Trần Hoàng Blog

Archive for the ‘Văn Hóa XHCN’ Category

►Lời cảnh cáo các nhà học phiệt

Posted by hoangtran204 trên 20/09/2017

 

Đọc tiếp »

Advertisements

Posted in Dân Chủ và Nhân Quyền, Văn Hóa XHCN | Leave a Comment »

►Starbucks coffee và những cái “cốc cà phê” của người Trung Quốc

Posted by hoangtran204 trên 06/05/2017

Starbucks cà phê hối hận vì đã cho phép khách tự mang cốc riêng đến mua cà phê. Nhưng khi nhìn những cái “cốc” họ mang tới, nhân viên chỉ biết khóc ròng

 

Đọc tiếp »

Posted in Văn Hóa XHCN | Leave a Comment »

►Về một thứ văn hóa không biết xấu hổ–Những người đã lớn tiếng bênh vực những chuyện sai ở bộ này, tỉnh kia, công ty nọ… là đúng quy trình, là không sai…là quân vô loài

Posted by hoangtran204 trên 30/08/2016

 

MỘT THỨ VĂN HÓA KHÔNG BIẾT XẤU HỔ

30-8-2016

PGS TS Phạm Quang Long, cựu Hiệu trưởng Trường ĐHKHXH&NV, cựu Phó Giám đốc ĐH Quốc gia Hà Nội, cựu Giám đốc Sở Văn hoá Hà Nội (2005-2013). Nguồn:documentary.vn
Phạm Quang Long

Về một thứ văn hoá không biết xấu hổ

Tôi mượn ý của cuốn sách “Về một nền văn hoá biết xấu hổ” do NXB Văn học ấn hành để nói về thứ văn hoá ứng xử không biết xấu hổ đang lan nhanh như bệnh dịch hiện nay.

Xấu hổ là một trạng thái tự nhận thức của con người khi thấy hành vi của mình không phù hợp với chuẩn mưc thông thường, cảm thấy có lỗi, thấy mình không xứng đáng với vị trí, cái danh mình đang mang. Vị trí và cái danh ấy, nhiều khi không phải danh vị xã hội mà chỉ giản đơn là một con người.

Những người đã lớn tiếng bênh vực những chuyện sai ở bộ này, tỉnh kia, công ty nọ… là đúng quy trình, là không sai nhưng trong thực tế, những cái sai ấy rõ lắm, lớn lắm, phơi bày ra hết cả khía cạnh pháp lý lẫn đạo lý trước bàn dân thiên hạ rồi. Thế mà họ vãn xưng xưng như những chuyện ấy chả liên quan gì đến mình. Có lẽ họ đã luyện được công phu “thiết bì công” như Kim Dung nói, da mặt dầy hơn da voi, nên mới dám nói như vậy. Các cụ dạy cực đơn giản mà minh triết ” vừa mắt ta, ra mắt người”. Với họ, chỉ cần vừa mắt ta thôi còn người khác thế nào, họ không cần đếm xỉa. Loại này, các cụ định danh rồi: ” Quân vô loài”. Đã là quân vô loài thì còn gì để nói nữa! Chúng đâu phân biệt được phải trái đúng sai mà ngượng?

Tiền mồ hôi nước mắt làm ra, đem gửi ngân hàng, bị đánh cắp từ ngân hàng, thế mà đại diện Ngân hàng bảo: “Chúng tôi thực hiện đúng quy định pháp luật. Tiền mất là do có kẻ ăn cắp. Chúng tôi đã báo cơ quan công an điều tra. Cơ quan chức năng sẽ trả lời khi có kết quả”. Chao ôi, đến thế thì để có cuộc sống yên lành sao gieo neo quá. Ai bảo vệ mình đây? Chả thế mà khi có chuỵện này nọ xảy ra, nhiều người chọn cách tự xử vì không biết trông cậy vào ai.

Công dân có vướng mắc quyền lợi với đại diện công quyền. Thế là bị o ép đủ kiểu, thậm chí bị khởi tố. Dư luận làm rát quá, người ta kỷ luật người làm sai. Tưởng rằng công lý được phục hồi. Ai dè, người ta lại tìm lỗi khác tiếp tục truy đuổi vì những lý do như con kiến. Thôi, đành chọn con đường tránh “quan” như tránh voi cho yên tấm thân thôi. Vụ “Xin chào” đấy.

Có quan chức, có cả nhà khoa học hôm trước còn đứng ra bênh vực chuyện chặt cây không sai, cái cây trồng ở bên đường không phải là cây mỡ, việc Formosa không sai, cá chết là do thuỷ triều đỏ…, sau đó lại nói ngược lại, lại nhảy xuống biển tắm rồi nói biển đã sạch, biển có khả năng tự đào thải độc tố… Xin lỗi, lúc đó tôi lại nhớ câu nói dân gian” cầu cho những đứa nói điêu mồm nó mọc mụn hết”. Điên lắm.

Những chuyện tương tự nhiều lắm. Tôi cũng không muốn làm phiền lòng ai vì những chuyện chẳng hay ho này. Tôi chỉ muốn nói là căn bệnh mất khả năng thấy hổ thẹn, tự thấy mình có lỗi đang trầm trọng. Nó không chỉ xảy ra với đám “dân gian” mà đã thấm vào đám công chức, trong đó có cả công chức cao cấp, cả người đã được học hành. Mà đau nhất là nó lại ngấm vào hệ thống, có ở nhiều nơi lắm. Làm sao đây để dân khí công chức đừng rơi xuống mức mà trước đây ngay cả những kẻ thất phu cũng không mắc phải?

Trong chuyện này mỗi chúng ta cũng có trách nhiệm vì đã rủ áo, khoanh tay đứng ngoài, những tưởng cứ tránh xa nó, cứ không dối trá thì mình sẽ được yên ổn. Ta đã nhầm và phải gánh chịu những sai lầm của chính mình.

Posted in Chinh Tri Xa Hoi, Văn Hóa XHCN | Leave a Comment »

►Chúng Ta, Chúng Nó và Tiếng Nước Mình

Posted by hoangtran204 trên 21/07/2016

Blog RFA

Tưởng Năng Tiến

20-7-2016

Có lần, tôi (trộm) nghe giáo sư Đỗ Mạnh Tri nói rằng: “Rồi chế độ toàn trị sẽ chấm dứt tại Việt Nam. Nhưng người Việt Nam không thể xây dựng đất nước bằng cách phủ định thực tại Việt Nam vì trong thực tại ấy, có Mác.”

Thế còn Mao? Học thuyết Marx – Lénine, tư tưởng Mao Trạch Đông và tác phong Hồ Chí Minh mà.

Chính Mao (chứ không phải là Hồ) mới là soạn giả của thảm kịch Cải Cách Ruộng Đất, và là tác giả của của cuộc chiến chống Mỹ cứu nước, cùng với sản phẩm phụ là vô số những từ ngữ thô bạo phát sinh ngay sau khi ĐCSVN phóng tay phát động quần chúng

“Cán bộ”: Tại sao thằng hào Thức nó lại sướng cao độ thế?’

Chị cốt cán: ‘Nó sướng cao độ thế là vì nhà nó đi bóc lột nhân dân.’

Cán bộ: ‘Thế tại sao chị lại khổ cao độ thế?’

Chị cốt cán:’Em khổ cao độ thế là vì em bị nó bóc lột em trên một cái vấn đề đi ở cho nó mười mấy năm.’ ‘Hôm nay em không đi họp được vì nhà em nó cứ khống chế em.’

Chúng ta không được phóng tay lỏng lẻo, mà phải phóng tay chặt chẽ.

Bần cố nông là con đẻ Cụ Hồ, dân nghèo là con nuôi thôi, nên mới đề ra chiếu cố.

Vì giai cấp địa chủ bóc lột mấy nghìn năm nay nên chị Phước mới bị toét mắt.” (Trần Dần – Ghi chép về Cải cách Ruộng đất ở Bắc Ninh 1955-1956. Phạm Thị Hoài biên soạn).

Ở thời điểm này, có lẽ, vì ngôn ngữ cách mạng chưa kịp đi sâu vào lòng quần chúng nên mẫu đối thoại thượng dẫn (nghe) vẫn còn hơi ngọng nghịu.

Với thời gian, cùng với cuộc chiến tranh giải phóng miền Nam (chính thức khởi đầu 1959), ngôn từ chiến tranh mới trở nên phổ cập và mỗi lúc một thêm… nhuần nhuyễn:

“Có một lần từ mặt trận đường 9 ghé về thăm nhà, tôi gặp đúng đêm máy bay Mỹ đánh phá Hà Nội. Còi báo động từ Nhà hát Lớn rú vang. Quầng sáng ánh đèn điện phía nội thành bỗng như dụi tắt bớt. Rồi những chùm đạn phòng không đỏ lừ thun thút lao lên vòm trời. Rồi bom nổ phía Yên Viên, Cầu Giát…

Còi báo yên, đàn chó trong làng vẫn sủa râm ran, đường làng ngõ xóm vẫn rậm rịch bước chân người, không một ai ngủ lại cả. Các cô các chị thức thẳng từ lúc đó cho tới lúc quẩy gánh rau húng, rau thơm tới các phiên chợ sớm. Người làng Láng chia sẻ âu lo với người nội thành như thế đấy!

Giữa phút tĩnh lặng, nghiêm trang ấy tôi bỗng nghe có tiếng gì động mạnh như tiếng ai đập chiếu trên mặt ao, tiếng đổ vỡ  loảng xoảng, ngay sau đó là tiếng kêu la của một người đàn bà:

Ối bà con xã viên đội một, đội hai, đội ba, đội bốn ơi! Lão chồng tôi tàn ác, thâm độc như đế quốc thực dân. Nó đánh tôi trường kỳ, gian khổ như thế này làm sao tôi chịu nổi?”

Đêm sau máy bay Mỹ tiếp tục đánh phá Hà Nội. Đúng vào giây phút không ai chợp mắt nổi ấy, bà Hin lại chạy bổ ra đường la hét váng động cả xóm: “Ới bà con xã viên ơi! Chiều nay lão chồng tôi không nấu cơm cho tôi ăn. Nó còn giấu biệt hòm gạo đi. Nó rắp tâm triệt hạ kinh tế tôi đấy mà!” (Tô Hoàng – “Nỗi Buồn Lâu Qua.” Talawas blog).

H1

Chiến lược, cũng như chiến thuật, trong trận chiến giữa bần nông và phú nông Việt Nam được chỉ đạo sát sao từ nước XHCN anh em Trung Quốc. Cuộc chiến Bắc/Nam cũng vậy. Không ít lương thực, vũ khí, đạn dược, cùng vô số những từ ngữ (mới) cũng đều được chi viện từ nước bạn láng giềng: bảo quản, bồi dưỡng, cải thiện, đại trà, đăng ký, đề xuất, đột xuất, động viên, kiểm điểm, kiểm thảo, hộ khẩu, hộ chiếu, hộ lý, khẩn trương, nhất trí, quản lý, sư trưởng, sự cố, tham quan, thiết kế, tranh thủ, trợ lý, xuất khẩu, xử lý …

H1Nguồn ảnh:nhabe.hochiminhcity.gov.vn

Nhà phê bình văn học & văn hoáVương Trí Nhàn cho rằng: “Cái mà ta gọi là giáo dục miền Bắc chỉ là sự kéo dài của lối phát triển giáo dục trong chiến tranh… Giáo dục chiến tranh, do dó, luôn luôn là một nền giáo dục dở dang chắp vá, mà lại vẫn phải khoác cho mình cái chức danh lớn lao của một nền giáo dục mới mẻ, cách mạng…”

Đôi lúc, tôi còn nghĩ thêm là tiếng nói của miền Bắc (trong nhiều thập niên qua) cũng thế, cũng là thứ ngôn từ của thời chiến chinh, cũng “chắp vá, mà lại vẫn phải khoác cho mình cái chức danh lớn lao … cách mạng.”

Chiến cuộc rồi tàn. Bắc/Nam thống nhất. Nam/Bắc hoà lời ca. Nhiều triệu người dân (ở vùng địch tạm chiếm) ca không nổi nên đã liều mạng đâm xầm ra biển, hoặc ù té bỏ chạy thục mạng qua biên giới xứ người.

Họ chết bờ, chết bụi, chết dấm, chết dúi, chết đói, chết khát, chết đâm, chết chém, chết đạn, chết mìn, chết chìm, chết nổi, chết trôi, chết đuối (ôi thôi) nhiều vô số kể! Đám này chết “cũng tốt thôi” vì toàn là những kẻ thuộc thành phần bất hảo, cặn bã của xã hội, ma cô, đĩ điếm, trộm cướp, trây lười lao động, ngại khó ngại khổ, chạy theo bơ thừa sữa cặn… ” theo như nguyên văn lời giải thích của Chính Quyền Cách Mạng với dư luận thế giới bên ngoài, và với lũ cột đèn (còn) kẹt lại.

Không hiểu những người vượt biên đã hành nghề ma cô, đĩ điếm và tổ chức trộm cướp ra sao – nơi đất lạ quê người – nhưng số lượng “bơ thừa sữa cặn” mà họ gửi về cố hương đã (lắm phen) cứu được toàn dân, cũng như toàn Đảng thoát chết … vì đói khát!

Từ đó, Đảng mới “dũng cảm” đổi mới tư duy và – đồng thời – đổi giọng. Những kẻ phản bội tổ quốc (qua đêm) bỗng  trở thành “khúc ruột xa ngàn dặm,” và là “thành phần không thể thiếu trong đại gia đình dân tộc.”  Nghị Quyết số 36-NQ/TƯ – về “Công Tác Ðối Với Người VN Ở Nuớc Ngoài”- đã ra đời (hơi muộn) vào ngày 26 tháng 3 năm 2004, dựa trên cơ sở đó.

H1

N.Q này, tiếc thay, không phát huy được chút hiệu quả nào ráo nạo. Những khúc ruột xa ngàn dặm vẫn nhất định giữ nguyên thái độ xa cách, và coi mọi thứ “ma zê in” Việt Nam (Bộ chính Trị, Chính Phủ, Nhà nước, Quốc Hội… ) đều không khác gì những nùi giẻ rách – kể cả những hạn từ trong tiếng nói hằng ngày mà họ gọi một cách miệt thị là chữ Vẹm hay chữ Việt Cộng:

Chúng ta nói là “phát ngôn viên” thì chúng nói là: “người phát ngôn”

Chúng ta nói là “thăm viếng” thì chúng nói là “tham quan”

Chúng ta nói là “ghi danh” thì chúng nói là “đăng ký”

Chúng ta nói là “đá bóng” thì chúng nói là “bóng đá”

Chúng ta nói là “yếu điểm” thì chúng nói là “điểm yếu”

Chúng ta nói là “trở ngại” thì chúng nói là “sự cố”

Chúng ta nói là “xuất cảng” thì chúng nói là “xuất khẩu”

Chúng ta nói là “liên lạc” thì chúng nói là “liên hệ”

Chúng ta nói là “hiểu rõ” thì chúng nói là quán triệt”.

Chúng ta nói là “viên chức” thì chúng nói là “quan chức”.

Chúng ta nói là “chuyển âm” thi chúng nói là “lồng tiếng”.

Chúng ta nói là“dẫn giải” thì chúng nói là “thuyết minh”.

