Trần Hoàng Blog

Archive for the ‘Van Hoc’ Category

►Nữ sĩ Minh Đức Hoài Trinh của “Kiếp Nào Có Yêu Nhau” qua đời

Posted by hoangtran204 trên 11/06/2017

Đọc tiếp »

Posted in Nhan Vat, Van Hoc | Leave a Comment »

►Vũ Thư Hiên: Kỷ niệm 4 năm ngày mất tác giả Hoa Địa Ngục Nguyễn Chí Thiện – Tả trắng thắng cờ hồng

Posted by hoangtran204 trên 03/10/2016

 

FB Vũ Thư Hiên

30-9-2016

"Ngục sĩ" Nguyễn Chí Thiện. Nguồn: internet

“Ngục sĩ” Nguyễn Chí Thiện. Nguồn: internet

 

Để kỷ niệm bốn năm ngày mất của người bạn tù lận đận long đong – 2 tháng 10 năm 2012 Đọc tiếp »

Posted in Bắt bớ-Tù Đày-Đánh đập-Đàn Áp, Nhan Vat, Van Hoc | Leave a Comment »

►Đến với Võ Phiến, và những lần gặp sau cùng

Posted by hoangtran204 trên 09/10/2015

Đến với Võ Phiến

Blog VOA

Nguyễn Hưng Quốc

8-10-2015

Nhà văn Võ Phiến và NguyNhà văn Võ Phiến và Nguyễn Hưng Quốc.

Mãi đến năm 30 tuổi, tôi mới đọc Võ Phiến, lần đầu.

Cho đến bây giờ, tôi vẫn không hiểu lý do tại sao có cái sự muộn màng như thế. Tôi mê sách từ nhỏ. Ngay trong những năm đầu của trung học, tôi đã ngốn ngấu hầu như toàn bộ sách của Tự Lực Văn Đoàn cũng như của những tác giả thường được gọi là ‘tiền chiến’, từ Nguyễn Tuân đến Nam Cao, Tô Hoài, Vũ Trọng Phụng, Bùi Hiển, Trần Tiêu, từ Xuân Diệu, Thế Lữ, Hàn Mặc Tử, Vũ Hoàng Chương đến Nguyễn Bính, Huy Cận, Hồ Dzếnh, v.v… Sau khi ‘nuốt’ hết các tác phẩm được coi là kinh điển đối với học sinh trung học, tôi ‘tấn công’ dần sang các tác giả nổi tiếng của miền Nam thuở ấy. Tôi đọc nếu không hết thì cũng gần hết tác phẩm của Mai Thảo, Chu Tử, Tuý Hồng, Nhã Ca, Thuỵ Vũ, Duyên Anh, Dương Nghiễm Mậu, Nguyễn Thị Hoàng, Nguyễn Đình Toàn, Nguyễn Mạnh Côn, v.v… Nhiều vô kể. Chỉ riêng Võ Phiến, tôi chưa đọc quyển nào.

Không phải lúc ấy tôi không biết ông. Có. Trên các tạp chí xuất bản tại Sài Gòn thời bấy giờ, tôi gặp tên ông hoài. Rồi trong các tập Giảng văn dùng ở trung học, tôi vẫn thường đọc nhiều đoạn văn trích từ tác phẩm của ông để làm mẫu cho học trò về nghệ thuật tả cảnh, tả vật, tả người. Nhiều đoạn, các thầy cô giáo bắt phải học thuộc lòng và tôi nhớ, tôi cũng rất vui vẻ học thuộc lòng những đoạn văn ấy. Vì thích. Vì phục. Có đoạn, đặc biệt là đoạn ông tả tật tham ăn của Bình trong truyện “Dung”, nhiều năm sau tôi vẫn còn có thể đọc lại từng chữ:

“Vừa đối diện với mâm cơm, bằng một cái liếc rất nhanh, hắn đã định ngay được giá trị từng món ăn, chọn ngay được món ăn ngon nhất. Và từ đầu đến cuối bữa ăn hắn tấn công vào trọng tâm một cách kiên nhẫn, tàn bạo, nhưng khôn ngoan lạ kỳ… Hắn tính toán chu đáo, gắp khắp các dĩa, nhưng tổng kết lại thì thế nào hắn cũng gắp được món ngon nhiều hơn cả. Và hắn theo dõi ngọn đũa của tất cả các thực khách, không dung thứ cho một người nào hơn mình. Hắn cạnh tranh kín đáo nhưng ráo riết… Bình thường thì ngọn đũa trí trá của hắn thu lại đầy ý thức chuẩn bị, rồi đột nhiên vụt phóng ra nhanh nhẹn lạnh lùng như một con cò già lão luyện phóng mỏ bắt ruồi, trăm lần không sai đích một lần…”

Thích và phục như thế, vậy mà, không hiểu tại sao, tôi lại không bao giờ nghĩ đến chuyện tìm sách của ông để đọc. Hình như, tự thâm tâm, tôi thấy, qua các đoạn văn trích ấy, hay thì thật là hay, nhưng có cái gì cổ kính và xa xôi, như văn chương của cái thuở Tự Lực Văn Đoàn mà tôi đã đọc rồi và đã chán rồi. Hình như, lúc ấy tôi đã ngầm xếp ông vào loại những tác giả ‘cổ điển’, nghĩa là những người mình sẵn sàng nhắc đến như những tên tuổi tiêu biểu và đầy thẩm quyền trong lãnh vực văn học để chứng tỏ trình độ học thức uyên bác của mình, nhưng trên thực tế thì mình lại không bao giờ cần đọc tác phẩm của họ cả. Như kiểu người ta vẫn thường nhắc đến Nguyễn Du, đến Victor Hugo, đến Leo Tolstoy, đến Shakespeare vậy mà…

Sau năm 1975, lên đại học, tôi ngạc nhiên thấy nhiều thầy giáo của mình từ miền Bắc vào – phần lớn đều là những người viết lách ít nhiều – khen Võ Phiến nức nở hoặc chửi bới Võ Phiến thậm tệ. Trong cả lời khen lẫn tiếng chê, tôi đều thấy thấp thoáng có chút gì như thán phục. Vì thán phục nên mới nghĩ là ông nguy hiểm, mới phong cho ông cái ‘chức’ là ‘tên biệt kích văn nghệ hàng đầu’. Một lần, tôi nghe chính Chế Lan Viên khen ngợi tuỳ bút của Võ Phiến sau khi kể chuyện Võ Phiến, từ Mỹ, viết thư về cho người thân ở Việt Nam, đã dẫn hai câu Kiều: “Thôi thôi còn nói chi con / Sống nhờ đất khách, thác chôn quê người.” Với tôi lúc ấy, mới ngoài 20 tuổi, đang rất mê Chế Lan Viên, hiểu ngay là lời khen ngợi ấy hẳn là có giá trị đáng kể. Tôi ghi nhận lời khen ngợi ấy như ghi nhận một thứ tư liệu quý. Về Chế Lan Viên. Và về Võ Phiến nữa. Vậy mà, không hiểu tại sao, tôi lại vẫn không hề tò mò tìm sách của ông để đọc dù điều đó, ngay sau 75, cũng khá dễ dàng: nghiền sách, tôi có thói quen thường xuyên la cà ở các bãi sách cũ dọc hè phố Sài Gòn và không phải không từng thấy sách ông bày bán ở đó với giá rẻ mạt.

Mãi đến năm 1986, khi đã vượt biển và định cư tại Pháp, một hôm, bước vào một tiệm sách Việt ngữ tại Paris, giữa mớ sách lèo tèo, tầm thường, không gợi lên được chút xíu hứng thú nào trong tôi, mắt tôi dừng lại cuốn Tuỳ bút 1 của Võ Phiến vừa được nhà Văn Nghệ xuất bản tại California: chắc chắn đó là cuốn sách khá nhất trong cái bầy sách thưa thớt buồn xo ấy. Bèn mua. Một cách khá uể oải. Như là một sự chọn lựa miễn cưỡng. Vì không có cái gì khác nữa.

Về, định đọc nhẩn nha. Nhưng ngay ở mấy trang đầu, tôi đã bị cuốn hút. Đọc một lèo từ đầu đến cuối. Vừa thích vừa sững sờ thán phục. Suốt cả mấy tuần lễ liên tiếp, tôi cứ đọc đi đọc lại, vầy vò hoài một cuốn sách ấy. Có khi đọc vài bài, có khi đọc một bài và cũng có khi chỉ đọc nhảy lóc cóc từng đoạn, từng đoạn. Để nghe hơi văn. Để thích thú với một vài nhận xét thông minh và dí dỏm của tác giả. Từ đó, tôi trở thành một độc giả chăm chỉ và chăm chú của Võ Phiến. Cuốn sách nào của ông in ra, bài viết nào của ông đăng báo, tôi cũng đều đọc cẩn thận. Có cái đọc đi đọc lại nhiều lần.

Rồi năm 1989, nhân từ Pháp qua Mỹ tham dự một hội nghị được tổ chức tại Chicago; từ Chicago, tôi đi cùng với Nguyễn Mộng Giác về California chơi. Con gái anh Giác ra phi trường Los Angeles đón chúng tôi, và trước khi về nhà anh Giác, chúng tôi ghé thăm Võ Phiến. Chừng hai, ba tiếng đồng hồ gì đó. Thật ngắn ngủi. Câu chuyện quanh quẩn trong các đề tài văn nghệ. Võ Phiến hỏi thăm tôi vài điều về chuyện viết lách, rồi ông kể chuyện Hoài Thanh, chuyện Chế Lan Viên, những tên tuổi lớn từ trước năm 1945 mà ông quen biết từ thuở còn là học trò. Cách nói chuyện của ông thoải mái và chân tình khiến cho tôi, nhỏ hơn ông hơn một phần tư thế kỷ và lần đầu tiên gặp ông, không có chút xíu gì là bỡ ngỡ.

Không bỡ ngỡ, nhưng lại đầy cảnh giác. Võ Phiến có dáng người hơi thô, nụ cười hiền lành, giọng nói thật thà, nhưng đôi mắt, đôi mắt của ông thật lạ lùng: nó nhìn như xoi mói, lâu lâu lại ánh lên một tia sáng tinh nghịch ngấm ngầm, làm cho tôi đôi lúc có cảm giác như là ông vừa mới phát hiện điều gì đó không đẹp ở mình. Tôi đâm hoang mang. Tự nhiên lại nhìn xuống vạt áo mình, nhìn xuống đôi giày mình. Cực.

Thực tình, tôi không thích cái đôi mắt ấy. Bởi vậy, sau lần nói chuyện ngắn ngủi ấy, tôi không hề có cảm giác gần hơn với Võ Phiến. Thỉnh thoảng tôi vẫn viết thư cho ông và nhận được thư của ông, nhưng cả thư đi lẫn thư lại đều ngắn. Thư tôi thường dừng lại trong khuôn phép. Riêng thư Võ Phiến, tuy ngắn, lại khá thân tình. Ông thường nhận xét về một bài viết hay quyển sách nào đó của tôi mới in một cách cởi mở. Dần dần, mặc dù không gặp ông lần nào nữa, chỉ qua thư từ, ấn tượng của tôi về ông khác đi. Tôi quên ánh mắt của ông. Mà chỉ nhớ đến nụ cười. Nụ cười thật lành. Và giọng nói nữa. Cũng thật lành.

Nhưng khi tôi đọc, có khi đọc lại, tác phẩm của ông, ánh mắt ấy lại hiện ra. Có điều, đó không phải là cái ánh mắt lâu lâu liếc quét lên người tôi mà là một ánh mắt khác lấp lánh trên từng dòng chữ, long lanh trên từng trang sách. Cái ánh mắt ấy, oái oăm thay, lại làm cho tôi vô cùng sảng khoái. Đọc, cứ bần thần. Trước, tôi thích văn ông. Sau, tôi nghiện văn ông. Lâu, không đọc ông, có cái gì như thể là nhớ nhung. Cuối năm 1990, sau khi hoàn tất chuyên luậnVăn học Việt Nam dưới chế độ cộng sản, tự dưng có lúc tôi nôn nao muốn viết về ông.

Trong dự định ban đầu, việc phê bình Võ Phiến nằm trong một ‘dự án’ lớn hơn: phê bình văn học hải ngoại nói chung. Có lúc, trước sự khuyến khích của bạn bè trong giới cầm bút, tôi đã suýt viết một cuốn tổng luận về văn học hải ngoại, trong đó, hai bài mở đầu, “Mười lăm năm văn học lưu vong: sự hình thành và phát triển” và “Mười lăm năm văn học lưu vong: bản chất và đặc điểm” đã được đăng tải trên tạp chí Văn và Văn Học tại California năm 1990, hình như được một số người thích, lâu lâu lại nhắc nhở và khen ngợi, đây đó, trên báo chí. Sau hai bài ấy, tôi không viết được gì thêm. Lý do là vì tôi đột nhiên khám phá ra là cách viết như thế, cũng như cái cách tôi viết quyển Văn học Việt Nam dưới chế độ cộng sản hay cách Võ Phiến viết quyển Tổng quan văn học miền Nam, có cái gì hơi hơi không ổn: viết tổng quan hay tổng luận là viết về những đặc điểm chính, những khuynh hướng nổi bật, những trào lưu chủ yếu, những cái chung nhất, phổ biến trong nhiều nhà văn, nhiều nhà thơ trong cùng một thời kỳ, trong khi diện mạo thực sự của của một thời kỳ văn học lại được hình thành từ những tác giả lớn, chỉ từ những tác giả lớn; và diện mạo thực sự của những tác giả lớn ấy lại nằm ở những cái riêng của họ, những chỗ họ không giống với bất cứ ai khác. Như thế, viết tổng quan hay tổng luận theo kiểu cũ, chúng ta đối diện với một nghịch lý: bàn về văn học, nhưng chúng ta lại loại trừ những tài năng văn học lớn và đích thực, chỉ tập trung vào những cây bút trung bình hoặc dưới trung bình, những người khiêm tốn ‘làm ăn’ trên cái vốn chung, cái ý thức hệ chung, cái phong cách chung của cả một thời kỳ. Cách viết như thế, tuy có thể là bổ ích, có thể cung cấp cho người đọc một số kiến thức căn bản về phương diện văn hoá và xã hội, lại chẳng giúp được gì cho ai khi muốn tìm hiểu về văn học theo cái nghĩa là một cái gì mang tính chất sáng tạo: nó chỉ tái hiện được những cái cặn chứ không phải là những tinh hoa; nó chỉ vẽ lại nên được cái nền chứ không phải là những cái đỉnh.

Phê bình văn học một thời kỳ là phê bình những tinh hoa của thời kỳ ấy. Phê bình những tinh hoa là phê bình những cái chỉ một mình nó có, những cái nó không bắt chước ai và cũng không chia sẻ với ai cả. Trong ý nghĩ như vậy, tôi có ý định phê bình một số người. Mỗi người một cuốn sách, cỡ vừa thôi, một hai trăm trang gì đó. Điều này, ngoài lý do liên quan đến phương pháp luận như vừa trình bày, còn có cái lợi là thích hợp với điều kiện viết lách ở hải ngoại: quá ít thì giờ. Thì giờ để viết thường là thì giờ ăn cắp của gia đình: trốn những sinh hoạt chung với vợ con vào các buổi tối hay các ngày cuối tuần. Tập trung vào một số tác giả, do đó, trước hết, là một cách khoanh vùng tư liệu để khỏi phải đọc quá nhiều, quá rộng, quá lan man. Hơn nữa, cũng là một cách giảm bớt nguy cơ thiếu sót. Viết một tuyển tập phê bình cho cả thời kỳ, người ta đòi hỏi phải viết đầy đủ những gương mặt tiêu biểu. Thiếu một là hỏng một. Chọn cách viết mỗi người một quyển sách coi bộ khoẻ hơn. Viết được đến đâu hay đến đó. Không viết được nữa thì nghỉ. Chẳng sao cả.

Chọn Võ Phiến là người đầu tiên, ngoài lý do là tôi thích văn ông, tôi còn một số lý do khác nữa. Thứ nhất, với sáng kiến in Toàn tập Võ Phiến của nhà xuất bản Văn Nghệ, tài liệu cần thiết trong quá trình nghiên cứu về Võ Phiến hầu như đều có sẵn. Với một người làm công việc phê bình hay nghiên cứu văn học, không có đề tài nào khác thuận lợi hơn. Thứ hai, vì tôi đọc ông một cách say mê và liên tục cả mấy năm liền, tôi hơi tự tin là có thể nói được vài điều mới mẻ về ông. Cuốn sách hy vọng là không đến nỗi nhảm.

Khi quyết định như thế, tôi liền viết thư cho Võ Phiến, hỏi xin ông thêm một ít tài liệu, chủ yếu là liên quan đến cuộc đời của ông. Ông trả lời ngay, rất vồn vã. Tôi cũng mừng. Nhưng ngay sau đó, do một sự tình cờ, tôi quyết định dời nhà sang định cư tại Úc. Thủ tục tiến hành cực nhanh: chỉ trong vòng mấy tháng sau là tôi đã rời Paris sang Melbourne. Xứ sở mới, công việc mới, văn hoá mới, ngôn ngữ mới… bao nhiêu cái ‘mới’ ấy đòi hỏi tôi phải tập trung toàn bộ thì giờ và tâm sức để hội nhập, để thích nghi. Bận đến phát ngộp. Tôi chẳng còn tinh thần đâu mà nghĩ đến chuyện văn chương, chữ nghĩa. Sách báo bạn bè gửi tặng, tôi để nguyên phong bì cất lên kệ. Thư từ bạn bè từ xa gửi tới, tôi liếc sơ qua rồi cất vào ngăn kéo. Giữa lúc ấy, ngay giữa lúc ấy, tôi nhận được những bức thư gọi là ‘cung cấp tài liệu’ của Võ Phiến. Đều đặn, thường là mỗi tháng một bức, có khi ông cao hứng, một tháng hai bức; chỉ khi nào ông bận bịu hay bệnh hoạn lắm mới hai tháng một bức. Bức nào cũng dày sáu trang giấy chi chít chữ. Sáu trang, đúng sáu trang, không hơn. Võ Phiến giải thích: để dễ dán tem, không cần phải chờ nhân viên bưu điện cân thư và tính tiền. Là người nghiên cứu văn học, quí tài liệu hơn cả một đứa keo kiệt quí tiền bạc, tôi biết rõ giá trị của những bức thư mình đang cầm: có bức kể về gia thế, có bức kể về bạn bè, có bức kể về tuổi thơ, có bức kể về những bước chập chững trên con đường đi vào nghệ thuật, có bức nói về một tác phẩm Võ Phiến tâm đắc, v.v… Tôi biết. Biết, nên tôi làm ngay bản sao từng bức thư để cất, phòng trường hợp rủi ro có thể thất lạc. Nhưng biết thế mà tôi vẫn không sao lắng mình để đọc cho kỹ, để toan tính một kế hoạch viết lách nghiêm chỉnh về ông. Có thời gian, tôi cứ nín thinh, bằn bặt, không thư từ gì với Võ Phiến cả. Như kiểu trốn nợ.

Mãi đến ba năm sau, tâm hồn mới tạm bình yên, tôi lại thập thò đến với văn thơ. Trước hết là thơ. Dù sao thì tôi cũng yêu thơ hơn văn. Viết về thơ bao giờ tôi cũng thấy ‘đã’ hơn là viết về văn. Bài đầu tiên tôi viết là bài về “Thơ con cóc” đăng trên Hợp Lưu số 17 ra vào tháng 6 và 7 năm 1994. Từ việc đánh giá lại bài “Thơ con cóc”, tôi loé thấy nhiều vấn đề khác: ý nghĩa của bài thơ, quan hệ giữa bài thơ và tác giả, giữa thơ và hiện thực, vấn đề phê bình văn học, v.v… Tôi viết miên man. Và quên bẵng Võ Phiến.

Khoảng tháng 6.1995, nhân đọc Thế Kỷ 21, thấy trong “Thư toà soạn” có thông báo sẽ làm số đặc biệt về Võ Phiến, tôi chợt thót mình nhớ lại lời hứa dạo nào, nhớ lại những thân tình ông dành cho tôi; nhớ lại những con mắt lấp lánh trên từng dòng chữ trong tác phẩm của ông mà tôi từng say mê, thích thú; nhớ lại những tư liệu quí báu mà ông gửi cho suốt mấy năm qua. Tôi quyết định tạm xếp loạt bài về “Thơ con cóc” lại để viết trước một bài gì đó về Võ Phiến. Coi như một cách trả nợ.

Dạo ấy, tôi đang say mê nghiền ngẫm về các vấn đề liên quan đến lý thuyết văn học, cho nên, nghĩ đến chuyện viết về Võ Phiến, tôi liên tưởng ngay đến khía cạnh tư tưởng văn học của ông. Tôi viết bài “Võ Phiến, nhà lý luận văn học” khá nhanh. Chỉ trong hai, ba ngày gì đó. Viết xong, lại ấm ức. Bèn viết thêm bài “Nhà phê bình văn học”. Cũng rất nhanh. Lại vẫn ấm ức. Viết thêm bài “Nhà tạp luận”. Đến đây, không còn ấm ức nhưng tôi biết là mình không thể dừng lại được nữa: Võ Phiến đã trở thành một nguồn cảm hứng mới dạt dào, một cơn ngứa ngáy trong tâm hồn và một sự bứt rứt ở đầu ngón tay. Tính tôi vốn yếu đuối: không bao giờ tôi chống lại nổi một đam mê. Mỗi ngày, đi dạy về, cơm nước xong, chờ con cái đi ngủ hết, tôi lại chong mắt lên mà đọc mà viết. Say sưa. Chỉ sáu tháng sau, trong lúc vẫn tiếp tục viết mấy chương cuối cùng của cuốn Thơ, v.v… và v.v…, tôi đã hoàn tất cuốn Võ Phiến.

Khi cuốn Thơ, v.v… và v.v… được xuất bản, Võ Phiến viết thư ngay cho tôi, trong đó ông nêu ra nhận xét, đại khái: giọng văn của tôi trong cuốn sách ấy tếu, trẻ trung, nghịch ngợm và táo bạo khác hẳn mấy cuốn sách trước. Tôi băn khoăn. Một số bạn văn khác, sau đó, viết thư cho tôi, cũng nêu nhận xét tương tự. Tôi càng băn khoăn tợn. Tếu… trẻ trung… nghịch ngợm… những thứ ấy ở đâu thò ra vậy cà? Văn của tôi từ trước đến nay, tôi biết, tuy có chút xíu thơ mộng, chủ yếu là ở hình tượng và nhịp điệu, nhưng thường thì rất nghiêm trang, nghiêm trang đến phát chán lên được. Làm gì có nụ cười nào, dù thấp thoáng, trong những cuốn Tìm hiểu nghệ thuật thơ Việt Nam (1988), Nghĩ về thơ (1989) hay Văn học Việt Nam dưới chế độ cộng sản (1991) chứ? Tôi giật mình, nghĩ thầm: hay là… tại trong lúc viết cuốn Thơ, v.v… và v.v..., ngoài việc đọc thơ, các sách lý luận về thơ, tôi còn phải đọc đi đọc lại nhiều lần các tác phẩm của Võ Phiến? Chả lẽ cái cười cợt của ông nhiễm vào trong tôi lúc nào tôi không biết?

Tôi bỗng mừng: May mà tôi không đọc Võ Phiến lúc còn trẻ.

Võ Phiến,

Võ Phiến, những lần gặp sau cùng

1-10-2015

Mỗi lần có dịp qua Nam California, một trong những người đầu tiên tôi đến thăm bao giờ cũng là Võ Phiến. Chủ yếu là vì tình thân. Tôi quen với khá nhiều người cầm bút Việt Nam, trong cũng như ngoài nước, nhưng người tôi gần gũi nhất có lẽ là Võ Phiến. Gần, chủ yếu là vì, trong thời gian viết cuốnVõ Phiến (2006), tôi đọc ông nhiều và rất kỹ; và cũng vì, trong suốt thời gian chuẩn bị tài liệu cho cuốn sách ấy, kéo dài cả mấy năm, tôi và Võ Phiến thường xuyên liên lạc thư từ với nhau. Thư, thoạt đầu, khá khách sáo; sau, cứ dần dần thân thiết. Sự thân thiết, thoạt đầu, giống như tình bạn, thứ bạn vong niên trong văn nghệ, dần dần, giống như tình gia đình: Tôi xem Võ Phiến như một ông bác. Khi đã xem như bác, việc thăm viếng trở thành một cái lễ, một thứ bổn phận.

Nói đến khái niệm “lễ” hay “bổn phận”, tự dưng nhớ đến Nguyễn Mộng Giác. Năm 1989, khi từ Pháp qua Chicago dự một cuộc hội nghị về văn học, Nguyễn Mộng Giác rủ tôi bay về California chơi với anh vài ngày. Vừa ra khỏi phi trường Los Angeles, Nguyễn Mộng Giác bảo đứa con gái, người ra đón chúng tôi, chở thẳng đến nhà Võ Phiến; tối, về nhà anh, ăn cơm xong, Nguyễn Mộng Giác lấy xe chở tôi đến thăm Mai Thảo. Trên đường, anh nhỏ nhẹ bảo, đó là cái lễ đối với các bậc trưởng thượng trong làng văn. Tôi hơi ngạc nhiên nhưng không nói gì. Tôi vẫn kính trọng cả Võ Phiến lẫn Mai Thảo và xem hai người như những đại thụ có nhiều thành tựu và đóng góp không những cho văn học ở miền Nam trước năm 1975 mà còn cả cho văn học Việt Nam ở hải ngoại sau năm 1975. Nhưng tôi không xem việc thăm viếng họ như một bổn phận. Với tôi, chỉ có bổn phận trong văn học chứ không có bổn phận về phương diện xã hội. Và trong văn học, cách bày tỏ sự kính trọng tốt nhất đối với các thế hệ cầm bút đi trước, ngay cả với những người tài hoa nhất, là đọc họ rồi vượt qua họ, kể cả chống lại họ, hoặc nếu không, viết khác họ.

Mà kể cũng lạ. Trong giới cầm bút nổi danh trước năm 1975 sau này sống ở hải ngoại hầu như chỉ với Võ Phiến là tôi xem như một ông bác. Với những người khác, ngay cả với Mai Thảo, chỉ nhỏ hơn Võ Phiến một tuổi, tôi chỉ xem như là anh. Nói chuyện với Mai Thảo, theo đề nghị của chính ông, tôi gọi bằng “anh” và xưng “em”. Không những vậy, có lúc tôi còn xem ông như một đứa em nữa là khác. Đó là những lần, lúc tôi còn ở Paris, ông bay từ California sang chơi. Sau khi ăn uống hay đi dạo phố, đưa ông xuống trạm xe điện ngầm để về nhà Trần Thanh Hiệp, nơi ông ở trọ, sau khi dặn dò đường đi nước bước, rồi nhìn cái ánh mắt lúc nào cũng mơ mơ màng màng, cái dáng người cao lêu khêu và cái bước chân hơi xiêu xiêu của ông, tự dưng tôi thấy bất an. Sợ ông đi lạc. Sợ ông băng qua đường ẩu, xe đụng. Sợ vu vơ đủ thứ. Như sợ cho một đứa em ngơ ngác giữa phố lạ. Những lúc ấy, tôi quên bẵng là ông đã từng qua Paris nhiều lần và rất giỏi tiếng Pháp. Với Võ Phiến, chưa bao giờ tôi có cảm giác ấy. Nhìn ông và nói chuyện với ông, tôi có cảm giác như đang đối diện với một ông lão mới từ quê lên. Từ dáng dấp đến vẻ mặt, có vẻ gì hơi hơi thật thà, hơi hơi quê mùa, nhưng đôi mắt của ông thì khác: Lúc nào cũng tinh anh, cũng nhanh nhẹn, toát lên vẻ gì vững vàng, có thể đương đầu với mọi tình huống và mọi bất trắc.

