Trần Hoàng Blog

Archive for the ‘Chạy trốn chủ nghĩa Cộng sản’ Category

● Ký ức của một thuyền nhân (BBC, 30-4-2017)

Posted by hoangtran204 trên 01/05/2018

Nhiều người Việt đã bỏ nước ra đi trên những con thuyền nhỏ mong manh trên biển sau ngày 30/4/1975, tạo thành làn sóng thuyền nhân Gần 2 triệu người Việt đã bỏ nước ra đi trên những con thuyền nhỏ mong manh trên biển sau ngày 30/4/1975, tạo thành làn sóng thuyền nhân. 

Bản quyền hình ảnh EXPRESS NEWSPAPERS/GETTY IMAGES 

 

Đọc tiếp »

Advertisements

Posted in Chạy trốn chủ nghĩa Cộng sản, Miền Nam sau 30-4-1975 | Leave a Comment »

►Tháng Tư – Cuộc chạy trốn cộng sản kinh hoàng

Posted by hoangtran204 trên 17/04/2018

 

 

Đọc tiếp »

Posted in Chạy trốn chủ nghĩa Cộng sản, Miền Nam trước ngày 30-4-1975 | Leave a Comment »

►Tường thuật của John McCain về việc tra tấn của Việt Cộng (14-5-1973)

Posted by hoangtran204 trên 24/02/2018

Mặc dù bị cộng sản Bắc Việt tra tấn tàn bạo hơn 5 năm rưỡi  trong nhà tù Hỏa Lò ở Hà Nội từ gần cuối 1967-1973, nhưng ông John McCain không hận thù. Ông và John Kerry đã là những người có công đầu trong việc bình thường hoá quan hệ ngoại giao giữa Mỹ và nhà cầm quyền Hà Nội 1995.

 

 

Đọc tiếp »

Posted in Chạy trốn chủ nghĩa Cộng sản, Chien Tranh Viet Nam | Leave a Comment »

►Bị đe dọa an ninh, người Việt ở Đức biểu tình sau vụ Hà Nội bắt cóc Trịnh Xuân Thanh (12-8-2017)

Posted by hoangtran204 trên 14/08/2017

 

Đọc tiếp »

Posted in Công nhân xuất khẩu lao động nước ngoài, Chạy trốn chủ nghĩa Cộng sản, Chinh Tri Xa Hoi, Dân Chủ và Nhân Quyền, Việt kiều-Lịch Sử hình thành-Cuộc Sống | Leave a Comment »

►Tháng 4: Tháng Tang

Posted by hoangtran204 trên 28/04/2017

27/04/2017
Một người lính Thủy quân Lục chiến VNCH mang xác một đồng đội.

Một người lính Thủy quân Lục chiến VNCH mang xác một đồng đội.

Đọc tiếp »

Posted in Cái giá của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc”., Chạy trốn chủ nghĩa Cộng sản, Chien Tranh Viet Nam, Việt kiều-Lịch Sử hình thành-Cuộc Sống | Leave a Comment »

Chiến tranh Việt Nam có thực sự cần thiết?

Posted by hoangtran204 trên 26/04/2017

28/04/2015

Đọc tiếp »

Posted in Cái giá của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc”., Chạy trốn chủ nghĩa Cộng sản, Chien Tranh Viet Nam | Leave a Comment »

► Việt Nam đã ngang nhiên nuốt lời hứa với Úc và đã kết án 4 người vượt biên sang Úc năm 2015

Posted by hoangtran204 trên 27/05/2016

Việt Nam nuốt lời hứa, kết án người vượt biên sang Úc

Tóm tắt: Ngày 26/5/2016, Tòa án nhân dân huyện La Gi, tỉnh Bình Thuận đã kết án 4 người chủ chốt trong nhóm 46 người vượt biên sang Úc năm 2015. Trong khi trước đó, nhà cầm quyền Hà Nội đã cam kết với Úc là họ sẽ không bị bắt giam và khởi tố khi Úc trao trả họ về VN, và còn lập đi lập lại rằng chính phủ Việt Nam sẽ tạo điều kiện cho họ làm việc và con cái sẽ được đến trường.

Bị cáo Nguyễn Minh Quyết trước tòa sơ thẩm. Ảnh: Fb Võ An Đôn

Bốn người bị kết án là bà Trần Thị Lụa 30 tháng tù giam, bà Huỳnh Thị Kiều chịu 27 tháng tù, ông Nguyễn Minh Quyết và Nguyễn Đình Quý mỗi người 24 tháng tù theo điều 275 BLHS “Tổ chức người khác trốn đi nước ngoài trái phép”.

Trong khi đó, Việt Nam đã cam kết với Chính phủ Úc rằng những người này sẽ không bị bắt giam, khởi tố khi trở về. Chính phủ Việt Nam sẽ tạo điều kiện cho họ làm việc và con cái sẽ được đến trường. Khi đến sân bay Tân Sơn Nhất, một quan chức Việt Nam khẳng định lại với nhóm người này trước mặt nhân viên di trú Úc rằng họ sẽ không bị giam giữ hay khởi tố.

Bà Elaine Pearson, giám đốc tổ chức Theo dõi Nhân Quyền (HRW) tại Úc lên tiếng hôm 24/5 rằng “Việt Nam đã ngang nhiên phá vỡ lời hứa của mình với chính phủ Úc rằng sẽ không khởi tố những tuyền nhân này. Úc nên yêu cầu chính phủ Việt Nam ngừng ngay tất cả cáo buộc và thả tự do cho những người này.”

“Chính phủ Việt Nam truy tố bốn người rời khỏi Việt Nam trái phép là vi phạm quyền cơ bản được rời khỏi đất nước của mình theo luật quốc tế”.

“Việc bỏ tù những người tuyệt vọng, cố gắng rời khỏi đất nước của họ là độc ác và trái pháp luật. Chính phủ Việt Nam không mất gì khi để cho những người này được tự do và Úc nên thúc ép Việt Nam làm như vậy.” – Pearson nói.

Ngày 1/7/2015, Bốn bị cáo cùng với 42 người khác bao gồm phụ nữ, đàn ông và cả trẻ em khoảng 4 tuổi trên một chiếc tàu rời khỏi Việt Nam từ Phan Thiết, Bình Thuận.

Ngày 21/7, chiếc tàu bị các quan chức Úc chặn lại và trả về Việt Nam 4 ngày sau đó. Trên chuyến bay trở về Việt Nam, một nhân viên di trú Úc nói rằng họ sẽ không bị bắt giam, khởi tố khi về.

Thế nhưng, khi chuyển nhóm người này trở về lại Bình Thuận, công an đã bắt giữ bốn người là Trần Thị Lụa, Nguyễn Minh Quyết và Nguyễn Đình Quý và giam giữ họ trong 24 ngày mà không có lệnh bắt và cũng không được tiếp cận với luật sư. Bà Huỳnh Thị Kiều bị khởi tố sau đó nhưng không bị giam giữ.

Theo cáo trạng, bà Kiều và bà Lụa đã lôi kéo, dụ dỗ các thành viên trong gia đình, người thân và những người quen biết khác tham gia vượt biên. Ông Nguyễn Đình Quý bị cáo cuộc chuẩn bị tàu, còn ông Nguyễn Minh Quyết là người lái tàu.

Sau 2 tháng tạm giam, Bà Lụa được tại ngoại vì sức khỏe không tốt. Ông Quyết bị đột quỵ và tê liệt hai chân trong trại giam nên cũng được tại ngoại vào tháng 3. Riêng ông Quý vẫn bị giam từ tháng 8 năm ngoái đến nay.

 

Posted in Bắt bớ-Tù Đày-Đánh đập-Đàn Áp, Chạy trốn chủ nghĩa Cộng sản, Chinh Tri Xa Hoi | Leave a Comment »

►MYANMAR – LÀ NHƯợC TIểU NHƯNG KHÔNG LÀM CHƯ HầU!

Posted by hoangtran204 trên 10/11/2015

Đảng csvn cam tâm làm chư hầu vì TQ đã nắm được các tài liệu bán biển đảo và biên giới để đổi lấy vũ khí đánh “Mỹ-Ngụy” của HCM và Lê Duẫn; ngoài ra, TQ còn nắm giữ mật ước Thành Đô 1990.  Đảng CSVN rất sợ hải Tập Cận Bình hay bất cứ lãnh đạo nào của TQ chỉ cần hăm dọa đưa tài liệu này ra một cách công khai. Vì thế, bọn TQ nói gì, sai bảo điều gì thì Bộ Chính Trị đảng CSVN  đều phải răm rắp tuân theo.

MYANMAR – LÀ NHƯợC TIểU NHƯNG KHÔNG LÀM CHƯ HầU!

FB Mạnh Kim

9-11-2015

Ai đã mở cửa để đưa Tổng thống Mỹ Barack Obama vào Myanmar trong chuyến công du lịch sử ngày 19-11-2012? Ai mở đường đưa Myanmar đến cuộc bầu cử dân chủ tự do đầu tiên sau 25 năm vào 3 năm sau, ngày 8-11-2015? Ý chí lãnh đạo là điều không thể phủ nhận nhưng điều quan trọng nhất khiến Myanmar chọn con đường dân chủ chính là ý chí thoát Trung!

Điều gì đã khiến Myanmar thay đổi tư duy đối ngoại khi can đảm quyết định tách khỏi quỹ đạo tưởng chừng bất di dịch với Trung Quốc để ngả theo trục phương Tây? Chính là sự tái nhận thức sáng suốt về quyền lợi và chủ quyền quốc gia. Hơn nửa thế kỷ được “bảo kê” bởi Bắc Kinh, Myanmar đã ngậm đắng nuốt cay chịu nhiều thiệt thòi. Trung Quốc ngày càng gây sức ép thao túng kinh tế và vơ vét tài nguyên Myanmar, từ dầu khí, đồng, gỗ teak, đá quí đến sản vật nông nghiệp… Họ mua vô số đất đai để làm nông trại nhưng thuê mướn nhân công từ Trung Quốc. Nói cách khác, đất Myanmar dần được “chuyển quyền sở hữu” sang người Trung Quốc. Dân Trung Quốc tràn xuống cố đô Mandalay (thành phố lớn thứ hai Myanmar) nhiều đến mức cư dân địa phương có câu nói đùa rằng “Chỉ cần dân Tàu khạc nước dãi thì cũng đủ ngập để cho người Mandalay bơi rồi!”.

Trung Quốc đổ rất nhiều tiền với vô số dự án đầu tư vào Myanmar. Tháng 9-2010, Bắc Kinh tuyên bố cho vay 4,2 tỉ USD với lãi suất zero trong 30 năm để “giúp” Myanmar xây đập, đường xá, hỏa xa và phát triển công nghệ thông tin. Tuy nhiên, “chơi” với Bắc Kinh, Naypyidaw chỉ nhìn thấy thiệt. Họ thấy rõ thủ đoạn “thả con tép bắt con tôm” của Trung Quốc. Tháng 3-2010, tờ Nhân Dân nhật báo (Trung Quốc) cho biết mậu dịch song phương hai nước đạt 2,9 tỉ USD vào năm 2009, tăng 10% so với cùng kỳ năm trước và từ (gần bằng) zero vào cuối thập niên 1980. Tuy nhiên, cái gọi là “song phương” thực chất hầu như chỉ là một chiều: năm 2009, xuất khẩu Trung Quốc sang Myanmar đạt 2,3 tỉ USD nhưng xuất khẩu ở chiều ngược lại chỉ vỏn vẹn 646 triệu USD (Asia Times 19-10-2011)…

Nói thêm một chút về địa chính trị. Là nước lớn thứ hai Đông Nam Á với 1/3 (trong tổng chu vi 1.930 km) hình thành nên một bờ biển liên tục chạy dọc vịnh Bengal và biển Andaman, Myanmar đóng vai trò như một ngã tư chiến lược, về biển lẫn đất liền, tạo thành một điểm kết nối giữa Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương. Nắm được Myanmar là nắm được một ưu thế địa chính trị quan trọng. Trung Quốc đã nhìn thấy tầm chiến lược địa chính trị Myanmar, nơi có biên giới tiếp giáp với họ dài đến 2.000 km, từ rất lâu. Suốt thập niên 1960 rồi 1970, Trung Quốc luôn phủ bóng lên lịch sử Myanmar.

Đầu thập niên 1991, Trung Quốc thậm chí đưa cố vấn quân sự sang nước này. Từ ảnh hưởng chính trị, họ bắt đầu tạo ảnh hưởng kinh tế. Như bài viết trên Asia Times (19-10-2011) của Bertil Lintner (nguyên phóng viên Far Eastern Economic Review, tác giả một số quyển sách về Myanmar), từ thập niên 1980, Trung Quốc đã có ý định xây con đập Myitsone. Điều này đã thể hiện trong một bài viết mang tựa “Mở rộng về phía Tây Nam – ý kiến một chuyên gia”, đăng trên tờ Beijing Review số tháng 9-1985. Bài viết này đề cập khả năng tìm một lối ra cho con đường mậu dịch đối với các tỉnh Nam Trung Quốc (Vân Nam, Tứ Xuyên) vốn bị “khóa” cô lập trong đất liền bởi yếu tố địa lý, bằng cách khai thông ngả Myanmar để ra Ấn Độ Dương. Bài viết cũng nhắc đến việc xây các tuyến hỏa xa Myitkyina và Lashio ở Đông Bắc cũng như sông Irrawaddy để làm tuyến vận chuyển cho hàng xuất khẩu Trung Quốc. Đến thập niên 1990, Myanmar đã gần như trở thành một tỉnh của Trung Quốc, khi được Bắc Kinh tập trung đầu tư với vô số dự án hạ tầng.

Mục tiêu Bắc Kinh là biến Myanmar thành một bàn đạp vệ tinh, một vùng đệm giúp hỗ trợ phát triển kinh tế cho các tỉnh Tây và Nam Trung Quốc. Nói cách khác, đầu tư hạ tầng cho Myanmar là đầu tư cho tương lai phát triển cho chính khu vực phía Nam và Tây Trung Quốc, để không chỉ có thể giúp các tỉnh này san bằng khoảng cách thu nhập với các tỉnh giàu có phía Đông của họ mà còn tạo nên ưu thế cạnh tranh kinh tế với láng giềng Ấn Độ. Đó là một phần của “chính sách hai đại dương” mà giới chính trị học thuật Trung Quốc cổ súy (phải làm chủ cả Thái Bình Dương lẫn Ấn Độ Dương). Thế là loạt dự án hạ tầng bắt đầu hình thành, từ một xa lộ dẫn đến một hải cảng mới toanh trị giá nhiều triệu đôla, phục vụ việc xuất khẩu hàng sản xuất ở các tỉnh phía Tây và Nam Trung Quốc; đến một tuyến ống dẫn hơn 1.600 km đưa dầu Trung Đông và châu Phi đến các nhà máy lọc ở Vân Nam; đến một tuyến ống dẫn nữa đưa khí đốt Myanmar đến thắp sáng cho Côn Minh và Trùng Khánh; đến hơn 20 tỉ USD đầu tư cho một tuyến hỏa xa cao tốc giúp việc đi lại xưa kia mất hàng tháng nay có thể chỉ còn không đến một ngày; rồi đến năm 2016, sẽ có một hệ thống đường sắt đi suốt từ Yangon đến Bắc Kinh hoặc thậm chí tới Delhi rồi từ đó sang châu Âu…

Quan trọng hơn cả là việc sử dụng Myanmar làm trạm trung chuyển dầu hỏa từ Trung Đông và châu Phi vào sâu trong nội địa Trung Quốc, giúp né được “cửa ải” Malacca. Do lệ thuộc tuyệt đối nguồn dầu nước ngoài với 80% dầu nhập được đưa về ngang Malacca, một trong những eo biển nhộn nhịp nhất thế giới mà nơi hẹp nhất chỉ rộng 2,7 km, Trung Quốc rất lo sợ một khi xảy ra xung đột, Malacca có thể bị đóng cửa và nguồn cung ứng dầu bị ách tắc. Cho nên, bằng mọi cách phải thiết lập được tuyến ống dẫn ngang Myanmar.

Một cách tổng quát, trước khi xảy ra cú bắn pháo hiệu của Tổng thống Thein Sein vào tháng 9-2011 (về việc tạm ngưng xây đập Myitsone), hay nói chính xác hơn là trước khi Naypyidaw thay đổi quan điểm đối ngoại, Myanmar là sân sau của Bắc Kinh, là đất nhà của hàng chục ngàn di dân Trung Quốc, là thị trường chuyên tiêu thụ hàng hóa Trung Quốc, là nơi giới doanh nghiệp Trung Quốc mặc sức tác oai tác quái. Nếu nói không quá thì sinh mạng kinh tế Myanmar gần như hoàn toàn lệ thuộc vào Trung Quốc.

Một sự nhìn nhận lại vai trò và ảnh hưởng Trung Quốc đã âm thầm diễn ra. Năm 2004, theo bài viết của Bertil Lintner trên YaleGlobal (5-11-2012), trung tá Aung Kyaw Hla – nhà nghiên cứu thuộc Học viện quốc phòng Myanmar – bắt đầu thực hiện một khảo sát chi tiết. Bản báo cáo tuyệt mật dày 346 trang này, với tựa “Một nghiên cứu về quan hệ Myanmar-Hoa Kỳ”, đã phác họa những chính sách bắt đầu được áp dụng nhằm có thể cải thiện quan hệ với Washington đồng thời giảm lệ thuộc Bắc Kinh. Nội dung báo cáo nói rằng, việc xem Trung Quốc là một đồng minh ngoại giao và nhà bảo trợ kinh tế đã tạo ra một “tình huống khẩn cấp” đe dọa sự độc lập quốc gia. Báo cáo viết rằng, chỉ bằng cách cải thiện quan hệ với Mỹ, Myanmar mới có thể tiếp cận nguồn hỗ trợ tài chính từ Ngân hàng Thế giới và Quỹ tiền tệ quốc tế, giúp đất nước lần hồi thoát khỏi “chủ nghĩa khu vực”, nơi họ phải lệ thuộc vào ý chí và quan hệ với những láng giềng trực tiếp trong đó có Trung Quốc, để “bước vào một kỷ nguyên mới của toàn cầu hóa”…

Có thể tóm gọn lý do khiến Myanmar từ bỏ “hũ mật Trung Quốc” để uống “chén đắng phương Tây” – nếu nhìn ở góc độ thường được xem là “an toàn chính trị” đối với một chế độ – qua một nhận định của Nay Zin Latt, cố vấn chính trị của Tổng thống Thein Sein: “Trước đây, muốn hay không, chúng tôi phải chấp nhận tất cả những gì mà Trung Quốc đề nghị. (Bây giờ), khi lệnh cấm vận được (phương Tây) tháo dỡ, điều đó sẽ tốt hơn cho mọi người ở Myanmar”. Nói cách khác, Myanmar hiểu rằng, chỉ với thiện chí thật sự cải tổ theo đường hướng có lợi dân tộc, họ không chỉ có thể tự cởi trói và thoát được “án” cấm vận mà nhờ đó còn hạn chế lệ thuộc Trung Quốc, về lâu dài.

Ý nghĩa lớn nhất trong câu chuyện dân chủ của Myanmar là vấn đề địa chính trị không phải là rào cản lớn nhất để lấy đó làm cái cớ biện dẫn cho sự cúi đầu làm chư hầu. Chỉ 19 năm sau khi lập quốc từ bàn tay không với một nhúm người tha phương từ khắp nơi thế giới quần tụ lại, không có gì trừ ý chí dân tộc mãnh liệt, Israel đã kiên cường chống chỏi sự vây bủa khốc liệt và chiến thắng trước những con hổ dữ Arab trong cuộc chiến 7 ngày. Và đến nay, Israel vẫn luôn bị đe dọa và vẫn tiếp tục lớn mạnh hơn trong sự đe dọa thường trực đó, bất luận yếu tố lịch sử lẫn yếu tố địa lý vô cùng phức tạp, bởi còn xen lẫn bởi yếu tố tôn giáo. Đừng lấy cái gọi là “lời nguyền địa lý” và “lời nguyền lịch sử” để tự gánh lên vai cái lối ngụy biện hàm hồ về việc “chúng ta không còn con đường nào khác là phải chấp nhận lệ thuộc Trung Quốc!”. Đó là cái não trạng mặc cảm khiếp nhược của những kẻ hèn hạ, bao biện cho tư duy chính trị của những kẻ bán nước hèn hạ bội lần. Làm thế nào có thể thoát Trung khi còn có kiểu suy nghĩ tăm tối như vậy? Làm thế nào có thể thoát Trung khi mà vẫn không chấp nhận một nền chính trị dân chủ như Myanmar hay Philippines, để người dân có thể bày tỏ ý nguyện thoát Trung và nhìn thấy được kết quả từ ý chí thoát Trung đồng nhất của dân tộc thông qua lá phiếu?

—————
Một phần bài viết này trích từ hồ sơ hai kỳ khoảng 5.000 từ đã đăng vào năm 2012 dưới bút danh “Nguyễn Cao Trí” (tên của con trai tôi).

Posted in Chạy trốn chủ nghĩa Cộng sản, Chinh Tri Xa Hoi, Dân Chủ và Nhân Quyền | Leave a Comment »

►Đến với Võ Phiến, và những lần gặp sau cùng

Posted by hoangtran204 trên 09/10/2015

Đến với Võ Phiến

Blog VOA

Nguyễn Hưng Quốc

8-10-2015

Nhà văn Võ Phiến và NguyNhà văn Võ Phiến và Nguyễn Hưng Quốc.

Mãi đến năm 30 tuổi, tôi mới đọc Võ Phiến, lần đầu.

Cho đến bây giờ, tôi vẫn không hiểu lý do tại sao có cái sự muộn màng như thế. Tôi mê sách từ nhỏ. Ngay trong những năm đầu của trung học, tôi đã ngốn ngấu hầu như toàn bộ sách của Tự Lực Văn Đoàn cũng như của những tác giả thường được gọi là ‘tiền chiến’, từ Nguyễn Tuân đến Nam Cao, Tô Hoài, Vũ Trọng Phụng, Bùi Hiển, Trần Tiêu, từ Xuân Diệu, Thế Lữ, Hàn Mặc Tử, Vũ Hoàng Chương đến Nguyễn Bính, Huy Cận, Hồ Dzếnh, v.v… Sau khi ‘nuốt’ hết các tác phẩm được coi là kinh điển đối với học sinh trung học, tôi ‘tấn công’ dần sang các tác giả nổi tiếng của miền Nam thuở ấy. Tôi đọc nếu không hết thì cũng gần hết tác phẩm của Mai Thảo, Chu Tử, Tuý Hồng, Nhã Ca, Thuỵ Vũ, Duyên Anh, Dương Nghiễm Mậu, Nguyễn Thị Hoàng, Nguyễn Đình Toàn, Nguyễn Mạnh Côn, v.v… Nhiều vô kể. Chỉ riêng Võ Phiến, tôi chưa đọc quyển nào.

Không phải lúc ấy tôi không biết ông. Có. Trên các tạp chí xuất bản tại Sài Gòn thời bấy giờ, tôi gặp tên ông hoài. Rồi trong các tập Giảng văn dùng ở trung học, tôi vẫn thường đọc nhiều đoạn văn trích từ tác phẩm của ông để làm mẫu cho học trò về nghệ thuật tả cảnh, tả vật, tả người. Nhiều đoạn, các thầy cô giáo bắt phải học thuộc lòng và tôi nhớ, tôi cũng rất vui vẻ học thuộc lòng những đoạn văn ấy. Vì thích. Vì phục. Có đoạn, đặc biệt là đoạn ông tả tật tham ăn của Bình trong truyện “Dung”, nhiều năm sau tôi vẫn còn có thể đọc lại từng chữ:

“Vừa đối diện với mâm cơm, bằng một cái liếc rất nhanh, hắn đã định ngay được giá trị từng món ăn, chọn ngay được món ăn ngon nhất. Và từ đầu đến cuối bữa ăn hắn tấn công vào trọng tâm một cách kiên nhẫn, tàn bạo, nhưng khôn ngoan lạ kỳ… Hắn tính toán chu đáo, gắp khắp các dĩa, nhưng tổng kết lại thì thế nào hắn cũng gắp được món ngon nhiều hơn cả. Và hắn theo dõi ngọn đũa của tất cả các thực khách, không dung thứ cho một người nào hơn mình. Hắn cạnh tranh kín đáo nhưng ráo riết… Bình thường thì ngọn đũa trí trá của hắn thu lại đầy ý thức chuẩn bị, rồi đột nhiên vụt phóng ra nhanh nhẹn lạnh lùng như một con cò già lão luyện phóng mỏ bắt ruồi, trăm lần không sai đích một lần…”

Thích và phục như thế, vậy mà, không hiểu tại sao, tôi lại không bao giờ nghĩ đến chuyện tìm sách của ông để đọc. Hình như, tự thâm tâm, tôi thấy, qua các đoạn văn trích ấy, hay thì thật là hay, nhưng có cái gì cổ kính và xa xôi, như văn chương của cái thuở Tự Lực Văn Đoàn mà tôi đã đọc rồi và đã chán rồi. Hình như, lúc ấy tôi đã ngầm xếp ông vào loại những tác giả ‘cổ điển’, nghĩa là những người mình sẵn sàng nhắc đến như những tên tuổi tiêu biểu và đầy thẩm quyền trong lãnh vực văn học để chứng tỏ trình độ học thức uyên bác của mình, nhưng trên thực tế thì mình lại không bao giờ cần đọc tác phẩm của họ cả. Như kiểu người ta vẫn thường nhắc đến Nguyễn Du, đến Victor Hugo, đến Leo Tolstoy, đến Shakespeare vậy mà…

Sau năm 1975, lên đại học, tôi ngạc nhiên thấy nhiều thầy giáo của mình từ miền Bắc vào – phần lớn đều là những người viết lách ít nhiều – khen Võ Phiến nức nở hoặc chửi bới Võ Phiến thậm tệ. Trong cả lời khen lẫn tiếng chê, tôi đều thấy thấp thoáng có chút gì như thán phục. Vì thán phục nên mới nghĩ là ông nguy hiểm, mới phong cho ông cái ‘chức’ là ‘tên biệt kích văn nghệ hàng đầu’. Một lần, tôi nghe chính Chế Lan Viên khen ngợi tuỳ bút của Võ Phiến sau khi kể chuyện Võ Phiến, từ Mỹ, viết thư về cho người thân ở Việt Nam, đã dẫn hai câu Kiều: “Thôi thôi còn nói chi con / Sống nhờ đất khách, thác chôn quê người.” Với tôi lúc ấy, mới ngoài 20 tuổi, đang rất mê Chế Lan Viên, hiểu ngay là lời khen ngợi ấy hẳn là có giá trị đáng kể. Tôi ghi nhận lời khen ngợi ấy như ghi nhận một thứ tư liệu quý. Về Chế Lan Viên. Và về Võ Phiến nữa. Vậy mà, không hiểu tại sao, tôi lại vẫn không hề tò mò tìm sách của ông để đọc dù điều đó, ngay sau 75, cũng khá dễ dàng: nghiền sách, tôi có thói quen thường xuyên la cà ở các bãi sách cũ dọc hè phố Sài Gòn và không phải không từng thấy sách ông bày bán ở đó với giá rẻ mạt.

Mãi đến năm 1986, khi đã vượt biển và định cư tại Pháp, một hôm, bước vào một tiệm sách Việt ngữ tại Paris, giữa mớ sách lèo tèo, tầm thường, không gợi lên được chút xíu hứng thú nào trong tôi, mắt tôi dừng lại cuốn Tuỳ bút 1 của Võ Phiến vừa được nhà Văn Nghệ xuất bản tại California: chắc chắn đó là cuốn sách khá nhất trong cái bầy sách thưa thớt buồn xo ấy. Bèn mua. Một cách khá uể oải. Như là một sự chọn lựa miễn cưỡng. Vì không có cái gì khác nữa.

Về, định đọc nhẩn nha. Nhưng ngay ở mấy trang đầu, tôi đã bị cuốn hút. Đọc một lèo từ đầu đến cuối. Vừa thích vừa sững sờ thán phục. Suốt cả mấy tuần lễ liên tiếp, tôi cứ đọc đi đọc lại, vầy vò hoài một cuốn sách ấy. Có khi đọc vài bài, có khi đọc một bài và cũng có khi chỉ đọc nhảy lóc cóc từng đoạn, từng đoạn. Để nghe hơi văn. Để thích thú với một vài nhận xét thông minh và dí dỏm của tác giả. Từ đó, tôi trở thành một độc giả chăm chỉ và chăm chú của Võ Phiến. Cuốn sách nào của ông in ra, bài viết nào của ông đăng báo, tôi cũng đều đọc cẩn thận. Có cái đọc đi đọc lại nhiều lần.

Rồi năm 1989, nhân từ Pháp qua Mỹ tham dự một hội nghị được tổ chức tại Chicago; từ Chicago, tôi đi cùng với Nguyễn Mộng Giác về California chơi. Con gái anh Giác ra phi trường Los Angeles đón chúng tôi, và trước khi về nhà anh Giác, chúng tôi ghé thăm Võ Phiến. Chừng hai, ba tiếng đồng hồ gì đó. Thật ngắn ngủi. Câu chuyện quanh quẩn trong các đề tài văn nghệ. Võ Phiến hỏi thăm tôi vài điều về chuyện viết lách, rồi ông kể chuyện Hoài Thanh, chuyện Chế Lan Viên, những tên tuổi lớn từ trước năm 1945 mà ông quen biết từ thuở còn là học trò. Cách nói chuyện của ông thoải mái và chân tình khiến cho tôi, nhỏ hơn ông hơn một phần tư thế kỷ và lần đầu tiên gặp ông, không có chút xíu gì là bỡ ngỡ.

Không bỡ ngỡ, nhưng lại đầy cảnh giác. Võ Phiến có dáng người hơi thô, nụ cười hiền lành, giọng nói thật thà, nhưng đôi mắt, đôi mắt của ông thật lạ lùng: nó nhìn như xoi mói, lâu lâu lại ánh lên một tia sáng tinh nghịch ngấm ngầm, làm cho tôi đôi lúc có cảm giác như là ông vừa mới phát hiện điều gì đó không đẹp ở mình. Tôi đâm hoang mang. Tự nhiên lại nhìn xuống vạt áo mình, nhìn xuống đôi giày mình. Cực.

Thực tình, tôi không thích cái đôi mắt ấy. Bởi vậy, sau lần nói chuyện ngắn ngủi ấy, tôi không hề có cảm giác gần hơn với Võ Phiến. Thỉnh thoảng tôi vẫn viết thư cho ông và nhận được thư của ông, nhưng cả thư đi lẫn thư lại đều ngắn. Thư tôi thường dừng lại trong khuôn phép. Riêng thư Võ Phiến, tuy ngắn, lại khá thân tình. Ông thường nhận xét về một bài viết hay quyển sách nào đó của tôi mới in một cách cởi mở. Dần dần, mặc dù không gặp ông lần nào nữa, chỉ qua thư từ, ấn tượng của tôi về ông khác đi. Tôi quên ánh mắt của ông. Mà chỉ nhớ đến nụ cười. Nụ cười thật lành. Và giọng nói nữa. Cũng thật lành.

Nhưng khi tôi đọc, có khi đọc lại, tác phẩm của ông, ánh mắt ấy lại hiện ra. Có điều, đó không phải là cái ánh mắt lâu lâu liếc quét lên người tôi mà là một ánh mắt khác lấp lánh trên từng dòng chữ, long lanh trên từng trang sách. Cái ánh mắt ấy, oái oăm thay, lại làm cho tôi vô cùng sảng khoái. Đọc, cứ bần thần. Trước, tôi thích văn ông. Sau, tôi nghiện văn ông. Lâu, không đọc ông, có cái gì như thể là nhớ nhung. Cuối năm 1990, sau khi hoàn tất chuyên luậnVăn học Việt Nam dưới chế độ cộng sản, tự dưng có lúc tôi nôn nao muốn viết về ông.

Trong dự định ban đầu, việc phê bình Võ Phiến nằm trong một ‘dự án’ lớn hơn: phê bình văn học hải ngoại nói chung. Có lúc, trước sự khuyến khích của bạn bè trong giới cầm bút, tôi đã suýt viết một cuốn tổng luận về văn học hải ngoại, trong đó, hai bài mở đầu, “Mười lăm năm văn học lưu vong: sự hình thành và phát triển” và “Mười lăm năm văn học lưu vong: bản chất và đặc điểm” đã được đăng tải trên tạp chí Văn và Văn Học tại California năm 1990, hình như được một số người thích, lâu lâu lại nhắc nhở và khen ngợi, đây đó, trên báo chí. Sau hai bài ấy, tôi không viết được gì thêm. Lý do là vì tôi đột nhiên khám phá ra là cách viết như thế, cũng như cái cách tôi viết quyển Văn học Việt Nam dưới chế độ cộng sản hay cách Võ Phiến viết quyển Tổng quan văn học miền Nam, có cái gì hơi hơi không ổn: viết tổng quan hay tổng luận là viết về những đặc điểm chính, những khuynh hướng nổi bật, những trào lưu chủ yếu, những cái chung nhất, phổ biến trong nhiều nhà văn, nhiều nhà thơ trong cùng một thời kỳ, trong khi diện mạo thực sự của của một thời kỳ văn học lại được hình thành từ những tác giả lớn, chỉ từ những tác giả lớn; và diện mạo thực sự của những tác giả lớn ấy lại nằm ở những cái riêng của họ, những chỗ họ không giống với bất cứ ai khác. Như thế, viết tổng quan hay tổng luận theo kiểu cũ, chúng ta đối diện với một nghịch lý: bàn về văn học, nhưng chúng ta lại loại trừ những tài năng văn học lớn và đích thực, chỉ tập trung vào những cây bút trung bình hoặc dưới trung bình, những người khiêm tốn ‘làm ăn’ trên cái vốn chung, cái ý thức hệ chung, cái phong cách chung của cả một thời kỳ. Cách viết như thế, tuy có thể là bổ ích, có thể cung cấp cho người đọc một số kiến thức căn bản về phương diện văn hoá và xã hội, lại chẳng giúp được gì cho ai khi muốn tìm hiểu về văn học theo cái nghĩa là một cái gì mang tính chất sáng tạo: nó chỉ tái hiện được những cái cặn chứ không phải là những tinh hoa; nó chỉ vẽ lại nên được cái nền chứ không phải là những cái đỉnh.

Phê bình văn học một thời kỳ là phê bình những tinh hoa của thời kỳ ấy. Phê bình những tinh hoa là phê bình những cái chỉ một mình nó có, những cái nó không bắt chước ai và cũng không chia sẻ với ai cả. Trong ý nghĩ như vậy, tôi có ý định phê bình một số người. Mỗi người một cuốn sách, cỡ vừa thôi, một hai trăm trang gì đó. Điều này, ngoài lý do liên quan đến phương pháp luận như vừa trình bày, còn có cái lợi là thích hợp với điều kiện viết lách ở hải ngoại: quá ít thì giờ. Thì giờ để viết thường là thì giờ ăn cắp của gia đình: trốn những sinh hoạt chung với vợ con vào các buổi tối hay các ngày cuối tuần. Tập trung vào một số tác giả, do đó, trước hết, là một cách khoanh vùng tư liệu để khỏi phải đọc quá nhiều, quá rộng, quá lan man. Hơn nữa, cũng là một cách giảm bớt nguy cơ thiếu sót. Viết một tuyển tập phê bình cho cả thời kỳ, người ta đòi hỏi phải viết đầy đủ những gương mặt tiêu biểu. Thiếu một là hỏng một. Chọn cách viết mỗi người một quyển sách coi bộ khoẻ hơn. Viết được đến đâu hay đến đó. Không viết được nữa thì nghỉ. Chẳng sao cả.

Chọn Võ Phiến là người đầu tiên, ngoài lý do là tôi thích văn ông, tôi còn một số lý do khác nữa. Thứ nhất, với sáng kiến in Toàn tập Võ Phiến của nhà xuất bản Văn Nghệ, tài liệu cần thiết trong quá trình nghiên cứu về Võ Phiến hầu như đều có sẵn. Với một người làm công việc phê bình hay nghiên cứu văn học, không có đề tài nào khác thuận lợi hơn. Thứ hai, vì tôi đọc ông một cách say mê và liên tục cả mấy năm liền, tôi hơi tự tin là có thể nói được vài điều mới mẻ về ông. Cuốn sách hy vọng là không đến nỗi nhảm.

Khi quyết định như thế, tôi liền viết thư cho Võ Phiến, hỏi xin ông thêm một ít tài liệu, chủ yếu là liên quan đến cuộc đời của ông. Ông trả lời ngay, rất vồn vã. Tôi cũng mừng. Nhưng ngay sau đó, do một sự tình cờ, tôi quyết định dời nhà sang định cư tại Úc. Thủ tục tiến hành cực nhanh: chỉ trong vòng mấy tháng sau là tôi đã rời Paris sang Melbourne. Xứ sở mới, công việc mới, văn hoá mới, ngôn ngữ mới… bao nhiêu cái ‘mới’ ấy đòi hỏi tôi phải tập trung toàn bộ thì giờ và tâm sức để hội nhập, để thích nghi. Bận đến phát ngộp. Tôi chẳng còn tinh thần đâu mà nghĩ đến chuyện văn chương, chữ nghĩa. Sách báo bạn bè gửi tặng, tôi để nguyên phong bì cất lên kệ. Thư từ bạn bè từ xa gửi tới, tôi liếc sơ qua rồi cất vào ngăn kéo. Giữa lúc ấy, ngay giữa lúc ấy, tôi nhận được những bức thư gọi là ‘cung cấp tài liệu’ của Võ Phiến. Đều đặn, thường là mỗi tháng một bức, có khi ông cao hứng, một tháng hai bức; chỉ khi nào ông bận bịu hay bệnh hoạn lắm mới hai tháng một bức. Bức nào cũng dày sáu trang giấy chi chít chữ. Sáu trang, đúng sáu trang, không hơn. Võ Phiến giải thích: để dễ dán tem, không cần phải chờ nhân viên bưu điện cân thư và tính tiền. Là người nghiên cứu văn học, quí tài liệu hơn cả một đứa keo kiệt quí tiền bạc, tôi biết rõ giá trị của những bức thư mình đang cầm: có bức kể về gia thế, có bức kể về bạn bè, có bức kể về tuổi thơ, có bức kể về những bước chập chững trên con đường đi vào nghệ thuật, có bức nói về một tác phẩm Võ Phiến tâm đắc, v.v… Tôi biết. Biết, nên tôi làm ngay bản sao từng bức thư để cất, phòng trường hợp rủi ro có thể thất lạc. Nhưng biết thế mà tôi vẫn không sao lắng mình để đọc cho kỹ, để toan tính một kế hoạch viết lách nghiêm chỉnh về ông. Có thời gian, tôi cứ nín thinh, bằn bặt, không thư từ gì với Võ Phiến cả. Như kiểu trốn nợ.

Mãi đến ba năm sau, tâm hồn mới tạm bình yên, tôi lại thập thò đến với văn thơ. Trước hết là thơ. Dù sao thì tôi cũng yêu thơ hơn văn. Viết về thơ bao giờ tôi cũng thấy ‘đã’ hơn là viết về văn. Bài đầu tiên tôi viết là bài về “Thơ con cóc” đăng trên Hợp Lưu số 17 ra vào tháng 6 và 7 năm 1994. Từ việc đánh giá lại bài “Thơ con cóc”, tôi loé thấy nhiều vấn đề khác: ý nghĩa của bài thơ, quan hệ giữa bài thơ và tác giả, giữa thơ và hiện thực, vấn đề phê bình văn học, v.v… Tôi viết miên man. Và quên bẵng Võ Phiến.

Khoảng tháng 6.1995, nhân đọc Thế Kỷ 21, thấy trong “Thư toà soạn” có thông báo sẽ làm số đặc biệt về Võ Phiến, tôi chợt thót mình nhớ lại lời hứa dạo nào, nhớ lại những thân tình ông dành cho tôi; nhớ lại những con mắt lấp lánh trên từng dòng chữ trong tác phẩm của ông mà tôi từng say mê, thích thú; nhớ lại những tư liệu quí báu mà ông gửi cho suốt mấy năm qua. Tôi quyết định tạm xếp loạt bài về “Thơ con cóc” lại để viết trước một bài gì đó về Võ Phiến. Coi như một cách trả nợ.

Dạo ấy, tôi đang say mê nghiền ngẫm về các vấn đề liên quan đến lý thuyết văn học, cho nên, nghĩ đến chuyện viết về Võ Phiến, tôi liên tưởng ngay đến khía cạnh tư tưởng văn học của ông. Tôi viết bài “Võ Phiến, nhà lý luận văn học” khá nhanh. Chỉ trong hai, ba ngày gì đó. Viết xong, lại ấm ức. Bèn viết thêm bài “Nhà phê bình văn học”. Cũng rất nhanh. Lại vẫn ấm ức. Viết thêm bài “Nhà tạp luận”. Đến đây, không còn ấm ức nhưng tôi biết là mình không thể dừng lại được nữa: Võ Phiến đã trở thành một nguồn cảm hứng mới dạt dào, một cơn ngứa ngáy trong tâm hồn và một sự bứt rứt ở đầu ngón tay. Tính tôi vốn yếu đuối: không bao giờ tôi chống lại nổi một đam mê. Mỗi ngày, đi dạy về, cơm nước xong, chờ con cái đi ngủ hết, tôi lại chong mắt lên mà đọc mà viết. Say sưa. Chỉ sáu tháng sau, trong lúc vẫn tiếp tục viết mấy chương cuối cùng của cuốn Thơ, v.v… và v.v…, tôi đã hoàn tất cuốn Võ Phiến.

Khi cuốn Thơ, v.v… và v.v… được xuất bản, Võ Phiến viết thư ngay cho tôi, trong đó ông nêu ra nhận xét, đại khái: giọng văn của tôi trong cuốn sách ấy tếu, trẻ trung, nghịch ngợm và táo bạo khác hẳn mấy cuốn sách trước. Tôi băn khoăn. Một số bạn văn khác, sau đó, viết thư cho tôi, cũng nêu nhận xét tương tự. Tôi càng băn khoăn tợn. Tếu… trẻ trung… nghịch ngợm… những thứ ấy ở đâu thò ra vậy cà? Văn của tôi từ trước đến nay, tôi biết, tuy có chút xíu thơ mộng, chủ yếu là ở hình tượng và nhịp điệu, nhưng thường thì rất nghiêm trang, nghiêm trang đến phát chán lên được. Làm gì có nụ cười nào, dù thấp thoáng, trong những cuốn Tìm hiểu nghệ thuật thơ Việt Nam (1988), Nghĩ về thơ (1989) hay Văn học Việt Nam dưới chế độ cộng sản (1991) chứ? Tôi giật mình, nghĩ thầm: hay là… tại trong lúc viết cuốn Thơ, v.v… và v.v..., ngoài việc đọc thơ, các sách lý luận về thơ, tôi còn phải đọc đi đọc lại nhiều lần các tác phẩm của Võ Phiến? Chả lẽ cái cười cợt của ông nhiễm vào trong tôi lúc nào tôi không biết?

Tôi bỗng mừng: May mà tôi không đọc Võ Phiến lúc còn trẻ.

Võ Phiến,

Võ Phiến, những lần gặp sau cùng

1-10-2015

Mỗi lần có dịp qua Nam California, một trong những người đầu tiên tôi đến thăm bao giờ cũng là Võ Phiến. Chủ yếu là vì tình thân. Tôi quen với khá nhiều người cầm bút Việt Nam, trong cũng như ngoài nước, nhưng người tôi gần gũi nhất có lẽ là Võ Phiến. Gần, chủ yếu là vì, trong thời gian viết cuốnVõ Phiến (2006), tôi đọc ông nhiều và rất kỹ; và cũng vì, trong suốt thời gian chuẩn bị tài liệu cho cuốn sách ấy, kéo dài cả mấy năm, tôi và Võ Phiến thường xuyên liên lạc thư từ với nhau. Thư, thoạt đầu, khá khách sáo; sau, cứ dần dần thân thiết. Sự thân thiết, thoạt đầu, giống như tình bạn, thứ bạn vong niên trong văn nghệ, dần dần, giống như tình gia đình: Tôi xem Võ Phiến như một ông bác. Khi đã xem như bác, việc thăm viếng trở thành một cái lễ, một thứ bổn phận.

