Trần Hoàng Blog

Archive for Tháng Ba, 2009

Người Trung Quốc: Những ông chủ của đám người nô lệ mới

Posted by hoangtran204 trên 31/03/2009

Người lao động chờ việc ở Trung Quốc
Hình ảnh những người Trung Quốc ở Bắc Kinh 2009.
Nằm chơi ở ngoài đường cho mát? Quá nghèo không có có nhà ở? Khiếu kiện đất đai?

Trong một cuộc phỏng vấn những doanh gia TQ đang làm ăn ở Phi Châu, những người nầy cho biết:

Chính phủ TQ khuyến khích những doanh gia TQ mượn tiền, mua đất đai và mỏ ở Phi Châu để khai thác. Đổi lại, họ phải bán sản phẩm ròng, nguyên vật liệu (cobalt, đồng, than…) bán lại cho các doanh nghiệp quốc doanh TQ hoặc chở về TQ bán cho các doanh nghiệp TQ. Một số khác mươn tiền mua đất đai trồng trọt và thuê người Phi Châu làm việc trong các trang trại của họ. Một doanh gia TQ cho biết, ông mượn được 1 triệu đô để mua 1000 mẫu đất ở Phi Châu và đang khai thác. (nguồn ở báo Daily Mail, sẽ được dịch và post ở blog nầy)

Daily Mail

Làm Thế Nào mà Trung Quốc

đã và đang Tạo Ra một Đế Chế

Nô Lệ Mới ở Châu Phi

By PETER HITCHENS

Last updated at 12:00 PM on 28th September 2008

Tôi nghĩ rằng chắc có lẻ tôi sẽ chết trong ít phút nữa thôi. Một đám đông vào khoảng 50 người đàn ông bị lừa dối và bị khích động mạnh đang vây quanh chiếc xe của tôi, một số người đang cố lật ngược chiếc xe, những người khác đang đập vào xe bằng những viên đá lớn, tất cả đang la hét gào lên những lời lăng mạ và nguyền rủa chúng tôi.

Họ đã bắt đầu đánh bể những cửa xe. Tôi đang nghĩ bước kế đó là họ sẽ kéo chúng tôi ra và, nhưng thôi…, chúng ta hãy đừng nghĩ về chuyện ấy nữa…

Tôi cố gắng không nhìn vào mắt của họ, nhưng họ đang trợn trừng mắt vào tôi và các bạn đồng hành của tôi với sự cuồng nộ và ghét bỏ mà trước đó tôi chưa từng nhìn thấy ở bất cứ gương mặt của người nào như thế. Những người bạn đồng hành của tôi, cô Barbara Jones và anh chàng Richard van Ryneveld đang ngồi ở các băng ghế phía sau xe thì cũng giống như tôi chẳng giúp được gì hết.

Nếu chúng tôi bước ra, chắc chắn chúng tôi sẽ bị đánh tới chết. Nếu chúng tôi ngồi yên trong xe, chắc chắn chúng tôi cũng bị đánh tới chết.

Hai người bạn đồng hành người Phi Châu của chúng tôi – một cách rất điên khùng theo quan điểm của chúng tôi – đã bước ra khỏi xe để cố giải thích với đám đông. Đối với chúng tôi, rõ ràng rằng hai anh bạn người Phi Châu đang giảng đạo về sự không dùng sự bạo động trước (mặt một đám người đang lên cơn tức giận như) một cơn gió lốc hung bạo đang tàn phá mọi vật trên đường mà nó di chuyển.[1]

Cuối cùng, sau khi những chuyện đập phá xe kéo dài vào khoảng chừng 40 giây, nhưng tôi có cảm tưởng như là 30 phút, một trong hai anh bạn Phi Châu của tôi nghĩ ra một chuyện hợp lý, anh ta chuồi ngược vào trong xe và liều mạng lùi xe lại rất nhanh xuống con đường đá đầy bụi – để lại người bạn của anh ta đàng sau với đám đông.

Nhờ ơn chúa, chúng tôi đã không bị trượt vào một con kênh dẫn nước, mà cũng không bị lật xe, hay không nổ lốp xe. Xuyên qua đám bụi mà chúng tôi đã làm ra vì quá vội vã khi chúng tôi tẩu thoát, chúng tôi đã có thể nhìn thấy những kẻ muốn sát hại chúng tôi đang chạy đuổi theo với tốc độ nhanh kinh hoàng để theo kịp chiếc xe. Nhưng chúng tôi đã vừa vặn có đủ thời gian để làm một cú quẹo rất nhanh trở về hướng xuất phát, cú quẹo nầy cho phép chúng tôi đi về phía trước và vượt đám đông một khoảng rất xa.

Thế là chúng tôi đã gần như bỏ lại một người hướng dẫn đường cho chúng tôi mà không biết vận mạng của anh ta ra sao (Điều đó là dễ dàng một cách đáng ngạc nhiên để tự bào chữa cho tôi vào lúc ấy) khi ấy, đột nhiên chúng tôi nhìn thấy anh bạn người Phi Châu kia tách rời khỏi đám đông và đang chạy với sự nhanh nhẹn như ở Olympic, chạy trước những người đuổi theo bị che khuất bởi đám bụi mù.

Chúng tôi vội vã đẩy cho cánh cửa sau xe mở ra để cho anh chàng nầy có thể nhảy vào cho nhanh, động cơ nghiến ken két, và chúng tôi đã đột ngột chuyển hướng, xe nhồi lên rồi thụt xuống đau ê ẩm người trên con đường mòn đầy đá.

Chúng tôi đã lo sợ rằng sẽ có một nút chặn đường khác để ngăn chặn cuộc trốn thoát của chúng tôi, và tất cả mọi chuyện sẽ bắt đầu lại lần nữa. Nhưng đã không có (ai chận đường nữa), và sau cùng chúng tôi đã nhận ra rằng chúng tôi đã thoát, ngay cả anh chàng người Phi Châu mà sự ngu ngốc của anh ta gần như làm cho chúng tôi bị giết (cũng đã thoát).

Anh chàng nầy nói với chúng tôi rằng cái đám đông người Phi Châu chận đường ấy muốn giêt chúng tôi chứ không muốn giết anh ta, vì nếu không thì anh ta sẽ chẳng bao giờ trốn thoát được. Chúng tôi cần phải bị giết chết. Chúng tôi không chết. Đó là một cảm giác thú vị, không phải là không vui sướng một cách hoàn toàn.

Tại sao những người Phi Châu ấy đã muốn giết chúng tôi? Lý do gì đã làm nên sự tức giận của họ? Họ đã nghĩ rằng nếu tôi tường thuật cách sống và làm việc của họ, họ có thể mất công ăn việc làm để sinh sống.

Vậy mà gọi là sinh sống ư? Đang chết dần chết mòn thì đúng hơn.

Những người nghèo, người mất hết niềm hy vọng, những người giận dữ (với chúng tôi như đã viết ở trên) sống bằng cách đào những mãnh quặng cobalt và quặng đồng trong đất bẩn bị ô nhiễm và bụi của các mỏ đồng bị bỏ hoang ở Congo.

Họ rữa những thứ mà họ tìm thấy trong các giòng nước nhiễm bệnh dịch tả chứa đầy cứt người, sau đó đẩy lên đồi những túi đồ to lớn nặng chừng 100 kg trên những chiếc xe đạp cũ kỷ để tới một thị trấn Lakasi gần đó, nơi mà những người trung gian mua lại các món ấy để bán cho những nhà doanh nghiệp mà chủ yếu là bán cho những doanh nghiệp người Trung Quốc đang cần những thứ kim loại quan trọng nầy.

Thấy họ đi chậm chạp một cách đáng thương làm tôi nhớ lại các hình ảnh của các người thợ mỏ thất nghiệp ở Anh trong những năm 1930s, đang đi chệnh choạng về nhà dưới trời mưa lất phất với những túi xách chứa những mảnh than vụn gom lại từ những đống chiến lợi phẩm đánh cắp.

Ngoại trừ rằng ở đây cái nóng quá mức làm cho việc lao động 5 lần khó khăn hơn, và điều kiện làm việc và cuộc sống ở đây thì cực kỳ gian khổ hơn bất cứ thời gian nào từng được biết ở Anh kể từ thế kỷ thứ 18 (1601-1799).

Nhiều người chết vì những mỏ có từ lâu đời sụp đổ xuống trên bọn họ, hay bị thương một cách đáng sợ mà không có hy vọng được điều trị thuốc men. Nhiều người nhỏ bé còn hơn những trẻ em. Vào một ngày gặp hên, họ có thể kiếm được 3 đô, chỉ đủ hổ trợ cho sự hiện hữu mong manh trong những khu vực nghèo nàn sốt rét và bệnh tật.

Chúng tôi đã từng có mặt trước đây ở vùng mỏ bị đào xuống sâu trông rất xấu xí nầy, vùng nầy giống như là nơi ở của một đám tội nhân bị bắt từ một nước khác đem về đây và sống trong một đế chế nô lệ thời cổ.

Những con người bị bại trận, gục đầu xuống làm việc không bao giờ dứt trong mấy chục hố đất đào sâu xuống bằng tay. Gương mặt của họ, khi nhìn thấy, thì trống không và chẳng còn niềm hy vọng.

Trước đó chúng tôi đã từng bị đuổi đi khỏi đây bởi một cảnh sát viên mập mạp ăn hối lộ, ông ta giả vờ nói rằng giấy tờ của chúng tôi là không hợp pháp, nhưng ông ta thật sự nhận những lời chỉ thị từ một tên anh chị có cặp mắt của người chết và hắn chỉ còn có một tai, tên này ngồi sát bên viên cảnh sát.

Khi chúng tôi quay trở lại với nhiều giấy phép của chính quyền, tay anh chị nầy đã chuẩn bị xong cuộc phục kich (bằng cách cho nhiều người Phi Châu chận đường chúng tôi như đã viết ở trên).

Những người đào mỏ khoáng sản đã lo sợ – và những ông chủ xấu xa gây tội ác của họ nắm ngay được nổi sợ ấy – rằng nếu những người giống như tôi (nhà báo) nói ra công khai cuộc sống bị ô nhiễm của họ thì rồi sau đó cái mỏ khoáng sản nầy có thể bị đóng cửa và công việc với đồng lương một ngày 3 đô la có thể bị tước mất hết. (giống VN quá, ta hãy nhìn xem những người ngoài miền Bắc họ có thái độ bảo vệ y hệt vậy…)

Tôi không thể nào đưa ra cho bạn một lời cắt nghĩa nào rõ ràng hơn về mức độ thu nhỏ lại của những gì độc ác, đồi bại và tội lỗi nhất mà tôi tin là hiện đang xẩy ra ở Phi Châu.

Quá tuyệt vọng, vì thế hầu hết các nước ở Châu Phi đang tự bán mình vào trong một kỷ nguyên mới của tham nhũng và tình cảnh nô lệ thực sự khi Trung Quốc tìm kiếm để mua hết tất cả các kim loại, các mỏ khoáng sản và mỏ dầu mà Trung Quốc có thể chạm tay vào: mua đồng dành để chế dây điện và dây điện thoại, kim loại cobalt dành cho việc chế tạo điện thoại di động và các động cơ phản lực – đấy là những vật liệu ròng của đời sống thời hiện đại.

(còn tiếp)

Người dịch: Trần Hoàng

Tại một mỏ do người TQ làm chủ, người thợ mỏ ở Zambia, với cặp mắt lạc thần và trống rỗng…

https://i1.wp.com/www.rfi.fr/actuen/images/110/160209congomining432.jpg

Những người Zambia đang nhặt những mãnh quặng đồng và cobalt

https://i0.wp.com/content.edgar-online.com/edgar_conv_img/2008/03/14/0001204459-08-000516_DSTECH12.JPG

Hình các mỏ đồng và cobalt trong hang sâu thẳm, nơi đây những người dân Phi Châu làm việc kiếm 3 đô mỗi ngày.

Advertisements

Posted in Chiến lược xâm nhập của Trung Quốc vào Phi Châu | Leave a Comment »

Người Việt Nam phản công chống lại công an tham nhũng- Entry for March 27, 2009

Posted by hoangtran204 trên 27/03/2009

TIME

Tấm bưu thiếp gửi từ Hà Nội

Người Việt Nam phản công

chống lại công an tham nhũng

A police officer directs rush-hour traffic in Saigon, Vietnam
A police officer directs rush-hour traffic in Saigon, Vietnam (Zoriah / Zuma)

Martha Ann Overland / Hà Nội

Thứ, ngày 25-3-2009


Khi anh Trần Công Tiến kể lại chuyện đó (anh nói rằng) anh đã tức giận điên lên và đã không còn nhịn nhục được nữa. Cách đây vài tuần, anh bị ra lệnh tấp vào lề đường bởi một công an giao thông vì anh lái xe chạy ngược chiều trên con đường một chiều, anh kể là anh đã cố gắng tỏ ra biết điều. Tiến cho rằng khoản tiền đút lót 6 đô la [100 nghìn đồng] đã được anh đưa ra là cao hơn mức bình thường; thế nhưng viên công an muốn có nhiều hơn để bỏ qua lỗi vi phạm luật lệ giao thông này. Lời qua tiếng lại giữa hai bên đã gia tăng. Những lời xỉ nhục đã tuôn ra. Và thế rồi Tiến đã hành động rất nhanh. “Tôi đã chộp cổ hắn ta và đẩy thật mạnh,” anh kể. “Trước đây tôi đã chưa bao giờ dám thách thức công an. Tôi đã chán ngấy với trò tham nhũng rồi và vào thời điểm đó tôi đã quá thất vọng!” Cuối cùng, Tiến đã được cho đi khi một viên công an khác tới và xoa dịu tình thế đó.

Nhưng Tiến không phải là người duy nhất sống trong sự cuồng nộ. Ở tỉnh Kiên Giang thuộc miền nam, vào tháng 12 -2008, những nông dân giận dữ đã ném những hộp xăng đang cháy vào công an đang trưng thu nhà đất của họ và đã cầm giữ trong một thời gian ngắn ba trong số những công an đó làm con tin, bắt một công an phải lột hết cả áo quần.

Năm ngoái 2008, những nông dân ở tỉnh Hưng Yên đã đánh nhau với các giới chức chính quyền khi những người này đang cố tịch thu ruộng đất của nông dân rồi bán lại cho những nhà kinh doanh. “Đàn ông, đàn bà và trẻ con đã đánh trả bằng tay không, ném bùn đất, và đánh bằng bất cứ thứ gì họ túm được,” theo lời ông Nguyễn Đình Liên, ông ta đang làm việc ngoài ruộng khi công an đến. “Trước nay tôi chưa bao giờ nhìn thấy cảnh tượng kiểu như thế.”

Nạn tham nhũng ở Việt Nam là không có gì mới mẻ. Năm ngoái, tổ chức Minh bạch Quốc tế đã xếp hạng Việt Nam đứng thứ 121 trong tổng số 180 quốc gia trong Chỉ số Đánh giá Tham nhũng. Thế nhưng có lẽ thật là dễ dàng để bỏ qua những hành động tống tiền thường ngày vẫn xảy ra của các cán bộ nhà nước khi mà nền kinh tế của Việt Nam lúc trước đang phát triển thuận lợi và mức thu nhập đã từng tăng lên gấp hai lần mỗi vài ba năm.

Trường hợp đó hiện nay không còn nữa. Người dân đang bị bóp chặt bởi sự suy thoái kinh tế, họ đang ngày càng thất vọng bởi tệ nạn tham nhũng dai dẳng tại quốc gia này, theo lời ông Trịnh Hòa Bình, viện trưởng về môi trường và sức khỏe ở Viện Nghiên cứu Xã hội thuộc nhà nước tại Hà Nội.

Các cán bộ nhà nước đang nắm giữ các đặc quyền đặc lợi dành riêng cho họ trong khi tình trạng kinh tế của những người Việt Nam bình thường đang trở nên không ổn định hơn. Dân chúng tức giận, ông nói, các cán bộ tham nhũng đó hiếm khi bị trừng phạt vì nhận tiền hối lộ.

Phản ứng bạo lực mạnh mẽ chống lại công an đang diễn ra khắp đất nước là bất bình thường, khi xét rằng Việt Nam là một quốc gia áp dụng chế độc tài tương đối có hiệu quả, nơi những người bất đồng chính kiến hiếm khi được khoan dung. Trong hai vụ xô xát xảy ra gần đây, những người đi xe gắn máy bị cảnh sát kéo vào lề đường đã đốt cháy xe máy của họ hơn là để xe bị công an giam giữ.

Tháng 2-2009, một chiếc xe hơi đã kéo một viên công an ở Hà Nội đi xa 15 foot trước khi bỏ chạy luôn.

Tại tỉnh Đồng Nai ở miền nam, một đám đông giận dữ chứng kiến việc một viên công an đánh một người lái xe, họ đã dùng gạch đá đập vỡ chiếc xe mô tô của viên công an này.

Những vụ xô xát đó chỉ gom góp được chút ít mối quan tâm của báo chí do nhà nước quản lý, hệ thống truyền thông bỏ qua hầu hết mọi chuyện khi đề cập tới tội phạm hay lưu manh côn đồ. Thế nhưng nhân chứng, những người đưa lên mạng trực tuyến các đoạn phim từ máy quay video hay điện thoại di động có camera quay cảnh những chiếc xe máy bị đốt cháy và nông dân đánh nhau với công an , đ
ã nói lên rằng sự bùng phát bạo lực là một dấu hiệu cho thấy công chúng cuối cùng đã sử dụng chính thứ bạo lực này để chống lại tham nhũng.

Chính quyền đã không xác nhận rằng liệu những vụ tấn công cảnh sát có phải đang gia tăng hay không, nhưng mối quan ngại đã đủ để Bộ Công An phải tổ chức một hội nghị vào cuối năm trước để bàn về vấn đề này. Đại tá Huỳnh Thế Kỷ, giám đốc công an tỉnh Ninh Thuận ở phía nam, người tham gia trong hội nghị này, đã quy cho tình trạng gia tăng bạo lực là do “số thanh thiếu niên thiếu sự giáo dục thích hợp và bị hư hỏng.”

Ông Kỷ nói là ông muốn thấy công an được trang bị hơn nữa những công cụ tinh vi hiện đại hơn để tự bảo vệ họ, song ông nói thêm rằng “thái độ của một số công an đôi khi chưa thích hợp. Công an phải làm việc với tinh thần phục vụ nhân dân. Họ phải có hành vi đúng đắn hơn.”

Những tầng lớp lao động chân tay ở Việt Nam đã nổi lên chống lại các nhà chức trách từ trước đây — với những thắng lợi. Cuộc nổi dậy nổi tiếng nhất của nông dân đã nổ ra tại tỉnh Thái Bình ở miền bắc vào năm 1997. Bị đè nặng quá sức bởi thuế má và các lệ phí bất hợp pháp, hàng ngàn nông dân đã thách thức các viên chức địa phương qua một diễn biến kéo dài vài tháng. Khi những yêu cầu của họ cần được lắng nghe nhưng lại bị phớt lờ, họ đã ném đá vào các cán bộ cốt cán của Đảng Cộng sản, tấn công các trụ sở làm việc và nhà ở của những cán bộ này, và cầm giữ một số cán bộ làm con tin trong nhiều ngày. Sau cùng, chính phủ trung ương đã nắm lấy quyền điều hành, kỷ luật xử phạt các viên quan chức địa phương và tống một số viên chức nầy vào tù cùng một số nông dân nữa.

Vào năm sau 1998, một bản quy định trên toàn quốc được biết đến như là Nghị định 29 đã được thông qua, cho phép sự tham dự nhiều hơn vào việc đưa ra quyết định ở địa phương và ban cho các công dân nhiều cơ hội hơn nhằm để xả cơn giận của họ trước những viên chức cấp xã.

Thập niên tăng trưởng kinh tế đáng ngạc nhiên vừa qua ở Việt Nam đã giúp làm dịu những tâm trạng thất vọng này. Thế nhưng 10 năm trôi qua, với những cải thiện chỉ ở bên lề về tính minh bạch và với tình trạng tham nhũng vẫn tiếp tục lan tràn, lòng nhẫn nại đang mòn dần để trở nên mong manh nguy hiểm – một thực tế mà ban lãnh đạo của Việt Nam đang nhận ra. “có tình trạng tham nhũng và lạm dụng chức quyền tại các địa phương,” theo thừa nhận của ông Nguyễn Minh Thuyết, một đại biểu lâu năm trong Quốc hội Việt Nam.

Mặc dầu vậy, ông Thuyết đã không tha thứ những vụ tấn công gần đây vào tài sản (xe, cơ quan) của chính quyền, ông Thuyết nói là ông hiểu về nỗi tức giận và đồng ý rằng chính phủ phải làm nhiều hơn nữa để cải thiện tính minh bạch.

Trong lúc công ăn việc làm tiếp tục biến đi mất và nạn lạm phát ngốn vào đồng lương, sẽ không dễ dàng gì để xoa dịu những con người đang bị giáng những cú đòn mạnh mẽ nhất này khi mà công an vẫn đang toan tính chỉa tiền của người dân để lấy những khoản rất nhỏ nhoi. “Công an hiện nay thậm chí còn tham nhũng hơn trước đây,” một tài xế taxi ở Hà Nội tên là Nguyễn Văn Cường đã nói một cách cay đắng.

“Ngày nào tôi cũng bị công an chặn lại vài lần.” Và khi mà ít năm trước chỉ chi có 100.000 đồng, tức là khoảng 6 đô la là đủ, thì bây giờ không thể ít hơn 200.000. “Điều ấy có nghĩa là có một số ngày tôi làm việc mà chẳng có tiền công, vì công an lấy đi hết tất cả những gì tôi làm ra,” anh Cường bảo. “Làm sao mà quí vị có thể không tức giận được cơ chứ?”


Hiệu đính: Trần Hoàng


Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2009


———————————

TIME

Postcard from Hanoi

Vietnamese Fight Back Against Cop Corruption

By Martha Ann Overland / Hanoi

Wednesday, Mar. 25, 2009

As Tran Cong Tien tells it, he was mad as hell and he wasn’t going to take it anymore. Pulled over by a Hanoi traffic cop a few weeks ago for driving in the wrong direction down a one-way street, he says he tried to be reasonable. Tien claims the $6 bribe offered was more than fair, but the officer wanted more to ignore the traffic violation. Words between the two escalated. Insults flew. And then Tien snapped. “I grabbed his neck and pushed hard,” he says. “I have never dared challenge the police. I’m fed up with corruption and at that moment I was just so frustrated!” Tien was eventually let go when another officer came along and defused the situation. But he is not alone in his rage. In southern Kien Giang province in December, angry villagers threw flaming gasoline canisters at police commandeering their property and briefly held three of them hostage, forcin
g one to disrobe. Last year, farmers in Hung Yen province battled authorities trying to seize their land and resell it to developers. “Men, women and children fought back with their bare hands, with mud, with anything they could grab,” said Nguyen Dinh Liem, who was working in his rice paddy when police arrived. “I had never seen that kind of thing before.” (See pictures of the Vietnam-China border war.)

Corruption in Vietnam is nothing new. Last year, Transparency International ranked Vietnam 121st out of 180 on its Corruption Perception Index. But it was perhaps easier to overlook occasional shakedowns from officials when Vietnam’s economy was doing well and incomes were doubling every few years. That’s no longer the case. People being squeezed by the economic downturn are increasingly frustrated by the nation’s enduring corruption, says Trinh Hoa Binh, head of environment and health at the government-run Institute of Sociology in Hanoi. Officials are maintaining their special privileges while the economic position of ordinary Vietnamese is becoming more precarious. They are incensed, he says, that corrupt officials are rarely punished for taking bribes.

