Trần Hoàng Blog

Archive for the ‘Dầu Hỏa và Khí đốt’ Category

►Tăng trưởng kinh tế (GDP) của Việt Nam: trông vào dầu thô, Samsung, Formosa

Posted by hoangtran204 on 17/05/2017

(Trần Hoàng) 4 cái phao kết thúc hội nghị Trung ương 5 ngày 10-5-2017 là: (1) mượn thêm tiền chi tiêu; (2) trông đợi doanh nghiệp tư nhân phát triển để đóng thuế; (3) tăng trưởng kinh tế (GDP) trông vào giá dầu thô sẽ gia tăng hơn mức hiện nay; (4) doanh nghiệp vốn nước ngoài như Samsung sẽ xuất khẩu điện thoại nhiều hơn nữa, và cầu nguyện Formosa sớm đưa vào vận hành!  Đảng đứng ngoài cuộc, chỉ biết khấn vái thắp nhan.

Tăng trưởng GDP trông vào dầu thô, Samsung, Formosa

Thứ Hai, ngày 15/05/2017

Đọc tiếp »

Posted in Dầu Hỏa và Khí đốt, Kinh Te | Leave a Comment »

►Tập đoàn Dầu khí Việt Nam “HỖ TRỢ” 5 tỷ đồng khắc phục thiệt hại do lũ lụt gây ra cho các tỉnh miền Trung (18/10/2016)

Posted by hoangtran204 on 22/10/2016

 

Tập đoàn Dầu khí Việt Nam hỗ trợ 5 tỷ đồng khắc phục thiệt hại do lũ lụt gây ra cho các tỉnh miền Trung (18/10/2016)

Trong những ngày qua, mưa lớn đã gây lụt lội lịch sử, tàn phá, gây thiệt hại nặng nề với đồng bào và nhân dân các tỉnh miền Trung.

Với tinh thần tương thân tương ái, cảm thông và chia sẻ những khó khăn mà chính quyền và nhân dân vùng thiên tai đang phải đối mặt, ngày 17/10/2016, Tập đoàn Dầu khí Việt Nam đã quyết định trích 5 tỷ đồng từ số tiền đóng góp của CBCNV để góp phần hỗ trợ đồng bào khắc phục và vượt qua khó khăn, bình ổn cuộc sống.

Cụ thể, Tập đoàn hỗ trợ tỉnh Quảng Trị 01 tỷ đồng, tỉnh Quảng Bình 02 tỷ đồng, tỉnh Hà Tĩnh 1,5 tỷ đồng và tỉnh Nghệ An 500 triệu đồng. Toàn bộ số tiền trên sẽ được Tập đoàn chuyển đến Ban cứu trợ thiên tai các tỉnh trong thời gian kịp thời nhất.
 
Truyền thống “lá lành đùm lá rách” với các hoạt động thiện nguyện quyên góp tiền, hiện vật hỗ trợ đồng bào những địa phương gặp khó khăn, khắc phục hậu quả thiên tai, bão lụt vẫn luôn được giữ gìn, phát huy qua các thế hệ CBCNV, người lao động Ngành Dầu khí.
(Nguồn: PetroVietnam)
* (Trần Hoàng): Tập đoàn Dầu Khí Việt Nam (PVN) tiếm công của Cán bộ công nhân viên khi mạo nhận là họ tặng 5 tỷ đồng cho đồng bào bị lụt.
PVN và CBCNV là hai thực thể khác nhau. Một bên là chủ, một bên là công nhân viên. Vì thế, tiền của Tập đoàn PVN khác với tiền bạc của cán bộ công nhân viên. Số tiền 5 tỷ là của CBCNV đóng góp, chứ không phải tiền của Tập đoàn PVN. Bởi vậy, phải ghi rõ CBCNV của Tập đoàn Dầu Khí Việt Nam hỗ trợ 5 tỷ khắc phục thiệt hại do lũ lụt gây ra cho các tỉnh miền Trung.
PVN không thể lợi dụng danh nghĩa tập đoàn để giành công của CBCNV đóng góp, và lấy đó làm “thành tích” hỗ trợ của PVN dành cho đồng bào bị lũ lụt!
Tập đoàn Dầu Khí (PVN) là cơ quan kinh tài của đảng CsVN. Đứng đầu PVN là một ủy viên trung ương đảng. PVN đào dầu và khí của quốc gia (ngoài khơi Vũng Tàu và Côn Sơn) đem bán
suốt hơn 20 năm qua; hàng năm, PVN chỉ trích ra 1/5 lợi nhuận để đóng vào ngân sách nhà nước tức, tức trả lương cho 4,5 triệu đảng viên đang làm việc trong cơ quan hành chánh
(2015, dự toán thu ngân sách từ dầu thô 93.000 tỷ đồng.)
Bên cạnh đó, PVN dành độc quyền mua bán xăng ở VN. PVN mua xăng của Singapore chở về bán cho 86 triệu dân. VN có 40 triệu xe gắn máy chạy xăng, và khoảng gần 700 ngàn xe hơi cùng xe tải lớn. Số xăng tiêu thụ hàng năm, (2013), theo phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải nói là khoảng 300-400 tỷ lít xăng. Hiện nay, giá xăng ở Mỹ là 40-50 cents, thì giá xăng ở VN là 80-90 cents (xăng 89). Thuế và phí của xăng chiếm 100%. 
Giá xăng hàng ngày tại 50 tiểu bang củaMỹ. (Nhấp chuột vào mỗi ô nhỏ, sẽ hiện ra tên tiểu bang, và giá xăng)
Tiền lời do chênh lệch giữa mua và bán xăng là rất lớn. Đại biểu Nguyễn Văn Hiến cho rằng, xăng dầu đang chịu quá nhiều chi phí từ chi phí định mức, lợi nhuận định mức… “Nếu chi phí định mức xin được, chỉ cần tăng thêm 100 đồng một lít thì người tiêu dùng đã gánh thêm 1.600 tỷ đồng mỗi năm. Trong khi nếu lợi nhuận được mặc định 300 đồng một lít, người tiêu dùng phải trả lãi 4.800 tỷ đồng. Cộng hai khoản trên là 6.400 tỷ đồng. Chính điều đó khiến dư luận cứ ngã ngửa mỗi khi các doanh nghiệp xăng dầu công bố lợi nhuận”, ông Hiến nói. Chủ tịch QH Nguyễn Sinh Hùng nói lợi nhuận xăng dầu quá lớn
Tổng số tiền mà PVN thu được trong hơn 20 năm qua là rất lớn. Theo tổng kết đầu năm 2014, tổng doanh thu của PVN cả năm 2013 là 772.000 tỷ đồng (37 tỷ USD).
Năm 2016, Tập đoàn EXXON của Mỹ cho biết, giá vốn để khai thác 1 thùng dầu thô là 10 USD. Nên khi giá dầu 42-50 USD/ 1 thùng như hiện nay, Exxon vẫn có lời.
___________

Xăng dầu đồng loạt tăng giá

THỨ 5, 20/10/2016, 17:57

Liên bộ Công Thương – Tài chính vừa có thông báo mới về điều hành giá bán lẻ xăng dầu.

Theo đó, kể từ 16h45 chiều 20/10, giá xăng RON 92 tăng 441 đồng, lên mức tối đa 16.845 đồng/lít. (Giá xăng ở Mỹ $1,90/4 lít)

Giá xăng sinh học (E5) cũng tăng 392 đồng, lên mức tối đa 16.533 đồng/lít.

Xăng dầu đồng loạt tăng giá

Các mặt hàng dầu diesel tăng 599 đồng, lên mức tối đa 13.023 đồng/lít và dầu hoả tăng 520 đồng, lên mức tối đa 11.543 đồng/lít. Dầu mazut cũng tăng 592 đồng, lên mức 10.065 đồng/kg.

Mức chi quỹ bình ổn đối với mặt hàng xăng khoáng và xăng sinh học E5 lên 600 đồng/lít, dầu diesel và dầu hoả lên 300 đồng/lít.

Lý do tăng giá xăng dầu lần này là do giá dầu thô có xu hướng hồi phục. Giá xăng tại thị trường Singapore, thị trường nhập khẩu chính của Việt Nam dao động trong khoảng 59-60 USD/thùng. Đặc biệt, trong 1 tuần trở lại đây, hầu hết là vượt 60 USD/thùng.

Trước đó, giá xăng đã có lần tăng thứ 4 liên tiếp trong các kỳ điều hành gần đây.

Tính từ đầu năm đến nay, giá xăng đã tăng 9 lần với tổng cộng hơn 4.472 đồng/lít. Cũng từ đầu năm đến nay, giá xăng đã 8 lần giảm với tổng cộng hơn 4.400 đồng/lít và 2 lần giữ nguyên giá.

Trong kỳ điều hành gần nhất diễn ra vào hôm 5/10, giá xăng RON 92 tăng 172 đồng/lít lên mức tối đa 16.404 đồng/lít.

Theo tính toán, các loại thuế phí, chiếm đến hơn 50% giá xăng dầu.

Bạch Dương
Theo Vneconom

Posted in Dầu Hỏa và Khí đốt, Từ Thiện - Gây Quỹ | Leave a Comment »

►Giải nghĩa các dữ liệu của nhà báo Huy Đức viết về Đinh La Thăng

Posted by hoangtran204 on 19/10/2016

Nếu thực lòng muốn diệt tận gốc tham nhũng, các ông cần một nền tư pháp phi chính trị, một nền báo chí độc lập, một xã hội dân sự tích cực, và nếu có thể một hay nhiều đảng phái chính trị khác làm đối trọng và giám sát chất lượng cầm quyền của các ông”.

_______

Bùi Quang Vơm

19-10-2016

inh La Thăng và Trịnh Xuân Thanh. Ảnh cắt từ interne

Ngày 16/10/2016, nhà báo Huy Đức cho đăng tiếp bài thứ ba trong chuỗi bài về vụ án mà chúng ta xin mạn phép tạm đặt tên là “Vụ án Đinh La Thăng và đồng bọn”,

Đọc tiếp »

Posted in Dầu Hỏa và Khí đốt, Lưu manh đỏ, Nhan Vat Chinh tri, Tham Nhung-Hoang Phí- Ăn Cắp, Đảng CSVN: Các hạt giống đỏ- Cha truyền con nối, Đảng viên đấu đá tranh giành chức vị | Leave a Comment »

►Giá dầu sụt giảm, kinh tế sa sút, chỉ trong 2 năm 2015 và 2016, Việt Nam vay mượn 35 tỷ USD

Posted by hoangtran204 on 01/08/2016

Dưới sự lãnh đạo tài tình của đảng, Việt Nam tiếp tục vay mượn năm sau cao hơn năm trước.  Năm 2015 đã mượn 17 tỷ USD, và năm 2016 sẽ mượn 18,4 tỷ USD. Dự báo chi trả nợ sẽ tiếp tục tăng cao hơn trong các năm 2016, 2017 và 2018.

Chính phủ sẽ trả nợ hơn 12 tỷ USD, vay tiếp 20 tỷ USD trong năm 2016 – Soha.vn

 

Thủ tướng: Nợ công cao, nợ Chính phủ vượt trần, tiền trả nợ đã chiếm tới 26% thu ngân sách:

Cafebiz 29-7-2016

Nợ công cao, áp lực trả nợ lớn. Đến cuối năm 2015, nợ công bằng 62,2% GDP, áp sát mức trần quy định. Nợ Chính phủ 50,3%, đã vượt trần quy định… Chi trả nợ cả gốc và lãi chiếm 26% tổng thu ngân sách” – Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc cho biết.

Thu tuong: No cong cao, no Chinh phu vuot tran, tien tra no da chiem toi 26% thu ngan sach - Anh 1

Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc. Ảnh: Quochoi.vn.

Báo cáo trước tại Kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa XIV về tình hình thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội và ngân sách nhà nước 6 tháng đầu năm 2016, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc thừa nhận Việt Nam đang phải đối mặt với rất nhiều khó khăn, thách thức.

Cụ thể, nợ công đang cao, áp lực trả nợ lớn.

Đến cuối năm 2015, nợ công bằng 62,2% GDP; nợ Chính phủ 50,3% (vượt trần quy định là 50%); nợ nước ngoài của quốc gia 43,1%.

Trường hợp tăng trưởng năm 2016 không đạt mục tiêu đề ra thì các tỷ lệ này sẽ còn cao hơn.

[Đọc thêm: Quốc hội thừa nhận mức tăng trưởng kinh tế 6,7% trong 2016 khó khả thi ]

Nghĩa vụ chi trả nợ lãi trực tiếp năm 2015 bằng khoảng 8,4% tổng thu NSNN (nếu tính cả trả nợ gốc thì bằng trên 26%).

Chi trả nợ giai đoạn 2011 – 2015 gấp 1,86 lần giai đoạn 2006 – 2010. Dự báo chi trả nợ sẽ tiếp tục tăng cao hơn trong các năm 2016, 2017 và 2018.

Trong khi vay nợ lớn, việc sử dụng vốn đầu tư lại kém hiệu quả. Chỉ số ICOR bình quân giai đoạn 2011 – 2015 là 6,92, cao hơn nhiều so với các nước trong khu vực. Một số dự án sử dụng vốn đầu tư công hiệu quả thấp, lãng phí lớn.

Nợ đọng xây dựng cơ bản lớn. Quản lý đầu tư, khai thác, thu phí tại nhiều dự án BOT còn bất hợp lý, thiếu công khai, minh bạch, gây bức xúc cho người dân và doanh nghiệp. Quản lý sử dụng tài sản công, chi tiêu công còn lãng phí.

