Trần Hoàng Blog

Archive for the ‘Moi Truong bi O nhiem’ Category

►Hơn 1000 người dân thuộc giáo xứ Song Ngọc đi Hà Tỉnh nộp đơn kiện Formosa, đòi quyền làm người, quyền sống 14-2-2017

Posted by hoangtran204 on 14/02/2017

Linh mục JB Nguyễn Đình Thục, Quản xứ Song Ngọc, G.p Vinh và bà con giáo dân Song Ngọc thuộc ba xã Quỳnh Ngọc, Sơn Hải, Quỳnh Thọ hôm nay (14.2.2017) lên đường đi nạp đơn khởi kiện Formosa. Chuyến đi dài hơn 175 km từ Quỳnh Lưu Nghệ An đi ra Hà Tĩnh nộp đơn kiện Formosa đòi quyền lợi. Trên đường đi, họ đã bị công an, an ninh, và côn đồ ngăn chặn, đánh đập đổ máu. 

3 người đã bị công an bắt giữ, 10 người bị hành hung đánh đập đổ máu quá nguy kịch phải chở đi bệnh viện cấp cứu ngay. 40 người bị đánh đập đổ máu cũng phải đi bệnh viện để được băng bó.

Đọc tiếp »

Posted in Bắt bớ-Tù Đày-Đánh đập-Đàn Áp, Dân Chủ và Nhân Quyền, Formosa Hà Tỉnh -Cá chết- Ô nhiễm, Moi Truong bi O nhiem | Leave a Comment »

►Mùa Xuân Tây Tạng và Câu Chuyện Những Dòng Sông

Posted by hoangtran204 on 12/01/2017

Thứ Tư, ngày 11 tháng 1 năm 2017

NGÔ THẾ VINH: MÙA XUÂN TÂY TẠNG VÀ CÂU CHUYỆN NHỮNG DÒNG SÔNG

Gửi Nhóm Bạn Cửu Long 

If Tibet dries, Asia dies
Nếu Tây Tạng khô hạn, Châu Á chết
[www.tibetanwomen.org] 

Hình 1:Đức Dalai Lama và Cực Thứ Ba của Trái Đất. [nguồn: http://www.activeremedy.org%5D 


CỰC THỨ BA CỦA TRÁI ĐẤT

Khoảng ba trăm triệu năm trước, Tây Tạng còn nằm dưới đáy biển Tethys nguyên là một đại dương mênh mông bao trùm cả diện tích Châu Á và Ấn Độ. Do hành trình va chạm dữ dội của hai khối tiền lục địa Gondwanaland và Laurasia tạo nên cơn địa chấn với sức ép khổng lồ từ khối đất Ấn Độ dồn lên phía bắc tạo thành dãy Hy Mã Lạp Sơn và Cao nguyên Tây Tạng.  

Với lịch sử địa chất ấy, Tây Tạng là vùng đất cao từ 3500 tới 5000m – được mệnh danh là“xứ tuyết”,“nóc của trái đất”, hay “Cực Thứ Ba / Third Pole”— hai cực kia là Bắc Cực và Nam Cực. Tây Tạngvới diện tích hơn một triệu km2 gần bằng Tây Âu nhưng cô lập với thế giới bên ngoài bởi ba bề núi non hiểm trở: phía nam là dãy Hy Mã Lạp Sơn, phía tây là rặng Karakoram, phía bắc là các rặng Kunlun và Tangla;riêng phía đông cũng bị cắt khoảng bởi các dãy núi không cao và lũng sâu và thoải dần xuống tới biên giới Trung Hoa,ráp gianh với hai tỉnh Tứ Xuyên và Vân Nam.

Phía tây bắc,Tây Tạng là một vùng đất hoang đông giá, gần như không người no-man’s-land trải dài hơn 1200km từ tây sang đông.

Phía nam là vùng núi non với thảo nguyên, nơi sống của dân du mục với các đàn cừu dê và những con bò Yaks. 

Phía đông là tỉnh Kham và đông bắc là tỉnh Amdo (quê hương của Đức Dalai Lama thứ 14) là vùng trù phú và đông dân nhất.

Thứ đến là vùng đất phía nam khí hậu bớt khắc nghiệt, nơi có con SôngYarlung Tsangpo với những phụ lưu như một mạch sống.

Người nông dân Tây Tạng chủ yếu trồng lúa mạch và khoai tây là hoa màu phụ. Khí hậu thay đổi thất thường như mưa đá, đông giá nên mùa màng luôn luôn bị hư hại. Nguồn thực phẩm ổn định hơn là nuôi gia súc ngoài đàn bò Yaks còn có trừu, dê và gà để lấy trứng. Tsampalàm từ bột lúa mạch sấy là món ăn thường nhật của người Tây Tạng.

Quốc giaTây Tạng là hình ảnh mênh mông của những thảo nguyên với núi cao và lũng sâu, bầu trời thường thì trong xanh như ngọc. Cho tới cuối thế kỷ 19, nếp sống của họ vẫn vậy như từ hàng ngàn năm trước. 

XỨ SỞ CỦA ĐẠO PHẬT

Đạo Phật du nhập vào Tây Tạng 12 thế kỷ sau khi Phật Thích Ca nhập niết bàn, khoảng thế kỷ thứ 7 sau Công nguyên. Khí Tông Cương Tán (Songtsen Gampo) là một tù trưởng tài ba đã thống nhất được các bộ lạc trên cả một vùng băng tuyết tới chân Hy Mã Lạp Sơn; ông cưới công chúa Nepal làm hoàng hậu và chính nàng công chúa này đã du nhập đạo Phật vào Tây Tạng. Tây Tạng thời kỳ ấylà một quốc gia hùng mạnh khiến vua Trung Hoa đời Nhà Đường cũng phải xin cầu hòa và gả công chúa cho Khí Công Cương Tán, nàng công chúa gốc Hán này cũng đem đạo Phật vào Tây Tạng. Đạo Phật từ đó đã phát triển rất mạnh trên vùng đất mới, hòa nhập với tín ngưỡng Bon đa thần để biến thể thành một thứ đạo Phật cao siêu và thần bí. 

Tới thế kỷ 14 một vị chân tu tên Tống Cáp Ba – Tsongkhapa đã sáng lập nên phái Hoàng Mão Hoàng Y của Phật giáo chính thống Tây Tạng. Sau khi ông mất, người kế thừa cũng là một vị chân tu tên Gendun Drup được toàn thể giới tăng lữ suy tôn làm Dalai Lama (Lama là một từ Tây Tạng có nghĩa là bậc thầy), ông có công phát huy đạo Phật đồng thời cũng xây dựng được một nền hành chánh kết hợp với giáo quyền trị vì quốc gia Tây Tạng. Vị đại sư mưu trí này đã đặt ra quy luật tái sanh củaDalai Lama theo đó khi chết linh hồn vị Dalai Lama sẽ nhập vào một trẻ sơ sinh như hiện thân của Bồ Tát Quán Thế Âm – Bodhisatva  Avalokitesara.

Tới thế kỷ 16, do các giáo phái lại chống đối nhau dẫn tới sự can thiệp của quân Mông Cổ, sau đó thì chính Đại Hãn Mông Cổ là Altan Khan do cảm phục kiến thức cao sâu của vị đại sư nên cũng xin quy y, đồng thời phong tước cho vị Lama làDalai Lama– Dalai là từ Mông Cổ có nghĩa biển cả, bao hàm kiến thức mênh mông.

Đây là thời kỳ cực thịnh của Phật giáo Tây Tạng ghi dấu bằng công trình xây cất Lâu Đài Mùa Đông – Cung Điện Potala 1000 phòng của các vị Dalai Lama, được coi như một kỳ quan kiến trúc của thế giới.

Nhưng về phương diện lịch sử thì ngôi Chùa Jokhang mới là di tích cổ kính nhất, được xây dưới triều vua Khí Tông Cương Tán, nơi chứa tượng Phật do công chúa Nepal thỉnh về.Kỳ quan của Jokhang không phải chỉ là các tượng Phật mà là tấm bia đá dựng trước chùa như di tích lịch sử về một quá khứ hùng mạnh của quốc gia Tây Tạng, đã từng gây khốn đốn cho các vua Trung Hoa đời nhà Đường. Trên tấm bia là bản hiệp ước được phê chuẩn bởi Đại Hoàng đế Tây Tạng và Hoàng đế Trung Hoa vào năm 821-822 khắc bằng hai thứ tiếng Tây Tạng và Trung Hoa với nội dung [Hình 2]: 

“Thỏa thuận cùng nhau về sự liên minh giữa hai quốc gia… tìm cách ngăn ngừa những nguyên nhân gây tàn hại cho hai xứ sở bây giờ và mai sau, để mang lại hòa bình lâu dài cho thần dân hai nước. Thỏa ước được khắc trên bia này để cho các thế hệ tương lai được biết tới.” (1) 

Hình 2: Jokhang, ngôi chùacó lịch sử hơn 1,300 năm ghi dấu một thời kỳ hưng thịnh của quốc gia Tây Tạng. Tấm bia ghi bản hiệp ước giữa Đại Hoàng đế Tây Tạng và Hoàng đế Trung Hoa vào năm 821- 822 đã bị phá huỷ.Jokhang, cùng với lâu đài Potala được UNESCO đưa vào danh sách Di sản Thế giới. [nguồn: internet] 

Giữa thời kỳ hưng thịnh của quốc gia Tây Tạng [618-907] nơi đầu nguồn Sông Mekong thì lúc ấy Việt Nam lại đang phải sống trong tối tăm nhục nhã dưới ách thống trị của người Tàu với cái tên An Nam Đô Hộ Phủ. Việt Nam đã bị nô lệ Tàu tổng cộng 1050 năm trước khi lấy lại được nền tự chủ với các triều đại Ngô, Lê, Lý, Trần.

Nhưng rồi cũng không tránh được lẽ thịnh suy, những thế kỷ sau đó Tây Tạng lại bị Trung Hoa xâm lấn, thủ đô Lhasa thường xuyên bị chiếm đóng. Đến đầu thế kỷ 20,nhân lúc triều đình Mãn Thanh bị cuộc Cách Mạng Tân Hợi của Tôn Dật Tiên lật đổ, nhân dân Tây Tạng đã lại vùng lên và tuyên bố độc lập nhưng bị đàn áp và đã gặp phải sự thờ ơ đến tàn nhẫn của thế giới. Trung Hoa cho dù dưới thể chế chánh trị nào vẫn xem Tây Tạng như phần lãnh thổ của họ. 

MỘT TÂY TẠNG ĐAU THƯƠNG

Năm 1933 khi vị Dalai Lama 13 viên tịch, tương truyền rằng người ta thấy mặt ngài ngoảnh về hướng đông bắc, phía tỉnh Amdo. Kết hợp với một số điềm báo triệu khác, các vị trong hội đồng giáo phẩm tới được ngôi làng Takster tỉnh Amdo và họ đã tìm ra đứa trẻ hai tuổi là đứa con thứ tư trong một gia đình nông dân nghèo khó, và sau một chuỗi những trắc nghiệm thử thách, cậu bé Tenzin Gyatso sinh ngày 6 tháng 7 năm 1935, được công nhận là hiện thân củaĐức Dalai Lama thứ 14. 