H1Nguồn ảnh: tếu.blogspot.com

Tôi vốn tính hơi ba phải nên rất sợ chuyện chia phe; đã thế, khi nhìn thấy một đường ranh rạch ròi, phân chia bạn/thù (quyết liệt) giữa “chúng ta/chúng nó” thì không khỏi sinh lòng ái ngại, cùng với đôi chút băn khoăn.

Uả, chớ “chúng” là ai vậy – hả Trời?

Chúng có phải là vài chục triệu đồng bào miền Bắc, những nạn nhân đầu tiên của chế độ hiện hành, những kẻ đã bị tra tấn không ngừng – từ hai phần ba thế kỷ qua – bởi cả một cái hệ thống truyền thông (loa/ đài/ sách/ báo) của ĐCSVN không?

Chúng – không chừng – cũng dám là ông hay bà hàng xóm, những người cùng đi chung chuyến vượt biên với chúng ta (hai ba mươi năm trước) chớ ai? Chúng ta nhờ may nên đến được Bangkok, còn họ vì xui  nên phải vào ngồi (bóc lịch) ở Băng Ki.

Và chúng có phải là những người trẻ cỡ tuổi con cháu của chúng ta, sinh ra và lớn lên “trong lòng cách mạng,” chưa bao giờ có dịp tiếp xúc với một thứ ngôn từ nào khác ngoài tiếng Vẹm (hay tiếng Việt Cộng) không?

Ngôn ngữ có đời sống và tuổi thọ riêng của nó. Sinh mệnh của cái được gọi là tiếng Vẹm; tuy thế, tuỳ thuộc không ít vào sự tồn vong của chế độ hiện hành.

Tiếng Việt Cộng chỉ thôi phổ cập, và dần bị đào thải, sau khi chế độ này không còn có thể tiếp tục hoành hành nữa. Và việc dứt điểm nó sẽ không thể xẩy ra nếu mọi người vẫn cứ giữ khư khư cái lằn ranh phân chia bạn/thù (“chúng ta/chúng nó”) giữa lòng dân tộc.

* Dạo 2006 – 2009, thỉnh thoảng vài ba tuần, anh Ba Sàm đăng lên blog một sáng tác của anh, hoặc trích đăng những bài viết của các nhà văn khác, để châm biếm cách dùng chữ của nền văn học xhcn, hoặc để phản ảnh lại cuộc sống của người dân dưới chế độ xhcn khắc nghiệt như thế nào, hoặc cái thô lỗ của các cán bộ đảng được đảng ban cho chút chức quyền. Ngày nào, chúng tôi cũng gởi cho nhau những tin nhắn, vừa đăng bài, đọc bài, duyệt comment, vừa viết comment, trò chuyện với nhau, bàn bạc với nhau… Mới đó mà 10 năm trôi qua rồi. Các bạn trong friend list như Akari, Hòa, Chí, PN,… giờ này cũng tản mát đâu mất.

Posted in Miền Bắc trước 30-4-1975- Đời Sống Cư Dân Đô Thị, Văn Hóa XHCN | Leave a Comment »

► Văn hóa tranh luận của nữ BTV Lê Bình ( đài VTV) với LS Trần Vũ Hải trong vụ cá chết Formosa Ha Tinh

Posted by hoangtran204 trên 27/06/2016


FB Trần Vũ Hải

26-6-2016

VTV phải xấu hổ trước những đồng nghiệp từ Đài loan. VTV phát động chương trình cổ vũ “hãy làm sạch biển”, nhảy múa tưng bừng với hỗ trợ của nhà tài trợ. Nhưng VTV không dám nhắc đến cá chết và biển vắng tanh tại 4 tỉnh bắc Trung bộ, nơi này không cần cổ vũ bờ biển cũng sạch.

Mong VTV24 của nhà báo Lê Bình hãy hành động thiết thực hơn, đừng đổ do BTG (ban tuyên giáo) và ông TBM (bộ trưởng Trần Bình Minh) không cho phép.

Ngư dân 4 tỉnh, đặc biệt ở huyện Kỳ Anh- tỉnh Hà Tĩnh cần các bạn đến tận nơi, phản ánh nỗi khổ nhọc và ý kiến của họ cho dân chúng (cả nước) và các nhà chức trách Việt.

Dù sao chúng ta cũng cám ơn Truyền Hình Đài Loan (với sự giúp đỡ của nhiều người Việt dũng cảm) đã đưa tin chân thật cho dân chúng và các dân biểu Đài Loan, để gây sức ép cho tập đoàn Formosa giải trình trách nhiệm về thảm hoá cá chết ở miền Trung.

Xem clip của Đài truyền hình Đài Loan tại đây:

_____

FB Trần Vũ Hải

27-6-2016

BTV Lê Bình. Ảnh: Đẹp Online

BTV Lê Bình. Ảnh: Đẹp Online

 

Bạn Lê Bình VTV đã trả lời stt (bài viết) sáng nay của tôi về VTV nhân 1 Đài truyền hình Đài Loan phát 1 chương trình chấn động về thảm hoá cá chết ở miền Trung Việt nam, tôi xin đăng nguyên văn bài của nhà báo LB ngay dưới đây.

Nhân đây, tôi đề nghị VTV cử một nhóm nhà báo cùng chúng tôi, một nhóm luật sư về Kỳ Anh, Hà Tĩnh để tìm hiểu cuộc sống và ý kiến của bà con ngư dân. Mọi chi phí do tôi và các bạn của tôi tài trợ. Nếu cần có thể xuất phát ngay sáng mai, chúng tôi đã sẵn sàng và chờ các bạn VTV24 của bạn LB.

(Đề nghị các bạn không nên có ý kiến thiếu văn hoá, nếu có tôi sẽ xoá và có thể block).

____

FB Lê Bình

Vu Hai Tran tảng lờ sự thật và uốn lưỡi mua danh thì sao xứng làm luật sư?

27-6-2016

Trần Vũ Hải, Anh là Luật sư, tôi là nhà báo.. Một nghề phản ánh cho mọi người thấy sự thật, một nghề phân tích logic để tìm ra sự thật.. Nhưng có vẻ Anh đã chọn nhầm đường.. Tôi sẽ lý giải vì sao tôi nói thế:

Vụ Cá chết ở miền Trung, V24 chúng tôi đã nhanh chóng vào cuộc, hàng loạt bài viết phản ánh hiện trạng, hàng loạt những phóng sự nói về nỗi khổ của Người dân.. nhưng thông tin đeo bám các cơ quan chức năng và phỏng vấn các nhà khoa học về nguy cơ của nó nếu thực sự môi trường bị nhiễm độc.. Chúng tôi đã làm.. (có đường link phát sóng kèm theo)

https://www.facebook.com/tintucvtv24/videos/543243399196786/

https://www.youtube.com/watch?v=iFtHtxg0sf4

Chúng tôi – Sau phóng sự cá chết, là 1 trong những người đầu tiên phản ánh về ngao chết, là chương trình đầu tiên đưa về kết quả kiểm nghiệm mẫu kim loại nặng cao gấp 9 lần trong nước biển, là Người tìm đến phỏng vấn các nhà khoa học có uy tín trên thế giới về những nguy cơ có thể xẩy ra với môi trường, là người đưa thông tin về việc các nước khác xử lý sự cố môi trường như thế nào?

Đường link phát sóng hãy còn đây:

1. Cá CHẾT hàng loạt liệu có phải THẢM HỌA MÔI TRƯỜNG?

https://www.facebook.com/tintucvtv24/videos/543162032538256/

2. Sở TNMT – Thừa Thiên Huế: Tỷ lệ kim loại nặng Crom (Cr) tại biển Lăng Cô gấp 9 lần tiêu chuẩn quốc gia.

https://www.facebook.com/tintucvtv24/videos/543162909204835/

3. Nhìn lại toàn cảnh sự cố bất thường khiến hơn 200 km đường bờ biển dọc khu vực Miền Trung cá chết hàng loạt.

https://www.facebook.com/tintucvtv24/videos/543160295871763/

4. Không chỉ có cá chết, hàng trăm tấn nghêu của bà con Kỳ Anh, Hà Tĩnh cũng đã chết toàn bộ.

https://www.facebook.com/tintucvtv24/videos/543158925871900/

5. Ông Nguyễn Hữu Quyết: PGĐ Sở TN&MT Thừa Thiên Huế trả lời về việc kim loại nặng trong nước biển vượt quá nhiều lần tiêu chuẩn cho phép của Việt Nam.

https://www.facebook.com/tintucvtv24/videos/543164829204643/

6. Ý kiến của chuyên gia, GS Trương Nguyên Thành: Giảng viên đại học Utah, Mỹ về việc cá chết hàng loạt tại vùng biển Miền Trung và nồng độ kim loại nặng gấp nhiều lần cho phép tại Lăng Cô.

https://www.facebook.com/tintucvtv24/videos/543166102537849/

7. Hiện tượng cá chết đã từng xảy ra trên thế giới, và hãy cùng xem chính phủ các nước này xử lý vấn đề này như thế nào?

https://www.facebook.com/tintucvtv24/videos/543167809204345/

Phóng viên chúng tôi đã cùng ngư dân Miền Trung bám biển, rơi nước mắt vì nỗi đau của họ, ngơ ngác trước việc cá thì không bán được, cuộc sống mưu sinh khó khăn, phóng viên chúng tôi cũng phản ánh tình trạng những kẻ táng tận lương tâm vẫn tiếp tục buôn bán cá chết để kiếm lời.

Trong khi hàng triệu người Việt Nam đang theo dõi chương trình của chúng tôi và cùng chúng tôi nỗ lực làm được điều gì đó, dù nhỏ thôi, cho Người dân Miền Trung, cho biển, thì anh Hải, Anh làm gì? hay chỉ lại bịt tai, che mắt trước nỗ lực của chúng tôi, luôn gào thét, sao VTV không đưa cái này, sao không đưa cái kia? mà chả chỉ được chúng tôi sẽ phải đưa gì thêm nữa.

Chúng tôi không thể làm hài lòng Hải, một kẻ chúng tôi nhìn thấy chưa làm được gì cho miền Trung mà chỉ ngồi một chỗ, múa bàn phím mua danh.. Trần Vũ Hải, Anh đã bỏ một xu nào từ túi mình cho Bà con miền trung chưa? Anh đã kêu gọi được ai tặng 1 suất quà nào cho người dân miền trung chưa? Tôi đồ là chưa… vì Anh chả kêu gọi nổi ai đâu, vì không ai tin anh cả , còn chúng tôi, 4000 suất quà đã được các nhà tài trợ đồng hành cùng ” Hãy làm sạch biển” phát đi cho đồng bào miền Trung, trong giai đoạn 1.

15 Nghìn suất quà nữa, mỗi suất cũng đc 500 ngàn đồng, trị giá gần 10 tỷ .. cho Ngư dân Miền Trung đang khó, khổ.. Trong chương trình ” Cùng hoà nhịp hãy làm sạch biền”.. chúng tôi đã chỉ ra : ” biển đang bị đầu độc : trên bờ biển là rác, trong lòng biển là xả thải, xả chất độc .. chúng tôi kêu gọi người dân cùng chúng tôi vạch mặt , chỉ tên những kẻ bất chấp sự sống mà đầu độc biển chỉ vì cái túi tiền của chính mình… chính tôi đã nói ra điều đó.

Chúng tôi không thể vẽ ra kết quả là ai đó xả độc mà đưa lên, mà khi nói là phải có nguồn thông tin xác thực. Trong lúc chờ đợi kết quả, chúng tôi muốn làm gì đó cho biển và chúng tôi kêu gọi mọi người nhặt rác , 28 nghìn tình nguyện viên, 15 nghìn bộ đội biên phòng, rồi bây giờ lan rộng nữa… hàng loạt các nghệ sĩ và người hâm mộ của mình, hàng triệu người đang ý thức dần lên trong việc bảo vệ môi trường ,không xả rác bừa bãi.. doanh nghiệp cho nhân viên đi nghỉ mát ở biển cũng dành thời gian dọn biển, Thầy Chùa, nhà Sư,phật tử cũng vén áo chàm nhặt rác trên biển, trẻ con, người lớn nhắc nhau đừng xả rác ra biển.. Ý thức cộng đồng đang tốt dần lên.

Trần Vũ Hải, Anh mở mắt ra xem đi, bao nhiêu tấn rác thải đã được dọn ra khỏi biển.
Vậy hà cớ gì Anh vẫn cứ lải nhải chửi bới.. thực ra dễ lý giải thôi, vì anh ta muốn mua danh, muốn tỏ ra ta là người tử tế…

Anh Hải ạ, muốn trở thành người tử tế, dễ thôi, phải làm việc tử tế trước, phải biết chia sẻ và yêu thương, phải biết nhường một chút lợi ích kinh tế của mình dành cho người khó hơn mình, và đơn giản nhất là Anh đi nhặt rác đi, rác dưới chân Anh và rác trong tâm hồn của Anh… Làm thế, Sống mới thấy không hổ thẹn, Anh Hải ạ. Lúc đó Anh mới đủ cái tầm để mà xứng đáng với 2 chữ: “Luật sư”- Nghề bảo vệ cho lẽ phải – Bằng không anh vẫn chỉ là một kẻ múa mép, giả danh tử tế để kiếm tiền thôi… Anh ạ… Quay đầu là Bờ đấy, Đức Phật đã dạy rồi, thức tỉnh đi.

_____

@ Lê Bình không bình luận và đưa tin sự tình nghi của hầu hết dân chúng về nguyên nhân gây ra cá chết ở Hà Tỉnh là do nhà máy thép Formosa Hà Tỉnh đổ chất thải ra biển theo đường ống dài 1500 mét. Không có hình ảnh của công ty Formosa trong các tin của Lê Bình. Không đề cập tới hướng kim loại nặng trong môi trường sống thường là do nhà máy thép thải ra.

 

 

 

Posted in Moi Truong bi O nhiem, Thời Sự, Thực Phẩm và sức khỏe, Tu Do ngon Luan, Văn Hóa XHCN | Leave a Comment »

►Nguỵ biện- đánh tráo vấn đề

Posted by hoangtran204 trên 05/05/2015

Nguỵ biện 

Cách đây trên 10 năm tôi căn cứ vào những gì mình học qua và có viết một bài khá dài để liệt kê những nguỵ biện phổ biến ở người Việt. Bài đó được phổ biến rất nhiều qua từng ấy năm. Nhưng hôm qua, nhân một cái note nhỏ về “Chứng từ của tội lỗi” (tôi không dùng chữ “tội ác”), tôi mới thấy thói nguỵ biện vẫn còn tồn tại trong khá nhiều bạn đọc. 

Tôi thấy một nguỵ biện phổ biến nhất là đánh tráo vấn đề. Tiếng Anh gọi là distraction. Có nhiều thói trong nhóm nguỵ biện này, nhưng một số thói phổ biến tôi thấy trong thực tế là: 

Thứ nhất là thói nguỵ biện có tên mà tiếng Anh gọi là “red herring”, hiểu theo nghĩa đánh tráo vấn đề. Chữ “red herring” có nguồn gốc từ thế kỉ 19 khi những người thợ săn dùng mùi cá để đánh lạc hướng và huấn luyện chó săn. Câu chuyện là cây búa được dùng cho việc giết người, người dùng nó là người của chính quyền đương thời, và việc sử dụng công cụ này được chính chính quyền xác định trên giấy trắng mực đen. Cây búa là một chứng từ nói lên tính man rợ trong thời chiến của phe chính quyền. Người đọc có suy tư phải suy nghĩ, tìm hiểu, lí giải vấn đề, và giúp người khác hiểu sâu thêm. 