Bội chi NSNN liên tục ở mức cao trong nhiều năm. Thu ngân sách khó khăn, nhất là ngân sách trung ương; nợ đọng thuế còn lớn. Triển khai kế hoạch vốn đầu tư công năm 2016 chậm; giải ngân đạt thấp hơn cùng kỳ, trong đó vốn NSNN chỉ đạt 32,2% kế hoạch (cùng kỳ 2015 đạt 44,4%), vốn trái phiếu Chính phủ đạt khoảng 22% (cùng kỳ đạt 34%).

Phản hồi về phát biểu này, ông Vũ Tiến Lộc – đại biểu Quốc hội tỉnh Thái Bình hoan nghênh Thủ tướng đã dũng cảm nhìn thẳng vào sự thật, không né tránh. Ông Lộc nhìn nhận báo cáo của Thủ tướng đã thể hiện 2 cái “đầu tiên”.

Lần đầu tiên có thông tin chính thức từ Chính phủ về những vấn đề nhiều người tưởng rằng suôn sẻ. Và lần đầu tiên, vấn đề nợ công, nợ xấu – 2 vấn đề quan trọng nhất của quốc gia đc đè cập thẳng thắn trong báo cáo của Chính phủ.

Bảo Bảo

Theo Trí Thức Trẻ

____________

Trong một bài báo 31-12-2015, “Thứ trưởng Bộ Tài chính Vũ Thị Mai cũng cho biết: Chính phủ đã trình Quốc hội thông qua dự toán thu cân đối ngân sách nhà nước (NSNN) năm 2016 là 1.014,5 nghìn tỷ đồng.

Trong đó, dự toán thu nội địa 785 nghìn tỷ đồng; dự toán thu dầu thô 54,5 nghìn tỷ đồng (trên cơ sở sản lượng 14,02 triệu tấn, giá 60 USD/thùng); dự toán thu cân đối từ hoạt động XNK 172 nghìn tỷ đồng.

(Thực tế, giá dầu 6 tháng đầu năm 2016 trung bình là 40 USD/thùng)

“Dự toán chi ngân sách nhà nước (NSNN) là 1.273,2 nghìn tỷ đồng.

Trong đó, dự toán chi đầu tư phát triển NSNN là 254,95 nghìn tỷ đồng; dự toán chi thường xuyên NSNN là 824 nghìn tỷ đồng; dự toán chi trả nợ, viện trợ155,1 nghìn tỷ đồng (đảm bảo trả đủ các khoản nợ gốc, lãi vay nước ngoài đến hạn; đối với chi trả nợ trong nước, đảm bảo trả đủ lãi và một phần nợ, giảm mức vay đảo nợ).

Dự toán bội chi NSNN là 254 nghìn tỷ đồng (4,95% GDP). Tổng nhiệm vụ phải huy động (vay mượn) trong năm 2016409 nghìn tỷ đồng, mặc dù đã giảm 27 nghìn tỷ đồng so năm 2015, nhưng vẫn rất nặng nề, đòi hỏi triển khai quyết liệt ngay từ đầu năm.” 

_________________

=> Vay mượn năm sau cao hơn năm trước.  Năm 2015 đã mượn 17 tỷ USD, và năm 2016 sẽ mượn 18,4 tỷ USD⛔.

Kinh tế và tài chánh của Việt Nam trong năm 2015 và 2016 là rất bết bát. Chỉ trong 2 năm qua, VN vay mượn 35,4 tỷ USD. Trong khi tổng sản phẩm nội địa của VN (hay GDP) năm 2014 chỉ có 184 tỷ USD (trong số này, hãng Sam Sung ở Thái Nguyên và đã xuất khẩu 24 tỷ USD)

=> Tỷ giá USD: 22,250 đồng/ USD

=> Dự đoán giá dầu để dự toán ngân sách là quá sai. Cuối năm 2014, và 6 tháng đầu năm 2015, trên mạng tràn ngập các dự đoán giá dầu sẽ lơ lửng dưới 50 USD/ thùng. Vậy mà cuối năm 2015, khi làm dự toán ngân sách 2016, Bộ Tài chánh VN đã dự đoán giá dầu sẽ là 60 USD/ thùng.

Thực tế giá dầu 6 tháng đầu năm 2016 là 42 USD/thùng. Dự đoán về giá dầu của Bộ Tài Chánh sai lạc khoảng: 18 USD/thùng.

(Xem biểu đồ dưới đây giá dầu trung bình của 6 tháng đầu năm 2016)

6 Month Crude Oil Prices and Price Charts

-Crude Oil Price 42.89 USD/bbl (38.38 EUR/bbl) 29 Jul 2016
– 52 Week Low 27.82 USD/bbl
– 52 Week High 53.71 USD/bbl
SignIn Subscribe

6 Month Crude Oil Prices - Crude Oil Price Chart

 

Giá dầu trung bình 6 tháng đầu năm 2016 là 42 USD/thùng)

Vì đã biết giá dầu xuống thấp, các tổ chức tín dụng thế giới thông báo đầu năm 2016 rằng, họ không muốn cho Việt Nam vay tiền ODA nữa, đặc biệt khi giá dầu xuống quá thấp chỉ còn 42 USD/ thùng, thêm vào đó VN hiện đã mắc nợ 117 tỷ USD (theo TT Nguyễn Xuân Phúc công bố 29-7-2016.)

Tiền trả nợ của VN năm 2015 là 7 tỷ đô la, trong khi tiền bán dầu thô của VN là 5 tỷ USD/năm 2015. (350.000 thùng dầu/ngày X 365 ngày/năm X 40USD/thùng = 5 tỷ USD)

Để tính khả năng trả nợ của khách hàng, các tổ chức tài chánh thế giới dựa vào nguồn dầu thô của VN để cho VN vay mượn. Nhưng kể từ 3 năm nay, giá dầu giảm, họ buộc VN muốn vay thêm tiền, thì từ nay phải trả tiền lời cao hơn.

Nguồn tham khảo

Tổng thu ngân sách nhà nước năm 2015 đạt 105% dự toán (31-12-2015)

_______________

 

Xuất khẩu của Sam Sung năm 2015 là 30 tỷ, giả sử lợi nhuận là 15%, thì lợi nhuận của Sam Sung tại VN là 5 tỷ, nhưng thực tế Sam Sung chỉ đóng thuế doanh nghiệp cho VN là 45 triệu USD năm 2015!

Mức thuế của Sam Sung tại VN chỉ là 0.9% so với trung bình thuế doanh nghiệp của 35 quốc gia kỹ nghệ là 24%, và thuế này ở Mỹ là 39%.

Nhờ sự “giúp đỡ” của Quốc hội làm luật, và chính phủ VN cắt giảm thuế cho Sam Sung, TT Nguyễn Tấn Dũng được tặng bằng tiến sĩ kinh tế danh dự của đại học Korea University.

Sam Sung có được coi là hàng của Việt Nam không? (15-3-2015)

20 năm đổ bộ vào Việt Nam, Sam Sung đã làm những gì?  (2-10-2015

 

Posted in Dầu Hỏa và Khí đốt, Kinh Te, Nợ của Việt Nam, Tài Chánh-Thuế | 2 Comments »

►Venezuela và điểm cuối của con đường xã hội chủ nghĩa: Người dân, giờ phải bới rác kiếm thức ăn, đã hiểu rõ “ý nghĩa thực tiễn” của mô hình chính trị phi lý này

Posted by hoangtran204 on 23/06/2016

Mạnh Kim

Đoạn video được New York Times đưa lên trang Facebook của họ ngày 9-6-2016, cho thấy cảnh người dân Cumaná (thủ phủ bang Sucre) tràn vào các siêu thị để cướp thực phẩm, trông thật kinh khủng.

Khắp Venezuela, nạn đói dữ dội đang tràn lan, biến thành những cuộc bạo động không thể kiểm soát. Khi đói và đói khủng khiếp, người ta không còn biết sợ là gì.

Báo New York Times cho biết, các xe tải thực phẩm giờ phải được hộ tống bằng bảo vệ vũ trang. Trước các lò bánh mì, bây giờ được gác bởi quân độmởi!

Một bé gái 4 tuổi mới đây đã bị bắn chết khi cảnh sát nổ đạn cao su vào toán người tràn xuống đường gây bạo loạn khi kiếm thức ăn.

Ngày 20-6-2016, một người ôm súng xông vào Ngân hàng Trung ương và bắn bị thương hai bảo vệ, trước khi bị bắn chết.

Trước đó không lâu, ngày 9-6, vụ bạo động cướp của dữ dội đã nổ ra tại Petare, phía Đông Caracas. Trong các siêu thị bị cướp ở nhiều thành phố Venezuela, người ta đập cổng tràn vào cướp sạch mọi thứ. Chỉ trong hai tuần gần đây nhất, có hơn 50 vụ bạo động dữ dội nổ khắp Venezuela. Ít nhất 5 người bị chết.

Có đến 87% người Venezuela cho biết họ không còn tiền để mua thực phẩm, theo khảo sát của Đại học Simón Bolívar.

Phải dùng 72% lương tháng để mua thức ăn – kết quả một khảo sát khác của Trung tâm phân tích xã hội thuộc Liên đoàn giáo chức Venezuela. Cách đây hơn thập niên, người ta ném trứng để mua vui trong các kỳ lễ hội. Bây giờ, trứng quý như vàng.

Theo IMF, tỷ lệ tăng trưởng Venezuela hiện bi đát nhất thế giới: -8%. Tỷ lệ lạm phát cũng đứng đầu thế giới với 482%. Tỷ lệ thất nghiệp hiện 17% nhưng có thể leo lên 30% trong vài năm tới.

Chính phủ Nicolás Maduro phản ứng với lỗ hổng ngân sách bằng cách in tiền, khiến lạm phát càng tăng nhanh.

Giá các loại nhu yếu phẩm cơ bản giúp một gia đình sống trong một tuần đã tăng hơn 25% từ tháng 3 đến tháng 4-2016, gấp 22 lần mức lương tối thiểu.

Điều khiến người dân phẫn nộ không chỉ là cái bụng lép mà còn là tình trạng tham nhũng.

Theo tổ chức Minh bạch Quốc tế, Venezuela hiện là quốc gia tham nhũng thứ chín thế giới. Trong một nước theo CNXH, mô hình chính trị được xem là không để xảy ra bất công xã hội, nhưng thành viên gia đình Tổng thống Nicolás Maduro được xem là nhóm người giàu nhất Venezuela. Và “danh hiệu” cá nhân giàu nhất nước này thuộc về Maria Gabriela Chávez, cô con gái của cố Tổng thống Hugo Chávez, với tài sản ước tính 4,2 tỷ USD – theo tờ Diario Las Americas.

Cho đến nay, theo Fox News, Maria Gabriela Chávez và cô chị của mình, Rosa Virginia, vẫn sống nhung lụa xa xỉ trong La Casona (Dinh Tổng thống). Chồng của Rosa không ai khác hơn là đương kim Phó Tổng thống Jorge Arreaza.

Trung tuần tháng 6-2016, Nicolás Maduro yêu cầu Tối cao pháp viện phủ quyết đề nghị của phe đối lập tổ chức trưng cầu dân ý nhằm truất phế mình. Không có cuộc trưng cầu nào cả, từ giờ đến sang năm, Maduro tuyên bố.

Nếu cuộc trưng cầu tổ chức vào ngày hạn định 10-1-2017 và Maduro thua, một cuộc bầu cử sẽ phải thực hiện.

Nếu cuộc trưng cầu tổ chức sau ngày 10-1-2017 (vì phe đối lập chưa kiếm đủ phiếu) và Maduro vẫn không thắng, ghế tổng thống sẽ nhường lại cho Phó Tổng thống Jorge Arreaza và ông này, thuộc cánh hẩu Maduro, sẽ tại vị cho đến hết nhiệm kỳ vào tháng 1-2019 (theo luật, để cuộc trưng cầu truất phế Maduro thành công, phe đối lập phải kiếm được nhiều hơn số phiếu mà Maduro giành được trong cuộc bầu cử tổng thống năm 2013, tức hơn 7.587.532 phiếu, theo Financial Times).

Tiến trình kiếm phiếu của phe đối lập vẫn đang ráo riết trong khi Maduro vẫn cố thủ bảo vệ chiếc ghế quyền lực. Sự lì lợm tham quyền cố vị của Maduro chỉ khiến lòng dân thêm phẫn uất.

Tờ tiền mệnh giá lớn nhất, 100 bolivar, giờ chỉ giá trị 7 xu. Sự mất giá của tiền tệ tỉ lệ thuận với sự mất giá của chính quyền Maduro lẫn “giá trị” XHCN mà Maduro thừa hưởng từ Hugo Chávez.

Người dân, giờ phải bới rác kiếm thức ăn, đã hiểu rõ “ý nghĩa thực tiễn” của mô hình chính trị phi lý này.

Cuối thập niên 1980, chính từ những vụ bạo động kinh khủng bởi nạn đói và chính trị bất an, cuộc “cách mạng XHCN” của Hugo Chávez đã thành công.

Bây giờ, nạn đói và chính trị bất an đang nhấn chìm chính con tàu XHCN ấy.

Khi người dân bị vét cạn niềm tin bởi một chế độ tham nhũng tư túi tồi tệ cùng sự yếu kém trong điều hành quản lý quốc gia; và khi nhà cầm quyền cương quyết đối đầu với người dân bằng bạo lực, kết cục sẽ luôn không thay đổi: chiến thắng không bao giờ thuộc về chính quyền. Bài học cuộc cách mạng 1989 của lịch sử Venezuela vẫn còn sờ sờ.

