Trần Hoàng Blog

Archive for the ‘Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa’ Category

►GS Nguyễn Ngọc Bích, Giám Đốc đầu tiên của Ban Việt ngữ RFA từ trần, hưởng thọ 79 tuổi

Posted by hoangtran204 on 04/03/2016

Ông mất (trên máy bay) trên đường từ Washington D.C. đến Manila để tham dự một hội nghị về Biển Đông. Với mọi người, ông là một học giả, một người hăng say làm việc, sẵn sàng tham gia mọi sinh hoạt, sẵn lòng gánh vác những việc nặng nhọc nhất. Với anh chị em chúng tôi, ông là một người thầy, một người anh và là một người bạn rất chân tình. Vì thế, không ai ngạc nhiên khi ngay sau khi được báo tin Ông mất, những người bạn và những người biết Ông đều sửng sốt, có người bảo với anh em chúng tôi rằng con người đáng quý nhất trên cõi đời này không còn nữa.

GS Nguyễn Ngọc Bích, Giám Đốc đầu tiên của Ban Việt ngữ RFA từ trần, hưởng thọ 79 tuổi

Nguyễn Khanh, RFA

2016-03-03

Bich-DiemThi-622.jpg

GS Nguyễn Ngọc Bích đến thăm studio của RFA nhân kỷ niệm 15 năm ngày thành lập Đài Á Châu Tự Do.

RFA

Tôi là Nguyễn Khanh của Ban Việt Ngữ Đài Á Châu Tự Do. Thưa quý vị, trong nỗi đau buồn, chúng tôi xin được báo tin Ông Nguyễn Ngọc Bích, vị Giám Đốc đầu tiên và đáng kính của anh chị em Ban Việt Ngữ chúng tôi vừa từ trần, hưởng thọ 79 tuổi.

Ông mất trên đường từ Washington D.C. đến Manila để tham dự một hội nghị về Biển Đông.

Với mọi người, ông là một học giả, một người hăng say làm việc, sẵn sàng tham gia mọi sinh hoạt, sẵn lòng gánh vác những việc nặng nhọc nhất. Với anh chị em chúng tôi, ông là một người thầy, một người anh và là một người bạn rất chân tình. Vì thế, không ai ngạc nhiên khi ngay sau khi được báo tin Ông mất, những người bạn và những người biết Ông đều sửng sốt, có người bảo với anh em chúng tôi rằng con người đáng quý nhất trên cõi đời này không còn nữa.

Trong suốt thời gian cả chục năm trời giữ vai trò của người điều hành Ban Việt Ngữ, điều tất cả chúng tôi đều nhìn thấy và không bao giờ quên là hình ảnh một Sếp Bích bắt đầu ngày làm việc với nụ cười, và kết thúc ngày làm việc cũng bằng một nụ cười. Vì thế, bài học lớn nhất mà Ông để lại cho chúng tôi là bài học bao dung, tha thứ, không bao giờ giận hờn ai, xem tất cả mọi chuyện đều quá nhỏ, chỉ có tình anh em, gia đình mới là điều đáng phải quan tâm.

Đó cũng chính là ước nguyện của ông ngay từ ngày đầu tiên khi bước vào nhận trách nhiệm xây dựng đại gia đình Ban Việt Ngữ, chăm sóc chương trình phát thanh hàng ngày từ khi chương trình còn là một đứa bé nằm nôi, cho đến ngày nhìn thấy đứa bé thật sự trưởng thành, và gia đình Ban Việt Ngữ mà ông đã bỏ nhiều công sức để gầy dựng ngày một lớn hơn, vững mạnh hơn và biết thương yêu nhau hơn, đúng như ý ông mong muốn trước ngày chia tay với chúng tôi để về nghỉ hưu.

Một lần nữa, trong nỗi đau buồn, toàn Ban Việt Ngữ Đài Á Châu Tự Do chúng tôi xin được thông báo cùng quý vị: Ông Nguyễn Ngọc Bích, vị Giám Đốc đầu tiên và đáng kính của chúng tôi vừa từ trần, hưởng thọ 79 tuổi.

Ở đây, anh chị em chúng tôi xin cúi đầu chia tay với sếp Bích, thầy Bích, anh Bích, cùng nhau xin thắp nén hương tiếc thương một người sếp, một người thầy và một ông anh mà chúng tôi may mắn được gặp, được làm việc chung, và không bao giờ có thể quên.

Giáo sư Nguyễn Ngọc Bích đột ngột qua đời

4-3-2016

VOA Tiếng Việt

Giáo sư Nguyễn Ngọc Bích đột ngột qua đời lúc 12 giờ sáng ngày 3/3 (giờ miền đông Hoa Kỳ) khi đang trên chuyến bay tới thủ đô Philippines tham dự một hội nghị cổ xúy cho chủ quyền Việt Nam ở Biển Đông.

Giáo sư Nguyễn Ngọc Bích đột ngột qua đời lúc 12 giờ sáng ngày 3/3 (giờ miền đông Hoa Kỳ) khi đang trên chuyến bay tới thủ đô Philippines tham dự một hội nghị cổ xúy cho chủ quyền Việt Nam ở Biển Đông.

Giáo sư Nguyễn Ngọc Bích, một học giả uy tín và cũng là một nhà hoạt động vì dân chủ-nhân quyền cho Việt Nam, vừa đột ngột qua đời khi đang trên chuyến bay tới thủ đô Philippines tham dự một hội nghị cổ xúy cho chủ quyền Việt Nam ở Biển Đông.

Giáo sư Nguyễn Ngọc Linh từ bang Virginia, anh trai giáo sư Bích, cho VOA Việt ngữ biết ông nhận được hung tin lúc 12 giờ sáng ngày 3/3 (giờ miền đông Hoa Kỳ) từ vợ giáo sư Bích, Tiến sĩ Đào Thị Hợi. Giáo sư Nguyễn Ngọc Linh:

“Nhận được tin báo do bà Bích gọi từ máy bay về trong khi máy bay còn chưa tới Manila, báo tin ông Bích mới bị cơn đau tim và đi rồi.”

Hiện giờ bạn bè và người quen của giáo sư Bích đang túc trực ở sân bay tại Manila chờ  máy bay đáp xuống để lo các thủ tục nhận xác.

Ông tới Manila lần này để tham dự hội nghị Biển Đông mà các thành viên trong tổ chức Họp mặt Dân chủ  phối hợp với một số đoàn thể người Philipines đồng tổ chức, thảo luận về tranh chấp Biển Đông, chủ quyền Việt Nam, và cách ứng phó với sự bành trướng của Trung Quốc.

Cùng có mặt trên chuyến bay với ông có giáo sư Đoàn Viết Hoạt, một nhà tranh đấu dân chủ lâu năm của Việt Nam.

Giáo sư Bích được nhiều người biết tiếng vì các hoạt động không ngừng nghỉ của ông ở hải ngoại nhằm cổ võ một nền dân chủ, nhân quyền cho người dân tại Việt Nam.

Ông góp mặt trong rất nhiều các sinh hoạt chính trị-văn hóa-xã hội của người Việt tại Mỹ và thường xuyên là khách mời danh dự, diễn giả của rất nhiều sự kiện quan trọng liên quan tới nhân quyền Việt Nam.

Giáo sư Linh cho biết tình trạng sức khỏe của giáo sư Bích trước chuyến đi ổn định và cơn đau tim đột tử có thể là kết quả của những năm tháng miệt mài tận lực làm việc của giáo sư Bích vì cộng đồng người Việt, vì những đồng bào trong nước khát khao một nền dân chủ đích thực:

“Ông ấy trước đó vẫn làm việc bình thường, vẫn hăng say. Buổi tối vẫn làm việc tới 2 giờ sáng. Tôi vẫn nhắc ông ấy phải đi bác sĩ coi sức khỏe, phải kiêng cữ, nhưng ông ấy bận quá. Ai nhờ việc gì cũng làm, ông ấy làm việc nhiều quá.”

Giáo sư Bích là một nhà sư phạm am tường văn chương-ngôn ngữ, một chuyên gia dịch thuật, một nhà biên khảo kỳ cựu, và nguyên là Giám đốc đầu tiên của Ban Việt Ngữ Đài Á Châu Tự Do (RFA). Ông cũng từng được bổ nhiệm làm Giám đốc Song ngữ của Bộ Giáo dục Liên bang Hoa Kỳ thời Tổng thống George W.H Bush.

Trước khi mất, ông giữ chức Chủ tịch ‘Nghị hội Toàn quốc của Người Việt tại Hoa Kỳ’ và vừa hoàn thành bộ Việt Sử cùng với Giáo sư Lê Mạnh Hùng xuất bản cách đây không lâu.

Giáo sư Nguyễn Ngọc Bích sinh năm 1937 tại Hà Nội. Năm 1954, ông du học Mỹ theo chương trình học-bổng Fulbright và tốt nghiệp ngành Chính trị học năm 1958.

Về Việt Nam năm 1972, ông cùng vợ là Tiến sĩ Đào Thị Hợi lập Viện Đại Học Cửu Long ở Sài Gòn và kiêm chức Cục trưởng Cục Thông Tin Quốc Ngoại của Bộ Dân Vận Chiêu Hồi.

Từ sau 30/4/1975, Giáo sư Bích rời Việt Nam sang Hoa Kỳ tị nạn chính trị và định cư tại bang Virginia.

 

——

Cựu giám đốc RFA Tiếng Việt qua đời

BBC

3-3-2016

Image copyrightBao Nguoi Viet

Giáo sư Nguyễn Ngọc Bích, giám đốc đầu tiên của Ban Việt Ngữ Ðài Á Châu Tự Do, đột ngột qua đời trên máy bay từ Washington DC đi Manila tối 2/3.

Báo Người Việt ở California dẫn lời anh trai giáo sư Bích, Nguyễn Ngọc Linh.

Theo ông Linh, vợ của giáo sư Bích đã kể lại rằng ông “vào phòng vệ sinh trên máy bay, khi về lại chỗ ngồi thì lên cơn mệt và mất ngay tại ghế ngồi”.

Người anh trai cho biết ông Bích du học Mỹ từ 1954 theo học bổng Fulbright ở Đại học Princeton, tốt nghiệp ngành Chính trị học năm 1958.

Sau nhiều năm ở một số nước, ông quay về miền Nam Việt Nam năm 1972, thành lập Viện Đại Học Cửu Long ở Sài Gòn.

Image captionGS Nguyễn Ngọc Bích trả lời báo chí tại Quốc hội Ba Lan nhân hội nghị về Nghiệp đoàn Độc lập Việt Nam tháng 10/2006

Ông cũng giữ chức Cục trưởng Cục Thông Tin Quốc Ngoại của Bộ dân Vận Chiêu Hồi.

Sau tháng Tư 1975, ông sang Mỹ, định cư tại bang Virginia đến nay.

Năm 1997, ông trở thành giám đốc đầu tiên của Ban Việt Ngữ Đài Á Châu Tự Do (RFA) cho đến năm 2003.

Ngoài công việc báo chí, giáo sư Bích có sự nghiệp dịch thuật văn học lâu dài.

Ông đã dịch thơ Nguyễn Chí Thiện sang tiếng Anh năm 1996, dịch cuốn Mây mùa thế kỷ của Đại tá Bùi Tín năm 2004.

Ông còn dịch cả danh tác Cung Oán Ngâm Khúc của Nguyễn Gia Thiều và viết biên khảo về thơ Hồ Xuân Hương.

—————-

  • GS Nguyễn Ngọc Bích đột ngột qua đời trên máy bay qua Philippines họp, chúng ta đã mất đi một nhân vật hàng đầu trong việc đấu tranh cho chủ quyền Biển Đông, Hoàng Sa, và Trường Sa.  

Tin, bài liên quan

———-

Giáo Sư Nguyễn Ngọc Bích, Cựu Giám Đốc Ban Việt Ngữ Đài Á Châu Tự Do (RFA) vừa đột ngột qua đời (Trần Việt – SBTN North Carolina)

.https://www.youtube.com/watch?v=P56Au82zFYE&feature=share

 

———-

Giáo sư Nguyễn Ngọc Bích

Trưởng Ban Dịch thuật Việt Anh – Anh Việt Viện Việt-Học

Nguồn: Viethoc.com

Hiện là chủ-tịch Nghị-hội Toàn-quốc Người Việt tại Hoa-kỳ. Trước khi về hưu vào năm 2003, ông đã từng làm giám-đốc Ban Việt-ngữ tại Đài phát thanh Á Châu Tự Do trong 7 năm trời.

Chủ-yếu là một nhà giáo, ông Bích trước đó đã giảng dạy tại các đại-học George Mason (1979-89), Trinity College (1979-81) và Georgetown University (1980-86) về những môn như văn-học, văn-minh văn-hoá VN, giáo-dục song ngữ và ngôn-ngữ-học lịch-sử. Do ngành chuyên-môn này, ông đã được Tổng-thống George H.W. Bush chỉ-định vào chức Phó, rồi Quyền Tổng-giám-đốc Giáo-dục Song ngữ trên toàn-quốc (1991-93).

Ngoài dạy học và làm truyền thông, ông Bích cũng còn là một nhà biên khảo và dịch-giả có uy tín về văn thơ VN. Trong những sách nổi tiếng của ông phải kể: A Thousand Years of Vietnamese Poetry (“Một nghìn năm thi ca VN,” Knopf, 1975), A Mother’s Lullaby (dịch Trường Ca Lời Mẹ Ru của Trương Anh Thuỵ, Cành Nam, 1989), War & Exile: A Vietnamese Anthology (“Chiến-tranh và Lưu Đày: Tuyển-tập văn-học hiện-đại của VN,” Văn-bút Miền Đông, 1989), dịch thơ Nguyễn Chí Thiện (Ngục Ca / Prison Songs, VICANA, 1982; Hoa Địa Ngục / The Flowers of Hell và Hạt Máu Thơ / Blood Seeds Become Poetry, cả hai do Tổ Hợp XBMĐ Hoa Kỳ xb, 1996), và Cung Oán Ngâm Khúc / Complaints of an Odalisque, dịch thơ Ôn Như hầu Nguyễn Gia Thiều (Tổ Hợp XBMĐ Hoa Kỳ, 2006).

Ngoài việc hiệu đính thơ Hồ Xuân Hương: Tác-phẩm (Tổ Hợp XBMĐ Hoa Kỳ, 2000), ông cũng đã dịch hai cuốn sách về mỹ-thuật VN, Vietnamese Architecture (Sứ-quán VNCH tại Mỹ, 1972) và An Ocean Apart: Contemporary Vietnamese Art from the United States and Vietnam (“Nghìn Trùng Xa Cách,” Smithsonian, 1995) cũng như giới-thiệu thơ Ba-tư trong cuốn Omar Khayyam: Thơ và Đời (Tổ Hợp XBMĐ Hoa Kỳ, 2002).

Educational Background

  • June 1955 Baccalauréat I (Classical Studies, Latin & Greek Section), Lycée Chasseloup Laubat (Saigon, Vietnam)
  • Jun 1956 Baccalauréat II (Philosophy Section), Magna cum Laude, Lycée Chasseloup Laubat (Saigon, Vietnam)
  • Jun 1958 B.A. in Political Science and Economics, Princeton University (Princeton, New Jersey)
  • Apr 1962 Preliminary and Oral Examinations completed for Ph.D. Program in Japanese Literature, Columbia University (New York, NY)
  • Summer 1962 Summer studies in German Language and Literature, Universities of Vienna (Austria) and Munich (Germany)
  • 1962-1963 Doctoral research, supported by a President’s Fellowship from Columbia University, in Japanese Heian Literature at Kyoto University (Kyoto, Japan)
  • 1969-1970 Russian-language studies at the USDA Graduate School (Washington, DC)
  • 1974-1975 Studies in Mandarin Chinese, Foreign Service Training Center (Saigon, Vietnam)
  • 1977-1979 Graduate studies in Education, Trinity College (Washington, DC)
  • 1979 Teaching Certificate, State of Virginia, for High School Social Studies
  • Jun 1985 Double M.A.T. (Master of Arts in Teaching), TESL and Bilingual Education, Georgetown University (Washington, DC)
  • 1982-1986 Doctoral Program in Theoretical (Historical) Linguistics, with a Minor in Bilingual Education (Spanish Linguistics), Georgetown University (Washington, DC)

Employment History

  • 1997-Present Director, Vietnamese Service, Radio Free Asia (RFA), 2025 “M” Street, NW, Suite 300, Washington, DC 20036
  • Senior Teacher Trainer, COMSIS (Silver Spring, MD), in charge of training bilingual teachers in eight mid-Atlantic states
  • 1993-1995 Educational Consultant with VICANA (Springfield, VA) on all aspects of Asian Bilingual Education
  • 1991-1993 Deputy, then Acting Director, OBEMLA (Office of Bilingual Education and Minority Languages Affairs), U.S. Department of Education
  • 1987-1991 Multicultural Coordinator, Arlington County Government, Arlington, Virginia
  • 1980-1986 Teacher Trainer, GU-BESC (Georgetown University Bilingual Education Service Center)
  • 1978-1980 Bilingual Resource Teacher, Title VII Project at Wakefield High School, Arlington, Virginia
  • 1976-1978 Vietnamese Community Coordinator, Teacher Corps Cycle XI Project at Key Elementary School, Arlington, Virginia

Relevant Experience and Roles in Major Projects

  • Directing Vietnamese radio program to Vietnam: As Director of the Vietnamese Service at Radio Free Asia (RFA) since January 1997, I ran a surrogate radio program in Vietnamese aimed at Vietnam. In this capacity I have had to keep myself abreast of all developments in Vietnam, including educational issues, since more than half of our broadcast hours (two hours a day) are directly concerned with Vietnam.
  • Directing Personnel: As Deputy Director of OBEMLA, 1991-1993, was in charge of all personnel matters within the office including monitoring and evaluating 51 persons and handling labor disputes.
  • Budget Planning and Oversight: As Acting Director of OBEMLA, 1992, did budget planning for FY94 and oversaw a national budget of $240 million.
  • Training and Technical Assistance: Training Specialist and Teacher Trainer, Georgetown University Bilingual Education Service Center, 1980-1986; Bilingual Resource Teacher, 1978-1980; Trinity College Adjunct Faculty, 1977-1978.
  • Writing, Editing and Translating: Editor/translator of A Thousand Years of Vietnamese Poetry (Knopf, 1975) and War and Exile: A Vietnamese Anthology (Vietnamese P.E.N., East Coast U.S.A., 1989); Translator of Vietnamese Architecture (Vietnamese Embassy, 1970) and Nguyen Chi Thien’s Prison Songs (VICANA, 1982); Compiler of An Annotated Atlas of the Republic of Vietnam (Vietnamese Embassy, 1972); Author of more than 150 articles in both specialized and popular magazines and journals covering such areas as Vietnamese culture, language, music, literature, arts and crafts, Indochinese cultures and languages, refugee education concerns, and historical linguistics; Translator with Vu Thi Dung of Bilingual Syntax Measure, 1977; Chief Editor of Lua Viet and The Viet Center Bulletin, National Center for Vietnamese Resettlement, Washington, DC, 1975-1976; Editor of monthly bulletins for the Embassy of Vietnam, Washington, DC, 1966-1972; Multilingual translator, Joint Publications Research Service, U.S. Department of Commerce, 1959-1984.
  • Conference Planning and Coordination: Conference Coordinator for many local, state, regional, national and international organizations, including World Federation of Vietnamese Associations Overseas (WFVAO), National Congress of Vietnamese in America (NCVA), National Association for Vietnamese American Education (NAVAE), National Association for Asian and Pacific American Education (NAAPAE), East Coast Asian Education Conference, Ohio TESOL, Maryland Association for Bilingual Education, Baltimore Area TESOL, Virginia ESOL-Bilingual Education Conference, and the Smithsonian’s American Folklife Festivals, 1979-1981.
  • Asian and Vietnamese Community Involvement and Leadership: Secretary General, 1986-1991, then President, Executive Board, NCVA, 1993-1997; President, NAVAE, 1984-1986; Regional Representative, NAAPAE, 1979-1983; Vietnamese Community Liaison, Arlington Public Schools, 1976-1978; Director, Vietnamese Community Center, 1977-1978; Founder, Vietnamese Parent Association (VPA) and Vietnamese Senior Citizens Association, 1977; Editor, National Center for Vietnamese Resettlement, 1975-1976; Member of NABE, NAAPAE, NAVAE, NAFEA (National Association for the Education and Advancement of Cambodian, Lao and Vietnamese Americans), and Chairman, Board of Directors, Boat People S.O.S., Inc. and VICANA.
  • Bilingual Curriculum and Test Development: Developed the text for Vietnamese Language Arts (two levels, K-3 and 4-6), Practical Vietnamese for American Educators (co-authored with Dao Thi Hoi), Vietnamese Bilingual Test (Social Studies), and Bilingual Curriculum Guides for U.S.-Virginia History and for World History (co-authored with Do Dien Nhi), Arlington Public Schools, 1978-1980.

Major Presentations and Papers

In the last five years, he has given numerous papers and presentations about the situation in Vietnam, in English, Vietnamese and French, at such venues as the European Community in Brussels, Belgium, the Kim Daejung Foundation, Seoul, South Korea, and a variety of international conferences (in Canada, France, Germany, and numerous universities and colleges in the U.S.).

  • Panel Discussant, Asian and Pacific American Education Forum, New York City, NY, June 1995.
  • Keynote Speaker (“How to Introduce Vietnamese Language and Culture Courses into the University Curriculum?”), Vietnamese Student Association, University of Minnesota, Minneapolis, MN, April 1995.
  • Major Speaker (“Asian Bilingual Teacher Recruitment Model Programs”), NSBA Council of Urban School Boards of Education (CUBE), 55th NSBA Conference, San Francisco, CA, March 1995.
  • Presenter (“The War in Vietnamese Imagination: The Southern Perspectives”), Modern Languages Association Convention, San Diego, CA, December 1994.
  • Major Speaker (“The United Nations: Conflict Resolution in Asia”), Fifth United Nations Conference of the UN Association/National Capital Area, Washington, DC, October 1994.
  • Presenter (“Asian Bilingual Materials Development”), Asian and Pacific American Education Forum, Pomona, CA, August 1994.
  • Keynote Speaker (“The Asian American Contributions to America”), 12th Annual Asian/Pacific American Heritage Day Celebration, Cleveland, OH, May 1994
  • Keynote Speaker (“Vietnamese Folksongs”), Vietnamese Student Association, John Hopkins University, Baltimore, MD, April 1994.
  • Presenter (“American Business in Vietnam: Opportunities and Obstacles in the Post-Embargo Era”), The Heritage Foundation, April 1994.
  • Keynote Speaker (“Marriage of Song and Poetry in the Vietnamese Tradition”), Vietnamese Culture Night, Columbia University, New York, NY, April 1994.
  • Presenter (“Advanced Area Studies – Vietnam”), Foreign Service Institute, Arlington, VA, March-April 1994.
  • Presenter (“Tet, the Vietnamese New Year”), Vietnam Club, Wakefield High School, Arlington, VA, February 1994.
  • Keynote Speaker (“Characteristics of Today’s Vietnamese Literature,” in Vietnamese), Vietnamese Physicians of Texas Convention, Houston, TX, June 1993. Keynote Speaker (“Asian and Pacific American Contributions to Arlington County”), Asian and Pacific American Heritage Celebration, Arlington County, VA, May 1993.
  • Keynote Speaker (“The Vietnamese Tradition of Tet”), Vietnam Club, Wakefield High School, Arlington, VA, February 1993.
  • Presenter (“The U.S., a Multilingual Society”), The European Institute, Washington, DC, November 1992.
  • Major Presenter (“Vietnamese Poetry: The Cultured State”), Academy of American Poets and Asia Society, New York, NY, April 1992.
  • Presenter (“The War in Modern Vietnamese Fiction”), AAS/Mid-Atlantic Conference, Loch Haven, PA, November 1991.
  • Presenter (“Literature and Politics in the Socialist Republic of Vietnam: An Update and Assessment”), AAS/Mid-Atlantic Conference, Rutgers University, New Brunswick, NJ, October 1990.
  • Presenter (“Vietnamese Workers in Eastern Europe and in the Soviet Union: A Situation Report on Their Rights” and “Freedom of Expression: Where Are We in Vietnam?”), 2nd International Conference on Human Rights Vilnius-Leningrad, Leningrad, USSR, September 1990.
  • Presenter (“Terminology of the Vietnam War”), University of Tennessee, July 1990.
  • Presenter (“Reassessing Vietnam: Some Meta-Theory Considerations”), AAS/ Mid-Atlantic Conference, Georgetown University, Washington, DC, October 1989.
  • Presenter (“New Challenges Facing Vietnamese Literature Outside Vietnam,” in Vietnamese), Vietnamese Writers Abroad P.E.N. Center Conference, Montreal, Canada, September 1989.
  • Presenter (“Music of Vietnam”), Southeast Asian New Year Celebration: A Performance Program, National Museum of Natural History, Washington, DC, April 1989.
  • Presenter (“Socialist Literature in Reforming Vietnam”), Association of Asian Studies Conference, Washington, DC, March 1989.
  • Keynote Speaker (“Romans in East Asia: Cultural Encounters of the Creative Kind”), East Asian Language Conference, Arlington, VA, June 1988.
  • Presenter (“Vietnamese Culture and the Vietnam War”), Symposium on the Teaching of the Vietnam War, George Mason University, Fairfax, VA, April 1988.
  • Presenter (“A Resurgence of Criticism and Independence in Vietnamese Socialist Realist Literature”), Association of Asian Studies Conference, Boston, MA, April 1987.
  • Keynote Speaker, Sixth Annual Cleveland City Schools Bilingual Multicultural Conference, May 1986.
  • Keynote Speaker, Seventh Annual Conference on Indochinese Education and Social Services, March 1986.
  • Presenter (“Vietnamese Literature in Exile”), Sixth Annual Symposium on International Cultural Perspectives in Literature and Language, George Mason University, November 1985.
  • Presenter (“The Literature of Dissent in Socialist Vietnam”), SEASSI (Southeast Asian Studies Summer Institute), University of Michigan, Ann Arbor, MI, July 1985.
  • Presenter (“The Power and Relevance of Vietnamese Myths” and “Vietnamese Poetry: The Classical Tradition”), Asia Society, New York, NY, April 1985.
  • Keynote Speaker, Virginia State Bilingual/ESL Conference, February 1985.
  • Presenter (“The Rugged Road to Socialist Realism: Vietnamese Literature Under Communism”), Chattanooga, TN, January 1985.
  • Presenter (“The Teaching of Culture in Literature,” a workshop series), Arlington Public Schools, Arlington, VA, 1984.
  • Presenter (“From Script to Phonology: The Case of Chu Nom,” in Vietnamese), Vietnamese Studies Symposium, NAVAE ‘84, Orange County, CA, March 1984.
  • Presenter (“The State of Chu Nom Studies: The Demotic Script of Vietnam”), Southeast Conference of the Association of Asian Studies, Appalachian State University, Boone, NC, January 1984.
  • Keynote Speaker, New York State Indochinese Conference, New York, NY, May 1983.
  • Presenter (“The Teaching of Vietnamese in the United States”), NAAPAE ‘83, Chicago, IL, April 1983.
  • Presenter (“Language Strata in the History of the Vietnamese Language,” in Vietnamese), Second Vietnamese Studies Symposium, George Mason University Metro Campus, Arlington, VA, April 1983.
  • Presenter (“Vietnamese-Language Tests: What Is There? What Are They Good For?”), NAVAE ‘83 (Fourth Annual National Conference on Indochinese Education and Social Services), Vienna, VA, March 1983.
  • Keynote Speaker (“Student Bilinguality and the Classroom Teacher”), Virginia ESOL/Bilingual Conference, Fredericksburg, VA, February 1983.
  • Presenter (“The Discovery of Vietnamese Literature”), Southeast Conference, Association of Asian Studies, Emory College, Atlanta, GA, January 1983.
  • Presenter (“Vietnamese Slave Labor in the Soviet Union”), Freedom Federation, Washington, DC, January 1983.
  • Keynote Speaker, Maryland ESOL/Bilingual Conference, Baltimore, MD, November 1982.
  • Presenter (“Tet, the Vietnamese New Year”), Smithsonian Institution Festivals of Nations Program, Renwick Gallery, Washington, DC, February 1982.
  • Presenter (“Language as an Affirmation of Our Place in the World,” in Vietnamese), First Vietnamese Studies Symposium, George Mason University, Fairfax, VA, December 1980.
  • Presenter (“Vietnamese Games, Arts and Crafts”), Festival of American Folklife, Smithsonian Institution National Park Service, October 1980.
  • Presenter (“Vietnamese Music”), Festival of American Folklife, Smithsonian Institution National Park Service, October 1979.

