies (-http://viet-studies.info/kinhte/HaDinhNguyen_NguyenPhuongUyen.htm) ” Đối tượng mà chúng tôi chống, lúc bấy giờ, là Chính phủ Việt Nam Cọng Hòa, song lại có đôi điều mà trái tim công bằng của tuổi trẻ ghi nhớ như là nét son của một xã hội công dân – dù nó chưa tương xứng để gọi tên như thế– Tôi nhớ tại Tối Cao Pháp viện, Tổng thống VNCH – Nguyễn Văn Thiệu, đã đích thân đến Tòa án can thiệp, tranh luận tay đôi với Viện trưởng Nguyễn Minh Tiết, rằng cần phải kết án 21 SV trong số 42 SVHS đã bị bắt vừa qua là Việt Cộng, vì có bằng chứng minh bạch. Ông Viện trưởng Tiết đã cương quyết bác bỏ, vì sự tra tấn dã man là bằng chứng của ép cung, lời cung đã khai không còn giá trị. Thế là hầu hết đã được trả tự do ngay sau phiên tòa. Trong đó có một số anh chị có vai trò trong tổ chức Thành đoàn CS.” Cái tổ chức của người Quốc Gia kém xa Cộng Sản ở điểm mà chính ông Hạ Đình Nguyên cũng phải nhận định tiếp, “Dù các anh chị ấy có lập trường kiên định, một lòng trung thành với con đường lý tưởng đã chọn, song không khỏi ghi nhớ về tính cách của một vị quan tòa, và nguyên tắc, dù chưa phải là thực chất của một thể chế dân chủ, nhưng ở đó có một số điểm tựa để cho người dân tin cậy, là hệ thống luật pháp về dân sự, dù thời điểm đó đang là chiến tranh.” Người Quốc Gia tổ chức kém Cộng Sản bởi vì họ có một tổ chức tư pháp bảo vệ người dân như vậy.
Người Quốc Gia đã hành xử hoàn toàn khác người Cộng Sản, “dù thời điểm đó đang là chiến tranh” (mượn lời Việt Cộng nằm vùng Hạ Đình Nguyên) do đó trong một thời điểm của lịch sử họ đã thua.

Sự thất bại của đoàn quân Việt Quốc đã khiến cụ Bách và các đồng chí phải bôn tẩu sang Trung Quốc. Cũng như Loan và Dũng trong Đoạn Tuyệt và Đôi Bạn, cuối cùng hai người cũng tái hồi. Cụ Bách và nàng Loan của cụ cuối cùng cũng tái hồi. Loan của cụ Bách tên là Hứa Bảo Liên, một cô gái xinh xắn, mau mắn, đánh bóng bàn giỏi, người Hà Nội Việt gốc Hoa, thường vào nhà thương làm thiện nguyện và quen chàng sinh viên y khoa Nguyễn Tường Bách trẻ tuổi, đẹp trai, tài hoa, đàn hay, nhẩy giỏi, học giỏi, ở đó. Như vừa trình bày ở trên, khi cụ Bách chia tay với cô Hứa Bảo Liên trong chiến khu hai người không một hứa hẹn gì. Chính trường chưa rõ nét mà cuộc đời của chàng Dũng Nguyễn Tường Bách thì vô định, sống nay chết mai, ai biết được đường tên mũi đạn. Sau khi lên thăm giã từ chàng thanh niên bác sĩ Nguyễn Tường Bách tại chiến khu của VNQDĐ tại Việt Trì, cô Hứa Bảo Liên lên đường sang du học bên Côn Minh, Trung Quốc. Sự giã từ đã tưởng như vĩnh viễn. Nhưng cuộc tái ngộ bất ngờ của hai người được nàng Loan Hứa Bảo Liên kể lại ở trang 91 cuốn hồi ký “Nguyễn Tường Bách và Tôi” như sau:

“Một buổi chiều mùa thu vào cuối tuần, tôi vội vàng ra trường để cùng các anh Tam (Nhất Linh), Long (Hoàng Đạo) và các anh em khác ra ga Côn Minh…Mọi người đang đứng đợi. Mãi lâu mới có một đoàn xe lửa từ từ tiến vào trong ga. Chuyến xe này từ Khai-Viễn tới. Tất cả mọi người đều chăm chú nhìn những hành khách đang xuống xe. Mãi sau có một anh chỉ cho mọi người nhìn theo, đằng xa có một toán người ăn mặc giống nhau, với những bộ đồ mầu xanh đã bạc. Trên vai người nào cũng đeo một túi vải và chiếc bi -đông đựng nước. Tất cả đều gầy, đen và trông có vẻ mệt mỏi so với những hành khách khác. Anh Bách gầy hơn hết, và đen rạm đến khó nhận ra. Được cái anh vẫn điềm tĩnh vui vẻ bắt tay mọi người. Cuối cùng tất cả đều vui mừng trở về trụ sở. Túi vải anh không có gì đáng giá, ngoài vài bộ quần áo thay đổi, áo len cũng không có. Trên tay anh có chiếc đồng hồ cũ và chiếc nhẫn tôi tặng cho anh trước kia, có lẽ là vật đáng giá nhất mà anh đã đem theo.” Hình ảnh tái ngộ bất ngờ của Bác sĩ Nguyễn Tường Bách và người yêu tại một sân ga xa xôi, giữa thời chinh chiến, mang đậm nét lãng mạn cách mạng của Dũng và Loan trong tiểu thuyết của Nhất Linh, Tự Lực Văn Đoàn.

Thế là một giai đoạn đầy biến động của lịch sử đất nước đã sang trang với sự thất bại của đoàn quân Việt Quốc. Đó là năm 1946 với sự tan rã của chính phủ Liên Hiệp Quốc Cộng. Khi được tôi và bác sĩ Nguyễn Tường Giang con cụ Thạch Lam hỏi, “Trong đời chú điều gì làm chú hối tiếc nhất?” thì không ngập ngừng cụ trả lời ngay: “Chú hối tiếc nhất là vào thời điểm 1945, các chú chỉ chậm chân 15 phút để rồi cuộc chiến Quốc Cộng kéo dài cho mãi tới thế hệ các cháu ngày nay.”Khi nói tới sự chậm chân 15 phút, ý cụ muốn nói tới việc Phe Quốc Gia đã không quyết liệt để có chủ trương cướp chính quyền từ tay chính phủ Trần Trọng Kim để rồi chỉ trong 15 phút bất ngờ Phe Cộng Sản đã biến cuộc biểu tình ủng hộ chính quyền Trần Trọng Kim, ăn mừng nước nhà độc lập khỏi ách thực dân Pháp và Nhật, thành một cuộc biểu tình cướp chính quyền của phe họ.

Theo hồi ký của Bác sĩ Nguyễn Xuân Chữ, nxb Văn Hoá, Houston, 1996, thì Bác sĩ Chữ lúc đó là đại diện chính phủ Trần Trọng Kim đã từ chối đề nghị  của quân Nhật dẹp loạn Việt Minh. Ngoài ra trong một bài phát biểu tại Đại Hội Toàn Đảng Đại Việt năm 1998, tại San Jose, California, USA, ông Hoàng Nhật Tiến, đảng viên niên trưởng (sau này, năm 2006 là chủ tịch Đảng) đã tiết lộ rằng, Cụ Trương Tử Anh, lãnh tụ chung của các đảng quốc gia, đã dè dặt không muốn cướp chính quyền Hà nội nhân ngày công chức biểu tình 19/8/1945 mặc dù các đảng viên các đảng phái quốc gia đã hết sức thuyết phục. Sự thiếu quyết liệt của các đảng phái Quốc Gia đã mang lại cơ hội cho Cộng Sản chiếm được chính nghĩa trước nhân dân.