Chuyến đi Mỹ thứ hai của tôi là vào cuối năm 2007. Tôi đi với Hoàng Ngọc-Tuấn và Võ Quốc Linh. Ông bà Võ Phiến khăng khăng mời tôi về nhà ở. Từ chối mấy cũng không được, tôi bèn giao hẹn: Chỉ ở hai ngày đầu, sau đó, sẽ ra ở khách sạn với bạn bè để được tự do và thoải mái, có thể đi sớm về khuya bất cứ lúc nào cũng được, không áy náy về việc gây phiền hà cho người khác. Ông bà đồng ý. Khi chúng tôi đến, ông bà rất mừng rỡ, nói chuyện huyên thuyên, sau, dẫn chúng tôi lên lầu và chỉ phòng: “Phòng này là của anh Hoàng Ngọc-Tuấn; còn phòng này là của anh Nguyễn Hưng Quốc.” Trong lúc chúng tôi dọn dẹp đồ đạc và thay quần áo sau chuyến bay dài dằng dặc mười mấy tiếng đồng hồ từ Úc sang, hai ông bà xuống tầng dưới ngồi uống trà chờ. Khoảng 15 phút sau, khi tôi từ trên lầu bước xuống, Võ Phiến đang ngồi trên chiếc ghế mây ở phòng khách, đứng bật dậy, nhào đến cầm tay tôi lắc lắc, mừng rỡ: “Anh Quốc, anh mới ở Úc qua hả? Trời ơi, lâu quá!” Tôi hơi giật mình, nhưng vội giữ vẻ bình thản, đáp: “Vâng, cháu mới qua. Bác khỏe không?” Suốt ngày hôm ấy cũng như ngày hôm sau, cứ mỗi lần tôi đi ra ngoài chơi, trở về nhà, ông cũng đều chào đón một cách rất niềm nở ngay từ cửa: “Anh Quốc, anh mới ở Úc qua hả?” Lúc ấy, lần đầu tiên tôi nhận ra chứng bệnh của ông: bệnh mất trí nhớ (Alzheimer’s). Có lẽ chỉ ở giai đoạn sơ khởi: mất trí nhớ ngắn hạn. Nói chuyện, ông vẫn kể vanh vách các kỷ niệm liên quan đến Chế Lan Viên và Lam Giang lúc ông còn học ở Qui Nhơn, đến Hoài Thanh và Đào Duy Anh lúc ông học ở Huế. Ông nhắc đến thơ Đường, thơ Tống, tranh Tề Bạch Thạch, các trào lưu văn học ở Pháp trong thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20. Chỉ có điều là ông hay lặp lại các câu chuyện ông mới kể. Có lúc, trong một buổi ăn trưa, ông kể chuyện tranh của Tề Bạch Thạch đến hai ba lần. Lần nào cũng say sưa, mạch lạc, rất sinh động và cũng rất sâu sắc.

Sau đó, hầu như năm nào tôi cũng sang California và năm nào cũng ghé thăm Võ Phiến. Thân thể ông vẫn khỏe mạnh, da dẻ ông vẫn hồng hào, nụ cười ông vẫn hiền lành, giọng nói ông vẫn chất phác, nhưng tai ông càng lúc càng nặng và bệnh mất trí nhớ càng lúc càng trầm trọng. Ông ít nói hẳn. Trong các buổi họp mặt hay ăn uống chung, ông chỉ ngồi lặng lẽ cười, lâu lâu cất lên lời than thở: “Tôi lú lẫn rồi anh ơi! Tôi là người bỏ đi rồi!” Vừa nói vừa lắc đầu, đôi mắt ánh lên vẻ buồn rười rượi. Đến thăm, tôi chỉ nói chuyện với bà Võ Phiến là chính; còn ông, sau những cái bắt tay mừng rỡ và nồng ấm, lại ngồi lặng lẽ. Lâu, lâu lắm, mới góp tiếng. Thường là những câu chuyện cũ. Và những lời than vãn. Than không viết được. Rồi than không đọc được.

Giữa năm 2013, tôi sang California và thăm Võ Phiến. Gặp, ông vẫn mừng rỡ cầm tay tôi lắc tới lắc lui. Ông nhận ra tôi nhưng ông không nhớ tên tôi. Chủ yếu tôi chỉ nói chuyện với bà. Chưa bao giờ tôi thấy một người phụ nữ nào yêu chồng và chăm sóc cho chồng một tận tụy, chi li và tỉ mỉ như bà Võ Phiến. Bà lo cho ông từng miếng ăn, từng tách trà, từng viên thuốc. Bà đánh máy từng trang bản thảo viết tay của ông. Bà lo cho danh tiếng và sự nghiệp của ông. Bà quan tâm đến từng lời khen tiếng chê chung quanh. Đọc những bài báo có ác ý về ông, bà tức lồng lộn, vừa kể vừa chì chiết. Còn Võ Phiến thì vẫn ngồi lặng lẽ, miệng vẫn cười hiền lành nhưng ánh mắt thì nhìn vào khoảng không trước mắt, buồn buồn, xa vắng. Lâu lâu ông chép miệng thở dài: “Tôi lú lẫn quá rồi anh ơi!”

Lần ấy, bà Võ Phiến đưa tôi bức thư ông Võ Phiến viết ròng rã trong mấy tháng trước đó nhưng chưa kịp (hoặc quên) gửi. Thư không đề ngày. Toàn bộ nội dung như sau:

Thân gửi anh Nguyễn Hưng Quốc,

Rốt cuộc rồi tôi cũng đi tới một quyết định: Phải viết cho được một lá thư gửi tới một số anh em chí thiết.

Tự dưng hơn nửa năm nay tôi phát lú. Rồi lú nặng. Quên thật mau dĩ vãng của mình. Quên lung tung, thật mau. Từ lâu tôi nặng một tai; năm bảy năm nay chỉ nghe được một tai. Gần đây, tai ấy cũng nghỉ luôn.

Một người ngẩn ngơ, nghe được ít, lấy làm khó chịu mỗi khi gặp có người khác: Tôi trốn lần, trốn lần. Nhà tôi đại diện, bận bịu quá trời.

Điếc, quên – cả cặp ấy xúm nhau biến tôi thành kẻ ngớ ngẩn.

Tôi trốn tiếp xúc với người, lẩn thẩn đọc sách. Đọc mỗi lúc một thêm vất vả: đọc đâu quên đó. Dần dần sách nào cũng hoá khó hiểu. Sợ sách, rồi ngán luôn cả báo.

Tôi thành đứa vất đi rồi anh ơi.

Tôi tìm nguyên do. Nhớ lại mười mấy năm trước, hồi còn ở xóm Glendale bên Los Angeles – xóm nhỏ – đa số là dân da đen. Một hôm, độ bảy tám giờ tối gì đó, tôi đi dạo trước mặt nhà, gặp chỗ vắng, thiếu ánh sáng, thình lình bị một tên da đen đánh mạnh vào mặt. Tôi ngất. Nó lục túi lấy chẳng bao nhiêu (vì mình đi dạo bộ cho tiêu cơm trước mặt nhà). Tỉnh ra, tôi được đưa đi bệnh viện. Rồi yên. Nhưng đầu óc hư hỏng – chắc là từ đó.

Bây giờ càng lúc càng tệ. Trí óc hết xài.

Nhà tôi khổ sở vì tôi, vất vả quá trời.

Tôi năm nay 86 tuổi ta. Già quá rồi. Nay mai, chịu hết thấu, ra đi cũng phải thôi.

Cả tháng nay tôi yên trí là mình đang lủi thủi đi về cõi khác. Định đi êm, không nên kể lể vớ vẩn với ai làm gì. Chuyện xoàng quá. Không đáng trầm trồ.

Nhưng rốt cuộc rồi thấy nên để dăm ba kẻ thân thiết. Chuyện nhảm mà trịnh trọng bảo mật, e kỳ cục.

Thân chúc anh chị và các cháu mọi sự an lành.

Võ Phiến

Đọc, tôi thấy buồn hiu hắt. Có cảm tưởng như nghe một lời trối trăng. Chuyến ấy, tôi ở Nam California chỉ có khoảng hơn một tuần, nhưng tôi vẫn tranh thủ ghé đến thăm ông bà Võ Phiến đến ba lần. Tôi sợ, khi về lại Úc, sẽ không còn cơ hội để gặp ông lần nữa. Lần thăm cuối cùng, ông bà dẫn tôi đi ăn trưa ở một tiệm Mỹ trong cái công viên gần nhà. Suốt bữa ăn, Võ Phiến hỏi tôi mấy câu. Hỏi đi rồi hỏi lại.

“Văn học trong nước hiện nay có gì lạ không, anh?”

Tôi đáp: “Cũng chả có gì lạ bác ạ. Không thấy xuất hiện cây bút nào thật mới và thật hay.”

Ông tặc lưỡi: “Cả nước đến mấy chục triệu người mà không có ai viết hay cả. Lạ nhỉ? Tôi không biết gì cả. Tôi lú lẫn rồi anh ơi!”

Rồi ông ngồi im, nhìn mông vào quãng trống trước mặt. Năm mười phút sau, ông lại hỏi:

“Chế Lan Viên bây giờ ra sao, hả anh?”

Tôi đáp: “Chế Lan Viên mất lâu rồi, bác ạ.”

Ông lại tặc lưỡi: “Vậy hả? Tôi nghiệp quá! Tôi lú lẫn rồi, không nhớ gì nữa cả.” Rồi ông lại hỏi:

“Anh nghĩ ở trong nước bây giờ người ta có đọc tôi không, hả anh?”

Tôi đáp: “Có chứ. Một cuốn sách của bác mới được in lại ở trong nước, được nhiều đọc và nhiều người khen lắm.”

Ông lại tặc lưỡi: “Lạ nhỉ? Không ngờ người ta lại cho in lại sách của tôi.”

Im lặng một lát, ông lại hỏi:

“Anh thấy văn học ở trong nước bây giờ thế nào hả anh?”

Tôi lại đáp: “Không có gì đặc biệt cả, bác ạ.”

Và ông: “Lạ nhỉ. Nước đến mấy chục triệu người mà không ai viết hay. À, mà Chế Lan Viên bây giờ sao, hả anh? Ổng còn viết lách được gì nữa không?”

“Không. Ổng mất năm 1989, hơn 20 năm rồi, bác ạ.”

“Ồ, tội nghiệp quá! Tôi lú lẫn quá, không nhớ gì nữa cả. À, mà bây giờ ở trong nước có ai còn đọc tôi nữa không, anh?”

“Có chứ, bác. Sách bác mới được in lại ở trong nước đó.”

“Lạ nhỉ. Nhưng văn học ở trong nước có gì lạ không, anh?”

Cứ thế, chừng ấy câu hỏi, trong suốt buổi ăn trưa, được ngắt quãng bởi những lúc trầm ngâm im lặng và ngó mông vào khoảng trống. Với mỗi câu hỏi, để trả lời, tôi cứ lặp lại, thật ngắn gọn, nhấn mạnh từng chữ, phát âm thật to để ông có thể nghe được. Bà Võ Phiến nhìn tôi, rươm rướm nước mắt, có lẽ vừa thương chồng vừa áy náy cho tôi. Trên đường về nhà, bà thì thầm với tôi, giọng nghẹn ngào: “Bác thương bác trai quá. Một người thông minh sắc sảo đến như vậy mà bây giờ đâm ra nghễnh ngãng, lẩn thẩn, thật tội nghiệp!” Tôi vừa an ủi bà vừa nghĩ ngợi bâng quơ về các câu hỏi của ông. Chúng tiết lộ những ám ảnh sâu xa không ngừng day dứt trong tiềm thức của ông ngay cả khi ông không còn nhớ gì cả. Ông nhớ những người bạn, những người thầy, những người quen biết cũ. Ông loay hoay muốn biết về tình hình văn học Việt Nam. Ông tò mò về sức sống của những gì ông đã viết. Và ông cũng không ngớt dằn vặt về những cái quên ngớ ngẩn của mình. Nét tâm lý đầu phổ biến đối với mọi người lớn tuổi; hai nét kế tiếp phổ biến trong giới cầm bút; nét thứ tư mang tính đặc thù của Võ Phiến: ý thức tự giác rất cao, lúc nào cũng tự quan sát chính mình như một người ngoại cuộc. Trước, lúc còn khỏe, thói quen tự quan sát ấy biến ông thành một trong vài nhà văn có khả năng phân tích giỏi nhất của Việt Nam thời kỳ 1954-75. Bây giờ, khả năng tự quan sát ấy chỉ làm cho ông bất an. Trước, qua việc tự quan sát, thấy những cái yếu đuối của con người được phản ánh qua tâm hồn của chính mình, ông đâm ra yếm thế và hay châm biếm; bây giờ, thói quen tự quan sát ấy chỉ biến ông thành một người đầy mặc cảm: lúc nào ông cũng sợ lộ vẻ ngớ ngẩn dưới mắt người khác, do đó, ông tránh né đám đông; khi không thể tránh né được, ông chỉ ngồi lặng lẽ tự gặm nhấm những nỗi khổ của một người tự thấy mình đang trôi dần trôi dần vào cái chết.

Võ Phiến không mất trí nhớ hẳn. Thường, ông chông chênh, chòng chành và lãng đãng giữa nhớ và quên. Cái ông hay quên nhất có lẽ là những cái mới. Mới, thoạt đầu, từ câu nói vừa thốt đến công việc vừa làm; sau, dần dần bao gồm cả nhiều năm hoặc có khi nhiều thập niên về trước. Một lần, trong bữa ăn trưa tại nhà ông, nhà văn Ngự Thuyết nghịch, hỏi Võ Phiến tên của những người ngồi cùng bàn. Tên tôi và Hoàng Ngọc-Tuấn: ông không nhớ. Tên của ba người bạn ở ngay tại California và thường xuyên đến thăm ông, Ngự Thuyết, Trúc Chi và Phạm Phú Minh: Ông cũng không nhớ. Ông chỉ nhớ được tên hai người: Đỗ Quý Toàn và Lê Tất Điều, hai người ông quen biết ở Sài Gòn từ trước năm 1975. Cuối năm 2013, tôi gửi tặng ông cuốn Văn học Việt Nam tại Úc: Chính trị và thi pháp của lưu vong mới xuất bản tại Úc qua nhà văn Phạm Phú Minh. Mấy tuần sau, Phạm Phú Minh email cho tôi, kể:

“Quốc thân,

Hôm nay nhân Thành Tôn và ông Văn Nghệ có việc đến nhà ông bà Võ Phiến, anh đã nhờ họ mang cuốn sách của Quốc cho ông bà.

Thành Tôn kể lại, ông Võ Phiến cầm cuốn sách xem rất kỹ rồi hỏi: ông Nguyễn Hưng Quốc này là ai mà in sách đẹp đẽ sang trọng quá thế này? Thành Tôn nói ông ấy dạy đại học bên Úc thì ông Võ Phiến nói: Hèn gì!”

Đọc, tôi không ngạc nhiên, nhưng vẫn buồn. Buồn đến độ mãi đến ngày mồng 8 (tức ngày 7 tháng 2 năm 2014), tôi mới gọi được cho ông để chúc Tết một cách muộn màng. Lạ, lần này, ông lại tỉnh táo một cách lạ thường. Khi bà Võ Phiến chuyển điện thoại và bảo Nguyễn Hưng Quốc gọi, ông rối rít:

  • Anh Quốc hả? Trời ơi, anh ở Úc hay đang ở Mỹ vậy?
  • Dạ, cháu đang ở Úc.
  • Trời ơi, ở xa vậy mà gọi điện thoại, quý quá. Nhưng tốn tiền lắm, anh ơi.
  • Không sao đâu, bác ạ. Bây giờ gọi điện thoại viễn liên rẻ lắm.
  • Tháng 7 này anh có qua Mỹ không?
  • Dạ, không. Tháng 12 cháu mới qua.
  • Ồ, còn cả 10 tháng nữa, không biết tôi có còn hay không. Năm nay tôi đúng 90 rồi, bết bát lắm, anh ơi. Tôi chẳng còn đọc hay viết gì được nữa cả. Hỏng hết rồi.
  • Thôi, cũng đâu cần đâu, bác. Bác đọc và viết cả đời rồi. Bây giờ bác cố nghỉ ngơi để giữ gìn sức khỏe.
  • Anh định sống luôn ở Úc hay có về Việt Nam sống không?
  • Khi nào Việt Nam có tự do, có lẽ cháu về chứ.
  • Tôi thì hết hy vọng rồi. Chỉ có chết ở Mỹ thôi.
  • Cũng chẳng sao, bác ạ. Về bằng tác phẩm được rồi. Gần đây, ở trong nước, người ta bắt đầu in lại sách của bác, tổ chức hội thảo về bác đó. Ai cũng khen cả.
  • Vậy hả, anh? Trời, tôi chẳng biết gì cả. Bây giờ tôi lú lẫn, đọc ít lắm. Những điều anh vừa nói, tôi mới nghe lần đầu. Lạ quá, phải không anh?

Cứ thế, dù giọng ông hơi yếu, nhưng câu chuyện vẫn trôi chảy mạch lạc, không có dấu hiệu gì lẫn cả.

Tháng 12 năm 2014, tôi sang California và ghé thăm ông bà Võ Phiến mấy lần. Chỉ nói chuyện được với bà. Còn ông thì ngồi im lặng ngó lung về phía trước. Không thể đoán được lúc ấy ông đang nhìn gì và nghĩ gì. Chỉ thấy xa vắng và cùng với sự xa vắng, sự mênh mông, ở đó, tôi đoán, ông không thấy ai trước mặt, không thấy khung cửa kính trong suốt, không thấy hàng cây xanh lá đang lao xao với gió, không thấy bầu trời đầy nắng và thưa thớt mây; ông chỉ thấy khoảng trống thăm thẳm, vời vợi, không cùng. Ý tứ, chưa bao giờ tôi hỏi ông có sợ không. Nhưng trong một bức thư nào đó gửi tôi, ông bày tỏ: Không. Ông diễn tả một cách dí dỏm, đại khái, ông Trời tinh tế lắm: Ổng làm cạn kiệt sức sống trước khi lấy hẳn đi sự sống của con người. Sự mệt mỏi khiến người ta bớt sợ. Không sợ nhưng tôi đoán, vẫn lo. Trước cuộc viễn du vào cõi vô tận ấy, tôi nghĩ, ai cũng lo. Người thường lo cho con, cho cháu, cho chắt. Người cầm bút còn thêm một nỗi lo khác: các tác phẩm của mình. Với người cầm bút, bất cứ người cầm bút nào cũng vậy, điều mong muốn đầu tiên bao giờ cũng là được đọc; điều mong muốn lớn nhất và tha thiết là được đọc lại, đọc lại mãi, không phải bởi một người hay một số người mà là bởi nhiều thế hệ, những thế hệ, nói theo Trần Tử Ngang, nhà thơ thời sơ Đường, “lai giả”, những kẻ mình không bao giờ gặp và biết. Khi Nguyễn Du viết “Bất tri tam bách dư niên hậu / Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như?”, thật ra, tự thâm tâm, ông chỉ muốn hỏi: sau này, mấy trăm năm sau, có ai còn đọc Truyện Kiều của ông không? Võ Phiến, với căn bệnh Alzheimer’s quái ác, có thể không nhớ tên bạn bè thân thiết, không nhớ ai còn ai mất, không nhớ những gì ông đã viết và đã xuất bản, không nhớ ngay những gì ông vừa mới nói, vẫn đau đáu một ám ảnh: Có ai còn đọc ông không?

* Blog của Tiến sĩ Nguyễn Hưng Quốc là blog cá nhân. Các bài viết trên blog được đăng tải với sự đồng ý của Ðài VOA nhưng không phản ánh quan điểm hay lập trường của Chính phủ Hoa Kỳ.

VOA tiếng Việt

Posted in Chạy trốn chủ nghĩa Cộng sản, Van Hoc | Leave a Comment »

► Tin buồn: Nhà văn Nhật Tuấn, tác giả “Đi Về Nơi Hoang Dã”, đã ra đi!

Posted by hoangtran204 trên 07/10/2015

Khai Phóng

6-10-2015

Ảnh nhà văn Nhật Tuấn đăng trên Facebook của ông

Tin từ trong nước cho biết nhà văn Nhật Tuấn, bào đệ của nhà văn Nhật Tiến đã qua đời tại Bệnh viện Thống Nhất Sài Gòn hồi 18 giờ, ngày 06 tháng 10 năm 2015.

Nhật Tuấn tên thật và cũng là bút hiệu, sinh năm 1942 tại Hà Nội. Ông là hội viên Hội Nhà Văn Việt Nam, đã in gần 20 tác phẩm gồm nhiều tập truyện ngắn và truyện dài. Tác phẩm đầu tay có tên “Trang 17”, in năm 1978 đoạt Giải nhất Giải Văn Học của Tổng Công đoàn Việt Nam năm 1978. Nhưng tác phẩm nổi tiếng và xuất sắc nhất của Nhật Tuấn là cuốn Đi Về Nơi Hoang Dã in năm 1988, bị Nhà Nước CSVN cấm ngay sau khi phát hành nhưng lại được đón nhận rất nồng nhiệt ở hải ngoại.

Nhiều cơ quan truyền thông, báo chí và Hội đoàn đã đứng ra bảo trợ cho buổi ra mắt cuốn Đi Về Nơi Hoang Dã được tổ chức tại trụ sở của “Little Saigon Radio” thuộc Quận Cam, Nam California ngày 7-4-2001.

Ông cũng là người chủ trương trang Facebook Nhật Tuấn, phổ biến nhiều bài mang tính cách vận động cho tinh thần Dân Chủ tại VN.

Ông cũng đã cộng tác lâu dài cho Little Saigon Radio, Hồn Việt TV và từng viết bài thường xuyên cho tuần báo Việt Tide trong thập niên 2001-2010 vừa qua. 

anhbasam.wordpress.com

______

Vũ Ánh

VỀ NHẬT TUẤN, TÁC GIẢ CUỐN “ĐI VỀ NƠI HOANG DÔ

Trên một website của Hội nghiỴyahoogroups.com, ông Nguyễn Hữu Nghĩa đã viết như thế này :

“Bà Bút Vàng là ai? Theo cuộc điều tra riêng của Làng Văn , bà Bút Vàng là Đỗ Thị Thuấn em ruột của bà Đỗ Phương Khanh, em vợ của Nhật Tiến. Công an Nhật Tuấn là em ruột của Nhật Tiến. Nhật Tiến là “tư lệnh tiền phương” chỉ đạo Giao Lưu Văn Hóa (Hoa Hồng Đỏ) tại hảí ngoại qua sự móc nối công tác. . ”

Đọc đoạn ngắn như trên, tôi đã thấy không muốn đọc nữa, dù răng tôi biết ít ra ông Nguyễn Hữu Nghĩa cũng là một nhà báo, sinh sống ở nước ngoài cũng đã khá lâụ Tôi biết ông là do đọc trên báo, chứ chưa bao giờ được hân hạnh gặp mặt ông. Nhưng trong đoạn văn của ông nó gợi lại cho tôi hình ảnh cũ đã ăn sâu vào tâm khảm tôi trong suốt thời gian ngồi tù Cộng Sản và 4 năm sống với chế độ đó ở ngoài đờị Cái lối dùng liên hệ bố me, anh em, bà con của một người để qui kết người đó là một thủ thuật để đàn áp hèn mạt không thể tưởng tượng nổi của những người Cộng sản. Người quốc gia chân chính là những người thường lên án hành động nàỵ Từ chỗ ” công an Nhật Tuấn” là em ruột của Nhật Tiến đến chuyện Nhật Tiến là tư lệnh tiền phương chiến dịch Giao Lưu Văn Hóa ở hải ngoại, qua sự móc nối công tác” cái kết luận chỉ phải đi một con đường ngắn hời hợt, bằng phẳng một cách đáng sợ. Nó giống một mảnh giấy học trò, viết mực tím nguệch ngoạc vài dòng thô sơ lên án bà nội tôi và hàng chục ngàn người khác trong cuộc đấu tố ruộng đất ở Miền Bắc Việt Nam năm 195Ọ Thế rồi, lại thêm chữ Hoa Hồng Đỏ, rồi “tư lệnh tiền phương của chiến dịch giao lưu văn hóa ” toàn là những từ ngữ gợi lên cho người đọc một cái gì vừa kín, vừa hở lại vừa nông cạn. Thế nhưng “kinh ” nhất là nhóm từ “theo cuộc điều tra riêng” trong giác thư của ông Nghĩa .

Trong thời gian 4 năm sau khi được thả ra khỏi tù, anh chàng công an khu vực nơi tôi cư ngụ đã hàng trăm lần nói với bà mẹ tôi : “ở trên (tức thượng cấp của anh ta) vừa cho tôi hay là anh Ánh hồi này linh tinh lắm (thời gian mới đi tù về tôi đi làm lò gạch và sau đi chở gỗ bằng xe ba bánh cho mấy lán gỗ) và theo chỗ điều tra riêng của cháu, thì. anh ấy hay tiếp xúc với thành phần không tốt mới ở trại cải tạo rạ..” Bà mẹ tôi hiểu ý “theo chỗ điều tra riêng ” của anh ta tức là cái giá bằng hai góc thuốc lá ba số 5 thì mới dập ta (‘t được kết luận của những ” cuộc điều tra riêng ấy, một cái kết luận dễ dàng, vô luật pháp (vì là điều tra riêng ) có thể khiến cho tôi lại phải khăn gói quả mướp vào ” hấp” lại ở lâm trường Sao Vàng (Pleiku) ít ra cũng là 3 năm. Như vậy vị chi là 17 năm tù trong cuộc đời của thằng con trai của bà. Vì thế bà cụ tôi sợ lắm và phải xì thuốc lá ra cho yên chuyện.

Tôi nêu ra những sự kiện thực tế mà tôi trải qua chỉ để giải thích lý do tại sao tôi không tin bất cứ một sự kết luận dễ dãi nào không mất công trưng ra bằng chứng, nhất là những kết luận có thể làm thương tổ n đến danh dự của người khác. Nếu tôi không thích ông Nhật Tiến, thì liệu tôi có thể ” vẽ ” ông Nhật Tuấn bằng những hình ảnh còn kinh hãi hơn hình ảnh người công an hay không? Được chứ, ai lại không có khả năng đó vì nó dễ dàng lắm, nhưng tôi nghĩ nếu làm như vậy tức là tôi đã phản bội tất cả những dậy dỗ của gia đình và học đường về sự cần thiết của ngay thẳng và chính trực ở đờị Những đồng hương tỵ nạn ở đây đã từng là nạn nhân của chế độ Cộng sản tất không thích bất cứ một ai cáo buộc và lên án người khác mà không cần bằng chứng.

Có lẽ là nhà báo, nhà văn, lại có điều tra riêng, chắc ông Nghĩa cũng không gặp khó khăn lắm khi chứng minh và bằng tài liệu cũng như hình ảnh khả tín về những sự việc ông cáo giác ông Nhật Tuấn và ông Nhật Tiến chứ ?

