Trần Hoàng Blog

Archive for the ‘Chinh Tri’ Category

►Hàn Quốc – Triều Tiên cùng tuyên bố sẽ không còn chiến tranh (27-4-2018)

Posted by hoangtran204 trên 28/04/2018

.

Đường xi măng phân chia biên giới giữa 2 nước- khu vực Bàn Môn Điếm, cách thủ đô Hán Thành 42 km.

Mặc dầu vẫn chưa biết việc này có kéo dài hay không, nhưng lối giải quyết những bất đồng giữa hai miền Nam Bắc Triều Tiên rất đáng cổ vỏ.

Nghỉ lại mà buồn cho sự bất hạnh của Việt Nam. Hơn 4-5 triệu người đã chết trong chiến tranh VN vì bè lũ Cộng sản Bắc Việt.

 

Đọc tiếp »

Advertisements

Posted in Chinh Tri | Leave a Comment »

►Viếng thăm Nga, Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc tuyên bố ủng hộ Moscow chống lại Mỹ (4-4-2018)

Posted by hoangtran204 trên 06/04/2018

Moscow và Bắc Kinh đã thiết lập một mối quan hệ mà họ miêu tả là “đối tác chiến lược”, thể hiện sự phản đối chung của họ đối với thế giới “đơn cực” – cụm từ thường được dùng để miêu tả sự thống trị của Mỹ trên chính trường thế giới. 

 

Đọc tiếp »

Posted in Chính Sách Đối Ngoại, Chinh Tri | Leave a Comment »

►Việt Nam nên học tập Saudi Arabia: cuộc đảo chánh không tốn một giọt máu: Thái Tử MbN bị cho về vườn, Hoàng tử MbS lên thay thế

Posted by hoangtran204 trên 20/07/2017

19-7-2017

Vua Salman đã ép Thái tử từ chức. Hoàng tử MbS,  32 tuổi, lên thay thế Thái tử MbN, 58 tuổi.

Thái tử là cháu của Vua Salman hiện nay, và là cháu nội của vua Abdulaziz.

Saudi Arabia là quốc gia sản xuất nhiều dầu hỏa nhiều nhất thế giới,  10 triệu thùng dầu thô mỗi ngày.  

 

Đọc tiếp »

Posted in Chinh Tri | Leave a Comment »

►Đảng Bảo thủ thảm bại trong cuộc bầu cử Quốc hội Anh 8-6-2017

Posted by hoangtran204 trên 14/06/2017

(Để chiếm đa số tại quốc hội, đảng Bảo Thủ phải có tối thiểu 326 ghế (đa số quá bán), trên tổng số 650 ghế. Nhưng theo kết quả bầu cử 8-6-2017, đảng Bảo Thủ chỉ có 318 ghế tại Quốc Hội, bị mất 13 ghế.)

Đảng Bảo thủ thảm bại trong cuộc bầu cử Quốc hội Anh

Vũ Ngọc Yên

danluan.org

Đọc tiếp »

Posted in Bầu cử Ứng Cử Tự Do- Kêu Gọi Thể Chế Dân Chủ -, Chinh Tri | Leave a Comment »

►Macron, những thử thách trước mặt, Từ Thức (14-5-2017)

Posted by hoangtran204 trên 16/05/2017

Fb Từ Thức

14-5-2017

Đọc tiếp »

Posted in Bầu cử Ứng Cử Tự Do- Kêu Gọi Thể Chế Dân Chủ -, Chinh Tri | Leave a Comment »

►44 giờ im lặng, những câu chuyện “rỉ tai nhau” và đám mây mù che phủ nước Pháp trước ngày bầu cử

Posted by hoangtran204 trên 09/05/2017

Chủ Nhật, 07/05/2017, 19:08

Đọc tiếp »

Posted in Bầu cử Ứng Cử Tự Do- Kêu Gọi Thể Chế Dân Chủ -, Chinh Tri | Leave a Comment »

►Sẽ chế tài những kẻ vi phạm nhân quyền ở VN (TNS John Cornyn)

Posted by hoangtran204 trên 25/05/2016

“Chúng ta cần nhớ rằng mặc dù TT Obama đang thăm viếng Việt Nam, Việt Nam là một chế độ cộng sản thô bạo đang tiếp tục không quan tâm gì đến những nhân quyền căn bản,” TNS Cornyn nhấn mạnh trong lời phát biểu.

Sẽ đưa ra luật chế tài những kẻ vi phạm nhân quyền ở VN

FB Võ Văn Tạo

24-5-2016

H1TNS John Cornyn. Nguồn: internet

VN là một chế độ cộng sản thô bạo”

Ngay sau khi TT Barack Obama tuyên bố Hành pháp sẽ gỡ bỏ lệnh cấm bán vũ khí sát thương cho Việt Nam, “Chúng ta cần nhớ rằng mặc dù TT Obama đang thăm viếng Việt Nam, Việt Nam là một chế độ cộng sản thô bạo đang tiếp tục xem thường những nhân quyền căn bản,” TNS Cornyn nhấn mạnh trong lời phát biểu.

Thượng nghị sĩ quyền thế thứ hai trong Thượng viện đáp lại bằng tuyên bố sẽ đưa điều kiện nhân quyền đối với Việt Nam vào luật chuẩn chi ngân sách quốc phòng cho năm 2017.

“Tôi dự định sẽ đưa luật chế tài các kẻ vi phạm nhân quyền ở Việt Nam như là một tu chính vào luật chuẩn chi ngân sách quốc phòng mà sẽ được Thượng Viện cứu xét nội trong tuần này,” TNS John Cornyn (Cộng Hoà, Texas) chính thức tuyên bố tại Thượng Viện ngày hôm nay. (23-5-2016).

“Chúng ta cần nhớ rằng mặc dù TT Obama đang thăm viếng Việt Nam, Việt Nam là một chế độ cộng sản thô bạo đang tiếp tục xem thường những nhân quyền căn bản,” TNS Cornyn nhấn mạnh trong lời phát biểu.

Về lý do đưa điều kiện chế tài nhắm vào các giới chức Việt Nam vào luật chuẩn chi ngân sách quốc phòng, TNS Cornyn giải thích là hai quốc gia Hoa Kỳ và Việt Nam chỉ có thể đến gần nhau hơn, như người dân của hai quốc gia vẫn mong đợi, khi mà chính quyền Việt Nam trả tự do cho tất cả tù chính trị, chứng tỏ sự tôn trọng nhân quyền, và chấp nhận cho người dân có quyền tự quyết.

“Tôi tin rằng cho đến khi ấy, Hoa Kỳ không có chọn lựa nào khác hơn là tiếp tục giữ khoảng cách với Việt Nam,” TNS Cornyn tuyên bố. “Và như vậy có nghĩa là chúng ta phải làm tất cả để tạo áp lực lên chế độ nhằm củng cố các quyền tự do cho người dân Việt Nam.”

Các điều khoản chế tài mà TNS Cornyn sẽ đưa vào luật chuẩn chi ngân sách quốc phòng trong tuần này chính là các điều khoản trong dự luật Chế Tài Các Kẻ Vi Phạm Nhân Quyền ở Việt Nam mà cựu Dân Biểu Cao Quang Ánh đưa ra khi Ông còn là thành viên của Quốc Hội Hoa Kỳ.”

* Nguồn bài báo và video họp báo đăng trong website của Thượng nghị sĩ John Cornyn

 Cornyn to Offer Vietnam Human Rights Legislation as Amendment to Defense Bill (5-23-2016)

‘Our two countries will never achieve the kind of close relationship that I know many in Vietnam and many in the United States aspire to until Vietnam releases all political prisoners, demonstrates basic respect for human rights, and embraces self-government ideals that we, again, take for granted here in America.’

WASHINGTON –U.S. Senator John Cornyn (R-TX) spoke on the Senate floor about the Vietnam Human Rights Sanctions Act, legislation he’s introduced to impose sanctions and travel restrictions on Vietnamese nationals who are complicit in human rights abuses and which he plans to offer a version of as an amendment when the Senate considers the FY2017 National Defense Authorization Act.  Excerpts of Sen. Cornyn’s remarks are below, and video of his speech can be found here.

“Many people don’t realize how big a Vietnamese-American community that Texas has, and many are surprised when I tell them that Vietnamese is the third most commonly spoken language in Texas.” 

“I have been particularly impressed by the passion and drive that those from Vietnam who have now made America their home, how passionate they are about things that we perhaps take for granted.”

“It’s important to remember even as President Obama is traveling to Vietnam, that Vietnam is a brutal communist regime that continues to disregard basic human rights.” 

“Our two countries will never achieve the kind of close relationship that I know many in Vietnam and many in the United States aspire to until Vietnam releases all political prisoners, demonstrates basic respect for human rights, and embraces self-government ideals that we, again, take for granted here in America. I believe that until that happens, the United States has no choice but to continue to hold Vietnam at arm’s length. And that means we must do all we can to put pressure on the regime to strengthen freedoms for the Vietnamese people.” 

“Earlier this year, I reintroduced a piece of legislation called the Vietnamese Human Rights Sanctions Act, legislation that would impose travel restrictions and other sanctions on Vietnamese nationals who were complicit in human rights abuses against their fellow people. And I intend to offer this legislation, the Vietnamese Human Rights Sanctions Act, as an amendment to the National Defense Authorization bill that we will be debating this week.” 

“The United States simply must do more to support the rights of the Vietnamese people and freedom-loving people everywhere. And we simply can’t give a pass to the Vietnamese regime and a pass to their oppressive government because, frankly, it’s a little inconvenient to bring up during the time we’re talking about trade and better economic relationships. This bill is a step forward in the fight for their civil, religious and political liberties.” 

https://www.cornyn.senate.gov/content/cornyn-offer-vietnam-human-rights-legislation-amendment-defense-bill

*Cornyn Introduces Bill to Combat Human Rights Violations in Vietnam (1-16-2016)

Posted in Bầu cử Ứng Cử Tự Do- Kêu Gọi Thể Chế Dân Chủ -, Bắt bớ-Tù Đày-Đánh đập-Đàn Áp, Chinh Tri | Leave a Comment »

►Chúng ta còn tiếp tục sống như thế này đến bao giờ?

Posted by hoangtran204 trên 27/08/2015

Nguyễn Tường Thụy

Nguyễn Thị Từ Huy

24-08-2015

Tác giả Nguyễn Thị Từ Huy vừa gia nhập Hội nhà báo Độc lập Việt Nam. Chị gửi bài viết sau đây, “coi như sản phẩm ra mắt” Hội.

Tựa đề bài viết này của tôi lấy cảm hứng từ một câu châm ngôn của các trí thức Nga : “Chúng ta không thể tiếp tục sống như thế này thêm nữa », trong một phân tích rất đáng đọc « Mọi điều bạn tưởng bạn biết về sự sụp đổ của Liên Xô đều sai », của Leon Aron, do Trần Ngọc Cư dịch, đăng trên tạp chí Nghiên cứu quốc tế: Mọi điều bạn tưởng bạn biết về sự sụp đổ của Liên Xô đều sai

Tôi không muốn xâm phạm tự do đọc và tự do tiếp nhận của quý độc giả, mọi người sẽ có cảm nhận và đánh giá của mình về bài viết của Leon Aron. Ở đây tôi chỉ nêu ra một tiếp nhận của tôi.

Tác giả bài viết cho thấy rằng Liên Xô sụp đổ hoàn toàn không phải do bị các thế lực phản động tác động, cũng không phải do áp lực về kinh tế, mà là do ý thức về nhân phẩm và đạo đức của người dân Nga và của cả lãnh đạo Liên Xô. Họ không muốn và không thể tiếp tục sống trong «suy đồi tinh thần và những hệ quả xói mòn đạo lý của thời đại Xít-ta-lin». (Cá nhân tôi có lẽ sẽ lựa chọn chữ «đạo đức» để dịch, nhưng tôi tôn trọng cách dịch này của dịch giả Trần Ngọc Cư).

Chính là sự phán xét của lương tâm, chính là sự đau khổ nội tâm của từng cá nhân đã thúc đẩy sự thay đổi toàn bộ cấu trúc xã hội. Hãy đọc câu này của Aleksandr Yakovlev, một cựu đại sứ Nga, để hiểu người Nga đã chịu đựng những dằn vặt nội tâm như thế nào:

“Đủ lắm rồi! Chúng ta không thể tiếp tục sống như thế này thêm nữa. Mọi việc phải được thực hiện theo một đường lối mới. Chúng ta phải xét lại tư duy, đường lối, quan điểm về quá khứ và tương lai của chúng ta… Một sự đồng thuận ngấm ngầm: giản dị là, chúng ta không thể tiếp tục sống như chúng ta đã sống trước đây – một cách nhục nhã, ngoài mức chịu đựng”.

Ý kiến trên phản ánh tâm trạng của những người dân Nga. Còn dưới đây là tâm trạng của một lãnh đạo thuộc hàng cao cấp:

“[Chúng ta] ăn cắp từ chính bản thân của chúng ta, nhận và đưa hối lộ, láo khoét trong các báo cáo, trên báo chí, láo khoét từ các diễn đàn cấp cao, đắm mình trong láo khoét, rồi trao huân chương cho nhau. Và tất cả những điều này đã diễn ra – từ trên xuống dưới và từ dưới lên trên”.

Không có một thế lực thù địch nào từ bên ngoài có thể làm cho chế độ toàn trị Liên Xô sụp đổ. Cái chế độ phi nhân ấy chỉ có thể bị thay thế khi chính những con người trong hệ thống ấy, lãnh đạo cũng như người dân, ý thức được sự nhục nhã của đời sống vô đạo đức và quyết định tự tìm lại phẩm giá cho mình.

Chúng ta, những người Việt Nam ở thế kỷ XXI, chúng ta hãy đọc bài báo của Leon Aron và hãy thử nói xem: chúng ta còn tiếp tục sống như thế này đến bao giờ?

Paris, 24/7/2015

Posted in Chinh Tri | Leave a Comment »

►Tổng Thống Obama nhắc ông Trọng nhân quyền, hứa thăm Việt Nam

Posted by hoangtran204 trên 09/07/2015

Người Việt

07-07-2015

Ðồng hương Việt Nam biểu tình trước Tòa Bạch Ốc chống ông Nguyễn Phú Trọng, tổng bí thư đảng CSVN. (Hình: Mladen Antonov/AFP/Getty Images)

WASHINGTON, DC (NV) – Tổng Thống Barack Obama hôm Thứ Ba, 7 Tháng Bảy, đã tiếp ông Nguyễn Phú Trọng, tổng bí thư đảng CSVN, trong Phòng Bầu Dục của Tòa Bạch Ốc, và nói về sự hợp tác sâu rộng về sức khỏe, khí hậu và nhiều lãnh vực khác, mặc dù hai quốc gia có khác nhau về “quan điểm chính trị.” Nhân dịp này, ông Obama và ông Trọng cũng bàn về Biển Ðông, và nhà lãnh đạo Hoa Kỳ cũng nhắc nhở ông Trọng vấn đề nhân quyền, cũng như nhận lời của ông Trọng đến viếng thăm Việt Nam trong thời gian sớm nhất.

Mặc dù không giữ một vai trò nào chính thức trong chính quyền, trên thực tế, ông Trọng lại là nhân vật lãnh đạo số một tại Việt Nam, và đây là lần đầu tiên một tổng bí thư đảng CSVN được tiếp trong Tòa Bạch Ốc.

Cuộc gặp gỡ giữa ông Trọng và ông Obama còn có sự hiện diện của Phó Tổng Thống Joe Biden.

Theo thông cáo báo chí của Tòa Bạch Ốc, hai nhà lãnh đạo thảo luận sâu rộng về hợp tác song phương trong các lãnh vực khoa học, kỹ thuật, thay đổi khí hậu, y tế công cộng, và an ninh.

Tổng Thống Obama được trích lời nói: “Việt Nam là một ‘đối tác rất xây dựng’ trong các lãnh vực này.”

Nhân quyền

Tuy nhiên, Tổng Thống Barack Obama cũng “thảo luận thẳng thắn một số vấn đề Mỹ quan tâm, ví dụ như nhân quyền và tự do tôn giáo,” theo bản thông cáo.

Hôm Thứ Hai, 6 Tháng Bảy, ngay lúc ông Trọng đặt chân xuống phi trường quân sự Andrews ở Maryland bắt đầu thăm chính thức Hoa Kỳ, chín dân biểu Mỹ, năm người thuộc đảng Cộng Hòa và bốn người thuộc đảng Dân Chủ, đã gởi thư cho Tổng Thống Barack Obama yêu cầu ông nhắc ông Nguyễn Phú Trọng lắng nghe người dân, thả tù chính trị.

Các dân biểu Hoa Kỳ cáo buộc hệ thống độc tài độc đảng của đảng CSVN hiện nay là nguyên nhân của tình trạng nhân quyền tồi tệ tại Việt Nam. Các dân biểu cũng đề nghị Hoa Kỳ cần gởi một thông điệp rõ rệt tới những người đang cầm quyền ở Hà Nội rằng tôn trọng nhân quyền là yếu tố cần thiết để thắt chặt hơn mối quan hệ kinh tế và an ninh.

Nội dung bức thư cũng đề cập việc hoan nghênh mối quan hệ chặt chẽ hơn với người dân Việt Nam, và ghi nhận tiềm năng kinh tế và an ninh của đất nước này. Do đó, Mỹ cũng nên xem vấn đề nhân quyền là tối quan trọng và đưa lên hàng đầu trong quan hệ song phương.

Chín dân biểu này viết: “Trong khi danh sách các blogger và tù nhân lương tâm Việt Nam bị bắt giữ ngày càng gia tăng, điều quan trọng hơn bao giờ hết là Hoa Kỳ cần gởi một thông điệp rõ rệt tới giới chức trách Hà Nội rằng tôn trọng nhân quyền là yếu tố cần thiết để thắt chặt hơn mối quan hệ kinh tế và an ninh.”

Các vị dân biểu cũng mạnh mẽ kêu gọi Tổng Thống Obama đòi hỏi ông Trọng phải thả ngay lập tức những nhà báo công dân, nhà hoạt động nhân quyền tiêu biểu như Hồ Ðức Hòa, Ðặng Xuân Diệu, Nguyễn Ðặng Minh Mẫn, Tạ Phong Tần, Trần Huỳnh Duy Thức, Ngô Hào, Trần Thị Thúy, Nguyễn Hoàng Quốc Hùng, Mục Sư Nguyễn Công Chính và Linh Mục Nguyễn Văn Lý.

Trong khi đó, đông đảo đồng hương Việt Nam có mặt trước Tòa Bạch Ốc để biểu tình phản đối ông Nguyễn Phú Trọng hôm Thứ Ba.

Ngay từ 8 giờ sáng, nhiều người đã tập trung tại công viên Lafayette trên đại lộ Pennsylvania, đối diện Tòa Bạch Ốc, hô to các khẩu hiệu “Ðả đảo Cộng Sản Việt Nam,” “Nhân quyền cho Việt Nam,” “Nguyễn Phú Trọng phải thả tù nhân lương tâm,” vân vân.

Người biểu tình từ nhiều nơi đổ về, từ California, Florida, Texas, Louisiana, Georgia, New Hampshire… và thậm chí từ Canada.

Họ cũng mang theo nhiều biểu ngữ mang những hàng chữ phản đối người đứng đầu đảng CSVN và yêu cầu Việt Nam tôn trọng nhân quyền.

Người biểu tình cũng mang hình một số nhà bất đồng chính kiến đang bị giam giữ tại Việt Nam.

Theo dự trù, ông Trọng đến Tòa Bạch Ốc vào lúc 10 giờ 30 phút sáng, và gặp hai nhà lãnh đạo Hoa Kỳ vào lúc 11 giờ 10 phút.

Tuy nhiên, cho đến 11 giờ 30 phút, người biểu tình không thấy đoàn xe chở ông Trọng đi vào cổng trước của Tòa Bạch Ốc.

Sau đó, người biểu tình tuần hành một cách ôn hòa, theo vòng tròn, ngay trên đại lộ Pennsylvania, giữa Tòa Bạch Ốc và công viên Lafayette.

Thảo luận song phương

Trở lại bên trong Tòa Bạch Ốc, trong lời phát biểu của mình trước ông Trọng, ông Obama nhắc lại rằng Hiệp Ước Ðối Tác Xuyên Thái Bình Dương (TPP) có “nhiều khả năng đẩy mạnh trao đổi hàng hóa tiêu chuẩn cao trong đó có tiêu chuẩn lao động, tiêu chuẩn bảo vệ môi trường, và có thể tạo ra một thị trường lao động tăng trưởng mạnh và giàu có cho cả người Việt Nam lẫn người Mỹ.”

Ông Obama cũng nhấn mạnh “tầm quan trọng trong việc giải quyết xung đột trên Biển Ðông và vùng Châu Á Thái Bình Dương một cách phù hợp với luật quốc tế” để bảo đảm “sự thịnh vượng và tự do hàng hải.”

Trong lời kết, nhà lãnh đạo Hoa Kỳ nói: “Tôi chắc chắn mong đợi có dịp đến thăm đất nước xinh đẹp của ông một lúc nào đó trong tương lai.”

Trong phần đáp từ, ông Trọng nói, qua một thông dịch viên, rằng cách đây 20 năm, ít người có thể tưởng tượng có một cuộc gặp gỡ giữa tổng thống Mỹ và tổng bí thư đảng CSVN, theo thông cáo của Tòa Bạch Ốc. Ông Trọng cho rằng cuộc gặp gỡ này là “xây dựng và thẳng thắn,” và nói thêm rằng Hoa Kỳ và Việt Nam đã chuyển từ cựu thù thành bạn và đối tác, thể hiện sự “ủng hộ toàn diện hai dân tộc của hai quốc gia.”

Ông Trọng cũng nói rằng, hai nhà lãnh đạo đồng ý tiếp tục đẩy mạnh quan hệ Việt-Mỹ tiến triển hơn nữa trong “tất cả mọi mặt từ chính trị, hợp tác ngoại giao, cho tới trao đổi thương mại và đầu tư, giáo dục và huấn luyện, môi trường, sức khỏe, đáp ứng thay đổi khí hậu, hợp tác an ninh và quốc phòng, cũng như hợp tác mạnh mẽ hơn tại các diễn đàn khu vực và quốc tế,” theo bản thông cáo.

Thông cáo cho biết thêm, ông Trọng cũng nói rằng, “với một phong cách rất xây dựng, chúng tôi đã thảo luận về những khác biệt,” qua đề tài TPP và nhân quyền.

Ngoài các đề tài trên, ông Obama và ông Trọng cũng thảo luận và chia sẻ quan điểm về “những sự kiện mới xảy ra trên Biển Ðông và cùng nhau chia sẻ những quan tâm về các hoạt động không phù hợp với luật pháp quốc tế có thể làm cho tình hình phức tạp thêm,” cũng theo bản thông cáo.

Bản thông cáo cho biết, ông Trọng có nhắc lại lời mời tổng thống Hoa Kỳ đến thăm Việt Nam và nói: “Tôi rất vui khi tổng thống vui vẻ chấp nhận lời mời.”

Thông cáo chung

Ngay sau cuộc gặp gỡ lịch sử giữa tổng thống Hoa Kỳ và tổng bí thư đảng CSVN ở Phòng Bầu Dục, hai bên đã đưa ra một thông cáo chung, đề cập đến mở rộng quan hệ đối tác song phương, gia tăng hợp tác trong các vấn đề khu vực và quốc tế, và cho biết hai bên đạt một số thỏa thuận về TPP.

Sau đây là một số thỏa thuận để làm nền tảng cho sự hợp tác song phương trong tương lai:

-Mỹ và Việt Nam đồng ý tránh đánh thuế hàng hóa hai lần và tránh tình trạng trốn thuế, và tôn trọng thuế thu nhập của mỗi bên.

-Thực hiện một bản ghi nhớ giữa Bộ Quốc Phòng Mỹ và Bộ Quốc Phòng Việt Nam về việc tham gia gìn giữ hòa bình của Liên Hiệp Quốc.

-Thực hiện bản ghi nhớ giữa Cơ Quan Phát Triển Quốc Tế Hoa Kỳ (USAID) và Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn Việt Nam liên quan đến chương trình ngăn chặn bệnh dịch lây lan để bảo đảm sức khỏe toàn cầu.

-Dự Án Kỹ Thuật và An Toàn Hàng Không Việt Nam giữa Cơ Quan Phát Triển và Thương Mại Hoa Kỳ với Cục Hàng Không Việt Nam; và

-Việt Nam đồng ý để Mỹ mở đại học Fulbright University Vietnam.

Theo AP, sau 20 năm bình thường hóa quan hệ ngoại giao giữa hai quốc gia cựu thù, Hoa Kỳ đang rất muốn cải thiện thêm nữa quan hệ với Việt Nam.

Các giới chức Hoa Kỳ tin rằng, Việt Nam sẽ đóng một vai trò quan trọng trong chính sách xoay trục sang Châu Á của Tổng Thống Barack Obama, nhất là khi Trung Quốc ngày càng có tham vọng kiểm soát Biển Ðông, nơi có số hàng hóa trị giá $5,000 tỉ qua lại mỗi năm, cũng theo AP.

Hai tổng thống Bill Clinton và George W. Bush từng đến thăm Việt Nam trước đây, trong nhiệm kỳ thứ hai của họ, sau khi Hoa Kỳ và Việt Nam nối lại bang giao.

Sau cuộc gặp gỡ ở Tòa Bạch Ốc, ông Nguyễn Phú Trọng đã sang Bộ Ngoại Giao dùng cơm trưa do Phó Tổng Thống Joe Biden khoản đãi và đọc một bài diễn văn tại đây.

Hôm Thứ Hai, ngay sau khi đáp xuống phi trường quân sự Andrews, ông Nguyễn Phú Trọng đã chứng kiến lễ bàn giao chiếc máy bay Boeing 787 Dreamliner đầu tiên cho Vietnam Airlines tại phi trường National Ronald Reagan và thăm đài tưởng niệm Thomas Jefferson ở Washington, DC. (Ð.D.)

https://www.facebook.com/drthuytrangnguyen?fref=ts&__nodl

https://www.facebook.com/duyact/posts/1011761338857565

Miss Coastal Vietnam Global 2015 Vietnamese Concert…

Posted in Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa, Chinh Tri | Leave a Comment »

►Những bước đầu cho việc nâng cao quan hệ song phương Mỹ-Việt

Posted by hoangtran204 trên 09/07/2015

Những bước đầu cho việc nâng cao quan hệ song phương Mỹ-Việt

8-7-2015

Gia Minh, biên tập viên RFA, Bangkok

 

 

ng thống Hoa Kỳ Barack Obama đã tiếp tổng bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng tại Phòng Bầu Dục, Nhà Trắng vào ngày hôm qua 7 tháng 7. Phát biểu của hai ông cũng được công khai.

Sau cuộc gặp được cho là lịch sử giữa một vị tổng thống quốc gia dân chủ và một tổng bí thư đảng cộng sản từng là cựu thù với nhau, những gì cần phải được thực hiện trong thời gian tới?

Gia Minh phỏng vấn giáo sư Jonathan London giảng dạy tại Đại Học Hong Kong về nhận định của ông đối với chuyến làm việc của ông tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng với tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama.

Trước hết giáo sư Jonathan London cho biết:

Giáo sư Jonathan London: Dù còn sớm nhưng ít nhất cuộc gặp gỡ này với việc hai lãnh đạo gặp nhau là một bước đi lịch sử trong quan hệ song phương giữa hai nước.

Tôi đặc biệt mừng về phần nội dung của tuyên bố hai bên vì có rất nhiều nội dung liên quan đến vấn đề cải cách ở Việt Nam.

Gia Minh: Có người cho rằng đây là bước khởi đầu thôi và cũng vì quyền lợi của hai phía mà phải xích lại gần nhau, nhưng sắp đến Việt Nam cần phải làm gì nữa như từ ‘cải cách’ mà giáo sư đề cập đến?

Giáo sư Jonathan London: Rõ ràng Việt Nam cần một số bước đi mà chưa thấy.

Chính vì thế mà khi được Nguyễn Phú Trọng mời sang Việt Nam, thì ông Obama nói hy vọng sẽ sang Việt Nam trong tương lai chứ không nói chắc chắn sẽ sang. Bởi vì phía Mỹ vẫn thấy ở Việt Nam một số điều hết sức cơ bản và quan trọng. Trong đó hai điều lớn nhất: thứ nhất là vấn đề cải cách trong lĩnh vực kinh tế mà cốt yếu phải đó để thực sự được xem là một nền kinh tế thị trường, dù đã có một số tiến bộ đối với hồ sơ này.

Thứ hai vấn đề lớn là nhân quyền ở Việt Nam. Như tôi nói trước là rất vui mừng vì phía Hoa Kỳ đã đặt vấn đề này ở vị trí trung tâm; và tôi cũng có ấn tượng là phía Việt Nam cũng thấy rõ vấn đề đó vì ngay cả Nguyễn Phú Trọng cũng nhắc đến vấn đề đó.

Có một nghịch lý là Mỹ có rất nhiều quan hệ song phương với những nước mà có nhân quyền không tốt; nhưng riêng đối với Việt Nam họ yêu cầu có một số bước đi nhất định. Và điều đó theo tôi nghĩ là quan trọng.

Khi được Nguyễn Phú Trọng mời sang Việt Nam, thì ông Obama nói hy vọng sẽ sang Việt Nam trong tương lai chứ không nói chắc chắn sẽ sang. Bởi vì phía Mỹ vẫn thấy ở Việt Nam một số điều hết sức cơ bản và quan trọng

Giáo sư Jonathan London

Và tôi nghĩ Việt Nam càng tiến bộ về vấn đề nhân quyền thì quan hệ song phương giữa hai nước sẽ gần nhau hơn. Chẳng hạn nếu Việt Nam là một số điều quan trọng như thả những người nên thả và chấm dứt hành vi sách nhiễu… thì tôi có thể tưởng tượng Obama sẽ sang thăm Việt Nam trong năm nay.

Thế nhưng vẫn cần có một số tiến bộ!

Gia Minh: Người ta nói đến việc phải có niềm tin với nhau, vậy làm sao Việt nam xây dựng cho được niềm tin với Hoa Kỳ?

Giáo sư Jonathan London: Niềm tin là làm những gì nói. Nói đến nhân quyền mãi mà không làm thì không tin được.

Tôi nghĩ phía Mỹ muốn thấy Việt Nam thực hiện một số bước đi nhất định để chứng minh rằng khác so với trước đây Việt Nam nói có tôn trọng nhân quyền, thì thực sự có làm.

Điều đó sẽ mở rộng tiềm năng quan hệ song phương.

Tôi nghĩ Việt Nam càng tiến bộ về vấn đề nhân quyền thì quan hệ song phương giữa hai nước sẽ gần nhau hơn

Giáo sư Jonathan London

Gia Minh: Cũng có ý kiến nói rằng có sự thay đổi trong đảng cộng sản Việt Nam, giáo sư có thấy đúng là đến nay có thay đổi gì đó nơi người cộng sản Việt Nam?

Giáo sư Jonathan London: Chắc chắn đã có rồi; nhưng hơi buồn, hơi tiếc một chút lần đầu tiên Nguyễn Phú Trọng sang Mỹ: làm sao lãnh đạo một đảng chính trị như đảng cộng sản lại nói là đại diện cho toàn dân Việt Nam; có ít kinh nghiệm quốc tế như thế là một hạn chế!

Việc Nguyễn Phú Trọng sang Mỹ có thể nói, kể cả phái bảo thủ nhất trong đảng cộng sản Việt Nam, cho thấy sự cần thiết của mối quan hệ mạnh mẽ đối với Mỹ. Dù vẫn còn có những quan điểm khác nhau trong nội bộ đảng cộng sản Việt Nam nhưng rất khó tưởng tượng họ vẫn cứ nói đến diễn biến hòa bình…, hoặc nói xấu Mỹ liên tục.

Trên thực tế vì những quyền lợi chiến lược của Việt Nam, dù có quan điểm chính trị nào, đều vẫn phải có quan hệ tốt với Mỹ.

Gia Minh: Theo giáo sư thì Trung Quốc có để yên cho Việt Nam bắt tay với Mỹ và có mối quan hệ tốt như thế không?

Giáo sư Jonathan London: Theo tôi nghĩ phải bỏ qua ý kiến của Trung Quốc; không quan trọng! Đài Loan, Hàn Quốc, Nhật Bản họ sang Mỹ, họ có sợ gì (đâu)!

Việt Nam là nước độc lập không nên để ý đến quan điểm của Trung Quốc, đó là việc của Trung Quốc. Việt Nam chỉ nên lo những chiến lược, quyền lợi chính đáng của nước Việt Nam mà thôi. Đừng lo về Trung Quốc mà chỉ lo đến những việc Trung Quốc đang làm.

Việt Nam là nước độc lập không nên để ý đến quan điểm của Trung Quốc, đó là việc của Trung Quốc. Việt Nam chỉ nên lo những chiến lược, quyền lợi chính đáng của nước Việt Nam mà thôi

Giáo sư Jonathan London

Tôi nghĩ thời mà lãnh đạo Việt Nam lo liên tục về khuynh hướng của Trung Quốc đã lỗi thời rồi, đã quá khứ rồi. Nên hy vọng đây là sự bắt đầu cũa một thời đại mới trong quan hệ ngoại giao của Việt Nam.

Gia Minh: Chỉ còn nửa năm nữa là đến đại hội 12 của đảng cộng sản Việt nam, GS có nghĩ sẽ có thay đổi trước hết là thành phần lãnh đạo có tư tưởng độc lập như giáo sư mới bày tỏ đó không?

Giáo sư Jonathan London: … rõ ràng vẫn còn nhưng người bảo thủ nhưng có vẻ ít nhất có một thế hệ mới đang lên. Họ sẽ thoáng hơn, cởi mở hơn. Đó cũng là một lý do để chúng ta, chưa thể nói lạc quan, nhưng không loại trừ khả năng sẽ có những thay đổi nhất định trong quan điểm, tư tưởng của đảng cộng sản Việt Nam.