Thực ra, Việt Minh Cộng Sản không đủ cán bộ để làm cuộc biểu tình đông như vậy, họ chỉ cướp công và giấu mặt cộng sản để cướp chính nghĩa mà thôi. Tâm sự tiếc nuối của cụ Nguyễn Tường Bách đã được mô tả ngắn gọn trong tựa đề của một bài phỏng vấn cụ Bách đăng trên tuần báo Saigon USA của Luật Sư Nguyễn Tâm xuất bản tại San Jose, California, Hoa Kỳ ngày 11-1-1999; tựa đề đó là: “Lỡ Một Bước, Hận Ngàn Thu”.

Năm 1946 Bác sĩ Nguyễn Tường Bách và các đồng chí của ông đã một lần thất bại trước đối thủ Võ Nguyên Giáp và phe Cộng Sản và phải bôn tẩu sang Trung Quốc. Năm 2013, trong một trận “quyết đấu tay đôi”, vì cả hai phe giờ chỉ còn hai cụ, một lần nữa Bác sĩ Nguyễn Tường Bách lại thất bại trước cụ Võ Nguyên Giáp khi phải ra đi sang bên kia thế giới, trong khi cụ Võ Nguyên Giáp vẫn còn ở lại, dù phải mang ống thở.

Cuộc chiến Quốc Cộng thế hệ 1945 như vậy chính thức đã kết thúc. Nhưng cuộc chiến giữa những người Quốc gia, được hiểu là những người tranh đấu cho dân chủ và nhân quyền, và những đảng viên Cộng Sản mù quáng vẫn còn tiếp diễn. Tuy nhiên khác với thời kỳ ba mươi năm chiến tranh 1945-1975, cuộc chiến Quốc Cộng hiện nay đang diễn ra với phần áp đảo nghiêng về phe đấu tranh cho dân chủ và nhân quyền. Mặc cho trước mắt, phe Cộng Sản cầm quyền còn đang hung hãn, nhưng sự hung hãn hiện nay của phe Cộng Sản cầm quyền chỉ như sự vùng vẫy của con thú đang lâm vào đường cùng không lối thoát.

© Nguyễn Tường Tâm

© Đàn Chim Việt

———————————————-
(1) http://www.hocxa.com/VanHoc/KhaiHung/KHung&NLinhtrongthoHKieu_QuocNam.php ; Khái Hưng và Nhất Linh trong thơ Huyền Kiêu

-Hồi Ký Việt Nam Một Thế Kỷ Qua cuốn I của Nguyễn Tường Bách.
-Hồi Ký về Gia Đình Nguyễn Tường của Nguyễn Thị Thế
(2): Nhân Văn Giai Phẩm-tác giả Thụy Khuê-nhà xuất bản Tiếng Quê Hương Virginia-ấn bản 2012
(3): http://www.viet-studies.info/TDThao/NTNhat_TDThao_NKVien.htm
Đăng trên VieTimes-10-11-12/10/2007-Chuyện người vợ “duy nhất” của… hai học giả lớn Việt Nam
-Ấn bản ngày 24-6-2013 này khác với ấn bản đã được công bố ngày 19-6-2013.

Posted in Cách Mạng Mùa Thu 1945 không hề xảy ra, Lịch Sử Việt Nam | Leave a Comment »

►Ý kiến: Việt Minh nắm quyền do đâu? Có “cách mạng tháng 8” không?

Posted by hoangtran204 on 21/08/2015

BBC

TS Đoàn Xuân Lộc

Gửi cho BBC từ Anh quốc

19-08-2015

H1‘Cách mạng tháng Tám’ năm 1945 vẫn là một đề tài gây nhiều tranh luận, bàn cãi, với nhiều diện giải, nhận định hoàn toàn trái ngược nhau về nhiều khía cạnh khác nhau của sự kiện này.

Một trong những điều gây tranh cãi là bản chất và nguyên nhân dẫn đến thành công của cuộc ‘cách mạng’ đưa Việt Minh lên nắm quyền lúc đó.

Giới lãnh đạo, quan chức cũng như sử học, báo chí chính thống ở Việt Nam thường tuyên truyền rằng đó là cuộc ‘tổng khởi nghĩa giành chính quyền’ được ‘chuẩn bị công phu’, ‘diễn ra nhịp nhàng trên cả nước’ và đã ‘thành công rực rỡ’, đưa Việt Nam ‘bước vào một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội’.

Họ còn cho rằng thắng lợi của cuộc cách mạng này ‘là thắng lợi của chủ nghĩa Mác – Lênin được vận dụng một cách sáng tạo vào hoàn cảnh lịch sử cụ thể của cách mạng Việt Nam, là thắng lợi của tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối cách mạng đúng đắn và đầy sáng tạo’ của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Trái lại, một luồng ý kiến khác lại khẳng định chẳng có chuyện Việt Minh, một lực lượng do ĐCS lãnh đạo, ‘cướp’ hay ‘giành chính quyền’ gì – và càng không có chuyện họ phải ‘đánh đấm’ để ‘giành chính quyền’ – vì vào thời điểm đó có một ‘khoảng trống quyền lực’ và Việt Minh đã có mặt đúng lúc để lấp chỗ trống ấy.

Vậy thực chất cuộc ‘khởi nghĩa’ hay ‘Cách mạng tháng Tám’ ấy là gì và điều gì đã khiến Việt Minh lên nắm quyền và lập nên nước ‘Việt Nam Dân chủ Cộng hòa’ lúc đó?

Khoảng trống quyền lực

Quân Nhật vào Đông Dương tháng 9/1941

Thực ra ngay sau ‘Cách mạng tháng Tám’ đã có ‘một số người’ cho rằng những người Cộng sản hay Việt Minh không phải chiến đấu gì để ‘giành chính quyền’ mà chẳng qua vì may mắn nên ‘vớ được chính quyền’. Vì vậy, vào dịp kỷ niệm một năm ‘Cách mạng tháng Tám’, trong cuốn sách cùng tên, Trường Chinh, Tổng bí thư ĐCS Đông Dương lúc đó, đã lên án những người ấy và bác bỏ nhận định đó.

Tuy vậy, dù ông Trường Chinh chính thức lên tiếng bác bỏ, dựa vào những sự kiện diễn ra vào thời điểm ấy và các nhân chứng, sử liệu xác đáng khác, học giả, đặc biệt là giới nghiên cứu nước ngoài, đều kết luận rằng những người Cộng sản có thể dễ dàng lên nắm quyền hay tiến hành thành công, nhanh gọn ‘Cách mạng tháng Tám’ là vì có một khoảng trống quyền lực vào giữa và cuối tháng Tám năm 1945.

Với việc Nhật đầu hàng Đồng minh ngày 14/08, lực lượng Nhật chiếm đóng tại Việt Nam cũng như chính phủ Trần Trọng Kim được Nhật bảo hộ đã suy yếu và cũng không còn cơ sở đề tồn tại. Trong khi đó, mãi tới đầu tháng Chín, quân Đồng minh mới tới Việt Nam để giải giáp Nhật.

Như William J. Duiker ghi nhận trong Vietnam: Nation in Evolution, xuất bản năm 1983, chỉ trong vòng hai tuần – từ ngày 14/08 đến ngày 28/08, khi vua Bảo Đại thoái vị – miền Bắc và miền Trung đã gần như hoàn toàn nằm trong tay Việt Minh và chỉ ở miền Nam những người Cộng sản buộc phải chia sẻ quyền lực với những lực lượng, thành phần khác.