(Ảnh của Daily Mail)

Posted in Dầu Hỏa và Khí đốt, Tham Nhung-Hoang Phí- Ăn Cắp, Thời Sự, Trung Quoc Venezuela VietNam | Leave a Comment »

Các tập đoàn Than – khoáng sản, Điện lực và Dầu khí đòi tăng giá

Posted by hoangtran204 on 10/09/2015

Các tập đoàn Than – khoáng sản, Điện lực và Dầu khí đang đề nghị chính phủ cho phép họ phân bổ hàng chục ngàn tỉ đồng do những sai lầm trong quản trị doanh nghiệp của chính họ vào giá thành các sản phẩm, rồi tính hết vào giá bán cho người tiêu dùng!!!

Giá dầu thế giới hạ thấp chỉ còn 45 đô/ 1 thùng. Giá dầu đã và đang xuống thấp nhiều tháng qua, và sẽ tiếp tục xuống thấp trong khoảng 40-45 đô 1 thùng cho đến năm 2016.

Quá vô lý mà vẫn đề nghị tăng giá là sao?

Tuổi Trẻ-

8-9-2015

Thật vô lý khi DN có thể hạch toán thoải mái những sai lầm trong quản trị doanh nghiệp của chính mình vào giá thành rồi tính hết vào giá bán cho người tiêu dùng…

Ông Trần Ngọc Thơ - Ảnh: Đình Dân
Ông Trần Ngọc Thơ – Ảnh: Đình Dân

Việc các tập đoàn Than – khoáng sản, Điện lực và Dầu khí đề nghị Chính phủ cho phép họ phân bổ hàng chục ngàn tỉ đồng vào giá bán có nhiều vấn đề ẩn sâu dưới đó cần phải được nhận diện đúng mức. 

Trên thế giới này không có doanh nghiệp nào có thể hạch toán thoải mái những sai lầm trong quản trị doanh nghiệp của chính mình vào giá thành rồi tính hết vào giá bán cho người tiêu dùng, ngoại trừ họ muốn phá sản vì bị các địch thủ khác cạnh tranh.

Ở Việt Nam, yếu tố ngoại trừ này đã được Nhà nước bảo hiểm cho các doanh nghiệp độc quyền rồi. Trong câu chuyện này vẫn còn nhiều điều cần được làm rõ.

Đầu tiên là vấn đề minh bạch thông tin và trách nhiệm giải trình của các tập đoàn. Tại sao tỉ giá tăng thì đòi tăng giá, còn những lúc tỉ giá giảm và thậm chí giảm rất sâu như năm 2006-2007, sao không thấy Tập đoàn Điện lực đề xuất giảm giá bán?

Thậm chí lãi suất, lạm phát và giá cả nguyên liệu thế giới thời gian qua giảm rất sâu, tại sao giá điện lại không giảm mà ngày càng có xu hướng tăng thêm? Đây là điều không sòng phẳng với người tiêu dùng chút nào.

Các tập đoàn cho rằng vay ngoại tệ nên lỗ do tỉ giá là điều vô lý ngay từ cái nhìn đầu tiên. Do các tập đoàn được Chính phủ bảo lãnh vay nợ bằng USD nên lãi suất đi vay rất thấp, chỉ khoảng 4 – 5%.

Trong khi đó lãi suất vay bằng VND hiện tại khoảng 10%, chưa kể có những thời điểm trước đây mức lãi suất VND còn lên đến 20%, như vậy mức lãi suất trung bình năm năm qua khoảng 15%. Như vậy so lãi suất VND với USD, bình quân năm năm qua các tập đoàn đã có lợi nhuận tăng thêm mỗi năm khoảng 15% trên tổng số vốn vay bằng ngoại tệ. Nay chỉ mới có tháng 8 vừa qua tỉ giá USD/VND tăng khoảng 5% đã kêu lỗ là điều hết sức phi lý.

Đến đây, câu hỏi được đặt ra: liệu đề xuất tính cả chục ngàn tỉ đồng tỉ giá vào giá điện lần này có thật sự đến từ nguyên nhân tỉ giá? Hay các tập đoàn đã mất mát phần nào sức đề kháng trước các cú sốc xảy ra nên chỉ còn cách khả dĩ đưa những sai lầm trong quá khứ vào giá bán. Có khả năng đề xuất bù lỗ tỉ giá vừa qua chỉ là cái cớ, là giọt nước cuối cùng làm tràn ly lỗ lã triền miên tích tụ bấy lâu nay.

Đã đến lúc Chính phủ phải làm rõ các bí mật này và tiến tới thị trường hóa mạnh mẽ các lĩnh vực điện lực, xăng dầu, nếu không trong tương lai chẳng cần đến cú sốc gì cả, giá các mặt hàng độc quyền này muốn tăng thì sẽ cứ tăng mà không ai biết thực hư ra sao.

TRẦN NGỌC THƠ

Ba “ông lớn” điện, than, dầu khí đòi người tiêu dùng gánh lỗ

8-9-2015

TT – Ba tập đoàn lớn là Điện lực (EVN), Công nghiệp than – khoáng sản (TKV), Dầu khí (PVN) đồng loạt kêu lỗ hàng ngàn tỉ đồng do điều chỉnh tỉ giá, đề nghị… tính vào giá thành điện.

Trong khi đó, đại diện Bộ Tài chính, Bộ Công thương và chuyên gia cho rằng không thể đưa vào giá thành và tăng bao nhiêu cũng được, phải tính toán kỹ tránh kích hoạt làn sóng tăng giá.

Phải trông vào… tăng giá

Phân tích nguyên nhân khoản lỗ do chênh lệch tỉ giá, ông Hồ Công Kỳ, chủ tịch HĐQT Tổng công ty Điện lực dầu khí (PV Power – thuộc PVN), giải thích hầu như tất cả các nhà máy điện khi đầu tư (vốn cần đến cả tỉ USD – PV) đều phải đi vay khoảng 70%, nhiều nhà máy phải vay cả tỉ USD.

Khi giá 1 USD là 21.000 VND thì vay 1 tỉ USD được quy đổi là 21.000 tỉ VND, nhưng khi tỉ giá tăng, 1 USD đổi được 22.000 VND thì nợ của doanh nghiệp tăng ngay lên thành 22.000 tỉ VND (tăng 1.000 tỉ VND). Nghĩa vụ trả nợ tăng, đồng nghĩa chi phí tăng, giá bán không tăng thì hiệu quả doanh nghiệp giảm, thậm chí lỗ.

Về khoản “lỗ” 1.200 tỉ đồng vừa được đề nghị tính vào giá điện của TKV, ông Nguyễn Anh Tuấn, phó tổng giám đốc tập đoàn này, cho biết thực chất ông không cho rằng đó là TKV “bị lỗ”.

TKV chỉ đề xuất Bộ Công thương cho phép điều chỉnh tỉ giá theo diễn biến thực tế theo đúng quy định mà thông tư của Bộ Công thương đã quy định.

Ông Tuấn cho rằng hiện các doanh nghiệp phát điện của TKV vẫn phải tính theo tỉ giá cũ, trong khi đó nếu căn cứ theo tỉ giá mới, mức chênh lệch tới 1.200 tỉ đồng (điều này đồng nghĩa 1.200 tỉ đồng chưa được tính vào chi phí phát điện của TKV – PV). Nên theo ông Tuấn, TKV đề nghị tính theo tỉ giá mới “cho đúng bản chất kinh tế”.

Ông Tuấn cũng cho rằng các nhà máy phát điện đầu tư để phát điện, nếu chênh lệch tỉ giá không tính vào giá điện thì… không phân bổ đi đâu được.

Ông nhấn mạnh hiện các doanh nghiệp tư nhân, nhiều nhà máy điện theo hình thức BOT (xây dựng, vận hành, chuyển giao) đều đã có cơ chế được tính vào giá thành ngay khi có phát sinh chênh lệch bởi điều chỉnh tỉ giá. Riêng một số doanh nghiệp nhà nước như TKV lại chưa được. “Điều này là không công bằng” – ông Tuấn nói.

Điều chỉnh tỉ giá không chỉ EVN, PVN, TKV bị ảnh hưởng, mà doanh nghiệp cả nước, người dân cũng bị 
ảnh hưởng

Ông TRẦN VIẾT NGÃI (chủ tịch Hiệp hội 
Năng lượng)

Các doanh nghiệp cần đánh giá tổng thể tác động từ việc điều chỉnh tỉ giá chứ không thể cứ nói nâng tỉ giá là báo cáo khó khăn và xin tăng giá bán, nhất là các mặt hàng thiết yếu như điện

Ông ĐẶNG QUYẾT TIẾN (cục phó Cục Tài chính doanh nghiệp)

“Không phù hợp”

Trao đổi với Tuổi Trẻ, ông Trương Văn Phước, phó chủ tịch Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia, cho rằng việc doanh nghiệp kêu lỗ hàng nghìn tỉ đồng do chênh lệch tỉ giá là phiến diện. Bởi doanh nghiệp có vay ngoại tệ với lãi suất thấp chỉ 5%/năm, trong khi đó lãi suất vay tiền đồng bình quân 10%/năm. Chênh lệch lãi suất giữa hai đồng tiền này đã bị doanh nghiệp bỏ qua.

Phần chênh lệch lãi suất tiền đồng và USD đã được doanh nghiệp tính vào lợi nhuận các năm. Nay giá trị phải trả cho việc vay ngoại tệ tăng lên thì doanh nghiệp lại kêu lỗ. Do đó, cần phải phân bổ sao cho hợp lý chứ không thể kêu lỗ được.

Ở góc độ Bộ Tài chính, ông Đặng Quyết Tiến, cục phó Cục Tài chính doanh nghiệp, phân tích theo quy định, khoản lỗ do chênh lệch tỉ giá sẽ được đưa vào chi phí sản xuất, khoản lỗ này được phân bổ trong năm năm.

Từ những năm trước, EVN lỗ hàng chục ngàn tỉ đồng do điều chỉnh tỉ giá, và khoản lỗ này đang để phân bổ dần vào những năm sau. Được biết hiện nay EVN vẫn còn mấy nghìn tỉ đồng lỗ do chênh lệch tỉ giá.

Nhưng theo ông Tiến, bản thân việc các tập đoàn kêu lỗ do chênh lệch tỉ giá để hạch toán vào giá thành điện là chưa được hiểu đúng. Vì hạch toán lỗ do chênh lệch tỉ giá vào giá điện như thế nào thì phải được Bộ Công thương và Bộ Tài chính xem xét phê duyệt cụ thể.

Đơn cử như trên cơ sở đánh giá tình hình kinh tế – xã hội, mục tiêu tăng trưởng kinh tế… từ đó quyết định mức phân bổ lỗ do chênh lệch tỉ giá là bao nhiêu vì giá điện đang được Nhà nước kiểm soát. Do đó, doanh nghiệp không thể muốn đưa bao nhiêu thì đưa được.

Mặt khác, nói việc vay ngoại tệ để đầu tư công trình, dự án bị lỗ do nới tỉ giá là không phù hợp.

Ông Tiến khẳng định lỗ trong quá trình thi công công trình thì đã được vốn hóa vào trong giá trị công trình rồi. Chỉ có điều kinh doanh hằng ngày khi phát sinh các khoản mua bán vật tư, thiết bị mà thanh toán bằng USD thì có thể sẽ bị ảnh hưởng mà thôi.

Ông Tiến cho rằng các doanh nghiệp cần đánh giá tổng thể tác động từ việc điều chỉnh tỉ giá chứ không thể cứ nói nâng tỉ giá là báo cáo khó khăn và xin tăng giá bán, nhất là các mặt hàng thiết yếu như điện.

Cần xem xét kỹ khả năng tăng giá điện

Trả lời Tuổi Trẻ, một lãnh đạo Cục Điều tiết điện lực, Bộ Công thương cho biết khoản lỗ phát sinh do tỉ giá là bất khả kháng, theo quy định hiện nay có thể được xem xét tính vào giá điện. Tuy nhiên, không có nghĩa nó sẽ được tính vào giá điện ngay mà sẽ được xem xét quyết định.

Điều này không phải bây giờ mới xảy ra vì theo vị lãnh đạo Cục Điều tiết điện lực, EVN từng phát sinh khoản lỗ 26.000 tỉ đồng cũng do điều chỉnh tỉ giá và đã phải phân bổ trong nhiều năm, đến tận bây giờ cũng chưa hẳn đã hết.

Ông Trần Viết Ngãi, chủ tịch Hiệp hội Năng lượng, cũng đồng tình phải xem xét nhiều yếu tố chi phí của các nhà máy điện. “Điều chỉnh tỉ giá không chỉ EVN, PVN, TKV bị ảnh hưởng, mà doanh nghiệp cả nước, người dân cũng bị ảnh hưởng”, vì vậy theo ông Ngãi, EVN cần tính toán chính xác xem tỉ giá khiến tăng chi phí bao nhiêu.

Với kinh nghiệm hàng chục năm trong ngành điện, ông Ngãi cho biết tỉ giá tăng sẽ phải hạch toán vào giá điện, bởi quy định cho phép, thực tế cũng đã thực hiện rồi. Tuy nhiên, Bộ Công thương đã cho tăng giá điện vào ngày 16-3 vừa qua, giờ tăng giá điện nữa sẽ “không hay”, bởi dù lạm phát thấp nhưng theo ông Ngãi, “giá ở thị trường, cái gì cũng đắt chứ không rẻ đi bao nhiêu”.

Cùng kêu lỗ

Theo thông tin từ Bộ Công thương, trong cuộc họp giao ban trực tuyến tháng 8-2015 ngày 3-9, phó tổng giám đốc TKV Vũ Anh Tuấn cho biết chênh lệch tỉ giá đã làm các nhà máy nhiệt điện TKV đầu tư phát sinh khoản lỗ đến 1.200 tỉ đồng. Do vậy, TKV đã kiến nghị Bộ Công thương xem xét cho tính khoản chênh lệch tỉ giá này vào giá thành điện.

