Trần Hoàng Blog

Archive for Tháng Chín, 2010

Thư gửi người chị Hà Nội ở Berkeley

Posted by hoangtran204 trên 30/09/2010

tác giả: Đỗ Hoàng Diệu

Chị ơi,

Em không phải người Hà Nội. Nhưng cả tuần này, tối nào em cũng ra Bờ Hồ. Cờ bay phấp phới, vàng xanh nhấp nháy, người người lang thang… Y chang công viên tỉnh lẻ nào đó bên Tàu, chẳng hạn Quảng Tây. Con gái lên ba của em sợ. Cháu ngây thơ: mẹ bảo họ dừng lại đi. Con ơi, mẹ làm sao có thể! Trong khí thế hừng hực, triệu trái tim khắp năm châu hướng về thủ đô yêu dấu, bom hạt nhân cũng chẳng khiến họ dừng.

Tối qua em lại đứng Bờ Hồ. Đúng lúc tổng duyệt âm thanh, ánh sáng. Hồ Gươm giống tranh Picasso. Hàng trăm tia xanh đỏ tím vàng đan chéo. Nhạc xập xình, em không biết thể loại gì. Nhưng nó làm em muốn lắc mông, khiêu vũ. Mười ông Tây bà Nhật  đi qua, ít nhất chín “thượng đế” dùng hai tay nút lỗ tai. Họ không chỉ chỏ như đông nghịt đồng bào ta, họ chỉ nhìn nhau cười. Chắc chị hiểu vì sao họ cười.

Và em đã khóc. Em nghĩ về người cha đoản mệnh. Ông từng hăm hở: kỷ niệm một ngàn năm Thăng Long, bố sẽ đưa cả đại gia đình ra Hà Nội, nhà con thuê có đủ chỗ không? Bố không còn. Mẹ từ chối thẳng thừng, cháu chắt chẳng mặn mà. Họ còn bận học, để đỗ đại học, để đến Hà Nội như em, để biến thủ đô văn vật thành nhà trọ khổng lồ. Em nghĩ đến chị, đã hứa với nhau sẽ cùng về một ngàn năm. Bây giờ một mình em ở đây. Chị bên kia đại dương, chắc lòng đốt lửa. Em tự hỏi, biết kể gì cho người phụ nữ gốc Tràng An mê Truyện Kiều tranh Đông Hồ và ô mai chua bây giờ. Chụp hình ư? Chị sẽ chỉ thấy cờ đỏ sao vàng và đèn Trung Quốc. Làm thơ ư? “Đêm nay tôi dạo Bờ Hồ/ Giật mình tá hỏa Hồ Gươm đâu rồi?”. Viết nhạc ư? “Hà Nội vui sao, xanh đỏ vàng lam, ríu rít tắc đường, đây kem Tràng Tiền ngập rác Đông Đô, đây tim  nhân tạo rùa thiêng thoi thóp.” Như thế,  chị sẽ buồn hơn.

Trong những giọt nước mắt đã thoát khỏi em tối qua, chị tin không, có cả xúc động thực lòng. Về lịch sử dân tộc, về quá khứ xa xưa. Người Việt quần nâu áo vải tay không đánh giặc dựng kinh thành hát ca dao. Đơn giản vậy thôi, em yêu Hà Nội, yêu nước thế thôi.  Bất chợt, trong góc tối sót lại góc hồ không xanh đỏ, em thấy cụ Rùa he hé mắt. Nếu em là nhà thơ, chủ tịch Hữu Thỉnh, em sẽ ghi lại tâm tư cụ Rùa bằng một trường ca. Biết đâu bất hủ!

Lâng lâng, chùi vội nước mắt, em luồn ngược dòng người đang phừng phừng lao tới, về nhà. Gương mặt chồng em buồn ai oán. Anh đang chụp tư liệu ở Thư viện Quốc gia, báo chí Việt Nam những năm ba mươi. Cô thủ thư ngăn lại: “Chụp gì nhiều thế? Để bán à?” Anh không thể tưởng tượng tư tưởng tiểu nông đồng bằng Bắc bộ vẫn ăn sâu bám rễ trên những người Việt như vậy. Bán cho ai, ai mua, ai thèm quan tâm? Đếm trên đầu ngón tay dăm ba người nước ngoài nghiên cứu lịch sử Việt Nam. Đáng ra phải xòe rộng  tung hô chào đón. Cái gì cấm thì đã giấu biệt, mấy tờ báo mục ruỗng sắp tàn đời ấy, anh chụp lưu lại sẽ giữ được lâu dài, có thể cung cấp cho thế hệ sau. Thư viện để làm gì, để lưu giữ, để phục vụ bạn đọc, càng nhiều người đọc càng tốt. Thế mà…

Em lựa lời an ủi chồng mà không khỏi xấu hổ. “Hay anh ra Bờ Hồ cho vui, chụp mấy cái ảnh làm tư liệu, ngàn năm mới có một lần.” Mắt chồng em hung lên, mà chị biết, anh ấy chẳng bao giờ như thế. “Anh đi qua trưa nay rồi. Anh không thích. Hà Nội là thành phố nhỏ, cổ kính, thanh lịch, đơn giản. Mất hết những cái ấy, vứt.” Nhớ vài tuần trước, em kể anh ấy nghe Hà Nội định bỏ cả tỷ đô la để ngăn mưa trong thời gian đại lễ. Chồng em không thất kinh, nhưng giọng buồn rười rượi. “Nhiều thứ khủng khiếp đã xảy ra trên đất nước này…” May, dự định ngăn mưa được hủy bỏ. Nếu không, rất có thể những đám mây xám xịt bị đuổi đi sẽ hung hãn quay trở lại và tàn phá tan hoang thành đô sau đại lễ xa hoa, rồi chỉ nhân dân thiệt thòi.

Chị còn nhớ có lần chúng ta tranh cãi hồ nào đẹp nhất Hà Nội. Em cương quyết chọn hồ Bảy Mẫu trong Công viên Lênin, à quên, đổi tên rồi, Công viên Thống Nhất. Được bao bọc bởi cây xanh, cây cầu nho nhỏ và ốc đảo xinh xinh, chẳng khác chốn bồng lai. Những ngày mưa, nước ngập tràn, từ ngoài đường nhìn vào, lòng mênh mang khó tả. Nhiều tháng trước, người ta che hồ, gắn biển cải tạo. Em mừng thầm, chắc nạo vét cho sạch, chắc lắp đặt hệ thống thoát nước hiện đại, chắc sạch sẽ và đẹp hơn nữa. Nào ngờ! Thành từng ô, từng vũng như cánh đồng nuôi tôm. Lại thêm bao nhiêu là đèn nhấp nháy kiểu Trung Hoa trang hoàng đường đi lối lại. Em nghĩ người ta nên đổi tên lần nữa cho hợp lý. Công viên giả Tàu, hồ Ô Ăn Quan chẳng hạn. Công trình chào mừng 1000 năm Thăng Long – Hà Nội.

Quê hương! Em biết những ngày này chị nhớ nhung bồi hồi day dứt. Nhất là khi cái lạnh tràn về Berkeley, càng thấm thía nỗi ngậm ngùi. Nhưng sự vắng mặt ở Hà Nội những ngày này, có khi lại tốt cho chị. Để giữ lại một thành phố nhỏ xinh, hiền hòa, nghèo thơm mãi trong lòng. Chị biết không, một số cư dân Hà Nội bạn bè chị và bạn bè em đang trốn nhà tìm nơi hoang vu. Chưa chừng, nếu đang sống ở đây, chị lại là người ù chạy đầu tiên.

Trong số hàng ngàn người đương chạy về Hà Nội, rất nhiều giọng địa phương. Háo hức lắm, tự hào lắm, xúc động lắm. Ngây thơ, thật thà, đáng yêu vô cùng. Hà Nội có lăng Bác Hồ, Hà Nội có kem Tràng Tiền vốn đã cực kỳ hấp dẫn. Hà Nội vô vàn đèn hoa kèn trống thì thực sự ngàn năm mới có. Cố đi xem, có chết cũng thỏa lòng. Chị ơi, Hà Nội của chị vẫn là đất thánh, dù sao chăng nữa.

Cũng đêm qua, trong giấc muộn chập chờn, em mơ mãi về mảnh đất cằn cỗi nơi em sinh ra rồi khôn lớn, Thanh Hóa. Có một lúc, linh hồn những người ngư dân Hậu Lộc bị bắn chết ngoài Biển Đông vây quanh em. Họ khóc ai oán, họ chửi thề, rồi họ nhìn em hối thúc. Em biết họ muốn nói gì. Cũng chính là điều bao nhiêu người Việt theo dõi, đau đớn, tủi nhục những ngày qua. Một công dân Tàu bị Nhật tạm giữ, cả nước Trung Hoa bừng bừng. Dân biểu tình phản đối, Bộ Ngoại giao ra công hàm yêu cầu trả tự do liên tục, rồi Thủ tướng lên tiếng đe dọa. Nhật đành nhượng bộ. Anh chàng đánh cá Tàu lên máy bay về nước dưới sự tháp tùng của nhân viên ngoại giao như một anh hùng. Còn người Việt, ôi người Việt ta, ôi những người đồng hương Thanh Hóa, ôi những linh hồn đang lưu đày chốn đại đương bao la, xin nhận lời tạ tội. Chị ơi, đành vậy.

Sáng nay, em gặp lại thầy giáo cũ, một trong dăm luật sư danh tiếng nhất Việt Nam. Quanh đi quẩn xuống, lại chuyện một ngàn năm. Thầy nói: làm đơn giản thì người ta nói sơ sài quá, bôi bác quá. Làm to thế này thì lại bảo phô trương quá, lăng nhăng quá. Đường nào cũng dở. Chiếc ghế em ngồi tự dưng nóng rẫy. Ô hay, dễ nhất đúng nhất là làm như mình có, sao cứ phải băn khoăn?

Ngày mai, mồng 1 tháng 10, lễ hội chính thức diễn ra. Sẽ người người lớp lớp, sẽ kèn trống rộn ràng, sẽ muôn năm muôn năm. Nhưng em ở nhà. Em muốn một mình. Ở nhà, làm sao kể chị nghe? Chị ơi, em sẽ kể, bằng cảm nhận từ triệu triệu linh hồn đã ngã xuống cho thành Thăng Long, cho thủ đô Hà Nội. Chị đừng buồn, đừng khóc. Cụ Rùa hồ Gươm dù bị mắc cả chùm lưỡi câu nhưng còn sống. Vẫn còn hy vọng.

Chiều 30-10-2010

© 2010 Đỗ Hoàng Diệu

© 2010 talawas

http://www.talawas.org/?p=24825#comments

————–

Posted in Văn Hóa XHCN | Tagged: | Leave a Comment »

Tài Liệu Hiếm Lần Đầu Tiên Được Đăng Trên Mạng

Posted by hoangtran204 trên 28/09/2010

Hồ Chí Minh tại Đại hội Đảng 1951 – “Đó là chủ nghĩa của ba ông kia kìa”

28/09/2010 | 12:00 chiều | 8 phản hồi

Tác giả: Vũ Tường

Chuyên mục: Tư liệu
Thẻ: >

Lời dẫn: Tư liệu hiếm dưới đây có lẽ chưa bao giờ được công bố. Đó là một bài nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Đại hội Đảng Toàn quốc lần thứ hai tại Việt Bắc vào tháng 3 năm 1951, do một phóng viên của tờ Học tập liên khu 4 ghi lại nguyên văn.[1] Tại Đại hội này, Đảng Lao động Việt Nam ra công khai sau 6 năm nấp dưới tên gọi “Hội Nghiên cứu Chủ nghĩa Mác”. Bài diễn văn thú vị này cho ta thấy Chủ tịch là một nhà cách mạng, một chính trị gia, và một nhà tuyên truyền lão luyện. Một nhà cách mạng có niềm tin ngây thơ nhưng sâu sắc rằng lý thuyết cách mạng của các “ông thầy” của mình có quyền lực vạn năng. Một chính trị gia qua thủ đoạn tâng bốc các “ông anh” (trong khán giả chắc chắn có sứ thần của các “ông anh” gửi đến. “Ông anh” Stalin lờ tịt các bức điện khẩn xin giúp đỡ của Chủ tịch Hồ Chí Minh từ năm 1945. Mãi đến tháng 1 năm 1950 Chủ tịch phải lặn lội giữa mùa đông băng giá bí mật đến Mạc Tư Khoa và qua sự bảo lãnh của “ông anh” Mao Trạch Đông và có lẽ cả “ông anh” Thorez, thì “ông anh” Stalin mới tiếp đón và công nhận nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.[2] Nhưng ở Đại hội, Chủ tịch vẫn phải khen nức nở chứ không có một lời oán hận). Và cuối cùng, Chủ tịch cho thấy mình là một nhà tuyên truyền lão luyện qua kỹ thuật động viên quần chúng song vẫn khéo léo biến tất cả công lao xương máu của quần chúng thành công lao của chủ thuyết của mình, và qua đó, công lao của mình và đảng mình (vì mình và đảng mình nhập khẩu chủ thuyết ấy từ Âu châu). Phản ứng của quần chúng ở cuối bài nói (hô to “Chủ tịch Hồ Chí Minh muôn năm!”) cho thấy kỹ thuật dẫn dắt người nghe của Chủ tịch đã thành công.

Vũ Tường, Đại học Oregon

—–

HỌC TẬP — Nội san Đảng Bộ Liên Khu Bốn (Chỉ lưu hành Trong Nội Bộ)

Số 35, Năm thứ tư, Tháng 4 – 1951, trang 1-8

LỜI HỒ CHỦ-TỊCH TRONG ĐẠI HỘI TOÀN ĐẢNG

(Sau khi đồng chí Võ-nguyên-Giáp báo cáo xong vấn đề quân sự, Hồ-Chủ-tịch lên diễn đàn, giữa những tràng pháo tay). Hồ-Chủ-tịch nói.

Các đồng chí,

Vừa nghe báo cáo của đồng chí Giáp, các đồng chí thấy – và trước khi nghe cũng đã thấy – Quân đội ta từ chỗ yếu tiến đến chỗ mạnh, từ chỗ nhỏ tiến đến chỗ to, từ không thắng tiến đến thắng, từ thắng ít đến thắng nhiều, rồi từ thắng nhiều tiến đến thắng lợi hoàn toàn (Đại hội vỗ tay).

Đó là vì đâu? Là vì trong chính trị, cũng như trong mọi mặt công tác khác, Đảng ta có một chủ nghĩa cách mạng nhất, sáng suốt nhất, đó là chủ nghĩa của ba ông kia kìa:

(Hồ-Chủ-tịch vươn tay chỉ và hướng mặt về phía chân dung 3 vị lãnh tụ: Marx, Engels, Lénine)

(Đại hội vỗ tay vang dậy)

Đó là nhờ chúng ta, toàn giai cấp lao động thế giới, toàn quân đội nhân dân thế giới có một ông Tổng tổng tư lệnh là ông kia kìa.

(Hồ-Chủ-Tịch vươn tay chỉ và hướng mặt về phía chân dung đồng chí: STALINE)

(Đại hội vỗ tay dậy vang và cùng đứng dậy hô lớn)

(Đồng chí Staline muôn năm!)

Chắc ít người biết mà có lẽ cũng không ai ngờ. Ông ở cách xa đây mấy muôn dặm, mà ông theo rõi cuộc kháng chiến của ta, của Triều-tiên, của Mã-lai và cuộc đấu tranh của các nước Đông-nam Á. Ông cảm động khi nghe kể lại những cử chỉ chiến đấu anh dũng của một chiến sĩ Thổ khi giết giặc lập công như thế nào. Vì vậy có thể nói tuy ông ở xa nhưng tinh thần của ông và hiểu biết của ông ở với chúng ta. (Đại hội vỗ tay dài)

Chúng ta lại nhờ có ông anh này:

(Hồ-Chủ-Tịch vươn tay chỉ và hướng mặt về phía chân dung đồng chí: MAO-TRẠCH-ĐÔNG) –

(Đại hội vỗ tay vang dậy – và đứng dậy hô lớn Đồng chí Mao-Trạch-Đông muôn năm!)

Ông Mao ở cách đây mấy nghìn dặm. Còn ông Staline thì xa những muôn dặm… Ông theo rõi từng bước cuộc chiến đấu cách mạng của chúng ta. Như lúc quân đội và nhân dân ta giải phóng biên giới, như lúc chúng ta mở chiến dịch Trung-du có thể đêm ông không ngủ mà chờ tin tức…

(Đại hội có tiếng tấm tắc)

… Có ông thầy, ông anh như thế nên quân đội ta, quân đội Việt-Mên-Lào, từ chỗ nhỏ đến chỗ lớn, từ chỗ yếu đến chỗ mạnh, từ không thắng đến thắng hoàn toàn.

Cũng vì chủ nghĩa quốc tế, cũng chủ nghĩa Marx – Engels – Lenine – Staline, mà đến ông anh kia

… (Hồ-Chủ-tịch vươn tay chỉ và hướng mặt về phía chân dung đồng chí Thorez và nói tiếp… là ông THOREZ …) (Đại hội vỗ tay vang dậy – và đứng dậy hô lớn: Đồng chí Thorez muôn năm! Muôn năm!)

… Ông lãnh đạo đảng Pháp, đảng đàn anh … vì do được đảng Pháp lãnh đạo, nhân dân lao động ở Pháp kiên quyết bảo vệ hòa bình thế giới, tranh đấu chống chiến tranh thuộc địa, ủng hộ cuộc kháng chiến của chúng ta, chống lại chiến tranh thực dân. Như hôm nọ, tôi đã nói về đồng chí Henri M…,[3] một sĩ quan trong hải quân của thực dân, mà đi phát truyền đơn ủng hộ cuộc kháng chiến của Việt nam, khuyên thanh niên Pháp và bộ đội Pháp từ chối, phản đối không qua đánh Việt nam. Lại có những công nhân như Raymone Dieu, khi thực dân Pháp chở khí giới từ một ga xe lửa đến bến tàu để rồi đưa qua Việt nam. Cô Raymone nằm ngang ra giữa đường sắt để ngăn chuyến xe ấy. Và do cử chỉ cao xa này mà toàn dân xứ ấy kéo ra chặn cả đoàn xe lại.

(Đại hội vỗ tay hoan hô nhiệt liệt và hô lớn: Hoan hô tinh thần của Henri M… và Raymone Dieu!)

Đó là nhờ nhân dân lao động Pháp đã thấm nhuần tinh thần Marx – Engels –Lénine – Staline. Chẳng những nhân dân lao động Pháp có rất đông những người như thế, mà vừa rồi đây lại có tin hàng trăm người lãnh đạo công giáo – khai hội nghị chống chiến tranh thực dân ở Việt nam và ủng hộ cuộc kháng chiến của dân tộc Việt nam.

(Đại hội vỗ tay vang dậy – và đứng dậy hô lớn: Đảng cộng sản Pháp muôn năm! Muôn năm!)

Có thể nói cái tinh thần, cái chủ nghĩa của đồng chí Staline đã thấm nhuần vào dân công giáo và đấu tranh giành một phần nào “lời nói” của ông Pope.

(Đại hội vỗ tay, ngồi)

Vừa đây có một giám mục đứng ra kêu gọi con chiên đấu tranh cho hòa bình. Thì ra, tinh thần của đồng chí Staline đã đi vào địa bàn của giáo hoàng.

Đây là ở phương tây. Còn ở phương Đông thì như thế nào? Do chỗ đảng Trung Quốc đã thấm nhuần chủ nghĩa Marx – Lénine nên đã áp dụng chủ nghĩa Marx – Lénine thích hợp với hoàn cảnh Trung Quốc. Do chỗ đảng ta đã thấm nhuần chủ nghĩa Marx – Lénine, thấm nhuần tinh thần ấy lực lượng ấy, mà làm thấm nhuần đến cả quân đội ta, thấm nhuần đến nhân dân ta.

Nếu không thấm nhuần như thế, thì sao lại có bộ đội nhịn đói hơn 4 ngày, vẫn cứ bám lấy giặc mà đánh và đánh thắng giặc!

(Đại hội vỗ tay dài)

Thì sao có những cử chỉ oanh liệt như ở một trận đánh nọ có chiến sĩ bị thương ở tay nói với người bên cạnh “Cậu chặt tay cho mình cái” vì thấy cánh tay gãy vướng, chặt đi cho dễ đánh, thế rồi lại cứ xung phong? Nếu không thấm nhuần chủ nghĩa Marx – Lénine thì làm sao có được những cử chỉ oanh liệt như thế?

(Đại hội vỗ tay)

Nếu không có chủ nghĩa Marx – Lénine kinh qua đảng ta thấm nhuần đến nhân dân, thì sao có những chị em phụ nữ Mán, Thổ, Mèo ban ngày thì mưa ướt, đường trơn vẫn hăng hái đi tải đồ cho bộ đội, tối đến đường trơn, ở giữa rừng không có chỗ ngủ, phải dựa lưng vào nhau mà ngồi qua đêm, để sáng sớm lại vui vẻ đi vận tải đồ cho bộ đội?

Nếu không có tinh thần Marx – Lénine thấm nhuần qua Đảng ta đến dân ta, thì sao có những cử chỉ cảm động như thế? Đó là những vô danh anh hùng. Dân tộc ta là dân tộc anh hùng.

(Đại hội vỗ tay vang dậy)

Chẳng những đồng bào ở ngoài, mà ngay đồng bào trong vùng tạm bị chiếm cũng hết sức ủng hộ ta. Tôi vừa nhận được bức thư của một bà ở ngoại thành, một bà hơn năm mươi tuổi, đây tôi đọc để dẫn chứng – (Còn nhiều bức thư khác nữa, nhưng bức thư này vừa tiếp được, tiện đây đưa ra đọc) – Bà có một đứa con chín tuổi, bà nói sự độc ác của bọn giặc Pháp, sự cực khổ của đồng bào trong vùng tạm bị chiếm. Bà viết: “Tôi già sống trong hoàn rất cực khổ, thế nhưng mà tôi luôn luôn mong mỏi, tin tưởng bộ đội ta sẽ tổng phản công để đuổi lũ giặc Tây hung ác, đưa dân chúng đến cảnh tượng hòa bình.”

Có một cháu bé 16 tuổi cũng viết thư như thế, kể nỗi khổ cực: “Cháu luôn luôn nhớ Bác, luôn luôn nhớ chính phủ. Dầu cực khổ mấy, lúc nào cháu cũng cố gắng học tập, nghe theo như lời Bác dạy, một lòng trung thành với chính phủ. Cháu cố gắng học tập, để xứng đáng là một đứa cháu của Bác và sau này trở thành người dân xứng đáng của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.”

(Đại hội vỗ tay dài)

Thế là do chủ nghĩa Marx – Lénine đã thấm nhuần qua đảng ta, qua dân ta, nên chúng ta nhất định sẽ thắng lợi.

(Đại hội vỗ tay rất lâu)

Bây giờ tôi qua điểm khác. Nói đến quân đội ta, quân đội anh dũng Việt-Mên-Lào, chúng ta phải nhớ đến đoạn đầu, những người đầu. Trước hết nhớ đến những chiến sĩ Nam bộ lấy gậy tầm vông đập vào đầu thực dân Pháp.

(Đại hội vỗ tay lớn)

Đây tôi cũng sung sướng giới thiệu với các đồng chí một du kích viên đầu tiên, khi mới tổ chức đội du kích đầu tiên, chỉ có 12 người: 10 nam 2 nữ. Trong những đồng chí ấy thì đây có Lê quảng Ba (Hồ Chủ tịch nhìn quanh đại hội, và hỏi Lê quảng Ba đâu? Đứng lên nào)

(Đồng chí Lê quảng Ba đứng dậy. Cả đại hội hướng về phía đồng chí ấy, vỗ tay hoan hô vang dậy)

Và tôi giới thiệu một tư lệnh viên đầu tiên trong thời kỳ du kích Bắc sơn – Chắc các cô, các chú cũng đã biết cả – là chú này … (Hồ Chủ tịch ngoảnh về phía chủ tịch đoàn và chỉ đồng chí Chu văn Tấn hiện đang làm chủ tịch buổi họp) – chú Chu văn Tấn! (Đồng chí Tấn đứng dậy. Đại hội vỗ tay hoan hô vang dậy).

Từ 12 người ấy mà tiến lên, rồi dần dần thành đội tuyên truyền xung phong, rồi đổi ra là Nam tiến, đổi là Giải phóng quân, đổi ra là Vệ quốc đoàn. Người tổng chỉ huy đầu tiên đội Nam tiến là

… (Hồ Chủ tịch chỉ đồng chí Võ nguyên Giáp ngồi ở hàng ghế đầu và nói mạnh rằng: Võ nguyên Giáp đây này! (Đồng chí Giáp đứng dậy. Đại hội vỗ tay hoan hô vang dậy.) Còn những chiến sĩ gậy tầm vông nam bộ ở đây có nhiều!

Từ chú du kích viên, rồi đến chú tư lệnh, rồi đến chú Tổng chỉ huy đầu tiên, đều là con của Đảng cả.

(Đại hội vỗ tay rất mạnh, rất dài.)

Hồi bấy giờ từ 12 đội viên du kích đầu tiên mà bây giờ ta có – có thể nói, Một triệu hai, tính cả dân quân, bộ đội địa phương, bộ đội chính quy. Từ 12 “vawis” (?)[4] (Đại hội cười) bây giờ sinh nở ra một triệu hai trăm ngàn vắt … (Hồ chủ tịch vừa nói vừa gõ tay lên bàn).

(Đại hội vỗ tay vang dậy.) (Giữa những tràng vỗ tay tiếng nói của Hồ Chủ tịch nổi bật lên …)

Đấy chính là nhờ chủ nghĩa Marx – Lénine.

(Đại hội càng vỗ tay nhiệt liệt.)

Bây giờ tôi qua điểm thứ ba.

Đảng ta, – Nhiêm vụ Đảng ta cũng như nhiệm vụ các đảng đàn anh ta, Đảng Bolchévik, Đảng cộng sản Trung hoa, trong lúc chiến đấu bằng chính trị đã đều chiến đấu bằng quân sự. Như trước kia, trong đại chiến thứ hai – không nói đến thời kỳ cách mạng ở Xô-liên, cũng kháng chiến, kiến quốc như mới đây ở Trung quốc, là đánh Tưởng mà Tưởng do Mỹ giật mũi — , là kháng chiến chống đế quốc Mỹ, mà cũng là vừa kháng chiến vừa kiến quốc. Các Đảng đàn anh ta đề ra kháng chiến đệ nhất, thắng lợi đệ nhất. Ta cũng đề ra kháng chiến đệ nhất, thắng lợi đệ nhất, vì kháng chiến thắng lợi thì các việc khác giải quyết mới dễ dàng. Thế nên, chúng ta nói, kháng chiến trên hết, thắng lợi trước hết.

Muốn kháng chiến trên hết, thắng lợi trước hết, chúng ta phải học kinh nghiệm của các Đảng anh em ta. Như chú Hai vừa kể, có lần bên Xô-liên, đảng Bolchévik động viên đến 1/5 số đảng viên, nhưng chú nói còn ít đấy chứ có chỗ động viên đến 50% lúc chiến đấu gay go. Đảng Cộng sản Trung hoa cũng động viên hầu hết các đảng viên vào bộ đội, lúc lên đường vạn lý trường chinh. Đảng ta có bảy, tám mươi vạn. Rồi đây trung ương mới sẽ có chỉ thị về việc này, – Ít ra cũng phải động viên một vạn Đảng viên. Không kể số đảng viên hiện đã ở trong quân đội trực tiếp vào công việc kháng chiến.

(Đại hội vỗ tay, hoan hô nhiều lắm)

Với chủ nghĩa như thế, với Ông thày, Ông anh như thế, với lòng trung thành và kiên quyết của nhân dân ta, của Đảng ta, nhất định chúng ta thắng lợi.

(Hồ Chủ-tịch bước xuống diễn đàn. Đại hội đứng dậy vỗ tay vang dậy và hô lớn nhiều lần: Hồ Chí Minh Muôn năm! Muôn năm!)

Bản điện tử © 2010 Vũ Tường

Bản điện tử © 2010 talawas


[1] Chúng tôi cũng đánh máy đúng theo nguyên bản, kể cả những chữ in đậm và chữ cái.

[2] Xem Ilya Gaiduk, Confronting Vietnam: Soviet Policy toward the Indochina Conflict, 1954-1963 (Washington, DC: Woodrow Wilson Center, 2003).

[3] Bản chụp tên bị nhòe.

[4] Bản chụp mờ, không nhận ra chữ gì.

Posted in Chinh Tri Viet Nam, Chinh Tri Xa Hoi, Nhan Vat Chinh tri | Leave a Comment »

Châu Á Đứng Dậy-Chiến Lược của Mỹ-Quyền Lợi của người Mỹ

Posted by hoangtran204 trên 24/09/2010

*Từ đầu năm 2010 đến nay, có nhiều biến cố quân sự trên Biển Đông và vùng Biển Hoàng  Hải (giữa Trung Quốc với Nhật và Nam Hàn)  giữa Mỹ và Trung Quốc, nhưng trên Tạp chí Đối Ngoại của Mỹ suốt  9 tháng nay không hề thấy xuất hiện các bài viết về các vấn đề thời sự nầy! Hóa ra, sự can thiệp của Mỹ vào Biển Đông năm 2010 đã được các chiến lược gia trên tạp chí nầy bàn thảo từ hồi cuối năm 2008, khi TT Obama vừa mới đắc cử, để hoạch định chính sách đối ngoại ỏ Châu Á. Loạt bài dưới đây được dịch từ hồi cuối năm 2008…được post lại để đối chiếu với các biến cố hiện tại.

Châu Á Đứng Dậy

Aaron I. Friedberg

Tạp chí Đối Ngoại

Số tháng 1 và 2 năm 2009

Phần I

Khi TT Barack Obama ngồi xuống họp với hội đồng an ninh quốc gia để xem xét lại bộ hồ sơ chính sách ngoại giao của Mỹ, ông ta sẽ nhìn thấy Á Châu, và chính sách của Mỹ ở Á Châu, dường như ở tình trạng tốt. Mặc cho những lời cáo buộc rằng Hoa Kỳ đã làm ngơ miền đất nầy để tập trung vào Trung Đông và chủ nghĩa khủng bố, chính phủ của ông Bush thật sự đã dành nhiều công sức và sự chú ý vào Châu Á, và đang đạt được nhiều thành quả to lớn.

Những mối liên hệ hàng ngày với Trung Quốc hiện nay tốt đẹp hơn đã từng có vào dạo năm 2000. Một số nhà quan sát thời cuộc đang mô tả các mối quan hệ ấy như là nồng nhiệt hơn và hợp tác hơn bất cứ lúc nào trong 20 năm qua (1988-2008). Hoa kỳ đã và đang thắt chặt quan hệ đồng minh của họ với Nhật Bản và hiện đã bắt đầu bước vào kỷ nguyên mới bắt tay hợp tác chiến lược với Ấn Độ. Chính phủ Bush đã đạt được thành công để lèo lái và vượt qua những khác biệt sâu sắc với Nam Hàn – hết thẩy mọi chuyện từ các căn cứ quân sự đến các mối đàm phán thương nghị với Pyongyang (Bắc Hàn)—có đủ sự điêu luyện để tránh những sự khác biệt trong ý kiến có thể dẫn đến những sự sứt mẻ tình hữu nghị vĩnh viễn trong các mối quan hệ. Sự xuất hiện của một chính phủ mới thiên về Hoa Kỳ ở Hán Thành có thể làm cho các mối quan hệ dễ dàng hơn cho người kế tục ông Bush để đặt quốc gia đồng minh nầy trở lại trên đôi chân vững chắc.

Một kết quả quan trọng tương tự như trên về chính sách ngoại giao của ở Á châu của ông Bush là hai nồi hơi ngấm ngầm lâu nay chỉ chờ chực bùng nổ ở Đông Á xem ra bây giờ ít có cơ may để bùng nổ hơn là họ đã từng có cách đây một vài năm. Nhờ vào những nổ lực của Hoa Kỳ để ngăn chận cả hai bên, TQ và Đài Loan đã và đang vượt qua khỏi một thời kỳ nguy hiểm đặc biệt trong mối quan hệ của họ. Hiện nay đang có ít nhất một cơ hội mà chính phủ mới thành lập có quan điểm thực dụng hơn ở Đài Bắc sẽ có thể đoạt được một giải pháp dài lâu bằng những cuộc thương nghị các vấn đề với Trung Quốc. Trong lúc nầy, Bắc Hàn đã và đang đi những bước quan trọng hướng tới hủy bỏ nguyên tử và đang tuyên bố ước muốn ấy của họ, theo nguyên tắc, để gỡ bỏ tất cả các yếu tố cơ bản của chương trình nguyên tử của họ. Một số chướng ngại vât hướng tới một sự dàn xếp có thể chấp nhận được tuy vẫn còn, nhưng tình thế hiện nay đường như càng ổn định hơn là tình thế dạo mùa thu năm 2002.

Vậy thì chính ở Ấ Châu mà chính quyền của TT Bush đã tiến sát tới để đạt được các mục đích của họ. Thật vậy, một cựu nhân viên đã và đang đi xa hơn nữa để mô tả Châu Á như là một miền đất của “câu chuyện thành công chưa được nói tới của thủ đô Hoa Thịnh Đốn.”.

Những thành công của 8 năm qua là thực tế, nhưng những phán xét như trên thì có tình chất bề mặt và chưa chín mùi. Chính phủ Obama sẽ phải làm việc chuyên cần và chăm chỉ để ngăn ngừa những thành công đoạt được của chính phủ Bush khỏi bị hủy hoại. Chính phủ Obama cũng sẽ phải nói ra một số đề tài khó khăn từ lâu nay mà TT Bush và các cố vấn của ông có thể đã phải tránh né, hay trì hoãn chờ đợi một thời gian thuận lợi hơn trong tương lai.

Hồ Sơ Á Châu

Nếu chúng ta định giá trị chính sách ngoại giao của Obama ở Châu Á, để cho hợp lý chúng ta có thể bắt đầu với những thành đạt đáng hãnh hiện nhất của chính phủ của ông Bush:

Cải thiện những mối quan hệ giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc. Sự thật là mối quan hệ hữu hảo của 2 quốc gia nầy thì chẳng có gì chắc chắn và bảo đảm.

Trong thời gian sắp tới những hăm dọa lớn nhất sẽ xuất phát từ kinh tế hơn là lãnh vực chiến lược. Đặc biệt nếu thế giới chậm chạp phục hồi từ những hậu quả của cuộc khủng hoảng tài chánh, những căng thẳng về thương mại ngấm ngầm giữa 2 cường quốc Thái Bình Dương có thể dễ dàng sôi trào ra.

Chính phủ của Bush đã thành công phần lớn để ngăn chận những yêu cầu đánh thuế vào các hàng hóa của TQ để bảo vệ công nghệ Mỹ, hay phạt Bắc kinh vì không gia tăng giá trị của đồng nhân dân tệ [4] Vì những chuyện như đánh thuế hàng hóa của TQ nhập vào Mỹ và yêu cầu TQ tăng giá trị đồng nhân dân tệ là các ý kiến xuất phát chủ yếu tư bên trong đảng dân chủ, do đó TT Obama có thể nhận ra là rất khó lòng để chống cự lại những áp lực bảo vệ mậu dịch như thế của đảng dân chủ.

Thí dụ, y như các mối quan hệ giữa Nhật Bản và Hoa Kỳ đã từng căng thẳng vì những bất đồng về thương mại trong thập niên 1980s, vì vậy các đề tài về kinh tế có thể dễ dàng trở thành một nguồn chính của sự mâu thuẩn giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc.

Mặc dù có nhiều điểm tương tự nhau trong sự căng thẳng mậu dịch giữa Mỹ-Nhật và Mỹ- TQ, tuy vây, các tình thế hiện nay thì có tính chất khác nhau, ít nhất là trong một khía cạnh quan trọng: Vì bất luận những sự bất đồng ý kiến của họ là gì chăng nữa, Hoa Kỳ và Nhật Bản sau cùng bị ràng buộc chặt chẻ với nhau bởi một sự liên minh phòng thủ. Cả hai đã tin rằng họ đã chia sẻ nhau những giá trị chung và đối diện với một sự hăm dọa chung. Ngày nay, trái lại, chính cái viễn cảnh của gia tăng kinh tế hổ tương đang giữ Hoa Kỳ và Trung Quốc lại với nhau, đối lập với những khuynh hướng tiềm ẩn hướng tới sự không tin cậy nhau và kình địch nhau trong chiến lược. Nếu thương mại đang trở thành một đấu trường giữa Mỹ và Trung Quốc, sẽ ít có điều gì để ngăn chặn toàn bộ mối quan hệ khỏi sự trượt dốc nhanh chóng.

Tương tự, những mối căng thẳng giữa TQ và Đài Loan hiện giờ đang trở lại và có khả năng làm yếu đi mối quan hệ giữa TQ và Mỹ. Trong khi tống thống Đài Loan Mã Anh Cửu của Quốc Dân Đảng có thể ít ham muốn sự ưa thích độc lập hơn là đảng Dân Chủ Nhân dân để chọc giận Bắc Kinh và muốn đàm phán, tuy vậy đảng nầy sẽ không, và thật sự không thể, chấp nhận những đòi hỏi của Trung Quốc về sự thống nhất. Nói cho cùng, Đài Loan là một thể chế dân chủ trong đó một đại đa số người dân ưa thích một sự tiếp tục tình trạng không thay đổi hiện nay của Đài Loan. Nếu những nhà lãnh đạo Trung Quốc trông đợi một bước đột phá sớm sủa về mặt ngoại giao, thì họ đang hướng tới sự thất vọng.

Một phần nào đó vì những chia rẽ sâu xa về đảng phái đã và đang đặc trưng hóa nền chính trị Đài Loan vào 8 năm qua, những nổ lực để cải thiện khả năng của hòn đảo nầy cho sự tự vệ đã và đang chậm lại, mặc dù các khả năng quân sự của TQ đã và đang gia tăng nhanh chóng. Những cuộc buôn bán vũ khí đã được chấp thuận bởi chính phủ Bush trong những tháng đầu tiên của chính phủ nầy (2001) đã bị giữ lại trong nhiều năm bởi chính quốc hội Đài Loan không chịu thi hành cho phép thông qua các ngân sách cần thiết. Sau cùng, khi Đài Bắc đã chuẩn bị đồng ý mua vũ khí, chính phủ Bush đã trì hoãn để tránh làm mất lòng và chọc giận Bắc Kinh, và sau cùng mới đây đã chấp thuận 1 phần nhỏ của đơn đặt hàng vũ khí nguồn gốc từ năm 2001 trong lúc chính phủ nầy trên đường rời khỏi nhiệm kỳ.

Giữa những vấn đề khác đang choán đầy trong công việc ở Á Châu của TT Obama sẽ là câu hỏi liệu có nên, hay làm cách nào để giúp đỡ Đài Loan duy trì một số tương đồng về cân bằng quân sự với Trung Quốc. Tiếp tục bán những vũ khí của Mỹ sẽ gây ra sự tức giận dữ dội của Bắc Kinh, nhưng không hành động thì sẽ làm cho Đài Loan bị hiểm họa ngày càng gia tăng và làm băng hoại niềm tin và đánh mất lòng can đảm của họ.

Mặc dầu sự tiến bộ đã và đang được thực hiện hướng tới gần hơn sự hợp tác chiến lược, liên minh giữa Mỹ và Nhật sẽ đòi hỏi sự chú ý thận trọng trong những năm sắp đến. Cựu thủ tướng Nhật Junichiro Koizumi là một lãnh tụ đầy tài năng một cách đáng chú ý, ông đã thành công trong việc lèo lái quốc gia của ông một cách nhanh nhẹn hơn là nhiều người đã nghĩ, có thể nói là hướng tới một vị thế quốc tế bình thường hơn và khẳng định hơn. Những thủ tướng kế vị ông Koizumi đã và đang thiếu khả năng và sự khẳng định của Koizumi. Sự rời bỏ quyền lực nhanh chóng của thủ tướng Shinzo Abe đã để lại mốt số sáng kiến chưa hoàn tất, bao gồm các kế hoạch gia tăng sự hợp tác giữa các nền dân chủ của Châu Á và tái phục hồi lại hiến pháp của Nhật để các lực lượng vũ trang của Nhật có thể tham dự vào trong các cuộc hành quân tự vệ chung với một số nước. Về phần người kế vị thủ tướng Abe, ông Yasuo Fukuta, rõ ràng cũng là người thiếu chú ý và thiếu khả năng giải quyết vấn đề, ông đã hăm dọa xóa bỏ một hợp đồng đang còn thương nghị về chuyện phối trí các lực lượng của Mỹ. Chuyện nầy hiện còn đang được xem xét liệu vị thủ lãnh mới, cựu bộ trường ngoại giao Nhất Taro Aso, sẽ có khả năng tiếp tục công việc mà cựu thủ tướng Koizumi đã để lại.

Nhiều người Nhật hiên nay lo ngại rằng Hoa Kỳ đang bắt đầu nghiên về Trung Quốc. Các hành động gần đây của Mỹ đã và đang làm tăng thêm các nổi lo sợ nầy: Trong tất cả cuộc nói chuyện về các giá trị chung, Washington đã bày tỏ ít nhiệt tình về các đề nghị của chính phủ Abe về cải thiện hợp tác giữa các nước dân chủ trong miền. Tương tự, sự miễn cưỡng của Mỹ để bán các chiến đấu cơ F-22 cho Nhật đã được phiên dịch rộng rãi như là một cái tát vào má vì bị thúc đẩy bởi một ước muốn không chọc tức tới những sự nhạy cảm của TQ.

Có lẻ điều đáng lo ngại nhất từ quan điểm của Nhật là sự thay đổi đáng chú ý trong chính sách của Mỹ ở Bắc Hàn. Quyết định của chính phủ của ông Bush – sau khi cuộc thử nghiệm nguyên tử của Bình Nhưỡng tháng 10 năm 2006 – để quay ngược lại con đường, làm nhẹ bớt áp lực kinh tế và bắt đầu thương nghị song phương để lại cho Nhật cái cảm giác bị cô lập và không dễ chịu chút nào. Sau khi đeo sát vào vị trí của Mỹ kể từ khi bắt đầu các cuộc họp giữa 6 quốc gia vào tháng 8/ 2003, Tokyo đột ngột nhận ra đơn độc của mình trong việc ủng hộ một lập trường liên tục cứng rắn. Mặc đầu chính phủ của tổng thống Bush cho rằng mục đích của họ vẫn là xóa sạch hết mọi mãnh vụn của vật liệu phân chia hạt nhân và khả năng làm bom nguyên tử của Bắc Hàn, các nhà quan sát Nhật đã và đang bắt đầu tự hỏi có phải là những người Mỹ đã và đang có quyết định riêng lẻ rằng họ có thể sống với khả năng hạt nhân của Bắc Hàn còn sót lại.

Quyết định ấy sẽ tùy thuộc vào TT Obama. Tiến trình từng bước của Bush đã và đang sản xuất ra một kết quả đầy tham vọng. Đổi lại cho việc áp lực được giảm xuống, viện trợ được gia tăng và sự tháo bỏ khỏi tình trạng danh sách các quốc gia hậu thuẩn khủng bố, chế độ của Kim Chính Nhất đã và đang ngưng hoạt động (nhưng vẫn chưa tháo ra từng mãnh và phá hủy) lò phản ứng hạt nhân ở Yongbyon và các cơ sở chế biến của Bắc Hàn và xuất trình những cái mà nhà máy nầy tự cho là đóng góp “hoàn toàn và chính xác” về cung cấp các vật liệu phân chia hạt nhân. Nhưng Bình Nhưỡng vẫn chưa đồng ý về một kế hoạch trao vật liệu nguyên tử plutonium của họ. Bắc Hàn cũng đã không tiết lộ các chi tiết về một chương trình bí mật làm giàu hạt nhân song song với việc sản xuất chất Uranium dùng cho các loại vũ khí, đóng góp cho sự liên quan của Bắc Hàn với các nước có ưu thế hạt nhân tựa như Syria và Iran, hay chấp nhận một loại chế độ kiểm tra sâu sát và mạnh mẻ mà xem ra là cần thiết để xác nhận những gì mà Bắc Hàn từng cho là họ sở hữu được.

Mặc dầu nếu Bắc Hàn đồng ý chịu nhường bỏ mọi thứ mà họ đã và đang thừa nhận là sở hữu, họ có thể vẫn còn nắm giữ một số vũ khí, che giấu các cơ sở làm giàu chất Uranium và có lẻ một phần nào đó của một chương trình mà họ đã và đang cung cấp hàng hóa tới cho các quốc gia khác. Chính quyền của Obama sẽ phải quyết định liệu có nên sống với những gì không chắc chắn là một cái giá có thể chấp nhận được dành cho tất cả hay hầu hết khả năng chế tạo plutonium của Bắc Hàn. Nếu Mỹ đồng ý trả cho cái giá ấy, niềm quan tâm của Nhật sẽ không được thỏa mãn. Nếu không, Washington sẽ có nguy cơ chạm trán với Bắc Triều tiên và một sự chia rẻ theo nhiều cách với các chính phủ đang tin rằng giải pháp hiện nay là tốt nhất mà họ có thể có được – đặc biệt là chính quyền của Trung Quốc và có lẻ là Nam Hàn nữa.

Thêm vào các cuộc đàm phán nguyên tử, Mỹ có các công việc quan trọng khác vẫn còn làm chưa xong với Nam Hàn. Sau khi thương nghị một thỏa ước thương mại tự do giữa Nam Hàn và Mỹ, chính phủ của TT Bush đã gặp phải một sự phản đối rất mạnh mẻ từ các vị dân cử của đảng Dân chủ trong quốc hội những người nầy thì rất kiên quyết giữ lập trường cứng rắn về vấn đề thương mại trước các cuộc bầu cử trong năm 2008. Trách nhiệm dành cho việc thúc đẩy các thỏa ước ấy thông qua quốc hội hay để cho các thỏa ước ấy không trở thành đề tài bàn thảo nữa hiện nay đang rơi vào tay của Obama. Nếu thỏa ước đạt được sự chấp thuận của quốc hội, thỏa ước mậu dịch tự do ấy sẽ cung cấp một sự gia tăng chính cho các mối liên hệ giữa Nam Hàn và Mỹ và một nền tảng vững chắc trên đó để xây đắp liên minh nầy. Nếu thỏa ước mậu dịch Mỷ và Nam Hàn thất bại do quốc hội Mỹ không thông qua, hai đối tác lâu đời nầy có thể lại một lần nữa bắt đầu trôi dạt xa nhau.

Trong trường hợp của Ấn Độ, một tay chơi lớn khác ở trong miền nầy, Tổng thống Obama thừa hưởng một mối quan hệ đang chín mùi với các triển vọng, cũng như là các thăng trầm tiềm tàng khác. Sau nhiều năm thương nghị, sau cùng Mỹ và Ấn Độ đã đạt được một sự đồng ý trên vấn đề hợp tác nguyên tử. Với chướng ngại vật không còn nữa, chính phủ mới của Obama sẽ có thế tiến về phía trước trong việc gia tăng mốí quan hệ đối tác chiến lược sâu hơn và rộng hơn. Nhưng chính phủ cũng sẽ phải thương nghị những khác biệt có tính chất nghiêm trọng, ấy là sự hiện hữu từ lâu nhưng không ra mặt cho mãi đến bây giờ, về chuyện làm cách nào để ứng xử với Pakistan, Ahganistan, và Iran.

Sự Thách Thức của Trung Quốc

Bao trùm lên tất cả các đề tài là sự thách thúc lớn nhất có tính chiến lược mà TT Obama sẽ đối mặt ở Châu Á và, không bàn cải gì nữa, toàn thế giới: Tìm ra cách nào để đương đầu với một nước TQ ngày càng gia tăng về sự giàu có, tham vọng, quyền lực, và tính khẳng định của họ.

Chính phủ của Obama sẽ kế thừa một hướng đi thời hậu chiến tranh lạnh của Mỹ hướng tới TQ mà Mỹ đã và đang tìm cách để hòa trộn các yếu tố của sự tham dự với “đối trọng” (cách dùng ưa thích hiện nay của người Mỹ), hay “bao vây” ( Trung Quốc dùng chữ nầy), hay cái điều mà tôi sẽ ám chí tới như là “cân bằng”. Một chiến lược hầm bà lằng xáng cấu đã và đang thực hiện rất tốt trong hơn 15 năm qua, mặc dầu đôi khi có những thay đổi khó hiểu trong giọng nói và sự nhấn mạnh bởi vì những mưu toan có tính bè phái. Tuy vậy, cuối cùng chính phủ của đảng Dân Chủ hay Cộng Hòa đều giống nhau là cùng hổ trợ mở rộng thương mại giữa Mỹ và Trung Quốc.

Những vị tổng thống kế tục nhau đã và đang khuyến dụ Bắc Kinh trên mặt trận ngoại giao, khuyến khích quốc gia nầy trở thành một tham dự viên tích cực trong những (định chế) tổ chức đa quốc gia và tìm kiếm một cách thành thật sự hậu thuẩn của TQ vào một loạt những vấn nạn, từ sinh đẻ và chủ nghĩa khủng bố cho tới an ninh năng lượng và sự thay đổi khi hậu của trái đất.

Trong thời gian gần, những chính sách nầy đã và đang có khuynh hướng để cho những người cầm quyền hiện nay ở TQ một cổ phần đầu tư vào trong sự ổn định của trật tự quốc tế hiện nay, mặc dầu khả năng của họ để thách thức thế giới đang gia tăng.

Mục đích sâu xa hơn của sự tham dự, tuy vậy, là để gia tăng những lực lượng tiến bộ được cho rằng sẽ lãnh đạo TQ hướng tới dân chủ tự do. Những nhà làm chính sách người Mỹ hy vọng rằng, đúng lúc nào đó, sự kết hợp của giai cấp trung lưu đang lớn mạnh và sự cởi mở gia tăng của một nền kinh tế trong thời đại tin tức và hiện đại sẽ mang lại một sự chấm dứt độc quyền về quyền lực chính trị của đảng Cộng Sản TQ.