Đề cập đến giác thư mà ông Nguyễn Hữu Nghĩa cho phổ biến trên website, tôi chẳng có ý gì khác hơn là chỉ muốn mọi việc được sáng tỏ để làm giảm bầu không khí ô nhiễm do cái cách chống cộng bằng những phương pháp giống như phương pháp mà Cộng Sản đã áp dụng đối với các đồng hương tị nạn Cộng Sản ở đây thời gian họ còn ở trong nuớc, kéo dài hơn hai thập niên qua rồị Điều thứ hai mà tôi muốn đề cập với ông Nguyễn Hữu Nghĩa là ông đã đọc tác phẩm “Đi Về Nơi Hoang Dã ” của tác giả Nhật Tuấn chưa ? Nếu đọc rồi thì xin ông cho biết đoạn nào trong cuốn tiểu thuyết tuyệt vời này là ca tụng chế độ Cộng Sản. Bởi vì theo tôi , nếu nói cuốn ” Đi về nơi hoang dã”là một cuốn tiểu thuyết chống Cộng sâu sắc thì cũng là chỉ mới nói tới một phần. Nó còn hơn thế nữa . Nó chống cái ác, cái xấu, cái đê tiện, hèn mọn, lòng ganh tị nhỏ nhen, sự hoang tưởng của những bộ óc trì độn dùng chính sự trì độn đó để bịt mắt mọi người, và những điều này có thể xảy ra ở dưới bất cứ chế độ nào trên thế giới chứ không chỉ dưới chế độ Cộng Sản. Nhưng Nhật Tuấn, con người can đảm ấy đã dám lấy mạng sống của mình để viết lên những sự thật mà ông trải qua trong suốt thời gian làm một anh công nhân địa chất để viết cuốn Đi Về Nơi Hoang Dã”. Cứ giả thử tác giả Nhật Tuấn là một công an đi nữa thì đây chính là một anh công an có nhân cách.

Bởi vì có nhân cách, thì mới có đủ can đảm và lòng nhân ái để viết bản cáo trạng đối với một chếđộ bằng tác phẩm Đi Về Nơi Hoang Dã.Một người ở hải ngoại nhất là ở Mỹ, một đất nước tự do viết một ngàn tờ cáo buộc chế độ ở Việt Nam thì làmột điều dễ dàng . Chẳng ai bắt bớ , cho đi tù , ăn đói, làm việc nặng, có khi là cái chết. Nhưng nhà văn Nhật Tuấn còn ở trong nước. Mặc dù đang thời kỳ cởi trói văn nghệ, nhưng cái thòng lọng vẫn còn. Nó có thể xiết lại bất cứ lúc nàọ Nỗi đau này nếu xẩy ra nữa thì cũng chỉ có Nhật Tuấn và gia đình ông cũng như gia đình ông Nhật Tiến gánh vác . Cho nên, họ có tội gì mà phải lãnh những cáo giác không cần nêu bằng chứng như vậy ??. Thế còn ” Đi Về Nơi Hoang Dã” thì sao ? Xin hãy đọc một đoạn dưói đây trong lời giới thiệu tác phẩm : “Vậy nhưng rồi tới cái ngày ngay cả ông toán trưởng là người lãnh đạo cái đoàn người đi trên núi này rồi cũng đã trắng mắt, cay đắng nhận ra rằng Ban chỉ huy đã sai trong chỉ đường vạch lối, vậy nhưng ông vẫn phải nhắm mắt tuân theo “mệnh lệnh là mệnh lệnh, tuyệt đối phải chấp hành, nhiệm vụ chính trị cao nhất của chúng ta trong lúc này là đi tới, đi tớị…”, nhưng mà đi tớị.. đâu, đi tới cái đỉnh Hua Ca chỉ có trong tưởng tượng bằng bất cứ giá nàọ Vậy là đã thành một chân lý “Ban chỉ huy không bao giờ sai”, đừng có tranh cãi, triết luận, hội thảo hội thiếc gì với cấp trên hết, nếu không thì sẽ thành thằng “phản động” “Anh dám nói cấp trên là mù quáng hả? Anh quên mất phải trường giai cấp nào mà phát biểu vô tổ chức, vô kỷ luật vậỷ”. Cả 5 ngưòi trong đoàn địa chất đành im lặng sống giữa một xã hội hà khắc, lạnh lùng, không chấp nhận bất cứ một lý luận nào chứng minh cái sai của ngưòi chỉ huy toán địa chất nàỵ Nhưng họ không buông xuôi , họ triết luận với các lý thuyết gia của con đuờng hoang tưỏng ..bằng ” chính cuộc đời thê lương của họ”. Thảm kịch ấy phải chăng đã là là một niềm tin sắt đá rằng,Cái Xấu, Cái Ác không còn lý do để tồn tạị . Cứ như thế cái khẩu khí của Nhật Tuấn như tiếng nói sang sảng của một công tố viên nhân danh con nguời cáo buộc một lãnh tụ, một tập đoàn, một thế lực trong một chế độ dù là Công sản hay quốc gia nhưng độc tàị Cái khéo và sự tuyệt vời của Nhật Tuấn chính là việc ông dựng lên các nhân vật ” không tên” như là một sự tự nhiên : ông toán trưởng, thằng cấp dưỡng, thằng hộ pháp, thằng học giả và ” tôi”, nhưng ngưòi đọc đều biết rõ danh tánh của những con ngưòi như thế. Họ có mặt khắp nơi, ở Việt Nam, ở Trung Cộng, ở Cộng sản Bắc Hàn, ở Cuba, ở Á châu, ở Trung Đông, ở Âu Châụ đâu cũng có thể có những con ngưòi nàỵ .Và một điều cần nhấn mạnh ở đây, trong cuốn tiểu thuyết Đi Về Nơi Hoang Dã của Nhật Tuấn , không bao giờ thấy bóng dáng của sự giận dữ của nhân vật ” tôi”, không bao giờ có những nhóm từ chúng ta thường đọc thấy trong những tờ truyền đơn , những nhóm từ vô nghĩa và kệch cỡm. Nhật Tuấn đã đem tất cả tấm lòng để viết những lời cáo buộc cái Xấu, cái Ác, cái Đơn Điệu, Sự Bưng Bít va Sự Hành Hạ Con Ngườợi Bằng Chính Cái Ngu Dốt Một Cách Bệnh Hoạn Của Những Kẻ Có Quyền. Không gì tuyệt vời hơn là người ta được đọc một bản cáo trạng đối với chế độ độc tài , hà khắc bằng một tác phẩm như ” Đi Về Nơi Hoang Dã”. Nhưng quan trọng nhất, theo nhận định của nhà văn Hoàng Khởi Phong , đây là một tác phẩm văn chuơng thật hay của văn học hiện đạị Nhật Tuấn đã ” đứng dậy cùng với nỗi đau của chính ông hoà tan trong nỗi đau của mọi ngườị- HKP ” để viết bản thông điệp về Con Người nàỵ

VŨ ÁNH

———–

FB Viet Stream

Nhà văn NHẬT TUẤN (1942 – 2015)

6-9-2015

Nhà văn Nhật Tuấn họ Bùi, sinh ở Hà Nội, vừa qua đời tại Việt Nam lúc 6 giờ chiều, ngày 6/10/2015.

Sự nghiệp văn học của ông nổi bật với thể loại truyện ngắn và tiểu thuyết. Trong nhiều năm sau này, khi là cộng tác viên cùa đài Little Saigon Radio, HONVIETV và VIETSTREAM, ông thể hiện mình là nhà báo sắc sảo, nhạy bén với mọi sự kiện chính trị và xã hội trong nước.

Nhà văn Nhật Tuấn thuộc nhóm trí thức đi từ Bắc vào Nam, đi từ nhận thức bị “định hướng XHCN” đến sự thức tỉnh, rồi bất mãn và lên tiếng phẫn nộ, châm biếm đả kích chế độ Cộng Sản và nhà cầm quyền. Ở cả sáng tác văn học và báo chí của ông, chúng ta đều thấy tính phóng khoáng của người từng trải, phải sống giữa “thời đồ đểu” (chữ của ông); thấy cả giọng bất mãn của một người có lòng, biết yêu thương con người; và thấy cả sự tức giận của một con người có chí khí, thẳng tay tố cáo những cái xấu đang diễn ra trong nước.

Thu nay có một người “đi về nơi hoang dã”…

Đi Về Nơi Hoang Dã là một tiểu tuyết nổi tiếng của nhà văn Nhật Tuấn. Ngoài ra ông còn những sáng tác khác:

Trang 17 (1978)
Con chim biết chọn hạt (1981)
Bận rộn (1985)
Mô hình và thực tế (1986)
Lửa lạnh (1987)
Biển bờ (1987)
Tín hiệu của con người (1987)
Đi về nơi hoang dã (1988)
Niềm vui trần thế (1989)
Những mảnh tình đã vỡ (1990)
Tặng phẩm cho em (1995)
Một cái chết thong thả (1995)

….

Xin chia buồn cùng gia đình nhà văn Nhật Tiến – anh trai nhà văn Nhật Tuấn, cùng toàn thể gia quyến!

____

Nhật Tuấn

Cùng Nhật Tuấn đi về nơi hoang dã

Nguyễn Nguyên Bảy

17-8-2014

Nguyễn Nguyên Bảy và Nhật Tuấn

Tin dẫn: Làm sao biết Lý Phương Liên kết moden văn chương Nhật Tuấn cỡ nào, mà cứ nhất định bắt tôi ký hợp đồng viết một bài Chém Gió Văn Chương Nhật Tuấn. Hợp đồng ký xong, tôi điện thoại cho Tuấn xin phép được lên Miền Hoang Dã của bạn để lấy tư liệu viết bài. Bạn đáp: Mời lên ngay, lên ngay, tư liệu tao đầy một bụng, lên nhanh kẻo tao cho cá trê ăn hết bi giờ../ Trời ơi là đất, thế là đi, Bình Dương, đâu như Tân Uyên, cửa Chiến Khu D, Miền Hoang Dã, Một Nhà văn, một.. đợi chờ bầu bạn../ Thế là / Gọi Tô Hoàng/ Hai vợ chồng cùng Ok/ Xem ra họ còn yêu mến Nhật Tuấn hơn cả vợ chồng mình/ Chữ mình là nói với Lý, người tắp lự tổ chức chuyến đi../ Gọi là tổ chức cho oai phong kèn trống/ Gọi Vinasun, Taxi 7 chỗ, 4 người thong thong, vừa đi vừa hỏi đường qua điện thoại.. và đến/ Và ôm nhau/ Và vào bếp/ Và chém gió/ Và nhậu… miền hoang dã… vịt nướng chao, gỏi xu hào, chân giò hấp chấm mắm tép/ chém gió gan trời/ mỡ chúa… Vậy thôi…/ Bài Chém Gió sẽ viết…/

Theo một số nhà lý luận phê bình văn học bậc mét, thì đây chỉ là cuốn truyện dài, không phải tiểu thuyết. Để tránh những tranh cãi không đáng có ngay từ dòng mở đầu bài viết, tôi đã xin phép Nhà văn Nhật Tuấn, gọi tác phẩm Đi Về Nơi Hoang Dã của anh là cuốn Văn Dài, 268 trang kể là dài, một cuốn văn dài đáng đọc, đáng tôn vinh, với riêng tôi, đây là cuốn văn dài hay nhất, chuông khánh nhất, thức tỉnh nhất của Văn Đàn Việt Nam kể từ khi tôi biết đọc sách đến nay.

Cái hay khởi ngay từ tựa đề sách, tựa đề lại chính là thông điệp sách, chính là thông điệp tác giả gửi đến người đọc. Một thông điệp đay đi đay lại, tàng ẩn hư thực nghĩa, đọc một lần nhớ lâu, nghĩ mãi, nhớ nghĩ cho đến vỡ nghĩa đa chiều, rồi thấm mà nhận thức, mà ngộ ra thông điệp. Thực đúng lý của câu chuyện, tựa đề phải là: Đi Về Nơi Thiên Đường. Nhà văn Nhật Tuấn cao tay, đã không lộ mình và lộ văn như một số nhà văn viết và in sách thể tài này trước anh, như Xuân Vũ với Thiên Đường Treo hoặc Dương Thu Hương với Thiên Đường Mù. Anh gọi tên cuốn sách của mình là Đi Về Nơi Hoang Dã.

Nơi Hoang Dã theo cách gọi của Nhật Tuấn lại chính là Nơi Thiên Đường, trong sách là đỉnh Hua Ca. Hành trình lên đỉnh Hua Ca (thiên đường) là hành trình gồm ba khúc thức (tỉnh thức), nói cách khác 268 trang sách miêu tả truyện này truyện khác đọc vắn, đọc nhanh, cốt truyện cũng chỉ là ba khúc thức, dẫn lại dưới đây:

Khúc 1, kỳ vọng thiên đường:

“Phà ơi – nàng kêu lên – anh lên đỉnh núi Hua Ca. Cao lắm, sát tầng mây kia đấy. Hua Ca có nghĩa là “đầu quạ”, nghe nói ở cái mỏ của nó phun ra một dòng nước, nếu hai người cùng uống nước đó trong một cái chén thì không bao giờ quên được nhau…“

“Thật không? Em nói thật không?

“Thật chứ, ông nội em kể lại cho bố, bố kể lại cho em. Nhưng phải thực bụng với nhau mới uống được, người nào không thực bụng uống vào chết ngay.”

Tôi nói với nàng nếu vậy nhất quyết tôi sẽ tìm bằng được lên đỉnh Hua Ca lấy một chai nước về tặng nàng để mai kia uống chung với ai đó.” (Sách đã dẫn 227)

Khúc 2, thất vọng thiên đường:

“Tôi ngơ ngác nhìn quanh, nửa tin nửa ngờ, không lẽ tôi đã đi một vòng ngay trên đầu con quạ đấy ư? Vậy còn cái mỏ của nó phun ra đòng nước thần đâu? Chẳng lẽ cái vùng đất huyền diệu nàng Sao kể cho tôi nghe lại tầm thường toàn sương mù gai góc và đầy những vũng nước vàng ố và bẩn thỉu thế kia ư? Không thể như thế được, cái đỉnh Hua ca thần thánh ấy chắc không phải nơi tôi đang đứng đây, nó phải ở đâu đó cao tít từng mây kia chứ. Thôi nhé, vĩnh biệt chuyện đi tìm nước thần thoát ra từ miệng con quạ. Tôi không thể bắt chước thằng học giả, không thả mang thứ nước vàng đục kia và gọi nó là nước thần về cho nàng Sao. Tôi bước nhanh ra khỏi vũng lầy đầy những bọ gậy và lá mục…”

Khúc 3: hy vọng thiên đường

“Trong đêm cuối cùng trên đỉnh Hua ca, chúng tôi đốt một đống lửa, ngồi quây quần như những ngày trước.Không ai hé răng một lời. Tất cả đều ngồi thẫn thờ trước ngọn lửa đang bốc cao kéo những tàn đỏ đuổi nhau và mất hút trong bóng đêm. Mọi việc giữa bọn tôi rồi cũng qua đi như thế. Sáng mai sẽ xuống núi, sẽ nói với nàng Sao rằng suối thần trên đỉnh Hua Ca chỉ có trong huyền thoại, tuy nhiên, Không Vì Thế Con Người Không Thực Bụng yêu Nhau…”

Cốt truyện chỉ là vậy, thông điệp chỉ là vậy, chưa đầy một trang sách trong số 268 trang. Sự tuyệt vời của thông điệp ở chỗ, đã đến được thiên đường, nhưng ngộ ra không phải là thiên đường, mà chỉ là nơi hoang dã, tức là thiên đường chỉ là huyền thoại, là không có thực, mà nếu có thì cũng đã đi lạc hướng thiên đường, phải đi lại từ đầu, lỗi không phải bởi người đi, mà lỗi của hệ thống định hướng. “Thôi nhé, vĩnh biệt chuyện đi tìm nước thần thoát ra từ miệng con quạ”,“sáng  mai sẽ xuống núi”, đó là một khẳng định, một sửa chữa, một đoạn tuyệt cái sai, cái lỗi, không còn con đường nào khác, giải pháp nào khác. Và “Sẽ nói với nàng Sao rằng suối thần trên đỉnh Hua Ca chỉ có trong huyền thoại, tuy nhiên, Không Vì Thế Con Người Không Thực Bụng Yêu Nhau..”

Nơi con ngưởi thực bụng yêu nhau, nơi ấy chính là thiên đường. Đó không phải là câu văn vẻ, mà là một định nghĩa nhân văn đẹp đẽ nhất của thiên đường. Văn dài Đi Về Nơi Hoang Dã không có cốt truyện, không có nhân vật, không có tình yêu nảy lửa, sét đánh, tay ba, tay tư tranh dành chụp giựt… nói tóm, là không có những cái/thứ mà các tiểu thuyết xưa nay dụng biến. Nhật Tuấn đã viết một thứ văn dài hay tiểu thuyết kiểu Nhật Tuấn, mới, lạ, không giống ai và quan trọng là đã thành công. Có thể gọi đó là tiểu thuyết luận giảng hay tiểu thuyết dịch lý. Tôi nghiêng về ý sau: Tiểu thuyết dịch lý. Dịch lý ngay từ thông điệp đến bố cục, đến nhân vật đến văn phong. Nói vậy không cố ý định văn pháp Nhật Tuấn, càng không ẩn ý thăng hoa Nhật Tuấn  như một kỳ tài, mà là nói đúng theo cảm nhận thu hoạch của người đọc. Trường hợp ngay cả Nhật Tuấn cũng bất ngờ vì nhận định này, thì Tuấn ơi, hãy chắp tay cảm ơn Trời, đã ban cho Tuấn cái linh thần mà viết được sách Đi Về Nơi Hoang Dã với lý dịch mạch lạc, cao siêu và đầy nhân tính. “Sẽ nói với nàng Sao rằng suối thần trên đỉnh Hua Ca chỉ có trong huyền thoại, tuy nhiên, Không Vì Thế Con Người Không Thực Bụng Yêu Nhau..”. Câu văn này sâu cực ý nghĩa dịch. Một hạt dương hoan phối với một hạt âm mà sinh ra thai khí, mà thành con người, cứ thế, thành gia đình, thành quê hương, thành xã tắc. Dịch học gọi toẹt huyệt đàn ông gặp gỡ huyệt đàn bà là hoan phối, văn chương văn vẻ chữ hoan phối thành làm tình, thành yêu nhau, rồi mở rộng thành tình yêu. Như vậy chữ tình yêu ít nhất cũng bao gồm một cặp âm dương, yêu nhau để sống và để truyền giống mà con người còn mãi, còn mãi để yêu nhau. Như vậy, trong chữ Tình yêu tàng ẩn hai hạt cơ bản gây dựng nên nó, đó là hạt sinh tồn và hạt sinh lý. Chất lượng của hai hạt cơ bản này là thước đo cuộc sống, con người phấn đấu không ngừng để mức độ hai hạt cơ bản này cao dần, cao dần, cao cho tới mức mơ ước của con người, mức mơ ước ấy chính là thiên đường.

Ai trong Đi Về Nơi Hoang Dã đã đi về nơi thiên đường-đỉnh Hua Ca ấy? Mời theo văn của Nhật Tuấn, nơi trang 11: “Chúng tôi có năm người, một ông già và bốn gã đàn ông lực lưỡng sẵn sàng làm chồng những cô gái khỏe mạnh, làm cha những đứa bé chập chững, làm chủ những gia đình vào chiều đông xám lạnh như chiều nay hẳn đang quây quần quanh bữa cơm nóng sốt. Vậy mà, đằng đẵng bao năm nay, chúng tôi bị quăng lên những đỉnh núi quanh năm mây phủ, không có cả đến tiếng chó, một bãi phân trâu, cái thứ ở dưới miền đồng ruộng kia, ta bắt gặp nhan nhản ngay khi chưa bước chân vào cổng làng..”

Vậy là có 5 người, nhấn mạnh 5 người. Số 5 nhân vật, rõ ràng, minh bạch thế này tất không thể là suy diễn, Nhật Tuấn đã tung ngũ hành vào hành trỉnh tìm kiếm thiên đường. 5 người này, tượng cho năm nhân vật (tạm gọi vậy) của truyện, mỗi nhân vật một hành. Ông già, nhân vật trưởng toán, là nhân vật tung tâm, thuộc thổ. Nhân vật Thằng học giả, tượng trưng cho trí, thuộc thủy/ Nhân vật  Thằng Hộ Pháp tượng trưng cho lễ (thành tích, cơ bắp) thuộc hỏa/ Nhân vật Thằng cấp dưỡng, tượng trưng cho nghĩa, thuộc kim./ Và nhân vật “Tôi”, thuộc nhân mộc. Nôm na, ngũ hành cũng là năm giai cấp chính trong xã hội: Công, nông, binh, trí, thương. Ngũ hành có tương sinh, tương khắc, mỗi hành phát huy hết năng lực của mình, điều tiết cân bằng, sinh khắc để tồn tại, để phát triển, để tiến hóa. Ví von về sự điều tiết sinh khắc: Trên sông (thủy) có con thuyền (mộc), trong con thuyền có bếp lửa (hỏa), cạnh bếp lửa có hũ gạo (thổ), cạnh hũ gạo có con dao (kim)… Trong Đi Về Nơi Hoang Dãngũ hành người này chỉ là một toán, răm rắp tuân lệnh của toán trưởng, phạt cây, mở đường, ăn rắn ăn rết, đói khô mép khô môi, cắn rắng, cầm lòng ức nín mà hô khẩu hiệu tiến lên Đỉnh Hua Ca/ thiên đường. Chỉ có tiến lên, kẻ nào mở miệng bàn không tiến, nghi hoặc “đường đi không đến”, hoặc có đến thì đấy cũng chỉ là Đỉnh Hua Ca đầy sương mù và nước đọng bẩn thỉu… thì xích xiềng/xiềng xích/xích xiềng và cái chết nhơ bẩn, hổ cha, xấu mẹ, ô danh nguồn cội xóm làng… là một kết thúc. Vì thế, chỉ một con đường vượt núi, tiến lên đỉnh Hua ca huy hoàng. Tiến lên. Tiến lên ta lại tiến lên/ Tiến lên ta quyết vượt lên hàng đầu/ Hàng đầu chẳng biết đi đâu/ Đi đâu thì cứ hàng đầu tiến lên/ Nhất định phải tiến lên. Không được phép nghi ngờ cái sai lầm, cái lạc hướng của Một Ban Chỉ Huy vô hình, vô tích sự, ngây thơ, ngu dốt nào đó. Tiến lên hay là chết? Thật tiếc mà may, tiếc là tiếc ông già trưởng toán, vì sức cùng lực kiệt, mà gục ngã trước cổng thiên đường, và được chôn cất trang nghiêm trên đỉnh Hua Ca mà cả đời ông ước mơ lên tới đó. May là, toán 5 người cùng lên đỉnh Hua Ca, chỉ một người chết, 4 người trẻ còn lại đều sống sót, nhấn mạnh, cố ý sai văn phạm: 4 người chẻ còn nại đều xống xót! Lạc hướng thiên đường thì câu văn cũng phải sám hối, sai văn phạm là sám hối nhẹ như kiểu nức nở cười… Biết đâu những nức nở cười của tứ hành dân chúng này sang tai ầm vang đến Ban chỉ huy, lay thức cơn mê lú của họ về Lỗi Hệ Thống, Lỗi Chỉ Sai Hướng, Lỗi Dẫn sai Đường… để họ hiều là phải thành thực, phải dũng cảm đoạn tuyệt sai lầm, bắt đầu lại từ đầu như thế nào. Xin thêm một lần cảm ơn nhà văn Nhật Tuấn đã chuông khánh thức báo cái sai lầm của lỗi hệ thống cho mọi giới bạn đọc bằng thông điệp Đi Về Nơi Hoang Dã!

Ở trên có nói, văn dài Đi Về Nơi Hoang Dã, ôm một cốt truyện ngắn xỉn, một trang, làm sao đưa đẩy được 268 trang sách, cuốn hút người đọc đến dòng cuối cùng? Nhật Tuấn đâu phải thứ “văn nghê quần chùng”, anh là Nhà Văn thứ thiệt, viết hoa, bằng giọng văn thủ thỉ, trầm ấm, viết mà như không viết, anh mở lòng tâm sự cùng bạn đọc, đến nỗi đọc hết 268 trang văn, người đọc còn như muốn đọc thêm, nghe thêm… Nhật Tuấn thực tài hoa, tràn đầy bản lĩnh viết văn. Nói vậy, là tôi nói, tôi là bạn của Tuấn, lời thơm nhau thì sao! Xin đọc dưới đây, hai bằng chứng vô tư, công bằng của Tuấn, về Tuấn.

Các sản phẩm văn ngắn, văn dài do Nhật Tuấn sinh ra gần như trọn cuộc đời, và nay vẫn đang tiếp tục sinh ra, xin coi là bằng chứng 1. Liệt kê 12 đầu sách đã xuất bản: / Trang 17 (1978)/ Con chim biết chọn hạt (1981)/ Bận rộn (1985)/ Mô hình và thực thể (1986)/ Lửa lạnh (1987)/ Biển bờ (1987)/ Tín hiệu của con người (1987)/ Đi về nơi hoang dã (1988)/ Niềm vui trần thế (1989)/ Những mảnh tình đã vỡ (1990)/ Tặng phẩm cho em (1995)/ Một cái chết thong thả (1995). Và liệt kê thêm: Những đã post lên net, sẽ xuất bản, chắc chắn là thế, tham khảo Nhattuan.blogspot.com

Bằng chứng 2, trích dưới đây đôi ba dòng Đi Về Nơi Hoang Dã, để thấy bút lực Nhật Tuấn còn sung lắm, chữ nghĩa còn dư lắm, tình văn còn đằm lắm:

“Tôi cố nhắm mắt mà không sao ngủ được. Lần này thì không phải cái đói hay cái rét mà là những ý nghĩ của chính tôi. Ông ta là người đã rủ rê tôi theo ông. Cậu đang còn trai trẻ, quẩn quanh phố phường làm gì cho hèn người. Làm thằng đàn ông phải lên rừng, xuống biển cho phỉ chí nam nhi… Tôi kính trọng và nghe theo ông cũng vì một thời trai tráng ông đã: vùng vẫy như thế. Mới ngoài năm chục tuổi, ông đã có trên hai mươi năm lăn lộn khắp các vùng rùng núi Tây Bắc, Việt Bắc khảo sát và thiết kế được biết bao nhiêu con đường quan trọng. Một con người cả đời đã được mưa rừng gió núi làm thoáng đãng tâm hồn, không lẽ lại làm cái việc nhỏ nhặt là giấu diếm một chút mì chính ăn riêng. Không, thằng học giả nói láo, sách vở chữ nghĩa làm méo mó đầu óc nó rồi. Ông toán trưởng thường bảo bọn trí thức là bọn đáng ngờ nhất, nếu không được giáo dục đến nơi đến chốn, bọn nó không đáng bằng cục cứt. May cho tôi không phải trí thức, tôi chỉ là thằng thanh niên lêu lổng, mới rời ghế nhà trường phổ thông, đầu óc chưa bị tiêm nhiễm nặng nề nọc độc của chủ nghĩa cá nhân tư sản, bởi thế như ông nói, tôi rất dễ phấn đấu vươn lên. Chao ôi, quả thực ông đã lầm lẫn khi chọn tôi làm nòng cốt để bồi dưỡng, đào tạo, tôi chẳng báo cáo được gì cho ông về những câu chuyện tào lao bọn nó vẫn đấu láo mỗi khi vắng mặt ông chẳng góp ý giúp đỡ được đứa nào mỗi khi khổ cực quá, chúng nổi khùng lên chửi cha cả cuộc đời. Tôi cũng không tha thiết lắm những điều ông vẫn hứa hẹn: lên lương, đi học, chức quyền… các cái đó với tôi, cũng xa xỉ và xa xôi hão huyền như những món ăn đặc sản thằng học giả thết chúng tôi buổi tối hôm nào vậy.”