Lãnh đạo PVN cũng cho rằng chênh lệch tỉ giá ảnh hưởng rất nhiều đến PVN.

Ông Ngô Sơn Hải – phó tổng giám đốc EVN – cũng “kêu” chênh lệch tỉ giá ảnh hưởng đến lĩnh vực điện rất lớn, riêng TKV lỗ khoảng 1.200 tỉ đồng. “Nếu cộng tất cả các con số mà cả TKV và PVN lỗ do tỉ giá thì có thể gấp hơn 10 lần con số 1.200 tỉ đồng” – ông Hải nói.

Ông Hải nhấn mạnh EVN đang thống kê số liệu để báo cáo Bộ Công thương nhằm có hướng giải quyết và cảnh báo “nếu tất cả các đơn vị điện của TKV, PVN đưa hết lỗ tỉ giá vào giá điện sẽ tác động rất lớn tới bức tranh tài chính của EVN”.

Thứ trưởng Bộ Công thương Đỗ Thắng Hải kết luận diễn biến tỉ giá trong thời gian qua đã tác động đến hoạt động sản xuất kinh doanh của một số doanh nghiệp. Tuy nhiên, với những kiến nghị tính vào giá thành sản xuất điện, ông Hải cho biết bộ sẽ trình Chính phủ xem xét.

CẦM VĂN KÌNH – LÊ THANH (dangdv@tuoitre.com.vn;, lethanh@tuoitre.com.vn)

Posted in Dầu Hỏa và Khí đốt, Dối trá -Gạt gẫm-Tuyên truyền, Kiều Hối - Nguồn Ngoại tệ cứu nền Kinh tế và nuôi đảng, Tập Đoàn-Tổng công Ty quốc doanh | Leave a Comment »

►Sơ lược cuộc đối đầu giữa Chu Vĩnh Khang (Zhou Yongkang) và “Bảy chị em”

Posted by hoangtran204 on 08/05/2015

Sơ lược cuộc đối đầu giữa Chu Vĩnh Khang (Zhou Yongkang) và “Bảy chị em”

 Tú-hoa

6-5-2015

Vào ngày 2 tháng Tám năm 2005, một công ty dầu khí Trung Quốc, China National Offshore Oil Corporation, hay còn gọi là CNOOC Group đã phải chấp nhận ép buộc rút lui ý định mua lại công ty dầu khí Unocal 76 của Hoa Kỳ với giá đề nghị lên đến 18.5 tỷ Mỹ kim.

Công ty Unocal 76 được thành lập từ tháng Mười năm 1890, có trụ sở tại El Segundo, tiểu bang California Hoa Kỳ. Doanh thu hàng năm của Unocal là khoảng 5 đến 8 tỷ Mỹ kim và có hơn 6 ngàn nhân viên thường trực.

datauri-file

CNOOC tưởng đã có thể thâu tóm công ty Unocal 76 này trong tầm tay nhưng giới “BẢY CHỊ EM” đã lật ngược thế cờ và khiến các Dân Biểu trong Hạ Viện Hoa Kỳ không chuẩn thuận hành động mua này của Trung Quốc với lý do CNOOC là công ty nhà nước, tài sản của Hoa Kỳ không để cho chính phủ Trung Quốc sở hữu.

Hai tháng sau đó, tức là tháng Mười cùng năm, Chevron, một thành viên quan trọng của giới “BẢY CHỊ EM,” tức là tiếng lóng chỉ thế lực tư bản dầu hỏa hàng đầu của thế giới do Hoa Kỳ hậu thuẫn, đã chính thức mua lại công ty xăng dầu Unocal 76 này.

Đây là một hành động dằn mặt cho thấy rõ giới “BẢY CHỊ EM” đã cương quyết đối đầu với quyết tâm của Bắc Kinh công khai trong việc kiểm soát lượng dự trữ dầu hỏa.

Từ đó, CNOOC đành phải đi vòng qua các quốc gia khác thuộc châu Mỹ như Canada, Brazil, Venezuela…, ect, để đầu tư nhằm đảm bảo sự ổn định cho nhu cầu nhập khẩu dầu hỏa của mình. Và mỗi bước đi, bước tiến của các công ty dầu hỏa Trung Quốc điều phải tính toán, chạm chán gây go với sức ép của giới “BẢY CHỊ EM.”

Cuộc chạm chán này được gọi là cuộc đối đầu giữa “BẢY CHỊ EM” và Chu Vĩnh Khang, được coi là cha đẻ của nền kỹ nghệ dầu khí hiện đại Trung Quốc mà hiện thân là Tổng Công Ty Dầu Khí Trung Quốc – CNPC, tuy khốc liệt gây nhiều xáo trộn cho kinh tế và chính trị trên thế giới nhưng hết sức thầm lặng và không ai nghĩ tới.

Cần phải hiểu rõ hơn sự nghiệp của Chu Vĩnh Khang thì mới nhìn ra cuộc đối đầu chiến lược giữa Chu gia và giới BẢY CHỊ EM khốc liệt như thế nào.

I. Sự nghiệp của Chu Vĩnh Khang (Zhou Yongkang)- cha đẻ của nền công nghiệp dầu khí hiện đại Trung Quốc:

Chu Vĩnh Khang sanh vào tháng 12 năm 1942, người gốc Vô Tích, tỉnh Giang Tô. Nơi ông sanh ra, từ ngàn xưa là đất của nước Sở thời Chiến Quốc, vốn là một nước giỏi nghề khai thác khoáng sản, trong đó có thiếc và chì. Sau tướng Vương Tiễn nhà Tần hành quân ngang qua vùng này, thấy có bia mộ viết là:

“Hữu tích: binh, thiên hạ tranh
Vô tích: ninh, thiên hạ thanh”

Nghĩa là có thiếc thì đánh nhau, loạn tranh binh đao, không có thiếc thì yên , thiên hạ an bình. Vương tướng quân thấy vậy mới đặt tên vùng này là Vô Tích (không có thiếc) để mong thái bình an lạc. Từ đó mà tên Vô Tích lưu truyền đến bây giờ.

Thiên linh địa linh sinh anh kiệt, Chu Vĩnh Khang lớn lên, tuy gia đình nghèo lắm nhưng ông học hành cực kỳ giỏi, thi đậu vào Học Viện Dầu Khí Bắc Kinh trở thành là một kỹ sư dầu hỏa, với chuyên môn là xét nghiệm địa chất và dò tìm dầu hỏa.

Vào khoảng năm1966, Chu Vĩnh Khang được điều về làm công tác địa chất thăm dò ở công trường 673 khu dầu hỏa Đại Khánh tỉnh Liêu Ninh. Tháo vát, năng nổ yêu nghề, ông đã được đề bạt làm đội trưởng đội thăm dò nơi ông công tác.

Bằng tài cán của chính mình, năm 1973, ông đã trở thành Trưởng Phòng thăm dò dầu khí của tỉnh Liêu Ninh. Dù chỉ là mới ở cương vị trưởng phòng, Chu Vĩnh Khang đã biến khu mỏ dầu Đại Khánh thành nơi sản xuất 19% tổng số lượng dầu hỏa quốc nội của Trung Quốc- một kỳ tích chấn động Trung Ương Đảng Cộng Sản Trung Quốc.

Chu Vĩnh Khang lúc nào cũng chở che, giúp đỡ cấp dưới rất tận tình dù ông có tới gần trên 2000 nhân viên. Ông không bao giờ về quê ăn mừng năm mới mà luôn ở lại cùng với nhân viên trên những cánh đồng mỏ dầu, cùng nhân viên chịu đựng mùa đông khắc nghiệt.

Năm 1979, Chu Vĩnh Khang tiếp tục được giao trọng trách thăm dò khai thác dầu hỏa ở Liêu Hà, phía Nam của vùng mỏ dầu Đại Khánh. Nơi này bây giờ được coi là nơi cung cấp dầu LỚN NHẤT cho Tổng Công Ty Dầu Khí Trung Quốc – CNPC (China National Petroleum Corporation), ước tính khoảng 200 ngàn tỷ thùng /một năm.

Năm 1983, Chu Vĩnh Khang trở thành Chủ Nhiệm Điều Hành toàn bộ công trường mỏ dầu các công trường mỏ dầu từ Đại Khánh cho đến Liêu Hà. Năm 1985, ông được chính thức thăng chuyển về Bắc Kinh và làm Thứ Trưởng Bộ Dầu Hỏa. Bộ Dầu Hỏa chính là tiền thân của CNPC.

datauri-file (1)

Dù ở địa vị cao, vào năm 1989, Chu Vĩnh Khang vẫn lao tâm lặn lội tới các vùng sâu trong đất liền, phía Tây heo hút hẻo lánh thuộc bình nguyên Tarim của Trung Quốc để thăm dò địa chất phát triển khai thác các mỏ khí với vai trò kỹ sư trưởng các công trình.

Chu Vĩnh Khang làm việc ngày đêm, bất chấp địa vị thứ trưởng của ông và biến nơi này thành nơi cung cấp 19% tổng sản lượng khí đốt nội địa cho quốc gia, chưa kể là ông cho xây đường ống dẫn khí đốt nối liền Đông-Tây xuất phát từ nơi này của Trung Quốc do ông làm giám đốc công trình thi công.

Từ một chuyên viên kỹ thuật, một kỹ sư cần mẫn và kinh nghiệm, Chu Vĩnh Khang lần hồi có được những ảnh hưởng lớn về chính trị trong Trung Ương Đảng Cộng Sản Trung Quốc là vì trách nhiệm của Chu Vĩnh Khang quá lớn. Ông có trách nhiệm phải đảm bảo sự ổn định về cung cấp dầu hỏa cho nền kinh tế Trung Quốc bộc phát quá nhanh, hoàn toàn lệ thuộc vào dầu hỏa để hoạt động.

Từ những năm 1990 trở đi, người kỹ sư dầu hỏa tận tụy Chu Vĩnh Khang năm nào, nay với cương vị Tổng Giám Đốc CNPC lao hết mình ra các quốc gia khác để dò tìm, đầu tư khai thác. Báo cáo của giới BẢY CHỊ EM cho rằng ông đã viếng thăm các nước phi châu hẻo lánh đến gần 14 lần.

Chu Vĩnh Khang cũng là kỹ sư chánh, vừa là Tổng Giám Đốc công trình Greater Nile Oil Pipe Line ở Sudan, là công trình xây dựng ra nước ngoài đầu tiên của CNPC.

datauri-file (2)

Không thần thế vây cánh hay con ông cháu cha mà hoàn toàn nhờ tận tụy và yêu nghề khai thác thăm dò dầu hỏa, người kỹ sư dầu hỏa tận tụy Chu Vĩnh Khang đã được cử và trở thành Ủy Viên TW Đảng Công Sản Trung Quốc năm 1996 để có thể đảm nhiệm chức Bộ Trưởng Khai Thác Tài Nguyên hai năm sau đó -1998.

Những cải cách về hành chánh trong quản lý ngành dầu hỏa do Chu Vĩnh Khang xúc tiến đã làm kỹ nghệ ngành này của Trung Quốc phát triển mạnh mẽ và đủ sức giữ trách nhiệm cung cấp dầu hỏa cho nền kinh tế quốc dân.

Các công ty dầu khí Trung quốc theo kế hoạch của ông bung ra khắp mọi nơi để trên thế giới đầu tư thăm dò, khai thác để duy trì ổn định nguồn dầu nhập khẩu cho tăng trưởng kinh khiếp của nền kinh tế Trung Quốc.

Kế sách bung ra này của Chu Vĩnh Khang bắt đầu đụng chạm mạnh đến vị thế độc tôn hàng đầu của giới BẢY CHỊ EM, vốn âm thầm độc bá kiểm soát dầu hỏa thế giới bằng nhiều dạng, thông qua nhiều tổ chức khác nhau.

Từ đó, Chu Vĩnh Khang từ từ nhận ra được thế cuộc của thế giới về dầu hỏa và tìm cách đối phó. Đảng Cộng Sản Trung Quốc cũng thông qua ông, thấy được sự kềm kẹp của giới BẢY CHỊ EM lên tương lai chính trị và kinh tế của Trung Quốc nên bắt đầu giao hết toàn bộ sức mạnh nhân lực về ngành an ninh tình báo để ông tiện bề nắm bắt thông tin, những bước tiến, lùi toan tính của giới BẢY CHỊ EM.

datauri-file (3)
Chu Vĩnh Khang không có tham vọng trở thành Tổng Bí Thư, Thủ Tướng mà chỉ muốn nhìn thấy sức kiểm soát sở hữu dầu hỏa của Trung Quốc trên toàn thế giới được lớn mạnh nên chẳng có thế lực nào trong Đảng lo lắng Chu Vĩnh khang sử dụng an ninh mật vụ cho những mưu toan chính trị.

Cho nên, người người kỹ sư dầu hỏa tận tụy Chu Vĩnh Khang trở thành ông trùm an ninh trước sự đồng lòng của giới chóp bu đảng Cộng Sản Trung Quốc. Chu Vĩnh Khang cần an ninh tình báo để đưa ra đối sách đối đầu chiến lược đối với giới “BẢY CHỊ EM” được chính xác và hữu hiệu.

Về phần “BẢY CHỊ EM”, giới chiến lược gia của họ từ lâu đã để ý đến khả năng kinh khiếp của Chu Vĩnh Khang và không hề lơ là quan sát theo dõi ông. Trong cuộc đối đầu đầy sống gió và làm chao đảo kinh tế, chính trị khắp nơi trên thế giới, nếu họ Chu là Gia Cát Lượng thì giới BẢY CHỊ EM là Tư Mã Ý, lúc nào cũng có khả năng chuyển bại thành thắng trước Khổng Minh.

