Trần Hoàng Blog

Nên hay không nên cho CSVN vào TPP?

Posted by hoangtran204 on 22/05/2015

Nên hay không nên cho CSVN vào TPP?

Nguyễn Chính Kết

18-5-2015

 

quytacxuatxutrongtpp

Cách đây 20 năm, khi Hoa Kỳ muốn bình thường hóa quan hệ với CSVN và bãi bỏ lệnh cấm vận, rất nhiều người Việt trong và ngoài nước không đồng ý.

Nhưng thử đặt ngược lại vấn đề: giả sử Hoa Kỳ tiếp tục lệnh cấm vận CSVN đến ngày nay, thì trong 20 năm qua, vấn đề nhân quyền sẽ tệ hơn hay tốt hơn tại Việt Nam?

Và những vận động chính giới tại hải ngoại yêu cầu Hoa Kỳ và các nước dân chủ áp lực CSVN phải tôn trọng nhân quyền có thực hiện được không? và thực hiện thì kết quả được bao nhiêu? Có kết quả bằng hiện nay không?

Làm sao Hoa Kỳ có thể áp lực CSVN khi mà giữa Hoa Kỳ và CSVN không hề có tương quan ngoại giao?

Và khi CSVN không có tương quan ngoại giao và thương mại với thế giới, nhất là với Hoa Kỳ, thì Trung cộng sẽ ảnh hưởng mạnh hơn trên CSVN hay sẽ yếu đi?

Đừng nghĩ rằng CSVN sẽ thay đổi bản chất tàn bạo hay sẽ tôn trọng nhân quyền hơn khi vào được TPP. Đó là một ảo tưởng. Nhưng chắc chắn khi CSVN vào được TPP, thì Hoa Kỳ và thế giới có thể áp lực CSVN nhiều hơn, và CSVN sẽ bớt lệ thuộc vào Trung cộng hơn… Và những nỗ lực vận động chính giới tại hải ngoại mới có hy vọng buộc CSVN phải chùn tay đàn áp? (“Chùn tay đàn áp” chứ không phải “tôn trọng nhân quyền”. CSVN không bao giờ chấp nhận tôn trọng nhân quyền, nhưng có thể buộc phải “chùn tay đàn áp” khi bị áp lực từ dân chúng và từ quốc tế). Điều này thuận lợi cho các nhà đấu tranh dân chủ trong nước hơn.

Theo Nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa, tình trạng đàn áp nhân quyền tại Việt Nam tại Việt Nam giống như một tảng cao-su, hễ nhấn vào thì nó lõm xuống. Nhưng hễ rút ra thì nó trở lại tình trạng cũ.

Vì thế, đừng bao giờ hy vọng CSVN vào được TPP thì sẽ tôn trọng nhân quyền hơn, mà hãy hy vọng rằng Hoa Kỳ và thế giới có khả năng áp lực CSVN về vấn đề nhân quyền nhiều hơn. Muốn CSVN chùn tay đàn áp nhân quyền, thì phải luôn luôn áp lực CSVN bằng mọi cách, không bao giờ nên ngừng nghỉ. Cho CSVN vào TPP để CSVN giao thương với thế giới thì thế giới có nhiều phương tiện để áp lực CSVN hơn.

Lòng hận thù CSVN là một động lực rất tốt cho cuộc đấu tranh. Nhưng để lòng hận thù lấn át lý trí, và đóng vai trò chủ đạo hướng dẫn cuộc đấu tranh thì cũng rất bất lợi.

Cần phải thấy được cùng một lúc nhiều hậu quả xấu khi CSVN vào được TPP và không vào được TPP. Chúng ta cần phải so sánh những hậu quả ấy với nhau để biết được hậu quả nào xấu nhất, hậu quả nào xấu hơn, và sự khôn ngoan đòi buộc chúng ta phải chấp nhận hậu quả xấu nhỏ để tránh được hậu quả xấu lớn hơn.

Bị thôi miên bởi một hậu quả xấu khiến ta không thấy được hậu quá xấu lớn hơn, nên cố tránh hậu quả xấu nhỏ để rồi “tránh vỏ dưa, gặp vỏ dừa” thì thật là điều chẳng ai trong chúng ta mong muốn!

Chúng ta cần có viễn kiến khi nhìn mọi vấn đề!

Hiện nay, CSVN đang theo chính sách đu giây giữa Trung cộng và Hoa Kỳ. Đó là điều mà chúng ta không muốn, thậm chí không chấp nhận. Chúng ta muốn CSVN “thoát Trung”, bỏ hẳn Trung cộng và nghiêng hẳn về phía Hoa Kỳ. Đó là do chúng ta so sánh hiện trạng còn rất xấu bây giờ với tình trạng mà chúng ta mong muốn.

Nhưng cách đây 20 năm, khi CSVN hoàn toàn lệ thuộc vào Trung cộng và Liên Xô, thì phải nói rằng việc tạo được tình trạng CSVN đu giây giữa Trung cộng và Hoa Kỳ là một thắng lợi, nghĩa là khiến Trung cộng và Liên Xô không còn “độc quyền” ảnh hưởng trên CSVN nữa.

Chúng ta nên nhìn nhận tình trạng xấu hiện tại để tìm cách cải thiện nó, chứ đừng làm cho nó xấu hơn. Đừng đẩy CSVN trở lại vào thế hoàn toàn lệ thuộc vào Trung cộng, về kinh tế cũng như chính trị. Đừng bít đường cho việc CSVN giao thương với thế giới và Hoa Kỳ, khiến CSVN phải bám chặt vào Trung cộng nhiều hơn để tồn tại.

Houston, ngày 18/5/2015

© Nguyễn Chính Kết

© Đàn Chim Việt

http://www.danchimviet.info/archives/95925/nen-hay-khong-nen-cho-csvn-vao-tpp/2015/05

________________

Tại sao tôi “bỏ phiếu” ủng hộ Việt Nam vào TPP?

Luật Sư Nguyễn Văn Đài

10-5-2015

I/ Trước hết cần phải hiểu về bản chất và mục đích của TPP:

Chiến lược xoay trục của Mỹ về khu vực Châu Á – Thái Bình Dương nhằm mục kiềm chế tham vọng bá quyền của Trung Quốc về chính trị, quân sự, kinh tế và lãnh thổ. Bởi vậy Mỹ dựa vào 2 trụ cột chính để thực hiện chính sách xoay trục:
1/ Về quân sự: Mỹ sẽ chuyển dịch 60% lực lượng và thiết bị quân sự về khu vực Châu Á – Thái Bình Dương để bảo vệ an ninh hàng hải và răn đe Trung Quốc.
2/ Về kinh tế: Mỹ và Nhật Bản xây dựng TPP cùng 10 nước thành viên với mục đích từng bước hạn chế sức mạnh kinh tế của Trung Quốc. Thuế xuất khẩu hàng hóa trong các nước TPP chỉ từ 0-5%, bởi vậy hàng hóa xuất khẩu của các nước thành viên vào Mỹ và Nhật sẽ có giá rẻ hơn hàng hóa từ Trung Quốc. Do vậy hàng hóa xuất khẩu từ Trung Quốc vào thị trường Mỹ, Nhật Bản và các nước thành viên khác của TPP sẽ giảm dần. Sức mạnh kinh tế của Trung Quốc cũng vì thế mà sẽ suy yếu.

II/ Việt Nam vào TPP có lợi gì cho việc cải thiện nhân quyền và dân chủ hóa Việt Nam?

1/ Việt Nam không vào TPP miễn phí.

Bộ ngoại giao và chính phủ Hoa Kỳ đã đưa ra các yêu cầu cụ thể về việc cải thiện nhân quyền, xây dựng pháp luật và nhà nước pháp quyền với phía Việt Nam. Và chỉ khi nào phía Việt Nam đáp ứng các yêu cầu căn bản của Hoa Kỳ thì khi đó việc đàm phán TPP giữa Hoa Kỳ và Việt Nam mới được kết thúc đàm phán. Tôi hoàn toàn tin tưởng vào Bộ ngoại giao và chính phủ Hoa Kỳ sẽ đạt những thỏa thuận tốt nhất về nhân quyền cho Nhân dân Việt Nam.

2/ Việt Nam vào TPP sẽ giảm bớt ảnh hưởng của Trung Quốc.

Hiện tại kinh tế Việt Nam phụ thuộc nặng nề vào Trung Quốc về cả xuất và nhập khẩu. Nhưng khi Việt Nam vào TPP, xuất khẩu của Việt Nam vào thị trường Hoa Kỳ sẽ tăng nhanh chóng, từ khoảng 20 tỷ USD hiện nay, có thể lên tới 40-70 tỷ USD trong vòng vài năm. Như vậy kinh tế Việt Nam sẽ giảm bớt phụ thuộc vào Trung Quốc và phụ thuộc vào Hoa Kỳ.
Lúc đó Hoa Kỳ có nhiều sức mạnh hơn trong việc thúc đầy Việt Nam cải thiện nhân quyền, cũng như cải cách dân chủ.

III/ Không có TPP, Việt Nam sẽ như thế nào?

1/ Chế độ CS sẽ không bao giờ sụp đổ vì không có TPP.

Chúng ta đều biết rằng cộng sản sinh ra từ nghèo đói, lớn lên và trưởng thành trong chiến tranh. Họ đã từng chiến đấu chống lại các cường quốc trên thế giới. Họ chưa bao giờ bị khuất phục bởi nghèo đói, chiến tranh, bom đạn, áp lực từ bên ngoài.( Ví dụ điển hình là Việt Nam trong giai đoạn 1945-1975 và giai đoạn bị cấm vận 1975-1995, Bắc Hàn, Cu Ba hiện nay).
Không có TPP, cộng sản VN sẽ càng phụ thuộc vào Trung Quốc, và phụ thuộc một cách toàn diện. Ông Trương Tấn Sang trong một lần tiếp xúc cử chi tại Sài Gòn đã từng nói là Trung Quốc sẵn sàng cho VN vay 20 tỷ USD để cứu nguy kinh tế. Như vậy Trung Quốc sẽ không bao giờ để cộng sản Việt Nam sụp đổ.

2/ Không có TPP, tình trạng nhân quyền còn tồi tệ hơn.

Chắc chắn là như vậy, lúc đó cộng sản VN không có gì để mất, họ sẽ gia tăng đàn áp, thậm chí đàn áp khốc liệt hơn hiện nay. Có thể, họ hoàn toàn làm theo mệnh lệnh từ Bắc Kinh.

IV/ Buổi chiều ngày 6-5-2015, tôi có café với hai vị Dân biểu có quyền lực trong Quốc hội Hoa Kỳ là ông Alan Lowenthal và ông Matt Salmon. Khi họ hỏi tôi về TPP, tôi trao đổi với họ như trên. Họ đã ủng hộ quan điểm của tôi.(trong ảnh chụp tôi và hai vị Dân biểu vào chiều ngày 6-5).

V/ Kết luận:

Tôi “bỏ phiếu” để Việt Nam vào TPP bởi tôi tin tưởng vào Bộ ngoại giao và chính phủ Hoa Kỳ sẽ nỗ lực để dành được kết quả tốt nhất trong việc đối thoại nhân quyền với Việt nam.
Tôi “bỏ phiếu” để Việt Nam vào TPP bởi tôi cho rằng chế độ CSVN sẽ không bị sụp đổ vì không có TPP. Nhưng chế độ CSVN được thay đổi khi Việt Nam vào TPP.

Luật Sư Nguyễn Văn Đài's photo.

@ BBC về nạn bạo lực đối với những người hoạt động xã hội.

https://m.youtube.com/watch?feature=youtu.be&v=8u-2v52UB2Q

 _——–

Không tin Mỹ, sao còn đi vận động Mỹ?

Trong bài viết “Tại sao tôi bỏ phiếu ủng hộ Việt Nam vào TPP” của tôi có đoạn “Bộ ngoại giao và chính phủ Hoa Kỳ đã đưa ra các yêu cầu cụ thể về việc cải thiện nhân quyền, xây dựng pháp luật và nhà nước pháp quyền với phía Việt Nam. Và chỉ khi nào phía Việt Nam đáp ứng các yêu cầu căn bản của Hoa Kỳ thì khi đó việc đàm phán TPP giữa Hoa Kỳ và Việt Nam mới được kết thúc đàm phán. Tôi hoàn toàn tin tưởng vào Bộ ngoại giao và chính phủ Hoa Kỳ sẽ đạt những thỏa thuận tốt nhất về nhân quyền cho Nhân dân Việt Nam.”

Rất nhiều người đã phản đối, họ nói không thể tin vào Mỹ. Bởi trong lịch sử Mỹ từng bán đứng VNCH,…
Trong cuộc đấu tranh bảo vệ nhân quyền và vận động dân chủ, phong trào dân chủ trong nước còn quá mỏng và yếu. Không gian chính trị tại VN trong những năm qua tạm đủ để cho phong trào dân chủ đứng vững và hoạt động, không bị đàn áp thảm khốc, chính là nhờ sức ép và sự can thiệp mạnh mẽ của chính phủ Hoa Kỳ.

Tôi rất nhiều lần đi vận động nhân quyền với các cơ quan ngoại giao của các nước Châu Âu tại Hà Nội. Các viên chức ngoại giao đó thường nói với tôi rằng: nước chúng tôi nhỏ, có ít quan hệ làm ăn buôn bán với VN, nên sức ép về nhân quyền là không đáng kể. Anh nên vận động Hoa Kỳ, họ có sức mạnh mang tính quyết định.

Khi tôi ở trong tù, những lần cùng anh em Tây Nguyên đấu tranh với trại giam để cải thiện điều kiện sống. Nhiều anh em Tây Nguyên sau đó bị giám thị trại giam gọi lên và đe dọa: Thằng Đài nó có Hoa Kỳ chống lưng thì không bị làm sao. Chứ chúng mày không có ai chống lưng thì liệu hồn.

Cho dù, trong lịch sử, chính quyền Hoa Kỳ trước đây đã làm nhiều điều gây tổn thương và mất lòng tin của cộng đồng người Việt. Nhưng tôi vẫn tin rằng, ngày nay nếu không có hoặc thiếu đi sự ủng hộ của chính phủ Hoa Kỳ. Phong trào dân chủ ở Việt Nam không thể đứng vững và tồn tại.

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

Tú Kép: Bài phát biểu của TBT Nguyễn Phú Trọng so với thực tế

Posted by hoangtran204 on 22/05/2015

Tú Kép: Bài phát biểu của tổng Trọng so với thực tế

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng phát biểu tại Lễ khánh thành Tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ảnh: Hoàng Triều

Vừa qua, nhân kỷ niệm 125 năm sinh của Hồ Chí Minh (HCM), đảng Cộng Sản Việt Nam (CSVN) tổ chức một cuộc mít-tin tại Hà Nội. Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọngđọc diễn văn trình bày tiểu sử và ca tụng sự nghiệp HCM. Lời phát biểu của viên tổng bí thư thường là tài liệu học tập cho toàn đảng CS và cho thanh niên, sinh viên, học sinh trong nước. Vì vậy, cần phải so sánh lời phát biểu của người đứng đầu đảng CSVN với thực tế đã diễn ra để làm sáng tỏ tiểu sử và sự nghiệp HCM.