Amdo lúc đó đang thuộc quyền kiểm soát của quân Trung Quốc nên phải trải qua hai năm thương thuyết khó khăn, cậu bé Tenzin Gyatso mới được rời Amdo lên thủ đô Lhasa và được đưa vào Cung Điện Mùa Hè Norbulingka rồi Cung Điện Mùa Đông Potala để được nuôi dưỡng và giáo dục đúng theo giáo lý bởi những vị cao tăng uyên bác. Trong thời gian đó, một quan nhiếp chính được chỉ định để lo việc nước.

Tình hình càng trở nên tệ hạikhi Tưởng Giới Thạch bị thua phải chạy ra đảo Đài Loan (1949), Hồng Quân chiếm trọn Hoa Lục đồng thời cũng xua quân vào cưỡng chiếm Tây Tạng với chiêu bài “giải phóng nhân dân Tây Tạng đang bị giai cấp phong kiến áp bức.”

Và đã có ngay từng đợt hàng trăm ngàn binh lính Trung Cộng tiến vào Tây Tạng, kéo theo sau là gia đình của họ. Khác xa với hứa hẹn ban đầu bảo đảm tự do tín ngưỡng và phong tục tập quán của dân Tây Tạng, họ mở ngay chiến dịch chống tôn giáo, đồng thời thi hành “chánh sách tàm thực/ tầm ăn dâu”không ngừng di dân gốc Hán vào đất nước Tây Tạng.

Năm 1950, do nhu cầu cấp bách của thời cuộc, ở cái tuổi mới 16, Tenzin Gyatso đã phải rất sớm đứng ra đảm đương mọi trách nhiệm chánh trị điều hành quốc gia Tây Tạng.  Năm 1954, Gyatso bị đưa sang Trung Quốc gặp Mao Trạch Đông trong ý muốn thuyết phục vị Dalai Lama trẻ tuổi ấy chấp nhận một xứ sở Tây Tạng sát nhập vào trật tự nước Trung Hoa.

Trước nguy cơ diệt vong, năm 1959 nhân dân Tây Tạng lại nhất loạt nổi dậy, nhưng đã bị Hồng Quân trấn áp và tàn sát không thương tiếc. Trong cuốn tự truyện Tự Do Trong Lưu Đầy – Freedom in Exile, Tenzin Gyatso viết:

“Trong gần một thập niên, ở cương vị người lãnh đạo chánh trị và tôn giáo cho dân tộcTây Tạng, tôi đã cố gắng tái tạo mối liên hệ hòa bình giữa hai quốc gia Tây Tạng và Trung Hoa, nhưng trách vụ ấy không thể hoàn thành. Tôi đi tới kết luận là tôi sẽ phục vụ dân tộc tôi được nhiều hơn nếu tôi sống ở nước ngoài.” (1)

Đức Dalai Lamathứ 14 đã dẫn hơn một trăm ngàn dân Tây Tạng vượt biên giới thoát sang Ấn Độ. Bất chấp sự chống đối và cả hăm dọa của Bắc Kinh, chánh phủ Ấn vẫn giúp định cư số người Tây Tạng lưu vong này nơi thị trấn Dharmasala dưới chân rặng Hy Mã Lạp Sơn. Một chánh phủ lưu vong Kashag được hình thành như niềm hy vọng sống còn đối với người dân Tây Tạng trong nước. 

Phía Trung Quốc bất kể nguyện vọng dân Tây Tạng ra sao, họ vẫn sát nhập quốc gia này vào “Nước mẹ vĩ đại Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.”Tháng 9 năm 1965, Bắc Kinh tuyên bố lập“Vùng tự trị Tây Tạng – Tibetan Autonomous Region” trực thuộc nước Trung Hoa. Điều ấy có nghĩa là quốc gia Tây Tạng bị Bắc Kinh xoá tên trên bản đồ thế giới. 

Và rồi các giai đoạn thảm khốc nhất đã diễn ra trong suốt thập niên sau đó khi có cuộc Cách Mạng Văn Hóa. Cả một di sản văn hóa của dân tộc Tây Tạng bị tận diệt một cách công khai và có hệ thống bởi những đoàn Vệ Binh Đỏ. Các đền đài tu viện bị phá trụi, các tranh tượng tôn giáo bị hủy hoại. Hàng chục ngàn người Tây Tạng bị kết tội “phản động” vì không chịu lên án Đức Dalai Lamavà từ bỏ đức tin của họ.   

Theo thống kê của Trung Cộng (1982) có 3.87 triệu người Tây Tạng, nếp sống đơn sơ và hiếu khách nhưng họ là một dân tộc đang phải sống trong nô lệ và chịu nỗi khổ đau vô hạn“trong nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa”

Hình 3:Uống nước nhớ nguồn. Ngay sau cuộc nổi dậy của nhân dân Tây Tạng 1959 bị Bắc Kinh đàn áp đẫm máu khiếnĐức Dalai Lama và hơn 100,000 người Tây Tạng phải tỵ nạn sang Ấn Độ. Việt Nam Cộng Hoà lúc ấy đã tức thời gửi lúa gạo sang cứu trợ. Lúa gạo ấy đã được gieo trồng từ nguồn nước con Sông Mekong. Đức Dalai Lamađã tiếp Phái đoàn Việt Nam tại Darjeeling, Ấn Độ. Từ trái: Gs Lê Xuân Khoa Tổng thư ký Hội Văn hoá Á Châu, Thượng toạ Thích Trí Dũng,Đức Dalai Lama, và Phó Chủ tịch Quốc Hội VNCH Cổ Văn Hai.(4) 

Tháng 10 năm 1987, không còn kiên nhẫn hơn được nữa, dân Tây Tạng lại vùng dậy và cũng lại bị quân chiếm đóng Trung Cộng đàn áp tàn bạo. Đã có khoảng 1.2 triệu người Tây Tạng bị giết, một con số thật khủng khiếp nếu so với tổng số dân Tây Tạng chưa tới 4 triệu. 

Để phối hợp với các cuộc đấu tranh ở trong nước, Đức Dalai Lamađã rời Dharmasala và du hành qua nhiều quốc gia trên thế giới để nói lên nguyện vọng được sống trong độc lập và tự do của nhân dân Tây Tạng. 

Tenzin Gyatso chỉ nhận mình là một nhà sư giản dị, không bao giờ tự huyền thoại hóa mình là Phật Sống. Bất cứ ở đâu, bất cứ lúc nào, vẫn luôn luôn là một con người nhu hòa không định kiến, vượt lên trên mọi khen chê. Ông là một con người giàu lòng từ bi, hơn thế nữa là con người của tự do. Với tinh thần bất bạo động linh hoạt – active non-violence, ông luôn luôn cố gắng tái tạo mối liên hệ tin cậy và hòa bình với phía thù nghịch cho dù Bắc Kinh không từ một thủ đoạn nào đểgây tai tiếng và bôi nhọ ông. 

Hình 4:Jampa Yeshi, tên người thanh niên Tây Tạng đang chạy như một ngọn đuốc trên một đường phố New Dehi 26.3.2012 đòi tự do cho nhân dân Tây Tạng.Từ 2009 tới 2016, đã có 153 nhà sư và thường dân Tây Tạng tự thiêu phản kháng sự chiếm đóng của Trung Quốc.[nguồn:AP, photo by Manish Swarup]

 Cho dù gần đây Trung Cộng cho xây dựng lại một số chùa chiền ở Tây Tạng bề ngoài như một “sửa sai sau Cách Mạng Văn Hóa” nhưng chỉ là để phát triển kỹ nghệ du lịch; cùng một lúc họ cho gài công an chìm vào khắp các tu viện, đi xa hơn nữa Bắc Kinh còn cấm người trẻ đi tu và đồng thời cưỡng bách các vị sư già ngoài 60 tuổi phải về hưu trong khi vẫn không ngừng rêu rao “Tự do tôn giáo là điều được ghi trong hiến pháp”.

Nếuchỉ viếng thăm Tây Tạng “như một khách du lịch” và đi theo đoàn du khách với cô hướng dẫn người gốc Hán thì mọi sự đều rất êm thấm, cũng như một số khách Tây Phương – kể cả chánh trị gia lão thành Edward Heath cựu thủ tướng Anh, được Bắc Kinh tổ chức cho đi thăm Tây Tạng, khi trở về nói mọi chuyện ở đó đều tốt đẹp. Họ nói thật qua những điều dàn dựng và được phép cho thấy. Và bao giờ cũng vậy, những điều cho thấy ấy là một sự dối trá trắng trợn. 

TÂY TẠNG VÀ BÀI HỌC AN NAM ĐÔ HỘ PHỦ

Trong khoảng hơn 20 nămtừ 1995,kể từ khi có mối quan tâm về con Sông Mekong dài hơn 4,800 km ấy, về phương diện địa dư chính trị/ geopolitics, người viết luôn luôn xem Tây Tạng như một quốc gia, và con SôngMekong chảy qua 7 quốc gia – thay vì 6.Nếu không kể Tây Tạng như một quốc giađầu nguồn, một cách vô thức, cộng đồng quốc tế đã mặc nhiên hợp thức hoá dã tâm của Bắc Kinh muốn xoá Tây Tạng trên bản đồ thế giới. 

Trong buổi lễ trao Giải thưởng Nhân quyền Robert F. Kennedy ngày 9 tháng 11 năm 1998 tại Đại Học Georgetown, Đức Dalai Lamatỏ ý ao ước được viếng thăm Việt Nam năm 2000. Điều đặc biệt hơn nữa làĐức Dalai Lamacòn có đề nghị với các học giả Việt Nam hãy cung cấp cho các nhà sử học Tây Tạng những sử liệu liên quan tới mối quan hệ giữa Việt Nam – Trung Hoa và Việt Nam – Tây Tạng.

Và ai cũng hiểu rằngĐức Dalai Lama muốn nhân dân Tây Tạng tìm đến “Bài học Việt Nam”, làm thế nào dân tộc Việt vẫn lấy lại được nền tự chủ sau cả ngàn năm đã bị người Tàuđô hộ và quyết tâm đồng hóa. Đó như một “thông điệp hy vọng” của những người dân Tây Tạng đang bị Trung Quốc áp bức như hiện nay. (4)

Nhưng cũng đểthấy ngay một khác biệt sâu xa giữa hai quốc gia Việt Nam và Tây Tạng.Trong hơn một ngàn năm bị đô hộ ấy, Trung Hoa chưa có nạn nhân mãn, Việt Nam vẫn là xứ xa xôi còn bị coi là man di chưa xuống xa tới Đồng Bằng Sông Cửu Long, chưa phải đối đầu với“chính sách tàm thực di dân Hán hóa” như thảm trạng hiện nay của Tây Tạng, khiếndân Tây Tạng đang mau chóng trở thành thiểu số trong biển người Hán ngay trên chính quê hương của họ. Với chiêu bài dân chủ nhân danh quyền tự quyết, nếu có một cuộc trưng cầu dân ý diễn ra trên đất nước Tây Tạng do Bắc Kinh chủ xướng, thì đó là một “cuộc tự sát” mà không một người dân Tây Tạng nào có thể ngây thơ chấp nhận.  