Nhưng có người lại đánh tráo vấn đề bằng cách cho rằng phía VNCH cũng ác ôn không kém. Nhưng đối tượng chính ở đây là chứng từ tội lỗi ngày xưa của phía chính quyền hiện hành, chứ không phải là VNCH. Bằng cách lái vấn đề sang VNCH, người ta, hoặc cố ý hoặc vô ý, đánh tráo từ một vấn đề A sang vấn đề B. Hệ quả của sự đánh tráo như thế là làm cho người khác, nếu không tinh ý và tập trung, sẽ bị lẫn lộn vấn đề. Từ lẫn lộn dẫn đến việc bàn luận chẳng đi đến đâu, và cuối cùng chỉ là những lời qua tiếng lại một cách vô nghĩa. Nói như thế không có nghĩa là bỏ qua những tội ác của VNCH, nhưng ở đây không phải là chủ đề đó, nên đánh tráo sang nó là rất không có ích. 

Một loại nguỵ biện khác là tấn công cá nhân. Tiếng Anh gọi là ad hominem. Thật ra, thói nguỵ biện này rất ư phổ biến trong báo chí Việt Nam. Thay vì bàn luận về vấn đề thì người ngụy biện đem người đặt vấn đề ra chửi bới cá nhân. Ví dụ về thói này thì rất rất nhiều, nhưng tôi nghĩ biểu nhất là sự việc chung quanh ông Cù Huy Hà Vũ. Ông Hà Vũ là người bất đồng chính kiến với chính quyền, ông kêu gọi hợp – hoà giải dân tộc, ông kêu gọi dân chủ, ông nêu những vấn đề “dân oan”, v.v. Nhưng thay vì đối thoại với ông, thì những người trong chính quyền (và báo chí) bơi móc đời tư cá nhân của ông, và những tranh chấp trong gia đình ông. Người ta có lẽ muốn chứng minh rằng ông Hà Vũ đời thường cá nhân là tệ thế thì những gì ông ấy nói là không đáng để nghe. (Nói như thế thì đời tư các lãnh đạo từ ông Lê Duẩn đến ông Clinton, ông nào cũng có vấn đề đời tư cá nhân cả, thì không tin họ sao?) Không phân biệt được cá nhân và quan điểm của cá nhân là dễ dẫn đến bàn luận chẳng đi đến đâu. 

Tuy nhiên, thói tấn công cá nhân là một thói nguỵ biện rất thấp kém nhưng lại rất lợi hại. Lợi hại là vì công chúng thích những chuyện đời tư cá nhân hơn là động não suy nghĩ chuyện lớn. Hệ quả của ad hominem cũng là đánh tráo vấn đề: chuyển đối tượng bàn luận sang chuyện cá nhân. 

Một thói nguỵ biện hay được đem ra sử dụng là ví von bất xứng (false analogy). Thông thường, đây là thói nguỵ biện so sánh một sự việc đang bàn với một sự việc khác, nhưng các yếu tố trong so sánh không tương đồng với nhau. Tiêu biểu cho thói ngụy biện này là cách nói “nếu xem gói thuốc nổ trong bánh là khủng bố, thì việc bỏ bom cũng là khủng bố”. Nhưng hai sự việc rất khác nhau. Việc giả cái bánh để giết người là hành động lén lút ám sát, còn việc bỏ bom là hành động được tuyên bố trong một cuộc chiến. Không thể so sánh và đánh đồng hai sự việc như nhau được. Tương tự, cây búa và cây súng khác nhau xa về ý nghĩa trong chiến tranh, nhưng có người nói dùng súng để bắn chết người trong chiến tranh là ok thì dùng búa cũng ok. Nhưng cây búa không phải là công cụ để tự vệ trong chiến tranh, không phải là “conventional war”, mà nếu dùng nó để giết người trong chiến tranh thì phải xem đó là tội phạm. Không thể đánh đồng cây búa và cây súng được. Chiến tranh cũng có luật chơi của nó. 

Thói nguỵ biện hay thấy ở người Việt là thói mà tiếng Anh gọi là ignorance – tức là thiếu thông tin (hay có người dịch là “dốt”). Một số đông các bạn trẻ trong nước bị tuyên truyền và nhồi sọ quá lâu, nên họ không phân biệt được đâu là sự thật và đâu là giả dối. Đến thời điểm này mà vẫn đem những Lê Văn Tám, những tay không kéo máy bay trực thăng, những “lê máy chém khắp nơi”, v.v. là rất đáng trách. Đó không phải là những sự thật, mà chỉ là sản phẩm của tuyên truyền và giả dối. Mà, những sự kiện giả dối thì không thể dùng trong bàn luận nghiêm chỉnh được. 

Tôi thấy thỉnh thoảng có thói nguỵ biện đảo ngược điều kiện. Loại ngụy biện này thường được biểu hiện qua cách nói “Nếu VNCH thắng thì tình hình cũng thế”, và hàm ý là “tình hình tồi tệ hiện nay là chấp nhận được”. Thói nguỵ biện này phạm phải 2 cái sai lầm. Thứ nhất là sự việc đã không xảy ra, và cách nói chỉ là giả thuyết. Thứ hai, cách nói đó giả định rằng chế độ VNCH là chuẩn mực, một điều rất khó kiểm chứng trong thực tế. Tuy nhiên, cách nói như thế là rất thấp, vì nó là kiểu đánh vào … không khí (vì sự việc không xảy ra). 

Điều đáng tiếc là những nguỵ biện như thế vẫn xảy ra hàng ngày trong thế giới mạng. Chẳng những thế mà còn xảy ra ở nhiều quan chức cao cấp. Có những nguỵ biện rất hài hước như IQ và đường sắt cao tốc, như số báo chí và đài truyền hình là tự do báo chí, như học tập cải tạo là thể hiện lòng nhân ái, vân vân và vân vân. 

Nguỵ biện là hệ quả của sự lười biếng suy nghĩ. Vì lười biếng suy nghĩ nên người ta phải sử dụng những gì sẵn có. Những gì sẵn có là khẩu hiệu nhan nhãn từ mấy chục năm nay. Thành ra, không ngạc nhiên khi thấy sinh viên (và những người lười suy nghĩ) thấy ai có quan điểm và suy nghĩ khác họ thì họ cho ngay cái nhận xét “phản động”. Thấy ai nói về hành động tàn ác trong chiến tranh, họ nghĩ ngay đến “phía bên kia cũng ác ôn”. Dùng phía bên kia để biện minh cho sự ác ôn của mình là khó thuyết phục, nhưng nó làm cho họ cảm thấy an lòng. Họ chỉ thốt cái chữ đó ra theo quán tính, chứ chưa chắc họ biết cái nghĩa thật của chữ đó là gì. 

Có lẽ, ở một khía cạnh nào đó, điều này cũng không đến nỗi tệ, bởi vì những ngụy biện phản ánh sự thành công [hay có người nói sự phong phú] của ngôn ngữ trong việc tách rời giữa những gì thô thiển, gồ ghề với những gì hoàn thiện, mĩ miều. Nhưng sự trơn tru của các vật thể và ngôn ngữ ngày nay đem lại cho chúng ta một cảm giác giả tạo về thế giới thực của các vật thể. Trơn tru, tròn trĩnh có thể là giả tạo. Những câu văn ngụy biện có thể chỉ là những lời phát biểu lém lỉnh thay vì lịch thiệp, hàm chứa mánh khóe thay vì thân thiện. Có thể nói, ngụy biện là những lối sáo ngữ liến thoắng nhằm vào mục đích lôi cuốn người nghe/đọc, thay vì cung cấp cho họ một sự thực.

Posted in Văn Hóa XHCN | Leave a Comment »

►“6200 người nhập viện vì đánh nhau là bình thường”: một nhận xét bất bình thường

Posted by hoangtran204 trên 11/03/2015

Đó là nhận định của Bộ Y tế về con số hơn 6200 người bị nhập viện vì ẩu đả nhau trong 9 ngày nghỉ Tết (1)…hông thể xem hàng ngàn trường hợp đánh nhau đến nhập viện là bình thường được. Trong cái note này tôi sẽ chỉ ra rằng đó là một “hiện tượng” bất bình thường bằng cách dùng chính con số của của Bộ Y tế.

 

“6200 người nhập viện vì đánh nhau là bình thường”: một nhận xét bất bình thường

Nguyễn Văn Tuấn

08-03-2015

Đó là nhận định của Bộ Y tế về con số hơn 6200 người bị nhập viện vì ẩu đả nhau trong 9 ngày nghỉ Tết (1). Chưa nói đến ngôn ngữ chính trị (vốn rất dở), chỉ cần xem qua dữ liệu tôi thấy đây là một nhận định rất sai. Không thể xem hàng ngàn trường hợp đánh nhau đến nhập viện là bình thường được. Trong cái note này tôi sẽ chỉ ra rằng đó là một “hiện tượng” bất bình thường bằng cách dùng chính con số của của Bộ Y tế.

Cách mà Bộ Y tế lí giải con số đó là “bình thường” có thể xem là một cách ngụy biện thống kê. Họ lí giải như sau: “Nếu chia cụ thể con số gần 100 trường hợp trong 9 ngày thì trung bình mỗi ngày mỗi địa phương chỉ xảy ra khoảng 11 trường hợp nhập viện vì đánh nhau. Con số này không có gì bất thường” (1).

Có cái gì đó buồn cười trong lí giải trên! Con số 11 trên là họ lấy 6207 trường hợp ẩu đả chia cho 63 [tỉnh thành], rồi chia cho 9 ngày [thời gian nghỉ Tết]. Tức là mỗi tỉnh chỉ có 11 ca nhập viện mỗi ngày. Có lẽ các bạn tự hỏi sao họ không chia cho 24 giờ để con số trung bình chỉ còn 0.46, tức là mỗi giờ [trong thời gian nghỉ Tết] ở mỗi tỉnh thành chỉ có 0.46 người nhập viện vì đánh nhau! Muốn làm cho sự kiện lớn thì tính trên mỗi ngày cho cả nước; muốn làm cho sự kiện nhỏ thì chia cho số giờ, thậm chí phút! Cách minh họa đó cho thấy “nói dóc bằng thống kê” nó trơ trẽn và vô duyên như thế nào. Thật ra đó là một ngụy biện mà giới khoa học gọi là “fallacy of average”, khi nào có dịp tôi sẽ quay lại khái niệm này. Nhưng cách dùng con số thống kê của Bộ Y tế làm tôi nhớ đến câu nói nổi tiếng của Nhà thơ Andrew Lang “Some individuals use statistics as a drunk man uses lamp posts – for support rather than for illumination” (tạm dịch “Vài người dùng con số thống kê như là một gã say rượu dùng cái đèn đường — họ dùng để tìm điểm tựa hơn là để soi sáng vấn đề).  

Quay lại nhận xét “bình thường”, câu hỏi đặt ra là thế nào là bình thường? Xin chú ý chữ “bình thường” tôi để trong ngoặc kép (bởi vì theo chuẩn mực đạo đức, đánh nhau đến nhập viện là không bình thường). Cách hợp lí nhất là so sánh số ca nhập viện trung bình mỗi ngày trong thời gian nghỉ Tết với thời gian ngoài Tết.

Tính trung bình mỗi ngày trong thời gian nghỉ Tết vừa qua có ~690 người nhập viện vì đánh nhau. Nhưng chúng ta không biết trong thời gian ngoài Tết, có bao nhiêu ca nhập viện mỗi ngày vì đánh nhau. Do đó, tôi nghĩ đến 2 cách để so sánh: thứ nhất là so số ca nhập viện vì ẩu đả với số ca tai nạn giao thông ngày thường. Thứ hai là so sánh với cùng thời gian những ngày nghỉ Tết các năm trước. Hai so sánh này sẽ giúp chúng ta có một nhận xét đúng đắn và có bằng chứng hơn.

So với số ca tai nạn giao thông

Tuy nhiên, chúng ta biết rằng trong năm 2013 có 32266 người bị thương tích vì tai nạn giao thông (2). Tính trung bình mỗi ngày có 88 người bị thương vì tai nạn giao thông. Nếu tính cả 9805 người chết vì tai nạn giao thông, thì mỗi ngày có 115 người bị thương và tử vong do tai nạn giao thông.

Nhưng trong thời gian nghỉ Tết, mỗi ngày có đến 690 người nhập viện vì ẩu đả nhau. Như vậy, tính trung bình tỉ suất nhập viện vì ẩu đả trong ngày Tết tăng gấp 6 lần so với tỉ suất thương vong vì tai nạn giao thông. Xin nhắc lại: cao gấp 6 lần. Có thể xem sự chênh lệch đó là “bình thường” không? Tôi nghĩ chỉ có người có suy nghĩ bất bình thường mới nói đó là “bình thường”.

So với kì nghỉ Tết năm 2012 và 2013

Một cách khác để đánh giá bình thường hay không là so sánh tỉ suất năm 2014 với các năm trước. Bài báo trên Vietnamnet cho biết số ca nhập viện vì đánh nhau trong ngày Tết qua các năm như sau:

Năm 2014: 6702 ca 
Năm 2013: 4737 ca 
Năm 2012: 3995 ca

Như vậy, so với năm 2012, số ca ẩu đả và nhập viện năm 2014 tăng đến 55%! Rõ ràng có sự gia tăng về số ca ẩu đả đến nỗi phải nhập viện. Nhưng so sánh đó chưa công bằng vì chúng ta phải tính đến dân số, mà dân số thì tăng trưởng mỗi năm. Dân số của VN qua 2012-2014 là như sau:

Năm 2014: 92.55 triệu người
Năm 2013: 89.71 triệu người
Năm 2012: 88.77 triệu người

Vấn đề đặt ra là sự gia tăng số ca nhập viện là do dao động thống kê hay là do yếu tố nào khác? Chúng ta phải kiểm định giả thuyết đàng hoàng. Gọi tỉ suất nhập viện vì ẩu đả trong thời gian nghỉ Tết năm 2012, 2013 và 2014 lần lượt là L12, L13, và L14. Dùng số liệu trên, chúng ta có thể ước tính L(t) cho từng năm như sau:

Năm 2014: L14 = 6702 / (92.55*9) = 8.046 trên 1 triệu; 
Năm 2013: L13 = 4737 / (89.71*9) = 5.867 trên 1 triệu; 
Năm 2012: L12 = 3995 / (88.77*9) = 5.000 trên 1 triệu;

Nếu phát biểu của Bộ Y tế là đúng (tức “bình thường”) thì chúng ta kì vọng rằng L14 = L13 = L12, hoặc có khác nhau chút ít do dao động thống kê. Nhưng kết quả tính toán trên cho thấy hình như giả thuyết này không đúng. Tuy nhiên, vẫn chưa thể kết luận được rằng L14 khác với L13 hay L12, vì chúng ta chưa xem xét đến yếu tố dao động ngẫu nhiên qua các năm.