Major Publications

LINGUISTICS

  • 1983 (Co-authored with Dào Thi Hoi, Ed.D.) Nhung dia-tâng ngôn ngu trong lich-su tiêng Viêt (“Language Strata in the History of the Vietnamese Language”), Springfield, VA: VICANA.
  • 1983 “Thu doc lai Quôc-âm thi-tâp cua Nguyên Trãi: Chung quanh vân-de van-ban” (“A Re-reading of Nguyen Trai’s Poetry Collection in the National Language: The Question of Manuscripts”), Van Hoa (bilingual newsletter of the Vietnamese Cultural Association in Minnesota), Vol II, 7&8 (Nov-Dec 1983).
  • 1984 The State of Chu Nôm Studies: The Demotic Script of Vietnam, George Mason University Indochina Institute.
  • 1985 “Ngôn-ngu-hoc Viêt-nam dang di dâu, vê dâu?” (“Where is Vietnamese Linguistics heading?”), Van Hoc Nghê Thuât (Garden Grove, CA), November 1985.
  • 1985 “Thu phân-dinh lai các thòi-ky trong lich-su tiêng Viêt” (“Revisiting the periodization question in the history of the Vietnamese language”), Van Hoc Nghê Thuât (Literature and Art) 8 & 9 (Dec 1985-Jan 1986). Also in Quê Me (Motherland, published in Paris), New Year issue, 1986.
  • 1993 “Truong hop chu RIT (phát âm theo miên Nam) và cách viêt Nôm cua nó” (“The Case of RIT and the Nôm character for it”), Essays on Vietnamese Language and Writing, Campbell, CA: Dòng Viêt, pages 101-16.
  • 1994 “Tiêng Viêt, tiêng Nhât và ho Mã Lai-Ða Ðao” (“Vietnamese, Japanese and the Malayo-Polynesian Family of Languages”), Essays on Vietnamese Language and Literature 2-Fascicle II, Campbell, CA: Dòng Viêt, pages 437-80.

LITERATURE

  • 1965 “Far Eastern Literature,” Funk and Wagnalls New International Yearbook.
  • 1966 “Môt vài nhân xét vê van-hoc Viêt-nam hiên-dai” (“Some observations on modern Vietnamese literature”), Chuông Viêt (The Bell of Vietnam, published in Chicago), Nos. 145 and 146.
  • 1968 “Vietnamese Psychedelic Poetry,” Chuông Viêt, No. 156 (July 1968).
  • 1969 “The Poetic Tradition of Vietnam,” The Asian Student (published by the Ford Foundation in San Francisco).
  • 1971 “The Poetic Tradition of Vietnam,” Some Aspects of Vietnamese Culture, Carbondale, IL: Southern Illinois University, pages 19-38.
  • 1972 “Humor in Vietnamese Poetry,” Vietnam Report (Saigon), No. 21 (November 1).
  • 1973 “Vietnamese Children’s Songs,” Vietnam Magazine (Saigon).
  • 1982 “A Voice from the Hanoi Underground,” Asiaweek, July 30, 1982.
  • 1983 The Discovery of Vietnamese Literature, Springfield, VA: VICANA.
  • 1985 “The Rugged Road to Socialist Realism: Vietnamese Literature Under Communism,” Association of Asian Studies Southeast Conference Annals, Vol VII: pages 36-54.
  • 1985 “Muoi nam van-hoc Viêt-nam o hai-ngoai” (“Ten years of Vietnamese literature outside Vietnam”), Nhân Ban (Paris), Dôc Lâp (Stuttgart), and Ngày Nay (Houston, TX), Têt issue.
  • 1985 “The Power and Relevance of Vietnamese Myths,” Vietnam: Essays on History, Culture & Society, New York: The Asia Society, pages 61-78.
  • 1985 “Vietnamese Poetry: The Classical Tradition,” Vietnam: Essays on History,
  • Culture & Society, New York: The Asia Society, pages 79-99.
  • 1986 “1985, nam cua nhung tác-phâm lon” (“1985, year of great works”), Dôc Lâp and Ngày Nay, Têt issue.
  • 1987 “Vi-trí trung-tâm cua van-hoc Viêt-nam hai-ngoai” (“The central position of Vietnamese literature abroad”), Nhung vân-de cua chúng ta (“Issues of Concern”), a NCVA publication.
  • 1988 “Tình-hình van-hoc hai-ngoai 1987” (“The situation of Vietnamese literature outside of Vietnam”), Ngày Nay, Têt issue.
  • 1989 “Môt nam van-hoc no rô: Tiêu-thuyêt” (“A harvest year in fiction”), Dôc Lâp and Ngày Nay, Têt issue.
  • 1989 “Tu tâm huyêt cua nguoi van-nghê-si sáng-tác dên nhu-câu cua dôc-gia: Nhung thách dô mói cua nên van-hoc hai-ngoai” (“From the creative writer’s inner needs to the readers’ demands: New challenges facing Vietnamese literature outside Vietnam”), read at the Vietnamese Writers Abroad Convention (Montreal, September 29, 1989).
  • 1989 “Cho môt nên van nghê thuc-su tu do” (“For a truly free literature and arts”), Hoa Thinh Dôn Viêt Bao.
  • 1990 “Môt vòng qua các tiêm sách, hay là Môt sô thành-tuu lón cua nam 1989” (“A swing through the bookstores, or Some big achievements of 1989”), Dôc Lâp and Ngày Nay, Têt issue.
  • 1991 “Nhung huóng phát triên cua van-hoc Viêt-nam hai-ngoai 1990” (“Development trends in Vietnamse literature outside Vietnam, 1990”), Dôc Lâp and Ngày Nay, Têt issue.
  • 1992 “1991: Tan man vê môt nam van-hoc hai-ngoai” (“1991: Jottings on one year of Vietnamese literature outside Vietnam”), Dôc Lâp and Ngày Nay, Têt issue.
  • 1993 “Van-hoc Viêt-nam hai-ngoai 1992: Anh-huong manh cua chính-tri” (“Vietnamese literature outside Vietnam in 1992: The strong influence of politics”), Dôc Lâp and Ngày Nay, Têt issue.
  • 1994 “Van-hoc hai-ngoai 1993: Môt nam de suy gâm” (“Vietnamese literature outside Vietnam: A year with lots of food for thought”), Ngày Nay, Têt issue.
  • 1994 “Southeast Asian Literature,” The Oxford Companion to Women’s Writing in the United States, Cathy N. Davidson and Linda Wagner-Martin, eds., New York- Oxford: Oxford University Press, pages 826-28.
  • 1995 “1994: Nam cua nghiên cúu và dôi-thoai” (“1994, year of research and dialogue”), Ngày Nay, Têt issue, and The Ky 21, February issue.
  • 1995 “The War in Vietnamese imagination: the Southern perspectives,” The Ky 21 (Twenty-first Century), pages 45-49.

TRANSLATIONS FROM THE VIETNAMESE

  • 1967 “Lament of a Warrior’s Wife” (eighteenth century classic by Dang Tran Con, translated with Burton Raffel), The Texas Quarterly (Autumn 1967).
  • 1967 “War Poems from the Vietnamese” (poems by Huyên Quang, Phùng Khác Khoan, Tô Huu, Tù Kê Tuòng, Tru Vu, Triêu Vu, Pham Nhã Uyên and Tê Hanh), Hudson Review (Autumn 1967).
  • 1969 The Poetry of Vietnam (26 poems from the Vietnamese ranging from the tenth to the twentieth centuries, first appearing in Asia, Spring 1969, then brought out as a booklet), New York: The Asia Society. Cited by The Encyclopaedia Britannica 3 (1981 edition) as an “important work to consult.”
  • 1970 “Summons to the Souls” (minor classic by Nguyên Du, 1766-1820, the premier poet of Vietnam), The Antioch Review (Spring 1970).
  • 1970 Translation of ten Vietnamese poems (folk and modern), Transpacific (published in Japan), #3, #4 and #5.
  • 1970 Translation of eight Vietnamese poems in Quadrant (published in Australia), May-June 1970.
  • 1973 Translation of six modern Vietnamese poems by Thê Lu, Tô Huu, Tê Hanh, Nguyên Thi Vinh, Minh Dung and Tru Vu, Voices of Modern Asia, Dorothy L. Shimer, ed., New York: New American Library.
  • 1974 Translation of eight Vietnamese poems (folk and modern) in Antaeus, Fall 1974.
  • 1974 The Music of Verses, a translation of Cao Tiêu’s poems in the collection Dang Trinh (“Setting Out”), Saigon: Bôi Ngoc.
  • 1975 A Thousand Years of Vietnamese Poetry, Nguyên Ngoc Bích, ed., with Burton Raffel and W.S. Merwin, New York: Alfred A. Knopf. The first major anthology of Vietnamese poetry (170 poems) in English translation.
  • 1979 Translation of four poems by Hô Xuân Huong (eighteenth-nineteenth centuries) in The Penguin Book of Women Poets, Carol Cosman, Joan Keefe, and Kathleen Weaver, eds., Penguin Books.
  • 1988 Translation of two poems by Cao Tân in Visions 26 and of one poem of Trân Kha in Visions 27.
  • 1989 Truong Ca Loi Me Ru / A Mother’s Lullaby (Vietnamese epic by Truong Anh Thuy, English version by Nguyên Ngoc Bích, illustrations by Võ-Dình Mai), Arlington, VA: Canh Nam Publishers.
  • 1989 Translation of contemporary poems and essays in War and Exile: A Vietnamese Anthology, Nguyên Ngoc Bích, ed., Springfield, VA: Vietnamese PEN/East Coast U.S.A.
  • 1989 Translation of ten poems by Trân Kha in Program Book of Dêm Chinh Phu’ Ngâm / Ballad of a Warrior’s Wife (Music by Cung Tiên), St. Paul, MN.
  • 1991 Translation of poems by Trân Kha in Colors (published in Minnesota).
  • 1992 Translation of one poem by Ngô Chi Lan (fifteenth century) in Art and Nature, Kate Farrell, ed., New York: Metropolitan Museum of Art.
  • 1993 Translation of poems and songs by Xuân Diêu, Quang Dung, Pham Thiên Thu, Thanh Tâm Tuyên/Trân Kha, and Cung Tiên in Program Book of Dêm Huong Xua / Perfumes of the Past, Houston, TX.
  • Translation of poem by Du Tu Lê in The New York Times, April 24, 1994.
  • Translation of Nguyên Chí Thiên’s Hoa Dia Nguc / The Flowers of Hell,
  • Arlington, VA: East Coast U.S.A. Vietnamese Publishers Consortium
  • 1996 Translation of Nguyên Chí Thiên’s Hat Máu Tho / Blood Seeds Become Poetry,
  • Arlington, VA: East Coast U.S.A. Vietnamese Publishers Consortium

ART

  • 1970 Translation and English adaptation of Nguyên Nang Dác and Nguyên Quang Nhac, Vietnamese Architecture, Washington, DC: Embassy of Vietnam.
  • 1982 “The Art of Trân Cao Linh,” introductory essay to Exhibit Catalogue of Trân Cao Linh’s photographic works (New Orleans, December 1982).
  • 1983 “Nghê-thuât Trân Cao Linh,” Vietnamese version of the above, Dôc Lâp, Têt issue.
  • 1984 “Vestiges of the Past,” translation of original essay in Vietnamese by Trân Cao Linh, Vietnam Quê Huong Muôn Thuo / Mon pays de toujours / My Country for Ever, Paris: Aide à l’Enfance du Vietnam.
  • 1984 “My Country and the World,” translation of original essay in Vietnamese by Trân Cao Linh, Vietnam… (same as above).
  • 1985 “The Vietnamese Tradition and Võ Dình’s Woodcuts,” Vietnam Forum, Vol 6.
  • 1990 “The SRV Campaign Against Writers and Artists,” Writers and Artists in Vietnamese Gulags, Trân Da Tù, ed., Westminster: Century Publishing House.
  • 1993 “Dô gôm Viêt-nam: Tù thuo khai nguyên dên dòi nhà Lý” (“Vietnamese Ceramics: From Prehistory to the Ly Dynasty (1010-1225)”), Ngày Nay.
  • 1993 “Hiên-tình thu-tich dô gôm Viêt-nam” (“A Current Bibliography of Vietnamese Ceramics”), Thê Ky 21, September 1993, pages 35, 38-39.
  • 1995 Translation of An Ocean Apart / Nghìn Trùng Xa Cách, catalogue of an exhibit of Vietnamese and Vietnamese American contemporary paintings, Washington, DC: Smithsonian Institution Traveling Exhibit Service.

MUSIC

  • 1972 “The Holeless Flute, or Pham Duy: Revolutionary Songwriter & Truth Seeker,” Vietnam Report, Vol I Nos. 5 and 6 (1 and 15 March 1972).
  • 1973 Translation of the Vietnamese lyrics in Pham Duy, Hoan Ca / Songs of Joy, Saigon.
  • 1975 15 Ca-khúc mung Giáng-sinh (“Fifteen Christmas Carols,” bilingual Vietnamese and English songs), Washington, DC: National Center for Vietnamese Resettlement.
  • 1979 “Pham Duy còn dó khí hùng” (“The Heroic is still there in Pham Duy”), Viêt Báo, April 1979.
  • 1980 “Vietnamese Music,” Indochinese Performing Arts, Karl Signell, ed., Washington, DC: Indochinese Community Center.
  • 1980 “Nhac Viêt o My” (“Vietnamese music in the U.S.”), Indochinese Performing
  • Arts (same as above).
  • 1982 English singing versions of Nguyên Chí Thiên’s Nguc Ca / Prison Songs, set to music by Pham Duy, Springfield, VA: VICANA.
  • 1983 “Tám nam âm-nhac Viêt-nam (hai-ngoai)” (“Eight years of overseas Vietnamese music”), Van Hoc. Also, in Viet Nam Ky Su (Minnesota).
  • 1985 “Hai nam qua, nhac Viêt có gì mói?” (“What is new in Vietnamese music in the last two years?”), Van Hoc.
  • 1985 “Tho Hoàng Câm, nhac Pham Duy: Tù Kháng-chiên I dên Kháng-chiên III” (“Hoang Cam’s poetry set to music by Pham Duy: From Resistance I to Resistance III”), Nhân Ban (published in Paris), Spring issue.
  • 1985 “Pham Duy: Muòi nam sáng-tác o hai-ngoai” (“Pham Duy: Ten years of creativity outside of Vietnam”), Nhân Ban, April 1985. Revised version appeared in Pham Duy: Thâm thoát muòi nam (“Pham Duy: Ten Years Flitting By”), Arlington, VA: Tô Hop Xuât Ban Miên Dông.
  • 1991 “Tìm vê nguôn dê làm mói” (“Reaching into one’s roots to renovate”), Thê Ky 21, November 1991.
  • 1995 “Môt vài cam nghi vê Pham Duy” (“Some remarks on Pham Duy”), introduction to Xuân Vu, Nua thê ky Pham Duy (“Half a Century of Pham Duy”), San Jose, CA: Thang Mõ.

EDUCATION

  • 1976 “Mid-Autumn Festival” (The Children’s Festival of Vietnam) (Handout).
  • 1977 “Vietnam and the Vietnamese: A Reference List” (Developed as part of a course on Language in Culture: Intra- and Intercultural Communicaton, offered by Trinity College, Washington, DC).
  • 1977 Non-verbal Communication: Vietnamese Hand Signals, Arlington, VA: Vietnamese Community Center. Reprinted many times in various publications, including Meeting the Needs of Indochinese Students, Bilingual Education Service Center, Arlington Heights, IL, 1979.
  • 1977 Bilingual Syntax Measure, Vietnamese version, co-authored with Vu Thi Dung, Teacher Corps Cycle XI (Arlington, VA).
  • 1977 Vietnamese Language Arts, A Teacher’s Guide, Grades 1-3, Arlington, VA: Arlington Public Schools.
  • 1977 Vietnamese Language Arts, A Teacher’s Guide, Grades 4-6, Arlington, VA: Arlington Public Schools.
  • 1978 “The Vietnamese Learner: Hints for the American Teacher,” co-authored with Dao Thi Hoi, Ed.D., Teaching for Crosscultural Understanding, Arlington Public Schools Ethnic Heritage Handbook, Arlington, VA, 1979.
  • 1979 “The Indochinese Students in America: Differences and Commonalities” (Handout).
  • 1979 Practical Vietnamese for Educational Personnel, co-authored with Dào Thi Hoi, Ed.D., Arlington Teacher Corps Project (Arlington, VA).
  • 1979 “Vietnamese Culture and Its Impact on the School,” Indochinese Education Guide, Indochinese Center for Materials Development and Resources, Bilingual Education Service Center, Arlington Heights, IL.
  • 1979 “The Chinese Schools in Vietnam,” Indochinese Education Guide (same as above).
  • 1979 “Administrative Concerns Dealing with Indochinese Students,” co-authored with Dao Thi Hoi, Ed.D., Indochinese Education Guide (same as above).
  • 1979 Bilingual Curriculum Guide for U.S. and Virginia History, co-authored with Dang Dinh Khiêt and Dô Diên Nhi, Arlington Public Schools, Arlington, VA.
  • 1979 Bilingual Curriculum Guide for World History (Vietnamese version), co-authored with Dô Diên Nhi, Arlington Public Schools, Arlington, VA.
  • 1980 Handbook on Indochinese Culture, co-authored with Vu Thi Dung, Pomona, CA: Minority Affairs Institute.
  • 1980 “Vietnamese Names: Historical Background” (Title VII Secondary Project, Arlington, VA, handout).
  • 1980 “Vietnamese Names” (Title VII Secondary Project, Arlington, VA, handout).
  • 1980 “Refugee Education” (Georgetown University Bilingual Education Service Center, GU-BESC, handout).
  • 1980 An Annotated Bibliography of English-Language Materials on Vietnam and the Vietnamese (Annotates nearly 100 titles on Culture, Festivals, Poetry, Music, Religion, etc.), a Gu-BESC handout.
  • 1980 “Intergroup Tensions in the Schools: Where Are We?” (GU-BESC Handout).
  • 1981 “The Vietnamese-English Bilingual Program in Arlington, VA” (GU-BESC Handout).
  • 1981 “Crosscultural Issues: Dating” (GU-BESC Handout).
  • 1981 “Crosscultural Issues: Sports” (GU-BESC Handout).
  • 1981 “Vietnamese Religion” (GU-BESC Handout).
  • 1981 “Vietnamese Literature in English: A List” (GU-BESC Handout).
  • 1981 “Annotated List of Bilingual Vietnamese-English Materials Available from GU- BESC” (GU-BESC Handout).
  • 1981 “Social Studies Materials for Vietnamese Bilingual Programs” (an annotated bibliography of materials) (GU-BESC Handout).
  • 1981 “Vietnamese Education: A Comparative View” (of North and South Vietnam before 1975) (GU-BESC Handout).
  • 1982 Indochinese Cultural Activities (set of handouts covering songs, games, paper folding, folk tales), co-authored with Vu Thi Dung and Sivone Brahm, Washington, DC: GU-BESC.
  • 1982 “Patterns of Asian Immigration” (GU-BESC Handout).
  • 1982 “School Adjustment of Indochinese Students” (GU-BESC Handout).
  • 1982 “List of Vietnamese Dictionaries Available in the U.S.” (GU-BESC Handout).
  • 1982 “Educational Needs of Indochinese Refugee Children: A Maslowian Analysis” (GU-BESC Handout).
  • 1983 “Patterns of Asian Immigration” (GU-BESC Handout)

FILMS AND VIDEOS

  • 1982 Counseling Indochinese Students, a 3-hour video recording of Nguyên Ngoc Bích’s presentation on the topic, produced by Hunter College Bilingual Education Service Center (arranged by Shirley Yu).
  • 1983 Hidden Treasures, two video productions of the New York State Department of Education on how to handle non-native English speakers in U.S. schools and treasure what they bring with them (Appearance next to Dick van Patten).
  • 1984 Vietnam: The Real Story, a corrective to the PBS 13-part series, Vietnam: A Television History. Produced by AIM (Accuracy in Media, Inc.), this was narrated by Charlton Heston, and subsequently shown nationally many times on public television. (Bich appeared in one segment of the video.)
  • 1985 Vietnam, the Impact of the Media, also produced by AIM to refute some of the contentions of the PBS series. (Bich appeared in this to discuss the impact of Tet 1968.)
  • 1988 Refugee Adolescents, a video on counselin refugee adolescents produced by Elizabeth Salett of ICC (International Counseling Center, Inc.). (Bich is the main presenter in this production on how to counsel Vietnamese refugee adolescents.)
  • 1989 U.S. Census Bureau advertising spot for television showing. (Bich appeared in this together with Dao Thi Hoi to encourage Vietnamese Americans to fill out the 1990 Census forms.)

Posted in Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa, Nhan Vat, Thời Sự | Leave a Comment »

►Thái độ bán nước

Posted by hoangtran204 on 02/03/2016

Thái độ bán nước.
 29-2-2016
Người Buôn Gió – Bùi Thanh Hiếu
Biển Đông trở nên căng thẳng sau hội nghị Asean và Hoa Kỳ họp tại Cali hồi tháng 1 năm 2016 vừa qua. Việc Hoa Kỳ tổ chức các nước Asean họp trên đất Hoa Kỳ ai cũng thấy đó là hành động Hoa Kỳ muốn kéo các nước Asean có lại gần nhau để đối phó với sự bành trướng gia tăng của Trung Quốc tại biển Đông.
Đương nhiên Trung Quốc lo ngại trước việc này, thế nhưng thay vì phải dè dặt quan sát các bước tiếp theo của hội nghị trên. Trung Quốc ráo riết, trắng trợn có những hành động gây hấn gia tăng khi đưa vũ khí hạng nặng như tên lửa, chiến đấu cơ ra các hòn đảo họ đang chiếm đóng trái phép. Đồng thời còn khẩn trương biến những hòn đảo này thành căn cứ quân sự.
Hành động của Trung Quốc như vậy có thể là manh động hay không.? Thực ra là không, đó là hành động có tính toán hợp lý, bởi Trung Quốc biết rõ Asean và Hoa Kỳ nếu có đạt được thoả thuận thì những thoả thuận đó cũng khó trở thành hiện thực. Nguyên nhân là thái độ thực lòng của các nước trong Asean. Trong đó có hai nước bị ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi nhiều nhất là Việt Nam và Phi Luật Tân. Các nước còn lại quyền lợi va chạm với Trung Quốc ở biển Đông ở mức độ vừa phải Brunay Malaisia . Đáng chú ý là hai nước không có quyền lợi liên quan đến những xung đột ở biển Đông như Lào, Cam Pốt đang có chiều hướng không muốn mất lòng Trung Quốc.
Các tờ báo khác ở Phi đều liên tiếp đưa trên trang nhất những tít lớn về tình hình biển Đông. Tờ Ngôi Sao Phi Luật Tân ngày 29 tháng 2 năm 2016 có bài viết trên trang nhất về cuộc họp thường kỳ của các bộ trưởng ngoại giao Asean tổ chức tại Lào. Nhưng trái lại trên các trang nhất của các tờ báo lớn Việt Nam thiếu vắng tin tức về hội nghị này.
Nhiều thứ cho thấy, chính thái độ của Việt Nam khiến Trung Quốc an tâm tăng cường gia tăng gây hấn trên biển Đông. Dường như mọi thứ Việt Nam đối phó với hành động của Trung Quốc đều ở mức độ trong vòng kiểm soát của Trung Quốc. Những phản ứng Việt Nam chỉ là có lệ. Một cuộc biểu tình phản dối Trung Quốc tại Manila của người Phi và người sinh Việt diễn ra vào ngày 25 tháng 2 năm 2016. Nhưng trong đó 90 % người mặc áo quốc kỳ Việt Nam là người dân nghèo Phi được phía Việt Nam thuê đóng giả làm người Việt. Tất cả những chính khách của Phi cũng như những nhà quan sát quốc tế đều bày tỏ sự thất vọng về cách tổ chức biểu tình của người Việt Nam đã tham gia cuộc biểu tình trên.
Chính sách ngoại giao mà Việt Nam gọi là khéo léo giữ chủ quyền thực ra là những trò gian vặt thể hiện đúng bản chất những người lãnh đạo Việt Nam. Một mặt họ kích động, trông chờ người Phi dưới sự hỗ trợ của Hoa Kỳ sẽ có những động thái mạnh mẽ khiến Trung Quốc phải e dè hoạt động trên biển Đông. Mặt khác họ vẫn âm thầm đi lại với Trung Quốc để mong mỏi được một sự thương hại của Trung Quốc với thái độ cầm chừng của mình.
Người Phi khảng khái đưa Trung Quốc ra toàn án quốc tế, không chấp nhận những gợi ý gặp gỡ ngoài lề tác động để Phi rút đơn kiện. Lãnh đạo của Phi tuyên bố họ sẵn sàng chiến đấu với Trung Quốc kể cả họ yếu hơn và nắm chắc phần thua. Những tin tức về biển Đông và quan điểm đấu tranh rõ ràng của họ luôn được những tờ báo lớn nhất của Phi đưa trên trang nhất hàng ngày.
Nhưng thái độ của Việt Nam thật đáng buồn thay. Mặc dù đại hội đảng cộng sản 12 đã qua hơn một tháng, ngay sau khi đại hội đảng CSVN kết thúc. Phái viên của Tập Cận Bình đã sang Việt Nam nghe thông báo kết quả và trao đổi ý kiến lãnh đạo Trung Quốc. Thế nhưng đúng lúc Trung Quốc gia tăng gây hấn trên biển Đông, người Phi đang hừng hực quyết tâm sống mái để giữ gìn chủ quyền của họ trên biển Đông. Thì ĐCSVN lại cho đặc phái viên sang Trung Quốc để báo cáo tình hình đại hôi Đảng CSVN khoá 12, thực chất là sang để cam kết thái độ của Việt Nam sẽ trong khuôn khổ vừa phải như Trung Quốc mong muốn trước những căng thẳng trên biển Đông.
Phái viên Hoàng Bình Quân của Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng khi hội đàm với Trung Quốc đã bàn chi tiết đến những hợp tác về mọi mặt kinh tế, văn hoá, chính trị. Thế nhưng, trong phần bày tỏ quan điểm về biển Đông, đặc phái viên này chỉ đề nghị Trung Quốc một cách chung chung là chú trọng gìn giữ hoà bình khu vực, giải quyết theo ứng xử khu vực…..hoàn toàn không có thái độ nào mạnh mẽ. Tức dù Trung Quốc có gia tăng bước tiến thế nào đi nữa thì Việt Nam cũng…chưa có cách đối phó như người Phi. Việt Nam sẽ tiếp tục bày tỏ quan điểm lấy lệ qua phát ngôn của Bộ Ngoại Giao.
Chính thái độ của Việt Nam, Lào, Căm Pốt…đăc biệt là Việt Nam nước có thiệt hại nghiêm trọng nhất tại Biển Đông là nguyên nhân người Trung Quốc đi đến quyết định tăng tốc quân sự ở khu vực Biển Đông. Việt Nam chuyển vai trò từ người bị nạn lại bởi Trung Quốc, giờ lại thành tay trong của Trung Quốc tại Asean. Thái độ của Việt Nam sẽ khiến tinh thần liên kết Asean cùng nhau chống sự bành trướng của Trung Quốc sẽ chẳng đi đến đâu. Chế độ cộng sản Việt Nam đang tận dụng tranh chấp trên biển Đông, tận dụng vai trò nạn nhân của mình để hòng buộc Trung Quốc phải có những động thái bảo vệ chế độ của họ. Cũng như trông chờ ngân hàng Đầu Tư Cơ Sở Hạ Tầng châu Á sẽ cấp những khoản vay mượn trong lúc Việt Nam đang túng quẫn không thể vay thêm từ Ngân Hàng Thế Giới và Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế vì mất uy tín.
Ngân hàng Đầu Tư Cơ Sở Hạ Tầng Châu Á viết tắt là AIIB được thành lập mới năm 2015 vừa qua do sáng kiến của Trung Quốc.
Như thế, cơ hội phát triển kinh tế của Việt Nam trước TPP vẫn trong vòng kiểm soát của người Trung Quốc nếu như việc xây dựng các cơ sở hạ tầng sản xuất ở Việt Nam vay từ ngân hàng này. Khả năng Việt Nam vay tiền từ ngân hàng AIIB R để làm nội lực tiếp đón hiệp định TPP là điều khó thể tránh khỏi.
Cuối cùng thì có thể nói rằng, chính Việt Nam một nước nhìn bên ngoài đang là nạn nhân xâm lược của Trung Quôc tại biển Đông. Lại chính là nước đang đi đêm với Trung Quốc để giúp cho Trung Quốc yên tâm cát cứ tại biển Đông. Để đổi lại bảo trợ của Trung Quốc về sự tồn tại của chế độ Cộng Sản Việt Nam. Nói một cách khác những nhà lãnh đạo cộng sản Việt Nam đang bán chủ quyền biển đảo cho Trung Quốc một cách cực tinh vi.
Nếu như thế, chuyện biển Đông lọt vào tay Trung Quốc là tất yếu, sẽ không có phản ứng nào của Việt Nam với Trung Quốc như người Phi đã làm. Mọi sự lên tiếng của bộ ngoại giao Việt Nam chỉ là che mắt quốc tế cũng như người dân Việt Nam, đôi khi những lời lên tiếng này mạnh mẽ và gay gắt hơn cũng chỉ là chuyện người bán hàng nói thách giá, đòi cao hơn chút nữa.
Ngoài những điều đó ra, Việt Nam sẽ không có động thái gì đáng kể khiến người Trung Quốc phải bận tâm. Ít nhất là trong vòng 20 năm nếu Đảng cộng sản vẫn còn tồn tại cai trị ở Việt Nam.
————
Lịch sử các nước chưa từng ghi nhận chính quyền của một nước A bị một nước B xâm lăng (chiếm biển đảo), nhưng chính quyền nước A không dám trực tiếp phản đối bằng thái độ, mà lại bỏ tiền thuê mướn những người dân nước C đi biểu tình phản đối nước B.
Tháng 2/2016, Hà Nội đã bỏ tiền thuê mướn người dân Philippines cầm cờ đỏ sao vàng, mặc áo hóa trang như người VN, và đi biểu tình ở thủ đô Manila của Phi Luật Tân để phản đối TQ chiếm Biển Đông và các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa!
————

*** Đảng CSVN mướn người Phi Luật Tân mặc áo cờ đỏ cầm cờ đỏ giả làm người Việt Nam đi biểu tình chống Trung Quốc ?

Ngoc Nhi Nguyen 

Từ gần cả chục năm trước , bất cứ người dân nào đi biểu tình chống Trung Quốc xâm lược đều bị đảng CSVN trù dập , bắt bớ , tù đày . Điếu Cày Nguyễn Văn Hải , Phạm Thanh Nghiên , Bùi Thị Minh Hằng … đều đã trải qua con đường này .