Đã 16 năm kể từ năm 2000, Đức Dalai Lamanăm nay cũng đã hơn 81 tuổi, và không có cuộc viếng thăm nào củaĐức Dalai Lama tới Việt Nam.Chấp nhận hay không cuộc viếng thăm ấy là một thử thách can đảm đối với nhà cầm quyền Cộng sản Hà Nội. Đó cũng là thước đo mức tự chủ của Việt Nam đối với Trung Quốc. 

TÂY TẠNG MẠCH SỐNG CỦA CHÂU Á

Các con sông lớn như mạch sống cho toàn vùng Châu Á đều bắt nguồn từ Cao nguyên Tây Tạng. (2) 

Phía tây, gần rặng núi Kailash là hai con Sông Indus và Sutlej chảy về hướng tây nam và giao thoa với ba con sông khác để hình thành vùng châu thổ Punjab giữa hai nước Ấn và Hồi.

Phía nam là con Sông Yarlung Tsangpo hay “nguồn tinh khiết”còn được mệnh danh là “con sông cao nhất thế giới”,với các ghềnh thác xuyên dãy Hy Mã Lạp Sơn, rồi chảy qua Ấn độ, Bhutan và Bangladesh, con sông mang tên Brahmaputra trước khi đổ vào Vịnh Bengal, thuộc Ấn Độ Dương. 

Phía đông là khởi nguồn của các con sông lớn khác: Sông Dương Tử 6,500km dài nhất Châu Á chảy về hướng đông theo suốt chiều ngang lãnh thổ Trung Hoa tới Thượng Hải, còn Hoàng Hà thì chảy về hướng bắc rồi sang đông tới Thiên Tân – Tianjin, và cả hai cùng đổ ra biển Trung Hoa.  

Phía nam là hai con Sông Irrawaddy và Salween chảy xuống Miến Điện theo hướng bắc nam trước khi đổ vào Biển Andaman, những con đập thuỷ điện Made-in China nay đang bắt đầu xiềng xích và huỷ hoại hệ sinh thái của hai con sông Miến Điện này. [Hình 5] 

Hình 5: Quốc gia Tây Tạng, nơi phát xuất những con sông lớn của Châu Á[nguồn: Meltdown in Tibet, Michael Buckley, Palgrave MacMillan 2014] 

Riêng con Sông Mekongdài hơn 4,800km, mang nhiều tên khác nhau, bắt nguồn từ Tây Tạng: có tên Dza-Chu có nghĩa“nguồn nước của đá,”tiếp tục chảy về hướng nam băng qua những hẻm núi sâu của tỉnh Vân Nam với tên Trung Hoa là Lancang Jiang“con sông xanh cuộn sóng,” qua đến biên giới Lào Thái mang một tên khác Mae Nam Khong “con sông mẹ,”xuống Cam Bốt lại mang một tên khác nữa Tonle Thom “con sông lớn” cuối cùng chảy qua Việt Nam mang tên Cửu Long“chín con rồng” với hai nhánh chính là Sông Tiền và Sông Hậu đổ ra Biển Đông bằng chín cửa sông, và nay chỉ còn bảy. 

Cũng để thấy một con Sông Mekong hoang dã không còn nữa khi 6 con đập dòng chính khổng lồ Vân Nam đã hoàn tất, và 12 con đập hạ lưu Lào và Cam Bốt đang lần lượt được triển khai, cùng với những kế hoạch thuỷ lợi nguy hiểm là chuyển dòng lấy nước trên suốt chiều dài con Sông Mekong. Hậu quả là sự suy thoái của toàn thể hệ sinh thái lưu vực Sông Mekong và Đồng Bằng Sông Cửu Long thì khô hạn, nhiễm mặn và đang chết dần. 

TIẾNG NÓI BẢO VỆ MÔI SINH

Đức Dalai Lamakhông chỉ là vị lãnh đạo tinh thần của dân Tây Tạng, ông còn là tiếng nói của “từ tâm” luôn luôn đấu tranh cho nhân quyền và bảo vệ môi sinh cho toàn hành tinh này. 

Với quốc gia Tây Tạng, Đức Dalai Lamađã giành ưu tiên cho bảo vệmôi sinh thay vì thay vì những vấn đề chính trị nóng bỏng. 

“Lịch trình chính trị có thể hoãn lại 5 – 10 năm nhưng cộng đồng quốc tế cần tập trung quan tâmtới biến đổi khí hậu trên Cao nguyên Tây Tạng:khối băng tuyết đang tan rã, nạn phá rừng, và ô nhiễm nguồn nước do những dự án khai thác hầm mỏ, là những vấn đề cấp thiết, không thể chờ đợi.” 

Đức Dalai Lamađã nói với Đại sứ Hoa Kỳ Timothy Roemer như vậy trong một gặp gỡ ở New Delhi, thủ đô Ấn Độ vào tháng 8, 2009. [nguồn: Wikileaks Cables, the Guardian 10 Aug. 2009] 

Từ trên đầu nguồn, những con sông lớn Châu Á đang bị Trung Quốc phá huỷ một cách toàn diện và có hệ thống: với khí thải từ các nhà máy gây hiệu ứng nhà kính khiến khối băng tuyết đang tan rã, rồi nạn phá rừng tự sát / suicidal deforestation, tới các kế hoạch khai thác hầm mỏ đại quy mô, tàn phá sinh cảnh, gây ô nhiễm các nguồn nước; những con sông trên Cao nguyên Tây Tạng cũng đang bị Trung Quốc xiềng xích bởi những con đập thuỷ điện và người dân Tây Tạng thì bị đuổi ra khỏi vùng đất đang sinh sống của họ.  

Hình 6: Hâm Nóng Toàn Cầu trên Tây Tạng; Nếu Tây Tạng khô hạn, Châu Á chết[nguồn: Meltdown in Tibet, Michael Buckley, MacMillan 2014] 

Hoa Lục xác nhận là sẽ xây các con đập lớn trên thượng nguồn Sông Yarlung Tsangpo – Brahmaputra, trước khi con sông ấy chảy sang Ấn Độ, Bhutan và Bangladesh. Brahmaputra là dòng sông huyết mạch của bao nhiêu triệu cư dân của 3 quốc gia này. 

Giới chức Hoa Lục cho biết họ sẽ còn xây thêm những con đập khác giữa các quận hạt Sangro và Jiacha. Khi hoàn tất, tổng số công suất của những con đập thủy điện này sẽ “nhiều lần lớn hơn” công suất con đập Tam Hiệp (Three Gorges Dam) lớn nhất thế giới trên sông Dương Tử. Nguồn năng lượng mới này tương đương với 100 triệu tấn than đá, hoặc bằng toàn trữ lượng dầu khí trên Biển Đông. Yan Zhiyong, tổng giám đốc Nhóm Tham vấn Thủy điện Trung Quốc (China Hydropower Engineering Consulting Group) nhận định: “Tây Tạng là nguồn dự trữ thủy điện lớn nhất so với các tỉnh khác của Trung Quốc. Chuyển điện từ Tây Tạng sang các tỉnh miền Đông sẽ giải quyết vấn đề thiếu năng lượng của Trung Quốc”. 

Anant Krishnan, nhà ngoại giao cao cấp của Ấn Độ cho rằng kế hoạch xây đập tràn lan của Bắc Kinh, cho dù đó là trong lãnh thổ Trung Quốc — thực ra là trong lãnh thổ quốc gia Tây Tạng, chắc chắn sẽ ảnh hưởng tác hại tới mối quan hệ đối với các quốc gia hạ nguồn. Rồi ông ta cũng không quên so sánh: 

Ấn Độ bị báo động vì những con đập trên sông Yarlung Tsangpo- Brahmaputra, cũng giống như với các quốc gia Thái Lan, Lào, Cam Bốt và Việt Nam đối với những con đập Vân Nam trên thượng nguồn Sông Lancang – Mekong”.  

Hình 7:Cứu Tây Tạng là cứu mạch sống Châu Á[nguồn: International Campaign for Tibet] 

Cho dù đang có những mối lo âu về sự tồn vong của quê hương nhưng Đức Dalai Lamacũng rất quan tâm tới những vấn đề chung của nhân loại. Ông đề cập tới vấn đề môi sinh với một tầm nhìn xa và trong mối tương quan toàn cầuvà luôn luôn muốn “giữ xanh” hành tinh này, qua thông điệp nhân Ngày Môi Sinh Thế Giới / World Environment Day [06.05.1986]: 

“Hòa bình và sự sống trên trái đất đang bị đe dọa bởi những hoạt động của con người thiếu quan tâm tới những giá trị nhân bản. Hủy hoại thiên nhiên và các nguồn tài nguyên thiên nhiên là do hậu quả của lòng tham lam và thiếu tôn kính đối với sự sống trên hành tinh này…Chúng ta dễ dàng tha thứ cho những gì đã xảy ra trong quá khứ do bởi u minh. Nhưng ngày nay do hiểu biết hơn, chúng ta phải duyệt xét lại với tiêu chuẩn đạo đức là phần gia tài nào mà chúng ta thừa hưởng, phần nào chúng ta có trách nhiệm sẽ truyền lại cho thế hệ mai sau.” 

NGÔ THẾ VINH

California, ngày 11.01.2017 

Tham khảo:

1/ Freedom in Exile; The Autobiography of The Dalai Lama. Tenzin Gyatso, Hodder & Stoughton Ltd, London, 1990.

2/ Meltdown in Tibet:China’s Reckless Destruction of Ecosystems from the Highlands of Tibet to the Deltas of Asia. Michael Buckley. Palgrave MacMillan, New York, 2014 

3/ Global Ecology and the Made in China Dams; Ngô Thế Vinh, Viet Ecology Foundation 2010; http://vietecology.org/Article.aspx/Article/62

4/ The Nine Dragons Drained Dry, The East Sea in Turmoil. Ngô Thế Vinh,

Viet Ecology Press, Người Việt Books, Nxb Giấy Vụn 2016

Posted in Moi Truong bi O nhiem, Quan Hệ Viêt Nam và Trung Quốc- 1990- Nay | Leave a Comment »

►Ô nhiễm môi trường là lý do Tại sao doanh nghiệp nước ngoài ồ ạt rút vốn khỏi Việt Nam?

Posted by hoangtran204 on 22/12/2016

Tại sao doanh nghiệp nước ngoài ồ ạt rút vốn khỏi Việt Nam?