Trước hết, Nguyễn Phú Trọng ca tụng HCM “sinh ra và lớn lên trong một gia đình nhà nho yêu nước…” Tài liệu cho thấy thân phụ của HCM, ông Nguyễn Sinh Sắc không phải là con của Nguyễn Sinh Nhậm mà là con rơi của Hồ Sĩ Tạo. (Trần Quốc Vượng [sử gia Hà Nội], Trong Cõi, California: Nxb. Trăm Hoa), 1993, tr. 258.) Nguyễn Sinh Sắc sau đổi tên là Nguyễn Sinh Huy thi đỗ phó bảng năm 1901, xin đi làm thừa biện (thư ký) Bộ Lễ ở Huế, và mãi đến 8 năm sau mới được bổ làm tri huyện Bình Khê (tỉnh Bình Định) năm 1909. Ông Huy có tật nghiện rượu khi còn ở Huế. Năm 1906, người con gái ông Huy từ Nghệ An vào Huế thăm cha, chịu không nỗi tật nghiện rượu của cha, phải bỏ về Nghệ An năm 1907. Làm tri huyện Bình Khê chưa đưọc một năm, vào đầu 1910, trong cơn say rượu, ông Huy sai người đánh roi làm chết một tù phạm. Gia đình người nầy kiện lên triều đình. Triều đình Huế ra sấc chỉ ngày 17-9-1910 phạt đánh ông Huy 100 trượng (roi lớn), được chuyển đổi qua hạ bốn cấp và sa thải. (Daniel Hémery, De l’Indochine au Vietnam, Paris: Gallimard, 1990, tr, 133.) Vậy là tổng Trọng viết thiếu, mà phải viết đầy đủ là HCM sinh ra và lớn lên trong một gia đình nhà nho “yêu nước cay cay” mới đúng.

Trong bài phát biểu, tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng tiếp rằng HCM “ra đi tìm đường cứu nước khi 21 tuổi, với khát vọng cháy bỏng giành độc lập tự do cho dân cho nước…” Thật ra, HCM đâu ra đi tìm đường cứu nước mà chỉ ra đi tìm đường cứu nhà, vì nhà ông ta lâm vào cảnh quá khó khăn. Cha thất nghiệp, lang thang kiếm sống ở trong Nam rất cực khổ.

Rời Sài Gòn ngày 5-6-1911, HCM đến hải cảng Marseille (Pháp) ngày 6-7-1911. Hai tháng sau, tại Marseille, ngày 15-09-1911, HCM viết thư xin tổng thống và bộ trưỏng bộ Thuộc địa Pháp đặc cách cho HCM vào học Trường Thuộc Địa Paris để ra làm quan cho Pháp. Vì HCM học chưa hết lớp nhất niên (tương đương với lớp 6 ngày nay) trường Quốc Học Huế, HCM không đủ tiêu chuẩn về trình độ học vấn để vào Trường Thuộc Địa Paris, nên đơn của HCM bị người Pháp bác bỏ. Nếu các quan chức Pháp không từ chối đơn của HCM, thì đâu có chuyện ra đi tìm đường cứu nước. Việc ra đi tìm đường cứu nhà là việc tốt của mọi người, tại sao không nói cứu nhà cho đúng sự thật, mà tổng Trọng lại nói tìm đường cứu nước làm chi cho lòi ra nói láo. Giấy tờ với bút tự của HCM còn sờ sờ ra đó mà sao tổng bí thư nói láo tỉnh rụi như thiệt vậy.

“Với sự ra đời của đảng Cộng sản Đông Dương do Người sáng lập vào năm 1930…” Thực sự, HCM không sáng lập đảng Cộng Sản Đông Dương (CSĐD) mà HCM vâng lệnh và dùng tiền của Đệ tam Quốc tế Cộng sản (ĐTQTCS) để lập đảng CSĐD. Trong cuộc họp ngày 18-10-1929 tại Moscow, Ban bí thư bộ Phương Đông ĐTQTCS đưa ra khuyến cáo: “…lập tức bắt tay vào việc tổ chức đảng Cộng sản thống nhứt của Đông Dưong…” (Đảng Cộng Sản Việt Nam, Văn kiện đảng toàn tập, tập 1, tr. 609.) Đồng thời Ban bí thư bộ Phương Đông giao cho HCM, lúc đó là điệp viên CSQT chịu trách nhiệm thi hành quyết định nầy. (http://w.w.w.cpv.org.vn, Tư liệu về đảng, lịch sử đảng,)

Đảng CS được thành lập tại Hương Cảng ngày 6-1-1930, và lấy tên là đảng Cộng Sản Việt Nam. Tuy nhiên ĐTQTCS bác tên nầy và buộc phải đổi thành đảng Cộng Sản Đông Dương và cũng đổi luôn ngày thành lập là 3-2-1930. Như thế đảng CSĐD hoàn toàn là công cụ của Liên Xô, gọi dạ bảo vâng đến nỗi danh xưng và ngày tháng thành lập cũng phải tuân theo lệnh của Liên Xô. Lúc đó HCM chỉ là đảng viên CS Pháp làm việc cho ĐTQT, được gởi qua Á Châu làm nhiệm vụ gián điệp, cho đến khi về Pắc Bó, rồi cướp chính quyền năm 1945, chứ HCM chưa phải là đảng viên đảng CSĐD hay CSVN. Cho đến khi chết, HCM cũng chưa tuyên thệ vào đảng CSVN. Nhờ tổng Trọng xem lại việc nầy có đúng không?

“Dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam, cách mạng nước ta đã vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách, đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Đó là thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp mà đỉnh cao là chiến thắng Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu… Đó là thắng lợi vĩ đại của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước kết thúc bằng chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước, đưa cả nước vào kỷ nguyên độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.” (Trích bài phát biểu.)

Muốn hiểu dưới sự lãnh đạo của HCM, đảng CSVN đã vượt qua muôn ngàn khó khăn như thế nào thì phải trở lại lịch sử của đảng CSVN. Từ khi chiến tranh bùng nổ ngày 19-12-1946, CSVN thua chạy dài trên rừng núi cho đến năm 1949. Vào năm nầy, Trung Cộng thành công và thành lập Cộng Hòa Nhân Nhân Trung Hoa (CHNDTH) ngày 1-10-1949. Hồ Chí Minh qua Trung Cộng rồi qua Liên Xô cầu viện.

Tại Moscow, Stalin giao cho Trung Cộng phụ trách giúp đỡ cho CSVN. Trung Cộng gởi qua cho CSVN chẳng những quân viện mà cả các tướng lãnh và cố vấn chính trị. Do sự chỉ huy của Trần Canh, một viên tướng thân cận của Mao Trạch Đông, CSVN dùng biển người đánh thắng trận Đông Khê tháng 9-1950. Từ đó, tất cả những trận đánh của CSVN đều do quân uỷ Trung Cộng ở Bắc Kinh chỉ huy và cuối cùng trận Điện Biên Phủ cũng do Trung Cộng quyết định. (Mời đọc Qiang Zhai, China and Viet Nam Wars, The University of North Carolina Press, 2000.) Võ Nguyên Giáp chỉ là viên thư ký của quân uỷ Bắc Kinh. (Mời đọc thêm Hồi ký của những người trong cuộc, ghi chép thực về việc đoàn cố vấn quân sự Trung Quốc viện trợ Việt Nam chống Pháp, Nxb. Lịch sử đảng Cộng Sản Trung Quốc, 2002, Trần Hữu Nghĩa và Dương Danh Dy dịch.) Lê Duẫn biết rõ việc nầy nên rất xem thưòng Võ Nguyên Giáp.

Trong cuộc chiến 1960-1975, CSVN chưa thắng một trận lớn nào, kể cả trận Mậu Thân năm 1968 và trận Mùa hè đỏ lửa năm 1972. Việc CSVN thắng lợi năm 1975 chẳng qua do hoàn cảnh quốc tế, những trao đổi giữa các cường quốc trong chiến tranh lạnh toàn cầu. Ngày nay, mỉa mai là CSVN lại trải thảm đỏ, rước Mỹ vào giúp phục hưng kinh tế và làm thế đối trọng với Trung Cộng.

Ngoài ra, kết quả thắng lợi của CSVN đưa đến việc Trung Cộng đánh chiếm Hoàng Sa năm 1974 và sau đó dần dần chiếm thêm Ải Nam Quan, Thác Bản Giốc, Trường Sa…Ngày nay, Trung Cộng là mối hiểm họa thường trực, đang đe dọa Việt Nam về tất cả các mặt. Trong mấy ngày gần đây, Trung Cộng đưa ra lệnh cấm đánh bắt cá trong vịnh Bắc Việt khiến ngư dân Việt Nam hết sức lo ngại. Như thế CSVN thắng lợi năm 1975 có ích gì không ông tổng Trọng? Dùng xương máu của dân tộc Việt Nam để phục vụ Trung Cộng chỉ có HCM và đảng CSVN phản quốc mới làm, chứ chẳng ai thèm làm.

Khoe khoang thành tích HCM chưa đủ, tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng còn thêm: “Người đã để lại cho chúng ta và các thế hệ mai sau một gia tài đồ sộ, một di sản hết sức quý báu, gồm ba bộ phận. Đó là : Tư tưởng Hồ Chí Minh; Thời đại Hồ Chí Minh; và Tấm gương đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh… Tấm gương đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh là một tấm gương vô cùng trong sáng và cao thượng, kết tinh của tinh hoa văn hoá Việt Nam…Chính vì vậy mà không chỉ nhân dân Việt Nam kính yêu Chủ tịch Hồ Chí Minh mà nhân dân thế giới cũng rất yêu quý Người, dành cho Người những tình cảm trân trọng và những lời nói tốt đẹp nhất.”

Tổng Trọng có biệt danh là Trọng Lú. Có lẽ vì quá lú lẫn, tổng Trọng quên chuyện xưa, nhất là chuyện Đại hội 2 của đảng CS vào tháng 2 năm 1951 tại Tuyên Quang để đưa đảng CS ra hoạt động công khai trở lại với danh xưng mới là đảng Lao Động theo lệnh của Stalin . Trong Đại hội nầy, HCM phát biểu: “Về lý luận, đảng Lao Động Việt Nam theo chủ nghĩa Mác-Lênin…lấy tư tưởng Mao Trạch Đông làm kim chỉ nam.” Khi đó, đại biểu miền Nam là Nguyễn Văn Trấn đã trình bày với HCM rằng: ” Có đồng chí còn nói: hay là ta viết “tư tưởng Mao Trạch Đông và tư tưởng Hồ Chí Minh”. Hồ Chí Minh trả lời: “Không, tôi không có tư tưởng ngoài chủ nghĩa Mác- Lê nin.” (Nguyễn Văn Trấn, Viết cho Mẹ và Quốc hội, California: Nxb Văn Nghệ tái bản, tt. 150-152.)

Nguyễn Văn Trấn lúc đó vốn là một đảng viên cao cấp, từng nổi tiếng là hung thần CS miền Nam. Chắc chắn ông Trấn viết không sai, vì còn có một đảng viên CS khác đã từng là chức sắc Hà Nội, thêm rằng cũng trong Đại hội nầy, HCM nhiều lần tuyên bố: “Ai đó thì có thể sai, chứ đồng chí Stalin và đồng chí Mao Trạch Đông thì không thể sai được.” (Nguyễn Minh Cần, Đảng Cộng Sản Việt Nam qua những biến động trong phong trào cộng sản quốc tế, California: Nxb. Tuổi Xanh, 2001, tr. 63.) Một lần khác, có người hỏi HCM vì sao ông không viết sách về lý thuyết cộng sản, thì ông trả lời ông không cần viết, vì đã có Mao Trạch Đông viết rồi. (Oliver Todd, “Huyền thoại Hồ Chí Minh”, dịch đăng trong sách Hồ Chí Minh, sự thật về thân thế và sự nghiệp, Paris: Nxb. Nam Á, tr. 277.)

Để thật cụ thể hơn, nhất là để những đảng viên trung kiên như tổng Trọng yên tâm, có lẽ xin mời mọi người đọc lại bài báo nhan đề là “Lời Hồ Chủ tịch trong Đại hội toàn Đảng”, trên nội san Học Tập của đảng bộ CS Liên khu Bốn, số 35, tháng 4-1951, nguyên văn như sau:

Vừa nghe báo cáo của đồng chí Giáp, các đồng chí thấy – và trước khi nghe cũng đã thấy – Quân đội ta từ chỗ yếu tiến đến chỗ mạnh, từ chỗ nhỏ tiến đến chỗ to, từ không thắng tiến đến thắng, từ thắng ít đến thắng nhiều, rồi từ thắng nhiều đến thắng lợi hoàn toàn (Đại hội vỗ tay).

Đó là vì đâu? Là vì trong chính trị, cũng như trong mọi mặt công tác khác, Đảng ta có một chủ nghĩa cách mạng nhất, sáng suốt nhất, đó là chủ nghĩa của ba ông kia kìa: (Hồ Chủ-tịch vươn tay chỉ và hướng về phía chân dung 3 vị lãnh tụ: Marx, Engels, Lénine) (Đại hội vỗ tay vang dậy)

Đó là nhờ chúng ta, toàn giai cấp lao động thế giới, toàn quân đội nhân dân thế giới có một ông Tổng tư lệnh là ông kia kìa. (Hồ Chủ tịch vươn tay chỉ và hướng mặt về phía chân dung đồng chí: Staline) (Đại hội vỗ tay dậy vang và cùng đứng dậy hô lớn) (Đồng chí Staline muôn năm!)

Chắc ít người biết mà có lẽ cũng không ai ngờ. Ông ở xa đây mấy muôn dặm, mà ông theo rõi cuộc kháng chiến của ta, của Triều Tiên, của Mã Lai và cuộc đấu tranh của các nước Động nam Á. Ông cảm động khi nghe kể lại những cử chỉ chiến đấu anh dũng của một chiến sĩ Thổ khi giết giặc lập công như thế nào. Vì vậy có thể nói tuy ông ở xa nhưng tinh thần của ông và hiểu biết của ông ở với chúng ta. (Đại hội vỗ tay)

Chúng ta nhờ có ông này: (Hồ Chủ tịch vươn tay chỉ và hướng mặt về phía chân dung đồng chí: Mao Trạch Đông) – (Đại hội vỗ tay vang dậy – và đứng dậy hô lớn Đồng chí Mao Trạch Đông muôn năm!)

Ông Mao cách đây mấy nghìm dặm. Còn ông Staline thì xa những muôn dặm… Ông theo rõi từng bước cuộc chiến đấu cách mạng của chúng ta. Như lúc quân đội và nhân dân ta giải phóng biên giới, như lúc chúng ta mở chiến dịch Trung du, có thể đêm ông không ngủ mà chờ tin tức… (Đại hội có tiến tấm tắc)

… Có ông thầy, ông anh như thế nên quân đội ta, quân đội Việt-Miên-Lào, từ chỗ nhỏ đến chỗ lớn, từ chỗ yếu đến chỗ mạnh, từ không thắng đến thắng hoàn toàn…”

Nowy obraz

Ghê gớm quá, ba ông kia kìa. Tư tưởng HCM là như thế đấy. Ba ông kẹ kia kìa. Đáng sợ không? Báo của đảng bộ cộng sản Liên khu 4 viết rõ như thế, không đùa đâu nhá, cũng không phải báo của tụi phản động viết đâu nhá.

