Trần Hoàng Blog

Archive for Tháng Tư, 2016

►Sài Gòn giải phóng tôi

Posted by hoangtran204 trên 30/04/2016

Sài Gòn giải phóng tôi

Nguyễn Quang Lập

30-4-2016

H1Mãi tới ngày 30 tháng 4 năm 1975 tôi mới biết thế nào là ngày sinh nhật. Quê tôi người ta chỉ quan tâm tới ngày chết, ngày sinh nhật là cái gì rất phù phiếm. Ngày sinh của tôi ngủ yên trong học bạ, chỉ được nhắc đến mỗi kì chuyển cấp. Từ thuở bé con đến năm 19 tuổi chẳng có ai nhắc tôi ngày sinh nhật, tôi cũng chẳng quan tâm. Đúng ngày “non sông thu về một mối” tôi đang học Bách Khoa Hà Nội, cô giáo dạy toán xác suất đã cho hay đó cũng là ngày sinh nhật của tôi. Thật không ngờ. Tôi vui mừng đến độ muốn bay vào Sài Gòn ngay lập tức, để cùng Sài Gòn tận hưởng “Ngày trọng đại”.

Kẹt nỗi tôi đang học, ba tôi không cho đi. Sau ngày 30 tháng 4 cả nhà tôi đều vào Sài Gòn, trừ tôi. Ông bác của tôi dinh tê vào Sài Gòn năm 1953, làm ba tôi luôn ghi vào lý lịch của ông và các con ông hai chữ “đã chết”, giờ đây là triệu phú số một Sài Gòn. Ba tôi quá mừng vì ông bác tôi còn sống, mừng hơn nữa là “triệu phú số một Sài Gòn”. Ông bác tôi cũng mừng ba tôi hãy còn sống, mừng hơn nữa là “gia đình bảy đảng viên cộng sản”. Cuộc đoàn tụ vàng ròng và nước mắt. Ông bác tôi nhận nước mắt đoàn viên bảy đảng viên cộng sản, ba tôi nhận hơn hai chục cây vàng đem ra Bắc trả hết nợ nần còn xây được ngôi nhà ngói ba gian hai chái. Sự đổi đời kì diệu.

Dù chưa được vào Sài Gòn nhưng tôi đã thấy Sài Gòn qua ba vật phẩm lạ lùng, đó là bút bi, mì tôm và cassette của thằng Minh cùng lớp, ba nó là nhà thơ Viễn Phương ở Sài Gòn gửi ra cho nó. Chúng tôi xúm lại quanh thằng Minh xem nó thao tác viết bút bi, hồi đó gọi là bút nguyên tử. Nó bấm đít bút cái tách, đầu bút nhô ra, và nó viết. Nét mực đều tăm tắp, không cần chấm mực không cần bơm mực, cứ thế là viết. Chúng tôi ai nấy há hốc mồm không thể tin nổi Sài Gòn lại có thể sản xuất được cái bút tài tình thế kia.

Tối hôm đó thằng Minh bóc gói mì tôm bỏ vào bát. Tưởng đó là lương khô chúng tôi không chú ý lắm. Khi thằng Minh đổ nước sôi vào bát, một mùi thơm rất lạ bốc lên, hết thảy chúng tôi đều nuốt nước bọt, đứa nào đứa nấy bỗng đói cồn cào. Thằng Minh túc tắc ăn, chúng tôi vừa nuốt nước bọt vừa cãi nhau. Không đứa nào tin Sài Gòn lại có thể sản xuất được đồ ăn cao cấp thế kia. Có đứa còn bảo đồ ăn đổ nước sôi vào là ăn được ngay, thơm ngon thế kia, chỉ giành cho các nhà du hành vũ trụ, người thường không bao giờ có.

Thằng Minh khoe cái cassette ba nó gửi cho nó để nó học ngoại ngữ. Tới đây thì tôi bị sốc, không ngờ nhà nó giàu thế. Với tôi cassette là tài sản lớn, chỉ những người giàu mới có. Năm 1973 quê tôi lần đầu xuất hiện một cái cassette của một người du học Đông Đức trở về. Cả làng chạy đến xem máy ghi âm mà ai cũng đinh ninh đó là công cụ hoạt động tình báo, người thường không thể có. Suốt mấy ngày liền, dân làng tôi say sưa nói vào máy ghi âm rồi bật máy nghe tiếng của mình. Tôi cũng được nói vào máy ghi âm và thật vọng vô cùng không ngờ tiếng của tôi lại tệ đến thế. Một ngày tôi thấy tài sản lớn ấy trong tay một sinh viên, không còn tin vào mắt mình nữa. Thằng Minh nói, rẻ không à. Thứ này chỉ ghi âm, không có radio, giá hơn chục đồng thôi, bán đầy chợ Bến Thành. Không ai tin thằng Minh cả. Tôi bỉu môi nói với nó, cứt! Rứa Sài Gòn là tây à? Thằng Minh tủm tỉm cười không nói gì, nó mở cassette, lần đầu tiên chúng tôi được nghe nhạc Sài Gòn, tất cả chết lặng trước giọng ca của Khánh Ly trong Sơn ca 7. Kết thúc Sơn ca 7 thằng Hoan bỗng thở hắt một tiếng thật to và kêu lên, đúng là tây thật bay ơi!

Sài Gòn là tây, điều đó hấp dẫn tôi đến nỗi đêm nào tôi cũng mơ tới Sài Gon. Kì nghỉ hè năm sau, tháng 8 năm 1976, tôi mới được vào Sài Gòn. Ba tôi vẫn bắt tôi không được đi đâu, “ở nhà học hành cho tử tế”, nhưng tôi đủ lớn để bác bỏ sự ngăn cấm của ông. Hơn nữa cô họ tôi rất yêu tôi, đã cho người ra Hà Nội đón tôi vào. Xe chạy ba ngày ba đêm tôi được gặp Sài Gòn.

Tôi sẽ không kể những gì lần đầu tôi thấy trong biệt thự của ông bác tôi, từ máy điều hòa, tủ lạnh, ti vi tới xe máy, ô tô, cầu thang máy và bà giúp việc tuổi năm mươi một mực lễ phép gọi tôi bằng cậu. Ngay mấy cục đá lạnh cần lúc nào có ngay lúc đó cũng đã làm tôi thán phục lắm rồi. Thán phục chứ không ngạc nhiên, vì đó là nhà của ông triệu phú. Xin kể những gì buổi sáng đầu tiên tôi thực sự gặp gỡ Sài Gòn.

Khấp khởi và hồi hộp, rụt rè và cảnh giác tôi bước xuống lòng đường thành phố Sài Gòn và gặp ngay tiếng dạ ngọt như mía lùi của bà bán hàng tạp hóa đáng tuổi mạ tôi. Không nghĩ tiếng dạ ấy giành cho mình, tôi ngoảnh lại sau xem bà chủ dạ ai. Không có ai. Thì ra bà chủ dạ khách hàng, điều mà tôi chưa từng thấy. Quay lại thấy nụ cười bà chủ, nụ cười khá giả tạo. Cả tiếng dạ cũng giả tạo nhưng với tôi là trên cả tuyệt vời. Từ bé cho đến giờ tôi toàn thấy những bộ mặt lạnh lùng khinh khỉnh của các mậu dịch viên, luôn coi khách hàng như những kẻ làm phiền họ. Lâu ngày rồi chính khách hàng cũng tự thấy mình có lỗi và chịu ơn các mậu dịch viên. Nghe một tiếng dạ, thấy một nụ cười của các mậu dịch viên dù là giả tạo cũng là điều không tưởng, thậm chí là phi lí.