The anti-police backlash playing out around the country is unusual considering that Vietnam is a relatively efficient authoritarian state where dissent is rarely tolerated. In two recent incidents, motorcycle riders pulled over by police set their own bikes alight rather than let them be impounded. Last month, a car dragged a Hanoi policeman 15 feet before racing off. An angry crowd seeing a cop roughing up a driver in the southern province of Dong Nai used bricks to smash the officer�s motorcycle.

The incidents have garnered only limited attention in state-run media, which dismiss most as the work of criminal minds or hooligans. But witnesses, who have posted videos and camera-phone shots online of burning motorcycles and farmers battling police, say the spurt of violence is a sign that the public has finally had it with corruption.

The government won’t confirm whether attacks on police are on the rise, but it is concerned enough that the Ministry of Public Security held a conference late last year to address the issue. Colonel Huynh The Ky, the director of security in southern Ninh Thuan province who attended the conference, attributed the increase to “teenagers who lack proper education and are corrupted.” Ky said he would like to see police provided with more sophisticated equipment in order to protect themselves, but he added that the “attitude of some police officials sometimes is not appropriate. Police have to work in the spirit of serving the people. They must have proper behavior.”

Vietnam’s working classes have risen up against authorities before — with results. The most famous farmers’ revolt took place in the northern province of Thai Binh in 1997. Burdened by excessive taxation and illegal fees, thousands of villagers challenged local officials over the course of several months. When their demands to be heard were ignored, they stoned Communist Party cadres, attacked their offices and homes, and held officials hostage for days. The national government eventually took charge, disciplining local officials and sending some to jail, along with some of the farmers. The following year, a national law known as Decree 29 was passed, allowing for more participation in local decision-making and giving citizens more opportunities to vent their grievances to commune-level officials.

The past decade of stunning economic growth in Vietnam helped to ease these frustrations. But 10 years on, with only marginal improvements in transparency and with corruption still rampant, patience is wearing dangerously thin again — a fact that Vietnam’s leadership recognizes. “There is corruption and abuse of power in local areas,” concedes Nguyen Minh Thuyet, a senior member of Vietnam’s National Assembly. Though he does not condone the recent attacks on government property, Thuyet says he understands the anger and agrees that the government must do more to improve transparency.

As jobs continue to vanish and inflation eats away at wages, it is not going to be as easy to placate those who are being hit the hardest when police attempt to extort them for petty cash. “The police are even more corrupt than they were before,” Hanoi taxi driver Nguyen Van Cuong says bitterly. “In one day, I can be stopped several times.” And where 100,000 dong, or about $6, might have been enough a few years ago, now nothing less than 200,000 will do. “It means some days I work for nothing, as they take everything I make,” Cuong says. “How can you not get angry?”

Posted in Tham Nhung-Hoang Phí- Ăn Cắp | Leave a Comment »

Hệ Thống Âm thanh Tần số thấp dùng để phát hiện Tàu Ngầm (Entry for March 26, 2009)

Posted by hoangtran204 trên 26/03/2009

Các thủy thủ dân sự trên tàu Impeccable của Mỹ bình tỉnh thu hình 5 tàu võ trang của Trung Quốc đến quấy nhiễu. Lính thủy Trung Quốc dùng các cần dài cố móc vào dây cáp một dụng cụ phát âm thanh có tần số thấp nhằm khảo sát phương pháp dò tàu ngầm đang đậu trong đảo hay hoạt động dưới nước.

Ở đoạn hình gần cuối, các bạn sẽ nghe người thu hình này nói với anh bạn thủy thủ cùng tàu rằng “Tớ muốn thu hình gương mặt thằng [tiếng nói tục] cà chớn này đang khều dây cáp tàu mình, nếu tớ gặp nó ở Hồng Kông, tớ sẽ đấm vào mặt nó.”


Có 8 phim thu hình biến cố nầy, các phim dài 2-3 phút cho thấy các tàu võ trang của TQ có thái độ gây hấn và khiêu khích không khác gì tụi cướp biển hoặc lục lâm thảo khấu. Trong khi đó các thủy thủ dân sự Mỹ rất bình tỉnh, họ nhìn các tàu TQ. Nhưng khi tàu TQ đến gần sát 8 mét, thì một thủy thủ Mỹ dùng vòi nước xịt vào lính TQ để ngăn chận nầy dùng sáo khèo dây cáp kéo theo sau tàu Impeccable.

*“Độc giả có thề vào thẳng mạng http://www.YouTube.com và gõ nhóm chữ “Chinese ships approach USNS Impeccable.”

Sau khi bạn đã xem xong các băng hình, bạn có thể góp lời bình luận ở phía dưới. Hiện thời ở một số băng hình đang diễn ra các cuộc tranh luận sôi nổi bằng Anh ngữ, cho thấy Hồng Vệ Binh CSTQ đang ráo riết tranh giành chính nghĩa và chủ quyền Biển Đông, ít nhất là qua cuộc chiến bàn phim maý điện toán.

Bản tin trên báo Computerworld ghi rằng vụ chạm trán xảy ra nơi phía nam một căn cứ hải quân TQ, nơi trú đóng một số tàù ngầm tối tân nhất của TQ, kể cả các tàu được thiết kế để sẽ chở các phi đạn nguyên tử.

Vị trí này cũng không xa nơi một phi cơ do thám kiểu EP-3 của Hải Quân Mỹ đã đụng với một chiến đấu cơ Trung Quốc năm 2001, làm chết người phi công Trung Quốc và buộc phi cơ Mỹ này phải hạ cánh khẩn tại một căn cứ không quân Trung Quốc, nơi phi hành đoàn Mỹ sau đó bị TQ giam giữ.

Một lý do cho thấy vì sao Hải Quân Mỹ đưa các băng video này lên mạng YouTube: để củng cố lời biện minh của Hải Quân Mỹ rằng tàu Mỹ thực ra là tử tế lắm, lúc đó đang thực hiện công tác quan sát bản đồ đáy biển thì bị 5 tàu Trung Quốc tới gây sự. Bản văn Hải Quân Mỹ phổ biến ngày 8-3-2009 đã nói rằng công tác thám sát lúc đó là ở lãnh hải quốc tế, 75 dặm phía nam Đảo Hải Nam, thì 5 tàu TQ tới gần gây sự. Chứ không phải là tàu Mỹ tiến vào sát biển của Trung Quốc bao giờ.

Trong băng hình, có lúc cho thấy tàu Trung Quốc tới sát đuồi tàu Mỹ, khều móc dây cáp tàu Mỹ thả dòng dây.

Có lúc, bạn sẽ nghe người thu băng hình này nói với anh bạn thủy thủ cùng tàu, “Tớ muốn ghi băng hình thằng [tiếng nói tục] cà chớn này đang khều dây cáp tàu mình, để khi tới gặp nó ở Hồng Kông, tớ có thể đấm vào mặt nó.”

Hệ thống LFA dủng dò tìm tần số thấp (lòng biển)
Nguồn: gcaptain.com


Độc giả Việt Nam không cần phảỉ hẹn đấu võ với thủy thủ Tàu ở Hồng Kông. Hãy lên mở trận chiến bàn phím điện toán, vào mạng YouTube và dùng những ngôn ngữ lịch sự để cho toàn thế giới thấy được rằng Biển Đông là của Việt Nam. Nơi đó đã từng xảy ra trận hải chiến 1974 ở Hoàng Sa, và trận hải chiến 1988 ở Trường Sa. Hãy nói cho cả thế giới biết rằng, trên Biển Đông đã có dòng máú Việt đổ ra để gìn giữ lãnh hải. Hãy nói như thế, nói thật lớn, cho cả thế giới biết. Trong khi rất nhiều người trên toàn cầu đang vào xem các băng hình này…” theo Trần Khải http://www.dcvonline.net/php/index.php

 

————————————————-

Hệ Thống Âm thanh Tần số thấp dùng để phát hiện Tàu Ngầm

người dịch: Trần Hoàng 
 

Hải quân Hoa Kỳ đang có kế hoạch để đưa vào sử dụng một hệ thống phát hiện tàu ngầm mới, được biết với tên là hệ thống dùng Âm Thanh Tần Số Thấp LFA (Low Frequency Active Sonar), hệ thống nầy sẽ được triển khai đem ra sử dụng khắp 80% của các đại dương trên toàn cầu.

 

LFA được căn cứ trên sự kiện rằng âm thanh ở tần số rất thấp (100-1000 Hertz) có thể truyền đi với một khoảng cách rất xa và phát hiện được những tàu ngầm có động cơ chạy rất êm.

(Lỗ tai của con người có thể nghe được (phát hiện đươc) sóng âm thanh ở trong tầm 20 – 20.000 Hertz. Mỗi 1 Hertz = 1 sự rung động / 1 giây. Chó có thể phát hiện được sóng âm thanh trong khoảng 50-45.000 Hertz. Mèo nghe được âm thành trong khoảng 45-85.000 Hertz. )

 

Hệ thống LFA sử dụng âm thanh cường độ mạnh (nhưng có tần số thấp), ở mức độ gây ra tiếng ồn 235 decibels hay lớn hơn (Hải quân đưa ra con số tiếng ồn ở mức độ 160 decibels vào khoảng 2 km cách nguồn phát ra tiếng ồn hay hệ thống LFA) [ tiếng ồn của động cơ phản lực bay thấp ngay trên đầu là khoảng 120-135 db; tiếng tồn của xe cô chạy trên đường cao tốc là 80-90 db] âm thanh tiếng ồn có tần số thấp nầy được phát ra từ những nguồn phát âm thanh kéo theo đàng sau các tàu như Impeccable (tagos class).

 

Hệ thống âm thanh có tên là SURTASS kéo đàng sau tàu đang dùng hiện nay thì
bị giới hạn khả năng phát hiện các tàu- ngầm- có- động- cơ- chạy- rất- êm, ít phát ra tiếng động.

Vì vậy, cuộc nghiên cứu LFA nầy sẽ diễn ra trong thời gian sắp tới và kéo dài trong một khoảng thời gian khá lâu ở những khu vực nơi hệ thống âm thanh có tần số thấp kéo theo sau tàu đi qua.

LFA đang đề nghị dùng các tàu lớn có tiêu chuẩn TAGOS để thực hiện công tác dò tìm tầu ngầm ở tầm xa hơn nữa (hơn 2 km)

http://www.fas.org/irp/program/collect/lfa.htm

———————————–

 

Low-Frequency Active (LFA)

The U.S. Navy plans to deploy a new submarine detection system, known as Low Frequency Active Sonar (LFA), throughout 80% of the world’s oceans. LFA is based on the fact that very low frequency sound [100-1000 Hz] can travel great distances and detect quiet submarines. The LFA system uses intense sound, reportedly at levels in the range of 235 decibels or greater [the Navy has given a figure of 160 dB at about 2 km from the LFA] generated by massive sound transmitters towed behind TAGOS-class ships.

Current passive SURTASS towed array sonars are limited in their capability to detect quiet submarines. Thus research has been going on for some time in the area of low frequency active (LFA) towed array sonar. LFA offers the potential for TAGOS ships to make longer range detections of quiet submarines.

The shallow-water acoustics problem has risen in importance due to the increased salience of regional conflicts where the US Navy may to encounter slow, diesel submarines close to shore. The shallow-water, slow submarine is significantly more difficult to detect and classify acoustically than the cold war threat, due to the complex propagation, high clutter, and low target Doppler. Effective sonar performance requires new processing algorithms which cannot be implemented on current Naval platforms due the high processing requirements. A Hybrid Digital/Optical Processor (HyDOP) is to demonstrate the feasibility of using embedded scalable high performance digital and optical processing to solve this problem. This requires application of computationally intensive algorithms which cannot be implemented in real time using conventional processors. A high-speed optical correlator being developed by the Naval Research Laboratory (NRL) will act as a coprocessor to an Intel Paragon XP/S-25 computer.

LFA has been under development for more than a decade, and has been tested perhaps 25 times in several oceans since 1988. The Navy has already tested LFA for over 7,500 hours. IOT&E of LFA was completed in October 1992, in the Gulf of Alaska, testing an engineering development model (EDM) of the LFA system installed in a converted, monohull research vessel. COMOPTEVFOR found the SURTASS LFA system potentially operationally effective and potentially operationally suitable.

BBN has developed the ARTS array vehicle concept specifically to address the formidable problems of low-frequency active sonar sources. The array creates a dish shaped pattern of very loud, low frequency, variable broadband sound (235 dB re 1 µPa @ 100-1000 Hz) that reaches out roughly 100 miles. The towed array is deployed about 100 meters deep at three knots, pulsing on a 10% duty cycle. In recent experiments, Low-Frequency Active (LFA) system has detected submarines at long ranges. The first LFA ship, TAGOS 23, is under construction. Four dedicated vessels are planned, divided between the Atlantic and Pacific Fleets In the interim, a leased ship, Cory Chouest, is being used as a fleet asset to test and validate LFA technologies. In addition, compact acoustic source technologies are under development that will provide a 50% reduction in weight and power requirements. Successful maturing of these technologies will allow LFA-type arrays to be deployed from existing TAGOS 19-class vessels.

Critics of LFA, such as the Natural Resources Defense Council [NRDC], charge that it will expose marine mammals to noise pollution at a level 200 billion times greater than that which is known to disturb them. Several years ago the $40 million acoustic thermometry of ocean climate (ATOC) program of the Scripps Institution of Oceanography in La Jolla, CA proposed to operate a low frequency underwater sound source in the heart of the Monterey Bay National Marine Sanctuary. Although ATOC proposed to generate noise at a level of only 195 decibels, NRDC successfully intervened to stop this research program pending further study of the effects of low-frequency sound on marine mammals. The Navy has agreed to NRDC’s request that an EIS be prepared for the LFA program. The LFA Draft Environmental Impact Statement is due in August 1997, and is being written by the contractor for the system. The American Oceans Campaign has been working in coalition with a number of other environmental groups to keep tabs on government and industry underwater sound generation.

Sources and Resources

  • Cetaceans Do Not Have Standing To Sue the Government to Challenge Navy Use of SURTASS / LFA, appeals court ruling in The Cetacean Community v. George W. Bush, October 20, 2004
  • SURVEILLANCE TOWED ARRAY SENSOR SYSTEM (SURTASS) DOT&E FY 95 Annual Report
  • Hybrid Digital/Optical Processor R. A. Dukelow, R. M. Hidinger Naval Command, Control and Ocean Surveillance Center, San Diego, CA
  • Currents: The Unquiet Oceans Todd Preston E-Magazine (March-April 1997)
  • Navy Noises Continue William Rossiter Cetacean Society International Whales Alive! Vol. VI No. 1 January 1997
  • Sound Sound Policies and the LFA William Rossiter, CSI President Whales Alive! Vol. V No. 4 October 1996
  • Navy’s secret weapon no longer running silent Jean-Michel Cousteau Planet ENN 19 August 1996

Posted in Khoa Học | Leave a Comment »

►Khai mỏ Bô Xít và viễn kiến của ông Hoàng Văn Hoan

Posted by hoangtran204 trên 24/03/2009

►Sau 5 năm phí tiền của, nay chính thức: đình chỉ khai thác Bô Xít ở Tây Nguyên và ngưng đầu tư xây dựng cảng Kê Gà – Bình Thuận (2014)

 

Một kế hoạch khai mỏ thử thách những người

hoạch định chính sách của Việt Nam

Image

Trung Quốc tìm cách phát triển những mỏ bauxite trong khu vực có tính chất nhạy cảm về môi trường và xã hội

Anh Le Tran

Thứ Hai, ngày 23-3-2009

Những khoa học gia về môi trường và các nhà xã hội học người Việt Nam đang gia tăng mối quan ngại ngày càng

nhiều trước sự dính líu tới môi trường, xã hội, kinh tế và chính trị từ một kế hoạch của chính phủ cho phép các công

Việt Nam được đánh giá có tới 8 tỉ tấn quặng bauxite, thứ được sử dụng để chế biến ôxit nhôm, một loại bột trắng

được nung chảy ra để sản xuất nhôm. Hai dự án lớn khai thác bauxite và sản xuất ôxit nhôm đã được khởi công tại

hai tỉnh Lâm Đồng và Đắc Nông. Nước VN đã và đang dự tính sẽ phải cần tới 20 tỉ đô la đầu tư từ bây giớ cho

tới năm 2025 để sử dụng nguồn tài nguyên này.

Người Trung Quốc tham gia.

Ý tưởng khai thác nguồn tài nguyên bauxite dồi dào nầy không phải là mới. Cách đây khá lâu, ngay từ những năm

1980, khi Việt Nam còn là một thành viên của Hội đồng Tương trợ Kinh tế (CMEA), một khối kinh tế được Liên Xô

và các quốc gia cộng sản Đông Âu thành lập, Việt Nam đã đưa ra trước CMEA một chương trình khai thác bauxite.

Thế nhưng sau khi các chuyên gia Sô Viết nghiên cứu về tính khả thi của chương trình, thì CMEA đã khuyến cáo

phản đối lại ý tưởng này, chủ yếu do những quan ngại nguy hiểm cho môi trường.

(Nhưng đối với chính phủ VN,) Những mối quan ngại này vẫn không mất đi hẳn. Điều duy nhất đã thay đổi là cường

độ của sự chống đối và sự gia tăng gấp bội của những mối quan ngại khác cũng như những khoa học gia về môi

trường và các nhà khoa học xã hội đã rung những hồi chuông cảnh báo về những huỷ hoại tiềm tàng.

Việc khai thác mỏ bauxite liên quan tới sự thải ra của các chất độc hại, mà các chất nầy cần phải được lưu giữ một

cách an toàn và vĩnh viễn. Tuy nhiên, địa hình vùng Cao nguyên Trung phần làm cho nó khó khăn hơn để cất giữ

một cách an toàn loại bùn thải độc hại này để tránh làm ô nhiễm các khu vực xung quanh và các nguồn nước ở vùng

hạ lưu. Thêm vào đó, những người chỉ trích nhìn thấy nguy cơ cao đối với tình hình mà trong đó các công ty Trung

Quốc đã giành được cả hai gói thầu để xây dựnghai nhà máy luyện ôxit nhôm lớn (trị giá gần 500 triệu đô la mỗi

công trình) và có khả năng sẽ hùn hạp tiếp vào các dự án khác nữa.

Mối lo ngại là các kỹ thuật khai thác mỏ bô xít (của người Trung Quốc) không phải là những công nghệ có sẵn tốt

nhất. ông Nguyễn Thanh Sơn, một chuyên gia của Việt Nam trong lĩnh vực này và là một trong những người phản

đối mạnh mẻ nhất về kế hoạch này, đã nói rằng phía Trung Quốc đã giành được những gói thầu là nhờ phía Việt

Nam hạ thấp các tiêu chuẩn kỹ thuật (làm các nước có kỹ thuật cao không thể trúng thầu được) với mục đích để cho

các công ty Trung Quốc (trúng thầu và ) có thể đưa ra những giá đầu thầu hấp dẫn .

Chính bản thân người Trung Quốc đã và đang đối mặt với những vấn nạn môi trường nguy hiểm gắn liền với hoạt

động khai thác mỏ bauxite, thúc đẩy họ đi tới đóng cửa nhiều khu mỏ bauxite tại tỉnh Quảng Tây thậm chí trong khi

nhu cầu bauxite đang gia tăng. Bởi vậy, một số người chỉ trích xem mức độ liên quan cao độ của Trung Quốc

vào những dự án bauxite ở Việt Nam như là một hình thức xuất khẩu sự xói mòn và hủy hoại của môi trường trong

khi vẫn cố gắng bảo đảm có được nguồn cung cấp bô xít mới (cho quốc gia của họ).

Về mặt hiệu quả kinh tế, những dự án này không có vẻ ổn thỏa thậm chí với một sự phân tích đơn giản về phí tổn bỏ ra và lợi ích thu được. Vùng Cao nguyên

Trung phần là xứ sở của các vụ mùa mang lại tiền bạc như cà phê, chè và cao su, những vụ thu hoạch nầy đã giúp

kiếm được lượng ngoại tệ có giá trị ngày càng cao thông qua xuất khẩu. Tuy nhiên, sự tồn tại của các sản phẩm trồng

trọt này sẽ gặp nguy hiểm lớn do hai yếu tố then chốt sau đây.

Thứ nhất, càng có nhiều dự án được thực hiện, thì càng có nhiều đất đai sẽ bị phát quang cho việc khai thác mỏ và

chứa bùn thải độc hại. Sau khi quặng bauxite được khai thác lên, đất đai sẽ không còn thích hợp cho cây trồng phát

triển nữa nếu như không có những giải pháp cứu chữa tốn kém lâu dài.

Điều thứ nhì, việc khai thác mỏ bauxite và chế biến bột nhôm đòi hỏi nhiều nước, mà nước là thứ không có nhiều tại

vùng này. Như một hậu quả, lượng nước có sẵn dành cho trồng trọt sẽ bị suy giảm ghê gớm, dẫn tới những vụ thu

hoạch mùa màng sẽ tồi tệ hơn.

Hai yếu tố khai hoang đất đai và thiếu nước cùng nhau làm gia tăng mối lo lắng ám ảnh của mất mát tiềm tàng lợi

thế có tính cạnh tranh của vùng nầy trong việc gia tăng nguồn thu nhập ngoại tệ từ mùa màng và kìm hãm khả năng

triển một lợi thế cạnh tranh mới trong lĩnh vực du lịch kinh tế, thứ hiện đang ngày càng phổ biến trên

thế giới.

Những cái giá phải trả về kinh tế thậm chí sẽ lớn hơn nhiều khi những yếu tố tiêu cực bên ngoài, bao gồm sự xuống

cấp của môi trường, được tính gộp lại với nhau.

Mặc khác, những lợi ích cho việc khai thác mỏ bauxite là rất đáng nghi ngờ. Dữ kiện chỉ ra rằng với cùng một mức

độ đầu tư, tỉ lệ lợi nhuận của một dự án bauxite là kém xa so với việc trồng cà phê.

Hơn nữa, để cạnh tranh, việc sản xuất bột nhôm đòi hỏi một nguồn điện năng rẻ và có sẵn mà Việt Nam hiện không

có và sẽ không có trong bất cứ khoảng thời gian gần nào trước mắt.

Với tình trạng thiếu thốn điện năng triền miên, việc chuyển dịch sử dụng năng lượng hướng tới sản xuất bột nhôm

theo kiểu này sẽ càng làm trầm trọng thêm vấn nạn thiếu điện, đẩy những loại sản xuất khác đi tới cơ nguy thiếu hụt.

Liên quan tới các tác động xã hội và chính trị, việc thi hành với quy mô lớn những dự án bauxite sẽ cách ly khỏi xã

hội hơn nữa những nhóm sắc dân thiểu số trong khu vực nầy khi không gian sinh sống dựa vào trồng trọt của họ bị

suy giảm ghê gớm, với tiềm ẩn tạo nên căng thẳng xã hội trong một vùng vốn đã mang tính chất nhạy cảm.

Thêm vào đó, sự hiện diện của những công nhân Trung Quốc liên quan tới khai thác bauxite trong vùng chiến lược

quân sự này đã và đang tạo nên một cảm giác bất an trong số nhiều người Việt nam.

Ở những điều kiện dưới mức bình thường, những phản ứng và hành động của chính phủ đã là không thích hợp. Vào

tháng 11-2007 [1], Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã ký một chỉ thị tán thành kế hoạch khai thác, chế biến và sử dụng

bauxite. Tuy nhiên, từ những năm trước đó cho đến năm 2007, đã không có bất cứ sự đánh giá môi trường

nào có tính chiến lược được chuẩn thuận để khẳng định rằng những tác động gây ảnh hưởng lên môi trường của kế

hoạch khai thác bauxite này là phù hợp với các luật lệ về môi trường của Việt Nam.

