Trần Hoàng Blog

►Nếu hôm nay Nam Việt Nam vẫn tự do …(Josh Gelernter)

Posted by hoangtran204 on 28/04/2015

Diên Vỹ chuyển ngữ

Hãy nhìn vào phần còn lại của Đông nam Á và mường tượng Nam Việt Nam sẽ ra sao.

Ngày 30 tháng Tư này sẽ là kỷ niệm 40 năm ngày Sài Gòn thất thủ. Bốn mươi năm sau khi Hoa Kỳ bỏ rời Nam Việt Nam, có thể nói rằng lời nói dối được chấp nhận nhiều nhất trong lịch sử nước Mỹ là việc can thiệp của Mỹ vào Đông Dương là một ý tưởng tồi.

Trong đa số các tranh luận, một sự thật hiển nhiên là vấn đề Việt Nam là một sai lầm, và một số người bảo thủ xem đấy là một điểm đáng tranh cãi. Khi phe Cộng Hoà nói về Việt Nam, họ chỉ bảo vệ những người lính bị xỉ vả . Đôi khi ai đấy lại chỉ ra rằng cuộc Tổng Tấn công Tết Mậu Thân là một chiến thắng của người Mỹ. Đôi khi, sự kiện Mỹ Lai được cân bằng bởi hàng nghìn tội ác tương tự và vài chục tội ác tồi tệ hơn của Việt Cộng và quân Bắc Việt. Rất hiếm khi có ai chỉ ra được rằng một khi Creighton Abrams thay thế William Westmoreland trong vai trò Tư lệnh Bộ chỉ huy Cố vấn Quân sự Mỹ tại miền Nam Việt Nam, chúng ta bắt đầu thắng cuộc chiến – và rằng qua việc bãi bỏ các cam kết sau Hiệp định Paris, Quốc hội đã giật thất bại ở miền Nam Việt Nam khỏi gọng kềm của chiến thắng quân sự.

Tuy nhiên thay vì cứ đưa ra những tranh luận này, tôi muốn chỉ ra một số sự thật về Đông nam Á hiện tại. Sau khi chủ nghĩa thực dân sụp đổ trong gian đoạn Chiến tranh Thế giới Thứ Hai chấm dứt, Đông nam Á đã bắt đầu gây dựng lại chính mình. Hoa Kỳ đã hỗ trợ ba chính phủ chống Cộng sản trong cuộc chiến đấu chống lại sự bành trướng của chủ nghĩa Mác: Chúng ta đã ủng hộ Trung Hoa Dân Quốc chống lại Cộng Hoà Nhân Dân Trung Quốc, chúng ta ủng hộ Hàn Quốc chống lại Cộng Hoà Dân Chủ Nhân Dân Triều Tiên, và chúng ta ủng hộ Việt Nam Cộng Hoà chống lại Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà. Đấy là Đài Loan chống lại Trung Hoa Đỏ, Nam Hàn chống lại Bắc Hàn, và Nam Việt Nam chống lại Bắc Việt Nam. Hai trong số ba nước cộng hoà giờ đây đang nằm trong số những quốc gia phát triển cao nhất, thịnh vượng nhất, và tự do nhất trên thế giới.

Một trong những chỉ trích cơ bản của giới phản chiến đối với việc hậu thuẫn của Mỹ cho Nam Việt Nam là chính quyền miền Nam không có dân chủ. Điều này hoàn toàn đúng; nó được cai trị bởi một chính thể quân sự với những mức độ hợp tác dân sự khác nhau. Tuy nhiên, trích theo phát biểu lúc ấy của hạ nghị sĩ Dân chủ phản chiến Leo Ryan, “Mặc dù Nam Việt Nam không phải là pháo đài của những nền tảng dân chủ, những cáo buộc nặng nề nhất về việc đàn áp tràn lan những quyền con người cơ bản đang bị thổi phồng. Vẫn có lực lượng chính trị và báo chí đối lập đang hoạt động và lên tiếng. Rõ ràng là vẫn có một số tù nhân chính trị, nhưng dân chúng nói chung cũng như những nhà lãnh đạo đối lập chính trị không phải sống trong sự sợ hãi trước sự đàn áp của chính quyền.”

May mắn là khi các nền kinh tế tự do thường có xu hướng thúc đẩy những đất nước không tự do đi đúng hướng. Như Việt Nam Cộng Hoà, Trung Hoa Dân Quốc và Nam Hàn cũng đã trải qua những thời kỳ của chế độ độc tài quân sự. Nam Hàn bị cai trị bởi Tướng Park Chung-hee từ cuộc đảo chánh của ông năm 1961 đến khi ông bị ám sát vào năm 1979. Chính quyền của ông tan rã vì việc đàn áp chính trị, nhưng ông đã xây dựng nền kinh tế Nam Hàn để trở thành một nền kinh tế cường thịnh, từ đấy làm nền tảng cho nền dân chủ mạnh mẽ mà Nam Hàn có được hôm nay.

Tương tự, Trung Hoa Dân Quốc bị cai trị dưới chế độ quân luật bởi Thống chế Tưởng Giới Thạch cho đến khi ông qua đời năm 1975. Cũng như Park, giai đoạn cầm quyền của Tưởng đã bị vấy bẩn bởi chính sách đàn áp, nhưng nó cũng đã tạo ra sự thịnh vượng lớn và dưới quyền của con trai ông là Tưởng Kinh Quốc, quốc gia này đã chuyển hoá trở thành một nền dân chủ cộng hoà hoàn toàn tự do.

Đài Loan, thật đáng hổ thẹn, vẫn không được Liên Hiệp Quốc thừa nhận như một quốc gia có chủ quyền. Tuy nhiên, theo công thức Chỉ số Phát triển Con người của Liên Hiệp Quốc (vốn chủ yếu là tính toán mức sống của người dân), nó đứng thứ 21 trong số các quốc gia phát triển nhất trên thế giới. Nam Hàn đứng vị trí 15. Cả hai quốc gia đều xếp hạng cao hơn các nước châu Âu như Áo, Bỉ, Luxembourg, Ý, và Phần Lan; Nam Hàn cũng vượt qua cả Nhật, Pháp, và Do Thái.

Mặc dù có ít tài nguyên thiên nhiên, Đài Loan vẫn đứng thứ 19 trong các nước có chỉ số GDP mỗi đầu người cao nhất trên thế giới: 45.854 USD mỗi năm, vượt cả Canada, Đan Mạch, Bỉ, Pháp, Anh, Nhật, và Ý. Tương tự, Nam Hàn cũng ít có tài nguyên nhưng vẫn đứng thứ 30, trên cả New Zealand, Tây Ban Nha, và cả hai nửa của nước Czechoslovakia cũ.

So sánh điều này với những đối thủ Cộng sản: GDP mỗi đầu người của Trung Hoa Đỏ đứng sau Đài Loan 70 bậc, sau Turkmenistan, Algeria, Libya, Maldives, và Iraq. Bắc Hàn hầu như đứng ở tận cùng thang điểm, sau Zimbabwe, Rwanda, và Haiti. Về mặt phát triển con người, Trung Hoa Đỏ cũng thấp hơn Đài Loan 70 bậc, sau Tunisia, Peru, Grenada, và Azerbaijan. Chỉ số phát triển con người của Bắc Hàn, với những lý do hiển nhiên, không thể tính được một cách chính xác.

Và nếu so sánh Việt Nam với các nền cộng hoà châu Á tự do có Mỹ hậu thuẫn thì thiên đường cộng sản của Hồ Chí Minh đứng ở vị trí 122 về phát triển con người, sau Syria, Iraq, Moldova, và Gabon, và thứ 126 về chỉ số GDP mỗi đầu người, sau Cộng Hoà Congo, Swaziland, Dominica, và Albania.

Có lẽ đây là kết quả tất yếu của truyền thống Cộng sản chuyên thanh trừng người sở hữu đất, giáo viên, và trí thức.

Quan trọng hơn cả kinh tế, hãy so sánh quyền tự do của các nước này. Đài Loan và Nam Hàn có bầu cử tự do, hệ thống pháp lý độc lập, tự do báo chí, tự do tôn giáo, tự do hội họp, và tự do ngôn luận. Cả Cộng Hoà Nhân Dân Trung Quốc lẫn Cộng Hoà Dân Chủ Nhân Dân Triều Tiên đều không có các quyền này. Đương nhiên Việt Nam cũng thế, khi đảng Cộng sản tiếp tục kiểm soát “bầu cử” và toà án, và tiếp tục bắt giữ và tra tấn những người bất đồng chính trị và tôn giáo.

Hãy mường tượng Việt Nam Cộng Hoà – Nam Việt Nam – ngày hôm nay sẽ như thế nào. Việt Nam là quốc gia đông dân thứ 13 trên thế giới với hơn 90 triệu dân. Phân nửa số người này, ít hay nhiều, đã có thể sống trong tự do và thịnh vượng mà người dân Nam Hàn và Đài Loan đang tận hưởng. (Có lẽ thậm chí còn giàu có hơn vì không như Đài Loan và Nam Hàn, Việt Nam có nguồn tài nguyên thiên nhiên dồi dào, dưới hình thức các mỏ dầu khí ngoài khơi.)

Khi vỡ lẽ ra, như người ta thường bảo, tầm nhìn lại rõ như 20/20 – vì thế, hoàn toàn độc lập với hoàn cảnh của những thập niên Sáu mươi và Bảy mươi, nhìn lại vào năm 2015 thì quá rõ ràng rằng chiến đấu cho Nam Việt Nam là điều nên làm. Và đã đến lúc nhiều người cần nói lên điều này – đặc biệt là các chính trị gia và các giáo viên vì giới cựu chiến binh Việt Nam đã già rồi. Và bởi vì, 40 năm sau Sài Gòn thất thủ, tất cả chúng ta nên rút ra một bài học về cái giá thảm khốc khi Mỹ từ chối tham gia một cuộc chiến tốt.

Posted in Cái giá của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc”., Chien Tranh Viet Nam, Uncategorized | Leave a Comment »

►40 năm quá đủ!

Posted by hoangtran204 on 28/04/2015

40 Đem con khỉ ra khỏi khu rừng chưa phải là xong. Cần phải có sự giáo dục cùng với may mắn mới hy vọng đem khu rừng ra khỏi con khỉ.

 

40 Năm  Quá Đủ!

26-4-2016

Trần Diệu Chân

Nhiều quốc gia trên thế giới đã chứng minh 40 năm là một khoảng thời gian đủ dài để không những phục hồi mọi mặt sau các cuộc chiến tàn phá khốc liệt, mà còn có thể vươn lên thành cường quốc hàng đầu của thế giới. Nhật Bản và Nam Hàn là hai quốc gia Á Châu điển hình.

Đầu thập niên 60, lợi tức bình quân đầu người của Nam Hàn còn thua Nam Việt Nam (NH – GDP/người = $155MK, NVN = $223MK), có năm chưa bằng nửa NVN. Từ cuối thập niên 60, khi cuộc chiến VN trở nên khốc liệt thì Nam Hàn đã có cơ hội phát triển trong hòa bình sau khi cuộc chiến chia đôi Triều Tiên chấm dứt năm 1953, và đã qua mặt NVN với mức gấp 5 lần GDP/người năm 1974 (NH=$556; NVN=$114).

Ngược lại, 15 năm sau chiến tranh nhưng dưới gọng kềm Xã Hội Chủ Nghĩa, VN đã bị Nam Hàn bỏ rơi tới 66 lần cao hơn GDP/người năm 1990, gần 30 lần năm 2000, và gần 14 lần năm 2014 theo ước tính của Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế (IMF) (NH GPD/người = $28,101MK; VN = $2053MK). Nếu tính thêm độ chênh lệch giầu nghèo khủng khiếp do tham nhũng gây nên, thì lợi tức bình quân đầu người của giới nghèo VN chắc còn thua Nam Hàn hằng trăm lần.

Dùng GDP/người năm 2014 và mức phát triển trung bình do IMF phỏng định là 5% cho Thái Lan, 6% cho Nam Hàn, và 8% cho VN, thì VN sẽ phải mất tới 36 năm mới bắt kịp Thái Lan và 140 năm mới bắt kịp Nam Hàn.

Ngoài yếu tố lợi tức kinh tế, thế giới còn dùng Chỉ Số Phát Triển Con Người (Human Development Index – HDI) để so sánh về sự phát triển của một xã hội bao gồm những yếu tố như giáo dục, tuổi thọ, phẩm chất đời sống … HDI của VN được Liên Hiệp Quốc lượng định là 0.638, đứng thứ 121 trên 185 quốc gia, trong khi Nam Hàn được xếp trong nhóm có HDI cao nhất, với chỉ số 0.891 đứng thứ 15 trên thế giới và còn tiếp tục gia tăng.

Song song với các chỉ số thua kém, VN lại giành vị trí cao về tham nhũng (hạng 98/150 quốc gia), thiếu dân chủ (hạng 127/150 quốc gia), thiếu tự do thông tin (hạng 137/150). Hà Nội được xem là một trong những kẻ đàn áp tự do Internet nặng nhất thế giới, và giữ nhiều kỷ lục “nhục nhã” như buôn bán phụ nữ và trẻ em, đào thai, phá hoại môi trường, nhà tù nhiều hơn nhà thương và trường học …

Nguyên nhân cũng chỉ vì: Việt Nam hiện nay là một tổng hợp tệ hại nhất của hai hệ thống: độc tài cộng sản và tư bản hoang dã, hệ quả là một thể chế Mafia Đỏ đã được sinh sôi, nảy nở để rút ruột đất nước, bóc lột nhân dân, dâng nhượng từng phần quê cha đất tổ cho ngoại bang, và biến mảnh đất tươi đẹp, trù phú VN thành ổ phế thải của Trung Cộng.

40 năm đã quá đủ để không còn có thể đổ lỗi cho chiến tranh hay bất cứ một lý do gì khác.

40 năm đã quá đủ để không còn có thể tiếp tục hiện trạng với hệ thống chính trị lạc hậu, sai lầm với những thành phần bất tài, vô lương tâm quản trị đất nước.

40 năm đã quá đủ để tiếp tục trơ tráo và vô cảm trước hiện tượng tụt hậu và phá sản toàn bộ của đất nước, kể cả những giá trị tinh thần, đạo đức và văn hóa.

Nhân tâm và đất nước cần phải được khẩn cấp xây dựng lại trước đà suy kiệt trầm trọng hiện nay. Mỗi con dân Việt Nam phải là một nhân tố tái tạo lại đất nước và đều có thể góp phần trong cuộc chuyển hóa tốt đẹp này.

Truyền thống bất khuất của dân tộc không chỉ để đối phó với ngoại xâm mà còn phải được huy động để dứt khoát dẹp bỏ tiêu cực, sai trái, bất công, gian trá, độc tài và bạo lực.
40 năm đã quá đủ!

Ngày 26/4/2017

©  Trần Diệu Chân

© Đàn Chim Việt 

———————————————-

Đảng viên đảng CSVN đúng là loại ăn hại đái nát. Họ không đủ sức, đủ tài năng để vực dậy và làm cho VN giàu mạnh sau 40 năm độc quyền cai trị.

———–
Nguồn tham khảo:

1/ List of countries by past and projected GDP (nominal) per capita

http://en.wikipedia.org/wiki/List_of_countries_by_past_and_projected_GDP_%28nominal%29_per_capita#World_Bank.2C_1970.E2.80.931979

2/ List of countries by Human Development Index

http://en.wikipedia.org/wiki/List_of_countries_by_Human_Development_Index

3/ Corruption, democracy and press freedom ranking

http://www.worldaudit.org/corruption.htm

4/ Transparency

http://www.transparency.org/country#VNM_DataResearch

5/ China, Vietnam Among ‘Worst Abusers’ of Internet Freedom.

http://www.rfa.org/english/news/china/internet-12042014162746.html

6/ Internet in Vietnam

http://surveillance.rsf.org/en/vietnam/

Posted in Chinh Tri Xa Hoi, Thời Sự, Đảng CSVN - còn đảng, còn mình... | Leave a Comment »

►Càng huênh hoang bốc phét về đại thắng Mùa Xuân, càng khơi dậy nỗi đau và hận thù… (Tô Hải)

Posted by hoangtran204 on 28/04/2015

“…Ngay những kẻ nằm trong sự thật, nắm bắt sự thật, cũng không mấy ai vượt qua được cái hèn và nỗi sợ khi có ý đồ nói lên 1/100 sự thật mà mình đã trải qua…”

Kể từ ngày đi vào con đường bờ-lốc-bờ-liếc, mỗi năm cứ gần đến cái ngày 30 tháng 4, mình đều có bài bộc lộ nỗi buồn, nỗi đau, kể cả sự tức cười của mình về những “chiến thắng như chẻ tre”, “những cuộc tiến đánh, “chiếm lĩnh nơi này, căn cứ nọ của… “Mỹ-Ngụy”, những cuộc “tiến công thần tốc, thần tốc nữa” vô tận hang ổ cuối cùng của “ngụy quân, ngụy quyền” cứ y….như là có thật vậy!

Không buồn cười sao được khi thấy mấy chú tuyên láo ra lệnh “tán rộng”, ”hư cấu” về những cái chiến thắng chẳng đánh mà thắng, của “quân ta”, đặc biệt là sau sự “bỏ cuộc chơi của một bên” khi phía quân lực VNCH đã buông súng sau…Buôn Mê Thuột…..thì…Đà Nẵng, Nha Trang, Phan Rang, Phan Thiết… có ma nào bắn lại đâu mà cứ vống lên là quân ta “anh dũng tiến thần tốc, đánh thắng nơi này, nơi khác”!!…

30_4_1975_02
Đánh thắng như chẻ tre hay như trẻ con chơi trò cút bắt thế này đây

Sự thật “cuộc tháo chạy của một bên này” đã được thế giới ghi chép quá nhiều từ ngay những ngày “quân đội VNCH bị phản bội” đó…

Vậy mà, tuyên truyền tự sướng lấy được bất kể là vô lý, vô duyên, đến chết cười cứ mỗi năm, mỗi được phóng đại thêm mà kẻ đại ngôn nhất trong những bài viết, trong những cuộc phỏng vấn đều…, nếu không là mấy ông già tướng, tá lụ khụ, vô tên tuổi ở địa phương thì là mấy chú tiến sỹ, giáo sư, mặt non choẹt, óc chất đầy tài liệu tuyên truyền của “đảng họ” mà khi xảy ra “ngày đại thắng” thì đang còn….mặc quần thủng đít hoặc mới oe oe chào đời!
Đặc biệt, năm nay, kỷ niệm 40 năm, khi ở Trung Ương, người ta đã cố gắng bớt bớt những thứ “xấc xược kiêu binh cộng sản” như “Đánh tan quân xâm lược Đế Quốc Mỹ và bè lũ ngụy quyền tay sai” mà thay bằng các cụm từ có vẻ “lịch sự ngoại rao” hơn như “kỷ niệm 40 năm giải phóng (?) Miền Nam Thống Nhất đất nước” thì trái lại ở địa phương, thậm chí cả ở Sài-gòn, người ta vẫn không ngừng cho những tên chả đánh nhau với ai bao giờ, lên tivi tuyên truyền, dạy dỗ, kể công hộ, về “nghệ thuật quân sự của đảng ta” trong cuộc “chiến tranh chống Mỹ cứu nước”, Nghe xong lắm lúc tức hơn bị…bò đá..!