Vấn đề tôi thấy quan trọng nhất dù vẫn là một chế độ theo chủ nghĩa Mác- Lê nin, nhưng tôi tin rằng, hy vọng rằng đảng cộng sản Việt Nam cần có tinh thần đa nguyên dù vẫn trong khuôn khổ một đảng. Điều này sẽ thuận lợi, sẽ tốt hơn, sẽ giúp cho chính trị của Việt Nam minh bạch, văn minh hơn và hiệu quả hơn.

Hy vọng trong năm tới Việt Nam sẽ có những thay đổi nhất định vì chúng ta biết thời điểm của nền chính trị bảo thủ đã qua rồi, bây giờ là thời đại mới phải có chính trị mới.

Gia Minh: Cám ơn giáo sư về những nhận định sau chuyến công du (của ông Nguyễn Phú Trọng) mà mọi người bàn tán nhiều vừa qua.

Posted in Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa, Chinh Tri | Leave a Comment »

►Thế lưỡng nan của Mỹ

Posted by hoangtran204 trên 06/06/2015

Lê Diễn Đức

Tàu nạo vét của Trung Quốc đang xây dựng một hòn đảo ở vùng biển xung quanh Đá Vành Khăn ở Quần đảo Trường Sa – Ảnh: US Navy

Tiếp theo sự kiện giàn khoan HD 981 năm 2014 được lắp đặt trong khu vực chủ quyền của Việt Nam, từ một năm qua, Trung Quốc đã tiến hành xây dựng các đảo trên các bãi đá tại Biển Đông và bồi đắp trái phép hơn 800 héc ta. Trong tháng 4, quân đội Trung Quốc đã hoàn tất một đường băng có thể tiếp nhận máy bay quân sự.

Âm mưu thôn tính Biển Đông của Trung Quốc đã có từ rất lâu với thuyết đường lưỡi bò 9 đoạn bao gồm 80% lãnh hải Biển Đông, xâm chiếm bằng vũ lực quần đảo Hoàng Sa năm 1974 và một phần quần đảo Trường Sa năm 1998.

Giấc mộng làm bá chủ, kiểm soát lưu thông hàng hải của Trong Quốc đang là thực tế hiển nhiên và nhà cầm quyền Trung Quốc cũng không giấu giếm tham vọng của mình, tất nhiên, dưới một cái cớ khác là “dựa trên bằng chứng lịch sử”.

Sách trắng về Đường lối Quân sự Trung Quốc do Bộ Quốc Phòng Trung Quốc ban hành ngày 26 tháng 5, cho thấy những lợi ích của Trung Quốc gắn liền với sự bành trướng ảnh hưởng lên toàn cầu, lôi kéo Đài Loan, mở rộng sự kiểm soát quân sự đối với hai vùng biển là Biển Đông và Biển Hoa Đông.

Tại cuộc Đối thoại Shangri-La mới đây, Bộ trưởng quốc phòng Mỹ Ashton Carter đã kêu gọi Trung Quốc chấm dứt hoạt động cải tạo các hòn đảo, bãi đá trên Biển Đông cũng như hành động vi phạm “các chuẩn mực và luật pháp quốc tế vốn đang làm tổn hại tới cấu trúc an ninh tại châu Á – Thái Bình Dương, và những đồng thuận trong khu vực về sử dụng biện pháp ngoại giao, phản đối sự ép buộc”.

Trước phát biểu của ông Ashton Carter, người phát ngôn Bộ ngoại giao Trung Quốc Hoa Xuân Oánh đã tuyên bố rằng, “hoạt động xây dựng trên Biển Đông của Trung Quốc nằm trong quyền chủ quyền của Trung Quốc và các hoạt động này là hợp pháp, hợp lý và phù hợp”.

Tờ Thời báo Hoàn Cầu của Đảng Cộng Sản Trung Quốc, thậm chí còn tuyên bố, bất kỳ nỗ lực nào của Mỹ hòng ngăn cản Trung Quốc xây dựng trên khu vực Biển Đông thì kết cục không thể tránh khỏi sẽ là chiến tranh.

“Nếu mục tiêu cuối cùng của Mỹ đó là Trung Quốc phải ngừng các hoạt động của mình, thì chiến tranh Mỹ – Trung trên Biển Đông là không thể tránh khỏi”. “Cường độ của cuộc xung đột sẽ lớn hơn nhiều những gì người ta thường nghĩ tới về một vụ va chạm”, tờ báo viết.

Rõ ràng, trên mặt trận ngoại giao Mỹ và Trung Quốc đang thực hiện những cuộc đấu khẩu, thách thức nhau và đồng thời cũng tiến hành một số động tác diễu võ giương oai như việc Trung Quốc mang vũ khí tới các đảo đang xây dựng, đuổi máy bay do thám của Mỹ trong khu vực 12 hải lý, hay Mỹ sẵn sàng điều động máy bay, chiến hạm tới Biển Đông.

Về thực chất, tôi cho rằng, khó có khả năng đụng độ quân sự trên Biển Đông giữa Mỹ và Trung Quốc, ít nhất trong nhiệm kỳ của Tổng thống Barack Obama.

Mỹ là một cường quốc kinh tế và quân sự, đồng thời công nghệ quốc phòng vẫn vượt trội so với Trung Quốc, nhưng Mỹ sẽ không mở một cuộc chiến tranh chống lại Trung Quốc vào thời điểm hiện nay, với cái giá phải trả sẽ quá đắt. Thứ nhất, tiềm lực quân sự của Trung Quốc có khả năng đối đầu và gây thiệt hại. Thứ nhì, các lợi ích kinh tế đang ràng buộc hai quốc gia này quá lớn để có thể dẫn đến sụp đổ và gây ảnh hưởng tiêu cực lên toàn thế giới.

Mặt khác nếu Trung Quốc khai hoả mở chiến tranh với Mỹ thì sẽ là một hành động tự sát. Tất cả mọi phương tiện, kể cả 250 dầu đạn hạt nhân của Trung Quốc, chưa phải là đối thủ của Mỹ. Kinh tế của Trung Quốc sẽ suy sụp nếu chiến tranh Trung-Mỹ xảy ra và sự nổi loạn của xã hội Trung Quốc là khó tránh khỏi.

Cho nên cả hai bên sẽ cùng thách đố nhau nhưng việc anh anh cứ làm, việc tôi tôi cứ làm, dù cường độ có thể gia giảm tuỳ mức độ căng thẳng của tình hình.

Mỹ lên tiếng và có hành động đe doạ là cốt kìm hãm sự tiếp tục của Trung Quốc trong vấn đề xây dựng đảo để khẳng định chủ quyền trên Biển Đông, gây nguy hại cho tự do hàng hải trong một vùng chiếm tới 40% vận chuyển thương mại thế giới từ trước đến nay. Thế nhưng Bắc Kinh sẽ không từ bỏ mưu đồ của mình và đang đặt Mỹ vào thế lưỡng nan.

Theo Richard Fisher, thành viên cấp cao của Trung tâm Chiến lược và Đánh giá Quốc tế, Mỹ còn rất ít thời gian để đối phó. Ông nói rằng, Mỹ chỉ có một khung thời gian ngắn để hành động.

“Trung Quốc vẫn sẽ tiếp tục phớt lờ chúng ta, tiếp tục xây dựng nhiều căn cứ hơn, và tiếp tục kiểm soát khu vực này khi họ có điều kiện để làm điều đó”, Fisher nhận định.

Mặc dù ông Fisher cho rằng “đây là chuỗi sự kiện phải ngăn chặn ngay lập tức”, nhưng Mỹ sẽ chẳng làm gì khác ngoài việc duy trì sự hiện diện và các hành động mang tính răn đe, sẽ tiếp tục tuần tra Biển Đông, từ trên không phận cũng như vùng biển chung quanh các khu vực quần đảo Trường Sa và hợp tác quân sự mạnh mẽ hơn với các đồng minh Nhật Bản, Ấn Độ, Philippines, Indonesia…

Lời phát biểu ngày 01 tháng 06/2015 tại Tòa Bạch Ốc của Tổng thống Obama trong lúc tiếp kiến những nhà lãnh đạo trẻ vùng Đông Nam Á, khá mềm mỏng trước những sự kiện được cho là nóng bỏng.

Barack Obama nói hoà bình và ổn định, trong đó có tự do hàng hải ở Biển Đông, đã giúp cho khu vực này được thịnh vượng trong mấy mươi năm qua. Ông cũng cảnh cảnh báo sự thịnh vượng của vùng Đông Nam Á có thể gặp rủi ro vì các nước trong khu vực thực hiện những hoạt động lấp biển để lấy đất và tìm cách khẳng định chủ quyền đối với những khu vực ở Biển Đông có tranh chấp.

“Và, sự thật là, Trung Quốc sẽ thành công. Họ lớn, họ mạnh. Dân họ có tài và họ làm việc chăm chỉ, và có thể một số yêu sách của họ là chính đáng. Nhưng, họ không nên tìm cách xác lập điều đó bằng cách hiếp đáp, xua đuổi người khác. Nếu quả thật là những yêu sách của họ là chính đáng, các nước sẽ công nhận” – Barack Obama nói.

Bài viết “China’s Island Building Poses Dilemma for U.S.” trên tờ Wall Street Journal ngày 31 tháng 5 đề cập tới mâu thuẫn nội bộ trong Chính phủ Obama, có nhiều ý kiến trái ngược về cách đối phó với Trung Quốc. Có phe cho rằng Mỹ phải cương quyết cứng rắn với Trung Quốc, nhưng cũng có phe ngả theo ý không nên quá cứng rắn mà nên chia vùng ảnh hưởng với Trung Quốc!

Việt Nam nằm trong áp lực của cả hai phía về tranh chấp Biển Đông. Về quân sự, Việt Nam chưa đủ tiềm lực và cũng không muốn đối đầu với Trung Quốc trên biển, về kinh tế hoàn toàn lệ thuộc và gắn bó lợi ích. Cho nên Hà Nội chỉ khoa trương trên mặt trận ngoại giao, phản đối mồm về hành động của Trung Quốc và ra vẻ ủng hộ lập trường các nước khác liên quan đến vấn đề an ninh Biển Đông. Hà Nội thật sự bất lực trước sự chiếm đóng thực tế và vĩnh viễn Hoàng Sa và Trường Sa của Trung Quốc.

Hà Nội, bám lấy Trung Quốc để duy trì hệ thống chính trị và lợi ích, nhưng trong tư thế làm điếm mà lại không muốn bị hiếp đáp quá nên phải đu dây với Mỹ mà thôi.

Những ai cho rằng nếu chiến tranh Trung-Mỹ, vấn nạn độc tài cộng sản sẽ được giải quyết, là ngộ nhận. Trong lịch sử không đặt ra chữ “nếu”.

© Lê Diễn Đức – RFA

 

Posted in Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa, Chinh Tri | Leave a Comment »

►Bắc Kinh tấn công mạnh trước kỳ Hội Nghị Thượng Đỉnh Châu Á (APEC 2014)

Posted by hoangtran204 trên 12/11/2014

Bắc Kinh tấn công mạnh trước kỳ Hội Nghị Thượng Đỉnh Châu Á

11-11-2014

Tác giả:

danchimviet.info

Putin tặng smartphone cho Tập Cận Bình tại Hội nghị Cấp cao Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC)

Ông Obama đặt nền móng cho chính sách chuyển trục (theo đó, Mỹ sẽ dồn 60% lực lượng hải quân về phía Châu Á trước 2020) nhưng không hiểu như thế nào mà số ông vô cùng lận đận mỗi lần chuẩn bị công du sang châu Á.

Tháng 11 năm nay ông đến khu vực  Á Châu tham dự Hội nghị APEC lúc vừa thua trận thảm bại trong kỳ bầu cử  giữa mùa năm 2014 khi đối thủ đảng Cộng Hoà thắng lớn tại cả Thượng lẫn Hạ Viện, khiến thế giới và dân Mỹ thắc mắc liệu ông có trở thành Tổng Thống “vịt què” (lame duck) khập khễnh đi lòng vòng kêu qoạc qoạc mà chắng ai thèm quan tâm!

Năm 2013 Obama đã phải hủy bỏ chuyến công du tháng 10 do việc thương lượng ngân sách giữa Hành Pháp và Lập Pháp bị bế tắc.

Tháng 9-2011 chuyến công du Á Châu bị lu mờ vì chiến tranh Do Thái và Palestine trong cùng thời gian.

Tháng 3 và tháng 6-2010 ông hoãn viếng thăm Indonesia liên tiếp hai lần để lo vận động cho chương trình bảo hiểm sức khỏe Obamacare, rồi đến vụ nổ nhà máy dầu vùng biển Louisiana. (BP)

Trong khi đó thì Trung Quốc tấn công ráo riết về ngoại giao và kinh tế trước mỗi lần họp Thượng Đỉnh nên có thể sẽ thắng lợi năm nay. Vào tháng 10-2014 Bắc Kinh đã vận động 21 quốc gia (trong số đó có Việt Nam) ký kết thành hình Ngân Hàng Đầu Tư Cơ Sở Hạ Tầng Châu Á (Asian Infrastructure Development Bank) với số vốn ban đầu từ 50-100 tỷ USD khi ra mắt vào năm 2015.

Hoa Kỳ chống đối và can ngăn Úc, Nam Hàn và Indonesia không tham dự vì dự án này sẽ trở thành đối thủ của Ngân Hàng Thế Giới (World Bank) và Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế (IMF) do Tây Phương hình thành từ sau Thế Chiến Thứ 2. Nhưng Á Châu hiện đang có nhu cầu 8000 tỷ USD để phát triển hạ tầng, nếu Bắc Kinh mở rộng hầu bao thì không thiếu lý do thu hút chú ý cho dù biết rằng sẽ đi kèm với những điều kiện thuận lợi cho Trung Quốc cũng tương tự như Hoa Kỳ với World Bank và IMF.

Bên cạnh đó Bắc Kinh vận động thành hình Khu Vực Tự Do Mậu Dịch Châu Á Thái Bình Dương (FTAAP) gây khó khăn cho Hiệp Định Đối Tác Kinh Tế Xuyên Thái Bình Dương (TPP) của Hoa Kỳ. Tiến trình thảo luận TPP vốn bị trì trệ nhiều lần vì các đối tác Mỹ, Nhật, Việt Nam, v.v… đều có những thị trường cần được bảo vệ, nay đảng Cộng Hòa nắm đa số trong cả Thượng lẫn Hạ Viện thì các nước lại càng thêm dè dặt e rằng thương thảo xong với Hành Pháp Obama thì lại bị Quốc Hội Cộng Hòa chống đối bác bỏ! Hơn thế Trung Quốc dù phát triển chậm đi nhưng nếu không suy sụp vẫn là đối tác thương mại quan trọng nhất trong khu vực qua mặt Hoa Kỳ với tương lai không xa.

Về ngoại giao Bắc Kinh đạt được thắng lợi quan trọng khi Nhật có vẻ đã nhượng bộ công nhận giữa hai nước có tranh chấp về chủ quyền của quần đảo Senkaku / Điếu Ngư để có được cuộc gặp bên lề Hội Nghị Thượng Đỉnh APEC giữa Chủ Tịch Tập Cận Bình và Thủ Tướng Abe. Dù ngôn ngữ ngoại giao rất tế nhị chỉ ghi nhận “bất đồng” nhưng thực chất như thế này cho dễ hiểu: từ trước đến giờ đất trong vườn sau nhà là của tôi nên chẳng cần tranh cãi với ai gì cả, vì rành rành cái đó là của tôi; nay phải nhìn nhận rằng anh láng giềng cũng đang dòm ngó muốn lấn đất, tức là thế thương thuyết bị lấn cấn yếu đi rất nhiều. Nguyên nhân nhượng bộ có lẽ một phần vì kinh tế Nhật đang kiệt quệ – hai tuần trước đây Ngân Hàng Trung Ương lại phải tung ra một gói kích cầu khổng lồ – nên lúc này Nhật đang cần đến thị trường Trung Quốc hơn bao giờ hết.

Thực tế là các nước châu Á đều đi nước đôi tức vừa muốn buôn bán với Trung Quốc nhưng đồng thời cần Hoa Kỳ che chở về an ninh để không bị bắt nạt quá đáng. Nhưng kế hoạch chuyển trục của Mỹ bị chê là quá chậm trong khi Hoa Kỳ đang phải lung túng đối phó trên ba mặt trận Ukraine – Afghanistan – ISIS. Đảng Cộng Hòa nay thắng cử nên dự trù Thượng Nghị Sĩ John McCaine sẽ nắm chức vụ Chủ Tịch Ủy Ban Quốc Phòng, trong khi có tin đồn Bộ Trưởng Quốc Phòng Chuck Hagel sắp bị mất chức đành phải hủy bỏ chuyến công du sang Việt Nam. Ông McCaine đã từng vận động thành công để bán vũ khí sát thương cho Việt Nam, nhưng ông đồng thời lại đòi Mỹ phải viện trợ quân sự cho Ukraine, dội bom Syria, đem quân đánh ISIS v.v… nghĩa là cứ đánh nhau từ Đông sang Tây đến khi hết tiền thì vay nợ của Tàu để đánh tiếp mà không rõ ông có đặt trọng tâm nơi khu vực nào hay không.

Nhật, Nam Hàn, Đài Loan phần nào an tâm về sự bảo đảm của Hoa Kỳ vì chính họ là những nước giàu mạnh nên Mỹ không thể bỏ rơi. Phi Luật Tân yếu nhưng nằm xa ngoài biển nên Mỹ muốn bảo vệ cũng không khó. Indonesia và Mã Lai đông dân Hồi Giáo lại ở xa không dễ bắt nạt. Chỉ có Việt Nam vừa nằm sát Trung Quốc, trơ trọi lại què quặt nên bắt buộc phải tìm chỗ dựa nơi Mỹ cho dù biết rằng Hoa Kỳ không đứng thế mạnh nên khó lòng cạnh tranh với Hoa Lục trên địa bàn Đông Dương, giữa hai nước lại không thể nào trở thành đồng minh và Hà Nội cũng không thể biết sẽ được Hoa Kỳ hậu thuẩn đến mức nào. Lý do chính vì Việt Nam trễ nải 25 năm mê ngủ trước tham vọng của Trung Quốc, lại trì trệ không phát triển nên nay dù vội vã tìm cái phao cứu vớt nhưng vẫn là miếng mồi ngon của Bắc Kinh.

© Đàn Chim Việt

————–

Trần Hoàng: Theo Tạp Chí The Economist ngày 25-10-2014, thì nền kinh tế TQ đang đi xuống. Phát triển kinh tế của TQ ở mức 7,3% trong Quý 3 năm 2014, đây là mức thấp nhất kể từ khi có cuộc khủng hoảng tài chánh toàn cầu đầu năm 2009. Trước đó, từ 1980 đến 2010, mức phát triển kinh tế của TQ gần 10% trong suốt 30 năm. 

Nền kinh tế của TQ bị suy giảm vì nợ của TQ ngày càng gia tăng, các món hàng sản suất ra quá nhiều nhưng không có ai mua, doanh nghiệp không làm ăn và phát triển được vì không có khách hàng, thị trường bất động sản chết đứng, nhà bán nhưng không có ai mua. 

Tổ chức Tiền Tệ Quốc Tế IMF tiên đoán nền kinh tế của TQ sẽ vào khoảng 7,4% vào năm nay, và sau đó sẽ tụt xuống 6,3% cho đến cuối năm 2020. Theo các nhà kinh tế L. Pritchett và  Larry Summers: tỷ lệ gia tăng  trong các quốc gia có mức phát triển nhanh trong một khoảng thời gian, và sau đó sẽ sụt giảm hướng tới mức trung bình về phát triển kinh tế của toàn cầu (hiện nay đang ở mức  2% mỗi năm tính theo GDP thật sự của mỗi đầu người).  Theo các qui luật của lịch sử hàm ý nói rằng nền kinh tế của TQ  20 năm nữa ( đến năm 2033) chắc chắn vẫn còn nhỏ bé hơn của Mỹ.  “Even Dragons Tire”  The Economist, 25-10-2014

 

Posted in Chinh Tri | Leave a Comment »

►Mỹ có thể nới lỏng lệnh cấm bán vũ khí sát thương cho VN vào tháng 9- TNS Hoa Kỳ John McCain nói… vài tù nhân sẽ được thả

Posted by hoangtran204 trên 08/08/2014

Trần Hoàng: Đây là dịp để nhiều tù nhân lương tâm sẽ được thả vào ngày 2-9-2014. Gia đình của các tù nhân lương tâm như: Anh Ba Sàm Nguyễn Hữu Vinh, Trần Huỳnh Duy Thức, Nguyễn Hoàng Quốc Hùng, Đoàn Huy Chương, Điếu Cày Nguyễn Văn Hải,…hãy nhanh chóng chụp lấy cơ hội này, liên lạc với tòa Đại Sứ Mỹ, qua Mỹ vận động xin gặp các TNS và dân biểu Mỹ, và yêu cầu họ cứu xét thả người.

Lá phiếu của các dân biểu và TNS Mỹ sẽ quyết định cho phép hành pháp của TT Obama bán vũ khí cho VN hay không. Đảng và nhà nước đang cần mua vũ khí, tất phải thả người. (Nếu họ không thả tù nhân lương tâm, có nghĩa là họ không muốn mua vũ khis,  và đã quỳ gối khuất phục Trung Quốc rồi.)

Nếu không thể đi qua Mỹ, hãy nhờ các hội đoàn người Việt ở Mỹ vận động. Cụ thể là nhờ Ts Nguyễn Đình Thắng 

Có thể nới lệnh cấm bán vũ khí sát thương cho VN vào tháng 9

08/08/2014 18:36 (GMT + 7)
Báo Tuổi Trẻ
TTO – Thượng nghị sĩ Hoa Kỳ John McCain đã nói như vậy khi trả lời báo chí nhân chuyến công du Việt Nam từ ngày 7 đến 10-8.

Tối nay 8-8, hai thượng nghị sĩ Hoa Kỳ John McCain và Sheldon Whitehouse đã gặp gỡ báo giới tại Hà Nội.

Hai thượng nghị sĩ có các cuộc gặp với các nhà lãnh đạo Việt Nam nhằm trao đổi các vấn đề song phương, khu vực, bao gồm vấn đề an ninh, thương mại và nhân quyền.

Phát biểu khai mạc họp báo, thượng nghị sĩ Mỹ John McCain nhấn mạnh luôn luôn vui mừng khi trở lại Việt Nam.

Thượng nghị sĩ John McCain:

Tôi đến Hà Nội vào thời điểm quan trọng, tức là năm tới, hai nước Việt Nam và Hoa Kỳ sẽ kỷ niệm 20 năm bình thường hóa quan hệ. Đối với những người như chúng tôi, khi tham gia vào quá trình này thì những tiến bộ đạt được rất đáng kinh ngạc.

Tuy nhiên cùng một lúc chúng tôi nhận ra rằng có nhiều việc đáng lẽ chúng ta có thể làm nhiều hơn nữa với tư cách đối tác của nhau. Chúng ta cần có một nghị trình tham vọng trong lúc có những diễn biến đáng lo ngại trên biển Đông.

Nói một cách ngắn gọn thì đây là lúc Hoa Kỳ và Việt Nam cần phải có bước nhảy vọt mạnh mẽ trong thời gian tới. Đó là lý do tại sao mà chúng tôi cùng có mặt ở đây.

Hoa Kỳ sẵn sàng đương đầu với những thách thức mới, những cách nghĩ và việc làm mới. Chúng tôi sẵn sàng đi đến hoàn tất Hiệp định xuyên Thái Bình Dương TPP, là một hiệp định có tiêu chuẩn cao, cùng Việt Nam với tư cách đối tác toàn diện của chúng tôi. Sẵn sàng làm việc với Việt Nam trong khuôn khổ TPP để Việt Nam đáp ứng các tiêu chuẩn của Hoa Kỳ và được công nhận nền kinh tế thị trường.

Chúng tôi sẵn sàng tăng cường hợp tác quân sự, cũng như gia tăng chuyến thăm tàu quân sự đến Việt Nam theo mức độ mà Việt Nam chấp nhận được. Chúng tôi không đặt vấn đề thuê căn cứ quân sự ở Việt Nam. Chúng tôi sẽ thực hiện hợp tác quân sự cả tăng cường chuyến thăm của tàu quân sự thông qua thỏa thuận việc tiếp cận các cơ sở này giống như chúng tôi thỏa thuận với các nước khác.

Chúng tôi sẵn sàng gia tăng trợ giúp về an ninh, giúp Việt Nam đảm bảo hợp thức chủ quyền của mình cũng như bảo đảm bảo vệ các quyền của Việt Nam.

Với những gì đã phát biểu, tôi cho rằng đã đến lúc Hoa Kỳ có thể nới lỏng lệnh cấm bán vũ khí sát thương cho Việt Nam. Nhưng tất cả những việc này sẽ không nên xảy ra cùng một lúc.

Nó sẽ diễn ra với bước đi có tính hạn chế, ví dụ ban đầu sẽ là những mặt hàng có tính trợ giúp cho việc phòng ngự như thiết bị cho lực lượng cảnh sát biển, kiểm ngư, mang tính chất đối phó với nguy cơ an ninh từ bên ngoài.

Chúng tôi đánh giá cao những tiến bộ mà Việt Nam đạt được, trong đó có việc ký công ước chống tra tấn cũng như gia tăng việc đăng ký các cơ sở tôn giáo.  

Như Thủ tướng Chính phủ Việt Nam đã phát biểu trong thông điệp đầu năm, dân chủ là xu thế không thể đảo ngược được và cần thiết cho tiến bộ của nhân loại.

Hy vọng của chúng tôi là Việt Nam sẽ biến những lời nói đó thành hành động thiết thực.

Và các quyền nhân quyền toàn cầu có tính phổ quát như quyền được phát ngôn tự do, quyền được hội họp, được tự do tôn giáo là những quyền được bảo đảm theo luật pháp quốc tế.

Tôi tin rằng Việt Nam cũng có thể mang lại những câu trả lời cho thế giới. Đó là một nhà nước hành động vì quyền lợi ngày càng tăng của nhân dân, vì nền dân chủ, cũng như môi trường trong lành, đủ sức mạnh để bảo vệ độc lập chủ quyền của mình.

Nếu Việt Nam làm như vậy, Việt Nam sẽ đưa ra một hình mẫu để truyền cảm hứng cho các quốc gia khác trong khu vực.

Hai thập kỷ qua, Hoa Kỳ và Việt Nam xây dựng mối quan hệ vững mạnh dựa trên những mục tiêu chung cũng như quan hệ và lợi ích chung. Hy vọng của chúng tôi là năm tới hai nước sẽ xây dựng được quan hệ đối tác chiến lược dựa trên những giá trị chung. Điều đó sẽ làm chúng ta có mối quan hệ mật thiết và lâu bền, đó là mối quan hệ hữu nghị hai nước có thể có được.

Chúng tôi tin đã có tiến bộ trong một số lĩnh vực trong đó có nhân quyền. Chúng tôi cũng tin rằng thật quan trọng để Việt Nam có năng lực về hàng hải ví dụ như cảnh sát biển cũng như là năng lực của hải quân. Chúng tôi cũng mong sẽ có một số hoạt động chung, chẳng hạn như hoạt động về hợp tác tìm kiếm cứu hộ.

Thượng nghị sĩ Sheldon Whitehouse: Tôi rất hân hạnh đi cùng ngài McCain. Ngài là một người mà trong Quốc hội Hoa Kỳ không ai sánh kịp xét trên khía cạnh tình cảm của ngài dành cho Việt Nam cũng như sự toàn tâm toàn ý của ngài trong sự phát triển quan hệ hai nước. Chúng ta sẽ sớm kỷ niệm 20 năm có những tiến bộ trong việc bình thường hóa quan hệ giữa hai nước.

Trong ngày hôm nay, chúng tôi đã có những cuộc gặp thành công với Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng, Thủ tướng chính phủ Nguyễn Tấn Dũng, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Phùng Quang Thanh… Chúng tôi xin cảm ơn tình cảm nồng ấm trong các cuộc họp đó. Chúng tôi mong sẽ tiếp tục tăng cường quan hệ trong các lĩnh vực an ninh, bảo vệ môi trường, kinh tế.

Trong Quốc hội Hoa Kỳ, việc bất đồng những vấn đề khác nhau cũng là chuyện bình thường. Tôi không loại trừ có những bất đồng. Nhưng ngài McCain và tôi là hai thượng nghị sĩ đại diện cho hai đảng khác nhau. Tôi tin rằng với sự làm việc của chúng tôi thì có thể tạo ra một hành động trong Quốc hội Hoa Kỳ, từ đó gửi ra tín hiệu khuyến khích cho nhánh hành pháp Hoa Kỳ để họ giảm nhẹ lệnh cấm vận. 

Trả lời báo chí

* Tuổi Trẻ: Liên quan đến căng thẳng biển Đông thời gian qua, dư luận nhận thấy Hoa Kỳ có thái độ khá cứng rắn đối với Trung Quốc khi hạ đặt trái phép giàn khoan vào khu vực thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam. Hai ngài đánh giá thế nào về thái độ của Hoa Kỳ? Phải chăng Hoa Kỳ nhận thấy có đe dọa thực sự trên Biển Đông?

– Thượng nghị sĩ Sheldon Whitehouse: Chúng tôi nghĩ vùng đặc quyền kinh tế của từng nước riêng rẽ nằm trong một mạng lưới bền vững dựa trên sự thông hiểu chung cũng như dựa trên các công ước và các luật quốc tế. Tất cả những điều này tổng hợp lại với nhau sẽ giúp cho kinh tế cũng như tránh xung đột và đảm bảo sự ổn định.

Vì vậy, khi có một thách thức với hòa bình và trật tự thì không chỉ có Hoa Kỳ mà cả cộng đồng thế giới nếu như chúng ta tin vào nền pháp quyền thì phải hành động, phải phản ứng lại. Đó là những gì đã xảy ra. Hoa Kỳ và các nước đã phản ứng.

* Tiền Phong: Khoảng thời điểm nào thì Hoa Kỳ có thể dỡ bỏ lệnh cấm bán vũ khí sát thương cho Việt Nam?

– Thượng nghị sĩ Mỹ John McCain: Chúng tôi hy vọng có thể bắt đầu nới lỏng lệnh cấm bán sớm nhất vào tháng chín tới.

* Sau khi Trung Quốc hạ đặt trái phép giàn khoan Hải Dương 981 vào thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, ngay sau đó ngài John McCain đã ra thông cáo và ngài phản ứng cho rằng đó là hành động vi phạm luật pháp quốc tế. Sau đó ngài có gặp khó xử nào với Trung Quốc không?

– Thượng nghị sĩ Mỹ John McCain: Trung Quốc tất nhiên đã phủ nhận họ làm bất cứ điều gì vi phạm các chuẩn mực và luật pháp quốc tế. Tôi không biết hành động Trung Quốc dịch chuyển giàn khoan có ý nghĩa gì nhưng tôi hy vọng rằng việc đó là đáp lại sự phản ứng của thế giới chứ không phải vì phản ứng của Hoa Kỳ hay của Việt Nam. 

* Vietnamnet: Xin hỏi Thượng nghị sĩ John McCain, ngài đánh giá thế nào về mức độ đe dọa an ninh trên vùng biển Việt Nam sau vụ giàn khoan vừa qua. Việt Nam cần phải đối phó thế nào không chỉ vụ giàn khoan mà còn với những thách thức an ninh mới?

– Thượng nghị sĩ Mỹ John McCain: Tôi đồng ý với quan điểm của công luận thế giới. Việc làm vừa rồi của Trung Quốc là hành vi phi pháp của Chính phủ Trung Quốc. Tôi tin rằng sự đoàn kết của tất cả các quốc gia chung quanh bị ảnh hưởng bởi hành động của Trung Quốc là điều tốt nhất mà chúng ta có thể làm để đáp trả lại hành động của Trung Quốc.

Tôi muốn nhắc đến những nước bị ảnh hưởng trực tiếp vì hành động của Trung Quốc như Philippines, Nhật Bản… Ngoài ra, còn những nước khác bị ảnh hưởng gián tiếp. Sự đoàn kết chặt chẽ sẽ là cách để gửi đi thông điệp rằng tất các nước đều muốn duy trì tự do hàng hải. Tôi nhấn mạnh không ai muốn có đối đầu với Trung Quốc, chúng tôi muốn có sự ổn định, thông hiểu lẫn nhau. 

* Reuters: Như ông nói tháng 9 Mỹ sẽ dỡ bỏ lệnh cấm bán vũ khí sát thương cho Việt Nam, liệu nói như vậy có tham vọng không?

– Thượng nghị sĩ Mỹ John McCain: Mới đây thượng nghị sĩ Bob Cocker là thành viên cao cấp của Ủy ban đối ngoại thượng viện đã có mặt ở Việt Nam và đã đề cập đến việc này. Việc dỡ bỏ lệnh cấm bán vũ khí sát thương cho Việt Nam thì không cần luật riêng mà chỉ cần phía quốc hội bày tỏ quan điểm của mình đến nhánh hành pháp là chính quyền. Chúng tôi được biết chính quyền đang xem xét vấn đề này một cách rất cẩn thận.

Thượng nghị sĩ Sheldon Whitehouse: Không dỡ bỏ ngay lập tức mà có những bước khác nhau, và bước ban đầu sẽ được thực hiện sớm.

Thượng nghị sĩ Mỹ John McCain: Tôi không đưa ra sự bảo đảm nhưng tôi tin rằng trong quốc hội có sự ủng hộ rất lớn.

Nếu mọi người nhìn động cơ của lệnh cấm bán vũ khí và chuyến thăm của chúng tôi thì chúng tôi có thể giải thích rằng chúng tôi nhìn thấy tiến bộ khi căn cứ những lời nói trong thông điệp đầu năm của Thủ tướng Chính phủ Việt Nam.

