Trần Hoàng Blog

Archive for Tháng Mười Một, 2014

►Trần Đỉnh, Đèn Cù tập 2: Bí ẩn cung đình đỏ và thân phận con người

Posted by hoangtran204 trên 27/11/2014

 

dencu-2-622.jpg

Bích chương quảng cáo Đèn Cù tập 2 của Trần Đĩnh.

.

Kính Hòa, phóng viên RFA
25-11-2014
.

Tác phẩm Đèn cù phần 2 của nhà văn Trần Đĩnh sẽ ra mắt bạn đọc trong thời gian tới đây. Những dòng tự sự về thân phận con người trong chế độ cộng sản cũng như những bí ẩn chính trị bị che dấu tiếp tục được phơi bày. Sau đây là góc nhìn của một trong những độc giả đầu tiên của Đèn cù phần hai.

Hồng cung bí sử

“Ông Lê Trọng Nghĩa xuất thân là một sinh viên khoa Luật, thông thạo nhiều thứ tiếng. Năm 23 tuổi (tức 1945) ông làm thuyết khách gặp gỡ Trần Trọng Kim, thuyết phục chỉ huy Nhật ở Trại Bảo an binh và tham gia đàm phán với Tổng chỉ huy quân đội Nhật ở Hà Nội. Chia sẻ về công việc của mình, ông nói: “Tôi theo dõi tất cả các vấn đề có quan hệ tới đối phương như Pháp, Mỹ, và các nước khác có liên quan đến cách mạng Việt Nam. Dựa vào những tin tức đó, Bộ Chính trị đưa ra chủ trương, quyết sách”. Giai đoạn Cách mạng Tháng 8, ông Nghĩa đại diện chính quyền Việt Minh liên hệ với quân đội Nhật. Chủ trương lúc đó của Việt Nam là chỉ huy quân giải phóng đánh vào quân Nhật đang co cụm ở Thái Nguyên để mở đường Nam tiến.”

Đó là đoạn trích từ bài báo ngày 11/10/2014 trên báo mạng Vnexpress tại Việt nam. Bài báo này ghi nhận cảm nghĩ của ông Lê Trọng Nghĩa về Đại tướng Võ Nguyên Giáp, đồng thời cũng ghi vắn tắt tiểu sử của ông Nghĩa, một người từng đứng đầu ngành tình báo Việt nam và giữ vai trò quan trọng nhất trong cuộc cướp chính quyền tháng Tám năm 1945.

Điều mà báo này không nhắc đến là chuyện ông Nghĩa bị bắt, không án trong cái gọi là vụ án xét lại chống Đảng.

Điều này lại được tác giả Trần Đĩnh ghi nhận rất chi tiết trong phần hai cuốn tự truyện Đèn Cù.“Nhưng thân phận cựu Đại tá tình báo Lê Trọng Nghĩa không quan trọng bằng tiết lộ của ông về cuộc cách mạng tháng tám mà Trần Đĩnh ghi lại”. Theo tiết lộ này thì trong tháng tám 1945 những người đứng đầu Việt minh, mà nòng cốt là đảng cộng sản đã ra quân lệnh số 1 tấn công quân đội Nhật bản đang chiếm đóng Đông dương lúc ấy. Trong khi đó thì bộ phận Việt minh ở Hà nội do ông Lê Trọng Nghĩa đứng đầu thương lượng thành công với quân đội Nhật để lên nắm chính quyền. Ông Hồ Chí Minh và các cố vấn của ông đều không biết việc này. Và khi những đội quân Việt minh đầu tiên tiến về Hà nội từ Việt bắc vẫn phải xin phép quân đội Nhật.

“Điều này có nghĩa là sự thành công của cách mạng tháng tám không phải là sự tổ chức sắc sảo từ đầu đến cuối của đảng cộng sản Việt nam mà là một khoảng trống về quyền lực lúc ấy trên bán đảo Đông Dương.

Những tiết lộ lịch sử ấy ắt hẳn là điều mà nhiều người quan tâm đến lịch sử và chính trị Việt nam mong đợi từ quyển sách Đèn Cù tập 2 sắp xuất bản, cũng như họ đã mong đợi từ phần một quyển tự truyện này.

Một điều có lẽ cũng sẽ gây ngạc nhiên cho người đọc khi Đèn cù 2 tiết lộ rằng Lê Duẫn đã từng tiếp xúc với tình báo Mỹ, mặc dù sau đó tại đại hội trung ương đảng lần thứ 9 ông là người đứng đầu phái thân Mao chủ trương dùng bạo lực để tiến đánh miền Nam.

Nhà văn nhà báo Trần Đĩnh, ảnh chụp năm 1998. Hình do ông cung cấp.

Nhà văn nhà báo Trần Đĩnh, ảnh chụp năm 1998. Hình do ông cung cấp.

Cũng liên quan đến ông Lê Duẫn, những điều Trần Đĩnh ghi chép lại cho biết rằng sự “bất kính” của ông Duẫn đối với ông Hồ đã bắt đầu từ khi ông được huấn luyện bởi các bậc đàn anh như Trần Phú, Hà Huy Tập, những người được Quốc tế cộng sản công nhận chứ không phải là ông Hồ, một kẻ bị thất sủng, dù ông cũng là người được Đệ tam quốc tế đào tạo từ rất lâu.

Người ta cũng sẽ ngạc nhiên khi biết rằng Trần Đĩnh nghi ngờ nhân vật Trần Xuân Bách khi ông này đề ra những ý tưởng cải cách chính trị cởi mở hơn cho Việt nam.

Và những câu chuyện thâm cung bí sử về những nhân vật chính trị một thời của đảng cộng sản Việt nam tiếp tục được ghi lại qua ngòi bút dí dỏm của Trần Đĩnh, người chỉ khiêm tốn đặt tên cho quyển sách đầy ắp tư liệu lịch sử của ông là “Truyện tôi”.

Những chi tiết lịch sử ấy Trần Đĩnh gọi là “Hồng cung bí sử”.

Thân phận con người

Những sự kiện lịch sử dù bị che dấu, cũng sẽ dần dần lộ ra trong thời đại thông tin toàn cầu này,“điều mà Trần Đĩnh đem đến nhiều nhất cho người đọc chính là sự mô tả thân phận con người trong và dưới chế độ cộng sản.”

Những nhân vật trong guồng máy như các ông Lê Liêm, Bùi Công Trừng, Đặng Kim Giang, Ung Văn Khiêm,… những người có công gầy dựng nên đảng cộng sản bị đối xử một cách tàn khốc khi sa cơ thất thế, bị chính các đồng chí ngày hôm qua của họ giáng xuống những bản án nặng nề. Trần Đĩnh viết:

“Đất nước bị mắc phải một giống vi trùng có tên là tính đảng. Nó kháng lại mọi yêu cầu tử tế của con người.

Ông viết thêm là ở nước Việt nam, nhờ có đảng mà cái gì cũng là hai mặt, hai mang. Và những tư tưởng giai cấp mà đảng cộng sản đem vào Việt nam đã để lại những sự đảo điên vô cùng nghiêm trọng cho xã hội Việt nam:

“Nó gây sốc đảo điên dân tộc, nó đem vào lập trường đấu tranh giai cấp, đi vào trong mọi quan hệ xã hội, họ hàng gia đình, bạn bè để đấu tố nhau, xin mạng nhau.

Tuy nhiên cuộc đấu đá quyền lực của những người lãnh đạo cộng sản không làm họ xao nhãng việc cai trị. Trần Đĩnh viết tiếp:

“Tôi lạ là các bộ óc đầy hằn học, nghi ngờ nhau như vậy vẫn nhất trí được với nhau trong việc trị dân.

Sự phản kháng của dân chúng trước sự toàn trị ngặt nghèo của đảng được Trần Đĩnh mô tả lại qua những buổi trò chuyện dài giữa ông và anh thanh niên vá xe đạp. Qua đó người đọc thấy sự phản ứng rất đặc biệt của người dân dưới chế độ cộng sản: Không có những cuộc biểu tình, những cuộc nổi dậy mà có sự châm biếm các giới lãnh đạo, sự biến thái của ngôn ngữ để chuyển tải những câu chuyện khôi hài đen.

Đọc Đèn cù tập 2 người ta cũng thấy một mối quan hệ đặc biệt giữa những người bất đồng chính kiến, những người bị chế độ lên án với những nhân viên an ninh theo dõi họ. Họ tồn tại song song nhau, khai thác nhau. Bộ máy an ninh dày đặt đã gieo rắc sự sợ hãi vào trong lòng dân chúng, và cả những người có cương vị trong xã hội. Trong xã hội ấy một khi người ta ngại tiếp xúc với các cơ cấu của bộ máy quyền lực chính là lúc người ta bắt đầu có biểu hiện của sự khủng hoảng tâm thần do bị đàn áp về tinh thần. Đó là nhận xét của Trần Đĩnh về những thân phận con người xung quanh mình và ông thường xuyên tự nhắc mình rằng trong cái sợ đó “phải ứng phó làm sao cho đúng cốt cách một con Người”.

Dù biết rằng bất cứ sự so sánh nào cũng khập khiễng, nhưng câu chuyện về những nhân vật cộng sản Việt nam mà Trần Đĩnh ghi lại, không khỏi gợi cho độc giả nhớ đến cuốn tiểu thuyết chính trị của nhà văn Pháp Andre Malraux mang tựa đề “Thân phận con người”, mô tả cuộc nổi dậy của lực lượng cộng sản tại Thượng hải, Trung quốc vào những năm 1930. Người ta thấy nhiều âm mưu, nhiều sự bội phản, nhiều sự cơ hội, và trên hết là sự ảo tưởng mà Trần Đĩnh gọi là sự Mộng tưởng. Sự mộng tưởng vào chủ nghĩa cộng sản ám ảnh tác giả lớn đến mức mà ông lập lại đến hai lần trong phần hai của tác phẩm Đèn cù:

“Mộng tưởng không trọng lượng nhưng đè sập biết bao đời người.

 

Advertisements

Posted in Sách-Hồi Ký-Bài Báo..., Đảng CSVN | Leave a Comment »

►Cựu Bí thư tỉnh ủy Bến Tre Trần Văn Truyền: Sao chỉ mình tôi?

Posted by hoangtran204 trên 27/11/2014

Sao chỉ mình tôi?

LÊ THANH TÂM

Báo Tuổi Trẻ

22-11-2014

 

TT – Sự thật về khối tài sản của ông Trần Văn Truyền được phơi bày khiến nhiều người hi vọng sẽ tiếp tục lộ ra nhiều sự thật khác, để ông Truyền khỏi thắc mắc: “Sao chỉ mình tôi?”.  

Căn biệt thự tại Bến Tre – một trong những tài sản hoành tráng của ông Truyền – Ảnh: Ngọc Tài

Dư luận rất hoan nghênh việc Ủy ban Kiểm tra Trung ương Đảng công bố công khai kết luận sai phạm của ông Trần Văn Truyền – nguyên tổng Thanh tra Chính phủ. 

Đây là một bản kết luận rõ ràng, trong đó có nêu biện pháp xử lý cụ thể đối với ông Trần Văn Truyền và các cá nhân, tổ chức có liên quan.

Qua kết luận của Ủy ban Kiểm tra Trung ương Đảng có thể hiểu ngay mức độ sai phạm, tính chất sai phạm của ông Trần Văn Truyền. 

Điều đáng nói nhất, ông Truyền là một trong các vị “bao công”, đứng đầu một cơ quan chống tham nhũng, người có quyền lực kiểm soát tài sản của cán bộ nhưng lại gian dối hết lượt này tới lượt khác để liên tục được cấp nhà, cấp đất.

Đó là chưa kể việc ông Truyền còn cố bám lấy nhà công vụ, chỉ chịu nhả ra khi thấy không thể “ôm” nổi.

Cần nhớ rằng đối với một cán bộ bình thường, nếu ai may mắn được cấp nhà hoặc đất dù chỉ một lần thôi cũng đủ để coi đây là “ân huệ” lớn tới mức nằm mơ không thấy.

Vậy mà ông Truyền vẫn dễ dàng lách qua cửa hẹp, nhiều lần được cấp nhà, cấp đất cho bản thân cũng như con cái ở những nơi “đắc địa”. Ông Truyền quả là biết phát huy cái ân, cái uy của một vị “bao công” trong việc… thu vén cá nhân.

Ai cũng biết xin được cấp nhà, cấp đất là cả một câu chuyện dài, đầy những thủ tục phức tạp nhiêu khê, phải qua đủ loại tầng nấc xét duyệt mà chưa chắc “giấc mộng đã thành”.

Từ thực tế này, câu hỏi đặt ra là tại sao ông Truyền lại làm được cái việc “con voi chui lọt lỗ kim”. Phải chăng là cơ quan chức năng quá hớ hênh? Hay bị cái bóng của ông Truyền trùm lên mà mờ mắt?

Qua vụ việc của ông Truyền, có một vị đại biểu Quốc hội nói: “Còn bao nhiêu ông Truyền nữa?”. Đúng là đang có một bộ phận cán bộ có nhiều nhà cao cửa rộng không kém ông Truyền, trong đó có những người bị báo chí nêu đích danh về khối tài sản “khủng”.

Tìm ra sự thật về nhà đất của một quan chức không phải là chuyện đơn giản, nó được bao phủ bởi hàng loạt những lớp che chắn, nhưng quyết tâm thì dẫu là cái kim cũng phải lòi ra.

Dư luận tin chắc Ủy ban Kiểm tra trung ương đã phơi bày được sự thật về ông Truyền thì sẽ phơi bày được các sự thật khác còn ẩn trong vùng tối khuất tất. Làm được việc này là có lợi cho Đảng, cho dân, nhất là đừng để ông Truyền thắc mắc: “Sao chỉ mình tôi?”.

Bài học cần rút ra trong vụ ông Truyền là công tác kê khai tài sản chưa ổn. Hằng năm, dù là cán bộ hay một đảng viên thường đều phải thực hiện kê khai tài sản, nhưng công tác xác minh thì hầu như không thực hiện, việc công khai bản kê khai tài sản cũng còn rất hạn hẹp.

Đây là lỗ hổng để ông Truyền thoát qua “cửa tử” bằng bản kê khai tài sản “hươu vượn”, mãi đến khi báo chí lên tiếng, Ủy ban Kiểm tra trung ương vào cuộc thì mới vỡ lẽ rằng ông “bao công” này có rất nhiều nhà.

Từ câu chuyện của ông Truyền, một vấn đề lớn được đặt ra, đó là phải bịt kín lỗ hổng trong kê khai tài sản để hạn chế xảy ra những trường hợp tương tự như ông Truyền.

———

 

Chiến dịch dài hơi hay chỉ xoa dịu?

23 tháng 11 2014

BBC 

 

 

Một biệt thự của ông Trần Văn Truyền
Nguyên Tổng Thanh tra của Chính phủ Việt Nam bị kết luận vi phạm chính sách về nhà, đất.

Vụ xử lý sai phạm với cựu Tổng Thanh tra Chính phủ Việt Nam về vi phạm chính sách nhà, đất là tiến bộ của Đảng Cộng sản, nhưng chưa rõ liệu sẽ chỉ dừng lại như biện pháp xoa dịu dư luận hay không.

Đó là quan điểm của một số nhà quan sát nói với BBC hôm 22/11/2014 nhân việc cựu Ủy viên Trung ương Đảng, ông Trần Văn Truyền, Tổng thanh tra Chính phủ (2007-2011) vừa bị Ủy ban Kiểm tra Trung ương Đảng Cộng sản khẳng định mắc khuyết điểm.

Ông Truyền bị buộc phải trả lại nhà, đất mà khi còn đương chức, ông đã xin cấp không đúng chế độ.

Từ Hà Nội, Tiến sĩ Lê Đăng Doanh, nguyên Viện trưởng Viện Quản lý Kinh tế Trung ương (CIEM) nói với BBC đây là một “tiến bộ đáng ghi nhận”. Ông nói Đảng cần công khai, minh bạch hơn nữa trong cuộc chiến chống tham nhũng để “lấy lại được uy tín”.

Tiến sỹ Doanh nói: “Tôi chưa biết được tiến triển của việc này thế nào, nhưng tôi hoan nghênh việc công bố kết luận của Ủy ban Kiểm tra Trung ương Đảng về ông Trần Văn Truyền và coi đó là một tiến bộ đáng ghi nhận trong việc chống tham nhũng và đấu tranh với những hành động lạm dụng chức quyền.”

Theo nhà phân tích này, chính việc công khai, minh bạch trong chống tham nhũng của quan chức sẽ có tác động tốt với vị thế của Đảng và nhà nước Việt Nam.

Ông nói: “Theo tôi nếu làm như vậy mới làm cho Đảng lấy lại được uy tín của mình và thể hiện tinh thần đấu tranh và đổi mới của Đảng, và tôi nghĩ rằng đây sẽ là một phép thử rất quan trọng đối với Đảng Cộng sản Việt Nam.”

“Còn việc có đả hổ, diệt ruồi hay không, thì cho tới nay, chưa thấy có dấu hiệu gì. Bởi vì mới đây, ông Tổng Bí thư mới nhấn mạnh rằng ném chuột phải tránh để vỡ bình, tránh để vỡ đồ quý.”

‘Chưa phải sâu chúa?’

Từ Sài Gòn hôm 22/11, Tiến sỹ Phạm Chí Dũng, một nhà báo độc lập, nói với BBC đây chưa phải là dấu hiệu của một chiến dịch chống tham nhũng quyết liệt, dài hơi vì đối tượng mới chỉ là một quan chức đã về hưu, mà ông gọi là ‘sâu nhỏ’.

Ông Dũng nói: “Chiến dịch dài hơi chỉ có thể xảy ra mà nhắm vào đối tượng là quan chức đương chức, còn thực ra với những quan chức mà đã về hưu thì gần như không có ý nghĩa gì cả.

“Theo tôi nhận xét, thì đó không phải là một đường dây dài hơi, một đường dây mà có thể dẫn tới các quan chức cấp lớn.”

“Trung Quốc người ta giải quyết vấn đề như Từ Tài Hậu hay là Chu Vĩnh Khang, và đó là những con hổ cực lớn. Còn ở Việt Nam nói về ông Trần Văn Truyền, dùng từ như của ông Trương Tấn Sang Chủ tịch nước, thì có lẽ là một con sâu nhỏ, chứ chưa phải là một bầy sâu và cũng càng chưa phải là một sâu chúa.”

Cũng hôm thứ Bảy, bà Lê Hiền Đức, một công dân từng được giải thưởng của Tổ chức Minh bạch Quốc tế về chống tham nhũng, nói với BBC bà tin rằng đây chỉ là “thí tốt”.

Theo bà, nếu chính quyền thực lòng hồi đáp, xử lý các đơn thư khiếu nại, tố cáo của các quan chức, thì nhiều trường hợp nghiêm trọng hơn có thể sẽ được phát giác.

Bà Lê Hiền Đức nói với BBC bà đã nghe phản ánh về các dấu hiệu vi phạm của ông Trần Văn Truyền từ trước khi các thông tin xuất hiện chính thức hơn trên báo chí, truyền thông Việt Nam.

Bà cho rằng nhiều đơn thư được chuyển lên các cấp cao kể cả Trung ương Đảng để khiếu nại, tố cáo, phản ánh v.v… đã không được phản hồi, xem xét, xử lý kịp thời, do đó nhiều vụ tương tự hoặc nghiêm trọng hơn trường hợp của ông Truyền vẫn còn tồn tại.

Phản ánh về tình trạng nhiều quan chức có ‘quá nhiều nhà cửa, dinh cơ, tài sản’, bà nói:

‘Tài liệu bí mật’

Hôm 22/11, Luật sư Trần Quốc Thuận từ Sài Gòn nói với BBC một trong các nguyên nhân chính đằng sau vấn nạn tham nhũng chức vụ.

Nguyên Phó Chủ nhiệm Thường trực Văn phòng Quốc hội nói:

“Nói là không công khai tài sản, vì tài sản đó coi như là tài liệu bí mật. Ai mà đụng đến tài liệu đó, coi như là bị lộ bí mật, bị truy tố về hình sự chứ không phải đơn giản. Cho nên chuyện đó một là bí mật.

“Còn thứ hai, câu chuyện nguyên tắc lớn nhất là không công khai. Không công khai thì người ta cứ khai rồi người ta giấu vào trong hộc bàn, thì ai biết? Cho nên vấn đề những người đương chức, đương quyền, người ta ngại chức quyền, thì người ta không khơi ra.

“Theo quy định mới, thì công khai ra hết, nhưng tôi muốn nói là công khai, thì phải công khai cho toàn dân biết, thì công khai mới có giá trị.”

Ông nói tiếp: “Theo Nghị quyết Trung ương 4, có một bộ phận không nhỏ thoái hóa, biến chất, tham nhũng, suy thoái, nếu công khai tài sản thì sẽ lộ bộ phận không nhỏ đó ra.”

“Vì nó quá lộ liễu rồi, không thể nào giữ được nữa, tôi dùng một từ là ‘tức nước, vỡ bờ’, ăn nhiều quá thì ‘bội thực, phải nhè ra’, thì người ta nhìn thấy, thì phải đưa ra.

“Bây giờ không đưa một trường hợp nào ra, thì sẽ rùm beng lên, căng thẳng, cho nên tốt nhất chuyện này bây giờ đã vỡ lở, thì thôi hy sinh, thí tốt, tức là bỏ đi một hai người để làm dịu dư luận.”

 

‘Cần tự do báo chí’

Hôm 22/11, blogger Huỳnh Ngọc Chênh, nguyên Thư ký Tòa soạn báo Thanh Niên nói với BBC, ở Việt Nam, nhiều thông tin về tham nhũng chỉ tồn tại dưới hình thức tin đồn, khó kiểm chứng.

Ông nói: “Tôi cũng nghe tin đồn là có nhiều người có nhiều nhà nhiều cửa, một số ông ở cấp nhỏ nhỏ tôi biết được thì nhà cửa cũng một vài cái. Nhưng những ông lớn, tôi không tiếp cận nên tôi không biết, toàn nghe tin đồn thôi.”

Về quan hệ giữa quyền tiếp cận thông tin và tự do báo chí liên hệ tới vấn đề chống tham nhũng, ông Chênh nói:

“Thực ra nếu có quyền tiếp cận thông tin, mà không có tự do báo chí thì cái tiếp cận thông tin cũng chẳng có lợi ích gì. Tôi đã từng biết những tờ báo, người ta có được thông tin, người ta sử dụng thông tin đó ra để người ta gây áp lực, người ta làm tiền những kẻ liên quan thông tin.

“Không tự do báo chí mà cho quyền tiếp cận thông tin càng nguy hiểm, chẳng lợi ích gì hết, người ta sử dụng cái đó vô chuyện bè phái. Cho nên trước hết phải tự do báo chí trước đã rồi mới tính tới chuyện này, chuyện khác,” blogger nói.

Truyền thông ở Việt Nam cuối tuần tiếp tục phản ánh về vụ ông Trần Văn Truyền. Tờ báo điện tử của Đài tiếng nói Việt Nam hôm thứ Bảy cho hay: “ông Trần Văn Truyền đề nghị đóng thêm nghĩa vụ tài chính để mua lại căn nhà số 105, Nguyễn Trọng Tuyển nhưng TP Hồ Chí Minh không đồng ý.”

Báo Tuổi Trẻ thì dẫn lời đại biểu Quốc hội Nguyễn Đình Quyền, phó chủ nhiệm Ủy ban Tư pháp, nói: “Sự việc của ông Truyền càng hối thúc chúng ta nhìn lại toàn bộ nền công chức, công vụ, từ việc đào tạo, tuyển dụng, bổ nhiệm, kiểm soát quyền lực.”

 

http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/2014/11/141122_tranvantruyen_comments

Posted in Tham Nhung-Hoang Phí- Ăn Cắp | Leave a Comment »

►Tường thuật buổi toạ đàm về cơ chế của LHQ về bảo vệ Những Người Bảo Vệ Nhân Quyền 26/11/2014

Posted by hoangtran204 trên 27/11/2014

Lực lượng an ninh đuợc mời tới dự hội thảo, nhưng họ không vào, mà đứng ngoài nhà thờ Thái Hà và ngăn cản khách tham gia buổi tọa đàm về cơ chế của LHQ về bảo vệ những người bảo vệ nhân quyền 26/11/2014.

Tường thuật buổi toạ đàm về cơ chế của Liên Hiệp Quốc về bảo vệ Những người bảo vệ nhân quyền 26/11/2014

10678700_377579292397661_8672185893960056651_n.jpg

Lực lượng an ninh tuy đuợc mời công khai tới dự hội thảo nhưng không vào mà đứng ngoài nhà thờ Thái Hà và ngăn cản khách tham gia hội thảo. Ảnh FB Chinh Minh.

Lúc 8 giờ 30 ngày 26/11/2014, tại Hội trường Nhà thờ Thái Hà đã diễn ra buổi Tọa đàm chuyên đề “Cơ chế của Liên Hợp Quốc về bảo vệ người bảo vệ nhân quyền”.

Trong Thông cáo báo chí trước khi diễn ra buổi Toạ đàm, Tiến sĩ Nguyễn Quang A cho biết: “Những người bảo vệ nhân quyền (NBVNQ) đóng vai trò thiết yếu trong việc hiện thực hóa các quyền con người được ghi nhận trong luật pháp quốc gia và các tiêu chuẩn theo luật quốc tế. Tuy nhiên, trong nhiều năm qua, NBVNQ tại Việt Nam đã không được thừa nhận đúng mức với vai trò cao cả này, không những thế họ phải luôn gánh chịu rất nhiều rủi ro trong các hoạt động của mình. Vì thế Tọa đàm nhằm mục đích tôn vinh những người bảo vệ nhân quyền tại Việt Nam và tìm kiếm một cơ chế hữu hiệu để bảo vệ họ, cũng như qua đó phổ biến ý thức tôn trọng nhân quyền và khuyến kích tất cả mọi người trở thành những người bảo vệ nhân quyền”.

Đến tham dự buổi nói chuyện ngày hôm nay có khoảng 50 nhà hoạt động về lĩnh vực nhân quyền trong và ngoài nước, các nhân sĩ trí thức, nhận viên các đại sứ quán nước ngoài yêu chuộng nhân quyền.

Trong các hình ảnh lan truyền trên Internet chúng tôi nhân thấy có những nhà hoạt động nổi tiếng như: Nguyễn Hồ Nhật Thành, Phạm Lê Vương Các, Nguyễn Tường Thuỵ, Nguyễn Quang A, Nguyễn Kim Chi…

Tăng cường trấn áp trước buổi Toạ đàm

Tối 25/11/2014, nhà thờ Thái Hà, nơi sẽ diễn ra buổi nói chuyện đã bị 1 viên cảnh sát và hai dân phòng, cùng những người lạ mặt xông vào đòi gặp Linh mục Phượng. Giáo dân tại đây đã khoá trái cửa, gióng chuông để kêu gọi sự giúp đỡ của các giáo dân khác. Sau khi thấy không thể nào gặp được các vị linh mục, những nhân viên công lực này đã yêu cầu được ra về. Sự việc này xảy ra khi trước đó có 2 người đem Bưu phẩm của Uỷ ban nhân dân quận Đống Đa đến nhà thờ nhưng không có người nhận.

ca_bchhongquyen.jpg

Công an xông vào nhà thờ Thái Hà. Ảnh: Bạch Hồng Quyền

Theo FB Tao Vo Van cho biết:

Lúc 5 giờ sáng 26/11/2014, TS Nguyễn Quang A đi bộ ra khỏi nhà để đến nhà thờ Thái Hà tham dự Toạ đàm, nhưng đã có khoảng 10 người mặc thường phục bám theo sau hòng ngăn cản ông đi. Khi ông đón xe bus để đi cũng bị những người này ngăn cản không cho lên xe.

Lúc 9 giờ TS Nguyễn Quang A đến được đầu phố Nguyễn Lương Bằng, thì bị hơn 30 nhân viên an ninh, công an, dân phòng ngăn cản với vẻ hùng hổ và đe doạ. Khoảng 10 nhà hoạt động và 3 người nước ngoài thuộc các Đại sứ quán đã bước ra phố để “giải thoát” cho ông, và cuối cùng ông cũng đến được buổi nói chuyện.

upr_1_peter_0.jpg

Đông đảo nhân viên công lực ngăn cản TS Nguyễn Quang A. Ảnh: Peter Lâm Bùi

Các báo cáo khác cho biết, trong đêm 25/11/2014 nhiều nhà riêng của những nhà hoạt động nhân quyền cũng bị sách nhiễu, “hỏi thăm” bất thường của Cảnh sát khu vực. Nhà báo độc lập JB Nguyễn Hữu Vinh viết trên trang cá nhân mô tả việc công an đến nhà hỏi thăm “mai có các Đại sứ tổ chức về nhân quyền gì đó, hỏi anh xem có đi không?”.

Thời gian qua, những nhà hoạt động nhân quyền liên tục bị sách nhiễu và tấn công bởi những người lạ mặt nghi là nhân viên an ninh. Nạn nhân mới nhất là ký giả Trương Minh Đức đã bị những người lạ tấn công một cách dã man, trong số đó ông nhận ra 1 người đã từng “làm việc” với ông ở đồn công an.

Trong thư mời Bộ công an và Sở công an Hà Nội ghi rõ:

“Những người bảo vệ nhân quyền (NBVNQ) đóng vai trò thiết yếu trong việc hiện thực hóa các quyền con người được ghi nhận trong luật pháp quốc gia và các tiêu chuẩn theo luật quốc tế, và là thành trì cuối cùng trong cuộc chiến chống lại phân biệt đối xử. Tuy nhiên, trong nhiều năm qua, NBVNQ tại Việt Nam đã không được thừa nhận đúng mức với vai trò cao cả của mình, không những thế, họ phải luôn gánh chịu rất nhiều rủi ro trong các hoạt động của mình.

Trong kỳ Kiểm điểm Định kỳ Phổ quát về Nhân quyền (UPR) tại Genève vào tháng 6/ 2014 vừa qua, Việt Nam đã chấp nhận một số khuyến nghị về việc công nhận, bảo vệ, và đảm bảo môi trường hoạt động cho những NBVNQ tại Việt Nam, mà cụ thể là khuyến nghị số 143.149 của Luxembourg,143.162 của Na Uy, 143.167 của Tunisia.”

Một số hình ảnh từ buổi toạ đàm:

upr1_lode.jpgupr2_lode.jpgupr3_lode.jpgupr1_bachhongquyen.jpgupr_1.jpg

Hình ảnh tổng hợp từ những nhà hoạt động: Bạch Hồng Quyền, Nguyễn Văn Đề, Trịnh Bá Phương…

Dân Luận tổng hợp

Nhà báo Trương Minh Đức gửi đơn tố cáo

Kính Gởi: Các cơ quan truyền thông trong, ngoài nước.

Các Tổ chức Nhân Quyền và tổ chức phóng Viên không biên giới

Tôi Trương Minh Đức là một nhà báo Tự Do đã 3 lần bị bách hại, truy sát và cướp tài sản chỉ trong vòng chưa đầy 2 tháng.

Lần tôi bị truy sát và bị cướp tài sản gần nhất vào ngày 02-11-2014, vào lúc 20 giờ 30 tối tại ngã ba Suối Giữa, phường Hiệp An, Tp Thủ Dầu Một, Bình Dương, có đến 8 người mặc thường phục theo dõi tôi từ nhà của tôi ở Phường Mỹ Phước – huyện Bến Cát – Bình Dương.

Nhà báo Trương Minh Đức nhiều lần bị đánh đập dã man.

Khi đến còn cách trạm thu phí Suối Giữa khoảng 3 km thì họ tiến hành tấn công, đánh đập tôi rất dã man! Sau đó họ cướp hết tài sản của tôi mang theo (như trong đơn đã trình bày). Nhóm người này do trung tá có tên là Hòa trực tiếp chỉ huy vụ truy sát và cướp mà tôi đã nhìn được tận mặt, bởi tên trung tá Hòa này là người đã đánh tôi tại đồn công an phường Mỹ Phước – huyện Bến Cát vào lúc nửa đêm 11 rạng sáng 12-09-2014. Lý do mà ông Hòa đánh tôi vào đêm 12-09-2014, ông Hòa bắt tôi ký vào những bài báo copy từ trên mạng internet, tôi không đồng ý ký nên ông Hòa đã đánh tôi 3 cái vào be sườn làm tôi rất đau đớn! Trước đó vào ngày 08-09-2014 tôi đã bị nhóm “côn an” tại Hà Nội đánh bị thương, vết thương chưa lành còn rất đau.

Lần truy sát sau cùng là hôm 02-11-2014, sau đó là 6 ngày nằm trong bệnh viện và 8 ngày dưỡng thương tại Sài Gòn tôi cũng chưa lành hẳn vì vết thương quá nặng! Đến ngày 14-11-2014 tôi có nhận được điện thoại của công an hình sự tỉnh Bình Dương mời lên làm việc và làm các thủ tục lấy chiếc xe Honda của tôi còn để lại ở quán cafe Hoa Lá (nơi đã xảy ra vụ cướp), Người làm việc trực tiếp với tôi là thiếu úy công an hình sự Thủ Dầu Một tên là Cương.

Trong buổi làm việc này tôi có trình bày vụ việc xảy ra trong đêm 02-11-2014 là tôi bị một nhóm cướp 08 người (như trong đơn đã tố cáo), tôi khẳng định người chỉ huy trong vụ cướp và truy sát tôi là trung tá công an tên Hòa (hình trái – lúc cướp mặc đồ thường phục) chỉ huy, tôi có yêu cầu công an tỉnh Bình Dương sớm làm sáng tỏ để ông Hòa đối chất với tôi.

Nhưng nay đã trải qua thời gian là hơn 07 ngày (14.11.2014 – 21.11.2014) mà công an hình sự tỉnh Bình Dương vẫn chưa triệu tập hay bắt giữ ông Hòa.

Tôi kính mong các cơ quan truyền thông và các tổ chức Nhân Quyền trong, ngoài nước lên tiếng giúp đỡ bảo vệ quyền lợi cho tôi, đồng thời yêu cầu bộ công an của Việt Nam phải trả lời sớm nhất hành vi truy sát và cuớp tài sản do ông trung tá Hòa công an huyện Bến Cát – tỉnh Bình Dương. là ngừơi cầm đầu.

dontocaodon-2don-3

Posted in Dân Chủ và Nhân Quyền | Leave a Comment »

►CNN đưa tin: (24-11-2014) Trung Quốc đang xây dựng căn cứ quân sự và phi đạo dài 3 km trên bãi Đá Chữ Thập thuộc quần đảo Trường Sa

Posted by hoangtran204 trên 26/11/2014

Kể từ 2006, VN đã không dám lên tiếng nói về chủ quyền ở quần đảo Hoàng Sa, hiện nay đảng CSVN và nhà nước lại im lặng chấp nhận sự kiện TQ xây dựng căn cứ quân sự và phi đạo trên quần đảo Trường Sa. 

Kể hoạch của đảng CSVN do HCM thực hiện 1950 đã hoàn tất: bán biển đảo HS và TS cho Trung Quốc để lấy vũ khí đánh chiếm Miền Bắc VN 1954 và chiếm Miền Nam Việt Nam 1975.

Trung Quốc đang xây dựng phi đạo trên bãi Đá Chữ Thập

141124145814-south-china-sea-janes-horizontal-galleryTrung Quốc đang xây dựng một căn cứ quân sự trên đảo Fiery Cross Reef (tiếng Việt gọi là bãi Đá Chữ Thập) thuộc quần đảo Trường Sa, gồm một đường băng dài 3000 m rộng 300 m, pháo đài, và cảng để các tàu hậu cẩn và tàu chiến neo đậu.

Đây là một vùng biển gồm sáu quốc gia đang tranh chấp: Trung Quốc, Đài Loan, Brunei, Malaysia, Philippines, và Việt Nam.

Vùng biển này được đánh giá là có trữ lượng cá, hải sản, dầu và khí thiên nhiên rất lớn.

Công việc xây dựng trên Fiery Cross là lời cảnh báo với những quốc gia tranh chấp. Xây dựng căn cứ quân sự là đồng nghĩa với việc tung ra trước một lực lượng quân sự để phủ đầu, để đe dọa và để qua mặt những đối thủ khác, buộc đối phương phải từ bỏ ý định tranh chấp, hay phải nhụt trí, và rơi vào thế yếu khi thương lượng.

Trong khi đó, trung tướng La Viên của Quân đội Nhân dân Trung Quốc nói với báo chí rằng đây chỉ là việc xây dựng hạ tầng cơ sở, hoàn toàn chấp nhận được, hợp lý, để nâng cao đời sống của những người lính trên đảo. “Việc xây dựng, bảo trì những cơ sở hạ tầng là những hoạt động bình thường trên những đảo nằm trong lãnh hải hợp pháp”.

Tại buổi họp báo Thứ hai, Hoa Xuân Oánh, người phát ngôn của Bộ Ngoại giao Trung Quốc nói đây là “vùng lãnh hải không thể tranh cãi” của Trung Quốc, “việc xây dựng trên những hòn đảo ở Biển Nam Trung hoa là nhằm mục đích nghiên cứu và cứu hộ, cứu nạn.”

Trung Quốc đang ngày một trở nên quyết đoán hơn trên vùng biển tranh chấp với một loạt những quốc gia láng giềng nhỏ hơn.

Dạo đầu năm nay, Trung Quốc đưa một giành khoan vào vùng biển Việt Nam gần quần đảo Trường Sa, làm bùng lên một cuộc bạo loạn bài Hoa khắp Việt Nam. Mối quan hệ Trung Quốc – Philippines cũng trở nên vô cùng cay đắng.

Hôm nay, Thứ hai, tòa án Philippine đã phạt chín ngư phủ Trung Quốc phải nộp 103,000 Mỹ kim, không tù, vì tội đánh bắt loài rùa biển hiếm có nguy cơ diệt chủng, trong vùng biển của Phillippines.

Hoa Kỳ đang nỗ lực giúp các nước trong khối ASEAN thiết lập một bộ quy ước hằng hải, nhưng Trung Quốc chỉ muốn làm việc tay đôi với từng quốc gia riêng lẻ.

Thứ sáu tuần trước, người phát ngôn của Lầu Năm Góc nói với phóng viên của hãng AFP rằng Hoa Kỳ muốn Trung Quốc dừng việc giành giật chủ quyền mà tham gia vào những hoạt động ngoại giao.

Tại hội nghị thượng đỉnh G20 hồi đầu tháng, Tổng thống Barack Obama nói: “Mỹ đang thực hiện kế hoạch kết hợp ngoại giao và quân sự gắn bó với Á châu để bảo đảm rằng không có nước lớn nào bắt nạt những nước nhỏ.”

Tờ Hoàn Cầu Thời Báo của Trung Quốc hôm nay viết Việt Nam, Philippines và cả Mỹ nữa nên quen với việc Trung Quốc sẽ xây dựng nhiều hơn nữa cơ sở hạ tầng trên các đảo.

Mặc dù Trung Quốc đã rút giàn khoan trước thời hạn ra khỏi vùng biển của Việt Nam nhưng tình hình trên biển Đông vẫn không hề được cải thiện mà ngược lại đang ngày một xấu đi.

Biên tập viên Đàn Chim Việt tổng hợp và lược dịch
Nguồn tin của CNN, Thứ hai, ngày 24 tháng 11 năm 2014

© Đàn Chim Việt

1./ PLA base on Fiery Cross Reef could tip balance in South China Sea  

http://chinhdangvu.blogspot.com/2014/11/pla-base-on-fiery-cross-reef-could-tip.html

 

2./ China defends land reclamation in South China Sea

http://tucson.com/ap/international/article_a3682b24-54b7-505c-9dc2-33aaf93692a1.html

Posted in Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa | Leave a Comment »

►Bộ Chính Trị thông qua Nguyễn Tấn Dũng cho Trung Quốc thuê Núi Hải Vân 50 năm – Núi Hải Vân: “Đó là thế trận phòng thủ của cả nước” (25-11-2014)

Posted by hoangtran204 trên 26/11/2014

Kể từ sau khi Lê Duẫn chết 7/1986, đảng cộng sản VN đặt ra nguyên tắc: Tập thể lãnh đạo cá nhân phụ trách. Tất cả mọi quyết định đều có bàn tay của BCT nhúng tay vào. Cá nhân của một vài người đưa ra quyết định chỉ mang tính chất hành chánh và thủ tục. Tuy vậy, thủ tướng là người giữ vai trò quyết định về kinh tế, tài chính.

Sau khi đảng cho sửa lại hiến pháp 1992, và ban hành luật đất đai 1993, các UBND thành phố và các tỉnh được quyền cho NƯỚC NGOÀI thuê đất dài hạn 50 năm đến 70 năm. (các bạn google sẽ thấy tài liệu này nằm trong trang mạng của 63 tỉnh và 5 thành phố).

 

Đọc tiếp »

Posted in Bán Tài Nguyên Khoa'ng Sản- Cho Nước Ngoài Thuê Đất 50 năm | Leave a Comment »

►Nhà báo Nguyễn Công Khế viết về Tự do báo chí cho Việt Nam đăng trên trang báo International New York Times

Posted by hoangtran204 trên 26/11/2014

Tự do báo chí: mơ giữa ban ngày

Mon, 24/11/2014 –  — canhco

RFA Đọc tiếp »

Posted in Tự Do ngôn Luận | Leave a Comment »

►Gia đình Trần Huỳnh Duy Thức biểu tình ôn hòa tại Sài Gòn

Posted by hoangtran204 trên 26/11/2014

Dân Luận: Ngày 23/11/2014 vừa qua, gia đình anh Trần Huỳnh Duy Thức đã biểu tình ôn hòa tại trung tâm Sài Gòn – TP.HCM đòi trả tự do cho Trần Huỳnh Duy Thức. Trong khi đó The 88Project đã thực hiện 1 bộ phim tài liệu ngắn 5844 ngày tù của tù nhân lương tâm Trần Huỳnh Duy Thức. Ngày 29/11/2014 sắp tới đây, anh sẽ đón mừng sinh nhật lần thứ 48 trong tù.

Trần Huỳnh Duy Thức là một trong những tù nhân lương tâm nổi tiếng tại Việt Nam. Anh là 1 trong những người đã sáng lập ra phong trào Con Đường Việt Nam và là tác giả của cuốn sách “Con đường nào cho Việt Nam”. Vào năm 2010, Trần Huỳnh Duy Thức đã bị cơ quan an ninh Việt Nam bắt giam và kết án 16 năm tù vì tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân.

image010_0.jpg 

image009.jpg 

image008_0.jpg 

image006.jpg 

image005_0.jpg 

image004_0.jpg 

image003.jpg 

image001_2.jpg 

image002_0.jpg

Posted in Bắt bớ-Tù Đày-Đánh đập-Đàn Áp, Biểu Tình và Lập Hội | Leave a Comment »

►Thư mời Bộ Công an và Sở Công an Hà Nội đến nhà thờ Thái Hà dự tọa đàm “Cơ chế của Liên Hợp Quốc về bảo vệ Người bảo vệ Nhân quyền”

Posted by hoangtran204 trên 25/11/2014

Thư mời Bộ Công an và Sở Công an Hà Nội dự tọa đàm “Cơ chế của Liên Hợp Quốc về bảo vệ Người bảo vệ Nhân quyền”

Nhà báo Trần Quang Thành 

Nguồn Diễn đàn XHDS 

24-11-2014

Diễn Đàn Xã Hội Dân Sự và VietnamUPR Working Group tổ chức buổi tọa đàm với chủ đề: “Cơ chế của Liên Hợp Quốc về bảo vệ Người bảo vệ Nhân quyền” vào ngày 26/11/2014 tại Nhà thờ Thái Hà.

Ngoài các tổ chức Xã hội dân sự, thư mời còn được gửi đến Bộ Công an và Sở Công an Hà Nội.

Sau đây là nội dung thư mời gửi Bộ Công an:

Invitation to the Symposium on“United Nations Protection Mechanisms for Human Rights Defenders”


26 November 2014

Kính gửi: BỘ CÔNG AN

Những người bảo vệ nhân quyền (NBVNQ) đóng vai trò thiết yếu trong việc hiện thực hóa các quyền con người được ghi nhận trong luật pháp quốc gia và các tiêu chuẩn theo luật quốc tế, và là thành trì cuối cùng trong cuộc chiến chống lại phân biệt đối xử. Tuy nhiên, trong nhiều năm qua, NBVNQ tại Việt Nam đã không được thừa nhận đúng mức với vai trò cao cả của mình, không những thế, họ phải luôn gánh chịu rất nhiều rủi ro trong các hoạt động của mình.

Trong kỳ Kiểm điểm Định kỳ Phổ quát về Nhân quyền (UPR) tại Genève vào tháng 6/ 2014 vừa qua, Việt Nam đã chấp nhận một số khuyến nghị về việc công nhận, bảo vệ, và đảm bảo môi trường hoạt động cho những NBVNQ tại Việt Nam, mà cụ thể là khuyến nghị số 143.149 của Luxembourg,143.162 của Na Uy, 143.167 của Tunisia.

Trong bối cảnh đó, nhằm thực hiện sứ mệnh phổ biến và giám sát việc thực thi kết quả UPR của Việt Nam, liên minh 2 tổ chức xã hội dân sự độc lập tại Việt Nam là Diễn Đàn Xã Hội Dân Sự và VietnamUPR Working Group sẽ tổ chức buổi tọa đàm với chủ đề: “Cơ chế của Liên Hợp Quốc về bảo vệ Người bảo vệ Nhân quyền”.

Thời gian: Từ 8h đến 12h, ngày 26 tháng 11 năm 2014.

Địa điềm: Hội trường tầng 3, Nhà thờ Thái Hà

180/2 Đường Nguyễn Lương Bằng, Quận Đống Đa, Hà Nội.

Thông qua buổi tọa đàm với sự góp mặt của đại diện của Bộ Công An và Sở Công an Hà Nội, đại diện các Đại sứ quán các nước, đại diện các tổ chức xã hội dân sự, và những người bảo vệ nhân quyền độc lập tại Việt Nam chúng tôi hy vọng sẽ giúp cho nhân viên công quyền và công chúng Việt Nam hiểu hơn về những NBVNQ – họ là ai, công việc của họ là gì, tầm quan trọng của họ trong hoàn cảnh hiện tại ở Việt Nam, để từ đó thúc đẩy sự quan tâm của nhà nước và công chúng đối với những NBVNQ, cũng như phổ biến ý thức tôn trọng quyền con người của mỗi cá nhân và khuyến kích mọi người trở thành những NBVNQ.

Chúng tôi chân thành kính mời một đại diện của Quý Bộ tham dự buổi tọa đàm và đóng góp ý kiến để tọa đàm thành công nhằm góp phần để Việt Nam thực hiện tốt những cam kết của mình vừa qua về nhân quyền, nâng cao uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế xứng đáng với tư cách thành viên Hội đồng Nhân quyền

Trân trọng,

Civil Society Forum

Vietnam UPR Working Group

Chương trình nghị sự đính kèm

8h – 8h30: Ghi danh, đón khách

8h30 – 9h00: Khai mạc Tọa đàm (trình bày Nguyễn Hồ Nhật Thành)

9h00 – 9h30: Tìm hiểu về những NBVNQ (trình bày Nguyễn Quang A)

9h30 – 10h00: Giới thiệu “Tuyên ngôn về NBVNQ” năm 1998 của LHQ (trình bày Phạm Lê Vương Các)

10h00 – 10h15: Giải lao

10h15 – 10h50: Thảo luận về tình trạng của NBVNQ ở Việt Nam hiện nay (Nguyễn Hồ Nhật Thành)

10h50 – 11h20: Hướng dẫn viết đơn khiếu tố theo thủ tục Báo cáo viên đặc biệt của LHQ về tình trạng NBVNQ (Phạm Lê Vương Các)

11h20 – 12h00: UPR-Một cơ hội tăng cường bảo vệ NBVNQ (Nguyễn Quang A)

Sau 12h00: Ăn trưa và giao lưu

Thư mời Sở công an Hà Nội có cùng nội dung.

Hai thư mời đã được gửi đi bằng đường chuyển phát nhanh:

Posted in Dân Chủ và Nhân Quyền | Leave a Comment »

►Tháng 11- 2014: Các dân biểu quốc hội Đức và Mỹ đòi hỏi chính quyền Hà Nội trả tự do cho anh Ba Sàm và chị Minh Thúy – Trong khi đó, vợ Ba Sàm kêu cứu việc chồng bị nhốt chung với tù hình sự đặc biệt nguy hiểm

Posted by hoangtran204 trên 21/11/2014

Vợ Ba Sàm kêu cứu việc chồng bị nhốt chung với tù hình sự đặc biệt nguy hiểm

Lê Thị Minh Hà
Địa chỉ: Số 5/2/4D Đặng Văn Ngữ, Trung Tự, Đống Đa, Hà Nội, Việt Nam

Kính gửi:
– Các cơ quan ngoại giao, chính phủ nước ngoài;
– Các tổ chức bảo vệ nhân quyền và;
– Các cơ quan truyền thông.

Tôi là Lê Thị Minh Hà, vợ Nguyễn Hữu Vinh (blogger Ba Sàm) đang bị giam giữ tại Trại giam B14 do Bộ Công an quản lý. Chồng tôi bị bắt ngày 5/5/2014 và bị khởi tố về tội “lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân” theo Điều 258, Bộ luật Hình sự Việt Nam.

Theo luật sư Hà Huy Sơn, người bào chữa cho chồng tôi, cho biết hiện nay chồng tôi đang bị giam chung với một bị can có tiền án giết người, đang bị khởi tố về một tội đặc biệt nghiêm trọng và có biểu hiện tâm lý bất bình thường. Điều này gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới tinh thần và sức khỏe của chồng tôi.

Chồng tôi đã sử dụng quyền im lặng trong phần lớn quá trình điều tra. Do vậy, tôi cho rằng đây là một thủ đoạn nghiệp vụ nham hiểm, độc ác và trái pháp luật của công an, nhằm gây áp lực buộc chồng tôi phải khai nhận các nội dung mà họ cáo buộc.

Thủ đoạn trên mang dấu hiệu của hành vi tra tấn, vi phạm thô bạo Công ước chống tra tấn mà Việt Nam đã kí kết, là cách đối xử vô nhân đạo, xúc phạm nhân phẩm, khủng bố người bị tạm giam.

Bên cạnh đó, các cơ quan chức năng cũng liên tục từ chối yêu cầu được thăm nom của gia đình tôi, vi phạm nghiêm trọng quyền được gặp gỡ thân nhân của người bị tạm giữ.

Vì vậy, tôi rất mong các cơ quan ngoại giao, chính phủ nước ngoài, các tổ chức quốc tế và cơ quan truyền thông lên tiếng về hành vi tồi tệ này và ngăn chặn công an Việt Nam tiếp tục hành vi xâm hại thô bạo nhân quyền trên, đồng thời, trong khả năng có thể, cử các phái đoàn tới Trại giam B14 để trực tiếp đánh giá tình trạng giam giữ chồng tôi.
Xin chân thành cảm ơn sự quan tâm của quý vị.

Lê Thị Minh Hà

Facebook của vợ anh Ba Sàm  Thị Minh Hà Lê.

Ảnh: Lê Thị Minh Hà trong cuộc trao đổi với các nghị sĩ Đức ngày 4-11

Michael Brand (thứ 2 từ phải ), Chủ tịch Uỷ ban Nhân quyền và Cứu trợ nhân đạo Quốc hội Liên bang Đức, tiếp bà Lê Thị Minh Hà (thứ 2 từ trái) , vợ nhà hoạt động nhân quyền Việt Nam Nguyễn Hữu Vinh, trong buổi trao đổi với sự tham dự của Đại biểu Quốc hội Frank Heinrich (bên phải) thuộc đảng CDU/CSU (Đảng Dân Chủ Cơ đốc Đức/Đảng Xã hội Cơ đốc Đức).

— with Nguyen Lan Thang and 19 others.

Tao Vo Van's photo.

Facebook của vợ anh Ba Sàm  Thị Minh Hà Lê.

—————

HẠ NGHỊ VIỆN HOA KỲ

Washington, DC 20515

 

Ngày 19 tháng 11 năm 2014

Kính gửi: Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng

Đồng kính gửi: Đại sứ quán Việt Nam

1233 20th Street NW, Suite 400,

Washington, DC 20036

 

Thưa Thủ tướng,

Chúng tôi viết thư này để yêu cầu trả tự do ngay lập tức cho hai blogger đang bị cầm tù, là Nguyễn Hữu Vinh (còn được gọi là Ba Sàm) và Nguyễn Thị Minh Thúy.

Chúng tôi biết rằng ông Vinh và bà Thúy đã bị bắt vào tháng 5 theo Điều 258, Bộ luật Hình sự Việt Nam, về tội “lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích nhà nước”. Chúng tôi lo ngại sự tăng cường sử dụng các biện pháp mơ hồ và hà khắc như Điều 258 để bắt giam blogger và các nhà hoạt động ôn hòa khác. Trong khi Việt Nam đang tìm cách thắt chặt quan hệ với Hoa Kỳ, chúng tôi khuyên chính quyền Việt Nam nên xem xét lại việc sử dụng Điều 258 và các đạo luật tương tự nhằm hạn chế tự do ngôn luận và dập tắt những tiếng nói khác biệt với hệ thống truyền thông quốc doanh.

Chúng tôi tiếp tục yêu cầu Việt Nam giữ đúng các cam kết quốc tế về nhân quyền, và cùng với điều đó, chúng tôi yêu cầu chính quyền Việt Nam hủy bỏ mọi cáo buộc và trả tự do ngay lập tức, vô điều kiện cho ông Nguyễn Hữu Vinh và bà Nguyễn Thị Minh Thúy.

Trân trọng,

Ký tên: 

Zoe Lofgren, dân biểu

Loretta Sanchez, dân biểu 

Chris Smith, dân biểu

Alan Lowenthal, dân biểu

Mời các bạn xem Bản tiếng Anh: Letter to PM re Ba Sam Nov 19 2014

 

Posted in Bắt bớ-Tù Đày-Đánh đập-Đàn Áp, Tự Do ngôn Luận | Leave a Comment »

►“Lòi” thêm khu nghỉ dưỡng Bãi Chuối có vốn trăm triệu USD ở đèo Hải Vân (Trung Quôc thuê 50 năm)

Posted by hoangtran204 trên 21/11/2014

Nguyễn Tấn Dũng và Bộ Chính Trị bán dần (hoặc cho thuê 50 năm) các cao điểm quan trọng về mặt quân sự tại Việt Nam.  Nay đến lượt Tỉnh Thừa Thiên- (Huế) bị các ủy viên trung ương đảng

CSVN (với sự đỡ đầu của BCT) đã ngang nhiên cho Trung Quốc chiếm lĩnh cao điểm Đèo Hải Vân.  Vậy là sau Khu Đông Đô Đại Phố ở Tỉnh Bình Dương, khu Tây Nguyên, Tỉnh Hà Tỉnh,  Tỉnh Quãng Ninh, và 18 tỉnh miền Bắc đã cho Trung Quốc thuê 400.000 hecta đất để trồng rừng, và nhờ lý do hợp pháp đóTrung Quốc di dân hàng chục ngàn người qua Việt Nam “khai thác trồng rừng”.

Mời các bạn vào đọc loạt bài:

“Lòi” thêm khu nghỉ dưỡng Bãi Chuối có vốn trăm triệu USD ở đèo Hải Vân

20-11-2014

Báo (LĐO) HƯNG THƠ – ĐĂNG KHOA – 2:52 PM, 20/11/2014

Tỉnh Thừa Thiên – Huế đã đầu tư 50 tỷ xây dựng đường nhựa để vào khu vực Bãi Chuối.

Tỉnh Thừa Thiên – Huế đã cấp phép cho Cty CP Thế Diệu (thuộc Cty TNHH World Shine Hong Kong, Trung Quốc) xây dựng khu du lịch nghỉ dưỡng ở đèo Hải Vân có vốn đầu tư lên đến 250 triệu USD. Tuy nhiên, địa điểm này được các nhà nghiên cứu xem là khu vực trọng yếu về quốc phòng nên việc triển khai dự án bị dư luận phản ứng rất gay gắt.

Tìm hiểu của Phóng viên Báo Lao động cho thấy, vào năm 2009, tỉnh này cũng đã cấp 100ha đất cho một Cty nước ngoài thực hiện dự án tương tự, phần đất được cấp ở khu vực Bãi Chuối – sát bên Khu du lịch nghỉ dưỡng quốc tế World Shine – Huế.

Ông Nguyễn Quê – Phó Trưởng ban phụ trách Ban quản lý Khu kinh tế Chân Mây – Lăng Cô (tỉnh Thừa Thiên – Huế) – cho biết năm 2009 Cty TNHH MTV Bãi Chuối (Tổng giám đốc là ông Lim Kam Lo, dân tộc Hoa) đã được tỉnh Thừa Thiên – Huế cấp 100ha đất ở khu vực Bãi Chuối (thị trấn Lăng Cô, Thừa Thiên – Huế) để xây dựng khu nghỉ dưỡng.

Dự án này có vốn đầu tư 102 triệu USD, thời hạn thực hiện 50 năm, tiến độ thực hiện qua 2 giai đoạn (khởi công từ tháng 1.2009 đến tháng 8.2014). “Tỉnh đang làm tiến độ với Cty này. Vị trí thực hiện dự án nằm cạnh Khu du lịch nghỉ dưỡng quốc tế World Shine – Huế” – ông Quê nói.

Như vậy, cả hai dự án được tỉnh Thừa Thiên – Huế cấp phép xây dựng khu du lịch nghỉ dưỡng ở đèo Hải Vân đều là của Cty nước ngoài – Khu du lịch nghỉ dưỡng quốc tế World Shine – Huế của nhà đầu tư đến từ Trung Quốc; Khu du lịch nghỉ dưỡng Bãi Chuối của nhà đầu tư có quốc tịch Canada, dân tộc Hoa.

Phối cảnh Khu du lịch nghỉ dưỡng quốc tế World Shine – Huế được cấp phép khu vực đèo Hải Vân.
Từ QL1A địa phận đèo Hải Vân đến Khu nghỉ dưỡng quốc tế World Shine – Huế phải vượt qua hơn 5km về hướng Đông. 
Nhà điều hành được Cty CP Thế Diệu xây dựng ở khu vực ngã ba Bãi Chuối. 
Cả 2 khu du lịch nghỉ dưỡng cấp cho DN nước ngoài thực hiện ở đèo Hải Vân – địa điểm được xem là trọng yếu về quốc phòng. 

Clip Địa điểm tỉnh Thừa Thiên – Huế cấp phép cho Cty nước ngoài xây dựng khu nghỉ dưỡng ở khu vực đèo Hải Vân.

 

Thừa Thiên–Huế có minh bạch về dự án của Trung Quốc trên núi Hải Vân? (Infonet). – “Lòi” thêm khu nghỉ dưỡng Bãi Chuối có vốn trăm triệu USD ở đèo Hải Vân (LĐ).

Posted in Bán Tài Nguyên Khoa'ng Sản- Cho Nước Ngoài Thuê Đất 50 năm | Leave a Comment »

►Đại tá Nguyễn Đăng Quang – Ghi nhanh cuộc trao đổi với các vị khách viếng thăm nhà cụ Nguyễn Trọng Vĩnh

Posted by hoangtran204 trên 21/11/2014

Ghi nhanh cuộc khách thăm nhà cụ Nguyễn Trọng Vĩnh

Tác giả: Đại tá Nguyễn Đăng Quang
.
.

 

.

Chiều 19/11/2014 Hà Nội đã vào cuối thu, lạnh. Tôi tranh thủ đến thăm sức khỏe lão tướng Nguyễn Trọng Vĩnh. Tôi quen biết cụ đã gần 40 năm nay và rất kính trọng và khâm phục cụ về nhân cách, đạo đức cũng như tấm lòng của cụ đối với dân và đất nước. Dù năm nay đã 99 tuổi song cụ vẫn nhanh nhẹn, khỏe mạnh và minh mẫn! Mặc dù hơn tôi 26 tuổi song cụ vẫn coi tôi là một người bạn vong niên thân thiết. Tiếp tôi, ngoài cụ còn có con gái cụ là nhà văn Nguyên Bình và chồng chị là anh Trịnh Văn Trà, một đại tá quân đội đã nghỉ hưu.

Tôi đứng lên chào và xin phép cụ ra về vì đã tâm tình và trò chuyện với cụ hơn một tiếng đồng hồ thì cụ bảo tôi cố nán lại ít phút để dự buổi cụ tiếp đoàn khách của Thành ủy Hà Nội đến thăm cụ.

Năm phút sau khách đến. Dẫn đầu là Ủy viên Thường vụ Thành ủy kiêm chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Thành ủy cùng 5 quan chức của Đảng, gồm: Một chuyên viên của UBKT Thành ủy; ông Phó bí thư Quận ủy Đống Đa; ông Chủ nhiệm UBKT Quận ủy Đống Đa; bà Bí thư Đảng ủy phường Kim Liên và ông Bí thư chi bộ nơi cụ sinh hoạt Đảng. Đoàn khách đi luôn vào nội dung cuộc viếng thăm: Hỏi cụ có phải là người ký vào Thư ngỏ 61 không và ai là người chấp bút, thảo ra thư đó? Họ thuyết phục cụ tuyên bố rút tên khỏi danh sách 61 đảng viên ký Thư ngỏ đó vì đã vi phạm vào quy định của Đảng, đặc biệt là “19 điều cấm” mà Đảng không cho đảng viên làm.

Cụ khẳng đinh chính cụ là người ký vào Thư ngỏ 61 đó, và vì cụ nhiều tuổi đảng nhất, 75 năm tuổi đảng, nên anh em xếp cụ lên danh sách đầu tiên. Còn ai là người soạn thảo thư đó thì cụ nói là mọi người ngồi trao đổi với nhau, đều nhất tri và đồng tình những nội dung cấp thiết phải kiến nghị với Lãnh đạo Đảng như nội dung Thư ngỏ đã nêu rõ, còn ai là người chấp bút khởi thảo thì không quan trọng, cụ không đáp ứng câu hỏi này vì cụ cho rằng mọi người ký vào Thư ngỏ thì đều có trách nhiệm như nhau và sẵn sàng đối thoại, tranh luận công khai và dân chủ với lãnh đạo Đảng về những vấn đề mà Thư ngỏ 61 đã nêu lên. Liệu Đảng có đồng ý đối thoại và tranh luận công khai với nhóm 61 đảng viên ký vào Thư ngỏ này không ?

Còn về yêu cầu cụ tuyên bố rút tên khỏi danh sách những người ký tên Thư ngỏ này thì cụ nói không, dứt khoát không bao giờ tôi rút theo yêu cầu của các anh! Còn việc đoàn “đễn thăm” kết luận rằng cụ cùng 61 đảng viên ký tên tập thể vào Thư ngỏ là vi phạm qui định của Đảng và “19 điều cấm” không cho đảng viên làm thì cụ hoàn toàn bác bỏ, cụ nói chính những qui định đó đã triệt tiêu tinh thần dân chủ trong đảng và ngay “19 điều cấm” cũng vi phạm Điều lệ Đảng !

Ông Chủ nhiệm UBKT Thành ủy trách cụ là tại sao cụ không trực tiếp góp ý kiến với Đảng theo con đường mà Đảng đã qui định mà lại tán phát những quan điểm sai trái, làm cho đảng viên và người dân hoang mang, dao động? Cụ trả lời là cụ rất thất vọng vì trong suốt gần 10 năm qua cụ đã kiên trì và chân tình góp ý, đã không dưới 10 lần viết thư tay gửi Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ban CHTW Đảng và cả Tổng Bí thư nhưng không lần nào cụ được hồi âm, trả lời! Cụ nói: Đến như cụ 16 năm là Ủy viên Trung ương Đảng (Khoá III), là lão thành cách mạng, có 75 năm tuổi đảng, mà các anh ấy trốn tránh, không thèm trả lời thì thử hỏi những góp ý, kiến nghị của các đảng viên khác các anh ấy coi ra gì? Lãnh đạo Đảng ngày nay chỉ thích nghe những ý kiến xu nịnh, thuận tai của bọn cơ hội, giáo điều, nhưng ngược lại họ coi các ý kiến phản biện và những đóng góp chân tình, xây dựng, tâm huyết và khoa học của rất nhiều nhân sỹ trí thưc và đảng viên là những ý kiến có “động cơ xấu”, thậm chí còn bị chụp mũ là “suy thoái, biến chất” hoặc “bị các thế lực thù địch xúi giục”! Đấy chính là một trong các lý do cụ ký tên vào Thư ngỏ 61 và công khai thư đó cho nhân dân biết sau khi thư đó đã gửi chuyển phát nhanh cho TBT, BCT, BBT và tất cả gần 200 UVTW Đảng.

Ông Chủ nhiệm UBKT Thành ủy trách là việc tán phát Thư ngỏ đó trên mạng là sai trái, làm cho các đảng viên hoang mang, giao đông, không tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng. Điều đó làm ảnh hưởng lớn đến uy tín của Đảng. Nghe đến đây tôi phải xin phép cụ Vĩnh để có đôi lời với ông Chủ nhiệm UBKT Thành ủy. Tôi nói: “Vâng, thưa đồng chí Chủ nhiệm UBKT, tôi nguyên là cán bộ Bộ Công an, đã về nghỉ hưu 11 năm nay và là một trong 61 đảng viên ký tên vào Thư ngỏ 61. Ý kiến đồng chí vừa nói rất đúng. Nếu có ai hoang mang, dao động và không tin vào sự lãnh của Đảng thì người đó chính là Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng. Đồng chí Phú Trọng nói “Đến hết thế kỷ này không biết là đã có CNXH hoàn thiện ở Việt Nam hay chưa?” Đồng chí TBT không phải nói ở chỗ riêng tư mà phát biểu chính thức trong một buổi thảo luận Tổ đại biểu ở Quốc Hội khóa XIII để góp ý cho Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 2013 tháng10 năm ngoái và đã được VTV, VOA và TTXVN loan tải rộng rãi! Chính phát biểu bi quan đó của đồng chí TBT làm tôi thực sự giao động, hoang mang và không còn tin vào sự lãnh đạo hiện nay của Đảng nữa, và đây cũng chính là một trong các lý do khiến tôi ký vào Thư ngỏ 61.

Lúc nãy tôi có hỏi về di chúc của Chủ tịch HCM và đồng chi trả lời là di chúc của Bác Hồ rất đúng và tuyệt đối đúng! Vâng, tôi hoàn toàn đồng ý với đồng chí. Di chúc của Bác không căn dặn Đảng ta xây dựng CNXH mà chỉ dặn Đảng xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, giàu mạnh và xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ văn minh thôi, và trong di chúc không có một từ nào Bác đề cập đến chủ thuyết Marx-Lenine và căn dặn nhân dân và đảng ta phải kiên định con đường này! Vậy tại sao Đảng ta không làm theo di chúc của Bác?

 

Ông Chủ nhiệm UBKT Thành ủy không trả lời trực tiếp mà chuyển sang việc đề cập đến thành tựu lãnh đạo cách mạng của Đảng. Ông gợi lại chuyện 75 năm trước (1939) khi cụ vào Đảng và thoát ly tham gia cách mạng thì đất nước ta còn nghèo lắm, dân ta còn khổ lắm nhưng nhờ sự lãnh đạo tài tình và sáng suốt của Đảng nên ngày nay nước ta đã hết nghèo, dân ta đã hết khổ, nay thì nhà nào cũng có ít nhất một xe máy thì làm sao cụ lại nói đường lối của Đảng là sai lầm, cần phải từ bỏ con đường xây dựng CNXH theo mô hình Xô-viết ? Ông ta còn nói rằng Đảng đã và đang kiên định con đường XHCN, mang lại hạnh phúc cho nhân dân, xã hội ta không có người bóc lột người, Đảng không cho phép bọn tư bản bóc lột giá trị thặng dư nhân dân lao động VN, hiện nay nhân dân làm theo sức và hưởng theo lao động, mai này khi tiến lên xây dựng CNCS thì người dân sẽ làm tùy sức và sẽ hưởng thụ theo nhu cầu! Về đối ngoại, Đảng ta cũng có chính sách khôn khéo và cương quyết với TQ, buộc họ phải rút giàn khoan HD981 khỏi vùng đặc quyền kinh tế của ta trước thời han. Đây rõ ràng là thắng lợi của ta…(!?) => ‘Bê tông hóa’ tư duy !  

Cụ Vĩnh nói: “Nó rút chủ yếu là do sức ép quốc tế. TBT Nguyễn Phú Trọng không hề có một lời nào lên án TQ. Hội nghị TW9 đang họp, cũng không hề có một tuyên bố nào. Rồi đến Quốc Hội họp cũng không ra tuyên bố hoặc nghị quyết lên án TQ, Chính phủ cũng vậy! Sao nay lại tự nhận là do ta đấu tranh kiên quyết, mạnh mẽ nên buộc nó phải rút? TQ không bao giờ từ bỏ dã tâm bành trướng, xâm lược nước ta.Đảng phải hết sức cảnh giác và phải thực sự dựa vào nhân dân và phải đặt lợi ích của đất nước,của dân tộc lên trên lợi ích của Đảng thì mới có thể thắng lợi kể cả trong xây dựng đất nước cũng như bảo vệ Tổ quốc, và đừng có quá nhẹ dạ tin vào 16 chữ vàng và 4 tốt, kẻo sẽ bị lừa và dễ mất nước”!

Đại tá Trà dù đã rất kiên nhẫn ngồi nghe từ đầu, song đến đây ông không kìm được, ông nói: “Nghe các đồng chi lập luận, tôi không thể thông! Đồng chí khẳng định VN chỉ có thể chọn mô hình XHCN để xây dựng đất nước, ngoài ra không có con đường nào khác. Thế thì đồng chí giải thích tại sao lãnh đạo Đảng và Nhà nước ta đi hết nước tư bản này đến nước tư bản kia để van nài họ công nhận nền kinh tế nước ta là nền kinh tế thị trường? Phải chăng điều đó chứng tỏ chính Đảng không tin vào CNXH và thú nhận học thuyết Marx-Lenine là bế tắc?”.

Không thấy vị Chủ nhịêm UBKT Thành ủy và các vị khách trả lời.  Tôi nói tiếp: “Cho đến lúc này, ngay cả Hội đồng lý luận Trung ương cũng như các nhà nhà lý luận của Đảng cũng không có ai đưa ra được một định nghĩa có sức thuyết phục thế nào là nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN. Kinh tế thị trường và Chủ nghĩa xã hội không thể tồn tại và giao thoa cùng nhau được! Có cái này thì không có cái kia và ngược lại”.

Cụ Vĩnh nghe vị Chủ nhiệm UBKT Thành ủy thuyết giảng, chắc cảm thấy rất mệt, song cụ vẫn vui vẻ nói: “Lúc nãy nghe đồng chí Chủ nhiệm UBKT Thành ủy nói thời tôi vào Đảng và tham gia hoạt động CM đã cách đây 75 năm rồi. Vâng, đồng chí nói đúng. Hồi đó tôi vào đảng là Đảng Cộng sản Đông Dương sau này đổi tên thành Đảng Lao Động Việt Nam, và tôi thấy Đảng tôi chọn lúc đó đều rất trong sáng và thực sự vì dân tộc và đất nước, và nó khác xa ĐCSVN hiện nay. Mong các đồng chỉ về và phản ảnh trung thực, đầy đủ các ý kiến ta trao đổi hôm nay, và kiểm tra giúp các đơn thư mà tôi đã gửi lãnh đạo Đảng trong hơn 9 năm qua và nhắc họ cố gắng đọc và nghiên cứu. Nếu bố trí gặp trực tiếp tôi thì tốt, nếu không thì cố gắng hồi âm các thư tôi đã gửi.

Đoàn “khách” cũng cảm thấy khó có gì để nói thêm nên đứng dậy xin phép ra về. Ông Trưởng đoàn kính chúc cụ mạnh khỏe để tiếp tục đóng góp ý kiến xây dựng Đảng theo đúng quy định để Đảng thực sự trong sạch và vững mạnh.

Tôi về đến nhà là đã gần 6 giờ chiều, tuy khá mệt song cố gắng ghi lại trung thực nhưng chắc không đầy đủ nội dung cuộc gặp này,kẻo để lâu lại quên. Tôi nghĩ chắc đây chưa phải là cuộc thăm viếng và trao đổi cuối cùng. Và cũng không riêng với cụ Vĩnh, với những khác biệt giữa nhận thức và thực tiễn, giữa quyền hành và dân chủ như thế này, tôi nghĩ rằng những đoàn “khách” như thế này còn “hỏi thăm sức khỏe” nhiều người khác nữa, cho dù có góp ý với lãnh đạo đảng, nhà nước những ý kiến chân thành, xây dựng, nhưng “khác chủ trương, khác ý lãnh đạo”!

Nguyễn Đăng Quang

 

Bài liên quan 

Đảng ủy phường, chủ tịch Hội cựu chiến binh, tổ trưởng dân phó, Công an khu vực Thường vụ quận ủy, trưởng ban Tuyên văn giáo quận ủy Q10 viếng thăm, cũng đã thuyết giảng Ông Kha Lương Ngãi,  thành viên của Thư ngõ 61 đến 3 lần rồi.

anhbasam.wordpress.com/2014/11/10/3086-nhat-ky-tham-vieng-bat-thuong-lan-thu-3/

 

Thư ngỏ gửi BCH Trung ương và toàn thể đảng viên Đảng CSVN

27-7-22014

Ngày 28 tháng 07 năm 2014                                    

THƯ NGỎ    

Kính gửi: Ban Chấp hành Trung ương và toàn thể đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam

Từ nhiều năm nay, Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN) dẫn dắt dân tộc đi theo đường lối sai lầm về xây dựng chủ nghĩa xã hội theo mô hình xô-viết, được coi là dựa trên chủ nghĩa Mác-Lênin. Công cuộc đổi mới gần ba nươi năm qua nhằm sửa chữa sai lầm về đường lối kinh tế nhưng chưa triệt để, trong khi vẫn giữ nguyên thể chế độc đảng toàn trị kìm hãm tự do, dân chủ và chia rẽ dân tộc. Đường lối sai cùng với bộ máy cầm quyền quan liêu, tha hóa tạo điều kiện cho sự lộng hành của các nhóm lợi ích bất chính gắn với tệ tham nhũng, đưa đất nước lâm vào khủng hoảng toàn diện, ngày càng tụt hậu so với nhiều nước xung quanh.