Ngay trong lúc Mỹ đang buôn bán và có những cuộc đàm phán với TQ, thì đồng thời nước Mỹ đã và đang tìm cách duy trì các vị trí chiến lược của Mỹ ở Đông Á. Mục đích không phải là “bao vây” TQ bằng cách xây một bức tường chung quanh TQ. Thay vì đó, đối diện với quyền lực đang gia tăng của TQ, các nhà làm chính sách người Mỹ đã và đang tìm cách duy trì một mức độ khả năng thích hợp để ngăn cản khuynh hướng xâm lăng, thích gây hấn hay các toan tính ép buộc (của TQ)

Thắt chặt tình thân hữu với các đồng minh khu vực và các đồng minh chống cộng thân thiết, đáng tin cậy nhất của Hoa kỳ trong Hiệp Hội các Quốc Gia Đông Nam Á [5], tái phối trí lại các lực lượng Mỹ, và gởi một số đơn vị không quân và hải quân tới vùng tây Thái Bình Dương đang là tất cả những phần của nố lực nầy.

Tám năm qua đã và đang minh họa sự phục hồi của một chiến lược hỗn hợp nhưng cũng đặt ra nhiều câu hỏi về sự thỏa mãn kéo dài. Bất luận điều gì khác có thể được phát biểu trong 30 năm qua về sự tham dự, họ vẫn chưa biến đổi được định chế chính trị của Trung Quốc.

Tóm lại, thay vì nới lỏng sự siết chặt quyền lực, đảng Cộng Sản Trung Quốc đã và đang gấp đôi những nổ lực của họ để nắm quyền kiểm soát tin tức, đàn áp những người bất đồng chính kiến và tuyển lựa vào đảng những thành viên của những giai cấp thượng lưu và trung lưu đang gia tăng. Những chiến lược nầy sau cùng có thể thất bại, nhưng trong lúc nầy các chiến lược đó dường như được thi hành rất tốt. Dường như không còn là chuyện tưởng tượng để gợi lên rằng trong những thập niên sắp đến Mỹ và các đồng minh của họ sẽ đối diện với một nước TQ ngày càng gia tăng sự giàu có và tính năng động một cách kỹ thuật, nhưng chính quyền của nước ấy vẫn là độc tài.

Khi nói về liệu có phải sự tham dự trong các tổ chức quốc tế và ngoại giao đã và đang làm cho TQ trở thành một tay chơi có trách nhiệm trong hệ thống toàn cầu hiện nay hay không, hầu hết các lời phán xét thì có tính chất xấu tốt lẫn lộn. Bắc kinh đã và đang đặt niềm tin mới của họ vào trong chủ nghĩa đa phương, trái lại các chính sách của TQ được hổ trợ bằng khuynh hướng tình nghi người Mỹ cho hành động đơn phương. Và TQ đã và đang diễn tả ước muốn của họ cùng nhau làm việc với Mỹ trong một loạt các vấn đề hàng đầu. Những người lạc quan nhìn những sự phát triển nầy như bằng chứng của sự tiến bộ, nhưng làm sáng tỏ hơn các điều hoài nghi thì ít nhất cũng có vẻ đúng. TQ có thể đơn giản là đang làm những điệu bộ như có mục đích làm nhẹ bớt các điều lo ngại về sự tiến bộ nhanh chóng của họ, trong lúc lẫn tránh nói về các hoạt động trong tương lai của họ. Trong lúc giữ thái độ gần gủi với Washington, Bắc kinh cũng đã và đang làm yếu đi vị thế của Mỹ ở Châu Á. Trung Quốc đã và đang tích cực ve vãn nhiều đồng minh truyền thống của Mỹ bằng các hoạt động thương mại và “chính sách ngoại giao nụ cười”, và TQ đã và đang dẫn dắt những cơ chế mới dành riêng cho “người Á Châu mà thôi” và Mỹ bị tách ra khỏi các cơ chế ấy.

Nếu vẫn còn quá sớm để tuyên bố sự tham dự là một sự thất bại, và cũng là quá sớm để tin về sự thành công sau cùng của nó. Đặc trung cơ bản của chế độ Trung Quốc vẫn là không thay đổi ngay cả khi TQ gia tăng giàu có hơn và hùng mạnh hơn, làm cho sứ mạng để duy trì một sự cân bằng quyền lực ở Châu Á ngày càng khó khăn hơn và tốn kém hơn. Đó là trường hợp đặc biệt nói về phương diện quân sự.

Hơn mười mấy năm nay, TQ đã và đang chú ý vào việc gia tăng và mở rộng các căn cứ quân sự đều đặn. Theo một báo cáo của bộ quốc phòng gần đây, chi tiêu cho quốc phòng giữa năm 1996 và 2006 đã gia tăng trung bình gần 12%, ngay cả việc còn nhanh hơn nền kinh tế của TQ, kinh tế TQ đã tăng trưởng chỉ trên 9% mỗi năm. Trong lúc các số liệu chính xác còn đang là một để tài để bàn cải, chẳng có nghi ngờ nào cho rằng Bắc Kinh đã và đang đổ rất nhiều tài nguyên hơn mức bình thường vào các lực lượng lục quân và rằng các cuộc đầu tư quan trọng đã và đang bắt đầu sinh ra các kết quả thật sự.

(Còn tiếp)

Rất cám ơn mr.Trần Hoàng vì đã quan tâm tới bạn đọc Blog của Bác, những bài mang tính chiến lược như thế này mới đáng đọc và đáng cho lên Blog.

Sunday December 21, 2008 – 11:29am (GMT)

Bác Trần Hoàng nên gởi bài này cho bác Trần Hữu Dũng biên tập trang viet-studies.info, để bài dịch của bác được nhiều người đọc, bài này bác Dũng đã mua, bản dịch của bác làm tăng gía trị của đồng tiền bác Dũng bỏ ra cho mọi người được thưởng thức. !!! http://www.viet-studies.info nói chung và http://www.aldaily.com/ do mr.Dũng biên tập rất được giới truyền thông Bắc Mỹ, Châu Âu, sinh viên Kinh tế ngưỡng mộ, bác nên để link trên đó!

Sunday December 21, 2008 – 11:41am (GMT)

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

►Cách Mạng Mùa Thu 1945 Không hề xảy ra, Chỉ là một vụ lừa dối của những người viết sử ở Hà Nội

Posted by hoangtran204 trên 23/09/2010

Trong cuốn Đèn Cù, tập II, Quyền Bính, của tác giả Trần Đỉnh, có đoạn ông HCM cho biết tại thời điểm tháng 8-1945, chỉ có 500 đảng viên đảng CSVN. (lúc ấy lấy tên là đảng CS Đông Dương).Bạn có thể tìm thấy chi tiết này trong cuốn Đèn Cù tập II, Quyền Bính

Gs Nguyễn Văn Tuấn (20-1-2015) giới thiệu với bạn đọc trong nước

Đèn cù Tập II

“Xin hân hạnh giới thiệu cùng các bạn cuốn sách Đèn Cù Tập II của Trần Đĩnh đã được chuyển sang dạng pdf để có thể chia sẻ với nhiều bạn. Nhân đây, cũng xin một lần nữa tạ lỗi cùng các bạn về bản trước có khá nhiều sai sót và chưa đầy đủ.  Đây là bản của anh bạn tôi muốn chia sẻ, và anh ấy cho biết là bản đầy đủ nhất, ít lỗi chính tả. Chỉ dám nói “ít” chứ không dám nói “không” vì khó kiểm tra tất cả. Địa chỉ là:

https://drive.google.com/file/d/0Bz8CAKvRzYwlU1ZYajVfcnJOYjQ/view?usp=sharing

Tập I cũng có thể download ở đây:

https://drive.google.com/file/d/0Bz8CAKvRzYwlZjB3MHk0NWhlZlk/view?usp=sharing

Quả lừa lịch sử:

HCM / CSVN-CSTQ cướp chính quyền VN

Thiên Nam

“Giải mã Nhân Vật HCM chính là Giải mã Lịch sử (bất hạnh) của Dân Tộc VN”

“Chúng mình già trẻ lớn bé mắc lừa bọn du côn” (Vua Bảo Đại) (1)

17.8.45: Mít-tinh của Tổng Đoàn Công Chức để chào mừng chính phủ Trần Trọng Kim bổng chốc trở thành biểu tình của Mặt Trận Việt Minh: “Quả lừa lịch sử” bắt đầu chính là từ đây! Vận nước khốn nạn nhất cũng bắt đầu từ đây! (8)

HCM là người VN yêu nước với tư tưởng Độc Lập Dân Tộc phải gắn liền với Cách Mạng và Xây Dựng XHCN? HCM là người VN làm Tình Báo cho CSTQ hay là Tình báo TQ gỉa danh người VN với Sứ Mệnh “Cướp Chính Quyền VN về cho CSTQ” – Một vụ Buôn Vua Lã Bất Vi thời hiện đại?

Cái gọi là Cách mạng mùa thu thực chất chỉ là 1 cuộc cướp chánh quyền của CP Trần Trọng Kim sau khi vua Bảo Đại đã công bố bản Tuyên Ngôn Độc Lập vào ngày 11.3.1945 và giao cho Trần Trọng Kim thành lập nội các vào ngày 17.4.1945:

Ngày 17.8.45 từ một buồi Mít-tinh của Tổng Đoàn Công Chức để chào mừng chính phủ Trần Trọng Kim bổng chốc trở thành biểu tình của Mặt Trận Việt Minh: “Quả lừa lịch sử” bắt đầu chính là từ đây! Vận nước khốn nạn nhất cũng bắt đầu từ đây.

VN đã được 2 lần trao trả độc lập từ Nhật-Pháp qua vua Bảo Đại (Người có đầy đủ thẩm quyền nhất để đại diện cho dân tộc VN và cũng là Chủ nhân thật sự của Đất-Nước VN. Tại sao Nhật cũng như Pháp đã không thể bàn giao đất nước VN lại cho một Người CS vô sản như HCM là điều có thể hiểu được). Cả hai lần Độc Lập VN điều bị HCM phá hoại và đã đưa đẩy đất nước VN vào 2 cuộc chiến đuổi Pháp đánh Mỹ đẫm máu hoàn toàn không cần thiết và có thể tránh được sau đệ nhị thế chiến (Ở châu á có cả thẩy 14 nước đều được lần lược trao trả độc lập mà không cần phải đánh nhau với Đế Quốc Thực Dân Đô Hộ)

Sau đệ nhị thế chiến Chủ Nghĩa Phát Xít và Thuộc Địa đã thật sự cáo chung cùng với sự ra đời LHQ với chủ trương “Quyền dân tộc tự quyết”. Thay thế chổ của nó là những Nhà Nước CS mà Đức Đạt Lai Lạt Ma cho là: “Cộng sản là loài cỏ dại mọc trên hoang tàn của chiến tranh, loài trùng độc sinh sôi nẩy nở trong rác rưởi của cuộc đời” (2). LX lấn chiếm một nữa Châu Âu, và ở Châu Á TQ đánh chiếm Tây Tạng, Tân Cương, Nội Mông, Mãn Châu, Nam Hàn (Trong vòng 5 tháng Hồng Vệ Binh của Mao đã đánh chiếm 95% Lảnh Thổ Nam Hàn vào tháng 9.1950, nhưng sau đó lính Mỹ / LHQ đổ bộ vào Nam Hàn đánh bật HVB trở lui lại vĩ tuyến 38 vào tháng 7.1953)… cho nên những cuộc chiến chống Chế độ CS sau đệ nhị thế chiến thật sự là chống lại sự bành trướng của Khối XHCN / CSQT.

Cái bất hạnh của Dân Tộc VN là đã bị HCM đưa đẩy vào vòng tranh chấp giữa hai thế lực CS và Thế Giới Tư Do với cái vỏ bọc Tiến Hành chiến tranh dành độc lập VN và giải phóng miền Nam ra khỏi sự chiếm đóng của “Đế Quốc Tư Bản Mỹ” (Để bạn đọc có dịp so sánh: Nước Đức sau đệ nhị thế chiến cũng bị chia cắt như VN vì thua trận và thật sự mới là một nước bị chiếm đóng bởi Mỹ/Đồng Mình và LX, thế nhưng bà Thủ Tướng Đức Angela Merkel đã đến tận nước Mỹ để “cám ơn vô hạn”: Thưa Quí vị, cho phép tôi được nói tóm tắt việc này trong một câu: Tôi biết, người Đức chúng tôi biết, chúng tôi cám ơn vô hạn Quí vị, những người bạn Mỹ của chúng tôi. Chúng tôi sẽ không bao giờ và cả cá nhân tôi sẽ không bao giờ quên Quí vị! (5). Trong khi đó, nhà nước CSVN hiện tại vẫn coi Mỹ như là thế lực thù địch của VN)

Tô Hải , tác giả sách “Hồi ký của một thằng hèn” HKCMTH), kể về cái ngày khởi đầu sa hố đó:

“Đúng ngày 17 tháng 8 năm 1945, chúng tôi kéo nhau đến quảng trường Nhà Hát Lớn Hà Nội mít-tinh chào mừng chính phủ Trần Trọng Kim. Cuộc mít-tinh bắt đầu được mấy phút bỗng hàng loạt cờ đỏ sao vàng được tung ra, cờ quẻ ly bị giật xuống và trên bục diễn giả xuất hiện một người đeo poọc-hoọc, đăng đàn diễn thuyết, kêu gọi đồng bào đi theo Việt Minh, đánh Pháp, đuổi Nhật, đòi lại áo cơm, tự do, xóa bỏ gông xiềng… Những khẩu hiệu vừa phát ra đã có hàng ngàn người hô to hưởng ứng. Không một tiếng súng. Không một sự phản kháng từ ai, từ đâu, dù trại lính Nhật ở cách đó chỉ khoảng 300 mét!

Cuộc khởi nghĩa thành công nhanh như thế đó!

Sau này, loại thanh niên “yêu nước hồn nhiên” bọn tôi đâu có dám lên tiếng khi nghe người ta tự tâng bốc kể công với lịch sử rằng “Đảng đã lãnh đạo toàn dân nổi dậy đánh Pháp, đuổi Nhật dành tự do, độc lập cho đất nước!”

Và các nhà viết sử Nhà Nước Cộng Sản cũng lờ tịt luôn cái chuyện Việt Minh cướp chính quyền từ chính phủ quân chủ lập hiến Trần Trọng Kim — không khác vụ lật đổ chính phủ Kerensky ở nước Nga trong lúc nội tình nước này đang bối rối.

Thực tế lúc ấy là…. chúng tôi có biết gì đến cái đảng cộng sản cộng xiếc, nhất là ông Nguyễn Ái Quốc tức Hồ Chí Minh sau đó còn công khai tuyên bố GIẢI TÁN ĐẢNG của ông ta trước thế giới và đồng bào cả nước! Trong chính phủ có đầy đủ các vị Huỳnh Thúc Kháng, Phan Kế Toại, Nguyễn Hải Thần, Nguyễn Tường Tam, Vũ Hồng Khanh…. và cả “cố vấn” Bảo Đại nữa.

“Quả lừa lịch sử” bắt đầu chính là từ đây! Vận nước khốn nạn nhất cũng bắt đầu từ đây!

Tại sao Việt Nam không độc lập như Mã Lai, Nam Dương, Ấn Độ, Thái Lan, Phi Luật Tân… mà phải qua 30 năm chém giết kẻ thù thì ít…. mà chém giết nhau thì nhiều?”… Đây là sự hy sinh cực kỳ vô duyên cho cái chủ nghĩa không tưởng, cho sự tiếm quyền của một lớp người âm mưu làm VUA của cái nước Việt Nam khốn khổ này bằng chiêu bài Độc Lập, Tự Do mà ở các nước, người ta đã có từ nửa thế kỷ nay rồi vì may mắn thay, họ không có Đảng Cộng Sản cầm quyền! Bi kịch lớn của triệu tấn bi kịch nhỏ chính là đây! (HKCMTH – tr. 424 – 425)

Bi kịch đã phủ trùm đất nước do lệnh truyền chém giết viện dẫn lý do “đế quốc Mỹ đang xâm chiếm miền Nam, đồng bào bị bóc lột, đày đọa”, dù nhiều người sắm vai trong tấn kịch luôn tái tê tự vấn: “Từ nay đến ngày “ngụy nhào… miền Bắc còn bao nhiêu xương rơi, máu đổ? Phía bên kia thì thằng Phát, thằng Đạt, những đứa em tôi; thằng Định, thằng Thọ, những bạn học của tôi… bao giờ sẽ trở thành món “thịt băm” trước cái quyết tâm “còn cái lai quần cũng đánh” của “ta”? (HKCMTH – tr.291 – 292)

Vì họ đã thấy không đế quốc nào xâm lược, không có ai bị đọa đày mà cuộc chiến đã khởi từ mưu đồ độc bá của chỉ một nhóm, thậm chí của chỉ một người:

“Không có ông Hồ, không có cái đảng này thì đâu đến nỗi cả dân tộc tôi bị chiến tranh tàn phá, anh em, họ hàng đâu đến nỗi chia lìa, chém giết lẫn nhau, đâu đến nỗi thua xa những nước cũng thuộc địa như nước tôi đến cả thế kỷ về mọi mặt.” (HKCMTH tr. 388).

Mục tiêu thực sự của cuộc chiến đã được nêu hàng ngày bằng mọi lời lẽ có thể tóm gọn trong mấy câu thơ:

Giết! Giết nữa! Bàn tay không phút nghỉ!
Cho đồng lúa tốt, thuế mau xong
Cho Đảng bền lâu, cùng rập bước chung lòng
Thờ Mao chủ tịch, thờ Xít Ta Lin bất diệt!
(Tố Hữu)

http://www.quanvan.net/index.php?view=story&subjectid=26787

Nhạc sỹ Phạm Duy đã thuật lại trong cuộc phỏng vấn của đài RFA:

“Cuộc mít-tinh của các ông các bà công chức đang diễn tiến thì bỗng nhiên một lá cờ đỏ sao vàng rất lớn được thả từ bao lơn của nhà hát xuống, rồi một người leo lên khán đài cướp micro để hô khẩu hiệu và hát bài Tiến Quân Ca của Văn Cao.

Thế là cuộc biểu tình của Tổng Đoàn Công Chức bỗng nhiên biến thành cuộc biểu tình của Mặt Trận Việt Minh…”

(Các sử nô của CS gọi biến cố nói trên là Cách mạng mùa Thu!)

64 năm đã trôi qua, kể từ ngày HCM đọc “Tuyên Ngôn Độc Lập” ở Ba Đình vào ngày 2.9.1945, lý lịch HCM cùng với Vận Mệnh Ngả Nghiêng của dân tộc VN vẩn là điều mù mờ bí ẩn trong thời đại bùng nổ thông tin Internet khi chúng ta phát hiện:

– Hình ảnh và nhân chứng về ngày lịch sử “trọng đại” rất ít và mù mờ, phim ảnh chiếu cảnh HCM đọc TNĐL kéo dài chỉ đúng 1 giây (7) và dưới đây là tấm hình rõ nhất mà chúng ta tìm ra được ở trên Internet:

HCM đọc TNĐL ở Ba Đình vào ngày 2.9.1945

– Bản thảo viết tay của “Tuyên Ngôn Độc Lập” cũng chưa hề được công bố, vì thế chúng ta có quyền đặt câu hỏi: Nhân vật đọc tuyên ngôn ở Ba Đình vào ngày 2.9.1945 thật sự là ai? Người VN hay người Tàu giả làm người VN?

– Qua 3 bản thảo viết tay của HCM mà chúng ta tìm thấy được trên Internet, thì một học sinh cấp trung học cũng có thể đánh giá “Khả năng viết và diễn tả tiếng Việt của Bác chưa qua khỏi trình độ tiểu học trường làng” hay “Đó là một người ngoại quốc viết tiếng Việt chưa rành” (Các bạn đọc thử tìm trên mạng Internet một tác phẩm viết tay tiếng Việt của HCM mà qua đó mọi người đều công nhận HCM viết rành tiếng Việt!).

Thơ kêu gọi Toàn Cuốc kháng chiến 19/12/1946

Thơ kêu gọi toàn quốc thi đua yêu nước tăng gia sản xuất 1/5/1948

“Di chúc HCM” (6) chỉ có vỏn vẹn vài trang mà HCM phải cần đến 1460 ngày mới hoàn tất. Đảng CSVN đã cho công bố 4 “dị bản” khác nhau vào năm 65, 68, 69, 89 và mỗi lần thêm bớt, cắt cúp, sửa chữa để thích hợp với nhu cầu tuyên truyền cho từng gian đoạn đến nổi Nhạc sĩ Tô Hải phải vô cùng” hoang mang” đặt câu hỏi:

Một tác giả từng nổi tiếng với hàng ngàn bài báo viết rất đơn giản, dễ hiểu, khúc chiết, rõ ràng, rất đại chúng, từng nêu gương học tập cách viết cho hàng loạt cây bút vô sản lẽ nào viết có hai trang “dặn dò trước khi chết” lại phải kéo dài tới 1,460 ngày!? cái gì đã làm cho ông Hồ khó khăn khi cầm bút thế nhỉ? Có sức ép nào không? Mà lại phải coi là tài liệu “tuyệt đối bí mật” cho đến ngày tuyên bố nữa chứ?

…Lí do gì mà mãi đến năm 1989, nhân kỉ niệm 20 năm ngày mất của bác, bản di chúc mới được công bố đầy đủ? Cho đến nay vẫn chưa được làm sáng tỏ. Vậy bản năm 65, 68, 69, bản nào là bản chuẩn? Ðặc biệt là bản cuối cùng lại có chứng nhận, chứng kiến của Tổng Bí Thư Lê Duẩn kí ở trang cuối lại càng gây thêm thắc mắc: vì sao một bản di chúc đọc kĩ thì chẳng có điều gì bí mật? Chẳng có kế hoạch chiến đấu, xây dựng đi theo đường lối ai, đoàn kết với ai, cảnh giác với ai mà đến nỗi phải có tổng bí thư đứng ra làm công chứng. Chẳng lẽ những điều dặn lại con cháu đồng chí là phải giữ gìn, đoàn kết trong đảng như con ngươi của mình, chẳng lẽ những điều mong muốn cho nhân dân có cơm no, áo ấm, được học hành. Chẳng nhẽ những nguyện vọng được an táng như một người dân bình thường lại trở thành những điều tuyệt mật hay sao?

Nguồn: Nhạc sĩ Tô Hải nói chuyện di chúc
http://thangtien.de/index.php?option=com_content&task=view&id=4162&Itemid=404

Ngục Trung Nhật Ký và Chúc thư của HCM 1969

Trong bản di chúc viết tay đầu tiên, chúng ta không tìm đâu ra được cụm từ “dân chủ”, nhưng để chứng tỏ HCM cũng yêu thích dân chủ, đảng CSVN đã tự ý thêm 2 câu vào bản di chúc “đánh máy” như sau:

“Trong Đảng thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình là cách tốt nhất để củng cố và phát triển sự đoàn kết và thống nhất của Đảng”

“Điều mong muốn cuối cùng của tôi là: Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới.”

– Đáng ngạc nhiên hơn nữa khi chúng ta được biết là NAQ lúc còn trẻ có nét chữ rất đẹp được phát hiện bởi TS Vũ Ngự Chiêu vào năm 1983:

Ðầu tháng 2/1983, khi làm việc trên kho tài liệu trường Ecole coloniale, tức học hiệu huấn luyện các viên chức thuộc địa Pháp, trên đường Oudinot, quận 7, Paris, tôi vô tình khám phá ra nhiều hồ sơ học viên người Việt tại học hiệu này, như Bùi Quang Chiêu, Ðèo Văn Long, Phan Kế Toại, Trần Trọng Kim, Lê Văn Miễn, v.. v… tổng cộng khoảng 97 người (CAOM (Aix), Ecole Coloniale, cartons 27, 33 & Registers). Mục đích của tôi là tìm hiểu về những viên chức thuộc địa Pháp cùng thế hệ Tây học Việt Nam đầu tiên (ngoài những người tốt nghiệp các lớp huấn luyện ở các tu viện như Trương Vĩnh Ký, Nguyễn Trường Tộ, v.. v…) để dùng cho chương Biến đổi văn hóa và xã hội của luận án Tiến sĩ. Thật vô tình, tìm thấy tập hồ sơ xin nhập học nhưng không được chấp nhận của Nguyễn Tất Thành, tức HCM sau này, cùng một người bồi khác được chủ Pháp mang về Paris. Ngoài hai lá thư viết tay gửi Tổng thống Pháp và Bộ trưởng Thuộc Ðịa, đề ngày 15/9/1911 tại Marseille, còn thêm ba tài liệu của Hội đồng quản trị trường. Trong biên khảo tam ngữ Một ngôi trường khác cho Nguyễn Tất Thành (Paris: 1983) tôi đã trình bày khá rõ: Người mà chúng ta biết như HCM sau này đã rời nước không vì muốn tìm đường cứu nước, mà chỉ vì những tao ngộ bản thân (cha bị cách chức, tống giam, nên phải bỏ học nửa chừng, v.. v…). Từ cổng hậu đóng kín của trường Thuộc Ðịa, HCM sẽ tìm thấy cánh cửa mở rộng của Ðại Học Phương Ðông của Liên Sô Nga 12 năm sau.

Nguồn: Phỏng Vấn Sử Gia Vũ Ngự Chiêu Về Những Nghiên Cứu Lịch Sử Liên Quan Đến Hồ Chí Minh – Nguyễn Vĩnh Châu

Thơ Xin Nhập Học trường thuộc địa của Nguyển Tất Thành / NAQ vào ngày 15.9.1911

DỊCH:

Marseille ngày 15 tháng chín 1911

Kính gởi ông Bộ Trưởng bộ Thuộc Ðịa
Kính thưa ông Bộ Trưởng,

Tôi xin trân trọng thỉnh nguyện lòng tốt của ông ban đặc ân cho tôi được nhận vào nội trú trường Thuộc địa.
Tôi hiện làm công nhân trong công ty ChargeursRéunis để mưu sinh (trên tàu Amiral Latouche-Tréville).
Tôi hoàn toàn không có tài sản và khao khát được học hỏi. Tôi mong ước trở nên hữu ích cho nước Pháp đối với đồng bào tôi, đồng thời có thể làm cho họ hưởng được lợi ích về học vấn.
Tôi gốc tỉnh Nghệ An, xứ An Nam.
Trong lúc chờ đợi sự trả lời mà tôi hy vọng là thuận lợi, xin ông Bộ Trưởng nhận nơi đây lòng tôn kính và tri ân trước của tôi.

Nguyễn Tất Thành, sinh tại Vinh năm 1892, con của ông Nguyễn sinh Huy, Phó Bảng. Học sinh pháp văn, quốc ngữ, chữ hán.

Thư của Nguyễn Ái Quốc gửi cho người vợ Tàu Tăng Tuyết Minh (1905-1991) bị Mật thám Đông Dương chặn được ngày 14.8.1928 và Daniel Hémery phát hiện vào năm 1990

DỊCH:

Cùng em xa cách Đã hơn một năm Thương nhớ tình thâm Không nói cũng rõ. Cánh hồng thuận gió Vắn tắt vài dòng Để em an lòng Ấy anh ngưỡng vọng. Và xin kính chúc Nhạc mẫu vạn phúc. Anh ngu vụng: Thuỵ (Bản dịch của N.H. Thành)

– Chúng ta còn ngạc nhiên và hoang mang hơn nửa là trình độ Nga Ngữ của HCM khá hơn Việt Ngữ khi phát hiện ra được bức thư viết tay của HCM gởi cho Stalin xin chỉ thị và giúp đỡ cho CCRD: Không có một chỗ gạch sửa như trong 3 lá thơ viết bằng tiếng Việt gởi cho Nhân Dân VN với nét chử hoàn khác hẳn với những thơ nói trên. Theo các Nhà Bút tích học thì những người với nét chử xoắn tròn có đời sống nội tâm bí mật và thích dùng bạo lực để giải quyết vấn đề.

Đồng chí Stalin kính mến

Tôi đã bắt đầu soạn thảo đề án cải cách ruộng đất của Đảng Lao Động Việt Nam, và sẽ giới thiệu với đồng chí trong thời gian tới.
– Tôi gửi tới đồng chí một số yêu cầu, và hi vọng sẽ nhận được chỉ thị của đồng chí về những vấn đề này.
1. Cử một hoặc 2 đồng chí Liên Xô tới Việt Nam để làm quen và tìm hiểu thực trạng ở đó. Nếu như các đồng chí đó biết tiếng Pháp đủ để có thể giao tiếp với nhiều người. Từ Bắc Kinh tới chỗ chúng tôi đi đường mất khoảng 10 ngày.
2. Chúng tôi muốn gửi tới Liên Xô 50-100 du học sinh, với trình độ văn hóa lớp 9 ở Việt Nam, trong số họ có người là Đảng viên và cũng có ngừoi chưa phải là Đảng viên, độ tuổi của họ từ 17-22. Đồng chí nhất trí về vấn đề này chứ.
3. Chúng tôi muốn nhận từ phía các đồng chí 10 tấn thuốc kí ninh (thuốc sốt rét-thanhnam) cho quân đội và dân thường, có nghĩa rằng 5 tấn trong nửa năm
4. Chúng tôi cần những loại vũ khí sau
(a) Pháo cao xạ 37 li cho 4 trung đoàn, tất cả là 144 khẩu và 10 cơ số đạn cho mỗi khẩu pháo.
(b) Pháo trận địa 76,2 li cho 2 trung đoàn, tất cả là 72 khẩu và 10 cơ số đạn cho mỗi khẩu
(c) 200 khẩu súng phòng không 12,7 li và 10 cơ số đạn cho mỗi khẩu
Sau khi nhận chỉ thị của đồng chí về những vấn đề trên, tôi dự định vào ngày mùng 8 hoặc là mùng 9 tháng 11 sẽ rời khỏi Moscow.
Gửi tới đồng chí lời chào cộng sản và lời chúc túc đẹp nhất

% Ho Shi Min %
30-10-1952
đã kí

Thơ viết tay của HCM gởi cho Stalin (Thủ Tướng LX và cũng là TTK ĐCSLX) xin chỉ thị và giúp đở về CCRĐ vào ngày 30.10.1952

http://www.rusarchives.ru/evants/exhibitions/vietnam1/23.shtml

Cuối thơ HCM viết tên mình theo âm Tàu và ký tên bằng chữ Tàu. Đây có phải là tác phong của một nhà lãnh đạo VN viết thơ cho một lãnh đạo LX? Vậy HCM là ai? Người Tàu gỉa danh Việt? CCRD đẩm máu nhất trong LSVN đã trôi qua nửa thế kỷ nay, nỗi sợ hãi và kinh hoàng của dân tộc VN vẫn còn đó nhưng tại sao các nhà sử gia và học gỉa VN chưa bao giờ đặt nghi vấn cho những phát hiện vô cùng khó hiểu về nhân vật HCM này?

Tất cả đã cho thấy vụ Cải tạo Nông nghiệp do CS chủ trương và thực hiện này đã gây nhiều tội ác kinh hoàng và nhiều hậu quả nghiêm trọng.

Trước hết, đó là tàn sát thường dân vô tội. Nông dân VN hiền hoà, chất phác đang làm ăn sinh sống và hết lòng đóng góp vào cuộc kháng chiến, bỗng dưng bị ĐCS giáng cho họ một đòn chí tử. Đảng tuyên bố CCRĐ là nhằm thực hiện ước mơ muôn đời của nông dân: “người cày có ruộng”, nhưng thực tế thì tầng lớp năng nổ, giỏi giang nhất ở nông thôn bị quy là phú nông, địa chủ, cường hào ác bá, hết đường sinh sống; tầng lớp cán bộ nông thôn từng chịu đựng gian khổ lãnh đạo sản xuất thì bị quy là phản động, gián điệp… bị bắn giết hay bị trừng trị.

Tiếp đến là phá hoại truyền thống tốt đẹp hàng nghìn năm của dân tộc, truyền thống hiếu hoà, thương yêu, đùm bọc lẫn nhau ở nông thôn VN. Chỉ trong vài năm, Đảng đã đánh tan tinh thần «tương thân tương ái» thường đậm đà trong mối quan hệ người với người, đặc biệt nơi thôn dã, qua chính sách “phân định thành phần giai cấp” hết sức bất công, vô lý, tùy tiện, bằng kiểu “tố khổ” đầy thành kiến, gian trá và hận thù.

Thứ ba là phá hoại luân thường của xã hội. Trong lịch sử dân tộc, chưa bao giờ đạo lý làm người bị đảo điên một cách quái đản như trong CCRĐ. Để “tìm ra địa chủ”, “tìm ra phản động”, “tìm ra của chìm”, các đội cải cách đã ép buộc con cái “đấu tố” cha mẹ, con dâu “đấu tố” bố mẹ chồng, con rể “đấu tố” bố mẹ vợ, vợ “đấu tố” chồng, anh em “đấu tố” lẫn nhau, trò “đấu tố” thầy, kẻ hàm ơn “đấu tố” người làm ơn… Những người bị quy là địa chủ ngay lập tức bị tước mọi quyền làm người, bị hạ nhục, bị mất mạng và gia đình họ cũng chịu vạ lây.

Cuối cùng là phá hủy truyền thống tâm linh và văn hoá của đất nước. Qua cuộc CCRĐ, ĐCS cố tình triệt hạ các tôn giáo và tín ngưỡng bằng cách tước đoạt đất hương hỏa, ruộng nhà chung, ruộng nhà chùa vốn vẫn dành lo việc cúng tế thờ phượng, từ thiện bác ái, nuôi sống chức sắc, tu bổ các nơi phụng tự. Với đòn độc địa này, tất cả mọi tổ chức, mọi cơ sở tôn giáo và tín ngưỡng -vốn che chở hồn dân tộc- đều trở nên điêu đứng và dần dần tàn tạ.

Những khuôn mặt tội đồ như Hồ Chí Minh, Trường Chinh, Hồ Viết Thắng, Hoàng Quốc Việt đã trở thành vết nhơ muôn đời cho dân tộc. Việc làm của họ, được đồng đảng của họ hôm nay tiếp nối, cho toàn dân thấy được tính chất phi nhân bản, phản dân tộc của chủ nghĩa và chế độ Cộng sản. Nó không thể tồn tại trên đất nước Việt Nam!

Nguồn: CUỘC CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT TẠI MIỀN BẮC 1949-1956
http://www.doi-thoai.com/baimoi1109_194.html

Cải cách ruộng đất: Địa chủ bị đấu tố

Qua những phát hiện “khó hiểu” về những Bút Tích của HCM / NAQ thì đến đây chúng ta có quyền nghi ngờ rằng HCM và NAQ là 2 nhân vật hoàn toàn khác nhau và chúng ta thử tiếp tục tìm hiểu thêm về Qúa Trình Hoạt Động cho CSTQ / CSLX và khảo sát những hình ảnh của HCM / NAQ có thề tim thấy được ở trên mạng Internet.

Chúng ta phải lý giải như thế nào về những khác biệt bút tích giữa tiếng Nga và tiếng Việt? Phải chăng Thư Ký Vũ Kỳ (1921-2005) mới thật sự là tác gỉa của những lá thư viết tay tiếng Việt nói trên? Vũ Kỳ  đã “tự kể” những bổ túc thêm vào trong di chúc HCM:

Năm 1967, Bác không sửa gì nhiều bản di chúc nhưng đến năm 1968 thì Người sửa rất nhiều. Phần mở đầu Bác viết năm 1965 là “Năm nay tôi đã 75 tuổi. Tinh thần vẫn sáng suốt, thân thể vẫn khỏe mạnh” nhưng nay Bác sửa: “Năm nay tôi vừa 78 tuổi, vào lớp những người “trung thọ”. Tinh thần vẫn sáng suốt tuy sức khỏe có kém so với vài năm trước đây”. Có lẽ không muốn mọi người lo, Bác viết tiếp: “Người ta đến khi tuổi tác càng cao thì sức khỏe càng thấp. Đó là một điều bình thường”.

Sau đó Bác viết thêm đoạn “về việc riêng” có ý mới là sau khi hỏa táng sẽ lấy tro xương của Bác để vào ba hộp sành cho mỗi miền Bắc, Trung, Nam. Bác viết thêm về những công việc cần làm sau khi giải phóng miền Nam. Đó là chỉnh đốn lại Đảng, chăm sóc đời sống của các tầng lớp nhân dân, miễn thuế nông nghiệp một năm, xây dựng lại thành phố và làng mạc… Những đoạn về chỉnh đốn Đảng, chăm sóc thương binh Bác viết rồi lại gạch chéo. Đoạn nói về xây dựng đất nước… Bác gạch dọc bên lề. Rất nhiều đoạn vòng xuống vòng lên, mực xanh lẫn mực đỏ. Có lẽ lúc đó Bác còn nhiều trăn trở, Người chưa yên tâm lắm khi giã biệt cuộc đời này? Nói đến đây ông Kỳ dừng lại. Có lẽ ông đang hồi tưởng lại tâm tư của chính mình.

Nguồn: Chuyện kể về “Tài liệu tuyệt đối bí mật” – 2004
http://vietbao.vn/Xa-hoi/Chuyen-ke-ve-Tai-lieu-tuyet-doi-bi-mat/40046784/157/

Như vậy Vũ Kỳ  cũng là ngưòi Tàu và làm phụ tá tình báo cho HCM!? Cho nên không phải là ngẩu nhiên mà HCM đã giới thiệu VNG cho Vũ Kỳ vào năm 1941:

Năm 1941, đồng chí Vũ Kỳ được Đảng cử sang Trung Quốc học tập quân sự để chuẩn bị điều kiện cho đấu tranh vũ trang. Khi rời Cao Bằng để qua biên giới, Bác Hồ dặn ông: “Chú sang đó sẽ gặp chú Giáp, nguyên là giáo sư dạy ở Trường Thăng Long. Chú nhớ chuyển lời hỏi thăm của Bác”.

Đêm đầu tiên gặp nhau trên đất nước bạn, hai người đã nằm gác chân lên nhau tâm sự đến gần sáng. Dương Hoài Nam (bí danh của đại tướng Võ Nguyên Giáp) hỏi rất nhiều về tình hình Hà Nội. Còn U Xao Ty (bí danh mới được tổ chức đặt cho đồng chí Vũ Kỳ) thì lắng nghe như nhập tâm những điều dặn dò của vị giáo sư Trường Thăng Long mà mình đã từng nghe danh tiếng…

Cách mạng thành công, Bác Hồ và đồng chí Võ Nguyên Giáp về Hà Nội. Đồng chí Trần Đăng Ninh đưa ông Vũ Kỳ đến gặp Bác giữa lúc thường vụ đang họp ở 48 Hàng Ngang. Thấy ông xuất hiện đột ngột, đồng chí Võ Nguyên Giáp reo lên: “Ô Kỳ, U Xao Ty!”. Trần Đăng Ninh ngạc nhiên hỏi: “Biết nhau à?”.

Nguồn: Tiễn đưa đồng chí Vũ Kỳ
http://www.tuoitre.com.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=75783&ChannelID=3

Vũ Kỳ và HCM  1960

Theo tài liệu chính thống,  từ 1930 đến 1941 HCM đã có những hoạt động như sau:

Thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam

Ngày 3 tháng 2 năm 1930, tại Cửu Long (九龍, Kowloon) thuộc Hương Cảng, ông thống nhất ba tổ chức đảng cộng sản thành Đảng Cộng sản Việt Nam (sau đó đổi tên là “Đảng Cộng sản Đông Dương”, rồi đổi thành “Đảng Lao Động Việt Nam” và nay là “Đảng Cộng sản Việt Nam”).

Tháng 3 năm 1930, ông trở lại Thái Lan trong một thời gian ngắn, sau đó quay lại Trung Hoa.
Những năm 1931 – 1933

Năm 1931, dưới tên giả là Tống Văn Sơ (Sung Man Ch’o), Nguyễn Ái Quốc bị nhà cầm quyền Hương Cảng bắt giam với ý định trao cho chính quyền Pháp ở Đông Dương. Tờ L’Humanité số ra ngày 9 tháng 8 năm 1932 đưa tin Nguyễn Ái Quốc đã chết vì bệnh lao phổi trong trạm xá nhà tù tại Hồng Kông đồng thời tố cáo đây là âm mưu của thực dân Pháp câu kết với thực dân Anh nhằm ám sát người lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương[21]. Nhưng sau đó nhờ sự biện hộ và giúp đỡ tận tình của luật sư Frank Loseby[22], Tống Văn Sơ được thả ngày 28 tháng 12 năm 1932. Ông đi Thượng Hải rồi bí mật quay trở lại Liên Xô.
Thời kì ở Liên Xô lần thứ hai

Ông đến Moskva vào mùa xuân năm 1934. Với bí danh Lin, Nguyễn Ái Quốc học ở Trường Quốc tế Lenin (1934-1935). Ông dự Đại hội lần thứ 7 Quốc tế Cộng sản (từ ngày 25 tháng 7 đến ngày 20 tháng 8 năm 1935) với vai trò quan sát viên của ban thư ký Dalburo với tên Linov[23]. Theo tài liệu của một số nhà sử học, ông bị buộc ở Liên Xô cho đến năm 1938 và bị giam lỏng ở đó do bị nghi ngờ về lý do ông được nhà cầm quyền Hương Cảng trả tự do[24]. Trong những năm 1931-1935, ông đã bị Trần Phú và sau đó là Hà Huy Tập phê phán về đường lối cải lương “liên minh với tư sản và địa chủ vừa và nhỏ”, không đúng đường lối đấu tranh giai cấp của Quốc tế Cộng sản[25][26].
Từ năm 1938 đến đầu năm 1941

Năm 1938, ông trở lại Trung Quốc. Trong vai thiếu tá Bát Lộ quân Hồ Quang, Nguyễn Ái Quốc đến công tác tại văn phòng Bát Lộ quân Quế Lâm, sau đó đi Quý Dương, Côn Minh rồi đến Diên An, căn cứ đầu não của Đảng Cộng sản Trung Quốc và Hồng quân Trung Quốc mùa đông 1938.
Trở về Việt Nam

Ông trở về Việt Nam vào ngày 28 tháng 1 năm 1941[27], ở tại hang Cốc Bó, bản Pác Bó, tỉnh Cao Bằng với bí danh Già Thu. Tại đây, ông mở các lớp huấn luyện cán bộ[28], cho in báo, tham gia các hoạt động thường ngày… Tài liệu huấn luyện và tuyên truyền chủ yếu là sách do ông dịch và viết về nhiều chủ đề. Tại cuối một cuốn sách như vậy ông ghi “Việt Nam độc lập năm 1945″[29]. Ông cho lập nhiều hội đoàn nhân dân như hội phụ nữ cứu quốc, hội phị lão cứu quốc, hội nông dân cứu quốc…

Tháng 5 năm 1941, hội nghị mở rộng lần thứ 8 của Trung ương Đảng họp ở Cao Bằng và quyết định thành lập Việt Nam Độc lập Đồng minh Hội (Việt Minh). Ông là chủ tọa.

Nguồn: Hồ Chí Minh – http://vi.wikipedia.org/wiki/Hồ_Chí_Minh

Theo GS Hồ Tuấn Hùng, tác gỉa sách “Hồ Chí Minh Sanh Bình Khảo”, thì NAQ đã chết vì bệnh lao phồi nặng (trước đệ nhị thế chiến chưa có thuốc để trị bệnh lao phổi) và đã được làm lễ truy điệu và an táng ờ LX vào năm 1932. Sau đó HCM / Hồ Tập Chương là 1 người Tàu đã âm thầm “chuyển hoa ghép cây” biến thành nhân vật NAQ với sự đồng tình của CSLX/CSTQ để tiếp tục sứ mạng “Phát triển sự liên hợp trận tuyến giữa 2 đảng CSTQ và CSVN”:

Mật lệnh công tác của HCM (Hồ Chí Minh Sanh Bình Khảo)

Sau khi rời Mạc tư khoa đầu năm 1938, chính phủ quốc dân đảng TQ và Liên Xô lập thành liên minh để chống Nhật. Từ 1939-1944 HCM hoạt động ở Trung quốc, chấp hành nhiệm vụ CS Quốc tế giao phó. Trong lúc ấy cả VN, TQ, LX đều để chống lại đế quốc phát xít Nhật. LX giúp TQ về quân cơ (military plan).

Mật lệnh công tác của HCM là gì thì không rõ, nhưng sau khi thi hành thì có viết báo cáo gửi cho Trung ương ủy viên hội của Việt Nam và trả lời ĐCSQT, những mệnh lệnh đó liên can đến chủ nghĩa Trotsky, phát triển sự liên hợp trận tuyến giữa Trung Việt CSĐ.

Nguyễn Ái Quốc đã chết thật hay chết giả?

Nguyễn Ái Quốc có bệnh phổi lâu năm, vào tháng 6 năm 1931 bị cảnh sát HongKong bắt và chuyển đến bệnh viện của nhà tù để điều trị. Đầu năm 1932 có tin đồn bị mất tích tung ra từ Hồng Kông, khoảng tháng 7 tháng 8 giới truyền thông báo chí đưa tin bị chết vì bệnh ho lao. Những tin này rất phổ biến mà mọi người vào năm đó đều biết. Báo chí thời bấy giờ của Hồng Kông, Anh Quốc, Pháp và Nga Sô đều tung tin sau khi Nguyễn Ái Quốc từ Singapore trở lại Hồng Kông không rõ nguyên nhân vì đâu mất tích rồi sau bệnh chết. Sinh viên Việt Nam ở Đại học Đông Phương Mạc Tư Khoa (Moscow) còn đặc biệt làm lễ truy điệu và tang lễ cho ông và đảng CS quốc tế phái cả người đến chia buồn. Trong tài liệu hồ sơ của NAQ năm 1933 của Cảnh sát an ninh Pháp cũng ghi rõ ràng NAQ bệnh chết đến nỗi 10 năm sau tình báo viên của Pháp báo cáo với chính phủ thực dân rằng Nguyễn Ái Quốc hoạt động ở biên giới Trung-Việt. Chính phủ trả lời: “Vô lí, cái thằng điên đưa tin bậy bạ, đầu thập niên 30 (1930) NAQ đã chết ở Hồng Kông rồi!”

Những tài liệu nguyên thuỷ về sự việc trên vẫn còn rành rành trước mắt và đều được báo chí thời đó ghi chép, là tư liệu lịch sử đầu tiên nắm giữ sự thật mà mọi người lúc ấy đều không nghi ngờ gì nữa. Trong vòng mười năm đó (1932-1941) Nguyễn Ái Quốc hoàn toàn mất tích, không có một dấu vết gì trên “sân khấu lịch sử”. Trong mười năm đó tất cả ghi chép về bất kỳ hoạt động nào của Nguyễn AQ đều là của một HCM tự xưng là Nguyễn ái Quốc. mà là những tư liệu được quay lại bổ túc thêm sau này.

HCMinh sau hơn 10 năm (xuất hiện trở lại) phủ nhận mình chết vì ho lao, biện minh rằng năm ấy vì phương tiện muốn đào vong nên cố ý ngụy tạo tin đã bệnh chết. Những cấp cao của đảng CS quốc tế, Trung Cộng và Việt Cộng một mặt toàn lực che đậy những hoạt động của HCM (Hồ tập chương) từ năm 1929 đến 1933, một mặt không ngừng truyền tin giả rằng HCM tức là Nguyến Ái Quốc để làm NAQ sống lại trên sân khấu lịch sử. Ví dụ vào năm 1933 vì để tạo ấn tượng giả rằng NAQ vẫn còn sống mà tung tin NAQ cùng với người bạn Pháp Paul Vaillant Couturier gặp gỡ nhau tại Thượng Hải với ý đồ muốn người đời tin là NAQ vào năm 1933 vẫn hoạt động ở Thượng Hải diễn thành màn “chuyển hoa ghép cây”. Muời năm sau khi NAQ bệnh chết, ngày 6 tháng 6 năm 1941 Hồ Chí Minh lần đầu tiên xuất hiện công khai với tên NAQ phát biểu thư hiệu triệu toàn quốc đồng bào, kêu gọi nhân dân VN đứng lên cách mạng làm tròn nhiệm vụ xây dựng độc lập cho đất nước. Từ đó, NAQ vốn im lặng trong mười năm trường, đã bị thế nhân quên rồi trong ý thức chợt hồi sinh và xuất hiện trở lại trên sân khấu lịch sử. Và rồi HCM đem chuyện đời của mình những ngày tháng “chuyển hoa ghép cây” sau khi NAQ đã chết ngụy biện rằng: “Mùa xuân năm 1932 sau khi mất tích ở HongKong, trốn đến Hạ Môn dưỡng bịnh nửa năm. Đầu năm 1933 từ Hạ Môn đến Thượng Hải, cùng năm ấy mùa xuân từ Thượng Hải đến Mạc Tư Khoa.” Từ ấy, ve sầu thoát xác tạo nên một HCM – tức là nhân sinh mới của NAQ.

Như cả đến sự thật NAQ bệnh chết, đã bị lịch sử giải thích là vì muốn tránh sự truy lùng của (cảnh sát) đặc vụ Pháp nên cố ý đưa tin giả. (Để rồi) cuối cùng dưới sự tuyên bố của cấp cao đảng CS quốc tế làm củng cố thêm hình ảnh”HCM tức là NAQ”, đảng CS Trung Quốc và đảng CS Việt Nam đã tạo dựng thành công màn “NAQ chết đi sống lại” do đảng CS quốc tế đạo diễn. NAQ có thật sự chết vì bệnh lao không? Đảng CS Quốc tế có đạo diễn màn “chết đi sống lại” không? Xin mời mọi người cùng nhìn lại lịch sử năm xưa, nghe chứng cớ lịch sử phân trần để trả chân tướng lại cho lịch sử.