Còn “tấm gương đạo đức và phong cách Hồ Chí Minh” thì thật là không ai bằng vì một người đạo đức có ai mà chà đạp tình người, giết vợ đợ con như HCM của tổng Trọng đâu? Chứng cớ của hành động dã man nầy quá rõ ràng, sách báo còn sờ sờ ra đó, nhắc lại làm gì thêm đau khổ cho người còn sống hiện đang ở Hà Nội. Tổng Trọng hãy thử hỏi có đảng viên CSVN nào dám học tập đạo đức HCM, giết vợ đợ con như HCM không, chứ đừng nói đến bàn dân thiên hạ. Nếu tổng Trọng mà khuyến khích đảng viên học tập HCM giết vợ đợ con, thìchắc chắn đảng viên của tổng Trọng sẽ ế vợ hết vì chẳng phụ nữ nào dám lấy đảng viên CSVN để bị đập chết rồi quăng xác ra đường cho xe cán thêm lần nữa.

Chuyện phong cách HCM lại càng thú vị. Xin hãy theo dõi phong cách của HCM do chính HCM kể: “Một người như Hồ chủ tịch của chúng ta với đức khiêm tốn nhường ấy và đương lúc bề bộ bao nhiêu công việc làm sao có thể kể lại cho tôi nghe bình sinh của người được?” (Trần Dân Tiên, Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, Hà Nội: Nxb. Sự Thật, 1976, tr. 9.) Như thế phong cách HCM là phong cách tự sướng một cách sống sượng của một kẻ dùng cái tên khác để tự đề cao mình là “khiêm nhường”? HCM là người “khiêm nhường” đến nỗi cả gan dám so sánh mình với Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn, vị đại anh hùng vào thế kỷ 13 mà dân tộc Việt Nam tôn thờ là Đức Thánh Trần. Bài thơ hợm hĩnh của HCM ai cũng biết trừ tổng Trọng. Thật là lú hết biết!

Nói đến cái tên khác, Hồ Chí Minh chẳng những có một tên khác mà có tới trên 170 tên khác. Điều nầy sách trong nước đã viết rồi, không cần chứng minh. Dùng nhiều tên cũng là phong cách HCM mà một tác giả trong nước đã khen là “một diễn viên kỳ tài”. (Vũ Thư Hiên, Đêm giữa ban ngày, California: Nxb. Văn Nghệ, 1997, tr. 459.) Nhận xét của Vũ Thư Hiên cũng giống như một người ngoại quốc là tác giả Bernard Fall. Ông nầy viết rằng HCM có phong cách của “một kịch sĩ có biệt tài đánh lừa kẻ đối thoại”. (Bernard Fall, Les deux Viet-Nam, Paris: Payot, 1967, tr. 102,)

Mấy ông nhà văn nhà báo ưa viết lách ngoại giao văn hoa bay bướm, gọi HCM là một diễn viên hay kịch sĩ là mỉa mai cho vui tai, tránh nói trắng ra là HCM là một tên đại bịp trong lịch sử. Hèn gì học HCM mà tổng Trọng và đám đảng viên CS toàn là một lũ bịp bợm từ trên xuống dưới, mới một chút xíu mà đã bịp là HCM ra đi tìm đường cứu nước.

Còn nhiều phong cách của HCM đáng nói lắm, ví dụ mới khoảng 50 tuổi mà HCM tự xưng là cha già dân tộc. Trong sách của mình, Trần Dân Tiên hay HCM viết: “Nhân dân gọi chủ tịch là cha già của dân tộc vì Hồ chủ tịch là người con trung thành nhất của tổ quốc Việt Nam.” (Trần Dân Tiên, sđd. tr. 149. )

Thật là lạ, tại sao HCM tự xưng trung thành với tổ quốc thì được gọi là cha già dân tộc? Biết bao nhiêu người trung thành với tổ quốc sao không gọi họ là cha già dân tộc?

Hồ Chí Minh tự xưng là người con trung thành với tổ quốc, sao HCM chẳng trung thành tý nào cả. Gia nhập đảng CS Pháp, làm việc cho ĐTQTCS, HCM làm tay sai cho Liên Xô, cho Trung Cộng và bán nước cho Mao Trạch Đông. Vì những cam kết của HCM với Mao Trạch Đông khi cầu viện năm 1950, nên Phạm Văn Đồng phải ký công hàm bán nước năm 1958. Cái công hàm đó di hại mãi cho đến ngày nay.

Nowy obraz (1)

Khi đi ra nước ngoài, phong cách của HCM nổi bậc đến nỗi báo chí người ta nhắc nhở đích danh HCM. Thật là nhục nhã, mất quốc thể. Đây là báo Indonesia ngày Thứ Bảy, 8-3-1959 về phong cách ngoại giao của HCM:

Sẽ rất là thiếu sót về phong cách HCM nếu không kể thêm chuyện báo Polska Times (Thời Báo Ba Lan) ngày 5-3-2013 đã dành cho HCM những nhận xét trân trọng và những lời nói tốt đẹp nhất khi sắp hạng HCM là tên đồ tể thứ 11 trong 13 tên đồ tể khát máu nhất trên thế giới trong thế kỷ 20. (Đàn Chim Việt 20-3-2013.)

Hết lời ca tụng HCM, tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng còn mượn lời HCM tung hê chủ nghĩa CS: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”; “chỉ có chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và giai cấp công nhân toàn thế giới”; chủ nghĩa Mác – Lênin là “chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất”, là “cái cẩm nang thần kỳ”, là “cái la bàn”, là “trí khôn” của Đảng ta; nó là “vũ khí tinh thần” của giai cấp công nhân, là kim chỉ nam cho hành động cách mạng.”

Ai cũng biết chủ nghĩa CS với cái cẩm nang thần kỳ, cái la bàn, cái trí khôn, vũ khí tinh thần, kim chỉ nam cho đảng CSVN, là thứ chủ nghĩa đã bị quăng vào sọt rác từ lâu rồi. Ngày 25-1-2006, tại Strasbourg, một thành phố miền đông bắc nước Pháp, Quốc hội Âu Châu, với đa số áp đảo, đã đưa ra nghị quyết số 1481, lên án chủ nghĩa cộng sản là tội ác chống nhân loại được dịch như sau: “Những chế độ toàn trị cộng sản từng cai trị ở Trung và Đông Âu trong thế kỷ qua, và hiện vẫn còn cầm quyền ở vài nước trên thế giới, tất cả (không ngoại trừ) biểu thị chân tướng của sự vi phạm nhân quyền tập thể. Những vi phạm nầy khác nhau tùy theo nền văn hóa, quốc gia và giai đoạn lịch sử, bao gồm cả những cuộc ám sát và xử tử cá nhân hay tập thể, gây chết chóc trong các trại tập trung, cho chết đói, đày ải, tra tấn, nô lệ lao động, và những hình thức khác về khủng bố thể xác tập thể, ngược đãi vì chủng tộc hay tôn giáo, vi phạm các quyền tự do lương tâm, tư tưởng và phát biểu, tự do báo chí và cả không đa nguyên chính trị.” (Điều 2 của nghị quyết 1481.)

Sang thế kỷ 21 mà còn nghe những lời lẽ trên đây của tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng, người ta có cảm tưởng dường như tổng Trọng là một kẻ mộng du từ thế kỷ 18 còn vất vưởng đâu đây, nói lảm nhảm về chủ nghĩa CS như một bệnh nhân tâm thần hạng nặng. Hèn chi tổng Trọng có biệt danh là Trọng Lú, quả danh bất hư truyền, chính hiệu con nai vàng, chẳng sai tý nào.

Để kết luận bài phát biểu, tổng bí thư Trọng Lú nhắc nhở đảng viên CSVN: “Mỗi cấp uỷ, mỗi cán bộ, đảng viên thấm nhuần và quán triệt sâu sắc những tư tưởng, quan điểm của Hồ Chí Minh, thật sự tự giác rèn luyện, tu dưỡng theo những lời dạy của Người, thì nhất định Đảng ta sẽ ngày càng trong sạch, vững mạnh, khắc phục được những nguy cơ của một Đảng cầm quyền, giữ gìn được bản chất và truyền thống tốt đẹp của Đảng, tiếp tục được nhân dân tin yêu, ủng hộ.”

Đúng là đảng viên của tổng Trọng đã thực hiện theo gương HCM nên cán bộ đảng viên của CSVN tham nhũng hơn bao giờ cả. Tham nhũng tràn lan từ trên xuống dưới. Chuyện tham nhũng ở Việt Nam là chuyện mãn tính, tự nhiên. Không biết tham nhũng, không biết đút lót, không biết bôi trơn thì không sống được ở Việt Nam. Tham nhũng cùng khắp. Ngày nào cũng có dân oan khiếu nại kiện tụng. Ngày nào cũng có dân oan chửi rủa. Theo bản tin tổ chức Minh Bạch Quốc Tế (Tran International, viết tắt TI ) ngày 3-12-2014 thì Việt Nam cộng sản thuộc hàng “top ten”, mười nước tham nhũng nhất thế giới trong số 197 nước mà TI đã khảo sát. Chính tổng Trọng cũng đã phải xác nhận: “Hiện tượng hư hỏng tham nhũng, tiêu cực đúng là lắm lúc nghĩ hết sức sốt ruột, nhìn vào đâu cũng thấy, sờ vào đâu cũng có…” (Trích Vn Economy, báo điện tử thuộc Thời Báo Kinh Tế, ngày 13-2-2015.)

Nhìn vào đâu cũng thấy tham nhũng, sờ vào đâu cũng có tham nhũng là nhờ học tập theo gương đạo đức HCM, cho nên toàn đảng CSVN tham nhũng trắng trợn, tham nhũng tinh vi, đến nỗi về hưu rồi người dân mới biết tham nhũng, như những biệt thự xa hoa, lộng lẫy của tổng bí thư Lê Khả Phiêu, tổng bí thư Nông Đức Mạnh. Biết đâu, rồi đây dân chúng sẽ được chiêm ngưỡng biệt thự của tổng Trọng? Lương của tổng bí thư bao nhiêu mà nhà cửa hoành tráng bảnh quá vậy các ông tổng?

Nhờ học tập HCM, đảng CSVN tham nhũng, giàu có, nên ngược lại làm cho nước Việt Nam tụt hậu một cách thê thảm, còn sau cả Lào và Cambodia mới thật là đau điếng chứ. Trước đây, khi nào Lào và Cambodia cũng đều sắp hạng sau lưng Việt Nam khá xa. Dưới thời quân chủ, Lào và Cambodia có lúc còn phải qua triều cống Việt Nam.

Bài phát biểu của tổng Trọng còn nhiều điều bàn tiếp, nhưng bài viết đã dài rồi, xin tạm dừng ở đây. Chỉ một kết luận thật đơn giản là ngày nay công nghệ truyền thông tiến bộ, dân chúng biết quá nhiều về HCM, về chủ nghĩa CS, về đảng CSVN, nên tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng phát biểu ba hoa chích chòe cho lắm cũng không bịp được dân chúng, mà chỉ làm cho dân chúng thêm chán ghét và muốn giải thể chế độ CS càng sớm càng tốt mà thôi.

(Toronto, 19-5-2015)

© Đàn Chim Việt

http://www.danchimviet.info/archives/95947/tu-kep-bai-phat-bieu-cua-tong-trong-so-voi-thuc-te/2015/05

Posted in Nhan Vat Chinh tri | Leave a Comment »

Khi một lũ vừa ngu vừa tham làm quy hoạch

Posted by hoangtran204 on 22/05/2015

Lương Kháu Lão

20-05-2015

H1

Hà nội sáp nhập với Hà Tây, thủ đô mở rộng về phía Tây, đáng lẽ đó là cơ hội vàng cho các nhà kiến trúc quy hoạch đô thị , nhưng hỡi ôi, họ đã phá vỡ tan tành cảnh quan Hà Nội chỉ bởi hai chữ ngu và tham.

Nói về quy hoạch Hà Nội, tôi đã viết rất nhiều bài . Có nhiều bài được các trang báo chính thống đăng tải, có nhiều bài các báo không dám đăng đành đưa lên blog cá nhân hoặc Facebook như : Kiến trúc sư trưởng. ông là ai ? Quy hoạch Hà Nội đã hết thuốc chữa, Thư ngỏ gửi KTS Nguyễn Thế Thảo …

Họ, những nhà quản lý, những nhà kĩ trị , họ biết cả đấy nhưng một là họ làm ngơ để “ngậm miệng ăn tiền” hai là họ chả có quyền hành gì cả. Kiến trúc sư trưởng Hà Nội là tập thể vô hình mà lại hữu hình . Tập thể Thường vụ Thành ủy, Thường trực Ủy ban- những người cùng hội cùng thuyền chả biết mẹ gì về quy hoạch cả dù đi tham quan ( thực chất là đi chơi) rất nhiều nước – mới là kiến trúc sư trưởng có thực quyền . Họ lại được các cấp trên có thẩm quyền ủng hộ, phê duyệt vì đều nằm trong thành phần của “Nhóm lợi ích”. Vì thế Hà Nội càng mở rộng , càng xây nhiều càng lanh tanh bành . Còn thua xa những gì người Pháp làm cho Hà Nội từ đầu thế kỉ thứ 19

Đã định thôi không thèm nói nữa với một ê kíp lãnh đạo vô cảm , vô cảm đến mức dám chặt cả một hàng cây 100 tuổi là lá phổi sống của Hà Nội nhưng rồi càng đi, càng ngứa mắt và ngứa tay luôn nên lại phải viết

Muốn giải quyết vấn nạn ách tắc giao thông phải thực hiện vận tải công cộng . Vận tại hành khách công cộng phải đi trước một bước, đi song song với mở rộng mạng lưới cơ sở hạ tầng cầu cống đường xá , đi trước cả việc xây dựng nhà cửa

Nhưng đã có ai nghĩ đến chuyện đó khi chỉ nhăm nhăm quy hoạch xây các khu đô thị để đưa người của mình vào làm chủ đầu tư để kiếm lời một cách nhanh nhất trong nhiệm kì công tác ngắn ngủi của mình

Vậy nên mới có hình ảnh ngã tư Thanh Xuân- Khuất Duy Tiến hiện đang chồng lên 4 làn đường vuông góc. Bạn đã đi các nước, những nút giao cắt lập thể như thế này là điểm nhấn kiến trúc hiện đại với nhiều vòng xoáy uốn lượn tô điểm cho những ngôi nhà chọc trời . Bạn hãy quay trở lại với nút giao kể trên thấy nó vô lối bức bối con mắt biết chừng nào. Đến khi làm xong đường sắt trên cao- Dự là không phải cuối năm 2016 mà theo tôi cứ cho chắc phải là 2020 với số vốn đội lên 1 tỉ đô la chứ không phải vài trăm triệu như bây giờ-, bạn sẽ được ngồi ở độ cao tương đương một tòa nhà 5 tầng khi đi qua nút giao này và thầm mong nó không xảy ra sự cố bỗng dưng một ngày “ đẹp trời” tàu bánh sắt trượt khỏi đường ray và … rơi xuống đất như đã từng rơi các phụ kiện khi đang xây dựng