Trong khi đó, giới lãnh đạo Trung Quốc từ lâu đã theo đuổi mưu đồ đặt nước ta vào vị thế lệ thuộc, phục vụ lợi ích của Trung Quốc. Sau Hội nghị Thành Đô năm 1990 đến nay,Việt Nam đã có nhiều nhân nhượng trong quan hệ với Trung Quốc, phải trả giá đắt và càng nhân nhượng, Trung Quốc càng lấn tới. Gần đây, trong bối cảnh quốc tế phức tạp, Trung Quốc có nhiều hành vi leo thang mới trong mưu đồ xâm lược và bá chiếm Biển Đông, coi Việt Nam là mắt xích yếu nhất cần khuất phục trước tiên. Thực tế bóc trần cái gọi là “cùng chung ý thức hệ xã hội chủ nghĩa” chỉ là sự ngộ nhận và “4 tốt, 16 chữ” chỉ là để che đậy dã tâm bành trướng. Cho đến nay, thế lực bành trướng Trung Quốc đã đi được những bước quan trọng trong mưu đồ biến Việt Nam thành “chư hầu kiểu mới” của họ.

Thực trạng đau lòng này phơi bày sự yếu kém cả về trách nhiệm và năng lực của lãnh đạo đảng và nhà nước trong thời gian qua.

Toàn thể ĐCSVN, trong đó có chúng tôi, phải chịu trách nhiệm trước dân tộc về tình hình nói trên và phải góp phần tích cực khắc phục những sai lầm đã gây ra; trong đó phần trách nhiệm chủ yếu và trước hết thuộc về Ban Chấp hành Trung ương và Bộ chính trị.

Vì vậy chúng tôi, những người ký tên dưới đây, thấy cần bày tỏ suy nghĩ của những đảng viên ĐCSVN trung thành với tâm nguyện vì nước vì dân khi vào Đảng với mấy yêu cầu chính dưới đây:

1. Trước tình thế hiểm nghèo của đất nước, với trách nhiệm và vị thế của mình, ĐCSVN tự giác và chủ động thay đổi Cương lĩnh, từ bỏ đường lối sai lầm về xây dựng chủ nghĩa xã hội, chuyển hẳn sang đường lối dân tộc và dân chủ, trọng tâm là chuyển đổi thể chế chính trị từ toàn trị sang dân chủ một cách kiên quyết nhưng ôn hòa. Ngay từ bây giờ, cần thảo luận thẳng thắn và dân chủ trong toàn Đảng và trong cả nước về tình hình mọi mặt của đất nước và những thách thức trước bước đi mới rất trắng trợn của Trung Quốc bá chiếm Biển Đông, vạch ra con đường chuyển đổi cơ cấu kinh tế lạc hậu và lệ thuộc nghiêm trọng vào Trung Quốc hiện nay, xây dựng hệ thống nhà nước pháp quyền thật sự dân chủ. Chỉ có như vậy mới phát huy được sức mạnh trí tuệ, tinh thần và vật chất của dân tộc Việt Nam, tăng cường được đoàn kết, hòa hợp dân tộc và tranh thủ được sự ủng hộ mạnh mẽ của nhân loại tiến bộ, mở ra một thời kỳ mới cho sự phát triển và bảo vệ đất nước.

Quan điểm nêu trên cần được thấu suốt và thực hiện ngay trong việc chuẩn bị và tiến hành đại hội Đảng các cấp tiến tới Đại hội toàn quốc lần thứ XII với các đại biểu được bầu chọn thật sự dân chủ, đáp ứng được yêu cầu chính trị của đại hội. Đó là trách nhiệm của các tổ chức đảng các cấp và của từng đảng viên có tinh thần yêu nước. Đồng thời, kỳ bầu cử Quốc hội sắp tới phải thật sự dân chủ, tạo lập một Quốc hội chuyên nghiệp, xứng đáng đại diện cho dân, đáp ứng yêu cầu lập pháp chuyển đổi thể chế chính trị.

Việc cần làm ngay để thể hiện sự thực tâm chuyển đổi thể chế chính trị, tạo niềm tin trong dân là các cơ quan công quyền chấm dứt các hành động sách nhiễu, trấn áp, quy kết tùy tiện đối với người dân biểu tình yêu nước, đối với các tổ chức xã hội dân sự mới thành lập, trả tự do cho những người đã và đang bị kết án hình sự chỉ vì công khai bày tỏ quan điểm chính trị của mình.

2. Lãnh đạo đảng và nhà nước thống nhất nhận định về mưu đồ và hành động của thế lực bành trướng Trung Quốc đối với nước ta, từ bỏ những nhận thức mơ hồ, ảo tưởng; và có đối sách trước mắt và lâu dài bảo vệ độc lập, chủ quyền quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ trong mọi tình huống, thoát khỏi sự lệ thuộc vào Trung Quốc, xây dựng quan hệ láng giềng hòa thuận, hợp tác bình đẳng, vun đắp tình hữu nghị giữa nhân dân hai nước.

Là người chủ đất nước, nhân dân có quyền được biết và phải được biết sự thật về quan hệ Việt Nam – Trung Quốc và những điều quan trọng đã ký kết với Trung Quốc như thỏa thuận Thành Đô năm 1990, thỏa thuận về hoạch định biên giới trên đất liền và vịnh Bắc Bộ, những thỏa thuận về kinh tế v.v…

Việc cần thiết và cấp bách hiện nay là phải nhanh chóng kiện Trung Quốc ra tòa án quốc tế nhằm phát huy thế mạnh chính nghĩa của nước ta. Đồng thời, Việt Nam cần chủ động cùng với các nước ven Biển Đông thỏa thuận giải quyết những vướng mắc về chủ quyền trên biển với các đảo, bãi đá; củng cố sự đoàn kết, thống nhất của các nước ASEAN, trước hết là giữa các quốc gia ven biển, trong cuộc đấu tranh chống mọi hành động bành trướng của Trung Quốc muốn độc chiếm vùng biển này thành ao nhà của mình.

Quan điểm “không liên minh với nước nào nhằm chống nước thứ ba” là tự trói buộc mình, không phù hợp với thực tế, cần phải thay đổi.

Tổ quốc đang lâm nguy đồng thời đứng trước cơ hội lớn để thay đổi! Trách nhiệm của các đảng viên yêu nước là phải cùng toàn dân nắm lấy thời cơ này, vượt qua thách thức, mở ra một thời kỳ mới cho sự phát triển và bảo vệ đất nước.

Bỏ lỡ cơ hội này là có tội với dân tộc!

______________________


DANH SÁCH CÁC ĐẢNG VIÊN KÝ THƯ NGỎ GỬI BCH TW VÀ TOÀN THỂ ĐẢNG VIÊN ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

  1. Nguyễn Trọng Vĩnh, vào Đảng năm 1939, Thiếu tướng, nguyên Ủy viên dự khuyết Ban chấp hành trung ương Đảng khóa III, nguyên Đại sứ Đặc mệnh toàn quyền Việt Nam tại Trung Quốc, Hà Nội.
  2. Đào Xuân Sâm, vào Đảng năm 1946, nguyên Trưởng khoa Quản lý kinh tế, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, nguyên thành viên Ban nghiên cứu của Thủ tướng Chính phủ, Hà Nội.
  3. Trần Đức Nguyên, vào Đảng năm 1946, nguyên Trưởng ban Ban nghiên cứu của Thủ tướng Chính phủ, Hà Nội.
  4. Nguyễn Văn Tuyến, vào Đảng năm 1946, Đại tá, Cựu chiến binh, Hà Nội.
  5. Lê Duy Mật, vào Đảng năm 1947, Thiếu tướng, nguyên Tư lệnh phó, kiêm Tham mưu trưởng Quân khu II, Chỉ huy trưởng Mặt trận Vị Xuyên, Hà Giang 1979 – 1988, Hà Nội.
  6. Tạ Đình Du (Cao Sơn), vào Đảng năm 1948, Đại tá, Cựu chiến binh, Hà Nội.
  7. Vũ Quốc Tuấn, vào Đảng năm 1948, nguyên Trợ lý Thủ tướng Võ Văn Kiệt, Hà Nội.
  8. Nguyễn Hữu Côn, vào Đảng năm 1949, Đại tá, Cựu chiến binh, nguyên Tham mưu trưởng Hậu cần Quân đoàn 2, Hà Nội.
  9. Hoàng Hiển, vào Đảng năm 1949, nguyên Trung tá Hải quân, Hà Nội.
  10. Đỗ Gia Khoa, vào Đảng năm 1949, nguyên cán bộ cơ quan Bộ Công an và Tổng cục Hải Quan, Hà Nội.
  11. Hà Tuân Trung, vào Đảng năm 1949, nguyên Ủy viên Ủy ban Kiểm tra Trung ương, nguyên Tổng biên tập tạp chí Kiểm tra, Hà Nội.
  12. Nguyễn Thị Ngọc Toản, vào Đảng năm 1949, Đại tá, Giáo sư, Cựu Chiến binh, nguyên Chủ nhiệm khoa, Quân Y viện 108, Hà Nội.
  13. Phạm Xuân Phương, vào Đảng năm 1949, Đại tá, Cựu chiến binh, nguyên chuyên viên Tổng cục Chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam, Hà Nội.
  14. Tô Hòa, vào Đảng năm 1950, nguyên Tổng Biên tập báo Sài Gòn Giải phóng.
  15. Võ Văn Hiếu, vào Đảng năm 1950, nguyên cán bộ thuộc Ban Tuyên huấn trung ương Cục Miền Nam.
  16. Hoàng Tụy, vào Đảng năm 1950, Giáo sư Toán học, Hà Nội.
  17. Huỳnh Thúc Tấn, vào Đảng năm 1951, nguyên Phó Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ, Hà Nội.
  18. Tạ Đình Thính, vào Đảng năm 1951, nguyên Vụ trưởng Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội.
  19. Nguyên Ngọc, vào Đảng năm 1956, Nhà văn, nguyên Bí thư Đảng đoàn Hội Nhà văn Việt Nam, Hội An.
  20. Tương Lai, vào Đảng năm 1959, nguyên Viện trưởng Viện Xã hội học, nguyên thành viên Tổ tư vấn của Thủ tướng Võ Văn Kiệt, TP. Hồ Chí Minh.
  21. Nguyễn Khắc Mai, vào Đảng năm 1959, Giám đốc Trung tâm Minh Triết, Hà Nội.
  22. Đào Công Tiến, vào Đảng năm 1960, nguyên Hiệu trưởng trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh, Phó Chủ tịch Hội Kinh tế Việt Nam, TP. Hồ Chí Minh.
  23. Vũ Linh, vào Đảng năm 1962, nguyên Chủ nhiệm chương trình PIN mặt trời, Đại học Bách Khoa Hà Nội, Hà Nội.
  24. Nguyễn Kiến Phước, vào Đảng năm 1962, nguyên Ủy viên Ban Biên tập báo Nhân Dân, TP. Hồ Chí Minh.
  25. Nguyễn Thị Ngọc Trai, vào Đảng năm 1963, nhà báo, nhà văn, nguyên Phó Tổng biên tập báo Văn Nghệ của Hội Nhà văn Việt Nam, Hà Nội
  26. Võ Văn Thôn, vào Đảng năm 1965, nguyên Giám đốc Sở Tư pháp TP. Hồ Chí Minh, TP. Hồ Chí Minh.
  27. Nguyễn Trung, vào Đảng năm 1965, nguyên Đại sứ Việt Nam tại Thái Lan, Hà Nội.
  28. Huỳnh Kim Báu, vào Đảng năm 1965, nguyên Tổng thư ký‎ Hội Trí thức yêu nước TP. Hồ Chí Minh, TP. Hồ Chí Minh.
  29. Hạ Đình Nguyên, vào Đảng năm 1965, nguyên Chủ tịch Ủy ban phối hợp hành động Tổng hội Sinh viên Sài Gòn, TP. Hồ Chí Minh.
  30. Nguyễn Văn Ly (Tư Kết), vào Đảng năm 1966, nguyên thư k‎ý của Bí thư Thành ủy Mai Chí Thọ, nguyên Phó bí thư Đảng ủy Sở Văn hóa -Thông tin TP. Hồ Chí Minh, TP. Hồ Chí Minh
  31. Lê Công Giàu, vào Đảng năm 1966, nguyên Phó bí thư Thường trực Thành đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, TP. Hồ Chí Minh, nguyên Giám đốc Trung tâm Xúc tiến thương mại, đầu tư TP. Hồ Chí Minh, TP. Hồ Chí Minh.
  32. Kha Lương Ngãi, vào Đảng năm 1966, nguyên Phó Tổng Biên tập báo Sài Gòn Giải phóng, TP. Hồ Chí Minh.
  33. Tô Nhuận Vỹ, vào Đảng năm 1967, nhà văn, nguyên Bí thư Đảng Đoàn kiêm Chủ tịch Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Thừa Thiên – Huế, Tổng biên tập tạp chí Sông Hương, nguyên Giám đốc Sở Ngoại vụ tỉnh Thừa Thiên – Huế, TP. Huế.
  34. Phạm Đức Nguyên, vào Đảng năm 1968, Phó Giáo sư Tiến sĩ ngành Xây dựng, 46 tuổi đảng, Hà Nội.
  35. Bùi Đức Lại, vào Đảng năm 1968, nguyên Vụ trưởng, chuyên gia cao cấp bậc II, Ban Tổ chức trung ương Đảng, Hà Nội.
  36. Lữ Phương, vào Đảng năm 1968, nguyên Thứ trưởng Bộ Văn Hóa Chính phủ Cách mạng Lâm thời Miền Nam, TP. Hồ Chí Minh.
  37. Nguyễn Lê Thu An, vào Đảng năm 1969, cựu tù chính trị Côn Đảo, TP. Hồ Chí Minh.
  38. Nguyễn Đăng Quang, vào Đảng năm 1969, Đại tá công an, đã nghỉ hưu, Hà Nội.
  39. Trần Văn Long, vào Đảng năm 1970, nguyên Phó Bí thư Thành đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, TP. Hồ Chí Minh.
  40. Nguyễn Thị Kim Chi, vào Đảng năm 1971, Nghệ sĩ ưu tú, Đạo diễn điện ảnh, Hà Nội.
  41. Huỳnh Tấn Mẫm, vào Đảng năm 1971, nguyên Chủ tịch Tổng hội Sinh viên Sài Gòn trước 1975, nguyên đại biểu Quốc hội khóa 6, nguyên Tổng biên tập báo Thanh Niên, TP. Hồ Chí Minh.
  42. Võ Thị Ngọc Lan, vào Đảng năm 1972, nguyên cán bộ công an TP. Hồ Chí Minh.
  43. Hà Quang Vinh, vào Đảng năm 1972, cán bộ hưu trí, TP. Hồ Chí Minh.
  44. Nguyễn Đắc Xuân, vào Đảng năm 1973, nhà văn, nhà nghiên cứu văn hóa, nguyên Trưởng Đại diện báo Lao Động tại khu vực Miền Trung – Tây Nguyên, TP. Huế.
  45. Lê Đăng Doanh, vào Đảng năm 1974, Tiến sĩ Kinh tế học, nguyên thành viên Ban Nghiên cứu của Thủ tướng Chính phủ, Hà Nội.
  46. Chu Hảo, vào Đảng năm 1974, nguyên Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ, Hà Nội.
  47. Nguyễn Xuân Hoa, vào Đảng năm 1974, nguyên Giám đốc Sở Văn hóa – Thông tin tỉnh Thừa Thiên – Huế, TP. Huế.
  48. Nguyễn Vi Khải, vào Đảng năm 1974, nguyên thành viên Ban Nghiên cứu của Thủ tướng Chính phủ, 40 tuổi đảng, Hà Nội.
  49. Cao Lập, vào Đảng năm 1974, nguyên Bí thư Đảng ủy ngành Văn hóa -Thông tin TP. Hồ Chí Minh.
  50. Lê Thân, vào Đảng năm 1975, cựu tù chính trị Côn Đảo, nguyên Tổng Giám đốc Liên doanh SG-Riversite, TP. Hồ Chí Minh.
  51. Ngô Minh, vào Đảng năm 1975, nhà báo, nhà văn, TP. Huế.
  52. Trần Kinh Nghị, vào Đảng năm 1976, cán bộ Ngoại giao về hưu, Hà Nội.
  53. Hồ An, vào Đảng năm 1979, nhà báo, TP. Hồ Chí Minh.
  54. Đoàn Văn Phương, vào Đảng năm 1979, nguyên chiến sĩ thuộc Ban Giao lưu trung ương Cục, TP. Hồ Chí Minh.
  55. Hồ Uy Liêm, vào Đảng năm 1980, nguyên Quyền Chủ tịch Liên hiệp các hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam, Hà Nội.
  56. Trần Đình Sử, vào Đảng năm 1986, Giáo sư Tiến sĩ Ngữ văn, Hà Nội.
  57. Lê Văn Luyến, vào Đảng năm 1987, nguyên cán bộ thuộc Ban Tuyên huấn trung ương Cục Miền Nam, TP. Hồ Chí Minh.
  58. Nguyễn Gia Hảo, vào Đảng năm 1988, nguyên thành viên Tổ tư vấn của Thủ Tướng Võ Văn Kiệt, Hà Nội.
  59. Phạm Chi Lan, vào Đảng năm 1989, nguyên thành viên Ban Nghiên cứu của Thủ tướng Chính phủ, Hà Nội.
  60. Đào Tiến Thi, vào Đảng năm 1997, Thạc sĩ, Ủy viên Ban chấp hành Hội Ngôn ngữ học Việt Nam, Hà Nội
  61. Nguyễn Nguyên Bình, vào Đảng năm 1986, Trung tá, cựu chiến binh, Hà Nội.

Nguồn: anhbasam

Posted in Chinh Tri Xa Hoi | Leave a Comment »

►Luật sư Hà Huy Sơn: Tư tưởng, ngôn luận không phải là đối tượng của giám định tư pháp

Posted by hoangtran204 trên 19/11/2014

Ls Hà Huy Sơn viết bài này với dụng ý nhắc nhở đảng và nhà nước VN hãy tôn trọng và bảo vệ quyền tự do ngôn luận của con người chiếu theo Công ước quốc tế mà nhà nước VN đã đồng ý ký và tham gia năm 1982. Thực tế, đảng CSVN và nhà nước đã không tôn trọng và thi hành việc bảo vệ quyền này mà luôn bắt bớ đàn áp dân chúng một cách thô bạo. Đảng và nhà nước VN tự cho rằng họ đứng cao hơn hiến pháp và luật pháp do chính họ viết ra. 

Tư tưởng, ngôn luận không phải là đối tượng của giám định tư pháp

17-11-2014

Ls Hà Huy Sơn
.
.

1. Pháp luật khẳng định công dân có quyền tự do tư tưởng, tự do ngôn luận:

– Công ước quốc tế về quyền dân sự và chính trị 1966, Việt Nam tham gia năm 1982, quy định:

“Khoản 1, Điều 18:

  1. Ai cũng có quyền tự do tư tưởng, tự do lương tâm và tự do tôn giáo. Quyền này bao gồm quyền tự do theo một tôn giáo hay tín ngưỡng và quyền tự do biểu thị tôn giáo hay tín ngưỡng qua sự thờ phụng, hành đạo, nghi lễ hay giảng dạy, hoặc riêng tư hoặc với người khác, tại nơi công cộng hay tại nhà riêng.”

“Khoản 1, 2 Điều 19:

  1. Mọi người đều có quyền giữ vững quan niệm mà không bị ai can thiệp.
  2. Mọi người đều có quyền tự do phát biểu quan điểm; quyền này bao gồm quyền tự do tìm kiếm, tiếp nhận, và phổ biến mọi tin tức và ý kiến bằng truyền khẩu, bút tự hay ấn phẩm, dưới hình thức nghệ thuật, hay bằng mọi phương tiện truyền thông khác, không kể biên giới quốc gia.”

– Tuyên ngôn nhân quyền Liên hợp quốc 1948, quy định:

“Điều 19: Ai cũng có quyền tự do quan niệm và tự do phát biểu quan điểm; quyền này bao gồm quyền không bị ai can thiệp vì những quan niệm của mình, và quyền tìm kiếm, tiếp nhận cùng phổ biến tin tức và ý kiến bằng mọi phương tiện truyền thông không kể biên giới quốc gia.”

– Hiến pháp năm 2013, điều 25, quy định:

“Điều 25: Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định.”

Vì vậy, tư tưởng, ngôn luận là quyền tự do của con người, quyền của công dân nó không phải là đối tượng của bất cứ hoạt động giám định nào.

2. Đối tượng của giám định tư pháp:

– Luật giám định tư pháp 2012:

+ Khoản 1 điều 2, quy định:

“Giám định tư pháp là việc người giám định tư pháp sử dụng kiến thức, phương tiện, phương pháp khoa học, kỹ thuật, nghiệp vụ để kết luận về chuyên môn những vấn đề có liên quan đến hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự, giải quyết vụ việc dân sự, vụ án hành chính theo trưng cầu của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng hoặc theo yêu cầu của người yêu cầu giám định theo quy định của Luật này.”

+ Khoản 1 điều 3 “Nguyên tắc thực hiện giám định tư pháp”, quy định:

“Tuân thủ pháp luật, tuân theo quy chuẩn chuyên môn.”

+ Khoản 2 điều 41 “Nhiệm vụ, quyền hạn của bộ, cơ quan ngang bộ quản lý chuyên môn về lĩnh vực giám định tư pháp”, quy định:

“Ban hành quy chuẩn giám định tư pháp hoặc hướng dẫn áp dụng quy chuẩn chuyên môn cho hoạt động giám định tư pháp theo yêu cầu và đặc thù của lĩnh vực giám định thuộc thẩm quyền quản lý.”

– Thông tư số 24/2013/TT-BTTTT ngày 27/12/2013 của Bộ Thông tin và Truyền thông:

+ Khoản 1 điều 10 “Áp dụng quy chuẩn chuyên môn cho hoạt động giám định tư pháp;”, quy định:

“Hoạt động giám định tư pháp trong lĩnh vực thông tin và truyền thông được thực hiện căn cứ vào quy chuẩn chuyên môn trong lĩnh vực thông tin và truyền thông hiện hành (bao gồm Tiêu chuẩn quốc gia và Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia trong lĩnh vực thông tin và truyền thông) và các văn bản pháp luật có liên quan đến nội dung cần giám định.”

Như vậy, giám định tư pháp nói chung là việc sử dụng các kiến thức, phương tiện, phương pháp khoa học, kỹ thuật, nghiệp vụ để kết luận về chuyên môn để xác lập chứng cứ vật chất liên quan nhằm mục đích phục vụ giải quyết vụ án. Nói riêng về giám định tư pháp trong lĩnh vực thông tin và truyền thông là áp dụng Tiêu chuẩn quốc gia, Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia trong lĩnh vực thông tin và truyền thông để xác định, kết luận các chứng cứ được yêu cầu trưng cầu giám định để phục vụ việc giải quyết vụ án. Đối tượng của giám định tư pháp nói chung và trong trong lĩnh vực thông tin và truyền thông nói riêng phải là những chứng cứ vật chất.

Việc phát biểu quan điểm; bao gồm tìm kiếm, tiếp nhận, và phổ biến mọi tin tức và ý kiến bằng truyền khẩu, bút tự hay ấn phẩm, dưới hình thức nghệ thuật, hay bằng mọi phương tiện truyền thông khác (internet…) là quyền tự do của con người. Nội dung của các tư tưởng, tin tức là những giá trị phi vật chất, không thể đo lường được bằng một tiêu chuẩn kỹ thuật, phương tiện vật chất hay một chuyên môn nào. Nói cách khác tư tưởng, tin tức không phải là đối tượng của giám định tư pháp và không thể sử dụng làm chứng cứ cho việc giải quyết một vụ án.

Hà Nội, ngày 17/11/2014.

—————-

Giải trí:

Tản mạn quanh “vụ” ông Putin khoác áo cho bà Bành Lệ Viên

Bắt đầu từ “sự cố” nhỏ khi ông Putin choàng áo khoác cho bà Bành Lệ Viên. Chuyện rằng hôm 10/11 vừa rồi, tại ở trung tâm thể thao Water Cube, Tổng thống Nga Vladimir Putin được xếp ngồi cạnh bà Bành Lệ Viên, vợ ông Tập Cận Bình. Kế bên kia bà Bành là ông Tập Cận Bình – chồng bà tiếp theo là ông Obama. Hình như bà Bành kêu lạnh nên ông Putin đã lấy một chiếc áo khoác choàng lên người bà. Chuyện chỉ có vậy.

Ông Putin ngồi cạnh bà Bành Lệ Viên, tiếp theo là Tập Cận Binh, Obama

 

Ông Putin choàng áo cho bà Bành Lệ Viện. Ảnh: REUTERS

 

Lập tức, chi tiết này được khai thác triệt để. Báo chí Phương Tây giật lên những cái tít tưởng đảo lộn thế giới đến nơi: “Putin ra tay: Vlad có cử chỉ thân tình với đệ nhất phu nhân Trung Quốc”, “Putin nhắm bắn đệ nhất phu nhân Trung Quốc”. Thậm chí còn cho cử chỉ của Putin là tán tỉnh vợ của một nguyên thủ quốc gia nước khác rồi “khen” ông Pu tin có tài quyến rũ phụ nữ. Nếu ở Việt Nam, mấy tay ký giả này thế nào cũng bị đi tù về điều 258 với tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích hợp pháp của người khác.

Có báo còn kể, chuyện xảy ra khi ông Tập Cận Bình ngồi ngay đó nhưng lại đang mải mê câu chuyện với ông Obama. Cái ác là ở mấy chữ “đang mải mê”, hẳn là hàm ý rằng, do ông Tập không để ý thì ông Putin mới thừa cơ làm như thế, ngay trước mũi họ Tập, chứ nếu không, Putin đố dám.

Hóm hỉnh nhất là mẩu bình luận trên mạng xã hội ở Trung Quốc: “Tất cả những gì Obama và Tập Cận Bình có thể làm chỉ là … ngồi nhìn”. Cứ là vụ trộm tình do một tay bợm thứ thiệt thực hiện trót lọt nhưng chủ sở hữu đành bất lực. 

Còn blog Chú Tễu, khi dẫn bài “Putin khoác áo cho Đệ nhất phu nhân Trung Quốc” liền la toáng lên như là bắt được quả tang đôi gian phu dâm phụ:“Putin cởi áo đắp lấy hơi cho vợ Tập Cận Bình”. Nghe thật mùi mẫn. Khá khen cho sự nghịch ngợm của anh chàng tiến sĩ Hán Nôm này. Blog này còn dẫn ra câu ca dao “Yêu nhau cởi áo cho nhau, về nhà mẹ hỏi qua cầu gió bay” với ý đồ là không yêu thì cởi áo cho nhau làm gì. Vui đáo để. 

Nếu phân tích kỹ thêm thì ông Putin có vẻ bị oan. Ở ảnh khi bình thường thì ông Obama với ông Tập đúng là “đang mải mê” thật. Nhưng bà Bành cũng đang say sưa hướng sự chú ý của ông Putin vào một điều gì đó, còn ông Putin có vẻ như là thụ động. Hoặc hình như ông ta đang “ủ mưu” chờ cơ hội. Và cơ hội ấy đã đến khi bà Bành kêu lạnh. Về phía Bành phu nhân, khi được người hùng từ xứ sở Bạch Dương khoác áo cho thì bà thỏa mãn ra mặt, có vẻ như “tình trong như đã, mặt ngoài còn e”. Ảnh chụp cho thấy như thể ông Putin đã đánh trúng tâm lý bà Bành. Đấy là tán thêm ra theo kiểu soi mói của báo giới chứ thực ra Putin chỉ “can tội” khoác áo cho bà Bành mà thôi. 

Báo chí phương Tây còn lục hồ sơ, truy xét rằng, năm ngoái, ông Putin cũng từng choàng khăn lên vai bà Thủ tướng Đức Angela Merkel trong hội nghị G-20 ở St. Petersburg, khiến nhiều người đưa ra những bình luận tương tự. Ý nói, tay này đã có “tiền sự” về việc chim chuột phụ nữ đồng cấp hoặc vợ đồng cấp nhưng vẫn… không chừa.

Ông Putin choàng khăn cho bà  Angela Merkel, Thủ tướng Đức

Ấy vậy mà, mấy chuyện bông phèng cũng làm cho Trung Quốc lo lắng. Họ lập tức ra lệnh cho báo chí xóa bỏ tất cả những thông tin có dính dáng đến vụ, tạm gọi là “Tập bị trộm tình”.

Những lời đàm tiếu của báo chí Mỹ và Phương Tây dĩ nhiên làm cho Nga và Trung Quốc không hài lòng. Nhưng Nga đâu có chịu ngồi yên để cho thiên hạ chọc ngoáy, chế giễu. Để trả đũa, báo chí nước này lôi chuyện Obama cũng từng có cử chỉ với phụ nữ còn thân thiện hơn tổng thống của họ, chứ việc ông Putin choàng áo khoác cho bà Bành chưa là cái đinh gì. Đó là chuyện hồi ông Obama sang thăm Myanmar còn ôm bà Aung San Suu Kyi, chẳng những ôm mà còn hôn (nhẹ) nữa. 

Ông Obama “hôn nhẹ” bà Aung San Suu Kyi
 
 

Tuy nhiên, sự bình phẩm của báo Nga có vẻ chừng mực, chỉ ở mức, cho đó là “một cái ôm vụng về”, “hành động của ông Obama không được phải phép cho lắm” hay phàn nàn rằng, cử chỉ của ông Obama đối với bà Aung San Suu Kyi là “quá thân mật”

Nhưng việc báo Nga đưa ra chi tiết bà Aung San Suu Kyi góa chồng đã 15 năm nay quả là rất hiểm. Thì xưa nay vẫn vậy, trêu ghẹo một người phụ nữ chưa có chồng hoặc đã có chồng, còn thể tất được, chứ anh mò vào nhà phụ nữ góa chồng thì nhất định là có ý đồ. Vì vậy, phụ nữ góa chồng thiệt đủ mọi đằng. Phải sống trong cô đơn, lạnh lẽo đã đành mà còn bị đàn ông xa lánh vì sợ những lời thị phi. Cũng may mà ông Obama đang có vợ con, chứ nếu hoàn cảnh tương tự bà Aung San Suu Kyi thì rắc rối hơn nữa.

Báo Nga còn bắt lỗi chuyện ông Obama khoe ảnh “tự sướng” với bà Helle Thorning Schmidt, thủ tướng Đan Mạch ngay khi đang dự đám tang Tổng thống Nam Phi, Nelson Mandela. Riêng chuyện này, ông Obama bị bắt lỗi là đúng. (Thật ra đây là cử chỉ thân thiện thời nay) của những người quen biết nhau. Không nên có quan điểm quá khe khắt- Trần Hoàng)

Ông Obama khoe ảnh “tự sướng” với bà Helle Thorning Schmidt

 

Thực ra, những chuyện đàn ông khoác áo, ôm phụ nữ đối với các chính khách là chuyện hết sức bình thường, mặt khác, nên coi là những cử chỉ đẹp. Đó là những cử chỉ ngoại giao, bày tỏ sự thân thiện (với những nước có quan hệ tốt) hay đưa ra một thông điệp thiện chí nào đó (với những nước đang dò xét nhau). Một cử chỉ thân thiện có thể làm tan băng giá trong quan hệ bang giao, đẩy lùi hiểm họa chiến tranh.

Không thể nói cử chỉ của ông Putin hay Obama là vì mê gái đẹp. Người ga lăng như Putin hay hào hoa như Obama chẳng thiếu gì những phụ nữ trẻ, đẹp và thông minh vây quanh. Vì vậy, bà Bành Lệ Viên hay bà Aung San Suu Kyi không thể là tác nhân gợi tình các ông ấy vì hai bà thiếu ít nhất một yếu tố là trẻ trung, nếu không nói là hơn một.

Có điều, sự thân thiện với phụ nữ chỉ dừng lại như thế là đủ. Đừng nên tiến xa hơn như hôn chùn chụt vào miệng người ta, thậm chí thò lưỡi vào miệng người ta khua khoắng. Còn nếu để lại con rơi con vãi thì hiển nhiên là nghiêm trọng hơn.

Không phải báo giới không hiểu ý nghĩa từ cử chỉ của ông Obama hay ông Putin. Nhưng họ vốn là những người nhạy bén và giỏi săn lùng thông tin cũng như hướng dẫn dư luận. Hoặc cũng có thể như tạp chí Foreign Policy cho rằng “Hành động này có thể sẽ trôi qua mà chẳng khiến ai bận tâm. Tuy nhiên với cánh báo chí dường như đã mệt mỏi trước các sự kiện diễn ra đều đều trong khuôn khổ Hội nghị thượng đỉnh APEC, đây là chi tiết đắt giá”

Dù sao, đọc những bình luận xung quanh những câu chuyện trên cũng thấy vui vui, nó như phút giải lao sau khi phải đọc những tin tức thời sự khô khan hay căng thẳng. 

18/11/2014

NGUYỄN TƯỜNG THỤY

Posted in Tự Do ngôn Luận | Leave a Comment »

►Luật sư Lê Thị Công Nhân: Kể chuyện viếng đám tang Ls.Trần Lâm và bị công an Hải Phòng tấn công truy sát

Posted by hoangtran204 trên 19/11/2014

Kể chuyện viếng Luật sư Trần Lâm

Luật sư  
Hà Nội, ngày 15.11.2014

TranLam2Kính gửi:
– Những người có thẩm quyền giải quyết vụ việc;
– Tất cả những người quan tâm đến phong trào đấu tranh dân chủ của Việt Nam
Dưới đây là bài tường thuật và là đơn tố cáo việc công an mật vụ Hải Phòng khủng bố đoàn của Hội Bầu Bí Tương Thân cùng bạn hữu từ Hà Nội đi viếng đám tang bác luật sư Trần Lâm tại Hải Phòng tối ngày thứ sáu, 14.11.2014.

Sau khi ăn cơm trưa tại nhà bác Nguyễn Thanh Giang mời để chúc nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa mau bình phục sau đợt chữa bệnh dài ngày tại Hà Nội, khoảng 3h chiều, chúng tôi gồm (Nguyễn Thanh Giang, Nguyễn Ngọc Phương, Nguyễn Lê Hùng, Lê Gia Khánh, nhà giáoVũ Mạnh Hùng, thầy giáo Vũ Hùng, Hiền Giang-Sông quê, Nguyễn thị Huần, Trương Văn Dũng, Hoàng Văn Trung (chủ xe và lái xe), vợ chồng tôi và bé Lucas, đưa vợ chồng nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa về nhà (tại thành phố Hải Phòng) và đi viếng tang lễ bác luật sư Trần Lâm cũng tại thành phố Hải Phòng.

Cảm tạ Ơn Trên ban phước cho chú, một tù nhân chính trị đã lớn tuổi (sinh năm 1948) đi hết 6 năm tù án tuyên mà không được thả trước 1 ngày nào. Sức khỏe suy yếu nhưng chú vẫn vượt qua 3 cuộc phẫu thuật chỉ trong 20 ngày (mổ u xơ thần kinh trên mặt, mổ dây thần kinh số 5, mổ tiền liệt tuyến). Cô chú và người con trai phải thuê nhà trọ gần bệnh viện mà vẫn bị mật vụ Hải Phòng kết hợp Hà Nội theo lên tận nơi phá quấy áp lực chủ nhà đuổi cô chú đi, đến nỗi phải chuyển nhà trọ mấy lần. Dù vậy đồng đội, bạn hữu thường xuyên thăm hỏi chia sẻ với cô chú nên nỗi cực khổ đau đớn cũng vơi bớt phần nào.
Trên xe chú Nghĩa rất vui vì được đồng hành với người đồng đội cùng vụ án và là bạn tù với nhau là anh Vũ Hũng – thầy giáo vật lý. Hai người kể những kỷ niệm đời tù của mình, nghe cười đến chảy nước mắt. Trên xe, mọi người nói chuyện thời sự, bình luận đủ mọi đề tài về hiện trạng chính trị xã hội của đất nước thật rôm rả, thoải mái. Đến nỗi, chú Nghĩa nói “Thật hạnh phúc vì chuyến xe này hiện giờ thật sự là một vùng lãnh thổ tự do.”
Khoảng 7h.30 tối chúng tôi đưa chú Nghĩa về đến nhà rồi đi ngay viếng bác Trần Lâm tại Nhà Tang lễ Hải quân trong Bệnh viện Hải Quân thuộc binh chủng Hải Quân trên đường Cầu Rào ra biển Đồ Sơn, cô Nga đi tiếp cùng chúng tôi.

Nhà tang lễ quy mô vừa phải, đẹp và lịch sự như một ngôi biệt thự trong khu vườn lớn. Không hiểu sao cổng nhà tang lễ lại tối tăm không có đèn chiếu riêng, chỉ có đèn đường. Xe đỗ cách cổng 20m, chúng tôi vừa mở cửa bước xuống xe thì khoảng 100 mật vụ tất cả đều mặc thường phục (nam nữ già trẻ đủ cả) đang túm tụm chuyện trò ở cổng đột nhiên nhao nhao bật dậy quay ngoắt xì xào nhìn chúng tôi, tưởng họ bị điện giật. Ánh sáng nhá nhem, đứng quá 5m nhìn không rõ mặt người, nhưng sự hung ác có năng lực vượt qua bóng tối khiến chúng tôi cảm nhận rõ rệt sự nguy hiểm của âm mưu hãm hại rình rập. Gương mặt không dấu nổi (hoặc có thể họ cố tình tỏ ra) sự côn đồ xấc xược, chúng tôi biết ngay đây là công an mật vụ Hải Phòng đến bao vây đám tang và khủng bố những người mến yêu dân chủ đến dự lễ tang của một luật sư nổi tiếng và có công rất lớn trong phong trào đấu tranh dân chủ Việt Nam, đặc biệt là ở miền Bắc.

Anh Trung, chủ xe và là lái xe quyết định không vào mà ở lại trong xe vì ghi ngờ chúng sẽ giở trò phá hoại. Mọi người đi vào mang theo vòng hoa mua từ Hà Nội có cài băng tang màu đen in chữ trắng “Hội Bầu Bí Tương Thân kính viếng !”. Vừa đến cổng, đám công an mật vụ vây kín đen đặc đoàn người ít ỏi chúng tôi. Dù chúng tôi đã cảnh giác nhưng một nam mật vụ trẻ vẫn len vào giật phắt dải băng tang rồi chạy biến đi, thể hiện trình cướp giật thượng thừa ! Tôi loay hoay thế nào lại đi phía sau, tên mật vụ này trong lúc hí hửng vì vừa lập được thành tích, bỗng đi ngang qua mặt tôi, thế là tôi đưa tay ra giật lại dải băng tang nhưng không được vì tên mật vụ giữ chặt cái băng tang đó như chiến lợi phẩm, còn tay tôi bị xước chảy máu.

Khi đoàn vào tới trước cửa phòng viếng nơi đặt quan tài, chúng tôi lấy chiếc băng tang sơ cua cài lại lên vòng hoa. Đám mật vụ vẫn vây kín xung quanh. Đèn chiếu sáng trưng, gia chủ đông khoảng 4, 5 chục người. Chúng tôi nghĩ rằng mật vụ vì chút ngượng ngùng còn sót lại sẽ không giật băng tang lần nữa. Không ngờ chỉ vừa cài xong 1 đầu, đang cài đầu kia thì một tên mật vụ lại lao vào giật phắt đi cái băng tang trước sự chứng kiến của gia chủ dưới ánh đèn sáng trưng. Mật vụ quá đông và trơ tráo len vào đứng giữa chúng tôi chỉ có 13 người, nên dù đã bị giật một lần trước đó thì chúng tôi vẫn không thể chống lại được trò cướp giật băng tang có 1-0-2 trên thế giới này.

Chúng tôi đành mang vòng hoa không có băng tang vào viếng. Tại bàn tiếp đón của gia đình để ghi sổ tang, chú Nguyễn Lê Hùng-Trưởng Ban Điều hành Hội Bầu Bí xưng danh “Chúng tôi là Hội Bầu Bí Tương Thân ở Hà Nội.” Cô gái trẻ-chắc là cháu bác Lâm, định ghi vào sổ thì một mật vụ khoảng hơn 40 tuổi (có vẻ thuộc cấp chỉ huy) chặn lại bảo không được ghi. Người nhà bác Lâm chựng lại, gương mặt bối rối, khiếp sợ. Chú Hùng hỏi tại sao, chúng tôi đi cả đoàn xưng danh như vậy là đúng và ngắn gọn, hay từ Bầu Bí Tương Thân bị cấm nói? Tên mật vụ (lại còn thô thiển giả vờ đeo biển nhân viên Công ty dịch vụ mai táng Thiên Thảo) lí nhí đáp “Ở đây không cho phép ghi cái tên này.” Trời! Đảng Cộng sản Việt Nam Quang vinh

Muôn năm mà cái gì cũng sợ vãi ra vậy sao? Không muốn tranh cãi vô ích với họ trước thái độ bạc nhược lạ lùng của gia chủ, tôi đành đọc tên đủ 13 người kể cả bé Lucas cho họ ghi vào sổ tang. Bất ngờ, cô Trịnh Ánh Hồng – con gái lớn bác Lâm bước tới vừa vái lia lịa chúng tôi vừa nói “Gia đình chỉ muốn tổ chức đám tang cho cụ được trọn vẹn, cám ơn các bác ở xa đã đến viếng nhưng xin các bác đừng có chính trị gì ở đây để cho cụ ra đi được bình yên.”
Cô Hồng khoảng hơn 50 tuổi, có tiếng và giàu có trong giới kinh doanh bất động sản và khách sạn. Tôi chưa từng gặp cô Hồng trước đây, nhưng nghe qua bác Lâm và nhiều người khác kể về gia đình thành đạt của bác. Mẹ tôi (Trần thị Lệ) đã gặp cô Hồng một lần khi xuống Hải Phòng đến thăm bác Lâm nhưng bác không có nhà. Cô Hồng tiếp mẹ tôi một cách gượng gạo khi mẹ tôi nói lời cảm ơn và tỏ ý cảm phục lòng dũng cảm, tâm huyết nghề nghiệp và nghĩa cử cao đẹp của bác bào chữa miễn phí cho tôi. Cô Hồng tỏ ra không quan tâm ủng hộ chút nào tới việc đấu tranh dân chủ của bác Trần Lâm.

Buồn! Là điều chúng tôi cảm thấy lúc ấy. Thương bác Trần Lâm quá đỗi, tim tôi thắt lại. Tôi thấy ngạt thở như sắp lên cơn hen. Bác thật bất hạnh vì dù là một người được coi là thành đạt và dư giả trong xã hội Việt Nam (bác từng là Trưởng Ty Văn hóa Hải Phòng, là người lập trường trung học tư thục đầu tiên ở Hải Phòng trước khi là thẩm phán tòa án tối cao và về hưu thì làm luật sư) nhưng trong gia đình mình bác hoàn toàn cô đơn với lý tưởng tự do-dân chủ-nhân quyền mà bác yêu mến và dấn thân tranh đấu.

Chúng tôi lặng bước cúi đầu, nhìn mặt bác lần cuối trong quan tài lạnh lẽo, giữa tiếng nhạc điếu volume to hết cỡ điếc cả tai. Khi nhìn vào quan tài tôi phát hiện mắt bác vẫn mở, có lẽ người ta đã quên vuốt mắt cho bác hay bác không nhắm mắt được khi qua đời vì ước mơ cao đẹp của bác đã không thành hiện thực thì sống thọ 90 tuổi đâu còn nhiều ý nghĩa?
Toàn bộ cuộc phúng viếng diễn ra chưa đầy 15 phút, mà chúng tôi bị cướp giật băng tang tới 2 lần. Thái độ gia chủ như vậy, chúng tôi cũng không muốn làm họ thêm khó xử, nên ra về luôn sau khi chụp vài tấm hình kỷ niệm.

Anh Trung ở ngoài trông xe quan sát thấy mật vụ quá đông và có một nhóm toàn mật vụ trẻ tụ lại trong bóng tối cách sau xe ô tô khoảng 10m. Chúng tôi lên xe thì thấy một tên cúi xuống nhặt một viên gạch to tướng rồi cả đám mật vụ nấp trong bóng tối bám theo chúng tôi. Linh cảm điều chẳng lành, chúng tôi thật sự lo lắng và dõi theo bọn chúng 6 tên 3 xe máy đi ngay sát bên ngoài. Trời tối mùa đông sương mờ nên chúng tôi chỉ nhận ra trong số đó có 1 xe máy AirBlade màu đen đỏ và một xe máy khác mang biển 16-F9 0802. Chúng tôi nhận định khi nào chúng áp gần xe ô tô chúng tôi thì có thể đó là lúc chúng ném đá. Anh Quyền đang bế bé Lucas ngồi sát cửa sổ hàng gần cuối đưa bé Lucas lên cho tôi bế. Tôi ngồi hàng trên cùng, giữa cô Nga và cô Huần.

Đến ngã tư An Dương cô Nga xuống xe để đi xe ôm về nhà. Anh Quyền chuyển lên trên ngồi vào chỗ cô Nga ở sát cửa ra vào, cạnh tôi. Anh Vũ Hùng ngồi trên sàn phía dưới cùng (xe bỏ bớt hàng ghế cuối để lấy chỗ chở hàng) dời lên chỗ anh Quyền, ngồi cạnh chú Hùng và chú Phương, chỉ ít phút trước khi vụ tấn công đầu tiên diễn ra. Không khí rất căng thẳng. Chúng tôi là những nạn nhân được chỉ định bởi tà quyền độc tài cộng sản. Biết trước, nhưng không có cách nào để chống lại trò côn đồ đê tiện. Đúng như người xưa vẫn nói, quy mô tội phạm càng nhỏ nhặt, cách thức phạm tội càng thô sơ thì bản chất ác độc càng gấp bội. Tôi nói “Cháu sợ lắm, không tưởng tượng nổi họ dám ném gạch vào xe có cả người già tóc bạc trắng (bác Thanh Giang, bác Gia Khánh) phụ nữ, trẻ em.” Tôi cầu nguyện lớn tiếng cho mọi người cùng nghe “Lạy Chúa, lạy hương hồn bác Trần Lâm! Cầu xin Chúa và bác thương xót và che chở chúng con trở về bình an. Amen!”

Tôi dứt lời cầu nguyện chưa được 5 giây thì một tiếng động khủng khiếp vang lên, chiếc xe rung mạnh một cái, kính vỡ nát rơi loảng xoảng. Một khoảng trống đen ngòm hiện ra tua tủa thủy tinh nhọn hoắt. Tim tôi đập loạn xạ, khiếp đảm. Mọi người lặng đi trong khoảnh khắc kẻ ác đắc thắng. Chúng tôi hỏi nhau có ai bị gì không. Không ai bị thương. Khi chúng ném gạch, anh Vũ Hùng đang quay lại phía sau nhìn thẳng vào bọn chúng, anh kể thấy rõ tên ngồi sau rướn người lấy đà, vung mạnh cánh tay phải lên cao cố gắng hết sức ném cả cục gạch thẳng vào kính sau xe ô tô, như phim quay chậm. Thật kỳ lạ, kính vỡ bắn tung tóe nhưng anh không bị thương tích gì, chỉ bị mảnh thủy tinh bắn đầy vào cổ áo. Nơi tội ác được thực hiện cách Ngã tư Sở Dầu khoảng 100m. Hai tên hung thủ hãm hại chúng tôi đi trên chiếc xe AirBlade màu đỏ đen.

Nỗi khiếp sợ làm tôi tối tăm cả đầu óc, bỗng dưng tôi oán trách Chúa, tôi thoáng nghĩ trong đầu “Lời cầu nguyện của mình không có tác dụng.”

Sau khi lập chiến công hai tên mật vụ phởn chí phóng lên trước và gần ngay xe chúng tôi. 2 tên này và 4 tên đồng bọn còn lại (trên 2 xe máy khác) chạy vây xung quanh, đứa trước, đứa sau, có cả một xe chạy song song trơ tráo nhìn vào xe chúng tôi. Chúng thi nhau giơ điện thoại chụp xe ô tô chúng tôi (chắc để làm bằng chứng báo công).
Qua Ngã tư Sở Dầu khoảng 200m, chúng tôi vẫn chưa hết kinh hoàng, thì lập tức chúng tôi lại bộc lộ bản chất ngây thơ và một tâm địa không đời nào giống được với kẻ ác. Hai tiếng va lớn của vật cứng ném vào kim loại vang lên! Hai tên mật vụ đi song song bên hông xe bên phải đã ném cục gạch đá to vẫn vào vị trí khoảng giữa anh Vũ Hùng và anh Trương Dũng (ngồi dọc bên phải xe là bác Thanh Giang trên cabin cạnh lái xe, anh Quyền, Trương Dũng, Vũ Hùng) nhưng trúng phần vỏ xe bằng kim loại kêu chát chúa rồi rơi xuống đất. Hai tên này đi xe gì, biển số gì chúng tôi không nhìn rõ.

Không ai trong chúng tôi nghĩ rằng mật vụ Hải Phòng ném gạch đến hai lần vào xe chúng tôi. Có vẻ cú ném đầu tiên tuy làm vỡ tan kính hậu xe nhưng chưa làm ai thương tích gục xuống, chúng chưa được thấy màu cờ máu đầm đìa nên chưa thỏa mãn! Hay là cạnh tranh công trạng giữa đám mật vụ? Hai vụ tấn công xảy ra lúc khoảng 8h20 tối.
Rồi, bỗng dưng, chúng tôi có một niềm vui nho nhỏ thấy mình thật may mắn. Vì dù có phẫn nộ mật vụ cộng sản đến mấy, không ai trong chúng tôi nghĩ rằng mình sẽ làm điều tương tự với họ. Thiên định sinh ra chúng tôi làm con người thật sự, chứ không phải làm ác quỷ đội lốt người-cuối cùng cũng chỉ là loại hàng rởm hàng nhái, mau hư và độc hại. Đúng như đức Đạt Lai Lạt Ma đã nói “Cộng sản là loài trùng độc sinh ra trong rác rưởi cuộc đời.”
Bé Lucas sau lần ném thứ nhất không hiểu chuyện gì, mặt mũi ngơ ngác hỏi bố mẹ “Cái gì kêu to thế mẹ? Tại sao kính vỡ vậy bố? Kính vỡ nguy hiểm lắm.” Chúng tôi chưa kịp trả lời bé xong, thì vụ ném lần hai xảy đến liền. Sau khi nghe chúng tôi trả lời kẻ xấu ở ngoài ném vỡ kính, bé bảo “Con sợ lắm, bố mẹ ơi đừng đi ô tô nữa, về nhà mình đi, không đi chơi nữa đâu” Chúng tôi phải giải thích với bé là chúng ta đang trên đường về nhà, cố gắng chờ ít phút nữa thôi. Thú thật là tôi nghĩ Lucas sẽ khóc thét lên. Vợ chồng tôi, và cả xe không ai ngờ Lucas lại ngoan đến thế. Bé không hề khóc một tiếng nào, và bình tĩnh như một người lớn, nói năng hỏi han rõ ràng từng câu, từng vấn đề. Mọi người trên xe khen bé ngoan và bình tĩnh lạ lùng.

Khoảng một tiếng sau chúng tôi dừng lại một quán cơm bình dân nhỏ ven đường để ăn tối. Tôi mệt và sợ đến nỗi không hề thấy đói. Lên xe tiếp tục chặng đường hơn 50km về Hà Nội, lúc này tôi mới bình tĩnh trở lại. Kính trên xe tiếp tục rơi vỡ loảng xoảng mỗi lần xe qua chỗ xóc. Anh Trương Dũng nói vui “Công nhận, kính xe mình không tốt bằng xe chống đạn của Obama.” Bác Thanh Giang bình chọn đây là câu nói hay nhất trong ngày.
Lúc này đầu óc tôi mới thanh thản tươi sáng trở lại. Tôi chợt nhớ tới hai câu Kinh Thánh ít khi được nhắc tới “Tội ác của chúng cần được hoàn thành.” và “Tội ác của chúng cần đầy rẫy trên đất.” Vâng! Xin Chúa tha thứ cho đức tin nông cạn của con. Sểnh ra là con trách Chúa! Nếu cứ khi nào kẻ ác muốn làm điều ác mà Chúa đều ngăn lại thì còn gì là lựa chọn, trách nhiệm hay đạo đức nữa. Nếu kẻ ác quyết tâm làm điều ác thì chúng cứ làm. Tùy lúc Chúa sẽ ngăn chặn, chở che những người lương thiện biết gìn giữ lương tâm Chúa đã ban cho mỗi người, tuyệt đối bình đẳng ai cũng có như nhau. Có người giữ lấy lương tâm thì cũng có kẻ vứt bỏ lương tâm của mình. Đời nào có ai kêu lương tâm bị cướp!

Về đến Hà Nội lúc gần 12h đêm, bác Khánh bắt tay tôi và nói “Hôm nay bác thật sự chiêm nghiệm được sức mạnh của lời cầu nguyện.” Tôi đáp “Vâng. Chúa ở cùng chúng ta, nếu không làm sao chúng ta trở về được như thế này!” Chúng tôi không bị thương tích, tử vong là nằm ngoài mong muốn của mật vụ Hải Phòng. Người đọc có thể search trên mạng “xe khách bị ném đá, chấn thương sọ não chết, múc mắt”. Gần đây rộ lên nạn thanh thiếu niên ném đá xe khách dọc tuyến miền trung Tây Nguyên. Hai vụ việc gần đây đăng báo có người đi xe giường nằm máy lạnh bị ném đá chấn thương sọ não tử vong, có người bị thương nát mắt đến nỗi bác sỹ bó tay đành phải “múc mắt” nạn nhân bỏ đi. Đấy là ném gạch đá vì nghịch ngợm ngu ngốc, lòng dạ hiểm ác và những xe khách đó cửa kính cũng rất tốt mà còn vậy, thì với dã tâm, lòng thù địch mù quáng và nỗi phởn chí tâng công của đám mật vụ trẻ, tôi tin thương tích đổ máu không xảy ra đã làm họ không vui lòng.

Chúng tôi rất ái ngại cho anh Trung và đề nghị sẽ trả tiền sửa xe. Anh Trung là chủ 1 xưởng cơ khí nhỏ, luôn yêu mến dân chủ và gần gũi với anh em dân chủ. Khi có thể, anh lại đồng hành cùng chúng tôi, còn chúng tôi góp tiền xăng gửi anh. Nếu không lại phải thuê xe ngoài, lái xe bị công an dọa đến nỗi bỏ luôn cả đoàn chúng tôi bơ vơ giữa nghĩa trang như lần dự đám tang mẹ chị Thanh Nghiên hồi đầu năm nay, thậm chí còn không lấy tiền xe (nhưng sau đó về Hà Nội anh Trương Dũng đã tìm gặp và đưa anh ta 1 triệu vì thấy tội nghiệp quá dù anh ta rất đáng trách!).

Chúng tôi về đến nhà đã gần 12h30 đêm. Vừa vào nhà (thì bé mới thấy yên tâm hay sao ấy) Lucas hỏi luôn “Bố ơi, các chú ấy ném vỡ kính xe ô tô bác Trung là ai vậy?” Tôi đáp “Đấy là công an mật vụ cộng sản” Bé nói “Công an mật vụ cộng sản xấu quá, hư lắm, phải lấy gậy Makitun (Magic Tool) hỡi Tudors (trong phim hoạt hình Mickey) đánh các chú ấy.” Tôi đáp “Trước hết hãy cầu nguyện Chúa trừng phạt họ. Chúa sẽ trừng phạt họ thích đáng. Chúng ta có khi vì nóng giận mà làm quá, hoặc vì ngây thơ, nhút nhát mà trừng trị chúng không đến nơi đến chốn.”

Thưa các bạn mật vụ,

Tôi gọi là bạn vì các bạn đều là người trẻ, rất trẻ! Nhìn các bạn to lớn, đẹp đẽ, sành điệu hơn nhiều so với đa số người dân Việt nam trung bình, cũng như những thanh niên khác không làm nghề công an. Hai cục gạch các bạn hạ độc thủ chúng tôi hôm nay, theo các bạn nó sẽ được ném lại vào ai? Nếu không ném lại vào chính tương lai cuộc đời các bạn, người thân hay vợ con các bạn thì ném vào ai đây? Chả nhẽ bọn IS, hay bè lũ bành trướng Bắc kinh phải nhận? Hai dải băng tang các bạn cướp của chúng tôi hôm nay, nó sẽ được treo ở đâu? Hai dải băng tang đó không mang đến chết chóc cho các bạn, người thân hay vợ con các bạn thì cho ai đây? Chả lẽ cho Kim Jong Ủn Ỉn hay Putin?

Tôi đặt tiêu đề bài viết là “RƯỚC SỰ CHẾT VỀ” vì lẽ đó. Nó chỉ là giải băng vô tri vô giác để chúng tôi tới viếng người chết. Các bạn còn không bằng thằng cướp giật móc túi ngoài đường. Chúng vì lòng tham hoặc vì bần cùng (sinh đạo tặc) mà trộm cướp, nhưng ít ra chúng còn biết chúng lấy cái gì, và tất nhiên là những thứ có ý nghĩa. Còn các bạn lại đem hết tuổi trẻ tài cao chí khí của mình đi cướp cái băng tang!

Chúng ta đã cạn lời với nhau rồi!

Các bạn bị nhồi sọ cho rằng chúng tôi đi ngược lại 90 triệu dân Việt Nam mến yêu cộng sản (dù chỉ có 3 triệu người Việt Nam là đảng viên nhưng các bạn vẫn vơ đũa cả nắm là 90 triệu). Chúng tôi lại cho rằng các bạn và bọn cộng sản mới là kẻ đi ngược lại thế giới văn minh. Thế giới có 200 quốc gia và vùng lãnh thổ nhưng chỉ có 4 thằng điên đi theo cộng sản. Trong bốn nước ấy liệu đếm được mấy người dân thật sự thích theo cộng sản, kể cả các bạn? Hay họ theo chỉ vì lòng tham và sự khiếp sợ bạo lực?

Nếu các bạn cho rằng việc làm của mình là đúng thì các bạn hãy tự hào, tự tin mà giới thiệu công khai đầy đủ về bản thân và việc làm của mình cho bàn dân thiên hạ tìm đến kết bạn. Tôi không hề bẫy các bạn, vì tôi sẽ tự giới thiệu trước: tôi là Lê thị Công Nhân, sinh năm 1979, 20 năm nay sống cùng mẹ (hiện bị tai biến não, liệt và câm) tại p316-A7 khu Văn Phòng Chính Phủ, ngõ 4, phố Phương Mai (đối diện cổng sau bệnh viện Bạch Mai). Tôi là một luật sư, đang có 1 chồng là Ngô Duy Quyền sinh năm 1974, 1 con gái là Lucas Ngô Quyền Thiên Ân sinh năm 2011. Cả nhà tôi cùng đi trên chuyến xe hôm qua mà các bạn ném gạch hai lần vỡ tan hoang.

Vui không? Tiện quá còn gì! Các bạn và cả sếp các bạn nữa, tha hồ tìm đến để khủng bố, hãm hại. Cũng báo luôn với các bạn là công an khu vực phường tôi đại úy Nguyễn Xuân Sơn từng tuyên bố là nếu nhà tôi có báo bị trộm cướp công an chưa chắc đã vào giải quyết “ Vì chị là một tên phản động.” Còn gì bằng!

Liệu trò ném gạch đá hiểm ác này có được coi là điển hình cần phổ biến áp dụng rộng rãi trong việc chống lại luồng gió dân chủ đang nổi lên trên đất nước Việt Nam? Ngược lại, có bao giờ đám mật vụ trẻ, cấp trên của họ và các lãnh đạo cấp cao của đất nước này nghĩ rằng họ sẽ bị dân chúng nổi dậy đáp trả bằng cách tương tự? Đừng tưởng người tốt không biết đáp trả hay không biết làm điều ác. Nhưng người tốt thường ưu tiên lựa chọn sự thật và ước mong công lý được thực thi. Vì vậy kẻ ác mới có cơ hội để sám hối và được thứ tha.

Lê thị Công Nhân
Hà Nội, ngày 15.11.2014

Posted in Bắt bớ-Tù Đày-Đánh đập-Đàn Áp, Công An | Leave a Comment »

►Sử gia Trần Gia Phụng: Tại sao CS giết Phạm Quỳnh?

Posted by hoangtran204 trên 19/11/2014

Tác giả:   (Toronto Canada) 

17-11-2014

.

pquynh

.

Cộng Sản Việt Nam (CSVN) giết Phạm Quỳnh hai lần: Lần đầu hạ sát, che giấu và phi tang thân xác ông tại Huế ngày 6-9-1945.  Lần thứ hai bóp méo lịch sử, hủy diệt luôn sự nghiệp và thanh danh của ông.  Một câu hỏi được đặt ra là lúc đó Phạm Quỳnh đã rút lui khỏi chính trường, tại sao CS lại giết Phạm Quỳnh, trong khi không giết Trần Trọng Kim và toàn bộ nhân viên nội các Trần Trọng Kim, là những người đang còn hoạt động?  Câu hỏi nầy cần tách ra làm hai phần để dễ tìm hiểu:

Thứ nhứt :  Năm 1945, Việt Minh cộng sản (VMCS) cướp chính quyền tại Hà Nội ngày 19-8, nhưng còn yếu, nên rất sợ Pháp trở lui, và rất sợ Pháp tái lập chế độ quân chủ để quy tụ lực lượng chống lại VM.  Lúc đó, trên toàn quốc đảng CSĐD chỉ có khoảng 5,000 đảng viên.  (Philippe Devillers, Histoire du Viet-Nam de 1940 à1952, Paris: Éditions du Seuil, 1952, tr. 182.)

Tại Huế, VM tìm cách cô lập vua Bảo Đại.  Cách tốt nhất là cách ly nhà vua với những người có khả năng và uy tín thân cận chung quanh  nhà vua, trong đó hai nhân vật quan trọng là Phạm Quỳnh và Ngô Đình Khôi. Do đó, VM ra lệnh bắt Phạm Quỳnh và Ngô Đình Khôi cùng con là Ngô Đình Huân ngày 23-8-1945.  Đồng thời VM sắp đặt những người của VM như Tạ Quang Bửu, Phạm Khắc Hòe vây quanh rỉ tai, hù dọa nhà vua, phóng đại về VM.  Phạm Khắc Hòe lúc đó đang làm tổng lý Ngự tiền văn phòng cho vua Bảo Đại.  Ông rất thân thiết và báo cáo với Tôn Quang Phiệt, một đảng viên CS đang dạy tại trường Thuận Hóa (Huế), mọi sinh hoạt của vua Bảo Đại, triều đình và nội các Trần Trọng Kim. (Phạm Khắc Hòe, Những ngày cuối cùng của triều đình nhà Nguyễn, Huế: Nxb Thuận Hóa, 1994, tt. 18, 52, 53)

Theo David G. Marr trong Vietnam 1945, The Quest for Power , sau khi Phạm Quỳnh và hai cha con Ngô Đình Khôi bị bắt, người Nhật can thiệp một cách yếu ớt và không hiệu quả.  Ngày 28-8, sáu người Pháp nhảy dù xuống một địa điểm cách kinh thành Huế khoảng 20 cây số nhắm mục đích bắt liên lạc với vua Bảo Đại và các cựu quan Nam triều.  Lúc đầu, VM địa phương tưởng là người của phe Đồng minh, cho họ trú tạm tại một ngôi nhà thờ, nhưng khi biết rằng đây là những người Pháp có ý định tìm cách liên lạc với các quan chức Nam triều cũ, VM liền giết bốn người, và cầm tù hai người đến tháng 6-1946. (David G. Marr,Vietnam 1945, The Quest for Power, University of California Press, tt. 452-453.)

Theo hồi ký của Trần Huy Liệu, sau khi Nhật đầu hàng, người Pháp nhảy dù xuống Huế, liền hỏi ngay đến Bảo Đại, Phạm Quỳnh và những người cộng tác với Pháp trước đó.  Việt Minh bắt được toán người Pháp nầy và “xử lý thích đáng” Ngô Đình Khôi và Phạm Quỳnh, nghĩa là giết các ông tại phía trước lò dầu tr àm, gần ga xe lửa Hiền Sĩ, làng Cổ Bi, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên. (Trần Huy Liệu, Hồi ký [Hà Nội, 8-1960], Phạm Khắc Hòe trích đăng trong sđd. tr. 102.)

Theo một người Huế, lúc đó có mặt tại Phong Điền, thì toán ngưòi Pháp có 8 người, nhảy dù xuống làng Phù Ốc, huyện Phong Điền.  Trong số 8 người nầy, có một người Pháp lai làm thông ngôn, là chồng của cô Lạc ở Cầu Kho, Huế. (Nói chuyện với ông Phan Văn Dung, tháng 8-1997, tại Houston, Texas.) Nếu theo quốc lộ 1, từ Huế đi Quảng Trị, đến cột cây số 21, , theo tay mặt đi vào là ga Hiền Sĩ, làng Cổ Bi.

Trong khi đó vua Bảo Đại cô đơn tại Huế, lại bị Phạm Khắc Hòe xúi giục và hù dọa, nên nhà vua tuyên chiếu thoái vị ngày 25-8, và làm lễ thoái vị tại cửa Ngọ Môn ngày 30-8 với sự hiện diện của đại diện VM là Trần Huy Liệu, Nguyễn Lương Bằng, và Cù Huy Cận.

Việc người Pháp muốn kiếm cách liên lạc với cựu hoàng Bảo Đại và Phạm Quỳnh (vì lý do gì không được rõ) vô tình đã làm cho VM lo ngại, sợ rằng một khi người Pháp trở lui, Pháp sẽ nhờ Phạm Quỳnh và những người đã từng làm việc với Pháp như Ngô Đình Khôi giúp Pháp lật ngược thế cờ, đưa cựu hoàng trở lại cầm quyền.  Do đó VM vội vàng “mời” cựu hoàng Bảo Đại rời Huế ngày 4-9, ra Hà Nội làm cố vấn.  Hơn nữa, nếu người Pháp có trở lui, cũng không hợp tác với Trần Trọng Kim, vì ông Kim và nội các của ông bị gán cho là thân Nhật.

Thứ hai :  Để độc tôn quyền lực, VM chủ trương “giết tiềm lực”, tức tiêu diệt tất cả những ai có khả năng, có tiềm lực, nhưng không cộng tác với VM, để ngăn chận ngay từ đầu những người về sau có thể đối kháng với VM.  Việt Minh nghĩ ngay đến Phạm Quỳnh vì những lý do sau đây:

*   Phạm Quỳnh muốn xây dựng nền quân chủ lập hiến tại nước ta, và cho rằng cộng sản là “nạn dịch” gây bất ổn xã hội, trong khi VM chủ trương độc tài đảng trị.  Phạm Quỳnh muốn xây dựng nền quốc học trong khi VM muốn phổ biến chủ nghĩa cộng sản.

*   Ở trong nước, Phạm Quỳnh tiêu biểu cho giới trí thức làm văn hóa, theo lập trường quốc gia, bất bạo động, dấn thân hoạt động chính trị.  Việt Minh giết Phạm Quỳnh để đe dọa, uy hiếp và khủng bố tinh thần giới trí thức hoạt động văn hóa trên toàn quốc.  Đây là lối mà người xưa gọi là “sát nhất nhân, vạn nhân cụ ” (Giết một người, mười ngàn người sợ.)

*   Đối với nước ngoài, Phạm Quỳnh là người được Pháp ủng hộ.  Với đường lối ôn hòa, ông còn có thể được cả Nhật, Trung Hoa (lúc bấy giờ do Tưởng Giới Thạch và Quốc Dân Đảng cầm quyền), Anh, Hoa Kỳ chấp nhận hơn là đường lối cực đoan theo Liên Xô của HCM.

*   Hồ Chí Minh (HCM) muốn chụp lấy ngay thời cơ tạo ra do khoảng trống chính trị sau tối hậu thư Potsdam vào cuối tháng 7-1945, nên chủ trương tiêu diệt tất cả những người nào có khả năng tranh quyền với HCM, để cho ở trong cũng như ngoài nước thấy rằng chỉ có một mình HCM mới xứng đáng lãnh đạo đất nước.  Phạm Quỳnh đã từng là thượng thư bộ lại, đứng đầu triều đình Huế.  Đặc biệt những điều ông viết về tương lai thế giới mà ông đưa ra từ 1930 trong bài “Ce que sera l’ Annam dans cinquante ans” [Nước Nam sẽ ra sao năm mươi năm sau?] đều đã diễn ra đúng theo ông tiên liệu, như mối đe dọa của Nhật Bản, nạn dịch cộng sản, xung đột Thái Bình Dương, đại hỏa hoạn ở châu Âu [thế chiến 2].  Nhờ thế, uy tín Phạm Quỳnh lên rất cao.  Ông có uy tín và tư thế lớn đối với dư luận trong và ngoài nước, là một trong những người có thể trở thành đối thủ đáng ngại của HCM, nên HCM quyết tiêu diệt Phạm Quỳnh để tránh trở ngại về sau.

*   Khi mới nổi dậy năm 1945, để lôi cuốn quần chúng, HCM và Mặt trận VM tuyên truyền rằng HCM là người yêu nước chứ không phải là đảng viên CS, và HCM ra đi để tìm đường cứu nước, đồng thời HCM giấu thật kín chuyện xin vào học trường Thuộc Địa Paris mà bị loại, và nhất là việc HCM xin vào hội Tam Điểm Pháp ngày 14-6-1922. (Jacques Dalloz, “Les Vietnamiens dans la franc-maçonnerie coloniale”, Revue française d’Histoire d’Outre-mer, Tam cá nguyệt 3, 1998, Paris: Société Française d’Histoire d’Outre-mer, tr. 105.)

Khi qua Pháp diễn thuyết năm 1922, Phạm Quỳnh là người biết rõ sinh hoạt của HCM ở Paris.  Phạm Quỳnh gặp gỡ Nguyễn Ái Quốc (HCM) hai lần, ngày 13 và 16-7-1922 tại Paris, tức chỉ khoảng một tháng sau khi Nguyễn Ái Quốc gia nhập hội Tam Điểm.  Hội Tam Điểm là kẻ thù của đảng CS trên thế giới.  Chính vì là người đã lỡ “biết quá nhiều” về HCM mà  Phạm Quỳnh bị HCM giết hại.

Do những lẽ trên, nếu không có những người Pháp nhảy dù xuống Huế như tác giả David G. Marr viết hay Trần Huy Liệu kể, cộng sản cũng vẫn giết Phạm Quỳnh.  Phạm Quỳnh và Trần Trọng Kim đều là hai nhà văn hóa, và chính trị nổi tiếng trên toàn quốc.  Trần Trọng Kim viết khảo cứu có tính cách hoàn toàn chuyên môn, chứ không có chủ trương chính trị lâu dài.  Nội các Trần Trọng Kim gồm những chuyên viên cần thiết cho việc xây dựng cơ sở căn bản trong giai đoạn chuyển tiếp từ chính quyền Pháp qua chính quyền Việt.  Ngược lại, Phạm Quỳnh trước tác với một ý hướng chính trị rõ ràng: xây dựng một nền văn hóa dân tộc, bảo tồn quốc tuý, nâng cao trình độ văn hóa của dân chúng bằng cách phổ biến văn hóa Âu tây, dịch thuật những tư tưởng dân quyền của Montesquieu, Voltaire, Rousseau.

Phạm Quỳnh tham gia triều đình Huế cũng nhắm đến một chủ đích rõ ràng: tranh đấu ôn hòa, nhưng cương quyết yêu cầu Pháp trả lại chủ quyền cho triều đình, và xây dựng một hiến pháp làm luật lệ căn bản của quốc gia.  Ảnh hưởng văn hóa và chính trị của Phạm Quỳnh khá rộng rãi trên các tầng lớp quần chúng, nhất là giới trí thức trung lưu, từ lớp trí thức Nho học đến cả lớp trí thức tân học.  Tạp chí Nam Phong được các lớp người ưu tú ở các địa phương lúc bấy giờ trên toàn quốc xem như loại sách báo giáo khoa chỉ đường.  Đó là điều mà CS chẳng những không chấp nhận mà cũng không dung thứ, vì CS muốn nắm độc quyền lãnh đạo chính trị, độc quyền yêu nước, độc quyền chân lý.

Chú ý thêm ngày Phạm Quỳnh bị sát hại. Phạm Quỳnh bị bắt ngày 23-8-1945, và  bị giết ngày 6-9, nghĩa là ông không bị nhóm VM địa phương Huế giết liền khi họ bắt ông.  Ông bị giam giữ một thời gian, rồi mới bị giết sau khi nhóm Trần Huy Liệu đến Huế dự lễ thoái vị của vua Bảo Đại.  Khi đã có sự hiện diện của đại diện trung ương, các cán bộ VM địa phương không dám tự tiện ra tay, mà chắc chắn phải có ý kiến của trung ương.  Nhóm Trần Huy Liệu cũng không thể tự quyết định được việc nầy.  Như vậy chính nhóm Trần Huy Liệu đã đem lệnh từ Hà Nội vào Huế giết Phạm Quỳnh, và lệnh đó từ đâu, nếu không phải là từ HCM?