NAQ bị bệnh lao nặng trên đường tới Mạc Tư Khoa và sau đó đã chết và được chôn ở Mạc Tư Khoa

NAQ có phải vào mùa thu năm 1932 bệnh chết vì lao phổi không cứ phân tích tình huống chính ngay lúc ấy thì hầu như có thể xác định được vậy. Y cứ hồi kí của đảng viên Việt Cộng Lí Đức Phương: “Năm 1925-1927 NAQ ở Quảng Châu 900 ngày lao lực hơn bình thường, làm việc cả ngày lẫn đêm, đem chất lên ắt nhiều như núi, từ sáng 5 giờ làm đến 2 giờ khuya. Sức khoẻ không tốt, ho rất nhiều, có khi ho ra cả máu.” Năm 1930 từ tháng 7 đến tháng 9 NAQ gửi 6 lá thư cho Viễn Đông Cục kể rõ việc mình bị hành bởi cơn bệnh lao phổi. Ông đem bệnh tình diễn tả như sau: “Phổi rất khó chịu, lại ho ra máu, thân thể rất là hư nhược mệt mỏi.” Cuối tháng 11 năm 1931 NAQ viết thư gửi đồng chí Lam Đức Thư trong Liên minh thanh niên cách mạng rằng: “Thân thể tôi sức khoẻ đã đến hồi đáng ngại, thường xuyên ho ra máu. Cứ thế tiếp tục tôi e phải chết trong tù mất thôi.” Năm 1932 tình báo của Anh Quốc Long Paul lúc dùng thủy phi cơ giúp đỡ NAQ trốn khỏi HongKong thấy: ” NAQ rất yếu, chẳng ngừng ho hen, chừng như không còn đủ sức để nói chuyện.” (1) [đoạn này tác giả có ghi chú thêm là tài liệu trong cuốn nhật ký của Paul Draken có để trong sách để người đọc tham khảo]

Những gì ghi trên đây đều là kể trước lúc NAQ từ Hongkong trốn đi Thượng Hải, với bệnh tình nghiêm trọng như thế kia khi phải trải qua bao gian khổ lúc đi thuyền, lúc đi thuỷ phi cơ liệu có thể chịu đựng được không? Huống hồ gì sau khi lên bờ, đảng Quốc dân ở Thượng Hải cùng với cảnh sát ở tô giới của Anh và Pháp như cọp chăm chăm canh chừng tất cả hoạt động của đảng CS, NAQ cũng sẽ tự nhiên không dám lộ mặt đi tìm nơi cứu chữa bệnh tình, chỉ có thể cố gắng chịu đựng đến Mạc Tư Khoa. Chuyện bệnh chết ở Mạc Tư Khoa là khá có thể vậy. Vì thế, báo chí của đảng CS các nước sau khi tờ báo Chân Lí của Liên bang Sô Viết đưa tin trước tiên thì đến tờ NHân Đạo của đảng CS Pháp, tờ Công nhân của đảng CS Anh thay phiên nhau liên tiếp trong tháng 7 tháng 8 năm 1932 báo tin NAQ chết vì bệnh lao phổi và du học sinh Vn tại Nga cử hành tang lễ cho NAQ. Theo đây suy luận “NAQ bệnh chết trên đường đến Mạc Tư Khoa và được mai táng ở Mạc Tư Khoa” thì có thể xác nhận là sự thật, tuyệt chẳng phải là cái chết giả như HCM biện minh đó chỉ là cái cớ để dễ bề đào vong thì có thể dễ dàng chôn vùi chân tướng của sự thật.

Sự sai lầm trong cách biện minh của HCM về cái chết vì bệnh của mình

Cách giải thích về cái chết của HCM có trái ngược nhau không? Có lúc nói “tin chết giả được tung ra là tin đồn của đương cục thực dân Pháp phát tán. Có khi lại bảo: “Luật sư Frank Loseby cố ý đưa tin NAQ chết là muốn tung hỏa mù để NAQ dễ dàng trốn thoát.” Và rồi phiên bản tiếng Việt của HCM truyện hay HCM Biên Niên Tùng Thư biện minh về cái chết của NAQ trước sau khác nhau rất khó khiến người chấp nhận đó đồng với cách giải thích của HCM. (Sách nói) rằng: “Loan truyền tin đã chết là cớ để trốn khỏi HongKong.” Và (sách ghi) đặc biệt HCM nói là: “Tin chết giả được phát tán là lời đồn của thực dân Pháp ý đồ muốn làm xuống tinh thần tranh đấu của dân chúng.” Đây hầu như có điểm chẳng thông. Tin NAQ chết là được bắt đầu loan truyền vào mùa thu năm 1932 mà HCM nói lúc rời HongKong đến Hạ Môn là tháng 1 năm 1933. Thời gian cách nhau gần nửa năm, thật không đúng với kinh nghiệm và lý lẽ thường tình. Theo tình huống thật mà nói, bảo chết tạo hỏa mù để dễ trốn thoát thì thời gian tung tin giả và thời gian thật sự trốn thoát phải tiến hành cùng lúc thì mới phù hợp sự thật. Đằng này thời gian cách nhau gần nửa năm trời. Và càng vô lý hơn nữa là đến những 10 năm sau mới nói mình vẫn còn sống để nói rõ (nguyên nhân) tin tức đã tung ra từ 10 năm trước. Chưa chết mà cứ nói đã chết còn làm nhọc công mọi người lo lắng làm đám tang và mở lễ truy điệu cùng lúc với tổng thư ký Trần Phú khi ấy cũng vừa mất. Cách giải thích hoang đường và tức cười như thế không hợp với lý lẽ thông thường. Những lời biện minh ấy thật như là tự lấy đá ném chân mình. Mà nguyên nhân thật sự là HCM đang sử dụng mánh khoé lừa dối “mượn xác hoàn hồn”, “chuyển hoa ghép cây”.

Mượn xác hoàn hồn và chuyển hoa ghép cây

Năm 1933 Hồ đến Mạc tư khoa, tình hình sức khoẻ lộ rõ rất tệ, bệnh phổi vẫn đeo mang, người rất ốm, sắc mặt trắng xám, đầu cạo trọc lóc, đôi khi ho sù sụ, trong đàm có máu. Do vì lúc ấy không có thuốc trị bệnh lao đặc biệt hiệu nghiệm nào, Hồ trị bằng phương pháp phải rất quy cũ trong sinh hoạt, nghiêm túc tuân thủ giờ giấc làm việc và nghỉ ngơi đúng mực. Mỗi ngày sáng sớm thức dậy đều tập thể dục. Trong phòng của ông có quả tạ và dụng cụ thể thao tập ngực. (HCM tại TQ – Tưởng Vĩnh Kính, trang 82)

Tổng kết lại những tư liệu tường thuật bệnh tình ở trên: theo những ghi chép trước năm 1933, bệnh sử của NAQ đều có liên hệ chặt chẽ đến bệnh lao phổi, rất phù hợp với sự thật NAQ bệnh mất vì ho lao vào mùa hạ năm 1932. Và sau 1933 hầu như không hề thấy một ghi chép nào nói HCM có bệnh lao phổi. Cuối cùng tháng 9 năm 1969 HCM lại chết vì bệnh tim suy kiệt mà không phải bệnh ho lao. Tuy nhiên ở điểm 19 ghi lúc HCM đến Mạc tư khoa sức khoẻ yếu kém, vẫn mang bệnh phổi, thỉng thoảng ho và trong đàm có máu. Song nguồn phần tư liệu này (của sách HCM tại TQ) lại là từ hồi kí của phó bộ trưởng bộ giáo dục của Bắc Việt Nguyễn Khánh Tuyền, mục đích là để HCM thuận lợi tiếp tục sự nghiệp cách mạng khiến VN độc lập của NAQ, cố ý đem chứng bệnh lao phổi vừa lấy mất sinh mạng của NAQ gán cho HCM. Cái ý đồ ghép bệnh sử ho lao để nối kết hai người là sai lầm (vì bệnh đã nặng vậy mà từ 1933 trở đi không có một ghi chép nào về bệnh ho lao gì nữa).

Nguồn: Hồ Chí Minh Sanh Bình Khảo / Trích Dịch Blacky và Nhi
http://prisonbreak1612.multiply.com/journal/item/27

Hình Nguyễn Ái Quốc (bên phải) đã được cạo ghép sửa lại, đặc biệt là tai bên trái sự sai lệch rất rõ ràng. Vì ý đồ muốn tạo sự liên kết giữa Nguyễn Ái Quốc và Hồ Chí Minh

Hình Chụp HCM với những năm tháng khác nhau. Hình HCM / Lin (bên trái, hàng dưới) là lúc vừa đến Moskau năm 1933 và hình NAQ / Lý Thụy / Tống Văn Sơ (bên phải, hàng dưới) lúc bị bắt ở HongKong vào năm 1931, đây cũng là tấm hình cuối cùng của NAQ

Nếu nhìn kỹ vành tai, mũi và miệng cùa NAQ / Lý Thụy / Tống Văn Sơ (bên phải) và HCM / Lin (đầu trọc, bên trái) thì chúng ta có những nhận xét sau:

1) Vành tai không giống nhau
2) Mũi của NAQ thì kín và mũi của HCM thì hĩnh (phồng)
3) Miệng của NAQ thì bình thường và của HCM thì rộng

Chúng ta giải thích như thế nào về sự khác biệt khó hiểu kể từ lúc vào tù (1931) và ra tù (1933) và tại sao những hình ảnh về HCM / NAQ đều bị cạo sửa, nhất là vùng gẩn lỗ tai, mũi, miệng thường là mờ đi hay qúa sáng hoạt qúa tối để không thể còn nhìn cho rõ và tô vẽ lại truớc khi cho lưu hành?

Trước Hồ Tuấn Hùng thì cũng đã có 2 tác giả VN nói về bệnh lao phổi của NAQ ở HongKong:

1) Nhân dân Việt Nam bắt đầu nghe tên Hồ Chí Minh từ tháng 8 năm 1945. Ngày 28 tháng 8 năm đó (nghĩa là ngay sau ngày Việt Minh cướp chính quyền) báo chí Hà Nội công bố thành phần Chính phủ lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hoà mới thành lập do ông Hồ Chí Minh làm chủ tịch. Trước đấy, chưa ai nghe đến tên Hồ Chí Minh bao giờ, và mọi người đều thắc mắc về cái tên hơi kỳ lạ đó. Nhiều người cho rằng cái tên đó văn hoa quá không phải là tên thật mà chỉ là tên hiệu.

Dư luận bàn tán về lý lịch ông Hồ Chí Minh, nhất là các nhân viên trong tân chính phủ hồi ấy lại càng băn khoăn hơn, và tất cả đều nóng lòng muốn biết rõ ông Hồ là ai và tên thật là gì. Nhưng rồi cũng chẳng phải chờ lâu, vì chỉ mấy hôm sau bắt đầu có tin đồn Hồ Chí Minh là tên mới của Nguyễn Ái Quốc, con người bí mật đã từng “khai sinh ra Đảng Cộng sản Việt Nam”.

Khi nghe tin đồn này, sở Mật thám Pháp đã lập tức lục lại hồ sơ để tìm ảnh Nguyễn Ái Quốc. Theo hồ sơ chính thức thì Nguyễn Ái Quốc đã chết ở Hồng Kông năm 1933. Khi đem so sánh bức ảnh đã phai nhạt của Nguyễn Ái Quốc với những tấm ảnh của ông Hồ bán đầy đường Hà Nội, sở Mật thám Pháp mới biết họ Nguyễn vẫn còn sống, và sau 10 năm ẩn náu trong bóng tối đã trở lại chính trường dưới cái tên Hồ Chí Minh. Các chuyên viên sở Mật thám Pháp quyết đoán Hồ Chí Minh chính là Nguyễn Ái Quốc mặc dầu sau 20 năm gian khổ, vóc dáng và nét mặt họ Nguyễn có thay đổi rất nhiều. Bằng cớ là vành tai phải của hai bức ảnh đều nhọn, trong khi tai bên trái vẫn đều đặn. Nhưng ông Hồ cứ chối như Cuội, nói rằng mình không phải là Nguyễn Ái Quốc. Ngay cả khi tướng Salan, đại diện Pháp dự cuộc đàm phán năm 1946, hỏi thẳng vào mặt ông Hồ, ông vẫn một mực chối cãi.

Riêng đối với người Việt thì ông Hồ không chối thẳng nhưng cứ trả lời loanh quanh. Thí dụ như trong năm 1946, ông đáp tầu Dumont D’Urville trở về Hải Phòng sau hội nghị Fontainebleau. Cùng đi trên chuyến tàu này có bốn chuyên gia Việt Nam mà ông Hồ đón từ Paris về nước. Một trong bốn ông là ông Võ Quý Huân, có hỏi ông Hồ: “Thưa chủ tịch, chủ tịch có biết ông Nguyễn Ái Quốc hiện nay ở đâu không ạ?” Ông Hồ chỉ mỉm cười và đáp: “Chú tìm ông ấy mà hỏi, tôi đâu biết”.

Không những ông Hồ chỉ giữ kín lý lịch của ông mà đến quê quán gốc tích của ông, ông cũng hết sức bí mật. Trong một bản danh sách ứng cử quốc hội năm 1946, ông khai sinh quán ở Hà Tĩnh; nhưng hiện nay ai cũng biết rõ ông sinh quán ở Nghệ An. Việc này được phơi bày công khai năm 1958 khi một phái đoàn nhân viên sứ quán các nước xã hội chủ nghĩa viếng thăm quê hương ông Hồ. Sau cuộc viếng thăm, báo chí Hà Nội đã thú nhận ông Hồ Chí Minh chính là Nguyễn Ái Quốc. Tạp chí Tranh ảnh Việt Nam Dân chủ Cộng hoà do Việt Nam Thông tấn xã (Bắc Việt) ấn hành, trong số tháng 8 năm 1960, có đăng bức ảnh Nguyễn Ái Quốc với dòng chữ chú thích “Đồng chí Nguyễn Ái Quốc (Hồ Chí Minh) năm 30 tuổi, đang bôn ba hoạt động ở hải ngoại”.

Mặc dầu lý lịch của ông Hồ đã được xác định rõ rệt, thế giới tự do vẫn không biết mấy về con người kỳ lạ ấy, và phần lớn những hoạt động của ông Hồ vẫn chỉ có Đệ Tam Quốc tế biết rõ mà thôi. Tất cả những điều ghi chép về ông Hồ chỉ là dựa vào tập hồ sơ mong manh của mật thám Pháp, Anh và những lời thuật lại của một vài người đã có dịp gặp ông.

Nguồn: Từ thực dân đến cộng sản – Một kinh nghiệm lịch sử của Việt Nam / From Colonialism to Communism – Hoàng Văn Chí 1962
http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=9714&rb=08

Như vậy qua lời thuật lại của Hoàng Văn Chí thì HCM vẫn chưa chính thức công nhận mình là NAQ trên tầu Dumont D’Urville (về đến cảng Hải Phòng vào ngày 21/10/1946) thì những câu chuyện về Bà Chị Thanh hay Ông Anh Cả Khiêm ra Hà Nội thăm HCM 5, 10 ngày sau đó có khả năng là hoàn toàn bịa đặt và có lẽ câu chuyện về thăm quê nhà của HCM vào năm 1957/1961 cũng không có thật luôn:

Vào lúc 11gờ 30 phút ngày 27.10.1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh lần đầu tiên sau bao nhiêu năm bôn ba đã được gặp lại chị gái mình – bà Nguyễn Thị Thanh. Hôm đó nhằm vào ngày Chủ nhật.

Trong câu chuyện đầy cảm động của tình chị em, bà Thanh hỏi Bác: “Cậu đi lâu thế có nhớ quê hương không? Cậu còn nhớ chị ngồi ru võng cho cậu ngủ không…”. Nước mắt của Bác Hồ bùi ngùi cảm động. Người đã nói với chị gái: “Chị ơi, quê hương, nghĩa nặng, ơn sâu, mấy mươi năm ấy biết bao nhiêu tình… Chị ơi, khi ở nước ngoài, có lúc đêm khuya thanh vắng, bỗng được nghe một lời ru con của người nhà mình thì lòng dạ lại càng thêm cồn cào nỗi nhớ quê hương, đất nước”.

Bà Thanh hỏi tiếp: “Khi nào cậu về thăm quê được?”. Bác đáp: “Em cũng muốn về thăm quê, nhưng chắc chắn còn lâu, vì việc nước còn nặng nề lắm”.

Đúng một tuần sau đó, ngày 3.11.1946, ông Nguyễn Sinh Khiêm ra Hà Nội gặp Bác. Cậu Khiêm hỏi: “Chú định đến khi nào về thăm quê nhà?”. Bác thưa: “Về đến đây cũng là về đến nhà rồi, tình hình và công việc thế này chưa cho phép nghĩ tới, chắc việc đó còn lâu”. Hôm đó cũng là ngày Chủ nhật.

Mãi đến 11 năm sau khi gặp lại chị gái và anh trai, Bác Hồ mới có dịp về thăm quê (1957).

Nguồn: “Người về thăm quê mang theo bao kỷ niệm”
http://tintucvina.com/?news=89683

NAQ từ bỏ làng quê ra đi vào năm 1911 và làm CT Nước vào năm 1945 mà chưa bao giờ về thăm lại làng quê của mình thì đúng là một nghi vấn lịch sử!

2) Cuối năm 1933, Tuấn đọc mấy tờ báo Pháp và An nam xuất bản ở Saigon và Hà Nội, thấy ở trang 4, trong một cột chữ nhỏ, một tin vắn tắt đại khái như sau đây:

Nguyễn Ái Quốc đã chết tại Hồng Kông vì bịnh lao

“Tin người Anh cho biết vừa rồi Nguyễn Ái Quốc, kẻ phiến loạn cách mạng An nam (agitateur révolutionnaire annamite) bị chết vì bịnh lao phổi trong ngục thất ở Hồng Kông.”

Cái tin ngắn chỉ có mấy dòng chữ nhỏ như thế, đăng ở cuối trang tư như một tin vặt không mấy quan trọng, nhưng đã gieo vào đầu óc của tất cả những người An nam làm cách mạng hồi đó, Quốc gia cũng như Cộng sản, sự tin chắc rằng cái tin kia là thật.

Ðối với thanh niên sinh viên như Tuấn trong trí óc nẩy ra ý nghĩ thực thà rằng Nguyễn Ái Quốc đã thuộc về thế hệ tiền bối như các cụ Phan Chu Trinh, Phan Bội Châu thì sự chết về tuổi già là lẽ thường. Huống chi cụ Nguyễn Ái Quốc lại bị bịnh lao phổi, cụ chết vì bịnh đó cũng là lẽ tất nhiên.

Nói đúng ra, thời bấy giờ ở An nam ít có ai biết rằng Nguyễn Ái Quốc là cộng sản. Cái tên “Ái Quốc ” của cụ để cho các lớp người thanh niên yêu nước tưởng rằng cụ là một nhà cách mạng quốc gia lão thành, ở hải ngoại lâu năm như các cụ Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh vậy thôi.

Cái tin Nguyễn Ái Quốc chết vì bịnh lao phổi ở Hồng Kông đã làm xôn xao các giới cách mạng một thời gian rồi cũng chìm trong quên lãng. Dần dần không ai nói đến Nguyễn Ái Quốc nữa.

Mãi đến tháng 8 năm 1945, nghĩa là 12 năm sau, cũng như tất cả những người Việt Nam trong nước và hải ngoại, Tuấn nghe thấy lần đầu tiên cái tên Hồ Chí Minh và dư luận trong giới cách mạng quả quyết rằng “Hồ Chí Minh” chính là Nguyễn Ái Quốc. Tuấn hoàn toàn ngạc nhiên!

Vài năm sau đó, Tuấn được đọc ba bốn quyển sách ngoại quốc:

· Le VietMinh của Bernard Fall (Paris)
· Cinq hommes et la France của Jean Lacouture (Paris)
· From colonialism to communism (New York) của Hoàng Văn Chí.
· Le Mystérieux Hồ Chí Minh (Paris) của Hồ Văn Tạo.

mới biết rõ sự thật.

Sau khi Tưởng Giới Thạch tuyệt giao với Nga, năm 1927, Nguyễn Ái Quốc, nhân viên sứ quán Nga, theo lãnh sự Nga là Borodine phải từ giã Trung quốc trở về Moscou, để Hồ Tùng Mậu (tức là cố Mậu, T.S 40 “xến xáng”, bị giam ở trại an trí Trà Khê (Phú Yên) từ năm 1940 đến năm 1945) ở lại thay thế làm Tổng Bí Thư Ðông Dương Cộng Sản Đảng.

Cuối năm 1929, Nguyễn Ái Quốc được lịnh trở lại (từ Nga) Hồng Kông tiếp tục hoạt động, nhưng bị người Anh bắt bỏ tù ngày 6 tháng 6 năm 1931. Bắt rồi được tha, Nguyễn Ái Quốc lẻn đi Singapore, nơi đây ông lại bị người Anh bắt lần thứ hai, đưa về Hồng kông, vào bịnh viện vì bịnh lao phổi.

Cuối năm 1933, Nguyễn Ái Quốc bổng dưng biến mất. Nhà cầm quyền Anh ở Hồng Kông không hề cho biết Nguyễn Ái Quốc mất tích trong trường hợp nào. Có lẽ ông thoát ngục trốn đi chăng?

Dù sao họ cũng đã loan tin rằng Nguyễn Ái Quốc chết vì bịnh lao ở ngục thất Hồng Kông. Tờ báo Daily Worker, của đảng Cộng Sản Anh ở Luân Ðôn, cũng đăng tin xác nhận rằng Nguyễn Ái Quốc, lãnh tụ Cộng sản An nam, bị bịnh lao phổi đã từ trần trong ngục thất Anh ở Hồng Kông.

Ðồng thời bộ Thuộc địa Pháp ở Paris và Phủ Toàn Quyền Ðông Dương ở Hà Nội cũng nhận được tin ấy. Trong hồ sơ của Nguyễn Ái Quốc tại sở Mật Thám Pháp cũng có ghi rằng Nguyễn Ái Quốc chết vì bịnh lao phổi ở Hồng Kông năm 1933.

Sự thật, chỉ có một đôi người quan trọng của Komintern(cơ quan đầu não của cộng sản Ðệ Tam – Nga, là biết Nguyễn Ái Quốc ở đâu và làm gì trong thời gian từ 1933 thoát ngục Hồng Kông, đến năm 1941, năm mà ông lại xuất hiện đột ngột ở Moscou.

Ngoài ra, chính những đảng cộng sản ở Moscou và ở khắp thế giới, và toàn thể đảng viên cộng sản An nam đều tin rằng Nguyễn Ái Quốc đã chết vì bịnh lao ở ngục thất ở Hồng Kông, như nhà cầm quyền Anh đã tuyên bố, và báo Daily Worker của đảng cộng sản Anh ở Luân Đôn đã đăng tin xác nhận.

Theo các tài liệu chính xác mới được tiết lộ sau nầy, thì Staline rất bất bình Nguyễn Ái Quốc vì ông chủ trương cuộc nổi loạn quá sớm của cộng sản Nghệ An năm 1931, và Quảng Ngãi năm 1932, gây thất bại lớn lao cho đảng Cộng sản Ðông Dương trong thời kỳ phôi thai.

Do đó, năm 1933, Nguyễn Ái Quốc đang ở Hồng Kông được lịnh của Staline triệu về Moscou và bí mật bị đày đến miền Ðông Sibérie. Mãi đến mùa xuân năm 1941, Nguyễn Ái Quốc mới được Staline gọi về Moscou và được lịnh cùng đi với Nguyễn Khánh Toàn sang gấp Yenan, nơi đây Mao Trạch Ðông giúp Nguyễn Ái Quốc những phương tiện trở về biên giới Hoa – Việt, lập mặt trận Việt-Minh với các phần tử cách mạng ở Trung Quốc.

Lần đầu tiên, năm 1941, xuất hiện nơi đây tên ” Hồ Chí Minh “, vì Nguyễn Ái Quốc vẫn còn dấu bí mật lai lịch và tên tuổi thật của ông. Mãi đến năm 1958, vài tờ báo của chính phủ Hà Nôị mới được phép chính thức đăng rõ ràng Hồ Chí Minh là Nguyễn Ái Quốc.

Tạp chí tranh ảnh “Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa” do Thông tấn xã Việt cộng phát hành, số tháng 8 năm 1960, đăng ảnh Nguyễn Ái Quốc với câu đề phía dưới “Ðồng chí Nguyễn Ái Quốc (Hồ Chí Minh) lúc 30 tuổi đang hoạt động ở ngoại quốc.”

Nhưng năm 1933, Tuấn đọc báo Hà Nội và Saigon, cứ yên trí rằng Nguyễn Ái Quốc đã chết vì bịnh lao phổi ở Hồng Kông. Chính một số đông lãnh tụ cộng sản ở Hà Nội lúc bấy giờ là Võ Nguyên Giáp, Ðặng Xuân Khu (Trường Chinh), Trần Huy Liệu, cũng đều tin chắc như vậy.

Trích: Tuấn, chàng trai đất Việt / tác giả Nguyễn Vỹ – 1969
http://vnthuquan.net/truyen/truyen.aspx?tid=2qtqv3m3237n1n0n1n1n31n343tq83a3q3m3237n2nmn

Và theo như Đại sứ Trung Quốc Hồ Càn Văn thì HCM nói tiếng Tàu như tiếng mẹ đẻ:

Vâng, tôi xin nói đơn giản, hôm nay (ngày 7/11/2008) đồng chí Chủ tịch LHHNVN Vũ Xuân Hồng tặng tôi Kỷ niệm chương “Vì hòa bình hữu nghị giữa các dân tộc”. Lần đầu tiên tôi sang Việt Nam là vào tháng 11/1965, sang học tiếng Việt. Hồi đó Việt Nam đang trong hoàn cảnh chiến tranh, Mỹ đang ném bom bắn phá miền Bắc Việt Nam. Ba tháng sau khi sang Việt Nam (tháng 2/1966), đích thân Bác Hồ đã mời lưu học sinh Trung Quốc chúng tôi đến Phủ Chủ tịch ăn cơm với Bác, Bác ân cần hỏi từng người một. Nếu ai quê ở Quảng Đông thì Bác nói tiếng Quảng Đông, nếu quê ở Bắc Kinh thì Bác nói tiếng phổ thông, quê ở Thượng Hải thì bác nói tiếng Thượng Hải. Bác có thể nói được rất nhiều tiếng địa phương của Trung Quốc và chúng tôi cảm thấy rất thân mật. Sau đó chúng tôi cử một đại biểu đại diện phát biểu với Bác và tôi là người được vinh dự đứng lên phát biểu. Kỷ niệm đó đối với tôi không bao giờ quên. Sau này, chúng tôi còn được gặp Bác hai lần nữa, một lần Bác vào thăm Đại sứ quán Trung Quốc và một lần Bác đi thăm lưu học sinh chúng tôi, sau đó thì Bác sức khỏe yếu nên chúng tôi không được gặp Bác nữa.

Nguồn: Trò chuyện với Đại sứ Trung Quốc Hồ Càn Văn – 21/11/2008

NAQ rất thích chưng diện áo vét thắt cà vạt còn HCM chỉ xuất hiện trước công chúng trong bộ quần áo đại cán và theo như lời của GS Hồ Tuần Hùng thì người ta chưa bao giờ thấy HCM mặt áo vét thắt cà vạt như NAQ thời trai trẻ:

NAQ tại hội nghị Quốc Tế Cộng Sản tại Nga vaò năm 1924

HCM đi thăm Tổng Thống Đông Đức Wilhelm Pieck ở Berlin 25.7.1957

HCM (với áo đại cán) / Phạm Văn Đồng và phái đoàn tham dự “Hội nghị Fontainebleau 22.6.1946

NAQ tham dự Đại hội lần thứ 18 của Đảng Xã hội Pháp tại Tours 25.12.1920

Hồ Chí Minh đến Moscow tháng 7/1955

HCM với bạn gái Đặng Dĩnh Siêu  (bên phải) và Thái Sướng (bên trái) trong  chuyến viếng thăm Lô Sơn bí mật của HCM và chưa 1 lần ghé thăm Tăng Tuyết Minh (vợ Tàu của NAQ)  – Chụp lại từ “HCM sinh bình khảo” trang 251

HCM và Mao – Quân hàm cuối cùng của Tình Báo HCM: Đại Tướng hay Thượng Tướng ?

Kết Luận:

Qua những dẫn chứng trên thì nhận định HCM là 1 người TQ làm tình báo cho CSTQ với bí danh Thiếu Tá Hồ Quang của Bát Lộ Quân / Quế Lâm là hoàn toàn khả tín. Như vậy nghi vấn HCM gỉa danh NAQ được biệt phái về VN đề hoàn thành Sứ Mạng “Cướp Nước VN” cho CSTQ là có thể chấp nhận được và hy vọng qua đó chúng ta có thể giải thích được những hành động khó hiểu và bí ẩn của HCM ở VN cũng như lịch sử (bất hạnh) VN thời đại HCM. Chúng ta thử đánh giá công / tội HCM cho 2 nước TQ / VN kể từ khi Tình Báo HCM chuẩn bị vượt biên giới Việt Trung về Pắc Bó:

– Tiêu Diệt Ban Lãnh Đạo đảng CSVN cánh miền nam (qua Nam Kỳ Khởi Nghĩa 1940 –  Cờ đỏ sao vàng chính thức xuất hiện lần đầu ở VN và cũng là Cờ của tỉnh Phúc Kiến TQ 1933/34) và những người có quan hệ với NAQ như Nguyễn Thị Minh Khai, Hà Huy Tập, Nguyễn Văn Cừ, Võ Văn Tần, Châu Văn Liêm, Phan Đăng Lưu, Nguyễn Hữu Tiến….

Trước đây trên một số diễn đàn có thảo luận về việc cờ đỏ sao vàng đã được dùng tại tỉnh Phúc Kiến. Một người ký tên T.L.T. đã đề cập việc “Trên VTV3 Việt Nam, lúc 20h các ngày thứ 2 đến thứ 6, từ 26/2/2002 đến 08/4/2002 đã chiếu bộ phim Trường chinh 24 tập của Trung Quốc, do Kim Thao và Đường Quốc Cường đạo diễn, Quốc Cường cũng thủ vai Mao. Phim nói về cuộc kháng chiến chống Tưởng của Mao. Ai để ý sẽ thấy nhiều cảnh Hồng quân Trung Quốc phất cờ đỏ sao vàng trong các trận đánh. Nói thêm về Mao, theo lịch sử: khi bất đồng ý kiến với các lãnh tụ cộng sản đầu tiên của Trung Quốc, Mao quay qua nghiên cứu nông dân, tổ chức chính trị tập hợp nông dân ở khu vực Phúc Kiến, Hồ Nam, Giang Tây. Năm 1931 Mao thành lập Chính phủ cộng hòa Xô-viết đầu tiên tại Thụy Kim, Giang Tây. Vậy thủ phủ Phúc Châu (Fuzhou) thuộc Phúc Kiến nằm trong vùng ảnh hưởng của Mao.” Vừa rồi, ở Úc đài SBS có chiếu bộ phim này, người viết có xem và thấy cờ đỏ sao vàng (múi sao phình ra như lá cờ Việt Minh) xuất hiện nhiều lần, nhất là cảnh Hồng quân Trung Quốc phất cờ đỏ sao vàng trong các trận đánh đúng như T.L.T. đã góp ý.

Nguồn: Cội nguồn và ý nghĩa lá cờ đỏ sao vàng – Nguyễn Quang Duy
http://vietbf.com/forum/showthread.php?t=59346

– Cướp quyền lãnh đạo đảng CSVN 1940-1969 (đưa vây cánh ủng hộ HCM miền bắc lên làm lãnh đạo…Trường Chinh, HCM)

– Cướp quyền lãnh đạo nhà nước VN 1945-1969

– Rước Pháp trở lại VN với Hiệp Định Sơ Bộ ngày 6/3/1946: Mượn tay Pháp tiêu diệt các Tổ chức kháng chiến Người Quốc Gia không theo CS và cả những người CS có khuynh hướng Quốc Gia…để rồi sau đó kêu gọi toàn dân kháng chiến đuổi Pháp ra vào ngày 19/12/1946.

– Cải cách ruộng đất (1953 – 1956), NVGP (1958), XLCĐ (1967): Phá tan cấu trúc che chở đùm bọc lẩn nhau ở làng quê VN, triệt tiêu tình thần sáng tác của giới Văn-Nghệ-Sĩ VN, trấn áp / loại bỏ những đảng viên CSVN có khuynh hướng thân LX với chủ trương chung sống hòa bình với TGTD.

– Trận Đánh ĐBP 1954: Đuổi Pháp ra, lần đầu tiên TQ được ngồi “chung chiếu” với Tứ Cường lúc bấy giờ (Anh – Mỹ – Pháp – LX) ở Hội nghị Geneva năm 1954, chia cắt VN để dụ Mỹ vào VN và cho nhân dân VN ăn bánh vẽ “Huyền Thoại Thiên Tài Cầm Quân VNG”. Cả miền bắc phấn khởi tự hào anh hùng, khí thế hồ hởi để chuẩn bị “Vượt Đường Mòn HCM-Trường Sơn” phục vụ mưu đồ Nam Tiến của TQ.

– Chỉ thị cho TT Phạm Văn Đồng ký công hàm công nhận vùng lưỡi bò Biển Đông là của TQ vào ngày 14.9.1958.

– Tặng Tổng Thống Diệm VNCH cành đào đỏ thắm vào dịp Tết Qúy Mão (1963): Phải chăng cái chết của TT Diệm vào ngày 2.11.1963 đã được HCM báo trước?

– Trận Tổng Tấn Công Mậu Thân 1968 (30/1 – 25/2): Sửa soạn cho Mỹ đến Paris tham dự Hội Đàm Paris (5/1968) và chuẩn bị cho Nixon đến Bắc Kinh (2/1972). Làm suy yếu chủ lực của MTGPMN (“tự” giải tán vào ngày 2.7.1976).

– Xài máu dân như xài nước lã và giấy bạc giả: địch chết một ta chết mười.

– Thiết Lập một mạng lưới tình báo cho CSTQ ở VN: Hồ Binh Bát Vạn Nhập Tràng An là đây. Mỹ / VNCH không thua ở chiến trường nhưng đã thua CSTQ / CSVN ở mặt trận tình báo / tuyên vận và cũng là một trong nhiều nguyên nhân khiến Mỹ bỏ rơi VNCH: Người Mỹ không còn khã năng phân biệt bạn-thù ở VN – cùng một người VN ban ngày có thể là bạn nhưng ban đêm có thể là thù. Hiện tại cũng là Mạng lưới quyền lực thật sự đang cai trị và kiểm soát BCT/CSVN/VN.

Hai Trận Đánh lớn ĐBP 1954 và Tổng Tấn Công MT 1968 nói trên đều được CSTQ dàn dựng và chỉ đạo (3)/(4) và cũng là 2 công trạng lớn lao nhất của HCM ở VN: Đuổi Pháp Dụ Mỹ vào VN đễ rồi sau đó đánh Mỹ với Xương Máu VN cho tới lúc Mỹ chịu đến Paris để đàm phán HĐ-Paris, nhưng thực chất là để chuẩn bị cho TT Mỹ đến Bắc Kinh “xin đầu hàng có điệu kiện”: Trao ghế HĐBA-LHQ, bỏ cấm vận kinh tế đổi lại Lính Mỹ rút an toàn ra khỏi VN, Nam tiến của TQ đến VN là ngưng lại (Ván Cờ Domino được đóng lại sau Trận Tổng Tấn Công MT 1968 và  Khe Sanh từ 21.1- 8.4.1968).

Hành quân Pegasus / Lam Sơn 207A (từ 1/4 đến 12/4/1968) giải tỏa Căn cứ Khe Sanh sau 77 ngày bị vây hảm – Chiến thuật biễn người / công đồn đả viện của CSTQ/CSVN đã thất bại ở Khe Sanh.
Trận Khe Sanh – t/g Đại Úy Võ Trung Tín –
http://nhaydu.com/index_83hg_files/left_files/T-Chien/1968LamSon207AgiaiVayKheSanh.pdf

“Vì chúng ta, họ đã chiến đấu và hy sinh ở những nơi như Concord và Gettysburg; Normandy và Khe Sanh” (TT Obama 2009)

Mao: “Chúng ta phải giành cho được Đông nam châu Á, bao gồm cả miền nam Việt Nam, Thái Lan, Miến Điện, Malayxia và Singapo…Một vùng như Đông nam châu Á rất giàu, ở đấy có nhiều khoáng sản…xứng đáng với sự tốn kém cần thiết để chiếm lấy…Sau khi giành được Đông nam châu Á, chúng ta có thể tăng cường được sức mạnh của chúng ta ở vùng này, lúc đó chúng ta sẽ có sức mạnh đương đầu với khối Liên Xô-Đông Âu, gió Đông sẽ thổi bạt gió Tây…”. (Phát biểu của Mao Trạch Đông trong cuộc họp của BCT ban chấp hành trung ương Đảng CSTQ, tháng 8 năm 1965)

Nguồn: SỰ THẬT VỀ QUAN HỆ VIỆT NAM -TRUNG QUỐC TRONG 30 NĂM QUA
http://bauxitevietnam.info/tulieu/791004_suthatvequanhevntq.htm

Kennedy: “Tôi tin như thế. Tôi tin là cuộc chiến rất gần, Trung Quốc quá lớn và đang đứng phủ đầu trong vùng biên giới; Nếu miền Nam Việt Nam sụp đổ không những Trung Quốc được vị trí địa dư thuận lợi để đánh du kích vào Mã Lai Á mà còn đưa đến ấn tượng về một Đông Nam Á dưới ảnh hưởng bao trùm của Trung Quốc, cộng sản. Vì thế tôi tin vào thuyết Domino.” (Phỏng vấn của Huntley và Brinkley với John F. Kennedy ngày 9/9/1963)

Nguồn: John F. Kennedy và cuộc đảo chánh 1/11/1963
http://www.dcvonline.net/php/modules.php?name=News&file=article&sid=6871

Sự kiện Tết Mậu Thân là cuộc tổng tiến công và nổi dậy vào dịp Tết Mậu Thân năm 1968 của Quân Giải phóng miền Nam trên hầu hết lãnh thổ của miền Nam Việt Nam, mặc dù cả hai bên đã có thỏa hiệp ngưng bắn. Đây là một sự kiện gây chấn động lớn trên thế giới và là chủ đề gây nhiều bàn cãi nhất; nó còn có một vai trò và hệ quả rất to lớn trong Chiến tranh Việt Nam.

Ba năm sau khi tham chiến trực tiếp quân đội Mỹ đã ngăn chặn miền Nam Việt Nam không rơi vào tay Cộng sản, nhưng quân Mỹ không thể bình định được miền Nam. Nắm được điểm yếu của phía Mỹ là dư luận của cả nhân dân và chính giới tại Mỹ ngày càng trở nên thiếu kiên nhẫn và phong trào phản chiến ngày càng lên mạnh không cho phép quân đội tham chiến quá lâu tại nước ngoài mà không có được một tiến bộ rõ rệt khả dĩ cho phép rút quân về nước, phía quân Giải phóng hoạch định một trận đánh gây tiếng vang lớn “Một cú đập lớn để tung toé ra các khả năng chính trị” (Lê Duẩn) để tạo đột phá cho chiến tranh, nhằm buộc Hoa Kỳ xuống thang chiến tranh đi vào đàm phán.

Nguồn: Sự kiện Tết Mậu Thân – http://vi.wikipedia.org/wiki/Sự_kiện_Tết_Mậu_Thân

TT Mỹ Nixon đến Bắc Kinh gặp Mao “xin đầu hàng có điệu kiện” vào tháng 2/1972

Lời chót:

Với “Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch” (viết bằng tiếng TQ năm 1947/1948 và được dịch ra Pháp / Anh vào 1949/1950) CSTQ đã âm thầm chuẩn bị với dự luận Quốc Tế “HCM là NAQ người VN”. Sách này chỉ được dịch ra tiếng Việt từ những bản nói trên vào cuối thập niên 50 hay đầu thập niên 60 thế ký 20 và cho phổ biến ở VN để qua đó nhà nước CSVN chính thức công nhận HCM là NAQ.

Thư ký của HCM chưa bao giờ chứng nhận là đã thấy HCM viết “Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch”, bản thảo viết tay bằng tiếng Tàu cũng chưa hề được công bố. HCM viết sách vào thời điểm nào? Năm 1945 HCM còn phải lo đại sự là cướp chánh quyền của TT Trần Trọng Kim, năm 1946 HCM đi tầu sang Pháp để thương lượng với người Pháp, năm 1947 HCM kêu gọi toàn dân nổi dây đánh Pháp, năm 1948 Bác lại kêu gọi toàn quốc thi đua tăng gia sản xuất…thế thì làm sao mà Bác rãnh rổi đề ngồi viết sách tự kể đời mình!. Như vậy có khả năng là một nhóm tuyên vận tình báo Bắc Kinh nào đó với Bút danh chung Trần Dân Tiên đã viết tác phẩm này nhằm phục vụ cho công tác tuyên vận giới thiệu với Quốc Tế về Nhân vật HCM là NAQ VN và cũng có thể đang nằm trong Cục Lưu trữ của Cơ Quan Tình Báo TQ ở Bắc Kinh cùng với bản TNĐL 2.9 (cũng được viết bằng tiếng TQ!?)…chờ ngày trình làng để chứng minh HCM là người TQ.

Với “HCM Sanh Bình Khảo” (cũng bằng tiếng Tàu năm 2008, thế kỹ 21) CSTQ lại âm thầm chuẩn bị dư luận với Quốc Tế về “HCM là người Tàu” nằm trong mưu đồ tóm thâu VN. Đều này cũng đồng nghĩa là trong vòng 10 năm tới VN sẽ đươc CSTQ phù phép đễ sáp nhập vào TQ (có thể theo hình thức Liên Bang hay chiếm đóng như Tây Tạng bất chầp dư luận thế giới, còn tùy theo dư luận VN / thế giới và sức mạnh quân sự TQ). Vận mệnh VN hiện nay như “Ngàn cân treo sợi tóc”, có thế sáng tới mở mắt ra là chúng ta đã thấy Quân Lính Tàu đứng đầy ở Ba Đình rồi nếu người VN không nhanh tay dành lại chánh quyền VN trong vài tháng / năm tới. Mất nước lần này là vĩnh viễn!

Tên HCM-City (Nam),  Lăng HCM (Bắc, cũng được dùng để trấn yểm Thăng Long VN!?), Tư tưởng HCM, Tiêm thuốc kích tử cho HCM chết đúng vào ngày / giờ trùng  (2.9.1969 / 9 giờ 47 phút)  (9) và Tiền HCM… là ý đồ vô cùng thâm độc của CSTQ cũng như nhằm chuẩn bị dự luận quốc tế trước khi tóm thâu VN theo chiến thuật Tằm Ăn Dâu.

Một Dân tộc không có Độc Lập – Tự Do – Hạnh Phúc và nhận Giặc làm Cha Già Dân Tộc là câu chuyện có thật ở VN vào thế kỷ 20/21.
Tài liệu tham khảo:

(1) Một lựa chọn dân chủ trong quá khứ: Hoàng đế Bảo Đại – Thủ tướng Ngô Ðình Diệm / Tác gỉa Nguyễn Quang Duy – http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=14621&rb=0302

(2) Bản chất những chế độ Cộng Sản – Tác gỉa Chu chi Nam
http://thangtien.de/index.php?option=com_content&task=view&id=3135&Itemid=318

(3) Vai trò của CS Trung Quốc trong chiến tranh 1946-1954 ở VietNam / Tác gỉa Trần Gia Phụng
http://ongvove.wordpress.com/2009/07/30/vai-tro-của-cs-trung-quốc-trong-chiến-tranh-1946-1954-ở-vietnam/

(4) Trung Cộng Chỉ Đạo và Tham Gia Tổng Tấn Công Mậu Thân 1968 / Tác giả: Nguyễn Quang Duy
http://vantuyen.net/index.php?view=story&subjectid=25046

(5) Nữ Thủ tướng Đức Angela Merkel – Diễn văn trước lưỡng viện Hoa Kỳ ngày 3.11.09.
http://danluan.org/node/3233

(6) Di Chúc Hồ Chí Minh – http://xoathantuong.tripod.com/hcm_dc.htm

(7) Tuyên ngôn độc lập năm 1945 – http://www.youtube.com/watch?v=9n1TNfx9LaQ&feature=related

(8) Hình nguyên thuỷ là nhân dân Hà Nội tụ tập trước Nhà Hát lớn để phản đối việc chia cắt đất nước giửa Pháp và CSVN (do phóng viên Howard Sochurek của Tạp Chí TIME-LIFE ghi vào ống kính máy ảnh ngày 1.7.1954)
http://www.life.com/image/82499964

(9) Nhân gian VN đã vô tình tiết lộ qua câu vè:  Bác Hồ chết phải giờ trùng, khiến toàn dân tộc chẳng khùng cũng điên… –  Một Nghiên Cứu Khoa Học về Hồ Chí Minh
http://www.doi-thoai.com/baimoi0909_062.html

11.11.2009  – 31.12.2009
TN

Bài viết này được phép phổ biến và sử dụng lại ở mọi hình thức và không cần xin phép với điều kiện là phải ghi rõ nguồn: Thiên Nam – http://thiennam2012.blogspot.com/

 

 

Thằng Người Có Đuôi

THẾ GIANG

– Tên chị là gì?

– Thưa em tên Mơ.

– Mơ gì? Mộng mơ hay quả mơ?

– Tùy, ai muốn hiểu thế nào thì hiểu…

– Quê quán ở đâu vậy?

– Em ở Thạch Thất, Hà Tây.

– Chị công tác ở cơ quan nào?

– Thưa, ở ty Văn Hóa Thông Tin Hà Sơn Bình.

– Chắc chưa vào Đảng…?

– Vâng, em mới phấn đấu ở cương vị đoàn…

– Chị lập gia đình chưa?

– Em chưa lập, nhưng đối tượng thì có rồi!

– Các cụ nhà ta còn cả chứ?

– Vâng, thầy u em vẫn còn.

– Gia đình được mấy anh chị em nhỉ?

– Thưa, được tám cả thảy…

–  …

Một bản sơ yếu lý lịch? Một cuộc hỏi cung ngắn?

Tôi thò đầu ra khỏi gầm ghế, hé mắt nhìn về cuối toa xe lửa. Cửa vẫn còn mở có nghĩa là đội công an, thuế vụ trên tàu chưa làm việc, nếu không họ đã đóng chặt hai đầu toa cho hành khách không có đường đi lại hoặc tẩu tán hàng hóa.

– Chị đi đâu mà hành lý cồng kềnh thế này?

–   …

Bỏ mẹ rồi, đội kiểm tra cơ động đặc biệt! Tôi rụt đầu vào gầm ghế, cay đắng lo cho số phận hai bịch thuốc lá sợi của mình. Hôm nay thứ sáu, nhưng 15 tây, 8 âm lịch: ngày lành. Tử vi tôi tháng này không xung với tuổi, trong năm không có sao Địa Không, Địa Kiếp ghé thăm để mà lãnh tai họa, trộm cắp.

Chuyến tàu khởi hành chậm hai tiếng đồng hô như lệ thường. Nếu chả may nó chạy đúng giờ thì người ta còn coi như báo trước một điềm gở… Khổ quá, tôi đã tham lam đóng hết hàng, chỉ chừa lại số tiền vừa đủ ăn đường và nộp hụi chết cho cánh công an thuế vụ thường trực trên tàu, đám đột xuất này mà sờ đến thì chỉ còn nước bỏ của chạy lấy người.

Tàu lắc lư chạy trong đêm. Hành khách ba miền của bao nhiêu âm ngữ đã đồng tiếng ngáy. Ngay sát mặt tôi, dưới gầm ghế là hai bàn chân giao chỉ với ngón cái xòe ra, dính đầy bùn đất của anh nông dân vừa lên tắt hai bao sắn qua cửa sổ. Trên ghế đối diện, thuộc về giai cấp khác, mấy ông cán bộ đi công tác với cặp táp, điếu cày đang ép nhau ngồi. Thỉnh thoảng, những khi tàu lắc mạnh, các vị lại xón cho giai cấp dưới cùng tí nước điếu. Hai con bé con tóc khét nằng, áo bà ba đen, quần đùi, đang ôm lấy bao than củi ngủ, chả hay biết nước thánh cam lồ chảy tong tỏng trên lưng mình. Trên đâu tất cả là mấy ông con trời bộ đội đang nhịp nhàng kẽo kẹt thượng tọa trong võng. Chú lính treo gần tôi nhất đầu ngoẹo ra khỏi võng ngủ, môi trề ra, nước dãi nhểu nhảo chảy xuống bụng chị có con mọn đang tốc áo cho con bú ngáy khò khò trên ghế.

Trời ơi, muốn ra được cũng thật khó, tôi gồng sức đẩy hai bàn chân chắn ngang mặt mình mà không được. Sau mỗi cố gắng, anh nông dân lại cho tôi một cái đạp hoa cả mắt. Đau vì bị đạp thì ít, mà ức vì bị đèn nén thì nhiều, tôi nghiệm thấy, quy luật đấu tranh của xã hội cũng đúng cả dưới gầm ghế này. Nhưng thôi, tất cả đều đã mệt, cần được ngủ để có sức chiến đấu cho lúc xuống tàu.

Tỏng tỏng… róc rách… Tàu chạy vào khúc xuôi gió thì vẳng lên tiếng nước chảy, rồi âm ấm ở đầu. Nghiến răng chịu cho cái chân ghế cứa vào cổ, tôi ngỏng đầu lên để nhìn. Trời đất, suối nguồn thiên thai được bắt từ cái cần câu cong vút của thằng bé đang nằm nghiêng trên ghế ngậm ti mẹ. Xung quanh không ai để ý. Tôi rút tay, vuốt vuốt tóc rồi đưa lên mũi ngửi. Cũng may, trẻ nhỏ nó chưa ăn mặn nên tè ra không khai lắm, chứ như cái mùi thường trực bốc lên từ cầu tiêu đầu toa thì bỏ mẹ. Hành khách đi xe lửa Thống Nhất chả bao giờ bị cảm mạo, trúng gió cũng là nhờ cái mùi này chủng ngừa trước.

– Chị có tranh thủ mang ít hàng để cải thiện không ?

–  …

Cái giọng lấy cung kia lại quái ác nổi lên, tôi đã tỉnh ngủ, nghe rất gần, ngay khoang bên cạnh. Khổ nổi không làm sao chui người ra đuợc để còn biết đường mà chuồn. Thôi thì trăm sự đành cậy nhờ cây đèn bão tù mù này. Giá có ngọn gió nào thổi tắt nó đi thì đỡ biết mấy.

Lúc vừa nhảy lên tàu tôi đã chọn ngay cái toa toàn các khuôn mặt hao hao đói của cán bộ, ngô nghê chất phác của nông dân này để trao thân. Tôi định mập mờ đánh lận con đen giữa đám người lương thiện hòng trốn tránh các toán kiểm tra bất ngờ. Tôi đã mừng rơn khi những «thành phần cơ bản», chủ nhân của toa tàu giương cặp mắt tò mò, đố kỵ, sợ bóng sợ gió nhìn mấy bà «ngụy» đi thăm nuôi chồng con cải tạo ở miền Bắc về rồi từ chối không cho họ ngồi ké.