Chưa nói về cảnh quan, về mỹ quan , chỉ nói khâu an toàn đã thấy cả một vấn đề cần quan tâm rồi. Người ta có thể lập luận nếu làm các vòng xuyến lập thể sẽ mất rất nhiều đất sẽ mất rất nhiều tiền để giải phóng mặt bằng. Xin thưa chỉ với số vốn đội lên khi làm đường sắt trên cao, số tiền vô hình mất đi do ách tắc giao thông kéo dài cả chục năm nay thì đã thừa tiền giải phóng mặt bằng . Chưa kể nếu các bên A-B bớt đi số tiền bỏ túi từ 40-50 %xuống còn 10 %thì đã đủ tiền làm metro từ lâu rồi

Đi theo chủ trương “chiến lược” phát triển vận tải hành khách công cộng, mấy năm nay Hà Nội cho triển khai tuyến xe buýt hiện đại nhất hành tinh trên tuyến đường Lê Văn Lương- Tố Hữu- Lê Trọng Tấn

Đường Lê Văn Lương vừa làm xong bỗng dưng được bóc lên, đường nhựa bị đào bới  để xây dựng đường bê tông riêng cho xe buýt. Ý nói xe buýt to lắm.nặng lắm phải làm đường riêng, kiên cố thì mới chịu được. Nhưng đường nhựa vừa làm xong thừa sức chịu được trọng tải của xe buýt . Vấn đề là hai anh chủ đầu tư thuộc hai ông chủ khác nhau , anh này chỉ biết việc của mình được giao đếch thèm biết công trình của anh kia,  gây nên sự lãng phí xã hội ghê gớm. Đã có những phản ứng và công trình phải tạm dừng lại để nghe ngóng dư luận. Đến khi thấy êm êm thì ta lại xây tiếp. Và bây giờ đến giai đoạn xây lắp các Trạm dừng xe ở giải phân cách giữa đường . Riêng giải phân cách để rộng ba bốn mét chiếm hết chiều rộng của hai chiều đường hai bên đã là một sự vô lý . Nếu giải phân cách chỉ là một gờ tường con trạch thì mỗi chiều đường có thể có tới ba làn xe cơ giới, một làn cho xe máy thì nạn ách tắc trên đường Lê Văn Lương kéo dài đã không diễn ra hàng ngày như hôm nay

Mỗi lần đi trên con đường này, nhìn thấy các Trạm dừng xe buýt mọc lên mỗi ngày tôi cứ tự hỏi mình : Không biết nếu đỗ xe buýt sát vào Trạm dừng cho hành khách lên xuống thì cửa xe buýt phải đổi từ bên phải của xe như hiện nay sang phía bên trái , cùng chiều với cửa lên xuống của lái xe . Vậy hàng loạt xe buýt mới sẽ được đóng theo kiểu không giống ai trên thế giới và sáng kiến này có thể đăng kí dự giải Nobel !

H1

Rồi hành khách từ bên phải đường phải ngó trước ngó sau để băng qua đường vào Trạm dừng chờ. Không cẩn thận sẽ gãy giò hoặc tử thương vì tai nạn giao thông? Lúc đó tác giả của Trạm xe buýt kiểu này sẽ trốn biệt nếu bị truy cứu trách nhiệm hình sự . Rồi trong Trạm dừng chờ có máy lạnh không nhất là mùa nóng bức như thế này. Nếu có thì giá thành xe buýt phải cộng thêm giá điện năng …

Ôi ! Nghĩ mà điên hết cả đầu. Ai biết giải đáp giùm tôi những thắc mắc kể trên với . Nhưng nghĩ cho cùng, khi quy hoạch thành phố được giao vào tay những con người vừa ngu, vừa tham, vừa vô trách nhiệm thì những chuyện như chặt hạ tàn sát cây xanh hay Trạm dừng xe giữa đường, xây đường chồng lên đường , vừa xây xong đã phá… còn xảy ra dài dài.

Posted in Tham Nhung-Hoang Phí- Ăn Cắp, Đảng CSVN - còn đảng, còn mình... | Leave a Comment »

Chuyện Ba Sàm và Bản Cáo Trạng Của V.K.S.N.D

Posted by hoangtran204 on 21/05/2015

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến

20-5-2015

Theo Blog RFA

Tôi thấy chính sách thông tin như hiện nay, ta chỉ từ thua đến thua.

Nguyễn Công Khế

Cái gì chớ sách sử là tui né, và né tới cùng. Đọc chán thấy mẹ!

Né của nào, Trời trao của đó. Khi khổng khi không (cái) chị Trương Anh Thụy, người phụ trách nhà xuất bản Cành Nam, gửi cho một thùng sách to đùng. Nó nặng đến độ mà con mẹ đưa thư phải ôm bằng cả hai tay, chân đá cửa rầm rầm, vừa đá vừa lầu bầu văng tục chửi thề tá lả.

Tôi thì hớn hở tưởng rằng (dám) có người gửi cho thùng rượu. Thiệt là tưởng bở, và tưởng năng thối!

Mở ra (ôi thôi) ngoài mấy cuốn Những Lời Trăng Trối, vừa tái bản, của Trần Đức Thảo là “nguyên” một bộ sách (Nhìn Lại Sử Việt) của Lê Mạnh Hùng. Cả bộ dám gần chục cuốn, cuốn nào cũng khoảng 500 – 300 trăm trang. Ngó mà thiếu điều muốn …  xỉu!

Và hình như tôi cũng đã ngất đi một lúc khá lâu vì đang bị cúm nên hơi mệt. Mở mắt ra, người ngợm rã rời, chả thiết bò dậy nữa. Tôi bật TV nằm xem cho đến khi chán rồi vớ đại một cuốn đọc chơi, và tin chắc rằng – chỉ vài phút thôi – là mình sẽ tiếp tục ngủ luôn cho tới mốt.

Vậy mà tôi đọc một mạch gần hết tập IV, tập viết về “Nhà Nguyễn Gia Miêu: Từ Gia Long Đến Cách Mạng 19/8.” Theo lời giới thiệu của NXB thì bộ thông sử Việt Nam của Tiến Sĩ Lê Mạnh Hùng “vừa cập nhật vừa đạt những tiêu chuẩn gắt gao nhất của sử học hiện đại.”

Bà nội mẹ tui cũng không biết “tiêu chuẩn gắt gao nhất của sử học hiện đại” nó “gắt gao” ra sao (và “gắt” tới cỡ nào lận) nhưng viết sử mà thứ thường dân vớ vẩn như tui đọc cũng thấy hấp dẫn là “hay” quá xá rồi.

Ông Lê Mạnh Hùng không cường điệu, không khoe khoang kiến thức, rất ít tư kiến, và hoàn toàn không có cái vụ … bình lọan hay bình sảng! Lâu lâu, ổng mới bình thản “chêm” thêm một câu ngăn ngắn rất thâm trầm và rất đáng đồng tiền bát gạo.

Riêng ở chương 17, tiểu mục 17.2 – viết về “Các đảng phái chính trị tiền phong của giai đoạn mới (1923-1927) – Lê Mạnh Hùng ghi nhận một số những sự kiện rất thú vị, xin được tóm lược:

“Trong lúc những người lưu vong bên ngoài tìm một con đường mới cho cách mạng Việt Nam qua Tâm Tâm Xã thì bên trong nước cũng xuất hiện một số đảng phái chính trị xã hội trong nước.

Đảng chính trị đầu tiên là Đảng Lập Hiến của Bùi Quang Chiêu. Đảng này có thể được coi như là đại biểu của tầng lớp đại địa chủ Pháp hóa tại miền Nam. Mục tiêu chính của Đảng này không phải là giành độc lập cho Việt Nam mà có tính cách khiêm tốn hơn: đó là đấu tranh để chính quyền Pháp phải cải cách đường lối cai trị, ban hành một số quyền tự do dân chủ và đôi xử với người Việt ngang hàng như đối với người Pháp…

Sau Đảng Lập Hiến, một số đảng khác cũng xuất hiện. Khác với Đảng Lập Hiến, các đảng sau này phần lớn có mục tiêu đấu tranh giành độc lập cho đất nước chứ không phải chỉ đòi thêm quyền lợi cho người Việt…

Đảng đầu tiên thành lập có tính cách chính trị là Việt Nam Nghĩa Đoàn mà sáng lập viên bao gồm một số những người hoạt động tích cực lúc bấy giờ như Nguyễn Văn Phùng, Tôn Quang Phiệt, Đặng Thái Mai, Phạm Thiều, Nguyễn Quốc Túy, Trần Thiệu Ngũ, Nguyễn Văn Ngọc v.v…

Sau Việt Nam Nghĩa Đoàn là Hội Phục Việt được thành lập từ những người hoạt động cũ trong phong trào Duy Tân bị bắt và nhốt chung với nhau trong nhà tù Côn Đảo…

Cũng trong giai đoạn này tại Hà Nội, Nam Đồng Thư Xã xuất hiện. Được thành lập cuối năm 1925 bởi một nhóm giáo viên và tiểu thương trong đó quan trọng nhất là Phạm Tuấn Tài, Phạm Tuấn Lâm em của ông Phạm Hoàng Trân (tức Nhượng Tống), Nam Đồng Thư Xã có mục tiêu vừa thương mãi vừa chính trị…

Trong lúc Hội Phục Việt và Nam Đồng Thư Xã hoạt động ở Bắc và Trung Kỳ thì ở Nam Kỳ nhóm Jeune Annam hay đảng Thanh Niên được thành lập vào năm 1926. Khác với tại Bắc Kỳ và Trung Kỳ nơi mà sự đàn áp của Pháp và Nam Triều gay gắt hơn, tại Nam Kỳ vì là một thuộc địa các quyền tự do có được bảo đảm hơn thành ra đảng thanh niên này có thể hoạt động một cách công khai mặc dầu không được chính quyền công nhận… (Lê Mạnh Hùng. Nhìn Lại Sử Việt. Vol. 4. Arlington, VA: Tổ Hợp Xuất Bản Miền Đông Hoa Kỳ, 2013. 5 vols.).

Chèng ơi! Sao đất nước còn bị đô hộ mà hội đoàn, đảng phái xuất hiện công khai, và tùm lum (khắp nơi) vậy cà?  Thảo nào mà ông Nguyễn Chí Thiện, đã có lúc, phải la làng:

Ôi, thằng Tây mà trước kia người dân không tiếc máu xương đánh đuổi
Nay họ xót xa luyến tiếc vô chừng
Nhờ vuốt nanh của lũ thú rừng
Mà bàn tay tên cai trị thực dân hóa ra êm ả!

Sống với “lũ thú rừng” thì miễn có vụ hội đoàn và đảng phái, đã đành, chỉ lập vài trang mạng thôi mà cũng đã phải đi tù cả nút. Ngày 6 tháng 2 năm 2015, Viện Kiểm Sát Nhân Dân Tối Cao cho phổ biến bản Cáo Trạng quyết định truy tố ông Nguyễn Hữu Vinh và bà Nguyễn Thị Minh Thúy ra trước Tòa án NDTP Hà Nội theo khoản 2, Điều 258.

Bản cáo trạng này gồm 8 trang, với rất nhiều chi tiết thừa thãi nên đã được bloggerNgười Buôn Gió “cô đọng” như sau:

– 3 trang đầu miêu tả việc các đối tượng lập blog, lập trang mạng, đây là việc quá bình thường trong một đất nước đang có hàng chục triệu ngươi sử dụng mạng internet. Việc liệt kê quá trình lập blog, bảo mật, đăng ký sử dụng mạng, lập thư điện tử….bất kỳ ai lên mạng đều làm như vậy. Có gì mà phải vẽ ra đến 3 trang như ly kỳ, âm mưu toan tính, hiểm hóc ?

– 2 trang chỉ liệt kê tên của các bài viết, chỉ liệt kê đúng cái tiêu đề.

– 2 trang nêu lý lịch bị cáo.

– 1/2 trang kết luận.

– 1/ 4 trang của bản cáo trạng liệt kê lượng người đọc, còm men.

– Chỉ có 1/4 trang trong 8 trang cáo trạng có vẻ đúng nghĩa bản cáo trạng, nhưng đó là kết luận giám định của bộ thông tin và truyền thông khẳng định các bài viết mà hai bị cáo đưa lên là xuyên tạc đường lối của Đảng, bôi nhọ cá nhân, xâm phạm lợi ích cá nhân tổ chức… còn xâm phạm thế nào, thiệt hại ra sao, cá nhân nào bị thiệt hại… không thấy nói đến.

Cả cái bản cáo trạng lẫn kết luận hồ sơ của Bộ Công An, Viện Kiểm Sát tối cao mà chỉ kể lể dài dòng chuyện lý lịch, việc đăng ký sử dụng mạng, lập hòm thư rồi nêu tên các bài viết. Sau đó ngắn gọn nói rằng giám định Bộ Thông Tin Truyền Thông nói là có tội, thế là thành có tội mang ra xử. Không thấy phân tích chứng cứ, lập luận khoa học kết tội. Rặt áp đặt chủ quan, cảm tính. Một bản cáo trạng và kết luận hồ sơ như vậy thì cần gì hai cơ quan tố tụng lớn nhất đất nước phải dùng sạch bách thậm chí quá hạn điều tra mới viết ra được.

Và tại sao Bộ Công An có cơ quan an ninh văn hoá không giám định các bài viết mà để cho một cơ quan dân sự, không liên quan gì đến việc tố tụng đứng ra giám định và kết luận việc có tội hay không có tội.

Xét về mạnh cạnh tranh độc giả, thì chính các bị cáo là đối thủ cạnh tranh với bộ Thông Tin Truyền Thông trong việc chiếm lĩnh thị trường thông tin.

Vậy vụ án này thật khôi hài và bỉ ổi. Kẻ được nêu tên là bị hại thì chính là kẻ khởi tố, điều tra vụ án. Đối thủ cạnh tranh thị trường lại được mời làm giám định thiệt hại, kết luận có tội. Một vụ án được những kẻ tham gia tố tụng như vậy trông mong gì minh bạch.

Cá nhân tôi không mong gì chuyện “minh bạch” trong vụ án này, hoặc bất cứ một vụ án nào, ở nước C.H.X.H.C.N Việt Nam. Tôi cũng không có máu “khôi hài” nên không nhìn ra những khía cạnh “riễu cợt” trong bản cáo trạng thượng dẫn.

Tôi chỉ thấy cách luận tội của V.K.S.N.D (“xuyên tạc đường lối của Đảng, bôi nhọ cá nhân…làm ảnh hưởng đến lòng tin của quần chúng nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng, Chính phủ, Quốc hội, và Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam”) sao “cù nhầy” và “buồi dái”quá thôi. Coi: cả “tập đoàn lãnh đạo” hiện nay đều lấm lem bê bết từ đầu đến chân, có sót chỗ nào để mà “bôi nhọ” được nữa – mấy cha? Tương tự, còn có ai tin tưởng gì vào “Đảng, Chính phủ, Quốc hội, và Nhà nước…” đâu mà kết án con người ta “làm ảnh hưởng đến lòng tin của quần chúng” – hả Trời?

Vài tháng trước, trên trang thư tín của tuần báo Trẻ (phát hành từ Dallas, Texas – ngày 26 tháng 2 năm 2015) có vị độc giả phát biểu rằng: “CS chiếm miền Nam bằng cái miệng.” Ý tưởng này khiến tôi nhớ đến một cân nói của nhà báo Huy Đức: “Trong lịch sử Việt Nam, Hồ Chí Minh rõ ràng là một trong những nhà lập ngôn xuất sắc nhất.”