IV. Đối Sách của Chu Vĩnh Khang đối phó với BẢY CHỊ EM:

Kế hoạch đối phó BẢY CHỊ EM của Chu Vĩnh Khang có thế tóm lược như sau:

1. Gia tăng mức dự trữ dầu của quốc gia từ 100 triệu thùng lên đến 600 triệu thùng vào năm 2020.

2. Mua hết các công ty dầu hỏa nhỏ “để chặt bớt tay chặt chân” của giới “BẢY CHỊ EM” mà lại ít bị để ý. Các công ty dầu hỏa nhỏ này có doanh thu từ 4 tỷ đến 10 tỷ một năm.

3. Gia tăng đầu tư qua các nước Phi châu, Mỹ châu, Trung Á, trong bối cảnh giới “BẢY CHỊ EM” mãi lo bám trụ vùng Vịnh.

4. Gia tăng ảnh hưởng chính trị- kinh tế đến các nước Trung Quốc đang nhập dầu nhằm đảm bảo lượng dầu nhập được ổn định.

5. Sử dụng tình huống chính trị thế giới, nhất là tình huống khủng bố, để mặc cả với Hoa Kỳ trong việc nới lỏng hạn chế từ “BẢY CHỊ EM” để Trung Quốc có thể tiếp tục gia tăng số vốn đầu tư vào những nước sản xuất dầu mà “BẢY CHỊ EM” đang độc bá sở hũu; cũng như cho phép Trung Quốc đầu tư vào Hoa Kỳ để khống chế dần các công ty của giới “BẢY CHỊ EM.”

6. Gia tăng các hoạt động tình báo để biết thực trạng từng đại công ty của giới “BẢY CHỊ EM,” các chính quyền của các quốc gia có dầu để âm mưu đầu tư, sở hữu khống chế.

7. Gia tăng sức ép chính trị lên Việt Nam và biển Đông để phá rối nổ lực đầu tư của BẢY CHỊ EM vào Việt Nam, đồng thời, tạo khả năng cho Trung Quốc khống chế từng phần hay toàn phần nguồn dự trữ dầu hỏa dồi dào của Việt Nam

Mục tiêu của đối sách mà Chu Vĩnh Khang đưa ra là tiếp tục lấn sân giới BẢY CHỊ EM về sở hữu dầu hỏa ở mọi nơi, mọi lúc bất chấp sản lượng, trữ lượng là ít hay là nhiều. Vì vậy, kế hoạch này của Chu Vĩnh Khang còn có tên lóng là chiến lược “lấn sân” (Mergers and Acquisitions- M&A)

Chu Vĩnh Khang nhìn thấy giới “BẢY CHỊ EM” có một khuyết điểm là bởi do độc bá dầu hỏa bấy lâu nên đâm ỷ lại, thuờng xuyên bỏ lơi những dự án nhỏ, bỏ lơi những quốc gia có dự trữ dầu bị đánh giá là không đáng kể (dưới 50 ngàn thùng dầu một ngày.)

Cho nên Chinese NOC’s (Chinese National Oil Companies), lần hồi, theo lệnh của Chu Vĩnh Khang, tóm thu tất cả các dự án nhỏ, đầu tư nhỏ vào những quốc gia bị giới “BẢY CHỊ EM” chê là trữ lượng không nhiều. Đặc biệt, những công ty dầu hỏa nhỏ, con con trên thế giới cũng bị Chu Vĩnh Khang thâu tóm gần hết dễ dàng vì giới “BẢY CHỊ EM” không chú ý tới.

Chính sách góp gió thành bão trong đối sách “lấn sân” của Chu Vĩnh Khang, tuy là từng nơi đầu tư riêng biệt thì sản lượng dầu hỏa chẳng là bao, nhưng gôm lại thì tạo ra một trữ lượng đáng kể cho nhu cầu xăng dầu của Trung Quốc.

Khi các chiến lược gia của giới “BẢY CHỊ EM” nhìn lại thì giật mình, đó là lý do tại sao sau này, ngay cả công ty con con Uniocal 76 cũng bị giới BẢY CHỊ EM xiết lại không cho CNOOC mua.

Chu Vĩnh Khang lúc nào cũng kiên nhẫn, chịu khó siêng năng mót từng giọt dầu một đem về cho nền kinh tế Trung Quốc.

V. Kết quả đối sách “lấn sân” của Chu Vĩnh Khang:

Sự “lấn sân” của ngành dầu hỏa Trung Quốc lên “BẢY CHỊ EM” trên toàn thế giới, ở khắp mọi nơi, mỗi lúc mỗi tăng là một thành công vang dội của Chu Vĩnh Khang về mặt chiến lược.

Mức sở hữu dầu hỏa của Trung Quốc đối với các quốc gia xuất khẩu dầu ngày một tăng hoàn toàn nhờ vào đối sách quyết tâm bung ra thế giới đầu tư của Chu Vĩnh Khang từ những năm 2000.
datauri-file (4)

Có thể nói, đối sách này đảm bảo nền kinh tế Trung Quốc tăng tốc trong ổn định tuyệt đối về năng lượng dù vẫn phải chạy kiếm dầu “ăn đong” từng ngày vì nhu cầu dầu hỏa của xã hội Trung Quốc không hề suy giãm hay đứng lại.

Biểu đồ 1 đã cho thấy rõ, từ một quốc gia được coi là tay trắng, nay các công ty dầu hỏa của Trung Quốc đảm đang gần một phần tư tổng sản lượng dầu hỏa của các nước vùng Vịnh Trung Đông, nơi mà giới “BẢY CHỊ EM” độc bá từ sau khi đệ Nhị Thế Chiến tới nay về đầu tư cơ sở hạ tầng sản xuất. Điều này cho thấy, giới “BẢY CHỊ EM” đang bị Chinese NOC’ s lấn sân ngày một mạnh mẽ.

Riêng vùng Trung Mỹ- châu Mỹ La-tin, được coi là “sân nhà” của giới “BẢY CHỊ EM,” mà nay Chinese NOC’s đã lấn sân hết 11 % và sự lấn sân này không giãm hề suy giảm buộc giới “BẢY CHỊ EM” phải gấp rút ứng phó trong thời gian gần đây.
datauri-file (5)

Đặc biệt, giới “BẢY CHỊ EM” đã mất 9% sản lượng dầu hỏa vào tay Chinese NOC’s tại vùng Bắc Mỹ, là tổng hành dinh của giới “BẢY CHỊ EM” từ thế kỷ thứ 19 đến nay. Tuy số phần trăm rất ít nhưng cũng làm cho giới “BẢY CHỊ EM” vô cùng bực bội và mất danh dự rất lớn.

Sự kiện năm 2005 về vụ mua công ty xăng dầu Unocal 76 chỉ là một thí dụ điển hình về sự bức tức kinh khiếp bên trong của giới “BẢY CHỊ EM” đối với Chinese NOC’s, hiện đang “lấn sân” mạnh mẽ lên tổng hành dinh của mình .

Biểu đồ 2 cho thấy rõ, ngay cả tại Irag, một quốc gia còn đang hổn loạn và giới BẢY CHỊ EM lơ là không muốn tăng sức đầu tư, Trung Quốc vẫn lao vào đầu tư khai thác, sẳn sàng chịu đựng nhiều áp lực của các bên tham chiến. Hai mươi phần trăm sản lượng dầu hỏa của Irag là do các công ty dầu hỏa Trung Quốc sản xuất và mua lại.

Chiến thắng này của Chu Vĩnh Khang trong chiến lược “lấn sân” của mình làm các chiến lược gia của giới “BẢY CHỊ EM” tuy nóng mặt nhưng phải khâm phục sự nhẫn nại chịu khó của Chu Vĩnh Khang.

Có sự can thiệp về chính trị & quân sự của Hoa Kỳ, Irag phải là nơi mà giới “BẢY CHỊ EM” nắm tuyệt đối quyền khai thác. Bị hụt mất 20 % về tay các tập đoàn dầu hỏa Trung Quốc, giới “BẢY CHỊ EM” cảm nhận được sức ép “lấn sân” do chiến lược đối đầu của Chu Vĩnh Khang gây ra.

Giới “BẢY CHỊ EM” đã không còn lơ là về đối sách “lấn sân” của Chu Vĩnh Khang như trước nữa, nhất là sau khi ngay tại đại bản doanh của mình là Hoa Kỳ mà Trung Quốc cũng ráng tìm cách chen chân và nắm gần 5 % sản lượng dầu hỏa của Hoa Kỳ (biểu đồ 2). Thật là một sự mất mặt quá lớn đối với giới “BẢY CHỊ EM.” Con số 5% là do những hành động phản ứng mãnh liệt trả đòn từ giới “BÃY CHỊ EM” mà ra, chớ nếu không, ước tính Trung Quốc sẽ nắm 14% sản lượng dầu hỏa nội địa của Hoa Kỳ dễ như trở bàn tay. Tất cả các công ty dầu hỏa nho nhỏ kiểu Unocal 76 lần hồi sẽ nằm trong tay của Chu Vĩnh Khang hết nếu giới BẢY CHỊ EM không trả đòn.

datauri-file (6)

Bề mặt, dù các công ty của giới “BẢY CHỊ EM” vẫn mua bán trao đổi với Chinese NOC’s nhưng bên trong, lần hồi nhiều đối sách để triệt hạ Chu Vĩnh Khang cũng như phá vở chiến lược “lấn sân” của ông đã được tính đến & thi hành. Đã có hàng trăm các kế hoạch đầu tư dầu hỏa của Chu Vĩnh Khang bị giới BẢY CHỊ EM âm thầm phá hoại khiến bị phải hủy bỏ, mà trong đó vụ mua công ty Unocal 76 của CNOOC vào năm 2005 chỉ là một thí dụ điển hình mà thôi.

Cục diện căng thẳng ở biển Đông ngày nay cũng hoàn toàn do giới “BẢY CHỊ EM” quyết tâm trả đòn trước chiến lược “lấn sân” của Chu Vĩnh Khang đưa ra.

Biển Đông và trữ lượng dầu hỏa dồi dào tại Việt Nam đang hoàn toàn là trọng tâm phản đòn của giới “BẢY CHỊ EM.” Chắc chắn, giới “BẢY CHỊ EM” sẽ không thể để cho Trung Quốc lấn vào tiền đồn này vì đây là yếu điểm để giới “BẢY CHỊ EM” đánh gục đối sách “lấn sân” của Chu Vĩnh Khang

Riêng về bản thân của Chu Vinh Khang, chắc chắn, ông sẽ không bao giờ có một kết cuộc tốt đẹp trước những bực dọc cao điểm của giới “BẢY CHỊ EM” đối với ông.
Dù sao, giới “BẢY CHỊ EM” cũng là một thế lực mại bản đầy quyền uy trong suốt hai thế kỷ nay và không bao giờ biết tha thứ cho mọi cá nhân hay thế lực thách thức vị thế độc tôn của mình.

VI. KẾT

Ngày 3 tháng Tư năm 2015, tờ “People Daily” của Trung Quốc chính thức đưa tin ông Chu Vĩnh Khang, người kỹ sư dầu hỏa siêng năng cần mẫn lập nên nhiều kỳ tích, bị phạm tội tham nhũng, tiết lộ bí mật quốc gia và lạm quyền…

Song song với bản án này là hàng loạt các tin tức hỏa mù từ báo chí, các hãng truyền thông nào là ông giết vợ, nào là ông có 6000 cung nữ, nào là ông đảo chánh giết hụt Tập Cận Bình, nào là ông bao che cho Bạc Hy Lai, cựu Bí Thư Tỉnh Trùng Khánh ..etc, nhưng không có hãng thông tấn nào đề cập chi tiết đến những đóng góp và kỳ tích của người kỹ sư dầu hỏa Chu Vĩnh Khang, cần mẫn tận tụy chịu khó yêu nghề đi lên từ khốn khó.

Thanh danh của Chu Vĩnh Khang bị triệt hạ nhưng cơ ngơi và sức mạnh của nền kỹ nghệ dầu khí Trung Quốc mà ông gầy dựng vẫn còn đó; quyền hành và ảnh huởng của Chu Vĩnh Khang có thể đã mất đi nhưng tham vọng của Cộng Sản Trung Quốc muốn thoát khỏi bàn tay nanh vuốt của giới “BẢY CHỊ EM” còn đó; dầu vẫn còn tiếp tục phun lên và Trung Quốc vẫn khát dầu mỗi ngày, cho nên cuộc đối đầu chống lại giới BẢY CHỊ EM của Trung Quốc vẫn còn tiếp diễn…

Với tư cách là một phạm nhân, Chu Vĩnh Khang mất hết tất cả từ tài sản đến ảnh huởng chính trị. Điều này có thật sự đúng hay không, hay Tập Cận Bình, hiện là Chủ Tịch Trung Quốc, vẫn âm thầm lắng nghe và dùng Chu Vĩnh Khang trong bóng tối là một câu hỏi mà giới “BẢY CHỊ EM” không bao giờ lơ là khi tìm kiếm câu trả lời.

Và cho dù thật sự Chu Vĩnh Khang đã bị triệt hạ hoàn toàn và mất hết thanh danh lẫn tài sản, hoàn toàn ngã ngựa thua trận trước thế lực của “BẢY CHỊ EM” thì đối với những ai CHẬT VẬT đấu trí với Chu Vĩnh Khang suốt gần hai mươi năm nay, vẫn sẽ mãi mãi coi ông là một Khổng Minh của thời đại, một thời đại được mang tên thời đại DẦU HỎA.