* Hà Nội Mới: Thưa ngài Thượng nghị sĩ Mỹ John McCain: ngài có bình luận như thế nào về chuyến thăm của ông Phạm Quang Nghị – Bí thư thành ủy Hà Nội tới Hoa Kỳ vừa qua và món quà mà ông Nghị tặng cho ngài?

– Thượng nghị sĩ Mỹ John McCain: Tôi rất vui được tiếp ông Nghị ở văn phòng của tôi. Chúng tôi đã có những thảo luận rất thú vị. Ông Nghị đã tặng tôi bức ảnh về bức tượng cạnh Hồ Tây. Tôi trân trọng món quà này.

————-

Thứ sáu, 8/8/2014- 19:30 GMT+7

Mỹ có thể dỡ bỏ một phần lệnh cấm bán vũ khí cho Việt Nam vào tháng 9

Với sự nhất trí của cả hai đảng trong Quốc hội Mỹ, Washington có thể dỡ bỏ một phần lệnh cấm bán vũ khí sát thương cho Việt Nam trong tháng tới.

“Chúng tôi hy vọng có thể bắt đầu việc nới lỏng lệnh cấm bán vũ khí sát thương cho Việt Nam vào đầu tháng 9. Hiện chính quyền Mỹ đang xem xét vấn đề một cách rất cẩn thận. Tôi không đưa ra sự bảo đảm nhưng tôi tin rằng trong Quốc hội có sự ủng hộ của hai đảng rõ rệt”, Thượng nghị sĩ Mỹ John McCain khẳng định trong buổi họp báo chiều 8/8 tại Hà Nội.

Ông McCain cho biết, thời điểm này là thích hợp Mỹ có thể nới lỏng lệnh cấm bán vũ khí sát thương cho Việt Nam vì các nghị sĩ Mỹ tin rằng Việt Nam đã đạt được tiến bộ trong một số lĩnh vực. Ông cũng khẳng định, Mỹ sẵn sàng gia tăng trợ giúp về an ninh để giúp Việt Nam bảo đảm nhận thức về chủ quyền của mình, xây dựng năng lực để bảo vệ các quyền chủ quyền của Việt Nam.

Nhưng tất cả những việc này, theo ông McCain “sẽ và không nên xảy ra cùng một lúc mà diễn ra từng bước”, ví dụ ban đầu có những mặt hàng trợ giúp cho việc phòng ngự, như các thiết bị cho lực lượng cảnh sát biển, kiểm ngư, mang tính chất đối phó với những nguy cơ an ninh từ bên ngoài.

“Chúng ta cần có nghị trình tham vọng hơn (trong hợp tác hai nước), nhất là trong thời điểm đang có những diễn biến đáng lo ngại ở Biển Đông”, ông McCain nhấn mạnh. Mỹ và Việt Nam cần có bước nhảy vọt mạnh mẽ trong thời gian tới, đó là lý do tại sao hai thượng nghị sĩ đến Việt Nam lần này. 

mc-2551-1407504571.jpg

Thượng nghị sỹ John McCain. Ảnh: Việt Anh.

Thượng nghị sĩ Sheldon Whitehouse, người đi cùng ông McCain đến Việt Nam lần này cho biết thêm, không cần có lệnh dỡ bỏ cấm bán vũ khí sát thương cho Việt Nam toàn diện ngay lập tức, mà Mỹ có những bước ban đầu có thể được thực hiện sớm.

Đề cập tới những hành động của Trung Quốc gần đây ở Biển Đông, đe dọa an ninh khu vực, ông McCain đồng tình với quan điểm của cộng đồng thế giới, đó là các việc làm của Chính phủ Trung Quốc thời gian qua là phi pháp.

“Tôi tin rằng sự đoàn kết của tất cả quốc gia xung quanh bị ảnh hưởng bởi các hành động của Trung Quốc là điều tốt nhất có thể làm để đáp trả lại hành động của Bắc Kinh”, ông McCain nhấn mạnh.

Những nước bị ảnh hưởng trực tiếp vì những hành động của Trung Quốc như là Philippines, Malaysia, Nhật Bản và những nước khác sẽ bị ảnh hưởng gián tiếp. Sự hợp tác chặt chẽ giữa các nước đó cũng như của ASEAN sẽ là một cách để gửi đi thông điệp rằng tất cả các nước đều muốn duy trì tự do hàng hải. “Tôi khẳng định không ai muốn có sự đối đầu với Trung Quốc, chúng tôi muốn có sự ổn định, thông hiểu lẫn nhau”, ông McCain nói.

Ông McCain nói, mình không biết hành động Trung Quốc di dời giàn khoan Hải Dương 981 ra khỏi Hoàng Sa có ý nghĩa gì, nhưng ông hy vọng đó là sự phản hồi lại phản ứng của thế giới chứ không phải vì phản ứng của Mỹ hay của Việt Nam.

Thượng nghị sĩ McCain và Whitehouse đến thăm Việt Nam từ 7/8 đến 10/8 để trao đổi với các lãnh đạo Việt Nam về các vấn đề an ninh song phương và khu vực.

Hôm nay, hai thượng nghị sĩ đã có cuộc trao đổi với Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng, Bộ trưởng Quốc phòng Phùng Quang Thanh và Chủ nhiệm ủy ban Quốc phòng của Quốc hội.

Việt Anh

http://vnexpress.net/tin-tuc/the-gioi/my-co-the-do-bo-mot-phan-lenh-cam-ban-vu-khi-cho-viet-nam-vao-thang-9-3028693.html

http://en.wikipedia.org/wiki/United_States_elections,_2014

Posted in Chinh Tri | Leave a Comment »

►Cuộc đối thoại Gorbachev-Thatcher (1984) khởi đầu cho chiến tranh lạnh chấm dứt, và chủ nghĩa cộng sản tan rả

Posted by hoangtran204 trên 03/02/2014

Gorby versus Thatcher: How the USSR charmed Britain’s Iron Lady 

Trần Hoàng: Bằng cách nào mà nhà lãnh đạo Xô Viết đã thuyết phục được bà Thủ tướng Anh, còn có biệt danh là người  đàn bà thép (Thủ tướng Thatcher có lập trường chống cộng rất cứng rắn và bà rất hiếu chiến) để rồi bà Thatcher thuyết phục TT Reagan cùng nhau hợp tác với Gorbachev xóa bỏ chủ nghĩa cộng sản đã hoành hành trong hơn 70 năm qua và làm thiệt mạng 100 triệu người.  “Chủ nghĩa CS là ước mơ của một vài người nhưng là ác mộng của cả nhân loại.”

Cuộc đối thoại 1984 giữa Gorbachev và Thatcher đã mở mang cho một kỷ nguyên mới, giúp cho thế giới bước gần hơn tới ước mơ sống trong hòa bình, không còn nguy cơ của cuộc đe dọa chiến tranh hạt nhân đang diễn ra lúc ấy. Cuộc gặp gỡ năm 1984 đã làm cho cuộc chiến tranh lạnh chấm dứt, cuộc đối đầu giữa cộng sản và tư bản không còn nữa, và chủ nghĩa cộng sản ở 16 nước Đông Âu cáo chung. Sau 10 năm chuyển tiếp từ CS sang tư bản, và tiếp theo là thời kỳ 10 năm hồi phục, dân chúng 16 nước Đông Âu đã không còn sống trong cảnh lạnh lẻo, thiếu ăn và nạn đói đe dọa hàng năm như thời kỳ còn sống dưới chế độ cs 1945-1990. 

Coi thêm các tài liệu mật vừa mới được tháo gỡ và đem ra cho công chúng xem vào đầu tháng 1-2014 tại đây: 

http://www.margaretthatcher.org/archive/1984PREM19.asp

Cuộc đối thoại Gorbachev-Thatcher

5-1-2014

Christine Murray – Ý Yên lược dịch

nguồn: dcvonline.net

Mikhail Gorbachev thành viên BCT đảng CS Soviet chụp ảnh với Thủ tướng Anh trong chuyến viếng thăm tại Chequers (December 1984). Nguồn: REUTERS/Stringer

LONDON (Reuters) –January 3rd, 2014.  Thứ Sáu vừa qua, Anh quốc đã công khai hóa những tài liệu mật liên quan tới cố gắng của Mikhail Gorbachev để thiết lập bang giao tốt hơn với phương Tây trong cuộc Chiến Tranh Lạnh, nhằm cứu vãn Liên Sô đang trên đà suy thoái.

Kế hoạch cải tổ của Gorbachev đã kích động tới sự sụp đổ của toàn Liên Bang Sô viết. Cá nhân Gorbachev vào năm 1984 là ứng viên chính thay Konstantin Chernenko ,73 tuổi, để trở thành lãnh tụ điện Cẩm Linh nhưng ông ít được biết đến bên ngoải Liên bang Sô Viết cho tới khi ông viếng thăm Luân Đôn trong lần xuất ngoại đáng kể lần đầu tiên sang châu Âu.

Nhận lời mời của Thủ tướng Margaret Thatcher, chuyến viếng thăm năm 1984 của Gorbachev đã làm thay đổi chiều hướng Chiến tranh Lạnh, thuyết phục “Phu nhân Sắt” và đồng minh của bà, Tổng thống Ronald Reagan của Hoa Kỳ, rằng Liên Sô sắp có một nhân vật mà phương Tây có thể an tâm cộng tác được.

Trong một hồ sơ mật, Thatcher nói với Reagan, sau giờ sau cuộc thảo luận với Gorbachev về cuộc chạy đua vũ trang của Chiến tranh Lạnh,

“Tôi nhận thấy ông ta là người có thể hợp tác được, tôi thật lòng quý trọng ông ta. Không nghi ngờ gì về việc ông ta hoàn toàn trung thành với chế độ Sô Viết, nhưng ông ta sẵn sàng lắng nghe, và đối thoại chân thành, và có thể tự quyết định theo ý ông ta.”

Chỉ vài ngày sau gặp Gorbachev Thatcher bay sang trại David để thuyết phục Reagan rằng Gorbachev thật khác xa giới lãnh đạo Điện Cẩm Linh như Leonid Brezhnev, Yuri Andropov hay Chernenko, ông này hiện ốm yếu và thường vắng mặt trong các buổi họp của Bộ Chính trị.

Tập tài liệu năm 1984 cho thấy Thatcher đã phải xoay xở giữa cuộc đàm phán với Trung Quốc về việc trả lại Hồng Kông, cới một cuộc đình công của thợ mỏ trong nước, và phân tích nhann vật có thể là người lãnh đạo kế tiếp của kẻ thù mạnh nhất của phương Tây.

Theo một quy tắc mà Anh Quốc gọi là nguyên tắc 30 năm, có khoảng 500 tài liệu từ Văn phòng Nội các và Văn phòng Thủ tướng Chính phủ trong năm 1984 được coi là nhạy cảm và phải giữ bí mật theo nguyên tắc 30 năm trước khi công bố.

Tài liệu mật của nước Anh được giữ bí mật 50 năm theo các quy định dưới thời Thủ tướng Harold Macmillan ngay sau khi Thế chiến thứ hai, nhưng đã được giảm xuống còn 30 năm dưới thời Thủ tướng Lao động Harold Wilson.

Nguyên tắc này đã thay đổi trong những năm gần đây, giảm xuống còn 20 năm, dù các tài liệu cực kỳ nhạy cảm vẫn có thể được giữ kín lâu hơn với sự cho phép của Bộ trưởng Tư pháp.

Gorbachev khác người

Trái với những đình trệ thời Brezhnev, Gorbachev, khi đó mới 53 tuổi, bên bà vơ thanh lịch Raisa đã thuyết phục được Thatcher, một khi trở thành lãnh tụ Sô Việt, ông ta sẽ cho phương Tây một ngõ vào sau nhiều năm bế tắc.

Nhận xét của Thatcher (về Gorbachev) vừa có sức mạnh và tầm nhìn, đã dần dà thuyết phục Reagan. Bức tường Bá Linh bị phá vỡ vào năm 1989, và Liên bang Sô Viết sụp đổ bảy năm sau chuyến viêng thăm Luân Đôn của Gorbachev.

Reagan nói với báo chí vào năm 1990, “Bà ấy [Thatcher] cho tôi biết Gorbachev khác hẳn so với bất cứ lãnh tụ nào khác của điện Cẩm Linh. Bà ấy tin rằng có một cơ hội lớn. Hiển nhiên bà ta đã nói đúng.”

Lâu đài Chequers (Buckinghamshire, England). Nguồn: Getty Images

Tại lâu đài Chequers, nơi nghỉ ngơi và làm việc ngoài London của Thủ tướng nước Anh, Thatcher dã có nhiều giờ tranh cãi với Gorbachev về sự hạn chế di cư của người Do Thái, số phận của những người bất đồng chính kiến, như nhà vật lý Andrei Sakharov, và những giá trị của chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa cộng sản.

Thatcher cho biết giới lãnh đạo công đoàn của Anh như Arthur Scargill đã gây tiếng xấu cho cộng sản vì họ đã không cho đầu phiếu và công đoàn thợ mỏ đã bị đe dọa phải đình công. Bà cũng ám chỉ Liên Xô có thể đã giúp đỡ tài chính cho công đoàn [thợ mỏ], theo ghi chú của các cố vấn về cuộc họp với Gorbachev.

Gorbachev nói rằng Thatcher không nên đổ lỗi cho bất cứ ai về những vấn đề của nước Anh cho các vấn đề của mình, và Liên Xô đã chuyển không hề hỗ trợ kinh phí cho Liên minh Thợ mỏ Quốc gia; Gorbachev thêm đoạn “như tôi được biết” vào câu trả lời cùng lúc “liếc nhìn” các cố vấn của ông.

Vẫn chưa rõ liệu Thatcher đã đọc, như trò đùa mà một cố vấn đã đề nghị, một đoạn trong lá thư của Karl Marx gởi Friedrich Engels, nhớ lại mẹ của Marx một lần nói, “Nếu Karl đã gây Vốn … thay vì chỉ viết về Tư bản.”

Bữa ăn trưa kết thúc với chúc tụng, Gorbachev và Thatcher đã tiếp tục cuộc thảo luận, gay cấn hơn nhiều, về cuộc chạy đua vũ trang giữa Liên Xô và Hoa Kỳ.

Mùa đông nguyên tử

Qua hơn ba giờ đàm đạo, Gorbachev có lúc đã trưng dẫn cho Thatcher, rõ ràng hiếu chiến, xem một biểu đồ nguyên trang trên tờ New York Times ghi sức mạnh nguyên tử của các đại cường, và sự kinh hoàng của một mùa đông nguyên tử.

Gorbachev đọc một ngụ ngôn tối nghĩ của Nga, “ Mỗi năm một lần, khẩu súng dù không nạp đạn cũng có thể phát nổ.”

Thatcher cho rằng vũ khí nguyên tử chỉ là một sự là hình thức răn đe, và chiến lược phòng thủ “Chiến tranh giữa các vì sao” của TT Reagan chính là biểu hiện “giấc mơ” hòa bình của ông ấy.

Gorbachev tin chắc rằng dù chưa có cuộc họp thượng đỉnh nào giữa tổng thống Hoa Kỳ và Tổng Bí thư đảng Cộng sản Sô viết từ sau cuộc gặp gỡ năm 1979 giữa Jimmy Carter và Leonid Brezhnev, thì nay, Cẩm linh đã đề ra ưu tiên cho một “lý tưởng cao thượng hơn” về hòa bình qua những đàm phán sẽ tổ chức vào năm 1985.

Thatcher đã nói với Reagan về Gorbachev, rằng đàng sau sự ồn ào bề ngoài với chủ nghĩa Mác của giới lãnh đạo Cộng sản, tôi có ấn tượng tôt về cá tính bén nhậy của ông ta, cùng sự sẵn sàng tranh luận và bà vợ có thể nhạy bén hơn nữa.

 Charles Powell, thư ký riêng của Thatcher, viết cho George Shultz.  Ngoại trưởng Mỹ thời đó, về Raisa Gorbachev, “Vợ ông ta không là một người phụ nữ Liên Xô bình thường. Bằng Tiến sĩ Triết học của bà ấy  không thể che giấu một nhân cách thẳng thắn và thu hút cùng với một kiến thức rộng đáng ngạc nhiên về nền văn học hiện đại và tiếng Anh cổ điển.”

Reagan và Gorbachev, người đã trở thành lãnh đạo Liên Xô vào ngày 11 tháng ba năm 1985, gặp nhau lần đầu tiên vào ngày 19 Tháng Mười Một năm 1985 tại Geneva.

Sau khi thảo luận với Gorbachev, Thatcher đã đến Trung Quốc để đàm phán về Hồng Kông, nhưng các trợ lý của Thủ tướng Anh đã bối rối khi Gorbachev, vẫn còn trong chuyến thăm của ông, đã đến Phố Downing không báo trước và yêu cầu được thấy cánh cửa màu đen nổi tiếng tại địa chỉ Số 10. Nhà lãnh đạo tương lai của Liên Xô đã bước vào đến sảnh phía trước Văn phòng Thủ tướng Anh, nhưng ông đã  “tươi cười” bước ra khỏi cửa trước khi các thư ký riêng của bà Thatcher xuất hiện.

© 2014 DCVOnline

nguồn: dcvonline.net


Nguồn: Gorby versus Thatcher: How the USSR charmed Britain’s Iron LadyChristine Murray. Reuters. January 3rd, 2014.

 

Posted in Chinh Tri | Leave a Comment »

►VN và Mỹ chỉ là đối tác toàn diện, chứ không phải đối tác chiến lược và thân thiết như giữa VN và Trung Quốc

Posted by hoangtran204 trên 28/07/2013

Khi thiết lập quan hệ, đảng CSVN và Nhà Nước đòi cho bằng được làm đối tác chiến lược với  5 nước hội viên vĩnh viễn trong hội đồng Bảo an LHQ: Anh, Pháp, Mỹ, TQ, Nga.  

VN đã thiết lập quan hệ đối tác chiến lược với Trung Cộng và Nga.

VN chưa thiết lập được quan hệ đối tác chiến lược với Mỹ và Pháp. 

Hiện nay, VN đòi thiết lập quan hệ đối tác chiến lược với Mỹ và Úc thì cả hai nước này đã từ chối. Úc đã từ chối năm 2009, và Mỹ thì chỉ cho VN hợp tác ở mức toàn diện, là mức thấp hơn kiểu hợp tác chiến lược.  

Các nước có Hợp tác chiến lược thì được Mỹ bán các vũ khí sát thương rất tối tân, như máy bay, tàu ngầm, tàu chiến, hỏa tiển,…và hợp tác mật thiết  trong các lãnh vực thương mại, ngoại giao, doanh nghiệp, y tế, giáo dục… như Nam Hàn, Úc là các đối tác chiến lược của Mỹ.

Trái lại, đảng CSVN và nhà nước VN đi chàng hãng, đu dây giữa Mỹ và TQ và thiên về TQ. Vì thế, nên Mỹ không tin VN, và biết rằng, nếu Mỹ bán vũ khí tối tân cho VN thì chỉ 1 ngày sau là VN mời TQ qua sao chép ăn cắp các kỹ thuật cao của Mỹ.

Đảng và nha nước biết tỏng chuyện Mỹ chẳng tin tưởng gì VN, nhưng VN lại thích nâng cấp lên để trở thành đối tác chiến lược với Mỹ.

Trung Quốc nắm đầu đảng CSVN vì TQ đang nắm giữ các văn kiện hợp tác bí mật giữa  TQ và HCM, đảng CSVN, và nhà nước;  các hiệp định bí mật năm 1950, 1958, 1999 ký kết giữa 2 nước, các chuyện riêng tư cá nhân của các lãnh tụ đảng CSVN… TQ chỉ cần tung lên mạng các hiệp định bí mật này và các chuyện riêng tư của các nhân vật cao cấp của đảng CSVN đã làm trong quá khứ; các bí mật về trận đánh ĐBP… thì kể như đảng CSVN và Nhà Nước chỉ còn iết đội quần lên đầu, mất hết mặt mũi với quốc tế và người dân trong nước vì lâu nay khoe khoang quá dữ…

Trong quá khứ, TQ chỉ cần đưa lên mạng (vào năm 1999) về Công Hàm do Thủ tướng Phạm Văn Đồng ký 14-9-1958, và hình ảnh bí mật của cuộc họp mặt ở Thành Đô 3 và 4 tháng 9, 1990 giữa TBT đảng CSVN Nguyễn Văn Linh, ĐỖ Mười, Phạm Văn Đồng, Lê Khả Phiêu, và Giang Trạch Dân cũng đủ để làm cho nhà nước VN xụi lơ, ký ngay Hiệp ĐỊnh Biên Giới 31-12-1999 để nhường thêm đất đai và biển đảo cho TQ.   

Vì thế, nếu đảng CSVN còn cai trị, thì TQ chỉ cần nắm đầu là đảng và nhà nước hết dám phản kháng. Chỉ cần nhìn các vụ tàu hải giám TQ chận bắt, bắn giết đánh đập ngư dân VN, và TQ còn ra lệnh cấm ngư phủ không được đánh cá ở vùng Biển Đông, vùng HS va TS mà nhà nước VN không dám hé răng thì ta đủ hiểu thế nào rồi. TQ hiện còn kéo tàu giàn khoang vào khoan dầu ngay trong các vùng lãnh hải của VN mà nhà nước còn không dám phản đối. 

Đằng sau hợp tác đối tác toàn

diện Mỹ – Việt

RFA

Việt Hà, phóng viên RFA

2013-07-26

Trong cuộc gặp giữa Chủ tịch Trương Tấn Sang và Tổng thống Mỹ Barack Obama hôm 25 tháng 7, lãnh đạo hai nước thống nhất đưa quan hệ hai nước thành đối tác toàn diện. Quan hệ đối tác toàn diện có gì khác với đối tác chiến lược? có gì đằng sau tên gọi quan hệ đối tác mới giữa hai nước?

Đối tác toàn diện với Mỹ là gì?

Hơn 2 năm sau khi Ngoại trưởng Hoa Kỳ Hillary Cliton vào năm 2010 tuyên bố đã có đủ cơ sở để Mỹ và Việt Nam nâng tầm quan hệ chiến lược lên một mức mới, vào ngày 25 tháng 7 vừa qua, lãnh đạo hai nước tuyên bố mối quan hệ Việt Nam và Mỹ là quan hệ hợp tác đối tác toàn diện. Tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama phát biểu với báo chí sau cuộc gặp với Chủ tịch Trương Tấn Sang vào cùng ngày:

“Tất cả chúng ta đều biết về lịch sử rất phức tạp giữa Hoa Kỳ và Việt Nam. Nhưng từng bước, chúng ta đã có thể xây dựng được sự tôn trọng và lòng tin để bây giờ cho phép chúng ta công bố một “hợp tác đối tác tòan diện” giữa hai quốc gia để từ đó có sự hợp tác rộng lớn hơn trong tất cả mọi lĩnh vực từ thương mại và mậu dịch cho đến hợp tác giữa hai quân đội và hợp tác song phương trong cứu nạn, cho đến trao đổi khoa học và giáo dục.”

Trước chuyến thăm của chủ tịch Trương Tấn Sang tới Hoa Kỳ theo lời mời của Tổng thống Obama, đã có nhiều dự đoán về khả năng Hoa Kỳ và Việt Nam sẽ nâng tầm quan hệ lên thành đối tác chiến lược. Trong diễn đàn Shangrila tại Singapore vào tháng 6 vừa qua, Thủ tướng Việt Nam, Nguyễn Tấn Dũng cũng nói đến mong muốn của Việt Nam được thiết lập quan hệ đối tác chiến lược với tất cả các nước thành viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc. Cho đến lúc này, Việt Nam đã thiết lập quan hệ đối tác chiến lược với 11 nước, trong đó có 3 nước thường trự Hội đông bảo an là Trung Quốc, Nga, và Anh. Vẫn còn hai nước lớn mà Việt Nam chưa thể có quan hệ đối tác chiến lược chính là Mỹ và Pháp.

Trong bài viết mới đây trên blog cá nhân, Giáo sư Carl Thayer, một chuyên gia về châu Á thuộc Công ty tư vấn Thayer Consultancy, giải thích có sự khác biệt giữa quan hệ đối tác chiến lược và đối tác toàn diện. Về khái niệm đối tác chiến lược, giáo sư Carl Thayer viết:

“Thuật ngữ đối tác chiến lược là một thuật ngữ chính trị để xác định từng nước mà Việt Nam đã phát triển quan hệ song phương toàn diện và Việt Nam coi nước đó là đặc biệt quan trọng trong việc đạt được quyền lợi quốc gia của mình.”

Theo Giáo sư Carl Thayer, việc thiết lập quan hệ đối tác chiến lược của Việt Nam với các nước thường đi cùng với một bản tuyên bố chính thức mà nội dung và hình thức của tuyên bố này có thể khác nhau với từng nước.

Trước khi Việt Nam thiết lập quan hệ đối tác toàn diện với Hoa Kỳ, Việt Nam cũng đã thiết lập đối tác toàn diện với Úc từ năm 2009. Nguyên nhân được đưa ra là vào lúc đó Thủ tướng Úc, Kevin Rudd, đã khước từ chữ chiến lược vì cho rằng mối quan hệ song phương giữa hai nước chưa đạt đến mức thân thiết nếu so với các hợp tác mà Úc có được với các đồng minh và các khác có cùng quan điểm. Tuy nhiên trong đối tác toàn diện với Úc, hai nước có thiết lập kế hoạch hành động từng năm trong thỏa thuận đạt được về đối tác toàn diện giữa hai nước.

Theo phân tích của Giáo sư Carl Thayer, đối tác toàn diện với Mỹ là một việc vẫn đang trong quá trình hoàn tất, dựa chủ yếu vào những cơ chế hợp tác hiện có giữa hai nước trên cả 9 lĩnh vực được đề cập trong tuyên bố chung.

Đối tác toàn diện giữa hai nước cũng không đề cập đến một kế hoạch hành động như với Úc và bản tuyên bố chung cũng không nói đến cơ chế cấp cao về hợp tác trên 9 lĩnh vực là chính trị ngoại giao, quan hệ kinh tế, thương mại, khoa học công nghệ, giáo dục, môi trường y tế, khắc phục hậu quả chiến tranh, quốc phòng an ninh, quyền con người, văn hóa, du lịch và thể thao.

Tại sao chỉ là đối tác toàn diện?

Câu hỏi đặt ra là tại sao hai nước Mỹ và Việt Nam chỉ hợp tác đối tác toàn diệnkhông phải là đối tác chiến lược, giữa lúc Mỹ đang chuyển trục chiến lược về châu Á, và Việt Nam đang cần quan hệ với Mỹ để tạo thế cân bằng với người láng giềng Trung Quốc? Giáo sư Carl Thayer đưa ra hai giải thích:

“Có hai giải thích có thể về việc Mỹ và Việt Nam chọn đối tác toàn diện thay vì đối tác chiến lược. Thứ nhất, đàm phán về đối tác chiến lược đã bế tắc và hai bên đồng ý là một thỏa thuận ít chính thức hơn vẫn tốt hơn là không có được một thỏa thuận nào.

Giải thích thức hai là các nguồn tin ở Việt Nam cho biết các lãnh đạo cấp cao bảo thủ của Đảng Cộng sản không thích dùng chữ đối tác chiến lược để miêu tả quan hệ Việt Nam và Hoa Kỳ. Ví dụ, sau khi tuyên bố chung được công bố, Bộ Ngoại giao đã chỉ định cho báo chí không được nói quan hệ đối tác toàn diện là nâng cấp của quan hệ hai nước Việt Nam Hoa Kỳ. Báo chí Việt Nam chỉ được đưa tin là quan hệ đối tác toàn diện mà thôi.”

Về dự đoán khả năng đưa quan hệ hai nước lên tầm đối tác chiến lược trước chuyến đi của Chủ tịch Trương Tấn Sang, Giáo sư Nguyễn mạnh Hùng, trường đại học George Mason nói với đài Á Châu Tự do:

Việt Nam rất muốn đẩy cao tầm quan hệ chiến lược với Mỹ bởi vì ông tuyên bố ông muốn thiết lập đối tác chiến lược với tất cả 5 quốc gia thường trực Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc, ông đã làm được 3 rồi, chỉ còn Pháp với Mỹ thôi.

Ông Mỹ rất quan trọng. Việt Nam rất tha thiết. Nếu Việt Nam có một số nhượng bộ thỏa đáng thì tôi nghĩ trong thông cáo chung sẽ có thể phản ánh được hoặc là một sự tiến bộ, hoặc là một sự nào đó trong quan hệ đối tác chiến lược giữa Mỹ và Việt Nam.”

Một trong các nhượng bộ được nói đến nhiều nhất chính là vấn đề nhân quyền tại Việt Nam. Ngay từ trước chuyến đi, đã có những tổ chức nhân quyền quốc tế, dân biểu Mỹ và các nhà hoạt động xã hội tại Việt Nam lên tiếng kêu gọi Hoa Kỳ phải gây sức ép lên Việt Nam về vấn đề này trước khi có các đàm phán về hiệp ước xuyên Thái Bình dương (TPP), về dỡ bỏ lệnh cấm vận bán vũ khí và để tiến tới là hợp tác đối tác chiến lược.

Theo HRW, tình hình nhân quyền tại Việt Nam trong năm qua tiếp tục xuống dốc. Chỉ trong nửa đầu năm 2013 số người bất đồng chính kiến, bloggers và lãnh đạo tôn giáo ở Việt Nam bị kết án đã vượt quá con số của năm 2010 và năm 2011 với khoảng gần 50 người.

Vấn đề nhân quyền cũng đã khiến đối thoại nhân quyền thường niên giữa Mỹ và Việt Nam vào cuối năm ngoái bị trì hoãn cho đến tận đầu năm nay.

Nhân quyền cũng có thể coi là rào cản lớn giữa hai nước và được lãnh đạo hai quốc gia nhìn nhận trong phát biểu với báo chí. Tổng thống Obama nhấn mạnh nước Mỹ luôn coi trọng các quyền cơ bản của con người và đề cập đến những thách thức tại Việt Nam.

“Hoa Kỳ tiếp tục tin tưởng rằng tất cả chúng ta đều phải tôn trọng những vấn đề như quyền tự do phát biểu ý kiến, tự do tôn giáo và tự do lập hội. Chúng tôi đã có một cuộc trao đổi rất thẳng thắn về những tiến bộ Việt Nam đạt được cũng như những thách thức còn tồn tại.”

Còn Chủ tịch Trương Tấn Sang thừa nhận bằng một câu ngắn gọn:

Về vấn đề quyền con người, hai bên vẫn còn những điểm khác biệt.”

Cũng bởi những cách biệt này mà cho đến lúc này Hoa Kỳ vẫn chưa dỡ bỏ những hạn chế về bán vũ khí sát thương cho Việt Nam.

Bất chấp những khác biệt về vấn đề nhân quyền, lãnh đạo hai quốc gia vẫn khẳng định sẽ tiến tới hoàn tất việc đàm phán TPP vào cuối năm nay để đẩy mạnh hơn nữa quan hệ kinh tế, thương mại.

Rõ ràng là tên gọi đối tác toàn diện giữa hai nước chưa thể coi là tương đồng với đối tác chiến lược, nếu xét về tổng thể.

Nhưng theo kết luận trong bài viết mới đây của Giáo sư Carl Thayer, các thảo luận mới đây của hai lãnh đạo quốc gia đã đưa hợp tác song phương lên cao trong các lĩnh vực thương mại và kinh tế. Trong khi đó, hợp tác trong các lĩnh vực khác sẽ vẫn tiếp tục ở mức hiện có.

https://www.youtube.com/watch?feature=player_embedded&v=0PB4oH1gv5Y

Posted in Chinh Tri | 3 Comments »

►Ecuador đã đồng ý cho Julia Assange tị nạn chính trị bất chấp sự phản đối của Anh

Posted by hoangtran204 trên 16/08/2012

Trần Hoàng  phỏng dịch

16-8-2012

Bộ trưởng Ngoại giao Ricardo Patino của Ecuador đã đồng ý cho Julia Assange  tị nạn chính trị mặc cho chính phủ Anh hăm dọa sẽ xông vào tòa đại sứ Ecuador để bắt Julia Assansse và dẫn độ ông ta về Thụy Điển trả lời chất vấn liên quan tới việc nước này đang điều tra và buộc tội ông ta về tội hiếp dâm.

(Theo đó, 2010, một nữ tình nguyện viên của Wikileak đã đồng ý làm tình với ông ta vào buổi tối, rạng sáng hôm sau khi cô ta đang ngũ, ông ta đòi làm tình với cô ta thêm lần nữa. Theo lời của cảnh sát Thụy Điển thì cô ta  không đồng ý, nhưng ông ta cứ làm tới và cũng không mang bao cao su. Luật của Thụy Điển cho rằng: nếu không mang bao cao su là hiếp dâm. Julia Assange cho rằng đây là cái cớ của chính quyền Thụy Điển muốn bắt giữ, dẫn độ ông ta và giao cho chính phủ Mỹ vì ông ta đã công bố các tài liệu mật của Mỹ lên internet.  Trước đó, một lính Mỹ đã giao tài liệu mật này cho Julia Assange, sau đó anh ta đã bị bắt và hiện đang bị chính phủ Mỹ truy tố ra tòa án quân sự.)

Bộ trưởng Ngoại giao Ricardo Patino của Ecuador noi’: “Tị nạn chính trị là một quyền cơ bản của con người. Luật quốc tế có thẩm quyền cao hơn luật địa phương. Và rằng Julia Assange có quyền “không bị dẫn độ hay bị trục xuất tới bất cứ một nước nào khác”

Julia Assange đã chạy vào trốn trong tòa Đại sứ Ecuador từ tháng 6 vừa qua  (và ăn ở trong tòa đại sứ  Ecuador từ  ngày đó cho đến nay. Cảnh sát Anh thì đứng canh trước tòa đại sứ ). 