Trở lại với định nghĩa tung ra mà lý nói chưa hết nhẽ. Văn dài Đi Về Nơi Hoang Dã là Tiểu Thuyết Dịch Lý. Nói tiểu thuyết dịch lý là nói cái lý tàng ẩn của tiểu thuyết, cũng là nói cái cách mà tiểu thuyết bầy cho người đọc cách dịch chuyển, cũng như  Kinh Dịch là pho sách (kinh) dạy cho thiên hạ muôn năm cách dịch chuyển mà tương thích với cuộc sống mà thành tựu hai hạt cơ bản của đời người là sinh tồn và sinh lý. Với cái kết truyện (Khúc 3: hy vọng thiên đường: “Trong đêm cuối cùng trên đỉnh Hua ca, chúng tôi đốt một đống lửa, ngồi quây quần như những ngày trước.Không ai hé răng một lời. Tất cả đều ngồi thẫn thờ trước ngọn lửa đang bốc cao kéo những tàn đỏ đuổi nhau và mất hút trong bóng đêm. Mọi việc giữa bọn tôi rồi cũng qua đi như thế. Sáng mai sẽ xuống núi, sẽ nói với nàng Sao rằng suối thần trên đỉnh Hua Ca chỉ có trong huyền thoại, tuy nhiên, Không Vì Thế Con Người Không Thực Bụng yêu Nhau…”), Nhật Tuấn đã khẳng định sự cần thiết và nhất định phải dịch chuyển, thay đổi cách nghĩ và hành động của người đọc. Tuy anh không chỉ ra cách thay đổi, cách dịch chuyển cụ thể, vì anh tôn trọng thực tế, hoàn cảnh của từng chủ thể, nói cách khác anh tôn trọng tự do, nhân quyền. Và còn bởi, phẩm hạnh của văn chương là nhân văn, là tự do, là kích hoạt tư duy trừu tượng, tư duy chân lý của mỗi cá thể bạn đọc, của nhân quần, nhân loại. Một cái kết dịch lý.

Tôi xin kể vắn, câu chuyện dưới đây, thay cho thu hoạch cá nhân, sau khi đọc văn dài Đi Về Nơi Hoang Dã của Nhà văn Nhật Tuấn.

…Năm 1889, tức là cách nay hơn trăm năm, nhà chức trách và dân chúng Seattle, tiểu bang Washington, nước Mỹ, nhận ra một cách sâu sắc là thành phố Seattle của họ đã quy hoạch/ xây dựng/ phát triển một cách vô tổ chức, dẫn đến sai lầm là Seattle trở thành một thành phố xú uế tai hại. Quan và Dân Seattle  đã thống nhất đi đến một quyết định sửa sai, có một không hai trên thế giới, là đốt cháy toàn bộ Seattle cũ (The Great Fire Of 1889), nhấn mạnh, đốt cháy toàn bộ thành phố, và xây dựng lại Seattle đàng hoàng, to đẹp. Cả hai việc đốt cháy (đoạn tuyệt sai lầm) và xây dựng lại Seattle, người Seattle đều đã thực hiện thành công. Bằng chứng, bảo tàng dưới lòng đất (Underground đối chứng quá khứ với hiện tại) và Seattle hiện hữu là thành phố lớn, đẹp nhất của tiểu bang Washington và cũng là một trong không nhiều các thành phố hoành tráng, to đẹp, văn minh hàng đầu của nước Mỹ…

Trở lại với cái kết của Đi Về Nơi Hoang Dã.

“Sáng mai sẽ xuống núi, sẽ nói với nàng Sao rằng suối thần trên đỉnh Hua Ca chỉ có trong huyền thoại, tuy nhiên, Không Vì Thế Con Người Không Thực Bụng yêu Nhau”.

Xuống núi, đó là một quyết định đoạn tuyệt đường cùng, một đoạn tuyệt không thể khác. Sẽ nói với nàng Sao rằng suối thần trên đỉnh Hua ca chỉ có trong huyền thoại. Đó là sự thật, một lời nói thật, không thể dối trá hay lừa bịp bằng lời nói khác. Rồi sẽ lên đỉnh đồi nào, núi nào, sông, bể nào để tìm con suối thần có thực, đó là việc khác, chuyện khác, thuộc pháp dịch của mỗi người. Nhưng dù dịch thế nào chăng nữa, thì tự do và nhân quyền vẫn là điều thiết cốt của đời sống con người, bởi chúng ta không bao giờ nguôi quên niềm hy vọng: Con người thực bụng yêu nhau..Tuyệt vời thay Đi Về Nơi Hoang Dã, cuốn sách kêu gọi mọi người thực bụng yêu nhau…

NNB/ Seattle tháng 8.14

_____

Mời đọc lại tác phẩm Đi về nơi hoang dã của nhà văn Nhật Tuấn

Posted in Dân Chủ và Nhân Quyền, Tu Do ngon Luan, Van Hoc | Leave a Comment »

►Nhà Văn Bùi Ngọc Tấn qua đời – tác giả Chuyện Kể Năm 2000 mãi mãi ra đi

Posted by hoangtran204 trên 18/12/2014

Bùi Ngọc Tấn (1934 – 18 tháng 12 năm 2014) là một nhà văn Việt Nam đương đại có nhiều tác phẩm gây chú ý rộng rãi trong dư luận xã hội.

Nhà văn Bùi Ngọc Tấn sinh năm 1934. Quê ông ở làng Câu Tử Ngoại,Hợp Thành, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng. Ông bắt đầu viết văn, viết báo từ 1954. Bùi Ngọc Tấn có sáng tác in ở các nhà xuất bản: Văn học, Lao động, Thanh niên, Phổ thông… khi mới ngoài hai mươi tuổi[1].

Trước khi viết văn, ông là phóng viên báo Tiền Phong ở Hà Nội, viết với bút danh Tân Sắc.

Sau đó, năm 1959, ông trở về quê và thành biên tập viên báo Hải Phòng Kiến thiết. Để có thể nuôi gia đình 6 người, ông tập trung vào viết báo. Ông thân thiết với nhà văn Nguyên Hồng và Bí thư Thành ủy Hoàng Hữu Nhân, người quan tâm đến giới văn nghệ sĩ và đã giúp đỡ ông lúc khó khăn sau này.

Bùi Ngọc Tấn từng bị tập trung cải tạo 5 năm (1968-1973)[2] theo đài RFA về tội “Xét lại, chống Đảng”, mà không được xét xử[3]. Theo ông thì người hạ lệnh bắt ông, cũng như đuổi vợ ông khỏi trường Đại học trong thời gian ông bị cải tạo, ngăn chặn ông đi làm sau khi ra tù là giám đốc công an thành phố Hải Phòng Trần Đông[4].

Khi bị bắt giữ, ông cũng bị tịch thu hơn nghìn trang bản thảo và sau này không được trả lại[1].

Từ khi được xóa án, sau hai năm thất nghiệp, Bùi Ngọc Tấn được tổng cục trưởng Tổng cục Thuỷ sản Hoàng Hữu Nhân xếp vào làm nhân viên theo dõi thi đua khen thưởng ở Liên hiệp Xí nghiệp Đánh cá Hạ Long[5].

Trong khoảng thời gian làm công việc này từ 1974 đến 1994, ông trở thành một “người ẩn dật” với văn chương[6], ngừng viết trong khoảng thời gian 20 năm này[1].

Theo đài RFA, trong thời gian đó “ông không được phép viết lách gì, ngay cả nhật ký cũng thường xuyên bị công an văn hóa xét nhà, lục lọi tịch thu…[3]

Ông trở lại với bạn đọc qua bài “Nguyên Hồng, thời đã mất” đăng trên tạp chí Cửa biển tại Hải Phòng năm 1993.

Ngày 18/12/2014 ông mất tại nhà con trai mình (ông Bùi Ngọc Hiến) ở Hải Phòng sau một thời gian bệnh phổi nặng.[7][8][9][10]

Theo con trai ông, tang lễ sẽ được tổ chức vào ngày 20 tháng 12 năm 2014.

 

Gần đây, tiểu thuyêt “Biển và chim bói cá” (2008) đã được giải thưởng Văn học Henri Queffenlec của Pháp 2012.

nguồn: buingoctan

(Vietnamthoibao) – Thương tiếc nhà văn Bùi Ngọc Tấn, anh vừa từ giã chúng ta lúc 6:30 sáng nay. Xin gửi các bạn, các anh chị lá thư tôi viết cho anh sau khi đọc bản thảo “Thời biến đổi gien”, được anh đưa thành bài Tựa cuốn sách sắp ra mắt ở Mỹ với tên “Hậu chuyển kể năm 2000″.
Cầu chúc hương hồn anh an bình.

Hoàng Hưng

Thư gửi Bùi Ngọc Tấn sau khi đọc “Thời biến đổi gien”

Anh Tấn ơi!

Tôi đã đọc một mạch xong bản thảo cuốn sách trên 300 trang của anh trên suốt chặng đường Đà Nẵng – Sài Gòn 20 giờ xe đò, trừ mấy giờ ngủ chập chờn. Và cũng như cái lần đọc Chuyện kể năm 2000 (CKN2000) mà anh còn nhớ rất rõ và kể lại trong sách này, nước mắt và cả sự nghẹn ngào phải kìm để không thành tiếng nấc, cứ tự nhiên bật ra. Để rồi ngay sau đó tiếng nghẹn ngào lại biến thành tiếng “cười rinh rích” không kìm nổi.

“Đi đến cốt lõi ngọn nguồn” của Sự thật, không né tránh, không sợ hãi, cái Sự thật bi phẫn mà anh đã trải qua, mà bạn bè anh trong đó có tôi, mà cả dân tộc này đã trải qua trong hơn nửa thế kỷ, anh đã phơi bày nó chính xác đến từng chi tiết rùng mình y như từng nắp chai nước mà hai đứa con anh chắt chiu để sống mỗi ngày; nhưng anh luôn vượt qua nó, vượt lên trên nó bằng cái hài hước quen thuộc của mình. Cái hài hước chỉ có ở những tâm hồn mạnh mẽ, không thể khuất phục, của những con người “đắm đuối cuộc sống” – chữ của một hoạ sĩ bạn đọc CKN2000 mà anh tâm đắc.

Tinh thần kép nói trên, thấm nhuần trong những trang miêu tả và kể chuyện hấp dẫn, hồi hộp vô cùng, là sức mạnh những trang viết của anh, ở đây cũng như ở CKN2000. Ấn tượng khó quên của tôi về CKN2000 chính là ở những đoạn “căng thẳng” kỳ lạ như đoạn tả cảnh chia cơm tù ở trại, những con mắt tù hau háu, đau đáu theo dõi việc “cân” các suất cơm bằng chiếc que, những con mắt có khả năng phát hiện chính xác đến từng gam cơm thừa thiếu; còn ở “chuyện kể” mới này, là ở những đoạn gom sách nộp lại cho nhà xuất bản – những âm mưu tính toán, những cuộc điện thoại bằng “mật mã”, những cuộc hẹn hò “bí mật” với vai chính mặc áo Phổ Nghi, đội mũ “ninja”… – li kỳ như truyện trinh thám…

Vâng, 14 năm sau “Chuyện kể”, Bùi Ngọc Tấn lại hiến cho người đọc một “chuyện kể”, lần này là chuyện kể về “chuyện kể”. Tất cả những gì liên quan đến việc viết, in, phát hành, thu hồi CKN2000, với tất cả những con người liên quan, những bình luận,
những hậu quả khôn lường của nó. Anh đã gọi cuốn tiểu thuyết dựa trên nguyên mẫu mình là Chuyện kể…, ngược lại, bây giờ đặt cái tên rất “tiểu thuyết” cho cuốn hồi ức – tư liệu về Chuyện kể… là Thời biến đổi gien.

Có lẽ bởi anh không muốn người đọc chỉ đọc nó như một hồi ức riêng tư. Mà là hồi ức về một thời đại. Một thời đại ghê gớm trên quê hương chúng ta mà cái “gien” NGƯỜI đã bị biến đổi đến thảm hại!

Những con người tốt nhất, bản thân anh, người vợ thủy chung lặng lẽ kiên cường, bạn bè anh – những nhà văn nhà báo khăng khăng một niềm tin ngây thơ vào Cái Đẹp – suốt đời bị nghi ngờ, bị rình rập, bị săn đuổi, đã phải lay lắt để tồn tại như những PHÓ NGƯỜI. Những người tốt khác, ông giám đốc một nhà xuất bản hiếm có, những biên tập viên tâm huyết… dám in tiểu thuyết của anh, những người âm thầm hỗ trợ cho nó ra đời và đến tay người đọc… đã phải sống hai mặt, mặt NGƯỜI ở chốn riêng tư, mặt CÔNG CỤ ở chốn hành nghề. Những kẻ khác thì tùy mức độ, phần NGƯỜI và phần CÔNG CỤ tỷ lệ nghịch với nhau, ý thức CÔNG CỤ khác nhau từ chỗ ý thức rõ rệt, đến chỗ vô thức, bản năng, hay chỉ là một thói quen tập nhiễm.

Tôi nhớ đến cái vườn tượng trên một sườn đồi ở Praha. Rải rác từ chân đến đỉnh đồi, là tượng những NGƯỜI không toàn vẹn hình hài, kẻ mất tay, kẻ mất chân, kẻ không đầu, kẻ không tim… Nếu nói đến tội ác của một chế độ, thì tôi xin nói rằng tội ác lớn nhất của nó chính là phá hủy TÍNH NGƯỜI trong nhiều thế hệ. Một nền kinh tế lụn bại có thể nhanh chóng phục hồi với sự tự cải tổ và trợ giúp từ bên ngoài, một nhà nước bất lực có thể được thay thế với sự đồng thuận của dân chúng, một đất nước thất trận có thể khôi phục lực lượng quân sự của mình bằng tiền bạc, kỹ thuật… Nhưng một dân tộc mà TÍNH NGƯỜI bị phá hủy thì không biết cần đến mấy thế hệ để trở lại làm NGƯỜI toàn vẹn.

Nỗi ám ảnh ấy đã theo tôi nhiều năm nay. Và trong tâm thế ấy, tôi tâm đắc với Bùi Ngọc Tấn về ý nghĩa của việc Viết: Viết là “cuộc chiến đấu vô vọng” để “giữ sự trong sáng trong đôi mắt nhìn đời của các con tôi”. Tôi xúc động vì lời ông bác sĩ ung thư đang chờ chết nói ông đã được tiếp sức từ những trang sách như thế nào: “Tôi hiểu rằng con người không được phép bi quan, không được phép đầu hàng. Tập sách của anh đã nâng đỡ tôi sống những ngày còn lại. Còn một ngày cũng sống cho ra sống”.

Vì thế, chúng ta phải viết. Vì những người đọc như thế. Vì chính chúng ta. Có những kẻ không muốn ta viết, ta phải viết. Họ sợ ta viết, ta phải viết. Họ cấm ta viết, ta phải viết. Họ trùy lung, tiêu hủy những trang viết của ta, ta phải viết. Họ ngăn cản những trang viết của ta đến người đọc, ta phải viết. Ta phải viết “khi cuộc sống chúng ta bị nén xuống sát gần cái chết”, phải không anh Tấn!

Sài gòn, sau ngày biểu tình lớn chống Trung Quốc xâm lược 11/5/2014

Hoàng Hưng

VNexpress:

Nhà văn Bùi Ngọc Tấn qua đời

Tác giả của “Biển và chim bói cá” tạ thế lúc 6h15 sáng nay, ngày 18/12, sau những năm tháng chống chọi với bệnh ung thư.

Nhà văn Bùi Ngọc Tấn qua đời tại nhà riêng ở Hải Phòng, hưởng thọ 81 tuổi. Gia đình ông đã báo tin cho các nhà văn, trong đó có nhà thơ, dịch giả Dương Tường – người bạn thân của Bùi Ngọc Tấn.

Bùi Ngọc Tấn sinh năm 1934 tại thành phố Hải Phòng. Trước khi viết văn ông làm báo. Theo đoàn quân tiếp quản Hà Nội năm 1954, ông tới Hà Nội, sau đó làm phóng viên báo Tiền Phong với bút danh Tân Sắc.

Ở tuổi ngoài đôi mươi, ông đã có tác phẩm in ở các nhà xuất bản như Văn học, Lao động, Thanh Niên, Phổ thông.

Năm 1969, ông trở về quê làm biên tập viên tại báo Hải Phòng Kiến thiết và tập trung viết báo để nuôi gia đình. Giai đoạn từ tháng 11/1968 đến tháng 3/1973 ông vướng vào lao lý. Bùi Ngọc Tấn có một thời gian “ẩn dật” với văn chương, ngừng viết từ 1974 tới 1994.

Sau 20 năm im tiếng trên văn đàn, ông trở lại với bạn đọc bằng những trang hồi ký về nhà văn Nguyên Hồng và những truyện ngắn nổi bật.

Nhà văn Bùi Ngọc Tấn (thứ ba từ trái sang, hàng sau) cùng bạn bè hồi tháng 11/2014.Độc giả biết tới Bùi Ngọc Tấn qua nhiều tác phẩm như tập truyện Những người rách việc (1996), Rừng xưa xanh lá (2004), tiểu thuyết Biển và chim bói cá (2009). Bên cạnh đó, ông còn có nhiều tác phẩm nổi bật như Mùa cưới, Đêm tháng 10, Nhằm thẳng quân thù mà bắn, Nguyên Hồng thời đã mất, Một thời để mất, Một ngày dài đăng đẳng… Tiểu thuyết Biển và chim bói cá của ông được trao tặng giải thưởng Henri Quefenlec tại Liên hoan sách và biển diễn ra tại Pháp năm 2012.

Hiện gia đình nhà văn đang bàn bạc để định ngày đưa tang ông.

Lam Thu

 

bui-ngoc-tan (1)

Tôi rất xúc động khi xem bức ảnh này. Bức chân dung diễn đạt hết sức chân thực sự thắng lợi của tôi trong cuộc chiến đấu dai dẳng gần hết đời người để không bị biến đổi gien. Nhưng những dấu vết của cuộc chiến đấu vẫn in rõ trên nét mặt và cả trong tâm hồn mới ghê gớm và khốc liệt làm sao. Tôi ao ước được biết tác giả của tấm ảnh, để tỏ lời cảm ơn cũng như biết nó được chụp khi nào, ở đâu…

BNT nam1956BNT1955 Bao TienPhong

2anhem

Năm mươi năm trước, khi tiếp quản Thủ Đô rồi làm phóng viên báo Tiền Phong, chàng trai Bùi Ngọc Tấn không bao giờ nghĩ rằng rồi đây mình sẽ có bộ mặt như trên.

nguồn: buingoctan.wordpress.com

———-

Nhà văn Bùi Ngọc Tấn qua đời ở Hải Phòng

RFA 18-12-2014

Vợ ông là bà Nguyễn Thị Ngọc Bích, cho Đài Á Châu Tự Do biết:

“Nhà tôi bị bệnh khối u ở phổi bây giờ nó di căn sang xương, nó đau xương lắm. Nhà tôi mất vào lúc 6 giờ 15 sáng ngày hôm nay 18 tháng 12. Ông ấy đau đớn làm ạ, nằm không yên không ngồi được. 10 giờ sáng mai thì liệm rồi 10 giờ sáng ngày kia sẽ đưa chôn, không hỏa táng”.

Nạn nhân “Xét Lại Chống Đảng”

Nhà văn Bùi Ngọc Tấn là một trong những nạn nhân của vụ án “Xét Lại Chống Đảng” và phải ngồi tù 5 năm trời.

Sau khi ra tù ông đã được “tẩy oan” và sau đó xuất bản tác phẩm Chuyện Kể Năm 2000.

Bùi Ngọc Tấn sinh năm 1934. Quê ông ở làng Câu Tử Ngoại, xã Hợp Thành, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng. Ông bắt đầu viết văn, viết báo từ 1954. Trước khi viết văn, ông là phóng viên báo Tiền Phong ở Hà Nội, viết với bút danh Tân Sắc.

Chuyện Kể Năm 2000

“Chuyện Kể Năm 2000” là một quyển sách nổi tiếng của Bùi Ngọc Tấn đã được dịch ra các ngôn ngữ Anh, Đức và Pháp.

Trong 600 trang sách của tác phẩm này Bùi Ngọc Tấn đã mô tả một trí thức bị chính quyền trấn áp và bắt giam cho thấy bộ mặt thật của guồng máy cai trị.

Chính vì vậy Hà Nội đã lập tức ngăn chặn, tịch thu toàn bộ cuốn sách ngay sau khi nó ra mắt vài ngày tại Việt Nam.

Bùi Ngọc Tấn đã nhận được nhiều giải thưởng của các tờ báo trong nước. Bên cạnh sự nổi tiếng của “Chuyện Kể Năm 2000”, ông cũng nhận được Giải Henri Queffenlec của Pháp vào năm 2012 cho tác phẩm “Biển Và Chim Bói Cá”.

 

Posted in Nhan Vat, Van Hoc | Leave a Comment »

►Cô du kích trong bài thơ “Quê hương” của Giang Nam không chết năm 1960, cô vừa mới qua đời hưởng thọ 83 tuổi

Posted by hoangtran204 trên 30/12/2013

Vụ này hao hao giống chuyện anh hùng Nguyễn Văn Bé được “tổ chức” cho biết đã chết năm 1966, nhưng thật ra vừa mới chết  2002, hay anh hùng “Lê Văn Tám” được Viện trưởng Viện sử học Trần Huy Liệu thú nhận là đã dựng chuyện, hay vụ cha mẹ Tướng Võ Viết Thanh bị  “tổ chức” giết chết nhưng vu oan cho lính ông Diệm (coi dưới bài này).

Bài thơ Quê hương đã được đưa vào sách giáo khoa phổ thông để giảng dạy. Năm 1961, khi xét giải thưởng thơ báo Văn nghệ, có ý kiến đề nghị trao giải nhất cho bài thơ Quê hương, nhưng cũng có ý kiến cho rằng trong bối cảnh lúc đó bài thơ có thể ảnh hưởng đến tinh thần chiến đấu nên đề nghị chỉ trao giải ba, cuối cùng giải pháp dung hoà được nhất trí: bài thơ được tặng giải nhì.[1]  Nguồn ở đây 

Hôm nay nhận được tin em 
Không tin được dù đó là sự thật 
Giặc bắn em rồi, quăng mất xác 
Chỉ vì em là du kích, em ơi!
Đau xé lòng anh, chết nửa con người! 
Xưa yêu quê hương vì có chim, có bướm 
Có những ngày trốn học bị đòn, roi 
Nay yêu quê hương vì trong từng nắm đất 
Có một phần xương thịt của em tôi.

nguồn http://poem.tkaraoke.com/20504/Que_Huong.html

Cô du kích trong bài thơ “Quê hương” qua đời

30-12-2013

Nguồn báo Thanh Niên

Bà Phạm Thị Chiều, vợ nhà thơ Giang Nam, vừa qua đời tại Nha Trang, hưởng thọ 83 tuổi.

Bà chính là “cô du kích” trong bài thơ Quê hương nổi tiếng của Giang Nam, từng lay động nhiều thế hệ những người yêu thơ suốt 53 năm qua.

 

Nhà thơ Giang Nam và bà Phạm Thị Chiều – Ảnh: Trần Đăng

 

“Cô du kích” trong bài thơ với tiếng cười “khúc khích” và đôi mắt “đen tròn” đã bị “giặc giết em rồi quăng mất xác”, còn bà Chiều thì vẫn gắn bó với nhà thơ Giang Nam đến tận hôm nay.

Sở dĩ có sự “vô lý” trên là do nhầm lẫn từ một nguồn tin của cơ sở trong thành báo ra. Nhà thơ Giang Nam nhớ lại: “Tôi và nhà tôi có cảm tình với nhau từ khi còn ở chiến khu Đá Bàn (Khánh Hòa) trong kháng chiến chống Pháp. Mãi đến năm 1955 chúng tôi mới cưới nhau. Cuộc chiến tranh chống Mỹ mỗi lúc một khốc liệt, để tránh sự bố ráp của kẻ thù, tổ chức phân công cả hai chúng tôi vào hoạt động tại Biên Hòa. Chẳng bao lâu sau, vợ và con gái tôi bị địch bắt giam tại nhà tù Phú Lợi. Giữa năm 1960, tôi nghe tổ chức thông báo rằng vợ con tôi bị địch sát hại trong nhà tù này. Quá đau đớn, trong một buổi tối ở rừng, tôi đã viết xong bài thơ Quê hương. Sau này tôi mới biết, thông tin trên là do nhầm lẫn”.

Sự nhầm lẫn ấy để thi đàn Việt Nam có thêm một thi phẩm làm lay động lòng người suốt 50 năm qua về lòng thủy chung của những đôi lứa yêu nhau thời chiến, đã phải chịu nhiều đau thương mất mát để giành lại nền độc lập tự do cho dân tộc.

Trần Đăng

Trần Hoàng: Báo đăng tin này nhằm nói lên sự thật bị che dấu hơn 53 năm qua: Cô du kích không hề chết năm 1960 trái với xuất xứ của bài thơ Quê Hương 1960 mà  tác giả Giang Nam đã từng cho biết trước đây.  

“Cuộc chiến tranh chống Mỹ mỗi lúc một khốc liệt, để tránh sự bố ráp của kẻ thù, tổ chức phân công cả hai chúng tôi vào hoạt động tại Biên Hòa. Chẳng bao lâu sau, vợ và con gái tôi bị địch bắt giam tại nhà tù Phú Lợi. Giữa năm 1960, tôi nghe tổ chức thông báo rằng vợ con tôi bị địch sát hại trong nhà tù này. Quá đau đớn, trong một buổi tối ở rừng, tôi đã viết xong bài thơ Quê hương. Sau này tôi mới biết, thông tin trên là do nhầm lẫn” 

Trong câu trên, các bạn hãy chú ý  2 điều này: Giữa năm 1960 làm gì có giặc Mỹ mà có “Cuộc chiến tranh chống Mỹ mỗi lúc một khốc liệt” ? Mỹ chỉ đổ quân vào Miền Nam để cho các ông CS chống là năm 1965-1973 

Thứ nhì, tổ chức của ông, đảng CSVN, thông báo vợ ông chết là để cho Giang Nam có thêm lòng căm thù…đặng ông nổ lực hiến sức phục vụ cho đảng. Nhưng về phần ông, khi đã biết cô du kích vợ ông không chết, tại sao hơn 50 năm qua ông không lên tiếng công khai đính chính? 

Câu chuyện bài thơ Quê Hương của ông Giang Nam từa tựa như chuyện anh hùng Nguyễn Văn Bé hy sinh, hay chuyện cha mẹ của tướng Võ Viết Thanh bị giết chết năm 1962, lúc ấy tổ chức sai bà Nguyễn Thị Bình gặp mặt và báo tin với tướng Thanh là lính ông Diệm đã giết chết…và ông Thanh đã tin thế.

Mãi cho tới năm 1991, trong vụ án Năm Châu-Sáu Sứ, Trưởng ban Tổ chức Trung ương Nguyễn Đức Tâm mới xác nhận sự thật:

Để trả thù trung tướng Võ Viết Thanh đã phá vỡ âm mưu, Nguyễn Đức Tâm gặp  trung tướng Võ Viết Thanh (sinh 1943), và cho biết là đảng đã sai người giết cha mẹ của  Thanh năm 1962, rồi phao tin quân đội của ông Diệm đã giết.” Mời đọc:

Lừa dối, bịp bợm để tuyên truyền là bản chất của nhà Sản.

