Trần Hoàng Blog

►Tôi đã từng ứng cử vào QH và kết quả như thế nào? – Tự ứng cử vào Quốc Hội – sân chơi không dành cho người nhát gan

Posted by hoangtran204 on 13/02/2016

TỰ ỨNG CỬ – SÂN CHƠI KHÔNG DÀNH CHO NGƯỜI NHÁT GAN

Võ An Đôn

12-2-2016

Hiến pháp qui định công dân từ đủ 21 tuổi trở lên có quyền ứng cử đại biểu Quốc hội, nhưng thực tế nếu công dân nào ra ứng cử Quốc hội sẽ bị chính quyền tìm cách hăm dọa, gây khó khăn đủ điều.

Sau khi nộp đơn tự ứng cứ, người tự ứng cử sẽ bị chính quyền để ý theo dõi sát sao và cho người từ các đoàn thể đến vận động gia đình, người thân, bạn bè, đồng nghiệp, họ hàng buộc người tự ứng cử phải tự nguyện rút đơn.

Nếu người tự ứng cử cứng rắn không chịu rút đơn, thì họ sẽ tìm cách gây khó khăn trong công việc làm ăn hàng ngày và kinh tế gia đình.

Đến khi lấy phiếu tín nhiệm tại nơi cư trú và nơi làm việc thì họ sẽ tìm cách cho người đấu tố, bêu xấu, nhục mạ người tự ứng cử trước cộng đồng dân cư và nơi làm việc.

Nếu vượt qua các bước trên, đến giai đoạn hiệp thương do Mặt trận tổ quốc chủ trì thì người tự ứng cử sẽ bị loại, vì thành phần tham dự Hội nghị hiệp thương đa số là lãnh đạo các cơ quan đảng, đoàn thể và chính quyền, trong khi người tự ứng cử thì không được mời tham dự cuộc họp này.

Riêng giới luật sư thì những luật sư đã từng ra ứng cử đại biểu Quốc hội trước đây đều bị nhà nước cho vào tù, như luật sư Lê Công Định, luật sư Nguyễn Văn Đài, luật sư Lê Quốc Quân. Riêng luật sư Nguyễn Đăng Trừng và tôi đến nay chưa bị ngồi tù nhưng bị trù dập không ngóc đầu lên được.

Lần bầu cử đại biểu Quốc hội năm 2011, tỉnh Phú Yên có hai người tự ứng cử là tôi và thầy giáo Đào Tấn Phần. Kết quả là cả hai không ai lọt vào vòng Hiệp thương của Mặt trận tổ quốc, nhưng sau đó thầy giáo Đào Tấn Phần là giáo viên cấp 3, dạy môn sử hơn 30 năm chuyển qua làm thư viện của trường, với công việc hàng ngày là uống nước trà, đọc báo và trông coi thư viện. Riêng tôi thì thuộc diện “Trên răng dưới bình xăng” làm ruộng, chăn bò nên chẳng còn gì để mà trù dập.

Tóm lại, nếu ai đó muốn ra tự ứng cử đại biểu Quốc hội với tham vọng làm một đại biểu Quốc hội để được ban phát bổng lộc, chức quyền, danh vọng thì không nên. Nếu tự ứng cử vì mục đích muốn thực hiện quyền ứng cử của một công dân theo hiến định và muốn mọi người dân nhận thức được rằng quyền ứng cử là quyền căn bản của mỗi người dân thì hãy ra ứng cử.

Võ An Đôn

 

Đôn An Võ's photo.

  ——

TÔI TIẾP TỤC ỨNG CỬ QUỐC HỘI

Võ An Đôn

11-2-2016

Theo qui định của pháp luật thì công dân từ đủ 21 tuổi trở lên có quyền ứng cử đại biểu Quốc hội, nhưng thực tế bầu cử Quốc hội ở Việt Nam chỉ là trò diễn kịch của giới cầm quyền, người dân khó mà lọt vào sân chơi độc quyền này.

Tôi là người tự ứng cử đại biểu Quốc hội đầu tiên ở tỉnh Phú Yên. Năm 2011, tôi nộp đơn xin tự ứng cử đại biểu Quốc hội khóa 13, sau khi tôi nộp đơn tự ứng cử được 10 ngày, thì có thầy giáo Đào Tấn Phần, giáo viên dạy sử, Trường cấp ba Trần Quốc Tuấn cũng nộp đơn tự ứng cử cùng tôi.

Theo qui định thì người muốn ứng cử đại biểu Quốc hội phải trải qua năm bước: thứ nhất là nộp đơn xin tự ứng cử, thứ hai là lấy phiếu tín nhiệm tại nơi cư trú, thứ ba là lấy phiếu tín nhiệm tại nơi làm việc, thứ tư là hiệp thương tại Mặt trận tổ quốc tỉnh (bước này được xem là cửa ải khó vượt qua của người tự ứng cử), thứ năm là được vào danh sách bỏ phiếu bầu cử đại biểu Quốc hội.

Năm 2011, khi lấy phiếu tín nhiệm tại nơi cư trú, tôi được 100% người dân địa phương ủng hộ, sau đó lấy phiếu tín nhiệm tại nơi làm việc là Đoàn luật sư, tôi cũng được 100% tín nhiệm.

Đến khi hiệp thương tại Mặt trận tổ quốc tỉnh thì tôi bị loại, không được lọt vào danh sách bỏ phiếu bầu cử đại biểu Quốc hội (Khi tổ chức lấy phiếu tín nhiệm tại nơi cư trú và tại Đoàn luật sư thì tôi được mời tham dự, nhưng khi tổ chức hiệp thương tại Mặt trận tổ quốc tỉnh thì tôi không được mời tham dự, nghe những người tham dự kể lại là họ đấu tố và nói xấu tôi dữ lắm).

Mục đích tôi tự ứng cử đại biểu Quốc hội lần trước và lần này không phải là tôi muốn làm đại biểu Quốc hội để được hưởng nhiều bổng lộc ban phát, mà tôi muốn thực hiện quyền ứng cử của một công dân theo hiến định và muốn mọi người dân nhận thức được rằng bầu cử Quốc hội chỉ là trò diễn kịch với vở kịch vụng vờ, lộ liễu, lâu năm đã lỗi thời.

Dù biết trước rằng 99,99% người tự ứng cử đại biểu Quốc hội sẽ bị loại, nhưng tôi vẫn tiếp tục nộp đơn tự ứng cử đại biểu Quốc hội khóa 14 sắp tới.  Mong tất cả mọi người hãy ủng hộ tôi !

———————————-

TÔI ĐÃ TỪNG ỨNG CỬ QUỐC HỘI NHƯ THẾ NÀO ?

Võ Đắc Danh

11-2-2016

Cách nay 16 năm, tôi phanh phui hai vụ tham nhũng lớn xảy ra tại công ty dược và công ty dịch vụ thương mại Cà Mau. Kết quả là hàng loạt đương sự ra tòa, trong đó hai vị giám đốc lãnh án tù chung thân, ông Lê Công Nghiệp, chủ tịch tỉnh và một số ủy viên thường vụ tỉnh ủy Cà Mau mất chức. Bộ chính trị điều anh Chín Nhỏ, bí thư tỉnh Trà Vinh về làm bí thư tỉnh Cà Mau.

Lúc bấy giờ, tôi từ báo ảnh Đất Mũi chuyển về làm đại diện cho báo Người Lao Động tại miền tây. Trong mối quan hệ với tôi, anh Chín Nhỏ cũng như nhiều quan chức khác ở Cà Mau vừa tỏ ra dè chừng, vừa tỏ ra thân thiện, họ xem tôi như một tên sát thủ. Riêng với đồng bào Cà Mau, tên tuổi tôi nổi như cồn, ai có việc gì oan ức cũng tìm đến tôi nhờ can thiệp.
Ở Cần Thơ, tôi quan hệ thân thiết với anh em văn phòng đại diện của các báo. Một hôm đang ngồi nhậu với nhau, bỗng dưng một đồng nghiệp đề nghị tôi ra ứng cử quốc hội, rồi cả bàn nhậu ủng hộ theo. Trong lúc ngà ngà say, tôi bấm điện thoại gọi cho anh Chín Nhỏ, nói kỳ nầy em ra ứng cử quốc hội nghen anh Chín. Anh Chín cười nói tao ủng hộ mầy hai tay. Khoản mười phút sau, ảnh gọi điện bảo tôi sáng mai đến ban bầu cử ký vài thủ tục, ảnh đã nói chuyện với bên đó rồi.
Sáng hôm sau tĩnh rượu, tôi thấy mình vô duyên, định rút lại ý kiến với anh Chín. Nhưng mấy người bạn đồng nghiệp nói không được, đây là câu chuyện nghiêm túc, làm vậy anh Chín nói mầy đùa với ảnh.
Thôi thì lỡ rồi, chơi luôn.
Tuần sau, họ xếp tôi chung liên danh với anh Nguyễn Đức Triều và anh Bùi Công Bữu. Anh Triều là ủy viên trung ương đảng, chủ tịch hội nông dân Việt Nam, anh Bửu là phó bí thư tỉnh ủy Cà Mau, còn tôi ngoài đảng lại là người tự ứng cử, làm kẻ lót đường cho hai anh kia là cái chắc rồi.
Thế nhưng ván bài lật ngược, đi ra mắt cử tri tới đâu bà con bày tỏ sự ủng hộ tôi tới đó, họ nói trong ba vị ứng cử viên, vị nào cũng xứng đáng, đặc biệt là nhà báo Võ Đắc Danh đã dũng cảm chống tham nhũng, chống lại bất công và luôn luôn đứng về phía dân nghèo, họ phô tô hàng chục bài báo của tôi rồi chuyền tay nhau đọc. Trong bài phát biểu ra mắt cử tri, anh Triều và anh Bửu hứa hẹn lung tung, rằng nếu tôi đắc cử tôi sẽ làm thế nầy thế nọ. Riêng tôi, tôi nói với bà con rằng tôi không dám hứa gì cả, bởi cơ chế của nhà nước ta là cơ chế dân chủ tập trung, mọi quyết sách liên quan đến quốc kế dân sinh đều do tập thể quyết định, cá nhân một đại biểu quốc hội chẳng quyết định được gì nên tôi không dám hứa. Chỉ có điều, nếu tôi trở thành đại biểu quốc hội thì những bức xúc của bà con, nếu không chuyển tải được trên diễn đàn báo chí thì tôi có thể chuyển đến diễn đàn quốc hội. Còn nếu tôi không đắc cử thì tôi vẫn là nhà báo như tôi đã từng làm báo.
Đi đến đâu, sau phát biểu của tôi, bà con vỗ tay dồn dập.
Mấy ngày sau, một cán bộ văn phòng tỉnh ủy cho tôi biết, anh Triều đến than với anh Chín Nhỏ rằng chúng ta đã sai nước cờ, lợi thế thuộc về NÓ hết rồi.
Đêm trước bầu cử, tôi nhận được nhiều cú điện thoại của mấy anh bí thư chi bộ khóm ấp, họ than căng quá anh ơi, tôi vừa nhận được chỉ thị mật rằng tổ bầu cử nào để cho anh trúng cử thì bí thư chi bộ trên địa đó phải chịu kỷ luật đảng. Tôi gọi điện thoại cho anh Chín Nhỏ nói vui rằng anh sửa nước cờ nầy coi bộ khó quá hả anh Chín, mấy anh bí thư chi bộ khóm ấp giờ đang run như cua nướng trước chỉ thị khẩn cấp và tối mật của anh. Bị lộ tẩy, anh Chín ấp úng nói, coi chừng chúng nó tuyên truyền đó mầy ơi.
Mười giờ đêm ấy, sau kết quả kiểm phiếu, tôi gọi điện cho anh Chín Nhỏ nói em chúc mừng anh, ảnh hỏi chúc mừng gì mậy, tôi nói chúc mừng anh đã đạt được mục đích dù phải đối phó hơi cực với sự sai lầm của một ván cờ. Anh Chín cười gượng nói, mọi chuyện mầy đã biết hết rồi, chiều mai năm giờ mầy chạy qua tao.
Chiều hôm sau đúng giờ tôi sang nhà công vụ của anh, thấy anh bày sẵn một dĩa thịt chó nướng và một cái lẩu chó nấu măng. Chỉ có hai anh em. Vừa ngồi xuống bàn, anh vừa rót chivas vừa nói, mầy thông cảm cho tao, anh Triều là ủy viên trung ương đảng do ở ngoải gởi vô, nếu để ảnh rớt thì tao biết ăn nói sao với BCT, còn thằng Bửu là phó bí thư tỉnh ủy, nếu để nó rớt thì còn uy tín đâu để nó lãnh đạo cái đảng bộ nầy, còn mầy, nếu không vào được quốc hội thì mầy vẫn là nhà báo như mầy đã tuyên bố khi ra mắt cử tri.
Tôi nói thôi chuyện đó cho qua, giờ nhậu đi anh, chỉ cần anh chịu thiệt như vậy là đủ rồi.
*
Đêm qua nhậu ở bờ kè, lại có mấy người bạn gợi ý tôi ra ứng cử quốc hội. Xin thôi, để tôi bình yên mà nuôi chim yến.

————————

Đôn An Võ's photo.
Đôn An Võ's photo.

Posted in Bầu cử Ứng Cử Tự Do- Kêu Gọi Thể Chế Dân Chủ -, Chinh Tri Xa Hoi, Luật Pháp, Lưu manh đỏ | Leave a Comment »

►Những chiếc bánh vẽ ma mị

Posted by hoangtran204 on 13/02/2016

pobrane (1)

Năm mới mọi người đều muốn đổi mới theo sự xoay vần của Đất Trời. Nên đổi mới là mong được tốt đẹp hơn chứ không phải xấu hơn. Như Đông tàn thì Xuân đến. Đảng CSVN cũng vậy, đặc biệt là sau Đại hội 12 được tổ chức trong những ngày áp Tết vừa qua. Nhưng họ đổi mới, đổi cũ hay ma mị?

Trước kia, ông Thủ tướng Võ Văn Kiệt thấy đường lối kinh tế “tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên CNXH” đang thực hiện bị bế tắt, cả nước rơi vào cùng khốn, nên vội vã xé rào, chạy theo Kinh tế Tư bản để cứu chế độ, đánh tráo tên gọi thành Kinh tế Thị trường mà vẫn chưa yên tâm, sau đó phải thêm cái đuôi “theo định hướng XHCN” để tự ca ngợi thành quả. Cái gọi là Đổi mới!

Với người miền Bắc lúc đó thì đúng là Đổi mới. Vì từ nghèo đói, lạc hậu, mơ ước đơn giản chỉ là 3 Đ (đổng, đài, đạp) bỗng dưng có của ăn của để, đó là chưa nói đến việc cướp đoạt trắng trợn tài sản trong Nam ồ ạt chở ra Bắc. Nhờ đó đảng CSVN tự ca ngợi mình. Người miền Bắc cũng hùa theo “biết ơn đảng” vì “đảng là quang vinh, tài tình và sáng tạo, là đỉnh cao trí tuệ”!

Với người miền Nam thì từ trước đã sung túc và Tự do cho dù bị chiến tranh tàn phá khốc liệt vì có nền tảng là Kinh tế Tư bản. Nhưng sau ngày 30/4/1975 từ sung túc bỗng bị tán gia bại sản nhanh chóng chỉ vì đường lối Kinh tế XHCN. Rồi từ tán gia bại sản lại gượng đứng dậy nhờ “cởi trói”! Do đó Đổi mới với người miền Nam là Đổi cũ (quay trở lại thời Kinh tế Tư bản)

Nhìn tổng thể tiến trình từ lúc đảng CSVN khởi động chiến tranh tàn phá miền Nam với chiêu bài “chống Đế quốc Mỹ xâm lược”, “chống Mỹ Ngụy và bọn Tư Bản Bóc lột” vì “Kinh tế Tư bản là con đỉa 2 vòi, một vòi hút máu nhân dân lao động trong nước, một vòi hút máu nhân dân lao động nước ngoài” mà cái giá phải trả là từ 3, 4 hay 5 triệu người Việt Nam chết thảm, đặc biệt là thế hệ trẻ của cả 2 miền Nam Bắc (!) thì rõ ràng đây chỉ là một vòng tròn khép kín đầy oan nghiệt!

Từ khởi điểm của chiếc vòng kim cô nầy cho đến khi kết thúc là xương máu vung vãi mà mãi 46 năm sau, thân nhân của những người sinh Bắc tử Nam vẫn mong ngóng kiếm tìm hài cốt trong vô vọng!

Ngày đó con em họ vô Nam để tiêu diệt bọn “Tư bản Bóc lột” thì ngày nay bọn “Tư bản Bóc lột” đó đang là Độc quyền Tư bản Đỏ Bóc lột!

Và vì Độc quyền nên mức độ bóc lột còn tàn nhẫn hơn những gì mà lý thuyết cộng sản đã tuyên truyền suốt thế kỷ 20.

Tại sao phải hy sinh sinh mạng của người Việt Nam vô lý và nghiệt ngã đến như thế?

Đại hội 12 mới vừa kết thúc đang là khởi điểm mới mà vận mạng đất nước và dân tộc có thể sẽ phải đối diện càng cay nghiệt hơn trước!

Vì phe cánh cộng sản miền Nam đang bị tước bỏ quyền lực một cách thâm hiểm, khác với cách loại bỏ Mặt trận Giải phóng miền Nam ngay sau khi “Thống nhất”, với một câu ngắn gọn: “Mặt trận giải phóng miền Nam đã hoàn thành sứ mạng lịch sử”, cho dù suốt trong thời chiến cộng sản miền Bắc không bao giờ dám xác nhận MTGPMN chỉ là tay chân của họ.

Bây giờ, ngay trước khi tiến hành Đại hội 12, chính ông Nguyễn Phú Trọng đã công khai xác nhận là chức vị Tổng Bí thư phải thuộc về người miền Bắc, dù thực tế xảy ra đã được hiểu ngầm như thế từ lâu! Nhưng giữa hiểu ngầm và công khai xác nhận rất khác nhau, nếu không muốn nói là khác nhau xa.

Sự xác nhận của ông Tổng Bí thư đã cho biết là dù đã trãi qua 40 năm “thống nhất” nhưng người miền Bắc luôn luôn nghi kỵ người miền Nam. Vì thế người miền Bắc phải là bộ não, sử dụng người miền Nam là tay chân. Như đã sử dụng Mặt trận Giải phóng miền Nam! Nói câu đó xuất phát ngay trước thềm Đại hội 12 chính là một Thông điệp: Đảng viên gốc miền Bắc phải biết sử dụng lá phiếu của mình để bầu cho người miền Bắc!

Vì thế chuyện người Bắc thống trị đất nước không còn là “tuyên truyền của bọn diễn biến hòa bình”, không còn là “chủ trương gây chia rẽ khối đoàn kết dân tộc của thế lực thù địch” mà chính là chủ truơng của đảng CSVN hiện tại!

Đồng thời, theo tin tức chưa được kiểm chứng trên Facebook cho biết, là các giới chức Trưởng công an các thành phố, quận, huyện đến xã ấp từ Khánh Hòa trở vô Nam đều do người miền Bắc nắm giữ! Trong khi đó không hề có bất cứ Trưởng công an nào là người miền Nam được giao nhiệm vụ ở phía Bắc!

Tất cả những con số trần trụi đó tự nó không biết tuyên truyền. Chỉ nói lên sự thật.

Như vậy thì hy vọng gì từ sau Đại hội 12?

Và tại sao người Việt Nam cứ mãi sống trong hy vọng?

Đảng CSVN hy vọng thì đúng. Vì họ thiện nghệ việc dùng chiêu bài. Như chiêu bài chống tham nhũng là cách ma mị tốt nhất để xoa dịu sự căm phẫn với hy vọng kéo dài được tuổi thọ của chế độ. Do đó các lãnh đạo và báo chí cùng nhau đề cập việc chống tham nhũng, như là ưu tiên số một, nhưng thực chất chỉ sáo rỗng. Vì cội nguồn của tham nhũng vẫn còn trơ trơ đó.

Đó là vì đảng độc quyền lãnh đạo.

Còn với người dân, là nạn nhân bị bóc lột, thì chống tham nhũng được coi như một nhúm cỏ treo trước đầu ngựa để họ hy vọng. Vì chỉ có hy vọng mới giúp họ có sức chịu đựng.

Gắng sức chịu đựng để tồn tại!

Người tù hy vọng sẽ được minh oan. Người nông dân bị cướp đất hy vọng sẽ tìm được công lý. Người công nhân bị bóc lột hy vọng rồi sẽ vươn lên. Người dấn thân tranh đấu cho Tự do Dân chủ, bị tù ngục, hy vọng chính sự giam cầm phi pháp họ một ngày nào đó sẽ biến thành lửa cách mạng bùng lên…

Như vậy người Việt Nam đã được đảng cho “ăn” bao nhiều miếng bánh vẽ có tên là Hy Vọng?

Ông Võ Văn Kiệt muốn cứu đảng khỏi bị sụp đổ nên phải Đổi mới theo Tư bản. Theo Tư bản là vứt bỏ đi xương máu của 3, 4 triệu người bị hy sinh oan uổng trong cuộc chiến huynh đệ tương tàn. “Chống Đế quốc xâm lược, chống Tư Bản bóc lột”!

Ông Nguyễn Văn Linh “cởi trói”! Dùng 2 chữ “cởi trói” là tự xác nhân người dân đã bị trói. Đã bị gông cùm. Nên được cởi trói thì hí hửng! Vì cởi trói là tự do. Nhưng dây nhợ cởi trói chưa kịp quăng vào thùng rác lịch sử đã vội vã trói trở lại. Tranh thủ được thời cơ cởi trói ngắn ngủi, giới văn bút có ngay được vài tác phẩm dám đào sâu vào thực trạng phân hóa cùng cực trong xã hội sau chiến tranh. Bây giờ những tác phẩm đó được ca ngợi như là “thành quả”, trong khi nếu sống dưới chế độ Tự do thì đó chỉ là chuyện rất bình thường, chẳng có gì mà ầm ĩ.

Nhưng hiện tại đã khác. Nhờ vào tiến bộ kỹ thuật vượt bậc của nhân loại, tự nó luồn lách được vào Việt Nam, như nước luồn vào khe hở. Internet đã là cơn bão dữ làm sụp đổ mọi bức tường bưng bít kiên cố nhất mà các chế độ độc tài vô phương chống đỡ. Do đó khi không thể bưng bít được nữa thì phải nương theo chiều gió để thổi vào dư luận.

Đó là đảng đang có tư duy mới (!) để người dân hy vọng.

Vì thế những ngày vừa qua đã có vài phát biểu của vài chức sắc lớn chế độ mang hơi hướm thời đại. Và những phát biểu đó tức khắc được ca ngợi. Ca ngợi đồng nghĩa là chờ đợi với hy vọng mới!