Văn phòng Bộ Ngoại Giao Anh đã gọi hành động của Ecuadora cấp tị nạn chính trị cho Assange là “đáng tiếc”.

Vào ngày thứ Tư,  Bộ trưởng Ngoại giao Patino cho biết ông đã nhận được một lời hăm dọa bằng thư của Bộ Ngoại Giao Anh rằng “họ sẽ vào tòa đại sứ của chúng ta ở Luân Đôn nếu như Ecuador từ chối giao nạp Julia Assange cho họ”, Patino đã trả lời hôm thứ Tư rằng: “Chúng tôi muốn nói rõ rằng Ecuador hiện nay không phải là thuộc địa của Anh. Thời kỳ thuộc địa đã qua rồi”

Phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Anh đã trả lời rằng họ buộc lòng phải giao Julia Assange cho Thụy Điển. “Nước Anh có nghĩa vụ về mặt luật pháp để dẫn độ ông Assange về Thụy Điển để trả lời về tội liên qua tới tình dục và chính phủ Anh xác định là phải làm nghĩa vụ này. Theo luật pháp của Anh 1987, chúng tôi có thể gởi thông báo tới cho tòa đại sứ một tuần lễ trước khi chúng tôi đặt chân vào tòa đại sứ này, và khi đó tòa đại sứ Ecuador không còn được bảo vệ quyền miễn nhiễm ngoại giao. Nhưng chúng tôi chưa quyết định làm như thế. Chúng tôi muốn nhấn mạnh rằng chúng tôi muốn có một giải pháp thỏa thuận về mặt ngoại giao.”

Câu hỏi đặt ra là làm thế nào để Julia Assange thoát khỏi tòa đại sứ Ecuador, bước lên phi cơ ở phi trường nào, và bay qua Ecuador tị nạn chính trị. Hiện nay, cảnh sát Anh sẽ bắt giữ Julia Assange nếu thấy ông ta bước ra khỏi tòa Đại Sứ Ecuador.  

Ecuador grants Assange asylum

By Dylan Stableford, Yahoo! News 

Ecuador’s foreign minister announced on Thursday that they would grant asylum to WikiLeaks founder Julian Assange, defying threats by the British government to raid the Ecuadorean Embassy and extradite Assange to Sweden, where he is wanted for questioning in connection with alleged rape and sexual molestation cases.

“We have decided to grant political asylum to him,” Ricardo Patino said at the end of a long televised statement from the Ecuadorean capital of Quito, where he criticized the U.S. and U.K. governments for failing to protect Assange from political persecution.

“The countries that have a right to protect Assange have failed him,” Patino said. “[Assange] is victim of political persecution … If Assange is extradited to U.S., he will not receive a fair trial.”

“Asylum is a fundamental human right,” Patino said, adding that “international law” overrides local laws, and that Assange has “the right not to be extradited or expelled to any country.”

A crowd gathered outside the Ecuadorean Embassy in London, where Assange, a 41-year-old Australian native, has been holed up since June, to hear the verdict. At least one protester was arrested.

The U.K. Foreign and Commonwealth Office called Ecuador’s decision to grant Assange asylum “regrettable.”

It’s unclear what will happen to Assange now. U.K. authorities say his asylum is a violation of his probation–and there is reason to believe he would be arrested if he tried to leave the embassy.

Assange fears his extradition would lead him to be turned over to the United States, which has condemned WikiLeaks’ publication of classified documents. (Assange says the U.S. would charge him with espionage; the U.S. has not said whether or not it would pursue charges against him.)

On Wednesday, Patino said he received a “clear and written” threat from the United Kingdom that “they could storm our embassy in London if Ecuador refuses to hand in Julian Assange.”

“We want to be very clear, we’re not a British colony,” Patino said on Wednesday. “Colonial times are over.”

British officials said they are obligated to turn Assange over to Stockholm.

“The U.K. has a legal obligation to extradite Mr. Assange to Sweden to face questioning over allegations of sexual offenses and we remain determined to fulfill this obligation,” a spokesman for Foreign and Commonwealth Office said in response. “Under British law we can give them a week’s notice before entering the premises and the embassy will no longer have diplomatic protection. But that decision has not yet been taken. We are not going to do this overnight. We want to stress that we want a diplomatically agreeable solution.”

In a statement early Thursday, WikiLeaks condemned the U.K.’s threat:

A threat of this nature is a hostile and extreme act, which is not proportionate to the circumstances, and an unprecedented assault on the rights of asylum seekers worldwide.

In 2010, Swedish prosecutors in Stockholm issued warrants to question Assange about the alleged sex crimes involving a pair of former WikiLeaks volunteers. Assange claims the charges are part of an international smear campaign stemming from WikiLeaks’ publication of diplomatic cables.

Posted in Chinh Tri | Leave a Comment »

►Một Học Viện ở Thụy Sĩ đã phát hiện chất Polonium trong các đồ dùng của Yasser Arafat

Posted by hoangtran204 trên 04/07/2012

Một Học Viện ở Thụy Sĩ đã phát hiện chất Polonium trong các đồ dùng của Yasser Arafat.

Trần Hoàng dịch từ bản tin của Reuters ngày 3-7-3012

Những dấu vết của nguyên tố polonium cực độc đã được (các nhà khoa học Thụy Sĩ) phát hiện trong các đồ dùng của ôngYasser Arafat, vị tổng thống đầu tiên của nước Palestine. Ông đã bị quân đội Israel bao vây trong 2 năm 2002-2004, và rồi ông bị bệnh, được chở tới Pháp và chết một cách đột ngột trong bệnh viện ở Pháp vào năm 2004. Các bác sĩ của Yasser Arafat đã nói rằng ông ta đã chết vì bệnh tiểu cầu thấp và xơ gan.  Nhưng có nhiều nguồn tin cho rằng các bác sĩ Pháp đã không tìm ra nguyên nhân thật sự đã dẫn đến cái chết của ông Yasser Arafat. Lúc ấy, nhiều nguồn tin cũng nói rằng ông Arafat đã bị đầu độc.

Tài liệu cho thấy rằng áo quần, bàn chải đánh răng, và khăn choàng cổ của ông Arafat có chứa các lượng rất cao của chất polonium 210.  Các đồ vật này do vợ của ông Arafat cung cấp cho học viện Thụy Sĩ để làm xét nghiệm. Nhưng các triệu chứng lâm sàng  (các triệu chứng bác sĩ ghi nhận trong lúc khám) ông Arafat trong bệnh viện Pháp đã không giống như các triệu chứng của người bị ngộ độc chất polonium 210.

Polonium 210 cũng là nguyên nhân dẫn đến cái chết của cựu gián điệp người Nga, ông Alexander Litvinenko, ở Luân Đôn vào năm 2006

Francois Bochud, giám đốc của học viện ở Thụy sĩ, Institut de Radiophysique in Lausanne, Switzerland, nói rằng: tôi có thể xác nhận rằng chúng tôi đã đo đạt và tìm ra các lượng rất cao của chất polonium trong các đồ dùng của ông Yasser Arafat, và các đồ dùng này có chứa các dính các dấu vết của dịch của cơ thể. Ông Bochud còn cho biết  hiện chỉ còn cách là đào xác của ông Yasser Arafat lên, và thử nghiệm xem có chất polonium 210 trong hài cốt của ông ta hay không. Và cần phải làm cho nhanh vì chất polonium bị phần hủy theo thời gian.

(Nhiều người cũng nghi ngờ cựu Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã chết vào tháng 6 năm 2009 là do đầu độc. )

Swiss institute finds polonium in Arafat’s effects

Posted in Chinh Tri | Leave a Comment »

NÓI DỐI, Che Dấu Sự Thật, dùng Bạo Lực đàn áp người Dân là… “ĐẠO LÝ” ĐỂ TỒN TẠI!

Posted by hoangtran204 trên 08/04/2012

Nhạc sĩ Tô Hải năm nay 86 tuổi. Ông là người có  nhận xét rất sắc bén, óc phân tích và tổng hợp còn hơn lứa tuổi 30. Ông vẫn viết blog hàng tuần để chia sẻ những gì mà ông đã và đang sống trong một xã hội ưu việt, “dân chủ gấp triệu lần các nước tư bản” và được “lãnh đạo bởi các đỉnh cao trí tuệ của loài người” (đảng và nhà nước vẫn tự khen ngợi hàng ngày như thế trên các loa phường, để ngất ngưỡng tiếp tục lãnh đạo.  Thế mới tài.)  

“Chống Mỹ cứu nước” là sự dối trá vĩ đại nhất. Hơn 40 năm trước, khi Mỹ đang có mặt ở miền Nam, (cũng giống như Mỹ có mặt và đóng quân ở Tây Đức và Nam Hàn), đảng tuyên truyền “Ta phải đánh quân xâm lược Mỹ và đuổi Mỹ về nước giải phóng Miền Nam khỏi tay Mỹ Ngụy”.

Kết quả, cuộc chiến kéo dài 20 năm, với tổn thất nhân mạng như sau: 5 triệu bộ đội miền Bắc đã chết, 500 000 ngàn lính miền Nam hy sinh trong cuộc chiến và trong các trại tù cải tạo, và 58 000 lính Mỹ chết tại VN. Tính theo tỷ lệ 100/10/1 . Nghĩa là  mỗi 100 bộ đội chết thì có 10 lính VNCH và 1 lính Mỹ chết.

Đánh đuổi Mỹ Ngụy để làm gì mà nay thì muốn: Đẩy Mạnh Hơn nữa Quan Hệ Việt Mỹ,  và  “đánh thắng giặc Mỹ để xây dựng chế độ xã hội chủ nghĩa” làm cái gì mà năm 2012 Thủ tướng Ng Tấn Dũng đang cầu khẩn “Thủ tướng đề nghị các thượng nghị sỹ tác động để Chính phủ Mỹ sớm công nhận (VN là) nền kinh tế thị trường và trao đổi (xin được hưởng) quy chế ưu đãi thuế quan phổ cập (GSP) cho Việt Nam” (nguồn) và sợ nước Mỹ quên, nên qua  tận nước Mỹ để nhắc nhở và xin xỏ cho du học sinh qua học… quân xâm lược Mỹ, và xin được giặc Mỹ cho miễn thuế (nguồn)

Sự nói dối của đảng càng ngày càng được dân chúng nhìn thấy rõ hơn kể từ khi có sự phổ biến internet ở VN.  Nhiều blogger đã phân tích và trình bày ra các chứng cớ lịch sử, cho thấy sự tuyền truyền vu khống giả dối, chính sách bạo lực,  và vạch trần sự gian dối trong suốt hơn 80 năm lịch sử hình thành của đảng, và tố cáo các sự kiện gian lận mập mờ mà đảng và chính phủ  đã và đang cấu kết với Trung Quốc từ năm 1951,  làm mất đất đai, biển đảo, cướp đất của nông dân, và thêm vào đó là tổ chức và chỉ đạo cho cấp dưới đàn áp đánh đâp tù đày những ai dám lên tiếng. Khi còn sống, ông Tổng bí thư Trường Chinh có nói:

“Chúng ta đang ở trong tình trạng nói dối phổ biến, nhưng không ai tự nhận mình nói dối cả!”

Nhật ký mở về 1001 kiểu… nói dối!

Nhạc sĩ Tô Hải

Ngày 2 tháng 4/2012

NÓI DỐI! NÓI LÁO KHÔNG NGỪNG “HOÀN THIỆN”

Từ ngàn đời nay, có lẽ trên đất nước Việt Nam này, không có một một gia đình nào, một chế độ nào lại giáo dục cho con em, cho công dân mình đừng có sống trung thực và phải biết… nói dối! giỏi nói dối! nói dối tỉnh bơ! nói dối không biết ngượng! nói dối càng nhiều thành tích càng cao!

Là một chuyên gia… “nói dối có tổ chức, có chỉ đạo” suốt gần 30 năm trời, mình quá rành 1001 kiểu nói dối mà chính bản thân mình và bạn bè mình đã lấy nói dối lem lẻm (by Nguyễn Khải), nói dối “cứ như không” làm nhiệm vụ hàng ngày, ngay cả khi biết mình đang nói dối đồng bào nhưng vẫn cứ phải nói dối vì không nói dối mà nói thật thì… mất miếng cơm, mất chiếc ghế và có khi mất cái mạng như chơi!

Cũng vì thế, khi quyết tâm giã từ nói dối để nói lên sự thật và chỉ có sự thật thì cũng là lúc mình chấp nhận MẤT TẤT CẢ những gì mà do nói dối mà mình ĐƯỢC, chấp nhận tất cả những sự chụp mũ, lên án, vu cáo… kể cả chấp nhận việc đi tù vì TỘI VẠCH TRẦN SỰ NÓI DỐI BẰNG SỰ THẬT!

Mình cũng có nhiều thời giờ để suy nghĩ về cả nửa thế kỷ sống chung với nói dối, để “ngửi” thấy ngay sự nói dối dù chỉ ở một từ, một cụm từ thậm chí một tính từ, trạng từ “mới lạ”, nó báo hiệu cho một loạt sự nói dối mới sẽ ra đời mà các học viện báo chí còn phải bổ sung để giảng dạy cho sinh viên… mệt nghỉ!

Chính mình cũng có lúc nuôi hoài bão làm một cái “luận án về sự nói dối” để lại cho đời sau, một “hệ thống lý luận” về sự “nói dối có tổ chức” độc nhất vô nhị trên thế giới này! Nhưng… xét thấy khả năng hạn chế và nghĩ ra thì… muộn quá mất rồi! Quỹ thời gian và sức khỏe không cho phép nữa!…

Nói đùa cho vui ư? – Không!

Này nhé:

Chỉ riêng hai cái chữ NÓI DỐI ở xứ ta nó muôn hình muôn vẻ: Nói dối mới đầu được hiểu rất nhẹ nhàng. Mới đầu, đó chỉ là: “Không nói thật” hoặc “Biết sự thật mà không nói” hoặc nói “sai sự thật”!….

Đôi khi Nói Dối cũng có cái “đáng yêu” của nó! Ví dụ “Nói dối để người thân được yên lòng” như trường hợp bác sĩ đã cho biết chồng mình ung thư giai đoạn cuối nhưng bà vợ vẫn cắn răng nói với chồng: ”Không sao đâu! anh sẽ khỏe lại mà!”.

Nhưng cũng chính từ cái quan niệm “dễ thương” đầy tính nhân văn này mà nói dối đã phát triển tới mức trở thành “nghệ thuật”, thành “nguyên tắc”, thành “đường lối”, “chính sách”, “nghị quyết”… cần chấp hành để “tuyên truyền”, “giáo dục tư tưởng” cho toàn dân!

Nó xuất phát từ cái đường lối cơ bản: CÁI GÌ CÓ LỢI CHO CÁCH MẠNG THÌ LÀM, bất kể là nói dối, nói láo, nói phét, nói đại, nói lấy được… đến mức nào cũng không hề là sai trái!

– Mình cứ nghĩ đến cái thời phải chứng kiến thảm họa cải cách ruộng đất chấn chỉnh tổ chức mà… xấu hổ cho cái thân thằng văn nghệ sĩ gọi là “cách mạng” ở xứ Bắc Kỳ! Hàng ngày bao nhiêu đồng bào, đồng đội và cả gia đình vợ mình bị đấu tố láo, bị treo lên cây, bị đánh, bị chôn sống, bị bắn ngay tại chỗ ngay trước mắt mình! Ấy vậy mà, sau khi có chủ trương vận động sáng tác, anh nào anh ấy cũng cố “rặn” cho ra một bài thơ, một bản nhạc thậm chí cả một cuốn tiểu thuyết để ca ngợi cuộc “cách mạng long trời lở đất” đáng nguyền rủa đó! (để khỏi bị coi là không có lập trường giai cấp và có thể bị lôi ra đấu tố bất cứ lúc nào).

– Mình cũng nghĩ đến cái thời “xây dựng xã hội chủ nghĩa, chiếu cố miền Nam” hàng vạn bài báo, tác phẩm gọi là “văn học nghệ thuật” đã tham gia vào cuộc “đại nói dối” về tính ưu việt của những phong trào “Sóng duyên Hải”, ”Gió Đại Phong”, “Cờ ba nhất”! Ngợi ca về “tính hơn hẳn” khi “người cầy có ruộng”. Chẳng quá một năm thì việc tước đi quyền “Người cầy có ruộng” để mang luôn cả trâu bò vào Hợp Tác Xã, cùng với chủ làm ăn tập thể, ăn công chấm điểm cũng lại là một lần hơn hẳn nữa của việc tập thể hóa!

-Và Cuộc “Nói Dối Vĩ Đại” nhất là cuộc chiến tranh giải phóng Miền Nam khỏi tay Đế Quốc Mỹ Xâm Lược!

Sự Thật đã bị đánh tráo quá trắng trợn! Hàng triệu con người đã mất xác đến nay đa số vẫn chưa thể tìm ra, hàng vạn thương phế binh của cả hai miền, hàng triệu gia đình mẹ mất con, vợ mất chồng, con mất cha chỉ vì… “ta đánh đây là đánh cho Liên Xô, cho Trung Quốc” (lời Lê Duẩn)…

Cuộc nhuộm đỏ miền Nam đã được công khai tuyên bố khi người ta đổi tên nước là nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam và đàng hoàng đổi tên Đảng Lao Động thành Đảng Cộng Sản Việt Nam! Đó là Lần nói thật đầu tiên nhưng ngắn ngủi vì phải… tiếp tục nói dối, nói dối nữa, nói dối mãi vi… không có cách nào khác để tồn tại…

– Sau “Đổi Mới” (như cũ) mà ông Đỗ Mười kể công là “Nhờ có Đảng nên mới có Đổi Mới” thì cái chính sách “ăn có nói không” (một biến tướng của nói dối) càng ngày càng phát triển! Xuất phát từ cái đường lối đầy mâu thuẫn “Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”, nói dối trở thành liều thuốc duy nhất xoa dầu, tô vẽ cho con quái vật kinh tế-chính trị chưa từng có trong lịch sử loài người này…

Ngày 3 tháng 4/2012

KHI NÓI DỐI TRỞ THÀNH… “ĐẠO LÝ” ĐỂ TỒN TẠI!

Ở cái xứ này, khi những đứa trẻ lên năm, bắt đầu biết suy nghĩ là chúng đã được tiếp xúc ngay với… nói dối! Người ta dạy cho nó ở ngay những bài hát mẫu giáo rằng thì là: “Nhân dân ta có Đảng cuộc đời nở hoa”, rằng “Bưng bát cơm đầy nhờ có công ơn Đảng ta”…

Lớn lên chút nữa thì: “Đảng đã cho ta một mùa xuân”, “Đảng đã cho tôi sáng mắt sáng lòng”.

Còn nếu chúng có thắc mắc tại sao cha, anh, chú cùng đi B cả mấy năm trời mà báo, đài vẫn tuyên bố “Không có chuyện quân đội miền Bắc xâm nhập miền Nam” và “đây là điều vu cáo trắng trợn” thì… thầy, cô, mẹ, chị chúng chỉ còn biết giải thích: “Đây là chủ trương của Đảng và Nhà Nước”… Còn về chuyện tại sao đánh nhau mà quân ta không thấy có ai chết, cứ đã đi là thắng, trăm trận trăm thắng”? thì… chẳng còn cách nào giải thích khác hơn là: “nói dối để chiến thắng kẻ thù, nói dối để có lợi cho cách mạng!”…

Và cứ thế, ngày này qua ngày khác, năm này qua năm khác, trẻ em, người lớn cứ sống chung với chuyện nói không thành có, nói có thành không…”Đói khổ, thiếu thốn là do Đế Quốc Mỹ”, “hạt bắp, củ mì bổ hơn gạo”, “con nhộng bổ hơn thịt bò”… dần dần đã trở thành nếp sống, nếp suy nghĩ, lẽ sống thậm chí phương tiện sống của không ít người. Điển hình nhất là những “kỹ sư tâm hồn”, càng sáng tác ra nhiều tác phẩm “nói dối như thật” càng mau tiến tới đỉnh vinh quang của địa vị và tiền bạc! Chẳng thế mà Nguyễn Khải đã để lại một tùy bút chính trị “Đi tìm cái tôi đã mất” vang dội khắp thế giới; mà Chế Lan Viên đã có bài thơ “Tôi? Ai?” thú thật về cái tội “luôn động viên xung phong” khi gặp anh chiến sĩ sống sót ngồi bán nước bên đường nuôi con nhỏ”… trong số năm mươi người còn sót lại trong 3.000 người xuống núi” năm nào?

Cũng thật là buồn, là nhục… khi tới hôm nay, một số kẻ vẫn ôm lấy cái số tác phẩm nói dối hoành tráng cực kỳ mà chăng ai còn thèm đọc, thèm dùng đó để kể công kiếm chút ân huệ cuối cùng, mặc dầu đã biết là giải thưởng này nọ chỉ là cái “bia mộ sang trọng cắm lên một cuộc đời văn học nghệ thuật đã kết thúc!” (Nguyễn Khải)

Còn những Lưu Hữu Phước phải đổi tên thành Huỳnh Minh Siêng, Hoàng Việt thành Lê Trực, Nguyễn Ngọc Tấn thành Nguyễn Thi, Bùi Đức Ái thành Anh Đức… những Đài Phát Thanh Giải Phóng, Xưởng Phim Giải Phóng, Nhà xuất bản Giải Phóng với những cái tên Nguyễn Thơ, Y Na, Hương Lan, Lưu Nguyễn-Long Hưng (và cả mình với cái tên Tô Sơn Hà khi viết phim “Đường 9 Nam Lào”)… và nhiều nhiều nữa những cơ quan, những tên tuổi “đội lốt” cứ sống với dối trá như hít thở không khí vậy!

Làm sao mà con em, mà nhân dân không bị lây nhiễm cái không khí dối trá, khắp nơi, nói dối, nói láo là lẽ sống, là phương tiện sống của mấy thế hệ con người…

Ngày 4/4/2012

Tối qua, ghi vào sổ tay những “biến tấu” của nói dối mấy chục năm qua để gõ nốt mấy trang nhật ký tiếp nối thì thấy: Quá phức tạp và quá sức tiếp tục nếu mỗi “biến tấu” chỉ cần giải thích độ một vài dòng.

Này nhé: NÓI DỐI khác NÓI LÁO ở chỗ nào? NÓI LÁO khác NÓI BẬY ở chỗ nào? Còn NÓI PHÉT? NÓI CỨNG? NÓI LĂNG NHĂNG? NÓI NƯỚC ĐÔI? NÓI TẦM PHÀO? NÓI LEO? NÓI LÈO, NÓI LƯƠN LẸO? NÓI ẤP ÚNG? NÓI LOANH QUANH? NÓI LẤP LỬNG, NÓI XA- NÓI GẦN, NÓI ÚP MỞ, NÓI LẤY ĐƯỢC, NÓI DỰNG ĐỨNG, NÓI TRẮNG TRỢN,… và càng đào sâu càng tìm thấy nhiều nhiều kiểu TRỐN TRÁNH SỰ THẬT bằng muôn vàn cách nói dối để cuối cùng đành tạm dừng ở cách nói dối cuối cùng khi muốn che giấu SỰ THẬT là:… CHẲNG NÓI GÌ! hoặc CẤM NÓI khi mạng thông tin toàn cầu Internet đang phát triển tới mức chỉ trong 1/10 giây một SỰ THẬT THẬT đã được thông báo đến tận từng nhà, từng người!

Vì vậy, những cơ quan chuyên sản xuất ra các “đường lối, phương pháp nói dối” càng ngày càng phải nghĩ ra nhiều thứ lý luận nói dối hiện đại hơn thức thời hơn…

Ngày 6 tháng 4 năm 2012

CHƠI TRÒ CHỮ NGHĨA ĐỂ GIẤU SỰ THẬT?

Nếu tinh ý, người đọc sẽ thấy: Sau Hội Nghị Chấn chỉnh ở Quảng Ninh, báo chí, Đài, Tivi bắt đầu chuyển giọng điệu khá nhanh chóng và rõ rệt. Một số từ, cụm từ mới, rõ ràng đã được mang ra sử dụng sau khi có chỉ thị của các “Anh trên” là “không được thông tin một chiều (?) là thiếu khách quan, là phải dựa vào nguồn tin chính thống”… thì ngay sau đó báo in và báo mạng lề Đảng có những cái tít “lạ” tỏ vẻ “khách quan” hơn trước mọi thông tin “không hay ho” lắm cho uy tín của các tổ chức, cá nhân do Đảng- Nhà Nước lập cơ cấu nên!

Ví dụ:

– “EVN chưa báo cáo nên chưa thể khẳng định”, trả lời có tính chất “nói lại cho rõ” về các bài báo vạch ra “EVN lỗ giả, lãi thật”

– Tập đoàn Sông Đà “sai phạm” hơn 10.000 tỉ đồng! Sai phạm? Sai phạm là cái quái gì??? Là Biển thủ? Ăn Cắp? Thất thoát? Lãng Phí?…. tất cả đang còn bỏ ngỏ chờ luồng thông tin chính thống!

– Lãnh đạo xã Vinh Quang (huyện Tiên Lãng, Hải Phòng) tiếp tục công tác ở vị trí cũ!? Riêng quan huyện Hiền thì về Tỉnh làm… chuyên viên (?) (thông cáo báo chí của UBND TP Hải phòng). Về việc “thực hiện kết luận của Thủ Tướng” Về vụ án phá nhà anh Vươn thì… một từ “lạ” mới được sáng tạo: cái nhà của anh Vươn, từ lúc bị hạ bậc thành cái “chòi” bây giờ lại trở thành cái “nhà trông đầm” chứ không phải là nhà để ở, bằng chứng đưa ra là: anh Vươn không có hộ khẩu ở nơi anh khai thác! Đã thế lại còn khai thác quá diện tích, trốn thuế, phá rừng…! Mọi phản ứng lại với cuộc họp báo này không có một chữ như trước Hội Nghị Quảng Ninh!!!

– Về vụ rò rỉ đập Sông Tranh 2, ông Thứ trưởng bộ Công Thương Hoàng Quốc Vượng tuyên bố hùng hồn trước báo chí: “Khẳng định đập Sông Tranh 2 vẫn an toàn, ổn định” và…..” Chắc chắn không xảy ra sự cố nào làm nguy hại đến tài sản và tính mạng của nhân dân”… Và cứng cựa hơn: “Chúng tôi chịu trách nhiệm về lời tuyên bố này!!!” Luồng “thông tin chính thống” như thế thì sức mấy mà báo chí, sau chuyến chấn chỉnh ở Quảng Ninh, dám đăng những bài như bài của tiến sĩ Tô văn Trường, và một loạt bài của các chuyên gia trong và ngoài nước khác yêu cầu tháo nước để sửa chữa tận gốc!

– “Phong bì” – Vấn nạn của doanh nghiệp (thay cho chữ Hối Lộ”!)

– Nhiều “sai phạm” trong quản lý đất đai ở Sóc Trăng… nhưng chỉ có bốn cơ quan và 5 cá nhân không được phép nêu tên được…. đề nghị kiểm điểm!

– “Thanh tra tập đoàn dầu khí-Xử lý tài chính trên 18.200 tỉ đồng” (?!) Xử lý tài chính là cái trò gì? Thu hồi? Bắt đền? hay Phân phối lại? mười tám ngàn hai trăm tỷ (18.200.000.0000) VND của dân mà viết cứ ỡm ờ như xử lý qua quít vài cân thịt siêu nạc bắt quả tang ở Đồng Nai?!

– Và gần đây nhất: Tất cả mọi phương tiện truyền thông đều đồng loạt… IM LẶNG trước việc đồng chí Xăm-Béc thủ tướng Hun Xen, chủ tịch Hội Nghị cấp cao ASEAN đã cho VN ăn “quả đắng” hoặc bị trúng gió Tàu (mà báo chí thế giới đã nói thẳng (do áp lực của Hồ Cẩm Đào và món quà hơn 1 Tỷ Đô-la nhận được trong cuộc viếng thăm “có ý đồ” trước ngày khai mạc Hội Nghị Cấp Cao ASEAN đúng 3 ngày) bằng hành động GẠT PHẮT việc thảo luận về hành động ngang ngược ở Biển Đông của TQ ra khỏi chương trình nghị sự (!), thậm chí có báo nước ngoài còn cho là “Trung Quốc đã thành công trong việc tách bó đũa ra từng chiếc” hoặc “Khối ASEAN đã bị chia rẽ trong vấn đề Biển Đông”… v.v… thì “Tiếng Nói của Ta” là…” IM BẶT”! Hoặc đưa tin chung chung, trừ việc lần này không có câu “Hội Nghị đã thành công tốt đẹp” như thường lệ! (Đọc “Asia Bloc Slit on Disputers with China” trên Asia News của Wall Street Journal ngày 4/4/2012 ở đây)!

DOC vẫn là DOC, COC không thể ra đời do Kampuchia không tán thành nếu ASEAN thảo luận một mình COC không có Trung Quốc!

Thông tin “khách quan”, “không cảm tính”, “không một chiều” “theo hướng chủ đạo chính thống” là thế đấy!

Gọi tên cho đúng những hiện tượng trốn tránh Sự Thật mới lạ này là gì? Xin nhường cho mọi người! Mình quá mệt mỏi rồi!

Nguồn Danluan.org

*1. Tôn Thất Khanh (khách viếng thăm) gửi lúc 08:12, 08/04/2012 – mã số 55809

Có nhà sử học nước ngòai đã tổng kết về Đảng CS VN như sau: Ra đời trong nghèo khó, trưởng thành trong đấu tranh, TỒN TẠI TRONG LỪA DỐI VÀ BẠO LỰC, chết đi trong ngu dốt và bất lực.

CNCS ở đâu cũng dối trá bịp bợm, giả dối, tàn ác dã man và ngu dốt. Bản thân những người CS cũng biết như vậy, nhưng họ không tự rèn luyện, không tự cải tạo mình, mà họ cho đó là sách lược, đường lối để tồn tại, khi họ nói dối thì họ lại KẾT TỘI NGƯỜI NÓI THẬT, vì NÓI RA SỰ THẬT TỨC LÀ TỐ CÁO TỘI ÁC VÀ XẤU XA CỦA CS.

Mặt khác nói lên nửa sự thật cùng là nói dối, có người đã viết ăn nửa cái bánh mì là ăn bánh mì, hút nửa điếu thuốc là hút thuốc, nhưng nói nửa sự thật là nói dối, ví dụ này thì dễ hiểu: Trên khán đài sân bóng đá, rất vắng người xem, chỉ có khỏang 100 người xem ngồi tụ tập một chỗ, nếu chĩa ống kính vào chỗ tập trung 100 người xem thì tưởng khán giả xem đông lắm.

NHiều trận đánh, quân ta chết như rạ, nhưng (trong sử ký viết cho học sinh cấp 1, cấp 2, cấp 3 học) không nói (số thương vong của bộ đội) mà chỉ nói địch chết.

CS còn có kiểu nói như vẹt, nói mà không hiểu nghĩa mình nói gì và nói quẩn, chứng minh ngay: “Ta độc lập trong phe XHCN do Liên xô lãnh đạo”, “Ta theo CN Mác Lê nin và tư tưởng HCM, tư tưởng HCM là độc lập dân tộc gắn liền với CNXH”, “Ta có nguy cơ chệch hướng”. Có người hỏi: biết ngu cơ chệch hướng, vậy thế nào là đúng hướng? Người nói chịu chết, không biết cách giải thích.

Có một nghịch lý trong cái xã hội CS này là người nói đúng , nói thật thì bị kết tội, có khi bị bỏ tù, còn những kẻ nói dối, nói ngu, nói như vẹt, nói không hiểu mình nói gì thì cứ lên chức, lên lương vù vù.

2.*Thường Dân (khách viếng thăm) gửi lúc 16:29, 08/04/2012 – mã số 55823

Xin đính chính thông tin : “Lưu Hữu Phước phải đổi tên thành Huỳnh Minh Siêng, Hoàng Việt thành Lê Trực”.

1/Huỳnh Minh Siêng là tên ghép bí danh của 3 người: Huỳnh Văn Tiểng (Huỳnh), Mai Văn Bộ (Minh), Lưu Hữu Phước (Liên, sau là Siêng). Nếu bạn nào muốn biết tại sao, xin đăng vào mục trả lời, có thể xem hồi sau sẽ rõ. Nhiều bài trên internet đồng nhất Lưu Hữu Phước với Huỳnh Minh Siêng, chỉ đúng 1/3 thôi.

2/Lê Trực là tên khai sinh, Hoàng Việt là bút danh của nhạc sĩ tài ba này(tác phẩm Tình ca của ông được đánh giá là tình khúc hay nhất VN thế kỷ 20). Có một nhân chứng chắc hơn bắp, nếu cần cứ liên lạc với trường ĐH Sân Khấu – Điện ảnh TP. HCM khắc biết.

——————————————————————————————–

Tôi hoan nghênh một nửa TT Dũng và cực lực phản đối nửa kia !

Bùi Minh Quốc

Một nửa mà tôi hoan nghênh là hình ảnh thủ tướng khi đến thăm đại tướng Võ Nguyên Giáp ngày 07.05.2009 đã nói với đại tướng: “Chính phủ xin tiếp thu ý kiến của đại tướng về dự án bô-xít Tây Nguyên”.

Nửa kia mà tôi cực lực phản đối là hình ảnh thủ tướng trong cuộc tiếp xúc với cử tri Hải Phòng ngày 09.05.2009 lại khẳng định: “đưa ngành công nghiệp khai thác quặng bô-xít trở thành một ngành công nghiệp lớn của đất nước; góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế-xã hội vùng Tây nguyên”, nghĩa là ngược hẳn với ý kiến đại tướng mà 2 ngày trước thủ tướng vừa trịnh trọng tuyên bố tiếp thu.