Tôi mua ba chục cái bút bi về làm quà cho bạn bè. Bà chủ lấy dây chun bó bút bi và cho vào túi nilon, chăm chút cẩn thận cứ như bà đang gói hàng cho bà chứ không phải cho tôi. Không một mậu dịch viên nào, cả những bà hàng xén quê tôi, phục vụ khách hàng được như thế, cái túi nilon gói hàng càng không thể có. Ai đòi hỏi khách hàng dây chun buộc hàng và túi nilon đựng hàng sẽ bắt gặp cái nhìn khinh bỉ, vì đó là đòi hỏi của một kẻ không hâm hấp cũng ngu đần. Giờ đây bà chủ tạp hóa Sài Gòn làm điều đó hồn hậu như một niềm vui của chính bà, khiến tôi sửng sốt.

Cách đó chưa đầy một tuần, ở Hà Nội tôi đi sắp hàng mua thịt cho anh cả. Cô mậu dịch viên hất hàm hỏi tôi, hết thịt, có đổi thịt sang sườn không? Dù thấy cả một rổ thịt tươi dưới chân cô mậu dịch viên tôi vẫn đáp, dạ có! Tranh cãi với các mậu dịch viên là điều dại dột nhất trần đời. Cô mậu dịch viên ném miếng sườn heo cho tôi. Cô ném mạnh quá, miếng sườn văng vào tôi. Tất nhiên tôi không hề tức giận, tôi cảm ơn cô đã bán sườn cho tôi và vui mừng đã chụp được miếng sườn, không để nó rơi xuống đất. Kể vậy để biết vì sao bà chủ tạp hóa Sài Gòn đã làm tôi sửng sốt.

Rời quầy tạp hóa tôi tìm tới một quán cà phê vườn. Uống cà phê để biết, cũng là để ra dáng ta đây dân Sài Gòn. Ở Hà Nội tôi chỉ quen chè chén, không dám uống cà phê vì nó rất đắt. Tôi ngồi vắt chân chữ ngũ nhâm nhi cốc cà phê đen đá pha sẵn, hút điếu thuốc Captain, tự thấy mình lên hẳn mấy chân kính. Không may tôi vô ý quờ tay làm đổ vỡ ly cà phê. Biết mình sắp bị ăn chửi và phải đền tiền ly cà phê mặt cậu bé hai mươi tuổi đỏ lựng. Cô bé phục vụ chạy tới vội vã lau chùi, nhặt nhạnh mảnh vỡ thủy tinh với một thái độ như chính cô là người có lỗi. Cô thay cho tôi một ly cà phê mới nhẹ nhàng như một lẽ đương nhiên. Tôi thêm một lần sửng sốt.

Một giờ sau tôi quay về nhà ông bác, phát hiện sau nhà là một con hẻm đầy sách. Con hẻm ngắn, rộng rãi. Tôi không nhớ nó có tên đường hay không, chỉ nhớ rất nhiều cây cổ thụ tỏa bóng sum sê, hai vỉa hè đầy sách. Suốt buổi sáng hôm đó tôi tha thẩn ở đây. Quá nhiều sách hay, tôi không biết nên bỏ cuốn gì mua cuốn gì. Muốn mua hết phải chất đầy vài xe tải. Giữa hai vỉa hè mênh mông sách đó, có cả những cuốn sách Mác – Lê. Cuốn Tư Bản Luận của Châu Tâm Luân và Hành trình trí thức của Karl Marx của Nguyễn Văn Trung cùng nhiều sách khác. Thoạt đầu tôi tưởng sách từ Hà Nội chuyển vào, sau mới biết sách của Sài Gòn xuất bản từ những năm sáu mươi. Tôi hỏi ông chủ bán sách, ở đây người ta cũng cho in sách Mác – Lê à? Ông chủ quán vui vẻ nói, dạ chú. Sinh viên trong này học cả Mác – Lê. Tôi ngẩn ngơ cười không biết nói gì hơn.

Chuyện quá nhỏ, với nhiều người là không đáng kể, với tôi lúc đó thật khác thường, nếu không muốn nói thật lớn lao. Tôi không cắt nghĩa được đó là gì trong buổi sáng hôm ấy. Tôi còn ở lại Sài Gòn thêm 30 buổi sáng nữa, vẫn không cắt nghĩa được đó là gì. Nhưng khi quay ra Hà Nội tôi bỗng sống khác đi, nghĩ khác đi, đọc khác đi, nói khác đi. Bạn bè tôi ngày đó gọi tôi là thằng hâm, thằng lập dị. Tôi thì rất vui vì biết mình đã được giải phóng.

anhbasam.wordpress.com


Sài Gòn đã giải phóng toàn bộ dân miền Bắc thoát khỏi sự cai trị độc tài và ngu dốt của Cộng quân. Sài gòn đã đem ánh sáng văn minh soi rọi cho dân chúng đang sinh sống trên từng ngõ ngách ở Hà Nội, các tỉnh và miền quê. Trước năm 1951, sinh hoạt và đời sống của dân chúng Hà Nội không hề thua sút Sài Gòn, nhưng khi ông HCM và đảng của ông rước quân Trung Cộng 1951 vào “giải phóng” Hà Nội 1954 thì Hà Nội và miền Bắc bắt đầu sa sút. Nhà văn Nguyễn Quang Lập đã xuất sắc mô tả sự khác biệt về đời sống giữa dân chúng hai miền tại thời điểm 30-4-1975.

 

Advertisements

Posted in Miền Bắc trước 30-4-1975- Đời Sống Cư Dân Đô Thị | Leave a Comment »

►Nguy cơ đảo chánh tại Trung Cộng (Sulmaan Khan)

Posted by hoangtran204 trên 30/04/2016

MlNguy cơ đảo chánh tại Trung Cộng

Sulmaan Khan *

Nguyễn Trọng Dân lược dịch

J 20. Ảnh Telegraf.uk

J 20. Ảnh Telegraf.uk

Vào 11 tháng Giêng năm 2011, quân đội Trung Cộng thử nghiệm chiến đấu cơ tàng hình J-20. Hành động này làm ngạc nhiên Bộ Trưởng Quốc Phòng Hoa Kỳ, ông Robert Gate, lúc bấy giờ đang viếng thăm Trung Quốc vì không ai báo trước cho ông biết sẽ có sự trình diễn thử nghiệm chiếc máy bay này. Điều kỳ thú là ngay cả chủ tịch Trung Cộng Hồ Cẩm Đào cũng ngạc nhiên trước buổi trình diễn thử nghiệm này. Ông đã hoàn toàn mù tịt không hay biết gì cả và đã bị quân đội do chính ông lãnh đạo bấm còi qua mặt.

Giây phút khôi hài bẽ bàng đó đã cho thấy mối quan hệ giữa đảng và quân đội ở Trung Quốc không giống như mọi người nghĩ. Đại hội đảng Cộng Sản Trung Quốc họp tại Nam Xương vào năm 1929 ràng buộc lực lượng vũ trang phải dưới quyền kiểm soát của đảng. Mao Trạch Đông đã từng nói quyền lực xuất phát từ họng súng và đảng là người cầm súng. Quá khứ đã cho thấy quân đội phục tùng mệnh lệnh của đảng và áp đặt mọi chính sách của đảng lên xã hội Trung Quốc.

Thế nhưng quá khứ đó đã không còn là thực tế ở hiện tại nữa. Vào năm 1929, không ai nghĩ Cộng Sản có thể kiểm soát được Trung Quốc. Và khi Cộng Sản kiểm soát được Trung Quốc thì quyền lực trong đảng thật sự lại nằm trong tay một vài cá nhân hay một vài nhóm có toàn quyền thao túng. Đảng chỉ còn là cái bình phong che đậy quyền lợi hay những ý đồ quyền lực hoang tưởng của nhưng kẻ này hơn là cơ chế chính trị lãnh đạo quân đội.

Tuy nhiên, thực tế trên vẫn không làm Tập Cận Bình trùn bước với ý muốn khôi phục lại giá trị thật sự của đại hội đảng vào năm 1929 khi ông triệu tập đại hội Quân-ủy Trung Ương cũng tại Nam Xương vào năm 2014. Tinh thần của đại hội quân ủy năm 1929 cần phải được duy trì, họ Tập nhấn mạnh. Khái niệm “quốc gia trên hết,” nghĩa là quân đội chỉ trung thành với tổ quốc mà thôi, không cần phải trung thành với Cộng đảng là điều không thế chấp nhận được với họ Tập. Quân đội không thể có tư tưởng chính trị đi ngoài sự kiểm soát của đảng.