Vinacomin, doanh nghiệp được làm chủ bởi nhà nước phụ trách việc thực hiện kế hoạch này, đã tổ chức hai hội nghị

vào năm 2007 và 2008 để tiên lượng và đánh giánhững tác động của các dự án bauxite nầy. Trong thời gian diễn ra

những sự kiện đó, nhiều chuyên gia Việt Nam đã bày tỏ những mối quan ngại sâu sắc nhất về khía cạnh

những tác động tiêu cực nghiêm trọng của kế hoạch. Tuy nhiên, chẳng có gì quan trọng được đúc kết lại để đương

đầu với những mối lo ngại này kể từ khi các dự án vẫn đang

được thực hiện rồi.

Đối diện với những thái độ chống đối vẫn đang tiếp diễn, Thủ tướng Dũng đã tổ chức một cuộc họp để thảo luận về

các vấn đề liên quan tới dự án khai thác bauxite vào đầu tháng Một năm 2009. Ông Dũng đã kết luận bằng cách ra

lệnh cho Bộ Công Thương xin phép bộ chính trị đảng cộng sản Việt Nam được tiếp tục các dự án và yêu cầu Phó Thủ

tướng Hoàng Trung Hải tổ chức một hội nghị khoa học để thảo luận các đề tài này.

Mặc dù hội nghị đã được hoạch định vào một thời điểm nào đó trong nửa đầu tháng 4- 2009, ông Hải đã loan báo

vào tuần trước rằng các dự án ở Lâm Đồng và Đắc Nông sẽ được tiếp tục theo như kế hoạch. Điều đó đã thúc đẩy các

nhà quan sát dấy lên nghi vấn rằng nếu hội nghị đưa ra  được bất cứ thay đổi có ý nghĩa nào, thì liệu những thay đổi

ấy sẽ được chấp nhận bởi chính phủ hay không.


Căn cứ vào những phản ứng của chính phủ, một điều rõ ràng là: họ đang có một mục đích chính trị đã được xác

định rất rõ ràng để thực hiện kế hoạch khai thác chế biến bauxite dầu phải đối mặt với sự phản đối. Câu hỏi đặt ra

là tại sao (đảng) lại có một mục đích chính trị mạnh mẽ đến như vậy được giành cho một kế hoạch

có vẻ như là sai lầm.

Những người chỉ trích đã nghĩ ra một vài câu trả lời khả dĩ. Câu trả lời thường được đề cập đến nhiều nhất là ảnh

hưởng của Trung Quốc thông qua kênh chính trị ở cấp cao nhất.

Điều thực sự hơn thua vào lúc này là liệu chính quyền Việt Nam có được lòng can đảm về mặt chính trị để mời tất cả

những người liên quan trong vấn đề bô xít tham dự, bàn bạc và sửa chữa những sai lầm trong kế hoạch nầy trước khi

điều ấy quá muộn hay không.

Ông Anh Le Tran giảng dạy kinh tế và quản lý tại Đại học Lasell College ở Massachusett, Hoa Kỳ.

Hiệu đính: Trần Hoàng

Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2009


[1] đúng ra tháng 11-2008

——————————————-

Comment:

* Trần Hoàng: Với mục đích làm cho VN suy yếu, Trung Quốc đã dụ được VN khai thác bô xít bằng một kế hoạch khai mỏ lạc hậu thời 1930. Đây là một chiến lược tinh vi có được sự tiếp tay của các nhân vật lãnh đạo cao cấp nhất ở VN. Kế hoạch khai mỏ bô xít chỉ nhằm kéo VN đầu tư vào một dự án 15 năm, ít có lợi hơn trồng cây cà phê và trà (trị giá xuất khẩu hơn 3 tỉ đô la hàng năm), và làm cho VN tốn kém tối thiểu là 25 tỉ đô la (VN phải đầu tư và tốn khoảng 1,5 tỉ đô la hàng năm trong 15 năm).

Không cần khai thác bô xít, chỉ cần làm café và trà, thì trong vòng từ 2010 đến 2025, VN cũng đã mang về nguồn lợi xuất khẩu nông sản trà, cà phê, hạt tiêu là 3 tỉ/ 1 năm x 15 năm = 45 tỉ đô la. Đó là chưa tính đến  việc thu hút khách quốc tế đến du lịch vùng Tây Nguyên.

Dự án khai mỏ bô xít sẽ làm suy kiệt tài chánh của VN trong 15 năm sắp đến, sẽ làm bất ổn về mặt xã hội vì muốn khai thác mỏ là phải chiếm đất đai của các sắc tộc; sẽ làm ô nhiễm đất đai của nông dân và các người sắc tộc, và làm giảm sự thu hoạch các vụ mùa cà phê, trà do thiếu nước tưới cây. Ngoài ra chất thải của bô xít sẽ làm nhiễm độc nguồn nước uống ở sông Đồng Nai, là nơi cung cấp nước uống cho vùng Sài gòn, Biên Hòa, Bình Dương…

Sự suy yếu tài chánh sẽ làm VN không có đủ tiền bạc mua vũ khí để hiện đại hóa quốc phòng, sẽ làm Việt Nam trở nên suy yếu, và cuối cùng TQ sẽ chiếm phần còn lại của quần đảo Hoàng sa, Trường Sa và làm chủ Biển Đông mà không gặp được một sự chống đối. Chừng ấy, nếu VN có kêu cứu, thì các nước ngoài cũng không can thiệp vì họ đã nhìn thấy rõ VN và TQ đang hợp tác chặc chẻ để khai thác bô xít.

Suốt 23 năm kể từ khi đổi mới từ 1986-2009, VN tuyên bố vào tháng 3/2008 là có dự trữ ngoại tệ là 22 tỉ đô la. Nhưng thực tế nhiều tháng qua, các tỉnh không có tiền trả lương và họ phải mắc nợ các thầy giáo và cô giáo. Chúng ta tự hỏi: một kế hoạch đầy tốn kém như vậy, không có lợi lộc so với nông sản cafe, cao su, trà, và VN phải đầu tư nhà máy điện, phải bỏ tiền túi ra để xây dựng tuyến đường bộ và đường sắt chở bô xít từ Tây Nguyên xuống vùng biển miền Trung, phải xây dựng thêm 1 hải cảng mà hiện nay VN chưa có cảng nào ở Bình Thuận và Phan Rang. Thêm vào đó, trong khi từ đầu năm đến nay, VN đã phải gởi 82 ngàn công nhân đi lao động nước ngoài, thì VN lại để cho nhập khẩu hàng chục ngàn công nhân người TQ, giải quyết nạn thất nghiệp cho TQ. (Lương của người công nhân TQ là 10 triệu/ 1 tháng, trong khi lương của người kỹ sư VN làm tại công trình bô xít là 6 triệu/ 1 tháng). Tóm lại, khai thác bô xít buộc VN phải đầu tư quá nhiều tiền cho nhà máy điện mới, đường xe lửa chở ra cảng đem nhôm về TQ, xây dựng bến cảng, và trong lúc ấy VN lại thiếu tiền ngoại tệ đầu tư. Bối cảnh ấy buộc VN phải mượn tiền của TQ, như vậy liệu có phải là giải pháp kinh tế tốt hay không?

Trung Quốc có thừa tiền để vứt bỏ vài tỉ đô la để dụ VN vào kế hoạch khai mỏ bô xít (làm VN tốn kém ít nhất là 25 tỉ đô la). Số tiền vài tỉ là quá nhỏ đối với TQ vì suốt 30 năm chuyển qua kinh tế tư bản, TQ có một số dự trữ ngoại tệ lên đến 2000 tỉ đô la. TQ có ngân sách quốc phòng bằng là 70 tỉ đô la năm 2009, 7% ngân sách quốc gia. Việc bỏ ra 1 tỉ đô la 1 năm trong 15 năm sắp đến của Trung quốc để làm suy yếu VN chiếm Biển Đông, Trường Sa, Hoàng Sa mà
không tốn một viên đạn là điều chắc chắn một nhà chiến lược nào cũng sẽ làm.

Sau cùng, VN phải lệ thuộc kinh tế vào TQ trong ít nhất 50 năm sắp tới.

———————————–

Có nước nào trong khu vực đông nam á phát triển và làm giàu nhờ bán khoáng sản không?

Không nước nào trong khu vực Đông Nam Á phát triển và làm giàu bằng cách khai thác và bán tài nguyên khoáng sản như dầu hỏa, bô xít, than đá, … Thái Lan diện tích 514 ngàn Km vuông, Phi Luật Tân diện tích 300 ngàn km vuông, cả hai có dân số 86 triệu dân bằng với dân số của VN. Suốt 22 năm qua, cả hai nước đều phát triển kinh tế rất mạnh hơn VN. Hai nước nầy không cần các mỏ khoáng sản mà chính phủ của họ vẫn đề ra các chính sách kinh tế và kế hoạch để tạo công ăn việc làm cho dân chúng. Kết quả hiện nay là người dân trong 2 nước ấy có đời sống và mức thu nhập của mỗi người cao hơn VN 5-7 lần. Họ cũng không lệ thuộc vào TQ, Mỹ hay các nước lớn khác.

Các nước nhỏ hơn trong vùng như Nam Triều Tiên, có 50 triệu dân, diện tích đất đai 100.000 km vuông, chưa bằng 1/3 diện tích của VN, cũng không cần khai thác mỏ để kiếm sống mà dân chúng của họ có đời sống và mức thu nhập cao hơn VN 25 lần. Mã Lai Á dân số 30 triệu người, diện tích bằng VN, cũng không sống bằng khai thác mỏ, nhưng đời sống dân chúng của họ và mức thu nhập của mỗi người dân Mã Lai vẫn hơn dân chúng VN 12 lần.

Không có một nước nào trong vùng đông nam á làm giàu nhờ bán dầu mỏ và các tài nguyên khoáng sản. Tất cả các nước ấy làm giàu nhờ chính sách kinh tế của họ hay hơn VN. Dân chúng trong 7-8 nước ấy có mức thu nhập cao vì họ những chính phủ của họ do dân chúng bầu lên và họ làm chính sách giỏi. Họ không có những công ty, tập đoàn quốc doanh của chính phủ chuyên làm ăn thua lỗ.

—————————————————-

Nga và Trung Quốc 2008-2009

Hồi tháng 12-2008, vì giá dầu xuống quá thấp và Nga cần tiền, Putin đã ký một hiệp ước thương mại với Trung Quốc. Trong hiệp ước ấy, Nga đồng ý bán tất cả dầu hỏa và khí đốt cho Trung Quốc kể từ 2010 đến 2025. Kết quả của việc ấy là Trung Quốc và Nga đã có một cuộc tập trận chung để thắt chặt tình hữu nghị.

(Nga thiếu hụt tiền bạc để làm ngân sách vì đã mắc sai lầm khi gây ra chiến tranh với Georgia vào tháng 8-2008. Kết quả là các doanh nghiệp Âu Châu đã rút hết các đầu tư ra khỏi Nga, và qua đầu tư ở Tunisia và các nước Phi Châu gần Tunisia. Điều nầy, làm cho Russia mất mỗi tháng hàng 7 tỉ đô la đầu tư. Giá dầu từ 147 đô xuống 40 đô 1 thùng đã làm cho Nga hụt ngân sách (Nga tính ngân sách dựa trên giá dầu là 75-85 đô/ 1 thùng. Hiện nay, giá chứng khoáng của Nga sụt giảm 70% và thất nghiệp nổi lên khắp nơi làm Nga thâm hụt thêm ngoại tệ.)

Tuy vậy, Nga khẳng định không bao giờ có ý bán các sản phẩm có kỹ thuật cao cho Trung Quốc kể từ sau khi TQ mua các chiến đấu cơ SuKhôi 27 của Nga vào năm 2001, đem về tháo ra từng mảnh, và TQ làm ra chiến đấu cơ J-11. Kiểu mẫu chiếc phản lực J-11 nầy giống hệt như Sukhoi 27, chỉ khác tên gọi. Hiện nay, Nga đang kiện TQ ra tòa về tội vi phạm tác-quyền.

Khi phía Bắc và phía Nam biên giới của Trung Quốc không bị đe dọa bởi Nga và Việt Nam, Trung Quốc sẽ rãnh tay làm các kế hoạch khác và mục đích sau cùng của các kế hoạch ấy thì chắc chắn sẽ không có lợi cho VN. (tóm gọn Biển Đông để đánh cá và khai thác mỏ dầu và khí đốt; chặn con dường tiếp tế nhiên liệu, và vận chuyển hàng hóa xuất nhập khẩu của Nhật, Nam Hàn, và Đài Loan khi cần thiết…)

****************************************************


Đọc mấy bài Bô Xít xong lại chợt nhớ đến Ủy Viên Bộ Chính Trị Hoàng Văn Hoan…

là người đi tiền đạo trong việc thiết lập mối quan hệ với Trung Quốc từ năm 1978. Ông Hoan bỏ VN, chạy qua TQ sống, ca ngợi Trung Quốc và coi TQ người bạn lớn; còn ngày nay thì các nhân vật trong bộ chính trị rước Trung Quốc vào treo cờ ở Tây Nguyên. Quả là những người có chí lớn gặp nhau.

Nói tóm lại, ông Hoan đúng là một người có tầm nhìn xa và đi trước đảng và nhà nước ta 30 năm. Vậy là nhà nước ta sẽ chuẩn bị làm lễ tôn vinh ông ấy là vừa, và đừng quên rút lại những lời

tuyên bố lên án tử hình ông Hoan tội phản quốc vào năm 1979 nhé 🙂

Nhìn lại nhân vật Hoàng Văn Hoan

Một sự kiện quan trọng trong giai đoạn xung đột Trung – Việt hồi năm 1979 là vụ bỏ trốn của ông Hoàng Văn Hoan mà đến nay vẫn ít được nói đến.

Quân Trung Quốc tiến vào Việt Nam năm 1979Tình hữu nghị giữa hai nước cộng sản Việt Nam – Trung Quốc đổ vỡ năm 1979

Không chỉ với chính quyền Việt Nam và cả với dư luận quốc tế, việc một nhân vật cao cấp, công thần của chế độ bỏ đi theo kẻ thù của Hà Nội hồi đó là chuyện ‘động trời’.

Báo
Time 20/08/1979 có bài đặc biệt về cuộc bỏ trốn của ông Hoàng Văn Hoan sang Trung Quốc.

Bài ‘Hanoi’s Push’ cho rằng vụ ông Hoàng Văn Hoan (1905-1991), nguyên phó chủ tịch Quốc hội, một đồng chí cũ của Hồ Chí Minh bỏ đi vào tháng 7/1979 và tố cáo chế độ là ‘cú giáng thứ nhì vào hình ảnh của họ’. Cú giáng thứ nhất, như tờ báo Mỹ, là ‘cuộc tháo chạy của 900 nghìn người’ trong vòng bốn năm trước đó , nhắc đến các đợt thuyền nhân Việt Nam bỏ nước ra đi (1975-1979).

Về với Trung Quốc

Time đưa tin rằng tuần trước đó, ông Hoàng Văn Hoan, 74 tuổi, phát biểu tại Bắc Kinh cáo buộc Hà Nội đối xử với người Hoa ‘tệ hơn Hitler đối xử người Do Thái’.

Ông Hoan, cựu ủy viên Bộ Chính trị cho đến 1976, cũng cho rằng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của ông Lê Duẩn, đã ‘trở thành tay sai ngoại bang’, ám chỉ Liên Xô.

Bỏ trốn sang Trung Quốc, ông Hoan như trở về với những đồng chí chia sẻ quan điểm cộng sản kiểu Trung Quốc của ông.

Các tài liệu của Phương Tây từ 1966 đã xác định ông, cùng những ủy viên BCT khác như Lê Đức Thọ, Nguyễn Chí Thanh là ‘phái thân Trung Quốc’ (pro-Chinese).Theo đại tá Bùi Tín, cựu Phó Tổng biên tập báo Nhân Dân, người cũng bỏ Việt Nam nhưng sang Phương Tây để vận động cho dân chủ, thì quan điểm ‘đặc sệt thân Tàu’ của ông Hoan đã được biết đến từ trước năm 1979.

Ông Bùi Tín nói ông Hoan xuất thân từ một gia đình Hán học, hoạt động nhiều năm ở Hoa Nam và ‘tiếp thu văn hóa, tư tưởng Trung Quốc trực tiếp từ nguồn’:

“Ông không đồng tình với quan điểm đứng giữa Liên Xô và Trung Quốc, ông theo phái nghiêng hẳn về Trung Quốc.”

Ông không đồng tình với quan điểm đứng giữa Liên Xô và Trung Quốc, ông theo phái nghiêng hẳn về Trung Quốc

Bùi Tín nói về Hoàng Văn Hoan

“Ông không thấy Trung Quốc có hai mặt: cách mạng và bành trướng”.

Từng sang Trung Quốc hoạt động với bí danh Lý Quang Hoa cùng các ông Võ Nguyên Giáp và Phạm Văn Đồng, Hoàng Văn Hoan trở thành nhân vật cao cấp phụ trách ngoại giao của Việt Minh.
Sau đó ông được Hồ Chí Minh, người đồng hương Nghệ An, cử làm đại sứ đầu tiên của VNDCCH tại Bắc Kinh.

Các tài liệu nước ngoài mô tả ông Hoan có vị trí hơn một đại sứ bình thường vì thường được Mao Trạch Đông tiếp riêng để bàn thảo các vấn đề hai nước, kể cả chiến lược đánh miền Nam của Ban lãnh đạo Hà Nội.

Số phận của ông sau khi sang Trung Quốc qua ngả Pakistan vào tháng 7/1979 cùng gia đình cũng phản ánh thái độ của Trung Quốc với Việt Nam và quan hệ hai bên.

Xuất bản cuốn ‘Giọt nước trong biển cả’, ông đưa ra quan điểm ‘tố cáo tập đoàn Lê Duẩn’ đã phản bội đường lối Hồ Chí Minh và làm hại đến ‘tình hữu nghị với Trung Quốc’.

Cuốn sách được dịch sang tiếng Anh ‘A Drop in the Ocean: Hoang Van Hoan’s Revolutionary Reminiscences’ do Bắc Kinh xuất bản năm 1988, xác định tư cách của ông như một nhân vật Mao-ít đến cùng.

Ông cũng đưa ra cáo buộc rằng Trung ương Đảng ở Việt Nam từ 1982 đã chỉ đạo việc trồng nha phiến để bán ra quốc tế lấy đôla.

‘Không giống Hồ Chí Minh’

Ông Bùi Tín, hiện sống tại Paris cho hay ông Hoan khá đơn độc trong đường lối thân Trung Quốc và bác bỏ cách tuyên truyền của Trung Quốc rằng ông Hoan là người duy nhất ‘trung thành với đường lối Hồ Chí Minh’.

Ông nói:

“Ông Hồ khéo léo với Trung Quốc hơn nhiều và luôn cố gắng cân bằng giữa Liên Xô và Trung Quốc.”

Ông Hồ khéo léo với Trung Quốc hơn nhiều và luôn cố gắng cân bằng giữa Liên Xô và Trung Quốc

Bùi Tín

“Một lần ra đón ông Hồ tại sân bay chúng tôi thấy ông mặc áo khoác có huy hiệu Mao sau chuyến đi thăm Trung Quốc về. Ông hiểu ý và cười rằng ‘chỉ đeo ở áo ngoài thôi đấy nhé”.

Trái lại, theo ông Tín, Hoàng Văn Hoan hoàn toàn theo đường lối Maoist, ủng hộ Trung Quốc trong cuộc chiến 1979, chế độ Pol Pot và phái bảo thủ tại Trung Quốc.

Mặc dù ông Hoan đã đào thoát sang Trung Quốc và được coi là phản bội, ông Tín vẫn đánh giá: “Ông ấy là một người rất yêu nước, nhưng mỗi người yêu nước theo hiểu biết, theo kiểu của người ta. Tôi vẫn tôn trọng ông ấy, nhưng không thể đồng tình với quan điểm của ông được.”

Ở Việt Nam, ông Hoàng Văn Hoan bị tuyên án tử hình vắng mặt và trở thành biểu tượng của sự phản bội.

Đài báo so sánh Hoan với Lê Chiêu Thống, Trần Ích Tắc và dùng hình ảnh ông để nói về các kẻ thù bên trong.

Đảng cộng sản đã thực hiện một cuộc thanh lọc nội bộ để loại bỏ tất cả những ai bị nghi là có dính líu đến ông Hoàng Văn Hoan.

Trong khi đó, Trung Quốc quyết tâm bảo vệ ông Hoan và coi việc đối xử với ông như một điều kiện để bình thường hóa quan hệ.

Năm 1991, Trung Quốc tổ chức lễ tang cấp nhà nước dành cho ông Hoàng Văn Hoan tại nghĩa trang Bát Bảo Sơn, nơi an nghỉ của nhiều cố lãnh tụ cao cấp nhất của Đảng, Nhà nước, và quân đội Trung Quốc.

Việc chấp nhận vị trí của ông Hoan trong lịch sử đầy biến động của Việt Nam xem ra vẫn còn là điều khó khăn ở trong nước dù gần đây, nhà chức trách đã có động tác để hình ông trên trang web của Quốc hội.

Nhưng cho đến nay, số phận của gia đình ông (xem bài đi kèm ‘Số phận ông Hoàng Văn Hoan’ ở mục Các bài liên quan) cũng la
̀ câu chuyện đáng nói và phản ánh cách giải quyết chuyện nội bộ với những người bị coi là ‘phản bội’ trong lòng một hệ thống đóng kín.

*******************************888888888888*****************************



Asia Sentinel

A Mining Plan Tests Vietnam’s Policymakers

Written by Anh Le Tran Monday, 23 March 2009

Chinese seek to develop bauxite mines in environmentally and socially sensitive area

Vietnamese environmentalists and social scientists are growing increasingly concerned over the environmental, social, economic and political implications of a government plan to allow minerals-starved Chinese companies develop massive Central Highlands bauxite mining projects.

Vietnam is estimated to have up to 8 billion tonnes of bauxite ores, used to produce alumina, a white powder that is smelted to produce aluminum. Two big projects to mine bauxite and produce alumina have been kicked off in Lam Dong and Dac Nong Provinces. The country has estimated that it will need up to US$20 billion in investment by 2025 to make use of the resource. Enter the Chinese.

The idea of exploiting rich bauxite reserves is not new. As long ago as the 1980s, when the country was a member of the Council of Mutual Economic Assistance (CMEA), an economic bloc founded by the Soviet Union and other Eastern European communist states, Vietnam brought a program to mine bauxite before the CMEA. But after Soviet analysts studied the feasibility of the program, the CMEA recommended against the idea, mainly due to serious environmental concerns.

Those concerns haven’t gone away. The only thing that has changed is the intensity of the opposition and the multiplying of other concerns as well as environmentalists and social scientists have rung alarm bells over the potential destruction.

Bauxite mining involves the discharge of toxic which must be stored safely and permanently. However, the Central Highlands terrain makes it more difficult to safely store the slurry to prevent contamination to the surrounding and downstream areas. In addition, critics see high risk regarding the situation in which the Chinese companies have won both bids to construct two big alumina plants (costing nearly US$500 million each) and possibly will venture into other projects as well.

The concern is that the technologies won’t be the best available. Nguyen Thanh Son, a Vietnamese expert in the area and one of the most prominent opponents of the plan, says the Chinese side won the bids is due to the lowering of technology standards by the Vietnamese side so that Chinese companies could offer attractive bidding prices.

China itself has faced serious environmental problems associated with bauxite mining, prompting it to close several mines in Guangxi even with demand for bauxite on the rise. Some critics thus view China’s high level of involvement in Vietnam’s bauxite projects as a form of exporting environmental degradation while trying to secure a new source of supply.

In terms of economic efficiency, the projects don’t seem to fare well even with a simple cost-and-benefit analysis. The Central Highlands is home to important cash crops, coffee, tea, and rubber, that have earned increasing amounts of hard currency through exports. However, the survival of these crops will be in great danger due to two key factors.