Thế là mình lại hăm hở…mở computer, “viết thêm cho rõ” những gì mình đã viết về cái chủ đề 30 tháng 4 này suốt 8 năm qua (*)

Nhưng lần này thì mình cho qua các “nỗi đau 30 năm tay này chém tay kia” mà kẻ gây ra lại là những thằng “con hoang nước Việt” ăn phải bả của mấy thằng Tây khùng, muốn “nhân danh giai cấp vô sản đi giải phóng toàn thể loài người” cho nên đã “lạnh lùng nướng chả” cả triệu con em đất Việt để… “đánh cho Liên Xô, đánh cho Trung Quốc!!!….” (Lê Duẩn)

Mình cũng chả cần cãi với ông Võ văn Kiệt (dù hôm nay ông ta vẫn là “thần tượng lãnh tụ cộng sản tốt” với nhiều vị đảng viên đang đòi hỏi tí chút…rân chủ, nhân quyền) là “Không phải triệu người vui thì có triệu người buồn đâu!” Với tôi thì là chỉ có “triệu người các ông” vui thôi, chứ còn 80 triệu dân tôi, chẳng ai vui được! Khi thấy:

– Giải phóng gì, hòa hợp gì mà cả triệu con người, đa số là trí thức của đối phương mà ông tướng Trà, trong lúc bốc nhằng lỡ nói với Tướng Dương văn Minh rằng thì là:“Người Việt chúng ta không ai thắng thua, chỉ có đế quốc Mỹ là thất bại mà thôi” còn in nóng sốt trên khắp các báo….thì lập tức, ngay sau đó, có lệnh của “kẻ to hơn ông Trà” cho gom tất cả cán binh cao cấp bên thua trận, vào các trại cải tạo nơi thâm sơn cùng cốc, rừng sâu nước độc để chết dần chết mòn vì… “học tập” hoặc có sống sót mà về thì cũng chỉ còn là những tấm thân tàn, ma dại nằm chờ chết? (ngay gia đình mình, “gia đình cách mệnh” như lời ông Trần văn Trà tuyên bố hẳn hoi mà cũng có người phải đi “học tập” đến cả 11 năm vì trót làm…trung tá- luật sư Tòa Án Binh)

30_4_1975_03
Đây là “giải phóng” cho cả triệu người khỏi phải…sống

-Giải phóng gì, hòa hợp gì mà nhà cửa, ruộng vườn, xưởng máy, xí nghiệp của bên “được giải phóng” đều rơi vào tay các ông cán bộ xử dụng cho đến tận ngày nay (riêng cái giới “văn nghệ cách miệng” chuyên nghề ăn theo, nói leo, ở R ra hay từ miền Bắc vô, từ Liên Sô về, cho đến hôm nay nếu có chuyện kê khai sau này, cũng có thể lên đến 5, 7 chục đời lên hương, nhờ được người khác giải phóng miền Nam hộ!! Một số đã bán villa sang trọng lấy mấy ngàn cây vàng “di tản” ra ngoại thành sống…khiêm tốn trong một căn hộ loại..trung lưu để lỡ sau này có “biến cố không hay” thì.. sẽ thoát khỏi cảnh bị trả thù, treo cổ!)

-Giải phóng gì, hòa hợp gì mà dân miền Bắc quanh năm xếp hàng kiếm mớ rau, miếng đậu phụ theo tem phiếu, bỗng…”giầu lên” nhờ “nhận họ nhận hàng” với người tư-sản-miền-Nam-bị-Đế-Quốc-Mỹ-kìm-kẹp (!) để họ chia xẻ cho cái xe máy, cái tủ lạnh, thậm chí ít “cây vàng” để cơi nới ngôi nhà đã quá sức chứa đến 3, 4 thế hệ mà vẫn như cũ…Thế mà, có lệnh của bác ĐM (chiến dịch Z 200 hay 500 gì đấy), tất cả “tư sản miền Bắc mới” ấy chỉ sau một đêm, đều bị “kiểm tra hành chính”, và tịch thu hết tài sản không lý do, lý trấu gì xất!

-Giải phóng gì, hòa hợp gì mà cả nước bỗng trở thành… súc vật ăn bo bo tranh phần của ngựa, lừa nhưng vẫn phải hô to đảng ta vô cùng sáng suốt!

-Và đặc biệt vô nhị độc nhất là giải phóng gì mà ba, bốn triệu người ở cái vùng đất bị giải phóng ấy đều sợ hãi chạy suốt, hai chục năm trước thì chạy từ Bắc vô Nam, rồi nay (1975) thì chạy từ Việt Nam chạy đi ra bất cứ nơi nào trên thế giới dù thân xác có làm mồi cho cá mập đại dương còn hơn là làm công dân của một cái chế độ mà rồi đây con sẽ đấu cha, vợ đấu chồng, đồng chí đấu nhau, thậm chí bắn giết, chôn sống nhau để “đấu tranh này là trận cuối cùng”, để “bao lợi quyền ắt qua tay mình?!

30_4_1975_04
Lạy các ông, dân tôi không muốn được giải phóng

*****

Những chuyện, tưởng như sẽ được thời gian lấp vùi dùm này, không ngờ với sự phát triển của Internet nay lại càng ngày càng bị phanh phui ra khiến các “nhà lãnh đạo” to nhất phải có lệnh.. “màn màn” sự huênh hoang lại kẻo…hố to trong kế sách “hòa nhập với thế giới tư bản” nó đang chẳng chịu dãy nữa để…chết!

Đáng chú ý là năm 2015 này có chuyện lần đầu tổng Trọng đưa ra con số 160.000 đảng viên của ông ấy, đã hy sinh cho 2 cuộc Kháng Chiến, nhân kỷ niệm 83 năm (chả biết có ai dám làm chứng không?) thành lập cái đảng cộng sản của họ!

Ngay sau đó, ngày 07/04/2015, thủ Dũng cũng lần đầu công khai con số 16.000 chiến sỹ (không phân biệt đảng viên hay “bạch vệ” hy sinh (3.000 mất xác cho đến nay chưa tìm được) khi ông tiếp đón đoàn “cựu chiến binh thành cổ Quảng Trị còn sống sót sau 81 ngày đêm chiến đấu rồi…..rút! (nhưng vẫn chiến thắng oanh liệt, huy hoàng vì đã góp công cho mấy ông bà đàm phán thắng lợi ở Hội nghị Paris?)

Thôi thì, cứ cho là các ông ấy “phịa” ra để “kể công” với dân đi nhưng chí ít họ cũng phải công nhận là “quân ta” có chết, (và chết nhiều chứ chẳng phải chết ít đâu) ”, ….là “chúng tôi cùng các anh” đã “hy sinh cực kỳ to lớn” cho sự nghiệp “cộng sản hóa đất nước” của họ! Và… vì sự nghiệp của đảng họ thì.. “10 Ta”, đổi lấy “1 Nó” nào có ý nghĩa gì! Sao không thể gọi là đại thắng được cơ chứ?!

Chỉ có điều khi chiến thắng tới mức “100 ta”, “1.000 ta” đổi lấy “1 nó” thì sáng tạo ra “chiến thắng” quả là….hơi bị…khó! Vậy thì nên giấu biến, lờ tịt nó đi là thượng sách.

Chính đây là trường hợp “tấn công đến tận hang ổ cuối cùng của Mỹ Ngụy” mà chẳng ai bị xứt mẻ đến một chân tơ kẽ tóc (!) rồi cứ lải nhải mãi cái chuyện: “xe tăng ta húc đổ cổng dinh lũy cuối cùng của ngụy quyền bắt sống nội các Dương văn Minh” suốt 40 năm thì….quả là vừa dại lại vừa ngu! đại tiên sư ngu, tổ tiên sư ngu!

Và đây chính là hai vấn đề lâu nay còn óc ách trong tim, trong óc mình mà năm nay, nhân 40 năm thắc mắc để bụng, mình đã cất công tìm hiểu để biết thêm một loạt vấn đề, mong có một sự đóng góp khác tí chút cùng mọi người cái chủ đề nên có hay không 30 tháng 4!?

Đó là:

1– Sự lờ đi cái gọi là “bước chân thần tốc của quân ta” (vì không phải bị đánh nhau với bất cứ 1 đội quân nào!) bỗng ….vì sao đến “Cánh cửa thép Xuân Lộc” lại bị “chôn chân” gần nửa tháng trời, dù chỉ còn cách Dinh Độc Lập chỉ có một ngày trên đà “tiến quân như…vũ bão”???

– Có ai dám bắt chước ông Trọng, ông Dũng nói lên một chút sự thật về cái vụ chạm trán trực diện giữa quân đội Bắc Việt với sự phẫn nộ cuối cùng của một quân đội anh hùng bị phản bội! hay không???

30_4_1975_05

Đây nơi có đánh nhau thật sự nhưng đã bị lờ đi coi như không có chuyện gì xất

– Có ai dám nói lên sự trả đũa khốc liệt của quân đội miền Nam bằng 2 quả bom Daisy Cut (còn gọi là bom “tiểu nguyên tử” hoặc “bom con heo”) đã biến bao nhiêu chú lính trẻ miền Bắc vừa rời ghế trường phổ thông, chưa qua một ngày tập quân sự, đã được lùa hết lên tầu, lên các đoàn Molotova “đuổi theo quân địch” và rồi đã bị biến thành tro bụi hết cả, khi đang tập kết ở cuối quốc lộ 20, ngã ba Dầu Giây, khi trên môi vừa thoát ra câu ca tưởng chừng sẽ “át tiếng bom”: “Tiến về Sài Gòn ta quét sạch giặc thù”..?

Theo những con số có được từ các nhân chứng, tướng tá còn sống “phía bên kia”, khi nói về cái sự “trả thù không mong muốn” này, mình đã phát rợn người về những thông số: Bom Daisy Cut (bị gọi nhầm là CBU) có trọng lượng 7 tấn, mang mỗi trái 15.000 cân Anh thuốc nổ TNT, khả năng tàn phá tới 3 dặm vuông, chuyên dùng để tạo một nơi đậu tạm thời cho máy bay….
Và mình bỗng thấy thương cho những đoàn xe chở đầy những chú nhóc lính mới tò te, miệng hát đến hết hơi “Giải phóng miền Nam chúng ta cùng quyết tiến bước” đã bị “bốc hơi” hết trên đường tiến quân “như vũ bão” về cái nơi mà chỉ còn cách đó có 80 cây số nữa là có thể đánh dấu chấm hết chiến tranh, lập nên chiến công ở một thời khắc, mà ai cũng muốn được ghi tên mình là người đầu tiên bước vào Dinh Độc Lập “hang ổ cuối cùng”, bộ chỉ huy của “kẻ thù”!

Không nhiều người được biết rõ, về cái bộ mặt ghê gớm của con quỷ chiến tranh hung ác, với hàm răng nanh lòng thòng máu đỏ và da thịt người, nó đã thật sự ăn sống nuốt tươi bao nhiêu nhân mạng suốt 11 ngày với bao chết chóc, máu đổ thịt rơi thật sự trên mảnh đất có tên là “cánh cửa thép” Xuân Lộc này???!!!

Về phía tự coi là đã “đánh thắng Mỹ Ngụy và tay sai” thì, ngoài một vài mẩu tin ngắn từ những ngày 9 đến 20/4/75 khi nói tới cuộc “chiến đấu anh dũng cực kỳ” của quân ta ở Xuân Lộc, đã kết thúc bằng một bản lên án Đế Quốc Mỹ đã phá hoại hiệp nghị Paris bằng cách “lại xử dụng bom B52″ ở VN (?) rồi…im bặt cho đến nay thì…..Xuân Lộc vẫn mãi mãi là một cuộc đọ sức thực sự giữa 2 bên như đã chưa từng xảy ra bao giờ!….

2- Tại sao cái bộ máy tuyên truyền khổng lồ độc tôn của họ đã lờ đi cái kết thúc bi thảm của cuộc chiến có thật ở Xuân Lộc mà thay thế bằng một kết thúc “cực kỳ hoành tráng” nhưng chẳng có thật bao giờ thế?! Đó là “đôn lên” tận trời xanh CUỘC TIẾN CÔNG NHƯ VŨ BÃO VÀO DINH LŨY, HANG Ổ CUỐI CÙNG CỦA BỌN NGỤY QUÂN NGỤY QUYỀN mà hình ảnh chiếc xe tăng T59 húc đổ cánh cổng sắt của cái hang ổ ấy, chẳng có một “thằng địch” nào canh gác, không một ai ngăn cản, không một ai giơ tay hàng, năm nào vẫn cũng được phóng lên báo chí, màn hình to nhỏ cứ như cảnh 16 sư đoàn quân Liên Xô tiến chiếm Reichtag của Hitler trong phim “Công phá Bá Linh” đã chiếu nát bét từ nhiều năm ở miền Bắc!

Vẫn là: những “sự thật cần biết” thì bị giấu biến!
Vẫn là: những sự thật không hề có thì được phóng đại, thêu dệt hết lời!

*****

Là một người luôn khổ sở vì thấy mình bị bịp, bị coi thường, nên mình đã để cả tháng để đi tìm đọc từ sách ta đến sách Tây, từ những tài liệu, những video clip, nhưng hồi ký, lý luận của cả chục nhà báo, ký giả, tướng, tá có tên tuổi “phía bên kia” để hiểu thêm nhiều điều, để “vỡ lẽ” ra cái chuyện:

-TẤT CẢ NHỮNG AI LÀ CÔNG DÂN (TRUNG THÀNH THIỆT HAY… GIẢ VỜ) Ở CÁI NƯỚC XHCN DUY NHẤT TRÊN THẾ GIỚI NÀY, NẾU KHÔNG BIẾT GÌ ĐẾN INTERNET ĐỀU LÀ NẠN NHÂN CỦA SỰ BỊP BỢM CÓ HỆ THỐNG CỦA NHỮNG KẺ ĐANG NẮM QUYỀN UYCOI DÂN CHỈ LÀ CON GIUN CÁI KIẾN!

NGAY NHỮNG KẺ NẰM TRONG SỰ THẬT, NẮM BẮT SỰ THẬT, CŨNG KHÔNG MẤY AI VƯỢT QUA ĐƯỢC CÁI HÈN VÀ NỖI SỢ KHI CÓ Ý ĐỒ NÓI LÊN 1/100 SỰ THẬT MÀ MÌNH ĐÃ TRẢI QUA

Cụ thể là: Hơn 30 nhà báo, đạo diễn, quay phim nhiếp ảnh trong đó có bạn cũ, người quen cũ của tôi, (trừ nhà báo Bùi Tín nay đã tị nạn chính trị ở Pháp), chưa một ai -hiện đang còn sống- mà dám há miệng nói lại cái câu của nhà báo Trần Dũng Tiến, khi ngồi chờ sự bàn giao (hay chấp nhận đầu hàng của chính quyền Dương văn Minh?) từ sáng sớm 30/4 đã vừa ngán ngẩm vừa sốt ruột lại…bụng đói meo qua cả 2, 3 tiếng đồng hồ chờ đợi quân ta lúc bấy giờ lạc nơi mô không biết thì bỗng… “Rầm!”: 1 bên cổng sắt của Dinh Độc Lập đã bị húc đổ xập! Mới đầu không ít người cứ tưởng địch… lại phản công! Ai dè chỉ là hành động… “lấy le” mà ngay sau đó Trần Dũng Tiến đã tổng kết một cách hết sức xúc tích: ”Đúng là một hành động kiêu binh vừa vô duyên, vô học, vô ích và… rẻ tiền!”

Nhưng cái sự “vô duyên”, “vô ích” đó cứ tồn tại năm này qua năm khác mà không một ai “trong cuộc” dám vạch trần ra cho lấy nửa câu, để đến hôm nay không ít người trong nhóm “nhà báo cách mạng” này đã mang những sự thật đau buồn và nực cười đó theo mình xuống tuyền đài!

30_4_1975_06
Bài của cựu đảng viên nhà văn Phạm đình Trọng
trên Thông Luận ngày Thứ tư, 22 Tháng 4 2015

Vậy thì: Phải chờ đến bao giờ mới có dịp được công khai gọi đúng tên cái cuộc CHIẾN TRANH TÀN KHỐC MÀ NGƯỜI CỘNG SẢN VN GỌI LÀ GIẢI PHÓNG ĐÂY? (theo đề xuất rất quan trọng vừa mới đây của nhà văn cựu đảng viên CSVN Phạm đình Trọng, xin mời đọc:Cần gọi đúng tên cuộc chiến này ngày Thứ tư, 22 Tháng 4 2015)

Bao giờ mới tới cái ngày, chính những người từng vỗ ngực TA LÀ NGƯỜI CHIẾN THẮNG dám nói ra:

1-ĐỂ CHIẾM ĐƯỢC TOÀN BỘ MIỀN NAM VIỆT NAM, NHỮNG NGƯỜI CỘNG SẢN ĐÃ “THÍ MẠNG” BAO NHIÊU TRIỆU NGƯỜI???
CHIẾN THẮNG 30 THÁNG TƯ CÓ THẬT LÀ DỄ NHƯ LẤY KHĂN TAY TRONG TÚI QUẦN RA CHÙI MŨI ĐẾN THẾ KHÔNG?
SỰ TRẢ GIÁ CHO CHIẾN THẮNG CỦA CỘNG SẢN CHIẾM ĐƯỢC CẢ MIỀN NAM VIỆT NAM LÀ BAO NHIÊU MẠNG NGƯỜI? AI TRẢ?