Chúng ta cần phải tính xác suất dữ liệu xảy ra nếu L14=L13 là bao nhiêu. Nói cách khác, gọi dữ liệu là D, và giả thuyết bình thường là H0: L14=L13, chúng ta cần tính P(D | H0). Nếu xác suất này là thấp, thì chúng ta có thể bác bỏ giả thuyết “bình thường”, và kết luận rằng sự gia tăng số ca nhập viện trong dịp Tết vừa qua là không “bình thường”.

Nhưng làm sao tính xác suất đó? Phương pháp thống kê đơn giản nhất và thích hợp nhất để so sánh 2 tỉ suất là phương pháp kiểm định Poisson (3). Giả định rằng tỉ suất L14, L13 và L12 tuân theo luật phân bố Poisson. Theo luật phân bố Poisson, phương sai của số ca nhập viện cũng chính là L. Điều này dẫn đến một phương pháp kiểm định giả thuyết rất đơn giản, dựa trên khác biệt giữa 2 thời gian. Dùng ngôn ngữ R, tôi tính được xác suất như sau:

So sánh tỉ suất năm 2014 và 2013:

> poisson.test(c(6207, 4737), c(9*92.55, 9*89.71), alternative=c(“two.sided”))

P-value < 2.2e-16
rate ratio: 1.27 (95 percent confidence interval: 1.22, 1.32)

Nói cách khác, tỉ suất nhập viện vì đánh nhau năm 2014 cao hơn năm 2013 là 27%, và khoảng tin cậy 95% dao động từ 22% đến 32%. Trị số P rất nhỏ (2.2e-16).

Tương tự, so sánh tỉ suất năm 2014 và 2012:

> poisson.test(c(6207, 3995), c(9*92.55, 9*88.77), alternative=c(“two.sided”))

P-value < 2.2e-16
rate ratio: 1.49 (95 percent confidence interval: 1.43, 1.55)

Tỉ suất nhập viện vì đánh nhau năm 2014 cao hơn năm 2012 đến 1,49 lần, và khoảng tin cậy 95% dao động từ 1.43 đến 1.55 lần. Một lần nữa, trị số P cũng rất thấp.

Nói tóm lại, nếu giả thuyết “bình thường” là đúng thì xác suất mà chúng ta quan sát tỉ suất năm 2014 so với các năm trước là rất rất thấp. Nói cách khác, số liệu thực tế cho thấy sự khác biệt về tỉ suất số ca nhập viện vì ẩu đả nhau trong thời gian 2012-2014 là không phải do yếu tố dao động thống kê, mà có sự khác biệt thật sự. Do đó, giả thuyết “bình thường” bị loại bỏ.

Để kết luận, xét trên 2 tiêu chí (so sánh theo thời gian và so sánh với số ca tai nạn giao thông) đều cho thấy số ca nhập viện vì ẩu đả nhau trong thời gian nghỉ Tết vừa qua là quá cao. Trong 3 năm liên tiếp, số ca nhập viện vì ẩu đả liên tục gia tăng. Do đó, nhận định “6.200 người nhập viện vì đánh nhau là bình thường” chẳng những rất sai lầm mà còn rất … bất bình thường. Một Bộ chuyên lo quản lí sức khỏe của một nước mà có thể thốt lên rằng 6000 ca nhập viện vì ẩu đả là “bình thường” thì quả thật người dân cũng có lí do để quan tâm đến cảm xúc (empathy) của Bộ đó. Có lẽ Gs Trần Ngọc Thêm nói đúng, “Bởi vì hiện nay, theo cảm nhận của nhiều người có kinh nghiệm, sự sa đọa của những phẩm chất con người, của văn hóa đã xuống chạm đáy rồi,” nên một sự kiện kinh hoàng đối với thế giới thì lại bình thường ở VN.   

====

(1) http://vietnamnet.vn/vn/xa-hoi/224394/bo-y-te–6-200-nguoi-nhap-vien-vi-danh-nhau-la-binh-thuong.html

(2) http://www.hvcsnd.edu.vn/vn/Acedemy/Tin-An-toan-giao-thong/207/3910/Tong-ket-tinh-hinh-tai-nan-giao-thong-nam-2013.aspx

(3) Gọi biến phản ảnh số ca nhập viện là X, và x là số ca nhập viện, luật phân bố Poisson phát biểu rằng P(X = x) = e^(-m)*m^x / x! Có thể dùng rpois(n, lambda) trong R để mô phỏng số ca nhập viện rất dễ dàng.

Posted in Chinh Tri Xa Hoi, Văn Hóa XHCN, Xã Hội và các vấn nạn (Social Problems) | Leave a Comment »

►Luận về một Tam đoạn luận: Họng súng đẻ ra chính quyền, Mê tín, và Lễ hội

Posted by hoangtran204 trên 05/03/2015

Luận về một Tam đoạn luận

5-3-2015

Lương Kháu Lão

03-03-2015

1- Họng súng đẻ ra chính quyền

Bộ trưởng Bộ Văn Thể Du nghĩ gì mà cười tươi thế

Khi Mao Trạch Đông phát động cuộc nội chiến đánh Tưởng giới Thạch Quốc dân Đảng phải bỏ đại lục chạy ra Đài Loan năm 1949, giành sự thống nhất đất nước Trung Hoa rộng lớn và đông dân nhất thế giới vào tay Đảng Cộng sản Trung Quốc, Mao ngạo nghễ tuyên bố “Họng súng đẻ ra chính quyền”. Xem lại những thước phim tư liệu hồi đó, thấy hàng vạn hồng quân ào ạt xông lên theo chiến thuật “biển người” có thể hiểu được vì sao Mao lại nói như vậy. (1)

Chưa có một thống kê chính xác đã có bao nhiêu người Trung Quốc đã ngã xuống cho một nước Trung Hoa độc lập thống nhất nhưng chưa toàn vẹn như vậy. Con số phải tính bằng đơn vị triệu là điều chắc chắn. Mao đã nói đúng: chính quyền mới- một nước Trung Hoa cộng hòa dân chủ đã ra đời từ những họng súng máy, họng súng đại bác phủ khói thuốc súng trên khắp các trận địa của đất nước Trung Quốc rộng lớn. Và khi đã nắm vận mệnh đất nước trong tay, người cầm quyền khát máu đã lại tiếp tục dùng họng súng để bảo vệ chính quyền độc tài của mình. Nhẹ nhàng thì ban ra những chính sách nghe có vẻ êm ái như Đại nhảy vọt, Đại cách mạng văn hóa vô sản… nhưng đã làm chết hàng chục triệu đồng bào, đồng chí của chính Mao, nặng nề thì dùng cấp dưới núp dưới tư tưởng “chính quyền đẻ ra từ họng súng” của mình biến quảng trường Thiên An Môn thành biển máu khi đàn áp sinh viên năm 1989.

Lịch sử Trung Quốc là lịch sử chiến tranh và tội ác kéo dài từ thời Trung cổ đến thời cận đại và hiện đại. Một khi chính quyền được đẻ ra từ nòng súng thì chính quyền đó cũng sẽ xử dụng nòng súng như là một thứ vũ khí tối ưu để bảo vệ chính mình. Sẽ không có tự do dân chủ gì hết từ một chính quyền sinh ra từ nòng súng như vậy. Các thứ triết lí về chủ nghĩa dân tộc hay chủ nghĩa quốc tế vô sản đều núp bóng cái họng súng mà thôi.

Trong vấn đề này học thuyết đấu tranh giai cấp của Marx và tư tưởng của Mao là thống nhất. Vậy nên nếu như có một đảng phái cấp tiến nào xuất hiện, một cá nhân nổi trội nào xuất hiện thì sẽ bị chính quyền thẳng tay trấn áp bởi vì chủ thuyết chính quyền đẻ ra từ nòng súng gắn liền với chủ thuyết chuyên chính vô sản. Tất nhiên, như quy luật do chính những người theo chủ nghĩa cộng sản đề ra “ở đâu có áp bức ở đó có đấu tranh” thì chỉ có đàn áp mới có thể dẹp được đấu tranh , đàn áp bằng họng súng , bắn bỏ và bằng nhà tù . Nhưng càng đàn áp mạnh bao nhiêu, sức mạnh của tranh đấu càng sục sôi bấy nhiêu cho nên phải dùng chiêu thức mới mị dân bằng chủ nghĩa dân tộc. Kích động tinh thần dân tộc để đối phó với giặc ngoài, để rảnh tay đàn áp thù trong là những bước đi ngoằn nghoèo của chủ thuyết chính quyền đẻ ra từ họng súng.

2- Mê tín đẻ ra chùa chiền và nhà thờ

Trong dịp Tết vừa rồi, chả có việc gì làm hay ho bằng lượn một vòng đất Kinh Bắc thì mới thấy làng nào, thôn nào cũng xây chùa, cũng có đình. Không nơi nào chịu kém miếng. Không khí mùa xuân còn bảng lảng khắp các thôn làng. Chỗ nào cũng thấy người thập phương đến cúng bái. Trai thanh gái lịch kết hợp du xuân chụp ảnh kỉ niệm.

Ở Việt Nam, nhất là phía Bắc có hai tôn giáo được người dân tôn thờ. Kèm theo hai tôn giáo đó là các nhà thờ, đình chùa miếu mạo, nơi tôn nghiêm để người dân thờ cúng tổ tiên và các vị tiên liệt, các anh hùng dân tộc gắn với quê hương làng nước của họ.

Tôn giáo thứ nhất là thiên chúa giáo với các nhà thờ theo kiến trúc Gotic hoặc Baroc do các cha cố phương Tây du nhập vào. Trước đây cả một xứ đạo mới có một nhà thờ. Hà Nội, thành phố to nhất nước cũng chỉ có hai ba nhà thờ. Nhà thờ lớn, nhà thờ Hàm Long, và ồn ào gần đây là nhà thờ Thái Hà ở quận Đống Đa do tranh chấp đất đai.

Nhưng ở các xứ đạo truyền thống như Nam Định, Thái Bình… thì mấy năm gần đây giáo dân đã góp tiền xây dựng nhiều nhà thờ rất to đẹp điển hình là nhà thờ Bác Trạch ở Tiền Hải Thái Bình và nhà thờ Hưng Nghĩa ở Hải Hậu Nam Định. Nếu có dịp đi một vòng các làng quê thì thấy hầu như xóm đạo nào dù chỉ chưa đến một nghìn nóc nhà cũng xây một nhà thờ của riêng mình để sớm hôm hành lễ theo tiếng chuông gióng giả.

Ở Miền Nam, những người theo đạo di cư vào Nam năm 1954 được chính quyền Diệm Nhu tập kết ở khu vực Hố Nai cũng xây dựng rất nhiều nhà thờ. Đi ôtô trên quốc lộ 1A có thể thấy các nhà thờ xây dựng san sát cứ khoảng 1-200 m lại thấy một nhà thờ. Ngày Noel, ngày Tết Tây, hàng ngàn con chiên ăn mặc lịch sự đến hành lễ một cách trật tự và thành kính trong và ngoài sân các nhà thờ như thế.

Trong khi ở Miền Bắc, các đình chùa được xây dựng khắp nơi. Thôn nào, xã nào cũng có đình thờ thành hoàng làng và là nơi ngày xưa người ta tổ chức cỗ bàn tiệc tùng, còn chùa chiền thì là nơi thờ cúng Đức Phật hay các vị chức sắc trong Phật giáo. Trước đây còn nghèo, các chùa chiền thường thấp bé và cổ kính. Nay đời sống đã khá giả, người ta xây đình chùa hoành tráng hơn nhiều. Điển hình là chùa Bái Đính to nhất khu vực Đông Nam Á. Riêng các tượng La Hán người ta đã làm tới 500 vị bằng đá bày suốt dọc đường lên xuống ngôi chùa. Bên trong chùa Bái Đính người ta đúc các tượng Phật thếp vàng bày tỏ sự giàu sang. Bên ngoài chùa các quan chức từ to đến nhỏ thứ tự trồng cây lưu niệm công đức. Đi từ Bắc vào Nam đâu đâu cũng thấy tượng Phật thích ca Mầu Ni đúc rất to, nhiều chỗ treo biển lớn nhất Đông Nam Á, chiếm kỉ lục Guinness như ở An Giang, ở Đà Nẵng, ở Phật Tích Bắc Ninh …

Có một đặc điểm dễ thấy có chùa rồi phải tu bổ, muốn có tiền tu bổ và nuôi đám người phục vụ, người ta phải dựng hòm công đức. Hòm công đức bằng gỗ không an toàn nay được thay bằng thép. Như vậy có thể thấy việc cúng bái đã được tiền tệ hóa. Nơi nào cũng được Bộ Văn hóa xếp hạng. Có chùa cấp quốc gia, có chùa cấp tỉnh, có chùa cấp xã quản lý.

Trong mấy ngày Tết, tôi đã thăm chùa Phật Tích Từ Sơn nơi có pho tượng Phật rất to trên đỉnh núi, nơi vừa xây xong một ngọn tháp ở đỉnh ngọn đồi đối diện. Khách thập phương rất đông chen nhau lên chùa lên núi cúng tiến. Người buôn bán chen nhau hai bên đường coi đây là dịp may mắn kiếm ăn. Đến chùa Tháp Bút bên kia sông thì đã vắng vẻ hơn, nơi người dân tranh thủ mang cà chua trồng được ra bán rẻ như cho. Tại Lăng Kinh Dương Vương còn vắng vẻ hơn nữa nhưng lại là nơi đáng đến viếng nhất vì đó là lăng mộ của ông tổ người Việt trước cả An Dương Vương, lại do xã đứng ra quản lý nhưng rất gọn gàng ngăn nắp và không thu phí vào viếng. Giữ ô tô chỉ 10 ngàn và có phiếu thu hẳn hoi.

Tại Đền Bà chúa kho

Nhưng Bắc Ninh có hai ngôi chùa nổi tiếng “linh thiêng” và cả “tai tiếng”. Đó là Đền Bà chúa Kho ở Thị Cầu và Lễ hội chém lợn ở Ném Thượng cũng thuộc địa bàn thành phố Bắc Ninh.

Từ lâu rồi người nọ đồn người kia bà chúa kho vốn trông giữ quân lương của vua chúa ngày xưa nên rất linh thiêng. Ai muốn giầu có, làm ăn phát tài phát lộc thì đầu năm đến làm lễ vay bà, cuối năm thì trả lễ. Người nọ đồn người kia thiêng lắm, hiệu quả lắm nên cứ ùn ùn kéo đến, lễ vật phải thật to thật hoành tráng mới thành tâm và cứ thế hàng tấn vàng mã được đốt mỗi ngày. Riêng tiền trông xe các cụ bô lão của làng cũng thắng to.

Nhưng Lễ hội chém lợn của làng Ném Thượng thì mới nổi lên mấy năm gần đây và nhờ internet mọi người mới biết rộng rãi cái Lễ hội tàn bạo với con vật nuôi thân thiết của mỗi gia đình nông dân Việt Nam này. Rồi Lễ hội đập chết trâu, con vật nuôi “là đầu cơ nghiệp” của nhà nông lại bị chính những người nông dân đập chết ăn thịt để ngày mai “kéo cày thay trâu” vì trâu đã bị đập chết ăn thịt mất rồi.