Theo học giả này đó là một cuộc chuyển giao quyền lực nhanh gọn, hầu như không có đổ máu gì.

Theo nhà nghiên cứu Pháp Pierre Roussett, tác giả cuốn Communisme et Nationalisme Vietnamien, xuất bản năm 1978, thực ra Việt Minh là lực lượng được mang tới quyền lực, hơn là người đã giành được quyền lực.

Stein Tonnesson, người đã có nguyên một công trình nghiên cứu về ‘Cách mạng tháng Tám’, cũng nhận định rằng Việt Minh có thể dễ dàng lên nắm quyền, không phải mất xương máu gì, vì có khoảng trống quyền lực ở Việt Nam lúc đó.

Trong cuốn The Vietnamese Revolution of 1945: Roosevelt, Ho Chi Minh and de Gaulle in a World at War, xuất bản năm 1991, Stein Tonnesson cho rằng lãnh đạo ĐCS không bao giờ nghĩ nhiệm vụ của họ sẽ nhẹ nhàng, đơn giản như thế. Mọi chuyện diễn ra nhanh chóng và khác hẳn với những gì họ tính toán, chuẩn bị.

Ông nhắc lại người ta thường cho rằng ‘Cách mạng tháng Tám’ thành công là nhờ Hồ Chí Minh có một chiến lược tuyệt vời và Việt Minh đã xây dựng được một quân đội nhân dân. Nhưng thực tế, quân giải phóng và sự lãnh đạo của Việt Minh chỉ đóng một vai trò khiêm tốn trong cuộc cách mạng này.

Chẳng hạn, theo Stein Tonnesson, ông Võ Nguyên Giáp đã chuẩn bị quân đội để đánh Nhật và chắc ông cũng đã nuôi ước mơ dẫn binh lính của mình tiến về Hà Nội sau khi đã làm nên những chiến thắng lịch sử. Nhưng Hà Nội đã được lực lượng cách mạng địa phương chiếm một tuần trước khi những nhóm lính đầu tiên của ông về thành phố.

Hơn nữa, không một lãnh đạo cao cấp nào của Đảng Cộng sản có mặt khi những nhóm người trẻ tuổi cầm cờ Việt Minh giành chính quyền ở Việt Nam trong hai tuần đó.

Stein Tonnesson cũng chỉ ra rằng Việt Nam không phải là nơi duy nhất có các lãnh đạo quốc gia lên nắm quyền mà không phải đối đầu vũ lực vào thời điểm Nhật đầu hàng. Ở Indonesia, Sukano và Hatta đã tiến hành thương lượng với tư lệnh quân đội Nhật ngay sau khi Nhật đầu hàng Đồng minh. Hai nhà lãnh đạo này còn bay trở lại Jarkata trên một máy bay của Nhật và tuyên bố độc lập cho nước Cộng hòa Indonesia vào ngày 17/8 – hai ngày trước khi có cuộc nổi dậy ở Hà Nội.

Có thể để nhằm bác bỏ ý kiến cho rằng Việt Minh may ‘vớ được chính quyền’ mà không phải chiến đấu gì, như Stein Tonnesson nhắc lại, cả trong cuốn ‘Cách mạng tháng Tám’ ra mắt năm 1946 và bài ‘Cách mạng hay đảo chính’ đăng trong Cờ giải phóng ngày 12/09/1945, ông Trường Chinh đã nhấn mạnh rằng trong cuộc khởi nghĩa tháng Tám, máu đã đổ nhiều nơi.

Cũng vì nặng giáo điều, Trường Chinh lý luận một cuộc cách mạng thực sự phải có đổ máu và ông cảm thấy tiếc vì cuộc khởi nghĩa tháng Tám đã không có thêm bạo lực.

Vẫn theo Stein Tonnesson, trong một chừng mực nào đó, để bù đắp cho việc thiếu đổ máu trong cuộc nổi dậy, lực lượng cách mạng đã giết một số người ‘phản bội’ sau đó. Ông cũng nhắc đến cuốn Vietnam 1945: The Quest for Power của David Marr, được xuất bản năm 1997, trong đó ước tính rằng nhiều ngàn người được cho là ‘kẻ thù của Cách mạng’ đã bị giết hoặc chết khi bị bắt giữ vào thời điểm giữa cuối tháng Tám và tháng Chín năm 1945.

Khát vọng độc lập

H1

Nhưng cũng có nhiều yếu tố quan trọng khác khiến cuộc khởi nghĩa hay Cách mạng tháng Tám diễn ra nhanh gọn, không đổ máu và Việt Minh có thể dễ dàng lên nắm quyền lúc đó.

Trong The Communist Road to Power in Vietnam, xuất bản năm 1981 và tái bản năm 1996, William J. Duiker nhận định rằng bất cứ cuộc cách mạng nào cũng có yếu tố thời cơ và thời cơ càng chín muồi, cách mạng càng dễ thành công nhanh gọn và Cách mạng tháng Tám không phải là ngoại lệ.

Ngoài có ‘khoảng trống quyền lực’, William J. Duiker nêu ra nhiều yếu tố, điều kiện thuận lợi khác để một cuộc khởi nghĩa hay cách mạng nổ ra ở Việt Nam lúc ấy và Việt Minh đã biết tận dụng những yếu tố, điều kiện đó.

Trong những yếu tố, điều kiện được William J. Duiker và nhiều học giả khác đưa ra có nạn đói 1944-45 ở các tỉnh Bắc Trung bộ và sự tê liệt, sụp đổ nhanh chóng của chính quyền cũ (từ trung ương đến địa phương, từ nông thôn đến thành thị).

Theo Stein Tonnesson số người chết trong nạn đói đó được Việt Minh đưa ra vào năm 1945 cũng như được tuyên truyền những năm đó là hai triệu. Nhưng ông cho rằng con số đó bị cường điệu hóa và ước tính số người thiệt mạng khoảng từ 500 ngàn đến một triệu người. Tuy vậy, ông vẫn cho rằng nạn đói là một thảm họa và nó có tác động chính trị rất lớn.

Cụ thể, nó làm người dân căm thù, tức giận (với chính sách đô hộ của Nhật hay sự bất lực của chính phủ Trần Trọng Kim), cảm thấy tuyệt vọng và đòi hỏi phải có thay đổi. Chính điều này đã đặt nền móng để Cách mạng tháng Tám diễn ra và kết thúc thành công, nhanh gọn.

H1

Những vụ tấn công, cướp các kho thóc lúc đó cũng huấn luyện người dân trong các hoạt động tập thể, giúp họ biết tự nguyện tổ chức, phối hợp với nhau trong các cuộc xuống đường biểu tình (chẳng hạn như đòi vua Bảo Đại thoái vị hay thành lập một chính phủ mới do Việt Minh lãnh đạo) lúc ấy.

Một chi tiết khác mà giới nghiên cứu đều nêu ra là trong hai tuần ấy ở Hà Nội, Huế và nhiều thành phố lớn khác ở Việt Nam đã có nhiều cuộc biểu tình quy tụ hàng chục ngàn – thậm chí hàng trăm ngàn – người đủ mọi thành phần khác nhau trong xã hội và những cuộc biểu tình này đã góp phần quan trọng trong thành công của cuộc khởi nghĩa tháng Tám.

Những cuộc tụ tập đông như vậy có thể dễ dàng diễn ra lúc đó là vì trong khoảng hơn bốn tháng nắm quyền, chính phủ Trần Trọng Kim (từ 17/04 đến 25/08) đã khuyến khích tự do ngôn luận và cổ vũ người dân tham gia vào các hoạt động chính trị. Theo Stein Tonnesson, đó là giai đoạn duy nhất trong thế kỷ 20 người dân Việt Nam gần như hoàn toàn được tự do ngôn luận.