Họ Tập còn đưa ra một thông điệp khác tại hội nghị này. Đó là “tham nhũng cần phải diệt trừ tận gốc”. Và quân đội cần phải tuân thủ mục tiêu này, thể hiện qua việc giúp đảng thanh trừng tướng Từ Tài Hậu. Tướng Từ, vốn là Phó Chủ Tịch Quân-ủy Trung Ương quyền uy ngang ngữa với họ Tập, bị truy tố về tội tham nhũng vào tháng Sáu. Sẽ còn cần phải nỗ lực thực thi thanh trừng nhiều hơn nữa để giữ vững sự trong sạch của quân đội, và họ Tập khẳng định ông sẽ không bao giờ đuối sức hay thiếu quyết tâm trong việc này.

Nhìn qua ý đồ của họ Tập trong việc củng cố quyền kiểm soát của đảng lên quân đội và làm trong sạch quân đội, người ta thấy được sự bấp bênh về quyền lực đang diễn ra trong nội bộ Trung Cộng. Nếu như quyền lực của đảng kiểm soát quân đội thật sự là tối thượng từ lâu, thì việc gì Cộng đảng phải thường xuyên tìm đủ mọi cách để củng cố quyền kiểm soát này?! Nếu không có sự nổi giận từ phía quân đội đối với đảng, thậm chí đã xảy ra trường hợp bất tuân mệnh lệnh của đảng từ phía quân đội thì chẳng việc gì đảng cần phải nhắc lại ý nghĩa của đại hội quân ủy đầu tiên vào năm 1929?! Nhiều nhà phân tích hiểu quá rõ chính sách chống tham nhũng của họ Tập chỉ là khói màu che đậy sự thanh trừng tranh dành thâu tóm quyền lực để trở thành độc tài. Phản kháng và thanh trừng nội bộ đang diễn ra, không còn nghi ngờ gì nữa, tuy nhiên, họ Tập có lợi thế (tình cờ) là tiêu diệt tham nhũng cũng ngăn cản bớt sự thiệt hại cho Trung Quốc do những lũng đoạn bên trong quân đội gây ra.

Nỗi ám ảnh của họ Tập về sự bất phục của quân đội là không thể tránh khỏi. Nỗi ám ảnh này buộc ông tiếp tục thanh trừng vì thanh danh của ông được gầy dựng cũng nhờ thanh trừng. Quan trọng hơn hết, họ Tập phải tìm cách giảm bớt bất mãn trong xã hội và gom góp của cải của các viên chức hối lộ về lại cho công quỹ khi mà nền kinh tế đang suy thoái khiến đời sống khó khăn hơn và làm bất mãn giàu nghèo bộc phát. Tuy nhiên, họ Tập cần phải nhớ rằng kế sách thanh trừng hối lộ của ông đã khiến giới sĩ quan tướng lãnh quân đội bị hoang man đe dọa. Đối phó với sự thịnh nộ của những kẻ nắm binh quyền súng ống trong tay không phải là dễ dàng đơn giản. Một cuộc đảo chánh quân sự, tưởng chừng như chẳng bao giờ xảy ra đối với Trung Cộng, ngày hôm nay mỗi lúc càng hiện rõ.

Để hiểu rõ hơn nỗi ám ảnh của họ Tập thì cần phải hiểu rõ tập quán của xã hội Trung Quốc, vốn khác với phương Tây- Đó là xã hội mỗi người dân là một người lính. Ngạn ngữ Trung Hoa có câu: “Mặt trời thì ở quá cao còn hoàng đế thì ở quá xa,” ám chỉ chính quyền trung ương không đủ sức bảo vệ người dân ở quốc gia quá rộng lớn này nên mỗi người dân phải tự làm một người lính khi cần thiết. Khi thổ phỉ giặc dã nổi lên cướp bóc tấn công thì người dân không thể chờ quân lính của triều đình phái đến cứu giúp mà phải tự mình tổ chức binh ngũ để tự bảo vệ. Do đó, những mẩu chuyện thảo dân thành anh hùng lan tràn trong lịch sử Trung Quốc: những thảo dân quả cảm với ngọn giáo nhọn, có sức mạnh và lòng can đảm luôn đánh bại bọn thổ phỉ cướp bóc lẫn bọn quan lại tham lam tàn bạo.

Huyền thoại và lịch sử cứ thế trộn hòa vào nhau rồi ăn sâu trong suy nghĩ của dân Hán. Mẩu chuyện về người dân làng Sanyuanli, đã tự vùng lên đánh đuổi Thực Dân Anh trong cuốc chiến “Á Phiện” trong khi quân đội của triều đình Mãn Thanh buông tay bất lực vẫn còn truyền miệng cho đến ngày nay. Người dân nổi dậy thành công vì trời mưa làm thuốc súng của quân Anh bị ẩm ướt và cũng vì quân Anh tin vào kết quả thương lượng với triều đình, mà sự thương lượng này vẫn không ngăn nổi sự nổi dậy của thảo dân trong nước. Cuộc khởi nghĩa “Thái Bình Thiên Quốc” đã có trên 20 triệu người hưởng ứng, khởi xướng bởi Hồng Tú Toàn, một con người tin rằng mình là người con út của Đức Chúa Trời. Lực lượng dân quân đối phó với cuộc khởi nghĩa của Hồng Tú Toàn cũng hoàn toàn là tình nguyện theo lời kêu gọi của các quan chức chứ không phải từ tướng lãnh của triều đình, mà sự trung thành của các quan chức này đối với triều đình chỉ hoàn toàn là vì tình thế ép buộc chứ không phải vì thật lòng. Các xứ quân chia năm sẻ bảy Trung Quốc sau khi nhà Thanh sụp đổ là những viên chức dân sự tự tụ tập binh mã tăng ảnh hưởng của mình nhờ thông qua tạo ra sợ hãi và mua chuộc. Chiến lược chiến tranh nhân dân của Mao Trạch Đông, cũng dựa trên đói kém và bần cùng của thảo dân để tạo ra lực lượng cho chiến tranh. Cộng đảng Trung Quốc có được quyền lực thực tế vì đã thành công biến mỗi người dân thành một người lính.

Sau khi Cộng đảng cầm quyền, người dân tiếp tục đảm nhận vai trò người lính mà việc này, ở phương Tây sẽ được để lại cho một quân đội chuyên nghiệp. “Quân đội Giải Phóng Nhân Dân” tham chiến ở Đại Hàn (Korea) thì người nông dân trên khắp các miền đất nước cũng bỏ ruộng cày mà nhập ngũ để giúp “nhần dân Đại Hàn chống đế quốc Mỹ.” Cuối thập niên 1960, Trung Cộng tấn công Miến Điện nhằm giúp đỡ Cộng đảng Miến nắm chánh quyền, và chiến dịch này hoàn toàn nhờ sức dân ở các tỉnh phía nam tham gia nhập ngũ đánh trận. Hồng Vệ Binh cũng vậy, dù thực thi thanh trừng lẫn nhau, thanh trừng các lão thành Cách Mạng hay thực thi các chiến dịch bài ngoại đều mang tâm lý tự cho mình là một quân nhân. Họ chỉ biết có chiếm giữ, tuân lệnh, chiến đấu và chinh phục. Ngay cả ngày hôm nay, xung đột tại quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cũng cho thấy các ngư phủ Trung Quốc sẵn sàng hy sinh để gìn giữ hải đảo. Đương nhiên là giới ngư phủ Trung quốc được hậu thuẫn bởi Nhà-nước, nhưng sự hậu-thuẫn có hiệu nghiệm cũng chỉ vì bởi phù hợp với truyền thống mỗi người dân là người lính khi cần thiết. Các trò chơi điện tử (video game) người Hán bắn giết người Nhật vì Nhật là tội phạm chiến tranh được ủng hộ rộng rãi ở những nơi mà chính quyền muốn kích động thù hằn dân tộc, đã cho thấy sự hiếu chiến đã ăn sâu vào gốc rễ suy nghĩa của người Hán. Tinh thần mỗi người dân là một người lính đã quá hết sức bình thường đối với xã hội Trung Quốc. Gọi xã hội Trung Quốc, nơi mà ai ai cũng sẵn sàng chiến đấu để trở thành anh hùng, là một xã hội quân phiệt hiếu chiến thì thật là chính xác.