First, as more projects are implemented, more land will be cleared for mining and storing the toxic mud. After the bauxite ores are mined, the soil is no longer suitable for growing crops without extensive remediation. Second, bauxite mining and alumina production require extensive water, which is already limited in the region. As a result, water availability for growing will be severely reduced, leading to poorer crops. Together, these two factors raise the spectre of the potential loss of the region’s comparative advantage in growing the cash crops and strangle its ability to develop a new comparative advantage in ecotourism, which is increasingly popular worldwide.

The economic costs will even be much greater when other negative externalities, including environmental degradation, are factored in. On the other hand, the benefits are doubtful. It has been pointed out that with the same level of investment, the rate of return of a bauxite project is far less than coffee-growing. Moreover, to be competitive, the production of alumina requires a cheap and readily available source of electricity that Vietnam currently does not have and will not have for any time soon.

With its chronic shortage of electricity, the shifting of this type of energy toward alumina production will further exacerbate the problem, putting other types of production at risk.

With respect to the social and political impacts, the full-scale implementation of the bauxite projects will further marginalize ethnic groups in the region as their cultural green living space is drastically reduced, with the potential to create social tension in an already delicate area. In addition, the presence of Chinese bauxite-related workers in this military strategic region has created an uneased feeling in certain Vietnamese.

Government responses and actions have been inadequate at best. In November 2007, Prime Minister Nguyen Tan Dung signed a directive approving the plan for mining, processing and use of bauxite. However, up to this point, there has not any approved strategic environmental evaluation to assess the environmental impacts of the bauxite plan in accordance with Vietnamese environmental laws.

Vinacomin, the state-owned enterprise in charge of carrying out the plan, held two conferences in 2007 and 2008 to assess the impacts of the bauxite projects. During these occasions, many Vietnamese experts expressed their deepest concerns regarding the serious negative impacts of the plan. However, nothing of significance has materialized to address these concerns since the projects are still underway.

In the face of continued opposition, Prime Minister Dung held a meeting to discuss issues relating to bauxite mining in early January this year. He concluded by ordering the Ministry of Industry and Trade to seek permission from the politburo
of Vietnam’s communist party to continue the projects and asking Deputy Prime Minister Hoang Trung Hai to hold a scientific conference to address the issues.

Although the conference has been scheduled for some time during the first half of April, Hai already announced last week that the projects in Lam Dong and Dac Nong will continue as planned. That has prompted observers to raise the question whether the conference will produce any meaningful changes that would be accepted by the government.

Given the government’s responses, one thing is clear: it has a very determined political will to go ahead with the bauxite plan in the face of opposition. The question that arises is why there is such a strong political will for a seemingly unsound plan. Critics have speculated a few possible answers. The most often mentioned is the influence of China through the political channel at the top level.

What is really at stake now is whether the Vietnamese government has the political courage to meaningfully involve all of the stakeholders and correct the shortcomings before it is too late.

Anh Le Tran teaches economics and management at Lasell College in Massachusetts in the United States.

Posted in Bauxite, Làm ăn chung với Trung Quốc | Tagged: | 1 Comment »

Bị ăn hiếp, quyền lợi của quốc gia bị mất,

Posted by hoangtran204 trên 22/03/2009

nhưng vẫn cúi đầu, miễn sao quyền lợi cá nhân không mất là được

*********************

Hãng dầu BP rút ra khỏi hai lô ở Việt Nam

DCVOnlineTin ngắn (CNN, SST, RFA)

Hãng dầu BP rút ra khỏi hai lô ở Việt Nam

HÀ NỘI – Hãng dầu Anh BP PLC sẽ rút ra khỏi hai lô khoan tìm dầu 5.2 và 5.3 ngoài khơi Việt Nam, một viên chức hãng dầu cho hay hôm thứ Sáu ngày 21 tháng Ba.

Quyết định này dựa vào sự suy xét làm ăn của công ty,” viên chức này cho hay, nhưng từ chối cung cấp tên.

“Hãng BP Vietnam đang thảo luận với hãng PetroVietnam và những đối tác khác để tiến hành sự rút ra trong năm 2009,” bà nói, nhưng không cho biết chính xác khoảng thời gian nào cho việc rút ra khỏi hai lô này.

Hãng BP, PetroVietnam và CoconoPhillips đã hợp tác khoan tìm dầu và khí từ năm 2000, một viên chức của hãng PetroVietnam ở Hà Nội cho hay.

Khu sản xuất khí đốt của BP tại Việt Nam
Nguồn: vietnam.vnagency.com.vn


Ở lô 5.2, hãng BP giữ 55.9% cổ phần, hãng PetroVietnam giữ 24.1% cổ phần và hãng ConocoPhillips giữ 20 phần trăm cổ phần, trong lúc ở lô 5.3, hãng BP có 60% cổ phần, và hai hãng PetroVietnam cũng như ConocoPhillips đều có 20 phần trăm cổ phần, theo hãng PetroVietnam.

“Những hãng liên quan đến hai lô này đang bàn thảo chuyện rút lui,” viên chức này cho hay, nhưng không cung cấp thêm chi tiết.

Hãng BP là hãng dầu ngoại quốc sản xuất khí đốt lớn nhất ở Việt Nam, những hoạt động của hãng này sản xuất 3 tỉ mét khối khí đốt hàng năm ở lô 06.1 nằm trong vùng trũng Nam Côn Sơn.

Khí đốt của hãng BP được cung cấp cho nhà máy điện chạy bằng khí đốt ở Bà Rịa Vũng Tàu, cung cấp hơn 30 phần trăm nguồn điện năng ở Việt Nam, theo con số của hãng BP cho hay.

Theo chuyên gia nghiên cứu tài chánh có trụ ở nằm ở Hà Nội, ông Bùi Kiến Thánh nói quyết định rút lui của BP ra khỏi hai lô này sẽ tác động xấu cho nỗ lực từ phía Việt Nam trong việc gia tăng nguồn khí đốt để phát triển nguồn sản xuất điện lực.

“Hai lô này nằm ở khu vực có những điều kiện khó khăn cho sản xuất mà chắc chắn là sẽ cần sự tham gia của những công ty ngoại quốc, không có hãng BP, Việt Nam sẽ phải trì hoãn kế hoạch mang khí đốt vào bờ,” ông Thành nói.

Ông nói thêm là không rõ ràng là BP có muốn rút hết đầu tư của họ ra khỏi vùng này một cách hoàn toàn.

Được biết, hôm tháng Sáu năm 2007, phát ngôn viên hãng BP ông David Nicholas đã cho hay hãng dầu khí BP đã ngưng tìm kiếm dầu khí ở bờ biển phía Nam Việt Nam vì những tranh chấp giữa Hà Nội và Bắc Kinh.

“Trong tình trạng hiện nay, chúng tôi đã ngưng mọi hoạt động thăm dò địa chấn đã lên kế hoạch trong vùng Block 5.2 để các chính phủ liên hệ có cơ hội giải quyết vấn đề.” Khu vực lô 5.2 cách bờ biển 370 km giữa Việt Nam và Trường Sa.

Bắc Kinh hiện đang áp lực hãng BP nặng nề, cũng như đã áp lực hãng ExxonMobil trước đây, nhằm hạn chế những hoạt động của những công ty này ở Việt Nam.

© DCVOnline


Nguồn:

(1) BP To Withdraw From 2 Exploration Blocks Off Vietnam. CNN, Dow Jones Newswires, by Nguyen Van Muoi, 21 March 2009
(2) BP ngưng tìm dầu tại Việt Nam vì China quậy. DCVOnline.net, 14 June 2007
(3) BP rút khỏi dự án thăm dò dầu khí tại Việt Nam. RFA. Thanh Trúc, phóng viên đài RFA thực hiện, 21 March 2009
(4) Trung Quốc lại “ăn hiếp” Việt Nam. DCVOnline.net, 22 tháng Bảy 2008

————————————-

Bị lấn lướt trên biển Đông, Hà Nội vẫn thắt chặt thêm quan hệ với Bắc Kinh

Thanh Phương

Bài đăng ngày 21/03/2009 Cập nhật lần cuối ngày 21/03/2009 15:32 TU

Trong bối cảnh Việt Nam đang muốn đưa quan hệ với Trung Quốc ”vào chiều sâu, hiệu quả và bền vững”, liệu Hà Nội có dám đụng đến phần lãnh thổ mà Bắc Kinh tự quy định ở biển Đông hay không ?

Bản đồ biển Đông

Tuy ông Đới Bỉnh Quốc chỉ là một Uỷ viên trung ương Đảng, Uỷ viên Quốc vụ viện của Trung Quốc, thế nhưng trong hai ngày 19 và 20.03.2009, ông đã lần lượt được được cả ba lãnh đạo cao cấp nhất của Việt Nam là tổng bí thư Nông Đức Mạnh, chủ tịch Nước Nguyễn Minh Triết và thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tiếp đón như một vị nguyên thủ quốc gia.

Chỉ một chi tiết này đủ cho thấy là Hà Nội đang ngày càng thắt chặt quan hệ với ”đồng chí” Bắc Kinh mặc dù Việt Nam ngày càng bị Trung Quốc lấn lướt trên vấn đề chủ quyền biển Đông.

Việc tăng cường quan hệ song phương Việt Nam còn được thể hiện qua việc bưu điện của hai nước hôm thứ năm vừa qua đã ký kết một nghị định thư về việc thiết lập đường dây nóng, tức là đường dây điện thoại bảo mật giữa các lãnh đạo cấp cao.

Cuối năm ngoái, Việt Nam và Trung Quốc cũng vừa hoàn thành việc phân giới cắm mốc trên đất liền. Hôm thứ năm (19.03.09), hai bên đã bày tỏ quyết tâm giải quyết vấn đề tranh chấp chủ quyền trên vùng biển Đông.

Thế nhưng, vụ đụng độ giữa tàu Trung Quốc với tàu của Hoa Kỳ ngày 8 tháng 3 vừa qua cho thấy là hơn bao giờ hết, Trung Quốc hành xử như là sở hữu chủ của toàn bộ vùng biển Đông.

Hôm thứ năm, đúng vào ngày mà ông Đới Bỉnh Quốc đến thăm Việt Nam, báo chí Trung Quốc loan tin là nước này sẽ tăng cường tuần tra chung quanh hai quần đảo
Hoàng Sa và Trường Sa.

Cụ thể, Trung Quốc sẽ chuyển những chiến hạm đã hết hạn sử dụng của hải quân thành các tàu tuần tra, trước điều mà Bắc Kinh gọi là tình trạng ”đánh cá lậu gia tăng” và những đòi hỏi chủ quyền ” vô căn cứ ”. Trước đó, Bắc Kinh đã phái một tàu tuần dương lớn nhất và hiện đại nhất, mang tên Ngư Chính 311 đến khu vực Hoàng Sa – Trường Sa.

Phản ứng về sự kiện này, phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Lê Dũng chỉ tuyên bố là ” Việt Nam quan tâm và sẽ theo dõi sát” hoạt động của tàu này. Hà Nội cũng đã phản ứng không lấy gì là mạnh mẽ, khi Bắc Kinh trước đó mấy ngày cho phép một công ty du lịch của nước này tổ chức các tuyến du lịch đến quần đảo Hoàng Sa.

Trước những hành động lấn lướt của Trung Quốc, ngày càng có nhiều người kêu gọi đưa vấn đề tranh chấp chủ quyền biển Đông ra quốc tế, để tranh thủ sự ủng hộ của các nước khác.

Nhưng muốn như thế thì phải làm sao phổ biến cho thế giới biết sự thật lịch sử về chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa – Trường Sa. Thế mà, ngay cả ở Việt Nam, không phải ai cũng biết về những sự thật lịch sử đó. Cho đến gần đây, chỉ có một vài học giả ở Việt Nam quan tâm nghiên cứu đến biển Đông, một chủ đề mà trong một thời gian dài vẫn bị coi là nhạy cảm. Mãi đến ngày 17.03.09 mới có một hội thảo đầu tiên tầm cỡ quốc gia về tranh chấp biển Đông được tổ chức tại Hà Nội.

Về mặt công pháp quốc tế, Việt Nam cũng đang có nguy cơ bị yếu thế, bởi vì từ đây đến ngày 13.05.09 tới đây, các nước đã phê chuẩn Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển, trong đó có Việt Nam, phải đăng ký thềm lục điạ mở rộng.

Nếu quá hạn này mà không đăng ký thì Việt Nam có thể sẽ bị mất tất cả nguồn tài nguyên trong thềm lục điạ bên ngoài 200 hải lý. Nhưng nếu Việt Nam đăng ký, thềm lục địa mở rộng này sẽ lấn sang đường ranh giới, gọi là ranh giới lưỡi bò, mà Trung Quốc đã tự quy định trên biển Đông.

Câu hỏi đặt ra bây giờ là trong bối cảnh mà Việt Nam đang muốn đưa quan hệ với Trung Quốc ” vào chiều sâu, hiệu quả và bền vững ”, liệu Hà Nội có dám đụng đến phần lãnh thổ đó hay không ?

Posted in Uncategorized | 2 Comments »

Bô Xít

Posted by hoangtran204 trên 18/03/2009

Mặc cho có sự phản đối của

TS. Nguyễn Thanh Sơn: Đăk Nông trước bài toán hậu khai khoáng Bô-xít

Tác Giả Đàn Chim Việt

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

BÁO CÁO

V/v làm rõ một số ý kiến tại cuộc Tọa đàm về bauxite ngày 20/2/2009

Trân trọng kính gửi:

-đ/c Trương Tấn Sang UV Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư

-đ/c Ngô Văn Dụ Bí thư TW Đảng CSVN, Chánh Văn phòng TW Đảng

Tôi được mời tham gia cuộc Tọa đàm về bauxite do VP TW tổ chức ngày 20/2/2009. Do thời lượng Tọa đàm có hạn, vì chưa có điều kiện phát biểu, chấp hành ý kiến chỉ đạo của đ/c Ngô Văn Dụ- chủ trì Tọa đàm, tôi xin được trình bầy với Ban Bí thư và Văn phòng TW Đảng CSVN một số ý kiến như sau:

1/ Trước hết tôi hoàn toàn đồng tình với đa số các ý kiến tại cuộc Tọa đàm đều cho rằng việc lựa chọn nhà thầu TQ vào Tây Nguyên là một nguy cơ rất lớn đối với an ninh quốc phòng. Trong các tham luận công khai, tôi cũng như các nhà khoa học đều hiểu, nhưng chưa nêu thẳng vấn đề: lựa chọn nhà thầu TQ là một sai lầm cố ý của TKV(Tập đoàn Than và Khoáng sản ).. Tôi xin nói rõ hơn như sau:

-Là cán bộ của TKV, đến nay tôi đã có kinh nghiệm (hiểu rõ cách đấu thầu) qua không ít hơn 6 cuộc đấu thầu quốc tế các dự án nhiệt điện chạy than của TKV khi tôi được giao trực tiếp tham gia (là gíam đốc cty Tư vấn), hay quản lý (là trưởng ban điện lực) và phụ trách (là Tổng giám đốc cty nhiệt điện).

Tôi có thể khẳng định, nếu đấu thầu một cách minh bạch, đúng luật, và với tiêu chí là lợi ích tối đa lâu dài của đất nước (chứ không phải của chủ đầu tư) thì không thể có một nhà thầu TQ nào có thể thắng thầu trong bất cứ dự án bauxite nào.


-Để chọn được nhà thầu TQ, TKV đã hạ rất thấp các tiêu chuẩn công nghệ trong đấu thầu, đã lựa chọn công nghệ thải bùn đỏ bằng công nghệ “ướt” rất lạc hậu và rất nguy hại cho môi trường mà cả thế giới đã không còn chấp nhận (ngay cả TQ, Nga và Ấn Độ cũng đang chuyển dần các nhà máy của mình từ công nghệ “ướt” sang công nghệ “khô”, các nước ở vùng nhiệt đới có mưa nhiều giống như Tây Nguyên cũng không áp dụng công nghệ này). Đây là một quyết định để dẫn tới việc chỉ các nhà thầu TQ có thể tham gia đấu thầu và có thể chào giá rất thấp (vì TQ đang có sẵn công nghệ, đang cần phải “bán sắt vụn” lại có dịp để “chuyển giao” sang VN).

-Việc nâng công suất nhà máy lên gấp 2 lần so với quy hoạch ban đầu và triển khai đồng loạt cả hai dự án lớn cũng được TKV làm theo “lời khuyên” của nhà thầu TQ, với lý do làm “nhỏ” thì các nhà thầu sẽ không tham gia. Thực tế cho thấy, tuy đã làm “lớn”, nhưng do cố tình lựa chọn công nghệ lạc hậu chỉ có ở TQ, nên cũng chẳng có nhà thầu nào khác (ngoài các nhà thầu TQ) tham gia đấu thầu.

Ngoài ra, tương tự như dự án luyện đồng Sinh Quyền, tiêu chuẩn về chất lượng sản phẩm alumina cũng rất quan trọng. Tôi e ngại rằng (để đấu thầu, giảm chi phí đầu tư), chất lượng sản phẩm alumina do TQ chào sẽ rất thấp để sau này TQ sẽ mua lại với giá rẻ mạt (như hiện đang mua loại đồng của Sinh Quyền). TQ không có công nghệ nguồn về nhôm, cũng phải đi nhập của các nước phát triển, còn sản phẩm alumina của TQ có chất lượng khác nhau và có tiêu chuẩn thấp hơn so với của các nước phát triển.

2/Về ý kiến cho rằng cần phát triển bauxite hơn phát triển cây công nghiệp (của các đ/c Hoàng Sỹ Sơn- phó Chủ tịch UBND tỉnh Lâm Đồng và Phan Tuấn Pha- Bí thư tỉnh ủy Đắk Nông)

Cả hai đ/c đại diện cho Đảng bộ và UBND các tỉnh có dự án bauxite đều phát biểu ủng hộ tiếp tục triển khai các dự án bauxite vì hai lý do chính: (i) bauxite có lợi thế hơn sản phẩm nông nghiệp (cà phê, chè, điều, cau su) vì giá bán sản phẩm nông nghiệp rất biến động; và (ii) nếu không khai thác bauxite thì (bauxite vẫn chỉ là đất), 20-30 năm nữa con cháu chúng ta sẽ phê phán chúng ta tại sao không khai thác!.

(i) Trước hết, tôi cho rằng cả hai ý kiến này đều không chính xác, và nếu xem xét kỹ thì đây là những ý kiến phản khoa học, do thiếu thông tin. Bauxite gắn chặt với vùng đất đỏ bazan trên Tây Nguyên là tài nguyên khoáng sản có hạn, không tái sinh, còn cây công nghiệp là nguồn tài nguyên vô hạn, có tái sinh (nhờ được trồng trên đất bazan tài sản vô giá của quốc gia này). Thế mạnh cạnh tranh cốt lõi của Tây Nguyên là đất đỏ bazan. Phát triển cây công nghiệp góp phần duy trì và làm tăng th
êm mầu xanh cho môi trường, giảm các nguy cơ như lũ ống, lũ quyét, hạn hán kéo dài, duy trì và phát huy được thế mạnh của đất đỏ bazan.

Còn khai thác bauxite sẽ làm mất đi thế mạnh của Tây Nguyên, hủy diệt mầu xanh, làm thay đổi thổ nhưỡng của vùng đất đỏ bazan, làm tăng thêm nguy vơ về hạn hán kéo dài, lũ ống, lũ quyét xẩy ra nhiều hơn. Nếu tiếp tục cho phát triển các dự án bauxite như cách làm hiện nay, về lâu dài cái giá phải trả của VN là không phát triển được cây công nghiệp trên vùng Tây Nguyên (do sẽ thiếu nước ngọt, thổ nhưỡng đất bazan thay đổi) và có nguy cơ còn làm mất và ô nhiễm nguồn nước ngọt để phát triển kinh tế cho các tỉnh vùng hạ lưu (Đồng Nai, Bình Dương, TP. HCM v.v.).

(ii) Giá bán sản phẩm nông nghiệp tuy có biến động nhưng nhu cầu tiêu dùng của cả loài người về cà phê, chè, đều là ổn định, được tiêu thụ ở rất nhiều nước, không có sản phẩm thay thế. Giá bán sản phẩm bauxite biến động rất lớn, nhu cầu của TG cũng thay đổi và chỉ được sử dụng chủ yếu tập trung ở một số nước có ngành chế tạo xe hơi và máy bay như Mỹ, Nhật, Đức, Nga, TQ. Tôi xin cập nhật những thông tin gần đây nhất: giá bán nhôm trên Thị trường Giao dịch Kim loại Luân Đôn (LME) giao động rất lớn, giá thấp nhất 1040U$/tấn (1993) và cao nhất lên tới 3249 U$/tấn (2006). Chỉ từ tháng 7/2008 đến tháng 10/2008 giá nhôm tại LME đã giảm từ 3300 xuống còn 1885 rồi 1500 U$/tấn. Theo đánh giá của các chuyên gia về nhôm, hiện nay giá bán hòa vốn đối với 75% các nhà máy phải là 2500U$/tấn trong khi giá thành sản xuất bình quân của thế giới 2700-3200U$/tấn.

Vì thế các nước đã và đang tiếp tục cắt giảm sản lượng (chỉ tính riêng năm 2008: TQ đã cắt giảm 18% sản lượng nhôm tương đương với công suất 3,22-3,70 triệu tấn/năm, 10% sản lượng alumina; tập đoàn Alcoa của Mỹ đã giảm 18% sản lượng nhôm tương đương với 3,5 triệu tấn/năm; Brazin giảm tới 40% sản lượng nhôm; Nga- giảm 25%, Tadzickistan (thuộc LX cũ)- 10% v.v.).

Trong các năm tới thị trường và giá bán của sản phẩm bauxite sẽ còn tiếp tục biến động theo chiều hướng xấu đi: dự báo năm 2009, nhu cầu alumina của TQ chỉ có 27,83 tr. tấn, trong khi tổng công suất của các nhà máy sản xuất lên tới 32,97 tr.tấn (thừa 5,14 tr.tấn).

(iii) Về ý kiến (của tỉnh Đắc Nông) cho rằng cần khai thác bauxite ngay bây giờ chứ không để giành cho thế hệ sau, “nếu không khai thác thì bauxite cũng chỉ là đất thôi”: đây cũng là ý kiến phản khoa học và ngắn về tầm nhìn. Tôi xin báo cáo như sau:

-Nếu hiện nay chúng ta sớm phát triển ngành công nghiệp bauxite-nhôm, thì chúng ta phải đối mặt với một bất cập rất lớn không thể vượt qua là thiếu điện giá rẻ. Trên thế giới các nước đều gắn nhôm với thủy điện, vì chỉ có thủy điện mới cho giá rẻ (dưới 3cents/kWh) trong khi tỷ trọng chi phí về điện trong chi phí sản xuất nhôm rất cao (chiếm tới 40-65%). Gần đây, Ngân hàng xuất nhập khẩu TQ đã phải cho vay bù lãi suất tới 2-3%/năm để một công ty nhôm của TQ đầu tư 3,2 tỷ U$ xây dựng nhà máy nhôm ở Mã Lai vì hai lý do: (i)Khuyến khích việc đưa các dự án nhôm tiêu hao nhiều điện năng ra nước ngoài (trong khi TQ cũng không phải thiếu điện trầm trọng như VN); (ii) Nhà máy nhôm này (do TQ nắm không ít hơn 50%) được quyền mua toàn bộ sản lượng điện của nhà máy thủy diện Bakun công suất 2400MW sẽ được Mã Lai xây dựng ở tỉnh Saravac với giá bán điện chỉ có 2 cents/kWh. Dự án thủy điện này cũng do một tổng công ty nhà nước khác của TQ là Sinohydro xây dựng. Toàn bộ sản phẩm nhôm sẽ được bán lại cho TQ. Các tập đoàn nhôm UC Ruasal (Nga) và Alcoal (Mỹ) cũng coi việc đầu tư vào các nhà máy thủy điện để có được nguồn điện lớn với giá rẻ là ưu tiên số 1 trong hoạt động của mình. Toàn bộ tiềm năng về thủy điện của các tỉnh Tây Nguyên, nếu được khai thác hết cũng chỉ tương đương với dự án nói trên của Mã Lai.