© Đàn Chim Việt

 Tú-Hoa

http://www.danchimviet.info/archives/95607/so-luoc-cuoc-doi-dau-giiua-chu-vinh-khang-zhou-yongkang-va-bay-chi-em/2015/05

Posted in Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa, Dầu Hỏa và Khí đốt | Leave a Comment »

►Ảnh hưởng của “Bảy chị em” (Seven Sisters) tới VN

Posted by hoangtran204 on 08/05/2015

Ảnh hưởng của “Bảy chị em” (Seven Sisters) tới VN

I. “BẢY CHỊ EM”  (Seven Sisters) nghĩa là gì?

“BẢY CHỊ EM ” hay tiếng Anh còn gọi là “Seven Sisters ” là tiếng lóng để ám chỉ bảy công ty dầu hỏa lớn nhất thế giới , nắm khoảng 85%—95% trữ lượng dự trử dầu hỏa của thế giới. Khởi thủy ( lúc ban đầu) , “BẢY CHỊ EM” trong ngành dầu hỏa bao gồm các công ty sau đây:

•Exxon (xuất thân từ Standard Oil of New Jersey )
•Mobil (xuất thân từ Standard Oil of New York)
•Chevron (xuất thân từ Standard Oil of California)
•Texaco
•Gulf Oil
•Shell
•British Petroleum

Về sau này, Exxon xác nhập với Mobil vào năm 1998 để trở thành ExxonMobil , Chevron mua đứt Texaco vào năm 1984 và Britist Petroleum mua đứt Gulf Oil cho nên “BẢY CHỊ EM”  lần hồi không còn đúng nữa nhưng thành ngữ “BẢY CHỊ EM”  vẫn được sử dụng  để ám chỉ các công ty dầu hỏa hàng đầu của thế giới.

Hiện tại thì Chevron và Texaco,  hai thành viên quan trọng nhất của  giới “BẢY CHỊ EM” đang khai thác dầu hỏa tại Việt Nam. Riêng Chevron thì cho là đã có mặt tại Việt Nam ngay năm 1994 , tức là năm Hoa Kỳ chính thức bãi bỏ mọi cấm vận đối với  Việt Nam .  Xin được ghi chú là thêm hai công ty Chevron và Texaco đã vào Việt Nam còn đội lốt dưới cái tên khác là CALTEX. 

Năm 2017, khi TT Trump vừa sắp nhậm chức, Rex Tillerson đang được đề cử làm Ngoại Trưởng mỹ,  Exxon Mobil đã ký hợp đồng với VN để khai thác khí đốt trong vùng Trường Sa.

Như vậy “BẢY CHỊ EM ” thực sự có mặt tại Việt Nam từ lâu và những bí ẩn riêng tư bên trong của giới “BẢY CHỊ EM” ảnh huởng lên chính trị , lịch sử , và kinh tế  của Việt Nam là điều mà cần phải phân tích cặn kẽ tận tường khi bình luận hay khi đưa ra những đối sách chính trị ngoại giao cần thiết cho Việt Nam

II.  Ảnh hưởng của “BẢY CHỊ EM” lên nền chính trị Việt Nam hiện nay:

Cơ quan US Energy Information Administration gọi tắt là EIA của Hoa Kỳ loan  báo chính thức là trữ lượng dầu hỏa tại Biển Đông lên đến 11 tỷ thùng và 190 ngàn tỷ cubic ft khí đốt (một cubic foot tương đương với 0.28 mét khối )

EIA cũng đưa ra bản thống kê chính thức trữ lượng dầu hỏa và khí đốt của các nước trong vùng biển Đông  như sau:

Bảng thống kê 1 : Dự trữ dầu hỏa tại biển Đông
bang-1
Như vậy , trữ lượng dầu thô của Việt Nam ( 3 tỷ thùng ) không thôi đã chiếm gần 27.3 %  gần một phần ba trữ lượng của toàn vùng . Còn về lượng khí đốt thì Việt Nam đã đứng hang thứ ba trong vùng theo bảng tổng kết trình bày ở trên từ EIA.

Dữ liệu do chính EIA đưa ra cho thấy Việt Nam đã có thể cán đáng sản xuất gần 300 ngàn thùng dầu thô mỗi năm , tức là tương đương với khoảng 13.5 tỷ Mỹ kim mỗi năm nếu giá dầu thô chỉ là 45 Mỹ kim một thùng.

Biểu đồ 1: Mức tăng trưởng sản xuất dầu hỏa của Việt Nam

bang-2

Dựa vào biểu đồ 1 , nếu lấy  năm 1994 làm cột mốc vì là năm Hoa Kỳ chính thực bãi bỏ cấm vận, thì sản lượng dầu thô của Việt Nam đã tăng từ 150 ngàn thùng một năm lên đến hơn 300.000 thùng một năm, gấp đôi tổng sản lương trong 20 năm.

Rõ ràng , với trình độ kỹ thuật và khả năng khai thác của Việt Nam không thể tạo ra sự nhẩy vọt về tổng sản lượng nếu như không có “BẢY CHỊ EM” ta đứng đằng sau trợ sức mọi mặt từ vốn đến kỹ thuật

Quan trọng hơn hết , toàn bộ miền duyên hải phía nam của Việt Nam, trong đó có quần đảo Trường Sa (Sparatly Islands) thuộc chủ quyền của Việt Nam  nằm hoàn toàn trên tuyến đường chuyên chở dầu hỏa khắp cả vùng châu Á Thái Bình Dương, theo sự xác nhận của EIA với tổng số lên đến  11 triệu thùng một ngày vào năm 2011 được phân bố ra các quốc gia như bản đồ dưới đây:

Họa hình 1:  Khối lượng vận chuyển dầu hỏa ngang qua biển Đông
hinh-1

Như vậy , nguồn lợi thu được từ thuế hàng hải khi vận chuyển dầu hỏa qua hải phận đối với các quốc gia trong vùng và nhất là đối với Việt Nam, hiện đang kiểm soát 29 đảo của quần đảo Trường Sa vô cùng to lớn.

Do đó , nhằm đảm bảo quyền lợi lâu dài lên đến cả trăm năm, “BẢY CHỊ EM” cần phải có những ảnh huởng chính trị cần thiết lên chính trường Việt Nam cũng như  cần chính phủ Hoa Kỳ can thiệp mạnh mẽ để sự đi lại hàng hải, chuyên chở dầu hỏa trên con đường này không bị Hải quân Trung Quốc bắt nạt và buộc phải đóng thêm thuế hàng hải cho Trung Quốc

Trung Quốc đã nhiều lần kiếm cách phá rối, hăm dọa cũng như áp lực lên giới “BẢY CHỊ EM ” bằng nhiều kiểu cách khác nhau nếu tiếp tục bắt tay với Việt Nam khai thác dầu hỏa, khí đốt trong vùng .

Việc Trung Quốc đưa dàn khoan dầu khổng lồ 981 vào lãnh hải Việt Nam vào ngày 2-5-2014 với dàn hải quân hùng hậu hộ tống cũng chính là nhằm dằn mặt “BẢY CHỊ EM” ta đã phớt lờ Trung Quốc khi ký kết các hợp đồng khai thác tại vùng biển này và nhất là tại Cửu Long Basin , phía nam duyên hải Việt Nam mà Trung Quốc đã ngang ngược cương quyết đòi chủ quyền. Ngoài ra , Trung Quốc cũng muốn nhìn phản ứng của “BẢY CHỊ EM” ra sao trước tình huống này  (political benchmark testing).

“BẢY CHỊ EM” biết quá rõ về lâu về dài, khi Trung Quốc đã không chế được tình hình rồi thì Trung Quốc sẽ tự bỏ vốn khai thác , “BẢY CHỊ EM” vĩnh viễn không có phần và phải quy lụy Bắc Kinh tối đa để duy trì sự vận chuyển dầu hỏa lên Nhật Bản hoặc các nước khác trong vùng.

Điều đó càng cho thấy giới “BẢY CHỊ EM” ta không thể để các phần tử Đảng viên bảo thủ thân Trung Quốc ở trong Đảng Cộng Sản Việt Nam tiếp tục mạnh thế  khiến những toan tính cam kết đầu tư giữa Việt Nam và  giới “BẢY CHỊ EM” bị đe dọa, bất ổn.

Hơn nữa, để đảm bảo quyền lợi lâu dài, “BẢY CHỊ EM” sẽ tìm đủ cách tạo ra cho mình những ảnh huởng chính trị cần thiết trên chính trường Việt Nam nhằm bảo vệ quyền lợi của mình.

Cho nên, để “BẢY CHỊ EM” có thể yên tâm dò tìm , đầu tư và khai thác dầu hỏa và khí đốt tại thềm lục địa Việt Nam,  Cộng Sản Việt Nam cần phải có chính sách chính trị đối ngoại hợp tác với Hoa Kỳ sâu rộng về quốc phòng.

Nếu Đảng Cộng Sản Việt Nam tỏ ra do dự hay sẵn sàng ngả về Trung Quốc thì giới “BẢY CHỊ EM” sẽ không gia tăng đầu tư vào Việt Nam vì rủi ro ( risk) quá lớn trước sự hăm dọa của Trung Quốc.

Từ đó, mối bang giao Việt- Mỹ  chịu ảnh hưởng âm thầm nhưng mạnh mẽ của giới “BẢY CHỊ EM”.

Đơn giản, đầu tư của “BẢY CHỊ EM” sẽ sút giãm nghiêm trọng dẫn đến thiệt hại  nặng nề  về kinh tế cho Việt Nam nếu  Việt Nam không nằm trong đường lối hợp tác quốc phòng mà chính phủ Hoa Kỳ đề ra trong sách lược của mình tại Đông Nam Á.

Như vậy đường lối chính trị ngoại giao của Cộng Sản Việt Nam cũng đang lần hồi bị ảnh hưởng áp lực của  giới “BẢY CHỊ EM “.

Ngụy trang bằng lý do quốc phòng, Đảng Cộng Sản Việt Nam đã từ từ xích gần lại Hoa Kỳ để tìm một sự bảo vệ  nhằm lợi nhuận từ dầu hỏa được ổn định và gia tăng.

Nếu  mất đi gần hoặc hơn 10 % tổng giá trị sản phẩm quốc dân – GDP ( Gross Domestic Product )  từ nguồn lợi tức dầu hỏa và cả khí đốt , chưa kể các quyền lợi về công ăn việc làm , cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội do các hoạt động đầu tư của “BẢY CHỊ EM” đem lại thì kinh tế Việt Nam và ngân sách quốc gia của Việt Nam sẽ suy sụp nhanh chóng .

Điều này sẽ đặt Đảng Cộng Sản Việt Nam vào tình thế lâm nguy về an toàn chính trị trước suy thoái kinh tế. Khi nguồn lợi tài chánh từ dầu hỏa mất đi , Đảng Cộng Sản Việt Nam sẽ bị tê liệt về ngân sách , dẫn đến sụp đổ nhanh chóng về chính trị.

Ba đời thủ tướng Cộng Sản Việt Nam, từ Võ Văn Kiệt đến Nguyễn Tấn Dũng điều là người miền Nam và có liên quan trực tiếp đến sự an toàn, tự do khai thác dầu hỏa cho “BẢY CHỊ EM” ngoài khơi lãnh thổ miền Nam Việt Nam.

Bộ luật đầu tư khai thác dầu hỏa được thông qua để  BẢY CHỊ EM tư do đấu thầu, khai thác dầu hỏa  ban hành  vào năm 1993 khi Võ Văn Kiệt là thủ tướng.

Chevron đã vào Việt Nam năm 1994 dưới sự bảo vệ về chính trị của Kiệt để đổi lại những khoảng tài chánh cứu trợ cần thiết cho Việt Nam và Đảng cầm quyền cũng như sự hậu thuẫn của Chevron cho Việt Nam trong chính trường Mỹ.

Sau đây là một đoạn từ lá  thơ của Lisa Barry , General Manager Government Affairs ( Tổng Giám Đốc Tư Pháp ) của Chevron chính thức gởi đến Hạ Viện Hoa Kỳ ( House of Representative- H. R. ) , áp lực Hạ Viện tiếp tục duy trì  quy chế tự do mậu dịch “Permanent Normal Trade Relations “ gọi tắt là PNTR với Việt Nam. PNTR cho phép tự do mậu dịch giữa hai quốc gia Việt- Mỹ được hợp pháp – nguyên văn bằng tiếng Anh :

“ Chevron is a long term  investor in Viet Nam . We re-entered the Vietnamese market as soon as it was legally permissible  following the end of US trade embargo in 1994 and have increased our present since then as opportunities have been available . We are please to support and urge favorable consideration of the last step in the trade normalization process: extending Pernament Normal Trade  Relations (PNTR) to Viet Nam as authorized by H.R 5602  “

(Xin tạm dịch : Chevron là một công ty đầu tư lâu dài tại Việt Nam. Chúng tôi hiện diện tại Việt Nam ngay sau khi cấm vận được bãi bỏ vào năm 1994 và tiếp tục gia tăng sự hiện diện của mình khi có cơ hội đầu tư. Chúng tôi hết lòng vận động và ủng hộ bước tiến  cuối cùng của  quá trình bình thuờng hóa : tiếp tục duy trì  nghị quyết H.R 5602- Pernament Normal Trade  Relations (PNTR) , quy chế tự do mậu dịch với Việt Nam)

Đoạn trích trên từ lá thơ của công ty Chevron chính thức gởi đến Hạ Viện Hoa Kỳ là một bằng chứng đã cho thấy rõ ảnh huởng mạnh của giới “ BẢY CHỊ EM” lên mối quan bang giao Việt-Mỹ tác động đến nền chính trị và các quyết định chính trị sau này của Cộng Sản Hà Nội. Xin vào website để đọc hết toàn bộ nguyên văn bức thư bằng Anh ngữ .