Rõ ràng những điều xảy ra ở Bà chúa Kho, ở Ném Thượng là biểu hiện của tệ mê tín dị đoan đã vượt quá ngưỡng cho phép. Đến mức trong cuộc họp chính phủ mới đây Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng phải yêu cầu điều chỉnh.

Lễ hội chém lợn Ném Thượng

Nhưng để dẹp được tệ nạn này, khi đã để nó tự phát bung ra khắp nơi, không thể bằng một mệnh lệnh hành chính “không quản được thì cấm” mà có lẽ lại phải dùng đến bảo bối “cả hệ thống chính trị phải vào cuộc”. Tuy nhiên cái hệ thống chính trị này lâu này xem ra không còn thiêng nữa. Chả lẽ lại dùng đến lực lượng chuyên chính?

3- Lễ hội đẻ ra tệ nạn

Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch là cơ quan nhà nước cao nhất quản lý xếp hạng các chùa chiền và Lễ hội. Không đâu như ở Miền Bắc lại lắm chùa chiền và Lễ hội như vậy. Thanh tra Bộ có biết liệu để một ngôi chùa được Bộ xếp hạng, các cụ bô lão đã phải tốn kém biết bao nhiêu?

Lễ hội chém lợn Ném Thượng thì đáng lên án và cần dẹp bỏ vì nó chả có ý nghĩa lịch sử và văn hóa gì mà còn gây phản cảm đối với văn hóa dân tộc và sự phát triển của du lịch. Nó còn kích động tâm lí hiếu chiến máu me của đám đông.

Lễ hội Lim rất đáng được hoan nghênh vì là dịp khôi phục hát quan họ đã được UNESCO xếp hạng di sản văn hóa phi vật thể, nhưng mấy năm nay tổ chức đều không thành công vì người xem đông quá mà năng lực tổ chức lại yếu kém, nạn tắc đường kẹt xe khiến nhiều người muốn đi mà nản lòng. Nhiều người đi mà không đến được nơi tổ chức lễ hội.

Lẽ hội chợ Viềng Nam Định cũng thế. Nhiều người phải bỏ xe ô tô, thuê xe ôm nhưng cũng phải đi bộ bảy đến mười cây số trong đêm để chẳng mua bán được gì, chỉ thấy người là người và nhiều vị bị móc túi mất ví, mất điện thoại.

Lễ hội cướp ấn đền Trần là đỉnh điểm sự lộn xộn của các Lễ hội. Mặc dầu đã huy động hàng ngàn dân phòng, công an bảo vệ vòng trong vòng ngoài, những hình ảnh chen lấn trèo lên đầu nhau để cướp ấn năm này qua năm khác đã làm xấu xí hình ảnh và ý nghĩa của việc phát ấn của vị tướng huyền thoại Hưng Đạo Vương.

Thoạt nguyên thủy Lễ hội đền Trần là nơi phát ấn của nhà vua cho các quan chức để về phục vụ tốt nhân dân. Nhưng dưới chế độ hôm nay số lượng quan chức đông “như quân Nguyên” cho nên người ta phải chen chúc phải xô đẩy nhau để có được bổng lộc, cho dù là ảo. Và vì thế hình ảnh cướp ấn ở Đền Trần là một sự phản ánh trung thực của tệ nạn mua quan, bán tước trong đời thường.

Lí giải vì sao ở Đền Bà chúa kho người đến vay tiền ảo đông đến thế. Có phải ai cũng thắng quả đậm nhờ vay tiền bà chúa đâu. “Vật chất không mất đi cũng không tự tạo ra. Nó chỉ chuyển hóa từ dạng này sang dạng khác”. Tiền vào túi của anh là tiền ra khỏi túi của tôi. Vậy mà ai cũng hồ hởi như bắt được vàng. Tâm lí bầy đàn, hội chứng đám đông thể hiện rõ nơi đây.

Nếu phải kể tâm lý bầy đàn thì còn nhiều thí dụ lắm. Chùa Hương mới khai hội đầu năm. Dòng người xếp hàng đi đò, đi cáp treo đông nghìn nghịt. Thắng cảnh chùa Hương thành bãi xả rác. Cáp Treo chùa Hương đích thị là cái “máy in tiền” cho nhà đầu tư nhìn xa trông rộng. Còn các tín đồ thì sao? Lẽo đẽo vào đến cửa hang chỉ để vái mông người đứng trước vì quá đông! Lễ hội chùa Yên Tử cũng rứa.

Trong cái đám người hỗn quân hỗn quan đó, không ít người đã bị móc túi. Móc túi trực tiếp là bị bàn tay kẻ cắp thò vào túi mình lấy cắp ví tiền hoặc điện thoại di động để hớ hênh. Móc túi gián tiếp thông qua tiền phí đò, tiền gửi xe không biên lai hóa đơn và lời mồi chài của những người bán đồ lễ, đồ lưu niệm. Ai cũng mua về để rồi vứt đi, lãng phí vô cùng.

Nhưng cái đáng lo ngại nhất là từ những hủ tục mê tín này hình thành một thứ tư duy hỗn mang gây gổ đánh nhau. Bạn thử lí giải tại sao một đám rước kiệu ở ngay Hà Nội- Phường Xuân Đỉnh lại ngang nhiên dùng kiệu húc vỡ kính một chiếc xe ô tô đậu trên đường theo hiệu lệnh còi từ người chỉ huy. Để lấy may hay đã phạm tội phá hủy tài sản công dân? Và sao cơ quan chuyên chính vô sản lại giữ im lặng trong trường hợp này? Để rồi sang năm lại một chủ nhân chiếc xe khác là nạn nhân.

Hỗn chiến tại Lễ hội Đền Gióng

Rồi tại Lễ hội Đền Gióng, người ta vác gậy choảng nhau để tranh cướp mấy cái hoa tre. May mà chưa đổ máu. Vậy mà ông Phó chủ tịch huyện Sóc Sơn rồi ông Phó Ban Tuyên giáo Thành ủy Hà Nội lại công khai đăng đàn trên báo chí bào chữa và cổ súy cho hành vi bạo lực này thì hết chỗ nói.

Nếu cái ác nhân danh thánh thần, nếu cái ác không bị ngăn chặn kịp thời thì nó sẽ như bệnh dịch lây lan khắp nơi. Nhiều người đặt câu hỏi tại sao lễ hội và tệ nạn lại chỉ xảy ra ở Miền Bắc, chiếc nôi của chủ nghĩa xã hội từ thời còn đánh Mỹ, thì xin thưa chẳng sớm thì muộn nó sẽ lây lan tới Huế, tới Đà Nẵng, tới Sài Gòn và các tỉnh Nam Bộ mà người dân vốn hiền lành chất phác. Thì đã xảy ra rồi đó. Dân Đồng Nai đổ túa ra đường cướp bia khi một chiếc xe bị tai nạn giống y trang chuyện xảy ra ở một tỉnh phía Bắc!

Cũng giống như giao thông. Năm 1975, khi Sài Gòn giải phóng, những người lính Miền Bắc vào tiếp quản thành phố vô cùng ngạc nhiên thấy giao thông trật tự, xe cộ đi nghiêm chỉnh, người dân thành phố đối xử với nhau như những người bạn. Nếu có va chạm thì tự hòa giải, xin lỗi nhau. Còn hôm nay, sau hơn 30 năm nếm trải mùi vị của chủ nghĩa xã hội, người Sài Gòn đã biết đánh chửi nhau khi va quệt. Thậm chí đâm chết nhau chỉ vì một lời nói, một cái “nhìn đểu”chẳng khác gì miền Bắc.

Giải thích điều này xin nhường cho các nhà xã hội học, những người đang tư duy cho đường lối xây dựng đất nước, xây dựng con người mới sẽ trình trước Đại hội Đảng thứ 12 sắp tới. Chỉ xin các vị hãy nhìn thẳng vào sự thật, dám từ sự thật trần truồng và đau đớn để tìm ra lối thoát cho đất nước và con người Việt Nam chúng ta.

4-Vĩ thanh

Ba đoạn luận vừa trình bày ở trên thoạt nghe hầu như chẳng có gì liên quan ăn nhập với nhau. Nhưng nếu để ý sẽ thấy nó chính là ba mặt thống nhất trong một chủ thể là đất nước và con người theo đúng học thuyết Marx.

Đầu tiên là chính quyền được đẻ ra từ họng súng và phải dùng họng súng để giữ chính quyền. Đúng như ai đó đã nói “cướp chính quyền đã khó nhưng giữ được chính quyền còn khó hơn”. Chúng ta đã trải qua thực tế đó. Cuộc chiến đấu hơn 30 năm bằng súng đạn đã cướp đi sinh mạng của hàng triệu người con ưu tú là cái giá khủng khiếp phải trả cho độc lập tự do. Nhưng lãnh thổ vẫn chưa thu về toàn vẹn và chúng ta còn phải tiếp tục giương cao họng súng để bảo vệ sự toàn vẹn của lãnh thổ. Chỉ khi nào học thuyết đấu tranh giai cấp bị xóa sổ thì họng súng mới hy vọng được cuộn lại như bức tượng nổi tiếng ở sân trụ sở Liên hợp quốc ở New York.

Và khi đã phải dùng họng súng để chế ngự sự phản kháng thì tất yếu sự phản kháng sẽ càng ngày càng dâng cao. Người ta không dám chống lại chính quyền vì sợ bị đàn áp thì người ta đi xin xỏ sự ban phước lành của thần thánh. Con người tự chui vào cái vỏ ốc mà họ tin rằng thánh thần sẽ mang lại niềm an ủi và hạnh phúc cho họ. Đâu đâu cũng xây cất nhà thờ, đình chùa miếu mạo, đâu đâu cũng tổ chức lễ hội không chỉ để mua vui một vài trống canh mà là để quên đi những nhọc nhằn bế tắc ngày càng ngột ngạt vì những bức bối xảy ra trong cuộc sống hàng ngày. Người ta dễ dàng tin vào kinh thánh, vào lời cầu nguyện của các vị sư sãi hơn là nghe những rao giảng cũ mèm trên loa đài phường.

Mà sư bây giờ sao nhiều thế. Mỗi ngôi chùa có vài ba sư, có người gọi đùa là “sư quốc doanh”! Không phải ai cũng phản kháng thô bạo như cô cựu người mẫu Trang Trần, việc đi cúng bái như đi trảy hội ở các đền chùa không còn là nét đẹp của một đời sống văn hóa của người Việt Nam mà là một sự phản kháng yếm thế của con người bất lực trước cuộc sống. Và khi các lễ hội mang đậm màu sắc bạo lực không được ngăn chặn đến một lúc nào đó bạo lực sẽ bùng phát. Và giống như một đám cháy, chúng ta chỉ có thể chờ nó tự tắt và sau đó là tìm hiểu nguyên nhân và rút kinh nghiệm chứ không thể dập tắt được. Và như thế thì đã quá muộn.

 

(1) Trong Chiến tranh Việt Nam 1954-1975, quân đội Bắc Việt luôn dùng chiến thuật biển người để đánh với quân đội VNCH. Sự thiệt hại về nhân mạng của Quân đội Nhân Dân Việt Nam rất lớn, nhưng họ luôn che dấu không cho biết con số thật sự bị thiệt hại là bao nhiêu. Khi bị gặng hỏi trong thập niên 1980s bởi các nhà báo nước ngoài và các sử  gia nhằm tổng kết chiến tranh VN, Bộ Quốc Phòng VN đã luôn luôn từ chối không đưa ra con số thương vong thật sự. Con số 1.152.000 bộ đội đã chết và 780.000 thương binh, 300.000 bộ đội vẫn còn mất tích chỉ là con số giả tạo và hãy còn ít so với thực tế.

Vì không biết cách nào hơn, nên các sử  gia tạm lấy các con số nói trên trong khi chờ đợi con số bổ sung trong tương lai. Kết quả của chiến thuật biển người đã gây thiệt hại cho Bắc Việt rất lớn. Tỷ lệ chết của binh sĩ Mỹ, lính VNCH và bộ đội Bắc Việt có thể dựa vào tỷ lệ: 1/5/20. Có 58.000 lính Mỹ đã chết, và 236.000 lính VNCH đã hy sinh tính đến cuối năm 1974, và 1.152.000 bộ đội Bắc Việt đã tử thương. Không tính hơn 3 triệu thường dân VN đã chết vì chiến tranh.

Posted in Cái giá của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc”., Chinh Tri Xa Hoi, Văn Hóa XHCN, Đảng CSVN - còn đảng, còn mình... | Leave a Comment »

►Xứ sở xây dựng trên sự DỐI TRÁ trước khi tiến tới Chủ nghĩa xã hội hoàn thiện cuối thế kỷ này

Posted by hoangtran204 trên 25/11/2013

Ngày 23/10/2013 vừa rồi, ông Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đã tuyên bố trước Quốc Hội: 

Đổi mới chỉ là một giai đoạn, còn xây dựng CNXH còn lâu dài lắm. Đến hết thế kỷ này không biết đã có CNXH hoàn thiện ở Việt Nam hay chưa. ” 

Thế là nhân dân Việt Nam phải tiếp tục chịu đựng và hy sinh “tất cả vì chủ nghĩa xã hội” thêm một trăm năm nữa!  http://tuoitre.vn/chinh-tri-xa-hoi/576098/du-thao-chua-vang-vong-nhu-loi-hieu-trieu.html

Việc hứa hẹn hão huyền của Đảng CSVN giờ đây đã chốt lại ở mốc cuối thế kỷ này, nhưng dường như chưa yên tâm, nên TBT đảng thòng thêm câu “chưa biết đã hoàn thiện chưa”. Mặt ngang, mặt dọc của cái XHCN như nào thì chưa ai từng nhìn thấy. Chưa nước nào đạt đến đích. Nhưng đảng ta vẫn kiên định lập trường, cương quyết  dẫn dắt cả nước đi tìm XHCN tươi đẹp, và từ đây tới đó sẽ còn làm thí nghiệm dài dài…

Ui da! Dân Việt Nam ăn quả lừa vĩ đại như thế mà cũng chưa tiêu hóa nổi. “Chủ nghĩa xã hội hoàn thiện” là cái quái gì vậy?

Đó là trên cao, còn đây là việc xẩy ra hàng ngày, dưới thấp…

XỨ SỞ DỐI TRÁ

Mấy ngày qua bổng dưng thế giới mạng lại lôi chuyện cô xướng ngôn viên VTV ra ném đá.

Chuyện của cô xảy ra lâu rồi, khi cô đi học ở nước ngoài đã lỡ dại hai lần, ở hai nơi, cô mang món hàng ra khỏi siêu thị mà quên tính tiền. Nếu chuyện xảy ra ở VN, thì sẽ có đủ các thế lực xuất hiện che chắn cho cô để không vỡ lở ra. Siêu thị sẽ không dám tố cô ra công an mà nếu có tố ra thì công an nơi ấy sẽ nhận ngay cuộc gọi bảo dẹp đi không được làm biên bản, báo chí cũng nhận vài cuộc gọi khuyên bỏ qua đi vì chuyện nhỏ như con thỏ. Nhưng chuyện của cô lại xảy ra ở cái xứ sở pháp luật nghiêm minh, thế lực từ trong nước vươn tay ra bằng sự dối trá cũng chỉ đủ giúp cô thoát ở tù, chứ không thoát khỏi búa rìu dư luận. Tuy vậy khi về nước, mọi chuyện vẫn trở lại nhỏ như con thỏ, cô vẫn tiếp tục làm ở vị trí danh giá của nhà đài. Do vậy cứ mỗi lần thấy cô xuất hiện trên chương trình rao giảng văn hóa, đạo đức là mọi người nổi điên lên vì sự lừa dối trắng trợn… nên cô bị ném đá.