———————————-

    Trích: Nguyễn Văn Bé là tên của nhân vật chính trong một chiến dịch tuyên truyền và phản tuyên truyền trong thời kỳ Chiến tranh Việt Nam. Thân thế và hành trạng của nhân vật này có nhiều điểm mơ hồ, mâu thuẫn và không được làm sáng tỏ cho đến ngày nay.

Theo tuyên truyền từ phía Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, Nguyễn Văn Bé là một tấm gương anh hùng trong chiến đấu. Sinh năm 1941, quê ở Châu Thành, Sông Bé, nhập ngũ tháng 7 năm 1961, Nguyễn Văn Bé là một đảng viên Cộng sản, được tuyên dương Anh hùng khi làm đại đội phó đại đội 304, tiểu đoàn bộ đội địa phương Phú Lợi, Thủ Dầu Một.

Về qua trình chiến đấu của Nguyễn Văn Bé có nhiều mâu thuẫn. Một nguồn cho rằng năm 1966, sau khi bị bắt trong một chuyến vận chuyển vũ khí, theo yêu cầu của các binh sĩ Mỹ và Việt Nam Cộng hòa, Nguyễn Văn Bé phải giải thích công dụng của các loại vũ khí này. Lợi dụng cơ hội đó, Nguyễn Văn Bé cầm quả mìn Claymor đập vào một chiếc xe tăng, làm chết 69 binh sĩ Mỹ và Việt Nam Cộng hòa, cùng nhiều xe tăng; hy sinh tan xác tại chỗ. Nguyễn Văn Bé được Ủy ban Trung ương Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Nguồn khác thì ghi Nguyễn Văn Bé đã được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công Giải phóng hạng nhì, là Chiến sĩ thi đua 2 năm liền (1965-1966), đạt danh hiệu Dũng sĩ diệt Mỹ cấp ưu tú. Ngày 17 tháng 9 năm 1967, Ủy ban Trung ương Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam tặng thưởng Huân chương Quân công Giải phóng hạng Ba và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân cho chiến sĩ Nguyễn Văn Bé. Cũng theo nguồn này, Nguyễn Văn Bé vẫn sống sau chiến tranh và từ trần ngày 24 tháng 3 năm 2002.

Về giả thiết thứ nhất (Nguyễn Văn Bé nổ bom cảm tử), tờ Tạp chí Time của Mỹ số 17 tháng 3 năm 1967 viết rằng cái chết anh hùng của Nguyễn Văn Bé thực chất là “tuyên truyền” của phía Cộng sản, còn Nguyễn Văn Bé không hề chết, mà bị bắt và sau đó đầu hàng.[1] Chính bản thân Nguyễn Văn Bé cũng tuyên bố với báo chí thời đó là mình còn sống.

Một số hình ảnh và tư liệu tranh cãi về sự thật cái chết của Nguyễn Văn Bé có thể thấy đây. Theo tạp chí Time, Nguyễn Văn Bé thực sự không chết, trong khi Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trong thời kỳ chiến tranh coi đây là “chiến tranh tâm lý chiến” của Mỹ.

Thân phận và hành trạng của Nguyễn Văn Bé thực sự ra sao, hay đây chỉ là hai chiến sĩ trùng tên nhau vẫn là vấn đề gây tranh cãi. Dù vậy, đã có nhiều bài thơ, bài hát và vở kịch về tấm gương hy sinh anh dũng của Nguyễn Văn Bé, tuyên truyền về lòng yêu nước, hy sinh vì đất nước.

Nhạc sỹ Huy Du có bài “Xin khắc tên anh trên vách chiến hào” nhưng sau này bài hát phải bỏ. Thậm chí, tên Nguyễn Văn Bé sau năm 1975 vẫn còn được đặt cho một con đường tại thị xã Long Khánh, và một trường PTCS. Tên đường Nguyễn Văn Bé sau đó đã được đổi tên.

Áp phích tuyên truyền về Anh hùng Nguyễn Văn Bé năm 1966

nguồn 

Posted in Van Hoc | 1 Comment »

►Một số bài thơ của Bùi Minh Quốc và Trần Mạnh Hảo…

Posted by hoangtran204 trên 27/06/2012

Đỗ Trường có lời tự giới thiệu rất khiêm tốn và giản dị như sau.  Mời các bạn đọc thêm các bài viết của Đỗ Trường ở link này: danchimviet.info

——-

Đỗ Trường

kính gửi các bác-

m tên ĐỖ TRƯỜNG- SINH NĂM1959 tại Hà nôi. em nguyên là công nhân lao động tại đông đức cũ.  em đang định cư tại đức- 25 năm rồi. Hiện tại em mở quán bia rượu nhỏ tại tầng trệt, tại nhà riêng của em. nghề chính bán đồ nhậu. em cũng có gia đình riêng- khoe riêng với các bác,em có 2 cháu gái út 15 và 11 tuổi, đều chơi bóng bàn cho đội tuyển quốc gia CHLBĐỨC: còn ảnh em chưa tìm được cái nào đẹp. ảnh nhếch nhác,sợ xấu báo của các bác. em sẽ gủi sau. tiện em gửi bài này cho các bác rõ tình yêu thời lao động đông đức của chúng em . chúc các bác khỏe. phục vụ bạn đọc. em truong

Những nhà thơ không thể bóp méo linh hồn

Đỗ Trường

Thế hệ những nhà thơ đã trải qua chiến tranh, phần đông (các nhà thơ Miền Nam) đã bỏ nước ra đi. Những nhà thơ còn lại, tuổi đã cao và rơi rụng khá nhiều. Họ là những người ít, nhiều đã tham gia trực tiếp vào cuộc chiến tàn khốc nhất của lịch sử dân tộc, kể từ khi lập quốc đến nay. Có thể nói, dù ở chiến tuyến nào và ý thức hệ có khác nhau, nhưng lòng yêu nước của họ, không ai có thể phủ nhận.

Sau năm 1975, những nhà thơ còn ở lại phải đương đầu với cuộc chiến khác không kém phần khốc liệt. Các thi sĩ thua trận, được đưa ra vùng núi cao Hoàng Liên Sơn để “học tập” thành con người mới. Một số trong họ không thấy trở về. Một nhà thơ tôi quen, may mắn hơn, sau hàng chục năm, khóa “tu luyện” kết thúc, được con cháu đón sang Đức, bị chột, không còn viết lách gì được nữa. Không hiểu ở trong trại, họ cho “học tập” những gì, sau mấy chục năm ở trời Tây, thế mà gặp ai bác vẫn co rúm người lại, cứ tưởng là mấy ông “thầy” quản giáo trong trại. Khiếp thật! Một nỗi ám ảnh đến kinh khủng. Nên mỗi lần nghĩ đến bác thi sĩ này, tôi lại nhớ đến truyện cực ngắn Hạt Thóc của Phù Thăng. Nhưng ngược lại, nhiều bác sau những năm tháng bị học tập, thần kinh càng thêm vững chãi. Khi trốn được ra nước ngoài, các bác cứ nhả đạn đều đều.

Những nhà thơ từ R theo đoàn quân chiến thắng tràn vào thành phố. Nhiều bác nhân lúc nhộm nhoạm tranh thủ ngoặt sang làm chánh trị. Có bác tốt số, gặp thời nhảy tót lên ngồi chỗm trệ chiếu trên. Điều tất nhiên có rất nhiều bạn bè, đồng nghiệp cùng thời đã phải khốn khổ nằm xuống để làm những nấc thang cho bác. Có lần tôi được ngồi chầu rìa, điếu đóm, nghe nhà thơ Xuân Diệu nói chuyện, theo ông cuộc chiến tranh vừa qua, khốc liệt như vậy nhưng đã sản sinh ra nhiều nhà thơ có tài.

Vâng! Đúng như thế, thế hệ này có rất nhiều nhà thơ tài năng, nhưng giữ được linh hồn đích thực thi sĩ lại là chuyện khác. Tôi không phải là người nghiên cứu, phê bình văn học, nên chỉ cảm nhận từ rung động trực tiếp và bằng trực giác riêng của mình về cái hay cái đẹp và tâm hồn, khí phách người nghệ sĩ qua các bài thơ và trang viết của họ. Các nhà thơ, có năm tháng tuổi trẻ đã đi qua chiến tranh, nay tuổi đã cao, sức đã yếu, họ vẫn trăn trở, thai nghén viết ra những câu thơ đọng lại trong lòng người đọc. Trong số họ, để lại những dấu ấn đậm nhất trong tôi là nhà thơ Bùi Minh Quốc và Trần Mạnh Hảo. Về sự nghiệp cũng như tài năng của hai nghệ sĩ này đã được nhiều thế hệ học trò, cũng như các công trình luận văn bậc đại học cho đến tiến sĩ phân tích đánh giá nhiều rồi. Nhưng những bài thơ (chính luận) phản kháng, một cách công khai, khẳng khái với những gì đang diễn ra trong cuộc sống đầy nhiễu nhương này của Bùi Minh Quốc và Trần Mạnh Hảo, làm tôi xúc động mạnh.

Dù chênh nhau về tuổi tác, nhưng có thể nói Bùi Minh Quốc và Trần Mạnh Hảo đều sinh ra, và trưởng thành trong chiến tranh. Nếu như Bùi Minh Quốc xuất thân từ gia đình tiểu tư sản, công chức thành thị, thì Trần Mạnh Hảo có nguồn gốc gia đình thuần nông ở Miền Bắc Việt Nam. Tài năng văn thơ hai ông, đều bộc lộ ngay từ thuở thiếu thời. Năm tháng của tuổi trẻ, các ông đã trực tiếp cầm súng và cầm viết. Có thể nói các ông là những người có công với chế độ. Nhưng sau chiến tranh, hạnh kiểm hai ông được xếp vào dạng yếu kém, bị loại ra khỏi hàng ngũ những người con ưu tú. Lịch sự như các cụ nhà ta bảo, đứt gánh giữa đường. Bỗ bã của kẻ hàng nước, các bố bị tuột xích. Biên chế nhà nước cũng mất, tức là cái dạ dầy của các bác cũng bị thiến luôn. Vậy là bao công lao vào sinh ra tử của các bác đổ xuống sông xuống bể cả. Thật là, chẳng cái dại nào giống cái dại nào. Cứ thẳng đường tiến “vì chủ nghĩa xã hội” như khẩu hiệu trên trang nhất báo văn nghệ, không tốt số như bác Điềm, bác Thỉnh, các bác cũng có chiếu giữa để ngồi. Đằng này trên đầu của các bác chỉ còn Tổ Quốc và nhân dân, đi đứt là cái chắc rồi.

Bùi Minh Quốc được cho là nhà thơ của tình yêu, nhưng thẻ thông hành của ông đến với làng văn lại là một bài thơ cổ động Lên Miền Tây. Bài thơ này nói lên(tâm trạng thật của Bùi Minh Quốc) cái không khí sục sôi, cháy bỏng của một thời tuổi trẻ. Họ bỏ sách vở, rời xa thành phố, theo tiếng gọi của đảng, lên với Miền Tây, phá rừng khai hoang, làm kinh tế mới:

“..Ôi Miền Tây, ở miền xuôi sao nghe nói ngại ngùng
Mà lúc ra đi lửa trong lòng vẫn cháy
Tuổi hai mươi khi hướng đời đã thấy
Thì xa xôi biết mấy cũng lên đường
Sống ở thủ đô mà dạ để mười phương
Nghe khát vọng chất chồng mơ ước..”

Có lẽ lúc đó, nhà thơ cũng không hiểu rằng, bài thơ này góp phần không nhỏ cho một chính sách sai lầm, di dân phá rừng vô tổ chức của đảng. Làm cho rừng đầu nguồn trơ trụi, thiên nhiên biến dạng, tạo nên những cơn lũ quét kinh hoàng như chúng ta đã thấy. Hậu quả đó không chỉ ở Tây Bắc mà những cánh rừng bạt ngàn Tây Nguyên hôm nay đã, đang đốt phá, nham nhở và môi trường, thiên nhiên bị tàn phá nặng nề. Đà Lạt, nơi nhà thơ đang sống, có lẽ tiếng thông reo sắp trở thành quá khứ.

Tôi yêu thơ Bùi Minh Quốc, vì ông chỉ viết khi con tim của ông rung lên với những cảm xúc thật sự. Nghỉ chân dưới tán rừng già nơi hành quân gian khổ ấy, khi đồng nghiệp, đồng đội của ông viết về những “Đêm Trường Sơn Nhớ Bác” thì ông nhớ và viết về người vợ thân yêu (cũng là nhà văn) vừa hy sinh. Tôi tin rằng, tình cảm lúc đó của Bùi Minh Quốc rất thật, khi ông viết:

“.. Để làm nên những buổi mai đầy nắng
Em bối rối và sững sờ đứng lặng
Vẻ đẹp này em chưa biết đặt tên
Thức dậy bao điều cao quí trong em
Thức dậy bao điều mới mẻ trong em
Nơi ngọn bút nghe cuộc đời thôi thúc
Và em gọi đó là hạnh phúc…”

Phải nói thẳng, tâm lý con người, khi xa nhà, việc đầu tiên phải nghĩ đến là vợ con, bố mẹ, anh em và quê hương, nơi đó có bạn bè, xóm giềng. Chỉ có kẻ điên, giữa rừng Trường Sơn âm u, lại nhớ đến người không quen, chưa từng gặp, dù người đó là ai hoặc có là thánh nhân đi chăng nữa. Điều này phi khoa học, trái với qui luật của tự nhiên. Với những thơ văn định hướng, giả dối, nặng mùi tụng ca thế này, văn học nước nhà bao giờ mới lớn lên được. Qủa không ngoa, có một nhà nghiên cứu nói rằng, Việt Nam muốn có giải văn học lớn, nên giải tán hội nhà văn đi, để cho các nhà văn tự thân vận động. Và hãy để họ viết những gì họ đang nghĩ. Những nước nhận được giải Nobel về văn học, vì họ có những ông bà Thủ tướng, Tổng thống không bao giờ dám há mồm ra nói, lãnh đạo, định hướng tư tưởng các nhà văn.

Kỳ đại hội nhà văn vừa rồi, không hiểu sao, những bài diễn văn, dạng xã luận báo nhân dân, micro nghe cứ sang sảng làm nhức cả tai người nghe. Ấy vậy mà đến lúc bác Bùi Minh Quốc và Trần Mạnh Hảo phát biểu là cái micro giở chứng tắc tị, làm hai bác đứng như phỗng, tịt ngòi luôn. Khùng lên, các bác đổ nghiến cho cái đại hội nhà văn là đại hội bịt miệng. Dù Hữu Thỉnh có giải thích, do trục trặc kỹ thuật, sẽ nghiêm túc kiểm điểm rút kinh nghiệm. Nhưng các bác lại cho đây là chủ trương của Hữu Thỉnh và ban tổ chức. Nói như vậy có lẽ oan cho Hữu Thỉnh. Cùng đồng đội, nhà văn với nhau, hơn nữa bác Thỉnh là đảng viên ưu tú, lẽ nào đê tiện, bẩn thỉu đến như vậy?

Nghe nói, sau đó bác Quốc, bác Hảo tuyên bố giã từ đại hội bịt mồm, giã từ hội viên của hội nhà văn. Mấy thằng chúng em ở bên này xin kiến nghị, hai bác đừng tự vất bỏ cái danh hiệu cao sang này (cái thẻ này nhiều thằng rất thèm. Cùng bất đắc dĩ, các bác cà thằng nào nhiều tiền, hám danh, bán lấy tiền ăn chơi, dối già, vứt đi uổng lắm).

Lần đại hội tới các bác cứ việc tham dự và xung phong phát biểu. Chúng em đã bàn nhau mua tặng hai bác cái micro và âmly. Phòng khi các bác đang phát biểu, micro của bác Thỉnh, bác Thiều giở chứng như lần trước, các bác chỉ việc rút micro này ra, bấm và tiếp tục đăng đàn như thường... Chắc các bác cũng biết, loa và âmly của thằng Đức, tốt nhất thế giới, nhỏ như cái camera thôi nhưng cũng đủ cả hội trường nghe rõ ràng. Dẫu biết rằng, ý kiến của các bác cũng như đàn gảy tai trâu, nước đổ đầu vịt mà thôi, nhưng nó sẽ thoát được cái ấm ức dồn nén lâu ngày ở trong người. Chúng em ở bên này được nghe cũng mát lòng, mát ruột. Chứ để lâu ngày dồn nén, đóng cục xộc huyết áp lên đỉnh đầu thì chí nguy.

Nếu như thơ tình của Bùi Minh Quốc, nhẹ nhàng, đằm thắm bao nhiêu thì những bài thơ (chính luận) phản kháng của ông hùng hồn, sắc mạnh bấy nhiêu. Nó như nhát dao chọc thẳng vào những cái ung nhọt của xã hội. Nó hơn cả những bản án đập vào mặt bọn cường quyền:

“…Chúng nó nhậu từng cánh rừng dải núi
Từng khoảng trời miệt đất lòng khơi
Nhậu tất cả từ Vua Hùng để lại
Nhậu đến nàng Tô Thị hóa thành vôi
Chúng nó nhậu trên thân em trinh bạch
Trên lưng mẹ già còm cõi một đời bom..”

Có thể nói thơ của Bùi Minh Quốc sù sì, hiên ngang, chính trực như chính con người ông. Với ông, Tổ Quốc và nhân dân là tất cả. Ông đau với cái đau của nhân dân, của đất nước. Và đây là cái đau về cả thể xác lẫn tâm hồn trong một lần ông bị hỏi cung, thẩm vấn. Trong cái nghẹn ngào uất hận ấy, thơ của ông vọt ra, nấc lên trong màn đêm của ngục tối:

“Tổ Quốc hỡi tình chi đau đớn vậy
Con yêu người ngục tối một trời xanh
Ôi! Tổ Quốc trong tay quỷ dữ
Tiếng hát tự do uất nghẹn khắp thân mình..”

Nếu như “Lên Miền Tây” là bản hoan ca vào đời của BMQ thì bài thơ “Cay Đắng Thay” là tiếng thán ca đầy chua xót hôm nay của ông. Bài thơ rất ngắn, đơn giản, nhưng hay nhất của BMQ viết về đề tài chính trị xã hội. Ông dùng thủ pháp ẩn dụ, thông qua hình tượng cỗ máy, để bóc trần bộ mặt giả dối của kẻ cầm quyền. Qua đó bật lên sự cay đắng, chán chường của ông, thế hệ ông, cũng như thế hệ trước và sau ông. Tôi cho rằng, bài thơ này như một lời thú nhận, tổng kết lại cả cuộc đời, sự nghiệp văn thơ của ông từ ngày theo đảng. Có lẽ không riêng tôi, có rất nhiều, rất nhiều người, cảm phục cái yêu như điên cuồng của Bùi Minh Quốc, nhưng dám rũ bỏ, tranh đấu đến tận cùng, khi ông đã nhận ra bộ mặt thật của nó.

“Cái guồng máy nhục mạ con người
Mang bộ mặt hiền lành của kẻ cuốc đất
Ù lì quay
Quay
Thao thao bài đạo đức
Liệu có mấy ai còn ngây?
Cay đắng thay
Mỉa mai thay
Trọn tuổi xuân hiến dâng cuồng nhiệt
Lại đúc nên chính cỗ máy này.”

Có người ví nhà thơ Trần Mạnh Hảo như trái bom chùm, người không có kỹ thuật, nghiệp vụ táy máy động vào, nổ liền tù tì ngay tức khắc. Thật ra người Việt mình ngại va chạm, dĩ hòa vi quí là chính. Nhất là trong giới văn nghệ, đã có ban tư tưởng dẫn dắt, định hướng, nên những bài phê bình thường chung chung, khen, chê mỗi thứ một chút. Vô thưởng vô phạt như vậy bác nào cũng vui vẻ cả. Trong cái không khí thiu thiu, gà gật như vậy, lại nảy lòi ra cái bác Trần Mạnh Hảo mang bom dội vào, chạm phải vía, nhiều bác nhảy cẫng lên. Điềm đạm, vui là chính như trannhuong.com cũng phải khẳng định, nhà thơ Trần Mạnh Hảo là người thỉnh thoảng tạo nên sóng gió trên văn đàn. Nhưng không riêng tôi, có nhiều người lại khoái cách viết rạch ròi, và đi đến tận cùng sự thật này của Trần Mạnh Hảo. Mà không hiểu, già mõ ra rồi, sức lực ở đâu, ngày, vài ngày bác lại bắn ra một bài. Chưa nói đến đến những kiến thức, suy nghĩ lập luận của bài viết, chỉ cần ngồi gõ lọc cọc ngần ấy con chữ trên máy tính, sức giai tơ chưa chắc đã kham nổi. Em bái phục bác.

Bác Hảo cũng kỳ quặc, sao không nhằm mấy ông nhà thơ đang xuống, hấp hối, về chiều, thuận đà đấm đạp, cho tịt luôn. Bác lại cả gan lôi mớ bòng bong (được gọi là thơ) của Nguyễn Quang Thiều, quan lộ đang lên, được nhiều tổ chức tung hô, ra chọc ngoáy. Đường đường là phó chủ tịch hội nhà văn Việt Nam, bị bác Hảo chê, là trường phái thơ tân con cóc, bác Thiều chịu thế chó nào được. Thật là chẳng khác gì sát ớt vào đít nhau. Nhảy cẫng lên thấy kỳ, lý luận với bác Hảo cảm thấy không xong, bác Thiều đành phải chửi độc, theo kiểu mẹ con chị dân quân vùng biển Nam Định, được phong anh hùng bắn rơi máy bay Mỹ, mỗi khi nhà bị mất cắp gà. Quả thật, trong cái mớ chữ lộn xộn này, nếu không thấy tên tác giả Nguyễn Quang Thiều, tôi lại tưởng của người bị bệnh tâm thần, chập cheng viết ra. Ngay cái tựa đề – Sự Mất Ngủ Của Lửa – của mớ chữ này, được coi là hay nhất của Nguyễn Quang Thiều, nó cũng tù mù ngữ nghĩa, tối như đêm ba mươi vậy. Tôi đã đọc Nguyễn Quang Thiều, nhiều bài tôi phải bỏ giữa chừng. Không hiểu sao mỗi lần đọc bài được gọi là thơ của bác Thiều, tôi lại nhớ đến mấy câu(vè) nói về tình trạng thơ hiện nay, vô cùng tục và bậy (trong bài Trò Chuyện Với Hoa Thủy Tiên) của nhà văn Nguyễn Huy Thiệp. Tôi chỉ dám trích ra đây có một câu, “.. Vợ tôi nửa dại nửa khôn/ Hôm nay lại bảo: Dí L.. vào thơ..”

Nhắc đến bác Nguyễn Quang Thiều, làm tôi nhớ đến bài viết của mình, đăng trên báo văn nghệ của hội nhà văn Việt Nam (thứ bảy ngày 13/10/2001). Bài viết hai ý, một về nhà văn Hữu Ước, sau khi đi thăm Nga về, ông có viết một bài ký về cuộc sống người Việt trên đất Nga, được đăng nhiều kỳ trên báo văn nghệ. Mấy ông bạn rượu, từ Nga sang Đức tị nạn đọc, bảo Hữu Ước cỡi ngựa xem hoa, viết không đúng. Thấy giọng văn thông tấn, chẳng có tí tẹo văn học nào ở trong đó, đăng báo ngành đúng hơn, nên tôi đề nghị báo văn nghệ xem lại. Phần này bị bác Hữu Thỉnh thiến mất. Chỉ còn phần viết về, bài viết của nhà thơ Trần Đăng Khoa, sau khi đi Mỹ cùng với Nguyễn Quang Thiều. Nhưng bác Thỉnh lại biến tên bác Khoa thành ông X, bác Thiều thành ông Y, đọc lên như phương trình toán học vậy. (Không hiểu sao chúng ta cứ hay phải giấu giấu, diếm diếm cái tên do cha mẹ đặt cho như vậy, đó là việc làm không đàng hoàng. Khi tranh luận, các bác hay lủi vào bóng tối, có bác núp cả vào những con số, cứ như điệp viên 007, nghĩ mà thấy kinh. Thật ra vì hoàn cảnh, hay lý do nào đó các nhà thơ, nhà văn buộc phải lấy bút danh. Chứ tôi ít thấy ông nào lấy bút danh mà có văn hay. Tên đã giả làm sao có văn thật được).

Trong bài bác Khoa bốc thơm bác Thiều nói tiếng Anh nghe như người Mỹ. Không biết đây là câu khen đểu, hay khen thật của bác Khoa. Đã du học ở Tây, chắc bác Khoa cũng thừa biết, tiếng Việt ta đơn âm, tiếng Tây âm kép do vậy, chỉ có các cháu sinh đẻ, hoặc từ nhỏ học ở Tây mới phát âm như Tây. Còn dạng sang Cu Ba học tiếng Tây như bác Thiều, chỉ là giọng Tây rau muống mà thôi.

Nhìn lại một cách hệ thống, thơ văn của Trần Mạnh Hảo trải qua gần nửa thế kỷ, ngoài những bài thơ về tình yêu, thiên nhiên đất nước, mảng viết về đề tài xã hội của ông rất quan trọng. Thơ ông gắn chặt thân phận con người và những thăng trầm của xã hội. Sau ngày hòa bình(30-4-75) ông đã chợt nhận ra, đất nước liền một dải, nhưng lòng người đã phân ly. Nhìn dòng người vượt biên đang chết đuối trên biển, con tim ông rung lên cùng cây viết. Bài Cho Một Nhà Văn Nằm Xuống, là một bài thơ hay, xúc động nhất của TMH viết nỗi đau của đồng loại, khi xã hội ngoảnh mặt quay lưng. Đây là đề tài cấm kỵ, nhạy cảm, vô cùng nguy hiểm của những năm đầu thập niên tám mươi, Trần Mạnh Hảo là một trong số rất ít các nhà văn dám viết:

“…Bãi biển Vũng Tầu đầy những xác chết trôi
Những người Viêt Nam vượt biên chết chìm trên biển
Những em bé
Những người đàn ông
Những người đàn bà
Chết rồi còn giơ tay cầu cứu
Chết rồi còn quờ tay tìm lối thoát
Đâu nhà văn, đâu người cầm bút
Sao nỡ để nhân vật của mình
Chết trôi chết dạt
Biển ơi! Nỡ vô tình
Như ngàn trang sách
Những tay sóng kia, sao không vuốt mắt
Cho những nhân vật của chúng ta?…”

Và đây là một câu hỏi, và lời tự trách, hay một bản án dành cho mỗi con người và xã hội này. Một xã hội vô trách nhiệm, giả dối, thiếu tình người.

“…Biển không nhận
Bờ không nhận
Những trang sách không nhận
Không ai nhận những con người
Ở thời đại mình đang sống?..”

Có lẽ là người sinh ra và lớn lên từ biển, nên Trần Mạnh Hảo hiểu, yêu biển hơn ai hết. Bài nào viết về biển của ông cũng hay, trong thơ như có ngàn ngọn lửa hun đúc từ linh hồn, khí phách ngàn đời của cha ông. Nếu Tổ Quốc Tôi Không Còn Biển là một trong những bài thơ khí phách cao độ nhất, mỗi khi biển, “Tổ Quốc nguy nan/mỗi người Việt Nam/ hóa thành cọc nhọn” đâm nát quân thù:

“…Nếu Tổ Quốc không còn biển
Dân tộc tôi sẽ chết đuối trên bờ
Chết đuối trên cao nguyên
Chết đuối trong bùn boxit

Tổ Quốc không chịu chết
Biển Đông gầm hóa Bạch Đằng Giang”

Trên đây là một vài cảm nhận về linh hồn, khí phách trong thi ca của hai nhà thơ mà tôi yêu thích, Bùi Minh Quốc và Trần Mạnh Hảo. Nếu bác nào thích, đồng cảm cứ cho thằng em một lời khen. Bác nào không thích xin cứ việc chửi, nhưng xin các bác đừng chửi độc địa như Nguyễn Quang Thiều chửi nhà thơ Trần Mạnh Hảo.