Quả tình, Bác và Đảng đã chiếm được cả nước – chứ không riêng chi miền Nam – bằng mồm chứ còn gì nữa. Nhưng thời thế đã khác rồi. Bây giờ mà vẫn còn hy vọng giữ được quyền bính cũng chỉ nhờ vào cái miệng (mình) và bịt miệng kẻ khác thì quả là một chuyện rất viển vông.

Thử nghe Thông Tấn Xã Việt Nam “khoe hàng” chút xíu nha:

“Website của TTXVN tại địa chỉ http://news.vnanet.vn là một trong những trang thông tin chính thức và là trang duy nhất ở trong nước cung cấp những thông tin mới nhất, tin cậy bằng bốn ngữ (Việt, Anh, Pháp, Tây Ban Nha) về tình hình Việt Nam và thế giới, là cầu nối để độc giả khắp nơi trên thế giới hiểu về Việt Nam và con người Việt Nam…

“Với 63 phân xã tại tất cả các tỉnh thành trong nước và 27 phân xã nước ngoài ở cả 5 châu lục, cùng nguồn thông tin trao đổi trực tuyến liên tục 24/24 giờ với 42 hãng thông tấn và tổ chức báo chí quốc tế là một ưu thế mà không một cơ quan báo chí nào của Việt Nam sánh được …”

“Ưu thế” tới cỡ đó mà T.T.X.V.N lại không có độc giả. Thiên hạ  chỉ đua nhau vào xem Thông Tấn Xã Vỉa Hè thôi. Và đây có lẽ đây mới là nguyên do (đích thực) khiến cho Trương Duy Nhất, Nguyễn Quang Lập, Nguyễn Ngọc Già, Hồng Lê Thọ, Nguyễn Hữu Vinh, Nguyễn Thị Minh Thuý … phải bị trừng trị – hay bị trả thù, theo như cách nhìn của Người Buôn Gió!

Sự kiện người dân tẩy chay mọi hình thức truyền thông của nhà nước không phải là lỗi (hoặc tội) của Ba Sàm và của giới T.T.X.V.H. Đây chỉ là hiện tượng (“vỡ trận”) tự nhiên, báo trước ngày tàn của chế độ thôi!

Posted in Bắt bớ-Tù Đày-Đánh đập-Đàn Áp, Chinh Tri Xa Hoi | Leave a Comment »

Hồ Chí Minh và di sản của ông

Posted by hoangtran204 on 21/05/2015

Blog RFA

Lê Diễn Đức

18-05-2015

H1Hồ Chí Minh, muốn hay không muốn vẫn là một tên tuổi lịch sử lớn gắn liền với Việt Nam. Để có môt đánh giá công bằng về Hồ Chí Minh không đơn giản, bởi vì cuộc đời của ông có quá nhiều mảng tối chưa được đưa ra ánh sáng, trong khi chế độ Cộng sản không ngừng suy tôn ông như một vị thánh, dù ông đã chết đã lâu, từ năm 1969.

Nhân kỷ niệm 125 ngày sinh của ông (mặc dù ngày 19 tháng 5 chưa chắc chắn là ngày sinh của ông), tôi chỉ phân tích một vài nét xung quanh ông.

Khi Hồ Chí Minh tìm đến với chủ nghĩa Cộng sản là giai đoạn mà chủ nghĩa tư bản ở thời kỳ hoang dã, đi xâm chiếm thuộc địa và thấm bùn và máu trong chính sach bóc lột, khác với chủ nghĩa tư bản hiện đại ngày nay được xây dựng trên sức mạnh của văn hóa, khoa học-công nghệ, dân chủ, pháp quyền, là một xã hội văn minh, đảm bảo an sinh xã hội cho toàn dân.

Chủ nghĩa Cộng sản hình thành từ nửa cuối thế kỷ 19 là một trào lưu tư tưởng, một khuynh hướng  chính trị-xã hội cấp tiến, có sức hấp dẫn mạnh mẽ đối với quần chúng lao động và phần đông trí thức châu Âu.

Tới nước Nga, Nguyễn Ái Quốc (tức Hồ Chí Minh) đã tìm thấy ở Luận cương của Lenin chỗ dựa, một hướng đi mới, nên đã ngả theo Quốc tế 3, vì Quốc Tế 3 đã công khai ủng hộ các dân tộc thuộc địa. Trong bài phát biểu tại các diễn đàn ở đó Hồ Chí Minh đã nói “Tôi đến đây để không ngừng thức tỉnh các đồng chí về vấn đề thuộc địa”! Chính vì thế mà Stalin không mấy thiện cảm về Nguyễn Ái Quốc, coi ông “không phải một người cộng sản chân chính mà là một người còn mang nặng tinh thần dân tộc chủ nghĩa ít có”.

Dù sao cũng phải thừa nhận trước hết Hồ Chí Minh là một người có tinh thần dân tộc và mong muốn Việt Nam thoát khỏi ách đô hộ của thực dân Pháp. Thế nhưng bi kịch nhất là Hồ Chí Minh đã đưa chủ nghĩa Cộng sản vào Việt Nam, lựa chọn chủ nghĩa Staline và Mao Trạch Đông, kích động quần chúng làm cách mạng bạo lực.

Những tiêu chí cách mạng của Hồ Chí Minh như giành lại ruộng đất cho nông dân, nhà máy cho công nhân, tự do bình đẳng và bác ái là vũ khí tuyên truyền có tác dụng kích thích mạnh mẽ đối với xã hội Việt Nam còn tăm tối về tri thức, đói nghèo về vật chất và bị tư bản Pháp bóc lột nặng nề.

Sau chiến thắng Điện Biên Phủ và hiệp định Geneva năm 1954, Đảng Cộng Sản Việt Nam (ĐCSVN) dưới sự lãnh đạo của Hồ Chí Minh cầm quyền trên miền Bắc. Ngay lập tức Hồ Chí Minh đã phản bội lại chính mình, phản bội lại tất cả những điều mà ông ta sử dụng nó để đưa người dân vào 9 năm kháng chiến trường kỳ.

Không thực thi chế độ bầu cử tự do, ĐCSVN tiếm luôn quyền cai trị tuyệt đối. Một nhà nước độc tài toàn trị được thiết lập với bộ máy kiểm soát của công an, an ninh và một hệ thống kiểm duyệt khắt khe nhất. Cuộc cải cách ruộng đất năm 1954-1956 đã làm hàng trăm ngàn người bị đấu tố và bị giết oan trái. Các tư tưởng phản kháng, đối lập ôn hoà không có đất dung thân, mà điển hình là vụ Nhân văn- Giai phẩm, nhiều nhà thơ, nhà văn bị trù dập, lao tù, đày ải. Nhân dân bị giam hãm trong cái trại ý thức hệ mác-xít mà hàng ngày bộ máy tuyên truyền khổng lồ mặc sức nhồi nhét, giáo dục.

Trong bản tuyên ngôn ngày 2 tháng 9 năm 1945 thành lập Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, một nhà nước “do dân làm chủ đầu tiên”, mà trong đó Hồ Chí Minh tố cáo chế độ thực dân Pháp:

“Về chính trị, chúng tuyệt đối không cho nhân dân ta một chút tự do dân chủ nào.

– “Chúng lập ra nhà tù nhiều hơn trường học. Chúng thẳng tay chém giết những người yêu nước thương nòi của ta. Chúng tắm các cuộc khởi nghĩa của ta trong những bể máu”.

– “Chúng ràng buộc dư luận, thi hành chính sách ngu dân”.

– “Về kinh tế, chúng bóc lột dân ta đến tận xương tủy, khiến cho dân ta nghèo nàn, thiếu thốn, nước ta xơ xác, tiêu điều”.

– “Chúng cướp không ruộng đất, hầm mỏ, nguyên liệu”.

– “Chúng đặt ra hàng trăm thứ thuế vô lý, làm cho dân ta, nhất là dân cày và dân buôn, trở nên bần cùng”.

– “Chúng không cho các nhà tư sản ta ngóc đầu lên. Chúng bóc lột công nhân ta một cách vô cùng tàn nhẫn”.

Là bản copy rõ ràng nhất, chính xác nhất của chế độ Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam ngày hôm nay sau khi ĐCSVN của ông Hồ Chí Minh thực hiện xong cuộc chiến tranh đỏ hoá miền Nam và giành quyền cai trị trên cả nước từ năm 1975.

ĐCSVN của Hồ Chí Minh đang tiến hành một chủ nghĩa tư bản man rợ. Đất nước thoát ách đô hộ của thực dân thì bị ngay một chế độ thực dân khác- thực dân đỏ, chồng lên, còn tệ hại, khắc nghiệt hơn nhiều lần thời kỳ thực dân Pháp cai trị.

Gánh nặng nợ nần của đất nước ngày mỗi tăng lên trong khi nạn tham nhũng, rút ruột công trình trở nên phổ cập, quan chức “ăn của dân không chừa chỗ nào” (lời của bà Nguyễn Thị Doan, Phó Chủ tịch nước), đạo đức xã hội bị huỷ hoại, không còn đâu là kỷ cương trật tự xã hội, công an lạm quyền đánh dân đến chết là hiện tượng phổ biến, bệnh nhân phải nằm la liệt dưới sàn nhà trong các bệnh viện, hàng trăm ngàn nông dân bị tước doạt đất đai oan trái, công nhân bị bóc lột thậm tệ với đồng lương không đủ sống và điều kiện làm việc khốn khổ, không có báo chí tự do, mọi sự phản kháng đều bị đàn áp thô bạo thậm chí mượn tay côn đồ…

Thực chất là từ bóng đêm của chế độ thực dân Pháp, dân tộc Việt Nam lại rơi vào vũng lầy của chế độ thực dân đỏ. Một dân tộc quá kém may mắn và bất hạnh! Đây là một trong những giai đoạn đen tối nhất của dân tộc Việt Nam, lịch sử Việt Nam!

Chưa bàn tới đạo đức của Hồ Chí Minh, điều mà ĐCSVN bắt cả nước noi gương học tập, di sản văn hoá và chính trị mà ông ta để lại quả thật là khủng khiếp!

Trong diễn văn nhân 125 năm ngày sinh Hồ Chí Minh, Tổng bí thư ĐCSVN Nguyễn Phú Trọng có nói “thời đại Hồ Chí Minh là thời đại rực rỡ nhất trong lịch sử dân tộc Việt Nam”. Vâng, nhưng mà “rực rỡ” về sự cai trị chà đạp dân chủ, nhân quyền, bất bình đẳng, dối trá và độc ác!

Posted in Chinh Tri Xa Hoi, Dân Chủ và Nhân Quyền, Nhan Vat Chinh tri | Leave a Comment »

Nguyễn Huệ Chi – Tôi bị cấm xuất cảnh và thu hộ chiếu

Posted by hoangtran204 on 20/05/2015

Nguyễn Huệ Chi

Giáo sư Nguyễn Huệ Chi

Ý định đi Mỹ thăm gia đình con gái xuất phát từ chính con gái tôi. Nhân cháu về Sài Gòn dự Hội thảo 100 năm năm sinh ông nội (GS Nguyễn Đổng Chi) vào ngày 7-5-2015, cháu gọi điện báo trước: Con sẽ mua vé mời bố mẹ sang Boston chơi một thời gian và đi luôn từ sân bay Tân Sơn Nhất chừng mươi ngày sau khi Hội thảo xong. Chúng tôi cân nhắc một tuần lễ, sau đó nhận lời.

Tối 18-5-2015, hai vợ chồng tôi và con gái ra sân bay Tân Sơn Nhất, đến 11 giờ thì làm xong thủ tục xuất trình vé và gửi hành lý tại hãng máy bay Hàn Quốc Korean Airlines để bay sang Seoul (vé của tôi là của hãng Delta Airlines, từ SG đi thẳng Boston, quá cảnh ở Seoul bằng máy bay Hàn Quốc). Nhưng khi qua an ninh cửa khẩu sân bay thì một mình tôi bị giữ lại. Tôi được mời vào đồn CA ngay trong sân bay. Vợ con theo vào cùng. Khi đến giờ cất cánh người của hãng hàng không Hàn Quốc đến tìm và hỏi nguyên nhân vì sao ra chậm làm cả máy bay phải chờ. Viên công an trả lời: “Ông Nguyễn Huệ Chi tạm thời chưa được xuất cảnh”. “Vì sao không cho ông đi?” “Không cần phải biết lý do”. Con gái tôi phải nói to để mọi người ở đấy hiểu: “Chẳng có lý do nào hết. Cứ thích là giữ lại thôi”. Nhưng tôi khuyên hai mẹ con cần tiếp tục hành trình ngay kẻo lỡ chuyến, còn tôi ở lại và mang hành lý xách tay vào đồn. Một lúc sau hành lý ký gửi cũng được các cô tiếp viên hãng Korean chuyển đến.

Cuộc trao đổi ngắn gọn và nhẹ nhàng, nhưng nguyên ủy sự vụ thì không ai hiểu được: “Công an Hà Nội chưa cho xuất cảnh”. Ngay đến công an cửa khẩu Tân Sơn Nhất cũng nói họ không hiểu: “Bác có chuyện gì không?” “Không!” “Thế công an Hà Nội không trao đổi gì với bác sao?” “Không!” “Thế thì đến chúng cháu cũng chịu không thể hiểu”. “Tôi nói thêm: “Chỉ mới cách đây mấy hôm tôi nằm trong số 20 nhà văn tuyên bố ra khỏi Hội Nhà văn Việt Nam”. Người công an nhìn tôi không tỏ vẻ ngạc nhiên, nghĩa là đã biết chuyện, chỉ nói: “Thì không muốn ở lại trong Hội nữa thì ra, đó là quyền của mình. Trong số 20 người có cả nhà văn Nguyên Ngọc, nhà thơ Đỗ Trung Quân… Có phải mình bác đâu!”. Tôi hiểu ngay đây mới chính là câu trả lời, dù là trả lời gián tiếp, nên không trao đổi gì thêm. Nhưng điều đáng quan tâm là Hộ chiếu, tôi hỏi: Tôi phải được nhận lại Hộ chiếu chứ. Đó là quyền của tôi”. Đáp: “Việc này không được. Theo nguyên tắc hộ chiếu chúng cháu giữ và gửi ra Hà Nội. Bác hãy ra Hà Nội, đến CA Hà Nội khiếu nại để đòi lại hộ chiếu”. Thấy tôi trả lời: “Còn ở lại chơi bời vài hôm đã”, một người cười: “Nếu không ra họ lại tưởng việc hộ chiếu cũng chẳng thiết thân gì lắm với mình”.

Biên bản cấm xuất cảnh đối với Giáo sư Nguyễn Huệ Chi

Chờ cho người công an tên Việt đánh máy xong biên bản làm 3 bản, đi lấy chữ ký của ông Thượng tá Hưng, đóng dấu, đưa tôi ký vào. Tôi nói rõ: Tôi không ký, bởi việc này trái pháp luật và vi hiến. Người công an đối diện tôi nói: “Ký hay không ký đấy là quyền của bác. Nhưng cũng nên ghi vào mấy chữ “tôi không ký”. Tôi ghi cả 3 biên bản. Ghi xong, bắt tay họ, theo một anh nhân viên hãng Korean tên Bình ân cần dẫn ra khỏi sân bay, lên taxi. Về đến nhà con trai đúng 1 giờ kém 15 phút sáng 19-5-2015.