-Nếu sau 20-30 năm nữa chúng ta mới phát triển ngành công nghiệp nhôm, thì con cháu chúng ta sẽ không “phê phán chúng ta là dốt”, như ý kiến của đ/c bí thư tỉnh Đắc Nông, ngược lại, thế hệ mai sau sẽ phải cám ơn chúng ta là đã rất thông minh, có tầm nhìn xa về khoa học công nghệ. Nhân đây tôi xin nói rõ hơn:

+Tại cuộc hội thảo đầu tiên về bauxite ở Đắk Nông tháng 12/2007 do tỉnh Đắt Nông và TKV tổ chức, trong tham luận của mình tôi đã lưu ý đến bom Napal- là một loại bom cháy, có sức hủy diệt cao là một phát minh của Đại học Ha Vớt Hoa Kỳ, rất có hại trong chiến tranh, nhưng rất có ích trong phát triển kinh tế.

+Theo dự báo của các nhà khoa học, sau 20-30 năm nữa, trình độ khoa học công nghệ (trong đó có các công nghệ về hóa-lý) sẽ cho phép chúng ta áp dụng phát minh trên của Đại học Ha Vớt trong việc đảm bảo an ninh năng lượng. Kim loại nhôm sẽ được sử dụng để phát điện (có thể thay cho dầu mỏ, khí đốt và than đá hay uranium đang dần cạn kiệt) với hiệu suất rất cao. Theo tính toán của các nhà khoa học, để sản xuất ra 1 “đơn vị nhôm”, chúng ta cần 1 “đơn vị năng lượng” (đơn vị này hiện nay rất lớn). Nhưng sau 20-30 năm nữa, trình độ công nghệ cho phép thực hiện qui trình ngược lại, từ 1 “đơn vị nhôm” chúng ta có thể sản xuất ra được gần 2 “đơn vị năng lượng” dựa trên nguyên lý hoạt động của bom Napal (phản ứng ô xy hóa của kim loại nhôm tinh khiết cho phép chúng ta thu được một lượng nhiệt rất lớn).


+Ngoài ra hiện nay ô xít nhôm Al2O3 (là alumina- sản phẩm của các dự án bauxite Tây Nguyên để xuất khẩu) mới chỉ
ược dùng làm nguyên liệu thô cho ngành luyện nhôm và sản xuất một số hóa chất đơn giản khác. Nhưng trong tương lai, cũng như các loại ô xít kim loại khác sẽ được sử dụng để khử khí thải CO2 trong các nhà máy nhiệt điện để thu được khí CO (là một dạng khí cháy, có nhiệt năng cao) có thể tái sử dụng lại ngay cho chính các nhà máy nhiệt điện hay cho các lò hơi công nghiệp. Trên thế giới hiện nay đã có rất nhiều thành tựu (bản quyền và bí quyết công nghệ) trong vấn đề này (chủ yếu cũng là của Mỹ).

+Trên quan điểm khoa học và công nghệ, Đảng ta đã rất sáng suốt khi trong Báo cáo chính trị của Đại hội X đã bỏ cụm từ “khai thác bô-xít và sản xuất alumin” ra khỏi danh mục các sản phẩm cần được hỗ trợ đầu tư phát triển, thay vào đó, đã khẳng định “Khẩn trương thu hút vốn trong và ngoài nước để đầu tư thực hiện một số dự án quan trọng về khai thác dầu khí, lọc dầu và hóa dầu, luyện kim, cơ khí chế tạo, hóa chất cơ bản, phân bón, vật liệu xây dựng. Có chính sách hạn chế xuất khẩu tài nguyên thô”. Tôi cho rằng, ý kiến của đ/c Bí thư tỉnh Ủy Đắk Nông tại cuộc Tọa đàm là không có tính khoa học và càng không phù hợp với tinh thần Nghị quyết Đại hội X của Đảng.

3/Về ý kiến cho rằng công nghệ của TQ là tốt: Tại cuộc Hội thảo do Liên hiệp các hội KHKT VN (VUSTA) tổ chức ngày 19/1/1009 vừa qua, trong Báo cáo của mình tôi đã nêu rõ một ví dụ về công nghệ lạc hậu, không hiệu quả (công nghệ luyện đồng) mà TQ mới chuyển giao cho TKV trong dự án đồng Sinh Quyền gần đây. Tôi cho rằng không cần nhắc lại. Nhân đây tôi chỉ muốn nhấn mạnh thêm: Những nhà máy alumina phía Nam TQ (mà TKV đã tổ chức cho một số cán bộ ngoài TKV đi thăm quan) sử dụng loại bô xít (sa khoáng) khác hẳn với bô xít của Tây Nguyên (phong hóa) về nguồn gốc. Quá trình sản xuất alumina thực chất là các quá trình hóa-lý. Việc lựa chọn công nghệ phải dựa trên kết quả phân tích về thành phần thạch học và thành phần hóa học của quặng chứ không thể sao chép “copy” và đánh giá công nghệ bằng mắt thường. Ngoài ra, chất lượng quặng bauxite của VN (tuy chưa có được đánh giá chi tiết, nhưng) căn cứ vào các thông tin hiện có, thì không cao, đòi hỏi phải tuyển để nâng cao chất lượng trước khi áp dụng công nghệ Bayer.

4/ Về ý kiến cho rằng khai thác bauxite sẽ góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế và không chiếm nhiều đất canh tác của các tỉnh Tây Nguyên:

-Trước hết, về kinh tế, các nhà khoa học đều khẳng định điều ngược lại. Rất may, lần nào, theo báo cáo tại cuộc Tọa đàm của chính đ/c Hoàng Sỹ Sơn- phó Chủ tịch tỉnh Lâm Đồng, các dự án bauxite hàng năm chỉ đóng góp 120-150 tỷ đồng cho ngân sách địa phương chứ không phải 1500-2000 tỷ (được phóng đại lên 10 lần) như trả lời trên báo của đ/c Chủ tịch tỉnh Đắk Nông. Thực ra mức đóng góp này là không tương xứng so với số tiền rất lớn VN phải đi vay để đầu tư, và thấp hơn nhiều nếu chúng ta đầu tư vào mục đích khác, không phải là bauxite.

-Về diện tích chiếm đất, tuy diện tích không lớn so với toàn vùng lãnh thổ của Tây Nguyên, nhưng diện tích đất bị các dự án chiếm dụng vĩnh viễn lại là những nơi có giá trị canh tác cao, và (theo báo cáo của sở TNMT Đắk Nông) lớn hơn nhiều lần diện tích được tạo ra hàng năm (so với thành tích mở rộng khai hoang, trồng rừng) của các địa phương này.

5/Về nội dung bức thư của Đại tướng Võ Nguyên Giáp: tôi cho rằng ý kiến của đ/c Chủ tịch VUSTA (Hồ Uy Liêm) nêu trong Tọa đàm (đã không đại diện cho các nhà khoa học) là rất khiếm nhã. Tôi nghĩ cá nhân đ/c Hồ Uy Liêm cần chính thức xin lỗi Đại tướng về lời phát biểu gây nghi ngờ nội dung bức thư.

Tôi hoàn toàn ủng hộ và thêm cảm phục Đại Tướng về bức thư đầy tâm huyết và đầy trách nhiệm đó. Bản thân tôi đã từng làm đại diện cho Bộ Mỏ và Than của VN làm việc tại Ban Thư ký của COMECON trong cùng thời gian phía Chính Phủ VN đưa dự án bô-xít Tây Nguyên vào Chương trình hợp tác đa biên của COMECON (ngoài tôi, khi đó còn có nhiều người khác chứng kiến như các anh Dương Đức Ưng- đại diện cho Bộ Cơ khí Luyện Kim (nay là Bộ Công thương), Lê Dũng- đại diện cho UB KHKT (nay là Bộ Khoa học công nghệ) v.v.). Chúng tôi có đủ thông tin và điều kiện để tìm hiểu dự án này. Những vấn đề Đại tướng đã nêu trong thư là hoàn toàn chính xác. Khi đó (và cả bây giờ), Liên Xô và các nước thành viên COMECON rất cần bô-xít của VN để luyện nhôm cung cấp cho ngành chế tạo xe hơi, máy bay, và trang thiết bị quân sự-quốc phòng. Liên Xô (cũ) không cần chè của VN (khi đó người dân LX chỉ dùng chè của Ấn Độ hay của Srilanca), mà chỉ cần bô-xit của VN, những vẫn khuyên VN không phát triển dự án bô-xít mà phát triển các nông trường chè.

6/Về nhiều ý kiến cho rằng bài tham luận của TKV là “rất hay nhưng khó tin”. Nhân đây, tôi cũng xin bình luận thêm như sau:

-Trước hết, có thể thống nhất một điều là: VN lần đầu tiên triển khai các dự án bauxite, chưa có kinh nghiệm thực tế, nên những vấn đề đang được nêu ra đều chỉ nằm trên giấy (kể cả nhận định của Bộ Công thương, hay cam kết của TKV), còn dừng ở mức độ lý thuyết, dựa trên các thông tin trên TG (của các nhà khoa học) đều chưa được thực tế chứng minh đúng/sai . Điều có thể ai cũng đã nhận ra là tín
h rủi ro (về mọi mặt: công nghệ, kỹ thuật, môi trường, an ninh, quốc phòng, v.v…) trên thực tế quá cao, còn những giải pháp mới chỉ là “khẩu hiệu”.

-Bản thân tôi là một cán bộ làm việc ở TKV từ khi TKV mới được thành lâp đến nay (hiện nay tôi được giao giữ chức Giám đốc Công ty Năng lượng Sông Hồng -TKV, là chi nhánh của TKV tại Hưng Yên để phát triển bể than Đồng bằng sông Hồng), tôi cũng cho rằng những “giải pháp” của TKV không có cơ sở khoa học, mới chỉ dừng lại ở mức độ nói về vấn đề bùn đỏ ( có độ pH cao), TKV cam kết là không nguy hại, có thể xử lý được. Nhưng, như trên tôi đã nêu, bùn đỏ sẽ ít nguy hiểm khi được xử lý bằng công nghệ thải “khô”, còn với công nghệ thải “ướt” như TKV và các nhà thầu TQ đang áp dụng ở Tây Nguyên (chất lỏng 54,4%, chất rắn 45,6%) thì lại rất nguy hại bởi các lý do sau:

(i) “Khô” có nghĩa là ít chất sút ăn da (NaOH) lẫn trong bùn đỏ;

(ii) Nếu thải “khô”, các thành phần cỡ hạt khác nhau của bùn đỏ sẽ đông cứng lại thành chất rắn, ít nguy hại nếu bị trôi lấp. Còn “ướt” thì dung dịch bùn đỏ sẽ phân ly thành nhiều pha với các cỡ hạt khác nhau, trong đó có pha cỡ hạt siêu nhỏ gồm các kim loại nặng độc hại sẽ ngấm xuống đất, còn các pha cỡ hạt lớn lại không thể liên kết lại với nhau khi gặp mưa rất nguy hiểm, dễ bị trôi lấp; (

iii) Với công nghệ “khô” thì các đập chắn của các hồ bùn đỏ không phải chịu lực, chỉ có chức năng “chắn”. Ngược lại, với công nghệ thải “ướt”, các đập của hồ bùn đỏ (theo lựa chọn của TKV cao tới 25m, dài 282m, nằm trên độ cao 850m so với mực nước biển) sẽ giống như các đập hồ thủy điện, phải chịu lực do áp lực thủy tĩnh của bùn đỏ ướt tạo ra, nên kém an toàn.

TKV nói sẽ rất coi trọng vấn đề xử lý vấn đề bùn đỏ theo tiêu chuẩn quốc tế. Tuy nhiên trên thực tế, vì lợi ích của chủ đầu tư, các thiết kế hồ bùn đỏ đều lấy theo tiêu chuẩn GB của TQ. Với qui mô hồ thải bùn đỏ lớn như của TKV (rộng 116ha), các nước trên thế giới phải đầu tư hàng trăm triệu US$, trong khi hồ bùn đỏ của TKV do TQ thiết kế có mức đầu tư ít hơn nhiều lần.T hực tế các dự án nhiệt điện của TKV do các nhà thầu TQ thực hiện đã cho thất, các tiêu chuẩn GB của TQ thường thấp hơn nhiều so với của các nước khác, trong khi đó các nhà thầu TQ thường hay “nói một đằng làm một nẻo”, càng không ai dám tin.

Vấn đề hoàn thổ và bảo vệ môi trường trong khai thác bauxie: mọi người đều hiểu rất rõ thực trạng môi trường của vùng Quảng Ninh hiện nay như thế nào ?

-Một điều nữa không thể khÔng làm các đại biểu nghi ngờ là:

(i) Tác giả của những bài trình diền, tham luận đó của TKV là anh Nguyễn Chí Quang – người đã từng bị Thanh tra Chính Phủ yêu cầu TKV buộc thôi việc trong dịp Thanh tra CP làm việc với TVN năm 1999-2000. Sau khi bị sa thải, thời gian gần đây, anh Quang lại đích thân Chủ tịch HĐQT TKV nhận làm “cố vấn riêng” cho cá nhân Chủ tịch HĐQT. Mặc dù vậy, trong các giao dịch, anh Quang vẫn tự coi mình là cố vấn của HĐQT TKV, cũng có mặt cùng Chủ tịch HĐQT để báo cáo trong nhiều cuộc hội thảo và công khai phát biểu dưới tư cách là “đại diện cho TKV”;

(ii) Các chuyên gia giỏi có kinh nghiệm và trình độ thực sự về bauxie-nhôm trước đây (khi làm việc với COMECON, như Hoàng Kim Phú, Tô Ngọc Thái, Nguyễn Hoàng Ban v.v.) thì không được TKV sử dụng, trong khi TKV lại tích cực sử dụng một kỹ sư đã về hưu là Dương Thanh Sùng – người được đánh giá (công khai tại hội thảo của VUSTA) là chỉ thuộc loại “chai lọ” trong lĩnh vực bauxite-nhôm. Chính vì sự mật mờ này đã làm cho nhiều người (ngay cả trong TKV và cả bản thân Đại tướng) không thể tin cậy vào những gì “TKV nói”.

7/ Về thái độ tiếp thu ý kiến của TKV: Gần đây tôi nhận được công văn “MẬT” của Đảng ủy TKV gửi cho cá nhân tôi với nột dung hình như là tôi đang bị mắc lừa các thế lực phản động hay đang chống lại nghị quyết của Đảng vì đã có những phát biểu chống lại các dự án bô-xít của TKV. Tôi rất bất bình về nội dung công văn này. TKV không những không tiếp thu ý kiến của tôi (trong khi TKV chưa có ý kiến nào để phản bác và dư luận rộng rãi đều đồng tình ủng hộ ý kiến của tôi”, nhưng Đảng ủy TKV lại có văn bản mang tính răn đe theo kiểu “cả vú lấp miệng em” như vậy là không thể chấp nhận được. Nhân đây, tôi xin chính thức báo cáo với Ban Bí thư cũng như VP TW Đảng về vấn đề này như sau:

-Từ trước khi thủ tướng phê duyệt quy hoạch bô-xít, tôi đã viết nhiều bài báo khoa học phân tích tính không khả thi của các dự án bauxite đăng trên các tạp chí của VN. Sau khi Thủ tướng ban hành Quyết định số 167/2007/QĐ-TTg ngày 01/11/2007, tôi đuợc mời tham luận tại cuộc Hội thảo đầu tiên ở Đắk Nông (12/2007) đến nay, tôi (tuy đang hưởng lương do TKV trả) vẫn đã và đang chính thức phát biểu công khai, minh bạch ý kiến của cá nhân tôi với tư cách là một cán bộ KHKT phản đối việc triển khai các dự án bauxite trên Tây Nguyên.

-Đây không phải là lần đầu tiên tôi phải đối các việc làm của TKV hay của Bộ Năng lượng (cũ). Những ý kiến phản đối của tôi trước đây được cho là “trái” với các quyết định của TKV, và của Bộ NL đến nay đều được thời gian chứng minh là hoàn toàn đúng đắn (như việc chấm thầu không đúng của dự án điện Na Dương, việc sửa đổi hồ sơ mời thầu có lợi cho nhà thầu trong các dự án điện, việc di chuyển nhà sàng Hòn Gai ra địa điểm Nam Cầu trắng, việc gia tăng qua mức sản lượng than của các mỏ để xuất khẩu cho TQ, v.v..)


Cũng chính vì “trung ngôn thì nghịch nhĩ” tôi đã từng “được” TKV “xử lý” theo cách áp đặt cho luân chuyển công tác theo tiêu chí việc gì đang làm tốt thì không cho làm nữa, giao cho việc mới khó hơn, để nhường chỗ cho những “chung thần” chỉ biết làm theo.

-Bản thân tôi, là một cán bộ KHKT được Đảng và Nhà nước ưu tiên cho đi đào tạo nhiều lần ở nước ngoài, là một Đảng viên ĐCSVN (tôi được kết nạp tại chi bộ Vụ Kế hoạch Bộ Mỏ và Than từ 1983), tôi luôn sống và làm việc theo hiến pháp và pháp luật, đúng lương tri, phục vụ suốt đời cho sự nghiệp của Đảng và dân tộc, chứ không phải chỉ biết làm theo ý đồ và phục vụ cho lợi ích của một nhóm người. Bố đẻ tôi là Đảng viên, cán bộ tiền khởi nghĩa, Huân chương kháng chiến hạng Nhất và hạng Ba, Huy hiệu 60 năm tuổi đảng, Huy hiệu các chiến sỹ bị địch bắt tù đầy đã giáo dục tôi hiểu rõ thế lực phản động là ai và mình cần phải làm gì?.

-Tôi không cần phải được Đảng Ủy TKV nhắc nhở về việc tôn trọng pháp luật, trong khi TKV đã cố tình lợi dụng cơ quan ngôn luận của mình (Tạp chí Than-Khoáng sản VN) để công khai vi phạm Luật báo chí, tung tin sai sự thật, bôi nhọ danh dự của tập thể công ty do tôi phụ trách (đúng vào dịp tôi đang bận dự thảo về bauxite ở Đắk Nông)

8/ Về Hội thảo sắp tới do Chính Phủ sẽ tổ chức:

(i) Tôi cho rằng cần được chuẩn bị kỹ và phải có đủ thời lượng cần thiết, tạo được tính công khai, dân chủ, tránh hình thức vội chụp mũ; (ii) Nội dung Hội thảo nên tập chung ưu tiên bàn kỹ về tính khả thi về kinh tế, đánh giá hiệu quả kinh tế đầy đủ; và (iii) Để tiết kiệm thời lượng cho việc trao đổi đầy đủ có lẽ không nên mời các đối tác nước ngoài tham dự vì có nhiều vấn đề tế nhị và nhậy cảm.

Kinh nghiệm cho thấy tại hội thảo 10/2008 ở Đắk Nông vừa qua, các đối tác nước ngoài chỉ lợi dụng thời lượng của hội thảo để làm marketing và quảng bá cho bản thân họ. Còn trên thực tế họ làm như thế nào thì phía VN (Bộ Cơ khí luyện kim trước kia và TKV ngày nay) đã đi xem, thăm quan, khảo sát gần như khắp TG rồi. Nếu đã mời đối tác nước ngoài, cần mời đầy đủ cả các đối tác cũng đã từng khuyên chúng ta không nên làm ồ ạt như hiện nay (như nhà thầu của Pháp)

Cuối cùng, tôi xin chân thành cám ơn các đ/c đã cho phép tôi có dịp trình bầy ý kiến của mình. Xin kính chúc các đồng chí sức khỏe và hạnh phúc.

Kính thư,

TS. Nguyễn Thành Sơn

—————————————————-

Chính phủ yêu cầu tiếp tục dự án bô-xít Tây Nguyên

19:59′ 17/03/2009

Trong thông báo ra ngày 17/3, Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải yêu cầu Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam (TKV) tiếp tục chỉ đạo chủ đầu tư triển khai các dự án khai thác bô-xít – alumin.

Những rừng thông và đồi chè trước đây đang bị san bằng để xây dựng nhà máy tuyển quặng bô-xít. Ảnh: VNN

Theo yêu cầu của Phó Thủ tướng, các dự án Tổ hợp Bô-xít – nhôm Lâm Đồng, dự án bô-xít và sản xuất alumin Nhân Cơ (Đăk Nông) cần được tiếp tục triển khai theo đúng tiến độ đã đề ra.

Trong quá trình thực hiện, chủ đầu tư cần ưu tiên thực hiện tốt các dự án bảo vệ môi trường tại khu vực khai thác, đồng thời cần xây dựng phương án cụ thể vận chuyển lượng alumin ra cảng biển khi hai nhà máy nêu trên đi vào hoạt động sau năm 2010. Phương án cụ thể sẽ được báo cáo Thủ tướng.

Các Bộ Công thương, Tài nguyên & Môi trường, UBND hai tỉnh Đắk Nông, Lâm Đồng theo dõi, chỉ đạo chặt chẽ quá trình thực hiện dự án để đảm bảo hiệu quả.

Đến nay, Công ty cổ phần Alumin Nhân Cơ (thuộc tập đoàn Than khoáng sản Việt Nam – TKV) đã hoàn tất việc san ủi mặt bằng chuẩn bị khởi công nhà máy luyện oxid nhôm tại xã Nhân Cơ (huyện Đăk Rlấp). Với diện tích 200 hecta, các hạng mục phụ trợ khác như đường vào nhà máy, khu nhà điều hành… cũng đã hoàn thành.

Trước đó, trong công văn số 2728/VPCP-QHQT ra ngày 2/5/2008, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã đồng ý nâng công suất của dự án Nhà máy sản xuất alumin Nhân Cơ lên 600.000 tấn/năm.

Cũng tại thông báo trên, Chính phủ cho phép TKV thành lập công ty cổ phần với sự tham gia của công ty Alumin nước ngoài với mức cổ phần không quá 40%, TKV giữ 51%, bán cổ phần ra công chúng 9%. Hàng năm, công ty cổ phần này nộp ngân sách nhà nước 10% lợi nhuận sau thuế của công ty (thương quyền của Chính phủ Việt Nam đối với mỏ bô-xít).

Theo nguyên tắc trên, TKV có thể mời Tập đoàn luyện kim Vân Nam (Trung Quốc) tham gia vào Dự án Tân Rai (Lâm Đồng) với tỉ lệ không quá 20%.

Về việc hợp tác với Tập đoàn CHALCO (Trung Quốc) phát triển các mỏ 1-5 và mỏ Quảng Sơn: TKV chủ động lập dự án đầu tư trên cơ sở kết quả nghiên cứu tiền khả thi đã có sẵn, báo cáo Thủ tướng.

Về cơ chế hợp tác với Tập đoàn BHP (Anh – Úc), Chính phủ yêu cầu TKV rà soát, làm rõ hơn về cơ sở của cơ chế hợp tác, nhất là việc tập đoàn tham gia hợp tác khai thác, chế biến bô-xít tại Campuchia với tỷ lệ tham gia 10% và việc BHP tham gia liên doanh với TKV với t
ỷ lệ 49%.

Tuy nhiên, đến nay, được biết, TKV và công ty cổ phần Alumin Nhân Cơ đã lên đường sang Trung Quốc để ký hợp đồng xây dựng nhà máy với công ty cổ phần nhôm Trung Quốc CHALCO.

Dự án gây quan ngại

Trao đổi với báo giới tại cuộc gặp mặt đầu xuân 2009, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cũng nhấn mạnh: “Khai thác bô-xít Tây Nguyên là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước, đã được nêu trong Nghị quyết Đại hội X của Đảng. Chính phủ đã phê duyệt một quy hoạch về bô-xít Tây Nguyên với tinh thần là phát triển hiệu quả, bền vững.

