Trần Hoàng Blog

  • Bài viết mới

  • Lưu trữ

  • Danh mục

  • Tháng Bảy 2015
    CN T2 T3 T4 T5 T6 T7
    « Tháng 6    
     1234
    567891011
    12131415161718
    19202122232425
    262728293031  
  • Bài viết mới

► ‘Việt – Trung và Giải pháp Đỏ’

Posted by hoangtran204 on 03/07/2015

Tư liệu: ‘Việt – Trung và Giải pháp Đỏ’

1-7-2015

bbc.com/vietnamese

Để cung cấp thêm một góc nhìn vào các diễn biến dẫn tới bình thường hóa quan hệ Việt – Trung và hội nghị Thành Đô 3-4/09/1990, BBC xin giới thiệu phần tư liệu từ cuốn Hồi ký của nhà ngoại giao Trần Quang Cơ (1927-2015):

Những biến động lớn trong tình hình thế giới bên ngoài lúc này đã tác động mạnh mẽ tới suy nghĩ của lãnh đạo ta về phương hướng chiến lược đối ngoại.

null

TBT Nguyễn Văn Linh dẫn đầu phái đoàn VN sang Thành Đô 3-4/09/1990

Cuộc khủng hoảng chính trị tại nhiều nước theo chế độ XHCN đã bùng nổ từ năm 1989 và đang có chiều hướng lan rộng ra.

Tháng 6.89 xảy ra vụ Thiên An Môn ở Trung Quốc. Cũng trong năm 1989, chế độ XHCN ở các nước Đông Âu như CHDC Đức, Ba Lan, Rumani, Hung, Tiệp, Ba Lan đều đã sụp đổ.

Đầu tháng 10.89, TBT Nguyễn Văn Linh đi dự kỷ niệm 40 năm Quốc khánh CHDC Đức, khi về đến Hà Nội thì bức tường Berlin đổ, Honecker bị lật…

Trước tình hình ấy, trong nội bộ lãnh đạo ta đã nảy sinh những ý kiến khác biệt trong nhận định về sự kiện Thiên An Môn cũng như về những biến đổi dồn dập tại các nước XHCN Đông Âu và Liên Xô.

Nổi lên là ý kiến nhấn mạnh mặt XHCN của Trung Quốc, phải bằng mọi giá bắt tay ngay với Trung Quốc để bảo vệ chủ nghĩa xã hội, để chống Mỹ và các thế lực đế quốc khác. Chính điều đó đã tạo nên bước ngoặt khá đột ngột trong thái độ của ta đối với Trung Quốc…Lào cũng đã thoả thuận trao đổi đại sứ trở lại với Trung Quốc và bình thường hoá quan hệ giữa hai nước, đánh dấu bằng cuộc đi thăm chính thức Trung Quốc của Kayson Phomvihan, TBT Đảng NDCM Lào, tháng 10.89.

Chính là thông qua cuộc nói chuyện với Kayson ngày 7.10.89 ở Bắc Kinh mà Đặng Tiểu Bình đã bộc lộ rõ phần nào những tính toán sâu xa của mình đối với Việt Nam:

“Phân hoá Việt -Lào, Việt – Campuchia, Việt – Xô và phân hoá cả nội bộ Việt Nam. Đặng nói với Kayson rằng: Việt Nam đã có biểu hiện chống Trung Quốc từ khi Hồ Chí Minh còn sống; rằng sau khi thắng Mỹ, Lê Duẩn trở mặt chống Trung Quốc, xâm lược Campuchia, Việt Nam đi theo Liên Xô, đưa quân vào Campuchia, nên mới có chuyện Trung Quốc đánh Việt Nam.

Lúc đầu Trung Quốc cho là vì Brezhnev xúi giục nên Việt Nam xâm lược Campuchia, nhưng chính là do Việt Nam có ý đồ lập Liên bang Đông Dương, không muốn Lào, Campuchia độc lập. Việt Nam chống Trung Quốc vì Trung Quốc là trở ngại cho việc lập Liên bang Đông Dương…”

Trong khi không tiếc lời phê phán Lê Duẩn, Đặng đã hết lời ca ngợi Nguyễn Văn Linh. Đặng kể lại khi làm TBT Đảng Cộng sản Trung Quốc, năm 1963, đã tổ chức đưa Nguyễn Văn Linh từ miền Nam sang Hồng Kông để đi Bắc Kinh gặp nhau, khen anh Linh là “người tốt, sáng suốt và có tài”; nhờ Kayson chuyển lời hỏi thăm anh Linh; khuyên Nguyễn Văn Linh nên giải quyết dứt khoát vấn đề Campuchia, nếu làm được việc này thì sẽ khôi phục được uy tín của Việt Nam.

Cho đây là việc Việt Nam phải làm, vì những gì Việt Nam đang làm là sai lầm; mong muốn bình thường hoá quan hệ với Việt Nam trước khi ông ta nghỉ hưu… Về điều kiện bình thường hoá quan hệ Trung – Việt, Đặng nhấn mạnh Việt Nam phải rút hết quân, rút triệt để, rút thật sự khỏi Campuchia thì sẽ có bình thường hoá quan hệ (tuy lúc đó ta đã kết thúc đợt rút quân cuối cùng khỏi Campuchia từ ngày 26.9.89).

Theo thông báo của đại sứ Lào tại Trung Quốc, trong 70 phút nói chuyện với Kayson, Đặng nói về Việt Nam và quan hệ Trung – Việt tới 60 phút.

Ngày 21.10.89 Bộ Chính trị ta đã họp để nhận định về phát biểu của Đặng Tiểu Bình khi tiếp Kayson cuộc họp đã đi đến kết luận là:

“Trong lúc Trung Quốc đang còn găng với ta, ta cần có thái độ kiên trì và thoả đáng, không cay cú, không chọc tức nhưng cũng không tỏ ra nhún quá. Cần tiếp tục thực hiện đường lối Đại hội VI và Nghị quyết 13 của BCT, cần thấy cả mặt XHCN và mặt bá quyền nước của Trung Quốc. Trong khi cố kéo Trung Quốc, ta cần đồng thời hoạt động trên nhiều hướng; củng cố kết chặt chẽ với Lào; phân hoá Mỹ, phương Tây, ASEAN với Trung Quốc.”

null

Vụ Thiên An Môn tác động mạnh đến tư duy của Hà Nội

Theo phương hướng đó, ngày 6.11.89, anh Thạch đã chuyển qua đại sứ Trung Quốc thông điệp miệng của TBT Nguyễn Văn Linh gửi Đặng Tiểu Bình, ngỏ ý mong sớm có bình thường hoá quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc.

Ba tuần sau, anh Thạch lại gửi thư cho Tiền Kỳ Tham nhắc lại thông điệp ngày 6/11 và đề nghị phía Việt Nam sẵn sàng gặp lại phía Trung Quốc ở cấp bộ trưởng hoặc thứ trưởng ngoại giao tại Hà Nội hoặc Bắc Kinh trong tháng 12.89. Nhưng Trung Quốc không trả lời thông điệp của TBT ta lẫn thư của anh Thạch.

Vấn đề Campuchia

Mãi đến ngày 12.12.89, Đại sứ Trung Quốc mới gặp anh Thạch chuyển thông điệp miệng của Trung Quốc trả lời TBT Nguyễn Văn Linh, vẫn đặt điều kiện cho việc nối lại đàm phán với ta:

“Đồng chí Đặng Tiểu Bình và các lãnh đạo khác của Trung Quốc chân thành mong muốn sớm bình thường hoá quan hệ Trung – Việt. Vấn đề Campuchia là nguyên nhân chủ yếu làm cho quan hệ hai nước xấu đi đến nay chưa được cải thiện. Việc khôi phục quan hệ hữu nghị giữa hai nước chưa có thể cải thiện nếu bỏ qua vấn đề Campuchia.

Đồng chí Đặng Tiểu Bình có nêu ra là việc Việt Nam rút quân sạch sẽ, triệt để và việc Campuchia lập Chính phủ Liên hiệp Lâm thời 4 bên do Sihanouk đứng đầu là hai vấn đề hạt nhân thiết thực cần đồng thời giải quyết. Phía Trung Quốc sẵn sàng suy xét đề nghị của Việt Nam về việc mở vòng thương lượng mới ở cấp thứ trưởng nếu Việt Nam chấp nhậnmột cơ chế giám sát quốc tế do LHQ chủ trì có 4 bên Campuchia tham gia để kiểm chứng việc rút quân Việt Nam và lập chính phủ bốn bên do Sihanouk đứng đầu trong thời kỳ quá độ.”

Ngày 11.11.89, BCT họp bàn và thông qua đề án đấu tranh ngoại giao về vấn đề Campuchia. Trên cơ sở đánh giá tình hình quân sự, chính trị trên chiến trường và xu thế chung trên thế giới, ta chủ trương cần phấn đấu đạt một giải pháp chính trị về vấn đề Campuchia. Để ra 4 phương án về cơ quan quyền lực ở Campuchia trước tổng tuyển cử. Phương án thấp nhất là giữ nguyên bộ máy của hai chính phủ đang tồn tại, lập chính phủ liên hiệp hai bên ở trung ương để tổ chức tổng tuyển cử và thực hiện những điều thoả thuận.

Ngày 2.12.89, anh Thạch sang bàn với BCT Campuchia, phân tích chiến tranh ở Campuchia là một cuộc nội chiến, Việt Nam không thể đưa quân trở lại (4 ngày sau khi Việt Nam rút quân đợt cuối, lực lượng Son San đã đánh chiếm Thmar Ponk; ngày 22.10.89, Khmer Đỏ đánh chiếm Pailin và uy hiếp thị xã Battambang, theo yêu cầu của Bạn, ta phải đưa lực lượng đặc biệt lên giúp), nói kỹ về tính chất quốc tế của vấn đề Campuchia và xu thế trên thế giới. Bàn với Bạn cần đấu tranh để đạt một giải pháp chính trị để giành giật thắng lợi từng bước. BCT Bạn hoàn toàn nhất trí và thấy cần sử dụng vai trò LHQ như sáng kiến của Ngoại trưởng Úc G. Evans ngày 24.11.89.

Cuộc họp BCT ta ngày 6.12.89 đã bàn về sáng kiến của Úc và nhất trí về việcsử dụng vai trò LHQ. Sau khi trao đổi, BCT Campuchia hoàn toàn đồng ý với ý kiến của BCT ta. Từ ngày 10-25.1.90, Bạn triệu tập Hội nghị TƯ 10 để bàn đi vào giải pháp chính trị. Ngày 18.1.90, quốc hội Campuchia đã thông qua việc để LHQ tổ chức tổng tuyển cử, uỷ quyền cho Hunxen đàm phán về vấn đề này.

Việc ta và Bạn Campuchia chấp nhận sử dụng vai trò LHQ và xem xét sáng kiến của Úc để giải quyết vấn đề phân chia quyền lực bị bế tắc ở Hội nghị quốc tế Paris đã thúc đẩy mạnh mẽ các diễn đàn bàn về vấn đề Campuchia: cuộc họp IMC ở Jakarta ngày 26.3.90, các cuộc họp P5, cuộc họp Hun Sen-Sihanouk vòng 6 ở Bangkok ngày 22.2.90

Từ 26.2 đến 1.3.90 tại thủ đô Indonesia đã họp Hội nghị không chính thức về Campuchia (IMC).

Dự họp ngoài các bên Campuchia, Việt Nam, Lào và 6 nước ASEAN (như họp JIM), còn có thêm đại diện Tổng Thư ký LHQ, Pháp và Úc. Hội nghị không ra được tuyên bố chung vì Khmer Đỏ dùng quyền phủ quyết.

Thất bại của Mặt trận Giải phóng Sandino trong cuộc tổng tuyển cử ở Nicaragua ngày 25.2.90 và thất bại của cuộc họp IMC về vấn đề Campuchia ở Jakarta ngày 28.2.90 đã tác động mạnh vào lãnh đạo ta về phương hướng giải quyết vấn đề Campuchia.

Ngày 8.3.90, cố vấn Lê Đức Thọ cho gọi tôi và anh Đinh Nho Liêm đến nhà riêng ở số 4 Nguyễn Cảnh Chân nói mấy ý kiến về vấn đề Campuchia:

“Cần có chuyển hướng chiến lược trong đấu tranh về vấn đề Campuchia. Phải giải quyết với Trung Quốc, nếu không thì không giải quyết được vấn đề Campuchia. Không thể gạt Khmer Đỏ. Cần mềm dẻo về vấn đề diệt chủng, có thể nói “không để trở lại chính sách sai lầm trong quá khứ”. Không chấp nhận LHQ tổ chức tổng tuyển cử. Cần nêu phương án lập chính phủ liên hiệp lâm thời hai bên bốn phái để tổ chức tổng tuyển cử ở Campuchia. Phải giải quyết một bước cơ bản vấn đề Campuchia trước Đại hội VII để khai thông những vấn đề khác.”

Hai hôm sau anh lại nói với Nguyễn Cơ Thạch những ý đó. Sự việc này khiến tôi suy nghĩ: tại sao lại thay đổi phương hướng đối sách trước khi đại hội Đảng họp ? Tại sao lại chỉ nói với anh Thạch sau khi đã nói với chúng tôi?

Từ ngày 8-20.3.90, Heng Somrin nghỉ ở Hà Nội, có dịp gặp gỡ TBT Nguyễn Văn Linh, Cố vấn Lê Đức Thọ, Cố vấn Phạm Văn Đồng, Lê Đức Anh trao đổi về tình hình Liên Xô Đông Âu, Nicaragua và tất nhiên về tình hình Campuchia. TBT Nguyễn Văn Linh và Lê Đức Anh nói cần phải cảnh giác với LHQ, không thể để LHQ tổ chức tổng tuyển cử ở Campuchia. Từ đấy Bạn Campuchia chuyển sang phương án SNC tổ chức tổng tuyển cử, không tán thành để LHQ tổ chức tổng tuyển cử nữa. Sau này, ngày 11.8.90, khi nhắc lại vấn đề này, Hun Sen than phiền với anh Ngô Điền, Đại sứ ta ở Phnom Penh:

“Khi anh Heng Somrin đi nghỉ ở Hà nội, đồng chí Nguyễn Văn Linh và đồng chí Lê Đức Anh gặp anh Heng Somrin tỏ lo ngại về việc sử dụng vai trò LHQ. Anh Heng Somrin về nói lại cái này. Tôi có nói là giao cho LHQ có mặt phức tạp nhưng giao cho SNC phức tạp hơn vì nó có hệ thống, người nhiều mà ta còn phải lo đối phó với cả LHQ nữa. Cái này làm tôi rất khó. Quyết định của hai đồng chí TBT làm tôi rất khó. Không nên để có ý kiến khác nhau giữa TBT và Thủ tướng. Tôi phải làm theo ý kiến nhất trí… Việc sử dụng vai trò LHQ hay SNC là bộ phận quan trọng của quyết định chiến lược có đi vào giải pháp chính trị hay không. Dùng SNC rất phức tạp. Campuchia không đủ người và khả năng tham gia các uỷ ban của SNC để đối phó với bọn kia.” Hun Sen còn cho biết ngày 20-21.5.90, khi 3 TBT Việt Nam, Lào, Campuchia gặp nhau tại Hà nội nhân dịp 100 năm ngày sinh Hồ Chủ tịch, bàn việc không để LHQ tổ chức tổng tuyển cử ở Campuchia, TBT Đảng Lào Kayson băn khoăn điều này và nói: “ Ta nhận rồi ta lại thôi. Ta trèo cao rồi, nếu tuột xuống dễ ngã đau”.

Đến ngày 3.4.90, Trung Quốc đột nhiên lại biểu thị hoan nghênh việc thứ trưởng Đinh Nho Liêm đến Bắc Kinh “kiểm tra sứ quán” và công bố tin Trung Quốc sẽ đàm phán với thứ trưởng ngoại giao Việt Nam về vấn đề Campuchia.

Lúc này CP 87 đã giải thể. Các thành viên thường trực của CP 87 đều đã được bổ nhiệm đi nhận các trọng trách ở nước ngoài.

Anh Đặng Nghiêm Hoành đã nhận quyết định đi Đại sứ ở Trung Quốc. Anh Trần Xuân Mận nhận chức Đại sứ ở Angiêri. Anh Nguyễn Phượng Vũ trên đường đi nhận chức Đại sứ ở Philipinnes, đã chết trong tai nạn máy bay trên bầu trời Thái Lan.

Thay vào đó, Bộ Ngoại Giao đã lập Nhóm ad-hoc về giải pháp Campuchia với nhiệm vụ cụ thể hơn vì vấn đề Campuchia đã đến lúc giải quyết. Nhóm vẫn do tôi phụ trách, có các anh Trần Huy Chương, Lê Công Phụng, Huỳnh Anh Dũng, Nguyễn Can tham gia.

Nhóm nghiên cứu giải pháp Campuchia chúng tôi nhận định có mấy lý do đã khiến Trung Quốc mềm mỏng hơn trong thái độ đối với Việt Nam về vấn đề Campuchia:

  • Quan hệ Mỹ – Xô đang có chuyển động mạnh. Chỉ trong vòng 6 tháng, từ tháng 12.89 đến tháng 5.90, đã có 2 cuộc gặp cấp cao Xô Mỹ. Trong khi đó quan hệ của Trung Quốc với Mỹ và các nước phương Tây chậm khôi phục sau vụ Thiên An Môn.
  • Giữa Trung Quốc với Mỹ, ASEAN, phương Tây đang nảy sinh những mâu thuẫn mới về vấn đề Campuchia, chủ yếu trong vấn đề đối xử với Khmer Đỏ. Trong các cuộc họp 5 nước thường trực Hội Đồng Bảo An tháng 2 và tháng 3.90, Trung Quốc ở thế bị cô lập đã buộc phải có nhân nhượng và phải chấp nhận vai trò lớn của LHQ.
    null

    LHQ đóng vai trò đem các lãnh đạo Khmer Đỏ ra xét xử
  • Đàm phán Sihanouk – Hunxen có tiến triển. Ngày 9.4.90 Sihanouk có phần nhượng bộ khi đưa ra 9 điểm giải pháp, nhận lập Hội đồng Dân tộc Tối cao (SNC33) gồm số đại diện bằng nhau của hai chính phủ, 6 của Chính phủ Phnom Penh và 6 của “Chính phủ Campuchia Dân chủ” như Hun Sen đề nghị; không đòi giải tán Nhà nước Campuchia (SOC), tuy đòi thực quyền cai quản Campuchia trong thời kỳ quá độ phải là cơ cấu quyền lực của LHQ.

Ngày 10.4.90, BCT họp bàn phương hướng thúc đẩy giải pháp chính trị vấn đề Campuchia. Đề án đấu tranh sách lược về vấn đề Campuchia do Bộ Ngoại Giao dự thảo: dùng công thức LHQ nói về vấn đề diệt chủng và cho Khmer Đỏ vào chính phủ liên hiệp Campuchia, nhận vai trò Sihanouk. BCT thấy không nên giao cho LHQ tổ chức tổng tuyển cử mà nên trở lại phương án 4 mà BCT thông qua ngày 6.12.89 (lập chính phủ liên hiệp để tổ chức tổng tuyển cử.)

Đại đa số BCT đồng ý. Các đồng chí Nguyễn Văn Linh, Lê Đức Anh, Đào Duy Tùng, Đồng Sĩ Nguyên còn nhấn vào âm mưu của đế quốc Mỹ sau cuộc khủng hoảng chính trị ở Đông Âu.

Bảo vệ chủ nghĩa xã hội

TBT Nguyễn Văn Linh có ý kiến:

“Việt Nam và Trung Quốc là hai nước XHCN cùng chống âm mưu đế quốc xoá bỏ CNXH, phải cùng chống đế quốc. Trước hết phải phát triển quan hệ giữa 2 nước. Các vấn đề khác giải quyết sau… một Campuchia thân thiện với Trung quốc, thân thiện với Việt Nam là tốt nhất. Trên cơ sở điểm đồng này mà giải quyết vấn đề Campuchia có lợi cho Campuchia… Phương án 4 là tốt. Không để LHQ nhúng tay vào vì LHQ là Mỹ, Thái Lan là Mỹ”.

Riêng Nguyễn Cơ Thạch nói rõ quan điểm của Bộ Ngoại giao là cần tranh thủ Trung Quốc, song đồng thời phải chuẩn bị có 3 khả năng về thái độ của Trung Quốc.

khả năng 1: Trung Quốc cùng ta bảo vệ chủ nghĩa xã hội;

khả năng 2: Trung Quốc cấu kết với Mỹ chống ta như trước;

null

Đặng Tiểu Bình ‘bình thường hóa quan hệ’ với VN để tranh thủ Mỹ là chính

khả năng 3: Trung Quốc vừa bình thường hoá quan hệ với ta, vừa tranh thủ Mỹ, Phương Tây là chính.

Lúc đó tôi có cảm giác nhiều uỷ viên BCT không tán thành quan điểm này vì đã có định hướng “cùng Trung Quốc bảo vệ chủ nghĩa xã hội chống đế quốc”.

Ngày 16.4.90, thực hiện quyết định của Bộ Chính trị theo hướng sớm làm lành với Bắc Kinh, anh Nguyễn Cơ Thạch đi PhnomPenh gặp bốn người chủ chốt trong BCT Campuchia: Heng Somrin, Chea Sim, Hun Sen và Sor Kheng để cố thuyết phục bạn nên tính tới bước sách lược về vấn đề diệt chủng và không gạt Khmer Đỏ.

Nhưng Bạn Campuchia không đồng ý và tỏ ra muốn giữ đường lối độc lập trong việc giải quyết vấn đề Campuchia, không muốn ta đàm phán với Trung Quốc về các vấn đề nội bộ của Campuchia. Bạn tỏ ra rất găng về vấn đề diệt chủng, nói nếu bỏ ta sẽ không còn vũ khí gì chống lại các luận điệu của đối phương vu cáo “Việt Nam xâm lược Campuchia”, “chính quyền PhnomPenh do Việt Nam dựng lên”. Hơn nữa chính lúc này phương Tây lại đang khơi lên vấn đề lên án diệt chủng.

Phải nhận rằng ta khuyên bạn Campuchia đi vào “Giải pháp Đỏ” (từ năm 1987), việc ta thuyết phục Bạn chấp nhận vai trò của LHQ (tháng 12.89) rồi lại bảo Bạn bác vai trò của LHQ (tháng 3.90), khuyên Campuchia đi vào phương án 4 (lập chính phủ liên hiệp 2 bên) (tháng 4.90) đã gây nghi ngờ trong lãnh đạo Campuchia đối với Việt Nam. Việc lãnh đạo Campuchia không chấp nhận gợi ý của BCT ta trong cuộc hội đàm ngày 17.4.90 đánh dấu bước ngoặt mới trong quan hệ Việt Nam-Campuchia sau khi Việt Nam rút hết quân khỏi Campuchia.

Ngày 2.5.90 dưới danh nghĩa “đi kiểm tra sứ quán”, anh Đinh Nho Liêm đến Bắc Kinh để có cuộc “trao đổi ý kiến không chính thức” với Trung Quốc. Lần này đối tác không phải thứ trưởng Lưu Thuật Khanh mà là trợ lý bộ trưởng Từ Đôn Tín. Phụ tá cho anh Liêm là anh Đặng Ngiêm Hoành, lúc này đã là đại sứ Việt Nam ở Trung Quốc từ tháng 2.90. Cuộc đàm phán có vài tiến triển nho nhỏ.

null

Campuchia ngày nay đã có tổng tuyển cử đa đảng

Nội dung cuộc trao đổi ý kiến chủ yếu về vấn đề Campuchia. Ta tỏ ra mềm dẻo hơn, nói có thể trao đổi ý kiến về một giải pháp toàn bộ, nhưng không thể quyết định về các vấn đề nội bộ Campuchia. Từ nhắc lại lời Đặng: Để giải quyết vấn đề Campuchia cần phải thực hiện 3 điểm: một là, Việt Nam thực sự rút quân, rút “sach sẽ, triệt để”, đó là tiền đề cho việc giải quyết vấn đề Campuchia; hai là, sau khi Việt nam rút quân, 4 bên Campuchia cần thực hiện liên hiệp; ba là, chính phủ liên hiệp phải do hoàng thân Sihanouk đứng đầu, Polpot không được mà Hun Sen cũng không được. Nếu những vấn đề trên được giải quyết thì có thể nói là chúng ta đã kết thúc quá khứ, tiếp đó sẽ mở ra tương lai.

Lần này phía Trung Quốc đi vào những vấn đề thuần tuý nội bộ của Campuchia, đòi ta đàm phán về phạm vi quyền lực của SNC và về việc xử lý quân đội “4 bên” Campuchia. Về vấn đề chính quyền Campuchia trong thời kỳ quá độ (từ khi Việt Nam rút hết quân đến khi tổng tuyển cử), Từ nói Trung Quốc thấy tốt nhất là thành lập một chính phủ liên hiệp 4 bên – gọi là Hội đồng Dân tộc Tối cao cũng được – băng không thì phải chọn phương án giao quyền cho LHQ. Chính quyền thời kỳ quá độ này phải bao gồm cả 4 bên Campuchia (với hàm ý Khmer Đỏ được chính thức coi là một bên tham chính) mới thể hiện được tinh thần hoà giải dân tộc. Nếu các đồng chí thấy nói 4 bên có khó khăn thì nói là các bên Campuchia cũng được. Không gạt một bên nào, không bên nào nắm độc quyền. Trong buổi làm việc với anh Đặng Ngiêm Hoành sáng 4.5.90, Vụ phó Trương Thanh cũng nhắc lại ý này: “Hội đồng này bao gồm đại diện của 2 chính phủ, 4 bên hay các bên Campuchia đều được.”