2-BAO GIỜ CHÍNH NHỮNG NGƯỜI CÒN SỐNG SÓT THUỘC QUÂN ĐOÀN 2 QĐNDVN, NHỮNG NGƯỜI CÓ MẶT TỪ SÁNG SỚM 30 THÁNG 4/75 TẠI DINH ĐỘC LẬP DÁM NÓI LÊN: CUỘC TIẾN ĐÁNH HANG Ổ CUỐI CÙNG….CHỈ LÀ CHUYỆN….PHỊA?

Tất cả, tất cả đều phải được lịch sử ghi lại đúng như những gì đã xảy ra trên cái đất nước bất hạnh nhất trong các nước thuộc địa của bọn đế quốc tư bản cách đây cả gần một thế kỷ!

Nhưng ai? ai sẽ làm cái chuyện vạch trần toàn bộ những dối trá, những bịp bợm về cuộc chiến tranh mà người cộng sản phát động để chiếm lãnh toàn bô Miền Nam Việt Nam ngày 30 tháng 4 năm 1975?

Và mình lại phải bắt buộc nhắc lại cái nhận định bất di bất dịch từ nhiều năm nay của mình. Đó là:

KHÔNG BAO GIỜ CÓ ĐƯỢC SỰ THẬT CỦA CUỘC CHIẾN TRANH CHO CHỦ NGHĨA CỘNG SẢN QUỐC TẾ NÀY CHỪNG NÀO CÁI TỔ CHỨC ĐẢNG CỘNG SẢN VN KHÔNG BỊ XÓA SỔ!

-KHÔNG BAO GIỜ CÓ ĐƯỢC SỰ HÒA HỢP TRONG 90 TRIỆU CON HỒNG CHÁU LẠC NẾU NHỮNG KẺ CỘNG SẢN GÂY TỘI ÁC KHÔNG BỊ VẠCH TRẦN VÀ BỊ XÓA SỔ VĨNH VIỄN!

Và mình lại xin đóng góp sức mình trong bài viết có tên CÀNG HUÊNH HOANG BỐC PHÉT VÊ ĐẠI THẮNG MÙA XUÂN, CÀNG KHƠI DẬY NỖI ĐAU VÀ LÒNG HẬN THÙ là như rứa đấy!

Tô Hải
Nguồn: to-hai.blogspot.be

Ghi chú:

(*) Để tìm hiểu thêm cái sự “ngừng bước chân thần tốc” xin hãy gõ vào Google Search mấy chữ “Trận chiến Xuân Lộc” để mà …phát hoảng về cả triệu thông tin mà sau đây là một đường link mà mình mách giúp các bạn trẻ, không có nhiều thời giờ “bám mạng” như mình. 

Posted in Cái giá của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc”., Chien Tranh Viet Nam, Đảng CSVN - còn đảng, còn mình... | Leave a Comment »

►Chỗ đứng của Đảng CS phải là vành móng ngựa (Bùi Tín)

Posted by hoangtran204 on 28/04/2015

30_4_1975_07“…Nếu Bộ Chính trị vẫn cứ chủ quan ngang ngược, họ sẽ vấp phải sự phẫn nộ của toàn dân được thế giới dân chủ hỗ trợ, họ sẽ ngày càng bị cô lập, và họ sẽ không trách khỏi là những kẻ phạm tội ác bị toàn dân hỏi tội trước vành móng ngựa của luật pháp công minh…”

30_4_1975_07

Chiến cuộc hơn 30 năm trên đất nước Việt Nam đã được nhận định, tranh luận, mổ xẻ trong một thời gian dài, đến nay những ý kiến trái ngược nhau vẫn còn tồn tại dai dẳng.

Một bên cho đó là “sự nghiệp chống ngoại xâm vẻ vang của dân tộc VN”, một dân tộc anh hùng đã đánh bại phát xít Nhật, thực dân Pháp, đế quốc Mỹ thuộc ba lục địa Á, Âu, Mỹ, đánh bại hoàn toàn «ngụy quân và ngụy quyền Sài Gòn, tay sai đế quốc Mỹ», thống nhất đất nước, mở ra kỷ nguyên «xã hội chủ nghĩa cho cả nước». Công đầu thuộc về «Đảng CSVN quang vinh». Do đó ngày 30/4/1975 là ngày «lịch sử oai hùng» của dân tộc. Năm nay kỷ niệm 40 năm ngày «chiến thắng vẻ vang» đó, Bộ Chính trị đảng CS quyết định tổ chức kỷ niệm long trọng trong cả nước, đặc biệt là ở các thành phố lớn: Hà Nội, Sài Gòn, Huế, Hải Phòng, Cần Thơ… có mit-tinh, duyệt binh, bắn pháo hoa, mở hội liên hoan quần chúng.

Ngược lại, một bộ phận không ít người Việt coi đây là ngày «quốc hận».

Suốt 40 năm nay, tôi đã suy nghĩ, tìm hiểu, đắn đo, đọc không biết bao nhiêu tài liệu, tranh luận với hàng trăm bạn bè trong và ngoài nước, với gần một trăm nhà báo nước ngoài – Pháp, Mỹ, Anh, Đức, Nhật Bản,Trung Quốc – để rồi cố gắng độc lập suy nghĩ bằng đầu óc tỉnh táo của chính mình, không theo đuôi số đông, không dựa dẫm, lập dị, chỉ lấy sự thật và lẽ phải làm mục tiêu.

Từ đó tôi hoàn toàn tự tin để kết luận trong dịp này là trong 70 năm qua Đảng CSVN đã liên tiếp phạm hết sai lầm này đến sai lầm khác:

– đã chọn sai lầm học thuyết chính trị Mác – Lênin và chế độ toàn trị độc đảng cực kỳ tệ hại,

– đã phạm tôị ác chồng chất trong việc chủ trương bạo lực vũ trang, chủ động gây nên cuộc nội chiến huynh đệ tương tàn với hàng mấy triệu sinh mạng nhân dân, chủ yếu là thanh niên ưu tú thuộc cả 2 bên chiến tuyến,

– đã tàn phá vô kể sức lao động và của cải xã hội trong thời gian dài, trong các cuộc cải cách ruộng đất ở miền Bắc, cải tạo công thương nghiệp trong cả nước, đã vi phạm những hiệp định đã long trọng ký kết tại các Hội nghị Genève năm 1954 và Hội nghị Paris năm 1973, đặc biệt là các điều khoản về «tôn trọng quyền tự quyết của nhân dân miền Nam Việt Nam», «không đe dọa dùng vũ lực và không dùng vũ lực», «thực hiện hòa hợp và hòa giải dân tộc», «không trả thù những người đã hợp tác với đối phương».

 – đã đày đọa, trả thù hàng chục vạn viên chức và sỹ quan VN Cộng hòa trong hệ thống nhà tù mang nhãn hiệu «các lớp học cải tạo» để đánh lừa dư luận thế giói..

Có thể nói trên đây là những tội ác hiển nhiên có suy tính theo hệ thống, không thể chối cãi của đảng CSVN, của Ban Chấp hành Trung ương, của Bộ Chính trị, bằng chứng là các nghị quyết của Trung ương và Bộ Chính trị, đặc biệt là Nghị quyết Trung ương 15 khóa II đầu năm 1959 chủ trương đồng khởi và khởi nghĩa ở miền Nam, xây dựng đường mòn Hồ Chí Minh từ Bắc vào Nam qua đất Lào và Campuchia, rồi Nghị quyết Trung ương 9 khóa III cuối năm 1963 chủ trương tăng cường chi viện quân sự quy mô của miền Bắc cho miền Nam, các quyết định về chiến lược của Bộ Chính trị năm 1974 và đầu năm 1975 dốc toàn bộ lực lượng để giải phóng miền Nam trong chiến dịch Hồ Chí Minh.

Các văn kiện trên chứng tỏ Bộ Chính trị đảng CSVN đã sớm xé bỏ triệt để các Hiệp định Genève và Paris, công khai vi phạm sự cam kết và phản bội chữ ký của chính mình, chà đạp thô bạo «quyền tự quyết của nhân dân miền Nam VN được tự do lựa chọn chế độ của mình», 2 lần gây nên thảm họa di cư quy mô lớn năm 1954-1955 từ Bắc vào Nam và thảm kịch thuyền nhân từ 1975 đến 1980, với biết bao sinh mạng bị biển cả cuốn đi, bộ máy công an còn thu cơ man nào là vàng của hàng triệu người vượt biên.

Tất cả những điều kể trên là tội ác đối với toàn dân tộc, đặc biệt là đối với nhân dân miền Nam Việt Nam đã bị thôn tính bằng vũ lực công khai, phi pháp, trắng trợn, cũng là tội ác chống nhân loại, vi phạm Hiến chương của Liên Hiệp Quốc chủ trương quyền Tự quyết của các dân tộc là bất khả xâm phạm. Do đó ngày 30/4 có thể gọi là ngày Đen Tối , ngày Tội Ác, từ đó cũng là ngày Ô Nhục của Đảng CSVN.

Nếu như nhân dân Việt Nam được sống dưới một chế độ pháp quyền đầy đủ thì Bộ Chính trị đảng CSVN tự nhận là cơ quan lãnh đạo thường xuyên, liên tục và toàn diện đất nước phải bị đưa ra vành móng ngựa của Tòa án Nhân dân và của Tòa án Quốc tế về những Tội ác chồng chất trên đây.

Nhân dân Việt Nam vào thời điểm hiện tại số đông không còn ngu ngơ để đảng CS lừa dối bằng những thủ đoạn gian manh như Mặt trận Tổ Quốc (do chính đảng CS dựng lên), Mặt trận Dân tộc Giải phóng và Chính phủ Cách mạng lâm thời (cũng do đảng CS tổ chức), tự giải tán đảng CS Đông dương tháng 11/1945 (thật ra chỉ là rút vào bí mật), đổi tên đảng Lao động VN từ 1952 đến 1976 (vẫn là bản chất Cộng sản, luôn theo lệnh từ Moscow), đế quốc Mỹ xâm lược (là một kiểu vu khống), ngụy quân ngụy quyền (cũng là vu cáo bỉ ổi vì chính CS mới tự nguyện làm ngụy quân ngụy quyền cho CS Quốc tế). Họ cho trên đây là những nét sáng tạo cao tay, thật ra là trò bịp rẻ tiền.

Trống kèn ầm ỹ, pháo hoa khắp nơi, duyệt binh hoành tráng chỉ còn là màn khói mỏng che đậy những sai lầm và tội ác chồng chất cùng những bất công kinh khủng mà xã hội không còn có thể chịu đựng nổi.

Đến nay mọi sự sai lầm, giả dối, lừa lọc, mỵ dân của các khóa Bộ Chính trị đều đã và đang phá sản, nhiều đảng viên CS có công tâm, trọng danh dự đã lên tiếng đòi đảng phải từ bỏ cái tên CS tội lỗi, thực hiện chế độ đa nguyên để có kiểm tra, tranh đua, thay thế cùng với các đảng khác trên cơ sở bình đẳng, tạ tội với toàn dân. Nếu Bộ Chính trị vẫn cứ chủ quan ngang ngược, họ sẽ vấp phải sự phẫn nộ của toàn dân được thế giới dân chủ hỗ trợ, họ sẽ ngày càng bị cô lập, và họ sẽ không trách khỏi là những kẻ phạm tội ác bị toàn dân hỏi tội trước vành móng ngựa của luật pháp công minh.

Hồ sơ tội phạm đã đầy đủ đến thừa thãi.

Tôi xin thách nhân dịp này, Học viện chính trị Mác – Lenin mang tên Hồ Chí Minh tranh luận tay đôi với tôi về Hồ sơ Tội ác của đảng CSVN tôi phác họa trên đây. Tôi là một nhà báo tự do đang sống ở nước ngoài, từng ở trong đảng CS 44 năm, am hiểu không ít về chế độ CS, cuộc tranh luận công khai này sẽ lấy dư luận xã hội làm trọng tài.

Bùi Tín

Posted in Cái giá của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc”., Chien Tranh Viet Nam, Đảng CSVN - còn đảng, còn mình... | Leave a Comment »

►Ngày mất tự do cũng là Ngày Tìm Tự Do (Ngô Nhân Dụng)

Posted by hoangtran204 on 28/04/2015

“…Vì vậy, mỗi năm đến ngày 30 Tháng Tư người Việt Nam vẫn thấy là một ngày tang tóc. Nhưng từ năm nay, ngày 30 Tháng Tư còn có thể mang thêm một ý nghĩa mới: Ngày quyết tâm xây dựng tự do dân chủ…”

ngothanhhai04

Quốc Hội Canada đã thông qua dự luật (Bill S-219) quy định ngày 30 Tháng Tư mỗi năm là ngày “Tìm Tự Do” (Journey to Freedom), và đạo luật đã được ban hành một tuần trước ngày kỷ niệm 40 năm dân miền Nam bị Cộng Sản cướp mất tự do.

Năm ngoái, Nghị Sĩ Ngô Thanh Hải đề nghị dự luật này với tên là “Ngày Tháng Tư Ðen” (Black April Day). Khi thảo luận tại Thượng Viện, nhiều nghị sĩ đề nghị đổi tên để mang một ý nghĩa tích cực hơn và dễ được người Canada thuộc các sắc dân khác ủng hộ; do đó đề nghị đổi tên thành luật Hành Trình Tìm Tự Do. Nhiều người Việt không thỏa mãn với tên gọi không phản ảnh nỗi đau buồn và uất hận vì mất tự do. Nhưng đổi tên là một thỏa hiệp khôn ngoan để đạt mục đích muốn cả nước Canada ghi nhận phong trào vượt biển tị nạn của người Việt sau ngày 30 Tháng Tư 1975 là một biểu tượng cho khát vọng tự do của con người. Chưa một sắc dân nào ở Canada được Quốc Hội đối xử đặc biệt như vậy.

Tại các nước khác, do yêu cầu của các công dân người Việt tị nạn, nhiều thành phố hoặc tiểu bang đã biểu quyết về ngày 30 Tháng Tư, hoặc đã ghi nhận giá trị biểu tượng của lá cờ vàng ba sọc đỏ. Tại các nơi đó nhiều cử tri gốc Việt tham dự trong các cuộc bầu cử. Canada là nước đầu tiên ban hành một đạo luật hiệu lực trên toàn quốc, ghi nhớ ngày 30 Tháng Tư tượng trưng cho khát vọng tự do của loài người, dù các công dân gốc Việt chiếm khoảng 1% dân số. Người Việt ở các nước khác có thể nêu trường hợp Canada như một tiền lệ khi yêu cầu các đại biểu quốc hội noi theo gương Canada.

Cho nên việc ban hành đạo luật Hành Trình Tìm Tự Do là một thắng lợi của người Việt tị nạn khắp thế giới, không riêng ở Canada. Thắng lợi này càng nổi bật lên vì chính quyền Cộng Sản đã phản đối và ngăn cản bằng nhiều cách trước khi dự luật được đem ra thảo luận. Ngoại Trưởng Phạm Bình Minh đã gửi thư cho Bộ Ngoại Giao Canada yêu cầu Quốc Hội không thảo luận bản dự luật S-219. Nguyễn Tấn Dũng chính thức gửi thư phản đối với Thủ Tướng Stephen Harper, còn đe dọa rằng dự luật này có thể làm phương hại quyền lợi thương mại và đầu tư của Canada ở Việt Nam.

Những lời phản đối này được báo chí loan tải, các công dân Canada biết tin và theo dõi. Vì thế việc hai viện Quốc Hội Canada lần lượt biểu quyết chấp thuận bản dự luật ghi nhận ngày 30 Tháng Tư càng có ý nghĩa mạnh hơn! Một luật sư người Việt tại Canada, ông Vũ Ðức Khanh nhận xét: “Tôi nghĩ Hà Nội đang làm trò hề vì họ không hiểu luật chơi, không biết ở một nước dân chủ như Canada vận động ai.” Ở một nước tự do dân chủ ông thủ tướng không thể ra lệnh cho quốc hội như một nước độc tài đảng trị. Dù Nghị Sĩ
Ngô Thanh Hải thuộc cùng đảng với Thủ Tướng Harper nhưng trong Quốc Hội còn hai đảng lớn khác. Ðối với các vấn đề có tính cách nhân bản và lịch sử vượt trên các quyền lợi phe phái, các đại biểu chỉ bỏ phiếu theo lương tâm. Bộ Trưởng Jason Kenney, phụ trách đa văn hóa nói ông ủng hộ dự luật bởi đó là cách ghi nhớ thành tích của 60 ngàn người Việt “đã dám đánh đổi mạng sống để đi tìm tự do, và đã tìm được tự do tại Canada.”

Nhiều công dân Canada gốc Việt đã điều trần trước Quốc Hội giải thích lý do tại sao nên ghi nhận ngày 30 Tháng Tư như một ngày tưởng niệm hàng năm. Ông Lê Duy Cấn, từng là hội trưởng Liên Hội Người Việt ở Canada nhiều năm và đề xướng lập Tượng Ðài Thuyền Nhân ở thủ đô Ottawa. Ông Cấn giải thích: Sau khi Việt Cộng chiếm miền Nam, bỏ tù mấy trăm ngàn người và đầy ải những người khác lên các “vùng kinh tế mới” dân miền Nam quyết định phải chạy thoát chế độ cộng sản; một nhà báo Pháp đã nhận xét: Nếu cái cột đèn biết đi nó cũng chạy. Ðặc biệt, các người Việt gốc Hoa bị tống xuất ra biển, sống chết không cần biết. Ông nhắc tới thảm cảnh của các thuyền nhân vào năm 1978, 79 khi các nước Ðông Nam Á không chấp nhận cho họ cập bến. Tình trạng này gây xúc động cho mọi người dân Canada.