Sau khi Phạm Quỳnh bị giết, hai người con gái đầu của ông là Phạm Thị Giá và Phạm Thị Thức ra Hà Nội gặp HCM.  Sau đây là lời kể của bà Thức: “…Tháng 8 năm 1945, Thầy tôi ra đi!…Sau đó, chị tôi [tên Giá]và tôi nhờ một anh bạn là Vũ Đình Huỳnh ngày ấy là garde-corps [cận vệ] cho cụ Hồ, giới thiệu đến thăm cụ và hỏi truyện [tức chuyện Phạm Quỳnh].  Cụ bảo: “Hồi ấy tôi chưa về…Và trong thời kỳ khởi nghĩa quá vội và có thể có nhiều sai sót đáng tiếc…” (Hồi ký viết tại Paris ngày 28-10-1992 của bà Phạm Thị Thức, nhân kỷ niệm 100 năm sinh niên Phạm Quỳnh, tài liệu gia đình do bà Phạm Thị Hoàn thông tin.) Những điều nầy cho thấy rõ tính ngụy biện của HCM.   Lúc Phạm Quỳnh bị giết ngày 6-9-1945, HCM đã về Hà Nội lập chính phủ (2-9-1945).   Nếu HCM cho rằng giết Phạm Quỳnh là sai sót của địa phương, HCM giải thích thế nào về chủ trương của đảng CS bôi lọ lâu dài Phạm Quỳnh sau khi Phạm Quỳnh từ trần?  Tác giả Bernard Fall, trong quyển Les deux Viet-Nam, Nxb. Payot, Paris, 1967, tr. 102 đã viết: “Người ta biết rằng Hồ là một kịch sĩ có biệt tài đánh lừa kẻ đối thoại.

Giết xong Phạm Quỳnh, CS tính việc hủy diệt luôn hình ảnh sáng chói nhà văn hóa Phạm Quỳnh.  Cộng sản liền quy chụp cho Phạm Quỳnh tội “phản quốc, làm tay sai cho Pháp“.  Gần 40 năm sau, trong Từ điển văn học, gồm 2 tập, mỗi tập trên 600 trang, gồm nhiều người viết, do Uỷ ban Khoa học Xã hội xuất bản tại Hà Nội năm 1984, vẫn không có mục “Phạm Quỳnh”.  Khi viết về các nhóm văn hóa, sách nầy không thể loại nhóm Nam Phong vì nhóm Nam Phong có khá nhiều tác giả nổi tiếng.  Nói đến  nhóm Nam Phong, trang 121-123, tập 2, tác giả Nguyễn Phương Chi, trong ban biên tập từ điển, vẫn còn gọi Phạm Quỳnh là “bồi bút, phản động“.  Hơn thế nữa, năm 1997, trong Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam, do nhà xuất bản Văn Hóa, Hà Nội ấn hành, Nguyễn Q. Thắng và Nguyễn Bá Thế biên tập, mục “Phạm Quỳnh”, trang 758-759, hai tác giả nầy viết: “Hoạn lộ của ông [chỉ Phạm Quỳnh] lên nhanh như diều gặp gió vì gắn bó mật thiết với các quan thầy thực dân…Ngày 23-8-1945, Phạm bị các lực lượng yêu nước bắt ở Huế, rồi sau đó bị xử bắn ở l.[làng] Hiền Sĩ, t.[tỉnh] Thừa Thiên, hưởng dương 53 tuổi.”

Các tác giả cộng sản thường đưa ra chiêu bài yêu nước và dân tộc để quy chụp những người không theo khuynh hướng của mình là phản động, phản quốc, trong khi chính vì HCM khăng khăng đi theo CS Liên Xô mà Việt Nam không được các nước Đồng Minh thừa nhận sau năm 1945.  Cũng chính vì đảng CS chủ trương ý thức hệ quốc tế mà gây ra mâu thuẫn quốc cộng, phá hoại tình đoàn kết dân tộc, là một trong những nguyên nhân chính đưa đến chiến tranh Việt Nam từ 1946 đến 1975, và hậu quả còn kéo dài mãi cho đến ngày nay.  Sau năm 1954, rồi 1975, chính đảng CSVN đã nhập cảng và áp dụng một cách máy móc chính sách văn hóa Mác, Mao và kinh tế chỉ huy rập theo khuôn Liên Xô và Trung Cộng đã làm cho Bắc Việt rồi cả Việt Nam suy kiệt về mọi mặt trong một thời gian dài.

Nếu nói rằng:  Phạm Quỳnh hợp tác với Pháp để mưu cầu chủ quyền cho Việt Nam, bảo vệ quyền lợi của quốc gia là làm tay sai cho ngoại bang, còn CSVN theo Nga Hoa, bán đứng quyền lợi đất nước thì không phải là tay sai ngoại bang?   Phạm Quỳnh hợp tác công khai với Pháp, viết bài trình thuật rõ ràng các hoạt động của ông là phản quốc, còn VM theo CS Nga Hoa, thì không phản quốc?  Phạm Quỳnh viết bài quảng bá học thuật Âu tây, đề cao tư tưởng dân quyền của Voltaire, Montesquieu, Rousseau là không có tinh thần dân tộc, còn CSVN phổ biến tư tưởng Marx, Lenin, và nhất là chủ nghĩa Stalin thì gọi là gì?  Phạm Quỳnh dịch thơ Corneille, Racine là bồi bút, còn Tố Hữu làm thơ gọi Stalin là ông nội, “thương cha thương mẹ thương chồng / thương mình thương một thương ông thương mười” thì không bồi bút?   Không ai quên rằng Tố Hữu là người đã giữ chức chủ tịch Uỷ ban khởi nghĩa của VM tại Huế năm 1945 khi Phạm Quỳnh bị giết, thăng dần lên làm trưởng ban Tuyên Văn Giáo trung ương, uỷ viên bộ Chính trị đảng CSVN, phó thủ tướng chính phủ Hà Nội.

Nói cho cùng, nếu Phạm Quỳnh chỉ là người học trò bình thường của Voltaire, Montesquieu hoặc Rousseau thì cũng đáng mừng cho dân tộc Việt Nam, vì tư tưởng của các nhà học giả Pháp nầy là ánh sáng soi đường cho nhân loại toàn thế giới xây dựng nền tự do dân chủ phân quyền pháp trị.  Trong khi đó HCM là “một người học trò trung thành của Các Mác và V. I. Lê-nin“. (Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng trung ương,Chủ tịch Hồ Chí Minh, tiểu sử và sự nghiệp, in lần thứ tư, Nxb. Sự Thật, Hà Nội, 1975, tr. 160)  và nhất là người học trò xuất sắc của Stalin, thì thực tế lịch sử đã chứng minh rằng đó là thảm họa độc tài đen tối khốc liệt nhất từ trước đến nay trong lịch sử Việt Nam.

Dầu sao, việc tuyên truyền của CS một thời gây nhiễu xạ không ít đến dư luận dân chúng, làm nhiều người, kể cả vài kẻ tự mệnh danh là trí thức tiến bộ, hiểu sai về Phạm Quỳnh, và hiểu sai luôn về một số nhân vật chính trị theo khuynh hướng quốc gia dân tộc.  Phạm Quỳnh đã từng nói: “Về phần tôi, tôi đã chọn con đường của tôi.  Tôi là một người ở buổi giao thời và tôi sẽ chẳng bao giờ được cảm thông…”. (Phạm Quỳnh,Hành trình nhật ký, Paris: Nxb. Ý Việt, 1997, trong phần “Dẫn nhập” không đề trang.)

Câu nói nầy làm chúng ta liên tưởng đến tâm sự của Nguyễn Du qua hai câu thơ chữ Nho:”Bất tri tam bách dư niên hậu,/ Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như “. (Không biết hơn ba trăm năm sau,/ Trong thiên hạ có ai khóc Tố Như? “  Nguyễn Du (Tố Như), tác giả truyện Kiều, cũng sống trong buổi giao thời giữa hai chế độ nhà Lê và nhà Nguyễn.

Ngày nay, sau những biến động đảo điên của thời sự, mọi người nên công tâm tìm hiểu Phạm Quỳnh và nhìn lại sự nghiệp của ông. Trước ngã ba đường vào đầu thế kỷ 20, giữa cựu học, Tây học, và tân học, Phạm Quỳnh chọn con đường tân học, cải tiến và hoàn chỉnh văn học quốc ngữ để làm phương tiện xây dựng quốc học, vừa bảo vệ quốc hồn quốc túy, vừa bồi đắp thêm bằng cách du nhập những tinh hoa văn hóa nước ngoài.   Chủ trương văn hóa của Phạm Quỳnh xét cho cùng rất quý báu và cần thiết cho đất nước, vì nếu chỉ mãi mê tranh đấu chính trị và quân sự, mà không xây dựng nền văn hóa dân tộc dựa trên quốc hồn, quốc học và quốc văn, thì người Việt vẫn bị trì trệ trong sự nô lệ tinh thần.

Những đóng góp của ông trong việc phát triển nền văn chương Quốc ngữ thật lớn lao.  Những vấn đề văn chương, triết lý tổng hợp đông tây ông đã viết, những ý kiến do ông đưa ra trong các bài báo, kể cả những ý kiến ông tranh luận về truyện Kiều, về Nho giáo, vẫn còn có giá trị.  Giấc mơ của Phạm Quỳnh về quốc học, quốc hồn lại càng cần được cổ xúy làm nền tảng giáo dục tinh thần cho mọi người Việt Nam ngày nay ở trong cũng như ở ngoài nước.  Phạm Quỳnh là nhà văn hóa lớn của Việt Nam thời hiện đại.

Về chính trị, Phạm Quỳnh viết nhiều tiểu luận bằng tiếng Việt cũng như bằng tiếng Pháp để tranh đấu thực hiện lý tưởng chính trị của ông.  Nhiều người thường đồng nghĩa nền quân chủ với phong kiến hoặc thực dân, nên cho rằng quan niệm quân chủ lập hiến của Phạm Quỳnh là thủ cựu.  Cần phải chú ý là Phạm Quỳnh chủ trương bất bạo động.  Ông chọn thể chế quân chủ lập hiến với hy vọng thúc đẩy Việt Nam chuyển biến một cách ôn hòa trong trật tự.

Nhìn ra nước ngoài, hiện nhiều nước trên thế giới vẫn duy trì nền quân chủ lập hiến, nhưng vẫn là những nước hết sức dân chủ như Anh Quốc, Nhật Bản, Thuỵ Điển, Bỉ … Riêng hai cường quốc ảnh hưởng nhiều đến Việt Nam là Trung Hoa và Ấn Độ đều đã từng chống ngoại xâm, và chuyển đổi sang thể chế dân chủ theo hai con đường khác nhau.  Trung Hoa tranh đấu bạo động để lật đổ nhà Thanh năm 1911 và từ đó chìm đắm trong những tranh chấp đẵm máu; trong khi Ấn Độ tranh đấu bất bạo động, đạt được nền độc lập trong thể chế quân chủ lập hiến một cách ôn hòa trong Liên Hiệp Anh.

Ở trong nước, xét trên chiều dài của lịch sử, từ ngày Pháp đặt nền đô hộ năm 1884 đến năm 1945, tuy các vua nhà Nguyễn bị người Pháp khống chế, nhưng vua vẫn là biểu tượng cao cả của đất nước, nên các cuộc nổi dậy kháng Pháp từ Bắc vào Nam đều quy hướng về một mối, đó là triều đình ở kinh đô Huế.  Trái lại từ năm 1945 trở đi, khi VMCS cướp chính quyền, người Việt Nam bị chia rẽ trầm trọng thành nhiều phe nhóm khác nhau theo những quan điểm khác nhau.  Do đó, trong hoàn cảnh của ông, Phạm Quỳnh cũng có  phần hữu lý khi ông chủ trương cải cách ôn hòa, và chọn quân chủ lập hiến theo đại nghị chế thay thế cho nền quân chủ chuyên chế.

Ngày nay, cục diện chính trị Việt Nam đã thay đổi hẳn, quan niệm quân chủ lập hiến của Phạm Quỳnh không còn phù hợp, nhưng không thể vì thế mà phủ nhận tinh thần ái quốc, lòng can đảm và sự tận tình của ông trên con đường phụng sự quê hương.  Phạm Quỳnh đã âm thầm tranh đấu bất bạo động để đòi hỏi chủ quyền cho đất nước.  Ông đã hết lòng hoạt động vì nước và đã hy sinh vì lý tưởng của mình.  Đó là điều thật đáng trân quý nơi Phạm Quỳnh, nhà trí thức dấn thân hoạt động chính trị.

Một điều đáng ghi nhận cuối cùng trong cách thức hành xử của Phạm Quỳnh, nhờ theo đuổi một lý tưởng chính trị trường kỳ và bất bạo động, nên ông luôn luôn cố gắng làm những gì có lợi cho đất nước và đồng bào, đồng thời tránh không làm bất cứ việc gì có hại cho quốc gia dân tộc.  Phạm Quỳnh sống lương thiện, không tham ô nhũng lạm, và không hề gây tội ác giết hại đồng bào.

Thái độ nầy là điều mà rất ít nhà hoạt động chính trị của mọi khuynh hướng thực hiện được, và là một điểm son sáng chói phân biệt Phạm Quỳnh với những người ra hợp tác với Pháp để trục lợi cầu vinh.  Đây là điều cần phải được tách bạch.

Trong việc hợp tác với Pháp, có hai hạng người.  Hạng thứ nhứt là những kẻ hợp tác để mưu cầu danh lợi riêng tư, lợi dụng quyền thế, hống hách bóc lột đồng bào.  Hạng thứ hai ra tham chính, làm việc với Pháp, nhưng không dựa vào quyền thế để hiếp đáp dân chúng, mà dùng quyền thế để cứu giúp đồng bào, và vẫn giữ được khí tiết riêng của mình như Nguyễn Trường Tộ, Pétrus Trương Vĩnh Ký, và biết bao nhiêu người vô danh khác… Phải tránh vơ đũa cả nắm, và phải rõ ràng như thế mới hiểu được tâm trạng và sự can đảm của những nhà trí thức, trong hoàn cảnh éo le của đất nước, dấn thân hoạt động chính trị, phụng sự dân tộc, nhất thời đã bị hiểu lầm sau những cơn lốc tranh chấp chính trị kéo dài trên quê hương yêu dấu, trong đó Phạm Quỳnh là trường hợp điển hình nhất.

(Toronto, Canada)

© Đàn Chim Việt

 

———

Viện Việt Học tại Minnesota: Đòi hỏi công lý cho Phạm Quỳnh

19/05/2011

Bài do tác giả Phan Thanh Tâm gửi tới

danchimviet.info

St. Paul, Minnesota: “Đòi hỏi công lý và tên tuổi Phạm Quỳnh không cần Cộng Sản Việt Nam phục hồi. Họ không có tư cách làm việc này.” Phạm Tuân, con út vị học giả và là em của Phạm Tuyên tác giả bài hát Như Có Bác Hồ Trong Ngày Vui Đại Thắng, khẳng định như vậy khi được hỏi về văn thư của Đại tá Đặng Văn Việt ngày 10/3/11, cho biết đã năm lần đề nghị Đảng và Nhà Nước (CS) “xóa đi những dư luận sai trái” đối với gia đình ông.  Đặng Văn Hướng, thân phụ của “con hùm xám đường số 4,” bị đấu tố và bỏ đói chết năm 1953 và mẹ ông vì quá đau khổ đã tự tử chết theo.

Phạm Quỳnh (1892- 1945)Trong buổi nói chuyện về Nam Phong Tạp Chí (NPTC) và Tự Điển Chữ Nôm Trích Dẫn tại Việt Nam Center ở Saint Paul, Minnesota, Phạm Tuân đã kể lại chuyện Ủy Ban Khởi Nghĩa Thuận Hóa mời thân phụ ông “đi làm việc” ngày 23/8/1945 để rồi không bao giờ có ngày trở về. Chủ bút tạp chí bị giết bằng cuốc xẻng, bên bờ sông Bồ vào một đêm năm 1945, nhưng danh tiếng Phạm Quỳnh không hề tuyệt tích nhờ 210 số báo có mặt từ 1917-1934. Đây là một kho tàng văn học mà ông là linh hồn, đã vượt không gian thời gian, chiếm môt vị trí đáng kể trong văn học sử.

NPTC tuy do người Pháp lập ra nhằm phục vụ cho cuộc chiến của họ trong Thế Chiến I với Đức, nhà văn hóa họ Phạm đã lợi dụng nó để để bồi bổ quốc văn và phổ biến các tư tưởng Âu Tây; đồng thời gầy dựng một tinh thần quốc gia, dựa trên cơ sở văn hóa và ngôn ngữ Việt. Tạp chí ra hàng tháng, khổ lớn, dày 100 trang. Nội dung ngoài bài luận thuyết thời cuộc và bài tóm tắt thời sự còn có hai phần: phần biên khảo, học thuật (tây hoặc hán học) và phần thi văn tiểu thuyết. Khi làm chủ bút ông mới 25 tuổi. Tên báo hàm ý gió mát phương Nam sẽ đem phú quí dài lâu.

Phạm Tuân kể lại, Phạm Quỳnh thường nói với hai người anh lớn về Hồ Chí Minh ngày Việt Minh mới lên cướp chính quyền: “Không biết họ Hồ là ai; song nếu HCM không phải là Nguyễn Ái Quốc thì đại-phúc cho dân-tộc.”  Đây là dựa vào kinh nghiệm bản thân khi vào năm 1922, ở Paris, ông đã có dịp gặp gỡ và trò chuyện, tìm hiểu Nguyễn Ái Quốc 2, 3 lần; những lần đó có mặt cả các ông Phan-Văn-Trường, Nguyễn-Thế-Truyền, Phan Chu Trinh…  Thời Đệ Nhất Cộng Hoà năm 1956 chính quyền giúp tìm hài cốt nhà văn hóa họ Phạm, bị vùi dập chung dưới một cái mương với anh và cháu của ông Ngô Đình Diệm là Ngô Đình Khôi và Ngô Đình Huân ngày 6/9/1945, cách Huế 15 cây số về phía Bắc.
Đời Hồ Chí Minh có tới trên 100 tên. Bảo Đại trong cuốn Con Rồng Việt Nam viết, lúc đưa bản tuyên ngôn thoái vị cho Trần Huy Liệu ngày 23/8/1945, ông mới nghe nói tới tên Hồ Chí Minh. Họ Hồ lấy tên này ngày 13/8/1942 khi ông rời hang Pắc Bó, trở lại Trung Hoa để liên lạc với các lực lượng cách mạng; còn Nguyễn Tất Thành tức là Nguyễn Ái Quốc vào ngày 18/6/1919. Đây là tên chung của nhóm Phan văn Trường, Nguyễn Thế Truyền, Nguyễn An Ninh, có từ thập niên 1910, ký trong các bài báo, tài liệu tố cáo chế độ thuộc địa  Pháp.

Nhà  báo Phan Thanh Tâm, dịp này cho biết, trong Pháp Du Hành Trình Nhật Ký Phạm Quỳnh ghi họ đã “cùng ăn cơm ta, nói tiếng ta, bàn chuyện ta, thật là vui vẻ, thỏa thích. Ăn no, uống say, cười cười, nói nói.” Năm 1922 chủ bút NPTC di Pháp; được mời đến diễn thuyết tại Ecole Coloniale ngày 31/5/1922, nơi mà Nguyễn Tất Thành 11 năm trước, ngày 15/9/1911, đã làm đơn xin vào học nhưng bị bác. Hồ Chí Minh khi nghe tin họ Phạm bị giết nói, “chuyện đã lỡ rồi.” Nhưng sau đó tất cả các ấn phẩm của NPTC bị cấm lưu hành và Phạm Quỳnh bị (người CS) gọi là đại Việt gian…

Ngược lại, theo nhà báo Phan Thanh Tâm, Bộ Giáo Dục Việt Nam Cộng Hòa đã cho giảng dạy ở bậc Trung Học các bài báo trong NPTC và gần đây toàn bộ tạp chí này còn được đưa vào thế giới điện toán. Phạm Quỳnh sinh năm 1892 tại Hải Dương. Năm 16 tuổi đậu thủ khoa bằng Cao Đẳng tiểu học. Theo nhà báo, muốn hiểu văn học Việt Nam thời 1913 tới 1932 thì phải tìm đọc NPTC. Tạp Chí là tất cả văn hóa của thế hệ đó. Nhờ làm việc trong trường Viễn Đông Bác Cổ  nên Phạm Quỳnh có cơ hội tìm hiểu về triết học, văn học, mỹ học và văn chương kim cổ.

Tự Điển Chữ Nôm Trích Dẫn

Giáo sư Nguyễn Ngọc Bích cũng trong buổi giới thiệu và thảo luận các ấn phẩm của Viện Việt Học chiều ngày 7/5/2011 khi nói về Tự Điển Chữ Nôm Trích Dẫn đã cho biết, Giáo sư Nguyễn Quang Hồng trong một dịp sang Philadelphia dự hôi nghị về chữ Nôm ở Đại học Temple khi được xem quyển TĐCNTD đã nói, trong nước có mơ làm chuyện này nhưng đã không làm được. Giáo Sư Nguyễn Ngọc Bích cho rằng, quyển Tự điển sẽ rất lợi ích cho những ai quan tâm đến văn học Việt Nam và sẽ tìm thấy ở đây một kho tàng ngữ văn từ thế kỷ 13 đến đầu thế kỷ 20.

Theo diễn giả, chữ Nôm là một loại chữ viết, mượn lối viết chữ Hán làm căn bản để ghi chép tiếng nói của người Việt. Giáo sư nói, bộ Tự Điển Chữ Nôm Trích Dẫn đã có mặt dưới dạng điện tử trên mạng Internet từ năm 2005 sau hơn ba năm làm việc cật lực. Ban biên tập gồm có Nguyễn Hữu Vinh, Đặng Thế Kiệt, Nguyễn Doãn Vượng, Lê văn Đặng, Nguyễn văn Sâm, Nguyễn Ngọc Bích, Trần Uyên Thi; sinh sống nhiều nơi trên thế giới, nghề nghiệp khác nhau, tuổi đời khác nhau, không quen biết nhau nhưng đã cùng cộng tác hoàn thành ấn bản này.

Ông Nguyễn Minh Lân và Nguyễn Minh Phúc thuộc Viện Việt Học ở Cali đã trình bày và chiếu slide cho thấy việc chuyển toàn bộ 210 số NPTC vào DVD-Rom. Phần lớn thiện nguyện viên là sinh viên và chuyên viên trẻ góp sức thực hiện dự án này. Trong chương trình giới thiệu ấn phẩm của Viện Việt Học, Viện đã đến nhiều nơi có đông người Việt cư ngụ như Paris, Westminster (Cali), San José, Portland, Oregon, Seattle, Washington D.C, Houston, Texas, Minnesota và trong những ngày tới sẽ đi Boston, Philadelphia, Denver.
Buổi giới thiệu và thảo luận các ấn phẩm của Viện Việt Học được sư bảo trợ của nhiều hội đoàn và tổ chức ở Song Thành và đã thu hơn 5.000,USD.

Bài do tác giả Phan Thanh Tâm gửi tới

© Đàn Chim Việt

danchimviet.info

————————

Phạm Quỳnh- Dân tộc và Hội nhập

16-06-2010

Tác giả:

Đó là một phần trong bài tham luận tại Hội thảo về Phạm Quỳnh ở Hải Dương hôm 12/06 của GS, nhà giáo nhân dân Nguyễn Đình Chú khi nói về Phạm Quỳnh. Theo GS Chú, trong con người của Nhà văn, Nhà báo, Nhà yêu nước Phạm Quỳnh có nhiều điều đáng nói, nhưng nổi bật nhất vẫn là quan điểm: Dân tộc và Hội nhập.

Với thế hệ chúng tôi, tên tuổi của Phạm Quỳnh trở nên quen thuộc và thường gắn liền với những định kiến xấu. Rằng, Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh là những nhân vật thân Pháp, rằng đây là những kẻ “văn nô”, ăn cơm Tây, ở nhà Tây, thậm chí, nặng nề hơn còn quy cho hai ông này là những kẻ bán nước.

Tuy nhiên, bán nước hay yêu nước chỉ là một cách nhìn của ai đó vào một thời điểm nào đó mà thôi, còn thực tế về con người Phạm Quỳnh cần có cái nhìn khoa học hơn.

Yêu nước hay bán nước?

Thời gian trôi đi, cùng với sự đa dạng của các luồng thông tin là sự trưởng thành của nhận thức buộc người ta phải xem xét lại những định kiến cũ. Có dịp nghiên cứu sâu thêm về hai ông này, thấy rằng những tội trạng mà công luận chụp cho hai ông là không đúng, thậm chí là vô lý. Với tôi vẫn đau đáu một điều rằng, phải dành thời gian để nghiên cứu về những nhân vật như vậy. Không chỉ thỏa chí tò mà mà hơn thế là trả lại danh dự, tri ân với những bậc tiền nhân có công với nền văn hóa nước nhà như nghĩa cử của một công dân làm nghề cầm bút.

Cách đây độ hơn tháng, Khúc Hà Linh có đến văn phòng tôi, anh khoe: Vừa hoàn thành xong bản thảo “Phạm Quỳnh- con người và thời gian”, đã đưa nhà xuất bản Thanh Niên, việc ra mắt chỉ là vấn đề thời gian. Tôi bảo Khúc: tốt, tôi chưa đọc bản thảo, nhưng viết về ông này, như cách anh đã viết về “Tự lực Văn đoàn” là được. Đưa ra các dẫn chứng sống có chất lượng khoa học, sẽ giúp cho công luận hiểu một cách khách quan hơn về những người đi trước, điều này rất nên làm.

Ba tuần sau, Khúc lại đến văn phòng tôi, với bộ mặt hớn hở như cậu học trò được điểm 10, Khúc lật đật mở cặp, lôi ra một cuốn sách nhỏ như đã nói ở trên, bìa màu mận chín xen lẫn màu vàng của ráng chiều, được trình bày chuyên nghiệp, sang trọng. Khúc ngồi xuống nắn nót viết lời đề tặng: “Thân mến tặng Nhà báo Phan Thế Hải để nhớ một thời ở Hải Dương”. Tôi đón nhận ngay, rồi không bỏ lỡ, cầm lên đọc lướt qua các phần chương mục, dữ liệu.

Tuần trước, tôi lại nhận được giấy mời của Nhà báo Nguyễn Thanh Cải, Giám đốc Đài Phát thanh Truyền hình Hải Dương mời xuống dự Hội thảo mang tên: “Phạm Quỳnh- con người và tác phẩm” nhân kỷ niệm ngày báo chí cách mạng Việt Nam. Vậy là, bỏ qua mọi công việc cấp bách, gạt sang một bên sự bận rộn, tôi đánh xe đi Hải Dương dự hội thảo.

Điều đáng mừng là, ngoài các nhà báo, nhà khoa học và một số bạn đọc, còn có đương kim Phó chủ tịch tỉnh Hải Dương, chị Phạm Bích Liên, cũng tham gia và đọc lời khai mạc. Dẫu là ngày cuối tuần, nhưng không khí hội thảo rất sôi nổi, cởi mở, với hơn 10 ý kiến tham luận, sâu sắc và có chất lượng.

Với hơn hai trăm số tạp chí Nam Phong còn lưu giữ được ở thư viện Quốc gia và một số còn lưu giữ ở các thư viện nước ngoài, cùng với đó là các bài viết, bài nghiên cứu của học giả Phạm Quỳnh, các nhà nghiên cứu đã có điều kiện để phân tích sâu sắc tư tưởng yêu nước của ông. Là chủ bút tờ Nam Phong tạp chí trong một thời gian dài, ông đã bày tỏ quan điểm, tôn chỉ của tờ nguyệt san này là:

–  Diễn đạt truyền bá tư tưởng, học thuật đông tây kim cổ.
–  Luyện quốc văn trở nên hoàn thiện, bồi dưỡng Việt ngữ phong phú, uyển chuyển, sáng sủa và gẫy gọn.
–  Lấy đó làm nền tảng dân tộc rồi phát triển thành tinh thần dân tộc.

Rõ ràng, cùng với Nguyễn Văn Vĩnh và những người sáng lập ra Đông Kinh Nghĩa thục, Phạm Quỳnh là người có công lớn trong việc truyền bá chữ Quốc ngữ. Đưa chữ Quốc ngữ từ một phương tiện của những nhà truyền giáo giảng dạy Kinh thánh trong nhà thờ thành chữ viết của cả một dân tộc, thay thế chữ Hán và chữ Pháp. Dưới sự chỉ đạo mềm dẻo và sâu sắc của Phạm Quỳnh, các tôn chỉ đó được thể hiện sinh động trên cơ sở các chuyên mục của tạp chí, như: Lý thuyết, Văn hóa bình luận, Khoa học bình luận, Triết học bình luận, Văn uyển, Tạp văn, Thời đàm, Tiểu thuyết…

Ông cũng được bạn đọc biết đến với câu nói nổi tiếng: “Truyện Kiều còn, tiếng ta còn; Tiếng ta còn, nước ta còn.” Một người đau đáu với văn hóa dân tộc như vậy không thể gọi là người bán nước. Hơn nữa, theo cách nói của ông: “Khi tôi sinh ra, nước đã mất rồi, còn đâu nữa mà bán”. Ông cũng là người luôn đau đáu về quyền làm chủ của dân tộc.

Dân tộc và chủ quyền

Cuối thế kỷ XIX, sau khi triều đình Huế ký các thỏa ước với người Pháp, Việt Nam ở trong một tình thế bị “mẫu quốc” áp đặt mọi phương diện. Mối quan hệ giữa Nhà nước Pháp và “Nhà nước” An Nam (triều đình Huế), bất kể vẻ ngoài ra sao và do cá nhân nào đại diện, chỉ là mối quan hệ lệ thuộc giữa thuộc địa và chính quốc. Các Hoàng đế An Nam chỉ là sản phẩm của người Pháp, được người Pháp cơ cấu, quy hoạch… Các vua triều Nguyễn cai trị dân thông qua sự điều khiển của người Pháp, không được tự động quyết định quốc sách, cũng không có tác động đáng kể trong những dự án khai thác thuộc địa của Pháp.

Khác với những người cộng sản, Phạm Quỳnh thừa nhận không thể thay đổi lịch sử, không thể xoá bỏ quyền lực của chế độ thực dân, ông tỏ ra là người biết nhìn thẳng vào thực tế, dù cho thực tế đó đối với nhiều trí thức đương thời là khó chấp nhận. Ông viết: “Sự đô hộ của Pháp là một thực tế mà chúng ta không thể làm gì chống lại nó và chúng ta phải chú ý đến nó. Hãy chấp nhận nó với tất cả các hậu quả của nó, và hãy tìm cách rút ra từ đó mặt lợi nhất có thể.”

Cũng chính vì thừa nhận một thực tế đã rồi, Phạm Quỳnh chủ trương “Pháp – Việt đề huề”. Theo đó, chữ “đề huề” là cách diễn đạt khác của “đàng hoàng”. Theo Phạm Quỳnh, đây là mối quan hệ không do xin xỏ mà có. Đây là mối quan hệ thực tế, do cuộc sống chỉ ra, mà nó chỉ có ý nghĩa với những ai nhận thức đựơc thực tế đó. Cần hiểu điều đó qua những lời lẽ mang tính thuyết phục của Phạm Quỳnh: bao giờ ông cũng tìm đường đi vào lý trí con người, chứ không đánh vào những đam mê của con người. Đam mê dẫn đến bùng nổ, đến bạo lực, trong khi lý trí dẫn đến những giải pháp ôn hoà, vì lợi ích của mỗi bên mà ứng xử.

Mặt khác, nếu như giải pháp cho đam mê được tiến hành bằng vũ lực và sự lôi cuốn con người không đòi hỏi nhiều lắm đến phương diện lý trí, thì giải pháp lý trí hướng vào nhận thức của con người, hướng vào những hành động của bản thân chủ thể người. Ta sẽ dễ hiểu vì sao Phạm Quỳnh đứng ra lập Hội Khai trí Tiến đức và đứng chủ bút một tờ báo đầy uy tín: tờ Nam Phong, một ngọn “gió Nam” thổi vào đầu óc con người Việt Nam. Theo ông, Dân trí là chìa khóa cho mọi thay đổi về kinh tế- chính trị.

Nước Việt Nam mới hội nhập

Đó là khát vọng cháy bỏng của Phạm Quỳnh. Hiện tại nhà riêng của Nhạc sỹ Phạm Tuyên, con trai thứ 9 của Phạm Quỳnh, vẫn còn giữ bức đại tự của cụ Phạm: “Thổ nạp Á- Âu”. Theo sự lý giải của nhà nghiên cứu Khúc Hà Linh: câu này, Phạm Quỳnh muốn diễn đạt ý tưởng: Muốn chấn hưng đất nước, phải biết tự đào thải những cái gì xấu và liên tục tiếp thu những cái mới, cái tiến bộ, của cả châu Á lẫn châu Âu. Không phải cái gì của châu Âu cũng đều tốt và không phải cái gì của châu Á đều xấu.

Trong bài “Về một hiến pháp” và trong “Thư ngỏ gửi ngài bộ trưởng các thuộc địa”, Phạm Quỳnh bày tỏ mong muốn thành lập một nhà nước quân chủ lập hiến. Điều đó có nghĩa là ông từ chối nền quân chủ chuyên chế tồn tại hàng ngàn năm trên đất Việt, cùng với ý muốn giảm bớt quyền bảo hộ của chính quyền thực dân. Đây là một trong những cách tân có cơ sở của Phạm Quỳnh. Ông yêu cầu nhà nước bảo hộ trao quyền lập hiến pháp cho nhân dân, điều mà ở Việt Nam hàng ngàn năm nay chưa hề có.

Bên cạnh đó, ông đưa ra những yêu cầu chi tiết để hoàn thiện ý tưởng thành lập nhà nước mà trong đó “những người An Nam – sẽ vừa là công dân của đất nước mình, vừa là công dân của một liên hiệp”. Cụ thể là: các dự án Luật do Quốc hội hay Chính phủ trình sẽ được thảo luận ở một Tham chính Viện gồm các chuyên gia Pháp và An Nam; lập phòng tư vấn, gọi là “Phòng đại biểu nhân dân”, cho phép nhân dân tham gia vào đời sống chính trị, để từ đó là mầm mống của một nghị viện tương lai. Một nhà nước có quốc hội và chính phủ, sẽ có các cố vấn Pháp trong các bộ, ngành nhưng họ sẽ được coi là viên chức của chính phủ An Nam chứ không phải là đại diện của nhà nước bảo hộ. Các bộ chính sẽ là: Nội vụ, tài chính, tư pháp, giáo dục quốc gia, y tế, hỗ trợ và tương tế xã hội, quốc phòng, nông nghiệp, thương mại, công nghiệp, nghi lễ và hoàng gia…

Phạm Quỳnh luôn chủ trương một cuộc sống thay đổi theo chiều hướng tiến bộ, một không khí mới sẽ bao trùm lên quan hệ Pháp Việt. Chúng ta dễ thấy những lời dưới đây là một lí tưởng thật đẹp: “Chúng ta hãy khép lại quá khứ, và  hãy tổ chức cuộc sống chung của chúng ta dưới khẩu hiệu một chính sách thực sự tôn trọng lẫn nhau”.

Đã 65 năm qua, Phạm Quỳnh trở thành người thiên cổ, bao nhiêu biến động lịch sử đã xẩy ra. Có người nói các kiến nghị của Phạm Quỳnh là ảo tưởng. Song có người cho rằng, không hoàn toàn như vậy. Hãy liếc nhìn sang các nước châu Phi, họ cũng từng là thuộc địa của người Pháp rồi cũng được trao trả độc lập. Khi sự nghiệp không thành, mọi ước vọng đều có thể bị coi là “ảo tưởng”! Lịch sử vẫn là lịch sử, chúng ta không thể thay đổi được.

Nay, khi thời gian đã lùi xa, là người đứng ngoài, ta có thể thấy, vào thời điểm đó, là người yêu nước có một số cách để lựa chọn: một là theo xu hướng bạo lực, khởi nghĩa (phong trào Cần Vương, khởi nghĩa Yên Bái), hai là theo những mầm mống cộng sản đầu tiên chờ cơ hội chín muồi lãnh đạo nhân dân lật đổ chính quyền, ba là đi tìm sự giúp đỡ của một thế lực thứ ba (phong trào Đông Du). Lịch sử đã chứng minh những được mất, những bài học của các con đường này. Phạm Quỳnh chọn con đường ít chông gai nhưng nhiều điều tiếng hơn cả, ít bạo lực nhưng có thể có hiệu quả tức thì: chấp nhận sự bảo hộ của Pháp và cố gắng thành lập một mô hình nhà nước mới để phát triển kinh tế, văn hóa, giáo dục, để nâng cao đời sống và nâng cao dân trí…

Phạm Quỳnh đã không lường hết được sự áp đảo của làn sóng đỏ nên đã thất bại và chịu cái chết oan khuất, tuy nhiên ông vẫn để lại một chữ Tâm trong sáng, thúc giục hậu thế tiếp tục tìm hiểu và tiếp tục hiện thực hoá những tư tưởng yêu nước. Không ít điều chúng ta đang làm hôm nay đã được Phạm Quỳnh tiên lượng cách đây hơn nữa thế kỷ.

Thành kính thắp cho cụ Phạm một nén nhang, bày tỏ lòng tôn kính với một học giả, một trí thức lớn của dân tộc, dẫu ông là người chưa thành công.

Bài nhận được từ tác giả

——————————————————————————–
Phụ chú:

1– Phạm Quỳnh sinh tại số 1 phố Hàng Trống, Hà Nội; quê quán ở làng Lương Ngọc (nay thuộc xã Thúc Kháng), phủ (nay là huyện) Bình Giang, tỉnh Hải Dương, một làng khoa bảng, có truyền thống hiếu học. Mồ côi mẹ từ 9 tháng tuổi, mồ côi cha từ khi lên 9 tuổi; Phạm Quỳnh côi cút được bà nội nuôi ăn học.

Phạm Quỳnh học giỏi, có học bổng, sau khi đỗ đầu bằng Thành chung (tốt nghiệp) Trường trung học Bảo hộ (tức trường Bưởi, còn gọi là trường Thông ngôn) năm 1908, Phạm Quỳnh làm việc ở Trường Viễn Đông Bác cổ tại Hà Nội lúc vừa tuổi 16.

Từ năm 1916, Ông tham gia viết báo cho một số tờ có uy tín đương thời; làm chủ bút Nam Phong tạp chí từ ngày 1 tháng 7 năm 1917 và đình bản tháng 12 năm 1934; tuyên truyền cho tư tưởng “Pháp Việt đề huề”. Cũng trong thời kỳ 1924-1932, ông còn là giảng viên Trường Cao đẳng Hà Nội.

Ngày 2 tháng 5 năm 1919, ông sáng lập và là Tổng Thư ký Hội Khai trí Tiến Đức, Trần Trọng Kim là Trưởng ban Văn học của Hội; và Hội trưởng Hội Trí tri Bắc Kỳ. Năm 1922, với tư cách đại diện cho Hội Khai trí Tiến Đức, ông đã sang Pháp dự Hội chợ triển lãm Marseille rồi diễn thuyết ở cả Ban Chính trị và Ban Luân lý Viện Hàn lâm Pháp về dân tộc giáo dục.

Năm 1924, ông được mời làm giảng viên Khoa Bác ngữ học, Văn hóa, Ngữ ngôn Hoa Việt, Trường Cao đẳng Hà Nội, trợ giúp báo France – Indochine. Từ năm 1925 – 1928, Phạm Quỳnh là Hội trưởng Hội Trí tri Bắc Kỳ; năm 1926, ông làm ở Hội đồng Tư vấn Bắc Kỳ và đến năm 1929 được cử vào Hội đồng Kinh tế và Tài chính Đông Dương.

Năm 1930, Phạm Quỳnh đề xướng thuyết lập hiến, đòi hỏi người Pháp phải thành lập hiến pháp, để quy định rõ ràng quyền căn bản của nhân dân Việt Nam, vua quan Việt Nam và chính quyền bảo hộ. Năm 1931, ông được giao chức Phó Hội trưởng Hội Địa dư Hà Nội. Năm 1932, giữ chức Tổng Thư ký Ủy ban Cứu trợ xã hội Bắc Kỳ.

Ngày 11 tháng 11 năm 1932, sau khi Bảo Đại lên làm vua thay Khải Định, ông được triều đình nhà Nguyễn triệu vào Huế tham gia chính quyền Bảo Đại, thời gian đầu làm Ngự tiền Văn phòng, sau đó làm Thượng thư Bộ Học và cuối cùng giữ chức vụ Thượng thư Bộ Lại (1944-1945).

Ngày 9/3/1945, Nhật đảo chính Pháp. Chính phủ Trần Trọng Kim được thành lập. Ông về sống ẩn dật ở biệt thự Hoa Đường bên bờ sông đào Phủ Cam, Huế. Ông bị Việt Minh bắt giam ngày 23 tháng 8 năm 1945 và giam ở lao Thừa Phủ, Huế. Ông mất sau đó một thời gian tại làng Hiền Sỹ, tỉnh Thừa Thiên.

Ông bị giết sau đó cùng với nguyên Tổng đốc Quảng Nam Ngô Đình Khôi (anh ruột Ngô Đình Diệm) và Ngô Đình Huân (con trai của Ngô Đình Khôi). Di hài ông được tìm thấy năm 1956 trong khu rừng Hắc Thú, và được cải táng ngày 9 tháng 2 năm 1956 tại Huế, trong khuôn viên chùa Vạn Phước.

2– : Có sử dụng một số tư liệu trong sách: “Phạm Quỳnh- con người và thời gian” của Khúc Hà Linh. Và các tham luận của GS Nguyễn Huệ Chi…

Posted in Nhan Vat, Đảng CSVN - còn đảng, còn mình... | Leave a Comment »

►Luật sư Lê Công Định: Thư ngỏ gửi “người khuất mặt khuất mày”

Posted by hoangtran204 trên 19/11/2014

Lê Công Định
.

.

Hôm nay một vài bạn hữu gửi đến tôi đường dẫn bài viết công kích cá nhân tôi trên báo Nhân Dân. Tác giả tên Vũ Hợp Lân, có lẽ là bút danh của một người không dám lộ diện công khai. Vậy tôi xin mạn phép trò chuyện với “người khuất mặt khuất mày” ở đây.

Nội dung chính của bài viết nhằm chỉ trích việc tôi bày tỏ lòng kính trọng đối với các chính khách và quân nhân Việt Nam Cộng Hòa, cụ thể là cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm và Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam. Quả thật, tôi vô cùng kính trọng hai nhân vật lịch sử anh hùng đã ngã xuống vì quốc gia ấy. Nếu so sánh họ với các nguyên thủ và tướng lĩnh ngày nay trước mối đe dọa và hành vi xâm lấn của ngoại bang đối với lãnh thổ mà tổ tiên chúng ta để lại, thì lời ca ngợi của tôi dành cho hai vị e rằng chưa diễn đạt hết niềm cảm phục pha lẫn tiếc thương của tôi. Sự đời vẫn vậy, những người đáng sống thì lại chẳng may qua đời quá sớm!

Tướng Nguyễn Khoa Nam lúc quyết định tuẫn tiết, do không làm tròn bổn phận của một quân nhân, ắt hẳn đã không đến nỗi quá “tâm tư” vì không được thăng cấp bậc Trung Tướng trước khi xả thân bảo vệ lãnh thổ mà mình mang trọng trách. Một vị danh tướng không màng đến địa vị và bổng lộc, đã chọn cái chết oai hùng, không đáng để nhiều người trong đó có tôi kính trọng sao? Việc tôi “đứng về phía nào” chẳng lẽ cũng phải xin phép ai? Yêu ghét một con người, một nhân vật lịch sử, lẽ nào cũng phải theo “định hướng”? Luật pháp nào quy định thế? Thưa ông Vũ Hợp Lân, xã hội này có thể còn thiếu tự do, nhưng tôi không cho phép mình mất tự do trong tư tưởng của chính mình, vì tôi là Con Người! Ông có quyền trung thành với ai đó, nên dù vẫn tôn trọng ông, tôi không nhất thiết phải giống ông. Tôi khác.

Bày tỏ lòng kính trọng đối với cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm, không có nghĩa là muốn tái lập trong tương lai một thể chế của quá khứ. Cũng tương tự, ngưỡng mộ Đức Thánh Trần Hưng Đạo và chiến công vĩ đại của ngài, không đồng nghĩa với ý định thiết lập một vương triều quân chủ đời nhà Trần vào Việt Nam ở thế kỷ 21 này. Và nếu tôi tôn trọng cụ Hồ trong tư cách một nhân vật lịch sử, như tôi vẫn luôn bày tỏ bất kể ai phiền muộn, thì trừ phi tôi bị tâm thần mới có ý mong muốn chế độ mà cụ Hồ thiết lập từ năm 1945 mãi trường tồn cùng với bao vấn nạn tham nhũng và vi phạm nhân quyền thế này! Viết như vậy đã dễ hiểu chưa ông Vũ Hợp Lân? Suy nghĩ theo cách ấy liệu sẽ bị suy diễn là có ý đồ chống và lật đổ chế độ chăng? Thú thật, nếu ông cố tình suy diễn theo hướng đó, thì không việc gì tôi phải e ngại hay sợ ông cả.

Dù sao cũng phải cám ơn ông Vũ Hợp Lân đã trích đăng công khai những câu chính trong các bài viết của tôi, vì điều đó vô hình chung quảng bá suy nghĩ của tôi đến một số độc giả mà tôi không có dịp tiếp cận. Chỉ tiếc là tờ báo ông dùng để đăng ít người đọc quá! Tuy nhiên, nói đi cũng phải nói lại, hồi ở tù tôi rất thường đọc báo Nhân Dân, vì không một tờ báo nào khác được phép phổ biến trong khuôn khổ các trại giam ở Việt Nam dù là Thanh Niên hay Tuổi Trẻ của chính nhà nước này. Đọc để mỉm cười vui vẻ, thay vì xem hài kịch vốn không thể có trong tù.

Tôi chưa bao giờ tự xưng am tường sử học, vì đó là một lĩnh vực sâu rộng đòi hỏi nhiều năng lực và thời gian nghiên cứu, mà tôi thì chỉ dừng lại ở sự say mê học hỏi từ lịch sử cho riêng mình thôi. Tuy nhiên, có hồ đồ lắm không khi một “người khuất mặt khuất mày” viết vài ba dòng “vỗ mông ngựa” (mượn chữ của tác giả Kim Dung trong tác phẩm “Lộc Đỉnh Ký”) trên một tờ báo chuyên về tuyên truyền, chứ không chuyên ngành sử học, lại nhận định tôi “kém hiểu biết lịch sử” hoặc “xuyên tạc lịch sử”?

Để tránh tình trạng chụp mũ bừa bãi vô ích, tôi đề nghị ông Vũ Hợp Lân sớm tổ chức một mục đàm luận công khai và dân chủ với tôi về các vấn đề lịch sử Việt Nam hiện đại trên chính tờ báo Nhân Dân để độc giả rộng đường nhận định. Đây không phải là lời thách thức, mà là việc làm cần thiết để tránh tiếng “cả vú lấp miệng em” vốn thường dành cho những tay bồi bút, và cũng giúp tờ báo của ông nâng lên một tầm cao mới, thu hút thêm nhiều độc giả có đầu óc hơn. Ông đồng ý nhé?

Trân trọng,
Lê Công Định

Trân trọng,
Lê Công Định

——–

 

 

Posted in Chinh Tri Xa Hoi | Leave a Comment »

►Luật sư Nguyễn Văn Đài: Kinh nghiệm cho những người hoạt động nhân quyền và các thân hữu khi xuất cảnh

Posted by hoangtran204 trên 19/11/2014

Kinh nghiệm cho những người hoạt động nhân quyền và các thân hữu khi xuất cảnh

17-11-2014
Luật sư Nguyễn Văn Đài

.

Trong những ngày vừa qua, có rất nhiều những người hoạt động nhân quyền và một số thân hữu khi xuất cảnh đi nước ngoài học tập, du lịch, thăm bạn bè đã bị dừng xuất cảnh.

An ninh đã tiến hành thẩm vấn những người bị dừng xuất cảnh. Do hầu hết các anh em hoạt động nhân quyền và các thân hữu chưa có kinh nghiệm nên bị cuốn vào các câu hỏi thẩm vấn của an ninh mà lại quên mất quyền của chính mình.

Kinh nghiệm đầu tiên cần nhớ là: Chúng ta luôn luôn chuẩn bị tâm lý có thể sẽ bị dừng xuất cảnh và bị thẩm vấn. Chúng ta luôn sẵn sang đối phó với việc thẩm vấn của rất nhiều an ninh. Thái độ của an ninh có thể là khủng bố tinh thần như đe dọa, quát tháo hoặc họ dụ dỗ. Khi chúng ta có tâm lý chuẩn bị như vậy thì chúng ta sẽ có sự bình tĩnh, can đảm và sáng suốt.

Kinh nghiệm thứ hai: Không trả lời câu hỏi của an ninh, mà chúng ta đưa ra yêu cầu của mình.

An ninh thường sử dụng bài đánh phủ đầu bằng 1 vài thông tin mà họ nắm được, phán đoán, thậm chí phịa ra làm cho chúng ta lầm tưởng là họ biết tất cả rồi. Việc chúng ta có khai báo hay không chỉ để xem mức độ thành thật của chúng ta.

Nhưng cho dù họ nói gì, hỏi gì ngay ban đầu. Chúng ta cứ bình thản, im lặng và suy nghĩ. Không trả lời câu hỏi của họ. Câu đầu tiên mà chúng ta nói là: “Đề nghị các anh cho tôi biết lý do tôi bị dừng xuất cảnh? Tôi có quyền thông báo cho gia đình và người thân về việc tôi bị tạm giữ.”

1/ Nếu an ninh không đáp ứng yêu cầu và trả lời lý do thì chúng ta cự tuyệt và không bao giờ trả lời bất kỳ câu hỏi nào của họ.

2/ Nếu họ đưa ra lý do chung chung như có dấu hiệu, nghi ngờ,… vi phạm an ninh quốc gia thì chúng ta tiếp tục yêu cầu họ:

Đề nghị các anh đưa ra bằng chứng để chứng minh điều các anh nói? Và yêu cầ các anh cho biết tôi đã vi phạm điều luật và văn bản pháp luật nào?

An ninh chẳng bao giờ có bằng chứng cả. Vì việc chúng ta đi học tập, du lịch, thăm bạn là hợp pháp.

Nhưng an ninh sẽ áp đặt các câu hỏi để bắt chúng ta trả lời như:

1/ Anh chị đi đâu?

Trả lời: Anh nhìn vào vé thì biết, không cần phải hỏi. Tôi không trả lời. Tôi tiếp tục yêu cầu anh cho biết lý do bị dừng xuất cảnh và đưa ra bằng chứng?

2/ Ai mời hay tổ chức nào mời anh chị đi?

Trả lời: Đây là chuyện riêng của tôi. Tôi tiếp tục yêu cầu anh cho biết lý do bị dừng xuất cảnh và đưa ra bằng chứng?

3/ Ai mua vé cho anh chị?

Trả lời: Tại sao tôi phải trả lời anh? Tôi tiếp tục yêu cầu anh cho biết lý do bị dừng xuất cảnh và đưa ra bằng chứng?

4/ Anh chị có biết Hội.. này không?

Trả lời: Việc biết Hội này hay Hội kia không liên quan đến việc các anh dừng xuất cảnh của tôi. Tôi tiếp tục yêu cầu anh cho biết lý do bị dừng xuất cảnh và đưa ra bằng chứng?

5/ Anh chị có quen anh A hay chị B không?

Trả lời: Việc quen ai là chuyện riêng của tôi, tôi không có nghĩa vụ cho các anh biết. Tôi tiếp tục yêu cầu anh cho biết lý do bị dừng xuất cảnh và đưa ra bằng chứng?

Tóm lại: Cho dù an ninh có hàng trăm, hàng nghìn câu hỏi, thì chúng ta không bao giờ cho họ câu trả lời. Đó là quyền riêng tư, quyền bảo vệ bí mật cá nhân của bạn. Điều 21 Hiếp pháp VN 2013 qui định: “Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân và bí mật gia đình”. Bạn có quyền giữ bí mật đó, bạn không có nghĩa vụ trả lời an ninh. Không có bất cứ một điều luật nào của Việt Nam bắt bạn phải trả lời.

Họ muốn làm gì chúng ta, họ phải đưa ra lý do, bằng chứng và văn bản luật tương ứng.

Họ không đưa ra lý do, không có bằng chứng, không có văn bản luật. Họ đang chà đạp Hiến pháp, pháp luật, và họ đang chà đạp lên các quyền con người của bạn. Mà cụ thể ở đây là “quyền tự do đi ra nước ngoài và từ nước ngoài trở về nước” theo điều 23 Hiến pháp VN 2013 đang họ vi phạm.

 

————-

 

“Em bị cấm xuất cảnh là vì an ninh quốc gia”

17-11-2014
Dustin Bý

Ngày 16/11/2014 tôi làm thủ tục xuất cảnh đi Myanmar. Đến sửa số 3 làm thủ tục check in, nhân viên check in có cầm hộ chiếu của tôi dơ lên và gọi người, có người đã đợi sẵn ở đó. Người nhân viên an ninh đó cầm hộ chiếu và vé của tôi hỏi:

– Em Minh đi đâu thế?

– Em đi du lịch anh ạ

– Du lịch ở đâu em?

– Em đi Myanmar anh ạ

– Em đi lâu không?

– Em cũng chưa biết, tùy anh ạ.

– Em đặt vé ở đâu?

– Em không nhớ anh ạ.

– Mời em đi theo anh.

Tôi được cán bộ dẫn đến một phòng và ngồi chờ ở đó. Được một lúc thì tôi được dẫn lại quầy số 3 để check in, theo như tôi phán đoán thì tất cả những ai thanh niên đi Myanmar buổi hôm 16/11/2014 đều bị kiểm tra kĩ lưỡng. Trong lúc tôi ngồi chờ, tôi thấy cũng rất nhiều người đi Myanmar bị làm khó.

Đến cửa check in số 3 làm lại thủ tục, đợi 1 lúc nhân viên check in lại báo. Tôi bị cấm xuất cảnh. Nhân viên an ninh gọi ngay sếp ra. Và tôi được cả hội đồng chăm sóc.

Một nhân viên an ninh lôi tệp hồ sơ của tôi được in ra. Một nhân viên khác thì mắng cán bộ kiểm tra hộ chiếu vì ko kiểm tra kĩ mà lại để tôi được làm thủ tục xuất cảnh.

Tôi được dẫn đến phòng chờ cục xuất nhập cảnh. Tôi có hỏi nhân viên an ninh.

“Các anh không cho em đi, thì giờ em về”

Họ trả lời:

“Em cứ đợi một lúc, để nhận hành lý và làm biên bản”

Một lúc lâu sau. Có cán bộ tên Toàn nhân viên anh ninh phòng A67 đến. Họ đưa tôi về đồn công an cửa khẩu. Họ không dám đưa tôi ra cửa chính vì nghĩ sẽ có anh em đợi tôi ở ngoài. Nên họ đưa tôi đi ra bằng cửa sau của sân bay, đi thẳng về đồn công an cửa khẩu.

Ngồi trên xe đi thẳng về đồn công an cửa khẩu, trên xe có một bạn nữ. Cũng bị dừng xuất cảnh, tôi không biết là ai? Họ tách tôi với bạn nữ kia ra, tôi được đưa lên tầng 2.

Tôi được mời ngồi xuống và bắt đầu làm việc.

Cán bộ nói:

– Bây giờ anh yêu cầu Minh viết bản tường trình, đi đâu, gặp ai, ai mua vé, sang đó có ai tiếp đón.

Tôi đáp:

– Thứ nhất: em hỏi anh, em có làm gì sai không?

– Thứ hai tại sao lại cấm em xuất cảnh.

– Thứ ba: tôi chả làm gì sai mà phải viết tường trình cả

Cán bộ:

– Nhân viên sân bay họ cấm xuất cảnh em họ chưa nói à?

Tôi nói: – chưa anh

Cán bộ: – Em bị cấm xuất cảnh là vì an ninh quốc gia

Tôi hỏi: – An ninh quốc gia ở đây là cái gì?
Cán bộ: (giải thích vòng vo)
Tôi hỏi lại:
– Em có làm sai gì không?
Cán bộ nói:
– Có, em có sai
Tôi: – Anh không có đủ quyền để nói tôi sai hay đúng, sai hay đúng pháp luật quy định. Anh nói tôi sai anh phải đửa ra bằng chứng. Anh không thể tùy tiện phát ngôn thế được.
Cán bộ: – Chúng tôi là nhân viên an ninh, chúng tôi có đủ mọi bằng chứng, để biết anh có tội, anh sai, chúng tôi chỉ muốn tinh thần thiện trí, tự giác của anh, đấy là chúng tôi muốn tốt cho anh.
Tôi đáp: – Tôi chả có làm gì sai, tôi nói lại(gắt) Tôi không sai. Thế nên các anh không cho tôi đi, thì tôi về. Tôi không có thời gian hơi đâu mà ngồi với các anh.
Cán bộ: – Anh hỏi lại Minh nhé(nhẹ nhàng)
– Minh đi sang đó làm gì? Em có bạn bè ở bên đó không? Có ai đón em không? Em sẽ ở đâu?
Tôi đáp: – Tôi đi đâu là quyền của tôi, tôi chả có nghĩa vụ phải nói với các anh. Các anh cấm tôi xuất cảnh là đang vi phạm hiến pháp đấy.
Cán bộ: – Em giờ đang ở đâu? Ở Hải Dương hay ở Hà nội
Tôi: – Tôi ở đâu không cần anh phải quan tâm.
Cán bộ: – Em giờ đang làm gì?
Tôi: – Tự do anh ạ. Chơi là chính.
Cán bộ: – Ai cho em tiền sang đó.
Tôi: – Anh nói hay thật, chả nhẽ cứ phải có người cho tôi tiền tôi mới sang được đó.
Cán bộ: – Em nói em chơi, ko làm gì cả thì em lấy đâu ra tiền mà đi.
Tôi: – Anh không thấy những thằng đi buôn sắt vụn, ko học hành gì mà còn thành tỷ phú à.
Cán bộ: – Đấy là người ta thế. Chứ em chơi thì lấy đâu ra tiền.
Tôi: – Thế mà tôi lại chơi ra tiền đấy. Tôi nhắc lại. (Gắt) Tôi không có làm gì sai. Các anh mời tôi về đây. Bây giờ rất là muộn, tôi không muốn làm việc với các anh. Tôi không rảnh để ngồi đây với các anh. Thời gian đó tôi đi làm việc có ích cho cái xã hội này, cho cái đất nước này. Thế nên tôi về.
Cán bộ: – Anh nói anh ngồi chơi cũng ra tiền, thế nên anh cứ ngồi đây mà chơi.
Tôi: – Tôi nói cho các anh biết. Tôi chơi nhưng tôi chọn người chơi, không phải ai tôi cũng chơi.
– Tôi nhắc lại. Tôi không có làm gì sai. Tôi không có thời gian để ngồi ở đây chơi với các anh.
Cán bộ: – Chúng tôi cũng xin nhắc lại cho anh, chúng tôi được nhà nước giao phó làm nhiệm vụ. Được pháp luật và hiến pháp quy định. Chúng tôi có quyền làm việc với anh.
Tôi: – Các anh là người thi hành pháp luật. Các anh cứ tiến hành theo quy trình của pháp luật.
Cán bộ: – Chúng tôi được pháp luật cho phép.
Tôi:- Các anh đang làm sai, đang vi phạm pháp luật đấy. Nếu tôi sai, cứ việc bắt, cứ việc khởi tố.
Cán bộ: – Anh không phải thách thức chúng tôi. Đợi đến lúc đó anh không dám phát ngôn như bây giờ đâu.
(4 con mắt nhìn nhau chừng chừng)
Tôi: – Tôi nói lại với các anh(gắt). Tôi chả có làm gì sai mà tôi phải sợ. Tôi luôn tuân theo hiến pháp và pháp luật. Có sai thì pháp luật quy định. Còn tôi sai, các anh cứ việc khởi tố. Bây giờ tôi ko có thời gian để mà ngồi chơi với các anh.
Cán bộ: – Lần sau em đi đâu. Em nên hỏi trước để mất công.
Tôi: – Các anh vi phạm phát luật mà tôi phải báo cho các anh. Việt nam có hơn 90 triệu dân, ai cũng đi du lịch như tôi mà phải khai báo á? (gắt)
Cán bộ: Công dân đi đâu xuất cảnh cũng phải khai báo.
Tôi: Vấn đề xuất cảnh, tôi đã nói rồi, khi khai báo đi đâu tôi đã nói, tôi đi du lịch. Chả nhẽ đi du lịch mà tôi cũng phải hỏi, phải xin các anh. Thế hơn 90 triệu dân ai cũng đi, phải xin các anh chắc.
Cán bộ: – Anh đi đâu làm gì, chúng tôi biết hết. Chúng tôi chỉ muốn tinh thần tự giác của anh.
Tôi: – Các anh đang theo dõi tôi à?
Cán bộ: Đúng. Chúng tôi được nhà nước giao phó để bảo vệ nhà nước, muốn bảo vệ nhà nước, bảo vệ nhân dân. Chúng tôi theo dõi cả 90 triệu dân. Để bảo vệ họ, phát hiện những nguy hiểm để cảnh báo, để ngắn chặn.
Tôi: – Tôi là một công dân của đất nước này, tôi có trách nhiệm nghĩa vụ xây dựng cái đất nước này. Các anh giữ tôi ở đây, thời gian đó tôi có thẻ làm được bao nhiêu việc có ích cho cái đất nước này. Cái nữa là các anh không có quyền theo dõi công dân. Các anh đang vi phạm hiến pháp.
Cán Bộ: Chúng tôi được nhà nước giao phó. Công dân phải tuân theo, phải sợ công an….(Lỡ lời)
Tôi: (Đập luôn)(gắt) – Tôi nói cho anh biết, ai bảo nhân dân phải sợ công an, chính phủ phải phục vụ nhân dân, phải đáp ứng lợi ích của nhân dân. Công an là một công cụ thi thành pháp luật. Các anh chỉ được thi thành pháp luật, các anh phục vụ nhân dân, các anh phải sợ nhân dân.(Mắt trợn lên)
Tôi cũng là một công dân, một thành phần trong đó, nhà nước phải có nghĩa vụ phục vụ tôi, các anh có nghĩa vụ phục tôi.
Cán bộ: – Nhưng công dân cũng phải có nghĩa vụ bảo vệ nhà nước, xây dựng nhà nước.
Tôi: – Tôi cũng là một thành phần trong đó. Tôi đang bị lãnh phí thời gian ở đây, tôi có tránh nhiệm và xây dựng cái đất nước này. Tôi chả có trách nhiệm phải bảo vệ cái nhà nước nào cả, nhà nước là do nhân dân lập lên, nhưng cũng có thể do nhân dân phế đi. Các anh đang lãng phí thời gian của tôi.
……Nghỉ giải lao….(Cán bộ đi đâu ko rõ)
Cán bộ: – Anh hỏi lại Minh nhé. Em sang đó du lịch, em định đi những đâu, em định ở nhờ nhà bạn nào à?
Tôi: – Tôi đâu là quyền của tôi, hiện giờ tôi rất mệt, tôi không muốn làm việc với các anh.
Cán bộ: – Anh không bảo em sai, mà em cũng khẳng định em không sai, thế nên anh chỉ muốn tinh thần thiện trí của em
Tôi: (đập luôn)(Gắt) – Thế sao lúc đầu anh bảo tôi là sai. Anh bảo tôi không sai đúng không? Các anh mời tôi về đây làm việc đúng không? Các anh không cho tôi đi đúng không? Không cho tôi đi thì tôi về. Tôi không dỗi hơi ngồi đây với các anh, tôi còn phải kiếm tiền.
Cán bộ: – Em nói em có làm gì đâu? Sao lại bảo đi kiếm tiền. Em nói em ngồi chơi cũng kiếm được tiền cơ mà
Tôi: – Cái chơi của tôi nó không như các anh nghĩ. Đầy người chơi mà giàu đấy.
Cán bộ: Em nói em chơi mà em lại có tiền đi du lịch, anh thấy nó phi lí quá, nó mâu thuẫn với lời nói của em quá.
Tôi: – Anh không thấy Huyền chip nổi đình nổi đám đi du lịch mà ko có xu nào à, đi khắp nơi à.
Cán bộ: – Đấy là Huyền chip
Tôi: – Thì đây là tôi
Cán bộ: – Em sang đó định ở đâu, mang có nhiều tiền không? Ai cho em ở bên đó, em ai tài trợ cho em.
Tôi: – Tôi nhắc lại cho các anh rõ, đi đâu, ở đâu là quyền riêng tư của công dân, tôi không có nghĩa vụ phải nói với các anh.
Cán bộ: Em nói vô lý lắm. Em đi đâu, làm gì cũng phải có mục đích chứ. Sang đó ai đón em. Em ở khách sạn nào?
Tôi: Em thế đấy, chả có gì vô lý cả. Các anh đã thử bao giờ chưa mà nói vô lý, cứ thử đi mà ko có xu nào xem rồi sẽ biết.
Cán bộ: – Em có biết đứa con gái trên xe đi cùng em về đồn không?
(Oạch, người mình hay sao?)
Tôi: – Em không biết .
Cán bộ: – Những vấn đề mà anh hỏi em, anh biết hết rồi, chúng nó khai hết rồi. Ngày hôm nay không chỉ riêng mình em bị xuất cảnh, mà rất nhiều người bị xuất cảnh. Anh chỉ muốn sự thiện trí từ em thôi. Em có muốn được bay hay không?
Tôi: Công dân có quyền tự do đi lại, bay hay không là do toi quyết định, các anh không có quyền cấm hay cho vì tôi ko có vi phạm pháp luật, tôi không phải thi hành hay đang phải chịu thi thành án do tòa án phán quyết.
Cán bộ: Với tinh thần của anh như thế này, không thiện trí thế này. Chúng tôi sẽ cấm anh cả đời không được xuất cảnh.
Tôi : (trợn mắt)(gắt to) – Tôi sẽ nhớ và ghi nhận câu nói của anh. Anh nói anh sẽ cấm tôi cả đời không được xuất cảnh. (4 mắt nhìn nhau chừng chừng)
Cán bộ: Em có biết Trịnh Hội không?
Tôi: Em chả biết chả quen ai cả.
Cán bộ: Em có biết Voi ko?
Tôi: Em chả biết Voi là thằng nào.
Cán bộ: Trịnh Hội mời em sang à?
Tôi: Em chả biết anh đang nhắc đến thằng nào? Hội hè gì ở đây, tôi không muốn làm việc với các anh, các anh đang làm lãng phí thời gian của tôi.
Cán bộ: Trịnh hội đặt vé cho em sang à. Trịnh Hội cho em tiền sang à.
Tôi: – Các anh đang làm lãng phí thời gian của tôi. Tôi tự đặt vé, chả thằng nào cho tôi tiền cả.
Cán bộ: Em có muốn lấy lại tiền vé máy bay không?
Tôi: – Tất nhiên rồi. Tiền của tôi mà
Cán bộ: Em có nhớ bao nhiêu tiền không?
Tôi: Tôi chả nhớ
Cán bộ: Mình đặt mà ko nhớ, hay người khác đặt hộ.
Tôi: Chả ai đặt hộ cả, không nhớ là không nhớ thế thôi. Tôi sẽ hỏi lại bên bán vé.
Cán bộ: Em đi gì đến đây?
Tôi: Em đi xe Bus.
Cán bộ: Em đi xe gì?
Tôi: Đi 07
Cán bộ: Điểm khởi hàng từ đâu:
Tôi: Giao Thông.
Cán bộ: Em từ đâu tới giao thông để ra sân bay nội bài.
Tôi: Đi từ đâu đó là quyền riêng tư của em, em không có nghĩa vụ phải nói với các anh.
Cán bộ: Anh hỏi thế thôi, để thấy điều em nói là vô lý, vì nếu em đặt vé, bên vé họ sẽ nói em đi có mang nhiều hành lý không? Họ sẽ có xe đưa em từ Quang Trung ra sân bay. Đấy là do em không đặt vé, có người khác đặt hộ, nên em ko biết, người đó không nói cho em.
Tôi: – Em chả nhớ, có thể họ nói cho em, nhưng em không nhớ, mà cũng có thể họ quên không nói.
Cán bộ: Làm gì có chuyện không nhớ, chắc về mai lại nhớ cho mà coi.
Tôi: Em thế mà, lúc nhớ lúc không, hay quên lắm.
…..Nghỉ giải lao(Cán bộ đi họp).
Cán bộ: Tuấn mời em sang đó à?
Tôi: Tuấn nào anh.
Cán bộ: Nguyễn Anh Tuấn, Trịnh Hội là những người đứng đầu Voi.
Tôi: Em chả biết Tuấn, Hội là thằng nào. Mà ở nhà em cũng tên là Tuấn, em có đủ các loại tên.
Việt nam hơn 90 triệu dân, anh hỏi Tuấn, thì em chịu.
Cán bộ: Chả nhẽ, hơn 90 triệu dân có mỗi mình ông Lưu Văn Minh bị cấm xuất cảnh, phải có như thế nào người ta mới cấm xuất cảnh.
Tôi: – Đó là vấn đề của các anh, tôi chả làm gì sai. Các anh không cho tôi đi, tôi về.
Cán bộ: – Trịnh Hội bảo em sang đó à, cho em tiền sang đó à?
Tôi: Em chả biết thằng hội thằng hè là thằng nào cả, anh nói nhiều thế chắc tối nay em về em sẽ sớt trên mạng xem thằng nào?
Cán bộ: – Chắc gì đã được về.
– Em có biết Voi không.
Tôi: – Các anh đang làm lãng phí thời gian của tôi, tôi không sai, các anh đang làm lãng phí thời gian của tôi. Các anh mời tôi về đây. Các anh không cho tôi đi, thì tôi về. Tôi ko có thời gian để các anh hỏi những thằng hội hè, voi sư tử ở đây.
Cán bộ: Chúng tôi đang làm việc với anh, chúng tôi được nhà nước giao phó làm nhiệm vụ, anh có nghĩa vụ phải làm việc với chúng tôi
Tôi: Các anh là người thi hành pháp luật, các anh phải làm theo quy trình pháp luật.
Cán bộ: Tôi được nhà nước giao phó. Anh không phải dạy chúng tôi phải làm như thế nào?
Tôi: Tôi ngu lắm, dốt lắm, ko giỏi đâu, tôi là gì mà dạy các anh, pháp luật tôi có biết gì đâu mà dạy.
Cán bộ: Tôi xin nhắc lại cho anh biết, chúng tôi được nhà nước giao phó làm nhiệm vụ, phát hiện ngăn chặn những tổ chức phá hoại nhà nước. Những tổ chức như Voi do Trịnh Hội đứng đầu, chuyên lôi kéo những người trong nước để tham gia các đợt tập huấn về chống đối lại nhà nước. Chúng tôi có trách nhiệm phải thông báo, và nói với anh, ngăn chặn để anh không bị chúng lôi kéo. Đấy là chúng tôi đang làm việc tốt với anh.
Tôi: Tôi hơn 18 rồi, đủ tuổi chịu trách nhiệm trước pháp luật. Tôi không cần anh phải dạy chơi với ai, như thế nào? Tôi là một công dân, tôi có trách nhiệm xây dựng cái đất nước này. Các anh là công an, có nghĩa vụ thông báo đúng không? Tại sao các anh cấm tôi xuất cảnh, sao các anh không thông báo cho tôi được biết. Để tôi mất công ra đến sân bay rồi lại bị cấm, nhỡ hết công việc của tôi, các anh đang làm tốn thời gian, tiền bạc của công dân, cũng như đang gián tiếp làm nguy hại đến đất nước này.
Cán bộ: Tôi lại phải nhắc lại, giải thích cho anh hiểu, anh vẫn không hiểu à. Chúng tôi được nhà nước giao phó, làm việc theo hiến pháp và pháp luật, chúng tôi có quyền bắt anh phải làm việc với chúng tôi.
Tôi: Tôi cũng xin nhắc lại, các anh cứ theo quy trình pháp luật mà làm. Nếu tôi sai, thì khởi tố. Còn anh nói tôi không sai đúng không? Tôi không sai thì tôi về, ko cho tôi đi thì tôi về.
Cán bộ: – Trịnh Hội em có biết không? Trịnh Hội mời em sang à
Tôi: Tôi rất mệt, tôi không muốn làm việc với các anh
Cán bộ: – Em định thực hiện chính sách 3 không à. Như thế không tốt cho em đâu, em mà nói như những người khác thì giờ về lâu rồi, không phải ngồi đến tận bây giờ. Bọn anh biết hết rồi, bọn anh chỉ muốn thiện trí từ em thôi, được bay hay không cũng do thiện trí của em nữa.
……giải lao(cán bộ gọi điện thoại cho người thân)
Cán bộ: Anh vừa nói chuyện với công an hải dương. Họ nói đã có nhiều lần về nói chuyện gia đình em. Bố mẹ em có bảo, em rất ngoan, chăm chỉ và có ý trí phấn đấu, còn là niềm tự hào của gia đình. Em đi như thế này có thông báo cho bố mẹ em biết không?
Tôi: – Tôi đủ lớn rồi, đi đâu không cần phải nói với ai. Tôi 25 tuổi rồi. Đủ trách nhiệm trước pháp luật. Cảm ơn các anh đã có lời khen
Cán bộ: – Đi đâu cũng phải nói cho bố mẹ biết chứ, như anh đây đi đâu 1 tuần cũng nói cho bố mẹ biết .
Tôi: -Đấy là việc của anh.
Cán bộ: – Chắc em cũng làm việc với an ninh hải dương nhiều rồi đúng không?
Tôi: Vâng.
Cán bộ: -Thế anh mới bảo, phải có vấn đề gì đó, bọn anh mới làm việc, không ngẫu nhiên mà bọn anh làm việc với em. Bọn anh làm việc là có cả hệ thống.
Em có biết Nâu nhiu không? Em có biết Hoàng Sa ép xê không?
Tôi: Em chả biết. Hoàng Sa thì mất lâu rồi. Anh nhắc lại làm gì?
Cán bộ: Em có hay đá bóng không?
Tôi: Chả bao giờ em đá bóng
Cán bộ: Em chắc ko đá, nhưng hay đi cổ vũ đúng không?
Tôi: Em không thích thể thao.
Cán bộ: Em có quen ai Nâu nhiu không? Hoàng Sa ép xê không?
Tôi: Em chả biết thằng nâu hay thằng đen là thằng nào cả? Việt nam hơn 90 triệu dân, anh hỏi thế em chịu
Cán bộ: Anh hỏi lại, em có biết Nguyễn Văn Đài không? Em có biết Trinh Hội, Voi không?
Tôi: Đài báo nào em chịu.
Cán bộ: Bọn anh biết hết. Em không thiện trí đúng không? Em không hợp tác đúng không?
Tôi: Em rất đang hợp tác với các anh, và các anh đang làm lãng phí thời gian của công dân. Và em rất mệt, em đang rất đói, em không muốn làm việc với các anh. Em cần phải về để nghỉ ngơi.
Cán bộ: Anh cũng xin nhắc lại, anh được nhà nước giao phó nhiệm vụ, anh đang làm việc với em.
Tôi: Nhưng em không làm gì sai cả, các anh làm việc thì phải làm việc theo quy trình pháp luật
Cán bộ: Sao em mãi không chịu hiểu nhỉ, các anh đang làm nhiệm vụ với em. Và em không phải dạy bọn anh phải làm như thế nào.
Tôi: Tôi ngu tôi dốt lắm, tôi chưa đủ trình dạy các anh, các anh cứ quy trình pháp luật mà làm, tôi phải nghỉ ngơi.
….giải lao(cán bộ nghịch điện thoại)
Cán bộ khác bước vào phòng. 4 con mắt lại nhìn nhau.
Cán bộ mới rất trẻ và đập choai.
Cán bộ mới: Ơ cậu này nhìn quen quen
Tôi: Ơ nhìn anh quen quen
Cán bộ mới: Hình như gặp cậu ở đâu
Tôi: Ơ hình như gặp anh ở đâu. Anh em mình gặp nhau ở đâu rồi nhỉ, anh có nhớ không?
Cán bộ: Số 7 Hồ Thiền Quang chứ ở đâu.
Cán bộ mới: Cậu tên gì, tên Đông à. (oạch, lại người mình nữa bị cấm sao?)
Một lát sau nhìn thấy toàn người quen(quen: an ninh) đoán được rằng chắc chắn có nhiều người giống mình nên mới lắm người quen chạy ngang chạy dọc thế.
Tôi: Em tên Minh anh ạ
Cán bộ mới: Nhìn cậu như hot boy thế kia, ăn mặc đẹp thế kia nhìn như dân chơi. Tiền đâu mà mua quần áo như thế.
Tôi: Anh còn đẹp trai hơn em ấy, nói thế làm em ngại
Cán bộ khác: Em như hot boy ấy nhỷ.
Tôi: Anh nói thế làm em tối về lại cười cả đêm
Cán bộ khác: Chắc gì tối đã được ngủ (tôi cười khểnh)
– Anh thấy nhìn em giống Kenny Sang.( nhiều người nghĩ mình có nét giống lãnh tụ Ái Quốc)
Tôi: Anh nói thế em ra đường thiên hạ lại ném gạch em thì chết
Cán bộ khác: Chú vợ con gì chưa?
Tôi: Vợ con gì anh, anh nhìn em thế này thì vợ con gì.
Cán bộ khác: Em đi du lịch à, tiền đâu ra mà đi.
Tôi: Tiền em chứ tiền đâu ra
Cán bộ khác: Nếu anh cho em tiền em có lấy để đi không?
Tôi: Ôi, giờ lại có nhiều người tốt thế anh
Cán bộ khác: Em sang đó mà không có tiền thì đi sống kiểu gì?
Tôi: đó là vấn để của em, anh đi bụi bao giờ chưa, anh đi bụi đi, cho thử cảm giác, đi rồi sẽ biết
Cán bộ: Thế em yêu ai chưa? Như thế này chắc yêu khối người rồi đúng không?
Tôi: Em chả rảnh để yêu anh ạ. Khổ thế, ế rồi anh ạ
Cán bộ khác: Mặc quần D&G cơ à, lại cả giầy DOC, toàn hàng xịn nhỉ, thấy bảo em chỉ chơi mà kiếm được tiền mua toàn hàng sịn thế.
Tôi: Rẻ mà anh, ra chợ dời thì cả đống.
Cán bộ khác: Chợ dời làm gì có. Em làm gì, ở đâu?
Tôi: Em ở lung tung lắm, ở bụi mà anh
Cán bộ khác: Quần D&G lại còn rách, nhìn như rẻ rách ấy nhỉ.
Tôi: Khổ thế đấy anh ạ, người ta thì giàu, em thì nghèo phải mặc cả rẻ rách đấy ạ, anh khen đẹp, anh thích em bán rẻ lại đó.
Cán bộ: Anh có quần áo đây rồi, cần gì phải mua.
….giải lao(các cán bộ khác ra ngoài còn lại cán bộ đập choai)
Hai anh em chém gió chán chê, hỏi lương thì ảnh ko dám nói. Vợ con người yêu ảnh cũng chẳng dám nói. Trong lúc chém gió ảnh cũng hỏi lại hết những câu hỏi của cán bộ khác, đến chán.
Cán bộ: Lần sau em đi đâu em nhớ hỏi trước để đỡ mất công nhé.
Tôi: Vấn đề cấm em xuất cảnh. Và cấm không thông báo cho công dân, mai em sẽ về tận công an thành phố hải dương, em sẽ gặp trực tiếp giám đốc công an thành phố hải dương để hỏi.
Cán bộ: Lần sau đi đâu. Em cứ nói rõ, em muốn đi chỗ này, làm cái này. Em có được đi không? Thì các anh ấy cho đi hay không cũng tùy thuộc vào sự thiện trí của em.
Tôi: Ơ hay, thế hơn 90 triệu công dân đi đâu cũng phải hỏi như thế à?
Cán bộ: Hơn 90 triệu dân nhưng cũng chỉ số nhỏ trong đấy thôi, anh nói em thừa hiểu và biết.
Tôi: em chả biết, chả hiểu gì cả.
Cán bộ: Anh hỏi lại nhé. Anh nói rồi, muốn được bay hay không do sự thiện trí của em, mà bên công an hải dương người ta sẽ cho em đi.
– Em có biết Tuấn không? Tuấn bảo em sang đó à?
– Em có biết Trịnh Hội không? Biết Voi không?
Tôi: Em rất mệt, em đã nói rồi, và ko muốn nói lại lần nữa.
Cán bộ: Anh bảo em viết biên bản em cũng không viết đúng không? Anh có hỏi những người khác rồi, giờ đưa cho em biên bản làm việc chắc em cũng không kí. Thế nên thôi, chắc cũng chả cần phải bảo em kí đâu nhỉ.
Cán bộ khác: Anh bảo Minh này, bọn anh làm, đều muốn tốt cho em cả thôi, tốt cho cả gia đình, để gia đình không bị ảnh hưởng. Em không kí cũng được, chả sao cả, người thiệt chỉ là em thôi.
Tôi: Em ko có làm gì sai. Các anh cấm em không được xuất cảnh, các anh mời em về đây làm việc. Nên chả có gì em phải kí
Cán bộ: Anh nói Minh thế này. Ngày xưa mình đi học, có làm gì thì giáo viên hay bố mẹ đều bắt chúng ta phải viết bảng tường trình, nói rõ sự việc xảy ra (nói vòng vo ko hiểu).
Tôi: Đấy là ngày xưa, còn bây giờ là hiện tại, Giết người với ăn trộm không được đánh đồng làm một. Nếu mà được quay lại thời xưa, cô giao mà bắt e viết chắc sẽ không có chuyện đó nữa.
….giải lao(cán bộ nghịch điện thoại)
Cán bộ: Em nghĩ Việt Nam có tham nhũng không? Em có nghĩ ở VN ai tham nhũng không?
Tôi: Em chịu, em chả biết mấy cái đó, em ko quan tâm
Cán bộ: Em ra sân bay có ai đưa em đi ko?
Tôi: em đi một mình, chả ai đi cùng.
Cán bộ: giờ em ở với ai, chỗ nào?
Tôi: Em chả ở với ai, ở đâu em ko thích nói.
…….Cán bộ bỏ đi.
Lát sau được các ảnh nhiệt tình đưa ra bến xe bus. Tôi được đưa lên tầng 2 đồng công an cửa khẩu được làm việc. Lúc xuống tầng 1 không thấy cô gái trên xe đi cùng bị đưa về đồn đâu, tôi đoán chắc cô gái đó cũng được về rồi. Nên thấy an tâm hơn. Trong lúc làm việc chỉ lo nghĩ về mấy người bị cấm kia là ai, họ có bị an ninh hành không? Khổ thân họ, nếu đi cùng chuyến xe người mình nhận ra nhau ngay, đây chắc là công dân bình thường, lại bị an ninh hành thì khổ. Trong lúc ngồi chờ ở cửa khẩu sân bay, thấy cũng nhiều trường hợp vì giấy tờ nhì nhằng mà phải van xin khóc lóc. Thấy thương hại cho một dân tộc.
Ngồi trên xe với các anh lãnh đạo, các anh rất biết cách nói chuyện và ứng xử. Các anh rất tốt chả lại hộ chiếu và điện thoại. Các anh còn khuyên nhủ và căn giặn rất nhiều.
Các anh biết có nhiều người quan tâm đến tôi, đang đợi tôi ở sân bay. Nên không dám đưa tôi về chỗ sân bay, tận tình chở tận ra bến xe Bus cách sân bay 2 điểm cho xa. Còn giặn tôi về nhà hãy gọi điện cho mọi người, chứ đừng vội mở thì phiền các ảnh.
Xuống xe các anh còn mở cửa, chào nồng hậu. Vì thích nhất câu của các anh “Anh nể chú Minh thật đấy”. Nên chính vì thế bài post này ko được public vì giữ thể diện cho các anh. Chỉ những bạn bè quan tâm đọc được.
Hơn thế mong mọi người khi đọc bài tôi chia sẻ, mong mọi người hiểu và thông cảm. Công an họ chỉ làm nhiệm vụ của họ. Họ trung thành với nhà nước này. Nhưng khi nhà nước độc tài này sụp đổ, không ai lãnh đạo họ nữa, họ sẽ quay về với nhân dân, họ sẽ bảo vệ nhân dân, họ sẽ trung thành với nhân dân. Hãy mở đường cho họ, và hãy thấu hiểu cho họ. Mặc dù họ tàn sát chúng ta. Hãy mở cánh cửa sẵn sàng để chờ đón khi độc tài sụp đổ, để họ quay về với chúng ta. Hãy cho họ thấy niềm tin vào lẽ phải, đừng làm họ sợ, khi chế độ sụp đổ họ cũng chết theo, nên họ sẽ phải cố bảo vệ chế độ đến cùng. Đừng thêm những hy sinh mất mát, đừng để thêm những đổ máu. Hãy mở cánh cửa kể cả đối với cộng sản.
Thân ái.