Suy cho cùng cũng tội nghiệp cho cô ấy, ở xứ sở nầy chuyện của cô thật ra cũng nhỏ như con thỏ so với những dối trá, lừa đảo vô cùng kinh khủng đang diễn ra khắp nơi từ mấy chục năm qua.

Một chuyện khác, cũng liên quan đến nhà đài, đang rộ lên đến hồi gay cấn, chưa biết kết thúc ra sao. Chuyện của một cô nhà báo nổi tiếng khác của VTV.

Qua chương trình “Chưa hề có cuộc chia ly”, cô nhà báo nổi tiếng đó đã phát hiện ra chuyện tìm hài cốt lừa đảo của hàng loạt các nhà ngoại cảm. Những thứ lâu nay người ta mang về cúng tế, thờ tự hóa ra không phải là hài cốt thật sự của liệt sĩ mà là xương heo, xương bò. Một nhà ngoại cảm danh giá đã bị bắt, những nhà ngoại cảm danh giá khác, vốn đang được thiên hạ đội trên đầu, kể cả một số quan chức ở các cấp chính quyền, nay trở nên hoảng loạn đã tìm cách cấu kết lại với nhau để chống chế, phản công. Và họ phản công rất tốt khi vạch ra cho mọi người thấy chương trình “Chưa hề có cuộc chia ly” của cô nhà báo ấy cũng có không ít “tiếc mục” lừa đảo.

Niềm tin tâm linh dựa vào thần thánh thông qua các nhà ngoại cảm, phút chốc bị sụp đổ tan hoang trong hàng vạn trái tim vốn đã nát tan vì mất mát thương đau. Những giọt nước mắt thổn thức trước cảnh đoàn tụ đầy cảm xúc, sau bao chục năm ly tan, của hàng triệu khán giả truyền hình bổng trở thành những giọt lố bịch.

Ở đất nước mà sự dối trá lên ngôi thì mọi kịch bản dối trá đến tận cùng sự trơ tráo đều có thể xảy ra.
Người ta dựng ra cả một hệ thống cơ quan dân cử từ trung ương xuống tận xã, phường để ngồi họp bàn và thông qua những vấn đề mà người ta đã quyết định sẵn từ trước.

Người ta có thể huy động toàn dân một cách tốn kém vào việc góp ý để thay đổi hiến pháp nhưng rồi hiến pháp vẫn cứ như xưa. Đến cái cơ quan gọi là lập pháp cũng không được quyền công khai góp ý sửa đổi hiến pháp.
Người ta nói rằng dân chủ gấp vạn lần nhưng người ta vẫn tôn vinh chế độ độc đảng toàn trị.
Cứ hô đang dẫn dắt cả dân tộc đi lên ấm no hạnh phúc qua con đường độc đạo CNXH nhưng người ta hoàn toàn không biết con đường đó ra sao và đưa đến nơi đâu.

Người ta nói tự do báo chí nhưng toàn bộ cơ quan báo đài đều đặt dưới sự kiểm soát của một đảng duy nhất.
Người ta luôn dùng những mỹ từ để che đậy những sự việc xấu xa. “Kinh tế thị trường định hướng XHCN” che đậy cho tư bản hoang dã hoành hành và dung dưỡng giai cấp tư bản đỏ cường hào phát tác. “Tái cấu trúc” che đậy việc giựt nợ của nhóm lợi ích. “Nhân quyền theo kiểu VN” che đậy cho việc vi phạm nhân quyền…

Sự dối trá không giấy bút nào kể ra cho hết. Chúng đang lên ngôi và hoành hành, đang làm điên đảo toàn xã hội. Chúng trà trộn vào trong thức ăn hàng ngày để ngấm dần vào da thịt người dân. Chúng xối dồn dập xuống từ những chiếc loa rao giảng trên cao để ngâm lụt não trạng của từng người.

Để kết thúc bài viết xin được dẫn lời thốt ra từ một nhà báo rất điềm đạm đó là nhà báo Võ Đắc Danh:

Chúng ta đang sống trong một xã hội mà nền tảng của nó được thiết kế bởi sự giả dối và lộ trình xây dựng mấy mươi năm cũng được vun vén bằng những mỹ từ giả dối thì thật ra, cũng không ngạc nhiên lắm khi người ta làm bê tông bằng cốt tre thay cho cốt thép ( vụ PMU 18 ), cũng không ngạc nhiên lắm khi người ta lấy xương thú thay cho xương người, cũng không ngạc nhiên lắm khi người ta lấy nước mắt của hàng triệu người bằng những cuộc đoàn viên của những con người không thật. Giả dối đã có trong thịt heo, cọng rau, củ khoai, con cá, hạt gạo trong mỗi bữa cơm của chúng ta, giả dối đã có từ trong học đường đến diễn đàn chính trị, và, cả trong bệnh viện, nhà chùa đến mỗi gia đình 

Không còn gì để nói.

HNC

————————————————————————–
 Chuyện Cô Xướng Ngôn Viên VTV

Kẻ ăn cắp siêu thị bị đuổi về nước – Vũ Kiều Trinh

QLB  – Đây quả là Chuyện buồn nhà Đài! VTV thiếu gì người trẻ, đẹp, giỏi hơn Vũ Kiều Trinh, vì sao cứ phải để cho cô Kiều Trinh xuất hiện trên màn ảnh. Thật tội nghiệp cho cô ấy, và cả gia đình cô ấy!

Mỗi lần xem chương trình “Văn hóa dân tộc”, của Đài truyền hình Việt Nam VTV, tôi lại cảm thấy nhức mắt. Bởi vì người phụ trách chương trình ấy luôn xuất hiện với cái vẻ mỹ miều, cặp mắt sắc xảo, và giọng nói rất đanh. Đó chính là Kiều Trinh. Dân mạng không còn lạ gì Kiều Trinh là con gái nguyên Uỷ viên trung ương Đảng, Tổng giám đốc đài truyền hình Việt Nam Vũ Văn Hiến. Cô sinh năm 1975, nguyên phóng viên văn hóa Ban thời sự.

Năm 2001, Kiều Trinh được cử sang Thụy Điển 3 tuần. Ngay tuần đầu, ngày 11-2-2001, cô đã bị cảnh sát thành phố Kalmar bắt vì tội ăn cắp hàng trong siêu thị. Lúc đầu cô nàng chối bai bải, nhưng khi mở băng ghi hình thì phải cúi đầu nhận tội. Cô nàng đã ăn cắp ở Orebro, Kaimar số mỹ phẩm trị giá 400 đô la. Số tiền đó không lớn, nhưng ở Thụy Điển người ta trị ăn cắp, tham nhũng rất nghiêm, nên theo luật Kiều Trinh phải ngồi tù.

Vì Kiều Trinh là con của Tổng giám đốc đài truyền hình Việt Nam, nên Đại sứ quán Việt Nam ở Thụy Điển phải ra tay. Và sau một tuần bị giam, ngày 16-2-2001, cô nàng được tha, sau khi có giấy của bác sỹ xác nhận nhận Kiều Trinh bị bệnh tâm thần từ Việt Nam gửi sang. Ngày 18-2-2001, Kiều Trinh bị trục xuất về nước. Đón cô ở sân bay, diễn viên điện ảnh Trần Lực đã tặng một cái tát, chấm dứt quan hệ vợ chồng từ đó. 

Ông Vũ Văn Hiến chả hề hấn gì sau sự kiện đó, vẫn đủ tiêu chuẩn vào Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, và tiếp tục làm Tổng giám đốc đài truyền hình Việt Nam. Cô con gái Kiều Trinh vẫn làm phóng viên của VTV.

Năm 2006, Kiều Trinh được sang nước Anh công tác. Bệnh tâm thần lại tái phát và cô nàng đã thó chiếc máy ảnh kỹ thuật số trong shop. Một lần nữa ông Hiến lại phải cứu con gái bằng việc nhờ Đại sứ quán can thiệp và tờ giấy của bác sỹ chứng nhận bệnh tâm thần lại đưa ra sử dụng!

Năm 2009, Kiều Trinh được kết nạp đảng và được đề bạt làm Trưởng phòng Văn hóa dân tộc, Ban thời sự. Thật mỉa mai khi có những nhà báo chống tham nhũng tiêu cực , chỉ vì phạm một vài lỗi kỹ thuật nhỏ, thì phải vào tù, hoặc bị tước thẻ nhà báo, còn kẻ cắp con gái ông Ủy viên Trung ương Đảng, Tổng giám đốc đài truyền hình Việt Nam lại được đề bạt. 

Từ bấy đến nay, một nghi án vẫn chưa có lời giải: Kiều Trinh bị tâm thần hay kẻ cắp?

Dư luận cho rằng, có lẽ ông bác sỹ nào đó được ăn, hoặc bị ép mới ký giấy chứng nhận bệnh tâm thần cho Kiều Trinh, vì nhìn hình ảnh chải chuốt óng mượt, và nghe cô nói sắc lẻm trên TV thì không ai nghĩ bị tâm thần cả. Mà nếu bị bệnh tâm thần thì đưa vào bệnh viện, chứ sao lại đưa lên làm MC trên TV?

Vậy chắc chắn là kẻ cắp! 

Nước ta có 54 dân tộc, mỗi dân tộc có một nền văn hóa khác nhau, phong tục tập quán mỗi nơi một vẻ rất phong phú, đa dạng, nhưng tuyệt nhiên không hề có nền văn hóa và phong tục tập quán ăn cắp. Ăn cắp, ăn trộm, ở đâu cũng ghét, cũng khinh. Dù đói ăn vụng, túng làm liều mọi người vẫn chê cười chứ đừng nói tiểu thư con quan như Kiều Trinh. Vậy mà cô nàng không biết ngượng cứ xuất hiện trên TV nói văn hóa, đạo đức? Phải chăng quý vị muốn truyền bá cho dân thứ văn hóa ăn cắp và nghệ thuật chạy tội?

Nên nhớ, hình ảnh cô Kiều Trinh không thể bôi xóa được trong hồ sơ của cảnh sát Thụy Điển, Anh quốc, và nó đã được phơi ra cho nhân dân nước họ biết rồi. Họ sẽ nghĩ gì, khi ở Việt Nam, kẻ cắp lên mặt dạy đạo đức người lương thiện? Nói như Giáo sư Ngô Bảo Châu, nếu có hình ảnh nào làm nhục Việt Nam tốt nhất thì chính là hình ảnh cô Kiều Trinh trên TV. 

Trần Đức Thắng

QLB

————————————————————————
“Chương trình “Chưa hề có cuộc chia ly” của cô nhà báo ấy cũng có không ít “tiếc mục” lừa đảo…”

Cách đây năm năm, vào đêm mồng 4 tháng 10 năm 2008, có lẽ chưa bao giờ những người thân của gia đình Đại tá Đinh Hữu Tấn, các bạn bè là cựu chiến binh thuộc Sư đoàn 320B cũng như những cựu chiến binh thuộc các đơn vị mà ông Tấn từng lãnh đạo trước đó và sau này, lại xúc động đến như thế, khi tất cả được chứng kiến khoảnh khắc người lính già đang bị căn bệnh Parkinson làm chân tay run lẩy bẩy, chồm bật dậy, lật đật ôm chầm lấy cậu con nuôi Võ Văn Phước từ trong sân khấu mếu máo bước ra trường quay. Hai cha con nghẹn ngào không nói nên lời, nước mắt chảy tràn, khiến tất cả bỗng chốc lặng đi.

Đó là buổi truyền hình trực tiếp chương trình NHƯ CHƯA HỀ CÓ CUỘC CHIA LY(NCHCCCL) trên VTV1 của Đài Truyền hình Việt Nam lần thứ 11. Điều đặc biệt gây xúc động đối với khán giả còn vì, đây là sự đoàn tụ hiếm hoi giữa một cán bộ chỉ huy Quân đội trong cuộc giao tranh đẫm máu, đã nhận một em bé con một người lính bên đối phương làm con nuôi, khi em bị lạc gia đình giữa dòng người di tản đang hoảng loạn. Mặc dù theo lệnh của trên, anh phải giao lại cho bộ đội địa phương, nhưng không vì thế mà anh quên được tình cảm của cậu bé đối với mình trong những ngày ngắn ngủi ấy. Anh đã đưa cậu bé đi từ Cheo Reo Phú Bổn, dọc theo đường Bảy, hành quân vào Nam chiến đấu, rồi dừng lại ở Củ Chi. Những năm tháng sau chiến tranh, anh mòn mỏi hỏi thăm về Võ Văn Phước, viết cả lên báo Cựu chiến binh và nhờ rất nhiều người tìm kiếm thêm, nhưng bặt vô âm tín.

Đại tá Đinh Hữu Tấn tìm lại được đứa con nuôi, không chỉ làm cho tinh thần anh thoát khỏi sự bứt rứt nhớ thương trong mấy chục năm qua, mà cả gia đình anh và bạn bè khắp nơi đều nhận thấy niềm vui của anh đã trọn vẹn. Tôi là người rất thân với Đại tá, cho nên niềm vui của anh cũng là niềm vui của tôi và gia đình tôi. Tôi từng được anh kể nhiều về những ngày cuối cùng trong cuộc chiến tranh Nam Bắc ấy. Chuyện về Võ Văn Phước bao giờ cũng được anh nói nhiều, viết nhiều. Chính vì thế, khi nhận được tin của chương trình NCHCCCL báo về gia đình, anh phấn khởi và hồi hộp lắm. Anh sắp xếp và chuẩn bị. Anh điện cho tôi và nhiều người thân về những kế hoạch, những dự định về tương lai khi có thêm một thành viên mới trong gia đình mình. Cứ như vợ chồng người lính già vừa sinh thêm một đứa con trong cuộc đời đã quá chiều muộn rồi. Anh nói: “Mình có ít tiền tiết kiệm đã thủ sẵn túi rồi nhé”. Tôi hỏi: “Thế anh có định đưa cháu về ngoài Bắc cùng anh không?”. “Cũng có thể lắm chứ!”. Rồi anh cười, tiếng cười của một người lính già mà nghe sao trẻ trung như của một chàng thanh niên mới lớn thế không biết. “Mình cứ nghĩ nó vẫn còn tý tẹo cậu ạ. Thằng bé nó hay lắm, nó tình cảm lắm, đêm ngủ nó thủ thỉ với mình đủ điều… không biết bây giờ nó bao lớn, không biết nó có nhận ra mình nữa không đây!”.