20.12.2016

 

Ô nhiễm và suy thoái môi trường ở Việt Nam là hai vấn đề được nhiều doanh nghiệp nước ngoài nêu lên tại một Diễn Đàn Doanh Nghiệp gần đây. Họ cảnh báo hai vấn đề này sẽ tác động trực tiếp đến đầu tư nước ngoài vào Việt Nam.

Theo 1 đoạn video của VTV 1 trên Youtube, đại diện của các hiệp hội doanh nghiệp nước ngoài ở Việt Nam đã nêu lên những quan tâm và lo lắng về mức độ ô nhiễm môi trường mà theo VTV1, là một trong những nguyên nhân khiến nhiều doanh nghiệp nước ngoài rút vốn ra khỏi Việt Nam.

Tiến sỹ kinh tế Lê Đăng Doanh khẳng định với VOA-Việt Ngữ rằng đang có 1 xu thế các doanh nghiệp nước ngoài rút lui khỏi thị trường tài chính Việt Nam:

“Theo đánh giá của một số chuyên gia thì 1 số quỹ đầu tư nước ngoài đã bán tháo khoảng 400 triệu đô la cổ phiếu của họ ở thị trường chứng khoán của Việt Nam. Nhìn chung việc rút vốn của các nhà đầu tư nước ngoài là một điểm đáng chú ý.”

Theo tiến sỹ Doanh thì có 1 số nguyên nhân gây ra hiện tượng này. Một trong các nguyên nhân là do Mỹ rút ra khỏi TPP và kỳ vọng của các nhà đầu tư sẽ không được thực hiện. Ngoài ra chuyên gia kinh tế này cho rằng tình hình nợ công và tài chính của Việt Nam đang làm giới đầu tư lo lắng.

Tại Diễn Đàn Doanh Nghiệp Việt Nam tổ chức hôm 5/12 tại Hà Nội, đại diện các hiệp hội doanh nghiệp nước ngoài đều nhắc đến vấn đề ô nhiễm đáng báo động ở Việt Nam, và cho đó là lý do họ xét tới để quyết định liệu có tiếp tục kinh doanh đầu tư tại Việt Nam hay không. Ông Dominic Scriven, chủ tịch điều hành của Dragon Capital Group và là trưởng Nhóm Thị Trường Vốn, cho biết các lý do đưa đến quyết định rút ra khỏi thị trường chứng khoán Việt Nam của nhà đầu tư lớn nhất của tập đoàn Dragon. Ông nói:

“Sự cố lớn tại miền Trung năm nay, những vấn đề liên quan đến sông Mekong, hạn hán, lũ lụt, biến đổi khí hậu, chưa kể những ảnh hưởng không tốt đối với uy tín quốc gia từ vai trò của Việt Nam trong việc buôn bán động vật hoang dã đều là những vấn đề mà thế giới đang chứng kiến. Rất tiếc phải thông báo rằng tuần vừa rồi nhà đầu tư lớn nhất của công ty Dragon chúng tôi đã loan báo quyết định rút ra khỏi thị trường Việt Nam vì lý do thiếu vắng những chính sách và hành động thuyết phục trong việc bảo vệ môi trường.

Ngoài thảm họa cá chết dọc theo bờ biển các tỉnh miền Trung sau đó được xác định là do nguồn xả thải chất nhiễm độc của nhà máy Formosa ở Hà Tĩnh gây ra, các hệ thống sông hồ ở những thành phố lớn như Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh cũng chứng kiến cảnh cá chết hàng loạt.

Ngoài ô nhiễm nguồn nước, tình trạng ô nhiễm không khí ở Việt Nam cũng đã lên đến mức báo động. Theo đánh giá của một tổ chức nghiên cứu môi trường Thụy Điển, Việt Nam nằm trong số 10 nước có không khí ô nhiễm nghiêm trọng nhất thế giới. Đây đang là mối lo đối với những người nước ngoài muốn đến sinh sống và làm việc ở Việt Nam. Ông Kenneth Atkinson, chủ tịch Hiệp Hội Doanh Nghiệp Anh Quốc tại Việt Nam, nói tại diễn đàn doanh nghiệp trên VTV1:

“Mức độ ô nhiễm đang tăng cao một cách rõ rệt và ở mức báo động. Điều này sẽ có tác động tới những người muốn chuyển gia đình tới sinh sống ở Việt Nam, từ đó ảnh hưởng tiêu cực tới vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài. Chúng tôi cho rằng nguyên nhân chính của vấn đề này nằm ở sự yếu kém trong quản lý và thực thi luật pháp, nhất là ở các khu công nghiệp.”

Bà Virginia Foote, chủ tịch Hiệp Hội Doanh Nghiệp Hoa Kỳ tại Việt Nam cũng nêu lên những quan tâm về vấn đề ô nhiễm môi trường tại Việt Nam. Bà nói “càng ngày càng thấy áp lực giữa phát triển kinh tế và môi trường” ở Việt Nam.

Tiến sỹ Đinh Đức Trường, phó trưởng khoa Môi Trường và Đô Thị của trường Đại học Kinh Tế Quốc Dân ở Hà Nội khẳng định có sự đánh đổi giữa phát triển kinh tế và môi trường ở Việt Nam. Một nghiên cứu gần đây của tiến sỹ Trường cho thấy các doanh nghiệp với vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đóng vai trò lớn trong việc gây ra ô nhiễm môi trường ở Việt Nam. Ông nói:

“Đầu tư trực tiếp nước ngoài vẫn là một cái cực, một cái trụ cột để tăng trưởng kinh tế và ở một góc độ nào đấy thì vẫn còn có một sự đánh đổi nhất định giữa kinh tế và bảo vệ môi trường ở Việt Nam. Có lẽ khi chúng ta phát triển tốt hơn thì có lẽ là cái nhìn nhận sẽ tốt hơn.”

Tiến sỹ Trường ước lượng thiệt hại do ô nhiễm môi trường gây ra tương đương với 5% GDP của Việt Nam hằng năm và cảnh báo Việt Nam sẽ qua mặt Trung Quốc về mức độ ô nhiễm nếu không có biện pháp đúng đắn để giải quyết tình trạng này. Tuy nhiên, cũng theo tiến sĩ Trường, Việt Nam có thể kiểm soát mức độ ô nhiễm bằng cách cải thiện hệ thống thể chế luật pháp và sự tham gia của người dân.

Posted in Kinh Te, Moi Truong bi O nhiem | Leave a Comment »

►Sáng thứ Hai, 24.10.2016, hàng ngàn ngư dân tại miền Trung tiếp tục diễu hành bằng xe máy vào Kỳ Anh để nộp đơn khởi kiện Formosa.

Posted by hoangtran204 on 24/10/2016

.

Sáng nay, 24.10.2016, hàng ngàn ngư dân tại miền Trung tiếp tục diễu hành bằng xe máy vào Kỳ Anh để nộp đơn khởi kiện Formosa.

Sau hai lần đi kiện bằng ô tô của ngư dân miền Trung bị công an, csgt cản trở, cấm cản thì hôm nay họ quyết tâm đi kiện bằng phương tiện xe máy. Từ Nghệ An vào tòa án Kỳ Anh hơn 200km. 

________

https://m.facebook.com/story.php?story_fbid=324736414570383&id=100011020819260

Posted in Formosa Hà Tỉnh -Cá chết- Ô nhiễm, Luật Pháp, Moi Truong bi O nhiem | Leave a Comment »

►Dân kiện đòi Formosa bồi thường vẫn được

Posted by hoangtran204 on 24/10/2016

 

Thứ Năm, 20/10/2016

Phạm Hoài Huấn (*)

Ngư dân Hà Tĩnh. Ảnh: NGỌC HẢI

(TBKTSG) – Dư luận đang quan tâm chuyện tòa án huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh trả đơn người dân yêu cầu Công ty Formosa Hà Tĩnh bồi thường thiệt hại do sự cố ô nhiễm môi trường biển công ty này gây ra trong thời gian gần đây.

Vấn đề này không đơn thuần là câu chuyện về tố tụng bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Với tầm vóc và sự tác động của sự cố ô nhiễm môi trường này, ít nhất, khi đánh giá, phải xét ở cả khía cạnh về bảo đảm đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, bảo đảm về môi trường và quyền lợi của các bên có liên quan trực tiếp đến sự cố.

Tại sao Formosa lại đầu tư vào Việt Nam?

Trả lời cho câu hỏi này, chính là bàn về vấn đề thu hút đầu tư. Có nhiều người sẽ trả lời rất nhanh, rằng Việt Nam là một nước đang có tốc độ phát triển nhanh, lao động giá rẻ, môi trường chính trị ổn định… Tất nhiên, những ý này không sai.

Có một sự thật là Việt Nam chưa bao giờ là nơi thu hút các dự án công nghệ cao mang tính đột phá, dự án sử dụng năng lượng sạch. Là một nhà đầu tư lớn, Formosa có nhiều lựa chọn khác như Lào, Campuchia hoặc những nước tương tự. Nói cách khác, Việt Nam không phải là lựa chọn duy nhất của họ trong việc lựa chọn địa điểm đầu tư. Cho nên, muốn được Formosa chọn là địa điểm đầu tư, Việt Nam phải chứng minh cho họ thấy Việt Nam có nhiều ưu đãi hơn so với các lựa chọn khác. “Chọn thép hay chọn cá” là một câu nói rất… mất lòng nhưng trên thực tế, nó có khía cạnh đúng. “Nhà nghèo, con đông”, nhu cầu có cái ăn đặt ra cấp thiết hơn nhu cầu ăn ngon và ăn sạch.

Nhìn từ góc độ của một luật sư tư vấn đầu tư, với dự án trị giá hàng chục tỉ đô la Mỹ như của Formosa Hà Tĩnh, bắt buộc phải có các cam kết về bảo đảm đầu tư. Đồng tiền đi liền khúc ruột, không có lý do gì đầu tư lớn mà không yêu cầu các cam kết mang tính bảo đảm cho khoản đầu tư, đặc biệt là trong bối cảnh quốc gia sở tại đang có nhu cầu thu hút đầu tư.

Quyết định xử lý sự cố môi trường do Formosa gây ra

Làm cơ sở cho các bình luận tiếp theo, cần thiết phải xác định bản chất của cam kết bồi thường 500 triệu đô la Mỹ trong thời gian vừa qua. Nhưng ngay cả khi chính quyền của Việt Nam có đưa ra các cam kết, ưu đãi và bảo hộ đầu tư thì Formosa cũng phải tuân thủ những tiêu chuẩn tối thiểu về sản xuất, môi trường và quan trọng hơn là tuân thủ pháp luật Việt Nam. Thu hút đầu tư không có nghĩa là đặt Formosa ra ngoài vòng cương tỏa của pháp luật.