 

Posted in Bắt bớ-Tù Đày-Đánh đập-Đàn Áp, Công An | Leave a Comment »

►Lá thư của vợ Anh Ba Sàm gửi các độc giả và quốc tế

Posted by hoangtran204 trên 19/11/2014

Lá thư của vợ Anh Ba Sàm gửi các độc giả và quốc tế

13-11-2014

Kính gửi:

Các độc giả của blog Anh Ba Sàm

Kính gửi:

– Ngài Barack Obama, Tổng thống Hợp chủng quốc Hoa Kỳ – Văn phòng Nhà Trắng

– Ngài John Kerry, Ngoại trưởng Hợp chủng quốc Hoa Kỳ – Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ

– Ngài Chris Smith, Thượng nghị sĩ Hợp chủng quốc Hoa Kỳ, Chủ tịch Tiểu ban Nhân quyền trực thuộc Ủy ban Đối ngoại của Quốc hội Hoa Kỳ

– Ngài Frank R. Wolf, Thượng nghị sĩ Hợp chủng quốc Hoa Kỳ, Đồng Chủ tịch Ủy ban Nhân quyền Tom Lantos

Đồng kính gửi:

– Ông Kenneth Roth, Giám đốc Điều hành tổ chức Giám sát Nhân quyền

– Tiến sĩ T. Kumar, Giám đốc tổ chức Ân xá Quốc tế

– Bà Sandra Mims Rowe, Chủ tịch Ủy ban Bảo vệ Nhà báo

và các tổ chức nhân quyền quốc tế khác: Phóng viên Không Biên giới, Văn bút Quốc tế, Người Bảo vệ Quyền Dân sự…

Kính thưa quý vị,

Tôi là Lê Thị Minh Hà, vợ của ông Nguyễn Hữu Vinh tức blogger Anh Ba Sàm.

Chồng tôi được báo chí quốc tế đánh giá là một trong những nhà hoạt động dân quyền nổi tiếng nhất Việt Nam. Đối với người dân trong nước, đặc biệt là cộng đồng những người sử dụng Internet ở Việt Nam, ông là một trong những blogger nổi tiếng nhất, người sáng lập và điều hành trang blog Anh Ba Sàm, tức Thông Tấn Xã Vỉa Hè, gắn bó với độc giả Việt Nam từ năm 2007 đến nay.

Chồng tôi và cộng tác viên, cô Nguyễn Thị Minh Thúy, đã bị cơ quan an ninh điều tra thuộc Bộ Công an Việt Nam bắt giữ ngày 5/5/2014 và bị khởi tố theo Điều 258 Bộ luật Hình sự, “Tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân”. Chồng tôi và cô Minh Thúy đã bị tạm giam kể từ đó và cho đến nay vẫn chưa được gặp thân nhân.

Chồng tôi – Anh Ba Sàm – đã làm gì?

Là vợ của Anh Ba Sàm, vì hoàn cảnh sức khỏe không tốt, không chịu được điều kiện khí hậu-thời tiết miền Bắc, tôi không thường xuyên ở bên chồng tôi trong những năm qua; nhưng những gì tôi biết về ông lâu nay luôn thống nhất rằng: Ông là một người yêu nước bằng cả trái tim. Hơn thế nữa, ông là một trí thức, một blogger luôn ý thức được tầm quan trọng to lớn của mạng Internet đối với công cuộc dân chủ hóa và phát triển đất nước. Và ông đã luôn sử dụng Internet như một công cụ để thực hiện mong ước nhiệt thành của ông – “khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh”.

Trang mạng Anh Ba Sàm (địa chỉ hiện nay: basam.info, anhbasam.wordpress.com, basamnews.info) được thành lập năm 2007 nhằm mục đích “giải phóng bạn đọc khỏi sự nô lệ về tinh thần”, mà chồng tôi gọi tắt là “phá vòng nô lệ” và lấy đó làm chủ trương của trang. Ông tin rằng, người dân Việt Nam chỉ có thể có được những quan điểm chính trị riêng nếu được thông tin đầy đủ.

Theo tinh thần ấy, mỗi ngày Anh Ba Sàm đều tổng hợp thông tin về những vấn đề chính trị từ nhiều nguồn khác nhau: từ các cơ quan truyền thông Nhà nước, các hãng tin nước ngoài, từ những nhà hoạt động, nhà báo, những blog cá nhân và cả những trang mạng bị chính phủ Việt Nam gọi là “phản động”, “thù địch với Nhà nước”.

Ngoài ra, Anh Ba Sàm còn cống hiến cho độc giả các danh sách đường dẫn (link) phong phú đến 50 trang blog hàng đầu của các cá nhân và tổ chức xã hội dân sự Việt Nam, 50 trang truyền thông độc lập và của nhà nước bằng tiếng Việt, 56 trang truyền thông nước ngoài cũng như 19 trang mạng hướng dẫn cách vượt kiểm duyệt Internet. Những kỹ thuật của blog đã tạo điều kiện cho độc giả viết các bình luận nóng hổi về những sự kiện thời sự.

Theo nhiều nguồn thống kê khác nhau thì từ năm 2009, chồng tôi và cộng sự đã đưa lên Internet hàng trăm nghìn bài báo, trong đó có rất nhiều tư liệu quý như lịch sử Việt Nam từ 1945 đến 1995, sách trắng về quan hệ Việt Nam – Trung Quốc, và nhiều bài viết của các cây viết nổi tiếng Việt Nam. Mỗi ngày, trang mạng Anh Ba Sàm có trung bình một trăm nghìn lượt truy cập.

Rất có thể là Nghị định số 72/2013/ND-CP của Chính phủ về “Quản lý, cung cấp và sử dụng dịch vụ Internet” đã được ban hành chỉ để nhằm kiểm duyệt trang Anh Ba Sàm. Khoản 4 Điều 20 và Khoản 4 Điều 26 của Nghị định này (có hiệu lực từ ngày 1/9/2013) cấm các chủ blog và trang mạng ở Việt Nam thu thập thông tin từ những cơ quan truyền thông Nhà nước hoặc từ những trang mạng của các cơ quan công quyền. Ở thời điểm đó, Anh Ba Sàm là trang mạng duy nhất có thể tiếp cận ở Việt Nam mà có một khối lượng tư liệu và số người truy cập ở mức đáng kể như thế.

Theo danh sách xếp hạng của Alexa.com thì Anh Ba Sàm hiện vẫn thuộc số những trang mạng đuợc truy cập nhiều nhất ở Việt Nam.

anhbasam1_0.pngGia đình Anh Ba Sàm. Ảnh chụp năm 1992.

Chồng tôi có phạm tội không?

Chính phủ Việt Nam đã huy động hacker tấn công trang mạng Anh Ba Sàm, vì nó không được Nhà nước cho phép, nghĩa là bị xem là bất hợp pháp. Ngay từ năm 2007, trang mạng này đã liên tục bị đánh phá và làm tê liệt bằng những cuộc tấn công từ chối dịch vụ (DDoS). Từ năm 2010 đến năm 2013, nó bị tin tặc cướp ba lần và đã có lúc chủ nhân của nó bị mất quyền sở hữu. Trong thời gian này, 6 trang mạng và trang blog sao chép lại nội dung của Anh Ba Sàm cũng bị tin tặc cướp và xóa.

Bảy năm qua, trong quá trình điều hành trang mạng Anh Ba Sàm, chồng tôi cũng đã nhiều lần bị cơ quan an ninh nhắc nhở, đe dọa, ép buộc ông phải chấm dứt hoạt động làm blog, nhưng ông đều khéo léo và kiên quyết từ chối. Luôn chọn cách tiếp cận mềm dẻo, ôn hòa, ông chưa bao giờ tự coi mình là kẻ thù của chế độ, càng không chủ trương chống chính quyền bằng bạo lực – cho dù chỉ bằng ngôn từ. Tuy rất kiên trì trong mục đích cho người dân được tiếp cận rộng rãi với các nguồn thông tin khác nhau, nhưng ông không chọn cách đối đầu trực tiếp với các cơ quan chính quyền. Tôi tin rằng, những gì ông làm đã vừa góp phần “khai dân trí” như ông mong muốn, vừa giúp “khai quan trí” và giảm bớt mâu thuẫn giữa chính quyền và người dân, điều hòa căng thẳng trong xã hội. Ông là người có thể góp phần rất lớn cho một sự chuyển đổi ôn hòa ở Việt Nam theo hướng dân chủ hóa.

Bản thân chồng tôi cho rằng trang mạng của mình đã thúc đẩy tự do báo chí. Trong một diễn đàn thảo luận, ông đã lấy thí dụ rằng cùng một bài đăng, trên trang mạng của một tờ báo nhà nước thì nó chỉ nhận được một phản hồi, trong khi trang mạng của ông đã nhận được những 600 lời bình luận đối với chính bài báo ấy. Như thế, ở Việt Nam, trong bối cảnh truyền thông-báo chí bị Nhà nước kiểm soát chặt, đã hình thành những diễn đàn cho phản biện xã hội, có tầm ảnh hưởng sâu rộng trong quần chúng.

Chồng tôi mong ước: Một ngày nào đó báo chí tư nhân chuyên nghiệp sẽ được cho phép hoạt động ở Việt Nam. Và ông đã cố gắng hết sức để ngày đó sớm đến.

Từ những điều trên, với tình cảm của một người vợ đối với chồng mình và những hiểu biết về ông, tôi khẳng định: Chồng tôi – Ba Sàm Nguyễn Hữu Vinh – nếu có phạm tội gì, thì chỉ là tội yêu nước, yêu tự do, và mong muốn đất nước Việt Nam dân chủ hóa, người dân Việt Nam có quyền tự do.

Nguyễn Hữu Vinh là một người bảo vệ nhân quyền, đã nỗ lực tranh đấu ôn hòa cho quyền con người ở Việt Nam, đặc biệt là quyền tự do thông tin và báo chí. Việc bắt bớ ông là tùy tiện, vi hiến, trái pháp luật trong nước và vi phạm các tiêu chuẩn và điều ước quốc tế về nhân quyền mà Việt Nam đã ký kết.

Tôi xin kính đề nghị các độc giả của trang mạng Anh Ba Sàm, đề nghị các cơ quan Chính phủ và Quốc hội Mỹ, các tổ chức nhân quyền quốc tế lên tiếng và gây sức ép đòi hỏi chính quyền Việt Nam:

1, Trả tự do ngay tức khắc và vô điều kiện cho chồng tôi, nhà bảo vệ nhân quyền Nguyễn Hữu Vinh tức blogger Anh Ba Sàm, và cộng sự của ông là Nguyễn Thị Minh Thúy;

2, Hủy bỏ Điều 258 Bộ luật Hình sự Việt Nam về “lợi dụng các quyền tự do dân chủ”;

3, Tôn trọng quyền tự do thông tin và báo chí của người dân Việt Nam. Hủy bỏ ngay lập tức Nghị định số 72/2013/ND-CP về “Quản lý, cung cấp và sử dụng dịch vụ Internet” và các văn bản luật tương tự có mục đích hạn chế quyền tự do thông tin và báo chí ở Việt Nam.

Ngày 18 tháng 10 năm 2014

Lê Thị Minh Hà

* * *

A LETTER FROM THE WIFE

TO:
– Readers of blog Anh Ba Sam
– Mr. Barrack Obama, President of the United States of America, the White House
– Mr. John Kerry, Secretary of the States, Department of State
– Mr. Chris Smith, Congressman, Chairman of the Foreign Affairs’ Subcommittee on Africa, Global Health, Global Human Rights and International Organization
– Mr. Frank R. Rolf, Congressman, Co-Chair of the Tom Lantos Human Rights Commission

CC:
– Mr. Kenneth Roth, Executive Director of Human Rights Watch
– Dr. T. Kumar, International Advocacy Director at Amnesty International, USA
– Mrs. Sandra Mims Rowe, Chairman of the Committee to Protect Journalists

– Other international HR organizations: Reporters Without Borders, International PEN, Civil Rights Defenders, etc…

Dear all,

My name is Le Thi Minh Ha, wife of Mr. Nguyen Huu Vinh, a.k.a. blogger Anh Ba Sam.

My husband is known to international news media as one of the most prominent civil rights activists in Vietnam. To people within Vietnam, especially among the netizen community of Vietnam, he is one of the most well-known bloggers, founder of blog Anh Ba Sam – a.k.a. Thong Tan Xa Via He [Sidewalk News Agency] – a blog that has served Vietnamese readers from 2007 until now.

My husband and his assistant, Ms. Nguyen Thi Minh Thuy, were arrested by the Vietnam Ministry of Public Security on May 5, 2014 and prosecuted for violating Article 258 of the Penal Code, “abusing democratic freedoms to infringe upon the interests of the state and legitimate rights of civil organizations.” Since then they have been held in detention and none of us has seen them. My husband was denied bail and his right to access family members was totally denied.

So what did my husband, Anh Ba Sam, do?

Due to health issues associated with Northern Vietnam’s weather, I have not been able to be with my husband as often as a wife should in the past years; however, what I know about him remains consistent that he is a patriot who loves his country with all his heart. Moreover, he is an intellect, a blogger who always believes in the importance of the Internet to the democratization and development processes of the country. He had always used the Internet as a tool to pursue his fervent wish to “empower, enlighten, and secure the people.”

Anh Ba Sam site (with the following addresses: basam.info, anhbasam.wordpress.com, anhbasamnews.info) was found in 2007 with the purpose of “breaking the chains of slavery.” He also uses that as the goal for the site. He believes that the people of Vietnam can only form political opinions once they are fully informed.

In that spirit, Anh Ba Sam on a daily basis gathered all daily news related to political issues, from many sources such as state-own media, foreign news agencies, activists, journalists, personal blogs, and even from websites deemed “traitors” and “opposing the state” by Vietnam government.

In addition, Anh Ba Sam also provide his readers with links to 50 top pages of famous bloggers and civil organizations in Vietnam, 50 independent and state-own news sites, and 56 foreign media sites along with 19 websites with guides to overcome Internet censorship. Features provided by blogging technologies have facilitated readers to write comments about whatever event they hear about.

According to various sources, my husband and his colleagues since 2009 have posted on the Internet a few hundred thousands articles, among which are valuable information on Vietnam history from 1945 to 1995, and writings from famous Vietnamese writers. Everyday, the average viewership ranges around 100,000 views.

It is very likely that Decree No. 72/2013/ND-CP on the “management, provision, and the use of Internet services” was issued by the government to sensor Anh Ba Sam blog page. Paragraph 4 of Article 20 and Paragraph 4 of Article 26 of that Decree (effective September 1, 2013) prohibits blog and website owners in Vietnam from collecting information from the media or government sites. At the time, Anh Ba Sam was the only blog accessible to Vietnamese people which has a great volume of news data and such noticeable number of readers. According to Alexa.com ranking, Anh Ba Sam blog as of now is still among the web pages viewed the most by people in Vietnam.

Is my husband guilty?

The Vietnam government keeps mobilizing hackers to attack blog Anh Ba Sam. The blog is deemed illegal because registration was not granted. In 2007, the blog was attacked continuously with waves of DDoS (Denial of Services attack). From 2010 to 2013, hackers had taken over the blog three times and there were incidents in which ownership was permanently lost. At the same time, 6 websites and blog sites with backed-up contents were also hacked with all information wiped clean.

In the past seven years, as editor of Anh Ba Sam blog, my husband was often threatened by security officials, forced by them to stop blogging; however, he was able to peacefully refuse their demands. He always opted for a flexible and peaceful approach. He has never viewed himself as an enemy of the regime nor tried to oppose the government with forces, even if it is just forceful words. Though he insisted with his goal to provide his readers with a broad range of information from different sources, Anh Ba Sam chose not to directly oppose any government entities. I believe what he did helped the people to be “enlightened” as he hoped for as well as helped the authorities, reduced the conflicts between government and the people, and regulated social tensions. Anh Ba Sam is probably the one who contributed a large part toward a peaceful transition toward democracy in Vietnam.

My husband believes that his blog has promoted freedom of the press. In a discussion forum, he uses an article as an example and commented that it received only 1 comment when posted on a government page while that same article when posted on his blog received 600 comments. Therefore in Vietnam, in the midst of state-controlled media context, forums with social criticism have formed and have extensive influences among the people.

My husband wishes that one day professional and independent press is allowed to operate in Vietnam. And he tried his best to make that day comes faster.

With the above interpretations, along with the love of a wife toward a husband, I insist that: My husband, Anh Ba Sam Nguyen Huu Vinh, is innocent. If he were ever guilty of any charge, that would be the charge for loving his country, for loving freedom, for longing for a democratic Vietnam, for the people of Vietnam to have their rights.
Nguyen Huu Vinh is a defender of human rights who has struggle peacefully for the people’s rights in Vietnam, especially the right of information and the press. His arrest is arbitrary, unconstitutional, and unlawful. It violates Vietnam laws and other international standards and human rights treaties Vietnam has signed.
I want to respectfully request readers of Anh Ba Sam blog, US Government agencies and Congress, and other international human rights organizations to speak out and put pressure on the Vietnam government to:

1) immediately and unconditionally release my husband, human rights defender Nguyen Huu Vinh, a.k.a blogger Anh Ba Sam, and his assistant Ms. Nguyen Thi Minh Thuy.

2) abolish Article 258 of the Vietnam Penal Code on “the abuse of democratic freedoms”.

3) respect the people’s freedom of information of the press in Vietnam. Immediately remove Decree No. 72/2013/ND-CP on “the management, provision, and usage of Internet services.” Immediately remove other legislations similar to Decree No. 72/2013/ND-CP which aims to restrict freedom of information and of the press in Vietnam.

October 18, 2013
Le Thi Minh Ha

Posted in Bắt bớ-Tù Đày-Đánh đập-Đàn Áp, Tự Do ngôn Luận | Leave a Comment »

►Nhà văn Bùi Ngọc Tấn: đi ra ngoài mới biết mình mất cái gì

Posted by hoangtran204 trên 18/11/2014

Nhà văn Bùi Ngọc Tấn: đi ra ngoài mới biết mình mất cái gì

danchimviet.info

17-11-2014

bui ngoc tan

Nhà văn Bùi Ngọc Tấn đang lâm bệnh nặng (1), nhưng ông có dành cho đài BBC một bài trả lời phỏng vấn nhỏ (2). Đọc bài này tôi thích nhất câu ông nói “Tôi sang châu Âu, tôi quan sát dáng người đi, nét mặt của họ khác dân mình lắm. Bên nhà chúng ta vừa đi vừa nghĩ mưu, thành ra ấn tượng nhất cho tôi là sự tự tin của bước chân, nét mặt người bên đó,” rồi ông “ao ước làm sao dân tộc mình có cuộc sống tốt đẹp hơn. Con người yêu thương nhau hơn, tự tin, cởi mở hơn.” Đúng là nhiều khi chỉ cần nhìn ánh mắt và dáng đi cũng có thể có vài cảm nhận một cộng đồng ra sao.

Nhớ năm ngoái tôi có dịp tiêu ra 1 tháng ở Thái Lan, và có dịp đi lại các vùng nông thôn, nên cũng có nhiều quan sát giông giống như nhà văn BNT. Lúc đó tôi từng viết nhật kí rằng nhìn ánh mắt của người nông dân Thái Lan tôi thấy họ vui vẻ, hạnh phúc, vì nhìn bề ngoài họ có cuộc sống thoải mái. Dĩ nhiên, cũng có người khổ cực mà có lẽ tôi chưa thấy, nhưng phần lớn tôi thấy là một “bức tranh” tốt. Gia đình nào cũng có một cái xe pick-up truck. Có gia đình thì có 2 chiếc, một chiếc pick-up và một chiếc “sedan”. Nhà cửa vùng nông thôn xây dựng có vẻ đâu ra đó, chứ không vô trật tự như bên mình. Đường xá vào làng có khi đẹp như mơ theo cái đẹp xanh tươi vùng nhiệt đới. Làng nào cũng có một ngôi chùa trang trọng, và dân làng tụ tập ở đó rất thường xuyên. Nhìn như thế thì đời sống vật chất và tinh thần của họ có vẻ tốt hơn so với VN. Cuộc sống an lành như thế nó thể hiện qua ánh mắt, nụ cười cũng không phải là điều gì quá ngạc nhiên.

Còn ở VN, tôi thấy người dân nông thôn có ánh mắt đầy lo lắng, không vui. Thử nhìn ánh mắt của các đứa trẻ VN ở miền quê (3), đó là những ánh mắt đầy lo âu, khoắc khoải, không thấy một tương lai sáng sủa. Một trong những hình làm tôi xúc động nhất là tấm hình kèm theo đây về một em bé chắc độ 6 tuổi, ở trần, đang ì ạch cong lưng khuân gạch trong cái nắng chói chang, nhưng nhìn vào ánh mắt của em sẽ thấy em có vẻ lo sợ và không có tương lai. Bức hình này có thể xem là một bằng chứng về lạm dụng trẻ em lao động! Nhưng thật ra, đó là hình ảnh của tôi ngày xưa. Ngày xưa, tôi cũng đi đồng và vác lúa như thế, nhưng lúc đó tôi đã lên lớp đệ thất chứ không còn quá nhỏ như em này.

Chẳng nói đâu xa, tôi chỉ quan sát những người láng giềng và bà con tôi dưới quê cũng thấy. Người dân dưới quê nợ triền miên. Đầu mùa vụ thì phải vay ngân hàng để mua phân và thuốc trừ sâu, xong mùa lúa thì phải đương đầu với bọn đầu nậu tìm cách giảm giá lúa, bán được thì phải trả nợ ngân hàng, trả xong có khi chẳng còn đồng nào dư! Thế là bắt đầu một mùa vụ khác và lại phải vay ngân hàng, và cái chu trình trên lại tiếp tục. Đó là chưa kể đến tình trạng ô nhiễm môi trường càng ngày càng trầm trọng. Thuốc sâu, biết dùng nhiều là có hại đấy, nhưng vẫn phải dùng. Còn đất đai thì càng ngày càng hẹp vì bùng nổ dân số. Với tình trạng đó thì làm sao mà người dân VN thoải mái được. Người nông dân VN không bao giờ dám mơ đến xe hơi như nông dân Thái Lan. Chẳng những ánh mắt của họ buồn, mà người ngoài nhìn vào cũng thấy buồn.

Đúng như Nhà văn Bùi Ngọc Tấn nói, chỉ khi nào mình ra ngoài và có dịp so sánh mình mới biết VN thiếu cái gì. Nếu chỉ xoay quanh cái ao làng mình thì làm sao thấy được thế giới vận hành và chuyển động ra sao. Thấy mình có Honda và cơm gạo đầy đủ, quá tốt so với thời bao cấp, nhiều người tưởng vậy là quá hạnh phúc rồi, và nghĩ đó là nhờ ơn trời biển của đảng và Nhà nước. Nhưng chỉ cần bước qua Thái Lan, hay gần hơn là Kampuchea, họ mới thấy hoá ra nông dân bên đó sống sướng hơn và hạnh phúc hơn nông dân VN.

====

(1) Ông là tác giả những tập truyện nổi tiếng như “Chuyện kể năm 2000″ (bị cấm lưu hành), Viết về bè bạn, Biển và chim bói cá, Người chăn kiến, v.v. Là nhà văn, mà nhà văn ở VN, và từng là tù nhân, nên ông có cuộc sống rất chật vật. Bạn nào có ý muốn giúp Nhà văn Bùi Ngọc Tấn trong cơn hoạn nạn thì có thể liên lạc theo trang blog của Kỳ Duyên (đây là nhà báo Kỳ Duyên, chứ không phải MC Kỳ Duyên):
https://kimdunghn.wordpress.com/…/mong-ban-doc-chung-tay-g…/

(2) http://www.bbc.co.uk/…/2014/11/141114_bui_ngoc_tan_interview

(3) http://www.baomoi.com/Am-anh-anh-mat-tre-tho-…/…/8642598.epi

Nguồn: FB Nguyen Tuan

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

►Nhà văn Dương Thu Hương: Thư góp ý về bài “DÂN CHỦ HÓA VIỆT NAM cuả Gs Stephen Young

Posted by hoangtran204 trên 18/11/2014

Giai cấp trung lưu hiện nay của VN hình thành là do làm ăn chung với nhà nước cộng sản VN. Cả hai tạo thành một liên minh dựa vào nhau để sống.  “Hy vọng tầng lớp trung lưu đứng lên chống lại “liên minh vàng ngọc” của họ là điều khờ khạo.

———

Dương Thu Hương
30-10-2014

Trí Nhân Media: Trong lá thư “Nhắc Lại Một Đề Nghị “Dân Chủ Hóa Việt Nam“, giáo sư Stephen Young ghi lại những sự việc đã xảy ra khi ông tiếp xúc với nhà cầm quyền Việt Nam vào những năm đầu thập niên 1990 với những ước mơ thay đổi Việt Nam qua chương trình “6 điểm”.

Nhà văn Dương Thu Hương đã phản hồi lại lá thư của GS Stephen Young với những lý luận, kinh nghiệm của một người đã từng sống trong cái nôi Cộng Sản.

Chương trình “6 điểm” tự nó đã không phù hợp với bản chất của các nước đi theo chủ nghĩa CS ngay cả khi kỹ nghệ tin học rộng mở như ngày hôm nay huống chi vào thời điểm của thập niên 1990, trong khi lãnh đạo CSVN lại là công cụ, cung cúc trung thành thi hành chỉ thị từ đàn anh Trung Cộng.

Thật tiếc cho những tấm lòng vàng.

Rất tâm đắc với đoạn: “tôi xin nhắc lại với anh, chỉ có một con đường có thể đưa đến thay đổi ở Việt nam. Con đường ấy không có hoa hồng, hoa nhài và các thứ hoa khác. Còn muốn bước chân đến vườn hoa thì phải chờ kết cục ở một ngày nào đó, khi con Rồng phương Bắc bị đâm nát. Nếu Bắc Kinh còn phẳng lặng, ắt các Kinh đô nước khác phải tan tành, bởi vì Trung hoa đã được tạo dựng trên xác chết của các dân tộc khác, biên giới của họ hiện nay rộng gấp năm lần đất đai gốc là vì nó thâu gộp các xứ sở bị họ tàn sát và đồng hóa.”

THƯ GÓP Ý VỀ BÀI “DÂN CHỦ HÓA VIỆT NAM CỦA GIÁO SƯ STEPHEN YOUNG”

Anh Stephen thân mến,

Tôi vừa nhận được bài báo của anh, đã đọc ngay và bây giờ, viết thư này.

Nhà văn Dương Thu Hương

Trước hết, chân thành cảm ơn anh về tất cả những gì anh đã làm cho công cuộc chung. Tôi nhắc lại một lần nữa rằng nếu như trước đây, cuộc chiến tranh Mỹ-Việt để lại cho hai dân tộc nhiều mất mát và hối tiếc thì ngày nay, tôi hy vọng chúng ta có một cuộc hợp tác lâu dài, cần thiết, căn để và tốt đẹp. Vì lẽ giản dị, giờ đây, quyền lợi của chúng ta đồng nhất và những nghiệm sinh trong quá khứ đã bảo đảm cho chúng ta hiểu nhau hơn, có thể đi đến những thỏa thuận một cách dễ dàng hơn.

Bài viết của anh công phu, nhiều điểm đánh trúng vào tâm lý cộng đồng người Việt trong nước, trước hết là các điều khoản bảo đảm cho tài sản của họ. Đây là một hiện thực vô cùng phức tạp mà nếu không giải quyết một cách khéo léo, chúng ta sẽ không lôi kéo được dân chúng. Muốn hay không, phải hiểu rằng một số đông cán bộ, sĩ quan cấp trung của quân đội cũng như công an được hưởng lợi từ sau tháng 10 năm 1954 và sau ngày 30 tháng 4 năm 1975. Nói cụ thể, họ được phân phối nhà ở, mà số nhà này giành giật từ những gia đình làm việc cho các chính quyền cũ. Nếu bây giờ đòi hỏi tất cả phải trả lại thì họ sẽ co cụm lại với bọn cầm quyền cho dù chúng thối nát và bán nước. Đây là lý do đầu tiên tôi phản ứng với chính sách của đảng Việt tân. Các bài viết của họ nhan nhản khẩu hiệu: “Giả nhà cho chúng ông!”. Cũng vì chính lý do này mà tôi đã tuyệt giao với toàn bộ gia đình nhà tôi ở Mỹ. Ông bác tôi là nhà thầu lớn. Tài sản của ông mất cho cộng sản không thể kể hết, ngoài tiền vàng và kim cương ở ngân hàng còn có bốn ngôi nhà nhiều tầng và các loại máy giá hàng triệu đô-la dùng trong việc xây đập chắn nước. Tôi không thể làm hả lòng mọi người nếu không đòi lại được số gia sản đó. Nhưng tôi biết chắc chắn ấy là điều bất khả. Anh và tôi, những người tranh đấu cho dân tộc của mình, vì lợi ích của dân tộc, chúng ta phải hy sinh tình riêng. Như thế, tôi nhắc lại, chúng ta phải tạo ra sự an toàn về mặt tâm lý cho đám đông và bài viết của anh đã đạt được mục đích ấy. Phổ biến một cách rộng rãi và công khai là hợp lý.

Tuy nhiên, song song với bài viết này, chúng ta cần chuẩn bị một chính sách cụ thể để tóm bắt bọn cầm quyền, không chỉ trên phương diện con người mà còn phải thu hồi ráo riết tài sản mà chúng đã cướp của dân chúng. Như thế, cần phải phân chia đám đông thành nhiều lớp và phải có chính sách thích hợp với từng lớp người đó. Ví dụ, không thu hồi nhà của những người bình thường và giá trị tài sản trung bình nhưng phải có chính sách thuế đặc biệt với những kẻ chiếm đoạt những ngôi nhà gía 2000 (hai nghìn) cây vàng như loại nhà của Trần bạch Đằng hoặc Lê nguyên Hãn, con trai vợ cả Lê Duẩn. Tóm lại, phải làm một sự Lọc lựa chính xác và phải có các Biện pháp hiệu lực. Những kẻ biển thủ tài sản quốc gia phải được xử một cách công khai và tuyên truyền rộng rãi, càng rộng rãi càng tốt. Thế kỉ 20 là thế kỉ tiêu biểu cho các cuộc cướp giật khổng lồ. Ở tất cả các nước chậm tiến, đặc biệt là châu Phi, bọn vua chúa, bọn tướng lĩnh, bọn độc tài đội lốt dân chủ… đều thả sức vơ vét tài nguyên lẫn tài sản quốc gia rồi sau rốt chạy trốn khỏi biên thùy, sống vương giả với tiền ăn cắp. Lũ cầm quyền cộng sản cũng không nằm ngoài mưu tính ấy. Chúng đã chuẩn bị cho cuộc tháo chạy từ lâu. Thế nên, sự vô hiệu lực một cách triệt để các hành vi cướp bóc này là hành động đầu tiên lấy lại lòng tin cho dân chúng. Đồng thời đó cũng chính là lời cảnh cáo cho những người cầm quyền tiếp theo.

Về mặt chính trị, việc anh nêu rõ tên Hoàng Trung Hải trong số bè lũ thân Tầu của chính phủ cũng có nghĩa như một sự mở cả: Hoặc là chúng phải gạt bọn này khỏi hệ thống cầm quyền, hoặc là lực lượng đối lập sẽ hành động. Tôi nghĩ đây là một biện pháp khá thẳng thắn. Nhưng chúng ta không thể ngồi chờ câu trả lời của chính quyền Hà nội. Theo tôi biết, hai vụ thủ tiêu nhân sự vừa rồi chứng tỏ đám thân Tầu đang chuẩn bị quyết liệt để bảo vệ miếng ăn của chúng. Chúng hiểu rõ rằng, nếu có sự thay đổi, tất thảy bọn Ngụy Hán, những kẻ kí kết hội nghị Thành Đô, những kẻ kí việc bán mỏ Bô-xít…đều phải xử công khai trước nhân dân. Đương nhiên với những chánh án và thẩm phán có năng lực và uy tín chứ không phải bọn quan tòa chuyên ăn cướp và ăn của đút lâu nay làm lâu la cho chúng. Chớ quên rằng kẻ cầm quyền Hà nội có thể ngu dốt trên phương diện quản lý kinh tế, nhưng trong việc đàn áp nhân dân và bảo vệ quyền lợi của bản thân thì trái lại, chúng cực kì nhạy cảm và đầy thủ đoạn. Anh đừng hy vọng tìm thấy ở lũ này thứ tướng lãnh cao bồi dở như Nguyễn cao Kì hoặc gã chơi gái om sòm kiểu Nguyễn văn Thiệu. Để đánh gục bọn này, không thể chơi trò múa gươm của Công tử con nhà giàu mà phải dùng võ Lục lâm. Sự thích ứng với hoàn cảnh cụ thể, biện pháp hiệu lực với thời điểm cụ thể là hai điều kiện mấu chốt trong chính trị. Xưa thế, mà nay cũng thế.

Điều tối quan trọng giờ đây là phải tìm được các biện pháp thực thi tối ưu để có được một sự đổi thay.

Sự đổi thay này, tôi xin nhắc lại, là vô cùng khẩn cấp, cho cả các anh và cho cả chúng tôi.

Việc anh nêu tên 61 đảng viên ký kiến nghị là việc nên làm, sự khích lệ đáng kể với cộng đồng người Việt trong nước. Nhưng không có sự khích lệ nào đủ làm cho một đám đông đứng dậy, phất cờ khởi nghĩa. Con số 61 là con số quá bé nhỏ so với trên 90 triệu dân. Nó là con số Khởi đầu (Initial), không phải con số Phát triển (Développé) và Hiệu Ứng (Efficacité). Nó đòi hỏi phải có sự Hỗ trợ mạnh, thậm chí bạo liệt. Tuy nhiên, số người này có thể coi là Hạt nhân cho một sự Vận hành (Déclencher) thuộc về Lực lượng bề mặt (Apparence). Đặc biệt là các nhân vật có tư cách kêu gọi và huy động binh lính như tướng Nguyễn trọng Vĩnh, tướng Lê duy Mật.

Thứ nữa, các nhân vật có thể có ảnh hưởng rộng rãi đối với tầng lớp trung gian vì họ đã từng tham gia vào bộ máy cầm quyền, có thể nêu vài tên như Đào xuân Sâm, Trần đức Nguyên, Vũ quốc Tuấn, Tô Hòa, Lữ Phương, Hồ Uy Liêm, Huỳnh tấn Mẫm, Đỗ gia Khoa, Đào công Tiến, Nguyễn hữu Côn…

Hoan nghênh, cổ võ tinh thần phản kháng của họ nhưng chớ nên quá tin vào năng lực cũng như phạm vi tác động của họ. Dù chỉ là Lực lượng bề mặt, họ cũng chưa thể trở thành một lực lượng cần và đủ. Theo tôi biết, khởi sự, họ định cổ võ 2000 người ra đảng. Họ cũng đã thu thập được lời cam kết của 100 người quyết định kí kiến nghị. Nhưng đến phút chót, 39 người rút lại chữ kí, nên chỉ còn 61. Và hai nghìn người hứa ra đảng cũng rút lại với lý do: “Làm thế cũng chẳng được tích sự gì”. Tôi không ngạc nhiên.

Từ ba chục năm nay, tôi chưa từng nghĩ đến khả năng cách mạng hoa hồng, hoa nhài hay bất cứ thứ hoa gì gì đó ở Việt nam. Bởi vì, ở những xứ mà bóng ma Khổng tử đã ngự trị, không có trí thức, chỉ có quan lại. Quan lại, nói nôm na là lũ chó quanh quẩn trong sân của kẻ cầm quyền. Con số 61 người kể trên là những người yêu nước mãnh liệt và tinh thần quốc gia đã khiến họ thắng lướt được sự tòng phục cố hữu đối với kẻ cầm quyền chính thống.

Nói cách khác, họ là những người đang tập sự làm Trí thức, cho dù họ có kiến thức (Lettré). Châu Á chưa bao giờ có một đội ngũ trí thức (L’intelligentsia) theo quan niệm của châu Âu. Cũng vì thế, người phương Tây thường có sự Hiểu nhầm, hoặc Những quan niệm lệch lạc khi đánh giá xã hội châu Á. Người Mỹ cũng như dân châu Âu tin rằng một khi giai cấp trung lưu hình thành thì cùng với họ, tư tưởng dân chủ cũng hình thành và phát triển theo.

Suy nghĩ của các anh dựa trên mô hình cuộc cách mạng tư sản phương Tây. Giai cấp tư sản nảy sinh trong lòng chế độ phong kiến và trở thành kẻ đào mồ cho giai cấp quý tộc cũ. Theo lô-gic ấy, các anh tin rằng giai cấp trung lưu hình thành trong các xã hội chậm phát triển sẽ trở thành lực lượng đối nghịch, sẽ đào thải dần dần bọn cầm quyền cũ và thay thế họ. Các anh nhầm lẫn một cách trầm trọng. Bởi, có những quy luật chung cho nhân loại và có những điều KHÁC BIỆT THẬM CHÍ ĐỐI NGHỊCH phân cách họ. Không hẳn cái gì đúng với phương Tây cũng đúng với phương Đông.

Ông Peter Navarro, tác giả cuốn “Chết dưới tay Trung Quốc” đã nhận định một cách chính xác rằng giai tầng trung lưu Trung quốc có thể ăn Big-Mac và đi xe hơi Mercedes nhưng không hề có một chút khái niệm nào về dân chủ. Để làm sáng tỏ hơn ý kiến của ông Peter Navarro, tôi phải nói rằng giai cấp trung lưu ở các nước cộng sản là đám nha lại may mắn trong nghề con buôn, hoặc liên kết với con buôn. Hoặc là, vế thứ hai, đám con buôn may mắn trong cuộc kết hôn với bọn cầm quyền. Muốn trở thành kẻ có tài sản, cuộc “ Làm tình” này là không thể tránh được. Giai cấp mới giàu phải chia chác lợi nhuận và được tận hưởng sự bảo trợ của những kẻ trong tay có súng. Vả chăng, đa số bọn mới giầu cũng là bọn nằm trong Thái ấp (Fief), Lãnh địa của cường quyền.

Thế nên, hy vọng giai tầng này đứng lên chống lại “Liên minh vàng ngọc” của họ là điều khờ khạo. Giai cấp tư sản phương Tây chống lại tầng lớp quý tộc vì họ là con đẻ của một nền văn minh mà mấy ngàn năm trước đã từng có Nền dân chủ thành A-ten. Giai cấp ấy được hình thành trong một quá trình thông thường, tiệm tiến và hoàn toàn phù hợp với quy luật kinh tế. Quá trình này hoàn toàn khác quá trình tạo dựng lớp trung lưu trong các xã hội ở giai đoạn cuối của chủ nghĩa cộng sản bao gồm ba đặc tính sau đây:

1 – Về mặt danh nghĩa chính thức là cộng sản độc quyền. Nhà nước cụ thể là nhà nước cảnh sát.

2 – Trên thực tế các chính phủ này ngoài tính cực quyền còn mang tính Mafia đột khởi, khi mà hệ thống cộng sản chủ nghĩa trên toàn cầu đã tan rã, lý thuyết cộng sản Utopie đã sụp đổ. Và đặc biệt: Đạo đức Utopie cũng sụp đổ theo. Điều này vô cùng hệ trọng vì các chính thể này từng thống trị dân chúng trong một thời gian dài với thứ Đạo đức Utopie (nối tiếp thuyết Đức trị, Lễ trị của Khổng tử), cho dù thực chất đó chỉ là thứ đạo đức giả, nhưng với hệ thống tuyên truyền theo kiểu Hitler, với chính sách ngu dân kèm theo một cách ráo riết, thứ Đạo đức Utopie này đã từng có thời hiệu nghiệm. (Tôi xin phép được giải thích thêm về nhóm từ Đạo đức Utopie. Phải thừa nhận rằng không thiếu những trí thức cánh tả ở phương Tây bị quyến rũ bởi Tính chất tuẫn đạo của chủ nghĩa cộng sản nên đã tình nguyện đi theo nó. Chỉ đến khi thực tế đập vào mắt họ, họ mới thức tỉnh. Có thể đơn cử nhà văn Pháp Andrei Gide làm ví dụ. Hoặc như gián điệp Phạm xuân Ẩn ở Việt nam. Đó là những người giữ một tư cách cá nhân trong sạch, không tham tiền, không tham gái, thậm chí có thể hiến dâng toàn bộ tài sản cá nhân cho cách mạng. Ông Phạm xuân Ẩn, chỉ đến khi ra Hà nội, tiếp xúc trực tiếp với bộ máy cầm quyền cộng sản mới vỡ mộng mà thôi.)

3– Các thuộc tính của Phong kiến phương đông chưa bao giờ hết hiệu lực trong các xã hội này.

Thế nên, áp dụng những quy luật lịch sử thuộc về ba thế kỉ trước ở phương Tây với các xứ chậm tiến ở phương Đông giờ đây là hoàn toàn lầm lạc.

Nói như vậy, phải chăng không hề có lực lượng đấu tranh cho dân chủ ở Trung quốc?

Có!

Thiên an môn là ví dụ điển hình.

Nhưng tỉ lệ vài ngàn người trên một tỉ rưỡi dân Trung hoa là một thứ muối bỏ biển. Cũng như giờ đây ở Việt nam, con số 61 người kí kiến nghị yêu cầu nhà cầm quyền thay đổi chính trị trên 90 triệu dân Việt nam là một thực tế đáng nhục và đáng buồn. Các cuộc biểu tình chống Tầu ở Việt nam được thực hiện do sinh viên và một số ít những người có hiểu biết nhưng chưa kịp, hoặc chưa có điều kiện để trở thành giai cấp trung lưu, có tài sản. Nói tóm lại, họ là thứ quả quá hiếm hoi và họ chưa thể trở thành một lực lượng đáng tin cậy.

Vì sao?

Vì tư tưởng dân chủ chỉ có thể hình thành khi có con người dân chủ, mà loại người đó chưa là cư dân chính thức trên các vùng đất này.

Bây giờ, để hiểu rõ Tinh thần Trung quốc, làm con tính đơn giản sau:

1- Hãy so sánh con số những người tham gia biểu tình đòi dân chủ ở Bắc Kinh với con số những sinh viên Trung hoa, được ăn học ngay trên đất Mỹ nhưng hoàn toàn bị điều khiển bởi tinh thần quốc gia và chủ nghĩa Đại Hán. Đám người “trẻ trung”này đã phản ứng ra sao để bày tỏ lòng trung thành tuyệt đối với Tổ quốc vĩ đại của họ?

2 – Hãy so sánh con số những người Trung hoa quyết tâm đi theo nền dân chủ với đám Tin tặc mũ đỏ, Hắc khách đến từ lục địa của Mao trạch Đông. Theo tư liệu của ông Peter Navarro thì Tin tặc Mũ đỏ của Trung quốc đã thâm nhập vào NASA, lầu Năm góc và Ngân hàng thế giới, đã tấn công Phòng công nghiệp và An ninh của bộ thương mại Mỹ dữ dội đến mức Bộ phải vứt bỏ hàng trăm máy tính bị hỏng, đã copy sạch ổ cứng của dự án Chiến đấu cơ kiêm Oanh tạc cơ F-35 của hãng Lokheel Martin… Hiện nay Trung quốc có hàng trăm trường đào tạo tin tặc để dạy ma thuật cho những phù thủy trẻ tuổi, một lực lượng khổng lồ đã, đang và sẽ tấn công toàn thế giới.

3 – Hãy điều tra xem trong đám dân Tầu tị nạn chính trị trên đất Mỹ, có bao nhiêu phần trăm dissident thật sự và bao nhiêu phần trăm Lính Nằm vùng? Đừng quên rằng Khổ nhục kế là sáng tạo của người Trung hoa chứ không phải của người Mỹ. Từ nhiều thế kỉ nay, chiến thuật đó đã được sử dụng đi sử dụng lại một cách linh hoạt và vô cùng hiệu quả.

Vậy thì, với sự thực không thể bác bỏ như đã nêu, có thể kết luận rằng tư tưởng dân chủ đủ sức mạnh chinh phục hay chính chủ nghĩa Đại Hán mới là Tư tưởng Lớn (Noble idéal), Tư tưởng Chính thống (Idée orthodoxe de vieille souche), tư tưởng thống trị (La pensée écrasante) trên tuyệt đại đa số gần một tỷ rưỡi dân Trung quốc hiện nay?

Thêm một ví dụ nữa, trong cuốn sách của ông Peter Navarro có nhiều đoạn nói về cảnh những công nhân Trung quốc bị bóc lột thậm tệ, sẵn sàng ngủ gục bất cứ nơi đâu sau giờ làm việc. Phía sau những nhận xét này là mối thương tâm. Tôi hiểu cảm xúc ấy vì nó là điều hiển nhiên trước những cảnh đau lòng. Thế nhưng, cũng chính những người công nhân khốn khổ ấy sẽ sẵn sàng trở thành đội quân tàn bạo nhất khi được điều động đi xâm chiếm các lãnh thổ khác. Đó là một thực tế không thể chối bỏ. Đó cũng là MỘT HIỂN NHIÊN. Họ là hậu duệ của những tên lính Trung hoa thời xưa, chỉ vì húp thêm một bát cháo đã bị Tào Tháo hạ lệnh chém ngang lưng nhưng cũng chính họ là bọn côn đồ khát máu và bọn vơ vét tham tàn nhất một khi vượt khỏi biên thùy. Hãy nhìn lại những chùa chiền bị cướp bóc và phá hủy ở Tây Tạng. Đâu phải bọn vua chúa Bắc Kinh thực hiện các hành vi man rợ ấy, đó là dân con của chúng, những người Trung hoa không dám chống cường quyền nhưng phóng chiếu toàn bộ bản năng hiếu sát lẫn sự tham tàn, độc ác của họ lên đầu “Thiên hạ”. Ngoài biên thùy, Vua chúa và Dân đen Trung hoa trở thành khắng khít vì hai bên có một mục tiêu chung. Chiến lược ĐỔ LỬA RA NGOÀI là chiến lược có từ ngàn năm, một thứ Màn thầu đặc biệt của dân Tầu. Điều này, chắc chắn người Việt chúng tôi biết rõ hơn người Mỹ. Cần phải đưa thêm một con số: Trong cuộc thăm dò ý kiến của bộ trưởng bộ quốc phòng Trung quốc cách đây không lâu, trên 95 phần trăm dân Trung quốc nhất trí: “Đánh lũ chó Việt nam để thu hồi lãnh thổ!” Chỉ có trên 4 phần trăm người không trả lời hoặc không đồng ý. Như thế đủ hiểu, sức mạnh Truyền thống lớn đến đâu.

Thế nên, Stephen thân mến, tôi nói điều này mà không sợ làm anh phật ý, nếu anh có nghĩ đến Cách mạng Hoa nhài, Hoa hồng, Hoa tuy-líp… như một cách vui chơi, hoặc làm đẹp ngôn từ thì tôi đồng ý. Nếu là một ý nghĩ nghiêm chỉnh (như niềm sung sướng nghiêm chỉnh và chân thành của dân Pháp, những người từng nhảy cỡn lên vào Mùa xuân Arabe) thì xin anh bỏ ý nghĩ ấy đi. Bởi vì, đó chính thực là một thứ Utopie. Ngày xảy ra cuộc cách mạng Hoa nhài, khi nghe đám dân Pháp hò hét, tôi có nói với họ: “Chớ nên cười quá sớm! Đó là kinh nghiệm của tôi”. Đến khi thành quả cuộc cách mạng rơi vào tay đảng Islam, họ đã phải thú nhận: “Chúng ta mừng hụt”. Tôi lại xin cung cấp cho anh thêm một tư liệu của năm vừa rồi, theo điều tra thì trên 70 phần trăm những người Tunisi làm việc trên đất Pháp từ vài thập kỉ nay bỏ phiếu cho đảng của Islam. Điều đó có nghĩa gì? Hố thẳm trong óc não con người là nơi sâu nhất, khôn dò. Tunisi là nước có đường biển thông thoáng, là đất nước cởi mở nhất với phương Tây trong toàn khối Arabe, hàng nghìn năm có quan hệ thương mại với châu Âu, vậy mà phản ứng của họ còn bảo thủ đến như thế, huống hồ Việt nam, mảnh đất bị kẹp dưới nách của Trung hoa, hàng nghìn năm sống trong thứ ao tù nước đọng? Với một thực tiễn đáng buồn như vậy, làm sao có thể tin được một sự chuyển hóa “nhung lụa, hòa bình” ở Việt nam?

Vì cái thực tiễn ấy, tôi xin nhắc lại với anh, chỉ có một con đường có thể đưa đến thay đổi ở Việt nam. Con đường ấy không có hoa hồng, hoa nhài và các thứ hoa khác. Còn muốn bước chân đến vườn hoa thì phải chờ kết cục ở một ngày nào đó, khi con Rồng phương Bắc bị đâm nát. Nếu Bắc Kinh còn phẳng lặng, ắt các Kinh đô nước khác phải tan tành, bởi vì Trung hoa đã được tạo dựng trên xác chết của các dân tộc khác, biên giới của họ hiện nay rộng gấp năm lần đất đai gốc là vì nó thâu gộp các xứ sở bị họ tàn sát và đồng hóa. Cái phương cách sinh tồn này đã thấm đẫm trong nếp nghĩ, nếp sống của người Hán và trở thành sức mạnh tinh thần to lớn của họ. Chủ nghĩa Đại Hán không thể ra đời ở một xứ như Thụy sĩ hoặc Nay-uy. Chủ nghĩa Đại Hán phải ra đời ở một miền đất mà các cư dân sống trên đó phải được vũ trang bằng những thứ vũ khí đặc biệt về mặt tinh thần. Tính cách đặc thù này là một HẰNG SỐ, nhưng trong một thời gian khá dài, nó đã được ngụy trang, chôn cất tạm, hoặc giấu diếm, bởi vì trong thời gian này, người Trung hoa cùng khốn, họ rơi vào cảnh nô lệ, bần hàn. Hiện nay, Trung hoa đã trở thành cường quốc trên toàn cầu, do đó tính cách Trung hoa đang được khai triển với một ý chí mãnh liệt, thậm chí điên rồ.

Tôi xin dẫn vài ví dụ:

I – Ông Trần ngọc Vượng, từng có thời gian giảng dạy tại đại học Bắc kinh và đang tổ chức nhiều hoạt động nghiên cứu và tìm hiểu văn hóa Trung quốc cho biết: Trong cuốn tiểu thuyết viết theo lối khảo cứu, đề xuất luận điểm, có tên Lang Đồ Đằng (Tô tem sói), tác giả Khương Nhung của Trung quốc xác định thuộc tính có tính chất căn tính của người Trung quốc là sói tính. Sói là con vật ranh mãnh, thủ đoạn, độc ác, thâm hiểm nhất của thảo nguyên, bình nguyên và cao nguyên. Người Trung quốc đặt căn cước của mình khởi đi từ đó. Mấy năm liền, người Trung quốc in đi in lại cuốn tiểu thuyết này, cổ vũ Tính chiến đấu, tinh thần Quật cường của đồng bào họ.

2- Theo lời kể của một phóng viên Pháp vừa đi New York về thì hiện nay, tại New York, có Restaurant Trung quốc treo tấm biển: Không có nĩa! Anh hãy nhờ cảnh sát ở New York tìm xem địa chỉ chính xác của Restaurant này ở đâu?. Một thông báo như vậy đồng nghĩa với lời tuyên bố rằng ở đây, nền văn hóa cầm đũa là kẻ thống trị. Ba mươi năm trước, chắc chắn những người Trung hoa nhập cư phải là những chủ nhân lịch sự tuyệt vời, họ sẽ ân cần mang dao, nĩa đến tận bàn một ông khách da trắng khi ông này lóng ngóng chưa quen dùng đũa. Nhưng bây giờ, gió đã xoay chiều, và họ tuyên bố thẳng thừng: kẻ nào không biết cầm đũa thì cút đi chỗ khác.

3- Những thập kỉ trước đây, người nhập cư Trung hoa ở Paris được tiếng là cần cù, nhũn nhặn. Nhưng vào thập kỉ cuối cùng, từ năm 2000 trở lại đây, thái độ của họ đã đổi thay. Khi tiền của người Tầu đủ mua các công ty, các hãng lớn thì họ cũng mua luôn từng khu phố để làm nơi cư ngụ. Cuộc mua bán này diễn ra với quy mô rộng lớn và rầm rộ khiến dân Pháp lo ngại. Dù chính phủ không có chỉ thị chính thức, nhiều chính quyền quận có phản ứng. Theo tôi biết, vào những năm đầu thế kỉ mới, chính quyền quận 3 (khu Marrais) ở Paris cố gắng hạn chế cuộc mua nhà đất của người Tầu nhưng không có hiệu quả. Ngược lại, giờ đây khi ông Tầu nào muốn mua một cửa hàng, mà chủ nhà không muốn bán, họ thuê du côn đến gây sự, đập phá, quấy rối dưới các hình thức khác nhau và sau rốt, chủ nhà đành phải đóng cửa hàng, bán lại. Nước Pháp suy đồi đến mức khi một sinh viên Việt nam viết bài tố cáo chính sách xâm lấn biển của Trung hoa thì liền bị giáo sư phụ trách gọi lên yêu cầu chấm dứt ngay hành vi phản kháng, nếu không sẽ bị buộc thôi học. Tôi có nói chuyện này với một bà giáo sư đại học Paris 7, bà ấy đáp lại: “Chúng tôi có một nước Pháp của De Gaule và một nước Pháp của Pétain. Tôi ngờ rằng nước Pháp thời hiện tại là nước Pháp của Pétain! ”

Chủ nghĩa quốc gia là thứ khát vọng mãnh liệt nhất, kinh hoàng nhất trong lịch sử loài người. Nếu như trước đây hơn nửa thế kỉ, thanh niên Đức bị cuốn vào chủ nghĩa phát-xít của Hitler như bông bồ công anh cuốn theo chiều gió, thì giờ đây các thế hệ Trung quốc sẽ còn bị cuốn vào chủ nghĩa Đại Hán với một sức mạnh điên rồ trăm lần hơn nữa. Bởi vì, chủ nghĩa phát-xít Đức là khát vọng quốc gia mới tạo lập, còn chủ nghĩa Đại Hán là thứ cây cổ thụ, sau những năm tàn úa giờ đây xanh tươi trở lại, nguồn sống của nó được dung dưỡng thâm sâu gấp bội phần. Thêm nữa, Trung quốc là phương Đông, phương Đông muôn vàn bí hiểm với phương Tây. Chúng tôi đây, những người Việt nam khốn khổ hàng nghìn năm chiến đấu chống lại họ, ăn uống, phong tục cận kề mà còn không hiểu được họ, huống hồ các anh, những người Mỹ? Vì thế, mới có câu: “Thâm như Tầu”. Hoặc là “Bụng người Tầu, còn lâu mới biết”. Nhớ lại thời cách đây vài thập kỉ, khi mỗi tuần, người ta giết hàng nghìn con trâu rồi mang móng sang bán bên kia biên giới, không ai hiểu vì sao. Dân chúng còn thì thào: ” Người Tầu mua móng trâu làm thuốc chống ung thư”. Rồi sau đó vài tháng, lại có chiến dịch đào rễ hồi, rễ quế bán cho “ các thầy thuốc Tầu”. Ba năm sau, dân các vùng biên giới đói vàng mắt, miền xuôi phải đem gạo và ngô cứu tế, lúc ấy mới rõ người Tầu không chế thuốc men nào hết, họ chỉ có một mục đích là phá sạch kinh tế các tỉnh phía bắc Việt nam mà thôi.

Người Mỹ các anh, bắt một ông tổng thống ra trước tòa xin lỗi dân chúng, chỉ vì ông ta trót nhảy lên bụng một cô thư kí Nhà trắng rồi nói dối, nghĩa là các anh coi Sự trung thực là phẩm tính cốt yếu mà bắt buộc mọi người, trước hết là các nhà lãnh đạo phải có. Với tâm thế ấy, các anh làm sao hiểu được người Tầu, một dân tộc đã viết ra cuốn Phản kinh?…

Để anh rõ chi tiết, tôi xin trích vài dòng của người đang dịch cuốn Phản kinh ra tiếng Việt, giáo sư Trần ngọc Vượng:

… “Cuốn thứ hai tôi cũng đang dịch mang tiêu đề Phản kinh, tức là Cẩm nang, bí kíp của những thủ đoạn chính trị và người ta quảng cáo cuốn sách là: Lịch đại thống trị giả – Mật như bất ngôn- Dụng như bất tuyên kì (Tạm dịch: Bộ kì thư mà kẻ thống trị ở tất cả các nơi phải giữ bí mật – Làm theo nhưng không nói ra, không công bố). Bộ sách này được một nhân vật đỗ tiến sĩ đời Đường viết ra, sau đó tìm cách dâng cho vua rồi trốn biệt, về sau không ai biết ra làm sao. Ngay đến cái tên của tác giả cũng là điều kì bí. Tôi mua bộ sách này lần đầu vào năm 1998, lúc tôi dạy ở đại học Bắc kinh. Đọc tên tác giả, tôi hơi ngỡ ngàng vì chưa biết chữ ấy bao giờ. Nghĩ mình là người nước ngoài, học tiếng Hán có hạn chế, ai dè hỏi các giáo sư Trung quốc cũng không ai biết. Hai ba hôm sau, kỉ niệm 100 năm đại học Bắc kinh, gần 10 xe chở các chuyên gia đại học Bắc Kinh ra Đại lễ đường Nhân dân, giáo sư Phó thành Cật cầm chữ trên tay đi hỏi cũng không ai biết. Cuối cùng, ông về tra Trung quốc đại từ điển, ra tên này nằm ở phần đuôi của chữ ghép. Phiên âm Hán-Việt phải đọc là Nhuy. Cái tên này còn chưa có trong thư tịch Việt nam, chỉ đọc theo nguyên lý thôi. Thật lạ!

Bộ sách được cất trong kho chứa sách của triều đình, nhưng thi thoảng lại lọt một phần nào đó ra ngoài nên đời Minh, Thanh đều có chỉ dụ cấm tàng trữ, đọc cuốn sách đó. Mãi tới năm 1998, lần đầu tiên nó được in ra, mà lại in ở nhà xuất bản Nội Mông cổ, theo kiểu in để thăm dò. Nói vậy để biết đó cũng là loại bí kíp kì thư. Kiểu bí kíp ấy, Trung quốc rất có truyền thống nên tôi muốn giới thiệu để chúng ta, nhất là giới chính trị, hiểu họ hơn….

(Trích cuộc phỏng vấn của báo Người Đô thị với giáo sư Trần ngọc Vượng)

Ông Trần ngọc Vượng đã gõ cửa một loạt các cơ quan nhà nước có chức năng và trách nhiệm nghiên cứu chính trị và văn hóa. Không nơi nào trợ cấp cho ông dịch cuốn cẩm nang quý báu này. Vì giới cầm quyền cộng sản Việt nam muốn giữ lòng trung với Mẫu quốc. Dịch Cẩm nang, tức phơi bầy bộ mặt Lang sói của kẻ cầm quyền phương bắc, cũng có nghĩa gián tiếp tố cáo thân phận nô bộc và phản bội tổ quốc của chính họ. May thay, hiện nay cuốn sách vẫn đang được dịch, nhờ tài trợ của một doanh nhân.

Cuốn Phản kinh là bằng chứng đầy thuyết phục cho tính cách độc đáo Trung hoa. Một hiện tượng cũng độc đáo tính Trung Hoa không kém là nhân vật Dịch Nha. Dịch Nha là đầy tớ của Tề Hoàn Công, một ông vua thời Đông Chu.

Một ngày, Tề Hoàn Công đùa bỡn Dịch Nha, nói rằng:

Ta đây, món ngon vật lạ trên rừng, dưới biển đều đã nếm đủ. Chỉ có mỗi thịt người là chưa biết đến mà thôi.

Ngay hôm sau, Dịch Nha dâng cho vua một mâm thịt ngào ngạt hương thơm. Tề Hoàn Công thưởng thức một cách khoái trá, sau đó hỏi:

– Thịt gì mà ngon vậy?

Dịch Nha đáp:

– Thịt người.

Tề Hoàn Công hốt hoảng:

– Lấy đâu ra?

Dịch Nha đáp:

– Bẩm chúa công, đó là thịt đứa con trai cả của thần, nó vừa đầy ba tuổi. Vì chúa công chưa bao giờ được dùng thịt người nên thần thịt nó cho chúa công xơi.

Quả nhiên, Dịch Nha trở thành sủng thần, cùng với Thụ Điêu và Khai Phương, khuynh loát triều đình sau khi Quản Trọng chết. Đây là lời của Tề Hoàn Công nói với Quản Trọng khi ông tể tướng này can vua chớ nên gần gũi bọn nịnh thần:

Dịch Nha làm thịt con cho tôi ăn, thế là yêu tôi hơn yêu con, còn nghi ngờ gì nữa?

Một kẻ, vì cuộc đầu cơ chính trị, tự tay giết con đẻ của mình, lại tự tay xào nấu thành món ngon tuyệt vời để dâng vua nếm, kẻ đó là sản phẩm độc nhất vô nhị trên toàn cõi đất. Ngoài Trung quốc, không một dân tộc thứ hai nào trên hành tinh này có được. Thời xưa, các bộ tộc man di có tục ăn thịt người, và ngày nay, cũng có những Kẻ ăn thịt người do Hiện tượng Lại giống, hoặc bọn ăn thịt người do kích thích của ma túy, những kẻ còn duy trì bản năng dã thú ở mức độ quá cao. Nhưng đám người man dã này không thể so được với Dịch Nha vì Dịch Nha Chống lại Tính người không phải do bản năng dã thú mà do sự tính toán kĩ lưỡng. Vì Mưu lợi mà có thể Hủy diệt tính người, đó là đặc sản Trung quốc. Cũng như vì muốn tăng cường thể lực, họ có món óc khỉ sống của bà Thái hậu Từ hy. Cái đặc tính này bộc lộ trên nhiều phương diện. Ngay trên các địa bàn thuần túy tình cảm và đạo đức, người Trung hoa cũng có lối thể hiện độc đáo của họ. Ví dụ, có thể bàn về tình hiếu đễ. Dân Tầu vẫn tự hào được dạy dỗ bởi đức thánh Khổng và thường khoa trương các món hàng Truyền thống của họ. Tuy nhiên, chính ngay trên cái địa hạt đầy tinh thần đạo đức này, cũng có thứ gì đó khiến ta Dựng lông tóc, sởn da gà. Xin anh hãy đọc lại chuyện “Vì mẹ nguyện chôn con”, in trong cuốn Thái Ất tử vi năm Quý Tỵ 2003 do Vương Dung Cơ luận giải (P.O Box 9585 – Fountain Valley. CA 92728-9585). Nội dung được ca ngợi: Muốn có đủ thực phẩm nuôi mẹ, chồng yêu cầu vợ đào huyệt để chôn sống đứa con sáu tuổi để bớt đi một miệng ăn! Hình mẫu này, được tuyên truyền, phổ biến như món Dầu cháo quẩy trong các quán bình dân.