Theo biên bản do CA Tân Sơn Nhất lập, việc này do CA Hà Nội gây ra, vậy Công an Hà Nội phải chịu hoàn toàn trách nhiệm trước công luận và tôi, một công dân chưa bao giờ phạm pháp, trái lại luôn luôn có ý thức tôn trọng pháp luật Việt Nam.

 

 

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

Đức Giáo hoàng: Hãy mang chính trị vào các giáo xứ

Posted by hoangtran204 on 20/05/2015


Mặc Lâm, biên tập viên RFA ( 10 /5/2015 )

 

Bức chân dung Đức Giáo Hoàng Francis tại cổng chính nhà thờ Chánh Toà Hà Nội ( hôm 15/3/2013 )





Trong một lần trả lời về việc dấn thân của người tu sĩ trong giáo hội, Đức Giáo hoàng Phan Xi Cô nói rằng “Nếu Chúa gọi anh chị em trên con đường này thì xin anh chị em lên đường, hãy làm chính trị dù con đường này có thể làm anh chị em đau khổ”.

Giáo hội Công giáo Việt Nam đã đem giáo huấn của Đức Giáo Hoàng vào đời sống như thế nào và liệu câu hỏi người tu sĩ không nên làm chính trị có còn đứng vững hay không? Mặc Lâm phỏng vấn linh mục An Tôn Lê Ngọc Thanh, thuộc Dòng Chúa Cứu Thế Sài Gòn.

Mặc Lâm: Thưa Linh mục, xin ông cho biết giáo huấn của Đức Giáo Hoàng về việc dấn thân trong đời sống chính trị có được áp dụng vào mục vụ của giáo hội Công giáo Việt Nam hay không và các tu sĩ thực hiện giáo huấn này cụ thể như thế nào?

LM Lê Ngọc Thanh: Về mặt giáo huấn chung của Giáo hội tôi xin được nói cái giáo huấn gần nhất của giáo hội đó là thông điệp “Niềm vui tin mừng” của Đức Giáo hoàng Phan xi cô vừa ban hành cách đây hơn một năm. Trong chương IV ngài nói rất rõ những việc phải dấn thân trong xã hội. Ngài chỉ ra hàng loại những vấn đề rất cụ thể và ngài bảo rằng tôi muốn một giáo hội lem luốc trên đường phố với người nghèo hơn là ẩn mình trong sự an toàn giả tạo. Và ngài bảo rằng cần phải cơ cấu lại, không phải bài giảng đâu, mà cần thiết thì phải cơ cấu lại giáo xứ để làm sao đáp ứng được nhu cầu đó và ngài nhấn mạnh rằng việc phục vụ cộng đồng, xã hội trong tư cách là một chính trị gia của giáo dân nó là một việc bác ái cao cả hơn cả bởi vì nếu việc bác ái bình thường chỉ giúp được một hai người, còn một vị chính trị gia làm việc nghiêm túc, công minh thì sẽ giúp cả một cộng đồng xã hội hàng ngày cứu giúp giáo dân.

Mặc Lâm
: Có phải vì thế mà nhiều bài giảng thuộc DCCT gần đây đã không ngại nêu bật những khiếm khuyết của xã hội lẫn chính quyền và trong một chừng mực nào đó đã gây cảm hứng mới cho giáo dân. Xin linh mục cho biết những bài giảng như thế có được sự đồng thuận từ giáo hội hay không?

LM Lê Ngọc Thanh: Trước tiên thì tôi phải khẳng định rằng là bài giảng nơi tòa giảng trong nhà thờ luôn xuất phát từ lời Chúa chứ không phải tùy ý do sở thích của một linh mục hay của một nhóm một cộng đoàn riêng lẻ nào đó. Cái đó không thuộc phạm vi tự quyết của cá nhân một linh mục hay của một cộng đoàn như Dòng Chúa cứu thế mà đây là sứ điệp của Chúa trong hội thánh được công bố hàng tuần. Chúng tôi công bố lời Chúa vì chính lời Chúa xuất phát từ trong một cộng đồng xã hội cụ thể và quay lại áp dụng cho một cộng đồng cụ thể với những vấn đề mà chúng ta không thể im lặng, với những vấn đề chúng ta không thể cho qua.

Những vấn đề mà anh em DCCT thật ra không nằm ngoài lề giáo hội mà triển khai những vấn đề của giáo hội mà có thể nhiều cha xứ khác, ở nhiều nơi khác, vì lý do mục vụ cụ thể hoặc là vì sự đơn độc khi ở một mình có thể dễ dàng bị tấn công, bị trả thù nên các ngài khôn khéo hơn, cẩn thận hơn trong cách nói công khai trên tòa giảng. Nhưng có thể nói một điều chắc chắn như thế này là ở lúc gặp gỡ và chia sẻ với giáo dân tất cả các linh mục đều nói rõ về bản chất dấn thân cho xã hội của Giáo hội Công giáo mà không ngoại trừ DCCT.

Mặc Lâm: Phản ứng của giáo dân đối với giáo huấn mới của Đức Thánh Cha có tích cực lắm hay không trong bối cảnh o ép hiện nay tại Việt Nam và sau những bài giảng sống động trong nhà thờ giáo dân có phản ứng như thế nào?

LM Lê Ngọc Thanh: Tôi lấy kinh nghiệm ở Thái Hà ở Hà Nội và Đền Đức mẹ hằng cứu giúp ở Sài Gòn để chúng ta thấy.


Ban đầu thì giáo dân hơi sợ hãi nhưng sau khi nghe giảng xong thì giáo dân nói với chúng tôi rằng chúng con chỉ sợ rằng là đang thánh lễ hay sau thánh lễ họ sẽ vô bắt các cha.

Ban đầu là như vậy nhưng dần dần họ thấy và nói với chúng tôi rằng đây là điều mà họ chỉ nghe được ở đây. Họ là những người thuộc nhiều giáo xứ khác cứ canh giờ lễ đó mà đến để được hiệp thông, cầu nguyện để được nghe giáo huấn.

Tôi thấy rằng ít nhất là vào buổi lễ Công Lý Hòa bình vào 8 giờ tối Chúa nhật cuối tháng, một thánh lễ quy tụ trên 3.000 người ở tại Sài Gòn và Hà Nội cũng vậy.

Có đến 80% người tham dự là những người biết rõ và họ chủ động tìm đến để được giáo huấn theo cách như vậy chứ không phải chỉ đi lễ như một giáo dân bình thường vào ngày Chúa Nhật.

Mặc Lâm: Xin linh mục cho biết những hoạt động dấn thân, những bài giảng thiết thực với đời sống rõ ràng là đụng đến vấn đề mà nhà nước cho là nhạy cảm. Chính quyền đã có những hành động nào để ngăn chặn hay cản trở hay không?

LM Lê Ngọc Thanh: Trước đây khi chúng tôi bắt đầu những chia sẻ như vậy với giáo dân thì họ dùng những tờ truyền đơn dán vào các cột điện, gốc cây trong khu vực nhà thờ. Họ rải trong sân nhà thờ, họ rải trong khu xóm, trong quán ăn để nói xấu và lên án các cha. Họ không dừng lại ở việc lên án về nội dung bài giảng, họ bắt đầu vu khống kể cả việc dựng đứng lên họ nói đó là đời sống vô đạo đức của các cha như vậy.

Riêng đối với nhà cầm quyền thì có một lần họ đã chất vấn về tính hợp pháp của website chúng tôi, còn về tòa giảng thì họ chỉ nói với cá nhân linh mục này, với cá nhân cha kia để gây sự chia rẻ trong nội bộ của anh em chúng tôi và cũng có dùng nhóm giáo dân này nhóm giáo dân kia chống lại nhau. Nhưng có thể nói rằng là những tác động giảm dần và đến bây giờ không còn tác động gì nữa cả.

Mặc Lâm: Xin cám ơn linh mục Lê Ngọc Thanh.




http://www.rfa.org/vietnamese/in_dep…015074942.html

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

Quân đội Mỹ thách thức chủ quyền Biển Đông

Posted by hoangtran204 on 19/05/2015

Wall Street Journal

Các tác giả: ADAM ENTOUS, GORDON LUBOLD  JULIAN E. BARNES

Người dịch: Huỳnh Phan

12-05-2015

Các biện pháp sẽ là phái máy bay, tàu hải quân tới gần các đảo nhân tạo do Trung Quốc xây dựng trong vùng biển tranh chấp

Các quan chức Hoa Kỳ nói rằng, quân đội Mỹ đang xem xét việc sử dụng máy bay và tàu hải quân trực tiếp thách thức chủ quyền lãnh thổ của Trung Quốc đối với một chuỗi đảo nhân tạo đang nhanh chóng mở rộng, hành động này sẽ gia tăng mạo hiểm trong cuộc đối đầu khu vực về việc ai kiểm soát các vùng biển tranh chấp ở Biển Đông.

Bộ trưởng Quốc phòng Ash Carter đã yêu cầu ban tham mưu của mình xem xét các phương án trong đó có cả việc cho máy bay giám sát Hải quân bay trên các đảo và phái tàu hải quân Mỹ vào phạm vi trong vòng 12 hải lý quanh các rạn san hô mà TQ đang bồi tạo và tuyên bố chủ quyền trong khu vực được gọi là Quần đảo Trường Sa. 

Động thái như vậy, nếu được Nhà Trắng chấp thuận, sẽ được dùng để chuyển tới Bắc Kinh thông điệp rằng Mỹ sẽ không thừa nhận các yêu sách lãnh thổ của Trung Quốc đối với các đảo nhân tạo ở những nơi mà Mỹ coi là vùng biển và không phận quốc tế.

Tính toán của Lầu Năm Góc có thể là việc lập kế hoạch quân sự và bất kỳ triển khai nào có thể thực hiện, sẽ làm tăng sức ép buộc Trung Quốc phải có nhượng bộ đối với các đảo nhân tạo. Nhưng Bắc Kinh cũng có thể đánh liều gấp đôi, mở rộng việc xây dựng bất chấp Mỹ và có khả năng sẽ thực hiện các bước để đẩy mạnh hơn các yêu sách của Trung Quốc trong khu vực.

Hoa Kỳ nói họ không công nhận các đảo nhân tạo là lãnh thổ có chủ quyền của Trung Quốc. Tuy nhiên, các quan chức quân sự cho biết, hải quân Mỹ cho đến nay vẫn chưa phái máy bay hoặc tàu chiến vào trong vòng 12 hải lý quanh các rạn san hô bồi tạo để tránh leo thang căng thẳng.

Nếu Mỹ thách thức các yêu sách của Trung Quốc bằng việc sử dụng các tàu hải quân, còn Bắc Kinh vẫn giữ vững lập trường của mình thì kết quả có thể leo thang căng thẳng trong khu vực, với sức ép ngày càng lớn, buộc phải tung ra sức mạnh quân sự trong vùng biển tranh chấp đè lên cả hai phía.

Theo ước tính của Mỹ, Trung Quốc đã mở rộng các đảo nhân tạo trong chuỗi Trường Sa từ 500 mẫu năm ngoái lên đến 2.000 mẫu (≈ 809 ha) đất. Tháng trước, ảnh vệ tinh của nhà cung cấp thông tin tình báo quốc phòng IHS Jane cho thấy Trung Quốcđã bắt đầu xây dựng một đường băng trên một trong những đảo này, có vẻ đủ lớn để chứa máy bay chiến đấu và máy bay giám sát.

Mỹ đã sử dụng quân đội để thách thức các yêu sách khác của Trung Quốc mà Washington coi là không có căn cứ. Tháng 11 năm 2013, Mỹ cho hai máy bay ném bom B-52 bay bên trên các đảo tranh chấp ở Biển Hoa Đông để thách thức vùng nhận dạng phòng không mà Bắc Kinh tuyên bố trong khu vực đó.

Các quan chức cho biết hiện nay ở Lầu Năm Góc và Nhà Trắng ngày càng có nhiều ý kiến muốn có các bước đi cụ thể để gửi tới Bắc Kinh một tín hiệu cho thấy hành động bồi đắp gần đây của họ ở Trường Sa đã đi quá xa và cần phải dừng lại.

Các quan chức Trung Quốc bác bỏ các chỉ trích về việc xây dựng đảo, nói rằng Bắc Kinh có quyền thực hiện các dự án xây dựng bên trong lãnh thổ có chủ quyền của họ. Họ nói rằng các cơ sở này sẽ được sử dụng cho mục đích quân sự và dân sự.

“Trung Quốc có chủ quyền không thể tranh cãi đối với quần đảo Nam Sa (tên Trung Quốc gọi quần đảo Trường Sa) và các vùng biển lân cận,” người phát ngôn đại sứ quán Zhu Haiquan (Chu Hải Toàn) nói. “Việc xây dựng có liên quan, là hợp lý, đúng lẽ và hợp pháp, nằm ngay bên trong chủ quyền của Trung Quốc. Nó không ảnh hưởng hoặc nhắm vào bất kỳ nước nào, và do đó không trách cứ được.”

Ông Zhu nói, Bắc Kinh hy vọng rằng “các bên liên quan” (cách nói nhằm chỉ quân đội Mỹ và các đồng minh trong khu vực) sẽ “kiềm chế việc làm gia tăng căng thẳng hoặc làm bất cứ điều gì nguy hại đến an ninh và sự tin cậy lẫn nhau.”

Trung Quốc đòi chủ quyền gần như toàn bộ Biển Đông, một trong những tuyến đường biển nhộn nhịp nhất thế giới, và những việc làm của họ để cố thực thi việc kiểm soát khu vực này trong những năm gần đây đã làm cho Mỹ và Châu Á, nơi mà một số nước có các yêu sách chủ quyền đối chọi nhau trong đó có Philippines, một đồng minh của Mỹ, ngày càng quan ngại hơn.

Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Philippines Charles Jose hôm thứ Tư nói “Philippines tin rằng Hoa Kỳ, cũng như tất cả các thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế có lợi ích và có tiếng nói về những gì đang xảy ra ở Biển Đông”, qua việc đề cập tới tự do đi lại và dòng lưu thông thương mại không bị ngăn trở cùng các yếu tố khác.

Máy bay quân sự của Mỹ đã nhiều lần tiến gần tới vùng 12 hải lý mà TQ yêu sách xung quanh các rạn san hô mới xây dựng lên. Nhưng để tránh leo thang, các máy bay không xâm nhập vào vùng này. Một quan chức quân sự cấp cao cho biết các chuyến bay “đã giữ một khoảng cách tới các đảo và vẫn gần mốc 12 hải lý”.

Máy bay Mỹ đã bay gần các đảo mà việc xây dựng đang diễn ra, khiến các sĩ quan Trung Quốc phải gọi vô tuyến để thông báo cho các phi công rằng họ đang tiến gần lãnh thổ có chủ quyền của Trung Quốc. Đáp lại, các phi công Mỹ nói với Trung Quốc rằng họ đang bay qua không phận quốc tế.

Trong những ngày gần đây, chiến hạm USS Fort Worth đã hoạt động ở vùng biển gần Trường Sa. “Chúng tôi chưa đi vào trong vòng 12 hải lý”, một quan chức cấp cao của Mỹ cho biết.

Đề nghị của quân đội chưa chính thức chuyển cho Nhà Trắng để cho kết luận cuối cùng đối với bất kỳ thay đổi nào về lập trường của Mỹ. Nhà Trắng từ chối đưa ra bình luận.