Đương nhiên, ở những quốc gia khác cũng có những quan niệm hiếu chiến tương tự. Afghanistan hay vùng người Kurd ở Trung Đông chẳng hạn, hoặc những vùng đất có người Tuareg hoặc người Chechen định cư, tất cả điều có chung một quan niệm hiếu chiến truyền thống. Và bất cứ nơi nào có một tập quán hiếu chiến truyền thống, dù sự hiếu chiến đó đem đến tự chủ, cũng có thể là ngòi nổ nguy hiểm cho mọi chính quyền. Nếu lực lượng quân dân không bị kiểm soát, không có lý do gì lực lượng này không bắn vào chính phủ. Khi thời thế xoay chuyển, chính quyền trở thành mục tiêu để tấn công. Bất luận là người dân ở ngôi làng Sanyuanli chống lại Thực Dân Anh, Hồng Tú Toàn chống lại nhà Thanh, hay Mao đối cự với chính quyền họ Tưởng và chủ nghĩa đế quốc, những cuộc nổi dậy có hàng triệu người dân tham gia để chống chế độ mà họ không thích cứ tiếp nối nhiều thế hệ. Và trước mắt họ Tập là muôn triệu thảo dân sẵn sàng vùng lên chống ông.

Hơn thế nữa, lực lượng thanh niên bất mãn, nghèo đói và chưa thành thân, vốn là lực lượng nồng cốt cho mọi cuộc nổi loạn thì tràn ngập khắp nơi ở Trung Quốc, hệ quả của chính sách một con mỗi gia đình kết hợp với quan niệm “trọng nam khinh nữ” để rồi giảm thiểu sanh trẻ nữ. Những ai sanh ra trong gia đình giàu có thì ra ngoại quốc sống để né tránh và giải quyết bất mãn của mình đối với chính quyền, hoặc chuyển tài sản của mình sang Boston hay lãnh vực địa ốc ở New York. Còn đại đa số phải ở lại để hứng chịu khốn khó bất công do chế độ gây ra thì sự chống đối vẫn tiếp diễn và chỉ ngày mỗi tăng chứ không có giảm; xã hội Trung Hoa là xã hội đối kháng kình chống nhau liên tục giữa ba bộ phận: công chức quan liêu, giới quân đội và thảo dân, chứ không phải chỉ là xã hội kình chống giữa hai thế lực thường thấy là kẻ bị trị chống kẻ thống trị.

Tập Cận Bình thừa biết nguy cơ này. Họ Tập không thể chối cãi giải quyết bất mãn cũng là cách để chính quyền thể hiện sự lo lắng đến người dân. Đây chính là động lực thôi thúc phải tiến hành thành trừng hối lộ, tiểu trừ tham nhũng. Họ Tập muốn cho các công chức biết, tham nhũng sẽ không còn đất sống. Họ Tập phải áp dụng chương trình này đối với mọi công chức từ cá lớn đến cá bé đủ cho thấy họ Tập hiểu quá rõ chiều sâu của sự bất mãn do tham nhũng gây ra bấy lâu nay. Giam cầm luôn cả những con người như Chu Vĩnh Khang, Bạc Hy Lai và gần đây nhất là giám đốc tình báo Ma Jian, là một điều không dễ thực thi ngay cả khi họ đã về hưu. Hình ảnh trong sạch và đoàn kết của Cộng đảng sẽ bị đổ vỡ, thế nhưng nếu họ Tập không làm gì cả thì hậu quả còn nguy hại hơn nhiều. Để cho người dân tin rằng vị chủ tịch của họ thật sự bài trừ tham nhũng thì bọn viên chức quyền thế ở trung ương phải bị rớt đài chứ không chỉ có bọn công chức quèn ở địa phương. Và cuộc bài trừ tham nhũng cũng cần phải lan rộng ra đến quân đội để chứng minh sự công bằng của họ Tập.

Khó biết rõ tin tức quốc phòng bên trong nhưng giới chức tướng lãnh của quân đội “Giải Phóng Nhân Dân” Trung Quốc đương nhiên là có rất nhiều đặc lợi từ chế độ mà người dân bình thương không thể nào có hay ngờ tới. Quân đội nay đầu tư dính líu đến rất nhiều đại công ty từ quốc phòng đến dầu hỏa, từ hàng-không đến cơ sở hạ tầng- cho nên rất thuận lợi cho ý đồ biển thủ công quỹ ngân khố. Các bằng chứng, như công tố viên loan báo, có thể tìm thấy trên xe, hay nỗ lực bao che hoặc tiền hối lộ nhét bao thơ. Tướng Cốc Tuấn Sơn, cùng vây cánh với thượng tướng Từ Tài Hậu, bị cáo buộc biển thủ ba mươi tỷ Nhân Dân tệ, hối lộ các viên chức bằng xe Mercedes chứa đầy vàng. Tiền tịch thu trong nhà tướng Từ Tài Hậu phải cần mười xe tải mới chở hết. Ngay cả nữ thiếu tướng Cao Tiểu Yên cùng phe đảng với Từ Tài Hậu cũng đang bị điều tra vì hối lộ khi còn làm việc tại một bệnh viện quân Y. Đặc quyền đặc lợi làm lũng đoạn quân đội. Hối lộ tham nhũng luôn xảy ra trong nội bộ sĩ quan tướng lãnh. Nếu muốn bài trừ tiêu diệt tham nhũng đến tận gốc tận rễ thì quân đội “Giải Phóng Nhân Dân” sẽ bị điều tra không bao giờ chấm dứt.

Mặc dù thủ tục tố tụng đã không được trình bày đúng cách như tòa án ở Anh – Mỹ, nhưng hối lộ tham nhũng dù gì cũng là quốc nạn cho Trung Quốc. Công bằng mà nói, tham nhũng hối lộ quá dễ dàng xảy ra trong một nền kinh tế đang rối loạn khi hệ thống Tư pháp thì chồng chéo, thiên lệch và tồn động quá nhiều lỗ hổng. Tham nhũng hiện vẫn đang tràn ngập bất chấp thanh trừng, đó là lý do tại sao mọi người vẫn nghi ngờ lòng thành và quyết tâm chống tham nhũng hối lộ của họ Tập.

Tuổi thơ của họ Tập phải lao động khổ sai vào thời kỳ Cách mạng Văn Hóa. Không rõ ông học hỏi hay có được kinh nghiệm gì trong hoàn cảnh khốn khó đó nhưng chắc chắn nhờ Mao, ông thấy rõ sức mạnh quyền lực được hồi sinh bằng cách đập nát mọi quyền lực của các công chức các cấp trong bộ máy chính quyền. Giới công chức luôn là mối đe dọa của an ninh chính trị cho lãnh tụ, trước đó cũng như bây giờ và nay, đã đến lúc họ Tập phải tiêu diệt mối đe dọa này. Tập Cận Bình, một lãnh tụ nằm ngoài mọi dự đoán và phân tích của mọi người, lại là một người tự tin rằng mình có sứ mệnh phải thực hiện những gì mà lịch sử giao phó.

Có hai vấn đề nảy sinh trong đối sách chống tham nhũng của họ Tập đối với quân đội.