Thế giới của các anh được định vị bằng các luật. Trung hoa chưa bao giờ sống theo luật, cho dù có cả một trường phái mang tên Hàn phi tử. Luật chỉ làm cho vua và vì thế, đổi thay theo một cái gật đầu hay vẫy tay của vua. Vả lại, từ hàng nghìn năm nay, nền văn hóa vĩ đại của Trung hoa vốn được nuôi dưỡng bằng nhân cách đúp: Người ta có những tư tưởng đẹp đẽ và cao siêu của Lão và Trang để mơ mộng và ngâm ngợi (để nhìn lên cung trăng) và giờ đây, để làm lóa mắt đám trí thức ngoài biên giới. Họ có một hệ thống đạo đức dưới nhãn hiệu Khổng Khâu lẫn Mạnh tử để rao giảng, dậy dỗ (để rọi sáng đường đi dưới ánh mặt trời), và giờ đây, để chiêu dụ tâm lý những cư dân thuộc các nền văn minh khác. Nhưng cuộc sống thường hằng diễn ra cả ban ngày lẫn ban đêm lại được nuôi dưỡng bằng món Bánh bao chấm máu người, và vì là cuộc sống thường hằng nên con người cứ việc tuân theo mà không ai nói năng gì hết. Nhà văn Lỗ Tấn, một cách vô thức đã phản ánh trung thành tính cách dân tộc của ông. Lịch sử Trung hoa đã được nuôi dưỡng với món BÁNH BAO CHẤM MÁU đặc biệt ấy, và nó sẽ tiếp tục phát triển với cùng nguồn dinh dưỡng đậm đà bản tính dân tộc, cho dù hình thức biến thái đi.

Với tất cả những gì đang diễn ra hiện nay, tôi nghĩ các anh không còn nhiều thời gian nữa. Tôi không tin rằng các anh chần chừ cho đến lúc tất cả đám dân Trung hoa buôn đồ cổ ở New York tuyên bố thẳng thừng là thành phố này từ nay thuộc về họ, và rằng đội quân thứ năm của Hoàng đế Trung hoa nhất tề đứng lên, khẳng định các anh, những người mang dòng máu bình thường của nhân loại, còn họ, những kẻ mang Máu Rồng, nên họ có quyền thu hồi lại lãnh thổ vốn thuộc về người da đỏ, những tổ tiên có cùng sắc da vàng như họ (Tôi nhắc lại ý chính trong một bài báo của người Trung quốc trên Internet cách đây gần một thập kỉ). Không có sự điên rồ nào được coi là điên rồ hoặc là đáng kinh ngạc với người Trung hoa, một thứ người đã thịt con đẻ của mình như thịt gà hay thỏ, hạng người ấy không gì không làm được.

Tôi tin rằng các anh sẽ tìm được biện pháp hiệu lực trong thời gian ngắn nhất, trước khi mọi sự trở nên quá muộn màng. Dân tộc các anh là dân tộc tiêu biểu cho khát vọng tự do của nhân loại, các anh có đủ phẩm chất và tư cách để Hành động.

Hành động, để cứu chính nước Mỹ trước hết, và sau đó, cứu cả các dân tộc có nguy cơ bị nghiền nát dưới bánh xe của bọn Tần thủy Hoàng thời hiện đại. Đó chính là Lý tưởng cho người Mỹ ngày hôm nay.

Chúc anh chị vui và khỏe.

Khi nào có dịp ghé Pháp thì nhớ báo cho tôi.

Dương thu Hương.
Paris, ngày 30 tháng 10 năm 2014

 

———-

FB Giáo sư: Nguyễn Hưng Quốc

Đừng hy vọng đảng Cộng sản sẽ đổi mới theo hướng dân chủ hóa. Chắc chắn họ sẽ bám víu vào quyền lực của họ cho đến khi họ bán sạch tất cả những gì họ có thể bán

ĐỪNG HY VỌNG

Trưa nay, tôi đi ăn với một số bạn mới, tất cả đều rất trí thức và còn khá trẻ, có người, sau khi học xong, định cư hẳn ở nước ngoài và cũng có người vẫn còn đang sống trong nước. Tất cả đều đồng thanh nói một ý khá hay: “Đừng hy vọng đảng Cộng sản sẽ đổi mới theo hướng dân chủ hóa. Chắc chắn họ sẽ bám víu vào quyền lực của họ cho đến khi họ bán sạch tất cả những gì họ có thể bán được.” Tôi không phản đối họ. Nhưng chỉ mong là họ nói sai. Để dân chúng đỡ khổ.

 

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

►Bắc Kinh tấn công mạnh trước kỳ Hội Nghị Thượng Đỉnh Châu Á (APEC 2014)

Posted by hoangtran204 trên 12/11/2014

Bắc Kinh tấn công mạnh trước kỳ Hội Nghị Thượng Đỉnh Châu Á

11-11-2014

Tác giả:

danchimviet.info

Putin tặng smartphone cho Tập Cận Bình tại Hội nghị Cấp cao Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC)

Ông Obama đặt nền móng cho chính sách chuyển trục (theo đó, Mỹ sẽ dồn 60% lực lượng hải quân về phía Châu Á trước 2020) nhưng không hiểu như thế nào mà số ông vô cùng lận đận mỗi lần chuẩn bị công du sang châu Á.

Tháng 11 năm nay ông đến khu vực  Á Châu tham dự Hội nghị APEC lúc vừa thua trận thảm bại trong kỳ bầu cử  giữa mùa năm 2014 khi đối thủ đảng Cộng Hoà thắng lớn tại cả Thượng lẫn Hạ Viện, khiến thế giới và dân Mỹ thắc mắc liệu ông có trở thành Tổng Thống “vịt què” (lame duck) khập khễnh đi lòng vòng kêu qoạc qoạc mà chắng ai thèm quan tâm!

Năm 2013 Obama đã phải hủy bỏ chuyến công du tháng 10 do việc thương lượng ngân sách giữa Hành Pháp và Lập Pháp bị bế tắc.

Tháng 9-2011 chuyến công du Á Châu bị lu mờ vì chiến tranh Do Thái và Palestine trong cùng thời gian.

Tháng 3 và tháng 6-2010 ông hoãn viếng thăm Indonesia liên tiếp hai lần để lo vận động cho chương trình bảo hiểm sức khỏe Obamacare, rồi đến vụ nổ nhà máy dầu vùng biển Louisiana. (BP)

Trong khi đó thì Trung Quốc tấn công ráo riết về ngoại giao và kinh tế trước mỗi lần họp Thượng Đỉnh nên có thể sẽ thắng lợi năm nay. Vào tháng 10-2014 Bắc Kinh đã vận động 21 quốc gia (trong số đó có Việt Nam) ký kết thành hình Ngân Hàng Đầu Tư Cơ Sở Hạ Tầng Châu Á (Asian Infrastructure Development Bank) với số vốn ban đầu từ 50-100 tỷ USD khi ra mắt vào năm 2015.

Hoa Kỳ chống đối và can ngăn Úc, Nam Hàn và Indonesia không tham dự vì dự án này sẽ trở thành đối thủ của Ngân Hàng Thế Giới (World Bank) và Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế (IMF) do Tây Phương hình thành từ sau Thế Chiến Thứ 2. Nhưng Á Châu hiện đang có nhu cầu 8000 tỷ USD để phát triển hạ tầng, nếu Bắc Kinh mở rộng hầu bao thì không thiếu lý do thu hút chú ý cho dù biết rằng sẽ đi kèm với những điều kiện thuận lợi cho Trung Quốc cũng tương tự như Hoa Kỳ với World Bank và IMF.

Bên cạnh đó Bắc Kinh vận động thành hình Khu Vực Tự Do Mậu Dịch Châu Á Thái Bình Dương (FTAAP) gây khó khăn cho Hiệp Định Đối Tác Kinh Tế Xuyên Thái Bình Dương (TPP) của Hoa Kỳ. Tiến trình thảo luận TPP vốn bị trì trệ nhiều lần vì các đối tác Mỹ, Nhật, Việt Nam, v.v… đều có những thị trường cần được bảo vệ, nay đảng Cộng Hòa nắm đa số trong cả Thượng lẫn Hạ Viện thì các nước lại càng thêm dè dặt e rằng thương thảo xong với Hành Pháp Obama thì lại bị Quốc Hội Cộng Hòa chống đối bác bỏ! Hơn thế Trung Quốc dù phát triển chậm đi nhưng nếu không suy sụp vẫn là đối tác thương mại quan trọng nhất trong khu vực qua mặt Hoa Kỳ với tương lai không xa.

Về ngoại giao Bắc Kinh đạt được thắng lợi quan trọng khi Nhật có vẻ đã nhượng bộ công nhận giữa hai nước có tranh chấp về chủ quyền của quần đảo Senkaku / Điếu Ngư để có được cuộc gặp bên lề Hội Nghị Thượng Đỉnh APEC giữa Chủ Tịch Tập Cận Bình và Thủ Tướng Abe. Dù ngôn ngữ ngoại giao rất tế nhị chỉ ghi nhận “bất đồng” nhưng thực chất như thế này cho dễ hiểu: từ trước đến giờ đất trong vườn sau nhà là của tôi nên chẳng cần tranh cãi với ai gì cả, vì rành rành cái đó là của tôi; nay phải nhìn nhận rằng anh láng giềng cũng đang dòm ngó muốn lấn đất, tức là thế thương thuyết bị lấn cấn yếu đi rất nhiều. Nguyên nhân nhượng bộ có lẽ một phần vì kinh tế Nhật đang kiệt quệ – hai tuần trước đây Ngân Hàng Trung Ương lại phải tung ra một gói kích cầu khổng lồ – nên lúc này Nhật đang cần đến thị trường Trung Quốc hơn bao giờ hết.

Thực tế là các nước châu Á đều đi nước đôi tức vừa muốn buôn bán với Trung Quốc nhưng đồng thời cần Hoa Kỳ che chở về an ninh để không bị bắt nạt quá đáng. Nhưng kế hoạch chuyển trục của Mỹ bị chê là quá chậm trong khi Hoa Kỳ đang phải lung túng đối phó trên ba mặt trận Ukraine – Afghanistan – ISIS. Đảng Cộng Hòa nay thắng cử nên dự trù Thượng Nghị Sĩ John McCaine sẽ nắm chức vụ Chủ Tịch Ủy Ban Quốc Phòng, trong khi có tin đồn Bộ Trưởng Quốc Phòng Chuck Hagel sắp bị mất chức đành phải hủy bỏ chuyến công du sang Việt Nam. Ông McCaine đã từng vận động thành công để bán vũ khí sát thương cho Việt Nam, nhưng ông đồng thời lại đòi Mỹ phải viện trợ quân sự cho Ukraine, dội bom Syria, đem quân đánh ISIS v.v… nghĩa là cứ đánh nhau từ Đông sang Tây đến khi hết tiền thì vay nợ của Tàu để đánh tiếp mà không rõ ông có đặt trọng tâm nơi khu vực nào hay không.

Nhật, Nam Hàn, Đài Loan phần nào an tâm về sự bảo đảm của Hoa Kỳ vì chính họ là những nước giàu mạnh nên Mỹ không thể bỏ rơi. Phi Luật Tân yếu nhưng nằm xa ngoài biển nên Mỹ muốn bảo vệ cũng không khó. Indonesia và Mã Lai đông dân Hồi Giáo lại ở xa không dễ bắt nạt. Chỉ có Việt Nam vừa nằm sát Trung Quốc, trơ trọi lại què quặt nên bắt buộc phải tìm chỗ dựa nơi Mỹ cho dù biết rằng Hoa Kỳ không đứng thế mạnh nên khó lòng cạnh tranh với Hoa Lục trên địa bàn Đông Dương, giữa hai nước lại không thể nào trở thành đồng minh và Hà Nội cũng không thể biết sẽ được Hoa Kỳ hậu thuẩn đến mức nào. Lý do chính vì Việt Nam trễ nải 25 năm mê ngủ trước tham vọng của Trung Quốc, lại trì trệ không phát triển nên nay dù vội vã tìm cái phao cứu vớt nhưng vẫn là miếng mồi ngon của Bắc Kinh.

© Đàn Chim Việt

————–

Trần Hoàng: Theo Tạp Chí The Economist ngày 25-10-2014, thì nền kinh tế TQ đang đi xuống. Phát triển kinh tế của TQ ở mức 7,3% trong Quý 3 năm 2014, đây là mức thấp nhất kể từ khi có cuộc khủng hoảng tài chánh toàn cầu đầu năm 2009. Trước đó, từ 1980 đến 2010, mức phát triển kinh tế của TQ gần 10% trong suốt 30 năm. 

Nền kinh tế của TQ bị suy giảm vì nợ của TQ ngày càng gia tăng, các món hàng sản suất ra quá nhiều nhưng không có ai mua, doanh nghiệp không làm ăn và phát triển được vì không có khách hàng, thị trường bất động sản chết đứng, nhà bán nhưng không có ai mua. 

Tổ chức Tiền Tệ Quốc Tế IMF tiên đoán nền kinh tế của TQ sẽ vào khoảng 7,4% vào năm nay, và sau đó sẽ tụt xuống 6,3% cho đến cuối năm 2020. Theo các nhà kinh tế L. Pritchett và  Larry Summers: tỷ lệ gia tăng  trong các quốc gia có mức phát triển nhanh trong một khoảng thời gian, và sau đó sẽ sụt giảm hướng tới mức trung bình về phát triển kinh tế của toàn cầu (hiện nay đang ở mức  2% mỗi năm tính theo GDP thật sự của mỗi đầu người).  Theo các qui luật của lịch sử hàm ý nói rằng nền kinh tế của TQ  20 năm nữa ( đến năm 2033) chắc chắn vẫn còn nhỏ bé hơn của Mỹ.  “Even Dragons Tire”  The Economist, 25-10-2014

 

Posted in Chinh Tri | Leave a Comment »

►Những động thái mới của Trung Quốc về vấn đề biển nam Trung Hoa (2007)

Posted by hoangtran204 trên 12/11/2014

 

Những động thái mới của Trung Quốc về vấn đề biển nam Trung Hoa

南シナ海問題における中国の新動向

Lời giới thiệu

Dưới đây là bài viết của chuyên gia quốc phòng NB vào tháng 9/2007. Từ đó đến nay động thái về quân sự trên biển Đông đã có nhiều thay đổi, đặc biệt là việc phô trương sức mạnh của Hải quân TQ và các lực lượng tuần tra của cảnh sát biển , tuần ngư, đã mở ra các chiến dịch bắt giữ ngư dân VN đánh cá một cách thô bạo xảy ra liên tục để chứng minh chủ quyền của mình trên biển Đông trong giữa năm 2008 đến nay cho thây tác giả đã quá chủ quan và lạc quan trong nhận định về những ý đồ của TQ trong vấn đề biển “Nam Trung Hoa”. Tuy nhiên bài viết cho thấy mối tương quan giữa ASEAN-TQ và các nước lớn chung quanh như Mỹ và Nhật Bản, trong đó hé lộ những ý tưởng gắn bó chiến lược giữa  NB và các nước ASEAN để đối phó với âm mưu bành trướng của TQ trên vùng biển nầy. Đó là phát hiện lý thú mà nhóm Chuyển ngữ Bauvinal muốn giới thiệu với bạn đọc gần xa.

Lê Hoàng

飯田 将史

IIda Masafumi

Lê Hoàng chuyển ngữ

Kỷ Yếu Nghiên Cứu Quốc Phòng, số 1 tập 10 (tháng 9/2007)

Tóm tắt

Cho đến giữa thập kỷ 1990, TQ mang ý đồ mở rộng sự thống trị bằng sức mạnh trên vùng biển Nam Trung Hoa, gây ra một mối đe dọa mới của TQ đối với Đông Nam Á. Nhưng kể từ sau hậu bán thập kỷ 90, TQ đã có thái độ hợp tác với các nước ASEAN về vấn đề nầy. Thí dụ, đối với VN là nước đối nghịch lớn nhất, TQ đã xúc tiến đường lối đối thoại để phân định đường biên giới của khu vực đặc quyền kinh tế EEZ lãnh hải trên vịnh Bắc Bộ cũng như trên đất liền. Trong vấn đề biển đông, TQ tỏ tư thế sẵn sàng giải quyết thông qua thương thảo như đã thấy qua việc thực hiện thăm dò tài nguyên tay ba với VN và Philippines. Bối cảnh của sự thay đổi nói trên phát xuất từ yêu cầu bảo đảm sự ổn định của khu vực chung quanh—là nhân tố không thể thiếu—đối với sự phát triển kinh tế của TQ, cần thiết phải ngăn ngừa sự tăng cường quan hệ giữa Đài Loan và các nước ASEAN về vấn đề chủ quyền trên biển đông, và sự can thiệp của các nước lớn nằm ngoài vòng tranh chấp  như Nhật bản hay Mỹ hoặc không để mối liên kết giữa các nước nầy với ASEAN ngày càng gắn bó hơn.

Mở đầu

Vấn đề tranh chấp chủ quyền trên biển Đông mà chủ yếu là quần đảo Trường Sa (Nam Sa quần đảo) vốn là điểm đối đầu nghiêm trọng và ngấm ngầm từ xưa đến nay giữa TQ và các nước ASEAN và cũng là vấn đề bảo đảm an ninh cho eo biển Đài Loan và bán đảo Triều Tiên ở vùng Đông Bắc Á. Năm 1974, TQ đã dùng vũ lực chiếm đóng quần đảo Hoàng Sa (Paracel) thuộc chủ quyền của Nam Việt Nam, năm 1988 giao chiến với hải quân VN, giết hại 80 binh sĩ để chiếm đóng rặng San hô Johnson thuộc quần đảo Trường Sa. Vào thập kỷ 90, TQ gia tăng việc chiếm giữ các đảo ở quần đảo Trường Sa, năm 1992 lập ra “Luật lãnh hải”, sẵn sàng dùng vũ lực để bảo vệ chủ quyền các quần đảo trên biển Nam Trung Hoa, năm 1995 tiến chiếm rặng đá ngầm Mischief(Mỹ tế) thuộc chủ quyền của Philippines.

Tuy nhiên kể từ hậu bán thập kỷ 90, thái độ đối phó của TQ về vấn đề nầy đã  thay đối rõ rệt. Nghĩa là từ thái độ cứng rắn không từ nan việc sử dụng vũ lực chuyển sang tư thế hợp tác đối thoại với các nước liên quan để làm lắng dịu vấn đè tranh chấp. TQ đã đồng ý việc thương thảo đa phương như yêu cầu của các nước ASEAN, và đồng ý ký vào “Tuyên bố về hành động của các nước liên quan về vấn đề biển Nam Trung Hoa” vào năm 2002 (Qui tắc ứng xử trên biển đông—ND chú). Vào năm 2005 đã cùng với VN và Philippines bắt đầu điều tra về tài nguyên dưới đáy biển Đông. Với những hợp tác về vấn đề biển Nam Trung Hoa như trên, mối lo ngại về sự uy hiếp của TQ đối với các nước ASEAN dần được giảm bớt. Đến năm 2003 TQ và ASEAN đã kí kết hiệp ước xây dựng quan hệ đối tác chiến lược.

Sự thay đổi về cách đối phó của TQ đối với vấn đề biển Đông đã ảnh hưởng rất lớn đến chính sách đối với TQ của các nước ASEAN cũng như tình hình trên biển Đông vốn là đường thông thương quan trọng và là nhân tố không thể không xét đến khi nghiên cứu về chính sách an ninh quốc phòng và đối ngoại của Nhật Bản. Bài viết nầy một mặt xác nhận lập trường cơ bản của TQ đối với vấn đề biển Đông, rà soát lại những phương thức đối phó của TQ trong thương thảo đối với VN là nước đối đầu mạnh mẽ nhất trong vấn đề nầy (1). Cuối cùng là phân tích những nhân tố gây nên.

AN NAM ĐẠI QUỐC HỌA ĐỒ (1838) bởi Linh Mục J.L.Taberd

TABULA GEOGRAPHICA EMPERII ANAMITICI (1838)

Trong họa đồ này, ngay điểm của quần đảo Hoàng Sa), linh mục Taberd có ghi chú: Đảo Cát Vàng. Linh mục là người đã viết trong cuốn sách “Univers, Histoire et Description de Tous Les Peuples, de Leurs Religions, Moeurs et Coutumes (1833)” là người Việt Nam gọi đảo Paracel là Cát Vàng (Hoàng Sa).

1. Căn cứ của chủ quyền lãnh hải(*phụ chú)

TQ cho rằng tất cả các quần đảo trên biển Đông như quần đảo Trường Sa (Pratlys—Nam Sa), Hoàng Sa (Paracel—Tây sa), Quần đảo san hô Maccle field(Trung Sa), Platas(Đông Sa) và cả các vùng đặc quyền kinh tế chung quanh đều thuộc lãnh hải của TQ. Về quần đảo TS là nơi xảy ra nhiều tranh chấp về chủ quyền với các nước ASEAN, TQ đã đưa ra 3 căn cứ như dưới đây khi chủ trương nó là của họ (2):

Một là, rằng TQ là nước phát hiện quần đảo Trường Sa sớm nhất. Theo chính phủ TQ, người TQ phát hiện quần đảo TS từ thời Hán, hơn 2000 năm trước. Thời Đông Hán(25-220 năm) Dương Phu đã ghi lại trong “Dị Vật Chí”『異物誌』”biển ở Kỳ Đầu Trương Hải cạn và có nhiều đá ngầm”. “Trương Hải”「張海」là tên gọi biển Nam Trung Hoa của người TQ thời bấy giờ, “Kỳ đầu”「崎頭」là các quần đảo ở biển Đông gồm cả HS và TS,và các rặng đá san hô, bãi cát, đá ngầm…Thời Đường (năm 618-907) hay Đời Tống (960-1279) các thư tịch về địa lí gọi TS và HS là “Cửu Nhủ Lỗ Châu”「九乳螺洲」, Thạch Đường「石塘」, “Trường Sa 「長沙」 、”Thiên lý Thạch Đường” 「千里石塘」 、”Thiên lý Trường Sa”「千里長沙」 、”Vạn lý Thạch Đường 「万里石塘」 、”Vạn Lý Trường sa” 「万里長沙」…

Trong bản đồ trong tập “Bản đồ họa quốc gia-thủ đô các triều đại của “Hỗn Nhất Cương Lịch Đại Quốc Đô Chi Đồ”『混一疆理歴代国都之図』 xuất bản vào thời Minh (1368-1644) có ghi “Thạch Đường”「石塘」 và “Trường Sa” 「長沙」, nhìn vào vị trí của bản đồ nầy thì “Thạch Đường” là đúng ở vị trí của Trường Sa ngày nay. Trong tập “Canh Lộ Mộ”『更路簿』 vào đời nhà Thanh (1636-1911), ngư dân có ghi lại tên gọi và vị trí của các đảo, đá san hô, bãi cát, Than, Châu, trong đó tên gọi số 83 là quần đảo TS(Pratlys).

Hai là, TQ là nước khai thác và kinh doanh đầu tiên quần đảo TS. Lịch sử của những hoạt động của người Hoa ở những quần đảo trên biển Nam Trung Hoa đã có hơn 1000 năm. Trong “Quãng Châu Ký”『広州記』 thời Phổ Đại (năm 265-420) ghi “Huyện San Hô Châu(Đông Viễn) cách 500 lý về phía Nam, người xưa đã bắt cá, san hô”. Trong hiện vật chôn cất tìm thấy ở quần đảo trên biển Đông có cả đồ gốm thời Nam Triều (năm 420-589). Dù muộn đi nữa thì những ngư dân đời nhà Minh đã đến quần đảo TS để đánh bắt hải sản. Trong cuốn “TQ Hải chỉ nam” xuất bản năm 1866 ghi rõ hàng năm vào tháng 12 hoặc tháng giêng, có khoảng 200 tàu đánh cá rời cảng Hải Nam  ra TS để mua hải sản với các ngư dân bản địa và xuôi gió mùa Tây Nam để trở về quê hương.

Ba là, TQ cho rằng họ là người hành xử quyền cai quản sớm nhất đối với quần đảo TS. Theo chủ trương nầy, TQ đã xác định khu hành chính của quần đảo trên biển Nam Trung Hoa từ đời nhà Đường, đặt các quần đảo nầy dưới quyền cai quản dưới chính phủ TQ. Trong “Nguyên Sử” và bản đồ trong “Nguyên Đại Cương Vực Đồ Tự[元代疆域図叙』 thì quần đảo TS thuộc lãnh thổ của nhà Nguyên và có ghi lại việc hải quân của nhà Nguyên đã ra tuần tra quần đảo TS. Trong nhiều bản đồ thời nhà Thanh, vẽ quần đảo TS là một phần nằm trong bản đồ của TQ.

Vào năm 1932 và 1935, Bộ tham mưu, Bộ Ngoại giao, Bộ Hải quân, Bộ Giáo dục và Ủy ban Mông-Tạng của Trung Hoa Dân Quốc xác định 132 tên gọi của các đảo ở biển Nam TH, những đảo nầy được đặt trong quản lý chung của các quần đảo TS, HS, Maccles field bank(Trung Sa), Pratas(Đông Sa) và theo TQ thì quần đảo TS là quần đảo bị NB chiếm đóng đã được trao trả. Trong thế chiến thứ hai, NB đã chiếm đóng quần đảo TS và đã đặt dưới sự cai quản của Đài Loan.  “Tuyên bố Cairo” giữa ba nước Mỹ-Anh-Nga Xô viết  vào năm 1943 qui định “phải trao trả cho TQ (Trung Hoa Dân Quốc) tất cả những khu vực mà NB đã cướp đoạt của nhà Thanh như đảo Bành Hồ, Đài Loan, Mãn Châu” một trong những mục đích chiếm đoạt của cuộc chiến, và“Tuyên bố Postdam” năm 1945 cũng đã xác nhận tương tự. Sau khi NB thua trận, TQ chủ trương rằng Đảo Đài Loan bao gồm cả vùng quản lý trước đây là quần đảo TS đã được trao trả về TQ, vì vậy từ đó chủ quyền của TQ về quần đảo TS nầy đã được khôi phục(3).

2. Mở rộng chiếm đóng bằng vũ lực

Nước CHNDTH cho rằng quyền cai quản quần đảo TS đã được trao trả cho TQ sau khi NB bại trận nhưng trên thực tế quân đội của Trung Hoa Dân Quốc(THDQ) là người đã đứng ra tiếp thu những hòn đảo nầy. Đảo Ba Bình (Itu Aba) là đảo lớn nhất trong quần đảo TS đã được hải quân THDQ tiếp quản từ quân đội NB, và Đài Loan vẫn  cai quản từ đó cho đến ngày nay(4). Sau khi tuyên bố độc lập, TQ không đủ lực lượng hải quân, chẳng có thể tiếp thu các quần đảo trên biển Nam TH. Muốn tiến ra các quần đảo trên biển Nam TH, TQ phải chờ cho đến khi  có một lực lượng hải quân đủ mạnh mới có thể thực hiện được.

TQ bắt đầu tiến quân ra biển Nam TH từ năm 1974 khi tiến hành chiếm đóng quần đảo HS. Sau khi quân Pháp rút lui vào giữa thập kỷ 1950, Nam Việt Nam chủ trương quần đảo HS và TS là của mình và đã chiếm đóng một phần quần đảo TS và một phần phía Tây quần đảo HS, còn TQ chỉ chiếm giữ phía Đông quần đảo HS. Tình huống nầy kéo dài gần 20 năm nhưng đến tháng 1/1974 thì Hải quân TQ đã tấn công vào quân Nam VN và chiếm đóng toàn bộ quần đảo HS (5).

Vào thời kì nầy sự thất trận của Nam Việt Nam đã trở nên rõ ràng, quân Nam VN trên quần đảo HS không đủ sức chống trả lại cuộc tấn công của quân đội TQ, hơn nữa là quân đội Mỹ cũng đã thu hẹp việc chi viện cho quân dội Nam VN vì vậy cho dù TQ có tấn công vào quần đảo HS thì khả năng can thiệp của nước Mỹ hầu như không  thể. Mặt khác TQ đang chi viện cho miền Bắc VN vì vậy miền Bắc cũng không thể phản đối việc quân đội TQ chiếm giữ quần đảo HS. Với bối cảnh quốc tế thuận lợi nói trên , TQ đã ra tay cưỡng đoạt quần đảo HS bẵng quân sự một cách dễ dàng.

Với chiến thắng (cuộc chiến chống Mỹ–ND chú) cuộc nội chiến, chính quyền Hà Nội ra tuyên bố chủ quyền của mình trên hai quần đảo HS-TS, phê phán việc TQ chiếm giữ HS, đặt quần đảo TS của chính quyền Sài gòn cũ dưới quyền kiểm soát của mình. Quan hệ giữa VN-TQ trở nên căng thẳng, chiến tranh Trung-Việt bùng nổ vì vấn đề Cămpuchia. Trong khi quan hệ hai nước dang căng thẳng, vào tháng 3/1988 một lần nữa TQ sử dụng sức mạnh quân sự tiến chiếm một số đảo VN đang trú đóng ở quần đảo TS. Quân VN đã đụng độ với quân TQ ở dãy san hô Johnson thuộc quần đảo TS mà VN đang chiếm giữ, khoảng 80 người bị phía TQ sát hại và bị thương. Với chiến thắng ở dãy san hô Johnson, TQ đã tiến chiếm thêm một số hòn đảo thuộc quần đảo TS. Đây cũng là thời điểm chính quyền Gorbachov ở LX đang xúc tiến chính sách hòa hoãn Đông-Tây theo thuyết ngoại giao mới, tích cực cải thiện quan hệ Xô-Trung. Mặt khác, LX cũng đã giảm bớt sự giúp đỡ cho VN dù vẫn giữ quân hệ đồng minh nhưng không có khả năng tích cực can thiệp vào sự xung đột Trung-Việt chung quanh vấn đề quần đảo TS. Có thể nói rằng TQ đã không có lý do gì để chần chừ trong việc sử dụng sức mạnh quân sự để tái chiếm các đảo nầy.

Bước vào thập ký 1990, TQ đã mở rộng việc lấn chiếm các đảo thuộc quần đảo TS. Ngày 25/2/1992 Ủy ban Thường vụ Đại hội Đại biểu Nhân dân toàn quốc TQ(quốc hội TQ—ND chú) quyết định “Luật lãnh hải và khu vực tiếp giáp”(gọi tắt là Luật lãnh hải), được ban bố rộng rãi theo chỉ thị của Chủ tịch Nước Dương Thượng Côn. Luật  lãnh hải nầy ghi rõ quần đảo TS là thuộc lãnh thổ của TQ, và rằng để ngăn ngừa tàu bè nước ngoài đi lại gây hại cho lãnh hải, “nước CHNDTH có quyền thực thi mọi biện pháp cần thiết”. Ra Qui định việc “truy đuổi khẩn cấp” những tàu bè nước ngoài vi phạm luật pháp của TQ, trong đó ghi rõ là TQ sẽ sẵn sàng sử dụng cả Tàu chiến lẫn máy bay để đối phó.(6)

Những qui định của Luật lãnh hải của TQ đã gây nên một sự lo lắng cho các nước ASEAN gồm các nước có yêu cầu về chủ quyền trên quần đảo TS. Việc tiến chiếm ở quần đảo trên biển Đông không chỉ nhắm vào VN mà còn có khả năng năng đối phó cả với các nước ASEAN.  Hội nghị ngoại trưởng ASEAN lần thứ 25 ở Manila vào tháng 7/1992 đã ra tuyên bố ASEAN về vấn đề biển Nam TH ” nhấn mạnh đến việc giải quyết tranh chấp lãnh thổ trên biển Đông theo phương pháp hòa bình, không sử dụng vũ lực, yêu cấu các nước liên quan tự kiềm chế và đề xuất việc cần xây dựng qui ước cho hành động quốc tế trên biển Đông (7).

Tiếp theo những qui định  vế luật lãnh hải của TQ, tháng 5 năm ấy VN đã kí hợp đồng cung cấp quyền thăm dò cho một công ty khai thác dầu mỏ của Mỹ trong vùng biển thuộc chủ quyền của mình và cam kết sẽ bảo vệ những hoạt động của công ty nầy. Tháng 7 VN đã cho quân đổ bộ lên đảo Gaven(8).

Mối lo ngại của các nước ASEAN về việc TQ mở rộng tiến quân vào biển Đông đã trở thành hiện thực vào năm 1995. TQ đã xây dựng cơ sở kiên cố trên dãy Mischief thuộc chủ quyền của Philippines. Ngày 8/2/1995 Tổng thống Ramos họp báo xác nhận TQ  đã xây dựng nhiều dãy nhà kiên cố trên dãy Mischief và nhiều tàu chiến của TQ trú đóng chung quanh. Chính phủ Philippines đã phản đối thông qua đại sứ quán của TQ nhưng chính phủ cho rằng đó chỉ là những cơ sở tránh bão do ngư dân xây dựng theo chủ trương của chính quyền địa phương, bác bỏ kháng nghị của phía Philippines. Nhằm đối phó với những hành động nêu trên của TQ, hội nghị ngoại trưởng các nước ASEAN đã nhóm họp tại Singapore ra “tuyên bố ngoại trưởng về tình hình gần đây ở biển Nam Trung Hoa”. Trong tuyên bố nầy, các ngoại trưởng ASEAN đã bày tỏ mối “lo ngại sâu sắc” trước một loạt tình huống  gây ảnh hưởng hòa bình và an ninh trên biển Nam TH, yêu cầu nhanh chóng giải quyết vấn đề gần đây ”(9). Nhưng phía TQ không rút quân ra khỏi Mischief, cho quân đội đồn trú thường xuyên và tiếp tục chiếm cứ.

3. Đề xuất “Gác tranh cãi, cùng khai thác chung”

Kể từ thập niên 1970, TQ đã dùng sức mạnh quân sự, sử dụng như một thủ doạn để uy hiếp, để ngày càng mở rộng chi phối trên biển Đông, mặt khác đưa ra phương châm “gác lại tranh cãi, cùng nhau khai thác” như một chính sách chính thức. Theo giải thích của phía TQ chính sách “gác lại tranh cãi, cùng nhau khai thác” là phương châm để giải quyết vấn đề chủ quyền trên đảo Senkaku với Nhật Bản và đó là đề xuất của Đặng Tiểu Bình (10)

Phó thủ tướng Đặng Tiểu Bình sang thăm Nhật Bản vào tháng 10/1978, trong buổi hội đàm với Thủ tướng Fukuda Takeo, Ông nói rằng không cần phải gấp vội giải quyết vấn đề chủ quyền các đảo Senkaku, giao cho các thế hệ tương lai tìm ra được phương cách giải quyết. Tháng 5 năm sau (1979 Đặng Tiểu Bình lại phát biểu trong lần Nghị sĩ Suzuki Zenko sang thăm TQ rằng có thể tính đến việc  khai thác  chung nguồn tài nguyên chung quanh quần đảo Senkaku, không đụng đến vấn đề chủ quyền. Tháng 6 năm 1980, TQ chính thức đưa ra đề nghị cùng khai thác tài nguyên ở chung quanh quần dảo Senkaku thông qua con đường ngoại giao. Đây là lần đầu tiên TQ công bố lập trường muốn giải quyết việc tranh chấp lãnh thổ và quyền lợi trên biển với các nước chung quanh theo mô hình “Gác lại tranh cãi, cùng nhau khai thác”.

Năm 1986, TQ nói rằng cũng có thể áp dụng phương thức “Gác lại tranh cãi, cung nhau khai thác” trong vấn đề tranh chấp lãnh hãi ở biển Nam Trung Hoa. Phó tổng thống Raul của Philippines hội đàm với Đặng Tiểu Bình khi sang thăm TQ vào tháng 6/1986, ĐTB nói “Chúng ta phải gác lại vấn đề Nam Sa, không thể để cho vấn đề nầy cản trở quan hệ hữu nghị giữa TQ với Philippines hay các nước khác”, nhấn mạnh đến việc cần phải gác lại vấn đề chủ quyền. Tháng 4/1988 ĐTB còn nói với Tổng thống Akino lúc bà sang thăm TQ rằng “Khi nghĩ đến quan hệ hữu nghị giữa hai nước, chúng tôi thấy cần phải gác lại một thời gian vấn đề nầy để tìm con đường cùng khai thác”, chính thức đề nghị “gác lại những điểm khác nhau, cùng nhau khai thác”. Tuy nhiên cùng lúc ĐTB vẫn không quên nhấn mạnh chủ quyền của TQ đối với quần đảo TS.

Theo Bộ Ngoại Giao TQ, nội dung của chủ trương “gác lại tranh cãi, cung nhau khai thác” gồm 4 điểm như sau:

(1)Chủ quyền lãnh thổ của các khu vực liên quan là thuộc về TQ

(2)Khi chưa có đủ điều kiện để giải quyết toàn diện vấn đề tranh cãi về chủ quyền lãnh thổ, thì tạm ngưng tranh luận, gác lại vấn đề nhưng điều nầy không có nghĩa là TQ từ bỏ chủ quyền lãnh thổ.

(3)Có thể khai thác chung ở vùng có tranh chấp về chủ quyền.

(4)Mục đích của việc khai thác chung là nhằm tăng cường hiểu biết lẫn nhau thông qua hợp tác, tạo điều kiện để giải quyết rốt ráo vấn về chủ quyền lãnh thổ.

Giải thích nầy cho thấy tiền đề lớn của phương châm “gác lại tranh cãi, cùng nhau khai thác” là thừa nhận  TQ vẫn có chủ quyền ở những quần đảo đang  tranh chấp. Nếu hiểu đúng thì phương châm “gác lại tranh cãi, cùng nhau khai thác” của TQ có nghĩa là  “chủ quyền là thuộc về TQ, không tranh cãi, cùng nhau khai thác”(Chủ quyền thuộc ngã, cách trí tranh luận, cộng đồng khai thác 主権属我、擱置争議、共同開発)(11)

Có thể nói, như vậy mục tiêu cuối cùng của “Gác lại tranh cãi, cùng nhau khai thác”nhằm tạo điều kiện để buộc các nước phải chấp nhận chủ quyền ở những đảo đang tranh chấp thông qua việc thực hiện “cùng nhau khai thác”. Chúng tôi không cho rằng mối quan tâm của TQ về thực chất là đặt nặng đến những lợi ích thực tế trong việc khai thác chung .

4.Thương thảo song phương Việt-Trung

Quan hệ Trung-Việt được bình thường hóa vào tháng 1/1991 mặc dù vào thời điểm nầy ngoài việc tranh chấp chủ quyền lãnh thổ, còn tồn tại những mâu thuẩn về đường phân giới trên vịnh Bắc Bộ và trên đất liền. Trong bản thông cáo chung liên quan đến việc bình thường hóa quan hệ hai nước, bày tỏ ”Hai bên đông ý tiếp tục những biện pháp cần thiết để duy trì hòa bình và ổn định khu vực biên giới giữa hai nước, khôi phục sự qua lại hữu nghị truyền thống của nhân dân quanh vùng biên giới, thúc đẩy làm phát triển hơn nữa biến biên giới  Trung-Việt thành biên giới hòa bình và hữu nghị” đồng thời nhất trí rằng “ về vấn đề lãnh thổ tồn tại giữa hai nước, hai bên sẽ thông qua đàm phán để giải quyết một cách hòa bình”(12)

Trong bản tuyên bố chung không hề đề cập đến vấn đề cụ thể như vấn đề chủ quyền Quần đảo TS hay đường biên giới trên Vịnh Bắc Bộ, có thể cho rằng hai nước Trung-Việt đã không đạt đến một sự thỏa thuận nào cụ thể về vấn đề chủ quyền lãnh thổ-lãnh hải. Có thể nói điểm đột phá trong quan hệ Trung-Việt là chuyến đi thăm TQ của TBT Lê Khả Phiêu vào tháng 2/1999. TBT Giang Trạch Dân lúc hội đàm với TBT Lê Khả Phiêu sang thăm “hữu nghị chính thức” đã đánh giá cao ” Việc giao lưu và hợp tác trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật và quân sự đã phát triển không ngừng và ngày càng được củng cố”,  nói rằng ”TQ muốn xây dựng một quan hệ hợp tác toàn diện, láng giềng hữu nghị, ổn định lâu dài hướng tới tương lai”(16 chữ vàng—ND chú)

Về động thái mới của TQ trong vấn đề biển Nam TH, và những vấn đề còn tồn tại giữa hai nước “Việc giải quyết nhanh chóng vấn đề lãnh thổ và biên giới giữa hai nước là hoàn toàn phù hợp với nguyện vọng chung và lợi ích căn bản của nhân dân hai nước. Sự phát triển sâu đậm của quan hệ hợp tác toàn diện láng giềng hữu nghị Trung-Việt và nhận thức chung của lãnh đạo hai nước sẽ tạo điều kiện tốt đẹp để hai nước giải quyết các vấn đề lịch sử  để lại. Nếu hai bên  xuất phát từ đại cuộc  theo quan điểm  chiến lược và hữu nghị để tăng tốc quá trình đàm phán trên tinh thần “hiệp thương hữu nghị, công bằng hợp lý, nhường nhịn lẫn nhau” thì có thể tin tưởng rằng chắc chắn sẽ hoàn thành sứ mệnh lịch sử to lớn và vinh quang”. TBT Lê Khả Phiêu đã đáp lại rằng hai nước sẽ xây dựng  một đường biên giới hòa bình, hữu nghị ổn định, giải quyết vấn đề biên giới lãnh thổ giữa hai nước một cách nhanh chóng với sự nổ lực chung và trách nhiệm cao” (13).

Bàn thông cáo chung Trung-Việt được công bố sau cuộc hội đàm đánh giá chuyến đi thăm TQ của TBT Lê Khả Phiêu đã đóng góp quan trọng trong việc xây dựng một quan hệ hợp tác hữu nghị giữa hai nước và hai Đảng trong thế kỷ 21, tích cực đem lại hòa bình, ổn định và phát triển cho khu vực” và ghi rõ hai bên đã “nhất trí xây dựng quan hệ hợp tác toàn diện, láng giềng hữu nghị lâu dài và ổn định hướng đến tương lai trên cơ sở nhận thức chung của lãnh đạo hai Đảng và hai nước Trung –Việt”. Hơn thế nữa hai nước còn xác nhận việc giải quyết một cách hòa bình vấn đề biên giới, cho biết “sẽ kí kết hiệp ước về biên giới trên đất liền trong năm 1999 và trong năm 2000 sẽ giải quyết đường phân giới trên vịnh Bắc Bộ thể hiện quyết tâm xây dựng đường biên giới giữa hai nước thành đường biên giới hòa bình ổn định và phát triển  ”

Với sự thỏa thuận nầy của lãnh đạo hai nước, tháng 12/1999 TQ và VN đã lần lượt kí kết “Hiệp ước cắm mốc biên giới trên đất liền”, tháng 12/2000 “Hiệp định về đường phân chia ở thềm lục địa, vùng biển đặc quyền kinh tế và lãnh hải trên Vịnh Bắc Bộ” và “Hiệp định hợp tác về nghề cá trên Vịnh Bắc Bộ”. Như vậy các vấn đề cơ bản được gác lại lúc bình thường hóa quan hệ thì hai vấn đề liên quan đến chủ quyền đã được giải quyết, riêng tranh chấp về chủ quyền trên biển Đông thì chưa đạt được thỏa thuận, vẫn đang được hai nước thương thảo. Dù vậy có thể nói quan hệ hợp tác giữa hai nước phát triển rất nhanh trong những năm gần đây. Sự hợp tác trên vịnh Bắc Bộ là một thí dụ cụ thể.

Các quần đảo trên biển Đông

Hơn thế nữa, để tránh việc tàu đánh cá nhỏ vượt đường biên, đụng độ gây xung đột, hai bên còn lập ra “khu vực tranh xung đột tàu thuyền nhỏ” không dùng vũ lực bắt giam, xử phạt các tàu đánh cá cở nhỏ vi phạm. Từ tháng 1/2006 hai bên tiến hành điều tra chung về nguồn tài nguyên ngư nghiệp ngoại vi trên vịnh Bắc Bộ.

Vịnh Bắc bộ là vùng rất giàu tài nguyên ngư nghiệp, những cuộc đụng độ trên ngư trường nầy giữa ngư dân hai nước không lúc nào ngưng. Trong cuộc đàm phán về hiệp định phân chia ranh giới ở Vịnh Bắc Bộ, từ quan điểm bảo vệ lợi ích thiết thực cho ngư dân nước mình, phía TQ đòi hỏi phía VN phải cùng lúc kí kết hiệp định hợp tác về nghề cá và cuối cùng hai bên đã đạt đến việc kí kết hai hiệp ước xác định đường phân chia ranh giới trên Vịnh Bắc Bộ và Hiệp định hợp tác về nghề cá cùng lúc. Điểm chủ yếu của Hiệp định hợp tác về nghề cá việc đặt ra “khu đánh cá chung ngoài biên giới”. Hai nước đồng ý xác định vùng biển rộng 33,000 cây số vuông tiếp giáp vùng biển đặc quyền kinh tế (EEZ) theo qui định của Hiệp định đường ranh giới, là “khu đánh cá chung ngoài biên giới”. Khu đánh cá chung nầy có thời hiệu là 12 năm và sau thời hiệu nầy sẽ tự động gia hạn trong mỗi 3 năm. Ủy ban hỗn hợp Trung Việt về nghề cá trên Vịnh Bắc Bộ được thành lập hằng năm xác định số thuyền đánh bắt của hai bên trong vùng biển đánh cá chung. Hai nước đã có thể thực hiện việc giám sát, quản lý chung ở vùng biển thuộc lãnh hải của nhau tính từ đường ranh giới vào vùng biển nước mình. Phát xuất từ thực tế khó có thể đuổi ngư dân TQ ra khỏi vùng biển thuộc lãnh hải VN, ngoài khu đánh bắt chung nêu trên, hai nước còn đặt ra “vùng biển đệm trên đường biên giới” cho phép tàu đánh của TQ được phép khai thác trong 4 năm (**xem phụ chú).

Vấn đề hợp tác nghề cá trên vịnh Bắc Bộ giữa TQ-VN diến ra thuận lợi, việc hợp tác tăng cường kiểm tra, giám sát hoạt động trong khu vực nầy cũng diến ra tích cực. Vào tháng 9/2006 Hai nước Trung-Việt đã triển khai hoạt động điều tra chung lần đầu tiên về “khu đánh bắt chung”. Tại hoạt động kiểm tra chung nầy đội tàu kiểm soát của TQ và đội tàu cảnh sát biển của VN đã kết hợp thành một biên đội đi vào vùng đặc quyền kinh tế của nhau để kiểm tra hoạt động đánh bắt của tàu đánh cá nước mình. Tháng 4/2006 hải quân của hai nước cũng đã bắt đầu tuần tra chung trên biển  thuộc vịnh Bắc Bộ. Đây là hành động dựa trên đề xuất của phía VN.Hai nước đã kí kết ”Hiệp định tuần tra chung ở vịnh bắc Bộ của hải quân Trung-Việt” vào tháng 10/2005. Đây cũng là lần đầu tiên hải quân của TQ tiến hành tuần tra chung với hải quân của nước ngoài cho thấy quan hệ hữu nghị hợp tác hải quân của hai nước Trung-Việt ngày càng thắt chặt hơn. Hơn thế nữa TQ và VN bắt đầu tiến hành việc khai thác chung nguồn khí đốt thiên nhiên và dầu mỏ vắt ngang đường ranh giới giữa hai nước trên vịnh Bắc Bộ.

Bản đồ 1: Khu vực ngoài của Vịnh Bắc Bộ

Cuối năm 2005, Tổng công ty Dầu hỏa Hải dương TQ và Công ty Dầu hỏa Việt nam đã kí kết “hiệp định khung hợp tác khí đốt thiên nhiên và dầu hỏa trên Vịnh Bắc Bộ”. Việc hợp tác kinh tế giữa hai nước Trung-Việt đang phát triển theo những dự án có qui mô rộng lớn  hơn vịnh Bắc Bộ. “Một vòng đai hai hành lang” kinh tế là dự án hợp tác kinh tế có qui mô như vậy. Tháng 10/2004 Thủ tướng Ôn Gia Bảo sang thăm VN, đã hội đàm với TBT Nông Đức Mạnh. Bản tuyên bố chung Trung Việt ghi rõ rằng “Trong khuôn khổ của Ủy ban hợp tác mậu dịch và kinh tế của chính phủ hai nước,(lãnh đạo hai nước) đã đồng ý thiết lập nhóm chuyên gia để tích cực nghiên cứu  khả năng xây dựng  hai hành lang kinh tế một vành đai kinh tế vịnh Bắc Bộ, “Côn Minh-Lao Cai-Hà Nội-Hải Phòng-Quảng Ninh” và “Nam Ninh-Lạng Sơn-Hà Nội-Hải Phòng- Quảng Ninh”(16)

Theo bản tuyên bố chung nầy hai con đường thông thương giữa Côn Minh (tỉnh Vân Nam) và Khu Dân tộc tự trị Choang ở Nam Ninh thuộc Tỉnh Quảng Tây với Quảng Ninh sẽ được nối kết là bước cụ thể hóa dự án xây dựng vòng đai kinh tế bao quanh Vịnh bắc Bộ. Một Ủy ban chỉ đạo hợp tác giữa hai nước Trung-Việt đã được thiết lập vào tháng 1/2006 để làm phát triển sâu đậm hơn nữa việc hợp tác kinh tế hai nước TQ-VN, Lần họp lần thứ nhất của Ủy ban nầy đã diến ra tại Hà Nội với sự chủ trì của Ủy viên quốc vụ viện Đường Gia của TQ và Phó thủ tướng kiêm bộ trưởng ngoại giao Phạm Gia Khiêm. Ủy ban chỉ đạo hợp tác nhắm tăng cường chỉ đạo vĩ mô của cơ chế hợp tác hiện có, thống nhất toàn thể chương trình hợp tác của các ngành, các cấp của hai nước, giải quyết các vấn đề nẩy sinh nghiêm trọng trong quá trình hợp tác và quyết định về nguyên tắc mỗi năm sẽ nhóm họp một lần. Về Ủy ban chỉ đạo hợp tác nầy, Ông Đường Gia đánh giá cao rằng “Việc lập ra Ủy ban chỉ đạo hợp tác ở cấp cao nầy là một quyết định chiến lược trong tầm nhìn xa vào tương lai của lãnh đạo hai nước, hai Đảng trong tình hình mới, làm tăng thêm sự tin cậy lẫn nhau, thúc đẩy hợp tác nhằm tiến tới một quan hệ hợp tác toàn diện mạnh mẽ và lâu dài, láng giềng thân thiện hữu nghị Trung Việt”(17)

Bản đồ 2: Bản đồ của Công Ty Dầu Khí Hải Dương Trung Quốc. Vào năm 2002, hai vùng dầu khí LD29-1 (nằm phía Việt Nam của đường trung tuyến) và LD20-1 (nằm vắt ngang đường trung tuyến) bắt đầu bị Trung Quốc khai thác.

Ngay sau khi phiên họp lần thứ nhất của Ủy ban chỉ đạo hợp tác kết thúc TBT Hồ Cẩm Đào đã sang thăm Việt Nam. Những phát biểu của Hồ Cẩm Đào trong chuyến viễng thăm nầy và nhìn vào bản tuyên bố chung được công bố sau đó, có thể thấy được những nét đặc trưng của chính sách đối với VN của TQ.

Trước tiên, một là TQ đã tìm thấy lợi ích khi VN “bị” Đảng Cộng Sản thống trị một cách ổn định. Trong cuộc hội đàm với Nông Đức Mạnh,  Hồ Cẩm Đào đã đánh giá cao sự lãnh đạo của đảng CSVN, phát biểu “Dưới sự lãnh đạo của đảng CSVN, nhân dân VN đang đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới một cách toàn diện, đất nước đang trên đà phồn vinh. Đảng, chính phủ và nhân dân TQ ủng hộ chính sách đối ngoại và đối nội đã được Đại Hội 10 của Đảng CSVN xác định, mong rằng  nhân dân VN sẽ sớm xây dựng đất nước xã hội chủ nghĩa công nghiệp hiện đại giàu mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh”. Tiếp đó, Hồ Cẩm Đào còn đề nghị “hai bên sẽ tiếp tục giao lưu sâu hơn để Đảng giữ vững sự thống trị và củng cố lý luận của chủ nghĩa xã hội và thực tiển nhằm đóng góp vào việc xây dựng đất nước của mỗi bên”(18)

Trong tình hình tan rã của các nước xã hội chủ nghĩa ở các nước Đông Âu và Liên Xô sau khi chiến tranh lạnh kết thúc, đối với TQ, VN là một trong số ít nước còn lại có cùng chế độ xã hội chủ nghĩa. Nếu VN thành công trong việc phát triển kinh tế và đảm bảo ổn định chính trị dưới sự thống trị của Đảng CS, thì đó cũng sẽ là chứng cứ hùng hồn chứng minh sự đúng đắn về sự thống trị độc quyền của Đảng CS ở TQ. Đối với VN cũng là điều tương tự, có thể nói VN và TQ đang ở trên một mối quan hệ dựa lẫn qua lại để cùng nhau “chính thống hóa”(chứng minh sự đúng đắn của—-ND chú) củng cố sự thống trị độc đảng của  đảng CSTQ cũng như đảng CSVN ở mỗi nước với những thành tích đã đạt được .

Đặc trưng thứ hai, TQ xem trọng sự phát triển quan hệ mậu dịch-kinh tế với VN. Tại cuộc hội đàm với TBT Nông Đức Mạnh, CT Hồ Cẩm Đào đã đề nghị “hai nước kiên trì nguyên tắc bình đẳng, cùng có lợi, thực hiện phồn vinh và phát triển chung”, cho rằng “Nắm chắc kế hoạch vĩ mô, thực hiện việc mở rộng chiều sâu hiệp định hợp tác mậu dịch-kinh tế giữa hai nước, triển khai ý tưởng hợp tác xây dựng “hai hành lang một vành đai ” theo tuần tự vững chắc, nâng cao mức chuẩn của hợp tác mậu dịch-kinh tế giữa hai nước. Qua việc mở rộng qui mô và cải thiện cơ cấu mậu dịch, đạt trọng tâm vào việc nắm chắc những sản phẩm thương mại chủ yếu sẽ nâng việc hợp tác mậu dịch-kinh tế giữa hai nước vào một giai đoạn mới”. Trong bản tuyên bố chung Trung-Việt sau cuộc hội đàm nầy, hai bên đã đồng ý “mở rộng hơn nữa hợp tác mậu dịch-kinh tế, nâng cao về chất và tầm mức của hợp tác” thực hiện mục tiêu đưa kim ngạch mậu dịch song phương lên 15 tỷ đô la vào năm 2010, tăng tốc qui trình xây dựng”hai hành lang một vòng đai kinh tế”(19).

Để làm sâu hơn quan hệ hợp tác mậu dịch-kinh tế với VN, TQ sẽ cung cấp những cơ sở để xây dựng duy trì quan hệ tốt đẹp với VN đồng thời TQ còn đặt kỳ vọng việc làm nầy sẽ giúp kinh tế vốn trì trệ ở vùng Tây Nam TQ phát triển. Thí dụ Khu tự trị Quảng Tây của dân tộc Choang tiếp giáp với biên giới Việt Nam đang có kế hoạch thực hiện thông qua việc hợp tác kinh tế với VN (20). Kim ngạch mậu dịch với VN của khu tự trị dân tộc Choang đã tăng lên rõ rệt, năm 2005 đạt mức 980 triệu đô la, tương đương với ¾ kim ngạch mua bán với các nước ASEAN. Trong 7 năm liên tiếp Khu tự trị dân tộc Choang ở Quảng Tây là đối tác đứng hàng đầu trong các nước ASEAN. Từ năm 2004 “Hội chợ Quảng Tây-ASEAN” được mở ra hàng năm tại Nam Ninh thuộc khu tự trị dân tộc Choang ở Quảng Tây nhằm tăng cường quan hệ đầu tư, mậu dịch giữa TQ và ASEAN. Trục giao thông từ Nam Ninh kéo dài đến Singapore, lấy lưu vực sông Mêkong và khu vực hợp tác kinh tế bao quanh Vịnh Bắc Bộ làm hai cánh như đề án xây dựng ”Một trục hai cánh” của Bí thư Lưu Kỳ Bảo của khu tự trị nầy, biến khu vực hợp tác kinh tế vòng đai Vịnh Bắc Bộ thành cứ điểm mậu dịch cho TQ và các nước ASEAN với hi vọng khu vực nầy sẽ là vùng phát triển mới ở ven biển Tây Thái Bình Dương trong tương lai(21).

Vị trí Lào Cai trong một vành đai hai hành lang Kinh tê Việt-Trung

Và ba là trên cơ sở lợi ích chung về chính trị và kinh tế, TQ sẽ tăng cường quan hệ với VN theo tầm nhìn chiến lược. Sau Đại hội Đảng lần thứ 16 của Đảng CS TQ, TQ đã triển khai “ngoại giao với các nước chung quanh”  theo phương châm “láng giềng thân thiện, xem lân bang là đối tác “(Dự Lân Vi Thiện, Dĩ lân Vi Bàn 与隣為善、以隣為伴 ) trong đó đặt vị trí của VN rất cao.

Thủ tướng Ôn Gia Bảo trong lần sang thăm VN vào tháng 10/2004, trong cuộc hội đàm với TBT Nông Đức Mạnh, nhấn mạnh “Đảng và chính phủ TQ trước sau vẫn rất xem trọng  quan hệ với VN, đặt vị trí quan trọng trong chính sách đối ngoại với các nước chung quanh của TQ”(22). CT Hồ Cẩm Đào trong lần sang thăm VN vào tháng 11/2006 cũng cho rằng “Trung-Việt, hai bên đều đứng trên quan điểm chiến lược toàn cục để nắm chắc phương hướng chính xác của việc làm phát triển quan hệ ”. Bản tuyên bố chung Trung-Việt đưa ra sau đó đã xác nhận “Hai nước Trung-Việt có chung lợi ích chiến lược trên nhiều vấn đề quan trọng”, đồng ý sẽ là “Ổn định lâu dài,  láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện hướng đến tương lai để phát triển quan hệ Trung Việt, mãi mãi là láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt”( “tinh thần 4 tốt”) của nhau.

Từ những đặc trưng trên, chúng ta có thể nhận định rằng TQ sẽ nổ lực làm phát triển quan hệ hợp tác toàn diện với VN trong những năm sắp đến. Với phương châm “Gác lại tranh cãi, cùng nhau khai thác” vấn đề tranh chấp chủ quyền ở biển Nam TH đang dần lắng dịu trở lại, TQ sẽ tiếp tục mục tiêu xây dựng “đối tác chiến lược” với VN trên cơ sở tăng cường quan hệ hợp tác kinh tế.

5. Bối cảnh của việc “mềm mỏng” trong đối phó của TQ

Như chúng ta đã thấy trong việc TQ chiếm đóng dãy đá ngầm Mischief, cho đến nửa thập kỷ 1990, thái độ của TQ đối với vấn đề TS rất cứng rắn, gây đe dọa rất lớn đối với các nước ASEAN. Nhưng kể từ hậu bán thập kỷ 1990 thái độ của TQ trở nên vô cùng mềm mỏng đối với vấn đề nầy như chúng ta đã thấy qua việc làm phát triển quan hệ với VN.

Sau khi chiếm đóng dãy đá ngầm Mischief vào năm 1995, TQ đã tăng cường việc xây dựng các cơ sở trên dãy đá nầy nhưng không triển khai việc chiếm cứ thêm các đảo, dãy đá khác. Mặt khác, TQ đã đáp ứng việc thương thảo đa phương với các nước ASEAN trong vấn đề TS kể từ những năm cuối thập kỷ 1990. Kể từ khi vấn đề chủ quyển trên biển Nam TH trở nên nghiêm trọng, phía ASEAN đã kêu gọi TQ thương thảo nhằm mục đích lập ra một qui chế “phạm vi hành động” trên biển Đông nhằm mục đích tránh xung đột bằng vũ lực và duy trì nguyên trạng.

Trước việc nầy, TQ đã tỏ ra khó chịu đối với việc đàm phán chính thức trong khuôn khổ đa phương về vấn đề biển Nam TH nhưng vào tháng 10/1999 phía TQ đưa ra bản dự thảo cho phía ASEAN, đề nghị “Qui tắc ứng xử” và bắt đầu bước vào đàm phán cấp thứ trưởng với các nước ASEAN (23). Cuộc đàm phán giữa TQ và ASEAN đã gặp nhiều khó khăn vì ý kiến khác nhau về phạm vi áp dụng giữa các nước liên quan, mãi đến tháng 11/2001 mới có thể đạt được sự đồng thuận. Ngoại trưởng các nước ASEAN và TQ đã kí kết vào bản “Tuyên bố về hành động của các nước liên quan đến biển Nam TH”

Bản tuyên bố nầy kêu gọi việc tranh chấp chủ quyền giữa các nước liên quan sẽ giải quyết một cách hòa bình, không đòi hỏi bằng cách dùng vũ lực hay uy hiếp bằng vũ lực, không bố trí người đến trú đóng ở những hòn đảo không có người, chủ động thông báo (cho các nước liên quan) những cuộc diễn tập quân sự và đảm bảo việc tự do đi lại trên biển (24).

Sự đồng ý nầy là một “Tuyên ngôn Hành Động”(Declaration on the Conduct) thiếu sức ép buộc như một “qui tắc hành động”(Code of Conduct) mà ASEAN yêu cầu, phía TQ cũng cho rằng tuyên ngôn nầy “không phải là một văn bản pháp lý” mà là “một văn bản chính trị”(25). Thế nhưng trong “Tuyên Ngôn Hành Động” nầy còn ghi là các nước liên quan nhất trí nổ lực tiến đên một sự thỏa thuận về “Qui tắc hành động”. Trong bản “Tuyên ngôn đối tác chiến lược hướng đến hòa bình và phồn vinh” kí kết giữa ASEAN và TQ vào tháng 10/2003, xác nhận sẽ thực hiện “Tuyên Ngôn Hành Động “ cam kết sẽ tiếp tục thương thảo về phương pháp  “theo dõi”(giám sát-follow-up) việc thực hiện bản tuyên ngôn nầy (26). Hơn nữa trong “Kế Hoạch hành động”(Action Plan) trong 5 năm theo “Đối tác chiến lược”đạt được vào tháng 11/2004, có ghi rõ là TQ và ASEAN sẽ họp định kỳ ở cấp cao để thực hiện “Tuyên Ngôn Hành Động”, nổ lực hướng đến việc thông qua “qui tắc hành động” cuối cùng. (27)

Tiếp theo  thỏa thuận “Tuyên ngôn Hành Động”, TQ đã bước sang việc khai thác cụ thể chung ở biển Nam TH. Vào ngày 1/9/2004 Công ty Dầu hỏa Hải dương TQ và công ty Dầu Hỏa quốc gia Philippines đã đồng ý thực hiện việc thăm dò điều tra dịa chấn chung. VN đã phản đối thỏa thuận này nhưng vào ngày 14/3/2005 hai công ty nầy đã mời thêm Tổng công ty dầu khí VN tham gia, đạt thỏ thuận chung giữa ba nước vể việc thăm dò địa chấn. Vùng biển thăm dò lên đến 143,000 km vuông, sử dụng sóng địa chấn trong 3 năm, lần 2 và lần 3 sẽ thu các dự liệu dưới biển để xác nhận trữ lượng Dầu mỏ và khí đốt. Chi phí của việc điều tra nầy sẽ do 3 công ty đảm trách  và cả 3 đều cùng sở hữu các dự liệu thu thập được. Sau 3 năm điều tra kết thúc các bên sẽ tiếp tục xem xét co nên tiếp tục điều tra sâu thêm nữa hay không. Việc thực hiện cuộc điều tra chung nầy được xem là không ảnh hưởng gì đến chủ trương về chủ quyền các các nước(28)

Phía TQ xem thỏa thuận nầy là bước thực tiển đầu tiên của chủ trương “Gác lại tranh cãi, cùng nhau khai thác”,đánh giá cao, xem biện pháp là bước tiến quan trọng trong việc thực hiện “Tuyên Ngôn hành Động”(29). Như vậy, lý do TQ mềm dẽo hóa đối sách trong vấn đề biển Nam TH có thể phát xuất từ nhu cầu muốn gắn kết quan hệ với các nước ASEAN. Đối với TQ, các nước ASEAN là lân bang tiếp giáp TQ, nếu quan hệ với các nước nầy không ổn định sẽ gây bất lợi cho việc duy trì tình hình quốc tế ổn định—là điều kiện không thể thiếu– để phát triển kinh tế của TQ. Mặt khác ASEAN đứng thứ 4 trong đối tác mậu dịch của TQ, là một đối tác kinh tế quan trọng có nhiều tư bản Hoa thương đầu tư vào TQ. Hơn thế nữa , ASEAN còn giữ vai trò trung tâm trong Hợp tác Đông Á (10 +3) hay Hội nghị thượng đỉnh Đông Á vì vậy việc duy trì quan hệ tốt đẹp với ASEAN rất quan trọng trong việc xây dựng một Cộng Đồng Đông Á  trong chiến lược của TQ ở tương lai. Phó viện trưởng viện nghiên cứu đối ngoại của TQ, Tần Á Thanh cho rằng “Để có thể xây dựng quan hệ hợp tác chiến lược với ASEAN, TQ phải xử lý vấn đề một cách khí khái  mang phong cách của một nước lớn, phải hiểu được và quan tâm một cách hợp lý đến lợi ích của nước đối tác, phải biết nhân nhượng nhất định trên một số vấn đề theo một tầm nhìn lâu dài”(30). Có thể nói rằng thái độ mềm mỏng của TQ trong vấn đề biển nam TH là một bước nhượng bộ để duy trì “quan hệ đối tác chiến lược” với ASEAN.

Các tuyến hàng hải từ Trung Đông sang Nhật Bản

Hai là, việc tranh thủ ra tay hòa hoãn mối quan hệ căng thẳng với các nước ASEAN về vấn đề chủ quyền trên biển Đông cũng là để ngăn chận việc Đài Loan lợi dụng vấn đề nầy hòng tiếp cận các nước Đông Nam Á. Vào thập kỷ 1990, Đài Loan đẩy mạnh các hoạt động tăng cường quan hệ với các nước ĐNÁ theo cái gọi là “Chính sách hướng Nam” [南向政策」. Nguyên tổng thống Lý Đăng Huy, hay Tổng thống Đài Loan Trần Thủy Biền (đương nhiệm) thuộc phe đòi Đài Loan độc lập bị TQ phê phán, đã nổ lực mở rộng “không gian sống chung quốc tế” của Đài Loan, thực hiện những chuyến đi thăm các nước ĐNA không chính thức. Việc Đài Loan tiến gần với các nước ĐNÁ cũng do từ nhận thức cho rằng TQ là mối đe dọa chung cho cả hai vì vậy đối với TQ việc ngăn chận ASEAN tiếp cận Đài Loan là một việc quan trọng nhằm làm giảm thiểu mối lo ngại về sự uy hiếp của TQ đang bùng lên ở các nước ĐNÁ vì vấn dề chủ quyền ở biển Nam TH.

Hơn thế nữa, Đài Loan đòi hỏi chủ quyền trên toàn quần đảo TS, đang chiếm đóng đảo Ba Bình(Đảo Thái Bình—Itu Aba) lớn nhất, và cũng là người trong cuộc trong vấn đề biển Nam TH, vì vậy việc tăng cường khuôn khổ giải quyết vấn đề(chủ quyền) riêng với ASEAN sẽ làm cho Đài Loan không còn có cơ hội để thương lượng với ASEAN về vấn đề nầy. Ông Dương Thanh thuộc Viện Nghiên cứu Chiến lược quốc tế của Trường Trung Ương Đảng CSTQ cho biết phát xuất từ cục diện lớn(đại cục) từ lợi ích của quốc gia—một lợi ích chủ yếu—rằng “việc giải quyết vấn đề biển Nam TH một cách thỏa đáng giữa TQ và các nước ASEAN là rất quan trọng”(31).

Hình ảnh thường thấy sau hội nghị cấp cao ASEAN

Ba là ngăn chận  các nước lớn khác, đặc biệt là Mỹ nhảy vào can thiệp vấn đề biển nam TH. Nước Mỹ vẫn giữ thái độ bàng quang đối với vấn đề chủ quyền ở biển Đông nhưng quan tâm lo lắng vấn đề nầy sẽ gây ra tình huống ngăn cản sự đi lại tự do trên biển(32). Mặt khác,sau khi chiến tranh lạnh kết thúc, quan hệ giữa Mỹ và các nước ASEAN về thực chất là đã khắng khít hơn vì lo ngại trước động thái mở rộng (phạm vi hoạt động) của Hải quân TQ. Nếu vấn đề ở biển nam TH trở nên nhạy cảm thì có khả năng nước Mỹ nhảy vào can thiệp vấn đề nầy với lí do là để đảm bảo sự tự do đi lại trên vùng biển nầy đồng thời có khả năng các nước ASEAN cũng sẽ tăng cường quan hệ với không quân Mỹ. “Một số nước ASEAN tương đối dành được một môi trường quốc tế thuận lợi trong vấn đề biển Đông nhờ vào sự cân bằng chiến lược giữa các nước lớn. Chủ trương của Chính sách Châu Á-Thái Bình Dương của nước Mỹ đã tạo điều kiện để cho các nước ASEAN duy trì lợi ích hiện có bằng sức mạnh của các nước ngoài khu vực”(33)

Cho nên điều quan trọng đối với TQ là xử lý vấn đề biển Nam TH một cách êm thắm, không để cho nước Mỹ lợi dụng vấn đề nầy để can thiệp. Thứ trưởng Ngoại giao Vương Nghị của TQ nói rằng “ý nghĩa của Tuyên Ngôn Hành Động ASEAN là xử lý tốt vấn đề biển Nam TH thông qua đối thoại với các nước trong khu vực, TQ đã phát ra tín hiệu rõ ràng với bên ngoài rằng có khả năng duy trì hòa bình và ổn định của vùng biển Nam TH thông qua đối thoại”(34). Có người cho rằng hợp tác giải quyết hợp lý vấn đề biển Nam TH với các nước ASEAN “sẽ ngăn ngừa được việc các nước lớn lợi dụng vấn đề biển Đông làm con cờ để “bao vây” TQ (35).

Và điểm cuối cùng là TQ cần phải bảo đảm nguồn tài nguyên năng lượng—không thể thiếu được—cho việc phát triển kinh tế liên tục từ nay về sau. Đi cùng với sự phát triển kinh tế nhảy vọt, nhu cầu về năng lượng của nền kinh tế TQ ngày càng tăng gấp bội. Về dầu hỏa, từ năm 1993 TQ đã trở thành nước thuần nhập khẩu dầu mỏ, hiện nay là đứng hàng thứ hai sau Mỹ trong số các nước tiêu thụ dầu mỏ trên thế giới.(35)

Theo ông  Xa Trường Ba, giám đốc trung tâm nghiên cứu chiến lược tài nguyên dầu mỏ-khí đốt thiên nhiên thuộc Bộ Tài Nguyên TQ, nhu cầu vè dầu mỏ năm 2010 là 380 triệu tấn và 2020 là 450 triệu tấn.(37)

Tuy nhiên đối với TQ việc xem khả năng khai thác dầu khí ở biển Nam TH như một biện pháp đảm bảo nguồn năng lượng hiện nay không mang tầm quan trọng cho lắm. Những năm gần đây TQ nổ lực thực hiện việc nhập khẩu ổn định năng lượng cũng như dành quyền khai thác dầu khí thông qua việc tăng cường hợp tác với các nước sản xuất năng lượng. Đồng thời tích cực tham gia đấu thầu quốc tế đối với các mỏ dầu có trữ lượng lớn đã qua điều tra, thăm dò. Điều nầy có nghĩa là trước mắt TQ không cảm thấy gấp vội bắt tay khai thác biển Nam TH mà chi phí khai thác có thể rất cao và chưa được điều tra toàn diện trong khi trên thế giới vẫn còn rất nhiều khu vực có thể hoạt động cung cấp ổn định năng lượng cho mình. Tất nhiên, nhìn về lâu dài, rõ ràng việc khai thác nguồn tài nguyên trên biển Nam TH mang một ý nghĩa rất quan trọng đối với nền kinh tế của TQ, rất nhiều khả năng cho thấy TQ sẽ hành động để dành phần. Nếu như kết quả điều tra Trung-Việt-Phi tốt đẹp thì có khả năng TQ sẽ có chính sách đối phó mới nhằm đảm bảo quyền lợi và bước vào khai thác qui mô ở vùng biển nầy. Vì vậy,có thể nói rằng thay vì làm xấu đi quan hệ với các nước ASEAN nhằm bảo đảm tài nguyên ở vùng biển chung quanh quần đảo TS mà trước mắt không lấy gì cấp bách thì một mặt kéo các nước vào tiến hành điều tra chung để xác nhận trữ lượng tài nguyên, tránh đụng chạm với nước khác là phương sách tốt nhất đối với TQ trong tình cảnh hiện nay.

Kết

TQ là quốc gia đầu tiên thủ tướng Abe Shinzo sang thăm vào tháng 10/2006 sau khi nhiệm chức. Hai bên đã đồng ý hướng đến việc xây dựng một “quan hệ chiến lược cùng có lợi”, bắt đầu cho thấy dấu hiệu cải thiện quan hệ Nhật-Trung đã xấu đi trong thời kì của chính quyền Koizumi. Tháng 4 năm sau Thủ tướng Ôn Gia Bảo sang thăm NB,đạt được một nhận thức chung với phía NB, rằng  “hai nước sẽ cùng nhau đóng góp một cách tích cực vào ổn định, hòa bình và phát triển của Châu Á cũng như thế giới”, lập ra “Đối thoại cấp cao kinh tế Nhật-Trung” nhằm tăng cường quan hệ hợp tác kinh tế, đồng thời tăng cường giao lưu quốc phòng như cho các tàu chiến sang thăm qua lại hay bộ trưởng quốc phòng viếng thăm NB…. Hơn thế nữa, TQ đã bày tỏ lòng biết ơn việc NB cho TQ vay ODA đóng góp vào phát triển kinh tế của TQ, đặt kì vọng vào việc mở rộng hơn nữa vai trò xây dựng của NB trong xã hội quốc tế, “đồng tình và thông cảm với quan tâm nhân đạo của nhân dân NB” trong vấn đề bắt cóc của Bắc Triều Tiên(***Phụ chú) và tỏ ra hết sức tích cực để cải thiện quan hệ đối với NB.(39)

Mặt khác, NB luôn luôn cảnh giác cao độ các chính sách đối với NB của TQ. Trước hết là vấn đề khai thác tài nguyên ở biển Đông TH, trong tinh huống giữa TQ và NB còn nhiều vấn đề không thể bỏ qua như lãnh thổ, chủ quyền giữa hai nước, TQ vẫn tiến hành cấp tốc việc hiện đại hóa sức mạnh quân sự trong khi xã hội quốc tế đang đòi hỏi TQ phải minh bạch mà TQ hằng che dấu. Một bộ phận của NB cũng có khuynh hướng NB nên chia sẻ một nhận thức chung với các nước ASEAN—đang có vấn đề chủ quyền trên biển Nam TH– đối với TQ. Nhưng như chúng tôi đã trình bày trong bài viết nầy, TQ đang có những thay đổi lơn trong cách đối phó và mối quan ngại về sự uy hiếp của TQ đối với các nước ĐNÁ đang lắng dịu rõ rệt.