Như thế, cho dù chỉ là chiếc bánh vẽ nhưng vẫn còn có tác dụng!

Vì thế câu hỏi cần đặt ra là tại sao cứ mãi chờ đợi trong hy vọng?

Vì Tự do không thể tự nhiên mà có. Vì Hạnh phúc không thể tự nhiên mà có. Tự do, Hạnh phúc có được phải do nỗ lực thực hiện chứ không phải ngồi chờ được ban phát!

Vì, đó không phải là một món quà!

Ví dụ như những chiếc bánh vẽ to lớn thời ông Nguyễn Tấn Dũng còn đình đám trong vai trò Thủ tướng. Như Thông điệp đầu năm 2 năm về trước, nói về tính đa nguyên đa đảng là “xu thế thời đại”! Rồi những phát biểu chống Tàu cộng nẩy lửa tại diễn đàn quốc tế như “không có thứ hữu nghị viển vông”… tất cả vẫn còn vang vọng đó ấy thế mà Quốc Hội Việt Nam lại mời và tiếp đón long trọng Tập Cận Bình (kẻ chủ trương nuốt trọn biển Đông, bắn giết ngư dân Việt và công khai đưa giàn khoan HD 981 vào trong hải phận Việt Nam bất chấp công luận) đến trụ sở Quốc Hội đọc diễn văn!

Mùa Xuân là mùa của Hy Vọng nhưng liệu người Việt Nam có còn mê hoang với những chiếc bánh vẽ mang tên Hy Vọng? Những chiếc bánh mà đảng CSVN đã liên tiếp “mời ăn” suốt từ hơn 2/3 thế kỷ cho đến tận bây giờ!

(Feb 11th, 2016)

© Kông Kông

© Đàn Chim Việt

Posted in Chinh Tri Xa Hoi, Đảng viên đấu đá tranh giành chức vị, Độc quyền lãnh đạo | Leave a Comment »

►Nhìn tuyết nhớ Ba Sàm

Posted by hoangtran204 on 13/02/2016

11-2-2016

Một nền báo chí mà không có tiếng nói phản biện và những phân tích độc lập, thì phải nói là một nền báo chí buồn chán, nếu không muốn nói là một nền báo chí chết lâm sàng.

Nguyễn Văn Tuấn

Mới đầu năm/đầu tháng mà blogger Nguyễn Văn Tuấn đã nói chuyện chết chóc (nghe) thấy ghê chết mẹ:

Theo dõi báo chí chung quanh sự kiện Đại hội đảng CSVN, tôi thấy nền báo chí bên nhà (hình như gọi là “báo chí cách mạng”) thật là u ám. Thuở đời nay một sự kiện tương đối quan trọng và có ảnh hưởng đến tương lai đất nước, mà báo chí không hề có một bài bình luận chung quanh sự kiện. Không hề có một bài phân tích các ứng viên. Không có tranh luận công khai. — đành rồi. Nhưng cũng chẳng có một diễn thuyết nào của bất cứ một ứng viên nào về viễn kiến và tương lai của đất nước.

Thay vào đó là những cái tít mang tính thông cáo hơn là phân tích, như “Hôm nay bầu Bộ Chính trị, Tổng bí thư khoá mới”, “Nhiều ủy viên Bộ Chính trị được giới thiệu tái cử”, rồi giả bộ “Trung ương giới thiệu ông Nguyễn Xuân Phúc làm Thủ tướng” hay “Trung ương giới thiệu ông Nguyễn Phú Trọng ở lại làm Tổng Bí thư” trong khi báo lề trái ai cũng đã tỏ tường!

Một nền báo chí mà không có tiếng nói phản biện và những phân tích độc lập, thì phải nói là một nền báo chí buồn chán, nếu không muốn nói là một nền báo chí chết lâm sàng.

Làm gì có chuyện “phản biện” và “phân tích độc lập” tại Việt Nam, hả Trời? Ở xứ sở này, tuyết mà còn phải rơi đúng lề và đúng hướng luôn đó nha – theo như tin loan của TTXVN:

Sáng 24/1 tại Sa Pa, băng tuyết đã phủ trắng thị trấn kéo dài từ khu vực Trạm tôn đến địa phận xã Trung Chải dài khoảng 25km, độ dày tuyết phủ có nơi lên tới 10cm.

Du khách thích thú ngắm tuyết rơi tại Sa Pa. Chùm ảnh: Lê Phú.

Theo quan sát của phóng viên, hiện tuyến đường 4D từ thành phố Lào Cai đi Lai Châu, giao thông đi lại khó khăn một phần do tuyết trơn, một phần do lượng người và các phương tiện đổ xô lên Sa Pa ngắm tuyết rơi quá đông, gây tắc nghẽn cục bộ nhiều đoạn. Đặc biệt lưu ý đối với những du khách di chuyển bằng phương tiện xe hơi cá nhân nên di chuyển chậm tránh những đoạn đường xấu bị băng tuyết đóng dày khá nguy hiểm.

Hiện chính quyền địa phương đã huy động tối đa lực lượng cảnh sát giao thông, công an xã tham gia giữ trật tự an toàn giao thông để hướng dẫn các phương tiện, nhất là những du khách đến từ các tỉnh xa.

Ai ai cũng muốn lưu lại cho mình một tấm ảnh đẹp giữa trời tuyết trắng. Chùm ảnh: Lê Phú.

Bên lề kia, lề trái – còn gọi là lề dân, hay Thông Tấn Xã Vỉa Hè – cảnh tuyết rơi (hơi) khác.

JB Nguyễn Hữu Vinh:

Những ngày cuối đông này, khi thời tiết Tây Bắc giá lạnh đến mức đổ tuyết, đóng băng với nhiều hình ảnh thương tâm, chúng tôi đã đến thăm một xóm nhỏ người H’Mông tại Tây Bắc.

Câu chuyện được kể qua hình ảnh.

– Nông Đức Giỏi:

Thời tiết khắc nghiệt, nhiều nơi khí hậu xuống dưới 0 độ, tuyết rơi dầy đặc khiến cho trâu bò lợn gà chết hàng loạt, hoa màu tan nát, trẻ em ko có đủ tấm áo ấm để mặc đến trường, tấm chăn ấm để đắp… Cuộc sống của người dân vốn vất vả, thiếu thốn trăm bề nay năm hết tết đến rồi lại trở nên cơ hàn hơn.

Ấy vậy mà ở đâu đó cs tốt đẹp hơn, một bộ phận giới trẻ lại tỏ ra rất hào hứng, phấn khích với hiện tượng thiên nhiên khắc nghiệt đó và hò reo nhau bỏ tiền bỏ của, bỏ công bỏ việc, bỏ học hành đi để…ngắm, để cười đùa thỏa thích bên cạnh những gương mặt khắc khổ cơ hàn.

Thiết nghĩ nếu các bạn ấy thấu hiểu được nỗi đau của đồng loại, cũng với chuyến đi đó, cũng với tinh thần đó nhưng là đi để hỗ trợ, giúp đỡ cho đồng bào mình dù chỉ là manh áo cũ, tấm chăn mỏng hay vài đôi dép cho con đường đến trường của các em nhỏ bớt lạnh hơn,…chắc hẳn chuyến đi của các bạn sẽ ý nghĩa hơn và tình người cũng sẽ ko bị rơi theo những bông tuyết lạnh giá ấy!

Cảnh “thương tâm” ở Tây Bắc (“trâu bò lợn gà chết hàng loạt, hoa màu tan nát, trẻ em ko có đủ tấm áo ấm để mặc đến trường, tấm chăn ấm để đắp”) có thể làm mờ nét “ưu việt” của XHCN nên không thể lọt vô ống kính của nhà báo thuộc Thông Tấn Xã Việt Nam. Họ tác nghiệp có định hướng mà.

Cũng vì cái “hướng” này nên, đôi lúc, “các nhà báo cách mạng” của ta đã đi quá xa sự thực. Cách đây chưa lâu, TTXVN đi tin tỉnh rụi:

Việt Nam đối thoại thành công về chống phân biệt chủng tộc.

Trong các ngày 21 – 22.2, tại Ủy ban Công ước chống phân biệt chủng tộc (CERD) ở thành phố Geneva (Thụy Sĩ), đoàn đại biểu Chính phủ Việt Nam và Ủy ban Công ước chống phân biệt chủng tộc đã có hai phiên đối thoại rất bổ ích, cởi mở và thẳng thắn về báo cáo của Việt Nam thực hiện Công ước quốc tế xóa bỏ mọi hình thức phân biệt chủng tộc giai đoạn 2000-2009.

Ông Hà Hùng, Thứ trưởng, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc, Trưởng đoàn đại biểu Chính phủ Việt Nam cho biết, đoàn Việt Nam đã trả lời hơn 40 câu hỏi của các thành viên Ủy ban Công ước chống phân biệt chủng tộc, xoay quanh vấn đề đảm bảo các quyền của người dân tộc thiểu số do công ước quy định. Nhiều câu hỏi đề cập đến các biện pháp xóa đói giảm nghèo, phát triển kinh tế xã hội cho người dân tộc thiểu số trong thời gian tới, những khó khăn thách thức khi thực hiện các chương trình, chính sách cho họ, việc bảo tồn văn hóa các dân tộc thiểu số trong hội nhập kinh tế và hiện đại hóa, giáo dục…

Cùng sự kiện trên nhưng BBC và VOA loan tin khác hẳn.

BBC: VN bị chất vấn về chính sách dân tộc.

VOA: Việt Nam bị chỉ trích tại phiên họp của Hội đồng Nhân quyền LHQ.

Vụ này khiến blogger Thiên Lý phải vò đầu, bứt tóc:

“Đọc những tin như thế, người đọc dù IQ thấp cở nào cũng có thể phán đoán tin nào là tin chính xác. Hậu quả là hiện nay báo lề Đảng ngày càng giảm số lượng người đọc, từ dạng báo in cho đến báo mạng…

Nhà báo Nguyễn Công Khế cũng than phiền tương tự: “Tôi thấy chính sách thông tin như hiện nay, ta chỉ từ thua đến thua.”

Thua me gỡ bài cào!

Ta (bèn) bắt giam “đối thủ cạnh tranh” của mình cho… đỡ tức. Một trong những nạn nhân của vụ “gỡ gạc” này là ông Ba Sàm Nguyễn Hữu Vinh và bà Nguyễn Thị Minh Thúy, theo tin của báo Pháp Luật – số ra ngày 10 tháng 5 năm 2014:

Như đã đưa tin, ngày 5/5, Cơ quan An ninh điều tra (Bộ Công an) đã thực hiện lệnh bắt, khám xét khẩn cấp đối với Nguyễn Hữu Vinh và Nguyễn Thị Minh Thúy về hành vi ‘Lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân’.

Khoảng năm 2009, trên mạng Internet lần đầu tiên xuất hiện một trang blog có tên ‘anhbasam’ mà ngay khi vừa xuất hiện, trang blog này đã thu hút sự chú ý của nhiều người thường xuyên truy cập Internet, thậm chí có ngày đã đạt lượng truy cập hàng trăm nghìn lượt…”

Chính vì trang “anhbasam” có “hàng trăm nghìn lượt truy cập” hàng ngày, nên những người điều hành Thông Tấn Xã Vỉa Hè mới bị bắt giam vô thời hạn, không có ngày xét xử. Hôm 13 tháng 1 vừa qua, BBC vừa (buồn bã) cho hay:

Blogger Nguyễn Hữu Vinh bị bắt ngày 5/5/2014 với cáo buộc từ trang thông tin của Bộ Công An là “đã có hành vi đăng tải các bài viết trên mạng Internet nội dung xấu, thông tin sai lệch làm giảm uy tín, mất lòng tin trong nhân dân về cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội, công dân, quy định tại Điều 258 – Bộ Luật Hình sự nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.”

Tòa án Nhân dân TP Hà Nội thông báo hoãn phiên xử ông Nguyễn Hữu Vinh và bà Nguyễn Thị Minh Thúy trong tuần tới “sang một ngày khác”.

Trước đó cũng tòa này thông báo sẽ xét xử blogger Anh Ba Sàm, tức ông Vinh, và bà Thúy vào sáng 19/1, một ngày trước Đại hội Đảng XII. Thời điểm thông báo đã gây ra nhiều đồn đoán về các phe cánh trong Đảng dùng phiên tòa được dư luận chú ý để sát phạt lẫn nhau.

Đại Hội Đảng XII đã qua nhưng phiên toà “xét xử Anh Ba Sàm, tức ông Vinh, và bà Thúy” vẫn tiếp tục bị trì hoãn. Chắc tòa án Nhân dân TP Hà Nội vẫn chưa “nghĩ ra” được tội danh cho hai nhân vật này. Thôi, tôi đề nghị cứ mang họ ra xử (đại) đi. Làm mất hết độc giả của TTXVN cũng là một trọng tội chớ bộ, đúng không?

Tưởng Năng Tiến

 

Posted in Chinh Tri Xa Hoi | Leave a Comment »

►Linh mục Phê-rô Phan Văn Lợi tố cáo: Đảng Cộng sản Việt Nam là một đảng cướp

Posted by hoangtran204 on 13/02/2016

Đảng CSVN, khi nói hay viết về biến cố lịch sử năm 1945, luôn luôn công khai thừa nhận là họ cướp chính quyền.

Linh mục Phê-rô Phan Văn Lợi trả lời phỏng vấn nhà báo Trần Quang Thành

7-2-2016

Lời giới thiệu :

Từ tháng 8/1945 khi cướp được chính quyền, Đảng Cộng sản Viêt Nam đã thực hiện cai trị đất nước bằng nền chuyên chính vô sản – một chế độ độc tài toàn trị khắc nghiệt – Các quyền làm người bị cướp đoat ; các nguồn tài nguyên của đất nước, tài sản của nhân dân bị cướp đoạt. Việt Nam ngày càng lún sâu vào con đường tụt hậu so với các nước trong khu vực và trên thế giới. Đời sống người dân lao động ngày càng khó khăn, cơ cực.

Từ thành phố Huế, Linh mục Phê-rô Phan Văn Lợi đã tố cáo những thủ đoạn cướp đoạt thô bạo của đảng cộng sản và khẳng định Đảng Cộng sản Việt Nam là một đảng cướp. Cuộc phỏng vấn do nhà báo Trần Quang Thành thực hiện. Nội dung như sau – Mời quí vị cùng nghe:

Nhà báo Trần Quang Thành: Thưa linh mục Phan Văn Lợi. Việt Nam ta suốt 70 năm qua đã chịu sự thống trị của đảng CSVN. Ở miền Bắc là 70 năm, ở miền Nam là 40 năm. Người CSVN khi lên cầm quyền ở VN, họ rất tự hào về chuyện họ đã cướp được chính quyền. Chữ “cướp” của họ, họ rất tự hào. Linh mục nghĩ sao về việc “cướp” của đảng CS? Khác thế nào với những việc cướp khác?

Linh mục Phan Văn Lợi: Kính thưa Quý vị, về việc đảng CS tự hào đã “cướp”, chúng ta có nhiều điều để nói. Tôi xin được trình bày qua hai điểm chính. Thứ nhất là nhận xét chung về việc cướp của đảng CS, và thứ hai là đối tượng cướp, tức là đảng CS đã cướp những gì của Dân tộc VN.

I- Nhận xét chung    

– Phạm vi cướp: Thông thường, một đảng cướp có phạm vi hoạt động trong một khu vực nhỏ: một ngôi nhà, một cơ sở, hoặc cùng lắm là một vùng nào đó. Và tức khắc bị nhà cầm quyền trấn áp tiêu diệt. Đảng CS thì khác, nó cướp bóc cả một quốc gia, nó khống chế cả một dân tộc. Tiếng nước ngoài gọi là banditisme international: Hệ thống cướp bóc quốc tế.

– Mức độ cướp: Vì đã cướp được chính quyền và chủ trương toàn trị trong tư cách một nhà cầm quyền, nên đảng CS cướp toàn diện từ vật chất đến tinh thần, từ cá nhân đến tập thể, như ta sẽ thấy dưới đây

– Phương cách cướp: Có 2 phương cách: bạo lực và dối trá, đúng như bản chất của đảng CS.

– Bạo lực hành chánh và bạo lực vũ khí. Bạo lực hành chánh này gồm có những bộ luật tước đoạt các nhân quyền và dân quyền, bộ máy hành chánh địa phương gây khó dễ hay đòi hối lộ, từ khước hay chấp thuận cách tùy tiện. Bạo lực vũ khí có thể là lực lượng trấn áp đông đảo gồm công an, quân đội, dân phòng, côn đồ, với dùi cui, hơi cay, còng sắt, vũ khí, nhà tù.

– Nhồi nhét dối trá và cưỡng bức dối trá. Nhồi nhét dối trá là bịa ra những điều không có thật về lãnh tụ (ví dụ cuốn Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Bác Hồ, của tác giả Trần Dân Tiên vốn là chính ông Hồ), về thành tích của đảng, về đối phương, bịa ra các anh hùng cách mạng (như Lê Văn Tám) để buộc người dân (nhất là giới trẻ) tin theo. Khẩu hiệu “Nghe theo đảng, nói theo đài” là cái mà chúng ta thường nghe nhắc tới. Cưỡng bức dối trá là buộc người dân phải sống trong dối trá, không được nói lên điều mình cảm thấy, điều mình suy nghĩ, sống hai lòng, kẻo phải thiệt hại vào bản thân, vào gia đình.

– Tác giả thiết kế việc cướp: Nhìn cho sâu, sẽ thấy đó là người đã thiết lập chế độ và đảng CS ở Liên Xô, tức Vladimir Illich Lenine, tiếp đó Staline đã khai triển phương cách, thủ đoạn cướp chính quyền, rồi các lãnh tụ Cộng sản tại mỗi quốc gia mà họ nắm quyền.

Đó là những nhận xét chung về việc cướp của đảng CS.

II- Các đối tượng cướp

TQT: Đảng CS đã bộc lộ sự cướp đó từ năm 1945. Linh mục có thể nói rõ hơn về việc đi cướp của đảng CS với chính quyền mà họ nắm ở Việt Nam được không?

PVL: Trong hơn 70 năm ở miền Bắc và 40 năm khắp cả nước, chúng ta thấy đảng CS đã cướp được 7 thứ. Chúng tôi gọi là 7 đối tượng cướp của nhà cầm quyền CS. Số 7 thường chỉ sự trọn vẹn.

1- Cướp quyền lực chính trị bằng quân đội và bằng quốc hội

– Trước tiên là cướp chính quyền từ chính phủ hợp pháp Trần Trọng Kim năm 1945. Điều này, ngày nay ai cũng rõ. Việt Minh cướp chính quyền, buộc chính phủ Trần Trọng Kim phải từ chức và vua Bảo Đại phải thoái vị, để nhường chỗ cho Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh và đảng CS. Sau đó, đảng CS còn thanh toán các đảng phải quốc gia như Việt Nam Quốc dân đảng, đảng Đại Việt (vụ án phố Ôn Như Hầu năm 1946),

– Tiếp đó, cướp chính quyền từ chính phủ hợp pháp VNCH mà cuối cùng là chính phủ Nguyễn Văn Thiệu. Bịa ra danh nghĩa “Chống Mỹ cứu nước” để dốc toàn lực miền Bắc xâm lăng chế độ Việt Nam Cộng hòa tại miền Nam. Trong công cuộc ăn cướp này, có sự trợ giúp của Nga, Tàu và nhiều nước Cộng sản Đông Âu.

– Sau khi cướp toàn bộ đất nước, CS quay sang cướp chủ quyền từ tay nhân dân bằng thể chế tam quyền phân công thay vì tam quyền phân lập. Hành pháp, lập pháp, tư pháp đều là công cụ trong tay đảng. Đảng phân công cho mỗi ngành. Mới đây, đảng họp đại hội lần thứ 12, lại tự tiện chọn trước thủ tướng, chủ tịch nước, chủ tịch quốc hội là những con người mà nhân dân nhìn vào đã thất vọng ngay, thậm chí lo sợ.

– Thiết lập một Quốc hội mà tuyệt đại đa số là đảng viên, qua một cuộc bầu cử độc diễn, giả tạo và cưỡng bức. Quốc hội trở thành đảng hội. Dân biểu trở thành đảng biểu.

2- Cướp sự thật bằng độc quyền thông tin.

– Con người sống, xã hội vận hành nhờ tôn trọng sự thật, nhưng đảng CS lại đoạt hết sự thật. Ngay khi vừa cướp chính quyền ở Hà Nội, thì Việt Minh đã nắm ngay tất cả những phương tiện truyền thông, đài phát thanh, các nhà máy in, các cơ sở sản xuất giấy và buôn bán giấy. Báo Cứu Quốc của mặt trận VM trước đây phát hành bí mật, nay ra công khai từ ngày 24-8-1945. Báo Sự Thật, cơ quan ngôn luận của nhà nước VM, xuất bản số đầu tiên ngày 5-12-1945. Việt Minh thành lập ban chỉ đạo báo chí và văn sĩ, huấn luyện cán bộ tuyên truyền cho chế độ để hướng dẫn quần chúng. Đảng cũng hoàn toàn cấm mọi báo chí khác không phải của đảng (dù của tư nhân hay của tôn giáo). Sau khi xâm chiếm VNCH, đảng cũng làm y như vậy. Ngoài ra đảng còn mở chiến dịch tịch thu thiêu hủy những sách báo của chế độ cũ mà đảng gọi là “văn hóa phản động Mỹ ngụy”, mở chiến dịch tấn công, bắt bớ, bỏ tù những nhà báo, nhà văn mà đảng gọi là “lực lượng biệt kích văn hóa chống chế độ”

– Hiện giờ thì đảng nắm trong tay mọi tờ báo đủ loại (báo in, báo tiếng, báo hình, báo điện tử), quản lý hết mọi tổng biên tập, biên tập viên, phóng viên dưới quyền Ban Tư tưởng Văn hóa Trung ương. Mỗi tuần đều họp các tổng biên tập để ra chỉ thị nói gì, viết gì, không ai được chệch ra ngoài.

– Đảng cướp sự thật bẳng cách trấn áp mọi ai dám tìm hiểu, công bố hay bênh vực sự thật. Bằng nhiều bộ luật và khoản luật về thông tin, về báo chí, về internet, bằng lực lượng công an mạng, bằng dư luận viên cấp cao và cấp thấp vốn nằm trong Hội đồng Lý luận trung ương, Học viện chính trị Hồ Chí Minh hoặc là đám dư luận viên mà mỗi ngày dùng lời lẽ vu khống, tục tằn để tấn công các nhà dân báo trên mạng. Rồi với biện pháp tịch thu sách báo, dựng tường lửa, đánh sập trang mạng, vu không thóa mạ, bắt bỏ tù. Ông Nguyễn Hữu Vinh (Anh Ba Sàm), ông Nguyễn Ngọc Già là vài ví dụ tiêu biểu.