Ông Cấn kể lại, lúc đó chủ tịch Công Ðoàn Canada là ông Dennis McDermott đã nói, “Rõ ràng là vấn đề thuyền nhân Việt Nam đã lớn lên thành một cuộc khủng hoảng nhân đạo của cả thế giới. Các phản ứng duy nhất là phải hành động quyết liệt ngay lập tức. Một phong trào phát xuất từ phía người dân đã kêu gọi hành động, riêng tại thủ đô Ottawa đã có 3,000 người biểu tình thỉnh nguyện; trong một tháng có 347 nhóm đứng ra bảo trợ. Thị trưởng Ottawa lập “Dự án 4,000” để tiếp nhận bốn ngàn người tị nạn. Giáo Sư Howard Adelman ở Toronto đã sáng lập “Chiến Dịch Cứu Nạn” (Operation Lifeline). Trước làn sóng nhân đạo đó, Thủ Tướng Joe Clark quyết định nhận 50,000 người tị nạn, sau tăng lên 60,000.

Một phụ nữ Việt Nam ở Quebec, cô Anne Quách Minh-Thu đã điều trần về chuyến vượt biển tìm tự do của gia đình cô, với hai đứa con mới hai, ba tuổi. Cô nói: “Hôm nay tôi được đứng nói ở Quốc Hội này là vì cha mẹ tôi đã trốn thoát và được tị nạn ở Canada, bắt đầu một cuộc đời mới trong hòa bình, tự lực lao động để sống còn. Tôi sinh ra và lớn lên ở Canada vì lòng can trường của cha mẹ tôi và vì lòng hào hiệp của dân Canada, để hôm nay tôi được tham dự vào cuộc sống dân chủ của xứ sở này.”

Sứ quán Việt Cộng cũng tìm được người ủng hộ họ ra điều trần trước Quốc Hội. Mai Thu ở Ottawa đã phê bình rằng nước Canada có bao nhiêu nhóm người tị nạn từ khắp thế giới đến, không nên chọn một ngày riêng cho dân Việt Nam. Ông còn nghi ngờ dự luật này có thể gây chia rẽ vì chỉ có một nửa trong số 220,000 người Việt ở Canada là dân tị nạn, những người khác thì không chống chính quyền hiện nay. Giáo Sư Nguyễn Duy Vinh ở Ottawa đã phản bác, nói rằng 90% những người “không tị nạn” là những thân nhân đã được người tị nạn bảo trợ. Mai Thu cũng biện hộ rằng chính quyền Việt Nam hiện nay không còn là Cộng Sản nữa mà theo kinh tế tư bản với khuynh hướng xã hội; nhưng ông Vinh đã vạch rõ chế độ độc tài tàn bạo hiện nay vẫn còn, mà điều số 4 trong Hiến Pháp vẫn cho đảng Cộng Sản Việt Nam toàn quyền chuyên chế.

Trong bài điều trần của ông Lê Duy Cấn tại Quốc Hội Canada, ông kết luận rằng việc đưa tay đón nhận người Việt tị nạn là một chương sách sáng chói trong lịch sử Canada. Nó cho thấy tấm lòng từ bi và hào hiệp của dân tộc Canada trước những thảm cảnh của loài người khắp thế giới, trong đó có những người chạy trốn khỏi ách độc tài tàn bạo. Chương sách chói lọi này đáng được vinh danh, ghi vào lịch sử, bằng dự luật S-219.

Nhờ các cuộc điều trần trước Quốc Hội Canada, các đại biểu được nhắc nhở tới thảm cảnh của các thuyền nhân chạy trốn Cộng Sản. Một điều không ai muốn nhắc tới vì nó quá bỉ ổi, là dã tâm của đảng cộng sản Việt Nam lợi dụng cả phong trào chạy trốn chế độ tàn ác của họ để trục lợi. Vào những năm 1978, 79, cả thế giới xúc động trước làn sóng người Việt tị nạn; trong khi đó các lãnh tụ và cán bộ cộng sản đã nhân cơ hội kiếm tiền, bằng cách bán chứng chỉ công nhận là Hoa kiều, và tiền “bán bến.” Một cán bộ cấp tỉnh kiếm nhiều tiền nhất chính là Nguyễn Tấn Dũng. Thái độ tính toán lạnh lùng của Việt Cộng không qua mắt được những quan sát viên ở ngoài, như Lý Quang Diệu.

Tháng Năm năm 1979, một chiếc Anh quốc là Roach Bank cứu nhiều người tị nạn, nhưng tới Ðài Loan thì bị đó từ chối không cho lên bờ. Bà Margaret Thatcher, thủ tướng Anh đã viết thư nhờ ông Lý Quang Diệu ở Singapore can thiệp giúp, để chiếc tàu này không phải qua Hồng Kông, thuộc địa của Anh. Các nước cứ đổ lẫn cho nhau xem nước nào có bổn phận đón nhận người Việt tị nạn, ông Lý Quang Diệu đã viết trong thư trả lời: “Tôi tin rằng những tin tức về vấn đề người tị nạn qua truyền thông và qua phát ngôn viên các chính phủ phương Tây chỉ làm lợi cho chính quyền Việt Nam.” Cho nên, ông đề nghị: “Các nước này… nên tập trung vào việc vạch trần tính bỉ ổi của chính quyền Việt Nam. Phải nói, phải nhắc đi nhắc lại cho nhân dân và các nhà lãnh đạo toàn thế giới biết rằng chính quyền nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam chính là những kẻ tích cực thúc đẩy cuộc di tản ồ ạt này, gây thiệt hại nặng cho các nước Ðông Nam Á.”

Nội dung bức thư này đã được nhà văn Phạm Thị Hoài dịch và công bố trên mạng. Ông Lý Quang Diệu nói với bà Thatcher rằng, “Chúng ta phải đẩy họ vào thế thủ. Các người lãnh đạo Việt Nam không phải là những thằng điên… Họ có đầu óc lạnh lùng tính toán, không hề động lòng trắc ẩn với chính đồng bào của họ, nhưng làm con tính so sánh chi phí với lời lãi thì rất nhanh. Chỉ có nguy cơ bị cộng đồng quốc tế ruồng bỏ mới khiến họ phải suy xét lại đường lối hiện tại. Từ giờ đến lúc đó, họ sẽ còn tung ra hàng ngàn người tị nạn mỗi tuần.”

Những con người “bỉ ổi, lạnh lùng, chỉ tính toán lời lỗ” sau đó quả nhiên đã “bị cộng đồng quốc tế ruồng bỏ.” Cho đến khi đất nước cùng kiệt và chế độ sắp tan rã vì cả khối cộng sản ở Châu Âu sụp đổ, họ mới thay đổi. Giờ này họ vẫn còn ngự trị trên quê hương chúng ta. Vì vậy, mỗi năm đến ngày 30 Tháng Tư người Việt Nam vẫn thấy là một ngày tang tóc. Nhưng từ năm nay, ngày 30 Tháng Tư còn có thể mang thêm một ý nghĩa mới: Ngày quyết tâm xây dựng tự do dân chủ.

Nhờ các dân biểu và nghị sĩ Canada đã lắng nghe lương tâm và lẽ phải, Dự luật S-219 đã chính thức thành đạo luật “Hành Trình Tìm Tự Do,” có giá trị tích cực với 35 triệu dân Canada, và tất cả mọi con người yêu tự do trên thế giới. Chúng ta tưởng niệm ngày 30 Tháng Tư bằng những nỗ lực cùng tất cả mọi người Việt Nam tranh đấu đòi dân chủ, cuộc Hành Trình Tìm Tự Do cho dân tộc sẽ tiến nhanh hơn.

Ngô Nhân Dụng
Nguồn: nguoi-viet.com

Posted in Cái giá của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc”., Chien Tranh Viet Nam | Leave a Comment »

►Hậu quả của cuồng tín và cuồng chiến (Phạm Viết Đào)

Posted by hoangtran204 on 28/04/2015

cuongtin1…một bên thì tuyên bố “sẵn sàng đốt cháy cả Trường Sơn” nếu không đuổi được Mỹ ra vì sự nhầm lẫn bị xâm lược vĩnh viễn như một nghìn năm Bắc thuộc, hai một trăm năm thực dân bóc lột của người Pháp v.v…

cuongtin2

Cả Hoa Kỳ và hai miền Việt Nam đã tổn thất và trả giá đắt vì cuộc chiến vì những tín điều tranh cãi và các giá trị ảo, theo tác giả.

Cuộc chiến Việt – Mỹ kết thúc cách đây 40 năm là một cuộc chiến tranh hao người tốn của lớn nhất nổ ra sau Đại chiến Thế giới II đối với cả 2 dân tộc Việt Nam và Hoa Kỳ.

Hơn 58.000 quân nhân Mỹ đã chết và mất tích tại chiến trường Việt Nam. Điều này đồng nghĩa với việc 58.000 gia đình người dân Mỹ đã gánh chịu nỗi đau mất mát trong nửa thế kỷ qua cùng với hàng trăm tỷ USD tiền thuế của dân Mỹ bị ném vào cuộc chiến và giải quyết các vấn đề hậu chiến.

Còn về phía Việt Nam thì con số thương vong, thiệt hại lớn gấp nhiều lần nếu gộp của cả hai phía.

Không ai thay đổi được quá khứ, tôi không muốn nhắc lại những câu chuyện bi thương này để chê trách, bới móc ai, mà chỉ muốn nhắc nhở chính giới có trách nhiệm, tỉnh táo tránh cho người dân Việt Nam trong tương lai không tiếp tục bị xô đẩy vào những bi kịch tương tự.

Theo tôi, cuộc chiến tranh Việt – Mỹ kết thúc cách đây 40 năm là hậu quả của những chính kiến chính trị cuồng tín của các chính trị gia của cả 2 phía Việt-Mỹ.

Rất nhiều người của cả 3 phía (Mỹ, Việt Nam Cộng hòa và Việt Nam Dân chủ Cộng hoà), sau 40 năm bắt đầu ngộ ra rằng trong cuộc chiến vừa qua, chính mình bị áp, bị lôi, bị ném vào cuộc chiến bởi những chính kiến chính trị cuồng tín của kẻ khác.

Sự cuồng tín chính trị được thể hiện qua việc quá tin vào những điều vu vơ, không có thật hoặc tin vào những sự thật bị phóng đại, kích động bởi những động cơ chính trị vụ lợi, đen tối.

Từ sự cuồng tín về chính trị đã xô đẩy hàng triệu người vào những hành vi bất chấp mạng sống của mình, của đồng loại, của đồng bào mình, thậm chí người thân của mình.

Trong cuộc chiến Việt-Mỹ vừa qua, có rất nhiều gia đình Việt Nam anh em họ hàng ruột thịt trong một gia đình đã bị đẩy vào các chiến tuyến đối địch nhau, thậm chí bắn, giết trực diện nhau chỉ vì những chính kiến chính trị chẳng liên quan gì tới mình…

Mổ xẻ cuồng tín

cuongtin3

Những ‘cuồng tín’ mà tác giả đề cập xuất phát từ những phức cảm tâm lý, ý hệ chính trị mà có thể vẫn còn tồn tại tới tận ngày nay.

Về bản chất, cuộc chiến Việt -Mỹ cách đây 40 năm khác với các cuộc chiến tranh Pháp-Việt (1946-1954) và lại càng khác xa với các cuộc chiến tranh Việt-Trung cố-trung và cận đại.

Vậy thì những tư tưởng chính trị cuồng tín nào của các chính giới Việt Nam – Hoa Kỳ và các quốc gia khác của hai hệ thống đã “giây máu” trong cuộc chiến khốc liệt này ?

Đây là một đề tài khoa học lớn, đòi hỏi phải được tiếp cận nhiều nguồn tư liệu, có sự tổng hợp khái quát cao, khách quan lẫn sự tỉnh táo và mẫn cảm của người tham gia thì mới tìm ra những kiến giải hữu ích…

Trong một bài viết nhỏ này, người viết xin chỉ nêu lên một vài kiến giải.

Trước hết, về phía chính giới Mỹ, sự cuồng tín thứ nhất bắt nguồn từ tín điều rằng làn sóng cộng sản từ miền bắc Việt Nam đang lan tràn xuống miền nam, sẽ tràn sang khu vực Đông Nam Á, như đã tràn vào Đông Âu.

Nếu Mỹ không trực tiếp ra tay ngăn chặn được, theo tín điều này, thì an ninh của chính nước Mỹ sẽ bị đe doạ và sẽ có một cuộc “cách mạng đỏ” lan sang tận Mỹ và Tây Âu ; thách thức cơ nghiệp của giới tài phiệt Mỹ…

Đây là một ý tưởng chính trị cuồng tín mà vì nó mà căn cứ vào dó, chính giới Mỹ đã phát động một cuộc chiến tổng lực ; nước Mỹ đã huy động toàn bộ sức người, sức của cao nhất ; có thời điểm Chính phủ Mỹ đưa vào Việt Nam cả triệu quân để nhằm mục đích ngăn chặn, đẩy lùi cộng sản tại Việt Nam.

Chính kiến chính trị cuồng tín này là nguyên nhân dẫn tới nhiều hành vi cuồng chiến của quân đội Mỹ : ném bom rải thảm B52 vào một số thành phố đông dân ở miền bắc, ném bom rải thảm chất độc da cam vào rừng, ở mức độ được cho là lạm dụng khi nhiều khu vực dân sự và đối tượng tấn công không liên quan tới các lực lượng cộng sản.

Đối sách mù quáng

cuongtin4

Cuộc chiến dưới những giáo điều và cuồng tín tranh cãi cần được cảnh tỉnh sau 40 năm, theo tác giả.

Tư tưởng chính trị chống cộng bằng sức mạnh quân sự Mỹ qua thực tế lịch sử đã kiểm chứng rằng đó là tư tưởng, đối sách chính trị mù quáng, cuồng tín, sai lầm, bởi vì chính qua thực tế và lý luận đã khẳng định rằng không một thế lực quân sự nào đánh bại được cộng sản, trừ chính nội bộ của cộng sản tự phân rã ;

Đó là điều thế giới nhận thấy vào những năm cuối thập kỷ 80 đầu 90 ở Liên Xô và Đông Âu đã chứng minh.

Sự cuồng tín vào sức mạnh tổng hợp của Mỹ đã đổ vào cuộc chiến Việt Nam kết cục giống như việc đổ thêm dầu vào lửa ; hành động này đã làm cho cộng sản Việt Nam quật cường thêm lên và đã kết thúc cuộc chiến vào năm 1975.

Cuồng tín hai của Hoa Kỳ là quá tin và ỷ vào sự giàu mạnh về cơ sở vật chất – kỹ thuật, công nghệ, quân sự, kinh tế Mỹ.

Chính do bị ám bởi sự cuồng tín này mà một vài chính khách Việt Nam Cộng hòa đã từng thốt ra những tuyên bố sai lầm nào là “Biên giới nước Mỹ kéo dài tới Vĩ tuyến 17 của Việt Nam” hay “miền Nam Việt Nam là bang thứ 51 của Hoa Kỳ”.

Còn phía Hoa Kỳ thì đã có những tuyên bố và hành động không kém phần quá khích như : đưa (Bắc) Việt Nam về “thời kỳ đồ đá”, rồi xây dựng hàng rào điện tử Mac chặn đứng sự tiếp tế, xâm nhập của cộng sản vào chiến trường miền Nam ; đem bom rải thảm miền Bắc ; đưa chất độc màu da cam rải thảm tại nhiều vùng rừng núi của Việt Nam…

Đó là những tuyên bố chính trị cuồng tín, hành vi cuồng chiến mang tính thách thức sự sống, sức sống, lòng tự trọng, tự tôn cả một dân tộc, quốc gia có vốn sống hàng ngàn năm trong lịch sử.

Do những tuyên bố và các hành vi trên của phía Mỹ và quân đội, chính giới Sài Gòn mà đã kích hoạt, làm ra đời kiểu cuồng tín tương thích, đáp trả của phía chính giới cộng sản.

Kết cục thì cuối cùng sự cuồng tín nào cũng đều phải chịu lùi bước và trả giá, như thực tế lịch sử đã chứng minh ; tất nhiên người phải trả giá cao nhất, người cuối cùng phải quyết toán, tất toán toàn bộ chi phí của cuộc chiến này, đó là nhân dân hai nước Việt – Mỹ ;

Bởi bất cứ cuộc chiến tranh nào, ở đâu, thì rồi nhân dân vẫn là người thua cuộc ?

Phía Cộng sản Bắc Việt

cuongtin5

Cộng sản Bắc Việt lo sợ người Mỹ sẽ là kẻ xâm lược như Trung Hoa trong một nghìn năm Bắc thuộc, hay người Pháp với 100 năm thực dân, theo tác giả.

Cho tới thời điểm xảy ra chiến tranh Việt-Mỹ, miền bắc vừa trải qua những thảm cảnh như nạn đói làm 2 triệu người chết do phát-xít Nhật gây ra năm 1945 ; Sự rắc rối do nhóm Quốc dân Đảng Nguyễn Hải Thần nấp sau Tàu Tưởng gây ra đối với chính phủ Việt Minh non trẻ giai đoạn 1945-1946.

Rồi cuộc chiến tranh 9 năm với quân viễn chinh Pháp làm đổ biết bao xương máu…, do vậy mà trong tâm trí của người dân miền bắc, quân đội ngoại quốc đặt chân đến Việt Nam đều bị bị coi là kẻ thù xâm lược xấu xa, nguy hiểm, tàn ác và phải bị đánh đuổi.

Do xuất phát từ hoàn cảnh lịch sử đó mà những tư tưởng chính trị sau đây đã bị kích hoạt, bị bộ máy tuyên truyền khổng lồ phóng đại thêm và tạo thành những tín điều cuồng tín của miền Cộng sản Bắc Việt.

Niềm tin thứ nhất của Bắc Việt cho rằng Mỹ là kẻ xâm lược xấu xa, nguy hiểm như giặc Tàu phương Bắc (Trung Hoa), như Pháp, như Nhật… Sự nô lệ ngoại bang với đất nước bị quân đội nước ngoài chiếm đóng, chia cắt là sự mất mát, sỉ nhục đau thương nhất.

Niềm tin này là đúng đối với trường hợp khi các đội quân của thiên triều Trung Hoa từ cổ chí kim, của Thành Cát Tư Hãn, của thực dân Pháp, của phát xít Nhật từng đe dọa, xâm lăng Việt Nam.