Tháng 5/2007 trong khi sang thăm TQ, Chủ tịch nước VN Nguyễn Minh Triết đã trả lời phỏng vấn của báo giới truyền thông TQ rằng “vấn đề lãnh thổ giữa hai nước là vấn đề trong nhà”, cho biết không có vấn đề gì hai nước Việt-Trung không giải quyết được. Cho biết VN sẵn sàng làm cầu nối giữa TQ và ASEAN ra sức  thúc đẩy quan hệ giữa hai bên ngày càng phát triển(40). Nhận thức đúng đắn về  sự thay đổi của TQ trong chính sách đối với các nước ASEAN như chúng ta đã thấy qua cách ứng phó trong vấn đề biển Nam TH và những tiến triển của quan hệ ASEAN-TQ theo sau là vô cùng cần thiết trong việc vạch ra chính sách Đông Á và chính sách đối Trung của NB sắp tới.

=========================================================Phụ chú:

(*)xem thêm ”Chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa –

Thử phân tích lập luận của Việt Nam và Trung Quốc” của Từ Đặng Minh Thu

Thời đại mới, số 11-  tháng 7/2007

http://www.tapchithoidai.org/ThoiDai11/200711_TuDangMinhThu.htm

“Chủ quyền quốc gia Việt Nam trên vùng biển Đông và hai quần đảo Hoàng Sa-Trường Sa” của Đinh Kim Phúc

Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển số 4(75)-2009

(**) xem thêm http://www.mofa.gov.vn/vi/cs_doingoai/cs/ns04081808401148

(***) Vấn đề bắt cóc người Nhật về Bắc Triều Tiên xảy ra trong khoảng thòi gian từ năm 1977 đến 1983. Theo công bố của chính phủ NB thì đã có 12 vụ bắt cóc về Triều Tiên với 8  Nữ và 8  Nam ở NB, trong khi  phía Triều Tiên xác nhận là 13 người (6 Nam 7 Nữ).   Có nguồn tin khác cho biết con số người bị bắt cóc lên đến 70-80 người. Đây là một trong những vấn đề ngăn cản việc bình thường hóa quan hệ Nhật-Triều. Hiện nay,vấn đề “bắt cóc” này vẫn chưa được hai nước giải quyết ổn thỏa.(HLT chú)

xem thêm:

http://en.wikipedia.org/wiki/North_Korean_abductions_of_Japanese

http://www.japanesestudies.org.uk/discussionpapers/2007/Ito2.html

=========================================================

Chú thích:

(1)中越間の領土・領海問題についてベトナム側の視点から考察したものとして、庄司智孝「ベトナム・中国間の国境線画定・領土問題」 『防衛研究所紀要』第8巻第3号( 2 0 0 6 年3月) 5 3 ~ 6 7 ページが参考になる。

Vấn đề lãnh hải-lãnh thổ Trung-Việt nhìn từ Việt Nam có thể tham khảo Shoji Michitaka”Vấn đề lãnh thổ-phân định biên giới Việt-Trung” Kỷ yếu nghiên cứu quốc phòng quyển thứ 8, tập 3(3/2006) trang 53-67

(2) 以下の記述については「南海問題」 『中国外交辞典』 (世界知識出版社、 2 0 0 0 年) 2 3 8 ページ、 「中国対南沙群島擁有主権的歴史依拠」 (中国外交部ホームページ 2 0 0 0 年 1 1 月 2 2 日)

những chi tiết trong bài viết lấy từ “Vấn đề Nam Sa”[Từ điển ngoại giao Trung quốc](NXB Tri Thức Thế Giới năm 2000) trang 238 “Căn cứ lịch sử chủ quyền quần đảo Nam SA của TQ”(BNGTQ home page 22.11.2000). Tham khảo

<http : //www.fmprc.

gov.cn/chn/ziliao/wzzt/2305/t10648.htm> および “Historical Evidence to Support China’s Sovereignty

over Nansha Islands,” November 17, 2000 <http: //www.fmprc.gov.cn/eng/topics/3754/t19231.htm>

(3)「中国対南沙群島擁有主権的法理依拠」 (中国外交部ホームページ 2 0 0 0 年 1 1 月 2 2 日)

<http: //www.fmprc.gov.cn/chn/ziliao/wzzt/2305/t10649.htm> を参照。

(4)「南沙太平島」(台湾・行政院海巡署南部地区巡防局ホームページ)

<http: //www.cga.gov.tw/south/taiping/> を参照。

(5) Ramses Amer, “The Territorial Disputes between China and Vietnam and Regional Stability,” Con-

temporary Southeast Asia, Vol. 19, No. 1, June 1997, p. 87.

(6)「中華人民共和国領海及毘連区法」 『人民日報』 1 9 9 2 年2月 2 6 日。

(7) “ASEAN Declaration on the South China Sea,” July 22, 1992 <http: //www.aseansec.org/politics/pol_agr5.htm>.

(8)『読売新聞』1992年7月19日。この記事で中国軍が上陸した岩礁名がダラク礁となっているが、正確にはガベン礁であると思われる。

(9) “Statement by the ASEAN Foreign Ministers on the Recent Development in the South China Sea,” March 18, 1995 <http: //www.aseansec.org/politics/scs95.htm> .

( 1 0 )「擱置争議、共同開発」 (中国外交部ホームページ 2 0 0 0 年 1 1 月7日)<http: //www.fmprc.gov.cn/chniliao/2159/t8958.htm> 。英語版は “Set aside dispute and pursue joint development,” November 17,2000 <http: //www.fmprc.gov.cn/eng/ziliao/3602/3604/t18023.htm> を参照。

防衛研究所紀要第 1 0 巻第1号( 2 0 0 7 年9月)

( 1 1 )「南海問題」 『中国外交辞典』 2 3 8 ページ。

( 1 2 )「中越発表聯合公報」 『人民日報』 1 9 9 1 年 1 1 月 1 1 日。

( 1 3 )「江沢民与黎可漂挙行会談」 『人民日報』 1 9 9 9 年2月 2 6 日。

( 1 4 )「中越聯合声明」 『人民日報』 1 9 9 9 年2月 2 8 日。

( 1 5 ) 以下、トンキン湾における両国の協力に関する記述は、江淮「北部湾:中越合作之湾」 『世界知識』 2 0 0 6 年第 2 4 期、 2 7 ~ 2 9 ページによる。防衛研究所紀要第 1 0 巻第1号( 2 0 0 7 年9月)

( 1 6 )「中越発表聯合公報」 (中国外交部ホームページ 2 0 0 4 年 1 0 月8日) <http: //www.fmprc.gov.cn/chn/wjb/zzjg/yzs/gjlb/1338/1339/t163636.htm> 。

( 1 7 )「中越双辺合作指導委員会首次会議在河内挙行」 『人民日報』 2 0 0 6 年 1 1 月 1 2 日。

( 1 8 )「胡錦濤同越共中央総書記農徳孟越南国家主席阮明哲会談」 『人民日報』 2 0 0 6 年 1 1 月 1 7 日。防衛研究所紀要第 1 0 巻第1号( 2 0 0 7 年9月)

( 1 9 )「中越聯合声明」 『人民日報』 2 0 0 6 年 1 1 月 1 8 日。

( 2 0 ) [1]亜平・梁思奇・蒋桂斌「北部湾:区域経済合作新接口」 『瞭望新聞週刊』 2 0 0 6 年6月5日、 3 8

~ 4 0 ページ。

( 2 1 ) 杜新・劉偉「 “一軸両翼”推動和諧共贏」 『瞭望新聞週刊』 2 0 0 6 年 1 0 月 3 0 日。

( 2 2 )「温家宝会見越共総書記農徳孟」 『人民日報』 2 0 0 4 年 1 0 月8日。

( 2 3 )「外交部発言人答記者問 東盟“南海地区行為準則”第二次磋商」 『人民日報』 2 0 0 0 年8月 3 1 日。

防衛研究所紀要第 1 0 巻第1号( 2 0 0 7 年9月)

( 2 4 ) “Declaration on the Conduct of Parties in the South China Sea,” November 4, 2002 <http: //www.

aseansec.org/13165.htm>.

( 2 5 )「中国与東盟簽署南海各方行為宣言」 『人民日報』 2 0 0 2 年 1 1 月5日。

( 2 6 ) “Joint Declaration of the Heads of State/Government of the ASEAN and the PRC on Strategic Partnership for Peace and Prosperity,” October 8, 2003 <http: //www.aseansec.org/15266.htm>.

( 2 7 ) “Plan of Action to Implement the Joint Declaration on ASEAN-China Strategic Partnership for Peace and Prosperity,” December 8, 2004

<http: //www.aseansec.org/16806.htm>.

( 2 8 )「中菲越簽署南海地震聯合勘探協議」 『人民日報』 2 0 0 5 年3月 1 7 日、 「中菲越打破僵局開発南海」 『環

球時報』 2 0 0 5 年3月 1 7 日および張学剛「南海:共同開発大歩走」 『世界知識』 2 0 0 5 年第7期、 3 2 ~

3 3 ページ。

( 2 9 )「変争議之海為合作之海(短評) 」 『人民日報』 2 0 0 5 年3月 1 6 日。

( 3 0 ) 王健君・劉新宇「胡錦濤越南之旅詮釈中国周辺戦略」 『瞭望新聞週刊』 2 0 0 5 年第 4 5 期( 1 1 月7日)

5 3 ~ 5 4 ページ。

( 3 1 ) 楊青「正確認識和処理南海権益争端」 『瞭望新聞週刊』 2 0 0 6 年第3期(1月 1 6 日) 3 9 ページ。

( 3 2 ) Joshua P. Rowan, “The U.S.-Japan Security Alliance, ASEAN, and the South China Sea Dispute,” Asian Survey, Vol. 65, No. 3, May/June 2005, pp. 429-431.

防衛研究所紀要第 1 0 巻第1号( 2 0 0 7 年9月)

( 3 3 ) 鞠海龍「南海問題能 和平解決 」 『世界知識』 2 0 0 7 年第3期、 3 0 ページ。

( 3 4 )「朱鎔基出席東盟有関会議和訪問柬埔砦取得成功」 『人民日報』 2 0 0 2 年 1 1 月5日。

( 3 5 ) 譚再文「南海共同開発的国際政治経済学」 『南洋問題研究』 2 0 0 5 年第3期、 1 3 ページ。

( 3 6 ) 十市勉「中国のエネルギー戦略と日本」 『東亜』 2 0 0 4 年7月号、 1 1 ~ 1 2 ページ。

( 3 7 )「中国、 2 0 1 0 年の石油生産量が2億トンに」 『人民網日本語版』 2 0 0 5 年 1 2 月 1 2 日。

( 3 8 ) 楊青「正確認識和処理南海権益争端」 3 9 ページ。

( 3 9 )「日中共同プレス発表」 (日本国外務省ホームページ 2 0 0 7 年4月 1 1 日)<http: //www.mofa.go.jp/mo-faj/area/china/visit/0704_kh.html>。

(40)「将越中関係推向新高度――訪越南国家主席阮明哲」『人民日報』2007年5月19日。

防衛研究所紀要第 1 0 巻第1号( 2 0 0 7 年9月)

(いいだまさふみ 研究部第6研究室主任研究官)

www.nids.go.jp/dissemination/kiyo/pdf/bulletin_j10_1_4.pdf

Posted in Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa | Leave a Comment »

►Nội tình cuộc gặp lãnh đạo Trung – Việt tại Thành Đô, Trung Quốc 1990

Posted by hoangtran204 trên 12/11/2014

Các bạn cần chú ý: Tại sao cuộc họp này xảy ra ngày 3 và 4 tháng 9, 1990, mà đến nay mới có bài đăng trên “Tạp chí Trung Quốc 《党史纵横》“Đảng sử tung hoành” [4] bản điện tử ngày 26-8-2014.” Sự kiện này có nhằm che dấu điều gì không?

Nội tình cuộc gặp lãnh đạo Trung – Việt tại Thành Đô

Tác giả: Lý Gia Trung
Nguyên Hải  (dịch)
(Trường ĐHKHXH&NV, Đại học Quốc gia TPHCM)
7-11-2014

 

141017141720_do_muoi_512x288_xinhua.jpgTháng 11 năm 1991, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Đỗ Mười và Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Việt Nam Võ Văn Kiệt chính thức thăm Trung Quốc, lãnh đạo hai nước ra Thông cáo chung, tuyên bố thực hiện bình thường hóa mối quan hệ Trung –Việt, từ đó kết thúc trạng thái đối lập trong mối quan hệ giữa hai nước kéo dài tới 13 năm. Cần nói rằng để đạt được mục tiêu ấy, cả hai bên đều đã có những cố gắng lớn, trong đó cuộc gặp Thành Đô tháng 9-1990 giữa người lãnh đạo hai nước có ý nghĩa lịch sử quan trọng. Nó đánh dấu điểm ngoặt trong mối quan hệ Trung-Việt, không những san bằng con đường bình thường hóa mối quan hệ này mà còn có ảnh hưởng sâu sắc lâu dài tới sự tiếp tục phát triển mối quan hệ hai nước.

Thay đổi chính quyền, quan hệ Trung -Việt xuất hiện tia sáng ban mai

Năm 1975 sau khi cuộc kháng chiến chống Mỹ của Việt Nam kết thúc, những người lãnh đạo Việt Nam hồi đó đã không kịp thời hàn gắn các vết thương do chiến tranh mang lại, mà triệt để xa rời đường lối Hồ Chí Minh, đối nội cưỡng chế thi hành cải tạo XHCN quá “tả”, đối ngoại dựa vào sự ủng hộ của Liên Xô, ra sức đẩy mạnh chủ nghĩa bá quyền khu vực, điên cuồng chắp nối lắp ghép “Liên bang Đông Dương”. Dưới sự dẫn dắt của đường lối sai lầm đó, Việt Nam một mặt công khai chống Trung Quốc, một mặt ra sức khống chế Lào, thậm chí phát động xâm lược vũ trang Campuchia. Những việc làm của họ đã đưa nền kinh tế Việt Nam tiến gần tới miệng hố sụp đổ, hoàn cảnh quốc tế bị cô lập chưa từng thấy.

Tháng 7-1986, Tổng Bí thư ĐCSVN Lê Duẩn ốm chết. Tháng 12 cùng năm, tại Đại hội VI ĐCSVN, Nguyễn Văn Linh được bầu làm Tổng Bí thư Đảng. Trong thời kỳ Việt Nam kháng chiến chống Mỹ những năm 60, Nguyễn Văn Linh là thành viên ban lãnh đạo Trung ương Cục Miền Nam ĐCSVN, từng nhiều lần bí mật thăm Trung Quốc, có thái độ thành khẩn hữu hảo đối với Trung Quốc, rất được Mao Chủ tịch và Thủ tướng Chu Ân Lai đánh giá cao, cho rằng ông là người lãnh đạo kế tục rất có hy vọng của Việt Nam. Nhưng sau khi kháng chiến chống Mỹ kết thúc, Nguyễn Văn Linh không tán thành chính sách đối nội đối ngoại sai lầm của người lãnh đạo đương thời, vì thế ông từng mấy lần bị gạt bỏ. Sau khi lên làm Tổng Bí thư ĐCSVN, Nguyễn Văn Linh khẩn trương uốn nắn toàn bộ cách làm sai lầm của người tiền nhiệm, đề xuất khẩu hiệu Việt Nam cần phải “làm bạn với tất cả các nước”. Ông cho rằng lúc đó Việt Nam có hai nhiệm vụ khẩn thiết nhất là rút quân khỏi Campuchia và cải thiện quan hệ với Trung Quốc.

Thế nhưng Bộ Ngoại giao do Nguyễn Cơ Thạch, – một thân tín của Tổng Bí thư tiền nhiệm, Ủy viên Bộ Chính trị ĐCSVN, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao nắm giữ – vẫn tiếp tục hành sự theo tư duy của Lê Duẩn, tìm đủ mọi cách can nhiễu và ngăn cản sự bố trí chiến lược của Nguyễn Văn Linh. Là người lãnh đạo mới lên nắm quyền, Nguyễn Văn Linh chưa có cơ sở vững chắc trong tầng lớp quyết sách ở trung ương; một số ý tưởng của ông cũng chưa được nhiều người lãnh đạo hiểu biết và ủng hộ. Trong tình hình đó, làm thế nào mới có thể thực hiện được mục tiêu nói trên là một vấn đề hóc búa và đau đầu nhưng lại tất phải giải quyết.

Cay-xỏn Phôm-vi-hản thăm Trung Quốc ba lần xin gặp Đặng Tiểu Bình thổ lộ điều bí mật

Tháng 10-1989, Tổng Bí thư Đảng Nhân dân cách mạng kiêm Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Lào Cay-xỏn Phôm-vi-hản thăm Trung Quốc. Hồi ấy tôi là Trưởng phòng Đông Dương, Vụ Châu Á Bộ Ngoại giao có tham gia công tác tiếp đón. Theo kế hoạch đón tiếp được Trung ương duyệt thì Thủ tướng Lý Bằng sẽ chủ trị hội đàm, Tổng Bí thư Giang Trạch Dân hội kiến và mở tiệc chiêu đãi loại thường (nguyên văn tiện yến). Nhưng phía Lào tha thiết mong muốn đồng chí Đặng Tiểu Bình có thể hội kiến Cay-xỏn Phôm-vi-hản. Phía Trung Quốc tỏ ý Đặng Tiểu Bình tuổi đã cao, không thể gặp bất cứ khách nước ngoài nào, xin thông cảm. Dù vậy, Cay-xỏn Phôm-vi-hản vẫn kiên trì yêu cầu gặp Đặng Tiểu Bình, tôi nhớ là họ trước sau ba lần đề ra vấn đề này. Trong tình hình đó, qua nhiều lần nghiên cứu, bàn bạc, cuối cùng thỏa thuận mời Đặng Tiểu Bình gặp ngắn gọn có tính nghi lễ. Vì vậy Bộ Ngoại giao cũng không chuẩn bị đề cương chi tiết các điểm chính để tham khảo khi trò chuyện.

Không ngờ hai vị lãnh đạo nói chuyện lâu tới 40 phút, hơn nữa đều nói về những vấn đề có tính thực chất rất quan trọng. Cay-xỏn Phôm-vi-hản thành khẩn thừa nhận trong 10 năm qua mối quan hệ Lào với Trung Quốc ở vào trạng thái không bình thường là do chịu “ảnh hưởng từ bên ngoài”, chuyến thăm Trung Quốc lần này sẽ đánh dấu việc hoàn toàn bình thường hóa quan hệ hai nước. Đồng thời Cay-xỏn Phôm-vi-hản còn chuyển lời hỏi thăm thân thiết của Tổng Bí thư ĐCSVN Nguyễn Văn Linh tới Đặng Tiểu Bình, nói Việt Nam đã có nhận thức mới đối với tình hình Trung Quốc, thái độ đối với Trung Quốc cũng có thay đổi, còn nói Nguyễn Văn Linh hy vọng Trung Quốc có thể mời ông thăm Trung Quốc.

Đặng Tiểu Bình cũng mời Cay-xỏn Phôm-vi-hản chuyển hộ lời hỏi thăm Nguyễn Văn Linh và nói: “Tôi quen đồng chí Nguyễn Văn Linh từ lâu, tôi biết đồng chí ấy tư duy linh hoạt, rất có lý trí, công tác rất đắc lực, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất coi trọng đồng chí ấy. Tôi mong muốn đồng chí Nguyễn Văn Linh quả quyết giải quyết dứt điểm vấn đề Campuchia. Hiện nay tôi đã già, sắp nghỉ hưu, tôi hy vọng trước khi nghỉ hưu hoặc không lâu sau khi tôi nghỉ hưu, vấn đề Campuchia sẽ có thể được giải quyết, mối quan hệ Trung Quốc – Việt Nam khôi phục bình thường, như vậy một nỗi băn khoăn (nguyên văn tâm sự) của tôi sẽ được dẹp bỏ.”

Đặng Tiểu Bình đặc biệt nhấn mạnh Việt Nam phải rút sạch sành sanh quân đội ra khỏi Campuchia. Ông nhờ Cay-xỏn Phôm-vi-hản chuyển những ý kiến đó tới Nguyễn Văn Linh. Ngoài ra Đặng Tiểu Bình còn nói một câu ý vị sâu sắc: “Nguyễn Cơ Thạch, cái người này thích hoạt động lén lút.” Lúc ấy tôi làm công tác ghi chép tại chỗ, cảm thấy câu này dường như buột miệng nói ra, nhưng trọng lượng rất nặng. Theo tôi hiểu, câu nói ấy muốn bảo Nguyễn Văn Linh rằng Trung Quốc đã mất niềm tin với Nguyễn Cơ Thạch, cho dù là giải quyết vấn đề Campuchia hay thực hiện bình thường hóa mối quan hệ Trung – Việt đều không thể hy vọng và dựa vào Nguyễn Cơ Thạch.

Nguyễn Văn Linh tiếp Đại sứ Trung Quốc để tỏ ý hữu hảo

Cay-xỏn Phôm-vi-hản trên đường về nước có dừng lại ngắn ngày ở Việt Nam, ông đã kịp thời và toàn diện chuyển tới Nguyễn Văn Linh lời nhắn của Đặng Tiểu Bình. Nghe xong, Nguyễn Văn Linh rất coi trọng, càng có hiểu biết thiết thân về “hoạt động lén lút” của Nguyễn Cơ Thạch. Ông hiểu rằng muốn cải thiện quan hệ Việt –Trung trước hết phải giải quyết vấn đề Campuchia, mà giải quyết vấn đề Campuchia như thế nào thì phải bàn với Trung Quốc. Ông còn ý thức được rằng Đặng Tiểu Bình tuy đã gửi lời nhắn nhưng lại không đưa ra lời mời mình thăm Trung Quốc. Trong tình hình đó làm cách nào để thực hiện thăm Trung Quốc là vấn đề ông cần gấp rút giải quyết.

Ngày 5-6-1990, qua sự nỗ lực của nhiều bên, Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh đã hội kiến Đại sứ Trung Quốc ở Việt Nam Trương Đức Duy tại Nhà khách Trung ương ĐCSVN. Trước tiên Nguyễn Văn Linh nhờ Đại sứ Trương chuyển lời hỏi thăm của ông tới các đồng chí lãnh đạo Trung Quốc Đặng Tiểu Bình, Giang Trạch Dân, Lý Bằng. Nguyễn Văn Linh nói, trong thời kỳ Việt Nam kháng chiến chống Mỹ, ông từng nhiều lần đi Trung Quốc, đã gặp Mao Chủ tịch, Thủ tướng Chu Ân Lai, các đồng chí Đặng Tiểu Bình v.v… Mao Chủ tịch, Thủ tướng Chu Ân Lai, đồng chí Đặng Tiểu Bình là người cùng thế hệ với Hồ Chủ tịch; Nguyễn Văn Linh là học trò của họ. Trong thời kỳ cách mạng và kháng chiến cũng như trong nhà tù của kẻ địch, ông luôn luôn học tập và nghiên cứu các trước tác của Mao Chủ tịch bàn về cách mạng dân tộc dân chủ, được lợi không ít. Trong thời kỳ Việt Nam chống Pháp, chống Mỹ, Trung Quốc đã viện trợ to lớn cho Việt Nam về mọi mặt, cả đến gạo, bánh quy nén, dưa chua, đều do Trung Quốc giúp. Hơn nữa Trung Quốc cũng giúp Việt Nam rất nhiều về chiến lược và tư tưởng chỉ đạo, thí dụ Việt Nam làm chiến tranh nhân dân là học tư tưởng chiến tranh nhân dân của Mao Chủ tịch rồi vận dụng vào thực tiễn Việt Nam. Có thể nói nếu không có sự viện trợ của Trung Quốc thì Việt Nam không thể đánh bại đế quốc Mỹ.

Nguyễn Văn Linh nói, sau khi kháng chiến chống Mỹ thắng lợi, toàn quốc thống nhất, Việt Nam lẽ ra nên tập trung lực lượng xây dựng kinh tế, nhưng đã xuất hiện tình hình khó khăn và phức tạp không ngờ tới, mười mấy năm nay Việt Nam càng gian khổ hơn thời kỳ chống Mỹ, đời sống ngày càng khó khăn, đặc biệt là mối quan hệ Việt –Trung xuất hiện khó khăn. Ông nói rằng Việt Nam đã làm một số việc không tốt với Trung Quốc. Ông luôn chủ trương làm sai thì phải sửa. Mong các đồng chí Trung Quốc thông cảm và bỏ qua những chuyện về mặt này, chuyện đã qua rồi thì để nó qua đi thôi. Việc quan trọng hơn trước mắt là làm tốt mối quan hệ giữa hai nước hiện nay và sau này.

Nguyễn Văn Linh nói tình hình quốc tế đang thay đổi mạnh, tình thế ở Đông Âu diễn biến rất phức tạp, tình thế Liên Xô cũng rất nghiêm trọng. Bọn đế quốc dốc sức can thiệp, ra sức làm diễn biến hòa bình, mơ tưởng một lần tiêu diệt chủ nghĩa xã hội. Trước kia mọi người nói Liên Xô là thành trì của hòa bình thế giới, nhưng hiện nay thành trì này đang lung lay. Trung Quốc là một nước lớn, Đảng Trung Quốc là một đảng lớn, lại kiên định đi con đường XHCN. Trong tình hình hiện nay, Trung Quốc có địa vị và tác dụng đặc biệt quan trọng. Chúng tôi cần Trung Quốc giơ ngọn cờ XHCN. Hai nước Việt Nam – Trung Quốc là láng giềng XHCN. Việt Nam là nước nhỏ, Đảng Việt Nam là đảng nhỏ, rất cần có sự ủng hộ và giúp đỡ của một nước lớn, đảng lớn như Trung Quốc. Nguyễn Văn Linh nói đây là lời thực lòng của ông.

Nguyễn Văn Linh nói, vấn đề Campuchia dù thế nào cũng phải giải quyết một cách hòa bình, Campuchia trong tương lai không nên thân phương Tây, cũng không được để phương Tây và Liên Hợp Quốc can thiệp quá sâu. Bởi vậy hai phía Việt Nam – Trung Quốc có thể hợp tác với nhau, từ bên trong thúc đẩy Pol Pot, Ieng Sary hòa giải với Heng Samrin, Hun Sen, đối ngoại vẫn có thể theo con đường thương lượng giữa các bên hiện nay. Ý tưởng gạt bỏ Khmer Đỏ là không thực tế.

Nguyễn Văn Linh tỏ ý ông rất muốn gặp mặt các đồng chí lãnh đạo Trung Quốc cao nhất để trao đổi ý kiến một cách thấu triệt, như anh em với nhau, có thể không câu nệ nghi lễ ngoại giao. Ông nói, kinh nghiệm lịch sử cho thấy người lãnh đạo cao nhất hai nước trực tiếp nói chuyện với nhau thì dễ hiểu biết thông cảm lẫn nhau và đạt được nhất trí, cũng có thể giải quyết được nhiều vấn đề quan trọng. Nguyễn Văn Linh còn nói, ông đã nhiều tuổi, muốn trước khi nghỉ hưu có thể bàn bạc cùng với người lãnh đạo Trung Quốc giải quyết xong dứt điểm vấn đề Campuchia và khôi phục quan hệ Việt –Trung.

Khi hội kiến, Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch cũng có mặt, nhưng nội dung nói chuyện hoàn toàn khác với luận điệu cũ rích chống Trung Quốc của Nguyễn Cơ Thạch. [Tôi] đoán rằng việc bố trí Nguyễn Cơ Thạch dự hội kiến rất có thể có dụng ý là để ông ta mặt đối mặt nghe xem rốt cuộc Tổng Bí thư nói gì, cũng có thể lúc ấy [Tổng Bí thư] còn có chút hy vọng với ông ta, dành cho ông ta cơ hội thay đổi cách làm việc. Dĩ nhiên cũng chính là do Nguyễn Cơ Thạch có mặt nên Nguyễn Văn Linh chưa nói sâu sắc, thấu triệt hơn.

Sau khi kết thúc cuộc hội kiến, Đại sứ Trương lập tức báo cáo cho bên nhà biết chi tiết nội dung cuộc nói chuyện của Nguyễn Văn Linh và thỉnh thị trong nước có chỉ thị gì. Bên nhà nghiên cứu kỹ rồi nhanh chóng trả lời rằng hãy cứ yêu cầu Việt Nam rút nhanh quân đội ra khỏi Campuchia và giải quyết ổn thỏa vấn đề liên hợp hai bên đối lập ở Campuchia sau khi rút quân, tức chính quyền Phnom Penh với ba phái lực lượng chống đối, sau đó sẽ từng bước thu xếp suôn sẻ cuộc gặp cấp cao giữa nhà lãnh đạo hai nước. Trong tình hình đó, làm cách nào để phá vỡ thế bí, thực hiện cuộc gặp với lãnh đạo Trung Quốc là vấn đề đòi hỏi Nguyễn Văn Linh suy nghĩ rất lung.

Một nhân vật bí ẩn xuất hiện ở Sứ quán cho xem mật thư

Sáng ngày 16-8-1990, một cán bộ họ Hoàng của Viện Khoa học xã hội Việt Nam đến trước cổng Đại sứ quán Trung Quốc. Ông nói với nhân viên tiếp đón của Sứ quán là có việc cần gặp Đại sứ Trương. Đại sứ đã tiếp ông này tại phòng khách Sứ quán. Vì Đại sứ Trương thạo tiếng Việt nên hai người nói chuyện không cần phiên dịch. Hoàng nói nhà ông ở gần nhà Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh, tối ngày 13/8 Tổng Bí thư cho xe đón ông đến nhà nói chuyện một giờ đồng hồ. Tổng Bí thư nói ông vốn dĩ muốn một lần nữa hẹn gặp Đại sứ Trương nhưng Bộ Ngoại giao ngăn cản, nói là không cần thiết. Vì vậy Tổng Bí thư nhờ Hoàng nhắn miệng tới Đại sứ Trương.

Nói đoạn, Hoàng lấy từ túi áo ra một mảnh giấy viết thư gập lại rất nhỏ và giải thích đây là những điều ông ghi lại lời của Tổng Bí thư, đã được Tổng Bí thư soát lại không có gì sai. Trong đó có đoạn nói:

Tháng 10 năm ngoái, đồng chí Cay-xỏn chuyển tới tôi lời hỏi thăm của đồng chí Đặng Tiểu Bình và lời nhắn miệng nói đồng chí hy vọng trong những năm còn sống được thấy quan hệ Trung Quốc – Việt Nam bình thường hóa, tôi rất hoan nghênh những điều đó. Cũng vậy, tôi tha thiết mong muốn trong nhiệm kỳ tôi chủ trì Trung ương ĐCSVN khóa VI có thể khôi phục quan hệ Việt Nam – Trung Quốc để từ Đại hội VII sắp họp sẽ bắt đầu một giai đoạn mới trong quan hệ giữa hai nước. Làm được việc này tôi mới xứng đáng với sự tín nhiệm của nhân dân Việt Nam và đảng viên ĐCSVN dành cho tôi.

“Sở dĩ vấn đề Campuchia trở ngại ấy cãi nhau mãi chưa thể giải quyết là do Nguyễn Cơ Thạch luôn luôn làm chệch hướng việc này. Tôi cho rằng hiện nay người lãnh đạo hai nước cần phải bàn bạc trực tiếp và đi sâu, nhằm thanh toán hết mọi hiểu lầm và loại bỏ sự can thiệp của Bộ Ngoại giao Việt Nam. Tôi tin rằng những người cộng sản chân chính của hai nước đều xuất phát từ hy vọng tha thiết bảo vệ CNXH và khôi phục tình hữu nghị trong sáng chân thành giữa hai nước để tiến hành gặp gỡ, vấn đề Campuchia nhất định có thể nhanh chóng được giải quyết. Nếu các đồng chí Trung Quốc cũng có quan điểm như vậy thì đề nghị gửi lời mời nội bộ, tôi sẽ lập tức bí mật đi Trung Quốc.

Để việc thảo luận tiến hành được chắc chắn tin cậy, để sau khi về nước tôi có thể thuyết phục có hiệu quả tập thể Ban Chấp hành trung ương và Bộ Chính trị ĐCSVN, tốt nhất nên có hai đồng chí Đỗ Mười, Phạm Văn Đồng cùng tôi đi Trung Quốc.”

Điểm xuất phát tôi yêu cầu đi thăm Trung Quốc nội bộ là để đích thân thâm nhập nghe ý kiến của các đồng chí Giang Trạch Dân, Đặng Tiểu Bình, Lý Bằng, cũng là để các đồng chí lãnh đạo Trung Quốc đích thân thâm nhập hiểu rõ cá nhân tôi. Hai bên cùng nhau thành khẩn tìm ra phương án giải quyết tốt nhất một loạt vấn đề, trước hết là vấn đề Campuchia. Trước mắt tôi có khó khăn nhất định nhưng tôi có niềm tin.

Nếu được các đồng chí Trung Quốc ủng hộ và giúp đỡ, tôi sẽ đi theo đường lối của Hồ Chủ tịch, thuận lợi tiến chắc tới mục tiêu trên phương diện xây dựng tình hữu nghị Việt-Trung tốt đẹp, bảo vệ CNXH và lợi ích cách mạng chung.”

Đỗ Mười mà Nguyễn Văn Linh nhắc tới là Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (Thủ tướng) Việt Nam, Phạm Văn Đồng là cựu Thủ tướng Việt Nam, bấy giờ làm Cố vấn Trung ương Đảng.

Hoàng giải thích, ông hiểu ý của Tổng Bí thư là: do Ngoại trưởng Nguyễn Cơ Thạch ngấm ngầm gây bế tắc, tiến trình Việt Nam – Trung Quốc giải quyết vấn đề Campuchia và khôi phục quan hệ hai nước bị cản trở, bởi thế Tổng Bí thư muốn đi vòng qua Nguyễn Cơ Thạch và Bộ Ngoại giao do ông ấy nắm, lãnh đạo cao nhất hai nước trực tiếp gặp nhau, sau khi bàn bạc quyết định vấn đề rồi có thể ra lệnh cho Bộ Ngoại giao quán triệt chấp hành.

Tiễn đưa Hoàng xong, việc đầu tiên Đại sứ Trương vội làm là lập tức báo cáo trong nước biết các ý kiến Nguyễn Văn Linh nhờ Hoàng chuyển giúp. Nhưng đồng thời [Đại sứ] cần xem xét một vấn đề là Đại Sứ quán có nên đề xuất với trong nước quan điểm và kiến nghị của mình hay không. Chỗ khó là bên nhà vừa mới trả lời rõ ràng yêu cầu đi thăm nội bộ Trung Quốc do Nguyễn Văn Linh đề ra hôm mồng 5 tháng 6, tức đòi phía Việt Nam trước tiên phải giải quyết vấn đề rút quân khỏi Campuchia và xúc tiến việc thành lập sự liên hợp hai bên đối lập ở Campuchia, rồi mới thu xếp cuộc gặp người lãnh đạo hai nước. Trong tình hình này, nếu lặp lại ý kiến của bên nhà thì coi như không nêu ra kiến nghị nữa; nhưng nếu đưa ra kiến nghị khác với ý kiến bên nhà thì liệu có bị hiểu nhầm là chủ trương ngược lại với trong nước chăng?

Vì việc đó, chiều hôm ấy khi vừa bắt đầu giờ làm việc, Đại sứ Trương gọi tôi và hai Bí thư thứ nhất cùng bàn bạc. Qua thảo luận, Đại sứ Trương và chúng tôi nhất trí cho rằng chức trách của Đại Sứ quán là đứng gác cho trong nước, làm tốt nhiệm vụ tham mưu. Phúc đáp lần trước của trong nước rõ ràng là đúng, nhưng hiện giờ xuất hiện tình hình mới, Nguyễn Văn Linh quyết kế đi vòng qua Nguyễn Cơ Thạch để tiến hành bàn bạc chân thành có tính thực chất với người lãnh đạo nước ta; vì vậy Đại Sứ quán nên căn cứ tình hình mới, mạnh dạn nêu ra kiến nghị mới. Thế là Sứ quán trịnh trọng kiến nghị bên nhà tích cực xem xét việc Nguyễn Văn Linh một lần nữa nêu yêu cầu thăm Trung Quốc nội bộ.

Đại sứ Trương thi hành diệu kế đến thăm Bộ Quốc phòng

Đêm 19 tháng 8, Sứ quán nhận được trả lời của trong nước. Bên nhà chỉ thị Đại sứ Trương tìm cách tránh Bộ Ngoại giao Việt Nam, gặp người tin cậy ở bên cạnh Nguyễn Văn Linh đề xuất Đại sứ muốn sớm gặp riêng Tổng Bí thư để trực diện tìm hiểu ý đồ thật sự của Tổng Bí thư; có kết quả gì lập tức báo cáo trong nước. Không còn nghi ngờ gì nữa, đối với Đại sứ, đây là nhiệm vụ chính trị quan trọng hàng đầu và vượt trên tất cả mọi nhiệm vụ khác, nhưng chẳng nói cũng rõ mức độ khó khăn của công việc này.

8 giờ sáng ngày 20, Đại sứ Trương triệu tập cuộc họp mở rộng Đảng ủy Sứ quán nghiên cứu cách thực hiện chỉ thị của trong nước, nhưng chẳng ai đề ra được kế sách hay nào. Mọi người đều rõ, trong suốt những năm 80, Việt Nam luôn luôn coi Trung Quốc là “kẻ địch trực tiếp nhất, nguy hiểm nhất”, các phương tiện truyền thông như báo chí, đài phát thanh truyền hình đều phát đi những nội dung chống Trung Quốc; trong các buổi chiêu đãi và mọi nghi thức ngoại giao, bất cứ quan chức Việt Nam nào cũng không dám nói chuyện với quan chức ngoại giao Trung Quốc. Trong tình hình như vậy, chưa nói việc chẳng có cách nào tìm gặp được người tin cậy ở bên Nguyễn Văn Linh mà ngay cả chuyện ai là người tin cậy ở bên Tổng Bí thư, cũng không ai biết.

Trong tình hình tìm không ra manh mối nào, mọi người không hẹn mà cùng nhớ tới một chuyện. Đó là ngày 6 tháng 6, tức sau hôm Nguyễn Văn Linh gặp Đại sứ Trương, Đại tướng Lê Đức Anh, Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam có gặp riêng và mời cơm Đại sứ Trương. Ngoài việc giải thích thêm tinh thần câu chuyện Nguyễn Văn Linh nói hôm mồng 5 ra, Lê Đức Anh còn nói không ít những lời hữu nghị với Trung Quốc. Thế là Đại sứ Trương quyết định thử dùng kênh thông qua Bộ Quốc phòng và Lê Đức Anh xem sao; ông chỉ thị Tùy viên quân sự Sứ quán là Thượng tá Triệu Nhuệ lập tức hành động.

Quả nhiên Đại tướng Lê Đức Anh rất vui lòng gặp Đại sứ Trương. Tám giờ sáng ngày 21, Đại sứ Trương đi một chiếc xe con không cắm quốc kỳ đến Bộ Quốc phòng Việt Nam. Lê Đức Anh thân mật bắt tay, ôm vai Đại sứ Trương và nói Đại sứ muốn gặp ông lúc nào ông đều hoan nghênh cả. Đại sứ Trương đi thẳng ngay vào vấn đề, tóm tắt kể lại một lượt việc hôm trước Hoàng Nhật Tân chuyển tới Đại sứ những lời của Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh, ngỏ ý bản thân Đại sứ rất muốn trực diện nghe ý kiến của Tổng Bí thư, hy vọng Lê Đức Anh liên hệ giúp. Lê tỏ ý sẽ lập tức làm ngay việc này.

Chiều hôm ấy Cục trưởng Cục Đối ngoại Bộ Quốc phòng Việt Nam Vũ Xuân Vinh khẩn cấp hẹn gặp Tùy viên quân sự Sứ quán Trung Quốc Triệu Nhuệ và báo cho biết: Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh sẽ hội kiến Đại sứ Trương vào 7 giờ 30 tối ngày 22 tại Nhà khách Bộ Quốc phòng, hai bên đều không mang theo phiên dịch viên, kiến nghị Đại sứ Trương đi xe khác, không cắm quốc kỳ. Vũ còn nói việc này chỉ có ông và Trưởng phòng Vũ Tần của Cục Đối ngoại Bộ Quốc phòng Việt Nam biết, những người khác đều không biết. Sau khi về Sứ quán, Tùy viên Triệu lập tức báo cáo Đại sứ Trương.

Có những sự việc không hẹn mà gặp nhau. Vợ chồng Đại sứ Trương vốn dĩ đã ấn định 6 giờ 30 tối ngày 22 mời cơm vợ chồng Đại sứ Malaysia, trước đó đã gửi thiếp mời. Để không thất lễ mà lại có thể bảo đảm đúng giờ đi gặp Nguyễn Văn Linh, Đại sứ quyết định giả vờ ốm, để tôi và phu nhân Đại sứ tiếp khách dùng cơm. Tối hôm ấy vợ chồng Đại sứ Malaysia đúng giờ đến Đại Sứ quán. Sau khi vào phòng khách, họ thấy Đại sứ Trương vẻ thiểu não đang ngồi trên ghế được người phiên dịch và nhân viên tiếp tân dìu đứng dậy, mệt nhọc nói: “Xin chào Đại sứ và phu nhân. Rất xin lỗi các ngài là cái bệnh Meniere [2] của tôi lại tái phát, làm cho tôi bị nhức đầu buồn nôn, vì thế tôi chỉ có thể tiếp các ngài được một lúc thôi ạ. Ông Lý, Tham tán Chính trị của Đại Sứ quán và phu nhân của tôi sẽ tiếp ngài Đại sứ và phu nhân dùng cơm.” Nghe nói vậy, Đại sứ Malaysia rất cảm động, ông nói: “Ngài Đại sứ đang đau ốm mà vẫn ra đón khách, chúng tôi thật không phải với ngài. Xin mời Đại sứ về nghỉ ngơi, chúc ngài sớm bình phục.” Nói đoạn, ông thân chinh dìu Đại sứ Trương đứng dậy, hai người bắt tay tạm biệt. Vừa ra khỏi phòng khách, Đại sứ Trương rảo bước đi tới chiếc xe đang chờ sẵn trong sân. Chiếc Toyota màu đen phóng ngay tới Bộ Quốc phòng Việt Nam.

Nguyễn Văn Linh bí mật gặp Đại sứ Trương

Khi gặp Đại sứ Trương, trước tiên Nguyễn Văn Linh khẳng định ông đã nhờ Hoàng Nhật Tân là con trai Hoàng Văn Hoan chuyển lời nhắn tới Đại sứ Trương, nội dung cũng chính xác không có gì sai cả. Nguyễn Văn Linh nói bản thân ông trước nay đều cho rằng Việt Nam nên giữ quan hệ tốt với Trung Quốc. Năm 1976, tại Đại hội IV ĐCSVN, vì không đồng ý với một số biện pháp làm xấu mối quan hệ Việt Nam – Trung Quốc của chính quyền hồi ấy mà ông bị lên án là “hữu khuynh”. Năm 1982 tại Đại hội V ĐCSVN lại vì ông chủ trương trong giai đoạn hiện nay Việt Nam nên cho phép đồng thời tồn tại nhiều thành phần kinh tế và không đồng ý với chính sách chống Trung Quốc mà bị chèn ép ra khỏi Bộ Chính trị. Hồi ấy ông rất khó hiểu tại sao lại áp dụng thái độ như vậy với Trung Quốc. Nếu Bác Hồ còn thì nhất định sẽ không xuất hiện những chuyện kỳ quặc như thế. Nguyễn Văn Linh còn nói, chính sách của Việt Nam đối với Hoa kiều và người Hoa cũng sai lầm. Hoa kiều và người Hoa có đóng góp quý giá cho cách mạng Việt Nam, sau khi chiến thắng, Việt Nam lại kỳ thị họ, xua đuổi họ, thật là không có tình có lý.

Nguyễn Văn Linh nói, năm 1986, sau khi nhận nhiệm vụ Tổng Bí thư ĐCSVN ông quyết tâm vượt qua mọi sức cản, từng bước uốn nắn các sai lầm trước đây, khôi phục mối quan hệ hữu nghị với Trung Quốc. Trước hết là thuyết phục Trung ương ĐCSVN kiến nghị Quốc hội xóa bỏ các nội dung có liên quan chống Trung Quốc viết trong Hiến pháp. Tiếp đó lại làm các công việc trên nhiều mặt, cuối cùng ra được quyết định rút quân khỏi Campuchia. Nguyễn Văn Linh nói, trong tình hình quốc tế hiện nay, đối với Việt Nam, việc xây dựng, phát triển tình đoàn kết hữu nghị và quan hệ hợp tác với Trung Quốc, trung tâm XHCN kiên cường này, rõ ràng là một nhiệm vụ càng quan trọng và bức thiết. Bởi vậy, ông có một nguyện vọng lớn nhất là thực hiện được việc bình thường hóa mối quan hệ Việt Nam – Trung Quốc vào trước Đại hội VII ĐCSVN năm 1991. Đây sẽ là một việc lớn làm phấn chấn lòng người đối với toàn đảng và toàn dân Việt Nam.

Về vấn đề Campuchia, Nguyễn Văn Linh nói ông hiểu rõ tính chất quan trọng và bức thiết của việc giải quyết vấn đề này. Lẽ ra hai bên Việt Nam và Trung Quốc thông qua con đường ngoại giao để bàn bạc giải quyết vấn đề này là tốt nhất và suôn sẻ nhất. Nhưng do Nguyễn Cơ Thạch và Bộ Ngoại giao do ông ta nắm có ý đồ gây rối, hiện nay con đường này rất khó đi. Vì vậy ông nghĩ bản thân ông phải đi Bắc Kinh trực tiếp hội đàm với Tổng Bí thư Giang Trạch Dân, Thủ tướng Lý Bằng, cùng bàn bạc phương án giải quyết tốt nhất. Nguyễn Văn Linh nói, trên vấn đề Campuchia, Nguyễn Cơ Thạch có quan điểm không nhất trí với phần lớn các Ủy viên Bộ Chính trị, ông ta luôn luôn làm sai lệch công việc. Nguyễn Văn Linh còn nói, những cuộc gặp cá nhân như cuộc gặp Đại sứ Trương hôm nay không nên quá nhiều. Nếu Tổng Bí thư Giang Trạch Dân, Thủ tướng Lý Bằng mời ông và Đỗ Mười, Phạm Văn Đồng đi Trung Quốc thì đề nghị Đại sứ Trương trực tiếp đề xuất với Bộ Ngoại giao Việt Nam ý định đồng thời gặp Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười, và Chủ tịch Nhà nước Võ Chí Công, trực diện chuyển ý kiến của người lãnh đạo Trung Quốc, làm như vậy sẽ ổn thỏa hơn.

Đại sứ Trương cảm ơn Nguyễn Văn Linh đã tiếp và tỏ ý sẽ lập tức báo cáo trong nước biết nội dung cuộc nói chuyện của ông.

Gặp gỡ bí mật Thành Đô

Chiều 28 tháng 8 năm 1990, Sứ quán nhận được chỉ thị của trong nước, đề nghị Đại sứ Trương chuyển lời tới Nguyễn Văn Linh: Tổng Bí thư Giang Trạch Dân và Thủ tướng Lý Bằng hoan nghênh Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh và Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Đỗ Mười tiến hành thăm nội bộ Trung Quốc từ ngày 3 đến ngày 4 tháng 9, cũng hoan nghênh Cố vấn Trung ương ĐCSVN Phạm Văn Đồng đồng thời cùng đi. Hiện nay thời cơ giải quyết chính trị vấn đề Campuchia đã chín muồi, hai phía Trung Quốc – Việt Nam cần cùng nhau cố gắng xúc tiến giải quyết thật nhanh vấn đề này và sớm thực hiện bình thường hóa quan hệ Trung – Việt. Do Á Vận Hội sắp sửa tiến hành tại Bắc Kinh, vì để tiện giữ bí mật, địa điểm hội đàm sẽ thu xếp tại Thành Đô, Tứ Xuyên.

Đại sứ Trương Đức Duy lập tức họp hội nghị mở rộng Đảng ủy Sứ quán nghiên cứu tìm cách nhanh chóng nhất chuyển thông tin quan trọng của trong nước tới Nguyễn Văn Linh. Nhờ đã có kinh nghiệm lần trước nên lần này mọi người ít nhiều đã có chút vững tâm, quyết định vẫn cứ để Tùy viên quân sự Triệu Nhuệ liên hệ với Bộ Quốc phòng Việt Nam. Thế là 8 giờ sáng ngày 29, một lần nữa Đại sứ Trương gặp Lê Đức Anh, đề nghị ông giúp đỡ thu xếp để Đại sứ Trương trực tiếp báo cáo Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh biết thông tin quan trọng đến từ Bắc Kinh.

Một tiếng đồng hồ sau, Trưởng phòng Vũ Tần thuộc Cục Đối ngoại Bộ Quốc phòng Việt Nam hẹn gặp Tùy viên quân sự Triệu Nhuệ, chuyển đạt lời nhắn miệng của Lê Đức Anh nói Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh ấn định 4 giờ chiều hôm ấy sẽ cùng Chủ tịch Đỗ Mười tiếp Đại sứ Trương. Để thể hiện cuộc hội kiến này được liên hệ qua kênh chính thức, Tổng Bí thư kiến nghị Đại sứ quán Trung Quốc chính thức nêu yêu cầu với Ban Đối ngoại Trung ương ĐCSVN, nói rằng Đại sứ Trương có việc khẩn cấp hy vọng được hội kiến Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh và các đồng chí lãnh đạo Việt Nam khác trong cùng ngày. Căn cứ theo sự gợi ý của Nguyễn Văn Linh, 1 giờ chiều hôm đó Đại sứ Trương đến gặp Phó Trưởng ban Đối ngoại Trung ương ĐCSVN Trịnh Ngọc Thái nêu ra yêu cầu nói trên.

Qua sự bố trí của Ban Đối ngoại Trung ương ĐCSVN, 4 giờ chiều Nguyễn Văn Linh và Đỗ Mười hội kiến Đại sứ Trương tại Phòng khách Trung ương ĐCSVN. Đại sứ Trương chuyển tới Nguyễn và Đỗ ý kiến của Tổng Bí thư Giang Trạch Dân và Thủ tướng Lý Bằng mời hai đồng chí thăm Trung Quốc nội bộ. Nguyễn và Đỗ đều rất vui mừng nhận lời mời, đồng ý với thời gian và địa điểm cuộc gặp do phía Trung Quốc đề xuất và nói sẽ lập tức báo cáo Bộ Chính trị Trung ương ĐCSVN, nhanh chóng xác định danh sách nhân viên đi theo và bắt tay làm công tác chuẩn bị. Nguyễn Văn Linh còn nói, nếu tình hình sức khỏe cho phép thì đồng chí Phạm Văn Đồng cũng sẽ nhất định nhận lời mời cùng đi. Sau khi về Sứ quán, Đại sứ Trương lập tức báo cáo trong nước biết tình hình cuộc gặp chiều nay.

Ngày 30, trong nước thông báo cho Sứ quán biết thu xếp lịch trình đại thể của lần gặp gỡ này, đó là: sáng ngày 3 tháng 9, chuyên cơ Việt Nam rời Hà Nội, 1 giờ trưa đến Thành Đô, buổi chiều lãnh đạo hai bên hội đàm, buổi tối phía Trung Quốc mở tiệc chiêu đãi. Sáng ngày 4 tháng 9 tiếp tục hội đàm, buổi chiều chuyên cơ Việt Nam rời Thành Đô về nước. Sau khi thỉnh thị và được trong nước đồng ý, Đại sứ Trương sẽ cùng đáp chuyến chuyên cơ Việt Nam đi Thành Đô và tham gia hội đàm.

Sáng ngày 3, tôi đi xe của Đại sứ Trương đến sân bay quốc tế Nội Bài Hà Nội, vừa để tiễn Đại sứ Trương vừa cũng là để tiễn đoàn Nguyễn Văn Linh. Phía Việt Nam tất cả có 15 người đi chuyến này, ngoài Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười và Phạm Văn Đồng ra, các nhân viên chủ yếu cùng đi còn có Chánh Văn phòng Trung ương ĐCSVN Hồng Hà (Ủy viên Trung ương Đảng), Trưởng Ban Đối ngoại Trung ương ĐCSVN Hoàng Bích Sơn (Uỷ viên Trung ương Đảng), Thứ trưởng thứ nhất Bộ Ngoại giao Đinh Nho Liêm (Uỷ viên Trung ương Đảng), còn lại là các nhân viên công tác. Khi xe của Đại sứ Trương tới gần sân bay thì thấy một xe con kiểu bình thường màu đen chạy sau xe chúng tôi, ngoảnh lại nhìn, vì xe không treo màn cửa nên có thể thấy rõ người ngồi bên trong là Nguyễn Văn Linh, bên cạnh người lái xe có một cán bộ bảo vệ. Có thể thấy Nguyễn Văn Linh vẫn giữ tác phong giản dị như thế của Hồ Chí Minh. Xe chúng tôi lập tức chạy chậm lại nhường đường cho xe Nguyễn Văn Linh. Tại sân bay không làm bất kỳ nghi lễ tiễn đưa nào, đoàn Nguyễn Văn Linh và Đại sứ Trương lên máy bay xong, chuyên cơ liền cất cánh.

Sau khi từ Thành Đô trở về, Đại sứ Trương cho chúng tôi biết cuộc gặp lãnh đạo hai nước chủ yếu thảo luận cách giải quyết chính trị vấn đề Campuchia và khôi phục quan hệ bình thường Trung Quốc – Việt Nam. Về vấn đề Campuchia, hai bên chú trọng bàn về thành viên Ủy ban Tối cao cơ quan quyền lực lâm thời Campuchia [SNC], tức phương án phân phối quyền lực sau khi Việt Nam rút quân. Phía Trung Quốc đề xuất Ủy ban này gồm 13 thành viên, ngoài Sihanouk làm Chủ tịch ra, chính quyền Phnompenh cử 6 đại biểu, phía lực lượng chống đối gồm ba phái Campuchia Dân chủ (tức Khmer Đỏ), Ranaridh và Son Sann mỗi phái 2 đại biểu, tổng cộng 6 đại biểu. Nguyễn Văn Linh tỏ ý có thể tiếp thu phương án này của phía Trung Quốc; Đỗ Mười cho rằng bản thân Sihanouk cũng thuộc lực lượng chống đối, như vậy tỷ lệ hai bên là 6 so với 7, phía lực lượng chống đối nhiều hơn 1 ghế, dự đoán phía chính quyền Phnom Penh khó tiếp thu phương án này; Phạm Văn Đồng thì nói phương án của phía Trung Quốc đã không công bằng lại cũng không hợp lý. Cuối cùng phía Việt Nam đồng ý dựa vào phương án của phía Trung Quốc để làm công tác thuyết phục phía Phnom Penh.

Về mối quan hệ Trung Quốc – Việt Nam, hai bên đều có thái độ nhìn về phía trước, không rà lại các món nợ cũ. Lãnh đạo hai nước đều đồng ý dựa theo tinh thần “Kết thúc quá khứ, mở ra tương lai” viết một chương mới trong mối quan hệ Trung – Việt. Khi kết thúc cuộc gặp, lãnh đạo hai nước đã ký kết “Biên bản Hội đàm”. Tổng Bí thư Giang Trạch Dân còn ý vị sâu xa trích dẫn hai câu thơ của Giang Thủy, nhà thơ đời Thanh: “Độ tận kiếp ba huynh đệ tại, tương kiến nhất tiếu mẫn ân cừu [tạm dịch: Qua kiếp nạn, anh em còn đó. Gặp nhau cười, hết sạch ơn thù]”. Tối hôm ấy Nguyễn Văn Linh xúc động viết bốn câu thơ: “Huynh đệ chi giao số đại truyền, oán hận khoảnh khắc hóa vân yên, tái tương phùng thời tiếu nhan khai, thiên tải tình nghị hựu trùng kiến.” [3]

Để bảo đảm cuộc gặp thành công, Tỉnh ủy Tứ Xuyên và Văn phòng Đối ngoại đã làm rất nhiều công việc tổ chức và chuẩn bị. Nghe nói họ đã phải đưa đi nơi khác tất cả các khách trọ ở nhà khách Kim Ngưu, để dành nơi này đón các vị khách Việt Nam ở trong hai ngày hội đàm. Đồng thời hai bên Trung Quốc – Việt Nam thương lượng giữ bí mật về cuộc hội đàm này, không phát bất cứ tin tức nào ra bên ngoài.

16 chữ vàng của mối quan hệ Trung Quốc -Việt Nam

Một năm sau cuộc gặp Thành Đô, tháng 11 năm 1991, tân Tổng Bí thư ĐCSVN Đỗ Mười và tân Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Võ Văn Kiệt thăm Trung Quốc. Lãnh đạo hai nước ra Thông cáo chung, tuyên bố thực hiện bình thường hóa quan hệ Trung Quốc – Việt Nam.

Tháng 2-1999 lãnh đạo Trung Quốc – Việt Nam ra “Tuyên bố chung” xác định bộ khung phát triển mối quan hệ hai nước trong thế kỷ mới, nói tóm tắt là 16 chữ “Ổn định lâu dài, hướng tới tương lai, láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện”. Các quan chức và học giả Việt Nam nói đây là “16 chữ vàng”.

Tháng 7 và tháng 11 năm 2005, lãnh đạo cấp cao hai nước Trung Quốc – Việt Nam đi thăm lẫn nhau, làm phong phú hơn nữa nội hàm của “16 chữ”, không ngừng nâng cao mối quan hệ láng giềng hữu hảo và hợp tác toàn diện lên mức độ mới, khiến cho hai quốc gia và nhân dân hai nước mãi mãi làm láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt, đánh dấu mối quan hệ ngoại giao hữu hảo Trung Quốc – Việt Nam được đẩy lên một chặng đường mới.

Nguồn: Tạp chí Trung Quốc 《党史纵横》“Đảng sử tung hoành” [4] bản điện tử ngày 26-8-2014.

__________________________

[1] Tác giả bài viết này có lẽ là Lý Gia Trung, từng 4 lần làm việc ở Đại sứ quán Trung Quốc tại Việt Nam, lần cuối cùng làm Đại sứ. Lý học tiếng Pháp tại Trung Quốc, tiếng Việt tại ĐH Tổng hợp Hà Nội, là tác giả sách Hồ Chí Minh, một cuộc đời huyền thoại xuất bản năm 2011 ở Trung Quốc (ND).

[2] Bệnh Meniere là một rối loạn ở tai trong, gây ra chóng mặt và ù tai (ND).

[3] Chúng tôi đoán ông Nguyễn Văn Linh viết 4 câu này bằng tiếng Việt, đây chỉ là lời dịch của phía Trung Quốc “兄弟之交数代传,怨恨顷刻化云烟,再相逢时笑颜开,千载情谊又重建”. Dịch ngược lại tất nhiên không đúng với nguyên văn tiếng Việt. Tạm dịch ý: Tình anh em truyền bao đời, trong khoảnh khắc mọi oán hận tan thành mây khói, khi gặp nhau nở nụ cười, xây đắp lại tình hữu nghị muôn đời(ND).

[4] Tạp chí “Đảng sử tung hoành” ra đời năm 1988, do Phòng Nghiên cứu lịch sử đảng của Tỉnh ủy Liêu Ninh, Ban Tổ chức Tỉnh ủy Liêu Ninh, Cục Lão cán bộ Tỉnh ủy Liêu Ninh phụ trách; tạp chí ra hàng tháng, có tính chất tổng hợp và thông tục, được phát hành công khai cho bạn đọc trong và ngoài Trung Quốc. (ND)

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

►Theo phê duyệt của Nguyễn Tấn Dũng 5-12-2008, Thừa Thiên (Huế) cho Trung Quốc thuê 200 ha trên núi Hải Vân thời hạn 50 năm

Posted by hoangtran204 trên 11/11/2014

Sau khi Hồ Cẩm Đào và Giang Trạch Dân ghé thăm Đà Nẵng 2002 và 2006, Nguyễn Tấn Dũng vội vả phê duyêt cho Trung Quốc thuê 200 ha trên đỉnh núi Hải Vân. Đây là một cao điểm cho an ninh quốc phòng nằm giữa Đà Nẵng và Huế. 

Đà Nẵng kiến nghị thu hồi giấy phép dự án Trung Quốc trên núi Hải Vân

info.net.vn

7-11-2014

 

Chủ tịch UBND TP Đà Nẵng vừa chính thức có văn bản kiến nghị Chính phủ yêu cầu tỉnh Thừa Thiên – Huế chỉ đạo việc thu hồi giấy chứng nhận đầu tư dự án khu nghỉ dưỡng của Trung Quốc trên núi Hải Vân

Ngày 7/11, Văn phòng UBND TP Đà Nẵng cho hay, Chủ tịch UBND TP Đà Nẵng Văn Hữu Chiến vừa có văn bản (ký ngày 4/11) báo cáo Thủ tướng Chính phủ và các Bộ, ngành liên quan về dự án “Khu du lịch nghỉ dưỡng quốc tế Lăng Cô – Việt Nam” của Công ty cổ phần Thế Diệu (Trung Quốc) trên núi Hải Vân.

Đây là lần đầu tiên lãnh đạo TP Đà Nẵng chính thức có văn bản về dự án được BQL Khu kinh tế Chân Mây – Lăng Cô (Thừa Thiên – Huế) cấp giấy chứng nhận đầu tư này. Theo đó, Chủ tịch UBND TP Đà Nẵng kiến nghị Chính phủ và các Bộ, ngành liên quan yêu cầu tỉnh Thừa Thiên – Huế chỉ đạo việc thu hồi Giấy chứng nhận đầu tư đối với Công ty cổ phần Thế Diệu tại khu vực nêu trên.

Vị trí khoanh đỏ là nơi Công ty CP Thế Diệu (Trung Quốc) được cấp phép đầu tư dự án “Khu du lịch nghỉ dưỡng quốc tế Lăng Cô – Việt Nam” (Ảnh: HC)

Theo thông tin từ các cơ quan chức năng mà PV Infonet thu thập được, Công ty CP Thế Diệu đăng ký đầu tư tại Thừa Thiên – Huế từ tháng 10/2013 với thời hạn 50 năm. Công ty này do các pháp nhân và cá nhân sau đây cùng góp vốn thành lập: Công ty TNHH World Shine Hong Kong (địa chỉ trụ sở chính tại O.O.Box 957, Ofshore Incorporations Center Road Town, Tortola, Britisch Virgin Islands); ông Lu Wang Sheng (tức Lục Vương Sinh), sinh ngày 14/7/1964, quốc tịch Trung Quốc; ông Li Zhao Ming (tức Lý Triệu Minh), sinh ngày 23/01/1959, quốc tịch Trung Quốc; ông Liang Zhi Pei (tức Lương Bội Chi), sinh ngày 28/11/1975, quốc tịch Trung Quốc.

Theo chứng nhận của BQL Khu kinh tế Chân Mây – Lăng Cô, Tổng Giám đốc Công ty TNHH World Shine Hong Kong kiêm Giám đốc Công ty CP Thế Diệu là ông Lu Wang Sheng, hiện ở tại lô số 8, đường Trường Sa (phường Khuê Mỹ, quận Ngũ Hành Sơn, Đà Nẵng). Cả hai ông Li Zhao Ming và Liang Zhi Pei hiện cũng ở tại địa chỉ này.

Dự án “Khu du lịch nghỉ dưỡng quốc tế Lăng Cô – Việt Nam” do Công ty cổ phần Thế Diệu đầu tư có diện tích khoảng 200ha tại khu vực mũi Cửa Khẻm (nơi núi Hải Vân đâm ra biển). Tại đây sẽ xây dựng khu nghỉ mát tiêu chuẩn 5 sao (450 phòng), trung tâm hội nghị quốc tế 2.000 chỗ ngồi, khu nhà nghỉ dưỡng năm tầng (220 căn hộ cao cấp), 350 căn hộ biệt thự và khu dịch vụ du lịch, nhà hàng, bãi tắm… với tổng vốn đầu tư khoảng 250 triệu USD.

Dự án này được triển khai theo ba giai đoạn trong thời gian 10 năm (2013 – 2023). Trong đó giai đoạn 1 (từ tháng 10/2013 đến tháng 12/2017) triển khai xây dựng các khu biệt thự và khách sạn tiêu chuẩn 5 sao với tổng vốn đầu tư khoảng 115 triệu USD.

Để chuẩn bị cho việc triển khai dự án, UBND tỉnh Thừa Thiên – Huế đã đầu tư con đường dài 5km đi vào khu vực dự án với tổng kinh phí khoảng 50 tỉ đồng, vừa đưa vào sử dụng. Đồng thời đang đẩy mạnh thi công hệ thống dẫn điện chiếu sáng, nước.

Ngoài ra, ngày 13/3/2014. BQL Khu kinh tế Chân Mây – Lăng Cô đã cho phép Công ty CP Thế Diệu xây dựng nhà tạm và lán trại ngoài phạm vi dự án, trên khu đất trống và chưa sử dụng do BQL rừng phòng hộ Bắc Hải Vân (thuộc Sở NN-PTNT tỉnh Thừa Thiên – Huế) quản lý, và sẽ tháo dỡ sau khi hoàn thành thi công khu nghỉ dưỡng.

Trả lời phỏng vấn báo chí, ông Phan Ngọc Thọ, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Thừa Thiên – Huế cho rằng toàn bộ diện tích thực hiện dự án nằm trong diện tích quy hoạch xây dựng Khu kinh tế Chân Mây – Lăng Cô do Thủ tướng phê duyệt ngày 5/12/2008. Tất cả hoạt động xây dựng của khu nghỉ dưỡng nằm dưới sự quản lý của BQL Khu kinh tế Chân Mây – Lăng Cô và UBND tỉnh Thừa Thiên – Huế.

Tuy nhiên qua nắm tình hình, ngày 11/8, cơ quan chức năng TP Đà Nẵng đã có báo cáo gửi Sở Nội vụ. Lập tức ngày 12/8, Sở Nội vụ Đà Nẵng có văn bản báo cáo Chủ tịch UBND TP. Ngày 18/8, Chủ tịch UBND TP Đà Nẵng có văn bản giao Sở Nội vụ phối hợp với các Sở Xây dựng, TN-MT, Viện Quy hoạch xây dựng, Công an TP kiểm tra địa giới về địa giới hành chính, an ninh quốc phòng và các vấn đề khác có liên quan đến dự án nêu trên.

Ngày 25/8, Sở Nội vụ tổ chức cuộc họp lấy ý kiến thống nhất của các sở, ngành hữu quan và qua ngày 26/8 có công văn 15/SNV-XDCQ trình Chủ tịch UBND TP Đà Nẵng đề nghị xin ý kiến Thường trực Thành ủy cho chủ trương để có văn bản trình Chính phủ, các Bộ Quốc phòng, KH-ĐT, Nội vụ, TN-MT, Xây dựng… có ý kiến với UBND tỉnh Thừa Thiên – Huế và BQL Khu kinh tế Chân Mây – Lăng Cô về việc cấp giấy chứng nhận đầu tư cho doanh nghiệp nước ngoài nằm trong khu vực chưa thống nhất về địa giới hành chính giữa Đà Nẵng và Thừa Thiên – Huế, và có vị trí trọng yếu về an ninh quốc phòng.

Trao đổi với PV Infonet, Chủ tịch UBND TP Đà Nẵng Văn Hữu Chiến cho hay, đối chiếu với bản đồ địa giới hành chính được lập theo Chỉ thị 364/CT (ngày 6/11/1991) của Hội đồng Bộ trưởng về việc giải quyết tranh chấp đất đai liên quan đến địa giới hành chính tỉnh, huyện, xã; và bản đồ nền hệ tọa độ quốc gia VN-2000 do Bộ TN-MT cung cấp thì phần diện tích dự án “Khu du lịch nghỉ dưỡng quốc tế Lăng Cô – Việt Nam” (200ha) nằm trong khu vực chưa thống nhất về địa giới hành chính giữa TP Đà Nẵng và tỉnh Thừa Thiên – Huế.

Trước đó, ngày 28/12/1997, Thủ tướng Chính phủ đã có công văn 6278/NC chỉ đạo: “Trong khi chờ xem xét và giải quyết đường địa giới hành chính giữa tỉnh Thừa Thiên – Huế và TP Đà Nẵng tại khu vực đèo Hải Vân, để tránh tình hình phức tạp xảy ra, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Chủ tịch UBND TP Đà Nẵng và Chủ tịch tỉnh Thừa Thiên – Huế chỉ đạo chặt chẽ các ngành chức năng của địa phương và chính quyền các quận, huyện vùng giáp ranh không thực hiện những hoạt động làm phức tạp tình hình và gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an tại khu vực này”.

Ngoài việc dự án “Khu du lịch nghỉ dưỡng quốc tế Lăng Cô – Việt Nam” của Trung Quốc nằm trong khu vực chưa thống nhất về địa giới hành chính, Chủ tịch UBND TP Đà Nẵng Văn Hữu Chiến còn đặc biệt nhấn mạnh: “Diên tích đất của dự án này thuộc quy hoạch tổng thể bố trí quốc phòng kết hợp với phát triển kinh tế – xã hội nên không thể giao cho các tổ chức có liên doanh, liên kết với đối tác nước ngoài, kể cả Việt kiều”.

Do vậy, ông Văn Hữu Chiến cho biết, trong văn bản vừa được gửi báo cáo Thủ tướng Chính phủ, lãnh đạo UBND TP Đà Nẵng đã chính thức đề nghị Chính phủ và các Bộ, ngành liên quan yêu cầu tỉnh Thừa Thiên – Huế chỉ đạo việc thu hồi giấy chứng nhận đầu tư đối với Cong ty CP Thế Diệu (Trung Quốc) tại khu vực nêu trên.

Hải Châu

—————-

*Trích: “Ngày 27-2-2002, Đoàn đại biểu cấp cao của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước CHND Trung Hoa Giang Trạch Dân thăm chính thức Việt Nam. Theo lịch trình, chiều 28-2-2002,  Đoàn đến thăm TP Đà Nẵng.

Ngày 15-11-2006, Đoàn đại biểu cấp cao Trung Quốc do Tổng Bí thư, Chủ tịch nước CHND Trung Hoa Hồ Cẩm Đào đến thăm Đà Nẵng và Quảng Nam. Với Đà Nẵng và Quảng Nam, ông Hồ Cẩm Đào đã một lần lỡ hẹn. Đấy là dịp cuối tháng 10-2005, trong khuôn khổ chuyến thăm chính thức Việt Nam, theo lịch trình, ông Hồ Cẩm Đào sẽ vào thăm Đà Nẵng và Quảng Nam nhưng dạo đó, vì miền Trung gặp bão lớn nên chuyến thăm đành hoãn lại. Còn bây giờ, đoàn của gnuyên thủ TQ Hồ Cẩm Đào từ Bắc Kinh đến thăm Đà Nẵng và Quảng Nam trước, sau đó mới đến Hà Nội và tham dự Hội nghị APEC lần thứ 14.”

“Không phải vô tình mà cả Giang Trạch Dân lẫn Hồ Cẩm Đào (tháng 11.06) khi đến Việt Nam đã đáp xuống Đà Nẵng, xuống bơi ở China Beach Đà Nẵng]

* “Bản thông cáo chung Trung-Việt được công bố sau cuộc hội đàm đánh giá chuyến đi thăm TQ của TBT Lê Khả Phiêu đã đóng góp quan trọng trong việc xây dựng một quan hệ hợp tác hữu nghị giữa hai nước và hai Đảng trong thế kỷ 21, tích cực đem lại hòa bình, ổn định và phát triển cho khu vực” và ghi rõ hai bên đã “nhất trí xây dựng quan hệ hợp tác toàn diện, láng giềng hữu nghị lâu dài và ổn định hướng đến tương lai trên cơ sở nhận thức chung của lãnh đạo hai Đảng và hai nước Trung –Việt”. Hơn thế nữa hai nước còn xác nhận việc giải quyết một cách hòa bình vấn đề biên giới, cho biết “sẽ kí kết hiệp ước về biên giới trên đất liền trong năm 1999 và trong năm 2000 sẽ giải quyết đường phân giới trên vịnh Bắc Bộ thể hiện quyết tâm xây dựng đường biên giới giữa hai nước thành đường biên giới hòa bình ổn định và phát triển  ”

Với sự thỏa thuận nầy của lãnh đạo hai nước, tháng 12/1999 TQ và VN đã lần lượt kí kết “Hiệp ước cắm mốc biên giới trên đất liền”, tháng 12/2000 “Hiệp định về đường phân chia ở thềm lục địa, vùng biển đặc quyền kinh tế và lãnh hải trên Vịnh Bắc Bộ” và “Hiệp định hợp tác về nghề cá trên Vịnh Bắc Bộ”. Như vậy các vấn đề cơ bản được gác lại lúc bình thường hóa quan hệ thì hai vấn đề liên quan đến chủ quyền đã được giải quyết, riêng tranh chấp về chủ quyền trên biển Đông thì chưa đạt được thỏa thuận, vẫn đang được hai nước thương thảo. Dù vậy có thể nói quan hệ hợp tác giữa hai nước phát triển rất nhanh trong những năm gần đây. Sự hợp tác trên vịnh Bắc Bộ là một thí dụ cụ thể.”

Posted in Bán Tài Nguyên Khoa'ng Sản- Cho Nước Ngoài Thuê Đất 50 năm | Leave a Comment »

►Hãy từ bỏ chủ nghĩa xã hội (phần 1 và 2)

Posted by hoangtran204 trên 11/11/2014

Nguyễn Thiện Nhân

Bằng lương tâm và sự suy xét từ lý trí, tôi ý thức mình phải mở miệng kêu lên rằng: HÃY TỪ BỎ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI! Đó là một bước cần thiết để mở lối thoát cho dân tộc Việt Nam.