– Đảng cũng cướp sự thật bằng cách tước đoạt máy ảnh, máy quay, máy vi tính của công dân, để phi tang mọi dấu vết. Thông tư của Bộ Công an do đích thân Bộ trưởng Trần Đại Quang, người mới được đề cử làm Chủ tịch, ký tháng trước, quy định các nhiệm vụ, quyền hạn, hình thức, nội dung tuần tra, kiểm soát giao thông đường bộ của cảnh sát giao thông. Theo thông tư đó thì cảnh sát giao thông từ ngày 15/2 “có quyền kiểm tra giấy tờ của người ngồi trên phương tiện đang bị kiểm soát”, và “được trưng dụng các loại phương tiện”. Một điểm gây tranh cãi nhất trong thông tư là đoạn nói cảnh sát giao thông “được trưng dụng các loại phương tiện giao thông, phương tiện thông tin liên lạc; các phương tiện, thiết bị kỹ thuật khác của cơ quan, tổ chức, cá nhân và người điều khiển; sử dụng các phương tiện, thiết bị đó theo quy định của pháp luật”. Công luận cho rằng các cảnh sát từ đây sẽ “thủ tiêu” một cách hợp pháp các bằng chứng về hành vi ăn hối lộ mà người dân quay lén bằng cách “trưng dụng” điện thoại của họ. Từ “trưng dụng” này chất chứa rất nhiều ý nghĩa.

Trên đây là nói về những thông tin thời sự, sự thật thường ngày. Nhưng đảng CS cũng cướp sự thật lịch sử bằng cách bóp méo, xuyên tạc những sự kiện lịch sử mà đảng thấy không có lợi cho mình hoặc bịa đặt những điều mà đảng thấy hữu ích cho quyền cai trị của đảng. Việc này được thực hiện trong các sách nghiên cứu sử hay giáo khoa sử. Thế nhưng nó đã gây phản tác dụng là chẳng nhà nghiên cứu nghiêm túc nào sử dụng tài liệu của đảng và hầu hết học sinh, sinh viên, thầy giáo đều khinh môn học sử, chê giáo khoa sử.  

3- Cướp tinh thần (tâm hồn) giới trẻ bằng độc quyền giáo dục

Đảng chủ trương giáo dục giới trẻ không thành những công dân ý thức, tự do, độc lập và trưởng thành nhưng thành những thần dân ngoan ngoãn, mù quáng và nô lệ. Ngoan ngoãn nghe lời đảng và mù quáng đi theo đảng, Đảng chủ trương hồng hơn chuyên, nặng về chính trị hơn văn hóa. Ngay từ nhỏ, trẻ đã được dạy thói quen gian dối và lừa đảo, kỹ năng theo dõi và báo cáo, khuynh hướng báo thù và bạo lực. Điều này ai cũng thấy rõ.

Việc cướp tinh thần giới trẻ còn thể hiện qua việc đoàn thể hóa giới trẻ bằng đội thiếu nhi Tiền phong, đoàn thanh niên Cộng sản, để vừa nhồi sọ, vừa cưỡng tâm những tâm hồn trẻ trung đó.

Rồi qua việc đảng viên hóa những nhà quản lý giáo dục và những lãnh đạo giáo dục (tức các hiệu trưởng) để họ luôn chấp hành đường lối giáo dục của đảng. Ngoài ra đảng còn làm băng hoại lương tâm và đức hạnh của các cô thầy. Bệnh thành tích, nạn đổi tình hay đổi tiền lấy điểm, não trạng cấm cản học sinh sinh viên biểu tình yêu ước, phê phán chế độ, đòi hỏi dân chủ… là những ví dụ.

Cướp tinh thần giới trẻ bằng cách hính trị hóa sách giáo khoa, nhất là các môn sử, văn và công dân, để giới trẻ chỉ thấy đảng là đạo đức văn minh, là thiên tài kiệt xuất, đỉnh cao trí tuệ, “bác Hồ” là nhân vật xuất chúng, tâm gương thập toàn, vĩ nhân số một của lịch sử Việt Nam.

Đảng còn xuyên tạc Việt sử là một lịch sử chống Tàu, và có âm mưu xóa dần môn sử để làm cho giới trẻ không còn lòng yêu nước thương nòi, lòng tự hào dân tộc, lòng quý chuộng các tổ tiên anh hùng, nhất là để dễ dàng chấp nhận việc Việt Nam lệ thuộc Tàu, sát nhập vào Tàu.

4- Cướp lương tâm con người và đạo đức xã hội bằng cách tạo ra một văn hóa mới và một bầu khí vô thần.

– Đảng đẻ ra một thứ văn hóa riêng của chế độ gọi là văn hóa xã hội chủ nghĩa. Nguyễn Khoa Điềm, từng đứng đầu ban Văn hóa Tư tưởng trung ương, có đưa ra khái niệm “văn hóa đảng” (từ đó đẻ ra thêm “làng văn hóa”, “khu phố văn hóa”, “gia đình văn hóa”. Từ nhiều năm nay, đảng phát động chủ trương tôn thờ lãnh tụ, thần thánh hóa Hồ Chí Minh, đặt tượng ông ta trong nhiều đình chùa, bên cạnh các thành hoàng, các anh hùng dân tộc. Thậm chí còn gọi vong linh của ông, chiêm bái thờ lạy ông như một vị Phật (đạo bác Hồ!).

– Đảng tạo ra một thứ đạo đức riêng của chế độ, gọi là đạo đức cách mạng (từ ngữ này phát xuất từ chính ông Hồ). Thứ đạo đức có có hai nguyên tắc chủ yếu: (1) mọi cái gì có lợi cho cách mạng, cho đảng đều là chân, thiện, mỹ, dù trong thực chất có thể là dối trá, ác tà, xấu xa, đê tiện; (2) cứu cánh biện minh cho phương tiện, nên có thể dùng những cách thức vô đạo đức nhất để tiến đến mục tiêu.

– Đảng tìm cách tiêu diệt các tôn giáo bằng bạo lực hành chánh hay bạo lực vũ khí, làm cho tôn giáo biến mất sự hiện hữu hay biến mất bản chất của mình, biến các lãnh đạo tinh thần hoặc thành những công cụ tuyên truyền, hoặc thành những tác nhân thỏa hiệp, hoặc thành những chậu kiểng trang trí, hoặc thành những con chó câm (nói theo kiểu Công giáo, tức là có nhiệm vụ sủa lên để báo động, nhưng lại không sủa). Đảng tìm cách tạo ra những khu vực hoàn toàn vắng bóng tôn giáo, đặc biệt tại những vùng sâu vùng xa, nơi các bản làng dân tộc thiểu số, hoặc tại khu đô thị mới Thủ Thiêm chẳng hạn. Xóa hết, không cho có chùa nào, nhà thờ nào, dòng tu nào hiện diện. Để những nơi đó chỉ còn ý của đảng, luật của đảng điều khiển lương tâm và xã hội.

5- Cướp tài nguyên quốc gia bằng độc quyền sở hữu đất đai và ưu đãi kinh tế nhà nước.

– Đảng đặt ra nguyên tắc hết sức bất công và man rợ: “Tài nguyên đất đai thuộc sở hữu của nhà nước”, nhân dân chỉ có quyền sử dụng. Cán bộ địa phương, đảng viên sở tại dùng chiêu bài quy hoạch để tước đoạt đất đai mà nông dân giữ từ bao đời, để chia chác cho nhau hoặc bán đứt hay cho người ngoại quốc thuê mướn. Cưỡng chế bằng bạo lực, bồi thường kiểu giết dần mòn, tức là dùng công an, côn đồ để cướp lấy, đánh đập, áp chế người đang giữ đất đai; sau đó thí cho một số tiền bồi thường không đủ để họ tiếp tục sống, thậm chí không đủ để mua một mảnh đất mới, một ngôi nhà mới.

Cướp tài sản còn bằng cách bóc lột công nhân với mức lương rẻ mạt (lương công nhân VN vào hạng rẻ nhất thế giới), rồi với những điều kiện sinh hoạt tồi tệ, với việc cấm đoán thành lập công đoàn riêng của mình.

Bằng việc xuất khẩu công nhân ra nước ngoài để trước hết lấy tiền đăng ký/ký quỹ của họ (cả trăm triệu) từ những con người rất nghèo khổ, rồi bỏ mặc họ cho sự bóc lột của các ông chủ ngoại quốc mà không mấy khi can thiệp.

– Đảng còn cướp tài nguyên quốc gia bằng cách đem lãnh hải (đảo, vùng biển), lãnh thổ (rừng, đất, cảng) nhượng, bán cho nước ngoài hoặc cho người ngoại quốc (đặc biệt Trung Quốc) thuê mướn 50 năm, thậm chí 70 năm, như tại Vũng Áng. Nhất là những vị trí mang tính cách chiến lược, có tầm quan trọng quốc phòng. Quý vị thấy phi trường quân sự Nước Mặn ở Đà Nẵng, bây giờ bị vây chung quanh bởi những ngôi nhà, những khu đất của người Tàu. Tại sao lại để như vậy?

– Rồi với chủ trương kinh tế quốc doanh chủ đạo, ưu đãi các công ty và tập đoàn nhà nước, đó là cướp cơ hội kinh doanh bình đẳng của các doanh nghiệp tư nhân. Cho nên từ mấy năm nay đã có hàng trăm ngàn doanh nghiêp tư nhân phải phá sản vì không có đủ điều kiện để tồn tại trong nền kinh tế theo định hướng xã hội chủ nghĩa này.

– Cần phải nói thêm việc ăn cắp tài sản của công dân tại phi trường, bưu điện; ăn cướp tài sản của công dân bởi lực lượng công an. Công an bây giờ không phải chỉ chận đánh những nhà đấu tranh, dân oan, mà kèm theo đó là cướp máy móc, thậm chí cướp tiền, đôi khi còn lột sạch quần áo của họ.

6- Cướp công lý bằng cách công cụ hóa bộ máy tư pháp

Chúng ta thấy từ cảnh sát điều tra, kiểm sát công tố đến quan tòa xét xử hầu như luôn toa rập với nhau. Bản kết luận điều tra của cảnh sát cũng được công tố duyệt xét ngay tắp lự rồi quan tòa cứ theo đó mà tuyên án, nhất là trong các vụ án chính trị. Trong nhiều vụ án kinh tế, nhiều khi cũng có sự toa rập như vậy. Xin lấy ví dụ vụ án “Con ruồi Tân Hiệp Phát”.

Trong giai đoạn điều tra, không cho bị can có sự trợ giúp của luật sư, trái lại còn dùng nhiều biện pháp để bức cung bị can, ngõ hầu sớm có kết luận điều tra mà trong đó thế nào bị can cũng có tội, không nhiều thì ít.

Công an điều tra, kiểm sát công tố, quan tòa xét xử còn thản nhiên nhận hối lộ của bên nguyên hay bên bị để làm lệch cán cân công lý

Ngoài ra, không mời thân nhân, không triệu tập nhân chứng, không cho luật sư trình bày đầy đủ. Ví dụ mới nhất là vụ sơ thẩm và phúc thẩm của em Nguyễn Mai Trung Tuấn.

Ngăn chặn công dân tham dự các phiên tòa để công dân chứng kiến được đâu là công lý. Ngăn chặn để có thể cướp công lý mà không sợ người ta dò xét.

Một hình cướp công lý khác là mới đây còn đánh cả luật sư. Trong vụ “bụi đường Chương Mỹ”, hai luật sư đã bị đánh khi muốn đi tìm công lý cho em Đỗ Đăng Dư. Nhiều luật sư khác còn bị đe dọa, như luật sư Võ An Đôn chẳng hạn.

7- Cướp ý chí của công dân bằng một bộ máy trấn áp

Trấn áp qua một hệ thống theo dõi, kiểm soát, trấn áp rộng rãi: công an, quân đội và Mặt trận Tổ quốc (trong đó có các xã hội dân sự quốc doanh; các tổ chức này đều khống chế các thành viên để cướp ý chí của họ).

Cướp ý chí đó vì mục đích gì?

– để làm cho người dân dửng dưng trước những những tệ trạng và thảm nạn trong xã hội,

– để làm cho người dân bất quan tâm trước an nguy của đất nước, trước việc đảng và nhà cầm quyền quỵ luy kẻ thù phương Bắc. Bằng chứng là đảng đã trấn áp các cuộc biểu tình chống Trung Quốc

– để làm cho người dân không dám bàn chuyện chính trị và tham gia hoạt động chính trị (bằng khẩu hiêu “Để đảng và nhà nước lo!”)

– để làm cho người dân sợ hãi không dám phản kháng đòi lại các quyền con người, quyền công dân và quyền đất nước.

Ngoài ra và cụ thể hơn, đó là cướp ý chí của các đảng viên đến nỗi họ không dám rời bỏ đảng dù cuối cùng biết đảng chỉ là một tổ chức tội ác; rồi cướp ý chí các nhà tu hành là những người có phận sự trước hết và trên hết là công bố và bênh vực sự thật, đòi hỏi và bảo vệ công lý. Nhưng có rất nhiều nhà tu hành hoàn toàn im lặng trong khi bổn phận của họ là phải lên tiếng vì công lý và sự thật. Điều ấy chứng tỏ đảng đã cướp ý chí của họ rồi. Và đây là mối nguy cho đạo.

Trên đây là 7 đối tượng cướp mà chúng tôi thiết nghĩ có thể cho thấy phạm vi, tầm mức ăn cướp của đảng CSVN.

Kết luận:

TQT: Thưa Lm PVL, 70 năm dưới nền chuyên chính vô sản của cả nước, đặc biệt 40 năm qua sau khi miền Nam rơi vào tay CS, chế độ công an trị ngày càng xuất hiện. Họ dùng hai gọng kìm, một là bạo lực trên thể xác, hai là bạo lực trên tinh thần để khép cổ nhân dân ta. Nhưng phải chăng nhân dân ta đã chịu khuất phục họ hay đang dần dần phá tan hai gọng kìm đó?

PVL: Phải nói thật rằng 70 năm ăn cướp của đảng CS đã làm cho đất nước tan hoang, văn hóa suy đồi, đạo đức tiêu biến, kéo theo nhiều hậu quả khác là nền giáo dục xuống cấp, kinh tế lụn bại, môi trường ô nhiễm, nhất là quốc phòng ngày càng bấp bênh. Nhưng chính thái độ, hành vi ăn cướp bằng bạo lực và dối trá đó đã gây một dị ứng nơi con người. Con người tự nhiên dị ứng với bạo lực và dối trá, chỉ chấp nhận công lý, sự thật và tình thương. Nên chúng ta thấy chính sách ăn cướp mọi mặt của nhà cầm quyền làm cho người dân ngày càng công phẫn. Những việc lên tiếng của cá nhân, của tập thể, của các tổ chức xã hội, của các tổ chức tôn giáo ngày càng mạnh để đòi lại sự thật: sự thật về các vụ việc, sự thật về lịch sử, sự thật về bộ mặt xã hội, sự thật về đảng CS. Người ta còn lên tiếng đòi lại công lý: công lý cho mình, công lý cho toàn dân, công lý cho đất nước. Người dân cũng lên tiếng để đòi lại tất cả những gì nằm trong quyền con người, quyền công dân như tự do ngôn luận, tự do tư tưởng, tự do tôn giáo, tự do báo chí, tự do lập hội, tự do lập đảng mà đã bị đảng CS tước đoạt. Đó là những dấu hiệu cho thấy người dân ngày càng muốn thoát khỏi ách của cái tổ chức ăn cướp “hợp pháp” này, để giành lại mọi quyền cho mình, cho toàn dân, để toàn dân có thể sống trong tự do, no ấm, phát triển.

TQT: Thưa linh mục, thời buổi nào đất nước ta cũng rất coi trọng vai trò của trí thức. Trí thức góp phần rất tích cực để khai sángdân trí. Thời phong kiến cũng vậy, thời thực dân xâm lược cũng vậy. Ngày nay, trong thời buổi đất nước đang bị đe dọa bởi họa phương Bắc và họa cộng sản cũng vậy. Nhưng khi so sánh thì nhiều người thấy rằng việc khai sáng dân trí trong thời có nguy cơ tái Bắc thuộc và nguy cơ CS này có lẽ yếu hơn trong thời gian trước. Linh mục nghĩ sao về vấn đề này?

PVL: Như chúng tôi trình bày ở trên, CS triệt tiêu ý chí, triệt tiêu ý thức của người dân, nhất là giới sĩ phu, giới trí thức, giới lãnh đạo tinh thần (dân sự và tôn giáo) để làm cho người dân không còn được sự hướng dẫn của những trí tuệ. Ngay từ đầu, chúng ta đã thấy CS bách hại, đàn áp giới trí thức qua vụ Nhân văn Giai phẩm, sau đó qua các cuộc trấn áp các nhà trí thức sau khi chiếm được miền Nam, như tịch thu sách vở, bắt bớ các nhà văn nhà báo, các nhà tu hành. Việc đó vẫn còn tiếp tục, để làm cho việc khai dân trí không thể nào đạt được mức độ cần thiết. Mà khi đã không khai dân trí được, thì không thể chấn dân khí và càng không thể hậu dân sinh theo kiểu nói của cụ Phan Chu Trinh. Thời bây giờ, đảng đã làm cho nhiều trí thức (đại đa số) im lặng, trùm chăn. Xin lấy ví dụ rất cụ thể: mới đây Hội Giáo chức Chu Văn An được thành lập, nhưng cho tới bây giờ, số các thành viên có lẽ vỏn vẹn đếm trên đầu ngón tay. Đáng lẽ các nhà trí thức phải vào hội này ồ ạt để chấn hưng văn hóa, chấn hưng giáo dục rồi từ đó chấn hưng tinh thần dân tộc VN

TQT: Linh mục vừa đặt vấn đề trí thức phải ngày càng tỉnh ngộ, đừng trùm chăn nữa, góp phần với nhân dân để đấu tranh thoát khỏi họa CS. Vậy để toàn dân chặn đứng được đảng cướp này để họ không tiếp tục hoành hành cướp tinh thần, cướp của cải của đất nước ta, thì chúng ta phải làm gì thưa linh mục?

PVL: Thưa Quý vị, chỉ có một điều quan trọng duy nhất là phải tống cổ đảng cướp này, không cho nó nắm quyền lực toàn trị, không cho nó tiếp tục cướp của người dân về vật chất lẫn tinh thần. Phải làm sao để cho đất nước chỉ còn có những con người hoạt động dưới sự giám sát của nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân và vì ích lợi của nhân dân mà thôi, chứ không vì ích lợi của nhóm, của đảng mình. Mong rằng tất cả mọi người VN trong lẫn ngoài nước đứng dậy để trước hết tiêu diệt chủ nghĩa CS tàn hại tâm trí, giải thể chế độ CS tàn hại xã hội, và đuổi đảng CS ra khỏi ghế quyền lực, vì họ đã chỉ làm những điều tai hại cho đất nước từ 70 năm qua mà thôi.

TQT: Xin chân thành cảm ơn Linh mục Phê-rô Phan Văn Lợi.

Posted in Chinh Tri Xa Hoi, Đảng CSVN | Leave a Comment »

►Cuộc giải phẫu hiểm nghèo của Đảng Cộng Sản- Nguyễn Gia Kiểng

Posted by hoangtran204 on 12/02/2016

 

Thông Luận

Nguyễn Gia Kiểng

10-2-2016

Đảng Cộng Sản không ngừng lặp lại khẩu hiệu chống các biểu hiện “tự diễn biến” và “tự chuyển hóa”. Hai cụm từ này, mà bài này gọi chung là “tự chuyển hóa”, có nghĩa gần như nhau trong ngôn ngữ của họ. Tự diễn biến có nghĩa là tạo ra những thay đổi trong nội bộ đảng, khiến đảng tự chuyển hóa, nghĩa là thay đổi bản chất để trở thành một đảng khác và ứng xử một cách khác trong nội bộ cũng như đối với xã hội. Có thể nói với đại hội 12 vừa qua Đảng Cộng Sản đã bắt đầu thực hiện điều mà nó đã thề sẽ chống lại tới cùng, nghĩa là tự chuyển hóa.

Nguyễn Phú Trọng đã thành công, sau một cuộc đấu kéo dài gần bảy năm, điều mà trước ông Võ Văn Kiệt và Lê Khả Phiêu đã thất bại. Thành tích của ông Trọng là đã dứt điểm được cái mà ta có thể gọi là “đảng cầm quyền trong đảng”. Chưa chắc Nguyễn Phú Trọng đã ý thức hết được tầm quan trọng của biến cố mà ông vừa góp phần quyết định tạo ra.

Thanh lý nhà nước Nguyễn Tấn Dũng?

Thất bại của Nguyễn Tấn Dũng là một biến cố rất lớn cho cả Đảng Cộng Sản lẫn Việt Nam. Trong 41 năm Đảng Cộng Sản cầm quyền trên cả nước có thể nói Nguyễn Tấn Dũng đã cầm quyền 19 năm, chín năm với tư cách phó thủ tướng thường trực bên cạnh ông thủ tướng mờ nhạt Phan Văn Khải và mười năm với chức vụ thủ tướng. Quyền hành của ông đã lấn át cả hai tổng bí thư Nông Đức Mạnh và Nguyễn Phú Trọng. Ông đã sắp đặt và khống chế guồng máy nhà nước bao gồm bộ máy hành chính và các doanh nghiệp nhà nước chiếm 2/3 trọng lượng kinh tế quốc gia. Không có gì là quá đáng nếu gọi nhà nước CSVN trong thời qua, nhất là mười năm gần đây, là “nhà nước Nguyễn Tấn Dũng”.

Sự ra đi của ông Dũng vì thế sẽ kéo theo những đảo lộn tương tự như một cuộc đảo chính. Sẽ có những thanh trừng lớn, một phần vì những người lãnh đạo mới, những đối thủ đã hạ được ông Dũng sau một cuộc đấu đá gay go, có nhu cầu loại bỏ những tay chân của ông Dũng, nhưng lý do quan trọng hơn là họ bắt buộc phải làm như thế bởi vì hầu hết những chức vụ có một tầm quan trọng nào đó trong “nhà nước Nguyễn Tấn Dũng” đều do mua mà được chứ không phải do khả năng và kinh nghiệm. Một khi đã mua được chức, ưu tư đầu tiên của các quan chức này là lấy lại vốn và làm giàu chứ không phải là trách nhiệm với cơ quan hay doanh nghiệp mà họ điều khiển. Những người này phải bị thay thế, tham nhũng đã là nét đậm nhất của chính quyền Nguyễn Tấn Dũng.