Ý kiến của đại tướng là rất rõ ràng và dứt khoát, đã nhắc đi nhắc lại nhiều lần: không nên khai thác bô-xít Tây Nguyên. Đây là một ý kiến đúng; đúng với các kết luận khoa học, đúng với chủ trương của Đảng trước đại hội 9, đúng với chủ trương “hạn chế xuất khẩu tài nguyên thô” ghi trong báo cáo chính trị của đại hội 9, và bao trùm lên tất cả là đúng với lòng dân, ý dân, chí dân, bày tỏ bước đầu qua hàng ngàn chữ ký đã được gửi đến Quốc hội, chính phủ, và hàng nghìn người đang tiếp tục ký.

“Tiếp thu” nghĩa là chân thành tiếp nhận nhằm thực hiện theo điều đúng, sửa chữa điều sai.

Thấy hiện ra một tình hình ngược nhau giữa ý kiến của đại tướng Võ Nguyên Giáp – cũng là của đa số đảng viên và nhân dân – với chủ trương của Bộ chính trị.

Chủ trương của Bộ chính trị hiển nhiên là sai, sai từ gốc, rất nghiêm trọng, lại càng trở nên hết sức nghiêm trọng khi hợp tác với Trung Quốc.

Trước đại hội 9, không có chuyện bô-xít, vì, như đại tướng Võ Nguyên Giáp đã nêu rõ, sau khi cân nhắc kỹ ý kiến tư vấn của chính phủ Liên Xô (lúc ấy là bạn chí thiết, luôn là nước giúp đỡ lớn nhất cho Việt Nam và đang rất cần nhôm), ta không chủ trương khai thác bô-xít ở Tây Nguyên.
Tại đại hội 9, chữ “bô-xít” – mà nay đang vang lên nhức nhối hàng ngày hàng giờ trong lòng mỗi người dân Việt – chỉ xuất hiện, có vẻ như thoáng qua, trong báo cáo kinh tế. Còn trong báo cáo chính trị, một văn kiện quan trọng bao trùm, thì ghi rõ “hạn chế xuất khẩu tài nguyên thô”. Các đại biểu đại hội Đảng lần thứ 9 khi biểu quyết thông qua các văn kiện, liệu có mấy người hiểu được ý nghĩa tiềm ẩn của cái chữ “bô-xit” chìm lẫn giữa hàng loạt tên các tài nguyên khác trong báo cáo kinh tế ? Chắc là không có mấy người.Nhưng Bộ chính trị, ít nhất là các ủy viên chủ chốt trong bộ chính trị thì hiểu.Và 6 tháng sau thì cái ý nghĩa tiềm ẩn ấy bắt đầu bộc lộ khi chữ bô-xít xuất hiện trong thông cáo chung Nông Đức Mạnh – Giang Trạch Dân ngày 03 tháng 12.2001.

Tuy hai nước Việt – Trung đã có quan hệ ngoại giao bình thường, nhưng thế lực bành trướng Bắc kinh vẫn không ngừng xúc tiến chiến lược bao vây, xâm lấn, xâm nhập phá hoại nhiều mặt nhằm kiềm chế, khống chế đi tới thôn tính đất nước ta.Trung Quốc đại lục với Đài Loan tuy xung khắc nhau về chính trị nhưng lại đồng hành trong chủ nghĩa bành trướng (gần đây thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh, thiếu tướng Lê Văn Cương, kỹ sư Doãn Mạnh Dũng lại nhấn mạnh và nêu thêm những cảnh báo cập nhật).Bộ chính trị biết rất rõ điều đó, thế thì tại sao tổng bí thư Nông Đức Mạnh lại tự tiện đem một nguồn tài nguyên quốc gia quan trọng trên một địa bàn chiến lược hiểm yếu vào bậc nhất để hợp tác làm ăn với thế lực ấy ? Khi ký thông cáo chung này, tổng bí thư Nông Đức Mạnh đứng trên lập trường chính trị nào ? Lập trường Tổ Quốc trên hết, quyền dân trên hết, hay lập trường ý thức hệ giai cấp là thống soái, bộ chỉnh trị là cơ quan quyền lực trùm lên đất nước, Quốc hội trong thực chất cũng chỉ là cơ quan thừa hành của Bộ chính trị ?

Sau thông cáo chung nêu trên, việc hợp tác với Trung Quốc khai thác bô-xít Tây Nguyên đã được âm thầm xúc tiến theo qui trình lộn ngược một cách khuất tất, đến khi lộ ra thì mọi người mới giật mình trước tình trạng mà đại biểu quốc hội Dương Trung Quốc gọi là “việc đã rồi”.Xin mời đọc lại những dòng tâm huyết gửi Bộ chính trị của thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh, nguyên đại sứ nước ta tại Trung Quốc từ năm 1974 đến năm 1989: “… mãi đến gần đây được đọc thư của Đại tướng Võ Nguyên Giáp và hàng trăm ý kiến không đồng tình của các nhà khoa học, cán bộ và người dân ở khắp Bắc – Trung – Nam, tôi mới biết ta đồng ý cho Trung Quốc khai thác bauxit ở Tây Nguyên. Nguy hiểm quá !”.

Tôi (BMQ) xin nhắc lại: “Nguy hiểm quá!”
Chủ thể gây ra tình hình nguy hiểm ấy là ai ? Là Bộ chính trị.

Cùng với tiếng than sửng sốt của vị tướng lão thành cách mạng 70 tuổi đảng là tiếng cảnh báo gay gắt khẩn thiết của nhiều nhà khoa học, nhà văn hóa, nhà quân sự : đây là thảm họa hủy diệt môi trường thiên nhiên và văn hóa, gây xáo động xã hội, là tạo chỗ đứng chân cho thế lực bành trướng tại mái nhà Việt Nam và Đông Dương.

Theo tôi, Bộ chính trị đã phạm mấy sai lầm hết sức nghiêm trọng như sau :

– Làm ngược lại chủ trương của Đảng trước đại hội 9 và trái với báo cáo chính trị của đại hội 9.
– Xa rời lập trường dân tộc, làm hại cho đất nước, làm lợi cho thế lực bành trướng, vi phạm Hiến pháp, luật pháp, tự cho mình vượt quyền cơ quan quyền lực cao nhất là quốc hội để đem tài nguyên quốc gia đi hợp tác với một đối tượng đang chiếm đóng một phần lãnh thổ nước ta.
– Không chấp hành chủ trương dân biết dân bàn của Đảng, đặt toàn Đảng toàn dân trước một việc đã rồi, giấu diếm nhân dân để làm việc sai trái.

Các việc làm sai trái nêu trên không diễn ra đơn lẻ, tình cờ, mà diễn ra một cách có hệ thống liên quan chặt chẽ với các việc sai trái khác như :

– Dung túng cho tổng cục 2 tiến hành hoạt động phá hoại có hệ thống kéo dài
– Phá hội trường Ba Đình, một di tích lịch sử liên quan đến chủ tịch Hồ Chí Minh và nhiều sự kiện trọng đại của Đảng và Nhà nước (tôi chắc rằng cái ngày mà mảng tường đầu tiên của hội trường Ba Đình vỡ toang dưới những nhát búa choòng trong tay các công nhân Việt Nam thì mấy ông trùm bành trướng ở Bắc kinh rung đùi nâng cốc bảo nhau : Hảo lớ ! Việt Nam lại vừa được ban cho một bài học nữa, nhưng lần này do chính Hà Nội thực hiện tại Ba Đình lịch sử !).
– Mở rộng Hà Nội một cách vô căn cứ.
– Đàn áp những người biểu tình chống giặc bành trướng xâm chiếm Hoàng Sa Trường Sa.Trong lịch sử dân tộc ta, lần đầu tiên có một triều đại tự nhận là yêu nước lại đàn áp người dân xuống đường bày tỏ lòng yêu nước !
– Cấm đoán việc tái bản và xuất bản các công trình nghiên cứu, các tác phẩm văn học nghệ thuật về đề tài chủ nghĩa bành trướng Trung Quốc, về cải cách ruộng đất và chỉnh đốn tổ chức, về cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam và giúp nước bạn Cam-pu-chia thoát họa diệt chủng, về cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc, về cuộc chiến chống bành trướng Trung Quốc trên biển Đông…, trong khi đó thì vừa dung túng cho nhà xuất bản Văn Học in trên bìa 4 cuốn “Ma chiến hữu” những lời ca tụng cuộc chiến tranh Trung Quốc xâm lấn nước ta năm 1979 lại vừa đàn áp nhà xuất bản Đà Nẵng, báo Du lịch vì 2 cơ quan này đã mạnh dạn đề cập đến các đề tài nêu trên, đồng thời suốt nhiều năm dài kể cả trong dịp kỷ niệm 30 năm (1979 – 2009) lại không tổ chức tưởng niệm xứng đáng các liệt sĩ đã hy sinh tại các mặt trận ấy.Tất cả những việc làm đó gây hậu quả rõ rệt là làm suy yếu tinh thần chiến đấu của quân đội ta, nhân dân ta, suy yếu nội lực dân tộc.

Bảo rằng khai thác bô-xít Tây Nguyên là chủ trương lớn của Đảng, vậy mục tiêu dân chủ ghi trong di chúc của chủ tịch Hồ Chí Minh và trong cương lĩnh chính trị từ đại hội Đảng lần thứ 9 không phải là chủ trương lớn ư ? Nhìn thẳng vào sự thật, nói đúng nói rõ sự thật, dân biết dân bàn công khai, đó không là chủ trương lớn ư ? Bộ chính trị hầu như không làm gì để thực hiện mà lại luôn hoạt động chống lại các chủ trương lớn ấy, trong khi ngấm ngầm và hối hả lao vào xúc tiến “chủ trương lớn” khai thác bô-xít Tây Nguyên bất chấp bao nhiêu cảnh báo và phản đối.

Còn nhiều vấn đề nghiêm trọng khác nữa, tôi chỉ nêu một số việc nổi cộm nhất.

Tóm lại, theo nhận xét của riêng tôi, các việc làm của Bộ chính trị mà tôi vừa kể chính là hành vi nội xâm, là hành động Lê Chiêu Thống hiện đại núp sau thẻ đỏ ngồi giữa nhà đỏ. Bộ chính trị cần “tự xem lại mình” (cụm từ của ủy viên Bộ chính trị Nguyễn Minh Triết) xem có đúng thế không ? Tôi thấy sự thật đúng là như thế, một sự thật đau lòng chưa từng có trong cuộc đời tôi, mà chắc chắn là cả trong cuộc đời đại đa số đảng viên và toàn thể những người dân Việt đã một lòng theo Đảng.

Trong Bộ chính trị có bao nhiêu phần trăm biểu quyết tán thành các quyết định sai lầm nêu trên ? Bao nhiêu phần trăm không tán thành ? Tôi chưa biết.Nhưng bây giờ thì thấy ít nhất có một nửa thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng biểu thị thái độ muốn nhích chân tách khỏi trách nhiệm về các quyết định sai lầm đó để đến đứng gần hơn với đại tướng Võ Nguyên Giáp, với nhân dân.Nhiều anh em bảo tôi, cái nửa này là giả, cái nửa hiện ra ở Hải Phòng mới là thật, nhưng tôi cứ tạm tin lời phát biểu của thủ tướng với đại tướng Võ Nguyên Giáp hôm 07.05.2009 là thật lòng, vì thủ tướng từng tuyên bố rất hùng hồn: “Tôi ghét nhất sự dối trá” .

Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết, tác giả của lời phát biểu gây được nhiều chú ý/thiện cảm “tôi thấy cần phải tự xem lại mình” bây giờ đang nghĩ gì? Ông thuộc vào cái phần trăm đa số hay phần trăm thiểu số trong Bộ chính trị?

Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng thì tỏ rõ một thái độ công chức chỉn chu và lạnh lùng: “Không phải bất kỳ vấn đề nào cũng đưa ra lấy ý kiến của Quốc hội mà còn tùy thuộc vào quy mô, tầm cỡ của các dự án. Trong khi đó, quy mô mỗi dự án bô-xít Tân Rai và Nhân Cơ mới chỉ là hơn 600 triệu đôla”. Người đứng đầu cơ quan đại diện cho dân được Hiến pháp qui định là cơ quan quyền lực tối cao lại dửng dưng đứng ngoài mối bức xúc nóng bỏng của nhân dân về an ninh quốc phòng mà ông thừa biết đã được nói giùm qua bức thư của lão thành cách mạng Nguyễn Trọng Vĩnh: “Chúng ta đều biết Trung Quốc xây dựng căn cứ hải quân hùng mạnh ở Tam Á đảo Hải Nam, nói thẳng ra là không phải để chống kẻ thù xâm lược nào, mà là đe doạ Việt Nam và sẵn sàng chờ thời cơ thôn tính nốt Trường Sa của chúng ta, sau khi đã nhanh tay chiếm Hoàng Sa từ tay Chính quyền Sài Gòn. Nay lại để Trung Quốc khai thác bauxit ở Tây Nguyên thì sẽ có năm, bảy nghìn hoặc một vạn công nhân hay quân nhân Trung Quốc đến cư trú và hoạt động tại đây, sẽ hình thành một “thị trấn Trung Hoa”, một “căn cứ quân sự” trên địa bàn chiến lược vô cùng xung yếu của chúng ta (vũ khí đưa vào thì không khó gì). Phía Bắc nước ta, trên biển có căn cứ hải quân hùng mạnh, phía Tây Nam nước ta có căn cứ lục quân trang bị đầy đủ thì độc lập, chủ quyền mà chúng ta đã phải đổi bằng hàng triệu sinh mạng cùng xương máu sẽ như thế nào?!”

Còn bộ trưởng Bộ quốc phòng Phùng Quang Thanh ?

Không biết giờ đây đại tướng bộ trưởng Bộ quốc phòng Phùng Quang Thanh nghĩ gi ? Liệu trong ông còn đập trái tim của người lính Việt Nam ? Trước tình hình nguy hiểm này, ông có thấy cần phải gọi hồn các đồng đội đã bỏ mình ở biên giới Tây Nam, ở Cam-pu-chia, ở biên giới phía Bắc, trên biển Đông, hãy bật mồ đứng dậy hỏi thẳng Bộ chính trị : tại sao mấy chục năm qua lại cấm không cho sách báo nhắc gì đến họ ? Ông ăn nói thế nào đây với các gia đình liệt sĩ, gia đình quân nhân, với các chiến sĩ, sĩ quan đang ngày đêm phơi mình sương gió giữ từng tấc đất tấc biển khi Bộ chính trị âm thầm để cho những binh đội trá hình của Trung Quốc luồn vào cắm ở Tây Nguyên ? Những người lính lấy đâu tinh thần để xông lên diệt giặc khi họ biết rằng nếu họ bỏ mình vì Tổ Quốc thì những người lãnh đạo tối cao cũng sẽ không cho nhắc nhở gì tới sự hy sinh của họ ? Họ làm sao còn đủ ý chí cầm nổi khẩu súng nhằm về phía giặc khi nhận ra thực chất họ đang phải sống thân phận của người canh giữ túi vàng két bạc cho những kẻ đứng trên đầu họ ngoài miệng luôn cao giọng hô to Tổ Quốc nhưng bàn tay ngấm ngầm đưa giặc vào ngự trên sống lưng Tổ Quốc ?

Tóm lại, Bộ chính trị đang tự đặt mình vào vị trí để nhân dân xem xét về tư cách yêu nước. Và Bộ chính trị đang đẩy toàn thể đảng viên vào tình thế nếu giữ tư cách đảng viên thì mất tư cách yêu nước.

Nay mai khi đưa ra thảo luận ở Quốc hội, nếu các đại biểu là đảng viên làm theo chỉ thị của Bộ chính trị phải biểu quyết cho thực hiện dự án khai thác bô-xít Tây Nguyên (như đã từng làm với vụ phá hội trường Ba Đình và vụ mở rộng Hà Nội) thì nhân dân sẽ coi các đại biểu đó không còn tư cách yêu nước, không còn tư cách đại diện cho dân mà chỉ là cánh tay nối dài của Bộ chính trị.
Lão thành cách mạng Nguyễn Trọng Vĩnh nghiêm khắc cảnh tỉnh:

“Đành rằng các đồng chí có quyền, muốn làm gì cũng được, quyết định thế nào cũng được, nhưng cũng nên quan tâm dư luận, lắng nghe những lời phân tích lợi, hại, phải, trái mà suy nghĩ cân nhắc. Từ xưa đến nay, ở triều đại nào cũng vậy, chủ trương, chính sách ích quốc, lợi dân thì được dân ủng hộ, chủ trương chính sách sai trái tổn quốc, hại dân thì dân oán. Dân oán, mất lòng tin thì khó yên ổn và thịnh vượng được. “Quan nhất thời, dân vạn đại”, “vua cũng nhất thời, dân vạn đại”.

Lâu nay Bộ chính trị luôn hành xử theo cung cách “lẽ phải thuộc về kẻ mạnh” thâu tóm quyền lực độc tôn vào tay mình, lấy quyền lực thay cho lẽ phải, coi thường ý kiến của các lão thành, của giới trí thức và nhân dân, coi thường sức mạnh của lẽ phải.

Nhưng nhân dân và đại đa số đảng viên tuy không còn tin ở Bộ chính trị nữa song không bao giờ mất niềm tin ở sức mạnh của lẽ phải, một sức mạnh muôn đời, muôn nơi, muôn người và nhất định sẽ chiến thắng bạo quyền.Ngay giữa lòng Bộ chính trị, nơi chóp đỉnh bộ máy quyền lực luôn ở thế độc tôn không có sự giám sát độc lập, không có cơ chế hãm, khiến con người từng ngày từng giờ bị cuốn theo mê lộ của những tham vọng vị kỷ, thì hạt mầm sức mạnh của lẽ phải vẫn luôn tồn tại, dù rất nhỏ nhoi và chỉ mới thoáng hiện ở một nửa con người thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng trong buổi đến thăm đại tướng Võ Nguyên Giáp nhân dịp kỷ niệm 55 năm chiến thắng Điện Biên Phủ.Và tôi tin rằng không chỉ có một nửa con người thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và dẫu một nửa này chưa phải là sự thành tâm thì ít ra cũng là một sự thức thời.

Thức thời để nhận thấy rằng đã xuất hiện ngay trong Đảng một đòi hỏi phải tách Đảng ra làm hai, đại đa số đảng viên tử tế tất yếu sẽ tiến tới một sự lựa chọn xé rào mới bằng bản lĩnh và phương pháp Kim Ngọc và Võ Văn Kiệt, dứt khoát không tiếp tục cam chịu làm con rối, làm bình phong cho trò xiếc về tổ chức mà nguyên phó ban tổ chức trung ương Nguyễn Đình Hương đã thẳng thắn vạch rõ là thủ đoạn sắp đặt nhân sự trong tay một nhóm người.Cái con người tách đôi của thủ thướng Nguyễn Tấn Dũng chính là biểu hiện cái sự thật đau đớn và ghê tởm kinh niên không còn che giấu được nữa : trong lòng một đảng cầm quyền cùng chung danh xưng từ lâu đã chứa đựng hai đảng đối nghịch nhau về tiêu chí chính trị, về lẽ sống, lối sống, mức sống.

Tách Đảng ra làm hai chính là đáp ứng một yêu cầu cả khách quan lẫn chủ quan không gì cưỡng nổi, như thế vừa dễ xử cho mọi đảng viên vừa là thức thời trước sức ép của qui luật : một đảng của số ít các quan chức hoạt động để giữ ghế, một đảng của số đông các đảng viên tử tế nguyện dâng trọn đời vì dân vì nước, quyết giữ trọn tư cách yêu nước, tư cách người chiến sĩ cách mạng chiến đấu vì độc lập dân tộc và vì quyền tự do của mỗi con người.Hai đảng thi đua nhau, cạnh tranh nhau làm đầy tớ thật sự của nhân dân, dân thấy đảng nào đúng là đầy tớ thật của mình thì dân chọn và tự nguyện đóng góp gạo mắm để nuôi.Vậy thôi, đơn giản và rõ ràng vậy thôi, cần chi lý lẽ vòng vo tam quốc về chỉnh đốn với xây dựng, về phê với tự phê lặp đi lặp lại đến phát nhàm.

Đà lạt 17.05.2009

Posted in Chinh Tri, Chinh Tri Xa Hoi, Đảng CSVN | Tagged: , | 3 Comments »

Biểu Tình Phản Đối Thủ Tướng Putin và đảng của ông ta

Posted by hoangtran204 trên 11/12/2011

 

Biểu tình lớn ở Nga

Biểu tình ở Moscow 10/12

Theo những con số khác nhau của các hãng thông tấn, số người biểu tình phản đối bầu cử gian lận ở Nga ngày hôm qua tại Moscow, thứ Bẩy 10/12/2011, vào khoảng 40-50 ngàn người. Sau khi đảng nước Nga Thống Nhất tuyên bố thắng cử, làn sóng biểu tình đã bùng phát ở Nga. Dù, mức độ thắng cử của đảng Nước Nga Thống Nhất khá khiêm tốn, chưa đầy 50% nhưng kết quả này bị nhiều người cho là gian lận.

Biểu tình rộng khắp

Bất chấp tiết trời lạnh, có mưa và tuyết, những người biểu tình đã kiên quyết đòi bãi bỏ kết quả bầu cử và gọi đảng của Putin là đảng của những “thằng ăn cắp”.

Một lãnh đạo phe đối lập là Vladimir Ryzhkov đọc to bản yêu sách của người biểu tình, đòi hủy kết quả bỏ phiếu ngày 4/12, tổ chức bầu cử lại, cho đăng ký nhiều đảng đối lập, cách chức chủ tịch ủy ban bầu cử và thả ngay những người biểu tình bị bắt trước đây.

“Nước Nga đã thay đổi, tương lai đã thay đổi”, thủ lĩnh đảng đối lập nói.

Trong các cuộc biểu tình trước đó khoảng 300- 400 người biểu tình đã bị tạm giữ. Các cuộc biểu tình theo hiến pháp Nga là hợp pháp. Tuy nhiên, nhà chức trách chỉ cấp giấy phép cho 300 người biểu tình, nhưng con số thực tế đã lớn hơn con số cho phép cả trăm lần.

Tuy nhiên, ông Konstantin Kosachyov, một nghị sĩ đảng Nước Nga Thống nhất, phát biểu thay mặt Kremlin, bác bỏ yêu sách thương lượng mà các tổ chức biểu tình đặt ra. “Với tất cả sự tôn trọng những người đến biểu tình hôm nay, tôi xin nói rằng họ không phải là một chính đảng”, ông Kosachyov nói.

Không chỉ ở Moscow, biểu tình cũng diễn ra ở nhiều nơi khác ở Nga. Tại St. Peterburg, khoảng 10000 người biểu tình.

Tại Urals của Barnaul có khoảng 1.000 người tập trung biểu tình. Ở quảng trường trung tâm Chita khoảng 200 người. Ngay cả vùng Krasnoyarsk, Siberia cũng có vài trăm người tham dự.

Còn ở thành phố Khabarovsk, Viễn Đông Nga, theo hãng thông tấn Nga RIA Novosti, cuộc biểu tình xuất phát từ cáo buộc gian lận trong bầu cử cũng thu hút được ít nhất 50 người tham gia.

Tại Novosibirsk, dẫu nhiệt độ ngoài trời lạnh đến âm 15 độ C nhưng vẫn có đến 3.000 người xuống đường tham gia tuần hành trên đường phố.

Bên ngoài lãnh sự quán Nga tại New York, tập trung khoảng 200 kiều dân Nga với biểu ngữ đòi tổ chức bầu cử lại.

Nga kết tội Mỹ kích động

Ngay khi làn sóng biểu tình vừa bùng phát, truyền thông nhà nước Nga đã chĩa mũi dùi vào Mỹ. Putin nói: “Tôi đã theo dõi các phản ứng đầu tiên của các đối tác Hoa Kỳ của chúng ta”.

Và ông nhắc tới đích danh bà ngoại trưởng Hoa Kỳ: “Trước hết, đó là những gì bà ngoại trưởng đã làm, bà ấy nói rằng bầu cử là gian dối và không công bằng, cho dù bà ấy chưa nhận được các tài liệu từ các quan sát viên bầu cử”…

Putin cũng lớn tiếng cho rằng phương Tây ra tín hiệu, cung cấp tài chính và kích động người biểu tình ở Nga.

Hoa Kỳ bác bỏ

Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ nói các chương trình tài trợ của Hoa Kỳ nhằm ủng hộ “quá trình bầu cử công bằng, tự do và minh bạch” chứ không phải để gây ảnh hưởng tới các nhóm chính trị và không tài trợ cho biểu tình.

Hôm 9/12, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đã chính thức bác bỏ cáo buộc của Thủ tướng Nga Vladimir Putin rằng Ngoại trưởng Hillary Clinton khuyến khích phe đối lập biểu tình.

Người phát ngôn từ Washington, Mark Toner nói: “Khó có thể nghĩ ra điều gì xa sự thật hơn thế.”

Trong khi đó, báo chí phương Tây đăng nhiều bài bình luận về sự quay trở lại của Putin và ví ông với Mubarak của nước Nga.

Tổng hợp theo BBC, Wyborcza, PAP

Posted in Chinh Tri, Tự Do ngôn Luận | Leave a Comment »

Mỹ đã tháo khoán 37 tỉ đô la (trong số 150 tỉ) và đã giao 700 triệu đô la cho chính quyền lâm thời Lybia mới ngay trước khi Nhà độc tài Libya, ông Moammar Gadhafi chết

Posted by hoangtran204 trên 21/10/2011

  1. Revolutionary fighters celebrate the capture of Sirte, Libya, Thursday, Oct. 20, 2011. Officials in Libya's transitional government said Moammar Gadhafi was captured and possibly killed Thursday when
  2. Libyans celebrate Moammar Gadhafi's death in front of the Libyan Embassy in Amman, Jordan, Thursday, Oct. 20, 2011. Moammar Gadhafi, who ruled Libya with a dictatorial grip for 42 years until he was o
  3. Libyans celebrate Moammar Gadhafi's death in front of the Libyan Embassy in Amman, Jordan, Thursday, Oct. 20, 2011. Moammar Gadhafi, who ruled Libya with a dictatorial grip for 42 years until he was o

Mauricio Lima for The New York Time

Đại tá Moammar Gadhfi đã bị thương ở lưng, tay và đã chết sau 42 năm nắm giữ chế độ  độc tài, dùng công an và quân đội để cai trị dân chúng.

Giờ phút cuối cùng của Gadhafi được mô tả như  sau. Khi Dân quân bao vây địa điểm chống cự  của Gadhafi nơi thị trấn quê nhà của ông, thì vào buổi sáng sớm lúc 8 giờ, có khoảng 15 xe truck nhỏ chạy thoát khỏi vòng vây. Nhưng rồi sau đó, cả 15 chiếc xe nầy đã bị bắn cháy, hỏa lực nầy có thể là do máy bay trực thăng, vì hỏa lực của cuộc tấn công đoàn xe quá mạnh, và đã làm cho 50 xác chết trong 15 xe nầy đã bị cháy thành than. Gadhafi không bị chết trong cuộc truy kích  nầy, ông và một số cận vệ chạy thoát. Nhưng sau đó,  dân quân nổi dậy đã đuổi theo kịp và nhìn thấy ông và một nhóm nhỏ núp trong 1 cống thoát nước.  Người cận vệ của Gadhafi buộc một 1 mảnh khăn trắng vào cây súng tỏ ý đầu hàng, anh ta la lên: lãnh tụ ở đây…lãnh tụ ở đây…nhưng khi anh ta nhìn thấy những dân quân chạy tới với vẻ rất hung dữ, anh ta đã cố bắn để ngăn chặn những người truy bắt.

Tiếp đó, dân quân tràn ngập khu vực nầy, và kéo đại tá Gadhafi ra khỏi ống cống. Ông ta nói: đừng bắn ta, các con.  Bên trong cống có xác 4 người lính trung thành với ông đã chết. Một người bị cụt đầu và 3 người kia bị bắn chết.  Gadhafi bị thương và sau đó, Gadhafi vẫn còn sống gần 1 giờ nữa,  ông đứng đó người đầy máu, và rồi đã ngã xuống. Và về sau được biết là ông đã chết.

Chưa có nguồn tin nào cho biết là ông ta đã bị thương và chết vì máu ra quá nhiều, hay ông ta đã bị nhóm dân quân bắn chết khi đang bị kéo ra từ miệng cống. (TH dịch tin từ video của hãng AP và các nguồn tin trên mạng)

Chính Quyền Lâm Thời Lybia đang sắp xếp để tiếp nhận lại số tiền 37 tỷ đô la do Mỹ trả lại

Theo tin của hảng CNN

Ngay cả trước khi Gadhafi chết, Bộ Tài Chánh Mỹ đã tháo khoán 37 tỉ đô la trong số 150 tỉ, là số tiền mà chính quyền Mỹ đã nắm giữ  và phong tỏa tài sản của Lybia trong ngân hàng nước ngoài và những bất động sản của Gadhafi rải rác khắp thế giới.  Liên Hiệp Quốc đã đồng ý cho phép Mỹ tháo khoán 1,5 tỉ đô la để trao lại cho Hội  Đồng Quốc Gia Lâm Thời của Lybia để trợ giúp nhân đạo cho dân chúng Lybia vào tháng 9-2011.

Mỹ cũng tháo bỏ lệnh cấm vận và đã cho phép các công ty Mỹ vào Lybia để làm ăn với Công Ty Dầu Hỏa Quốc  Gia Lybia và thực hiện các hoạt động kinh doanh khác. Chính quyền mới cũng đã đồng ý dùng số tiền 150 tỷ đô la nói trên để trả lại chiến phí cho Mỹ  khoảng 1,2  tỷ đô la (và quân đội của các nước Châu Âu);  các nước nầy đã trợ giúp quân sự  để lật đổ chế độ độc tài Gadhafi; tin nầy do Thượng Nghị Sĩ John Mc Cain cho biết trong chuyến viếng thăm Tripoli và gặp gỡ Hội Đồng Quốc  Gia Lâm Thời Lybia cách đây 3 tuần.

Các nhà phân tích cho rằng việc này có thể lấy Iraq ra làm thí dụ, Mỹ sẽ cố gắng thật nhanh để  trả lại các món tiền để thực hiện công việc tái thiết ở Lybia.

TNS Mc Cain và các nhà chính trị của đảng Cộng Hòa muốn dùng một phần của số tiền đó để trợ giúp 30000 dân quân đã bị thương trong chiến dịch triệt hạ chế độ Gadhafi.

Nhà độc tài Libya ông Moammar Gadhafi đã chết

TRIPOLI, Lybia – “Nhà độc tài Libya ông Moammar Gadhafi đã chết,” Thủ tướng lâm thời Mahmoud Jibril tuyên bố hôm nay thứ Năm ngày 20 tháng Mười.

Sự xác định này đến sau nhiều giờ có những tường thuật về tình trạng của ông Gadhfi vẫn chưa thống nhất. Con của ông Gadhafi, là ông Mutassim và chỉ huy trưởng tình báo, ông Abdullal al-Senussi, cũng đã chết, theo ông Anees al-Sharif, phát ngôn viên cho hội đồng quân sự Tripoli.
<table width=”500
Dân Lybia ở Tripoli đón mừng tin Đại tá Gaddafi đã bị giết chết
Nguồn: Reuters: Ismail Zitouny


Quân cách mạng đã tấn công căn nhà nơi ông Gadhafi đang trốn, Bộ trưởng Thông tin Mahmoud Shammam nói cho hãng thông tấn CNN hay. Ông Gadhafi đã bị bắn trong lúc cố tẩu thoát, theo ông Mahmoud.

Tấm hình chết của ông Gadhafi thừa nhận “Đại tá Gadhafi giờ là lịch sử”, nhưng ông Mahmoud nói chủ tịch hội đồng lâm thời hay ông thủ tướng cần xác định cái chết của ông Gadhafi một cách chính thức.

Có một số hình ảnh chụp từ máy điện thoại cầm tay đi trên truyền hình của hãng thông tấn Al-Jazeera cho thấy tấm hình đẫm máu của ông Gadhafi với vết thương trên đầu. Một tấm hình chụp từ máy điện thoại cầm tay khác cho thấy ông Gadhafi bị thương trầm trọng đã được hãng thông tấn AFP đăng tải, nhưng CNN hiện chưa kiểm chứng được nguồn gốc của những tấm hình này.

Bộ trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ bà Hillary Clinton đang thăm viếng Tripoli tuần này, đã không thể xác nhận được việc ông Gadhafi bị bắt hay bị giết, nhưng bà nói nguồn tin trên sẽ “giúp cho tính hợp pháp và giảm đi niềm lo âu cho việc thành lập một chính phủ mới.”

Ông Gadhafi đã cầm quyền Libya với bàn tay sắt trong suốt 42 năm qua, qua một cuộc đảo chánh không đổ máu lật đổ nhà vua Idris năm 1969, khi ông chỉ là một đại úy lục quân.

Vào cuối đời lãnh đạo của ông, ông cho mình tước vị “Vua của những vị Vua” khi ông tụ tập những nhà lãnh đạo bộ tộc để phong cho ông trong năm 2008.

Nhưng một cuộc nổi dậy của quần chúng quay quanh một cuộc nội chiến đã lật đổ nhà độc tài này khỏi quyền lực mà ông nắm giữ trong 42 năm qua.

nguồn

——

Libya set to get back $37 billion from U.S.

By Jennifer Liberto @CNNMoney October 20, 2011

WASHINGTON (CNNMoney) — Even before Moammar Gadhafi’s death Thursday, the Treasury Department was already starting to thaw some $37 billion worth of frozen Libyan assets to make them available to the new government in Tripoli.

The new Libyan government will get all the money. Eventually.

Earlier this year, the United States froze its piece of what some analysts believe to be as much as $150 billion in assets that had been available to the Gadhafi regime around the world.

Outside of the United States, those assets range from real estate to stakes in the Italian bank UniCredit, the British publisher Pearson, which owns the Financial Times, and Italy’s soccer club Juventus.