Trong ‘The Other Side of the 1945 Vietnamese Revolution: The Empire of Viet-Nam (March-August 1945’ được đăng trong tạp chí Journal of Asian Studies năm 1986, Vũ Ngự Chiêu nhận định rằng khuyến khích sự tham gia chính trị của đám đông là một trong những đóng góp, thành công đáng chú ý của chính phủ Trần Trọng Kim.

Có thể nói không chỉ trong thế kỷ 20 mà ngay cả trong những năm đầu của thế kỷ 21 này, người dân Việt Nam vẫn không được tự do ngôn luận, hội họp, tụ tập biểu tình như dưới thời chính phủ Trần Trọng Kim.

Một yếu tố quan trọng khác – nếu không muốn nói là yếu tố quyết định – khiến cuộc khởi nghĩa tháng Tám bùng nổ và thành công nhanh chóng là khát vọng độc lập, dân chủ, tự do của nhân dân Việt Nam.

Tóm lại, các điều kiện để tiến hành một cuộc cách mạng ở Việt Nam lúc đó (nhằm chấm dứt sự đô hộ của đế quốc, thực dân, kết thúc sự thống trị của chế độ phong kiến và thành lập một quốc gia độc lập, một nhà nước dân chủ, cộng hòa) đã chín muồi.

Theo William J. Duiker, tại những xã hội thuộc địa khác, những người có khuynh hướng dân tộc chủ nghĩa, phi cộng sản là lực lượng đứng lên lấp chỗ trống quyền lực cũng như tận dụng những điều kiện chín muồi khác lúc đó để nắm quyền. Nhưng ở Việt Nam, phần vì chia rẽ, phần vì thiếu một đường lối rõ ràng, các phe phái, lực lượng theo chủ nghĩa dân tộc, không cộng sản lúc ấy không thể làm những điều đó.

Nhưng một yếu tố khác khiến những người Cộng sản hay Việt Minh chiếm được cảm tình, giành được sự ủng hộ của nhiều người thuộc mọi giai tầng xã hội lúc ấy là họ biết tạo một hình ảnh cởi mở, tiến bộ. Đây cũng là một trong những lý do tại sao họ, chứ không phải một lực lượng nào khác lên nắm quyền lúc ấy.

Nhiều người ủng hộ

H1

Trong cuốn Britain in Vietnam – Prelude to Disaster, 1945-6, xuất bản 2007, Peter Neville cho rằng nhân vật trung tâm trong những biến cố tháng Tám năm 1945 là Hoàng đế Bảo Đại. Theo học giả này, việc vua Bảo Đại thoái vị đã mở đường cho một nhóm người thuộc nhiều thành phần, đảng phái, khuynh hướng khác nhau lập nên ‘Việt Nam Dân chủ, Cộng hòa’. Ông cũng cho rằng nếu vua Bảo Đại không từ ngôi, Việt Minh không thể lên nắm quyền.

Rất khó để đánh giá một nhận định như vậy. Nhưng có thể nói việc vua Bảo Đại chấp nhận thoái vị, ‘sẵn sàng hy sinh tất cả mọi quyền lợi cá nhân’ vì ‘sự đoàn kết’ quốc gia, dân tộc trong thời điểm lịch sử ấy, và làm Cố vấn tối cao cho chính phủ lâm thời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa lúc đó chứng tỏ ông cũng ủng hộ Việt Minh và chính phủ lâm thời do Việt Minh lãnh đạo.

(Theo các nhà sử học, tháng 8 1945, các cán bộ cộng sản VN mang mã tấu và súng đã bao vây din Vua Bảo Đại, sau đó đại thần Phan Kế Toại đã vào trong dinh của nhà vua, và ép Vua Bảo Đại viết thư thoái vị. Trước đó, các cán bộ cộng sản cũng dùng cách hăm dọa để ép Thủ Tướng Trần Trọng Kim phải từ chức. Trần Hoàng sẽ tìm lại bài viết trong blog có viết chi tiết này và sẽ post link).

Chuyện nhiều người thuộc các đảng phái chính trị khác – hay thậm chí có người không thuộc một đảng phái nào – tham gia chính phủ lâm thời do Việt Minh lãnh đạo lúc ấy cũng chứng tỏ các đảng phái, giới trí thức lúc ấy cũng ủng hộ Việt Minh.

Một thành viên trong chính phủ lâm thời ấy là ông Nguyễn Mạnh Hà, một người Công giáo, nắm giữ chức Bộ trưởng Kinh tế. Theo Peter Neville, Hồ Chí Minh bổ nhiệm ông vì muốn có sự ủng hộ của những người Công giáo. Ở miền Bắc lúc ấy có khoảng một triệu người Công giáo (chiếm khoảng 10% dân số lúc đó). Tác giả này cũng cho biết, trong số những người tụ tập tại Quảng trường Ba Đình để nghe ông Hồ Chí Minh đọc ‘Tuyên ngôn độc lập’ ngày 02/09/1945 cũng có rất đông người Công giáo.

Trong Hồ Chí Minh’s Independece Declaration, một chương trong cuốn Essays into Vietnamese Past, xuất bản năm 1995, David G. Marr còn cho biết ngày 02/09/1945 lại rơi vào ngày Chủ nhật và cũng là ngày Giáo hội Công giáo kính các Thánh tử đạo Việt Nam nên Nhà thờ Chính tòa cũng như nhiều nhà thờ khác ở Hà Nội chật kín người tham dự thánh lễ.

Và sau thánh lễ, để biểu hiện sự ủng hộ với chính phủ mới, các vị chủ chăn đã dẫn con chiên mình về Quảng trường Ba Đình để nghe Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập.

Việc nhân dân, đủ mọi tầng lớp, thuộc nhiều thành phần khác nhau trong xã hội lúc đó đồng loạt xuống đường làm cuộc khởi nghĩa tháng Tám, giành sự ủng hộ cho Việt Minh và chính phủ lâm thời lúc đó cũng không có gì là khó hiểu. Ý tưởng, nguyện vọng, mục đích xây dựng một nước ‘Việt Nam Dân chủ, Cộng hòa’ – trong đó mọi người ‘có quyền bình đẳng’ về quyền lợi, ‘quyền được sống’, ‘quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc’ – mà những người Cộng sản hay Việt Minh lúc đó khởi xướng, theo đuổi hoàn toàn đáp ứng được mong đợi, khát vọng của người dân.

Tuyên truyền rằng ‘Cách mạng tháng Tám’ thành công là nhờ vào việc chủ nghĩa ‘Mác-Lênin được vận dụng một cách sáng tạo vào hoàn cảnh lịch sử cụ thể của cách mạng Việt Nam’ là giả dối, nếu không muốn nói là lố bịch.

Tuyên ngôn độc lập ông Hồ Chí Minh đọc ngày 2/9 không đề cập đến gì ‘Cách mạng tháng 10’ của Nga năm 1917 hay ‘chủ nghĩa ‘Mác-Lênin’. Trái lại, Bản Tuyên ngôn ấy được mở đầu bằng việc trích dẫn ‘Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của nước Mỹ’ và ‘Bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Cách mạng Pháp năm 1791’.

H1

————–

Tưởng niệm người soạn thảo “Chiếu thoái vị” cho vua Bảo Đại

Báo  công an nhân dân

11:56 18/03/2009
Hội Khoa học lịch sử Việt Nam vừa tổ chức Lễ tưởng niệm cụ Phạm Khắc Hòe, một nhân sỹ yêu nước, người đã có nhiều cống hiến xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc.