Các quan chức nói rằng đây là vấn đề phức tạp bởi vì theo cái nhìn của chính phủ Mỹ, ít nhất một vài khu vực mà Trung Quốc đang thực hiện việc xây dựng là đảo theo pháp lý, chúng có quyền được hưởng một vùng lãnh hải 12 hải lý.

Đề nghị đang được xem xét sẽ là phái tàu và máy bay hải quân đi vào khu vực 12 hải lý chỉ ở những địa điểm xây dựng nào mà Mỹ không coi là đảo hợp pháp, các quan chức nói.

Các quan chức Mỹ nói rằng theo Công ước Liên Hỉêp Quốc về Luật Biển, một thể địa lý bồi tạo không có quyền có lãnh hải nếu thể địa lý ban đầu không phải là đảo được công nhận theo công ước. Theo cách giải thích đó, Hoa Kỳ tin rằng họ không cần phải tôn trọng khu vực 12 hải lý xung quanh các rạn san hô được đắp lên nếu chúng không được coi là đảo trước khi việc xây dựng ở đó bắt đầu.

Các quan chức Mỹ cho biết một số đồng minh của Mỹ trong khu vực đã thúc giục Nhà Trắng nên làm nhiều hơn nữa để thách thức hành vi của Trung Quốc, cảnh báo Washington rằng việc Mỹ không hành động trong vùng Biển Đông có nguy cơ vô tình củng cố yêu sách chủ quyền của Bắc Kinh. Ngược lại một số đồng minh trong khu vực đã bày tỏ quan ngại đối với Washington rằng một sự thay đổi trong cách tiếp cận của Mỹ có thể lôi kéo họ vào một cuộc xung đột không chủ ý.

Một quan chức Mỹ nói. “Điều quan trọng là tất cả mọi người trong khu vực có một sự hiểu biết rõ ràng về điều mà Trung Quốc đang làm một cách chính xác. Chúng ta phải mở mắt theo dõi”. Hoa Kỳ đã và đang sử dụng vệ tinh để theo dõi việc xây dựng ở các đảo.

Trong những tháng gần đây, Nhà Trắng đã tìm cách tăng sức ép lên Bắc Kinh để họ dừng việc xây dựng trên các đảo thông qua các kênh ngoại giao, cũng như thách thức Trung Quốc công khai tại các cuộc họp báo gần đây cũng như các báo cáo của chính phủ.

Hải quân Mỹ thường xuyên thực hiện việc “tự do đi lại” trong khu vực, gồm cả đi qua Biển Đông. Nhưng hải quân vẫn chưa được chính phủ trao quyền một cách rõ rệt để làm như vậy trong vòng 12 hải lý quanh các đảo nhân tạo.

Ngoại trưởng Mỹ John Kerry theo đúng lịch sẽ tới Bắc Kinh vào cuối tuần này để chuẩn bị cho chuyến viếng thăm Mỹ vào tháng 9 tới của Chủ Tịch Trung Quốc Tập Cận Bình, người chủ trương cải thiện quan hệ quân sự với Hoa Kỳ là một ưu tiên hàng đầu.

Một bế tắc mới với Trung Quốc sẽ góp thêm vào các cuộc khủng hoảng an ninh chồng chất mà Mỹ đang đối mặt tại các khu vực khác.

Năm ngoái, sau khi Nga chiếm lãnh thổ của Ukraine, Nhà Trắng áp đặt lệnh trừng phạt đối Moscow nhưng cho đến nay vẫn từ chối yêu cầu cung cấp vũ khí của Ukraine. Tại Trung Đông, các chiến binh Nhà nước Hồi giáo chiếm lấy nhiều mảng đất lớn của Iraq hồi hè năm ngoái, khiến Hoa Kỳ phải phát động chiến dịch không kích nhằm vào nhóm này.

Từ lâu, Mỹ luôn nói rằng họ không đứng về bên nào trong các tranh chấp lãnh thổ ở Biển Đông, dù Mỹ có lợi ích quốc gia trong việc duy trì sự tự do đi lại tại khu vực này. Tuy nhiên năm ngoái, các quan chức Hoa Kỳ đã gia tăng chỉ trích việc Trung Quốc cố thực thi và biện minh yêu sách của họ trong khu vực.

Các quan chức Mỹ nói họ lo ngại quyết định không phái tàu hải quân vào vùng này sẽ vô tình giúp Trung Quốc tạo dựng chứng lý đối với chủ quyền trong khu vực.

Tàu cảnh sát biển của Trung Quốc thường xuyên đi vào khu vực 12 hải lý quanh quần đảo Senkaku, do Tokyo kiểm soát, nhưng Bắc Kinh cũng có yêu sách chủ quyền và họ gọi là Điếu Ngư.

Các quan chức Mỹ nói họ tin rằng Trung Quốc phái tàu vào khu vực Senkaku ở Biển Hoa Đông vì họ muốn cho Tokyo và các nước khác thấy rằng Bắc Kinh không công nhận các đảo này là lãnh thổ của Nhật Bản.

Yêu sách của Trung Quốc bao gồm cả lãnh hải 12 hải lý kéo dài ra từ toàn bộ quần đảo Trường Sa, ở đó họ kiểm soát 7 rạn đá – tất cả đều được mở rộng thành các đảo nhân tạo gần đây. Các bên tranh chấp khác chiếm một số đảo, rạn san hô và đá khác.

Hình ảnh trước đây trên Google Earth và các nơi khác cho thấy việc bồi tạo ở hầu hết các rạn đá do Trung Quốc nắm giữ đều bắt đầu sau khi Chủ tịch Tập Cận Bình lên nắm quyền vào năm 2012.

Phần lớn việc xây dựng bắt đầu năm ngoái dù có sự phản đối của các nước láng giềng, các mối quan hệ quân sự với Washington ấm lại, và có động lực mới ở Trung Quốc muốn cải thiện quan hệ với vùng ngoại vi.

Các quan chức Mỹ nói rằng họ đã nhiều lần yêu cầu Trung Quốc dừng công việc này lại mà không có kết quả.

Trong những năm qua, tàu và máy bay của Mỹ đã có một số vụ va chạm với phía Trung Quốc, thường phát sinh từ những bất đồng về yêu sách chủ quyền lãnh thổ của Bắc Kinh.

Tháng 3 năm 2001 Trung Quốc ra lệnh cho một tàu khảo sát không vũ trang của hải quân Mỹ ra khỏi vùng biển ở Hoàng Hải, cho rằng vi phạm vùng đặc quyền kinh tế của họ. Mỹ không đồng ý với phản đối này, và vài ngày sau đó tàu này đã quay trở lại Hoàng Hải với một tàu hộ tống có vũ trang.

Tháng 4 năm 2001 một máy bay chiến đấu của Trung Quốc va chạm với một máy bay thám sát điện tử của hải quân Mỹ gần đảo Hải Nam của Trung Quốc ở Biển Đông, buộc EP-3 phải hạ cánh khẩn cấp.

Tháng 5 năm 2003, nhiều tàu cá Trung Quốc được sử dụng để húc vào tàu khảo sát hải quân Mỹ, có dính dáng tới sự kiện năm 2001, gây ra một số thiệt hại.    

Tháng 3 năm 2009 tàu quân sự và tàu công vụ của Trung Quốc bao quanh một tàu khảo sát của hải quân Mỹ ở Biển Đông trong một vùng đặc quyền kinh tế có tranh chấp, buộc tàu Mỹ phải tránh đi. Ngày hôm sau tàu này trở lại đi kèm với một tàu khu trục tên lửa hành trình.  

Tháng 11 năm 2013, Mỹ cho hai máy bay ném bom B-52 bay bên trên các đảo tranh chấp ở Biển Hoa Đông để thách thức vùng nhận dạng phòng không của Bắc Kinh.     

Tháng 12 năm 2013 một tàu Trung Quốc chặn đường một tàu tuần dương của hải quân Mỹ Cowpens ở Biển Đông, cách tàu sân bay của Trung Quốc một khoảng, buộc Cowpens thay đổi lộ trình để tránh va chạm.  Tháng 8 năm 2014 một máy bay chiến đấu Trung Quốc thực hiện điều mà các quan chức Mỹ nói là một kiểu chặn đường nguy hiểm đối với một máy bay tuần tra trên biển của hải quân Mỹ đang bay trong không phận quốc tế cách đảo Hải Nam khoảng 135 dặm về phía Đông.     

Bài viết này có dự đóng góp của Jeremy Page và Trefor Moss.

Posted in Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa | Leave a Comment »

Hết nói! Hãy bước ra khỏi sự táo tợn ngu dốt

Posted by hoangtran204 on 19/05/2015

 Hết nói!

Nguyễn Văn Tuấn

17-05-2015

Đọc báo Thanh Niên trên chuyến bay hôm nay mà … bức xúc. Chính quyền Tàu ngang nhiên ra lệnh cấm đánh cá ngay trên ngư trường Hoàng Sa và Trường Sa, nhưng Hội nghề cá chỉ khuyên ngư dân ra khơi theo đoàn. Hội còn “kiến nghị” cảnh sát biển và kiểm ngư bảo vệ ngư dân và tăng cường sự hiện diện thường xuyên. Tôi tự hỏi tại sao “kiến nghị” nhỉ? Nhiệm vụ của cảnh sát biển là bảo vệ ngư dân và ngư trường VN chứ, và họ phải có biện pháp thực thi việc đó chứ không cần ai kiến nghị. Nhưng có thể trong quá khứ họ chưa làm được nhiệm vụ đó?


Nhìn cái hình dưới đây, các bạn sẽ thấy một sai sót hết sức ngớ ngẩn về tiếng Anh: “Vietnam Coast Gaurd“! 

H1

Sai sót rất nhỏ nhưng nó làm mất thể diện quốc gia. Thử hỏi bọn Tàu chúng thấy chữ đó thì làm sao chúng biết là cảnh sát biển. Chẳng lẽ cả lực lượng hải quân và tuần dương không ai biết viết tiếng Anh cho đúng? Xin các bác, các quan, các giáo sư tiến sĩ sửa lại cho họ là: VIETNAM COAST GUARD.

Thật hết nói!

_______________

Càng nói càng…dốt

Người Việt

Bùi Bảo Trúc

16-05-2015

Hồi học tiểu học ở Hà Nội tôi có một người bạn ngồi cạnh bị cụ giáo dạy chúng tôi ở lớp Nhì ghét thậm tệ.

Trong suốt mấy tháng đầu của niên học, người hàng xóm của tôi bị ăn bao nhiêu là roi mây, cho đến khi bạn tôi bỏ hẳn cái thói quen thay tất cả “ph” bằng “f,” thói quen không biết chàng học ở đâu, có thể là chàng mang từ hậu phương về Hà Nội không chừng. Tôi chắc chàng học của bác Hồ của chàng, vì bác là người đã nghĩ ra cái lối viết mà thầy giáo của chúng tôi rất ghét đó.

Nhiều năm sau, trong bản di chúc anh già này viết để lại cho đàn em với ghi chú “tuyệt đối bí mật,” ai cũng đọc thấy tận mắt lối viết ấy.

Ngay ở đầu, là hai hàng chữ “Việt nam zân chủ cộng hòa độc lập, tự zo, hạnh fúc,” rồi trong suốt 7 trang di chúc viết tay đó, là những lối viết quái đản gọi là cải cách đó.

Cách viết đó hình như về sau cũng không có được bao nhiêu người bắt chước làm theo. Người ta không thấy (mấy) ai dùng “f” thay cho “ph,” dùng “k” thay cho “c.” Nhưng mới đây, lối viết ngớ ngẩn đó lại được thấy trong một tấm bằng do một trường bách khoa cấp cho các học viên tốt nghiệp. Trong tấm bằng này, trường đã ghi môn học của học viên là “Major in Farmacy Technician.”

Có tới hai lỗi trong hang chữ vừa dẫn ở trên.

Thứ nhất là danh từ “Pharmacy” bị viết sai là “Farmacy” với “f.” Không thể thay “Ph” bằng “f” được. Tiếng Anh cũng không được, mà tiếng Pháp cũng không được. Khi cái lỗi này được báo chí nêu ra, thì một anh cóc nhái của trường giải thích rằng đó là cách viết tắt nên không có gì là sai cả.

Nói vậy là nói láo, là dốt mà là cãi chầy cãi cối. Nếu viết tắt (abbreviate hay shorten) thì Pharmacy phải viết là “Pharm.” Không bao giờ là “Farmacy” cả.

Lỗi thứ hai là chữ “technician.” “Technician” là chuyên viên kỹ thuật, là kỹ thuật viên. Môn học là “technology.” “Technician” là người nghiên cứu hay theo học môn “technology.” Không thể có môn học “technician” bao giờ.

Những sai sót như thế không phải là ít. Trên một số văn bằng cấp cho các sinh viên người ta thấy rất nhiều những lỗi rất sơ đẳng như vậy. Cả những chữ giản dị như tên tháng ghi “July” thành “Yuly”; “Hiệu Trưởng” ghi là “Hệu Trưởng”; “Information” thành “Infomation” (thiếu chữ “r”; “very” thành “verry” thừa chữ “r”…

Thí dụ văn bằng Bachelor of Engineer do trường Đại Học Kiến Trúc cấp chẳng hạn. Không bao giờ có thứ bằng cấp này cả. Nếu đó là bằng kỹ sư thì phải ghi là Bachelor of ENGINEERING. Không bao giờ là Bachelor of ENGINEER . Danh từ ENGINEERING là môn (học) kỹ sư trong khi ENGINEER là (người) kỹ sư. Học thì học môn ENGINEERING. Không ai học ENGINEER cả.

Những sai sót như thế là những sai sót không thể chấp nhận được khi nó xuất hiện trên những văn kiện của những cơ sở cao cấp trong lãnh vực giáo dục. Các sinh viên, học viên tốt nghiệp của các trường đó khi xuất trình các văn bằng do các cơ sở cấp phát chắc chắn sẽ gặp phải những thái độ nghi ngờ về khả năng của họ, và cơ hội được tuyển dụng chắc chắn cũng giảm đi không ít. Một cơ sở giáo dục cao cấp mà để lại những sai sót ngu xuẩn như thế thì trình độ của những người được các cơ sở đó đào tạo như thế nào thì người ta không cần phải tìm hiểu lâu la gì cũng biết.

Vậy thì cách hay nhất là đừng xuất trình những thứ bằng cấp như thế làm gì. Cứ khai phứa phựa là có bằng nọ bằng kia là đủ. Như trường hợp của tên y tá chích đít nọ rồi cũng làm tới chức thủ tướng mà không ai biết nó học ở đâu mà vẫn nhận là có bằng cử nhân luật vậy.

Đúng là “nói láo mà chơi, nghe láo chơi” như câu thơ của Bồ Tùng Linh vậy.

________ ____________

 Hãy bước ra khỏi sự táo tợn ngu dốt

Blog RFA

CanhCo

16-05-2015

Quyền lực cao và tuyệt đối làm cho một con người dù thông minh tới đâu cũng có khi quẩn trí. Quyền lực làm cho một nhà nước, chính phủ dễ dàng trở nên độc tài nhất là khi không có một công cụ dân chủ nào kiểm soát và kềm giữ sự quá trớn từ một chính sách đưa ra, đặc biệt với chính sách nhằm đối phó với người chống lại sự độc tài của chính phủ hay nhà nước đó.