Tuy đã đuợc thực tế phũ phàng của những trại tù, cuộc sống đầy tương lai của miền Bắc XHCN nhuộm xanh lè cả mặt, nhưng mớ áo quần bằng vải tốt, đống guốc dép, đầu tóc khác lạ, nhất là thói quen nhìn lại chỗ ngồi, phủi phủi vài cái rồi mới e dè đặt mông xuống của mấy bà khiến cho hai miền không thể lại gần nhau được. Tôi tiếc rẻ vận cổ nhìn tiễn theo mấy cái gót chân thon nhỏ, dính chút bùn đi tìm bến đậu khác. Nhưng đời là một cuộc chiến đấu lớn, phải biết tiêu diệt những tình cảm phù phiếm trong mình để đi tới đích. Than ôi, những hy sinh lẻ tẻ đó cũng không cứu được hai bao hàng, đám con chiên hiền lành kia cũng không giúp tôi được chút gì, cái mánh mung của tôi đã hại tôi, chuyến này thì tiền mất tật mang rồi. Không còn cách nào hơn, tôi đành dọn mình, chuẩn bị đón tai họa sắp tới. Trong bóng tối, dưới gầm ghế, bên cạnh hai bàn chân chỉ chực đạp vào mặt với mùi khai của nước tiểu, tôi chợt nhớ đến bài hát của Trịnh Công Sơn «Nơi đây tôi chờ… nơi kia anh chờ… » để được ngồi trên «…chuyến xe qua ba miền…». Phải rồi, bên đây tôi nằm, bên kia em nằm, cũng chuyến xe qua ba miền. Cái bậc nghệ sĩ họ thật giàu tưởng tượng và lãng mạn.

– Rụt chân lại !

Tôi hét to, cấu mạnh vào chân anh nông dân. Một cái đạp tương xứng với cái cấu tung vào mặt tôi nhanh nhạy như phản xạ co giật của con ếch khi bị truyền điện. Anh ta cằn nhằn trong miệng rồi tiếp tục ngáy.

– Xê ra cho người ta đi… tiểu !

Không dám cấu nữa, tôi chỉ biết, cũng cốt ý cho đám công an bên cạnh nghe thấy để hợp pháp hóa việc bỏ đi của mình. May làm sao anh chàng nông dân trở mình đổi thế nằm, hai hòn đá chắn cửa hang rụt lại, tôi vội nhoài người ra, đứng dậy leo trèo qua đống thịt ngổn ngang nằm kín lối đi để ra ngoài. Đứng trong cầu tiêu một lúc cho vừa đủ thời gian tiểu tiện, tôi hé cửa nhìn ra. Toa tàu hoàn toàn yên tĩnh, chỉ có gió lùa ở hai bên cửa sổ, tiếng bánh sắt nghiến xuống đường rầy. Quái lạ, công an biến đâu hết rồi ? Đánh bạo, tôi mò lại gần. Hai bên thành toa võng giăng kín thành hàng, đưa đẩy. Hành khách trên ghế gật gù ngủ. Chả có bóng áo vàng nào hết! Tôi nằm mơ chăng ? Rất có thể vì dân chạy hàng bọn tôi suốt ngày đêm bị rình rập, phải đề phòng, trốn chạy nên riết rồi méo mó nghề nghiệp, nó theo cả vào giấc ngủ. Cứ sống với cái nghề này có  ngày vỡ tim mà chết. Tôi đứng tựa lưng vào thành ghế, định thần lại. Chị có con mọn đã ngã choãi lên người tay thiếu úy trẻ để ngủ, vú vê bày thõng thượt. Đứa con lọt vào kẽ nách mẹ, ngỏng cổ mân mê cái đầu tí. Chả biết họ có chồng vợ gì không, nom chị ta vẫn còn trẻ, già độ hai ba năm về trước có ai động đến tí của «trời cho» đó sẽ bị nhảy lên đùng đùng tru tréo chửi. Người thứ tư trên ghế, một ông cụ già râu tóc lưa thưa, nghiêng người cho đủ chỗ ngồi, tay bám với lên thành ghế, đầu cúi gục xuống gần ngực chị có con mọn gật gù ngủ. Bao nhiêu mật ngọt lòng thòng rỉ từ miệng chú lính trên võng, cái đầu ông hứng hết. Ba ông cán bộ tóc điểm muối tiêu, áo sơ mi trắng cọc tay, khư khư ôm cặp táp trong lòng đang nhịp nhàng lắc lư trên ghế đối diện. Ngay trong giấc ngủ họ cũng có cái vẻ «nhất trí» như khi làm việc. Tàu sắp đến ga Nha Trang, vùng đất bão lửa đối với dân buôn chuyến. Chỉ còn một ngày đường nữa những sứ giả nguyên thủy của CNXH sẽ đổ bộ vào Sài Gòn, thành phố đang trên đường cải tạo để trở về với miền Bắc, với CNXH. Tôi cúi xuống nhìn vào gầm ghế. Hai bao hàng vẫn ngủ yên trong đó. Cái bào thai đã đi được chín tháng chín ngày. Cầu trời cho nó được mẹ tròn con vuông. Khoang bên cạnh cũng toàn các khuôn mặt trong biên chế, những lá bùa dán đè lên bản mặt «bất chính» của tôi. Đừng rẻ xuống ga lẻ dọc đường, bỏ tôi côi cút một mình nhé, hỡi các bạn yêu dấu. Tôi sẽ chi viện cho miền Nam ruột thịt ít sợi thuốc lá vàng, do chính tay vợ con các bạn trồng. Những ông ba tàu chợ lớn với kỹ nghệ làm giả tuyệt hảo, hơn hẳn nền đại công nghiệp XHCN sẽ vấn thành những điếu thuốc CAPSTAN thẳng thớm, đẹp đẽ trong hộp carton giấy bóng kính để các bạn trầm tư, đắn đo, quyết định tốn kém, mang ngược về miền Bắc làm quà cho anh em bè bạn.

Một cặp trai gái vẫn còn thức, họ ngồi nép vào nhau, thỉnh thoảng trao đổi những cái nhìn. Gã trai với cây đàn ghi ta treo trên đầu, tóc dợn sóng, có dáng dấp của một vĩ nhân tỉnh lẻ, ông chủ hiệu may, hiệu chụp ảnh, một bậc văn hóa lớn ở phố huyện ( ?) không ; gã có vẻ là anh đội trưởng đội chiếu bóng huyện hơn là những vị kinh doanh thẩm mỹ vì cái kính râm nội hóa cài khéo ở ngực, áo sơ mi trắng loại vải không pha ny lông, quần kaki xanh mua phân phối, ở cổ tay thiếu cái đồng hồ. Cô gái ngồi bên cạnh tuổi chừng đôi mươi, tóc dài, hoe màu nắng cháy. Khi cô ngước mặt lên nhìn tôi thì trời đất ơi, một trang tuyệt sắc giai nhân. Đôi mắt có đuôi, mở lớn hiêng hiếng xếch đang cười lăn tăn. Mũi cô thon nhỏ, thường tìm thấy nơi tượng Đức Mẹ hoặc trong hình thiếu nữ e lệ in trên băng, đĩa vọng cổ. Cặp môi cũng chúm chím cười như mắt, phơn phớt hồng, nổi trên miền da trắng. Những đường nét, màu sắc đó được ướp trong vẻ hồn nhiên tươi tắn của cô gái mới mập mờ linh cảm về nhan sắc của mình. Toa tàu như tỏa mát hương sen, tôi ngó vội xuống quần áo của mình, lúng túng dấu mấy ngón tay dắt kín đất đen ở kẽ móng. Trong phút chốc tôi quên bẵng hai bịch thuốc lá, mũi tôi điếc với mùi khai, mắt tôi mù với thân thể nếu được phơi bày ra hết sẽ diệt dục trai tráng của thiếu phụ có con mọn bên cạnh, tôi ngây người như đười ươi giữ ống chiêm ngưỡng cô gái. Gã trai cảm thấy bị hao mòn mất mát bởi đống tình si chảy nhão nhoẹt trước mắt mình bèn đưa tay kéo cái vạt áo hở của cô gái, ra điều hoa đã có chủ. Gạt nhẹ tay gã ra, cô sửa lại thế ngồi rồi thẹn thò liếc tôi. Gã trai húng hắng ho. Như để chạy đua vũ trang với tôi, khẳng định với cô gái, gã xoay hẳn người lại, cặp mắt nhừa nhựa la liếm lần trên gò má hồng, bò quanh miệng, rồi chui xuống cổ cô. Cảm thấy gã sắp trườn vào lòng người đẹp đến nơi, tôi «e hèm» đánh tiếng, quay mặt đi chỗ khác. Sự buồn giận vô cớ chợt xâm chiếm lòng tôi. Hương hoa thế kia dãi gió dầm mưa làm chi trên chuyến tàu này. Vẻ đẹp mong manh bên cạnh sự lố bịch. Vâng, người là hoa của đất, là bà chúa của thiên nhiên, bao nhiêu cuộc đời mới dâng hiến một khuôn mặt đẹp, cũng chỉ đẹp trong tích tắc, một lần phát hương rồi trơ mình ra cho cuộc sống chìa hàm răng vẫu thô lậu nghiền nát. Chỉ sau lời tuyên bố ngắn ngủi của đồng chí chủ tịch xã kiêm chủ hôn, sau ba năm sống không có ca nhạc, ti vi chiếu bóng đêm, người đẹp ngồi kia sẽ biến thành cái máy đẻ, con đường đi đến thiếu phụ sau lưng tôi sao mà gần. Quần xanh, áo trắng mới tinh khôi, tôi nổi giận với cả sự ăn diện của cô gái. Ở xã hội này mỗi khi muốn chứng tỏ «Tôi đi chơi », «Tôi làm đẹp », người ta không có chọn lựa nào khác ngoài màu trắng để tách mình ra khỏi màu nâu lam lũ với đất, màu tím than đánh lẫn với dầu máy, màu áo lính nhuộm xanh cả đất nước. Từ đồng chí Tổng Bí Thư trên diễn đàn đại hội đảng, chú cai ngục hỏa lò Hà nội hai tay đút túi quần bước vào quán phở, cho đến cặp trai gái đi dạo quanh hồ Hoàn Kiếm, ai ai cũng chỉ một màu áo trắng. Cái màu trắng đẹp đẽ thanh khiết bị lạm dụng, bị cưỡng hiếp trở nên nhàm chán, làm nhòe nhoẹt các khuôn mắt đời vốn đa dạng, biến nó thành một thứ đồng phục ngớ ngẩn.

– Mặt mũi không đến nỗi nào mà ăn mặc bẩn thỉu như mọi rợ…

Gã trai thì thầm với cô gái. Cô ngước mắt nhìn tôi. Họ cùng cười với nhau.

– Chị đã mệt chưa ? Cứ ngả lên người tôi mà nghỉ… ?

Gã đề nghị, ngồi lấn vào cụ già đang ôm cái tay nải bên cạnh để nhường chỗ. Tôi ngờ ngợ, dỏng tai chờ đợi

– Không. Cảm ơn anh em còn ngồi được.

Cái giọng «lấy cung» khi nãy ? Tôi nhìn chăm chăm vào mặt họ. Cô gái ngượng ngùng quay mặt đi chỗ khác. Gã trai nghĩ tôi là chướng ngại cản trở dịp may chờ đợi đã lâu nên lừ mắt hằn hộc xua đuổi. Thấy địch thủ vẫn không nhụt chí, chả cần bóng gió xa xôi, gã ném thẳng vào mặt tôi câu chửi :

– Chỉ có đồ vô văn hóa mới thò mõm vào việc người khác! Thôi đúng rồi, chả có Công An nào hết, tôi cũng không nằm mơ, cũng không có ma quỉ gì quấy phá, anh bạn trẻ ngồi trước mặt chính là tác giả bản «hỏi cung» khi nãy. Tôi sờ lên túi áo ngực. Trong cuốn chứng minh thư (cũ) của Công An cấp, ngoài tên tuổi, địa chỉ, quê quán, đã can án lần nào chưa, còn những mục về cha mẹ, vợ con, còn sống hay đã chết… Tôi nhớ đến những lúc mới làm quen, người ta cũng hỏi và trả lời đầy đủ những điều cần thiết trong một bản sơ yếu lý lịch. Hỏi như một thói quen, nhiều khi chả để làm gì và sau đó ai đi đường nấy. Thói quen méo mó đó ngấm sang cả địa hạt yêu đương.

«Nơi em về trời xanh không em… » Bên này vĩ tuyến 17 không có một câu hỏi thơ mộng, lãng mạn như vậy, còn các Vũ Hoàng Chương, Khái Hưng, Hàn Mặc Tử… đã bị đánh bật rễ khỏi người đọc, gom lại trong cái nghĩa địa văn hóa cổ, le lói trong ký ức người già. Các tay «yêu» lừng lẫy một thời vẫn còn đấy, nhưng đã biến thành Xuân Diệu Xuân Xang Xuân… Tóc đỏ. Người ta đã tiêu thổ kháng chiến đến cả yêu đương. Nói đến «yêu» cũng phạm húy, phải gọi là «tìm hiểu», người yêu là «đối tượng tình cảm» (đối tượng đoàn, đối tượng đảng, đối tượng của pháp luật ). Hôn nhân được xây hào đắp lũy thành «lập gia đình». Chữ «chàng» và «nàng» được cách mạng hóa thành những chữ «anh», những chữ «chị», những «gã», những «hắn» trong văn học hiện hành. Người ta lập pháp hóa cả tình yêu, vớ vẩn có thể bị qui là «quan hệ bất chính», «tác phong thiếu lành mạnh». Đa sầu đa cảm, yêu lăn yêu lóc cả trong nhạc lẫn ngoài đời như ông Phạm Duy dám đi cải tạo không có ngay về.

Tình yêu không được thi ca ấp ủ, dẫn dắt, hướng thượng, thè lè đi ngoài đường trong những dịp quốc khánh, hội hè đông người để sờ mó, gỡ gạc lẫn nhau, «hủ hóa» với nhau trong nhà kho công sở, hoặc nếu đúng đắn nghiêm chỉnh hơn thì đặt ra tiêu chuẩn «3B» (Bôn sê vích, buồng ở, bia cung cấp) để «tìm hiểu». Vì vậy những lời yêu đương được mở đầu bằng «Đồng chí công tác ở cơ quan nào ?…»

Tôi cười rú lên giữa toa tàu. Gã trai giật mình rụt vội bàn tay có mắt về. Một vài hành khách luống tuổi tỉnh giấc, khó chịu nhìn thằng điên đang sắp ngửa leo qua đống người nằm giữa lối đi để ra ngoài. Ông bạn trẻ cay cú tiễn với theo…

– Thật đúng là đồ quái dị!

***

Chuyến tàu đó đã dừng lại ở Việt Nam. Hai năm sau, trên chuyến tàu ở xứ tị nạn, tôi lủi thủi đi lại một mình giữa toa tàu trống vắng. Lác đác vài cặp mắt xanh sợ gió máy đóng kín cửa sổ, khụt khịt mũi nhìn con người dị hợm cuồng cẳng. Không được chen chúc, hằm hè chửi bới nhau, không sợ cảnh sát bằng mấy con chó cảnh chạy lăng xăng bên cạnh mấy bà già, buồn, tôi lẩn thẩn ước lượng số ghế trống rồi nao lòng nhớ về những anh em bè bạn ở quê nhà. Xót xa với máu mủ mình chưa hết, tôi còn thương lấy cả cái ngành hỏa xa của xứ người. Làm ăn như thế này thì lỗ chết. Tôi quên béng đi mất, rằng tiền vé chém rất nặng, cuốc đường ngắn như thế này nếu gửi quà về Việt Nam thì «chúng nó» lai rai quán cóc cả tháng trời. Tôi nhớ về bên nhà như một kẻ thiếu nợ. Con thú hoang dã đã được thuần giống bằng trợ cấp thất nghiệp (cho mày đủ ăn để tự giam mình trong chuồng, đừng có nhìn sang túi khác). Tôi đã «quên» chưa trả lời gần chục cái thư, thư nào cũng giống nhau một điểm là ngắn (đỡ tiền tem). Chữ nghĩa tiết kiệm rồi, lại còn bóng gió xa xôi,  nhưng cái bóng gió xa xôi tài tình đến độ lồ lộ hiện ra khuôn mặt dài ngoẳng vì đói vì chờ của ông bạn. Trước khi đi, tôi đã dại dột bốc đồng «Tụi mày yên tâm đi, tao mà…» Cái «tao mà…» ấy cho đến giờ này cũng chỉ tiến thêm được một bước thành «tao sẽ…» nhưng tôi cũng không ân hận là đã cho họ ăn bánh thánh. Có vị bác sĩ nào đủ can đảm nói với người bệnh đang hấp hối của mình «Xin thưa, tôi bất lực, tôi không có thuốc…?» Những con tin của lương tâm ở bên nhà hiện đang sống bằng hy vọng. Tôi lừa họ chưa đủ, họ còn phải tự lừa mình nữa thì mới sống nỗi. Méo mặt trả xong tiền tem, cầm bằng mua xấp vé số, họ xoa tay yên tâm chờ đợi. Nhưng mấy chục cái đơn xin việc của tôi mất hút không về, sổ vẫn chưa mở, lại tiếp tục «quên».

Xuống tàu phải mua ngay mấy tấm vé số! Tôi hạ quyết tâm cho lòng yên ổn (lại tự lừa mình?) để còn nghĩ sang chuyện khác. Đúng lúc đó thì có tiếng «hèm» sau lưng. Lại một cụ ông, cụ bà bản xứ với những câu hỏi đầy bác ái như cho kẹo trẻ con về cảnh ngộ, sự hội nhập, phong cảnh quê hương? Tôi gắn vội nụ cười ba phải lên môi, chuẩn bị sẳn mấy câu thuộc lòng để trả lời.

–  Xin lỗi, anh là người Việt Nam?

Trời ơi tiếng Việt! Tôi quay phắt lại ngó sững người bắt chuyện.

–  …

– Xin lỗi ông tôi lầm lẫn…

Người đàn ông tuổi trạc bốn mươi, mắt sáng, ăn mặc buông thả lúng túng xin lỗi bằng tiếng bản xứ, vẻ mặt đầy thắc mắc. Tôi hiểu ngay sự thắc mắc đó. Người Việt gặp gỡ tình cờ ở ngoài đường ít khi nhìn nhận nhau vì họ không nói được tiếng Việt.

– Không, tôi là người Việt!

Tôi vội vã xác quyết.

– Anh đi từ miền Bắc?

Người đàn ông vồ vập. Tôi cũng nhận ra ngay cái giọng Bắc toang toác của ông ta.

– Dân tỉnh nào đấy?

– Hà Nội đây!

– Đây cũng Hà Nội!

Khỏi cần nói về nỗi mừng. Chúng tôi xoắn xuýt ôm lấy nhau mà hỏi chuyện. Chuyện bên nhà, chuyện đi đứng, chuyện ổn định đời sống bên này… Khi đã cạn những vấn đề thời sự (miếng trầu của đầu câu chuyện) trong tiếng xe xé gió, chúng tôi ôn lại những ngày tháng xa xưa của Hà Nội. Như hai anh lính trẻ đi giữa Sài Gòn, cái phố huyện hẻo lánh giáp vùng thượng du Bắc Bộ của họ là nhất thì Hà Nội đối với chúng tôi là vô địch. Bát phở Quyền ở ngã tư Phú Nhuận (té ra anh cũng đã nếm) thịt thà hùng hậu, nước độc đáo thật, nhưng độc đáo trên cái nền nhòe nhoẹt đánh lẫn với nước hủ tiếu ở Sài Gòn, không «ác ôn» bằng phở Thìn đối diện đền Ngọc Sơn ngoài Hà Nội.

– Cậu thử tưởng tượng xem, về khuya đi ngược gió đông, cách cả trăm thước mà cái thằng phù thủy ấy nó dở nắp thùng phở lên có sởn gai ốc không hả…? Trong túi không có tiền thì bỏ mẹ!

Tôi cảm thấy hơi phở nóng phả ra từ mặt anh nên gật gù.

– Thế mới là phở chứ những chỗ cậu kể đi sắp ngã vào nồi cũng không hay, bát phở bưng đến trước mặt, mở mắt ra mới biêát thì còn gì là phở?

Sau khi đi một vòng các hàng quà Hà Nội, anh dắt tôi đến quán cà phê. Cà phê Hà Nội cũng lại nhất. Anh kể ra tên mấy cái quán ít ỏi của đất Thăng Long với từng «gu» của nó. Quán «Moka» phố Bùi Thị Xuân có cô con gái đẹp như Kiều, nhưng không át được mùi thơm của cà phê ông bố. Quán «Nhỉ» phố Hàng Cá đậm đà chút nước mắm nhỉ (nên mới gọi là ông Nhỉ). Quán «Nhân»  đầu Hàng Gai có hương vị huyền ảo khó tả, người không biết, tưởng ông đánh thuốc phiện khách… Anh thừa nhận không gì sánh nổi hạt cà phê Ban Mê Thuột, nhưng Sài Gòn có vẻ chưa để ý đến nghệ thuật pha trộn. Cà phê nó có nhiều loại. Vối cho vị chát, mít cho vị chua, và chè cho vị đắng. Nếu nhiều chè một chút, tí vối, tí mít thì thành gu « Moka», hoặc đổi lại thì thành Nhân thành Nhỉ… Rốt cục tròn trịa, óng ả, no đủ như hạt cà phê Ban Mê Thuột chỉ cho được mùi thơm choáng ngợp khi mở nắp phin. Hết!

– Nhưng hình như các ông Nhân, Nhỉ, Moka bây giờ pha hơi nhiều muồng muồng trong đó thì phải…?

Tôi rụt rè phát biểu. Anh xìu người, gãi đầu rồi cười. Dù sao cũng phải công nhận anh là bậc thượng tọa trong cái đạo ăn uống này.

Hết chuyện ẩm thực, chúng tôi xoay sang chuyện người đẹp. Trong địa hạt này anh không dám cục bộ địa phương nữa vì biết tôi cũng đã chui qua cái xã hội lấy chiêu bài «bình đẳng, giải phóng» để đẩy người phụ nữ xuống bùn, chui rúc trong hầm mỏ, lẫn lộn ngoài chiến trường như nam giới. Bên cạnh đó là hệ thống tuyên truyền đồ sộ, ăn ý như dàn nhạc giao hưởng luôn gõ trống thúc dục cho bắp thịt nở nang của phái yếu trong bức tranh «ai nhanh tay cuốc bằng tay em…» trong nhịp nhạc «niềm vui cô gái mở đường Trường Sơn» trong văn học. Gái Bắc Hà đạ bị déformée biến dạng thành cái vai nở, thân hình trùng trục vì lao động nặng.

– Cứ nhìn thấy gái Sài Gòn là tớ nghĩ đến chuyện ly dị…

Anh đốt điếu thuốc, phả khói lên trần toa lim dim mắt cười. Tôi nói đến gái Cần Thơ, Vĩnh Long, đất gạo trắng nước trong da thịt mơn mởn như xoài. Anh kể về mấy chị Huế nhu mì e ấp dưới mái tóc thề, ẩn dật kín đáo với làn da trắng xanh, nhưng con mắt thì đi nhiều hơn chân, làm nhiều hơn tay, nói nhiều hơn miệng, quả tim như núi lửa chỉ chực bất tử phun nham thạch.

– Ờ lạ thật… Sài Gòn là đất tứ xứ, nhưng bất cứ người ở đâu hễ nhập vào nó ba bốn năm là thay da đổi thịt, biến thành dân Sài Gòn. Đâu như Hà Nội mình, anh từ Hải Phòng lên, sống cả hai chục năm, đẻ con ra vẫn lơ lớ giọng nước lợ, tính tình tềnh toàng của dân thành phố cảng. Chị ở chiến khu về, sống đến mấy đời hộ khẩu vẫn không tẩy được cái cách nhấm nước bọt đếm tiền. Sức cảm hóa, khả năng hội nhập ở Sài Gòn nó khác…

Tôi lấy Huế để giải thích hiện tượng đó cho anh. Nếu chính anh có dời cư về đó ở, không phải hai chục năm mà bốn-sáu chục năm, cho đến chết, chất Huế cũng không thắm vào anh được. Vùng đất nào đã được chọn làm kinh đô trên một thế kỷ tự nó sẽ tạo nên bản sắc riêng biệt cho mình, hội nhập sẽ rất khó…

Chúng tôi cãi nhau như mổ bò (dấu hiệu đã thân thiện) về những vấn đề cả hai đều không nắm vững, hoặc chả có gì đối nghịch nhau. Để đừng đập vào đầu nhau trong lần gặp gỡ đầu, tôi lái câu chuyện trở về người đẹp Hà Nội. Thế là lại một màn truy tìm các bóng dáng xưa. Để chứng tỏ mình cũng là tay cung kiếm một thời, những con nhà nọ, em gái thằng kia… Câu chuyện trở nên gần gũi, tôi râm ran bồi hồi với tên tuổi một vài người đẹp đã làm mình điêu đứng. Lần mò một lúc, anh dẫm trúng phải cô em vợ tôi ở phố Hàng Ngang. Người đồng hành, đồng hương càng trở nên thân thiết. Tôi như thấy cả Hà Nội đang thở nóng bên tai mình.

Đêm đó tôi không ngủ được. Khi chia tay chúng tôi cho nhau địa chỉ, hẹn nhất định phải gặp lại. Tôi sắp xếp thời gian rãnh rỗi trong đầu rồi sốt ruột mong sớm được ăn tục nói phét với ông bạn còn quí hơn vàng ở cái xứ buồn hiu này. Cũng nhờ anh mà ký ức vốn trí tuệ vì mưu sinh của tôi được khai thông. Tôi trằn trọc nhớ Hà Nội, tưởng tượng rõ ràng từng quán cà phê, góc phố, cô láng giềng với từng tiết xuân, hạ, thu, đông. Thơ thẩn đi hết một vòng thành phố, bắt đầu mỏi mệt với ký ức, tôi trở về với con người anh. Lứa tuổi ấy, nghề nghiệp ấy, số nhà ấy, la cà ở quán cà phê ấy với những người quen ấy… Tôi cười tủm trong bóng tối vì sự trùng lặp những ham hố, thói hư tật xấu của mình với anh bạn. Ờ, tại sao không biết anh từ trước nhỉ? Tôi lần mò những mối quan hệ trong đầu, vẫn không lòi ra con người ấy. Khuôn mặt này cũng chưa nhác thấy ngoài phố một lần. Tôi lay vai vợ để hỏi xem có biết anh nào tên Q. hồi trước có đến tán em gái không. Nàng đang ngủ, sẳng giọng trả lời là không cho xong chuyện.

Tôi lại trằn trọc hâm nóng trí nhớ sét rỉ để tìm kiếm. Cái phố nhỏ ấy, với số nhà, không nhớ chính xác, nhưng tôi có thể mường tượng được anh ở đâu gần quán phở mậu dịch, nơi thôi thường đến tán tỉnh mấy cô bán hàng để được mua bia hơi không kèm đồ ăn. Mắt mày cũng là bợm nhậu, sau chưa tặng nhau mũ cối vào đầu trong những lần chén nhỉ? Hay ít nhất cũng hối lộ vài điếu thuốc để được nhường khéo đứng trước mình với lý do gửi chỗ? Lạ thật, Hà Nội nó nhỏ như cái túi vải dắt trong cạp quấn của bà bán rau, đồng xu cắc bạc cọ xát nhau luôn xoành xoạch mà sao không bật ra khuôn mặt này. Tôi điểm lại trường hợp ra đi của anh. Theo như lời kể thì lẫn trong làn sóng người Hoa năm 79, vợ chồng anh không đủ tiền, phải sang lại căn buồng cho người khác để lấy tiền hoa hồng. Đồ đạc trong nhà bán sạch từ quạt bàn, giường tủ, xoong nồi, chổi cùn, rế rách.v.v… Anh là người Việt, để che mắt mọi người về chuyện bất thường này, hai vợ chồng phải đóng kịch, cứ tối tối đóng cửa chửi nhau toáng lên ở trong nhà, ra cái điều cơm không lành, canh không ngọt. Đước hôn một tuần, ngó chừng màn kịch đã ngấm sang hàng xóm, họ mới mở cửa đi rêu rao với mọi người rằng không thể sống với nhau được nữa, phải bán nhà, bán đồ chia đều tiền rồi ai đi đường nấy. Cũng có thể đúng vì ngoài Bắc rất nghèo, ở những chốn nghèo nhất cử nhất động đều bị để ý. Tuy mỗi xuất đi thời đó chỉ ba ngàn đồng (một lạng vàng) nhưng không sang lại nhà thì tiền đâu mà đóng. Tất cả mọi chuyến táu ra đi từ Hải Phòng đều cặp bến Hồng Kông, tôi cũng ở đó cả năm trời mà sao không thấy mặt anh? Có điều gì bất ổn rồi! Tôi khựng người như húc phải bức tường, ngồi bật dậy đi tìm thuốc hút. Mường tượng lại khuôn mặt anh, thái độ vồ vập của anh khi bắt chuyện, tôi đưa lên kính hiển vi rọi chiếu, phân tích từng câu nói rồi ráp những dữ kiện rời rạc lại với nhau để tìm sự mâu thuẫn của chúng. Không lòi ra một kẻ hở vô lý nào. Anh không hề vờn dứ, dò dẫm tôi về thái độ chính trị. Những chuyện anh đã nói với tôi được toát ra từ lỗ chân lông của con người, không có sự nhào nặn, gửi gắm của mưu tính, thậm chí còn có phần luông tuồng phàm tục thái quá của con người bị ức chế, đè nén lâu ngày mới được giải phóng.

Tôi mừng như chính mình được minh oan đốt thêm điếu thuốc tự thưởng. Có thế chứ, chưa gì đã để cho thói đa nghi hàm hồ của mình giết chết một người bạn, một con người! Ra đi từng vùng đất nghi kỵ, tỵ hiềm, vô tình tôi đã mang theo thói quen của ông bác sĩ sống trong thế giới bệnh tật, nhìn đâu cũng thấy vi trùng.

Nhưng niềm lạc quan đó không kéo dài, điếu thuốc chưa kịp tàn thì từ bên trong cất lên tiếng nói ma quái «mày vẫn còn phổi bò, nhẹ dạ như đàn bà. Kết luận một cách dễ dãi về con người là khởi đầu một tai họa!»

Tôi dụi vội điếu thuốc, vò nát mớ tóc, bực bội với thằng người ma quỷ trong mình. «Tao nói không sai đâu, đời mày vẫn bao lần vấp ngã, hộc máu mồm củng chỉ vì tính cả tin đó. » Tôi thù ghét thằng người này. Nó luôn canh chừng nhắc nhở tôi, nó đông lạnh con mắt nhìn đời của tôi, đục đẽo khuôn mặt tôi, xoá nhoà bóng mát trên mặt người khác. Nhưng tôi nể sợ nó, vì chính nó đã cứu tôi bao lần thoát khỏi tai họa, đưa tôi đến được bến bờ tự do. Sao lại không nhỉ, với những thằng nằm vùng thì lần sơ kiến nào cũng bao bọc mình cẩn thận, nó chuẩn bị lương khô cho cả quãng đường dài mười, hai mươi năm, nó chống Cộng hơn ai hết, nó kháng chiến hơn ai hết để sau khi «hoàn toàn nhiệm vụ cách mạng» nó được tha bổng bên cạnh những án tử hình khác với lý do «thành khẩn» rồi thay áo ngồi viết bản báo cáo thành tích. Đã vậy thì việc đội lốt, hoá thân vào một mẫu người có thật ngoài đời chỉ là trò vặt. Tôi rùng mình vì những điều vừa phát hiện. Chế độ chỉ dạy cho tôi vài thủ thuật điều tra sơ đẳng của thói quen, một thứ Công An theo bản năng, đụng đến vấn đề phức tạp có tính phản gián này thì ôm đầu chịu thua.

Đốt hết nửa gói thuốc, đầu óc tôi càng thêm rối. Vợ tôi bị ngợp khói, tỉnh ngủ. Nhìn bóng chồng in nghiêng trên tường, sau ánh đèn mờ, im lặng hút thuốc, nàng bực mình cằn nhằn rồi với tay tắt cái đèn ngủ.

– Khuya rồi không đi ngủ còn ngồi sừng sững như ma hiện hình!

– Tôi không trả lời, đầu thuốc lá vẫn lập loè cháy sáng. Nàng ngạc nhiên bật lại đèn, tung chăn vùng dậy.

– Có chuyện gì thế anh?

– Không… Anh nghĩ chuyện kiếm việc làm…

Tôi trấn an, ấn nhẹ nàng xuống giường, phủ chăn lên người.

– Anh nói đi, em thấy có chuyện gì không thường thì phải…?

Nàng nhỏm dậy, lo âu hỏi. Tôi thấy khó trả lời, nấn ná hút thuốc câu giờ. Từ lo âu chuyển sang hoảng sợ, nàng bấu mạnh lấy tay chồng tìm sự che chở. Phụ nữ thường có linh cảm bén nhạy trước tai họa. Khi còn ở Việt Nam, mỡi lần bị mối nguy hiểm đe doạ, biết nói với vợ mình cũng không ích gì, tôi lặng lẽ hút thuốc trong đêm một mình để nghĩ cách thoát hiểm. Nàng đánh hơi được, không dám hỏi, chỉ rón rén đến bên cạnh sửa lại cổ áo cho chồng, tìm hộ bao diêm, tay cũng bấu chặt lấy vai chồng như để truyền thêm sức. Từ ngày sang đây cuộc sống của chúng tôi đã an toàn, những khó khăn về mưu sinh được bạch nhật hoá giữa hai vợ chồng, tôi không còn trầm ngâm trong bóng tối một mình để tìm kẻ hở lách qua tù đày nữa, và nàng cũng mất đi thói quen đánh hơi tai hoạ trên mặt chồng, hồn nhiên sống với tiền trợ cấp thất nghiệp. Thật không ngờ đằng sau vẻ mơn mởn hồi sinh đó sự lo sợ vẫn tìm ẩn trong nàng, nó như cuốn phim lắp sẵn trong máy, chỉ đợi chồng bật đèn là hiện hình ra mặt mũi, cử chỉ hành động. Tôi chợt hiểu nàng đã lo hơn tôi lo, đã sợ hơn tôi sợ trong những ngày còn ở Việt Nam.

– Không có gì đâu em ạ.

Tôi ôm chặt bờ vai nhỏ của vợ, kéo vào lòng mình. Biết không dấu được nàng, mà bịa ra chuyện khác chỉ làm nàng nghi ngờ lo sợ thêm, tôi kể lại đầu đuôi chuyến gặp gỡ trên tàu của mình. Vẻ mặt nàng biến đổi dần theo câu chuyện. Cặp mắt lạc thần bình tĩnh trở lại, nàng đứng dậy mở cửa sổ cho  loãng bớt khói thuốc trong nhà, vừa làm vừa nói:

– Con Quyên nhà mình không có ai là bạn tên Q. cả, nhưng có thể anh ta lẫn trong đám bạn trai từng tới nhà, hoặc đứng từ xa phải lòng thì sao?

– Không, nghe cách kể qua tay này thì có vẻ thân thiết lắm, những chi tiết về gia đình em anh ta còn biết cơ mà?

Nàng cười, vẻ mặt rạng rỡ như thơm lấy với nhan sắc của cô em gái mình được người khác để ý.

– Thì cũng như anh đấy. Khi em chưa biết mỗi tối trời mưa có thằng trộm koát áo đứng ngóng trước cửa sổ nhà mình thì anh đã kể vanh vách với cô em gái về em rồi cơ mà?

Tôi cười ngượng ngịu, nhưng cố vớt vát:

– Anh vẫn thấy có gì bâùt ổn em à…

Nàng gạt phắt đi:

– Anh chỉ vớ vẩn, sang đến đây rồi còn sợ. Cứ mời tay đó đến đây chơi, thật giả trắng đen gì rồi mình kết luận vẫn còn chưa muộn!

Tôi không đồng ý cách giải quyết của nàng, nó có vẻ thụ động theo cảm tính đồng bóng của phụ nữ. Tôi cũng không muốn mời khách vào nhà để rồi đóng cửa vĩnh viễn những lần gõ sau. Còn dung dưỡng một quái thai trong bụng mình thì chả khoái chút nào.

Tôi bỏ dự định đến thăm anh ta. Q. gọi điện thoại tới hai lần, mời đến nhà anh chơi. Nại cớ con ốm, tôi từ chối khéo. Đến lần thứ ba thì anh ngỏ ý muốn lên tôi chơi thay vì tôi xuống. Thật khó trả lời, tôi ậm ừ cho xong chuyện rồi cầu mong anh lạc đường kiếm không ra nhà.

Q. mò đến được, vẫn cái áo khoát lần trước, trên tay ôm đồm mấy gói quà cho vợ con chủ nhà. Tôi đứng trước cửa ra vào, lúng túng không biết nên chọn thái độ đón tiếp nào cho thích hợp. Còn anh thì tự nhiên như người trong nhà, thấy chủ nhân ngần ngại đứng sau cửa, tưởng bị nhắc khéo đôi giày dính tuyết nên vội quẹt quêt vào miếng thảm nhỏ rồi cảnh cáo nhẹ:

– Ở Hà Nội người ta không bắt khách cởi giày khi vào nhà đâu…

Tôi cười gượng gạo, đỡ giúp mấy gói quà cho anh cởi áo khoác. Đống đồ của nợ này khiến tôi thêm khó chịu, nó có vẻ “gài” cho mối quan hệ mới mở đầu. Q. tinh ý nhận ra ngay thái độ đó, cười hềnh hệch:

– Thủ tục bắt buộc khi đi hỏi vợ, tớ cũng giả vờ làm cho xong chuyện. Nhưng xuống nhà tớ cậu đừng dở lại trò này nhé, một lần là đủ.

Tôi phì cười vì lối giải thích ba bứa, đi treo giúp anh chiếc áo khoát nặng chình chịch.

– Ấy, nhẹ tay thôi… – Q. nhắc nhở rồi chạy theo – Có cái nhày cho tụi mình…

Anh moi từ cái túi to tổ bố khâu bằng tay ở mặt trong chiếc áo ra nào thuốc sợi, tẩu, khăn giấy hỉ mũi dở, rồi một chai rượu mạnh.

– Dân “quốc lủi” tụi mình thì phải “chơi” cái này. Uống khắp mặt rượu ở đây tớ chỉ thấy mỗi nó là gần gủi với rượu lậu Hà Nội.

Anh nháy mắt cười với tôi. Tôi thì e ngại với đống đồ nghề anh mang tới, nó chứng tỏ anh không dừng lại ở mức xã giao. Vợ tôi biết khách sẽ đến từ hôm trước nên chuẩn bị sẵn sàng để tiếp. Khi thấy chúng tôi đã yên vị trên ghế, nàng kín đáo nhìn qua khe cửa bếp, quan sát khách. Q. không hay biết gì, đảo mắt nhìn quanh nhà rồi hỏi thăm vợ con tôi. Lúc đó nàng mới bưng cà phê ra để chào khách. Anh nói chuyện ồn ào, về đủ các vấn đề mà phụ nữ quan tâm tới ở xứ này. Vợ tôi khép nép nghe ầu luôn luôn gật, thỉnh thoảng mới thêm vài ý kiến nhỏ. Thật oái ăm, khách thì ăn nói hoạt bát tự nhiên như chủ nhà, còn chúng tôi thì rụt rè giữ ý như làm khách vậy. Q. không nhận thấy điều đó, chiều đến, vợ tôi nhấp nhổm đắn đo hai ba lần rồi mới mời khách ở lại ăn cơm, giọng thăm dò. Anh sốt sắng nhận lời rồi buộc miệng kêu đói. Tuy chỉ định bụng mời rơi, nhưng nàng chuẩn bị khá kỹ càng. Thịt, rau được thái ướp từ sáng sớm, đống đồ biển này mới lấy khỏi ngăn đá từ lúc khách nhấn chuông cho nó tươi. Chuyện vãn giữa hai gã đàn ông trở nên uể oải, anh xắn tay áo đòi vào bếp giúp bà chủ nhà làm cơm. Tôi cản cho có lêï rồi nằm dài ra ghế, vớ bừa một cuốn sách để đọc. Nếu ở Việt Nam thì tôi không ngạc nhiên với thái độ tự nhiên thoải mái của anh, nhưng ở đây, nhất là sau những thắc mắc tôi thấy nó có vẻ đi đúng bài bản “hoà mình xâm nhập quần chúng” nên những nghi ngờ càng có điểm tựa.

Ngoài tài ăn tục nói phét, ông khách còn chứng tỏ khả năng nấu bếp có hạng. Ngồi trên phòng khách nghe tiếgn dầu sôi lửa cháy phừng phừng một cách hết sức đàn ông, tôi biết vợ tôi đã bị gạt ra ngoài. Tài năng của nàng chỉ riu riu ở món kho, sình sịch ở món hầm. Cái rón rén của phụ nữ khi dùnglửa khác với sự phóng khoáng của đàn ông nên món ăn không bao giờ lên tới cỡ, chỉ lưng chừng ở ngang dốc rồi nhoè nhoẹt giống nhau ở trong tất cả các món xào nát nhũn.

Mặt đỏ bừng, chiếc khăn bàn làm bếp trên vai, hai tay bưng đĩa cá đút lò bốc khói. Q. nghiêng mặt như mấy ông bồi bàn có ngạch bước lên phòng khách. Tôi luống cuống nhỏm dậy thu dọn đĩa tách cà phê cho anh có chỗ bày. Tưới một chút rượu mạnh trong chai mình mang tới lên đĩa cá. Q. bật diêm cho lửa bùng cháy rồi hãnh diện nhìn chủ nhà. Tôi trố mắt như trẻ xem trò ảo thuật. Vợ tôi đứng sau lưng Q. cười ngượng ngùng như muốn đổ lỗi sự vụng về cho thái độ sốt săáng của khách. Anh rút chiếc khăn trên vai thấm mồ hôi gáy rồi chả hiểu sao lại lau bừa lên mặt, bất kể mùi đồ ăn ngấm lưu cửu trong đó.

Phong cách giang hồ của mấy món ăn quyến rũ tôi ăn, uống nhiều. Có chút hơi men Q. nói càng hoạt bát, mà ăn cũng không kém. Anh kháo chuyện Hà Nội, tự diễu méinh về những bỡ ngỡ khi mới đặt chân lên xứ văn minh. Những câu chuyện bình thường được anh diễn tả bằng thứ ngôn ngữ giang hồ như món ăn trở nên có duyên đến tức cười. Lũ trẻ ngồi quanh bàn cứ há hốc mồm nghe ông khách lạ, quên cả ăn. Tôi bị cuốn vào câu chuyện hồi nào không hay, vừa nhồm nhoàm nhai vừa kình cãi với khách. Vợ tôi ăn ít, nàng chống hai khuỷu tay lên bàn, xoa xoa hai bàn tay vào nhau nghe chúng tôi nói chuyện và tiếp thức ăn cho mọi người. Q. gắp cho nàng một khúc cá, khi đưa đến gần chén của nàng thì nó trượt khỏi đôi đũa rơi tòm xuống chén nước sốt.

– Đấy, chết rồi mà vật lộn với nó còn khó. Tôi luôn luôn chỉ bắt được vẩy cá trong những lần tát ao.

Anh chữa thẹn rồi thản nhiên lấy tay chùi nước sốt văng trên áo mình, đưa lên miệng liếm .

Tối đó anh ngủ lại nhà tôi. Cơm nước xong thì đã chín giờ rưỡi, chuyến xe lửa cuối cùng hai giờ sáng mới chạy, tôi buộc lòng phải giữ anh lại. Q. thấy đó là điều đương nhiên, không một câu từ chối khuôn sáo, anh hăng hái giúp chủ nhà dọn dẹp để lấy chỗ ngủ. Nhà chật nên chúng tôi dùng chiếc ghế sa lông lớn kéo ra làm giường cho khách. Ngồi trên đống chăn gối mới mang ra, anh nạp một mẩu thuốc, nhìn vợ tôi và mấy cháu nhỏ như dò hỏi rồi tự cho phép mình mồi lửa hút.

Nằm trong phòng ngủ tôi sốt ruột đợi vợ vào để nghe nàng đưa ra những nhận xét về ông khách mới. Nàng còn lịch kịch rửa chén dưới bếp, chuẩn bị nồi cháo gà cho bữa điểm tâm sáng mai. Tôi ngủ quên lúc nào không hay.

Nửa đêm tôi tỉnh giấc vì khát nước. Uống xong ly nước lạnh thì tỉnh ngủ hẳn, tôi lần ra phòng khách kiêùm thuốc lá hút. Cả nhà đã ngủ say, tiếng Q. ngáy rền cả phòng khách. Anh đã uống khá nhiều rượu, hơi thở nặng nề, nồng nặc mùi men. Tôi định vào phòng ngủ hút, nhưng sợ nàng thức gậy lại phát hoảng lên như lần trước nên lộn trở ra ban công. Tuyết rơi nhiều, lún phún rắc trong ánh đèn đường, bay cả vào nhà. Đứng một lúc người đã thấm lạnh, tôi lập cập mở cửa bước vào phòng khách. Q. vẫn ngáy như sấm, thỉnh thoảng nói lảm nhảm điều gì khôgn rõ rồi cười khì khì trong mơ. Tôi nảy ra ý định quan sát anh khi đang ngủ. Phải rồi, con người không thể dấu mình được trong trạng thái này. Những nét nhuần nhuyễn của kịch cợm lúc tỉnh sẽ bị lột sạch, cái ưu cái khuyết, những hang hốc mối mọt của cái tủ cũ sẽ bị cạo mất lớp son lẫn ghét phủ ngoài, trơ ra chất gỗ thật của mình dưới vòi nước xịt mạnh. Không cưỡng lại được ý định ngắm anh, tôi dò dẫm lần đến cây đèn mờ đứng ở phòng, bật nhẹ. Ánh sáng vừa đủ rọi tới mặt Q., anh hơi nhíu mày, rồi mặt dãn nở lại, ngáy tiếp. Mớ tóc cứng, bồng bềnh những nếp quăn tự nhiên lúc này bết mồ hôi bám quanh sọ. Chân mũi vuông, vun đọng thịt ở chóp của con người thiên về hành động, ăn nhậu. Những chân rễ chằn chịt như dây võng bắt nguồn từ đuôi mắt toả rộng ra hai bên thái dương hằn rõ mồn một. Lúc tỉnh, cặp mắt sáng tia điện nghịch ngợm đã toả lấp phần nào cái nhàu nát ở vùng mắt anh. Trán anh cao, gồ, sần sùi những nếp nhăn xếp sóng. Quai hàm vuông, ngay trong giấc ngủ cũng bạnh ra như đang ngấm ngầm chịu đựng cơn đau bụng. Khuôn mặt đó là dương bản của bộ não sau khi trải qua thuở thiếu thời cơ cực, tuổi thanh niên lận đận với mắm muối củi lửa bám rêu trong đầu.

Không thấy quen, cũng chả phát hiện ra điều gì bất thường khi đưa khuôn mặt này rọi chiếu trước quang tuyến, tôi tắt đèn ngồi hút thuốc. Con người thật thảm hại, đáng thương trong giấc ngủ, nếu đẹp có chăng chỉ là nàng công chúa được tạo hóa sàng lọc những đường nét thanh tú từ đời ông bà cha mẹ, ướp mình trong nhung lụa rồi nằm mơ bị con sâu bò đến gần đe dọa. Không biết vợ tôi có thường ngắm chồng trong giấc ngủ? Hôm nay rõ ràng Q. đã kiếm được nhiều điểm của mẹ con nàng. Cứ nhìn con mắt, nụ cười trong trẽo của nàng thì rõ, những điều cảnh giác trước của tôi tan biến ngay khi con người xù xì này lướt vào nhà. Thật đúng là đàn bà với con nít. Giá họ có ác cảm với anh ta thì ngược lại, tôi sẽ chú tâm tìm kiếm những điểm dễ thương để biện hộ trước vợ con, xác tín với mình. Tôi ngồi trong bóng tối hàng giờ, nghi ngờ phủ nhận, đốt sạch gói thuốc Q. vẫn say sưa ngủ, không hay biết chủ nhà đang trăn trở thắc mắc về mình, thỉnh thoảng lại đưa tay quệt nước dãi ở miệng.

Sau đó đều đều mỗi tháng anh vẫn đến nhà tôi chơi, còn dắt theo cả vợ con (để làm tin?) Tôi bị xô đẩy vào mối quan hệ như ép duyên, rồi cũng quen dần với nó. Hai người đã làm tốn khá nhiều thời giờ và rượu bia của nhau. Mặc dù vậy, sau mỗi lần trò chuyện, chi bộ nhỏ trong tơi vẫn họp lại để kiểm thảo, đào bới xem anh có mặc áo giấy đi đêm không. Một nửa con người tôi phải lòng anh, chấp nhận anh, đi với anh trên bề nổi cuộc sống, nhưng phần chìm, khuất trong bóng tối vẫn nhắc nhở, cảnh tỉnh khiến tôi khổ sở như ăn hộp cá ngon mà không biết date, xuất xứ của nó.

Hai bà vợ thân thiết với nhau hơn cả chị em ruột. Họ đã tìm lại Hà Nội thuở ấu thời, hàng quà hàng bánh, chợ Đồng Xuân, chợ Cửa Nam trong nhau. Lũ trẻ mất dần đi những câu “con bác Q.”, “tụi nó…” mà thành “anh R…”, “chị H…”. Chúng xóa nhoà ranh giới giữa hai nhà, ôm tất cả vào lòng rồi chia đều theo thứ tự tuổi tác.

Không được phép đầu độc cuộc sống của vợ con bằngnhững nghi ngờ, tôi thu mình lại bên cạnh những mối quan hệ cởi mở đó. Những lời tâm sự giữa hai vợ chồng tắt dần, thỉnh thoảng buột miệng đưa ra một nhận xét lạc lõng về Q. làm cả nhà ngạc nhiên, khó hiểu, tôi vội xoá nó bằng nụ cười gượng gạo rồi giải thích sang hướng khác. Mỗi lần bị qủy ám, nửa đêm tôi không dám ngồi trong phòng ngủ, ngoài phòng khách mà chui vào toilette khoá cửa lại đốt thuốc trong đó. Tôi cố gắng chặt lìa con ma nghi ngờ ra khỏi người  mà không được, sau mỗi nhát dao chém nó càng bấu chặt lấy ruột gan tôi hơn, xác nhận tính cấu thành vững chắc trong tôi. Tôi kinh hoàng nhận ra mình là kẻ tàn tật đi trên cõi đời này. Tôi không phải đoàn viên, chả phải đảng viên, chưa một ngày đứng trong cơ chế Cộng Sản, trong tôi không có những cuộc đấu tố rùng rợn, không có bội phản, giả trá, nhưng thói đa nghi, đề phòng cảnh giác luôn bắt tôi phải soi mói, phân tích và phê bình con người. Tôi không hài lòng với thời trang, tôi bực bội với đầu tóc của kẻ khác, tôi tuyên chiến với những cặp nhân tình ôm hôn nhau ở ngoài đường, tôi nhéin vạn vật với con mắt cần cải tạo. Tôi trở thành kẻ thù của con người lúc nào không hay. Những cố gắng đẽo gọt, cạo rửa bản thân mình trở nên vô ích, tôi là viên gạch vô tình nằm trong lò sát sinh và đã bị ám khói lửa thiêu người.