Tại Lễ tưởng niệm, Giáo sư Đinh Xuân Lâm, Phó Chủ tịch Hội Khoa học lịch sử Việt Nam đã đánh giá: Cuộc đời cụ Phạm Khắc Hòe là tấm gương chuyển biến tư tưởng của trí thức Việt Nam, một Đổng Lý Ngự Tiền Văn Phòng của Triều đình Bảo Đại với lòng yêu nước sáng suốt đã nhận thức đúng đắn con đường phải đi theo của đất nước, dân tộc và nhân dân nhằm lái vua Bảo Đại đi theo con đường chính nghĩa.

Trước Cách mạng Tháng 8 năm 1945, trên cương vị là Đổng Lý Ngự Tiền Văn Phòng của Triều đình Bảo Đại, khi được cán bộ cách mạng liên hệ và giác ngộ, cụ đã góp phần thúc đẩy sự sụp đổ của chế độ phong kiến từ bên trong và bảo toàn kho tàng, của cải của triều đình giao cho chính quyền nhân dân.

Trong khi các thế lực phản động ra sức lôi kéo nhà vua và xúi giục triều đình dựa vào Nhật, Pháp để chống lại Việt Minh, cụ Phạm Khắc Hòe đã tích cực thuyết phục vua Bảo Đại chấp nhận thà “Làm dân một nước độc lập hơn làm vua một nước nô lệ” và cũng trong thời khắc lịch sử ấy, cụ Phạm Khắc Hòe đã soạn thảo chiếu thoái vị cho vị Hoàng đế cuối cùng của nhà Nguyễn và đó cũng là triều đại phong kiến cuối cùng ở Việt Nam.

Sau Cách mạng Tháng 8 năm 1945, cụ Phạm Khắc Hòe đã lần lượt được Nhà nước ta giao đảm nhận các chức vụ: Giám đốc Nha Pháp chính, Bộ Nội vụ; Đổng Lý Văn Phòng Bộ Nội vụ; Cố vấn kiêm Tổng Thư ký Phái đoàn Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại Hội nghị đàm phán với Pháp ở Đà Lạt và Phông-ten-blô.

Tháng 12/1946, kháng chiến toàn quốc bùng nổ, cụ bị thực dân Pháp bắt giam ở Hỏa Lò, sau đó đưa đi giam giữ tại Sài Gòn, Đà Lạt và tìm mọi thủ đoạn để dụ dỗ mua chuộc, nhưng cụ kiên quyết từ chối, buộc chúng phải đưa cụ ra quản thúc ở Hà Nội. Sau đó được sự giúp đỡ của tổ chức, cụ đã bí mật trốn lên chiến khu Việt Bắc để tham gia kháng chiến và trở lại làm Đổng Lý Văn Phòng, Bộ Nội vụ.

Sau hòa bình lập lại, cụ tiếp tục được giao làm Vụ trưởng Vụ Dân chính kiêm Chánh Văn phòng Bộ Nội vụ; Vụ trưởng Vụ Pháp chế Phủ Thủ tướng cho đến khi nghỉ hưu.

Từ tháng 4/1961, cụ được tín nhiệm cử làm Ủy viên Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong nhiều khóa, Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, Hội viên Hội Luật gia Việt Nam và được Nhà nước ta tặng thưởng nhiều huân chương cao quý

L.V.

Posted in Cách Mạng Mùa Thu 1945 không hề xảy ra, Lịch Sử Việt Nam, Tư Liệu Lịch Sử | Leave a Comment »

►Các sĩ quan, cựu sĩ quan QĐND Việt Nam tham gia lừa đảo qua bán hàng đa cấp?

Posted by hoangtran204 on 21/08/2015

Ngọc Thu

Posted by adminbasam on 14/08/2015

Ngọc Thu

15-08-2015

“Chương trình: Không cần làm gì hết mà vẫn có tiền! Chỉ ở nhà ăn và chơi thôi! Bỏ ra 9,3 tỷ đồng, thu về 450 tỷ. Tỷ suất lợi nhuận là 4800%”. Đó là điều mà những người tham gia khóa huấn luyện của Liên Kết Việt đã được nghe. Bình luận viên: “Có là nhà kinh doanh đại tài hàng đầu thế giới như Bill Gates hay Warren Buffet cũng phải tôn là sư phụ!”

Theo clip Đại hội Hoa hồng của Công ty Liên Kết Việt giới thiệu, ban lãnh đạo công ty gồm có ông Lê Xuân Hà, là sĩ quan QĐND VN, Chủ tịch Hội đồng Quản trị, kiêm Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Tập đoàn Thiết bị Y tế BQP. Ông Hà đang giữ chức Chủ tịch Hội đồng Quản trị Liên Kết Việt.

Ông Lê Xuân Hà (phải), Chủ tịch Hội đồng Quản trị kiêm Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Tập đoàn Thiết bị Y tế BQP, là người được giới thiệu là lãnh đạo công Liên Kết Việt. Nguồn ảnh: otofun.net

Ngoài ra còn có Đại tá Nguyễn Văn Tùng, Phó tổng Giám đốc Tập đoàn Thiết bị Y tế BQP; Đại tá Dương Công Minh, Phó TGĐ Đối ngoại Tập đoàn Thiết bị Y tế BQP.

Ông Nguyễn Văn Tùng - Đại tá, Phó Tổng Giám đốc Tập đoàn Thiết bị y tế BQP phát biểu khai mạc chương trình Đại hội hoa hồng của Liên Kết Việt

Các sĩ quan cao cấp khác mà một người huấn luyện của Liên Kết Việt đưa ra để lừa dân gồm: Thượng tướng, Viện sĩ Nguyễn Huy Hiệu, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Thứ trưởng Bộ Quốc Phòng và Thiếu tướng Nguyễn Huy Chung, nguyên Viện phó Viện kiểm sát Trung ương.

Hãy nghe ông Lê Thanh Sơn, đại diện Công ty cổ phần Liên Kết Việt trả lời về mối liên hệ của các quan chức BQP với Liên Kết Việt:

Câu hỏi cuối về các sĩ quan QĐND Việt Nam mà Liên Kết Việt đã giới thiệu trong Đại hội Hoa hồng như các đại tá, về chữ BQP có phải là Bộ Quốc Phòng hay không, ông Lê Thanh Sơn đã trả lời ấp úng.

Báo QĐND đã từng nhắc tới ông Lê Xuân Hà, Chủ tịch Hội đồng Quản trị kiêm Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Tập đoàn Thiết bị Y tế BQPMF5-08 – niềm tự hào của khoa học quân sự Việt Nam.

Thông tin, hình ảnh các sĩ quan, cựu sĩ quan QĐND VN đang mặc quân phục có ở trong website Liên Kết Việt: ĐẠI HỘI HOA HỒNG LẦN 1 – ĐƯỜNG ĐẾN THÀNH CÔNG CỦA CHI NHÁNH LIÊN KẾT VIỆT TP. HỒ CHÍ MINH và ĐẠI HỘI HOA HỒNG THÁNG 7 VÀ TỔNG KẾT TRAO THƯỞNG XE MÁY

H1

Các sĩ quan, cựu sĩ quan QĐND VN tham dự Đại hội hoa hồng của Liên Kết Việt

Phải chăng các sĩ quan, cựu sĩ quan Bộ Quốc Phòng đã lừa đảo người dân qua cty Liên Kết Việt trong vụ bán hàng đa cấp? Câu trả lời dành cho độc giả.