Nhân quyền tại Việt Nam là hình thức độc tài cao nhất của nhà nước khi tự tiện bịt miệng người dân không cho họ nói lên tiếng nói của mình. Đẩy người dân ra khỏi mảnh đất của họ bằng chính sách trưng thu đất đai mà không đền bù thỏa đáng. Đàn áp bắt bớ người bất đồng chính kiến, giam giữ không xét xử, tổ chức những phiên tòa không vành móng ngựa. Dập tắt tiếng kinh cầu nguyện trong những ngôi thánh đường xa xôi, hay tra tấn người dân đến chết trong đồn công an mà không sợ công lý trừng phạt. Những hành vi ấy đã và đang bị quốc tế theo dõi, soi rọi từ những góc tối nhất. Quốc tế thành công vì hệ thống thông tin toàn cầu không cho phép bất cứ một chính phủ nào che dấu, khỏa lấp việc làm chống lại loài người được biện minh bằng những điều luật mờ ám và sát nhân.

Việt Nam tỏ ra rất thành thạo trong cách đối phó với người không cùng hàng ngũ với họ, ngay cả đứng bên lề cũng không yên. Dân chúng phải tuân lệnh nhà nước dù lệnh ấy có làm cho xã hội đảo điên.

Không ngạc nhiên khi Hà Nội chặt cây xanh và khi bị chống đối họ chặt luôn người chống đối.

Vụ của anh Nguyễn Chí Tuyến đã chứng minh cho người dân thấy rằng nhà nước không bao giờ phục thiện nhất là khi người dân đụng tới phần thưởng của bọn tham quan. Hơn 6.700 cây xanh nếu suôn sẻ thì số tiền cung tiến cho bọn sai nha, bọn ký tá và nhất là bọn chóp bu Hà Nội không cách nào đếm hết. Nhìn vào thực tế ấy để thấy rằng công an giả danh côn đồ đánh anh Tuyến là đòn dằn mặt cho bất cứ ai còn tơ tưởng đến sự phản ứng của đám đông sẽ làm nên lịch sử, nhất là đám đông không có tổ chức và tự phát.

Sự táo tợn của công an nằm ở chỗ đánh anh Nguyễn Chí Tuyến ngay vào lúc Hoa kỳ vừa nói chuyện nhân quyền với Việt Nam xong và hồ sơ hai phía chưa ráo mực.

Trong vụ này nhiều người cho rằng chính phủ đã bị Đảng “đàn áp” và sự dằn mặt này có bàn tay Trung nam hải. Những nắm đấm vào mặt Chí Tuyến không khác gì đấm vào phái đoàn Nhân quyền Hoa Kỳ cùng những niềm tin bâng quơ vào một sự “phục thiện” mà Đảng sẽ mang ra làm quà trước chuyến đi của ông Tồng bí thư.

Thế nhưng khuôn mặt đẫm máu của anh Tuyến đã làm cộng đồng thức tỉnh, nhất là cộng đồng các nhà ngoại giao.

Các trang mạng nóng lên trong buổi sáng anh Tuyến bị đánh. Người ta share hình ảnh của một con người hiền lành với thương tích khó lòng phủ nhận. Có lẽ chỉ có kẻ thủ ác là hớn hở vì đã làm đúng chỉ thị của cấp trên, còn cấp trên thì lần này lại như ngồi trên lửa.

Khuôn mặt đẫm máu ấy tới tấp bay tới các tòa đại sứ ngoại quốc tại Hà Nội. Nó cũng nhanh chóng lan tràn ra khắp các nước và hậu quả nhãn tiền lần này Hà Nội không thể ném đá dấu tay như mọi lần khác.

Một ngày sau khi bị tấn công tàn bạo, sáng 12 tháng 5 anh Tuyến được một nhà ngoại giao Đức là ông Felix Schwarz, tham tán Chính trị và Nhân quyền đại sứ quán Đức đến tận nhà để thăm hỏi và ghi nhận mọi việc vừa xảy ra.

Ngày hôm sau, 13 tháng 5 Dân biểu Alan Lowenthal, thành viên của phái đoàn Quốc hội Mỹ vừa kết thúc chuyến thăm Việt Nam, đã gửi thư cho Chủ tịch nước Trương Tấn Sang yêu cầu có biện pháp chấm dứt ngay việc sử dụng bạo lực đẫm máu và yêu cầu mang kẻ thủ ác ra công luận.

Bà Janet Nguyễn, Thượng nghị sĩ Tiểu bang California trong một cuộc phỏng vấn đã nói rằng bà đã gửi một lá thư cho ông Ted Osius, Đại sứ Mỹ tại Hà Nội đề nghị chính phủ Việt Nam phải điều tra tại sao công an lại đánh anh Tuyến? Bà  cũng yêu cầu Human Rights Watch xem tại sao lại có vụ này xảy ra tại Việt Nam. Bà Janet Nguyễn còn nói Chính phủ Việt Nam đang áp dụng việc đánh người dân, đánh ai cũng được ở ngoài đường. Họ muốn giết người và bắt người vô tù mà người bị bắt không biết tại sao. Họ muốn bắt ai là cứ bắt.

Ông Tom Malinowski, một quan chức cao cấp của Bộ Ngoại giao Mỹ, phụ trách vấn đề dân chủ, nhân quyền và lao động, dẫn đầu phái đoàn Ngoại giao trong chương trình Đối thoại Nhân quyền Việt Nam tại Hà Nội vào ngày 7 tháng 5 đã nói với nhà báo Đoan Trang trong một cuộc phỏng vấn rằng “vụ việc của Anh Chí là một vấn đề cả từ giác độ nhân quyền lẫn chính trị: Thật là một việc làm vô cùng ngu dốt khi mà nó xảy ra đúng vào thời điểm quốc tế đang rất chú ý đến nhân quyền ở Việt Nam.”

Đại sứ quán Hoa Kỳ và Úc tại Hà nội cũng chính thức phản ứng trước vụ việc. Bà Jennifer đại điện đại sứ quán Mỹ và bà Rose McConnell đại diện đại sứ quán Úc hôm 15 tháng 5 đã tới tư gia thăm hỏi anh Tuyến và sau cuộc thăm hỏi ấy là phản ứng của công an Việt Nam.

Phản ứng này được xem là phản ứng có điều kiện.

Và điều kiện gây phản ứng là sự nhập cuộc của nhiều tòa đại sứ một lúc làm cho Đảng hụt hơi trong trò chơi ú tim, nín thở qua lằn ranh của đối phương trong khi sức chịu đựng của mình quá hạn hẹp.

Trò chơi đứt hơi ấy được tiếp sức bằng cách mời anh Chí Tuyến vẽ lại hiện trường bị đánh và công an đo đếm một cách cẩn thận để dư luận thấy họ có quyết tâm truy tìm thủ phạm mặc dù ít nhất hai người là Trịnh Anh Tuấn và Nguyễn Chí Tuyến biết mặt kẻ đánh mình.

Giống như dư luận viên, mặc dù ai cũng biết mặt mày nhà cửa, nhưng chỉ một cơ quan không biết đó là cơ quan điều tra.

Ông Hồ Quang Lợi đại diện cho Đảng đã rất khéo đặt danh xưng cho đám quân ô hợp của Hà Nội là Dư luận viên. Chữ “viên” hàm ý họ là một “viên chức” chứ không phải ngoài cơ quan hay dân thường. Họ được trang bị lý luận, mồm mép và cả sự bẩn thỉu cần thiết để chống lại người dân. Những “viên” ấy đã rút vào bóng tối nhưng không ai chắc rằng họ sẽ vĩnh viễn mất tích vì mới đây chính anh Tuyến đã kéo xe của trùm dư luận viên Trần Nhật Quang khi đi diễu hành chống chặt hạ cây xanh tại Hà Nội.

Từ dư luận viên, người dân có thể mạnh miệng gọi những tay giả dạng côn đồ là “côn đồ viên” chắc sẽ không sai. Khi côn đồ thành “viên” thì vị trí của nó ý nghĩa hơn, có giá hơn và nhất là có thể gây lòng tin yêu nơi Đảng hơn là làm côn đồ “trơn” ngoài xã hội.

Một khác biệt nữa là khi đã “viên” thì dù có bị điều tra nó cũng sẽ được chuyển sang “công tác” ở một chỗ có các chữ “viên” khác để chờ ngày thăng quan tiến chức.

Sự táo tợn của dư luận viên đã bị bỏ vào sọt rác nhưng xem chừng côn đồ viên vẫn chưa tới mức phải tự hủy khi mà Đảng vẫn còn mạnh hơn chính phủ.

Chính sách mang nắm đấm áp dụng vào nhân dân được xem là táo tợn và ngu dốt có lẽ sẽ dừng lại nhưng đối với những cái đầu tầm cỡ của Đảng người dân liệu mà chuẩn bị đối phó với những trò khác, chẳng hạn như dùng “viên” chức ngân hàng theo lệnh công an khóa trái tài khoản của những ai làm trái hay chống lại đường lối của Đảng như ông Nguyễn Thanh Giang đang tố cáo chẳng hạn?

Posted in Chinh Tri Xa Hoi | Leave a Comment »

VN ‘hoan nghênh’ Mỹ vì nỗ lực ở Biển Đông

Posted by hoangtran204 on 15/05/2015

 

Bộ Ngoại giao Việt Nam hoan nghênh phiên điều trần tại Ủy ban Đối ngoại của Thượng viện Mỹ về “Bảo vệ lợi ích của Hoa Kỳ tại Biển Hoa Đông và Biển Đông”.

Hôm 13/5, hai quan chức quốc phòng và ngoại giao Mỹ đã nói về động thái bồi đắp, lấn biển của Trung Quốc tại Biển Đông.

Bình luận về việc này, người phát ngôn Việt Nam Lê Hải Bình hôm 14/5 nói: “Việt Nam hoan nghênh nỗ lực của cộng đồng quốc tế trong đó có Hoa Kỳ trong việc duy trì hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển ở Biển Đông, đặc biệt là ủng hộ vai trò của ASEAN, tuân thủ DOC và những nỗ lực nhằm sớm đạt được COC.”

Ông David Shear, từng là Đại sứ Mỹ tại Việt Nam và nay là Trợ lý Bộ trưởng Quốc phòng Phụ trách An ninh Châu Á và Thái Bình Dương, đã điều trần trước Ủy ban Đối ngoại Thượng viện hôm 13/5.

Một phần chính trong buổi điều trần là bình luận của ông David Shear về hoạt động tôn tạo, mở rộng đảo, đá của Trung Quốc trên Biển Đông gần đây.

Ông cho biết trong hai thập niên qua, ngoại trừ Brunei, tất cả các nước có tranh chấp đều xây tiền đồn ở Biển Đông để khẳng định chủ quyền.

Theo tính toán của Mỹ, ở quần đảo Trường Sa, Việt Nam có 48 tiền đồn; Philippines 8; Trung Quốc 8; Malaysia 5 và Đài Loan 1.

“Tất cả các nước tranh chấp đều có hoạt động xây dựng theo từng mức độ,” ông David Shear nói.

Theo ông, từ 2009 đến 2014, Việt Nam “là nước hoạt động mạnh nhất cả trong việc nâng cấp tiền đồn và bồi đắp, lấn ra biển khoảng 60 mẫu”.

“Toàn bộ các nước, ngoại trừ Trung Quốc và Brunei, cũng đã xây đường băng, kích cỡ khác nhau” ở Trường Sa.

Hoạt động của Trung Quốc.

Tuy vậy, Trợ lý Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ nói hoạt động tôn tạo, bồi đắp gần đây của Trung Quốc “vượt xa” các nước khác.

Mỹ ước tính từ năm 2014, Trung Quốc đã lấn ra biển 2.000 mẫu.

Hình ảnh cáo buộc hoạt động tôn tạo của Trung Quốc ở khu vực Đá Vành Khăn

Kết hợp với các động thái như yêu sách “đường chín đoạn”, hành xử của Trung Quốc gây lo ngại nước này đang tìm cách xác lập kiểm soát vùng tranh chấp trên thực tế, theo ông David Shear.

“Việc bồi đắp, lấn biển của Trung Quốc có thể có nhiều ngụ ý quân sự, nếu Trung Quốc muốn theo đuổi. Trong đó có khả năng phát triển hệ thống radar tầm xa và máy bay do thám tình báo. Tàu có mớn nước sâu hơn, và phát triển sân đỗ khẩn cấp cho tàu sân bay.”

“Những hành động này có thể khiến chính phủ trong khu vực củng cố khả năng quân sự ở các tiền đồn của họ, tăng nguy cơ tính toán sai lầm, khủng hoảng và chạy đua vũ trang.”

Cũng tại buổi điều trần, Trợ lý ngoại trưởng Mỹ phụ trách Đông Á và Thái Bình Dương, Daniel Russel, nói Hoa Kỳ có lợi ích để cần phải bảo đảm tranh chấp được giữ trong hòa bình.

“Căng thẳng gia tăng trong vài năm gần đây. Một vụ nghiêm trọng không chỉ có thể gây nên chu kỳ leo thang nguy hiểm mà nỗ lực phát triển ổn định dựa trên các nguyên tắc căn bản cũng bị thách thức bởi hành vi cưỡng ép.”

Trợ lý ngoại trưởng Mỹ nói Mỹ nhấn mạnh để các vấn đề biển đảo “ở đầu nghị trình trong diễn đàn đa phương khu vực”.

“Chúng ta nêu bật hành vi có vấn đề như bồi đắp, lấn biển, để hành vi gây bất ổn được phơi bày và giải quyết.”

Ông Daniel Russel nói thêm: “Chúng ta bảo vệ quyền giải quyết tranh chấp theo luật pháp.”

“Chúng ta thiếp lập quan hệ đối tác với các nước vùng biển Đông Nam Á…và phối hợp với các đồng minh như Nhật, Úc để tối ưu ảnh hưởng trợ giúp và ngoại giao của chúng ta.”

Đại sứ Trung Quốc tại Mỹ, Thôi Thiên Khải, phản ứng rằng Mỹ có “tiêu chuẩn kép” khi chỉ trích Bắc Kinh.

Ông Thôi nói một số nước cũng bồi đắp, tôn tạo nhưng không bị Hoa Kỳ chỉ trích.

“Ai đang gây ra căng thẳng ở Nam Hải? Trong mấy năm qua, Hoa Kỳ đã can thiệp lộ liễu,” ông Thôi nói.

Cuối tuần này, Ngoại trưởng Mỹ John Kerry sẽ đến Bắc Kinh, chuẩn bị cho Đối thoại Kinh tế và Chiến lược tháng Sáu và cho chuyến thăm Mỹ dự kiến của ông Tập Cận Bình trong năm nay.

Tuy vậy, dường như căng thẳng trên biển sẽ chiếm phần quan trọng trong nghị trình chuyến thăm của Ngoại trưởng Mỹ.

—————

-“Nguyen Tan Dung Mới chửi Mỹ hôm 30/4 vừa rồi, bây giờ thì níu áo Mỹ kêu cứu . Thật không ai mặt trơ như VC.
-Nên nhớ rằng Mỹ chả dại gì đụng độ với Trung Cộng (TC) đâu, chỉ lên tiếng cho có thôi.”

Posted in Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa | Leave a Comment »

 
Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.