Nói đến khái niệm “lễ” hay “bổn phận”, tự dưng nhớ đến Nguyễn Mộng Giác. Năm 1989, khi từ Pháp qua Chicago dự một cuộc hội nghị về văn học, Nguyễn Mộng Giác rủ tôi bay về California chơi với anh vài ngày. Vừa ra khỏi phi trường Los Angeles, Nguyễn Mộng Giác bảo đứa con gái, người ra đón chúng tôi, chở thẳng đến nhà Võ Phiến; tối, về nhà anh, ăn cơm xong, Nguyễn Mộng Giác lấy xe chở tôi đến thăm Mai Thảo. Trên đường, anh nhỏ nhẹ bảo, đó là cái lễ đối với các bậc trưởng thượng trong làng văn. Tôi hơi ngạc nhiên nhưng không nói gì. Tôi vẫn kính trọng cả Võ Phiến lẫn Mai Thảo và xem hai người như những đại thụ có nhiều thành tựu và đóng góp không những cho văn học ở miền Nam trước năm 1975 mà còn cả cho văn học Việt Nam ở hải ngoại sau năm 1975. Nhưng tôi không xem việc thăm viếng họ như một bổn phận. Với tôi, chỉ có bổn phận trong văn học chứ không có bổn phận về phương diện xã hội. Và trong văn học, cách bày tỏ sự kính trọng tốt nhất đối với các thế hệ cầm bút đi trước, ngay cả với những người tài hoa nhất, là đọc họ rồi vượt qua họ, kể cả chống lại họ, hoặc nếu không, viết khác họ.

Mà kể cũng lạ. Trong giới cầm bút nổi danh trước năm 1975 sau này sống ở hải ngoại hầu như chỉ với Võ Phiến là tôi xem như một ông bác. Với những người khác, ngay cả với Mai Thảo, chỉ nhỏ hơn Võ Phiến một tuổi, tôi chỉ xem như là anh. Nói chuyện với Mai Thảo, theo đề nghị của chính ông, tôi gọi bằng “anh” và xưng “em”. Không những vậy, có lúc tôi còn xem ông như một đứa em nữa là khác. Đó là những lần, lúc tôi còn ở Paris, ông bay từ California sang chơi. Sau khi ăn uống hay đi dạo phố, đưa ông xuống trạm xe điện ngầm để về nhà Trần Thanh Hiệp, nơi ông ở trọ, sau khi dặn dò đường đi nước bước, rồi nhìn cái ánh mắt lúc nào cũng mơ mơ màng màng, cái dáng người cao lêu khêu và cái bước chân hơi xiêu xiêu của ông, tự dưng tôi thấy bất an. Sợ ông đi lạc. Sợ ông băng qua đường ẩu, xe đụng. Sợ vu vơ đủ thứ. Như sợ cho một đứa em ngơ ngác giữa phố lạ. Những lúc ấy, tôi quên bẵng là ông đã từng qua Paris nhiều lần và rất giỏi tiếng Pháp. Với Võ Phiến, chưa bao giờ tôi có cảm giác ấy. Nhìn ông và nói chuyện với ông, tôi có cảm giác như đang đối diện với một ông lão mới từ quê lên. Từ dáng dấp đến vẻ mặt, có vẻ gì hơi hơi thật thà, hơi hơi quê mùa, nhưng đôi mắt của ông thì khác: Lúc nào cũng tinh anh, cũng nhanh nhẹn, toát lên vẻ gì vững vàng, có thể đương đầu với mọi tình huống và mọi bất trắc.

Chuyến đi Mỹ thứ hai của tôi là vào cuối năm 2007. Tôi đi với Hoàng Ngọc-Tuấn và Võ Quốc Linh. Ông bà Võ Phiến khăng khăng mời tôi về nhà ở. Từ chối mấy cũng không được, tôi bèn giao hẹn: Chỉ ở hai ngày đầu, sau đó, sẽ ra ở khách sạn với bạn bè để được tự do và thoải mái, có thể đi sớm về khuya bất cứ lúc nào cũng được, không áy náy về việc gây phiền hà cho người khác. Ông bà đồng ý. Khi chúng tôi đến, ông bà rất mừng rỡ, nói chuyện huyên thuyên, sau, dẫn chúng tôi lên lầu và chỉ phòng: “Phòng này là của anh Hoàng Ngọc-Tuấn; còn phòng này là của anh Nguyễn Hưng Quốc.” Trong lúc chúng tôi dọn dẹp đồ đạc và thay quần áo sau chuyến bay dài dằng dặc mười mấy tiếng đồng hồ từ Úc sang, hai ông bà xuống tầng dưới ngồi uống trà chờ. Khoảng 15 phút sau, khi tôi từ trên lầu bước xuống, Võ Phiến đang ngồi trên chiếc ghế mây ở phòng khách, đứng bật dậy, nhào đến cầm tay tôi lắc lắc, mừng rỡ: “Anh Quốc, anh mới ở Úc qua hả? Trời ơi, lâu quá!” Tôi hơi giật mình, nhưng vội giữ vẻ bình thản, đáp: “Vâng, cháu mới qua. Bác khỏe không?” Suốt ngày hôm ấy cũng như ngày hôm sau, cứ mỗi lần tôi đi ra ngoài chơi, trở về nhà, ông cũng đều chào đón một cách rất niềm nở ngay từ cửa: “Anh Quốc, anh mới ở Úc qua hả?” Lúc ấy, lần đầu tiên tôi nhận ra chứng bệnh của ông: bệnh mất trí nhớ (Alzheimer’s). Có lẽ chỉ ở giai đoạn sơ khởi: mất trí nhớ ngắn hạn. Nói chuyện, ông vẫn kể vanh vách các kỷ niệm liên quan đến Chế Lan Viên và Lam Giang lúc ông còn học ở Qui Nhơn, đến Hoài Thanh và Đào Duy Anh lúc ông học ở Huế. Ông nhắc đến thơ Đường, thơ Tống, tranh Tề Bạch Thạch, các trào lưu văn học ở Pháp trong thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20. Chỉ có điều là ông hay lặp lại các câu chuyện ông mới kể. Có lúc, trong một buổi ăn trưa, ông kể chuyện tranh của Tề Bạch Thạch đến hai ba lần. Lần nào cũng say sưa, mạch lạc, rất sinh động và cũng rất sâu sắc.

Sau đó, hầu như năm nào tôi cũng sang California và năm nào cũng ghé thăm Võ Phiến. Thân thể ông vẫn khỏe mạnh, da dẻ ông vẫn hồng hào, nụ cười ông vẫn hiền lành, giọng nói ông vẫn chất phác, nhưng tai ông càng lúc càng nặng và bệnh mất trí nhớ càng lúc càng trầm trọng. Ông ít nói hẳn. Trong các buổi họp mặt hay ăn uống chung, ông chỉ ngồi lặng lẽ cười, lâu lâu cất lên lời than thở: “Tôi lú lẫn rồi anh ơi! Tôi là người bỏ đi rồi!” Vừa nói vừa lắc đầu, đôi mắt ánh lên vẻ buồn rười rượi. Đến thăm, tôi chỉ nói chuyện với bà Võ Phiến là chính; còn ông, sau những cái bắt tay mừng rỡ và nồng ấm, lại ngồi lặng lẽ. Lâu, lâu lắm, mới góp tiếng. Thường là những câu chuyện cũ. Và những lời than vãn. Than không viết được. Rồi than không đọc được.

Giữa năm 2013, tôi sang California và thăm Võ Phiến. Gặp, ông vẫn mừng rỡ cầm tay tôi lắc tới lắc lui. Ông nhận ra tôi nhưng ông không nhớ tên tôi. Chủ yếu tôi chỉ nói chuyện với bà. Chưa bao giờ tôi thấy một người phụ nữ nào yêu chồng và chăm sóc cho chồng một tận tụy, chi li và tỉ mỉ như bà Võ Phiến. Bà lo cho ông từng miếng ăn, từng tách trà, từng viên thuốc. Bà đánh máy từng trang bản thảo viết tay của ông. Bà lo cho danh tiếng và sự nghiệp của ông. Bà quan tâm đến từng lời khen tiếng chê chung quanh. Đọc những bài báo có ác ý về ông, bà tức lồng lộn, vừa kể vừa chì chiết. Còn Võ Phiến thì vẫn ngồi lặng lẽ, miệng vẫn cười hiền lành nhưng ánh mắt thì nhìn vào khoảng không trước mắt, buồn buồn, xa vắng. Lâu lâu ông chép miệng thở dài: “Tôi lú lẫn quá rồi anh ơi!”

Lần ấy, bà Võ Phiến đưa tôi bức thư ông Võ Phiến viết ròng rã trong mấy tháng trước đó nhưng chưa kịp (hoặc quên) gửi. Thư không đề ngày. Toàn bộ nội dung như sau:

Thân gửi anh Nguyễn Hưng Quốc,

Rốt cuộc rồi tôi cũng đi tới một quyết định: Phải viết cho được một lá thư gửi tới một số anh em chí thiết.

Tự dưng hơn nửa năm nay tôi phát lú. Rồi lú nặng. Quên thật mau dĩ vãng của mình. Quên lung tung, thật mau. Từ lâu tôi nặng một tai; năm bảy năm nay chỉ nghe được một tai. Gần đây, tai ấy cũng nghỉ luôn.

Một người ngẩn ngơ, nghe được ít, lấy làm khó chịu mỗi khi gặp có người khác: Tôi trốn lần, trốn lần. Nhà tôi đại diện, bận bịu quá trời.

Điếc, quên – cả cặp ấy xúm nhau biến tôi thành kẻ ngớ ngẩn.

Tôi trốn tiếp xúc với người, lẩn thẩn đọc sách. Đọc mỗi lúc một thêm vất vả: đọc đâu quên đó. Dần dần sách nào cũng hoá khó hiểu. Sợ sách, rồi ngán luôn cả báo.

Tôi thành đứa vất đi rồi anh ơi.

Tôi tìm nguyên do. Nhớ lại mười mấy năm trước, hồi còn ở xóm Glendale bên Los Angeles – xóm nhỏ – đa số là dân da đen. Một hôm, độ bảy tám giờ tối gì đó, tôi đi dạo trước mặt nhà, gặp chỗ vắng, thiếu ánh sáng, thình lình bị một tên da đen đánh mạnh vào mặt. Tôi ngất. Nó lục túi lấy chẳng bao nhiêu (vì mình đi dạo bộ cho tiêu cơm trước mặt nhà). Tỉnh ra, tôi được đưa đi bệnh viện. Rồi yên. Nhưng đầu óc hư hỏng – chắc là từ đó.

Bây giờ càng lúc càng tệ. Trí óc hết xài.

Nhà tôi khổ sở vì tôi, vất vả quá trời.

Tôi năm nay 86 tuổi ta. Già quá rồi. Nay mai, chịu hết thấu, ra đi cũng phải thôi.

Cả tháng nay tôi yên trí là mình đang lủi thủi đi về cõi khác. Định đi êm, không nên kể lể vớ vẩn với ai làm gì. Chuyện xoàng quá. Không đáng trầm trồ.

Nhưng rốt cuộc rồi thấy nên để dăm ba kẻ thân thiết. Chuyện nhảm mà trịnh trọng bảo mật, e kỳ cục.

Thân chúc anh chị và các cháu mọi sự an lành.

Võ Phiến

Đọc, tôi thấy buồn hiu hắt. Có cảm tưởng như nghe một lời trối trăng. Chuyến ấy, tôi ở Nam California chỉ có khoảng hơn một tuần, nhưng tôi vẫn tranh thủ ghé đến thăm ông bà Võ Phiến đến ba lần. Tôi sợ, khi về lại Úc, sẽ không còn cơ hội để gặp ông lần nữa. Lần thăm cuối cùng, ông bà dẫn tôi đi ăn trưa ở một tiệm Mỹ trong cái công viên gần nhà. Suốt bữa ăn, Võ Phiến hỏi tôi mấy câu. Hỏi đi rồi hỏi lại.

“Văn học trong nước hiện nay có gì lạ không, anh?”

Tôi đáp: “Cũng chả có gì lạ bác ạ. Không thấy xuất hiện cây bút nào thật mới và thật hay.”

Ông tặc lưỡi: “Cả nước đến mấy chục triệu người mà không có ai viết hay cả. Lạ nhỉ? Tôi không biết gì cả. Tôi lú lẫn rồi anh ơi!”

Rồi ông ngồi im, nhìn mông vào quãng trống trước mặt. Năm mười phút sau, ông lại hỏi:

“Chế Lan Viên bây giờ ra sao, hả anh?”

Tôi đáp: “Chế Lan Viên mất lâu rồi, bác ạ.”

Ông lại tặc lưỡi: “Vậy hả? Tôi nghiệp quá! Tôi lú lẫn rồi, không nhớ gì nữa cả.” Rồi ông lại hỏi:

“Anh nghĩ ở trong nước bây giờ người ta có đọc tôi không, hả anh?”

Tôi đáp: “Có chứ. Một cuốn sách của bác mới được in lại ở trong nước, được nhiều đọc và nhiều người khen lắm.”

Ông lại tặc lưỡi: “Lạ nhỉ? Không ngờ người ta lại cho in lại sách của tôi.”

Im lặng một lát, ông lại hỏi:

“Anh thấy văn học ở trong nước bây giờ thế nào hả anh?”

Tôi lại đáp: “Không có gì đặc biệt cả, bác ạ.”

Và ông: “Lạ nhỉ. Nước đến mấy chục triệu người mà không ai viết hay. À, mà Chế Lan Viên bây giờ sao, hả anh? Ổng còn viết lách được gì nữa không?”

“Không. Ổng mất năm 1989, hơn 20 năm rồi, bác ạ.”

“Ồ, tội nghiệp quá! Tôi lú lẫn quá, không nhớ gì nữa cả. À, mà bây giờ ở trong nước có ai còn đọc tôi nữa không, anh?”

“Có chứ, bác. Sách bác mới được in lại ở trong nước đó.”

“Lạ nhỉ. Nhưng văn học ở trong nước có gì lạ không, anh?”

Cứ thế, chừng ấy câu hỏi, trong suốt buổi ăn trưa, được ngắt quãng bởi những lúc trầm ngâm im lặng và ngó mông vào khoảng trống. Với mỗi câu hỏi, để trả lời, tôi cứ lặp lại, thật ngắn gọn, nhấn mạnh từng chữ, phát âm thật to để ông có thể nghe được. Bà Võ Phiến nhìn tôi, rươm rướm nước mắt, có lẽ vừa thương chồng vừa áy náy cho tôi. Trên đường về nhà, bà thì thầm với tôi, giọng nghẹn ngào: “Bác thương bác trai quá. Một người thông minh sắc sảo đến như vậy mà bây giờ đâm ra nghễnh ngãng, lẩn thẩn, thật tội nghiệp!” Tôi vừa an ủi bà vừa nghĩ ngợi bâng quơ về các câu hỏi của ông. Chúng tiết lộ những ám ảnh sâu xa không ngừng day dứt trong tiềm thức của ông ngay cả khi ông không còn nhớ gì cả. Ông nhớ những người bạn, những người thầy, những người quen biết cũ. Ông loay hoay muốn biết về tình hình văn học Việt Nam. Ông tò mò về sức sống của những gì ông đã viết. Và ông cũng không ngớt dằn vặt về những cái quên ngớ ngẩn của mình. Nét tâm lý đầu phổ biến đối với mọi người lớn tuổi; hai nét kế tiếp phổ biến trong giới cầm bút; nét thứ tư mang tính đặc thù của Võ Phiến: ý thức tự giác rất cao, lúc nào cũng tự quan sát chính mình như một người ngoại cuộc. Trước, lúc còn khỏe, thói quen tự quan sát ấy biến ông thành một trong vài nhà văn có khả năng phân tích giỏi nhất của Việt Nam thời kỳ 1954-75. Bây giờ, khả năng tự quan sát ấy chỉ làm cho ông bất an. Trước, qua việc tự quan sát, thấy những cái yếu đuối của con người được phản ánh qua tâm hồn của chính mình, ông đâm ra yếm thế và hay châm biếm; bây giờ, thói quen tự quan sát ấy chỉ biến ông thành một người đầy mặc cảm: lúc nào ông cũng sợ lộ vẻ ngớ ngẩn dưới mắt người khác, do đó, ông tránh né đám đông; khi không thể tránh né được, ông chỉ ngồi lặng lẽ tự gặm nhấm những nỗi khổ của một người tự thấy mình đang trôi dần trôi dần vào cái chết.

Võ Phiến không mất trí nhớ hẳn. Thường, ông chông chênh, chòng chành và lãng đãng giữa nhớ và quên. Cái ông hay quên nhất có lẽ là những cái mới. Mới, thoạt đầu, từ câu nói vừa thốt đến công việc vừa làm; sau, dần dần bao gồm cả nhiều năm hoặc có khi nhiều thập niên về trước. Một lần, trong bữa ăn trưa tại nhà ông, nhà văn Ngự Thuyết nghịch, hỏi Võ Phiến tên của những người ngồi cùng bàn. Tên tôi và Hoàng Ngọc-Tuấn: ông không nhớ. Tên của ba người bạn ở ngay tại California và thường xuyên đến thăm ông, Ngự Thuyết, Trúc Chi và Phạm Phú Minh: Ông cũng không nhớ. Ông chỉ nhớ được tên hai người: Đỗ Quý Toàn và Lê Tất Điều, hai người ông quen biết ở Sài Gòn từ trước năm 1975. Cuối năm 2013, tôi gửi tặng ông cuốn Văn học Việt Nam tại Úc: Chính trị và thi pháp của lưu vong mới xuất bản tại Úc qua nhà văn Phạm Phú Minh. Mấy tuần sau, Phạm Phú Minh email cho tôi, kể:

“Quốc thân,

Hôm nay nhân Thành Tôn và ông Văn Nghệ có việc đến nhà ông bà Võ Phiến, anh đã nhờ họ mang cuốn sách của Quốc cho ông bà.

Thành Tôn kể lại, ông Võ Phiến cầm cuốn sách xem rất kỹ rồi hỏi: ông Nguyễn Hưng Quốc này là ai mà in sách đẹp đẽ sang trọng quá thế này? Thành Tôn nói ông ấy dạy đại học bên Úc thì ông Võ Phiến nói: Hèn gì!”

Đọc, tôi không ngạc nhiên, nhưng vẫn buồn. Buồn đến độ mãi đến ngày mồng 8 (tức ngày 7 tháng 2 năm 2014), tôi mới gọi được cho ông để chúc Tết một cách muộn màng. Lạ, lần này, ông lại tỉnh táo một cách lạ thường. Khi bà Võ Phiến chuyển điện thoại và bảo Nguyễn Hưng Quốc gọi, ông rối rít:

  • Anh Quốc hả? Trời ơi, anh ở Úc hay đang ở Mỹ vậy?
  • Dạ, cháu đang ở Úc.
  • Trời ơi, ở xa vậy mà gọi điện thoại, quý quá. Nhưng tốn tiền lắm, anh ơi.
  • Không sao đâu, bác ạ. Bây giờ gọi điện thoại viễn liên rẻ lắm.
  • Tháng 7 này anh có qua Mỹ không?
  • Dạ, không. Tháng 12 cháu mới qua.
  • Ồ, còn cả 10 tháng nữa, không biết tôi có còn hay không. Năm nay tôi đúng 90 rồi, bết bát lắm, anh ơi. Tôi chẳng còn đọc hay viết gì được nữa cả. Hỏng hết rồi.
  • Thôi, cũng đâu cần đâu, bác. Bác đọc và viết cả đời rồi. Bây giờ bác cố nghỉ ngơi để giữ gìn sức khỏe.
  • Anh định sống luôn ở Úc hay có về Việt Nam sống không?
  • Khi nào Việt Nam có tự do, có lẽ cháu về chứ.
  • Tôi thì hết hy vọng rồi. Chỉ có chết ở Mỹ thôi.
  • Cũng chẳng sao, bác ạ. Về bằng tác phẩm được rồi. Gần đây, ở trong nước, người ta bắt đầu in lại sách của bác, tổ chức hội thảo về bác đó. Ai cũng khen cả.
  • Vậy hả, anh? Trời, tôi chẳng biết gì cả. Bây giờ tôi lú lẫn, đọc ít lắm. Những điều anh vừa nói, tôi mới nghe lần đầu. Lạ quá, phải không anh?

Cứ thế, dù giọng ông hơi yếu, nhưng câu chuyện vẫn trôi chảy mạch lạc, không có dấu hiệu gì lẫn cả.

Tháng 12 năm 2014, tôi sang California và ghé thăm ông bà Võ Phiến mấy lần. Chỉ nói chuyện được với bà. Còn ông thì ngồi im lặng ngó lung về phía trước. Không thể đoán được lúc ấy ông đang nhìn gì và nghĩ gì. Chỉ thấy xa vắng và cùng với sự xa vắng, sự mênh mông, ở đó, tôi đoán, ông không thấy ai trước mặt, không thấy khung cửa kính trong suốt, không thấy hàng cây xanh lá đang lao xao với gió, không thấy bầu trời đầy nắng và thưa thớt mây; ông chỉ thấy khoảng trống thăm thẳm, vời vợi, không cùng. Ý tứ, chưa bao giờ tôi hỏi ông có sợ không. Nhưng trong một bức thư nào đó gửi tôi, ông bày tỏ: Không. Ông diễn tả một cách dí dỏm, đại khái, ông Trời tinh tế lắm: Ổng làm cạn kiệt sức sống trước khi lấy hẳn đi sự sống của con người. Sự mệt mỏi khiến người ta bớt sợ. Không sợ nhưng tôi đoán, vẫn lo. Trước cuộc viễn du vào cõi vô tận ấy, tôi nghĩ, ai cũng lo. Người thường lo cho con, cho cháu, cho chắt. Người cầm bút còn thêm một nỗi lo khác: các tác phẩm của mình. Với người cầm bút, bất cứ người cầm bút nào cũng vậy, điều mong muốn đầu tiên bao giờ cũng là được đọc; điều mong muốn lớn nhất và tha thiết là được đọc lại, đọc lại mãi, không phải bởi một người hay một số người mà là bởi nhiều thế hệ, những thế hệ, nói theo Trần Tử Ngang, nhà thơ thời sơ Đường, “lai giả”, những kẻ mình không bao giờ gặp và biết. Khi Nguyễn Du viết “Bất tri tam bách dư niên hậu / Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như?”, thật ra, tự thâm tâm, ông chỉ muốn hỏi: sau này, mấy trăm năm sau, có ai còn đọc Truyện Kiều của ông không? Võ Phiến, với căn bệnh Alzheimer’s quái ác, có thể không nhớ tên bạn bè thân thiết, không nhớ ai còn ai mất, không nhớ những gì ông đã viết và đã xuất bản, không nhớ ngay những gì ông vừa mới nói, vẫn đau đáu một ám ảnh: Có ai còn đọc ông không?

* Blog của Tiến sĩ Nguyễn Hưng Quốc là blog cá nhân. Các bài viết trên blog được đăng tải với sự đồng ý của Ðài VOA nhưng không phản ánh quan điểm hay lập trường của Chính phủ Hoa Kỳ.

VOA tiếng Việt

Posted in Chạy trốn chủ nghĩa Cộng sản, Van Hoc | Leave a Comment »

►Ý nghĩa Ngày 30 tháng Tư

Posted by hoangtran204 trên 15/05/2015

Ý nghĩa Ngày 30 tháng Tư

( Keynote đọc trong Lễ Tưởng Niệm 30/4
tại U.S. Marine Corps Aviation Museum – San Diego, California
ngày April 26, 2015)

* * *

Kính thưa Quí vị & Các bạn:

Hôm nay, chúng ta hội họp ở đây để tưởng nhớ lại ngày chúng ta mất nước – nước Việt Nam Cộng Hòa, cách đây đúng 40 năm.
Hãy nghiệm xét Những gì đã đưa đến ngày 30 tháng Tư năm 1975:

– Cuộc chiến 21 năm (từ 1954 đến 1975) đã gây chết chóc cho cả triệu người trong Nam, trong đó có 250,000 binh sĩ; Nhiều tử binh đã được chôn cất tại nghĩa trang Quân đội Biên Hoà, như được ngóng trông bởi ngôi tượng ‘Tiếc thương’ ngồi ở cổng chinh.

– Nửa triệu lính Mỹ đã chiến đấu sát cách với các binh sĩ Việt Nam Cộng Hòa, ngăn chặn cuộc xâm lăng của CS Bắc Việt. 58,000 binh sĩ Hoa Kỳ đã bỏ mạng tại Việt Nam, tất cả, có tên được khắc trên bức tường đá hoa cương đen ở thủ đô Hoa Thịnh Đốn.

– Theo Hiệp Định Paris ký kết năm 1973, 591 tù binh Mỹ đã được phóng thích khỏi nhà tù Hoả Lò, trong số đó có đại úy phi công hải quân John McCain, sau này trở thành một Thượng nghị sĩ có ảnh hưởng.

Trong khi quân đội Mỹ phải rút ra khỏi Việt Nam, khoảng 300,000 bộ đội Cộng sản Bắc Việt vẫn được nguyên vị trong Nam.

– Quốc hội Mỹ cắt tất cả các ngân khoản quân viện cho Nam Việt Nam. Hết đạn khi phải đối đầu với bộ đội Bắc Việt trong hàng trăm chiếc xe tăng T-54 do Liên Sô cung cấp, quân lực Việt Nam Cộng Hòa buộc phải đầu hàng ngày 30 tháng tư, năm 1975.

Hậu quả của Ngày 30 tháng 4 năm 1975 :

– Đại sứ Mỹ Graham Martin được bốc bởi một chiếc trực thăng của Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ mang mã hiệu ‘Lady Ace 09′, từ nóc sân thượng của sứ quán Hoa Kỳ ở Sài Gòn lúc 04:58 rạng sáng ngày 30 tháng 4 năm 1975, chấm dứt không chỉ kế hoạch di tản, mà còn là 20 năm Hoa Kỳ lâm chiến ở nơi mà Tổng thống Kennedy đã gọi là “Tiền đồn của Thế giới Tự do”.

– Cùng trong ngày hôm đó, 5 tướng, trong đó có 2 là Tư lệnh Quân khu Việt Nam Cộng Hòa đã tuẫn tiết, không đầu hàng quân Cộng sản Bắc Việt.

Tôi nhớ đến một anh bạn ở trường trung học Chu Văn An của tôi: Thiếu tá Hải quân Lê Anh Tuấn, hôm 30 tháng tư năm 1975 là Chỉ huy trưởng một chiến đỉnh tuần tra trên sông Vàm Cỏ; Con tàu đã vớt cả trăm người tị nạn dọc theo hai bờ sông, rồi bị bao vây bởi cộng quân ở cả 4 phía. Quân Việt cộng phóng loa buộc phải đầu hàng ngay lập tức, nếu không họ sẽ cho pháo kích nát tan con tàu với lực lượng áp đảo của họ.
Chỉ huy trưởng Tuấn trả lời: “Yêu cầu cho tất cả những người dân tị nạn trên tàu được lên bờ, và giải tán an toàn, rồi tôi sẽ đầu hàng!” Việt cộng đồng ý.
Sau khi tất cả những người tị nạn lên bờ & đi khỏi, khi Việt cộng lên tàu, họ phát hiện Thiếu tá Tuấn ngồi trong ghế chỉ huy của mình, đã tuẫn tiết bằng súng lục.

Có anh là Trung tướng Thủy quân Lục chiến Lê Nguyên Khang, Thiếu tá Lê Anh Tuấn lúc đó 32 tuổi, một ‘con mọt sách’, đang học thêm cử nhân luật, và chưa lập gia đình.

Giống như 5 vị tướng vừa nói ở trên, Thiếu tá / Chỉ huy Trưởng Lê Anh Tuấn, cho đến hơi thở cuối cùng, đã thể hiện đúng phương châm ‘Tổ Quốc, Danh Dự & Trách Nhiệm’ của Quân lực Việt Nam Cộng Hòa.

– Hơn 1 triệu quân, cán & chính của Việt Nam Cộng Hòa đã bị cầm tù từ 3 đến 17 năm, trong hàng trăm cái gọi là ‘trại cải tạo’ thiết lập trên cả nước. 165,000 tù nhân đã bị sát hại trong các trại tập trung này.

– Hơn 2 triệu thuyền nhân chạy trốn chế độ cộng sản trên những con thuyền ọp ẹp ra biển lớn; Ít nhất nửa triệu thuyền nhân đă chẳng bao giờ đến được bến bờ nào.

– Năm 1975, kinh tế Nam Việt Nam ngang ngửa với kinh tế Nam Hàn. 40 năm nay, Việt Nam không có chiến tranh, dưới sự kiểm soát toàn vẹn & chặt chẽ của một chế độ độc tài, tổng sản lượng quốc gia Việt Nam với 90 triệu người là 320 tỷ Mỹ kim, bằng của 5.4 triệu người dân Singapore. Lợi tức bình quân đầu người của Việt Nam chỉ bằng 1/26 của dân Singapore.

Là quốc gia đông dân thứ 14 trên thế giới, Việt Nam đã chẳng có một thành tựu đáng lưu ý nào cho thế giới – một bằng sáng chế, một sản phẩm, hay một công ty, một tác phẩm văn học, nghệ thuật, hay thắng được một giải thể thao nào.

Mới đây, khi hãng điện tử Samsung mở một nhà máy lắp ráp điện thoại thông mình tại Việt Nam, giám đốc xí nghiệp Nam Hàn hỏi thẩm quyền Việt Nam, “Quí vị có thể cung cấp một số con vít cho phần cứng của điện thoại không?”, thì đã được trả lời thẳng thừng là: “Không! Chúng tôi không có làm bất kỳ một con vít nào … !”

Lệ thuộc trầm trọng vào Trung công không những về kinh tế, mà còn về chính trị, Việt Nam chắc sẽ trở nên chẳng có gì đáng kể đối với thế giới, hay thành một quận lị của Trung cộng.

30 tháng 4 năm 1975 đã đưa đến những kết quả gì ?

– Bắt đầu với 130.000 người tị nạn Việt Nam được nhận vào Mỹ nhờ một đạo luật di trú cấp kỳ của Quốc hội Mỹ, tiếp theo là một số các đạo luật khác, kể cả các sắc lệnh của tổng thống Hoa Kỳ, đã nâng tổng số người Mỹ gốc Việt lên 1.8 triệu người.

– Hiện có 3 triệu người gốc Việt sinh sống trên 80 quốc gia không cộng sản.

– Bắt đầu từ 17 năm sau ngày 30 tháng Tư năm 1975, hàng chục ngàn cựu tù nhân trong các trại tập trung của cộng sản, được phép đưa cả gia đình 350,000 người di dân qua Hoa Kỳ theo một sắp xếp đặc biệt giữa Bộ Ngoại Giao Mỹ và CS Hà Nội. Sự kiện này cần phải được ghi nhận như là một hành động có một không hai, thể hiện nghĩa vụ/tình đồng mình của Hoa Kỳ sau cuộc chiến Việt Nam.

– Sau 40 năm, có người Mỹ gốc Việt nào đáng kể không ?

. Dân biểu Joseph Cao Quang Ánh, người Mỹ gốc Việt đầu tiên tại Quốc hội Mỹ – trong nhiệm kỳ trước;

. Chuẩn tướng Bộ binh Hoa Kỳ, ông Lương Xuân Việt, hành quân trong chiến trường A-Phú-Hãn;

. Bác sĩ Hải quân Mỹ, đại tá Trịnh Hưng;

. Khoa học gia Hải quân Mỹ, bà Dương Nguyệt Ánh, chế ra bom thermobaric đã đang được sự dụng công hiệu trong cuộc chiến chống khủng bố ở Afghanistan.

Kể từ tháng 11, năm 2014, thị trưởng dân cử 2 thành phố Westminster và Garden Grove ở Orange County, đều là người Mỹ gốc Việt.

Giám sát viên Mỹ gốc Việt đầu tiên trong Hội đồng Giám sát Quận Cam, sau 2 nhiệm kỳ, đã được thay thế trong cuộc bầu cử tháng 11, năm 2014, bởi 1 người Mỹ gốc Việt khác.

Thượng nghị sĩ Mỹ gốc Việt đầu tiên mới đắc cử vào Thượng viên tiểu bang California đã đề xướng 2 dự luật đáng để ý: Dự luật thứ nhất, hệ thống University of California không được gia tăng học phí trong 5 năm tới; và Dự luật thứ hai – đã được Thượng viện California thông qua nhanh chóng – đặt tên tháng 4, năm 2015, là ‘Tháng Tư Đen’.

Ở các quốc gia dẫn đầu khác trên thế giới, khả năng của người Việt lưu vong cũng được công khai tín nhiệm:

– Ông Philipp Rösler, một chính trị gia người Việt – vốn là một cô nhi
được một gia đình Đức nhận làm con nuôi năm 1975 – một hai năm trước đây, đã là Phó thủ tướng đầu tiên người Đức gốc Á, trong nội các Đức quốc,

– Ông Ngô Thanh Hải là Thượng nghị sĩ Gia Nã Đại gốc Việt đầu tiên,
trong Thượng viện Gia Nã Đại.

– Ông Lê Văn Hiếu là Thống đốc gốc Á đầu tiên của Nam Úc trong lịch sử
nước Úc.

Trong lễ Tưởng Niệm này, người Mỹ gốc Việt chúng tôi muốn nói với nửa triệu binh sĩ Mỹ, những người đã chiến đấu anh dũng trong cuộc chiến ở Việt Nam, và nhất là thân nhân của 58,000 người Mỹ đã hy sinh trong cuộc chiến rằng: Sự hy sinh của những người thân yêu của quị vị sẽ mãi mãi được ghi nhớ, vì nhờ những hy sinh to lớn đó, 18 triệu dân chúng miền Nam Việt Nam đã được nếm mùi vị của cuộc sống tự do trong suốt 20 năm – từ 1955 đến 1975.

Dân chúng Nam Việt Nam không phải là những người độc nhất được hưởng phúc lợi nhờ sự có mặt của Hoa Kỳ ở Việt Nam. Thủ tướng Singapore Lý Quang Diệu trong hồi ký của mình, đã ghi nhận kinh tế nhiều nước ở châu Á – trong đó có Singapore – đã được phát triển khả quan là nhờ sự có mặt của Hoa Kỳ ở Việt Nam, “Nếu không có sự can thiệp của Mỹ tại Việt Nam, ý chí của các nước này để chống lại hiệu ứng Domino lan rộng xâm chiếm của Cộng sản sẽ tan chảy, và hầu hết các quốc gia Đông Nam Á nay chắc đã bị cộng sản hóa … ”

Như vậy, Thông điệp của Lễ Tưởng Niệm 30/4 hôm nay là gì ?

1. Để ghi nhớ ngày cả nước Việt Nam đã bị Cộng sản Việt Nam thôn tính,
nô lệ hoá 90 triệu người dân;

2. Để một lần nữa, ghi nhận và tôn vinh sự hy sinh to lớn của 250,000 binh
sĩ Quân lực Việt Nam Cộng Hoà, 58,000 binh sĩ Mỹ, và binh sĩ các quốc gia đồng minh đã chết trong trận chiến bảo vệ tự do cho miền Nam Việt Nam;

3. Để ghi nhớ 165,000 tù nhân đã bị sát hại trong các trại tập trung của
cộng sản, và cả nửa triệu thuyền nhân đã thiệt mạng trên đường đi tìm tự do; và

4. Để nhắc nhở chính mình, cũng như huy động con cháu của chúng ta,
và đồng hương tiếp tục nỗ lực đấu tranh để loại bỏ chế độ cộng sản độc tài, vãn hồi tự do & dân chủ cho Việt Nam, và ngăn chặn sự xâm lấn thô bạo của Trung cộng.

Lễ Tưởng Niệm hôm nay đã không có thể thực hiện được nếu không có sự hỗ trợ tận tình của các nhân viên Viện Bảo Tàng. Thay mặt Nhóm Đặc Nhiệm 30/4 năm 2015, tôi xin được đặc biệt cám ơn:
– Trung tá Ed Downum,
– Đại tá Kenneth Tollefson, và
– Thiếu Tướng Bobby Butcher, Chủ tịch Hội đồng quản trị của Viện Bảo Tàng. Tưởng cũng cần nói thêm: Là một phi công Thủy quân Lục chiến, Tướng Butcher đã bay 240 phi vụ chiến đấu ở Chu Lai và Đà Nẵng vào những năm 1967, 1970 & 1971.

Tôi cũng xin cám ơn tất cả Quí vị & Các bạn, đã lắng nghe.

Nguyên Giao
Ông Giao đã được bốc từ Defense Attache Office ở Sài Gòn khoảng 14 giờ trước ông Đại sứ Graham Martin – cả hai đều bởi trực thăng Sea Knight của Thủy quân Lục chiến Mỹ – để bắt đầu ty nạn tại Tent City ở Camp Pendleton, California. Ông Giao hiện là một khoa học gia dân sự của Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ.

Ý nghĩa Ngày 30 tháng Tư -Nguyên bản Anh ngữ,

Posted in Chạy trốn chủ nghĩa Cộng sản, Chien Tranh Viet Nam | Leave a Comment »

►30/04: Ân hận một thời Trường Sơn

Posted by hoangtran204 trên 25/04/2015

30/04: Ân hận một thời Trường Sơn

Nhà văn Bùi Ngọc Tấn

Tới nay, sau 40 năm, vẫn còn không ít người Việt Nam, cả ở hải ngoại, dân HO nữa, khi nhắc lại một cái mốc thời gian, không thấy ngại dùng tiếng ” giải phóng ” hay gọi nhà cầm quyền cộng sản ở Việt Nam là  “cách mạng” . Thậm chí có khi tự nhận mình là “ngụy” không hề mặc cảm. Thế mới thấy tác dụng ghê gớm của sức mạnh ngôn ngữ và ảnh hưởng của tuyên truyền chánh trị.

Nhưng “giải phớng” và ” cách mạng”, chỉ ít lâu sau ngày 30/04, bị ngay thực tế xã hội định nghĩa lại chính xác, đúng nghĩa thật của nó.

Hơn ai hết, chính lớp tuổi trẻ ở Miền Bắc bị đảng cộng sản lùa vượt Trường Sơn vào Nam làm chiến tranh giải phóng định nghĩa lại “giải phóng” và “cách mạng” bằng thực tề cuộc sống của bản thân mình sau ngày 30/04. Chị Trung Sĩ, tựa và nhơn vật trong truyện ngắn của nhà văn Bùi Ngọc Tấn là điển hình để phơi bày bản chất cộng sản khi nắm quyền.

Vài hàng về nhà văn Bùi Ngọc Tấn

Cỏ May viết vài hàng về tác giả truyện Trung Sĩ để tưởng niệm nhà văn mới qua đời ngày 18/12/2014, sau những năm tháng chống chọi với bệnh ung thư  đã ghé qua thăm thành phố nhỏ Roissy en Brie ở ngoại ô Paris cùng với bà Hoàng Minh Chính nhân chuyến hai người đi một vòng ngắn Âu châu, trước khi Ông Hoàng Minh Chính đi qua Mỹ chữa bịnh.

Hôm ấy, Bùi Ngọc Tấn ít nói. Người rất khiêm tốn và dễ gây thiện cảm.

Ông vào làng báo khi theo đội Thanh niên Xung phong tiếp quản Hà Nội tháng 10/0954 với vai trò phóng viên cho tờ Tiền Phong. Ông viết văn dưới tên khác để tránh cái lệnh cấm nhà báo không được viết truyện.

Cái dễ thương ở ông là viết, muốn được viết phải né tránh nhưng vẫn giữ khoảng cách với hàng ngũ “nhà văn cung đình”.

Ông xin chuyển về quê quán Hải phòng, với “ước mong thâm nhập công nông để viết được tác phẩm của đời mình”.

Tháng 11/1968, Bùi Ngọc Tấn bị ở tù về tội “tuyên truyền phản cách mạng” trong vụ án “nhóm xét lại chống đảng, làm tay sai cho nước ngoài”. Và tác phẩm dự định viết chưa viết được. Bùi Ngọc Tấn chưa bao giờ là đảng viên đảng cộng sản ở Hà Nội. Ông cũng chưa hề biết cái tội mà ông bị tù.

Đến khi Hiệp định Paris kết thúc chiến tranh ở Việt Nam ký kết, ông được nhà cầm quyền ở Hà Nội trả tự do. Nhưng ra tù, ông lại rùng mình ghê sợ hơn lúc ở tù:

“Ông làm nghề bốc vác, kéo xe bò để sống qua ngày . …Ông phát hiện một điều: tất cả những người trên đường không một ai cười. Giống nhau . Xam xám . Đăm chìêu. Đồng phục quần áo. Đồng phục mặt người ….

Các ông ấy bần cùng hóa nhân dân ghê quá” . Người bạn của ông bảo “Cuộc sống này gần với cuộc sống loài vật . Đâu phải cuộc sống con người”.

Bùi Ngọc Tấn vất vả tận cùng để kiếm cơm áo nhưng không khổ bằng bị công an theo dõi, cách ly, dọa nạt, tra hỏi dưới nhiều hình thức mọi lúc khi cần, làm cho ông bị ám ảnh như có một người vô hình bám sát ông, cả khi ngủ.

Năm 2012, tại Paris, truyện “Biển và Chim bói cá” của Bùi Ngọc Tấn được Festival Livre et Mer phát giải thưởng. Nhân dịp này, Ông François Bourgeon, kịch sĩ và nhà văn, người sáng lập giải thưởng, nói về Bùi Ngọc Tấn:
“ Từ khi lập ra giải thưởng này, tác phẩm của Bùi Ngọc Tấn đã làm chúng tôi thỏa mãn . Tác giả là người Việt nam . Ông tặng cho chúng ta một tác phẩm nhân văn …Bùi Ngọc Tấn biết cái giá của tự do …” (Bùi Ngọc Tấn, Hậu Chuyện Kể Năm 2000 , NXB Tiếng Quê Hương , Virginia , USA 2004) .

Trung Sĩ Lan Anh

Trong truyện này, Bùi Ngọc Tấn viết về cuộc đời của Trung Sĩ Lan Anh, một phụ nữ trẻ đẹp ở Hà Nội, theo lệnh đảng cộng sản, vượt Trường Sơn vào Miền Nam làm chiến tranh cách mạng để giải phóng đồng bào Miền Nam thoát khỏi Mỹ Ngụy kìm kẹp, không đủ cơm ăn, áo mặc . Sau ngày 30/04, hết chiến tranh, đất nước thống nhứt dưới chế độ xã hội chủ nghĩa, Lan Anh tìm được việc làm “ bốc dỡ cá” . Vìệc làm vất vả vì phải làm việc trong hầm lạnh và nặng nhọc. Nhưng có việc làm vẫn hơn thất nghiệp như bao nhiêu người khác.

Làm việc được hơn bảy năm, cơ sở đánh cá dẹp tiệm vì tàu hư, biển hết cá. Cơ quan giải tán. Mọi người từ sếp tới công nhân đều được vứt hết ra vỉa hè, tự do đi tìm việc làm khác.

Lan Anh tìm được vìệc làm trong một nhà hàng ăn sang trọng. Làm tiếp viên (làm điếm trá hình).

Một hôm, Lan Anh gặp lại người bạn thân củ lúc ở Trường Sơn. Anh này làm tài xế đưa sếp và khách của sếp tới đây để đãi đằng theo tập quán làm ăn kinh doanh của thời mở cửa. Hai người bạn cũ xa cách nhau lâu ngày, nay tình cờ gặp lại nên mừng rỡ vô cùng. Lan Anh tự nhiên nắm tay người bạn. Và cũng một phần do phản ứng tự nhiên của nghề nghiệp khi tiếp khách. Nhưng, Lan Anh vội buông tay bạn ra, thụt lùi lại và biến mất khi bạn kêu “Trung Sĩ”, tên gọi thân mật lúc ở Trường Sơn và cũng là cấp bực trong quân đội nhân dân của Lan Anh.

Vài phút sau, Lan Anh trở ra với áo đầm mỏng, không tay, tiến tới người bạn cũ:
“Khi nảy, anh gọi em Trung Sĩ làm cho em xấu hổ quá. Em phải đi thay đồ, bỏ chiếc quần bò đi để trông cho hết ngố”.

Từ lâu lắm rồi, không có ai gọi Lan Anh theo cấp bực trong quân đội. Nay bạn cũ gọi làm cho nàng giựt mình, nghĩ cách ăn mặc giống như bộ đội cách mạng của mình trước đây là ngố, là nhà quê thô kệch. Xấu hổ lắm.

Cũng chính anh bạn này, ngày Sài gòn được “giải phóng”, đã chở Lan Anh và các cô bạn của Lan Anh từ Trường Sơn ra trên một đoạn đường dài ra quốc lộ.

Ngồi trên xe, mọi người trố mặt nhìn nhà cửa, xe cộ ngược xuôi, …Các cô y tá, hộ lý ấy như bay lên. Không phải họ đang ngồi trên xe nữa, mà bay lên tận trời xanh kia kìa. Ai mà không thấy ngay trước mắt mình, cả một thiên đàng đang mở cửa đón chào.

Các cô xúm lại, ùa vào một “cửa hàng mỹ phẩm”, thật ra chỉ là một quán tạp hóa bên đường, bày bán đủ thứ từ bánh kẹo, quần áo may sẵn, ít son phấn, nước hoa rẻ tiền, xà bông thơm của Mỹ như Cadum, Camay, Dove, quần áo lót phụ nữ, … Mắt các cô sáng lên. Lần đầu tiên từ ngày rời Hà Nội, nay mọi người mới trông thấy những thứ lộng lẫy, sang trọng đó. Trước đây, những thứ này, trong mơ, cũng không thể hình dung ra được nữa.

Giờ đây, các cô có ai còn đủ can đảm, còn đủ phẩm chất cách mạng để nhớ lại những ngày ở Trường Sơn, săn sóc thương binh, chôn cất bao nhiêu đồng chí hi sinh cho chiến tranh giải phóng đồng bào Miền Nam?

Làm nghề hoàn toàn lương thiện, trong sạch

Lan Anh làm tiếp viên trong một nhà hàng sang. Cùng với một nhóm trẻ mười tám hai mươi. Lan Anh lớn tuổi, đáng má của nhóm đồng nghiệp nhưng cô nàng vẫn kiếm tiền được. Ngoài khách hàng là cán bộ cao cấp nhiều tiền tới chọn tìếp viên trẻ, còn có ít khách hàng lớn tuổi. Những người này chọn Lan Anh vì các cô trẻ đáng tuổi cháu, có gọi “ anh ” ngọt xớt, có âu yếm, cũng chỉ gượng ép, không thể tự nhiên được. Vả lại, tuổi ngoài bốn mươi nhưng Lan Anh còn giữ được gương mặt dễ coi và thân mình khá quyến rũ. Cô vẫn thường ân hận phải chi còn được cái tuổi hai mươi như lúc ở Trường Sơn!

Biết người bạn cũ nghĩ xa xôi về mình, Lan Anh nắm tay bạn và nói, giọng chắc nịch:

“Anh muốn nghĩ về em thế nào thì nghĩ . Em không làm việc gì xấu . Em không ăn cắp, không tham nhũng, không lấy tiền của nhân dân về xây biệt thự . Em chỉ đem bản thân của em ra kiếm sống. Nếu em chết đi ở Trường Sơn như bao nhiêu người khác thì cũng chẳng còn cái thân này để nay đem ra bán kiếm sống và nuôi con ăn học …” .

Như nhau cả

Lan Anh hỏi người bạn tuần tới có đi về Hà nội không để xin quá giang cùng xe . Anh bạn của Lan Anh cho biết có đi, chở ông Giám đốc đi Hà Nội nhưng ông này rất kỵ xe chở phụ nữ và ông đi cùng xe với phụ nữ . Lan Anh không tin có người làm Giám đốc mà lại như vậy. Bạn của cô phải giải thích thêm. Ông này người gầy gò, khắc khổ. Nói sa sả. Mắng chửi cán bộ vuốt mặt không kịp. Không bia rượu, không thuốc lá, không nhà hàng. Nhứt là không gái, không biết tiếp viên là gì. Tiếp khách, là chỉ cử sếp phó đi. Lúc nào cũng nói đến công việc, nói đến xí nghiệp. Bạn của Lan Anh cố giải thích để Lan Anh hiểu mà đừng nài nỉ xin đi theo xe về Hà Nội. Nhưng Lan Anh, với kinh nghiệm sống dày dặn, không nghe và còn lớn tiếng trả lời:
“Chúng nó như nhau cả . Như nhau …. . Những thứ bề ngoài như vậy mới là cực gian, cực ác!” .

Lan Anh nói với bạn là cô ta ly dị vì chồng nghiện ngập, …Nhưng thật ra, Lan Anh đã thôi chồng vì chọn nghề này mà chồng không đồng ý.

Sau khi xí nghiệp cá dẹp tiệm vì biển hết cá, Lan Anh phải xoay sở nuôi gia đình 4 miệng ăn, con trai đi học khá tốn kém.

Với người mẹ, đứa con là tài sản vô giá. Không có thứ gì có giá trị vượt qua đứa con được. Lan Anh làm tiếp viên nuôi bà mẹ già, đứa con trai đi học. Ai bảo là xấu?
Lan Anh là tiếp viên, xã hội thừa nhận. Nhưng những cán bộ đảng viên không phải là thứ “tiếp viên” theo một ý nghĩa nào đó  sao?

Người đọc truyện Trung Sĩ của Bùi Ngọc Tấn (Truyện ngắn, NXB Hải Phòng 2003,  các trang 227-246), ai có thể không suy nghĩ thêm lời nhận xét: “Trong mỗi chúng ta ít nhiều đều mang chất tiếp viên”.

Chúng ta ở đây, tức cán bộ và đảng viên ở Vìệt Nam, những người làm cách mạng giải phóng thân phận con người thoát khỏi đời sống bị giai cấp cường hào ác bá, tư sản bóc lột, có thừa tiền cần hưởng thụ, đều mang ít nhiều chất “tiếp viên”?

© Nguyễn thị Cỏ May

© Đàn Chim Việt

Tác giả: 

http://www.danchimviet.info/archives/author/nguyenthicomayhvcblnkwpwad-nmlmwa7r8l5snafq2shqvh5

Posted in Cái giá của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc”., Chạy trốn chủ nghĩa Cộng sản, Chien Tranh Viet Nam, Miền Nam sau 30-4-1975 | Leave a Comment »

►Cuộc Đào Thoát Ly Kỳ Của Một Tù Nhân Trốn Trại qua Kampuchia

Posted by hoangtran204 trên 24/04/2015

Alan Phan

Cuộc Đào Thoát Ly Kỳ Của Một Tù Nhân

Trốn Trại qua Kampuchia

Tác giả: Nguyễn Ngọc Thạch (Khóa 20 Võ Bị Đà Lạt)   – Nguyễn Hiệp gởi – 20 April 2015

Sau khi ở tù cải tạo đuợc 5 năm, khi tôi đang ở trại Suối Máu Biên Hòa, thì có một số tù đuợc đua lên trại Tống Lê Chân gần An Lộc Bình Long. Tôi mừng thầm là nếu đưa tôi lên Tống Lê Chân thì tôi có rất nhiều hy vọng để trốn trại, vì tôi biết rất rõ vùng đất này.

Đơn vị đầu tiên khi tôi mới ra truờng là Đại đội 11 thuộc Tiểu đoàn 3, Trung đoàn 9, Sư đoàn 5 Bộ Binh đóng gần sân bay An Lộc Bình Long.Và trong suốt thời gian phục vụ từ cấp Trung đội lên đến cấp Trung đoàn tôi vẫn ở trong vùng rừng xanh đất đỏ này.

Giữa tháng 5 năm 1980, họ chuyển tôi từ trại Suối Máu Biên Hòa lên trại Tống Lê Chân. Đây là một trại tù ở giữa rừng, gồm các dãy nhà tranh với mấy lớp hàng rào kẻm gai bên ngoài và một lớp hàng rào tre bao bọc bên trong che kín, không nhìn thấy đuợc bên ngoài. Ở bốn góc và ngay cổng ra vào là các chòi canh đuợc trí súng đại liên. Sau khi lên đến trại Tống Lê Chân, chúng tôi liền nghiên cứu ngay kế hoạch để trốn, vì phải trốn càng sớm càng tốt.

Khi ở trại Suối Máu Biên Hòa tôi có luợm được một cục nam châm hình trụ to bằng đầu ngón tay. Theo nguyên tắc của địa bàn thì khi một thanh nam châm đuợc treo trên sợi chỉ, đuợc quay tự do thì một đầu luôn luôn chỉ về huớng Bắc, còn đầu kia là huớng Nam. Vì hai đầu giống nhau nên tôi phải dùng dầu hắc nhựa đuờng để làm dấu đầu huớng Bắc.

Trong thời gian ở tù chung nhau qua các trại, tôi có quen thân và hay tâm sự với Thu, một nguời cùng thuộc Sư đoàn 5 Bộ Binh truớc đây và có cùng chung một quyết tâm là sẽ cùng nhau trốn trại khi có dịp.

Thu cũng cho biết là có thêm một nguời bạn nữa cũng muốn nhập bọn đó là Bình. Bình là một nguời rất tháo vát, lanh lợi và đã từng đổ đầu khóa học “Rừng Núi Sình Lầy” ở trường Biệt Động Quân Dục Mỹ, Nha Trang. Bình đã làm đuợc một cái kềm để cắt kẻm gai. Kềm này làm bằng hai quai xách của cuộn kẻm gai concertina, hai quai xách này bằng thép rất cứng. Khi một đầu đuợc đập dẹp, mủi mài nhọn và đục lổ, thì trông giống nhu luởi dao. Nhưng khi hai cái luởi dao ghép chập vào nhau và dùng một cây đinh làm trục xỏ xuyên qua hai lổ, thì biến thành một cái kềm để cắt kẽm gai.
Để chuẩn bị cho việc trốn trại, mỗi nguời may một túi vải nhỏ bằng loại vải ngụy trang để đựng đồ mang theo như lon guigoz, mì gói, gạo muối v.v…

Mỗi nguời mang theo một bộ đồ thật tốt, quần tây áo sơ mi bỏ trong bọc nylon thật kín cho khỏi uớt, để bên trong áo truớc ngực, mặc đồ trận áo lính cũ bên ngoài. Ngoài ra tôi còn may thêm một cái túi vải nhỏ để cất giữ cái địa bàn, có dây choàng qua cổ để khỏi rớt mất. Mỗi lần đo là tôi rút một sợi chỉ từ lai áo trận và nhờ tôi có làm dấu đầu huớng Bắc bằng dầu hắc nhựa đuờng nên tôi sờ vào là  biết để đi cả ban đêm.

Chúng tôi phải kiểm soát lẫn nhau cho thật kỹ, quần áo mặc, túi vải, đồ đạc mang theo tất cả đều phải đuợc ngụy trang cho tiệp với màu cây lá trong rừng và không được gây ra tiếng động chạm nào.

Ngoài ra chúng tôi còn sắp đặt những gì sẽ bỏ lại, thật ít đồ bỏ lại, cố ý ngụy tạo như là có ý định sẽ đi xa, tức là sẽ đi về huớng Bắc để qua biên giới Kampuchia.

Buổi chiều hôm đó tôi và Thu cùng ăn chung nhau, đem tất cả những gì ngon đem ra ăn, ngốn cho thật đầy bụng để lấy sức tối đi. Tất cả đồ còn lại đem cho hết hoặc chôn dấu. Thu đem cả túi balô quần áo cho bạn bè. Tôi có cho một nguời bạn cùng khóa là Lương Văn Thìn mấy gói mì, mà bạn tôi không hiểu tại sao, tuyệt nhiên tôi không có đá động gì tới chuyện trốn trại.

Suốt trong ba tuần lể liền, Thu đã phải theo dỏi thật kỹ các toán tuần tra canh gác, giờ nào đi tuần, giờ nào đổi gác v.v…Sau cùng chúng tôi đã đi đến quyết định giờ xuất phát là 9 giờ tối, khi máy phát điện vừa tắt thì bắt đầu chui ra.

Ở đây mỗi tối có máy phát điện cho công an coi truyền hình, đến 9 giờ thì tắt.

Sau đó họ về sửa soạn độ 15 phút sau là bắt đầu đi tuần. Và theo như chúng tôi dự tính là phải mất 10 phút để cắt kẻm gai và 5 phút chót phải bò thật nhanh qua con đuờng tuần tra là khoảng đất trống bên ngoài.

Địa điểm thuận lợi nhứt để chui ra là khoảng giữa hai chòi canh phía sau trại.

Ban đêm họ đứng gác trên chòi canh cao nên không thể thấy rõ ở duới đất đuợc, theo đúng nguyên tắc canh gác ban đêm là phải ở duới thấp. Còn ngày đi thì chúng tôi chọn vào cuối tuần trăng, để khi chui ra thì trời còn tối, đến nửa đem trăng lên dễ thấy đuờng để đi. Chúng tôi chọn đêm 22 ta, âm lịch, vì tin dị đoan sợ đêm 23 ta là không tốt.

Đúng 8 giờ ruởi tối đêm 22 tháng 4 âm lịch tức là ngày 3 tháng 6 năm 1980, chúng tôi bắt đầu theo đúng kế hoạch ra ngồi ngoài cầu tiêu, để chuẩn bị cắt dây lạt của lớp hàng rào tre truớc, để đến đúng 9 giờ khi máy phát điện vừa tắt là chui ngay.

Nhưng không ngờ khi đó chúng tôi thấy ở ngoài suối có ánh đèn của công an đang đi bắt cá ở duới suối, nên chúng tôi phải ngưng lại ngay và trở vô ngủ như thuờng lệ.
Qua đêm hôm sau bắt buộc là phải đi chớ không thể nào chần chờ được nữa, vì sợ nếu để lâu dể bị bại lộ.

Lần này cũng đúng 8 giờ ruởi là ra cầu tiêu, vì cầu tiêu là chổ tốt nhứt để tới sát hàng rào mà không ai để ý.Bình bắt đầu cắt dây lạt của lớp hàng rào tre và cố vạch ra một lỗ để sẳn sàng chui ra. Lớp hàng rào tre này đuợc chôn sâu duới đất và sát khít nhau bằng hai lớp tre đan chéo vào nhau dầy đặc.

Vì vậy rất khó gở ra, phải đào sâu xuống đất mới vạch ra một lỗ vừa chui và phải làm thật chậm thật kỹ vì sợ ở chòi canh nó có thể thấy lúc lắc ở đầu ngọn rao` tre.

Khi máy phát điện vừa tắt bầu trời chụp tối đen là lúc chúng tôi bắt đầu chui, thì bất ngờ có thêm hai nguời đợi chui trốn theo. Thật hết sức bất ngờ và không thể nào từ chối đuợc nên chúng tôi đành phải lo bảo bọc nhau cùng trốn.

Bình chui ra truớc là để cắt kẻm gai rồi đến tôi chui kế, tiếp theo là hai nguời trốn chui theo và Thu là nguời chui sau cùng. Sau khi chui ra khỏi lớp hàng rào tre thì gặp lớp hàng rào kẻm gai thứ nhứt. Nhưng phía duới lớp hàng rào kẻm gai này là rãnh thoát nuớc với đất bùn xình hôi thúi, nên chui lòn qua đuợc mà khỏi phải cắt.

Đến lớp hàng rào kẻm gai thứ hai thì Bình bắt đầu cắt. Hàng rào kẻm gai của VC rào thì họ có quá nhiều kinh nghiệm cho nên họ cho rào rất kỹ.

Họ bắt phải đào một cái rảnh sâu xuống đất rồi mới trồng cột sắt lên và rào kẻm gai ngay từ phía duới rào lên, rồi lấp đất lại, nên không có cách nào vén lên để chui lòn qua đuợc, mà chỉ có cách duy nhứt là phải cắt thì mới chui ra đuợc.

Mà cái kềm cắt kẻm gai của Bình biến chế nên không cắt dễ dàng nhanh chóng đuợc. Khi đang nằm chờ trong đám cỏ tranh giữa mấy lớp hàng rào với quần áo đầy bùn xìn hôi thúi, tôi nhìn lên bầu trời đầy sao, cảm thấy như bình tâm chấp nhận những gì đến sẽ đến, vì không còn cách nào hơn để lựa chọn đuợc nữa.

Bình cắt xong hàng rào này cũng mất 5 phút mới qua đuợc và còn một lớp sau cùng cũng mất 5 phút nữa.

Và cuối cùng chúng tôi chui qua đuợc hết và phải bò thật nhanh, chỉ dùng cùi chỏ và đầu gối bò thật sát mặt đất như bò hỏa lực, vuợt thật nhanh qua khoảng đất trống, rồi truờn mình xuống suối. Lúc đó tôi có cảm giác như tim tôi đập quá mạnh như muốn vỡ lồng ngực. Tiếng thở dồn dập hổn hển mà tôi nghe rất rõ, và gợn lên sóng nuớc khi ngâm mình trong nước để lội qua suối.

Qua bên kia bờ suối chúng tôi phải bám theo rể cây để leo lên vì lòng suối sâu hẩm. Lên khỏi suối là băng mình qua đám rừng tre, rồi băng qua con đuờng mòn. Con đuờng mòn này đi ra chuồng bò nên chúng tôi phải tránh xa nơi đây gấp vì sợ có nguời lui tới.

Bất ngờ Thu bị lọt xuống một hố sâu có lẽ là hố rác, tụi tôi phụ nhau kéo Thu lên. Vừa lên xong là đâm đầu chạy vô phía rừng rậm. Không bao lâu sau, bỗng nghe tiếng súng đại liên từ các chòi canh nỗ ran trời và sau đó là những tiếng quát tháo hò hét của đám công an chạy túa ra về phía chúng tôi, càng lúc nghe càng gần.

Tiếng lên đạn súng AK47 nghe rớp rớp, tiếng hò hét vang động khắp nơi, tiếng chửi rủa hăm dọa “địt mẹ ra đi không tao bắn chết mẹ hết bây giờ”, nghe rất gần ở ngoài con đuờng mòn mà chúng tôi vừa mới chạy qua. Vì vậy chúng tôi hết đuờng chạy, sợ chạy sẽ gây ra tiếng động dễ bị lộ, nên 5 đứa tụi tôi đành phải chui vô một bụi rậm, nằm rút trong đó.

Sau này được biết là sau khi chúng tôi chui ra khỏi hàng rào, thì lại có nguời chui trốn theo, nên bị phát giác bị bắt và bị đánh chết tại hàng rào và họ liền truy đuỗi theo để bắt chúng tôi.

Chúng tôi cố nằm yên không động đậy. Một lúc sau nghe tiếng máy điện chạy trở lại và nghe tiếng lào xào ở trong trại, chắc là VC đang ra lệnh tập hợp điểm danh. Một hồi lâu sau thấy yên tịnh, không hiểu là họ vẫn còn lục soát hay ngồi núp rình đâu đó hay là đã đi chổ khác. Nhưng trong lúc đó chúng tôi quyết định là phải bò đi vì không thể chần chờ ở đây lâu đuợc.

Chúng tôi 5 đứa bắt đầu bò đi thật chậm, hai tay rồi lại hai chân, đưa lên đặt xuống thật nhẹ nhàng, nếu lở có một tiếng động nhỏ như tiếng lá cây kêu sột soạt hay một tiếng cành cây gãy là ngưng lại ngay nghe ngóng rồi mới bò tiếp. Bò đuợc một lúc lâu chừng một tiếng đồng hồ, tôi nghi là chưa đi đuợc bao nhiêu, chân tôi bị đứt ngang ở ống quyển máu ra ướt xuống tới vớ, tôi rờ thấy ướt mới biết, nhưng cũng chẳng thấy đau đớn gì.

Sau đó chúng tôi bắt đầu đứng dậy để đi cho nhanh ra khỏi chổ này, nhưng vẫn đi hết sức thật cẩn thận, buớc đi thật nhẹ nhàng im lặng.

Tôi lấy thẳng huớng Nam mà đi, đi ngược với huớng Bắc là hướng qua biên giới. Chúng tôi giữ đúng hướng, không đi theo đuờng mòn hay chổ trống, bất kể là băng qua các đám ôrô duới suối hay bụi lùm gai góc. Và càng lúc nghe tiếng máy điện ở phía sau lưng càng nhỏ dần.

Khi đó nghe có tiếng xe molotova, loại xe chở quân của VC, chạy đổ ra tứ phía. Chúng tôi phải đi chậm lại, sửa soạn đồ đạc cho thật gọn gàng, tuyệt đối không đuợc gây tiếng động và phải quan sát cho thật kỹ.

Mỗi nguời nhìn một huớng, khi đến chổ trống hay gặp đuờng mòn là dừng lại lủi ngay vô bụi rậm gần nhứt rồi từ từ quan sát sau. Có nhiều lúc gặp VC đang đi bằng xe đạp, chạy ngang qua rất gần mà họ không thấy. Mỗi khi muốn băng qua đường mòn hay trảng trống, chúng tôi dừng lại nghe ngóng quan sát rất kỹ rồi mới chạy nhanh qua từng nguời một. Bỗng đâu có một tốp nguời Thuợng, vợ chồng con cái vừa đi vừa nói chuyện lào xào, nên chúng tôi lủi tránh kịp thời.

Lúc trời sáng hẳn chúng tôi đổi huớng đi về phía Đông tức là huớng ra quốc lộ 13. Đi trong rừng hoang vắng nhưng thỉnh thoảng nghe có tiếng đốn cây chặt củi, chúng tôi phải tránh xa ra.

Đi tới chiều thì gặp con đường lộ đá đỏ, đó là đường vô Minh Thạnh. Chúng tôi chuẫn bị kỹ rồi băng qua đường cho thật nhanh và lủi vô sâu trong rừng một khoảng xa rồi dừng lại nghỉ.

Chúng tôi lựa chổ kín đáo để dừng lại nghỉ, bởi vì từ đêm tới giờ gần một ngày tròn đã đem hết sức lực để cố vuợt thoát xa vùng nguy hiểm, nên bây giờ thấy thấm mệt, nhứt là vấn đề nước uống rất là khan hiếm. Tôi mang theo lon guigoz đựng nuớc uống nhưng đã bị đỗ mất hết vì nắp đậy của lon guigoz không kín chắc, giờ thấy khát rát cổ họng.

May sao Bình tìm đuợc một giếng nuớc bỏ hoang, cỏ mọc um tùm, nhìn xuống giếng tối om không thấy nuớc, nhung khi thòng lon guigoz xuống, múc lên đuợc những lon nuớc thật trong veo, uống thật ngon thật đã, nhờ đó chúng tôi ăn mì gói với nuớc lạnh.

Xong rồi lấy thêm đầy nuớc rồi đi ngay, tiếp tục lấy hướng Đông để ra Quốc lộ 13.
Trời bắt đầu tối, nhưng khi tiếp tục đi thì nghe có nhiều tiếng súng trong rừng, chắc có lẻ là họ đi săn, mà cũng có thể là bọn công an, vì vậy chúng tôi phải dừng lại để tìm cách lẫn tránh.

Chúng tôi ra giữa đám trảng tranh lớn cao quá ngang đầu, vạch đuờng ra ở giữa đám tranh, trải một tấm nylon để nằm nghỉ lưng và canh chừng mọi động tĩnh chung quanh.

Nếu có nguời đi tới thì chúng tôi sẽ thấy dễ dàng để tìm đường lẫn tránh, nhưng nguợc lại họ sẽ không thấy chúng tôi đuợc vì tranh cao quá khỏi đầu.

Khi đó hỏi chuyện nhau mới biết tên hai nguời đi chui theo, đó là Tuờng phi công phản lực A37 và một nguời nữa tên là Thạch, hình như là nguời Việt gốc Hoa, tôi không biết đơn vị, cả hai anh đều mang dép nên rất khó đi.

Sáng sớm hôm sau chúng tôi tiếp tục lên đuờng sau khi xóa mọi dấu vết. Khi đi thỉnh thoảng gặp các bẩy của nguời Thuợng rất là nguy hiểm, như bẩy cò ke, nếu vuớng chân vào thì cần bật sẽ bung lên rất là mạnh, có thể làm bị thương, hay bẩy bắn tên khi đụng vào cần bật thì bao nhiêu mủi tên tẫm thuốc độc sẽ bắn xuống.

Vì vậy khi thấy khả nghi là phải dừng lại xem xét cho thật kỹ rồi tránh xa ra. Chúng tôi rất khát nuớc vì đi cả ngày mồ hôi ra nhiều mà không có miếng nuớc uống nên khát dữ lắm.

Gặp một cây nói là trái gấm, Bình leo lên hái xuống ăn thử, vừa ngứa miệng, vừa khát nước thêm. Có lần gặp được nước đọng trong các lằn bánh xe bò và trên những lá cây khô còn đọng nuớc của những trận mưa truớc, chúng tôi góp nhặt lại hớp những giọt nước đó cho đở khát.

Đến chiều thì trong lúc đang đi bất chợt gặp một em bé trai độ 11, 12 tuổi đang lang thang trong rừng. Chúng tôi giả dạng như là cán bộ đi khảo sát địa chất và hỏi em bé ở đâu có suối, thì em bé đó chỉ về huớng truớc mặt, đi thêm vài chục thuớc là thấy suối, một con suối rất lớn.

Nhìn ở phía xa kia là một khu rừng đã đuợc phát quang và có các cây to bị đốt cháy nám đen, một đám nguời đang cuốc đất làm rẩy, chắc là dân vùng kinh tế mới. Chúng tôi lội xuống suối uống một bụng nước thật no nê. Sau đó chúng tôi tìm chổ bụi lùm kín đáo để nấu cơm, nấu bằng lon guigoz, hai đứa thay phiên nhau quạt để khói đừng bốc lên cao. Chúng tôi ăn bửa cơm này thật là ngon, ăn cơm nóng với bột ngọt trong gói mì.

Sau khi ăn xong, trời đã xế chiều, chúng tôi thấy đoàn nguời làm rẩy đi về nhà đi theo hướng Đông, như vậy là ra Quốc lộ 13, nên chúng tôi đợi cho họ đi hết rồi mới men theo con đuờng mòn đó để đi cho nhanh. Đi độ chừng một tiếng đồng hồ thì ra tới ấp, tôi đoán chừng là vùng Tân Khai hay Tàu Ô, nằm cạnh Quốc lộ 13. Thấp thoáng nhìn từ xa thì thấy có lớp hàng rào tre bao bọc, và hình như có cổng ra vào, giống nhu một trại tập trung, nên chúng tôi không dám đến gần và cũng không muốn vô đó làm gì.

Sau khi trời xụp tối thì chúng tôi tiếp tục đi, chúng tôi dự định đi trong bìa rừng theo đuờng rầy xe lửa Sài Gòn – Lộc Ninh nằm song song với Quốc lộ 13 để đi, dự định sẽ đi qua khỏi quận Chơn Thành, rồi mới ra đuờng đón xe. Riêng hai nguời trốn theo là Tuờng và Thạch thì không dám đi nữa, mà họ có cho địa chỉ nếu ai về đuợc đến Sài Gòn thì nhắn dùm gia đinh họ lên đón.

Chúng tôi ba đứa đi lần mò trong đêm và vì trời tối quá nên không đi đuợc bao xa, mà đành phải dừng lại nghỉ qua đêm. Sáng sớm hôm sau lên đuờng đi tiếp, đi cho đến trưa thì dừng lại nghỉ bên cạnh một cái ao nhỏ xung quanh có cây cối um tùm, dễ ẩn náu để nấu cơm ăn.

Xong rồi lại đi tiếp, đến chiều chạng vạng tối thì đến một cái ấp khác, một xóm nhà lô nhô ngoài gần quốc lộ, chúng tôi ở bìa rừng trốn trong hầm hố cũ đuợc che phủ bỡi những lùm tre rất kín đáo. Buổi chiều dân trong làng đi lao động về, họ đi ngang qua khá gần chổ chúng tôi đang trốn, tiếng chó sủa dữ dội nhưng họ không để ý mà chỉ lo đi cho mau về nhà.

Chiều hôm đó nằm nghe tiếng chó sủa, tiếng trẻ con đùa giởn trên đuờng, nhìn khói lam chiều từ một mái nhà tranh quyện bay lên không trung mà lòng tôi cảm thấy buồn vô hạn. Chạnh lòng nhớ đến vợ con, thầm nghĩ đến một mái ấm gia đình bên vợ hiền con thơ mà tôi uớc mơ đuợc như họ. Được sống đầm ấm trong một căn nhà tranh vách đất ở một miền thôn quê rừng núi nào đó. Nhưng nghĩ lại thân phận tôi là một người tù trốn trại, tương lai rất mờ mịt, không biết ngày mai sẽ ra sao.

Một uớc muốn tầm thuờng, đuợc làm một nguời dân bình thuờng để sống mà lo cho gia đinh nuôi vợ nuôi con cũng không đuợc. Tôi buồn cho thân phận bơ vơ lạc lõng của tôi trong cái xã hội mới này. Hoàn cảnh của tôi thật đúng với câu “nước mất nhà tan, gia đình ly tán”.

Đêm đó chúng tôi khát nước vô cùng, cồn cào lên cổ họng. Bình với ý định lẻn vô nhà dân để xin nuớc uống, nhưng tôi với Thu cản lại, vì bao công trình giờ rủi ro vô gặp phải nhà của công an thì nguy khốn, đành chịu nhịn khát qua đêm. Nhưng không ngờ đến khoảng nửa đêm thì trời đỗ xuống một trận mưa thật lớn. Chúng tôi mừng quá lấy tấm nylon ra căng để hứng nuớc uống. Uống no bụng xong rồi, đỗ đầy vô lon guigoz mà trời vẫn tiếp tục mưa càng lúc càng lớn.

Chúng tôi bị lạnh quá phải ôm lấy nhau trên đầu phủ tấm nylon và mỗi đứa phải lo ôm thật chặt bộ quần áo tốt ở trong bọc nylon, ôm kỹ ở truớc ngực để giử cho khô. Trận mua này thật lớn thật lâu sau cùng rồi cũng dứt hẳn.

Vì không thể đi tiếp trong rừng cho đến quân Chơn Thành, vì đuờng còn xa mà đường rầy xe lửa thì không còn nguyên như truớc nữa, mà chỉ còn là những đám rừng tre che phủ um tùm rất là khó đi, chỉ có thể chui lòn duới đám tre gai, cho nên chúng tôi quyết định là sẽ chia tay nhau ở đây, phân tán ra mỗi nguời tự tìm cách để đi về Sài Gòn rồi sẽ gặp lại nhau sau.

Trời hừng sáng chúng tôi thay bộ đồ thật tốt thật tươm tất, đồ đạc còn lại đem chôn dấu trong bụi, xong chờ cho đến khi nghe có tiếng xe chạy là lần luợt ra đuờng, lựa khoảng trống giửa hai nhà mà ra đón xe.

Bình lên đuờng trước tiên, một lúc sau thì đến Thu, và tôi là nguời ra đuờng sau cùng. Khi buớc ra quốc lộ 13 tôi lấy bình tỉnh đi men theo bên đường chờ đón xe. Tôi không thấy Bình đâu hết mà chỉ thấy Thu đang đi phía truớc tôi một khoảng xa. Có chiếc xe Lam (xe ba bánh chở hành khách hiệu Lambretta) chạy trờ tới tôi liền đón để đi, vì xe đã đầy nguời nên tôi phải đeo theo xe đứng ở phía sau. Thu cũng lên đuợc chiếc xe đi truớc tôi. Xe chạy qua cầu Tàu Ô và như vậy là đêm qua chúng tôi đã ngủ ở giửa khoảng Tàu Ô – Tân Khai.

Trước kia, đây là đoạn đuờng nguy hiểm nhứt của quốc lộ máu mang số 13 và cũng chính nơi đây đã xảy ra những trận chiến vô cùng ác liệt, mà dấu vết các hầm hố còn lại rất nhiều, dọc theo bìa rừng trông ra quốc lộ. Khi xe vô quận lỵ Chơn Thành tôi xuống xe ở đầu ấp Chơn Thành 2 để đi bộ vô, vì sợ vô tới bến xe sẽ gặp công an
Đi bộ dọc theo con đuờng vào quận lỵ, tôi nhớ lại các nơi mà ngày xua quen biết như Trại cưa Lê Quang, Trại cưa Mai Chấn Hung, Lò than ông Năm Thãnh, sau này ông Năm Thãnh cũng lập thêm trại cưa.

Đi gần đến chợ là đến bến xe và tại ngả tư đường đi Đồng Xoài có một đồn cảnh sát hồi xưa, bây giờ là đồn công an Việt Cộng. Tôi dự định đi bộ ra khỏi quận lỵ rồi mới đón xe để đi Bình Dương. Tôi đi ngang qua dãy phố chợ mà ngày xua có các tiệm ăn như Nghĩa Thành, Bạch Tuyết, nổi tiếng với món canh chua cá lóc, cá kho tộ.

Đi ngang qua ngôi chùa, qua cây cầu là gần đến đầu quận lỵ. Tôi nhìn thấy Thu đang đi phía truớc bỗng dưng đổi huớng qua trái tấp vô một quán nước.

Tôi nhìn kỹ về phía truớc phía bên phải thì thấy có một trạm kiểm soát nên tôi cũng đổi hướng qua trái tấp vô một quán nuớc. Tôi nhớ mài mại hình nhu đây là quán của bà Năm Chích, có cô con gái ra tiếp. Tôi kêu một ly cà phê, ngồi uống để quan sát coi trạm kiểm soát đó nó hoạt động như thế nào.

Tôi thấy rõ hai thằng công an coi tù ở trong trại ra đây chận xét xe để nhìn mặt bắt chúng tôi, hai tên này đứng bên cạnh trạm kiểm soát tài nguyên.

Mỗi khi xe đến đó, tài xế vô trình giấy tờ cho trạm kiểm soát tài nguyên ở bên trong, thì hai tên công an đứng bên ngoài đi ra lục soát xe. Tôi đoán chắc là nó sẽ bố trí chận xét ở đây để bắt tù trốn trại, vì đây là quân lỵ gần nhất, mà muốn ra khỏi quận thì phải đi ngang qua trạm kiểm soát này. Nếu đi bằng xe đạp, xe thồ, mặc đồ như nguời đi làm cây làm củi trong rừng thì mới lọt qua đuợc. Còn nếu bây giờ băng vô trong rừng để đi bọc qua thì cũng sợ gặp phải nguời lạ mặt họ dể nghi ngờ, vì mình mặc đồ sạch sẽ tươm tất quá.

Tôi còn đang phân vân không biết phải làm cách nào để qua khỏi trạm kiểm soát này, thì thấy Thu đi nguợc trở lại, ngang qua chổ tôi. Thu trở lại bến xe để đón xe đi, còn Bình thì không còn thấy tâm dạng đâu hết, chắc là đã đi thoát rồi.

Tôi ngồi chờ một hồi thì thấy chiếc xe lô chạy trờ tới, tôi nhìn thấy Thu ngồi ở băng sau cùng. Xe tới trạm kiểm soát thì ngừng lại, trong khi nguời tài xế vô trình giấy tờ thì một tên công an đi ra nhìn vào xe, một lúc sau thì tài xế trở ra và nó cho xe chạy đi. Tôi mừng cho Thu đã thoát nạn, giờ đây chỉ còn lại một mình tôi, tôi không còn biết cách nào khác hơn là trở lại bến xe để đón xe đi. Đây là chổ nguy hiểm nhứt mà tôi cố tránh nhưng không đuợc nên đành phải liều mạng.

Khi vô bến xe thì thấy có một chiếc xe lô, loại xe nhỏ để chở khách, tôi thấy xe trống trơn chưa có ai, tôi lên ngồi băng sau cùng. Ngồi một lúc lâu thấy nóng ruột nên mới hỏi bác tài là xe chừng nào chạy, ông ta nói chờ khách lên đầy thì đi, mà thuờng là khách ở trong Minh Thạnh ra nhiều. Tôi hơi lo vì khách ở trong Minh Thạnh ra có thể là công an trong trại ra đi phép.

Ngồi một hồi lâu thì chợt có một tốp người đi buôn than họ lên gần đầy. Bỗng tôi thấy có hai đứa nhỏ độ hơn 11 tuổi tay cầm một con gà, tay xách một giỏ đồ, tôi liền nhanh miệng kêu hai em bé đó vô ngồi gần bên tôi và tôi phụ xách dùm đồ, làm như vậy thấy đở trống trải vì có hai em nhỏ che đở phần nào.

Khi xe chạy tới trạm kiểm soát thì dừng lại, bác tài vào trình giấy tờ trong trại kiểm soát tài nguyên. Tôi thấy một thằng công an, đứng bên cạnh trạm kiểm soát, buớc ra để nhìn mặt nguời trên xe.

Nó nhìn vào băng truớc, trên đó có hai nguời ngồi, tôi nghe tiếng quát tháo của tên công an là hai nguời ngồi đằng truớc là “tại sao đầu tóc để dài bù sù nhu cao bồi du đảng, đâu đưa giấy tờ coi”. Sau khi coi xong giấy tờ hai người phía truớc là nó liệng vô xe rồi ra lệnh cho đi một cách thật oai quyền. Cũng vừa lúc bác tài đã trở ra xe, bác tài liền rồ ga cho xe chạy đi, mà lòng tôi vui mừng khắp khởi vì vừa thoát được một trạm kiểm soát thật là vô cùng nguy hiểm.

Xe chạy qua khỏi Tham Rớt, Bầu Bàn, Bầu Lòng rồi đến quận Bến Cát, ở đây cũng có trạm kiểm soát nhưng là trạm kiểm soát tài nguyên nên không có gì trở ngại.

Xe chạy về tới Chánh Hiệp Bình Dương, một trạm kiểm soát rất lớn, nơi cửa ngỏ vô thành phố nên xe đậu nối đuôi nhau rất dài.

Chiếc xe tôi đi là xe nhỏ chở than lậu nên tài xế đã biết cách vô trình giấy tờ và nộp tiền mải lộ là xong ngay. Xe đi tiếp vô thành phố vào đậu ở bến xe, tôi xuống xe cũng vẫn còn nắm tay hai em bé vô mua giấy xe để về Sài Gòn, vì hai em bé đó cũng về Sài Gòn. Tôi thấy người ta sắp thành hàng dài để chờ mua vé xe, tôi cũng sắp vô hàng chờ đợi.

Nhưng khi tôi nhìn kỹ lại thì thấy mỗi nguời khi mua vé xe đều phải trình ra một thứ giấy tờ gì đó, hình như là giấy phép đi đuờng hay là giấy căn cuớc, mà trong mình tôi thì không có thứ giấy tờ nào nên tôi hơi sợ, nên mới nói với hai em nhỏ là cứ sắp hàng để mua vé về Sài Gòn truớc đi còn tôi thì sẽ đi sau. Tôi bỏ ra ngoài tìm đường khác để đi, chớ khi mua vé họ hỏi đến giấy tờ là mình không biết trả lời ra sao, vì trong mình tôi không có thứ giấy tờ nào hết.

Tôi vào quán nước kêu ly nuớc đá chanh vừa uống vừa quan sát để tính kế. Bỗng chợt thấy xe Honda ôm, tôi liền nghĩ ra phương cách hay nhứt để đi về Sài Gòn là bằng xe ôm.

Tôi dự định là sẽ về nhà của chị Đồ ở Phú Thọ. Trong những lần đi thăm nuôi, vợ tôi thường đi chung với chị Đồ nên hai gia đinh rất thân nhau và trước khi trốn trại tôi có dọ hỏi anh Đồ địa chỉ nhà cho thật kỷ, thật đầy đủ chi tiết đuờng đi nước buớc, làm sao vô nhà, đi vô ngỏ hẻm nào v.v…

Tôi chỉ hỏi chơi chơi chứ không cho anh biết ý định trốn trại của tôi. Anh lái xe ôm ra giá đi Sài Gòn là 50 đồng, tôi không có đủ tiền nhưng tôi nói với anh là đưa tôi về đến nhà tôi lấy tiền rồi trả sau. Sau khi bằng lòng giá cả anh ta mới đi đổ xăng và trở lại đón tôi. Trên đuờng đi tôi cũng nói thêm với anh là tôi vừa ở vùng kinh tế mới về, bị mất hết giấy tờ nên nhờ anh chạy làm sao để tránh các trạm kiểm soát.

Anh ta nói là tụi công an nó chỉ xét coi có buôn đồ lậu, chứ như ông đi mình không, thì không có gì để xét thì đừng có lo. Tôi nghe mừng trong bụng và trong lúc đi đuờng tôi có hỏi chuyện thì anh có cho biết hồi truớc anh là lính của Sư đoàn 5 Bộ Binh. Nghe biết vậy thôi chứ tôi cũng không có hỏi thêm gì về chuyện ngày trước.

Xe chạy qua các trạm kiểm soát Búng, Lái Thiêu rồi Bình Triệu. Thấy xe kẹt đậu dài dài để chờ xét, còn xe Honda ôm này chạy qua hết mà không bị hỏi han gì và sau cùng vô Sài Gòn qua ngả cầu cư xá Thanh Đa rồi qua cầu Phan Thanh Giản và chạy trên đường Phan Thanh Giản để về Phú Thọ.

Nhìn quang cảnh thành phố Sài Gòn sau 5 năm trở lại, tôi cảm thấy như bơ vơ lạc lỏng, như lạc vào một thế giới nào xa lạ lắm. Đây không phải là thủ đô Sài Gòn năm xua, một thời đã từng đuợc mệnh danh là một “Hòn Ngọc Viễn Đông”. Nay tôi thấy trên đuờng toàn là xe đạp, mà nguời nguời trông lam lũ tả tơi, không cuời không nói, với dáng vẻ buồn thiu ảm đạm, thật đúng với câu “nguời buồn mà cảnh có vui đâu bao giờ”.

Khi đến Phú Thọ, xe Honda chạy vào con hẻm nhỏ, một số con nít chạy theo. Khi xe vô đúng số nhà mà tôi đã học thuộc lòng, tôi gỏ cửa và chị Đồ ra mở cửa. Khi thấy tôi chị buột miệng la lên:

“Ủa anh Thạch mới đuợc thả về, còn ông Đồ của tôi đâu”. Tôi lật đật nói nhanh là tôi mới đuợc thả về và xin muợn chị 50 đồng để trả tiền xe.

Chị vô lấy tiền cho mượn ngay để trả tiền xe. Khi xe đi rồi và đám con nít đa tản đi hết rồi thì tôi mới nói thiệt với chị là tôi trốn trại và nhờ chị về báo tin cho vợ tôi hay. Chị hốt hoảng cho biết là mới vừa tuần truớc đây thằng em trai của chị vừa mới vuợt biên đã đi thoát được. Nhà chị đang bị công an phường khóm điều tra theo dỏi, cho nên chị không dám chứa tôi trong nhà, mà bảo tôi ra ngoài đuờng đón xe autobus để ra bến xe Xa Cảng miền Tây, ở Phú Lâm, rồi sẽ tính sau.

Truớc khi đi tôi còn hỏi muợn chị đôi giày, vì đôi giày tôi đang đi là loại giày đi rừng nên đi trong thành phố coi không tiện. Chị cho tôi muợn đôi giày sandal và còn đôi giày đi rừng của tôi thì chị nói là chị sẽ đem lên cho anh Đồ trong lần thăm nuôi tới.
Tôi ra khỏi hẻm ra ngoài đuờng thì thấy có một quán hủ tiếu, tôi liền tấp vô ăn một tô hủ tiếu, uống một ly cà phê sửa, rồi mới  ra đón xe autobus để đi ra Xa Cảng miền Tây.
Khi ra đến bến xe Xa Cảng miền Tây, tôi thấy cả một rừng nguời hỗn độn la liệt khắp nơi. Họ trải chiếu, trải tấm nylon hay kê tấm ván tùm lum tứ tung không theo một lề lối nào cả. Hỏi ra mới biết đây là những nguời bỏ vùng kinh tế mới trở về, nhà cửa bị tịch thu không nơi nương tựa đành phải sống lang thang đầu đuờng xó chợ bến xe.

Sau khi thấy cảnh hổn độn này tôi nghĩ thầm là mình có thể trà trộn để ngủ tạm qua đêm ở đây. Trong khi đó thì chị Đồ đạp xe đạp từ Phú Thọ vô Gia Định để báo tin cho vợ tôi biết. Sau này gia đinh kể lại là khi chị Đồ vào nhà, chị rất lo sợ có nguời theo dõi, nên chị kéo vợ tôi ra phía sau nhà, không cho mấy đứa con tôi lại gần, rồi chị mới nói cho vợ tôi hay là tôi đã trốn trại.

Tôi đang ngồi uống nuớc đá chanh ở xe nuớc đá và định chổ ngủ qua đêm, thì bỗng thấy chị Đồ đạp xe đạp ra tới. Chị đưa cho tôi 50 đồng và một giấy cử tri của vợ tôi gởi và căn dặn tôi sáng mai ra mua vé xe đò để về Mỷ Tho.

Sáng sớm hôm sau trước khi ra bến xe tôi đi tìm nhà của Thạch, là một trong hai nguời trốn chui theo. Thạch và Tường thì còn ở lại trong rừng và có dặn là nếu ai có thoát về đuợc Sài Gòn thì báo tin cho gia đình họ biết tin, để tìm cách lên đón.

Địa chỉ của Thạch thì tôi nhớ lờ mờ là ở gần Phú Lâm nên tôi sẳn dịp ghé qua báo tin.
Lúc đó trời còn lờ mờ chưa sáng hẳn, đuờng vắng vẻ. Khi đi ngang qua trạm xe chửa lửa có vài tên công an đang đứng nói chuyện ở phía truớc, tôi cố giử bình tỉnh khi đi ngang qua.

Sau cùng tôi tìm đuợc nhà của Thạch, tôi gỏ cửa một hồi thì có nguời ra mở cửa nhưng với dáng vẻ bực bội vì tôi đánh thức họ quá sớm.

Tôi hỏi có phải là nhà của Thạch không, thì họ không trả lời mà đóng ập cửa lại làm tôi ngần ngừ một lúc, vì tiếc là không báo tin cho gia đinh Thạch được. Tôi cũng không biết là có đúng nhà không, hay là họ sợ không dám tiếp tôi. Cho đến sau này tôi cũng không biết tin tức gì về hai nguời trốn chui theo, có thoát đuợc không và bây giờ ra sao.

Tôi trở ra bến xe ngồi xếp hàng chờ để mua vé xe về Mỷ Tho, trong túi có 50 đồng và thẻ cử tri nên thấy hơi yên tâm. Một hàng rất dài ngồi chờ mua vé xe rồi từ từ nhích lần lên. Tôi ngồi chòm hỏm hai tay bó gối gục đầu rồi thiếp đi lúc nào không hay. Bỗng đâu có nguời vỗ vai kêu tên tôi, tôi giật mình nhìn lên thì thấy chị Đồ, chị bảo tôi vô quán nước ở bên kia đuờng để gặp bà xã tôi. Vừa mừng vừa lo, chỉ sợ công an theo dõi vợ tôi để đón bắt tôi nên tôi hơi luỡng lự. Chị Đồ vô đứng thế chổ tôi để mua vé xe.
Tôi vô quán để gặp bà xã tôi, vợ tôi đã kêu đủ thứ đồ ăn nào hủ tiếu, bánh bao, xiếu mại v.v…. Bà xã tôi kêu tôi ăn đi ăn đi. Tôi hỏi coi có ai biết hay theo dõi gì không, thì thấy không có dấu hiệu gì. Ba đứa con tôi đang ở nhà chưa hay biết gì về chuyện này. Sau này kể lại mới biết là chúng nó đói khổ lắm, đâu có được ăn hủ tiếu bánh bao như thế này.

Từ ngày tôi đi tù tới giờ gia đình suy sụp, có bao giờ dám ăn các món cao lương mỹ vị này đâu và tôi cũng quên hỏi mời vợ tôi cùng ăn, bà xã tôi cứ kêu tôi ăn đi ăn đi.

Phần thì lo sợ công an nó theo dõi, phần thì không biết là về Mỷ Tho rồi sẽ làm gì, nên tôi cố nhét cho đầy bụng rồi đi liền. Tôi dặn vợ tôi là đừng có xuống Mỷ Tho, mà nên ở nhà lo cho mấy đứa con còn nhỏ dại, đừng để bị nguy hiểm cho cả hai, rồi không ai lo cho các con.

Tôi trở ra chổ mua vé xe thì chị Đồ đã mua vé xong xuôi và chị còn cẫn thận mua cho tôi tờ báo Nhân dân, chị bảo lên xe đọc báo này nguời ta tưởng là cán bộ. Tôi lên xe ngồi gần băng phía sau. Xe chạy qua hết các trạm kiểm soát một cách dễ dàng vì ở mỗi trạm bác tài đều biết thủ tục đầu tiên, là tiền đâu. Qua Bình Chánh, Bến Lức, Tân An, Tân Hương, Tân Hiệp, Trung Lương rồi vô thành phố Mỹ Tho.

Xe vô đến bến, tôi xuống xe và vô tìm đứa em gái tôi. Vợ tôi có cho biết là em gái tôi bây giờ làm ở tổ hợp may mặc phuờng 4 ở  bến xe này. Mới vừa vô gặp mặt em tôi, nó mừng rỡ rồi la lớn “Ủa anh Tư mới đuợc thả về”. Tôi hơi bối rối vì sát bên cạnh tiệm may là đồn công an phường 4, có một số công an đang đứng gần đó sợ nó nghe được.

Tôi giả bộ như thiệt nói một hơi là anh mới đuợc thả về bây giờ em có rảnh ra quán uống nuớc. Em tôi lật đật xin phép bà hội truởng hợp tác xã rồi đi liền.

Ra tới quán nuớc tôi mới nói thiệt với em tôi là tôi trốn trại. Em tôi giật mình mặt tái xanh vì quá bất ngờ. Tôi dặn dò em tôi về nhà cho má hay và coi chung quanh có ai không rồi cho anh biết để anh về nhà.

Em tôi đạp xe đạp chạy về báo tin xong trở lại làm việc, còn tôi một mình đi bộ về nhà. Má tôi đã biết truớc nên đã mở cửa sẳn chờ. Khi vô nhà tôi đi thật nhanh và đi thẳng ra phía sau nhà vì sợ lối xóm nhìn thấy.

Sau đó em tôi đi làm về có mua cho tôi một dĩa cơm suờn và hôm sau là cơm tấm bì chả và mua hủ tiếu bánh bao v.v…. toàn là các món ăn ngon đắt tiền mà tôi cũng quên hỏi là em tôi đi may lương tháng bao nhiêu. Má tôi thì già yếu không có làm gì ra tiền. Hồi truớc Má tôi đi may đồ quần áo ở trong nhà thương Mỷ Tho, nhưng đã nghỉ lâu rồi.

Sau này mới biết là ở nhà không có đủ tiền để mua gạo, đôi khi còn phải bán máu để đổi lấy mấy bát cơm, thì nói gì đến thức ăn sang trọng.

Thì ra em tôi chạy qua Chợ Củ để xin Cô tôi. Cô Ba tôi có mở tiệm ăn, Cô rất thương tôi, vì vậy khi hay tin tôi về, cô tôi liền gởi cơm và đồ ăn rất ngon qua cho tôi. Ở đây đuợc mấy ngày thì vợ tôi xuống thăm tôi làm cho tôi càng thêm lo sợ, vì sợ công an theo dõi.

Tôi mới tính tìm đuờng vuợt biên chớ ở đây lâu thế nào cũng bị bại lộ.

Mà tìm đuờng dây để vượt biên không phải là chuyện dễ dàng. Phần thì không có tiền, phần thì không dám đi lại nên cũng không biết cách nào để vuợt biên, mà tội vuợt biên lúc đó bị coi như là tội phản quốc, chạy theo đế quốc, bọn công an biên phòng bắt đuợc là chỉ có chết. Hồi đó đã có xảy ra những cảnh vuợt biên bị đổ bể, bị công an tàn sát như ở cầu Chữ Y Sài Gòn, như ở bãi biển Vũng Tàu, nhu ở kinh Chợ Gạo hay ở cửa biển Gò Công v.v….Họ tàn sát không nương tay, mặc cho tiếng khóc trẻ thơ, hay những lời van xin lạy lục, của những nguời khốn khổ cùng đuờng.

Tôi dự định nếu không tìm được đuờng đi bằng ghe tàu, thì như đã hẹn với Thu và Bình, là sau một tháng chúng tôi sẽ gặp lại nhau, để bàn tính để đi bằng đuờng bộ.
Vợ tôi lại xuống một lần nữa và lần này có cả đứa con gái đầu lòng của tôi. Coi như vậy là tôi ở đây đuợc một tuần lể và vợ tôi đem tiền xuống lần này là để mua vé xe cho tôi đi Cà Mau vào sáng sớm mai, vì hy vọng ở Cà Mau dễ kiếm đuờng vượt biên hơn.

Bất ngờ ngay buổi chiều hôm đó vào khoảng 7 giờ, thì có một người anh bà con cô cậu, đi cùng với một nguời bạn, xuống thăm để từ giã Má tôi, để sáng sớm mai họ lên đường đi Kampuchia, và từ đó sẽ tìm đuờng vuợt biên, và anh muốn xin địa chỉ của em tôi, hiện đang sống ở Mỹ, để anh liên lạc khi cần.

Thật là một điều quá may mắn cho tôi vì sau khi anh biết tôi vừa mới trốn về nên anh kéo tôi đi theo luôn. Thế là phải trở về Sài Gòn ngay trong đêm nay để sáng sớm mai lên đuờng đi Kampuchia. Tôi từ giã Má tôi và để đứa con gái đầu lòng ở lại với Bà Nội.
Tôi và vợ tôi đi theo Long và Nghĩa ra đón xe để về Sài Gòn. Tôi ra đi mà lòng buồn vô hạn, rồi không biết sẽ đi tới đâu trên buớc đuờng bôn ba vô định này.

Ở lại Mỷ Tho thì không được, mà đi qua Kampuchia thì cũng không biết ra sao, thật là đau lòng truớc cảnh chia tay, rồi đây không biết có còn được gặp lại nhau.

Trong đêm đó hai bà cháu đã tụng niệm suốt đêm để cầu nguyện cho chuyến đi của tôi được bình an. Trời đã tối lúc đó khoảng 9 giờ đêm nên không còn xe chạy về Sài Gòn. Chúng tôi đón chiếc xe lôi đạp để đi vô ngã ba Trung Lương, hy vọng ở đó sẽ có nhiều xe miền Tây lên, dể đón hơn.

Ông xe lôi, đạp không muốn nổi, vì trên xe có tới 4 nguời, nên chúng tôi phải thay phiên nhau nhảy xuống để đẩy phụ, nhứt là khi lên dốc cầu Trung An, thì phải nhảy xuống hết rồi qua cầu mới nhảy lên lại.

Vô tới ngã ba Trung Lương là trời đã tối, nên không còn thấy xe miền Tây nào hết, mà chỉ thấy có một chiếc xe hàng bị hư máy và nguời tài xế đang sửa chửa. Chúng tôi mon men lại gần tìm cách làm quen rồi dọ hỏi xin quá giang về Sài Gòn, nhưng ông tài xế nhìn chúng tôi như nghi kỵ điều gì nên lắc đầu trả lời một cách sẳn giọng là xe đang hư mà làm sao cho quá giang đuợc, vì vậy chúng tôi lại lủi thủi đi tiếp.

Ở đây có một trạm công an khá lớn để xét xe từ miền Tây lên, nên có nhiều công an ở đồn bót này, nên trong đêm tối mà đi lang thang ở đây cũng nguy hiểm lắm. Tình cờ có một chiếc xe lô chạy từ Mỷ Tho lên huớng về Sài Gòn, chúng tôi mừng quá đón ngoắc lại nhưng xe không ngừng mà chạy luôn một khoảng, rồi bỗng đâu xe dừng lại và lùi lại cho chúng tôi quá giang.

Bác tài chỉ cho đi quá giang một quãng đuờng lên đến Tân Hương để đón xe khác mà đi, vì xe này đi về nhà để nghỉ nên không có đi Sài Gòn. Trong khi xe đang chạy và qua tài giao thiệp của anh Long, cũng là lơ xe, nên anh biết nhiều nguời trong nghề xe đo nên câu chuyện dần dần trở nên thân mật và bác tài dần dần có cảm tình với chúng tôi. Và sẳn đó anh Long đề nghị bao xe đi Phú Lâm rồi bận về anh sẽ phụ giúp tìm khách cho chuyến trở về.

Vợ tôi móc trong túi ra đếm còn 200 đồng nên đề nghị bao xe 200 đồng và nhờ anh Long nói thêm vô, nên sau cùng bác tài chịu đi Phú Lâm với giá 200 đồng.

Thật là hết sức may mắn, chớ nếu tới Tân Hương chưa chắc gì có xe để đi, mà nếu không lên kịp Sài Gòn trong đêm nay thì ngày mai xe sẽ đi sớm rồi, sẽ mất đi một dịp may hiếm có ngàn vàng.

Khi xe chạy qua khỏi trạm công an Tân Huong một quảng, thì gặp một tốp công an ra chận đuờng. Tôi thấy nguy vì trên xe không có ai khác, chỉ có gia đinh tôi, nên rất khó xoay sở trà trộn. Tôi có ý dò hỏi bác tài coi tính sao, nhung bác tài cho biết là xe không có ngừng đâu vì tụi này là tụi chuyên chận xe dọc đuờng để ăn cuớp, bác tài rất rành về bọn này. Tôi nghe thế cũng thấy mừng thêm, vì thà là chạy luôn nó có bắn theo cũng khó trúng.

Bác tài cho xe giảm tốc độ rồi khi đến gần bọn chúng thì tống hết ga vuợt nhanh qua, nên chúng trở tay không kịp, nên xe chạy vuợt qua một cách êm xuôi.

Nhưng tôi lại lo cho trạm kiểm soát kế tiếp sợ tụi nó gọi máy báo lên chận bắt xe lại thì còn nguy hiểm hơn. Tôi hỏi ý bác tài thì bác tài nói là tụi nó đâu có máy móc gì đâu mà báo đừng có lo, nên tôi càng yên tâm tin tuởng bác tài muôn phần. Xe qua khỏi Tân An, Bến Lức, Bình Chánh rồi vào Phú Lâm một cách êm xuôi. Sau khi trả tiền xe xong xuôi là chúng tôi chạy đi ngay vì trời đã tối rồi mà còn phải chạy lo kiếm mượn tiền để đi.

Chúng tôi về nhà của Nghĩa cũng ở gần đó, vợ chồng tôi muợn chiếc xe đạp để đạp vô Phú Thọ. Vô tới nhà chị Đồ là đúng nửa đêm, giờ giới nghiêm. Chị Đồ không có sẳn vàng chị rút chiếc nhẩn đang đeo trên tay 2 chỉ vàng đưa cho tôi mượn đở.

Tôi đạp xe đạp chở vợ tôi trở về nhà của Nghĩa trong lúc đã quá giờ nghiêm nên cũng sợ bị hỏi giấy tờ hay bị bắt lại thì trể chuyến xe sáng sớm mai đi. Tôi đạp xe lên dốc cầu Minh Phụng không nỗi, vợ tôi phải xuống xe đẩy phụ qua cầu, nguời của tôi lúc đó rất là ốm yếu xanh xao.

Về tới nhà Nghĩa, là chúng tôi phải đi ngay đến chổ đậu xe, để kịp chui vô trong xe sắp xếp truớc khi trời sáng. Đây là chiếc xe hàng dân sự bị VC trưng dụng để chở chiếu qua Nam Vang tiếp tế cho bộ đội VC bên Kampuchia. Long là lơ xe của chiếc xe này nên mới dấu Nghĩa và tôi vô trong đống chiếu mà tài xế không hay biết gì.

Sau khi sắp lại đống chiếu, vạch ra một lổ vừa đủ để hai đứa tôi chui vô, xong rồi Long mới gác hai cây gỗ đà ngang trên đầu rồi sắp chiếu phủ kín lên như cũ rất là kín đáo.
Chúng tôi đem theo một bình nước và hai ổ bánh mì với một gói muối.

Ngoài hai chỉ vàng của chị Đồ cho muợn, vợ tôi đưa luôn chiếc nhẫn cuới đang đeo ở tay đưa cho tôi, như vậy tôi mang luôn hai chiếc nhẫn cuới. Lúc đó cũng khoảng 3,4 giờ sáng, vợ tôi và má của Nghĩa cũng vẫn còn ngồi đâu đó để chờ sáng ra xe chạy.

Long ngồi ở ngoài nên có cho tụi tôi biết là vợ tôi và má của Nghĩa khóc nhiều lắm, vì không biết chúng tôi đi làm sao, vì  không ai có tiền hay có vàng đem theo, không biết rồi sẽ đi đến đâu. Riêng tôi thì tôi quyết ra đi mặc dầu không biết ra sao, nhưng vẫn còn tốt hơn là ở lại Việt Nam.

Sáng sớm hôm sau xe rời bến để đi Nam Vang, nhìn qua khe ván ở sàn xe trời còn lờ mờ nghe tiếng nguời nói lao xao mới biết là vừa qua khỏi Ngã Tư Bảy Hiền. Khi đến trạm kiểm soát biên giới thì họ chỉ xét qua loa vì đây là chuyến xe công tác chở đồ cho bộ đội VC. Xe chạy càng nhanh đống chiếu trên đầu càng đe nặng, vì cây gỗ chận trên đầu không còn ở nguyên vị trí củ, mà vì sự lúc lắc của chiếc xe đa làm lệch đi và hai đứa tôi phải đưa lưng chống đở sức nặng bên trên đè xuống. Tệ hại hơn nữa là dọc đuờng VC đón xe đi quá giang nên họ ngồi trên đầu chúng tôi. Nghe tiếng họ nói chuyện với nhau thì biết là VC đang ngồi ở ngay trên đầu mình.

Chúng tôi phải rán đưa lưng ra chịu đựng, vì chỉ sợ nó sụp xuống thì bị lộ ngay, rất là nguy hiểm. Khi tiểu tiện thì phải đợi lúc xe chạy nhanh rồi mới dám tiểu qua khe hở của ván sàn xe mà phải tiểu từ từ để bên ngoài không thấy không biết. Đến chiều thì xe tới nơi đậu vào một chổ nào đó mà tôi nghe có tiếng nhạc của những bản nhạc ngày xua.

Tôi mừng thầm vì được nghe lại những tiếng hát quen thuộc đầm ấm nồng nàn tràn đầy kỷ niệm của ngày truớc. Tiếng nhạc hòa lẫn tiếng nguời nói chuyện lao xao gần bên cạnh xe. Chúng tôi vẫn nằm im trong xe chờ khi nào có hiệu lệnh của Long thì mới ra đuợc.

Một hồi lâu sau khi bên ngoài hoàn toàn im vắng và khi nghe ba tiếng hiệu lệnh của Long thì chúng tôi chui ra. Khi nhảy xuống xe, tôi không thể đứng được vì bị ngồi lâu trong thế co ro nên chân bị tê cứng, mà Long thì thúc hối phải đi khỏi nơi đây ngay vì sợ tài xế và an ninh đoàn xe họ biết, nên tôi và Nghĩa phải cố lết đi ra khỏi xe thật xa.

Nhìn chung quanh, đây là một bồn binh khá lớn ở cuối đại lộ, bên cạnh một sân vận động, xe đậu một đoàn dài chừng vài chục chiếc, tài xế và lơ xe khá đông, có nhiều xe họ mang theo cả gia đinh vợ con với đồ đoàn nồi niêu soong chảo, nên tôi thấy cũng dễ trà trộn ẩn thân. Tối đó tôi và Nghĩa ngủ ở một đám cỏ bên cạnh đường khoảng giữa đoàn xe và không dám gần xe  nào cả vì sợ họ báo với an ninh đoàn xe.

Ngay tối hôm sau, tôi bán chiếc nhẩn cuới đuợc 75 đồng Riel, tiền Kampuchia, và nhờ Long môi giới mời một số tài xế lơ xe ra quán nuớc uống cà phê nghe nhạc, để tìm cách lân la làm quen gây cảm tình với họ. Tôi và Nghĩa đóng vai lơ xe, bạn với Long.

Vì Nghĩa cũng là lơ xe nên nói chuyện dễ dàng, còn tôi thì cảm thấy hoàn toàn xa lạ, nên trong các câu giao tiếp tôi thuờng cuời nhiều hon là nói vì sợ bị bại lộ tông tích.

Ban ngày thì ra chợ Nam Vang, bữa đầu thì đi bằng xe lôi cho mọi nguời thấy, và vì không biết đường, mấy lần sau thì đi bộ. Đi ngang qua mấy con đuờng rất đẹp với hai hàng cây phủ mát bên đuờng, với những ngôi biệt thự sang trọng kiến trúc theo kiểu villa của Pháp, giống nhu khu đường Duy Tân, Yên Đổ ở bên xứ mình. Mấy ngôi nhà sang trọng đó bây giờ là dinh của VC, treo cờ đỏ sao vàng và có lính canh truớc cổng. Mỗi khi đi ngang qua thấy hơi chùng chân vì sợ nó hỏi giấy tờ bất tử.

Uống nuớc phong tên ở gần đó, ăn cơm thì mua của mấy gánh bán hàng rong, cơm một dĩa 10 đồng Riel. Ra ngoài chợ thì đi lòng vòng coi nhìn cái này cái nọ cho hết thì giờ, thỉnh thoảng công an chạy ruợt đuổi bắt người ở trong chợ, làm mình cũng sợ giật mình. Tôi thì có ý định tìm mua một quyển sách địa lý để coi bản đồ vùng Battambang, Siem Rệp, vùng biên giới Thái Lan. Họ bày bán sách cũ rất nhiều nhưng đều là tiếng Miên.

Tôi lựa xem mấy cuốn sách có hình bản đồ rồi mua một quyển. Nhưng vì tôi không biết tiếng Miên mà mua sách Miên trong đó có hình bản đồ địa lý, nên họ có ý nghi ngờ. Mua xong tôi lật đật đi bộ về chổ đậu xe vì sợ họ báo với công an chợ.

Sau khi nghiên cứu bản đồ để biết địa thế, đường đi nuớc buớc, cũng như khoảng cách bao xa. Tôi cố học thuộc lòng vùng Battambang, Siem Rep, vùng gần biên giới Thái Lan, rồi xé bỏ quyển sách đó ngay.

Lúc bấy giờ bên Miên hoàn toàn do VC kiểm soát, thỉnh thoảng có mấy tên lính Miên trẻ mặt còn non choẹt, mang khẩu AK dài đụng tới đất.

Ở đây họ mắc loa phóng thanh cứ sáng sớm và chiều tối là nghe tiếng nhạc Miên, một âm điệu đều đều nghe buồn não ruột, nghe nhớ nhà, nhớ vợ nhớ con, nhớ quê hương mình vô cùng. Cuộc đời tôi cũng không ngờ lại lưu lạc đến noi đây, xứ lạ quê nguời, rồi cũng không biết ngày mai sẽ ra sao. Nghĩ lại thân phận mình, lêu bêu bình bồng, mà cảm thấy buồn vô hạn.

Tôi lân la mấy quán nuớc làm quen hỏi chuyện để tìm đuờng đi, thì đuợc biết là xe lửa chạy từ Nam Vang lên Battambang đã bị giật mìn không còn chạy nữa, bây giờ chỉ còn đuờng xe, nhưng VC đặt rất nhiều nút chận kiểm soát để chận bắt đào binh, nên rất khó mà lọt qua đuợc. Tôi ra phía đầu thành phố đường đi về huớng Battambang để xem trạm kiểm soát họ xét ra sao. Tôi thấy rất ít xe đi về phía đó và họ kiểm soát rất kỹ. Xe thì không thấy loại  xe đò chở khách, mà toàn là xe chở hàng hay xe quân sự.Vả lại tôi không biết tiếng Miên nên rất ít hy vọng thoát qua đuợc, giá mà còn xe lửa thì tốt hơn.

Ở đây đuợc ba ngày thì nghe tin đoàn xe được lệnh đi xuống hải cảng Kompong Som tức là Sihanoukville.

Tôi không biết hải cảng này ra sao, nhưng nghe nói ở đó có tàu ngoại quốc ra vào. Trước đó tôi có dọ hỏi đuờng lên Battambang, thì họ nói là phải có nguời dẫn đuờng và phải trả bằng vàng, ít nhứt là hai lượng. Trong mình tôi chỉ đuợc hai chỉ vàng thì làm sao mà đi và hơn nữa chúng tôi không biết tiếng Miên nên rất khó khăn, thành ra tôi đã bỏ ý định đi lên Battambang. Bây giờ nghe tin đi xuống hải cảng Kampong Som thì tôi thấy cứ đi đại xuống đó rồi sẽ tính sau, dầu sao ở hải cảng cũng còn có hy vọng hơn.

Buổi trưa hôm đó tôi và Nghĩa ra chợ mua một nải chuối, lên chùa Năm Tháp gần đó để cúng Phật, để cầu xin Đức Phật Từ Bi độ trì đưa đuờng dẫn lối cho chúng tôi thoát ra đuợc khỏi nạn cộng sản. Sau khi quỳ lạy cầu nguyện Đức Phật xong, khi đứng lên là không còn thấy nải chuối đâu hết, mà trong lúc chúng tôi quỳ lạy thì có nguời tới chớp nải chuối đi mất thật là nhanh.

Đêm đó suy tính cách theo xe để đi, vì Long bảo phải tìm xe khác mà đi, chứ không được đi theo xe cũ vì sợ tài xế biết. Trong thời gian mấy ngày ở đó tôi cũng đã quen biết nhiều nên họ nhận cho tôi đi theo. Đoàn xe đi đến trạm kiểm soát thì ngừng lại để xét truớc khi ra khỏi thành phố, nhưng vì đoàn xe này có sự vụ lệnh đi công tác xuống hải cảng để chở hàng cho bộ đội VC nên không bị lục soát hay hỏi han gì và qua trạm kiểm soát này một cách dễ dàng.

Trên đuờng đi VC đóng đồn dọc theo đường, thỉnh thoảng đón xe quá giang, nhưng tôi ngồi phía trước chung với tài xế và lơ xe, nên rất là yên tâm. Trên xe bác tài có khoe một khẩu súng AK47 đuợc phát cho mỗi xe, nhưng chưa chắc là bác tài đã biết sử dụng. Tôi nhớ bữa đó trời mua tầm tả và xe bị hư máy phải dừng lại để sửa chữa, nhưng bác tài rất rành nghề chỉ sửa một chút là xong ngay, nhưng phải câu một bình xăng phụ ở bên ngoài.

Đến chiều thì xe đến hải cảng Kampong Som, xe dừng trước cổng trên con đường lộ đá dẫn vào hải cảng. Khi xe vừa đến nơi thì tài xế và lơ xe đi vô cổng một cách tự nhiên mà không bị hỏi giấy tờ gì hết, nên tôi, Long và Nghĩa cũng đi theo vô trong hải cảng một cách dễ dàng.

Hải cảng này ở xa khu dân cư, có mấy lớp hàng rào kẻm gai bao bọc chung quanh, và một trạm kiểm soát tại cổng chính ra vào, với một số công an biên phòng VC canh gác. Đóng trên một ngọn đồi gần đó là một đồn công an biên phòng. Bên trong hải cảng là một bến đá, xây bằng đá tảng, để tàu cặp bến. Tôi cố nhìn thật kỹ quanh bến tàu để tìm xem có chiếc tàu nào của nuớc tự do, nhưng tôi chỉ thấy toàn cờ đỏ búa lìềm, toàn cờ cộng sản, thật là thất vọng vô cùng.

Gần bến tàu là hai nhà kho rất lớn bằng sắt cất theo kiểu tiền chế của Mỹ. Có một đuờng rầy xe lửa, và ở phía trong xó góc có vài toa xe lửa bỏ không, không thấy nguời lai vãng, gần đó có một phong tên nuớc. Ở phía ngoài cổng bên cạnh con đuờng lộ đá là một cái ao khá lớn, mà thỉnh thoảng thấy có công an đến câu cá. Chiều tối đó tôi trở ra xe để ngủ qua đêm.

Sáng sớm hôm sau xe vô đậu truớc nhà kho lớn để chất hàng lên. Họ chất lên những bao bắp hột do nhân đạo quốc tế viện trợ để cứu đói cho dân Kampuchia, nay thực phẩm đó đuợc dùng để nuôi ăn cho bộ đội VC. Tôi chỉ còn bửa nay để đi lại thong thả trong hải cảng này, đến sáng mai khi đoàn xe đi rồi thì tôi không còn chuờng mặt ra đây đuợc nữa, vì bọn công an thấy sẽ biết ngay.

Chúng tôi đang lân la trong hải cảng thì bỗng có một chiếc tàu tuần của công an biên phòng VC vào cặp bến để lấy nước ngọt ở cái phong tên nuớc. Khi đó họ có hỏi tụi tôi, có muốn mua mấy món đồ lậu như ruợu, thuốc lá, đồng hồ, máy radio cassette v.v….Chúng tôi làm bộ nhận chịu, nhưng hẹn với họ ngày mai sẽ gom tiền cho nhiều để mua một lần cho tiện. Họ nghe nói thế tuởng là trúng mối to. Sau khi lấy nuớc xong là họ đi, truớc khi rời bến họ rủ chúng tôi lên tàu. Long nhanh chân nhảy lên truớc, tôi còn đang luỡng lự ngần ngừ, vì không biết họ đi đâu và đi làm cái gì, họ không nói gì cả, chỉ rủ lên tàu để đi thế thôi. Long đã ở trên tàu rồi nên thúc hối tôi lên tàu. Khi tàu mở dây cột tàu sắp chạy và vì sự thúc hối của Long nên tôi cũng nhảy lên theo, còn Nghĩa thì không đi.

Tàu chạy ra ngoài, nghe họ kể về những chuyện đi bắt ghe tàu vuợt biên. Họ đã bắt rất nhiều ghe tàu vuợt biên và lên giọng rất là sắt máu. Nguyền rủa những nguời vuợt biên là bọn phản quốc, chạy ra nuớc ngoài, bám chân đế quốc để ăn bơ thừa sữa cặn v.v… Tôi thầm nghĩ đến những chiếc ghe tàu vuợt biên nếu bị chiếc tàu tuần này bắt, thì coi như là thân tàn ma dại. Có những chuyến ghe tàu vuợt biên bị công an VC xả súng tàn sát mặc dầu họ biết đa số là đàn bà con trẻ.

Họ dẫn chúng tôi xuống hầm tàu để quảng cáo mấy món hàng mà chúng tôi hứa sẽ mua. Tàu chạy một lúc rồi cặp bến vô đậu trong căn cứ hải quân của chúng, rồi bảo chúng tôi lên bờ. Tôi cứ tuởng là tàu trở lại bến cũ cho mình lên, ai dè lại vô căn cứ VC nên cũng hơi ngại ngại. Hai đứa tôi đi ra cổng và đi theo con đuờng lộ đá dẫn vô bờ. Căn cứ này nằm xa bờ chừng vài chục thuớc, có con đuờng lộ đá làm bằng những tảng đá núi mà xe loại lớn có thể chạy đuợc.

Vô tới bờ đi bộ nguợc trở về hải cảng, dọc theo bờ biển thấy có một xóm chài, có một số tàu đánh cá, hai đứa tôi vô hỏi thăm. Lên một chiếc tàu thì gặp một nguời có mang một khẩu súng AK47, lỡ rồi nên tôi làm bộ hỏi để mua cá. Anh này nguời Miên gốc Việt nên nói được tiếng Việt. Anh ta ngó tới ngó lui rồi hỏi tụi tôi có muốn vuợt biên không. Chắc có lẽ họ thấy bộ dạng mình vô đây là định tìm đuờng vuợt biên nên mới hỏi thẳng như vậy.

Thấy anh ta có súng thì hơi sợ, nhưng trong bụng thì muốn tìm cơ hội để đi, nên tôi cũng trả lời lưng chừng là bây giờ mà tính chuyện vuợt biên đâu phải dễ, tụi tôi ở đoàn xe vận tải đang đi công tác ở hải cảng. Ông ta tiếp thêm là nếu muốn vuợt biên thì ba ngày nữa trở lại đây rồi họ sẽ đưa ra hải đảo, ở đó họ sẽ chuyển qua tàu đánh cá Thái Lan, mỗi nguời hai lượng vàng, ba ngày nữa tàu sẽ ra khơi, nếu muốn đi thì lại đây. Nói xong ông ta cho một con cá to và hối tụi tôi đi ngay, vì ở đây lâu không tiện dễ bị nghi ngờ.

Tôi và Long trở về hải cảng, trên đuờng đi thỉnh thoảng gặp các toán tuần tiểu của công an biên phòng, họ đi tuần tra dọc theo bờ biển. Chúng tôi giả vờ mò cua bắt cá trong các hóc kẻ đá, khi họ đi qua khỏi rồi thì tiếp tục đi. Đi bộ một đoạn đường khá xa chừng vài cây số. Khi về đến chỗ đậu xe thì thấy có gánh bán cơm, tôi đổi cho họ con cá để lấy hai dĩa cơm. Sau khi ăn xong, tôi bàn với Long và Nghĩa là tối nay phải vô ngủ ở trong hải cảng, vì sáng sớm đoàn xe sẽ chạy trở về Nam Vang, khi đó thì mình không còn có chỗ ẩn thân ở bên ngoài đuợc. Long và Nghĩa thì có ý định trở lại Nam Vang, rồi trở về Việt Nam kiếm thêm tiền, vàng rồi trở qua đây, để đi theo mấy ghe tàu đánh cá.

Riêng tôi thì tôi quyết tâm ở lại, kiếm chỗ ẩn náu quanh đây, may ra có dịp tìm đường đi, chớ quay trở lại Việt Nam thì không thể đuợc. Tôi quyết tâm là sẽ đi tới mãi chớ không quay lui. Riêng Long và Nghĩa đều là lơ xe nên chuyện đi hay trở về đều không có gì là nguy hiểm cả. Sau khi bàn tính một lúc thì Long và Nghĩa đồng ý ở lại vì thấy tôi quá quyết tâm. Chúng tôi mua ba ỗ bánh mì và lấy theo một bình nuớc rồi vô trong hải cảng ngay, truớc khi trời tối.

Tôi đã để ý từ truớc thấy có mấy goong xe lửa bỏ không ở một xó góc không có nguời lui tới. Vì vậy chúng tôi đợi đến khi trời tối, kín đáo lẻn vô trong toa xe đó và trốn luôn trong đó. Ngồi trong goong xe nhìn qua khe ván thấy đồn công an canh gác ở cổng cũng không xa lắm, vì vậy chúng tôi phải giữ gìn thật hết sức im lặng, đề phòng thật kỹ luỡng. Trong những lúc nguy hiểm tôi thuờng cảnh giác thức suốt đêm, quan sát nghe ngóng mọi động tịnh bên ngoài. Sợ khi ngủ hết, lỡ mà có nguời nào ngủ mớ la hoảng hay phát ra tiếng ngáy thì nguy hiểm lắm.

Khi trời sáng hẳn, tiếng đoàn xe rời hải cảng để trở về Nam Vang. Lúc bấy giờ bên ngoài không còn nguời lui tới, không còn thấy bóng dáng tài xế hay lơ xe nữa, vì vậy chúng tôi phải ẩn mình cho thật kỹ. Chúng tôi nằm im trong toa xe lửa đó, buổi trưa trời nóng như thiêu, chúng tôi cởi trần, nhờ khe ván hở nên cũng không đến đỗi nào. Tôi chỉ sợ nếu có nguời muốn sử dụng goong xe này, họ đến kéo đi thì rất là nguy, chúng tôi sẽ bị phát giác ngay.

Cho đến chiều thì may quá có một đoàn xe khác xuống cùng vào đậu ở phía cổng như truớc. Tôi mừng quá vì lại có dịp ra ngoài trà trộn với đám tài xế lơ xe mà không ai để ý. Và cũng vào khoảng 4 , 5 giờ chiều hôm đó, bỗng đâu xuất hiện một chấm đen từ ngoài biển khơi đang tiến dần vô bờ, càng lúc càng lớn dần và sau cùng hiện rõ ra một chiếc tàu đang huớng vô hải cảng, rồi từ từ cặp vào bến đá. Một chiếc thương thuyền quá lớn mang tên PEP STAR, đặc biệt là lá cờ trên tàu không phải là cờ đỏ búa liềm, chắc chắn không phải là tàu cộng sản. Hơn nữa chữ PEP STAR có vẻ là tiếng Anh hơn là tiếng Nga.

Sau khi tàu cặp bến xong xuôi, thấy có nhiều nguời đi lại gần chiếc tàu, khi đó tài xế và lơ xe ra vô tấp nập. Trời đã tối chúng tôi chui ra khỏi chỗ trốn và tìm cách lại gần chiếc tàu. Lúc đó có nhiều công nhân nguời Miên đang lên tàu, tôi liền hỏi nguời thủy thủ trên tàu họ cho biết  là tàu của nuớc Đan Mạch, mà Đan Mạch là một nuớc ở Âu Châu, nên tôi yên trí chắc chắn không phải là một nuớc cộng sản, tôi mừng quá vì có thể xin tị nạn đuợc.

Trong bóng tối chúng tôi ngồi ở xa xa nhìn lên chiếc tàu thấy công nhân nguời Miên lên xuống theo chiếc cầu sắt cặp sát bên hông tàu. Ở trên tàu ngay chỗ đầu cầu lên xuống có hai tên công an đang đứng canh gác kiểm soát mọi nguời lên xuống rất là kỹ lưỡng. Tôi tập trung quan sát mọi hoạt động trên tàu để tìm cách lẻn trốn lên tàu, nhưng rất là khó khăn vì hai tên công an đang canh gác quá kỹ. Nếu lở lên tàu mà chúng bắt tại trận thì hết đuờng chối cãi chỉ có nuớc vô tù, mà riêng tôi thêm tội trốn trại nữa thì chắc chúng sẽ không tha.

Kể từ khi chui ra khỏi hàng rào ở trại tù Tống Lê Chân cho đến bây giờ là tôi đã vuợt đuợc một quảng đuờng khá xa, đã ra khỏi nuớc và ra đến biển và con đuờng duy nhất là phải lên cho bằng đuợc chiếc tàu này. Nhìn lên trên tàu mà thèm thuồng uớc gì mình đuợc trốn vô nằm trong chiếc thuyền cấp cứu đang treo lủng lẳng đong đưa trên đó thì quá kín đáo. Tôi cứ nhìn hoài, tàu này chở những chiếc xe truck, chỉ có phần đầu máy với cái suờn phía sau. Đây là những chiếc xe viện trợ nhân đạo của Liên Hiệp Quốc. Cần trục trên tàu đang hoạt động liên tục đang bốc hàng xuống, mỗi lần một chiếc xe, cho nên rất là nhanh. Theo tôi nghĩ thì trong đêm nay sẽ bốc hàng xong và ngày mai tàu sẽ đi, mà tàu của các nuớc Âu Châu thì hiếm khi vào hải cảng của nuớc cộng sản này.

Trời tối dần mà Long và Nghia thì cứ hối thúc hoài, định leo đại theo dây cột tàu mà ra tàu. Nhưng đèn pha chiếu sáng khắp tứ phía thì làm sao mà leo ra đuợc, mà làm sao thoát hết đuợc ba đứa. Rồi Long lại tính đuờng nhảy xuống nuớc bơi qua bên kia thành tàu rồi tìm cách leo lên tàu. Tàu thì cao sừng sững đâu có dễ gì leo lên được, mà chung quanh đèn chiếu sáng choang, vừa nhảy xuống nuớc là bị bắn liền chứ đừng nói gì tới bơi ra tàu.

Tôi cứ chờ đợi dịp thuận tiện, mắt tôi cứ dán sát vào hai tên công an đang đứng gác trên tàu, một tên mang súng AK47, còn một tên mang K54 có lẽ là cán bộ. Quan sát theo dõi họ thật kỹ để mong tìm một chút sơ hở, nhưng mỗi lần có ai lên tàu là nó chận lại xét hỏi rất kỹ càng. Với lại mình không biết tiếng Miên, không giống nguời Miên, nên khó qua mặt đuợc nó.

Bỗng dưng trời xui đất khiến hai tên công an này đồng lúc rời bỏ vị trí buớc vô trong cabin tàu. Tôi vụt chạy lên tàu tức khắc kéo theo Long và Nghĩa. Khi lên đuợc trên tàu chúng tôi chạy băng qua bên kia thành tàu và tìm chỗ ẩn trốn, thì khi đó hai tên công an lại trở ra canh gác như cũ, nhưng chúng chỉ nhìn về phía cầu thang lên xuống, chứ không để ý gì về phía chúng tôi. Tôi nhìn quanh quất không thấy có chỗ nào để ẩn thân, không thể chui vô đống dây luột hay đống cây gỗ bên cạnh đó, vì dấu đầu lòi đuôi không thể che dấu hết ba nguời. Nhìn xuống hầm tàu thì thấy nhân công Miên đang làm ở duới đó và không thể lẫn quẫn ở đây lâu đuợc vì thủy thủ hay công nhân Miên bất chợt họ thấy họ sẽ nghi.

Ở trên tàu có hai cần trục một cần trục ở phía bên kia đang hoạt động liên tục, còn một cần trục phía gần bên tôi thì không hoạt động. Ở phía trên là phòng điều khiển bằng kiến, ở bên duới là phòng máy, có một lỗ tròn vừa nguời chun vô, tôi liền thử chui vô rồi kéo Long và Nghia vô theo. Tôi cố ép sát nguời vô trong để vừa đủ chỗ cho ba đứa ẩn mình. Lần lần tôi dọn dẹp các lon dầu, đồ đạt dụng cụ để chui sâu vào trong. Nếu có ai bất chợt đi ngang qua thì sẽ không thấy chúng tôi đuợc, nhưng nếu ló đầu vô trong thì sẽ thấy ngay. Hơi yên tâm một chút, lúc đó chắc cũng vào khoảng 11, 12 giờ đêm.
Cần trục bên kia vẫn còn đang tiếp tục hoạt động, độ một giờ sau thì chấm dứt. Sau đó công nhân lần luợt rời khỏi tàu, duy chỉ còn hai tên công an vẫn đi tới đi lui canh gác bên kia thành tàu. Sau đó nắp hầm tàu đuợc đóng lại, nắp hầm tàu làm bằng những lá sách bằng sắt nó chạy từ trong ra ngoài nghe rền vang. Sau khi nắp hầm tàu đậy xong, bây giờ chúng tôi có thể chui vô sâu thêm nằm truờn mình trên nóc hầm tàu và mọi sự trở lại vắng lặng hoàn toàn.

Tôi suy nghĩ, truớc khi tàu rời bến chắc chắn công an biên phòng và quan thuế sẽ kiểm soát rất kỹ, cho nên tôi phải tìm chỗ trốn khác kín đáo hơn, chớ không thể trốn ở đây đuợc. Lúc còn ở duới nhìn kỹ mọi hoạt động trên tàu, tôi thấy thỉnh thoảng có thủy thủ lên xuống ở phía truớc mủi tàu, như vậy phải có cầu thang lên xuống ở mũi tàu.

Đợi đêm thật khuya vắng lặng, tôi dặn dò Long và Nghĩa từng nguời một lần luợt chui ra và phải chờ khi nào công an quay lưng lại thì mới cho chui ra. Bò theo thành tàu, bò ra phía truớc mũi tàu để tìm cầu thang đi xuống hầm tàu. Trên tàu rất trống trải mà đèn thì sáng choang, do đó phải bò thật thấp để không thấy lộ hình lên trên nền trời. Sau cùng tôi đợi khi tên công an vừa xây lưng lại là tôi chui ra sau cùng, bò dọc núp duới thành tàu đến gần mủi tàu thì thấy có một cửa nhỏ, tôi mở chốt cửa rồi chui vào trong, có một cầu thang bằng sắt hình khu ốc, tôi lần theo xuống.

Xuống đến hầm tàu thì tôi thấy Long và Nghĩa nằm dài ở đó. Đây là khoang tàu nơi chứa hàng, sau khi hàng bốc đi rồi thì trống trơn không có chỗ nào để ẩn thân, mấy cây cột bằng sắt cũng không lớn đủ để che thân. Tôi thấy trốn ở đây không đuợc vì sẽ bị lộ ngay. Tôi lần theo cầu thang khu ốc để đi xuống nữa, thì khi xuống duới đáy hầm tàu, tôi thấy có một đống cây gỗ ở ngay mũi tàu, tôi mừng quá vì tìm đuợc chỗ trốn tốt. Tôi sắp lại đống cây gỗ để chừa ra một lỗ trống, đủ chỗ để cho ba đứa chui vào, xong rồi kéo thanh gỗ đậy lại, trông giống như cũ, không có dấu vết gì khả nghi. Lúc đó chắc khoảng 3, 4 giờ sáng, tôi nằm im trong đó, không dám ngủ và dặn kỹ Long và Nghĩa phải giữ thật im lặng, không được thở mạnh hay ho hen.

Độ khoảng 6 giờ sáng, tôi nghe tiếng lộp cộp đi xuống cầu thang, họ quét đèn lên trên đống cây, nhưng không thấy gì khả nghi, họ bỏ đi trở lên. Một lúc sau nữa tôi nghe tiếng còi tàu hụ lên ba tiếng, tôi mừng quá vì “tàu souffler ba là tàu ra cửa biển”. Một hồi sau tôi nghe tiếng sóng nước rào rào ở mủi tàu, tôi chợt biết là tàu đã chạy. Vì đang ở mủi tàu nên tôi không nghe tiếng máy tàu, mà chỉ nghe tiếng sóng nước đập vào thân tàu nghe rào rào và càng lúc càng mạnh. Đến một hồi nữa nghe ầm ầm, tôi biết là tàu đang chạy nhanh, đang rẽ sóng ra khơi. Một hồi sau chúng tôi chui ra khỏi đống cây gỗ.

Tôi định chờ một ngày một đêm rồi mới lên trình diện vì sợ nếu còn trong hải phận Kampuchia hay Việt Nam, thì họ có thể kêu tàu tuần đến bắt chúng tôi. Nhưng đến chiều thì Long bị ói mửa vì say sóng, càng lúc càng nặng, mặc dù trong bụng không còn thức ăn, chỉ ói ra nuớc, ói ra mật xanh.  Sau cùng Long năn nỉ tôi phải lên trình diện, nếu không sẽ chết. Lúc đó tôi nghĩ là tàu đã chạy đuợc khoảng 8, 9 tiếng đồng hồ, chưa được xa lắm, chắc là còn trong hải phận Việt Nam, nhưng vì Long năn nỉ quá, nên sau cùng tôi đành phải lên trình diện.

Một mình tôi lên truớc, theo cầu thang khu ốc để lên và khi vừa chui ra khỏi cửa ở mủi tàu nhìn lên phía phòng lái bằng kính, tôi thấy nguời hoa tiêu đang nhìn xuống phía chỗ tôi, chỗ mũi tàu. Tôi tức tốc tìm cách đi thật nhanh lên đó ngay, vì sợ họ kêu tàu tuần đến bắt. Tôi đi thật nhanh, leo lên cầu thang lên tầng trên cùng và đi thẳng vô phòng lái.

Thấy tôi vừa buớc vô phòng hoa tiêu, ông ta nỗi giận dậm chân đùng đùng, bấm còi báo động. Ông hỏi tôi là ai, làm gì vô đây. Tôi liền trả lời tôi là sĩ quan Việt Nam trốn từ trại tù ở Việt Nam sang Kampuchia và trốn xuống tàu hồi đêm qua, tôi xin được tị nạn. Nhờ tôi nói bằng tiếng Anh, mặc dù không được trôi chảy, nhưng cũng hiểu đuợc phần nào.

Lúc đó quần áo mặt mày tôi lem luốt dính đầy dầu nhớt, mạt cưa trông không giống ai. Tôi nói tiếp tên họ số quân của tôi và tôi đã học khóa Bộ Binh Cao Cấp tại truờng Fort Benning, tiểu bang Georgia, Hoa Kỳ và xin ông vui lòng liên lạc với tòa đại sứ Mỹ nào gần đây thì sẽ xác đinh đuợc lý lịch của tôi. Tôi xin ông một điều là nếu ông không nhận cho tôi tị nạn, thì xin ông bỏ tôi xuống biển, chớ đừng gọi tàu tuần đến bắt tôi, vì họ sẽ giết tôi.

Sau khi nghe tôi trình bày sự việc, tình hình bắt đầu lắng dịu, tôi liền nói thêm là hiện còn có hai nguời nữa còn đang trốn duới hầm tàu. Ông ta lại nỗi giận lên, kêu nguời đi xuống dẫn Long và Nghĩa lên. Long và Nghĩa đuợc dẫn lên ngồi trong góc, trông rất thãm não, mặt mày xanh xao, quần áo lem luốc bẩn thỉu. Xong rồi ông Thuyền truởng gọi báo về công ty, một lúc sau thì công ty chấp nhận cho chúng tôi tị nạn.

Tôi mừng quá đỗi, coi như được sống lại và tôi có hỏi ông là hiện giờ tàu đang ở đâu, có còn trong hải phận Việt Nam không, thì ông chỉ cho tôi thấy một hòn đảo trông mờ mờ từ xa đó là đảo Thổ Chu của Việt Nam và ông cũng nói thêm rằng là kể từ bây giờ không ai có quyền lên tàu này để bắt chúng tôi lại, vì đây là tàu của Đan Mạch là đất nuớc Đan Mạch.

Một số thủy thủ đứng chung quanh, nghe thấy, dần dần họ có cảm tình với chúng tôi, họ đưa cho quần áo giày dép rồi dẫn chúng tôi đi tắm. Cho chúng tôi vô ở trong một căn phòng, đây là phòng của một ông kỹ sư đã đi phép. Trên giường nệm có hai tấm nệm tôi lấy một tấm đặt xuống sàn nằm ngã lưng xuống một cách thoải mái tuyệt trần.

Một lúc sau chúng tôi được dẫn đi ăn, một bửa ăn thật tuyệt diệu trong đời, trong đó có cơm chiên dương châu và mấy  khúc cá thu hấp rất thơm ngon chưa từng có. Đây là một bửa ăn tuyệt diệu nhất, tự do nhất, thoải mái nhất, mà tôi cảm thấy như đuợc sống lại sau bao nhiêu ngày trốn tránh lang thang vất vả căng thẳng tột cùng, có đôi khi gần nhu tuyệt vọng.

Sau khi ăn xong bửa cơm tuyệt diệu đó, chúng tôi đuợc dẫn đi thăm viếng tàu. Truớc hết đến phòng ông thuyền truởng, ông rót ruợu uống mừng cho chúng tôi đã thoát nạn cộng sản và chụp hình lưu niệm. Sau đó đi tiếp qua các phòng và được biết trên chiếc tàu này có nhiều nguời thuộc quốc tịch khác nhau như Hòa Lan, Đan Mạch, Ba Tây, Phi Luật Tân v.v….Các thủy thủ trên tàu cho chúng tôi xem hình ảnh gia đình của họ và chuyện trò rất là thân mật, thật là hết sức lịch sự và đầy tình nhân ái. Nghĩa có mang theo một số tiền Việt Nam không còn xài được nữa, nên mới đưa cho các thủy thủ. Họ rất tốt bụng đã cho lại chúng tôi mỗi nguời 20 US dollars và chọn cho chúng tôi mỗi đứa một bộ đồ vừa vặn đẹp đẽ để mặc khi lên bờ.

Chúng tôi được cho lên phòng hoa tiêu để ngắm nhìn hoàng hôn trong buổi chiều tàn, nhìn mặt trời lặn trong cảnh nuớc trời bao la, thật là tuyệt đẹp, mà tuởng chừng như trên chốn bồng lai tiên cảnh nào vậy, trong khi con tàu đang luớt sóng thật êm đềm. Đây là một chiếc thương thuyền rất lớn nên chạy thật là êm ái, khác xa với cảnh tuợng của những chiếc ghe vuợt biên  bé nhỏ, chở đầy nguời, bập bềnh trên biển cả mênh mông, sóng gió hãi hùng, và còn phải lo sợ bị hải tặc hảm hiếp, cuớp của giết nguời thật là ghê rợn.

Buổi tối hôm sau tàu tiến vô một hải cảng với muôn ngàn ánh đèn rực rỡ, trong một vùng vịnh bao la, với vô số thương thuyền tàu bè đủ loại, trông thật hùng vĩ huy hoàng tráng lệ. Đó là hải cảng Singapore. Theo thủ tục của luật di trú thì chúng tôi phải vô trong phòng và thuyền truởng sẽ khóa cửa lại, để giử chúng tôi trong đó. Tuy nhiên nếu có cần gì thì cứ gọi, thỉnh thoảng có nguời đến thăm chừng, thật là hết sức lịch sự tử tế và chu đáo vô cùng.

Chừng vài tiếng đồng hồ sau thì có hai nhân viên của sở di trú Singapore đi xuồng máy ra lên tàu và mở khóa cửa phòng, thẫm vấn chúng tôi và làm thủ tục giấy tờ, xong rồi họ đi ngay. Sau đó thì có một phái đoàn của Cao Ủy Tị Nạn Liên Hiệp Quốc, UNHCR, xuống phỏng vấn và làm thủ tục. Tôi trình bày bằng tiếng Anh, nhưng bất ngờ nguời đó trả lời bằng tiếng Việt và bảo tôi cứ nói bằng tiếng Việt Nam đuợc rồi. Tôi mừng quá vì đuợc gặp nguời đồng hương, sau này tôi đuợc biết đó là cô Bích làm việc trong văn phòng Cao Ủy Tị Nạn ở Singapore. Khi làm thủ tục giấy tờ, và trong nguyện vọng xin đi định cư nuớc nào, thì tôi xin đuợc đi Mỹ, vì hiện tôi có một đứa em đang ở Mỹ, và tôi cũng đã từng du học ở Mỹ, nên nghĩ rằng sẽ đuợc cứu xét dễ dàng hơn. Chúng tôi ngủ thêm một đêm trên tàu và sáng hôm sau thì có nguời của Cao Ủy Tị Nạn ra đón ba đứa tôi lên bờ, tôi còn nhớ đó là cô Robin, nguời nuớc New Zealand.

Sau một thời gian 22 ngày đêm vuợt thoát từ trại tù Tống Lê Chân, nay tôi được đặt chân lên một đất nuớc tự do là nuớc Singapore vào ngày 27 tháng 6 năm 1980. Chúng tôi đuợc đưa về tạm trú ở khách sạn YMCA. Ở đây hiện có chừng muời nguời Việt Nam tị nạn cũng mới đến chừng vài ngày truớc và họ giao nhiệm vụ cho tôi làm thông dịch viên. Điều đầu tiên là tôi ra Bưu điện để đánh điện tín về Việt Nam cho gia đình tôi biết tin. Vì có tiền 20 dollars nên tôi gọi taxi ra Bưu điện và gởi điện tín về cho vợ tôi với nội dung nhu sau: “Đã giải phẩu xong bình an” , đó là câu mật hiệu để cho vợ tôi biết là tôi đã thoát nạn và đã đến nơi an toàn. Điện tín này đã đến nhà tôi vào ngày 30 tháng 6 năm 1980. Vợ tôi hết sức vui mừng khi nhận đuợc điện tín này, phân vân không biết Singapore là nước nào ở đâu. Vợ tôi liền đi xuống Mỹ Tho để báo tin mừng và vô Trung Lương, nơi đất hương quả mồ mã tổ tiên để cúng tạ.

Chúng tôi ở khách sạn YMCA vài ba ngày để làm thủ tục. Buổi chiều rỗi rảnh chúng tôi dắt nhau ra chợ Tàu. Đi bộ chừng 15 phút là đến, một dãy kios quán ăn rất là đông vui và ngon miệng. Long biết nói tiếng Tàu nên rất dễ giao tiếp. Ở Singapore 80% là người Hoa, còn lại là nguời Ấn và người Mã Lai.

Sau đó chúng tôi đuợc đưa vào Trại Tị nạn  Sambewang, còn gọi là trại Hawkins. Khi vừa buớc vô văn phòng trại tị nạn, tôi chợt thấy lá cờ vàng ba sọc đỏ thật lớn treo trên tường mà lòng hân hoan vui mừng quá độ. Tôi và nhóm nguời mới tới đều vui mừng sung suớng đến rơi nuớc mắt, đuợc hôn lên Lá Cờ Quốc Gia Dân Tộc và biết chắc rằng mình đã thật sự thoát khỏi ngục tù cộng sản và đã đến đuợc bến bờ tự do.

Chúng tôi đuợc lãnh tiền trợ cấp mỗi nguời 2.50 đồng một ngày, một đồng Singapore lúc đó trị giá vào khoảng 0.8 dollar Mỹ. Ngoài ra còn đuợc phát mỗi nguời một chiếc chiếu, và cứ 6 nguời thì đuợc phát một cái lò nấu ăn. Đây là một trại lính với nhiều tòa nhà có hai tầng khang trang, trại viên trải chiếu trên sàn gạch rất mát mẻ sạch sẽ, không có ruồi muỗi. Phía ngoài là sân cỏ, đuợc giử gìn chăm sóc cắt xén rất đẹp như một tấm thảm xanh.

Cuộc sống ở trại tị nạn này rất là thoải mái, có khu chợ nhỏ ngay trong trại, đa số là nguời Ấn độ, bán đủ loại thực phẩm, rau cải, trái cây, đặc biệt là trái sầu riêng ở đây có rất nhiều. Ở ngoài vòng rào và cách trại chừng vài trăm thuớc, có một con rạch rất lớn, có nhiều cá, nhứt là cá rô Phi. Có nguời chui rào ra, luới đuợc rất nhiều cá, đem về bán chui qua các nhà.

Những nguời đuợc đưa về trại này thuờng là chỉ đuợc tạm trú ở đây khoảng 3 tháng, để làm thủ tục đi định cu, hoặc là những nguời từ trại đảo Galang đưa đến chờ máy bay để đi định cư. Hàng ngày công việc của trại là theo dỏi tin tức phát thanh trên loa, để biết khi nào đuợc gặp phái đoàn để đuợc phỏng vấn và khám sức khỏe.

Khi mới đến trại khai hồ sơ lý lịch, vì tôi đã từng du học bên Mỹ nên được Ban Chỉ huy trại giao nhiệm vụ làm Thông dịch viên. Công việc thường ngày của tôi là giúp thông dịch nếu có phái đoàn vô trại. Còn không thì phải đưa người đi ra các toà Đại Sứ Anh, Mỹ, Úc v.v…Hoặc đưa người đi bệnh viện, để khám sức khỏe để đi định cư. Ở trong trại cũng có bệnh xá để điều trị các bệnh nhẹ thông thường như ho, đau bụng, nhức đầu, nóng lạnh v.v…Lúc đó có Bác sĩ Rạng trách nhiệm bệnh xá, ông cũng là người tị nạn và trước kia ông từng là bác sĩ của Bệnh viện 3 Dã chiến ở Phú lợi Bình Dương.

Ở trong trại tôi thấy có nhiều hoàn cảnh rất là thương tâm. Có nhiều nguời mất vợ mất con mất cha mất chồng trên đường vượt biển. Như có một ông bác sĩ, tôi nhớ mang máng tên là Phùng, Bác sĩ Phùng, ông bị khủng hoảng tinh thần gần như điên loạn, vì cả gia đinh vợ con đều bị chết. Tôi thấy ông cứ đi lang thang nói nhảm suốt cả ngày. Vì ông mắc bệnh tâm thần như vậy nên không được phái đoàn nào phỏng vấn, rồi không biết sau này ra sao.

Sau khi đến trại đuợc một tuần, tôi liền gởi gói quà nhỏ đầu tiên về cho gia đình, trong đó có vài thước vải đen, chai dầu xanh và kẹo bánh. Ba tháng sau vào tháng 10 năm 1980 thì tôi được đi định cư qua Mỹ. Long và Nghĩa thì được định cư ở Đan Mạch.

Với lòng tri ơn sâu xa, tôi xin ghi lòng tạc dạ công ơn cứu tử của thuyền trưởng và toàn thể thủy thủ đoàn trên chiếc thương thuyền Pep Star, thuộc công ty hàng hải của nước Đan Mạch, đã cứu vớt tôi và giúp cho tôi thoát khỏi ngục tù cộng sản và cho tôi đến được bến bờ tự do. Đây quả là một công ơn quá lớn lao mà suốt đời tôi không bao giờ quên đuợc.

Tôi cũng không bao giờ quên nghĩa cử cao đẹp, đầy lòng nhân đạo của Cơ quan Tỵ nạn Liên Hiệp Quốc UN/HCR và dân tộc các nuớc trên thế giới, đã mở rộng vòng tay cứu vớt, trợ giúp và cưu mang chúng tôi, những người tị nạn trốn chạy khỏi chế độ cộng sản bạo tàn phi nhân bản.

Sau khi đến Hoa Kỳ được một năm thì tôi đuợc vào quy chế thường trú, năm năm thì đuợc vào quốc tịch. Ngay khi đến Hoa Kỳ, tôi lo ngay việc nạp đơn xin bảo lãnh gia đình qua chương trình ODP và 9 năm sau thì vợ tôi và ba đứa con đã đến được Hoa Kỳ. Sau hơn 14 năm xa cách kể từ ngày 30 tháng 4 năm 1975, ngày miền Nam rơi vào tay cộng sản, nay gia đinh tôi đuợc đoàn tụ lại như xưa, đã thoát khỏi gông cùm cộng sản và được sống trên quê hương mới đầy lòng nhân ái bao dung.

Đây quả như là một phép lạ do Ơn Trên ban phuớc cho.

Nguyễn Ngọc Thạch, K20 VBĐL

https://anhbasam.wordpress.com/2015/04/22/3764-loat-bai-ve-saigon-sau-1975-cuoc-dao-thoat-ly-ky-cua-mot-tu-nhan/.

Posted in Bắt bớ-Tù Đày-Đánh đập-Đàn Áp, Chạy trốn chủ nghĩa Cộng sản, Chien Tranh Viet Nam | Leave a Comment »

►40 năm nguyên vẹn một vết thương rỉ máu

Posted by hoangtran204 trên 24/04/2015

Blog RFA

Lê Diễn Đức

21-04-2015

H1Ngày 30 tháng Tư năm 1975 tôi ở trong nhà tù Hoả Lò ở Hà Nội. Tôi bị Toà án Nhân dân Hà Nội kết án hai năm tù giam về tội “trốn ở lại nước ngoài”. Tôi bị giam giữ biệt lập ở trại tù Thanh Xuân gần một năm để điều tra và sau đó ở Hoả Lò cho đến khi được trả tự do.

Hôm ấy không khí trong nhà tù sôi động, sau khi ông Trung uý Huệ thông báo và mọi người tập trung ở ngoài sân nghe đọc báo Nhân Dân.

Tôi vẫn nhớ như in hình dáng của ông trung úy Huệ già, có mái tóc bạc trắng, một con người hiền lành và nhân hậu. Ông là người miền Nam tập kết ra Bắc năm 1954, tôi chỉ biết có thế. Ông là giám thị của buồng 15, chứa khoảng hai trăm tù nhân, đa phần là cán bộ nhà nước tham ô, một phần nhỏ khác là giới xã hội đen, nhưng không thuộc loại nguy hiểm…

Có lần một tay anh chị trong đám này gây sự với tôi khi tắm, chưa kịp đánh nhau thì trật tự phòng can ngăn và báo cáo sự việc lên ông Huệ. Tôi bị gọi lên phòng ông làm việc. Ông pha trà và mời tôi hút thuốc. Ông nói với tôi gây sự trong tù sẽ bị kỷ luật và an toàn của bản thân bị đe doạ. Tôi thanh minh lỗi không phải từ phía tôi. Ông nói ông biết và chắc là nắm được lý lịch của tôi nên ông nói tiếc cho tôi quá, học sinh, sinh viên giỏi mà sao lại để ra nông nỗi này. Có vẻ ông chia sẻ với tôi hơn là trách móc, giáo dục. Rất có thể vì thấy tội nghiệp cho hoàn cảnh của tôi mà sau này ông đã sắp xếp tôi xuống bếp ăn của nhà tù, một công việc mơ ước của bao tù nhân khác, vì đã xuống bếp thì được sang ở khu khác, sinh hoạt thoải mái hơn, thỉnh thoảng còn được ra ngoài phố (lấy than) và quan trọng nhất là không bao giờ bị đói nữa.

Ngày 30 tháng Tư, ai ai cũng vui mừng vì chiến tranh kết thúc. Riêng tôi rất buồn. Tôi không nghĩ Bắc Việt sẽ chiến thắng dễ dàng như thế. Sau này khi ra tù, tôi sẽ tìm cách vượt tuyến vào Nam. Cách trốn qua sông Bắc Hải như thế nào, rồi tiến vào phía Nam qua sông Hàn ra sao trong lúc khói lửa đang ác liệt ở vùng Quảng Trị, Huế, tôi đã được một tù nhân khác ở cùng phòng một thời gian ngắn lúc ở trại giam Thanh Xuân, chỉ dẫn. Qua được sông Hàn là thoát, anh ta khẳng định như thế.

Mặc dù không hiểu biết bao nhiêu về chế độ Việt Nam Cộng Hoà nhưng tôi nghĩ rằng, một nạn nhân của miền Bắc, chỉ yêu với một cô gái Ba Lan và tìm cách ở lại nước ngoài mà bị tù đày, chắc chắn tôi sẽ được tiếp nhận. Tôi khao khát tự do và tôi tin rằng chế độ Việt Nam Cộng Hoà tự do hơn miền Bắc. Tôi chỉ có một con đường duy nhất ấy. Bởi vì với cái án tù, trong chế độ cộng sản, tôi sẽ chẳng thể nào có cơ hội vươn lên nữa. Chắc chắn tôi sẽ chịu thân phận con trâu đi trước, cái cày theo sau, sẽ bị xã hội khinh rẻ, đời sống sẽ chìm trong tủi nhục.

Ngày 30 tháng Tư năm 1975 chấm dứt mơ ước phiêu lưu của tôi, khép lại cánh cửa và để lại trước tôi một viễn cảnh đen tối. Làm sao tôi không buồn. Tôi không dám chia sẻ nỗi buồn với ai. Tôi im lặng gặm nhấm và xác định cho mình một tương lai khác. Một cái mốc xoay chuyển cuộc đời tôi!

Ngày 2 tháng 9 năm 1975, đại ân xá và tôi ra tù trước thời hạn 5 tháng. Nhận lại quần áo từ Ba Lan mang về bị giữ lại từ lúc bị bắt, cầm “Lệnh tạm tha” bước ra khỏi cổng chính nhà tù Hoả lò, tôi ngơ ngác nhìn quanh phố phường Hà Nội. Về đâu? Tôi rảo bước một cách vô thức, không biết đi đâu. Trời lất phất mưa. Cờ, khẩu hiệu giăng khắp phố. Những chiếc xe đạp qua lại, có những cô gái mặc áo dài, chắc đi dự ngày lễ ở đâu đó. Tôi không phải là dân Hà Nội, nên rất bỡ ngỡ. Trong túi không có đồng nào, tôi hỏi đường đi lên Bờ Hồ và nhảy lên tàu điện xuống Thanh Xuân, nơi có anh ruột đang học Đại học Tổng hợp. Một hành khách nhìn tôi nói anh ở nước ngoài về à (chắc nhìn tôi ăn mặc và xách cái túi du lịch), đi tàu hãy cẩn thận, dễ bị móc túi lắm. Tôi cám ơn. Thật là may mắn, chẳng thấy ai soát vé cả…

Hôm nay, 40 năm sau, tôi ngồi ở thành phố Houston, nước Mỹ, viết lại những dòng này. Tôi đã định cư và ổn định trên đất Mỹ. Bốn đứa con tôi, con trai đầu là công dân Australia đang sống và làm việc ở Melbourne, ba đứa khác đều là công dân Mỹ. Hạnh phúc ngập tràn, cái giấc mơ nhỏ nhoi vượt biên vào Nam ngày nào không thực hiện được thì giờ đây, như có phép lạ, tôi được sống ở Mỹ, đất nước đã có tới 58 ngàn chiến sĩ bỏ mạng để ngăn chặn làn sóng đỏ, bảo vệ tự do cho miền Nam Việt Nam!

Cuộc hành trình tìm đến tự do của tôi tuy không bi thảm như hàng triệu người miền Nam đã đối diện với hiểm nguy và cái chết trốn chạy khỏi chế độ cộng sản sau ngày 30 tháng Tư năm 1975, nhưng cũng sóng gió và mạo hiểm, đòi hỏi một nỗ lực rất lớn, cộng với may mắn.

Tôi nhìn thấy một cộng đồng người Việt tị nạn cộng sản ở Mỹ trưởng thành trong mọi lĩnh vực, nhiều người là những nhà khoa học, chuyên gia kỹ thuật, chính khách, thương nhân giỏi hội nhập vào dòng chính nước Mỹ, góp phần vào sự phát triển của nước Mỹ, quê hương thứ hai của họ, nơi đã che chở, bao dung họ trong những ngày chân ướt chân ráo đặt chân tới miền đất lạ.

Tôi chia sẻ với người Việt khi họ gọi ngày 30 tháng Tư là ngày “quốc hận”, vì ngày ấy là ngày một quốc gia hợp pháp, một nền cộng hoà dân chủ non trẻ bị bức tử. Lá cờ vàng ba sọc đỏ của quốc gia đó, Việt Nam Cộng Hoà, gắn liền với những kỷ niệm đẹp một thời, rất nhiều người đã vì tự do mà ngã xuống lá cờ đó.

Quốc hận còn có nghĩa những người phụng sự cho quốc gia ấy đã bị chế độ cộng sản trả thù một cách vô nhân đạo. Hàng trăm ngàn quân cán chính của Việt Nam Cộng Hoà bị đưa đi tập trung cải tạo, không thông qua xét xử, gia đình của họ bị cô lập, bị phân biệt đối xử hà khắc, chính sách đi dân đi kinh tế mới, cải tạo công thương, ngăn sông cấm chợ đã đẩy cuộc sống vào bế tắc, khiến cả triệu người phải bỏ nứơc ra đi.  Đây là bản cáo trạng tội ác khủng bố của nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam. Vết thương này quá lớn, nó là nguyên nhân của sự chia rẽ và vẫn sẽ tiếp tục rỉ máu, khi đất nước Việt Nam còn bị áp đặt sự thống trị độc quyền, độc tài, phi dân chủ của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Ở Ba Lan, nơi tôi sinh sống nhiều năm, sau khi chế độ cộng sản sụp đổ vào năm 1989, không có vấn đề trả thù những người cộng sản. Thành công nhất của Ba Lan là xã hội mới trở thành mái nhà chung cho tất cả những người có chính kiến, quan điểm khác nhau. Những người cựu cộng sản Ba Lan đã lột xác, rũ bỏ ý thức hệ mác-xít, thành lập đảng Liên minh Cánh tả Dân chủ theo khuynh hương dân chủ-xã hội.

Tháng 12 năm 2005 Quốc hội Ba Lan đã ra nghị quyết về tình trạng thiết quân luật mà nhà cầm quyền Cộng sản Ba Lan ban hành ngày 13 tháng 12 năm 1981 nhằm dập tắt phong trào đối lập. Trong gần hai năm 1981-1983 đã có gần 10 ngàn người bị giam giữ và kết án, hàng trăm ngàn người đã rời bỏ Ba Lan chạy qua các nước phương Tây, được xem là một giai đoạn đen tối nhất của lịch sử Ba lan sau Chiến tranh Thế giới II.

Đề xướng nghị quyết lại chính là những người cựu Cộng sản Ba Lan trong quốc hội. Nghị quyết viết: “Quốc hội Ba Lan tỏ lòng thương tiếc và tưởng nhớ đến những người Ba Lan – những nạn nhân của sự truy bức, đàn áp chỉ vì họ muốn thực hiện ước mơ cho một Ba lan dân chủ và tự do. (…) Kinh nghiệm của quá khứ là bài học cho những người cầm quyền và xã hội rằng, bằng bạo lực không những không hạn chế được nhân quyền, tự do của công dân, mà cũng không thể giải quyết được các vấn đề cơ bản của nhà nước” (Nhật báo Gazeta Wyborcza ngày 16/12/2005).

Còn A. Kwasniewski, cựu Bộ trưởng trong chế độ Cộng sản, Tổng thống Ba Lan dân cử hai nhiệm kỳ (1995- 2005) đã xin lỗi nhân dân Ba lan về giai đoạn thiết quân luật, về sự chịu đựng và tổn thương mà nhân dân Ba Lan đã phải trải qua.

Trong một xã hội mà nhà nước không do nhân dân bầu chọn tự do, không thể nào có chỗ đứng cho sự hoà hợp hoà giải, bởi vì nhà nước ấy là đại diện cho một băng đảng đặc quyền đặc lợi, chỉ biết đặt lợi ích của mình lên trên lợi ích dân tộc.

Trong một xã hội mà nhà cầm quyền lấy truy bức và đàn áp là phương tiện để duy trì quyền lực, cũng không có chỗ cho sự nhìn nhận sai lầm chân thực. Vì thế, nhân 40 năm ngày 30 tháng Tư, người ta vẫn cao ngạo duyệt binh, ăn mừng “chiến thắng”!  

40 năm vẫn nguyên vẹn một vết thương rỉ máu!

Posted in Chạy trốn chủ nghĩa Cộng sản, Chien Tranh Viet Nam | Leave a Comment »

►Không phải tạm dung!

Posted by hoangtran204 trên 07/03/2015

Không phải tạm dung!
Monday, February 23, 2015

Lệ Hoa Wilson

Tôi người Việt Nam. Ông xã người Mỹ. Chúng tôi gặp nhau và thành hôn năm tôi 30 tuổi, đã một lần ly dị và có hai đứa con. Ông xã thì cũng 30 tuổi và còn là trai tơ.

Vùng I chiến thuật lấy Ðà Nẵng (nơi tôi và ông xã gặp nhau) làm thủ phủ nên có rất nhiều bộ chỉ huy trong đó có nhà thương của Hải Quân Mỹ là trung tâm y tế cho tất cả binh sĩ Mỹ trong vùng. Qua khỏi ngã tư Mỹ Khê, quẹo mặt để đi vào núi Non Nước, nằm về phía tay mặt là nhà thương. Tôi đoán nó chiếm trọn ít nhứt là năm mẫu đất với các trung tâm y tế mổ xẻ, chữa trị đủ loại, nhà ở cho binh sĩ và dĩ nhiên là một nhà xác! Một nhà xác không có nhiều nước mắt vì thân nhân ở mãi mười ngàn dặm xa!

Trước mặt nhà thương là một bãi đáp trực thăng để tải các thương binh, các chiến sĩ tử trận từ các chiến trường vùng I. Mỗi lần trực thăng đáp xuống thì con đường xe chạy được các quân cảnh Mỹ chận lại, từng chiếc cáng được vội vã khiêng ra chạy thẳng vào cổng chánh, có người sẽ tỉnh lại với một cái chân nằm đâu đó trong lá rừng rậm rạp, có người sẽ được trở về quê hương dưới lá cờ phủ kín, có người sẽ ngậm ngùi từ biệt những giấc mơ vì cánh tay đã mất, gương mặt đã bị tàn phá, linh hồn đã bị tổn thương…

Đại gia đình tác giả (áo đỏ, đứng thứ 2 từ trái) trong lần cậu con trai út tốt nghiệp đại học UC Berkeley. (Hình: Tác giả cung cấp)

Vì ông xã thuộc binh chủng hải quân và đóng quân trong nhà thương nên tôi đã có biết bao lần phải ngừng xe, tắt máy, ngồi nhìn những bước chân vội vã, những gương mặt chịu đựng, những ánh mắt buồn hiu của những người tải thương. Mỗi khi có một cái cáng phủ cờ Việt Nam hay Mỹ thì những người Mỹ xuống xe đứng nghiêm chỉnh đưa tay chào vĩnh biệt. Tôi ít khi thấy thương binh Việt Nam, có thể vì họ được chuyển tới một trung tâm y tế khác. Chỉ có một lần tôi thấy một cái cáng được khiêng ra khỏi cửa trực thăng, lá cờ Việt Nam Cộng Hòa phủ kín. Tôi không thấy mặt cũng như binh chủng của tử sĩ nhưng một người đàn bà đầu tóc rũ rượi, cánh tay quấn băng treo vào vai còn đẫm máu đang lảo đảo nhảy ra khỏi cửa trực thăng. Tóc chị trước kia chắc được cột lại bằng dây thun, nay chỉ còn một vài lọn lỏng lẻo trên đỉnh đầu còn bao nhiêu thì thả dài rối rắm xung quanh mặt.

Bạn ơi, hình ảnh đau thương nhứt không phải là cái cáng có người chết nằm phủ kín lá cờ vàng chói, không phải dòng nước mắt đầm đìa trên mặt người sống sót mà là một miếng băng vải mỏng dùng để quấn vết thương. Nó bị dơ vì đất và máu. Nó chỉ dài bằng một chiếc khăn mùi soa. Nhưng nó lại được người vợ trân trọng để ngang lên trán, dùng một cọng lạt dừa cột vòng lại sau đầu. Mảnh khăn tang được vội vã quấn tạm thời nhưng sự ly biệt thì chắc chắn ngàn trùng xa cách. Người thiếu phụ Việt Nam đang để tang cho người chồng chiến sĩ đã hy sinh vì tổ quốc!

Tôi không ra khỏi xe chào vĩnh biệt người chiến binh nhưng gục mặt vào tay lái nước mắt tuôn rơi khóc thương cho những đứa trẻ đang quẩn quanh trong thôn xóm chờ cha trở lại. Tôi tưởng tượng tới lúc gia đình nghe tiếng chuông reo, mở cửa ra và thấy một người binh sĩ đứng trước mặt với cái nón cầm trên tay. Người mẹ ở ngàn dặm xa kia có ngã xuống vì trái tim tan nát?… Một cái gì đó nhen nhúm trong tâm hồn tôi. Chiến tranh tiếp diễn cho tới một lúc nào đó thì hòa ước được ký, quân đội Mỹ rút đi.

Anh nấn ná xin ở lại Việt Nam và là nhóm binh sĩ cuối cùng ra khỏi phi trường Tân Sơn Nhất vào đầu năm 73. Tháng 6, 1973, tôi sanh đứa con trai đầu lòng cho anh. Tháng 9 năm 74 tôi qua Mỹ thăm anh tiện thể thăm dò chuyện xuất nhập cảng. Chúng tôi dự định chờ anh ra khỏi quân đội và sẽ về sinh sống tại Việt Nam. Ðiều kiện để tôi nói “I do” là chúng tôi phải ở Việt Nam và sẽ có bảy đứa con. Tôi nào biết trời cao đất rộng là gì, chỉ biết rằng tôi rất ham con và bảy đứa là một con số chấp nhận của gia đình VN, đâu nghĩ rằng đối với người Mỹ hai đứa là lý tưởng, ba đứa là chau mày, bốn đứa là nổi điên, năm đứa là tan nát, sáu đứa là thảm họa mà bảy đứa là… rồi đời!

Thời cuộc thay đổi, đến tháng 3 năm 75 thì tôi quay về Việt Nam để đón các con. Lúc đó tôi đang có thai đứa thứ hai được bảy tháng. Khi còn bên Mỹ, qua tin tức trên báo và tin rỉ ra trong quân đội thì chúng tôi biết chắc là Saigon sẽ mất, nhưng khi về Việt Nam thì Saigon vẫn vui vẻ, vẫn bình yên. Rạp chiếu bóng vẫn hát, tiệm ăn vẫn mở cửa, đám cưới vẫn tiến hành, tình yêu vẫn nở hoa… Tôi thầm cằn nhằn báo chí Mỹ thật là dỏm, toàn là đưa tin vịt không hà.

Nhưng với ngày qua, mọi việc có vẻ tệ hơn. Nhóm người quen bán hột xoàn với mẹ con tôi cùng nhau an ủi rằng “bà Mỹ” còn ở đây chưa chạy thì lo gì. Ông xã tôi kêu điện thoại ngày một hối thúc tôi ra đi. Tôi trả lời là má tôi không cho đi, sợ về Mỹ sanh rồi lấy ai săn sóc, làm sao có củi lửa để hơ, có lá xông để tắm, có nghệ vàng để thoa mặt, v.v.. Sanh xong rồi tôi sẽ qua.

Một tuần sau tôi mất liên lạc với anh.

Ngày 20 tháng 4, 1975 một trung sĩ Việt Nam lái xe jeep đến nhà tôi, gõ cửa:

“Xin lỗi đây có phải là nhà của bà Lê Thị Hoa không?”.

Tôi trả lời:

“Trung sĩ ơi, ở đây không có bà Lê Thị Hoa chắc trung sĩ muốn kiếm bà Lệ Hoa phải không?”

Viên trung sĩ vội nói:

“Tôi cũng không biết chắc. Tôi làm việc cho ban an ninh phi trường và được lịnh tới đây chở cái bà có chồng Mỹ lên gặp đại tá Mỹ phụ tá tùy viên quân sự…”

Tôi cầm lấy giấy và thấy tên tôi. Tôi vội dẫn theo hai đứa con nhỏ nhất lên phi trường Tân Sơn Nhất. Khi vào văn phòng,vị đại tá cho tôi biết là ông xã đã liên lạc với cơ quan của ông và nhờ họ giúp tôi và các con phương tiện để rời Việt Nam.

Vị đại tá nhìn xấp tài liệu nói:

“Chồng bà yêu cầu tòa đại sứ giúp đỡ bà và ba đứa con di tản khỏi Việt Nam lập tức. Xin bà hãy để hai đứa trẻ nầy lại đây cho cô thơ ký tôi trông chừng, còn bà thì theo xe trở lại nhà và dẫn đứa thứ ba tới đây, chúng tôi sẽ làm giấy tờ và gia đình bà sẽ ra đi nội trong ngày nay.”

Tôi ngẩn ngơ nhìn vị đại tá ngồi nghiêm chỉnh trước mặt:

“Ngài đại tá, ngài có nói chơi không? Tôi sanh ra, lớn lên, sống ba mươi lăm năm tại non nước nầy giữa cha mẹ, thân nhân, bạn bè… và bây giờ ngài cho tôi hai tiếng đồng hồ để từ bỏ tất cả… xin ngài hãy nói là ngài nói chơi, chuyện nầy không có thật…”

Nước mắt tôi ứa ra và chắc là tôi có vẻ bi thương của một con thú sắp chết nên vị đại tá rộng lượng nhìn tôi :

“Tôi biết tình cảm của bà. Thôi bà hãy dẫn con về và ngày mai trở lại. Ngày mai, bà có nghe rõ không? Chuyện đầu tiên bà thức dậy ngày mai là cùng ba con lên xe đến đây. Tôi sẽ gởi người trung sĩ nầy đến nhà bà sáng mai.”

Tôi về nhà và cả nhà bắt đầu khóc. Tôi đi lên đi xuống thang lầu, mở các hộc tủ ra rồi đóng lại, ra sân thượng nhìn chậu cúc héo queo, xuống nhà bếp ngồi lên bộ ván ngựa,vô nhà tắm rờ rờ cái lon múc nước, ra phòng khách nằm lên võng đưa kẽo kẹt… Tôi như người mộng du, làm tất cả những hành động vô nghĩa đó với tiếng khóc hụ hụ.

Ba giờ chiều tôi gọi điện thoại cho vị đại tá biết là vì tôi bị xúc động nên đã động đến cái thai. Hiện giờ tôi đang ra huyết và bác sĩ cấm không cho tôi di chuyển cho đến ba ngày sau. Dĩ nhiên vị đại tá không dám giỡn với tánh mạng người khác nên phải đồng ý cho tôi thêm ba ngày nữa. Tôi không nghĩ là sau ba ngày đó tôi còn có được một giọt nước mắt nào nữa trong cuộc đời.

Ba má tôi không đi vì tôi có người anh đi tập kết: ông bà chờ sự trở lại. Anh rể tôi không đi vì là sĩ quan Cộng Hòa: sợ mang tội trốn lính. Chị tôi không đi vì theo chồng.

Ba đứa cháu trai theo tôi vì sợ sẽ phải bị đày đi lính. Một đứa cháu gái theo tôi vì sợ sẽ bị gả ép cho thương phế binh Cộng Sản.

Vì thế ba ngày sau tôi mang một bụng bầu tám tháng và bảy đứa nhỏ lên phi trường. Vị đại tá nhìn tôi như nhìn con quái vật:

“Xin lỗi bà, theo giấy tờ thì tôi chỉ có quyền cho bà và ba đứa con của bà đi. Hiện tại bà có tới bảy đứa! Tôi thật không thể giúp bà.”

Khi người ta phải phấn đấu cho sự sống chết thì can đảm và khôn ngoan ở đâu bất chợt hiện ra. Tôi nhẹ nhàng nói:

“Tôi hiểu thưa đại tá. Tôi không trách ông. Nhưng đây là những đứa cháu tôi nuôi từ nhỏ giống như con tôi vậy. Nếu ngài không cho chúng đi thì mẹ con tôi cũng xin ở lại.”

Vị đại tá bối rối nhìn tôi. Có lẽ ông đã biết rằng rồi thì Việt Nam sẽ mất, rồi thì một làn sóng người sẽ cuồn cuộn ra đi. Sớm một vài ngày, bốn đứa trẻ nầy có thấm gì đối với số người đang rần rộ chen lấn ngoài kia. Ông thở dài, ngồi xuống ghế ký cái công văn “eight months pregnant wife and seven children of US citizen need to be evacuated” rồi đưa cho tôi. Chúng tôi theo dòng thác người nhớn nhác ra đi.

Chúng tôi tới Camp Pendleton ngày 5 tháng 5 năm 1975. Anh đang đóng quân ở Ferndale, một tỉnh lẻ nhỏ nhắn hiền hòa chỉ có bảy ngàn dân, cách San Francisco sáu tiếng đường xe về hướng bắc. Lúc đó chiến tranh lạnh giữa Hoa Kỳ và Nga Xô vẫn tồn tại nên đây là một căn cứ hải quân rất quan trọng nằm trên một ngọn đồi cao ngó ra biển. Các đài radar tối tân được đặt cùng khắp để theo dõi các tàu ngầm xâm phạm bất hợp pháp vào hải phận Mỹ và California.

Khí trời California lúc đó là 75 độ mà mọi người lạnh cóng. Ðêm thứ hai tại camp, anh lái xe một lèo 16 tiếng để đến đón mẹ con tôi. Mười một giờ khuya một người lính Mỹ đến lều để dẫn tôi lên văn phòng nơi anh đang làm thủ tục.

Bạn có biết lúc đó tôi giống ai không?

Không Giống Ai Hết!

Ðây là một người đàn bà 36 tuổi, tóc hơi dính chùm lại vì cát bụi, mặt hỏm vào, gò má bị nám, mặc một cái áo dài xanh bên hông chỉ gài được một nút ở dưới nách vì thai bụng quá lớn, ngoài khoác một áo bầu thùng thình màu trắng, đầu trùm cái mền xám cột thắt dưới cằm, chiều dài mền thả phấp phới sau lưng. Le lói hơn nữa là người lính Mỹ trẻ thấy tôi run cầm cập nên cởi cái áo lính trận ra, trước mặt đầy những túi để dao găm, lựu đạn v.v… và trùm lên tôi. Tôi bước vào căn lều. Bàn làm việc nằm cuối phòng và anh đang đứng cúi xuống ký giấy tờ.

Chưa bao giờ trong đời tôi lại bước những bước chân nhẹ nhàng, nặng nề, tủi hổ, hoang mang, giải thoát, run sợ như lúc đó. Ðây là lúc bắt đầu cho những ngày tươi sáng với sum họp thương yêu, với nhà lầu chọc trời, với ngựa xe rộn rã, với tương lai đại học hay là lúc chấm dứt cho dòng sông Hậu hiền hòa với hàng dừa nặng trái, lúc từ giã những hàng me xanh thân yêu Trần Quý Cáp, lúc quay lưng lại với bến Ninh Kiều đằm thắm xinh tươi, lúc quì lạy cha mẹ quê hương nói lời vĩnh biệt?

Tiếng bước chân tôi làm anh quay lại. Anh bước tới ôm lấy tôi. Tôi cố gắng để khỏi ngất đi, quì xuống sàn nhà, tay ôm lấy mặt và nghẹn ngào: “Oh My God honey, I lost my family, I lost my country, I lost everything!” rồi tôi khóc nức nở. Anh quì xuống ôm đầu tôi. Anh cũng khóc. Tất cả người Mỹ trong phòng đều rưng rưng.

Ngày 13 tháng 6 năm 1975 tôi sanh cháu Jimmy. Tháng 9 tựu trường, tôi gởi hai đứa nhỏ nhất cho cô bạn, đi làm phụ giáo lớp một trường tiểu học Ferndale, hai đô la rưỡi một giờ.

Hè 1976, tôi đứng bán hot dog trong hội chợ và ba thằng lớn thì đi dọn rửa phân ngựa trong trường đua. Lúc đó chánh phủ Mỹ còn giàu nên cứ hai năm là các quân nhân được đổi tới một trạm binh khác. Tôi thấy tụi nhỏ rất buồn và sợ rằng sự dời chỗ thường xuyên sẽ làm tụi nó hụt hẫng vì xa bạn nên khuyên anh giải ngũ. Và chúng tôi dọn xuống miền Nam California, tỉnh La Habra.

Tôi thì để tất cả sự nghiệp lại Việt Nam, anh thì trước khi biến cố Việt Nam xảy ra, đã bị thua lỗ tất cả vốn liếng trong một vụ hùn hạp mở tiệm in với một nhóm dân sự nên chúng tôi hoàn toàn… sạch sẽ. Khi đi mướn nhà ở đường Dexford, La Habra, chúng tôi chỉ dẫn theo bốn dứa nhỏ nhất, hai trai hai gái. Chủ nhà là một người đàn ông Mỹ dễ thương, khi biết anh vừa giải ngũ thì rất vui vẻ nói:

“Ô, căn nhà nầy có ba phòng lớn, thật là lý tưởng cho gia đình ông bà với hai trai hai gái. Tôi rất vui lòng cho ông bà mướn.”

Chúng tôi dở khóc dở cười. Anh là người ít nói và chậm chạp nên tôi bèn duyên dáng cười cười nhìn ông

“Thưa ông, nếu tôi nói với ông là chúng tôi có tám đứa con thì ông có tin chúng tôi không?”

Lần nầy thì chủ nhà nhìn chúng tôi dở khóc dở cười. Ông ngẫm nghĩ một lát rồi nói:

“Thôi được, tôi đồng ý cho ông bà mướn. Mỗi tháng tôi sẽ đích thân đến thâu tiền nhà. Hy vọng là mọi sự sẽ tốt đẹp.”

Ông đâu có biết rằng tên tôi là Lệ Hoa nghĩa là một bông hoa mỹ lệ, đẹp đẽ chớ chẳng phải là nước mắt của hoa nghe bạn. Vì thế tôi thích trồng bông, thích vườn tược. Tôi sanh ra và lớn lên ở Cần Thơ, bà con sống ở Ô Môn, Thới Lai, Phong Ðiền, Cờ Ðỏ nên mỗi mùa Hè chị em tôi thường về vườn đi cầu khỉ, chèo ghe, bắt ốc gạo, hái vú sữa. Cái chất vườn Nam bộ đã ăn sâu vào máu tôi nên hiện giờ nhiều người còn cho rằng tôi không có vẻ gì là sang trọng như người Việt Nam sống ở Mỹ. Biết sao!

Sau khi dọn vô, tôi và các con hì hục cuốc đất, đổ phân và biến cái sân trống rỗng của ông thành ra một cái vườn đầy hoa vạn thọ (đây là để honor má tôi vì bà rất thích bông vạn thọ). Tháng sau khi ông tới thu tiền nhà thì ông ngẩn ngơ và phán một câu, “Tôi không cần phải tới tận nhà thâu tiền nữa, bà cứ viết check gởi cho tôi là được. Cám ơn bà về những bông vạn thọ.”

Một vài người quen xúi tôi xin đi làm waitress vì nghề nầy tiền lương chẳng bao nhiêu nhưng tiền tip thì… ăn chết không hết. Trời ơi tôi nghĩ tới cái viễn cảnh, anh sẽ đi làm, tôi sẽ đi làm lại còn tiền hưu trí từ quân đội nữa thì quả nhiên là… ăn chết không hết! Tôi vội vàng vác đơn tới tiệm Red Lobster gần nhà xin việc. Người manager hỏi bà có làm waitress bao giờ chưa? Dạ chưa. Bà có khi nào làm chủ nhà hàng chưa? Dạ chưa. Cứ hỏi…bà có… bà có… bà có…. Cứ trả lời… dạ chưa… dạ chưa… dạ chưa… và thế là tiền ăn chết không hết chỉ là mộng ảo.

Tôi mua tờ báo thấy rao là “Chương trình CETA của chánh phủ sẽ trả tiền trường cho một năm học để giúp bạn học các nghề văn phòng như thơ ký, kế toán, phụ tá hành chánh v.v… Mỗi tuần chương trình sẽ tặng bạn bốn chục đô để di chuyển và sau khi tốt nghiệp sẽ kiếm việc làm cho bạn…” Tôi nói với anh đây chắc hẳn là một sự lường gạt vì làm gì lại có sự tốt đẹp như thế. Anh thì lớn lên đã nhập ngũ, phần nhiều thời gian nếu không lang thang trên biển cả thì cũng đóng quân ở một xứ khác ngoài Mỹ nên đối với xã hội dân sự cũng có chút bỡ ngỡ. Tôi hăng hái tới cơ quan xin vào chương trình thơ ký. Người phụ trách chương trình thấy tôi là người tị nạn, chồng lại là cựu quân nhân, hình dạng có vẻ nghèo nên thương tôi. Sau khi nói chuyện và đọc cho tôi viết một đoạn Anh văn, bà nhận tôi vào chương trình thơ ký. Khi tôi lui cui làm giấy tờ, bà dịu dàng hỏi:

“Bà có giỏi toán không? Làm nhân viên kế toán thì nhiều lương hơn thơ ký thường và rất dễ kiếm việc làm.”

Tôi không dám trả lời vì không biết “toán” của bà thuộc về loại gì nên ngập ngừng:

“Dạ tôi cũng không biết chắc.”

Bà lấy ra một bài thi toán đưa cho tôi. Ái dà, bà ơi. Có phải là bà đang chà đạp cái trường Gia Long của tôi không? Tôi là học sinh đệ nhất A đây nha bà, dù tôi không được như bà Dương Nguyệt Ánh ngày nay phát minh ra cái gì là bom tìm nhiệt thì ba cái 25% của 100 là bao nhiêu, 1/3 của 75 có lớn hơn 2/3 của 40 không v.v.. là cái chuyện nhắm mắt cũng trả lời được.

Đại gia đình tác giả chụp trong dịp Tết. (Hình: Tác giả cung cấp)

Một năm sau tôi được giới thiệu vào làm cho công ty nhà hàng Dennys, bộ phận kế toán xuất nhập.

Làm việc bảy năm tại Dennys tôi đã học được biết bao điều về gia đình, xã hội, dân tình Mỹ. Trong những buổi ăn trưa tôi học đan áo, học móc khăn, học cách nấu món ăn Mỹ, Ý, Tây Ban Nha, học cách dạy con, cách đối xử với chồng, học cách không bao bạn ăn để rồi kể lể khi giận hờn nhau, mà mạnh ai nấy móc túi trả phần mình và tình bạn thì không bao giờ sứt mẻ.

Những người bạn ngoại quốc mới nầy giúp tôi hoàn thiện ngôn ngữ, hiểu rõ những tiếng lóng, sử dụng thành thục những thành ngữ, trả lời điện thoại một cách chuyên nghiệp.

Giúp tôi biết nói cám ơn với con cái. Biết dằn lòng không mở thư của chúng ra kiểm soát. Biết chỉ dẫn chúng tự thực nghiệm cuộc đời hơn là bao che lầm lỗi. Biết nói xin lỗi khi phạm phải sai trái.

Biết văn minh không phải là mặc áo hở ngực hở mông mà là tuân thủ theo Hiến Pháp. Biết tự do không phải là mạnh ai nấy làm mà là kính trọng nhân vị của chính mình và của đồng loại. Biết thành công là nhờ vào sự mẫn cán, học hỏi, cầu tiến chớ không nhờ vào nịnh bợ lấy lòng.

Biết các sắc dân khác cũng đầy thương yêu và nhiều đau khổ. Biết kính trọng người Mỹ đen. Biết thương yêu người Mễ nghèo.

Họ cười lăn lóc với cái accent Á Ðông của tôi nhưng họ không chê tôi dốt nát. Họ chỉnh sửa lại những tiếng tôi dùng sai trật nhưng không có ý khinh khi. Họ không đánh giá tôi cao vì tôi đến từ gia đình trưởng giả như tôi khoe khoang. Họ không nhìn tôi thấp kém vì tôi thuộc third world country như báo chí thường đăng tải. Họ nhìn tôi giống như họ, một người vợ, một người mẹ đang cố gắng kiếm tiền một cách lương thiện để giúp chồng nuôi dạy đàn con.

Chín mươi phần trăm nhân viên kế toán là đàn bà. Ðây là những bà mẹ, bà vợ ban ngày làm toàn thời gian, chiều về nấu ăn chăm lo con cái, cuối tuần giặt giũ, lau chùi nhà cửa, dạy con làm bài tập, đi chợ, đi chơi với gia đình. Họ sống bình thường mà còn giỏi hơn tôi là đằng khác.Vậy mà khi xưa tôi cứ nghĩ đàn bà Mỹ là đồ bỏ. Tôi mang tội khinh người. Khi ở Việt Nam tôi ít khi nào giặt quần áo cho tôi, cho chồng, cho con. Tôi chưa khi nào lau chùi cầu tiêu, thức khuya dậy sớm cho con bú, kiểm soát từng bài văn điểm toán cho con. Tất cả đều có anh tài xế, chị vú, anh bồi, chị bếp, cô giáo dạy kèm. Biết bao người đã than trời trách đất rằng sống ở đây sao mà cực quá, xã hội gì mà sướng đâu không thấy chỉ thấy cái gì cũng tự mình làm, thời gian hưởng thụ chẳng bao nhiêu mà làm việc thì quay tròn như chong chóng chẳng lúc nào ngừng. Cực ơi là cực. Chỉ chăm chăm muốn về Việt Nam hưởng thụ.

Bạn ơi, bạn hãy dừng chân một bước. Bạn hãy mỉm cười cầm từng món đồ dơ bỏ vào máy giặt, nhìn vết bẩn trên chỗ đầu gối và hình dung lại gương mặt mếu máo đáng yêu của con nhỏ khi té quị xuống bãi cỏ, nhớ lại ánh mắt chờ mong tin tưởng của con khi mẹ đến đỡ lên.

Bạn hãy nhìn cả nhà húp sột soạt chén canh bầu, cùng chia nhau miếng sườn nướng, cuộn chả giò. Bạn hãy cúi xuống đứa bé đang nở nụ cười ngây thơ chờ mong bình sữa bạn đang đu đưa trước mặt. Bạn hãy vừa xào món tàu hủ vừa trả lời thằng con đang cắm cúi làm bài tập bên kia bàn là Los Angeles không phải là thủ phủ của California con ơi. Thủ phủ của CA là Sacramento hoặc square of three is not three, it’s nine. Và năm phút sau đứa con vui vẻ đứng dậy: “Thank you mom (or dad). My home work is done.”

Ðây mới chính là lúc bạn sống, là lúc mà bạn xuyên thủng qua lớp giáp để linh hồn và huyết nhục bạn và gia đình cùng hòa quyện vào nhau. Ðây chính là lúc hột mè trí tuệ nảy nở trong các con do bạn gieo xuống, lúc hạt giống tình yêu thẩm thấu vào linh hồn chúng do bạn cày cấy vào. Chúng sẽ lớn lên với ân cần bạn gởi vào chén cơm, với giúp đỡ bạn xẻ chia trong bài tập, với thương yêu bạn vuốt thẳng áo quần, với mồ hôi bạn chảy dài trong trận đấu.Và vợ chồng bạn có cùng một trận tuyến, cùng một hướng đi.

Tôi đã từ bỏ quê hương điêu tàn, đã quay lưng với tương lai đen tối. Tôi đã chọn một nơi khác để cất nhà, một miếng đất khác để gieo hạt. Tôi đã dùng nước sông của họ để tưới tẩm, dùng đồi núi của họ để chăn nuôi. Tôi đã dùng chất xám của họ để tiến thân, dùng lòng tốt của họ để sống còn. Tôi không bao giờ quên dòng máu Việt trong tôi nhưng tôi sẽ không ngồi đó nhìn non nước nầy, dân tộc nầy với một ánh mắt hờ hững, dửng dưng, một thái độ vô ơn, rẻ rúng. Tôi sẽ không coi đây chỉ là một mảnh đất tạm dung và ngồi khóc thương cho một khung trời đã mất, mơ tưởng về một dĩ vãng đã tàn phai.

Tôi sẽ hòa vào các chủng tộc khác nhau, rơi lệ khi thấy tòa nhà chọc trời sụp đổ, đau thương khi nhìn xác lính được chở về, hân hoan khi nghe bài quốc ca trong các cuộc tranh tài. Tôi sẽ dạy các con cùng tôi nhận nơi nầy làm quê hương, sẽ đem tất cả khả năng lao động hay học vấn đóng góp vào sự thịnh vượng chung của quốc gia nầy.

Thay vì trồng cây cổ thụ tạm thời trong một cái chậu nhỏ để nó chỉ được lớn èo uột trong bóng râm, tôi và gia đình muốn đào một hố sâu, đổ đầy phân bón, tưới tẩm nó với tất cả ân cần, săn sóc nó với tất cả sức lực để cho rễ mạnh nó ăn sâu vào lòng đất, cho tàn xanh nó tỏa rộng khắp không gian. Chúng tôi không tạm dung. Chúng tôi mọc rễ và yêu thương quê hương nầy. Rồi một ngày nào đó, ở bên kia góc trời có cần tới một bóng mát bình an, chúng tôi sẽ chiết bớt một nhánh cổ thụ đem về…

Chúng tôi chỉ có thể làm như thế khi chúng tôi nhận nơi nầy làm quê hương.

 

Nguồn: nguoi-viet.com

Bạn đọc viết, chủ đề: “30 Tháng Tư, 1975 – 2015: Tị Nạn và Hội Nhập”

 

Posted in Chạy trốn chủ nghĩa Cộng sản, Chien Tranh Viet Nam, Việt kiều-Lịch Sử hình thành-Cuộc Sống | Leave a Comment »

►Dự luật S-219, “Ngày Hành trình tìm Tự do”– Vì đảng CSVN đàn áp khắc nghiệt, 300.000 người VN đã định cư ở Canada

Posted by hoangtran204 trên 10/02/2015

Tranh luận về Dự luật S-219, “Ngày Hành trình tìm Tự do”

Trà Mi dịch

Một em bé thuyền nhân được tiếp đọ tại Canada. Nguồn: Photo Features Ltd.Cuộc thảo luận bắt đầu với dân biểu Mark Adler (đảng Bảo thủ Cấp tiến Canada, CPC, York Center). Ông Adler đề nghị đọc Dự luật S-219 lần thứ nhì và sau đó đưa vào nghiên cứu ở ủy ban của Hạ Viện.

Biên bản cuộc tranh luận tại Hạ viện Canada chiều ngày 5 tháng Hai, 2015

Dân biểu Mark Adler (York Centre, CPC):

Ông Adler nói, Thưa ông Chủ Tịch Hạ viện, ngày 30 tháng Tư năm 1975, chiến tranh Việt Nam kết thúc. Sài Gòn, thủ đô của miền Nam Việt Nam, rơi vào tay đoàn quân xâm lược Cộng sản phía bắc, nhưng câu chuyện không chấm dứt ở đó. 30 Tháng 4 năm 1975 là ngày bắt đầu một chương mới trong đời sống của người dân miền Nam Việt Nam.

Đó là khởi đầu của một cuộc di cư của hàng triệu người phải rời bỏ Việt Nam, mảnh đất mà, qua nhiều thế hệ, họ đã gọi là quê hương. Họ phải bỏ đi để tránh khỏi những đối xử khắc nghiệt và sự đàn áp nhân quyền của một nhà nước độc tài; bách hại dân tộc ít người, tôn giáo, chính trị; đàn áp chính trị đối với cựu quân cán chính miền Nam Việt Nam và gia đình họ; đẩy họ đến ở vùng sâu vùng xa [“vùng kinh tế mới”]; với điều kiện sống ngày càng bi đát vì thiếu lương thực, lụt lội và hạn hán. Đến năm 1979 đã có khoảng 600.000 người Việt Nam phải bỏ nước ra đi.

Trong ba năm sau đó, nhãn hiệu “thuyền nhân” đã trở thành quen thuộc với thế giới khi người Việt Nam bắt đầu tìm đường thoát khỏi quê hương trên chiếc thuyền nhỏ, đi tìm nơi tạm trú ở các nước láng giềng.

Nhiều quốc gia đã từ chối không cho họ vào đất liền. Cao ủy Ti nạn Liên Hiệp Quốc báo cáo có ít nhất 250.000 người Việt Nam bỏ mình trên biển vì chết đuối, bệnh tật, đói khát, và hải tặc tấn công, cướp bóc, hãm hiếp, và bắt cóc.

Để đối phó với cuộc khủng hoảng nhân đạo này, Canada đã trả lời bằng cách mở rộng cửa của chúng ta. Giữa năm 1975 và 1976, Canada đã nhận 6.500 người tị nạn chính trị rời Việt Nam sau ngày Sài Gòn sụp đổ. Trong tháng 10 năm 1976, Canada nhận 180 thuyền nhân. Trong tháng 8 năm 1977, đã cam kết nhận thêm 450 người. Năm 1978, Chính phủ đã đồng ý đón nhận 50 gia đình thuyền nhân mỗi tháng. Đến năm 1980, khoảng 120.000 người tị nạn Việt Nam đã được Canada rộng mở vòng tay chào đón. Ngoài ra, tiếp tục bày tỏ mối quan tâm với thuyền nhân, Canada khuyến khích các nước khác cùng mở cửa đón thuyền nhân.

Tới năm 1986, Cao ủy Tị Nạn Liên Hiệp Quốc cảm kích vai trò của Canada trong việc đón nhận nhiều người tị nạn từ miền Nam Việt Nam vì thế nhân dân Canada đã được tặng thưởng Huân chương Nansen vì những “đóng góp lớn và bền vững giúp người tị nạn”.

Huân chương Nansen. Nguồn: UNHCR.

Huy chương này trong khung cảnh giúp người tị nạn tương đương với giải thưởng Nobel, và đánh dấu lần duy nhất trong lịch sử thế giới mà cả một quốc gia đã nhận vinh dự như thế. Đó là lý do tại sao tôi rất tự hào, cùng với Thượng nghị sĩ Ngô Thanh Hải, làm người cùng đỡ đầu dự luật S-219, “Đạo luật Ngày Hành trình tìm Tự do”, với ba mục đích.

Đầu tiên, nó sẽ xác định 30 tháng 4 là một ngày để tưởng niệm cuộc di cư của người tị nạn [cộng sản] từ miền Nam Việt Nam.

Thứ hai, nó vinh danh vai trò nhân đạo phi thường của chính phủ cũng như những gia đình bảo trợ, của những cơ quan thiện nguyện, các cộng đồng, các hội đường và nhà thờ, và các nhóm tôn giáo khác nhau đã, một cách rất nồng nhiệt, cùng bảo lãnh rất nhiều người Việt Nam vào sống cùng với những gia đình người Canada.

Thứ ba, nó cũng cần lưu ý rằng thời kỳ này trong lịch sử Canada là một giai đoạn mà thế hệ trẻ Canada hôm nay nhiều người không biết đến. Vì lý do đó, ngày 30 tháng Tư còn có thể xem là một ngày để suy ngẫm và giáo dục. Tất cả người dân Canada nên biết đến câu chuyện của những người tị nạn Việt Nam bị bắt buộc phải rời bỏ quê hương, những nỗ lực nhân đạo lớn của người dân Canada để đón nhận họ, và sự thành công bất chấp nghịch cảnh mà cộng đồng năng động người Việt tại Canada là tiêu biểu.

Canada là một trong những nước đầu tiên mở rộng vòng tay chào đón những người tị nạn Việt Nam. Khi người dân Việt Nam đang cần được giúp đỡ, người Canada từ tất cả mọi tầng lớp xã hội đã đáp lời kêu gọi mà không do dự và đã mở cửa ngôi nhà nhà và mở rộng con tim để đón nhận hơn 60.000 người tị nạn Đông Dương đang rất cần một nơi để dựng lại cuộc đời.

Đây là con số người tị nạn tính trên đầu người cao nhất so với bất kỳ quốc gia nào trên thế giới trong thời gian này. Vai trò của Canada trong việc mở cửa đón nhận rất nhiều người tị nạn Việt Nam là một ví dụ về những điểm ưu việt của Canada. Đó là một minh chứng xác thực về giá trị Canada.

Sau đây là đại cương chương trình ấy đã hoạt động thế nào.

Chính phủ liên bang đã mở một chương trình tư nhân bảo lãnh trong đó các tổ chức như nhà thờ và những nhóm gồm ít nhất năm công dân đã trưởng thành sẽ bảo lãnh cho gia đình người tị nạn và chăm sóc họ trong một năm.

Cứ mỗi một người tị nạn được tư nhân bảo trợ, chính phủ sẽ đón nhận và chăm lo cho một người tị nạn khác. Canada là quốc gia tiên phong trong chương trình tư nhân bảo trợ người tị nạn, tạo điều kiện cho đất nước của chúng ta đón nhận một số lượng lớn người tị nạn đồng thời cũng làm giảm được chi phí quốc gia và là mẫu mực cho thế giới.

Nếu không có những nỗ lực đầy nhân đạo của hàng ngàn người dân Canada, và sự lãnh đạo, hỗ trợ và hợp tác của chính phủ Canada, cũng như các cơ quan tị nạn, các tổ chức phi chính phủ, và các nhóm tôn giáo, thì sự an cư cho một số lượng lớn người tị nạn trong trường hợp khẩn cấp và khó khăn như vậy sẽ đơn giản là không thể nào thực hiện được.

Trong Kinh Thánh đã viết, cứu một mạng người là cứu cả một thế hệ. Hôm nay có khoảng 300.000 người gốc Việt sinh sống tại Canada. Hơn 100.000 người hiện sinh sống ở Toronto và vùng phụ cận.

39 năm qua, mỗi ngày 30 tháng Tư, người Canada gốc Việt đã tập hợp để ghi nhớ một sự khởi đầu mới và để cảm ơn Canada. Trong năm 2015, cộng đồng người Canada gốc Việt sẽ tổ chức lễ kỷ niệm 40 năm định cư thuyền nhân đến Canada.

Dự luật này là biểu tượng của một truyền thống lâu đời của Canada như một ngọn hải đăng của tự do và dân chủ, một quốc gia đã hào hiệp đón nhận những người tị nạn, những người vô tội buộc lòng phải phải rời bỏ quê hương.

Một trong những điểm đáng chú ý hơn nữa trong câu chuyện này là có nhiều thuyền nhân đến Canada ngày nay đã chính họ trở thành những người bảo lãnh những người tị nạn. Họ đã hợp tác với Chính phủ Canada, dưới sự lãnh đạo của Thủ tướng Chính phủ của chúng ta, để đưa những người tị nạn Việt Nam sau cùng, những người sống lây lất, không có tư cách pháp nhân, ở khu vực Đông Nam Á, ở những nơi như Thái Lan và Philippines, trong gần 40 năm qua. Thật là một di sản đáng tự hào, và một phương cách tuyệt vời để đánh dấu cuộc hành trình tìm tự do của họ: bằng cách giúp đỡ những người [tị nạn] khác.

Đây là một dự luật quan trọng, và hôm nay tôi xin với tất cả các thành viên [ở hạ viện] ủng hộ và đưa nó về phía trước. Sự công nhận của quốc gia ngày 30 tháng Tư này sẽ là một niềm tự hào cho những người Canada gốc Việt và cho tất cả nhân dân Canada; nó cũng làm nổi bật tinh thần Canada hào phóng và tinh thần quốc gia tôn trọng tự do. Đất nước chúng ta là một quốc gia do những người nhập cư xây dựng, và các cộng đồng của chúng ta giàu lên nhờ những mảng di sản văn hóa sinh động trong đó.

Canada sẽ không bao giờ trở lại chính sách tị nạn nhục nhã và hèn hạ của thời trước và trong giai đoạn Chiến tranh thế giới thứ hai, một giai đoạn mà “không [nhận] người nào đã là quá nhiều” là chuẩn mực của quá khứ đó. Sự hào hiệp và tình nồng ấm của Canada đón nhận người nhập cư và người tị nạn là một trong những truyền thống thiêng liêng nhất của dân tộc ta. Những cam kết lịch sử và tiếp tục của chúng ta với tính đa nguyên là một cam kết mà chúng ta, trong trách nhiệm của một chính phủ, phải cố gắng công nhận và làm rạng danh bất cứ khi nào có thể.

Dự luật này cũng sẽ cho một cơ hội tổng hợp, một nơi mà tất cả chúng ta hợp nhất về mặt giá trị, bất kể chủng tộc, tôn giáo, màu da, hay tín ngưỡng. Nó còn rất quan trọng để tất cả dân Canada nhớ đến và suy ngẫm về việc lịch sử đất nước của chúng ta đã đóng góp cho một nền văn hóa đa nguyên, đa dạng, và đón nhận như thế nào.

Dự luật này cũng sẽ chúng ta một cơ hội tuyệt vời để suy nghĩ về những ưu điểm và sự đa dạng mà cộng đồng người Việt Nam đã mang lại cho đất nước và để cảm ơn họ đã góp phần vào nền văn hóa đa nguyên của chúng ta. Tất cả chúng ta có thể học được đôi điều từ những người tị nạn, những người sẵn sàng mạo hiểm hy sinh tất cả để được sống trong tự do, vì một cuộc sống không có tự do thì không còn gì là cuộc sống nữa.

Tôi là một người Canada thế hệ thứ nhất, và dự luật này đã khiến tôi suy tư về kinh nghiệm của riêng mình, là con của một người sống sót sau Holocaust; cha tôi đến Canada không có gì hơn một mảnh áo trên lưng, với một hàng số xăm trên cánh tay, nhưng quan trọng nhất là niềm hy vọng trong trái tim mình. Đối với rất nhiều người tị nạn đến Canada, giống như những người sống sót sau Holocaust, những thuyền nhân Việt Nam, các Kitô hữu bị bách hại và người Yazidis ở miền bắc Iraq và Syria, và rất nhiều người khác, mỗi người trong số họ đã có quyền quay lưng lại với nhân loại, nhưng họ không làm như vậy. Họ đã đến Canada để tìm hy vọng, hy vọng cho chính họ, đúng thế, nhưng quan trọng hơn, hy vọng cho con cái của họ để chúng không bị buộc phải sống dưới ách áp bức, khủng bố. Họ đã đến Canada vì Canada là một mốc hiệu ánh sáng của thế giới, một quốc gia đứng trong thế mạnh, hãnh diện, tôn trọng những giá trị tự do, dân chủ, nhân quyền, và chế độ pháp trị.

“Đạo luật Ngày Hành trình tìm Tự do” sẽ chúng ta một cơ hội để suy ngẫm về cam kết của chúng ta với những gì tốt nhất của các giá trị Canada. Nó sẽ cho chúng ta một lý do khác để giới thiệu Canada là nước tốt nhất trên thế giới để gọi là nhà.

Hôm nay tôi xin tất cả quý vị đồng viện ủng hộ thông qua dự luật S-219 và giúp chúng ta tuyên bố 30 tháng Tư là ngày Hành trình tìm Tự do của đất nước Canada tuyệt vời này.

Dân biểu Anne Minh-Thu Quach (Beauharnois—Salaberry, đảng Tân Dân chủ, NDP):

Thưa Chủ tịch Hạ viện, tôi xin cảm ơn đồng nghiệp bên đối diện đã có một bài phát biểu rất cảm động.

Tôi chỉ muốn hỏi một câu hỏi để chúng ta thực sự có thể nói chuyện về hòa giải và con đường tiến tới dân chủ và tự do ngôn luận. Tôi muốn biết quý đồng viện sẽ tranh đấu để chính phủ của ông cho tất cả mọi người Việt có cơ hội để bày tỏ ý kiến của mình trước ủy ban hay không?

Chúng ta biết rằng tại ủy ban ở Thượng viện, chỉ có những người ủng hộ dự luật này được điều trần. Tôi hy vọng rằng trong tinh thần đối thoại chân thật, cởi mở và thẳng thắn, ủy ban ở Hạ viện sẽ lắng nghe người Việt Nam từ tất cả mọi tầng lớp xã hội để cuối cùng chúng ta có thể nói chuyện về hòa giải và đi tới hướng đến sự tôn trọng nhân quyền.

Dân biểu Mark Adler:

Thưa Chủ tịch Hạ viện, dự luật này không phải là về vấn đề hòa giải. Dự luật này, đầu tiên, là để ghi nhớ và thứ đến là để tuyên dương tinh thần tuyệt vời của Canada, để biết chúng ta là ai, và vinh danh giá trị tự do, dân chủ, nhân quyền, và thể chế pháp trị của người Canada. Chúng ta đang ở đây tại Hạ viện ngày hôm nay là một ví dụ về điều này. Chúng ta đang tranh luận về dự luật ở đây trong Hạ viện hôm nay.

Tôi hiểu những gì quý đồng viện vừa đề cập đến. Tại ủy ban ở Thượng viện một người đại diện – tôi tin rằng đó là Đại sứ Việt Nam – đã đệ trình một lá thư thay mặt của chế độ cộng sản Việt Nam để bày tỏ quan điểm của họ về “Đạo luật Ngày Hành trình tìm Tự do”, và theo tôi hiểu thì họ kịch liệt phản đối dự luật này. Ông [Đại sứ] đã gửi nhận định của ông bằng văn bản. Đáng tiếc thay, những nhận định đó không phải bằng tiếng Pháp và chúng đã không được dịch kịp thời hạn để được đưa vào hồ sơ.

Đây là một dự luật quan trọng, và tôi thực sự hy vọng rằng, trong tinh thần và giá trị Canada của chúng ta, tất cả quý đồng viện sẽ sẽ ủng hộ nó.

Dân biểu Kevin Lamoureux (Winnipeg North, đảng Tự do, Lib.):

Thưa Chủ tịch Hạ viện, câu hỏi của tôi dựa trên phần trả lời cho câu hỏi trước đó liên quan đến ông Đại sứ Việt Nam. Tôi nghĩ rằng có sự ủng hộ để dự luật này được đưa tới ủy ban nghiên cứu. Quý đồng viện có ở vị trí để bảo đảm cho những người những người có thể đang lắng nghe hoặc quan tâm muốn điều trần tại Ủy ban về về dự luật này rằng sẽ có sự đại diện công bằng trong giai đoạn nghiên cứu tại ủy ban để tất cả những ai muốn điều trần đều có cơ hội bày tỏ không?

Dân biểu Mark Adler:

Thưa Chủ tịch Hạ viện, Tôi đã đọc biên bản của cuộc tranh luận tại Thượng viện, và thấy có bốn phiếu của Đảng Tự do chống lại dự luật, và 14 phiếu trắng. Tôi hơi bối rối rằng có phải đảng Tự do quan tâm muốn nghe quan điểm của chính quyền cộng sản Việt Nam, dù rằng họ [đảng Tự do] dường như đã quyết định sẽ không ủng hộ dự luật này. Có lẽ tôi không nên ngạc nhiên. Tôi nghĩ rằng đây là sự gây bất ngờ, ngay cả cho các dân biểu đảng Tân Dân chủ [NDP] rằng đảng Tự do quan tâm muốn nghe buổi điều trần đó.

Tôi sẽ bị sốc nếu đảng NDP chống lại một dự luật nhằm xiển dương những giá trị lớn của Canada của chúng ta về tự do và dân chủ, nhưng, mặt khác, hãy nhớ rằng những người trong lúc họ khó khăn đã được dân Canada giúp đỡ. Lòng hào hiệp của dân Canada và tinh thần trong sáng của Canada tán dương giá trị của đất nước này đã đón nhận rất nhiều người tị nạn đến đây và họ đã gầy dựng lại những cuộc sống tuyệt vời cho chính họ. Chúng ta, như một quốc gia, được hưởng lợi vì sự hiện diện của họ.

Dân biểu Anne Minh-Thu Quach:

Thưa Chủ tịch Hạ viện, tôi rất hân hoan đứng đây tại Hạ viện ngày hôm nay để nói chuyện về Dự luật S-219, một dự luật rất quan trọng, được đệ trình tại Thượng viện và nhằm lập ra một ngày quốc lễ kỷ niệm của cuộc di cư của người tị nạn Việt Nam và và sự kiện họ được đón nhận ở Canada.

Đôi khi chúng ta quên mất ý nghĩa thực sự của cuộc sống ở đây trong một xã hội dân chủ nơi mà người công dân có thể lựa chọn đại biểu Quốc hội của họ, và cả hai, người dân và người được dân cử, đều có thể an toàn thực thi quyền tự do ngôn luận. Hầu hết dân số trên thế giới không thể thực thi được cái quyền cơ bản đó.

Nếu hôm nay tôi có thể đứng đây là một dân biểu Quốc hội và nói chuyện tại Hạ viện là nhờ bố mẹ tôi đã chạy trốn khỏi Việt Nam và đã tìm được nơi nương náu ở đây, tại Canada, để bắt đầu xây dựng gia đình, sống trong thanh bình, và làm việc nuôi thân.

Bản thân tôi, Anne Minh-Thu Quach, sinh ra ở và lớn lên ở Canada, và cũng nhờ sự dũng cảm của cha mẹ tôi và sự đón nhận của Canada nên hôm nay tôi mới có thể tham gia vào đời sống dân chủ của đất nước này.

Tôi muốn dành một vài phút để kể lại chuyện bố mẹ tôi phải bỏ chạy khỏi Việt Nam và đến Canada như thế nào. Năm 1979, sau khi chiến tranh Việt Nam chấm dứt, cha mẹ tôi đã quyết định rời bỏ đất nước của mình vì những điều kiện sống khủng khiếp do một chế độ chính trị mới áp đặt và với hy vọng tìm được một cuộc sống tốt hơn ở nơi khác. Họ không còn có thể chịu đựng nổi những hạn chế, bạo lực và bất công đã xảy ra sau chiến tranh.

Họ chụp ngay lấy cơ hội đầu tiên để trốn đi vào giữa đêm khuya, trong bí mật, với hai người anh của tôi, mới được một tuổi và ba tuổi vào thời điểm đó. Họ tìm đường ra môt một bến cảng và trả cho những kẻ buôn người bằng tất cả phần đồ đạc cuối cùng của họ, tất cả những gì bố mẹ tôi đã mang theo. Họ lên một chiếc thuyền, định hướng chỉ bằng một chiếc la bàn, nói cách khác, họ đi bất cứ nơi nào, bất cứ nơi nào người thuyền trưởng đưa họ đi, và cũng không biết chắc người lái thuyền sẽ mang họ tới được một bờ bến an toàn hay không.

Họ sống tại một trại tị nạn ở Indonesia suốt 18 tháng, trước khi Hội Chữ thập đỏ đến đón họ đi. Sau đó, họ đến Canada. Họ không có căn cước; họ không có đồ đạc. Tay trắng, bố mẹ tôi chỉ có mạng sống của họ và của hai anh của tôi. Canada đã cho cấp họ giấy tờ và đón nhận họ như những người tị nạn với cả tấm lòng quảng đại.

[Cả Quốc hội vỗ bàn ủng hộ, “Nghe, nghe!”]

[Dân biểu Anne Minh-Thu Quach nói tiếp,] Vâng, thực sự là thế.

Khi đến Canada, cha mẹ tôi đã phải học tất cả mọi thứ: làm thế nào để sống còn trong mùa đông, học nói tiếng Pháp, học lái xe, đi tìm việc làm, nấu thực phẩm theo cách của Canada. Trong một thời gian ngắn, họ phải học cách sống trong quốc gia mới của mình.

Cũng nhờ có những người như Captain Pierre Pellerin, Ginette Malenfant, Nicole Leduc và Estelle, bà nay đã qua đời, đã đón tiếp cha mẹ tôi, nhưng cũng còn có những người khác, kể cả Fred và Bonnie Cappuccino và rất nhiều người Canada đã mở cửa cho gia đình tôi và đón nhận hàng ngàn người Việt Nam như thể chúng tôi là một phần của gia đình riêng của chính họ. Từ thời điểm đó, nhiều người tị nạn Việt Nam đã có thể bắt đầu hội nhập vào đời sống Canada và đóng góp cho Canada. Xin chân thành cám ơn, thay mặt cho mọi người Việt Nam.

Tuy nhiên, giống như hơn 1,5 triệu người tị nạn, bố mẹ tôi là thuyền nhân. Canada đón nhận 137.000 người tị nạn Việt Nam vào lúc đó. Chính phủ liên bang cũng đã thiết lập một chương trình tư nhân bảo lãnh cho phép các cơ quan và công dân Canada đón nhận một gia đình của những người tị nạn, chu cấp và hỗ trợ cho họ trong một năm. Cứ mỗi người tị nạn được tư nhân bảo trợ thì chính phủ sẽ bảo lãnh cho một người tị nạn khác. Cả một phong trào đoàn kết đã thành hình.

Dài tưởng niệm thuyền nhân Việt Nam tại Ottawa. Nguồn: www.heroines.ca

Ở đây, tại Ottawa, ở góc đường Preston và Somerset, có một tượng đài kỷ niệm thuyền nhân. Marion Dewar, thị trưởng thành phố Ottawa lúc đó và là mẹ của bạn đồng viện của chúng tôi từ Ottawa Centre [dân biểu NDP, Paul Dewer], làm việc hết mình để đón nhận hàng ngàn người tị nạn Việt Nam, nhiều người đến nỗi khu phố Tàu ở đây tại Ottawa, trong thực tế, phần lớn là một xóm Việt Nam, nơi có những cửa hàng bán phở nổi tiếng, ăn vào thật ấm và dễ chịu, đặc biệt là vào những ngày trời lạnh như hôm nay.

Chiến tranh Việt Nam là kết quả của 50 năm chiến tranh lạnh đã chia đôi thế giới. Vì những lý do ý thức hệ, đã có chiến tranh tại nhiều nước, gia đình đã phân tán, đàn ông và phụ nữ đã bị sát hại. Hôm nay, chúng ta không còn sống trong thế giới lưỡng cực mà ở đó tất cả mọi người đã cố gắng áp đặt sự thật của họ lên người khác. Thời điểm hôm nay đã chín muồi để chúng ta bắt đầu một cuộc đối thoại thực sự.

Trước đây, tôi đã nói về sự cởi mở và đối thoại, vì đây là những gì mà chúng ta thực sự cần có. Cộng đồng người Việt Nam, tại Canada và trên toàn thế giới, đang phân hóa vì những khác biệt về kinh tế, chính trị và tôn giáo.

Một bàn tròn phải được đặt ra, cho mọi người đều có quyền bày tỏ quan điểm của mình. Đây là cách chúng ta sẽ tiến bộ và để bảo đảm rằng thế giới sẽ thay đổi.

Tôi nghĩ rằng Dự luật S-219 cho chúng ta một cơ hội thật tốt để có cuộc đối thoại này, xét rằng nó còn góp thêm một khía cạnh tích cực vào việc tưởng niệm thông thường bằng cách nhấn mạnh đến sự đón nhận người tị nạn của Canada.

Trong sự tôn trọng đối với người tị nạn và để công nhận việc nhân dân Canada đã mở vòng tay đón nhận người tị nạn Việt Nam bắt đầu từ năm 1975, tôi nghĩ rằng nó xứng đáng được một ủy ban của quốc hội nghiên cứu. Tất cả tùy ở chính chúng ta – lớp hậu duệ của những người tị nạn, những người lưu vong và di dân – cũng như tất cả những người dân Canada khác, những người cởi mở và quan tâm đến cuộc đối thoại này, sẽ giúp khởi đầu cuộc thảo luận và tranh luận về việc tưởng niệm người [tị nạn] Việt Nam.

Tôi đã may mắn được đi Việt Nam để thăm hỏi gia đình của tôi và tìm hiểu vùng đất của tổ tiên tôi. Đó là một đất nước tuyệt vời, nơi của những con người rất đặc biệt và cởi mở. Tôi vẫn còn có nhiều bà con họ hàng sống ở đó, và tôi muốn họ và tất cả mọi người Việt Nam đang sinh sống tại Việt Nam có cơ hội như tôi đang có, để họ có thể sống trong hòa bình, an ninh và hưởng đời sống dân chủ và các quyền con người cơ bản và phổ quát như tôi đang có.

Thật không may, đó chưa phải là thực tế cho tất cả mọi người ở Việt Nam. Việt Nam đã ký kết hoặc tham gia vào bảy công ước quốc tế về quyền con người. Việt Nam còn là một thành viên của Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp Quốc. Quyền con người cũng được xác định trong bản Hiến pháp Việt Nam. Tuy nhiên, luật sư, nhà báo, người viết blog và các công dân bình thường vẫn tiếp tục bị bắt giữ, xét xử và bỏ tù chỉ vì bày tỏ ý kiến riêng của họ.

Hôm nay, chúng ta không phải sợ hãi khi nói sự thật. Mỗi con người có quyền được sống, quyền tự do và có cơ hội bình đẳng. Vì vậy, tôi xin với tay đến tất cả người Việt Nam, và tất cả những người Canada, những người muốn thực hiện cuộc đối thoại này với tôi và với các dân biểu.

Dự luật S-219 cho chúng ta một cơ hội để trao đổi, vì các vết thương đã thưc sự chưa lành. Chúng ta phải nắm lấy cơ hội này để cùng ngồi lại quanh bàn, như tôi đã nói, là người Việt Nam từ tất cả các tầng lớp xã hội, cho tiến trình đối thoại và hàn gắn có thể bắt đầu và sau cùng thì chúng ta mới có thể nhìn về tương lai.

Như quý đồng viện bên đối diện cho biết, vị Đại sứ của Việt Nam đã không thể điều trần ở Thượng viện. Tôi đã nhận được rất nhiều email từ những người Việt Nam khác sống khác ở Canada, những người đã muốn tham gia vào cuộc tranh luận này nhưng đã không thể tham gia vào cuộc tranh luận được tổ chức tại Thượng viện.

Dự luật này cần qua từng bước một trong Quốc hội của Canada, và tôi muốn nó phải được cứu xét ở ủy ban và ủy ban cần xét đến tất cả mọi quan điểm khi nghiên cứu. Thật không may, như đã nói, ủy ban [ở Thượng viện] đã không nghe được tất cả các nhân chứng, nhưng tôi tin rằng tại đây, Hạ viện Quốc hội Canada, có thể làm tốt hơn và có thể lắng nghe tất cả mọi người ở giai đoạn thứ hai. Không chỉ là có thể, tôi tin rằng nó [ủy ban nghiên cứu] phải nghe [từ nhiều phía].

Để chứng minh giá trị của chúng ta trong tinh thần cởi mở, dân chủ, sự cảm thông và lòng hào hiệp như đã được thực hiện, chúng ta nên cho phép cuộc tranh luận được tiếp tục. Xin hãy không nghi ngờ gì về điểm này: Tôi đang đặt câu hỏi, vì tôi tin rằng tiến trình này có thể được cải tiến. Trên thực tế tôi đồng ý với dự luật này, và rất quan trọng để cuộc tranh luận này vẫn được tiếp tục.

Một ghi nhận có phần tích cực hơn, vì năm mới của châu Á, năm mới âm lịch, sẽ rơi vào ngày 18 tháng Hai, tôi xin chúc tất cả mọi người một cái Tết vui vẻ. “Tết’ là năm mới trong tiếng Việt. Với tất cả mọi người Việt Nam ở khắp mọi nơi ở Canada và những nơi khác,

[Dân biểu Anne Minh-Thu Quách nói bằng tiếng Việt]

Chúc mừng năm mới!

Dân biểu Kevin Lamoureux:

Thưa Chủ tịch Hạ viện, tôi thực sự trân trọng những ý kiến mà quý đồng viện vừa đưa vào biên bản.

Bà đã làm một công việc phi thường khi trình bày một sự việc mà tôi tin có thể thấy trên khắp đất nước của chúng ta, ở những gia đình người tị nạn đã đến Canada và đã thành công trong cuộc sống. Tôi đoan chắc rằng cha mẹ bà và cộng đồng của bàô sẽ đặc biệt tự hào về những điều bà vừa phát biểu.

Đối với quý đồng viện đã cùng đỡ đầu cho Dự luật S-219 này, tôi phải nói rằng tôi hơi thất vọng vì cách ông đã chọn để trả lời câu hỏi [của tôi].

Dự luật S-219 nếu được đưa vào ủy ban nghiên cứu thì đó là điều tốt. Tôi ủng hộ việc đưa Dự luật S-219 vào ủy ban. Tôi không đánh giá cao những lời nói bóng gió cho rằng Đảng Tự do không ủng hộ việc dự luật S-219 được đưa vào ủy ban nghiên cứ. Đó là một việc làm rất có giá trị.

Cũng giống như quý đồng viện vừa phát biểu, tôi đặt vấn đề về tầm quan trọng của việc điều trần ở ủy ban vì nó là vấn đề đã được đề cập đến. Tôi nghĩ rằng đó là việc đúng đắn và tôi đã hơi thất vọng với hàm ý của quý đồng viện [bên đối diện] cho là tôi có thể không ủng hỗ trợ dự luật này.

Tôi ủng hộ dự luật này vì một số lý do mà tôi muốn nêu lên ở đây. Tuy nhiên, trước khi làm việc đó, tôi muốn thưa rằng chỉ mới mùa hè vừa qua, tôi đã du lịch đến Việt Nam. Tôi đã có cơ hội đi thăm các nước ở châu Á, và đó là một kinh nghiệm rất thú vị.

Tôi đi với con gái tôi. Một trong những điểm mà cô ấy thực cảm kích là số lượng xe tay ga, vì cô ấy thích xe máy. Nếu có cơ hội đi du lịch trong những khu vực có mật độ cao, quý vị sẽ biết được làm sao người ta di chuyển trong một khu vực rất nhỏ.

Cá nhân tôi rất thích cảnh tương tác ở chợ. Tôi đã có cơ hội đến thăm các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Tôi xin kể về một cửa hàng nến giúp người khuyết tật có công việc làm, sản xuất những cây nến 100% bằng sáp ong. Đồng thời, cũng có nhà máy sản xuất lớn, đặc biệt là một công ty làm bao bì. Đó là một đất nước xinh đẹp.

Có lẽ tôi có thể đề cập đến một số thông điệp chính mà tôi nghĩ rằng chúng tôi muốn nhấn mạnh.

Chung cuộc thì dự luật đề nghị chọn ngày này [30 tháng Tư] để công nhận cuộc hành trình, cuộc đấu tranh, sự hy sinh, và sự sống còn của thuyền nhân Việt Nam và ghi nhớ tầm quan trọng lịch sử của cuộc hành trình của họ đến Canada.

Một ngày như vậy sẽ là một cơ hội để nâng cao nhận thức và để làm tăng sự hiểu biết về hoàn cảnh của những người tị nạn trên thế giới và thông cảm được sức chịu đựng của những người tị nạn.

Điều quan trọng cần biết là đa số người tị nạn đã không thể giao tiếp bằng tiếng Anh hoặc tiếng Pháp, nhưng lúc đó cũng là thời điểm có nhiều thách thức về mặt kinh tế. Hoàn cảnh đó đã làm phức tạp hơn cho đời sống của người tị nạn đến Canada.

Đây là ngày để tán dương những gia đình người Canada, các tổ chức từ thiện, các nhóm tôn giáo, và các tổ chức phi chính phủ đã bảo lãnh khoảng 34.000 người tị nạn Việt Nam đến Canada và giúp họ tái định cư và hội nhập trong khỏang năm 1979 -1980.

Đây cũng là ngày cho mọi người cơ hội để tuyên dương những đóng góp liên tục của người Canada gốc Việt trong tất cả các mọi mặt của đời sống và xã hội Canada, kể cả y học, kỹ thuật, kinh doanh, khoa học, luật pháp, học viện, nghệ thuật, truyền thông, dịch vụ dân sự và cộng đồng, và, như đã được chứng minh, cả ở lãnh vực chính trị.

Những đóng góp vừa kể và nhiều hơn nữa cho cộng đồng của chúng ta là những cống hiến to lớn của cộng đồng người Việt Nam, mà toàn thể xã hội Canada đã yêu mến, nuôi dưỡng, và nay đã trở thành tơ sợi trong mảnh lụa đa văn hóa của chúng ta.

Khi tôi lần đầu tiên được bầu làm dân biểu, tôi đã có cơ hội giữ nhiệm vụ phê bình phụ trách đa văn hóa ở tỉnh bang Manitoba. Đó thật là một kinh nghiệm quý báu. Một trong những đặc ân của tôi là đã được đến thăm “trung tâm Sài Gòn”, nằm trong Giữa thành phố Winnipeg. Đó là một khu nhà ở và một người Việt Nam ở đó, ông Trần Ba, người mà tôi đã trở nên rất gần gũi trong nhiều năm qua, đã làm một công việc phi thường trong việc chỉ dẫn cho không chỉ riêng cá nhân như tôi, mà còn cho nhiều người khác về những gì đã xảy ra ở Việt Nam. Chúng tôi cũng rất tự hào ở Winnipeg biết rằng trong hầu hết tất cả các trung tâm lớn hiện nay và ở mọi miền của đất nước, chúng ta thấy một di sản phong phú, vì những đóng góp của người Việt Nam trong suốt vài thập kỷ vừa qua.

Tôi vẫn nhớ, đi từ trung tâm Sài Gòn, đó là một khu nhà ở đẹp, đến một tượng đài. Cũng như quý đồng viện vừa kể đến một một tượng đài ở Ottawa. Có một đài tưởng niệm bên đường đối diện trường Đại học Winnipeg làm nổi bật một phần rất quan trọng trong lịch sử của Canada.

Một tuyên bố mà vị lãnh đạo của tôi thường đề cập đến là sức mạnh lớn nhất của Canada là sự đa nguyên của chúng ta. Nó, rốt cuộc đã cho chúng ta có được tiềm năng lớn nhất [để xây dựng] tương lai của chúng ta. Chúng ta cần phải rất tự hào về một quốc gia tương đối trẻ của mình. Tôi đã có cơ hội để nói về Folklorama, mà người dân Winnipeg và dân chúng từ khắp nơi trên thế giới đã tham gia. Qua 35 năm, chúng tôi đã nhìn thấy cộng đồng người Việt trực tiếp tham gia vào đủ loại gian hàng khác nhau và các cùng chia sẻ văn hóa và di sản.

Tôi đã cảm kích được việc này kể từ khi tôi được bầu làm dân biểu vào năm 1988. Trong 20 năm đầu tiên của cuộc đời một người dân cử, mỗi ngày tôi sẽ lái xe ngang Manor Sài Gòn, một chung cư tám tầng xinh đẹp. Nó đã làm cuộc sống của tôi thêm phong phú.

Còn một số điểm khác tôi xin nhanh chóng đề cập đến. Công nhận Ngày Hành trình tìm Tự do, với chúng ta là việc quan trọng, nó đánh dấu một ngày trọng đại đối với lịch sử chung của cộng đồng người Việt Nam trên khắp thế giới. Nó ghi nhận sự kiện Sài Gòn sụp đổ vào ngày 30 tháng 4 năm 1975, sự chiếm lãnh miền Nam Việt Nam của bắc quân, và việc thành lập chính phủ nước CHXHCN Việt Nam, đồng thời là điểm bắt đầu của cuộc di cư hàng loạt của hàng triệu người dân Việt Nam rời bỏ quê hương của họ.

Đại đa số những người Việt Nam đến Canada vào ngày 1 tháng Giêng năm 1975 là người tị nạn; Canada lúc đó đã có khoảng 1.500 người gốc Việt sinh sống, phần lớn ở Quebec. Sau cuộc khủng hoảng thuyền nhân giữa năm những 1979 và 1982, có khỏang 69.000 người đã đến tị nạn tại Canada. Nhóm người tuyệt vời này cuối cùng đã định cư ở tất cả mọi miền đất nước và họ đã làm phong phú thêm cho đời sống của tất cả người dân Canada. Tôi mong muốn được thấy dự luật này cuối cùng sẽ được đưa vào nghiên cứu ở ủy ban.

Dân biểu Bob Dechert (Thư ký Quốc hội cho Bộ trưởng Bộ Tư pháp, CPC):

Thưa Chủ tịch Hạ viện, tôi rất vinh dự được nói chuyện hôm nay để ủng hộ Dự luật S-219. Đặc biệt, tôi muốn cảm ơn Thượng nghị sĩ Ngô Thanh Hải, Thượng nghị sĩ Canada gốc Việt đầu tiên được bổ nhiệm vào Thượng viện qua đề nghị của chính phủ của chúng tôi. Ông đã làm việc đại diện cộng đồng người Việt khắp Canada rất tốt.

Tôi cũng muốn cảm ơn quý đồng viện, dân biểu đại diện vùng York Center, đã đỡ đầu cho dự luật này tại Hạ viện, và với bài phát biểu rất hùng hồn của ông vài phút trước đây. Ông là một người, qua lịch sử gia đình của chính mình, đã thấu hiểu nỗi đau, nghịch cảnh và cuộc đấu tranh để đến được Canada. Ông đề cập đến cha của ông một người sống sót sau Holocaust, là một nạn nhân của Tiến sĩ Mengele. Chỉ mới hơn một tuần trước đây, vào dịp kỷ niệm 70 năm giải phóng trại tập trung Auschwitz Birkenau, ông đã nói về cuộc đấu tranh của cha ông tại đó và hành trình của cha ông đến Canada.

Đối với tôi, dự luật này kể lại câu chuyện của cộng đồng người Canada gốc Việt và cuộc đấu tranh của họ để tìm đến Canada, nhưng nó cũng là một câu chuyện mà chúng tôi đã nghe hơn một lần, được lặp đi lặp lại trong suốt lịch sử Canada. Đó là chuyện của Canada. Đó là câu chuyện của tất cả chúng ta. Rất nhiều người dân Canada đã đến đây từ những nơi bị chiến tranh tàn phá, từ những nghịch cảnh và áp bức vô cùng, và đã tranh đấu vượt khó khăn ở những tình cảnh vô cùng để đến được đất nước này. Họ đã tìm được một nơi nương náu và tìm thấy tự do ở Canada.

Đây là một đất nước mà tất cả chúng ta yêu quý. Tất cả người dân Canada, bất kể nguồn gốc, có bổn phận để tìm hiểu những câu chuyện thế này và để hiểu những câu chuyện này đã đóng góp cho đất nước tuyệt vời của chúng ta như thế nào.

Tôi rất cảm kích có được cơ hội để lên tiếng ủng hộ dự luật quan trọng này. Như tôi đã đề cập, nó công nhận có những người đã thiệt mạng và những đau khổ mà họ đã phải đã trải qua trong cuộc di cư của người Việt Nam sau khi kết thúc chiến tranh Việt Nam vào ngày 30 Tháng 4 năm 1975, ngày mà Sài Gòn rơi vào tay Cộng sản. Đó là một cuộc chiến, như chúng ta đều biết, hoành hành trong hơn 10 năm. Một cuộc chiến đẫm máu và bạo lực, và cuộc sống của người dân đã bị xé nát. Nó đã làm mất đi quá nhiều sinh linh vô tội.

Đó không phải là một ngày kỷ niệm hạnh phúc, nhưng đó là một ngày mà chúng ta phải nhớ. Chúng ta phải nhớ những sự kiện lịch sử và cần biết những sự kiện đó đã ảnh hưởng thế nào đến mọi người trên khắp thế giới, đặc biệt là những người ở Canada.

Canada đã đóng một vai trò quan trọng trong việc giúp đỡ hàng chục ngàn người tị nạn sau khi Sài Gòn sụp đổ, theo Ủy ban Liên Hiệp Quốc về người tị nạn, có hơn 1,5 triệu người Việt Nam bị buộc phải trốn khỏi quê hương của họ dưới sự đe dọa của một cuộc sống bi đát, và một điều cần được lưu ý, là sự vi phạm nhân quyền tràn lan ở đó.

Trong thảm họa nhân đạo ngay sau đó [sự kiện thuyền nhân], người dân Canada đã hợp lực làm bất cứ điều gì chúng ta có thể giúp được. Một thời khắc quan trọng đã đến vào tháng Bảy năm 1979, chính phủ Bảo thủ lúc đó, dưới sự lãnh đạo của Thủ tướng Joe Clark và nội các của ông, theo đề nghị của Bộ trưởng Nhập cư Ron Atkey lúc đó, đã nhận thấy hoàn cảnh của những người Việt Nam tị nạn này và đồng ý đón nhận 50.000 người tị nạn Việt Nam trong năm sau. Đó là một con số rất đáng kể Canada đã đón nhận trong một năm. Bộ trưởng Ron Atkey là một người bạn của tôi, người tôi đã biết trong hơn 30 năm. Ông là một luật sư rất tốt ở vùng Toronto ngày nay. Ông là chứng minh tốt nhất của chính phủ Canada vào thời điểm đó.

Nỗ lực này cuối cùng đã đưa hơn 60.000 thuyền nhân, như những người tị nạn được gọi như thế, đến đây định cư và xây dựng cuộc sống mới trên đất nước tuyệt vời của chúng ta. Người ta ước tính rằng đã có 34.000 thuyền nhân đã được các gia đình Canada, những tổ chức từ thiện, các nhóm tôn giáo và các tổ chức phi chính phủ, bảo lãnh và và 26.000 người khác được chính phủ Canada trực tiếp bảo lãnh.

Một em bé thuyền nhân được tiếp đọ tại Canada. Nguồn: Photo Features Ltd.

Ở khắp nơi tại Canada, các nhóm nhà thờ và các tổ chức cộng đồng khác, bảo trợ nhiều gia đình người tị nạn đến Canada. Tôi biết điều đó đã xảy bằng một con số lớn trong thành phố Mississauga của tôi và ở thành phố Hamilton nơi mà tôi đã lớn lên. Lúc còn trẻ, tôi đã đi học ở trung học và đại học với một số người trẻ thuộc những gia đình người tị nạn khi đó. Tôi tận mắt chứng kiến nỗi đau họ đã trải qua hằn trên khuôn mặt của họ những người đã phải bỏ lại quê hương để đến Canada.

Quý đồng viện phía bên kia đã nói đến cú sốc của những người ở vùng nhiệt đới như Việt Nam đến ở một nơi rất lạnh. Hãy trở về thực tại, chúng ta đang ở vào đầu tháng Hai ở Ottawa, và bất kỳ người trong chúng ta đã ở ngoài đường hôm nay đều biết thời tiết ở đây rất lạnh. Thật là một cú sốc cho những người đã phải hứng chịu quá nhiều trong cuộc sống của họ.

Đó là một ví dụ chưa từng có về lòng bác ái của người dân Canada đối với vô số những người đang cần được giúp đỡ. Hơn một phần tư của một triệu người tị nạn Việt Nam đã thiệt mạng trong lòng biển trong cuộc đi tị nạn từ Việt Nam. Trên hành trình đó, 250.000 linh hồn đã mất. Tình hình tại quê hương đã phải là rất tuyệt vọng thì họ mới chấp nhận rủi ro rất lớn, liều mạng lên đường tìm đến tự do. Một số người đã ngã bệnh, trong khi những người khác đã chết đuối hoặc là nạn nhân của bạo lực của quân cướp biển, bị bắt cóc, và đã phải nhận chịu những hình thức bạo lực khác.

Làn sóng người tị nạn Việt Nam đến Canada và ổn định cuộc sống mới trên một đất nước xa lạ là một tấm gương ngời sáng về cách người Canada đáp ứng trước một thảm họa thế giới. Hành động bác ái của Canada gồm nhiều giai tầng, cộng đồng, và chính phủ. Nhiều gia đình người Canada đã đón người tị nạn vào ở chung nhà và giúp họ tìm việc làm và đi học. Đây được coi là một thời điểm mẫu mực trong lịch sử bảo vệ nhân đạo của Canada, và trong thực tế, là một yếu tố góp phần vào quyết định của Cao ủy tị nạn Liên Hiệp Quốc trao giải thưởng Nansen cho toàn dân Canada trong năm 1986. Đây là lần đầu tiên và duy nhất huy chương danh dự này được trao cho cả một quốc gia.

Do sự thành công vượt trội của chương trình bảo trợ tư nhân trong thời gian này, nó đã trở thành một phần cơ bản của chương trình tái định cư người tị nạn của Canada.

Đóng góp vào những câu chuyện thành công của những người tị nạn Việt Nam định cư ở Canada là chính những người Việt Nam tị nạn. Người Canada gốc Việt đang tham gia tích cực vào đời sống xã hội ở Canada, nổi bật trong kinh doanh, chính trị, nghệ thuật, thể thao, và các nỗ lực nhân đạo.

Đây chỉ là một vài ví dụ. Kim Phúc, một người nạn nhân chiến tranh Việt Nam được quốc tế công nhận, đã sáng lập một tổ chức ở Canada để giúp trẻ em nạn nhân chiến tranh. Paul Nguyen, một người Canada gốc Việt thế hệ thứ hai có cha mẹ là người sang Canada tị nạn, là một người đã nhận giải thưởng Paul Yuzyk về Đa Văn hóa năm 2010 . Kim Thúy, một tác giả nổi tiếng quốc tế, nhận giải thưởng văn chương của Toàn Quyền Canada cho cuốn sách của bà kể lại chuyện đời của mình. Đây chỉ là một vài trong số rất nhiều câu chuyện tuyệt vời của những người dân Canada gốc Việt đã kể lại những câu chuyện đời của họ và đóng góp vào sự phát triển của đất nước chúng ta.

Cộng đồng người Việt Nam tị nạn trên toàn thế giới đã gọi 30 Tháng Tư là Ngày Tháng tư Đen. Chọn ngày hôm đó ở Canada để làm rạng danh cộng đồng Canada gốc Việt của chúng ta là để bầy tỏ sự ủng hộ của chúng ta với một cộng đồng đã lớn mạnh ở đất nước này, về kinh tế, văn hóa, và xã hội. Dự luật S-219 đề nghị chọn 30 tháng 4 là Ngày Hành trình tìm Tự do ở Canada, là một ngày sẽ ghi nhận sự hy sinh của người dân Việt Nam trong một giai đoạn rất đen tối trong lịch sử thế giới.

Chủ nhật ngày đầu Tháng Hai vừa qua, tôi đã tham dự lễ mừng Tết hàng năm ở Mississauga tại Trung tâm quốc tế gần sân bay Toronto. Thủ tướng Chính phủ [Spephan Harper], Thượng nghị sĩ Ngô [Thanh Hải], và rất nhiều nhân sĩ đã phát biểu. Đó là một hội trường khoảng 15.000 người. Đây là lần thứ tám tôi đã có cơ hội để tham gia với những người Việt trong những ngày Tết hàng năm.

Đã có rất nhiều bài diễn văn về Dự luật S-219. Thật là một kinh ngạc với tôi khi thấy sự cực lực ủng hộ của cộng đồng người Việt Nam tại Toronto cho dự luật này. Họ biết dự luật này kể lại câu chuyện đời của họ.

Tôi cũng muốn đề cập đến “Tribute to Liberty”, tổ chức đang xây dựng đài tưởng niệm các nạn nhân của chủ nghĩa cộng sản. Nó ở rất gần trong khu vực quốc hội, gần Tối cao Pháp viện. Chính phủ đã tặng 1,5 triệu đô-la góp phần vào dự án đó. Tôi khuyến khích tất cả mọi người dân Canada truy cập vào trang web, http://www.tributetoliberty.ca, và đóng góp. Người dân Canada gốc Việt sẽ là một phần rất quan trọng của những người được vinh danh trên di tích đó. Họ là một ví dụ trong số hàng trăm ngàn người dân Canada là nạn nhân của chủ nghĩa cộng sản, những người đã đấu tranh để đến được Canada.

Mẫu đài tưởng niệm nạn nhân cộng sản - Tribute to Liberty (Ottawa). Nguồn: Tributetoliberty.ca

Với tất cả những lý do này, để làm rạng danh hơn 300.000 người Canada gốc Việt, những người đóng góp cho sự thịnh vượng và phát triển của Canada là những công dân tích cực làm việc trong xã hội chúng ta, tôi muốn cổ vũ tất cả quý đồng viện của tôi ở đây ủng hộ việc thông qua Dự luật S-219.

Dân biểu Lysane Blanchette-Lamothe (Pierrefonds-Dollard, NDP)

Thưa Chủ tịch Hạ viện, tôi rất hân hoan phát biểu về dự luật mà chúng ta đang bàn luận.

Đầu tiên, dù không muốn nhắc lại những gì đã nói trong cuộc tranh luận này cho đến nay, nhưng tôi vẫn muốn nói rằng tôi tự hào hôm nay chúng ta có thể nói chuyện về sự đóng góp của người Canada gốc Việt. Dự luật này một lần nữa cho chúng ta một cơ hội để cảm ơn họ vì những đóng góp của họ cho cộng đồng của chúng ta trên khắp Canada.

Trong khu vực bầu cử Pierrefonds-Dollard, có một cộng đồng người Canada gốc Việt năng động, họ là một cộng đồng không nhất thiết chúng ta luôn nhìn thấy, nhưng họ hiện hữu. Đây là một cộng đồng đã tích hợp vào các thớ sợi của cả cộng đồng dân Canada nên đôi khi người ta không chú ý. Tuy nhiên, họ có mặt khắp nơi và hội nhập rất tốt vào các lĩnh vực xã hội, kinh tế, cộng đồng và giải trí.

Và vì thế tôi không thể nói về dự luật này mà không nhắc đến họ. Tôi cám ơn họ đã là một phần của cộng đồng của chúng ta và những đóng góp vô giá mà họ đem lại.

Tôi cũng nhân cơ hội này để nói rằng ngày lễ kỷ niệm là có thể có vì tại một thời điểm nào đó trong lịch sử của Canada, chúng ta đã mở cửa và chúng ta quyết định, như là một quốc gia và một xã hội, để đón nhận những người đang tìm nơi nương náu sau một cơn khủng hoảng lớn. Khi cuộc chiến gây ra nhiều bi kịch của con người kết thúc, Canada đã mở cửa và nhận người vào, và nay họ là một phần không thể tách rời của cơ cấu xã hội, kinh tế và chính trị của Canada.

Lý do tôi đưa vấn đề qua hình thức này, và tôi không che đậy, là người bình phụ trách về vần đề công dân và dân nhập cư cho đảng Tân Dân chủ, NDP, tôi có thể nói rằng mọi thứ ở Canada đã thay đổi kể từ thời điểm đó.

Hãy xem qua một con số đơn giản. Sau cuộc chiến tranh ở Việt Nam, khoảng 60.000 Việt Nam được nhận vào Canada. Sáu mươi nghìn người tìm nơi ẩn náu và tìm thấy nó ở đây, ở nước ta.

Tôi không thể không so sánh nó với cuộc khủng hoảng ở Trung Đông hiện nay, đặc biệt là ở Syria. Liên Hiệp Quốc cho chúng ta biết rằng đây là cuộc khủng hoảng chưa từng có. Hàng trăm ngàn người đã tìm cách lánh nạn bên trong hoặc bên ngoài Syria, nhưng ông bộ trưởng nói với chúng ta rằng cho đến nay, chỉ có 1.300 người tị nạn Syria đã được nhận vào Canada kể từ đầu cuộc khủng hoảng, thật không may.

Cam kết nhận 1.300 người tị nạn mà ông bộ trưởng cho biết rằng ông đang gặp khó khăn gỡ khó có thể tưởng tượng để thự hiện đúng hạn là điều đáng xấu hổ khi chúng ta so sánh nó với sự cởi mở, khi chúng ta, khoảng 30 năm trước, khi chúng ta đón nhận 60.000 người đã chạy trốn sự gian khổ ở xứ của họ. Tôi nghĩ rằng những con số đã tự nó đã có thể nói cho mình.

[Dân biểu Lysane Blanchette-Lamothe (Pierrefonds-Dollard, NDP) dùng phần còn lại của thời gian tranh luận để tiếp tục phê bình chính sách đón nhận dân nhập cư và người tị nạn hiện nay của chính phủ Bảo thủ Cấp tiến đương nhiệm. Và ở phần cuối bài phát biểu, bà Blanchette-Lamothe kết luận,]

Tôi muốn kết thúc bằng một điểm tích cực bằng cách nhắc nhở mọi người rằng chúng ta đang nói về người Canada gốc Việt Nam và những đóng góp hiện nay của họ. Thật đáng khâm phục, không chỉ vì những gì họ đã đóng góp với Canada, mà còn vì những thử thách thức mà họ đã vượt qua. Tất cả những người tị nạn tại Canada đề phải trải qua những thách đố như thế. Không có ai lại chọn làm người tị nạn cả. Tôi không thể nào tưởng tượng được, nhưng tôi có thể hiểu được, thử thách mà những người tị nạn đã phải vượt qua khi họ phải rời bỏ người yêu thương, nơi họ hằng yêu mến, bỏ lại nền văn hóa, bỏ lại đất nước và khí hậu quen thuộc, đôi khi trong những khoảnh khắc vội vàng. Nhìn thấy thành công những con người ấy ngày nay thúc giục tôi cảm ơn tất cả dân Canada nói chung đã mở rộng vòng tay, đã góp phần vào các chương trình xã hội, đã cởi mở đón nhận những người tị nạn này. Tôi nghĩ rằng tất cả chúng ta ở đây trong Hạ viện nên chào kính tất cả những người tị nạn, kể cả những người tị nạn Việt Nam đã tới 30 năm trước đây, và chúc mừng họ đã vượt qua trở ngại và trở thành một phần của gia đình lớn của xã hội Canada.

Quý ông Peter Kent, cựu bộ trưởng phụ trách Môi trường, dân biểu (Thornhill, CPC):

Thưa Chủ tịch Hạ viện, trong vài phút còn lại của buổi tranh luận, tôi xin được nhiệt tình ủng hộ Dự luật S-219, Đạo luật Ngày Hành trình tìm Tự do.

Tôi đã làm việc tại Việt Nam trong một thời gian khá dài khi còn là nhà báo trong những thập niên 1960, 1970, 1980, và ngay cả vào những năm 1990. Tôi được đặc ân đáng ngờ là đã có mặt ở Sài Gòn vào ngày đen tối đó, 30 tháng Tư năm 1975, khi tôi được di tản khỏi căn cứ của Hoa Kỳ cùng với những người Mỹ sau cùng, những công dân của các nước thứ ba khác, và hơn 7.000 công dân Việt Nam có mặt ở đó. Tôi đã theo dõi với mối quan tâm lớn trong những năm đen tối của những trại cải tạo suốt những năm còn lại của thập niên 1970 và sau đó, và tiếp tục với một mối quan tâm lớn tới hoàn cảnh của những người buộc lòng phải để rời khỏi đất nước của họ để tìm một cuộc sống tốt hơn ở nơi khác.

Tôi có thể cam đoan với những đồng viện đã bày tỏ quan tâm, quý vị dân biểu vùng Beauharnois-Salaberry và Winnipeg North, rằng dự luật này sẽ được đưa vào nghiên cứu ở ủy ban. Ủy ban sẽ nghe điều trần của nhân chứng thuộc mọi quan điểm, và tôi mong được gặp Đại sứ Việt Nam trong thời gian nghiên cứu của ủy ban sắp đến.

Tôi sẽ nói với ông Đại sứ rằng dự luật này không phải là một sự lên án đối với chính phủ [CHXHCNVN] hiện nay. Chúng tôi có mối quan hệ chặt chẽ và tốt với chính phủ hiện tại. Dự luật này mô tả lại một thời điểm đặc biệt tối tăm và hành trình tìm tự do của hàng trăm ngàn người. Trong số này, 60.000 người tị nạn đã đến Canada. Trên thực tế, Việtt Nam có tự do hơn không phải nhờ chiến tranh nhưng vì những áp lực của tư bản, vì một nền kinh lế tự do, và vì ý chí của nhân dân muốn có một cuộc sống tốt hơn ở Việt Nam.

Để kết luận, ý nghĩa của việc tưởng niệm Ngày Hành hành trình tìm Tự do thực sự là ở ba phương diện. Nó sẽ đánh dấu những sự kiện bi thảm sau khi Sài Gòn sụp đổ và sự di cư của những người tị nạn Việt Nam. Nó cũng sẽ vinh danh tất cả những người Canada, những người đã vượt qua mọi thách thức để chào đón những người tị nạn đang bị chấn thương tinh thần, và giúp họ thích nghi với cuộc sống mới và tốt hơn trong một vùng đất mới và xa lạ. Sau cùng, nó sẽ tán dương những đóng góp lạ thường mà những người tị nạn Việt Nam đã thực hiện để xây dựng đất nước tuyệt vời của chúng ta.

Điều này vừa mới được chứng minh trong cuối tuần qua nhân dịp lễ Tết ở Toronto, nơi mà quý đồng viện đều biết rằng Thủ tướng Chính phủ đã phát biểu trước một đám đông hơn 10.000 người Canada gốc Việt Nam.

Tất cả người dân Canada nên biết đến những câu chuyện của những người tị nạn Việt Nam bị buộc phải rời bỏ quê hương, những nỗ lực nhân đạo lớn của người Canada đã thể hiện trên khắp mọi miền từ bờ Bắc Thái Bình Dương đến bờ biển Bắc Cực qua bờ Bắc Đại Tây Dương, và đã thắng nghịch cảnh mà hiện thân là cộng đồng năng động của người Việt Nam tại Canada ngày nay.

Quyền Chủ tịch Hạ viện (Ông Barry Devolin):

Thời gian để xem xét Dự luật đã hết hạn và được đưa vào bậc sau cùng cùng của thứ tự ưu tiên trong tập hồ sơ ở Hạ viện.

Quý dân biểu vùng Thornhill sẽ có sáu phút khi vấn đề này trở lại cuộc thảo luận trước Hạ viện.

© 2015 DCVOnline


Nguồn: 41st PARLIAMENT, 2nd SESSION, EDITED HANSARD • NUMBER 170. Thursday, February 5, 2015, House of Commons Debates, Private Members’ Business, Journey to Freedom Day Act.

dcvonline.net

Posted in Chạy trốn chủ nghĩa Cộng sản, Việt kiều-Lịch Sử hình thành-Cuộc Sống | Leave a Comment »

►Thổn thức cho Việt Nam- Câu chuyện của người chọn ở lại VN sau 30-4-1975

Posted by hoangtran204 trên 30/04/2014

Đây cũng là cảm nghĩ của người chọn ở lại VN sau 30-4-1975: Đoàn Văn Toại.

Đoàn Văn Toại là một trong một số người trong Ban Chấp Hành của Tổng Hội Sinh Viên Sài gòn vào những năm cuối thập niên 1960-1970. Mê muội tin vào những lời tuyên truyền của Cộng sản, ông Toại gia nhập làm cán bộ nằm vùng, hoạt động cho họ. Lợi dụng sinh hoạt dân chủ của chánh quyền VNCH, tuân theo lệnh của CS, ông hô hào, phát động những cuộc xuống đường,  biểu tình chống đối chánh quyền đương thời. Đến khi chiếm xong Miền Nam, bộ mặt thật, bản chất thật của CSBV đã lộ thật rõ: tàn ác, dã man, gian trá, cướp bóc đã làm cho ông và những người đồng chí của ông vỡ mộng. Chính ông và những đồng chí của ông khám phá thêm bản chất vô lương cùng thành tích giết, và sẵn sàng giết với chủ trương “giết lầm hơn bỏ sót” của CS. May cho ông và một một số đồng chí của ông đã đạt được ước nguyện thoát thân.
      So với những người trong nhóm, sau khi đến bến bờ tự do,  ông Toại còn chút lương tri của con người, đã can đảm lên tiếng thú nhận sự ngây thơ, mù quáng và bài học kinh nghiệm CS của mình. Tuy lời trần tình sám hối nầy được viết và đăng trên New York Time khá lâu, nhưng nhân đại Hội Việt Kiều được CS Hà Nội vừa tổ chức năm 2009, lời mật ngọt, ma mánh của chúng vẫn còn mê hoặc được một số người nên chúng tôi xin đăng lại bài học  ê chề của một người trong cuộc. Bản chất thật của CS không bao giờ thay đổi, “con tắc kè” có thể thay đổi màu nhưng bản chất xù xì của nó vẫn còn nguyên vẹn. (CTNB)

Thổn thức cho Việt Nam

Đoàn văn Toại

Khi cộng sản chiếm miền Bắc Việt Nam năm 1954, hàng triệu người đã lũ lượt di cư vào Nam. Tôi đã tận tai nghe nhiều câu chuyện về sự đau khổ tột cùng của họ. Nhưng cũng như nhiều người miền Nam lúc ấy, tôi đã không tin vào những câu chuyện đó.  20 năm  sau đó (1974), tôi cũng đã không tin về những câu chuyện được kể trong tác phẩm Gulag Quần Đảo Ngục Tù (The Gulag Archipelago) của văn hào Solzhenitsyn. Tôi không tin vì cho rằng đó là những luận điệu tuyên truyền chống Cộng.

Nhưng vào năm 1979, tôi đã cho xuất bản cuốn sách Việt Nam Ngục Tù của chính tôi. Liệu những người đã từng nếm trải những kinh hoàng dưới chế độ cộng sản có bao giờ thử thuyết phục những người không có cái kinh nghiệm này? Kể từ năm 1945, năm tôi ra đời tại huyện Cái Vồn thuộc tỉnh Vĩnh Long, một tỉnh lỵ cách Sài Gòn 160 km về hướng Nam, cho đến khi ngày tôi rời Việt Nam vào tháng 5/1978, tôi chưa từng một ngày vui hưởng hoà bình. Căn nhà gia đình tôi đã bị đốt 3 lần trong cuộc kháng chiến chống Pháp. Trong suốt cuộc đời niên thiếu, tôi đã phải theo cha mẹ di tản từ làng này sang làng khác để tránh tên bay đạn lạc. Cũng giống như những người Việt Nam yêu nước khác, cha mẹ tôi cũng tham gia kháng chiến chống Pháp. Khi tôi lớn lên, tôi lại tận mắt chứng kiến các nông dân đã bị chính quyền địa phương  của các chế độ thừa kế ở Sài Gòn áp bức ra sao, và họ đã là những nạn nhân của những cuộc oanh tạc của quân Pháp như thế nào. Tôi đã học trong lịch sử sự chiến đấu kiên cường của dân tộc chống lại ách đô hộ ngàn năm của giặc Tàu rồi đến các cuộc kháng chiến gian khổ chống ách thống trị trăm năm của giặc Tây. Với hành trang đó, tôi và các bạn đồng lứa đã lớn lên cũng với nỗi căm thù sự can thiệp của ngoại bang.  

Khi các sinh viên Sài Gòn bầu tôi vào chức Phó Chủ tịch Hội Liên hiệp Sinh viên Sài Gòn vào năm 1969 và 1970, tôi đã tham gia vào các hoạt động đòi hoà bình khác nhau, đã lãnh đạo sinh viên biểu tình chống chế độ Thiệu và sự dính líu của người Mỹ. Tôi đã ấn hành nguyệt san Tự Quyết, và đã làm một cuộc du hành đến California để thuyết trình về các hoạt động phản chiến ở Đại học Berkeley và Stanford vào tháng 1/1971. Vì các hoạt động đó, tôi đã bị bắt và tống giam nhiều lần dưới chế độ Thiệu. Vào thời điểm ấy, tôi tin rằng tôi đang thi hành sứ mệnh hoà bình và độc lập cho đất nước tôi. 

Tôi cũng tin tưởng vào đề cương của MTDTGPMN, một tổ chức đang lãnh đạo cuộc kháng chiến cách mạng ở miền Nam Việt Nam. Tôi căm ghét các nhà lãnh đạo Sài Gòn, các người như Trung tướng Nguyễn Văn Thiệu, Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ, Trung tướng Đặng Văn Quang ‒ những cựu chiến binh trong quân đội viễn chinh Pháp. Đó là những người được Pháp tuyển mộ vào năm 1940 để giúp chúng tiêu diệt các phần tử kháng chiến Việt Nam. Theo thời gian, họ đã vươn lên thành những nhà lãnh đạo, nhưng sự lãnh đạo của họ không thu được lòng dân. Và chính vì không có được ủng hộ của người dân, nên họ phải dựa vào các thế lực nước ngoài.

Với tư cách một lãnh tụ sinh viên, tôi cho rằng tôi phải hoàn thành khát vọng của người dân Việt Nam về dân chủ, tự do và hoà bình. 

Một cách ngây thơ, tôi nghĩ rằng chế độ Hà Nội ít nhất cũng là người Việt Nam, trong khi người Mỹ chỉ là những kẻ xâm lược giống như người Pháp trước đó. Như nhiều người trong phong trào đối lập tại miền Nam lúc ấy, tôi tin rằng dù sao các đồng bào cộng sản miền Bắc cũng sẽ dễ có sự tương nhượng và dễ nói chuyện hơn là người Mỹ. Hơn thế nữa, tôi lại thấy choáng ngợp trước các thành tích hy sinh và tận tâm của các lãnh tụ cộng sản. Chẳng hạn, Tôn Đức Thắng, Phó Chủ tịch Bắc Việt, đã bị nhốt đến 17 năm trong nhà tù của Pháp. Tôi cũng bị hớp hồn trước bản đề cương chính trị được MTDTGPMN áp dụng, bao gồm chính sách hoà giải dân tộc, không hề có sự trả thù, và chính sách ngoại giao phi liên kết. Cuối cùng, tôi đã chịu ảnh hưởng của các phong trào tiến bộ khắp thế giới và các nhà đại trí thức phương Tây lúc ấy. Tôi đã có cảm tưởng rằng các lãnh đạo phong trào phản chiến ở Mỹ cuối thập niên 60 đầu 70 đã chia sẻ cùng niềm tin với tôi. Niềm tin ấy càng được củng cố hơn sau khi Hiệp định Paris ký kết vào năm 1973 và sự sụp đổ của Đệ nhị Việt Nam Cộng hòa năm sau đó. Khi cuộc giải phóng đã hoàn tất, tôi chính là người đã khuyên bảo bạn bè và thân nhân không nên di tản. “Tại sao các người lại bỏ đi?” tôi hỏi, “Tại sao các người lại sợ cộng sản?” Tôi chấp nhân một viễn cảnh khó khăn trong thời gian tái thiết quê hương nên đã quyết định ở lại và tiếp tục làm việc với tư cách một quản trị viên một chi nhánh của Ngân hàng Saì Gòn, nơi tôi đã làm việc hơn 4 năm, và là nơi tôi viết các báo cáo mật về tình hình kinh tế Nam Việt Nam cho MTDTGPMN.

(Sau khi tốt nghiệp đại học, tôi đã không bị chính quyền Việt Nam Cộng hòa động viên vì là con một trong gia đình. Tôi cũng không gia nhập Việt Cộng vì MTDTGPMN nghĩ rằng tôi sẽ phục vụ tốt hơn trong vai trò báo cáo tài chính từ ngân hàng).

Sau khi Sài Gòn thất thủ được nhiều ngày, MTDTGPMN thành lập chính quyền Cách mạng Lâm thời, mời tôi gia nhập một uỷ ban tài chính, một nhóm bao gồm các trí thức có nhiệm vụ cố vấn cho chính quyền về các vấn đề kinh tế. Tôi hăng hái tham gia, chấp nhận mức cắt giảm lương đến 90%.

Nhiệm vụ đầu tiên của tôi là giúp thảo ra một kế hoạch nhằm tịch thu tất cả các tài sản tư nhân ở miền Nam Việt Nam.

Tôi cảm thấy sốc, tôi đề nghị chỉ nên thi hành điều đó với tài sản những người từng cộng tác với chính quyền cũ và với những người đã làm giàu nhờ chiến tranh, và sẽ phân phối lại theo một cách thức nào đó cho các người nghèo và nạn nhân chiến tranh không phân biệt thuộc phe nào. Đề nghị của tôi bị bác bỏ. 

Tôi đã quá ngây thơ khi nghĩ rằng các quan chức địa phương đã sai lầm, rằng họ đã hiểu lầm ý định tốt của các lãnh đạo đảng cộng sản.

Tôi đã tranh đấu với họ nhiều lần, vì hoàn toàn đặt niềm tin vào các tuyên bố của Hà Nội trước đây rằng “tình hình ở Nam Việt Nam rất đặc biệt và rất khác với tình hình miền Bắc Việt Nam”. Chỉ vài tháng trước khi Sài Gòn thất thủ, Lê Duẩn, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản, đã tuyên bố “miền Nam cần có chính sách riêng của nó”. Sau cùng, tôi không thể tuân theo lệnh sắp đặt các cuộc tịch thu tài sản tư hữu, một kế hoạch vẫn đang được xúc tiến. Một kế hoạch như vậy không hề đáp ứng nguyện vọng của người dân Nam Việt Nam, và nó đi ngược với lương tâm của tôi.

Tôi quyết định từ chức. Nhưng không ai được phép từ chức trong chế độ cộng sản. 

Một ngụ ý bất tuân lệnh sẽ không được người cộng sản tha thứ. Khi tôi đưa đơn từ chức, người lãnh đạo uỷ ban tài chính đã cảnh cáo rằng hành động của tôi “sẽ bị xem là sự tuyên truyền nhằm kích động quần chúng, và rằng chúng ta không bao giờ cho phép điều đó xảy ra”. Nhiều ngày sau đó, trong khi tôi đang tham dự một buổi hoà nhạc tại Nhà Hát Lớn (trước đây là trụ sở Quốc hội Việt Nam Cộng hòa, nơi mà tôi đã lãnh đạo các sinh viên chiếm giữ nhiều lần trước đây dưới chế độ Thiệu), tôi bị bắt.

Không có sự truy tố cũng như không có lý do nào được đưa ra.

Sau khi Sài Gòn thất thủ, rất nhiều nhà trí thức tiến bộ cũng như nhiều nhà lãnh đạo các phong trào phản chiến trước đây đều tin rằng chính quyền mới sẽ đem lại dân chủ và tự do thay cho sự thống trị của ngoại bang. Họ tin rằng chính quyền mới sẽ đeo đuổi các quyền lợi tốt nhất cho nhân dân. Sẽ giữ đúng lời hứa của chính họ về chính sách hoà giải dân tộc, không có sự trả thù. Phủi sạch những hứa hẹn, nhà cầmn quyền cộng sản đã bắt giam hàng trăm ngàn người ‒ không chỉ những người đã cộng tác với chế độ Thiệu mà cả những người khác, bao gồm các vị lãnh đạo tôn giáo và các cựu thành viên MTDTGPMN. 

Việt Nam ngày nay trở thành một quốc gia không có luật pháp nào khác hơn là sự điều hành độc đoán của những kẻ đang nắm quyền lực.

Không hề có cái gọi là dân quyền. Bất cứ ai cũng đều có thể bị bắt mà không cần truy tố cũng như không cần xét xử. Và khi đã ở trong tù, các tù nhân đều được giáo dục rằng chính các thái độ, hành vi và sự “cải tạo tốt” là yếu tổ chủ chốt đễ xét xem liệu họ có thể được trả tự do hay không- không cần biết họ đã phạm tội gì. Vì vậy, các tù nhân thường là phải tuân lệnh tuyệt đối các quản giáo để hy vọng được thả sớm. Trong thực tế, họ không bao giờ biết được khi nào họ sẽ được thả – hay có thể bản án của họ sẽ được kéo dài thêm. Ở đất nước Việt Nam ngày nay có bao nhiêu tù chính trị? Không ai có thể biết được con số chính xác.

Bộ Ngoại giao Mỹ cho rằng có khoảng từ 150.000 đến 200.000 chính trị phạm, người Việt tỵ nạn thì ước đoán con số đó là 1 triệu.

Hoàng Hữu Quýnh, một trí thức tốt nghiệp Đại học Mạc Tư Khoa, hiệu trưởng một trường kỹ thuật tại Tp. HCM (trước đây là Sài Gòn), vừa mới bỏ trốn trong một chuyến đi tham quan các nước Châu Âu do nhà nước bảo trợ. Ông đã nói với báo chí Pháp, “Hiện nay ở Việt Nam có ít nhất 700.000 tù nhân”. Một nhân chứng khác, Nguyễn Công Hoan, một cựu thành viên trong Quốc hội thống nhất được bầu vào năm 1976, đã vượt biển thành công vào năm 1978, đã tuyên bố chính bản thân ông được biết về “300 trường hợp xử tử” chỉ nội trong tỉnh Phú Yên của ông. Vào năm 1977, các quan chức Hà Nội khăng khăng rằng chỉ có 50.000 người bị bắt giữ vì có những hành vi gây nguy hại cho an ninh quốc gia. Nhưng trong khi đó,

Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã tuyên bố trên tờ Paris Match số ra ngày 22/9/1978, “Trong vòng 3 năm qua, tôi đã trả tự do cho hơn 1 triệu tù nhân từ các trại cải tạo.”

Người ta có thể tự hỏi làm thế nào có thể thả 1 triệu tù nhân trong khi chỉ bắt giữ có 50.000!

Tôi bị tống vào một xà lim 1m x 2m, tay trái bị xiềng vào chân phải và tay phải xiềng vào chân tráiThức ăn của tôi là cơm trộn với cát.

Khi tôi khiếu nại về cát trong cơm, các quản giáo đã giải thích rằng cát được cho vào cơm để nhắc nhở các tù nhân về các tội ác mà họ đã phạm. Tôi đã khám phá ra khi đổ nước vào tô cơm có thể tách cát ra khỏi cơm và lắng nó xuống đáy. Nhưng phần nước chỉ có 1lít cho một ngày dùng cho uống và tắm rửa, do vậy tôi phải dùng nó hết sức tiết kiệm. Sau 2 tháng biệt giam, tôi được chuyển ra phòng giam lớn, một phòng giam 5m x 9m, tuỳ theo thời điểm được nhồi nhét từ 40 đến 100 tù nhân. Nơi đây chúng tôi phải thay phiên để được nằm xuống ngủ, và phần lớn các tù nhân trẻ và còn mạnh khoẻ phải chịu ngủ ngồi. Trong cái nóng hầm hập, chúng tôi cũng phải thay phiên để được hứng vài cơn gió mát của khí trời từ một lỗ thông gió chút xíu và cũng là cửa sổ duy nhất của phòng giam. Mỗi ngày tôi đều chứng kiến các bạn tù chết dưới chân tôi.

Vào tháng 3, 1976, khi một nhóm phóng viên phương Tây đến viếng thăm nhà tù của tôi, các quản giáo đà lùa các tù nhân đi và thay vào đó là các bộ đội miền Bắc. Trước cửa nhà tù, không còn thấy các hàng rào kẻm gai, không có tháp canh, chỉ có vài công an và một tấm bảng lớn chăng ngang cửa chính đề câu khẩu hiệu nổi tiếng của Hồ Chí Minh, “Không có gì quý hơn độc lập tự do”. Chỉ có những người đang bị giam và các quản giáo là biết cái gì thực sự ẩn giấu đằng sau những dấu hiệu đó. Và mọi tù nhân đều biết rằng nếu họ bị tình nghi đào thoát thì người bạn đồng tù và người thân của họ tại nhà sẽ bị trừng phạt thay vì chính họ.

Chúng ta sẽ không bao giờ biết được con số thực sự của những tù nhân bỏ mạng, nhưng chúng ta đã biết cái chết của nhiều tù nhân nổi tiếng, những người trong quá khứ chưa bao giờ cộng tác với Chính quyền Thiệu hay với người Mỹ: chẳng hạn, Thích Thiện Minh, nhà chiến lược cho các phong trào tranh đấu hoà bình của Phật tử tại Sài Gòn, một nhà đấu tranh phản chiến đã từng bị kết án 10 năm dưới chế độ Thiệu, sau cùng bị buộc phải thả ông vì sự phản đối mạnh mẽ của nhân dân Việt Nam và các nhà hoạt động phản chiến khắp thế giới. Đại Đức Thiện Minh đã chết trong tù 6 tháng sau khi ông bị bắt vào năm 1979. Một cái chết âm thầm khác là của Luật sư Trần Văn Tuyên, một lãnh tụ khối đối lập tại Quốc hội dưới thời Tổng thống Thiệu. Nhà hoạt động nổi tiếng này đã chết dưới bàn tay cộng sản vào năm 1976, mặc dù vào cuối tháng 4/1977, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã tuyên bố với các phóng viên Pháp rằng ông vẫn còn sống mạnh khoẻ trong trại cải tạo. Một trong những tổn thất to lớn nhất là cái chết của triết gia nổi tiếng Việt Nam Hồ Hữu Tường. Tường, bạn đồng môn với Jean Paul Sartre thập niên 30 tại Paris, có lẽ là nhà trí thức hàng đầu tại Nam Việt Nam. Ông chết tại nhà tù Hàm Tân vào ngày 26/06/1980. Đây là những người bị bắt, cùng với rất nhiều những người khác trong nhóm những người Nam Việt Nam ưu tú và được trọng nể nhất, với mục đích ngăn ngừa bất cứ một sự chống đối nào với chế độ cộng sản.

Một số người Mỹ ủng hộ Hà Nội đã làm lơ hoặc biện minh cho những cái chết này, như họ đã từng làm với vô số các thảm kịch đã xảy ra từ khi Việt Nam Cộng hòa sụp đổ năm 1975. Rất có thể họ sẽ vẫn tiếp tục giữ im lặng nhằm lãng tránh một sự thật về Việt Nam nếu tiết lộ sẽ mang lại một nỗi vỡ mộng sâu xa đối với họ. Cay đắng thay nếu tự do và dân chủ vẫn là mục tiêu xứng đáng để chiến đấu tại Philippines, tại Chile, tại Nam Hàn hay tại Nam Phi, thì nó lại không xứng để bảo vệ tại các nước cộng sản như Việt Nam. 

Mọi người đều nhớ đến vô số các cuộc biểu tình chống đối Mỹ can thiệp vào Việt Nam và chống lại các tội ác chiến tranh của chế độ Thiệu. Nhưng một số trong các người đã từng một thời nhiệt thành với các nguyên tắc dân chủ và nhân quyền thì nay lại tỏ ra hết sức lãnh đạm khi cũng chính các nguyên tắc ấy đang bị chà đạp tại nước Việt Nam cộng sản.

Chẳng hạn, một nhà hoạt động phản chiến, William Kunstler, vào tháng 5, 1979 đã từ chối ký vào một bức thư ngỏ gởi nhà nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, trong đó có chữ ký của nhiều nhà hoạt động phản chiến khác, kể cả Joan Baez, phản đối sự vi phạm nhân quyền của chế độ Hà Nội. Kunstler nói “Tôi không tin vào sự chỉ trích công khai một chính quyền xã hội chủ nghĩa, dù đó là sự vi phạm nhân quyền”, và “toàn bộ chiến dịch này của Baez có thể là một âm mưu của CIA”. Câu nói này đã làm tôi nhớ lại lập luận mà chế độ Thiệu thường đưa ra làm lý do đàn áp các người đối lập,

“Tất cả các hoạt động phản chiến và đối lập đều do cộng sản giựt dây”.

(Muốn biết Miền Bắc hay Miền Nam mới là chế độ lệ thuộc và bù nhìn, hãy đọc đoạn sau đây)

Còn có rất nhiều những huyền thoại về chế độ hiện hành tại Việt Nam mà người dân rất nên được soi sáng. Nhiều người cho rằng Hồ Chí Minh đầu tiên là một người quốc gia và rằng đảng cộng sản Việt Nam trước đây cũng như hiện nay đều độc lập với Liên Sô. Tôi cũng là người tin như vậy trước khi cộng sản chiếm miền Nam. Nhưng rồi chân dung các nhà lãnh đạo Soviet nay được treo đầy các chung cư, trường học và các công sở trên khắp nước “Việt Nam độc lập”.

Ngược lại, người ta chưa từng thấy chân dung bất cứ một nhà lãnh đạo Mỹ nào được treo ngay cả trong chế độ được gọi là bù nhìn của Tổng thống Thiệu. Mức độ lệ thuộc của chính quyền hiện hành vào các ông chủ Soviet được thể hiện rõ ràng nhất do thi sĩ nổi tiếng của cộng sản Việt Nam, Tố Hữu, thành viên Bộ Chính Trị và là Trưởng Ban Văn hoá Đảng Cộng sản Việt Nam. Chúng ta có cơ hội được nghe người thi sĩ cao cấp này than khóc nhân cái chết của Stalin:

 
‘Xít-ta-lin! Xít-ta-lin,
Yêu biết mấy, nghe con tập nói
Tiếng đầu lòng, con gọi Xít-ta-lin
Ông Xít-ta-lin ôi. Ông Xít-ta-lin ôi,
Hỡi ôi ông mất, đất trời có không?
Thương cha, thương mẹ, thương chồng
Thương mình thương một, thương ông thương mười.’
 
(Đời đời nhớ ông – Tố Hữu). 
Thật là khó mà tưởng tượng những vần thơ như vậy lại được viết tại Việt Nam, một đất nước mang nặng truyền thống gia đình và bổn phận với con cái. Và bài thơ ấy vẫn đang chiếm một vị trí trang trọng trong ấn bản về thơ ca Việt Nam hiện đại được xuất bản tại Hà Nội. Hơn thế nữa, Lê Duẩn , Tổng Bí thư đảng cộng sản Việt Nam, trong một bài diễn văn chính trị đọc trước Hội nghị khoáng đại của Quốc hội thống nhất năm 1976, “Cuộc cách mạng Việt Nam là để thực thi bổn phận và các cam kết quốc tế”, và vì vậy, trong lời lẽ của bản luận cương của đảng năm 1971 đã viết, “dưới sự lãnh đạo của Liên bang Soviet”. Sự vinh quang của một xã hội Soviet là mục tiêu chính yếu trong sách lược của đảng cộng sản Việt Nam. (Ta đánh Mỹ Ngụy là đánh cho Liên Xô và Trung Quốc- Lê Duẩn)

[Trong suốt toàn bộ lịch sử VN, chỉ có Đảng CSVN và nhà nước là nhà cầm quyền ra lệnh “đốt toàn bộ sách  vỡ của Miền Nam xuất bản trước năm 1975. Khi chiếm Hà Nội vào 1954, đảng CSVN cũng đã ra lệnh đốt toàn bộ sách báo từng được xuất bản trước ngày 20-7-1954. Đây là tội ác cực kỳ to lớn của đảng CSVN vì trong suốt mấy ngàn năm lịch sử của chế độ độ phong kiến, và gần 100 năm bị Pháp đô hộ, chưa có chính phủ nào ra lệnh đốt sách báo như đảng CSVN đã làm 2 lần ở Việt Nam.  ]

Sau khi Sài Gòn thất thủ, nhà nước đã ngay tức khắc đóng cửa toàn bộ các nhà sách và rạp hát. Tất cả các sách vở được xuất bản trong chế độ cũ đều bị tịch thu hay đốt bỏ. Các tác phẩm văn hoá thuần tuý cũng không ngoại lệ, kể cả các bản dịch tác phẩm của Jean Paul Sartre, Albert Camus và Dale Carnegie. Ngay cả tác phẩm Cuốn Theo Chiều Gió của Margaret Mitchell cũng nằm trong danh sách văn chương đồi truỵ. Nhà nước thay thế những tác phẩm ấy bằng những tác phẩm văn chương nhằm nhồi sọ trẻ em và người lớn với ý tưởng chủ đạo, “Liên bang Soviet là thiên đường của xã hội chủ nghĩa”.

Một lập luận khác của các nhà biện luận phương Tây có liên quan đến vấn đề tự do tôn giáo tại Việt Nam. Một điều khoản của bản hiến pháp mới, được đưa ra vào năm nay, có nêu rằng “nhà nước tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng và quyền tự do không tín ngưỡng”. Về điều khoản này, Lê Duẩn đã nhiều lần tuyên bố, “Chế độ của chúng ta triệu lần dân chủ hơn bất cứ chế độ nào trên thế giới”. [ Uả! Vậy là bà Phó chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan đã ‘thuổng’ câu này của Lê Duẩn!] . 

Ngược lại, trên thực tế, đã trình bày rõ sự thật qua một sự kiện mang tính báng bổ một ngôi chùa Phật giáo, trong vụ đó một người đàn bà khoả thân theo lệnh nhà nước đã tiến vào ngôi chùa trong giờ hành lễ. Khi Hoà thượng Thích Mẫn Giác, một nhà lãnh đạo Phật giáo nổi tiếng, lên tiếng phản đối, nhà nước đã nhân vụ này lên án Phật giáo là kẻ thù của dân chủ, chính xác là vi phạm quyền tự do không tín ngưỡng. Hoà Thượng Thích Mẫn Giác, người đóng vai trò là cầu nối giữa Phật giáo và nhà nước cộng sản, đã phải vượt thoát Việt Nam bằng thuyền vào năm 1977 và nay đang định cư tại Los Angeles.

Tất cả những ai từng ủng hộ MTDTGPMN trong cuộc chiến đấu chống chế độ Sài Gòn đều có thể cảm nhận sự bị phản bội và nỗi tuyệt vọng của họ. Khi Harrison Salisbury của tờ New York Times viếng thăm Hà Nội vào tháng 12, 1966, các nhà lãnh đạo Hà Nội đã nói với ông, “Sách lược tranh đấu của miền Nam được chỉ đạo từ miền Nam chứ không phải từ miền Bắc”. Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã nói với Salisbury, “Không có ai ở miền Bắc có ý tưởng ngu ngốc, tội ác” rằng miền Bắc muốn thôn tính miền Nam.

Vậy mà trong diễn văn đọc nhân lễ mừng chiến thắng vào ngày 19/05/1975, Lê Duẩn đã nói,

“Đảng của chúng ta là một và là người lãnh đạo duy nhất đã tổ chức, kiểm soát và điều hành toàn bộ cuộc chiến đấu của nhân dân Việt Nam ngay từ ngày đầu của cuộc cách mạng”.

                         (Việt Cộng đúng là bọn lẹo lưỡi. Bởi vậy mới có câu: nói láo như vẹm)

Trong bản báo cáo chính trị đọc trước Quốc hội hợp nhất tại Hà Nội vào ngày 26/05/1976, Lê Duẩn nói, “Nhiệm vụ cách mạng chiến lược của đất nước ta trong thời kỳ mới là thống nhất tổ quốc và đưa toàn bộ đất nước tiến nhanh, tiến mạnh và tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội, lên chủ nghĩa cộng sản”.

Vào năm 1976, Chính phủ Cách mạng Lâm thời do MTTGPMN thành lập đã bị xoá sổ, và toàn thể 2 miền Nam Bắc Việt Nam đều nằm dưới sự cai trị của những người cộng sản. Ngày nay,trong số 17 thành viên Bộ Chính trị và 134 Uỷ viên Trung ương thuộc Đảng Cộng sản Việt Nam, không hề có người nào thuộc MTDTGPMN trước kia. Ngay cả Nguyễn Hữu Thọ, cựu Chủ tịch MT, chỉ nắm chức vụ Chủ tịch nhà nước, một chức vụ mang tính nghi lễ với nhiệm vụ đón tiếp khách nước ngoài và tham dự các buổi lễ lạc. Nhưng ngay cả vị trí đó rồi sẽ bị xoá bỏ khi bàn hiến pháp mới ra đời. Hãy nghe lời của ông Trương Như Tảng, một những người sáng lập Mặt Trận, cựu Bộ trưởng Tư pháp của Chính phủ Cách mạng Lâm thời, vừa mới đây cũng là một thuyền nhân vượt biển.

Ông Tảng trốn thoát khỏi Việt Nam vào tháng 12, 1979 và hiện nay sống tại Paris. Ông đã nói với các phóng viên về kinh nghiệm của ông trong cuộc họp báo gần đây vào tháng 5, 1980. 12 năm trước, ông nói, khi ông bị bỏ tù dưới chế độ Thiệu vì các hoạt động thân cộng của mình, cha của ông đã đến thăm ông. Ông cụ đã hỏi ông, “Tại sao con lại dứt bỏ tất cả ‒ một công việc tốt, một gia đình sung túc ‒ để gia nhập cộng sản? Con không biết rằng cộng sản rồi sẽ phản bội con và sẽ thủ tiêu con, và khi con thật sự hiểu ra thì đã quá muộn?” Tảng, một nhà trí thức, đã trả lời cha “Tốt hơn là cha nên im lặng và chấp nhận sự hy sinh một trong các đứa con của cha cho nền dân chủ và độc lập của đất nước”.

Sau cuộc Tổng Công kích Tết Mậu thân 1968, Tảng được trao đổi với 3 Đại tá tù binh chiến tranh Mỹ, và sau đó ông biến mất vào rừng với MT. Ông đã viếng thăm nhiều nước cộng sản và các nước thế giới thứ 3 để kêu gọi sự ủng hộ dành cho Mặt Trận trong cuộc chiến tranh Việt Nam. Ông đã nói trong cuộc họp báo.

“Tôi đã biết MT là một tổ chức do cộng sản chi phối và tôi đã quá ngây thơ khi cho rằng Hồ Chí Minh và Đảng của ông ta sẽ dặt quyền lợi quốc gia lên trên ý thức hệ và đặt quyền lợi nhân dân Việt Nam lên trên quyền lợi của đảng. Nhưng nhân dân Việt Nam và tôi đã sai lầm”. Trương Như Tảng đã kể về kinh nghiệm của ông về phương sách các tầng lớp lãnh đạo cộng sản cai trị,

“Người cộng sản là chuyên gia về nghệ thuật chiêu dụ và có thể làm bất cứ cách nào để dụ bạn về phe họ một khi họ chưa nắm được chính quyền. Nhưng một khi đã nắm được quyền lực lập tức họ trở thành sắt máu và tàn nhẫn”.

Ông tóm tắt tình hình tại Việt Nam hiện nay, “Gia đình ly tán, xã hội phân ly, ngay cả đảng cũng chia rẽ”.

Bây giờ nhìn lại cuộc chiến Việt Nam, tôi chỉ cảm thấy buồn rầu cho sự ngây thơ của mình khi tin rằng cộng sản là những người cách mạng và xứng đáng được ủng hộ.

Trên thực tế, họ đã phản bội nhân dân Việt Nam và làm thất vọng các phong trào tiến bộ trên toàn thế giới. Tôi nhận lãnh trách nhiệm về những thảm kịch xảy ra cho đồng bào của tôi.

Và nay tôi chỉ còn cách đóng vai nhân chứng cho sự thật này hầu các người đã từng ủng hộ Việt Cộng trước kia có thể cùng chia sẻ trách nhiệm với tôi.

Khi tôi còn trong tù, Mai Chí Thọ, một Uỷ viên Trung ương đảng, đã nói chuyện trước một nhóm tù nhân chính trị chọn lọc. Ông ta đã nói với chúng tôi, “Hồ Chí Minh có thể là một quỷ dữ, Nixon có thể là một vĩ nhân. Người Mỹ có thể có chính nghĩa, chúng ta có thể không có chính nghĩa. Nhưng chúng ta đã chiến thắng và người Mỹ đã bị đánh bại bởi vì chúng ta đã thuyết phục được người dân rằng Hồ Chí Minh là một vĩ nhân, Nixon là một tên sát nhân và người Mỹ là những kẻ xâm lược”. Ông ta đã kết luận, “Yếu tổ chủ chốt là làm thế nào kiểm soát người dân và ý tưởng của họ. Chỉ có chủ nghĩa Mác Lê mới có thể làm được như vậy. Không ai trong các anh đã từng biết đến một sự kháng cự nào đối với chế độ cộng sản, bởi vậy không nên nghĩ đến điều đó nữa. Hãy quên chuyện đó đi? Giữa các anh ‒ những nhà trí thức ưu tú ‒ và tôi, tôi đã nói với các anh sự thật”. Và quả là ông ta đã nói sự thật.

Từ năm 1978, khi cộng sản Việt Nam chiếm đóng Lào, xâm lấn Kampuchea và tấn công Thailand, trong khi đó Liên Sô xâm lăng Afghanistan. Trong mỗi một sự kiện đó, người cộng sản vẫn tự phác hoạ chân dung của họ một cách ly kỳ, là những người giải phóng, người cứu rỗi, người bảo vệ chống lại các lực lượng xâm lăng nước ngoài. Và trong mỗi sự kiện, dư luận thế giới vẫn tương đối êm dịu. 

Nhưng ở Việt Nam, người dân vẫn thường nhắc nhau, “Đừng nghe những gì cộng sản nói mà hãy nhìn những gì cộng sản làm”. Một trong những người Nam Việt Nam theo cộng sản, ông Nguyễn Văn Tăng, bị tù 15 năm dưới thời Pháp, 8 năm dưới thời Diệm, 6 năm dưới thời Thiệu, và hiện nay vẫn còn đang nằm tù, đã nói với tôi, “Muốn hiểu người cộng sản, trước nhất phải sống với cộng sản”. Vào một buổi chiểu mưa rơi tại nhà tù Lê Văn Duyệt, Sài Gòn, ông đã nói với tôi, ‘Ước mơ của tôi bây giờ không phải là được thả ra, không phải là được gặp lại gia đình. Tôi chỉ mơ được trở lại nhà tù của Pháp 30 năm trước”. Đó là giấc mơ của một người đàn ông 60 tuổi đã gởi trọn tuổi thanh xuân vào việc ra vào nhà tù để chiến đấu cho tự do và độc lập của đất nước. Giờ này, có lẽ ông đã chết trong tù hay có thể đã bị nhà nước của nhân dân hành quyết.

Ước mơ của nhân dân Việt Nam là một cuộc cách mạng thực sự, họ không muốn chủ nghĩa cộng sản. Mức độ đo lường sự chán ghét cộng sản là việc hàng ngàn người đã từ bỏ sự ràng buộc lịch sử của họ với đất mẹ. Dưới thời thực dân Pháp, trải qua bao năm dài chiến tranh, ngay cả trong thảm cảnh nạn đói năm 1945 có đến 2 triệu người chết đói, người Việt Nam vẫn không đành đoạn rời bỏ quê hương, mảnh đất có mồ mả ông cha. Các cuộc đổ xô ra đi tỵ nạn là bằng chứng trực tiếp của sự kinh hoàng với chế độ hiện nay. 

Hãy nghe lời một người tỵ nạn khác, Nguyễn Công Hoan, cựu thành viên MT và là thành viên Quốc hội thống nhất được bầu năm 1976, “Chế độ hiện nay là chế độ phi nhân và áp bức nhất mà nước Việt Nam từng được biết đến”. Ông Hoan trốn thoát bằng thuyền vào năm 1977, sau khi từ bỏ chức vụ của ông trong Quốc hội cộng sản. “Quốc hội”, ông tuyên bố, “là một bù nhìn, các thành viên ở đó chỉ biết nói dạ, không bao giờ biết nói không”.

Giữa các thuyền nhân sống sót, bao gồm cả những người bị hải tặc hảm hiếp và những người chịu nhiều cực nhục trong các trại tỵ nạn, không hề có người nào hối tiếc đã tìm cách trốn khỏi chế độ hiện nay.

Tôi tuyệt đối tin rằng sự thật về Việt Nam sẽ dần dần hiện rõ. Nó có sẵn cho những ai muốn tìm hiểu về nó. Như Solzhenitsyn đã từng nói, “Sự thật cũng nặng nề như là thế giới vậy”.

Và Việt Nam là một bài học về sự thật.

Đoàn Văn Toại
Felix lược dịch

 

——————————————————–

Nguồn: A Lament for Vietnam, The New York Times, March 29, 1981

March 29, 1981
FROM THE NEW YORK TIMES MAGAZINE
A Lament for Vietnam by DOAN VAN TOAI

When the Communists took over North Vietnam in 1954, a million refugees fled to the South. I personally heard stories of their incredible suffering. But, along with other South Vietnamese, I refused to believe them. A generation later, I could not believe Solzhenitsyn’s book “The Gulag Archipelago,” either. I dismissed it as anti-Communist propaganda.

But by 1979, I had published my own book, “The Vietnamese Gulag.” Can those who have suffered the horror of Communism ever convince those who have not experienced it? From 1945, when I was born in the village of Caivon in Vinh Long province, 100 miles south of Saigon, until I left Vietnam in May 1978, I never enjoyed peace. My family’s house was burned three times in the war against the French. To escape the fighting, my parents moved from one village to another throughout my youth. Like the majority of Vietnamese patriots, they joined the resistance forces fighting the French. As I grew up, I myself saw how the peasants were oppressed by the local officials of the successive

Saigon regimes, how they were victimized by the French bombardments. I learned the history of my country’s thousand-year struggle against Chinese occupation and its century-long effort against Western domination. With this background, my compatriots and I grew up with a hatred of foreign intervention.

When the students at Saigon University elected me vice president of the Saigon Student Union in 1969 and 1970, I participated in the different peace efforts, leading student demonstrations against the Thieu regime and against American involvement. I published a magazine called Self-Determination, and traveled in January 1971 to California to give antiwar lectures at Berkeley and Stanford. For my activities, I was arrested and jailed many times by the Thieu Government.

During that period, I believed that I was fulfilling my commitment to peace and the independence of my country. I had faith, too, in the program of the National Liberation Front (N.L.F.), which led the revolutionary resistance in South Vietnam. I hated Saigon’s rulers, men like Gen. Nguyen Van Thieu, Gen. Nguyen Cao Ky, Gen. Dang Van Quang — former soldiers of the French colonial army. These were the men whom the French had recruited in the 1940’s to help destroy the Vietnamese resistance. They had risen over the years to become leaders themselves, but they commanded no respect from the people. Because of their lack of popular support, they were predisposed to rely on foreign forces.

As a student leader, I felt I had to pursue the aspiration of the Vietnamese people for democracy, freedom and peace.

Naively, I believed that the Hanoi regime at least had the virtue of being Vietnamese, while the Americans were foreign invaders like the French before them. Like others in the South Vietnamese opposition movements, I believed that our Communist compatriots in the North would be more amenable to compromise and easier to work with than the Americans. Moreover, I was hypnotized by the personal sacrifices and devotion the Communist leaders had demonstrated. Ton Duc Thang, former President of North Vietnam, for example, had been imprisoned for 17 years in a French jail. I was hypnotized also by the political programs advocated by the N.L.F., which included a domestic policy of national reconciliation, without risk of reprisal, and a foreign policy of nonalignment. Finally, I was influenced by progressive movements throughout the world and by the most prestigious intellectuals in the West. My impression was that during the 1960’s and early 70’s the leaders of the American peace movement shared my convictions.

These convictions endured through the signing of the 1973 Paris peace accords and the subsequent collapse of the South Vietnamese Government two years later. When liberation was imminent, I was the one who told friends and relatives not to flee. “Why do you want to leave?” I asked. “Why are you afraid of the Communists?” I accepted the prospect of enduring hardships to rebuild my country and I decided to stay in Vietnam and continue working as a branch manager at a Saigon bank, where I had been for more than four years, writing secret reports about the economic situation in South Vietnam for the N.L.F. (After leaving the university, I had not been drafted by the South Vietnamese Government because I was the only son in my family. And I had not joined the Vietcong because the N.L.F. felt I could serve a more useful role providing financial reports from the bank.)

Several days after Saigon fell, the Provisional Revolutionary Government, formed by the N.L.F., asked me to join the finance committee, a group of intellectuals whose job it was to advise the Government on matters of economic policy. I complied willingly, taking a pay cut of 90 percent. My first assignment was to help draw up a plan for confiscating all the private property in South Vietnam. Shocked, I proposed that we should expropriate only the property of those who had cooperated with the former regime and those who had used the war to become rich, and that we distribute it in some fashion to the poor and to the victims of the war, Communist and non-Communist alike. My proposals, of course, were rejected. I was naive enough to think that the local cadres were mistaken, that they misunderstood the good intentions of the Communist Party leaders. I had many fights with them, believing as I did Hanoi’s previous statement that “the situation in the South is very special and different from that of North Vietnam.” A few months before the liberation of Saigon, Le Duan, the First Secretary of the Communist Party, had said, “The South needs its own policy.”

In the end, I could not obey the order to help arrange the confiscation of all private property, a plan that was subsequently carried out. Such a scheme had nothing to do with fulfilling the aspirations of the South Vietnamese, and it went against my conscience. I decided to resign. But no one resigns in a Communist regime. The implication of nonconformity is intolerable to Communists. When I submitted my resignation, the chief of the finance committee warned me that my action “would only serve as propaganda to excite the people; here we never do it that way.” Several days later, while I was attending a concert at the great National Theater (formerly the National Assembly Hall, which my fellow students and I had occupied so many times under the Thieu regime), I was arrested. No charges were made, no reasons were given. After the fall of Saigon, many progressive intellectuals and former antiwar-movement leaders believed that the new Vietnamese regime would bring internal democracy and freedom from foreign domination. They believed that the new regime would pursue the best interests of the people, honoring its promise to carry out a policy of national reconciliation without fear of reprisal. Far from adhering to their promises, the Vietnamese rulers have arrested hundreds of thousands of individuals — not only those who had cooperated with the Thieu regime but even those who had not, including religious leaders and former members of the N.L.F.

Vietnam today is a country without any law other than the arbitrary directives of those in power. There is no civil code.

Individuals are imprisoned without charges and without trial. Once in jail, prisoners are taught that their behavior, attitude and “good will” are the key factors in determining when they may be released -whatever crimes they may have committed. As a consequence, prisoners often obey the guards blindly, hoping for an early release. In fact, they never know when they may be released — or when their sentences may be extended. How many political prisoners are there in Vietnam today? And how many of them have died in prisons during the first six years of Communist rule? Nobody can know the exact numbers. The United States Department of State has said there are from 150,000 to 200,000prisoners; Vietnamese refugees estimate about one million. Hoang Huu Quynh, an intellectual, a graduate of Moscow University, who served as a director of a technical school in Ho Chi Minh City (formerly Saigon), recently defected to France during his Government sponsored tour of European countries. He told the French press: “There are at least 700,000 prisoners in Vietnam today.” Another witness, Nguyen Cong Hoan, a former member of the reunified National

Assembly, which was elected in 1976, who escaped by boat in 1978, said that he himself knew “about 300 cases of executions” in his own province of Phu Yen. In 1977, officials in Hanoi insisted that only 50,000 people, who posed the greatest threat to national security, had been arrested. But Prime Minister Pham Van Dong said, in the French magazine Paris Match, on Sept. 22, 1978, “In over three years, I released more than one million prisoners from the camps.” One wonders how it is possible to release more than a million after having arrested only 50,000.

When I was arrested, I was thrown into a three-foot-by-six-foot cell with my left hand chained to my right foot and my right hand chained to my left foot. My food was rice mixed with sand. When I complained about the sand, the guards explained that sand is added to the rice to remind prisoners of their crimes. I discovered that pouring water in the rice bowl would make the sand separate from the rice and sink to the bottom. But the water ration was only one liter a day for drinking and bathing, and I had to husband it carefully.

After two months in solitary confinement, I was transferred to a collective cell, a room 15 feet wide and 25 feet long, where at different times anywhere from 40 to 100 prisoners were crushed together. Here we had to take turns lying down to sleep, and most of theyounger, stronger prisoners slept sitting up. In the sweltering heat, we also took turns snatching a few breaths of fresh air in front of the narrow opening that was the cell’s only window. Every day I watched my friends die at my feet.

In March 1976, when a group of Western reporters visited my prison, the Communist officials moved out all the prisoners and substituted North Vietnamese soldiers. In front of the prisons, one sees no barbed wire, no watchtowers, only a few policemen and a large sign above the entrance that proclaims Ho Chi Minh’s best-known slogan: “Nothing Is More Precious Than Liberty and Independence.” Only those detained inside and those who guard them know what kind of place is hidden behind that sign. And every prisoner knows that if he is suspected of planning to escape, his fellow inmates and relatives at home will be punished rather than he himself.

We will never know precisely the number of dead prisoners, but we do know about the deaths of many well-known prisoners who, in the past, never cooperated with President Thieu or the Americans: for example, Thich Thien Minh, the strategist of all the Buddhist peace movements in Saigon, an antiwar activist who was sentenced to 10 years in jail by the Thieu regime, then released after an outpouring of protest from Vietnamese and antiwar protesters around the world. Thien Minh died in Ham Tan prison after six months of detention in 1979. Another silent death was that of the lawyer Tran Van Tuyen, a leader of the opposition bloc in the Saigon Assembly under President Thieu. This well-known activist died in Communist hands in 1976, although as late as April 1977, Prime Minister Pham Van Dong was telling French reporters that Tuyen was alive and well in a re-education camp. One of the greatest losses has been that of the famous Vietnamese philosopher Ho Huu Tuong. Tuong, a classmate of Jean-Paul Sartre’s in Paris in the 1930’s, was perhaps the leading intellectual in South Vietnam. He died in Ham Tan prison on June 26, 1980. These men were arrested, along with many others among the most prominent and respected South Vietnamese, in order to pre-empt any possible opposition to the Communists.

Some American supporters of Hanoi have ignored or rationalized these deaths, as they have the countless other tragedies that have befallen Vietnam since 1975. It is more than likely that they will continue to maintain their silence in order to avoid the profound disillusionment that accepting the truth about Vietnam means for them. Yet if liberty and democracy are worth struggling for in the Philippines, in Chile, in South Korea or in South Africa, they are no less worth defending in Communist countries like Vietnam. Everyone remembers the numerous demonstrations protesting United States involvement in Vietnam and the war crimes of the Thieu regime. But some of those people who were then so passionately committed to democratic principles and human rights have developed a strange indifference now that these same principles are under assault in Communist Vietnam. For example, one antiwar activist, William Kunstler, refused to sign a May 1979 open letter to the Socialist Republic of Vietnam in which many former antiwar activists, including Joan Baez, protested Hanoi’s violations of human rights. Kunstler said, “I don’t believe in criticizing socialist governments publicly, even if there are human-rights violations,” and, “The entire Baez campaign may be a C.I.A. plot.”

This statement reminds me of the argument used by the Thieu regime to suppress opposition: “The peace movements and the opposition activists are all the Communists’ lackeys.”

There are other illusions about the current regime in Vietnam about which people should be disabused. Many people believed that Ho Chi Minh was primarily a nationalist and that the Vietnamese Communists were and are independent of the Soviet Union. I believed the same before they took over South Vietnam. But portraits of Soviet leaders now adorn public buildings, schools and administrative offices throughout “independent Vietnam.” In contrast, one never saw pictures of American leaders even during the so-called puppet regime of President Thieu. The degree of subordination the present Government feels toward its Soviet patron is suggested by a famous poem by the well-known Vietnamese poet To Huu, a member of the Politburo and president of the Communist Party Committee of Culture. Here we have an opportunity to listen to a high-ranking Vietnamese weep on the occasion of Stalin’s death:

Oh, Stalin! Oh, Stalin!
The love I bear my father, my mother, my wife, myself It’s nothing beside the love I bear you,
Oh, Stalin! Oh, Stalin!
What remains of the earth and of the sky!
Now that you are dead.
(Tố Hữu)

It may seem incredible that such a poem could have been written in Vietnam, which is known for the strength of its family traditions and its feeling for filial piety. Yet this poem occupied a prominent place in a major anthology of contemporary Vietnamese poetry recently published in Hanoi.

Moreover, Le Duan, First Secretary of the Communist Party, said in his political report to the reunified National

Assembly in 1976: “The Vietnamese revolution is to fulfill the internationalist duty and the international obligation,” and to do so, in the words of the 1971 party platform, “under the leadership of the Soviet Union.” The glorification of Soviet life is, in fact, a major goal of Communist Vietnam’s censorship policy.

Immediately after the fall of Saigon, the Government closed all bookshops and theaters. All books published under the former regimes were confiscated or burned. Cultural literature was not exempt, including translations of Jean-Paul Sartre, Albert Camus and Dale Carnegie. Margaret Mitchell’s “Gone With the Wind” was on the list of decadent literature as well. The new regime replaced such books with literature designed to indoctrinate children and adults with the idea that the “Soviet Union is a paradise of the socialist world.”

Another argument made at times by Western apologists has to do with freedom of religion in Vietnam. One article in the new Constitution of Vietnam, adopted this year, declares that “the regime respects the liberty of the believers and also the liberty of the nonbelievers.” In regard to this article, Le Duan has repeatedly proclaimed: “Our present regime is a million times more democratic than any other in the world.” The reality, though, is suggested by an incident involving the desecration of a Buddhist pagoda, in which a nude woman, on orders from the Government, entered the pagoda during a worship service. When Thich Man Giac, a prominent Buddhist leader, protested, the Government used the opportunity to try to discredit the Buddhists as enemies of democracy -specifically, of the freedom to disbelieve. Thich Man Giac, who had served as liaison between the Buddhists and the Communist Government, escaped Vietnam by boat in 1977 and is now living in Los Angeles. All of those who supported the N.L.F. in its struggle should be aware of how they were betrayed and deceived. When Harrison Salisbury of The New York Times visited Hanoi in December 1966, the leaders in Hanoi told him: “The direction of the struggle in the South is by the South and not by the North.”

Pham Van Dong, Prime Minister, said to Salisbury: “No one in the North had this stupid, criminal idea in mind” that the North wanted to annex the South.

Yet in a victory-day celebration speech made on May 19, 1975, Le Duan said, “Our party is the unique and single leader that organized, controlled and governed the entire struggle of the Vietnamese people from the first day of the revolution.” In his political report to the reunified National Assembly in Hanoi on June 26, 1976, Le Duan said: “The strategic task of the revolution in our country in the new stage is to achieve the reunification of our homeland and to take the whole country rapidly, vigorously and steadily to socialism, and Communism.”

In 1976, the Provisional Revolutionary Government formed by the N.L.F. was abolished, and South and North Vietnam were reunified under Commu-nist rule. Today, among 17 members of the Politburo and 134 members of the Central Committee of the Vietnamese Communist Party, not a single one is from the N.L.F. (there are several members who had been North Vietnam Communist Party representatives with the N.L.F.). Even Nguyen Huu Tho, former chairman of the N.L.F., holds only the post of acting President of State, a ceremonial position that involves greeting visitors and participating in festivals. But his position will be abolished under the new Constitution.

Listen to Truong Nhu Tang, 57 years old, a founder of the N.L.F., former Justice Minister of the Provisional Revolutionary Government, more recently one of the boat people. Tang escaped in November 1979 and is now living in Paris. He told reporters of his experience in a news conference in Paris in June 1980. Twelve years earlier, he said, when he had been jailed by the Thieu regime for his Communist activities, his father came to visit. “Why,” he asked Tang, “have you abandoned everything — a good job, a rich family — to join the Communists? Don’t you know that the

Communists will betray you and persecute you, and when you finally understand, it will be too late to wake up?” Tang, an intellectual, answered his father: “You would do better to keep quiet and accept the sacrifice of one of your sons for

democracy and our country’s independence. …”

After the Tet offensive in 1968, Tang was exchanged for three American colonels who had been prisoners of war held by the Vietcong; then he vanished into the jungle with the N.L.F. He had visited many Communist and third-world countries on behalf of the N.L.F. during the war. Tang said in his news conference: “I was well aware that the N.L.F. was a Communist-dominated national united front and I was naive enough to believe that Ho Chi Minh and his party would place national interests above ideology and would place the interest of the Vietnamese people above the party’s. But the people and I were wrong.”

Truong Nhu Tang told of his own knowledge of the way Communist ruling circles operate: “The Communists are expert in the arts of seduction and will go to any length to woo you over to their side, as long as they don’t control the Government. But once they are in power they suddenly become harsh, ungrateful, cynical and brutal.” Tang summarized current conditions in Vietnam: “The family is divided, society is divided, even the party is divided.”

Looking back now on the Vietnam war, I feel nothing but sorrow for my own naivete in believing that the Communists were revolutionaries worthy of support. In fact, they betrayed the Vietnamese people and deceived progressives throughout the world. The responsibility for the tragedies that have engulfed my compatriots is mine. And now I can only bear witness to this truth so that all former supporters of the Vietcong may share their responsibility with me.

While I was in jail, Mai Chi Tho, a member of the Central Committee of the Communist Party, addressed a selected group of political prisoners. He told us: “Ho Chi Minh may have been an evil man; Nixon may have been a great man.

The Americans may have had the just cause; we may not have had the just cause. But we won and the Americans were defeated because we convinced the people that Ho Chi Minh is the great man, that Nixon is a murderer and the Americans are the invaders.” He concluded that “the key factor is how to control people and their opinions. Only Marxism-Leninism can do that. None of you ever see resistance to the Communist regime, so don’t think about it.

Forget it. Between you — the bright intellectuals — and me, I tell you the truth.”

And he did tell us the truth. Since 1978, the Vietnamese Communists have occupied Laos, invaded Cambodia and attacked Thailand, while the Soviet Union has invaded Afghanistan. In each of these depredations, the Communists have portrayed themselves, incredibly, as liberators, saviors and bulwarks against foreign aggression. And each time, world opinion has remained relatively quiescent.

But in Vietnam, people often remark: “Don’t believe what the Communists say, look instead at what they have done.”

One South Vietnamese Communist, Nguyen Van Tang, who was detained 15 years by the French, eight years by Diem, six years by Thieu, and who is still in jail today, this time in a Communist prison, told me: “In order to understand the Communists, one must first live under a Communist regime.” One rainy evening in Saigon’s Le Van Duyet prison, he told me: “My dream now is not to be released; it is not to see my family. My dream is that I could be back in a French prison 30 years ago.” This is the one wish of a 60-year-old man who has spent his entire adult life in and out of prison fighting for the freedom and the independence of his country. At this moment, he may already have died in his cell orhave been executed by the new rulers.

The Vietnamese people wish to achieve the real revolution; they do not want Communism. The measure of popular hatred for the Communists is that thousands of Vietnamese have abandoned their historical attachment to the land.

Under French colonial domination, throughout the long war years, even during the catastrophic famine of 1945 when two million starved to death, Vietnamese simply did not willingly leave their homeland — the land of their ancestors’ graves. The recent outpouring of refugees is a direct result of the terror of the present regime. Listen to another refugee, Nguyen Cong Hoan, former N.L.F. agent and member of the new unified Assembly elected in 1976: “This current regime is the most inhuman and oppressive (Vietnam) has ever known.” Hoan escaped by boat in 1977, after abandoning his position in the Communist Assembly. “The Assembly,” he declared, “is a puppet, the members know only how to say yes, never how to say no.”

Among the boat people who survived, including those who were raped by pirates and those who suffered in the refugee camps, nobody regrets his escape from the present regime. I am confident that the truth about Vietnam will eventually emerge. It is already available to those who wish to know it. As Solzhenitsyn has said, “Truth weighs as heavy as the world.” And Vietnam is a lesson in truth.

DOAN VAN TOAI IS CURRENTLY WORKING ON A BOOK ABOUT VIETNAM CALLED “NEITHER PEACE NOR HONOR.”

Posted in Chạy trốn chủ nghĩa Cộng sản, Chien Tranh Viet Nam | Leave a Comment »

►Nhà báo tự do Đặng Chí Hùng được Cao Ủy Tị Nạn LHQ công nhận là người tị nạn chính trị

Posted by hoangtran204 trên 11/01/2014

Nguồn: vietlandnews.net

Thời Báo  10-1-2014

Trong văn thư gửi Thượng nghị sĩ Ngô Thanh Hải, bà Mireille Girard, đại diện  Cao Ủy Tị Nạn Liên Hiệp Quốc có văn phòng tại Thái Lan (UNHCR), xác định đã theo dõi sát tình trạng của Phạm Mạnh Hùng (bút danh Đặng Chí Hùng) từ ngày ông bị bắt 12-12-2013 ở Bangkok và đưa về trại giam Suan Phlu của Bộ Di Trú. Trại giam này ở Bangkok, Thailand.

Đây là nội dung lá thơ của bà Mireille Girard, đại diện Cao Ủy Tị Nạn Liên Hiệp Quốc (UNHCR) gởi nghị sĩ Ngô Thanh Hải, Canada :

Ngày 8 tháng 1 năm 2014

 Tình trạng bảo vệ của một người Việt Nam tị nạn tại Thái Lan

Kính thưa Thượng Nghị Sĩ Ngô Thanh Hải

Tôi rất hân hạnh nhắc lại lá thư của ông viết ngày 16 tháng 12 về việc anh Phạm Mạnh Hùng, một người có quốc tịch Việt đã bị bắt ngày 12 tháng 12 tại Bangkok và hiện đang bị giam giữ tại Trung Tâm Tạm Giam Suan Phlu

Cao Ủy Tị Nạn Liên Hiệp Quốc bấy lâu nay vẫn theo sát tình hình của anh Phạm Mạnh Hùng (Đặng Chí Hùng) kể từ khi anh bị bắt giam. Văn phòng chúng tôi đã công nhận anh Phạm Mạnh Hùng là một người tỵ nạn chiếu theo qui chế của Cao Ủy Tị Nạn Liên Hiệp Quốcthay mặt cho anh Phạm Mạnh Hùng, chúng tôi đã làm một số việc can thiệp với chính quyền Hoàng gia Thái. Chúng tôi đã nhấn mạnh đến yêu cầu có sự can thiệp của chính phủ Thái để anh được cộng đồng quốc tế bảo vệ, gồm cả việc chống lại sự bắt buộc anh quay trở lại một quốc gia nơi mà sinh mạng và an ninh của anh có thể gặp rủi ro. Nhận ra vẫn còn nguy cơ  của việc trục xuất, Cao Ủy Tị Nạn LHQ hiện đang khẩn cấp tìm nơi tái định cư cho anh Phạm Mạnh Hùng tại một đệ tam quốc gia.

Cám ơn sự quan tâm của ông dành cho những người Việt tỵ nạn ở Bangkok. Xin đừng ngần ngại liên hệ với văn phòng chúng tôi để được cập nhật thêm

Mỉreille Girard

Đại Diện Cao Ủy Tị Nạn LHQ

———————————————————

16-12-2013

Thượng Nghị Sĩ Ngo Thanh Hai, Canada

Kính gởi ông James Lynch, Đại diện Miền, Cao Ủy Tị Nạn LHQ, Bangkok, Thailand

Thưa ông Lynch,

Tôi viết thư này để bày tỏ lòng quan tâm của tôi về lệnh trục xuất gần đây của ông Phạm Mạnh Hùng, lệnh ấy sẽ làm nguy hiểm đến tính mạng của ông ta. Phạm Mạnh Hùng, còn được biết dưới bút danh Đặng Chí Hùng, vừa mới bị bắt ở  Bangkok, Thái Lan ngày 12-12-2013, hiện nay đang ở tại trại giam Suan Phlu của Bộ Di Trú Thái Lan, ở Bangkok, và đang chờ đợi bị trục xuất trở lại Việt Nam.

Như ông đã biết chế độ độc đảng cộng sản Viêt Nam đang bắt giữ một cách thô bạo và đàn áp bằng bạo lực bất cứ người dân nào chỉ trích chính sách của nhà nước mà không cần thông qua tiến trình (luật pháp nào). Phạm Mạnh Hùng là một blogger nổi tiếng thế giới nhờ các hoạt động có hiệu quả của ông ta trong việc tố cáo khuynh hướng ngày càng gia tăng về sự đàn áp nhân quyền ở Việt Nam, kể từ đó anh ta buộc lòng phải trốn thoát khỏi Việt Nam và tìm cách tị nạn lúc đầu ở Kampuchea vả rồi Thái Lan cách đây 6 tháng. Vì vậy, việc trục xuất ông Hùng sẽ đặt ông ta vào tình trạng nguy hiểm đến tính mạng với nhà cầm quyền Việt Nam, đó là lý do vì sao tôi đề nghị Cao Ủy Tị Nạn LHQ cấp cho ông ta qui chế tị nạn, chấp thuận cho ông ta ở lại an toàn ở Bangkok.

Tôi xin bày tỏ lời cám ơn chân thành của tôi (và lời xin lỗi)  vì đã làm mất thời giờ quý báu của ông trong việc cứu xét trường hợp Phạm Mạnh Hùng…

Thượng Nghị Sĩ Ngo Thanh Hai

———————

*Các bạn vào youtube.com và gõ chữ Đặng Chí Hùng Để nghe các bài nói chuyện của anh ta

*Hoặc vào google.com, và gõ chữ Đặng Chí Hùng, và nhấn vào chữ search,

*Hôm 30 Tết Quý Ngọ 2014, Trương Quốc Huy đã đến Mỹ định cư. Hiện nay, có lẻ anh đang ở Washington D.C.

Posted in Chạy trốn chủ nghĩa Cộng sản | 1 Comment »