Từ nói: “Nếu so sánh giữa phương án chính phủ liên hiệp lâm thời do Trung Quốc đề ra và phương án LHQ quản lý thì chúng tôi vẫn thấy phương án Trung Quốc là tốt hơn”.

Về vấn đề diệt chủng, Từ nói có ý đe doạ là nếu cứ khẳng định Khmer Đỏ phạm tội thì phía bên kia sẽ nói Việt Nam là xâm lược và Phnom Penh là nguỵ quyền, cho nên, không nên nói đến vấn đề đó nữa.

Trong đàm phán, phía Trung Quốc để lộ rõ ý đồ muốn SNC thực tế sẽ thay thế chính phủ Phnom Penh; còn quân đội của Bốn bên Campuchia phải tập kết vào những địa điểm được chỉ định rồi giải giáp toàn bộ; ít nhất là lúc đầu giảm quân số tới mức tối đa. Mục đích là tước bỏ thế mạnh cả về chính quyền lẫn về lực lượng vũ trang của Nhà nước Campuchia.

Cách làm của Trung Quốc đúng là “một mũi tên bắn hai đích”, vừa xoá sạch thành quả cách mạng Campuchi, vừa phân hoá quan hệ Việt Nam-Campuchia.

…Đáng chú ý là Từ Đôn Tín đã gợi ý là sau khi Việt Nam và Trung Quốc nhất trí được về giải pháp Campuchia thì ba nước Trung Quốc, Việt Nam và Thái Lan sẽ họp lại. Điều này chứng tỏ là Thái Lan giữ một vai trò không nhỏ trong việc cùng Trung Quốc nuôi dưỡng Khmer Đỏ và làm chảy máu Việt Nam bằng vấn đề Campuchia.

Về bình thường hoá quan hệ hai nước, phía Trung Quốc không mặn mà gì với gợi ý của ta về việc xích lại gần hơn giữa hai nước XHCN để cứu vãn sự nghiệp XHCN chung trên thế giới đang lâm nguy. Trung Quốc chỉ đặt quan hệ với Việt Nam trong khuôn khổ chung sống hoà bình như với các nước láng giềng khác.

Phần vì tình thế thúc bách đẩy nhanh giải pháp Campuchia, phần vì hài lòng với cuộc gặp ấy, Tiền Kỳ Tham đồng ý đầu tháng 6 sẽ cử Từ Đôn Tín sang Hà nội với danh nghĩa “khách của đại sứ Trung Quốc ở Hà Nội” để tiếp tục trao đổi ý kiến với ta.

Đây là lần đầu tiên trong 10 năm qua phía Trung Quốc nhận sang Hà Nội đàm phán với ta, trong khi tuyệt đại đa số các đợt đàm phán Việt – Trung đều tiến hành ở Bắc Kinh.

Đồng thời thái độ này đã được lãnh đạo ta hiểu như một cử chỉ thiện chí đặc biệt của Trung Quốc đối với Việt Nam…

Tựa của bài tư liệu do BBC đặt, từ Chương 9 ‘ĐẶNG TIỂU BÌNH TIẾP KAYSONE PHOMVIHAN ĐỂ NÓI VỚI VIỆT NAM’ trong cuốn hồi ký của cựu Thứ trưởng Ngoại giao Việt Nam, ông Trần Quang Cơ, người vừa qua đời hôm25/06/2015 ở Hà Nội.

Posted in Hội Nghị Thành Đô 1990 | Leave a Comment »

►Bút kí: Vừa đi đường vừa kể chuyện (40 năm sau ngày “giải phóng”)

Posted by hoangtran204 on 02/07/2015

Nguyễn Văn Tuấn Theo Tuan’s Blog

1-7-2015

Bút kí: Vừa đi đường vừa kể chuyện

Xin khấu đầu trước anh linh của Trần tiên sinh cho tôi mượn tựa đề nổi tiếng “vừa đi đường, vừa kể chuyện” của ngài để chia sẻ vài chuyện vui vui trên những nẻo đường quê hương. Tôi mới có một chuyến đi công tác rất thú vị và khó quên. Trong chuyến đi đó, tôi có dịp trải nghiệm nhiều việc mà nghĩ đi nghĩ lại hơi tức cười … (Xin nói trước là tôi đi đến đâu viết đến đó, chứ chẳng có thứ tự gì cả).

Chào mừng đến Hà Nội!
Cứ xem hình này như là cách vừa đi đường vừa … chụp hình. Hình này tôi chụp trong toilet ở nhà ga Nội Bài (nội địa) trong chuyến bay từ Sài Gòn ra đây. Các bạn chú ý cái máy làm khô tay ngả màu vàng. Nhìn kĩ hơn sẽ thấy rất dơ bẩn từ dưới lên trên thành máy. Tường thì loang lỗ, toàn cảnh trông rất nhếch nhác, chẳng ra thể thống của một phi trường thế kỉ 21 chút nào. Khi thấy tôi chụp hình cái máy khô tay, một anh chàng Tây mỉm cười nhìn tôi rồi nhún vai nói: Welcome to Hanoi (chào mừng đến Hà Nội). Tôi định thêm câu “The capital of Vietnam”, nhưng nghĩ lại thì thấy không nên nói thế.
Máy làm khô tay ở Phi trường Nội Bài (Hà Nội)
Hôm nay, tôi có cơ duyên đi chung với vài VIP trong chuyến bay. Ngồi kế bên tôi là ông L, bên kia là một ông xách cập táp có cái tag “VIP” màu cam, mà tôi đoán là ông tổng thanh tra Chính phủ. Ngồi hàng ghế giữa là bà cựu phó chủ tịch Nước, và kế bên bà là một ông mặt mũi bặm trợn như đang suy nghĩ gì ghê gớm lắm, và nhìn qua báo ông đọc và nghe cách nói, tôi đoán ông là cấp tướng. Ui chao, ngồi cạnh sếp lớn cũng khổ tâm lắm, vì mấy người đến chào sếp hoài, họ khúm núm, họ thì thầm, rồi cười lớn, làm tôi rất khổ sở mà đành phải chịu thôi. Có điều sếp rất thân mật và nói chuyện rất Nam bộ, nên chuyến đi cũng hay hay.
Đến nơi, người ta chận khách lại để sếp ra trước. Rồi có ngay phụ tá dẫn sếp đi đường riêng thẳng ra xe Camry màu đen bóng, bỏ lại tôi và hành khách khác bơ vơ lo xếp hàng chờ hành lí.
Ánh sáng văn minh?
Sáng nay thức dậy sớm để lang thang khu chung quanh khách sạn ở Vịnh Hạ Long, tìm báo đọc tin tức. Gặp một chị đội nón lá, hai tay ôm chồng báo, nhìn có vẻ khắc khổ, tôi hỏi có báo Tuổi Trẻ không. Chị ấy đưa ánh mắt nhìn xa xôi về hướng biển, rồi nói như độc thoại: Ôi giời ơi, ánh sáng văn minh chưa về đến đây, bác ơi.
Vịnh Hạ Long đang hứng chịu một cơn bão. Suốt từ hôm qua đến nay, trời cứ âm u, xám xịt, còn mưa thì liên tục nhưng không nặng hạt. Đường phố ướt nhẹp, chẳng đi đâu xa được. Chỉ quanh quẩn trong khu khách sạn.
Khách sạn mang tiếng là 5 sao, nhưng tôi đoán là 5 sao của VN thôi, chứ khó có thể so sánh với 5 sao cỡ Sheraton, Intercon, Caravelle, hay Nikko được. Từ đại sảnh, nhà hàng, đến những chi tiết nhỏ như rèm sáo, thậm chí cách bày trí bàn ghế đều chưa đạt chuẩn. Có vài chỗ trông nhếch nhác. Rèm sáo gì mà giống như ở nhà, cái thì nhếch lên, cái thì xệ xuống (xem hình) trông chả ra làm sao cả. Thuở đời nay người ta lấy mấy bao cát chèn cửa chính khách sạn (vì gió biển mạnh quá). Còn nhìn từ ngoài thì thấy mấy thùng nước được để cạnh cửa kiếng, giống như cái nhà kho!
 
 
Khách sạn 5 sao ở Vịnh Hạ Long 
Có rất nhiều khách Tàu ở đây. Sáng ra, chỉ cần đến nhà hàng và đứng từ xa quan sát sẽ thấy một quang cảnh hỗn độn, nhếch nhác, giống như tranh giành nhau miếng ăn. Chẳng có một cái gì có vẻ thứ tự, và tuyệt đối thiếu cái thanh lịch của khách hàng của khách sạn 5 sao. Dạo qua một vòng, tôi đành ra ngoài ăn sáng cho thoải mái.
Du lịch VN, đặc biệt là miền Bắc, còn phải làm nhiều hơn nữa thì mới thu hút khách high quality. Nếu không làm tốt thì VN chỉ là thị trường du lịch cho khách Tàu ô mà thôi.
Chữ kí của bộ trưởng GTVT
Đoạn đường Vịnh Hạ Long – Hà Nội chỉ khoảng 150 km (hay 180 km?) nhưng đường xá chưa được tốt mấy nên có trạm dừng chân cho khách. Hình dưới đây là “Trạm Dừng Nghỉ Quốc Tế Loại I”, nằm đâu giữa Quảng Ninh và Bắc Ninh. Điều làm tôi chú ý và thấy vui vui là phía dưới cái biển đó có câu “Bộ trưởng Bộ GTVT đã ký”. Tôi ngạc nhiên về cái uy danh của trạm dừng chân này. Đã quốc tế rồi, mà còn loại I nữa thì oách thật. Đã loại I mà còn thêm chữ kí của bộ trưởng, thì còn gì hơn.
 
Tôi tưởng tượng cái “job” của bộ trưởng – bất cứ bộ trưởng nào – chắc phải bận rộn lắm. Họ phải dành thì giờ lo nghĩ chuyện chiến lược phát triển lâu dài. Họ phải tiếp khách trong và ngoài nước. Họ phải lo cái ghế của mình. Họ phải hội ý với thành viên Chính phủ. Họ phải lo điều hành công việc ở Bộ. Vân vân. Ấy thế mà ở đây, tại Việt Nam này, Bộ trưởng Bộ giao thông vận tải lại đi quan tâm đến việc kí tên vào một trạm dừng chân cho khách. Nghĩ đến đó làm tôi cảm động về sự quan tâm của ngài bộ trưởng.
Trạm nghỉ chân coi vậy chứ tương đối nhỏ. Nếu các bạn đã từng ghé qua trạm nghỉ chân của các hãng xe Mai Linh hay Phương Trang ở miền Tây, thì “trạm dừng chân quốc tế loại I” này chỉ bằng 1/5 mà thôi. Nhưng lớn nhỏ không quan trọng, mà quan trọng hơn là chất lượng phục vụ.
Tôi phải nói thẳng là giá cả ở đây rất phải chăng, nhân viên rất nhiệt tình, nhưng chất lượng phục vụ chưa được ổn mấy, mà nó có cái gì đó còn rơi rớt lại từ thời bao cấp. Tôi đến hàng phở kêu một tô phở, thì giật bắn người khi anh chàng phở hỏi tôi “Phiếu ăn đâu“? Ui trời ơi, thời này mà còn phiếu tem gì nữa, tôi tự hỏi. Nhưng tôi cũng bình tĩnh hỏi anh ấy phiếu ăn là cái gì, thì anh giải thích là phải đến đằng kia, gặp cô ấy, mua cái phiếu ăn, rồi anh ấy mới “xuất phần ăn”. Kinh thật, chỉ một tô phở mà cũng khá nhiêu khê. Nhưng “luật giang hồ” ở đây là thế, nên mình cũng phải tuân theo thôi.
Ăn xong, đi một vòng chẳng thấy có gì hay ho hay đáng chú ý. Có hàng bán bánh mì loại “hot dog” nhưng không có mù tạt. Có rất nhiều hàng hoá Tàu ở đây. Tôi cầm trái mận lên thấy đẹp đẹp, hỏi cô bán hàng “Đồ Trung Quốc hả cháu”, thì cô ta nói “Vâng ạ”. Tôi đành phải trả nó về cho gian hàng.
Ở VN muốn biết chất lượng nhà hàng ra sao thì cần phải xem cái cầu tiêu, chứ bề ngoài thì chỉ là hoa lá cành thôi. Do đó, tôi cũng mon men ra cái cầu tiêu của trạm dừng chân, thì … hỡi ơi. Từ xa đã bốc mùi hôi thối, nước nôi tùm lum trên sàn, và dây nước chạy loạn xạ cả. Nhưng ấn tượng nhất là cái cầu tiêu có lẽ thuộc thời thế kỉ 19 (xem hình 2). Tôi ngạc nhiên là một “trạm dừng chân quốc tế loại I” với chữ kí ghi nhận của Bộ trưởng Bộ GTVT mà lại có cái cầu tiêu loại này! Bôi bác quá.
 
Cầu tiêu ở “Trạm dừng chân quốc tế loại I”
Để công bằng, tôi không bao giờ so sánh phục vụ và chất lượng phục vụ ở đây với mấy nước tư bản, mà chỉ so sánh với trạm dừng chân ở miền Tây thôi. Theo tôi thấy, từ tổ chức phục vụ, quang cảnh, đến chất lượng phục vụ ở “trạm dừng chân quốc tế loại I” này thua cả trăm năm ánh sáng so với hai trạm dừng chân trên đường Sài Gòn – miền Tây. Phải có đi xa như thế này mới thấy những hào nhoáng ở thành phố chỉ là bề mặt, chứ bề trong thì vẫn còn nhiều điều phải cải tiến lắm, và sợ nhất là cái “air” (phong cách), cái di sản của thời bao cấp nó vẫn còn tồn tại đó đây ở miền Bắc. Nghĩ đến đó chợt thấy lạnh cả người và thấy thương đồng hương mình ở đây, nhưng cũng thấy mình may mắn vì còn có miền Nam [“đi sau về trước”] để gọi là quê nhà.
Ý kiến anh tài xế taxi
Tôi thích trò chuyện và nghe ý kiến của giới tài xế taxi. Những ý kiến, những trăn trở của họ có thể ví như là một nhiệt kế thời sự. Hôm qua, đón chiếc taxi hiệu TN ở trung tâm Hà Nội về khách sạn, và có dịp nghe những ý kiến của anh tài xế trẻ làm mình có nhiều … tâm tư.
Bước lên xe, nghe giọng Nam kì của tôi, anh ta hỏi một cách dè dặt: bác từ trong Nam ra? Tôi gật đầu, và vui vẻ thêm rằng đáng lí ra người trong ấy nói giọng Bắc, nhưng chắc do đột biến nên giọng nói cứ phai dần từ Hà Lội, chuyển hoá sang trọ trẹ ở Quảng Bình, Huế, nẫu ở Đà Nẵng, Bình Định, Nha Trang, và dịu dần cho tuốt đến Cà Mau thì mất luôn âm hưởng Bắc kì. Anh ta cười lớn, thấy tôi có vẻ vui tính, nên nói đủ thứ chuyện trên trời dưới đất, làm cho chuyến đi xa trở nên ngắn lại.
Anh ta hỏi tôi nghĩ gì về Hà Nội. Được hỏi bất ngờ làm tôi suy nghĩ một phút. Tôi nói cảm nhận cá nhân của tôi là (1) Hà Nội hơi chật hẹp, không gian có vẻ ngột ngạt; (2) bất tiện ban đêm vì sau 10 giờ tối thì hàng quán ăn uống đóng cửa; (3) khó tìm chỗ nghe nhạc sống, thậm chí khó tìm giải trí bình dân “hát cho nhau nghe” theo kiểu Sài thành; (4) người dân có vẻ thiếu tính thân thiện, nhìn khách một cách dò xét, và khi họ đội nón cối xanh nữa thì trông rất lạ, nhưng trong thực tế họ lại thân thiện; (5) mấy cô Hà thành hình như có xu hướng mang giầy cao gót với độ cao cao hơn và dốc hơn mấy cô Sài thành, và như thế là nguy hiểm vì khi té là dễ bị gãy xương …
Tôi nói chưa hết những cảm nhận của tôi thì anh ta chen vào nói một mạch như vừa giải thích, vừa giải toả những bức bối nội tâm. Anh nói không chỉ Hà Nội mà những nơi khác ngoài Bắc cũng rất chật hẹp và ngột ngạt, và đó chính là lí do nhiều người ngoài Bắc bỏ quê vào Nam lập nghiệp, rồi khi định cư trong Nam thì họ không về Bắc mà gọi Nam là quê hương luôn. Anh ta chỉ ra một sự thật: Bác có thấy dân Nam ra ngoài này và gọi nơi này quê hương không?
Bằng một giọng nói Bắc kì trầm bổng, bỏ dấu đâu ra đó, và cách lập luận chặt chẽ, tôi chợt nghĩ đến hay là anh chàng này là sinh viên tốt nghiệp đại học mà không có việc làm nên làm nghề lái taxi. Nghĩ thế tôi nhìn anh tài xế cho kĩ hơn. Thấy anh ta còn trẻ, chưa đầy 30, người có vẻ ốm yếu nhưng làn da nâu có lẽ do ngồi taxi tối ngày, mắt sáng, ăn mặc đàng hoàng. Tôi đón xe một cách ngẫu nhiên, chứ không qua ai đó gọi đến, nên tôi nghĩ khả năng cao anh ta không phải là “DLV”. Tôi cảm thấy yên tâm rằng đây là dân thật, chứ không đóng kịch.
Rồi anh ta nói tiếp điểm thứ hai. Anh nói rằng thật ra, Hà Nội cũng có những điểm ăn tối đấy, và họ cũng mở đến 3 giờ sáng, nhưng phải là dân địa phương mới biết. Anh ta thêm rằng nhưng những quán như thế thường không có “đèn sáng” như khu Nguyễn Trãi ở Sài Gòn. Còn nghe nhạc thì anh ấy nói cũng có chỗ luôn, nhưng phải nhờ người sành điệu mới biết. Anh ta cho biết dân Hà thành không có dịch vụ kiểu “hát cho nhau nghe” như trong Sài Gòn. Rồi anh ta khuyên tôi không nên đến mấy chỗ nghe nhạc ban đêm, vì … chẳng có gì hay.
Đến điểm thứ 4, anh ta phản đối tôi. Anh nói rằng người dân ngoài này có thói sống 2 mặt. Ngoài mặt họ thân thiện với bác, đằng sau họ không ưa bác đâu. Này, cháu là dân Hà Tây, Bắc kì 100% nhé, mà cháu cũng cảm thấy không thích cái thói đó. Bác lịch sự quá, cháu làm nghề này và nghe dân Nam ra đây chửi chúng cháu là quân ăn cướp, chặt chém các bác ấy, nhưng cháu cũng phải công nhận các bác ấy nói có phần đúng đấy. Tôi phải vận dụng kĩ năng ngoại giao và nói với anh ấy rằng ở Hà Nội, cũng như ở Sài Gòn, có người thế này thế kia, tôi thì không nghĩ đồng hương ngoài này là “quân ăn cướp”, vì nếu nói ăn cướp thì trong Sài Gòn mới đúng là ăn cướp và còn nguy hiểm nữa. Anh ta không chịu và phản biện: không, ăn cướp trong ấy là manh động và qui mô nhỏ, còn ăn cướp ngoài này là qui mô lớn và êm ái, bác à. Lần đầu tiên tôi nghe khái niệm “ăn cướp êm ái”!
Như để minh hoạ, anh ta đưa tay chỉ về hướng thành phố do một đại gia tỉ phú USD xây, anh ta nói: đấy, đó là ăn cướp đấy bác. À, thì ra, anh chàng này nói ăn cướp theo cái nghĩa rộng hơn. Anh ta nói ngày xưa đất ở đây chỉ là đồng ruộng thôi, rồi cái tay đại gia này vào, dùng uy thế hay quyền thế để xua đuổi người dân, rồi xây dựng lên một thành phố trong thành phố và giàu thêm, còn người dân và mồ mả bao đời ở đây thì bị dạt ra ngoài thành phố. Anh ta nói một mạch, rồi hỏi tôi: bác có biết vụ cướp đất ở Hưng Yên không? Tôi chạy một cái scan trong não và chưa nghĩ ra vụ nào, nên lắc đầu. Anh ta nói rằng ở Hưng Yên có một đại gia là anh của đại gia anh ta vừa nói đến đó mua đất giá rẻ mạt, sau đó một đại gia khác đến mua đất giá đắt hơn chút, và thế là người dân biết mình bị lừa, nhưng biết thì đất đã mất rồi và họ trở thành “dân oan”. Anh ta nói say sưa, như anh ta chính là nạn nhân hay là một dân oan vậy.
Tôi thấy anh ta có vẻ biết nhiều chuyện, nên hỏi anh ta nghĩ gì về chuyện Biển Đông. Anh ta có những phát biểu chứng tỏ rõ ràng anh ta đọc báo lề dân hơi nhiều. Anh ta nói rằng VN chúng ta sẽ có nguy cơ cao bị Bắc thuộc lần nữa. Rồi anh ta tỏ vẻ tiếc nuối thời xa xưa. Anh nói tư tưởng của cụ Hồ là đúng đấy, nhưng các bác sau này chẳng ai làm theo cụ Hồ nên đất nước ra nông nỗi này. Đột nhiên, anh ta nói như so sánh rằng cái chính quyền VNCH ấy nó phản dân hại nước chạy theo Mĩ nên cũng chả ra gì. Tôi tò mò hỏi anh ấy là anh đi đến nhận định cái chính quyền phản dân hại nước và tay sai đó từ đâu, thì anh ta cười nói: dạ, cháu chỉ đọc sách báo thôi ạ. À, câu này giải thích tại sao em ấy là fan của tư tưởng cụ Hồ.
Cuộc trò chuyện càng lúc càng hào hứng, nhưng rồi cũng đến lúc chia tay. Xe trờ đến khách sạn, cuộc trò chuyện phải tạm chấm dứt. Tôi đưa tiền cho anh ấy và dặn làm chẵn, coi như một cách tặng thêm cho anh ta hai chục ngàn để nuôi vợ con (hay bồ bịch). Anh ta thối tiền đàng hoàng, và thấy tôi kín đáo đếm tiền, anh ta nói đùa: bác cẩn thận coi chừng bọn Hà Nội ăn cướp tiền đó nhé. Tôi cười lớn, vỗ vai anh ta, rồi nói lời tạm biệt, chúc anh ta nhiều may mắn trong một cái nghề khác thích hợp hơn với trí thông minh và tính hóm hỉnh của anh.
“Mình về thành phố đây rồi ….”
Tôi cảm thấy mình là người may mắn, vì có cơ hội đi đây đó để đối chiếu so sánh. Trước là mua vui cùng các bạn, sau là ghi chép những kỉ niệm, có thể xem như là những chuyến đi trong đời. Kì này, xin chia sẻ vài cảm nhận về phong cách phục vụ và làm việc giữa miền Nam và Bắc.
Đầu tuần, tôi đáp chuyến bay từ Sài Gòn (SGN) ra Hà Nội (HN) và có vài kỉ niệm đã kể lại cho các bạn nghe. Nhưng có một trải nghiệm tôi chưa nói: đó là … bán hành khách. Phía đối tác của tôi là một cơ quan cấp Bộ. Vì là cấp cao, nên họ không có người ra đón tôi ở sân bay (và tôi cũng không cần vì mình có thể tự đi taxi về khách sạn). Họ cử một người tài xế của một hãng taxi ra đón tôi, và theo email thì người tài xế sẽ cầm tấm biển có tên tôi ở phi trường. Tôi hăm hở gặp anh chàng tài xế, nhưng hỡi ơi, khi ra khỏi khu vực hành lí tôi chẳng tìm thấy anh ta ở đâu cả. Đi tới đi lui cũng độ 10 phút mà chẳng thấy anh ta. Định gọi điện thoại cho đối tác trong HN thì lại không có số điện thoại. Trong khi tôi định gọi taxi riêng về HN cho chắc ăn, thì thấy một anh tài xế xuất hiện dáng dấp hơi “nghi nghi” vì thấy anh ta đang cầm tấm biển tên mà tôi không rõ tên ai vì anh ta chẳng buồn tình giơ lên. Tôi dạo ngang qua và liếc tấm biển thì thấy tên mình, nên quay lại vỗ vai anh ta và tự giới thiệu tôi là người anh đang tìm.
Tay bắt mặt mừng. Nhưng vấn đề lại xảy ra. Xe chưa tới. Đứng chờ trong cái nắng hừng hực ngoài phi trường cả chục phút mà xe vẫn chưa tới, nên tôi đề nghị anh ấy là mình vào trong cho đỡ một chút trong khi chờ xe tới. Anh ấy cứ nói “Xe sắp đến, bác à”. Hoá ra, cái câu “sắp đến” có nghĩa là thêm … 10 phút. Lên xe, anh tài xế kia lái vòng vòng một hồi, làm tôi nghi ngờ nên hỏi: mình đi đâu vậy em, hình như đây không phải là đường đi Hà Nội. Anh chàng tài xế nhìn tôi thân thiện, rồi giải thích rằng hôm nay không phải là ngày trực của anh ta, nhưng vì một đồng nghiệp khác vắng mặt nên anh ta phải phụ trách. Nói xong thì xe cũng đến một bãi đậu xe gồm nhiều taxi khác. Anh ta nói với tôi là chuyển hành lí sang xe kia để về Hà Nội. Đến lúc đó thì tôi mới nghiệm ra là mình đã được bán cho một hãng xe khác.
Đúng là “Welcome to Hanoi”! Lần đầu tiên trong đời tôi mới có trải nghiệm được “bán”. Kể ra cũng hay ra phết! Cuộc mua bán xảy ra rất nhanh, và món hàng được bán không có tiếng nói ở đây.
Trên đường từ Vịnh Hạ Long về Hà Nội tôi lại trải nghiệm thế nào là chuyến xe địa ngục. Chiếc xe bus 16 chỗ của hãng Hyundai (bên Úc, giới sửa xe Việt Nam gọi xe Hyundai là “Ăn Hại”, nên ít ai mua). Trên xe đầy ấp người và hành lí. NGoài ra, còn có một đống đồ chuyên dụng trong hội nghị. Chỉ cần bước lên xe là choáng ngộp vì cái không gian quá hẹp và ngột ngạt. Nhưng tôi tự trấn an mình là chuyến đi chỉ có 3-4 giờ đồng hồ thôi, nên chịu khó một chút thì cũng chẳng sao. Nhưng xe chạy một lúc, tôi thấy hình như tài xế không mở máy lạnh, nên mồ hôi ra như tắm. Tôi hỏi anh tài xế có mở máy lạnh chưa, thì anh ta nói mở rồi à. Nhìn sang thì thấy đúng là có dấu hiệu mở máy lạnh. Lúc đó bà con trên xe ai cũng cảm thấy nóng bức, nên phàn nàn liên tục. Anh tài xế cứ trơ ra, chẳng thèm trả lời hành khách.
Tôi dù sao cũng thường lái xe ở nước ngoài, nên nhìn qua là biết rằng máy lạnh đã hết ga, hay đã hư hỏng, nên có phàn nàn cũng như không. Thôi thì mình chịu chấp nhận một chuyến đi trong tình trạng địa ngục vài tiếng đồng hồ xem sao. Vả lại, ở đây là đất Bắc, là Quảng Ninh, nơi nổi tiếng là hung dữ, mình nên giữ thân trước cái đã, chứ phàn nàn thì anh ta nổi nóng tông vào vách đá kia thì chắc mình sẽ bỏ mạng ở đây. Nghĩ thế nên tôi âm thầm chịu đựng, và thầm nghĩ chắc là chuyến đi lần đầu mà cũng là lần cuối.
Chợt lan man nhớ đến câu hát “Tình đầu hay tình cuối / khi một ngày một người đã ra đi / tình đầu hay tình sau / khi cơn đau không biết đến bao lâu“.
Cơn đau đến bao lâu thì chưa biết, nhưng là câu hỏi hay. Kể ra, phía đối tác đối xử với chúng tôi có phần “đặc biệt”. Đặc biệt ngay từ phi trường về đến Quảng Ninh, và từ Quảng Ninh đi Hà Nội.
Hôm qua, đáp chuyến bay từ Hà Nội về SGN cũng trải qua một vài kinh nghiệm hay hay. Ngay từ lúc xếp hàng lên máy bay (boarding) tôi đã thấy rất nhiều người Tàu và quan chức. May phước là tôi có thẻ ưu tiên của SkyTeam (mà Vietnam Airlines là thành viên của SkyTeam nên tôi được ké … ưu tiên). Nhưng tôi lầm to. Khi ra xếp hàng tôi mới phát hiện khách rất đông, hai hàng dài thượt. Hàng dành cho khách ưu tiên Skyteam cũng dài y chang như hàng kia. Thôi thì mình cũng phải xếp hàng như mọi người. Hoá ra, VNA chẳng có ưu tiên cho ai cả. Quả đúng như vậy, khi tôi đến gần chỗ cô xét vé, thì thấy cô ấy cũng có chận khách không có thẻ Skyteam nhưng không có hiệu quả vì khách không chịu chuyển sang hàng kia, nên cô ta cũng … đầu hàng. Nghĩ ra cũng tức cười về phong cách tổ chức của VNA.
Khi lên máy bay thì hỡi ơi, sự cố lại xảy ra. Cái ghế bị hư hỏng, không chịu đứng thẳng, nên nó làm phiền người khách phía sau. Tôi rất ái ngại cho khách, mà không làm cách gì giúp cho người khách đau khổ kia. Tôi gọi em tiếp viên lại thì em ấy cũng bó tay. Tôi lại tự an ủi là chỉ có vài mươi phút nên thôi thì ráng chịu đựng. Ngoài ra, tất cả khoang khách đó, hình như mấy nút entertainment đều hư nên ai cũng phàn nàn, và mấy nàng VNA cũng … bó tay. Dĩ nhiên, mình cũng chẳng kì vọng gì được từ họ, nên đành phải chấp nhận thực tế.
Nhưng cũng có điều an ủi. Chiều qua khi đáp xuống Sài Gòn thì thấy như mình vừa … thoát nạn. Mới đáp xuống thì có đồng nghiệp từ đại học ra đón (và dĩ nhiên đó là tấm lòng của đối tác trong này, chứ tôi thừa khả năng “giang hồ” đi xe taxi riêng). Lên xe, em ấy đưa tôi một tờ giấy, trong đó nói rõ chương trình làm việc hàng giờ và từng ngày. Tôi sẽ làm gì, ở đâu, gặp ai, số điện thoại là gì, mấy giờ tôi ra sân bay, v.v. tất cả đều đầy đủ và đâu ra đó. Tôi thiết nghĩ đó là một phong cách làm việc chuyên nghiệp mà các nơi có cơ hội làm việc với đối tác nước ngoài nên học. Nhưng nói gì thì nói, tôi thấy vẫn còn một khoảng cách về phục vụ và phong cách làm việc chuyên nghiệp giữa hai miền Nam và Bắc, và chắc phải vài chục năm nữa thì khoảng cách đó mới ngắn lại được.
Tối qua, về đến đây thì rủ lại những anh “bạn già” đi lai rai, kể chuyện những ngày đã qua, và nghe các ca sĩ “hát cho nhau nghe” làm vơi hết những ưu phiền trong những ngày vừa qua. Trên đường lấy taxi từ quán về khách sạn, gặp anh chàng tài xế taxi gốc Đồng Tháp mê nhạc sến, anh ta mở bài “Mình về thành phố đây rồi / chốn ăn, chốn vui lạ mặt người. Cho bỏ gian lao ngần này phép rong chơi, rủ phong sương đầy áo mà lòng nghe ước muốn lên cao.” Tôi nhìn anh tài xế một lần nữa để xem anh này đang đọc được mình, hay chỉ là ngẫu nhiên. Dù là ngẫu nhiên thì bài ca cũng lột tả được tâm trạng của mình, rồi tôi chợt nghiệm ra tại sao nhạc sến có sức thu hút cao như thế, và cảm thấy đây chính là “home country” của mình.