Thế nhưng qua thực tế được kiểm chứng tại Việt Nam và nhiều quốc gia trên thế giới cho thấy Mỹ là quốc gia không đưa quân đội đi chiếm đất nước khác ; Mỹ thường đưa quân viễn chinh ra nước ngoài để triển khai bảo vệ một hệ ý hệ chính trị nào đó ; mô hình quản trị Mỹ ; mô hình dân chủ Mỹ ; trong cuộc chiến tại Việt Nam, Mỹ đưa quân nào với mục đích để đẩy lùi cộng sản, chứ không để xâm lăng, thống trị.

Thực vậy, kiểm lại những quốc gia Tây Âu và trong khu vực Đông Nam Á, đa số những quốc gia triển khai các chính sách ngoại giao, kinh tế, chính trị chịu ảnh hưởng của mô hình Mỹ đều thành công và khá lên, khắc phục, hạn chế được nhiều vấn nạn xã hội.

Còn các quốc gia chịu ảnh hưởng, xây dựng đất nước xã hội theo mô hình của Liên Xô, Trung Quốc đều phải gánh chịu nhiều hệ luỵ không lối thoát, bế tắc, luẩn quẩn, khủng hoảng triền miên, lâu dài…

Hậu quả tín điều

Chính quyền Việt Nam sẽ tổ chức long trọng đại lễ kỷ niệm bốn mươi năm ‘Đại thắng mùa xuân’ và ‘Giải phóng miền Nam’ vào năm nay.

Do những niềm tin sai lạc, chưa chuẩn xác lại thêm sự phóng đại, tô màu về quân đội Mỹ, chính quyền Mỹ như thế, nên đã xô đẩy hàng triệu người dân Việt Nam theo chủ thuyết cộng sản và tín điều Bắc Việt cộng sản, đã quyết sống mái, bất chấp hy sinh, gian khổ để đánh Mỹ, không để quân đội Mỹ chia cắt, chiếm một phần đất đất đai, lãnh thổ của đất nước do cha ông để lại…

Người Việt Nam đã phải đổ ra bao xương máu, mồ hôi nước mắt mới xác định được cương vực lãnh thổ của mình từ Mục Nam Quan tới mũi Cà Mau, nay được đưa vào một cuộc chiến mới.

Hàng triệu thanh niên Việt Nam được mặc định một đức tin rằng : chống lại quân viễn chinh Mỹ là chiến đấu chính nghĩa ; bảo vệ sự độc lập, tự do cho dân tộc, vì thế nên dù phải đốt cháy cả Trường Sơn cũng phải giành cho được độc lập ; những khẩu hiệu sặc mùi cuồng tín : “Tiếng hát át tiếng bom ; Nhà tan cửa nát cũng ừ ; Đánh thắng giặc Mỹ cực chừ (giờ) sướng sau !”

Khi đánh đuổi được quân đội Mỹ, có được sự hậu thuẫn của cả phe xã hội chủ nghĩa đứng đầu là hai ‘ông anh’ Liên Xô, Trung Quốc mẫu mực, thì nhất định Việt Nam sẽ tiến lên chủ nghĩa cộng sản để hưởng ấm no, hạnh phúc !

Tóm lại, cuộc chiến Việt-Mỹ cách đây 40 năm là cuộc chiến giữa một bên thì đem bom đạn, chất độc ra hủy diệt bất cứ chỗ nào vì nỗi sợ ý hệ về làn sóng đỏ ; một bên thì tuyên bố “sẵn sàng đốt cháy cả Trường Sơn” nếu không đuổi được Mỹ ra vì sự nhầm lẫn bị xâm lược vĩnh viễn như một nghìn năm Bắc thuộc, hai một trăm năm thực dân bóc lột của người Pháp v.v…

Cả hai bên rút cuộc đã ném vào ván bài tất cả : một bên thẳng tay chống, một bên thì đem tất cả xương máu ra để bảo vệ… những giá trị ảo ?!

Blogger Phạm Viết Đào

Gửi cho BBC từ Hà Nội (27/04/2015)

Posted in Cái giá của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc”., Chien Tranh Viet Nam | Leave a Comment »

►Khi thiên triều sụp đổ và lịch sử sang trang (Nguyễn Gia Kiểng)k

Posted by hoangtran204 on 28/04/2015

nguyengiakieng02“…Tập Cận Bình thừa kế một Trung Quốc tương tự như Liên Xô của Gorbachev cuối thập niên 1980. Gorbachev đã thất bại khi cố làm những thay đổi cần thiết, Tập Cận Bình trái lại từ chối làm một việc phải làm. Hậu quả chắc chắn sẽ bi đát hơn…”

Khi nhận định về Trung Quốc các chuyên gia thường quên hai điều rất cơ bản. Một là Trung Quốc là một thế giới hay một đế quốc – hay một thiên hạ theo cách nói của người Trung Quốc- chứ không phải là một nước, do đó không thể lý luận và dự đoán về nó như người ta thường làm với một quốc gia. Hai là Trung Quốc vốn sẵn có một văn hóa nghi lễ lấy hình thức để tạo ấn tượng về nội dung, có khi để che giấu nội dung. Văn hóa này đã được tăng lên nhiều lần dưới chủ nghĩa cộng sản mà một đặc tính nền tảng là che đậy sự thực.

Cho đến nay thực trạng Trung Quốc đã được che đậy dưới lớp vải điều hào nhoáng của một tỷ lệ tăng trưởng kinh tế ngoạn mục khiến nhiều người quên rằng kinh tế không phải là vấn đề nghiêm trọng nhất của Trung Quốc.

Kinh tế Trung Quốc hết thuốc chữa

Hãy nói ngay về lớp vải điều đó. Trong gần ba thập niên Trung Quốc đã gây kinh ngạc cho thế giới vì tỷ lệ tăng trưởng liên tục trên 10%. Tỷ lệ này được hạ xuống 8%, rồi 7% trong những năm gần đây. Các con số chính thức của Trung Quốc dĩ nhiên là không chính xác nhưng điều có thể thấy được là hàng hóa Trung Quốc đã tràn ngập các thị trường thế giới, các công trình xây dựng hoành tráng và các cao ốc đồ sộ mọc lên khắp nơi, tư bản Trung Quốc đầu tư vào mọi quốc gia, từ Châu Phi đến Châu Âu, Châu Mỹ qua Việt Nam, Lào và Campuchia. Ảnh hưởng Trung Quốc tỏa rộng. Có những dự đoán theo đó Trung Quốc sẽ qua mặt Mỹ trong một tương lai gần.

Nhưng rồi bắt đầu có những ngờ vực. Năm 2001 có cuốn sách The Coming Collapse of China (Sự sụp đổ sắp tới của Trung Quốc) gây được tiếng vang lớn. Bạn bè đã tóm lược cho tôi cuốn sách này ; nó sai vì phạm một trong hai sai lầm cơ bản đã được nói ở đầu bài này nghĩa là lý luận về Trung Quốc như một quốc gia. Dần dần quan điểm của các quan sát viên về Trung Quốc thay đổi hẳn. Mới đầu người ta tự hỏi liệu Trung Quốc có thể lâm vào khủng hoảng không ? Rồi Trung Quốc sẽ lâm vào khủng hoảng lúc nào ? Và bây giờ câu hỏi đặt ra là Trung Quốc sẽ còn che đậy được tình trạng suy thoái bao lâu nữa và lúc đó tương lai Trung Quốc sẽ ra sao ?

Tất cả những đèn báo động đều đã đỏ rực. Nợ công của Trung Quốc được ước lượng bởi mọi định chế thẩm định (rating agencies) là ở mức 300% GDP, nghĩa là cao một cách nghiêm trọng. Nhưng con số này có thể chỉ là một phần của sự thực bởi vì không bao gồm những khoản nợ không chính thức hoặc không hợp pháp đầy rẫy trong xã hội Trung Quốc. Thí dụ như tình trạng tuyệt đại đa số các công ty nhà nước lớn mượn tiền của ngân hàng trung ương với lãi suất ưu đãi rồi cho các công ty nhỏ hoặc tư nhân vay lại với lãi suất cao, hay phần lớn các chính quyền địa phương không khai đúng số nợ.

Kinh tế Trung Quốc dựa trên xuất khẩu nhưng xuất khẩu đã giảm hẳn từ sau cuộc khủng hoảng 2008. Trong năm 2014 vừa qua, ngoại thương Trung Quốc đã sụt 11% (xuất khẩu giảm 3,3%, nhập khẩu giảm 22%), dầu vậy tỷ lệ tăng trưởng chính thức vẫn là 7,3%. Nhưng làm sao một nền kinh tế đặt nền tảng trên xuất khẩu lại có thể tăng trưởng 7,3 % trong khi ngoại thương suy sụp ?

Công ty tham vấn Lombard Street Research của Anh, vẫn sử dụng những dữ kiện của chính quyền Trung Quốc nhưng tính lại một cách nghiêm chỉnh hơn, cho biết tỷ lệ tăng trưởng của Trung Quốc năm 2014 chỉ là 1,7%. Tuy vậy ngay cả tỷ lệ tăng trưởng khiêm tốn này cũng không thể có vì dựa trên những số liệu sai, thí dụ như các công ty sản xuất rồi bỏ vào kho vì không bán được hàng nhưng vẫn kể vào sản xuất, và khi sản phẩm đã hư hỏng cũng không khai v.v.

Một chỉ số đo lường lòng tin vào một nền kinh tế là chỉ số chứng khoán. Cuối năm 2007 chỉ số chứng khoán SSE của Trung Quốc lên tới cao điểm 6.000. Sau đó là cuộc khủng hoảng toàn cầu 2008 làm tất cả các thị trường chứng khoán trên thế giới đều suy sụp. Ngày nay hầu như tất cả các chỉ số chứng khoán đều đã phục hồi được mức độ của năm 2007, các chỉ số của Mỹ, Đức và Nhật còn vượt xa mức 2007, nhưng chỉ số SSE của Trung Quốc vẫn chỉ quanh quẩn ở con số 4.000.

Lòng tin vào tương lai của kinh tế Trung Quốc còn thể hiện qua một con số khác. Kết quả của một cuộc thăm dò của Hurun Research Institute (Thượng Hải) và vừa được học giả David Shambaugh nhắc lại trênWall Street Journal cho thấy 64% các đại gia Trung Quốc đã hoặc đang chuẩn bị di chuyển ra nước ngoài. Tư bản Trung Quốc đang tháo chạy. Một hiện tượng khác mà Shambaugh cho biết là chính quyền Mỹ đang theo dõi sự kiện rất nhiều phụ nữ Trung Quốc giầu có sang Mỹ sinh đẻ để con có quốc tịch Mỹ. Nếu tương lai Trung Quốc tươi sáng tại sao những người được ưu đãi nhất lại bỏ đi ?

Trong mọi tiếp xúc với các chuyên gia nước ngoài các doanh nhân Trung Quốc không còn giấu giếm nữa. Họ nói thẳng là họ đang sản xuất với mức lời rất thấp hoặc lỗ nhưng vẫn phải sản xuất theo kế hoạch.

Nhưng kế hoạch nào ? Từ năm 2008 trong khi mọi quốc gia cố gắng vùng vẫy để ra khỏi cuộc khủng hoảng thì Trung Quốc đã có một chọn lựa khác hẳn. Đó là coi như không có khủng hoảng và bơm tiền ồ ạt vào sinh hoạt kinh tế, đẩy mạnh chi phí công cộng và ngành xây dựng để giữ nguyên mức độ tăng trưởng, với hậu quả là số nợ công tăng gấp bốn lần, các kho hàng của các công ty đầy ứ và rất nhiều thành phố ma xuất hiện tại rất nhiều nơi. Khủng hoảng càng che giấu lâu bao nhiêu thì càng trầm trọng thêm bấy nhiêu và bây giờ nó không còn giải pháp.

Năm 2013 khi mới lên cầm quyền, Tập Cận Bình ra lệnh giới hạn khối lượng tiền tệ bằng cách tăng lãi suất và kiểm soát tín dụng. Ông đã phải nhanh chóng từ bỏ biện pháp này -đúng trên nguyên tắc- trước nguy cơ sụp đổ tức khắc ; không những thế, chính quyền Bắc Kinh còn phải bơm tiền nhiều hơn nữa cho các ngân hàng và công ty. Sự kiện này chứng tỏ kinh tế Trung Quốc không có thuốc chữa, sự sụp đổ chỉ còn là một vấn đề thời gian. Thời gian đó có thể rất gần vì ngay cả biện pháp bơm tiền cũng không còn hiệu quả nhất thời của nó nữa. Năm 2013 nhiều công ty muốn vay tiền mà không được, hiện nay đại đa số các công ty từ chối vay vì không biết dùng tiền để làm gì.

Một sự kiện khác cũng chứng tỏ kinh tế Trung Quốc không cứu vãn được. Giải pháp tự nhiên khi mô hình hướng ngoại không còn theo đuổi được nữa là tăng cường thị trường nội địa. Đó là điều Trung Quốc đã làm nhưng đã chỉ khiến kinh tế Trung Quốc nguy ngập hơn. Từ năm 2010, Trung Quốc đã liên tục tăng lương công nhân 10% mỗi năm với hy vọng là họ sẽ mua sắm nhiều hơn, nhưng mức tiêu thụ nội địa không hề gia tăng vì người công nhân Trung Quốc chỉ dùng khoản lợi tức mới có để tiết kiệm, phòng hờ khi đau ốm. Tuy vậy biện pháp tăng lương công nhân này đã có tác dụng làm tăng giá thành và khiến hàng hóa Trung Quốc khó bán trên các thị trường thế giới. Sự sút giảm của xuất khẩu cũng do nguyên nhân này. Trung Quốc hiện đã mất gần hết các thị trường tại Châu Âu.

Chừng nào kinh tế Trung Quốc sẽ thực sự sụp đổ ? Câu trả lời là : khi chính quyền Bắc Kinh thú nhận. Nhưng họ có sẽ thú nhận không ? Hiện nay niềm tin rằng kinh tế Trung Quốc “có sụp cũng còn lâu” chủ yếu là ở chỗ Trung Quốc vẫn còn khoảng 2.000 tỷ USD công khố phiếu của Mỹ và 1.000 tỷ Euros công khố phiếu Châu Âu. Mặc dù số tiền này chẳng là bao so với số nợ công của Trung Quốc -ít nhất 30.000 tỷ USD- nhưng nó đem lại ảo tưởng là Trung Quốc vẫn còn giầu có vì vẫn còn tiền cho Mỹ và Châu Âu vay. Bắc Kinh sẽ không đụng tới những số tiền này. Có nhiều triển vọng là họ sẽ tiếp tục như hiện nay cho đến khi thực trạng suy sụp trở thành hiển nhiên đối với mọi người.

Đất nước Trung Quốc đang bị hủy diệt

Nhưng kinh tế suy thoái không phải mối nguy lớn nhất của Trung Quốc. Mối nguy lớn nhất là môi trường. Không khí tại các tỉnh phía Bắc ô nhiễm tới mức không còn thở được nữa ; nước vừa rất thiếu vừa nhiễm độc.

Một nghiên cứu phối hợp của bốn trường đại học MIT (Mỹ), Avraham Ebeinstein (Do Thái), Bắc Kinh (Trung Quốc) và Thanh Hoa (Trung Quốc) công bố tháng 7-2013 tiết lộ một sự kiện kinh khủng : tuổi thọ trung bình của khối 500 triệu người dân các tỉnh phía Bắc đã giảm 5 năm rưỡi trong thập niên 1990 chủ yếu vì môi trường ô nhiễm. Mùa hè 2007 trên chuyến bay từ Tây An tới Côn Minh tôi đọc trên báo China Daily, tờ báo tiếng Anh của chính quyền Trung Quốc, một nghiên cứu theo đó gần một nửa số sông của Trung Quốc đã hết nước.

Tháng 3/2013, một nghiên cứu công phu -từ năm 2010 đến năm 2012- của Bộ Thủy Nguồn và Viện Quốc Gia Thống Kê của chính quyền Bắc Kinh đưa ra những con số chính xác một cách đáng sợ : Trung Quốc chỉ còn 22.909 con sông, trên 28.000 con sông đã biến mất. Mỗi con sông còn lại phải đem nước cho một diện tích khoảng 100 km vuông. Như vậy có nghĩa là từ 2007 đến 2012 tình trạng thiếu nước đã xấu đi nhiều thay vì được cải thiện. Nghiên cứu này cũng cho thấy có 400 thành phố hiện chỉ dùng nước bơm từ lòng đất lên. Kết luận của nghiên cứu này là thay vì gia tăng cung cấp nước từ nay chính sách quốc gia phải chuyển sang khuyến khích dân chúng tiết kiệm nước.

Tình trạng xuống cấp nguy ngập của môi trường chỉ một phần rất nhỏ do thiên nhiên, phần rất lớn là do chính sách tăng trưởng kinh tế hoang dại bất chấp môi trường. Cần lưu ý là bảo vệ thiên nhiên không phải là ưu tư của văn hóa Trung Hoa và Việt Nam truyền thống, trái lại người ta ca tụng những anh hùng có chí lớn “sẻ núi lấp sông”. Nó cũng hoàn toàn vắng mặt trong chủ nghĩa cộng sản.