Thế nhưng, sau cuộc gặp mặt, được biết cuộc sống hiện tại của Phạm Văn Long (tên mới của Võ Văn Phước theo giới thiệu của MC Thu Uyên cho Đại tá Tấn) và vợ con cũng rất ổn. Vì thế, anh em chúng tôi theo gia đình Long lên thăm bố mẹ vợ của anh ta ở Tân Uyên Bình Dương mà thôi chứ không còn dự định gì khác như tôi nghĩ lúc đầu. Ở đây chúng tôi được biết vợ chồng Long – Trang cũng có một nếp nhà nhỏ cạnh nhà bố mẹ vợ, lại được gia đình bên vợ cho một vườn cao su sắp thu hái. Hiện tại vợ đi làm công nhân, còn chồng ở nhà lo toan mọi việc trong gia đình. Đại tá đã có những tình cảm hết sức mặn nồng khi gặp gỡ với gia đình bên vợ của Long/Phước. Hôm ấy, có bao nhiêu tiền mang theo anh đưa hết cho vợ chồng Phạm Văn Long. Anh nói với ông Lữ thân sinh ra cháu Trang: “Tôi không biết phải cảm ơn ông bà như thế nào nữa, vì ông bà và gia đình trong một thời gian dài đã giúp đỡ con chúng tôi nên người, lo cho nó có vợ có con đề huề như thế này, thật cảm động lắm. Nhưng cũng nói thật với ông bà, nếu như thằng Phước ở với chúng tôi ngay từ bé, nó không đến nỗi lận đận như trước khi đến với con ông bà đâu. Sự đời tréo ngoe như thế ai mà biết được, phải không ông? Và lúc này, cũng xin ông bà thông cảm cho, tôi chưa có điều kiện lo được cho các cháu. Vì vậy, một lần nữa, tôi lại nhờ ông bà, ông bà hãy thay chúng tôi giúp đỡ các cháu trong thời gian tới. Chưa biết rồi cuộc sống tới đây sẽ như thế nào, nhưng tôi tin – rất tin rằng – sau lần gặp gỡ này, các cháu sẽ nỗ lực vươn lên. Tôi và ông bà sẽ không phải hổ thẹn về chúng đâu!…”.

clip_image002

Vợ chồng Đại tá Đinh Hữu Tấn và gia đình Phạm Văn Long cùng bố mẹ vợ

clip_image004

Vợ chồng Đại tá và vợ chồng Phạm Văn Long

Sau khi vợ chồng anh Đinh Hữu Tấn ra Bắc, gia đình Phạm Văn Long vẫn thường xuyên xuống gia đình tôi chơi. Tôi có hỏi Long nhiều chuyện về gia đình trước lúc bị thất lạc. Nhưng thật kỳ lạ, Long không hề nhớ một chuyện gì về gia đình mình hồi còn nhỏ. Khi trả lời tôi, cậu ta thường nhìn đi chỗ khác và hay nói lảng sang những chuyện không đâu. Rồi một lần chỉ có cô Trang đưa hai cháu xuống. Cô báo tin có một người đến nhận Phạm Văn Long là con đẻ sau khi xem NCHCCCL. Ông ta nói nếu hai vợ chồng đồng ý thì đến quê ông ta mà ở. Nhưng vợ chồng Long không chịu. Tôi không nhớ chi tiết quê hương của người tự nhận cha kia ở đâu, nhưng tôi có khuyên cô Trang về nói với Long: Để biết sự thật, trước hết phải xác định ADN xem như thế nào. Nếu mà xác định đúng thì bố con nên nhận nhau, vì dù sao ông ấy cũng là cha đẻ của mình, ông không có lỗi khi để đứa con bị thất lạc. Một lần khác Trang xuống báo tin Long bỏ đi theo một người nào đó ở Vũng Tàu biệt tăm biệt tích… Sự bỏ đi này cũng giống như trước khi có cuộc tìm kiếm của nhân viên trong chương trình NCHCCCL. Họ đã tìm thấy Long cũng dưới Vũng Tàu, sau đó Long mới trở về với gia đình để gặp “bố nuôi”. Rồi Trang báo tin thêm người nhận cha của Long không muốn xác định ADN, ông ta nói: “Xác định ADN tốn 20 triệu, chi bằng tiền đó tao cho chúng mày!”. Tôi hơi lạ về những chuyện mà cháu Trang kể nhưng không muốn đi sâu tìm hiểu, và sự thể sau này như thế nào tôi cũng không được biết. Bẵng đi một thời gian dài sau đó, Trang lại đưa con xuống chơi, nói là Long đã về, nhưng không nói vì sao anh ta không cùng xuống. Lần ấy sắp nghỉ hè. Hai vợ chồng định đưa con ra thăm bố nuôi ở Thanh Hóa nhưng ngặt nỗi không có tiền đi lại. Lần nào cháu Trang đưa các cháu xuống tôi cũng cho các cháu tiền, lần ấy tôi cho Trang mượn đủ tiền tàu xe đi lại.

Vào năm 2011, đột nhiên tôi nhận được một tập tài liệu đánh máy rất dày do anh Đinh Hữu Tấn gửi tới. Trong tập tài liệu có một bức thư viết tay của anh Tấn. Bức thư với nét chữ nguệch ngoạc, rời rạc. Hình như anh viết trong một trạng thái tinh thần không ổn. Chưa bao giờ anh viết cho tôi một bức thư với tâm trạng lạ lùng như thế, nó có vẻ day dứt và… thế nào ấy, rất lạ! Thậm chí tôi không nhận ra giọng văn thường ngày vốn dĩ rất dí dỏm tình cảm của anh nữa. Anh nói chuyện về đứa con nuôi, rồi chuyển sang nói những chuyện đâu đâu, rất lẫn lộn. Tôi không hiểu. Sau này tôi mới biết anh đã chớm bị một chứng bệnh mới: trầm uất, về sau nữa thì chuyển thành bại não rồi mất hẳn trí nhớ. Cuối thư đó anh nói: “Em xem mớ tài liệu này và khuyên anh nên như thế nào nhé”! Và anh ghi lại địa chỉ của người gửi tài liệu cùng với những số điện thoại cần tìm.

Tôi ngẩn ngơ một lúc rất lâu. Sau khi tĩnh tâm lại tôi mở tập tài liệu ra… Trời đất. Thì ra chương trình NCHCCCL lần thứ 11 ấy có vấn đề hết sức nghiêm trọng. Phạm Văn Long không phải là Võ Văn Phước! VTV đã hư cấu câu chuyện vốn dĩ rất đẹp đẽ của Đại tá Đinh Hữu Tấn, phù phép biến một Võ Văn Phước mạo danh, sum họp với người lính già hiền lành, chất phác, bao năm trời mòn mỏi mong gặp lại người con nuôi của mình y như thật, làm cho triệu triệu người trên đất nước này thổn thức xúc động rơi nước mắt cùng với những người thật trên trường quay hôm đó của VTV1. Một sự giả mạo lạnh lùng, làm tôi không thể nghĩ Đài Truyền hình Việt Nam lại có thể đang tâm dàn dựng để lừa dối người xem như thế.

Bức thư của người gửi tập tài liệu nói anh biết rất rõ đội tìm kiếm trong chương trình NCHCCCL gồm những ai và việc tìm kiếm con nuôi của Đại tá Đinh Hữu Tấn do Phan Hiếu đảm nhiệm. Một ngày nọ, Phan Hiếu báo đã tìm ra Võ Văn Phước được đổi tên là Phạm Văn Long ở ấp Phú Bưng, xã Phú Chanh, Tân Uyên, Bình Dương. Thế nhưng trong CÔNG TY TNHH TRUYỀN THÔNG SÀI GÒN BUỔI SÁNG, nơi đang hợp tác với Đài Truyền hình Việt Nam thực hiện các chương trình NCHCCCL, có những người khẳng định Phạm Văn Long không thể là Võ Văn Phước. Sau đó Công ty Truyền thông Sài Gòn Buổi sáng đã họp, xác định điều đó và đuổi việc Phan Hiếu. Tuy nhiên không hiểu vì lý do gì chương trình NCHCCCL vẫn cứ tổ chức để Phạm Văn Long không phải con nuôi Đinh Hữu Tấn “sum họp” với ông. Bức xúc trước sự việc đó, một nhân viên trong đội tìm kiếm đã tự bỏ tiền ra tổ chức tìm cho ra Võ Văn Phước và đã tìm thấy qua rất nhiều lần đi lại hỏi han những người quanh khu vực Củ Chi.

Có một chi tiết khá thú vị. Bà Võ Thị Dơi mẹ đẻ của Võ Văn Phước (thường trú tại: thôn Phước Hữu, thị trấn Phước Bửu, huyện Xuyên Mộc, Bà Rịa Vũng Tàu), sau khi xem chương trình NCHCCCL, đã lần mò tìm đến gia đình Long ở Bình Dương. Tại đây Phạm Văn Long thú nhận mình không phải là Võ Văn Phước, mà chỉ là bạn với Võ Văn Phước mà thôi. Cuối cùng Long đã dẫn bà Dơi đến nhà Phước. Thế là, khi người nhân viên điều tra tìm kiếm Võ Văn Phước, sau khi tìm đến các nhân chứng khác, cuối cùng anh tìm đến nhà Võ Văn Phước, thì hai mẹ con đã sum họp. Nhờ cuộc sum họp này Phước mới đủ căn cứ làm hộ khẩu và chứng minh nhân dân, chấm dứt 46 năm không có giấy tờ tùy thân. Sự kiện Phạm Văn Long thú nhận không phải Phước mà chỉ là người quen của Phước, càng chứng tỏ Long đã cố tình mạo danh để nhận con nuôi với người bố chưa từng gặp mình bao giờ. Trách chi, trong chương trình phát trực tiếp Long chỉ nhận mình mới hai, ba tuổi lúc gặp ông Tấn nên không biết gì cả, trong khi Đại tá Đinh Hữu Tấn nói gặp Phước khi ấy đã 6, 7 tuổi rồi.

clip_image005clip_image005[1]clip_image007

Gia đình Võ Văn Phước thật và ông bà Đinh Hữu Tấn

Cuối thư người nhân viên điều tra viết: “Thưa bác, nếu sức khỏe của bác tốt, xin mời bác vào Sài Gòn một chuyến để gặp lại Phước và gia đình Phước. Hoặc ngược lại, nếu được sự cho phép của bác, cháu sẽ bố trí cho vợ chồng Phước ra Thanh Hóa gặp bác vào dịp hè năm nay. Cháu xin lo tất cả kinh phí nếu bác vào Sài Gòn, hoặc gia đình Phước ra Thanh Hóa”.

Còn khuyên gì nữa, tôi nói với Đại tá trên điện thoại, hãy nhận lời để anh nhân viên điều tra tốt bụng hiếm có này bố trí cho các cháu ra thăm, sức khỏe của anh bây giờ sao đi lại được. Đại tá cười lớn: “Lúc thì không có đứa con nào, bây giờ thì có tới hai đứa. Thôi thì mình nhận cả hai, càng đông con càng vui!”.

Câu chuyện về chương trình NCHCCCL lần thứ 11 mà Thu Uyên đã phát sóng bất chấp sự phản đối của những người khác, Đại tá Đinh Hữu Tấn nói: “Dù sao tôi thấy những người làm chương trình cũng rất tận tình với mình. Họ đã cho tôi tiền đi lại, vào Sài Gòn được tiếp đón chu đáo, lại có chỗ ăn ở đàng hoàng, còn mong gì hơn thế! Trong lúc trước đây mình đi tìm kiếm, phải chi phí đi lại rất tốn kém, mà cũng không tìm ra. Còn… Phạm Văn Long không phải Võ Văn Phước là điều rất đáng tiếc. Nhưng, trong xã hội mà chúng ta đang sống, có biết bao nhiêu chuyện đáng tiếc như thế đang xảy ra hàng ngày hàng giờ ai mà đếm xuể. Có những chuyện còn tày đình hơn thế rất nhiều, ví dụ như nạn tham nhũng chẳng hạn. Chúng ta nói chống, chống triệt để, chống đến cùng, nhưng thực chất toàn là đấm bị bông cho vui thôi. Hay các Tập đoàn kinh tế Nhà nước, “những quả đấm thép” đang ngày càng “đấm” vào nền kinh tế đất nước thì sao? Cho nên tôi cũng không muốn bới móc chuyện này ra làm gì, mình mệt mỏi lắm rồi, để như vậy đi. Nhưng tôi tin chắc, cái gì xấu xa thì cuối cùng, dù bọc kỹ đến đâu cũng tự nó lòi ra thôi”.

Chiều ý anh, tôi cũng để sự việc khép lại. Tuy nhiên, tôi thấy thật tội cho Võ Văn Phước, người con nuôi chính thức của ông. Cuộc sống của Phước rất lận đận. Giá như không có Phạm Văn Long xen vào hay chỉ cần Phạm Văn Long chỉ dẫn cho những người tìm kiếm biết về Võ Văn Phước, thì câu chuyện đâu đi xa đến thế này (tất nhiên không thể kết luận đây là dụng ý của cá nhân Phạm Văn Long bởi nếu là dụng ý cá nhân thì Long đã không dễ dàng thú nhận với bà mẹ đẻ của Phước và dẫn bà đến nhà Phước, điều đó chứng tỏ lương tâm Long thật ra vẫn còn trong trắng; nhưng Long chịu sự chỉ đạo từ đâu để có chuyện đóng kịch “thế chân” Võ Văn Phước trên sân khấu truyền hình thì phải xác định thật rõ ràng). Và giá như Võ Văn Phước được đoàn tụ cùng cha nuôi chính thức của mình ngay trong cuộc gặp gỡ đầu tiên do Đài Truyền hình bố trí, thì cuộc hội ngộ trọn vẹn biết bao nhiêu. Dù rằng Võ Văn Phước đã được gặp cha nuôi do kinh phí của nhân viên điều tra (vì cảm kích và bức xúc đã tự bỏ tiền túi) đài thọ, nhưng trong con mắt của những người chứng kiến chương trình giả mạo như ông Năm Nhuần, Huyện đội trưởng Huyện đội Củ Chi, Đại tá Dương Quốc Minh, Huyện đội phó và vợ ông là bà Huỳnh Thị Thảo, người có công nuôi Võ Văn Phước, không thể nói họ không bị tổn thất niềm tin rất nặng vào Đài Truyền hình Trung ương vì đã lừa đảo chính họ. Và nếu như, hàng chục triệu người xem truyền hình buổi phát sóng trực tiếp lần thứ 11 biết rằng đấy là một buổi sum họp ngụy tạo, chắc chắn họ vô cùng thất vọng về chương trình này và sẽ nghĩ rộng đến nhiều chương trình truyền hình khác nữa mà bao nhiêu con người hàng ngày để mắt trông vào, không hiểu có mấy phần là sự thật và mấy phần là dàn dựng ra, như người ta dàn dựng vụ án oan Nguyễn Thanh Chấn ở Bắc Giang, bắt Chấn tập dượt cách giết người để quay phim lại trước khi xử án. Tôi lại lan man nghĩ ngợi, những việc phải dàn dựng do áp lực này khác từ đâu đó, thôi thì không nói, còn ở đây, có áp lực gì đâu mà phải lừa dối các bậc cao niên đáng kính như người lính già từng trải bao phen chinh chiến, chỉ huy Trung đoàn lập nhiều chiến công Đinh Hữu Tấn? Có thế do mối lợi tiền bạc nào đó được Nhà nước cấp cho theo quy định của chương trình này chăng? Nếu thế thì những người làm chương trình như Thu Uyên có trách nhiệm đến đâu? Bởi vì đây là một sự vô lương trắng trợn mà không hề biết rằng chính họ đã làm cho đạo đức xã hội bị xói mòn. Ai còn tin được phát ngôn thật giả ở những con người như thế nữa.