Posted in Chinh Tri Xa Hoi, Du Lich | Leave a Comment »

► Sự Thật Những Suy Nghĩ Của Dân

Posted by hoangtran204 on 02/07/2015

 

Sự Thật Những Suy Nghĩ Của Dân

(Lại hầu chuyện Anh Tư Sang)

Nguyễn Khắc Mai

 

Kính thưa anh Tư, 

Tôi rất hứng thú theo dõi, đọc tin gặp mặt cử tri của Anh, mỗi lần chuẩn bị họp hay đã họp xong kỳ họp Quốc hội. Bao giờ tôi cũng bắt gặp môt ý kiến đáng phải suy nghĩ của Anh, điều mà những anh Trọng, anh Hùng không có được, trừ cái lần hy hữu khi anh Trọng khẳng định “trăm năm nữa cũng không có chủ nghĩa xã hội hoàn thiện” mà tôi bình luận rằng, như thế là chỉ có một thứ chủ nghĩa xã hội không “hoàn”, tức là vẫn méo mó, đầy lỗ hổng, lại không “thiện” tức là vẫn chỉ là ác mà thôi. Phần lớn những cuộc nói chuyện của họ là rất nhạt. Anh biết không, cái “nhạt” là một phạm trù rất đặc sắc trong văn chương, thi ca. Còn cái nhạt trong chính trị thì phải nói là vô bổ, tốn tiền, tốn thì giờ và nhất là tốn tín nhiệm, nghĩa là ném tín nhiệm đi một cách rất vô…(nghĩa, vô văn hóa, vô lương…)

Lần này, anh nêu vấn đề “Phải nói sự thật những suy nghĩ của Dân” (đáng tiếc là báo lề đảng họ quên không viết hoa chữ Dân). Anh tế nhị nêu ra một sự thật là các đại cử tri chỉ là những bí thư chi bộ, tổ trưởng dân phố (tôi biết rõ họ phần lớn là cán bộ đoàn thể của đảng). Với thành phần như thế họ nói ra chút ít sự thật và chỉ là nhũng sự thật không làm mất lòng người nghe trực tiếp và nhất là những người nghe không trực tiếp nhưng quan trọng đó là các A, các Tuyên…các thủ trưởng ở nhà. Làm sao họ có thể nói hết sự thật cho anh nghe được. Mà chỉ một mình anh nghe thì được cái gì, những người khác họ có muốn nghe như anh không. Nói được chút ít sự thật trên ngọn là họ đã dũng cảm lắm. Nhưng như thế để làm gì.

Chắc anh cũng bức xúc lắm mới than thở như vậy.

Anh có biết ở những nước văn minh, họ “ nghe” và “nói” “sự thật những suy nghĩ của Dân” như thế nào không?  Họ không hời hợt và giả vờ như ở ta. Ở Hy lạp đấy, đầu tháng bảy này họ sẽ trưng cầu ý kiến của dân để quyết đi hay ở lại với Liên minh châu Âu. Ở nước ta vấn đề trưng cầu ý kiến nhân dân vẫn chưa có luật, nhiều nghị sĩ còn chê dân trí thấp… Chỉ mỗi cái quyền được bày tỏ ý kiến nguyện vọng “sự thật” của Dân mà Quốc Hội mười mấy khóa vẫn không hiểu, không có đủ “năng lực lập pháp” để phụng sự Dân, những cuộc hỏi ý kiến đại cử tri trở nên ngớ ngẫn như anh đang bức xúc. Mà chính cũng tại anh trong cương vị Chủ Tich Nhà Nước cũng đã không  làm sao để có luật, có dân chủ để có thể nghe sự thật của Dân.

Ở những nước văn minh, họ có đủ luật lệ và phương thức để nghe và nói “sự thật những suy nghĩ của Dân”. Đó  là tự do báo chí. Tư nhân, các nhóm tư nhân (thật ra là những nhóm công dân.Tôi nhấn lại Công dân chứ không phải tư nhân). Ở nước ta công dân chẳng có quyền gì, ngoài những quyền tuân phục và xin xỏ. Báo chí là của nhiều nhóm công dân. Ở nước ta chỉ là của một nhóm công dân. (Nhân đây tôi ví dụ tín đồ các Tôn giáo ở ta có đến 20-30 triệu. Họ đóng thuế, thế mà mấy Tôn giáo lớn họ có buổi phát thanh truyền hình dành riêng cho họ đâu.) Vì sao thế. Vì báo chí của ta chỉ là báo chí của riêng nhóm cộng sản. Khi người cộng sản chưa cầm quyền, họ chỉ là đảng. Khi họ đã cầm quyền họ phải là Dân tộc. Họ khư khư giữ đảng nên đã đánh mất tư cách là dân tộc. Nhân tiện nói rõ, họ đã không còn tính chính thống khi hành xử như vậy. Khi thật sự, (tôi xin lặp lại từ thật sự của Anh), chúng ta có báo chí tự do, các nhóm công dân có quyền ra báo, thì khi ấy anh chẳng cần đặt câu hỏi ấy nữa.

Thứ nữa là họ có chế đô chính trị đa đảng. Các đảng họ sẽ nói lên “những sự thật” mà họ dùng để tranh đua giành lấy tín nhiệm và phiếu bầu. Họ làm cho các sự thật khác nhau được phơi bày để xã hội và chính quyền có thể có được cái nhìn hệ thống, những sự thật được xem xét dưới nhũng góc nhìn toàn diện. Dẫu trong Tuyên ngôn cộng đồng chủ nghĩa, mà ta dịch là cộng sản, có nhiều điều lầm lẫn, nhưng Mác và Ăng ghen cũng đã nhìn thấy một sự thật là các dân tộc hiện đại rất cần đa nguyên đa đảng. Vì chúng ta theo thể chế xô viết và tư duy phản động mao ít, (anh em bảo với tôi là chúng ta không mao ít, mà trái lại là rất mao nhiều) nên đã làm ngược với Tuyên ngôn này. Trong ấy viết rõ: “Các đảng cộng sản phải biết phấn đấu để đoàn kết và hợp tác với các đảng dân tộc dân chủ trong mỗi dân tộc” Thế mà từ thời Hồ Chí Minh dẫu có hai đảng “cây cảnh” là Xã hội, và Dân chủ thì ông Nguyễn Văn Linh (ta đang ca ngợi hết lời) đã “phấn đấu” dẹp bỏ. Tôi cũng không hiểu nỗi tại sao các người lãnh đạo của đảng “ta” lại lạc hậu đến như vậy. Cho nên anh làm Chủ tịch nước trong một thể chế như thế này mà mong nghe được sự thật của Dân thì khó lắm. Nếu có đa đảng, anh chỉ cần nghe họ tranh luận là đủ biết ý kiến của các nhóm Dân, không còn phải thao thức như thế này nữa.

Trong tình hình hiện nay, khi còn phải chờ đợi, nếu muốn nghe “sự thật những suy nghĩ của Dân”, tôi xin đề nghị Anh hãy tổ chức một nhóm nhỏ lối hai mươi người, nhóm người của anh chọn độ mươi người, tôi cũng xin chọn mời lối mươi người, ta sẽ bắt chước Quốc Hội “họp kín” như để nghe tình hình Biển Đông mà không cho Tàu nó biết thêm rách việc. Anh sẽ nghe được những sự thật gốc rễ hơn và từ những sự thật ấy, chúng ta sẽ tìm ra lời giải cho những bài toán của dân nước một cách thật thà, trung chính và nhất là có đạo đức của trách nhiệm và hiệu quả. Như thế sẽ căn cơ hơn, khoa học hơn cũng văn minh hơn, thiết thực và hiệu quả, để chúng ta khỏi cứ mỗi lần họp “đại cử tri” lại cùng nhau bức xúc và than vãn.

Tôi ngồi trong phòng nóng, viết cho anh những lời nóng nảy .Xin Anh thứ lỗi.Kính chúc Anh vạn an. /.    

 

Tác gỉa gửi cho viet-studies ngày 30-6-15

viet-studies.info/kinhte/NKhacMai_SuyNghiCuaDan.htm

Posted in Chinh Tri Xa Hoi | Leave a Comment »

►Việt Nam chỉ còn chọn một trong hai con đường

Posted by hoangtran204 on 01/07/2015

Thiện Tùng

29-06-2015

Để đến nước nầy mà thứ trưởng Bộ Quốc phòng Nguyễn Chí Vịnh nói tỉnh bơ: “Càng căng thì phải càng độc lập tự chủ”. “Càng căng thì không bao giờ để bị kéo vào những liên minh với nước nầy để chống lại nước khác”. Một câu nói buông xuôi, xa rời thực tế, chỉ có giá trị an ủi.

Nhìn thực trạng, VN có “độc lập, tự chủ” đâu mà giữ?! Nếu đã độc lập tự chủ sao thời gian qua phải khổ công tính chuyện “thoát Trung”?

Hãy nhìn trên đất liền, biển, đảo Việt Nam, như tầm ăn dâu, Trung Quốc đang gậm nhấm cùng khắp. Việt Nam đang lệ thuộc Trung Quốc về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội. Họ luôn giở giọng kẻ cả, xem Việt Nam như thuộc địa hay chư hầu của họ – thật tủi hổ.

Nếu chỉ nói “không liên minh liên kết với nước nầy để chống nước khác” là sự khờ khiệu, Trung Quốc đang cười hiếp mắt về câu nói nầy. Không thể nói thế, phài nói “Không liên minh với nước nầy để chống nước khác với điều kiện nước khác đừng ỷ mạnh ăn hiếp tôi”. Trung Quốc đang ỷ mạnh ăn hiếp tôi thì tôi không chỉ liên minh với một nước – mà nhiều nước, để tự vệ, chớ chẳng lẽ ở đó chịu chết? phải phản ứng sinh tồn.

Xâm lược mềm trên đất liền !?

Xin lãnh đạo Việt Nam nói chung, thứ trưởng Bộ quốc phòng Nguyễn Chí Vịnh nói riêng, hãy nhìn trong đất liền và biển đảo xem, đất nước Việt Nam có độc lập được với Trung Quốc không, đừng nói để an ủi nữa ?!

Trung Quốc đang gây sự ở Biển Đông, Nga đang gậy sự ở Ukraine, cả hai đang bị thế giới cô lập, buộc họ phải liên minh liên kết với nhau. Cho dầu đó là sự liên minh ma quỷ, nhưng khi ma quỷ liên kết với nhau thì người đời cũng khó yên với chúng.

Ngoài cài cấm người trên đất liền, TQ tuyên bố: trừ hải phận của mỗi quốc gia, phần còn lại của Biển Đông thuộc TQ. Vì muốn đủ mạnh chống Mỹ, Nga mặc nhận với TQ về đường lưỡi bò ấy, ngược lại TQ mặc nhận với Nga về Ukraine. Trung Quốc và Nga chuẩn bị cùng tập trận ở biển Đông để thị uy với các nước Asean có nguồn lợi ở Biển Đông nói chung, với Mỹ nói riêng.

“Đơn thương độc mã” Trung quốc không dám làm liều, chớ có Nga hậu thuẫn thì TQ không còn ngán ai, kể cả Mỹ.

Về phía Mỹ và đồng minh của họ, dầu mạnh tới đâu, Mỹ cũng phải thận trọng hơn khi Nga và Trung Quốc liên kết với nhau. Hơn nữa, Mỹ cũng đã từng nói: họ không can dự vào việc tranh chấp hải đảo của các nước trong khu vực biển Đông mà họ chỉ quyết duy trì đường hàng hải quốc tế ở đây thôi. Vậy thì nếu TQ cưỡng chiếm thêm quần đảo Trường Sa của Việt Nam nữa thì chắc gì Mỹ can thiệp? Việt Nam bao giờ cũng coi TQ là bạn, là đồng chí thì Mỹ can thiệp làm gì cho thêm rắc rối.

Để đến nước nầy, Việt Nam không còn đu dây được nữa, chỉ phải chọn một trong hai phương án:

1/ Tiếp tục chơi thân với Trung quốc để mong họ “thương nhờ ghét chịu”, dầu mất luôn Trường Sa hay cả đất nước VN trở thành thuộc địa của Trung Quốc cũng đành cam phận.

2/ Liên minh hay liên kết với Mỹ và các nước để từng bước “thoát Trung”, ngăn chặn hành vi xâm lược mềm của Trung Quốc – “mềm nắn, rắn buông” là bản chất cố hữu của giới cầm quyền Trung Cộng. Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam ngày nay tương tợ như Việt Nam Cộng hòa trước kia, nếu không khéo về mặt ngoại giao, Việt Nam sẽ là “sân thi đấu” của các cường quốc – chết nữa ?!

Đất nước đang bị Trung Quốc xâm lấn, kinh tế lâm nguy, xã hội bất an…, lãnh đạo chia bè chia cánh tranh giành quyền lực, đang chúi mũi tính chuyện chia ghế ở đại hội 12 .v.v… Thử hỏi còn bất hạnh nào hơn đối với dân tộc Việt Nam ?!

Nguon:     anhbasam.wordpress.com/2015/06/30/4221-viẹt-nam-chi-con-chon-mot-trong-hai-con-duong/#more-148690

Posted in Chinh Tri Viet Nam | Leave a Comment »

►Ông Nguyễn Văn Linh: công trạng với đảng và với dân

Posted by hoangtran204 on 01/07/2015

GS Nguyễn Văn Tuấn

30-06-2015

Nguyễn Văn Linh

Hôm còn ở Sài Gòn, đi trên đường thỉnh thoảng thấy hình ông Nguyễn Văn Linh (NVL) được treo khá ư trang trọng. Bây giờ mới biết là ngày mai là ngày lễ kỉ niệm 100 năm ngày sinh của ông. Nói đến tên ông này, rất nhiều người (trong đó có tôi) nghĩ rằng ông là người rất cấp tiến, người chủ xướng phong trào “Đổi mới” cứu Việt Nam khỏi sự suy sụp về kinh tế, người cởi trói văn nghệ, v.v. Nhưng sau này biết thêm chút thì thấy tất cả những hiểu biết đó đều … sai, vì trong thực tế ông là một người rất bảo thủ.

Chẳng cần tìm chứng cứ đâu xa về tính bảo thủ của ông. Ví dụ như hôm nay, có bài “Người không chấp nhận đa nguyên, đa đảng” trên Vietnamnet (1), và “người” ở đây chẳng ai khác hơn là ngài NVL! Tôi hết sức ngạc nhiên khi người ta chạy cái tít hết sức bảo thủ như thế trên báo, giữa thanh thiên bạch nhật. Điều đó cũng là một phát biểu của vài người đang lãnh đạo đất nước hiện nay.

Nhưng đây không phải là lần đầu tiên chúng ta biết được tính bảo thủ của ông NVL. Theo Hồi kí “Hồi ức và Suy nghĩ” của Thứ trưởng Ngoại giao Trần Quang Cơ (ông mới qua đời tuần này) thì ngay từ thập niên 1980s khi thế giới XHCN sụp đổ, ông NVL đã triệu tập Bộ Chính trị là nói rằng: “Tranh thủ Trung Quốc, hợp tác với Trung Quốc, để bảo vệ Xã hội chủ nghĩa!” (2) Nói là làm. Sau đó, ông sang Tàu kí kết hiệp định Thành Đô mà cho đến nay chẳng ai biết nội dung là gì, chỉ biết ông Trần Quang Cơ nhận định rằng “Sở dĩ ta bị mắc lừa ở Thành Đô vì chính ta lừa ta! Ta ảo tưởng Trung Quốc giương cao ngọn cờ Xã hội chủ nghĩa, thay thế Liên Xô làm chỗ dựa vững chắc cho cách mạng Việt Nam và XHCN thế giới, chống lại hiểm họa “Diễn biến hòa bình” của chủ nghĩa đế quốc do Mỹ đứng đầu. Sai lầm đó đã dẫn đến sai lầm Thành Đô cũng như sai lầm: Giải háp Đỏ”. Còn Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch nhận định rằng “Trung Quốc đã sử dụng Hội nghị Thành Đô để phá mối quan hệ Việt Nam với các nước, chia rẽ nội bô ta, kéo lùi tiến trình đổi mới của ta” và ông cảnh báo rằng một thời Bắc thuộc thứ IV đã bắt đầu.

Trong cuốn sách “Bên thắng cuộc”, Huy Đức thuật lại rằng năm 1989, khi mà thế giới XHCN đang sụp đổ liên hoàn, thì ông NVL có một chuyến công du sang Đông Đức với mục tiêu chính là cứu vãn chủ nghĩa xã hội. Ông định nhân dịp này triệu tập một hội nghị các đảng cộng sản để cứu phong trào cộng sản quốc tế. Trong buổi họp, ông NVL gọi Gorbachev là “kẻ cơ hội nhất hành tinh này”.

Chẳng hiểu sao lời nói đó đến tai Gorbachev, và như là một trả đũa Gorbachev tỏ thái độ khinh miệt NVL ra mặt. Khi NVL xin được tiếp kiến Gorbachev (lúc đó cũng đang có mặt ở Đông Đức) để bàn việc cứu vãn tình thế, Gorbachev cố tình cho NVL “leo cây” vài lần. Nhưng cuối cùng thì Gorbachev cũng ban cho ông Linh một ân huệ: được diện kiến ông ấy. Huy Đức viết về buổi tiếp kiến như sau:

“Cuộc gặp Gorbachev dự kiến diễn ra lúc 10:30 sáng 8-10-1989, nhưng chờ đến mười một giờ cũng không thấy văn phòng ông ta gọi lại. Ông Linh rất sốt ruột. […]

Cuộc gặp Gorbachev được lùi lại 2:30 rồi 5:30 chiều cùng ngày. Gorbachev, khi ấy vẫn là nhà lãnh đạo của cả phe xã hội chủ nghĩa, được bố trí ở trong một tòa lâu đài. Nhưng, cuộc tiếp tổng bí thư Việt Nam đã không diễn ra trong phòng khách riêng mà ở ngay một phòng rộng mênh mông vừa dùng cho một tiệc chiêu đãi lớn, thức ăn thừa còn bề bộn trên các bàn. Nhân viên dọn một góc, kê bàn để Gorbachev tiếp ông Nguyễn Văn Linh. Gorbachev ra đón ông Linh ở sảnh và khi cửa xe mở, ông cúi đầu nói: ‘Kẻ cơ hội nhất hành tinh kính chào đồng chí Nguyễn Văn Linh’.”

Đúng là một lời mỉa mai chẳng cần dấu giếm gì cả. Nhưng đọc đoạn Gorbachev đối xử với ông NVL mới thấy chua chát. Trong khi ông NVL nhiệt tình trình bày đại kế hoạch nhằm cứu phong trào cộng sản thì Gorbachev tỏ ra thờ ơ và lãnh đạm, và khinh thị ra mặt. Ý kiến nào của ông NVL cũng được Gorbachev phê là “rất tốt”, mà không buồn tình nói gì thêm. Khi NVL đề nghị Gorbachev đứng ra triệu tập hội nghị các đảng cộng sản quốc tế, thì “Gorbachev liền giơ hai tay lên tươi cười: ‘Ý này hay nhỉ. Để xem! Để xem! Rất tiếc là giờ tôi đang nhiều việc quá!’.” Vui nhất là khi ông NVL mời Gorbachev đến thăm Việt Nam, thì “Gorbachev lại kêu lên: ‘Hay quá nhỉ! Cám ơn! Cám ơn! Nhưng, tôi đang có nhiều lời mời quá mà chưa biết thu xếp cái nào trước’.” Khi ông NVL đề cập xin viện trợ thì “Gorbachev xua tay, không còn xã giao, lịch sự như phần trên nữa, Gorbachev nói: ‘Khó khăn lắm, khó khăn lắm, các đồng chí Việt Nam tự lo thôi’.” Ấy thế mà ngày hôm sau báo Nhân Dân đưa tin “cuộc gặp diễn ra trong “tình hữu nghị thắm thiết”.