Đức Quốc ngày 26-6-2012
Đỗ Trường

Posted in Van Hoc | 1 Comment »

Nhà văn Lê Lựu đã bán linh hồn cho ai?

Posted by hoangtran204 trên 19/04/2012

Lời tựa: Các tinh hoa của miền Bắc đã có được những nhận thức rất sớm về sự tàn bạo và áp chế tự do của con người từ khi họ còn sống ở miền Bắc trước năm 1975. Khi đặt chân vào miền Nam sau ngày 30-4-1975, nhận thức của họ đã được củng cố, và họ càng ngộ ra rằng lâu nay họ đã bị đảng lợi dụng, và những gì đảng tuyên truyền là láo khoét.  Nhà văn Dương Thu Hương khi mới đặt chân vào Sài Gòn đã khóc:  Tôi khóc ngày 30 tháng Tư 75 vì thấy nền văn minh đã thua chế độ man rợ” và “Tôi không choáng ngợp vì nhà cao cửa rộng của miền Nam, mà vì tác phẩm của tất cả các nhà văn miền Nam đều được xuất bản trong một chế độ tự do; tất cả các tác giả mà tôi chưa bao giờ biết đều có tác phẩm bầy trong các hiệu sách, ngay trên vỉa hè; và đầy rẫy các phương tiện thông tin như TV, radio, cassette. Những phương tiện đó đối với người miền Bắc là những giất mơ.

Hôm nay, chúng ta lại được nghe thêm tiếng lòng của nhà văn, nhà báo Lê Lựu và nhà thơ Trần Mạnh Hảo:

    “Hồi đầu vào Sài Gòn cùng Nguyễn Khải ở nhà tôi gần ba tháng, Lê Lựu chỉ làm hai việc rất chân chính là tìm bồ và tìm mua sách. Gặp kho sách dịch Sài Gòn, Lê Lựu sướng ngất ngây, hệt chuột sa chĩnh gạo. Ông đọc triết tây triết đông qua các bản dịch của các linh mục dạy triết và các nhà Hán Nôm có hạng Sài Gòn. Ông đọc các tiểu thuyết phương Tây mê man, hầu như có khi thức xuyên đêm.

    Bỏ mẹ, Lê Lựu và tôi rì rầm để cho ông anh Nguyễn Khải ngủ: thế này thì đúng là Sài Gòn nó giải phóng chúng ta chứ cóc phải ngược lại bác Lựu nhẩy. Chết ông be bé cái mồm cho tôi nhờ. Đâu phải cái đúng cái hay cái tốt bao giờ cũng thắng thế đâu. Man di thắng văn minh là thường mà. Các bộ tộc man rợ phương Bắc châu Âu từng chiến thắng văn minh La Mã là gì? Kẻ dốt, kẻ cuồng tín, kẻ kiêu ngạo, kẻ ác thì làm gì có tự do…mà đòithôi thôi tai vách mạch rừng không nói nữa. Này, bác Lựu nghĩ mãi mà không nói được ra thì điên mẹ nó đấy. Đừng nghĩ nữa, nghĩ nhiều thì vào nhà tù mà nghĩ nghe chưa…”


Nhà văn Lê Lựu đã bán linh hồn cho ai?

Tác giả: Trần Mạnh Hảo

Nguồn: Danchimviet.org

Vừa rồi, tôi, kẻ viết bài này gọi điện thoại thăm nhà văn Lê Lựu, sau khi báo chí phỏng vấn ông, hỏi vì sao một nhà văn lớn như ông mà bị trượt giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học năm 2012 mới công bố. Ông cười với nhà báo và cả cười với tôi: “Chuyện nhỏ, ông quan tâm làm gì, ở đâu, đến ngay làm vài li với tớ”. Khi biết tôi đang ở Sài Gòn, Lê Lựu bồn chồn, rằng “thời trẻ tụi mình nghèo kiết xác, cà lơ phất phơ cả với nhau mà vui quá ông nhỉ? “

Tôi biết Lê Lựu đang buồn, không phải buồn vì bệnh tật hay không được giải thưởng to cỡ 300.000.000 đ, mà buồn vì nhân tình thế thái, buồn vì đời nay tệ quá, tàn quá, xuống cấp quá, tha hóa quá, phi nhân quá. Hãy xem ông trả lời tờ báo An Ninh Thế giới số 1093 ra ngày 10-9-2011 của ông trung tướng công an Hữu Ước theo blog Nguyễn Thông:

“Đọc mấy nhời của bác Lựu, giật mình, nghĩ sao mà tướng Hữu Ước dám cho đăng nhỉ, hay là bữa ấy đi công tác vắng, cấp dưới nó không báo cáo, xin phép. Mà cũng có lý, bởi giờ đây mình sợt tìm trên bản điện tử báo An ninh thế giới thì không có chữ nào, kết quả báo rằng không tìm thấy.

Sau đây là lời của bác Lựu:

Trong lúc trà dư tửu hậu với bạn bè, tôi và những người bạn tâm giao nói về những vấn đề của xã hội, nghĩ về nhân tình thế thái. Tôi không hiểu sao bây giờ con người không tốt với nhau. Trong chiến tranh hy sinh nhiều, cuộc sống khổ cực, nhưng lòng mình thanh thản, lòng dân vô tư lắm. Đi chiến trường hy sinh mà lòng thanh thản, nhẹ nhàng. Bây giờ thời bình không còn tiếng bom đạn nhưng tâm con người cứ lộn nhào hết cả. Không biết thế nào là phải, thế nào là trái. Không biết thế nào là đúng, thế nào là sai. Không biết thế nào là lim (giới hạn-NV). Mỗi con người phải có một cái lim nhất định thì mới thành xã hội. Con người có nhiều tính cách thì cuộc sống mới phong phú và đa dạng. Nhưng mà phải có lim và có luật lệ.Trong chiến tranh, tâm tính con người ta hiền lành, không mưu mô xảo quyệt. Chứ thời nay, trong cơ chế thị trường này, luật lệ cũng lung tung. Xử lý công việc cũng lung tung. Sống nặng về vật chất, thực dụng, chụp giật. Bây giờ sáng ra đọc báo toàn những chuyện giật mình. Con kiện cha chỉ vì mười mét vuông chỗ ở. Một đứa trẻ chưa đến tuổi thành niên giết mấy mạng người không ghê tay. Một đứa trẻ khác chỉ vì thiếu tiền chơi game ra tay sát hại cả em mình, bà mình. Người ta thiếu tiền nên giết người chỉ vì vài trăm nghìn đồng. Trong làm ăn thì lừa đảo nhau nhiều lắm. Cứ lợi dụng nhau sơ hở vài chữ trong văn bản, thậm chí từ một cái dấu phẩy trong bản hợp đồng để lừa nhau hàng tỉ. Trong doanh nhân cũng nhiều người tốt, nhưng rồi cũng có rất nhiều người nhăm nhăm để lừa nhau.
Chính thời nay là thời loạn, chứ không phải chiến tranh là thời loạn” ( hết trích).

Có lẽ, một trong những nguyên nhân khiến ông không được giải thưởng lớn vì tính nói thẳng nói thật của Lê Lựu chăng? Thẳng thắn và trung thực như hai tác phẩm (tiểu thuyết) lớn nhất của đời ông: “Thời xa vắng” (1986) và “Chuyện làng Cuội” (1991)

Nhớ tết năm 1976, cái tết đầu sau ngày thống nhất đất nước, tôi từ Sài Gòn ra Hà Nội, rét quá, cứ dúm dúm dó dó dưới gốc táo sân sau tạp chí Văn Nghệ Quân Đội. Chợt Lê Lựu kéo tôi vào phòng, đưa bộ complê màu xám còn khá mới bảo: Hảo lấy mặc vào ngay cho ấm, mặc đến khi nào vào Sài Gòn đưa lại cho mình, mình trả lại nhà nước… Mình và Nguyễn Khoa Điềm vừa được đi Bungari về, phải mượn áo quần dày dép của nhà nước…Mình đã báo cơm ở bếp ăn tập thể báo “Quân đội nhân dân” cho Hảo, cứ nhớ bữa trưa và chiều về ăn nhá”.

Tôi quen Lê Lựu trong lúc xẻ cơm nhường áo này cách đây 36 năm. Vài năm sau, khi nhà văn Nguyễn Khải và nhà văn Lê Lựu vào Sài Gòn, tôi đã rủ hai bác này đến nhà tôi ở suốt gần ba tháng. Thực ra, tôi đã biết mặt, nhớ mặt nhà báo Lê Lựu, phóng viên báo “Quân khu Ba” mấy năm trước, khi ông đến sư đoàn 320 B, nơi tôi huấn luyện để phỏng vấn vì sao, có phải vì mới được học nghị quyết mà đồng chí đã đạt thành tích chạy nhanh nhất sư đoàn trong một cuộc thi chạy hay không ? Tôi thành thật trả lời nhà báo trẻ Lê Lựu:”Thưa bác nhà báo, không phải nghị quyết làm em chạy nhanh đâu ạ”.” Thế không phải do nghị quyết thì còn bởi gì?”. “ Dạ, bởi bố em”. “Bố đồng chí dạy đồng chí chạy à?”. “Không, thưa bác nhà báo, bố em không dạy em chạy, mà ông chuyên cầm roi đuổi đánh em ngay từ khi em mới biết đi ạ”.” À ra thế, bố cầm roi đuổi đánh, cứ thế mà chạy như biến, chạy bán sống bán chết, chạy vắt giò lên cổ nên thành ra chạy nhanh ngang gió phải không?” Dạ thưa bác nhà báo, quá đúng ạ”…

Sau cái buổi cho mượn bộ Complê quốc doanh và báo cơm cho ăn tới bến của Lê Lựu bữa xa xưa ấy, tôi có nhắc lại kỷ niệm được anh nhà báo trẻ báo “Quân khu Ba” phỏng vấn vì thành tích thi chạy nhanh nhất sư đoàn của tôi, Lê Lựu cả cười nhớ ra bộ dạng thật thà của anh lính trẻ Trần Mạnh Hảo. Lê Lựu bảo: “Tớ về viết bài báo rất hấp dẫn về cuộc phỏng vấn các nhân vật lính mới sau khóa huấn luyện đi B của sư B20B ở các khâu kỹ thuật: bắn súng giỏi nhất, chạy nhanh nhất, đâm lê tài nhất, ném lựu đạn tài nhất… đưa duyệt đăng, đến đoạn ông trả lời do bố đuổi đánh chạy quanh làng mãi nên thành chạy nhanh nhất sư đoàn, tổng biên tập báo của tớ cười sằng sặc, đoạn bảo:” Lựu viết thế này mà in lên thì bỏ mẹ báo ta mất, do bố đuổi đánh mãi thành ra chạy nhanh, láo, dù chuyện thật đúng trăm phần trăm như vậy cũng phải viết cho nó chính trị chứ! Tôi chữa như sau: cậu lính mới tên Hảo này trả lời rằng đúng là em mới được học nghị quyết nên đầu óc thông sáng, khi tư tưởng đã thông thoáng thì tạo ra sức mạnh vật chất nghe chưa, nên cậu ta chạy nhanh vì vừa học nghị quyết đảng mới đúng chính trị. Lựu nên nhớ trong chế độ tốt đẹp gấp triệu lần tư bản của chúng ta, báo chí văn nghệ cho đến con người tuốt tuột đều là chính trị hết, nghe chưa? Mao chủ tịch từng dạy: Chính trị là thống soái là gì? Chế độ tốt đẹp của ta làm chó gì có cảnh bố đuổi đánh con chạy khắp làng, viết thế là nói xấu đảng ta, nói xấu chế độ tốt đẹp ta. Chỉ có trong chế độ Mỹ-ngụy thì các ông bố mới thi nhau cầm roi đuổi đánh con cái chạy khắp làng khắp phố nghe chưa?”

Lê Lựu chiêu một ngụm trà, châm nước cho tôi, đoạn nói tiếp: “Khi báo đăng, tớ xuống tìm ông để tặng tờ báo in chuyện ông chạy nhanh nhất sư đoàn vì vừa học nghị quyết chứ không phải do bị bố cầm roi đuổi đánh suốt tuổi thơ mà thành ra có thành tích chạy ngang gió thì ông đã đi B…”. Tôi góp chuyện: “ bác Lựu này, tôi nghĩ nếu không có hổ báo đuổi bắt ăn thịt, thì bọn huơu nai đã thành các chú rùa, chứ đâu có thể chạy nhanh đến như thế ?”

Ơ hay, thời gian và cuộc đời hình như cũng là thứ hổ báo đuổi bắt chúng ta chạy như biến về tuổi U 70 như tôi, U 80 như bác Lựu ( Lê Lựu vừa nói với tôi qua điện thoại, năm 2012 này ông đã 75 tuổi chứ không phải 71 như tuổi trong giấy tờ vẫn ghi) ? Và chúng ta quá sợ hãi chạy nhanh như gió, như biến, chạy nhanh trên cả cấp sư đoàn, chạy như ma đuổi phải không bác Lựu ? Con ma cuộc đời, con ma thời gian, con ma thời thế đuổi theo chúng ta để bắt linh hồn, như con qủy Mephixto đuổi theo nhân vật Faust của đại thi hào Đức Wolfgang Goethe để gạ vị bác sĩ này bán linh hồn cho hắn đổi lấy sang giàu?

Faust đã bán linh hồn cho qủy để đổi lấy vinh quang, còn Lê Lựu đã bán linh hồn cho ai, và sau khi bán linh hồn thì ông sống bằng gì hồi sau sẽ rõ. Nhưng này bác Lựu, mới đó, ngót 40 năm trước, những người viết trẻ chúng ta cứ đông vui và ồn ã như vịt, được ông chủ chăn vịt có tên thời gian, có tên cuộc đời cầm chiếc sào dài buộc mớ tàu chuối khô như giẻ rách và lùa chúng ta vào thời đại anh hùng chỉ toàn niềm vui, không có chỗ cho nỗi buồn cư trú, lùa chúng ta vào văn chương, thi phú, vào quan trường và vào những nhà thương điên! Có những anh bạn văn nghệ cùng thời với chúng ta quả thực không tim, vẫn tìm cách bán một thứ linh hồn dỏm cho quyền lực để đổi lấy vinh quang, đổi lấy chức tước cùng các giải thưởng danh giá. Còn Lê Lựu, ông chỉ có một trái tim, một linh hồn đau đáu với văn chương, điên dại với chữ nghĩa, lăn lóc với giấy trắng, quằn quại với bút mực, hỏi rằng ông đã bán hay chưa?

Lê Lựu có dáng vóc của người dân quê chân chất, hiền lành, không thể nói là xấu trai, là quê một cục, là bần cố nông như nhiều bài báo phóng đại về ông đã vẽ một thứ chân dung rất hoạt kê về ông rất không đúng để câu khách. Ngay Trần Đăng Khoa, một chú em tiền bối của chúng tôi còn phịa ra chi tiết Lê Lựu sang Mỹ cởi giày ra lấy tất (vớ) ngửi ngửi như ngửa hoa ngửa quả thì thật là quá đáng. Lê Lựu không giận, mặc kệ các người, muốn vẽ chân dung ông là hủi cũng được, ông cứ đóng vai anh dân quê lên thành phố cho an toàn. Riết rồi ông cứ nhận mình rằng tớ dân nhà quê ấy mà, học hành chết gì đâu, đọc điếc cũng lười nhác, viết lách theo phong trào cho vui ấy mà…

Không, Lê Lựu không quê mùa chút nào. Ông đóng vai dân nhà quê để qua mặt thiên hạ, để dễ tiếp cận cuộc đời, trông thật thà như đếm thế này vào dân dân thích lắm, đến nhà quan quyền, quan quyền không thèm cảnh giác, rằng thằng này phi chính trị, không nguy hiểm, kệ bà nó phét lác cho vui. Lê Lựu, giống như nhân vật của ông là Giang Minh Sài cứ ấm ấm ớ ớ thế, giả bộ khật khưỡng, thủ vai ngô nghê mười rằm cũng ư mười tư cũng gật cho qua chuyện, vạ vật đâu cũng được, dế rách chổi cùn cũng chơi mà mâm son đũa ngà cũng tới…

Ngược lại với vẻ bề ngoài Lê Lựu có khi như tá điền, có khi lại như địa chủ kia lại là một anh trí thức có hạng đấy. Lê Lựu giấu biến sự học, sự đọc rất kinh của mình như mèo giấu vàng giấu ngọc, chẳng bao giờ thích làm thùng rỗng kêu to như bao ông đồng nghiệp giả dạng vào vai trí thức. Một trí thức thật không cốt ở bằng cấp, không lụy dáng vẻ, không hề biết khoe khoang như những anh trí thức hạng bét chuyên mang mặc cảm trí thức trong người. Tôi xin cá với bàn dân thiên hạ, sức đọc của Lê Lựu còn có thể gấp mấy lần chú em đồng hương của ông là thần đồng quá lứa Trần Đăng Khoa.

Hồi đầu vào Sài Gòn cùng Nguyễn Khải ở nhà tôi gần ba tháng, Lê Lựu chỉ làm hai việc rất chân chính là tìm bồ và tìm mua sách. Gặp kho sách dịch Sài Gòn, Lê Lựu sướng ngất ngây, hệt chuột sa chĩnh gạo. Ông đọc triết tây triết đông qua các bản dịch của các linh mục dạy triết và các nhà Hán Nôm có hạng Sài Gòn. Ông đọc các tiểu thuyết phương Tây mê man, hầu như có khi thức xuyên đêm. Bỏ mẹ, Lê Lựu và tôi rì rầm để cho ông anh Nguyễn Khải ngủ : thế này thì đúng là Sài Gòn nó giải phóng chúng ta chứ cóc phải ngược lại bác Lựu nhẩy. Chết ông be bé cái mồm cho tôi nhờ. Đâu phải cái đúng cái hay cái tốt bao giờ cũng thắng thế đâu. Man di thắng văn minh là thường mà. Các bộ tộc man rợ phương Bắc châu Âu từng chiến thắng văn minh La Mã là gì? Kẻ dốt, kẻ cuồng tín, kẻ kiêu ngạo, kẻ ác thì làm gì có tự do…mà đòi…thôi thôi tai vách mạch rừng không nói nữa. Này, bác Lựu nghĩ mãi mà không nói được ra thì điên mẹ nó đấy. Đừng nghĩ nữa, nghĩ nhiều thì vào nhà tù mà nghĩ nghe chưa…Ba tháng trời Sài Gòn ở nhà tôi với Lê Lựu đêm nào cũng quá ngắn, chưa đọc hết sách đã sáng banh cả mắt, rì rầm như hai con khỉ đi ăn trộm ấy. Đọc đến đoạn nào thích chí, Lê Lựu tàn nhẫn bấm tôi dậy để rì rầm đọc ri rỉ như dế cho nghe, đến độ làm bác Nguyễn Khải thức theo bảo: chúng mày tí tửng như gái ngồi phải cọc, mấy cuốn đó tao đọc rồi, hồi trước năm 1945, mà đọc bản Pháp văn. Tội nghiệp các em, có học mà như mù chữ. Thì cũng tại thế hệ chống Pháp các bố dạy chúng tôi chứ ai. Cứ để Tây đấy, đánh nó làm chó gì, để nó dạy chúng tôi như nó đã dạy các bố, thì hôm nay sao chúng tôi lại thành những kẻ có học mù chữ được ? Cứ cái màn nghĩ trộm, nói trộm, đọc trộm thế này có khi nguy…May mà gần ba tháng, hai bác nhà văn về Hà Nội, chứ cứ đêm nào cũng rầm rầm rì rì như dế trốn chui trốn nhủi thế này có khi ốm chết quách rồi, còn đâu nữa mà ngồi kể chuyện cũ. Sau này, chết rồi Nguyễn Khải mới dám tung tiểu luận “ Nghĩ Muộn” ra, coi như một lời sám hối muộn màng; còn hơn các anh ngậm miệng ăn giải thưởng đang cười nói sờ sờ ra mà quả thực, tâm hồn, nhân cách đã chết từ thời tám hoánh.

Lê Lựu không hề quê mùa chút nào.Ông rất tỉnh thành là đằng khác. Minh chứng là một mình ông đã xây dựng nên một công ty làm ăn rất phát đạt: “Trung tâm văn hóa doanh nhân” từ năm 2002 đến nay. Bây giờ, chân Lê Lựu đi đứng đã không còn vững, có khi phải nhờ người dìu dắt, vậy mà trung tâm này của ông vẫn làm ăn tốt, hỏi một người quê mùa, thậm chí ngô nghê như nhiều bài báo đã viết, liệu có đủ tầm vóc, trí thức, uy tín, trình độ làm giám đốc công ty “văn hóa doanh nhân” này hay không ?

Trời cho Lê Lựu một trí thông minh hiếm có. Ông có thể đọc thuộc một chương tiểu thuyết của mình ngay trước mặt anh. Này, chú mày cầm cuốn “Thời xa vắng” lên, lật bất cứ trang nào, bảo tớ đọc thuộc lòng cho mà dò, không sai một dấu chấm phảy. Ông nhớ vanh vách các danh tác quốc tế và trong nước đã đọc, kể cả những cuốn dày như tủ lạnh của L. Tolstoy và F. Dostoyevski…

Lê Lựu hình như có máu trạng trong khoa ăn nói. Ông huyên thuyên chuyện con cà con kê, tán dóc lênh láng cả những hội trường hàng trăm, thậm chí hàng nghìn người dự thính mà thiên hạ vẫn há hốc mồm ra nghe như nghe cha cố giảng đạo. Hồi hưởng vinh quang sau tiểu thuyết lớn “Thời xa vắng”, Lê Lựu là nhà văn Việt Nam đầu tiên được trung tâm William Joiner của ông Kevin Bowen mời sang thăm nước Mỹ. Sau ( hình như sáu tháng) chu du bên Mỹ, về nước Lê Lựu được hàng trăm cơ quan mời nói chuyện xem nước Mỹ nó đầu ngô mình sở ra sao, nó kinh khủng mức nào, nó giàu sang hợm hĩnh ra sao, nó giãy chết rung chuyển thế giới thế nào ? Người ta đi nghe lũ lượt, khen nước Mỹ thì ít mà khen Lê Lựu nói hay thì nhiều. Khiếp, làm như nước Mỹ nó không nằm trên bản đồ thế giới mà nó nằm trong bụng Lê Lựu vậy. Khiếp, làm như không phải Kha Luân bố đã phát hiện ra châu Mỹ, nước Mỹ mà chính là anh nhà văn quê ở huyện ta, huyện Khoái Châu ta ( oai oái như phủ Khoái xin cơm) đã phát hiện ra châu Mỹ và nước Mỹ vậy. Lê Lựu nói chuyện về Mỹ hay tới mức mà người ta đã kinh doanh ông, thu âm bài nói dài hàng hai ba tiếng đồng hồ của ông về nước Mỹ để bán đắt như tôm tươi. Người viết bài này đã nghe băng thu âm buổi nói chuyện về Mỹ của Lê Lựu và rất tiếc cho các vị làm công tác tổ chức đã bỏ lỡ một cơ hội bằng kim cương là không mời nhà thuyết khách Lê Lựu làm bộ trưởng bộ ngoại giao.

Lê Lựu ca ngợi Mỹ tới mây xanh mà vẫn rất chính trị, mà vẫn không mất lòng đảng ta. Ông cũng nói xấu Mỹ tới tận cùng địa ngục mà Mỹ vẫn qúy hóa ông như giời, thế mới lạ. Ông chửi Mỹ rằng nước nó thế nào cũng loạn vì không có ban tổ chức trung ương, vì nó đa đảng nên bất cứ thằng dân nào cũng có thể lên báo chửi tổng thống, không còn quân tị quân nhậm gì, cá mè một lứa, dân cũng như quan, quan cũng như dân, ấm a ấm ớ, chẳng còn tôn ti trật tự gì cả. Ông chê nước Mỹ nó sạch như lau đến ruồi muỗi cũng nghỉ chơi mà bỏ đi. Sạch quá mức là mất vệ sinh nhất; vì trẻ em bị vô trùng từ lúc sinh ra nên nó dễ bị vi trùng tấn công. Nước với chả non, đi bất cứ chỗ nào cũng có rét -rum ( restroom), phí đất vô lối, sao không để đất mà xây trường học bệnh viện như ta, lại coi trọng nơi xin lỗi đi ỉa đến nhường ấy, đúng là Mỹ mới có ( vỗ tay)….Nước Liên Xô thiên đàng xã hội chủ nghĩa anh em ta, sang đó tôi tưởng là Mỹ mà sang Mỹ tôi tưởng đấy là Liên Xô. Ở Liên Xô người ta dùng đất để xây trường đảng, để xây trường học, để xây quảng trường cho quần chúng đến sung sướng vỗ tay, chứ có nhiều chỗ đi toilet phí phạm như bên Mỹ đâu. Lại vỗ tay… Người viết bài này đã mấy lần tí chết khi đi giữa đường phố Matxcova, mắc…quá tưởng đứt thở mà đi mãi không tìm ra nơi trút bầu tâm sự…Người viết bài này cũng từng đến một số thành phố Mỹ. Đúng như Lê Lựu nói, đi mấy bước lại thấy restroom, không mắc… cũng vào ngó qua xem nó sạch cỡ nào…mất hết cả thì giờ vàng ngọc.

Khoa nói của Lê Lựu còn phát huy tới tận mũi Cà Mau, tận địa đầu Móng Cái khi ông kết hợp với ông trạng thần đồng thần sắt Trần Đăng Khoa đăng đàn khắp nơi. Hai ông này đã biến nghề nói chuyện văn chương thành khả năng hốt bạc vô tiền khoáng hậu.

Một người quá thông minh, quá sắc sảo, đầy tài năng văn chương, nói năng như có bùa ngải như Lê Lựu tưởng giời đã cho hết mọi thứ. Hình như xưa nay, các nhà văn có tác phẩm để đời, mấy ai có số phận trơn tru, có gia cảnh ngon lành viên mãn trừ Goethe và Tagore ?

Gần đây, giới truyền thông trong nước đua nhau phỏng vấn Lê Lựu, cốt khai thác bi kịch cá nhân của đời tư nhà văn để câu khách mà ít chú ý đến khía cạnh quan trọng nhất của ông là văn học, lại quảng cáo rùm beng cho “Trung tâm văn hóa doanh nhân” của ông quá mức. Lê Lựu dù làm kinh tế doanh nhân, đã rất thị thành, dẻo miệng ( “Khi lưỡi ta không còn đắng chất thị thành”- Chế Lan Viên) nhưng tính vốn thật thà, báo nào hỏi ông chuyện bi kịch đời tư là ông kể tuốt tuồn tuột. Làm như cứ kể hết xót xa trong người sẽ hết xót xa, kể hết nỗi cô đơn kiếp người của mình ra sẽ hết cô đơn vậy?

Năm 1986, nhờ cú “cởi trói cho văn nghệ sĩ trí thức” của ông Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh, Lê Lựu mới in được tiểu thuyết để đời của ông là “ Thời xa vắng”. Ông đã viết tác phẩm lớn này trước “mùa cởi trói” hai năm nhưng không in được. Tôi đã đọc một mạch suốt đêm tác phẩm lừng danh này của Lê Lựu trong sự hào sảng hiếm có. Tôi gọi điện thoại động viên ông, ông bảo: “đánh đổi cả cuộc đời để lấy một cục gạch bằng giấy đó ông ơi”.