Jean Paul Sartre sau khi phản tỉnh đã thổ lộ “Tôi ly khai chủ nghĩa Cộng Sản, có nghĩa đã ghê tởm, phỉ nhổ nó, đoạn tuyệt hẳn với nó, nhưng mỗi sáng ngủ dậy đứng trước bồn tắm rửa mặt tôi vẫn thấy một thằng cán bộ đang rình mò, xoi mói nhìn mình trong gương…” Không biết ông đã đặp vỡ bao nhiêu miếng gương, còn tôi, tôi luôn sống với cảm giác sau lưng mình có mọc một cái đuôi.

THẾ GIANG (6/ 1986)

http://www.hopluu.net/default.aspx?LangID=0&tabId=453&ArticleID=408


Quả lừa lịch sử: HCM / CSVN-CSTQ cướp chính quyền VN

Thiên Nam

“Giải mã Nhân Vật HCM chính là Giải mã Lịch sử (bất hạnh) của Dân Tộc VN”

“Chúng mình già trẻ lớn bé mắc lừa bọn du côn” (Vua Bảo Đại) (1)

17.8.45: Mít-tinh của Tổng Đoàn Công Chức để chào mừng chính phủ Trần Trọng Kim bổng chốc trở thành biểu tình của Mặt Trận Việt Minh: “Quả lừa lịch sử” bắt đầu chính là từ đây! Vận nước khốn nạn nhất cũng bắt đầu từ đây! (8)

HCM là người VN yêu nước với tư tưởng Độc Lập Dân Tộc phải gắn liền với Cách Mạng và Xây Dựng XHCN? HCM là người VN làm Tình Báo cho CSTQ hay là Tình báo TQ gỉa danh người VN với Sứ Mệnh “Cướp Chính Quyền VN về cho CSTQ” – Một vụ Buôn Vua Lã Bất Vi thời hiện đại?

Cái gọi là Cách mạng mùa thu thực chất chỉ là 1 cuộc cướp nhanh chóng chánh quyền của CP Trần Trọng Kim sau khi vua Bảo Đại đã công bố bản Tuyên Ngôn Độc Lập vào ngày 11.3.1945 và giao cho Trần Trọng Kim thành lập nội các vào ngày 17.4.1945:

Ngày 17.8.45 từ một buồi Mít-tinh của Tổng Đoàn Công Chức để chào mừng chính phủ Trần Trọng Kim bổng chốc trở thành biểu tình của Mặt Trận Việt Minh: “Quả lừa lịch sử” bắt đầu chính là từ đây! Vận nước khốn nạn nhất cũng bắt đầu từ đây.

VN đã được 2 lần trao trả độc lập từ Nhật-Pháp qua vua Bảo Đại (Người có đầy đủ thẩm quyền nhất để đại diện cho dân tộc VN và cũng là Chủ nhân thật sự của Đất-Nước VN. Tại sao Nhật cũng như Pháp đã không thể bàn giao đất nước VN lại cho một Người CS vô sản như HCM là điều có thể hiểu được). Cả hai lần Độc Lập VN điều bị HCM phá hoại và đã đưa đẩy đất nước VN vào 2 cuộc chiến đuổi Pháp đánh Mỹ đẫm máu hoàn toàn không cần thiết và có thể tránh được sau đệ nhị thế chiến (Ở châu á có cả thẩy 14 nước đều được lần lược trao trả độc lập mà không cần phải đánh nhau với Đế Quốc Thực Dân Đô Hộ)

Sau đệ nhị thế chiến Chủ Nghĩa Phát Xít và Thuộc Địa đã thật sự cáo chung cùng với sự ra đời LHQ với chủ trương “Quyền dân tộc tự quyết”. Thay thế chổ của nó là những Nhà Nước CS mà Đức Đạt Lai Lạt Ma cho là: “Cộng sản là loài cỏ dại mọc trên hoang tàn của chiến tranh, loài trùng độc sinh sôi nẩy nở trong rác rưởi của cuộc đời” (2). LX lấn chiếm một nữa Châu Âu, và ở Châu Á TQ đánh chiếm Tây Tạng, Tân Cương, Nội Mông, Mãn Châu, Nam Hàn (Trong vòng 5 tháng Hồng Vệ Binh của Mao đã đánh chiếm 95% Lảnh Thổ Nam Hàn vào tháng 9.1950, nhưng sau đó lính Mỹ / LHQ đổ bộ vào Nam Hàn đánh bật HVB trở lui lại vĩ tuyến 38 vào tháng 7.1953)… cho nên những cuộc chiến chống Chế độ CS sau đệ nhị thế chiến thật sự là chống lại sự bành trướng của Khối XHCN / CSQT. Cái bất hạnh của Dân Tộc VN là đã bị HCM đưa đẩy vào vòng tranh chấp giữa hai thế lực CS và Thế Giới Tư Do với cái vỏ bọc Tiến Hành chiến tranh dành độc lập VN và giải phóng miền Nam ra khỏi sự chiếm đóng của “Đế Quốc Tư Bản Mỹ” (Để bạn đọc có dịp so sánh: Nước Đức sau đệ nhị thế chiến cũng bị chia cắt như VN vì thua trận và thật sự mới là một nước bị chiếm đóng bởi Mỹ/Đồng Mình và LX, thế nhưng bà TT Đức đã đến tận nước Mỹ để “cám ơn vô hạn”: Thưa Quí vị, cho phép tôi được nói tóm tắt việc này trong một câu: Tôi biết, người Đức chúng tôi biết, chúng tôi cám ơn vô hạn Quí vị, những người bạn Mỹ của chúng tôi. Chúng tôi sẽ không bao giờ và cả cá nhân tôi sẽ không bao giờ quên Quí vị! (5) và nhà nước CSVN hiện tại vẫn coi Mỹ như là thế lực thù địch của VN)

Tô Hải kể về cái ngày khởi đầu sa hố đó (Tác gỉa sách “Hồi ký của một thằng hèn”):

“Đúng ngày 17 tháng 8 năm 1945, chúng tôi kéo nhau đến quảng trường Nhà Hát Lớn Hà Nội mít-tinh chào mừng chính phủ Trần Trọng Kim. Cuộc mít-tinh bắt đầu được mấy phút bỗng hàng loạt cờ đỏ sao vàng được tung ra, cờ quẻ ly bị giật xuống và trên bục diễn giả xuất hiện một người đeo poọc-hoọc, đăng đàn diễn thuyết, kêu gọi đồng bào đi theo Việt Minh, đánh Pháp, đuổi Nhật, đòi lại áo cơm, tự do, xóa bỏ gông xiềng… Những khẩu hiệu vừa phát ra đã có hàng ngàn người hô to hưởng ứng. Không một tiếng súng. Không một sự phản kháng từ ai, từ đâu, dù trại lính Nhật ở cách đó chỉ khoảng 300 mét!

Cuộc khởi nghĩa thành công nhanh như thế đó!

Sau này, loại thanh niên “yêu nước hồn nhiên” bọn tôi đâu có dám lên tiếng khi nghe người ta tự tâng bốc kể công với lịch sử rằng “Đảng đã lãnh đạo toàn dân nổi dậy đánh Pháp, đuổi Nhật dành tự do, độc lập cho đất nước!”

Và các nhà viết sử Nhà Nước Cộng Sản cũng lờ tịt luôn cái chuyện Việt Minh cướp chính quyền từ chính phủ quân chủ lập hiến Trần Trọng Kim — không khác vụ lật đổ chính phủ Kerensky ở nước Nga trong lúc nội tình nước này đang bối rối.

Thực tế lúc ấy là…. chúng tôi có biết gì đến cái đảng cộng sản cộng xiếc, nhất là ông Nguyễn Ái Quốc tức Hồ Chí Minh sau đó còn công khai tuyên bố GIẢI TÁN ĐẢNG của ông ta trước thế giới và đồng bào cả nước! Trong chính phủ có đầy đủ các vị Huỳnh Thúc Kháng, Phan Kế Toại, Nguyễn Hải Thần, Nguyễn Tường Tam, Vũ Hồng Khanh…. và cả “cố vấn” Bảo Đại nữa.

“Quả lừa lịch sử” bắt đầu chính là từ đây! Vận nước khốn nạn nhất cũng bắt đầu từ đây!

Tại sao Việt Nam không độc lập như Mã Lai, Nam Dương, Ấn Độ, Thái Lan, Phi Luật Tân… mà phải qua 30 năm chém giết kẻ thù thì ít…. mà chém giết nhau thì nhiều?”… Đây là sự hy sinh cực kỳ vô duyên cho cái chủ nghĩa không tưởng, cho sự tiếm quyền của một lớp người âm mưu làm VUA của cái nước Việt Nam khốn khổ này bằng chiêu bài Độc Lập, Tự Do mà ở các nước, người ta đã có từ nửa thế kỷ nay rồi vì may mắn thay, họ không có Đảng Cộng Sản cầm quyền! Bi kịch lớn của triệu tấn bi kịch nhỏ chính là đây! (HKCMTH – tr. 424 – 425)

Bi kịch đã phủ trùm đất nước do lệnh truyền chém giết viện dẫn lý do “đế quốc Mỹ đang xâm chiếm miền Nam, đồng bào bị bóc lột, đày đọa”, dù nhiều người sắm vai trong tấn kịch luôn tái tê tự vấn: “Từ nay đến ngày “ngụy nhào… miền Bắc còn bao nhiêu xương rơi, máu đổ? Phía bên kia thì thằng Phát, thằng Đạt, những đứa em tôi; thằng Định, thằng Thọ, những bạn học của tôi… bao giờ sẽ trở thành món “thịt băm” trước cái quyết tâm “còn cái lai quần cũng đánh” của “ta”? (HKCMTH – tr.291 – 292)

Vì họ đã thấy không đế quốc nào xâm lược, không có ai bị đọa đày mà cuộc chiến đã khởi từ mưu đồ độc bá của chỉ một nhóm, thậm chí của chỉ một người:

“Không có ông Hồ, không có cái đảng này thì đâu đến nỗi cả dân tộc tôi bị chiến tranh tàn phá, anh em, họ hàng đâu đến nỗi chia lìa, chém giết lẫn nhau, đâu đến nỗi thua xa những nước cũng thuộc địa như nước tôi đến cả thế kỷ về mọi mặt.” (HKCMTH tr. 388).

Mục tiêu thực sự của cuộc chiến đã được nêu hàng ngày bằng mọi lời lẽ có thể tóm gọn trong mấy câu thơ:

Giết! Giết nữa! Bàn tay không phút nghỉ!
Cho đồng lúa tốt, thuế mau xong
Cho Đảng bền lâu, cùng rập bước chung lòng
Thờ Mao chủ tịch, thờ Xít Ta Lin bất diệt!
(Tố Hữu)

http://www.quanvan.net/index.php?view=story&subjectid=26787

Nhạc sỹ Phạm Duy đã thuật lại trong cuộc phỏng vấn của đài RFA:

“Cuộc mít-tinh của các ông các bà công chức đang diễn tiến thì bỗng nhiên một lá cờ đỏ sao vàng rất lớn được thả từ bao lơn của nhà hát xuống, rồi một người leo lên khán đài cướp micro để hô khẩu hiệu và hát bài Tiến Quân Ca của Văn Cao.

Thế là cuộc biểu tình của Tổng Đoàn Công Chức bỗng nhiên biến thành cuộc biểu tình của Mặt Trận Việt Minh…”

64 năm đã trôi qua, kể từ ngày HCM đọc “Tuyên Ngôn Độc Lập” ở Ba Đình vào ngày 2.9.1945, lý lịch HCM cùng với Vận Mệnh Ngả Nghiêng của dân tộc VN vẩn là điều mù mờ bí ẩn trong thời đại bùng nổ thông tin Internet khi chúng ta phát hiện:

– Hình ảnh và nhân chứng về ngày lịch sử “trọng đại” rất ít và mù mờ, phim ảnh chiếu cảnh HCM đọc TNĐL kéo dài chỉ đúng 1 giây (7) và dưới đây là tấm hình rõ nhất mà chúng ta tìm ra được ở trên Internet:

HCM đọc TNĐL ở Ba Đình vào ngày 2.9.1945

– Bản thảo viết tay của TNĐL cũng chưa hề được công bố, vì thế chúng ta có quyền đặt câu hỏi: Nhân vật đọc tuyên ngôn ở Ba Đình vào ngày 2.9.1945 thật sự là ai? Người VN hay người Tàu gỉa làm người VN?

– Qua 3 bản thảo viết tay của HCM mà chúng ta tìm thấy được trên Internet, thì một học sinh cấp trung học cũng có thể đánh giá “Khả năng viết và diễn tả tiếng Việt của Bác chưa qua khỏi trình độ tiểu học trường làng” hay “Đó là một người ngoại quốc viết tiếng Việt chưa rành” (Các bạn đọc thử tìm trên mạng Internet một tác phẩm viết tay tiếng Việt của HCM mà qua đó mọi người đều công nhận HCM viết rành tiếng Việt!).

Thơ kêu gọi Toàn Cuốc kháng chiến 19/12/1946

Thơ kêu gọi toàn quốc thi đua yêu nước tăng gia sản xuất 1/5/1948

“Di chúc HCM” (6) chỉ có vỏn vẹn vài trang mà HCM phải cần đến 1460 ngày mới hoàn tất. Đảng CSVN đã cho công bố 4 “dị bản” khác nhau vào năm 65, 68, 69, 89 và mỗi lần thêm bớt, cắt cúp, sửa chữa để thích hợp với nhu cầu tuyên truyền cho từng gian đoạn đến nổi Nhạc sĩ Tô Hải phải vô cùng” hoang mang” đặt câu hỏi:

Một tác giả từng nổi tiếng với hàng ngàn bài báo viết rất đơn giản, dễ hiểu, khúc chiết, rõ ràng, rất đại chúng, từng nêu gương học tập cách viết cho hàng loạt cây bút vô sản lẽ nào viết có hai trang “dặn dò trước khi chết” lại phải kéo dài tới 1,460 ngày!? cái gì đã làm cho ông Hồ khó khăn khi cầm bút thế nhỉ? Có sức ép nào không? Mà lại phải coi là tài liệu “tuyệt đối bí mật” cho đến ngày tuyên bố nữa chứ?

…Lí do gì mà mãi đến năm 1989, nhân kỉ niệm 20 năm ngày mất của bác, bản di chúc mới được công bố đầy đủ? Cho đến nay vẫn chưa được làm sáng tỏ. Vậy bản năm 65, 68, 69, bản nào là bản chuẩn? Ðặc biệt là bản cuối cùng lại có chứng nhận, chứng kiến của Tổng Bí Thư Lê Duẩn kí ở trang cuối lại càng gây thêm thắc mắc: vì sao một bản di chúc đọc kĩ thì chẳng có điều gì bí mật? Chẳng có kế hoạch chiến đấu, xây dựng đi theo đường lối ai, đoàn kết với ai, cảnh giác với ai mà đến nỗi phải có tổng bí thư đứng ra làm công chứng. Chẳng lẽ những điều dặn lại con cháu đồng chí là phải giữ gìn, đoàn kết trong đảng như con ngươi của mình, chẳng lẽ những điều mong muốn cho nhân dân có cơm no, áo ấm, được học hành. Chẳng nhẽ những nguyện vọng được an táng như một người dân bình thường lại trở thành những điều tuyệt mật hay sao?

Nguồn: Nhạc sĩ Tô Hải nói chuyện di chúc
http://thangtien.de/index.php?option=com_content&task=view&id=4162&Itemid=404

Ngục Trung Nhật Ký và Chúc thư của HCM 1969

Trong bản di chúc viết tay đầu tiên, chúng ta không tìm đâu ra được cụm từ “dân chủ”, nhưng để chứng tỏ HCM cũng yêu thích dân chủ, đảng CSVN đã tự ý thêm 2 câu vào bản di chúc “đánh máy” như sau:

“Trong Đảng thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình là cách tốt nhất để củng cố và phát triển sự đoàn kết và thống nhất của Đảng”

“Điều mong muốn cuối cùng của tôi là: Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới.”

– Đáng ngạc nhiên hơn nữa khi chúng ta được biết là NAQ lúc còn trẻ có nét chữ rất đẹp được phát hiện bởi TS Vũ Ngự Chiêu vào năm 1983:

Ðầu tháng 2/1983, khi làm việc trên kho tài liệu trường Ecole coloniale, tức học hiệu huấn luyện các viên chức thuộc địa Pháp, trên đường Oudinot, quận 7, Paris, tôi vô tình khám phá ra nhiều hồ sơ học viên người Việt tại học hiệu này, như Bùi Quang Chiêu, Ðèo Văn Long, Phan Kế Toại, Trần Trọng Kim, Lê Văn Miễn, v.. v… tổng cộng khoảng 97 người (CAOM (Aix), Ecole Coloniale, cartons 27, 33 & Registers). Mục đích của tôi là tìm hiểu về những viên chức thuộc địa Pháp cùng thế hệ Tây học Việt Nam đầu tiên (ngoài những người tốt nghiệp các lớp huấn luyện ở các tu viện như Trương Vĩnh Ký, Nguyễn Trường Tộ, v.. v…) để dùng cho chương Biến đổi văn hóa và xã hội của luận án Tiến sĩ. Thật vô tình, tìm thấy tập hồ sơ xin nhập học nhưng không được chấp nhận của Nguyễn Tất Thành, tức HCM sau này, cùng một người bồi khác được chủ Pháp mang về Paris. Ngoài hai lá thư viết tay gửi Tổng thống Pháp và Bộ trưởng Thuộc Ðịa, đề ngày 15/9/1911 tại Marseille, còn thêm ba tài liệu của Hội đồng quản trị trường. Trong biên khảo tam ngữ Một ngôi trường khác cho Nguyễn Tất Thành (Paris: 1983) tôi đã trình bày khá rõ: Người mà chúng ta biết như HCM sau này đã rời nước không vì muốn tìm đường cứu nước, mà chỉ vì những tao ngộ bản thân (cha bị cách chức, tống giam, nên phải bỏ học nửa chừng, v.. v…). Từ cổng hậu đóng kín của trường Thuộc Ðịa, HCM sẽ tìm thấy cánh cửa mở rộng của Ðại Học Phương Ðông của Liên Sô Nga 12 năm sau.

Nguồn: Phỏng Vấn Sử Gia Vũ Ngự Chiêu Về Những Nghiên Cứu Lịch Sử Liên Quan Đến Hồ Chí Minh – Nguyễn Vĩnh Châu

Thơ Xin Nhập Học trường thuộc địa của Nguyển Tất Thành / NAQ vào ngày 15.9.1911

DỊCH:

Marseille ngày 15 tháng chín 1911

Kính gởi ông Bộ Trưởng bộ Thuộc Ðịa
Kính thưa ông Bộ Trưởng,

Tôi xin trân trọng thỉnh nguyện lòng tốt của ông ban đặc ân cho tôi được nhận vào nội trú trường Thuộc địa.
Tôi hiện làm công nhân trong công ty ChargeursRéunis để mưu sinh (trên tàu Amiral Latouche-Tréville).
Tôi hoàn toàn không có tài sản và khao khát được học hỏi. Tôi mong ước trở nên hữu ích cho nước Pháp đối với đồng bào tôi, đồng thời có thể làm cho họ hưởng được lợi ích về học vấn.
Tôi gốc tỉnh Nghệ An, xứ An Nam.
Trong lúc chờ đợi sự trả lời mà tôi hy vọng là thuận lợi, xin ông Bộ Trưởng nhận nơi đây lòng tôn kính và tri ân trước của tôi.

Nguyễn Tất Thành, sinh tại Vinh năm 1892, con của ông Nguyễn sinh Huy, Phó Bảng. Học sinh pháp văn, quốc ngữ, chữ hán.

Thư của Nguyễn Ái Quốc gửi cho người vợ Tàu Tăng Tuyết Minh (1905-1991) bị Mật thám Đông Dương chặn được ngày 14.8.1928 và Daniel Hémery phát hiện vào năm 1990

DỊCH:

Cùng em xa cách Đã hơn một năm Thương nhớ tình thâm Không nói cũng rõ. Cánh hồng thuận gió Vắn tắt vài dòng Để em an lòng Ấy anh ngưỡng vọng. Và xin kính chúc Nhạc mẫu vạn phúc. Anh ngu vụng: Thuỵ (Bản dịch của N.H. Thành)

– Chúng ta còn ngạc nhiên và hoang mang hơn nửa là trình độ Nga Ngữ của HCM khá hơn Việt Ngữ khi phát hiện ra được bức thư viết tay của HCM gởi cho Stalin xin chỉ thị và giúp đỡ cho CCRD: Không có một chỗ gạch sửa như trong 3 lá thơ viết bằng tiếng Việt gởi cho Nhân Dân VN với nét chử hoàn khác hẳn với những thơ nói trên. Theo các Nhà Bút tích học thì những người với nét chử xoắn tròn có đời sống nội tâm bí mật và thích dùng bạo lực để giải quyết vấn đề.

Đồng chí Stalin kính mến

Tôi đã bắt đầu soạn thảo đề án cải cách ruộng đất của Đảng Lao Động Việt Nam, và sẽ giới thiệu với đồng chí trong thời gian tới.
– Tôi gửi tới đồng chí một số yêu cầu, và hi vọng sẽ nhận được chỉ thị của đồng chí về những vấn đề này.
1. Cử một hoặc 2 đồng chí Liên Xô tới Việt Nam để làm quen và tìm hiểu thực trạng ở đó. Nếu như các đồng chí đó biết tiếng Pháp đủ để có thể giao tiếp với nhiều người. Từ Bắc Kinh tới chỗ chúng tôi đi đường mất khoảng 10 ngày.
2. Chúng tôi muốn gửi tới Liên Xô 50-100 du học sinh, với trình độ văn hóa lớp 9 ở Việt Nam, trong số họ có người là Đảng viên và cũng có ngừoi chưa phải là Đảng viên, độ tuổi của họ từ 17-22. Đồng chí nhất trí về vấn đề này chứ.
3. Chúng tôi muốn nhận từ phía các đồng chí 10 tấn thuốc kí ninh (thuốc sốt rét-thanhnam) cho quân đội và dân thường, có nghĩa rằng 5 tấn trong nửa năm
4. Chúng tôi cần những loại vũ khí sau
(a) Pháo cao xạ 37 li cho 4 trung đoàn, tất cả là 144 khẩu và 10 cơ số đạn cho mỗi khẩu pháo.
(b) Pháo trận địa 76,2 li cho 2 trung đoàn, tất cả là 72 khẩu và 10 cơ số đạn cho mỗi khẩu
(c) 200 khẩu súng phòng không 12,7 li và 10 cơ số đạn cho mỗi khẩu
Sau khi nhận chỉ thị của đồng chí về những vấn đề trên, tôi dự định vào ngày mùng 8 hoặc là mùng 9 tháng 11 sẽ rời khỏi Moscow.
Gửi tới đồng chí lời chào cộng sản và lời chúc túc đẹp nhất

% Ho Shi Min %
30-10-1952
đã kí

Thơ viết tay của HCM gởi cho Stalin (Thủ Tướng LX và cũng là TTK ĐCSLX) xin chỉ thị và giúp đở về CCRĐ vào ngày 30.10.1952

http://www.rusarchives.ru/evants/exhibitions/vietnam1/23.shtml

Cuối thơ HCM viết tên mình theo âm Tàu và ký tên bằng chữ Tàu. Đây có phải là tác phong của một nhà lãnh đạo VN viết thơ cho một lãnh đạo LX? Vậy HCM là ai? Người Tàu gỉa danh Việt? CCRD đẩm máu nhất trong LSVN đã trôi qua nửa thế kỷ nay, nỗi sợ hãi và kinh hoàng của dân tộc VN vẫn còn đó nhưng tại sao các nhà sử gia và học gỉa VN chưa bao giờ đặt nghi vấn cho những phát hiện vô cùng khó hiểu về nhân vật HCM này?

Tất cả đã cho thấy vụ Cải tạo Nông nghiệp do CS chủ trương và thực hiện này đã gây nhiều tội ác kinh hoàng và nhiều hậu quả nghiêm trọng.

Trước hết, đó là tàn sát thường dân vô tội. Nông dân VN hiền hoà, chất phác đang làm ăn sinh sống và hết lòng đóng góp vào cuộc kháng chiến, bỗng dưng bị ĐCS giáng cho họ một đòn chí tử. Đảng tuyên bố CCRĐ là nhằm thực hiện ước mơ muôn đời của nông dân: “người cày có ruộng”, nhưng thực tế thì tầng lớp năng nổ, giỏi giang nhất ở nông thôn bị quy là phú nông, địa chủ, cường hào ác bá, hết đường sinh sống; tầng lớp cán bộ nông thôn từng chịu đựng gian khổ lãnh đạo sản xuất thì bị quy là phản động, gián điệp… bị bắn giết hay bị trừng trị.

Tiếp đến là phá hoại truyền thống tốt đẹp hàng nghìn năm của dân tộc, truyền thống hiếu hoà, thương yêu, đùm bọc lẫn nhau ở nông thôn VN. Chỉ trong vài năm, Đảng đã đánh tan tinh thần «tương thân tương ái» thường đậm đà trong mối quan hệ người với người, đặc biệt nơi thôn dã, qua chính sách “phân định thành phần giai cấp” hết sức bất công, vô lý, tùy tiện, bằng kiểu “tố khổ” đầy thành kiến, gian trá và hận thù.

Thứ ba là phá hoại luân thường của xã hội. Trong lịch sử dân tộc, chưa bao giờ đạo lý làm người bị đảo điên một cách quái đản như trong CCRĐ. Để “tìm ra địa chủ”, “tìm ra phản động”, “tìm ra của chìm”, các đội cải cách đã ép buộc con cái “đấu tố” cha mẹ, con dâu “đấu tố” bố mẹ chồng, con rể “đấu tố” bố mẹ vợ, vợ “đấu tố” chồng, anh em “đấu tố” lẫn nhau, trò “đấu tố” thầy, kẻ hàm ơn “đấu tố” người làm ơn… Những người bị quy là địa chủ ngay lập tức bị tước mọi quyền làm người, bị hạ nhục, bị mất mạng và gia đình họ cũng chịu vạ lây.

Cuối cùng là phá hủy truyền thống tâm linh và văn hoá của đất nước. Qua cuộc CCRĐ, ĐCS cố tình triệt hạ các tôn giáo và tín ngưỡng bằng cách tước đoạt đất hương hỏa, ruộng nhà chung, ruộng nhà chùa vốn vẫn dành lo việc cúng tế thờ phượng, từ thiện bác ái, nuôi sống chức sắc, tu bổ các nơi phụng tự. Với đòn độc địa này, tất cả mọi tổ chức, mọi cơ sở tôn giáo và tín ngưỡng -vốn che chở hồn dân tộc- đều trở nên điêu đứng và dần dần tàn tạ.

Những khuôn mặt tội đồ như Hồ Chí Minh, Trường Chinh, Hồ Viết Thắng, Hoàng Quốc Việt đã trở thành vết nhơ muôn đời cho dân tộc. Việc làm của họ, được đồng đảng của họ hôm nay tiếp nối, cho toàn dân thấy được tính chất phi nhân bản, phản dân tộc của chủ nghĩa và chế độ Cộng sản. Nó không thể tồn tại trên đất nước Việt Nam!

Nguồn: CUỘC CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT TẠI MIỀN BẮC 1949-1956
http://www.doi-thoai.com/baimoi1109_194.html

Cải cách ruộng đất: Địa chủ bị đấu tố

Qua những phát hiện “khó hiểu” về những Bút Tích của HCM / NAQ thì đến đây chúng ta có quyền nghi ngờ rằng HCM và NAQ là 2 nhân vật hoàn toàn khác nhau và chúng ta thử tiếp tục tìm hiểu thêm về Qúa Trình Hoạt Động cho CSTQ / CSLX và khảo sát những hình ảnh của HCM / NAQ có thề tim thấy được ở trên mạng Internet.

Chúng ta phải lý giải như thế nào về những khác biệt bút tích giữa tiếng Nga và tiếng Việt? Phải chăng Thư Ký Vũ Kỳ (1921-2005) mới thật sự là tác gỉa của những lá thư viết tay tiếng Việt nói trên? Vũ Kỳ  đã “tự kể” những bổ túc thêm vào trong di chúc HCM:

Năm 1967, Bác không sửa gì nhiều bản di chúc nhưng đến năm 1968 thì Người sửa rất nhiều. Phần mở đầu Bác viết năm 1965 là “Năm nay tôi đã 75 tuổi. Tinh thần vẫn sáng suốt, thân thể vẫn khỏe mạnh” nhưng nay Bác sửa: “Năm nay tôi vừa 78 tuổi, vào lớp những người “trung thọ”. Tinh thần vẫn sáng suốt tuy sức khỏe có kém so với vài năm trước đây”. Có lẽ không muốn mọi người lo, Bác viết tiếp: “Người ta đến khi tuổi tác càng cao thì sức khỏe càng thấp. Đó là một điều bình thường”.

Sau đó Bác viết thêm đoạn “về việc riêng” có ý mới là sau khi hỏa táng sẽ lấy tro xương của Bác để vào ba hộp sành cho mỗi miền Bắc, Trung, Nam. Bác viết thêm về những công việc cần làm sau khi giải phóng miền Nam. Đó là chỉnh đốn lại Đảng, chăm sóc đời sống của các tầng lớp nhân dân, miễn thuế nông nghiệp một năm, xây dựng lại thành phố và làng mạc… Những đoạn về chỉnh đốn Đảng, chăm sóc thương binh Bác viết rồi lại gạch chéo. Đoạn nói về xây dựng đất nước… Bác gạch dọc bên lề. Rất nhiều đoạn vòng xuống vòng lên, mực xanh lẫn mực đỏ. Có lẽ lúc đó Bác còn nhiều trăn trở, Người chưa yên tâm lắm khi giã biệt cuộc đời này? Nói đến đây ông Kỳ dừng lại. Có lẽ ông đang hồi tưởng lại tâm tư của chính mình.

Nguồn: Chuyện kể về “Tài liệu tuyệt đối bí mật” – 2004
http://vietbao.vn/Xa-hoi/Chuyen-ke-ve-Tai-lieu-tuyet-doi-bi-mat/40046784/157/

Như vậy Vũ Kỳ  cũng là ngưòi Tàu và làm phụ tá tình báo cho HCM!? Cho nên không phải là ngẩu nhiên mà HCM đã giới thiệu VNG cho Vũ Kỳ vào năm 1941:

Năm 1941, đồng chí Vũ Kỳ được Đảng cử sang Trung Quốc học tập quân sự để chuẩn bị điều kiện cho đấu tranh vũ trang. Khi rời Cao Bằng để qua biên giới, Bác Hồ dặn ông: “Chú sang đó sẽ gặp chú Giáp, nguyên là giáo sư dạy ở Trường Thăng Long. Chú nhớ chuyển lời hỏi thăm của Bác”.

Đêm đầu tiên gặp nhau trên đất nước bạn, hai người đã nằm gác chân lên nhau tâm sự đến gần sáng. Dương Hoài Nam (bí danh của đại tướng Võ Nguyên Giáp) hỏi rất nhiều về tình hình Hà Nội. Còn U Xao Ty (bí danh mới được tổ chức đặt cho đồng chí Vũ Kỳ) thì lắng nghe như nhập tâm những điều dặn dò của vị giáo sư Trường Thăng Long mà mình đã từng nghe danh tiếng…

Cách mạng thành công, Bác Hồ và đồng chí Võ Nguyên Giáp về Hà Nội. Đồng chí Trần Đăng Ninh đưa ông Vũ Kỳ đến gặp Bác giữa lúc thường vụ đang họp ở 48 Hàng Ngang. Thấy ông xuất hiện đột ngột, đồng chí Võ Nguyên Giáp reo lên: “Ô Kỳ, U Xao Ty!”. Trần Đăng Ninh ngạc nhiên hỏi: “Biết nhau à?”.

Nguồn: Tiễn đưa đồng chí Vũ Kỳ
http://www.tuoitre.com.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=75783&ChannelID=3

Vũ Kỳ và HCM  1960

Theo tài liệu chính thống,  từ 1930 đến 1941 HCM đã có những hoạt động như sau:

Thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam

Ngày 3 tháng 2 năm 1930, tại Cửu Long (九龍, Kowloon) thuộc Hương Cảng, ông thống nhất ba tổ chức đảng cộng sản thành Đảng Cộng sản Việt Nam (sau đó đổi tên là “Đảng Cộng sản Đông Dương”, rồi đổi thành “Đảng Lao Động Việt Nam” và nay là “Đảng Cộng sản Việt Nam”).

Tháng 3 năm 1930, ông trở lại Thái Lan trong một thời gian ngắn, sau đó quay lại Trung Hoa.
Những năm 1931 – 1933

Năm 1931, dưới tên giả là Tống Văn Sơ (Sung Man Ch’o), Nguyễn Ái Quốc bị nhà cầm quyền Hương Cảng bắt giam với ý định trao cho chính quyền Pháp ở Đông Dương. Tờ L’Humanité số ra ngày 9 tháng 8 năm 1932 đưa tin Nguyễn Ái Quốc đã chết vì bệnh lao phổi trong trạm xá nhà tù tại Hồng Kông đồng thời tố cáo đây là âm mưu của thực dân Pháp câu kết với thực dân Anh nhằm ám sát người lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương[21]. Nhưng sau đó nhờ sự biện hộ và giúp đỡ tận tình của luật sư Frank Loseby[22], Tống Văn Sơ được thả ngày 28 tháng 12 năm 1932. Ông đi Thượng Hải rồi bí mật quay trở lại Liên Xô.
Thời kì ở Liên Xô lần thứ hai

Ông đến Moskva vào mùa xuân năm 1934. Với bí danh Lin, Nguyễn Ái Quốc học ở Trường Quốc tế Lenin (1934-1935). Ông dự Đại hội lần thứ 7 Quốc tế Cộng sản (từ ngày 25 tháng 7 đến ngày 20 tháng 8 năm 1935) với vai trò quan sát viên của ban thư ký Dalburo với tên Linov[23]. Theo tài liệu của một số nhà sử học, ông bị buộc ở Liên Xô cho đến năm 1938 và bị giam lỏng ở đó do bị nghi ngờ về lý do ông được nhà cầm quyền Hương Cảng trả tự do[24]. Trong những năm 1931-1935, ông đã bị Trần Phú và sau đó là Hà Huy Tập phê phán về đường lối cải lương “liên minh với tư sản và địa chủ vừa và nhỏ”, không đúng đường lối đấu tranh giai cấp của Quốc tế Cộng sản[25][26].
Từ năm 1938 đến đầu năm 1941

Năm 1938, ông trở lại Trung Quốc. Trong vai thiếu tá Bát Lộ quân Hồ Quang, Nguyễn Ái Quốc đến công tác tại văn phòng Bát Lộ quân Quế Lâm, sau đó đi Quý Dương, Côn Minh rồi đến Diên An, căn cứ đầu não của Đảng Cộng sản Trung Quốc và Hồng quân Trung Quốc mùa đông 1938.
Trở về Việt Nam

Ông trở về Việt Nam vào ngày 28 tháng 1 năm 1941[27], ở tại hang Cốc Bó, bản Pác Bó, tỉnh Cao Bằng với bí danh Già Thu. Tại đây, ông mở các lớp huấn luyện cán bộ[28], cho in báo, tham gia các hoạt động thường ngày… Tài liệu huấn luyện và tuyên truyền chủ yếu là sách do ông dịch và viết về nhiều chủ đề. Tại cuối một cuốn sách như vậy ông ghi “Việt Nam độc lập năm 1945″[29]. Ông cho lập nhiều hội đoàn nhân dân như hội phụ nữ cứu quốc, hội phị lão cứu quốc, hội nông dân cứu quốc…

Tháng 5 năm 1941, hội nghị mở rộng lần thứ 8 của Trung ương Đảng họp ở Cao Bằng và quyết định thành lập Việt Nam Độc lập Đồng minh Hội (Việt Minh). Ông là chủ tọa.

Nguồn: Hồ Chí Minh – http://vi.wikipedia.org/wiki/Hồ_Chí_Minh

Theo GS Hồ Tuấn Hùng, tác gỉa sách “Hồ Chí Minh Sanh Bình Khảo”, thì NAQ đã chết vì bệnh lao phồi nặng (trước đệ nhị thế chiến chưa có thuốc để trị bệnh lao phổi) và đã được làm lễ truy điệu và an táng ờ LX vào năm 1932. Sau đó HCM / Hồ Tập Chương là 1 người Tàu đã âm thầm “chuyển hoa ghép cây” biến thành nhân vật NAQ với sự đồng tình của CSLX/CSTQ để tiếp tục sứ mạng “Phát triển sự liên hợp trận tuyến giữa 2 đảng CSTQ và CSVN”:

Mật lệnh công tác của HCM (Hồ Chí Minh Sanh Bình Khảo)

Sau khi rời Mạc tư khoa đầu năm 1938, chính phủ quốc dân đảng TQ và Liên Xô lập thành liên minh để chống Nhật. Từ 1939-1944 HCM hoạt động ở Trung quốc, chấp hành nhiệm vụ CS Quốc tế giao phó. Trong lúc ấy cả VN, TQ, LX đều để chống lại đế quốc phát xít Nhật. LX giúp TQ về quân cơ (military plan).

Mật lệnh công tác của HCM là gì thì không rõ, nhưng sau khi thi hành thì có viết báo cáo gửi cho Trung ương ủy viên hội của Việt Nam và trả lời ĐCSQT, những mệnh lệnh đó liên can đến chủ nghĩa Trotsky, phát triển sự liên hợp trận tuyến giữa Trung Việt CSĐ.

Nguyễn Ái Quốc đã chết thật hay chết giả?

Nguyễn Ái Quốc có bệnh phổi lâu năm, vào tháng 6 năm 1931 bị cảnh sát HongKong bắt và chuyển đến bệnh viện của nhà tù để điều trị. Đầu năm 1932 có tin đồn bị mất tích tung ra từ Hồng Kông, khoảng tháng 7 tháng 8 giới truyền thông báo chí đưa tin bị chết vì bệnh ho lao. Những tin này rất phổ biến mà mọi người vào năm đó đều biết. Báo chí thời bấy giờ của Hồng Kông, Anh Quốc, Pháp và Nga Sô đều tung tin sau khi Nguyễn Ái Quốc từ Singapore trở lại Hồng Kông không rõ nguyên nhân vì đâu mất tích rồi sau bệnh chết. Sinh viên Việt Nam ở Đại học Đông Phương Mạc Tư Khoa (Moscow) còn đặc biệt làm lễ truy điệu và tang lễ cho ông và đảng CS quốc tế phái cả người đến chia buồn. Trong tài liệu hồ sơ của NAQ năm 1933 của Cảnh sát an ninh Pháp cũng ghi rõ ràng NAQ bệnh chết đến nỗi 10 năm sau tình báo viên của Pháp báo cáo với chính phủ thực dân rằng Nguyễn Ái Quốc hoạt động ở biên giới Trung-Việt. Chính phủ trả lời: “Vô lí, cái thằng điên đưa tin bậy bạ, đầu thập niên 30 (1930) NAQ đã chết ở Hồng Kông rồi!”

Những tài liệu nguyên thuỷ về sự việc trên vẫn còn rành rành trước mắt và đều được báo chí thời đó ghi chép, là tư liệu lịch sử đầu tiên nắm giữ sự thật mà mọi người lúc ấy đều không nghi ngờ gì nữa. Trong vòng mười năm đó (1932-1941) Nguyễn Ái Quốc hoàn toàn mất tích, không có một dấu vết gì trên “sân khấu lịch sử”. Trong mười năm đó tất cả ghi chép về bất kỳ hoạt động nào của Nguyễn AQ đều là của một HCM tự xưng là Nguyễn ái Quốc. mà là những tư liệu được quay lại bổ túc thêm sau này.

HCMinh sau hơn 10 năm (xuất hiện trở lại) phủ nhận mình chết vì ho lao, biện minh rằng năm ấy vì phương tiện muốn đào vong nên cố ý ngụy tạo tin đã bệnh chết. Những cấp cao của đảng CS quốc tế, Trung Cộng và Việt Cộng một mặt toàn lực che đậy những hoạt động của HCM (Hồ tập chương) từ năm 1929 đến 1933, một mặt không ngừng truyền tin giả rằng HCM tức là Nguyến Ái Quốc để làm NAQ sống lại trên sân khấu lịch sử. Ví dụ vào năm 1933 vì để tạo ấn tượng giả rằng NAQ vẫn còn sống mà tung tin NAQ cùng với người bạn Pháp Paul Vaillant Couturier gặp gỡ nhau tại Thượng Hải với ý đồ muốn người đời tin là NAQ vào năm 1933 vẫn hoạt động ở Thượng Hải diễn thành màn “chuyển hoa ghép cây”. Muời năm sau khi NAQ bệnh chết, ngày 6 tháng 6 năm 1941 Hồ Chí Minh lần đầu tiên xuất hiện công khai với tên NAQ phát biểu thư hiệu triệu toàn quốc đồng bào, kêu gọi nhân dân VN đứng lên cách mạng làm tròn nhiệm vụ xây dựng độc lập cho đất nước. Từ đó, NAQ vốn im lặng trong mười năm trường, đã bị thế nhân quên rồi trong ý thức chợt hồi sinh và xuất hiện trở lại trên sân khấu lịch sử. Và rồi HCM đem chuyện đời của mình những ngày tháng “chuyển hoa ghép cây” sau khi NAQ đã chết ngụy biện rằng: “Mùa xuân năm 1932 sau khi mất tích ở HongKong, trốn đến Hạ Môn dưỡng bịnh nửa năm. Đầu năm 1933 từ Hạ Môn đến Thượng Hải, cùng năm ấy mùa xuân từ Thượng Hải đến Mạc Tư Khoa.” Từ ấy, ve sầu thoát xác tạo nên một HCM – tức là nhân sinh mới của NAQ.

Như cả đến sự thật NAQ bệnh chết, đã bị lịch sử giải thích là vì muốn tránh sự truy lùng của (cảnh sát) đặc vụ Pháp nên cố ý đưa tin giả. (Để rồi) cuối cùng dưới sự tuyên bố của cấp cao đảng CS quốc tế làm củng cố thêm hình ảnh”HCM tức là NAQ”, đảng CS Trung Quốc và đảng CS Việt Nam đã tạo dựng thành công màn “NAQ chết đi sống lại” do đảng CS quốc tế đạo diễn. NAQ có thật sự chết vì bệnh lao không? Đảng CS Quốc tế có đạo diễn màn “chết đi sống lại” không? Xin mời mọi người cùng nhìn lại lịch sử năm xưa, nghe chứng cớ lịch sử phân trần để trả chân tướng lại cho lịch sử.

NAQ bị bệnh lao nặng trên đường tới Mạc Tư Khoa và sau đó đã chết và được chôn ở Mạc Tư Khoa

NAQ có phải vào mùa thu năm 1932 bệnh chết vì lao phổi không cứ phân tích tình huống chính ngay lúc ấy thì hầu như có thể xác định được vậy. Y cứ hồi kí của đảng viên Việt Cộng Lí Đức Phương: “Năm 1925-1927 NAQ ở Quảng Châu 900 ngày lao lực hơn bình thường, làm việc cả ngày lẫn đêm, đem chất lên ắt nhiều như núi, từ sáng 5 giờ làm đến 2 giờ khuya. Sức khoẻ không tốt, ho rất nhiều, có khi ho ra cả máu.” Năm 1930 từ tháng 7 đến tháng 9 NAQ gửi 6 lá thư cho Viễn Đông Cục kể rõ việc mình bị hành bởi cơn bệnh lao phổi. Ông đem bệnh tình diễn tả như sau: “Phổi rất khó chịu, lại ho ra máu, thân thể rất là hư nhược mệt mỏi.” Cuối tháng 11 năm 1931 NAQ viết thư gửi đồng chí Lam Đức Thư trong Liên minh thanh niên cách mạng rằng: “Thân thể tôi sức khoẻ đã đến hồi đáng ngại, thường xuyên ho ra máu. Cứ thế tiếp tục tôi e phải chết trong tù mất thôi.” Năm 1932 tình báo của Anh Quốc Long Paul lúc dùng thủy phi cơ giúp đỡ NAQ trốn khỏi HongKong thấy: ” NAQ rất yếu, chẳng ngừng ho hen, chừng như không còn đủ sức để nói chuyện.” (1) [đoạn này tác giả có ghi chú thêm là tài liệu trong cuốn nhật ký của Paul Draken có để trong sách để người đọc tham khảo]

Những gì ghi trên đây đều là kể trước lúc NAQ từ Hongkong trốn đi Thượng Hải, với bệnh tình nghiêm trọng như thế kia khi phải trải qua bao gian khổ lúc đi thuyền, lúc đi thuỷ phi cơ liệu có thể chịu đựng được không? Huống hồ gì sau khi lên bờ, đảng Quốc dân ở Thượng Hải cùng với cảnh sát ở tô giới của Anh và Pháp như cọp chăm chăm canh chừng tất cả hoạt động của đảng CS, NAQ cũng sẽ tự nhiên không dám lộ mặt đi tìm nơi cứu chữa bệnh tình, chỉ có thể cố gắng chịu đựng đến Mạc Tư Khoa. Chuyện bệnh chết ở Mạc Tư Khoa là khá có thể vậy. Vì thế, báo chí của đảng CS các nước sau khi tờ báo Chân Lí của Liên bang Sô Viết đưa tin trước tiên thì đến tờ NHân Đạo của đảng CS Pháp, tờ Công nhân của đảng CS Anh thay phiên nhau liên tiếp trong tháng 7 tháng 8 năm 1932 báo tin NAQ chết vì bệnh lao phổi và du học sinh Vn tại Nga cử hành tang lễ cho NAQ. Theo đây suy luận “NAQ bệnh chết trên đường đến Mạc Tư Khoa và được mai táng ở Mạc Tư Khoa” thì có thể xác nhận là sự thật, tuyệt chẳng phải là cái chết giả như HCM biện minh đó chỉ là cái cớ để dễ bề đào vong thì có thể dễ dàng chôn vùi chân tướng của sự thật.

Sự sai lầm trong cách biện minh của HCM về cái chết vì bệnh của mình

Cách giải thích về cái chết của HCM có trái ngược nhau không? Có lúc nói “tin chết giả được tung ra là tin đồn của đương cục thực dân Pháp phát tán. Có khi lại bảo: “Luật sư Frank Loseby cố ý đưa tin NAQ chết là muốn tung hỏa mù để NAQ dễ dàng trốn thoát.” Và rồi phiên bản tiếng Việt của HCM truyện hay HCM Biên Niên Tùng Thư biện minh về cái chết của NAQ trước sau khác nhau rất khó khiến người chấp nhận đó đồng với cách giải thích của HCM. (Sách nói) rằng: “Loan truyền tin đã chết là cớ để trốn khỏi HongKong.” Và (sách ghi) đặc biệt HCM nói là: “Tin chết giả được phát tán là lời đồn của thực dân Pháp ý đồ muốn làm xuống tinh thần tranh đấu của dân chúng.” Đây hầu như có điểm chẳng thông. Tin NAQ chết là được bắt đầu loan truyền vào mùa thu năm 1932 mà HCM nói lúc rời HongKong đến Hạ Môn là tháng 1 năm 1933. Thời gian cách nhau gần nửa năm, thật không đúng với kinh nghiệm và lý lẽ thường tình. Theo tình huống thật mà nói, bảo chết tạo hỏa mù để dễ trốn thoát thì thời gian tung tin giả và thời gian thật sự trốn thoát phải tiến hành cùng lúc thì mới phù hợp sự thật. Đằng này thời gian cách nhau gần nửa năm trời. Và càng vô lý hơn nữa là đến những 10 năm sau mới nói mình vẫn còn sống để nói rõ (nguyên nhân) tin tức đã tung ra từ 10 năm trước. Chưa chết mà cứ nói đã chết còn làm nhọc công mọi người lo lắng làm đám tang và mở lễ truy điệu cùng lúc với tổng thư ký Trần Phú khi ấy cũng vừa mất. Cách giải thích hoang đường và tức cười như thế không hợp với lý lẽ thông thường. Những lời biện minh ấy thật như là tự lấy đá ném chân mình. Mà nguyên nhân thật sự là HCM đang sử dụng mánh khoé lừa dối “mượn xác hoàn hồn”, “chuyển hoa ghép cây”.

Mượn xác hoàn hồn và chuyển hoa ghép cây

Năm 1933 Hồ đến Mạc tư khoa, tình hình sức khoẻ lộ rõ rất tệ, bệnh phổi vẫn đeo mang, người rất ốm, sắc mặt trắng xám, đầu cạo trọc lóc, đôi khi ho sù sụ, trong đàm có máu. Do vì lúc ấy không có thuốc trị bệnh lao đặc biệt hiệu nghiệm nào, Hồ trị bằng phương pháp phải rất quy cũ trong sinh hoạt, nghiêm túc tuân thủ giờ giấc làm việc và nghỉ ngơi đúng mực. Mỗi ngày sáng sớm thức dậy đều tập thể dục. Trong phòng của ông có quả tạ và dụng cụ thể thao tập ngực. (HCM tại TQ – Tưởng Vĩnh Kính, trang 82)

Tổng kết lại những tư liệu tường thuật bệnh tình ở trên: theo những ghi chép trước năm 1933, bệnh sử của NAQ đều có liên hệ chặt chẽ đến bệnh lao phổi, rất phù hợp với sự thật NAQ bệnh mất vì ho lao vào mùa hạ năm 1932. Và sau 1933 hầu như không hề thấy một ghi chép nào nói HCM có bệnh lao phổi. Cuối cùng tháng 9 năm 1969 HCM lại chết vì bệnh tim suy kiệt mà không phải bệnh ho lao. Tuy nhiên ở điểm 19 ghi lúc HCM đến Mạc tư khoa sức khoẻ yếu kém, vẫn mang bệnh phổi, thỉng thoảng ho và trong đàm có máu. Song nguồn phần tư liệu này (của sách HCM tại TQ) lại là từ hồi kí của phó bộ trưởng bộ giáo dục của Bắc Việt Nguyễn Khánh Tuyền, mục đích là để HCM thuận lợi tiếp tục sự nghiệp cách mạng khiến VN độc lập của NAQ, cố ý đem chứng bệnh lao phổi vừa lấy mất sinh mạng của NAQ gán cho HCM. Cái ý đồ ghép bệnh sử ho lao để nối kết hai người là sai lầm (vì bệnh đã nặng vậy mà từ 1933 trở đi không có một ghi chép nào về bệnh ho lao gì nữa).