Câu chuyện trên cho thấy ông NVL hình như không biết những diễn biến trên thế giới, nên ông vẫn nghĩ rằng có thể cứu vãn chủ nghĩa xã hội và phong trào cộng sản. Ông không hề biết kẻ ông phê phán là “cơ hội” lại chính là kiến trúc sư đang giật sập bức tường Bá Linh. Chỉ hơn một tháng rưỡi sau khi hội kiến với ông NVL trong nỗ cứu vãn phe xã hội chủ nghĩa, ngày 25-12-1989, Tổng bí thư Nicole Ceausescu và vợ ông đã bị những người biểu tình đem ra xử bắn ở Romania.

Trong “Bên thắng cuộc”, Huy Đức qua lời kể của những người trong cuộc mô tả ông NVL có tính hơi nhỏ mọn (3). Ít ai biết rằng ông NVL không ưa ông Võ Văn Kiệt. Khi ông NVL mất chức trong Bộ Chính trị và về sống ở Sài Gòn, ông phàn nàn rằng “Khi tôi mất Bộ Chính trị, về Sài Gòn, Sáu Dân không bao giờ gặp tôi.” Đó là một trong những lí do ông Linh không chọn ông Kiệt làm thủ tướng. Ông NVL từng nhận xét ông Kiệt như sau: “Dốt mà không chịu học. Làm Uỷ ban Kế hoạch còn không xong lấy đâu ra thủ tướng” (3). Chẳng những không ưa ông Kiệt, ông NVL còn làm hại đàn em của ông Kiệt, như cụ thể việc ông ra lệnh bắt giam ông Dương Văn Ba (4), một người từng giúp ông Kiệt trong thời chiến và sau này điều hành một công ti khai thác gỗ với Lào.

Báo chí chính thống ngày nay viết rằng ông NVL là người có công Đổi mới. Nhưng hình như ông Trường Chinh (chứ không phải NVL) mới là người đề xướng chủ trương này. Mà thật ra, cũng chẳng có gì hay ho trong việc “Đổi mới” vì đó là điều tất yếu trong bất cứ xã hội nào. Nhưng tôi nghĩ báo chí đánh giá đúng là ông NVL có “cống hiến to lớn, quan trọng đối với sự nghiệp cách mạng của đảng” (5), vì rõ ràng là ông đã thành công duy trì sự lãnh đạo của đảng CS ở VN trong khi các đảng CS khác bên Đông Âu đều tiêu tan. Còn công trạng của ông NVL đối với đất nước và nhân dân — nếu có — thì nên để cho các nhà sử học sau này đánh giá công minh hơn, nhất là đến ngày mà sự kiện “Thành Đô” sẽ được bạch hoá.

____

(1) Người không chấp nhận đa nguyên, đa đảng (VNN).

(2) Hậu họa “Giải pháp Đỏ” của Nguyễn Văn Linh (viet-studies).

(3) Bên Thắng Cuộc – Chương 14: Khoảng cách Linh – Kiệt (vinadia).

(4) Hồi ký Dương Văn Ba: Những Ngã Rẽ (viet-studies).

(5) Ông Nguyễn Văn Linh với dân tộc, đất nước và miền Nam (VOA).

Nguon: 

GS Nguyễn Văn Tuấn

anhbasam.wordpress.com/2015/06/30/4225-ong-nguyen-van-linh-cong-trang-voi-dang-va-voi-dan/#more-148702 

——–

Ông Nguyễn Văn Linh với dân tộc, đất nước và miền Nam

VOA

Trần Phan

28-06-2015


Bài viết này nhằm thảo luận về “đóng góp to lớn của ông Nguyễn Văn Linh đối với sự nghiệp cách mạng vẻ vang của dân tộc, đất nước và của miền Nam”, không đề cập tới sự đóng góp của ông Linh đối với đảng của ông. Bài viết xin nói về 1) giai đoạn kháng chiến cứu nước thời kì 1954-1975 (chống Mỹ) và 2) giai đoạn xây dựng, bảo vệ tổ quốc Việt Nam từ năm 1975 tới khi ông Linh mất.     
Ngày 22/6/2015, nhân kỉ niệm 100 năm ngày sinh ông Nguyễn Văn Linh, cố tổng bí thư đảng CSVN, tại Tp HCM, thành ủy đảng CSVN, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Ủy ban MTTQ Việt Nam Tp HCM tổ chức cuộc hội thảo có tên là “Đồng Chí Nguyễn Văn Linh với Cách Mang Miền Nam, với Sài Gòn – Chợ Lớn – Gia Định, Tp HCM” nhằm “khẳng định và tri ân những cống hiến, đóng góp to lớn của ông đối với sự nghiệp cách mạng vẻ vang của đảng, của dân tộc, đất nước và của miền Nam”. Nhiều tham luận tại hội thảo có cùng nhận định: cuộc đời hoạt động của ông gắn liền với thời kì đấu tranh giành chính quyền, kháng chiến cứu nước và xây dựng, bảo vệ tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa (1).

Phần 1: Giai Đoạn Kháng Chiến Cứu Nước (chống Mỹ) thời kì 1954-1975

Quả thật, ông Linh có vai trò rất lớn trong cuộc cuộc “kháng chiến Chống Mỹ Cứu Nước”, cuộc chiến thường được các nhà quan sát chính trị nước ngoài gọi là cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ hai. Ông là một trong những nhà lãnh đạo cao cấp nhất tại miền Nam thời gian đó.

Cuộc kháng chiến đã đi tới thắng lợi hoàn toàn: đánh bại chế độ Miền Nam ngày 30-4-1975, thống nhất toàn bộ đất nước dưới sự lãnh đạo của đảng Cộng Sản Việt Nam kể từ đó.

Để xem các đóng góp của ông cho Miền Nam, cho Dân tộc lớn như thế nào, ta cần nhìn mục tiêu của cuộc chiến.

Nếu mục tiêu là Mỹ rút ra khỏi Việt Nam và chế độ Miền Nam thua trận, thì quả thật ông Linh đã lập công rất lớn và rất đẹp cho Miền Nam, cho Dân tộc.

Nếu mục tiêu là dân chúng Miền Nam ấm no và hạnh phúc, đất nước Việt Nam phát triển thì chúng ta đánh giá kết quả việc làm của ông như thế nào?

Hai mươi năm nội chiến từng ngày, nhiều tác giả, nhiều tài liệu đã nêu lên các con số kinh hoàng về người chết, về làng mạc, thành phố bị tàn phá, người viết không lặp lại đây. Chỉ biết bom đạn ngày đêm tàn phá khắp Miền Nam suốt 20 năm dài, người Việt giết người Việt với “lòng hận thù ngất trời”, rất rất nhiều gia đình có người thân ở hai bên nổ súng vào nhau. Cuộc thảm sát Huế – Mậu Thân mà tới bây giờ chính quyền còn giấu giếm cho thấy mức độ vô nhân đạo kinh hoàng của người giết người, người có súng giết người tay không, anh em, bằng hữu, xóm giềng giết nhau. Tại Huế, các chiến binh của ông Linh đã giết khoảng năm ngàn người tay không, nghe mà tưởng chuyện của thời quân Mông Cổ chiếm thành của một dân tộc khác tám thế kỉ trước! Đạo lí nào, truyền thống nào của dân tộc cho phép con dân nước Việt làm như thế? Các chính ủy của ông Linh đã tuyên truyền thế nào mà người Việt có thể căm thù người Việt tới vậy?        

Trước khi cuộc chiến mà ông Linh góp phần quan trọng lãnh đạo bùng lên, Miền Nam đang giàu có, dân chúng đang sống thanh bình no ấm. Năm 1960, GDP/người của Miền Nam tự do là 223 USD, cao gấp 3 lần con số 74 USD của Miền Bắc cộng sản.

Lúc ấy chiến tranh vừa chấm dứt vài năm, hai miền Nam Bắc vừa khắc phục hậu quả chiến tranh và bắt tay tạo dựng cuộc sống thanh bình. Thay vì dốc sức xây dựng Miền Bắc cho đời sống dân chúng khá lên, ông Linh và các đồng chí ông lại đưa cán binh Cộng sản từ Miền Bắc nghèo kém vào đánh phá Miền Nam sung túc. Hậu quả của cuộc chiến đó là kinh tế Miền Nam ngày càng tuột dốc nhanh. Miền Nam càng tuột dốc, càng tan nát, ông và các đồng chí càng phấn khởi, vui mừng. Càng gia tăng đánh phá, đào mô, phá cầu, giựt mìn, pháo kích, ám sát…

Người viết xin được nêu lên một câu hỏi rất nghiêm túc với buổi hội thảo: Khi làm như vậy, ông Linh và các đồng chí ông có yêu thương dân chúng Miền Nam không? Có yêu thương dân chúng Miền Bắc không? Có tấm lòng ủng hộ công cuộc xây dựng và phát triển Dân tộc không? Nếu nói rằng có, ắt chúng ta cũng nên làm một cuộc thăm dò xem dân chúng Miền Nam có thích được yêu thương như vậy không.

Cuộc chiến tàn khốc mà ông lãnh đạo giương cao ngọn cờ “Chống Mỹ Cứu Nước”, bởi vì “Mỹ là giặc cướp nước”. Bây giờ, ai cũng thấy Mỹ không cướp nước Việt Nam. Nếu ông và các đồng chí không đánh Miền Nam từ cuối những năm 1950, Mỹ đã không đổ quân vào Việt Nam năm 1965. Ông Linh lo sợ Mỹ khai thác tài nguyên của Miền Nam, bóc lột dân chúng? Không biết ông có cặp mắt nhìn gần quá không, nhưng thời đại đã khác xa rồi. Mỹ là nước giàu mạnh nhất thế giới, tổ chức xã hội hữu hiệu nhất thế giới, là nước dẫn đầu Thế giới Tự do. Quyền lợi của Mỹ nằm ở chỗ bảo vệ Thế giới Tự do chống lại làn sóng đỏ Cộng sản. Để yên cho Miền Nam thanh bình xây dựng kinh tế và làm đồng minh của Mỹ có lợi biết bao: kinh nghiệm xây dựng xã hội Tự do Dân chủ, thiết lập các giá trị sống tiến bộ, hệ thống luật pháp, trình độ quản lý, đầu tư, khoa học, công nghệ… bao nhiêu là tri thức trao đổi và chuyển giao cho Miền Nam. Thời đại đó, kích thước và tính chất dân số đó, tài nguyên đó… bao nhiên là điều kiện cho Miền Nam phát triển, đến nỗi ông Lý Quang Diệu bên Singapore phải thèm thuồng, mơ ước!

Miền Nam phát triển mạnh cũng có nghĩa là tổ quốc Việt Nam của dân tộc Việt Nam mạnh. Năm 1960, xã hội Miền Nam văn minh, chất lượng cuộc sống dân Miền Nam tươi đẹp và đầy triển vọng. Tốt đẹp hơn Miền Bắc, và tốt đẹp hơn Trung Công rất nhiều. Thay vì gìn giữ hòa bình cho dân tộc, tổ chức giao lưu, trao đổi kinh nghiệm hai miền để Nam và Bắc Việt Nam cùng giàu mạnh, thì chiến binh Miền Bắc mang vũ khí Trung Cộng trùng trùng lớp lớp tiến công Miền Nam gây thảm cảnh nồi da xáo thịt, đất nước tan tành!     

Người viết xin được nêu lên một câu hỏi rất nghiêm túc với buổi hội thảo: Khi làm như vậy, ông Linh và các đồng chí của ông có nhìn được cục diện chính trị, khuynh hướng phát triển của thế giới không? Có thấy được dã tâm Trung Cộng thúc đẩy hai Miền Việt Nam chém giết nhau để tự hao mòn nguyên khí không?

Cần biết rằng lúc đó Việt Nam đã có những nhà trí thức, nhà hoạt động chính trị nhìn sự việc rõ như ban ngày, đã phân tích và đưa ra các tiên đoán tình hình thế giới và quan hệ Trung Quốc-Việt Nam mà ba mươi năm sau thực tế cho thấy rất chính xác. Ông Ngô Đình Nhu, trong tác phẩm Chính Đề Việt Nam, từ năm 1960 đã nói: Nếu các nhà lãnh đạo Miền Bắc không thoát khỏi chủ nghĩa Cộng Sản thì: a) sự phát triển của dân tộc sẽ bế tắc, và b) mở cửa đưa các thế hệ sau này vào vòng lệ thuộc rồi bị xâm chiếm bởi Trung Cộng.

Người viết xin được nêu lên một câu hỏi rất nghiêm túc với buổi hội thảo: Ông Linh và các đồng chí ông có đủ tầm nhìn của một “nhà lãnh đạo tài năng, một tư duy sáng tạo, một trí tuệ lớn của cách mạng Việt Nam”, như ông Lê Thanh Hải ca tụng (2), để thấu hiểu các lời tiên đoán chính trị rất đúng đắn của ông Nhu không? Và nếu ông Linh có tầm nhìn đó, thì ông có mục tiêu gì khi lãnh đạo cuộc chiến “Chống Mỹ Cứu Nước” tàn phá Miền Nam? Mục tiêu đó có đồng hành với mục tiêu phát triển đất nước lâu dài không?

Phần 2: Giai Đoạn Xây Dựng, Bảo Vệ Tổ Quốc Việt Nam Từ Sau Năm 1975

Sau khi Việt Nam được thống nhất bằng bạo lực và đặt dưới quyền toàn trị của đảng CSVN, toàn bộ đất nước suy sụp nhanh chóng.

Sự suy sụp bắt đầu từ việc chính quyền thắng trận, bằng các thủ đoạn mang tính lừa gạt, lùa viên chức chính quyền và quân đội chế độ Miền Nam vào các trại cải tạo, thực chất là các nhà tù, giam cầm và đày ải họ suốt những năm dài sau đó. Trong khi đó, bên ngoài trại cải tạo, dân chúng bị tước đoạt tài sản qua các chiến dịch đánh Tư sản mại bản, cải tạo Công Thương Nghiệp, đổi tiền, ngăn sông cấm chợ…      

Những chứng nhân thời cuộc những năm 1975-1985 còn nhớ cảnh tượng kinh hoàng của một xã hội từ Tự do và Công bằng trở thành Toàn trị và Phân biệt đối xử, từ có cơm ăn áo mặc trở thành ăn độn, rách rưới, từ nề nếp và đạo đức trở thành xô bồ với mọi giá trị đảo lộn… chỉ trong vòng vài năm!

Khi xã hội suy thoái cùng cực, tên tuổi ông Linh được gắn với bút danh NVL kí dưới các bài báo “Những Việc Cần Làm Ngay” nêu lên những sự kiện trong xã hội và yêu cầu sửa đổi.

Thực ra các bài báo ngắn với bút danh NVL đó chỉ để giải quyết một vài cách làm quá tệ hại của đảng CSVN đang cầm quyền. Những việc nêu lên nhỏ quá so với tầm của một nhà lãnh đạo cỡ ông. Các bức xúc mà chúng đề cập chỉ như những chiếc lá nhỏ ngoài đầu cành con, không hề động tới các nhánh bên trong, tới thân cây hay gốc cây.

Việc tham gia giải quyết thiếu lương thực… cho thành phố cũng vậy. Nó chỉ giúp cho lòng dân tạm dịu cơn bất bình và đảng của ông kéo dài thời gian thống trị trên đất nước bị kìm hãm mà giàu tiềm năng này.

Buổi đầu, ông được mọi người nhìn như một nhà đổi mới. Nhưng khi các vấn đề xã hội và đất nước bắt đầu cần các thay đổi căn bản hơn một chút thì ông dần dần bộc lộ là một người bảo thủ, rất bảo thủ. Bảo thủ với ý nghĩa ông là một nhà lãnh đạo “luôn giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa, giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của đảng”, luôn kiên định lập trường “Đảng ta lấy chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng” (3).

Trước hết ông chống lại tất cả các chính sách cởi mở hơn, nới rộng hơn quyền tự do cho dân chúng. Ông chống lại Tự do báo chí và quyền ra báo tư nhân.

Ông chống lại các khuynh hướng đổi mới tư tưởng trong nội bộ đảng của ông. Ông chống tất cả những yêu cầu mang lại Tự do hơn cho dân chúng, chống tất cả những yêu cầu giảm tính toàn trị trong sự thống trị của đảng ông trên đất nước này. Ông là nhân vật quan trọng tham gia hạ bệ ông Trần Xuân Bách, người đồng chí trong Bộ Chính trị có tư tưởng hướng về đa nguyên.

Bởi vì ông biết chắc chắn rằng, khi người dân có quyền tự do hơn, có kiến thức hơn về cách tổ chức xã hội, về quyền con người của đa số các quốc gia trên thế giới, thì cái mặt nạ “của dân, do dân và vì dân” của chính quyền do đảng Cộng sản Việt Nam áp đặt hoàn toàn bị lột ra trước công chúng. Những điều gian trá đảng ông đã làm trong quá khứ sẽ bị phơi bày. Điều này được một hậu duệ của ông tuyên bố thật thà: “Bỏ điều 4 Hiến pháp nghĩa là chúng ta tự sát”. Do đó, ông rất kiên định trong việc tăng cường tính lãnh đạo của đảng, đồng nghĩa với việc không cho dân chúng hưởng bất cứ một quyền tự do căn bản nào. Quả thực, ông rất kiên định với mục tiêu không gì lay chuyển được cho “đảng Cộng sản Việt Nam mãi mãi lãnh đạo nước Việt Nam” như ông đã từng tuyên bố.         

Khi hệ thống Cộng sản thế giới rung rinh và sắp sụp đổ cuối thập niên 1980, ông Linh càng thể hiện là người mong muốn cứu vãn hệ thống ấy trên thế giới. Những vận động cuống cuồng và nháo nhào của ông trong thế cờ tàn của Chủ nghĩa Mác-Lênin ở mức độ toàn cầu cho thấy tầm vóc tri thức, tư tưởng thảm hại của Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh. Đau đớn thay cho Việt Nam, vào thời điểm rất quan trọng của lịch sử thì lại có một người lãnh đạo thiếu kiến thức như thế! Vậy là, trong khi các nước Đông Âu và Liên Xô, những nước Cộng sản hùng hậu và tiêu biểu nhất thế giới, quyết định từ bỏ chủ nghĩa Cộng sản để mà tổ chức xã hội theo mô hình Tự do Dân chủ, Tam quyền phân lập và từ đó đưa đất nước họ ngày càng ổn định và giàu mạnh, ấm no hơn, thì Việt Nam, sẵn lợi thế có một Miền Nam nhiều kinh nghiệm của thế giới Tự do, lại bị đẩy sâu hơn vào thể chế toàn trị Cộng sản. Trong việc này, ông Nguyễn Văn Linh có “cống hiến to lớn, quan trọng đối với sự nghiệp cách mạng của đảng”. Nhưng với Nhân dân, với Miền Nam thì ông Linh đã mang lại những tác hại to lớn lâu dài cho tương lai dân tộc.

Bởi vì, để giữ thể chế toàn trị Cộng sản lỗi thời trên tổ quốc Việt Nam, ông đã cùng với dàn lãnh đạo cao nhất nước sang Thành Đô phủ phục trước đảng Cộng sản và chính quyền Trung Quốc. Tác hại của Hội nghị Thành Đô đó khủng khiếp tới mức ông Nguyễn Cơ Thạch, một đồng chí trong Bộ Chính trị của ông phải thốt lên: “Một thời kì Bắc Thuộc mới đã bắt đầu!”

Trước Hội nghị Thành Đô, Trung Quốc đã tiến đánh Việt Nam. Cuộc chiến biên giới giết chết mười vạn quân dân Việt Nam, san bằng các thành phố họ đi qua. Sau đó là cuộc chiến ngoài biển giết 64 chiến sĩ hải quân Việt Nam, chiếm của Việt Nam một số đảo mà hiện nay là căn cứ quan trọng để Trung Quốc uy hiếp toàn bộ lãnh thổ nước ta. Dư âm các cuộc chiến còn vang vọng, máu của dân ta còn nhỏ tươi dòng, lòng dân ta còn căm phẫn, chỉ vì ích kỉ bảo vệ đảng Cộng sản lỗi thời của riêng mình, ông Linh nỡ tròng cái ách nô thuộc của Trung Hoa lên đầu dân tộc!

Trước Hội nghị Thành Đô, dù tiến đánh Việt Nam, Trung Hoa chỉ là người hàng xóm hung hăng ngoài cửa. Sau Hội nghị Thành Đô, họ là thầy, là cha chú của Việt Nam. Nhìn họ cười ngạo nghễ trước giới cầm quyền Việt Nam khúm núm, nhìn họ hung hăng lấn chiếm và chính quyền Việt Nam hèn yếu cúi đầu, nhìn họ ra lịnh và chính quyền Việt nam vâng lời đàn áp dân chúng… lòng người Việt Nam nào không đau? Họ đã bước vào bên trong Việt Nam qua các vùng lãnh thổ Tây Nguyên, các tỉnh địa đầu biên giới, các vùng đất hiểm yếu của Việt Nam. Người dân tin rằng họ đã nằm trong giới cầm quyền cao cấp của đất nước…

Các tham luận cùng nhận định cho rằng ông Linh đã cống hiến, đóng góp to lớn vào sự nghiệp “xây dựng, bảo vệ tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”. Tôi không hoài nghi và cũng không thảo luận nhận định này.

Người viết xin được nêu lên một câu hỏi rất nghiêm túc với buổi hội thảo: Trong khi “xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa” ông Linh có làm hại cho việc xây dựng và bảo vệ “tổ quốc Việt Nam chung của dân tộc chúng ta” không?

“Tổ quốc Việt Nam chung của dân tộc chúng ta”, ý của người viết muốn nói tổ quốc Việt Nam từ thủa bình minh của những bộ tộc Việt trên châu thổ sông Hồng, qua hai ngàn năm lớn lên, tiếp theo một ngàn năm Bắc thuộc, rồi giành lại độc lập tới giờ hơn một ngàn năm nữa. Tổ quốc đó, được bảo vệ và phát triển qua bao đời, từ xa xưa tới nay, thành một dãy đất hình chữ S kéo dài từ ải Nam Quang tới mũi Cà Mau, ngoài khơi có các đảo Cát Bà, Cái Bàn, quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa, Côn Lôn, Phú Quốc… Trên dải đất đó, dân tộc Việt Nam thấm nhuần truyền thống lòng hiếu thảo, tình đồng bào, tình làng nghĩa xóm và tinh thần chống ngoại xâm, cái họa ngoại xâm thường trực đến từ láng giềng phương Bắc. Hai chữ Tổ quốc đó, vài dòng không diễn hết ý, mà ngàn trang cũng không đủ, chỉ biết đối với những người Việt nặng lòng với đất nước tổ tiên thì tâm tình Tổ quốc luôn rào rạt trong từng mạch máu, và réo sôi khi vận nước nguy nan.

_____

Tài liệu tham khảo:

1) HỒNG HIỆP. Bài Học Về Tư Duy Đổi Mới Và Gắn Bó Với Dân. SGGP, số 13668, ngày 23-6-2015, trang 2.

2), 3) LÊ THANH HẢI. Đồng chí Nguyễn Văn Linh – Nhà lãnh đạo tài năng, một trí tuệ lớn của cách mạng Việt Nam. SGGP, số 13668, ngày 23-6-2015, trang 3.

———

Ông Trần Quang Cơ qua đời

BBC

28-06-2015

 Ông Trần Quang Cơ trong một cuộc tiếp xúc với chuyên gia Liên Xô (ảnh của báo Quân đội Nhân dân)

Nguyên thứ trưởng thứ nhất Bộ Ngoại giao Việt Nam Trần Quang Cơ vừa qua đời tối hôm thứ Năm 25/6 ở tuổi 89.

Lễ tang ông sẽ được tổ chức tại Nhà tang lễ Quốc gia, số 5 Trần Thánh Tông, Hà Nội, sáng ngày 1/7.

Ông Cơ là người từng khước từ chức bộ trưởng ngoại giao mà Đảng Cộng sản Việt Nam sắp đặt sau khi Bộ trưởng Nguyễn Cơ Thạch bị buộc phải ra đi dưới áp lực của Trung Quốc năm 1991.

Ông Trần Quang Cơ sinh năm 1927 tại Nam Định, làm ngoại giao từ 1954 tới khi về hưu năm 1997.

Có thể nói ông là một trong các nhà ngoại giao lão luyện nhất của Việt Nam, từng kinh qua các chức vụ như Đại sứ Việt Nam tại Thái Lan, Thứ trưởng thứ nhất Bộ Ngoại giao.

Ông vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng CSVN từ năm 1986.

Trong suốt 12 năm kể từ 1979, ông Trần Quang Cơ tham gia các cuộc thương lượng nhằm giải quyết vấn đề Campuchia.

Ông cũng tham gia tiến trình đàm phán bình thường hóa quan hệ với các nước lớn Hoa Kỳ, Liên Xô, và Trung Quốc.