Một là đối sách này thiếu đi sự công bằng và hai là gây khủng hoảng tinh thần quân ngủ. Việc thiếu vắng một thanh tra viên độc lập khi điều tra hối lộ khiến đối sách chống tham nhũng trở thành một phương tiện thanh trừng tàn nhẫn đối với những ai có thể đe dọa đến quyền lực họ Tập hơn là một chương trình tư pháp bài trừ tham nhũng; Vì vậy, chương trình chống tham nhũng của họ Tập chẳng bao giờ công bằng và mang đúng ý nghĩa mong đợi của nó. Sự thật đã phơi bày quá rõ đây là một phương thức cũ rích để loại bỏ đối thủ trong tranh dành quyền lực và đơn thuần dẫn đến tập trung quyền lực vào một mối. Dù sao, những người tiền nhiệm của họ Tập cũng đã áp dụng chiêu thức tương tự nghe có vẻ đem đến lợi ích cho quốc dân để tiêu diệt đối thủ chính trị. Một lần nữa, sự yếu kém của hệ thống Tư Pháp (luật rừng) ở Trung Cộng là điều kiện tốt để mọi âm mưu thanh trừng được thực hiện. Trong lúc nhiều người lạc quan tin tưởng họ Tập sẽ chấn chỉnh luật lệ và hoàn thiện ngành Tư pháp cho nghiêm minh thì sự thật chỉ ra điểu khoảng 51 của Hiến Pháp đã quy định rõ công dân không có quyền xâm phạm lợi ích của nhà nước, một điều khoản hết sức mơ hồ đủ để cho họ Tập, người đứng đầu nhà nước tha hồ làm mưa gió khi phán quyết chụp mũ mọi thành phần mà họ Tập muốn loại trừ. Sự công bằng của cao trào chống tham nhũng không hề có bởi vì mọi thành phần tham nhũng được họ Tập tin cẩn không ai bị truy tố cả!

Vấn đề thứ nhì là chương trình bài trừ tham nhũng của họ Tập đối với quân đội làm xáo trộn nội bộ quân đội cũng như những dự án quốc phòng. Ngay cả các sĩ quan trong sạch cũng không biết mình có nằm trong danh sách bị thanh trừng hay không vì chỉ thị thanh trừng hoàn toàn nằm trong quyền quyết định của họ Tập chứ không hẳn dựa vào tiêu chuẩn quy định cụ thể nào cả. Bày đặt học đòi Tôn Tẩn ẩn mưu giấu kế, hành xử khó đoán chỉ khiến náo loạn hàng ngũ quân nhân chứ không hề giúp ích gì cho sự trong sạch của quân đội “Giải Phóng Nhân Dân” cả. Tại sao như vậy thì rất là đơn giản: an ninh quốc phòng hiện nay đòi hỏi Trung Cộng phải hiện đại hóa quân đội – nghĩa là phải tăng chi phí quốc phòng. Trong lúc thanh trừng hối lộ đang diễn ra loạn xạ, không sĩ quan nào dám đề nghị xin tăng thêm ngân sách trước họ Tập nếu không muốn mình bị đặt vào sự nghi ngờ của họ Tập là làm thất thoát công quỹ. Ngân sách quốc phòng của Trung Cộng đã lên đến 132 tỷ Mỹ kim và có lẻ sẽ còn cao hơn. Trong hoàn cảnh giới Tham Mưu quân đội đang cố để ra kế hoạch quân sự đối phó với Hoa Kỳ tại biển Đông và khả năng tấn công vào Trung Quốc của các nước lân bang, ngân sách cần thiết lại còn phải cao hơn nữa. Nhưng giới tướng lãnh đang còn bận tâm đối phó với chính sách thanh trừng của họ Tập, với cái cớ là bài trừ hối lộ tham nhũng, thì đâu ai còn đủ can đảm mà xin thêm ngân sách, điều này làm nhiều quân nhân chân chính trong lòng bực bội uất ức vì nghĩ rằng mình đang dối trá trước sự tín nhiệm của quốc dân.

Băn khoăn không biết mình có bị điều tra nếu đòi hỏi tăng thêm ngân sách quốc phòng hay không, giới tướng lãnh quân đội có ba lựa chọn ngặt nghèo như sau:

Một là khiêm tốn ẩn nhẫn và phục tùng mọi mệnh lệnh của họ Tập. Ích lợi dễ nhận ra cho lựa chọn này là sẽ làm họ Tập hài lòng khiến chức vụ địa vị lon lá của mình được an toàn. Hầu hết các sĩ quan đi theo lựa chọn này.

Nhưng đối với các sĩ quan đang bị trong vòng điều tra theo lệnh của họ Tập hay có liên hệ cộng tác dù là thận cận hay không thận cận với các tướng lãnh đang bị họ Tập thanh trừng thì lựa chọn trên, tức khiêm tốn ẩn nhận và phục tùng họ Tập sẽ không thể nào hữu hiệu được. Cho nên lựa chọn thứ nhì đối với các sĩ quan này là tự sát. Hai vị đô đốc, Mã Phát Tường và Khương Trung Hoa đã nhảy lầu tự vận khi biết mình chính thức bị điều tra hối lộ. Tướng Tống Ngọc Vân (chính ủy quân khu tỉnh Cát Lâm) được cho là thắt cổ tự tử.

Lựa chọn thứ ba là tạo phản. Kẻ có binh quyền bao giờ cũng có khả năng tạo phản. Một hay nhiều nhóm sĩ quan cảm thấy họ xứng đáng được hưởng đặc lợi kinh tế từ chức vụ của mình sẽ cảm thấy bị đe dọa địa vị và có thể đảo chánh họ Tập. Cho đến giờ phút này, Trung Cộng chưa xảy ra đảo chánh bằng quân sự nhưng lịch sử chính trị của Trung Quốc luôn được tiếp nối bằng sự tạo phản của tướng lãnh. Chính tướng nhà Minh là Ngô Tam Quế đã mở cổng thành cho nhà Thanh tràn vào thôn tính. Chính Viên Thế Khải, một tướng nhà Thanh đã lật đổ triều đình để thành lập Cộng Hòa Trung Hoa. Tưởng Giới Thạch đã bị tướng dưới quyền của mình là Trương Học Lương bắt cóc để ép ông phải hợp tác với Cộng đảng cùng nhau chống Nhật. Không có một điều gì đảm bảo là lịch sử Trung Quốc sẽ không còn đảo chánh trong tương lai. Sự kết hợp giữa sợ hãi (sẽ bị triệt hạ) nếu không tạo phản và tham vọng muốn duy trì quyền lợi địa vị, cùng với quan niệm là mọi người phải dũng cảm đứng lên hạ bệ tên độc tài đang gây xáo trộn và phá nát quốc gia sẽ khiến giới quân nhân vùng dậy mà chiếm lấy chính quyền. Đây là những tình huống, hoàn cảnh tâm lý đã tạo ra biết bao cuộc đảo chánh ở nhiều nơi, không có lý do gì Trung Quốc sẽ nằm ngoài sự chi phối của quy luật chính trị tự nhiên này. Và cũng giống như những cuộc đảo chánh khắp mọi nơi, sẽ không cách gì biết trước được khi nào sẽ xảy ra khi mà giới tướng lãnh quân đội đang bị dồn ngày càng bị vào chân tường.

Một cuộc đảo chánh thành công ở Trung Cộng có thể sẽ xảy ra dưới nhiều cách thức.

Cách thức đơn giản nhất là một nhóm sĩ quan cao cấp sẽ giam lỏng họ Tập. Thiết quân lực sẽ được ban bố, đương nhiên là dưới danh nghĩa hay lý do là vì lợi ích ổn định quốc gia, và đời sống người dân ẩn bình thường. Đổ máu sẽ thấp nhất. Đương nhiên là hành động giới tướng lãnh đã được hậu thuẫn bởi công chức chính phủ nên phản kháng rất thấp. Thậm chí giới tướng lãnh có thể trao quyền hành lại cho Cộng đảng để thành lập Bộ Chính Trị mới, chính phủ mới khiến mọi chính sách chính trị kinh tế trước đó không thay đổi gì nhiều (nhưng họ Tập và bè đảng thì bị mất quyền lực). Nếu đảo chánh quân sự xảy ra thì cách thức nêu trên là lựa chọn gọn gẽ sạch sẽ nhất.