Cho nên, khi công ty này vi phạm pháp luật, họ phải bị xử lý. Với một sự cố ô nhiễm môi trường biển lớn như đã thấy, Formosa có thể phải đứng trước nguy cơ bị rút giấy phép. Tuy vậy, trên thực tế, để rút giấy phép của họ, xét ở khía cạnh pháp lý là không hề đơn giản. Cần phải cân nhắc đến các cam kết của Việt Nam khi chấp thuận cho Formosa đầu tư vào Việt Nam, các hiệp định/cam kết về đầu tư quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Bất cứ hành động khinh suất nào cũng có thể khiến cho Formosa có quyền khởi kiện Chính phủ Việt Nam. Cho nên, thái độ dè dặt của cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong thời gian qua có thể tạm chấp nhận (ở một phương diện nào đó).

Quyền khởi kiện của người dân

Sự cố ô nhiễm môi trường biển mà Formosa gây ra ảnh hưởng đến hoạt động và thu nhập của người dân. Xét từ góc độ của pháp luật Việt Nam hiện hành, từng người ngư dân và/hoặc nhóm ngư dân có thể khởi kiện để yêu cầu công ty này bồi thường thiệt hại.

Nhìn từ góc độ tố tụng, có hai việc cần bàn:

Thứ nhất: Tòa án hoàn toàn có thẩm quyền để xử lý vụ việc này. Đây chỉ là một vụ kiện về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng như bao nhiêu vụ kiện khác.

Thứ hai: Việc khởi kiện này xét cho tận cùng là một mối quan hệ tay đôi/hoặc quan hệ nhiều bên giữa các cá nhân hành nghề ngư nghiệp và Formosa. Nó không liên quan gì đến việc Nhà nước rút giấy phép của Formosa như trên đã đề cập.

Khuyến nghị từ góc nhìn chính sách

Rõ ràng Nhà nước đang đứng trước sức ép ghê gớm từ các cam kết về đầu tư và cơn giận dữ của người dân. Theo các cam kết này, mặc dù Nhà nước không thể/hoặc không nên rút giấy phép nhưng không có nghĩa là Nhà nước ngăn cản quyền khởi kiện chính đáng của ngư dân.

Tôi đánh giá rằng, vụ kiện Formosa lần này là một phép thử mạnh mẽ đối với ngành tư pháp Việt Nam. Không có lý do gì để tòa án từ bỏ thẩm quyền xét xử của mình.

Ở khía cạnh thực thi chính sách, Nhà nước nên cân nhắc cứ để hoặc thậm chí là khuyến khích người dân khởi kiện Formosa. Với việc hàng trăm vụ kiện nhắm vào, Formosa sẽ chịu sức ép mạnh mẽ từ việc bồi thường theo thủ tục bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng và thậm chí là sức ép từ các tổ chức môi trường quốc tế. Nó sẽ là cơ sở thực tế để Formosa đàm phán, chấp nhận chi trả nhiều hơn cho việc bồi thường. Thực hiện được điều này, Nhà nước không vi phạm cam kết bảo hộ đầu tư nhưng người dân và môi trường thì được hưởng lợi.
(*) Cố vấn pháp lý Victory LLC

_______________

Trần Hoàng: Bài báo cho thấy các ngư dân đang nộp đơn khiếu kiện đòi Formosa bồi thường thiệt hại là đúng với luật pháp Việt Nam. Họ kiện đòi Formosa bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng (do nhà nước đã ký kết với Formosa từ 2008.) 

Nhà nước đã và đang sai lầm khi bao che cho Formosa bằng cách ( sử dụng tòa án, công an bạo lực) ngăn cấm ngư dân kiện. Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc làm sai pháp luật VN khi đứng ra chấp nhận 500 triệu đô la của Formosa, và lấy cớ dựa vào nghị định 1880 để ngăn cấm, ngăn cản, không cho ngư dân đi kiện.

Nhà cầm quyền VN hoàn toàn sai lầm khi ngăn cấm ngư dân kiện Formosa dựa trên cơ sở luật pháp của VN hiện hành và của các nước khác. Luật pháp là cao nhất, chính phủ và nghị định của chính phủ không thể đứng cao hơn luật pháp, và không thể vi phạm luật pháp. 

 

Posted in Formosa Hà Tỉnh -Cá chết- Ô nhiễm, Luật Pháp, Moi Truong bi O nhiem | Leave a Comment »

►Thư ngỏ về việc giải quyết thảm họa do Formosa gây ra: bày tỏ thái độ và kêu gọi toàn thể đồng bào cả nước hưởng ứng

Posted by hoangtran204 on 16/10/2016

Thư ngỏ về việc giải quyết thảm họa do Formosa gây ra

Ngày 15 tháng 10 năm 2016

Chúng tôi, những người ký tên dưới đây – gồm các tổ chức xã hội dân sự, các cá nhân ở nhiều lĩnh vực trong xã hội – thông qua thư ngỏ này bày tỏ thái độ và kêu gọi toàn thể đồng bào cả nước hưởng ứng.

Chúng tôi nhìn nhận sự kiện hàng trăm gia đình người dân ở miền Trung Việt Nam liên tiếp nộp đơn kiện công ty Formosa, đòi bồi thường và chấm dứt hoạt động của công ty này tại Việt Nam, là một bước tiến cần thiết và đáng trân trọng của xã hội dân sự.

Chúng tôi gửi lời cám ơn đến những người dân đã đứng ra hành động, đại diện cho hàng triệu người Việt Nam khác đang đấu tranh và hy vọng vào lẽ phải và công lý trên đất nước mình. Những người dân này đã chứng minh rằng không có một thế lực hay tổ chức nào có hành động đen tối trên đất nước này có thể ngang nhiên tồn tại. Lòng yêu nước và yêu cuộc sống bình yên ngay chính nơi chôn nhau cắt rốn của mình đã khiến họ có đủ sức mạnh và lòng dũng cảm để đứng lên.

Chúng tôi cám ơn sự hùng mạnh và ôn hòa của cuộc biểu tình ngày 2/10/2016, với gần 18.000 người tham gia, nhằm biểu tỏ đòi hỏi phải bồi thường thích đáng cho người dân, đòi biển sạch, đòi công ty Formosa phải ngừng hoạt động sau quá nhiều lần bị phát hiện các loại chất thải trên biển và trên bộ. Sự có mặt của những người biểu tình nhắc cho ngài thủ tướng nhớ lại lời cam kết của ông về việc sẽ cấm Formosa hoạt động nếu tái phạm việc gây ô nhiễm.

Chúng tôi trân trọng cám ơn các linh mục và giáo dân của huyện Kỳ Anh, của Giáo phận Vinh đã đi đầu gánh vác việc đòi công lý – một việc lẽ ra phải là của cả nước. Chính vì vậy, chúng tôi kêu gọi đồng bào, bao gồm cả các tín đồ của các tôn giáo như Tin Lành, Phật giáo, Cao Đài, Hòa Hảo,… hãy cùng hướng về đồng bào miền Trung, cùng đồng tâm hiệp lực với những người chị, người mẹ, người anh em… đang hành động để đất nước được yên bình và phát triển.

Chúng tôi kêu gọi Nhà nước và Đảng Cộng sản Việt Nam chọn một thái độ đúng, đứng về phía nguyện vọng và đòi hỏi chính đáng của người dân trong việc khôi phục lại môi trường, chấm dứt ngay lập tức việc hủy hoại môi trường, chấm dứt việc khai thác tài nguyên do cha ông để lại một cách vô nguyên tắc.

Chúng tôi phản đối mọi hành động đàn áp, đe dọa và gây khó dễ trong đời sống đối với người biểu tình sau cuộc biểu tình lịch sử 2-10-2016, phản đối việc sách nhiễu các nhà hoạt động ôn hòa thực thi quyền của mình tại Vũng Tàu, phản đối việc bắt nhà hoạt động xã hội Nguyễn Ngọc Như Quỳnh… – những việc chỉ  đổ thêm dầu vào lửa và không có lợi cho bất cứ ai, kể cả  nhà nước Việt Nam. Chúng tôi yêu cầu trả tự do cho tất cả các tù nhân chính trị hiện đang bị giam giữ và chấm dứt ngay lập tức việc bắt bớ và gây khó dễ cho những cá nhân và tổ chức dân sự có tiếng nói phản biện ôn hòa.

Chúng tôi  kêu gọi sự lắng nghe từ những người cầm quyền. Đây là thời cơ đẹp nhất để những người lãnh đạo chứng minh rằng mình sống và làm việc cho tôn chỉ tổ quốc, và nhân dân. Nhân dân hãy còn hy vọng như vậy, trước khi mất sạch niềm tin vào nhà cầm quyền.

Nguyện cầu anh linh tiên tổ, anh linh các anh hùng liệt sĩ soi đường cho dân tộc Việt Nam đi tới, vượt qua khổ nạn.

Nguyện cầu dân tộc Việt Nam thống nhất và đồng lòng phấn đấu cho một ngày mai tươi sáng.

Đồng ký tên, dưới đây:

Tổ chức Xã hội Dân sự

  1. Bauxite Việt Nam: GS Phạm Xuân Yêm đại diện
  2. Văn đoàn Độc lập Việt Nam: nhà văn Nguyên Ngọc đại diện
  3. Diễn đàn Xã hội Dân sự: TS Nguyễn Quang A đại diện
  4. Mạng Lưới Nhân Quyền Việt Nam: TS Nguyễn Bá Tùng đại diện