‘Hồi ức và Suy nghĩ’

Năm 2001 ông cho ra cuốn hồi ký mang tựa đề ‘Hồi ức và Suy nghĩ‘ gây tiếng vang vì đụng chạm tới những vấn đề vẫn được giữ kín về chính trị nội bộ và quan hệ với các nước lớn trong đó có Trung Quốc.

Đánh giá về ông, cựu đại sứ Nguyễn Ngọc Trường nói: ” Ông Cơ là một nhà ngoại giao lão luyện, có tầm nhìn chiến lược”.

“Ông có chính kiến, độc lập, đặc biệt là không tán thành cách tiếp cận cơ hội với Trung Quốc như một số nhân vật cấp cao thời bấy giờ.”

Sau khi từ chối chức Bộ trưởng Ngoại giao năm 1991 vì cho rằng không thể làm việc khi một số nhân vật cao cấp trong dàn lãnh đạo Việt Nam lúc đó quá ngả về phía Trung Quốc, cuối năm 1993, ở Hội nghị giữa nhiệm kỳ, ông Trần Quang Cơ cũng tự xin rút khỏi Ban Chấp hành Trung ương Đảng CSVN.

Theo ông Nguyễn Ngọc Trường, “có thể xem ông Cơ như một nhà nho hiện đại, biết mình, biết người, biết thời thế, biết dừng nhưng có lẽ không biết biến…”

“Các phẩm chất ấy không phải ai cũng có. Đó là nhân cách lớn của Trần Quang Cơ.”

Trong cuộc phỏng vấn với BBC nhân dịp 30 năm cuộc chiến biên giới với Trung Quốc, ông Trần Quang Cơ đã bình luận rằng căn nguyên (của cuộc chiến Việt – Trung) là xung quanh vấn đề quyền lợi nước lớn, liên quan tới vấn đề Đông Dương.

Ông nói: “Các nước lớn họ có tính toán của riêng họ, nhưng tình hình quan hệ chiến lược giữa ba nước lớn bất lợi cho Việt Nam”.

“Tôi thấy điều mình có thể làm khác, là phải đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ quốc tế sớm. Trước Đại hội Đổi mới (năm 1986), Việt Nam đã quá phụ thuộc vào ý thức hệ mà không đa phương hóa được quan hệ.”

Thời kỳ vô cùng khó khăn của ngoại giao Việt Nam này đã được phản ánh trong cuốn hồi ký Trần Quang Cơ, với những chi tiết như về Hội nghị Thành Đô 1990 cho thấy “các giới hạn của môt thời kỳ lịch sử, cái khó của đất nước đứng cạnh Trung Quốc và chịu sức ép của Trung Quốc”, theo Tiến sỹ Nguyễn Ngọc Trường.

Ông Trường nói với BBC: “Cuốn hồi ký thể hiện tính khách quan, không phải là chống Tàu, mà là ‘thân Việt’”.

“Chính vì vậy mà nhân dân biết đến ông và tôn trọng ông.”

____

Mời xem lại hồi ký Trần Quang Cơ: Hồi ức và Suy nghĩ (Ba Sàm).

Nguon:  anhbasam.wordpress.com/2015/06/28/4210-ong-tran-quang-co-qua-doi/#more-148654

Posted in Hội Nghị Thành Đô 1990, Nhan Vat Chinh tri, Đảng CSVN - còn đảng, còn mình... | Leave a Comment »

►Nước còn hay mất?

Posted by hoangtran204 on 29/06/2015

Song Chi.

28-6-2015

rfavietnam

Bàn đến hiểm họa Trung Quốc, nhiều người cho rằng thời đại bây giờ có lẽ cũng khó có chuyện một quốc gia nào đó ngang nhiên đem quân đánh chiếm nước khác sau đó công khai áp đặt sự đô hộ hay cai trị của mình lên quốc gia đó như thời xưa, hay thậm chí như thực dân, đế quốc trước đây. Cùng lắm là đánh chiếm một phần lãnh thổ của nước khác, điều mà nước Nga của Putin đã làm với Crimea của Ukraine, là ví dụ gần đây nhất.

Vì thế, chuyện Trung Cộng sẽ đem quân xâm lược Việt Nam, biến VN thành một quận huyện của Trung Quốc như trong quá khứ là khó có thể xảy ra. Thế giới chắc chắn không thể để yên cho một hành động ngạo ngược như vậy và Trung Cộng có nhiều thứ để mất nếu hành động chống lại cả thế giới.
Nhưng liệu có cần thiết phải phát động một cuộc chiến tranh tốn hao người và của khi Bắc Kinh biết rõ rằng họ có thể nắm gọn được VN bằng nhiều cách khác, từ khống chế về chính trị, quân sự, tạo ra sự lệ thuộc nặng nề về kinh tế cho tới gậm nhấm dần dần lãnh thổ, lãnh hải, điều mà họ đã và đang tiếp tục tiến hành lâu nay?
Còn đối với dân tộc VN, có phải đợi đến lúc VN bị đổi tên, người VN phải học một thứ ngôn ngữ khác, và có một thế lực ngoại bang công khai ngồi đó cai trị thì mới là mất nước?
Hay trên thực tế, nước còn mà cũng như mất? Khi người dân không được phép quan tâm đến chính trị vì “mọi chuyện đã có đảng và nhà nước lo”, không được phép có ý kiến hay bày tỏ sự bất bình, phẫn nộ trước mọi hành vi ngang ngược, xâm phạm nghiêm trọng đến chủ quyền và sự toàn vẹn lãnh thổ VN của “nước lạ”? Trái lại, nếu vì bất bình mà lên tiếng phản đối thì lại bị chính nhà cầm quyền VN đàn áp, xách nhiễu, tống giam vào tù với những bản án vô vùng phi lý, khắc nghiệt.
Khi suốt từ Nam ra Bắc, đâu đâu cũng thấy sự hiện diện cách này hay cách khác của “nước lạ” Trung Quốc? Từ thực phẩm, hàng hóa đủ loại tràn vào VN bằng mọi con đường, chính thức hay buôn lậu, đe dọa trực tiếp đến sự tồn tại và phát triển của nền sản xuất nội địa; từ việc các doanh nghiệp lớn nhỏ của Trung Quốc thắng thầu phần lớn các công trình trọng điểm của VN trong các lĩnh vực xây dựng, thủy điện, khai thác khoáng sản… dẫn đến sự có mặt của hàng trăm, hàng ngàn công ty, khu công nghiệp và cả những khu vực toàn người Trung Quốc, mà ngay cả chính quyền địa phương cũng không được phép xâm nhập vào. Truyền hình VN từ đài trung ương đến đài địa phương tràn ngập phim cổ trang, lịch sử cho tới phim truyện thời hiện đại của Trung Quốc, các cửa hàng sách lớn nhỏ tràn ngập sách truyện dịch từ Trung Quốc…
Khi sự hiện diện của Trung Quốc không chỉ bao trùm trong lĩnh vực kinh tế, một phần văn hóa, mà rõ rệt nhất là trong lĩnh vực chính trị, thông qua mối quan hệ không tương xứng giữa hai đảng, hai nhà nước Việt-Trung. Các thế hệ lãnh đạo đảng và nhà nước cộng sản VN tiếp nối nhau đều mặc nhiên chấp nhận tình trạng bất tương xứng này và ngoan ngoãn phục tùng Trung Quốc. Không chỉ nhất cử nhất động học theo mô hình thể chế xã hội của Trung Quốc mà còn phải nghe theo những lời chỉ đạo từ xa, kể cả “cầm tay chỉ việc” của Bắc Kinh từ thời chống Pháp, thời cải cách ruộng đất cho tới bây giờ cũng không khá hơn. Bàn tay nhám nhúa của Trung Nam Hải còn thò sâu vào nội bộ đảng cộng sản VN, mua chuộc, thao túng, gây chia rẽ, kẻ nào thân Tàu thì có cửa leo cao tiến xa và ngược lại.
Thì như thế nước còn mà cũng như mất.
Khi tàu Trung Quốc ngang nhiên cướp bóc, đánh chìm tàu, làm bị thương, bắt giữ người trên các tàu cá của ngư dân VN từ bao nhiêu lâu nay, ngược lại, hàng ngàn tàu cá và tàu quân sự Trung Quốc ngang nhiên đi lại trên vùng biển thuộc chủ quyền của VN mà nhà cầm quyền không hề dám phản ứng mạnh.
Gần đây, trước thực trạng Trung Quốc ồ ạt biến các đảo ngầm thành những hòn đảo nhân tạo và căn cứ quân sự trong tương lai, tình hình trở nên hết sức đáng ngại nhưng quốc hội VN vẫn chỉ đóng cửa họp kín về tình hình biển Đông và không dám đưa ra một nghị quyết phản đối mạnh mẽ nào. Trả lời báo chí, ông Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội Nguyễn Hạnh Phúc nói rằng“Quốc hội sẽ tiếp tục theo dõi sát tình hình Biển Đông và nếu cần thiết sẽ ra Nghị quyết về vấn đề này tại các kỳ họp sau”. (“Các kỳ Quốc hội sau sẽ ra Nghị quyết về Biển Đông nếu cần thiết”, Infonet).
Người dân tự hỏi không biết đến bao giờ thì mới là cần thiết, đợi đến khi các căn cứ quân sự đã xây xong và giặc chiếm nốt những hòn đảo còn lại của quần đảo Trường Sa hay khi giặc đã vào đến tận Hà Nội?
Trong tháng 6, Trung Quốc lại đưa giàn khoan Hải Dương 981 đến vùng biển VN, hoạt động tại vùng chồng lấn ở cửa vịnh Bắc Bộ mà hai nước đang đàm phán phân chia ranh giới, nhưng lực lượng cảnh sát biển VN chỉ dám theo dõi, tuyệt không dám “mời” ra khỏi lãnh hải nói gì đến phản ứng mạnh hơn.
Thậm chí khi có cơ hội lên tiếng, chẳng hạn như tại Đối thoại Shangri-la 2015 tại Singapore, phái đoàn VN do ông Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh dẫn đầu lại có quan điểm “Lần này, VN lắng nghe là chính, không phát biểu”(“Tướng Nguyễn Chí Vịnh: TQ cần hành xử đúng luật quốc tế”, VietnamNet), thay vì nhân dịp này tố cáo trước quốc tế những hành động xâm phạm chủ quyền đất nước và đe đọa đến hòa bình ổn định trong toàn khu vực biển Đông của Bắc Kinh. Ông Vịnh lại còn cho rằng: “Càng căng thẳng thì càng phải độc lập tự chủ. Càng căng thẳng thì càng không bao giờ để kéo vào những liên minh với nước này để chống nước khác…” (“Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh: Càng căng thẳng, càng phải độc lập tự chủ”, Tuổi Trẻ). Trong khi ai cũng thấy rõ VN là nước đã, đang và sẽ chịu thiệt thòi nhiều nhất trong việc Trung Cộng bành trướng trên biển Đông, VN cô độc và cần đến sự giúp đỡ của thế giới như thế nào nếu phải đương đầu với Trung Quốc.
Thì như thế có nghĩa, nước còn mà cũng như mất.
Khi từ các cấp lãnh đạo cao nhất cho đến từng người dân VN chưa đánh đã mang tâm lý đầu hàng trước “Trung Quốc nó mạnh thế đánh làm sao nổi?”, và tâm lý ngồi chờ. Nhà cầm quyền thì chờ Philippines đi kiện Trung Quốc xem tình hình ra sao, chờ các nước khác lên tiếng giùm, nhất là chờ Hoa Kỳ có những phản ứng mạnh mẽ có thể ngăn chặn được Trung Quốc. Hết chờ các nước khác can thiệp lại mong chờ hão Trung Quốc sẽ nể tình mối quan hệ bao lâu nay giữa hai đảng, hai nhà nước mà chiếu cố cho, không xâm lấn hơn nữa.
Còn người dân thì cũng ngồi chờ cho nhà nước này tỉnh ngộ mà thoát ra khỏi mối quan hệ bị lệ thuộc nặng nề vào Trung Quốc. Thậm chí có những người ngồi chờ Trung Quốc nổ ra chiến tranh, dù từ bên trong hay bên ngoài, khiến cho chế độ hiện tại của Bắc Kinh phải sụp đổ, Trung Quốc chuyển đổi thành một nước dân chủ thì khi đó VN và các nước láng giềng may ra mới được yên ổn v.v và v.v…
Khi chúng ta không hành động gì mà chi ngồi chờ…sung rụng như thế, thì nước còn mà cũng như mất, và sớm muộn gì cũng mất thật!
Hay nói cách khác, cái giang sơn mà từng tấc đất, ngọn cỏ, dòng sông, đều thấm máu của hàng triệu triệu người Việt qua bao nhiêu cuộc chiến tranh với thiên nhiên để sinh tồn và những cuộc chiến tranh ác liệt chống ngoại xâm, được gìn giữ, bảo vệ và phát triển qua hàng ngàn năm thành một quốc gia trải dài từ Nam ra Bắc, ngày hôm nay, dưới chế độ cầm quyền của đảng cộng sản, đã bị “teo tóp”, mất mát dần vào tay ngoại bang và trên thực tế chỉ còn lại cái vỏ độc lập giả hiệu bên ngoài mà thôi.

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

►Hoa Kỳ và vấn đề từ bỏ đồng minh

Posted by hoangtran204 on 28/06/2015

Hoa Kỳ và vấn đề từ bỏ đồng minh

25-6-2015

 

 

aus-us-300x155

Thời Đệ nhị thế chiến

Thế chiến Thứ hai bùng nổ năm 1939, Hoa kỳ trung lập đứng ngoài cuộc giao tranh mà họ cho là không liên hệ, đây gọi là chủ trương biệt lập Isolationism.

Mặc dù đứng ngoài vòng chiến để được yên thân nhưng vẫn bị giáng một đòn nặng sáng ngày 7-12-1941 khi hạm đội lớn của Nhật tấn công Trân Châu Cảng, căn cứ Hải quân Mỹ tại Hawaii. Khi bắt đầu cuộc Thế chiến, nước Nhật có 10 hàng không mẫu hạm được coi là lớn và tối tân nhất thời đó. Trận đánh đã gây kinh hoàng cho cả nước Mỹ, gây thiệt hại nặng, khoàng 20 tầu chiến bị chìm hoặc hư hại, 188 máy bay bị hủy hoại 2,400 thủy thủ, phi công bị giết.

Hôm sau Mỹ tuyên chiến với Nhật và hai ngày sau 11-7 Đức, Ý cũng tuyên chiến với Mỹ, dù muốn dù không Hoa Kỳ phải từ bỏ biệt lập sang tham chiến, một cuộc chiến đẫm máu nhất từ xưa đến nay. Theo hồi ký của Đại tướng Eisenhower, cựu Tư lệnh quân đội đồng minh tại Âu châu, khi cuộc chiến bắt đầu, phe trục Đức -Ý -Nhật mạnh hơn đồng minh. Ông cũng cho biết Mỹ Anh đã thỏa thuận giải quyết chiến trường Âu châu trước vì Đức Quốc Xã nguy hiểm hơn Nhật và vì sợ chúng chế tạo vũ khí giết người hàng loạt (1). Mỹ đưa 80% lực lượng sang Âu châu chỉ để lại 20% tại Thái Bình Dương. Đưa quân sang Âu châu không phải để giải phóng cho các nước Pháp, Bỉ, Hòa Lan.. như người Mỹ thường kể mà chỉ là để tự vệ cho chính họ, để ngăn ngừa hậu họa.

Năm 1942 đồng minh bắt đầu thắng thế, Nhật thua to tại trận thủy chiến Midway, Đức Ý thua hai trận lớn tại Bắc Phi và Stalingrad. Năm 1944 Đức Quốc Xã thất bại trên khắp các mặt trận miền đông, tháng 6-1944 đồng minh Anh-Mỹ đổ bộ vào Normandie, tháng 2 năm sau đã vào tới miền tây nước Đức,

Từ ngày 4 tới 11-2-1945, khi chiến tranh Âu châu gần kết thúc Roosevelt, Staline, Churchill họp nhau tại Yalta để bàn về tổ chức lại Âu châu thời hậu chiến. Thực ra chỉ là để chia chác ảnh hưởng với nhau vì thế tác giả Arthur Conte năm 1974 đã viết cuốn sách về hội nghị này “Yalta Ou Le Partage Du monde”, Hội Nghị Yalta Hay Sự Chia Phần Thế Giới

Tháng 4-1945 đồng minh đã tiến tới biên giới Tiệp Khắc nhưng phải dừng lại vì xứ này đã được nhường cho Nga, chương cuối của bộ Lịch Sử Thế Chiến Thứ Hai (2) có nói về sự bất đồng ý kiến giữa Anh và Mỹ. Người Anh đề nghị tiến chiếm Đông Âu không nhường Nga và đặt họ trước sự đã rồi nhưng Mỹ không chấp nhận, người Anh nhận định Mỹ ngây thơ và nhát.

Mặt trận châu Âu kết thúc, Mỹ nhường Đông Âu cho Nga để nhờ họ phụ giúp đánh quân Nhật tại Á châu vì lực lượng địch còn khoảng bốn, năm triệu, trù tính đánh từ một năm rưỡi tới hai năm mới xong.

Năm 1957 C.V Gheorghiu (3) nhà văn nổi tiếng Lỗ Ma Ni viết Les Sacrifies du Danube, Những Kẻ Hy Sinh Vùng sông Danube, truyện dài trên 100 trang thể hiện nỗi uất hận của những nước Đông Âu trong vùng Danube: Hung Gia Lợi, Nam Tư, Lỗ Ma Ni, Tiệp Khắc, Bảo Gia Lợi … đã bị Tây Phương, Hoa Kỳ nhường cho Xô Viết năm 1945. Tác giả nói để cứu nền văn minh Tây Âu, Mỹ đã nhường Đông Âu cho Sô viết khiến cho trên 150 triệu người đã bị tan gia bại sản, trở thành nô lệ cho Cộng Sãn Xô viết.

Truyện sẩy ra tại Bảo Gia Lợi thể hiện nỗi ám ảnh kinh hoàng của người Đông Âu: Một người chạy trốn Cộng Sản sang phần đất tự do bị trúng đạn của lính biên phòng, hai người nhân đạo cứu anh đem về nhà băng bó vết thương. Một người ứa nước mắt bảo vết thương đã có dòi, người kia đề nghị đi tìm bác sĩ hoặc đưa nạn nhân đi nhà thương nhưng anh này gạt đi bảo: “Nếu tìm bác sĩ thì rồi bọn công an CS cũng sẽ biết, sẽ tìm đến đây, người nạn nhân này sợ công an còn hơn dòi bọ, chẳng thà để hắn chết vì dòi bọ còn hơn để hắn sa vào tay bọn mật vụ CS”

Trước Thế chiến thứ hai chỉ một mình nước Nga theo Cộng Sản, Staline chủ trương tiến lên chủ nghĩa xã hội trong phạm vi đất nước trái với Trosky , Đệ tứ quốc tế muốn tiến lên vô sản hóa toàn thế giới. Thế chiến Thứ hai chấm dứt là cơ hội bằng vàng cho Staline bành trướng thế lực bằng họng súng mà chẳng cần thực hiện cách mạng vô sản theo đường lối cổ điển Mác Lê. Người Mỹ đã vô tình mở đường cho Xô Viết đi làm “nghĩa vụ quốc tế”. Các nước tư bản dân chủ tự do Đông Âu đã cùng Tây phương chiến đấu chống phát xít Đức đến khi chiến thắng đã bị Hoa Kỳ tàn nhẫn bán đứng cho Xô viết làm nô lệ.

Sau 1945 Xô Viết tiến chiếm các nước Đông Âu, cướp bóc, vơ vét quí kim, vàng bạc trong ngân khố các nước nạn nhân, dựng lên các chính quyền CS chư hầu và tiếp tục bành trướng tại Á châu. Đại tướng Eisenhower nói trong hồi ký: năm 1939 quân sự của Hoa Kỳ rất xoàng, lục quân còn thua cả Ba Lan nhưng sau Thế chiến đã trở thành cường quốc mạnh nhất hoàn cầu. Năm 1939 Lục quân Mỹ chỉ có 170,000 người nhưng năm 1945 Lục quân Mỹ thành 6 triệu. Măm 1939 Mỹ chỉ có khoảng 2500 máy bay và 760 tầu chiến nhưng năm 1945 họ có khoảng 80,000 máy bay và 2,500 tầu chiến (4)

Cuộc nội chiến Trung Hoa

Các hạm đội Mỹ, Anh từ Âu châu chuyển về Thái Bình Dương để kết thúc mặt trận châu Á, Sô viết cũng chuyển quân bằng đường bộ từ Tây sang Đông như đã thỏa thuận tại Yalta. Ngày 6 và 9 tháng 8-1945 Mỹ ném bom nguyên tử xuống hai thành phố lớn ở Nhật, ngay sau đó một triệu rưỡi quân Nga tấn công lộ quân Quân Đông Nhật tại Mãn Châu. Sự thực Xô Viết chỉ nhẩy vào ăn có sau khi Mỹ đã ném bom nguyên tử, khoảng một triệu quân Nhật đầu hàng. Người Nga lấy kho vũ khí to lớn của Nhật kể cả xe tăng thiết giáp giao cho Mao Trạch Đông, thật là giáo vào tay giặc. Nga cũng tháo gỡ hết các nhà máy tại đây đem về nước.

Năm 1946 Tổng thống Truman cử Tướng George Marshall sang Tầu ngăn cản một cuộc chiến tranh Mao – Tưởng hy vọng họ lập chính phủ liên hiệp sống chung hòa bình. Người Mỹ vẫn lạc quan ngây thơ không hay biết gì về âm mưu thâm độc của Staline, ông ta đã lừa gạt họ từ đầu chí cuối. Mao vận động Nga yêu cầu Anh, Mỹ bắt ép Tưởng Giới Thạch ký đàm phán (5). Sau hơn một tháng thảo luận từ cuối tháng 8-1945 tới 10-10-1945 hai bên ký hòa ước tháng 1-1946 nhưng chỉ được 6 tháng cuộc nội chiến bùng nổ. thời gian này CS Tầu chỉ khiểm soát 1/4 đất đai và 1/3 dân số.

Tưởng Giới Thạch đưa 1 triệu 6 trăm ngàn quân từ miền nam lên Mãn Châu, họ được Mỹ giup về không vận, đây là nơi thử thách đầu tiên của cuộc chiến tranh Quốc – Cộng. Tưởng thắng được những tháng đầu rồi dần dần mất ưu thế, năm 1948 đánh dấu khúc quành cuộc chiến. Quốc Dân Đảng chia rẽ lại cách xa căn cứ tiếp liệu tại miền trung nước Tầu, cuối cùng đất đai bị Cộng quân chiếm. Mao vừa khủng bố và dụ dỗ người dân để đưa họ ra trận tuyến gian khổ. Quốc dân đảng cũng mất lòng dân vì dùng bạo lực nên họ đã bỏ theo CS (6). Mãn châu là khởi đầu cuộc chinh phục nước Tầu của Mao Trạch Đông, Quốc dân Đảng (QDĐ) mất hơn triệu quân tại đây và bắt đầu thất thế.

Tháng 3-1947 Quốc Dân Đảng chiếm Diên An đến năm 1948 Cộng quân lại tái chiếm, từ 12- 9 tới 12-11-1948 diễn ra những trận đánh lớn, Quốc Dân Đảng ở thế thủ, dần dân xa cách Mỹ, Cộng quân chiếm được nhiều thành phố lớn Hoa Bắc như Thẩm Dương và Trường Xuân, họ chiếm Mãn châu hoàn toàn. Mao tiêu diệt được 144 sư đoàn thiện chiến của Quốc Dân Đảng. Cuối năm 1948, đầu 1949 bà Tống Mỹ Linh phu nhân Tưởng Giới Thạch sang Mỹ xin viện trợ nhưng không được họ đáp ứng. Tháng 9-1948 Cộng quân chiếm tỉnh Sơn Đông, tháng 4-1949 Cộng quân vượt sông Dương Tử chiếm Nam Kinh Thủ đô Quốc Dân Đảng Trung Hoa, họ tiến về Hoa Nam.

Ngày 1 tháng 10 năm 1949, Mao Trạch Đông tuyên bố thành lập Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa, thủ đô là Bắc Bình, nay đổi là Bắc Kinh. Cuối năm 1949 Tưởng Giới Thạch và khoảng 2 triệu người thuộc phe Quốc Dân Đảng chạy khỏi Đại lục tới đảo Đài Loan.

Dư luận Mỹ chỉ trích, lên án Tổng thống Truman đã để mất Trung Hoa vào tay Cộng Sản. Thượng nghị sĩ Joe McCarthy cho rằng việc ngăn chận CS Tầu cần phải viện trợ nhiều hơn và có lẽ phải dùng cả không lực. Người ta bắt đầu hỏi ai đã làm mất Trung Hoa? tỷ lệ ủng hộ Truman từ 70% xuống còn 35%. Bộ trưởng ngoại giao của Truman bị coi là thằng hèn, Tướng George Marshall, bộ trưởng ngoại giao tiền nhiệm bị coi là tên phản bội.

Thượng nghị sĩ Cộng Hòa Peter Beinart nói nhiều thập niên sau, Lyndon Johnson hồi đó là Thượng nghị sĩ Texas cho rằng Truman đã không tròn trách nhiệm để mất Trung Hoa, khi Johnson lên làm Tổng thống (1964) ông đã cố không đi vào vết xe đổ của quá khứ.