Đảng CSVN chỉ khuyến khích cho người Việt ở hải ngoại , đa số là du học sinh và người xuất khẩu lao động , cầm cờ đỏ sao vàng đi biểu tình để lừa bịp người dân VN và thế giới thôi , còn trong nước thì cấm tiệt . Mới đây khi quốc hội bàn về việc thông qua luật biểu tình , thì chính Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng là người ra quyết định đẩy lùi dự luật này .

Lãnh đạo các cấp của CSVN cũng công khai tuyên bố những câu như ” Không gây hấn với Trung Quốc ” , ” Không thể lấy lại Hoàng Sa Trường Sa ” , ” Việt Nam gìn giữ tình hữu nghị đoàn kết mọi mặt với Trung Quốc ” ..v..v.

Nhưng gần đây tình hình biển Đông trở nên rất nóng . Trung Quốc xây căn cứ quân sự , xây đảo nhân tạo , chở hỏa tiễn các loại ra đảo , khiến cho quốc tế phải lên tiếng mạnh mẽ phản đối . Phi Luật Tân thì kiện Trung Quốc ra tòa Luật biển quốc tế . Mỹ và Úc thì bay máy bay , lái chiến hạm vào thách thức Trung Quốc . Toàn bộ khối ASEAN và cả Ấn Độ đều hợp nhau lại để chống Trung Quốc .

Điều này đã đẩy CSVN vào thế kẹt . Bắt tay với các quốc gia đồng minh để thực lòng chống Trung Quốc thì sợ mất ghế , mất đảng , mà công khai ra mặt với quốc tế là mình về hùa với Trung Quốc thì lại không dám ! Đảng CSVN chỉ còn 1 cách là tiếp tục đu dây , mặt ngoài thi giả bộ hô hào đồng tâm hiệp lực với các nước khác chống Trung Quốc , mặt trong thì vẫn cấm tiệt người dân không cho biểu tình , không cho có động thái mạnh mẽ nào lên án Trung Quốc .

Vì thế mà khi người Phi Luật Tân tổ chức biểu tình chống Trung Quốc ở Manila , thì đã xuất hiện khá nhiều người Phi mặc áo cờ đỏ sao vàng , cầm cờ đỏ sao vàng giả làm người Việt đi biểu tình ” giùm “.

Blogger Người Buôn Gió và 1 số anh em có mặt tại buổi biểu tình hôm đó ở Manila , đã mắt thấy tai nghe , chụp hình , quay phim lại đầy đủ . Người Buôn Gió có bài viết kể chi tiết cùng hình ảnh trên trang FB của anh . Anh cho biết những người Phi này được điều động bởi 1 phụ nữ người Việt , và khi phóng viên CNN đến phỏng vấn anh thì phía áo đỏ sao vàng chạy qua gây sự , ngăn cản .

Lúc mới nghe tin này Nhi cũng bán tín bán nghi , mặc dù hình ảnh thì khá rõ rằng những người này không phải là người Việt . Để tìm hiểu rõ hơn Nhi đã đem tin tức và hình ảnh này đăng trên nhiều diễn đàn và nhóm FB khác nhau , bao gồm cả những trang và diễn đàn của người nước ngoài .

Ngay lập tức , có hàng loạt những nick ra mặt chửi bới , nói rằng đây là bịa đặt xuyên tạc , là tin giả của phản động cờ vàng , là hình ảnh cắt ghép hay photoshop . Ngay cả ở những trang mạng nước ngoài bằng tiếng Anh , cũng vẫn có những nicks chạy vào tìm mọi cách bịt miệng và lấp liếm . Khi cãi lý với Nhi không xong thì họ vận động để admin các trang này xóa sạch bài viết và những hình ảnh đó đi .

Sau khi đã kiểm chứng và tận mắt thấy sự phản ứng đồng bộ với những chiêu thức y hệt như nhau , thì Nhi có cơ sở khá vững chắc để nhận định rằng đây chính là việc làm của đảng CSVN , nên lực lượng DLV mới được lệnh phải đồng loạt phản biện và tìm cách xóa sạch tang chứng ở mọi nơi .

Có lẽ đã đến lúc phải viết thư cho các nhân sự nước ngoài để báo cho họ biết chiêu trò lường gạt này của đảng CSVN . Nhưng mặt khác , có lẽ quốc tế đã biết rất rõ , chỉ có dân Việt Nam bị bưng bít thông tin và nhồi sọ là không biết sự thật thôi !

 
Ngoc Nhi Nguyen's photo.
Ngoc Nhi Nguyen's photo.
Ngoc Nhi Nguyen's photo.
Ngoc Nhi Nguyen's photo.
Ngoc Nhi Nguyen's photo.
    
25-2-2016
Bùi Thanh HiếuNgười Buôn Gió
26-2-2016
Bùi Thanh HiếuNgười buôn Gió

Posted in Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa, Chinh Tri Xa Hoi, Đảng CSVN - còn đảng, còn mình... | Leave a Comment »

►Việt Nam thuê người Philippines đi biểu tình phản đối Trung Quốc

Posted by hoangtran204 on 27/02/2016

khoảng gần chục sinh viên Việt Nam và tầm 5 sinh viên của các nước Lào, Đông Timor, Miến Điện, Hàn Quốc tham gia biểu tình ở Manila, Philippines. Những tấm hình của đoàn biểu tình cho thấy, những người mặc áo quốc kỳ nước CHXHCH Việt Nam có đến 90 % là người Phi nghèo khó, được hai người phụ nữ Việt Nam huy động từ các vùng quê đến để biểu tình. Những người Phi mặc áo cờ đỏ sao vàng này chỉ biết hô một vài câu Chi Na Gét Ao. Thật bi hài có lúc họ ngắn gọn câu khẩu hiệu Trung Quốc ra khỏi biển Việt Nam thành Chi Na Việt Nam.

Bi hài kịch phản đối Trung Quốc

Người Buôn Gió – Bùi Thanh Hiếu 

FRIDAY, FEBRUARY 26, 2016

Sau hội nghị cấp cao Asean và Hoa Kỳ tại Sunnylands vào hồi tháng 1 năm 2016. Trung Quốc tiếp tục tên lửa và máy bay đến những hòn đảo ngoài biển Đông mà họ xâm chiếm được của Việt Nam. Biến nơi đây ngày càng trở thành một căn cứ quân sự khổng lồ. Đe doạ uy hiếp đến an ninh trên biển Đông.

Hành động của Trung Quốc thể hiện ý chí coi thường những vấn đề an ninh biển mà hội nghị Sunnylands lo ngại.

Việt Nam và Phi Luật Tân là hai nước nạn nhân lớn nhất bởi hành động xâm lược của Trung Quốc.

Trước hành động của Trung Quốc gần đây nhất, người phát ngôn của Bộ Ngoại Giao Việt Nam ông Lê Hải Bình đã lên tiếng phản ứng như thường lệ. Nhưng trong âm điệu có phần gay gắt hơn, phát ngôn của ông Bình vào ngày 25 tháng 2 năm 2016 có những từ trước đó không có, khi đề cập đến hành vi của Trung Quốc trên biển Đông là xâm phạm chủ quyền, đe doạ an ninh hàng hải, hàng không và hoà bình khu vực.

Cũng vào ngày 25 tháng 2 năm 2016 một cuộc biểu tình phản đối hành vi ngang ngược của Trung Quốc đã diễn ra tại Manila, thủ đô Phi Luật Tân. Báo Dân Trí đưa tin nói rằng sinh viên Việt Nam và sinh viên quốc tế tại Phi biểu tình phản đối Trung Quốc quân sự hoá ở biển Đông. http://dantri.com.vn/the-gioi/sinh-…

Hãng truyền thông BBC đưa tin với tiêu đề Sinh Viên Việt Nam biểu tình chống Trung Quốc.  http://www.bbc.com/vietnamese/vietn…

Theo CNN cuộc biểu tình có khoảng 100 người. 

Cuộc biểu tình thu hút rất nhiều hãng truyền thông quốc tế có mặt đưa tin. Nhưng một điều đáng buồn mà BBC và Dân Trí đều không nói rõ. Chỉ có khoảng gần chục sinh viên Việt Nam và tầm 5 sinh viên của các nước Lào, Đông Timor, Miến Điện, Hàn Quốc tham gia. Những sinh viên này là bạn bè của mấy sinh viên người Việt Nam đang học tại Phi.

Trên những tấm hình diễn tả về đoàn biểu tình cho thấy, những người mặc áo quốc kỳ nước CHXHCH Việt Nam có đến 90 % là người Phi nghèo khó, được hai người phụ nữ Việt Nam huy động từ các vùng quê đến để biểu tình. Những người Phi mặc áo cờ đỏ sao vàng này chỉ biết hô một vài câu Chi Na Gét Ao. Thật bi hài có lúc họ ngắn gọn câu khẩu hiệu Trung Quốc ra khỏi biển Việt Nam thành Chi Na Việt Nam.

Hãy nhìn những khuôn mặt của người biểu tình mặc áo quốc kỳ CHXHCN Việt Nam để rõ hơn.

Cả đám này đều là người Phi hết, nhưng họ mặc áo cờ đỏ sao vàng!

Thật bi hài, trước tình hình Trung Quốc gia tăng ở biển Đông. Dư luận quốc tế đổ dồn ánh mắt theo dõi động thái của các nước có liên quan, đặt biệt là Việt Nam và Phi Luật Tân. Thiết nghĩ việc nhà nước Việt Nam cho vài sinh viên Việt Nam ở Phi tổ chức biểu tình cũng phù hợp. Ngay cả chuyện không đủ người, phải thuê người dân Phi đóng giả cũng thông cảm. Vì hoàn cảnh ở Phi không lấy đâu ra nhiều sinh viên hay người Việt đến thế.
Nhưng để tạo được sự quan tâm của dư luận ủng hộ, bênh vực cho mình trên phương diện đối thoại, ngoại giao thì lúc này nhà nước Việt Nam cần phải có một thái độ nghiêm túc. Đất nước Việt Nam không hề thiếu những người nhiệt huyết sẵn sàng đi biểu tình phản đối Trung Quốc để ủng hộ tiếng nói nhà nước, gây sự chú ý của dư luận mà nhà nước không phải bỏ tiền thuê, tiền mua áo, cờ, khẩu hiệu. Việc thuê người bản xứ đóng giả sinh viên Việt Nam biểu tình không thể nào qua mắt được các phóng viên quốc tế lão luyện. Họ chán đến nỗi không buồn phỏng vấn những người mặc áo đỏ sao vàng. Mặc dù họ rất cần tin tức để lên án Trung Quốc. Thái độ của đông đảo phóng viên quốc tế có mặt tại cuộc biểu tình hôm đó cho thấy sự thất vọng tràn ngập của họ với tinh thần đấu tranh giữ chủ quyền của dân tộc Việt Nam.
Tại sao dân chúng Việt Nam sục sôi sẵn sàng biểu tình chống Trung Quốc xâm phạm lãnh thổ, nhà nước Việt Nam không cho phép, trái lại còn đàn áp bắt bớ đe doạ. Trái lại bên ngoài lại làm trò lố bịch đi thuê người lộ liễu đóng giả biểu tình thay cho mình. Như thế chẳng phải là bôi bác dân tộc mình hay sao.? Người ngoài họ sẽ nghĩ gì về việc nhà nước Việt Nam thuê những người Phi nghèo khó đi biểu tình hộ cho Việt Nam.?
Niềm tự hào lại thành nỗi nhục, vì nó được giàn dựng giả tạo một cách trắng trợn.
Khi quốc ca Việt Nam cất lên thì đoàn người biểu tình áo đỏ sao vàng cười nói vô tư, đến khi quốc ca Phi cất lên một số theo bản năng đặt tay lên tim cất tiếng hát quốc ca Phi.
Gần như hầu hết những người Phi mặc áo đỏ sao vàng đi biểu tình chống Trung Quốc tại Manila hôm 25 tháng 2 vừa qua đều do một bà già gầy gò người Việt Nam đội nón lá đưa đến.
Bà đội nón làm việc một bà Việt Nam khác béo tốt, trắng trẻo đeo túi xách tay cầm tờ chương trình biểu tình. Bà gầy gò đòi hỏi về việc thêm tiền cho vấn đề nào đó, hai bà đôi co một lúc rồi cũng đi đến thoả thuận.
Cuối cùng đến đoạn quốc ca Việt Nam cất lên trên loa, đoàn người biểu tình áo đỏ sao vàng vẫn cười nói vô tư. Khi quốc ca Phi cất lên một số theo bản năng đặt tay lên tim cất tiếng hát quốc ca Phi.
Thật ê chề cho dân tộc Việt Nam. Lẽ ra nhà nước Việt Nam không cần phải làm cuộc biểu tình như thế tại Phi, có hàng ngàn hàng triệu người Việt ở khắp nơi có thể tổ chức biểu tình quy mô và đủ kiến thức để trả lời rành rọt về tình hình biển Đông với phóng viên quốc tế. Lẽ ra phải để người dân Việt trong nước tự tổ chức biểu tình chứ không phải mượn đất Phi thuê người diễn hộ.
Làm thế này, chỉ chuốc thêm nhục nhã cho đất nước mà thôi.

 

 

 

 

Posted in Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa, Biểu Tình và Lập Hội, Chinh Tri Xa Hoi | Leave a Comment »

►Tham dự biểu tình chống Trung Quốc tại Philippines

Posted by hoangtran204 on 27/02/2016

* “cuộc biểu tình quái gở do đảng CSVN tổ chức biểu tình ở Phillipines…Tại sao những người trẻ tuổi này có thái độ trịch thượng và hống hạch hoạch hoẹ tên tuổi và ngăn cản tôi. Họ nghĩ rằng cứ người Việt nào ở đâu cũng phải sợ họ vì họ là người của chế độ cộng sản. Họ khoác được trên mình cái áo của Đảng là có thể khiến người khác phải sợ họ.”

Dự biểu tình chống Trung Quốc tại Phi Lip Pin

25-2-2016

Người Buôn Gió 

Có lẽ sau hội nghị cấp cao Mỹ và Asean, chỉ có người Phi là thực lòng với những gì đã bàn ở hội nghị. Là một quốc đảo nhỏ bé và nghèo, chúng ta có thể thấy trên đường phố Manila đầy nhan nhản những trẻ ăn xin, người lang thang vô gia cư, bán hàng rong mà khó nơi nào ở Đông Nam Á này có nhiều như thế. Phi nghèo hơn Việt Nam rất nhiều, đó là điều mà bất cứ người Việt nào đến đây đều có thể thấy việc đó trên mọi đường phố. Quốc đảo có vô số hòn đảo nhỏ, đủ các loại sắc dân, thiên tai mưa bão liên miên. Nhiều người dân ở nông thông phải bỏ quê hương đến thành phố làm đủ mọi nghề mưu sinh. Chưa kể những xung đột sắc tộc ở vùng miền đến mức phải dùng vũ lực.
Người Phi lành hơn người Việt rất nhiều, mặc dù đói khổ lang thang làm bán hàng rong, tẩm quất dạo, làm gái …nhưng những người Phi không vì thế mà trộm cướp tràn lan hay hung hăng gây gổ trên đường.
Người Phi nghèo và lành. Nhưng không phải vì thế mà họ không thể hiện tinh thần chống xâm lược. Cuộc biểu tình diễn ra ngày hôm nay được tổ chức bởi một thượng nghị sĩ Phi, một số người Việt Nam ở đây cũng hăng hái tham gia, đó là những sinh viên từ Việt Nam sang đây học. Một cuộc biểu tình có hai sắc áo, một là màu cờ đỏ sao vàng của Việt Nam, hai là sắc áo màu tím của người Phi. Nơi biểu tình diễn ra ở đại sứ quán Trung Quốc.
Tôi và anh bạn Nguyễn Tiến Đạt, cựu hội trưởng sinh viên Công Giáo miền Bắc và mấy Xơ đang học ở đây cùng đến biểu tình. Chúng tôi đọc kỹ thông báo để làm những tấm băng rôn phù hợp với tinh thần của cuộc biểu tình.
Chúng tôi ngồi một góc riêng, trong khi chờ đợi đến giờ biểu tình thì nhóm phóng viên của CNN đến chỗ chúng tôi hỏi. Không hiểu vì sao cô phóng viên CNN trưởng nhóm lại chọn tôi là người để cô phỏng vấn. Có thể cô nhìn thâý tôi là người nhiều tuổi nhất trong nhóm.
Tôi đang lên án về việc Trung Quốc dùng vũ lực, bắn phá và giết hại những người lính Việt Nam đóng trên quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa vào những năm 1974, 1988. Tôi lập luận rằng chưa cần nói đến lịch sử xa xưa hai quần đảo này thuộc nước nào. Nhưng hàng trăm năm trước không có tranh chấp nào của Trung Quốc với Việt Nam. Và đất nước tôi sở hữu hoà bình hai quần đảo đó, đến ngày bất ngờ quân đội Trung Quốc mang tàu chiến đến nã đạn bắn giết người dân, người lính chúng tôi để chiếm đóng đảo và từ đó càng ngày họ càng ra tăng quân sự để tiếp tục chiếm ra xung quanh.
Mới đến đó thì bỗng nhiên có hai cô cậu người Việt Nam mặc áo cờ đỏ sao vàng nhảy xen vào cản cuộc phỏng vấn. Thái độ họ rất dữ dội, lý do họ đưa ra chỉ có hai người được phép trả lời phỏng vấn là ông thượng nghĩ si Phi và một người trẻ là cảm tình đảng CSVN đang học ở đây. Tôi giải thích rằng việc họ phỏng vấn tôi, tôi có quyền trả lời. Tôi không hề phá hoại hay làm gì cản trở cuộc biểu tình.
Cậu trẻ này nhaỷ vào nói với phóng viên CNN là chỉ có họ mới đại diện cho Việt Nam trả lời phỏng vấn. Nhưng bên CNN họ không nghe, họ rất ngạc nhiên khi có một dân tộc mà chuyện chống ngoại xâm lại chỉ có nhóm này tự cho mình được phép lên tiếng.
Còn cô gái này quắc mắt hỏi tôi tên là gì, cô bảo tôi không được phép trả lời. Tôi nói rằng cô không có quyền gì ngăn tôi, nếu thích cô ngăn bên CNN. Còn tôi đi qua đây thấy biểu tình chống Trung Quốc xâm lược Việt Nam, là người Việt tôi ủng hộ. Không có khẩu hiệu hay lời nói, hành động quá khích nào đi quá nội dung cuộc biểu tình. Nếu cô cảm thấy tôi làm sai thì cảnh sát Phi đứng đầy kia mời cô gọi. Cô gái đi gọi cảnh sát, nhưng những người cảnh sát Phi họ lắc đầu từ chối. Cô tức giận quay lại quát tôi tên là gì, phải cho cô biết. Tôi nói cô không có quyền gì với tôi cả. Cô gái trẻ có hành động bất nhã là dí điện thoại vào mặt tôi chụp, như kiểu đe doạ tôi sẽ bị xử lý bởi một thế lực nào đó.
Thật buồn cho suy nghĩ của các cô, các cậu này. Có lẽ họ nghĩ tôi là người Việt thì phải e sợ họ vì họ là người của Đảng CSVN tổ chức biểu tình ở đây. Gọi cảnh sát không được, mấy người Việt mặc áo cờ đỏ, sao vàng bèn quay lại nhảy chen vào khiến cuộc phỏng vấn không thể thực hiện tiếp tục. Họ quây quanh cô phóng viên CNN mặc áo xanh để ngăn cản và cãi vã.
Cuối cùng tôi và nhóm phóng viên CNN không muốn sự cãi vã kéo dài, bèn trao đổi E Mail để hẹn ngày khác tiếp tục phỏng vấn.
Ông thượng nghị sĩ tổ chức biểu tình.
Khẩu hiệu của nhóm chúng tôi, hãy nhìn xem nó có gì không phải với chế độ cộng sản Việt Nam mà đến nỗi ở tận nước dân chủ, những người trẻ tuổi của Đảng phải ngăn cản.?
Một chút ấm lòng khi thấy tấm băng rôn này xuất hiện.
Người Phi biểu tình chống Trung Quốc bành trướng ở biển Đông.
Tấm hình người Phi miêu tả dã tâm của Trung Quốc.
Gần cuối cuộc biểu tình , cô gái ngăn cản phỏng vấn xin lỗi tôi rất dịu dàng. Cô nói vì sợ có người phá hoại nên ngăn cản. Tôi hiểu đó là lý do cô ấy nói khi việc xong rồi hoặc tấm hình cô ấy chụp tôi đã được gửi về đâu đó xác nhận tôi chưa hề phá cuộc biểu tình của người Việt nào chống Trung Quố ở quê hương tôi và nhiều nơi trên thế giới, dù bất cứ là màu cờ nào của người Việt chống Trung Quốc tôi đều ủng hộ.
Nhưng tôi lại vẩn vơ nỗi buồn khác. Tại sao những người trẻ tuổi này có thái độ trịch thượng và hống hạch hoạch hoẹ tên tuổi và ngăn cản tôi. Họ nghĩ rằng cứ người Việt nào ở đâu cũng phải sợ họ vì họ là người của chế độ cộng sản. Họ khoác được trên mình cái áo của Đảng là có thể khiến người khác phải sợ họ. Hôm nay chắc họ ngạc nhiên khi thấy tôi chìa trước ống kính CNN tấm hộ chiếu Việt Nam mà tôi không hề ngại gì họ. Nhưng tôi còn ngạc nhiên hơn họ gấp bội lần, vì tôi chưa bao giờ chứng kiến cuộc biểu tình quái gở thế này. Những điều quái gở ấy tôi sẽ nói ở phần sau.

Posted in Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa, Biểu Tình và Lập Hội, Đảng CSVN: Các hạt giống đỏ- Cha truyền con nối | Leave a Comment »

►Tiếng khóc của người văn công 37 năm sau khi Trung Quốc tấn công VN 1979

Posted by hoangtran204 on 20/02/2016

RFA

Mặc Lâm, biên tập viên RFA

20-2-2016

Lễ tưởng niệm sự hy sinh của đồng bào, chiến sĩ đã bỏ mình trong cuộc chiến tranh giữ nước đối với Trung Quốc tại Hà Nội ngày 17 tháng 2 năm 2016. Citizen photo.

Lễ tưởng niệm sự hy sinh của đồng bào, chiến sĩ đã bỏ mình trong cuộc chiến tranh giữ nước đối với Trung Quốc tại Hà Nội ngày 17 tháng 2 năm 2016. Citizen photo.

Ngày 17-2 mỗi năm gần đây Hà Nội, Sài Gòn đều tổ chức lễ tưởng niệm thắp nhang cho liệt sĩ đã hy sinh trong trận chiến chống Trung Quốc xâm lược ở các tỉnh phía bắc.

Trong khi tại Hà Nội buổi tưởng niệm diễn ra suôn sẻ mặc dù cơ quan an ninh cho người ra tượng đài Lý Thái Tổ để quan sát nhưng không có bất cứ cuộc phá hoại nào như từng xảy ra trước đây. Ngược lại tại Sài Gòn, từ mờ sáng công an canh giữ tại nhà một số lớn người, không cho họ ra khỏi nhà tham dự buổi thắp hương tưởng niệm liệt sĩ dưới chân tượng Trần Hưng Đạo tại bến Bạch Đằng. Tuy nhiên người dân vẫn tập trung gần trăm người để làm lễ. Ngay lập tức một nhóm an ninh đội lốt côn đồ, có cả những đoàn viên thanh niên cộng sản rất trẻ nhảy vào cướp phá, giật vòng hoa, chà đạp lên và khiêu khích người dân với những từ ngữ khó nghe nhất.

Trong buổi lễ này có mặt một phụ nữ đặc biệt có nghệ danh là Ánh Hồng, bà là một nữ văn công múa trong đoàn Hải Phòng có mặt và chứng kiến sự hy sinh vô cùng cảm động của bộ đội khi chống lại các đợt tấn công của kẻ thù vào tháng Hai năm 1979.

Qua lời kể của bà chúng ta hy vọng sẽ thức tỉnh những người còn mê muội đưa ra những quyết định phản bội lịch sử và nhất là phản bội lại máu xương của gần 60 ngàn đồng bào liệt sĩ đã ngã xuống vì gìn giữ bờ cõi cho họ có chỗ đứng ngày nay trong chính quyền.

“Quân Trung Quốc nó ác lắm”

Nghệ sĩ Ánh Hồng kể lại buổi sáng bà có mặt tại tượng đài Trần Hưng Đạo cùng với nhiều người khác:

Nghệ sĩ Ánh Hồng: “Lúc ấy nói thật với anh là tôi bỡ ngỡ, tôi khóc. Tôi đứng lặng yên, tôi khóc. Tôi nghĩ tới cảnh tượng trước đây bao nhiêu chiến sĩ ngã xuống lúc ấy họ còn trẻ như mấy cô cậu này đây, cũng trẻ như các cô bây giờ chỉ 17 – 18, 20 trẻ lắm… thế mà chết cho tới ngày hôm nay khi thấp hương cho họ thì những người trẻ như thế này lại đi dập nát vòng hoa thì tôi chỉ biết đứng khóc anh ạ, tôi không cầm được nước mắt nữa tôi nghĩ tôi căm thù bọn nó quá.

Khi nhìn cảnh tượng như vậy tôi có nói với họ không nên làm như thế nữa bởi vì mọi người không biết đâu lúc ấy quân Trung Quốc nó ác lắm. Nó giết, nó hãm hiếp đồng bào mình, nó giết bao nhiêu chiến sĩ của mình, khổ lắm đừng làm như thế nữa. Nhưng tôi càng nói thì những con người này cứ lao vào giật vòng hoa, lao vào…cuối cùng tôi sợ ngã nên phải chạy ra đứng bên ngoài tôi không dám đứng ở đấy nữa.

Sau đó tôi về Câu lạc bộ Lê Hiếu Đằng tôi ngồi nói chuyện với các anh ấy tôi mới khóc. Tôi khóc khi nghĩ tới cảnh tượng hôm qua tôi không cầm được nước mắt nữa. Tôi nghĩ bao nhiêu chiến sĩ đã chết mà ngày hôm nay người ta để cho thế hệ trẻ này làm như vậy thì không hiểu thế nào nữa.”

Mặc Lâm: Tình cờ được biết bà từng ra chiến trường biên giới vào thời gian xảy ra cuộc chiến xin bà cho biết lúc ấy diễn tiến cuộc chiến như thế nào ạ?

Nghệ sĩ Ánh Hồng: “Tôi ở trong đoàn văn công anh ạ, thuộc đoàn ca múa Hải Phòng tôi là diễn viên múa. Lúc bấy giờ tôi còn trẻ mà. Đoàn văn công này hay đi phục vụ chiến đấu các đơn vị trong quân đội như trọng pháo hay bộ đội ở đâu có chiến tranh hay có cái gì đó thì đoàn văn công được gửi tới phục vụ. Mang tinh thần lời ca tiếng hát điệu múa làm vũ khí cổ vũ bộ đội ta đánh giặc.