Phan Văn Khải cũng là người miền Nam , tiếp nối Võ Văn Kiệt làm thủ tướng từ năm 1997 cho đến 2006 , trong thời gian này thì tổng sản lượng dầu hỏa của Việt Nam nhanh chóng nhãy vọt từ dưới 200 ngàn thùng dầu lên gần 400 ngàn thùng dầu mỗi ngày  do sự hiện diện mạnh mẽ của giới “BẢY CHỊ EM” dập dìu ngoài khơi Việt Nam  (biểu đồ 1 )

Trong giai đoạn  tăng vọt sản lượng dầu hỏa này, chỉ cần nhìn vào Chevron thì đã thấy cổ phần của Chevron tăng vọt tại các mỏ dầu ngoài khơi Việt Nam:

+ Block 122 – Phu Khanh Basin : Chevron sở hữu 20%,
+ Block B&48/95 – Malay/Tho Chu Basin : Chevron sở hữu lên đến 42.38%
+ Block 52/97- Malay/Tho Chu Basin Chevron sở hữu lên đến 43.40%

Ông Khải cũng được cho là nhờ sự vận động ráo riết của BẢY CHỊ EM để ông trở thành Thủ Tướng Cộng Sản đầu tiên viếng thăm Hoa Kỳ , ký kết hàng loạt các hợp đồng kinh tế , trong đó là chuyến đi thăm ngoạn mục đến nơi sản xuất của một người bạn lâu đời thủy chung của giới “BẢY CHỊ EM “, đó là hãng Boeing.

Nguyễn Tấn Dũng tiếp nối ông Khải làm Thủ Tướng Cộng Sản Việt Nam cũng là người miền Nam, mở rộng cửa cho hàng loạt các tay chân của BẢY CHỊ EM vào Việt Nam, trong đó có các hãng lọc dầu của Pháp, Nam Hàn, Nhật Bản.

Thời của ông Dũng, Trung Quốc gia tăng sách nhiễu BẢY CHỊ EM ngoài khơi Việt Nam khiến quan hệ hai nước Việt – Mỹ xích gần nhau hơn về quốc phòng dẫn đến hàng loạt các chuyến ngoại giao con thoi Mỹ- Việt .  “BẢY CHỊ EM”  đang hậu thuẫn mạnh cho chính giới Hoa Kỳ gia tăng hợp tác quốc phòng với Việt Nam. Sự hậu thuẫn này khiến bộ quốc phòng Mỹ lần lượt có những đối sách gia tăng tuần tra hợp tác tại biển Đông để bảo vệ quyền lợi đầu tư của “BẢY CHỊ EM”  ngoài khơi Việt Nam.

“BẢY CHỊ EM “ đã âm mưu núp bóng , dựng ra nhiều tập đoàn dầu hỏa cho nhiều quốc gia khác , rồi lôi kéo các tập đoàn này vào Việt Nam , chịu dựng sự xách nhiễu và hăm dọa từ Trung Quốc buộc lòng chính phủ các quốc gia này lên tiếng phản đối áp lực Trung Quốc , tạo ra một thế cuộc quốc tế hóa vấn đề dầu hỏa tại Biển Đông có lợi cho toàn cầu và đương nhiên , chỉ có hại cho tham vọng riêng tư của Trung Quốc.

Hệ quả của âm mưu này là Việt Nam có thêm hàng loạt các tập đoàn dầu hỏa từ Thái Lan , Nhật , Úc , Canada , Nam Hàn , Quatar , Kuwait , India ….vân vân mà hầu hết điều là con đẻ của “BẢY CHỊ EM ” ồ ạt vào Việt Nam dưới sự hậu thuẫn của chính phủ các quốc gia này.

Như vậy, Trung quốc nếu muốn xách nhiễu hay áp lực cũng mệt mỏi vì có quá nhiều quốc gia liên can , nhiều tập đoàn khác nhau để liên hệ phản đối.

Các nhà phân tích , chiến lược gia đang chờ xem Trung Quốc sẽ đối phó với âm mưu này của BẢY CHỊ EM như thế nào.

Nền chính trị của Việt Nam độc tài Cộng Sản hôm nay và Tự Do Dân Chủ mai sau  luôn luôn sẽ phải chịu  những tác động và ảnh huởng mạnh từ “BẢY CHỊ EM”  Đây là một thực tế cần phải chấp nhận khi bàn thảo những đối sách chính trị cho Việt Nam
 
III. Ảnh hưởng của “BẢY CHỊ EM” trong lịch sử  của Việt Nam:

Ảnh hưởng của “BẢY CHỊ EM” lên lịch sử của Việt Nam là điều mà các sử gia vẫn chưa chịu thừa nhận vì ảnh hưởng này không ồn ào lộ ra ngoài cho mọi người nhìn thấy dù ảnh huởng này rất là quan trọng

Trong quá khứ, Nhật Bản buộc lòng phải tấn công Hoa Kỳ tại Trân Châu Cảng (Pearl Harbor) vào ngày 7 tháng 12 năm 1941  vì Hoa Kỳ  cấm vận mọi chuyên chở dầu hỏa từ con đường dầu hỏa (đề cập ở phần II bên trên)  lên Nhật Bản khiến Nhật Bản sẽ suy xụp tê liệt hoàn toàn về kinh tế  nếu không có  hành động để tìm một giải pháp.

Hoa Kỳ hành động cấm vận dầu hỏa quyết liệt như vậy đối với Nhật Bản là để trả đũa hành động Nhật Bản tấn công cảng Hải Phòng, lúc bấy giờ còn thuộc Đông Dương- L’indochine do Pháp kiễm soát vào ngày 26 tháng 9 năm 1940

Nhật Bản tấn công cảng Hải Phòng nhằm cắt đứt đường mua bán , trao đổi tiếp viện xăng dầu đạn dượt cho chính phủ của Tưởng Giới Thạch  từ Hoa Kỳ thông qua cảng Hải Phòng và đường rày nối liền Hài Phòng- Hà Nội- Lào Cai- Côn Minh và Vân Nam (Sino- Vietnamese railway)

Như vậy, cuộc đối đầu trực diện nảy lửa giữa Hoa Kỳ  với Nhật Bản  về ngoại giao  từ năm 1940 dẫn đến đối đầu quân sự trực diện ngay năm sau đó bằng trận tấn công Trân Châu Cảng kinh hoàng bởi Nhật Bản vào ngày 7 tháng 12 năm 1941  tạo ra đệ Nhị Thế Chiến tại Châu Á khởi nguồn từ sự xâm lược của Nhật Bản vào cảng Hải Phòng vào ngày 26 tháng 9 năm 1940

Trong khi đó, Trung Quốc đã bị Nhật Bản xâm lược trắng trợn từ năm 1935 nhưng Hoa Kỳ vẫn chỉ phản đối cho có lệ mà thôi, không hề có những hành động cấm vận cương quyết toàn diện đối với Nhật Bản như sau trận tấn công Hải Phòng của Nhật.
Đây là một sự kiện lịch sử vô cùng quan trọng mà các chiến lược gia của Hoa Kỳ cố gắng đánh lờ đi.

Việt Nam lao vào lốc xóay của Đệ Nhị Thế Chiến bởi những tranh chấp dầu hỏa giữa các siêu cường trong vùng.

Quyết định của chính phủ Hoa Kỳ cấm vận Nhật Bản dẫn đến chiến tranh đương nhiên là có sự hậu thuẫn của “BẢY CHỊ EM”  vì các đại công ty dầu hỏa lúc bấy giờ không muốn bị Nhật Bản khống chế khi chuyên chở dầu hỏa trong vùng  cũng như cắt đứt một khách hàng tiêu thụ xăng dầu khổng lồ của “BẢY CHỊ EM” là Trung Hoa Quốc Dân.

Khi Đệ II thế chiến chấm dứt  năm 1945 , trợ tá đắc lực của tướng Douglas MacArthur, Thống Đốc Toàn Quyền Nhật Bản là phó thống đốc toàn quyền Laurence Rockefeller, cháu ruột của ông tổ ngành dầu hỏa Hoa Kỳ , John D.  Rockefeller, tìm đủ cách tăng viện cho Hồ Chí MInh ,  mượn tên này gây rối Đông Dương để Hoa Kỳ CÓ CƠ HỘI CAN THIỆP CHÍNH TRỊ VÀO ĐÔNG DƯƠNG mai sau, nhằm có điều kiện kiểm soát dò tìm trữ lượng dầu hỏa và khí đốt tại miền nam duyên hải Việt Nam và lập ra kế hoạch khai thác   lâu dài trên biển Đông  sau này.

Chín năm sau đó , tức là năm 1954-1955 , cũng Laurence Rockefeller , lúc bây giờ là trợ tá đắc lực cho tổng thống Eisenhower, đã cố vấn cho chính phủ Hoa Kỳ,  vận động hậu trường chính trị  ở Washington DC ủng hộ Diệm truất phế Quốc Trưởng  Bảo Đại nhằm chấm dứt vĩnh viễn ảnh huởng của người Pháp lên Đông Dương , mở rộng cửa cho Hoa Kỳ can dự vào chính trị tại Việt Nam , mở ra cơ hội cho Hoa Kỳ chuẩn bị thăm dò khẳng định trử lượng dầu hỏa của Việt Nam, ngoài khơi Cửu Long Basin và quần đảo Trường Sa.

Vào thập niên 1950 , kỹ thuật thăm dò dầu hỏa ngoài khơi của Hoa Kỳ  đã rất tiến bộ và chính xác , chỉ cần cho nổ bom hoặc mìn dười lòng biển sâu , rồi đo sự dội lại của âm thanh sẽ biết được chính xác vị trí của salt dome , tức là những bọng muối chứa dầu bên dưới.

Từ năm 1964 trở đi, “BẢY CHỊ EM” ta , nhờ các kế họach quân sự của Hoa Kỳ khi tham chiến tại Việt Nam làm bình phong che đậy, đã có thể âm thầm thực hiện kế hoạch thăm dò mười năm của mình trên toàn bộ vùng biển Đông , biết rõ chính xác và chi tiết  trữ lượng cũng như vị trí sự phân bố dầu hỏa trên vùng biển Đông này.

(Nếu không có sự thăm dò này , EIA của Hoa Kỳ làm sao có dữ liệu , data mà thông báo?)

Hiện tại, chưa có một sử gia nào bỏ công nghiên cứu ảnh huởng sâu rộng của “BẢY CHỊ EM ” lên lịch sử của Việt Nam.

Đơn giản là vì, giới “BẢY CHỊ EM ” ta không bao giờ lộ diện mà đứng đàng sau các nhân vật chính trị , hoặc vây cánh với các nhân vật chính trị  của Hoa Kỳ để ảnh huởng đến các quyết định chính trị sao cho có lợi cho mình và phù hợp với tình thế chính trị toàn cầu

Hoa Kỳ ảnh huởng sâu rộng đến lịch sử của Việt Nam từ năm 1945 đến nay từ việc đưa Hồ Chí Minh về đảo chánh chính phủ Trần Trọng Kim gây rối Đông Dương, cắt viện trợ chiến tranh cho nước Pháp tại Đông Dương khiến Pháp khốn đốn mà bỏ Đông Dương,  rồi đến tham chiến suốt 18 năm , sau lại  cấm vận Việt Nam 18 năm và giờ quay trở lại bảo vệ Việt Nam toàn diện từ kinh tế , quốc phòng đến môi trường thì rõ ràng , sự ảnh huởng của “BẢY CHỊ EM”, một thế lực mại bản hàng đầu của nước Mỹ,   lên các quyết định của chính phủ Hoa Kỳ đối với Việt Nam , là điều tất nhiên xảy ra.

Chối bỏ vai trò & ảnh hưởng của “BẢY CHỊ EM” lên lịch sử của Việt Nam sẽ khiến cho mọi sự nghiên cứu sử học cận và hiện đại của Việt Nam bị khiếm khuyết và lệch lạc đi

IV. Ảnh hưởng của “BẢY CHỊ EM” lên kinh tế Việt Nam

Sự hiện diện đầy đủ của  “BẢY CHỊ EM”  ta tại Việt Nam về lâu về dài đương nhiên tạo ra sức mạnh tăng trưởng kinh tế cho Việt Nam.

Căn cứ  vào dữ kiện  của World Bank , thì thu nhập về dầu hỏa của Việt Nam đang từ con số không vào năm 1986 đã lên đến gần 7 % tổng giá trị sản lượng quốc dân GDP vào năm 2012.

Biểu đồ 2:Thu nhập từ dầu hỏa của Việt Nam (%GDP)
bieu-2

Ghi chú: Gạch đỏ ở trên là chỉ dấu mốc năm Hoa Kỳ bải bỏ cấm vận đối với Việt Nam

Trong điều kiện kinh tế lạm phát và tăng trưởng ở mọi quốc gia trên toàn cầu , nhu cầu về năng lượng chỉ gia tăng chứ không có giảm và dù nhiều kỹ thuật tân tiến được áp dung để tránh lệ thuộc vào dầu hỏa, thì dầu hỏa vẫn là nguồn năng lượng chủ yếu của mọi nền kinh tế. Do đó , về lâu về dài,  giá dầu chỉ có xu huớng gia tăng chứ không có giảm.