Nhiều người Mỹ cho rằng cuộc Cách mạng Trung Hoa chỉ là sự nối dài quyền lực của Sô Viết. Dean Rusk (phụ tá bộ trưởng ngoại giao thời Truman 1949-51, Kennedy, Johnson 1961-69) mô tả cuộc Cách mạng Trung Hoa không phải của người Tầu mà là Made in Moscow, được làm tại Mạc Tư Khoa. Nhiều người Mỹ cho rằng CS đang tiến bước mạnh và nếu không ngăn chận chúng sẽ tràn ngập thế giới. (7)

Các tài liệu về cuộc chiến vĩ đại này cho biết:

Năm 1946-1947 Tưởng có hơn 4 triệu quân chủ lực – Mao có khoảng 1 triệu 3 trăm ngàn quân chủ lực và 2 triệu du kích,
Giữa năm 1948 Tưởng còn 3 triệu rưỡi – Mao có 2 triệu 8,

Tháng 6-1949 Tưởng còn 1 triệu rưỡi – Mao có 4 triệu

Dư luận chê Quốc Dân Đảng Trung Hoa có một lực lượng hùng hậu, được Mỹ viện trợ 4 tỷ đô la quân sự nhưng lại bị Cộng quân yếu hơn đánh bại. Người ta cũng nêu lý do Quốc Dân Đảng mất lòng dân, tàn ác trong khi đối phương tuyên truyền khiến đạo quân ngày càng lớn mạnh chuyển bại thành thắng.

Nhưng cũng có tài liệu nói sau Thế chiến thứ hai, cán cân quân sự nghiêng về phía Cộng Sản Tầu. Chủ lực quân của họ tăng lên 1 triệu 2 và 2 triệu du kích. Vùng kiểm soát của họ có 19 căn cứ chiếm 1/4 lãnh thổ Trung quốc và 1/3 dân số gồm nhiều tỉnh thành quan trọng. Ngoài ra Nga Sô đã trao cho CS Tầu vũ khí lấy được của Nhật cũng như đã viện trợ cho họ nhiều vũ khí, CS cũng được Nga giao cho miền Đông Bắc Trung Hoa (8)

Quốc Dân Đảng có lợi thế về đất và sức mạnh quân sự, họ chống quân Nhật hồi Thế chiến thứ hai đã bị mất nhiều đơn vị tinh nhuệ trong những trận đánh lớn khi ấy CS Tầu ít thiệt hại, họ ít đụng chạm Nhật. Tưởng Giới Thạch cho Mãn Châu là một vị trí chiến lược quan trọng cần phải chiếm giữ và đã đưa 1 triệu 6 trăm ngàn quân lên đánh CS được Mỹ giúp chuyển quân bằng không vận từ miền Trung lên. QDĐ thua trận mùa thu 1948 đó là một khúc quành quan trọng trong cuộc chiến tranh Quốc-Cộng , QDĐ chia rẽ và vì xa trung tâm tiếp liệu ở miền Trung nên đã thảm bại (9)

Một phần vì tại Hoa Bắc, Mãn Châu địch mạnh, một phần QDĐ bị suy yếu vì Thế chiến thứ hai, sự sai lầm của Tưởng cho chuyển quân lên vùng xa xôi nên đã mất hơn một triệu quân. Địch tuyển được nhiều quân, đánh biển người, một chiến thuật man rợ và lợi hại khiến QDĐ ngày càng thua nhiều trận lớn. Tướng George Marshall nói không có dấu hiệu gì cho thấy Nga Sô viện trợ quân sự cho Mao, đó là điều ngây thơ lạc quan, khinh địch vốn dĩ của người Mỹ. Cuộc chiến Quốc – Cộng kéo dàì mấy năm, sôi động nhất là những năm 1947, 1948, 1949, hai bên đánh bằng cấp quân đoàn, lộ quân có khi lên tới hàng trăm sư đoàn. Nếu không có viện trợ của Sô Viết, Tầu cộng lấy đạn dược tiếp liệu ở đâu để đánh những trận long trời lở đất trong cuộc chiến vĩ đại này?
Sau này năm 1985 cựu Tổng thống Nixon nói (10) Sô Viết không phải gửi quân nhưng đã thống trị được 9 nước kể từ 1974, Nixon cảm phục Liên sô không đem quân qua, chỉ đứng ngoài giật giây mà đã chiếm được nhiều nước. Cuộc chiến tranh Quốc – Cộng 1946-1949 cho thấy Nga không đem quân vào, trong khi Mỹ đã đưa vào 50,000 quân mà vẫn thất bại.

Hoa Kỳ nhường Đông Âu cho Nga năm 1945 để nhờ họ đánh quân Nhật là một lỗi lầm tai hại, vừa mất Đông Âu rồi mất cả Trung Hoa. Khi Mỹ đã ném bom nguyên tử xuống Nhật thì Sô Viết mới nhẩy vào ăn có. Họ chiếm Mãn Châu, tháo gỡ sạch các nhà máy đem về nước, lấy kho vũ khí lớn của Nhật giao cho Mao đưa tới khúc quành bi thảm cuộc chiến tranh Quốc – Cộng.

Người Mỹ bỏ rơi Tưởng Giới Thạch vì vai trò chống Nhật của ông đã hết, Thế chiến thứ hai kết thúc, đã đến lúc người ta vắt chanh bỏ vỏ. Họ bỏ Trung Hoa cũng vì không thấy tầm quan trọng của vấn đề, chưa nhìn ra hậu quả lớn lao ngay sau đó, nó làm lệch cán cân quân sự quốc tế của hai phe và đưa tới các cuộc chiến đẫm máu khác ngay trong năm sau.

Ngày 5-12-1949 Mao đã ra lệnh sửa chữa các sân bay, chuẩn bị đổ bộ chiếm Đài Loan. Ngày 5-1-1950 Truman tàn nhẫn tuyên bố thừa nhận Đài Loan là lãnh thổ Trung Quốc, ông ta nói sẽ không can dự vào cuộc tranh chấp, sẽ không viện trợ quân sự cho Tưởng, có nghĩa là công khai tuyên bố bỏ Đài Loan (11). Mỹ công kích Tưởng và các Tướng lãnh QDĐ bất tài, tham nhũng làm mất Trung Hoa để tự bào chữa cho dã tâm của mình.

Chiến dịch cứu nguy Điện Biên Phủ năm 1954

Giữa năm 1950 Bắc Triều Tiên được Nga Sô, Trung Cộng yểm trợ vượt vĩ tuyến 38 xâm lược Nam Triều Tiên. Sô Viết đã chiếm được Đông Âu, Trung Hoa, đã có bom nguyên tử tháng 8-1949 nhờ đánh cắp tài liệu, bây giờ Nga không ngán Mỹ, công khai đương đầu với Mỹ. Cuộc chiến bùng nổ, Tổng thống Truman đưa quân vào nam Triều Tiên can thiệp dưới danh nghĩa Liên Hiệp Quốc. Mỹ lại tuyên bố bảo vệ Đài Loan vì nay đã thấy rõ mối đe dọa bành trướng của Nga, Trung Cộng, cương quyết không nhường đất cho CS.

Đài Loan thoát chết, Mỹ bảo vệ hòn đảo này để phòng thủ cho chính họ. Vừa chiếm trọn nước Tầu, đuổi Tưởng ra Đài Loan, Trung Cộng đã trực tiếp, gián tiếp gây chiến tại Triều Tiên và Đông Dương. Cuộc chiến tranh Đông Dương giữa Pháp và Việt Minh từ ngày Toàn quốc kháng chiến 19-12-1946 đến nay đã được 4 năm

Năm 1946 Việt Minh yếu thế rút vào hậu phương. Quân Pháp tại phía trên vĩ tuyến 16 có hơn một sư đoàn không đủ để bình định hết miền Bắc mà chỉ đủ giữ các thành phố. Từ 1947-1949 Pháp mở những cuộc hành quân tiêu diệt chủ lực quân VM nhưng họ lẩn tránh để bảo toàn lực lượng, tổng cộng khoảng 40,000 người.

Trung Cộng tiến tới biên giới Bắc Việt tháng 11-1949 là lúc chấm dứt chương thứ nhất của cuộc chiến tranh Đông Dương và nó đã quyết định số phận của người Pháp, họ không hy vọng gì chiến thắng.(12)

Việt Minh được Trung Cộng huấn luyện tại biên giới. Năm 1950 họ giúp VM thành lập năm sư đoàn chính qui: 304, 318, 312, 316, 320 và sư đoàn 351 vũ khí nặng. Tháng 10-1950 VM đánh thắng trận Cao Bắc Lạng, nó đã làm rung động cả nước Pháp, họ không ngờ VM mạnh đến thế. Pháp thiệt hại 7,000 người vừa bị giết và mất tích, VM tịch thu được rất nhiều vũ khí có thể trang bị cho một sư đoàn (13)

Cuối năm 1950 Ba Lê cử Tướng de Lattre sang làm Tư Lệnh quân viễn chinh Pháp tại Đông Dương, viên dũng tướng này chuyển bại thành thắng đánh bại VM và các cố vấn Tầu nhiều trận trong năm 1951. De Lattre chết đầu năm 1952, Tướng Salan lên thay tình hình quân sự ngày một xấu, VM ngày càng mạnh.

Đầu thập niên 50 Mỹ bắt đầu viện trợ cho Pháp nhưng thực sự giúp từ 1952, trong khi đó họ còn phải tham chiến tại Triều Tiên. Henri Navarre cựu Tư Lệnh quân viễn chinh Đông Dương nói:

“Qua kinh nghiệm đau thương Trung Hoa và nhất là Triều Tiên, người Mỹ mới nhận ra mối nguy Cộng Sản bành trướng tại Đông Nam Á, nhưng họ biết trễ mất 5 năm”
(14)

Đúng ra Hoa Kỳ phải thức tỉnh sớm hơn là để nước đến chân mới nhẩy, họ đã lạc quan tin tưởng Staline.

Salan giữ chức Tư lệnh một năm rưỡi thì về Pháp, tháng 5-1953 Tướng Henri Navarre được cử sang thay ở thời điểm mà ông bi quan cho là Đông Dương đang từ từ mất về tay CS.

Cuối tháng 7-1953 Triều Tiên đình chiến, Trung Cộng cung cấp nhiều viện trợ cho VM hơn trước, Mỹ cũng tăng viện trợ cho Pháp, năm 1954 Mỹ đã gánh 78% chiến phí (15). Cuối năm 1953 Navarre được lệnh bảo vệ Thượng Lào (16) và ông đã chọn thung lũng Điện Biên Phủ cho đóng đồn lũy để chận đường chuyển quân của địch sang Lào và mở mặt trận lớn tại đây để VM khỏi đánh Hà nội và châu thổ sông Hồng. Nay quân lưu động VM rất mạnh khoảng 9 sư đoàn, gấp ba quân lưu động Pháp gồm 7 Liên đoàn lư động và 8 tiểu đoàn nhẩy dù (17).

Navarre cũng dùng kế dụ địch giết địch, nay VM ngày càng mạnh nên phải đưa chúng vào bẫy giết một mẻ cho chết bớt đi nhưng mấy ai học được chữ ngờ: VM quá đông, hỏa lực địch quá mạnh (18), ông ta đã đưa quân vào miệng cọp.
ĐBP là một khu lòng chảo có nhiều đồi núi bao quanh, một cánh đồng dài 16km, rộng 9 km gần biên giới Lào – Việt. Trận ĐBP có tầm vóc lớn, toàn bộ chiến trường Đông Dương. Căn cứ ĐBP được xây dựng kiên cố nhất Đông Dương hồi đó, phía Bắc có hai tiền đồn với hai tiểu đoàn trấn giữ, khu Trung ương đóng trên 5 ngọn đồi gồm 8 tiểu đoàn, phía Nam cứ điểm Isabelle 2 tiểu đoàn.

Việt Minh đưa gần hết các sư đoàn chính qui của họ vào trận đánh tổng cộng 63,000 người (19), Pháp có 12 tiểu đoàn sau cho nhẩy dù thêm 5 tiểu đoàn tổng cộng khoảng 16,000 người. Ngày giao chiến đầu tiên 13-3-1954 căn cứ Béatrice sụp đổ trước trận pháo kích dữ dội của 40 khẩu pháo VM (20), hôm sau căn cứ Gabrielle cũng bị đánh sập. Tình hình quân sự ĐBP ngày một xấu, phi trường bị pháo kích hư hại, sau ngày 26-3-1954, khu lòng chảo chỉ còn tiếp tế tăng viện bằng thả dù quân lính cũng như lương thực, đạn dược.

Do sự sai lầm của Navarre đã chọn địa điểm xa xôi, hiểm trở để lập căn cứ chỉ liên lạc với hậu cần bằng máy bay không có đường bộ trong khi không quân Pháp quá yếu, toàn chiến trường Đông Dương chỉ có khoàng 200 máy bay (21). Tiếp tế bằng thả dù rất khó khăn vì bị phòng không địch chế ngự, nhiều kiện hàng thực phẩm, đạn dược đã lọt sang khu vực VM, kể từ sau ngày 26-3 số phận của Điện Biên Phủ coi như đã được quyết định rồi.

Pháp cũng như Mỹ đều đã thấy nguy cơ ĐBP sẽ thất thủ, giữa năm 1953 Trung Cộng ký đình chiến Triều Tiên rồi quay về giúp Việt Minh đánh Pháp, viện trợ quân sự của họ tăng vọt lên. Từ cuối tháng 3, Tòa Bạch Ốc đã nghiên cứu kế hoạch cứu nguy ĐBP bằng oanh tạc ồ ạt với khoảng gần 100 oanh tạc cơ hạng nặng B-29, mỗi chiếc mang 9 tấn bom cùng với 400 máy bay chiến đấu hộ tống. Kế hoạch này do Đô đốc Arthur Radford, Tham mưu trưởng liên quân đề nghị được Tổng thống Eisenhower, Phó Tổng thống Nixon, Bộ trưởng ngoại giao Foster Dulles ủng hộ, chấp thuận.

TT Eisenhower muốn hỏi ý kiến Quốc hội vì rút kinh nghiệm chính phủ Truman tham chiến tại Triều Tiên không hỏi Quốc hội đã bị chỉ trích. Kế hoạch này đã được Giáo sư, tác giả Bernard Fall và nhà nghiên cứu Philippe Devillers tường thuật lại thập niên 60. Mấy năm gần đây, Giáo sư Fredrik Logevall và ký giả Ted Morgan cũng nghiên cứu lại đề tài này trong hai tác phẩm của họ (22). Xin sơ lược như sau:

Ngày thứ bẩy 3-4-1954, tám vị Trưởng khối đại diện Quốc hội được chính phủ mời tới Bộ ngoại giao để hội thảo bí mật với Dulles, Radford, một số cố vấn. Foster Dulles nói Tổng thống Eisenhower yêu cầu mời họp và Tổng thống muốn được Quốc hội thông qua một quyết định cho phép Hành pháp xử dụng không quân, hải quân tại Đông Dương. Đô đốc Radford nói về tình trạng nguy khốn của ĐBP, còn Dulles cảnh giác nếu Đông Dương mất Đông Nam Á sẽ lọt vào tay CS và rồi Mỹ sẽ phải rút về Hawaii nếu Mỹ không giúp Pháp và chính phủ địa phương (QGVN) và sẽ khiến Pháp từ bỏ cuộc chiến.

Đô đốc Radford nói về kế hoạch “Kên kên” (Vulture): Gồm hai Hàng không mẫu hạm Essex và Boxer, có tăng cường bởi không lực tại phi trường Clark Phi Luật Tân. Theo tin tức Pháp tổng cộng có 60 oanh tạc cơ hạng nặng B-29, mỗi cái mang 9 tấn bom, khoảng 450 máy bay chiến đấu hộ tống bảo vệ. Theo nguồn tin Mỹ tổng cộng 98 pháo đài bay B-29, mỗi cái mang 14 tấn bom gồm hai cánh ở Okinawa và một tại Clark field, có khoảng 450 máy bay chiến đấu theo hộ tống để phòng ngừa Mig Trung Cộng nếu có.

Cuộc tranh luận sôi nổi, ông Trưởng khối thiểu số Thượng viện Lyndon B. Johnson đòi hỏi phải có liên minh các nước. Cả tám vị dân cử cho Hành pháp biết Quốc hội ủng hộ chiến dịch “Kên Kên” dưới ba điều kiện.

1- Lập liên minh các nước tự do ở Đông nam Á, Phi LuậtTân và Liên Hiệp Anh.
2- Pháp phải nhanh trả độc lập cho các nước Đông Dương
3- Pháp phải ở lại tiếp tục chiến đấu.

Những lý do thực tiễn đó đã hủy hoại mọi cơ hội cứu ĐBP vì không còn đủ thời giờ đi tìm đồng minh thành lập “Mặt trận thống nhất” để được chấp thuận kế hoạch “Kên Kên” trong khi ĐBP ngày càng nguy ngập, Trung Cộng tăng cường viện trợ pháo binh và cao xạ cho VM.

Ba Lê chính thức xin Mỹ dùng không quân oanh tạc ồ ạt cứu ĐBP trong khoảng thời gian này. Cùng ngày Tổng thống Eisenhower viết thư dài cho Churchill nói ý niệm về một mặt trận thống nhất. Người Anh kinh ngạc khi nhận thư Eisenhower, họ chống lại bất cứ hành động nào có thể phương hại Hội nghị Genève sắp nhóm họp. Ba ngày sau Churchill trả lời thư, ông nói sẽ bàn với Dulles tại London ngày 12-4.

Người Pháp chán nản coi kế hoạch Kên Kên như bỏ, họ lên kế hoạch cứu quân nhân còn trong trại.

Khi Dulles đang bàn với Pháp về kế hoạch Kên Kên tại Paris, Tướng Partridge, Tư lệnh không quân Mỹ tại Viễn đông tới Sài Gòn, ông tiếp xúc với Cao ủy Maurice Dejean và Tướng Tư Lệnh Navarre khiến họ vẫn hy vọng vào sự can thiệp của Mỹ.
Dulles ở Paris ngày 23-4, Hội nghị Genève bắt đầu ngày 26-4, Pháp chỉ hy vọng vào ngưng bắn, họ năn nỉ Dulles thực hiện kế hoạch “Kên Kên”. Tổng thống Eisenhower cho Dulles biết sẽ không có oanh tạc quanh ĐBP nếu không thỏa mãn yêu cầu của các vị đại diện Quốc hội ngày 3-4. Không quân Mỹ chỉ hành động trong khuôn khổ lực lượng đồng minh sau khi họ bàn luận và biểu quyết.

Chiều ngày 23-4 đã xóa sổ vấn đề ĐBP mà người Pháp không biết. ngày 24-4 Eden tới Paris họp về NATO, đô đốc Radford thuyết phục ông chỉ cần ủng hộ tượng trưng. Eden vẫn cứng rắn và nói tại cuộc chiến Triều Tiên, mới đầu Mỹ oanh tạc sau Mỹ cũng đổ bộ quân vào, sau đó Mỹ lại thúc giục các nước đồng minh gửi quân vào. Ngày chủ nhật 25-4, Eden về Luân Đôn dự phiên họp nội các giải quyết một lần cho xong.

Tất cả nỗ lực để cứu ĐBP bằng không quân sụp đổ cuối tuần này, ngày 24-4 Dulles tại tòa Đại sứ Mỹ Ba Lê gửi văn thư cho Bidault (Bộ trưởng ngoại giao Pháp) nói (năm 1966 mới được tiết lộ)

“Một quyết định chiến tranh phải có phép của Quốc hội (US) mới thực hiện được”

Cuối thư nói ĐBP không phải là quá quan trọng, không cần cứu bằng không quân, ta đã gây thiệt hại nặng cho địch. Bidault gửi thư trả lời cùng ngày nói lực lượng địch tập trung đông đảo tại ĐBP sẽ khiến cuộc oanh tạc không những cứu được ĐBP mà còn thay đổi toàn bộ cán cân cuộc chiến.

Còn một nỗ lực cuối cùng, Pháp cử người gặp thủ tướng Chrchill để thuyết phục ông ta tại Luân Đôn ngày 27-4. Chrchill tiếp Đại sứ Pháp René Massigli, ông vẫn cứng rắn từ chối nói.

“Chúng tôi đã chịu mất Singapore, Hong Kong, Tobruk, người Pháp sẽ phải chịu thua tại ĐBP”

Chiến dịch Kên Kên chết lịm dần, Thiếu tướng Caldera, Tư lệnh không đoàn B-29 tại phi trường Clark Phi luật Tân đi thăm Đông Dương một lần nữa ngày 26-4, vẫn chuẩn bị oanh tạc ĐBP một khi có lệnh. Tất cả gồm 80 oanh tạc cơ tấn công liên tiếp quanh ĐBP và kho hậu cần tại Tuần Giao với phi hành đoàn hỗn hợp Pháp-Mỹ. Một sĩ quan cao cấp không quân Pháp đã từ Sài Gòn qua Clark Field chuẩn bị chiến dịch, có lẽ tình thế chưa tuyệt vọng.

Màn bi kịch cuối cùng là cuộc họp của Tổng Thống Eisenhower, Đô đốc Radford, các viên chức cao cấp ngày 29-4 tại Hoa Thịnh Đốn, họ duyệt lại toàn bộ tình hình một lần nữa. Trong số các nhà quân sự chỉ có Đô đốc Radford vẫn ủng hộ hoàn toàn dù là can thiệp đơn phương (không cần Quốc hội) của Mỹ để cứu ĐBP khỏi sụp đổ. Tư lệnh Hải quân, Đô đốc Carney và Tướng Twining, TMT không quân không nhiệt tâm với kế hoạch này, Tướng Ridway, TMT lục quân Mỹ chống đối hoàn toàn kế hoạch. Cuối cùng TT Eisenhower quyết định không giúp Pháp, một tuần sau, ngày 7-5-1954 ĐBP hoàn toàn thất thủ, hơn mười ngàn tù binh bị bắt mà phần lớn đã chết trong trai giam.

Dù Anh có đồng ý tham gia, ủng hộ hay không, Eisenhower vẫn có toàn quyền quyết định (không cần Quốc hội), mười hai năm sau ông cho biết không muốn cho Hoa Kỳ sa vào cuộc chiến tốn kém. Nếu chiến đấu một mình sẽ làm cho Mỹ cạn kiệt tài nguyên, đánh con rắn Trung Cộng phải đánh dập đầu chứ không đánh cái đuôi nó.

Như thế quyết định không cứu Pháp ở ĐBP chính là của Mỹ, của cấp thượng đỉnh: Các vị Trưởng khối dân cử, Bộ Tham mưu liên quân và Tổng thống, nên khi quyết định đã xong không thể đổ lỗi cho Anh(23), các vị đại diện Quốc hội đòi hỏi.
-Trước hết thành lập liên minh các nước
– Pháp trả độc lập cho các nước Đông Dương
-Pháp phải tiếp tục cuộc chiến (24)

Ba điều kiện của tám vị đại diện Lập pháp Mỹ đưa ra đòi thành lập liên minh các nước chống CS tại ĐNÁ thực hiện chiến lược be bờ ngăn chận CS để bảo vệ an ninh cho Mỹ. Đòi Pháp phải trả độc lập cho Đông Dương sau đó ở lại chiến đấu cho quyền lợi của Mỹ. Ngoại trưởng Dulles đi vận động suốt tháng 4-1954 (25), ông ta đi hàng trăm dặm viếng thủ đô các nước không CS tại châu Âu, châu Á và cả Phi châu, Nam Mỹ. Trung bình Dulles 200 dặm một ngày để thành lập Liên minh chống Cộng nhưng không có kết quả, Anh, Pháp đều không tham gia, họ không có nhiều quyền lợi tại đông nam Á, đó là chuyện riêng của Mỹ.

Việc Hoa Kỳ không thực hiện được chiến dịch Kên Kên đã ám ảnh theo đuổi chính phủ Eisenhower một cách kỳ lạ ngay cả sau khi ngoại trưởng Dulles qua đời năm 1959 (26). Người ta hối tiếc đã để Việt Minh, phía CS thắng lớn đưa tới khúc quành lịch sử.

Bernard Fall nói

“Trong trường hợp này, lần đầu tiên trong lịch sử Hoa Kỳ, họ đã bỏ rơi một đồng minh trong khi nước này (Pháp) tham gia một cuộc chiến mà Mỹ đã khuyến khích người ta chiến đấu, nó đi xa hơn mục tiêu chính trị của nước này (Pháp) và nhất là vượt quá khả năng quân sự của họ. Ở đây ĐBP không phải chỉ là thất trận của Pháp mà cả của Mỹ. (27)

Từ năm 1952, 1953, Pháp đã mệt mỏi vì cuộc chiến Đông Dương, chêt người tốn của, Mỹ đã tăng viện trợ cho Pháp những năm 1953, 1954 để khuyến khích họ tiêp tục chiến đấu ngăn chận CS tại ĐNA có lợi cho Mỹ hơn là cho Pháp. Và rồi cuối cùng Mỹ bỏ rơi họ vì nhiều tính toán nào sợ sa lầy, mất phiếu, sợ Trung Cộng đưa quân vào…

ĐBP đã khiến các giới chức quân sự chính trị lưu ý khi Tướng De Gaulle xác nhận rằng trong cuộc khủng hoảng mà không liên hệ trực tiếp nước Mỹ, ta không thể tin tưởng họ được (28).