Nguồn: Hồ Chí Minh Sanh Bình Khảo / Trích Dịch Blacky và Nhi
http://prisonbreak1612.multiply.com/journal/item/27

Hình Nguyễn Ái Quốc (bên phải) đã được cạo ghép sửa lại, đặc biệt là tai bên trái sự sai lệch rất rõ ràng. Vì ý đồ muốn tạo sự liên kết giữa Nguyễn Ái Quốc và Hồ Chí Minh

Hình Chụp HCM với những năm tháng khác nhau. Hình HCM / Lin (bên trái, hàng dưới) là lúc vừa đến Moskau năm 1933 và hình NAQ / Lý Thụy / Tống Văn Sơ (bên phải, hàng dưới) lúc bị bắt ở HongKong vào năm 1931, đây cũng là tấm hình cuối cùng của NAQ

Nếu nhìn kỹ vành tai, mũi và miệng cùa NAQ / Lý Thụy / Tống Văn Sơ (bên phải) và HCM / Lin (đầu trọc, bên trái) thì chúng ta có những nhận xét sau:

1) Vành tai không giống nhau
2) Mũi của NAQ thì kín và mũi của HCM thì hĩnh (phồng)
3) Miệng của NAQ thì bình thường và của HCM thì rộng

Chúng ta giải thích như thế nào về sự khác biệt khó hiểu kể từ lúc vào tù (1931) và ra tù (1933) và tại sao những hình ảnh về HCM / NAQ đều bị cạo sửa, nhất là vùng gẩn lỗ tai, mũi, miệng thường là mờ đi hay qúa sáng hoạt qúa tối để không thể còn nhìn cho rõ và tô vẽ lại truớc khi cho lưu hành?

Trước Hồ Tuấn Hùng thì cũng đã có 2 tác giả VN nói về bệnh lao phổi của NAQ ở HongKong:

1) Nhân dân Việt Nam bắt đầu nghe tên Hồ Chí Minh từ tháng 8 năm 1945. Ngày 28 tháng 8 năm đó (nghĩa là ngay sau ngày Việt Minh cướp chính quyền) báo chí Hà Nội công bố thành phần Chính phủ lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hoà mới thành lập do ông Hồ Chí Minh làm chủ tịch. Trước đấy, chưa ai nghe đến tên Hồ Chí Minh bao giờ, và mọi người đều thắc mắc về cái tên hơi kỳ lạ đó. Nhiều người cho rằng cái tên đó văn hoa quá không phải là tên thật mà chỉ là tên hiệu.

Dư luận bàn tán về lý lịch ông Hồ Chí Minh, nhất là các nhân viên trong tân chính phủ hồi ấy lại càng băn khoăn hơn, và tất cả đều nóng lòng muốn biết rõ ông Hồ là ai và tên thật là gì. Nhưng rồi cũng chẳng phải chờ lâu, vì chỉ mấy hôm sau bắt đầu có tin đồn Hồ Chí Minh là tên mới của Nguyễn Ái Quốc, con người bí mật đã từng “khai sinh ra Đảng Cộng sản Việt Nam”.

Khi nghe tin đồn này, sở Mật thám Pháp đã lập tức lục lại hồ sơ để tìm ảnh Nguyễn Ái Quốc. Theo hồ sơ chính thức thì Nguyễn Ái Quốc đã chết ở Hồng Kông năm 1933. Khi đem so sánh bức ảnh đã phai nhạt của Nguyễn Ái Quốc với những tấm ảnh của ông Hồ bán đầy đường Hà Nội, sở Mật thám Pháp mới biết họ Nguyễn vẫn còn sống, và sau 10 năm ẩn náu trong bóng tối đã trở lại chính trường dưới cái tên Hồ Chí Minh. Các chuyên viên sở Mật thám Pháp quyết đoán Hồ Chí Minh chính là Nguyễn Ái Quốc mặc dầu sau 20 năm gian khổ, vóc dáng và nét mặt họ Nguyễn có thay đổi rất nhiều. Bằng cớ là vành tai phải của hai bức ảnh đều nhọn, trong khi tai bên trái vẫn đều đặn. Nhưng ông Hồ cứ chối như Cuội, nói rằng mình không phải là Nguyễn Ái Quốc. Ngay cả khi tướng Salan, đại diện Pháp dự cuộc đàm phán năm 1946, hỏi thẳng vào mặt ông Hồ, ông vẫn một mực chối cãi.

Riêng đối với người Việt thì ông Hồ không chối thẳng nhưng cứ trả lời loanh quanh. Thí dụ như trong năm 1946, ông đáp tầu Dumont D’Urville trở về Hải Phòng sau hội nghị Fontainebleau. Cùng đi trên chuyến tàu này có bốn chuyên gia Việt Nam mà ông Hồ đón từ Paris về nước. Một trong bốn ông là ông Võ Quý Huân, có hỏi ông Hồ: “Thưa chủ tịch, chủ tịch có biết ông Nguyễn Ái Quốc hiện nay ở đâu không ạ?” Ông Hồ chỉ mỉm cười và đáp: “Chú tìm ông ấy mà hỏi, tôi đâu biết”.

Không những ông Hồ chỉ giữ kín lý lịch của ông mà đến quê quán gốc tích của ông, ông cũng hết sức bí mật. Trong một bản danh sách ứng cử quốc hội năm 1946, ông khai sinh quán ở Hà Tĩnh; nhưng hiện nay ai cũng biết rõ ông sinh quán ở Nghệ An. Việc này được phơi bày công khai năm 1958 khi một phái đoàn nhân viên sứ quán các nước xã hội chủ nghĩa viếng thăm quê hương ông Hồ. Sau cuộc viếng thăm, báo chí Hà Nội đã thú nhận ông Hồ Chí Minh chính là Nguyễn Ái Quốc. Tạp chí Tranh ảnh Việt Nam Dân chủ Cộng hoà do Việt Nam Thông tấn xã (Bắc Việt) ấn hành, trong số tháng 8 năm 1960, có đăng bức ảnh Nguyễn Ái Quốc với dòng chữ chú thích “Đồng chí Nguyễn Ái Quốc (Hồ Chí Minh) năm 30 tuổi, đang bôn ba hoạt động ở hải ngoại”.

Mặc dầu lý lịch của ông Hồ đã được xác định rõ rệt, thế giới tự do vẫn không biết mấy về con người kỳ lạ ấy, và phần lớn những hoạt động của ông Hồ vẫn chỉ có Đệ Tam Quốc tế biết rõ mà thôi. Tất cả những điều ghi chép về ông Hồ chỉ là dựa vào tập hồ sơ mong manh của mật thám Pháp, Anh và những lời thuật lại của một vài người đã có dịp gặp ông.

Nguồn: Từ thực dân đến cộng sản – Một kinh nghiệm lịch sử của Việt Nam / From Colonialism to Communism – Hoàng Văn Chí 1962
http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=9714&rb=08

Như vậy qua lời thuật lại của Hoàng Văn Chí thì HCM vẫn chưa chính thức công nhận mình là NAQ trên tầu Dumont D’Urville (về đến cảng Hải Phòng vào ngày 21/10/1946) thì những câu chuyện về Bà Chị Thanh hay Ông Anh Cả Khiêm ra Hà Nội thăm HCM 5, 10 ngày sau đó có khả năng là hoàn toàn bịa đặt và có lẽ câu chuyện về thăm quê nhà của HCM vào năm 1957/1961 cũng không có thật luôn:

Vào lúc 11gờ 30 phút ngày 27.10.1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh lần đầu tiên sau bao nhiêu năm bôn ba đã được gặp lại chị gái mình – bà Nguyễn Thị Thanh. Hôm đó nhằm vào ngày Chủ nhật.

Trong câu chuyện đầy cảm động của tình chị em, bà Thanh hỏi Bác: “Cậu đi lâu thế có nhớ quê hương không? Cậu còn nhớ chị ngồi ru võng cho cậu ngủ không…”. Nước mắt của Bác Hồ bùi ngùi cảm động. Người đã nói với chị gái: “Chị ơi, quê hương, nghĩa nặng, ơn sâu, mấy mươi năm ấy biết bao nhiêu tình… Chị ơi, khi ở nước ngoài, có lúc đêm khuya thanh vắng, bỗng được nghe một lời ru con của người nhà mình thì lòng dạ lại càng thêm cồn cào nỗi nhớ quê hương, đất nước”.

Bà Thanh hỏi tiếp: “Khi nào cậu về thăm quê được?”. Bác đáp: “Em cũng muốn về thăm quê, nhưng chắc chắn còn lâu, vì việc nước còn nặng nề lắm”.

Đúng một tuần sau đó, ngày 3.11.1946, ông Nguyễn Sinh Khiêm ra Hà Nội gặp Bác. Cậu Khiêm hỏi: “Chú định đến khi nào về thăm quê nhà?”. Bác thưa: “Về đến đây cũng là về đến nhà rồi, tình hình và công việc thế này chưa cho phép nghĩ tới, chắc việc đó còn lâu”. Hôm đó cũng là ngày Chủ nhật.

Mãi đến 11 năm sau khi gặp lại chị gái và anh trai, Bác Hồ mới có dịp về thăm quê (1957).

Nguồn: “Người về thăm quê mang theo bao kỷ niệm”
http://tintucvina.com/?news=89683

NAQ từ bỏ làng quê ra đi vào năm 1911 và làm CT Nước vào năm 1945 mà chưa bao giờ về thăm lại làng quê của mình thì đúng là một nghi vấn lịch sử!

2) Cuối năm 1933, Tuấn đọc mấy tờ báo Pháp và An nam xuất bản ở Saigon và Hà Nội, thấy ở trang 4, trong một cột chữ nhỏ, một tin vắn tắt đại khái như sau đây:

Nguyễn Ái Quốc đã chết tại Hồng Kông vì bịnh lao

“Tin người Anh cho biết vừa rồi Nguyễn Ái Quốc, kẻ phiến loạn cách mạng An nam (agitateur révolutionnaire annamite) bị chết vì bịnh lao phổi trong ngục thất ở Hồng Kông.”

Cái tin ngắn chỉ có mấy dòng chữ nhỏ như thế, đăng ở cuối trang tư như một tin vặt không mấy quan trọng, nhưng đã gieo vào đầu óc của tất cả những người An nam làm cách mạng hồi đó, Quốc gia cũng như Cộng sản, sự tin chắc rằng cái tin kia là thật.

Ðối với thanh niên sinh viên như Tuấn trong trí óc nẩy ra ý nghĩ thực thà rằng Nguyễn Ái Quốc đã thuộc về thế hệ tiền bối như các cụ Phan Chu Trinh, Phan Bội Châu thì sự chết về tuổi già là lẽ thường. Huống chi cụ Nguyễn Ái Quốc lại bị bịnh lao phổi, cụ chết vì bịnh đó cũng là lẽ tất nhiên.

Nói đúng ra, thời bấy giờ ở An nam ít có ai biết rằng Nguyễn Ái Quốc là cộng sản. Cái tên “Ái Quốc ” của cụ để cho các lớp người thanh niên yêu nước tưởng rằng cụ là một nhà cách mạng quốc gia lão thành, ở hải ngoại lâu năm như các cụ Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh vậy thôi.

Cái tin Nguyễn Ái Quốc chết vì bịnh lao phổi ở Hồng Kông đã làm xôn xao các giới cách mạng một thời gian rồi cũng chìm trong quên lãng. Dần dần không ai nói đến Nguyễn Ái Quốc nữa.

Mãi đến tháng 8 năm 1945, nghĩa là 12 năm sau, cũng như tất cả những người Việt Nam trong nước và hải ngoại, Tuấn nghe thấy lần đầu tiên cái tên Hồ Chí Minh và dư luận trong giới cách mạng quả quyết rằng “Hồ Chí Minh” chính là Nguyễn Ái Quốc. Tuấn hoàn toàn ngạc nhiên!

Vài năm sau đó, Tuấn được đọc ba bốn quyển sách ngoại quốc:

· Le VietMinh của Bernard Fall (Paris)
· Cinq hommes et la France của Jean Lacouture (Paris)
· From colonialism to communism (New York) của Hoàng Văn Chí.
· Le Mystérieux Hồ Chí Minh (Paris) của Hồ Văn Tạo.

mới biết rõ sự thật.

Sau khi Tưởng Giới Thạch tuyệt giao với Nga, năm 1927, Nguyễn Ái Quốc, nhân viên sứ quán Nga, theo lãnh sự Nga là Borodine phải từ giã Trung quốc trở về Moscou, để Hồ Tùng Mậu (tức là cố Mậu, T.S 40 “xến xáng”, bị giam ở trại an trí Trà Khê (Phú Yên) từ năm 1940 đến năm 1945) ở lại thay thế làm Tổng Bí Thư Ðông Dương Cộng Sản Đảng.

Cuối năm 1929, Nguyễn Ái Quốc được lịnh trở lại (từ Nga) Hồng Kông tiếp tục hoạt động, nhưng bị người Anh bắt bỏ tù ngày 6 tháng 6 năm 1931. Bắt rồi được tha, Nguyễn Ái Quốc lẻn đi Singapore, nơi đây ông lại bị người Anh bắt lần thứ hai, đưa về Hồng kông, vào bịnh viện vì bịnh lao phổi.

Cuối năm 1933, Nguyễn Ái Quốc bổng dưng biến mất. Nhà cầm quyền Anh ở Hồng Kông không hề cho biết Nguyễn Ái Quốc mất tích trong trường hợp nào. Có lẽ ông thoát ngục trốn đi chăng?

Dù sao họ cũng đã loan tin rằng Nguyễn Ái Quốc chết vì bịnh lao ở ngục thất Hồng Kông. Tờ báo Daily Worker, của đảng Cộng Sản Anh ở Luân Ðôn, cũng đăng tin xác nhận rằng Nguyễn Ái Quốc, lãnh tụ Cộng sản An nam, bị bịnh lao phổi đã từ trần trong ngục thất Anh ở Hồng Kông.

Ðồng thời bộ Thuộc địa Pháp ở Paris và Phủ Toàn Quyền Ðông Dương ở Hà Nội cũng nhận được tin ấy. Trong hồ sơ của Nguyễn Ái Quốc tại sở Mật Thám Pháp cũng có ghi rằng Nguyễn Ái Quốc chết vì bịnh lao phổi ở Hồng Kông năm 1933.

Sự thật, chỉ có một đôi người quan trọng của Komintern(cơ quan đầu não của cộng sản Ðệ Tam – Nga, là biết Nguyễn Ái Quốc ở đâu và làm gì trong thời gian từ 1933 thoát ngục Hồng Kông, đến năm 1941, năm mà ông lại xuất hiện đột ngột ở Moscou.

Ngoài ra, chính những đảng cộng sản ở Moscou và ở khắp thế giới, và toàn thể đảng viên cộng sản An nam đều tin rằng Nguyễn Ái Quốc đã chết vì bịnh lao ở ngục thất ở Hồng Kông, như nhà cầm quyền Anh đã tuyên bố, và báo Daily Worker của đảng cộng sản Anh ở Luân Đôn đã đăng tin xác nhận.

Theo các tài liệu chính xác mới được tiết lộ sau nầy, thì Staline rất bất bình Nguyễn Ái Quốc vì ông chủ trương cuộc nổi loạn quá sớm của cộng sản Nghệ An năm 1931, và Quảng Ngãi năm 1932, gây thất bại lớn lao cho đảng Cộng sản Ðông Dương trong thời kỳ phôi thai.

Do đó, năm 1933, Nguyễn Ái Quốc đang ở Hồng Kông được lịnh của Staline triệu về Moscou và bí mật bị đày đến miền Ðông Sibérie. Mãi đến mùa xuân năm 1941, Nguyễn Ái Quốc mới được Staline gọi về Moscou và được lịnh cùng đi với Nguyễn Khánh Toàn sang gấp Yenan, nơi đây Mao Trạch Ðông giúp Nguyễn Ái Quốc những phương tiện trở về biên giới Hoa – Việt, lập mặt trận Việt-Minh với các phần tử cách mạng ở Trung Quốc.

Lần đầu tiên, năm 1941, xuất hiện nơi đây tên ” Hồ Chí Minh “, vì Nguyễn Ái Quốc vẫn còn dấu bí mật lai lịch và tên tuổi thật của ông. Mãi đến năm 1958, vài tờ báo của chính phủ Hà Nôị mới được phép chính thức đăng rõ ràng Hồ Chí Minh là Nguyễn Ái Quốc.

Tạp chí tranh ảnh “Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa” do Thông tấn xã Việt cộng phát hành, số tháng 8 năm 1960, đăng ảnh Nguyễn Ái Quốc với câu đề phía dưới “Ðồng chí Nguyễn Ái Quốc (Hồ Chí Minh) lúc 30 tuổi đang hoạt động ở ngoại quốc.”

Nhưng năm 1933, Tuấn đọc báo Hà Nội và Saigon, cứ yên trí rằng Nguyễn Ái Quốc đã chết vì bịnh lao phổi ở Hồng Kông. Chính một số đông lãnh tụ cộng sản ở Hà Nội lúc bấy giờ là Võ Nguyên Giáp, Ðặng Xuân Khu (Trường Chinh), Trần Huy Liệu, cũng đều tin chắc như vậy.

Trích: Tuấn, chàng trai đất Việt / tác giả Nguyễn Vỹ – 1969
http://vnthuquan.net/truyen/truyen.aspx?tid=2qtqv3m3237n1n0n1n1n31n343tq83a3q3m3237n2nmn

Và theo như Đại sứ Trung Quốc Hồ Càn Văn thì HCM nói tiếng Tàu như tiếng mẹ đẻ:

Vâng, tôi xin nói đơn giản, hôm nay (ngày 7/11/2008) đồng chí Chủ tịch LHHNVN Vũ Xuân Hồng tặng tôi Kỷ niệm chương “Vì hòa bình hữu nghị giữa các dân tộc”. Lần đầu tiên tôi sang Việt Nam là vào tháng 11/1965, sang học tiếng Việt. Hồi đó Việt Nam đang trong hoàn cảnh chiến tranh, Mỹ đang ném bom bắn phá miền Bắc Việt Nam. Ba tháng sau khi sang Việt Nam (tháng 2/1966), đích thân Bác Hồ đã mời lưu học sinh Trung Quốc chúng tôi đến Phủ Chủ tịch ăn cơm với Bác, Bác ân cần hỏi từng người một. Nếu ai quê ở Quảng Đông thì Bác nói tiếng Quảng Đông, nếu quê ở Bắc Kinh thì Bác nói tiếng phổ thông, quê ở Thượng Hải thì bác nói tiếng Thượng Hải. Bác có thể nói được rất nhiều tiếng địa phương của Trung Quốc và chúng tôi cảm thấy rất thân mật. Sau đó chúng tôi cử một đại biểu đại diện phát biểu với Bác và tôi là người được vinh dự đứng lên phát biểu. Kỷ niệm đó đối với tôi không bao giờ quên. Sau này, chúng tôi còn được gặp Bác hai lần nữa, một lần Bác vào thăm Đại sứ quán Trung Quốc và một lần Bác đi thăm lưu học sinh chúng tôi, sau đó thì Bác sức khỏe yếu nên chúng tôi không được gặp Bác nữa.

Nguồn: Trò chuyện với Đại sứ Trung Quốc Hồ Càn Văn – 21/11/2008

NAQ rất thích chưng diện áo vét thắt cà vạt còn HCM chỉ xuất hiện trước công chúng trong bộ quần áo đại cán và theo như lời của GS Hồ Tuần Hùng thì người ta chưa bao giờ thấy HCM mặt áo vét thắt cà vạt như NAQ thời trai trẻ:

NAQ tại hội nghị Quốc Tế Cộng Sản tại Nga vaò năm 1924

HCM đi thăm Tổng Thống Đông Đức Wilhelm Pieck ở Berlin 25.7.1957

HCM (với áo đại cán) / Phạm Văn Đồng và phái đoàn tham dự “Hội nghị Fontainebleau 22.6.1946

NAQ tham dự Đại hội lần thứ 18 của Đảng Xã hội Pháp tại Tours 25.12.1920

Hồ Chí Minh đến Moscow tháng 7/1955

HCM với bạn gái Đặng Dĩnh Siêu  (bên phải) và Thái Sướng (bên trái) trong  chuyến viếng thăm Lô Sơn bí mật của HCM và chưa 1 lần ghé thăm Tăng Tuyết Minh (vợ Tàu của NAQ)  – Chụp lại từ “HCM sinh bình khảo” trang 251

HCM và Mao – Quân hàm cuối cùng của Tình Báo HCM: Đại Tướng hay Thượng Tướng ?

Kết Luận:

Qua những dẫn chứng trên thì nhận định HCM là 1 người TQ làm tình báo cho CSTQ với bí danh Thiếu Tá Hồ Quang của Bát Lộ Quân / Quế Lâm là hoàn toàn khả tín. Như vậy nghi vấn HCM gỉa danh NAQ được biệt phái về VN đề hoàn thành Sứ Mạng “Cướp Nước VN” cho CSTQ là có thể chấp nhận được và hy vọng qua đó chúng ta có thể giải thích được những hành động khó hiểu và bí ẩn của HCM ở VN cũng như lịch sử (bất hạnh) VN thời đại HCM. Chúng ta thử đánh giá công / tội HCM cho 2 nước TQ / VN kể từ khi Tình Báo HCM chuẩn bị vượt biên giới Việt Trung về Pắc Bó:

– Tiêu Diệt Ban Lãnh Đạo đảng CSVN cánh miền nam (qua Nam Kỳ Khởi Nghĩa 1940 –  Cờ đỏ sao vàng chính thức xuất hiện lần đầu ở VN và cũng là Cờ của tỉnh Phúc Kiến TQ 1933/34) và những người có quan hệ với NAQ như Nguyễn Thị Minh Khai, Hà Huy Tập, Nguyễn Văn Cừ, Võ Văn Tần, Châu Văn Liêm, Phan Đăng Lưu, Nguyễn Hữu Tiến….

Trước đây trên một số diễn đàn có thảo luận về việc cờ đỏ sao vàng đã được dùng tại tỉnh Phúc Kiến. Một người ký tên T.L.T. đã đề cập việc “Trên VTV3 Việt Nam, lúc 20h các ngày thứ 2 đến thứ 6, từ 26/2/2002 đến 08/4/2002 đã chiếu bộ phim Trường chinh 24 tập của Trung Quốc, do Kim Thao và Đường Quốc Cường đạo diễn, Quốc Cường cũng thủ vai Mao. Phim nói về cuộc kháng chiến chống Tưởng của Mao. Ai để ý sẽ thấy nhiều cảnh Hồng quân Trung Quốc phất cờ đỏ sao vàng trong các trận đánh. Nói thêm về Mao, theo lịch sử: khi bất đồng ý kiến với các lãnh tụ cộng sản đầu tiên của Trung Quốc, Mao quay qua nghiên cứu nông dân, tổ chức chính trị tập hợp nông dân ở khu vực Phúc Kiến, Hồ Nam, Giang Tây. Năm 1931 Mao thành lập Chính phủ cộng hòa Xô-viết đầu tiên tại Thụy Kim, Giang Tây. Vậy thủ phủ Phúc Châu (Fuzhou) thuộc Phúc Kiến nằm trong vùng ảnh hưởng của Mao.” Vừa rồi, ở Úc đài SBS có chiếu bộ phim này, người viết có xem và thấy cờ đỏ sao vàng (múi sao phình ra như lá cờ Việt Minh) xuất hiện nhiều lần, nhất là cảnh Hồng quân Trung Quốc phất cờ đỏ sao vàng trong các trận đánh đúng như T.L.T. đã góp ý.

Nguồn: Cội nguồn và ý nghĩa lá cờ đỏ sao vàng – Nguyễn Quang Duy
http://vietbf.com/forum/showthread.php?t=59346

– Cướp quyền lãnh đạo đảng CSVN 1940-1969 (đưa vây cánh ủng hộ HCM miền bắc lên làm lãnh đạo…Trường Chinh, HCM)

– Cướp quyền lãnh đạo nhà nước VN 1945-1969

– Rước Pháp trở lại VN với Hiệp Định Sơ Bộ ngày 6/3/1946: Mượn tay Pháp tiêu diệt các Tổ chức kháng chiến Người Quốc Gia không theo CS và cả những người CS có khuynh hướng Quốc Gia…để rồi sau đó kêu gọi toàn dân kháng chiến đuổi Pháp ra vào ngày 19/12/1946.

– Cải cách ruộng đất (1953 – 1956), NVGP (1958), XLCĐ (1967): Phá tan cấu trúc che chở đùm bọc lẩn nhau ở làng quê VN, triệt tiêu tình thần sáng tác của giới Văn-Nghệ-Sĩ VN, trấn áp / loại bỏ những đảng viên CSVN có khuynh hướng thân LX với chủ trương chung sống hòa bình với TGTD.

– Trận Đánh ĐBP 1954: Đuổi Pháp ra, lần đầu tiên TQ được ngồi “chung chiếu” với Tứ Cường lúc bấy giờ (Anh – Mỹ – Pháp – LX) ở Hội nghị Geneva năm 1954, chia cắt VN để dụ Mỹ vào VN và cho nhân dân VN ăn bánh vẽ “Huyền Thoại Thiên Tài Cầm Quân VNG”. Cả miền bắc phấn khởi tự hào anh hùng, khí thế hồ hởi để chuẩn bị “Vượt Đường Mòn HCM-Trường Sơn” phục vụ mưu đồ Nam Tiến của TQ.

– Chỉ thị cho TT Phạm Văn Đồng ký công hàm công nhận vùng lưỡi bò Biển Đông là của TQ vào ngày 14.9.1958.

– Tặng Tổng Thống Diệm VNCH cành đào đỏ thắm vào dịp Tết Qúy Mão (1963): Phải chăng cái chết của TT Diệm vào ngày 2.11.1963 đã được HCM báo trước?

– Trận Tổng Tấn Công Mậu Thân 1968 (30/1 – 25/2): Sửa soạn cho Mỹ đến Paris tham dự Hội Đàm Paris (5/1968) và chuẩn bị cho Nixon đến Bắc Kinh (2/1972). Làm suy yếu chủ lực của MTGPMN (“tự” giải tán vào ngày 2.7.1976).

– Xài máu dân như xài nước lã và giấy bạc giả: địch chết một ta chết mười.

– Thiết Lập một mạng lưới tình báo cho CSTQ ở VN: Hồ Binh Bát Vạn Nhập Tràng An là đây. Mỹ / VNCH không thua ở chiến trường nhưng đã thua CSTQ / CSVN ở mặt trận tình báo / tuyên vận và cũng là một trong nhiều nguyên nhân khiến Mỹ bỏ rơi VNCH: Người Mỹ không còn khã năng phân biệt bạn-thù ở VN – cùng một người VN ban ngày có thể là bạn nhưng ban đêm có thể là thù. Hiện tại cũng là Mạng lưới quyền lực thật sự đang cai trị và kiểm soát BCT/CSVN/VN.

Hai Trận Đánh lớn ĐBP 1954 và Tổng Tấn Công MT 1968 nói trên đều được CSTQ dàn dựng và chỉ đạo (3)/(4) và cũng là 2 công trạng lớn lao nhất của HCM ở VN: Đuổi Pháp Dụ Mỹ vào VN đễ rồi sau đó đánh Mỹ với Xương Máu VN cho tới lúc Mỹ chịu đến Paris để đàm phán HĐ-Paris, nhưng thực chất là để chuẩn bị cho TT Mỹ đến Bắc Kinh “xin đầu hàng có điệu kiện”: Trao ghế HĐBA-LHQ, bỏ cấm vận kinh tế đổi lại Lính Mỹ rút an toàn ra khỏi VN, Nam tiến của TQ đến VN là ngưng lại (Ván Cờ Domino được đóng lại sau Trận Tổng Tấn Công MT 1968 và  Khe Sanh từ 21.1- 8.4.1968).

Hành quân Pegasus / Lam Sơn 207A (từ 1/4 đến 12/4/1968) giải tỏa Căn cứ Khe Sanh sau 77 ngày bị vây hảm – Chiến thuật biễn người / công đồn đả viện của CSTQ/CSVN đã thất bại ở Khe Sanh.
Trận Khe Sanh – t/g Đại Úy Võ Trung Tín –
http://nhaydu.com/index_83hg_files/left_files/T-Chien/1968LamSon207AgiaiVayKheSanh.pdf

“Vì chúng ta, họ đã chiến đấu và hy sinh ở những nơi như Concord và Gettysburg; Normandy và Khe Sanh” (TT Obama 2009)

Mao: “Chúng ta phải giành cho được Đông nam châu Á, bao gồm cả miền nam Việt Nam, Thái Lan, Miến Điện, Malayxia và Singapo…Một vùng như Đông nam châu Á rất giàu, ở đấy có nhiều khoáng sản…xứng đáng với sự tốn kém cần thiết để chiếm lấy…Sau khi giành được Đông nam châu Á, chúng ta có thể tăng cường được sức mạnh của chúng ta ở vùng này, lúc đó chúng ta sẽ có sức mạnh đương đầu với khối Liên Xô-Đông Âu, gió Đông sẽ thổi bạt gió Tây…”. (Phát biểu của Mao Trạch Đông trong cuộc họp của BCT ban chấp hành trung ương Đảng CSTQ, tháng 8 năm 1965)

Nguồn: SỰ THẬT VỀ QUAN HỆ VIỆT NAM -TRUNG QUỐC TRONG 30 NĂM QUA
http://bauxitevietnam.info/tulieu/791004_suthatvequanhevntq.htm

Kennedy: “Tôi tin như thế. Tôi tin là cuộc chiến rất gần, Trung Quốc quá lớn và đang đứng phủ đầu trong vùng biên giới; Nếu miền Nam Việt Nam sụp đổ không những Trung Quốc được vị trí địa dư thuận lợi để đánh du kích vào Mã Lai Á mà còn đưa đến ấn tượng về một Đông Nam Á dưới ảnh hưởng bao trùm của Trung Quốc, cộng sản. Vì thế tôi tin vào thuyết Domino.” (Phỏng vấn của Huntley và Brinkley với John F. Kennedy ngày 9/9/1963)

Nguồn: John F. Kennedy và cuộc đảo chánh 1/11/1963
http://www.dcvonline.net/php/modules.php?name=News&file=article&sid=6871

Sự kiện Tết Mậu Thân là cuộc tổng tiến công và nổi dậy vào dịp Tết Mậu Thân năm 1968 của Quân Giải phóng miền Nam trên hầu hết lãnh thổ của miền Nam Việt Nam, mặc dù cả hai bên đã có thỏa hiệp ngưng bắn. Đây là một sự kiện gây chấn động lớn trên thế giới và là chủ đề gây nhiều bàn cãi nhất; nó còn có một vai trò và hệ quả rất to lớn trong Chiến tranh Việt Nam.

Ba năm sau khi tham chiến trực tiếp quân đội Mỹ đã ngăn chặn miền Nam Việt Nam không rơi vào tay Cộng sản, nhưng quân Mỹ không thể bình định được miền Nam. Nắm được điểm yếu của phía Mỹ là dư luận của cả nhân dân và chính giới tại Mỹ ngày càng trở nên thiếu kiên nhẫn và phong trào phản chiến ngày càng lên mạnh không cho phép quân đội tham chiến quá lâu tại nước ngoài mà không có được một tiến bộ rõ rệt khả dĩ cho phép rút quân về nước, phía quân Giải phóng hoạch định một trận đánh gây tiếng vang lớn “Một cú đập lớn để tung toé ra các khả năng chính trị” (Lê Duẩn) để tạo đột phá cho chiến tranh, nhằm buộc Hoa Kỳ xuống thang chiến tranh đi vào đàm phán.

Nguồn: Sự kiện Tết Mậu Thân – http://vi.wikipedia.org/wiki/Sự_kiện_Tết_Mậu_Thân

TT Mỹ Nixon đến Bắc Kinh gặp Mao “xin đầu hàng có điệu kiện” vào tháng 2/1972

Lời chót:

Với “Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch” (viết bằng tiếng TQ năm 1947/1948 và được dịch ra Pháp / Anh vào 1949/1950) CSTQ đã âm thầm chuẩn bị với dự luận Quốc Tế “HCM là NAQ người VN”. Sách này chỉ được dịch ra tiếng Việt từ những bản nói trên vào cuối thập niên 50 hay đầu thập niên 60 thế ký 20 và cho phổ biến ở VN để qua đó nhà nước CSVN chính thức công nhận HCM là NAQ.

Thư ký của HCM chưa bao giờ chứng nhận là đã thấy HCM viết “Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch”, bản thảo viết tay bằng tiếng Tàu cũng chưa hề được công bố. HCM viết sách vào thời điểm nào? Năm 1945 HCM còn phải lo đại sự là cướp chánh quyền của TT Trần Trọng Kim, năm 1946 HCM đi tầu sang Pháp để thương lượng với người Pháp, năm 1947 HCM kêu gọi toàn dân nổi dây đánh Pháp, năm 1948 Bác lại kêu gọi toàn quốc thi đua tăng gia sản xuất…thế thì làm sao mà Bác rãnh rổi đề ngồi viết sách tự kể đời mình!. Như vậy có khả năng là một nhóm tuyên vận tình báo Bắc Kinh nào đó với Bút danh chung Trần Dân Tiên đã viết tác phẩm này nhằm phục vụ cho công tác tuyên vận giới thiệu với Quốc Tế về Nhân vật HCM là NAQ VN và cũng có thể đang nằm trong Cục Lưu trữ của Cơ Quan Tình Báo TQ ở Bắc Kinh cùng với bản TNĐL 2.9 (cũng được viết bằng tiếng TQ!?)…chờ ngày trình làng để chứng minh HCM là người TQ.

Với “HCM Sanh Bình Khảo” (cũng bằng tiếng Tàu năm 2008, thế kỹ 21) CSTQ lại âm thầm chuẩn bị dư luận với Quốc Tế về “HCM là người Tàu” nằm trong mưu đồ tóm thâu VN. Đều này cũng đồng nghĩa là trong vòng 10 năm tới VN sẽ đươc CSTQ phù phép đễ sáp nhập vào TQ (có thể theo hình thức Liên Bang hay chiếm đóng như Tây Tạng bất chầp dư luận thế giới, còn tùy theo dư luận VN / thế giới và sức mạnh quân sự TQ). Vận mệnh VN hiện nay như “Ngàn cân treo sợi tóc”, có thế sáng tới mở mắt ra là chúng ta đã thấy Quân Lính Tàu đứng đầy ở Ba Đình rồi nếu người VN không nhanh tay dành lại chánh quyền VN trong vài tháng / năm tới. Mất nước lần này là vĩnh viễn!

Tên HCM-City (Nam),  Lăng HCM (Bắc, cũng được dùng để trấn yểm Thăng Long VN!?), Tư tưởng HCM, Tiêm thuốc kích tử cho HCM chết đúng vào ngày / giờ trùng  (2.9.1969 / 9 giờ 47 phút)  (9) và Tiền HCM… là ý đồ vô cùng thâm độc của CSTQ cũng như nhằm chuẩn bị dự luận quốc tế trước khi tóm thâu VN theo chiến thuật Tằm Ăn Dâu.

Một Dân tộc không có Độc Lập – Tự Do – Hạnh Phúc và nhận Giặc làm Cha Già Dân Tộc là câu chuyện có thật ở VN vào thế kỷ 20/21.
Tài liệu tham khảo:

(1) Một lựa chọn dân chủ trong quá khứ: Hoàng đế Bảo Đại – Thủ tướng Ngô Ðình Diệm / Tác gỉa Nguyễn Quang Duy – http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=14621&rb=0302

(2) Bản chất những chế độ Cộng Sản – Tác gỉa Chu chi Nam
http://thangtien.de/index.php?option=com_content&task=view&id=3135&Itemid=318

(3) Vai trò của CS Trung Quốc trong chiến tranh 1946-1954 ở VietNam / Tác gỉa Trần Gia Phụng
http://ongvove.wordpress.com/2009/07/30/vai-tro-của-cs-trung-quốc-trong-chiến-tranh-1946-1954-ở-vietnam/

(4) Trung Cộng Chỉ Đạo và Tham Gia Tổng Tấn Công Mậu Thân 1968 / Tác giả: Nguyễn Quang Duy
http://vantuyen.net/index.php?view=story&subjectid=25046

(5) Nữ Thủ tướng Đức Angela Merkel – Diễn văn trước lưỡng viện Hoa Kỳ ngày 3.11.09.
http://danluan.org/node/3233

(6) Di Chúc Hồ Chí Minh – http://xoathantuong.tripod.com/hcm_dc.htm

(7) Tuyên ngôn độc lập năm 1945 – http://www.youtube.com/watch?v=9n1TNfx9LaQ&feature=related

(8) Hình nguyên thuỷ là nhân dân Hà Nội tụ tập trước Nhà Hát lớn để phản đối việc chia cắt đất nước giửa Pháp và CSVN (do phóng viên Howard Sochurek của Tạp Chí TIME-LIFE ghi vào ống kính máy ảnh ngày 1.7.1954)
http://www.life.com/image/82499964

(9) Nhân gian VN đã vô tình tiết lộ qua câu vè:  Bác Hồ chết phải giờ trùng, khiến toàn dân tộc chẳng khùng cũng điên… –  Một Nghiên Cứu Khoa Học về Hồ Chí Minh
http://www.doi-thoai.com/baimoi0909_062.html

11.11.2009  – 31.12.2009
TN

Bài viết này được phép phổ biến và sử dụng lại ở mọi hình thức và không cần xin phép với điều kiện là phải ghi rõ nguồn: Thiên Nam – http://thiennam2012.blogspot.com/

Posted in Cách Mạng Mùa Thu 1945 không hề xảy ra, Chinh Tri Xa Hoi | Leave a Comment »

Phim 1000 năm THĂNG LONG, GIÁ TRỊ LỊCH SỬ VĂN HOÁ VIỆT do người TQ “dựng phim và Biên Soạn”

Posted by hoangtran204 trên 19/09/2010

Quốc khánh của Trung Quốc là ngày 1-10-2010

Quốc khánh của Đài Loan là ngày 10-10-2010

Năm ngoái, CHXHCN Việt Nam đã chọn ngày tổ chức 1000 năm Thăng  Long từ ngày 1-10 đến ngày 10-10- 2010

Lịch sử VN ghi là Lý Công  Uẩn lập Thăng Long vào ngày nầy: ”

1. Vài nét về lịch sử định đô và kiến tạo Hoàng Thành Thăng Long

Lý Công Uẩn lên ngôi vua, sáng lập vương triều Lý (1009 – 1225) tại kinh đô Hoa Lư (Ninh Bình) ngày 2-11 Kỷ Dậu (21 – 11 – 1009). Tháng 7 mùa thu năm 1010, nhà vua dời đô từ Hoa Lư về thành Đại La và đổi tên là Thăng Long…”

nguồn http://www.cinet.gov.vn/sukienVH/hoangthanh/hoangthanh.htm

——-

Hay quá…HOÀNG THÀNH THĂNG LONG

GIÁ TRỊ LỊCH SỬ VĂN HOÁ VIỆT

Phim mừng 1000 năm Thăng  Long hoàn toàn do Tàu đạo diễn, dàn dựng, viết kịch bản, quay phim và đóng ở bên Tàu. Việt Nam hổng biết lám phim….nên chi 3 triệu đô la (hay hơn 52 tỉ)  cho đạo diễn Trung Quốc viết kịch bản, viết lịch sử VN theo ý muốn của Tàu , và theo phim, thì nhà vua Lý Công Uẩn của VN là người…Tàu. Phim về lịch sử của thành lập Thăng  Long mà cảnh trong phim thì quay ở bên…Trung Quốc. Đạo diễn TQ. Kịch bản TQ viết. Quay phim vẫn là người Trung Quốc…

PHIM “LÝ CÔNG UẨN…” – NGƯỜI TQ NÓI GÌ?

https://hoangtran204.files.wordpress.com/2010/09/78534dd2524943ad8edc00d0fa82d2f0.jpg?w=300

TOÀN VĂN DƯỚI ĐÂY LÀ TRÊN BLOG GỐC SẬY:

Một độc giả đã “vừa ‘mò’ trên mạng được bài viết của TQ về bộ phim này.
Đáng nói là blogger TQ này toàn gọi là kịch truyền hình chứ không phải phim.
Tôi nhờ bác ấy dịch để biết NGƯỜI TA nghĩ gì và sao bộ phim này (quên, vở kịch chứ. Khổ, bác Sơn “Trường Thành” và bao người KỲ VỌNG) lại “Tàu” như thế.

“Nghi thức bấm máy vở kịch lịch sử cỡ lớn “Lý Công Uẩn” Trung-Việt hợp tác được tổ chức ở Hoành Điếm vào ngày 09 tháng Giêng

Lý Công Uẩn là quân chủ khai quốc của triều Lý Việt Nam, niên hiệu Thuận Thiên. Năm 1010, tương truyền Lý Công Uẩn đích thân tới La Thành, bỗng nhìn thấy Rồng Vàng từ hồ bay lên, vụt thẳng lên trời. Thế là ông liền dời kinh thành đến La Thành, đồng thời đổi tên là Thăng Long, cũng chính là Hà Nội ngày nay. Lý Công Uẩn cải nguyên (niên hiệu) là Thuận Thiên, kiến lập triều Lý, trở thành vương triều phong kiến thứ tư của Việt Nam. Việt Nam bắt đầu bước vào cường quốc theo chế độ quân chủ chuyên chế tập quyền trung ương phong kiến. Thế nước mỗi ngày một mạnh lớn, xưng bá ở Nam cương (biên giới phía Nam – ND).

Để kỷ niệm 1000 năm lập kinh đô Hà Nội, do Đông Minh Vệ Thị (của Trung Quốc – ND) cùng Công ty cổ phần truyền thông Trường Thành của Việt Nam đầu tư, vở kịch truyền hình lấy sinh thời Lý Công Uẩn làm đề tài đang được chính thức bấm máy tại Hoành Điếm Trung Quốc vào ngày 9 tháng Giêng.
Ngày 13/12/2009, tại Hữu Nghị Quan Trung Quốc, chúng tôi đã đón đoàn diễn viên thuộc nhóm kịch “Lý Công Uẩn”. Họ đều tới từ Việt Nam, đến Trung Quốc làm việc lần này, họ sẽ tới trường quay Hoành Điếm ở Chiết Giang, để tham gia quay vở kịch truyền hình chào đón ngày kỷ niệm hợp tác Trung-Việt lần đầu tiên.
Vở kịch truyền hình này do Trung Quốc và Việt Nam hợp tác quay, đạo diễn Trung Quốc nổi tiếng Cận Đức Mậu làm đạo diễn, nhà biên kịch kịch lịch sử Trung Quốc nổi tiếng Kha Chương Hòa chấp bút, đã hội tụ được nhiều diễn viên hàng đầu của Việt Nam tham gia quay, đội hình rất lớn. Đạo diễn Việt Nam của vở kịch truyền hình này cũng tràn đầy tin tưởng khi lần đầu quay ở Trung Quốc.
Hai đạo diễn. Có bác nào biết về đạo diễn Tạ Huy Cường không ạ?
– Ảnh trích từ “Dự án phim Lý Công Uẩn”
Trung Quốc và Việt Nam núi sông nối liền, môi hở răng lạnh, từ xưa đến nay có mối quan hệ gắn bó. Hai nước từng trải qua thời kì tốt đẹp tình đồng chí cộng tình anh em, đồng thời cũng từng trải qua những năm tháng bất hòa thù hận. Trung Quốc và Việt Nam thiết lập quan hệ ngoại giao ngày 18/01/1950. Truyền thống hữu nghị truyền thống giữa hai nước Trung Việt và giữa nhân dân Trung Việt có nguồn gốc dài lâu. Trong cuộc đấu tranh cách mạng suốt một thời kì dài, chính phủ và nhân dân Trung Quốc đã toàn lực ủng hộ Việt Nam đấu tranh chống Pháp, chống Mĩ, đã cung cấp nguồn viện trợ quân sự, kinh tế to lớn cho Việt Nam; Việt Nam coi Trung Quốc là hậu thuẫn vững chắc, giữa hai nước đã tiến hành sự hợp tác rộng rãi trong các lĩnh vực chính trị, quân sự, kinh tế… Từ sau những năm 70, quan hệ Trung Việt trở nên xấu đi. Tháng 11/1991, nhận lời mời của Tổng bí thư Giang Trạch Dân và Thủ tướng Lý Bằng, Tổng bí thư Đảng cộng sản Việt Nam Đỗ Mười, Chủ tịch Hội đồng bộ trưởng Võ Văn Kiệt đã dẫn đầu phái đoàn đến thăm Trung Quốc, hai bên tuyên bố kết thúc quá khứ, hướng đến tương lai, thực hiện bình thường hóa mối quan hệ giữa hai Đảng hai nước.
Ngày 01 tháng Giêng năm nay, Khu vực mậu dịch tự do Đông Minh Trung Quốc đã đi đến hiệp định sẽ thực hiện mức thuế quan bằng không với 90% mức kinh doanh hàng hóa trong Khu vực Đông Minh Trung Quốc, đồng thời sẽ mở rộng thị trường kinh doanh dịch vụ về thực chất. Khu vực thị trường chung này với lượng nhân khẩu nhiều nhất đã xây dựng được 10 năm, cuối cùng hiện giờ đã ra mắt. Việc xây dựng thành công CAFTA sẽ tạo ra rất nhiều thời cơ kinh doanh cho giới kinh doanh Trung quốc và Đông Minh. Vở kịch truyền hình này đã chọn đúng thời điểm này để bấm máy, cũng là thuận ứng với nhu cầu lịch sử, đặt nền móng cho mối kinh doanh kinh tế qua lại xét từ góc độ giao lưu văn hóa.
Tư liệu bối cảnh Lý Công Uẩn:
Lý Công Uẩn nguyên tịch Phúc Kiến, kiều cư thôn Cổ Pháp, Bắc Việt, rất được sự coi trọng của tầng lớp thống trị triều Lê, trao chức đầu nhai Điện tiền đô chỉ huy sứ, thống lĩnh cấm quân. Năm 1006, nhà sáng lập triều Lê là Lê Hoàn bệnh chết, con là Lê Long Việt, Lê Long Đĩnh lần lượt lên ngôi, nhưng hổ phụ sinh cẩu tử, quân chính đại quyền của triều Lê chưa được 4 năm đã chuyển về tay đại tướng Lý Công Uẩn. Lý Công Uẩn thấy con trai Lê Hoàn không hề kém cạnh, dã tâm liền nảy sinh từ đó. Năm 1010, Lý Công Uẩn định đô ở Đại Long Thành, kiến lập triều Lý trong lịch sử An Nam.
Bản thân Lý Công Uẩn thực ra là người Trung Quốc. Cho nên, trong thời gian tại vị ông ta hết sức đề cao văn hóa nội địa Trung Quốc, mở rộng chính sách Hán hóa.
Vì thế, mặc dù giai đoạn này An Nam thoát li khỏi Trung Quốc, nhưng, mối liên thông về mặt văn hóa giữa hai bên không hề nhạt đi.
Hoàng đế Bắc Tống cảm thấy bất lực trước sự kiến lập triều Lý, bèn vẫn sách phong Lý Công Uẩn làm quân vương Giao Chỉ và quân Tiết độ sứ tĩnh hải. Triều Lý đến thời Lý Thánh Tông lên ngôi đổi quốc hiệu thành “Đại Việt Nam”.
Nhưng, triều Lý được đằng chân lân đằng đầu, không hề cảm ân đội đức gì trước việc được nhà Tống thụ phong, trái lại còn vì nhìn thấu được sự yếu ớt của Bắc Tống mà đại cử tấn quân xâm phạm vùng biên giới phía nam của triều Tống. Vị quí tộc hết thời người dân tộc Choang là Nùng Trí Cao đã soái lĩnh bách tính chống lại sự xâm lược của Giao Chỉ. Tuy nhiên, chính quyền Bắc Tống không hề có bất cứ sự chi viện gì, Nùng Chí Cao sau đó tự xưng là Nhân Huệ hoàng đế, từ liên minh với Tống chuyển thành chống Tống, triều Tống cử Địch Thanh… đi dẹp Nùng Trí Cao, tàn sát cư dân người Choang.
Vào năm Tống Thần Tông Hi Ninh, Giao Chỉ tập kết 10 vạn đại quân lại xâm lược Tống, tiến công vây chiếm vùng Quảng Tây ngày nay bằng cả đường thủy và đường bộ. Đường thủy do Thái úy Lý Thường Kiệt thống lĩnh, từ Thủy An (Móng Cái, Việt Nam ngày nay) vượt biển tiến đánh hai châu Khâm, Liêm (nay là Hợp Phố). Đường bộ do Tống Vi (?) soái lĩnh từ hai trại Cơ Lang Phốc Thái Bình (nay là Sùng Tả), Vĩnh Bình (nay là Ninh Minh), tiến chiếm châu Ung (nay là Nam Ninh), Tri châu Tô Giam cầm đầu dân binh giữ thành hơn 40 ngày, cuối cùng không địch nổi. Quân Giao Chỉ phá thành xong, đã giết mất hơn 5,8 vạn cư dân nước ta.
Sau khi châu Ung rơi vào tay giặc, trung ương triều Tống hết sức kinh sợ, điều khiển Quách Quì phản kích, dần dần lấy được ba châu Khâm, Ung, Liêm từ quân đội Giao Chỉ, giết chết thái tử Lý Hồng Chân của triều Lý, hoàng đế triều Lý của An Nam là Lý Càn Đức bị buộc phải thỉnh hòa. Lúc này, binh lực triều Lý đã suy tổn rất nhiều, quân Tống chỉ cần thừa cơ đánh phủ đầu là sẽ có cơ hồi phục được Giao Chỉ. Tuy nhiên, chính quyền triều Tống lại thỏa mãn với cái sự “hối lỗi sửa sai” của Giao Chỉ, nên lại một lần nữa đánh mất cơ hội qui thuộc Giao Chỉ.
Khi triều Lý truyền đến thời Lý Huệ tông, vì không có con trai, ngôi vua chỉ được truyền cho con gái, hoàng đế cuối triều Lý đương nhiên là một nữ lưu, vị này được gọi là Lý Phật Kim Chiêu Hoàng do khinh suất mà đã chuyển giao ngôi vị vào tay chồng mình là Trần Nhật Chiếu, ông ta là con trai (thực ra là cháu trai) danh thần triều Lý Trần Thủ Độ, và cũng là Trần Thái tông- kiến lập triều Trần trong lịch sử An Nam.
P/S: Blogger TQ này KHOÁI dùng từ 安南 (An Nam), dù đúng ra phải dùng 大越 mới đúng sự thật lịch sử.