Mời xem thêmSự kiện: “Đường đến thành công – Lễ đón nhận Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ – Trao tặng Huy hiệu Vàng Danh hiệu Giám đốc Liên Kết Việt” ngày 03/05/2015

Bức ảnh dưới đây cho thấy, Liên Kết Việt (Công ty Cổ phần Liên kết Sản xuất – Thương mại Việt Nam) trực thuộc Tập đoàn Thiết bị Y tế BQP và Tập đoàn Thiết bị Y tế BQP này thuộc Bộ Quốc Phòng. Có thể suy ra mối liên hệ giữa Bộ Quốc Phòng với Liên Kết Việt:

Ảnh: Chủ tịch HĐQT Lê Xuân Hà vinh dự nhận Bằng khen của Thủ tướng trao tặng Công ty

H1– DOANH NHÂN LÊ XUÂN HÀ VINH DỰ ĐÓN NHẬN BẰNG KHEN CỦA THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ

H1

H1

– CHỦ TỊCH TẬP ĐOÀN THIẾT BỊ Y TẾ BQP ĐÓN NHẬN KỶ NIỆM CHƯƠNG “DOANH NHÂN THIỆN TÂM THỜI ĐẠI HỒ CHÍ MINH”

____

Kênh 14/ Trí Thức Trẻ

Clip: Xem MC truyền hình “xoay” chuyên viên đa cấp với loạt câu hỏi chất vấn

Hồng Minh

14-08-2015

Màn chất vấn của MC với ông Lê Thanh Sơn - (Ảnh cắt từ clip

Sau khi được mời tham dự vào chương trình Bản tin tài chính phát sóng trên VTV1, một chuyên gia đa cấp đã phủ nhận hoàn toàn những chiêu trò mà công ty mình đang dùng để lôi kéo người khác vào công ty. Nhưng màn chất vấn sau đó giữa MC và chuyên gia này khiến người xem không khỏi bật cười.

Đó là nội dung được phát sóng trên chương trình Tài chính kinh doanh của VTV1 vào sáng nay (14/8). Bằng màn phỏng vấn đanh thép cùng những lý lẽ thuyết phục, đại diện của một doanh nghiệp tự xưng là công ty đa cấp đã bị “hớ” trước những câu trả lời của mình trên truyền hình.

Tại buổi nói chuyện, chương trình đã mời ông Lê Thanh Sơn – chuyên viên đào tạo đại diện của Công ty Liên Kết Việt để trao đổi về sự thật xoay quanh một phóng sự mà VTV đã thực hiện từ trước đó về buổi thuyết trình của một nhân viên công ty đa cấp.

Theo đoạn phóng sự này, một thanh niên trẻ tự xưng là nhân viên bán hàng đa cấp của Công ty cổ phần Liên kết sản xuất Thương mại Việt Nam (hay còn gọi là Công ty Liên kết Việt) đã dõng dạc thuyết trình về mô hình bán hàng đa cấp của công ty mình.

Trong đó, cái gọi là “bán hàng nhưng không cần bán hàng, bán hàng làm gì khi mà không cần làm gì cũng có tiền” đã thu hút sự chú ý đặc biệt của những người nghe. Ngót cả trăm người, quá nửa là phụ nữ, còn lại là ông bà già, nông dân, suốt 2 tiếng đồng hồ, tất cả đã ngồi nuốt từng lời của một người tự xưng là ban giám đốc của Công ty Liên kết Việt.

Cái được gọi là “Các bác không cần phải làm gì hết mà cũng có tiền” của nhân viên thuyết trình đã hâm nóng cả căn phòng. Thậm chí người này còn dùng những con số cụ thể để tô vẽ vào những lý lẽ của mình khi chứng minh rằng bỏ ra 9,3 tỷ đồng, thu về 450 tỷ, tỷ suất lợi nhuận là 4.800% hay 48 lần và thuyết phục người dân rằng có là kinh doanh đại tài cũng phải cúi đầu.

Không chỉ mách nước cách sinh lời trong mơ, Liên kết Việt còn chu đáo đến độ mách nước cách giấu gia đình, người thân để nộp tiền vào đa cấp. Kẻ thuyết trình ở trên, kẻ nói đế theo ở dưới, giống như một vở kịch chèo được diễn thành công. Con đường đến giấc mơ làm giàu dường như đang trải thảm đỏ với những người dân này.

Tuy nhiên, mặt khác, sau khi xem lại toàn bộ đoạn phóng sự ghi lại hình nhân viên của công ty mình thuyết trình về mô hình đa cấp, ông Lê Thanh Sơn – chuyên viên đào tạo đại diện của Công ty Liên kết Việt – người được mời đến trường quay lại khẳng định toàn bộ clip này là lời chia sẻ hoàn toàn sai sự thật về Công ty Liên kết Việt.

“Anh này là người chia sẻ, không thuộc nhân viên, cán bộ của công ty. Và công ty không chủ trương đưa người này về thuyết trình”, ông Sơn khẳng định.

Trả lời MC về sự xuất hiện của người thuyết trình không phải là nhân viên của công ty, ông Lê Thanh Sơn lấp liếm: “Đây chỉ là một đại lý, nhà phân phối của công ty. Điều này phải nói đến trách nhiệm của đại lý với công ty, khi đại lý ký với công ty thì phải chịu trách nhiệm với những lời tuyên truyền của mình. Đặc biệt, việc cử nhân sự lên thuyết trình thế này thì đại lý phải chịu trách nhiệm với ban lãnh đạo công ty. Chúng tôi sẽ có hình thức xử lý xác đáng đối với nhân viên cũng như đại lý này.

Chưa hết, MC còn đề cập tới chi tiết người này còn dùng những lời lẽ nguy hiểm, thậm chí nêu tên các nguyên lãnh đạo của Bộ Quốc phòng để “dựa hơi” và làm cơ sở cho bài thuyết trình của mình. Cụ thể, người thuyết trình trong clip đã giới thiệu Ban lãnh đạo của công ty là nguyên ủy viên trung ương Đảng, sau khi về hưu lại tiếp tục xây dựng công ty này, thuộc tập đoàn thiết bị y tế Bộ Quốc phòng (tên viết tắt là BQP).

Ông Lê Thanh Sơn tiếp tục phủ nhận hoàn toàn những điều này. “Tên đầy đủ của công ty chúng tôi là Công ty Cổ phần sản xuất thương mại Việt Nam, đã được cấp phép hoạt động ngày 22/12/2014. Do vậy, tất cả những lời chia sẻ của nhà phân phối phải chịu trách nhiệm với pháp luật. Trên giấy phép kinh doanh đa cấp, tất cả những lời chia sẻ của người này đều không chính xác với những hoạt động của công ty”.

Khi được hỏi về đoạn video trên website của công ty về Đại hội hoa hồng, trong đó ông Lê Thanh Sơn chính là MC dẫn dắt Đại hội đã giới thiệu nhiều vị là Đại tá đương chức của Bộ Quốc phòng đang tham gia vào Ban lãnh đạo của công ty, hành vi thiếu chính đáng của doanh nghiệp đa cấp tiếp tục bị bóc trần. Đặc biệt, những câu hỏi dồn dập được MC đưa ra đã khiến đại diện doanh nghiệp gần như “cứng họng” và vội vàng “sửa sai”: “Tất cả đều có chức danh và tham gia vào ban lãnh đạo công ty, nghỉ hưu và hiện đang làm tại tập đoàn thiết bị y tế BQP”.