Nội lực, tiềm năng đất nước trước hết là con người, thứ hai là đất đai. Hiện nay chúng ta đất chật người đông. Còn khoáng sản không phải là vô tận, trong đó có dầu thô, thép, đồng, kẽm, đá vôi để sản xuất ximăng… nhiều loại khai thác một số năm nữa sẽ không còn. Bây giờ chúng ta đã tìm được là bô-xít, theo tài liệu của Liên Xô để lại trước đây có 8 tỉ tấn, thuộc loại trữ lượng có cỡ của thế giới“.

Trước các tranh luận về việc khai thác bô-xít Tây Nguyên sẽ ảnh hưởng đến môi trường, Thủ tướng cho hay, sẽ chú trọng khai thác hiệu quả, bảo đảm được môi trường, sự phát triển bền vững, bảo đảm an ninh chính trị. “Sắp tới sẽ có hội thảo do Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải chủ trì, trình bày với tất cả các nhà khoa học, các nhà báo về phương án khai thác, công nghệ khai thác để tạo sự đồng thuận“, Thủ tướng nói.

Lê Nhung

http://vietnamnet.vn/chinhtri/2009/03/836606/

—————————————————————————–

đọc thêm ở đây cũng vui 😉
Sunday March 8, 2009 – 07:31am (PDT) Permanent Link

http://blog.360.yahoo.com/blog-3nSnXHoyc6MG6rBbPObhArrRuSj7PxNtyxUSwMmDRQ–?cq=1&p=536

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

Entry for March 17, 2009

Posted by hoangtran204 trên 17/03/2009

không biết post cái gì đây 🙂
Dành chỗ trước lấy ngày

Posted in Uncategorized | 1 Comment »

Bô Xít Tây Nguyên 2009 Phản Đối là Phản Động

Posted by hoangtran204 trên 16/03/2009

Phản Đối Việc Khai thác Bô Xít là Phản Động

7/ Về thái độ tiếp thu ý kiến của TKV: Gần đây tôi nhận được công văn “MẬT” của Đảng ủy Than va Khoáng sản Việt Nam (TKV)) gửi cho cá nhân tôi với nột dung hình như là tôi đang bị mắc lừa các thế lực phản động hay đang chống lại nghị quyết của Đảng vì đã có những phát biểu chống lại các dự án bô-xít của TKV.” Ts. Nguyễn Thanh Sơn

TS. Nguyễn Thanh Sơn: Đăk Nông trước bài toán hậu khai khoáng Bô-xít

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
BÁO CÁO

V/v làm rõ một số ý kiến tại cuộc Tọa đàm về bauxite ngày 20/2/2009
Trân trọng kính gửi:
-đ/c Trương Tấn Sang UV Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư
-đ/c Ngô Văn Dụ Bí thư TW Đảng CSVN, Chánh Văn phòng TW Đảng

Tôi được mời tham gia cuộc Tọa đàm về bauxite do VP TW tổ chức ngày 20/2/2009. Do thời lượng Tọa đàm có hạn, vì chưa có điều kiện phát biểu, chấp hành ý kiến chỉ đạo của đ/c Ngô Văn Dụ- chủ trì Tọa đàm, tôi xin được trình bầy với Ban Bí thư và Văn phòng TW Đảng CSVN một số ý kiến như sau:

1/ Trước hết tôi hoàn toàn đồng tình với đa số các ý kiến tại cuộc Tọa đàm đều cho rằng việc lựa chọn nhà thầu TQ vào Tây Nguyên là một nguy cơ rất lớn đối với an ninh quốc phòng. Trong các tham luận công khai, tôi cũng như các nhà khoa học đều hiểu, nhưng chưa nêu thẳng vấn đề: lựa chọn nhà thầu TQ là một sai lầm cố ý của TKV(Tập đoàn Than và Khoáng sản ).. Tôi xin nói rõ hơn như sau:

-Là cán bộ của TKV, đến nay tôi đã có kinh nghiệm (hiểu rõ cách đấu thầu) qua không ít hơn 6 cuộc đấu thầu quốc tế các dự án nhiệt điện chạy than của TKV khi tôi được giao trực tiếp tham gia (là gíam đốc cty Tư vấn), hay quản lý (là trưởng ban điện lực) và phụ trách (là Tổng giám đốc cty nhiệt điện). Tôi có thể khẳng định, nếu đấu thầu một cách minh bạch, đúng luật, và với tiêu chí là lợi ích tối đa lâu dài của đất nước (chứ không phải của chủ đầu tư) thì không thể có một nhà thầu TQ nào có thể thắng thầu trong bất cứ dự án bauxite nào.

Để chọn được nhà thầu TQ, TKV đã hạ rất thấp các tiêu chuẩn công nghệ trong đấu thầu, đã lựa chọn công nghệ thải bùn đỏ bằng công nghệ “ướt” rất lạc hậu và rất nguy hại cho môi trường mà cả thế giới đã không còn chấp nhận (ngay cả TQ, Nga và Ấn Độ cũng đang chuyển dần các nhà máy của mình từ công nghệ “ướt” sang công nghệ “khô”, các nước ở vùng nhiệt đới có mưa nhiều giống như Tây Nguyên cũng không áp dụng công nghệ này). Đây là một quyết định để dẫn tới việc chỉ các nhà thầu TQ có thể tham gia đấu thầu và có thể chào giá rất thấp (vì TQ đang có sẵn công nghệ, đang cần phải “bán sắt vụn” lại có dịp để “chuyển giao” sang VN).

-Việc nâng công suất nhà máy lên gấp 2 lần so với quy hoạch ban đầu và triển khai đồng loạt cả hai dự án lớn cũng được TKV làm theo “lời khuyên” của nhà thầu TQ, với lý do làm “nhỏ” thì các nhà thầu sẽ không tham gia. Thực tế cho thấy, tuy đã làm “lớn”, nhưng do cố tình lựa chọn công nghệ lạc hậu chỉ có ở TQ, nên cũng chẳng có nhà thầu nào khác (ngoài các nhà thầu TQ) tham gia đấu thầu.
Ngoài ra, tương tự như dự án luyện đồng Sinh Quyền, tiêu chuẩn về chất lượng sản phẩm alumina cũng rất quan trọng. Tôi e ngại rằng (để đấu thầu, giảm chi phí đầu tư), chất lượng sản phẩm alumina do TQ chào sẽ rất thấp để sau này TQ sẽ mua lại với giá rẻ mạt (như hiện đang mua loại đồng của Sinh Quyền). TQ không có công nghệ nguồn về nhôm, cũng phải đi nhập của các nước phát triển, còn sản phẩm alumina của TQ có chất lượng khác nhau và có tiêu chuẩn thấp hơn so với của các nước phát triển.

2/Về ý kiến cho rằng cần phát triển bauxite hơn phát triển cây công nghiệp (của các đ/c Hoàng Sỹ Sơn- phó Chủ tịch UBND tỉnh Lâm Đồng và Phan Tuấn Pha- Bí thư tỉnh ủy Đắk Nông)

Cả hai đ/c đại diện cho Đảng bộ và UBND các tỉnh có dự án bauxite đều phát biểu ủng hộ tiếp tục triển khai các dự án bauxite vì hai lý do chính:
(i) bauxite có lợi thế hơn sản phẩm nông nghiệp (cà phê, chè, điều, cau su) vì giá bán sản phẩm nông nghiệp rất biến động; và
(ii) nếu không khai thác bauxite thì (bauxite vẫn chỉ là đất), 20-30 năm nữa con cháu chúng ta sẽ phê phán chúng ta tại sao không khai thác!.


(i) Trước hết, tôi cho rằng cả hai ý kiến này đều không chính xác, và nếu xem xét kỹ thì đây là những ý kiến phản khoa học, do thiếu thông tin.
Bauxite gắn chặt với vùng đất đỏ bazan trên Tây Nguyên là tài nguyên khoáng sản có hạn, không tái sinh, còn cây công nghiệp là nguồn tài nguyên vô hạn, có tái sinh (nhờ được trồng trên đất bazan tài sản vô giá của quốc gia này). Thế mạnh cạnh tranh cốt lõi của Tây Nguyên là đất đỏ bazan. Phát triển cây công nghiệp góp phần duy trì v
à làm tăng thêm mầu xanh cho môi trường, giảm các nguy cơ như lũ ống, lũ quyét, hạn hán kéo dài, duy trì và phát huy được thế mạnh của đất đỏ bazan. Còn khai thác bauxite sẽ làm mất đi thế mạnh của Tây Nguyên, hủy diệt mầu xanh, làm thay đổi thổ nhưỡng của vùng đất đỏ bazan, làm tăng thêm nguy vơ về hạn hán kéo dài, lũ ống, lũ quyét xẩy ra nhiều hơn. Nếu tiếp tục cho phát triển các dự án bauxite như cách làm hiện nay, về lâu dài cái giá phải trả của VN là không phát triển được cây công nghiệp trên vùng Tây Nguyên (do sẽ thiếu nước ngọt, thổ nhưỡng đất bazan thay đổi) và có nguy cơ còn làm mất và ô nhiễm nguồn nước ngọt để phát triển kinh tế cho các tỉnh vùng hạ lưu (Đồng Nai, Bình Dương, TP. HCM v.v.).


(ii) Giá bán sản phẩm nông nghiệp tuy có biến động nhưng nhu cầu tiêu dùng của cả loài người về cà phê, chè, đều là ổn định, được tiêu thụ ở rất nhiều nước, không có sản phẩm thay thế. Giá bán sản phẩm bauxite biến động rất lớn, nhu cầu của TG cũng thay đổi và chỉ được sử dụng chủ yếu tập trung ở một số nước có ngành chế tạo xe hơi và máy bay như Mỹ, Nhật, Đức, Nga, TQ. Tôi xin cập nhật những thông tin gần đây nhất: giá bán nhôm trên Thị trường Giao dịch Kim loại Luân Đôn (LME) giao động rất lớn,

_giá thấp nhất 1040U$/tấn (1993) và cao nhất lên tới 3249 U$/tấn (2006).
_Chỉ từ tháng 7/2008 đến tháng 10/2008 giá nhôm tại LME đã giảm từ 3300 xuống còn 1885 rồi 1500 U$/tấn.

Theo đánh giá của các chuyên gia về nhôm, hiện nay giá bán hòa vốn đối với 75% các nhà máy phải là 2500U$/tấn trong khi giá thành sản xuất bình quân của thế giới 2700-3200U$/tấn. Vì thế các nước đã và đang tiếp tục cắt giảm sản lượng (chỉ tính riêng năm 2008: TQ đã cắt giảm 18% sản lượng nhôm tương đương với công suất 3,22-3,70 triệu tấn/năm, 10% sản lượng alumina; tập đoàn Alcoa của Mỹ đã giảm 18% sản lượng nhôm tương đương với 3,5 triệu tấn/năm; Brazin giảm tới 40% sản lượng nhôm; Nga- giảm 25%, Tadzickistan (thuộc LX cũ)- 10% v.v.).

Trong các năm tới thị trường và giá bán của sản phẩm bauxite sẽ còn tiếp tục biến động theo chiều hướng xấu đi: dự báo năm 2009, nhu cầu alumina của TQ chỉ có 27,83 tr. tấn, trong khi tổng công suất của các nhà máy sản xuất lên tới 32,97 tr.tấn (thừa 5,14 tr.tấn).
(iii) Về ý kiến (của tỉnh Đắc Nông) cho rằng cần khai thác bauxite ngay bây giờ chứ không để giành cho thế hệ sau, “nếu không khai thác thì bauxite cũng chỉ là đất thôi”: đây cũng là ý kiến phản khoa học và ngắn về tầm nhìn. Tôi xin báo cáo như sau:

-Nếu hiện nay chúng ta sớm phát triển ngành công nghiệp bauxite-nhôm, thì chúng ta phải đối mặt với một bất cập rất lớn không thể vượt qua là thiếu điện giá rẻ. Trên thế giới các nước đều gắn nhôm với thủy điện, vì chỉ có thủy điện mới cho giá rẻ (dưới 3cents/kWh) trong khi tỷ trọng chi phí về điện trong chi phí sản xuất nhôm rất cao (chiếm tới 40-65%). Gần đây, Ngân hàng xuất nhập khẩu TQ đã phải cho vay bù lãi suất tới 2-3%/năm để một công ty nhôm của TQ đầu tư 3,2 tỷ U$ xây dựng nhà máy nhôm ở Mã Lai vì hai lý do:
_(i)Khuyến khích việc đưa các dự án nhôm tiêu hao nhiều điện năng ra nước ngoài (trong khi TQ cũng không phải thiếu điện trầm trọng như VN);
_(ii) Nhà máy nhôm này (do TQ nắm không ít hơn 50%) được quyền mua toàn bộ sản lượng điện của nhà máy thủy diện Bakun công suất 2400MW sẽ được Mã Lai xây dựng ở tỉnh Saravac với giá bán điện chỉ có 2 cents/kWh. Dự án thủy điện này cũng do một tổng công ty nhà nước khác của TQ là Sinohydro xây dựng. Toàn bộ sản phẩm nhôm sẽ được bán lại cho TQ. Các tập đoàn nhôm UC Ruasal (Nga) và Alcoal (Mỹ) cũng coi việc đầu tư vào các nhà máy thủy điện để có được nguồn điện lớn với giá rẻ là ưu tiên số 1 trong hoạt động của mình. Toàn bộ tiềm năng về thủy điện của các tỉnh Tây Nguyên, nếu được khai thác hết cũng chỉ tương đương với dự án nói trên của Mã Lai.

-Nếu sau 20-30 năm nữa chúng ta mới phát triển ngành công nghiệp nhôm, thì con cháu chúng ta sẽ không “phê phán chúng ta là dốt”, như ý kiến của đ/c bí thư tỉnh Đắc Nông, ngược lại, thế hệ mai sau sẽ phải cám ơn chúng ta là đã rất thông minh, có tầm nhìn xa về khoa học công nghệ. Nhân đây tôi xin nói rõ hơn:

+Tại cuộc hội thảo đầu tiên về bauxite ở Đắk Nông tháng 12/2007 do tỉnh Đắt Nông và TKV tổ chức, trong tham luận của mình tôi đã lưu ý đến bom Napal- là một loại bom cháy, có sức hủy diệt cao là một phát minh của Đại học Ha Vớt Hoa Kỳ, rất có hại trong chiến tranh, nhưng rất có ích trong phát triển kinh tế.

+Theo dự báo của các nhà khoa học, sau 20-30 năm nữa, trình độ khoa học công nghệ (trong đó có các công nghệ về hóa-lý) sẽ cho phép chúng ta áp dụng phát minh trên của Đại học Ha Vớt trong việc đảm bảo an ninh năng lượng. Kim loại nhôm sẽ được sử dụng để phát điện (có thể thay cho dầu mỏ, khí đốt và than đá hay uranium đang dần cạn kiệt) với hiệu suất rất cao. Theo tính toán của các nhà khoa học, để sản xuất ra 1 “đơn vị nhôm”, chúng ta cần 1 “đơn vị năng lượng” (đơn vị này hiện nay rất lớn). Nhưng sau 20-30 năm nữa, trình độ công nghệ cho phép thực hiện qui trình ngược lại, từ 1 “đơn vị nhôm” chúng ta có thể sản xuất ra được gần 2 “đơn vị năng lượng” dựa trên nguyên lý hoạt động của bom Napal (phản ứng ô xy hóa của kim loại nhôm tinh khiết cho phép chúng ta thu được một lượng nhiệt rất lớn).


+Ngoài ra hiện nay ô xít nhôm Al2O3 (là alumina- sản phẩm của các dự án bauxite Tây Nguyên để xuất khẩu) mới chỉ được dùng làm nguyên liệu thô cho ngành luyện nhôm và sản xuất một số hóa chất đơn giản khác. Nhưng trong tương lai, cũng như các loại ô xít kim loại khác sẽ được sử dụng để khử khí thải CO2 trong các nhà máy nhiệt điện để thu được khí CO (là một
dạng khí cháy, có nhiệt năng cao) có thể tái sử dụng lại ngay cho chính các nhà máy nhiệt điện hay cho các lò hơi công nghiệp. Trên thế giới hiện nay đã có rất nhiều thành tựu (bản quyền và bí quyết công nghệ) trong vấn đề này (chủ yếu cũng là của Mỹ).


+Trên quan điểm khoa học và công nghệ, Đảng ta đã rất sáng suốt khi trong Báo cáo chính trị của Đại hội X đã bỏ cụm từ “khai thác bô-xít và sản xuất alumin” ra khỏi danh mục các sản phẩm cần được hỗ trợ đầu tư phát triển, thay vào đó, đã khẳng định “Khẩn trương thu hút vốn trong và ngoài nước để đầu tư thực hiện một số dự án quan trọng về khai thác dầu khí, lọc dầu và hóa dầu, luyện kim, cơ khí chế tạo, hóa chất cơ bản, phân bón, vật liệu xây dựng. Có chính sách hạn chế xuất khẩu tài nguyên thô”. Tôi cho rằng, ý kiến của đ/c Bí thư tỉnh Ủy Đắk Nông tại cuộc Tọa đàm là không có tính khoa học và càng không phù hợp với tinh thần Nghị quyết Đại hội X của Đảng.

3/Về ý kiến cho rằng công nghệ của TQ là tốt: Tại cuộc Hội thảo do Liên hiệp các hội KHKT VN (VUSTA) tổ chức ngày 19/1/1009 vừa qua, trong Báo cáo của mình tôi đã nêu rõ một ví dụ về công nghệ lạc hậu, không hiệu quả (công nghệ luyện đồng) mà TQ mới chuyển giao cho TKV trong dự án đồng Sinh Quyền gần đây. Tôi cho rằng không cần nhắc lại. Nhân đây tôi chỉ muốn nhấn mạnh thêm: Những nhà máy alumina phía Nam TQ (mà TKV đã tổ chức cho một số cán bộ ngoài TKV đi thăm quan) sử dụng loại bô xít (sa khoáng) khác hẳn với bô xít của Tây Nguyên (phong hóa) về nguồn gốc. Quá trình sản xuất alumina thực chất là các quá trình hóa-lý. Việc lựa chọn công nghệ phải dựa trên kết quả phân tích về thành phần thạch học và thành phần hóa học của quặng chứ không thể sao chép “copy” và đánh giá công nghệ bằng mắt thường. Ngoài ra, chất lượng quặng bauxite của VN (tuy chưa có được đánh giá chi tiết, nhưng) căn cứ vào các thông tin hiện có, thì không cao, đòi hỏi phải tuyển để nâng cao chất lượng trước khi áp dụng công nghệ Bayer.

4/ Về ý kiến cho rằng khai thác bauxite sẽ góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế và không chiếm nhiều đất canh tác của các tỉnh Tây Nguyên:

-Trước hết, về kinh tế, các nhà khoa học đều khẳng định điều ngược lại. Rất may, lần nào, theo báo cáo tại cuộc Tọa đàm của chính đ/c Hoàng Sỹ Sơn- phó Chủ tịch tỉnh Lâm Đồng, các dự án bauxite hàng năm chỉ đóng góp 120-150 tỷ đồng cho ngân sách địa phương chứ không phải 1500-2000 tỷ (được phóng đại lên 10 lần) như trả lời trên báo của đ/c Chủ tịch tỉnh Đắk Nông. Thực ra mức đóng góp này là không tương xứng so với số tiền rất lớn VN phải đi vay để đầu tư, và thấp hơn nhiều nếu chúng ta đầu tư vào mục đích khác, không phải là bauxite.

-Về diện tích chiếm đất, tuy diện tích không lớn so với toàn vùng lãnh thổ của Tây Nguyên, nhưng diện tích đất bị các dự án chiếm dụng vĩnh viễn lại là những nơi có giá trị canh tác cao, và (theo báo cáo của sở TNMT Đắk Nông) lớn hơn nhiều lần diện tích được tạo ra hàng năm (so với thành tích mở rộng khai hoang, trồng rừng) của các địa phương này.

5/Về nội dung bức thư của Đại tướng Võ Nguyên Giáp: tôi cho rằng ý kiến của đ/c Chủ tịch VUSTA (Hồ Uy Liêm) nêu trong Tọa đàm (đã không đại diện cho các nhà khoa học) là rất khiếm nhã. Tôi nghĩ cá nhân đ/c Hồ Uy Liêm cần chính thức xin lỗi Đại tướng về lời phát biểu gây nghi ngờ nội dung bức thư.

Tôi hoàn toàn ủng hộ và thêm cảm phục Đại Tướng về bức thư đầy tâm huyết và đầy trách nhiệm đó. Bản thân tôi đã từng làm đại diện cho Bộ Mỏ và Than của VN làm việc tại Ban Thư ký của COMECON trong cùng thời gian phía Chính Phủ VN đưa dự án bô-xít Tây Nguyên vào Chương trình hợp tác đa biên của COMECON (ngoài tôi, khi đó còn có nhiều người khác chứng kiến như các anh Dương Đức Ưng- đại diện cho Bộ Cơ khí Luyện Kim (nay là Bộ Công thương), Lê Dũng- đại diện cho UB KHKT (nay là Bộ Khoa học công nghệ) v.v.). Chúng tôi có đủ thông tin và điều kiện để tìm hiểu dự án này. Những vấn đề Đại tướng đã nêu trong thư là hoàn toàn chính xác. Khi đó (và cả bây giờ), Liên Xô và các nước thành viên COMECON rất cần bô-xít của VN để luyện nhôm cung cấp cho ngành chế tạo xe hơi, máy bay, và trang thiết bị quân sự-quốc phòng. Liên Xô (cũ) không cần chè của VN (khi đó người dân LX chỉ dùng chè của Ấn Độ hay của Srilanca), mà chỉ cần bô-xit của VN, những vẫn khuyên VN không phát triển dự án bô-xít mà phát triển các nông trường chè.

6/Về nhiều ý kiến cho rằng bài tham luận của TKV là “rất hay nhưng khó tin”. Nhân đây, tôi cũng xin bình luận thêm như sau:

-Trước hết, có thể thống nhất một điều là: VN lần đầu tiên triển khai các dự án bauxite, chưa có kinh nghiệm thực tế, nên những vấn đề đang được nêu ra đều chỉ nằm trên giấy (kể cả nhận định của Bộ Công thương, hay cam kết của TKV), còn dừng ở mức độ lý thuyết, dựa trên các thông tin trên TG (của các nhà khoa học) đều chưa được thực tế chứng minh đúng/sai . Điều có thể ai cũng đã nhận ra là tính rủi ro (về mọi mặt: công nghệ, kỹ thuật, môi trường, an ninh, quốc phòng, v.v…) trên thực tế quá cao, còn những giải pháp mới chỉ là “khẩu hiệu”.

-Bản thân tôi là một cán bộ làm việc ở TKV từ khi TKV mới được thành lâp đến nay (hiện nay tôi được giao giữ chức Giám đốc Công ty Năng lượng Sông Hồng -TKV, là chi nhánh của TKV tại Hưng Yên để phát triển bể than Đồng bằng sông Hồng), tôi cũng cho rằng những “giải ph
áp” của TKV không có cơ sở khoa học, mới chỉ dừng lại ở mức độ nói về vấn đề bùn đỏ ( có độ pH cao), TKV cam kết là không nguy hại, có thể xử lý được. Nhưng, như trên tôi đã nêu, bùn đỏ sẽ ít nguy hiểm khi được xử lý bằng công nghệ thải “khô”, còn với công nghệ thải “ướt” như TKV và các nhà thầu TQ đang áp dụng ở Tây Nguyên (chất lỏng 54,4%, chất rắn 45,6%) thì lại rất nguy hại bởi các lý do sau: (i) “Khô” có nghĩa là ít chất sút ăn da lẫn trong bùn đỏ; (ii) Nếu thải “khô”, các thành phần cỡ hạt khác nhau của bùn đỏ sẽ đông cứng lại thành chất rắn, ít nguy hại nếu bị trôi lấp. Còn “ướt” thì dung dịch bùn đỏ sẽ phân ly thành nhiều pha với các cỡ hạt khác nhau, trong đó có pha cỡ hạt siêu nhỏ gồm các kim loại nặng độc hại sẽ ngấm xuống đất, còn các pha cỡ hạt lớn lại không thể liên kết lại với nhau khi gặp mưa rất nguy hiểm, dễ bị trôi lấp; (iii) Với công nghệ “khô” thì các đập chắn của các hồ bùn đỏ không phải chịu lực, chỉ có chức năng “chắn”. Ngược lại, với công nghệ thải “ướt”, các đập của hồ bùn đỏ (theo lựa chọn của TKV cao tới 25m, dài 282m, nằm trên độ cao 850m so với mực nước biển) sẽ giống như các đập hồ thủy điện, phải chịu lực do áp lực thủy tĩnh của bùn đỏ ướt tạo ra, nên kém an toàn.