Giang Minh Sài nhân vật chính của “Thời xa vắng” vừa là hình ảnh của tác giả vừa là nhân vật hư cấu. Nó có tầm cỡ biễu đạt đa chiều, nhiều tầng nhiều vỉa, thực đấy mà hư đấy, bi đấy mà hài đấy, thông minh một cách ngớ ngẩn đấy và đạo đức tào lao chi khươn đấy. Giang Minh Sài “một nhân vật thời đại”, có một chút phẩm tiết của Chú AQ Lỗ Tấn một tí, Chí Phèo Nam Cao một tí, Xuân Tóc Đỏ Vũ Trọng Phụng một tí, Don Quixote Servantes một tí…nhưng lại rất Lê Lựu.

Giang Minh Sài bị sống chứ không phải được sống, bị yêu chứ không phải được yêu, bị sướng chứ không phải được sướng, bị khổ bị cô đơn chứ không phải được khổ được cô đơn. Giang Minh Sài như không phải là một cá nhân mà là một tập thể thu nhỏ thành một cá nhân trá hình. Anh ta bị tập thể hóa cả giấc mơ, bị chi đoàn, chi bộ, đơn vị, công đoàn, cơ quan… chi phối cả mọi bản năng sống; làm như sự tiêu hóa của dạ dày Giang Minh Sài cũng là do tập thể tiêu hóa, bộ phận bài tiết của anh cũng là của tập thể bài tiết, trái tim co bóp của anh cũng là trái tim tập thể co bóp, “con chim” của anh dùng để lấy vợ sinh con cũng là “con chim” của tập thể. Với “con chim” tập thể này anh đã hai lần lấy vợ nhưng đều thất bại thảm hại.

Người vợ đầu của Giang Minh Sài là cô Tuyết nhà quê với cuộc tảo hôn khốn khổ: lấy vợ vì gia đình dòng họ, cũng là lấy vợ cho tập thể chứ có được lấy vợ cho riêng mình đâu ? Người vợ thứ hai của anh Sài là cô Châu thị thành điệu nghệ…lấy cốt để khoe mẽ với thiên hạ rằng gái thị thành cỡ nào Sài ta cũng tán được, cốt để xóa mặc cảm nhà quê vốn dĩ. Nhưng sống với nhau rồi, Châu mới phát hiện ra anh chàng Sài không phải là một cá nhân thuần túy. Linh hồn chồng mình đã bị tập thể hóa, trái tim anh là một khu tập thể thu nhỏ. Anh không phải là một căn phòng riêng tư, mà là một hội trường hội họp, một ví dụ về con người hơn là con người, một ví dụ về “con chim” hơn là một “con chim” biết cách chiều chuộng đàn bà. Thế là để trả thù cái tập thể giả dạng cá nhân có tên là Giang Minh Sài, Châu tìm mọi cách hành hạ Sài cho bõ ghét.

Trong một xã hội bị tập thể hóa đến cả ruồi muỗi cũng phải vào hợp tác xã, ai cho Giang Minh Sài làm một “con người chung chung”, làm một cá nhân thuần túy? Khát vọng được làm con người lương thiện của anh Chí Phèo xưa hầu như vẫn còn là khát vọng của anh nhà quê lên tỉnh Giang Minh Sài trong thời đại thiên đường xã hội chủ nghĩa?

Khát vọng tự do, khát vọng được làm một con người đúng nghĩa của nó, được làm chính mình chứ không phải kẻ khác trá hình mang tên mình là thông điệp Lê Lựu gửi chúng ta thông qua nhân vật Giang Minh Sài. Chừng như Lê Lựu đã bán linh hồn cho Giang Minh Sài để đổi lấy nỗi buồn mênh mông trần thế? “Thời xa vắng” làm Giang Minh Sài bất tử đã cướp hết hồn vía tác giả, khiến Lê Lựu thành bơ vơ chăng?

Sau khi “Thời xa vắng” xuất hiện trên văn đàn như một hiện tượng văn học, kẻ viết bài này đã hỏi chuyện hai đàn anh là nhà văn Nguyễn Khải và nhà văn Nguyễn Minh Châu. Cả hai ông anh này đều là người thực tài nên có sự liên tài, nghĩa là không bao giờ đố kị tài năng của người khác, nhất là những tài năng của thế hệ sau mình. Hai ông đều khen ngợi “Thời xa vắng” của Lê Lựu hết lời, khẳng định tác phẩm này chính là cột mốc cho cuộc đổi mới văn chương Việt Nam. Anh Khải bảo tôi: “Hảo này, cái thằng Lựu nó cứ tẩm ngẩm tầm ngầm mà kinh. Nó giấu anh, không hề khoe cuốn này, đến khi in xong mới đem tặng. Các tiểu thuyết của anh là tiểu thuyết thời vụ, qua thời này là vất vào sọt rác. “Thời xa vắng” của Lựu là tác phẩm để đời. Lựu đã vượt lên thứ văn chương minh họa của Khải và Châu, cả Ngọc nữa…Nó là nhà văn số một của thế hệ các ông em tức lứa chống Mỹ của Hảo đấy…”

Lê Lựu đã bán linh hồn cho các tiểu thuyết lớn của đời ông: “Thời xa vắng”, “Chuyện làng cuội”, “ Sóng ở đáy sông”…để chúng sống mãi với nền văn học dân tộc như các tiểu thuyết gia hàng đầu tiền bối: Nhất Linh, Khái Hưng, Vũ Trọng Phụng, Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan, Nam Cao, Nguyên Hồng…hằng sống.

Lê Lựu bán linh hồn cho Giang Minh Sài không phải để lấy tiền, mà để lấy nỗi cô đơn kiếp người đeo đẳng ông như số phận. Ông từng bị ma nhập một đời để lên đồng với chữ nghĩa, hạnh phúc với bút mực, ăn nằm với giấy trắng. Lúc tuổi xế chiều ông vẫn phải sống một mình một bóng để tu trọn kiếp trong ngôi chùa có tên là văn chương.,.

Sài Gòn ngày 18-04-2012

Trần Mạnh Hảo

Posted in Nhan Vat, Van Hoc | Leave a Comment »

“Bông hồng vàng” ấy trong tôi

Posted by hoangtran204 trên 10/03/2012

Nguyễn Thanh Giang

Nhà văn Vũ Thư Hiên (là con của ông Vũ  Đình Huỳnh. Ông Huỳnh là cận vệ, thư ký của ông HCM)

Trí nhớ tôi không đủ tốt để hình dung tương đối tường tận cái bối cảnh không – thời gian nâng trên tay cuốn “Bông Hồng Vàng” của Konxtantin Pautopxki, do Vũ Thư Hiên chuyển ngữ. Buổi ấy, có vẻ như là hơi xa xưa, cách đây nửa thế kỷ. Tôi mê bản dịch “Bông Hồng Vàng” đến mức choáng ngợp. “Làm sao để có thể vừa lãng mạn, vừa thâm thúy, vừa mơ màng, vừa bốc lửa như vậy được nhỉ? …”, tôi nghĩ. Cho nên, dường như chính Vũ Thư Hiên là người đã góp phần phá “tan giấc mộng vàng văn chương” của tôi. Những bài luận của tôi đã từng được thầy giáo cấp ba (nhà giáo nhân dân Cao Hữu Nhu, tôi nhớ) nhận xét là có văn phong đặc biệt. Thơ của tôi đã từng được in trong tuyến tập thơ Chống Mỹ đầu tiên (tập “Ngọn Đèn đứng gác” của NXB Văn Học thời ấy), nhưng sau khi đọc Pautopxki tôi nhận ra mình chỉ như một cánh tay bé con chới với, mà “Bông Hồng Vàng” kia thì như vì sao ở tít tắp xa. Tôi đành yên tâm làm khoa học – kỹ thuật.

Không phải chỉ K. Pautopxki mà chính Vũ Thư Hiên cũng thật huyền ảo. Huyền ảo mà tinh tường. Tinh tường vì ngay cả chú chuồn chuồn ngô trong “Miền Thơ Ấu” của nhà văn cũng biết lau mắt:

“Những con chuồn chuồn lửa lúc lắc hai con mắt to như hai hạt đỗ tương trầm ngâm trên những ngọn ý rĩ, thỉnh thoảng lại lấy chân lau mắt cho sáng thêm để thưởng ngoạn. Mấy bông súng trắng xinh xắn đung đưa gần mép ao. Những chiếc lá tre rơi lềnh bềnh trên mặt nước khẽ rùng mình mỗi khi có gió thoảng. Lũ thờn bơn với cặp mắt đen láy ngo ngoe trên mặt nước. Trên cao, một con bói cá xanh biếc ngồi yên lặng như một nhà hiền triết. Thỉnh thoảng, nó rời cành cây khô lao vút xuống nước như một mũi tên vừa rời cây cung, rồi lộn trở về đậu vào chỗ cũ, hai cánh xòe ra phơi gió. Trên làn nước gần như bất động, những con kéo vó lênh khênh nhẹ nhàng trượt qua trượt lại trong một điệu vũ khó hiểu” (1).

Tôi cũng có một “Miền Thơ Ấu” đầy ắp kỷ niệm với những tinh mơ kéo te kéo tép, thả chũm bắt lươn, những phút hồi hộp đè chặt miệng nơm giữ con cá quẫy, những khi rúc vào đụn rơm trên nóc chuồng bò chơi trốn tìm mà không hề biết ngứa …., nhưng trong những ngày bị giam cầm ở B14 có lẽ nỗi khắc khoải đọa đầy tôi đã không thể bằng Vũ Thư Hiên. Bởi vì, đối với ông:

“Tôi bao giờ cũng nhớ về tuổi thơ của mình với tất cả niềm thương yêu dịu dàng, bởi vì tuổi thơ của ai cũng vậy nó chứa đựng những tình cảm đẹp nhất mà cuộc đời có thế cho ta, khi nắng bao giờ cũng lấp lánh và gió bao giờ cũng ngát hương. Nơi miền đất tuổi thơ, mỗi đám mây bay ngang cũng gợi ta hình dung ra những xứ xở xa xôi từ đó nó bay đến, mặt trăng rằm nào cũng bắt ta phải ngắm nhìn để tìm ra bóng dáng cây đa với chú Cuội cổ tích, thậm chí một con chuồn chuồn ngô cũng có phép màu làm cho ta biết bơi” (1).

“Miền Thơ Ấu” của Vũ Thư Hiên đầy chim, và ông rất yêu chim:

“Trong các giống chim gần người tôi thích chim gi hơn cả. Con chim bé bỏng với bộ lông màu gụ và cái mỏ sừng mập mạp nếu được nuôi từ lúc bé tí thì luyến chủ vô cùng. Nó không rời tôi nửa bước. Khi lớn hơn, đã có thể tự kiếm ăn, thì nó cũng bay xa, nhưng chỉ cần gọi “tơri, tơri.i.i…” là nó đã tự đâu xà xuống trước mặt. So với sẻ và các loại sáo, chim gi thông minh hơn. Ấy là tôi nghĩ thế, chứ giữa loài chim với nhau tiêu chuẩn thông minh chắc phải khác. Một con chim bỏ loài để theo người hẳn bị chúng chim coi là xuẩn ngốc” (2).

Cái tình yêu ngây dại ấy đã có lúc khiến ông uớc được làm tù phát vãng của Nga Hoàng:

“Chao ôi, giá mấy thằng cha độc tài ở nước tôi có được cái đức độ của Sa hoàng thì may biết mấy! Chúng tôi sẽ được phát vãng như những nhà cách mạng Nga lên một vùng rừng núi nào đó, kiểu Sibir hoang vu, chứ không phải nằm mốc ra ở đây. Trong cuộc sống phát vãng đáng mơ ước đó tôi sẽ buộc tổ sáo trên những cành xoan, hoặc của bất cứ cây gì. Tôi sẽ nuôi những con sáo con mép vàng hoe bằng cào cào châu chấu và cơm nguội cho tới khi chúng khôn lớn” (2).

Nhưng, trong cái nhà tù nghiệt ngã của cộng sản Việt Nam, ông chỉ dám ước có một chú chuột nuôi làm bạn. Nhưng rồi, ông lại bắt được một chú cóc và “Ðành nuôi con cóc xấu xí kia vậy. Những ngày đầu nó còn lẩn tránh tôi, mỗi khi tôi tới gần là nó vội vã nhảy đi. Lâu dần rồi cu cậu cũng quen, không đến nỗi xa lánh tôi như trước. Thậm chí thỉnh thoảng tôi có vuốt ve nó, nó vẫn ngồi im. Người ta nói khi đụng vào cóc, da nó sẽ tiết ra một loại mủ độc, chạm vào thì bị lở loét. Con cóc của tôi chẳng tiết ra chất gì hết. Chắc nó không muốn hại tôi. Quen thêm chút nữa, tôi đặt nó vào lòng bàn tay rồi đưa lên tận mắt ngắm nghía. Nó cũng mặc. Chỉ tiếc nó không biết nói, tôi có nói gì nó cũng không thèm đáp, chỉ giương đôi mắt thao láo ra nhìn lại” (2).

Ông đặt tên chú cóc là Arlequin. Ngày ngày ông rắc nước đường nhử kiến vào nuôi cóc. Thế mà rồi cóc cũng trốn đi tìm tự do, bỏ lại mình ông “Trong xà lim vắng lặng hẳn. Cứ như thể Arlequin còn đó thì xà lim không vắng vẻ đến thế. Tôi cảm thấy hụt hẫng. Không còn nữa tiếng sột sạt khe khẽ khi Arlequin di chuyển trên nền xi măng, chỉ có thể nghe thấy được nếu rất chú ý. Không còn cái bóng nhỏ lui cui lúc chỗ này lúc chỗ kia trong cái cũi người nay còn lại mình tôi” (2).

Sống trong no đủ nhưng Arlequin vẫn quyết dứt áo ra đi. Nằm một mình, Vũ Thư Hiên triết lý:

“Tôi nghĩ tới Lênin và hiểu rằng ông đã sai biết bao nhiêu khi đặt tự do nằm trong phạm trù ý thức. Bằng sự ra đi của nó Arlequin chứng minh điều ngược lại: tự do nằm trong phạm trù bản năng” (2).

Ông bị giam đằng đẵng chin năm trời trong hoàn cảnh như thế. Một viên chấp pháp đã từng cảnh báo ông: “Anh bảo anh không sợ chết. Thế thì tôi phải nói để anh biết rằng có những cái còn đáng sợ hơn cái chết. ở đây lâu rồi anh khắc biết”. Câu này tôi nhớ mãi. Càng ngẫm càng thấy anh ta có lý. Cái đáng sợ hơn cái chết mà anh ta muốn nói là sự ở tù vì tội chính trị. Anh cứ việc nằm xà lim dài dài, mà không bao giờ biết được ngày về. Nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam, cũng như nhà cầm quyền ở bất cứ quốc gia cộng sản nào khác, rất khoái áp dụng cái chết từ từ cho các đối thủ chính trị. Người ta tuyên bố không một chút ngượng ngập rằng chuyên chính vô sản là thể chế không cần tới pháp luật. Trong thể chế này mỗi công dân là một người tù dự khuyết. Sinh mạng anh ta nằm gọn trong tay đảng cầm quyền. Cho tới nay, chưa có một thống kê nào đáng tin cậy về số người bị chết mòn mỏi trong nhà tù tại các quốc gia được gọi là xã hội chủ nghĩa” (1).

“Những người bị giam ở đây, bên cạnh xà lim tôi, thường đã qua thời kỳ hỏi cung (thẩm vấn). Họ yên tâm nằm chờ, tháng này qua tháng khác, mà cũng có thể năm này qua năm khác, nhưng họ có cái để mà chờ: đó là ngày chắc chắn sẽ được ra tòa lĩnh án. Chúng tôi, những người một thời là người của Đảng (viết hoa), được Đảng đưa vào đây để giáo dục (!), trong một vụ án được coi là để trong nội bộ Đảng chứ không đưa ra trước pháp luật thì cứ nằm chết đấy cho tới ngày được Đảng “giải quyết”. Không một ai có thể biết được bao giờ cái ngày ấy sẽ tới, và Đảng sẽ “giải quyết” vụ án của chúng tôi bằng cách nào cũng là điều không ai có thể đoán ra” (1).

Ký ức tuổi thơ Vũ Thư Hiên trỗi dậy không chỉ có bắt chim, nuôi chim, mò tôm, câu cá mà còn âm vang tiêng chuông lồng lộng trong những sớm tinh khôi lao xao tiếng người khỏa chân giếng nước trước khi bước lên thềm cao nhà thờ.

“Tôi thích những buổi lễ sớm ấy, khi trong bóng đêm đang nhạt dần, con đường trước cổng nhà tôi bỗng nườm nượp bóng người và vang lên những lời chào hỏi niềm nở. Vào giờ ấy, thật đáng tiếc là chỉ vào giờ ấy, làng tôi bỗng trở thành một gia đình. Mọi người đều bộc lộ lòng yêu thương đối với nhau, và trong thâm tâm có dễ người ta chỉ mong cho nhau sự tốt lành. Chuông nhà thờ đổ hồi, vang vang, xua đuổi những mảng đêm cuối cùng còn cố thủ trong những ngõ hẻm, những tán lá rậm, những bụi cây thấp um tùm đầy gai góc. Nghe chuông gọi, ánh ban mai nhợt nhạt bay lên từ phương Đông, tô xanh dần bầu trời mỗi phút một mất đi màu tím. Những vì sao muộn chìm vào trong ánh sáng của một ngày mới. Trước gác chuông cao lồng lộng, những người đi lễ rẽ xuống những bậc đá rộng thênh thang dẫn tới mặt nước còn u tối của cái ao nhỏ để khỏa chân cho sạch trước khi bước vào ngôi nhà của Chúa. Mặt nước âm thầm nuốt chửng những bóng đen đi xuống với nó rồi lại nhả ra cho con đường lát gạch đang sáng dần lên dưới gác chuông. Bước mấy bậc lên thềm cao của nhà thờ, tôi thành kính khuỵu gối, đưa tay lên làm dấu. Bên mỗi cửa vào có một bông hoa đá trong đựng nước mát, có dễ là nước mưa, gọi là nước thánh. Nhúng mấy đầu ngón tay chụm lại vào đó, tôi đưa mấy ngón tay ướt lên trán, làm dấu lần nữa rồi bước theo cô tôi vào bên trong ngôi nhà của Chúa ở đó đàn chiên của Người đang rì rầm cầu nguyện” (1).

Sống trong một xứ đạo toàn tòng, một gia đình ngoan đạo, đã từng “thành kính khuỵu gối, đưa tay lên làm dấu” nhưng không biết tư tưởng Mác đã len lỏi từ đâu mà xúi bẩy cậu bé Vũ Thư Hiên có lần dám vung tay đập vỡ tượng Đức Bà.

Năm 1949 Vũ Thư Hiên đi bộ đội, rồi theo cha làm cộng sản.

Tôi không đồng ý khi Vũ Thư Hiên bảo “Đêm Giữa Ban Ngày”“Hồi ký chính trị của một người không làm chính trị”. Vũ Thư Hiên làm chính trị từ huyết thống, nói khác, có gien làm chính trị.

Làm chính trị cần thiết lắm chứ. Vinh quang lắm chứ.

Triết gia Hy Lạp cổ đại Aristotle cho rằng luân thường và chính trị có liên kết chặt chẽ với nhau, và một đời sống thật sự đạo đức chỉ có thể có ở những người tham gia vào chính trị. Dấn thân vào chính trị là chuyên tâm để tạo được lợi ích chung cho mọi công dân trong cộng đồng. Khổng Tử bảo: “Chính trị là làm mọi việc cho ngay thẳng … Nước mà có chính trị hay thì dù hèn yếu nhưng sau sẽ hùng cường. Nước có chính trị dở thì dù lớn nhưng rồi sẽ suy vong”.

Thuở nhỏ Vũ Thư Hiên từng làm chính trị không tự giác khi đi đưa thư bí mật của thân phụ Vũ Đình Huỳnh cho các nhà cách mạng cộng sản. Sau này dù, có thể là tự phát, nhưng chính là VTH đã làm chính trị thật quang minh ngay từ khi cho in truyện ngắn “Ðêm Mất Ngủ” trên báo Văn Nghệ vào năm 1961 để bị Tố Hữu vạch mặt chỉ tên cùng Nguyên Ngọc và Ngô Ngọc Bội là những tên xét lại hiện đại trong văn học qua bài: “Giương cao ngọn cờ tính Ðảng, chống chủ nghĩa xét lại hiện đại trong văn nghệ“. Sau đó là kịch bản “Ðêm Cuối Cùng Ngày Ðầu Tiên” và truyện ngắn “Ðêm Mùa Xuân” làm cho tập truyện ngắn cùng tên (Nhà xuất bản Lao động, 1963) bị thu hồi.

Giáo sư Hoàng Xuân Nhị thì lớn tiếng: “Vũ Thư Hiên đã phất cao ngọn cờ ấn tượng chủ nghĩa nhằm chống lại đường lối văn nghệ xã hội chủ nghĩa của Ðảng”!

Trong lớp học nghị quyết 9, tổ chức cho các trí thức công tác trong các cơ quan văn hóa, Vũ Thư Hiên đã từng báng bổ cái luận điểm được xem là sáng tạo của ĐCSVN khi bảo rằng: Ở các nước không có giai cấp vô sản hoặc giai cấp vô sản chưa hình thành cũng có thể thành lập chính đảng mác-xít lê-nin-nít”.

Ông còn chế riễu:

“Ðồng chí Lênin có nói: trong mọi cách chứng minh, chứng minh bằng toán học là con đường ngắn nhất. Tôi xin phép được dùng cách hoán vị trong toán học để các đồng chí thấy vì sao tôi thắc mắc. Như vậy, khi giai cấp vô sản không có, tức là nó không hiện hữu, tôi hoàn toàn có thể hoán vị nó bằng một ký hiệu toán học biểu thị sự không có là số không.Khi con số không được thay vào cụm từ giai cấp vô sản thì định nghĩa của Lênin trở thành rất quái dị: Ðảng cộng sản là chính đảng của 0 (con số không)” (2).

Tuy nhiên, có thể chứng giám rằng Vũ Thư Hiên chỉ trình bầy nhãn quan chính trị chứ không/chưa làm tổ chức chính trị. Điều này thì không chỉ quốc tế mà ngay cả Hiến pháp Việt Nam cũng không xem là có tội. Vậy mà người ta đã ngang nhiên bỏ tù ông suốt 9 năm (1967 – 1986).

Thủ phạm tội ác tày trời này là tập đoàn Lê Duẩn – Lê Đức Thọ. Song, vì không muốn “xử sự không xứng với tư cách trí thức”, ông chỉ có thể tỏ biểu đồng tình với bạn tù để trút nỗi căm uất của mình:

“Chúng tôi mỗi ngày một thô lỗ thêm cùng với thời gian bị nhốt. Một hôm tôi nghe tiếng Lưu Ðộng oang oang vang động cả một vùng:– Cút mẹ mày đi! Ðừng có mang mấy thằng mất dạy nhà mày ra dọa tao. Bảo cho thằng Lê Ðức Thọ khốn kiếp của chúng mày biết, tao ỉa vào mồm nó! Cả cái thằng Lê Duẩn ăn cứt nữa! Tao nguyền rủa con đĩ ngựa đẻ ra nó. Tiên sư chúng mày! Tổ bố chúng mày!Nghe Lưu Ðộng chửi thật đã con ráy! Tiếng Lưu Ðộng ồm ồm không lẫn với tiếng người khác được. Nền văn hóa làm cho con người bớt thật đi, bớt được là mình đi trong sự bộc lộ cảm xúc. Thỉnh thoảng phải được sống nguyên sơ, sống hoang dã như thế mới sướng. Tôi còn muốn nghe Lưu Ðộng chửi nữa, nhưng đang chửi ầm ầm anh bỗng im bặt. Cơn giận dữ bùng lên qua nhanh, anh thấy ngượng với mình, thấy mình xử sự không xứng với tư cách trí thức” (2).

Vũ Thư Hiên vạch mặt Lê Duẩn – Lê Đức Thọ:

“Hoàng Văn Hoan lầm to khi cho rằng Lê Duẩn theo Khrushov chống Mao, Lê Duẩn là xét lại. Trên thực tế, Lê Duẩn gần với Hoàng Văn Hoan hơn bất cứ ai trong ban lãnh đạo Ðảng thời kỳ đó. Cả hai đều là Tiểu Mao về tư tưởng. Cả hai cùng có chung một định hướng chính trị, một hình dung về thể chế xã hội, một cách cai trị. Họ không chơi được với nhau, không chung sống được với nhau, là do những cái khác. Hoàng Văn Hoan còn có trong mình nhân cách nhà nho, ông thích mô hình xã hội Mao vì cho rằng chỉ có nó mới bảo đảm chắc chắn cho thắng lợi của cách mạng vô sản, trong khi Lê Duẩn đã là người thực dụng của thời hiện đại, Lê Duẩn thích nó vì nó bảo đảm cho ông ta ngồi yên trên ghế độc tài. Những người biết Lê Duẩn nói rằng Hoàng Văn Hoan nhận xét chính xác về tính cách của Lê Duẩn. Theo Hoàng Văn Hoan, Lê Duẩn có tham vọng vô độ. Việc Lê Duẩn vội vã gạt Hồ Chí Minh ra khỏi quyền bính bộc lộ tham vọng này. Trong hành động Lê Duẩn là người duy lý, không thừa nhận tình nghĩa, không hợp tác được với ai mà không nghĩ tới chuyện hất cẳng họ. Lê Ðức Thọ có không trung thành với Lê Duẩn sau này cũng chỉ là sự đi trước đối thủ một bước mà thôi. Chuyện màu sắc chính trị của Lê Duẩn thay đổi như da tắc kè nhông lại là chuyện khác, nó thuộc về tính lá mặt lá trái của Lê Duẩn”(2).“Lê Duẩn đặc biệt không ưa Dương Bạch Mai. Theo nhận định của những người từ Nam bộ ra Bắc tập kết thì sự không ưa này không phải vì nguyên do chính trị. Cái chính là Lê Duẩn biết mình chẳng bao giờ có được cái mà Dương Bạch Mai có – sự nổi tiếng với tư cách một thủ lĩnh có trí tuệ. Dương Bạch Mai nói về Lê Duẩn: “Cháu để ý tới cái thằng cha ấy làm chi! Tâm trí bậc nam nhi là để cho sự nghiệp, thằng này thời chỉ lo kiếm chác vinh quang và quyền lực, lúc nào cũng nơm nớp sợ người khác hơn mình. Sự nghiệp và vinh quang là hai thứ khác nhau, như ngôi nhà với nước vôi phủ bên ngoài nó, cháu à!” (2).