Những người cầm quyền mới càng có lý do để cáo buộc ông Dũng vì tình trạng đất nước mà ông để lại. Phải nói là di sản của Nguyễn Tấn Dũng quá bi đát. Việt Nam đã tụt hậu hẳn so với các nước trong vùng và trở thành gần như một thuộc địa của Trung Quốc. Thâm thủng mậu dịch với Trung Quốc lên tới trên 32 tỷ USD chưa kể số hàng nhập lậu, hầu hết các công trình xây dựng kết cấu hạ tầng đều được giao cho các công ty Trung Quốc và được thực hiện một cách cẩu thả bất chấp mọi cam kết. Bất tài và tham nhũng là mẫu số chung của các cơ quan chính quyền và các doanh nghiệp nhà nước. Không những thế đất nước còn đang đứng trước nguy cơ phá sản vì số nợ công báo động.

Nhưng họ sẽ thay thế hàng trăm hàng ngàn quan chức đủ loại và đủ cấp của ông Dũng bằng những người nào? Họ chỉ có những con người do chế độ cộng sản và nhà nước Nguyễn Tấn Dũng tạo ra, nghĩa là những con người trong tuyệt đại đa số không khác gì những tay chân của ông Dũng về đạo đức và tài năng, có thể chưa có cơ hội để tham nhũng nhưng cũng chưa thạo việc. Đảo lộn là chắc chắn, nhưng thất bại còn chắc chắn hơn.

Lý do đầu tiên là vì kinh nghiệm của mọi quốc gia đã chứng tỏ rằng người ta không thể cải thiện một chính quyền tham nhũng để nó hết hay bớt tham nhũng, giải pháp duy nhất chỉ là thay thế nó bằng một chính quyền khác. Những thay đổi mà chúng ta sắp chứng kiến sẽ có mức độ xáo trộn và đổ vỡ của một thay đổi chính quyền nhưng lại không có sự phấn khởi và tác động tâm lý của một thay đổi chính quyền bởi vì những người lãnh đạo cao nhất vẫn là những người cũ, dù là ông Nguyễn Phú Trọng, ông Trần Đại Quang hay ông Nguyễn Xuân Phúc. Riêng việc ông Trần Đại Quang làm chủ tịch nước còn là một xúc phạm đối với dân tộc Việt Nam.

Lý do thứ hai, quan trọng không kém, là những sai phạm không phải chỉ do lỗi của Nguyễn Tấn Dũng mà cũng do bản chất của chế độ. Nguyễn Tấn Dũng chỉ đã làm trầm trọng hơn những tật nguyền bẩm sinh của mọi chế độ cộng sản. Chủ nghĩa Marx tự nó đã là một chủ nghĩa vô đạo đức bởi vì đối với Marx các giá trị đạo đức chỉ là sản phẩm của giai cấp tư sản để duy trì quyền lực; giai cấp vô sản sẽ có những giá trị đạo đức riêng của nó, những giá trị mà Marx không nói tới nhưng sau này được Lênin định nghĩa như là tất cả những gì có lợi cho đảng cộng sản. Như thế có nghĩa là cướp của, giết người, nói dối, bội ước v.v. và tất cả những gì bình thường được coi là tội ác đều trở thành đạo đức nếu có lợi cho Đảng Cộng Sản. Nguyễn Phú Trọng đã tỏ ra là một đệ tử trung thành của Lênin khi ông nói rằng đòi phi chính trị hóa quân đội và công an là thiếu đạo đức. Với một quan niệm đạo đức bệnh hoạn như vậy tham nhũng là hậu quả tự nhiên vì tham nhũng – được định nghĩa như là sự lợi dụng công quyền để mưu lợi cho cá nhân – không gì khác hơn là một vi phạm đạo đức. Khi đạo đức – đạo đức thực sự chứ không phải đạo đức Mác-Lênin – vắng mặt thì tham nhũng ngự trị là điều tất nhiên. Như người ta đã thấy, tất cả mọi chế độ cộng sản đều tham nhũng ở mức độ nghiêm trọng.

H1Những hình ảnh như vụ Vinashin này sẽ thành quen thuộc

Trong những ngày sắp tới chính quyền cộng sản sẽ phải thanh toán nhà nước Nguyễn Tấn Dũng trong những điều kiện không khác một bệnh nhân phải phải qua một cuộc giải phẫu hiểm nghèo dù biết trước là sẽ không qua khỏi.

Dân chủ trong nội bộ đảng?

Không những thế chế độ còn phải trải qua một cuộc giải phẫu hiểm nghèo khác. Lần đầu tiên Đảng Cộng Sản sẽ phải thử nghiệm điều mà các các cấp lãnh đạo của nó thường nói tới nhưng chưa lường được hậu quả, đó là một mức độ “dân chủ trong nội bộ đảng”. Cuộc giải phẫu này cũng sẽ không thành công vì trái ngược với bản chất của chế độ.

Tất cả các đảng cộng sản về bản chất đều là những đảng khủng bố. Khi chưa có chính quyền họ là những tổ chức khủng bố phá hoại, khi đã giành được chính quyền họ thiết lập một nhà nước khủng bố. Sức mạnh của các đảng và chế độ cộng sản chủ yếu là sức mạnh của những lực lượng khủng bố, nghĩa là họ có thể làm tất cả những gì cần làm để đạt mục đích, điều mà các nhà nước và tổ chức bình thường không thể tự cho phép. Nhưng một đảng khủng bố đòi hỏi lãnh đạo thống nhất và kỷ luật tuyệt đối trong nội bộ; đảng viên có thể bị trừng trị chỉ vì bị nghi ngờ có tư tưởng dao động hay có những quan hệ không minh bạch. Đó chính là trường hợp của Đảng Cộng Sản Việt Nam. Đảng đã mạnh lên, giành được chính quyền và tồn tại được tới ngày nay nhờ một kỷ luật thép, nghĩa là một thứ độc tài trong nội bộ. Kỷ luật thép đó được duy trì bởi một nhóm cầm quyền trong đảng có tất cả mọi quyền hành và có thể thanh trừng bất cứ ai. Nhóm này khống chế đảng và dùng đảng để khống chế phần còn lại của xã hội. Ở mỗi giai đoạn họ là những người có vị thế thuận lợi nhất để thực hiện mục tiêu chính của Đảng. Mới đầu là Hồ Chí Minh, Trường Chinh và Võ Nguyên Giáp khi mục tiêu chính của Đảng là tiêu điệt các đảng phái không cộng sản để giành độc quyền đấu tranh giành độc lập và dùng chiêu bài độc lập để tiến hành cuộc nội chiến thiết lập chế độ cộng sản. Kế đến là Lê Duẩn và Lê Đức Thọ khi mục tiêu của Đảng là chinh phục miền Nam vì hai người này hiểu biết miền Nam nhất. Sau đó, kể từ giữa thập niên 1980, là Nguyễn Văn Linh, Lê Đức Anh và Đỗ Mười, những người chủ trương thần phục Trung Quốc và được Trung Quốc yểm trợ, khi Đảng cần cầu hòa với Trung Quốc để tồn tại. Sơ đồ quyền lực này đã bắt đầu lung lay khi chủ nghĩa cộng sản sụp đổ và chế độ phải thích nghi với một thế giới đã thay đổi, nhưng những người lãnh đạo đã không có đồng thuận về thay đổi những gì và với nhịp độ nào.

H1

Quyền lực của Lê Đức Anh và Đỗ Mười đã bị sứt mẻ khi họ gặp sự chống trả của Võ Văn Kiệt một người có nhiều công lao và được cảm tình đáng kể trong Đảng và nhất là khi họ phải chật vật để loại Lê Khả Phiêu mà chính họ đã đặt vào chức vụ tổng bí thư. Lý do là vì Lê Khả Phiêu muốn thoát khỏi sự kiểm soát của họ để có thể phần nào nới lỏng sự kìm kẹp của Đảng Cộng Sản đối với xã hội Việt Nam, thí dụ như muốn có những bộ trưởng và phó thủ tướng không phải là đảng viên cộng sản.  Để loại bỏ được Lê Khả Phiêu cái giá phải trả là cả Lê Đức Anh lẫn Đỗ Mười cũng phải bỏ chức vụ cố vấn cho phép họ trực tiếp can thiệp vào các vấn đề của Đảng và nhà nước. Đỗ Mười sau đó dần dần chìm đi, còn lại Lê Đức Anh. Trước đại hội 11, tháng 01/2011, Lê Đức Anh đã có gắng hết sức để áp đặt Nguyễn Tấn Dũng vào chức vụ tổng bí thư kiêm chủ tịch nước. Bản hiến pháp 2013 thực ra đã được phe Lê Đức Anh chuẩn bị từ trước năm 2010 cho Nguyễn Tấn Dũng. Tuy vậy Nguyễn Tấn Dũng đã không giành được chức tổng bí thư trong đại hội 11 vì quá nhiều vụ bê bối bị phanh phui, như vụ Vinashin, vụ cho Trung Quốc thuê rừng đầu nguồn, dự án Bôxit Tây Nguyên v.v. Thế lực của Lê Đức Anh chỉ đủ để giữ cho Nguyễn Tấn Dũng chức vụ thủ tướng, dù là một thủ tướng lấn áp cả tổng bí thư đảng. Và một lần nữa nó lại bị suy giảm. Sau cùng, như người ta đã thấy, trong đại hội 12 nó không còn đủ mạnh để cứu Nguyễn Tấn Dũng

Sau đại hội 12 này với sự thất bại của Nguyễn Tấn Dũng giai đoạn Lê Đức Anh hoàn toàn chấm dứt. Đảng Cộng Sản từ nay không còn nhóm cầm quyền trong đảng để duy trì một kỷ luật thép nữa và sẽ ít nhiều phải thực hiện dân chủ trong nội bộ. Họ sẽ khám phá ra rằng không thể duy trì chế độ độc tài nếu không có độc tài ngay trong nội bộ đảng. Cuộc giải phẫu của Đảng Cộng Sản để chuyển hóa từ một đảng có bản chất khủng bố thành một đảng có ít nhiều thảo luận dân chủ trong nội bộ cũng sẽ thất bại. Kinh nghiệm các chế độ cộng sản Đông Âu và Liên Xô cũ cho thấy không một đảng cộng sản nào chịu đựng được cuộc giải phẫu này. Tất cả đều tan rã và biến mất. Gorbachev và Yeltsin tuy chống nhau nhưng đều có cùng một nhận xét rằng các chế độ cộng sản chỉ có thể xóa bỏ chứ không thể cải tổ. Đó cũng sẽ là số phận của chế độ cộng sản Việt Nam.

Tiếp tục thách thức lương tâm thế giới?

Số phận này có thể đến sớm hơn mọi dự đoán bởi vì chế độ đang trong tình trạng nguy ngập. Tất cả đều bế tắc và nhà nước rất có thể sẽ phá sản vì không còn vay được nợ mới để trả nợ cũ nữa, trong khi Trung Quốc cũng đã quá chao đảo để có thể là một chỗ dựa. Hơn lúc nào hết Việt Nam cần sự giúp đỡ của các nước dân chủ giàu mạnh và sẽ không thể tiếp tục thách thức lương tâm thế giới với những vi phạm nhân quyền thô bạo. Cho tới nay nhiều người vẫn bi quan cho rằng Hoa Kỳ và các cường quốc dân chủ trước hết quan tâm tới quyền lợi của họ và sẽ không làm gì khác ngoài một vài tuyên bố lên án nguyên tắc nếu chính quyền cộng sản Việt Nam tiếp tục đàn áp những tiếng nói dân chủ. Đúng là họ sẽ không làm gì nhưng từ nay điều mà ban lãnh đạo cộng sản Việt Nam sợ nhất lại chính là Hoa Kỳ và các nước dân chủ sẽ không làm gì. Họ cần được giúp đỡ và sẽ nhượng bộ để được giúp đỡ.  Đảng Cộng Sản không có tinh thần hòa giải dân tộc nhưng họ cũng không ngoan cố. Họ có thể làm tất cả khi cảm thấy lâm nguy, như cầu hòa và thần phục Trung Quốc sau khi đã mạt sát Trung Quốc đủ điều như một kẻ thù không đội trời chung.

Nguyễn Phú Trọng và các đồng chí của ông chắc chắn là không muốn dân chủ. Họ muốn kéo dài chế độ toàn trị thêm vài trăm năm nữa nếu có thể được nhưng họ sẽ không có chọn lựa nào khác hơn là nhượng bộ trước nguyện vọng dân chủ hóa. Họ sẽ bị bắt buộc phải làm điều họ vừa không muốn làm vừa không biết làm và sẽ thất bại.

Còn những người dân chủ?

Những vấn đề bắt buộc phải giải quyết mà bị trì hoãn quá lâu có thể sẽ không còn giải pháp khi người ta bắt buộc phải giải quyết. Ban lãnh đạo cộng sản khóa 12 phải thay thế toàn bộ guồng máy nhà nước mà Nguyễn Tấn Dũng để lại và sẽ không làm được. Cùng một lúc Đảng Cộng Sản cũng phải tự chuyển hóa từ một đảng có bản chất khủng bố sang một đảng có dân chủ nội bộ và cũng sẽ không làm được. Không những thế họ lại còn đang đứng trước nguy cơ phá sản gần kề. Tình trạng của Đảng Cộng Sản hiện nay không khác tình trạng của một bệnh nhân già yếu kiệt quệ phải giải phẫu cùng một lúc hai chứng bệnh không cứu chữa được nữa. Kết quả có thể biết trước.

H1Ảnh: internet

Tuy vậy sự so sánh giữa chính trị và y học dĩ nhiên có giới hạn. Vẫn có lối thoát cho những người cộng sản, cho mọi người cộng sản, dù không có tương lai cho Đảng Cộng Sản. Nếu chủ trương của Nguyễn Phú Trọng và ban lãnh đạo cộng sản là kiên trì theo đuổi chủ nghĩa Mác-Lênin và duy trì chế độ độc tài đảng trị thêm mười năm nữa họ chắc chắn sẽ thất bại kéo theo những hậu quả nghiêm trọng cho đất nước, cho đảng của họ và cho chính họ. Ngược lại, thay vì là nạn nhân họ có thể là tác nhân của tiến trình dân chủ hóa và sẽ đi vào lịch sử như thế.

Còn những người dân chủ? Chúng ta sẽ phải chờ đợi một giai đoạn xáo trộn với nhiều khó khăn cho đồng bào về mặt kinh tế và xã hội. Nhưng đồng thời đây cũng là một cơ hội rất lớn mà chúng ta không thể bỏ lỡ. Chúng ta cần một lực lượng dân chủ và một cố gắng chung thay vì những hoạt động và sáng kiến cá nhân. Chúng ta cần tìm đến với nhau trong một dự án chính trị cho đất nước.

Posted in Chinh Tri Xa Hoi, Đảng viên đấu đá tranh giành chức vị, Độc quyền lãnh đạo | Leave a Comment »

►Phạm Thành, từ Hậu Chí Phèo đến Cò Hồn Xã Nghĩa

Posted by hoangtran204 on 11/02/2016

Phạm Thành, từ hậu Chí Phèo đến Cò Hồn Xã Nghĩa

Tác giả:

2-2-2016

Nhà văn Phạm Thành

Nhà văn Phạm Thành

Khi đất nước đi vào đường hầm không lối thoát, nhiều gia đình miền núi phía Bắc đã bị chết đói. Đảng CS buộc phải tự giải thoát, bằng cách mở cửa, đổi mới về cái quan hệ sản xuất (cũ) ngàn đời của cha ông. Cùng đó, Nguyễn Văn Linh kêu gào, nới lỏng dây trói cho văn nghệ sỹ. Và đến khi cơn gió mùa Thu đã quật đổ bức tường ô nhục Berlin, đưa nước Đức đến bến bờ thống nhất. Chủ nghĩa cộng sản đã hoàn toàn sụp đổ ở Đông Âu và Nga Sô. Trước sự sinh tử đó, Nguyễn Văn Linh run sợ, vội vàng siết chặt lại thòng lọng, và cánh cửa được khép trở lại.

Tuy thời gian thật ngắn ngủi, nhưng nó là một cơ hội, một tia sáng chợt vụt lên cho các văn nghệ sỹ. Thời gian này, hàng loạt tác phẩm gắn liền với tên tuổi nhà văn ra đời, được công chúng đón nhận, gây tiếng vang không chỉ đóng khung ở trong nước. Ta có thể thấy, ngoài những tác phẩm của các nhà văn Dương Thu Hương, Bảo Ninh, Nguyễn Huy Thiệp… còn có Phùng Gia Lộc với Cái Đêm Hôm Ấy…Đêm Gì, Phạm Thành với Hậu Chí Phèo. Hai tác tác phẩm đặc biệt này, không riêng tôi, mà còn rất nhiều người thích thú khi đọc. Có một sự trùng hợp ngẫu nhiên, hai tác giả đều xuất thân từ nghề báo, và cùng sinh ra lớn lên ở miền quê nghèo xứ Thanh. Nếu Cái Đêm Hôm Ấy…Đêm Gì là tiếng kêu cứu trong nỗi thống khổ, bần cùng của người nông dân dưới sự cai trị của giai cấp cường hào mới, thì Hậu Chí Phèo lại chỉ ra những nguyên nhân đã sản sinh ra tầng lớp thống trị dốt nát, nhưng cực kỳ lưu manh này. Cả hai tác phẩm trên, dù trải qua mấy chục năm, đọc lại vẫn thấy mới, giá trị và sức nặng, rọi thẳng vào cuộc sống xã hội của ngày hôm nay.

*Từ nhận thức tư tưởng đến sự can trường qua từng con chữ.

Nhà văn Phạm Thành sinh năm 1952, tại Yên Định, Thanh Hóa, trong một gia đình có truyền thống yêu văn học nghệ thuật. Cha ông, một trí thức bộc trực, uyên bác đã ảnh hưởng không nhỏ đến nhận thức tư tưởng, cũng như tính cách của ông. Có lẽ, đó là khởi nguồn, động lực giúp cho Phạm Thành sớm đến với nghề báo, và theo đuổi nghiệp văn sau này. Ông có những năm tháng dài là người lính lái xe vận tải, trong cuộc chiến tang thương và đẫm máu nhất của dân tộc. Chiến tranh kết thúc, Phạm Thành về làm phóng viên cho Đài phát thanh Thanh Hóa. Sau đó, ông theo học Đại học báo chí, thuộc Trường Tuyên Huấn Trung Ương. Năm 1984 ông về làm phóng viên cho Đài tiếng nói Việt Nam. Từ đây, Phạm Thành đi nhiều, viết nhiều, không chỉ riêng cho báo chí. Mà những trang văn, những cuốn tiểu thuyết nặng chịch, ngồn ngộn chất liệu, hơi thở ấy, có được từ kinh nghiệm, vốn sống mấy chục năm đi lại, tiếp xúc lăn lộn với nghề báo của ông.

Kinh nghiệm vốn sống ấy đã ủ men, làm thức tỉnh tâm hồn nghệ sĩ, văn nhân trước nỗi thống khổ của con người, cũng như sự đểu cáng, ngu muội của bọn cường hào, thống trị mới. Để từ đó, Phạm Thành suy nghĩ và viết hoàn toàn theo con tim mách bảo. Có thể nói, ông là một trong những nhà báo hàng đầu Việt Nam về chí khí, lòng dũng cảm trước cường quyền. Ông dám đánh đổi cả sinh mạng chính trị, để đăng một bài báo chống giặc Tàu, khi đang làm thư ký tòa soạn báo Đài tiếng nói Việt Nam. Vâng! Văn nhân là thế, nếu không được sẻ chia với người với đời thì trái tim tựa hồ vỡ nát, và dù có để lại hàng trăm ngàn trang sách thì cũng chỉ là những trang viết chết.

10665871_330635000465970_2261596083713641690_n

Nếu nói, “văn là người“, đúng sai với ai, còn có thể bàn cãi, nhưng với Phạm Thành, quả thật đúng y chang. Cái yêu ghét rạch ròi, thẳng tưng ấy, không chỉ có trên trang văn, mà nó còn đậm đặc đến “cực đoan“ trong tính cách thường nhật của ông. Tôi đã ngồi bia rượu khật khừ với Phạm Thành mấy lần, chứng kiến những câu chuyện thẳng ruột ngựa, oang oang chốn đông người của ông. Có lần, chịu không nổi, nhà văn Hoàng Minh Tường lùa cả đám về nhà mình, tự tay nấu đồ nhậu, bảo: Về đây, thằng Phạm Thành xả những gì cũng được và nói cho hết đi!

Hiện nay, nhà văn Phạm Thành sống và viết tại Hà Nội. Ông cũng là chủ trang báo điện tử Bà Đầm Xòe (badamxoevietnam2.wordpress.com) được nhiều người biết đến và yêu mến.

So với các nhà văn cùng thời, tuy Phạm Thành là người ham đọc, ham viết , nhưng sách được xuất bản không nhiều. Ông chỉ có cuốn tiểu thuyết Hậu Chí Phèo và mấy tập ký, truyện ngắn in chung, được phép xuất bản ở trong nước. Còn lại, đều phải in ấn, xuất bản ở nước ngoài, hoặc tự in, mà gần đây nhất, ta có thể thấy như: Giáp Chiến Cộng Sản 1, Giáp Chiến Cộng Sản 2 và Cò Hồn Xã Nghĩa.

Ngoài tiểu thuyết, tôi cũng đã được đọc khá nhiều truyện ngắn và bút ký dạng bản thảo của ông, hiện nay chưa (hoặc không) thể in ấn ở trong nước. Bởi, nó phơi bày một cách trần truồng hiện thực của cuộc sống, con người. Mỗi câu chuyện, một vấn đề mổ xẻ trên trang văn Phạm Thành như những bản án luận tội đối với Đảng và chế độ xã hội thối nát đương thời.

Với tôi, Cò Hồn Xã Nghĩa và Hậu Chí Phèo là hai cuốn tiểu thuyết đặc trưng nhất về văn phong cũng như lòng can đảm của ông. Nếu Hậu chí phèo những lưu manh dốt nát của tầng lớp thống trị mới còn thoắt ẩn, thoắt hiện đằng sau tấn bi hài kịch, thì đến Cò Hồn Xã Nghĩa, Phạm Thành đã xé toạc tấm màn nhung đó, bóc trần bộ mặt thật của cái chủ thuyết quái thai cũng như lãnh tụ cao nhất của đảng, của chế độ. Như vậy, Cò Hồn Xã Nghĩa đã được đẩy lên nấc cao, mạnh mẽ, điểm mặt, gọi tên cụ thể, rõ ràng. Tôi nghĩ, hai cuốn tiểu thuyết này có mối quan hệ như hình đồng dạng trong toán học vậy. Từ mối quan hệ này, cho ta thấy, sự chuyển biến tư tưởng, nhận thức một cách logic từ thấp đến cao, dẫn đến dũng khí, lòng can đảm của nhà văn thông qua lăng kính và ngòi bút của mình.