-TKV nói sẽ rất coi trọng vấn đề xử lý vấn đề bùn đỏ theo tiêu chuẩn quốc tế. Tuy nhiên trên thực tế, vì lợi ích của chủ đầu tư, các thiết kế hồ bùn đỏ đều lấy theo tiêu chuẩn GB của TQ. Với qui mô hồ thải bùn đỏ lớn như của TKV (rộng 116ha), các nước trên thế giới phải đầu tư hàng trăm triệu US$, trong khi hồ bùn đỏ của TKV do TQ thiết kế có mức đầu tư ít hơn nhiều lần. Thực tế các dự án nhiệt điện của TKV do các nhà thầu TQ thực hiện đã cho thất, các tiêu chuẩn GB của TQ thường thấp hơn nhiều so với của các nước khác, trong khi đó các nhà thầu TQ thường hay “nói một đằng làm một nẻo”, càng không ai dám tin.

-Vấn đề hoàn thổ và bảo vệ môi trường trong khai thác bauxie: mọi người đều hiểu rất rõ thực trạng môi trường của vùng Quảng Ninh hiện nay như thế nào ?

-Một điều nữa không thể khÔng làm các đại biểu nghi ngờ là:

(i) Tác giả của những bài trình diền, tham luận đó của TKV là anh Nguyễn Chí Quang – người đã từng bị Thanh tra Chính Phủ yêu cầu TKV buộc thôi việc trong dịp Thanh tra CP làm việc với TVN năm 1999-2000. Sau khi bị sa thải, thời gian gần đây, anh Quang lại (được) đích thân Chủ tịch HĐQT TKV nhận làm “cố vấn riêng” cho cá nhân Chủ tịch HĐQT.
Mặc dù vậy, trong các giao dịch, anh Quang vẫn tự coi mình là cố vấn của HĐQT TKV, cũng có mặt cùng Chủ tịch HĐQT để báo cáo trong nhiều cuộc hội thảo và công khai phát biểu dưới tư cách là “đại diện cho TKV”;

(ii) Các chuyên gia giỏi có kinh nghiệm và trình độ thực sự về bauxie-nhôm trước đây (khi làm việc với COMECON, như Hoàng Kim Phú, Tô Ngọc Thái, Nguyễn Hoàng Ban v.v.) thì không được TKV sử dụng, trong khi TKV lại tích cực sử dụng một kỹ sư đã về hưu là Dương Thanh Sùng – người được đánh giá (công khai tại hội thảo của VUSTA) là chỉ thuộc loại “chai lọ” trong lĩnh vực bauxite-nhôm. Chính vì sự mật mờ này đã làm cho nhiều người (ngay cả trong TKV và cả bản thân Đại tướng) không thể tin cậy vào những gì “TKV nói”.

7/ Về thái độ tiếp thu ý kiến của TKV: Gần đây tôi nhận được công văn “MẬT” của Đảng ủy TKV gửi cho cá nhân tôi với nột dung hình như là tôi đang bị mắc lừa các thế lực phản động hay đang chống lại nghị quyết của Đảng vì đã có những phát biểu chống lại các dự án bô-xít của TKV. Tôi rất bất bình về nội dung công văn này. TKV không những không tiếp thu ý kiến của tôi (trong khi TKV chưa có ý kiến nào để phản bác và dư luận rộng rãi đều đồng tình ủng hộ ý kiến của tôi”, nhưng Đảng ủy TKV lại có văn bản mang tính răn đe theo kiểu “cả vú lấp miệng em” như vậy là không thể chấp nhận được. Nhân đây, tôi xin chính thức báo cáo với Ban Bí thư cũng như VP TW Đảng về vấn đề này như sau:

-Từ trước khi thủ tướng phê duyệt quy hoạch bô-xít, tôi đã viết nhiều bài báo khoa học phân tích tính không khả thi của các dự án bauxite đăng trên các tạp chí của VN. Sau khi Thủ tướng ban hành Quyết định số 167/2007/QĐ-TTg ngày 01/11/2007, tôi đuợc mời tham luận tại cuộc Hội thảo đầu tiên ở Đắk Nông (12/2007) đến nay, tôi (tuy đang hưởng lương do TKV trả) vẫn đã và đang chính thức phát biểu công khai, minh bạch ý kiến của cá nhân tôi với tư cách là một cán bộ KHKT phản đối việc triển khai các dự án bauxite trên Tây Nguyên.

-Đây không phải là lần đầu tiên tôi phải đối các việc làm của TKV hay của Bộ Năng lượng (cũ). Những ý kiến phản đối của tôi trước đây được cho là “trái” với các quyết định của TKV, và của Bộ NL đến nay đều được thời gian chứng minh là hoàn toàn đúng đắn (như việc chấm thầu không đúng của dự án điện Na Dương, việc sửa đổi hồ sơ mời thầu có lợi cho nhà thầu trong các dự án điện, việc di chuyển nhà sàng Hòn Gai ra địa điểm Nam Cầu trắng, việc gia tăng qua mức sản lượng than của các mỏ để xuất khẩu cho TQ, v.v..)

-Cũng chính vì “trung ngôn thì nghịch nhĩ” tôi đã từng “được” TKV “xử lý” theo cách áp đặt cho luân chuyển công tác theo tiêu chí việc gì đang làm tốt thì không cho làm nữa, giao cho việc mới khó hơn, để nhường chỗ cho những “chung thần” chỉ biết làm theo.

-Bản thân tôi, là một cán bộ KHKT được Đảng và Nhà nước ưu tiên cho đi đào tạo nhiều lần ở nước ngoài, là một Đảng viên ĐCSVN (tôi được kết nạp tại chi bộ Vụ Kế hoạch Bộ Mỏ và Than từ 1983), tôi luôn sống và làm việc theo hiến pháp và pháp luật, đúng lương tri, phục vụ suốt đời cho sự nghiệp của Đảng và dân tộc, chứ không phải chỉ biết làm theo ý đồ và phục vụ cho lợi í
ch của một nhóm người. Bố đẻ tôi là Đảng viên, cán bộ tiền khởi nghĩa, Huân chương kháng chiến hạng Nhất và hạng Ba, Huy hiệu 60 năm tuổi đảng, Huy hiệu các chiến sỹ bị địch bắt tù đầy đã giáo dục tôi hiểu rõ thế lực phản động là ai và mình cần phải làm gì?.

-Tôi không cần phải được Đảng Ủy TKV nhắc nhở về việc tôn trọng pháp luật, trong khi TKV đã cố tình lợi dụng cơ quan ngôn luận của mình (Tạp chí Than-Khoáng sản VN) để công khai vi phạm Luật báo chí, tung tin sai sự thật, bôi nhọ danh dự của tập thể công ty do tôi phụ trách (đúng vào dịp tôi đang bận dự thảo về bauxite ở Đắk Nông)

8/ Về Hội thảo sắp tới do Chính Phủ sẽ tổ chức:
(i) Tôi cho rằng cần được chuẩn bị kỹ và phải có đủ thời lượng cần thiết, tạo được tính công khai, dân chủ, tránh hình thức vội chụp mũ; (ii) Nội dung Hội thảo nên tập chung ưu tiên bàn kỹ về tính khả thi về kinh tế, đánh giá hiệu quả kinh tế đầy đủ; và (iii) Để tiết kiệm thời lượng cho việc trao đổi đầy đủ có lẽ không nên mời các đối tác nước ngoài tham dự vì có nhiều vấn đề tế nhị và nhậy cảm.

Kinh nghiệm cho thấy tại hội thảo 10/2008 ở Đắk Nông vừa qua, các đối tác nước ngoài chỉ lợi dụng thời lượng của hội thảo để làm marketing và quảng bá cho bản thân họ. Còn trên thực tế họ làm như thế nào thì phía VN (Bộ Cơ khí luyện kim trước kia và TKV ngày nay) đã đi xem, thăm quan, khảo sát gần như khắp TG rồi. Nếu đã mời đối tác nước ngoài, cần mời đầy đủ cả các đối tác cũng đã từng khuyên chúng ta không nên làm ồ ạt như hiện nay (như nhà thầu của Pháp)

Cuối cùng, tôi xin chân thành cám ơn các đ/c đã cho phép tôi có dịp trình bầy ý kiến của mình. Xin kính chúc các đồng chí sức khỏe và hạnh phúc.

Kính thư,
TS. Nguyễn Thành Sơn

nguồn: Tác Giả Đàn Chim Việt

————————————————————

Chính phủ yêu cầu tiếp tục dự án bô-xít Tây Nguyên
19:59′ 17/03/2009 (GMT+7)

– Trong thông báo ra ngày 17/3, Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải yêu cầu Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam (TKV) tiếp tục chỉ đạo chủ đầu tư triển khai các dự án khai thác bô-xít – alumin.

Những rừng thông và đồi chè trước đây đang bị san bằng để xây dựng nhà máy tuyển quặng bô-xít. Ảnh: VNN

Theo yêu cầu của Phó Thủ tướng, các dự án Tổ hợp Bô-xít – nhôm Lâm Đồng, dự án bô-xít và sản xuất alumin Nhân Cơ (Đăk Nông) cần được tiếp tục triển khai theo đúng tiến độ đã đề ra.

Trong quá trình thực hiện, chủ đầu tư cần ưu tiên thực hiện tốt các dự án bảo vệ môi trường tại khu vực khai thác, đồng thời cần xây dựng phương án cụ thể vận chuyển lượng alumin ra cảng biển khi hai nhà máy nêu trên đi vào hoạt động sau năm 2010. Phương án cụ thể sẽ được báo cáo Thủ tướng.

Các Bộ Công thương, Tài nguyên & Môi trường, UBND hai tỉnh Đắk Nông, Lâm Đồng theo dõi, chỉ đạo chặt chẽ quá trình thực hiện dự án để đảm bảo hiệu quả.

Đến nay, Công ty cổ phần Alumin Nhân Cơ (thuộc tập đoàn Than khoáng sản Việt Nam – TKV) đã hoàn tất việc san ủi mặt bằng chuẩn bị khởi công nhà máy luyện oxid nhôm tại xã Nhân Cơ (huyện Đăk Rlấp). Với diện tích 200 hecta, các hạng mục phụ trợ khác như đường vào nhà máy, khu nhà điều hành… cũng đã hoàn thành.

Trước đó, trong công văn số 2728/VPCP-QHQT ra ngày 2/5/2008, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã đồng ý nâng công suất của dự án Nhà máy sản xuất alumin Nhân Cơ lên 600.000 tấn/năm.

Cũng tại thông báo trên, Chính phủ cho phép TKV thành lập công ty cổ phần với sự tham gia của công ty Alumin nước ngoài với mức cổ phần không quá 40%, TKV giữ 51%, bán cổ phần ra công chúng 9%. Hàng năm, công ty cổ phần này nộp ngân sách nhà nước 10% lợi nhuận sau thuế của công ty (thương quyền của Chính phủ Việt Nam đối với mỏ bô-xít).

Theo nguyên tắc trên, TKV có thể mời Tập đoàn luyện kim Vân Nam (Trung Quốc) tham gia vào Dự án Tân Rai (Lâm Đồng) với tỉ lệ không quá 20%.

Về việc hợp tác với Tập đoàn CHALCO (Trung Quốc) phát triển các mỏ 1-5 và mỏ Quảng Sơn: TKV chủ động lập dự án đầu tư trên cơ sở kết quả nghiên cứu tiền khả thi đã có sẵn, báo cáo Thủ tướng.

Về cơ chế hợp tác với Tập đoàn BHP (Anh – Úc), Chính phủ yêu cầu TKV rà soát, làm rõ hơn về cơ sở của cơ chế hợp tác, nhất là việc tập đoàn tham gia hợp tác khai thác, chế biến bô-xít tại Campuchia với tỷ lệ tham gia 10% và việc BHP tham gia liên doanh với TKV với tỷ lệ 49%.

Tuy nhiên, đến nay, được biết, TKV và công ty cổ phần Alumin Nhân Cơ đã lên đường sang Trung Quốc để ký hợp đồng xây dựng nhà máy với công ty cổ phần nhôm Trung Quốc CHALCO.

Dự án gây quan ngại

Trao đổi với báo giới tại cuộc gặp mặt đầu xuân 2009, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cũng nhấn mạnh: “Khai thác bô-xít Tây Nguyên là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước, đã được nêu trong Nghị quyết Đại hội X của Đảng. Chính phủ đã phê duyệt một quy hoạch về bô-xít Tây Nguy
n với tinh thần là phát triển hiệu quả, bền vững.

Nội lực, tiềm năng đất nước trước hết là con người, thứ hai là đất đai. Hiện nay chúng ta đất chật người đông. Còn khoáng sản không phải là vô tận, trong đó có dầu thô, thép, đồng, kẽm, đá vôi để sản xuất ximăng… nhiều loại khai thác một số năm nữa sẽ không còn. Bây giờ chúng ta đã tìm được là bô-xít, theo tài liệu của Liên Xô để lại trước đây có 8 tỉ tấn, thuộc loại trữ lượng có cỡ của thế giới“.

Trước các tranh luận về việc khai thác bô-xít Tây Nguyên sẽ ảnh hưởng đến môi trường, Thủ tướng cho hay, sẽ chú trọng khai thác hiệu quả, bảo đảm được môi trường, sự phát triển bền vững, bảo đảm an ninh chính trị. “Sắp tới sẽ có hội thảo do Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải chủ trì, trình bày với tất cả các nhà khoa học, các nhà báo về phương án khai thác, công nghệ khai thác để tạo sự đồng thuận“, Thủ tướng nói.

Tập Trung Tất cả các bài và hình ảnh về việc Trung Quốc khai thác bô- xít ở Bảo Lâm, Lâm Đồng, và Đắc Nông để dễ tham khảo.

Vì mục đích tìm hiểu và tham khảo, bạn nào phát hiện những bài viết, hình ảnh về chủ đề bô-xít thì báo tin cho TH biết nhé. Thanks.

1./ Đông A Thị; SOS Bảo Lâm
http://au.blog.360.yahoo.com/blog-Lc2MB8YlaaeYVcyDEREjwVU-?cq=1&p=2325

2./ GTC ; Bô xít Tây Nguyên, 1 dự án không thể dừng !

http://blog.360.yahoo.com/blog-STaS.dwjfqf6NQiqloFynoRgBuJV0Shbmw–?cq=1&p=50#comments

3./Thiện Giao; Vụ bô-xít: Ai đã quyết định, và ai sẽ phủ quyết?

http://banconong.com/index.php?view=story&subjectid=2032

4./ X- cafe; Dự án “Dội bom nguyên tử” xuống Tây Nguyên!

http://www.x-cafevn.org/forum/showthread.php?p=289345

5./ Change We Need; Bô-xít Tây Nguyên – ông Mạnh, ông Dũng và Tướng Giáp

http://blog.360.yahoo.com/blog-
3nSnXHoyc6MG6rBbPObhArrRuSj7PxNtyxUSwMmDRQ–?cq=1&p=608

Posted in Uncategorized | 5 Comments »

Currency, Economy Between China and US 2003

Posted by hoangtran204 trên 15/03/2009

Economic Relations between the United States and China and

China’s Role in the Global Economy

John B. Taylor

Under Secretary of Treasury for International Affairs

Committee on Ways and Means

House of Representatives

October 30, 2003

Chairman Thomas, Ranking Member Rangel, Members of the Committee, thank you for giving me the opportunity to testify on economic relations between the United States and China and on China’s role in the global economy.

International Economic Strategy

Our economic relations with China are an important part of our overall economic strategy. The goal of that strategy is to strengthen the current economic recovery and establish conditions that will lead to a long economic expansion in the United States. The economic expansions of the 1980s and the 1990s were the first and second longest peacetime expansions in American history, and with the right policies there is no reason to expect that the current expansion will not be as long or longer. The Jobs and Growth package enacted into law this summer, is an essential part of the policy, as are the President’s proposals for tort reform, regulatory reform, and health care reform.

But even with these policy reforms in the United States there are barriers to economic growth in other countries. And these barriers have ramifications for economic growth in the United States. This is why the international component of our economic strategy is so important.

The strategy has been to urge the removal of rigidities and barriers wherever they exist, and to encourage pro-growth and pro-stability policies that benefit the United States and the whole world. The international strategy is built on bilateral economic relationships, including, of course, our relationship with China. It also has a multilateral foundation, including the meetings of groups such as the G-20, where China is included, or the newly established talks between economic officials from China and the G-7.

Global Economic Recovery

Thanks to the recent fiscal and monetary policy actions, the United States economy is now expanding much more rapidly. Consumer spending is growing at a very strong pace, housing remains solid, and business investment is picking up. The latest data also show exports to be gaining strength compared with the first half of the year. The September employment data showed a promising increase in jobs as well.

Global growth is also improving. There is continuing evidence of stronger economic growth in the Japan, Canada, and the United Kingdom. An increase in business and consumer confidence in the Euro area is a welcome sign that economic recovery is on the way there too. Much of Asia seems to have bounded back from the SARS induced slowdown in the first part of the year. Growth in China recovered sharply in the third quarter following a decline in the second quarter. Growth in other emerging markets is also picking up as the number of crises is down, capital flows are up, and interest rate spreads are low compared with the late 1990s

Pressing Ahead on the Global Economic Expansion

Despite this progress, we need to do more. Last month the G7 launched a new Agenda for Growth. For the first time each G7 country will take part in a process of benchmarking and reporting actions to spur growth and create jobs. Another example is the new United States-Brazil Group for Growth through which we will work together to identify pro-growth strategies at the micro as well as macro levels. Exchange rate policy also has bearing on growth and stability. Earlier today the Treasury issued its latest Report on International Economic and Exchange Rate Policies. This report examines exchange rate policies in major countries around the world. The Report reiterated our view that flexible exchange rates are desirable for large economies. However, the report documents that a number of countries continued to use pegged exchange rates and/or to intervene substantially in the foreign exchange market. The Administration strongly believes that a system of flexible, market-based exchange rates is best for major economies. For this reason, the Bush Administration is aggressively encouraging our major trading partners to adopt policies that promote flexible market-based exchange rates combined with a clear price stability goal and a transparent system for adjusting the policy instruments.

The move by several large emerging market countries—such as Brazil, Korea, and Mexico—to flexible exchange rates combined with clear price stability goals and a transparent system for adjusting the policy instruments is one of the reasons we are seeing fewer crises and greater stability. We emphasize that the choice of an exchange rate regime is one where country ownership is particularly important. We also recognize that, especially in the case of small open economies, there are benefits from a “hard” exchange rate peg, whether dollarizing, as with El Salvador, joining a currency union, as with Greece, or using a credible currency board, as in Bulgaria.

The Economy of China and its Links to the United States and the Global Economy

Let me now address China’s economy. Economic reforms in China have increased economic growth and transformed China into a major economy in the world, both in terms of total production and in terms of purchases and sales of goods with the rest of the world. Yet, with per capita income of only about $1,000 per year and with financial, legal and regulatory systems in need of reform, China still faces challenges in its effort to catch up with developed economies.

China’s global current account surplus was under 3 percent of GDP in 2002 and declined to 1.8 percent in the first half of 2003. Despite the relatively small overall surplus, China has a large trade surplus with the United States. This means, of course, that China has a large deficit with the rest of the world. China’s bilateral trade surplus with the United States was $103 billion in 2002 while China’s trade deficit with the rest of the world was about $73 billion, leaving an overall surplus of $30 billion. Many imports from China are goods from other Asian economies that are processed or finished off in China before shipping to the United States and other countries. Other East Asian economies increasingly send goods to China for final processing before they are shipped to the United States. China accounted for 11 percent of U.S. imports in 2002, up from 3 percent in 1990. Meanwhile, the combined share of Japan, Korea and Taiwan in U.S. imports declined to 17 percent from 27 percent over the same period. Thus, the total share of U.S. imports coming from these four Asian countries has remained steady since 1990, actually falling slightly from 30 percent to 29 percent.

U.S. imports from China are about 1 percent of U.S. GDP, or 11 percent of total U.S. imports. U.S. imports from China have been increasing rapidly, between 20 and 25 percent in 2002 and 2003. In general, these imports result from China using low-skilled labor to assemble and process imported parts and materials originating in other countries-mostly from other Asian countries that have traditionally exported directly to the United States. Consequently, the share of U.S. imports from these other countries has declined just as China’s share has increased. Asia’s share of U.S. imports has declined slightly. Much of the increase in U.S. imports from China has come at the expense of imports that once came directly from other Asian countries.

At the same time, U.S. merchandise exports to China grew 21 percent in the first 8 months of this year. Growth has been especially rapid in recent years for U.S. exports to China of transportation equipment (including aircraft engines), machinery, chemicals, and semiconductors.

The U.S. trade deficit with China should be viewed in the context of the overall trade deficit of the United States. The U.S. trade deficit is spread across many countries of the world in addition to China. For instance, the overall trade deficit reached $468 billion last year with 1) the Americas accounting for $105 billion, 2) Western Europe $89 billion, 3) Japan $70 billion, and 4) China $103 billion. The U.S. overall trade and current account deficit is best understood in terms of the gap between investment and saving in the United States. If this gap were reduced through an increment in savings, the overall deficit could shrink as would the size of the bilateral deficits. Increased growth abroad is also crucial to increasing U.S. exports.

China’s Exchange Rate Regime

For nearly ten years now, the Chinese have maintained a fixed exchange rate for their currency relative to the dollar. The rate has been pegged at about 8.28 yuan/dollar for the entire period. Thus, as the dollar has appreciated or depreciated in value relative to other currencies, such as the euro or the yen, the yuan has appreciated or depreciated by the same amount relative to these other countries.

To maintain this fixed exchange rate, the central bank of China has had to intervene in the foreign exchange market. It sells yuan in exchange for dollar denominated assets when the demand for the yuan increases and it buys yuan with dollar denominated assets when the demand for the yuan decreases. Recently the central bank has intervened very heavily in the markets to prevent the yuan from appreciating. Since the end of 2001, dollar buying has been so great that the foreign reserves held by the Chinese government have risen by $171 billion to $384 billion (as of end-September).

This accumulation of foreign exchange reserves would tend to expand China’s money supply, although in recent months the Chinese central bank has moved to reign in monetary expansion. Among other measures to sterilize reserve accumulation, the central bank has—for the first time—begun issuing central bank paper to restrict growth of the monetary base. Nevertheless, the broader money supply continues to grow very rapidly: M2 climbed 21 percent over the 12 months ending in September 2003.

It is also important to recognize that China still has significant capital controls. China’s capital controls allow for more inflows than outflows, thus bolstering foreign exchange reserves. China is gradually loosening some controls, and outflows are likely to grow as new channels develop for Chinese to seek diversification and better returns than those offered by low domestic interest rates. Indeed, there is already significant leakage of capital. A relaxation of controls on outflows would reduce upward pressure on the yuan.