Cách thức trên tuy gọn nhẹ ít đổ máu nhưng cũng rất khó xảy ra vì giới tướng lãnh quân đội Trung Cộng đang bị chia rẽ. Hầu hết muốn an phận làm tôi đòi cho họ Tập, Cho nên một hình đảo chánh khác có thể dễ dàng xảy ra hơn, đó là các tướng đóng ở các quân khu làm loạn. Thí dụ như ở Tứ Xuyên hay Cát Lâm chẳng hạn, giới tướng lãnh quân khu cảm thấy không chịu đựng nổi hạch sách điều tra của Trung Ương nữa và tuyên bố vùng dậy tạo phản. Đương nhiên là các tướng lãnh này đã được sự hậu thuẫn của thảo dân trong vùng từ lâu khi đi đến quyết định tạo phản; Đặc tính địa phương trị vẫn còn nặng nề trong xã hội Trung Hoa. Bạc Hy Lai bị đốn ngã một phần cũng bởi vì sự hậu thuẫn của người dân đại phương Trung Khánh đối với ông. Tiến hành trợ giá nhà và luôn cải thiện đời sống cho người dân Trùng Khánh khiến ông trở thành anh hùng ở địa phương. Bắc Kinh bắt ông là một thí dụ cụ thể về việc Trung Ương can dự vào đời sống ấm no của người dân Trùng Khánh một cách tàn nhẫn. Kích động sự bất mãn của người dân địa phương đối với Bắc Kinh lồng trong một xã hội Trung Hoa vốn có truyền thống hiếu chiến, giới tướng lãnh quân nhân địa phương có thừa sức để tạo phản đối kháng Bắc Kinh.

Nếu hình thức tạo phản trên xảy ra, lịch sử Trung Quốc có thể trôi dạt theo nhiều hướng khác nhau. Nếu các tướng lãnh tạo phản ở địa phương tài ba và đầy bản lãnh, nội chiến đẫm máu sẽ xảy ra cho đến khi có thắng lợi cuối cùng cho phe tạo phản. Suy cho cùng, Mao Trạch Đông cũng nhờ hướng đi này mà có quyền lực. Tuy nhiên, trước sức mạnh quân sự mà họ Tập nắm trong tay, chiến thắng hoàn toàn dành cho kẻ tạo phản rất khó xảy ra. Thay vào đó, Trung Hoa sẽ bị chia cắt làm hai Bắc – Nam như quá khứ. “Hai Trung Hoa” là một khả năng rất dễ xảy ra nếu có tạo phản từ địa phương.

Biên cương lãnh thổ cát cứ giữa phe tạo phản và Bắc Kinh sẽ không dừng lại ở đây. Điều kiện thuận lợi đã đến, nhiều tướng lãnh ở các khu vực khác xa xôi thấy có điều kiện thoát ra khỏi sự lãnh đạo của Bắc Kinh sẽ lập tức hành động tạo phản lập ra quốc gia hay vùng tự tri mới. Họ Tập hoặc là vì bị chi phối nhiều nơi nên không thể dập tắt được, hoặc quá tốn kém tài lực binh bị cho những vùng không trọng yếu xa xôi nên đành để yên. Trung Hoa sẽ lại rơi vào thời Chiến quốc với nhiều liên minh sứ quân kình chống nhau.

Tất cả hình thức tạo phản nêu trên dĩ nhiên vẫn là phỏng đoán. Lo sợ về xáo trộn binh biến cũng như hệ thống giáo dục kích động lòng yêu nước tạo ra một lực cản mạnh cho những hành động tạo phản giả dụ ở trên.

Nhưng những chuyện không ai nghĩ sẽ xảy ra lúc nào cũng xảy ra.

Sự sống còn của Cộng đảng sau hội nghị ở Nam Xương năm 1929 là một thí dụ. Không ai nghĩ một nhóm nông dân nhỏ nhoi ít ỏi, cùng một vài người lý tưởng có thể thoát được sự truy đuổi của họ Tưởng, vẫn tồn tại sao cuộc rút lui đi bộ cả vạn dặm cũng như sau sự truy quét của các sứ quân Hồi giáo. Ngoài ra cũng phải lưu ý rằng thời gian mà một Trung Hoa thống nhất tồn tại rất ngắn trong chiều dài năm ngàn năm phát triển lịch sử của mình. Đất nước này đã từng chia cắt cát cứ một cách bất ngờ và đẫm máu biết bao nhiêu lần trong lịch sử, hoàn toàn là từ những xung đột nội tại như đã trình bày.

Mâu thuẫn giữa giới công chức và quân nhân thường được các học giả đưa ra cách thức giải quyết bằng cách dân chủ hóa xã hôi. Chuyển sang xã hội dân chủ ở Đài Loan và Đông Nam Á được trích dẫn như là những thí dụ điển hình. Tuy nhiên, điều có thể đúng với Đài Loan nhưng sẽ không có một hy vọng nào cho tiến trình dân chủ hóa bất bạo động xảy ra tại Trung Cộng, để giải quyết sự xung đột giữa công chức và giới quân nhân. Họ Tập bị sụp đổ thì sẽ có một người khác, có lẽ tàn bạo hơn cả họ Tập thay thế. Lịch sử Trung Hoa đã cho thấy cách mạng xảy ra từ thảo dân, đẫm máu để rồi thay thế một thể chế chuyên chế này bằng một thể chế chuyên chế khác mà thôi.

Ngay cả trong trường hợp xảy ra như vậy thì vẫn tốt hơn là một Trung Hoa cát cứ phân chia. Trong quá khứ, một Trung Hoa cát cứ tràn ngập bạo loạn mà hậu quả có thể lan ra cả những quốc gia lân cận. Và nếu như nay Trung Quốc đang hội nhập vào kinh tế thế giới thì một Trung Hoa cát cứ có thể làm chao đảo an ninh kinh tế toàn cầu.

Họ Tập hiểu rất rõ nguy cơ đảo chánh mà ông lúc nào cũng phải đương đầu. Ông quá rành rẽ về lịch sử của đất nước ông. Ông cũng là một chính khách điều hành dày dạn nên không cách gì không biết đảo chánh lúc nào cũng có thể xảy ra và không hề báo trước. Dập tắt phản kháng từ quân đội là lý do ông thành lập hội đồng an ninh quốc gia ở Đại Hội Quân Nhân tướng lãnh các cấp vào năm 2013. Dựa một phần vào mô hình hội đồng an ninh quốc gia của Hoa Kỳ, hội đồng mới thành lập này có trách nhiệm an ninh cả về đối nội lẫn đối ngoại. Trách nhiệm của hội đồng này bao trùm luôn cả từ điều khiển chống khủng bố bởi các sắc tộc thiểu số đến hoạch định đối sách đối phó vô hiệu hóa sức mạnh quân sự của Hoa Kỳ. Hội đồng này gôm hết trách nhiệm quyền lực về an ninh chính trị và an ninh quốc gia vào tay họ Tập, người đứng đầu lãnh đạo quốc gia.