Tuy nhiên, cái giá phải trả cũng không nhỏ cho Phạm Thành, một nhà văn còn ở trong nước đối với chế độ độc quyền chân lý này. Và cho đến nay, nhà văn Phạm thành đã nhiều lần bị an ninh triệu tập và truy bức. Có lẽ, với chí khí và con người ấy, chính quyền chỉ có thể giam hãm thể xác. Còn hồn khí ông vẫn rong chơi trong cái thế giới văn chương tự do, tự tại của chính mình.

Với bút pháp hiện thực hư ảo, thông qua những linh hồn, Cò Hồn Xã Nghĩa đã đến với người đọc một cách trung thực, và chuyển tải thành công tư tưởng của nhà văn đến với họ. Tuy nhiên, trước đây cũng bằng bút pháp nghệ thuật này, nhà văn Võ Thị Hảo rất thành công với Dạ Tiệc Qủy. Và gần đây nhất, tôi được đọc (bản thảo) tiểu thuyết Que Diêm Thứ 8 khá hay và “nặng đô“ của nhà văn Văn Biển. Cùng dày dặn đến tám, chín trăm trang như Cò Hồn Xã Nghĩa, nhưng cả hai đều có chung một nhược điểm, quá tham khi đưa các sự kiện vào tiểu thuyết. Làm cho người đọc, dường như có cảm giác bội thực, và trùng lặp. Bởi, trong văn chương mỗi điều muốn gửi gắm, chuyển tải, không nhất thiết cần một sự kiện để làm tiền đề hay minh chứng. Mà đôi khi chỉ một sự kiện tự nó đã nói lên nhiều điều.

*Tính hiện thực và bi hài trong một xã hội lưu manh hóa.

Tuy Cò Hồn Xã Nghĩa có vị trí đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp sáng tác, nhưng để làm nên chân dung một nhà văn Phạm Thành, với tôi phải là tiểu thuyết Hậu Chí Phèo. Năm 1989, Phạm Thành viết xong Hậu Chí Phèo, và đã chuyển qua nhiều nhà xuất bản, nhưng không thể in ấn. Năm 1991, lúc này Nguyễn Văn Linh đang siết chặt lại dây trói không chỉ riêng với các văn nghệ sĩ. Ấy vậy, Hậu Chí Phèo lọt qua cửa in ấn, phát hành của Nhà xuất bản Thanh niên, và đến năm 2006 được Nhà xuất bản Thanh Hóa tái bản. Quả thật, văn chương trong chế độ độc tài, đôi khi cũng như chơi Lotto xổ số vậy. Đây là cuốn sách gây tranh cãi khá nhiều trong giới chuyên môn cũng như người đọc.

Thoạt tưởng, hoặc nếu đọc một cách vội vàng, có lẽ không riêng tôi, mà nhiều người đều nghĩ đến sự nối tiếp, mối quan hệ giữa Chí Phèo của Nam Cao và Hậu Chí Phèo của Phạm Thành. Nhưng khi đào sâu suy ngẫm, ta có thể thấy, hai cuốn sách này, cốt lõi, tư tưởng chẳng hề liên quan gì đến nhau, ngoài cái tựa, tên nhân vật và một vài chi tiết. Thực ra, Chí Phèo của cụ Nam Cao chỉ là vỏ bọc che chắn. Hoặc nói cách khác, Phạm Thành đã mượn Chí Phèo để bộc lộ tư tưởng của mình và chuyển tải đến người đọc, trong sự kiểm duyệt hà khắt của chế độ.

Thật vậy, đọc Hậu chí phèo, có khi ta gặp lại chính mình, gia đình, bạn bè và cả những số phận nghiệt ngã xung quanh. Hoặc tìm thấy thân phận một anh hùng Ngô Thị Tuyển cùng đồng đội cầu Hàm Rồng trong và sau chiến tranh, thông qua nhân vật Cúc, Ni sư. Hay gặp lại cuộc sống, hình ảnh con người Hồ Chí Minh cùng đồng chí của ông từ nhân vật cụ Chí…

Và nếu Chí Phèo cất lên lời khát vọng từ làng Vũ Đại, muốn được làm người lương thiện, thì cụ Chí trong Hậu Chí Phèo được dựng ngược lên thành một vĩ nhân, để trèo đầu cỡi cổ, và đẻ ra những luật lệ quái đản, cai trị toàn đất Việt sau 1954.

Có thể nói, tính bi hài hòa trộn, đan xen, không chỉ xuyên suốt tác phẩm Hậu Chí Phèo. Mà nó còn là yếu tố chính làm nên những nét riêng biệt trong văn xuôi Phạm Thành. Cùng với lối kể chuyện, cũng như từ ngữ dân dã, mang đậm tính truyền thống dân gian làm cho người đọc khóc đấy và cười đấy.

Thật vậy, từ nỗi đau và oan trái của những nữ du kích Hàm Rồng, Sông Mã, Phạm Thành đã hình tượng hóa một cách rất chân thực, như gieo nỗi ám ảnh vào lòng người. Với một chiếc gương nhỏ ở trong túi, người nữ dân quân kiên cường, vác hai hòm đạn nặng gấp đôi trọng lượng cơ thể, phục vụ chiến đấu, bị gán cho cái tội gián điệp. Buộc chị phải trốn chạy, rồi vào tù để trở nên điên dại… Bởi, sự ấu trĩ, ngu muội, gian manh của con người với con người. Và nó là sản phẩm tất yếu của một xã hội với cái chủ thuyết vô nhân:

“Thường vụ Đảng ủy Vũ Đại cùng quân báo họp kín mấy tối thì dư luận làng Vũ Đại rộ lên: Cô Cúc làm gián điệp Mỹ, ém gương trên các trận địa pháo, chỉ điểm cho máy bay ném bom. Công an kéo về xác minh. Tang chứng cụ Chí đưa ra rành rành. Kèm theo cái gương, cụ Chí còn đưa ra bức ảnh chụp Cúc đang lăn lóc bên người vừa hy sinh. Cụ Chí giải thích:

– Nhà nó có người đi Nam. Lại có bức ảnh này nữa. Đấy mọi người xem đi… Chẳng phải nó thương xót bộ đội ta đâu. Tóc nó rũ ra, mặt nó tái đi, nó lo sợ chưa tìm ra ám hiệu đấy.

Làng Vũ Đại thêm một phen ngơ ngác nữa. Lo sợ về chết chóc trùm lên. Có người tin Cúc làm gián điệp. Có người không tin. Có người phân vân, lấp lửng:
– Cái máu địa chủ nhà nó có đánh chết cái nết cũng không chừa.
Nghe thế, Cúc sợ run lên. Ngoài hai mươi tuổi, cô còn non trẻ lắm.
Chính quyền có lệnh bắt Cúc…” (Hậu Chí Phèo chương 4)

Cái bi hài ấy, được đẩy lên ngang bằng với sự đại lừa bịp lưu manh của chế độ, ở đây đứng đầu là cụ chủ tịch Chí. Lợi dụng cách mạng dân tộc, với người cày có ruộng, Đảng lừa bịp nhân dân chiến đấu, giành lấy chính quyền. Cải cách ruộng đất là cuộc trả thù, cướp bóc đất đai, tài sản đối địa chủ phú nông, tư sản trí thức của nông dân cho Đảng phát động. Và khi củng cố vững chắc quyền lực, một lần nữa đảng lại cướp đất từ tay nông dân, bằng hợp tác xã nông nghiệp. Chiếc cũi mang tên chủ nhiệm hợp tác xã đóng lên cổ người nông dân còn dã man, tàn bạo gấp nhiều lần so với thời thực dân. Có lẽ, đây là cái bi hài kịch lớn nhất của lịch sử dân tộc. Chúng ta hãy đọc lại đoạn trích dưới đây để thấy rõ điều đó:

“Bác sai người đánh trống gọi làng đến họp. Rất đông đủ cả làng, bác mới ra lệnh:

– Trước cách mạng, nhà nào chưa có đất, đứng sang một bên.

Bác hỏi những người này:

– Ruộng đất, trước khi cách mạng chia cho bà con là của ai?

Mọi người trả lời:

– Của địa chủ, phong kiến, đế quốc ạ.

Bác hỏi tiếp:

– Ai giành ruộng đất từ tay địa chủ, phong kiến, đế quốc?

Mọi người lại đồng thanh:

– Cách mạng. Cách mạng ạ.

– Đúng rồi. Vậy, bà con nghĩ coi, đất đó là của ai? Của cách mạng chứ còn của ai nữa? Trước đây, cách mạng chia cho bà con mỗi người mỗi ruộng. Nay, cách mạng yêu cầu bà con đem đất đó nộp vào hợp tác xã sản xuất nông nghiệp, cùng nhau làm ăn chung… : Ai không vào là chống cách mạng, là cách mạng sẽ thu hồi lại ruộng đất.

Bác chỉ mới nói có thế mà hợp tác xã sản xuất nông nghiệp thành công đấy, các cháu ạ. Ai mà dám chống lại cách mạng, đúng không?

– Tài thật! Tài thật! Vĩ nhân! Cụ là vĩ nhân, nhất định là vĩ nhân” (Hậu chí Phèo- chương 3)

Đọc và nghiên cứu Phạm Thành, ta có thể thấy, văn ông thẳng tưng, nếu không muốn nói trần truồng, hịch toẹt, nhất là những tác phẩm sáng tác ở những năm gần đây. Có điều lạ, tuy thẳng tưng như vậy, nhưng văn ông vẫn đậm tính hình tượng độc đáo, kể cả trong những tình huống bi hài nhất.

Để đẩy cái bi hài trong sự áp đặt thứ chủ nghĩa ngoại lai, vô đạo lên toàn lãnh thổ của Đảng, Phạm Thành đã hình tượng hóa sự dốt nát của giới lãnh đạo mới, với bất kể đồng đất, thổ nhưỡng nào cũng chỉ được phép gieo trồng một loại giống cây. Tôi nghĩ, đây là sáng tạo rất độc đáo và tài năng dân gian hóa tình tiết, câu chuyện kể của nhà văn, gây nên những tiếng cười chua chát:

“Trong một chuyến đi tham quan về phía Nam, ông đã đem giống lúa nông nghiệp 1A về. Sau một vụ khảo nghiệm trên đồng ruộng, cụ thấy năng suất lúa cũng khá. Cụ sướng lắm! Cụ lệnh cho tất cả các cơ quan khoa học, các hợp tác xã sản xuất nông nghiệp, các chi bộ, Đảng ủy, phải “1A hóa đồng ruộng”. Cụ còn thể hiện quyết tâm của mình bằng một nghị quyết, có ghi: “Phá cửa ải năm tấn không có con đường nào khác là lấy giống lúa 1A”. Cụ Chí đi tới vùng quê nào cũng ra lệnh: “Bất luận đồng đất thế nào, cũng phải cấy giống lúa 1A” (Hậu Chí Phèo- Chương 3)

Có thể nói, Phạm Thành là nhà văn hiện thực có tài và sở trường viết về cái bi hài trong sự nhiễu nhương của con người và xã hội. Những năm lăn lộn với báo chí, tiếp xúc nhiều tầng lớp, nhất là giới nông dân, thợ thuyền đã cho ông chất liệu sống. Để những nỗi đau, tiếng cười ấy đi thẳng vào trang văn của ông. Cũng vì lẽ đó, đọc văn Phạm Thành, ta thấy chất báo chí vẫn còn phảng phất trên những con chữ của ông. Dẫu biết rằng, viết văn và viết báo là hai con đường khác xa nhau.

*Từ dốt nát, ngu muội đến hành động tàn nhẫn, đểu cáng của tầng lớp cường hào, thống trị mới.

Cũng như Hò Văn Đản trong tiểu thuyết Cò Hồn Xã Nghĩa, Chí là nhân vật trung tâm, xuyên suốt tác phẩm Hậu Chí Phèo. Là một tên thất học, vô lại, dựa vào chủ thuyết quái đản và gặp thời, hắn lộn ngược lên chức chủ tịch. Từ đây, hắn làm cách mạng bằng cuộc cải cách ruộng đất long trời lở đất. Và sự kích động lòng căm thù, giữa con người với con người, hắn đã phá tan mối quan hệ gia đình, xóm làng. Dẫn đến hành động cướp đất, cướp nhà, đấu tố, giết người man rợ, kinh hoàng của những nông dân ít học.

Tôi đã từng đọc, từng nghe và đã từng viết về những ngày tháng không bình yên này. Nhưng đập chết, rồi dựng người dậy, để đấu tố như Phạm Thành miêu tả, thì quả thật, người đọc phải sởn tóc gáy, kinh hãi mà thốt lên, thời của những lũ thú hoang:

“Bá Kiến bị đập chết tươi ngay từ phút đầu đoàn người xông vào… Khi Bá Kiến còn đang thoi thóp, mọi người kéo hắn ra giữa sân. Và khi Bá Kiến chỉ còn như một búi giẻ rách tơi tả nằm bất động ở giữa sân, nhiều người nhìn mà thấy tiếc… Nó chết rồi, biết đấu tố thế nào? …Bá Kiến nhất quyết phải được dựng dậy. Để cho lão quỳ được, phải buộc một khúc luồng thẳng đứng dọc theo xương sống lão. Khúc luồng được chôn vững xuống đất…“ (Hậu Chí Phèo- Chương 1)

Nếu như “Đêm Giữa Ban Ngày” của nhà văn Vũ Thư Hiên, viết về Nông Thị Xuân vừa sinh con, đã bị chồng, một lãnh tụ cao nhất của Đảng thủ tiêu một cách dã man, thì đọc Hậu Chí Phèo, ta sẽ bắt gặp y chang hình ảnh chủ tịch Chí, ra lệnh tử hình, người đàn bà đang mang thai với mình, cùng vì chiếc ghế quyền lực. Nhìn lại lịch sử của dân tộc, chắc chắc không thời nào, chế độ nào có những quân vương, thủ lĩnh tàn độc đến như vậy. Và nếu đây không phải là sự thật, tôi tin Vũ Thư Hiên và Phạm Thành không đủ can đảm viết ra điều này.

Tôi nghĩ, đoạn văn dưới đây, với những lời thoại vạch trần, tố cáo và chuyển tải bi hài kịch cao độ, độc đáo nhất của tác phẩm Hậu Chí Phèo. Và hình ảnh bà Ba cởi truồng, khi bị xử bắn, kèm theo câu nói (bất hủ) của Chủ Tịch Chí, nên trang trọng ghi vào lịch sử của Đảng CS: “Đơn giản thôi, tôi không đồng ý là vì chính cái đó đã suýt cắt đời cách mạng của tôi”

Vâng! Với tôi, đó cũng là câu thoại hay nhất trong cuốn tiểu thuyết này:

“Tay Chí tuyên bố tử hình bà Ba…Bản án tử hình được thi hành ngay…
– Báo cáo anh Chí, bây giờ bắn người phải có lệnh.
Mắt tay Chí trợn lên, tỏ rõ sự ngạc nhiên, hỏi lại:
– Cái gì?
– Dạ thưa anh, bắn người phải có lệnh ạ.
– Lệnh nào?
– Người thư ký chìa tờ lệnh cho tay Chí nhìn. Tay Chí nói:
– Ai ra lệnh?
– Dạ thưa, chính anh ạ.
– Tao đã ra lệnh?
– Nhưng anh phải ký vào lệnh ạ.
Tay Chí cười lên sằng sặc:
– À, à! Có bước tiến mới này phải không? Đưa đây. Ký vào chỗ nào?…

Trước khi nhằm bắn bà Ba, có người nói với tay Chí: “Mặc cho bà Ba cái quần”. Nhưng tay Chí lại kiên quyết không đồng ý. Mãi sau này, tay Chí mới giải thích: “Đơn giản thôi, tôi không đồng ý là vì chính cái đó đã suýt cắt đời cách mạng của tôi“.(Hậu Chí Phèo- Chương 1)

Không dừng lại ở những quan chức đương quyền, Hậu Chí Phèo còn lật mặt cả những quan già hết đát, đang biến tướng thành những cố vấn, lãnh tụ danh dự, một thứ thái thượng hoàng kiểu mới. Có thể nói, đây là một thứ bệnh nghiện quyền lực, nghiện ăn cắp, nghiện trèo đầu cỡi cổ nhân dân.

Nhắc đến chuyện này, làm tôi nhớ đến câu chuyện xảy ra đã khá lâu: Dòng họ ngoại tôi có bác làm quan to. Anh Lê Thanh Đ. trung tá, đã tu nghiệp ở Nga, quê ở Nghệ An, làm bảo vệ cho ông. Vợ con anh Lê Thanh Đ. làm ruộng ở quê, muốn ra Hà Nội. Thập niên tám mươi của thế kỷ trước, hộ khẩu Hà Nội vô cùng khó khăn, vì nó gắn liền với sổ gạo, thực phẩm. Dù có giấy đề nghị của văn phòng TW dội xuống, nhưng hồ sơ cứ bị ngâm tôm… Biết bên nội tôi có ông chú là phó phòng hộ khẩu, trực tiếp quản lý những vụ này, nên anh đến, nhờ dẫn đến nhà ông chú. Sau đó, thỉnh thoảng anh hay đến nhà tôi chơi. Một lần, anh kể: Buổi sáng, cụ (tức ông bác) vào nhà vệ sinh, thấy lâu không ra, anh đành mở cửa phụ. Bước vào nhìn thấy cụ ngồi trên bồn cầu, đang suy tư điều gì có vẻ hệ trọng, lớn lao lắm…

Lúc đó, tôi buộc miệng: Có lẽ, cụ lẫn rồi.

Có thể, câu nói vô ý của tôi làm mất hứng, nên anh đứng dậy ra về. Đến nay, đôi khi tôi vẫn tự hỏi, một người được đào tạo cơ bản, kể cả sinh học, tâm lý học như anh Lê Thanh Đ lẽ nào, không hiểu cái điều đơn giản này.

Khi đọc và nghiên cứu Phạm Thành, chợt nhận ra, hầu như những câu chuyện, hay tình tiết trong tiểu thuyết và truyện ngắn của ông, tôi đã bắt gặp, hoặc đã được nghe thực ngoài đời. Nhưng đọc lại trên những trang sách của ông, tôi vẫn cảm thấy mới và sinh động:

“- Xã hội chủ nghĩa ở cái đầu, chứ đâu phải ở chân tay. Nay, chân tôi yếu thật, nhưng cái đầu tôi còn minh mẫn, tôi còn phục vụ được chủ nghĩa xã hội, sao mời tôi về hưu?…
– Thưa cụ Chí…Cụ làm lãnh tụ danh dự, là thái thượng hoàng …
– Các đồng chí, danh dự là như thế nào nhỉ?
– Nghĩa là cao hơn cả bí thư, chủ tịch đang chức. Như ngày xưa vua chúa lên thái thượng hoàng ấy mà. Tuy cụ không phải là bí thư, chủ tịch, nhưng mọi chỉ thị, mệnh lệnh của cụ đều được bí thư, chủ tịch nhất nhất thực hiện.”(Hậu Chí Phèo)

Phạm Thành là một trong số rất ít nhà văn đương thời có tính dự báo trên những trang viết của mình. Ta có thể thấy, tính dự báo trong văn ông khá đậm nét, sâu sắc, thường được cài đặt vào lời thoại của nhân vật. Điều này, mang đến cảm giác mới lạ, thích thú cho người đọc. Ta có thể thấy sự cha truyền con nối, vây cánh trong quyền lực của ngày hôm nay, trắng trợn, bẩn thỉu hơn bao giờ hết, đã được Hậu Chí Chí Phèo dự báo, dù Phạm Thành đã viết cách nay gần ba mươi năm:
“Cụ Chí còn là một người có hậu nữa. Mấy chục năm sau cách mạng đã để lại cho đời ba cậu con trai, được cài cắm ở ba khu vực khác nhau. Cứ từ đám ma cụ mà suy ra, thì ba người con của cụ cũng xứng đáng là ba ông tổ của dòng họ Chí Phèo mới. Với kiểu cách trả thù của cụ Chí di truyền lại, hẳn họ sẽ sinh con đàn, cháu đống, nối dõi mãi mãi về sau.” (Hậu Chí Phèo- Chương cuối)

Và đây nữa, trong chương “ Thuốc Thần Làng Vũ Đại” Phạm Thành đã tiên lượng trước đổi mới với những việc cần làm ngay sẽ bị phản bội. Người chống chống tiêu cực sẽ bị chính quyền thẳng tay đàn áp trở lại. Nó là hiện thực bị hài của đường lối “Nói một đằng, làm một nẻo” của Đảng và thân phận của lương tri chỉ còn là “ Đấu tranh, tránh đâu”. Lão Nội, một người nghe theo tiếng gọi của Đảng tố cáo, vạch mặt quan tham “Thái thượng hoàng” Chí, rồi lại bị chính quyền ấy triệu tập, bắt giam, như một con tốt thí:

“- Gọi lão Võ Đức Nội lên để làm gì?
– Lên để chịu tội vu cáo tôi, chứ còn làm gì nữa – Mặt cụ Chí vênh lên.
– Vu cáo ai? – Giọng lão Bá tắc nghẹn.
– Vu cáo tôi, chứ ai? Tôi bị nó vu cáo là mọt dân, là cường hào mới. Huân chương tôi còn, Đảng tôi còn, thế mà dân Vũ Đại dám láo, bảo tôi là cường hào mới, là mọt dân. Đừng thấy tôi nghỉ chức rồi mà mừng. Bí thư, chủ tịch bây giờ cũng nơi bàn tay tôi đào tạo mà ra cả. Những đứa đi kiện, rồi có ngày. “Con kiến mà kiện củ khoai”
Vây cánh bè phái, gia đình trị của giới lãnh đạo chóp bu là điều tất yếu dẫn đến sự đói khát, và tuyệt vọng của người dân lương thiện. Nếu thân phận chị Dậu trong Tắt Đèn của Ngô Tất Tố, anh Pha trong Bước Đường Cùng của Nguyễn Công Hoan dưới cái thời thực dân, đế quốc mới dừng lại mức độ đói khát và bần cùng hóa, thì anh cu Tĩn dưới chế độ CS trong Hậu Chí Phèo chỉ còn duy nhất con đường chết:

“Con bị đói ăn, đến nỗi phải thắt cổ chết ư? Mẹ Âu Cơ chừng như còn ngái ngủ, hỏi:

– Thưa vâng. Ruộng đất cụ Chí tập trung lại. Ai làm gì do cụ ấy phân công. Đến mùa thu hoạch, sản phẩm chất vào kho. Ai được phần bao nhiêu đều do cụ Chí quyết cả. Con năm nào cũng nai lưng ra làm mà phần chia bao giờ cũng được ít hơn. Cụ Chí và người anh em của cụ Chí, chẳng làm gì, lãnh đạo lăng nhăng thì mặc sức thu vén…” (Chương cuối-Hậu Chí Phèo)

Vâng! Bần cùng hóa như anh Pha, chị Dậu hay đói phải thắt cổ tự tử như anh cu Tĩn cũng không đáng sợ bằng sự tước đoạt, bán cả linh hồn để: Điên dại như nữ anh hùng tên Cúc, buộc câm điếc mù lòa của một trí thức như cụ Bá, dưới sự ngu muội, đểu cáng của tầng lớp thống trị mới.