Trên thực tế, với cái tên viết tắt là BQP, rất nhiều người đã lầm tưởng và đều nghĩ công ty này trực thuộc Bộ Quốc Phòng cũng như hoàn toàn tin tưởng vào uy tín cùng những lý thuyết suông từ những bài thuyết trình về mô hình bán hàng trong mơ của công ty cung cấp. Tuy nhiên, thông tin cuối cùng được chương trình nhắc đến và khẳng định lại những thủ đoạn của doanh nghiệp đa cấp: Thượng tướng Nguyễn Huy Hiệu – Thứ trưởng Bộ Quốc phòng đã được giới thiệu trong clip vừa rồi cho biết, chưa từng tham gia hoạt động kinh doanh hay điều hành tại bất kỳ công ty nào và Bộ Quốc phòng khẳng định không có bất kì liên kết nào với Công ty Liên kết Việt hay tập đoàn thiết bị y tế – thông tin từ VTV cho hay.

Đọc tiếp »

Posted in Tham Nhung-Hoang Phí- Ăn Cắp | Leave a Comment »

►Vụ “Tuần tra biển khống, rút ruột nhà nước”…nay, Sĩ quan trong danh sách “xử lý nghiêm” trúng cử Bí thư Đảng ủy

Posted by hoangtran204 on 21/08/2015

Lao Động

20-08-2015

Tàu của Bộ đội biên phòng Quảng Trị nằm yên tại cảng nhưng lập hồ khống tuần tra biển để rút ruột nhà nước hàng tỉ đồng

Như Lao Động đã thông tin, sau loạt bài về Bộ đội biên phòng (BĐBP) tỉnh Quảng Trị lập hồ sơ tuần tra biển khống để rút ruột nhà nước nhiều tỉ đồng trong các năm 2013, 2014, Bộ Tư lệnh BĐBP đã có kết luận khẳng định sai phạm trước hết thuộc về Chỉ huy trưởng và Chính ủy BĐBP Quảng Trị là đại tá Nguyễn Trọng Tiềng và đại tá Nguyễn Đức Khánh.

Đồng thời, Bộ Tư lệnh BĐBP cũng công bố danh sách 6 sĩ quan liên quan sẽ bị xử lý nghiêm theo quy định sau khi có kết quả kiểm tra, xử lý của Tỉnh ủy Quảng Trị, trong đó đứng đầu danh sách là Chỉ huy trưởng và Chính ủy có tên trên.

Tuy nhiên, cho đến ngày 19.8, Tỉnh ủy Quảng Trị vẫn chưa có kết luận kiểm tra và hình thức xử lý đối với tập thể, cá nhân sai phạm tại Đảng ủy BĐBP tỉnh. Trong khi đó, tại đại hội Đảng bộ BĐBP tỉnh Quảng Trị vừa kết thúc, ông Nguyễn Đức Khánh- đại tá, Chính ủy đã được bầu giữ chức vụ Bí thư Đảng ủy, Chính ủy BĐBP tỉnh Quảng Trị nhiệm kỳ 2015 – 2020.

Về vụ “tuần tra biển khống, rút ruột nhà nước hàng tỉ đồng”, ngày 14.7.2015, Viện Kiểm sát quân sự Trung ương đã có công văn chỉ đạo số 62/VKS-P1 yêu cầu Viện Kiểm sát quân sự BĐBP và Bộ Tư lệnh BĐBP kiểm tra vụ việc do Báo Lao Động nêu và báo cáo bằng văn bản để Viện Kiểm sát quân sự Trung ương có cơ sở báo cáo Ban Chỉ đạo phòng chống tham nhũng Trung ương.

Thực hiện chỉ đạo này, ngày 16.7.2015, Viện Kiểm sát quân sự BĐBP đã phát công văn số 34 VKS-B1 “về việc yêu cầu báo cáo vụ việc có dấu hiệu tội phạm xảy ra tại đơn vị theo báo Lao Động nêu”, yêu cầu Bộ Chỉ huy BĐBP Quảng Trị tiến hành kiểm tra và báo cáo bằng văn bản nội dung sự việc và kết quả giải quyết.

———————————————————————————

Quảng Trị: Tuần tra biển khống, “rút ruột” Nhà nước hàng tỉ đồng

6-7-2015

(LĐ) – Số 152 TỔ PV ĐIỀU TRA

Các tàu tuần tra chỉ nằm bờ, nhưng Biên phòng tỉnh Quảng Trị vẫn lập hồ sơ khống để rút tiền của Nhà nước. Ảnh: H.N

Điều tra của phóng viên Báo Lao Động cho thấy, việc tuần tra, kiểm soát, hoạt động giám sát nghề cá trên biển do Bộ đội Biên phòng (BĐBP) tỉnh Quảng Trị đảm nhiệm đã có sự trục lợi. Hàng chục bộ hồ sơ khống về những chuyến tuần tra biển đã được lập để “rút ruột” Nhà nước hàng tỉ đồng.

Những năm qua, tình hình trên biển diễn biến phức tạp, ngư dân ra khơi đánh bắt thủy-hải sản trong vùng biển chủ quyền của nước ta thường bị tàu nước ngoài uy hiếp. Chính vì vậy, Nhà nước đã đầu tư, bỏ ra số tiền lớn để lực lượng thực thi pháp luật tiến hành tuần tra, sẵn sàng bảo vệ ngư dân khi có sự cố xảy ra.

 

Tuy nhiên, điều tra của phóng viên Báo Lao Động cho thấy, việc tuần tra, kiểm soát, hoạt động giám sát nghề cá trên biển do Bộ đội Biên phòng (BĐBP) tỉnh Quảng Trị đảm nhiệm đã có sự trục lợi. Hàng chục bộ hồ sơ khống về những chuyến tuần tra biển đã được lập để “rút ruột” Nhà nước hàng tỉ đồng.

Tuần tra biển… trên giấy

Khu vực biên giới biển tại tỉnh Quảng Trị có 10 xã, 2 thị trấn thuộc 4 huyện ven biển (Vĩnh Linh, Gio Linh, Triệu Phong, Hải Lăng) và huyện đảo Cồn Cỏ có bờ biển dài 75km. Vùng đặc quyền kinh tế biển ở tỉnh rộng hơn 8.400km2. Hoạt động khai thác, đánh bắt hải sản của ngư dân khá thuận lợi, vì vùng biển này nhiều tài nguyên. Tuy nhiên, những năm trở lại đây, có tình trạng tàu thuyền nước ngoài xâm phạm vùng biển của tỉnh Quảng Trị để bắt trộm hải sản. Phạm vi hoạt động của những tàu này cách đảo Cồn Cỏ về hướng bắc – đông bắc đến đông – đông nam. Cứ lợi dụng đêm tối, các tàu nước ngoài xâm phạm lãnh hải để khai thác thủy hải sản, ban ngày lại rút ra ngoài.

Bên cạnh đó, một số tàu được cấp giấy phép trong vùng đánh bắt chung, lợi dụng sơ hở trong công tác kiểm tra giám sát của lực lượng chức năng đã lấn át ngư trường, tiềm ẩn nhiều yếu tố gây mất trật tự trị an trên biển. Hoạt động buôn lậu, gian lận thương mại vận chuyển các loại lâm sản, khoáng sản… vẫn xảy ra. Chính vì những lý do đó, Hải đội 2 – Bộ Chỉ huy BĐBP tỉnh Quảng Trị đã xây dựng kế hoạch số 115/KH-HĐ – tuần tra kiểm soát bảo vệ vùng biển, giám sát hoạt động nghề cá. Kế hoạch này nêu rõ, phải tổ chức tàu thuyền tuần tra khu vực xung quanh đảo Cồn Cỏ, vùng nội thủy, lãnh hải trong phạm vi được phân công.