Điều này có nghĩa là sách lược của quân đội về an ninh quốc gia phải được trình bày và thông qua hội đồng này do họ Tập làm chủ tịch. Vì vậy, hội đồng này cũng là một phương thức để Cộng đảng gia tăng quyền kiểm soát lên quân đôi. Đây là một cách tóm thâu quyền lực và đảm bảo thói anh hùng của thảo dân không còn chổ đứng. (Họ Tập đã nghiên cứu kỹ cách thức mà Mao đối phó với các tướng bất trị. Mao đã chụp mũ và thanh trừng tướng Bành Đức Hoài với tội danh âm mưu chống Cộng đảng. Hội đồng An Ninh quốc gia mới này sẽ giúp họ Tập theo dõi các tướng lãnh và đề phòng những trường hợp tạo phản như tướng Bành. Một mặt, hội đồng mới này hữu dụng. Sẽ không có tình trạng quân đội bấm còi qua mặt Chủ Tịch nước như vụ Hồ Cẩm Đào bị ngớ mặt trước quan khách quốc phòng Hoa Kỳ. Nhưng từ cách nhìn của giới tướng lãnh, thì đây là một công cụ để nhìn ngó điều tra hay thanh trừng các tướng lãnh cũng như buộc họ phải phục tùng tuyệt đối mệnh lệnh của họ Tập.

Để giảm bớt phản kháng từ các sĩ quan tướng lãnh, họ Tập đã ráng thay đổi tập quán quan niệm của giới quân nhân. Họ Tập lý giải chủ đích của hội đồng là cần phải kiểm soát chi tiêu quốc phòng. Thiếu vắng sự giám sát từ đảng bấy lâu nay đã được cho rằng là lý do của thậm thụt công quỹ quốc phòng. Siết chặt quản lý sẽ khiến tài lực không nhưng không bị thất thoát mà còn được sử dụng đúng mục đích quốc phòng. Hiện đại hóa quân đội sẽ bị chậm lại nếu ngân quỹ thay vì đi mua hỏa tiển tầm xa lại đi mua thỏi vàng.

Nhưng quan trọng hơn hết là hội đồng này trói buộc giới quân nhân phải trung thành với họ Tập mà thôi. Nguy cơ phản kháng trong quân đội tăng lên nhanh chóng vì giới quân nhân cảm thấy họ quen nghe lời và trung thành với thượng cấp của họ hơn là tuân theo cũng như trung thành với họ Tập. Đang có nỗ lực tuyên huấn kêu gọi giới quân nhân từ bỏ lối suy nghĩ truyền thống này trong quân đội. Thay vì tuân theo mệnh lệnh của thượng cấp, thì nay các sĩ quan phải tuân theo mệnh lệnh của đảng. Tay chân thân cận của họ Tập, chỉ huy trưởng quân Khu Bắc Kinh, Tống Phổ Truyền gần đây tuyên bố: “quân nhân phải trung thành với Đảng” (mà họ Tập là Đảng). Hơn bao giờ hết trừ thời họ Mao, Tập Cận Bình dường như lậm vào thói tôn sùng cá nhân. Cách thức xuất hiện trước công chúng, lối đọc diễn văn, bích chương quản cáo đã đưa hình ảnh họ Tập như là một thuyền trưởng vĩ đại đang dẫn dắt con tàu Trung Hoa, chẳng khác nào là hoàng đế với thiên mệnh đang nắm cán cân luật pháp, mà giới quân nhân binh sĩ phải tận tụy phục tùng mệnh lệnh như là kỷ luật cần thiết để quân đội luôn sẵn sàng chiến đấu. Lòng trung thành này vô cùng quan trọng để đảm bảo quân đội phải chịu dưới sự lãnh đạo của Cộng đảng

Thật khó mà ngăn cản họ Tập từ bỏ ý định trói buộc kiểm soát chặt quân đội. Chính phủ muốn giới quân nhân phải tuân theo mệnh lệnh của mình chứ không phải tuân theo mệnh lệnh của thượng cấp chỉ huy trong đơn vị. Tất cả những ai hiểu rõ nguồn cơn của các cuộc chính biến trong lịch sử Trung Quốc thì sẽ thấy ngay lý do mà Họ Tập đang ráng thanh trừng và kiểm soát quân đội

Họ Tập thành công được đến đâu trong nỗ lực kiểm soát quân đội thì vẫn còn là dấu hỏi. Bài trừ tham nhũng là điều cần phải làm, nên không có gì làm lạ, thế nhưng liệu họ Tập bài trừ tham nhũng mà không tạo ra phản kháng hổn loạn nội bộ gây bất ổn đến an ninh chính trị của Cộng đảng hay không? Sự trong sạch công bằng thật sự trong chính quyền khi điều tra tham nhũng là một sự mạo hiểm. Điều này có nghĩa là quyền lực không tập trung vào tay họ Tập hay vào sự lãnh đạo của Đảng nữa. Nếu xảy ra như vậy thì họ Tập và bè phái của mình sẽ bị lâm vào thế yếu dễ bị hất đổ thanh trừng. Nhưng nếu không có sự điều tra độc lập khi bài trừ tham nhũng thì tham nhũng không bao giờ được bài trừ tận gốc rễ, chương trình bài trừ tham nhũng không bao giờ có thể thoát khỏi những hoài nghi – trở thành nguyên nhân của sợ hãi xáo trộn và hoài nghi trong nội bộ. Và những kẻ có binh quyền khi hoài nghi, sợ hãi thường tạo phản bất ngờ làm choáng váng nhân thế.

Sulmaan Khan

Nguyễn Trọng Dân lược dịch

danchimviet.info

————————————————-

 Ghi chú:

1. Sulmaan Khan là giáo sư đang thực tập tại đại học tư Tufts ở Medford thuộc tiểu bang Massachusetts, Hoa Kỳ. Ông nghiên cứu rất sâu về nhiều vấn đề nan giải của Trung Quốc. Bài viết của ông thường rất chi tiết, sát thực và gây bất ngờ cho người đọc về nội dung trình bày.

2. Xin vào link http://www.the-american-interest.com/2015/02/26/the-coming-coup-in-china/ để đọc toàn bộ bài viết bằng Anh ngữ cũng như biết thêm tựa đề nhiều bài viết khác của ông.

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

Kẻ cướp nhà, cướp đất của công tử Bạc Liêu là…chính quyền cách mạng, nôm na là đảng cướp

Posted by hoangtran204 trên 26/04/2016

Thứ hai, 27/9/2010 | 17:47 GMT+7
Chia sẻ bài viết lên facebook Chia sẻ bài viết lên twitter Chia sẻ bài viết lên google+ Email cho bạn bè

Cuộc đời nghèo khó của con trai công tử Bạc Liêu

“Đốt tiền nấu trứng” là câu đồn thổi về công tử Bạc Liêu. Vậy mà ngày nay con trai ông lại đang phải chạy vạy kiếm từng bữa ăn trên chính mảnh đất của tổ tiên.

Trong căn nhà trọ nhỏ ở thị xã Bạc Liêu, ông Trần Trinh Đức – con trai của Công tử Bạc Liêu buồn bã ngắm nhìn cô con gái bị bệnh tâm thần phân liệt, cứ vô tư ngồi cười hềnh hệch. Bằng giọng trầm nhỏ, người đàn ông tuổi đã quá 60 cho hay, cuộc sống của gia đình ông hiện tại là chạy cơm mỗi bữa, tài sản duy nhất là chiếc xe máy để chạy xe ôm kiếm sống.

Ảnh dinh thự cũ của Công tử Bạc Liêu

Theo ông Đức, dòng họ ông bắt đầu gặp khó khăn về kinh tế từ khi cha ông mất. Anh em ông bán căn biệt thự ở đường Nhất Linh, nay là đường Nguyễn Huy Tưởng, quận Gò Vấp, TP HCM để chia mỗi người một phần. Riêng ông thì chuyển về ở nhờ nhà vợ tại đường Huỳnh Tịnh Của, quận 3. Dù buôn bán lặt vặt ở đất Sài Gòn nhưng nhờ được kế thừa một phần tài sản của Công tử Bạc Liêu nên cuộc sống tạm ổn. Thế rồi đứa con gái duy nhất của ông sa vào bài bạc, bị lừa cả tình lẫn tiền dẫn đến mắc nợ và bị bệnh tâm thần phân liệt. Vợ chồng ông phải bán hết tài sản còn lại để trả nợ cho con nhưng vẫn không đủ đành dắt díu nhau sang Campuchia lánh nợ với đủ thứ nghề.