Một số nhà phê bình cho rằng, văn Phạm Thành cứng, thô ráp. Điều này đúng, nhưng tôi nghĩ, có thể không hoàn như vậy. Có lẽ, ngoài sự thô ráp ấy, văn ông nhiều đoạn, nhiều câu rất đẹp, giàu hình tượng, và cảm xúc. Điều đó, ta có thể tìm thấy qua chương Ám Ảnh Một Dòng Sông và Thuốc Thần Làng Vũ Đại. Với tôi, đây là hai chương hay, chuyển tải tư tưởng đậm nét nhất của Phạm thành đến với người đọc. Nhà văn đã hình tượng hóa cái chủ thuyết cộng sản như một thứ Tơ hồng không gốc, sống ký gửi, và chỉ có bằm nát, sắc thuốc uống, mới có thể lành căn bệnh câm, mù, điếc của con người. Đất nước mới có thể hồi sinh.

Ngay từ những năm tám mươi của thế kỷ trước, nhà văn Phạm Thành đã dám viết những điều thật nhất, mà không phải ai cũng đủ can đảm. Hơn thế nữa, nó vượt qua sự kiểm duyệt đến với người đọc, thật là điều không thể tưởng. Đoạn trích đầy hình tượng dưới đây, cho ta thấy rõ cái tư tưởng và sự can đảm của ông:

“Tơ hồng kết thành từng mảnh dầy, đè nặng trĩu trên bờ rào cúc tần. Những cây cúc tần, thân xanh, lá xanh, cố cụm lại với nhau chống đỡ, nhưng cũng không chịu đựng nổi sức đè nặng của những mảnh tơ hồng. Thuận tay, anh lần tìm gốc của tơ hồng. Anh vô cùng ngạc nhiên thấy tơ hồng là loại cây không gốc. Chúng quen sống nhờ trên thân thể của loài cây xanh. Lòng anh như reo lên: “Thuốc đây rồi!” …Tơ hồng là loại cây không gốc mà lại có tác dụng chữa bệnh thần kinh cho người. “Bố mình bị liệt thần kinh chứ còn gì? Lặng lẽ suốt thâu đêm, anh cắt toàn bộ tơ hồng trên bờ rào và kéo hết chúng vào trong sân. Sáng đến, anh dùng dao thật sắc băm vụn chúng ra thành từng đoạn. Sau đó anh đem chúng phơi héo, rồi rang vàng hạ thổ, sắc cho lão Bá uống. Lạ kỳ chưa! Chỉ trong vòng mười ngày uống thuốc, bệnh câm, mù, điếc của lão Bá biến mất hẳn.”

Trên đây là một vài suy nghĩ chủ quan của tôi về văn thơ, cũng như con người nhà văn Phạm Thành. Không rõ đúng sai thế nào? Nhưng ấn tượng chính để lại trong tôi không phải là tài năng chữ nghĩa văn chương, mà nhân cách, tư tưởng, khí phách cũng như tấm lòng của nhà văn đối với đất nước, dân tộc làm tôi cảm phục.

Và tôi xin mượn bài thơ vẽ chân dung rất hay và chính xác về Phạm Thành của nhà thơ Thế Dũng để kết thúc bài viết này:

“Bà đầm xòa cũng …lắm râu
Bệnh Chí Phèo tưởng tuyệt lâu…Ai dè…
Di căn tác hoại bét nhè
70 năm ám lập lòe ma chơi

Cò hồn lừa mấy chân trời…
Xã không hội…Đảng thay Giời được không?
Nghĩa Văn hồn Chữ xé lòng
Giáp chiến Cộng sản tay không giữa đời.”

Leipzig ngày 2-2-2015

© Tác giả:

© Đàn Chim Việt

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

►Người dân phải ‘bước qua tâm lý sợ hãi’

Posted by hoangtran204 on 10/02/2016

Người dân phải ‘bước qua tâm lý sợ hãi’

9-2-2016

Luật sư Lê Công Định, nhà hoạt động dân chủ và cựu tù nhân chính trị Việt Nam, vừa nhận được quyết định kết thúc thời gian quản chế trong ba năm từ 2013.

Từ Sài Gòn, ông trả lời phỏng vấn của BBC Tiếng Việt.

Luật sư Định cho biết ông dự định “trở lại nghề tư vấn luật”.

BBC: Anh có dự định gì cho công việc sau khi kết thúc thời gian quản chế?

LS Lê Công Định: Trước mắt tôi định đi thăm một số nơi mà đã lâu rồi tôi chưa có dịp đến chẳng hạn như ở miền Trung hoặc miền bắc Việt Nam, kể cả miền Nam là nơi trước đây khi đi làm tôi có đi nhiều.

Về kế hoạch làm việc tôi dự định trở lại nghề tư vấn luật, mặc dầu giấy chứng chỉ hành nghề luật sư của tôi đã bị rút kể từ khi tôi bị bắt năm 2009. Nhưng tôi vẫn có khả năng quay trở lại hành nghề tư vấn. Nghề tư vấn luật cũng không cần đến chứng chỉ hành nghề luật sư. Chứng chỉ hành nghề luật sư thì chỉ cần thiết khi tôi xuất hiện trước tòa án. Còn khi tôi không xuất hiện trước tòa án thì công việc tư vấn vẫn diễn ra, đó là một kỹ năng bình thường của các luật gia tại Việt Nam.

BBC:Trước đó anh có nói với an ninh anh muốn có lại thẻ hành nghề, họ có trả lời gì với anh về vấn đề này không?

Họ có trả lời với tôi họ sẽ cố gắng rút ngắn thời gian để trả lại cho tôi thẻ hành nghề luật sư, tuy nhiên còn tùy thuộc vào thái độ của tôi. Ý tức là nếu tôi vẫn tiếp tục các hoạt động với nhà cầm quyền là chướng tai gai mắt thì khả năng họ tác động để trả lại giấy phép hành nghề của tôi là xa vời hơn. Tuy nhiên đối với tôi việc có lại giấy phép hành nghề hay không cũng không quá quan trọng.

Với kinh nghiệm 20 năm hành nghề luật sư tôi cũng được nhiều khách hàng biết đến. Kỹ năng của tôi cũng không mai một bao nhiêu. Giấy phép chỉ là phương tiện về diện pháp lý thôi. Mà phương tiện đó thì trong hoạt động tư vấn luật nó không phải là một yếu tố hay điều kiện tiên quyết. Vấn đề chính vẫn là các công ty, doanh nghiệp Việt Nam họ có thực sự cần kỹ năng và lời tư vấn của tôi hay không.

BBC: Ở Việt Nam, nhiều doanh nghiệp có xu thế cố gắng tránh những người có xung đột hay vấn đề với chính quyền. Với tình huống của anh, anh nghĩ mình có thể có lại các khách hàng như xưa nữa không?

LS Lê Công Định: Điều đó rất đúng, ngày xưa thì nặng nề hơn. Nhưng bây giờ các doanh nghiệp họ suy nghĩ cũng thoáng. Họ cũng rất rõ ràng hơn. Họ cần sự tư vấn của tôi với tính cách hoàn toàn chuyên nghiệp từ phương diện pháp lý mà thôi. Cũng không có nghĩa là khi họ sử dụng dịch vụ pháp lý của tôi là họ dính với vấn đề chính trị của tôi. Điều đó đã được xem nhẹ hơn.

Điển hình là tôi đã gặp lại rất nhiều khách hàng cũ trước đây rất sẵn lòng sử dụng lại dịch vụ tư vấn của tôi. Và nhất là đối với những giao dịch thương mại có tính chất quốc tế, họ tin là tôi làm việc hiệu quả. Đó cũng là một ưu thế của tôi.

BBC: Nhưng anh đã rời xa nghề nghiệp đã lâu, cả thời gian chịu án tù và quản chế, anh nghĩ mình có khả năng cập nhật lại dòng chảy chung không?

Tư vấn luật và kỹ năng tư vấn gần như là máu thịt của mình. Tôi có thể mất gần bảy năm xa rời nghề luật sư, nhưng tôi biết khi trở lại tôi không mất bao nhiêu thời gian để cập nhật hóa. Vấn đề quan trọng trong nghề luật của tôi là cập nhật lại các luật mới ban hành. Trong ba năm vừa rồi bị quản chế, tôi vẫn liên tục cập nhật và tôi tự tin không có sự mai một hoặc hụt hơi nào để tôi bắt kịp dòng chảy hiện đại của nghề tư vấn luật tại Việt Nam.

Image copyrightFB Tran Thu Nam

Image captionCác luật sư hỗ trợ pháp lý trong vụ Đỗ Đăng Dư thiệt mạng trong tù

BBC: Khác với thời anh bị bắt, giờ đây số lượng các luật sư công khai công việc đấu tranh của mình đã xuất hiện khắp nơi, anh nhìn thấy trước sự biến đổi gì của xã hội dựa trên lực lượng này?

Tôi rất ngạc nhiên và rất vui mừng vì các đồng nghiệp của tôi bây giờ đã dấn thân nhiều hơn. Vào cái thời trước 2009, số luật sư tham gia bào chữa cho các nhà bất đồng chính kiến chỉ đếm trên đầu ngón tay. Đó cũng là lí do mà tôi trở thành cái gai trước mắt của nhà cầm quyền.

Khi tôi ra khỏi tù, tôi thấy một lực lượng luật sư, không chỉ những luật sư lớn tuổi mà kể cả các luật sư trẻ, thậm chí mới vào nghề, họ cũng rất sẵn sàng dấn thân. Tôi rất kỳ vọng vào lực lượng luật sư này.

Nhà cầm quyền cũng ngại họ bởi đây là một giới có sự hiểu biết pháp luật nhất định. Bởi vì rất nhiều nơi ở Việt Nam, các quan chức nhiều khi làm việc không để ý đến vấn đề tuân thủ luật pháp, đưa đến vấn đề cửa quyền, quan liêu. Người dân thường rất khổ vì đối mặt với các thủ tục pháp lý đôi khi không được tuân thủ đàng hoàng.

Tiếng nói và sự dấn thân của giới luật sư sẽ giúp cho người dân hiểu rõ hơn quyền lợi của mình. Nhà cầm quyền cũng ngại.

Đứng từ góc độ phát triển quốc gia thì tôi thấy sự dấn thân và lên tiếng của các luật sư là tốt cho sự phát triển đất nước. Còn nếu nhà cầm quyền ngại thì họ nên cần thay đổi suy nghĩ của mình để chấp nhận vai trò của giới luật sư ngày càng tăng trong xã hội.

BBC: Giới luật sư bây giờ có còn đơn độc như thời của anh nữa không?

Tôi không thấy sự đơn độc bây giờ nữa bởi vì tôi thấy rất nhiều trường hợp xảy ra, rất nhiều luật sư được sự đồng tình của nhiều tầng lớp xã hội khác nhau. Thậm chí khi luật sư bị nạn thì rất nhiều người ở nhiều giới khác nhau cũng đã lên tiếng ủng hộ. Người ta cũng tập hợp lại để nói tiếng nói ủng hộ luật sư hoặc những luật sư gặp nạn. Sự cô đơn như thời của tôi không còn nữa.

Thời xưa, phải nói thật là rất cô đơn. Tôi đại diện cho một số nhà bất đồng chính kiến ra trước tòa. Khi tôi phải thực hiện những công việc lẽ ra bình thường vậy, tôi lại cảm thấy là sự nguy hiểm lúc nào cũng rình rập lấy mình. Bây giờ tôi tin là các luật sư không còn như vậy nữa, mặc dù sự e dè và ngại ngùng trong một số luật sư khác vẫn còn.

Image copyrightFacebook LS Tran Van Dat

Image captionNgười tù Huỳnh Văn Nén cũng đã được trả tự do sau nhiều năm đấu tranh của gia đình và các luật sư hỗ trợ ông

BBC: Liệu xu thế này có được duy trì lâu không, hay lại chìm xuống như nhiều trào lưu của giới trí thức?

Sự vận động này rất là tất nhiên của xã hội nên tôi không tin là nó sẽ chìm xuống. Trước 2009, chỉ có vài luật sư thôi. Còn bây giờ càng ngày càng nhiều. Xu thế này càng gia tăng, vì các luật sư ngày càng ý thức được vai trò của mình và họ hiểu sức mạnh của mình chính là luật pháp. Mà luật pháp đâu phải do các luật sư đặt ra mà chính do nhà cầm quyền đặt ra. Vậy sự tuân thủ luật pháp cũng là cách tốt nhất để nhà cầm quyền dựa vào đó để tiếp tục sự cai trị tốt đẹp với quốc gia. Còn nếu họ từ chối điều đó thì họ đã quay ngược lại chống lại chính bản thân hệ thống của mình.

Xu thế này không thể chìm xuống như một phong trào, bởi đây không phải là vấn đề chính trị mà cứ có đàn áp thì chìm xuống. Đây là sự vận động tất yếu của lịch sử và xã hội.

BBC: Mình đã nói nhiều về luật sư, giờ tôi muốn hỏi anh người dân cần thêm gì để họ có thể tự chủ hơn?

Người dân cần phải bước qua tâm lý sự hãi để có thể bảo vệ quyền lợi của mình một cách thiết thực hơn. Luật pháp và hiến pháp Việt Nam hiện giờ cũng đã quy định rất rõ ràng các quyền và lợi ích công dân. Vấn đề là chúng ta có yêu cầu nhà cầm quyền thực thi các lợi ích đó hay không thôi.

Đừng có sự e dè nào hết, tiếng nói của người dân vẫn được nhà nước lắng nghe mà. Tại sao chúng ta không tận dụng quyền và lợi ích hợp pháp của mình đã ghi nhận trong hiến pháp và luật pháp để chúng ta đòi hỏi sự thực thi đúng đắn? – Người dân cần phải bước qua tâm lý sợ hãi đó để thúc đẩy sự đồng hành của các cơ quan nhà nước.

BBC: Làm sao để thuyết phục người dân tin rằng họ có ảnh hưởng? – Trong khi tôi phỏng vấn 1 số người trẻ về đại hội Đảng, họ nói họ không quan tâm vì cảm thấy mình chẳng có ảnh hưởng gì và cũng chẳng liên quan gì tới họ. Ông nghĩ sao về tâm lý mình không can dự gì hết?

Theo tôi, Đại hội Đảng quả nhiên không phải của người dân. Dù nó có ảnh hưởng đến sự phát triển của đất nước trong ít nhất 5 năm sắp tới nhưng đó vẫn là nội bộ của Đảng Cộng sản mà thôi. Nếu những người trẻ trả lời họ cảm thấy đó không phải là vấn đề của mình thì tôi hoàn toàn đồng ý với họ. Bản thân tôi có quan tâm đến đại hội đó, nhưng tôi cũng không thấy nó liên quan gì đến mình hết. Việc ai trở thành nhà lãnh đạo tối cao của Đảng Cộng sản với tôi không quan trọng.

Nhưng có một điều này cần phải lưu ý. Tháng Sáu năm nay là bầu cử Quốc hội. Tôi nghĩ Quốc hội mới là vấn đề của đất nước và của toàn dân. Và nếu chúng ta thấy bầu cử Quốc hội không phải là vấn đề của chúng ta, thì chúng ta đã từ chối thực thi quyền lợi của chính mình. Người trẻ và người dân phải rất quan tâm tới kỳ bầu cử này.

BBC: Với nhiều người dân, đặc biệt là ở nông thôn, có khi họ còn không hiểu họ đang gạch tên hay để lại tên ứng viên nào và việc đó có nghĩa là gì, thì làm sao có thể thuyết phục họ hiểu hành động của họ đang ảnh hưởng tới vận mệnh đất nước?

Từ bao nhiêu năm nay, bầu cử Quốc hội hay đại biểu hội đồng nhân dân hoàn toàn có tính chất hình thức. Người dân đã để cho Đảng Cộng sản tự mình quyết định mọi vấn đề, tự chọn những ứng viên, tự chọn luôn cả người đắc cử.

Tại sao người dân không bằng chính lá phiếu của mình, tự quyết định vận mạng của mình? Mặc dù biết rằng thủ tục này do Đảng Cộng sản lựa chọn ứng cử viên cũng như người đắc cử cũng chưa chắc có sự rộng mở hơn trong tương lai. Tuy nhiên nếu chúng ta không quyết định sử dụng lá phiếu của chính mình thì chúng ta cũng không thể trông chờ có sự thay đổi nào từ phía Đảng Cộng sản được!

BBC: Nói tới bầu cử Quốc Hội, vậy anh nghĩ sao về việc ông Nguyễn Quang A tự ứng cử?

Tôi hoàn toàn ủng hộ quyết định của ông Nguyễn Quang A. Đó là một người có uy tín trong xã hội. Việc ý thức được vai trò của mình cũng như sự cần thiết phải có một cuộc bầu cử quốc hội trung thực và công bằng, nó phải được thực thi bởi những ứng cử viên có tính chất độc lập như vậy.

BBC: Nhưng anh có lo ngại việc vận động của ông Nguyễn Quang A sẽ gặp nhiều khó khăn không?

Tất nhiên là ông Nguyễn Quang A sẽ gặp nhiều khó khăn từ phía nhà cầm quyền. Với kinh nghiệm của tôi chẳng hạn, năm 2007 tôi cũng ra ứng cử đại biểu Quốc hội và tôi cũng gặp những khó khăn từ phía cơ quan tổ chức bầu cử tại địa phương. Họ có nhiều cách và nhiều phương thức để loại tôi ra.

Quả nhiên trong hai vòng hiệp thương tại nơi cư trú và tại nơi làm việc, tôi bị loại ra vì phạm vào những cái trò mà người ta cố tình sử dụng đến để loại những ứng cử viên độc lập như tôi. Nhưng đó là năm 2007. Bây giờ là chín năm sau rồi, xã hội đã hoàn toàn cởi mở.

Tuy ông Nguyễn Quang A sẽ gặp những khó khăn như tôi thôi, nhưng khả năng ông vượt qua được những trò đó sẽ dễ dàng hơn. Tôi tin là nếu xã hội đồng lòng ủng hộ ông thì tôi tin ông có thể vượt qua. Cơ hội ông trúng cử vào quốc hội là hoàn toàn có thể có chứ không phải không.

Image copyrightvepr.edu.vn

Image captionÔng Nguyễn Quang A, một trí thức đã tuyên bố ông tự ứng cử

BBC: Anh có thể nói rõ hơn những khó khăn năm 2007 anh gặp là gì khi quyết định ra ứng cử?

Trong vòng đầu tiên, vòng hiệp thương tại nơi cư trú, người ta đã tổ chức sẵn và gây áp lực sẵn với người dân khu phố tại nơi tôi cư trú để chỉ trích tôi hai vấn đề, một là tôi ủng hộ tư tưởng dân chủ, đa nguyên, đa đảng; hai là tôi không có gần dân.

Thế nào là gần dân thì họ giải thích là tôi không chịu đi họp tổ dân phố, tôi không đến thăm nom những người dân khu phố lúc bình thường. Quả thật, tôi rất ít làm chuyện đó. Nghề luật sư của tôi rất bận rộn.

Nhưng sự đóng góp cho xã hội đâu phải tối ngày chúng ta phải đi gặp người dân vỗ về họ hàng ngày mới là gần dân. Và những đóng góp của chúng ta có thể thiết thực hơn việc đi nói chuyện tào lao hoặc là hỏi thăm hình thức. Sự đóng góp cho xã hội có nhiều hình thức, vị trí và vai trò khác nhau.

Họ lợi dụng khái niệm gần dân đó rất tùy tiện để tìm cách loại tôi ra. Và họ cũng sử dụng ý tôi cổ vũ đa nguyên, đa đảng có gây nguy hiểm với chế độ chính trị hiện nay. Những người phát biểu những lời đó, tôi nói thật, tôi nhận ra họ không phải là những cư dân trong khu phố của tôi. Họ ở đâu đến, được gài sẵn và đứng lên phát biểu chỉ trích tôi. Đó là cách tôi gặp phải trong cuộc hiệp thương tại khu phố.

Sau cuộc hiệp thương đó, một lần tôi đi công tác ở An Giang, vào lúc 7h15 phút sáng, tức là lúc đó tôi còn chưa thức dậy, bởi cuộc họp của tôi ở An Giang là 8 giờ. Sáng hôm đó, có một vị có vai trò rất quan trọng trong hội đồng bầu cử địa phương đã gọi trực tiếp vào số điện thoại của tôi để yêu cầu tôi rút tên ra khỏi cuộc hiệp thương tại nơi làm việc của tôi. Và họ vận động tôi là phải rút tên vì tôi đã không được nhiều sự ủng hộ lắm. Tôi đã từ chối. Tôi biết đó là cách gây áp lực của họ với một ứng cử viên độc lập. Tất nhiên, tôi không chịu rút.

Kết quả là họ tiếp tục tác động vào nơi làm việc của tôi, dàn dựng trước một cuộc hiệp thương để mọi người đứng lên tiếp tục công kích tôi vì tư tưởng đa nguyên đa đảng của tôi, và lên án tôi chẳng đóng góp gì cho nghề nghiệp luật sư hết, dù lúc đó tôi là Phó chủ nhiệm Đoàn luật sư. Đó là cách họ làm để loại tôi ra khỏi những ứng cử viên trong hai vòng hiệp thương.

Tôi nghĩ là anh Nguyễn Quang A cũng sẽ gặp những việc như vậy, và phải chuẩn bị trước để đối phó. Thời điểm đó tôi cũng thừa biết mình sẽ không trở thành một ứng cử viên được đưa vào danh sách đâu, nhưng đó là một cách để tôi kiểm chứng thế nào là bầu cử tự do ở Việt Nam. Việc đó cũng cho tôi một số kinh nghiệm có thể chia sẻ với những ứng cử viên trong tương lai.

BBC: Nói một chút về thời gian anh vào tù năm 2009, anh nói nhiều lần về sự cô đơn, vậy sự cô đơn lúc đó là thế nào?

Thực ra lúc tôi vào tù, nói thật tôi cảm thấy rất nhiều tổn thương. Đến khi tôi ra tù tôi mới thấy trong thời gian đó sự ủng hộ dành cho tôi cũng nhiều. Tôi cảm thấy vui, nhưng cũng có nhiều chỉ trích vì họ không hiểu hoàn cảnh cụ thể của tôi bên trong nhà tù thế nào, họ hoàn toàn dựa trên báo của nhà nước đưa tin ra và công kích tôi. Tôi cũng buồn.