In September, the United Nations gave the United States the green light to release $1.5 billion in U.S.-held Libyan assets as humanitarian aid to the Transitional National Council, which was recognized as the new government of Libya in July. So far $700 million has been distributed, according to Treasury.

“We remain in close contact with the TNC, the State Department and our international partners, and are committed to releasing assets frozen worldwide in a manner consistent with the wishes of the Government of Libya,” a Treasury spokeswoman said.

Last month, Treasury also partially lifted some Libya sanctions. That opened the door for U.S. companies and individuals to do business with the Libyan National Oil Corp. and other companies in Libya, as long as the transactions don’t benefit anyone affiliated with the Gadhafi regime.

The question of what to do with the frozen assets has been a big talker in Congress, especially in the wake of mounting budget deficits that have only widened with years of navigating conflict in the Middle East and Africa.

Some lawmakers want to use frozen Libyan assets to reimburse NATO countries for military operations. Others want to link frozen assets to Libyan cooperation with investigations into Gadhafi-era terrorist attacks, according to a Congressional Research Service report released Sept. 29.

Sen. John McCain told CNN on Thursday that, during his visit to Tripoli a few weeks ago, new government officials told him they’re willing to reimburse the United States for its role in helping end the Gadhafi regime. So far, that tab has run about $1.2 billion, according to Pentagon and State Department officials.

“Obviously, it’s their money,” said McCain, in Arizona Republican on the Senate Armed Services Committee. “They are willing to reimburse us and our allies. They’re obviously are going to be a very wealthy country.”

The Transitional National Council has been lobbying for months for a broader release of frozen funds for its use.

And international financial analysts say that, using Iraq as an example, the United States will try to release those funds, which will likely go first to reconstruction, as soon as possible.

“It’s anyone’s guess on how quickly we can free that up, but they’ll probably move pretty quickly,” said Glenn Simpson, a senior fellow in corruption and transnational crime at the International Assessment and Strategy Center.

The Congressional Research Service report said the Transitional National Council will be under pressure to maintain order and support for the new regime.

“While a lively political atmosphere has emerged in opposition-controlled areas, political support for the TNC among the broader population may be contingent on the council’s ability to provide basic services and financial support via salaries and subsidies,” the report stated.

Indeed, the report suggested that the transition period will require “sustained attention and resources beyond the scope of the current fighting.”

McCain and other Republicans want the United States to use whatever funds are available to help some 30,000 wounded in the effort to take down the Gadhafi regime. He called it a “key requirement,” saying the new Libyan government has told him it would reimburse the United States when it gets access to frozen funds.

“They don’t know how to care for these kinds of wounds, we could create enormous goodwill in helping out in that respect,” McCain said.

– CNN’s Jennifer Rizzo and Jamie Crawford contributed to this report

Posted in Chiến Tranh, Chinh Tri | Leave a Comment »

Cùng bị TQ lấn áp, nhưng hai chính phủ có hai lối đối xử khác nhau…

Posted by hoangtran204 trên 07/07/2011

Trong khi các giới chức  Trung Quốc coi chính quyền Hà Nội như những đứa bé, họ thường đối xử và trách mắng nhà nước và đảng  CSVN như một ông chủ trách móc đứa đầy tớ ngụ dại. Dù bị đối xử làm mất mặt như thế, nhưng lạ lùng thay, đảng và nhà nước CHXH CNVN  lại tỏ ra sợ hải Trung Quốc một phép. 14 ủy viên  BCT và Thủ tướng đương quyền NTD,  thậm chí giới truyền thông báo chí  VN sợ đến  nổi không dám cải lại những câu nói, những lời tuyên bố trịch thượng của  TQ mà ai theo dõi tình hình thời sự giữa  VN và TQ trong mấy tuần qua đều không khỏi cảm thấy ứa gan, và rồi thắc mắc tại sao chính quyền VN lại có hai bộ mặt. Một bộ mặt thì chính phủ VN tỏ ra rất nhu nhược với  TQ, gần như rất sợ hải, bị lệ thuộc vào  Trung Quốc và không có một chút độc lập hay chủ quyền nào hết. Còn bộ mặt kia, thì họ lại thì đối xử với dân chúng VN một cách hùng hổ và hung bạo không khác gì một bạo chúa độc tài.

Đọc bài báo dưới đây ta mới thấy chính phủ Phi đúng là một nhà nước độc lập và có chủ quyền.

 

Chính phủ Phi cấm đệ nhất tham vụ toà đại sứ Trung Quốc

Manila – Viên chức Phi Luật Tân đã cấm một nhà ngoại giao Trung Hoa không được tham sự những buổi họp với Phi Luật Tân trong tương lai vì thái độ thô lỗ, kém văn minh của ông ta, trong biến cố mới nhất liên quan đến chuyện xung đột ở quần đảo Trường Sa.

Viên chức bộ ngoại giao Phi nói hôm thứ Ba ngày 5 tháng Bảy rằng Đệ nhất Tham vụ Toà Đại sứ Trung Quốc Li Yongsheng đã lớn tiếng với một viên chức Phi Luật Tân tháng rồi trong khi họ đang bàn thảo chuyện tàu Trung Quốc bị lên án xâm phạm quần đảo Trường Sa mà Phi Luật Tân cho là của mình.

Một bản thông báo của văn phòng Á châu Thái Bình Dương của Phi Luật Tân nói là ông Li đã bày tỏ “sự thiếu tư cách của một nhà ngoại giao” và toà đại sứ Trung Quốc đã được thông báo là ông ta sẽ không được phép tham sự những buổi họp tới ở văn phòng này trong tương lai.

Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Phi Luật Tân ông Voltaire Gazmin nói sự việc xảy ra hôm 4 tháng Sáu nằm phía tây tỉnh Palawan là sự xâm phạm lãnh hải Phi gần đây nhất. Nguồn: Onthenet


Cũng liên quan đến chuyện tranh chấp lãnh hải giữa Trung Quốc và Phi Luật Tân, giới quân sự Phi cho hay là có một máy bay “lạ” đã làm ngư dân Phi Luật Tân sợ hãi và bỏ chạy ở gần quần đảo Trường Sa.

Người ta chưa xác định được nguồn gốc chiếc máy bay này, đã bay rất sát – chỉ cách vài mét – một chiếc tàu đánh cá chở nhiều ngư dân Phi trên tàu ở vùng biển thuộc Phi Luật Tân gần quần đảo Trường Sa đang còn nằm trong tranh chấp.

Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Phi Luật Tân ông Voltaire Gazmin nói sự việc xảy ra hôm 4 tháng Sáu nằm phía tây tỉnh Palawan là sự xâm phạm lãnh hải Phi gần đây nhất, và giới quân đội Phi trước đây đã từng lên án tàu dân sự cũng như quân sự Trung Quốc đã xâm nhập lãnh hải Phi bất hợp pháp.

Những ngư dân này tuy bàng hoàng nhưng đã không có ai bị thương, rời khu vực gọi là Dalagang Bukid Shoal cách tỉnh Palawan, thuộc quần đảo Balabac 210 cây số ngay lập tức. Những ngư dân này không xác định được nguồn gốc chiếc máy bay này, bay cách cột antenna trên tàu họ khoảng 6 mét.

Bộ trưởng Gazmin từ chối không đưa ý kiến suy đoán về nguồn gốc chiếc máy bay này nhưng ông nói hầu hết các cuộc xâm phạm lãnh hải của Phi trước đây và gần quần đảo Trường Sa đã là tàu của Trung Quốc.

© DCVOnline


Nguồn:

(1) Filipino officials ban diplomat amid Spratlys spat. The Associated Press, 5 July 2011
(2) Warplane scares Filipino fishermen near Spratlys. The Associated Press, 5 July 2011

Posted in Chinh Tri | Leave a Comment »

Bài viết từ 1940, nhưng đúng đến 100% những gì xẩy ra ở VN hiện nay, 2011

Posted by hoangtran204 trên 31/03/2011

Bàn về chế độ toàn trị

Phạm Nguyên Trường dịch

Bản dịch được thực hiện nhân kỉ niệm ngày sinh nhà triết học lớn của nước Nga: Ivan Alexandrovich Ilyin (28/03/1883-28/03/2011)

Ivan Alexandrovich Ilyin. Ảnh: Wikipedia

Cách đây 30 năm, không ai có thể nghĩ đến việc đưa vào khoa luật học khái niệm “nhà nước toàn trị”: không phải vì rằng ý kiến về một nhà nước như thế chưa từng xuất hiện (nói thế là sai!), mà một chế độ như thế có vẻ như không thể nào khả thi được và không ai dám làm như thế.

Nếu có một kẻ nào đó “bịa” ra nó (thí dụ như nhân vật Sigalev trong tác phẩm “Lũ người Quỉ Ám” của Dostoievsky!) thì mọi người sẽ nói ngay: trên trái đất không làm gì có những kẻ bất lương và ngu xuẩn như thế, không thể có những cơ quan nhà nước khủng khiếp đến như thế, cũng không đào đâu ra phương tiện kĩ thuật để có thể xây dựng nên một cơ chế chính trị bao trùm lên tất cả, thâm nhập vào tất cả và cưỡng bức được tất cả mọi người như thế. Nhưng nay thì chế độ toàn trị đã hiện hữu như là một sự kiện lịch sử và chính trị và chúng ta buộc phải tính đến: người đã có, các cơ quan đang được xây dựng và kĩ thuật cũng đã sẵn sàng.

Chế độ toàn trị là gì? Đấy là chế độ chính trị can thiệp một cách vô giới hạn vào đời sống của các công dân, một chế độ tìm cách quản lí và điều tiết một cách thô bạo toàn bộ hoạt động của tất cả các thần dân của mình.

Từ “totus” trong tiếng Latinh có nghĩa là “toàn bộ”. Nhà nước toàn trị nghĩa là nhà nước bao trùm lên tất cả. Nó xuất phát từ quan niệm rằng sáng kiến cá nhân không những là không cần thiết mà còn có hại, tự do là khái niệm nguy hiểm và không thể chấp nhận được. Có một chính quyền trung ương: chính quyền này phải biết hết, dự đoán hết, lập kế hoạch hết và chỉ đạo hết.

Sự nhận thức pháp luật (của con người) thông thường xuất phát từ quan điểm: cái gì không cấm thì đều được phép làm, trong khi chế độ toàn trị nhồi sọ vào đầu óc người ta điều ngược lại: tất cả những gì chưa có qui định thì đều bị cấm.

Trong khi nhà nước bình thường bảo: mỗi người đều có lĩnh vực quan tâm riêng, và trong lĩnh vực đó con người ta được tự do (làm gì thì làm), còn nhà nước toàn trị thì lại tuyên bố: chỉ tồn tại quyền lợi của nhà nước, và mỗi người phải có trách nhiệm gắn bó với quyền lợi ấy.

Trong khi nhà nước bình thường cho phép: tự do tư tưởng, tự do tôn giáo, tự do xây dựng cuộc sống theo ý mình, thì nhà nước toàn trị yêu cầu: suy nghĩ theo qui định, không được theo tôn giáo, phải xây dựng đời sống nội tâm theo chỉ đạo của cấp trên. Nói cách khác: ở đây nhà nước toàn trị quản lí tất cả, và con người thì bị nô dịch về mọi phương diện, sự tự do trở thành tội lỗi và sẽ bị trừng phạt.

Như vậy bản chất của chế độ toàn trị không phải nằm ở hình thức nhà nước (dân chủ, cộng hoà hay độc tài) mà ở khối lượng công việc quản lí: quản lí toàn diện các mặt của đời sống. Nhưng sự quản lí toàn diện như thế chỉ có thể thực hiện được dưới một chính thể chuyên chế nhất quán, dựa trên cơ sở thống nhất về quyền lực, một chính đảng duy nhất, sự độc quyền về sử dụng lao động, tất cả mọi người phải theo dõi và tố cáo lẫn nhau và một chế độ khủng bố tàn bạo. Cách tổ chức quản lí như thế có thể khoác cho bộ máy nhà nước bất kì hình thức nào, đấy có thể là chế độ Xô-viết hay liên bang, cộng hoà hay bất kì hình thức nào khác cũng được. Điều quan trọng không phải là hình thức nhà nước mà là tổ chức quản lí bao trùm lên tất cả, từ một căn phòng trong thị xã cho đến một túp lều ở nông thôn, từ tâm hồn của một cá nhân cho đến một phòng thí nghiệm khoa học, từ ý tưởng bay bổng của một nhạc sĩ cho đến phòng điều trị trong một bệnh viện, một thư viện, một tờ báo, một con thuyền đánh cá cho đến phòng xưng tội trong một nhà thờ.

Như thế có nghĩa là chế độ toàn trị không dựa trên các đạo luật căn bản mà tồn tại trên cơ sở các chỉ thị, nghị quyết, hướng dẫn của đảng. Vì không có luật cho nên chỉ thị của đảng chính là luật. Vì về hình thức các cơ quan nhà nước vẫn còn nên các cơ quan này chỉ là bình phong cho chế độ chuyên chế của đảng mà thôi. Các “công dân” cũng vẫn còn nhưng đấy thực chất chỉ là chủ thể của những nghĩa vụ (không phải là quyền!) và đối tượng của các chỉ thị và nghị quyết của đảng; nói cách khác: cá nhân con người chỉ là những cỗ máy, chỉ là những kẻ truyền bá nỗi sợ hãi và giả vờ trung thành với chế độ. Đây là một chế độ mà trong đó không có chủ thể của pháp luật, không có luật pháp, không có nhà nước pháp quyền. Ở đây nhận thức pháp lí được thay thế bằng các cơ chế tâm lí: đói khát, sợ hãi, đau khổ và nhục mạ, còn lao động sáng tạo được thay bằng lao động cưỡng bách của thời kì chiếm hữu nô lệ.

Vì vậy chế độ toàn trị không phải là chế độ nhà nước mà cũng chẳng phải là chế độ pháp trị. Nó đươc những người duy vật lập ra và tồn tại dựa trên cơ chế phi nhân và nô dịch “thể xác – tâm hồn”; nó dựa trên những mệnh lệnh có tính đe doạ giữa cai ngục và nô lệ, dựa trên những mệnh lệnh tuỳ tiện của cấp trên. Đấy không phải là một nhà nước có công dân, có pháp luật và chính phủ; đấy là một xã hội đã bị thôi miên; đấy là một hiện tượng kinh khủng và chưa từng có trong lịch sử, là một xã hội được cố kết bởi nỗi sợ hãi, bản năng và sự tàn bạo chứ không phải bởi luật pháp, tự do, lương tri, quyền công dân và nhà nước.

Nếu vẫn phải nói về hình thức của tổ chức này thì đấy không phải là pháp trị, cũng chẳng phải là vô pháp mà là chế độ chuyên chế chiếm nô lệ rộng lớn chưa từng có và cũng bao trùm chưa từng có.

Nhà nước pháp quyền đặt cơ sở trên sự công nhận con người cá nhân, một cá nhân có tâm hồn, được tự do và tự chủ về lương tâm và công việc của mình, nghĩa là nhà nước đặt cơ sở trên sự nhận thức pháp lí đúng đắn. Chế độ toàn trị, ngược lại, dựa vào sự đe doạ. Dân chúng bị đe doạ đủ thứ: thất nghiệp, thiếu thốn, chia lìa với người thân, chết chóc, bắt bớ, tù đày, thẩm vấn, lăng mạ, đánh đập, tra tấn, lưu đầy, chết trong trại cải tạo vì đói, rét và lao động khổ sai. Dưới áp lực của những nỗi sợ hãi như thế họ còn bị thôi miên: phục tùng tuyệt đối, thế giới quan duy vật, vô thần, thường xuyên tố giác, sẵn sàng chấp nhận mọi điều dối trá và phi đạo đức, chấp nhận sống trong cảnh đói rét và làm lụng đến kiệt sức.

Hơn thế nữa, họ còn bị thôi miên về nhiệt tình cách mạng và cảm giác về tính ưu việt so với tất cả các dân tộc khác; nói một cách khác: thói tự mãn về sự điên rồ và ảo tưởng về thành công của chính mình. Dưới ảnh hưởng của sự thôi miên mang tính khủng bố như thế họ trở thành những người tin tưởng mù quáng vào chủ nghĩa cộng sản phi tự nhiên, tự cao tự đại và coi thường tất cả những gì không phải là Nga (Xô-viết! Cộng sản!)

Quá trình thôi miên diễn ra đã lâu, hàng chục năm, bao nhiêu thế hế; nó đã làm băng hoại tâm hồn con người; họ không còn biết nguồn gốc của nó, họ không còn hiểu từ đâu ra cái thói kiêu ngạo ấy; một số người trong bọn họ khi ra nước ngoài vẫn còn phiêu lãng trong trạng thái tâm lí toàn trị bệnh hoạn, không tin ai và khinh thường những người di cư trước đây và thỉnh thoảng lại rơi vào những cơn co giật của thói tự mãn. Đấy là hậu quả của ba mươi năm thôi miên, chỉ có thể xoá bỏ một cách từ từ. Đấy là những nét đặc trưng của cái chế độ quái gở và bệnh hoạn đó.

[1]Ivan Alexandrovich Ilyin sinh ngày 28 tháng 3 năm 1883 ở Moskva và mất tại Thuỵ Sĩ vào ngày 21 tháng 12 năm 1954. Ông là một nhà tư tưởng, nhà luật học và chính trị học lớn của nước Nga, là tác giả của hơn 40 đầu sách và 300 bài báo viết bằng tiếng Nga và tiếng Đức. Do những hoạt động chống chính quyền cộng sản, năm 1922 Ilin bị trục xuất khỏi Liên Xô. Trong những năm 1922-1934 ông là giáo sư Viện nghiên cứu Nga ở Berlin, đồng thời là tổng biên tập tạp chí Tiếng chuông Nga (1927-1930). Năm 1938, vì tránh sự đàn áp của Gestapo (cơ quan mật vụ Quốc xã), ông chuyển sang Thuỵ Sĩ và sống ở đó đến năm 1954. Bài báo này được viết vào cuối những năm 40 của thế kỉ trước.

Nguồn: http://www.hronos.km.ru/statii/ilin_total.html

© Phạm Nguyên Trường (Bản tiếng Việt)

© Đàn Chim Việt

Posted in Chinh Tri, Đảng CSVN | Leave a Comment »

Robert Gates và sự tiết giảm Ngân sách Quốc Phòng Hoa Kỳ

Posted by hoangtran204 trên 01/10/2010

Lời giới thiệu: Tuần báo Newsweek, thuộc hệ thống Washington Post trong số ngày 20/9/2010, có một bài báo viết về ông Bộ trưởng Quốc phòng Robert Gates do hai nhà báo John Barry & Evan Thomas nhan đê`: “A War Within”. Với tình hình đang biến chuyển trên thế giới ông Robert Gates trở thành một nhân vật được dân chúng Hoa Kỳ quan tâm. Sau đây là nội dung bài báo dưới nhan đề: “Robert Gates và sự tiết giảm Ngân sách Quốc Phòng Hoa Kỳ”
** Trần Bình Nam lược dịch**
–:o0o:–

Tháng Năm vừa qua, ông Bộ trưởng Quốc phòng Robert Gates  đến đọc diễn văn tại thư viện Eisenhower tại Abilene, tiểu bang Kansas. Ông ca tụng tổng thống Eisenhower đã giảm chi tiêu quốc phòng trong thập niên 1950’s. Ông Gates nói: “Tổng thống Eisenhower là một nhà lãnh đạo đơn giản, không cầu kỳ với một đoàn phụ tá vừa đủ để làm việc – trái với thông lệ và thói quen tại các cơ sở thượng tầng tại Washington.”

Abilene là một tỉnh nhỏ nên báo chí ít đăng lời phát biểu của ông Gates. Nhưng tại thủ đô Washington và tại các cơ sở quốc phòng trên thế giới các tướng lãnh không thể không quan tâm đến ý nghĩa của nó.

Tại bộ Quốc phòng Hoa Kỳ người ta đồn ông Gates nhắm chỉ trích các tướng lãnh sống đời vương giả ngựa xe hầu cận. Newsweek hỏi ông Gates có thật vậy không, ông cười trả lời: “Tôi từng là một chuyên viên về Liên bang Xô viết nên tôi đọc các bài diễn văn của các lãnh tụ Xô viết rất kỹ. Tôi hy vọng người ta cũng đọc bài diễn văn của tôi kỹ như vậy. Nhân tiện ông Gates nhắc đến một bài diễn văn ông đọc vào tháng Tám mới đây trong đó ông bàn về hệ thống cấp bậc trong quân đội với những “nghi lễ và nón mũ rườm rà”.

Robert Gates là một người đơn giản. Ông sống một mình trong một khu gồm 3 ngôi nhà dành cho giới quốc phòng cao cấp. Vợ ông – bà Becky – vẫn ở tại tiểu bang Washington. Bà chán thủ đô và hơn nữa có ở thủ đô bà cũng ít có cơ hội gặp chồng. Ông Gates tự lo mọi việc kể cả nấu nướng và tưới vườn hoa trước nhà. Buổi tối ông ngồi viết thư chia buồn với gia đình các tử sĩ vừa bỏ  mình tại Afghanistan. Hai ngôi nhà còn lại trong khu ông ở dành cho hai vị tướng 4 sao. Và ông Gates thấy được sự dàn giá của một sĩ quan cấp tướng.

Ông Gates thấy khu nhà ở của các sĩ quan cấp tướng sang trọng và được bảo vệ vòng trong vòng ngoài. Ông nghĩ họ đáng được hưởng những tiện nghi và quyền lợi đó sau bao nhiêu năm mang gia đình di chuyển từ đơn vị này qua đơn vị khác. Nhưng điều ông khó chịu nhất là có một số sĩ quan cấp tướng tiền hô hậu ủng nhưng chỉ làm những công việc một vị đại tá cũng có thể làm được. Trong quân đội hệ thống quân giai nặng nề không khác thời Napoleon. Robert Gates cho rằng với phương tiện thông tin ngày nay quân đội có thể tổ chức một cách đơn giản hơn.

Theo Gates cũng như theo cách nhìn của các nhà lãnh đạo dân sự các ông tướng thích đòi quyền lợi mà đôi khi quên ưu tiên công việc của một tướng lãnh là gì. Nếu Gates có quyền ông sẽ tổ chức lại để các ông tướng biết tiết kiệm ngân quỹ hơn, và cho giải ngủ một số. Sau vụ khủng bố  911 số tướng và đô đốc trong quân đội Mỹ tăng thêm gần 100 vị nâng tổng số tướng lãnh lên đến 969. Trong đoàn quân trừ bị số tướng lên đến 1300 người. Gates có ý cho 50 tướng nghỉ hưu và hủy bỏ cơ quan Joint Forces Command thành lập sau khi Chiến tranh lạnh chấm dứt để phối hợp các binh chủng quân đội chống khủng bố. Cơ sở này gồm 6000 nhân viên và chi phí mỗi năm 250 triệu mỹ kim.

Ông Gates không có tính phô trương như ông Donald Rumsfeld. Gates theo gương tướng Eisenhower ở chức vụ Tư lệnh lực lượng đổ bộ Normandie và tướng George Marshall, Tham mưu trưởng Bộ binh trong Thế chiến II.

Sau 27 năm phục vụ ông Gates từng giữ chức vụ phụ tá An ninh Quốc gia và trở thành Giám đốc CIA dưới thời tổng thống George W. Bush. Ông Robert Gates có một bề ngoài khiêm nhượng nhưng không có nghĩa ông không có tham vọng. Tham vọng cuối cùng của ông là tổ chức lại nền quốc phòng Hoa Kỳ. Sau vụ 911 quân đội chi tiêu gấp đôi trước kia. Tổng thống Obama hứa giảm ngân sách quốc phòng mỗi năm 1%, nhưng ông Gates nghĩ cần cắt nhiều hơn nữa.

Tại buổi nói chuyện ở thư viện Eisenhower ông nhắc lời tướng Eisenhower khi  thay thế tướng Marshall làm Tham mưu trưởng Bộ Binh rằng ông hiểu quốc phòng mạnh và kinh tế sung mãn là hai điều phải song hành với nhau. Do đó khi trở thành tổng thống ông Eisenhower biết cách cắt giảm chi phí quốc phòng mà không làm giảm sức mạnh của Hoa Kỳ. Nhưng các vị tổng thống sau đó không ai có kinh nghiệm của Eisenhower và ngân sách quốc phòng cứ càng ngày càng phình ra. Trả lời phỏng vấn của Newsweek ông Gates nói ông sẽ theo gương tổng thống Eisenhower làm cho cái liên minh quyền lợi giữa “quân sự và kỹ nghệ quốc phòng” (military-industrial complex) hiểu thực tế của ngân sách quốc gia. Ông Gates nói: “Các bộ chỉ huy quân sự và dân sự của chúng ta quá nặng nề, đầu to đít nhỏ, quá dựa vào các hãng thầu và không có một ý thức gì về giá cả.”

Khi tổng thống Bush bổ nhiệm ông làm bộ trưởng quốc phòng năm 2006, ông làm việc 15 giờ một ngày để cứu vãn trận chiến tranh Iraq đang trên đà phá sản và nhận thấy rằng quốc gia đang lâm chiến mà bộ Quốc phòng làm việc như thời bình. Trong khi binh sĩ bị thương từ chiến trường về cần có chương trình sắc sóc đặc biệt thì bộ quốc phòng toàn đưa ra những chuyện to lớn chuẩn bị cho chiến tranh trong tương lai bằng những chương trình vũ khí tối tân và rất tốn kém. Ông Gates thấy có nhiệm vụ lo cho sự an toàn của người lính ngoài trận địa cũng như khi họ trở về gia đình, nhất là những binh sĩ bị thương tật. Tuần trước ông Gates đã gọi điện thoại cho một ông mục sư ở Florida yêu cầu đừng thực hiện đốt kinh Koran chính vì ông nghĩ đến sự an toàn của công dân Mỹ ở hải ngoại, quân cũng như dân.

Sau khi nhận chức Bộ trưởng Quốc phòng ông Gates cắt bỏ những chương trình lớn và tốn kém như chương trình hỏa tiễn chống hỏa tiễn, chương trình sản xuất F-22 và máy bay vận tải khổng lồ C-17 của Không quân, chương trình đóng khu trục hạm DDG-1000 và tuần dương hạm CG(X) của Hải quân và chú trọng vào chương trình máy bay nhỏ không người lái (drones) và tàu đổ bộ (Littoral Combat Ship). Ông Gates cho rằng chiến tranh tương lai trên biển không còn là những trận đánh giữa các hạm đội  như trong Thế chiến II nữa. Ông Gates cũng cho hủy bỏ chương trình đóng chiếc Marine One, một trực thăng giá 1 tỉ mỹ kim cho tổng thống dùng trong trường hợp có chiến tranh nguyên tử.

Tóm lại ông Gates đã cắt 20 chương trình và gỉảm chi cho bộ Quốc phòng được 300 tỉ mỹ kim. Trong buổi nói chuyện tại thư viện Eisenhower ông nói rõ hơn về chương trình tàu đổ bộ TQLC đang cần là một loại tàu nhỏ chạy nhanh có thể nhận lính đổ bộ 60 dặm cách bờ biển. Trong tương lai không có tàu chở lính đổ bộ nào có thể vào gần bờ hơn 60 dặm mà không bị hỏa tiễn địch tấn công.

Hiện nay tiếng nói của tổng thống Obama không còn nhiều ảnh hưởng tại quốc hội nên trọng lượng của ông Gates đối với quốc hội rất cần thiết. Tuy nhiên cái khó là nhiều thượng nghị sĩ không phân biệt chiến tranh (warfare) với an sinh xã hội (wellfare). Họ thường lấy cớ vì an ninh quốc gia để chống lại việc đóng cửa các cơ sở sản xuất vũ khí hay các căn cứ quân sự trong tiểu bang họ đại diện. Thật ra chỉ vì việc đóng cửa làm mất công ăn việc làm của dân và họ không muốn mất phiếu. Cũng trong tinh thần đó các vị Thượng nghị sĩ bang Virginia đang tranh đấu để bộ Quốc phòng không đóng cửa Joint Force Command, một bộ tư lệnh – theo ông Robert Gates – không còn cần thiết nữa.

Số nhân viên dân sự tại bộ Quốc phòng từ ngày 11/9/2001 cũng đã vượt quá nhu cầu và cần cắt giảm. Năm 1948 khi chiến tranh lạnh bắt đầu ông bộ trưởng Quốc phòng có một thứ trưởng cùng 3 phụ tá giúp việc với một ban tham mưu 50 người. Hiện nay ông Gates làm việc với 26 nhân viên cao cấp và dưới quyền họ có 3000 nhân viên dân chính.

Ông Gates quan tâm nhiều nhất đến binh sĩ bị thương ngòai chiến trường. Ông biết lính bị thương được nhanh chóng đưa đến các bệnh viện và tỉ số tử tuất rất thấp. Nhưng sau khi điều trị xong trở về đời sống của một quân nhân phế tật họ rơi vào bộ máy thư lại của bộ Quốc phòng. Ông cựu Bộ trưởng Bộ binh Francis Harvey bị mất việc vì không  giải quyết nổi nạn thư lại này.

Trong 6 năm làm bộ trưởng ông Rumsfeld bãi chức một viên chức cao cấp. Ông Gates chỉ trong 4 năm đã cho về vườn 14 viên chức quân cũng như dân sự trong đó có Phó chủ tịch bộ Tổng tham mưu, hai Bộ trưởng binh chủng, Tham mưu trưởng Không quân và Tư lệnh lực lượng đồng minh tại Afghanistan.

Mùa Xuân năm 2007, Gates đọc được một tin trên báo nói rằng TQLC từ khi dùng loại xe chống mìn MRAP (Mine-Resistant, Ambush-Protected) thì qua 300 vụ bị mìn không một quân nhân TQLC nào bị thương. Gates hỏi tại sao bộ binh Mỹ không dùng loại xe này thì cấp dưới trả lời trong ngân sách của Bộ binh không có mục đóng MRAP vì tiền kẹt vào chương trình vũ khi khác sẽ dùng trong 10 năm tới. Gates nổi giận với thứ lý luận đó, đích thân can thiệp. “Kết quả” ông Gates nói “đầu năm 2009 tại Afghanistan không có một chiếc MRAP nào, bây giờ  có 5000 chiếc”.

Tiêu chuẩn tại Iraq để đưa một binh sĩ bị thương từ chiến trường đến bệnh viện để được săn sóc hay giải phẫu là 1 giờ. Tại chiến trường Afghanistan vì địa thế khó khăn hơn tiêu chuẩn là 2 giờ. Gates nói chuyện với đoàn bác sĩ ở Afghanistan và họ nói “Không sao đâu”. Gates trả lời: “Nếu tôi là một người lính sắp đi hành quân thì thời gian đó có “sao” lắm chứ”.  Sau đó quân đội cho mở thêm tại Afghanistan 3 bệnh viện dã chiến, với bác sĩ, y tá cần thiết và nhiều trực thăng tải thương. Bây giờ thời gian tải thương tại Afghanistan cũng 1 giờ như tại Iraq.

Cách tổ chức binh chủng của bộ Quốc phòng Hoa Kỳ làm việc giải quyết những trở ngại trở nên khó khăn nếu ông Bộ trưởng Quốc phòng không đích thân can thiệp. Tuy nhiên trong nỗ lực cắt giảm ngân sách Quốc phòng ông Gates gặp sự chống đối của phe hữu trong quốc hội. Họ cho rằng như vậy trong tương lai Hoa Kỳ không có khả năng đối đầu với Trung quốc. Ông Gates hỏi ngược lại một cách khôi hài: “Theo quý vị vào năm 2020 nếu Hoa Kỳ chỉ có hơn Trung quốc 20 lần máy bay “tàng hình” (stealth fighters) là an ninh chúng ta bị đe dọa sao?”.  Đối với phe tả cũng vậy. Ông cho rằng chủ trương cắt giảm ngân sách hải ngoại và rút quân đội về của phe tả là một ý kiến sai lầm nguy hiểm.

Ông Gates không phải là “bồ câu”. Khi tổng thống Reagan bổ nhiệm ông làm giám đốc CIA, sự phê chuẩn tại Thượng viện gặp khó khăn vì có sự tiết lộ rằng ông Gates với tư cách chuyên viên về Xô viết đã báo cáo một cách sai lạc để phù hợp với chính sách cứng rắn đối với Liên bang Xô viết của tổng thống Reagan. Ông Gates nói chuyện đó không có, nhưng ông rút tên để khỏi làm phiền tổng thống Reagan.

Nhìn về tương lai ông Gates thấy Hoa Kỳ còn lệ thuộc vào nguồn dầu mỏ ở nước ngoài trong một thời gian dài và có nhiều thứ quyền lợi kinh tế sinh tử phải bảo vệ.

Cách thức giải quyết của Gates là tính trước. Ông nói: “Có một điều hay xẩy ra là khi kinh tế khó khăn hay sau một cuộc chiến lâu dài Hoa Kỳ thường có khuynh hướng tài giảm binh lực.”

Gates chủ trương cắt chi phí “overhead” là những chi phí ông cho không tối cần cho chiến tranh như cơ sở hạ tầng, nhân sự, căn cứ khoảng 100 tỉ. Và duy trì bằng mọi giá các chương trình máy bay không người lái và đoàn tàu đổ bộ lấy lính xa bờ (Littoral Combat Ship).

Mới đây khi đến thăm khu trục hạm Higgins, ông nói về giảm chi phí “overhead”, một thủy thủ hỏi, tiền giảm được để làm gì, ông Gates nói: “Cắt tiền ở đuôi để nuôi cái đầu. Và cái đầu là tiền lương của quân nhân ở tuyến đầu ngoài mặt trận.”

Giảm ngân sách Quốc phòng không phải chuyện dễ. Chương trình sắc sóc sức khỏe của quân nhân chẳng hạn. Trong 10 năm qua số tiền chi phí tăng lên gấp đôi. Tiền bảo hiểm gia đình quân nhân phải trả (premium) rất thấp và quốc hội không muốn tăng premium. Tiền premium này chỉ đủ trang trải 9% chi phí (so với năm 1999 là 37%).