Vài năm trước tôi đọc một bài phóng sự trên báo Le Monde nói về một con sông có cái tên ngộ nghĩnh là Nộ Giang, nghĩa là dòng sông giận dữ, chảy từ Trung Quốc sang Myanmar. Lý do khiến người ta đặt tên như vậy là vì nước sông chảy rất mạnh. Nhưng ngày nay con sông này còn có một lý do chính đáng khác để nổi giận : nó trở thành nơi đổ rác chính thức của các thị xã chung quanh. Chính quyền địa phương xây rất nhiều bệ bê tông để các xe rác của các thị xã có thể đổ rác xuống sông một cách an toàn. Mỗi ngày hàng trăm tấn rác đủ loại được dòng nước cuốn sang Myanmar và trở thành một vấn đề của Myanmar.

rac_tren_song_nogiang
Một xe đổ rác của sở rác thị xã đang đổ rác suống sông Nộ Giang

Năm 2007 tại Bắc Kinh tôi không nhìn thấy mặt trời dù biết nó ở ngay trên đầu mình vì đang giữa trưa và trời rất nóng. Không khí đục ngầu vì khói từ các nhà máy không xử lý khí thải. Tôi hỏi anh hướng dẫn viên từ bao lâu rồi anh không còn nhìn thấy mặt trời nữa. Anh ta không nhớ.

bautroi_hoabac
Bầu trời Hoa Bắc

Năm 2000 lượng nước trung bình của mỗi người Trung Quốc chỉ bằng 15% mức trung bình thế giới. Bây giờ tình trạng còn bi đát hơn nhiều. Tại các tỉnh phía Tây trước đây phải đào sâu xuống 30m mới tìm được nguồn nước, bây giờ phải đào xuống 100m, mặt đất cứng như bê tông. Đó là hậu quả của việc trồng bông để xuất khẩu quần jean. Một đất nước trước hết là đất và nước, khi đất đã cằn cỗi, không khí và nước đã ô nhiễm đến nỗi không thở được và uống được thì cũng chẳng còn gì để nói. Đất nước Trung Quốc đang bị hủy diệt. Đó là lý do chính khiến rất nhiều người muốn rời Trung Quốc bằng mọi giá. Họ sợ chết.

Một chế độ tuyệt vọng

Mối nguy nghiêm trọng thứ hai, cũng nghiêm trọng hơn hẳn sự suy thoái của kinh tế, là bế tắc chính trị. Các quan sát viên theo dõi tình hình Trung Quốc đều đồng ý rằng đàng sau chiến dịch chống tham nhũng của Tập Cận Bình là cố gắng tập trung quyền hành về trung ương và về tay ông.

Tham nhũng chỉ là lý cớ. Chính Tập Cận Bình cũng tham nhũng, nếu không làm sao ông có thể có một tài sản trị giá trên 200 triệu USD ? Không khác gì thủ tướng Ôn Gia Bảo trước đây tỏ ra rất quan tâm đến dân nghèo để rồi người ta phát giác ra rằng ông có hơn 2 tỷ USD. Các phe đảng của Giang Trạch Dân, Hồ Cẩm Đào, Bạc Hy Lai, Chu Vĩnh Khang chắc chắn không khoanh tay chờ bị thanh toán. Chủ nghĩa Mác-Lenin đã bị lố bịch hóa và không thể là xi măng gắn bó 85 triệu đảng viên cộng sản với nhau nữa, chỉ còn lại sự tranh giành quyền lực và quyền lợi.

Các tỉnh cũng không thể chịu đựng mãi ách thống trị của trục Bắc Kinh – Thượng Hải và sự chênh lệch giữa các vùng. Chưa kể là với sự sút giảm bi thảm của nguồn nước một cuộc chiến tranh giành nước tương tự như ở Trung Đông có thể diễn ra ; trên thực tế đã có xung đột giữa các tỉnh, thậm chí giữa các huyện trong cùng một tỉnh, để tranh giành những con sông vừa cạn vừa ô nhiễm.

Cần nhắc lại để nhấn mạnh rằng, Trung Quốc là một thiên hạ chứ không phải là một nước, lòng yêu nước đối với một người Trung Quốc chủ yếu là một tình cảm địa phương. Không cứ gì các sắc dân thiểu số, tuy cùng được gọi là người Hán nhưng một người Hán ở Côn Minh hoàn toàn không nhìn những người Hán ở Bắc Kinh hoặc Thượng Hải như những đồng bào. Quan hệ giữa các tỉnh Trung Quốc còn lỏng lẻo hơn nhiều so với quan hệ giữa các nước Châu Âu, đôi khi còn mang những thù hận chưa được hóa giải của quá khứ.

Trong suốt dòng lịch sử dài của nó, sự thống nhất của Trung Quốc đã chỉ được duy trì bằng bạo lực và tàn sát. Thí dụ như giữa thế kỷ 19 để dẹp cuộc khởi nghĩa ly khai của Hồng Tú Toàn nhà Thanh đã tàn sát 70% dân chúng các tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây, Vân Nam và 90% dân chúng tỉnh Quý Châu. Tinh thần dân tộc của người Trung Quốc hầu như không có. Chính vì thế mà các nước rất nhỏ bé và chậm tiến như Mông Cổ và Mãn Châu đã có thể thiết lập những ách thống trị lâu dài. Các triều đại Nguyên, Thanh sau cùng đã cáo chung vì tham nhũng và lỗi thời chứ không phải vì là những ách thống trị ngoại bang.

Bế tắc chính trị của chế độ cộng sản Trung Quốc cũng đã chứng tỏ không có lối thoát. Khi mới lên cầm quyền Hồ Cẩm Đào đã muốn nới lỏng dần dần những quyền con người cơ bản với hy vọng chuyển hóa dần dần về dân chủ trong trật tự nhưng trong những năm cuối, nhất là từ năm 2011 trở đi, ông đã phải đảo ngược chính sách và gia tăng đàn áp. Năm 2013 Tập Cận Bình lên cầm quyền với một chủ trương rõ rệt : từ chối cải tổ chính trị, tăng cường độc quyền của Đảng Cộng Sản Trung Quốc và thanh trừng mọi khuynh hướng ly tâm trong đảng. Tập Cận Bình thừa kế một Trung Quốc tương tự như Liên Xô của Gorbachev cuối thập niên 1980. Gorbachev đã thất bại khi cố làm những thay đổi cần thiết nhưng ít ra cũng đã tránh cho Liên Xô một sự sụp đổ trong hỗn loạn. Tập Cận Bình trái lại từ chối làm một việc phải làm. Hậu quả chắc chắn sẽ bi đát hơn.

Nhưng việc phải làm đó là gì ? Đó chính là sự chuyển hóa bắt buộc về dân chủ. Các tiến bộ về giao thông và truyền thông đã thay đổi hẳn thế giới, kể cả Trung Quốc. Tăng trưởng kinh tế trong ba thập niên qua cũng đã cho người Trung Quốc thêm sức mạnh. Họ đã hiểu rằng con người phải có những quyền căn bản, họ muốn và ngày càng có thêm khả năng để đòi hỏi những quyền đó.

Nhưng vấn đề là Trung Quốc không thể tồn tại với lãnh thổ và dân số hiện nay dưới một chế độ dân chủ vì các vùng của Trung Quốc quá khác nhau và cũng không muốn chia sẻ một tương lai chung. Vấn đề cũng là chủ nghĩa cộng sản, chất keo gắn bó các vùng với nhau, đã trở thành ghê tởm. Trên trang Webwww.ninecommentaries.com do phong trào Thoái Đảng thiết lập từ tháng 11/2014 hàng ngày trên 50.000 người tuyên bố ly khai với Đảng Cộng Sản Trung Quốc. Số người ly khai hiện đã lên quá 200 triệu.

Lịch sử Trung Quốc nói chung là sự lặp lại của cùng một kịch bản, một kịch bản chưa thay đổi vì thể chế chính trị vẫn còn là một thể chế tập trung chuyên chính. Kịch bản đó như sau : một chính quyền được dựng lên trong hoàn cảnh xã hội tan hoang và kiệt quệ ; chính quyền thành công trong những năm đầu và xã hội dần dần hồi sinh ; xã hội càng hồi sinh thì nhu cầu kiểm soát càng lớn và chính quyền càng cần tăng cường bộ máy cai trị ; bộ máy quan liêu vì thế tiếp tục phình ra và sau cùng trở thành mạnh hơn quyền lực chính trị ; kết quả là quyền lực chính trị suy yếu dần và tích lũy mâu thuẫn, cuối cùng bị một lực lượng khác đánh đổ sau một cuộc xung đột làm xã hội suy kiệt ; và kịch bản bắt đầu lại từ số không. Kịch bản này hiện đã tới màn cuối dưới chế độ cộng sản. Tập Cận Bình đang cố xiết lại để ngăn ngừa sự xuất hiện của một lực lượng mới.

Khi Nguyễn Tấn Dũng lặp đi lặp lại là “nhất quyết không để nhem nhúm những tổ chức đối lập”, ông ta chỉ nhắc lại một ám ảnh của quan thầy Bắc Kinh.

Phải lo ngại cái gì ?

Chế độ cộng sản Trung Quốc còn trụ được bao lâu nữa ?

Như đã nói ở đầu bài này, đừng nên quên rằng Trung Quốc không phải là một quốc gia mà là một thế giới, một thiên hạ hay một đế quốc tùy cách nhìn, do đó sự thay đổi chế độ sẽ không nhanh chóng như trong một quốc gia mà sẽ diễn ra một cách tương tự như sự tàn lụi của một đế quốc. Các giai đoạn cuối trào của các đế quốc nói chung và của Trung Quốc nói riêng thường kéo dài khá lâu. Tuy nhiên chúng ta đang sống trong một thế giới thay đổi dồn dập. Các diễn biến có thể nhanh hơn rất nhiều.

Càng nhanh hơn vì một lý do khác. Chế độ cộng sản Trung Quốc tồn tại từ sau cuộc thảm sát Thiên An Môn dựa trên hai hợp đồng bất thành văn miễn cưỡng.

Hợp đồng thứ nhất là nhân dân chịu đựng chế độ toàn trị, và cả sự tàn phá của môi trường, với điều kiện là Đảng Cộng Sản duy trì được một mức tăng trưởng kinh tế cao. Ôn Gia Bảo tỏ ra đã hiểu thỏa hiệp này khi ông nói rằng nếu mức tăng trưởng xuống dưới 8% thì sẽ có bạo loạn. Hợp đồng này ngày nay đã chấm dứt vì kinh tế suy thoái.

Hợp đồng thứ hai là quần chúng Trung Quốc chịu đựng bất công xã hội để cho một thiểu số làm giầu với thỏa hiệp ngầm là như thế họ sẽ có thêm vốn để gia tăng đầu tư thúc đẩy kinh tế. Hợp đồng này đã bị phản bội khi những người giầu có bỏ ra nước ngoài mang theo tài sản. Sự phẫn nộ có thể bùng nổ rất dữ dội.

Có cần lo sợ sự sụp đổ của chế độ cộng sản và sự tan vỡ gần như chắc chắn của Trung Quốc không ? Mối nguy thường được nói tới là chính quyền Bắc Kinh có thể gây hấn với bên ngoài để kêu gọi đoàn kết dân tộc và làm dịu những mâu thuẫn bên trong. Nhiều người đang lo âu trước việc Trung Quốc xây những phi trường trên những đảo nhân tạo tại Biển Đông. Nhưng sự lo ngại này không cần có. Nó là do cách nhìn Trung Quốc như một quốc gia thay vì một đế quốc.

Thực tế cho thấy các đế quốc chỉ gây hấn trong những giai đoạn cường thịnh, trái lại rất nhu nhược đối với bên ngoài trong những giai đoạn cuối trào, để dồn sức đương đầu với những khó khăn bên trong. Trung Quốc cũng không phải là ngoại lệ. Trong những lúc suy vi, các hoàng đế Trung Quốc không những không xâm chiếm các biên quốc mà còn phải cống hiến những quý phi, có khi cả những công chúa, cho các vua các nước nhỏ chung quanh để cầu an. Chuyện Chiêu Quân cống Hồ chỉ là một trong rất nhiều thí dụ. Việt Nam và thế giới sẽ không phải lo ngại một sự gây hấn nào.

Cũng không cần lo ngại cho người Trung Quốc. Trung Quốc có phân chia thành bốn hay năm nước thì đó cũng vẫn là những nước lớn bậc nhất thế giới, nhưng đồng điệu hơn và hợp lý hơn Trung Quốc hiện nay. Điều mà chúng ta có thể chúc cho người Trung Quốc là những thay đổi cần thiết sẽ diễn ra trong hòa bình.

Thiên triều sụp đổ

Câu hỏi bao giờ chế độ cộng sản Trung Quốc sẽ sụp đổ không đặt ra, hoặc đặt ra một cách rất khác, đối với chế độ cộng sản Việt Nam. Đối với một chư hầu, một đế quốc coi như đã sụp đổ khi không còn là một chỗ dựa nữa.

Đối với Đảng Cộng Sản Việt Nam, chế độ cộng sản Trung Quốc coi như đã sụp đổ. Nó đang quá bối rối với những khó khăn nội bộ để có thể hỗ trợ cho chế độ cộng sản Việt Nam. Bắc Kinh lo cho mình cũng chưa xong còn mong gì giúp được ai. Họ sẽ phải buông Việt Nam và Triều Tiên dù không muốn như Liên Xô đã từng phải buông Đông Âu trước đây. Nhưng chế độ cộng sản Việt Nam lại rất cần bám lấy Trung Quốc.

Trong cuộc tiếp xúc ngày 26/6/2014 tại Sài Gòn, ông chủ tịch nước Trương Tấn Sang đã không cải chính lời phát biểu của chuẩn đô đốc Lê Kế Lâm, theo đó Trung Quốc thỏa thuận viện trợ cho Việt Nam 20 tỷ USD và cho vay 100 tỷ USD. Chế độ cộng sản Việt Nam rất cần yểm trợ tài chính này bởi vì do hậu quả của bất tài và tham nhũng kinh tế Việt Nam thực ra đang ở trong tình trạng phá sản.

Theo phát biểu của chính ông Trương Tấn Sang tháng 11/2014 tại quốc hội thì tình trạng kinh tế Việt Nam“rất không thoải mái”. Ba phần tư số thu ngân sách (khoảng 30 tỷ USD năm 2014, giảm nhiều so với năm 2013) được dùng để trả lương, phần còn lại không đủ để trả nợ. Nói gì tới những chi tiêu tối cần thiết khác.

Một điều cần được nhìn thật rõ là Đảng Cộng Sản Việt Nam chưa bao giờ là một đảng tự lập. Nó luôn luôn dựa vào một thế lực bên ngoài nào đó. Ra đời như một phân bộ của Đệ Tam Quốc Tế, nó đã tranh đấu, rồi cầm quyền, với sự bảo trợ của Liên Xô hoặc Trung Quốc, hoặc cả Liên Xô lẫn Trung Quốc. Giữa thập niên 1980 khi Liên Xô suy yếu và không còn bảo trợ được nữa, nó đã vội vã bỏ ngay lập trường thù địch để xin được phục tùng Trung Quốc. Trái với một nhận định hời hợt không phải Bắc Kinh cố thu phục Hà Nội mà chính Hà Nội đã cầu khẩn và làm tất cả để được lệ thuộc Trung Quốc. Trong mấy năm gần đây khi Liên Bang Nga có vẻ mạnh lên ban lãnh đạo cộng sản Việt Nam cũng đã cố gắng tranh thủ sự hỗ trợ từ Nga. Văn hóa của Đảng Cộng Sản Việt Nam là một văn hóa chư hầu.

Tất cả những tính toán và kỳ vọng của họ đều đã hoặc đang sụp đổ. Nước Nga của Putin đã bại sụi sau cuộc phiêu lưu Ukraine. Đến lượt Trung Quốc cũng chao đảo và sắp sụp đổ. Rất có thể là chính Bắc Kinh đã nói với Hà Nội là hãy tìm những nguồn hỗ trợ khác vì họ không còn khả năng giúp đỡ ai cả. Điều đó có thể giải thích những chuyến công du Hoa Kỳ dồn dập của các cấp lãnh đạo cộng sản Việt Nam gần đây, kể cả chuyến đi sắp tới của tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng. Những chuyến thăm viếng này đều do sáng kiến của Hà Nội.

Lịch sử không phải chỉ sắp sang trang mà đang sang trang. Mọi người Việt Nam đều phải sáng suốt để tránh những ngộ nhận tai hại. Những thành viên bộ chính trị và ban bí thư Đảng Cộng Sản Việt Nam có thể thù ghét nhau vì tranh giành quyền lực và quyền lợi, nhưng họ đều hoàn toàn đồng ý với nhau là phải dựa vào Trung Quốc để duy trì chế độ độc tài toàn trị. Tất cả đều chống dân chủ. Tất cả đều đồng ý rằng “đi với Tầu thì mất nước, đi với Mỹ thì mất đảng” và tất cả đều đồng ý chẳng thà mất nước chứ không mất đảng. Không có một ngoại lệ nào cả.

Nhưng bây giờ họ không còn chọn lựa nào khác là đi với Mỹ (“Mỹ” phải được hiểu là các nước dân chủ) vì họ không dựa vào Trung Quốc được nữa. Chiến lược của họ trong lúc này chỉ là cố kéo dài thời gian hấp hối của chế độ và làm mất thêm thời giờ của nước ta trong cuộc chạy đua về tương lai, dù chúng ta đã mất quá nhiều thời giờ và đã quá chậm trễ. Chúng ta không được quyền có một ngộ nhận nào cả.

Mọi ưu tư của chúng ta phải dồn vào cố gắng để đất nước bước vào kỷ nguyên dân chủ một cách nhanh chóng nhất trong tinh thần hòa giải và hòa hợp dân tộc để chúng ta có thể lập tức cùng nắm tay nhau chinh phục tương lai.

Nguyễn Gia Kiểng

(04/2015

http://ethongluan.org/index.php?option=com_content&view=article&id=16263&catid=44&Itemid=301

Posted in Chinh tri Trung Quoc | Leave a Comment »

►30/4/1975 : Ngày giải phóng ? (Lê Công Định)

Posted by hoangtran204 on 28/04/2015

gp1những người cộng sản đã góp tay vào việc chia đôi đất nước, nên việc tự trao cho mình nhiệm vụ thống nhất đất nước chỉ là hành động đạo đức giả, che đậy ý đồ chính trị và quân sự riêng.

Nhiều người Việt sau 1975 còn giữ thói quen dùng từ “giải phóng” trong các cụm từ “giải phóng Sài Gòn”, “ngày giải phóng”, “trước giải phóng”, “sau giải phóng”, “quân giải phóng”, v.v…, đó cũng là cách gọi có chủ đích tuyên truyền của chế độ này sau khi Bắc Việt thôn tính toàn bộ miền Nam.

Từ trước đến nay, chính quyền cộng sản vẫn luôn lập luận rằng nước Việt Nam là một dải thống nhất từ Bắc chí Nam, tạm thời bị chia cắt tại vĩ tuyến 17 do kết quả hội nghị Geneva 1954, đồng bào miền Nam gánh chịu ách nô lệ và áp bức của “Đế quốc Mỹ xâm lược” và “ngụy quyền tay sai” ; do vậy, quân dân miền Bắc có nhiệm vụ “giải phóng” miền Nam, thống nhất đất nước.

Tuy nhiên, lập luận nêu trên tự mâu thuẫn và hiển nhiên bị bác bỏ bởi các sự kiện lịch sử hiện đại mà chúng ta đều đã biết. Dưới đây là một số nhận định xung quanh cái gọi là “giải phóng” nhân dịp chính quyền đang khơi gợi quá khứ, mà chính họ luôn hô hào gác lại, bằng các buổi lễ kỷ niệm và diễu binh chướng mắt trên các đường phố Sài Gòn.

Sau khi đánh bại quân Pháp tại Điện Biên Phủ, chính ông Hồ Chí Minh và đại diện Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, dưới áp lực của Trung Quốc, đã đồng ý ký kết Hiệp định Geneva 1954 chia lãnh thổ Việt Nam thành hai miền, trong lúc đại diện của chính phủ quốc gia Việt Nam do ông Ngô Đình Diệm làm thủ tướng hoàn toàn bác bỏ sự phân cắt đó. Nói cách khác, những người cộng sản đã góp tay vào việc chia đôi đất nước, nên việc tự trao cho mình nhiệm vụ thống nhất đất nước chỉ là hành động đạo đức giả, che đậy ý đồ chính trị và quân sự riêng.

Gắp lửa bỏ tay người

Thoạt đầu, sau năm 1954, Hoa Kỳ chỉ viện trợ kinh tế và giúp huấn luyện các đơn vị vũ trang của chính quyền Sài Gòn với mục đích tái lập trật tự xã hội sau chiến tranh với Pháp. Đến khi chiến sự leo thang do Bắc Việt lén lút chuyển quân vào Nam, Hoa Kỳ mới chính thức can dự quân sự từ năm 1965. Tuy nhiên, sự tuyên truyền về “Đế quốc Mỹ xâm lược” đã được những người cộng sản tung ra ngay từ lúc Hiệp định Geneva còn chưa ráo mực, tức có sự hoạch định cố ý từ trước nhằm chuẩn bị nguyên cớ phát động chiến tranh. Một hành động “gắp lửa bỏ tay người” không hơn không kém của giới lãnh đạo Bắc Việt lúc ấy.

Cần lưu ý, gần mười năm trước khi Hoa Kỳ gửi quân sang chiến đấu chống cộng sản tại miền Nam, quân đội Trung Quốc đã hiện diện ở miền Bắc. Sau đó lần lượt Liên Sô và Bắc Triều Tiên cũng cử quân nhân sang trực chiến. Vậy nếu sự kiện Mỹ đưa quân tham chiến, dù được sự chấp thuận của chính quyền Sài Gòn, bị xem là “xâm lược”, thì hành động của Trung Quốc, Liên Sô và Bắc Triều Tiên nên gọi là gì ? Phải chăng giới lãnh đạo Bắc Việt đã thiếu sáng suốt trong nhận định về “địch ta” hay vì lý do nào khác ?

gp3

Hòa đàm Paris 1973 mở đường cho ‘hòa bình’ và Hoa Kỳ rút khỏi cuộc chiến ở Việt Nam, nhưng chỉ hai năm sau, miền Bắc đã ‘giải phóng’ miền Nam bằng biện pháp chiến tranh.

Trong giai đoạn từ 1955 đến 1974, Trung Quốc đã liên tiếp xác lập chủ quyền và chiếm đóng các hải đảo thuộc Trường Sa và Hoàng Sa của Việt Nam, nhưng vì lý do nào hành động của Trung Quốc lại không được bộ máy tuyên truyền Bắc Việt đương thời gọi là “xâm lược” ? Cuộc chiến tranh “giải phóng dân tộc” vì sao chỉ tập trung vào miền Nam mà bỏ qua mục tiêu giải phóng các hải đảo, vốn cũng là một phần lãnh thổ thiêng liêng và quan trọng của tổ quốc ? Chiến thắng đang được ca ngợi thiết nghĩ hãy còn dang dở, và liệu có thể hãnh diện với một chiến thắng như vậy ?

Đặt ngược vấn đề

Việt Nam Cộng hòa là một thực thể chính trị và hành chính hợp pháp trên phương diện công pháp quốc tế, tương tự Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Mọi hành động chính trị và quân sự của bất kỳ nhà nước nào đều phải đặt trong khuôn khổ luật pháp quốc tế, nên việc tự trao nhiệm vụ “giải phóng miền Nam” không đương nhiên biện minh quyền sử dụng vũ lực xâm chiếm lãnh thổ của quốc gia có chủ quyền khác. Đặt ngược lại vấn đề, nếu cách hành xử của Bắc Việt là đúng, thì đương nhiên quân đội Sài Gòn cũng có quyền tương tự là mang quân xâm chiếm miền Bắc ? Tuy nhiên, chính quyền Sài Gòn đã không hành xử như vậy, không phải vì thiếu khả năng, mà do họ tôn trọng luật pháp quốc tế.

Ngay trong nội bộ lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam đương thời đã có nhiều tiếng nói phản đối chiến tranh và đề xuất giải pháp hòa bình hợp tác giữa hai miền Nam Bắc. Lịch sử thế giới hiện đại cũng cho thấy sự thống nhất nước Đức bằng con đường thương lượng ôn hòa đã mang lại kết quả tốt đẹp cho dân tộc Đức. Tuy vậy, chủ trương hòa bình trong Đảng Cộng sản bị dập tắt, phe chủ chiến thắng thế và muốn tiến hành chiến tranh bằng mọi giá. Và cái giá phải trả để thống nhất đất nước bằng giải pháp chiến tranh là sinh mạng của hàng triệu người Việt ngã xuống vô nghĩa, nỗi đau ấy vẫn còn đến tận ngày nay.

Tuy chiến tranh diễn ra khốc liệt, song những đô thị miền Nam vẫn luôn duy trì sự phát triển phồn thịnh. Điều đó một mặt nói lên rằng chính quyền Sài Gòn đã duy trì bộ máy quản lý quốc gia rất tốt về phương diện dân sự, bất chấp hoàn cảnh khó khăn. Mặt khác, liệu có thể tin rằng đoàn quân đói rách đến từ vùng đất nghèo nàn hơn về kinh tế lại mang sứ mệnh “giải phóng” xứ sở phồn thịnh hơn ? Tình huống đó lẽ ra nên gọi là “cướp” hoặc “chiếm đoạt”, thì thích hợp hơn. Tất nhiên, chẳng ai tin, trừ phi bị lừa dối, và chính các chiến sĩ Bắc Việt đã ngây thơ nghĩ rằng đồng bào miền Nam đang rên xiết ngày đêm trong cảnh nghèo đói và nô lệ (!).

Sự lố bịch của giải phóng

Kẻ “được giải phóng” lẽ ra phải hàm ơn người “giải phóng”, nhưng ngoại trừ những gia đình sống bám hoặc kiếm tiền nhờ vào chế độ cộng sản, khó tìm thấy thường dân nào ở miền Nam đang chật vật mấy bữa cơm hàng ngày cảm thấy mang ơn đoàn quân “giải phóng” mỗi khi có dịp nhắc lại biến cố bi thảm đó. Đấy là chưa nói, nhiều năm sau 1975 hàng triệu kẻ “được giải phóng” đã phải tự giải phóng mình một lần nữa bằng cách vượt biên, gây nên thảm cảnh thuyền nhân nhức nhối trong lòng dân tộc. Vậy sự ly tán của các gia đình Việt Nam tưởng đã chấm dứt khi chiến tranh kết thúc, nhưng lại vẫn tiếp diễn một cách đáng buồn vì “giải phóng”.

gp4

Nhiều khẩu hiệu, áp phích chào mừng ‘Đại thắng Mùa Xuân’ 1975 và ‘Giải phóng Miền Nam’ lại được chính quyền trưng ra trong dịp này.

Giải phóng bao hàm sự bao dung đối với bên thua cuộc, nhưng thay cho chính sách hòa giải dân tộc là các trại cải tạo mọc lên như nấm sau cơn mưa để giam cầm không qua xét xử hợp pháp các quân nhân và công chức của chế độ Sài Gòn. Mang hận thù và chia rẽ đến giữa lòng dân tộc thì giải phóng ai và vì cái gì ? 40 năm sau biến cố “giải phóng”, xã hội ngày càng trở nên vô đạo đức nghiêm trọng, vậy phải chăng con người đã bị giải phóng khỏi đức hạnh và văn minh để quay trở về thời kỳ hoang dã ?

Thời trung học, tôi cũng quen dùng từ “giải phóng” một cách vô thức như bao người. Song từ lúc vào đại học, do ngán ngẩm lối giáo dục đầy dối trá, tôi bắt đầu tự tìm hiểu sự thật lịch sử để trang bị lại kiến thức cho mình và nhờ đó nhận ra sự lố bịch của hai chữ “giải phóng”.

Tất nhiên, lịch sử không có chữ nếu, nhưng giá mà không có cái gọi là “giải phóng” ấy từ năm 1954, rồi 1975, hẳn đất nước không trì trệ và lạc hậu như ngày nay, mà thay vào đó người Việt ở các giai tầng xã hội khác nhau đã cùng nắm tay đưa con thuyền tổ quốc đến bến bờ mới của nền thịnh trị và xã hội thịnh vượng từ lâu.

Luật sư Lê Công Định

Gửi cho BBC từ Sài Gòn

Tác giả là một luật sư, cựu tù nhân lương tâm, đang chịu quản chế ở Sài Gòn.

Posted in Cái giá của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc”., Chien Tranh Viet Nam | Leave a Comment »

►Bộ Ngoại Giao VN phản đối đạo luật S-219 : Chuyện ruồi bu cuối tuần

Posted by hoangtran204 on 27/04/2015

 | 

Chuyện ruồi bu cuối tuần

ông Nguyễn Hải Bình, phát ngôn viên bộ Ngoại Giao VN phản đối đạo luật S-219

Ngày 22.04.2015 đạo luật S-219 được quốc hội Canada thông qua, lấy ngày 30.04 làm ngày Hành Trình Đến Tự Do của khoảng 300.000 người Canada gốc Việt. Đạo luật này nói rõ ngày Hành Trình Đến Tự Do là một ngày lễ kỷ niệm, không phải là một ngày nghỉ lễ chính thức (legal holiday or non-juridical day).

Mục đích của đạo luật S-219 chỉ nhắm nhắc nhở con cháu của người Canada gốc Việt các thế hệ sau hiểu được nguyên nhân vì sao họ hiện diện trên đất nước Canada.

Trong khi hầu hết mọi người Canada gốc Việt tị nạn cộng sản đều vui mừng, hân hoan đón nhận quyết định này của chính phủ Canada thì chế độ cộng sản Việt Nam lại tức giận, điên cuồng phản đối trong tuyệt vọng vì quyết định của chính phủ Canada.

Đúng là ruồi bu!

Vì lý do nào chế độ CSVN lại giận dữ phản đối quyết liệt một đạo luật chẳng dính dáng gì đến họ?

Sự thật chẳng có gì khó hiểu. Đây là một đạo luật dù không phơi bày rõ ràng sự độc tài, gian ác, nham hiểm, hèn hạ, đê tiện của chế độ CSVN nhưng nói lên những nguyên nhân khiến cho hàng triệu người VN từ 30.04.1975 phải bỏ nước ra đi vì không chấp nhận sự cai trị của chế độ, trong đó có 64.000 người đã được chính phủ Canada đón nhận.

Đạo luật S-219 nói rõ rằng quân CS Bắc Việt và quân Giải Phóng Miền Nam đã xé bỏ hiệp định Paris, xâm lăng miền Nam bằng vũ lực, trong đó Canada là một thành viên trong ủy hội quốc tế giám sát đình chiến theo hiệp định.

Trích:
„-Whereas on April 30, 1975, despite the Paris Peace Accords, the military forces of the People’s Army of Vietnam and the National Liberation Front invaded South Vietnam, which led to the fall of Saigon, the end of the Vietnam War and the establishment of the Socialist Republic of Vietnam Government;

Xét rằng vào ngày 30 tháng 4 năm 1975, mặc dù đã có Hiệp định Hòa bình Paris nhưng quân đội nhân dân Việt Nam và Mặt trận Giải phóng Miền Nam Việt Nam đã xâm lược Miền Nam và dẫn đến sự sụp đổ của chính quyền Sài Gòn, chấm dứt cuộc chiến và thiết lập nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam;“

Trích:

Whereas the United Nations High Commissioner for Refugees has reported that these events and the conditions faced by individuals in Vietnam, including deteriorating living conditions and human rights abuses, contributed to the exodus of approximately 840,000 Vietnamese people, who were referred to at the time as “Vietnamese boat people”, to neighbouring countries in the ensuing years;

Xét rằng Cao Ủy Liên Hiệp Quốc về tị nạn đã báo cáo rằng các biến cố đó và vì mỗi con người Việt nam phải đối mặt với nó và điều kiện sống ngày một xấu đi và cùng với việc bị xâm phạm nhân quyền, những điều đó đã khiến cho cuộc di cư của khoảng 840.000 người Việt nam mà chính họ vào thời gian đó là trở thành các “thuyền nhân Việt Nam “ di cư đến các quốc gia láng giềng của VN vào những năm sau đó;

Nguồn:http://bshohai.blogspot.de/2015/04/ao-luat-s-219-ngay-hanh-trinh-en-tu-do.html

Chính những điều này trong đạo luật S-219 đã khiến Hà Nội lồng lộn phản đối.

Chế độ CSVN lúc nào cũng kêu gào, yêu cầu quốc tế không nên can thiệp đến chuyện nội bộ của họ đối với vấn đề nhân quyền, tự do báo chí, tự do ngôn luận ở VN, nay họ lại phản đối một đạo luật ở Canada bằng mọi hình thức.

Ngay từ khi đạo luật còn đang chở hạ viện biểu quyết, thủ tướng Việt cộng Nguyễn Tấn Dũng đã gửi thư tới thủ tướng Harper của Canada để phản đối, khi đạo luật thông qua, chế độ Hà Nội triệu tập đại sứ Canada đến bộ ngoại giao để (làm việc) cũng như cho các báo, đài phát thanh, truyền hình trong nước lên tiếng phụ họa.

Phát ngôn viên bộ ngoại giao CSVN, Lê Hải Bình tuyên bố:

„-S-219 là một đạo luật hoàn toàn sai trái, chứa đựng nhiều nội dung xuyên tạc lịch sử cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước của nhân dân Việt Nam đã được cộng đồng quốc tế, trong đó có Canada ủng hộ. Việt Nam kiên quyết phản đối việc Canada thông qua đạo luật này.“

Không biết Lê Hải Bình đã đọc qua đạo luật này chưa hay chỉ nghe hơi nồi chõ rồi vội vã lên tiếng phản đối theo lệnh trên?
Phê phán một đạo luật của quốc gia khác là „sai trái, chứa đựng nhiều nội dung xuyên tạc…“ chỉ là hành vi lỗ mãng không mang tính ngoại giao của những kẻ vô học, thiếu kiến thức hành xử ngoại giao.

Các thượng nghị sĩ, dân biểu của quốc hội Canada chắc chắn phải là những người có học, có bằng cấp, trình độ nhận thức cao. Trước khi bỏ phiếu chấp thuận, họ đã được đọc, nghe thuyết trình về nội dung, ý nghĩa, mục đích của đạo luật và có thời gian để suy nghĩ, tranh luận trước khi quyết định.

Cách làm việc của dân biểu, thượng nghị sĩ Canada trong nghị trường chắc chắn không giống cách làm việc của đại biểu quốc hội CSVN, vào họp chỉ ngủ gật, hoặc chỉ lên tiếng khi được gài độ, mua chuộc từ trước.

Báo chí lề phải trong nước, cũng được lệnh ồn ào lên tiếng, dây máu ăn phần, nhưng hầu hết không tờ nào có lập luận hợp lý, hợp tình mà chỉ sao chép y chang những gì Lê Hải Bình tuyên bố rồi cho thêm chút mắm muối, bột ngọt các cái bằng những tên ngoại quốc như Canadian Press, TNS James Cowan…

Trích:

„Tờ Canadian Press cũng đã lên tiếng bình luận về việc Canada thông qua đạo luật sai trái này và cho biết, trong thư gửi Ủy ban Nhân quyền Thượng viện Canada, Hội đồng Thương mại Canada-Việt Nam cho rằng, đạo luật này sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng tới hợp tác kinh tế, thương mại giữa hai quốc gia vì nó có thể làm chia rẽ cộng đồng người Canada gốc Việt.
Thượng nghị sĩ James Cowan, Lãnh đạo đảng Tự do trong Thượng viện Canada nói rằng ông không thể hiểu nổi tại sao Chính phủ có thể thông qua đạo luật này khi Canada đang muốn thúc đẩy hợp tác với các nước châu Á, trong đó có Việt Nam.

Nguồn:http://infonet.vn/phan-doi-canada-xuyen-tac-lich-su-viet-nam-qua-dao-luat-s219-post163049.info

„đạo luật này sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng tới hợp tác kinh tế, thương mại giữa hai quốc gia vì nó có thể làm chia rẽ cộng đồng người Canada gốc Việt.-“

Có chia rẽ trong cộng đồng là chuyện đương nhiên, không có cộng đồng nào trên thế giới đoàn kết 100%. Cộng đồng người Việt tị nạn không thể chấp nhận được những kẻ qua Canada tị nạn nhưng lại đi trồng cần sa, buôn bạch phiến hay cướp của giết người, gây mất thiện cảm với người dân bản xứ, hoặc những kẻ mang danh tị nạn nhưng luôn tìm cách gây rối, phá hoại cộng đồng theo lệnh tòa đại sứ CS của Hà Nội.

Báo Sài Gòn Giải Phóng ( hay Sài Gòn Giải Tán ?) còn đăng như sau:

Trích:

„Đây là bước lùi trong quan hệ giữa hai nước, gây ảnh hưởng tiêu cực tới quan hệ đang phát triển tốt đẹp giữa Việt Nam và Canada, xúc phạm tình cảm của nhân dân Việt Nam cũng như một bộ phận lớn cộng đồng người Việt tại Canada. Trong nhiều năm qua, quan hệ Việt Nam – Canada đã được hai bên nỗ lực phát triển. Chúng tôi hy vọng phía Canada nhận thức rõ ảnh hưởng tiêu cực của việc thông qua đạo luật S-219, có các biện pháp khắc phục, không để xảy ra những sự việc tương tự. Ngày 24-4-2015, Bộ Ngoại giao đã triệu Đại sứ Canada tại Việt Nam để phản đối và nêu rõ quan điểm của Việt Nam về vấn đề này”.

„Xúc phạm tình cảm của nhân dân Việt Nam cũng như một bộ phận lớn cộng đồng người Việt tại Canada“.

Đọc mà cứ tưởng như thiệt. Nhưng nói vậy mà không phải vậy. Nếu có xúc phạm thì đạo luật S-219 chỉ xúc phạm, đập vào mặt đảng cộng sản VN và chế độ ( ăn cướp ) Hà Nội, bởi nó lột trần bộ mặt giả nhân, giả nghĩa của những tên lãnh đạo trong đảng CS và chính phủ hiện nay.

Thế „bộ phận“ nào là „bộ phận lớn“ cộng đồng người Việt tại Canada? Còn bộ phận nhỏ nằm ở đâu? Trong tòa đại sứ VN ở Ottawa hay Toronto?

„Chúng tôi hy vọng phía Canada nhận thức rõ ảnh hưởng tiêu cực của việc thông qua đạo luật S-219, có các biện pháp khắc phục, không để xảy ra những sự việc tương tự.“

Các thượng nghị sĩ, dân biểu Canada có ngu dốt, đầu bò như đại biểu quốc hội VN đâu mà nói họ cần nhận thức rõ ảnh hưởng tiêu cực của đạo luật.

Khi bọn xâm lược Trung cộng kéo dàn khoan HD 981 vào thềm lục địa VN thăm dò dầu khí, cả đảng CSVN cũng như chế độ Hà Nội im thin thít, không dám mở miệng la lên một tiếng, cũng như lúc Dương Khiết Trì mắng chính quyền Hà Nội là lũ con hoang cũng khống có một đứa nào dám hó hé nói gì, thế mà giờ đây chỉ vì một đạo luật ở một đất nước cách xa hàng chục ngàn dặm, không dính dáng gì đến mình mà từ thủ tướng đến bộ trưởng ngoại giao nhẩy lên như đỉa phải vôi.
Còn sự nhục nhã, hèn hạ nào hơn thế nữa?

Để cả thế giới đã nhìn thấy sự hèn nhát của mình, thiết nghĩ, những kẻ cầm quyền chế độ CS Hà Nội nếu còn một chút tự trọng, lêm sỉ thì nên dùng tiền thuế của dân, phương tiện của đất nước, lên tiếng phản đối quyết liệt cho những việc trọng đại hơn, những việc đang gây nguy hại cho nền an ninh đất nước là việc Trung cộng đang nỗ lực xây dựng phi trường, căn cứ trên các đảo ở Hoàng, Trường Sa, tuồn tiền giả, thức phẩm độc hại… vào Việt Nam hơn là đi phản đối một đạo luật của một quốc gia khác hay tìm cách phá bỏ những tấm gia kỷ niệm thuyền nhân VN ở các quốc gia khác.

Đạo luật S-219 được ban hành nhắm tới khoảng 300.000 người dân Canada gốc Việt, nếu CSVN không làm lớn chuyện, có lẽ nhiều người VN cũng không biết đến đạo luật này.

Đúng là lợi bất cập hại cho một chế độ chỉ giỏi hèn nhát, quỵ lụy kẻ thù nhưng lại hung hăng với người dân ngay cả khi họ đã ra tới nước ngoài.

Thay vì lo đi phòng thủ, chống trả lại con chó sói hung dữ đang gầm gừ, lăm le tấn công, ăn thịt mình, cộng sản Hà Nôi lại tìm cách trù dập những người dân hiền lành đã chạy thoát phạm vi kiểm soát của họ.

Đúng là làm chuyện ruồi bu!

© Thạch Đạt Lang

Posted in Cái giá của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc”., Chien Tranh Viet Nam, Uncategorized | Leave a Comment »

►Trung tâm Nhiệt điện Vĩnh Tân và hiểm họa mất nước

Posted by hoangtran204 on 25/04/2015

Trung tâm Nhiệt điện Vĩnh Tân và hiểm họa mất nước

reuters

Từ ô nhiễm môi trường…

Vụ việc người dân địa phương xung quanh Nhà máy Nhiệt điện Vĩnh Tân 2 tại xã Vĩnh Tân, Tuy Phong, Bình Thuận xuống đường phản đối nhà máy thải bụi than và xỉ vào môi trường gây ô nhiễm nghiêm trọng, không chỉ trên đất liền mà cả một vùng biển rộng lớn, đã làm nóng dư luận suốt mấy hôm nay. Từ ngày 14/4, hàng ngàn người dân đã đổ ra quốc lộ 1A đoạn chạy qua đây, gây ách tắc giao thông Bắc – Nam kéo dài hàng chục km.

Nhà máy Nhiệt điện Vĩnh Tân 2 do Tập đoàn Điện khí Thượng Hải (Trung Quốc) thi công từ tháng 8/2010. Tổng mức đầu tư ban đầu của dự án là 19.162 tỷ VNĐ (sau điều chỉnh tăng lên tới 23.477 tỷ VNĐ), trong đó 85% là vốn tín dụng xuất khẩu ưu đãi dành cho người mua của Ngân hàng Xuất nhập khẩu Trung Quốc và ODA của Chính phủ Trung Quốc, còn lại 15% là vốn đối ứng của Tổng Cty Điện lực Việt Nam (EVN).

…đến đe doạ an ninh quốc gia

Vụ việc trên lại một lần nữa gióng lên hồi chuông báo động về tình trạng hầu hết các dự án hạ tầng trọng điểm quốc gia nói chung và các dự án nhiệt điện nói riêng suốt mấy năm qua đều rơi vào tay nhà thầu Trung Quốc. Ngành công nghiệp xi-măng, chẳng hạn, đang triển khai 24 dự án thì nhà thầu Trung Quốc làm tổng thầu EPC đến 23 dự án.

Ngành điện lực hiện có 20 dự án nhiệt điện đang triển khai thì đến 15 dự án do nhà thầu Trung Quốc làm tổng thầu EPC (Engineering – Procurement – Construction: nghĩa là nhà thầu làm tất cả các công đoạn, từ thiết kế, mua sắm đến xây dựng rồi bàn giao chìa khoá công trình cho chủ đầu tư – ở Việt Nam vẫn gọi là hình thức “chìa khoá trao tay”).

Trong các dự án do nhà thầu Trung Quốc thực hiện thì tình trạng chung là: chậm tiến độ hàng năm trời; công nghệ lạc hậu, tốn nhiên/nguyên liệu, hay hỏng hóc; ô nhiễm môi trường; đội giá công trình lớn; tỷ lệ nội địa hoá hầu như bằng không (nhà thầu Trung Quốc mang sang Việt Nam từ cái đinh ốc cho đến đội quân công nhân hùng hậu); phụ thuộc vào linh kiện và phụ tùng thay thế của Trung Quốc… Nhà máy Nhiệt điện Vĩnh Tân 2 là một trong số 15 dự án nói trên.

Một dự án hạ tầng trọng điểm quốc gia như Nhà máy Nhiệt điện Vĩnh Tân 2 rõ ràng là nhạy cảm về vấn đề an ninh – quốc phòng. Một khi mối quan hệ Việt Nam – Trung Quốc xẩy ra biến cố lớn thì với bản chất “thâm như Tàu” cố hữu, Trung Quốc hoàn toàn có thể vô hiệu hoá nhà máy nhiệt điện này.

Hiểm hoạ mang tên “Trung tâm Nhiệt điện Vĩnh Tân”

Trên thực tế, Nhà máy Nhiệt điện Vĩnh Tân 2 chỉ là 1 trong 4 nhà máy nhiệt điện thuộc Trung tâm Nhiệt điện Vĩnh Tân đang được xây dựng ở đây: Nhà máy Nhiệt điện Vĩnh Tân 1 do Công ty Lưới điện Phương Nam (Trung Quốc), Cty Điện lực Quốc tế Trung Quốc và Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam (TKV) làm chủ đầu tư theo hình thức BOT, với tổng vốn đầu tư khoảng 2 tỷ USD, công suất 1.200 MW; liên danh tổng thầu của dự án này là Cty GEDI và Cty DGEC thuộc Tập đoàn Xây dựng Năng lượng Trung Quốc. Nhà máy Nhiệt điện Vĩnh Tân 3 do Cty Công trình điện quốc tế Harbin (Trung Quốc) thi công. Dự án Nhiệt điện Vĩnh Tân 4 do Tổ hợp Nhà thầu Tập đoàn Công nghiệp nặng Doosan (Hàn Quốc), Tập đoàn Mitsubishi (Nhật Bản), Cty Cổ phần Tập đoàn Thái Bình Dương và Cty Cổ phần Tư vấn Xây dựng Điện 2 (PECC 2) làm tổng thầu EPC.

Như vậy, trong 4 dự án nhà máy nhiệt điện tại Trung tâm Nhiệt điện Vĩnh Tân thì có đến 3 dự án rơi vào tay nhà thầu Trung Quốc. Nguy hiểm hơn, Nhà máy Nhiệt điện Vĩnh Tân 1 lại do 2 Cty Trung Quốc làm chủ đầu tư theo hình thức BOT; còn nhà máy lớn nhất là Nhiệt điện Vĩnh Tân 3 thì do Cty Cổ phần Năng lượng Vĩnh Tân 3 làm chủ đầu tư theo hình thức BOT, mà Cty này gồm 3 cổ đông, trong đó cổ đông lớn nhất, chiếm 49% cổ phần, lại là Cty OneEnergy Ventures Ltd của Trung Quốc.

Trên hết, nhân vật chịu trách nhiệm cao nhất về trung tâm nhiệt điện lớn nhất cả nước này cũng là một người Trung Quốc nốt: đó là PTT gốc Tàu Hoàng Trung Hải, người khuynh loát ngành điện lực Việt Nam từ giữa những năm 90 của thế kỷ trước và hiện là Phó Thủ tướng phụ trách kinh tế ngành, trong đó có ngành điện lực.

Bằng chứng cho thấy cặp bài trùng Hoàng Trung Hải - Nguyễn Tấn Dũng đã 'dâng' cho TQ một vị trí hết sức hiểm yếu về ANQP ở vùng duyên hải Nam Trung Bộ.

“Người Trung Quốc làm gì cũng có tính toán” – lãnh tụ Trung Quốc Đặng Tiểu Bình từng thẳng thừng tuyên bố trước bàn dân thiên hạ như thế.

Tuy vậy, để biết được cái sự “tính toán” của người Tàu thâm hậu thế nào, và hiểm hoạ mang tên “Trung tâm Nhiệt điện Vĩnh Tân” lớn đến đâu, chúng ta còn cần xét thêm một dữ kiện quan trọng nữa: Vĩnh Tân có phải là một vị trí hiểm yếu về an ninh – quốc phòng hay không?

Ngày 16/4 vừa qua, Dự án Bến cảng Tổng hợp Vĩnh Tân đã được khởi công xây dựng. Tổng mức đầu tư toàn dự án là hơn 2.292 tỷ VNĐ. Quy mô dự án giai đoạn 1 gồm 2 bến tổng hợp cho tàu đến 30.000DWT và 1 bến cho tàu đến 3000DWT. Dù không đến tham dự, nhưng PTT Hoàng Trung Hải cũng không quên gửi lẵng hoa chúc mừng lễ khởi công.

Một người dân ở Vĩnh Tân cho biết: “Vùng đất này chính là yết hầu của Nam Trung Bộ, nơi ‘núi thò chân ra biển.’ Quốc lộ 1A độc đạo đi qua với một bên là núi, một bên là biển. Gọi là yết hầu hay độc đạo bởi không còn con đường nào khác nối liền Nam Bắc ở vùng duyên hải này.”

Nằm ở vị trí giáp biển, bên cạnh quốc lộ 1A (đồng thời là tuyến độc đạo nối liền Nam – Bắc) và một hải cảng lớn, Trung tâm Nhiệt điện Vĩnh Tân rõ ràng là một khu vực xung yếu về an ninh – quốc phòng.

Với việc 3 trong số 4 nhà máy ở đây là do nhà thầu Trung Quốc làm tổng thầu EPC và 2 trong số 4 nhà máy do các Cty Trung Quốc làm chủ đầu tư theo hình thức BOT (Xây dựng – Kinh doanh – Chuyển giao), tại Trung tâm Nhiệt điện Vĩnh Tân sẽ luôn có hàng nghìn người Trung Quốc túc trực trong hàng chục năm. Người Trung Quốc sẽ sinh cơ lập nghiệp, lập xóm lập phố ở đây.

Bằng chứng cho thấy cặp bài trùng Hoàng Trung Hải - Nguyễn Tấn Dũng đã 'dâng' cho TQ một vị trí hết sức hiểm yếu về ANQP ở vùng duyên hải Nam Trung Bộ.

Khi có sự biến, lực lượng nằm vùng này đủ sức làm tê liệt hoàn toàn Trung tâm Nhiệt điện, chia cắt giao thông Bắc – Nam, tạo điều kiện cho hải quân Trung Quốc từ Hải Nam và các căn cứ quân sự ở Trường Sa ồ ạt đổ bộ qua cảng Vĩnh Tân, khống chế hoàn toàn khu vực yết hầu của vùng duyên hải Nam Trung Bộ này.

Cùng lúc đó, lực lượng Trung Quốc nằm vùng trong dự án Bauxite Tây Nguyên và các dự án kinh tế trá hình dọc biên giới Việt Nam – Campuchia sẽ đánh xuống, phối hợp với lực lượng đổ bộ và đội quân nằm vùng ở Vĩnh Tân đánh lên để chia cắt Việt Nam từ Tây Nguyên xuống duyên hải Nam Trung Bộ. (Lưu ý thêm là quả bom nguyên tử mang tên “Bùn Đỏ” có thể được Trung Quốc cho phát nổ bất cứ lúc nào, sẵn sàng nhấn chìm cả vùng Đông Nam Bộ trong cơn lũ bùn đỏ.)

Lúc này, Việt Nam không chỉ bị chia cắt ở đây, mà còn bị chia cắt ở chân Đèo Ngang (nơi đặt “đại bản doanh” của căn cứ quân sự Trung Quốc mang tên Formosa Hà Tĩnh), ở Hải Vân (nơi có hai “dự án” với hàng trăm ha của người Hoa), ở Ninh Thuận (nơi có Dự án Điện Hạt nhân Ninh Thuận mà PTT Hoàng Trung Hải là Trưởng ban Chỉ đạo Nhà nước), v.v.

Rõ ràng, Trung tâm Nhiệt điện Vĩnh Tân chính là một Formosa Hà Tĩnh khác ở vùng duyên Hải Nam Trung Bộ. Giống như ở Vũng Áng, Hải Vân, Ninh Thuận hay việc các Cty Trung Quốc thuê dài hạn hàng trăm ngàn ha rừng đầu nguồn, Trung tâm Nhiệt điện Vĩnh Tân cũng hoàn toàn do PTT Hoàng Trung Hải “đạo diễn”, với sự tiếp tay và đồng loã của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng.

Ai đó có thể lạc quan cho rằng trong thời đại ngày nay, Trung Quốc sẽ không dám mạo hiểm xâm lược Việt Nam, bởi điều đó ẩn chứa rất nhiều rủi ro.

Luận điểm này thiếu thuyết phục ở ít nhất 3 điểm: (i) Trong bối cảnh thế giới hiện nay, Nga vẫn cứ đưa quân sang Grudia, sang Krym hay Ucraina; (ii) Cho dù có thể phải gánh chịu nhiều rủi ro, tổn thất, nhưng nếu không bành trướng, xâm lược nước khác thì Trung Quốc không còn là chính mình nữa, như thể đã là bò cạp thì cứ phải cắn vậy; và (iii) binh pháp Trung Quốc vẫn quan niệm: “đánh mà thua là hạ sách, đánh mà thắng là trung sách, không đánh mà thắng mới là thượng sách”.

Hiện nay, ở Trường Sa, Trung Quốc đang hối hả bồi đắp các đảo đá, hình thành các căn cứ quân sự liên hoàn, tiến tới thôn tính quần đảo này và khống chế hoàn toàn Biển Đông, lối ra của dân tộc Việt trong thế kỷ 21; trên đất liền, Trung Quốc đang từng bước chiếm lĩnh những vị trí xung yếu về an ninh – quốc phòng (các doanh nghiệp từ Hồng Kông, Đài Loan – Trung Quốc đang thuê dài hạn (50–70 năm) trên 264.000 ha rừng đầu nguồn, mà 87% con số này là ở các tỉnh biên giới xung yếu), thiết lập các căn cứ quân sự trá hình sát biên giới Campuchia – Việt Nam và Lào – Việt, và trong khi Trung Quốc ngăn cấm làm đường gần biên giới thì Việt Nam lại mở toang cửa ngõ biên giới với Trung Quốc; trên địa hạt kinh tế, Trung Quốc đang giành chiến thắng ngoạn mục trong cuộc xâm lược kinh tế Việt Nam; trong hệ thống chính trị, việc PTT gốc Tàu Hoàng Trung Hải “làm mưa làm gió” suốt hơn 10 năm nay là một bằng chứng cho thấy bộ máy chóp bu ở Việt Nam đã bị ông Hoàng Trung Hải và Trung Nam Hải khống chế, thao túng. Các gọng kìm của chủ nghĩa Đại Hán đang dần siết chặt dải đất thân thương hình chữ S.

Rõ ràng là với Việt Nam, Trung Quốc đang nhắm đến kế thượng sách “không đánh mà thắng”. Nếu vẫn cứ đà này, việc trở thành một Tây Tạng hay Tân Cương mới là kết cục không tránh khỏi cho dòng giống “con Lạc cháu Hồng”.

Blog Lê Anh Hùng (VOA)

Posted in Cái giá của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc”., Chiến lược xâm nhập của Trung Quốc vào Viet Nam, Chien Tranh Viet Nam | Leave a Comment »

 
Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.