Nhưng tôi lạc quan. Tôi dấn thân vì lý tưởng của tôi. Tôi chấp nhận mất tất cả, tôi vào tù vì lý tưởng của tôi chứ không phải vì tôi cần sự ủng hộ của ai. Cho nên việc mọi người hiểu hay không hiểu, công kích tôi củng rất bình thường vì ai cũng có quyền nói lên suy nghĩ của mình. Đối với tôi điều đó không quan trọng.

Sau này, khi nhìn lại những năm trong tù, vô vàn những khó khăn mà tôi không thể hình dung được. Trước khi vào tù tôi cũng không nghĩ là sẽ có lúc mình có thể sống khó khăn đến mức đó.

Nhưng tôi cũng vượt qua rồi. Không có điều gì có thể làm tôi nản lòng. Những công kích chỉ trích chỉ là cơn gió thoảng. Tôi không quan tâm. Những gì tôi cần làm tôi sẽ làm.

http://www.bbc.com/vietnamese/vietnam/2016/02/160208_le_cong_dinh_interview

Posted in Bầu cử Ứng Cử Tự Do- Kêu Gọi Thể Chế Dân Chủ -, Chinh Tri Xa Hoi, Dân Chủ và Nhân Quyền, Luật Pháp | Leave a Comment »

►Tết tây, Tết ta — Hàng chục máy bay chở tiền in từ nước ngoài về Venezuela- giúp nhớ lại VN thời 1990…

Posted by hoangtran204 on 09/02/2016

TẾT TÂY VÀ TẾT TA

Nguyễn Hưng Quốc

8-2-2016

Cũng giống mọi người Việt Nam sinh sống ở hải ngoại, mỗi năm tôi có đến hai cái tết: Tết Tây và Tết ta.

Tết Tây thì long trọng hơn hẳn. Thường, tôi được nghỉ đến hơn một tuần. Trước Tết, bạn bè, đồng nghiệp gửi thiệp chúc mừng năm mới và tặng quà cho nhau. Đêm giao thừa, người ta ùn ùn kéo đến khu vực trung tâm thành phố để xem pháo hoa. Sau Tết, trong trường có những cuộc họp để bàn về kế hoạch cho năm mới. Bởi vậy, dù không nghĩ đến, không khí Tết vẫn bàng bạc ở mọi nơi và mọi lúc. Vậy mà, lạ, đối với Tết Tây, tôi vẫn ơ hờ. Nghỉ, ừ, thì nghỉ. Chúc Tết, ừ, thì chúc Tết. Nhưng tự thâm tâm, tôi vẫn có cảm giác đó là cái Tết của người khác. Chứ không có gì liên hệ với mình.

Tết ta thì khác. Năm nay ngày mồng một Tết rơi vào thứ Hai, tôi vẫn đi làm và đi họp bình thường. Nếu không đến các khu chợ Việt Nam và không dự các buổi hội chợ Tết được tổ chức rải rác đây đó, người ta sẽ không thấy tết đâu cả. Gia đình tôi lại không có bàn thờ, không có thói quen cúng kiếng và không đến chùa hái lộc đón giao thừa nên càng không có không khí Tết. Ở nhà không có cành mai hay chậu cúc. Bà xã tôi chỉ làm một vài món ăn ngày Tết và mua một hai cái bánh chưng, bánh tét gọi là… Vậy mà, không hiểu sao, Tết ta vẫn cứ ám ảnh tôi mãi. Gần đến Tết, trong lòng vẫn xôn xao. Đến Tết, làm việc thì làm việc, nhưng sâu tận trong tâm khảm, vẫn có chút gì nao nao, bâng khuâng, và đặc biệt, có chút gì thật hiu hắt.

Tại sao lại hiu hắt?

Hiu hắt, tôi nghĩ, trước hết, là vì nhớ quê hương. Tôi tin tất cả mọi người hiện đang sống ở hải ngoại, với những mức độ khác nhau, đều nhớ quê hương, nhất là trong những ngày Tết, lúc, theo truyền thống, mọi người trở về quê quán để tụ tập với đại gia đình, bà con, hàng xóm. Theo giới nghiên cứu về Lưu vong học (Diaspora Studies), một trong những đặc điểm chung nhất và nổi bật của các cộng đồng lưu vong trên thế giới là lúc nào cũng đau đáu với một số ký ức tập thể về quê gốc để, dù thành công đến mấy, người ta vẫn thấy ít nhiều lạc lõng trên miền đất mới. Với người Việt Nam, vốn có truyền thống gắn bó với quê quán, những nỗi nhớ ấy càng phổ quát và càng da diết. Cứ mở các tờ báo xuân bằng tiếng Việt ở khắp nơi thì thấy. Ở đâu cũng tràn đầy nỗi nhớ. Nhớ những phong tục cũ. Những hình ảnh cũ. Những tâm tình cũ. Người ta nhớ cả những truyền thuyết và truyện cổ tích xa xưa về bánh dày, bánh chưng và dưa hấu.

Bản thân tôi, đã hơn mười một năm rồi, không được về lại Việt Nam, đến Tết, lại càng nhớ. Khái niệm quê hương, trong nỗi nhớ của tôi, rất cụ thể. Đó là ba tôi, anh em tôi, bạn bè tôi. Đó là không khí với những mùi hương và những tiếng động, từ tiếng cười đến tiếng nói, từ tiếng rao hàng đến tiếng động cơ qua lại trên đường phố. Nỗi nhớ, bình thường mênh mang và man mác, đến ngày Tết, trở thành nặng trĩu, có lúc dường như rưng rưng.
Hiu hắt còn là vì nhớ quá khứ. Hầu hết những nỗi nhớ ngọt ngào nhất của tôi liên quan đến ngày Tết là những kỷ niệm ngày thơ ấu. Gần Tết, tiếng heo kêu eng éc từ đầu thôn đến cuối xóm. Mang thịt về, mẹ tôi bày nấu đủ thứ, từ thịt kho, thịt hầm, thịt luộc đến các loại bánh nhân thịt như bánh tét và bánh ít. Có lẽ chỉ có ngày Tết là mọi người được ăn thịt thoả thuê. Nhưng trong các thứ bánh, không hiểu sao, đọng lại trong ký ức tôi nhiều nhất là bánh tổ. Đó là loại bánh cực giản dị, chỉ có bột nếp và đường, để được rất lâu. Lâu đến độ có khi bánh bị mốc. Nhưng không sao cả. Người ta chỉ cần lạn cắt lớp mốc ấy đi và bỏ bánh lên chão dầu chiên cho giòn. Là ăn được. Ngon vô cùng.

Mẹ tôi mất vào rằm tháng giêng. Rất gần Tết. Nên Tết nào tôi cũng nhớ mẹ. Nhớ bàn tay thoăn thoắt của bà những lúc chuẩn bị thức ăn ngày Tết. Nhớ cồn cào những món bà nấu. Sau này, tôi có dịp thưởng thức nhiều món ăn nổi tiếng trên thế giới, nhưng hình như không có món nào ngon như những món mẹ tôi nấu. Tôi biết, cách đánh giá ấy rất chủ quan. Nhưng việc ăn uống nào mà lại không chủ quan? Ăn, chúng ta đâu phải chỉ ăn thực phẩm. Trong cái ăn còn biết bao nhiêu là kỷ niệm. Kỷ niệm lúc càng nhỏ tuổi lại càng sâu đậm.

Nhưng cảm giác hiu hắt xuất phát nhiều hơn, nếu không muốn nói là nhiều nhất, từ nỗi bế tắc khi nghĩ đến tương lai của Việt Nam. Đại hội thứ XII vừa kết thúc. Thường, trong sinh hoạt chính trị Việt Nam, các đại hội mỗi năm năm ấy là một dấu mốc lớn. Nhưng đại hội vừa qua lại không có chút hứa hẹn thay đổi nào cả. Ông Nguyễn Phú Trọng đã từng làm tổng bí thư năm năm; suốt năm năm ấy, ông không có chút cải cách. Thêm năm năm nữa, chắc chắn ông cũng vẫn vậy. Vẫn rất giáo điều và bảo thủ. Ông vẫn quyết tâm dẫn dắt cả nước vào cuộc phiêu lưu xây dựng chủ nghĩa xã hội mà ông biết chắc, như có lần ông thừa nhận, còn rất đỗi xa vời, đến tận cuối thế kỷ, chưa chắc đã thành hiện thực. Để đánh đổi cho cuộc phiêu lưu ấy, kinh tế Việt Nam vẫn tiếp tục trì trệ; giáo dục và đạo đức vẫn tiếp tục suy đồi; tham nhũng vẫn tiếp tục tràn lan; người dân vẫn tiếp tục khốn khổ; và, quan trọng hơn, Việt Nam vẫn đối diện với nguy cơ xâm lấn từ Trung Quốc.

Một chế độ độc tài chỉ có thể cáo chung với một trong hai nguyên nhân: tự thay đổi hoặc bị đánh đổ.

Với bộ máy lãnh đạo hiện nay, viễn ảnh thứ nhất hoàn toàn bất khả. Không hy vọng gì những người như ông Nguyễn Phú Trọng sẽ theo gót các nhà lãnh đạo ở Miến Điện để chấp nhận trao quyền lực lại cho những chính khách được dân bầu trong một cuộc bầu cử thực sự tự do và minh bạch. Mà Việt Nam cũng chưa có những nhà đối lập có tầm vóc quốc tế để có thể tập hợp lực lượng đông đảo hầu đối đầu với nhà cầm quyền.

Còn viễn tượng bị lật đổ? Tôi nghĩ khả năng này, nếu có, cũng còn xa. Lý do, giống như trên, lực lượng đối lập vẫn còn nhỏ và yếu. Dĩ nhiên, vẫn có khả năng bùng nổ cách mạng. Các cuộc cách mạng ở các nước Ả Rập vào đầu năm 2011 cũng rất bất ngờ, không ai, kể cả giới chính khách và giới tình báo Tây phương, có thể tiên đoán được.

Người Việt Nam có thói quen nuôi một số hy vọng nào đó khi đón Tết. Riêng đối với tình hình chính trị tại Việt Nam trong năm Bính Thân này, tôi chưa thấy có chút hy vọng gì cả.

Nên càng nghĩ càng thấy hiu hắt.

***

NGUỒN: NGUYỄN HƯNG QUỐC BLOG TRÊN VOA

***

* Blog của Tiến sĩ Nguyễn Hưng Quốc là blog cá nhân. Các bài viết trên blog được đăng tải với sự đồng ý của Ðài VOA nhưng không phản ánh quan điểm hay lập trường của Chính phủ Hoa Kỳ.

————

“Hàng chục máy bay chở tiền từ nước ngoài về Venezuela”

vneconomy

5-2-2016

17 năm chi tiêu không kiểm soát đã khiến ngân sách của đất nước sở hữu trữ lượng dầu lửa hàng đầu thế giới kiệt quệ…

 

“Hàng chục máy bay chở tiền từ nước ngoài về Venezuela”

Người dân ở thủ đô Caracas của Venezuela xếp hàng chờ mua thực phẩm – Ảnh: WSJ/EPA.

An Huy

Mấy tháng gần đây, gần 40 máy bay chở hàng loại Boeing 747 xuất phát từ nhiều quốc gia khác nhau trên thế giới đã đáp xuống Venezuela, mang theo một thứ để phục vụ cho nền kinh tế đang khốn đốn của nước này.

Nguồn tin thân cận tiết lộ với tờ Wall Street Journal rằng, thứ mà những chiếc máy bay đó chở tới Venezuela không phải thực phẩm hay thuốc men, mà là một thứ khác nước này cũng đang rất thiếu: tiền mặt – loại đồng nội tệ Bolivar.

Lạm phát “vô địch”

Những chuyến hàng này là một phần trong kế hoạch nhập khẩu ít nhất 5 tỷ tờ tiền mà chính quyền Tổng thống Nicolas Maduro đặt sản xuất ở nước ngoài trong nửa cuối năm 2015. Mục tiêu của kế hoạch là tăng nguồn cung đồng Bolivar vốn đang ngày càng mất giá trầm trọng – nguồn tin cho biết.

Mọi chuyện vẫn chưa dừng ở đó. Tháng 12/2015, Ngân hàng Trung ương Venezuela bắt đầu đàm phán bí mật để đặt in thêm 10 tỷ tờ tiền nữa – nguồn tin cho hay. Số lượng tiền này sẽ tăng gấp đôi lượng tiền lưu thông ở Venezuela, đồng thời lớn hơn số 8 tỷ tờ tiền mà Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) và Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) in mỗi năm.

Chưa kể, điểm khác biệt giữa đồng Bolivar với hai đồng USD và Euro là Bolivar chỉ được sử dụng ở Venezuela còn hai đồng tiền kia là đồng tiền mạnh, được dùng trên toàn thế giới.

Theo các chuyên gia kinh tế, việc Venezuela ồ ạt in tiền có thể khiến nền kinh tế nước này suy sụp nhanh hơn: bơm một lượng tiền khổng lồ ra lưu thông nhiều khả năng sẽ đẩy lạm phát tăng vọt. Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) dự báo lạm phát của Venezuela có thể lên tới 720% trong năm nay, “vô địch” thế giới.

Số liệu của Ngân hàng Trung ương Venezuela cho thấy năm 2015, lượng tiền trong lưu thông ở nước này đã tăng gấp đôi.

Ồ ạt in tiền khiến đồng nội tệ của Venezuela ngày càng yếu. Tuần này, trên thị trường chợ đen, tỷ giá đồng Bolivar so với USD đã lần đầu tiên vượt ngưỡng tâm lý 1.000 Bolivar đổi 1 USD. Trong khi đó, mức tỷ giá chính thức thấp nhất chỉ là 6,3 Bolivar “ăn” 1 USD.

Bộ trưởng Bộ Thương mại và Đầu tư Venezuela Jesus Faria ngày 3/2 cho biết nước này sắp cải tổ chính sách quản lý tỷ giá. “Rõ ràng, hệ thống tỷ giá hiện tại đã kiệt sức”, ông Faria nói.

30 người triệu người dân Venezuela có vẻ như không thể kiếm tiền tới mức đủ nhanh. “Người dân khát tiền mặt, vì họ muốn tiêu tiền nhanh nhất có thể”, ông Steve H. Hanke, một chuyên gia về tiền tệ thuộc Đại học Johns Hopkins, Mỹ, nhận định.

Ngân sách kiệt quệ

Việc mạnh tay in tiền tiêu tốn của Chính phủ cánh tả đang kẹt ngân sách của Venezuela hàng trăm triệu USD, nguồn tin cho hay. Chi phí in tiền tốn kém trở thành gánh nặng đặc biệt lớn trong bối cảnh Venezuela đối mặt với tình trạng giá dầu giảm sâu.

 

17 năm chi tiêu không kiểm soát đã khiến ngân sách của đất nước sở hữu trữ lượng dầu lửa hàng đầu thế giới kiệt quệ.

Hầu hết các quốc gia trên thế giới đều thuê các công ty tư nhân in tiền, bởi các nhà thầu này có thể đáp ứng các công nghệ chống giả tinh vi. Nhưng đối với Venezuela, việc thuê nước ngoài in tiền xuất phát từ khối lượng tiền “khủng” cần in gấp. Nhà máy in tiền của Ngân hàng Trung ương Venezuela ở Maracy chỉ có đủ giấy và kim loại để in một lượng tiền nhỏ mà nước này cần, theo nguồn tin.

Điều này đồng nghĩa với việc Venezuela phải mua đồng Bolivar từ nước ngoài bằng bất kỳ giá nào.

Nguồn tin cũng nói rằng, không một công ty in tiền nào đáp ứng được đơn hàng 10 tỷ tờ tiền, nên Venezuela đã chia đơn  hàng ra cho nhiều công ty khác nhau, bao gồm De La Rue của Anh, Canadian Bank Note của Canada, Oberthur Fiduciare của Pháp, và Giesecke & Devrient của Đức.

Giesecke & Devrient chính là công ty đã in tiền cho nước Đức thời những năm 1920, khi người dân phải chở hàng xe bò tiền đi mua bánh mỳ. Gần đây hơn, công ty này là nguồn cung cấp tiền giấy cho Zimbabwe trong thời gian nước này đối đầu siêu lạm phát, với giá cả tăng gấp đôi mỗi ngày vào năm 2008.

“Những tờ tiền mệnh giá lớn không gây ra lạm phát, mà chúng là kết quả của lạm phát”, ông Owen W. Linzmayer, một chuyên gia về tiền ở San Francisco, Mỹ, phát biểu. “Những tờ tiền mệnh giá lớn thực ra có thể tiết kiệm chi phí cho Ngân hàng Trung ương Venezuela, bởi thay vì phải thay thế 10 tờ tiền cũ, người ta chỉ cần 5 tờ, thậm chí là một tờ”.

Nguồn tin nói rằng, đơn đặt in tiền mới nhất của Ngân hàng Trung ương Venezuela chỉ đặt các tờ 100 và 50 Bolivar, bởi các tờ 20, 10, 5 và 2 Bolivar hiện có giá trị dưới chi phí sản xuất.

Trong một bức ảnh lan truyền trên mạng xã hội của Venezuela gần đây, đầu bếp trong một nhà hàng dùng một tờ tiền mệnh giá 2 Bolivar để lót tay khi cầm cán chảo, vì tờ tiền này không đủ để mua một tờ giấy ăn!

——–

Venezuela vẫn còn thua VN xa. Kỷ luật mà VN đã từng đạt được dưới thời Lê Duẫn và Nguyễn Văn Linh và cho đến năm 2016, vẫn chưa có nước nào theo kịp.

Lạm phát của VN trong giai đoạn 1986-1989 (theo tài liệu của LHQ) lên đến 900%. Đó là lý do sụp đổ của nền kinh tế XHCN mà đảng cộng sản VN từng huênh hoang ca ngợi. Đó cũng là lý do đảng CSVN và nhà nước CHXHCNVN phải tuân lệnh của Mỹ và Liên Hiệp Quốc rút khỏi Kampuchia trong thời hạn 36 tháng, chấm dứt vào tháng 9/1989. Giấc mơ thành lập Liên Bang Đông Dương gồm 3 nước Việt Miên Lào đã không còn nữa. Và cũng là lý do mà Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười, Phạm Văn Đồng, Nguyễn Di Niên phải bí mật qua TQ ký hiệp định Thành Đô ngày 3 và 4 tháng 9/1990, xin đặt VN dưới sự cai trị của TQ, và bán luôn hai quần đảo HS và TS, dẫn đến cuộc ký kết nhường đất tại biên giới Việt Trung  qua Hiệp định Biên giới Trên Bộ ký ngày 31-12-1999. Thác Bản Giốc, Ải Nam Quan, Núi Đất, nhiều vùng ở Móng Cái…đều lọt vào tay Trung Quốc. 

Tỷ giá đồng bạc VN trong tháng 2/2016 là 1 USD = 22 560 đồng, làm cho đồng tiền VN thuộc loại vô giá trị nhất thế giới trong suốt 25 năm qua, và chưa nước nào đuổi kịp!

Ồ ạt in tiền khiến đồng nội tệ của Venezuela ngày càng yếu. Tuần này, trên thị trường chợ đen, tỷ giá đồng Bolivar so với USD đã lần đầu tiên vượt ngưỡng tâm lý 1.000 Bolivar đổi 1 USD. Trong khi đó, mức tỷ giá chính thức thấp nhất chỉ là 6,3 Bolivar “ăn” 1 USD…”

Posted in Kinh Te, Lạm Phát - Vàng - Đôla, Tài Chánh-Thuế | Leave a Comment »

►Các trận thư hùng ở Ba Đình vẫn còn tiếp diễn…

Posted by hoangtran204 on 06/02/2016

Lê Minh Nguyên

3-2-2016

Ảnh: internet

Ảnh: internet

 

 

Trong tác phẩm thi văn Cung Oán Ngâm Khúc có câu: Giết nhau chẳng cái Lưu Cầu/ Giết nhau bằng cái ưu sầu độc chưa? 

Lưu Cầu hay Okinawa sau này, là nơi nổi tiếng về rèn gươm ở Nhật Bản, có ý nghĩa là bằng gươm đao.

Đại Hội 12 Đảng CSVN có 5.200 an ninh và binh sĩ đằng đằng sát khí Lưu Cầu canh gác chung quanh, nhưng ông Dũng đã bị hạ bằng loại vũ khí thâm độc hơn gươm đao, đó là bằng sự nhục nhã trong Hội Nghị Trung Ương 14 (từ 11-13/1/2016). Đại hội chỉ là vở tuồng trình diễn ngoài công chúng để che đậy sự nhục nhã đó.

Trong chế độ dân chủ thì thắng thua là chuyện bình thường, vì thua không phải là thất bại, bỏ cuộc mới là thất bại. Luật chơi của dân chủ không giới hạn tuổi tác, ông Ronald Reagan khi ra tranh cử tổng thống đã sắp 70 tuổi. Nghị sĩ Bernie Sanders đã gần 75 tuổi (sinh năm 1941) và đang tranh tổng thống trong đảng Dân Chủ ngang ngửa với bà Hillary Clinton. Ông Richard Nixon thua cuộc liên miên nhưng không bỏ cuộc nên cuối cùng vẫn trở thành tổng thống.

Ông Dũng 66 tuổi, chưa đến nỗi quá già để bị loại ra khỏi cuộc chơi, trong khi luật chơi thì quá sức bất công theo kiểu lấy thịt đè người hơn là tranh đấu công bằng, như 66 tuổi không được, nhưng ông Trọng 72 tuổi thì được, như tổng bí thư phải là người miền Bắc, phải có lý luận, phải có quan hệ quốc tế (công du Trung Quốc, Mỹ, Nhật, Thái… như ông Trọng). Đại hội 12 cho ra Bộ Chính Trị 19 uỷ viên mà trong đó có tới 13 người miền Bắc (2 miền Trung, 4 miền Nam) và 4 tướng công an (Trần Đại Quang, Tô Lâm, Phạm Minh Chính, Trương Hoà Bình).

Nếu ta tạm thời chia Bộ Chính Trị Khóa 12 ra làm hai phe, phe X kinh tế thị trường hay phe thoáng và phe Lú định hướng xã hội chủ nghĩa hay phe giáo điều, thì ta có 8 uỷ viên của phe thoáng (Võ Văn Thưởng, Tô Lâm, Phạm Bình Minh, Nguyễn Văn Bình, Truơng Thị Mai, Đinh La Thăng, Nguyễn Thiện Nhân, Nguyễn Thị Kim Ngân) và 11 uỷ viên phe giáo điều (Nguyễn Phú Trọng, Vương Đình Huệ, Hoàng Trung Hải, Phạm Minh Chính, Ngô Xuân Lịch, Nguyễn Xuân Phúc, Trần Đại Quang, Đinh Thế Huynh, Tòng Thị Phóng, Trần Quốc Vượng, Truơng Hoà Bình). Tuy nhiên, dù thoáng hay giáo điều thì vở tuồng vẫn như cũ, tức các văn kiện và nghị quyết đại hội làm khung sườn cho 5 năm tới vẫn là Mác-Lê và định hướng xã hội chủ nghĩa, vẫn độc tài độc đảng với Điều Lệ Đảng cao hơn Hiến Pháp, cho nên các diễn viên sân khấu không thể hát khác hơn.