Tính già hóa non, người Mỹ bỏ Đông Âu dẫn tới mất Trung Hoa, mất nước Tầu đưa tới ĐBP, bỏ rơi Pháp đưa tới chiến tranh VN

Cuộc chiến Việt Nam

Bernard Fall nhận định ĐBP đóng vai trò chiến lược quan trọng đối với Hoa Kỳ, nó cũng là thời điểm Quân đội CSVN thành hình để trở thành lực lượng CS tại ĐNÁ. Sau này tình thế đã khiên Mỹ phải can thiệp vào miền nam VN những năm 1965, 1966…mà họ đã tránh hồi 1954, già néo thì đứt giây. Hậu quả mà Mỹ đã phải gánh chịu vì tránh can thiệp ĐBP mà họ sợ sa lầy năm 1954 để rồi sau đó mười năm phải đối đầu một cuộc chiến khác đẫm máu hơn (29)

Hai cuốn sách Mỹ mới viết gần đây cũng nhận định ĐBP thất thủ đã khiến Mỹ phải tham chiến tại VN. Fredrik Logevall Giáo sư lịch sử , tác giả cuốn “Tàn Lửa Của Cuộc Chiến Tranh, Sự Sụp Đổ Của Đế Quốc Pháp Và Khởi Đầu Cuộc Chiến Của Người Mỹ tại Việt Nam, dầy 840 trang, in năm 2012 (Embers of War, The Fall of An Empire And The Making Of America’s Vietnam). Tác giả nói ĐBP đã làm sụp đổ đế quốc Pháp và khiến người Mỹ tham dự vào cuộc chiến VN.

Ký giả Ted Morgan viết “Thung Lũng Tử Thần,Thảm Kịch Điện Biên Phủ Đã Đưa Mỹ Vào Cuộc Chiến Việt Nam, dầy 722 trang, in năm 2010” (The Valley Of Death, The Tragedy At Dien Bien Phu That Led America In to The Vietnam War). Tác giả cũng muốn nói Mỹ không anh tạc cứu ĐBP nên đã phải đối đầu với cuộc chiến VN.

Năm 1954 Thượng nghị sĩ Johnson, trưởng khối thiểu số đã đưa điều kiện đòi hỏi Eisenhower phải lập liên minh các nước, nó được tám vị dân cử đồng ý và đã cản trở hành pháp thực hiện Kên kên.

Bất ngờ cuối thập niên 50 Hà Nội phát động chiến tranh xâm lược miền nam VN. Dưới thời Kennedy 1961, 62, 63 cuộc chiến chưa mở rộng nhiều. Lyndon B. Johnson lên thay Kennedy bị ám sát cuối 1963 và đắc cử TT 1964. Rút kinh nghiệm biến cố do chính mình gây ra tháng 4-1954, nay 1964, khi làm Tổng thống ông đã vận động được Quốc hội ủng hộ Hành pháp ra Nghị quyết tháng 8-1964 dành cho Tổng thống quyền hạn can thiệp vào miền nam VN. Những năm 1964, 1965 lợi dụng tình hình chính trị miền nam xáo trộn, Cộng quân gia tăng xâm nhập quân chính qui và bắt đầu đánh lớn, miền nam có nguy cơ mất về tay CS

Tháng 2-1965 qua thăm dò của Harris poll, 78% người dân ủng hộ cuộc chiến chống CS tại đông nam Á, lưỡng viện Quốc hội ủng hộ Chính phủ, thuyết Domino được tin tưởng mạnh

Đầu tháng 3-1965, sau khi đắc cử Tổng thống, Johnson cho oanh tạc giới hạn Bắc Việt mục đích ngăn chận xâm nhập và vận chuyển tiếp liệu của địch vào miền nam để khiến họ phải từ bỏ cuộc chiến ngồi vào bản hội nghị. Cuộc oanh tạc không có kết quả nên Johnson và các cố vấn phải thay đổi kế hoạch bằng đưa thêm quân vào VNCH để có thể thắng bằng cuộc chiến dưới đất (30)

Tổng thống Johnson đã có một lựa chọn định mệnh, đưa Hoa Kỳ đi vào con đường can thiệp vào VN ồ ạt (31). Trong giai đoạn định mệnh này Johnson đã oanh tạc Bắc Việt và đưa quân vào VNCH từ 23,000 ngươi (1964) lên 175,000 (1965). Trung bình mỗi năm tăng quân 100,000 cho tới năm 1968 lên tới đỉnh cao 536,100 người

Giữa năm 1965 VNCH có nguy cơ sụp đổ trong vòng 6 tháng, BV tấn công liên tục, tình hình quân sự ngày càng xấu (32). Thực trạng nguy kịch của miền nam VN khiến Johnson quyết định đưa quân vào. Những năm 1964, 1965 tỷ lệ ủng hộ của người dân và Quốc hội rất cao người ta tin tưởng vào thuyết Donino và chính sách be bờ ngăn chận CS tại ĐNA. Rút kinh nghiệm năm 1950 TT Truman để mất Trung Hoa, Johnson quyết không để VN lọt vào tay CS.

Chính sách oanh tạc và quân sự của Johnson có mục đích đe dọa địch để chúng phải vào bàn hội nghị nhưng ông đã thất bại, sau này TT Nixon nhận xét

“Ta cần phải biết rằng không thể mơn trớn dụ dỗ Hồ Chí Minh từ bỏ cuộc chiến. Chúng ta phải bắt buộc ông ta từ bỏ nó” (33)

Johnson đã sai lầm 1954 nay lại sai lầm thêm một lần nữa, ông ta chủ quan khinh địch, Hà Nội đã có khối CS quốc tế Nga, Trung Cộng, Đông Âu đứng sau lưng.

Các chiến dịch quân sự tại miền nam VN tuy có kết quả cụ thể, giết được nhiều Việt Cộng, từ đầu 1965 cho tới cưối 1967, trong vòng ba năm địch bị thiệt hại 344,000 quân (34) nhưng chúng vẫn tiếp tục xâm nhập. Cuối năm 1968 trả lời phỏng vấn nữ ký giả Ý Fallaci, Võ Nguyên Giáp cho biết đã mất hơn nửa triệu quân.

Cuộc chiến tranh hạn chế của Johnson và Bộ trưởng quốc phòng McNamara thất bại. Sau này tháng 4-1969 Tướng Westmoreland, cựu Tư lệnh Mỹ tại VN và Đô đốc Grant Sharp, Cựu Tư lệnhThái Bình Dương đã công bố bản phúc trình công kích chính sách chiến tranh và oanh tạc hạn chế của Johnson-McNamara, không cho đánh qua hậu cần địch Mên, Lào… đã đưa tới thất bại

CSBV đưa 84,000 quân vào trận tổng tấn công Tết Mậu Thân đầu năm 1968, tổng cộng 58, 370 tên bị giết, 9,400 người bị bắt làm tù binh. Mặc dù thảm bại, nhưng Hà Nội đã thắng lớn về chính trị, phong trào phản chiến tại Mỹ lên rất cao, người dân quyết tâm đòi hòa bình, vào lúc này số binh sỉ Mỹ tử trận tại VN đã lên gần 20,000 người. Miền nam VN thắng một trận lớn nhưng thua cuộc chiến.

Năm 1965 tỷ lệ ủng hộ là 61%, cuối 1966 còn 51%, cuối 1967 còn 48%, tháng 2-1968 còn 41%, cuối 1968 chỉ còn 35%(35).
Sau trận Tết Mậu Thân, TT Johnson đề nghị Hà Nội đàm phán nếu không sẽ cho nếm mùi sức mạnh, CSBV nhận lời. Hòa đàm Paris mở đầu từ 10-5-1968.

Johnson-McNamara thất bại không thắng được BV khiến cho cuộc chiến tại đất nhà lên cao, hai nhà chính trị đã phạm nhiều sai lầm trong việc lãnh đạo cuộc chiến mà đáng lý ra phải Việt Nam hóa chiến tranh từ 1965.

Năm 1969, Nixon đắc cử Tổng thống thực hiện Việt Nam hóa chiến tranh, cho rút quân về nước, phong trào phản chiến lên cao mạnh hơn trước rất nhiều. Năm 1968 quân đội VNCH có 820,000 người, năm 1969 lên 897,000 người, năm 1970 lên 968.000, năm 1971 lên 1,046,250, năm 1973 lên 1,110,000.

Năm 1969 Mỹ rút 61,000 người, năm 1970 rút 141,000 người, năm 1971 rút 178,000 người, năm 1972 chỉ còn 24,000 người, năm sau còn 50 người. (36). Trận Mậu Thân 1968 đánh dấu ý định rút bỏ Đông Dương của người Mỹ, năm 1969 họ rút quân dần dần thỏa mãn nguyện vọng người dân.

VNCH được Hoa Kỳ yểm trợ đã mở cuộc hành quân sang Miên ngày 13-4-1970 để phá hủy các căn cứ hậu cần an toàn của BV, nơi xuất phát những cuộc tấn công VNCH và để giúp chính phủ Miên chống lại áp lực của CS.

Cuộc hành quân sang Kampuchia từ 29-4-1970 tới 22 -7-1970 đã đánh bại và ruồng bố được khoảng 40,000 quân CS, giết trên 10 ngàn cán binh,

Kế đó cuộc hành quân Lam Sơn tại Hạ Lào bắt đầu ngày 8-2-1971, BV phản công mạnh. Ông Thiệu lệnh cho các Tướng lãnh ngưng tiến quân. Giữa tháng ba, một thời gian ngắn sau khi quân đội VNCH tới Tchpone, họ rút lui về phía nam theo đường 914 bị Cộng quân truy kích thiệt hại nhiều. Cho tới 25-3-1972 cuộc hành quân coi như chấm dứt, tổng cộng chỉ kéo dài 45 ngày. Mặc dù không đạt kết quả nhưng cũng gây nhiều thiệt hại nặng cho CSBV.

Kissinger đàm phán đi đêm với BV tại Ba Lê, cuộc hội nghị kéo dài mấy năm. Hà Nội thương thuyết rất dai dẳng, đây là cuộc hòa đàm bẩn thỉu nhất trong lịch sử ngoại giao thế giới. Hà Nội không từ một mánh khóe hạ tiện nào để đạt thắng lợi tại bàn Hội nghị. Tháng 3-1972, lợi dụng khi quân đội Mỹ rút về gần hết, Hà Nội mở trận tổng tấn công miền nam VN với trên mười sư đoàn và nhiều xe tăng, đại bác. Tháng 2-1972 Nixon sang Tầu bắt tay Mao Trạch Đông, cái bắt tay thay đổi nhiều thập niên. Tháng 5-1972 Nixon họp thượng dỉnh tại Mạc Tư Khoa, hai bên thỏa thuận tài giảm binh bị. Trong năm 1972 ông ta vừa đánh bại CSBV, bắt tay Trung Cộng, hòa với Nga.

Trong tháng 5 -1972 miền nam đã thắng thế BV, TT Nixon oanh tạc Cộng quân dữ dội bằng B-52 để yểm trợ VNCH, ông nói chúng ta đã có khuynh hướng dọa cho dữ nhưng làm ít, đó là điểm yếu của chính phủ Johnson

(I think we have too much of a tendency to talk big and act little, I wrote “This was certainy the weakness of the Johnson administration).
(37)

Nixon là người cứng rắn dám dùng sức mạnh tối đa khi cần nhưng cũng không cứu vãn nổi sự sụp đổ của miền nam VN về chính trị. CSBV bị thiệt hại nặng trong trận muà hè đỏ lửa này, tháng 9/1972 có vào khoảng từ 70 ngàn cho tới 100 ngàn cán binh CS bị giết, khoảng 700 chiến xa bị phá hủy (38). Sau trận thảm bại 1972, Hà Nội chịu nhượng bộ tại bàn hội nghị: không đòi TT Thiệu từ chức, không đòi miền nam trung lập, VNCH chống đối hòa đàm. Bầu cử Tổng thống 7/11/1972 về cử tri đoàn Nixon thắng 49 tiểu bang, 520 điểm, thắng 47 triệu phiếu phổ phông, 60.7% số phiếu bầu, hơn McGovern 18 triệu phiếu, trận thắng cử lớn nhất từ xưa tới nay. Nixon đã đem quân về nước, lấy lại tù binh, không bỏ đồng minh, hòa với Nga, bang giao với Trung Cộng

Trước sự thúc ép của Quốc hội, Nixon ký kết Hiệp định Paris ngày 27-1-1973, Cộng quân không phải rút về Bắc, miền nam thắng mà như thua. Trước khi ký Hiệp định, Lập pháp hứa với Hành pháp sẽ tiếp tục viện trợ quân sự đầy đủ cho VNCH nhưng khi đã đem quân về nước, họ trở mặt cắt giảm dần dần.

Sau ngày ngưng bắn Hà Nội hối hả đưa khoảng 18,000 xe vận tải và 70,000 người xâm nhập miền Nam . Quốc hội Mỹ bắt đầu soạn tu chính án cấm xử dụng mọi ngân khoản cho các cuộc oanh tạc tại Đông Dương. Nixon ký thành luật ngày 30-6-1973, có hiệu lực ngày 15-8-1973. Tu chính án xác định từ nay không còn ngân khoản nào dùng trực tiếp và gián tiếp cho các hoạt động quân sự của My tại Miên, Lào, Bắc và Nam VN hay ngoài khơi Mên, Lào, Bắc, Nam VN.

Nixon không còn thẩm quyền giữ hòa bình cho VN, Quốc hội đã cho phép lãnh đạo Hà Nội tự do thao túng tại miền Nam VN. Quốc hội tiếp tục hạn chế quyền Tổng thống về quân sự đó là Dự luật War Power act: Tổng thống phải thảo luận với Quốc hội trước khi tham chiến. Ngày 7-11-1973 hình thành luật hạn chế quyền Tổng thống.

Sau ngày ngưng bắn, Hà Nội chuyển vũ khí đạn dược vào Nam, Quốc hội cắt xén viện trợ cho VNCH liên tục, ngân khoản do Nixon đề nghị đã bị Quốc hội cắt giảm từ hai tỷ mốt (2,1 tỷ) tài khoá 1973 xuống một tỷ tư (1,4 tỷ) tài khoá 1974 và 700 triệu tài khoá 1975. Trong khi ấy BV vẫn được CS quốc tế viện trợ dồi dào. Khi kết thúc Hiệp định Paris, Nixon đã đề ra hai kế hoạch bảo đảm hòa bình: Trước hết duy trì sự đe dọa trừng trị của Mỹ đối với một cuộc xâm lăng từ BV và sau đó là viện trợ quân sự đầy đủ cho VNCH để cân bằng lực lượng nhưng chung cục cả hai điều kiện trên đã bị Quốc hội phá hỏng hết (39)
Ngày 9/8/1974 Nixon từ chức vì vụ Watergate, Phó TT Gerald Ford lên thay, ông tân Tổng thống này chỉ là bù nhìn khi đảng đối lập Dân chủ nắm ưu thế hoàn toàn tại Quốc hội: 67% Hạ viện và 60% Thượng viện.

Quốc hội Dân chủ kiên quyết chống chiến tranh VN, trả thù cho thất bại nhục nhã trong cuộc bầu cử Tổng thống năm 1972 bằng cắt giảm viện trợ quân sự miền nam VN như trên. Hậu quả của sự cắt giảm tàn nhẫn này là tháng 4-1975, pháo binh VNCH hết đạn, máy bay hết săng, nhiên liệu…

Quốc hội lợi dụng thành quả của Hành pháp Nixon: Hòa với Nga, bắt tay Trung Cộng để bỏ Đông Dương, nay thiên hạ thái bình, thuyết Domino không còn ý nghĩa, CS không còn là mối nguy đe dọa ĐNA.

Nhờ xương máu của hàng triệu quân dân VNCH mà họ đã hòa được với Nga, Tầu khi cả hai phía đã cùng mệt mỏi. Nay miếng xương Đông Dương không còn ý nghĩa.

Từ thập niên 80 Hoa Kỳ và các nước Tây phương đầu tư vào Hoa Lục hy vọng nâng cao đời sống của họ để rồi từ từ chế độ Cộng sản sẽ phai mầu hóa ra hiền lành không còn hiếu chiến như xưa. Đầu thập niên 90 chế độ CS sụp đổ tại Liên Xô, Đông Âu khiến người Mỹ càng tin tưởng họ đang được hưởng thái bình đời vua Nghiêu Thuấn.

Mấy chục năm trôi qua, người Mỹ bỏ Đông Dương vì tin rằng đã hòa được với CS quốc tế, niềm tin nay đã thành ảo tưởng. Trung Cộng càng giầu, kinh tế phồn thịnh càng hung dữ hơn trước.

Nay ngân sách quốc phòng Trung Cộng (40) tăng lên 188 tỷ Mỹ kim gần bằng 1/3 của Mỹ (640 tỷ).Trong vòng 10 năm từ 2002 tới 2012 chi phí quốc phòng Trung Cộng tăng lên hơn gấp năm lần (41). Một hai thập niên trước họ chưa giầu mạnh ra vẻ khiêm tốn nay ra mặt thách thức Mỹ tại biển đông.

Nga từ bỏ chế độ CS, dân số chỉ còn 145 triệu nhưng cũng tăng cường ngân sách quốc phòng lên 88 tỷ Mỹ kim đứng thứ ba trên thế giới, họ trở lại chính sách bành trướng xa xưa. Tình hình Ukraine 2014 căng thẳng do Nga gây hấn can thiệp, Tổng thống Putin sáp nhập những tỉnh biên giới và thách thức Mỹ, Tây Âu. Trong cơn nóng giận ông ta hăm dọa: Nga là nước duy nhất trên thế giới có khả năng biến nước Mỹ thành tro bụi.

Tác giả Ted Morgan trong “The Valley Of Death, The Tragedy At Dien Bien Phu That Led America In to The Vietnam War”, trang 411 nói về Điện Biên Phủ

“Tháng 3 và tháng 4 năm 1954 Mao tăng viện trợ cho VM 4 tiểu đoàn phòng không, VM được huấn luyện tại Trung Cộng với súng cao xạ 37 ly và đã được đưa tới ĐBP…..
. . . . Mao cho huấn luyện thêm hai sư đoàn pháo và hai tiểu đoàn công binh cho VM. . .
Về việc cố vấn và viện trợ Mao có ưu thế hơn Mỹ nhiều, ông ta không phải vận động quốc hội như Mỹ, Mao thảo lệnh và được thi hành ngay, Việt Minh không cãi lại ý kiến của Trung Cộng trong khi Pháp luôn than phiền Mỹ can dự vào”.

Trong khi Mao, Staline ban lệnh và được thi hành ngay, Tổng thống Mỹ phải thăm dò ý kiến người dân, tham khảo Quốc hội, ngoài ra Anh-Pháp-Mỹ chia rẽ nhau vì quyền lợi, như thế không thể thắng được cuộc chiến.

Tại một đất nước mà chính phủ không có thực quyền, đảng nọ phá đảng kia, Quốc hội lộng hành, người dân yêu sách… thì các đồng minh của họ bị chết oan vì bức tử là điều không có gì khó hiểu.

© Trọng Đạt

© Đàn Chim Việt

http://www.danchimviet.info/archives/96717/hoa-ky-va-van-de-tu-bo-dong-minh/2015/06

Posted in chính trị Hoa Kỳ ở Châu Á | Leave a Comment »

► Ý kiến anh tài xế taxi

Posted by hoangtran204 on 28/06/2015

Theo Fb Nguyễn Tuấn

26-6-2015

Tôi thích trò chuyện và nghe ý kiến của giới tài xế taxi. Những ý kiến, những trăn trở của họ có thể ví như là một nhiệt kế thời sự. Hôm qua, đón chiếc taxi hiệu TN ở trung tâm Hà Nội về khách sạn, và có dịp nghe những ý kiến của anh tài xế trẻ làm mình có nhiều … tâm tư.

Bước lên xe, nghe giọng Nam kì của tôi, anh ta hỏi một cách dè dặt: bác từ trong Nam ra? Tôi gật đầu, và vui vẻ thêm rằng đáng lí ra người trong ấy nói giọng Bắc, nhưng chắc do đột biến nên giọng nói cứ phai dần từ Hà Lội, chuyển hoá sang trọ trẹ ở Quảng Bình, Huế, nẫu ở Đà Nẵng, Bình Định, Nha Trang, và dịu dần cho tuốt đến Cà Mau thì mất luôn âm hưởng Bắc kì. Anh ta cười lớn, thấy tôi có vẻ vui tính, nên nói đủ thứ chuyện trên trời dưới đất, làm cho chuyến đi xa trở nên ngắn lại.

Anh ta hỏi tôi nghĩ gì về Hà Nội. Được hỏi bất ngờ làm tôi suy nghĩ một phút. Tôi nói cảm nhận cá nhân của tôi là (1) Hà Nội hơi chật hẹp, không gian có vẻ ngột ngạt; (2) bất tiện ban đêm vì sau 10 giờ tối thì hàng quán ăn uống đóng cửa; (3) khó tìm chỗ nghe nhạc sống, thậm chí khó tìm giải trí bình dân “hát cho nhau nghe” theo kiểu Sài thành; (4) người dân có vẻ thiếu tính thân thiện, nhìn khách một cách dò xét, và khi họ đội nón cối xanh nữa thì trông rất lạ, nhưng trong thực tế họ lại thân thiện; (5) mấy cô Hà thành hình như có xu hướng mang giầy cao gót với độ cao cao hơn và dốc hơn mấy cô Sài thành, và như thế là nguy hiểm vì khi té là dễ bị gãy xương …

Tôi nói chưa hết những cảm nhận của tôi thì anh ta chen vào nói một mạch như vừa giải thích, vừa giải toả những bức bối nội tâm. Anh nói không chỉ Hà Nội mà những nơi khác ngoài Bắc cũng rất chật hẹp và ngột ngạt, và đó chính là lí do nhiều người ngoài Bắc bỏ quê vào Nam lập nghiệp, rồi khi định cư trong Nam thì họ không về Bắc mà gọi Nam là quê hương luôn. Anh ta chỉ ra một sự thật: Bác có thấy dân Nam ra ngoài này và gọi nơi này quê hương không?

Bằng một giọng nói Bắc kì trầm bổng, bỏ dấu đâu ra đó, và cách lập luận chặt chẽ, tôi chợt nghĩ đến hay là anh chàng này là sinh viên tốt nghiệp đại học mà không có việc làm nên làm nghề lái taxi. Nghĩ thế tôi nhìn anh tài xế cho kĩ hơn. Thấy anh ta còn trẻ, chưa đầy 30, người có vẻ ốm yếu nhưng làn da nâu có lẽ do ngồi taxi tối ngày, mắt sáng, ăn mặc đàng hoàng. Tôi đón xe một cách ngẫu nhiên, chứ không qua ai đó gọi đến, nên tôi nghĩ khả năng cao anh ta không phải là “DLV”. Tôi cảm thấy yên tâm rằng đây là dân thật, chứ không đóng kịch.

Rồi anh ta nói tiếp điểm thứ hai. Anh nói rằng thật ra, Hà Nội cũng có những điểm ăn tối đấy, và họ cũng mở đến 3 giờ sáng, nhưng phải là dân địa phương mới biết. Anh ta thêm rằng nhưng những quán như thế thường không có “đèn sáng” như khu Nguyễn Trãi ở Sài Gòn. Còn nghe nhạc thì anh ấy nói cũng có chỗ luôn, nhưng phải nhờ người sành điệu mới biết. Anh ta cho biết dân Hà thành không có dịch vụ kiểu “hát cho nhau nghe” như trong Sài Gòn. Rồi anh ta khuyên tôi không nên đến mấy chỗ nghe nhạc ban đêm, vì … chẳng có gì hay.

Đến điểm thứ 4, anh ta phản đối tôi. Anh nói rằng người dân ngoài này có thói sống 2 mặt. Ngoài mặt họ thân thiện với bác, đằng sau họ không ưa bác đâu. Này, cháu là dân Hà Tây, Bắc kì 100% nhé, mà cháu cũng cảm thấy không thích cái thói đó. Bác lịch sự quá, cháu làm nghề này và nghe dân Nam ra đây chửi chúng cháu là quân ăn cướp, chặt chém các bác ấy, nhưng cháu cũng phải công nhận các bác ấy nói có phần đúng đấy. Tôi phải vận dụng kĩ năng ngoại giao và nói với anh ấy rằng ở Hà Nội, cũng như ở Sài Gòn, có người thế này thế kia, tôi thì không nghĩ đồng hương ngoài này là “quân ăn cướp”, vì nếu nói ăn cướp thì trong Sài Gòn mới đúng là ăn cướp và còn nguy hiểm nữa. Anh ta không chịu và phản biện: không, ăn cướp trong ấy là manh động và qui mô nhỏ, còn ăn cướp ngoài này là qui mô lớn và êm ái, bác à. Lần đầu tiên tôi nghe khái niệm “ăn cướp êm ái”!

Như để minh hoạ, anh ta đưa tay chỉ về hướng thành phố do một đại gia tỉ phú USD xây, anh ta nói: đấy, đó là ăn cướp đấy bác. À, thì ra, anh chàng này nói ăn cướp theo cái nghĩa rộng hơn. Anh ta nói ngày xưa đất ở đây chỉ là đồng ruộng thôi, rồi cái tay đại gia này vào, dùng uy thế hay quyền thế để xua đuổi người dân, rồi xây dựng lên một thành phố trong thành phố và giàu thêm, còn người dân và mồ mả bao đời ở đây thì bị dạt ra ngoài thành phố. Anh ta nói một mạch, rồi hỏi tôi: bác có biết vụ cướp đất ở Hưng Yên không? Tôi chạy một cái scan trong não và chưa nghĩ ra vụ nào, nên lắc đầu. Anh ta nói rằng ở Hưng Yên có một đại gia là anh của đại gia anh ta vừa nói đến đó mua đất giá rẻ mạt, sau đó một đại gia khác đến mua đất giá đắt hơn chút, và thế là người dân biết mình bị lừa, nhưng biết thì đất đã mất rồi và họ trở thành “dân oan”. Anh ta nói say sưa, như anh ta chính là nạn nhân hay là một dân oan vậy.