Lúc đó vào tháng hai năm 79, tôi nhớ chắc chắn là năm 79 lúc ấy anh Hà Đức Hậu làm trưởng đoàn, anh nhận được lệnh đòan phải đi biểu diễn ngoài biên giới lúc ấy là Tiên Yên, Hà Cối, Quảng Ninh để phục vụ các chiến sĩ.

Đêm hôm ấy đoàn biểu diễn rất là đông bộ đội xem. Gần một tiếng sau đang khi trình diễn thì đột nhiên bộ đội cứ rút dần, rút dần đi… mình mới hỏi sao lại vằng chỉ còn vài chục người thế này thì các anh mới nói là họ phải đi bổ xung cho các chốt vì giặc nó tràn lên đông quá, nó giết nhiều quá bây giờ phải đi tải thương binh với liệt sĩ về cho nên tư tưởng như thế không thể ngồi xem được.

Lễ tưởng niệm sự hy sinh của đồng bào, chiến sĩ đã bỏ mình trong cuộc chiến tranh giữ nước đối với Trung Quốc tại Hà Nội ngày 17 tháng 2 năm 2016. Citizen photo.

Lễ tưởng niệm sự hy sinh của đồng bào, chiến sĩ đã bỏ mình trong cuộc chiến tranh giữ nước đối với Trung Quốc tại Hà Nội ngày 17 tháng 2 năm 2016. Citizen photo.

Đến khi biểu diễn xong chúng tôi về mình mới thấy có câu thương binh rên rỉ, cậu ấy kêu “mẹ ơi, mẹ ơi” trong đêm hôm thanh vắng nghe tiếng kêu như thế. Tới sáng mai hỏi lại thì cậu ấy đã chết đêm qua rồi vì máu ra nhiều quá không kịp chuyển về tuyến sau nữa.

Hôm sau chúng tôi lại vào biểu diển ngay cho các thương binh ở trong trại. Họ chuyển về chỗ không phải là cái trại đâu mà nó là một khu nhà của Pháp ngày xưa người ta xây kiểu như doanh trại của Pháp hồi xưa, bị bỏ hoang lâu rồi. Cửa cung không có bây giờ mình che chắn để cho thương binh nằm thôi.

Lúc mình đi vào từng gường của thương binh tôi nói thật với anh là không thể cầm được nước mắt, tôi thương mà không dám nhìn chạy ra ngoài không dám nhìn. Lúc ấy thì không múa nữa chỉ hát với đàn thôi. Thương binh cụt chân cụt tay nằm la liệt mà không có thuốc men gì vì lúc ấy khó khăn lắm. Lúc đến bữa ăn mình chạy ra ngoài thì nhìn thấy một anh bộ đội trẻ lắm khoảng 19 -20 bị đạn nó vạt hết cả cái mông máu chảy ra nhiều mà cậu thương binh cứ cầm miếng vải kéo ra cho khỏi dính vào vết thương mà trên tay cậu ấy bê một bát cơm có mấy miếng đậu, một tí rau muống luộc và canh lỏng bỏng…tôi nhìn thấy mới hỏi, trời ơi ăn uống thế này thì làm sao chịu nỗi? lúc ấy người ta mới nói hoàn cảnh như thế này thì làm sao khác được.

Biểu diễn xong thì đoàn văn công rút về vì cuộc chiến ngày càng ác liệt quá.”

Mặc Lâm: Chứng kiến sự việc như vậy rồi hôm nay lại trực tiếp thấy những kẻ hậu thế lại đập phá vòng hoa tưởng niệm, sỉ nhục người tới thắp hương và có những hành vi khác nữa, bà cảm thấy như thế nào?

Nghệ sĩ Ánh Hồng: “Không biết như thế nào nhưng tôi cứ nghĩ bộ đội mình chết nhiều quá, chết thảm quá, chết đau khổ quá… đã chết trận rồi mà về vật chất thuốc men lại càng khổ nữa thế mà bây giờ trong cái ngày thuộc về kỷ niệm mấy năm gần đây tôi biết là có làm lễ kỷ niệm thì tôi có tham gia thắp hương bởi vì nhìn cái cảnh người ta chết nên thắp hương cho người ta. Nhưng mình thấy những bọn trẻ thanh niên bây giờ nó ra nó tàn phá, nó đánh đập người ta, nó dằn xé tôi không thể tưởng tượng được tại sao như thế. Nòi thật với anh đã có lúc tôi nghĩ tôi có súng tôi bắn chết mẹ chúng mày! Nói thật với anh như thế. Tôi thấy chúng nó kinh khủng như một loại gì chứ không còn con người nữa mà nó hành động như thế?

Tôi nói anh nghe cái lúc mà ra chiến trận những lớp trẻ ra trận người ta vui lắm anh ạ. Người ta đi trên những đoàn xe ở dưới cứ vẫy tay: “Ở đâu đấy? Ở đâu đấy…”người bảo ở Nam Định, người bảo ở Thái Bình. Người ta vỗ tay “chào nha, đi chiến đấu nhé”… mọi người rất là vui vẻ tuy biết đi là chết mà mọi người vẫn vui vẻ khi ra chiến trường. Tại sao lúc ấy khí thế chiển đấu của người ta lại cao như thế hả anh? Tôi cũng nghĩ mãi những khuôn mặt rất trẻ ngồi trên ô tô để ra mặt trận như thế. Cho tới lúc mình chứng kiến đang biểu diễn mà bộ đội phải rút dần đi ra các chốt và hy sinh không về nữa, thế rồi chứng kiến cảnh thương binh máu me tay chân bị mất, chứng kiến bữa cơm của bộ đội người ta ăn sao mà đau lòng thế.

Đến hôm vừa rồi trong buổi lễ tưởng niệm lại bị chúng ra dập nát vòng hoa, tôi không thể tưởng tượng được tại làm sao lại như thế. Xã hội, chế độ này giáo dục cái loại người không còn ra người ra ngợm nữa. Tôi không bao giờ quên những kỷ niệm của thời chiến tranh đấy, chính mắt mình thấy chính mình tham gia phục vụ chiến trường đấy, tôi chỉ biết ngồi khóc không biết nói thế nào hơn vì thật sự mình quá xúc động.

Mình thấy như thế và rất căm thù, tự nhiên nó nhói tim của mình vì nó đau cho những người bị chết quá. Họ hy sinh hôm trước mà hôm nay nó như thế này tự nhiên mình nhói trong tim quá.”

Hy vọng lời kể của người trực tiếp chứng kiến nỗi đau của các anh bộ đội trẻ trung năm xưa có thể lay động tới lớp người trẻ hôm nay vì họ không hề được biết có cuộc chiến tàn khốc như vậy trong sách giáo khoa. Họ cũng không biết rằng bia căm thù giặc Trung Quốc xâm lược tại cầu Khánh Khê Lạng Sơn đã bị đục bỏ hai chữ Trung Quốc, và họ cũng không biết nốt ngày 17 tháng Hai hằng năm là ngày gì.

Không ai nghĩ là những người phá hoại cuộc tưởng niệm tại Sài Gòn sẽ hồi tâm chuyển ý vì trước khi cầm vòng hoa đạp nát dưới chân, họ đã được định hướng rằng tới tượng đài ngày hôm ấy là những kẻ phản động, kể cả những người như nữ nghệ sĩ Ánh Hồng.

anhbasam

——-

Nguyễn Thúy Hạnh

Đoàn xe hùng hậu “vô tình” (?) đậu dọc đường Lê Thạch giáp vườn hoa Lý Thái Tổ sáng 17/2 khi đông đảo nhân dân đến thắp nhang tưởng niệm đồng bào và chiến sĩ đã ngã xuống trong cuộc chiến chống Trung Quốc xâm lược 2/1979. Dùng xe che chắn lòng yêu nước, khác nào lấy tay che bầu trời?

Che chắn để nhân viên Tòa Đại sứ Trung Quốc đi ngang qua sẽ không nhìn thấy mà không quở trách và bắt đảng CSVN và Nhà Nước làm kiểm điểm.

Nguyễn Thúy Hạnh's photo.
Nguyễn Thúy Hạnh's photo.

 

Posted in Bắt bớ-Tù Đày-Đánh đập-Đàn Áp, Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa, Công An, Đảng CSVN - còn đảng, còn mình... | Leave a Comment »

►Bản Cam Kết của các chủ tiệm Photocopy gửi Công anTp Đà Lạt về việc không được photo các tài liệu, văn bản liên quan đến Biển Đông và Trung Quốc!

Posted by hoangtran204 on 20/02/2016

Con Đường Việt Nam Like Page

CÔNG AN TP ĐÀ LẠT KHÔNG THỂ GIẢI THÍCH ĐƯỢC !

Ngay sau khi xuất hiện Bản Cam Kết của các chủ tiệm Photocopy gửi CATP Đà Lạt về việc không được photo các tài liệu, văn bản liên quan đến Biển Đông và Trung Quốc & phải báo về cho số 01676 251548 (An – CATPĐL), anh Đỗ Đức Hợp đã gọi điện cho An ninh để hỏi về chuyện lạ lùng này.

An Ninh và – Công An Tp Đà Lạt đã không thể trả lời được vì sao, và nói chỉ làm theo chỉ thị mà không cho biết là chỉ thị từ đâu.

Sự việc bắt đầu từ đây:

CÔNG AN TP ĐÀ LẠT BẮT CHỦ TIỆM PHOTO CAM KẾT KHÔNG PHOTO TÀI LIỆU CHÍNH TRỊ LIÊN QUAN TỚI TRUNG QUỐC?

Một BẢN CAM KẾT theo mẫu ghi ngày 21/1/2016 ký tên là chủ tiệm Photocopy tại Tp Đà Lạt gửi cho CATP Đà Lạt ghi rõ:

“Nay tôi xin cam kết, cam đoan khi có trường hợp tới photo, in ấn các tài liệu có liên quan tới các vấn đề nhạy cảm chính trị, các tài liệu, văn bản có nội dung phản ánh tới Biển Đông, các vấn đề chính trị liên quan tới Trung Quốc, tôi sẽ ngay lập tức thông báo cho cơ quan Công an để có biện pháp xử lý kịp thời. Đồng thời tôi sẽ không tiếp nhận bất kỳ trường hợp nào khi yêu cầu photo hay in ấn các tài liệu trên. Nếu không tuân thủ thực hiện, tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm trước pháp luật.”

Số điện thoại của CA Đà Lạt: 01676 251548 (An – CATPĐL)

Ảnh: Tony Pham

 

Con Đường Việt Nam: Vì đâu mà CATP Đà Lạt lại sợ Biển Đông & Trung Quốc đến thế?

Update: Đã có video phỏng vấn CA Đà Lạt. Mời quý vị:

https://www.facebook.com/quyenconnguoi/photos/a.390279137693775.88572.386595591395463/918042961584054
Link chia sẻ Youtube: https://youtu.be/o_yl2UinJsY

———

Bắt dân cam kết không được in tài liệu liên quan đến Biển Đông và Trung Quốc: Phải truy tố về tội phản bội Tổ quốc

Theo Fb Nguyễn Tường Thụy

Trên mạng xã hội facebook xuất hiện một bản cam kết gây phẫn nộ trong dư luận. Người cam kết là ông Bùi Trường Cầm chủ một cơ sở fotocopy. Bản cam kết gửi cho Công an Thành phố Đà Lạt có nội dung như sau:
“Nay tôi xin cam kết, cam đoan khi có trường hợp tới photo in ấn các tài liệu có liên quan tới các vấn đề nhạy cảm chính trị, các tài liệu, văn bản có nội dung phản ánh tới Biển Đông, các vấn đề chính trị liên quan tới Trung Quốc, tôi sẽ ngay lập tức thông báo cho cơ quan công an để có biện pháp xử lý kịp thời. Đồng thời tôi sẽ không tiếp nhận bất kỳ trường hợp nào khi yêu cầu photo hay in ấn ác tài liệu trên. Nếu không tuân thủ thực hiện, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật“.
Chưa đủ để khẳng định tính xác thực của bản cam kết này nhưng nó có độ khả tín khá cao vì người ký cam kết có tên và địa chỉ cụ thể là số nhà 20A Nguyễn Chí Thanh, phường 1 Thành phố Đà Lạt.
Về hình thức cho thấy đây là bản cam kết in sẵn, cả dòng chữ “Kính gửi công an Thành phố Đà Lạt” và chữ “phường 1” cũng in sẵn, người cam kết chỉ việc điền họ tên, địa chỉ vào rồi ký chứ không phải là tự viết. Tức là một cam kết ép chứ không phải là tự nguyện. Điều này nói lên tất cả các cơ sở fopocopy của phường 1 đều phải ký cam kết này và có thể các phường khác của Thành phố Đà Lạt cũng cũng làm tương tự.
Tôi đã gọi điện vào số điện thoại ghi trong bản cam kết để hỏi rõ thực hư nhiều lần nhưng không có người bắt máy.
Việc bắt chủ cơ sở photocopy cam kết không photo in ấn các tài liệu liên quan tới Biển Đông và các vấn đề chính trị liên quan tới Trung Cộng không những vi phạm pháp luật mà còn làm hại cho chủ quyền của Việt Nam.
Trong những năm vừa qua, đã có nhiều sự cấm đoán nhằm ngăn cản việc tuyên truyền về chủ quyền, biển đảo, vạch ra dã tâm xâm lược của Trung Cộng đối với Việt Nam như đàn áp biểu tình, phá các buổi tưởng niệm tử sĩ chống Trung Cộng, cấm dán biểu ngữ có nội dung chống Trung Cộng hay khẳng định chủ quyền của Việt Nam (Hoàng Sa – Trường Sa – Việt nam). Nhưng trường hợp bắt dân cam kết trên đây là rất trắng trợn, thể hiện công khai bằng văn bản.
Điều 78 Bộ luật hình sự: Tội phản bội Tổ quốc:
1. Công dân Việt Nam nào câu kết với nước ngoài nhằm gây nguy hại cho độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, lực lượng quốc phòng, chế độ xã hội chủ nghĩa và Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình.
2. Phạm tội trong trường hợp có nhiều tình tiết giảm nhẹ thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm.
Bàn tay của Trung Hoa cộng sản đã len lỏi khắp nơi trên lãnh thổ Đất nước. Bọn việt gian bán nước trà trộn trong chính quyền đã công khai hoạt động. Rõ ràng đây là hành vi tiếp tay, che đậy cho Trung Quốc, xâm hại đến chủ quyền của Việt Nam. Không thể yêu cầu Công an Đà Lạt vì dân phải cam kết với họ. Yêu cầu Bộ Công an điều tra gấp, tìm ra kẻ chủ mưu để xử lý theo pháp luật. Nếu đây cũng lại là chỉ thị của Bộ Công an thì Quốc hội phải vào cuộc, thành lập đoàn công tác điều tra vụ này.
20/2/2016
Nguyễn Tường Thụy

Posted in Bắt bớ-Tù Đày-Đánh đập-Đàn Áp, Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa, Công An | Leave a Comment »

►Quan hệ Xô -Trung từ 1950-1978 và cuộc chiến tranh biên giới Việt-Trung tháng2/1979

Posted by hoangtran204 on 15/02/2016

Những điều chưa biết về cuộc chiến biên giới VN-TQ năm 1979

BBC 

17-2-2006

Đúng 27 năm trước đây, ngày 17-2-1979, Trung Quốc đưa quân tràn qua biên giới Việt Nam sau nhiều tuần căng thẳng.

Trong nhiều năm, nguồn tư liệu của phía Trung Quốc về cuộc chiến vẫn thuộc vào hàng danh sách mật, và thông tin chính thức chỉ có lẻ tẻ.

Tuy vậy, gần đây nhiều tư liệu lưu hành nội bộ về cuộc chiến năm 1979 đã được công bố, cộng thêm một số hồi ký của các sĩ quan cao cấp.

Một trong những câu hỏi chưa có lời giải đáp chi tiết là khi nào và làm thế nào Bắc Kinh đã ra quyết định có hành động quân sự chống Việt Nam.

Những tư liệu mới

Trong hồi ký của Zhou Deli, tham mưu trưởng của Quân khu Quảng Châu, nhớ lại rằng vào tháng Chín 1978, một cuộc họp về “cách giải quyết vấn đề lãnh thổ bị quân Việt Nam chiếm đóng” đã diễn ra tại văn phòng tham mưu trưởng quân đội nhân dân Trung Quốc.

Sự tập trung ban đầu là nhắm vào cuộc xung đột biên giới, và đề xuất đầu tiên muốn có một cuộc tấn công nhỏ vào một trung đoàn Việt Nam ở Trùng Khánh, ráp gianh Quảng Tây.

Quân%20đội%20Việt%20Nam%20ở%20Campuchia
Tư liệu mới đặt giả thiết Trung Quốc ra quyết định trước khi Việt Nam tấn công Campuchia

Nhưng theo hồi kí của Zhou Deli, sau khi nhận được tin tình báo cho biết Việt Nam sẽ tấn công Campuchia, đa số người dự họp cho rằng một cuộc tấn công cần có tác động lớn đến Hà Nội và tình hình Đông Nam Á.

Họ đề nghị tấn công vào một đơn vị quân chính quy Việt Nam ở một khu vực địa lý rộng hơn.

Mặc dù cuộc họp kết thúc mà không đưa ra quyết định nào, nhưng nó tạo tiền đề cho kế hoạch chiến tranh sau đó.

Tháng 11-1978, Đặng Tiểu Bình công du Thái Lan, Malaysia và Singapore. Trong chuyến đi, ông Đặng nói với các vị chủ nhà rằng Trung Quốc sẽ dùng vũ lực nếu Việt Nam tấn công Campuchia.

Ngày 7-12, Ủy ban quân ủy trung ương có cuộc họp và quyết định mở một cuộc chiến hạn chế ở vùng biên giới phía nam của Trung Quốc.

Ngày hôm sau, họ ra lệnh cho các Quân khu Quảng Châu và Côn Minh tiến hành chiến dịch và chuẩn bị quân đầy đủ trước ngày 10-1-1979.

Chỉ thị nói rằng cuộc chiến sẽ tiến hành một cách hạn chế, trong phạm vi 50 cây số từ biên giới và kéo dài hai tuần.

Trong một nghiên cứu có thể nói là mới nhất về cuộc chiến Việt Trung 1979, vừa ra mắt tháng 12 năm ngoái, tác giả Xiaoming Zhang bình luận rằng thời điểm ra lệnh này chứng tỏ Trung Quốc phản ứng trước cuộc tấn công sắp xảy ra của Việt Nam vào Campuchia. Nhưng việc mở chiến dịch quân sự cả trước khi quân Việt Nam vượt qua sông Mêkông cũng cho thấy phản ứng của Bắc Kinh xuất phát từ nhiều năm bực bội vì hành vi của Việt Nam mà họ cho rằng đã “vô ơn” trước sự giúp đỡ trước đây.

Quyết định cụ thể

Tư liệu mới cho biết trong một cuộc họp vào ngày cuối năm 1978, Đặng Tiểu Bình chính thức đề nghị một cuộc chiến chống Việt Nam.

Tại cuộc họp này, ông Đặng bổ nhiệm Xu Shiyou lãnh đạo quân từ Quảng Tây, Yang Dezhi lãnh đạo quân từ Vân Nam. Quyết định này đã bỏ qua Wang Bicheng, lãnh đạo Quân khu Côn Minh.

Không có một sự lãnh đạo tập trung, hai quân khu này sẽ tác chiến độc lập, gần như không có sự hợp tác.

Cuộc họp cũng nhắc lại rằng cuộc xâm lấn phải nhanh, và toàn bộ quân phải rút về sau khi hoàn tất mục tiêu chiến thuật.

Ngay sau cuộc họp, Đặng Tiểu Bình gửi hai sĩ quan cao cấp đến Vân Nam và Quảng Tây kiểm tra tình hình.

Lo lắng trước sự trễ nải của quân lính, người kiểm tra ra đề nghị hoãn cuộc tấn công thêm một tháng.

Người kiểm tra này, Zhang Zhen, viết trong hồi kí năm 2003 rằng cấp trên đồng ý hoãn cuộc tấn công đến giữa tháng Hai 1979.

Ngày 23-1, Bộ Tổng tham mưu Trung Quốc họp và quyết định quân đội phải sẵn sàng hành động trước ngày 15-2.

Hai ngày sau khi ông Đặng trở về sau chuyến thăm Mỹ và Nhật, hôm 11-2-1979, ông ra quyết định sẽ tấn công Việt Nam vào ngày 17-2.

Lệnh này được gửi đến Quảng Tây và Vân Nam.

Nhiều nhà quan sát trước đây đã phân tích vì sao Trung Quốc chọn thời điểm này.

Có vẻ nó liên quan đến yếu tố thời tiết: sẽ khó khăn nếu đưa quân tác chiến vào mùa mưa, thường bắt đầu từ tháng Tư, và cũng không ổn nếu tấn công quá sớm khi quân Liên Xô có thể vượt dòng sông băng dọc biên giới Xô – Trung.

———-

Sự xâm lược của Trung Quốc vào Việt Nam – tháng Hai 1979

Bruce Elleman

Các mối quan hệ giữa Trung Quốc và Việt Nam bắt đầu xấu đi nghiêm trọng vào giữa thập niên 1970. Sau khi Việt Nam gia nhập Hội đồng tương trợ Kinh tế (Comecon) do Liên-xô chi phối và ký kết Hiệp ước hữu nghị và hợp tác với Liên Xô năm 1978, Trung Quốc đính cho Việt Nam cái danh “Cuba phương Đông” và gọi Hiệp ước nầy là một liên minh quân sự. Các biến cố dọc theo biên giới Trung-Việt Nam tăng lên thường xuyên và dữ dội hơn. Tháng mười hai 1978 Việt Nam xâm lược Campuchia, nhanh chóng lật đổ chế độ Pol Pot do Bắc Kinh ủng hộ, và chiếm đóng nước nầy.

Cuộc tấn công bất ngờ 29 ngày của Trung Quốc vào Việt Nam trong tháng Hai 1979 là một phản ứng lại với cái mà Trung Quốc coi là một loạt hành động và chính sách khiêu khích của phía Hà Nội.  Những điều nầy bao gồm sự thân mật của Việt Nam với Liên Xô, sự kỳ thị Hoa kiều sống tại Việt Nam, “giấc mơ đế quốc ” có tính bá quyền tại khu vực Đông Nam Á và khước từ nổ lực của Bắc Kinh trong việc hồi hương Hoa kiều ở Việt Nam về Trung Quốc.

Vào tháng Hai 1979 Trung Quốc tấn công hầu như toàn tuyến biên giới Việt -Trung trong một chiến dịch ngắn ngày và giới hạn với lực lượng trên bộ. Trung Quốc tấn công vào rạng sáng ngày 17/02/1979 với bộ binh, xe tăng và pháo binh. Không lực đã không tham gia lúc đó cũng như trong suốt cuộc chiến. Trong vòng một ngày, Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc (PLA) đã tiến sâu vào Việt Nam khoảng 8 km trên toàn mặt trận.  Sau đó bước tiến chậm lại và hầu như sa lầy bởi sự kháng cự mạnh mẽ của Việt Nam và do những khó khăn trong hệ thống hậu cần của Trung Quốc.

Vào ngày 21/02/1979, có một bước tiến ở Cao Bằng vùng cực bắc và ở các nơi khác, đặc biệt là khu vực trung tâm Lạng Sơn.  Quân Trung Quốc đã tiến vào Cao Bằng ngày 27/02, nhưng thành phố này chưa thất thủ cho đến ngày 02/03. Lạng Sơn thất thủ hai ngày sau đó.  Ngày 05/03, Trung Quốc nói rằng Việt Nam đã bị trừng trị đích đáng, và họ thông báo rằng chiến dịch đã hoàn tất. Bắc Kinh tuyên bố “bài học” đã kết thúc và QGPNDTQ rút hoàn toàn vào ngày 16/03.

sau cuộc tấn công biên giới bất ngờ, Hà Nội miêu tả là Bắc Kinh đã thất bại về quân sự nếu không nói là thất bại hoàn toàn. Hầu hết các nhà quan sát hoài nghi rằng Trung Quốc sẽ mở một cuộc chiến khác với Việt Nam trong tương lai gần. Gerald Segal, trong cuốn sách Trung Quốc xuất bản 1985 đã kết luận rằng cuộc tấn công Việt Nam năm 1979 của Trung Quốc đã thảm bại: “Trung Quốc không ép được Việt Nam rút quân [từ Campuchia về], không thành công trong việc kết thúc xung đột biên giới, không loại được mối nghi ngờ về sức mạnh của cường quốc Xô-viết, không xóa được hình ảnh Trung Quốc chỉ là con hổ giấy, và không lôi kéo được Hoa Kỳ vào một liên minh anti-Xô-viết. Tuy nhiên, Bruce Elleman cải lại rằng, “một trong những điểm cơ bản về ngọại giao đằng sau cuộc tấn công của Trung Quốc là đã phô ra cho thấy: những lời bảo đảm của Xô viết về quân sự cho Việt Nam chỉ là dối trá. Theo lăng kính nầy, chính sách của Bắc Kinh đã thực sự thành công về ngoại giao, một khi Moscow không can thiệp tích cực, và như vậy nó cho thấy cái hạn chế thực tế của Hiệp ước Xô-Việt 1978. Trung Quốc đã đạt được một thắng lợi có tính chiến lược trong tương lai bằng cách giảm thiểu khả năng về một cuộc chiến hai mặt trận với Liên-xô và Việt Nam. “

Sau chiến tranh, cả hai phía Trung Quốc và Việt Nam tái tổ chức  bảo vệ biên giới của mình. Năm 1986 Trung Quốc triển khai 25 đến 28 sư đoàn  và Việt Nam có 32 sư đoàn đóng dọc theo đường biên giới chung.

Cuộc tấn công 1979 đã xác nhận sự sáng suốt của Hà Nội khi cho rằng Trung Quốc là một mối đe dọa. QĐNDVN kể từ đó có một yêu cầu cao, dự trù kế hoạch, mà theo đó Trung Quốc có thể tấn công lần nữa và lần nầy không phải hành quân bộ mà là có thể lái xe vào đến Hà Nội. Các cuộc chiến tranh biên giới đã làm tăng cường các quan hệ Việt-Xô. Vai trò quân sự của Liên-Xô tại Việt Nam trong năm 1980 tăng lên, như họ cung cấp vũ khí cho Việt Nam; hơn nữa, tàu Xô viết hay cập các cảng Đà Nẵng và vịnh Cam Ranh, và máy bay trinh sát Liên-xô hoạt động bên ngoài không phận Việt Nam. Việt Nam đáp trả chiến dịch của Trung Quốc bằng cách biến các huyện dọc theo biên giới Trung Quốc thành “pháo đài thép” do các đội quân trú đóng có trang bị đầy đủ và huấn luyện tốt. Tổng cộng, ước lượng có khoảng 600.000 quân đã được bố trí để đối phó với các hoạt động của Trung Quốc và sẵn sàng chặn đứng một cuộc xâm lược khác Trung Quốc. Khó xác định chính xác qui mô hoạt động ở biên giới, nhưng các chi phí của Việt Nam là khá lớn.

Cho đến trước năm 1987 Trung Quốc đã bố trí chín quân đoàn (khoảng 400.000 quân) trên khu vực biên giới Việt-Trung, kể cả dọc theo bờ biển. Họ cũng tăng cường hạm đội và định kỳ diễn tập đổ bộ ở đảo Hải Nam đối diện với Việt Nam, do đó cho thấy một cuộc tấn công trong tương lai có thể là từ biển.

Sự xung đột ở mức độ thấp tiếp tục dọc theo biên giới Trung-Việt như hai bên tiến hành pháo kích và do thám cao điểm trong khu vực núi non biên giới.  Các vụ chạm súng ở biên giới gia tăng dữ dội trong suốt mùa mưa khi Bắc Kinh nổ lực giảm thiểu áp lực của Việt Nam đối với quân kháng chiến Campuchia.

Từ đầu năm 1980, Trung Quốc theo đuổi những điều mà một số nhà quan sát mô tả như là một chiến dịch nửa bí mật chống lại Việt Nam, đó là mức gia tăng cao hơn trong một loạt các cuộc quấy rối ở biên giới nhưng ở mức dưới quy mô một chiến tranh có giới hạn. Việt Nam gọi nó là “chiến tranh phá hoại nhiều mặt.” Các quan chức Hà Nội đã mô tả các cuộc tấn công bao gồm quấy rối thường xuyến bằng cách pháo kích, cho các phân đội bộ binh nhỏ xâm nhập vào nội địa, xâm nhập hải phận, gài mình và thả thủy lội trên đất liền và dưới biển. Hoạt động bí mật của Trung Quốc (về mặt “phá hoại”) đa phần hướng đến các dân tộc thiểu số ở khu vực biên giới. Theo báo chí Hà Nội, các nhóm thám báo Trung Quốc phá hoại có hệ thống những nơi sản xuất nông nghiệp tập trung miền núi cũng như các cảng đường sông, giao thông vận tải, phương tiện thông tin liên lạc. Các hoạt động tâm lý chiến là một phần tất yếu của chiến dịch. Việt Nam gọi là “phá hoại kinh tế” bao gồm – khuyến khích dân làng Việt Nam ở dọc biên giới đi buôn lậu, đầu cơ tiền tệ, và tích trữ hàng tiêu dùng.