Cá nhân

  1. Hoàng Hưng, nhà thơ, dịch giả, Sài Gòn
  2. Nguyễn Quang A, TS, nguyên Viện trưởng Viện IDS, Hà Nội
  3. Minh Phạm Gia, TS, Hà Nội
  4. Lê Xuân Khoa, nguyên GS Đại học Johns Hopkins, Hoa Kỳ
  5. Nguyên Ngọc, nhà văn, Hội An
  6. Nguyễn Xuân Diện, TS, Hà Nội
  7. Trần Minh Thảo, viết văn, Bảo Lộc, Lâm Đồng
  8. Vũ Ngọc Tiến, nhà văn, Hà Nội
  9. Tống Văn Công, nhà báo, nguyên Tổng biên tập báo Lao động
  10. Ngô Kim Hoa (Sương Quỳnh), nhà báo tự do, thành viên CLB Lê Hiếu Đằng, Sài Gòn 
  11. Lại Thị Ánh Hồng, nghệ sĩ, thành viên CLB Lê Hiếu Đằng, Sài Gòn
  12. Hoàng Dũng, PGS TS, TPHCM
  13. Nguyễn Đăng Quang, Hà Nội
  14. Bùi Minh Quốc, Phó Chủ tịch Hội Nhà báo Độc lập Việt Nam, Đà Lạt
  15. Tiêu Dao Bảo Cự, nhà văn tự do, Đà Lạt
  16. Nguyễn Khắc Mai, Giám đốc Trung tâm Minh Triết, Hà Nội
  17. Phạm Đình Trọng, nhà văn, Sài Gòn
  18. Mai Thái Lĩnh, nhà nghiên cứu độc lập, Đà Lạt
  19. Hà Sĩ Phu, TS Sinh học, Đà Lạt
  20. Nguyễn Đăng Hưng, GS Danh dự trường Đại học Liège, Bỉ, TPHCM
  21. Phạm Tư Thanh Thiện, nhà báo, Paris
  22. Nguyễn Ngọc Giao, nhà giáo, Paris
  23. Phạm Xuân Yêm, GS, Paris
  24. Nguyễn Huệ Chi, GS, Hà Nội
  25. Đặng Thị Hảo, TS, Hà Nội
  26. Nguyễn Đình Nguyên, TS, Australia
  27. Phan Thị Hoàng Oanh, TS, TP HCM
  28. Nguyễn Nguyên Bình, cựu quân nhân, Hội viên Hội Nhà văn Hà Nội, Hà Nội
  29. Trần Tiến Đức, nhà báo độc lập, đạo diễn truyền hình và phim tài liệu, Hà Nội
  30. Kha Lương Ngãi, nhà báo, thành viên CLB Lê Hiếu Đằng, TP HCM
  31. Nguyễn Đình Đầu, nhà nghiên cứu, TPHCM
  32. Gioan Baotixita Huỳnh Công Minh, linh mục Tổng Giáo phận Sài Gòn
  33. Nguyễn Quốc Thái, nhà báo, TPHCM
  34. Giuse Maria Lê Quốc Thăng, linh mục Tổng Giáo phận Sài Gòn
  35. Đào Tiến Thi, nhà nghiên cứu văn học và ngôn ngữ, nguyên ủy viên Ban Chấp hành Hội Ngôn ngữ học Việt Nam, Hà Nội
  36. Ngô Thị Kim Cúc, nhà văn, nhà báo, TPHCM
  37. Phạm Toàn, nhà giáo dục, Hà Nội
  38. Trần Thị Tuyết, thành viên nhóm Cánh Buồm, Hà Nội
  39. Huỳnh Sơn Phước, nhà báo, Hội An
  40. Võ Văn Tạo, nhà báo, Nha Trang
  41. Nguyễn Thị Kim Chi, nghệ sĩ, Hà Nội
  42. Vũ Linh, giảng viên đại học hưu trí, Hà Nội
  43. Võ Thị Hảo, nhà văn, hiện đang sống tại CHLB Đức
  44. Trần Thanh Vân, kiến trúc sư, Hà Nội
  45. Nguyễn Minh Tâm, là giáo viên, Đà Nẵng
  46. Hạ Đình Nguyên, hưu trí, Sài Gòn
  47. Nguyễn Đan Quế, bác sĩ, TPHCM
  48. Nguyễn Chính, luật gia, nhà báo, Nha Trang
  49. Lê Phước Sinh, dạy học, Sài Gòn
  50. Đào Hiếu, nhà văn, Sài Gòn
  51. Hoàng Thị Như Hoa, bộ đội đã nghỉ hưu, Hà Nội
  52. Doãn Mạnh Dũng, kỹ sư, Phó Chủ tịch – Tổng thư ký Hội Khoa học Kỹ thuật và Kinh tế Biển TPHCM
  53. Hoàng Xuân Sơn, nhà văn, luật sư, TPHCM
  54. Nguyễn Giang, cán bộ hưu trí, Hà Nội
  55. Nguyễn Cường, kinh doanh, Cộng hòa Czech
  56. Hà Dương Tường, nhà giáo về hưu, Pháp
  57. Lê Thanh Hồng, hành nghề tự do, Sài Gòn 
  58. Tô Oanh, giáo viên Trung học Phổ thông, đã nghỉ hưu, TP Bắc Giang
  59. Phương Dung, nhà báo, Hà Nội
  60. Vũ Hải Long, TSKH, đã nghỉ hưu, TPHCM
  61. Phan Lợi, nhân viên Sở Môi trường, kỹ sư lâm nghiệp, CHLB Đức
  62. Đỗ Đăng Giu, nguyên Giám đốc Nghiên cứu CNRS, Đại học Paris-Sud, Pháp
  63. Lâm Quang Thiệp, GS hưu trí, Hà Nội
  64. André Menras, Hồ Cương Quyết, nhà giáo, Pháp
  65. Vũ Thư Hiên, nhà văn, Pháp
  66. Phan Đắc Lữ, nhà thơ, Sài Gòn 
  67. Phạm Duy Hiển (Phạm Nguyên Trường), dịch giả, Vũng Tàu
  68. Bùi Chát, hoạt động xuất bản độc lập, Sài Gòn
  69. Nguyễn Văn Lý, linh mục, Huế
  70. Nguyễn Thanh Giang, TS Địa Vật lý, Hà Nội
  71. Vũ Thế Khôi, Nhà giáo ưu tú, nguyên Trưởng khoa Tiếng Nga, Đại học Hà Nội
  72. Genie Nguyễn Thị Ngọc Giao, Tiếng Nói Người Mỹ Gốc Việt, Hoa Kỳ
  73. Phạm Vũ Thuý Anh, nhân viên văn phòng, Đồng Nai
  74. Trần Minh Quốc, nhà giáo nghỉ hưu, thành viên CLB Lê Hiếu Đằng, Sài Gòn
  75. Nguyễn Trọng Hoàng, bác sĩ, Pháp
  76. Dương Tường, nhà thơ, dịch giả, Hà Nội
  77. Phan Tấn Hải, nhà văn, Hoa Kỳ
  78. Lê Minh Hằng, hưu trí, Hà Nội
  79. Nguyễn-Khoa Thái Anh, thông ngôn cho Toà Di trú Liên bang, Hoa Kỳ
  80. Tống Phúc Lai, hưu trí, Pháp
  81. Đỗ Anh Tuyến, kỹ sư, Sài Gòn
  82. Nguyễn Thế Hùng, GS TS, Phó Chủ tịch Hội Cơ học Thủy Khí Việt Nam, Đà Nẵng
  83. Ý Nhi, nhà thơ, TPHCM
  84. Nguyễn Đình Cống, GS, Hà Nội
  85. Nguyễn Thị Thanh Bình, nhà văn, Hoa Kỳ
  86. Lê Ngọc Thanh, linh mục, Sài Gòn Báo, Dòng Chúa Cứu thế, Sài Gòn
  87. Lê Xuân Lộc, linh mục, Tin Mừng cho Người Nghèo Dòng Chúa Cứu thế, Sài Gòn
  88. Trương Hoàng Vũ, linh mục, Phòng Công lý & Hòa bình, Dòng Chúa Cứu thế, Sài Gòn
  89. Đinh Đức Long, TS, bác sĩ, Sài Gòn
  90. Lê Bá Diễm Chi (tức Song Chi), nhà báo tự do, Na Uy
  91. Huỳnh Nhật Hải, hưu trí, Đà Lạt
  92. Huỳnh Nhật Tân, hưu trí, Đà Lạt
  93. Đoàn Văn Tiết, nhà giáo, Sài Gòn 
  94. Mạc Văn Trang, PGS TS Tâm lý học, Hà Nội
  95. Đặng Văn Sinh, nhà văn, Hải Duơng
  96. Nguyễn Nghiêm, lao động tự do, TP Hòa Bình, Hòa Bình
  97. Tạ Quang Hòa, kiến trúc sư, Hà Nội
  98. Phêrô Trần Văn Thành, linh mục quản xứ Tam Tòa, Đồng Hới, Quảng Bình
  99. Hà Thúc Huy, PGS TS Hóa học, Sài Gòn

Posted in Chinh Tri Xa Hoi, Formosa Hà Tỉnh -Cá chết- Ô nhiễm, Moi Truong bi O nhiem | Leave a Comment »

►Formosa ở Vũng Áng có thể tàn phá môi trường hàng trăm năm vì Dòng Chảy Acid Thải ra từ Khai Thác Mỏ Sắt và Làm Thép

Posted by hoangtran204 on 10/10/2016

Lời dịch giả: Về việc Formosa gây ô nhiễm trên 200 km ven biển, đã có nhiều thông tin về nguyên do sự cố, phân tích khoa học v.v… nhưng lại thiếu thông tin phân tích về hệ lụy lâu dài. Qua hình ảnh và miêu tả nguyên nhân cá chết, có những dấu hiệu tương đồng với hiện tượng “dòng thải mỏ axit” trong hoạt động khai thác mỏ. Ví dụ, Kênh chứa nước thải đục ngầu của Formosa:

h1Nguồn ảnh: báo Người Đưa Tin

Trong một bài viết đăng trên trang Ba Sàm ngày 6-10-2016, TS Nguyễn Đức Thắng cho biết: “Cá ở 4 tỉnh miền Trung đã chết vì nước tầng đáy biển bị cạn kiệt oxy do sự cố Formosa Hà Tĩnh đã xả 2500 m3 nước thải của khâu súc, rửa, tẩy gỉ các hệ thống đường ống kim loại, có chứa khoảng 5 tấn cation sắt hai ( Fe2+), ‘phản ứng với’ oxy trong nước, làm cạn kiệt oxy vốn đã rất khan hiếm ở tầng đáy về ban đêm. Kết quả là đã tạo ra 9,6 tấn hydroxit sắt Fe(OH)3 không độc, mầu vàng nâu, còn tươi mới lắng đọng dưới đáy biển, thành màng rất mỏng, rải đều từ Hà Tĩnh đến Thừa Thiên – Huế”.

Để độc giả có khái niệm về khả năng tàn phá môi trường có thể xảy ra trong trường hợp Formosa có liên quan đến “dòng chảy acid thải ra từ khai thác mỏ”, tôi xin mạo muội dịch bài “HARDROCK MINING: Acid Mine Drainage” của tác giả Alan Septoff, đăng trên báo Earth Works, phát hành năm 2005.

___________

Mỏ khoáng sản rắn: dòng chảy acid thải ra từ khai thác mỏ

Earth Works

Tác giả: Alan Septoff

Dịch giả: Nguyễn Quan Tâm

16-12-2005

anhbasàm

Dòng thải mỏ axit – Acid mine drainage (AMD)

dòng chảy acid thải ra từ khai thác mỏ được coi là một trong mối đe dọa nghiêm trọng nhất cho môi trường nước thiên nhiên (1). Hoạt động khai thác mỏ với dòng thải mỏ axit có tiềm năng tàn phá lâu dài tác động trên sông, suối và đời sống thủy sinh.

Dòng chảy acid thải ra từ khai thác mỏ hình thành như thế nào?