Mới đây, xem Chuyên mục phỏng vấn trên (VTV News) có bài “Trò chuyện với nhà báo Thu Uyên”. Một bạn đọc hỏi: “Tôi đã theo dõi chương trình Như chưa hề có cuộc chia ly và giờ là Trở về từ ký ức của nhà báo Thu Uyên. Tôi rất cảm động mỗi khi xem chị dẫn và tôi cảm nhận được cảm xúc thật của chị trong đó. Nhưng tôi có thắc mắc, như trong Như chưa hề có cuộc chia ly, chị đã khóc rất nhiều và có bao giờ chị mệt mỏi vì điều đó?”. Nhà báo Thu Uyên trả lời: “Khi thấy các gia đình được đoàn tụ, cảm xúc của chúng tôi rất lạ lùng, chúng tôi chảy nước mắt và cười, tôi nói như thế thay cho cả ê-kíp cả chương trình chúng tôi. Để làm nên một cuộc đoàn tụ, mất rất nhiều thời gian và trong cả quá trình đấy, chúng tôi vì có rất nhiều việc phải làm nên không phải khóc nhiều lắm dù đó là những câu chuyện rất bi thương. Mệt mỏi thì có mệt mỏi nhưng vì nghĩ không thể để những người gửi thư cho chương trình phải chờ đợi lâu và thất vọng nên chúng tôi rất cố gắng. Và thật kỳ lạ là chúng tôi càng cố gắng làm thì dường như càng có thêm sức.”

Không biết nên bình luận phần trả lời của nhà báo Thu Uyên như thế nào khi xem những chuyện giả như thật của chị trên truyền hình NCHCCCL lần thứ 11 năm ấy nhỉ?

Nếu tôi để sự việc này trôi qua, thì chính tôi cũng không thể thanh thản. Vì vậy, hôm nay tôi viết lại câu chuyện về Võ Văn Phước để khán giả truyền hình trên cả nước vốn rất yêu thích chương trình NCHCCCL của Đài truyền hình Việt Nam được biết sự thật. Tôi có tất cả các địa chỉ cần liên hệ. Nếu các bạn xem truyền hình cần giải đáp thắc mắc thì liên hệ với nhân vật chính Võ Văn Phước: Thường trú tại 137 Đoàn Minh Triết – Ấp Tháp – xã Thái Mỹ – huyện Củ Chi, ĐT: 0165 834 6104 sẽ được biết tất cả. Còn nếu như các bạn vẫn chưa hẳn tin, tôi xin cung cấp số điện thoại của bà Huỳnh Thị Thảo: 0837 950 560 người trực tiếp nuôi Phước từ nhỏ cùng bà Năm Sương: 0168 349 4548 để các bạn kiểm chứng thêm.

Nếu bạn nào cần xem lại chương trình NCHCCCL lần thứ 11 thì theo đường dẫn sau đây. Tuy nhiên chương trình có hai cuộc đoàn tụ. Cuộc đoàn tụ giữa Đại tá Đinh Hữu Tấn và Phạm Văn Long là phần 2 từ phút thứ 38 đến hếthttp://haylentieng.vn/tvshow/nhu-chua-he-co-cuoc-chia-ly-so-11/

SG, ngày 10-11-2013

M.N.

Tác giả gửi trực tiếp cho BVN.

Posted in Thời Sự, Văn Hóa XHCN | 1 Comment »

►Thành lập Viện Khổng Tử tại VN-đôi điều suy nghĩ

Posted by hoangtran204 trên 22/10/2013

Viện Khổng Tử sẽ là một ổ gián điệp Trung Quốc, và cũng là nơi tuyển mộ người VN làm gián điệp cho Trung Cộng. Và sẽ là trạm giao liên, nơi cán bộ đảng CSVN đến báo cáo tin tức cho chủ của họ. 

Thành lập Viện Khổng Tử tại VN-đôi điều suy nghĩ

October 21, 2013 at 3:14pm

Song Chi.

Báo chí VN đưa tin, trong số các cam kết, thỏa thuận giữa hai nước Việt-Trung qua chuyến viếng thăm chính thức VN của Thủ tướng nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa Lý Khắc Cường từ ngày 13-15.10 mới đây, có việc thỏa thuận thành lập Viện Khổng Tử tại Hà Nội.

Thật ra, việc thành lập Viện Khổng Tử ở VN đã được bàn đến từ lâu, nhưng không hiểu vì lý do gì chưa triển khai. Bây giờ thì sự việc đã được chính thức thông báo.

Về phía TQ, quốc gia này không hề dấu giếm ý định thành lập các Viện Khổng Tử trên thế giới nhằm tuyên truyền, quảng bá cho văn hóa TQ, hay nói cách khác, khuếch trương “sức mạnh mềm” của TQ ra nước ngoài.

Cho đến nay, đã có hơn 100 Viện Khổng Tử được thành lập tại các nước.

Những năm gần đây, khi TQ đã trở nên giàu mạnh hơn rất nhiều, những người lãnh đạo quốc gia này có lẽ đã nhận ra rằng nếu chỉ có sức mạnh về kinh tế, quân sự thì chưa đủ để chinh phục thế giới, chưa đủ để được công nhận là một cường quốc thật sự. Họ càng thấm thía điều này khi nhìn vào “quyền lực mềm”, “sức mạnh mềm” của các nước phương Tây, đặc biệt là Mỹ.

Bên cạnh đó, sự nghi ngại, tâm lý phòng thủ của nhiều nước đối với TQ, khiến Bắc Kinh càng mong muốn thông qua văn hóa để thay đổi, cải thiện cái nhìn đó.

Còn VN? Trong khi có khá nhiều tổ chức văn hóa của các nước xuất hiện tại VN lâu nay như Hội đồng Anh (British Council), Viện trao đổi văn hóa với Pháp (viết tắt IDECAF), Viện Goethe (Goethe Institut) của Đức, Trung tâm giao lưu văn hóa Nhật Bản (Japan Foundation)…nhưng tại sao nhiều người VN lại tỏ ra băn khoăn lo ngại trước việc thành lập Viện Khổng Tử của TQ?

Trước hết, có lẽ vì đó là những tổ chức độc lập, còn Viện Khổng Tử là của nhà nước TQ, hoạt động của Viện chắc chắn sẽ phải chịu sự kiểm soát, định hướng, chi phối bởi những mục tiêu chính trị của nhà nước TQ, chứ không đơn thuần chỉ là dạy ngôn ngữ, trao đổi văn hóa…

Do những lý do về địa-chính trị, lịch sử…, hai quốc gia VN-TQ từ xưa đến nay vốn dĩ đã có nhiều điểm tương đồng về văn hóa xã hội. Kể từ khi hai đảng cộng sản ra đời, sự tương đồng ấy càng lớn hơn do mô hình thể chế chính trị giống nhau, cộng với việc nhà nước cộng sản VN nhất nhất học theo từng đường đi nước bước của nước láng giềng.

Chưa cần đến Viện Khổng Tử thì VN đã chịu ảnh hưởng nặng nề của TQ từ kinh tế, chính trị cho đến văn hóa.

Thêm một nguyên nhân nữa khiến người Việt băn khoăn khi nhìn lại kinh nghiệm trong quá khứ, nếu như người Pháp người Mỹ đến đất nước VN ít nhiều cũng đem lại những tiến bộ, văn minh, khai hóa thì chính sách văn hóa của TQ trước sau như một, chỉ muốn lấy đi mà không cho lại, chỉ đồng hóa mà không khai hóa, cũng không chấp nhận sự khác biệt văn hóa của nước khác.

Văn hóa Trung Quốc ở một khía cạnh nào đó, là một nền văn hóa có tính chất tận diệt, hủy diệt đối với một nền văn hóa khác, chứ không cùng tồn tại, phát triển và học hỏi lẫn nhau. Điều này đã được chứng minh qua lịch sử của các quốc gia bị Trung Quốc thôn tính, trong đó có cả một ngàn năm Bắc thuộc của Việt Nam và tình trạng đau thương của Tây Tạng bây giờ.

Trên thế giới không phải chỉ riêng VN rơi vào cảnh nước nhỏ sống bên cạnh nước lớn, mạnh hơn gấp nhiều lần. Nhưng với một quốc gia có một chính sách độc lập tự chủ, biết phòng ngừa sự xâm lăng về văn hóa của nước khác bằng những chiến lược bảo hộ văn hóa rõ ràng, bằng việc xây dựng và bảo vệ mạnh mẽ bản sắc văn hóa của nước mình, thì khác.

Còn VN, với sự quản lý kém cỏi, gần như thả nổi trong nhiều lĩnh vực văn hóa nghệ thuật, khiến cho văn hóa Việt vốn “mỏng” hơn, “nhỏ bé” hơn càng phải chống chọi vất vả với sự xâm nhập từ nước láng giềng phương Bắc.

Chỉ đơn cử một ví dụ trong lĩnh vực phim ảnh, truyền hình chẳng hạn, không có quốc gia nào lại để một tình trạng như VN, phim TQ chiếu tràn ngập hàng ngày, trên các màn hình từ trung ương đến địa phương. Phim chiếu rạp hay băng đĩa lậu bán ngoài thị trường cũng chỉ thấy phim Mỹ, phim Tàu, phim Hàn là nhiều, rất hiếm phim của  các nền điện ảnh khác.

Lẽ ra bên cạnh việc phải nâng cao số lượng lẫn chất lượng phim Việt là điều mà chúng ta vẫn đang cố gắng làm, thì các cơ quan chịu trách nhiệm phải chú ý tìm kiếm, giới thiệu những nguồn phim khác, kể cả của những nền điện ảnh còn xa lạ với VN, từ Đông Âu đến Bắc Âu, khu vực Trung Đông của châu Á, châu Phi…để tập cho người Việt thói quen chọn lựa và thưởng thức nhiều dòng phim thuộc những nền văn hóa khác nhau. Trong lĩnh vực văn học tuy có đa dạng hơn nhưng nguồn sách dịch từ TQ vẫn chiếm đa số.

Đối với nhiều người VN, ngay cả trong giới trí thức, dường như vẫn có tâm lý ngưỡng mộ văn hóa TQ, một nền văn hóa đồ sộ, lâu đời. Không ai phủ nhận điều này. Nhưng trên thế giới còn có biết bao nền văn hóa, văn minh đáng phải học hỏi khác. Và trong cái nhìn chủ quan của người viết, thì dường như những gì rực rỡ nhất, quyến rũ nhất, lấp lánh nhất của văn hóa TQ vẫn thuộc về ngày hôm qua, trước khi đảng cộng sản TQ nắm quyền lãnh đạo đất nước này.

Nghĩa là từ thời phong kiến xa xưa, với Nho giáo, Khổng giáo, Đạo giáo…về phương diện triết học, với Kinh Dịch, thư pháp, hội họa thủy mặc, Kinh Thi, thơ Đường, những tác phẩm văn học như Tam Quốc Chí diễn nghĩa, Thủy Hử, Tây Du Ký, Hồng Lâu Mộng…, với nghệ thuật điêu khắc Ngọc điêu, Thạch điêu, Mộc điêu, các công trình kiến trúc như đình chùa, Vạn Lý Trường Thành, Thành Tràng An, Cố cung, Tử cấm thành ở Bắc Kinh…

Văn học nghệ thuật hiện đại của TQ có lẽ cần phải có thêm một thời gian nữa, để có thể tự do hơn, bay bổng sáng tạo hơn và do đó, lại có được sức hấp dẫn, lan tỏa rộng như xưa.

Phải chăng vì vậy mà trong việc truyền bá văn hóa ra nước ngoài, TQ đã chọn nhân vật Khổng Tử và việc thành lập các Viện Khổng Tử, bởi trong thời điểm hiện đại, TQ có gì để quảng bá về mặt tư tưởng, triết học? TQ có gì để chứng minh với các nước “sức mạnh mềm” của mình?

Là nước lớn, và nếu muốn các nước nhỏ yếu hơn phải “tâm phục khẩu phục”, chấp nhận vị trí siêu cường của mình, TQ còn phải chứng minh nhiều giá trị khác.

Trung Quốc sẽ đưa ra những giá trị gì, từ mô hình thể chế chính trị, các giá trị căn bản của xã hội như tự do, dân chủ, công bằng, tinh thần thượng tôn pháp luật, tôn trọng con người, nếp sống văn minh, giàu lòng nhân bản của người dân?

Trung Quốc sẽ đưa ra những giá trị gì, trong đường lối chính sách ngoại giao lẽ ra phải thân thiện, cùng chung sống hòa bình, không xâm phạm đến chủ quyền, lãnh thổ lãnh hải nước khác và trong tư cách một nước lớn càng phải hành xử cho ra nước lớn, có trách nhiệm hơn với những vấn đề chung của thế giới?

Trung Quốc sẽ đưa ra những giá trị gì, trong lĩnh vực kinh tế, khi đó là giá trị của chữ Tín trong quan hệ làm ăn thương mại với các nước khác, giá trị của những thương hiệu hàng hóa, chất lượng sản phẩm, tên tuổi và sức mạnh tầm cỡ quốc tế của các tập đoàn kinh doanh lớn…? Điều mà những nền kinh tế lớn khác như Mỹ, Anh, Nhật, Ðức…, kể cả Hàn Quốc, đã xây dựng được.

TQ sẽ thuyết phục được các nước khác như thế nào khi hệ thống mô hình chính trị xã hội của TQ còn chưa chinh phục được chính người Hongkong, người Đài Loan cùng một dòng máu với người Trung Hoa đại lục? Hay người dân Tây Tạng, Tân Cương mà quốc gia của họ đã thuộc về TQ, “là một phần của TQ” theo quan điểm của nhà cầm quyền TQ từ bao nhiêu năm nay?

Trong lĩnh vực văn hóa, TQ có thể quyến rũ các nước bằng chiều rộng và chiều sâu của một nền văn hóa khổng lổ thuộc vào loại lâu đời nhất trên thế giới, nhưng như đã nói, những thành tựu lớn nhất vẫn là thuộc về quá khứ. Trong thời đại ngày nay, việc hâm nóng lại những tư tưởng của Khổng giáo, Nho giáo có lẽ chẳng còn nhiều hiệu lực như thời phong kiến, bất kể là xã hội TQ, VN hay nước nào khác.

Chính vì thế, việc có mặt của Viện Khổng Tử hay ý định khuếch trương văn hóa của TQ sẽ không có gì đáng lo ngại đối với nhiều quốc gia, nhưng với VN, lại đáng băn khoăn. Không phải vì sức mạnh của chính cái nền văn hóa ấy mà do chính chúng ta, nếu “cửa ngõ gài then không chặt”, nếu không có một nội lực đủ mạnh và nếu không tự hù dọa mình.   

Tiếc rằng, với một cơ chế chính trị như “hai anh em song sinh” và với những người lãnh đạo đất nước vừa thiếu bản lĩnh, thiếu tầm lại mang cái tâm lý nô lệ Tàu nặng nề như hiện tại, thì nguy cơ càng lệ thuộc nặng nề hơn về văn hóa lại là điều dễ thấy trước. 

Posted in Văn Hóa XHCN | Leave a Comment »