————-

Quan hệ Xô Trung và cuộc xung đột Trung-Việt tháng 2/1979

Bruce Elleman

20/4/1996

Ngưòi dịch: Đỗ Thúy

 

Trong cuốn Defending China (Bảo vệ Trung Quốc) phát hành năm 1985, Gerald Segal kết luận rằng cuộc chiến tranh chống Việt Nam của Trung Quốc năm 1979 là một thất bại hoàn toàn: “Trung Quốc đã không thể buộc Việt Nam phải rút quân khỏi Campuchia, không chấm dứt được các cuộc đụng độ ở biên giới, không tạo được sự nghi ngờ về sức mạnh của Liên Xô, không xua đi được hình ảnh về Trung Quốc là một con hổ giấy, và không kéo được Mỹ vào một liên minh chống Liên Xô.

Với mục đích phản bác quan điểm nêu trên rằng chính sách của Bắc Kinh là một sai lầm, bài viết này sẽ đánh giá lại vai trò trung tâm của mối quan hệ Trung-Nga đối với quyết định tấn công Việt Nam của Trung Quốc. Quan trọng nhất, bài viết sẽ chỉ ra việc chọn thời điểm 17/2 của Trung Quốc để tấn công Việt Nam là có liên hệ với dấu mốc 29 năm ký Hiệp ước Hữu nghị, Liên minh và Tương trợ Xô-Trung năm 1950.

Cần nhớ lại rằng ngày 14/2/1950, Bắc Kinh và Mátxcơva ký một hiệp ước 30 năm trong đó có những điều khoản bí mật ủng hộ Liên Xô đóng vai trò lãnh đạo của phong trào cộng sản thế giới. Khi Mátxcơva sau đó từ chối đàm phán trở lại các tranh chấp lãnh thổ Xô-Trung, việc này đã dẫn tới các vụ đụng độ ở biên giới hai nước, mà quan trọng nhất là thời kỳ cuối thập kỷ 1960.

Các học giả phương Tây thường không thấy được rằng kể cả trong thời kỳ diễn ra những căng thẳng này trong quan hệ Xô-Trung, Hiệp ước Hữu nghị, Liên minh và Tương trợ năm 1950 vẫn có đầy đủ hiệu lực trong suốt toàn bộ thời kỳ bất ổn này. Ít nhất từ quan điểm của Bắc Kinh, Hiệp ước Xô-Trung 1950 vẫn là một công cụ chính để cho Mátxcơva tìm cách áp đặt bá quyền đối với Trung Quốc.

Mátxcơva rõ ràng quan ngại điều gì sẽ xảy ra khi hiệp ước Xô-Trung không còn hiệu lực sau 30 năm. Bắt đầu từ năm 1969, Liên Xô thường xuyên hối thúc Trung Quốc thay thế hiệp ước năm 1950 bằng một hiệp ước mới. Năm 1978, các lực lượng Liên Xô được tăng cường dọc theo biên giới Xô-Trung và Trung Quốc-Mông Cổ. Mátxcơva cũng tìm cách buộc Bắc Kinh phải chấp nhận các điều kiện do mình đặt ra bằng cách tăng cường quan hệ ngoại giao với Hà Nội, ký hiệp ước phòng thủ có giá trị 25 năm với Việt Nam vào ngày 3/11/1978.

Tuy nhiên, thay vì xuống nước, Trung Quốc tuyên bố ý định tấn công Việt Nam vào ngày 15/2/1979, ngày đầu tiên mà Trung Quốc có thể kết thúc một cách hợp pháp Hiệp ước Xô-Trung 1950 và tấn công Việt Nam ba ngày sau đó. Khi Mátxcơva không can thiệp, Bắc Kinh tuyên bố công khai rằng Liên Xô đã không thực hiện nhiều lời hứa trợ giúp Việt Nam. Việc Liên Xô không trợ giúp Việt Nam đã khiến Trung Quốc mạnh dạn tuyên bố vào ngày 3/4/1979 ý định chấm dứt Hiệp định Hữu nghị, Liên minh và Tương trợ Xô-Trung năm 1950.

Thay vì chấp nhận ý kiến rằng cuộc tấn công Việt Nam năm 1979 của Trung Quốc là một thất bại hoàn toàn, bài viết này sẽ chỉ ra rằng một trong các mục tiêu ngoại giao chính đằng sau cuộc tấn công của Trung Quốc là để người ta thấy rằng việc đảm bảo trợ giúp quân sự của Liên Xô đối với Việt Nam chỉ là dối trá. Dưới góc độ này thì chính sách của Bắc Kinh là một thành công thực sự, do Mátxcơva đã không tích cực can thiệp, và do đó thể hiện những hạn chế trên thực tế của hiệp ước quân sự Xô-Việt. Kết quả là, bài viết này sẽ chỉ ra rằng Trung Quốc đã đạt được một chiến thắng chiến lược bằng việc giảm thiểu khả năng trong tương lai của một cuộc chiến tranh trên hai mặt trận chống Liên Xô và Việt Nam, và cũng là một thằng lợi ngoại giao bằng việc chấm dứt Hiệp ước Xô-Trung năm 1950.

Bài viết này cũng sẽ đánh giá lại tuyên bố của Bắc Kinh rằng việc Liên Xô đã không can thiệp chống Trung Quốc đã cho thấy Liên Xô thực chất chỉ là “một con gấu giấy.” Các tư liệu được giải mật gần đây của Liên Xô có xu hướng phù hợp với tuyên bố của Trung Quốc, nó đưa đến một câu hỏi quan trọng là liệu BắcKinh đã xác định được chính xác những dấu hiệu ở Viễn Đông về sự suy yếu trong nội bộ của Mátxcơva – chính sự suy yếu cuối cùng đã dẫn đến sự sụp đổ của Liên Xô năm 1991 – hay chưa vào năm 1979 – nhiều năm trước khi bằng chứng về sự suy yếu này trở nên rõ ràng trên vũ đài châu Âu. Nếu như vậy thì tồn tại khả năng rằng “sự bắt đầu kết thúc” của Chiến tranh Lạnh thực sự diễn ra ở châu Á.

Sơ lược lịch sử quan hệ Xô-Trung cuối những năm 1960

Quan hệ Xô-Trung cuối những năm 1960 xấu đi không chỉ bởi sự bất đồng sâu sắc về quy chế của vùng Ngoại Mông (Outer Mongolia), mà còn bởi rất nhiều tranh chấp chủ quyền dọc theo biên giới Xô-Trung. Thực tế, những xung đột này đã mang mầm mống ung nhọt bên dưới bề mặt của mối quan hệ Xô-Trung trong hơn một thế kỷ, kể từ khi Đế chế Nga buộc Trung Quốc phải ký một loạt các hiệp ước nhượng lại nhiều phần lãnh thổ rộng lớn của mình. Theo tác giả S. C. M Paine trong cuốn Imperial Rivals (Các đế quốc đối thủ) sắp phát hành: “Đối với Trung Quốc, những phần lãnh thổ bị mất là rất lớn: một vùng rộng hơn cả phần phía đông sông Mississipi của nước Mỹ đã trở thành lãnh thổ của Nga, hoặc, như trong trường hợp Ngoại Mông, đặt dưới sự bảo hộ của Nga.”

Trên thực tế, các bản được công bố của hiệp ước Xô-Trung đã không đưa vào các nghị định thư bí mật. Ấn bản Mùa đông 1995 của Bản tin Dự án Nghiên cứu Lịch sử Quốc tế thời Chiến tranh Lạnh (Cold War International History Project Bulletin) có trích một đoạn lời của Mao Trạch Đông nói về các cuộc đàm phán bí mật Xô-Trung:

Trong các cuộc đàm phán, theo sáng kiến của Stalin, Liên Xô đã tìm cách chiếm quyền sở hữu chính đối với Railway Changchun (tức Harbin). Tuy nhiên, sau đó một quyết định được đưa ra về việc khai thác chung … Railway, bên cạnh đó Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa trao cho Liên Xô căn cứ hải quân ở Cảng Arthur, và bốn công ty cổ phần được mở ở Trung Quốc. Theo sáng kiến của Stalin, … Manchuria và Xinjiang trên thực tế được đưa vào phạm vi ảnh hưởng của Liên Xô.

Do đó, mặc dù phần công khai của Hiệp ước Xô-Trung 1950 đã được biết đến từ lâu, nhưng cũng không rõ có bao nhiêu nghị định thư bí mật đã được ký kết. Cho đến nay, các nghị định thư này chưa bao giờ được công bố. (Bruce Elleman, “Sự kết thúc của Đặc quyền Ngoại giao ở Trung Quốc: Trường hợp của Liên Xô, 1917-1960,” Nước Trung Hoa Cộng hòa (sắp phát hành, Spring 1996).

Ngày15/2/1950, Mao miễn cưỡng đồng ý công nhận “quy chế độc lập” của Cộng hòa Nhân dân Mông Cổ. Tuy nhiên, việc này không hề có nghĩa là công nhận sự độc lập hoàn toàn của Mông Cổ đối với Trung Quốc, vì Mao tin chắc rằng chính phủ Liên Xô trước đó đã hứa trả Mông Cổ về cho Trung Quốc. Dựa trên những phàn nàn sau này của Mao, có thể thấy hẳn Mao đã nhận được sự đảm bảo từ Stalin rằng tình trạng của Mông Cổ, cũng như vị trí đích xác của các đường biên giới Trung Quốc-Mông Cổ và Trung Quốc-Liên Xô, sẽ được bàn thảo trong các cuộc gặp trong tương lai. Do đó, chính việc Mátxcơva từ chối mở các cuộc đàm phán với Bắc Kinh cuối cùng đã dẫn đến những cuộc đụng độ trong các thập kỷ 1950 và 1960. Dù vấn đề biên giới Trung Quốc-Mông Cổ đã được giải quyết năm 1962, Mao vẫn công khai lên án những hành động xâm lấn của Liên Xô vào lãnh thổ Trung Quốc và phản đối việc Liên Xô kiểm soát Mông Cổ rằng: “Liên Xô, với lý do đảm bảo sự độc lập của Mông Cổ, trên thực tế đã đặt đất nước này dưới sự thống trị của mình.”

Cuối những năm 1960, trong một loạt các sự cố ở biên giới dọc theo các con sông Ussuri và Amur, Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc (PLA) đã thể hiện sự kiên cường đáng ngạc nhiên trước Hồng Quân Liên Xô. Các cuộc xung đột này tuy nhỏ về phạm vi và không có kết cục rõ ràng, nhưng đã dẫn đến các cuộc xung đột lãnh thổ sau này ở Xinjiang dọc biên giới Trung Quốc với Liên Xô.

Mặc dù căng thẳng trong quan hệ Xô-Trung lớn đến mức nhiều học giả phương Tây gọi đó là “chia rẽ”, nhưng Hiệp ước Xô-Trung 1950 vẫn tiếp tục có hiệu lực. Trên thực tế, hiệp ước này, gồm cả các nội dung được công bố công khai lẫn các phần bí mật, vẫn là nền móng làm cơ sở cho quan hệ Xô-Trung. Tuy nhiên, nền móng này không vững chắc ngay từ ban đầu, do Liên Xô đã từ chối trả lại các phần lãnh thổ mà Sa Hoàng đoạt được trước đây về cho Trung Quốc. Có thể cho rằng chính vấn đề này chứ không phải điều gì khác đã kiến các nhà lãnh đạo Trung Quốc lên án “bá quyền” của Liên Xô ở vùng Viễn Đông. Và cũng chính vấn đề này đã gây ra căng thẳng trong quan hệ giữa Trung Quốc và Việt Nam trong những năm 1970.

Quan hệ Xô-Trung trong những năm 1970

Những tranh chấp biên giới Xô-Trung cuối những năm 1960 làm Mátxcơva và Bắc Kinh lo lắng, vì cả Liên Xô và Trung Quốc đều là các cường quốc hạt nhân; dường như có một sự đồng thuận không chính thức là không bên nào dùng đến sức mạnh không quân. (Christian F. Ostermann, “New Evidence on The Sino-Soviet Border Dispute,” Cold War International History Project Bulletin, Issue 5 (Spring 1995), 186-193.)

Tuy nhiên, các xung đột biên giới Xô-Trung này đã để lại những hậu quả rất lớn về xã hội, khiến cả hai quốc gia phải sử dụng những nguồn lực hiếm hoi để chuẩn bị cho một cuộc chiến tranh hạt nhân có thể xảy ra hoặc cho sự leo thang quân sự trong tương lai dọc theo các đường biên giới chung. Sự vững tin mới có được của PLA về khả năng có thể chống chọi được Hồng Quân Liên Xô cũng cho phép Bắc Kinh có cơ hội trong năm 1971 thực hiện chính sách đối ngoại mới thúc đẩy quan hệ thân thiện với Mỹ.

Ngoài ra, Trung Quốc cũng nỗ lực để cải thiện quan hệ với Nhật Bản, ký kết một hiệp ước vào tháng 8/1978 với nội dung dường như có tính chất chỉ trích chính sách đối ngoại của Liên Xô ở châu Á bằng việc lên án đích danh “chủ nghĩa bá quyền”. Cuối cùng, những căng thẳng Xô-Trung cũng đưa đến một số cuộc chiến tranh qua tay người khác ở Đông Nam Á, chẳng hạn như cuộc xung đột cuối những năm 1970 giữa Việt Nam và Campuchia, cũng như khiến Trung Quốc phải chấp nhận vai trò cường quốc khu vực của mình, trong đó thể hiện rõ nhất bằng cuộc tấn công Việt Nam năm 1979 nhằm cản trở ảnh hưởng đang tăng lên của Liên Xô.

Trong suốt những năm 1970, những căng thẳng Xô-Trung vẫn ở mức cao. Trong thời kỳ này, Mátxcơva cố gắng thuyết phục Bắc kinh đàm phán một hiệp ước mới hỗ trợ, hoặc thay thế, Hiệp ước Xô-Trung năm 1950. Bắt đầu từ năm 1969 và 1970, Mátxcơva đề xuất rằng hai bên cam kết không tấn công lẫn nhau, và đặc biệt là không dùng đến vũ khí hạt nhân. Tuy nhiên, khi Bắc Kinh không thể hiện bất cứ sự quan tâm nào đến thỏa thuận này, năm 1971 Mátxcơva đề xuất việc hai nước kí một hiệp ước mới cùng nhau từ bỏ việc sử dụng vũ lực. Sau đó, năm 1973 Mátxcơva thể hiện sự quan tâm bằng đề xuất cụ thể rằng hai nước ký một hiệp ước không tấn công lẫn nhau; Bắc Kinh tiếp tục phớt lờ các bước đi của Mátxcơva.

Khi thời hạn 30 năm của Hiệp ước Xô-Trung sắp kết thúc, các nỗ lực của Liên Xô nhằm thay thế hiệp ước này tăng lên đáng kể. Thí dụ, ngày 24/2/1978, Mátxcơva công khai đè xuất hai chính phủ ra một tuyên bố về các nguyên tắc cho quan hệ Xô-Trung. Các nguyên tắc này bao gồm: 1) bình đẳng; 2) tôn trọng chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau; 3) không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau; 4) không sử dụng vũ lực. Mátxcơva rõ ràng hy vọng rằng một tuyên bố như vậy có thể được sử dụng để thay thế cho Hiệp ước Xô-Trung 1950 nhằm điều chỉnh các quan hệ Xô-Trung. Tuy nhiên, mục tiêu cao nhất trong các đề xuất của Liên Xô rõ ràng là nhằm hạn chế, hoặc thậm chí là làm giàm, ảnh hưởng đang lên của Trung Quốc ở châu Á. (Theo Chang Pao-min, khía cạnh này trong chính sách của Liên Xô đối với Trung Quốc là điều hấp dẫn nhất đối với Việt Nam, thậm chí còn trích lời một quan chức Việt Nam nói rằng: “Rõ ràng lợi ích của Liên Xô có sự song trùng rất lợi với lợi ích của Việt Nam – giảm ảnh hưởng của Trung Quốc trong phần này của thế giới.” Chang Pao-min, Kampuchea Between China and Vietnam (Singapore, Singapore University Press, 1985), 46-47.)

Tuy nhiên, Bắc Kinh từ chối mọi lời đề nghị của Mátxcơva và trong suốt những năm 1970 Trung Quốc lên án Liên Xô bằng những lời lẽ mạnh bạo hơn. Thí dụ, tháng 2/1974, Mao Trạch Đông công khai kêu gọi thành lập một liên minh “thế giới thứ ba” chống lại cái gọi là “thế giới thứ nhất”, trong trường hợp này bao giồm cả Liên Xô và Mỹ. Tuy nhiên, sau khi Mao chết, tờ Nhân dân Nhật báo ra ngày 1/11/1977 có bài viết coi Liên Xô là kẻ thù nguy hiểm nhất của Trung Quốc trong khi Mỹ được coi là một đồng minh. Tất cả các nước xã hội chủ nghĩa – trong đó đặc biệt là Việt Nam (“Sự đổ vỡ trong quan hệ giữa Việt Nam với Trung Quốc sau năm 1975 và liên minh hiện tại của Việt Nam với Liên Xô có thể xuất phát từ sự phản kháng của Việt Nam trước sức ép của Trung Quốc đòi Việt Nam phải chọn một trong hai bên.” Ramesh Thaku and Carlyle Thayer, Soviet Relations with India and Vietnam (New York, St. Martin’s Press, 1992), 287) – cũng được coi là các đồng minh tiềm năng trong một “mặt trận thống nhất” chống Liên Xô. Cuối cùng, ngày 26/3/1978, Bộ Ngoại giao Trung Quốc yêu cầu Mátxcơva, ben cạnh việc thừa nhận sự tồn tại của “các khu vực tranh chấp” dọc đường biên giới Xô-Trung, phải rút hoàn toàn quân đội của mình khỏi Cộng hòa Nhan dân Mông Cổ, cũng như rút khỏi đường biên giới Xô-Trung.

Đáp lại trước những đòi hỏi của Trung Quốc, đầu tháng 4/1978 Tổng Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô Leonid Brezhnev đi thăm Siberia và thông báo rằng các thiết bị mới, tân tiến hơn đã được cung cấp cho các đơn bị tên lửa đóng dọc theo biên giới Xô-Trung. Theo Brezhnev, các vũ khí mới sẽ là phương tiện để “tự bảo vệ chúng tôi và những người bạn xã hội chủ nghĩa chống lại sự xâm lược có thể xảy ra từ bất cứ quốc gia nào.” Ngay sau đó, ngày 12/4/1978, Ulan Bator cũng công khai phản đối những đòi hỏi của Bắc Kinh, tuyên bố rằng Liên Xô đã bổ sung quân đội tới các bị trí dọc theo đường biên giới Mông Cổ-Ấn Độ theo đề nghị của Mông Cổ nhằm đối phó với việc Trung Quốc tăng quân ở vùng phía nam biên giới.

Đúng như những gì mà các sự kiện này cho thấy một cách khá rõ ràng, đến năm 1978 những căng thẳng biên giới Xô-Trung đã tăng lên đáng kể, chủ yếu là do việc Liên Xô tăng cường điều quân đóng dọc theo biên giới Xô-Trung và tại Mông Cổ. Ở phạm vi lớn hơn, tình trạng này có thể được giải thích bằng những nỗ lực không ngừng của Mátxcơva nhằm ép Bắc Kinh không chấm dứt Hiệp ước Xô-Trung 1950, điều đã diễn ra trong năm 1979, hoặc tốt hơn là đàm phán một hiệp ước mới với những nguyên tắc làm cơ sở cho quan hệ Xô-Trung trong tương lai. Tuyên bố của Brezhnev rằng ông có ý định sử dụng các lực lượng Xô Viết chống lại Trung Quốc vì “những người bạn xã hội chủ nghĩa” của Mátxcơva cũng là một lời cảnh báo tới Bắc Kinh để họ phải buông Mông Cổ cũng như các đồng minh của Mátxcơva ở Đông Nam Á.

Trung Quốc không những không khuất phục dưới sức ép ngoại giao và quân sự của Liên Xô mà còn tìm cách gây áp lực ngoại giao lại với Mátxcơva bằng việc củng cố quan hệ với cả Mỹ và Nhật Bản. Có thể nói rằng chính sách của Bắc Kinh đã thành công hơn và kết quả là việc Bắc Kinh ký các thỏa thuận quan trọng với cả Oasinhtơn và Tôkiô. Đối với Mátxcơva, rõ ràng các thỏa thuận mới này của Trung Quốc là nhằm chống Liên Xô, do – ít nhất trong trường hợp hiệp ước Trung-Nhật – cả hai bên trực tiếp lên án “chủ nghĩa bá quyền”, thuật ngữ mà Trung Quốc thường dùng để chỉ sự bành trướng của Liên Xô. Đối sách của Liên Xô là tăng cường quan hệ ngoại giao với tất cả các nước Đông Nam Á có biên giới chung với Trung Quốc, trong đó quan trọng nhất là Việt Nam.

Quan hệ Xô-Trung và Việt Nam tháng 2/1979

Mặc dù Trung Quốc có thể không phải là một bên tham gia trong cuộc xung đột Việt Nam những năm 1960 và 1970, nhưng sự giúp đỡ về kinh tế và vật chất của Trung Quốc cho Việt Nam đóng một vai trò hết sức quan trọng. Trung Quốc không chỉ cử binh lính sang giúp Việt Nam duy trì các đường tiếp tế, mà ước tính sự giúp đỡ về vật chất của Bắc Kinh cho Hà Nội từ năm 1950 đến 1978 đã vượt quá 20 tỉ USD (King C. Chen, China’s War with Vietnam, 1979 (Stanford, CA, Hoover Institution Press, 1987), 27). Do vậy, không mấy khó hiểu tại sao Bắc Kinh cảm thấy phật ý trước quan hệ ngày càng gần gũi giữa Mátxcơva và Hà Nội cuối những năm 1970.

Điều này đặc biệt đúng sau khi hai nước ký một hiệp ước phòng thủ chung vào ngày 3/11/1978 mà rõ ràng nhằm vào Trung Quốc. Theo một học giả, liên minh Xô-Việt đã khiến Việt Nam trở thành chiếc “trục” trong “cỗ xe kiềm chế Trung Quốc” của Liên Xô. (Robert A. Scalapino, “The Political Influence of the USSR in Asia,” in Donald S. Zagoria, ed., Soviet Policy in East Asia (New Haven, Yale University Press, 1982), 71) Do đó, dưới cách nhìn của Trung Quốc, nỗ lực của Mátxcơva nhằm bao vây Trung Quốc về mặt ngoại giao dường như đã sắp thành công. Nhận thức này đã dẫn đến việc Trung Quốc tấn công Việt Nam tháng 2/1979.

Mặc dù quan hệ ngoại giao giữa Bắc Kinh và Hà Nội trong những năm 1960 và đầu 1970 nhìn chung là tốt, nhưng những khác biệt về chính sách giữa Trung Quốc và Việt Nam trở nên lớn hơn sau khi chế độ Sài Gòn sụp đổ tháng 4/1975. Tháng 9 năm đó, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Lê Duẩn đi Bắc Kinh và trong một loại các cuộc gặp trong chuyến đi đó, rõ ràng rằng Trung Quốc rất lo ngại về quan hệ gần gũi giữa Việt Nam với Liên Xô. Mặc dù quan hệ tiếp tục xấu đi trong những năm tiếp theo, nhưng bất đồng giữa Trung Quốc với Việt Nam chỉ trở nên rõ ràng khi hàng nghìn người Hoa bắt đầu rời Việt Nam vào mùa xuân và mùa hè năm 1978. Ngoài ra, những tranh chấp lãnh thổ đối với quần đảo Trường Sa, cũng như việc Việt Nam đánh Campuchia, cũng làm gia tăng căng thẳng Việt-Trung.

Trong khi đó, những dấu hiệu gia tăng về quan hệ hợp tác Xô-Việt cũng xuất hiện vào mùa hè năm 1978, khi Việt Nam tỏ ý muốn trở thành thành viên của khối COMECON. Bên cạnh đó, các nguồn tin của chính phủ Mỹ nói rằng đến tháng 8/1978 đã có tới 4,000 chuyên gia Liên Xô ở Việt Nam. Tháng 9/1978, Liên Xô bắt đầu tăng cường các chuyến hàng chở vũ khí tới Việt Nam, cả bằng đường biển và đường không, bao gồm “máy bay, tên lửa, xe tăng và đạn dược.” Cuối cùng, tất cả các dấu hiệu của việc tăng cường quan hệ Việt-Xô lên đến đỉnh điểm ngày 3/11/1978 với việc Việt Nam và Liên Xô ký Hiệp ước Hữu nghị và Hợp tác. Rõ ràng hiệp ước này là nhằm vào Trung Quốc, bởi tại điều 6 nên rằng Việt Nam và Liên Xô sẽ “tham vấn nhau ngay lập tức” nếu một trong hai nước “bị tấn công hoặc đe dọa tấn công … nhằm loại bỏ mối đe dọa đó.” Có tin rằng hiệp ước này còn bao gồm một thỏa thuận bí mật cho phép lực lượng quân đội Liên Xô tiếp cận với các “sân bay và bến cảng” của Việt Nam (Ramesh Thaku and Carlyle Thayer, Soviet Relations with India and Vietnam (New York, St. Martin’s Press, 1992), 61).

Mặc dù Việt Nam tuyên bố rằng việc ký hiệp ước này với Nga là nhằm ngăn chặn những hành động “phiêu lưu” của Trung Quốc, nhưng các nhà lãnh đạo ở Bắc Kinh rõ ràng coi đây là một phần trong các nỗ lực của Mátxcơva nhằm gây áp lực buộc Trung Quốc xuống nước và gia hạn các điều khoản bất bình đẳng của Hiệp ước Xô-Trung 1950. Nếu Liên Xô tạo được một chỗ đứng vững chắc ở Đông Nam Á thì có thể đe dọa Trung Quốc từ cả hai bên sườn phía bắc và phía nam. Nếu thành công, chính sách này sẽ tạo cho Mátxcơva sức mạnh đủ để buộc Bắc Kinh gia hạn, hoặc ít nhất là đàm phán lại, Hiệp ước Xô-Trung 1950 theo cách có lợi cho Mátxcơva. Một biểu hiện sớm của mối quan ngại từ Bắc Kinh về Hiệp ước Việt-Xô đã được Nhân dân Nhật báo lên tiếng, trong đó cảnh báo rằng Mátxcơva đang sử dụng Việt Nam để chống Trung Quốc như đã từng làm trước đây, và thất bại, là sử dụng Trung Quốc để gây áp lực với Mỹ. Bắc Kinh cũng cảnh báo rằng mục tiêu cuối cùng của Mátxcơva là “kiểm soát toàn bộ Đông Dương.”

Với việc ký hiệp ước phòng thù Việt-Xô ngày 3/11/1978, Liên Xô hy vọng sẽ sử dụng mối quan hệ với Việt Nam để giành ưu thế chiến thuật và thọc sườn Trung Quốc. Mối lo ngại chính của Trung Quốc là nếu các chính sách của Liên Xô ở Việt Nam thành công thì chính quyền Xô Viết có thể đạt được sự kiểm soát chặt chẽ về chiến lược và quân sự đối với Trung Quốc. Từ khi diễn ra sự bất hòa giữa Trung Quốc và Liên Xô, đặc biệt là khi xảy ra những xung đột biên giới Xô-Trung cuối những năm 1960, mục tiêu chính của Bắc Kinh là xây dựng tiềm lực quân sự nhằm đối phó với Hồng Quân Liên Xô, điều mà Bắc Kinh đã hầu như đạt được trong khoảng giữa đến cuối những năm 1960 và đầu những năm 1970, khi Trung Quốc có trong tay 3,6 triệu quân theo như báo cáo. Về mặt ngoại giao, Bắc Kinh tiếp tục tìm cách gây sức ép với Mátxcơva bằng việc chính thức bình thường hóa quan hệ với Oasinhtơn ngày 1/1/1979. Ramser Amer kết luận rằng các liên minh mới của Liên Xô và Trung Quốc có mối liên hệ chặt chẽ với nhau: “Vậy là hai liên minh chiến lược đã được thành lập vào những tháng cuối của năm 1978, một liên minh Việt-Xô và một liên minh Trung-Mỹ, và các liên minh này duy trì trong khoảng một thập kỷ.”