Tất cả những bản kế hoạch tuần tra bảo vệ ngư dân đánh bắt trên biển đều được đại tá Nguyễn Trọng Tiềng – Chỉ huy trưởng BĐBP tỉnh Quảng Trị phê duyệt. Trên cơ sở đó, liên tiếp những lệnh điều động tàu thuyền “trên giấy” và hồ sơ “khống” đã được hoàn chỉnh để thanh toán tiền theo quy định; bởi các tàu được điều động vẫn nằm yên ở trong bờ, neo đậu ở Hải đội 2.

Ngư dân rất cần sự hỗ trợ từ lực lượng biên phòng. Ảnh: T.L 

Rút ruột hàng tỉ đồng

Trong kế hoạch 115 đã nói ở trên, 2 tàu BP 30-12-01 và tàu BP 30-04-01 được “điều động” tham gia tuần tra. “Từ 15h ngày 14.8.2014 tàu xuất phát tại đơn vị đi tuần tra trên biển theo kế hoạch, sau đó trở về đợi cơ tại âu tàu đảo Cồn Cỏ tiếp nhiên liệu, nước ngọt, tiếp tục đợi cơ nắm tình hình và tổ chức tuần tra, giám sát nghề cá đợt tiếp theo” – kế hoạch nêu rõ đường đi của tàu.

Và trong thời gian đi tuần tra, tàu BP 30-12-01- tàu vỏ sắt, lượng dầu dự trữ trên tàu tối đa chỉ 4.000 lít- nhưng đã tiêu thụ hết 13.900 lít dầu diesel và 417 lít dầu nhờn; còn tàu BP 30-04-01 – tàu vỏ gỗ, lượng dầu dự trữ tối đa 2.000 lít nhưng đã tiêu thụ hết 5.203 lít dầu diesel và 157 lít dầu nhờn. Tổng số tiền mà Nhà nước phải thanh toán riêng cho hạng mục nhiên liệu 2 chiếc tàu này đã gần nửa tỉ đồng (chưa kể tiền ăn thêm đi biển và phụ cấp đặc biệt). Tương tự, ở các kế hoạch 135/KH-HD ngày 14.9.2014; kế hoạch 169/KH-HD ngày 6.11.2014; kế hoạch 174/KH-HD ngày 18.11.2014; kế hoạch 185/KH-HD ngày 4.12.2014… qua kiểm tra sổ trực chỉ huy, trực ban, nhật ký hàng hải, nhật ký máy chính các tàu BP 30-12-01 và BP 30-04-01 tại Hải đội 2 cho thấy những gian dối tương tự, vẫn được quyết toán “khống”, với số tiền không hề nhỏ.

Kết quả xác minh của Bộ Tư lệnh Biên phòng tại BĐBP tỉnh Quảng Trị mới đây đã xác nhận trong năm 2013 – 2014 đã có 11 kế hoạch tuần tra giám sát nghề cá trên biển được lập khống với tổng số tiền đã được quyết toán gần 1,9 tỉ đồng, trong đó riêng nhiên liệu gần 1,750 tỉ đồng và tiền ăn thêm đi biển + phụ cấp đặc biệt là 91,4 triệu đồng. Tuy nhiên, một cán bộ công tác trên các tàu được quyết toán khống này khẳng định rằng trên thực tế số lượng tàu tuần tra được quyết toán khống còn lớn hơn nhiều.

Posted in Tham Nhung-Hoang Phí- Ăn Cắp | Leave a Comment »

► Chóp bu CSVN về hưu được lấy luôn “xe công”

Posted by hoangtran204 on 19/08/2015

Người Việt

17-08-2015

HÀ NỘI (NV) .-“Tứ trụ triều đình” khi về hưu được lấy luôn “xe công” mà các ông vẫn sử dụng khi còn đương chức, một quy định quyền lợi khá đặc biệt không biết có ở các nước khác hay không.

H1

Theo một “Quyết định” mới được ông thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng ký ngày 4/8/2015 thì bốn ông thường được gọi “tứ trụ triều đình” là tổng bí thư đảng CSVN, chủ tịch nước, thủ tướng và chủ tịch Quốc hội, sau khi nghỉ hưu, được mang theo về với mình chiếc xe hơi vẫn dùng khi còn đương chức, và cái xe đó “không quy định mức giá cụ thể”.

Điều này nằm ở điều 3 Chương II về “Tiêu chuẩn, định mức, chế độ trang bị, sử dụng xe ô tô phục vụ công tác” của bản Quyết Định mang số 32/2015/QĐ-TTg “Quy định tiêu chuẩn, định mức và chế độ quản lý, sử dụng xe ô tô trong cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập, công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ”.

Cái xe của các ông “tứ trụ triều đình” không quy định giá cụ thể nên có thể là Mercedes, Lexus, Acura,  Rolls Royce hay một thứ xe xịn gì khác trong khi những ông bà ở những vị thế trong đảng và nhà nước CSVN thấp hơn đều có quy định cụ thể. Những người này được ấn định là được quyền sử dụng xe công  chỉ trong thời gian còn ở chức vụ đó và giá chiếc xe tối đa cũng được ấn định.

Cũng vì vậy mà những năm qua người ta thấy có nhiều lời tố cáo một số ông bà có chức có quyền của chế độ đã “mua xe công vượt tiêu chuẩn” và cũng có những lời đe dọa thu hồi, nhưng “hô hào nhiều, xử phạt ít” như một bản tin trên báo điện tử VNExpress trước đây.

Cái quyết định số 32 do ông thủ tướng Dũng ký ban hành nói trên không những tham chiếu “Luật tổ chức chính phủ”, “Luật ngân sách nhà nước”, “Luật quản lý tài sản nhà nước” mà còn tham chiếu cả “Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí ngày 26/11/2013”.

Thỉnh thoảng, người ta vẫn thấy báo chí tại Việt Nam, từ trung ương đến các tỉnh thị địa phương vẫn đăng tải các bản tin về học tập “gương chống tham ô lãng phí” của ông Hồ, hay những phiên họp về thực hiện “phòng, chống tham nhũng, lãng phí”.

Các đảng bộ khắp các tỉnh thị đều phải “tổ chức học tập, quán triệt  đến toàn thể Cán bộ, đảng viên, CCVC Văn phòng UBND tỉnh, xây dựng chương trình hành động cho toàn khoá. chỉ đạo sát sao việc nghiên cứu, học tập và chấp hành các quy định của Đảng và Nhà nước về công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí.”

Như cái “quyết định” nói trên mà ông Nguyễn Tấn Dũng ký thì “tứ trụ triều đình” được mang xe công “không quy định mức giá cụ thể” về nhà xài riêng vĩnh viễn, không được coi là tham nhũng.

Người ta chỉ thấy quyết định đó quy định “chế độ quản lý, sử dụng xe ô tô” cho các quan chức tại “các cơ quan, tổ chức, đơn vị, ban quản lý dự án và công ty nhà nước” mà các tốn kém “tổ chức hạch toán và công khai chi phí sử dụng…”

Không thấy nói tiền xăng, tiền sửa chữa bào trì xe, tiền thuế xe “không quy định mức giá cụ thể” ai sẽ trả khi ‘tứ trụ’ về hưu. Mục này thấy không được đề cập trong “Quyết định”.

Lạm dụng xe công rất phổ biến tại Việt Nam. Các quan lấy xe công đi chợ, đi lễ hội thấy báo chí chụp bảng số xe phơi trên mặt báo khá nhiều. Thậm chí xe cứu thương được dùng làm xe cho quan y tế đi họp.(TN)

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

 
Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.