Dòng chảy axit thải ra từ khai thác mỏ là vấn đề lo ngại nghiêm trọng trong lãnh vực khai thác kim loại, vì mỏ kim loại ví dụ như vàng, đồng, bạc và molypden thường được tìm thấy trong đá với khoáng chất sulfide (ion lưu huỳnh S–). Trong quá trình khai thác khi ion lưu huỳnh sulfide tiếp xúc với nước và không khí chúng trở thành phản ứng hóa học tạo ra axit sulfuric, H2SO4. Chất axit sulfuric có thể làm tan chảy những kim loại độc trong đất đá xung quanh, tạo thành dòng chảy acid thải ra từ khai thác mỏ. Nếu không kiểm soát được, nước axit này có thể chảy vào suối, sông hoặc ngấm vào dòng nước ngầm. Dòng chảy acid thải ra từ khai thác mỏ có thể sinh ra từ bất kỳ giai đoạn nào trong hoạt động khai thác khi sulfide tiếp xúc với không khí và nước, bao gồm các đống đá thải, chất thải, mỏ hố, hầm ngầm, và đệm ngấm.

Thảm hại cho cá và các thủy sinh

Nếu chất thải của mỏ là axit, tác động hủy hoại cho cá, động vật và thực vật có thể rất nặng nề. Khi dòng nước thiên nhiên (pH=7), bị ô nhiễm bởi dòng chảy acid từ mỏ, độ pH sẽ giảm xuống pH=4  hoặc thấp hơn – tương tự như axit trong bình ắc quy, pH =1 (2). Thực vật, động vật và cá khó sinh sống được trong môi trường như thế này. Ví dụ, dòng axit và kim loại tan chảy từ mỏ Questa molypden ở New Mexico đã tàn phá sinh học trong 13 km trên con sông Red River (3).

Kim loại độc

dòng chảy acid thải ra từ khai thác mỏ còn làm tan những kim loại độc hại như đồng, nhôm, cadmium, arsenic, chì và thủy ngân từ đá xung quanh. Những kim loại này, đặc biệt là sắt, gây ô nhiễm môi trường qua lắng động thành một màng nhờn nhờn mầu cam-đỏ,lóng ở đáy dòng nước gọi là “yellowboy”. Cho dù với số lượng ít số kim loại tan này vẫn độc hại cho con người và sinh vật. Hơn nữa chất ô nhiễm theo dòng nước lan tràn ra một vùng rộng lớn gây hại cho thủy sinh từ chết cấp tốc cho đến ngộ độc từ từ, làm hại đến khả năng phát triển và sinh sản.

Vấn đề lo ngại đặc biệt là những kim loại tan này không phân hủy trong môi trường. Chúng tồn tại ở đáy dòng nước trong thời gian rất dài, làm ô nhiễm môi trường dài hạn cho hệ sinh thái (ví dụ: vi sinh vật bị ô nhiễm, cá nhỏ ăn vi sinh vật bị ô nhiễm, cá lớn ăn cá nhỏ bị ô nhiễm, con người ăn cá bị ô nhiễm).

Hơn 100 dặm trên sông Clark Fork ở Montana, sông Coeur d’Alene ở Idaho, và sông Columbia ở Washington bị ô nhiễm kim loại tan từ những hoạt động khai thác trước đây ở thượng nguồn.

Ô nhiễm vĩnh viễn

Dòng chảy acid thải ra từ khai thác mỏ đặc biệt độc hại vì nó có thể tiếp tục tồn tại vô thời hạn, gây thiệt hại trong thời gian dài sau khi hoạt động khai thác đã chấm dứt (4). Do dòng chảy acid thải ra từ khai thác mỏ gây ô nhiễm chất lượng nước ở mức độ nghiêm trọng, nên nhiều mỏ ở Tây phương cần phải xử lý (lọc) nguồn nước vĩnh viễn. Ví dụ, các quan chức chính phủ đã xác định rằng dòng chảy acid thải ra từ khai thác tại mỏ Golden Sunlight sẽ tiếp tục tồn tại hàng ngàn năm (5). Cái giá xử lý nước là một gánh nặng kinh tế cho địa phương nếu công ty khai thác phá sản hoặc từ chối trang trải chi phí xử lý nước. Ví dụ,

  • Axit chảy tràn từ mỏ Summitville ở Colorado giết chết tất cả sinh học trong một đoạn 27 km trên sông Alamosa. Vùng này đã được chỉ định thành vùng Superfund của liên bang, và Cơ quan Bảo Vệ Môi Trường (EPA) của Mỹ phải chi tiêu $30.000/ một ngày (USD trị giá vào năm 2000) để xử lý ô nhiễm (6)
  • Tại bang South Dakota, công ty khai thác mỏ Dakota đã từ bỏ mỏ Brohm năm 1998, để lại South Dakota với $40 triệu chi phí trong việc xử lý và bình thường hóa môi trường sau khi những hoạt động khai quật – phần lớn là do dòng chảy acid thải ra từ khai thác mỏ. (7)
  • Tại mỏ Zortman Landusky ở Montana, chính phủ tiểu bang Montana gánh chịu hàng triệu đô chi phí xử lý nước sau khi công ty Pegasus Gold Corp phá sản năm 1998 (8)

h2Mỏ axit thời Roman ở Anh vẫn tồn tại sau 2000 năm. Nguồn: Earth Works

Ngay cả với công nghệ hiện có, dòng chảy acid thải ra từ khai thác mỏ hầu như không thể ngăn chận lại được khi các phản ứng hóa học đã bắt đầu.

Việc cho phép khai thác mỏ có dòng chảy acid thải ra có nghĩa là đã xếp đặt các thế hệ tương lai sẽ phải chịu trách nhiệm xử lý môi trường ô nhiễm có thể kéo dài đến hàng trăm năm. Dự đoán về sự thành công trong việc quản lý chất thải này trong dài hạn khả năng tốt nhất cũng chỉ là suy đoán (9)

Nguồn:

  1. USDA Forest Service 1993, Acid Mine Drainage from Impact of Hardrock Mining on the National Forests: A Management Challenge. Program Aid 1505. p. 12.
  2. Mineral Policy Center, Golden Dreams, Poisoned Streams, 1995.
  3. Atencio, Earnest, High Country News, “The mine that turned the Red River Blue,” August 2000.
  4. Placer Dome 2002, Available: http://www.placerdome.com/sustainability/environment/reports/ard.html
  5. Montana Department of Environmental Quality, Draft Environmental Impact Statement, Golden Sunlight Mine, November 1997.
  6. U.S. Environmental Protection Agency, Liquid Assets, 2000.
  7. McClure, Robert. “The Mining of the West: Profit and Pollution on Public Lands”. Seattle Post- Intelligencer, June 13, 2001.
  8. Ibid.
  9. Environmental Mining Council of B.C., Acid Mine Drainage: Mining and Water Pollution Issues in B.C., Brochure.

Posted in Formosa Hà Tỉnh -Cá chết- Ô nhiễm, Moi Truong bi O nhiem, Năng Lượng và Mỏ, Thực Phẩm và sức khỏe | Leave a Comment »

►Ls. Lê Văn Luân: Chính phủ từ chối quyền khởi kiện, từ chối bảo vệ pháp luật, và cả vận dụng tuỳ tiện luật pháp trong vụ Formosa Hà Tỉnh gây ô nhiễm

Posted by hoangtran204 on 09/10/2016

Từ Chối

FB Luân Lê

9-10-2016

Có một thứ mà nền tư pháp này phải ghi lại vào trong lịch sử Việt Nam như một vết nhem xấu xí nhất về việc áp dụng pháp luật, tư duy pháp lý và cách hành xử của quyền lực chính trị vào trong tố tụng mà đáng ra phải độc lập hoàn toàn.

Với lý do từ chối thụ lý đơn khởi kiện của các ngư dân ở Quỳnh Lưu, Nghệ An, toà án thị xã Kỳ Anh, Hà Tĩnh cho rằng, họ không chứng minh được thiệt hại thực tế, và việc bồi thường cũng đã được Thủ tướng Chính phủ có quyết định 1880 để giải quyết và “đã có hiệu lực pháp luật”, đây là từ chối quyền khởi kiện, từ chối bảo vệ pháp luật và cả vận dụng tuỳ tiện luật pháp.

Thông báo của Tòa án TX Kỳ Anh trả lại đơn kiện. Ảnh: FB Luân Lê.

Thông báo của Tòa án TX Kỳ Anh trả lại đơn kiện cho nguyên đơn Nguyễn Thị Tân. Ảnh: FB Luân Lê.

Chính phủ, không phải là cơ quan có thẩm quyền để giải quyết yêu cầu của người dân với các thiệt hại trực tiếp của hàng vạn ngư hộ, người kinh doanh dịch vụ biển,

–mà Chính phủ chỉ có thẩm quyền đại diện cho chính mình với danh nghĩa tài sản nhà nước, tài nguyên quốc gia và môi trường sống bị xâm hại,

–còn với lợi ích các hộ dân thì Chính phủ hoàn toàn không có quyền giải quyết, và càng không thể đứng ra tự mình thực hiện việc hoà giải cho dân, nếu không được họ uỷ quyền một cách trực tiếp và hợp pháp.

Chỉ có thể, hoặc họ thương lượng với kẻ thực hiện hành vi gây thiệt hại, hoặc họ khởi kiện ra toà án bằng thủ tục tố tụng để tìm một phán quyết với chế định về “bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng”,

–và cũng theo các quy định tại các điều từ 604 đến 631 Bộ luật Dân sự (2005), nay đã được thay thế bằng BLDS 2016, thì thiệt hại bao gồm thiệt hại trực tiếp (bằng sự sụt giảm giá trị, mất mát hay hư hỏng tài sản), cùng các khoản thiệt hại do bị mất thu nhập (tương lai), các thiệt hại do phải khắc phục sự cố, các chi phí phải bỏ ra để tìm kiếm việc làm, bù đắp các khoản bị đình chỉ thu về do sự kiện gây thiệt hại,…

Nhưng không, toà án Kỳ Anh, Hà Tĩnh đã vận dụng pháp luật có một không hai trên thế giới để từ chối thụ lý đơn của các hộ dân ở Nghệ An, một nơi có thể đã phát sinh thiệt hại do thảm hoạ mà Formosa gây ra vào tháng 04.2016 mà không nằm trong Quyết định 1880 của Thủ tướng chính phủ.

Việc chứng minh thiệt hại do mất thu nhập được xác định rõ ràng bằng việc đình chỉ khai thác kể từ sau thời điểm xảy ra thảm hoạ, các hộ dân cùng làm văn bản khởi kiện đã đủ là một chứng cứ, hoặc sau đó toà án có thể về xác minh vấn đề này tại thôn, xã, thông qua lời khai các hộ dân hoặc uỷ ban xã, phường, và việc thu nhập bị mất không phải thông qua hoá đơn, chứng từ, vì đây là các hành vi kinh tế thường xuyên bằng việc khai thác nguồn lợi thuỷ sản, bởi vậy việc họ đình chỉ khai thác là đủ để chứng minh cho mình đã bị thiệt hại.

Toà án, nếu tiếp tục vận dụng pháp luật và từ chối thụ lý những yêu cầu chính đáng và hợp pháp của người dân như thế này sẽ gây ra những thảm hoạ pháp lý và cho nền tư pháp trong giai đoạn này ngày một thêm trầm trọng.