Soi xét lý thuyết

Một bộ sách giáo dục chính trị đồ sộ đề cao CNCS, công kích Chủ nghĩa tư bản (CNTB) được đưa vào dạy chính thức cho sinh viên đại học. Bộ sách này gồm 3 giáo trình:

– Triết học Mác-Lênin (NXB Chính trị, biên soạn 2004, dày 670 trang).

– Kinh tế chính trị Mác-Lênin (NXB Chính trị, biên soạn 2004, dày 673 trang).

– Chủ nghĩa xã hội khoa học (NXB Chính trị, biên soạn 2004, dày 555 trang).

Ông Mác (Karl Marx) và những người viết ra CNCS đã nghiên cứu và phát hiện những quy luật khách quan trong tự nhiên, xã hội, khoa học-kỹ thuật… Các ông đưa những kiến thức đó vào chủ thuyết của mình. Tôi cho rằng hầu hết những sự việc, hiện tượng đã xảy ra và đang xảy ra thì các ông viết khá thuyết phục. Tuy nhiên, cái quan trọng nhất thì các ông đã sai, rất sai!

Chủ nghĩa Mác-Lenin đã dự đoán sai hình thái kinh tế xã hội.

Theo chủ nghĩa Mác-Lenin thì trong lịch sử loài người đã sẽ tuần tự xuất hiện 5 hình thái kinh tế xã hội từ thấp đến cao:

+ Hình thái kinh tế-xã hội cộng sản nguyên thủy (công xã nguyên thủy).

+ Hình thái kinh tế-xã hội chiếm hữu nô lệ.

+ Hình thái kinh tế-xã hội phong kiến.

+ Hình thái kinh tế-xã hội chủ nghĩa tư bản.

+ Hình thái kinh tế-xã hội chủ nghĩa cộng sản.

Bốn hình thái đầu các ông phân tích và đánh giá đúng thực tế. Song hình thái thứ năm là hình thái mà các ông dự đoán ra và quyết tâm xây dựng lại sai lầm nghiêm trọng.

Chủ nghĩa cộng sản bất khả thi. Tôi xin phân tích và chứng minh lập luận của mình:

Theo từ điển học sinh do NXB Giáo Dục 1971: Chủ nghĩa cộng sản (CNCS) là “Học thuyết chủ trương xây dựng một chế độ xã hội trong đó mọi điều kiện vật chất cần thiết cho sự sản xuất như ruộng đất, nhà máy, hầm mỏ,…đều là của chung của xã hội; mọi người đều lao động và cùng làm cùng hưởng, làm tùy sức hưởng theo sự cần dùng; trong xã hội không còn giai cấp, không còn nhà nước, do đó không còn áp bức bóc lột giữa người và người nữa”.

Thứ nhất, tư liệu sản xuất (TLSX) mà của chung của xã hội thì đặt nó ở đâu, do ai quản lý? Chắc chắn TLSX sẽ được phân bố ở những đơn vị sản xuất (doanh nghiệp và HTX), một đơn vị sản xuất chắc chắn sẽ có ban lãnh đạo, đứng đầu là người thủ trưởng. Chao ôi, những người quản lý điều hành TLSX lại không phải là những người sở hữu TLSX thì họ sẽ làm gì chúng? Người sở hữu (toàn dân) lại là chung chung, dân đâu có cách nào để giám sát tài sản của mình khi tài sản đó đang nằm trong tay cũng như được định đoạt bởi kẻ khác. Vì vậy tài sản của dân (TLSX) chắc chắn sẽ bị tham ô, tham nhũng, bị xâu xé, chia chác bởi những quan tham.

Thứ hai: xét cụm từ “làm tùy sức hưởng theo sự cần dùng”, sức lao động của mỗi con người là khác nhau, có người khả năng lao động của họ gấp đôi gấp ba thậm chí gấp mười người khác, họ có sẵn sàng đem sức mình ra làm hết mình để những người làm ít hơn hưởng hay sao? Tệ hại hơn, những kẻ khả năng lao động kém họ cũng chẳng làm hết sức mình bởi dù họ làm ít hay nhiều họ cũng được hưởng theo sự cần dùng! Sự cần dùng ư? Lòng tham của con người thì dùng bao nhiêu mới đủ?! Hậu quả cuối cùng là năng suất tụt giảm thê thảm, hoặc chí ít nó chẳng bao giờ tăng và sự bất công sinh sôi nảy nở. Đó cũng là nguyên nhân làm cho nền kinh tế lụn bại dẫn đến đói nghèo và lạc hậu.

Và tất nhiên, hiền tài bị thui chột, sức sáng tạo bị chôn vùi. Mọi thứ đều phải duy trì ở mức cân bằng thấp nhất. Và rồi mức cân bằng thấp nhất ấy cũng không tồn tại được lâu.

Như vậy, con đường CNCS là không tưởng!

Trở lại bộ sách Giáo dục chính trị đại học gồm 3 quyển nêu trên, trong những quyển sách này có quá nhiều ngôn từ ‘tự khẳng định’ lập đi lập lại như “vĩ đại”, “cao cả”, “đúng đắn”, “chân chính”, “tất yếu”, “trong sáng”, “khoa học”…. Tư duy của sách rất phiến diện, thiếu khách quan, đả kích CNTB bằng những lý luận áp đặt, quy chụp, phủ lấp, ích kỷ và khuyến khích bạo động. Trong khi không đi sâu vào tính khả thi hay bất khả thi của nó. Những ai từng đọc sẽ biết, nghĩ lại thấy thật ngán ngẫm, thật vô bổ, lãng phí thời gian của sinh viên, tiêu tốn tiền bạc của phụ huynh và ngân sách nhà nước.

Ngộ nhận về “người nghèo” trong CNTB

Trên báo QĐND ngày 16.9.2014 đăng bài viết “Niềm tin của một dân tộc không thể là sự “ảo tưởng” của tác giả mang danh PGS.TS Nguyễn Mạnh Hưởng. Bài này có đoạn: “Những bất công, nghèo khổ vẫn đầy rẫy trong lòng xã hội tư bản hiện đại. Theo Cục Điều tra Dân số Mỹ năm 2010, ở Mỹ có tới 46,2 triệu người (chiếm 15,2% dân số) thuộc diện nghèo, mức cao nhất trong 20 năm qua. Theo Hãng Bloomberg, tài sản của 300 người giàu nhất thế giới năm 2013 đã tăng 524 tỷ USD, nâng tổng giá trị tài sản của họ lên 3.700 tỷ USD. Ở Mỹ, số người nghèo đói và không bảo hiểm y tế là hơn 38,8 triệu người; ở I-ta-li-a, giai đoạn 2005-2012, tỷ lệ người nghèo tăng gấp đôi và hiện có khoảng 4,8 triệu người nghèo đói. Tổ chức Oxfam cảnh báo, đến năm 2025, Liên minh châu Âu (EU) sẽ có thêm 25 triệu người nghèo đói… Những điều trên đã nói lên một cách rõ ràng tính chất ăn bám, bóc lột của CNTB”.

Báo QĐND dẫn số liệu về người người nghèo nước Mỹ mà giấu đi chuẩn nghèo của Mỹ sẽ dễ gây ngộ nhận, hiểu sai về thực trạng nước Mỹ.

Nếu áp dụng chuẩn nghèo của VN vào Mỹ thì nước Mỹ sẽ cơ bản không còn người nghèo. Ngược lại, nếu áp dụng chuẩn nghèo của Mỹ vào VN thì đa số người dân VN đều nghèo cả! Thật vậy, theo chuẩn nghèo ở Mỹ năm 2014 thì một gia đình 4 người có thu nhập khoảng 40trđ/tháng trở xuống được gọi là nghèo. Rõ ràng, ở VN thu nhập như vậy là giàu có rồi.

Mặt khác, Mỹ đặt ra chuẩn nghèo như vậy nhằm tìm ra được 46,2 triệu người nghèo là để trợ cấp cho họ đảm bảo chất lượng cuộc sống tốt thông qua các chương trình (phiếu thực phẩm, y tế, tiền mặt…). Nếu cộng thêm khoản trợ cấp của chính phủ thì người nghèo ở Mỹ có mức sống rất cao với thu nhập lên đến con số mà cả người có mức sống khá ở VN cũng hằng mơ ước.

Vì Đảng CSVN thông qua hệ thống truyền thông độc quyền sử dụng số liệu thống kê của Mỹ để gây ngộ nhận cho người đọc nên tôi muốn ghi chi tiết ra đây những con số để bạn đọc hiểu về thực chất vấn đề.

Chuẩn nghèo của một hộ 4 nhân khẩu ở Mỹ các năm 1980, 1990 và 2000 quy định bằng 8.415; 13.359; 17.603 USD/năm; năm 2012 là 23.050 USD/năm. Năm 2014 chuẩn nghèo của Mỹ cho một hộ gồm 4 nhân khẩu là 23.850 USD/năm quy ra 1.987,5USD/ tháng. Những thành phố phồn hoa hơn thì chuẩn nghèo cũng cao hơn.

Chuẩn nghèo với hộ độc thân ở Mỹ năm 2012 là thu nhập 11.170 USD/năm hoặc 931 USD/tháng (ở bang Hawaii và Alaska là 12.860 và 13.970 USD/năm), tương đương gần 20 triệu VNĐ mỗi tháng. Chuẩn nghèo với hộ độc thân ở Mỹ năm 2014 là 11.670 USD/năm hoặc 973 USD/tháng

Còn chuẩn nghèo của Trung Quốc là 1.500 Nhân dân tệ, tương đương 225USD/ tháng tức là thua khoảng 9 lần so với Mỹ. Còn ở VN thì 4,8 triệu đồng/năm ở nông thôn và 6 triệu đồng/năm ở thành thị. Vì vậy chỉ nhìn vào số lượng người nghèo mà đánh giá thì quả là một so sánh khập khiễng.

Một khi chuẩn nghèo tăng thì dĩ nhiên tỷ lệ người Mỹ nghèo sẽ tăng theo: năm 2009 là 14,3%, năm 2010 là 15,1%.

Các số liệu lấy từ các báo cáo chính thức của Chính phủ Mỹ cho thấy: Hiện nay 80% các hộ nghèo có sử dụng máy điều hòa nhiệt độ, 92% hộ nghèo có lò vi sóng. Gần ba phần tư các gia đình nghèo có ô tô con hoặc xe tải và 31% có ít nhất 2 xe. Khoảng hai phần ba có truyền hình cáp hoặc truyền hình vệ tinh. Hai phần ba có ít nhất một máy DVD và 70% có VCR. Một nửa số hộ nghèo có máy tính cá nhân; 1 phần 7 có ít nhất 2 máy tính. Hơn một nửa hộ nghèo (hộ có con) sở hữu một hệ thống video game, chẳng hạn một Xbox hoặc PlayStation. 43% hộ có kết nối Internet. Một phần ba có ti-vi màn hình rộng plasma hoặc LCD. Một phần tư có máy ghi hình video số, thí dụ TiVo.

Ở các nước TBCN phát triển khác, tình hình cũng tương tự. Thảo nào, người VN cứ ước mong xuất ngoại để được làm thuê làm mướn ở xứ người!

Đến phong trào “chiếm giữ phố Wall”

Những người biểu tình “chiếm giữ phố Wall” đưa ra số liệu thống kê để đòi công bằng: “những người giàu có – vốn chỉ chiếm 1% dân số nhưng lại nắm giữ hơn 42% tổng tài sản của toàn nước Mỹ”. Số liệu này lập tức bị hệ thống báo chí độc quyền của Đảng chộp lấy để tuyên truyền nhằm tô vẽ mâu thuẫn nội tại của nước Mỹ.

Người nghèo ở Mỹ và các nước CNTB phát triển có mức sống hơn hẳn mức sống trung bình của người dân Việt Nam. Đó là thực tế.

Muốn nền kinh tế phát triển với chất lượng sản phẩm tốt, giá thành tối ưu thì phải xây dựng nền kinh tế thị trường với những chuẩn mực được qui định bằng hệ thống luật pháp. Những doanh nhân phải tổ chức sản xuất thông qua những tập đoàn/công ty/doanh nghiệp, họ cần có vốn (tư bản) để làm điều này. Sự tích tụ vốn vào một phần dân số hợp lý là cần thiết để tổ chức sản xuất hiệu quả trong điều kiện cạnh tranh. Một phần dân số hợp lý có nghĩa là nó không được quá ít người như thời kỳ đầu của CNTB gây nên sự độc quyền và nạn bóc lột sức lao động. 1% dân số Mỹ tương đương hơn 3 triệu người, là con số chấp nhận được, nó không quá ít. Số lượng 3 triệu người này giữ một nửa vốn của nước Mỹ. Tương ứng, nước Mỹ cũng có hàng triệu doanh nghiệp.

Những tỷ phú ở Mỹ nắm giữ số tài sản lớn là những người đầu tư ở các tập đoàn, sản phẩm các tập đoàn này sản xuất ra một phần bán trong nước, một phần xuất khẩu. Các tập đoàn này còn đầu tư vốn ra nước ngoài. Vì vậy, tài sản của họ kiếm được từ cả trong nước lẫn nước ngoài. Sự giàu có của họ đóng góp vào sự thịnh vượng chung của nước Mỹ.

Số tiền mà các tỷ phú tư bản bỏ ra làm từ thiện, làm công ích không nhỏ. Thử hỏi, những quan chức ở VN giàu lên nhờ quyền thế đã bỏ ra bao nhiêu tiền để làm từ thiện hay công ích?

99% dân số Mỹ còn lại sở hữu 58% tài sản, nhưng tất cả người Mỹ đều hưởng chung khối tài sản và dịch vụ công. Không kể những tài sản không phải do lao động tạo ra, khối tài sản công ở Mỹ không nhỏ, gồm hệ thống đường xá, cầu cảng, trụ sở công, công viên, trang thiết bị và vũ khí quân sự… (Ở Mỹ có 5 triệu km đường xá, tổng chiều dài của hệ thống đường sắt Mỹ bằng 1/2 khoảng cách từ trái đất đến mặt trăng).

Tất cả công dân các nước CNTB được hưởng những giá trị vô hình như môi trường trong sạch, chuẩn mực sản phẩm được chính phủ quản lý tốt đảm bảo người dân không ăn phải thực phẩm độc hại như ở VN và Trung Quốc; sự bảo vệ phụ nữ, trẻ em và người già ở mức cao; chế độ an sinh tốt đảm bảo cuộc sống người nghèo và tàn tật…

Con đường Việt Nam

Việc Nam và Trung Quốc là 2 trong số ít các quốc gia cộng sản hiện nay.

Sau khi đeo đuổi nền kinh tế XHCN kiểu tập trung bao cấp, cả VN và Trung Quốc đã sa lầy do năng suất thấp và chất lượng sản phẩm kém. Trung Quốc liền chuyển sang thừa nhận kinh tế tư nhân và xây dựng kinh tế thị trường, bắt đầu từ 1978, khi ông Đặng Tiểu Bình lên nắm quyền. Cần nói thêm, năm 1966, trong Cách mạng văn hóa, Đặng Tiểu Bình bị phê phán nặng nề là “tên số hai trong Đảng đi theo chủ nghĩa tư bản”, rồi bị cách tuột hết mọi chức vụ. Khi Mao Trạch Đông chết và ‘bè lũ 4 tên’ bị lật đổ, Đặng Tiểu Bình lên nắm quyền. Từ đó, TQ không còn là quốc gia thuần cộng sản. Trước khi theo TQ, Việt Nam bám theo Liên Xô, đến 1986 Liên Xô suy yếu, VN sa lầy và bế tắc nên thừa nhận kinh tế tư nhân. Năm 1990, VN và TQ ký Mật ước Thành Đô, từ đó VN rập khuôn và bị lệ thuộc TQ về chính trị và kinh tế.

Tuy nhiên, VN vẫn chủ trương lấy nền kinh tế nhà nước làm chủ đạo và muốn dùng hệ thống DNNN để tác động mạnh vào thị trường.

Với 30 năm, những quốc gia được mệnh danh ‘những con hổ Châu Á’ đã làm nên một thành tích phát triển vượt bậc và đáng ngưỡng mộ như Nhật, Singapore, Hàn Quốc, Đài Loan… Nhưng VN sau hơn 30 năm vẫn ngập ngụa trong nợ nần và sự kém phát triển về khoa học kỹ thuật lẫn chất lượng sản phẩm. Sau khi đổi mới 1986, sự tăng trưởng kinh tế của VN vẫn chủ yếu dựa vào khai thác tài nguyên và nhân công giá rẻ, kết quả là nền kinh tế VN phát triển vay mượn và không bền vững, bị phụ thuộc nước ngoài nhất là Trung Quốc.

Hệ thống DNNN hoạt động kém hiệu quả, năng suất thấp, lãng phí tiền ngân sách, tham ô tham nhũng đến mức đe dọa sự tồn vong của chế độ.

Nhưng Đảng thông qua hệ thống độc quyền truyền thông vẫn bao biện rằng nền kinh kinh tế VN tăng trưởng cao. Cần phân biệt giữa tăng trưởng và phát triển. Hãy nhìn vào những giá trị tích lũy để lại cho thế hệ sau để đo sự phát triển, một quốc gia phát triển phải bao gồm những yếu tố như môi trường sạch đẹp, tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm công nghiệp cao và được quản lý hiệu quả, an toàn thực phẩm, nguồn lực tài nguyên thiên nhiên được sử dụng tiết kiệm và hiệu quả, các công trình hạ tầng đáp ứng yêu cầu có giá trị thẩm mỹ và chất lượng cao… Nhưng VN vẫn chỉ chú ý đến tăng trưởng GDP và kéo lê những giá trị khác, điều đó ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng cuộc sống xã hội hiện tại và thế hệ tương lai.

Đảng chịu trách nhiệm như thế nào về những tổn thất nặng nề của nền kinh tế? Ai đền cho dân khi Đảng lãnh đạo kém cỏi? Mọi thứ nhân dân cúi đầu lãnh chịu, còn Đảng vẫn rêu rao rằng đã lãnh đạo nhân dân đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Ai kiểm soát và chế tài Đảng?

Việt Nam vừa chấm dứt hình thái kinh tế-xã hội phong kiến chưa được 100 năm, và tất yếu phải bước vào hình thái kinh tế – xã hội CNTB. Còn hình thái kinh tế – xã hội CNCS chỉ là dự đoán sai lầm, đã được thế giới văn minh khẳng định từ lý luận đến thực tiễn. Dứt bỏ CNCS bất khả thi để đi đúng hướng là trách nhiệm của những nhà lãnh đạo đất nước.

Chủ nghĩa cộng sản hay Chủ nghĩa Mac-Lenin có giá trị kích động bạo lực quần chúng chống lại giai cấp thống trị tàn bạo thời CNTB sơ khai. Thời nay, đúng sai đã rõ ràng.

Nền kinh tế thị trường cạnh tranh với một thể chế dân chủ sẽ thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội. Ông PGS.TS Nguyễn Mạnh Hưởng đã không còn liêm sỉ khi ấu trĩ bảo vệ cái không còn phù hợp, phải chăng ông còn mơ tưởng cái thế giới đại đồng?

Con đường phát triển đất nước phải do nhân dân định đoạt. Hãy để trí thức cùng bất cứ người dân nào được quyền họp lại cùng nhau để thảo luận tình hình đất nước và đưa ra công luận ý kiến của mình. Hãy cho nhân dân có cơ hội và phương tiện cất lên tiếng nói độc lập và khách quan.

Tôi biết tôi đã viết một nội dung đụng đến xương sống của chế độ. Đất nước đang dần chìm trong vấn nạn lớn. Giặc Trung Quốc đang tận dụng ý thức hệ cộng sản để cướp biển đảo Việt Nam. Tôi tâm niệm cái gì có lợi cho dân tộc, cho đất nước thì phải cố gắng làm hết sức mình. Nếu Đảng CSVN kết tội tôi, tôi xin chuyển lời đến chính phủ các nước trên thế giới hỏi xem tôi có được quyền viết như thế hay không? Và rằng Đảng CSVN có tuân thủ những công ước và thỏa thuận với quốc tế hay không?

Bằng lương tâm và sự suy xét từ lý trí, tôi ý thức rằng mình phải mở miệng kêu lên rằng: HÃY TỪ BỎ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI!. Đó là một bước cần thiết để mở lối thoát cho dân tộc Việt Nam.

Tham khảo:

http://aspe.hhs.gov/poverty/14poverty.cfm

http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=62&News=4689&CategoryID=42

————-

Hãy từ bỏ chủ nghĩa xã hội (phần 2)

Nguyễn Thiện Nhân
10-11-2014
.

Một con đường mà cái đích không lượng định được khi nào sẽ tới thì giống như ta đi về phía cuối chân trời để tìm nơi tiếp giáp giữa bầu trời và trái đất! Cả dân tộc VN đang được dẫn dắt đi trên con đường như thế, lúc đầu họ đi trong sự hồ hởi, về sau họ hoang mang mang lo lắng không biết đi về đâu nhưng vẫn lầm lũi bước theo sự khẳng định “sẽ tới” của những nhà lãnh đạo.

Chủ nghĩa xã hội (CNXH) được cho là giai đoạn đầu của Chủ nghĩa cộng sản (CNCS). Cả CNXH và CNCS cho đến nay chưa hề trở thành thực tiễn, nó chỉ là một chủ nghĩa mà một số quốc gia muốn xây dựng! Đa số các quốc gia cộng sản đã thất bại trong công cuộc xây dựng to tác này, đó là Liên Xô và các nước Đông Âu.

Đảng CSVN cho rằng “Thời đại ngày nay vẫn là thời đại quá độ từ CNTB lên CNXH trên phạm vi toàn thế giới”. Năm 2013, ông TBT đảng CSVN-Nguyễn Phú Trọng phát biểu mơ hồ rằng “Đến hết thế kỷ này không biết đã có CNXH hoàn thiện ở Việt Nam hay chưa”!

Nếu là một đảng có trách nhiệm thì phải định lượng thời gian và đưa ra lộ trình rõ ràng cho đường lối của mình trong công cuộc xây dựng CNXH chứ không thể chỉ định tính chung chung như thế được.

Trong phát triển kinh tế, đảng CSVN đưa ra chủ trương rất mù mờ. Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Bùi Quang Vinh trong một buổi nói chuyện về các vấn đề kinh tế ở Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh vào cuối năm 2013, về câu hỏi “thế nào là thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa?”, ông nói: “Chúng ta cứ nghiên cứu mô hình đó, mà mãi có tìm ra đâu. Làm gì có cái thứ đó mà đi tìm”!

Đến nay, đảng CSVN vẫn xem chủ nghĩa Mac-Lenin là đúng đắn và lãnh đạo đất nước đi theo chủ nghĩa này. Đồng thời bắt buộc các trường đại học và cao đẳng phải dạy cho sinh viên bộ môn Chủ nghĩa Mac-Lenin; tệ hại hơn, ngoài những nội dung nguyên bản và diễn giải, ban biên soạn còn ‘viết thêm’ xen vào rải rác trong bộ sách khiến cho những cuốn sách dài lê thê, đầy những câu từ tự khẳng định và ca ngợi không đáng có.

Mac (Karl Marx) sinh ra và lớn lên trong thế kỷ XIX, thời kỳ này chế độ phong kiến vẫn còn hiện hữu ở nhiều nước. Cả Mac(1818-1883) và Lenin (1870-1924) đều sinh ra và lớn lên trong thời kỳ chưa nổ ra cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật hiện đại như chất bán dẫn, tia laser, năng lượng hạt nhân, chất phóng xạ, máy tính điện tử…và tất nhiên thời ấy chưa có điện thoại di động, internet! Nói như thế để thấy rằng không có gì ngạc nhiên khi học thuyết Mac-Lenin có những khiếm khuyết rất lớn mà đến cuối thế kỷ XX nhân loại mới có thể nhìn thấy rõ ràng.

Không thể nói tư bản “bóc lột” công nhân bằng giá trị thặng dư

Chủ nghĩa Mac-Lenin tuyên bố đấu tranh vì lợi ích giai cấp công nhân. Chủ nghĩa Mac-lenin cho rằng bản chất của kinh tế tư bản là bóc lột và cho rằng nhà tư bản bóc lột sức lao động của công nhân thông qua giá trị thặng dư.

Chủ nghĩa Mac-Lenin cho rằng T’ = T + m (trong đó m là giá trị thặng dư) và mức độ bóc lột được đo bằng công thức: m’ = m/v

Ngày nay, nếu đem cho những nhà chuyên môn độc lập phân tích đánh giá thì sẽ thấy phần (tiền) bóc lột không thể đo bằng giá trị thặng dư, nói cách khác phần bóc lột của nhà tư bản (nếu có) chỉ là một phần của giá trị thặng dư.

Theo tôi, nếu đặt phần bóc lột là e thì e = m – u (e ≤ m), trong đó u là giá trị tổng hợp những yếu tố mà nhà tư bản được hưởng một cách chính đáng như tổ chức sản xuất-quản lý điều hành, phát minh sáng chế khoa học, khả năng ứng dụng phát minh sáng chế khoa học, bí quyết công nghệ, tổ chức hệ thống phân phối, rủi ro…Nếu xét ở một doanh nghiệp cụ thể thì ngoài những yếu tố này, u còn gồm cả thiết kế mẫu mã hàng hóa, thương hiệu doanh nghiệp, khả năng dự đoán thị trường, thông tin riêng có…

Những người cộng sản vẫn ấu trĩ phủ nhận những giá trị chính đáng của nhà tư bản và xem phần bóc lột sức lao động là toàn bộ giá trị thặng dư, gồm cả giá trị cấu thành trong u. Xét từng yếu tố cụ thể:

+ Công nhân không thể tự tổ chức (và quản lý điều hành) sản xuất, bởi chỉ rất ít người có khả năng tổ chức sản xuất. Nếu nhà tư bản thuê người tổ chức giúp mình thì họ đã phải trả lương, lương này đã rất cao so với công nhân trực tiếp sản xuất, nếu nói nhà tư bản bóc lột thì họ chỉ bóc lột người tổ chức sản xuất cho mình chứ không phải bóc lột công nhân. Những người tổ chức sản xuất thuê đã được trả lương hậu hĩnh còn gì!

+ Nhà tư bản mua phát minh sáng chế (hoặc họ thuê người nghiên cứu ra), họ đã phải trả tiền. Nhà tư bản bóc lột (nếu có) thì bóc lột người phát minh sáng chế chứ đâu có bóc lột công nhân! Ngày nay, chính phủ các nước tư bản phát triển đều cố gắng bảo vệ quyền lợi của người phát minh sáng chế khoa học (tác quyền) bằng hệ thống luật pháp và khả năng thực thi pháp luật nghiêm khắc của họ. Việc này chính quyền các nước tư bản phát triển làm tốt gấp trăm lần các chính quyền cộng sản.

+ Bí quyết công nghệ của một doanh nghiệp làm sao có thể nói là do bóc lột? Bí quyết của công ty bia heineken, nước giải khát coca cola… trị giá hàng tỷ USD, không thể nói đó là của công nhân được. Nếu có bóc lột thì chắc chắn không phải là bóc lột công nhân.

+ Cũng như tổ chức sản xuất, việc tổ chức hệ thống phân phối tốt cũng làm nên giá trị thặng dư của doanh nghiệp, và chắc chắn không phải là bóc lột công nhân.

+ Mỗi doanh nghiệp phải tự chịu rủi ro khi bỏ vốn ra kinh doanh, rất nhiều rủi ro chực chờ và khó đoán trước được như thiên tai, chiến tranh, cháy nổ, bất ổn, bị cướp, bị trộm, bị hư hỏng, tai nạn, khủng hoảng kinh tế, dự toán sai… Hiện nay, ngay cả trong điều kiện bình thường, số doanh nghiệp lỗ lã cũng đã chiếm một tỷ lệ không nhỏ. Khi khủng hoảng xảy ra, có khi đến quá nửa doanh nghiệp phải chịu lỗ lã và một loạt phải phá sản vì không còn sức chịu đựng, chủ doanh nghiệp phải chịu mất vốn. Chỉ trong 8 tháng của năm 2014, VN có 44.500 doanh nhiệp phá sản/giải thể chiếm 10% tổng số doanh nghiệp trong cả nước.

Trên đây là nhìn từ góc độ giá trị thặng dư. Còn nhìn từ góc độ lợi nhuận thì sao? Cũng tương tự như giá trị thặng dư, xét trên phạm vi toàn xã hội, tổng số lợi nhuận luôn ngang bằng tổng số giá trị thặng dư. Nếu xét chi tiết thì:

+ Nếu cung = cầu thì: giá cả = giá trị, lợi nhuận = giá trị thặng dư

+ Nếu cung < cầu thì: giá cả > giá trị, lợi nhuận > giá trị thặng dư

+ Nếu cung > cầu thì: giá cả < giá trị, lợi nhuận < giá trị thặng dư

Mac-Lenin đo mức độ bóc lột bằng công thức m’ = m/v (với v là tư bản khả biến). Hiện nay, tỷ suất lợi nhuận bình quân giảm nhiều so với những thế kỷ trước. Nếu áp dụng công thức tính mức độ bóc lột thì rất ngộ nghĩnh, một doanh nghiệp có tỷ suất lợi nhuận 7%/năm có thể bị ‘mang tiếng’ là bóc lột đến 200%! hoặc cao hơn nữa!! Vắt óc suy nghĩ, bỏ vốn chịu rủi ro, bỏ công tổ chức sản xuất và điều hành doanh nghiệp một năm lời được 7% mà không đáng hay sao? Ngoài ra nhà tư bản còn đóng góp vào ngân sách và tạo việc làm cho công nhân giúp nền kinh tế phát triển, quốc gia hùng mạnh.

Sự bóc lột của nhà tư bản không đáng trách bằng nạn tham nhũng của quan chức VN. Quan chức VN không bỏ vốn, không tốn công, chỉ ký là có % tiền lót tay, có bao thư bỏ túi. GS.TS Nguyễn Hữu Tri, Viện phó phụ trách Viện Xã hội học và Khoa học quản lý, nguyên là Viện trưởng Viện Khoa học hành chính của Học viện hành chính Quốc gia nói về thực trạng tham nhũng thực tế trong các dự án ở VN: “Qua nhiệm kỳ, vị nào cũng cố chạy cho mình vài dự án. Có dự án kiểu gì cũng được cắt 10-20%. Cho nên trước đã phá nhiều công trình như trạm máy kéo, nhà văn hóa… thấy rằng phá không biết bao nhiêu tiền của nhân dân”. Tổn thất từ tham nhũng không phải bằng số tiền tham nhũng mà nó cao gấp mấy lần do những hệ lụy của tham nhũng để lại.

Trước đây, hầu hết các nước cộng sản đều sai lầm khi phủ nhận kinh tế tư nhân, diệt tư sản. Sai lầm ấy vừa kéo lùi sự phát triển kinh tế vừa gây thảm họa về nhân quyền, những người bất đồng chính kiến đã bị giết, tù tội, trù dập, khinh khi trong các xã hội ‘chuyên chính’ của cộng sản.
Ngày nay, các nước cộng sản đang vẫn tiếp tục sai lầm khi cố níu giữ hệ thống DNNN thông qua chủ trương “kinh tế nhà nước đóng vai trò chủ đạo”. Hậu quả là các DNNN làm ăn kém hiệu quả, lãng phí vốn, xảy ra tham nhũng, bị rơi vào nhóm các quốc gia tham nhũng cao nhất thế giới…

Đảng CSVN một mặt vinh danh doanh nhân làm ăn giỏi, mặt khác lại than phiền họ bóc lột. Chiếu theo chủ nghĩa Mac-Lenin thì doanh nhân càng làm ăn giỏi thì càng bóc lột nhiều. Thế đấy, bóc lột nhiều lại được vinh danh, kể cũng lạ!

Xóa bỏ bóc lột sức lao động công nhân bằng cách nào?

Mac-Lenin đã thừa nhận hình thái kinh tế TBCN là hình thái KT-XH kế tiếp, liền sau hình thái KT-XH phong kiến. Thay vì đấu tranh để hạn chế mặt trái của CNTB thì Mac-Lenin lại chủ trương thành lập cái gọi là “đảng cộng sản” để “lãnh đạo” công nhân xóa bỏ CNTB, xây dựng CNXH! Tệ hơn, Lenin còn cho rằng một số quốc gia có thể “rút ngắn”, bỏ qua giai đoạn CNTB để tiến lên CNXH!

Nếu thành lập “đảng cộng sản” để cạnh tranh bình đẳng với các đảng phái khác thì không có gì đáng trách. Nhưng thực tế, cộng sản luôn có xu hướng tập quyền, chủ trương “chuyên chính”, từ đó dẫn đến vấn nạn độc tài cộng sản với một đảng duy nhất độc quyền lãnh đạo.

Tờ Tạp chí cộng sản của đảng CSVN viết rằng “chừng nào xã hội hiện đại vẫn là chế độ tư bản thì mọi quyền lực chi phối vẫn thuộc về giai cấp nào nắm giữ tư bản, đó là giai cấp tư sản chứ không có gì thay đổi. Giai cấp tư sản vẫn là giai cấp thống trị”. Nhận định này hết sức ấu trĩ với cái nhìn hẹp hòi, phiến diện. Thực tế phát triển của các nước tư bản trái ngược với nhận định này. Hiện nay, tại các nước tư bản phát triển, quyền lực đã hình thành thế kiềng ba chân “nhà tư bản-chính quyền-nhân dân”. Ở các nước tư bản phát triển, qua quá trình đấu tranh, nhân dân đã có trong tay công cụ làm chủ đất nước: thứ nhất, nhân dân được bầu cử trực tiếp nguyên thủ quốc gia gắn với sự cạnh tranh chính trị đa nguyên đa đảng, từ đó người dân được chọn lựa người lãnh đạo đất nước mình, thứ hai người dân được phép biểu tình bất bạo động kèm theo những quyền khác như quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận… tạo nên một sức mạnh lớn lao trong dân chúng mà bất cứ chính phủ nào cũng phải khuất phục. Các nhà tư bản chỉ là một lực lượng có tiền, họ chỉ có một phần quyền lực chứ không phải là “mọi quyền lực chi phối”. Nhìn vào chính quyền của tổng thống Obama hiện nay mà xem, không phải mọi quyền lực đều bị giai cấp nắm giữ tư bản chi phối đâu nhé!

Hoàn toàn có thể xây dựng một quốc gia tư bản phát triển giàu mạnh, an sinh tốt, đời sống người lao động nâng cao và mức độ bóc lột không đáng kể. Để đạt được điều đó, phải hội đủ 3 điều kiện:

– Thể chế chính trị đa nguyên đa đảng, tam quyền phân lập, bầu cử tự do, nhân quyền được tôn trọng
– Thị trường cạnh tranh tự do (thị trường hàng hóa, thị trường lao động…)
– Công đoàn hoạt động độc lập

Sự cạnh tranh tự do trên thị trường lao động của hàng triệu doanh nghiệp trong một quốc gia đã giúp nâng cao tiền lương tối đa, giảm thiểu sự bóc lột sức lao động, tiến đến đưa bóc lột tiệm cận con số 0.

Ở Việt Nam, công ty phải chịu nhiều tiêu cực phí, bị quan chức chính quyền nhũng nhiễu, thủ tục hành chính phiền hà, cạnh tranh không lành mạnh, thực thi pháp luật yếu kém, phe nhóm lợi ích tung hoành… khiến doanh nghiệp tốn thêm chi phí và phải trả lương thấp hơn để bù lại những tổn thất đó. Hiện nay, lương công nhân ở VN rất thấp, nó thấp hơn mức mà công nhân đáng lẽ được hưởng, không phải do “bóc lột” mà do những tổn thất từ thể chế mang lại.

Công đoàn hoạt động độc lập là công đoàn đảm đương nhiệm vụ bảo vệ lợi ích của công nhân, không chịu chi phối bất cứ đảng phái chính trị nào. Lãnh đạo công đoàn phải do chính công nhân bầu ra, công đoàn hoàn toàn có thể tổ chức đình công để đòi quyền lợi cho công nhân khi chủ không đáp ứng yêu cầu chính đáng của họ.

Các nước tư bản lấy kinh tế tư hữu làm nền tảng và lợi nhuận là động lực để phát triển kinh tế. Việt Nam xây dựng CNXH lấy kinh tế nhà nước làm chủ đạo, lãnh đạo DNNN lo tìm cách tư lợi bất chính, bỏ túi riêng hơn là chăm lo cho doanh nghiệp hoạt động hiệu quả. Hiện nay, ở VN kinh tế khó khăn, khủng hoảng ngân sách, lương công nhân không đủ nuôi sống gia đình… Cải cách thể chế đang là vấn đề bức thiết.

Kết luận

Các nước ở Châu Á như Nhật Bản, Đài Loan, Hàn Quốc, Singapore là những nước tư bản thành công điển hình với mô hình phát triển TBCN mà VN cần phải nghiêm túc nhìn nhận và học tập… CNTB phát triển đúng theo quy luật vận động của xã hội loài người. Hầu hết các quốc gia trên thế giới đang đi theo con đường CNTB và là xu thế toàn cầu không thể đảo ngược. Những mặt trái của nền kinh tế tư bản cạnh tranh tự do cùng với những hạn chế của thể chế đa nguyên đa đảng, chúng ta hoàn toàn có thể có biện pháp điều tiết hoặc khắc chế mà không cần đến CNXH hay CNCS.

Chủ nghĩa cộng sản bất khả thi, chỉ mới ở giai đoạn quá độ lên CNXH đã gây rất nhiều tổn thất và đẩy VN vào con đường bế tắc. Chấp nhận đau đớn để từ bỏ CNXH, xây dựng thể chế đa nguyên đa đảng cạnh tranh cả về chính trị lẫn kinh tế, chúng ta sẽ xây dựng được đất nước giàu mạnh, văn minh và dân chủ. Trong lâu dài, nền kinh tế giàu mạnh là một trong những điều kiện không thể thiếu để giữ vững chủ quyền biên giới cũng như biển đảo của Việt Nam.

 

Posted in Chinh Tri Xa Hoi | Leave a Comment »

►Các sòng bài Macau ế ẩm do chiến dịch đánh tham nhũng ở Hoa lục

Posted by hoangtran204 trên 11/11/2014

Các sòng bài Macau ế ẩm do chiến dịch đánh tham nhũng ở Hoa lục

Tác giả:

Nguồn danchimviet.info

8-11-2014

Cảnh bài bạc ở Macau. Ảnh online.wsj.com

Thành phố Macau nằm riêng một mình ở phía nam Trung Quốc là thủ đô thế giới về cờ bạc, gồm 35 casino. Doanh thu năm ngoái của họ tăng 20%, đạt 45 tỉ đô la, coi như gấp 7 lần doanh thu các sòng bài Las Vegas.

Nhưng kể từ tháng 6 năm nay, tháng nào doanh thu cũng đi xuống. Riêng tháng 10, con số này giảm 23%, cao nhất từ trước đến giờ. Tính trung bình từ tháng 6 tới giờ, mỗi tháng giảm 20% phân khúc khách đánh bạc loại sộp.

Những người trong cuộc nói rằng chiến dịch truy quét tham nhũng bên trong đất liền đã làm những khách hàng đánh bạc có nhiều tiền e ngại, trong đó có những quan chức tham nhũng.

Ông Hoffman Ma, Phó Tổng giám đốc khu resort sòng bài-khách sạn Ponte 16 nghĩ rằng khách hàng loại có nhiều tiền mấy tháng qua tránh đến Macau vì sợ bị săm soi trong lúc chiến dịch “đả hổ diệt ruồi” của Tập Cận Bình đang diễn ra.

“Mọi dạng chuyển tiền ra khỏi đất liền bây giờ khó hơn trước do tình hình hiện nay. Bắc Kinh không muốn thấy các quan chức thoái hóa chuyển tiền ra bên ngoài.”

Macau là Đặc Khu Hành Chính của Trung Quốc, có những luật lệ quy định tài chính riêng biệt. Vùng đất có diện tích 31 km vuông này có khoảng 600.000 dân. Từ Macau đi phà đến Hong Kong mất độ một tiếng.

Macau là nơi duy nhất ở Trung Quốc mà đánh bạc được xem là hợp pháp. Nó cũng là đường ống khổng lồ để dẫn tiền ra khỏi Hoa lục, qua mặt những hạn chế kiểm soát tiền tệ gắt gao của Bắc Kinh.

Trung ương chỉ cho phép người dân mỗi ngày được mang ra khỏi nước số tiền tươngđương với 3.300 đô la Mỹ, nhưng nhờ có Macau, người dân muốn mang ra bao nhiêu cũng được. Một trong những cách mang tiền là thông qua vô số tiệm cầm đồ hoặc nữ trang.

Ngang qua ranh giới giữa Macao và đất liền có khu thương xá Port Plaza, thuộc thành phố Châu Hải của tỉnh QuảngĐông. Khu này chiếm một từng hầm, có nhiều cửa hàng bán đồ điện tử, điện thoại di động, thuốc lá, thức ăn… nhưng kỳ thực, nghề chính ở đây là chuyển tiền.

Anh muốn chuyển 100.000 đô ra khỏi đất liền? Không có vấn đề gì. Anh cứ ghé vào một cửa hàng bán đồng hồ ởđây. Người ta sẽ cấp cho anh một biên lai có bán cho anh hai cái đổng Rolex giá 100.000 mà anh khỏi cần đeo nó nơi hai tay làm chi mất công, nặng tay. Anh cầm biên lai sang bên Macau, xuất trình biên lai cho một cửa hàng “đồng chí” của cửa hàng bên Châu Hải thì anh sẽ có 90 hoặc 95 ngàn tiền tươi, tùy theo anh mặc cả trước khi anh đi. Với số tiền tươi này, anh có thể xài tại chỗ hoặc mang đi nước khác thoải mái, chính quyền Macau không thắc mắc.

Một cách chuyển tiền khác buộc anh phải có thẻ lấy tiền ngay (debit card) do công ty UnionPay bên Trung Quốc phát hành. Cầm thẻ của UnionPay, anh có thể đến cửa hàng bán nữ trang bên trong một casino ở Macau mua cho cô bồ nhí của anh chiếc nhẫn kim cương 130.000 đô la. Nhân viên trong cửa hàng cà thẻ vào máy và vài giây sau, khi máy báo cho biết đã thu tiền được rồi thì bồ nhí của anh có quyền xỏ nhẫn vào tay. Chưa hết. Cửa hàng cho anh biết, bất cứ lúc nào anh muốn trả nhẫn lại, cửa hàng cũng sẵn sàng đưa tiền tươi cho anh, trị giá 90% của nhẫn.

Bất kỳ sòng bài hoặc cửa hàng bán đồ xịn nàoở Macau cũng nhận debit card của UnionPay, vì thẻ được tất cả các ngân hàng nhà nước Trung Quốc công nhận để bồi hoàn.

Lúc trước, Trung Quốc chỉ cho phép xài thẻ UnionPay tốiđa 820.000 đô la một ngày, nhưng bây giờ mức này chỉ còn 164.000, nhằm làm giảm bớt những vụ giao dịch phi pháp, mặc dù mức đó vẫn khó cho người dân bình thường với tới.

Một người quản lý cửa hàngở Macau nói với phóng viên Frank Langfitt của NPR bà ta có biết về mức giới hạn mới, nhưng muốn dùng quá số đó vẫn có cách như thường.

Theo tin Reuters, năm ngoái, Macau trao đổi hơn 22 tỉ đô la qua các vụ giao dịch bằng thẻ UnionPay, hầu hết là thông qua các sòng bạc và cửa hàng bán hàng hiệu.

Nạn chảy ngoại tệ ra nước ngoài đang làmđau đầu các quan chức Bắc Kinh. Cuộc khảo sát năm 2008 của Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc cho thấy đã có hơn 16.000 công dân Trung Quốc – gồm quan chức nhà nước, chủ tịch, tổng giám đốc các tập đoàn – đã xuất cảnh theo kiểu một đi không trở lại, ẵm theo khoảng hơn 130 tỉ đô.

Đó là những con số của 2008 và trước đó. Còn bây giờ, trước tình hình chống tham nhũng của Tập Cận Bình, những người theo dõi sát xã hội Trung Quốc nói rằng số người muốn ôm tài sản ra khỏi nước chắc chắn còn cao hơn nữa.

Lôgic rất đơn giản là các quý ông bà đại gia tập đoàn này tập đoàn nọ muốn mang danh hiệu đại gia thì không ít thì nhiều cũng  đã từng chung chia với các quan chức “thoái hóa, biến chất.”

Mai kia nếu quan chức đó bị “sờ gáy,” bị buộc phải thành khẩn khai báo, thì đương nhiên các đại gia này cũng phải dựng tóc gáy theo.

Ông Tony Tong, một nhà tư vấn về các sòng bạcở Macau nói rằng sắp tới đây các sòng bạc Macau sẽ bịảnh hưởng. Khách đánh bạc Trung Quốc có lắm tiền sẽ không chơi ở Macau nữa. Họ sẽ đi Sydney hoặc Singapore để tránh“cặp mắt mang hình viên đạn” của các quan chức chống tham nhũng.

Theo npr.org

© Đàn Chim Việt

Posted in Tham Nhung-Hoang Phí- Ăn Cắp | Leave a Comment »

►Nhiều tín hiệu bất an, xã hội sẽ đi về đâu?

Posted by hoangtran204 trên 11/11/2014

Nhiều tín hiệu bất an, xã hội sẽ đi về đâu?

7-11-2014

Tác giả: Hà Văn Thịnh (gs Khoa Lịch Sử Viện Đại Học Huế)

Chỉ trong mấy ngày, báo chí cùng lúc đưa những tin thật buồn: TP. HCM lâu nay đã trở thành miền ‘đất dữ’ bởi hàng ngàn con nghiện tiêm, chích ma túy như thể uống cà phê, ăn sáng (Motthegioi, 4 và 6.11.2014)… Báo Thanh Niên trong mục Chào buổi sáng (05:30, 6.11.2014) còn có cảnh báo khá nghiêm trọng về tình trạng bất an của nông thôn từ Kon Tum tới Đà Lạt, Miền Đông Nam Bộ… Xã hội “loạn”, đi về đâu bây giờ?

Những người nghiện trốn trại

Nếu đọc qua thì đó chỉ là những tin tức cũng… bình thường như bao tin khác về các tệ nạn xã hội đang phát triển, có lẽ với cấp số nhân, trên khắp cả nước ta.

Thế nhưng, nếu ngẫm kỹ một tý thì chắc chắn phải giật mình vì một thực trạng đáng sợ: Từ thành phố tới nông thôn, từ thủ đô đến ‘Hòn ngọc Viễn Đông’, từ Nam chí Bắc, đâu đâu cũng thấy sự lộng hành của cái ác; sự coi thường pháp luật của kẻ xấu; sự lo lắng của người dân; sự thờ ơ – nếu không muốn nói là sự gần giống với bất lực của bộ máy công quyền…
Điều đáng phải ngạc nhiên đến mức… hốt hoảng là, tình trạng gia tăng các loại tội phạm lại… tỷ lệ thuận với sự phình to của bộ máy hành chính các cấp mà báo chí đang bàn tới bàn lui nhiều đến mức đọc không xuể.

Giám đốc Sở Tài chính tỉnh N.A. tâm sự với người viết bài này rằng năm ngoái (2013), tổng thu ngân sách của toàn tỉnh là 6.500 tỷ đồng, trong khi phải chi đến 14.000 tỷ đồng! Trong số 14.000 tỷ đồng phải chi ấy, có phần không nhỏ chi cho bộ máy cảnh sát, an ninh. Ai cũng biết lương thượng tá ngang với lương thứ trưởng; trung tá, thiếu tá thì ngang ngửa với vụ trưởng, vụ phó…

Câu hỏi đặt ra là: Tại sao đi đâu cũng gặp các sĩ quan cảnh sát mà ‘hòn ngọc’ thì thành ‘đất dữ’, thủ đô bị biến thành một trong 10 thành phố nhiều trộm cắp nhất thế giới?
Nếu biện minh rằng thôi thì các thành phố lớn trên thế giới đều thế cả thì trả lời sao đây với chuyện mà Thanh Niên đã đưa: Nông dân phải để lại một phần mủ cao su trong các bát cho thế lực đen nếu không vườn cao su bị phá; vườn cà phê không chung chi thì bị ‘làm cỏ’ còn cánh đồng trồng hoa thì bị xe bán tải đến cướp hoa đem đi… bán, giữa ban ngày?

Đất nước đang đứng ở cái ngưỡng báo động màu da cam (mức độ nguy hiểm cao nhất theo chuẩn quốc tế) trên mọi lĩnh vực. Minh họa
Chưa bao giờ đất nước lâm vào tỉnh cảnh rối bời như hiện nay, dẫu có dùng núi mỹ từ hay uyển ngữ để bao che, giảm tải. Nợ công đến 1.000 USD cho mỗi người dân, chẳng có dân nào nuôi nổi bộ máy hành chính cồng kềnh cứ cắp ô đi về mặc dân bất an, khổ sở, rồi nạn tham nhũng tràn lan, rồi sách giáo khoa soạn cẩu thả, dốt nát đến tệ hại…

Sự xuống cấp với tốc độ chóng mặt và diễn ra với mức độ toàn thể ấy không thể dùng cách nào khác hơn để diễn đạt: Đất nước đang đứng ở cái ngưỡng báo động màu da cam (mức độ nguy hiểm cao nhất theo chuẩn quốc tế) trên mọi lĩnh vực – đổng nghĩa với sự bất ổn nhiều hệ lụy (nếu không muốn nói là nguy hiểm) mà sự chần chừ, thờ ơ, lảng tránh, xoa dịu… đều đồng nghĩa với tội ác.

Tại sao không nghĩ rằng một khi con nghiện nhiều như nấm độc sau mưa – theo số liệu rất đáng lo ngại nếu chúng ta tạm bằng lòng với cách tin của lứa tuổi mười ba, mười bốn, mỗi năm nước ta tăng thêm 7.000 con nghiện (SGGP, 27.10.2014) thì ít nhất mỗi năm phát sinh thêm 7.000 kẻ sẵn sàng trộm cắp, cướp bóc, đe dọa, tống tiền. Như vậy, chỉ mươi năm nữa, ‘đội quân’ nghiện sẽ đông đến hàng trăm ngàn. Có ai nghĩ với hình ảnh ‘đất dữ’, ‘điểm đen’ ghê gớm như thế mà tính trung bình, mỗi năm Hà Nội hay TP. HCM chỉ tăng thêm 111 con nghiện (7.000 chia cho 63 tỉnh, thành)?

Không thể chấp nhận một đất nước mà lòng dân thường xuyên bị tổn thương, bất an, bất lực trước cái ác, cái xấu; trong khi hàng ngày phải è cổ ra nuôi cả một bộ máy cồng kềnh. Làm sao có thể an nhiên tự tại khi các số liệu, tự chúng, chứng minh rõ ràng về sự bi hài: Quản lý 90 triệu dân, tài sản GDP mỗi năm hơn 200 tỷ USD mà cần đến 2,8 triệu công chức, nhân viên. Trong khi đó, nước Mỹ với 310 triệu dân, GDP 17.500 tỷ USD, có mặt ở mọi điểm nóng trên toàn thế giới, chỉ cần 2,1 triệu người làm quản lý (Dân Trí, 07:19, 30.10.2014)…

Huế, 7.11.2014

Theo Motthegioi

danchimviet.info

 

 

Kỷ Niệm

Hai mươi lăm năm Bức tường Berlin sụp đổ.

9-11-2014

Tác giả:

 

Berlin WallKhoảng 8000 trái bóng bay đã được thả lên bầu trời Berlin, thủ đô của Đức đêm nay, ngày 9 tháng 11, để kỷ niệm 25 năm ngày Bức tường Berlin sụp đổ.

“Sự sụp đổ của Bức tường Berlin đã chứng minh cho toàn nhân loại thấy rằng mọi giấc mơ đều trở thành sự thực”, Thủ tướng Đức, bà Angela Markel đã gởi một thông điệp rõ ràng đến những quốc gia độc tài đang vi phạm quyền con người. “Chẳng có gì bền vững như người ta tưởng”.

Cùng ngày bà Angela Markel tham dự buổi cầu nguyện cho những nạn nhân bị cộng sản đàn áp ở Đông Đức. Hàng chục ngàn người tham dự lễ kỷ niệm sự kiện này tại cổng Brandengurg.

Bức tường Berlin xây năm 1961 để ngăn cản những người dân đào thoát khỏi sự áp bức của công sản ở Cộng hoà Dân chủ Đức (Đông Đức) trước đây. Nó sụp đổ trong đêm thứ Năm ngày 9 tháng 11, rạng sáng ngày thứ Sáu ngày 10 tháng 11 năm 1989, sau hơn 28 năm tồn tại.

Bức tường Berlin được hoàn thiện bằng nhiều công trình canh phòng kiên cố, với nhiều hệ thống rộng lớn bao gồm hàng rào kẽm gai, hào, vật cản xe tăng, đường tuần tra và tháp canh. Chỉ riêng chó đặc nhiệm đã có khoảng 1.000 con.

Bức tường này là biểu tượng của chủ nghĩa cộng sản, là bàn tay sắt của chuyên chính vô sản, là niềm kiêu hãnh của chủ nghĩa xã hội. Nhưng thế giới gọi nó là “Bức tường Ô nhục”

Nhân dịp này, Mikhail Gorbachev, cựu lãnh đạo Soviet cũng phát biểu: Thế giới đang trên bờ vực của một cuộc Chiến tranh Lạnh mới. Miền tin cậy phải được phục sinh bởi những cuộc đối thoại. Ông đã gởi thông điệp đến toàn thế giới nhân sự kiện 25 năm Bức tường Berlin sụp đổ.

Ông bộc lộ nỗi lo lắng những mâu thuẫn đang ngày một lớn dần giữ Âu châu và Trung Đông, giữa Phương Tây và Nga quanh vụ Ukraine.

Ngày 9 tháng 11 năm 2014

BTV Đàn Chim Việt
© Đàn Chim Việt

Posted in Chinh Tri Xa Hoi | Leave a Comment »

Ai đang làm khánh kiệt đất nước? (phần 12)

Posted by hoangtran204 trên 11/11/2014

Ai đang làm khánh kiệt đất nước? (phần 12)

Dương Vũ
10-11-2014

.

Mấy ngày hôm nay, dự luận xôn xao về trả lời với Quốc Hội về việc phong tướng, Phùng Quang Thanh nói là không được phong tướng anh em rất “tâm tư”.

Ở Trung Quốc, quân đội của đất nước hơn 1 tỷ dân mà họ chỉ có thượng tướng là cao nhất.

Ở Việt Nam cả công an và bộ đội bộ trưởng đều là đại tướng.

Lê Hồng Anh chả biết gì công an nhưng một phát đại tướng luôn. Cái đó anh em cán bộ chiến sỹ mới tâm tư.

Giờ luật sỹ quan được vận động tích cực.Quân đội thế nào công an cũng đòi thế.

Quân đội đòi 3 đại tướng cho bộ trưởng, chủ nhiệm tổng cục chính trị và tổng tham mưu trưởng thì bên công an cũng đòi đại tướng cho bộ trưởng và thứ trưởng thường trực.

Quân đội thứ trưởng thượng tướng thì công an cũng thứ trưởng thượng tướng.

Lần này, công an đòi như quân đội tức tổng cục trưởng cũng ủy viên trung ương và một số cục đặc biệt thì cục trưởng cũng trung tướng, ủy viên trung ương.

Mặc dù chỉ huy trưởng quân sự tỉnh, chỉ huy trưởng biên phòng chỉ là đại tá nhưng giám đốc công an tỉnh là tướng. Thậm chí Hà Nội giám đốc phòng cháy cũng tướng. Các phó giám đốc công an địa phương như Hà Nội cũng tướng. Thậm chí không còn là công an như Lữ Ngọc Cư mà vẫn đeo lon tướng. Chuyển sang làm chánh án tòa Hà Nội mà Nguyễn Đức Bình vẫn muốn đeo tướng.

Rồi thì không chỉ trông mấy cái xe cứu hỏa đòi tướng đâu. Nuôi mấy chục con chó cũng đòi đeo lon tướng.

Không hiểu lúc đó gọi là gì? Tướng cháy? Tướng chó? Nhà báo cũng trung tướng. Thậm chí là phó tổng biên tập một tờ báo cấp Cục cũng tướng. Rồi thì nhạc sỹ cũng tướng, nhà văn tướng và con buôn cũng tướng. Phong tướng là danh dự mà. Đi đâu khoe tướng nó mới oách.

Khi khao lên tướng của tướng cháy Đoàn Viết Mạnh, cục trưởng cảnh sát phòng cháy chữa cháy thì xảy ra cháy ở Lạng Sơn làm nhiều người chết. Khi nghe tin, Mạnh vẫn tiếp tục cuộc vui. Không hiểu khi đó tướng cháy Mạnh có còn “tâm tư” không nhỉ?

Thời trước, phó tư lệnh quân khu cũng chỉ đeo lon đại tá.

Mà cũng chả lâu gì, ông Bùi Thiện Ngộ và ông Lê Minh Hương là Thượng Tướng Bộ Trưởng. Nhưng giờ thì bộ trưởng cũng đại tướng tuốt. Trước ông Trương Hữu Quốc làm tổng cục trưởng cảnh sát chỉ đeo đại tá, ông Nguyễn Khánh Toàn lên thứ trưởng vẫn đeo đại tá tới 3 năm.

Lương cao, có xe riêng phục vụ. Tướng thực sự là gánh nặng cho ngân sách và đó chính là tiền thu thuế của dân.

Nhưng tại sao công an muốn có nhiều tướng thế?

Chỉ có thể giải thích theo hai lý do: một là muốn lên tướng thì phải chạy và hơn nữa là muốn có sự trung thành để bảo vệ cho những lợi ích bị đe dọa. Chả thế mà dân oan kiện cáo khắp nơi thì cũng cần có tướng khắp nơi để đàn áp chứ?

Tuy vậy, dù là tướng gì đi chăng nữa thì việc họ đáng làm họ không làm, mà việc họ không đáng làm thì họ làm.

Thay vì tìm được kẻ thực sự đứng đằng sau sự phá hoại những cơ sở kinh tế ở Bình Dương và Đồng Nai đợt tháng 5 thì họ đi bắt 3 người và đổ cho Việt Tân.

Thay vì bắt bọn tình báo Trung Quốc giả sư đi ăn xin thì họ bắt bớ người yêu nước chống Tàu.

Thay vì tìm bọn Trung Quốc chuyên tìm về tận từng nông hộ để lừa thì họ đi bắt chẹt doanh nghiệp làm chả đủ ăn.

Ở nhiêu nơi, cứ đến ngày đến tháng là công an đến thu tiền từng doanh nghiệp, đến từng nhà thu phí an ninh tổ quốc. Công an phường đến từng nhà, từng cơ quan xin tiền đi nghỉ mát, xin tiền Tết.

Thay vì lực lượng cảnh sát cơ động đuổi bắt bọn cướp đêm, tuần tra chống trộm trên đường phố thì giờ đây cảnh sát cơ động chỉ rình bắt xe của những người phải đi làm đêm trên đường nếu vô tình thiếu cái đèn hay cái mũ.

Cảnh sát giao thông thì chỉ rình bắt phụ nữ, người lao động ngoại tỉnh mà không dám bắt bọn xăm trổ.

Ông Tướng cảnh sát giao thông còn nói là anh em cầm vài ba chục thì có gì phải gọi là tham nhũng? Hay ý ông là nhiều như nhà anh 3X, anh Bình Ruồi còn chả ai nói là tham nhũng thì anh em lấy vài ba chục ngàn thì đáng gì?

Nếu như với phương án mà Bộ Công An mong muốn các tổng cục trưởng và một số cục cũng trong trung ương thì có lẽ là điều tốt nhất để bảo vệ những gì mà “các ông chủ” thực sự của đất nước này mong muốn. Bảo vệ những gì đang có.

Nhân sự kỳ tới có ít nhất 5 nhân vật có gốc gác công an quy hoạch vào Bộ Chính Trị trong đó có Tô Lâm và Phạm Minh Chính.

Hai nhân vật này thì bảo vệ 3X tới cùng nhưng phe Đảng lại luôn nghĩ là hai nhân vật này đi hai chân, đu hai dây. Một mặt vẫn ra vẻ theo 3X nhưng mặt khác vẫn đi đêm với phe Đảng. Phạm Minh Chính mặc dù bị bệnh trọng nhưng vẫn khát khao vươn lên. Hai vợ chồng Chính và Trân mặc dù ly thân, không sống cùng nhau nhưng nếu cần xuất hiện thì vẫn xuất hiện chung và Trân vẫn đi thu tô hàng tháng ở Quảng Ninh.

Vì thế, trong cơ cấu hệ thống nhóm lợi ích của 3X, Bình Ruồi thì không thể không nhắc đến vai trò quan trọng của việc phong tướng, hòng tạo nên một cơ số tướng phục vụ và bảo vệ cho nhóm này.

Về mặt Chính Phủ, tất cả các phó thủ tướng chỉ có quyền phán miệng ba lăng nhăng nhưng chuyện quyết tiền nong chi đâu, như như nào, bao nhiêu thì chỉ có 3X mới có quyền làm việc này.

Và vì thế không thể không truy vấn, bao năm nay, nợ công tiêu như thế nào? Nước Mỹ có 300 triệu dân, nền kinh tế 17.500 tỷ GDP/năm nhưng chỉ có 2,1 triệu công chức còn ở Việt Nam chưa bằng nửa số lẻ lẻ của họ với 100 triệu dân nhưng lại có tới 2,8 triệu công chức. Một mặt hô tinh giản biên chế nhưng thực chất là vẫn âm thầm tăng. Tiền tiêu cho đám kiêu binh, trên thì tướng cháy, tướng chó dưới thì tinh tướng chứ tiêu vào đâu. Chưa kể những tập đoàn há mồm luôn trong tình trạng như con nghiện thiếu thuốc.

Về nhóm công an bảo vệ cho nhóm này không thể không nhắc đến vai trò đạo diễn của Nguyễn Văn Hưởng và xung quanh giờ đây Đại Quang, Tô Lâm, Phan Văn Vĩnh… Thậm chí, 3X còn nghe báo cáo trực tiếp từ một số Cục trưởng.

Phía Nam phải kể đến em vợ của 3X là Trần Quốc Liêm, một nhân vật suốt ngày nhậu và không cần quan tâm công việc. Cán bộ văn phòng phía Nam chả lạ gì khi phòng Liêm đóng để ngủ hoặc đóng để đi nhậu. Muốn có chữ ký của Liêm hoặc biết ở đâu thì đem ra đó hoặc một tuần may ra có một buổi ở cơ quan. Cái đó thì tướng “tâm tư” hay lính “tâm tư”?

Chả thế mà nạn cướp giật trở nên phổ biến đến mức công an thành phố Sài Gòn phải đi phát tờ rơi cho du khách nước ngoài là hãy tự bảo vệ mình chứ công an không bảo vệ được đâu!

Về mặt điều hành tiền thì nhóm Bình Ruồi và Bắc Hà có quan hệ cực kỳ mật thiết với lực lượng công an. Thậm chí còn có tin là Nguyễn Văn Hưởng tuyển dụng Nguyễn Văn Bình khi Bình ở Nga; còn Bắc Hà thì là lính của Cục Phản Gián 1, tổng Cục 1. Vì thế, mọi hoạt động của nhóm này chả thể động đến được. Đặc biệt Cục C48 thì chỉ làm vài ba vụ ba lăng nhăng được ví như chỉ dùng để đập ruồi.

Thanh Tra thì dễ dàng “bắn thủng” bằng tiền và Huỳnh Phong Tranh thì bảo vệ 3X tới cùng rồi.

Bên Kiểm Tra thì Ngô Văn Dụ cũng hòa hoãn với 3X và chả có vụ án kinh tế nào được Ban này đả động đến.

Nhưng khi nhắc đến nhóm lợi ích này cần phải nhắc đến một người điều hành phía Nam là Lê Thanh Hải. Hải giả vờ không có quan hệ gì nhưng thực chất, Hải là người phục vụ 3X và kết nối các lực lượng phía Nam trong đó thông qua Trầm Bê để kết nối với nhóm Ba Tàu và tình báo Trung Quốc.

Trong hệ thống làm ăn của 3X có cả Hunsen. Trước đây, khi còn ở Kiên Giang, 3X đã từng vác cả tấn vàng sang Cam Bốt buôn lậu.

Về mặt nhà nước thì Việt Nam đã mất Cam Bốt và đang mất dần Lào vào tay Trung Quốc. Trong đó 3X biết rất rõ điều này.

3X có cái giỏi là trong tất cả các tình huống liên quan đến Trung Quốc thì phát ngôn luôn như đúng rồi. Và ai cũng tưởng là 3X là người duy nhất chống Trung Quốc trong BCT.

Nhưng tất cả nhóm 3 người Lê Hồng Anh, Phùng Quang Thanh và Trần Đại Quang đi quỳ gối với Trung Quốc thì thấy rất rõ, họ đều là theo chỉ đạo của 3X.

3X chỉ đạo đến tận sở công thương các địa phương phải tiếp tục tăng cường buôn bán với Trung Quốc, tức mua hàng của Trung Quốc. Ở cấp trên, Hoàng Trung Hải vẫn chỉ đạo giao các dự án rơi vào tay Trung Quốc.

Tướng lĩnh cao cấp nhất của công an và quân đội vẫn đi Trung Quốc học tập.

Vừa qua, công an Hà Tĩnh bắt hơn 300 người lao động tự do Trung Quốc nhập lậu vào Việt Nam trong dự án Formosa Hà Tĩnh.

Mọi người phản đối nhưng 3X và Hoàng Trung Hải vẫn cho người Trung Quốc xây đền thờ ở Khu Formosa Hà Tĩnh và cho khu này thành đặc khu trong tương lai. Đây là vị trí quan trọng nối với cảng Tam Á ở Đảo Hải Nam Trung Quốc. Và một khi nó khởi động thì cửa biển Vịnh Bắc Bộ đóng, đất nước chia đôi.

Liệu cho thành lập một đồn biên phòng có đủ không? Liệu lúc đó cả ngàn ông tướng có làm gì được không? Hay lại có cháy thì tướng cháy Mạnh vẫn rượu?

Cái nhục mà Phùng Quang Thanh thể hiện là sự quỳ gối với Trung Quốc. Giàn khoan đang nằm ở vùng đặc quyền của ta mà vẫn nói giao lưu hữu hảo. Cả thế giới lên án thì chính Phùng Quang Thanh phát biểu không có gì. Rồi gần đây nhất là nói hai bên không triển khai thêm.

Nên nhớ, Trung Quốc là cha đẻ của cái gọi là “vòng kim cô”. Họ ràng buộc Việt Nam bằng những thỏa thuận trong khi tự họ phá và không bao giờ làm theo. Còn ta bị họ ghìm bằng những cái vòng kim cô 16 chữ, rồi 4 chữ rồi các tuyên bố này nọ.

Cho nên việc họ chọn Út Anh, một tay nghiện rượu và chỉ có ngủ. Ngủ cả khi họp BCT, ngủ cả khi chủ trì hội nghị nhưng lại có tính khí dã man, cần là đàn áp và tiêu diệt là có lý do. Trung Quốc tin có thể điều hành được một thằng cha “đầu đất”. Cộng thêm với Phùng Quang Thanh luôn bị phụ thuộc.

Phùng Quang Thanh và con trai Phùng Quang Hải bị căn bệnh ngoài da rất nguy hiểm và luôn phải sống bằng thuốc của Trung Quốc. Nó giống như Lê Đức Anh được Trung Quốc cứu nên giờ đây, những nhân vật đang đứng mũi chịu sào trong chuyện chống Trung Quốc thì đã buông súng rồi.

Chả thế mà Mỹ rất dè dặt gần đây, thậm chí hoãn cả chuyến thăm của Bộ Trưởng Quốc Phòng Chuck Hagel để xem xét kỹ lại những gì Phùng Quang Thanh đang thể hiện.

Và tất cả những gì Phùng Quang Thanh làm chính là sự giật dây đằng sau của 3X. Nếu 3X không hài lòng, liệu Phùng Quang Thanh có làm được như thế không?

Và một ngày không xa, nếu vẫn “những vì sao tinh tú” này điều hành đất nước thì chả cần mật ước Thành Đô gì cho cao siêu, thì chúng ta ra đường chào nhau Nỉ Hảo và chữ trên đường toàn chữ tượng hình.

 

587 tướng lãnh quân đội và gần 300 tướng công an.

Những con số tướng lãnh VN: nên hiểu như thế nào

Theo FB Nguyễn Văn Tuấn

9-11-2014

Nhiều năm trước, một anh bạn làm nghề báo chí nhưng không hẳn là kí giả, đưa ra một nhận xét làm tôi giật mình. Anh nói với tôi: “Ông nói nhiều về lạm phát con số giáo sư và tiến sĩ, nhưng ông không chú ý là VN còn lạm phát về tướng tá.”

Một tay nâng tách cà phê Trung Nguyên, tay kia anh chỉ ra đường nơi một người cảnh sát giao thông đang làm việc, anh nói: “Có thời nào trong lịch sử VN mà trung tá đứng đường phạt vi phạm giao thông?” Nhưng hôm nọ khi nghe Phùng đại tướng nói không phong tướng thì “anh em tâm tư” (1), giờ tôi mới hiểu một chút tại sao VN có nhiều tướng tá. Tôi phải sưu tầm con số tướng lãnh để trước hết là hiểu vấn đề, và sau là để tham khảo sau này.
Số tướng lãnh quân đội

Con số tướng lãnh hiện chức trong quân đội hình như không được công bố, nên công chúng không biết chính xác được. Đài BBC có nhiều bài viết về tình trạng phong tướng ở VN cũng chỉ đưa ra những con số chung chung như “Con số tướng trong quân đội cũng lên tới hàng trăm” (2). Hàng trăm là bao nhiêu? Thông tin trên wikipedia cho biết đến năm 2008, số tướng trong biên chế là 587 người, nhưng số người còn công tác thì dĩ nhiên ít hơn (3). Con số này có vẻ ăn khớp với một nguồn tin có vẻ “biết chuyện” (4). Theo nguồn tin này thì đến tháng 4/2014, VN có 366 tướng lãnh quân đội, trong số này có 2 đại tướng, 7 thượng tướng, và 272 thiếu tướng.

Thật thú vị! Con số tướng lãnh tại chức của VN như vậy còn cao hơn cả số tướng lãnh của Tàu cộng. Theo Tân Hoa Xã, thì đến tháng 7/2011, Tàu có 191 tướng lãnh (5), và cấp bậc cao nhất là thượng tướng (6).

Ở Mĩ, quân đội chắc đông hơn VN, nhưng số tướng lãnh cũng bị giới hạn. Theo wikipedia, Mĩ có luật giới hạn số tướng lãnh tại chức như sau: 230 tướng bộ binh, 208 tướng không quân, và 60 tướng thuỷ quân lục chiến (Marine Corps) (7). Như vậy, tổng cộng số tướng lãnh của Mĩ tối đa là 498, nhưng hiện nay họ có bao nhiêu tướng đang công tác thì chưa tìm thấy nguồn tin nào để biết. Tuy nhiên, tổng số tướng lãnh Mĩ còn sống (đang công tác và đã nghỉ hưu) là 958 người.

Riêng Việt Nam Cộng Hoà, thì tính từ 1954 đến 1975, chỉ có 164 tướng lãnh (8). Trong số này, 1/3 là được phong từ 1963 đến 1965! Không biết vào năm 1975 thì VNCH có bao nhiêu tướng.
Số tướng lãnh công an

VN có lẽ là nước duy nhất (?) trên thế giới có quá nhiều tướng công an. Con số tướng lãnh công an VN cũng không được công bố. Ngay cả tuần vừa qua, báo chí VN chỉ đưa tin một số người được phong tướng, nhưng không nói đến con số. Có lẽ con số quá tế nhị trong thời điểm hiện tại? Thế nhưng trước đây báo chí cho biết rằng năm 2012 VN thăng hàm tướng cho 48 người, và năm 2011 thì có 58 người. Tuy nhiên, BBC ước tính rằng ngành công an VN “có gần 200 tướng” (9). Nhưng con số này có thể thấp hơn thực tế, vì theo trang wikipedia, thì số tướng công an “đang công tác” [không rõ năm nào] là 350 người (10).

Ở Úc không có tướng tá cảnh sát. Ở Mĩ thì tôi không rõ, nhưng đọc báo không thấy ai đề cập đến tướng cảnh sát bên đó cả. Thời trước 1975, tôi chỉ nghe 2 tướng cảnh sát của Việt Nam Cộng Hoà là ông Nguyễn Khắc Bình (tư lệnh cảnh sát), và Nguyễn Ngọc Loan (tổng giám đốc cảnh sát).

Tóm lại, nhưng con số trên đây cho thấy VN có lẽ là một trong những nước có nhiều tướng lãnh nhất, nếu không muốn nói là nhiều nhất. Thật vậy, nếu cộng số tướng lãnh quân đội tại chức của quân đội và công an, VN có 716 người mang hàm “tướng”. Con số tướng lãnh của VN cao hơn Tàu và Mĩ! Điều thú vị là năm 1975, miền Bắc VN chỉ có 36 tướng. Vậy mà chỉ 40 năm sau, con số đó phình ra gấp 10 lần!

Ấy thế mà giới quân đội và công an vẫn muốn có thêm tướng, vì nếu không thì “anh em tâm tư” (1). Từ điển Tiếng Việt định nghĩa “tâm tư” là suy nghĩ ở trong lòng, tức là không nói ra. Tôi nghĩ đáng lẽ chữ “tâm tư” đó nên dành cho người dân đang đóng thuế trả lương và bổng lộc cho các vị, vì quả thật nhiều người thấy VN có quá nhiều tướng. Ở Mĩ, giới báo chí và trí thức hiện đang ta thán là họ có quá nhiều tướng, nhưng nếu họ biết con số tướng lãnh ở VN hiện nay, thì chắc họ sẽ ngậm ngùi và xấu hổ “shut up” (im miệng).