Tôi thấy anh ta có vẻ biết nhiều chuyện, nên hỏi anh ta nghĩ gì về chuyện Biển Đông. Anh ta có những phát biểu chứng tỏ rõ ràng anh ta đọc báo lề dân hơi nhiều. Anh ta nói rằng VN chúng ta sẽ có nguy cơ cao bị Bắc thuộc lần nữa. Rồi anh ta tỏ vẻ tiếc nuối thời xa xưa. Anh nói tư tưởng của cụ Hồ là đúng đấy, nhưng các bác sau này chẳng ai làm theo cụ Hồ nên đất nước ra nông nỗi này. Đột nhiên, anh ta nói như so sánh rằng cái chính quyền VNCH ấy nó phản dân hại nước chạy theo Mĩ nên cũng chả ra gì. Tôi tò mò hỏi anh ấy là anh đi đến nhận định cái chính quyền phản dân hại nước và tay sai đó từ đâu, thì anh ta cười nói: dạ, cháu chỉ đọc sách báo thôi ạ. À, câu này giải thích tại sao em ấy là fan của tư tưởng cụ Hồ.

Cuộc trò chuyện càng lúc càng hào hứng, nhưng rồi cũng đến lúc chia tay. Xe trờ đến khách sạn, cuộc trò chuyện phải tạm chấm dứt. Tôi đưa tiền cho anh ấy và dặn làm chẵn, coi như một cách tặng thêm cho anh ta hai chục ngàn để nuôi vợ con (hay bồ bịch). Anh ta thối tiền đàng hoàng, và thấy tôi kín đáo đếm tiền, anh ta nói đùa: bác cẩn thận coi chừng bọn Hà Nội ăn cướp tiền đó nhé. Tôi cười lớn, vỗ vai anh ta, rồi nói lời tạm biệt, chúc anh ta nhiều may mắn trong một cái nghề khác thích hợp hơn với trí thông minh và tính hóm hỉnh của anh.

Posted in Chinh Tri Xa Hoi | Leave a Comment »

►“Nếu chúng ta nói rõ cái gì của ai thì đất nước đã khác”

Posted by hoangtran204 on 28/06/2015

Tư Giang lược ghi

TS Phạm Duy Nghĩa.

Tiến sỹ Phạm Duy Nghĩa đã có bài thảo luận về quyền sở hữu tại một hội thảo do Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam tổ chức vào ngày 25-6. Thời báo Kinh tế Sài Gòn Online lược ghi.

Điều gì đã cản trở Việt Nam trong 20 năm vừa rồi không thể phát triển? Thực ra, trong 30 năm vừa rồi, mình cải cách nửa chừng, giúp đất nước phát triển, nhưng cũng làm đất nước vướng nhiều cái do mình làm không đến nơi đến chốn….

Nền kinh tế tư nhân chia thành hai loại. Một loại giàu lên rất nhanh. Ngay như điểm tin sáng nay cũng thấy, có đại gia ôm hàng trăm tỉ tiền mặt vào Phú Quốc mua đất. Sự giàu có của một bộ phận tư nhân gắn bó với sân sau, với những người có quyền phân chia đất. Như vậy, có một bộ phận tư nhân phát triển rất tốt, tốt một cách không tin được. Nhưng có một bộ phận tư nhân khác, tức hàng trăm, hàng ngàn doanh nghiệp tư nhân chết mà không chết được, teo tóp đi.

Tức là loại nào mà bám vào chính quyền, quan hệ tốt, trở thành sân sau thì phát triển rất tốt, còn loại không có được những quan hệ đó rất khó.

Còn về doanh nghiệp nhà nước (DNNN) thì bao nhiêu năm nay vẫn không có gì mới. Chúng ta đã nói từ mấy chục năm nay rồi. Sở hữu không rõ, thành ra nhiều anh khai thác quyền của mình để kiếm được lợi tư từ khối DNNN.

Vì vậy, DNNN thích hợp với những ai nắm quyền quản trị, và can thiệp được vào khối tài sản này. Cũng có những DNNN thành công như Vinamilk, Viettel… Nhưng còn các DNNN khác thì cũng có nhiều khó khăn lắm. Những khó khăn này dẫn đến thoái vốn, bán tống bán tháo tài sản nhà nước đi. Rồi dưới chiêu bài xã hội hóa, công tư hợp doanh để phân phối tài sản công cho tư nhân cũng khá nguy hiểm.

Khu vực thứ 3 là doanh nghiệp đầu tư nước ngoài (FDI) thì lại đang phát triển tốt, ngày càng tăng trưởng. Lập luận của chúng tôi là, hóa ra khu vực này nó không dùng luật Việt Nam mình. Tài lực, vật lực nó mang từ bên ngoài vào, thuê đất, nhân công của mình, lắp ráp ở mình rồi bán đi. Tài sản của họ ở mình thì có nhiều đâu. Nếu có tranh chấp thì họ có nhờ tòa mình xử đâu, họ mang ra nước ngoài.

Như vậy, thể chế của Việt Nam mình chỉ làm khổ dân mình thôi, chứ không làm khổ khu vực nước ngoài nhiều lắm. Chính vì vậy, họ vay mượn từ bên ngoài, họ vượt qua được thể chế của mình. Đó là lý do giải thích vì sao khu vực FDI có thể đóng góp vào xuất khẩu lớn với lý do không vướng vào những phiền nhiễu của chế độ sở hữu trong nước.

Bây giờ cải cách thế nào? Nếu mà đất nước nói rõ cái gì của ai thì đã khác. Chỉ đơn giản thế thôi chứ có gì đâu mà phải nghĩ ngợi cho nhiều. Chẳng hạn như lô đất này của VCCI, thì chủ của nó là VCCI. VCCI không thích thì bán, hay cho thuê. Như vậy sẽ rõ chủ sở hữu của mảnh đất là ai…

Hơn 10 năm trước, chúng tôi từng nói một ý rằng: sở hữu toàn dân là cái ý chí chính trị, nhưng khái niệm ấy không dùng được, không có ý nghĩa về pháp lý. Nó phải có chủ thể rõ ràng. Lấy ví dụ, Hà Nội hay TP.HCM là một pháp nhân. Là pháp nhân thì họ có đất, cây… khi cây đổ vào ô tô của tôi thì tôi có thể kiện chính quyền. Sở hữu toàn dân như là một vòng kim cô. Việt Nam mình phải làm như Trung Quốc năm 2007 khi ban hành luật về vật quyền.

Sở hữu toàn dân rất có lợi cho những người biến ao ruộng, miếng đất đáng giá thành bao nhiêu cây vàng. Cái lợi ấy chạy hết vào túi của những người đó, nhà nước chẳng thu được đồng thuế nào, vì phần lớn sẽ nằm trong tay những người có quyền quyết định đối với những lô đất đó. Vì thuộc về toàn dân, thuộc quyền nhà nước nên xảy ra nhũng nhiễu, hạnh họe người ta. Nếu sở hữu rõ ràng thì phải thương lượng. Vì không rõ sở hữu nên nay anh thu hồi, mai anh chuyển đổi. Những người đó giàu lên rất dữ nhưng nó làm cho doanh nghiệp không dám đầu tư lớn. Thể chế sở hữu không chắc chắn thì không ai dám đầu tư.

Rất nhiều đại gia Việt Nam bây giờ đang bán tài sản cho nước ngoài. Đây cũng là điều cảnh báo cho những nhà làm chính trị tại Việt Nam. Khi những đại gia này làm ăn đến mức nào đó … người ta bán đi.

Ngoài ra còn có những loại sở hữu thông qua hợp đồng. Chẳng hạn có người sở hữu biệt thự ở Vũng Tàu, cho thuê 2 tuần/lần. Người ta sẽ sáng tạo ra đủ thứ sở hữu. Đáng ra luật pháp phải đảm bảo sự tự do đó, và dùng hệ thống tòa án bảo vệ những điều đó.

Thứ 3, giả sử một người làm ăn tồi, vỡ nợ, thì tài sản đó phải nhanh chóng chuyển sang tay chủ nợ. Chẳng hạn một ngày đẹp trời, OceanBank, Ngân hàng Xây dựng sẽ chuyển sang cho anh khác. Nên luật phá sản là cái roi rất dữ đe nẹt những anh làm ăn dở. Nhưng mình chưa bảo vệ được những chủ nợ.

Nhưng vấn đề sở hữu ở đất nước mình chưa ai dám thảo luận rộng, sâu.

Giới nhà giàu có được quyền lợi từ cái đó cũng không muốn đổi, còn những thành phần khác muốn đổi thì tiếng nói không mạnh.

Bây giờ, nhà nước muốn lấy đất đai của dân thì khó hơn một chút, giá thì do nhà nước đề ra, dân mất đất thì có thể khiếu nại, tố cáo… Thế thì vòng vo tam quốc nhưng mình có chữa được luật đâu. Hôm nay mình nói mạnh hơn để cố gắng 20 năm sau con cháu mình nó có cái nhà của nó là của nó, không phải của nhà nước. Nhà nước muốn lấy, thu hồi thì phải thương lượng, mua với giá đàng hoàng, chứ không thể thu hồi không.

 

Posted in Cướp đất và chiếm đoạt tài sản của dân | Leave a Comment »

►Viết Từ Sài Gòn – Ngu dốt luôn đi đôi với bảo thủ

Posted by hoangtran204 on 24/06/2015

23-6-2015

rfavietnam.com/node/2658

Năm ngoái, chuyện này cũng đã rùm beng, thậm chí được báo chí trong nước đẩy lên thành sự kiện chính trị, nhiều tờ báo loan tin, đại khái: “ngành an ninh đã bắt được một số lượng lớn nón cối, quần áo, giày dép nhà binh Mỹ. Có thể đây là nguồn hàng có liên quan đến những nhân vật ‘anh hùng rừng lá thấp’ đã âm thầm hoạt động chống phá nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. Và bản tin kiểu đó xuất hiện khá nhiều. Sau đó bặt đi gần một năm, mãi đến khi chuyện hợp đồng may quân phục Mỹ của một doanh nghiệp Việt Nam bị hủy, doanh nghiệp Việt Nam mất đứt hợp đồng trị giá hai tỉ USD, chuyện mới vỡ xòa.

Mà buồn cười nhất là vấn đề cái dốt, sự ngu muội luôn đi đôi với tính bảo thủ thành một chân lý. Cái chân lý buồn cười này không phải quốc gia nào cũng vinh hạnh có được giống như Việt Nam. Cũng xin nói thêm, vụ tịch thu hàng mẫu trong hợp đồng quân phục Mỹ này do an ninh một sân bay quốc tế Việt Nam lập công. Cũng giống như bao cảng hàng không quốc tế tại Việt Nam, đâu đâu cũng có thể bắt gặp hệ thống an ninh sân bay rất gắt gao, soi từng cọng lông nhưng hành lý của khách mất vẫn cứ mất, Việt Kiều thì mất càng bạo tay hơn.

Đó chỉ là chuyện mất vặt, nhưng mất hợp đồng hai tỉ đô la Mỹ thì chuyện chẳng phải đùa nữa. thế nhưng mất hợp đồng thì doanh nghiệp tự chịu lấy, chẳng có ông an ninh nào, bà hải quan nào đứng ra chịu trách nhiệm hay xin lỗi “khổ chủ”. Và trong trường hợp này, cũng khó mà kiện được bởi bị đơn là một hệ thống đang được nhà cầm quyền trung ương ưu ái nhất – hệ thống công an.

Không phải đơn giản muốn cấm thì cấm, muốn thu thì ngang nhiên tịch thu hay muốn khoắn thì tha hồ khoắn mà đây là vấn đề hệ trọng, liên quan đến danh dự nghề nghiệp, danh dự quốc gia. Một khi phạm tội, sai phạm nhiều lần mà hệ thống này vẫn cứ hoạt động nhịp nhàng, vẫn cứ khoắn của hành khách đều đều và gây tổn thất hợp đồng hai tỉ USD cứ như chuyện đùa thì chắc chắn bên trên hệ thống đó phải có cái dù to lớn đến mức che cả mặt trời, che cả công lý và che cả lòng dân rồi.

Thiết nghĩ cũng không cần bàn thêm về cái dù mà thử đặt câu hỏi tại sao có những cái dù hết sức kì cục như vậy, vừa bao che cho cái xấu, đỡ đầu cho tội ác lại vừa gián tiếp bán rẻ danh dự quốc gia, bôi tro trét trấu lên gương mặt dân tộc?

Vì gì? Câu trả lời không thể xoay vào đâu được ngoài cái vì độc tài, độc đoán và bảo thủ. Vì độc tài, người ta tôn vinh tính độc đoán và để đảm bảo độc đoán, người ta hành xử bảo thủ. Bởi vì chỉ có bảo thủ mới đảm bảo được những yêu cầu của độc đoán và độc tài. Và để đảm bảo sự bảo thủ của mình được thông suốt, không bị lực cản, người ta buộc phải dùng đến hệ thống khát máu, gian xảo, bất chấp thủ đoạn. Hiện tại, để có hệ thống theo chiều dọc nhằm đảm bảo tính bảo thủ của chế độ cầm quyền để bảo vệ nền độc tài, người ta đã sử dụng lực lượng mang tính chất vừa nêu.

Và an ninh sân bay là một trong những nhóm tay chân, bộ hạ nhằm bảo vệ nền độc tài. Đặc biệt, an ninh sân bay có công việc tương đối phức tạp, vừa liên quan đến nghiệp vụ an ninh thuần túy lại vừa liên quan đến chức năng bảo vệ đảng, bảo vệ nền độc tài. Chính vì kiểu làm việc kiêm nhiệm, đôi khi phải chịu khổ nhục về thể diện trước con mắt quốc tế như vậy mà an ninh sân bay được ưu ái nhiều thứ. Trong đó có ưu ái để ăn cắp vặt, ưu ái để phá hoại.

Sự việc an ninh sân bay phá hoại hay ăn cắp không còn xa lạ gì trong con mắt hành khách quốc tế cũng như hành khách trong nước. Nó vẫn diễn ra ngày càng mạnh bạo hơn và ngang nhiên không coi ai ra gì. Bởi vì nó được bảo kê bởi một hệ thống quyền lực bên trên. Nhưng vì sao người ta lại chọn phương thức tồn tại nhục nhã như thế? Bởi suy cho cùng, bất kỳ phương tiện nào đi đến mục đích có tính chất gian manh đều cho thấy mục đích chẳng tốt đẹp của nó.

Trong trường hợp này, lực lượng công an cùng với hệ thống hành vi hết sức vô văn hóa, gian manh và giảo hoạt của họ đều là phương tiện nhằm bảo vệ chế độ. Và một khi phương tiện ưu tú cỡ đó thì chắc không mấy khó khăn đoán ra mục đích cũng như bản chất tồn tại của nó. Bởi chỉ có sự ngu dốt mới đảm bảo cho tính bảo thủ đi cạnh nó lâu dài. Và bao giờ còn bảo thủ, còn nhũng nhiễu, còn độc tài thì sự ngu dốt còn hiện hữu, còn hoành hành mảnh đất Việt Nam này.

Rất tiếc là câu chuyện ngu dốt và bảo thủ, độc đoán, độc tài vẫn là câu chuyện chưa bao giờ có hồi kết thúc trong chế độ công an trị tại Việt Nam hiện tại! Và một khi nó còn hiện hữu thì cơ hội để tiến bộ cũng như cơ hội làm giàu, góp tay xây dựng đất nước của mọi doanh nghiệp, cá nhân đều bị con mắt soi mói của nó chiếu cố. Đợi cho nó đồng thuận sau một chu kì soi mói để được tiến bộ, làm giàu, chắc người ta đã già đi hoặc người ta đã phá sản vì nó. Đó là cái giá của một công dân sống dưới bóng mây độc tài, bảo thủ!

Theo RFA

—————————/——–

Những luận điểm ngụy biện của Đảng CSVN cần phải bị loại bỏ trong tư duy người Việt hiện đại 

23-6-2015

Dương Hoài Linh

85 năm dưới chính thể độc tài toàn trị, Đảng CSVN đã áp đặt những tư duy mông muội lên tâm thức người Việt và những hệ lụy ấy đang kéo dài đến ngày nay. Chúng đã gián tiếp tạo ra nhiều thế hệ thụ động, bảo thủ và lạc hậu đối với những quy luật phát triển của thế giới văn minh loài người. Thiết nghĩ đã đến lúc cần hệ thống lại và loại bỏ các luận điểm này ra khỏi suy nghĩ của người Việt nhằm hướng tới những tư tưởng tiến bộ hơn trong tiến trình phát triển đất nước:

1/ YÊU NƯỚC LÀ PHẢI YÊU CNXH:

Đây là luận điểm phi lý nhất trong các luận điểm phi lý. Nước là của cha ông có bốn ngàn năm văn hiến. CNXH là cái quái thai được tha về. Tại sao phải đồng nhất hai khái niệm này? Chính nhận thức này đã tạo ra sự nhân nhượng cho kẻ cùng chung ý thức hệ Trung Quốc dẫn đến hệ quả là chủ quyền quốc gia đang càng ngày càng mất vào tay kẻ cướp láng giềng. Đã đến lúc bỏ cái CNXH vào thùng rác và cần phải nêu cao tư tưởng bài thơ Thần của Lý Thường Kiệt “Sông núi nước Nam vua Nam ở. Rành rành định phận tại sách trời…”

2/ TRUNG VỚI ĐẢNG:

Đảng phái là một tổ chức chính trị tự nguyện, có một hệ tư tưởng hay một đường lối nhất định, nhưng cũng có thể đại diện cho một liên minh giữa các lợi ích riêng rẽ. Đảng nắm quyền phải thông qua bầu cử tự do không áp đặt. Do đó bắt buộc hoặc cổ vũ “Trung với Đảng” là một điều khiên cưỡng. Đảng CSVN lại đang thực hiện mục tiêu định hướng XHCN, một mục tiêu mơ hồ ngay với chính lý luận của Đảng. Hơn nữa Đảng CS còn là một tổ chức không chính danh, ăn bám xã hội, độc tài và có trí tuệ thấp hơn mặt bằng dân trí của toàn xã hội. Vì vậy “Trung với Đảng” là tự sát tập thể.

3/ TỘI PHẢN CÁCH MẠNG XHCN:

Cách mạng là xóa bỏ cái cũ để thay thế bằng cái mới tiến bộ hơn. XHCN là cái lạc hậu, cái cần phải loại trừ do đó phản cách mạng XHCN không thể xem là một tội. Cần phải xem lại vai trò của những người dám phản cách mạng XHCN hiện nay vì đó mới là những người yêu nước thật sự. Không thể gán cho họ cái từ “phản động” một cách tùy tiện để phân biệt đối xử và tước bỏ tự do của họ.

4/ TỘI TUYÊN TRUYỀN LẬT ĐỔ CHÍNH QUYỀN NHÂN DÂN:

Không thể có một “chính quyền nhân dân” trong một thể chế chính trị độc tài. Hai chữ “nhân dân” này đã bị tiếm danh. Khái niệm “nhân dân” chủ thể của quyền lực chỉ thực chất khi họ có khả năng bầu cử bằng lá phiếu và dùng lá phiếu để truất phế chính quyền. Khái niệm một nhà nước, một chính quyền hạn chế không phù hợp với nguyện vọng nhân dân đã có từ lâu trong lịch sử thế giới. Thay thế một chính quyền không còn phù hợp là một việc làm chính đáng. Do đó không thể có tội “Tuyên truyền lật đổ chính quyền nhân dân” mà chỉ có tội”Lợi dụng nhân dân để nắm quyền lực và làm tha hóa quyền lực”.

5/ TỘI ĐE DỌA AN NINH QUỐC GIA:

An ninh quốc gia là một khái niệm để chỉ sự ổn định và phát triển bền vững của một chế độ xã hội: độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ. Để có an ninh quốc gia, một quốc gia cần phải có an ninh quân sự, an ninh kinh tế, an ninh năng lượng, an ninh môi trường,.. Do vậy đe dọa an ninh quốc gia thường rơi vào những kẻ nắm trong tay quyền lực. Đó là “tham nhũng,buôn bán ma túy, nhóm lợi ích,tập đoàn lợi ích đa quốc gia”, những kẻ ký kết bán rẻ chủ quyền, quyền lợi quốc gia thông qua những hiệp định bí mật. Không thể dùng khái niệm này để áp đặt tội danh lên những người bất đồng chính kiến, những người chủ trương đấu tranh bất bạo động để thay đổi một thể chế chính trị.

6/ ĐA ĐẢNG LÀ LOẠN:

 

Đa đảng là hệ thống chính trị mà ở đó có hai hoặc nhiều hơn các đảng phái có khả năng giành quyền điều hành chính phủ một cách độc lập hay liên minh với nhau. Hệ thống đa đảng là thiết yếu trong một nền dân chủ vì nó ngăn ngừa sự lãnh đạo của một đảng duy nhất dẫn đến những chính sách không mang tính cạnh tranh. #danluan Đa đảng là hệ thống tốt nhất để kiểm soát quyền lực chống tham nhũng, chống lạm quyền.

Chính quyền Việt Nam lợi dụng sự mất ổn định tạm thời của một số nước đa đảng như Thái Lan, Campuchia, Trung Đông, Châu Phi… để bài xích đa đảng là không thuyết phục. Bởi các nước này đang ở giai đoạn”dân chủ khiếm khuyết”, các chỉ sơ dân chủ chưa cao. Thực tế trong 180 quốc gia và vùng lãnh thổ thì có đến 118 theo hệ thống đa đảng. Cụ thể như sau: Châu Á có 24, châu Âu có 40, châu Mỹ có 22, châu Phi có 24 và châu Đại Dương có 8. Hầu hết các quốc gia đa đảng đều có sự ổn định chính trị, tính cạnh tranh và minh bạch trong điều hành xã hội đều rất cao.

7/ NGUYÊN TẮC DÂN CHỦ TẬP TRUNG:

Đây là nguyên tắc căn bản của Tư tưởng Hồ Chí Minh. Theo đó thì “Tập thể lãnh đạo là dân chủ. Cá nhân phụ trách là tập trung. Tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, tức là dân chủ tập trung”. (Hồ Chí Minh toàn tập – Tập 5). Và: “Ở nước ta chính quyền là của nhân dân, do nhân dân làm chủ. Nhân dân bầu ra các Hội đồng nhân dân, Uỷ ban kháng chiến hành chính địa phương, và Quốc hội cùng Chính phủ Trung ương.”

Đây là một quan điểm ngụy biện. Thực chất của”dân chủ tập trung” là một thể chế độc tài toàn trị theo kiểu Stalin. Bởi vì người dân không được đề cử người mình muốn bầu mà là do Đảng cử. Do đó cái gọi là Đại Biểu quốc Hội đều không phải là Đại biểu của nhân dân mà là một sự lẫn lộn, pha tạp, hổ lốn giữa hành pháp, lập pháp và tư pháp giữa chính quyền và các thành phần có chức quyền, địa vị trong xã hội. Tất cả trộn lại tạo thành một tập thể “vừa đá bóng vừa thổi còi”.

8/ TỰ DO PHẢI THEO LUẬT PHÁP:

Đó là một quan điểm đúng nhưng không đủ. Tự do phải theo luật pháp nhưng phải là thứ luật pháp độc lập, không vi hiến và tuân theo các nguyên tắc căn bản của một nhà nước pháp trị. Trong nhà nước pháp trị các quyền hiến định phải được tôn trọng và phải có một cơ quan bảo hiến. Sự thượng tôn pháp luật phải được đặt lên hàng đầu và tất cả mọi công dân đều bình đẳng như nhau.

Do đó tự do là phải tôn trọng các quyền con người được hiến pháp quy định rõ ràng. Chà đạp lên hiến pháp bằng các điều luật vi hiến là chà đạp lên tự do của con người.

9/ NHẬN DIỆN THẾ LỰC THÙ ĐỊCH

Đảng CSVN thường dùng cụm từ “thế lực thù địch” để chỉ những người Việt bất đồng chính kiến ở nước ngoài. Nếu định nghĩa “thế lực thù địch” với đất nước Việt Nam là những kẻ ăn tàn phá hoại, bán đứng chủ quyền, đất đai, tài nguyên quốc gia, làm băng hoại các giềng mối đạo đức, đạo lý dân tộc thì kẻ đó chính là Đảng CSVN chứ không phải ai khác. Do đó phải nhận diện “thế lực thù địch” với dân tộc Việt nam không ở nước ngoài mà ở chính ngay trong nước.

Trên đây là một số luận điểm được Đảng CSVN ngụy tạo nhằm lợi dụng sự cả tin, nhẹ dạ và thiếu hiểu biết về chính trị của người dân nhằm mục đích duy trì quyền lực lãnh đạo của một thể chế độc tài thối nát,đã mất hết vai trò và sứ mệnh lịch sử. Thế lực này càng tồn tại ngày nào nhân dân Việt nam càng đau khổ ngày đó. Thế nhưng với bản chất coi trọng quyền lực, cố bám giữ quyền lực bằng mọi giá Đảng CSVN sẽ không bao giờ từ bỏ chiếc ngai vàng của mình. Chúng sẽ bỏ qua các nguy cơ mất nước,thảm họa nô lệ của dân tộc, vô cảm với những bất công xã hội, sự khốn cùng của người dân. Tất cả sẽ bằng vào ngụy biện, dối trá và bạo lực bất chấp luật pháp để tồn tại. Thế nhưng sự thật đang phơi bày ngày càng rõ ràng trước mắt và người dân đang ngày càng tỉnh táo hơn. Và có lẻ chỉ có người dân Việt nam mới có thể cứu lấy tương lai của chính họ sau này.

.

Posted in Cán bộ yếu kém chuyên môn- thiếu trách nhiệm-Thoái hóa, Kinh Te | Leave a Comment »

 
Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.