Đa số trong BCT nghiêng về ông Trọng, nhưng nhóm này có nhiều uỷ viên “có tham vọng quyền lực” như ông Quang, ông Phúc… điều mà trớ trêu thay, ông Trọng thường nói là không nên chọn vào.

Theo tin từ những nguời am hiểu nội tình CSVN ở Hà Nội cho biết, các uỷ viên được bầu vào Ban Bí Thư mà danh sách lộ ra chiều ngày 27/1 có các ông Nguyễn Hoà Bình (Viện trưởng Viện Kiểm Sát Nhân Dân Tối cao), Lương Cường (Thuợng tuớng, Thứ trưởng Bộ QP), Nguyễn Xuân Thắng (Chủ tịch Viện Khoa học Xã hội Việt Nam). Nhưng dù bầu rồi, ông Dũng đã áp lực để đưa ông Nguyễn Văn Nên (Bộ Trưởng, Chủ Nhiệm VPCP) vào thay ông Thắng, mà theo nguyên tắc nếu đã rớt BCT (ông Nên bị rớt) thì không được đưa vô bầu BBT. Do đó mà lúc gần 3 giờ chiều ngày 27/1, Thông Tấn Xã VN, cơ quan độc quyền loan tin và hình ảnh, chỉ phát phần chúc mừng TBT, vì Ban Tuyên Giáo cấm các báo đài không được đưa tin BCT và BBT, chỉ sau khi bế mạc ngày 28/1 các tin này mới được đưa ra, danh sách không có tên ông Thắng nhưng có tên ông Nên. Điều này cho thấy ông Dũng tuy bị loại nhưng thế lực vẫn còn khá mạnh.

Tại Hội Nghị Trung ương 12 và Trung ương 13, ông Hai Nhựt Lê Thanh Hải (Bí thư Saigon) vẫn còn được cơ cấu để ở lại và dự định vào ghế Thường Trực Ban Bí Thư, nhưng khi họp Trung ương 14 thì ông bị loại vì Giám Đốc Công An TP. HCM, trung tướng Nguyễn Chí Thành gởi báo cáo lên Thủ Tướng, sau đó là TBT là ông Hải có 6 sai phạm, trong đó sai phạm lớn nhất là đỡ đầu cho bà Trương Mỹ Lan của công ty Vạn Thịnh Phát, làm kinh tài cho tình báo Hoa Nam của TQ. Ông Thủ Tướng Dũng không giải quyết, ông Thành bèn gởi thẳng lên TBT. Ông Thành nay đã nghỉ hưu. Ông Hải coi như chỉ còn lo giữ mạng chứ hết nhúc nhích gì được nữa.

Ông Phan Đình Trạc, Phó Ban Nội Chính, được hai ông Trọng – Rứa cơ cấu vô BCT để sau đó sẽ là Trưởng Ban Nội chính. Ông Đinh La Thăng không được cơ cấu, nhưng BCH Trung ương mới lại giới thiệu và được trúng vào BCT còn ông Trạc thì không, chứng tỏ BCH Trung ương mới muốn loại ông Trạc, bẻ gãy thanh gươm chống tham nhũng tương lai của ông Trọng, không muốn ông Trạc chết như Nguyễn Bá Thanh hay có cơ thể bất diệt như Vương Kỳ Sơn ở TQ.

Ông Dũng bị loại một cách không công bằng và bị ông Trọng hạ nhục trong HN Trung ương 14, nó làm cho ông Dũng đã đau vì thua cuộc, lại càng đau hơn. Ông Dũng tuy còn tích sản chính trị (political capital) khá nhiều nhưng không dám sử dụng vì sợ phe ông Trọng sử dụng Lưu Cầu. Cuối cùng ông thoả hiệp với ông Trọng để được an toàn và để thân nhân, phe nhóm không bị bứng. Ông Dũng đã ra khỏi sân chơi và trận chiến bây giờ lại là giữa Quang và Trọng.

Theo tin chưa kiểm chứng thì trong ĐH12 ông Trọng chỉ đạt trên 50% phiếu một chút của 1.510 đại biểu để đắc cử vào Ban Chấp Hành Trung Ương và ông được 180 ủy viên BCHTU mới bầu vào BCT ở hạng 16/19, không có chuyện như ông nói là ông ngạc nhiên vì được bầu với số phiếu gần 100%, điều mà TS Nguyễn Quang A mai mỉa.

Ông Quang có tham vọng trở thành tổng bí thư thay thế ông Trọng. Ông Quang hiện là phe mạnh nhất trong các phe. Lý tưởng của ông là như Tập Cận Bình ở TQ, làm tổng bí thư kiêm chủ tịch nước, nhưng nếu không gom hai chức này lại được thì ông muốn nắm TBT và buông CTN. Tuy nhiên, ông Trọng lâu nay đã sắp cho ông Đinh Thế Huynh (miền Bắc, có lý luận) để lên TBT. Trong chuyến đi Trung Quốc hồi tháng 4/2015 hai ông Huynh và Quang đều có tháp tùng, nhưng ông Huynh là người được ông Trọng làm nổi bật với TQ như nhân vật số hai. Hôm đầu tháng 11/2015, khi ông Tập viếng VN, ông Huynh là người đại diện ông Trọng ra tận cầu thang máy bay để đón.

Ông Trọng hiện đang nắm gáy ông Quang vì trong tay ông Trọng hiện có hai con bài tẩy, đó là ông Quang khai tuổi giả (sinh 1950 nhưng làm lại khai sinh 1956) và ông Dương Chí Dũng khai ông Quang có dính chàm số tiền một triệu đôla, nhân chứng này vẫn còn sống và có thể khai thêm. Ngoài ra, ông Quang còn dính với ông Dũng rất sâu về kinh tế ở vùng Saigon. Ông Quang theo ông Trọng là để kiếm ghế cao chứ không phải vì thù hằn ông Dũng. Nay ông Dũng đã ra khỏi sân chơi, nên để tiến đến ghế TBT thì người ông Quang sẽ ra tay là ông Trọng. Chúng ta đã thấy ông Quang bắt đầu chém vây cánh ông Trọng, bắt các lãnh đạo của ngân hàng MHB (Phát triển đồng bằng sông Cửu Long), sân sau của ông Nguyễn Sinh Hùng (bbc.in/1QH3u40). Cho nên sắp tới, ông Quang sẽ chém ông Trọng còn thê thảm hơn là ông Trọng chém ông Dũng.

Bộ Công An đã và đang bị phân hóa, ông Tô Lâm được ủng hộ mạnh (khoảng 2/3) để trở thành bộ trưởng, trong khi thành phần còn lại ủng hộ ông Bùi Văn Nam, nhưng vì ông Nam không vào được BCT nên coi như không còn cửa, ông Tô Lâm sẽ là bộ trưởng. Trong vai trò này công luận sẽ theo sát để xem một người được Toà Đại Sứ Mỹ khen (công điện bị Wikileaks tiết lộ) truớc đây có tôn trọng nhân quyền hay không, hay chế độ độc tài khi ai vào vai thì cũng ác như nhau.

Trở lại tình trạng ông Dũng, ông ta tuy còn tích sản chính trị khá cao nhưng nó sẽ nhanh chóng biến mất nếu không được xài. Điển hình là trường hợp con gái ông (Thanh Phượng) dùng nguồn đầu tư từ Thuỵ Sĩ để xây căn hộ cao cấp ở Quận 3 (Léman Luxury Apartments, 117 Nguyễn Đình Chiểu, Phường 6, Quận 3, TP.HCM – bit.ly/1nOlssh) với nội thất sang trọng nhập cảng từ Châu Âu. Đây là khách sạn Hoàng Đế cũ của Tổng Cục 2 An Ninh Quân Đội, và dự án này đang phá sản vì giới đại gia biết ông Dũng thua nên không mua, không muốn đầu tư vào. Có vẻ như ông sẽ qua California để dự thượng đỉnh Mỹ-ASEAN về Biển Đông ngày 15-16/2 này, nhưng với tình trạng vịt què (lame duck) thì cũng chỉ là để đọc lại những gì mà BCT đã quyết. Những hậu phương của ông muốn ông phải làm một cái gì đó chứ không thể bó tay, nhưng nhìn cách ông “hy sinh đời bố để củng cố đời con” và quá khứ 10 năm thủ tướng thì ông không phải là người khai sơn phá thạch hay có thể tạo dấu ấn gì cho lịch sử.

Cái sống mũi quyền lợi cho bản thân và gia đình của ông cao quá, nó đã che mất cái nhãn quan non nước của ông. Ông Trọng không dùng Lưu Cầu để hạ ông, nhưng cho ông chết như một trọc phú ưu sầu. Ông đã trở thành một con bài thiệp, và chúng ta xem tiếp cái màn ông Quang sẽ hạ ông Trọng ra sao.

Posted in Chinh Tri Viet Nam, Nhan Vat Chinh tri, Đảng CSVN - còn đảng, còn mình..., Đảng viên đấu đá tranh giành chức vị, Độc quyền lãnh đạo | Leave a Comment »

►Trần Đại Quang lên ngôi nhờ phát hiện âm mưu đảo chánh của Phùng Quang Thanh năm 2015?

Posted by hoangtran204 on 05/02/2016

Có hay không âm mưu đảo chính của Phùng Quang Thanh?

Bùi Quang Vơm

5-1-2016

anhbasam

Phải nói rằng, lúc đầu, việc Trần Đại Quang được Bộ chính trị đảng giới thiệu và trung ương 14 nhất trí đề cử vào vị trí Chủ tịch nước làm dư luận hết sức bất ngờ. Nhiều người nghĩ, bà Tòng Thị Phóng, uỷ viên bộ chính trị hai nhiệm kỳ, nếu không làm chủ tịch Quốc Hội, thì phù hợp nhất cho bà là vị tri Chủ tịch nước. Không lẽ để bà này làm gì cho hết nhiệm kỳ cuối cùng, trong khi chẳng có gì bị cho là sai lầm. Vả lại, từ trước tới nay, Quân đội và Công an là đại diện của công cụ bạo lực, thường không nắm ngôi đứng đầu đảng và đứng đầu nhà nước, chỉ để giữ bộ mặt dân chủ và thể diện ngoại giao. Người ta buộc phải suy luận rằng, Trần Đại Quang chắc vừa lập công trạng gì rất lớn liên quan tới vận mệnh sinh tồn của chế độ. Suy luận tưởng chỉ đơn thuần là cảm tính này có lẽ lại đúng.

Theo tập quán tuyên dương công trạng trong nội bộ đảng từ trước đến nay, công đầu là công cứu giá, tức cứu nguy chế độ thường được hưởng ngôi Chủ tịch nước. Ông Lê Đức Anh đột ngột lên Chủ tịch nước vì có công giải vây cho chế độ, bằng bình thường hoá quan hệ với Trung Quốc, tránh cho chế độ một nguy cơ sụp đổ do kiệt quệ, cuối những 80. Điều này khớp với tin tức bị tiết lộ và đồn đoán về vụ âm mưu đảo chính của Phùng Quang Thanh mà Trần Đại Quang là người phát giác và trực tiếp tổ chức chiến dịch dẹp loạn. Cũng theo tin rò rỉ và dư luận, âm mưu đảo chính là có thật.

Sự hình thành âm mưu có thể bắt nguồn từ chuyến đi có quy mô khác thường của Bộ quốc phòng Việt Nam thăm Trung Quốc, từ ngày 16 đến 18 tháng 10 năm 2014, do Phùng Quang Thanh dẫn đầu cùng 16 sĩ quan cao cấp khác, trong đó có 12 người mang quân hàm cấp tướng (6 trung tướng, 6 thiếu tướng), 1 người mang quân hàm đại tá, lần lượt đến từ Bộ Quốc phòng, Bộ Tổng tham mưu, Tổng cục Chính trị, Không quân, Hải quân, Biên phòng, Thông tin và  Quân khu 2. 

Trong cuộc hội đàm ngày 17/10 với Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc Thường Vạn Toàn, hai bộ trưởng đã đạt được được “Đồng thuận nguyên tắc 3 điểm”, trong đó điểm thứ hai là “quân đội hai nước tăng cường đoàn kết, cung cấp bảo đảm vững chắc củng cố vị thế cầm quyền của Đảng Cộng sản hai nước, bảo vệ sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội”.

Sau đó, ngày 18/10/2014, một việc cũng rất khác thường là việc ký kết Bản ghi nhớ kỹ thuật về việc thiết lập đường dây điện thoại nối thẳng bảo mật giữa Bộ Quốc phòng hai nước.

Vài ngày trước đó, 16/10/2014, khi đoàn ông Thanh sang Trung Quốc, tại Milan, Italia, bên lề hội nghị cấp cao ASEM 10, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng có cuộc gặp với Thủ tướng Trung Quốc Lý Khắc Cường. Nhưng tin tức không nói gì về nội dung trao đổi.

Bước qua năm 2015, ngày 13/02/2015, trong cuộc điện đàm với Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam Phạm Bình Minh, ông John Kerry đã nhắc lại lời mời của Tổng thống OBAMA mời TBT Nguyễn Phú Trọng thăm Mỹ trong năm 2015.

Ngày 17/03/2015, Trần Đại Quang thăm Mỹ chuẩn bị cho chuyến thăm Mỹ ngày 6-10/07/2015 của Nguyễn Phú Trọng. 

Đến ngày 13/5/2015, Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam, ông Ted Osius xuất hiện lần đầu tiên trên đài phát thanh Việt Nam (VOV) chính thức tuyên bố Hoa Kỳ sẽ đón tiếp Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng với những nghi thức cấp cao nhất.

Hai ngày sau đó, ngày 15/5/2015, Bộ trưởng Quốc phòng Phùng Quang Thanh đã đón tiếp Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc Thường Vạn Toàn tại biên giới Lào Cai một cách long trọng nhân dịp tổ chức buổi Tọa đàm hữu nghị quốc phòng Biên giới Việt Nam- Trung Quốc lần thứ hai. Tại cuộc tọa đàm này có một chi tiết rất nhiều hàm ý là việc Thường Vạn Toàn tận tay trao tặng Phùng Quang Thanh chiếc bình sứ Trung Quốc, như một thông điệp “hãy giữ lấy bình quý”.

Rất có thể bằng cách nào đó, tình báo Trung Quốc đã nắm được nội dung chuyến thăm Mỹ của Nguyễn Phú Trọng, trong đó có việc nâng quan hệ Việt – Mỹ lên Đối tác chiến lược toàn diện, và những cam kết đặc biệt về quan hệ Quốc phòng, mà Trung Nam Hải coi là mối nguy hiểm như một sự phản bội chủ nghĩa. Có khả năng Trung Quốc tạo dựng một tài liệu tình báo và gây áp lực cho Phùng Quang Thanh chuẩn bị cuộc đảo chính, không cần biết có thành công, nhưng ít nhất cũng đe dọa cảnh cáo sự tồn vong của chế độ nếu thân Mỹ.

Những thông tin mật loại này có thể đã bị mạng lưới tình báo của Trần Đại Quang phát giác. Và những động tác chuẩn bị chiến dịch, có thể cũng đã bị mạng lưới an ninh chính trị quân đội nằm trong tay Bí thư TW đảng, Tổng cục trưởng tổng cục chính trị Ngô Xuân Lịch phát hiện.

Âm mưu và kế hoạch thực hiện có thể đã được dự kiến vào thời gian Nguyễn Phú Trọng thăm Mỹ.

Nhưng, ngày 19/06/2015 Phùng Quang Thanh sang thăm Pháp. Không biết có lời mời của chính phủ Pháp hay không, nhưng báo chí Pháp trong thời gian này, không hề có dòng tin nào. Bức ảnh gặp Bộ trưởng Pháp M. Le Drian cũng chỉ thấy trên các báo của Việt Nam. Báo Việt Nam không hề nói chuyến thăm này bắt đầu ngày nào và kết thúc ngày nào.

Căn cứ vào một phóng sự video của TTXVA được quay tại bệnh viện George Pompidou, thì Phùng Quang Thanh nhập viện ngày 20/06/2015, một ngày sau khi gặp Bộ quốc phòng Pháp, và xuất viện ngày 10/07, đúng ngày kết thúc chuyến thăm Mỹ của Nguyễn Phú Trọng. Như vậy, Phùng Quang Thanh có lẽ đã bị “treo” (cô lập) từ trước và suốt thời gian có chuyến thăm Mỹ của Nguyễn Phú Trọng, theo kế hoạch định trước của Bộ Chính trị. 

Trước chuyến thăm Mỹ ba ngày, ngày 03/07/2015, cùng một lúc, Tư lệnh và Chính uỷ bộ tư lệnh thủ đô, trung tướng tư lệnh Phí Quốc Tuấn và trung tướng chính uỷ Lê Hùng Mạnh nhận quyết định của “thủ tưởng cơ quan”, bàn giao tức khắc cho thiếu tướng Nguyễn Doãn Anh – Phó Tư lệnh và thiếu tướng Nguyễn Thế Kết – Phó Chính Ủy, và cả hai trung tướng nghỉ việc chờ về hưu. Lễ bàn giao do Ngô Xuân Lịch chủ trì điều khiển.

Báo tuổi trẻ đưa tin cả con và cháu của Phùng Quang Thanh đều sang Pháp đón Phùng Quang Thanh về nước, nhưng trong bản tin tường thuật ngắn tại sân bay Nội Bài, thì chỉ tả lại Phùng Quang Thanh “có vẻ khoẻ mạnh, tươi cười, tự đi và không có người dìu”, kèm theo bức ảnh chụp mờ từ xa, không hề có mặt “con và cháu” trong đám người xúm quanh. Trong khi đó, tin vỉa hè nói rằng cả Phùng Quang Hải và bà vợ ông Thanh đều “bị trúng đạn, và đều tử vong”.

Có thể suy đoán rằng, thông qua mật vụ và đặc tình, Bộ chính trị chắc đã khẳng định âm mưu đảo chính của Phùng Quang Thanh là có thật. Một kế hoạch nhằm dập tắt âm mưu đã được cấp bách thảo luận trong số những uỷ viên quan trọng nhất. Trong số này chắc không có Nguyễn Tấn Dũng, bởi dù không có bằng chứng đồng mưu, nhưng chính ông Dũng là người bổ nhiệm các ông Phí Quốc Tuấn và ông Lê Hùng Mạnh. Và đúng ngày 1/07/2015, tại hội nghị tổng kết thi đua toàn quân, ông Dũng nói Quân đội trước hết phải trung thành với Tổ quốc.

Trong những ý kiến xử Phùng Quang Thanh chắc có ý kiến đòi xử tử hình, nhưng không đựơc chấp nhận, nên tư tưởng này bị các phần tử thù ghét họ Phùng lợi dụng mượn gió bẻ măng, tự tuyên xử tử hình cho Phùng Quang Thanh, và có ý định tự tổ chức ám sát, ngay trong thời gian ông Thanh nằm viện. Những người thực hiện ý đồ này chính là những người tuồn tin cho Hãng tin Đức DPA nhằm mục đích tung hoả mù, tạo không khí thật thật, giả giả, gây nhiễu loạn để lợi dụng cơ hội thực hiện mưu đồ ám sát. Nhưng công việc đã không thành. Chắc chắn phải là người trong cuộc, có bằng chứng đủ sức thuyết phục mới được hãng tin này đưa lên mặt báo. Trong những người theo ông Thanh sang Pháp, không thể không có tai mắt của ông Lịch, thậm chí là người mà ông Thanh không thể nghi ngờ.

Phùng Quang Thanh chắc chắn sau khi rời bệnmh viện, đã được đưa về, và giam lỏng tại trụ sở bộ Tổng tham mưu. 

Ngày 16 -18 tháng 7, ông Trương Cao Lệ, Phó thủ tướng và là thành viên ban Thường vụ Bộ chính trị đảng Cộng sản Trung quốc viếng thăm Việt Nam.

Hai ngày sau, ngày 20/7/2015, Tướng Võ Văn Tuấn, phó Tham mưu trưởng quân đội CSVN đã công bố Tướng Thanh về nước ngày 25/7, đồng nghĩa với việc cho Tướng Thanh tái xuất hiện trở lại nhưng chỉ trong khuôn viên Bộ quốc phòng, không được về nhà, sau cả tháng chữa bệnh ở nước ngoài.

Những chuyện đưa đón lộn xộn sau này, chỉ là chuyện dàn dựng, và báo Tuổi trẻ được chỉ định làm con rối đầu đàn. 

Thư ký riêng của ông cho biết vì lý do chưa hoàn toàn hồi phục, ôngThanh sẽ tránh gặp đông người, ồn ào, dễ gây căng thẳng có hại cho sức khoẻ. Nhưng lần ra khỏi khuôn viên Bộ Tổng tham mưu, từ sau ngày về nước lại là tối liên hoan “Khát vọng đoàn tụ”. Tại sao lại là khát vọng đoàn tụ. Ai khát vọng, và đoàn tụ với ai. Bản nhạc mở màn lại là bản nhạc “Ca Ngợi tổ quốc” nổi tiếng của Trung Quốc.  Đêm liên hoan này đã được chuẩn bị từ trước. Nghĩa là chuẩn bị cho việc ăn mừng đảo chính thành công. Ông Quang, ông Lịch và ông Trọng vẫn lịch sự cho diễn, nhưng ông chủ của đêm diễn bây giờ được đưa đến từ phòng giam dưới hầm Bộ Tổng tham mưu. Sự xuất hiện này của ông cho biết là ông đã thú nhận để đổi lấy toàn mạng cho riêng ông và giữ được “bình” cho chế độ.

Cho đến Đại hội đảng XII, người ta vẫn cho ông lên ngồi chủ tịch đoàn. Ông phải làm tốt vai diễn để chứng thực cho sự thống nhất, đoàn kết trong nội bộ đảng. Ông phải thể hiện lòng trung thành để đổi lấy cái mạng sống của ông.

Thằng con trai của ông, đại tá Phùng Quang Hải biệt vô âm tín từ ngày ông bị cho đi chữa bệnh, không biết thực còn sống hay đã chết. Cái tổng công ty 319 của nó và của ông bây giờ chưa thấy ai gì tới triển vọng, tương lai ra sao cả.

Câu chuyện này có thật không? Khi nào người Việt có dân chủ, tức là khi nào Cộng sản đi, thì mọi việc khắc rõ.

Posted in Chinh Tri Viet Nam, Nhan Vat Chinh tri, Đảng viên đấu đá tranh giành chức vị, Độc quyền lãnh đạo | Leave a Comment »

 
Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.