Do việc nối lại quan hệ giữa Trung Quốc và Mỹ đầu năm 1979, Liên Xô ngày càng lo ngại về một cuộc chiến tranh trên hai mặt trận với các lực lượng NATO do Mỹ đứng đầu ở phía tây và các lực lượng Trung Quốc ở phía đông. Điều này có thể đã thuyết phục Mátxcơva tăng cường sự ủng hộ đối với cuộc tấn công Campuchia của Việt nam đang diễn ra, một sự kiện mà Robert Ross đã liên hệ chặt chẽ với cuộc tấn công Việt Nam sau đó của Trung Quốc khi ông lập luận rằng việc lật đổ đồng minh thân cận của Trung Quốc ở Campuchia làm Bắc Kinh đặc biệt lo ngại. Trong khi Bắc Kinh không muốn can thiệp trực tiếp vào Campuchia để chặn đứng cuộc tấn công của Việt Nam, cuộc tấn công bằng quân sự của Trung Quốc vào vùng lãnh thổ tranh chấp Việt-Trung có một “mối liên hệ hữu cơ”, khi mà các nhà lãnh đạo Trung Quốc cảnh bảo Việt Nam không nên nghĩ sai lầm rằng Trung Quốc đang “yếu và dễ bị bắt nạt.”

Tuy nhiên, trong phân tích cuối cùng, Việt Nam là một quốc gia khá nhỏ kể cả về dân số và sức mạnh quân sự, và có lẽ sự gia tăng đột ngột số lượng chuyên gia Liên Xô đến Việt Nam – khoảng 5,000 đến 8,000 vào giữa năm 1979 –  và việc cung cấp số lượng lớn các phương tiện quân sự là một cảnh báo nguy hiểm đối với an ninh chiến lược trực tiếp của Trung Quốc. Vì vậy, theo King C. Chen: “Nếu không có liên minh Việt-Xô, cuộc chiến tranh mười sáu ngày giữa Trung Quốc và Việt Nam có thể đã không xảy ra.” Trong một lần thừa nhận rõ ràng rằng hợp tác quân sự giữa Trung Quốc và Việt Nam đã làm Trung Quốc lo ngại sâu sắc, Đặng Tiểu Bình công khai thừa nhận rằng “liên minh quân sự” mới giữa Liên Xô và Việt Nam thực chất là một phần trong mục tiêu lâu dài của Liên Xô muốn “bao vây Trung Quốc”.

Sau khi ký Hiệp ước Việt-Xô ngày 3/11/1978, Bắc Kinh phải tìm ra phương sách để phá vỡ âm mưu bao vây Trung Quốc này của Liên Xô. Do vậy, chính nỗi lo bị Mátxcơva đánh thọc sườn đã đẩy Trung Quốc vào thế phải hành động. Rõ ràng, bước đi đầu tiên của Trung Quốc là thử thách mức độ quyết tâm của Liên Xô xem nước này sẽ đứng bên Việt Nam theo đúng tinh thần hiệp ước hay sẽ xuống nước và chấp nhận thất bại. Thậm chí còn có tin nói rằng Đặng Tiểu Bình nói với Tổng thống Mỹ Carter vào tháng 1/1979 rằng một cuộc chiến tranh giữa Trung Quốc và Việt Nam sẽ “phá vỡ những tính toán chiến lược của Liên Xô…” Do đó, thậm chí Ross còn kết luận rằng trong bối cảnh Việt Nam đã đánh chiếm thành công Campuchia, chính “việc Liên Xô bao vây Trung Quốc như một hệ quả” dẫn tới sự cần thiết phải có một cuộc tấn công hạn chế nhằm vào Việt Nam.”

Chiến tranh Trung-Việt 1979

Các lực lượng Trung Quốc tấn công Việt Nam ngày 17/2/1979. Mặc dù các động cơ chính xác phía sau cuộc tấn công của Trung Quốc vẫn còn bỏ ngỏ cho mọi sự diễn giải, nhưng mối lo ngại của Bắc Kinh rằng hiệp ước phòng thủ có giá trị 25 năm của Mátxcơva với Hà Nội có thể dẫn đến việc quân sự hóa của Liên Xô đối với đường biên giới Việt-Trung hiển nhiên là một nhân tố chính. Mátxcơva cũng có thể đã hy vọng rằng hiệp ước ký với Hà Nội sẽ khiến Trung Quốc phải điều bớt quân khỏi phía bắc, do đó làm yếu sự phòng thủ quân sự của Trung Quốc dọc theo biên giới Xô-Trung.

Tuy nhiên, những hy vọng của Mátxcơva đã đổ vỡ khi Trung Quốc quyết định tấn công Việt Nam. Chỉ sau ba tuần đánh nhau, Trung Quốc rút quân và những tranh chấp biên giới Việt-Trung vẫn chưa được giải quyết. Đối với hầu hết những người quan sát từ bên ngoài, hành động quân sự của Bắc Kinh có vẻ như là một thất bại. Nhưng nếu mục tiêu thực sự đằng sau cuộc tấn công của Trung Quốc là nhằm để cho mọi người thấy việc đảm bảo giúp đỡ về quân sự của Liên Xô đối với Việt Nam chỉ là dối trá, thì việc Liên Xô từ chối can thiệp đã chấm dứt trên thực tế hiệp ước phòng thủ Việt-Xô. Do vậy, Bắc Kinh đã đạt được một chiến thắng chiến lược rõ ràng với việc phá vỡ vòng vây của Liên Xô và loại bỏ mối đe dọa của Liên Xô về một cuộc chiến tranh trên hai mặt trận.

Vào ngày 15/2/1979, không chỉ là ngày đánh dấu 29 năm thỏa thuận giữa Mao và Stalin về Mông Cổ mà còn là ngày đầu tiên Trung Quốc có thể chính thức tuyên bố chấm dứt Hiệp ước Hữu nghị, Liên minh và Tương Trợ Xô-Trung, Đặng Tiểu Bình tuyên bố rằng Trung Quốc có kế hoạch thực hiện một cuộc tấn công hạn chế vào Việt Nam. Nhằm ngăn chặn sự can thiệp của Liên Xô hòng giúp Việt Nam, Đặng cảnh báo Mátxcơva ngày hôm sau rằng Trung Quốc đã chuẩn bị cho một cuộc chiến tranh tổng lực với Liên Xô. Để chuẩn bị cho cuộc xung đột này, Trung Quốc đã đặt tất cả quân đội dọc theo biên giới Xô-Trung trong tình trạng báo động khẩn cấp, thiết lập một bộ chỉ huy quân sự mới ở Tân Cương, và thậm chí còn sơ tán khoảng 300,000 dân thường khỏi vùng biên giới Xô-Trung. (Chang Pao-min, Kampuchea Between China and Vietnam (Singapore, Singapore University Press, 1985), 88-89.)

Ngoài ra, phần lớn các lực lượng chiến đấu của Trung Quốc (lên tới khoảng một triệu rưỡi quân) được triển khai dọc theo các đường biên giới với Nga. (Robert A. Scalapino “Asia in a Global Context: Strategic Issue for the Soviet Union,” in Richard H. Solomon and Masataka Kosaka, eds., The Soviet Far East Military Buildup (Dover, MA. , Auburn House Publishing Company, 1986), 28)

Như đã báo trước, cuộc tấn công quân sự của Trung Quốc nhằm vào Việt Nam bắt đầu ngày 17/2/1979, chỉ trong vòng ba ngày sau dấu mốc 29 năm Hiệp ước Xô-Trung 1950. Đúng như Đặng tuyên bố ngay từ đầu, Trung Quốc thực hiện một hành động hạn chế đối với Việt Nam. Không chỉ các lực lượng tinh nhuệ nhất của Trung Quốc được triển khai dọc theo biên giới Trung-Việt, Bắc kinh còn quyết định không sử dụng khoảng 500 máy bay tiêm kích và ném bom đã đóng tại khu vực này trước đó. Phản ứng trước cuộc tấn công của Trung Quốc, Liên Xô đưa nhiều tàu hải quân và thiết lập một cầu không vận chuyển vũ khí cho Việt Nam. Ngày 22/2/1979, đại tá N. A. Trarkov, tùy viên quân sự Liên Xô tại Hà Nội, thậm chí còn đe dọa Liên Xô sẽ “thực hiện nghĩa vụ theo hiệp ước Việt-Xô”; tuy nhiên các nhà ngoại giao Xô Viết ở những nơi khác lại thể hiện rõ rằng Liên Xô sẽ không can thiệp chừng nào cuộc xung đột vẫn còn hạn chế. (John Blodgett, “Vietnam: Soviet Pawn or Regional Power?” in Rodney W. Jones and Steven A. Hildreth, eds., Emerging Powers Defense and Security in the Third World (New York, Praeger Publishers, 1986), 98). Liên Xô rõ ràng không có ý định mạo hiểm với một cuộc chiến tổng lực với Trung Quốc vì Việt Nam.

Sau ba tuần giao tranh căng thẳng, Trung Quốc có thể tuyên bố đã chiếm được ba trong số sáu thủ phủ cấp tỉnh của Việt Nam – Cao Bằng, Lạng Sơn và Lào Cai – có biên giới chung với Trung Quốc. Mặc dù các lực lượng Trung Quốc có hơn 250 nghìn quân, phía Việt Nam vẫn sử dụng chiến thuật đánh du kích để Trung Quốc không có được một chiến thắng nhanh chóng. Do vậy, khi Bắc Kinh thông báo ý định rút quân vào ngày 5/3/1979, có vẻ như các mục tiêu cơ bản của cuộc tấn công này vẫn chưa đạt được; cụ thể là tiềm lực quân sự của Việt Nam vẫn chưa bị tổn hại nghiêm trọng bởi Trung Quốc. Sau đó, biên giới Việt-Trung tiếp tục căng thẳng khi Trung Quốc rút quân khỏi Việt Nam sau ba tuần giao tranh.

Đối với nhiều nhà quan sát bên ngoài, cuộc tấn công của Trung Quốc vào Việt Nam là một thất bại hoàn toàn. Tuy nhiên, như Banning Garrett nhận xét chính xác, “người Trung Quốc chứng tỏ rằng họ có thể tấn công một đồng minh của Liên Xô mà không bị trả đũa từ ‘con gấu giấy’. (Banning Garrett, “The Strategic Triangle and the Indochina Crisis,” in David W. P. Elliott, ed., The Third Indochina Conflict, (Boulder, CO, Westview Press, 1981), 212.)

Trên thực tế, với việc chứng tỏ rằng Liên Xô sẽ không can thiệp tích cực vì Việt Nam, Trung Quốc tin rằng việc chấm dứt Hiệp ước Xô-Trung 1950 cũng sẽ không dẫn đến chiến tranh. Kết quả là ngày 3/4/1979, Bắc Kinh thông báo ý định chấm dứt Hiệp ước Hữu nghị, Liên minh và Tương trợ Xô-Trung năm 1950. Sau đó, mặc dù các cuộc đàm phán Xô-Trung được mở chính thức vào tháng 10/1979, việc Liên Xô đưa quân vào Afghanistan đã tạo cho Trung Quốc lý do để dừng lại các cuộc gặp trong tương lai, và do đó xóa đi bất cứ sự cần thiết nào cho việc đàm phán một hiệp ước ngoại giao mới giữa Liên Xô và Trung Quốc.

Do các động cơ thực sự phía sau cuộc tấn công năm 1979 của Trung Quốc nhằm vào Việt Nam vẫn còn chưa rõ ràng, các học giả nghiên cứu về cuộc xung đột này đã đưa ra nhiều giả thuyết ấn tượng. Có lẽ giả thuyết thường thấy nhất là Trung Quốc muốn “trừng phạt” Việt Nam vì đưa quân vào Campuchia, nơi trước đó được coi là một quốc gia chư hầu của đế chế Trung Hoa. Các vấn đề khác trong quan hệ Việt-Trung, như tranh chấp lãnh thổ ở quần đảo Trường Sa hay việc di tản ồ ạt người Hoa khỏi Việt Nam, cũng được coi là đóng vai trò quan trọng. Tuy nhiên, thuyết phục nhất là một số nhỏ học giả cho rằng quyết định của Việt Nam đi gần hơn với Liên Xô mới là lý do chính đằng sau cuộc tấn công của Trung Quốc.

Trong số các học giả có quan điểm cho rằng những hành động của Trung Quốc là để đối phó với hiệp ước phòng thủ Xô-Việt ngày 3/11/1979, có nhiều cách diễn giải xung quanh việc chính sách của Trung Quốc là thành công hay thất bại. Thí dụ, theo Gerald Segal, chính sách của Trung Quốc đã thất bại vì không đặt được hiệp ước phòng thủ Xô-Việt tới “thử thách cao nhất.” Robert Ross cũng kết luận rằng chính sách của Trung Quốc là một thất bại, mặc dù ông tích cực hơn Segal ở chỗ cho rằng cuộc chiến tranh Trung-Việt là lần đầu tiên kể từ năm 1949 Trung Quốc sử dụng vũ lực khi lãnh thổ không trực tiếp bị đe dọa, và do đó chứng tỏ Trung Quốc nay có khả năng “hành động như một cường quốc khu vực với những quyền lợi khu vực.” Cuối cùng, Banning Garrett và Nayan Chanda tích cực hơn, ít nhất cũng thừa nhận tuyên bố của Trung Quốc rằng cuộc chiến tranh hạn chế Trung-Việt là một thành công vì đã chứng tỏ rằng Liên Xô là một “con gấu giấy” bởi Mátxcơva đã từ chối thực hiện nghĩa vụ theo hiệp ước phải can thiệp vì Hà Nội.

Có lẽ quan điểm tích cực nhất về cuộc xung đột Trung-Việt là của Chang Pao-min. Theo Chang, nếu nhìn nhận cuộc xung đột từ quan điểm của Bắc Kinh thì hiệp ước phòng thủ Việt-Xô năm 1978 là một mối đe dọa rõ ràng đối với an ninh của Trung Quốc. Không chỉ Liên Xô hy vọng sử dụng hiệp ước này để thiết lập một “Hệ thống An ninh Tập thể Châu Á” nhằm vào Trung Quốc, mà quan hệ quân sự của Liên Xô với Việt Nam còn được coi là một nỗ lực nhằm “đe dọa và âm mưu bóp nghẹt Trung Quốc từ phía nam.” Dưới góc độ này, Việt Nam sau này được tả trong các tuyên bố của Trung Quốc là “con dao của Liên bang Xô Viết đặt sau lưng Trung Quốc.” Do đó, đúng như Chang nhận xét, cuộc xung đột Trung-Việt phải được coi là một phản ứng trước nỗ lực của Liên Xô nhằm sử dụng Việt Nam để “kiềm chế và bao vây Trung Quốc ở Đông Nam Á … [do đó tạo ra] một mối đe dọa nghiêm trọng ở sườn phía nam của Trung Quốc.”

Các lập luận đưa ra trong bài viết này có xu hướng ủng hộ quan điểm rằng cuộc chiến tranh Trung-Việt tháng 2/1979 là một thành công. Một khi Bắc Kinh tin rằng Mátxcơva sẽ không can thiệp vì Hà Nội, việc này sẽ khuyến khích Bắc Kinh dứt hẳn với Mátxcơva. Việc này thể hiện rõ nhất trong tuyên bố ngày 3/4/1979 của Bắc Kinh rằng họ muốn chấm dứt Hiệp ước Xô-Trung năm 1950. Nêu ra bằng chứng cuối cùng rằng các chính sách của Trung Quốc ở Việt Nam có mối liên hệ chặt chẽ với Liên Xô, Amers đã nhận xét chính xác rằng quyết định năm 1988 của Trung Quốc không gắn quan hệ biên giới với Việt Nam với vấn đề Campuchia đã tương hợp gần như chính xác với các nỗ lực của Gorbachev nhằm bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc và cải thiện quan hệ của Liên Xô với các quốc gia ASEAN. Do vậy, bằng việc phá vỡ vòng vây của Liên Xô và loại bỏ mối đe dọa của Mátxcơva về một cuộc chiến tranh trên hai mặt trận, Trung Quốc đã đạt được một chiến thắng chiến lược quan trọng trước Liên Xô.

Liên Xô phải chăng là “gấu giấy”?

Hầu hết các học giả phương Tây đều có một kết luận chung rằng cuộc tấn công Việt Nam năm 1979 của Trung Quốc là một thất bại. Thí dụ, theo Gerald Segal, “cuộc chiến Trung-Việt năm 1979 là thất bại quan trọng nhất về chính sách đối ngoại của Trung Quốc kể từ năm 1949.” Ở một phạm vi rộng, Robert Ross đồng tình và cho rằng: “Thất bại trong chính sách của Trung Quốc cho thấy rõ vai trò không rõ ràng của cường quốc khu vực này trong chính trị quốc tế đương đại.” Gần đây nhất, Ellis Joffe, một chuyên gia về PLA tại đại học Hebrew University of Jerusalem, kết luận rằng: “Trung Quốc đã chuốc vạ bởi các biện pháp hạn chế chống Việt Nam năm 1979. Trung Quốc định dạy cho Việt Nam một bài học, nhưng Việt Nam đã dạy cho Trung Quốc một bài học.” (“Strait of Uncertainty Taiwan braves increased pressure from China,” Far Eastern Economic Review, 8 February 1996, 20-21.)

Các đánh giá tiêu cực này của phương Tây ngược lại hoàn toàn với tuyên bố của Bắc Kinh rằng cuộc chiến chống Việt Nam năm 1979 là một thành công, do quyết định không can thiệp của Mátxcơva đã chứng tỏ rằng Liên Xô chỉ là một “con gấu giấy”. Bắc Kinh có lẽ sẵn sàng chứng tỏ tuyên bố này bằng hành động, khi họ không chỉ công bố việc chấm dứt Hiệp ước Xô-Trung năm 1950 mà sau đó còn đặt ra cho Mátxcơva ba điều kiện để cải thiện quan hệ Xô-Trung. Ba điều kiện này bao gồm: 1) rút quân đội Liên Xô khỏi biên giới Xô-Trung và Mông Cổ; 2) rút quân đội Liên Xô khỏi Afghanistan; 3) chấm dứt sự ủng hộ của Liên Xô đối với việc Việt Nam chiếm đóng Campuchia. (Yao Wengin, “Soviet Military Deployments in the Asia-Pacific Region: Implications for China’s Security,” in Richard H. Solomon and Masataka Kosaka, eds., The Soviet Far East Military Buildup (Dover, MA., Auburn House Publishing Company, 1986), 103.)

Do đó, bên cạnh việc thể hiện một tư thế cứng rắn hơn trong quan hệ với Liên Xô, các nước láng giềng ở phía nam cũng phải cư xử với Trung Quốc một cách tôn trọng hơn. Theo một báo cáo năm 1986, do Hà Nội đã thua trong ván bạc năm 1979 khi cho rằng Bắc Kinh sẽ không bao giờ tấn công, Việt Nam, “với kinh nghiệm của năm 1979, đã triển khai 700,000 quân ở phía bắc.” (Karl D. Jackson, “Indochina, 1982-1985: Peace Yields to War,” in Richard H. Solomon and Masataka Kosaka, eds., The Soviet Far East Military Buildup (Dover, MA., Auburn House Publishing Company, 1986), 206.)

Vai trò có tính chất khẳng định hơn của Trung Quốc ở châu Á trong những năm 1980 cho thây Bắc Kinh thực sự tin rằng họ đã giành chiến thắng trong cuộc chiến Trung-Việt năm 1979. Vì thế, mặc dù Nayan Chanda và những người khác đã cnảh báo rằng những tuyên bố của Trung Quốc rằng Liên Xô chỉ là “con gấu giấy” có thể chỉ là luận điệu tuyên truyền, nhưng những hành động của chính Bắc Kinh cho thấy rằng họ tin chắc vào quan điểm này. Chính vì lý do này mà các cuộc tranh luận gần đây xung quanh thời điểm Chiến tranh Lạnh thực sự kết thúc có vẻ như liên quan trực tiếp tới tuyên bố của Trung Quốc năm 1979 rằng Liên Xô đã quá yếu và không thể tham chiến. Thực tế, theo quan điểm của Trung Quốc, việc Liên Xô không can thiệp để giúp Việt Nam năm 1979 là bằng chứng chứng tỏ Mátxcơva không còn ý định tham gia một cuộc chiến tranh lớn. Nói cách khác, thời kỳ nguy hiểm nhất của Chiến tranh Lạnh đã qua đi.

Cho tới nay, cuộc tranh luận thường thấy về việc liệu Chiến tranh Lạnh có kết thúc trên thực tế trước khi Bức tường Berlin sụp đổ năm 1989 hay không đã diễn ra xung quanh những tuyên bố của tướng bốn sao về hưu của Liên Xô là Anatoly Gribkov, nguyên tham mưu trưởng của khối Hiệp ước Warsaw trong đầu những năm 1980. Gribkov lập luận dựa trên việc đến tháng 12/1981, Bộ Chính trị Liên Xô rõ ràng đã mất ý chí chính trị sử dụng vũ lực để duy trì đế chế mở rộng của họ trong vòng kiểm soát. Đánh giá này dựa trên việc Bộ Chính trị từ chối gửi quân tới Ba Lan để ngăn chặn một cuộc thay đổi dân chủ, một dấu hiệu của sự suy yếu mà Gribkov coi là bằng chứng cho thấy Liên Xô thực sự đã “thua” trong cuộc Chiến tranh Lạnh ngay từ năm 1981.(“The Two Trillion Dollar Mistake,” Worth, (February 1996), 78-83/128-129. )

Các biên bản được giải mật gần đây của một cuộc họp Bộ Chính trị Xô Viết ngày 10/12/1981 có xu hướng chứng tỏ cho các luận điểm của Gribkov, vì chúng cho thấy rằng lựa chọn gửi quân chống lại đảng “Đoàn kết” của Ba Lan đã bị Mátxcơva bác bỏ với sự đồng thuận rằng rủi ro là quá lớn. (Cold War International History Project Bulletin, Issue 5 (Spring 1995), 135-137) Ngoài ra, các biên bản này còn cho thấy Bộ Chính trị Liên Xô đã cân nhắc một cách nghiêm túc việc nhượng bộ ở Viễn Đông bằng việc ra lệnh rút quân khỏi Mông Cổ; nếu Mátxcơva thực hiện kế hoạch này trên thực tế thì coi như đã chấp nhận một trong ba điều kiện tiên quyết của Bắc Kinh cho việc cải thiện quan hệ Xô-Trung.

Các tài liệu này của Liên Xô, cũng như các tài liệu khác giống như thế, dường như chứng tỏ cho luận điểm của Gribkov rằng đến năm 1981, giới lãnh đạo Liên Xô đã mất khả năng sử dụng vũ lực nhằm củng cố lại đế chế Liên Xô đang lung lay. Cách suy luận này cũng có thể áp dụng cho cuộc xung đột Trung-Việt năm 1979, do việc Trung Quốc tấn công Việt Nam rõ ràng tạo ra một mối đe dọa thực tế đối với an ninh và ổn định cho không gian ảnh hưởng của Liên Xô ở Đông Nam Á. Chính việc Bộ Chính trị Liên Xô từ chối thực hiện các nghĩa vụ theo hiệp ước đối với Việt Nam và không can thiệp chống Trung Quốc cho thấy lập luận của Gribkov rằng Bộ Chính trị Liên Xô đã mất ý chí chính trị để củng cố đế chế của mình bằng vũ lực có thể được áp dụng tương đương – nếu không tốt hơn – cho kết quả của cuộc chiến Trung-Việt năm 1979.

Sự sụp đổ của Bức tường Berlin năm 1989 và sự sụp đổ bất ngờ của Liên Xô năm 1991 đòi hỏi phải có một đánh giá khác về tác động của mối quan hệ Xô-Trung đối với cuộc xung đột Trung-Việt tháng 2/1979. Một khía cạnh cần có trong đánh giá này là xem xét liệu tuyên bố năm 1979 của Trung Quốc rằng Liên Xô chỉ là “gấu giấy” là có căn cứ hơn hay không nếu xét việc Liên Xô tan rã sau đó. Mặc dù khẳng định của Gribkov rằng Chiến tranh Lạnh đã kết thúc từ năm 1981 có thể sớm hơn rất nhiều so với thời điểm mà hầu hết các học giả phương Tây có thể chấp nhận, nhưng vẫn còn muộn hơn mấy năm so với quan điểm của Trung Quốc. Do đó, khẳng định về thời điểm của Trung Quốc không những có vẻ hợp lý, mà đối với các học giả sau này thì năm 1979 một ngày nào đó sẽ chứng tỏ còn chính xác hơn năm 1981. Nếu như vậy, Bắc Kinh phải được đánh giá đúng vì đã xác định chính xác những dấu hiệu ở Viễn Đông về sự yếu kém trong nội bộ Mátxcơva từ hơn hai năm trước khi những dấu hiệu tương tự trở nên rõ ràng ở phương Tây. Điều này sẽ lại làm xuất hiện câu hỏi liệu “sự bắt đầu kết thúc” của Chiến tranh Lạnh có phải đã thực sự diễn ra vào năm 1979 hay không, do việc Mátxcơva đã không đương đầu với thách thức rắn mặt của Bắc Kinh đối với sự thống trị quân sự của Liên Xô ở Viễn Đông.

Kết luận

Các nghiên cứu trước đây về cuộc xung đột Trung-Việt ngày 17/2/1979 nhìn chung đều coi những hành động của Trung Quốc là một thất bại hoàn toàn. Ngược lại, bài viết này đã cố gắng đánh giá lại cuộc chiến Trung-Việt từ góc độ quan hệ Xô-Trung bằng việc liên hệ cuộc xung đột này với dấu mốc 29 năm ngày ký Hiệp ước Hữu nghị, Liên minh và Tương trợ 14/2/1950. Như một kết quả trực tiếp từ quyết định của Liên Xô không can thiệp giúp Việt Nam, Trung Quốc tin rằng Liên Xô không có đủ ý chí chính trị để dùng chiến tranh nhằm duy trì không gian ảnh hưởng của mình ở châu Á. Kết luận này đã khiến Bắc Kinh thông báo cho Mátxcơva ngày 3/4/1979 rằng Trung Quốc muốn chấm dứt Hiệp ước Xô-Trung năm 1950 khi hết thời hạn 30 năm vào năm 1980.

Từ 1950 đến 1979, Hiệp ước Hữu nghị, Liên minh và Tương trợ là nền móng cho quan hệ Xô-Trung. Mặc dù phần được phổ biến của hiệp ước này đã được công khai từ lâu, nhưng nội dung chính xác của các thỏa thuận bí mật đi cùng với hiệp ước này vẫn hầu như chưa được biết đến. Tuy nhiên, một điều khá rõ là các thỏa thuận bí mật này có liên quan đến các tranh chấp lãnh thổ Xô-Trung và trong những năm 1950, 1960, các cuộc tranh chấp biên giới thường xuyên giữa Liên Xô và Trung Quốc phản ánh mức độ căng thẳng mà các thỏa thuận bí mật này đưa đến. Mặc dù các xung đột biên giới Xô-Trung đều không được phép leo thang thành chiến tranh tổng lực, nhưng Bắc Kinh đã liên tục thử thách quyết tâm của Liên Xô xem có sẵn sàng sử dụng vũ lực để duy trì Hiệp ước Xô-Trung 1950 hay không. Do vậy, từ quan điểm của Bắc Kinh, Hiệp ước Xô-Trung 1950 là một công cụ chính cho Mátxcơva áp đặt “bá quyền” đối với Trung Quốc và phần còn lại của châu Á.

Ngược lại, Mátxcơva rõ ràng lo ngại điều gì có thể xảy ra khi Hiệp ước Xô-Trung kết thúc thời hạn 30 năm. Bắt đầu từ năm 1969, Liên Xô thường xuyên thúc giục Trung Quốc thay thế hiệp ước này bằng một thỏa ước mới. Để buộc Bắc Kinh phải xuống nước, Mátxcơva không những củng cố các đường biên giới Liên Xô-Trung Quốc và Mông Cổ-Trung Quốc, mà còn gây áp lực đối với Trung Quốc từ phía nam, bằng việc ký một hiệp ước liên minh với Việt Nam. Do vậy, việc cải thiện mối quan hệ Việt-Xô, đỉnh điểm là việc ký hiệp ước phòng thủ Việt-Xô ngày 3/11/1978, có thể được liên hệ trực tiếp tới mối quan hệ đang xấu đi giữa Trung Quốc với Liên Xô vào cuối những năm 1970. Tuy nhiên, thay vì xuống nước, Trung Quốc đã tấn công Việt Nam ngày 17/2/1979, chỉ ba ngày sau dấu mốc 29 năm ngày ký Hiệp ước Xô-Trung 1950. Khi Mátxcơva từ chối can thiệp giúp Hà Nội, Bắc Kinh quyết định rằng Bộ Chính trị Liên Xô sẽ không sử dụng chiến tranh để buộc Trung Quốc tiếp tục Hiệp ước Xô-Trung 1950 và củng cố quyết tâm để thông báo ngày 3/4/1979 ý định chấm dứt hiệp định này.