Economic Relations between the United States and China

With its rapid growth and substantial foreign exchange reserves, China is now in a position to show leadership on the important global issue of exchange rate flexibility. China represents one of the largest economies in the world, and a flexible exchange rate regime would be a good policy for China. It would allow China to open the nation to capital flows and reduce macroeconomic imbalances. We have been urging China to move to a flexible exchange rate.

We have also urged the Chinese to move forward in two other areas: reductions in barriers to trade and capital flows. In the area of trade, it is important for China to fully implement, and even surpass, the commitments it made to the World Trade Organization. It is important that China continue to open markets to U.S. services, agricultural and industrial products, and to effectively enforce intellectual property laws.

China’s restrictions on capital flows are one of the major rigidities interfering with market forces. The authorities understand this and are beginning to reduce barriers to capital flows and develop more open and sophisticated capital markets. They are also working to strengthen the banking system and liberalize capital flows in order to prepare for a more flexible exchange rate.

Secretary Snow traveled to Beijing last month to urge further progress. He met Premier Wen, Vice Premier Huang, Central Bank Governor Zhou, and Finance Minister Jin. He met again with the Finance Minister and Central Bank Governor last week in Mexico.

President Bush recently met with President Hu. He discussed each of these economic issues. He stressed the importance of reducing barriers to trade, of removing restrictions on the transfer of capital, and of moving to a flexible, market-based, exchange rate. Recently, both Secretary Evans and US Trade Representative Robert Zoellick traveled to China to stress the importance market opening, especially in the area of trade in goods and services. In an important recent development, Vice Premier Huang has accepted an invitation to come to the United States to engage in high-level talks with Secretary Snow.

All of Secretary Snow’s meetings have been detailed and candid. He stated publicly, “the establishment of flexible exchange rates, of a flexible exchange rate regime, would benefit both our nations as well as our regional and global trading partners.” The Chinese reported that they intend to move to a market-based flexible exchange rate as they open the capital account. The central bank governor stated publicly that reform of the exchange rate regime is a central part of their foreign exchange reforms.

Secretary Snow’s visit to Beijing achieved significant progress, including new policy announcements by China’s central bank; liberalized regulations for foreign firms managing their foreign exchange; and significantly liberalized provisions to allow Chinese travelers to take foreign currency out of the country and to do so more frequently. The United States will continue to urge the Chinese to make rapid progress in these areas.

We intend to continue both technical work and high-level talks and on this subject. We have just established a United States-China Technical Cooperation Program in the financial area that will help China develop its financial market infrastructure, including the foreign exchange market.

The Chinese and the G7 agreed to engage in talks about these economic issues. This represents another example of how China, the United States and other affected parties can come together to work on an issue of vital interest to them all. The first meeting between senior officials from the G-7 and China’s finance ministry and central bank took place in September in Dubai, where the Chinese economy, the G7 economies, and other economic issues, were discussed. Further meetings will be scheduled on a regular basis with China, the United States and the other G7 countries. After the Dubai meeting, China’s central bank representative said that China is moving as fast as it can in its reform.

Conclusion

I am pleased to report that our economic strategy is showing progress: global economic growth is accelerating, led by an even stronger acceleration of economic growth in the United States. Our efforts to engage in financial diplomacy are generating constructive responses, though much more needs to be done. Active engagement with China and other countries is paving the way toward freer markets. The Administration’s effort to raise growth in the United States and abroad, and thereby create jobs at home is succeeding.

—————————————

2005

China’s yuan revaluation a response to increased US pressure

By John Chan
29 July 2005

Last week’s decision by the Chinese central bank to revalue the yuan by 2 percent against the US dollar reflected two sets of pressures operating on the Chinese government.

On the one hand it was aimed at deflecting US demands, especially from the Congress, that China revalue its currency or face retaliatory tariffs. On the other, the small size of the revaluation reflected concerns within Chinese financial circles that too rapid a movement could have adverse consequences for the banking system.

With the small increase having virtually no effect on the US trade deficit with China, the governor of the People’s Bank of China, Zhu Xiaochuan, held out the prospect that the increase was an “initial adjustment”.

The Chinese currency has been pegged to the greenback at 8.28 yuan for a dollar for more than a decade. Now it is set at a rate of 8.11 and will fluctuate against a basket of currencies, including the euro, rather than be set against the dollar alone. The new system is similar to Singapore’s managed “basket, band and crawl” model in which currency floats within a set policy band.

The US and the European powers have been calling for a revaluation on the grounds that the low value of China’s currency, on top of low-cost labour, gives it an unfair advantage in international trade. For their part, China and the other Asian exporters have sought to keep the value of their currencies low by buying up dollar-based assets, thereby financing the US balance of payments deficit now running at close to $700 billion. China’s foreign currency reserves reached $711 billion in June, an increase of 51 percent on the year before.

The revaluation is expected to put on hold moves in the US Congress for the imposition of retaliatory tariffs. Last April, 67 senators passed a resolution, sponsored by Charles Schumer and Lindsey Graham, declaring that if China failed to revalue it currency within six months a 27.5 percent tariff would be imposed on all Chinese imports.

The resolution led to increased pressure on Chinese authorities from US Treasury Secretary John Snow who has been pressing for a revaluation for the past two years. At the G-7 finance ministers meeting in Washington last April Snow warned the Chinese that US patience was running out. In May, Snow persuaded Congress not to brand China “a currency manipulator” but again warned Beijing to expect serious political consequences.

To placate the Congress, Snow organised a meeting between Schumer and Graham with Federal Reserve Board chairman Alan Greenspan. Greenspan has opposed protectionist measures on the grounds that this could upset global financial mechanisms and jeopardise the funding of US deficits. Schumer, however, accused the Bush administration’s position on the yuan as having the “strength of a wet noodle”.

According to reports in both the Financial Times and Wall Street Journal, Snow, who had indicated that a revaluation would come before Chinese President Hu Jintoa’s visit to the US in September, was told a week in advance of the new exchange rate regime. The Financial Times reported that he had assured Beijing that the US would warmly welcome the move and that there would be broad international support.

But whether the currency regime change is enough to placate protectionist moves in the Congress remains to be seen. So far the revaluation is well short of the currency shift of up to 40 percent being demanded by some of Beijing’s critics and the 10 percent increase that former secretary of state Henry Kissinger has told Chinese authorities will be needed to stave off protectionist legislation.

Schumer said the Chinese action was a positive first step but he hoped for more. “We are going to watch and see what happens over the next few months,” he said. The president of the National Association of Manufacturers, John Engler, who has headed the push for revaluation, said he hoped by October “to see that China’s currency has moved significantly enough to begin correcting long-standing trade distortions.”

Jia Qingguao, a US specialist in Peking University, told the New York Times that the revaluation of the yuan was part of Beijing’s efforts for a calmer relationship with Washington. “My feeling is that the leadership would really like to take the politics out of the relations and return to a more pragmatic atmosphere. I don’t expect that this one step will resolve the tension completely. But I think once the first step is taken, it will be easier to make currency adjustments later on,” Jia said.

But even if such measures are taken, they will make little difference to the trade problems of the US. As the Financial Times commented on July 25: “China mainly assembles imported parts and components manufactured elsewhere. The local value-added in its exports is as low as 15 percent. Any loss of competitiveness from a stronger exchange rate would be largely offset by cheaper imports. Even a 25 percent revaluation would raise prices of many Chinese exports by only about 4 percent.”

In other words revaluation, even by a significant amount will do little to shift the imbalances in the global economy, and remove the threat of a rapid loss of confidence in the US dollar. Significantly, the former chairman of the Federal Reserve Board, Paul Volcker, has repeated his warning of last February that “the circumstances seem to be as dangerous and intractable as any I can remember.”

“If people lose confidence in the dollar as a store of value, or lose confidence in the political strength of the US relative to other countries, there is going to be trouble. I’m not saying a crisis is inevitable or that orderly adjustment is impossible, but at some point big adjustments will have to be made,” he told the New York Times.

In a comment published in the Financial Times last Wednesday Nobel laureate economist Joseph Stiglitz pointed out that America’s trade deficit of $700 billion is nine times China’s trade surplus and that “even larger revaluations are not likely to do much to the global imbalances.”

The major problem for US exporters is not the value of the Chinese currency but the lack of significant economic growth in major markets such as the EU and Japan. In Asia, the pervasive poverty has prevented any significant expansion of internal consumption. China, in particular, has very high savings rates of 40 percent of gross domestic product or 25 percent of household income.

Moreover, the competition from Asia comes from US and European firms, which have sought to counter falling profit rates by moving their operations to cheap-labour regions. In other words, the rise of China, and Asia as a whole, as a cheap labour platform, is not the cause, but rather the result, of deepening contradictions within the world capitalist economy.

Beijing has been walking on a fine line in dealing with US and European pressure on the yuan. The integration of China into the world capitalist market in the 1990s has produced huge unemployment, poverty and increased social tension.

Although China’s energy industries such as oil and electricity, which are increasingly depend on import or foreign loans, will benefit from a higher value of yuan, the engine of the economy—the export sector—could suffer.

The Shanghai-based International Finance News warned that large corporations may be able to absorb the 2 percent appreciation but small businesses, dependent on tiny profit margins, could face serious troubles. It is estimated that for each 1 percent rise in the yuan, each sub-sector of the textile industry will see its profits from exports reduced, including a drop of 12 percent in cotton sector, 8 percent in wool, and 13 percent in garments. Smaller segments of the garment industry that depend more highly on exports will face even higher losses.

“Uncompetitive small-and-medium-sized companies would then likely face bankruptcy, causing possible job losses for several hundred thousands workers. Since most of the employees in the textile industry come from low or medium income families, the loss of jobs could possibly trigger even greater social problems,” the Chinese paper noted.

Chinese analysts and economists have also warned that the pressure of foreign and domestic speculators could trigger a collapse of China’s real estate bubble. Since the US and other powers openly began advocating a yuan revaluation in 2003, tens of billions of dollars of “hot money” have flooded into China to buy yuan-based property.

In Shanghai, half of the property market is estimated to be inflated by speculative funds and in total, over 60 percent of capital in purchasing homes or new construction is lent from China’s debt-stricken banking system. More speculators are expected to move in to bet on a further appreciation of yuan.

Despite the so-called “cool-down” policy introduced last year, newly released official data shows that the investment bubble, especially in real estate, continues. China’s fixed asset investment rose 25.4 percent on a year-on-year basis to $US353.7 billion during the first half of the year.

Financial authorities in China are now engaged in a delicate balancing act. While they want to give the impression that there is greater flexibility in the Chinese currency in order to fend off demands from the US for a rapid revaluation, they also want to maintain capital and currency controls in order to prevent violent shifts of investment funds and speculative capital. If there is an expectation that the value of the yuan will rise further, then “hot money” will continue to move in. However, Chinese authorities, having witnessed the consequences of the Asian financial crisis of 1997-98, are also fearful of the consequences of an outflow.

It is a measure of the fragility of the global financial system, in which no national government has control over vast market forces, that economic management has become a kind of guessing game.

http://www.wsws.org/articles/2005/jul2005/yuan-j29.shtml

—————————————————————————————–

2009

Obama Says China Must Stop Manipulating Currency

Reuters reports that presidential candidate Barack Obama is saying China’s trillion dollar surplus is “directly related to its manipulation of its currency’s value” in a letter written to the U.S. National Council of Textile Organizations published Wednesday. This statement directly contradicts the Bush Administration, which has refused to label China as a “currency manipulator”.

Obama calls for China to change its current policies to rely less on exports and more on domestic growth, saying he “will use all diplomatic means at my disposal to induce China to make these changes.”

The exchange rate of the yuan to the US dollar is a hot issue, because many believe Beijing purposely undervalue the currency to boost exports and discourage imports. While the Bush Administration has successfully pressured China for years to increase the value of the yuan, it refused calling China a “currency manipulator” because of possible World Trade Organization repercussions.

Republican presidential candidate John McCain had not responded to the questionnaire sent on October 1st to both candidates.

In 2007, the U.S. trade deficit with China reached $256.2 billion, including U.S. imports of more than $30 billion in clothing and textiles. Textile producers in the U.S have pressured the Bush administration for a program to guard against an “import surge” when current quotas end.

China responded to the comments by saying the “exchange rate is not the cause of the trade deficit” but did not give further comment.

Foreign Ministry spokeswoman Jiang Yu said the yuan exchange rate is not the case of the U.S trade deficit and that she, “hope(s) that the U.S. can expand its exports to China and reduce barriers for trade and investment. We believe this will help the U.S. reduce its trade deficit.”

Obama claims that the result of this “currency manipulation” is “a large imbalance that is not good for the United States, not good for the global economy and likely to create problems in China itself.”

Jiang did not give any comment on who China would favor in the upcoming presidential election.

Meanwhile, in the Economist’s recent article, China moves to centre stage, claims that China is “in no rush to act”.

While China is enjoying the attention it’s trillion dollar reserves garner, it is “resisting the tempation to swagger in its dealings with American.”

A Chinese newspaper made claims recently that America should give up its control over the International Monetary Fund (IMF) in return for China helping the current crisis. The government has not made that claim, however, China would like to see an end to the American de facto veto power in the IMF. Currently, the IMF has a report “examining whether China has been manipulating its exchange rate for the sake of trade advantage.”

http://chinadigitaltimes.net/2008/10/obama-says-china-must-stop-manipulating-currency/

————————————————————

Obama Administration Tries to Reassure China on Treasury Debt (With Video)

In response to Wen Jiabao’s unease at the safety of China’s U.S. Treasury holdings, the White House has sought to reassure China. From Bloomberg:

“There’s no safer investment in the world than in the United States,” White House Press Secretary Robert Gibbs said yesterday at a briefing in Washington.

Gibbs was responding to comments from Wen that China, the U.S. government’s largest creditor, is “worried” about its holdings of Treasuries and wants assurances that the investment is safe. “I request the U.S. to maintain its good credit, to honor its promises and to guarantee the safety of China’s assets,” Wen said at a press briefing in Beijing.

President Barack Obama is relying on China to sustain buying of Treasuries amid record amounts of U.S. debt sales to fund a $787 billion stimulus package and a deficit this year forecast to reach $1.5 trillion. Investors abroad own almost half of all U.S. debt outstanding, and China last year overtook Japan as the biggest foreign buyer.

Wen’s comments contributed to a decline in Treasuries yesterday. Yields on benchmark 10-year notes rose as high as 2.96 percent, from 2.85 percent a day earlier, and closed at 2.89 percent.

U.S. President Obama has also responded to China’s worries. From Reuters:

Obama also sought to reassure China, which expressed concern on Friday that massive U.S. deficit spending and near-zero interest rates would erode the value of China’s huge U.S. bond holdings.

“There is a reason why even in the midst of this economic crisis, you’ve seen actual increases in investment flows here in United States,” he said. “I think it’s a recognition that the stability not only of our economic system but also our political system is extraordinary.”

“Not just the Chinese government but every investor can have absolute confidence in the soundness of investments in the United States.”

Posted in CPR is the most helpful, Currency Economy US and China 2003 | Leave a Comment »

Trung Quốc sẽ thua Hoa Kỳ trong mặt trận Tài Chánh

Posted by hoangtran204 trên 14/03/2009

Kẻ Cắp Gặp Bà Già

Chính quyền TQ ký ca ký cóp tiền bạc suốt 30 chục năm nay, có được 1800 tỉ đô la, và đem phần lớn số tiền ấy mua công khố phiếu của Mỹ, một nước quen xài sang vay mượn. Nay thì kẻ có tiền đang lo lắng đồng tiền của họ cho vay bị “mất” giá một cách hợp pháp, nhưng chỉ biết đứng nhìn và không tài nào cứu vãn được. Đúng là kẻ cắp gặp bà già.

Trung Quốc kể từ tháng 9-2008 đã và đang run sợ vì lo ngại sẽ mất ít nhất 600 tỉ đô la đến 1000 tỉ đô la qua vụ đầu tư vào công khố phiếu ở Hoa Kỳ.

TQ đã dùng hơn 1400 tỉ đô la để mua khố phiếu (securities) của Mỹ. Mua công khố phiếu là ăn chắc nhất, nhưng khi đồng tiến bị mất giá, thì việc đầu tư sẽ hoàn toàn thất bại và có khi bị sạt nghiệp mất vốn.

Khi TQ mua công khố phiếu của Hoa Kỳ trong suốt 10 mấy năm qua, tiền nhân dân tệ do TQ cố kìm giá cho thấp để lợi dụng cho xuất khẩu qua Mỹ; suốt thời gian mười mấy năm qua, tiền đô la Mỹ rất có giá so với nhân dân tệ. Và TQ dùng tiền đô mua công khố phiếu (securies) của Mỹ (khi giá đô la cao và đồng nhân tệ của TQ thấp).

Nay, vì tình hình kinh tế và tài chánh rơi vào khủng hoảng, để cứu vã nền kinh tế và tài chánh, Mỹ đã và đang dự tính tung ra khoảng 2500 tỉ để cứu nguy.

Muốn có tiền, Mỹ sẽ đem tiền dự trữ ra thị trường cho các ngân hàng tư, công ty vay mượn, hoặc có tìn đồn là Mỹ đang dự tình bán (40o tấn) vàng, ngoài ra còn phải in tiền đô la để cung ứng cho thị trường nhăm thúc đẩy nên tài chánh và kinh tế đang trì trệ.

Như thế có nghĩa là tiền đô la trong vài 1,2,3 năm tới sẽ sẽ mất giá một khi mà lượng tiền 2500 tỉ đô la nầy tung hết ra thị trường; hiện nay, 2009, tiền đô la đang còn có giá trị cao.

Nếu tiền đô la bị giảm đi tring giá trị, (vì chắc chắn là đồng tiền đô sẽ mất giá trong vài năm tới), và nếu tiền đô mất giá cở chừng 30%, thì TQ sẽ mất trắng 500-600 tỉ đô la cho Hoa Kỳ. .

Lúc đầu, khi tài chánh Mỹ khủng hoảng vào tháng 9-2008, TQ hí hửng mừng thầm. Nhưng 6 tháng trôi qua, càng ngày TQ càng lo sợ vì tiền bạc cho mượn có nguy cơ bị mất giá, và hóa ra, việc đầu tư bị lỗ.

Đó là lý do Trung Quốc hiện đang “lo ngại” về việc đầu tư vào công khố phiếu ở Mỹ sẽ bị mất trắng tay, nên trong kỳ qua họp vào tháng 3 nầy, thủ tướng TQ Ôn Gia Bảo đã tỏ ra lo ngại và nhắc nhỡ Mỹ đừng nên tiêu nhiều quá, sẽ làm đồng tiền mất giá, tiền đô la sụt giảm giá, thì TQ kể như lỗ ít nhất là 500-600 tỉ đô la.

Tóm lại, TQ ký cóp làm ăn trong 30 năm nay để dành bao nhiêu, đầu tư hết vào Mỹ, thì nay đồng tiền đô la mất giá 30% là kể như TQ sẽ khóc. Nếu dân Trung Quốc biết được vụ đầu tư ngu ngốc của chính quyền TQ vào việc mua công khố phiếu của Mỹ bị lỗ lã 500-600 tỉ đô la, thì phong trào dân chủ ở TQ sẽ lên tiếng báo động với dân chúng TQ, và nhiều chuyện sẽ xẩy ra trong vòng 1, 2 năm tới, khi công khố phiếu đáo hạn thanh toán, trả lại tiền cho TQ, thì TQ sẽ mất trắng 500-600 tỉ đô la do giá tiền đô bị sụt giảm.

China ‘worried’ about US Treasury holdings

By JOE McDONALD, AP Business Writer Joe Mcdonald, Ap Business Writer Fri Mar 13

BEIJING – China’s premier didn’t say it in so many words, but the implied warning to Washington was blunt: Don’t devalue the dollar through reckless spending.

Premier Wen Jiabao’s message is unlikely to be misunderstood at the White House. It is counting on Beijing to help pay for its stimulus package by buying U.S. bonds. China already is Washington’s biggest foreign creditor, with an estimated $1 trillion in U.S. government debt. A weaker dollar would erode the value of those assets.

“Of course we are concerned about the safety of our assets. To be honest, I’m a little bit worried,” Wen said at a news conference Friday after the closing of China’s annual legislative session. “I would like to call on the United States to honor its words, stay a credible nation and ensure the safety of Chinese assets.”

The appeal suggested the outlines of Chinese President Hu Jintao’s stance when he meets with President Barack Obama at an April 2 summit in London of the Group of 20 major economies on possible remedies for the global crisis.

Wen gave no indication whether Beijing wants changes in U.S. policy. But economists said his comments reflect fears that higher U.S. budget deficits from Washington’s $787 billion stimulus package could drive down the dollar and the value of China’s Treasury notes.

“China is telling the U.S. to be careful, not to overspend and keep an eye on the dollar,” said Kelvin Lau, regional economist at Standard Chartered in Hong Kong. “There are risks that China cannot control, so they’re depending on the U.S. to maintain fiscal prudence and keep the dollar reasonably stable.”

Analysts estimate China keeps nearly half of its $2 trillion in foreign currency reserves in U.S. Treasuries and notes issued by other government-affiliated agencies.

“Inside China there has been a lot of debate about whether they should continue to buy Treasuries,” said Frank Gong, chief China economist for JP Morgan.

Beijing is trying to increase its leverage at the London G-20 meeting by reminding its partners of its role in financing U.S. spending, Gong said.

“Without China’s buying (Treasuries) and continuing to fund U.S. deficit spending, interest rates could have been much higher. That could be very destabilizing in this very recessionary environment,” he said. “By attracting a lot of attention to this issue, China is already increasing its influence ahead of the G-20 meeting.”

Finance officials from the G-20 meet this weekend. U.S. Treasury Secretary Timothy Geithner is pressing for a new coordinated global stimulus. Japan is supportive but European governments are reluctant to make expensive commitments before they see how current plans are working.

Wen also offered an unqualified defense Friday of his government’s policies in Tibet, ignoring questions about a massive security buildup in the Himalayan region.

Tensions have spiked ahead of two key anniversaries this week — the 50th anniversary of a failed Tibetan uprising that sent the Dalai Lama into exile and Saturday’s one-year anniversary of violent anti-Chinese riots in Lhasa that sparked the largest protests in decades
.

Asked whether the massive security presence pointed to failings in Beijing’s policies, Wen said: “The situation in Tibet is on the whole peaceful and stable. The Tibetan people hope to work in peace and stability.

“Tibet’s continuous progress (has) proven the policies we have adopted are right,” he said.

Wen expressed confidence the world’s third-largest economy can meet its official growth target of 8 percent this year and emerge from the crisis “at an early date.” But he said Beijing is ready to expand its 4 trillion yuan ($586 billion) stimulus if needed.

“We already have our plans ready to tackle even more difficult times, and to do that we have reserved adequate ammunition,” he said. “That means that at any time we can introduce new stimulus policies.”

Communist leaders worry about rising job losses and possible unrest amid a trade slump that saw Chinese exports fall 25.7 percent in February from a year earlier. They have promised to spend heavily to create jobs and boost exports.

Chinese bank lending and power demand have risen, suggesting the stimulus is taking effect. But growth in retail sales is weakening, indicating it has yet to spur private sector spending and investment, which analysts say will be key to its success.

Private sector economists expect growth as low as 5 percent this year. That would be the strongest of any major country but could lead to more waves of job cuts.

“I really believe we will be able to walk out of the shadow of the financial crisis at an early date,” Wen said. “After this trial, I believe the Chinese economy will show greater vitality.”

Wen also said Beijing wants the G-20 summit in April focus on helping the poorest countries.

The premier said Beijing has met its own commitments to help developing countries by erasing a total of $40 billion in debt owed by 46 countries and giving out 200 billion yuan ($29 billion) of aid to developing countries.”

“We must see to it that we show concern for developing countries,” he said.

___

AP Business Writer Jeremiah Marquez in Hong Kong contributed to this report.

http://news.yahoo.com/s/ap/20090313/ap_on_bi_ge/as_china_us_economy

Posted in Uncategorized | 3 Comments »