*Nguồn http://nguyenxuandien.blogspot.com/2010/09/phim-ly-cong-uan-nguoi-tq-noi-gi.html

*Nguyễn Xuân Diện láy nguồn bài nầy từ BLOG GỐC SẬY

*Lược bỏ phần tiếng  Trung Quốc. Ai muốn đọc tiếng  TQ thì vào website

http://blog.ifeng.com/article/3973714.html

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

Cảm nghĩ của Đại sứ Nhật nói về VN khi chào tạm biệt về nước

Posted by hoangtran204 trên 18/09/2010

Câu chuyện Ngài Đại sứ (số 59)

2./Trong buổi “Tiệc chia tay” vơi đại sứ Nhật, Ngày 6 tháng 9 năm 2010, Tôi đã phát biểu chia tay trong phần đầu của buổi tiệc, trong đó tôi cũng đưa ra 4 câu hỏi mà tôi thường xuyên bị hỏi ở Việt Nam và cũng trình bày cả câu trả lời của mình cho từng câu hỏi đó. Nội dung các câu hỏi đó là (trong ngoặc là câu trả lời của tôi): Điều gì khiến ngài nhớ nhất trong thời gian công tác tại Việt Nam? (Đó là việc tôi đã đi thăm được toàn bộ 63 tỉnh thành của Việt Nam), ‚ Đối với Ngài, ở Việt Nam đâu là nơi đẹp nhất? (Nếu để đi nghỉ thì Hội An là nơi mà tôi thích nhất), Món ăn Việt Nam Ngài ưa thích nhất là gì? (các món bún như “Bún riêu”, “Bún bò huế”, “Cao lầu”),
Ngài suy nghĩ thế nào về đất nước hoặc con người Việt Nam?(không khí đô thị tràn đầy sức sống của thanh niên Việt Nam cùng với sự ồn ào và hỗn độn của họ là những yếu tố làm cho Việt Nam hấp dẫn lạ thường. Về con người Việt Nam, có vẻ như họ luôn có cái nhìn lạc quan về phía trước và tôi cảm nhận được sinh lực mạnh mẽ toát lên từ phong cách  sống của họ). Tuy nhiên,  cuối cùng tôi cũng phải nói ra về một điều khó nói với các bạn Việt Nam là các bạn cần phải chú ý giữ gìn vệ sinh sạch sẽ hơn, có tinh thần kỷ luật hơn và có tính tuân thủ cao hơn. Phần cuối cùng này trong bài phát biểu của tôi có thể “không được phải phép lắm”. Vì tôi thực sự thích Việt Nam nên tôi mới nói những điều khó nghe như vậy, nếu có ai đó cảm thấy bị tổn thương thì cho phép tôi xin lỗi trước.
3./Các phóng viên đã tổ chức một buổi tiệc trưa chia tay dành cho tôi. Tất cả các bạn đều là những thế hệ trẻ nghiêm túc, chân thật, làm việc đầy nhiệt huyết và có quan tâm mạnh mẽ đến “hình ảnh của đất nước Việt Nam trong con mắt đại sứ nước ngoài”. Hiện nay Việt Nam chưa phải là một đất nước “Tự do ngôn luận” như các nước phát triển phương tây nhưng khi nhìn thấy những ánh mắt sáng ngời của các phóng viên trẻ, tôi tin rằng “Việt Nam sẽ có một tương lai tươi sáng”. Tôi mong chờ thành công của từng bạn phóng viên.

http://www.vn.emb-japan.go.jp/vn/ambassadors/stories_59_010516.html

Hà Nội với tôi như một giấc mơ

Ngày 16 tháng 9 năm 2010

Hai tuần cuối ở Hà Nội trôi đi thật nhanh. Mỗi ngày trôi qua nhanh khi tôi chỉ có thể đến chào tạm biệt những người đã từng giúp đỡ tôi trong thời gian tôi công tác tại Hà Nội. Thời gian là một cái gì đó rất lạ, khi người ta mong chờ điều gì thì rất lâu, nhưng khi nhìn lại những gì đã qua thì cảm thấy thời gian trôi đi rất nhanh. Không phải là câu nói trăng trối của tướng Toyotomi Hideyoshi, nhưng “Hà Nội là giấc mơ của giấc mơ” là những cảm nhận thực tế của tôi. Tôi sẽ trở về Nhật Bản vào chuyến bay tối ngày mai. Công việc ở Tokyo cũng đã được giao vì thế những gì đã có ở Hà Nội sẽ là những kỷ niệm đáng nhớ trong tôi, phấn chấn lại, tôi sẽ cố gắng hết sức mình còn lại để cống hiến cho đất nước mình.

Chuyến thăm Hà Nội của Nhóm nghị sĩ hữu nghị Nhật – Việt

Vào ngày 7~ 9 tháng 9, 6 hạ nghị sĩ  do Ông Takebe Tsutomu làm Chủ tịch nhóm nghị sĩ hữu nghị Nhật – Việt (nguyên là Trưởng ban thư ký Đảng Dân Chủ Tự do), đã đến thăm Hà Nội. Khá lâu rồi đây là chuyến thăm Việt Nam lại của Đoàn, bản thân Ông Takebe Tsutomu cũng đã 2 năm rồi mới lại sang thăm Việt Nam. Cấu tạo của nhóm không theo một đảng phái nào, trong chuyến thăm này có 1 nghị sĩ của Đảng Dân Chủ và 1 nghị sĩ của Đảng Công Minh đã thay đổi. Ngoài cuộc hội đàm với Ngài Trương Tấn Sang, Thường trực ban bí thư Trung ương Đảng (tương đương với chức Trưởng ban thư ký Đảng của Nhật Bản), Đoàn còn có cơ hội hội đàm với các thành viên của Nhóm nghị sĩ hữu nghị Việt – Nhật (phía Việt Nam) do Ngài Hồ Đức Việt (Ủy viên Bộ Chính trị, Trưởng Ban Tổ chức Trung ương Đảng), làm chủ tịch nhóm. Về phía Chính phủ Việt Nam, Đoàn đã có buổi gặp mặt trao đổi với Ngài Hoàng Trung Hải, Phó Thủ tướng Chính phủ. Ngoài ra Đoàn có lịch trình dày đặc dành một ngày để đi thăm các tỉnh gần Hà Nội, gặp gỡ các chủ tịch tỉnh và đi thị sát các khu công nghiệp. Vào ngày 10, Đoàn đã đi thăm tỉnh Miền Trung như Đà Nẵng và Miền Nam như Sài gòn, Đoàn đã về nước vào chuyến bay tối ngày hôm đó.

Tôi đã có dịp ngồi ăn tối cùng Đoàn tại Nhà riêng vào tối ngày 7/9. Vì tôi đã có mối quan hệ thân quen cũ với Chủ tịch Takebe Tsutomu và các thành viên của Đoàn, nên đó là một buổi ăn tối rất vui vẻ, mọi người nói chuyện rất sôi nổi. Các vấn đề tình hình chính trị của Nhật Bản, ngoại giao, đảm bảo an ninh v.v. được trao đổi rất thẳng thắn, các nghị sĩ đã cảm nhận được những nguy cơ về tình hình chính trị trong và ngoài Nhật Bản. Một vấn đề được quan tâm nhiều nhất đó là một nghị sĩ của Đảng Dân Tự Do nói rằng “Khi Đảng Dân chủ Tự do còn là Đảng cầm quyền, cho dù là có nói về vấn đề đảm bảo an ninh ngoại giao đi nữa, thì cũng sẽ không được những người ủng hộ ở địa phương quan tâm, còn khi họ ở vị trí của Đảng đối lập, nếu nói như vậy thì sẽ nhận được phản ứng của những người dân bầu cử”. Điều đó có nghĩa là gì? Nghị sĩ của Đảng cầm quyền thường được những người ủng hộ quan tâm theo hướng đem lợi ích về đia phương, ngược lại thì Đảng đối lập không hề có điều này và họ có thể nói tự do hay phê phán về vấn đề an ninh ngoại giao.

Hội liên hợp kinh tế miền trung Nhật Bản đến thăm Việt Nam

Vào ngày 3 tháng 9, tôi đã mời 32 thành viên của Đoàn kinh tế do Ông Kawaguchi Fumio, Tổng Giám đốc tập đoàn Năng lượng điện ChuBu, làm chủ tịch hội tới nhà riêng của tôi và đã có buổi nói chuyện thân mật tại đây. Lịch trình ở Hà Nội của Đoàn trùng với 4 ngày nghỉ liên tiếp của Việt Nam tính từ ngày Quốc khánh 2/9, vì thế tôi đã rất lo lắng Đoàn sẽ khó có thể gặp được các vị lãnh đạo của Chính phủ Việt Nam, nhưng tôi đã yên tâm bởi lịch trình không bị hoãn lại. Trong bài phát biểu tôi đã bày tỏ mong muốn rằng Việt Nam là một nước dân số trẻ, có khuynh hướng tiêu dùng rất nhiều vì thế nhu cầu là rất lớn, các doanh nghiệp Nhật Bản cần thiết phải nắm bắt các cơ hội kinh doanh ở đây. Ông Kawaguchi cũng nói rằng mối quan hệ kinh tế giữa Việt Nam và giới kinh tế miền trung Nhật Bản sẽ ngày càng mở rộng vì thế Đoàn cũng rất muốn phát triển hơn nữa mối quan hệ này.

Sau khi đến Việt Nam, Đoàn sẽ thăm Campuchia và Singapore, sau đó sẽ đến miền nam của Trung Quốc. Khoảng 2,3 năm trước, tôi rất không bằng lòng bởi trong giới kinh tế của Nhật Bản, họ nói về kinh doanh tại Việt Nam với quan điểm tránh rủi ro có tên là “Chine + 1”, tôi đã đề nghị rằng Việt Nam là một nước đang phát triển và hãy nhìn nhận đúng ý nghĩa tích cực của nó với nền kinh doanh của một nước đang phát triển như vậy. Ông Kawaguchi có nói rằng “Đến bây giờ không còn một nhà kinh tế nào nhìn Việt Nam với quan điểm tránh các rủi ro nữa”, tôi thật sự đã rất vui mừng vì việc này.

Kỉ niệm ngày Quốc khánh 2/9 lần thứ 65

Ngày 1/9, lễ kỉ niệm ngày Quốc khánh 2/9 hàng năm đã được tổ chức tại Hà Nội, tôi với tư cách là một thành viên của Đoàn ngoại giao, đã tham dự sự kiện này. So với các sự kiện 2 năm trước đó khi tôi tham dự, sự kiện lần này khá là lớn hơn bởi nhân dịp kỉ niệm tròn 65 năm Quốc khánh. Cũng như hàng năm Đoàn ngoại giao có đến viếng Lăng Bác và Đài tưởng niệm liệt sĩ, sau đó có buổi lễ kỉ niệm được tổ chức tại Trung tâm hội nghị Quốc gia Ngoại giao, các vị lãnh đạo trong quá khứ và hiện tại đều có mặt đông đủ, Ngài Nguyễn Minh Triết, Chủ tịch nước Việt Nam đã có bài diễn thuyết tại đây. Sau đó là đại diện cho các Đảng viên trẻ ưu tú có bài “tuyên thệ” được diễn ra rất trang nghiêm. Trước lễ khai mạc, các bạn trẻ biểu diễn ca nhạc và múa, trên màn hình chính diện có chiếu hình ảnh ghi lại “Chủ tịch Hồ Chí Minh khi còn đương thời”, phần chiếu sau cùng là những hình ảnh mới nhất về “Việt Nam ngày nay”, hình ảnh cây cầu Cần Thơ (được xây dựng bằng nguồn vốn ODA của Nhật Bản mới được hoàn thành gần đây) được chiếu rất rõ đã làm tôi rất ngạc nhiên và vui mừng.

Vào buổi tối ngày hôm đó, như thường lệ, buổi chiêu đãi mời Đoàn ngoại giao tại Trung tâm hội nghị Quốc tế tại Hà Nội. 2 năm trước dịp này là “Sự kiện của Chính phủ” do Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng làm chủ trì, nhưng năm nay thì hơi khác, đầu tiên kể đến là Tổng Bí Thư Nông Đức Mạnh, Chủ tịch nước Nguyễn Minh  Triết, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và Ngài Trương Vĩnh Trọng, Chủ tịch Quốc hội, 4 vị lãnh đạo đứng đầu đều có mặt đầy đủ, khiến buổi lễ này thành một “Sự kiện quốc gia”. Ngoài ra còn có các quan chức khác của Đảng, Chính phủ và Quốc hội đều là những người quen đã giúp đỡ tôi trong thời gian tôi công tác tại Hà  Nội, cũng có mặt đông đủ. Vì thế, đối với một người sắp về nước như tôi, đây là một cơ hội rất tốt để tôi cùng một lúc có thể chào tạm biệt mọi người. Tôi thấy rất cảm ơn phía Việt Nam hàng năm tổ chức những sự kiện như này nhằm tăng thêm mối quan hệ mật thiết với các Đoàn ngoại giao.

Những cuộc gặp cuối cùng tại Việt Nam với nhiều người Nhật

Sáng 8/9, Lễ khai trương Trung tâm Risupia đã diễn ra tại Hà Nội với sự tham dự của ông Nakamura Kunio (Chủ tịch HĐQT Công ty Panasonic). Như tôi đã giới thiệu trong Câu chuyện số 58, Trung tâm Risupia là cơ sở giáo dục nhằm khơi dậy niềm đam mê và sự quan tâm của các em học sinh (chủ yếu là cấp 2, cấp 3) đối với vật lý và toán học. Hà Nội là địa điểm xây dựng Trung tâm Risupia thứ 2 trên thế giới, sau Odaiba ở Tokyo. Tôi như cảm nhận được cảm tình đặc biệt mà Công ty Panasonic dành cho Việt Nam. Đại diện Chính phủ Việt Nam tới tham dự buổi lễ là Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân – đương nhiên rồi, vì việc Trung tâm Risupia được mở tại Hà Nội bắt nguồn từ chuyến đi khảo sát cơ sở ở Odaiba của Phó Thủ tướng, khi ông sang Nhật Bản hồi tháng 3/2008. Về phần mình, tôi mong rằng các em học sinh Việt Nam sẽ đến Trung tâm thật đông, thật vui.

Ngày 10/9, tôi có buổi nói chuyện với ông Morisaki Takashi (Trưởng bộ phận Châu Á của Ngân hàng Mitsubishi Tokyo UFJ). Thị trường Việt Nam với các hoạt động thương mại mở rộng nhanh chóng đang được giới tài chính Nhật quan tâm. Như ông nói “Sau Trung Quốc, Ấn Độ, bây giờ là Việt Nam!”, tôi kỳ vọng vào sự phát triển của các dự án đồng hành cùng Việt Nam. Tôi cũng nêu nguyện vọng muốn giới tài chính có chính sách hỗ trợ đối với các doanh nghiệp Nhật hoạt động tại Việt Nam.

Cũng trong ngày 10/9, đã lâu tôi mới gặp lại ông Iida Nobuyasu (Phó Giám đốc Công ty Khai thác dầu khí JX Nippon), nhân dịp ông tới thăm Đại sứ quán. Đây là công ty mới thành lập trên cơ sở sáp nhập Công ty Dầu mỏ Shin-Nihon và Công ty Khai khoáng Nippon, đang tiến hành dự án khai thác dầu khí tại Vũng Tàu (miền Nam Việt Nam). Ông cho biết mỏ Rạng Đông đi vào khai thác đã 12 năm nay, với sản lượng hiện giảm xuống còn 30.000 thùng mỗi ngày (chiếm 9% tổng sản lượng của Việt Nam). Công ty cũng có những khu vực khác đang được tiến hành thăm dò, nên tôi mong rằng họ sẽ tìm ra những mỏ dầu ưng ý.

Ngày 14/9, tôi nói chuyện với ông Murata Keiichi (Giám đốc Công ty Nissan Techno) tại Đại sứ quán. Đây là công ty được thành lập năm 1985 nhằm phát triển công nghệ xe hơi cho Tập đoàn Nissan, 9 năm trước thành lập công ty con ở Việt Nam với một số công việc bổ sung như thiết kế máy móc, thiết bị điện/điện tử các loại hay CAD design… Tôi khá bất ngờ khi nghe ông nói đây là công ty con lớn nhất ở nước ngoài, với 1150 nhân viên. Trong tương lai gần, công ty có kế hoạch mở văn phòng tại Khu công nghệ cao Hòa Lạc (cách Hà Nội 30km về phía Tây) và sẽ là doanh nghiệp Nhật đóng vai trò khai thác phát triển lĩnh vực mới. Đường từ Hà Nội tới Khu công nghệ cao này đã gần hoàn thành, bên trong Khu công nghệ cũng đang dần hoàn thiện, nhưng thiết kế chi tiết hạ tầng cơ sở vẫn đang được JICA tiến hành, nên phải mất 4 – 5 năm nữa thì các hạng mục bằng vốn ODA của Nhật mới chính thức hoàn thành. Tuy vậy, đã xuất hiện những công ty nước ngoài quyết định đầu tư hoạt động tại đây, và cũng có khả năng ai nhanh hơn thì thắng, nên kế hoạch lần này của Nissan Techno khá được chú ý.

Tạm biệt nhiều người Việt

Ngày 11/9 tại một khách sạn ở Hà Nội, Nhóm Nghị sĩ hữu nghị Việt-Nhật (Chủ tịch: ông Hồ Đức Việt), Liên hiệp các Tổ chức hữu nghị Việt Nam (Chủ tịch: ông Vũ Xuân Hồng), Hội Hữu nghị Nhật-Việt (Chủ tịch: ông Nghiêm Vũ Khải) và Hội Cựu du học sinh Nhật Bản (Chủ tịch: ông Nguyễn Ngọc Bình) đã tổ chức “Tiệc chia tay Đại sứ”. Tôi bất ngờ khi được nhận thư cảm ơn và huy chương hữu nghị, lại có cả quay phim rất chuyên nghiệp của Đài truyền hình đến tác nghiệp. Trong bài phát biểu, tôi có nói đến 1 chuyện vui và 2 việc đáng tiếc – những kỷ niệm trong thời gian công tác của mình. Chuyện vui là tôi đã hoàn thành mục tiêu đi thăm hết 63 tỉnh thành của Việt Nam. Còn việc đáng tiếc là tôi không thể thực hiện được mong muốn làm Đại sứ đến năm 2013, là năm kỷ niệm 40 năm thiết lập quan hệ ngoại giao Nhật-Việt. Một việc đáng tiếc còn lại là “Chưa lần nào chơi tennis thắng được Ngài Hồ Đức Việt (Chủ tịch Nhóm Nghị sĩ hữu nghị Việt-Nhật)!” – câu này khiến quan khách cười nghiêng ngả. Tuy nhiên, nói thực lòng, điều làm tôi vui nhất chính là tình cảm nồng hậu mà những người bạn Việt Nam luôn dành cho mình, như bữa tiệc chia tay này cũng vậy. Là một Đại sứ, còn gì vui và ý nghĩa hơn chứ!

Ngày 13 tháng 9, tôi đến chào Chủ tịch Ủy ban Nhân dân Thành phố Hà Nội Nguyễn Thế Thảo trước khi về nước và trao đổi về sự hợp tác của Nhật Bản trong Đại lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long. Ông Chủ tịch Ủy ban đánh giá cao sự hợp tác về tài chính và nhân lực của Nhật Bản trong công tác khai quật, bảo tồn di tích Hoàng thành Thăng Long và hoan nghênh các hoạt động văn hóa Nhật Bản hầu như được tổ chức mỗi tháng một lần. Ông cũng tỏ ra rất thích thú trước tờ rơi quảng cáo “Hà Nội và Nhật Bản” được các tổ chức người Nhật Bản tại đây tự nguyện phát hành. Tôi đã đề nghị hai phía Nhật Bản và Việt Nam sẽ cùng hợp tác xây dựng khu vườn Nhật Bản trong lòng Hà Nội cho tới năm 2013, kỷ niệm 40 năm ngày thiết lập quan hệ ngoại giao Nhật Việt, một việc và tôi chưa thể thực hiện trong thời gian tại nhiệm. Ông Nguyễn Thế Thảo đã trả lời tôi “Việc đó nhất định sẽ được thực hiện, mong Ngài đại sứ yên tâm”. Không rõ mọi việc sẽ diễn ra thế nào.

Ngày 14 tháng 9, Thứ trưởng Bộ Giao thông Vận tải Ngô Thịnh Đức đã tới thăm Đại sứ quán để nói lời chào tạm biệt với tôi. Thứ trưởng Ngô Thịnh Đức phụ trách công tác hoàn thiện, nâng cấp hạ tầng giao thông trong đấy có mảng xây dựng hệ thống đường bộ, Ngài Thứ trưởng là một đối tác thường xuyên cộng tác với tôi trong các dự án ODA của chính phủ Nhật Bản. Ngài Thứ trưởng đã sang thăm Nhật Bản nhiều lần và có nhiều bạn ở Nhật Bản. Tôi đã nêu lên ý kiến sau cùng cho rằng việc hoàn thiện hạ tầng giao thông là điều không thể thiếu để phát triển kinh tế ở Việt Nam, trong tương lai Chính phủ Nhật Bản vẫn tiếp tục hợp tác với Việt Nam trong lĩnh vực này thông qua nguồn vốn ODA. Tuy nhiên cần làm rõ mức độ ưu tiên của các dự án, triển khai từng dự án một cách thiết thực, bên cạnh đó phải đảm bảo trình tự thực hiện nghiêm minh, đảm bảo không có các nghi vấn tham nhũng, hối lộ xảy ra. (Bên cạnh đó, ngày 16 tháng 9, tôi rất cảm kích trước việc Chủ tịch Ủy ban Nhân dân Thành phố Hội An, Ông Lê Văn Giảng đã từ nơi xa xôi tới tận Hà Nội để chào từ biệt tôi. Tôi đã khẳng định với Ông sẽ tiếp tục hợp tác để Lễ hội Nhật bản tại Hội An có thể tổ chức hàng năm).

Chào từ biệt các lãnh đạo Việt Nam

Ngày 3 tháng 9, tôi đã tới chào từ biệt Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết tại Phủ Chủ tịch. Từ sau lễ trình quốc thư nhân dịp tôi mới sang nhậm chức 2 năm trước đến nay, tôi đã có nhiều cơ hội được chào hỏi Ngài Chủ tịch nước trong những sự kiện khác nhau. Kỷ niệm mà tôi nhớ nhất chính là sự quan tâm đặc biệt của Ngài nhân chuyến thăm Việt Nam của Hoàng Thái tử điện hạ vào tháng 2 năm 2009. Theo nghi lễ ngoại giao, Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan mới là người mời Hoàng Thái tử sang thăm Việt Nam, tuy nhiên Ngài Chủ tịch nước vừa mới tới thăm chính thức Nhật Bản với tư cách là quốc khách, để cảm tạ sự tiếp đón thịnh tình của Thiên hoàng và Hoàng hậu, Ngài đã nhất định muốn được tiếp đãi Hoàng Thái tử, Ngài đã quan tâm đến từng chi tiết nhỏ của chương trình chuyến thăm và đã đón tiếp Hoàng Thái tử một cách vô cùng nồng hậu. Nhân dịp tới chào từ biệt, tôi cũng đã bầy tỏ lòng biết ơn trước sự tiếp đón trọng thị và chu đáo của Ngài Chủ tịch nước đối với Hoàng Thái tử Nhật Bản. Mặt khác, khi nghe tôi nói mình đã tới thăm hết 63 tỉnh thành trên cả nước, Ngài Chủ tịch nước đã nói những lời làm tôi thấy vô cùng cảm động: “Cảm ơn Ngài đại sứ đã rất quan tâm tới Việt Nam và đã đóng góp cho sự phát triển của mối quan hệ Việt Nhật”. Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết sẽ tham dự Hội nghị cấp cao APEC được tổ chức vào tháng 11 tới tại Nhật Bản, có thể khi đó tôi sẽ lại có dịp gặp lại Ngài tại Tokyo.

Trong hai tuần đầu tiên của tháng 9, tôi đã lần lượt đến chào từ biệt các vị lãnh đạo của chính phủ Việt Nam đứng đầu là Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng, Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải, Bộ trưởng Bộ Công thương Vũ Huy Hoàng, Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Hoàng Văn Phong, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Võ Hồng Phúc, Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hoàng Văn Phong, Bộ trưởng Bộ Tài nguyên thiên nhiên và môi trường Phạm Khôi Nguyên, Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Khắc Triệu, Bộ trưởng Bộ Giao thông Vận tải Hồ Nghĩa Dũng, Bộ trưởng Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc, Bí thư thứ nhất Trung ương Đoàn Võ Văn Thưởng và nhiều cán bộ đã giúp đỡ tôi trong nhiệm kỳ công tác vừa qua. Đặc biệt hơn nữa tôi đã được Ngài Nguyễn Xuân Phúc, Bộ trưởng Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ, đại diện cho Chính phủ Việt Nam, trao tặng “Huân chương Hữu nghị”. Tôi cảm thấy rất biết ơn vì đây chính là huân chương cao quý nhất dành cho người nước ngoài. Ngoài ra tôi còn được Bộ Tài nguyên Thiên nhiên và Môi trường, Bộ Y tế, Bộ Giao thông Vận tải, Bộ Công thương, Đoàn Thanh niên trao tặng nhiều bằng khen, kỷ niệm chương v.v… Tại Nhật Bản không có chế độ khen thưởng như vậy đối với các cán bộ ngoại giao kết thúc nhiệm kỳ về nước nên không thể thực hiện việc đãi ngộ tương đương. Đây quả thật là điều đáng tiếc.

“Tiệc chia tay”

Ngày 6 tháng 9 năm 2010, tôi đã mời những người đã giúp đỡ tôi trong thời gian công tác tại Việt Nam như các lãnh đạo cấp cao của Việt Nam, đại diện những người Nhật Bản đang công tác tại Việt Nam, đại sứ các nước vv.. đến dự  “Tiệc chia tay” tại một khách sạn trong thành phố Hà nội. Bộ trưởng Bộ giao thông vận tải Việt Nam Hồ Nghĩa Dũng đại diện cho Chính phủ Việt Nam phát biểu chia tay và Đai sứ Marốc, Trưởng đoàn ngoại giao tại Việt Nam, đã trao cho tôi đĩa kỷ niệm bằng bạc trên đó có chữ ký của đại sứ của tất cả các nước. Tôi cũng đã đề nghị Cựu đại sứ Việt Nam tại Nhật Bản Võ Văn Sung lên bục phát biểu với tư cách là khách mời đặc biệt. Đại sứ Võ Văn Sung hiện đã 81 tuổi, năm 1973 ông là trưởng phái đoàn đàm phán của phía Việt Nam để thiết lập lại quan hệ ngoại giao giữa Nhật Bản và Việt Nam, vì vậy có thể nói “Ông là một nhân vật lịch sử”. Hơn nữa, đến dự tiệc chia tay tôi còn có 6 chủ tịch ủy ban nhân dân của các tỉnh, thành lân cận với Hà Nội, đây thực sự là một cuộc hội ngộ “buồn”. Hai nữ nghệ sỹ tiêu biểu của Việt Nam là Lê Vân và Lê Khanh cũng đã đến dự, bày tỏ sự đáng tiếc khi phải chia tay khiến tôi rất cảm động. Vợ tôi mặc chiếc áo dài do Nghệ sỹ Chu Thúy Quỳnh (Chủ tịch Hội nghệ sỹ múa Việt Nam, Cựu đại biểu quốc hội) gửi tặng dành riêng cho lễ chia tay này để đón khách và bà ấy đã nhận được rất nhiều lời khen ngợi.

Tôi đã phát biểu chia tay trong phần đầu của buổi tiệc, trong đó tôi cũng đưa ra 4 câu hỏi mà tôi thường xuyên bị hỏi ở Việt Nam và cũng trình bày cả câu trả lời của mình cho từng câu hỏi đó. Nội dung các câu hỏi đó là (trong ngoặc là câu trả lời của tôi): Điều gì khiến ngài nhớ nhất trong thời gian công tác tại Việt Nam? (Đó là việc tôi đã đi thăm được toàn bộ 63 tỉnh thành của Việt Nam), ‚ Đối với Ngài, ở Việt Nam đâu là nơi đẹp nhất? (Nếu để đi nghỉ thì Hội An là nơi mà tôi thích nhất), Món ăn Việt Nam Ngài ưa thích nhất là gì? (các món bún như “Bún riêu”, “Bún bò huế”, “Cao lầu”), „

Ngài suy nghĩ thế nào về đất nước hoặc con người Việt Nam? (không khí đô thị tràn đầy sức sống của thanh niên Việt Nam cùng với sự ồn ào và hỗn độn của họ là những yếu tố làm cho Việt Nam hấp dẫn lạ thường. Về con người Việt Nam, có vẻ như họ luôn có cái nhìn lạc quan về phía trước và tôi cảm nhận được sinh lực mạnh mẽ toát lên từ phong cách  sống của họ). Tuy nhiên,  cuối cùng tôi cũng phải nói ra về một điều khó nói với các bạn Việt Nam là các bạn cần phải chú ý giữ gìn vệ sinh sạch sẽ hơn, có tinh thần kỷ luật hơn và có tính tuân thủ cao hơn. Phần cuối cùng này trong bài phát biểu của tôi có thể “không được phải phép lắm”. Vì tôi thực sự thích Việt Nam nên tôi mới nói những điều khó nghe như vậy, nếu có ai đó cảm thấy bị tổn thương thì cho phép tôi xin lỗi trước.

“Đêm chung kết cuộc thi Cosplay”, sự kiện văn hóa cuối cùng

Tối chủ nhật ngày 12 tháng 9, tại cung văn hóa thiếu nhi đã diễn ra “Đêm chung kết cuộc thi cosplay” do Đại sứ quán Nhật Bản lần đầu tiên tổ chức. “Cosplay” là viết tắt của “Costume Play” tạm dịch nôm na là “Cuộc thi hóa trang”. Có người nghĩ rằng hơi khác lạ khi Đại sứ quán lại đứng ra tổ chức những sự kiện như thế này, tuy nhiên, “Sức mạnh mềm” của Nhật Bản hiện nay đang được toàn thế giới quan tâm và đang trở thành trụ cột quan trọng trong quan hệ ngoại giao văn hóa. Mấy năm trở lại đây, trào lưu học tiếng Nhật trong giới trẻ lại bùng nổ và động lực hàng đầu của họ là mong muốn đọc hiểu được nguyên bản chuyện tranh và phim hoạt hình của Nhật Bản. Tuy nhiên, “thế hệ trung niên” như tôi vì khác biệt về cảm nhận và thiếu kiến thức nên để có thể bắt kịp được những sự kiện như thế này thì quả là một việc khó khăn.

Tại cung thiếu nhi tối 12 vừa qua, sân khấu ngoài trơi nơi diễn ra sự kiện đã ngập tràn nhiệt huyết của các bạn trẻ. Tôi đã đọc diễn văn khai mạc cuộc thi nhưng tôi nghĩ rằng các em không có tâm trí để nghe những lời phát biểu của tôi. Khi hai vị khách tham gia đặc biệt từ Nhật Bản là cô Yuri và cô Shiguma được biết đến như một nữ hoàng trong giới cosplay xuất hiện thì hội trường gần như bùng nổ. Tại đêm chung kết ngày hôm đó, đã có biểu diễn đầy nhiệt tình của 6 nhóm được gọi là “Cosplayer” sau khi vượt qua được vòng sơ khảo chấm qua các đoạn phim. Ở Nhật Bản, cosplay được chú trọng đánh giá theo các kiểu tạo mẫu qua ảnh thì tại Việt Nam, sự quan tâm được hướng tới thưởng thức biểu diễn (Biểu diễn tập thể). Tuy nhiên, đối với một người không am hiểu về chuyện tranh, hoạt hình như tôi thì tôi rất lấy làm tiếc là không thể đánh giá “hóa trang” như thế là giỏi và chỉ biết ngồi theo dõi tiết mục mà thôi.

“Họp báo chia tay” với phóng viên báo chí Việt Nam

Ngày 14 tháng 9, tôi đã tổ chức cuộc họp cuối cùng với phóng viên báo chí Việt Nam tại Đại sứ quán. Tôi rất cảm động vì đã có nhiều phóng viên đến để lấy tin “Lời chia tay” của đại sứ Nhật Bản.  Tôi đã nêu cảm xúc của mình trong thời gian nhậm chức tại Việt Nam trong 30 phút đầu. Trong phần mở đầu, sau khi tôi giải thích về tình hình qua lại của các quan chức cấp cao, sự phát triển trong lĩnh vực thương mại, đầu tư và thành tích của dự án ODA, tôi cũng đã thể hiện nguyện vọng của mình như sau: “Việt Nam hiện nay đang trong giai đoạn chuyển từ nước nông nghiệp sang quốc gia công nghiệp hiện đại, nên tôi mong rằng Việt Nam sẽ tăng cường khả năng cạnh tranh quốc tế trong công nghiệp và mong Việt Nam sẽ vượt qua được cạnh tranh tự do khốc liệt trong khu vực.” Mặt khác, sau cùng phần mở đầu, tôi có nêu thêm “Để xây dựng xã hội hiện đại, Việt Nam cần xem lại các tập quán xã hội cũ dẫn đến tham nhũng và hối lộ, cần nâng cao ý thức vệ sinh, hình thành ý thức tuân thủ quy định và luật lệ xã hội, và cần hoàn thiện cách ứng xử trong xã hội”, tuy nhiên tôi lo lắng không biết ý nguyện của mình đã truyền đạt đến các bạn phóng viên được bao nhiêu.

Hồi tưởng lại 2 năm rưỡi nhậm chức vừa qua, tôi đã trả lời hơn 120 phỏng vấn của các phóng viên. Mặt khác tôi đã tổ chức 7 lần “Tour Báo chí” đi cùng các phóng viên đến khảo sát tại địa phương nhận viện trợ không hoàn lại quy mô nhỏ, do đó tôi có quan hệ thân thiết với nhiều phóng viên. Các phóng viên đã tổ chức một buổi tiệc trưa chia tay dành cho tôi. Tất cả các bạn đều là những thế hệ trẻ nghiêm túc, chân thật, làm việc đầy nhiệt huyết và có quan tâm mạnh mẽ đến “hình ảnh của đất nước Việt Nam trong con mắt đại sứ nước ngoài”. Hiện nay Việt Nam chưa phải là một đất nước “Tự do ngôn luận” như các nước phát triển phương tây nhưng khi nhìn thấy những ánh mắt sáng ngời của các phóng viên trẻ, tôi tin rằng “Việt Nam sẽ có một tương lai tươi sáng”. Tôi mong chờ thành công của từng bạn phóng viên.

Posted in Moi Truong bi O nhiem, Nhan Vat, Tình Yêu- Lòng Yêu Nước, Tu Do ngon Luan, Uncategorized, Y te | Leave a Comment »

Vụ án “Về Kinh Bắc”, một sự kiện “Hậu Nhân văn”

Posted by hoangtran204 trên 18/09/2010

Hoàng Hưng – Vụ án “Về Kinh Bắc”, một sự kiện “Hậu Nhân văn”

18/09/2010 | 7:40 chiều | Chưa có phản hồi.

Tác giả: Hoàng Hưng

Chuyên mục: Hồ sơ Nhân văn – Giai phẩm
Thẻ: > >

Gần đây trên mạng xuất hiện một số tư liệu mới về phong trào Nhân văn – Giai phẩm. Tiểu luận mang tên “Vụ Nhân văn – Giai phẩm từ góc nhìn một trào lưu tư tưởng dân chủ, một cuộc cách mạng văn học không thành” của nhà văn Lê Hoài Nguyên, nguyên đại tá Cục An ninh Tư tưởng Văn hóa Bộ Công an (A 25), là một tư liệu quan trọng góp phần vào lịch sử đấu tranh dân chủ của nước Việt Nam hiện đại. Trong tiểu luận trên, tác giả xếp vụ án “Về Kinh Bắc” 1982[1] vào mục “Hậu Nhân văn”. Chính điều này đã gợi hứng cho tôi quyết định viết về vụ “Về Kinh Bắc” với tư cách người trong cuộc, mong góp thêm phần hoàn chỉnh tư liệu về phong trào lịch sử này.

*

Một trang trong tập bản thảo “Về Kinh Bắc”

Vụ án “Về Kinh Bắc” chắc đã được khởi động từ quãng giữa năm 1982, khi anh Nguyễn Mạnh Hùng, TS Kinh tế, GS đại học ở Canada, cũng là nhà văn Việt Nam hải ngoại có bút hiệu Nam Dao, đang làm việc/thăm chơi ở Hà Nội, xin nhà thơ Hoàng Cầm một bản chép tay tập thơ Về Kinh Bắc (VKB) để đem về Canada. Nguyễn Mạnh Hùng được chính quyền Việt Nam coi là “Việt kiều yêu nước”, đã đóng góp tích cực cho phong trào ủng hộ miền Bắc, chống Mỹ và chính quyền miền Nam từ khi còn là sinh viên ở Canada. Sau khi đất nước thống nhất, anh đã nhiều lần về nước, có tham gia tư vấn cho chính phủ về kinh tế. Mặt khác, anh lại quan hệ thân thiết với các nhà văn trong nhóm Nhân văn – Giai phẩm, đặc biệt với nhà thơ Hoàng Cầm mà anh yêu mến.

Việc Hoàng Cầm cho Nguyễn Mạnh Hùng một bản chép tay VKB chẳng có gì cần bí mật, khi chưa hề có văn bản hay chỉ thị miệng của cấp thẩm quyền nói rằng tập thơ bị cấm lưu hành. Vả lại, ở cái quán rượu 43 Lý Quốc Sư mà Hoàng Cầm sống nhờ vào đó từ nhiều năm, lúc nào cũng chật khách trầm ngâm say và âm u khói thuốc, trong đó hầu hết là những người yêu văn nghệ “ngoài luồng”, và không ít “đặc tình” (cộng tác viên, nói nôm na là chỉ điểm của CA), “cá chìm” (tiếng lóng để chỉ trinh sát công an thường phục), thì có gì liên quan đến ông Hoàng “thơ chui” này mà giữ kín được! Nhưng muốn hiểu vì sao có vụ án “Về Kinh Bắc”, phải ngược thời gian lên mười năm trước, khi một số bài trong bản thảo VKB bắt đầu được truyền tay hơi rộng trong giới yêu thơ, trong đó ba bài “Cây tam cúc”, “Lá diêu bông”, “Quả vườn ổi” (thường được gọi là bộ ba cây-lá-quả) được mến mộ nhất – phần quan trọng vì chúng được xì xầm diễn giải như lời oán trách của “em” (văn nghệ sĩ) với “chị” (Đảng), đại khái “em” yêu “chị”, nhưng “chị” đã lừa “em”, cho “em” ăn toàn “quả rụng”, rồi bỏ mặc “em” bơ vơ để đi lấy chồng… Theo Hoàng Cầm kể, thì năm 1974, CA Hà Nội có kêu tác giả lên răn đe về việc lưu truyền những bài thơ “có nội dung xấu” ấy. Hoàng Cầm phải ngưng, nhưng sau 1975, với không khí hào hứng của những ngày “miền Nam nhận họ, miền Bắc nhận hàng”, VKB lại có thêm độc giả ở miền Nam, và đến 1979, sự giao lưu với nước ngoài bắt đầu được cởi mở hơn, một số Việt kiều đã có được một số bài thơ chép tay của nhà thơ, trong đó dĩ nhiên “bộ ba cây-lá-quả” vẫn đứng đầu bảng. Hoàng Cầm có kể đích danh một nữ bác sĩ xưng tên là Cần Thơ ở Pháp đã xin ông gửi cho một số bài thơ, sau này bà cho biết bà là đệ tử của thiền sư Thích Nhất Hạnh ở Làng Mai. Trong khi xét hỏi bản thân tôi, một sĩ quan CA cho biết: VKB bắt đầu thành vấn đề nghiêm trọng chính là vì mấy bài thơ này được in trên một tờ báo ở Pháp kèm theo lời bình mang tính chống đối chính trị. Theo Hoàng Cầm thì CA có đọc cho ông nghe bài viết ấy trên báo Đất Mẹ (Quê Mẹ?)

Tóm lại, chậm nhất là vào mùa thu 1982, một chuyên án VKB đã được mở ra, với mục đích ngăn chặn việc đưa bản thảo này ra nước ngoài và bắt tội tác giả của nó, hoặc đơn giản chỉ là mượn cớ việc chuyển bản thảo này ra nước ngoài để trừng trị tác giả cho bõ ghét. Theo Hoàng Cầm thì khả năng 2 là chính, ông nhất định cho rằng chính Tố Hữu là người chủ trương, vì căm ghét Hoàng Cầm đã dám chê thơ ông ta (vụ phê bình tập Việt Bắc năm 1956), chưa kể đã “dám nổi tiếng” hơn ông ta trong kháng chiến! Và cũng theo Hoàng Cầm, để làm việc này, Tố Hữu đã sử dụng một số “CA riêng” của mình.

Thế là trong lúc một cái lưới đang giăng ra xung quanh quán rượu Hoàng Cầm ở 43 Lý Quốc Sư, thì tôi ở Sài Gòn ra, vô tình chui vào đó, trở thành con cá to (?) cuối cùng để CA cất vó!

Vì sao định mệnh lại chọn tôi làm con cá oan nghiệt kia? Suốt mấy năm trời trong trại giam tôi vẫn tự hỏi, vì xét theo logique, tôi chẳng thể nào hình dung mình có ngày “ách giữa đàng đâm quàng vào cổ” như thế.

Bởi lẽ thứ nhất: từ khi Hoàng Cầm hoàn thành VKB (mùa Xuân 1960) cho đến tháng 8 năm 1982, đã có hàng trăm bản chép tay của nó được lưu truyền, mà không thấy ai làm sao, cũng không ai phổ biến lệnh cấm dù chỉ là lệnh miệng. Lý lẽ này tôi lặp đi lặp lại trong các buổi hỏi cung, tôi còn vặn lại người cán bộ xét hỏi: “Để một tài liệu ‘phản động’ tự do lưu truyền trong 20 năm như thế thì trách nhiệm của cơ quan an ninh ra sao?”. Tất nhiên họ không trả lời được. Và hậu quả của sự “cứng đầu” cộng với ngây ngô của một anh nhà-giáo-nhà thơ-đi-làm-báo tưởng rằng trên đời có thứ gọi là công lý, là tôi phải nhận đến 39 tháng tù trong khi “đầu vụ” chỉ có 16 tháng!

Lẽ thứ hai là quan hệ của tôi với tác giả VKB vốn không có gì mật thiết. Là một trong số những nhà thơ trẻ nổi bật của “thế hệ chống Mỹ”, nhưng vì “trót” đọc được tiếng Pháp, tôi sớm giác ngộ về “Chủ nghĩa xã hội với bộ mặt người” qua những sách báo tiếng Pháp ở ngay trong Thư viện Quốc gia (Nhà nước cho rằng rất ít người biết tiếng Pháp nên không kiểm duyệt bỏ những ấn phẩm tiếng Pháp “nhạy cảm” được nhập vào đó theo con đường viện trợ, trao đổi). Đó là thuyết “chủ nghĩa hiện thực không bờ bến” của Roger Garaudy, một nhà lãnh đạo Đảng Cộng sản Pháp, những tư tưởng “xét lại” của George Lukács, nhà lãnh đạo cộng sản Hungary, tiểu thuyết Docteur Jivago của B. Pasternak, các tài liệu về Đại hội Đảng Cộng sản Liên Xô lần thứ XX, về những biến động ở Hungary, Tiệp Khắc… Những sách vở ấy cộng với thực tế nhiều phũ phàng mà tôi va chạm trong mấy năm dạy học và “đi thực tế sáng tác” ở vùng công nghiệp Hải Phòng, Quảng Ninh, cộng với sự đổ vỡ niềm tin chiến thắng sau Tết Mậu Thân và cái chết của “Bác”, khiến tôi ngày càng hoài nghi sự đúng đắn của chế độ. Tất nhiên tôi cũng nhìn lại phong trào Nhân văn – Giai phẩm bằng con mắt hoàn toàn khác những gì Đảng dạy. Vì thế, cuối năm 1969, khi đã viết một số bài thơ “ngoài luồng” không thể công bố, tôi tìm đến làm quen với anh Văn Cao qua dịch giả Dương Tường. Chính Văn Cao là người đã khuyến khích tôi tiếp tục lối thơ “bàng thống” mà tôi đang bước vào. Anh trở nên thân thiết với tôi, và đã đứng chủ trì buổi tiếp bạn bè văn nghệ trong ngày cưới của vợ chồng tôi đầu năm 1975. Với Hoàng Cầm thì khác. Không chỉ “có vấn đề” về tư tưởng, ông còn tai tiếng là con nghiện (thuốc phiện) và chủ quán rượu chui. Tôi – một nhà thơ trẻ đang được ưu ái, lại là nhà giáo và nhà báo của ngành giáo dục (Báo Người Giáo viên Nhân dân), cũng thấy ngại dây dưa! Mãi sau khi đã chuyển vào Sài Gòn công tác, tư tưởng ngày càng “diễn biến hòa bình” do tác động của cuộc sống và sách vở tàn dư của chế độ Sài Gòn, trong một lần ra Hà Nội vào cuối những năm 1970 hay đầu 1980, tôi mới tìm đến Hoàng Cầm, cũng do Dương Tường đưa dắt. Chính lần ấy, tôi được nhà thơ khoe một bản thảo VKB do ông chép tay chữ rất đẹp, bay bướm uyển chuyển, có mấy phụ bản tranh của Bùi Xuân Phái vẽ các cô gái quan họ. Đó là tập bản thảo mà ông đã bán cho ông Lâm chủ quán cà phê chuyên sưu tầm tranh của các hoạ sĩ nổi tiếng ở Hà Nội, nay ông mượn lại, có lẽ để khoe với những người bạn mới, có thể là Việt kiều chăng? Nhân dịp, tôi đã xin nhà thơ chép cho ba bài Cây – Lá – Quả đem về Sài Gòn khoe vài người bạn văn nghệ “chui” vốn là dân Sài Gòn cũ (trong đó có anh Phương Kiến Khánh, sau trở thành nhà thơ Chân Phương ở Mỹ).

Trong chuyến ra Hà Nội tháng 8 năm 1982, định mệnh xui khiến tôi lại đến với Hoàng Cầm ngoài chủ ý. Một bữa tôi gặp Dương Tường trên phố, anh sốt sắng bảo tôi đến an ủi Hoàng Cầm vì nhà thơ vừa trải qua một bi kịch: con gái yêu của ông là nữ diễn viên kịch Hoàng Yến chết đột ngột – nghe đâu là tự tử. Tôi đến chơi, lại nghe ông than là vừa bị mất tập bản thảo VKB mượn lại của Lâm cà phê (chắc hẳn CA đã lấy đi làm hồ sơ cho vụ án VKB đang chuẩn bị). Ông tỏ ra rất tiếc xót, vì khó có cơ hội làm lại một tập đẹp như thế. Tôi hứng lên, nói sẽ làm lại cho ông một tập đẹp hơn thế. Ông bảo tôi đến gặp Trần Thiếu Bảo ở phố Bát Đàn, nhờ ông này mua giấy và bút bi loại tốt để ông chép. Trần Thiếu Bảo nhận lời ngay. (Chỗ này, nhân thể nói bài nghiên cứu của tác giả người Đức Heinz Schütte công bố trên talawas 31/7/2010 có chỗ lầm: ông cựu giám đốc NXB Minh Đức sau khi ra tù không bị chỉ định cư trú ở Nam Định cho đến chết, ông đã được về lại Hà Nội từ lúc nào đấy, và vào năm 1982, ông đang chuẩn bị mở quán ăn để sinh sống tại số 5 (?) Bát Đàn. Thế là việc chép tay VKB tiến hành. Tôi đồng thời đến xin Văn Cao một phác hoạ làm bìa tập thơ VKB, và xin Bùi Xuân Phái mấy phụ bản. Ít ngày sau, tôi vui sướng có trong tay một bức hoạ mấy cái lá bay (chắc là “lá diêu bông”) của Văn Cao và 4 phụ bản màu nước của Bùi Xuân Phái vẽ những cô gái quan họ nón quai thao áo tứ thân. Có một chi tiết mà những ngày đó tôi đã bỏ qua. Trong thời gian này, tôi hầu như ngày nào cũng đến quán rượu Hoàng Cầm để giục nhà thơ chép cho xong tập thơ. Một tối, tôi trông thấy trong quán có một người quen, anh nguyên là giáo viên cùng dạy học với tôi ở Hải Phòng, nhưng đã chuyển về Hà Nội, nghe đâu làm ở Bộ Công an, vì anh là cháu ruột ông tướng CA nổi tiếng Nguyễn Công Tài. Thấy tôi, anh cất giọng lè nhè như của người say rượu bảo: “Cái ông Hưng này đến là rách việc”. Tôi hồn nhiên không để ý, chỉ cười rồi đi ra. Sau khi bị bắt tôi mới đoán rằng anh bạn đồng nghiệp cũ có lòng tốt cảnh báo để tôi khỏi sa bẫy. Nhưng lúc đó tôi hoàn toàn ngây thơ và tự tin việc xin thơ Hoàng Cầm chẳng có vấn đề gì mà phải đề phòng!