Một trong những mục tiêu chính của Bắc Kinh khi tấn công Việt Nam là để đảm bảo rằng Trung Quốc không bị bao vây cả ở phía bắc và phía nam bởi các lực lượng Liên Xô. Cuộc tấn công Việt Nam năm 1979 của Trung Quốc, với tất cả những khiếm khuyết rõ ràng của nó, đã thực sự đạt được mục tiêu chiến lược này do việc Liên Xô từ chối can thiệp giúp Việt Nam đã làm mất đi mối đe dọa về một cuộc chiến tranh trên hai mặt trận với Liên Xô và Việt Nam. Về mặt ngoại giao, Trung Quốc cũng giành được một chiến thắng rõ ràng trước các nỗ lực của Liên Xô muốn gây sức ép buộc Trung Quốc ký một hiệp ước mới thay thế hoặc củng cố Hiệp ước Hữu nghị, Liên minh và Tương trợ Xô-Trung ngày 14/2/1950. Cuối cùng, nhìn lại, khẳng định của Trung Quốc rằng Liên Xô chỉ là “gấu giấy” có vẻ như khác chính xác, và do đó cho thấy có lẽ là dấu hiệu đầu tiên từ bên ngoài rằng đế chế Liên Xô đang bị đe dọa bởi sự sụp đổ từ bên trong, một sự sụp đổ phải mười năm sau mới diễn ra với sự kiện bức tường Berlin năm 1989 và sự tan rã của Liên Xô năm 1991.

Nguồn Lên trang viet-studies ngày 4-5-09

———-
Quan hệ Trung-Xô và Việt Nam từ 1950 cho đến tháng hai 1979

Mặc dù Trung Quốc có thể không phải là người tham gia cuộc xung đột tại Việt Nam trong những năm 1960 và năm 1970, sự hỗ trợ kinh tế và các vật chất của Trung Quốc cho Việt Nam phát một vai trò rất quan trọng.  Trung Quốc không chỉ đã gửi quân đến Việt Nam để giúp duy trì hệ thống tiếp vận, mà Bắc Kinh ước tính các khoảng hỗ trợ cho Hà Nội những năm 1950-1978 là hơn 20 tỷ USD.  (King C. Chen, Cuộc chiến của TQ với Việt Nam, 1979 (Stanford, CA, nxb Hoover Institution, 1987, tr 27). Do đó không gì khó hiểu, vì sao Bắc King có thể phật lòng trước sự cải thiện các mối quan hệ giữa Moscow và Hà Nội hồi cuối thập niên

Điều này đặc biệt đúng sau khi hai nước Việt- Xô đã ký kết một hiệp ước tương trợ tháng 11 năm 1978 mà cụ thể là nhằm vào Trung Quốc.  Theo nhận định của một nhà nghiên cứu, khối liên minh Xô-Việt nầy biến Việt Nam thành “cái chốt” trong “nổ lực kiềm chế Trung Quốc” của Liên bang Xô-viết  (Robert A. Scalapino, “Các ảnh hưởng chính trị của Liên bang Xô-viết ở Châu Á”, Donald S. Zagoria, Chính sách Xô viết ở Đông Á (New Haven, nxb Yale University, 1982), 71.) Từ nhãn quan nầy của Bắc Kinh, do đó , việc cố gắng bao vây Trung Quốc của Moscow về mặt ngoại giao là khá thành công. Thực tế nầy làm bùng phát cuộc xâm lược Việt Nam của Trung Quốc trong tháng hai 1979.

Mặc dù các mối quan hệ ngoại giao giữa Bắc Kinh và Hà Nội trong những năm 1960 và đầu những năm 1970 nói chung là tốt, sự khác nhau giữa chính sách của Trung Quốc và Việt Nam tăng lên tháng tư 1975 sau khi Sài Gòn sụp đổ. 

Tháng Chín của năm 1975, Lê Duẩn, TBT Đảng Cộng sản Việt Nam, đã công du Bắc Kinh và trong một loạt các cuộc họp sau khi Lê Duẩn đến, sự việc trở nên rõ ràng là Trung Quốc đã rất quan tâm về các quan hệ chặc chẻ của Việt Nam với Liên bang Xô-viết.  Mặc dù quan hệ tiếp tục xấu đi trong những năm tiếp theo, sự rạn nứt giữa Trung Quốc và Việt Nam đầu tiên đã trở nên rõ ràng khi hàng ngàn Hoa kiều thiểu số bắt đầu chạy trốn khỏi Việt Nam trong mùa xuân và mùa hè năm 1978. 

Ngoài ra, các tranh chấp lãnh thổ về quần đảo Hoàng Sa, cũng như sự xâm lược Cam-pu-chia của Việt Nam ngay trước đó cũng tác động đến sự căng thẳng Trung-Việt.

Trong khi đó, mùa hè năm 1978 đã xuất hiện thêm nhiều dấu hiệu về sự hợp tác Xô-Việt Nam, như  Việt Nam đề nghị trở thành một thành viên của Comecon.

Ngoài ra, các nguồn chính phủ Hoa Kỳ báo cáo rằng tháng tám 1978 độ hơn 4000 cố vấn Liên-xô đã có mặt tại Việt Nam.  Trong tháng 9 năm 1978, Liên bang Xô-viết bắt đầu xúc tiến vận chuyển vũ khí sang Việt Nam, cả bằng đường không và đường biển, bao gồm “máy bay, tên lửa, xe tăng, và đạn dược”. 

Cuối cùng, tất cả các dấu hiệu cải thiện quan hệ Xô-Việt đưa đến kết quả vào 3 tháng 11 năm 1978, khi Việt Nam và Liên bang Xô-viết ký kết một Hiệp ước Hữu nghị Hợp tác.  Không nghi ngờ gì nữa hiệp ước này là nhắm tới Trung Quốc, khi điều sáu của hiệp định nêu rằng Việt Nam và Liên bang Xô-viết sẽ “ngay lập tức có sự tham khảo ý kiến với nhau”, nếu một trong hai bên bị “tấn công hay bị đe dọa tấn công … nhầm loại bỏ mối đe dọa đó.”  Được biết, hiệp ước cũng bao gồm một mật ước chính thức cho phép lực lượng vũ tranh Xô-viết sử dụng các phi trường và hải cảng quân sự của Việt Nam”  (Ramesh Thaku và Carlyle Thayer, Quan hệ của Liên-xô  với Ấn Độ và Việt Nam (New York, nxb St Martin’s, 1992, tr 61.)

Mặc dù Việt Nam cho rằng họ ký hiệp ước này với Liên-xô nhầm chặn đứng chủ nghĩa phiêu lưu của Trung Quốc, các nhà lãnh đạo Trung Quốc ở Bắc Kinh rỏ ràng thấy hiệp ước này như là một phần nỗ lực của Moscow tạo áp lực Trung Quốc xuống nước và khôi phục các điều khoản bất bình đẳng của Hiệp ước Trung-Xô 1950.  Nếu Liên-xô có thể tạo một thế đứng ở ĐNÁ, họ có thể đe doạ Trung Quốc cả hai phía bắc và phía nam biên giới.  Nếu thành công, chính sách này có thể cung cấp cho Moscow một đòn bẩy đủ mạnh để Bắc Kinh phục hồi, hoặc ít nhất tái thương thuyết Hiệp ước Trung-Xô 1950 theo những điều kiện của Moscow.  Một chỉ báo sớm về mối lo của Bắc Kinh đối với Hiệp ước Xô-Việt đã được Nhân Dân Nhật báo (Renmin Ribao) lên tiếng cảnh báo rằng Moscow đang dùng Việt Nam chống lại Trung Quốc như trước đây  (và không thành công)  từng làm với  Cuba để tạo áp lực ngoại giao đối với Hoa Kỳ.  Bắc Kinh cũng cảnh báo mục tiêu tối hậu của Moscow là “đặt toàn bộ Đông Dương dưới sự kiểm soát của họ.”

Bằng cách ký hiệp ước phòng thủ Xô-Việt ngày 3 tháng 11 năm 1978, Liên-xô hy vọng sử dụng các quan hệ của họ với Việt Nam để tạo thế vượt trội và lấn ép Trung Quốc. Sự quan tâm chính của Trung Quốc là, nếu các chính sách của Liên-xô ở Việt Nam thành công, thì chính phủ Xô viết có thể tạo một cái thòng lọng về chiến lược và quân sự đối với Trung Quốc.  Kể từ khi có sự rạn nứt Trung-Xô, và đặc biệt là từ khi có các xung đột biên giới Trung-Xô viết cuối thập niên 1960, là mục tiêu cơ bản của Bắc Kinh là xây dựng tiềm năng quân sự riêng của mình để đối mặt với the Hồng quân Liên Xô, mục tiêu mà họ gặt hái được nhiều từ giữa đến cuối thập niên 1960, đầu thập niên 1970, khi quân số TQ theo báo cáo tăng mạnh đến 3,6 triệu người.  Về ngoại giao, Bắc Kinh, tiếp tục cố gắng lấn Moscow bằng cách chính thức bình thường hóa quan hệ của họ với Washington vào ngày 1 tháng giêng 1979.  Ramses Amer đã kết luận rằng các đồng minh mới của Liên-xô và Trung Quốc đã được liên kết chặt chẽ: “Vì vậy, liên minh chiến lược này đã hình thành trong những tháng cuối cùng của năm 1978, một liên minh Xô-Việt, và một liên minh Trung-Mỹ, và họ sẽ thành công trong khoảng một thập kỷ”.

Do mối quan hệ Trung-Mỹ vào đầu năm 1979, mối quan tâm của Moscow về một cuộc chiến tranh hai mặt trận với Mỹ -nước lãnh đạo  lực lượng NATO ở phía tây và lực lượng Trung Quốc ở phía đông đã được tăng cường.  Điều này có thể đã thuyết phục Moscow để tăng các hỗ trợ cho Việt Nam tiếp tục xâm lược Cam-pu-chia, một sự kiện mà Robert Ross đã liên kết chặt chẽ với việc tấn công của Trung Quốc vào Việt Nam, khi ông tranh luận rằng sự bất ổn của đồng minh thân cận của Trung Quốc ở Cam-pu-chia liên quan mật thiết tới Bắc Kinh. Trong khi Bắc Kinh không sẳn lòng can thiệp trực tiếp vào Cam-pu-chia để chặn đứng sự xâm lặng của Việt Nam, sự xâm lược quân sự của Trung Quốc, cộng với tranh chấp lãnh thổ Trung-Việt Nam trong thực tế hòan tòan “trùng khớp” với việc Việt Nam xâm lược ở Cam-pu-chia.  Ross kết luận thêm rằng việc tiếp tục tranh chấp đối với Cam-pu-chia và biên giới Trung-Việt Nam có một “liên quan hữu cơ,” như các nhà lãnh đạo Trung Quốc cảnh báo Việt Nam: đừng suy nghĩ sai lầm rằng Trung Quốc là “yếu và dễ bắt nạt.”

Tuy nhiên, trong phân tích cuối cùng,  Việt Nam là một quốc gia tương đối nhỏ về cả hai mặt dân số và sức mạnh quân sự, rồi hầu như chắc chắn việc các cố vấn Xô-viết đột ngột đến Việt Nam với số lượng lớn – một ước tính giữa 5000-8000 người vào năm 1979 – và một số lượng rất lớn hàng quân sự đã báo điềm gở ngay lập tức cho chiến lược an ninh của Trung Quốc; như vậy, theo King C. Chen: “Không có được liên minh Xô-Việt, không thể có chiến tranh mười sáu ngày giữa Trung Quốc và Việt Nam”. Trong lời thú nhận rằng của hợp tác quân sự của Liên-xô với Việt Nam can hệ chặc chẻ đếnTrung Quốc, Đặng Tiểu Bình công bố công khai công nhận rằng việc “liên minh quân sự” mới Xô-Việt này thực sự là một phần của mục tiêu dài hạn của Liên-Xô nhằm “bao vây Trung Quốc.”

Sau sự việc ký kết Hiệp ước Xô-Việt ngày 3 tháng 11, 1978, Bắc Kinh đã tìm cách bẻ gãy cố gắng này của Xô viết nhằm bao vây Trung Quốc. Vì vậy, nỗi sợ hãi bị Moscow đánh thọc sường  là cú hích đưa Bắc Kinh đến hành động.  Rõ ràng, bước đầu tiên của Trung Quốc là nhằm thử thách để quyết tâm của Liên-xô để xem họ có giữ vững lập trường của hiệp ước với Việt Nam hay cho xuống nước và chấp nhận thất bại.  Đặng Tiểu Bình thậm chí đã báo Tổng thống Carter hồi tháng một 1979 rằng một cuộc chiến tranh giữa Trung Quốc và Việt Nam sẽ “phá vỡ các tính toán chiến lược của Xô viết…” Từ đó, thậm chí Ross còn kết luận rằng trong sự phấn khích xâm lược thành công của Việt Nam ở Campuchia, nó là hệ quả phá vòng vây Liên-xô của Trung Quốc [điều nầy] đã giới hạn sự xâm lược của Việt Nam. “

—————-

*Quan hệ Việt – Trung bắt đầu rạn nứt năm 1968 khi Việt Nam đồng thời giao hảo với cả Liên Xô và Trung Quốc trong bối cảnh mối quan hệ 2 nước này xuất hiện nhiều xung đột căng thẳng. Năm 1972, Tổng thống Mỹ Nixon tới thăm Bắc Kinh và đạt được thỏa thuận với Trung Quốc. Ba năm sau đó, 1975, Việt Nam từ chối tham gia liên minh chống Liên Xô của Trung Quốc.

*1979: China invades Vietnam

http://news.bbc.co.uk/onthisday/hi/dates/stories/february/17/newsid_2547000/2547811.stm

 

Posted in Biên Giới, Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa, Chien Tranh Bien Gioi Viet Trung 1979 | Leave a Comment »

►Với các chứng cớ này, có ai còn hoài nghi gì nữa không? (Ngày mất Hoàng Sa, 19-1-1974)

Posted by hoangtran204 on 21/01/2016

19.1.1974

Ai đã lên án, AI đã im lặng trong và sau cái ngày đau thương này? (Bổn Đình Nguyễn)

 Nhìn góc dưới, bên phải cho thật kỹ nha
Bổn Đình Nguyễn's photo.

.

Tieu Phi Tran's photo.

.

Manh Hung Dao's photo.

 

Chuyện dưới đây do sĩ quan bảo vệ an ninh của đoàn do tướng Lê Quang Hòa cầm đầu phái đoàn VNDCCH, và các cựu cán bộ của đảng CSVN kể lại.

  1. Quế Lâm

Quế Lâm, một trong những địa danh du lịch nổi tiếng nhất Trung quốc thuộc tỉnh Quảng Tây. Tại đây có một bệnh viện nằm ngoại ô thành phố, chuyên điều trị cho những thương binh nặng hay cán bộ trung cấp Việt nam bệnh nặng. Anh chị em bệnh nhân dự định  ngày  Chủ nhật 20-1-1974  sẽ cùng nhau vào thành phố và đi thăm một số nơi đã cưu mang giúp đỡ các thiếu sinh quân Việt nam.

Sáng  đó trời nắng đẹp, nhưng tất cả các hành lang đều có các bác sỹ và y tá án ngữ : Không ai được ra khỏi phòng bệnh. Điều này cũng xảy ra tại Quảng châu, nơi các cán bộ cao cấp đang an dưỡng. Điều lạ lùng này xảy ra giống hệt hai năm trước, năm 1972 khi Tổng thống Nixon đang thăm Bắc kinh. Nhưng hôm đó, không một ai trong số các bệnh nhân đó biết rằng : Trung quốc đã xâm chiếm quần đảo Hoàng sa. Do vậy họ quản chặt bệnh nhân Việt nam vì sợ nổi loạn.

Tôi đã gặp ông N. đại tá, thương binh thành cổ  Quảng trị và ông C., cựu cán bộ Đài Phát thanh Truyền hình Việt nam kể lại ngày ấy. Hành động của họ mạnh tới mức, bà H., một người xu nịnh Trung quốc bằng cách luôn mang sách đỏ Mao tuyển, nghĩ rằng mình được lòng Bệnh viện xưa nay, cứ xin ra ngoài, nói tiếng Tàu ba xí, ba tú , liền bị hai người mặc quân phục kèm lên Văn phòng Khoa ngồi suốt ngày.

  1. Sài gòn      

Hôm sau, phiên họp của Phái đoàn Liên hợp quân sự 4 bên về việc Giám sát thi hành Hiệp định Paris do Thiếu tướng Lê Quang Hòa, trưởng phái đoàn Việt nam Dân chủ Cộng hòa chủ trì tại Sài gòn. Trong phiên họp này, phía Việt nam Cộng hòa đã đưa văn bản đề nghị chính thức Chính phủ VN Dân Chủ Cọng Hòa cùng với mình ra thông cáo lên án hành động xâm lược lãnh thổ-lãnh hải của Việt nam.

Đề nghị này còn lên kế hoạch chi tiết, trong đó yêu cầu quân Bắc Việt nam và quân của Chính Phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt nam giảm áp lực tại quân đoàn 2 của VNCH. Trong đó đề nghị cụ thể không tiến công quấy rối Đà nẵng, Nha trang và các sân bay ở khu vực này để quân lực VNCH có thể rảnh tay tập trung tái chiếm quần đảo Hoàng sa.

Theo lời kể lại của  ông H., nguyên sỹ quan bảo vệ an ninh cho đoàn, ông Thiếu tướng Lê Quang Hòa đã điện về xin ý kiến Trung ương.

Đích thân ông Lê Đức Thọ phê bình “lập trường chính trị của các anh để đâu? Đang có chiến tranh, lại phối hợp hoạt động với địch à? Cuộc chiến tranh gay go của ta rất cần sự ủng hộ của Trung quốc, mà lại nói quay sang chống bạn. Họ có giải phóng giúp ta, thì sau này cũng trả lại cho ta thôi.’’

Sau đó, phía VNCH đề nghị họp bất thường. Lần này,Trung tướng Ngô Du chủ trì phiên họp. Mở đầu, ông ta nói :

-Trong phiên họp này, tôi đề nghị không cáo buộc, cãi nhau về những vụ xâm phạm lãnh thổ, vi phạm hiệp định nữa. Trung cộng đã ngang nhiên xâm lược và chiếm giữ toàn bộ quần đảo Hoàng sa. Đất của chúng tôi thì cũng như đất của các anh vì cùng là đất tổ tiên chúng ta để lại cả. Vì thế, chúng ta nên xếp ba bốn cái vụ  tranh cãi lại, để ngồi cùng nhau bàn bạc về việc phối hợp hoạt động chống lại sự xâm lăng này.

Cũng như đề nghị bằng văn bản, tướng Ngô Du ngoài sáng kiến giảm bớt áp lực quân sự thuộc q-Quân đoàn 2 ra, ông ta còn đòi phía VNDCCH  gửi công hàm lên án tại Liên hiệp quốc, vận động phe XHCN  cũng như Thế giới lên tiếng phản đối (Trung Quốc).

Phái đoàn Mỹ, người bảo trợ cho tất cả các hoạt động quân sự của VNCH im lặng, không có ý kiến gì.

Ông Lê Quang Hòa cũng tảng lờ, không đáp lại đề nghị này. Ông biết tướng Ngô Du, một thời cũng là cựu đồng ngũ, đã là cán bộ tiểu đoàn thuộc Vệ quốc đoàn, sau đó đảo ngũ và sang phía bên kia , cũng đã một vài lần nói chuyện có vẻ ‘’hòa hợp dân tộc’’. Ông Hòa tưởng tảng lờ đề nghị đó cho qua chuyện,, nhưng ông Ngô Du nổi đóa. Ông chửi tục, nói chúng mày tảng lờ , là tiếp tay cho Trung Cộng, là bán nước mà còn tiếp tục định đánh không cho chúng tao giành lại đất đai của ông cha.

Cáu đến đỉnh điểm, ông Ngô Du vớ lấy cái gạt tàn thuốc lá bằng thủy tinh ném thẳng vào mặt ông Lê Quang Hòa. Ông Hòa né được, gạt tàn đập vào tường vỡ tung tóe.

Sỹ quan bảo vệ, ông H. lao đến, định chộp cổ ông Ngô Du, nhưng bị mấy người lính cận vệ phía bên kia khóa tay.

Cũng trong mấy ngày đó, đài Sài gòn và BBC liên tục đưa tin về sự kiện Hoàng sa. Những người nghe lén đài địch phát rất rõ đã rỉ tai nhau về việc này tại Hà nội. Nhưng giải thích mơ hồ, ngây ngô  và vắn tắt từ trên đưa xuống tới  các chi bộ  Tiểu khu (cấp phường) là bạn giải phóng giúp, sẽ trả lại sau này làm dư luận bớt xầm xì.

Hơn một năm sau, lúc Hải quân Việt nam (VNDCCH) giải phóng các đảo thuộc phía bên kia, sự ngây thơ trên bị đáp lại phũ phàng bẳng việc trả lời đanh thép của phía Trung quốc trước đề nghị cho nhận lại  quần đảo của Việt nam.

Tướng Ngô Du  (hình lấy từ nguyenthaihocfoundation.org)

Tướng Lê Quang Hòa

Có ai đồng tình lên án hành động xâm lăng đó ?

Sau biến cố đau thương đó, chỉ có Liên xô là nước duy nhất lên án hành động xâm lược trắng trợn, dã man của Trung quốc với một nước nhỏ phía Nam. Họ cũng đã nếm trải hành động này 15 năm trước đó. Hai hòn đảo thuộc cù lao Damansky trên song Usuri bị chiếm đóng, dân cư bị sát hại /2/. Từ đó, các đảo này bị Trung quốc sáp nhập vào lãnh thổ. Vết nhục này đến nay chưa phai trong lòng người Nga. Cuộc chiến trả đũa lớn  dự kiến đánh vào Lopno và khắp miền  bắc Trung quốc vì sao không xảy ra sẽ được viết trong bài sau.

Cũng như với Damansky, rồi gần đây có bài viết tự nhận Siberia của mình,Trung quốc luôn cố chứng minh, họ đã là chủ Biển Đông từ 2 ngàn năm trước.

Cần tránh lối mòn nhàm, chán    

Rất buồn, nhiều người Việt nam cũng luôn dựa vào sự  chiếm hữu lịch sử  như trên là luận điểm cơ bản mong thuyết phục. Nhưng cả Tàu lẫn Việt không hiểu tâm tính người phương Tây và không quan tâm gì đến những quy ước mới về đất biển. Tôi rất đồng tình với /1/ cho rằng  Công pháp quốc tế mới đòi hỏi phải hội đủ 4 điều kiện sau đây mới được coi là có quyền sở hữu, chấp hữu đảo và lãnh hải : (1) Sự chấp hữu phải công khai và minh bạch; (2) Sự chấp hữu phải hoà bình; (3) Sự chấp hữu phải liên tục và không gián đoạn và (4) Sự chấp hữu phải với tư cách là sở hữu chủ.

Để giải thích thêm điều này ta hãy quan sát thái độ người châu Âu, nơi mà đường biên giới thay đổi  trong suốt nửa đầu Thế kỷ trước. Lãnh thổ của Hungari thành của Rumani và nước khác. Lãnh thổ Balan thành của Ucraina và Bạch Nga, Lãnh thổ Ý thành một phần của Nam Tư, v.v. Vậy nên, việc sở hữu lịch sử không phải là chứng cứ họ quan tâm nhiều. Điển hình như Israel, nước luôn nêu lãnh thổ lịch sử từ trên 2000 năm trước, được cả Thế giới công nhận, cũng không thể là cớ để xâm lược các nước Ả rập đang chiếm hữu mảnh đất đó được.

Theo tình hình đó,chủ trương của Việt nam cũng như người Việt nói chung phải thay đổi. Thay vì cày xới chứng minh sở hữu lịch sử, chúng ta cần nghiên cứu và công bố trước Thế giới việc chấp hữu công khai, minh bạch, liên tục, hòa bình và  sở hữu chủ. Về điểm này,Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã phát biểu đúng/3/.

 Như vậy,việc củng cố vị trí của các đảo còn lại chưa bị xâm lược trên quần đảo Trường sa là rất quan trọng. Việc tăng cường phòng ngự không chỉ là việc của chính quyền mà còn là nhiệm vụ của mỗi người dân. Người dân Nga trước kia ăn khoai tây, bán bột mỳ đi lấy tiền cá nhân góp nhau mua tặng Hồng quân máy bay, xe tăng thì người Việt nam cũng có thể có nhiệt tình như thế. Tôi rất xúc động khi thấy thanh niên ở một số Diễn đàn trên Internet không chỉ đến thăm, ủy lạo các gia đình lính đảo mà còn gửi quà, động viên gia đình dân thường sinh sống ở các đảo đó. Hành động nhỏ bé hơn ngàn lần nói suông. Hoàng sa mất rồi, Trường sa cố giữ.

38 năm qua,việc thua trận hải chiến  Hoàng sa 1974 không lúc nào không nhức nhối trong lòng người Việt. Đứng vững tại địa điểm chiến lược, Trung quốc  tung thòng lọng chín khúc thít chặt vào cổ Việt nam và mấy nước nhỏ bé khác.

Phải làm gì đây ?

Tác giả gửi cho Quê choa

(Bài vở gửi đăng QC là chủ kiến riêng của tác giả, không hẳn là chủ kiến của QC) Nguồn blog của nhà văn  Nguyễn Quang Lập  (đã bị hacker đánh sập)

Ghi chú:

Tướng Ngô Du nói gì với tướng Lê Quang Hòa và Lê Đức Thọ vào ngày 21-1-1974

Tướng Ngô Du, đại diện cho VNCH tại Ủy Ban Quân Sự 4 bên

Tướng Lê Quang Hòa, đại diện cho VN DC CH

Lê Đức Thọ, Ủy viên Bộ Chính Trị của Đảng  CSVN, (tức đảng LĐVN),

►Ai ra lệnh không được nổ súng trong trận Gạc Ma 14-3-1988?

Mời các bạn xem lại phim 14-3-1988 do quân đội TQ phát tán trên mạng internet. Trong khi đó, đảng CSVN giấu diếm rất kỹ vụ Gạc ma.

https://www.youtube.com/watch?v=ZEmirnjLef4

Lê Đức Anh, người móc nối giữa đảng CSVN và Trung Quốc dẫn tới Hội nghị bí mật Thành Đô ngày 3 và 4-9-1990

Posted in Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa | Leave a Comment »

►Đảng CSVN, Nhà Nước VN, Công An, An Ninh ở Sài Gòn và Hà Nội đã làm gì trong ngày 19-1-2016?

Posted by hoangtran204 on 19/01/2016

Họ làm 3 việc:

-Một, lo tưởng niệm “cụ Rùa” ở Hồ Hoàn Kiếm đã chết sáng nay. Các nhật báo lớn toàn quốc đưa tin trên mạng internet của họ. 
Hại, đang sửa soạn áo quần ngày mai họp đại hội đảng CSVN lần thứ 12 ở Hà Nội. 
-Ba, ngăn chận đàn áp đánh đập, bắt giữ  những người VN muốn tưởng niệm 74 chiến sĩ VNCH đã hy sinh bảo vệ Hoàng Sa ngày 19-1-1974
19-1-2016

HK Bau

10 hrs ·

Sáng nay 6 g đã có 6 an ninh đến thăm viếng tại nhà và thuyết phục tôi không đi dự lễ tưởng niêm 74 chiến sỉ Việt Nam đã hi sinh ngày 17/1/1974.  Sau hơn 1 giờ trao đổi, họ đi về và tôi đi. 3 cậu công an nói chuyện với tôi rất lễ độ đáng quí,

8,45 tôi đên nơi nhân viên an ninh dày dặt dưới nhiều sắc áo, tại đây tôi được anh Kha Lương Ngải cho biết các thành viên Câu Lạc Bộ Lê Hiếu Đằng đã bị cô lập tại nhà, sồ đến được khoản 10 người, tôi quyết định 1 người cũng làm. Tôi đến đứng trước tương đức THÁNH TRẦN, khoan hơn 10 người tơi yêu cầu tôi rời vị trí, nếu không đừng trách họ. Tôi cười và trả lời các anh muốn làm gì thì làm, kể cả giết tôi tại đây. Sau đó, tôi tiếp tục đứng tại chổ để mọi người thấy ,

Hơn 9 giờ,  anh Ngải đem vong hoa và biểu ngử đen, an ninh nhào vào cướp, môt vòng hoa khác do môt chị mang đến, chị đã bảo vệ vong hoa trước nhân viên an ninh đầy nhung nhúc, chị đem vòng hoa đặt trước tượng đài, thì ngay lập tức 1 xe chăn trước tương đài và xe xịt nước xịt vung vẩy toàn khu vực, tôi kêu mọi người vẫn tổ chức dù bị đàn áp thế nào cũng chấp nhân. Tôi đứng lên bên cạnh giáo sư Nguyển Đăng Hưng vk, nhà báo Lê phú Khải, và môt thanh niên luôn đi bên tôi như để bảo vê,

Thay mặt mọi người tôi phát biểu tỏ lòng tri ân 74 tử sĩ đã anh dũng hi sinh bảo vệ Hoàng Sa 42 năm trước, và nguyện cầu hồn thien sông núi Việt Nam! Các anh hùng tử sỉ hảy linh thiêng, dẫn dắt 1540 đại biểu dư DH12 của đảng cầm quyền hảy sáng suốt bầu chọ nhưng ngươi lảnh đao biếtđặt lợi ích đất nước dân tội lên trên hết, thực thi dân chu, tự do cho nhân dân cùng nhân dân kiến tao Việt Nam trở thành môt d d ất nước một dân tộc độc lập tư do hạnh phúc thực sự,
Rât tiếc không chụp anh được vì lo  đấu tranh với trên 100 nv a.n. k thưc hiện đc.