Biểu đồ lên xuống giá cả của dầu hỏa trong suốt 40 năm tính từ năm 1973 đã cho thấy giá dầu đã tăng từ 16 Mỹ kim một thùng vào năm 1973 lên đến gần 50 Mỹ kim một thùng vào năm 2013.  Còn nếu lấy cột mốc là năm 1994 tức là năm khi Hoa Kỳ bãi bỏ cấm vận cho Việt Nam thì giá dầu đã tăng gần 20 Mỹ kim một thùng khiến lợi nhận dầu hỏa của Việt Nam chiếm từ 3% tổng giá trị sản lương quốc dân GDP vào năm 1994 lên gấp đôi trên 6% vào năm 2013

Biểu đồ 3 : Biến chuyển giá dầu 1973-2015 ( US dollars / barrel )
bieu-3

Ghi chú : Gạch đỏ ở trên là chỉ dấu mốc năm Hoa Kỳ bải bỏ cấm vận đối với Việt Nam

Tuy nhiên , nếu chỉ nhìn về trị giá dầu hỏa mà coi đây là nguồn lợi duy nhất mà “BẢY CHỊ EM” có thể đem lại cho nền kinh tế Việt Nam là hoàn toàn sai lầm.

Sự hiện diện của “BẢY CHỊ EM ” là cơ hội rất tốt để Việt Nam canh tân cơ sở hạ tầng kinh tế từ kho bãi , cảng , kỹ thuật  , nhà máy lọc dầu , các nhà máy sản xuất các hóa chất trọng yếu cho kinh tế quốc gia, kiến thức quản lý. Đó là chưa kể “BẢY CHỊ EM” là nguốn tài trợ vô cùng lớn cho Việt Nam gia tăng khả năng sản xuất điện với kỹ thuật tân tiến, một nhu cầu vô cùng quan trọng cho một xã hội đang phát triển.

Chỉ tính riêng công ty ExxonMobil mà thôi, một khối lượng vốn lên đến 20 tỷ Mỹ kim đã được công ty này loan báo đầu tư vào Việt Nam vào ngày 19 tháng Ba năm 2014 tại Hà Nội không phải để mua dầu mà là để xây nhà máy nhiệt điện sử dung khí đốt khái thác tại biển Đông. Chỉ với 20 tỷ Mỹ kim mà ExonMobil đã là công ty đứng hàng thứ bảy về số vốn đầu tư tại Việt Nam thì rõ ràng , nếu tính sự hiện diện đầy đủ của “BẢY CHỊ EM “,tức là sự hiện diện của mọi tập đoàn dầu hỏa được  chính phủ Hoa Kỳ  hậu thuẫn thì con số vốn đầu tư cho cơ sở hạ tầng cho Việt Nam từ các công ty này sẽ vượt qua xa tất cả các công ty không thuộc giới ….”BẢY CHỊ EM “!

Ước đoán số vốn đầu tư của “BẢY CHỊ EM ” tại Việt Nam  như sau:

1. Chevron: 7 tỷ Mỹ kim cho hai nhà máy điện chạy bằng khí đốt khai thác từ BLOCK B từ Cửu Long Basin , trong đó có tính luôn cả chi phí các ông dẫn khí từ khơi vào đất liền có chiều dài lên đến 400 km. Chevron cũng được cho là sở hữu 42 % số dầu khai thác từ Cửu Long Basin theo các hợp đồng đã ký với Cộng Sản Hà Nội.

2. ExxonMobil : 20 tỷ Mỹ kim cho hai nhà máy nhiệt điện lớn từ khí đốt tại tỉnh Quãng Ngãi. Hợp đồng này khiến Việt Nam có cơ sở hạ tầng tân tiến , cải thiện sức mạnh kinh tế quốc dân.

3. British Petroleum(BP) ” được cho là bỏ ra 2 tỷ Mỹ kim để thăm dò Block 05-2 tai Nam Côn Sơn , có tin đồn là bỏ của tháo chạy vì bị Trung Quốc đe dọa và lấy cớ là cần tiền để bồi thuờng vụ rò rỉ ( leak) dầu tại  Gulf of Mexico  nên bán mọi asset  tại Việt Nam nhưng nay rõ ràng BP có cổ phần gần như mọi dự án lớn nhỏ về năng lượng của Việt Nam.  Hệ thống ống dẫn khí đốt đang hoạt động tại Việt Nam hầu hết là do BP thi công , trừ hệ thống ống dẫn của Chevron .

4. Shell : Được cho là bỏ ra gần 300 triệu để đầu tư sản xuất dầu cơ khí , hay còn gọi là dầu máy hoặc là nhớt máy. Tuy con số tiền đầu tư có vẻ ít nhưng Việt Nam chưa hề tự lực nổi về sản xuất dầu nhớt cơ khí và cần Shell hiện diện để canh tân kỹ thuật và cung ứng cho nhu cầu quan trọng này của xã hội

5. ConocoPhilipe : công ty dầu hỏa mới thành lập của Hoa Kỳ , được cho là lớn đứng hàng thứ ba trên thế giới trong giới “BẢY CHỊ EM ” ngày nay , nắm 23.25% cổ phần block 15-1 , 36%  cổ phần block 15-2; và 16.3 % hệ thống Nam Côn Sơn ống dẫn dầu và khí đốt ( Nam Con Son pipeline) .

ConocoPhilipecũng loan báo bán tháo bỏ chạy ra khỏi Việt Nam vì Trung Quốc đe dọa năm 2012 , nhưng nay cũng quay trở lại khi biết chính sách “nhìn về châu Á “ của Obama được thi hành. Tổng trị giá tài sản mà  ConocoPhillipe có ở Việt Nam có thể lên đến 5 tỷ Mỹ kim là ít nhất

6. Korea National Oil Corporation (KNOC) : dù mang tiếng là của Nam Hàn nhưng thực chất Chevron đứng đàng  sau, theo chân Hoa Kỳ vào Việt Nam , nhận điều hành Block 11-2, tin rằng số vốn cơ sở hạ tầng tại Việt Nam lên đến khoảng 2 tỷ Mỹ kim

7. Nippon Oil Exploration Limited and Teikoku Oil : xuất thân tự Nhật có  35% cổ phần cho block 05-1 b và 05-1c. Số vốn hạ tầng tại Việt Nam khoảng 4 tỷ Mỹ kim

Thu nhập ngoại tệ từ dầu hỏa , canh tân cơ sở hạ tầng năng lượng cho nền kinh tế quốc dân như hệ thống  ống dẫn dầu hay khí đốt , hệ thống nhà máy nhiệt điện , hệ thống nhà máy chưng cất dầu ( oil refinery ), nhà máy sản xuất ống dẫn dầu và các thiết bị liên quan , dàn khoan dầu , tàu chở dầu , phi trường  , công ăn việc làm  , kỹ thuật , vân vân là những quyền lợi kinh tế rất lớn  mà giới “BẢY CHỊ EM “sẽ mang đến cho Việt Nam về lâu về dài, chưa kể hậu thuẫn về an ninh quốc phòng cho Việt Nam trước tham vọng bành trướng của Trung Quốc.

V. Kết Luận:

“BẢY CHỊ EM ” hay còn gọi là Seven Sisters là tiếng lóng để chỉ các tập đoàn dầu hỏa hàng đầu thế giới, hầu hết là được chính phủ Hoa hậu thuẫn đằng sau.

Các công ty dầu hỏa này đang ngày càng có một ảnh hưởng chính trị sâu rộng trong thuợng tầng , lãnh đạo của Đảng Cộng Sản Việt Nam và sẽ còn tiếp tục ảnh huởng đến nền chính trị của quốc gia chúng ta trong tương lai sau khi cộng sản xụp đổ

Việt Nam bị lôi cuốn vào đệ nhị thế chiến cũng vì những căng thẳng về dầu hỏa xãy ra giữa Nhật Bản và Hoa Kỳ do sự cấm vận từ Hoa Kỳ sao khi Nhật Bản tấn công  cảng Hải Phòng của Việt Nam thời Đông Dương thuộc Pháp . Hai cuộc chiến tại  Việt Nam sau 1945 điều có sự can dự âm thầm của giới “BẢY CHỊ EM ” và là cơ hội tốt để giới BẢY CHỊ EM tiến hành thăm dò trử lượng dầu hỏa và khí đốt tại biển Đông . Cho nên, lịch sử của Việt Nam thật sự đã bị ảnh hưởng bởi giới ” BẢY CHỊ EM” mà các sử gia cần thừa nhận và đào sâu thêm

Ảnh hưởng về kinh tế đối với Việt Nam từ giới “BẢY CHỊ EM ” rất lớn . Sự hiện diện của  “BẢY CHỊ EM” tại Việt Nam sẽ thúc đẩy Việt Nam canh tân cơ sở hạ tầng và đem đến một tương lai thịnh vượng hơn cho đất nước về đường dài.

© Đàn Chim Việt

2014, Viet Nam  khai thác 400.000 thùng dâù thô / 1 ngày

Posted in Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa, Dầu Hỏa và Khí đốt, Năng Lượng và Mỏ, Quan Hệ Mỹ và Trung Quốc- ở Châu Á | Leave a Comment »

►Giàn khoan mới vào Biển Đông nguy hiểm hơn giàn khoan Hải Dương 981

Posted by hoangtran204 on 07/05/2015

 giàn khoan mới vào Biển Đông nguy hiểm hơn Hải Dương 981

Ngày 30/4, Trung Quốc tuyên bố giàn khoan COSLProspector chính thức rời thành phố Yên Đài lên đường tới Biển Đông.
Đây là giàn khoan thứ tư mà Tập đoàn đóng tàu CIMC Raffles chuyển giao cho Công ty Dịch vụ Dầu mỏ Trung Quốc (COSL-China Oilfield Services Ltd.) và là giàn khoan bán ngầm nước sâu thứ hai Bắc Kinh điều tới Biển Đông sau giàn khoan Hải Dương 981.

Hiện đại hơn giàn khoan Hải Dương 981

Công ty Dịch vụ Dầu mỏ Trung Quốc (COSL) đã nhận giàn khoan bán nổi COSLProspector (Hưng Vượng) này vào ngày 19/11/2014.

Giàn khoan COSLProspector

Giàn khoan COSLProspector được trang bị các công nghệ tiên tiến – trong đó có hệ thống định vị động (DP3), biến tần thông minh và rã đông tự động, với hệ thống khoan tiên tiến nhất thế giới.

Hệ thống định vị động DP3 được lắp đặt trên giàn khoan COSLProspector đáp ứng những tiêu chuẩn nghiêm ngặt nhất của Na Uy và Trung Quốc.
So với các giàn khoan nửa nổi nửa chìm khác đã được bàn giao trước đó như COSLPioneer, COSLPromoter, COSLInnovator, giàn khoan COSLProspector có thể hoạt động trong môi trường băng giá. Nó có thể hoạt động hầu như khắp mọi nơi thế giới, trừ những khu vực có nhiệt độ dưới -20 độ C.

Giàn khoan COSLProspector đã trải qua tất cả các xét nghiệm và điều chỉnh cần thiết. Giàn khoan này được thiết kế để hoạt động khoan nước sâu ở Biển Đông trong nửa đầu năm 2015.

Giàn khoan COSLProspector hiện đại hơn Hải Dương 981 vì nó được trang bị hệ thống khoan tiên tiến nhất thế giới với hệ thống định vị động có thể bảo đảm cho giàn khoan này hoạt động bình thường trong bão cấp 12 ở Biển Đông.

COSLProspector là giàn khoan bán nổi thứ 7 do CIMC Raffles chế tạo. Hãng CIMC Raffles hiện đang đóng tiếp bốn giàn khoan bán nổi nữa và tất cả đều đáp ứng những tiêu chuẩn nghiêm ngặt nhất trên thế giới.

Giàn khoan này hoạt động ở độ sâu tối đa 1.500 m, độ sâu tối đa của giếng khoan là 7.600 m, nhân viên trên giàn khoan theo quy định là 130 người, tải trọng sàn tàu 5.000 tấn

Về hãng đóng tàu CIMC Raffles Yên Đài

CIMC Raffles Yên Đài là một hãng đóng tàu ở tỉnh Sơn Đông, Trung Quốc đại lục. Hãng đóng tàu này hiện do CIMC Raffles Offshore Ltd điều hành.

Hãng đóng tàu Raffles Yên Đài do công dân Singapore Brian Chang sáng lập, nhưng bị Trung Quốc thâu tóm năm 1993.

Năm 1994, công dân Singapore Brian Chang đã thành lập Hãng đóng tàu Raffles Yên Đài nằm gần Nhật Bản và Hàn Quốc, một khu vực chiếm tới 80% công suất đóng tàu của toàn thế giới. Đây là hãng đóng tàu duy nhất ở Trung Quốc do người nước ngoài chiếm đa số cổ phần.

Tháng 3/2013, CIMC đã mua hết số cổ phần còn lại của CIMC Raffles Yên Đài và biến nó thành công ty con của CIMC Offshore Holdings Co. Ltd.

Giàn khoan này từ khi ký hợp đồng đóng đến khi bàn giao chỉ mất có 35 tháng. Công ty CIMC Raffles có 9 giàn khoan nước sâu nửa chìm đã được đưa đến các vùng biển trên thế giới như Bắc Hải, Brazil, vịnh Mexico, Tây Phi để hoạt động.

Phó Tổng giám đốc CIMC Raffles là Vu Á cho rằng, giàn khoan COSLProspector gia nhập “tàu chủ lực” nước sâu cho thấy Yên Đài hoàn toàn có khả năng cung cấp giàn khoan nước sâu với số lượng lớn cho ngành dầu khí Trung Quốc.

Thông số kỹ thuật:

Dài: 104,5m; Rộng: 70,5m; Cao: 37,5m. Hoạt động ở vùng biển sâu đến 1.500m. Khoan sâu tối đa: 7.600m. Hoạt động ở nhiệt độ thấp nhất: -20 độ C. Tải trọng sàn tối đa: 5000 tấn. Số nhân viên là việc trên giàn khoan: 130 người.

Đỗ Phong (Đất Việt)

Posted in Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa, Chiến lược xâm nhập của Trung Quốc vào Viet Nam, Dầu Hỏa và Khí đốt, Năng Lượng và Mỏ | Leave a Comment »