Bìa tập thơ “Về Kinh Bắc” do Trần Thiếu Bảo vẽ

Ngày Hoàng Cầm hoàn thành việc chép VKB, tôi muốn nhân đó có một cuộc liên hoan nhỏ với các bậc đàn anh để ăn mừng và cũng là để chia tay lên đường vào lại Sài Gòn. Ông Trần Thiếu Bảo đề nghị làm ngay tại nhà ông ấy, như cũng để khai trương quán của ông. Đầu bếp là Phan Tại, nhà viết kịch và cũng là đồng phạm của ông trong vụ xử án “gián điệp phản động Nhân văn – Giai phẩm” năm 1960. Trong bữa ăn vui vẻ tình cảm dạt dào giữa những người cùng tâm sự (có Hoàng Cầm, Văn Cao, Bùi Xuân Phái, Trần Thiếu Bảo, Phan Tại; tôi tuy vong niên nhưng được các đàn anh cư xử như kẻ ngang hàng), ông Bảo khoe mọi người hai cái “bìa” cho tập VKB và tập thơ của tôi mà ông trình bày theo lối siêu thực (Trước đó ít lâu, tôi có khoe một tập bản thảo thơ “chui” của mình cho một số bạn văn nghệ ở Hà Nội, trong đó có Nguyễn Thuỵ Kha, tập thơ gây ấn tượng khá mạnh vì sự phá cách của nó. Ông Bảo xin mượn ít hôm). Sau liên hoan, ông Bảo đề nghị tôi cho ông mượn tiếp tập ấy cùng với tập VKB vừa mới hoàn thành.

Bìa tập thơ Hoàng Hưng do Trần Thiếu Bảo vẽ

Những ngày sau đó, tôi lo chuẩn bị để lên đường, nên định bụng trước khi đi mới đến nhà ông Bảo lấy lại hai tập thơ. Không hiểu sao ông Bảo rất sốt ruột, ngày nào cũng đến nhà bà chị tôi (là nơi tôi ở nhờ trong thời gian lưu lại Hà Nội) thúc giục tôi tới lấy! (Sau mới ngã ngửa ra là Trần Thiếu Bảo bị CA khống chế, phải làm chỉ điểm cho họ, ít ra là trong vụ VKB này. Nếu vì lý do gì đó mà tôi không đến lấy hai tập bản thảo, thì vụ án bị hẫng to!)

Hoá ra họ đã sắp xếp rất chu đáo để “cất vó” VKB mà tôi là một con cá hẩm hiu ở đâu đến chui đầu vào lưới. Sau này một anh CA quen thân với gia đình anh cả tôi còn cho biết họ đã bí mật theo dõi, quay phim tôi suốt nửa tháng trời mà tôi không hề để ý!

Hoàng Hưng trước ngày bị bắt tháng 8/1982

Chiều 17/8/1982, sau khi sắp xếp xong hành lý để đi chuyến tàu tối xuống Hải Phòng và sáng hôm sau đi tàu biển vào Sài Gòn, tôi đến nhà Trần Thiếu Bảo lấy lại 2 tập thơ. Vào trong quán, tôi thấy hai người đàn ông đang ngồi uống nước. Sau vào trại giam đi “cung” mới biết đó là ông Khổng Minh Dụ ở A25, sau này sẽ là Thiếu tướng Cục trưởng và cũng là “nhà thơ”, và anh Thuận, trợ lý của ông, sau này sẽ là Cục phó Cục chống Bạo lọan. Tôi cứ hồn nhiên cầm tập thơ đi ra, lên xe đạp phóng. Được một đoạn, bỗng có hai anh thanh niên đèo nhau xe gắn máy ép tôi vào lề đường. Hai anh nhảy xuống, giữ tôi lại, bảo: “Cái xe đạp anh đang đi là xe của chúng tôi bị mất cắp”. Tôi kinh ngạc, vì tôi đang đi chiếc xe của bà chị ruột. Đang cãi qua cãi lại, thì một công an mặc sắc phục ở đâu tiến tới, nói: “Các anh lộn xộn gì thế, mời về đồn giải quyết”. Đồn CA gần đấy là đồn Hàng Bạc. Vào trong đồn, anh CA xưng là đồn trưởng, yêu cầu tôi bỏ hết các thứ trong túi xách ra. Thấy tập bản thảo của Hoàng Cầm, anh ta hỏi: “Cái gì thế này? Thơ à? Thơ của ai đây?”. Tôi đáp: “Của Hoàng Cầm.” “Hoàng Cầm là ai? Anh ngồi đây đợi, cái này tôi phải xin ý kiến cấp trên”. Tôi ngu đến mức vẫn chưa biết đây chỉ là một màn bi hài kịch dàn dựng sẵn.

Sau khoảng 20 phút chờ đợi, anh đồn trưởng bước vào, bảo: “Đây là ý kiến cấp trên”. Anh giở ra một tờ giấy, đọc: “Lệnh bắt và khám xét khẩn cấp” vì tội “lưu truyền văn hoá phẩm phản động”. Thế là nhanh như cắt, hai anh thanh niên “mất xe đạp” lúc nãy hiện nguyên hình là CA, áp giải tôi lên xe bịt bùng, đưa về… Hoả Lò!

Ngày 20/8/1982 thì đến lượt Hoàng Cầm bị bắt. Còn Nguyễn Mạnh Hùng, khi ấy đang ở Sài Gòn chuẩn bị bay về Canada. May được Dương Tường kịp báo hung tin, anh gửi ngay tập bản thảo VKB cho Cao Xuân Hạo giữ, ra sân bay vô tang. (Tuy nhiên, khi khám xét hành lý của tôi, CA thu được một bức thư Hoàng Cầm nhờ tôi đưa cho Nguyễn Mạnh Hùng khi vào Sài Gòn, thư dán kín nên tôi không biết nói gì trong đó). Hùng bị cấm cửa về Việt Nam trong suốt 20 năm. Chuyến anh trở lại Việt Nam sau 20 năm ấy, lần đầu tiên hai người “đồng phạm” bất đắc dĩ chúng tôi mới gặp nhau.

Sau khi tôi và Hoàng Cầm bị bắt, tin đồn lung tung, có cả tin tôi bị bắt vì mang thuốc phiện lậu! Theo nhà báo Trần Đức Chính, TBT tờ báo của Hội Nhà báo VN, thì có tờ báo hồi ấy đăng tải cả một chuyện vụ án mang tên “Vụ án hai ông Hoàng” với nhiều tình tiết ly kỳ! Gần đây, một số sách báo ở nước ngoài và trên mạng vẫn viết là Hoàng Hưng bị bắt vì âm mưu chuyển tập thơ VKB vào sứ quán Pháp! Mới biết trí tưởng tượng của người ta phong phú thật!

Kết cục của vụ án tóm tắt như sau: Hoàng Cầm sau mấy tháng bị giam thì kiệt sức vì bị khủng bố tinh thần liên tục mà lại không có nàng tiên nâu trợ lực, phải nhận tội phản động, chống Đảng, chống chủ nghĩa xã hội, chống chế độ, để mong sớm được ra.

Tôi không thể nào quên cái buổi sáng ấy trong Hỏa Lò. Sau mấy tháng không thuyết phục được tôi thừa nhận VKB là “phản động”, CA để tôi nghỉ một hơi dài. Rồi bỗng một hôm tôi lại được gọi đi “làm việc”. Người CA đưa tôi vào một phòng hỏi cung, nhưng không có ai trong đó. Mà lại có một tập giấy thếp viết sẵn để trên bàn. Tôi tò mò giở ra, thì… trời ơi, đó là bản tự khai của Hoàng Cầm, tôi nhận ra chữ viết rất nắn nót, đẹp, của ông. Tôi đọc lướt, càng đọc càng hoang mang vì ông nhận tuốt tuột các ý tưởng chống Đảng, đả kích chế độ… trong tập thơ. Để cho tôi một mình đọc xong, người ta mới đưa tôi trở lại phòng giam. Và họ bố trí rất khéo, để như tình cờ tôi gặp Hoàng Cầm đang ngồi ở cổng chờ (giữa khu trại giam và khu “làm việc” có một cái cổng lớn, sau khi “làm việc” xong phạm nhân ngồi đó chờ “quản giáo” ra nhận để đưa vào buồng giam). Tôi xông đến bên ông, hỏi gay gắt: “Anh nhận tội phản động thật à? Sao lại thế?” Hoàng Cầm cúi đầu xuống, không nói gì, từ khóe mắt ông lăn ra những giọt nước mắt. Đến tận hôm nay, nhớ lại những giọt lệ tủi nhục của nhà thơ đàn anh, lòng tôi vẫn còn đau. Với tôi, tự buộc mình phải hèn để có thể tồn tại là điều không gì đau hơn cho một kẻ sĩ.

Nhưng trong lúc Hoàng Cầm ngong ngóng CA thực hiện lời hứa (?) cho về vào dịp Tết, thì một số trí thức Pháp do Thiền sư Thích Nhất Hạnh vận động đã gửi thư cho Lê Đức Thọ đề nghị thả nhà thơ. Tin đến tai Tố Hữu, ông “bạn thơ” quý hoá phán một câu xanh rờn: “Nước ngoài can thiệp hả? Thế thì giam thêm 1 năm nữa cho biết!” (theo lời Hoàng Cầm kể, Hoàng Hưng ghi, đăng trên talawas mở đầu tập VKB 5/4/2007). Thế là Hoàng Cầm bị giam tổng cộng 16 tháng (20/8/1982 – trước Noel 1983).

Còn bản thân tôi, chỉ vì tội bướng, mà bị CA lục tung nhà trong Sài Gòn suốt một ngày trời. Họ tìm ra một số trang nhật ký bằng văn vần làm từ đầu thập kỷ 1970 mà CA nhận định là “phản động gấp 100 lần thơ Hoàng Cầm” (lời ông Khổng Minh Dụ)[2]. Sau gần ba năm điều tra rất công phu mà không tìm thấy gì chứng tỏ tôi nằm trong đường dây liên lạc với bọn “văn nghệ sĩ phản động hải ngoại”, cuối cùng, nhờ là “cán bộ nhà nước phạm tội lần đầu”, tôi được đặc ân “chỉ xử lý hành chính nội bộ chứ không bị truy tố ra toà” (lời viên CA khi công bố lệnh “tập trung cải tạo” dành cho tôi). Mãi đến cuối năm 1985, nhờ không khí chính trị có phần nới lỏng trước Đổi mới, và nhờ người anh ruột là bác sĩ phục vụ các cán bộ cao cấp đứng ra bảo lãnh, tôi mới được về sau 39 tháng tù, với cái lệnh tha mang tội danh được cải thành “lưu truyền văn hoá phẩm đồi trụy” (!) Không hiểu sao lại có sự cải đổi từ “văn hoá phẩm phản động” sang “đồi trụy” như thế? Chắc là CA không muốn có bất cứ bằng chứng nào chứng tỏ có tội danh “phản động” trong luật pháp Việt Nam, cũng như họ không bao giờ thừa nhận có “tù chính trị” vậy. (Những người bạn vong niên của tôi bị tù đầy trong vụ án “xét lại” khi ra tù không ai được cầm lệnh tha hay giấy ra trại!)

Một điều an ủi lớn cho tôi: bị nhà nước bỏ tù, nhưng tôi được đồng nghiệp bạn bè cảm thông. Thời gian tôi bị bắt, có chuyện được coi là hy hữu: Báo Người Giáo viên Nhân dân, cơ quan tôi, hết sức bênh vực tôi. Báo còn trả lương đều đặn và gửi quà cho tôi, bất chấp CA phàn nàn; phải 2 năm sau, khi CA công bố lệnh tập trung cải tạo với tôi, báo mới đành ngưng việc ấy và Bộ Giáo dục mới ra quyết định “cho ông Hoàng Hưng thôi việc vì vi phạm pháp luật bị tập trung cải tạo” (chứ không “buộc thôi việc” như thường thấy trong các vụ tương tự). Người có vai trò lớn trong chuyện này là nhà báo Trường Giang, Bí thư Chi bộ Đảng, Thư ký Toà soạn báo NGVND. Ở Sài Gòn, gia đình tôi lâm vào cảnh “vợ dại con thơ” cực kỳ khốn đốn, có những bữa phải ăn chuối trừ bữa, nhưng bù lại đã nhận được sự thông cảm yêu thương của tất cả bà con khu phố, kể cả anh cảnh sát khu vực, của các thầy cô gíao dạy cháu Hoàng Ly.

Sau khi ra tù, Hoàng Cầm mất hằng năm trời sống trong trạng thái thường trực hoảng loạn, hậu quả của thời gian tù ngục. Nhờ sự động viên của bạn bè văn nghệ ông mới dần dần hồi phục. Sau Đổi mới, thơ Hoàng Cầm bắt đầu tái xuất, nhưng riêng VKB còn bị CA ngăn trở dài dài cho đến tận năm 1994 mới ra mắt được. Hoàng Cầm trở thành gương mặt của truyền thông không thua gì các “sao”, cuối cùng ông được trao tặng Giải thưởng Nhà nước về văn học (2007). Tuy nhiên, cho đến khi ông qua đời (tháng 5/2010), chính quyền không hề có một lời minh oan hay xin lỗi, đừng nói gì đến bồi thường cho những năm tù đầy oan ức của ông.

Gặp gỡ ở nhà Hoàng Hưng (Sài Gòn) sau Đổi Mới: từ trái sang: vợ chồng Hoàng Hưng, nhà điêu khắc Trương Đình Quế (?), vợ chồng Văn Cao, Hoàng Cầm, nhà điêu khắc Nguyễn Hải

Còn tôi, ngay sau khi tôi ra tù, GS Nguyễn Văn Hạnh, Thứ trưởng Bộ Giáo dục, thầy dạy cũ của tôi ở Khoa Văn Đại học Sư phạm, ngỏ ý sẵn sàng nhận tôi làm việc ở cơ quan Bộ. Nhưng tôi chọn tiếp tục nghề báo, và năm 1988, tập Ngựa biển bao gồm hầu hết những bài thơ trong tập bản thảo của tôi bị CA tịch thu năm 1982, là tập thơ “ngoài luồng” đầu tiên tự xuất bản ở nước ta sau Đổi mới, nhờ được anh Trương Văn Khuê, Giám đốc NXB Trẻ cương quyết bảo vệ. Từ đó tôi in thơ bình thường. Riêng tập thơ Ác mộng viết về những trải nghiệm tù đầy thì đến nay vẫn bị các nhà xuất bản từ chối. Tuy nhiên một số bài trong đó đã được công bố nhờ sự “chịu chơi” của nhà thơ Quang Huy, Giám đốc NXB Văn hoá – Thông tin, rồi sau đó bài “Người về” được đưa vào những tuyển thơ quan trọng nhất; bản tiếng Anh của nó (Nguyễn Đỗ và Paul Hoover dịch) được đưa vào dự án Tổng tập văn học thế giới của một tập đoàn xuất bản quốc tế danh tiếng. Riêng có chuyện xuất cảnh thì tối kỵ. Chắc người ta ngại tôi ra ngoài sẽ trở thành nhân chứng sống cho “thành tích nhân quyền” của chế độ. Mãi đến năm 2000, do một đồng nghiệp bảo lãnh trực tiếp với ông Tổng cục trưởng An ninh, tôi mới được ông đích thân cho phép ra khỏi nước mà không kèm “điều kiện” nào.

Có hai chuyện thú vị về “hậu vụ án VKB”:

Năm 2002, khi tôi về hưu tại báo Lao động, do khiếu nại của tôi, báo Lao động và Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam đã kiến nghị Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội trả lương hưu cho tôi theo cả thời gian làm việc trước khi bị bắt (quy định phi lý phi nhân của Bộ này là vứt bỏ hết thời gian làm việc của cán bộ công nhân viên trước khi họ bị kỷ luật hay bắt giam, như đã áp dụng với nhà văn Bùi Ngọc Tấn). Lý do được nêu rõ trong công văn: Ông Hoàng Hưng bị bắt giam vì cầm tập thơ VKB của Hoàng Cầm mà thời đó coi là phản động, nay xã hội đã có nhìn nhận khác, quyền lợi của ông Hoàng Hưng phải được trả lại. Kiến nghị bị từ chối. Nhà báo Nguyễn Thị Hằng Nga, đại biểu Quốc hội, bèn đưa thẳng hồ sơ cho bà Bộ trưởng Nguyễn Thị Hằng, thế là Bộ này quay 180 độ, đổi ngay quyết định, phá lệ!

Năm 2005, trên một chuyến bay từ TPHCM ra Hà Nội, tình cờ tôi ngồi ngay bên cạnh một viên CA trực tiếp hỏi cung tôi trong vụ VKB. Quả đáng tội, hồi đó ông và tôi đã từng khá căng thẳng với nhau. Nay ông giữ một chức vụ quan trọng trong ngành an ninh. Ông vui vẻ chủ động bắt chuyện. Ông nói nhiều chuyện về văn nghệ, rồi bỗng bảo tôi thế này: “Tập thơ VKB hay thật! Anh phải viết một kịch bản phim về nó đi! Tôi biết chỉ có anh là viết được thôi!”

Lạy Trời! So với bao nhiêu người chịu oan khiên cho đến lúc chết mà chẳng ai biết đến, như ông Lê Nguyên Chí trong vụ Nhân văn – Giai phẩm chẳng hạn, thì Hoàng Cầm và tôi thế là còn có phúc lắm! Nhớ lại lời ông CA họ Khổng phán khi tôi cãi rằng nhật ký của tôi để trong nhà, có lưu truyền đâu mà các ông bắt tội? Ông nói ngay: “May cho anh đấy! Anh mà lưu truyền thì đi tù không có ngày về”.

Kỷ niệm 25 năm ngày ra tù (30/10/1985 – 2010)


[1] Lê Hoài Nguyên nhớ nhầm là năm 1983

[2] Tôi chỉ còn nhớ vài đoạn, đại khái như sau:

… Các anh bảo chúng tôi

Đi chiến đấu cho ngày mai tươi đẹp

Chúng tôi đi

Vì không sợ chết

Chúng tôi chết

Vì sợ sống hèn

Nhưng sẽ ra sao cái ngày mai ấy?

… Chúng tôi đấy

Đều ngoan ngoãn cả

Anh vừa lòng chứ ạ?

Vâng, chúng tôi cứ khoanh tay ngoan ngoãn ngồi nhìn

Sự nặng nề ngu độn của các anh

Cứ chầm chậm dìm con tàu xuống biển

Nguồn: http://www.talawas.org/?p=24264

Nam Dao Nguyễn Mạnh Hùng nói:

Cước chú cho Vụ án “Về Kinh Bắc”, một sự kiện “Hậu Nhân văn”

Nhân đọc bài viết của Hoàng Hưng, xin chỉnh cho thật chính xác dăm điều riêng tư: từ vụ án VKB tôi phải đợi 6 năm, đến 1988, mới được về Việt Nam trong một phái đoàn GS Đại học Canada được Bộ Ngoại giao tiếp đón. Đến năm 1990, mặc dầu có giấy mời của Viện Nghiên cứu Kinh tế Quản lý Trung ương, về đến Nội Bài thì tôi được lịch sự mời ra… với lý do gì đến nay tôi cũng chưa biết, nhưng đoán là sau khi bức tường Berlin sụp đổ thì phải cấp tốc xây hàng rào bảo vệ Hà Nội. Xin visa vài lần sau đó mà không được, tôi biết thân mình, nhưng khi Trịnh Công Sơn viết thư nói: “mình hết thời gian rồi”, tôi có gặp bà Đại sứ Việt Nam thuở đó, xin và được phép về năm 1998. Như vậy, thời gian tôi bị cấm cửa không đến 20 năm như Hoàng Hưng viết: chúng tôi chưa bao giờ kể lể những chuyện này. Nhưng thôi, 20 hay 14, 15 năm thì cũng thế, vù đi một cái là hết kiếp phù sinh. Cái oái oăm là có những nghịch lý khó chấp nhận: khi Sơn đến Quebec thăm tôi năm 1992, anh biết tôi ấm ức, bảo: “cứ coi họ là những đứa bé nghịch ngợm lấy chân di một đàn kiến…”. Ngẫm nghĩ, anh an ủi cả anh lẫn tôi, tiếp: “nhưng rồi đứa bé ấy cũng phải lớn lên chứ”. Lớn lên thế nào không biết, nhưng lớn đủ để chính thức nói một lời xin lỗi những con kiến càng cỡ Nguyễn Hữu Đang, Trần Dần, Lê Đạt, Hoàng Cầm… thì chưa!

Hoàng Hưng nhắc tập VKB có tranh minh họa của Bùi Xuân Phái khiến tôi nhớ đêm Giáng sinh năm 81. Cùng Nguyễn Tuân, Nguyên Hồng, và Văn Cao đến cà phê Lâm (toét), tôi đã giở từng tờ, lắng mình trong ánh đèn dầu một tốí Hà Nội mất điện. Tập thơ thật đẹp, và thơ thật hay. Bây giờ, nó lưu lạc đâu rồi? Sau khi được “phục hồi”, Hoàng Cầm in VKB, giấy đen, mực lem nhem, gửi cho tôi, đề “gửi em để nhớ một năm đầy oan nghiệt nhưng cũng đầy hạnh phúc”. Kèm VKB, anh cũng gửi tôi tập Ngựa biển của Hoàng Hưng, dặn thơ hay phải đọc. Đấy, cái tội độc nhất của chúng tôi là yêu thơ. Nhưng có tội, bỏ tù hay bắt lưu đầy, cho chúng mày biết tội! Tội của những con kiến… Thế thôi, mà sao vẫn cứ chạnh lòng!

—–

Phùng Tường Vân nói:

Đốt Lò Hương Cũ

Trần Thiếu Bảo, nguyên gia đình có một ngôi nhà lớn ở Phan Bội Châu, Hà Nội, bị tịch thu và được sử dụng làm Tòa Đại sứ của Cộng Hòa Dân Chủ Đức (Đông Đức), sau khi ra tù ít lâu ông được cho về cư trú tại Hà Nội đúng như tác giả Hoàng Hưng đã cho biết và được cấp “đền bù” một căn nhà nhỏ đúng là ở 5 Phố Hàng Bát Đàn, nhỏ lắm, tuy nhiên không phải là mở quán càfé mà khi tôi đến đấy thì đó là một cửa hàng “Cho Thuê Sách”, một dịch vụ trước đây không có ở Hà Nội, văn nhân , thi sĩ dập dìu đông lắm.


Posted in Chinh Tri Viet Nam, Chinh Tri Xa Hoi, Nhan Vat Chinh tri | Leave a Comment »

Muốn đất nước phát triển, trước hết phải chấn hưng giáo dục

Posted by hoangtran204 trên 18/09/2010

Cần thiết phải thay đổi lại chương trình giảng dạy của nền giáo dục cấp 1, 2,3 và đại học.
1./Bỏ hẳn môn học không có ích và mất thời giờ như: chính trị Mác-Lenin và thay vào giờ đó bằng môn học anh văn hoặc thể dục thể thao.
môn tiếng Việt: bỏ tất cả sách giáo khoa vể môn tiếng Việt và viết lại sách khác không lồng khuynh hướng chính trị trong đó khi dạy cho học sinh.
môn lịch sử: bỏ hết sách lịch sử hiện nay, viết lại sách lịch sử khác để dạy cho học sinh.
 
2./Tăng lương cho các thầy giáo cô giáo lên ở mức 9-15 triệu đồng/ tháng để họ không cần đi dạy thêm. (giảm bớt số lượng công an phường và bãi bỏ luôn các ban ngành trong UBND phường/quận để dùng tiền lương nầy trả cho các thầy cô).
 
3./ Mời các  Việt kiều về giảng dạy.
 
(còn tiếp…)
 
 
 
 

Cái cốt lõi là phải chấn hưng giáo dục

Nguyễn Tiến Dũng

Lời Tòa Soạn Diễn Đàn: Nhân sự kiện Ngô Bảo Châu được giải Fields, báo Pháp luật TP HCM đã bắt đầu từ ngày 13.9.2010 một loạt bài dưới nhan đề chung “Nhân tài toán học ngày ấy, bây giờ”. Trong phần dẫn của loạt bài, nhà báo Đoan Trang viết:”Giờ đây, khi những niềm vui sướng, tự hào, phấn chấn đã có phần lắng xuống, bắt đầu nảy sinh những câu hỏi liên quan, đòi hỏi xã hội và những nhà làm chính sách phải cân nhắc: Toán hay không toán? Toán lý thuyết hay toán ứng dụng? Tại thời điểm này, đầu tư phát triển toán học là sự xa xỉ hay thể hiện tầm nhìn dài hạn của quốc gia? Thực trạng ngành toán Việt Nam và những trở ngại cần vượt qua để tạo môi trường cho sự phát triển?“.Sau ba nhà toán học đang làm việc trong nước, Vũ Đình Hoà, Phùng Hồ Hải, Hoàng Lê Minh, tờ báo giới thiệu những ý kiến của một nhà toán học hiện định cư tại Pháp: Nguyễn Tiến Dũng, giáo sư đại học Toulouse. Trên blog của mình, Nguyễn Tiến Dũng nói rõ tâm tư của anh khi nhận trả lời phỏng vấn:”Tôi không “ham hố” gì việc phỏng vấn này, nhưng hy vọng là có những ý trong các câu trả lời sẽ lọt tai dư luận, trong đó có những người sẽ có quyền quyết định cho định hướng của VN.

Được sự đồng ý của tác giả, Diễn Đàn xin trân trọng giới thiệu dưới đây nguyên văn bài trả lời phỏng vấn của anh, với nhan đề của PLTPHCM.

1. Anh/ chị vui lòng cho biết sơ lược về quá trình làm việc, học tập, nghiên cứu của anh/ chị từ sau khi dự thi Olympic Toán Quốc tế: học những trường nào, ngành nào, ở nước nào, thời gian nào? công tác tại những cơ quan nào, bao giờ?

Sau khi thi toán Olympic thì tôi được Bộ GD-ĐT cử đi Nga học ngành toán tại trường Lomonosov (Tổng hợp quốc gia Matxcơva) từ 1986 đến 1991. Sau đó tôi được mời sang ICTP (Trung Tâm Vật Lý Lý Thuyết Quốc Tế, Trieste, Italia) dưới dạng “visiting mathematician” 2 năm, rồi tôi làm NCS ở SISSA (Trieste) 1 năm, bảo vệ PhD ở Strasbourg (Pháp) năm 1994 rồi tiếp tục ở lại SISSA thêm 1 năm làm post-doc. Đến năm 1995 thì tôi sang viện Max-Planck (Bonn) làm post-doc một thời gian, đồng thời được nhận làm nghiên cứu viên của CNRS tại Montpellier từ cuối 1995. Tôi ở Montpellier cho đến năm 2002. Năm 2002 tôi được nhận làm GS tại Toulouse, và ở đó cho đến nay.

2. Anh/ chị gặp những khó khăn gì trong quá trình học tập và nghiên cứu ở nước ngoài?

Giai đoạn học ở Nga khá là khó khăn. Trước khi đi Nga tôi cứ nghĩ đó là thiên đường, nhưng sang rồi mới biết thực tế không phải vậy. Liên Xô lúc đó đang tan rã, có lúc thậm chí thực phẩm khan hiếm đến mức không có gì mà ăn, đi mua chợ đen thì quá đẳt, ôm bụng đói meo. Ban quản lý lưu học sinh của VN thì không giúp đỡ SV, mà trái lại coi SV như “nguồn thu nhập”. Các bạn bè cùng năm với tôi ở Nga hầu hết đều buôn bán kiếm sống, ít ai có thể tập trung học hành trong môi trường như vậy. Tôi cũng theo bạn đi buôn, được một ít tiền nhưng rồi không may lại bị mất trộm hết.

Tôi tốt nghiệp đại học và đi khỏi Nga năm 1991 cũng đúng vào lúc xảy ra đảo chính ở Nga. Chuyện ở lại Nga làm tiếp NCS không đặt ra nữa, và tôi có ý định đi đâu đó theo bạn bè buôn bán kiếm sống. Nhưng đúng lúc đó anh Lê Tự Quốc Thắng và tôi cùng được mời từ Matxcơva sang dự một hội nghị ở ICTP (Italia). Bản thân chuyện chạy giấy tờ, vé và visa để sang được Italia là một cực hình. Khi sang đến ICTP, qua chị Lê Hồng Vân giới thiệu, tôi được họ mời ở lại làm việc 2 năm, và do đó “kế hoạch đi buôn” gác lại, và tôi tiếp tục học toán.

Từ khi sang Pháp, trong vòng rất nhiều năm, do hoàn cảnh gia đình [ở VN gặp rủi ro], tôi có khó khăn lớn về tài chính, lương không đủ để sống và trả nợ, nên luôn nghĩ đến việc đổi nghề kiếm nghề khác có thu nhập cao hơn. Nhưng có lẽ do “ngu ngốc”, thiếu người dẫn dắt, và “nghiệp chướng”, nên tôi đã có những lần thử làm nghề khác nhưng chưa lần nào thành công, trong khi đó thỉnh thoảng có làm toán nghĩ ra định lý gì đó.

3. Anh/ chị đã bao giờ có ý định trở về VN sống và làm việc chưa? Tại sao có và tại sao không?

Tôi có từng nghĩ đến khả năng về sống ở VN, tuy nhiên vấn đề hiện tại chưa đặt ra, do điều kiện và hoàn cảnh chưa thích hợp. Ở Việt Nam, để có được chất lượng cuộc sống tương đương như ở Toulouse (nhà cửa, học hành cho con cái, môi trường, v.v.), thì tốn nhiều tiền hơn là ở Toulouse. Con tôi học trường tốt không mất tiền, nếu ở VN chi 1000 đô la một tháng cho mỗi con chưa chắc được học trường tương đương như vậy. Tôi không hề có nhà ở VN, và nếu về VN cũng không có tiền mua nhà, không biết ở vào đâu. Một nghịch lý lớn của Việt Nam là nước thì nghèo mà nhà đất thì đắt hơn phương Tây. Bạn bè tôi nhiều người kinh doanh thành triệu phú ở VN, bảo tôi sao không về VN làm ăn (chứ không phải về làm khoa học), cũng có thể thành triệu phú. Họ nói có lẽ đúng, có điều đổi lại sẽ mất nhiều thứ khác.

4. Anh/ chị đánh giá như thế nào về nền toán học Việt Nam, trên tất cả các khía cạnh: chất lượng đào tạo, số lượng và chất lượng đội ngũ nghiên cứu, môi trường làm việc, tinh thần làm việc, chế độ đãi ngộ của Nhà nước nếu có?

Một thống kê gần đây của GS Lê Tuấn Hoa cho thấy, tính về số lượng công trình toán học công bố quốc tế, toàn bộ Việt Nam mới chỉ bằng Viện Toán Toulouse chỗ tôi làm việc. Một thống kê khác cho thấy mỗi bài báo khoa học của người làm toán ở Việt Nam chỉ được trích dẫn trung bình khoảng 2 lần, thấo hơn nhiều so với trung bình của thế giới, và phần lớn số lượt được trích dẫn tập trung ở một nhóm nhỏ khoảng hai ba chục nhà toán học hàng đầu trong nước. Như vậy, về mặt nghiên cứu, chúng ta còn đang rất yếu so với thế giới cả về số lượng và chất lượng.

Môi trường làm việc trong khoa học ở VN còn quá khó khăn và nhiều tiêu cực. Đãi ngộ của nhà nước đối với các nhà khoa học VN thì thua xa so với đãi ngộ của các nước nghèo tương tự ta, ví dụ như Senegal hay Pakistan. Những nước này cũng trả được lương cho giáo sư vài nghìn đô la một tháng trở lên, gấp đến chục lần VN.

Về chất lượng đào tạo, tôi thấy nhiều học sinh sinh viên Việt Nam thông minh, nhưng bị ảnh hưởng xấu của thói học vẹt và danh hão. Tôi có phỏng vấn nhiều sinh viên điểm thi đạt loại giỏi nhưng khi hỏi những câu khá cơ bản thì họ ngớ ra không trả lời được. Chương trình đại học thì mất quá nhiều thời gian vào những môn mà ở nước ngoài người ta không dạy.

Về tinh thần làm việc, nhiều đồng nghiệp của tôi ở VN vẫn có tinh thần rất cao, có điều họ mất quá nhiều thời gian lao lực cho những việc mà họ bắt buộc phải làm để tồn tại, nên không còn có nhiều thời gian cho cái mà họ thích làm.

5. Anh/ chị có cho rằng tại thời điểm này, VN nên đầu tư vào khoa học cơ bản? Tại sao nên hoặc không nên?

Theo tôi, câu hỏi cần đặt ra không phải là “nên hay không nên”, mà là “nên như thế nào, ở mức độ nào”. Không thể trở thành nước giàu nếu chỉ làm gia công thuê mà không phát triển công nghệ. Không thể phát triển công nghệ, nếu không có nền tảng khoa học cơ bản, không có những người hiểu biết về khoa học cơ bản để truyền đạt kiến thức cơ bản cho người khác sử dụng và làm điểm tựa cho những người làm công nghệ. Ví dụ, muốn có nhà máy điện nguyên tử, thì không phải cứ mua về là xong. Khâu quan trọng nhất là làm sao đảm bảo an toàn khi hoạt động, mà muốn đảm bảo an toàn thì không thể thiếu một đội ngũ chuyên gia về vật lý nguyên tử theo dõi nó. Một người làm khoa học cơ bản ở VN, kể cả khi không có được công trình lý thuyết tầm cỡ quốc tế nào, nhưng nếu người đó chịu khó theo dõi nắm bắt tình hình quốc tế để nâng cao trình độ, rồi truyền đạt lại kiến thức cho các thế hệ sau và cho những người cần ứng dụng các kiến thức đó, thì cũng là có đóng góp quan trọng cho xã hội.

6. Theo anh/ chị, Nhà nước, nếu đầu tư vào khoa học cơ bản, nên đầu tư cụ thể vào việc gì?

Theo tôi, cần đầu tư sao cho xây dựng được nền tảng vững vàng, để có thể phục vụ cho sự nghiệp phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội. Khi có nền tảng vững vàng, môi trường thuận lợi, thì các giải thưởng hay thứ hạng cao trên thế giới tự nó sẽ đến với ta. Nhưng đừng có lấy giải thưởng hay thứ hạng làm mục tiêu đầu tư, cái đó là kiểu “thi thố” chạy theo danh hão.

Cần đặc biệt chú trọng đầu tư cho việc chấn hưng nền giáo dục và đào tạo ở Việt Nam. Đây cũng là trách nhiệm của giới khoa học, chứ không phải chỉ là việc của Bộ GD-ĐT. Việc đổi mới chương trình phổ thông cần có các nhà khoa học hàng đầu tham gia chủ trì, chứ đừng coi đấy chỉ là việc của các nhà giáo phổ thông, bởi vì cần có tầm nhìn cao và rộng mới dễ hiểu hơn cái gì là quan trọng, cái gì là cần biết nhất, và cần học như thế nào cho dễ tiếp thu kiến thức thực sự hơn. Chương trình giáo dục quá nặng về hình thức ở VN hiện nay có nguy cơ làm thui chột khả năng suy nghĩ và sáng tạo của nhiều học sinh, và tạo cho học sinh thói quen thích danh hão. Muốn có nền khoa học công nghệ phát triển, thì nền tảng giáo dục và văn hóa chung rất quan trọng.

Việc thứ hai là cần thay đổi một cách cơ bản cơ chế quản lý tài chính trong đại học và khoa học, đánh giá đúng mức hơn giá trị của đào tại đại học và nghiên cứu khoa học, để có thể nâng tỷ lệ đóng góp của nó cho nền kinh tế lên đúng với thực tế (thay vì chỉ bằng một phần nhỏ thực tế như hiện nay), thì từ đó mới có thể trả lương các giảng viên đại học và người làm hoa học xứng đáng và có đủ nguồn tiền để đầu tư cho khoa học.

Khoa học cơ bản cần được phát triển đồng bộ chứ không nên trọng ngành nào hơn ngành nào. Những người nào hay nhóm nào làm việc hiệu quả thì cần được ưu tiên đầu tư thay vì bình quân chủ nghĩa hay lâu lên lão làng. Những ngành nào đang tiếp cận sát được sát với ứng dụng thực tế hơn, thì cần tận dụng huy động đầu tư từ nguồn ứng dụng cho ngành đó, sẽ thuận lợi hơn cho sự phát triển. Những ngành nào đang rất thiếu hụt mà rất cần (ví dụ như ngành toán thống kê ở VN), thì cũng cần được đầu tư để khuyến khích thế hệ trẻ đi vào ngành đó cho cân bằng lại.

7. Anh/ chị có quan điểm thế nào về khoản đầu tư 651 tỷ đồng ngân sách để phát triển ngành toán ở VN?

Con số 651 tỷ, chi trong 10 năm, thực ra là một con số khá khiêm tốn nếu đem so với cả một nền toán học của một đất nước 90 triệu dân, với hàng nghìn người trực tiếp tham dự, và có ảnh hưởng đến hàng triệu học sinh sinh viên và toàn bộ nền kinh tế xã hội nói chung. Số tiền đó chỉ tương đương với 6km đường cao tốc, hay tương đương với tổng chi phí kể cả lương trong một năm của một viện như Viện Toán Toulouse. Ngành toán đang bị “suy dinh dưỡng” nặng từ lâu nay, quá ít người muốn “dấn thân” vì triển vọng thu nhập quá kém, gây ảnh hưởng xấu đến chất lượng giáo dục đào tạo về toán ở mọi cấp, và không đáp ứng được nhu cầu ứng dụng toán học của xã hội. Tôi không tin số tiền này đủ để thúc nền toán học Việt Nam mạnh lên hơn so với thế giới. Tôi nghĩ nó sẽ làm cho Việt Nam đỡ thụt hậu thêm so với thế giới, vì ngay tại các nước còn nghèo khác người ta cũng đang đầu tư cho khoa học và trả lương cho người làm toán đàng hoàng hơn nhiều lần so với Việt Nam.

8. Anh/ chị có hạnh phúc với cuộc sống và công việc hiện tại?

Tôi thấy mình khá là hạnh phúc trong cuộc sống hiện tại. Công việc thì luôn có rất nhiều việc để làm, nhiều cái chưa đạt được.

9. Nếu có một bạn trẻ ở VN muốn theo đuổi ngành toán lý thuyết, theo anh/ chị, bạn trẻ đó sẽ phải chuẩn bị tinh thần cho những khó khăn, trở ngại gì? Làm sao để vượt qua?

Hiện tại, muốn theo đuổi ngành toán lý thuyết, thì hoặc là phải có điều kiện kinh tế khá giả, hoặc là phải sẵn sàng hy sinh chấp nhập cuộc sống vật chất khó hơn hơn là nếu đi làm ngành khác. Muốn làm được tốt, có được các kết quả nhiều người quan tâm, thì phải có môi trường học tập và làm việc tốt (điều ở VN đang rất thiếu), với những người thầy hướng dẫn tận tình có tầm cỡ quốc tế, cộng với sự bền bỉ theo đuổi không nản chí trong nhiều năm.

10. Ở nước mà anh/ chị đang sống và làm việc, mức sống của nhà toán học lý thuyết so với mặt bằng trong xã hội ra sao? Nhà nước có đầu tư cho toán học không và theo cách nào nếu có? Nếu không thì lực lượng nào đầu tư cho toán học?

Ở Pháp không có sự chênh lệch đáng kể giữa lương ngành toán lý thuyết và lương các ngành khoa học khác. Nước Pháp có hệ thống phúc lợi xã hội rất cao, y tế và giáo dục hầu như miễn phí. Đổi lại lương công chức tương đối thấp. Vì các giáo sư ở Pháp là công chức nhà nước, nên lương tuy thuộc loại khá trong xã hội vẫn thấp hơn so với nhiều nước tư bản phát triển khác và thấp hơn những người có trình độ tương đương làm cho các hãng tư nhân. Nhà nước Pháp cũng nhận thấy sự kém cạnh tranh trong việc thu hút các nhà khoa học giỏi ở Pháp do lương thấp, và sự cần thiết phải đầu tư nhiều hơn cho khoa học. Họ đang tìm cách cải tổ, ví dụ như đưa ra chính sách thưởng cao hơn cho ai nghiên cứu tốt, tuy nhiên diễn biến của sự cải tổ này khá chậm do sức ỳ lớn. Ngoài đầu tư của nhà nước cho nghiên cứu toán học, còn có đầu tư của nhiều hãng công nghiệp và công ty tài chính lớn cho toán ứng dụng, ví dụ như Airbus, Renault, BNP Paribas, v.v

Nguyễn Tiến Dũng

http://danluan.org/node/6438

http://www.diendan.org/viet-nam/nguyen-tien-dung-cot-loi-la-chan-hung-giao-duc/

—————-

Posted in Giao Duc | Leave a Comment »

VN Truyền đạt kỹ thuật trồng lúa nước, và cung cấp nhân lực truyền thụ nghề làm ruộng cho các nông gia của Phi Châu

Posted by hoangtran204 trên 12/09/2010

Làm ruộng ở lục địa đen: Việt Nam thôi xuất khẩu gạo?

SGTT.VN – Việt Nam đứng thứ 13/227 quốc gia, lãnh thổ có số dân tăng nhanh. Năm 1950 có 27 triệu người, năm 2000 có 78 triệu người. Theo dự kiến năm 2050 sẽ là 124 triệu người. Dân số tiêu dùng gạo khá cao, không thừa khi nghĩ đến chuyện xuất khẩu kỹ thuật, nhân lực trồng lúa thay vì chỉ xuất khẩu gạo.

TS Võ Tòng Xuân trao đổi với nông dân Sierra Leone.

Trong tương lai, có lẽ Việt Nam không còn là nước xuất khẩu gạo khi mỗi năm diện tích đất nông nghiệp giảm khoảng 21.000ha do: yêu cầu trưng dụng đất vào các mục đích khác, phải đảm bảo an ninh lương thực, nông dân tự thu hẹp diện tích lúa trong từng vụ, lo làm gạo ngon cơm hoặc chuyển đất lúa sang các cây trồng khác, tác động bất lợi do biến đổi khí hậu.

Những bước đi ban đầu

Các nhà xuất khẩu gạo trên thế giới luôn kỳ vọng vào thị trường gạo giá rẻ ở châu Phi. Họ giữ được thông hiểu liên tục về thị trường. Cách đây nửa thế kỷ, nhiều chuyên gia Việt Nam đã nhìn châu Phi như một vùng đất cần được chia sẻ và họ đã liên tục giúp châu Phi với tư cách chuyên gia của các tổ chức quốc tế khác nhau. Có lẽ vì vậy ý tưởng xuất khẩu chuyên gia kỹ thuật giúp châu Phi tự túc lương thực của GS Võ Tòng Xuân cũng là đóng góp có tính liên tục của các chuyên gia Việt Nam.

GS.TS Võ Tòng Xuân, với tư cách giám đốc công ty TNHH Phát Triển Nông Thuỷ Sản Việt – Phi (VAADCO VN) cho rằng châu Phi là nơi có nhiều dự án hỗ trợ quốc tế, cũng là nơi rất nghiệt ngã khi tiếp cận thực tế và các nguồn tài trợ này. GS Xuân bắt đầu thực hiện chương trình “xây dựng điểm trình diễn” lần đầu tại Sierra Leone và Nigeria từ năm 2006 – 2008. Trong bốn năm triển khai kỹ thuật trồng lúa nước kiểu Việt Nam, giáo sư Xuân đã chứng minh giải pháp bốn bước là đúng: (1) đưa các giống lúa từ Việt Nam sang trồng thử nghiệm để chọn giống lúa thích nghi, (2) nhân giống lúa thích nghi, (3a) thiết lập hệ thống thuỷ lợi (3b) thiết kế đồng ruộng sử dụng nước trời mưa, và (4) tổ chức sản xuất bằng cách đưa nông dân giỏi sang kèm cặp nông dân địa phương.

“Năm ngoái, Sudan và Mozambique tiếp nhận phương thức này và Mozambique đã chạy nhanh hơn các nơi khác. Những giống lúa từ Việt Nam đưa sang đang được nhân ra trên 300ha. Hệ thống thuỷ lợi đang được xây dựng nhờ kinh phí từ LAP, Lebanon tài trợ thông qua công ty Ubuntu AGRO. Sierra Leone và Nigeria bị chựng lại do địa phương không đủ kinh phí phát triển hệ thống dẫn thuỷ nhập điền.

Bộ trưởng Nông nghiệp Sudan, TS Abdelhalim I.Almutafie nghe giáo sư Võ Tòng Xuân, nói: “VAADCO VN chỉ có kỹ thuật chứ không có tiền”, đã rót kinh phí ban đầu để thực hiện các thử nghiệm chứng minh kỹ thuật Việt Nam áp dụng được tốt ở đây. Sau đó cùng kêu gọi đầu tư, vay tiền ngân hàng Sudan, mời nông dân giỏi của Việt Nam qua hướng dẫn nông dân địa phương trồng lúa… TS Abdelhalim I.Almutafie ủng hộ cách làm này. Ông hiểu rằng cách cầm tay chỉ việc mới có thể cải thiện tình hình. Tuy nhiên, theo GS Xuân không phải nước nào ở châu Phi cũng “chịu chơi“ như Sudan.

Nhân rộng thiện cảm về Việt Nam?

Theo các chuyên gia, nhiều nước vẫn chờ đợi sự trợ giúp và chưa chắc các nước châu Phi khác “chịu chơi“ như Sudan. Do đó, nếu xem chuyên gia nông nghiệp Việt Nam “cầm tay chỉ việc” cho nông dân châu Phi là hình ảnh đẹp thì đầu tư làm điểm trình diễn tại các nước châu Phi, quảng bá kỹ thuật canh nông Việt Nam, quảng bá hình ảnh, nâng cao uy tín Việt Nam, tận dụng cơ hội giúp châu Phi từ các nguồn tài trợ lớn hơn… tại sao không?

PGS.TS Dương Văn Chín, phó viện trưởng viện Lúa đồng bằng sông Cửu Long, chuyên gia nông nghiệp của Việt Nam tại Liberia, một trong những quốc gia châu Phi đang có sự hỗ trợ của các chuyên gia nông nghiệp Việt Nam, nói: “Người dân Liberia rất tình cảm đối với chuyên gia trồng lúa đến từ Việt Nam. Họ hiểu rằng người Việt đến đây giúp họ trồng lúa chứ không phải tìm đất sản xuất lúa cho chính mình”.

Theo GS Xuân, xây dựng mô hình và chuyển giao kỹ thuật ở châu Phi là cách tạo dựng hình ảnh đẹp không chỉ là thiện chí mà là giá trị nhân bản của Việt Nam giúp châu Phi tự túc lương thực. Đây là nét khác biệt giữa Việt Nam với các nước tới châu Phi để tìm kiếm nguồn lợi khác (thậm chí khoanh khu vực đưa nông dân địa phương ra khỏi vùng sản xuất…) Ngoài ra còn nhằm xây dựng chuỗi cung ứng cho những trang trại tại châu Phi khi họ cần giống cây trồng, nhân lực, nông cơ, nông cụ, vật tư… Sau cùng là nhằm xây dựng hình ảnh mới cho việc xuất khẩu lao động từ các nông dân giỏi và cung cấp hàng hoá khác cho nhu cầu tại chỗ.

Riêng các nông dân giỏi của Việt Nam có thể tự túc canh tác kiếm thêm thu nhập từ việc trồng rau màu, vốn là nguồn thực phẩm thiết yếu nhưng các nước châu Phi phải nhập khẩu. Theo GS Xuân, riêng khoản này mỗi lao động có dư vài ba trăm đôla mỗi tháng là chuyện bình thường. Trong khi đó dù là cường quốc xuất khẩu gạo nhưng ở Việt Nam đời sống người trồng lúa rất bấp bênh.

GS Võ Tòng Xuân cho biết trước đây ông từng gởi đề nghị tới bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn trình bày về kế hoạch đầu tư kỹ thuật và chuyên gia nông nghiệp sang châu Phi. Tuy nhiên không phải ai cũng hiểu.

Hoàng Lan – Đức Toàn

http://sgtt.vn/Kinh-te/128551/Lam-ruong-o-luc-dia-den-Viet-Nam-thoi-xuat-khau-gao.html

Posted in Nong Dan Viet Nam | Leave a Comment »

Fidel Castro nói: Mô Hình kinh tế cộng sản của Cuba hiện nay không còn phù hợp nữa

Posted by hoangtran204 trên 08/09/2010

Khi được hỏi rằng: Hệ thống kinh tế của Cuba vẫn còn đáng giá để xuất cảng sang các nước khác không? Fidel Castro trả lời: Mô hình kinh tế cộng sản của Cuba hiện nay không còn phù hợp cho chính chúng tôi nữa kìa.

Report: Castro says Cuban model doesn’t work

HAVANA – Fidel Castro told a visiting American journalist that Cuba’s communist economic model doesn’t work, a rare comment on domestic affairs from a man who has conspicuously steered clear of local issues since stepping down four years ago.

The fact that things are not working efficiently on this cash-strapped Caribbean island is hardly news. Fidel’s brother Raul, the country’s president, has said the same thing repeatedly. But the blunt assessment by the father of Cuba’s 1959 revolution is sure to raise eyebrows.

Jeffrey Goldberg, a national correspondent for The Atlantic magazine, asked if Cuba’s economic system was still worth exporting to other countries, and Castro replied: “The Cuban model doesn’t even work for us anymore” Goldberg wrote Wednesday in a post on his Atlantic blog.

He said Castro made the comment casually over lunch following a long talk about the Middle East, and did not elaborate. The Cuban government had no immediate comment on Goldberg’s account.

Since stepping down from power in 2006, the ex-president has focused almost entirely on international affairs and said very little about Cuba and its politics, perhaps to limit the perception he is stepping on his brother’s toes.

Goldberg, who traveled to Cuba at Castro’s invitation last week to discuss a recent Atlantic article he wrote about Iran’s nuclear program, also reported on Tuesday that Castro questioned his own actions during the 1962 Cuban Missile Crisis, including his recommendation to Soviet leaders that they use nuclear weapons against the United States.

Even after the fall of the Soviet Union, Cuba has clung to its communist system.

The state controls well over 90 percent of the economy, paying workers salaries of about $20 a month in return for free health care and education, and nearly free transportation and housing. At least a portion of every citizen’s food needs are sold to them through ration books at heavily subsidized prices.

President Raul Castro and others have instituted a series of limited economic reforms, and have warned Cubans that they need to start working harder and expecting less from the government. But the president has also made it clear he has no desire to depart from Cuba’s socialist system or embrace capitalism.

Fidel Castro stepped down temporarily in July 2006 due to a serious illness that nearly killed him.

He resigned permanently two years later, but remains head of the Communist Party. After staying almost entirely out of the spotlight for four years, he re-emerged in July and now speaks frequently about international affairs. He has been warning for weeks of the threat of a nuclear war over Iran.

Castro’s interview with Goldberg is the only one he has given to an American journalist since he left office.

___

On the Web: http://www.theatlantic.com/jeffrey-goldberg/

Posted in Chinh Tri, Kinh Te | Leave a Comment »