Vũ Thư Hiên kể về Dương Bạch Mai và cái chết đầy nghi vấn của ông:

“Dương Bạch Mai, con hổ dữ chống lại đường lối thân Trung Quốc đột tử khi ông đang dự cuộc họp Quốc Hội tại Nhà hát Lớn Hà Nội. Vào lúc giải lao, các đại biểu kéo nhau đi uống bia ở bar, ông Mai thết trước các bạn một chầu bia mừng sinh nhật ông hôm sau. Ông ngã xuống. ly bia chưa cạn. Khi xe cấp cứu đến, bác sĩ Tôn Thất Tùng định nhảy lên cùng đi tới bệnh viện thì hai thanh niên lực lưỡng áp sát ông: “Mời bác sĩ quay lại tiếp tục cuộc họp Quốc Hội, việc nước quan trọng hơn”. Chiếc xe cấp cứu phóng đi trước khi Tôn Thất Tùng hiểu chuyện gì xảy ra với ông, hai thanh niên kia là ai và tại sao họ lại ngăn cản ông đi cùng xe để săn sóc bạn ông?Cái chết của Dương Bạch Mai gợi nên một nghi vấn. Ông ngã xuống đúng vào lúc ông sắp sửa đọc một diễn văn nảy lửa chống lại đường lối xây dựng xã hội trại lính kiểu Mao Trạch-đông, đòi Ðảng phải cải thiện đời sống cho dân chúng, đòi thực hiện dân chủ trong nội bộ Ðảng, trong xã hội, và hàng loạt vấn đề khác. Bài diễn văn ông đút trong túi áo để đọc trước Quốc Hội biến mất. Nhà báo Thái Hồng, rất thân với Dương Bạch Mai, được đọc bản thảo diễn văn mấy hôm trước đó nói rằng đó là một tuyên ngôn cháy bỏng, hùng hồn và cực hay. Ðược tin ông Mai mất đột ngột, bà Mai từ giã các cháu học sinh miền Nam ở Thủy Nguyên về Hà Nội để làm ma cho chồng. Ngôi nhà của ông bà bị công an gác. Bà phải làm dữ mới vào được nhà mình. Trong nhà đồ đạc bị lục soát tung tóe” (2).“Dương Bạch Mai là một trong những nhà lãnh đạo phong trào cách mạng ở miền Nam. Ông cũng là một trí thức yêu nước của đất Nam bộ. Ông từng du học Pháp, gia nhập Ðảng cộng sản Pháp năm 1926. Trong cuộc nổi dậy mang tên Nam kỳ Khởi nghĩa ông được ủy ban khởi nghĩa dự kiến làm thủ tướng chính phủ cách mạng. Năm 1935 Dương Bạch Mai trúng cử vào Hội đồng thành phố Sài Gòn trước sự bực bội của chính quyền thuộc địa. Dương Bạch Mai cũng là một trong những nhân vật chủ chốt của tờ La Lutte, tờ báo cách mạng đầu tiên có sự bắt tay giữa những người cộng sản và những người tờ-rốt-kít thuộc nhóm các ông Tạ Thu Thâu, Phan Văn Hùm, Trần Văn Thạch” (2).

Lê Duẩn – Lê Đức Thọ táng tận như vậy đã đành, nhưng còn “Bác Hồ” – người được xem là đã từng “đầu gối tay ấp” với cha con Vũ Thư Hiên?

Sao mà “Bác” lại có thể để cho người ta hành xử như thế này với người đã từng cúc cung tận tụy với mình cho được:

“Chúng nó đến, con có tưởng tượng được không, còn tệ hơn cả mật thám Pháp nữa kia. Tay bố to, còng không vừa, chúng nó cố ních khóa vào đến bật máu ra mà chúng nó vẫn cố khóa bằng được. Ðến khi biết không khóa nổi, chúng nó lấy thừng trói giật cánh khuỷu rồi điệu bố ra xe bịt bùng chở đi. Lúc chúng nó khám nhà, mẹ quẳng cái khung kính có giấy chứng nhận Huân chương Kháng chiến hạng nhất của bố vào mặt chúng nó: “Các người khám kỹ cái này đi, xem ở mặt trái nó có gì?”. Chúng nó xử sự, hừm, đúng như cụ Nguyễn Du tả: “Người nách thước, kẻ tay đao. Ðầu trâu mặt ngựa ào ào như sôi…”(2)

“Trong lòng bà ông Hồ Chí Minh chết vào đêm cha tôi bị bắt”(2).

Vũ Thư Hiên thì bừng thức:

“Bây giờ tôi mới hiểu: thì ra con người đối với Hồ Chí Minh chẳng là cái gì. Ông mơ thấy cưỡi rồng lên thượng giới, sao vàng năm cánh mộng hồn quanh. Con rồng, ai cũng biết, là biểu tượng của nhà vua. Ông mơ cưỡi nó thì ông đâu phải là một người trong chúng ta. Than ôi, lũ dân thường chúng ta làm gì có những giấc mơ như thế. Chúng ta chỉ mơ thấy cưỡi trâu, cưỡi bò, cưỡi ngựa. Sang lắm thì cưỡi bình bịch là cùng. Lẽ ra tôi phải hiểu sớm hơn mới phải: bác Hồ của tôi từ lúc đang phải sống lẩn lút để làm cách mạng đã ôm ấp mộng ước làm vua. Ông có chí lớn để thực hiện nó. Và ông đã thực hiện được.Con người là vốn quý nhất, tôi từng nghe ông nói với mọi người trong lần gặp anh hùng La Văn Cầu ở Thác Dẫng, mùa thu năm 1950. Stalin cũng nói thế. Mao Trạch Đông cũng nói thế.Mà đúng: con người chỉ là vốn thôi, để kinh doanh cái gì đó. Khi là vốn, nó thôi là Người” (2).

Bổ túc cho nhận định trên là câu chuyện về Phó chủ tịch Nước Tôn Đức Thắng:

“Vào thời kỳ có cuộc đấu tranh giữa hai đường lối việc nhiều nhân vật cao cấp bị công an mật theo dõi không còn là chuyện lạ. Thậm chí các công an viên được phân công theo dõi đại tướng Võ Nguyên Giáp còn khoe với bè bạn công việc vinh quang của họ. Ðến nhà cách mạng cao niên rất mực hiền lành Tôn Ðức Thắng cũng không thoát khỏi con mắt cú vọ của Lê Ðức Thọ. Mà cụ đâu phải người thèm muốn chức quyền. Với đám con cháu, cụ Tôn bảo: “Tụi bay đừng có kêu tao bằng phó chủ tịch nước, nghe ngứa cái con ráy lắm! Người ta đặt đâu tao ngồi đó, chớ tao không màng cái chức chi hết”. Ngoài việc dự các nghi lễ long trọng bắt buộc phải có mặt cụ, cụ không làm việc gì khác ngoài một việc cụ thích thú hơn cả là sửa xe đạp. Làm phó chủ tịch nước, ông thợ máy ngày trước buồn tay buồn chân. Hết xe đạp hỏng cho cụ chữa, anh em bộ đội bảo vệ và nhân viên phục vụ phải lấy xe của người nhà mang vào cho cụ kẻo ngồi không cụ buồn. Thương cụ quá, đôi khi họ còn làm cho xe trục trặc đi để dắt đến nhờ cụ sửa giùm. Một người bạn tôi quen thân với cụ Tôn, cha anh trước kia là đàn em cụ, kể rằng một hôm anh đến thăm cụ, vào thời gian Nghị quyết 9, thì cụ dắt anh vào phòng riêng thì thào: “Mầy có thấy lính kín theo mầy tới đây không mầy?” Anh ngạc nhiên quá. Tưởng anh lo lắng cho cụ, cụ mỉm cười hiền hậu: “Là tao lo cho tụi bây, chớ tao hổng lo cho tao. Trong nhà tao nè, lính kín hổng có thiếu” (2).

Tuy vậy, Vũ Thư Hiên vẫn “bênh” cụ Hồ:

“Tôi được đọc khá nhiều về Stalin, Mao Trạch-đông, Kim Nhật-thành, Ceaucescu… Mới thấy chúng ta còn may lắm – Hồ Chí Minh của ta hơn hẳn họ về lòng nhân ái. Nếu không phải ông mà là họ, chắc chắn tấn bi kịch xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam đã lớn hơn nhiều. Và riêng tôi, hẳn đã đi tù sớm hơn, hoặc đã chết trong tù, nếu như không bị bắn tắp lự. Tôi cho rằng sự biết ơn người có quyền giết mà không giết mình cũng là cái nên có trong lòng chúng ta”(2).“Tôi cũng chẳng căm thù người đứng đầu cái nhà nước đang hành hạ tôi. Tôi biết, ông không phải là thủ phạm. Nói cách khác, không phải đầu vụ. Cũng không phải tôi muốn bào chữa cho ông Hồ. Khi ông đã kề đùi kề vế với Duẩn, với Thọ, thì mọi việc làm của họ ông đều có dự phần, vinh cũng như nhục. Nhưng tôi tin nhận xét của cha tôi – ông Hồ không phải người ác. Không hiểu sao ông lại làm ngơ để xảy ra vụ án thảm khốc này?” (2)“Theo cha tôi nói lại thì ông Hồ cũng không chủ trương dùng bạo lực để thống nhất đất nước. Ông Hồ thật sự tin rằng sau hai năm đất nước bị chia cắt tạm thời sẽ có tổng tuyển cử và thắng lợi chắc chắn sẽ đến với những người cộng sản. Những ngày ở trong rừng Việt Bắc, cha tôi kể, mỗi khi sắp mở một chiến dịch ông Hồ trở nên bẳn gắt và hút thuốc lá luôn miệng, có khi thức trắng đêm. Ông hiểu rằng gắn liền với mỗi thắng lợi trên chiến trường là máu chiến sĩ, đồng bào phải đổ ra” (2).

Để chứng minh luận điểm “Hồ Chí Minh của ta hơn hẳn họ về lòng nhân ái”, Vũ Thư Hiên dẫn ra sự gớm ghiếc của Mao Trạch Đông:

“Mao muốn thế giới thấy dưới sự lãnh đạo của ông ta, trong một thời gian cực ngắn Trung Quốc sẽ vươn lên ngang tầm với các nước tiên tiến trên thế giới. Chẳng hạn ông chủ trương trong vài năm Trung Quốc phải đạt được sản lượng gang vượt nước Anh. Ông hô hào, ông ra lệnh. Thế là từ năm 1958 trên đất nước bao la các lò luyện thép sân sau mọc lên như nấm. Nhà nhà luyện gang, người người luyện gang. Các hợp tác xã nông nghiệp không chú ý tới trồng lúa, trồng cao lương nữa, dồn sức vào luyện gang. Người ta phá tủ quần áo, chẻ bàn học, mang cả ban thờ ông bà ông vải ra đốt lò. Gang ra ùn ùn. Nhưng chẳng nền công nghiệp nào cần tới thứ gang ấy, chúng chẳng để làm gì.Mấy anh bác học nhà quê trình lên Mao một con toán lập theo quy tắc tam suất: nếu một con chim sẻ một ngày ăn hết bằng này hạt thóc thì toàn bộ chim sẻ ở Trung Quốc một ngày sẽ ăn hết bao nhiêu, một năm sẽ ăn hết bao nhiêu? Hiện ra những con số khủng khiếp. Người cầm lái vĩ đại bèn hạ bút một nhát ra lệnh tiêu diệt bằng hết lũ chim ăn hại. Gần một tỷ dân đổ ra đồng, khua chiêng, gõ mõ, thúc trống, đập mẹt, đập thùng, đốt pháo… làm cho trăm họ chim chóc kinh hồn táng đởm bay tán loạn, bay mãi, bay mãi, không dám đáp xuống, không còn chỗ nào yên để đáp xuống, cho tới khi rã cánh thì rơi xuống mà chết, hoặc để bị đập chết. Tôi rùng mình khi nhìn thấy những bức ảnh chụp xác chim chồng chất cao như đống rạ trên họa báo Trung Quốc. Thiên nhiên lập tức cho Mao một cái tát trời giáng. Mất mùa. Sâu bệnh. Không còn chim để bắt sâu. Cùng với chim sẻ, mọi giống chim biến mất trên đại lục mênh mông. Nạn đói hoành hành” (2).

Nhiều người từ lâu đã nhìn thấy Mao Trạch Đông không chỉ ghê sợ đối với nhân dân Trung Quốc mà còn với nước ta. Vũ Thư Hiên kể:

“Vào năm 1961, từ lâu trước khi có nghị quyết 9, từ Bắc Kinh sư Thiện Chiếu viết thư về cho Trung ương: “Tôi muốn chắp cánh bay về phương Nam để cấp báo các đồng chí biết rằng chớ có tin Mao Trạch Đông. Nó là một con ác quỷ… ” Ông lập tức bị Hồ Chí Minh hốt hoảng triệu về nước. Ông về, sống lầm lũi một mình trong một căn phòng nhỏ được cấp theo tiêu chuẩn. Người ta cho ông một chỗ làm để không làm gì cả ở Uỷ ban Khoa học Xã hội, với chức danh chuyên viên triết học. Tết Ất Tỵ (1965), thứ trưởng Bộ Văn hóa Hà Huy Giáp tới thăm ông, hỏi ông sao Tết đến mà hương lạnh khói tàn, thì ông già Thiện Chiếu đi cuồng trong căn phòng hẹp mà kêu lên: “Còn vui chi mà nói chuyện Tết nhứt! Tết này ta tưởng nhớ tới Quang Trung! Tổ tiên đổ biết bao nhiêu xương máu mới đuổi quân xâm lược ra ngoài bờ cõi, nay con cháu rượu thịt rước chúng vào nhà, ta ăn Tết sao đang!” Thứ trưởng họ Hà thấy ông già ăn nói bặm trợn hãi quá, đặt vội quà Tết lên bàn, rông thẳng” (2).

Theo Vũ Thư Hiên thì tất cả tội lỗi của cuộc chiến tranh Nam – Bắc tương tàn đều chỉ do Lê Duẩn:

“Lê Duẩn không giấu giếm chê bai Hồ Chí Minh không dám chủ trương dùng bạo lực giải phóng miền Nam thống nhất đất nước. “Bác còn do dự, chớ khi rời miền Nam tui đã chuẩn bị hết cả rồi. Với tui chỉ có uýnh thôi, uýnh cho tới thắng lợi cuối cùng”(2).“Lê Duẩn, nhà lãnh đạo toàn quyền vào những năm đó, không cần suy nghĩ nhiều, chọn tư tưởng Mao và mô hình Trung Quốc làm nền tảng cho cách cai trị. Ðó là sự lựa chọn duy nhất có thể có đối với Lê Duẩn, sự lựa chọn bẩm sinh, thích hợp nhất. Có anh nhà quê ra tỉnh nào mà lại thích thú những sự phiền toái, những cái đòi hỏi phải động não trong đời sống thành thị. Vốn là một nhân viên bẻ ghi đường sắt trước khi trở thành nhà độc tài, Lê Duẩn tất nhiên muốn chỉ bằng một cú gạt là bắt được con tàu quốc gia chạy theo hướng mình muốn” (2).

 

*Trong “Đêm Giữa Ban Ngày” còn một người rất hay được Vũ Thư Hiên nhắc đến là Hoàng Minh Chính:

“Cứ như sự giải thích của Ban Tư tưởng – Văn hóa Trung ương Ðảng khóa VI (1986-1991) vào tháng 11.1991 thì từ đầu những năm 60 Ðảng đã phát hiện một nhóm chống Ðảng mà hạt nhân gồm ba người : Ðặng Kim Giang, Vũ Ðình Huỳnh, Hoàng Minh Chính; rằng nhóm này từ tháng 9 năm 1963 đã chủ trương phá hoại Hội nghị Trung ương lần thứ 9, âm mưu truất bỏ Trung ương nhằm lập ra một Trung ương mới…Ðể tăng thêm tính thuyết phục người ta dẫn đoạn trích lời khai của Hoàng Minh Chính: “Ngay từ khi mới thành lập, tổ này (tổ lãnh đạo 3 người) đã mang đầy đủ tính chất và nhiệm vụ của Ban chấp hành Trung ương tương lai” mà mục tiêu là “truất bỏ Trung ương đi, quyết định ra đường lối mới và bầu ra Trung ương mới để điều hành” (2).

Trong những ngày “chung lưng đấu cật” đấu tranh vì nền dân chủ đất nước tôi thường băn khoăn day dứt khi láng máng nghĩ điều này: “Không biết ông Hoàng Minh Chính có trách nhiệm gì trong cái oan khuất của vụ án “Xét lại Chống Đảng”?”.

Tôi vốn rất nể trọng ông Hoàng Minh Chính, không chỉ vì tuổi tác mà còn vì được biết, ở Việt Nam, ông là một trong những người đầu tiên đã đặt vấn đề xét lại chủ nghĩa Mác, xét lại chủ trương đường lối của ĐCSVN. Tôi cũng rất cảm phục cái khí tiết cương cường của ông. Tuy nhiên, giữa ông với tôi có một bất đồng sâu sắc.

Tôi cho rằng đấu tranh dân chủ trong môi trường chuyên chính vô sản vừa tàn bạo vừa hết sức lão luyện, tinh vi như ở Việt Nam thì cần kiên trì trường kỳ mai phục. Dù đã có tổ chức cũng vẫn phải biểu hiện như không. Chỉ công khai và đứng bật dậy (Đúng Bật Dậy) khi tổ chức đủ mạnh, lực lượng đủ đông. Trước mắt phải tập trung “Khai dân trí”, phải cải tạo nhận thức cho xã hội, trong đó có cả những đảng viên Cộng sản, cả những người lãnh đạo ĐCSVN. Nhiệm vụ này hết sức khó khăn vì bộ máy tuyên truyền của đảng Cộng sản quá đồ sộ, quá chuyên nghiệp. Song, ta có cái thế là ta có lẽ phải, ta là chính nghĩa. Tôi tin rằng nếu theo đường lối ấy thì ngày nay ta đã có thể có tổ chức đủ mạnh rồi. Ông Hoàng Minh Chính thì ngược lại. Ông không quan tâm nhiều đến đấu tranh tư tưởng-lý luận mà rất hăng hái khích lệ cả những người công khai phất cờ, tuyên xưng lãnh tụ trong khi sát cánh cùng họ hầu như chưa có ai!

Dẫu sao, Hoàng Minh Chính cũng như Vũ Thư Hiên … đều là những bụi vàng quý giá góp phần đúc nên “Bông Hông Vàng” mơ ước trong tôi.

Rút trong cuốn “ĐÊM DÀY LẤP LÁNH”

Nguyễn Thanh Giang

Số nhà 6 – Tập thể Địa Vật lý Máy bay
Trung Văn – Từ Liêm – Hà Nội
Điện thoại: (04) 35 534370
____________________

Ghi chú:

(1) Vũ Thư Hiên“Miền Thơ Ấu”

(2) Vũ Thư Hiên – “Đêm Giữa Ban Ngày”      (Đây là cuốn hồi ký cần phải đọc)

nguồn danluan.org

————————————

 Vũ Thư Hiên: tiểu sử

Ông Vũ Thư Hiên sinh ngày 18/10/1933 tại Hà Nội trong một gia đình mà cha là ông Vũ Ðình Huỳnh và mẹ là bà Phạm Thị Tề đều là thành viên của tổ chức Thanh niên Cách mạng Ðồng chí hội, tiền thân của Ðảng cộng sản Ðông Dương. Sau năm 1954, ông được cử đi học viết kịch bản điện ảnh tại Liên Xô và trở về nước năm 1959 làm việc cho Xưởng phim Việt Nam tại Hà Nội. Năm 1960, ông được chuyển sang làm biên tập viên và phóng viên báo ảnh Việt Nam.

Năm 1967, ông bị bắt sau cha là ông Vũ Ðình Huỳnh hai tháng, trong vụ án được gọi là ‘vụ nhóm xét lại chống Ðảng’. Ông bị giam trong xà lim cá nhân bốn năm rưỡi, qua các nhà tù Hỏa Lò, Bất Bạt, Tân Lập.

Sau một lần tuyệt thực để phản đối chế độ giam giữ tàn bạo, ông được cho ra trại chung ở lẫn với các ‘phần tử phản cách mạng’ khác, và tù hình sự. Vụ án không xét xử lôi kéo vào trong phạm vi của nó, không kể trên ba chục người bị giam cầm, trong số đó có những nhà cách mạng lão thành và những trí thức tên tuổi, kết thúc vào năm 1976 với người tù cuối cùng được tha là ông Vũ Thư Hiên.

Ông bị quy định cư trú tại Hà Sơn Bình, một tỉnh gần Hà Nội. Theo bản án không thành văn, chỉ được phổ biến miệng trong các cơ quan gọi là thực hành chuyên chính vô sản, ông không được phép viết báo, viết văn, thậm chí không được dịch sách, không được làm việc trong các cơ quan nhà nước. Tìm việc để kiếm sống trong thời gian này rất khó khăn. Nhờ bè bạn giúp đỡ, ông làm công nhân trong một xưởng cao su chuyên sản xuất đế giày cho hậu cần, rồi làm nhuộm mạ kim loại tại nhà, chế tạo các hóa phẩm và nhiều công việc linh tinh khác.

Sau này, trong thời kỳ được gọi là ‘cởi trói’, ‘bung ra’, người ta nới lỏng hơn, cho phép ông được dịch thuê cho các Viện nghiên cứu. Tới khoảng giữa thập niên 80, sự nới lỏng còn được mở rộng hơn nữa. Ông được phép viết, nhưng vẫn không được phép đề tên mình. Ngay một cuốn sách dịch in năm 1961, nhà xuất bản muốn in lại cũng phải thay tên ông bằng một tên khác. Trong thời gian này ông viết được một số tác phẩm và dùng những bút hiệu khác nhau để ký dưới các tác phẩm này.

Năm 1993 Vũ Thư Hiên được đi sang Nga với tư cách phiên dịch cho một công ty thương mại. Ông vận động để được ở lại, làm đại diện cho công ty. Trong khi làm việc ông bắt đầu viết cuốn hồi ký Ðêm Giữa Ban Ngày về chín năm bị giam cầm, trong đó ông muốn chia sẻ với người đọc những điều suy ngẫm về mô hình nhà nước chuyên chính vô sản.

Tin ông viết hồi ký lọt ra ngoài, ngày 1.6.1994 chính quyền Hà Nội cho một nhóm công an giả dạng kẻ cướp đột nhập nhà ông ở, đâm ông bị thương, rồi cướp đi bản thảo, tất cả phương tiện làm việc (computer, fax, telephone) tiền nong, thậm chí cả quần áo trong. Hai ngày sau vụ cướp, giữa đêm, một tên trong bọn ‘cướp’ còn gọi điện báo cho ông biết có thể nhận lại bản thảo đã được chép ra diskets tại … lãnh sự quán Việt Nam.

Ðến cuối năm 1995, thấy không thể ở Moskva lâu hơn nữa, ông tìm cách qua Ba Lan. Ðến cuối năm 1996, sau một chuyến đi Paris, trở về Ba Lan ông được mật báo về tình hình nguy hiểm có thể xảy ra cho ông nếu nấn ná ở lại nước này để hoàn thành cuốn hồi ký. Do đó Vũ Thư Hiến quyết định qua tỵ nạn tại Pháp. Tại đây, ông đã hoàn thành tập hồi ký Ðêm Giữa Ban Ngày, được xuất bản vào tháng 4/1997.

Tác Phẩm :

– Lối Thoát (kịch), 1953
– Ðêm Cuối Cùng, Ngày Ðầu Tiên (kịch bản điện ảnh), 1963
– Bông Hồng Vàng, Tập Truyện Ngắn Của Paoustovsky,

– Cái Xích (dịch), 1961-1962
– Khúc Quân Hành Lặng Lẽ (tiểu thuyết nhiều tập, ký tên khác) in từ 1985-1989
– Luật Rừng (kịch bản), 1988
– Miền Thơ Ấu (tiểu thuyết), 1988
– Ðêm Giữa Ban Ngày (hồi ký), 1997

…..

Bản tiểu sử dưới đây đăng trên wikipedia

Vũ Thư Hiên (18 tháng 10 năm 1933) là nhà văn Việt Nam, còn có bút danh là Kim Ân, từng đoạt giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam năm 1988 với tác phẩm Miền thơ ấu. Ông là con trai của Vũ Đình Huỳnh – cận vệ, giúp việc, lễ tân trang phục, thư ký riêng của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Ông là một trong những nhân vật của Vụ án Xét lại Chống Đảng. Năm 1997, hồi ký Đêm giữa ban ngày của ông được xuất bản, trong đó ông tiết lộ những bí mật của vụ án này và gây dư luận lớn trong cộng đồng người Việt.

Tiểu sử

Vũ Thư Hiên sinh ngày 18 tháng 10 năm 1933 tại Hà Nội, cha là Vũ Ðình Huỳnh và mẹ là Phạm Thị Tề đều là thành viên của Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội, tiền thân của Ðảng Cộng sản Ðông Dương.

Ông thuở nhỏ đi học, hay vào Phủ chủ tịch chơi, được Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu mến, hay nhờ những việc lặt vặt.

Năm 1946, đi ca hát, đóng kịch trong một đội Tuyên truyền xung phong.

Năm 1949, đi bộ đội.

Năm 1953, công tác trong lĩnh vực điện ảnh.

Từ 1954 đến 1959, đi học viết kịch bản điện ảnh tại Liên Xô.

Năm 1959, làm việc cho Xưởng phim Việt Nam tại Hà Nội.

Năm 1960, làm biên tập viên và phóng viên Báo Ảnh Việt Nam.

Năm 1967, ông bị chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa bí mật bắt sau cha (là ông Vũ Ðình Huỳnh) 2 tháng, trong Vụ án Xét lại Chống Đảng. Công an chìm bắt giữ ông lên ôtô và đưa về nhà tù Hỏa Lò ngay trong lúc ông đang đạp xe trên phố Hà Nội, gia đình ông mãi về sau mới được biết. Ông bị giam 9 năm, trong đó bị giam trong xà lim cá nhân bốn năm rưỡi, qua các nhà tù Hỏa Lò, Bất Bạt (Sơn Tây), Tân Lập (Phú Thọ). Chính quyền thả ông không án cũng như không xét xử.

Năm 1977, làm công nhân cao su.

Năm 1979, làm kỹ thuật hóa.

Năm 1990, là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam.

Năm 1991, làm kinh doanh.

Năm 1993, ông qua Nga với tư cách phiên dịch cho một công ty thương mại. Ông vận động để được ở lại, làm đại diện cho công ty. Trong khi làm việc ông bắt đầu viết cuốn hồi ký Ðêm giữa ban ngày về chín năm bị giam cầm, trong đó ông muốn chia sẻ với người đọc những điều suy ngẫm về mô hình nhà nước chuyên chính vô sản.

Cuối năm 1995, thấy không thể ở Moskva lâu hơn nữa, ông tìm cách qua Ba Lan. Ðến cuối năm 1996, sau một chuyến đi Paris, trở về Ba Lan ông được mật báo về tình hình nguy hiểm có thể xảy ra cho ông nếu nấn ná ở lại nước này để hoàn thành cuốn hồi ký[cần dẫn nguồn]. Do đó ông quyết định qua tỵ nạn tại Pháp. Tại đây, ông đã hoàn thành tập hồi ký Ðêm giữa ban ngày.

Năm 1997, xuất bản hồi ký Ðêm giữa ban ngày vào tháng 4.

Tác phẩm

Những tác phẩm của ông đã xuất bản khi còn ở Việt Nam:

  1. Lối thoát (kịch, 1954)
  2. Bông hồng vàng (dịch của tác giả Paustovsky, 1960)
  3. Truyện ngắn Paustovsky (dịch, 1962)
  4. Luật rừng (truyện, in chung, 1985)
  5. Khúc quân hành lặng lẽ (truyện nhiều tập, 1985-1989)
  6. Luật rừng (kịch bản, 1988)
  7. Miền thơ ấu (tiểu thuyết, Nhà xuất bản Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh 1988); và một số kịch bản điện ảnh.

Nhà văn đã được nhận giải A văn học thiếu nhi của Hội Nhà văn Việt Nam năm 1988 với tác phẩm Miền thơ ấu.

Sau khi định cư tại nước ngoài, ông viết thêm một số tác phẩm, trong đó có Đêm giữa ban ngày.

*Thật sự là ông

Posted in Chinh Tri Xa Hoi, Van Hoc | Leave a Comment »