Chúng ta, thực sự đang ở quá xa văn minh nhân loại.

_________

Dưới đây là một đơn khởi kiện ngày 2-10-2016 và hình người dân nộp đơn kiện Formosa tại trụ sở Tòa án thị xã Kỳ Anh, Tỉnh Hà Tỉnh

.

Posted in Formosa Hà Tỉnh -Cá chết- Ô nhiễm, Moi Truong bi O nhiem, Ngư dân | Leave a Comment »

►Đưa thép tới Cà Ná là tội ác

Posted by hoangtran204 on 09/10/2016

 

Đưa thép tới Cà Ná là tội ác

FB Huy Đức

8-10-2016

Nếu không có dự án Thép của Tôn Hoa Sen chắc tôi sẽ không tìm về Ninh Thuận. Dù trong ký ức của một thằng lính như tôi, Cà Ná tuy chỉ là tên của một ga xép, nhưng khi qua đây, tàu Thống Nhất đã lượn theo những những khúc cong ven biển đẹp như tranh vẽ.

.

h1Cầu cảng muối Cà Ná. Tít tắp bên kia là nhiệt điện than Vĩnh Tân (mây trời vần vũ chứ chưa phải bụi than). FB Huy Đức

h1Mũi Dinh

h1Ra tới bờ cát Phước Dinh thì trời sập tối. Cát vàng trải dài hàng chục cây số, đẹp tuyệt vời.

h1Ngư dân làm muối. Ảnh sưu tầm

h1

.

Tác giả tại

Tác giả tại Cà Ná, Ninh Thuận. Nguồn: FB Truong Huy San

Một nhà đầu tư du lịch đưa tôi đi dọc vùng biển miền Trung và dừng lại khá lâu ở Cà Ná.

Anh nói, “Cho làm thép ở đây thì không chỉ giết chết Cà Ná mà còn giết cả vùng biển du lịch tốt nhất Việt Nam”.

Ninh Thuận là vùng duy nhất ở nước ta có khí hậu nhiệt đới Xavan, mỗi năm chỉ mưa khoảng 50 ngày (từ tháng 9 đến tháng 11). Theo Nhà đầu tư du lịch đi cùng, điều đó không gợi nhớ một hình ảnh sa mạc khô cằn mà cho thấy khả năng tạo ra những sản phẩm du lịch độc đáo hơn cả Nha Trang, Phan Thiết.

Có một điểm đặc biệt ít được nói đến cho dù người Pháp đã biết từ thập niên 1930s và viện Hải Dương học Nha Trang vẫn liên tục nghiên cứu bổ sung: Ninh Thuận là tâm của vùng nước trồi ven bờ (coastal upwelling). Cả thế giới chỉ có 18 vùng nước trồi ven bờ, Ninh Thuận là một trong số đó.

Nước trồi bắt đầu từ tầng sâu 100-125m, dội lên rất nhanh rồi giảm dần trước khi lên tới mặt biển. Sinh thái và vùng rìa của các tâm nước trồi thường là vùng cho sản lượng đánh bắt hải sản cao.
Mặc dầu tâm nước trồi mạnh thường xuất hiện ở vùng biển Ninh Thuận, Bắc Ninh Thuận, nhưng vùng có hiệu quả sinh thái cao nhất lại nằm ở tam giác Cà Ná – Phú Quý – Phan Thiết.

Trong vùng tam giác này, theo nhà nghiên cứu Bùi Hồng Long (chủ biên), “Các điều kiện sinh thái môi trường cực kỳ thuận lợi cho sự phát triển đời sống sinh vật: địa hình đáy với độ gồ ghề lớn, các front thuỷ văn cường độ mạnh, hàm lượng các chất dinh dưỡng thích hợp, năng suất sinh học sơ cấp cao, sinh vật nổi phù dù, sinh vật đáy, phát triển số lượng trứng cá, cá con nhiều, vì vậy một số hải sản như cá, sò lông, điệp quạt có sản lượng cao”.

Cũng vì nằm trong vùng nước trồi, biển Ninh Thuận mặn nhất và Cà Ná đang cho muối đạt chất lượng tốt nhất Việt Nam.

Khi nói về Thép Cà Ná, chưa thấy ai nhắc đến nhiệt điện than: “kẻ giết người hàng loạt”. Từ bên này đồng muối Cà Ná có thể nhìn thấy khói đen nghi ngút bốc lên từ nhiệt điện Vĩnh Tân. Chỉ một Vĩnh Tân 2, mỗi ngày đã thải ra 4.400 tấn tro và xỉ. Trong khi, ở Vĩnh Tân sắp có tới bốn nhà máy, với tổng công suất trên 5.000 MW.

Có mùa, gió Cà Ná có thể đưa khói bụi lên tận Nha Trang. Nếu không thay bằng điện gió và điện mặt trời, chỉ cần nhiệt điện than Vĩnh Tân đã đủ bóp cổ du lịch Nam Trung Bộ. Thêm thép vào đó nữa, coi như là giết chết vùng biển này.

Tôn Hoa Sen nằm trong số không nhiều doanh nghiệp Việt Nam thành công từ sản xuất và lớn mạnh bằng thương hiệu. Nếu liều lĩnh đầu tư nhà máy thép vào Cà Ná, chắc chắn Hoa Sen không thể “giàu to” mà còn đối diện với nguy cơ phá sản. Tôi nghĩ, ông Lê Phước Vũ hiểu, trong văn hóa của người Việt, cách tu hành hiệu quả nhất không phải là ăn chay niệm phật, xây chùa, xây chiền mà phải hằng ngày bớt làm điều ác.

Lẽ nào ông Vũ chưa nghiệm ra rằng, chỉ vì kinh doanh kiếm tiền mà bất chấp các lời khuyến cáo, làm những việc đe dọa tới thiên nhiên, đe dọa môi trường sống của con người, cũng là đang làm những điều rất ác.

Vũng Áng không phải là nhà thờ Đức Bà hay Hồ Gươm. Đừng coi cuộc biểu tình ở Formosa hôm 2-10 là một “âm mưu”(khác chăng nhờ những người đi biểu tình phần lớn là giáo dân nên họ đã tiến hành chừng mực). Formosa đã cướp đi những ngày tháng thanh bình của họ. Không đơn giản chỉ để bày tỏ thái độ, những người dân Kỳ Anh đang phải bước ra khỏi nhà vì công cuộc mưu sinh và tương lai của chính mình.

Cuộc biểu tình của bà con Kỳ Anh không chỉ gửi được một thông điệp mạnh mẽ tới chính quyền mà còn gửi tới cả chúng ta.

Hôm qua, 7-10-2016, từ Cà Ná ra Mũi Dinh, theo con đường ven biển về Phan Rang, nhìn những bãi tắm hoang sơ gần như vẫn còn ở dạng tài nguyên, tôi sực nhớ tới Vũng Áng. Những ai đã từng đi qua vùng biển Hoành Sơn mươi, mười lăm năm trước có thể cũng thấy cái bế tắc của nơi này. Đẹp nhưng quá vắng lặng và nghèo thê thảm.

Năm 2008, có thể vì thiếu tầm nhìn mà Chính phủ đã “trao cái ngàn vàng” Vũng Áng cho Sở Khanh Formosa. Nhưng nếu, trong điều kiện thông tin ngày nay mà vẫn để Hoa Sen đưa thép vào Cà Ná thì vấn đề không còn là tầm nhìn mà là tội ác.

Nếu có thêm “một Formosa” nữa xuất hiện thì không chỉ đảng, chính phủ mà những người dân đang sống ở Việt Nam hôm nay cũng phải chịu trách nhiệm với cháu con và lịch sử.

______________

Mời các bạn xem lại  các hình ảnh này để rồi chúng ta tự hỏi mỗi người cần sẽ làm gì để ngăn cản bọn lưu manh (chỉ vì muốn đục khoét thêm tiền nên sẵn sàng) tàn phá Cà Ná.

h1Cầu cảng muối Cà Ná. Tít tắp bên kia là nhiệt điện than Vĩnh Tân (mây trời vần vũ chứ chưa phải bụi than). FB Huy Đức

h1Mũi Dinh

h1Ra tới bờ cát Phước Dinh thì trời sập tối. Cát vàng trải dài hàng chục cây số, đẹp tuyệt vời.

h1Ngư dân làm muối. Ảnh sưu tầm

h1

____________

Trần Hoàng ghi:

Trần Tuấn Anh (TTA) được cha là chủ tịch nước Trần Đức Lương (1997-2006) và đồng băng đảng đưa lên làm Bộ trưởng Bộ Công Thương. Nhờ đó, hiện nay TTA có toàn quyền phê chuẩn các dự án công nghiệp ở trong nước. Đất nước Việt Nam xem ra bất hạnh vì có những đầu lĩnh kém cỏi như TTA.  

Trong lý lịch, TTA khai có bằng tiến sĩ kinh tế năm 23 tuổi, thật là điều quá vô lý. Nhưng không ai dám công khai trực tiếp hỏi Bộ trưởng Công Thương Trần Tuấn Anh đã học đại học nào? Lấy bằng cao học ở đâu? Có bằng tiến sĩ năm nào, trường nào cấp, đề tài luận án là gì?

Vì từ trước đến nay, không có ai dám hỏi công khai và trực tiếp TTA về bằng cấp của y, nên sự lưu manh và hợm hỉnh của TTA gia tăng.

Thật vậy, qua báo chí đưa tin, TTA đã công khai ra mặt đỡ đầu cho tên lưu manh Lê Phước Vũ, chủ tịch HĐQT tập đoàn Hoa Sen chuyên bán tôn và sắt xây dựng. Hiện nay, do máu tham nổi lên, Lê Phước Vũ đòi làm hãng thép ở Cà Ná dựa vào sự đỡ đầu của TTA. 

Mấy tuần qua, do có sự phản đối trên mạng về mối liên hệ giữa Tuấn và Vũ, nên TTA đã nói rõ ý định của y: quyết làm thép ở Cà Ná dù không có Lê Phước Vũ. 

Điều này cho thấy đằng sau TTA còn có đồng bọn, những tên đã cân nhắc TTA lên làm bộ trưởng để phục vụ ý đồ nào đó. 

.

Posted in Moi Truong bi O nhiem | Leave a Comment »

►Vì sao người Hà Nội hay bị thần kinh, ung thư, suy thận, vô sinh, sẩy thai..? (Petrotimes)

Posted by hoangtran204 on 07/10/2016

Theo khảo sát, nghiên cứu của một nhóm nhà khoa học thuộc Trường ĐH Y Hà Nội mới đây: có tới 98% mẫu thủy sản, đặc biệt là cua ở các ao hồ Hà Nội bị nhiễm kim loại nặng như chì, thủy ngân, asenic, cadmium…

Đọc tiếp »

Posted in Moi Truong bi O nhiem, Thực Phẩm và sức khỏe | Leave a Comment »