(Hình ảnh này đã được ghi lại trong phim của Thúy Nga trong bài  sáng nay)

——-

19-1-2016

Hoàng Dũng   2 mins ·  (Sài Gòn)

Xin được kể tóm tắt chuyện đi tưởng niệm các tử sĩ VNCH ngã xuống tại Hoàng Sa như sau:

Sáng nay khoảng 8h45 tôi rời khỏi nhà và tới chân tượng Trần Hưng Đạo, Q1 khoảng 9h. Vừa đặt chân xuống thì có 1 an ninh thường phục tới khuyên bảo đi về. Mình đang đi ra xa khỏi khu vực thì 2 an ninh khác đòi bắt. Sau đó mình được áp tải trên xe máy đưa về CAP Bến Nghé.

Ngồi đó chơi, tám chuyện phiếm với 1-5 anh an ninh đến 21:30 thì ra về, sau khi ăn hết 1 hộp cơm và 5 chai nước suối do các bạn CAP, an ninh mua cho.

Khi đưa về CAP Bến Nghé thì thấy Uy, Phát đã bị bắt ngồi đó. Phát bị an ninh đánh bể miệng.

Ngoài 3 người bị bắt nêu trên ra, còn có ít nhất 3 em sinh viên học sinh khác bị bắt. Những em này đến đầu giờ chiều đều được người nhà đến bảo lãnh ra về.

Cảm ơn ace đã đến trước CAP Bến Nghé chờ đợi mình. Khi mình ra thì CA ép mình rẽ lối về phía bên trái (tính từ trong ra) nên ace không nhìn thấy.

——

Nguyễn Mạnh Hien   6 mins báo tin

Phát Thành Huỳnh bị đánh khi bị bắt mang về công an phường Bến Nghé, quận 1…
Lúc sáng, ngày 19/1/2016 phát và một số người tại Sài Gòn ra bến Bạch Đằng thắp nhang tưởng niệm 74 tử sĩ VNCH, hải chiến Hoàng Sa, thì bị bắt về đồn công an phường Bến Nghé, quận 1 cùng với 3 người khác là anh Hoàng Dũng, anh Đinh Nhật Uy, và bạn Trần Đại Long.
Hiện tại cả 4 người đã được thả.  

Nguyễn Mạnh Hien's photo.
———

Nguyen Dang Hung added 6 new photos — with Suong Quynh

LỄ TƯỞNG NIỆM 74 TỬ SĨ HOÀNG SA
TẠI TƯỢNG ĐÀI TRẦN HƯNG ĐẠO – SÀI GÒN
BỊ NGĂN CHẶN, PHÁ PHÁCH
_________________________

Được biết đông đảo nhân sỹ trí thức thành viên Câu Lạc Bộ Lê Hiếu Đằng bị ngăn chặn từ nhà không thể đến được chỗ hẹn.
Phần tôi, vừa đến chổ tượng đài Đức Thánh Trần thì thấy công an đang giựt vòng hoa từ tay các nhân sỹ trí thức…

Họ kéo được vòng hoa còn lại qua phía bên kia đường, bờ sông…
Họ đã cướp những thứ khác mất rồi!

Tôi tự trách đến hơi trễ và không ghi được khoảnh khắc cao điểm của lễ tưởng niệm…
Chưa kịp lấy điện thoại di động ra ghi hình thì thấy các bạn trẻ phụ trách lẳng hoa đã thành công dành lại và mang lẳng hoa trở lại và đặt lại ở chỗ cần thiết.
Công an mặt thường phục vẫn không ngưng giằng co, đứng chắn đằng trước lẳng hoa không cho ghi hình…

Các nhân sỹ, ông Huỳnh Kim Báu, nhà báo Kha Lương Ngãi, Nhà báo Lê Phú Khải, chị Ánh Hồng, nhà giáo Trần Minh Quốc, Khánh Trâm ra sức giải thích cho công an ý nghĩa của lễ tưởng niệm: các anh không có quyền ngăn chặn như vậy. Đây là lễ tưởng niệm 74 chiến sỹ người Việt Nam đã bỏ mình trong cuộc chiến bảo vệ Hoàng Sa bị Trung Cộng đánh cướp.

Lần đầu tiên tham gia, tôi thật ngỡ ngàng chứng kiến một sự việc mà tôi chưa từng thấy trên thế giới Đông Tây mà tôi từng đi qua.

Một nhóm người tổ chức tưởng niệm sự kiện lịch sử liên quan đến chủ quyền biển đảo một cách ôn hòa, lịch sự bị một nhóm người khác đại diện cho chính quyền ra tay ngăn chặn một cách thô bạo ngang ngược…

Thú thật tôi rất bị sốc!

Tôi chưa bao giờ phải đối phó với một hoàn cảnh vô luật pháp như thế này.
Tôi thử vào cuộc hòa nhả bắt tay anh công an đứng gần, ôn tồn báo với các anh công an (có người tuổi quá 50) không nên làm như vậy… Tôi nói là tôi vừa từ Lý Sơn về, có tham gia lễ đặt viên đá đầu tiên cho khu tưởng niệm nghĩa sỹ Hoàng Sa với sự có mặt của nhiều lãnh đạo cao cấp đại diện cho Tòa án Tối cao, Viện Kiểm Sát tối cao, Tổng Liên Đoàn Lao Động Việt Nam…
Việc các anh làm là hoàn toàn đi ngược lại với sự kiện trọng đại ấy…, rất được lòng dân trong cũng như ngoài nước…
(Nhưng) Lời nói của tôi chẳng có một hiệu lực nhỏ nào…
Họ để ngoài tai và khư khư đứng chắn gây rối rất khó ghi hình…

Buổi lễ diễn hành dưới sự đe doa của rất đông “công nhân” quét dọn sẳn sàng xịt vòi nước vào đám đông chúng tôi. Tôi đã phải lớn tiếng với họ là không được làm tôi ướt vì tôi đang bị bệnh ZONA. Bệnh sẽ trầm trọng ra, nhức nhối thêm nếu tôi bị ướt…

Cuối cùng thì lẳng hoa cũng đã yên vị và ông Huỳnh Kim Báu có chút thì giờ phát biểu nói lên mục đích và ý nghĩa của buổi lễ…

Năm phút sau công an lại hùng hổ mang lẳng hoa đi và chúng tôi yên lặng tự giải tán…
Tôi cũng chứng kiến sự kiện công an có bắt nguội một số bạn trẻ, đẩy lên xe taxi sau đó…
Một ngày buồn sau ngày vui và phấn chấn ở Lý Sơn…
Sài Gòn ngày 19/1/2016
GS Nguyễn Đăng Hưng,

*Hình ảnh buổi tưởng niệm ở Sài Gòn đã được ghi lại trong phim của Thúy Nga trong bài đăng  sáng nay.
____

Nguyen Dang Hung's photo.
Nguyen Dang Hung's photo.
Nguyen Dang Hung's photo.
Nguyen Dang Hung's photo.
Nguyen Dang Hung's photo.
+2
———–

Lại TIN CỰC NÓNG: BÁO CHÍ LẠI ĐƯỢC ĐƯA TIN CỤ RÙA CHẾT. 

Hai sự kiện khá trùng hợp:

Khi HCM chết vào ngày mùng 2 tháng 9 năm 1969, đảng giấu nhẹm bảo dân là HCM chết ngày mùng 3 tháng 9 (vì ngày 2 là ngày lễ khai sinh nước VNDCCH, nếu ngày sinh này và ngày tử của HCM trùng nhau thì Ô hô Tai biến…).  Mấy chục năm sau, khi biết không thể giấu mãi,  đảng đính chính lại ông HCM chết mùng 2 tháng 9 1969.

Trước giờ đại hội đảng họp tại Hà Nội (20-1-2016) thì cụ rùa ở Hồ Gươm chết (19-1-2016), báo chí được lệnh đảng không được đưa tin.

Chú Tễu's photo.

Chỉ đạo báo chí không đăng tin Cụ Rùa từ trần

Chú Tễu's photo.
Nhưng mặc kệ, báo Tuổi Trẻ vẫn lên khuôn câu view:
Cuong Pham's photo.

 

TIN CỰC NÓNG:  ((Tin từ Kiều Mai Sơn))
CỤ RÙA HỒ GƯƠM CHẾT – Thiếu Tướng Công An Nguyễn Đức Chung TRỰC TIẾP ĐẾN HIỆN TRƯỜNG (vừa mới lên chức chủ tịch UBND Tp Hà Nội, hai năm sau sẽ thành bí thư HN, rồi vào Bộ Chính Trị…)

Cụ rùa Hồ Gươm nổi lên nhưng bất động

19/01/2016 19:18 GMT+7

TTO – Khoảng 18g30 ngày 19-1, cụ rùa nổi lên trên Hồ Gươm. Theo nhiều người chứng kiến, cụ rùa nổi lềnh bềnh, không cử động.
Ông Nguyễn Đức Chung, chủ tịch UBND TP Hà Nội, đã trực tiếp đến hiện trường.

Hiện cụ rùa đang được di chuyển về đền Ngọc Sơn.

—————

TP HCM: CHÍNH QUYỀN MẤT DẠY, RA TAY PHÁ LỄ TƯỞNG NIỆM

Sài Gòn, 19-1-2016

xuandienhannom

Tường thuật lễ tưởng niệm 74 tử sĩ Hoàng Sa
tại Sài Gòn

Chu Vĩnh Hải

Vào lúc 9 giờ 5 phút ngày 19-01-2016, khoảng từ 35-40 người dân Sài Gòn đã đến tượng đài Trần Hưng Đạo ở bến Bạch Đằng, quận 1 để dâng hương hoa tưởng niệm 74 chiến sĩ hải quân Việt Nam Cộng Hòa đã hi sinh trong cuộc chiến Hoàng Sa vào năm 1974 chống lại sự xâm lăng và xâm chiếm lãnh thổ của bè lũ Red China.
Số người tham gia tưởng niệm trên thực tế ít ỏi hơn nhiều so với dự tính ban đầu do trong nhiều ngày qua, chính quyền đã cấm hàng trăm nhân sĩ trí thức, hàng trăm dân thường đi ra khỏi nhà.
Trước khi lễ tưởng niệm diễn ra, 3-4 thanh niên lực lưỡng mặc thường phục đã lao vào cướp giật vòng hoa của những người tham gia tưởng niệm khi vòng hoa này vừa được đưa tới. Mọi người bối rối nhìn nhau không biết tìm đâu ra vòng hoa thì nhà báo Kha Lương Ngãi đã nhanh chóng đưa đến một vòng hoa.
Ông Huỳnh Kim Báu, chủ nhiệm Câu lạc bộ Lê Hiếu Đằng thay mặt những người tham dự lễ tưởng niệm đã phát biểu tri ân 74 chiến sĩ Hải Quân của Quân Lực VNCH đã anh dũng hi sinh vì chủ quyền thiêng liêng của đất nước, cầu chúc 74 anh linh mãi mãi vĩnh hằng. Sau phát biểu của ông Huỳnh Kim Báu, mọi người tiến hành dâng hương tưởng niệm và ra về trong tĩnh lặng.
PS: Ngay từ sáng sớm ngày 19-01-2016, người của các cơ quan công quyền đã rải dày đặc quanh khu vực tượng Trần Hưng Đạo. Có khoảng 50 công nhân(?) môi trường đô thị tiến hành quét rác và xả nước liên tục. Có một ông già mặc thường phục tuổi chừng 70, trông rất đẹp lão và quí phái, nói giọng miền Bắc khuyên mọi người đừng nên tiến hành lễ tưởng niệm. Nhiều thanh niên mặc thường phục cũng mặt mũi khôi ngô cũng có lời khuyên tương tự. Có một thanh niên to khỏe đẹp trai, mặt mũi khôi ngô, tuổi chừng 28-30 chăm lo việc giành vòng hoa. Anh chàng này đã được nhiều người tham gia tưởng niệm nhắc nhở nhẹ nhàng: ” Cháu- em đừng làm vậy mà có tội, mà thất đức với người đã khuất”.
 .
 

Hình ảnh tại Sài Gòn: 

..
 
 
Chu Vĩnh Hải:
Máu của tôi đã đổ trong lễ Tưởng niệm Hải Chiến Hoàng SaVào sáng ngày 19-01-2016. Máu của tôi đã đổ trong lễ tưởng niệm dâng hương hoa tri ân 74 con dân Việt Nam đã hi sinh trong trận hải chiến Hoàng Sa năm 1974 chống lại sự xâm lăng của bè lũ Red China.
Số là khi vòng hoa thứ hai được đưa đến(vòng hoa thứ nhất đã bất ngờ bị nhiều thanh niên mặc thường phục cướp giật ngay khi vừa được đưa đến), có một nam thanh niên đẹp trai, cao khoảng 1m72, tuổi chừng 28-30 xông vào giật vòng hoa. Tôi và một chi đã giằng co với nam thanh niên này để bảo vệ vòng hoa. Chị nói với nam thanh niên giật vòng hoa như van xin:” Cháu đừng làm thế mà có tội với người đã khuất”. Còn tôi, tôi nhỏ nhẹ nói:” Chú nhìn mặt cháu, chú biết cháu rất thông minh và có học. Chú xin cháu đừng giật vòng hoa này. Rồi đây, cháu sẽ hiểu hơn nhiều điều”. Nam thanh niên này đã hoàn toàn bị khuất phục trước sự nhẹ nhàng và lịch sự của những người tưởng niệm.
.
 
 
 .
Khi vòng hoa được bảo vệ an toàn, khi nam thanh niên không xông vào giành giật nữa, tôi thấy tay mình lành lạnh và ươn ướt. Thì ra là máu, máu đã chảy vì dây kẽm trong vòng hoa đã cứa vào tay tôi.
Nếu cho rằng, máu tôi đã đổ vì Hoàng Sa thương yêu của tổ quốc, tôi rất đỗi tự hào vì điều đó.
 

Tin và ảnh: FB Chu Vĩnh Hải

Hình ảnh Chính quyền TP Hồ Chí Minh cho người đến phụt nước phá đám.

.
 
 
Chính quyền TP Hồ Chí Minh thật là bọn chó má!
Một chính quyền bất nhân, bất nghĩa, ăn cháo đá bát!
Đó là chính quyền không phải của dân tộc và nhân dân!Lãnh đạo TP HCM đã bán linh hồn cho giặc rồi!
 —
Tại Hà Nội,
Dũng Mai Tôi còn nhớ ngày này năm ngoái 19/01/2015. Sáng sớm, ra phố đến một hàng bán hoa tươi mua một bó thật đẹp để đi đến Đài tưởng niệm anh hùng liệt sỹ với ý thức tri ân các liệt sỹ vị Quốc vong thân trên vùng biển Hoàng sa.
Cô bán hoa là sinh viên năm cuối Đại học Quốc gia đã không hề hay biết về trận hải chiến Hoàng sa.
Suốt nửa thế kỷ, nhà cầm quyền cộng sản đã không thành thật trong việc nhìn nhận Lịch Sử vệ quốc của Việt nam cộng hoà trong vấn đề Hoàng Sa. Sự thật đó là: dù phải đang đương đầu với sự tấn công xâm chiếm Miền Nam của Miền Bắc cộng sản nhưng chính quyền Miền Nam lúc đó vẫn anh dũng chống trả lại sự xâm phạm chủ quyền quốc gia bởi Trung Cộng để bảo vệ chủ quyền thiêng liêng của đất nước tại quần Đảo Hoàng Sa. Đây là một cuộc chiến bi hùng rất đáng ghi dấu trong lịch sử vệ quốc Việt nam.
Hôm nay dù không đến Đài tưởng niệm nhưng tôi kính cẩn nghiêng mình trước Anh linh 75 liệt sỹ Hoàng Sa, những hùng binh, những đứa con xứng đáng tôn vinh của nòi giống Lạc Hồng.
——————————————-

CHẾT TRONG DANH DỰ.

Đặng Bích Phượng- chimkiwi blog 

19-1-2016  

Hà Nội-Trên sân vườn hoa Lý Thái Tổ sáng 19/1/2016, tôi gặp lại một khuôn mặt quen thuộc, chuyên cầm máy quay sony, quay những người biểu tình và dân oan. Tôi cứ ngỡ khi thấy cả trăm người già trẻ lớn bé đang thắp hương cho 74 binh sĩ VNCH hy sinh trong hải chiến Hoàng Sa 1974, ít nhất cậu ta cũng tự hỏi tại sao? Tôi khen an ninh Hoàn Kiếm hôm nay hiền hòa. Một chị bên cạnh bảo: do chỉ đạo từ trên thôi!

Khen chưa dứt câu, cậu này nói, giọng vẻ giễu cợt:

– Nói thật nhé. Có mấy người dân Việt Nam biết về Hoàng Sa?

– Ô hay! Nếu đúng vậy thì lỗi này tại ai? Tại sao chính quyền không tuyên truyền cho người dân biết về chủ quyền biển đảo của mình?

– Thế Hoàng Sa mất là lỗi của ai? Có phải do sự yếu kém của VNCH không?

Tôi sửng sốt, chắp tay vái cậu này mấy vái. Hóa ra đây cũng chỉ là một loại robot đã được lập trình.

Năm 1973, Mỹ rút khỏi Việt Nam. Thậm chí cắt cả viện trợ quân sự cho VNCH. Một năm sau đó, Trung Quốc tấn công Hoàng Sa thuộc lãnh thổ VNCH.

Dù đơn độc và không đủ vũ khí như thời còn được Mỹ viện trợ, nhưng VNCH đã không ngồi yên nhìn lũ cướp nước chiếm đảo. Họ đã chiến đấu, và hy sinh khi bảo vệ Hoàng Sa. Đó là cái chết trong danh dự.

Chết cho Tổ quốc. Còn cái chết nào cao quý hơn thế?

Còn khi đó, quân miền Bắc làm gì?

Nhờ Trung Quốc cướp hộ mình là khốn nạn!

Nghĩ nó cướp hộ mình, rồi trả cho mình là ngu xuẩn!

Thế nên bây giờ ngoạc mồm ra đòi không được, lại đổ tại VNCH để mất.

Tôi vái con robot:

– Tôi lạy cậu.

Khi tôi chia sẻ bài này lên facebook, một bạn hỏi: “Nếu Hoàng Sa mất là do sự yếu kém của VNCH, thì Gạc Ma mất là do sự yếu kém của ai?”

Tôi để dành câu hỏi này cho cậu an ninh kia, và những người đào tạo nên cậu ta trả lời . 

Thực ra không thể so sánh, vì một đằng yếu nhưng vẫn dám đánh (vì nghĩa vụ thiêng liêng đối với Tổ quốc), một đằng mạnh nhưng không cho phép nổ súng để tự vệ. Nỗi oan của những người lính Gạc Ma trần mình ra hứng đạn và lưỡi lê, trời xanh không thấu!

——————————————-
Cuộc hải chiến Hoàng Sa giữa Việt Nam Cộng Hòa với Trung Quốc 19-1-1974
 

Posted in Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa | Leave a Comment »

►Dân chúng Miền Nam đã phản ứng ra sao khi Trung Cộng chiếm quần đảo Hoàng Sa ngày 19-1-1974

Posted by hoangtran204 on 19/01/2016

“Giá như nhà cầm quyền trưng ra được 1 bằng chứng như thế này thì tôi cũng tin rằng dạo ấy các vị (Bắc Việt và Mặt trận DTGPMNVN) đã có sự phản đối bọn xâm lược.” Nhà báo Nguyễn Thông hiện ở Sài Gòn đã viết trên facebook của ông ngày 19-1-2016.

Chú thích ảnh: Cuộc biểu tình phản đối của dân chúng quận Phú Mỹ (miền Nam VN) tháng 2.1974 sau khi Trung cộng cưỡng chiếm trái phép Hoàng Sa.  

Nguyễn Thông  10 hrs

Nguyễn Thông's photo.
Hôm nay 19-1-2016, Đảng CSVN, Nhà Nước VN, Công An, An ninh, đã và đang làm gì trong mấy ngày qua đối với những người VN muốn tổ chức ngày lễ kỷ  niệm ngày mất Hoàng Sa và tưởng niệm 74 chiến sĩ VNCH đã hy sinh tại quần đảo này sau khi Hải Quân VNCH (với lực lượng nhỏ bé hơn) đã tấn công hải quân Trung Cộng, đánh chìm và làm thiệt hại nhiều chiến hạm của Trung Quốc sáng ngày 19-1-1974. Sau đó, các hạm đội Mỹ báo cho Hải Quân VNCH biết rằng: 17 chiến hạm TQ đang từ phía đảo Hải Nam đang trên đường đến tiếp cứu cho hải quân của chúng.  (Mời các bạn đọc lại các link trong bài viết trước đây.)  
——-

Tuấn Khanh: Sự thật có phép chữa lành
Nguồn: F/B Nguyễn Tuấn Khanh

Năm thứ 41, kể từ khi những người cộng sản toàn trị ở Việt Nam, ngày tưởng niệm Trung Quốc tấn công và cưỡng chiếm Hoàng Sa mới được công nhận chính thức bằng một tấm bia dựng lên ở đảo Lý Sơn. Nhiều năm nay, người dân miền Nam Việt Nam thường chỉ nhắc nhau trong im lặng, vì bởi chuyện Hoàng Sa mất như thế nào, ra sao… vẫn nằm trong vùng cấm kỵ của mối quan hệ anh em giữa Hà Nội và Bắc Kinh.

Năm thứ 41, sự thật mới được làm rõ và mạnh dạn trên mọi kênh thông tin của nhà nước quản lý. Trước đây, nếu như có đưa tin hay có dịp nói rõ về sự xâm lược của Trung Quốc, đó cũng chỉ là sự vượt rào của giới báo chí khi được lệnh để đối phó ngoại giao, hoặc là những cú dấn đầy tính thăm dò trong một nền chính trị hiện tại, mà những người cầm quyền luôn cân nhắc xem việc nhìn nhận thể chế Cộng hòa phía Nam như thế nào cho “đúng tầm” của mình.

41 năm, sự thật vẫn nguyên vẹn đó. Sự thật vẫn thì thầm trên môi của từng người Việt yêu nước mình. Sự thật vẫn trao lại cho nhau bởi những người Việt không chấp nhận cúi đầu trước kẻ xâm lược, và gọi đó là bạn. Sự thật như chân lý – chỉ khuất chứ không bao giờ tắt.

Sự thật đẩy lùi chữ “ngụy” trên báo chí và truyền thông nhà nước, trên câu nói của các quan chức, và thay vào đó bằng những chữ khác, chút đàng hoàng hơn. Bởi một chính thể “ngụy” thì sẽ không bao giờ dám đương đầu với một quốc gia hùng mạnh hơn mình, không dám liều chết với kẻ xâm lược quê hương mình. 74 anh linh người Việt trong quân phục Việt Nam Cộng Hòa đã ghi tên mình vào sử sách Việt, trong việc chống lại Trung Quốc năm 1974, hy sinh đời mình. Sự thật về họ là bằng chứng duy nhất và mạnh mẽ nhất để nhà nước Việt Nam hôm nay có thể nói không ngại miệng rằng Hoàng Sa đã bị xâm lược, Hoàng Sa là của Việt Nam.

74 người lính đó không phải là nghĩa sĩ. Tấm bia giả dối chỉ ghi một nửa sự thật đó, rồi một ngày sẽ phải thay đổi. Nghĩa sĩ chỉ là những người có tấm lòng, và hành động trong một bối cảnh bị dồn ép. Nhưng 74 anh linh đó là những quân nhân nhận được mệnh lệnh trực tiếp từ chỉ huy của họ, của tổ quốc mình, rằng phải sống mái với giặc thù để giành lại đảo, giành lại biển, và họ trở thành tử sĩ. Rõ ràng, quyết tâm và hành động của thiếu tá Ngụy Văn Thà và đồng đội của mình hoàn toàn khác hẳn với 64 binh sĩ của quân đội Nhân Dân Việt Nam trên đảo Gạc Ma, bị thảm sát năm 1988: đó là những người bộ đội bị giết chết uất ức vì theo lệnh của chỉ huy trên đất liền là không được đánh trả. Thậm chí xác của họ không được trục vớt, thông tin bị ém nhẹm suốt nhiều năm, họ từng bị bỏ quên trong trong nhiều năm một cách đau xót. Chính những người đó đã hy sinh trong vai trò của nghĩa sĩ. Ngày 19/1/1974 không có nghĩa sĩ, mà chỉ có những người hy sinh vì đất nước, những tử sĩ của quốc gia.

Sự thật sẽ trả lại sức mạnh cho nhân dân Việt, khi chính thức được nói rằng kẻ thù đang ở ngay bên cạnh, và được không ít kẻ trong nước ôm ấp, mơn trớn cho tư lợi. Sự thật sẽ mang lại đoàn kết cho dân tộc Việt, vốn đã rã rời bởi sự lừa dối có chủ đích của những kẻ có quyền, muốn bẻ cong lịch sử. Victor Hugo (1802-1885) có nói rằng “Nhân dân không bao giờ thiếu sức mạnh, nhân dân chỉ thiếu ý chí”. Sự thật trả lại ý chí và sức mạnh cho dân tộc này – ngoại trừ việc loại lãnh đạo nào đó căm ghét sức mạnh và ý chí của người Việt Nam trước kẻ xâm lược.

“Sự giả dối có vô vàn biến thể, nhưng sự thật chỉ có một thể tồn tại duy nhất”, Jean Jacques Rousseau (1712 – 1778) có nói vậy. Và một chính quyền, chỉ có thể chính danh khi đi cùng sự thật. 41 năm, sự kiện hải chiến Hoàng Sa của những quân nhân Việt Nam Cộng Hòa có thể được sử dụng như một đòn phép chính trị trong hay ngoài nước, được xuất hiện rõ ràng và công khai, nhưng phải là sự thật. Trong tin tức và video những ngày mà người dân được nhìn thấy, những vòng hoa cho ngày 19/1 bị những tên tay sai giằng xé, không cho đem ra lễ tưởng niệm. Những giờ thiêng mặc niệm cho anh linh của liệt sĩ bị bọn bán nước nói tiếng Việt đến quấy nhiễu. Thật nhục nhã và đồi bại. Tuồng trò chính trị có vô vàn biến thể – nhưng lòng yêu nước chỉ có một thể tồn tại duy nhất. Sự thật sẽ ghi lại và phỉ nhổ!

Nếu được tôn trọng, sự thật có phép chữa lành. Sự thật sẽ chữa lành cho các thế hệ cảm thấy mình vô can trước tổ quốc đang khốn khó. Sự thật gột rửa và cứu chuộc cho những kẻ tay sai truyền thông bị nhồi sọ, và cả những thế hệ trẻ bị tẩy não, chỉ còn biết thù ghét đồng bào của mình nhưng giỏi quỳ gối khom lưng trước quyền thế của bọn giặc phương Bắc. Sự thật cũng vén sương mờ và chọn người lãnh đạo cho quê hương này: một người biết yêu tổ quốc và quyết không nô lệ cho bất kỳ một lý tưởng nào.

Và sự thật, cũng sẽ cứu chuộc chính chúng ta.

——-

Sau ngày Hải chiến Hoàng Sa 19-1-1974, báo chí VNCH đã đưa tin như sau:

 

Đảng CSVN, Nhà Nước VN, Công An, An Ninh ở Sài Gòn và Hà Nội đã làm gì trong ngày 19-1-2016!

Họ làm 3 việc:
-Lo bàn chuyện tưởng niệm “cụ Rùa” ở Hồ Hoàn Kiếm đã chết sáng nay. Các nhật báo lớn toàn quốc đưa tin trên mạng internet của họ. 
Đảng viên và các viên chức nhà nước đang soạn  áo quần bảnh bao, chuẩn bị họp đại hội đảng CSVN tại Hà Nội ngày 20-1-2016.
-Và ngăn chận đàn áp đánh đập, bắt giữ  những người VN muốn tưởng niệm 74 chiến sĩ VNCH đã hy sinh bảo vệ Hoàng Sa ngày 19-1-1974

Posted in Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa | Leave a Comment »

 
Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.