Ở Việt Nam ngày nay, báo chí và giới bình luận thường hay phàn nàn rằng có tình trạng lạm phát giáo sư và tiến sĩ. Nhưng rõ ràng, VN cũng lạm phát số tướng tá quân đội và công an. Điều thú vị là xu hướng lạm phát này nó xảy ra song song nhau, số tướng tá tăng thì số giáo sư tiến sĩ cũng tăng. Nếu lạm phát giáo sư là dấu hiệu của chất lượng giáo dục xuống cấp, thì lạm phát tướng tá nên được diễn giải như thế nào?

===

 Số lượng tướng lãnh Quân Đội Nhân Dân Việt Nam  : 587 người trong biên chế 2008. 

Số lượng tướng lãnh Công An Nhân Dân  trên 250 tướng công an trong biên chế 2014

(1) http://giaoduc.net.vn/…/Dai-tuong-Phung-Quang-Thanh-Khong-p…
(2) http://www.bbc.co.uk/…/vietn…/2014/11/141107_generals_debate
(3) http://vi.wikipedia.org/…/S%E1%BB%91_l%C6%B0%E1%BB%A3ng_T%C…
(4) http://nddat.vnweblogs.com/post/2427/448873
(5) http://news.xinhuanet.com/…/china/2011-07/23/c_131004552.htm
(6) http://www.bbc.co.uk/…/140320_vn_high_rank_general_inflation
(7) http://en.wikipedia.org/wiki/General_(United_States
(8) http://vi.wikipedia.org/…/Danh_s%C3%A1ch_t%C6%B0%E1%BB%9Bng…
(9) http://www.bbc.co.uk/…/vietn…/2014/11/141107_generals_debate
(10) http://vi.wikipedia.org/…/S%E1%BB%91_l%C6%B0%E1%BB%A3ng_T%C…

 

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

►Ai đang làm khánh kiệt đất nước? (Phần 9) (phần 10)(phần 11)(phần 12)

Posted by hoangtran204 trên 06/11/2014

Những thâm cung bí sử của triều đại Nguyễn Tấn Dũng.

Ai đang làm khánh kiệt đất nước? (Phần 9)

.Dương Vũ

.
.
6-11-2014

Nhân sự nhiệm kỳ tới

Trước khi chia sẻ những thông tin liên quan đến kinh tế và ngân hàng, xin thông tin về việc Mỹ đã hoãn chuyến thăm tới Việt Nam của Bộ Trưởng Quốc Phòng Mỹ Chuck Hagel đã được hai bên dự kiến vào tháng 11 này.

Lý do mà giới thạo tin ở Mỹ cho biết, Mỹ đã có tin tức đáng tin cậy rằng những gì cam kết hợp tác quốc phòng giữa hai bên đều được chuyển về Bắc Kinh, và Mỹ chỉ là một con rối trong các tuyên bố về cái gọi là “Thoát Trung”.

Họ đang ngấm ngầm xem xét lại có nên thực sự thúc đẩy (quan hệ hợp tác QP) với Việt Nam hay không? Và thông tin họ có được về tình hình nhân sự cho nhiệm kỳ tới mà Trung Quốc đã sắp đặt sau 3 chuyến đi tới Bắc Kinh của Lê Hồng Anh, Phùng Quang Thanh, Trần Đại Quang và hai chuyến đi tới Hà Nội của Dương Khiết Trì.

Phương án 1 vẫn là 3X làm Tổng Bí Thư. Nhưng Trung Quốc ý thức được rằng, 3X có nhiều kẻ thù và đang phải đối mặt với nhiều thách thức nên dự phòng cho phương án trên là Út Anh sẽ là Tổng Bí Thư. Chủ Tịch Nước sẽ là Phùng Quang Thanh. Thủ Tướng là Trần Đại Quang. Chủ Tịch Quốc Hội là Đinh Thế Huynh.

Phương án Bình Ruồi làm Thủ Tướng nếu 3X làm Tổng Bí Thư.

3 nhân sự là Út Anh, Phùng Quang Thanh và Đại Quang đã có những cuộc tiếp xúc và cam kết rõ ràng trong những chuyến thăm tới Trung Quốc gần đây.

Bộ trưởng Quốc Phòng là Ngô Xuân Lịch. Bộ Trưởng Công An là Tô Lâm. Trưởng Ban Tổ Chức Trung Ương là Phạm Minh Chính.

Đinh La Thăng sẽ làm Bí Thư Hà Nội. Chủ tịch UBND Hà Nội là Nguyễn Đức Chung.

Chúng tôi sẽ đi sâu phân tích những chi tiết trên trong những phần tới.

Nền Kinh Tế bắt đầu chết như thế nào?

Sau khi lên làm Thống Đốc vài tháng, Bình Ruồi ban hành quyết định 01/2012 NHNH quy định về mức tăng trưởng tín dụng cho phép của một ngân hàng. Bình đặt ra 4 mức dành cho 4 loại ngân hàng.

Bình căn cứ vào nghiên cứu và đánh giá nào để xếp thành 4 hạng?

Và mức tối đa chỉ được tăng trưởng là 17%? Mức kém nhất không cho tăng trưởng?

Thay vì kéo từ từ, Bình cắt bụp một cái, kéo hết về mức dưới 17%

Như thế có nghĩa là có ngân hàng sẽ phải chết ngay nhưng tất cả các ngân hàng đều chết.

Bởi trước đó, các ngân hàng cho vay ra thì phải thu hồi vốn về. Tốc đô đang vài chục phần trăm có ngân hàng tăng trưởng cả trăm phần trăm thì nay phải thu vốn về. Cấm cho vay liên quan đến bất động sản. Ngay lập tức, mọi hoạt động đình đốn và đẩy lãi suất cho vay doanh nghiệp lên đến mức 27%. Doanh nghiệp không tiếp cận nguồn vốn. Toàn bộ nền kinh tế đứng yên và bắt đầu chết từ đây.

Để có được điều đó, Bình lừa Bộ Chính Trị và lừa ngay cả 3X với lý do phải cơ cấu lại hệ thống ngân hàng. Bộ Chính Trị không một ai hiểu về kinh tế và ngân hàng nên không hiểu được sự nguy hiểm của hành động này. Thay vì hạ chỉ tiêu từ từ thì Bình cho kéo chỉ tiêu về mức để dòng tiền dừng lại và như một cơ thể máu không lưu thông, nền kinh tế chết nhưng 3X luôn rêu rao là do ảnh hưởng của kinh tế thế giới. Kinh tế thế giới khủng hoảng từ 2008 và họ đã phục hồi rất mạnh trong khi kinh tế Việt Nam xét trên các chỉ tiêu thống kê thì chết dần từ cuối 2006 và bắt đầu của giai đoạn 2012 thì như ung thư giai đoạn cuối cho đến hôm nay.

Bình Ruồi đã thành công trong việc tạo khủng hoảng và sẽ điều hành khủng hoảng như thế nào?

Hành động tiếp theo, mà theo Đặng Thị Hoàng Yến mô tả công khai tại diễn đàn Quốc Hội về Bình thì đó là trò của một tên Mafia.

Cướp ngân hàng.

Bình cho một số cá nhân gửi số lượng tiền lớn vào một ngân hàng nào đó. Sau đó đột ngột rút ra. Trước khi rút ra, Bình đã yêu cầu các ngân hàng khác không cho ngân hàng đó vay liên ngân hàng hoặc cho vay với lãi cực cao, có khi lên đến 50% hoặc hơn. Ngân hàng đó buộc phải cầu cứu Ngân hàng Nhà Nước. Khi đó Bình tuyên bố Ngân hàng đó có vấn đề và cho đội kiểm soát đến ngồi kiểm soát mọi hoạt động của ngân hàng đó.

Cái phản động của Bình không phải chỉ cử người của Ngân Hàng Nhà Nước ngồi ở ngân hàng đó kiểm soát mà cả người của các ngân hàng khác mà Bình lựa chọn. Đội kiểm soát này ngồi vừa lấy thông tin, vừa phá hoại. Ai đến gửi cũng nói là ngân hàng này kém, và khuyên người gửi đừng gửi.

Và cho vay thì cũng không cho vay được vì vướng chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng bằng không. Đó là cách đơn giản nhất để ngân hàng nào đó rơi vào khủng hoảng sau một đêm.

Sau đó Bình sẽ ép để nhóm của Bình vào thâu tóm. Mua với giá rẻ. Vừa ép vừa cướp. Đó là cách mà Sacombank đã chết. Đặng Văn Thành trắng tay và kẻ nợ nần chồng chất Trầm Bê vẫn có thể mua được Sacombank.

Để giải nghĩa cho những lập luận trên, xin công khai toàn bộ thông tin về Trầm Bê tại thời điểm 2012 lúc mà Trầm Bê, Lê Hùng Dũng mà đứng sau là Bắc Hà BIDV và Bình Ruồi thâu tóm Sacombank như thế nào.

Nợ nần mà Trầm Bê vẫn thâu tóm được Sacombank

Nhóm Bắc Hà bơm cho Trầm Bê 5.000 tỷ đồng để Trầm Bê mua cổ phần và nhảy vào thao túng cùng với sự trợ giúp của nhóm Lê Hùng Dũng và Nguyễn Đức Kiên (Kiên Bạc).

Đặng Văn Thành trong cơn túng quẫn với sự thúc ép về bắt bớ của Nguyễn Văn Hưởng và Phạm Quý Ngọ đã phải ra đi khỏi Sacombank. Thậm chí suýt nữa bị thủ tiêu như đã đề cập ở những phần trước.

Taị thời điểm bị thâu tóm, vốn điều lệ của Sacombank là 12.425 tỷ đồng (hơn 12 ngàn tỷ đồng); tổng tài sản 160 ngàn tỷ đồng; nguồn vốn huy động trên 131 ngàn tỷ đồng; dư nợ tín dụng 110 ngàn tỷ và tỷ lệ nợ xấu chỉ là 1,45%.

Trong khi đó, ngân hàng Phương Nam của Trầm Bê chỉ có vốn điều lệ là 4.000 tỷ đồng, tổng dư nợ là hơn 51 ngàn tỷ đồng nhưng nợ xấu là 23.319 tỷ đồng chiếm 45,46% tổng dư nợ; lỗ lũy kế 15.763 tỷ đồng, âm vốn chủ sở hữu 11.659 tỷ đồng. Trong đó tổng dư nợ liên quan đến Trầm Bê là 29.625 tỷ đồng. Phần lớn tài sản đảm bảo là các khối bất động sản chưa đủ điều kiện thế chấp hoặc chưa sang tên đổi chủ, sai về thủ tục pháp lý hoặc được đánh giá quá cao. Nếu định giá lại thì giảm đi khoảng 10 ngàn tỷ đồng.

Tại sao không bị Ngân hang nhà nước đứng đầu là Bình Ruồi đưa vào dạng giám sát đặc biệt???? Cái này chắc phải hỏi thêm anh 3X.

Nợ nần như thế mà Trầm Bê vẫn thâu tóm được Sacombank. Nếu không có bàn tay phù thủy của Bình Ruồi và một số đệ tử khác thì liệu có làm được không?

Thậm chí ngân hàng nhà nước còn có ý đồ cho Sacombank và Phương Nam sáp nhập vì lý do cùng một chủ sở hữu và lý luận rằng, nó sẽ là ngân hàng lớn sau nhóm 4 ngân hàng quốc doanh. Nhưng đó là điều tệ hại bởi Sacombank phải gánh các khoản lỗ của Phương Nam. May mà điều này chưa xay ra. Nhưng chưa không có nghĩa là không khi mà giờ đi đâu Bình Ruồi và Đại Quang cũng đi thành cặp. Bình hoặc đi với 3X hoặc đi với Đại Quang. Và qua mối quan hệ của anh ruột Bình là Nguyễn VănThành với Bắc đen, Bình có sự ủng hộ của một số tướng quân đội.

Hiện nay khoản nợ của Trầm Bê ở cả hai hệ thống ngân hang này là trên 45 ngàn tỷ đồng và vẫn được Trầm Bê phù phép để đảo nợ chờ thị trường bất động sản ấm lên và vay ở các ngân hàng khác nhằm xử lý nợ tại Phương Nam như vay của Sacombank 9 ngàn tỷ, Exim 7 ngàn tỷ.

Tài sản thì bị mất giá khoảng 10 ngàn tỷ cùng các khoản lỗ do mua vào cổ phiếu của Sacombank khoảng 8 ngàn tỷ để thao túng Sacombank. Nay giá cổ phiếu giảm quá nửa và khoản này lỗ thêm 5000 ngàn tỷ. Trầm Bê còn vay của Kiên Long 600 tỷ đồng, của Vietbank là 615 tỷ đồng. Giá cổ phiếu hai ngân hàng của Kiên Bạc này cũng giảm.

Trong khi việc trả nợ của Trầm Bê là không thể thì việc cho hai ngân hàng sáp nhập nhằm giúp tạo sự kiện đẩy giá cổ phiếu lên cao giúp thoái vốn và chuyển đổi tài sản thế chấp từ Phương Nam sang Sacombank. Đây là trò khốn nạn của bọn Trầm Bê – Bình Ruồi nhằm tẩu tán và dịch chuyển tài sản.

Còn một việc nữa là Luật cấm sở hữu chéo giữa các ngân hàng trong khi nhóm Trầm Bê sở hữu cổ phần chi phối ở cả hai hệ thống ngân hàng này.

Ở Sacombank, Trầm Bê và nhóm lợi ích của mình chiếm 63,5% cổ phần và chi phối hoạt động của ngân hàng này thông qua hình thức nhờ người đứng tên cổ phiếu. Những cái tên của gia đình Ba Tàu này phải kể đến là Trầm Bê, Trầm Khả Hòa, Trầm Thuyết Kiều, Trầm Trọng Ngân, nhóm Eximbank và CTCP Đầu Tư tài chính Sài Gòn Á Châu. Cho dù về danh nghĩa Trầm Bê chỉ có 1,84 triệu cổ phiếu chiếm 0,15% và dù để Phạm Hữu Phú hay Kiều Hữu Dũng là Chủ tịch, Phạm Huy Khang là Tổng Giám Đốc thì Trầm Bê vẫn điều hành toàn bộ.

Về phía Phương Nam, nhóm gia đình Trầm Bê chiếm 20,81% cổ phần, vượt quy định của Luật các tổ chức tín dụng về tỷ lệ sở hữu. Đây là tỷ lệ công khai. Còn thực tế thì chiếm tới 55% dưới dạng công khai hoặc nhờ người khác đứng tên. Dù chủ tịch Phương Nam là Mạch Thiệu Đức nhưng Trầm Bê cũng điều hành nốt.

Ở phần sau sẽ công khai từng khoản nợ của Trầm Bê và các cá nhân thuộc nhóm gia đình và người thân của Trầm Bê giúp quý vị có thêm thông tin.

Và hiểu được với những khoản vay, khoản nợ như vậy mà chả làm sao trong khi chỉ là 100 tỷ của Hà Văn Thắm nhưng Thắm vẫn bị bắt. Qua đó cũng hiểu thêm về độ tàn bạo của anh 3X và sự gian xảo của Bình Ruồi. Xin nhắc lại thông tin về khoản nợ của Trung Dung mà bắt Thắm là 100 tỷ vì Thắm đã trả được 400 tỷ chứ không phải như lời Nguyễn Văn Nên nói là không khắc phục được.

Nợ xấu của Phương Nam

Nếu nói về nợ xấu để bắt Thắm thì chúng ta có thể tham khảo về nợ xấu của với chỉ 6 nhóm khách hàng của Phương Nam đã là 11.361 tỷ. Đây là nhóm khách hàng chứ không phải của nhóm Trầm Bê. Vay nhưng các dự án không khả thi, kéo dài hoặc không đủ các điều kiện, thậm chí không có tài sản đảm bảo. (Nhóm than hữu của Trầm Bê ở phần sau.)

Nhóm Phạm Công Danh và công ty Thiên Thanh là 1.998 tỷ đồng, chiếm 59% vốn tự có của Phương Nam trong đó nợ xấu được đánh giá là 1.187 tỷ đồng, chiếm 59,41% dự nợ nhóm này. (Về phần Phạm Công Danh mua lại Đại Tín và thành lập Ngân hàng xây dựng sẽ được nói ở phần sau).

Nhóm Đồng Tâm được cấp tín dụng là 4.732,71 tỷ trong đó đã dư nợ 4.440,93 tỷ chiếm 140% vốn tự có, nợ xấu là 272,95% và số dư bảo lãnh là 291,76%. Trong nhóm này có tới 12 khách hàng không có tài sản đảm bảo là 4.050,98 tỷ đồng.

Nhóm Đá Bình Dương là 661 tỷ chiếm 19,53%

Nhóm Trần Thái gồm Trần Thái, An Phú, Thạch Anh, Tân Việt Phát, Phú An và hai công ty khác (đã gán nợ cho Exim) là 1.245,33 tỷ đồng chiếm 36,8% vốn tự có.

Nhóm Phương Lâm, Hoa Phát, Tấn Phát, Đại Phát, H&T với tổng dư nợ là 1.377,7 tỷ đồng chiếm 40,7% vốn tự có trong đó nợ xấu là 1.122,66 tỷ đồng chiếm 81,48% dư nợ nhóm này.

Nhóm khách hàng không liên quan khác là 3.265 tỷ đồng trong đó nợ xấu là 1.647 tỷ đồng.

Nợ của nhóm gia đình Trầm Bê

Dư nợ của nhóm gia đình Trầm Bê hoặc liên quan đến nhóm điều hành, sở hữu, mục đích vay vốn cùng tài sản đảm bảo là 25.207 tỷ trong đó nợ xấu là 14.688 tỷ đồng.

Phương Nam cho 3 công ty Mười Đây, Tùng Vinh và PPIP 924 tỷ trong đó nợ xấu là 690 tỷ

Cho 3 khách hàng góp vốn vào khu đô thị Sài Gòn mới gồm Trương Thị Cẩm Linh, Ngô Thị Bích Duyên và Khách Sạn Ngân Kiều là 1.070 tỷ đồng trong đó nợ xấu là 300 tỷ.

Cho Lưu Thị Lợi, Khách sạn Trúc Lợi, M&C vay 1388,5 tỷ đồng trong đó nợ xấu là 1.385 tỷ đồng.

Cho Lâm Thị Phép vay 400 tỷ đồng, cho Mã Sơn vay 200 tỷ, cho Trí Đức vay 370 tỷ để góp vào công ty Ngọc Phú Tiên và nợ xấu của 3 khách hàng này là 570 tỷ.

Mã Sơn vay của Phương Nam chi nhánh An Giang 3.597 lượng vàng tương đương 150,35 tỷ và nợ xấu là 150 tỷ, Công ty Phát Triển vay 298,66 tỷ cùng góp vào công ty Sơn Sơn là 10.742 lượng vàng tương đương 449,01 tỷ.

Cho công ty Ngân Thuận và 12 khách hàng khác vay cho Ngân Thuận là 4.343 tỷ đồng trong đó nợ xấu là 2.183 tỷ đồng.

Cho công ty Thành Long và 8 cá nhân góp vào Thành Long; 3 khách vay góp vào Phú Trí; Giấy Bảo Hưng và Trí Dũng là 4221 tỷ đồng và nợ xấu là 799,36 tỷ đồng.

Cho Hàm Giang vay và khách hàng góp vốn vào Hàm Giang 3.141 tỷ đồng trong đó nợ xấu là 1.932,28 tỷ đồng.

Cho 10 khách hàng liên quan đến Ngô Trí Dũng và Lâm Phúc Hoành là 2.745,89 tỷ đồng trong đó nợ xấu là 1.178,3 tỷ đồng.

Trong số có liên quan đến Trầm Bê còn có cho các công ty và cá nhân liên quan khác 5.818 tỷ đồng và nợ xấu là 4.804 tỷ đồng.

Qua những thông tin trên đủ để thấy được một ngân hàng chỉ có vốn tự có khoảng 4.000 tỷ mà có thể cho vay dẫn đến nợ xấu khủng khiếp hàng chục ngàn tỷ đồng như thế nào. Và rồi ông chủ nợ nần gốc Ba Tàu Trầm Bê vẫn có thể thao túng và nhảy vào Sacombank cũng như lũng đoạn hệ thống ngân hàng tài chính như thế nào.

Bình Ruồi vô can?

Công An không biết gì?

Vì sao Phương Nam không bị giám sát? Vì sao Trầm Bê chả làm sao?

Câu trả lời sẽ có ở phần sau. Nó sẽ lý giải ở một mức độ phức tạp trong thế trận được chi phối với hai hệ thống. Hệ thống chính trị là nhóm 3X, Hoàng Trung Hải, Lê Thanh Hải, Trầm Bê và Hunsen và hệ thống tiền bạc gồm 3X, Bình Ruồi, Bắc Hà và Trầm Bê cùng một số bộ sậu khác. Hai hệ thống này có sự hỗ trợ của nhóm công an.

————-

300 tướng công an và 415 tướng bộ đội

Quốc hội khống chế phong tướng quân đội không quá con số 415  (6-11-2014)

__________

Ai đang làm khánh kiệt đất nước? (Phần 10)

Dân Luận

2014

Xét cho cùng, Hà Văn Thắm cũng không phải là tay vừa. Việc giàu lên nhanh chóng của những người như Hà Văn Thắm thì việc bị bắt cần phải xét một cách công bằng. Số tiền có được hang năm có thực sự đến từ sự làm ăn chính đáng không? Dễ dàng có thể biết được sự minh bạch thông qua hệ thống kế toán thuế. Tuy nhiên, đáo tụng đình cần phải được định danh đúng tội với đúng hành vi vi phạm và nó phải được tiến hành với tất cả các thành phần dù là con cái thủ tướng cho đến xuất thân nghèo khó, từ anh con cái Ba Tàu hay tư sản thành thị.

Tuy nhiên, điều mà chúng ta nhận thấy, đằng sau sự bắt bớ này là những đòn kế nhằm triệt hạ đối thủ của những phe nhóm chính trị, băng đảng lợi ích nhóm. Và dường như người ta nhận thấy, hành động tiếp theo lại có thể là sự thoả hiệp và dân lành mới là nạn nhân chứ không phải là những người như Thắm hay ai đó.

Liệu có thể tin, “trận đấu” này một mất một còn? Nhưng lịch sử cho thấy, “cãi nhau” xong rồi ta lại về. Và rồi sự thỏa hiệp lên ngôi như bao “trận chiến” tưởng như có thể “hạ màn” và một tương lai tốt đẹp đang chờ đón dân tộc này nhưng rồi hy vọng bao nhiêu lại thất vọng bấy nhiêu!

Về vụ việc diễn ra, như đã trình bày, nó liên quan mật thiết đối với uy tín của giới lãnh đạo hành pháp mà sắp được định danh tại cuộc bỏ phiếu của Quốc Hội sắp tới.

Trong phần này, xin được đưa ra những thông tin về kinh tế xã hội, với những số liệu mà ai đọc xong cũng hiểu được Chính Phủ đã lừa tất cả chúng ta, lừa từ dân chúng cho đến các đại biểu Quốc Hội, những người bầu ra họ như thế nào.

Câu nói quen miệng của Thủ tướng là kinh tế vĩ mô tiếp tục được duy trì ổn định, lam phát thấp, các lĩnh vực như nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ, xuất nhâp khẩu tiếp tục tăng trưởng, xuất siêu cao hơn năm trước, việc thực hiện tái cơ cấu kinh tế được triển khai và đạt một số kết quả rõ hơn năm trước. Rồi thì ông nào bé hơn ông X cũng nói vậy. Nói như một câu mẫu, nói như trước tác. Rồi thì báo chí chính thống cũng câu đó copy and paste.

Phát biểu hôm khai mạc toà nhà mới, Thủ tướng nói, 9 tháng tăng GDP là 5,54% và ước đạt 5,8% cả năm. Thực tế ai cũng hiểu, Chính Phủ nói con số nào thì biết con số đó và thực tế không cao như thế. Cho dù có đạt 5,8% và năm 2015 đạt 6,2% thì vẫn thấp hơn năm 2011 là 6,24% chưa phục hồi tăng trưởng. Vì thế có nên được đánh giá cao?

Ai cũng biết, GDP tăng cao vừa qua chủ yếu nhờ khu vực đầu tư nước ngoài (FDI), tăng giải ngân vốn ODA, vốn trái phiếu chính phủ, tăng khai thác dầu thô (gần 1 triệu tấn và giá dầu cao hơn dự kiến, trung bình 110USD/thùng).

Liệu có tin được con số tăng 5.8% GDP cho 9 tháng đầu năm?

Trong 9 tháng đầu năm, tăng trưởng tín dụng rất thấp, chỉ đạt 4.07%, trong khi doanh nghiệp chủ yếu dựa vào tín dụng. Tổng đầu tư xã hội giảm (năm 2014 ước 30,1% GDP so với 30,4% năm 2013), trong đó đầu tư từ ngân sách nhà nước giảm (từ 21,4% năm 2013 còn khoảng 20% năm 2014), doanh nghiệp tư nhân giải thể, ngừng hoạt động tăng 12,9% (44.509 doanh nghiệp). Vốn FDI thực hiện tăng thấp 1,1%, vốn đăng ký giảm 25% so với cùng kỳ năm 2013, chất lượng tăng trưởng chưa có chuyển biến gì.

Trong khi các năm trước, tín dụng tăng 30-40%/năm, tổng vốn đầu tư hơn 40%GDP nhưng tăng trưởng mới đạt 7%. Vậy có tin được lời Thủ Tướng? Phải chăng 3X coi các đại biểu Quốc Hội chỉ là nghị gật, chỉ là những con lừa muốn nói sao thì nói?

Có nực cười không khi chỉ có 1,84% thất nghiệp và chỉ số hài lòng của người dân là hơn 80%. Chắc vì đó là con số mà thủ tướng nghĩ rằng ông sẽ được 80% đại biểu quốc hội hài lòng tín nhiệm cao? Và tất nhiên Thống Đốc Ngân hàng Bình Ruồi phải thấp hơn chút ít chứ, 75% chăng?

Liệu có tin được vào những con số về tăng trưởng tín dụng, về nợ công?

Ngay khi vừa trở về từ Ấn Độ, 3X chủ trì phiên họp Chính Phủ bàn chủ yếu về nợ công. Mọi phát ngôn đều nói rằng, nợ công trong tầm kiểm soát. Đó phải chăng là sự phát biểu để “đập” lại phát biểu của Chủ Tịch Quốc Hội về năng lực yếu kém và về việc tiền ở đâu cho những việc cần tiêu; và cả việc tiền đã tiêu như thế nào?

Chỉ hôm trước thôi nói là OK cho mọi thứ thì ngay hôm sau Bộ Tài Chính công bố kế hoạch bán trái phiếu chính phủ ở thị trường nước ngoài, trị giá lên đến 1 tỷ đô la Mỹ. Không hết tiền thì việc gì phải bán? Vậy có tin được không? Một điều khốn nạn là luôn rêu rao rằng, tiền phải chi cho an sinh xã hội rất lớn, phải xây các công trình công cộng… vân vân và vân vân.

Về tín dụng, hết tháng 6 năm 2014 tín dụng mới tăng được hơn 2% so với tháng 12 năm 2013 thế mà tháng 8 đã tăng lên 4,07%, tháng 9 lên 5.61%. Trong 1 quý (Quý III năm 2014) tín dụng tăng gần 5%, ước gần 200 ngàn tỷ đồng. Nếu thực sự như vậy thì tình hình kinh tế phải khác. Hay con số chạy cho kịp kỳ họp Quốc Hội? con số làm đẹp báo cáo?

Và giữa con số của Ngân hàng Nhà Nước và của các tổ chức tín dụng quốc tế rất khác nhau.

Ví dụ: tháng 3 năm 2012, các ngân hàng thương mại nói nợ xấu là 4.47%; Ngân hàng nhà nước nói 8,6% còn Fiting rate nói là 13%. Moody’s nói nợ xấu là 15% tổng tài sản ngân hàng lên đến 860 ngàn tỷ trong khi Thống Đốc nói là 500 ngàn tỷ và còn xử lý được một nửa.

Với tư cách là nhà đầu tư, là người nộp thuế, tin vào ai đây?

Việc phát hành tiền trước đây phải thông qua Bộ Chính Trị, nay thì chả cần và ngay cả cơ quan quyền lực nhất Việt Nam là Bộ Chính Trị cũng chả biết nợ xấu là bao nhiêu. Cuối tháng 12 năm 2013 công bố nợ xấu là 3,61%, rồi lên 4,17% vào tháng 6 năm 2014 chiếm khoảng 8 đến 9% tổng dư nợ tín dụng nhưng Moody’s thì nói là 15%.

Điều mà ai cũng nhận thấy là việc để nợ xấu cao, kéo dài và xử lý chậm, không hiệu quả sẽ gây ách tách nguồn vốn dẫn đến kinh tế trì trệ và làm mất ổn định hệ thống ngân hàng.

Cơ cấu tăng trưởng về công nghiệp khu vực FDI chiếm tới 70% và tốc độ tăng trưởng chính nhờ khu vực này. Gia công vẫn chiếm tỷ trọng lớn, công nghiệp phụ trợ kém phát triển.

Trình độ, thiết bị, công nghệ lạc hậu, tụt hậu xa với thế giới. 76% máy móc thiết bị, dây chuyền công nghệ nhập khẩu là các thế hệ những năm 1950-1960, tụt hậu 2-3 thế hệ so với trung bình thế giới. Tính chung thiết bị hiện đại chỉ chiếm 10%, lạc hậu và rất lạc hậu chiếm tới 52%.

Là một nước nông nghiệp nhưng cây con giống chủ yếu vẫn nhập khẩu. Thức ăn chăn nuôi thì do nước ngoài chi phối. Công ty thức ăn chăn nuôi CP của Thái Lan giữ tới 80% thị phần thức ăn lợn, gà đã rơi vào tay người Trung Quốc. Không có công nghiệp chế biến và bảo quản. Hàng hoá nông sản chủ yếu xuất thô. Thỉnh thoảng, người Trung Quốc lên cơn động kinh, co giật thì ngay lập tức, nông sản tươi thối rữa khắp các cửa khẩu phía Bắc. Hai thứ đứng đầu là gạo và cà phê thì cà phê xuất thô và gạo thì luôn rẻ hơn Thái Lan trong khi nông dân luôn bị ép giá, tư thương Trung Quốc đi đến từng hộ gia đình để lừa đảo, làm giá.

Khu vực kinh tế dịch vụ tăng thấp hơn năm 2013, chỉ đạt 6.02% so với 6,25% của năm ngoái. Bất động sản vẫn bất động, các thị trường chứng khoán, tài chính, tiền tệ, thị trường lao động, thị trường khoa học công nghệ suy giảm.

Doanh nghiệp FDI chiếm tới 70% tổng kim ngạch xuất khẩu. Tăng trưởng xuất khẩu và xuất siêu chủ yếu nhờ khu vực này. Xuất siêu là do tổng cầu thấp, sản xuất trong nước trì trệ. Trong khi cả nền kinh tê xuất siêu 2 tỷ đô la mỹ là do xuất khẩu máy điện thoại di động của một nhà máy Samsung đã hơn 10 tỷ đô la Mỹ nhưng nhập siêu từ Trung Quốc đã hơn 20 tỷ đô la Mỹ chỉ tính riêng 9 tháng đầu năm 2014.

Tái cơ cấu kinh tế không chuyển biến. Đấu giá cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước chả ai mua. Có doanh nghiệp chào chỉ bán được 27% cổ phần chào bán. Cá biệt có doanh nghiệp chỉ bán được 2% cổ phần chào bán. Thoái vốn đầu tư ngoài ngành của doanh nghiệp nhà nước tới này mới chỉ có 20%.

Đầu tư công giảm chẳng qua hết vốn. Nếu có vốn trở lại thì lại tiếp tục dàn trải.

Chẳng hạn như việc xây sân bay Long Thành, không kiếm đâu ra tiền, kể cả tìm vốn ODA. Đinh La Thăng dùng mọi thủ đoạn truyền thông để lobby cho việc xây sân bay Long Thành. Nào là cho đăng báo bêu xấu Tân Sơn Nhất là 1 trong 10 sân bay tệ nhất Á Châu; nào rằng không thể phát triển được thành phố Sài Gòn vì vướng sân bay; nào thì phải đón đầu tăng trưởng, biến Long Thành thành điểm trung chuyển khách của khu vực; nào thì phía nam cần hai sân bay.

Trong khi chỉ cần tối đa 2 tỷ đô la là có thể nâng cấp sân bay Tân Sơn Nhất lên nhiều lần nhưng chính phủ và Bộ Giao Thông vẫn muốn xây sân bay Long Thành với số tiền lên đến gần 19 tỷ đô la Mỹ. Đinh La Thăng rất hiểu giá trị phần trăm của xây dựng cơ bản.

Ách tách lớn nhất là ách tách thể chế, tồn kho lớn nhất là tồn kho thể chế. Thậm chí Bộ trưởng Kế hoạch và Đầu tư Bùi Quang Vinh còn đăng đàn Quốc Hội để kêu gọi đổi mới thể chế mới hòng thay đổi.

Số giờ nộp thuế của các doanh nghiệp Việt Nam là 800 giờ/năm trong khi các nước ASEAN-6 chỉ là 170 giờ/năm, gấp 5 lần so với họ. Hoàn thành thủ tục để khởi công một dự án nhóm C ít nhất 400 ngày và nhóm A là 450 ngày.

Vì sao cải cách hành chính đã làm cả chục năm, năm nào cũng công bố kết quả tích cực mà số giờ doanh nghiệp phải nộp thế cao đến thế? Thời gian làm thủ tục đầu tư lâu đến thế?

Năng suất, hiệu quả, năng lực cạnh tranh rất thấp. Năng suất lao động so với Singapore bằng 1/15, với Nhật là 1/11, 1/10 với Hàn Quốc, 1/5 với Malaysia và 2/5 so với Thái Lan. Năng lực cạnh tranh quốc gia của Việt Nam là 68/144, đứng vị trí thứ 6 trong ASEAN.

Trong khi Campuchia có thể sản xuất được ô tô thì chúng ta vẫn đi lắp ráp thuê. Cái ốc vít cũng không làm được. Đề án đổi công nghiêp hoá, hiện đại hoá được đề ra 20 năm nay chả lẽ chỉ để hội thảo, học nghị quyết và tiêu tiền?

Việc thành lập công ty mua bán nợ VAMC thực chất chỉ là trò hô biến nợ xấu trên giấy tờ. Công ty này không có tiền để tham gia mua bán. Với số vốn chỉ 500 tỷ mà VAMC đã mua bán và cơ cấu lại số nợ xấu lên đến hơn 50 ngàn tỷ đồng. Chắc với khả năng đó, anh Bình Ruồi xứng đáng được nhận giải Nobel kinh tế chứ không phải là chỉ một nửa giải như anh từng nói. Và các nước Phương Tây như Anh, Mỹ, Châu Âu phải nên cắp sách đến Việt Nam mà học anh Bình Ruồi về giải quyết khủng hoảng kinh tế.

Tình hình căng thăng nhất là nợ công thì chính phủ không công khai. Tăng nhanh, vượt ngưỡng không cho phép. Phát hành trái phiếu, đi vay nợ nước ngoài để tiêu nhưng thực tế lương cho người lao động không được tăng. Dự kiến nợ công năm 2014 là 60,3% và năm 2015 là 64%. Liệu có tin được con số này không khi mà cả Bộ Chính Trị và Quốc Hội đều không được báo cáo đây đủ và an toàn. Ngưỡng cho phép tối đa là 65% GDP, vậy có phải ai đó cố tình hạ xuống một chút để làm đẹp con số cho hết nhiệm kỳ?

Cần phân tích kỹ hơn ở chi tiết này. Nợ công năm 2013 là 54,2% GDP, giảm 2% so với con số báo cáo Quốc Hội chẳng qua là do đồng Yên của Nhật mẩt giá, làm nợ nườc ngoài của Việt Nam bằng đồng Yên giảm khoảng 65-70 ngàn tỷ. Nếu như đó là điều may mắn thì cũng có lúc rủi ro. Bởi có lúc nó tăng nhưng báo cáo không đề cập đến chi tiết này. Thứ hai là nợ công chỉ tính theo luật quản lý nợ công, chưa tính các khoản nợ khác của ngân sách nhà nước (đã vay để chi nhưng chưa trả). Cuối năm 2013, khoảng 160 ngàn tỷ, gồm nợ quỹ hoàn thuế giá trị gia tăng là 33,5 ngàn tỷ; nợ phí quản lý và cấp bù lãi suât ngân hàng phát triển và ngân hàng chính sách xã hội là 12,7 ngàn tỷ; nợ các khoản chi cho các dự án được đầu tư từ ngân sách nhà nước là 53,2 ngàn tỷ đồng; nợ xây dựng cơ bản của ngân sách địa phương là 40 ngàn tỷ; nợ quỹ bảo hiểm xã hội là 22,5 ngàn tỷ.

Một điều đau lòng khác là nợ công liên quan đến sự thua lỗ của doanh nghiệp nhà nước mà thực tế là nhà nước phải trả nợ thay, bảo lãnh phát hành trái phiếu đảo nợ hoặc chuyển nợ của DNNN này sang DNNN khác trả thay.

Thực tế, nhiều báo cáo cho biết, nợ công đã lên đến 100%GDP.

Đáng lo ngại là nợ phải trả tăng nhanh, đã vượt mức an toàn cho phép. Năm 2013 trả nợ bằng 22,5% tổng thu ngân sách nhà nước; năm 2014 là 25,5% (có số liệu nói là 26,7%), vượt ngưỡng 25% cho phép. Năm 2015 thì còn cao hơn nhiều, dự kiến là 30% tổng thu NSNN.

Ngân sách nhà nước đã không đủ để trả nợ. Phải đi vay để trả nợ và đảo nợ ngày càng nhiều (cao hơn dự kiến): năm 2013 là 40 ngàn tỷ, năm 2014 là 77 ngàn tỷ (dự kiến ban đầu là 70 ngàn tỷ) và ước năm 2015 là 130 ngàn tỷ (ban đầu ước là 105 ngàn tỷ).

Xu hướng này tiếp tục thì vỡ nợ công là rất lớn.

Nghe nói anh 3X đã có mọi phương án đối phó với sự đổ vỡ rồi. Anh sẽ đăng đàn Quốc Hội, rơm rớm nước mắt nói câu: I AM SORRY!. Dân Việt giàu lòng vị tha chắc lại một lần nữa quên ngay mà. Rồi thì động viên nhau, thực ra đang ăn sắn chuyển ăn khoai thì cũng vẫn vậy thôi mà!

Trong khi đó thu ngân sách nhà nước thì khó khăn. Tốc độ tăng thu giảm, tỷ lệ chi đầu tư phát triển giảm. Năm 2012 là 27,5%; năm 2013 là 21,4%; năm 2014 là 20% tổng thu ngân sách nhà nước; năm 2015 dự kiến chỉ còn khoảng 17-18%.

Trong khi đó, chi thường xuyên vẫn tăng từ 61,5% năm 2011 lên 70% tổng chi NSNN năm 2014. Chi trả nợ tăng cao (nhưng vẫn không đủ phần đi vay, đảo nợ). Bội chi NSNN cao, kéo dài. Bội chi năm 2015 dự kiến là 5% và cuối năm 2015 sẽ còn hơn 5% (cao hơn chỉ tiêu đại hội Đảng là 4,5%).

Xu hướng doanh nghiệp tư nhân giải thể, ngừng hoạt động tăng nhanh, và chưa thể ngăn chặn được. Năm 2011 là 53.922 doanh nghiệp giải thể; năm 2012 là 54.261 DN; năm 2013 là 60.737 DN và 9 tháng đầu năm 2014 là 44509 doanh nghiệp giải thể, ngừng hoạt động.

Một thể chế hoàn hảo, chặt chẽ dưới sự điều hành kinh tế của ngài thủ tướng sáng suốt mà cái ốc vít, cái sạc điện thoại cũng không làm được.

Chặt chẽ đến mức mà 5 tuyến đường sắt đô thị ở Hà Nội và Sài Gòn đều chậm tiến độ đến 2-3 năm, vốn đầu tư tăng nhiều lần và rồi dân lại gánh chịu hậu quả. Rồi thì tuyến Cát Linh Hà Đông lại phải dừng do có tai nạn trong thi công.

Sự chặt chẽ đến mức để người nước ngoài vào lừa cả trăm triệu đô như vụ của Phạm Thị Bích Lương ở Ngân hàng Nông nghiệp với số tiền lên đến 120 triệu đô la.

Trong khi cố gắng tìm mọi cách để bỏ tù luật sư Lê Quốc Quân về tội trốn thuế mà suy cho cùng, chứng cứ chẳng qua là sự áp đặt khi mà cơ quan thuế đã quyết toán rồi nhưng cơ quan an ninh lại cố tình ép án. Thì lại để cho các công ty nước ngoài trốn thuế cả chục năm trời như coca cola hay metro cash&carry. Metro làm ăn ở Việt Nam 12 năm thì 11 năm báo lỗ, không nộp thuế cho Việt Nam nhưng vẫn được cấp hàng trăm ha đất ở những vị trí đẹp để xây dựng 19 trung tâm bán hàng ở các thành phố lớn và vừa rồi bán lại cho doanh nghiệp Thái Lan mà thực chất là dân Ba Tàu với giá gần 900 triệu USD.

Hệ thống công an hùng hậu của thủ tướng ở đâu? Hay chỉ quen bắt nạt những kẻ bần cùng? Hay còn điều bất thường gì nữa?

Ngân hàng Phương Nam thua lỗ khủng khiếp, âm vốn chủ sở hữu đến hơn 11 ngàn tỷ đồng, lỗ luỹ kế 15 ngàn tỷ đồng và nợ xấu hơn 23 ngàn tỷ đồng (45,6%) vì sao vẫn được thống đốc Bình Ruồi ưu ái?

Vì sao Trầm Bê nợ của Phương Nam lên đến 30 ngàn tỷ và nợ Sacombank hơn 15 ngàn tỷ với tài sản đảm bảo không đủ đìều kiện thế chấp mà vẫn bình an vô sự? Chưa có ai nhắc đến vai trò của Thống Đốc thì phải?

Như phần trước đã nói, Phạm Công Danh nợ của Phương Nam gần 2 ngàn tỷ, nợ của BIDV và OCEANBANK hơn 5 ngàn tỷ và không có khả năng trả nợ nhưng vẫn được chấp nhận làm Chủ Tịch Ngân hàng Xây Dựng. Mặt khác, Phạm Công Danh là người có tiền án với án 6 năm tù về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản XHCN, lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản XHCN và lừa đảo chiếm đoạt tài sản công dân nhưng vẫn được chấp nhận để mua lại ngân hàng khác và thành lập ngân hàng Xây Dựng. Khi đựoc bầu làm chủ tịch ngân hàng này năm 2012 thì ngân hàng âm vốn chủ sở hữu khoảng 5 ngàn tỷ. Nhưng hơn 1 năm sau (tháng 6 năm 2014) âm vốn chủ sở hữu, thua lỗ, mất cân đối 25 ngàn tỷ.

Bình Ruồi thừa bíêt mọi chuyện. Theo lời khai của Pham Công Danh sau khi bị bắt cuối tháng 8 vừa qua thì Danh đã chi hết 700 tỷ để có được Ngân hàng Xây dựng và chi riêng cho Bình là 400 tỷ đồng.

Và trách nhiệm của Bình Ruồi và của NHNN đối với chuyện này như thế nào? Tại sao không có biện pháp ngăn chặn?

Câu hỏi đơn giản là dân chúng cần biết sự thật. Các đại biểu Quốc Hội cần biết đâu là con số thật.

Và ngài thủ tướng có xứng đáng nhận 80% sự tín nhiệm cao? Và với sự hài lòng của 80% dân chúng, liệu có phải đoàn tàu Việt Nam đang lao nhanh xuống vực?

Hay đổ lỗi tại kinh tế thế giới hay xa hơn nữa đổ tội cho chiến tranh đã kết thúc gần 40 năm rồi?

Phải chăng số phận dân tộc này không may mắn? Hay tại ba đứa phá hoại của Việt Tân?

Tương lai dân tộc nằm ở sự quyết định của lương tri tiến bộ, của dân chúng biết cất lên tiếng nói của sự thật hay nằm trong sự kìm kẹp của những kẻ độc tài tham lam?

Xin chia sẻ những gì có được để dư luận biết được bộ mặt thật của chính phủ này, thể chế này nó như thế nào và về những con người đang nắm vận mệnh dân tộc đang lừa chính những người đóng tiền nuôi họ như thế nào.

Đúng là các cụ nói không có sai. Càng quyền lực càng tha hoá.

_____

Dương Vũ – Ai đang làm khánh kiệt đất nước? (Phần 11)

2014

Viết tiếp về các thủ đoạn của Bình Ruồi trong lĩnh vực ngân hàng

Cho dù Bình đang lũng đoạn hệ thống ngân hàng cũng như lũng đoạn nền kinh tế, nhưng Bình vẫn tin tưởng vào tiền đồ chính trị tiếp theo của mình. Xác định đối thủ cạnh tranh trực tiếp cho ghế Phó Thủ Tướng sắp tới của Bình là Đinh Tiến Dũng, Bộ Trưởng Tài Chính. Không có gì khác là phải dùng chiêu bới lông tìm vết và lấy đó làm cái thòng lọng kìm chân Đinh Tiến Dũng nên vừa qua, Bộ Tài Chính và một số cơ quan của Bộ Tài Chính bị thanh tra toàn diện. Với chiêu bài thanh tra này, liệu Bình có thể gạt được đối thủ Đinh Tiến Dũng? Liệu Đại Quang có ủng hộ một người đồng hương Ninh Bình hay lại ủng hộ người anh em cùng “họ Bác Hồ”?

Về các thủ đoạn của Bình trong hệ thống ngân hàng như đã trình bày về việc biến vàng SJC thành vàng thương hiệu quốc gia và thủ đoạn của nhóm Bình Ruồi trong vấn đề này.

Thứ nhất, đã là vàng thì nó chỉ khác nhau ở độ tinh khiết xác định bằng giá trị vàng tinh khiết mà dân gian vẫn quen gọi là tuổi vàng. Giá vàng có một chút liên quan đến thương hiệu vàng. Nhưng khi cấm kinh doanh vàng trạng thái lẫn vàng vật chất, Bình chính thức khai tử một mặt hàng quan trọng từ cổ chí kim trong giao dịch thương mại của tất cả các nền kinh tế trên thế giới – đó là Vàng. Chính vàng đã cứu Chính Phủ của Đỗ Mười cuối những năm 80 đầu những năm 90 của thế kỷ trước khỏi đổ vỡ và kìm được lạm phát phi mã. Dân chúng chỉ được mua bán vàng có thương hiệu SJC, tại những nơi được chỉ định mà Bình đặt làm thương hiệu quốc gia.

Mới thoạt nghe thì có vẻ rất vô tư định hướng cộng sản, rằng đó là thương hiệu của Thành Ủy Sài Gòn. Nhưng không. Bởi sự gian manh ở chỗ, Công ty vàng SJC miền Bắc mà Đỗ Minh Phú (Phú Doji) đứng tên là công ty cổ phần mà Bình có 40% cổ phần.

Báo Thanh Niên đã từng loan báo về việc nhóm của Bình nhập hàng trôi nổi rồi cho đóng mác SJC đem bán. Chính cái tin này mà nhóm công an suýt nữa bỏ tù nhà báo của Báo Thanh Niên.

Thực ra, còn tệ đến mức, mỗi cục được gọi là vàng SJC bán ra đều bọc trong một cái miếng plastic và nếu nó rách sẽ bị trừ tiền. Vì thế, thực chất, người ta chỉ coi đó là mua một mẩu kim loại có màu vàng chứ không được sờ vào mà biết. Và giờ đây, báo chí chính thức bị cấm tịt đưa tin về vấn đề kinh doanh vàng của băng nhóm này. Giá chênh lệch với thế giới như thế nào để dẫn tới việc buôn lậu vàng vẫn diễn ra hiện này; Bình để anh ruột là Nguyễn Văn Thành tham gia buôn bán vàng như thế nào? Thì giờ đây là khu vực cấm như khu quân sự, cấm nhà báo bén mảng.

Bình có cổ phần trong ngân hàng Tiên Phong của Phú. Vì thế mà người ta nói Tiên Phong bank mới là ngân hàng thực mạnh ở Việt Nam.

Ngoài ra, Bình và Bắc Hà BIDV có 40% cổ phần trong ngân hàng Nhà Đồng Bằng Sông Cửu Long MHB. Bình Ruồi và Bắc Hà đang lên kế hoạch sáp nhập hai ngân hàng này với nhau. Thực chất để nhóm bên MHB sẽ tham gia HĐQT bên BIDV và Bắc Hà sau khi về hưu bên BIDV sẽ là chủ tịch của MHB và lại tiếp tục tham gia điều hành BIDV.

Cái khốn nạn nữa là việc sáp nhập này, nhóm Bình Ruồi Bắc Hà sẽ đưa giá của MHB bằng hoặc cao hơn giá của BIDV và biến tiền giả bên MHB thành tiền thật bên BIDV. Với phương thức này, Bình Ruồi cũng hô biến trong thương vụ Bản Việt của Nguyễn Thanh Phượng với Vietcombank.

Chuyện tiền nong của Phượng được 3X nói là tiền của thằng con rể nhưng phía Mỹ đã trả lời Việt Nam là không hề có chuyện đó. Đó chỉ là cậu chàng làm thuê cho IDG.

Nhưng giờ đây, sau khi bán cổ phần của mình cho phía Trung Quốc trong công ty VNG cậu chàng có một khoản khơ khớ. (Công ty VNG này Lê Hồng Minh chỉ còn 1% cổ phần nhưng vẫn đứng tên cho Trung Quốc và Trung Quốc lấn sâu vào lĩnh vực công nghệ thông tin và cả báo chí nữa. VNG sở hữu tờ Zing News).

Gần đây, báo chí Mỹ còn loan tin, chàng rể nhà 3X còn mua được cả một đội bóng ở giải nhà nghề Mỹ.

Với phương thức như vậy, Bình đang tiến hành tẩu tán tài sản công trong các ngân hàng lớn.

Và nếu là thật công bằng thì có thể chứng minh được không khó khối tài sản kếch xù đó của nhà 3X?

Bình luôn rêu rao về thành công trong việc cơ cấu lại hệ thống ngân hàng nhưng thực chất giờ đây mọi người hiểu được rằng, đó là cho chết, ép chết để cướp. Điển hình vụ Habubank bị SHB của Hiển mít nuốt và nhóm chủ của Habubank chết Vinashin của 3X và Bình Ruồi. Hoặc nhóm 3 ngân hàng nhỏ Sài Gòn sáp nhập đầu tiên thì tài sản của Trương Mỹ Lan Thịnh Phát đã mất rất nhiều về tay Bình Ruồi chẳng hạn như tòa nhà Diamond ở trung tâm Quận Nhứt Sài Gòn.

Một điển hình khác là vụ Ngân hàng Xây Dựng, Phạm Công Danh có tiền án, tiền sự về tội lừa đảo, nợ vài ngàn tỷ nhưng chỉ cần chi tiền cho Bình (chạy hết 700 tỷ, riêng Bình 400 tỷ) vẫn thâu tóm được Đại Tín. Và sau hơn 1 năm đã âm vốn chủ sở hữu lên đến 25 ngàn tỷ. Rõ ràng cho thấy Bình bất chấp và chà đạp lên tất cả. Chả lẽ Bình vô can? Hay tại thế lực thù địch? Hay tại Việt Tân?

Giờ đây, Bình thực sự yên tâm với việc có cả 3X lẫn nhóm công an mà đứng đầu là Đại Quang. Đi đâu Bình Ruồi cũng đi với một trong hai nhân vật này.

Nhưng có một điều hết sức tệ hại mà không phải ai cũng hiểu. Những chính sách hại nước hại dân, những đòn kế đang làm khánh kiệt đất nước lại được sự tô hồng bởi nhóm được gọi là TRÍ THỨC. Trí thức có vai trò quan trọng trong việc định hướng sự ủng hộ của một chính sách, một nền hành chính, hay một chính phủ. Vì thế, sự cố vấn hay phản biện này trí thức như nào thì dân chúng theo đó.

Ở đây không chỉ là nhóm văn nô, bồi bút hay trí thức gầm bàn mà còn cả những người gọi là Trí Thức Độc Lập. Lê Đăng Doanh khen việc bắt Hà Văn Thắm là thể hiện sự cứng rắn của Chính Phủ với nhóm tài phiệt. Vậy sẽ có bao nhiêu tài phiệt như Hà Văn Thắm sẽ vô khám? Những nhân vật mà ai cũng biết giàu lên bất chính như thế nào thì đã ai sờ gáy chưa? Hay chỉ bắt nếu là đệ tử, là sân sau của đối thủ?

Thậm chí giới trí thức này còn ủng hộ cho một thể chế vương quyền độc tài của 3X. Một số giải thích rằng, 3X quá giàu, quá độc tài sẽ nghĩ về tương lai tốt đẹp và hy vọng sự “trở cờ” khi nắm quyền.

Vâng xin thưa, càng quyền lực, càng tha hóa và lòng tham con người thì vô đáy. Và rồi, những kẻ ủng hộ 3X lên không đòi chia bổng lộc hay sao? Hôm qua anh vừa cầm tiền của họ, vậy hôm nay họ làm bậy anh có ngó lơ không? Và sự làm bậy của họ đơn giản chỉ là việc thu hồi vốn.

Chẳng hạn như Thành đầu đinh bỏ 10 triệu USD thì phải thu hồi chứ? Giống như việc Quang đầu to ở Tây Hồ chạy từ Phó Công An Từ Liêm lên làm Trưởng Công An Tây Hồ cách đây gần 20 chục năm hết 200 vé (20 ngàn đô la Mỹ) thì chỉ một cái Tết, mỗi nhà hàng khách sạn ở Hồ Tây phong bì Tết cho Quang 1 vé là Quang hòa vốn. Câu chuyện Quang hòa vốn chỉ cần 1 cái Tết xảy ra gần 20 năm nhưng Quang kể rất hồn nhiên và như là một câu chuyện đơn giản nhất về khái niệm đầu tư vào quan trường. Giờ thì Quang làm Chủ Tịch Tây Hồ và đất của Quang thì đếm không xuể quanh Hồ Tây.

Cũng cần nói rõ rằng, Bình Ruồi và Bắc Hà có vai trò quan trọng trong mọi câu chuyện tiền nong nhằm điều phối dòng tiền của nhóm lợi ích này. Các chân rết tài phiệt bu xung quanh luôn cần sự có mặt của Bình và Hà để giải quyết khi cần thiết. Nó được ví như máu dự trữ cho bệnh nhân máu trắng. Thiếu máu phải truyền nhưng căn bệnh ung thư máu thì không giải quyết được. Bơm bao nhiêu, tốn bấy nhiêu và có thể vẫn chết. Muốn giải quyết thì chỉ có con đường loại bỏ những kẻ như thế này, nó được ví như khỏi bệnh thì chỉ có thể thay tủy.

Nhóm tài chính ngân hang này còn có những thành phần đặc biệt như Trầm Bê, Lê Hùng Dũng EXIM và trước có cả Kiên Bạc và một số khác như Hiển Mít… (Kiên Bạc đang đi “nghỉ mát” nhưng cô vợ baby của Kiên Bạc vẫn thay chồng điều hành tất cả những gì Kiên đang làm. Tất nhiên Kiên Bạc mất kha khá chạy án nhưng cái đó thì chỉ anh 3X mới rõ). Riêng Trầm Bê thì là đó là một nhân vật vô cùng đặc biệt, nó còn là mắt xích nối giữa 3X với nhóm Ba Tàu và nối 3X với Hunsen, Trung Quốc và một số ở Miền Nam.

Thời gian trước, còn có thêm Hùng Vietin nhưng giờ đây nhóm 3X đã cho Hùng văng khỏi quỹ đạo của chúng. Và Hùng bắt đầu ngấm đòn khi người thân của Hùng đang bị thanh lọc và loại khỏi hệ thống Vietin. Cũng là đòn nhân tiện Bình loại Hùng để đưa người của Bình về kiểm soát Vietin và dễ dàng thực hiện các phi vụ, chẳng hạn như vụ mua lại PG bank và giải quyết các vấn đề liên quan đến Huyền Như.

Khi làm Thống Đốc NHNH tạm quyền một thời gian thì 3X hiểu được giá trị của TIỀN/NGÂN HÀNG và khi Bình gắn lợi ích ngân hàng, Nguyễn Thanh Phượng thì 3X và Bình Ruồi sẽ thành những phần không thể tách rời. Rồi thì gắn với các tài phiệt mới nổi thông qua nợ xấu, gắn nợ, khoanh nợ, đảo nợ và kể cả bơm tiền của gói kích cầu. Chả thế mà với gói kích cầu, Vincom của Phạm Nhật Vượng bán nhà có ngân hàng đứng sau hỗ trợ cho khách hàng vay. Còn các nhà đầu tư khác thì không thể nào tiếp cận được vốn.

Bình và 3X còn sử dụng ngân hàng và nợ xấu trong việc không chế Huyền Tâm, vợ lẽ Mạnh mượt (Nông Đức Mạnh).

Tâm được 3X thông qua Đinh La Thăng giao cho Tâm thực hiện 3 tuyến đường cao tốc. Tâm bán sang tay kiếm hơn 1.000 tỷ đồng đủ giải quyết nợ xấu của Tâm. Giờ đây, ngoài Lê Khả Phiêu còn có Mạnh đi vận động trợ giúp đưa 3X lên số 1. Tất nhiên, Trần Đức Lương và Nguyễn Văn An thì khỏi phải nói. 3X đưa con An là Nguyễn Sỹ Hiệp, sinh 1974, lên làm Phó Chủ Nhiệm Văn Phòng Chính Phủ và quy hoạch lên làm Bộ Trưởng Chủ Nhiệm khóa tới khi Nguyễn Văn Nên sẽ cơ cấu vào Bộ Chính Trị. Đúng là việc 3X cao tay khi cất nhắc Nguyễn Sỹ Hiệp và ngay tắp lự Nguyễn Văn An dừng trì chiết 3X. Tất nhiên, việc Nguyễn Văn An dừng kêu gọi đa nguyên đa đảng còn có sự dằn mặt của hai ủy viên Bộ Chính Trị. Hai người này đến gặp An và yêu cầu dừng.

Truyền thông

Tại thời điểm này, 3X khá yên tâm với việc có sự thỏa thuận ngầm với Đinh Thế Huynh để 3X điều hành nhóm báo chí. Ở cấp Đảng thì Huynh buông cho 3X điều hành, còn về phía Bộ 4T thì Nguyễn Bắc Son và 3X đều có chung một chủ là Ông Tướng Chột.

Đối với một số báo mạng thì nhóm anh em Vượng Vũ Vincom đã đầu tư và đang điều hành một số báo mạng, đồng thời đầu tư với Hữu Ước để điều hành nhiều kênh truyền hình và tất nhiên các mạng này ủng hộ cho 3X, cho cách làm ăn của nhóm này. Đồng thời công ty của con rể 3X cũng có một số trang mạng phục vụ cho nhóm đó như CafeF…

3X tuyệt đối ý thức với sức mạnh của truyền hình. 3X dành hơn 411 tỷ đồng nâng cấp truyền hình để phủ sóng rộng hơn. Đặc biệt là việc hình thành kênh VTV24 và để Lê Bình làm giám đốc.

Bình Ruồi và Bắc Hà phải có trách nhiệm nuôi cô nhà báo có khuôn mặt như hai cánh tay vắt chéo này. Lê Bình bỏ phiếu trượt phó ban thời sự thì Trần Bình Minh đưa thẳng lên thành trưởng ban và dành cho Bình hẳn một trường quay 80 tỷ. Quỹ lương của toàn thể cán bộ VTV giảm đi từ 5 đến 10% để dành đầu tư cho VTV24 của Lê Bình. Chương trình này có cơ chế riêng, tuyển nhân sự riêng hàng trăm người và thực hiện với phương châm áp đảo, áp đặt và khủng bố người xem. Áp đặt ý đồ và áp đặt thông tin với người xem. Khai trương có Vũ Đức Đam xuống phát biểu.

Đây là cách nhóm 3X, Bình Ruồi muốn làm để áp đặt thông tin tới đại chúng và luôn vẽ lên hình ảnh một thủ tướng tài ba điều hành nền kinh tế xã hội công chính và liêm khiết. Một Thống Đốc kiệt xuất xứng đáng là người được ít nhất nửa giải Nobel kinh tế.

Và VTV24 đang biến Ban Thời Sự và Chương Trình Thời Sự 7h tối thành một chương trình vớ vẩn không ai xem.

Nhóm VTV24 này trong khi chưa có kênh riêng thì vẫn giữ Bản Tin Tài Chính Kinh Doanh. Đây là vũ khí cực kỳ lợi hại mà nhóm lợi ích Bình Ruồi phải giữ cho Lê Bình nhằm phục vụ cho nhóm này. Bản Tin Tài Chính còn là cái cần câu, con gà đẻ trứng vàng cho nhóm Trần Bình Minh – Lê Bình.

Một nhân vật khác của VTV vừa được đưa lên ngồi cạnh Thủ Tướng giúp 3X trong những vấn đề với báo chí, truyền thông là Đăng Học. Dù đã có Kinh Quốc được Ông Sáu Khải đưa lên làm Phát Ngôn Nhân Chính Phủ nhưng nay bị xếp xó và sử dụng Đăng Học.

3X hiểu được sức mạnh truyền thông nên phải có những cá nhân xung quanh nhằm có đối sách với truyền thông. Một mặt có hệ thống thông tin áp đảo, nuôi bộ máy dư luận viên đồng thời sẵn sàng ban hành văn bản cấm công chức nhà nước đọc thông tin trái chiều.

Thành lập Cục An Ninh Mạng thực chất là để điều tra, khống chế những thông tin trái chiều lọt ra ngoài. Thậm chí sẵn sàng khởi tố những ai gây khó chịu, nói ngược như Ba Sàm, Trương Duy Nhất, nhà văn Phạm Viết Đào và đang điều tra Phạm Thành VOV. Xuân Diện, Ngô Nhật Đăng thì luôn bị cảnh báo nguy cơ mất an toàn.

Nếu như an ninh tình báo cảnh sát 3X có thể khống chế và điều hành một cách đơn giản thì điều mà 3X lo lắng nhất thông qua lời Đại Quang đó là DƯ LUẬN. Đặc biệt là thông tin mà Chính Phủ gọi là lề trái. Tất nhiên nhóm lề trái này thì lại được dân oan gọi là lề dân. Đại Quang thậm chí còn ám chỉ DƯ LUẬN LỀ TRÁI là căn nguyên và khởi mào cho những bất ổn xã hội ở Việt Nam.

Về cá nhân Bình Ruồi sử dụng truyền thống kín đáo. Có các cách để khủng bố dư luận và sẵn sàng ngăn cản bất kỳ nhà báo nào khác không thân thiện với Bình. Về cơ bản người ta nhìn thấy Bình Ruồi không thiện cảm với báo chí. Bình chỉ nuôi chỗ cần nuôi thôi.

Về nhân vật nhà báo Lê Bình

Về nhà báo Lê Bình. Lê Bình dân Nam Định. Trước làm phát thanh viên cho Đài Nam Định. Sau đi học tại chức báo chí trường Tuyên Giáo. Sau khi học xong về làm một thời gian cho chương trình Bông Hoa Nhỏ của VTV. Rồi từ đó chuyển qua Thời Sự.

Từ Thời Sự, Lê Bình gặp Trần Bình Minh và cuộc đời Lê Bình đổi khác.

Trần Bình Minh giờ cũng đổi khác. Tha hóa cả trong đời sống lẫn trong tư tưởng. Tất nhiên, trả công. cho Trần Bình Minh, 3X cũng đưa Trần Bình Minh vào BÊ XÊ TÊ trong nhiệm kỳ tới.

Tuy nhiên, một nhân vật khác trong Nội Các nhà 3X rất công khai sử dụng truyền thông là Đinh La Thăng.

Đinh La Thăng là người như thế nào?

Xin thông tin một số điều về Đinh La Thăng. Nhiều người nói hình như là con cháu của ông Đinh Đức Thiện. Nhưng điều đó không đúng. Ông Đinh Đức Thiện, anh em với ông Lê Đức Thọ và Mai Chí Thọ, họ Phan. Ông Đinh Đức Thiện tên thật là Phan Đình Dinh. Quê Nam Trực, Nam Định

Đinh La Thăng quê Yên Bình, Ý Yên, Nam Định. Gần với thị xã Ninh Bình. Và cũng chả họ hàng gì với Đinh Thế Huynh.

Đinh La Thăng học về kế toán, không phải xây dựng. Sau khi ra trường, Đinh La Thăng về Công Ty Cung ứng vật tư thuộc Tổng Công Ty Xây Dựng Sông Đà làm kế toán viên rồi leo dần lên. Ở đây, Đinh La Thăng tham gia công tác đoàn, làm bí thư Đoàn Thanh Niên Công Ty rồi thì làm Bí Thư Đoàn Thanh Niên Tổng Công Ty.

Cuộc đời Đinh La Thăng có lẽ phải kể đến sự quan tâm của Ngô Xuân Lộc, cựu Tổng Giám Đốc Sông Đà.

Thăng có 3 người con, hai gái một trai. Cậu con trai đẻ ra đã có vấn đề và phải đưa đi chỗ khác nuôi. Cô con gái cả suốt ngày mặc quần áo đẹp đi lại trong nhà. Chỉ có cô con gái giữa là khôn ngoan.

Thăng đã chấp nhận đánh đổi sự riêng tư nhất định trong chuyện tình cảm để cứu Ngô Xuân Lộc và Lộc là người nâng đỡ Thăng. Dù là dân kế toán nhưng lại được bổ nhiệm làm lãnh đạo công ty về xây dựng. Và Thăng rất hiểu cách tính toán chia các con số theo phần trăm.

Sau này, khi Thăng làm Bộ Trưởng Giao Thông thì không chỉ Tập Đoàn Dầu Khí nơi Thăng làm Chủ Tịch và cả Tổng Công Ty Sông Đà bị thanh tra và phải nộp lại hàng chục ngàn tỷ đồng.

Nhưng Thăng không hề bị sao bởi Thăng ngoài 3X còn có con bài Nguyễn Văn Chi. (Nguyễn Văn Chi có 3 người con trai là Nguyễn Xuân Anh, Nguyễn Xuân Ảnh và Nguyễn Xuân Ánh. Xuân Anh làm Phó Bí Thư Đà Nẵng còn hai người là Xuân Ảnh và Xuân Ánh thì một người là vụ phó ở Bộ Ngoại giao nay đang đi luân chuyển ở Canada và một người là thư ký cho Đinh La Thăng).

Học tập 3X chọn thư ký, Thăng chọn con Nguyễn Văn Chi và câu chuyện thanh tra, kiểm tra coi như yên tâm.

Thăng thích đá bóng, hát hò, karaoke theo kiểu công tác thanh niên. Khi Thăng về PetroVietnam bị coi thường nhà quê và đặc biệt khi về Bộ Giao Thông. Chả thế mà Thăng cấm chơi golf và bắt công chức Bộ Giao Thông đi xe buýt. Nay chuyện đó phá sản và người ta thấy Thăng ở điểm này chỉ là hành động “nổ”.

Nhà Thăng ở Mỹ Đình trong một chung cư cao tầng của Sông Đà và gia đình chỉ ở hết có 9 tầng lầu thôi. Nhà Thăng còn là nơi họp Chính Phủ diện hẹp. Các bộ trưởng kinh tế gặp nhau cuối tuần ở nhà Thăng và đưa ra vấn đề cần trao đổi xin ý kiến của 3X thì để Thăng gọi cho 3X. Kể cả Xuân Phúc hay trước đây có Nguyễn Thiện Nhân hay Vũ Đức Đam cũng không dám gọi thẳng cho 3X. Thăng là người tính rất nhanh.

Thăng không là dân giao thông hay xây dựng mà là dân kế toán nên Thăng quy mọi thứ ra tiền. Để có sự ủng hộ của Mạnh mượt dưới sự bật đèn xanh của 3X, Thăng để cho Huyền Tâm 3 dự án cao tốc. Để có sự ủng hộ của Phùng Quang Thanh, Thăng cho con giai Thanh là Phùng Quang Hải làm đường cao tốc ở phía Nam mà chúng tôi đã đề cập ở những phần trước. Để có sự ủng hộ của Trần Đại Quang, Thăng để em họ Quang thu tiền nhiều tuyến cao tốc như Ninh Bình – Cầu Giẽ, Sài Gòn – Trung Lương. Và nếu như thông tin không lọt ra thì thu tiền tuyến Hà Nội – Lào Cai đã rơi vào tay nhà Tô Lâm.

Thăng triệt để tận dụng truyền thông để có sự ủng hộ của dư luận như việc sẵn sàng trảm nhà thầu. Thực ra trong chuyện này Thăng rất biết tận dụng cơ hội. Thăng mới về giao thông và các công ty làm thì chây ỳ mà không ai động vào được. Việc trảm “tướng”, trảm nhà thầu, Thăng được tiếng xốc vác công việc đồng thời cảnh cáo tất cả. Từ sau khi sẵn sàng trảm, và thực tế Thăng cho thay những ai khó bảo mà được dư luận ủng hộ.

Thăng học Đại Quang, Nam Đinh hóa Bộ Giao Thông. Đưa Nam Định lên.

Thăng tổ chức thi tuyển nhưng thực chất giám khảo là các thứ trưởng mà Thăng chỉ coi như những thằng con, nói sao làm vậy.

Và có ai khác trong số những vị trí thi tuyển gần đây thực sự đỗ hay lại là Nam Định của Thăng?

Thăng lấy lòng dư luận bằng cách ép tiến độ nhưng đường Hà Nội – Lào Cai vừa thông xe đã phát hiện hỏng. Cầu Nhật Tân xong nhưng không cho thông.

Chết người ở dự án Cát Linh Hà Đông, Thăng đổ ngay trách nhiệm cho người khác. (Thăng nói, nếu công an họ điều tra ra thì các ông đi tù hết. Thế Thăng là Bộ Trưởng – Tư Lệnh ngành thì không liên quan à?)

Đặc biệt là việc Thăng rất thích làm dự án mới, dự án hoành tráng.

Thăng tận dụng truyền thông để “dìm hàng” Tân Sơn Nhất nhằm mục đích để xây Long Thành bằng được. Xây Long Thành với Thăng có hai mục đích. Một là phần trăm của 18,7 tỷ đô nhưng đồng thời đạt được ý định của 3X dành 1.500ha đất của Tân Sơn Nhất cho con gái Nguyễn Thanh Phượng.

Với tính cách của Thăng, Thăng đúng là một anh chàng đốc công năng nổ và thích hợp để giải quyết những việc lấy lòng dư luận.

Kể cả khó như việc tận thu phí bảo trì đường bộ mà Thăng còn thực hiện được. Nay toàn hệ thống phục vụ việc thu phí này. Việc thu phí nhưng các trạm thu phí vẫn mọc đầy trên đường. Các đường cao tốc xây bằng ODA và tiền ngân sách mà chủ phương tiện vẫn phải nộp khi đi và kể cả khi không đi thì tiền vẫn phải nộp. Chả hiểu sao mà dân Việt Nam vẫn phải chấp nhận sự vô lý đó?

Thăng và 3X còn có ý tưởng bán đường cao tốc, bán bến cảng, nhà ga cho nước ngoài. Một ngày đẹp trời, người Trung Quốc vào mua và cấm chúng ta đi lại. Viễn cảnh đó không còn xa. Nhất là khi nợ công đang ngày càng cao và có nguy cơ vỡ. Chả cần thỏa ước Thành Đô về việc tự làm chư hầu cho Trung Quốc thì Thăng và 3X cũng đang dâng lên cho Tàu.

Đối với báo chí trong nước, ai cũng biết chuyện, gặp anh Thăng viết bài có 5 triệu tiền mặt và một chai Ballantines.

Việc Thăng về Hà Nội làm Bí Thư Hà Nội cùng với tướng Chung con làm Chủ Tịch chắc sẽ không quản ngại một dự án nào. Bởi họ là cặp đôi có ý chí, có mưu và có công cụ để vượt qua mọi đám dân oan. Dự án kiểu như Dương Nội sẽ không gặp bất kỳ cản trở nào của những người nông dân. Và tất nhiên, sẽ không thể và không có chỗ nào cho bất kỳ hoạt động dân chủ nhân quyền nào đâu.

Nhân đây xin nói thêm, con cái 3X đã tham gia điều hành Nam Cường và dự án khu đô thị ở Dương Nội tại sao công an trấn áp dã man và sẵn sàng bỏ tủ người mất đất bởi nó nay thuộc về nhà 3X rồi.

Và hãy chờ xem, họ sẽ “giải quyết” hết quỹ đất ở Hà Nội như thế nào khi Thăng lên làm Bí Thư và Chung con làm Chủ Tịch. Ở Việt Nam không cần học gì vẫn có thể điều hành kinh tế và xã hội chỉ cần biết bắn súng và dám chĩa súng về phía nhân dân để bắn.

___________

Ai đang làm khánh kiệt đất nước? (phần 12)

Dương Vũ
10-11-2014

.

Mấy ngày hôm nay, dự luận xôn xao về trả lời với Quốc Hội về việc phong tướng, Phùng Quang Thanh nói là không được phong tướng anh em rất “tâm tư”.

Ở Trung Quốc, quân đội của đất nước hơn 1 tỷ dân mà họ chỉ có thượng tướng là cao nhất.

Ở Việt Nam cả công an và bộ đội bộ trưởng đều là đại tướng.

Lê Hồng Anh chả biết gì công an nhưng một phát đại tướng luôn. Cái đó anh em cán bộ chiến sỹ mới tâm tư.

Giờ luật sỹ quan được vận động tích cực.Quân đội thế nào công an cũng đòi thế.

Quân đội đòi 3 đại tướng cho bộ trưởng, chủ nhiệm tổng cục chính trị và tổng tham mưu trưởng thì bên công an cũng đòi đại tướng cho bộ trưởn