Gates nói rằng: “Ai cũng biết phải làm gì để tiết giảm ngân sách quốc phòng đồng thời duy trì sức mạnh của quân đội, nhưng điều quan trọng là muốn làm và có ý chí chính trị để làm”. Robert Gates có lẽ chỉ làm bộ trưởng Quốc phòng một năm nữa và ông quyết làm cho được trước khi nghỉ hưu.

Quan sát chuyến thăm các căn cứ tại California của ông mới đây người ta nhận thấy nỗ lực tiết giảm ngân sách Quốc phòng là một điều ông rất tha thiết. Ông đang làm Viện Trưởng một viện đại học thì được mời ra làm bộ trưởng. Ông nói: “Tại đại học Texas A&M hằng ngày tôi thấy những thanh niên từ 18 đến 25 tuổi ăn mặt xuề xòa với quần cụt và T shirt chuyện trò đùa cợt với nhau đến lớp học. Bỗng tôi lại thấy những thanh niên cùng tuổi đó trang bị súng đạn đầy mình tại Iraq và Afghanistan.”

Gates là người ít để lộ sự xúc động ra ngoài. Nhưng mắt ông thường rướm lệ khi ông nói về  những người lính trẻ sắp ra chiến trường. Tại San Diego ông nói trước hàng quân lính TQLC vừa xong khóa huấn luyện căn bản bộ binh: “Tôi cảm thấy có trách nhiệm nặng nề đối với các anh như đối với các con tôi vậy”.

Tại Bộ Tư Lệnh Chiến Tranh Hải quân đặc biệt (Naval Special Warfare Command) trên đảo Coronado trong hải cảng San Diego, ông Gates trong bộ âu phục đen thường lệ đã đến chào mừng 67 người lính  (trong số 180 học viên) vừa vượt qua cuộc thử thách một tuần gọi là “Tuần lễ Địa ngục” (Hell Week) để được huấn luyện trở thành Người Nhái Hải quân (Navy Seal). Một huấn luyện viên nói với ông Gates, trong 5 ngày qua họ chỉ ngủ được tổng cộng 5 giờ và người rất hôi hám. Ông Gates không ngần ngại bước tới hàng Người Nhái bắt tay từng người với lời chúc tụng.

© TBN

© Đàn Chim Việt

http://www.danchimviet.info/archives/18343

Robert Gates và sự tiết giảm Ngân sách Quốc Phòng Hoa Kỳ

Lời giới thiệu: Tuần báo Newsweek, thuộc hệ thống Washington Post trong số ngày 20/9/2010, có một bài báo viết về ông Bộ trưởng Quốc phòng Robert Gates do hai nhà báo John Barry & Evan Thomas nhan đê`: “A War Within”. Với tình hình đang biến chuyển trên thế giới ông Robert Gates trở thành một nhân vật được dân chúng Hoa Kỳ quan tâm. Sau đây là nội dung bài báo dưới nhan đề: “Robert Gates và sự tiết giảm Ngân sách Quốc Phòng Hoa Kỳ”
** Trần Bình Nam lược dịch**
–:o0o:–

Tháng Năm vừa qua, ông Bộ trưởng Quốc phòng Robert Gates  đến đọc diễn văn tại thư viện Eisenhower tại Abilene, tiểu bang Kansas. Ông ca tụng tổng thống Eisenhower đã giảm chi tiêu quốc phòng trong thập niên 1950’s. Ông Gates nói: “Tổng thống Eisenhower là một nhà lãnh đạo đơn giản, không cầu kỳ với một đoàn phụ tá vừa đủ để làm việc – trái với thông lệ và thói quen tại các cơ sở thượng tầng tại Washington.”

Abilene là một tỉnh nhỏ nên báo chí ít đăng lời phát biểu của ông Gates. Nhưng tại thủ đô Washington và tại các cơ sở quốc phòng trên thế giới các tướng lãnh không thể không quan tâm đến ý nghĩa của nó.

Tại bộ Quốc phòng Hoa Kỳ người ta đồn ông Gates nhắm chỉ trích các tướng lãnh sống đời vương giả ngựa xe hầu cận. Newsweek hỏi ông Gates có thật vậy không, ông cười trả lời: “Tôi từng là một chuyên viên về Liên bang Xô viết nên tôi đọc các bài diễn văn của các lãnh tụ Xô viết rất kỹ. Tôi hy vọng người ta cũng đọc bài diễn văn của tôi kỹ như vậy. Nhân tiện ông Gates nhắc đến một bài diễn văn ông đọc vào tháng Tám mới đây trong đó ông bàn về hệ thống cấp bậc trong quân đội với những “nghi lễ và nón mũ rườm rà”.

Robert Gates là một người đơn giản. Ông sống một mình trong một khu gồm 3 ngôi nhà dành cho giới quốc phòng cao cấp. Vợ ông – bà Becky – vẫn ở tại tiểu bang Washington. Bà chán thủ đô và hơn nữa có ở thủ đô bà cũng ít có cơ hội gặp chồng. Ông Gates tự lo mọi việc kể cả nấu nướng và tưới vườn hoa trước nhà. Buổi tối ông ngồi viết thư chia buồn với gia đình các tử sĩ vừa bỏ  mình tại Afghanistan. Hai ngôi nhà còn lại trong khu ông ở dành cho hai vị tướng 4 sao. Và ông Gates thấy được sự dàn giá của một sĩ quan cấp tướng.

Ông Gates thấy khu nhà ở của các sĩ quan cấp tướng sang trọng và được bảo vệ vòng trong vòng ngoài. Ông nghĩ họ đáng được hưởng những tiện nghi và quyền lợi đó sau bao nhiêu năm mang gia đình di chuyển từ đơn vị này qua đơn vị khác. Nhưng điều ông khó chịu nhất là có một số sĩ quan cấp tướng tiền hô hậu ủng nhưng chỉ làm những công việc một vị đại tá cũng có thể làm được. Trong quân đội hệ thống quân giai nặng nề không khác thời Napoleon. Robert Gates cho rằng với phương tiện thông tin ngày nay quân đội có thể tổ chức một cách đơn giản hơn.

Theo Gates cũng như theo cách nhìn của các nhà lãnh đạo dân sự các ông tướng thích đòi quyền lợi mà đôi khi quên ưu tiên công việc của một tướng lãnh là gì. Nếu Gates có quyền ông sẽ tổ chức lại để các ông tướng biết tiết kiệm ngân quỹ hơn, và cho giải ngủ một số. Sau vụ khủng bố  911 số tướng và đô đốc trong quân đội Mỹ tăng thêm gần 100 vị nâng tổng số tướng lãnh lên đến 969. Trong đoàn quân trừ bị số tướng lên đến 1300 người. Gates có ý cho 50 tướng nghỉ hưu và hủy bỏ cơ quan Joint Forces Command thành lập sau khi Chiến tranh lạnh chấm dứt để phối hợp các binh chủng quân đội chống khủng bố. Cơ sở này gồm 6000 nhân viên và chi phí mỗi năm 250 triệu mỹ kim.

Ông Gates không có tính phô trương như ông Donald Rumsfeld. Gates theo gương tướng Eisenhower ở chức vụ Tư lệnh lực lượng đổ bộ Normandie và tướng George Marshall, Tham mưu trưởng Bộ binh trong Thế chiến II.

Sau 27 năm phục vụ ông Gates từng giữ chức vụ phụ tá An ninh Quốc gia và trở thành Giám đốc CIA dưới thời tổng thống George W. Bush. Ông Robert Gates có một bề ngoài khiêm nhượng nhưng không có nghĩa ông không có tham vọng. Tham vọng cuối cùng của ông là tổ chức lại nền quốc phòng Hoa Kỳ. Sau vụ 911 quân đội chi tiêu gấp đôi trước kia. Tổng thống Obama hứa giảm ngân sách quốc phòng mỗi năm 1%, nhưng ông Gates nghĩ cần cắt nhiều hơn nữa.

Tại buổi nói chuyện ở thư viện Eisenhower ông nhắc lời tướng Eisenhower khi  thay thế tướng Marshall làm Tham mưu trưởng Bộ Binh rằng ông hiểu quốc phòng mạnh và kinh tế sung mãn là hai điều phải song hành với nhau. Do đó khi trở thành tổng thống ông Eisenhower biết cách cắt giảm chi phí quốc phòng mà không làm giảm sức mạnh của Hoa Kỳ. Nhưng các vị tổng thống sau đó không ai có kinh nghiệm của Eisenhower và ngân sách quốc phòng cứ càng ngày càng phình ra. Trả lời phỏng vấn của Newsweek ông Gates nói ông sẽ theo gương tổng thống Eisenhower làm cho cái liên minh quyền lợi giữa “quân sự và kỹ nghệ quốc phòng” (military-industrial complex) hiểu thực tế của ngân sách quốc gia. Ông Gates nói: “Các bộ chỉ huy quân sự và dân sự của chúng ta quá nặng nề, đầu to đít nhỏ, quá dựa vào các hãng thầu và không có một ý thức gì về giá cả.”

Khi tổng thống Bush bổ nhiệm ông làm bộ trưởng quốc phòng năm 2006, ông làm việc 15 giờ một ngày để cứu vãn trận chiến tranh Iraq đang trên đà phá sản và nhận thấy rằng quốc gia đang lâm chiến mà bộ Quốc phòng làm việc như thời bình. Trong khi binh sĩ bị thương từ chiến trường về cần có chương trình sắc sóc đặc biệt thì bộ quốc phòng toàn đưa ra những chuyện to lớn chuẩn bị cho chiến tranh trong tương lai bằng những chương trình vũ khí tối tân và rất tốn kém. Ông Gates thấy có nhiệm vụ lo cho sự an toàn của người lính ngoài trận địa cũng như khi họ trở về gia đình, nhất là những binh sĩ bị thương tật. Tuần trước ông Gates đã gọi điện thoại cho một ông mục sư ở Florida yêu cầu đừng thực hiện đốt kinh Koran chính vì ông nghĩ đến sự an toàn của công dân Mỹ ở hải ngoại, quân cũng như dân.

Sau khi nhận chức Bộ trưởng Quốc phòng ông Gates cắt bỏ những chương trình lớn và tốn kém như chương trình hỏa tiễn chống hỏa tiễn, chương trình sản xuất F-22 và máy bay vận tải khổng lồ C-17 của Không quân, chương trình đóng khu trục hạm DDG-1000 và tuần dương hạm CG(X) của Hải quân và chú trọng vào chương trình máy bay nhỏ không người lái (drones) và tàu đổ bộ (Littoral Combat Ship). Ông Gates cho rằng chiến tranh tương lai trên biển không còn là những trận đánh giữa các hạm đội  như trong Thế chiến II nữa. Ông Gates cũng cho hủy bỏ chương trình đóng chiếc Marine One, một trực thăng giá 1 tỉ mỹ kim cho tổng thống dùng trong trường hợp có chiến tranh nguyên tử.

Tóm lại ông Gates đã cắt 20 chương trình và gỉảm chi cho bộ Quốc phòng được 300 tỉ mỹ kim. Trong buổi nói chuyện tại thư viện Eisenhower ông nói rõ hơn về chương trình tàu đổ bộ TQLC đang cần là một loại tàu nhỏ chạy nhanh có thể nhận lính đổ bộ 60 dặm cách bờ biển. Trong tương lai không có tàu chở lính đổ bộ nào có thể vào gần bờ hơn 60 dặm mà không bị hỏa tiễn địch tấn công.

Hiện nay tiếng nói của tổng thống Obama không còn nhiều ảnh hưởng tại quốc hội nên trọng lượng của ông Gates đối với quốc hội rất cần thiết. Tuy nhiên cái khó là nhiều thượng nghị sĩ không phân biệt chiến tranh (warfare) với an sinh xã hội (wellfare). Họ thường lấy cớ vì an ninh quốc gia để chống lại việc đóng cửa các cơ sở sản xuất vũ khí hay các căn cứ quân sự trong tiểu bang họ đại diện. Thật ra chỉ vì việc đóng cửa làm mất công ăn việc làm của dân và họ không muốn mất phiếu. Cũng trong tinh thần đó các vị Thượng nghị sĩ bang Virginia đang tranh đấu để bộ Quốc phòng không đóng cửa Joint Force Command, một bộ tư lệnh – theo ông Robert Gates – không còn cần thiết nữa.

Số nhân viên dân sự tại bộ Quốc phòng từ ngày 11/9/2001 cũng đã vượt quá nhu cầu và cần cắt giảm. Năm 1948 khi chiến tranh lạnh bắt đầu ông bộ trưởng Quốc phòng có một thứ trưởng cùng 3 phụ tá giúp việc với một ban tham mưu 50 người. Hiện nay ông Gates làm việc với 26 nhân viên cao cấp và dưới quyền họ có 3000 nhân viên dân chính.

Ông Gates quan tâm nhiều nhất đến binh sĩ bị thương ngòai chiến trường. Ông biết lính bị thương được nhanh chóng đưa đến các bệnh viện và tỉ số tử tuất rất thấp. Nhưng sau khi điều trị xong trở về đời sống của một quân nhân phế tật họ rơi vào bộ máy thư lại của bộ Quốc phòng. Ông cựu Bộ trưởng Bộ binh Francis Harvey bị mất việc vì không  giải quyết nổi nạn thư lại này.

Trong 6 năm làm bộ trưởng ông Rumsfeld bãi chức một viên chức cao cấp. Ông Gates chỉ trong 4 năm đã cho về vườn 14 viên chức quân cũng như dân sự trong đó có Phó chủ tịch bộ Tổng tham mưu, hai Bộ trưởng binh chủng, Tham mưu trưởng Không quân và Tư lệnh lực lượng đồng minh tại Afghanistan.

Mùa Xuân năm 2007, Gates đọc được một tin trên báo nói rằng TQLC từ khi dùng loại xe chống mìn MRAP (Mine-Resistant, Ambush-Protected) thì qua 300 vụ bị mìn không một quân nhân TQLC nào bị thương. Gates hỏi tại sao bộ binh Mỹ không dùng loại xe này thì cấp dưới trả lời trong ngân sách của Bộ binh không có mục đóng MRAP vì tiền kẹt vào chương trình vũ khi khác sẽ dùng trong 10 năm tới. Gates nổi giận với thứ lý luận đó, đích thân can thiệp. “Kết quả” ông Gates nói “đầu năm 2009 tại Afghanistan không có một chiếc MRAP nào, bây giờ  có 5000 chiếc”.

Tiêu chuẩn tại Iraq để đưa một binh sĩ bị thương từ chiến trường đến bệnh viện để được săn sóc hay giải phẫu là 1 giờ. Tại chiến trường Afghanistan vì địa thế khó khăn hơn tiêu chuẩn là 2 giờ. Gates nói chuyện với đoàn bác sĩ ở Afghanistan và họ nói “Không sao đâu”. Gates trả lời: “Nếu tôi là một người lính sắp đi hành quân thì thời gian đó có “sao” lắm chứ”.  Sau đó quân đội cho mở thêm tại Afghanistan 3 bệnh viện dã chiến, với bác sĩ, y tá cần thiết và nhiều trực thăng tải thương. Bây giờ thời gian tải thương tại Afghanistan cũng 1 giờ như tại Iraq.

Cách tổ chức binh chủng của bộ Quốc phòng Hoa Kỳ làm việc giải quyết những trở ngại trở nên khó khăn nếu ông Bộ trưởng Quốc phòng không đích thân can thiệp. Tuy nhiên trong nỗ lực cắt giảm ngân sách Quốc phòng ông Gates gặp sự chống đối của phe hữu trong quốc hội. Họ cho rằng như vậy trong tương lai Hoa Kỳ không có khả năng đối đầu với Trung quốc. Ông Gates hỏi ngược lại một cách khôi hài: “Theo quý vị vào năm 2020 nếu Hoa Kỳ chỉ có hơn Trung quốc 20 lần máy bay “tàng hình” (stealth fighters) là an ninh chúng ta bị đe dọa sao?”.  Đối với phe tả cũng vậy. Ông cho rằng chủ trương cắt giảm ngân sách hải ngoại và rút quân đội về của phe tả là một ý kiến sai lầm nguy hiểm.

Ông Gates không phải là “bồ câu”. Khi tổng thống Reagan bổ nhiệm ông làm giám đốc CIA, sự phê chuẩn tại Thượng viện gặp khó khăn vì có sự tiết lộ rằng ông Gates với tư cách chuyên viên về Xô viết đã báo cáo một cách sai lạc để phù hợp với chính sách cứng rắn đối với Liên bang Xô viết của tổng thống Reagan. Ông Gates nói chuyện đó không có, nhưng ông rút tên để khỏi làm phiền tổng thống Reagan.

Nhìn về tương lai ông Gates thấy Hoa Kỳ còn lệ thuộc vào nguồn dầu mỏ ở nước ngoài trong một thời gian dài và có nhiều thứ quyền lợi kinh tế sinh tử phải bảo vệ.

Cách thức giải quyết của Gates là tính trước. Ông nói: “Có một điều hay xẩy ra là khi kinh tế khó khăn hay sau một cuộc chiến lâu dài Hoa Kỳ thường có khuynh hướng tài giảm binh lực.”

Gates chủ trương cắt chi phí “overhead” là những chi phí ông cho không tối cần cho chiến tranh như cơ sở hạ tầng, nhân sự, căn cứ khoảng 100 tỉ. Và duy trì bằng mọi giá các chương trình máy bay không người lái và đoàn tàu đổ bộ lấy lính xa bờ (Littoral Combat Ship).

Mới đây khi đến thăm khu trục hạm Higgins, ông nói về giảm chi phí “overhead”, một thủy thủ hỏi, tiền giảm được để làm gì, ông Gates nói: “Cắt tiền ở đuôi để nuôi cái đầu. Và cái đầu là tiền lương của quân nhân ở tuyến đầu ngoài mặt trận.”

Giảm ngân sách Quốc phòng không phải chuyện dễ. Chương trình sắc sóc sức khỏe của quân nhân chẳng hạn. Trong 10 năm qua số tiền chi phí tăng lên gấp đôi. Tiền bảo hiểm gia đình quân nhân phải trả (premium) rất thấp và quốc hội không muốn tăng premium. Tiền premium này chỉ đủ trang trải 9% chi phí (so với năm 1999 là 37%).

Gates nói rằng: “Ai cũng biết phải làm gì để tiết giảm ngân sách quốc phòng đồng thời duy trì sức mạnh của quân đội, nhưng điều quan trọng là muốn làm và có ý chí chính trị để làm”. Robert Gates có lẽ chỉ làm bộ trưởng Quốc phòng một năm nữa và ông quyết làm cho được trước khi nghỉ hưu.

Quan sát chuyến thăm các căn cứ tại California của ông mới đây người ta nhận thấy nỗ lực tiết giảm ngân sách Quốc phòng là một điều ông rất tha thiết. Ông đang làm Viện Trưởng một viện đại học thì được mời ra làm bộ trưởng. Ông nói: “Tại đại học Texas A&M hằng ngày tôi thấy những thanh niên từ 18 đến 25 tuổi ăn mặt xuề xòa với quần cụt và T shirt chuyện trò đùa cợt với nhau đến lớp học. Bỗng tôi lại thấy những thanh niên cùng tuổi đó trang bị súng đạn đầy mình tại Iraq và Afghanistan.”

Gates là người ít để lộ sự xúc động ra ngoài. Nhưng mắt ông thường rướm lệ khi ông nói về  những người lính trẻ sắp ra chiến trường. Tại San Diego ông nói trước hàng quân lính TQLC vừa xong khóa huấn luyện căn bản bộ binh: “Tôi cảm thấy có trách nhiệm nặng nề đối với các anh như đối với các con tôi vậy”.

Tại Bộ Tư Lệnh Chiến Tranh Hải quân đặc biệt (Naval Special Warfare Command) trên đảo Coronado trong hải cảng San Diego, ông Gates trong bộ âu phục đen thường lệ đã đến chào mừng 67 người lính  (trong số 180 học viên) vừa vượt qua cuộc thử thách một tuần gọi là “Tuần lễ Địa ngục” (Hell Week) để được huấn luyện trở thành Người Nhái Hải quân (Navy Seal). Một huấn luyện viên nói với ông Gates, trong 5 ngày qua họ chỉ ngủ được tổng cộng 5 giờ và người rất hôi hám. Ông Gates không ngần ngại bước tới hàng Người Nhái bắt tay từng người với lời chúc tụng.

© TBN

© Đàn Chim Việt

Posted in Chinh Tri, Nhan Vat Chinh tri | Leave a Comment »

Fidel Castro nói: Mô Hình kinh tế cộng sản của Cuba hiện nay không còn phù hợp nữa

Posted by hoangtran204 trên 08/09/2010

Khi được hỏi rằng: Hệ thống kinh tế của Cuba vẫn còn đáng giá để xuất cảng sang các nước khác không? Fidel Castro trả lời: Mô hình kinh tế cộng sản của Cuba hiện nay không còn phù hợp cho chính chúng tôi nữa kìa.

Report: Castro says Cuban model doesn’t work

HAVANA – Fidel Castro told a visiting American journalist that Cuba’s communist economic model doesn’t work, a rare comment on domestic affairs from a man who has conspicuously steered clear of local issues since stepping down four years ago.

The fact that things are not working efficiently on this cash-strapped Caribbean island is hardly news. Fidel’s brother Raul, the country’s president, has said the same thing repeatedly. But the blunt assessment by the father of Cuba’s 1959 revolution is sure to raise eyebrows.

Jeffrey Goldberg, a national correspondent for The Atlantic magazine, asked if Cuba’s economic system was still worth exporting to other countries, and Castro replied: “The Cuban model doesn’t even work for us anymore” Goldberg wrote Wednesday in a post on his Atlantic blog.

He said Castro made the comment casually over lunch following a long talk about the Middle East, and did not elaborate. The Cuban government had no immediate comment on Goldberg’s account.

Since stepping down from power in 2006, the ex-president has focused almost entirely on international affairs and said very little about Cuba and its politics, perhaps to limit the perception he is stepping on his brother’s toes.

Goldberg, who traveled to Cuba at Castro’s invitation last week to discuss a recent Atlantic article he wrote about Iran’s nuclear program, also reported on Tuesday that Castro questioned his own actions during the 1962 Cuban Missile Crisis, including his recommendation to Soviet leaders that they use nuclear weapons against the United States.

Even after the fall of the Soviet Union, Cuba has clung to its communist system.

The state controls well over 90 percent of the economy, paying workers salaries of about $20 a month in return for free health care and education, and nearly free transportation and housing. At least a portion of every citizen’s food needs are sold to them through ration books at heavily subsidized prices.

President Raul Castro and others have instituted a series of limited economic reforms, and have warned Cubans that they need to start working harder and expecting less from the government. But the president has also made it clear he has no desire to depart from Cuba’s socialist system or embrace capitalism.

Fidel Castro stepped down temporarily in July 2006 due to a serious illness that nearly killed him.

He resigned permanently two years later, but remains head of the Communist Party. After staying almost entirely out of the spotlight for four years, he re-emerged in July and now speaks frequently about international affairs. He has been warning for weeks of the threat of a nuclear war over Iran.

Castro’s interview with Goldberg is the only one he has given to an American journalist since he left office.

___

On the Web: http://www.theatlantic.com/jeffrey-goldberg/

Posted in Chinh Tri, Kinh Te | Leave a Comment »

Paul Krugman: Nước Mỹ đang đi vào bóng tối

Posted by hoangtran204 trên 13/08/2010

Cập nhật lúc: 8/11/2010 8:20:09 AM (GMT+7)
Mọi thứ chúng ta biết về kinh tế học đều chỉ ra rằng một dân số được giáo dục tử tế và cơ sở hạ tầng chất lượng cao đều quan trọng trong quá trình phát triển. Các quốc gia đang phát triển đang nỗ lực rất lớn để nâng cấp đường xá, cầu cảng và trường lớp của họ, trọng khí ấy nước Mỹ đang lùi lại phía sau.

Ánh sáng đang tắt dần trên nước Mỹ, quả đúng như vậy theo cả nghĩa đen. Thành phố Colorado Springs đã tạo ra sự chú ý với nỗ lực tuyệt vọng của họ nhằm tiết kiệm tiền bằng cách tắt một phần ba đèn đường. Những điều tương tự cũng đang được các thành phố khác trên toàn đất nước thực hiện hoặc tìm cách áp dụng, từ Philadelphia tới Fresno.

Trong khi đó, quốc gia một thời từng làm thế giới sửng sốt bởi những khoản đầu tư đầy tầm nhìn vào giao thông, từ Kênh Erie tới Hệ thống đường cao tốc liên bang, giờ lại đang trong quá trình tự đóng lại các con đường của họ: trong nhiều bang, các chính quyền địa phương đang phá bỏ những con đường mà họ không còn duy trì được nữa, đành để chúng về với cát sỏi.

Và một quốc gia luôn tự hào về giáo dục, về vị trí luôn dẫn dầu của mình trong việc cung cấp giáo dục cơ bản cho tất cả trẻ em, giờ đây cũng đang phải cắt giảm. Giáo viên bỏ dạy, chương trình bị hủy, ở Hawaii, năm học thậm chí còn bị cắt ngắn đi đáng kể. Tất cả các dấu hiệu đều cho thấy thậm chí còn có nhiều cắt giảm hơn nữa phía trước.

Chúng ta được giải thích rằng nước Mỹ không có cơ hội nào khác, cái chức năng cơ bản nhất của mọi chính phủ là thực hiện những dịch vụ thiết yếu đã từng được cung cấp cho nhiều thế hệ nay lại không còn khả năng thực hiện được nữa. Đúng là cả chính quyền bang lẫn địa phương đều bị ảnh hưởng nặng bởi khủng hoảng nên đang rất kẹt tiền. Nhưng họ sẽ không đến nỗi kẹt như vậy nếu các chính trị gia sẵn sàng xem xét tăng một vài khoản thuế.

Còn chính phủ liên bang thì không thiếu tiền như vậy chút nào hết, họ có thể bán các trái phiếu dài hạn chống lạm phát với mức lãi suất vẻn vẹn 1,04%. Họ có thể và nên trợ giúp các chính quyền địa phương, để đảm bảo tương lai của cơ sở hạ tầng và giáo dục cho con em chúng ta.

Nhưng Washinton đang trợ giúp rất nhỏ giọt, và thậm chí là rất miễn cưỡng. Chúng ta phải ưu tiên giảm thâm hụt, những người Cộng Hoà và Dân chủ ôn hòa nói vậy. Và gần như ngay sau đó, chúng ta tuyên bố rằng nước Mỹ cần bảo vệ chương trình cắt giảm thuế cho những người giàu có với tổng hụt cho ngân sách tới 700 tỷ đôla trong thập kỷ tới.

Kết quả là, phần lớn tầng lớp tinh hoa chính trị của chúng ta đã cho thấy đâu là ưu tiên của họ: khi phải lựa chọn giữa việc yêu cầu lớp người giàu nộp thêm 2% hoặc nước Mỹ phải đi giật lùi, giữa việc người giàu phải đóng thuế suất như dưới thời bùng bổ của Clinton hoặc nền tảng của đất nước này sụp đổ, họ đã luôn chọn điều sau, theo nghĩa đen như đối với đường xá và theo nghĩa bóng đối với giáo dục.

Sự lựa chọn ấy là thảm họa trong cả ngắn hạn lẫn dài hạn.

Trong ngắn hạn, việc cắt giảm cả ở cấp bang lẫn địa phương thế này là một cú giáng vào nền kinh tế, tiếp tục kéo dài tình trạng thất nghiệp tồi tệ hiện nay.

Chủ nhân Nobel Kinh tế 2008: “Nước Mỹ đang đi giật lùi” (Ảnh: Huffington Post)

Hãy nhớ một điểm rất quan trọng là các chính quyền bang và địa phương rất khác so với liên bang. Bạn đang nghe người ta nói rằng chính quyền liên bang đang chi tiêu khá hào phóng dưới thời Obama. Đúng vậy, chính quyền liên bang đang tiêu nhiều hơn nhưng không như cái cách mà bạn nghĩ. Nhưng chính quyền bang và địa phương thì đang cắt giảm. Nếu gộp tất cả vào thì hóa ra là khoản tăng chi lớn nhất lại dành cho những chương trình an sinh xã hội như bảo hiểm thất nghiệp, khoản bảo hiểm đã tăng vọt nhờ vào tình trạng khốn khó của cuộc suy thoái.

Người ta vẫn cứ nói về những chương trình kích thích kinh tế thất bại, nhưng nếu nhìn vào cách chính quyền chi tiêu hiện nay một cách tổng thể, bạn không hề thấy bất kỳ cái gì gọi là kích thích kinh tế. Chi tiêu ở cấp liên bang đang khép dần trong khi các bang và địa phương tiếp tục cắt giảm rất mạnh, nước Mỹ đang đi giật lùi.

Nhưng tiết kiệm thuế cho lớp người giàu chẳng phải cũng là một dạng kích thích kinh tế hay sao? Nhưng mọi thứ không như thế nếu bạn để ý một chút. Khi chúng ta không để cho một giáo viên mất việc, sự trợ giúp ấy là rõ ràng, nhưng khi chúng ta đưa hàng triệu đôla thêm nữa cho những người giàu, rất dễ chúng sẽ nằm im đâu đó dưới gối của họ.

Vậy tương lai kinh tế của đất nước này ra sao? Mọi thứ chúng ta biết về kinh tế học đều chỉ ra rằng một dân số được giáo dục tử tế và cơ sở hạ tầng chất lượng cao đều quan trọng trong quá trình phát triển. Các quốc gia đang phát triển đang nỗ lực rất lớn để nâng cấp đường xá, cầu cảng và trường lớp của họ, trọng khí ấy nước Mỹ đang lùi lại phía sau.

Chúng ta đã tới nông nỗi này là do đâu? Đó là hệ quả logic của 3 thập kỷ với những luận điệu chống chính phủ, những luận điệu đã thuyết phục rất nhiều cử tri rằng mỗi đồng đôla đóng thuế đều là những đồng đôla lãng phí và khu vực công chẳng làm nên cơm nên cháo việc gì bao giờ.

Phong trào chống chính phủ luôn ở dạng phản bác lại sự lãng phí và sai trái, phản bác những khoản tiền khổng lồ gửi vào tài khoản của các quý bà giàu sang đi Cadillacs, phản bác lại đội quân công chức hùng hậu nhưng vô dụng với hàng núi giấy tờ của họ. Nhưng đó là một ngộ nhận, đương nhiên, không bao giờ hoàn toàn là lãng phí và sai trái như phe hữu tuyên bố.

Và giờ đây chiến dịch chống chính phủ ấy đang đơm hoa kết trái, chúng ta đang chứng kiến cái gì đang thực sự trở thành vật hi sinh: các dịch vụ dân thường trừ tầng lớp siêu giàu cần, các dịch vụ trừ chính phủ ra thì chẳng ai có thể cung cấp cả, đó là những con đường sáng đèn, những cao tốc dễ đi lại và những ngôi trường khang trang.

Kết cục cuối cùng của chiến dịch chống chính quyền này là chúng ta đang đi vào một ngả rẽ sai lầm thảm khốc. Nước Mỹ đang ở trên một con đường tăm tối và bế tắc tới miền vô định.

Trang Thư dịch

TIN LIÊN QUAN: Joseph Stiglitz: Sụp đổ lại đang đến rất gần

Posted in Chinh Tri, Kinh Te | Leave a Comment »

Diễn văn của thủ tướng Merkel trước lưỡng viện Hoa Kỳ ngày 3.11.09

Posted by hoangtran204 trên 23/06/2010

Âu Dương Thệ: Nữ Thủ tướng Cộng hòa Liên bang Đức, TS Angela Merkel, vừa đọc một diễn văn quan trọng trước Lưỡng viện Quốc hội Hoa kì ngày 3.11.2009. Đây cũng là dịp kỉ niệm 20 năm bức tường Berlin sụp đổ và từ đó đi tới tái thống nhất Đức trong tự do và hòa bình. Quốc hội Mỹ đã dành đặc ân này cho TS Merkel không chỉ vì bà là Thủ tướng nước Đức, một cường quốc kinh tế của EU, mà còn tỏ lòng ngưỡng mộ một phụ nữ xuất thân từ một nước Cộng sản, tức DDR cũ, nhưng đã rất đảm lược vượt qua nhiều thử thách chỉ trong một thời gian tương đối ngắn trở thành một phụ nữ lãnh đạo một nước dân chủ, tự do và phú cường ở Âu châu và một đồng minh quan trọng của Hoa Kỳ.
Tôi cám ơn tất cả Quí vị đã dành vinh dự lớn cho tôi được nói chuyện với Quí vị ngày hôm nay, chỉ ít ngày trước dịp kỉ niệm 20 năm sụp đổ của bức tường Berlin.Tôi là Thủ tướng Đức thứ hai được chia sẻ vinh dự này. Konrad Adenauer [Thủ tướng đầu tiên của Tây Đức, ghi chú của người dịch]*  là người đầu tiên, vào năm 1957 ông đã nói lần lượt ở hai Viện Quốc hội.

Cuộc đời giữa hai người chúng tôi có lẽ không thể khác biệt nhau hơn nữa. Năm 1957 tôi mới chỉ là một đứa trẻ 3 tuổi. Tôi đã sống với cha mẹ ở Brandenburg, một vùng thuộc DDR [tức Cộng hòa Dân chứ Đức theo chế độ Cộng sản, nay là Đông Đức], một phần đất mất tự do ở Đức. Cha tôi hành nghề mục sư. Mẹ tôi đã học Anh ngữ và tiếng Latein để trở thành giáo viên. Nhưng bà đã không được hành nghề ở DDR trước đây.

Konrad Adenauer đã 81 tuổi vào năm 1957. Ông ấy đã trải qua thời Hoàng đế ở Đức, Thế chiến Thứ nhất, Cộng hòa Weimarer [chế độ dân chủ đầu tiên ở Đức từ 1918-1933] và Thế chiến Thứ hai. Ông đã bị mất chức thị trưởng thành phố Köln bởi chế độ Quốc xã. Khi chiến tranh chấm dứt ông đã trở thành một trong số những nam nữ, những người đã khai sáng nước tự do, dân chủ Cộng hòa Liên bang Đức.

Đối với Cộng hòa Liên bang Đức thì không có gì quí bằng bản Hiến pháp của nó, đạo luật căn bản. Nó đã ra đời đúng 60 năm trước đây. Điều 1 của Hiến pháp này ghi rõ: “Nhân phẩm của con người không được xâm phạm”. Một câu thật ngắn và đơn giản – “Nhân phẩm của con người không được xâm phạm” – đã là câu trả lời về những thảm họa của Thế chiến Thứ 2. Nó đã giết hại 6 triệu người Do thái trong các lò thiêu, gây ra hận thù, đổ vỡ và tiêu hủy mà Đức quốc đã gây ra cho Âu châu và thế giới.

Chỉ còn vài ngày nữa chúng tôi kỉ niệm ngày 9.11. Vào ngày 9.11. 1989 bức tường Berlin đã sụp đổ, nhưng ngày 9.11. 1938, cũng ghi sâu trong lịch sử Đức và Âu châu. Chính vào ngày này Đức quốc xã  đã phá hủy và đốt cháy các nhà thờ [Do thái] và giết hại rất nhiều người. Đây là khởi đầu mở đường cho thảm họa gẫy đổ văn minh về sau này. Hôm nay tôi không thể đứng trước Quí vị ở đây, nếu không tưởng nhớ tới các nạn nhân trong ngày này và những thảm họa.

Có một vị khách đang cùng với chúng ta ở đây. Chính ông đã phải trải qua những kinh hãi ở nước Đức dưới thời Quốc xã và mới đây tôi đã hân hạnh được quen biết ông: Giáo sư Fritz Stern.  Ông sinh năm 1926 tại một phần đất thời đó thuộc Đức, nay là Breslau của Ba Lan và năm 1938 ông đã kịp thời cùng với gia đình chạy sang Mỹ trốn thoát bọn Quốc xã. Trong cuốn hồi kí của ông xuất bản năm 2006 dưới tựa đề “5 nước Đức tôi đã biết” Fritz Stern đã tường thuật khi đặt chân tới hải cảng New York vào năm 1938, đây cũng chính là hải cảng của tự do và an toàn.

Thưa Quí vị, thật là một kì diệu, lịch sử muốn rằng, chúng tôi – một thiếu niên khi ấy mới 12 tuổi bị xua đuổi khỏi Đức và tôi, nữ Thủ tướng nước Đức vừa tái thống nhất và đã từng lớn lên ở DDR – hôm nay cùng hiện diện trước nơi tôn nghiêm này. Điều này làm tôi rất vui sướng và cám ơn nhiều.

Trước đây 20 năm trước khi bức tường [Berlin] sụp đổ tôi không thể nào mơ tưởng được. Vì ngày đó thật là ngoài sức tưởng tượng của tôi có được một lần sang thăm Hoa kỳ, còn dám nói chi là một ngày nào đó được đứng ở đây.

Một nước với muôn vàn cơ hội – nhưng đối với tôi trong nhiều năm của cuộc đời tôi nó đã trở thành vô vọng. Bức tường, hàng rào kẽm gai, lệnh bắn – những điều này đã ngăn cản bước chân của tôi tới thế giới tự do. Vì thế tôi chỉ còn biết hình ảnh nước Mỹ qua các phim, sách một phần do những người thân đã mang lậu từ phương Tây.

Tôi đã nhìn thấy và đọc gì? Tôi đã hứng thú về những điều gì?

Tôi đã hứng khởi về một giấc mơ Hoa kỳ – cơ hội cho mọi người đạt tới thành công qua những nỗ lực của chính mình.

Tôi cũng như nhiều thiếu nữ khác ao ước những chiếc quần Jeans có tên tốt, nó không có ở DDR, nhưng đã được bà cô của tôi từ phía Tây gởi cho đều đặn.

Tôi đã hứng thú về một nước Mỹ rộng lớn, nó hít thở tinh thần tự do và độc lập. Ngay năm 1990 nhà tôi và tôi lần đầu tiên trong đời đã bay sang Mỹ tại California. Chúng tôi không bao giờ quên lần đầu tiên nhìn thấy Thái bình dương. Nó thật là hùng vĩ.

Đối với tôi cho tới 1989, ước mơ tới Mỹ hầu như không bao giờ đạt tới được. Nhưng ngày 9.11.1989 bức tường Berlin đã sụp đổ. Biên giới từng chia cắt một dân tộc thành hai thế giới từ nhiều thập niên đã không còn nữa.

Chính vì thế ngày hôm nay trước hết phải là lúc để cám ơn.

Tôi cám ơn các phi công Mỹ và đồng minh, những người vào năm 1948 đã đáp ứng lời kêu gọi khẩn thiết của thị trưởng Berlin ông Ernst Reuter; khi ông kêu gọi: “Các dân tộc trên thế giới,…hãy nhìn vào thành phố này…”. Ròng rã nhiều tháng các phi công này đã lập cầu không vận chuyên chở lương thực, nên đã cứu Berlin thoát khỏi nạn đói. Nhiều binh lính này đã gặp nguy hiểm và hàng chục người đã bị thiệt mạng.  Chúng tôi vẫn tưởng nhớ chân thành tới họ.

Tôi cám ơn 16 triệu lính Mỹ đã đồn trú tại Đức trong nhiều thập niên. Nếu không có sự đóng góp của họ, trong vai trò binh sĩ, nhà ngoại giao hay là người giúp đỡ thì không thể nào vượt qua sự chia cắt ở Âu châu. Hôm nay cũng như trong tương lai chúng tôi vẫn vui mừng về các binh sĩ Mỹ ở Đức. Họ là những đại sứ cho đất nước của Quí vị tại đất nước chúng tôi, điều này cũng như nhiều người Mỹ gốc Đức cũng là những đại sứ của chúng tôi trên quê hương Quí vị.

Tôi nhớ tới [Tổng thống] John F. Kennedy, trái tim nhiều người đã giành cho ông trong cuộc viếng thăm của ông vào năm 1961 sau khi xây bức tường Berlin. Khi ấy ông đã hô lớn với những người dân Berlin đang tuyệt vọng: “Tôi là một người dân Berlin”.

[Tổng thống] Ronald Reagan đã viễn kiến trước nhiều người về những dấu hiệu của thời đại. Khi đứng trước cổng Brandenburg năm 1987 ông đã kêu gọi: “Ông Gorbachew [Chủ tịch nước Liên xô cũ và nguyên Tổng bí thư đảng Cộng sản Liên xô] hãy mở cái cổng này… Ông Gorbachew hãy dẹp bức tường này!”.  Những lời kêu gọi này sẽ không bao giờ quên!

Tôi cám ơn [Tổng thống] George Bush [cha của Tổng thống George W. Bush], khi ấy ông đã tin tưởng nước Đức và Thủ tướng Helmut Kohl. Ngay từ tháng 5.1989 ông đã đưa ra đề nghị vô giá với nhân dân Đức là “cùng đồng hành trong lãnh đạo.” Thật là một đề nghị cao quí, 40 năm sau khi chấm dứt Thế chiến Thứ 2. Mới ngày Thứ bẩy vừa qua chúng tôi đã gặp nhau ở Berlin cùng với Michail Gorbachew. Ông cũng nhận được sự cám ơn của chúng tôi.

Thưa Quí vị, cho phép tôi được nói tóm tắt việc này trong một câu: Tôi biết, người Đức chúng tôi biết, chúng tôi cám ơn vô hạn Quí vị, những người bạn Mỹ của chúng tôi. Chúng tôi sẽ không bao giờ và cả cá nhân tôi sẽ không bao giờ quên Quí vị!

Khắp nơi ở Âu châu lòng mong đợi chung về tự do đã biến thành lực lượng không thể tưởng tượng được: Trong Nghiệp đoàn Solidarnosc ở Ba lan, những người đòi cải tổ qui tụ quanh Vaclav Havel [Thổng thống đầu tiên sau khi Tiệp khắc thoát khỏi chế độ Cộng sản] ở Tiệp khắc, việc mở cửa bức màn sắt lần đầu tiên ở Hung và những cuộc biểu tình vào ngày Thứ hai mỗi tuần ở DDR cũ.

Vì nơi nào trước đây có những bức tường đen tối thì nơi đó cửa được mở bất thình lình. Chúng tôi xuống đường, vào các thánh đường, vượt qua các biên giới. Mỗi người có được cơ hội bắt đầu xây dựng một cái gì mới, cùng nhau kiến tạo và dám mạnh dạn lên đường.

Chính tôi cũng đã lên đường. Tôi đã bỏ lại công việc là nhà vật lí tại Viện Khoa học ở Đông Berlin và tham gia hoạt động chính trị. Vì tôi đã có thể tổ chức. Vì tôi đã có cảm tưởng: Bây giờ sự việc có thể thay đổi được, bây giờ là lúc mình có thể làm một cái gì!

Thưa Quí vị, 20 năm từ khi phần thưởng vĩ đại của tự do đã đi qua. Tuy nhiên, cho tới bây giờ chưa có gì làm tôi sung sướng, chưa có gì làm tôi khích lệ, chưa có gì làm tôi hài lòng hơn là sức mạnh của tự do.

Ai đã từng trong đời bất ngờ trải qua một việc tốt thì người đó tin rằng có thể còn làm được nhiều việc khác nữa. Hay có thể dùng câu của [Tổng thống] Bill Clinton nói năm 1994 ở Berlin về việc này: “Không có gì cản trở được chúng ta. Mọi chuyện đều có thể xẩy ra.”

Vâng, mọi chuyện đều có thể xẩy ra – một phụ nữ như tôi hôm nay có thể đứng cạnh Quí vị ở đây, một người đàn ông như Arnold Vaatz trước đây dưới thời DDR từng là người tranh đấu dân quyền ở Dresden [một thành phố lớn ở DDR] và vì vậy đã có một thời kì phải ngồi tù, nay đang là một dân biểu của Quốc hội Liên bang Đức trong phái đoàn của tôi cũng đang ở đây.

Mọi chuyện đều có thể xẩy ra, cả trong thế kỉ của chúng ta, trong Thế kỉ 21, trong kỉ nguyên toàn cầu hóa. Chúng ta biết rằng, ở Đức chúng tôi cũng như ở Hoa kì của quí vị, toàn cầu hóa đang làm nhiều người lo ngại. Chúng ta không đơn giản bỏ qua điều này. Chúng ta nhìn nhận những khó khăn. Nhưng bổn phận của chúng ta là thuyết phục mọi người hiểu rằng, toàn cầu hóa là một cơ hội lớn của thế giới, cho từng lục địa, vì toàn cầu hóa thúc đẩy mọi nơi phải hành động chung với nhau.

Như thế phải chăng giải pháp thay thế cho toàn cầu hóa là đóng cửa. Nhưng đấy không phải là giải pháp đúng. Nó sẽ dẫn tới đói nghèo, vì nó đưa tới cô lập. Tư duy trong liên kết, tư duy trong hợp tác – nó dẫn tới một tương lai tốt.

Thưa Quí vị, Hoa kỳ và Âu châu không phải lúc nào cũng có tư tưởng đồng nhất. Có khi bên này nghĩ là bên kia quá lưỡng lự, quá lo sợ và ngược lại, bên kia lại nghĩ là bên này bướng bỉnh và quá thôi thúc. Mặc dầu vậy, nhưng tôi vẫn tin tưởng sâu sắc rằng: Một bạn đồng hành tốt hơn Mỹ không thể có cho Âu châu, đối với Hoa Kỳ cũng không thể có một bạn đồng hành tốt hơn là Âu châu.

Vì rằng, những gì dẫn dắt và ràng buộc giữa người Âu châu và Hoa Kỳ với nhau không chỉ là có chung một lịch sử. Những gì dẫn đắt và ràng buộc giữa người Âu châu và Hoa Kỳ với nhau không chỉ là vì cùng quyền lợi và cùng những thách đố, như thường có ở nhiều khu vực trên thế giới. Nếu chỉ những việc đó riêng thôi thì không đủ để xây dựng và gánh vác lâu dài cho mối đồng hành đặc biệt giữa Âu châu và Hoa Kỳ. Phải có gì sâu xa hơn.

Những gì dẫn dắt và ràng buộc giữa người Âu châu và Hoa Kỳ chính là có cùng căn bản giá trị giống nhau. Đó là biểu tượng chung về con người và nhân phẩm vô giá. Đó là sự hiểu biết giống nhau về tự do trong trách nhiệm. Chúng ta đã bênh vực những giá trị này trong tinh thần thân hữu liên Đại tây dương rất đặc biệt và trong giá trị chung của NATO [Liên phòng Bắc Đại tây dương]. Từ đó đã làm cho “cùng đồng hành trong lãnh đạo” được thực hiện, thưa Quí vị. Chính căn bản giá trị này đã chấm dứt được cuộc chiến tranh lạnh. Chính căn bản giá trị này có thể giúp chúng ta vượt qua những thử thách của thời đại hiện nay và chúng ta phải thành công!

Nước Đức đã thống nhất, Âu châu đã thống nhất. Những việc này chúng ta đã hoàn thành. Ngày nay thế hệ chính trị của chúng ta phải chứng tỏ rằng, chúng ta phải thành công đối với những thách đố của Thế kỉ 21 và có thể phá vỡ những bức tường ngày hôm nay hiểu theo một nghĩa bóng.

Đó là những điều gì? Một là kiến tạo hòa bình và an ninh. Hai là đạt tới hạnh phúc và công bằng và ba là bảo vệ trái đất của chúng ta. Trong các vấn đề này cả Mỹ lẫn Âu châu lại bị thôi thúc đặc biệt.

Cả sau khi Chiến tranh lạnh chấm dứt cũng vẫn còn vấn đề là phá vỡ những bức tường liên quan tới những quan điểm về cuộc sống, như những bức tường trong đầu mỗi người. Những bức tường này đang ngăn cản chúng ta, hoặc gây khó khăn để chúng ta hiểu nhau trên thế giới. Muốn vậy thì tinh thần khoan dung rất quan trọng. Đối với chúng ta thì phương cách sống của chúng ta là điều quan trọng nhất. Nhưng nó không phải là phương cách sống cho tất cả mọi người. Có nhiều giải pháp khác nhau để làm cho một cuộc sống chung tốt đẹp. Khoan dung là sự biểu lộ lòng kính trọng lịch sử, truyền thống, tôn giáo và nguồn gốc của những người khác.

Nhưng đừng có ai nhầm lẫn: Khoan dung không có nghĩa là thế nào cũng được. Không khoan dung với những ai không tôn trọng và chà đạp các quyền vô giá của con người. Không khoan dung với những ai, nếu võ khí giết người hàng loạt thí dụ như rơi vào tay Iran có thể đe dọa an ninh chúng ta. Iran phải biết điều này. Iran biết các đề nghị của chúng ta. Nhưng Iran cũng biết gianh giới: Một trái bom nguyên tử không được phép có trong tay của Tổng thống Iran, người từng phủ nhận Holocaut, đe dạo Do thái và không nhìn nhận quyền tồn tại [của Do thái].

Đối với tôi, nền an ninh của Do thái không bao giờ có thể thương lượng được. Chẳng những thế, không chỉ riêng Do thái bị đe dọa, mà là toàn thể thế giới tự do. Ai đe dọa Do thái cũng là đe dọa chúng ta. Vì vậy, thế giới tự do chống lại sự đe dọa này, nếu cần thì trừng phạt kinh tế nghiêm khắc. Thưa Quí vị, chính vì thế nước Đức chúng tôi ủng hộ mạnh mẽ tiến trình hòa bình ở Trung – Đông để thực hiện giải pháp hai quốc gia: một nước Do thái và một nước Palestin.

Chúng tôi cũng chống lại những đe dọa của khủng bố quốc tế. Chúng ta biết rằng, không có một nước nào – dù mạnh tới đâu – có thể đương đầu một mình. Chúng ta cần các đối tác. Chỉ trong sự hợp tác với các đối tác thì chúng ta mới mạnh.

Vì sau những cuộc khủng bố ngày 11.9 [2001] chúng tôi đã chia sẻ với quan điểm của Tổng thống George W. Bush khi ấy là, từ nay trở đi an ninh của thế giới không được phép bị đe dọa từ A phú hãn, cho nên từ năm 2002 Đức đã có một đoàn quân lớn thứ ba đóng tại đó. Chúng tôi muốn thực hiện thành công giải pháp được gọi là an ninh liên kết. Nghĩa là: Sự tham gia cả dân sự lẫn quân sự liên đới mật thiết với nhau.

Rất là rõ ràng: Sự dấn thân của nhiều nước ở A phú hãn là rất khó nhọc. Nó đòi hỏi chúng ta rất nhiều. Nó phải tiến tới một giai đoạn mới khi chính phủ mới ở A phú hãn nhậm chức. Mục tiêu phải là phát triển một chiến lược chuyển giao trách nhiệm. Chúng ta muốn triển khai việc này vào đầu năm tới tại Hội nghị của Liên hiệp quốc. Chúng ta sẽ thành công, nếu chúng ta cùng nhau đi từng bước tiếp tục trong liên minh như hiện nay. Đức tự ý thức trách nhiệm này.

Không có gì nghi ngờ: NATO đã và tiếp tục là cột trụ cho an ninh chung của chúng ta. Kế hoạch an ninh của nó được tiếp tục phát triển và thích ứng với những thử thách mới. Nền tảng và hướng đi của nó phục vụ hòa bình và tự do hoàn toàn không thay đổi.

Những người Âu châu chúng tôi – tôi tin tưởng như thế – có thể đóng góp cho việc này nhiều hơn nữa trong tương lai.  Vì người Âu châu chúng tôi trong tuần này sẽ hoàn thành cho Liên minh Âu châu một hiệp ước căn bản mới. Chữ kí cuối cùng cho việc này đã được kí. Nhờ thế Liên minh Âu châu sẽ mạnh hơn và hành động hiệu quả hơn và như vậy Hoa Kỳ sẽ có một người đồng hành mạnh hơn và tin cậy hơn.

Trên căn bản này chúng ta sẽ thiết lập sự hợp tác chặt chẽ với các đối tác khác, trước hết với Nga, Trung Quốc và Ấn. Thưa Quí vị, vì ngày nay chúng ta đang sống trong một thế giới tự do hơn và ràng buộc với nhau hơn trước đây. Sự sụp đổ của bức tường Berlin, cuộc cách mạng kĩ thuật trong thông tin và truyền thông, sự vươn lên của Trung Quốc, Ấn và nhiều nước khác trở thành các nền kinh tế năng động – tất cả những việc này đang biến đổi thế giới trong Thế kỉ 21 thành một thế giới khác so với Thế kỉ 20. Đây là một điều tốt. Vì tự do là qui luật của cuộc sống trong kinh tế và xã hội chúng ta. Chỉ có trong tự do con người mới có sáng tạo.

Nhưng một điều cũng rõ rệt: Tự do này không đứng riêng rẽ.  Đây là một tự do trong và hướng tới trách nhiệm. Cho nên cần phải có trật tự. Việc gần như gẫy đổ của thị trường tài chánh quốc tế đã cho thấy, điều gì sẽ xẩy ra nếu không có một trật tự này.

Nếu thế giới đã học một bài học từ cuộc khủng hoảng tài chánh của năm ngoái thì không thể bỏ qua được nhận thức là, một nền kinh tế toàn cầu hóa cần một khuôn khổ trật tự toàn cầu. Không có một ràng buộc trên bình diện thế giới dựa trên minh bạch và kiểm soát thì không thể bồi đắp được tự do, khi ấy sẽ dẫn tới lợi dụng tự do và từ đó đưa tới bất ổn định. Đó như một bức tường thứ hai, nó phải sụp đổ – một bức tường đang cản trở một trật tự kinh tế toàn cầu thực sự, một bức tường của các tư duy thiển cận khu vực và dân tộc hẹp hòi.

Chìa khóa trong sự hợp tác giữa các nước công nghiệp và các nước đang vươn lên nằm ở trong nhóm G 20 [20 nước công nghiệp và đang vươn lên tiêu biểu trên thế giới và gần đây đã có các Hội nghị cấp cao để giải quyết cuộc khủng hoảng tài chính-kinh tế toàn cầu]. Cũng tại đây sự hợp tác giữa Mỹ và Âu châu là một trụ cột quyết định. Đây là một sự hợp tác trong đó không loại trừ ai, nhưng nó kết hợp cả những nước khác.

Nhóm G 20 đã cho thấy, nó có khả năng hành động. Chúng ta phải chống lại các áp lực đã đưa nhiều nước trên thế giới sát bên bờ vực thẳm. Điều này không có gì khác, đấy chính là phải được thúc đẩy tiếp tục đường lối kinh tế quốc tế mạnh hơn nữa. Vì cuộc khủng hoảng đã cho thấy những suy nghĩ rất thiển cận. Hàng triệu người trên thế giới qua đó sẽ thất nghiệp và nghèo đói sẽ đe dọa. Để đạt tới hạnh phúc và công bằng, chúng ta phải làm tất cả để tránh một cuộc khủng hoảng tương tự không thể diễn ra, thưa Quí vị.

Điều này còn có nghĩa là, chống các chủ trương bảo hộ. Vì thế các cuộc đàm phán – Doha trong khuôn khổ của Tổ chức Thương mại Quốc tế [WTO] rất quan trọng. Một sự thành công của vòng đàm phán -Doha giữa lúc đang có cuộc khủng hoảng sẽ là một tín hiệu rất tốt cho việc thông thoáng kinh tế thế giới.

Tương tự vậy, Hội đồng kinh tế liên Đại tây dương cũng có một vai trò quan trọng. Chúng ta có thể ngăn cản các cuộc chạy đua bảo hộ và có thể đưa ra những biện pháp nhằm giảm các cản trở mậu dịch giữa Âu châu và Mỹ. Tôi yêu cầu Quí vị: Quí vị hãy để chúng ta cùng đấu tranh cho một trật tự kinh tế thế giới, việc này nằm trong lợi ích của Âu châu và Hoa Kỳ!

Thưa Quí vị, những thách đố toàn cầu chỉ có thể vượt qua được trong sự hợp tác quốc tế toàn diện, nó đang xuất hiện như một thử thách thứ ba của Thế kỉ 21. Trong đó có thể hình dung như một bức tường giữa hiện tại và tương lai. Bức tường này đang ngăn cản tầm nhìn về những nhu cầu của các thế hệ tiếp theo. Nó cản trở những sự bảo vệ rất cần thiết cho nền tảng đời sống tự nhiên và khí hậu của chúng ta.

Những sự tiêu phí này sẽ dẫn tương lai chúng ta về đâu, điều này chúng ta có thể thấy được ngay lúc này: Ở khu Arktis [Bắc cực] các băng đá đang tan, ở Phi châu con người đang phải chạy trốn vì môi trường của họ bị tàn phá, mực nước biển đang dâng cao ở khắp nơi trên thế giới. Tôi rất vui mừng là Tổng thống Obama và Quí vị đã đề cao việc bảo vệ khí hậu trong các hoạt động của Quí vị. Tất cả chúng ta đều biết: Chúng ta không còn nhiều thời gian. Chúng ta cần đạt tới thống nhất trong Hội nghị Khí hậu vào tháng 12 ở Kopenhagen [thủ đô Đa mạch]. Chúng ta cần thống nhất trong mục tiêu: Sự hâm nóng toàn cầu không được phép vượt quá 2° C.

Trong đó chúng ta cần sự sẵn sàng của các nước thực hiện nghiêm chỉnh các thỏa thuận quốc tế. Trong việc bảo vệ khí hậu, chúng ta không thể làm khác các mục tiêu khoa học đã cho biết. Khi ấy không chỉ vô trách nhiệm về môi trường. Nó còn là thiển cận trong  kĩ thuật. Vì những phát triển của kĩ thuật mới trong lãnh vực nhiên liệu tạo ra những cơ hội lớn cho tăng trưởng và những chỗ làm tương lai.

Không có gì phải nghi ngờ: Trong tháng 12 thế giới đang chăm chú vào chúng ta, vào Âu châu và Hoa Kỳ. Đây là một sự thật: Nếu không có sự tham gia của Trung quốc và Ấn thì công việc sẽ không chạy. Nhưng tôi tin rằng: Nếu chúng ta ở Âu châu và Hoa kì sẵn sàng đảm nhận nghiêm túc các thỏa thuận, thì chúng ta sẽ thuyết phục được Trung quốc và Ấn. Khi đó ở Kopenhagen chúng ta có thể vượt qua bức tường đang tồn tại giữa hiện tại và tương lai – trong lợi ích con cháu của chúng ta và trong lợi ích của một cuộc phát triển vững vàng trên toàn cầu.

Thưa Quí vị, tôi tin rằng: Như chúng ta trong thế kỉ 20 đã từng có sức mạnh làm đổ bức tường từ hàng rào kẽm gai và bê-tông, thì ngày nay chúng ta cũng có sức mạnh vượt qua được những bức tường của Thế kỉ 21 – Các bức tường trong các đầu của chúng ta, các bức tường trong tính toán quyền lợi riêng thiển cận, các bức tường giữa hiện tại và tương lai!

Thưa Quí vị, niềm tin của tôi bắt nguồn từ một âm thanh đặc biệt – âm thanh của cái Chuông Tự do trong tòa thị chính ở Schöneberg của Berlin. Ở đó từ năm 1950 treo một cái chuông phỏng theo Chuông Tự do của Mĩ. Nó do công dân Hoa kì tặng và nó là dấu hiệu của lời hứa tự do, nó đã trở thành sự thực. Ngày 3.10.1990 Chuông Tự do đã vang lên khi nước Đức tái thống nhất. Ngày 13.9.2001 nó lại vang lên một lần nữa, chỉ hai ngày sau 11.9 – chính là lúc nỗi đau buồn lớn nhất của dân tộc Hoa kì!

Chuông Tự do ở Berlin cũng giống Chuông Tự do ở Philadelphia, một biểu tượng nhắc nhở chúng ta là, tự do không tới tự nó. Nó phải được đấu tranh và phải được bảo vệ hàng ngày trong cuộc sống của chúng ta.  Trong cố gắng này, Đức và Âu châu trong tương lai vẫn là những bạn đồng hành mạnh và đáng tin cậy của Hoa Kỳ. Tôi bảo đảm với Quí vị như vậy!

Chân thành cám ơn Quí vị.

 
——————————————————————————————-
 

Công nhân Trung Quốc mỗi năm được tăng lương 10-20%, nhưng vẫn đòi hỏi nhiều hơn nữa

 
Điều đặc biệt của các cuộc đình công của công nhân Trung Quốc là chính quyền TQ không nhúng tay vào để ngăn chận, đàn áp, đánh đập công nhân, bắt giữ và cô lập các lãnh đạo công nhân biểu tình đòi tăng lương. Trong khi nếu chuyện nầy xẩy ra ở VN, thì chính quyền VN sẽ về phe với các chủ tư bản để bắt giam các lãnh đạo công nhân VN như họ vẫn làm trong suốt 10 năm qua. Đây chính là sự khác biệt lớn, cũng như lương công nhân TQ trung bình 1 tháng là 400-600 đô, thì luông công nhân VN làm cùng công việc lại chỉ có chừng 60-90 đô/ 1 tháng. Và trong khi công nhân TQ có thể dùng đông tiên lương của họ để dành để mua nhà, thì công nhân  VN lãnh tiền lương chỉ đủ tiền ăn cần kiệm qua ngày. Cũng là  đảng công sản, nhưng cách cai trị dân và sự hà khắc thì khác nhau.

Strikes in China halt Toyota, Honda factories

By JAY ALABASTER, Associated Press Writer Jun 22, 2010

TOKYO – Toyota Motor Corp. and Honda Motor Corp. said Wednesday they stopped production at some of their car assembly plants in southern China after parts suppliers were hit by more labor unrest.

The fresh walkouts at the Japanese car makers are slowing output and adding to costs at a time when both companies have been ramping up production to meet strong demand.

Chinese migrant workers, the backbone of the country’s industrial sector, are becoming increasingly vocal in demands for higher wages. Several auto-related labor disputes have erupted recently in the Guangzhou region, where both Toyota and Honda have manufacturing bases with local partner Guangzhou Auto Group.

Honda, Japan’s No. 2 automaker, said production at one of two auto assembly plants at its joint venture Guangqi Honda Automobile Co. was suspended. Honda said it was unclear when the plant can resume production.

The shutdown was due to a shortage of parts supplies caused by the strike. But Honda declined to give further details, including the name of the affected parts supplier.

Toyota’s plant in Nanshan near southern Guangzhou, which represents about half of its total capacity in China, remained shut after the strike forced the world’s biggest automaker to suspend production a day earlier.

“Production remains suspended. We don’t know when we can resume operations,” said Toyota spokesman Hideaki Homma in Tokyo.

The factory was closed down after a strike began at a supplier run by Japanese parts-maker Denso Corp.

Denso workers demanding higher wages have refused to work since Monday, said Denso spokesman Yu Matsuda from the company’s headquarters in Aichi, central Japan.

Denso held wage negotiations with workers, Matsuda said, but declined to give details. Denso’s plant, which employs 1,100 workers, makes fuel injectors for engines.

“We have been actively discussing a wage solution with our workers in Nanshan. So far, we cannot give any details or schedule, but we do hope workers can return to work as soon as possible,” said Shen Meihua, a spokeswoman for Denso in Beijing.

Last week, a strike at a Toyota plastic parts supplier in the northeastern Chinese city of Tainjin forced a Toyota plant there to shut down for a day. That followed a similar one-day walkout at another supplier earlier in the week.

The latest shutdown occurred at GAC Toyota Motor Company Ltd., which can produce 360,000 cars, such as the Camry, per year at full operation. Toyota has a total Chinese capacity of about 800,000 vehicles at five plants.

Earlier strikes at several Chinese suppliers of Honda forced it to suspend car assembly intermittently in the past month because of a lack of parts.

The Honda plant now stalled by strikes makes the popular Accord sedan and Fit hatchback and has an annual production capacity of 240,000 vehicles.

The increasing agitation among workers poses a problem for Japanese companies that shifted production to China in the hopes of taking advantage of lower labor costs and cashing in on its growing consumer market.

___

Associated Press writer Shino Yuasa in Tokyo and researcher Ji Chen in Shanghai contributed to this report.

http://news.yahoo.com/s/ap/20100623/ap_on_bi_ge/as_china_labor

————–

Big wheels get ready for the fast lane
despite labor bumps

08:15, June 23, 2010

China will retain its competitive edge and remain a favorite manufacturing destination for global automakers, but the recent labor unrests may increase costs for companies, industry sources and analysts said on Tuesday.

Kevin Wale, president and chief executive of General Motors China told China Daily that the recent labor disputes will not impact the company’s investment appetite in China.

“It’s common. Labor issues occur everywhere, but China’s huge market potential is more important,” said Wale.

Foreign carmakers’ success in China have been the vital cogs for their strong global performance, and hence no company can avoid its presence here, said Xu Changming, research director of the China State Information Center.

He emphasized that the recent strikes at the Honda and Toyota parts subsidiaries will not influence the investment decisions of other automakers.

“Although there are reports that some companies are pumping heavy investments into countries such as India and Vietnam, it does not necessarily mean that they are withdrawing or scaling down operations in China,” said Zhong Shi, a Beijing-based auto analyst.

The labor problems of the past few weeks have forced companies to increase labor costs and put pressure on many manufacturing units which are grappling with a shortage of trained personnel.

“China has the strength to attract foreign investment on its own rather than use the ‘biggest factory’ tag,” said Su Hainan, vice-president of the China Association for Labor Studies.

“China’s competitiveness is no longer in its cheap labor,” said Zhong

“The nation’s integrated infrastructure and transportation provides automakers with relatively high levels of logistics efficiency for their supply chain and vehicle deliveries. That alone, has more impact on the total cost than labor”, he said.

“Most of the global automakers have been operating in China for several years now and also built up a comprehensive parts supply system. This is something that cannot be easily replicated elsewhere,” said Zhong.

Honda and Toyota had indicated that they intend to improve the localization content of their cars to more than 90 percent by this year, while Nissan is targeting an import substitution rate of 90 percent by 2012.

According to Beijing-based consulting firm Sinotrust, more than 70 percent of the parts used by the local joint ventures of foreign automakers are made in China.

Moreover, “the quality of the local work force has improved over the years and is of much better standard than other Asian countries. This clearly indicates the production efficiency in China”, said Zhong.

“I do not think there is anything wrong in workers seeking higher wages,” said Su.

Even if employers increase wages by 10 to 20 percent every year, labor costs in China will still be lower than most Western countries.

Both Su and Zhong agree that companies need to consider a reasonable and acceptable salary increase that is in line with their capabilities, to avoid possible potential labor unrests.

“China has been the world’s biggest auto market with the most promising future. Who will want to leave such a huge market?” said Zhong.

“Nearly all the foreign automakers enjoy high profit margins in China,” said Xu.

China’s auto sales surged by 46 percent to 13.6 million units last year and helped the nation surpass United States as the biggest auto market in the world.

Automobile sales in China are expected to maintain a year-on-year growth rate of 20 percent for the next five years, said a recent survey conducted by consulting firm AlixPartners.

The brisk sales and booming demand has also forced automakers to consider capacity expansion and more investments. Nissan recently said it wants to boost productivity as costs increase.

“We need to boost productivity in China,” said Chief Operating Officer Toshiyuki Shiga in a recent Bloomberg interview. “Just because labor costs are higher in China doesn’t mean we are leaving,” he said.

Source: China Daily

http://english.people.com.cn/90001/90778/90860/7035895.html


Posted in Chính Sách Đối Ngoại, Chinh Tri, Chinh Tri Hoa Ky | Leave a Comment »