Giọng nghèn nghẹn, ông Đức kể, sau hai năm trốn nợ bên đất khách quê người, năm 2000 ông Đức dẫn vợ con về lại TP HCM sống với nghề chạy xe ôm. Ông phải làm việc từ 5h sáng đến tận nửa đêm nhưng cuộc sống vẫn mãi nghèo túng vì ngoài chi phí sinh hoạt, gia đình ông phải mua thuốc điều trị cho con gái. Đến tháng 7 vừa qua, gia đình ông về cố hương tìm chốn dung thân.

y7

Tài sản duy nhất của ông Đức giờ chỉ còn chiếc xe máy.

Trở lại khuôn viên dinh thự của dòng họ Trần Trinh giàu nhất xứ Bạc Liêu xưa, nay được trùng tu thành khách sạn Công tử Bạc Liêu, ông Đức con trai của Công tử Bạc Liêu với người vợ thứ hai quê Mỹ Tho cho biết cha mình có đến 4 người vợ. Ngay từ lúc lọt lòng, ông Đức đã mồ côi mẹ nên cùng anh trai là Trần Trinh Nhơn được cha đón về sống trong “nhà lớn”, chị ông Đức là bà Trần Thị Thảo sống với bà ngoại ở Mỹ Tho.

“Tôi sinh ra lúc ba tôi còn giàu có nên hồi 7 tuổi đã được ông gửi học tại Trường Lasan Taberd (nay là Trường THPT Lê Lợi, TP Sóc Trăng) thuộc dòng La Salle Saigon, cuối tuần lại rước về “nhà lớn”. Vài năm sau, ông đưa anh em tôi lên Sài Gòn học để cùng nhau quản lý tài sản là các dãy nhà phố và sống tại biệt thự số 117 Nguyễn Du. Sau này chúng tôi chuyển qua ở biệt thự trên đường Nhất Linh”, ông Đức bồi hồi nói.

Xuất thân giàu có, ảnh hưởng sự phong lưu của cha nên những năm tháng vàng son, không chỗ vui chơi nào ở Sài Gòn mà ông Đức không biết đến bởi đêm nào cũng đi nhảy đầm. Người em cô cậu ruột của ông là ông Phan Kim Khánh khi ấy cũng học ở Sài Gòn và “ham vui” có tiếng. Ông này biết trong “nhà lớn” có 5 cặp bình màu xanh lục (lục bình) có dấu ấn vua chúa được ông ngoại Hội đồng Trạch mua được từ bên Tàu. Mỗi lần vui chơi hết tiền, ông Khánh được một đại gia nổi tiếng trong giới kinh doanh xe máy ở Sài Gòn “xúi” về quê “chôm” cặp lục bình mang lên bán với giá 250.000-300.000 đồng/cặp (thời ấy giá lúa chỉ có 1,7 đồng/giạ) để lấy tiền tiêu xài. Đến năm 1975, khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, ông Khánh chính là người trực tiếp bàn giao 3 cặp lục bình còn lại cùng với toàn bộ tài sản là khu “nhà lớn”, đất đai, các khu phố… ở Bạc Liêu cho chính quyền cách mạng.

Cũng theo hậu duệ của Công tử Bạc Liêu, dòng họ Trạch thời đó sở hữu điền sản cò bay thẳng cánh với 145.000 ha ruộng lúa và 10.000 ha ruộng muối nằm dọc theo biển Bạc Liêu. Ngày cha ông về nước sau 3 năm du học bên Pháp, ông nội tất bật lên Sài Gòn mua ngay chiếc xe Ford mới cáu để đón “quý tử”, cũng là để làm rạng mặt dòng họ Trần Trinh lúc bấy giờ.

d

Dinh thự của Công tử Bạc Liêu giờ thành khách sạn.

Người dân Bạc Liêu vẫn còn truyền lại câu chuyện nhờ cái mác “học bên Tây” về nên Ba Huy được cha rất ưu ái, mua hẳn ca-nô và máy bay để đi làm ăn, thu nợ và… thăm ruộng lúa, ruộng muối. Vậy là, ngoài vua Bảo Đại, Ba Huy là người dân sở hữu máy bay tư nhân đầu tiên ở Việt Nam. Có lần qua Rạch Giá thăm ruộng, Ba Huy hứng chí lái luôn máy bay ra Hà Tiên chơi. Do mải bay nên xăng hết không hay buộc lòng phải đáp khẩn cấp xuống đất Thái Lan (nước Xiêm). Trong lần “nhập cảnh trái phép” này Ba Huy bị bắt giữ và phạt 200.000 giạ lúa, buộc họ Trạch phải đưa một đoàn ghe dài chở lúa qua chuộc “quý tử” về.

Xung quanh chuyện giàu có của cha ông, ông Đức luôn cho đó là những kỷ niệm đáng nhớ mang theo suốt đời vì cái tên Công tử Bạc Liêu đã “vang danh” cả nước. Tuy nhiên, không ai “giàu ba họ” nên giờ đây nhiều người con của Công tử Bạc Liêu đang sống trong cảnh khốn khó, trong đó có ông.

Ông Đức kể, năm 1974 cha ông qua đời tại Sài Gòn, anh em ông đưa thi hài về quê an táng và lập mộ tại khu nhà mồ ở khu đất hương hỏa 1.000 ha tại Cái Dầy, thị trấn Châu Hưng (Vĩnh Lợi, Bạc Liêu). Lúc đó, dù đất hương hỏa rộng lớn nhưng con cái tứ tán nên bị lấn chiếm, sang bán dẫn đến mất gần hết tài sản. Khu nhà mồ dòng họ Trần Trinh hiện nay đường đi rất khó khăn bởi cỏ mọc cao hơn đầu người.

Đầu năm 2009, một doanh nghiệp ở Bạc Liêu hay tin con trai Công tử Bạc Liêu sống đời cơ cực nên đã gợi ý với ông là về Bạc Liêu. Trong một lần về giỗ cha tại khách sạn Công tử Bạc Liêu, ông Đức đã gặp ông Nguyễn Chí Luận (giám đốc Công ty Cổ phần Địa ốc Bạc Liêu) và bày tỏ nguyện vọng muốn về quê lập nghiệp. Chính vì vậy mà vị giám đốc này đã cho ông mượn khu đất rộng 300 m2 với thời gian 50 năm, nằm đối diện khu du lịch Hồ Nam. Đầu tháng 11/2009, ông Luận và nhà văn Phan Trung Nghĩa cùng với ông Đức ra nền đất ấy thắp nhang động thổ xây dựng nhà ở, kết hợp phủ thờ Công tử Bạc Liêu. Tuy nhiên, đã gần một năm trôi qua nhưng khu đất vẫn chỉ là một bãi cỏ mọc um tùm.

“Động thổ để cất nhà lâu rồi mà đất vẫn còn hoang vu, cây cỏ mọc um tùm nên tôi phải ở đậu. Tôi tuổi già thế này thì khó xin được việc. Giờ mỗi ngày cứ phải chạy vạy khắp nơi vay mượn tiền mua gạo và thuốc thang cho con gái”, ông Đức buồn bã nói.

Trao đổi với VnExpress.net, ông Nguyễn Chí Luận cho biết, theo đề nghị của Chủ tịch UBND tỉnh Bạc Liêu, ông sẽ nhanh chóng ứng tiền mua khung nhà gỗ từ huyện Hòa Bình, san lấp mặt bằng trên khu đất cỏ mọc um tùm hiện nay để xây nhà kết hợp phủ thờ Công tử Bạc Liêu giúp ông Đức.

Theo ông Luận, lý do ông cho ông Đức mượn đất 50 năm là vì công ty của ông cũng chỉ được phép sử dụng đất tại khu đô thị Địa ốc Bạc Liêu trong khoảng thời gian ấy. Khoản tiền ông tạm ứng ra để cất nhà sẽ được hoàn lại bằng tiền mà Hội Nhà báo tỉnh Bạc Liêu vận động giúp ông Đức.

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »