Trần Hoàng Blog

Archive for the ‘Sách-Hồi Ký-Bài Báo…’ Category

►Tài Liệu đăng ngày 9/8/1932 về cái chết của Nguyễn Ái Quốc trong nhà tù Hongkong

Posted by hoangtran204 trên 16/09/2018

Le vaillant fondateur Du Parti communiste indochinois est Mort emprisonne
Người sáng lập dũng cảm của Đảng cộng sản đông dương đã chết khi bị cầm tù

 

Đọc tiếp »

Advertisements

Posted in Nhan Vat Chinh tri, Sách-Hồi Ký-Bài Báo..., Tài Liệu | Leave a Comment »

►Hỡi ôi Bà Mẹ Miền Nam! (Đặng Huy Văn, 20-7-2018)

Posted by hoangtran204 trên 21/07/2018

 

 

Đọc tiếp »

Posted in Chien Tranh Viet Nam, Miền Nam sau 30-4-1975, Sách-Hồi Ký-Bài Báo... | Leave a Comment »

■ Chủ tịch nước đồng ý cần ban hành Luật biểu tình (Tuổi trẻ, 19/06/2018)

Posted by hoangtran204 trên 19/07/2018

Bài này đã bị xoá. Báo Tuổi Trẻ đã bị phạt 220 triệu đồng, và đình bản 3 tháng vì đã đăng bài này một bài khác. 

 

Đọc tiếp »

Posted in Báo chí- Quyền tự do ngôn luận, Sách-Hồi Ký-Bài Báo..., Thời Sự | Leave a Comment »

►Người Cộng Sản Nam Kỳ Qua “Lời Ai Điếu” Của Lê Phú Khải

Posted by hoangtran204 trên 05/02/2018

Trần Hoàng:

Muốn hiểu TBT Nguyễn Phú Trọng và các hành động của nhóm CS miền Bắc trong thời gian 2011-2017, cần phải xem lại lịch sử hoạt động của đảng CS trong 5 thập niên 1940-1980. Dưới đây là một phần của giai đoạn nói trên. 

Triệt tiêu Nam kỳ để phe cộng sản trung kỳ và Bắc kỳ lãnh đạo vốn là chủ trương của Hồ Chí Minh…

Khoảng tháng 5/1945, chính phủ Trần Trọng Kim ra lệnh cho Pháp và Nhật thả các tù nhân ở các nhà tù trên toàn cõi VN, Lê Duẩn, cùng với các đảng viên cao cấp khác được thả.

HCM phái Lê Duẩn vô Nam để nắm Xứ ủy Nam Kỳ và thanh toán tất cả những đồng chí nào đi ngược lại với chủ trương dùng bạo lực cướp chính quyền.

Vào nam, Lê Duẩn đã ra lệnh cho các đảng viên giết hết tất cả những ai đi theo các đảng phái phe quốc gia.

Phái thêm Lê Đức Thọ vào trợ lực cho Lê Duẩn.

HCM lập mưu kế dụ tướng Nguyễn Bình ra Bắc họp đảng, và sai người giết Bình trên đường đi.

Dụ Trần Văn Giàu, Nguyễn Văn Trấn, Dương Bạch Mai ra Bắc họp 1953, để bịt miệng về các vụ giết người trong Nam. Sau đó, Hồ và Lê Duẩn giam lỏng họ 25 năm cho đến 1978 họ mới xin về Sài Gòn là quê quán. Cả hai vẫn còn sợ và nằm im cho đến khi Lê Duẩn chết 7/1986 và Lê Đức Thọ chết 1990.

Riêng ủy viên thường vụ Quốc hội Dương Bạch Mai vì muốn đảng vào khối kinh tế Comecon (theo 10 nước khối Liên Xô), nên đã bị phe muốn chạy theo Trung Cộng (để có vũ khí đánh miền Nam) đầu độc bằng rượu tại hội trường Quốc Hội 1964. Dương Bạch Mai đã chết sau đó khoảng 45 phút. Hoàng Minh Chính, Nguyễn Văn Trấn, Nguyễn Kiến Giang đã chứng kiến vụ đầu độc này, và Trần Đỉnh đã kể lại trong cuốn “Đèn Cù”, xuất bản 2014 tại California.

Nhà thơ Tuân Nguyễn viết một bài thơ khóc Dương Bạch Mai và hậu quả đã bị tù từ 1964 cho đến 1973.

 

Đọc tiếp »

Posted in Nhan Vat Chinh tri, Sách-Hồi Ký-Bài Báo... | Leave a Comment »

►Bắc Kinh liệt vị, tác giả Mã Kiến (Đào Trung Đạo điểm sách)

Posted by hoangtran204 trên 22/07/2017

 

Đọc tiếp »

Posted in Chinh tri Trung Quoc, Chinh Tri Xa Hoi, Sách-Hồi Ký-Bài Báo... | Leave a Comment »

►Hồi ký Nguyễn Hiến Lê: Giới thiệu 40 trang bị cắt bỏ trong Chương XXXII (bị cắt 16.000 từ)

Posted by hoangtran204 trên 30/04/2017

 

.

Nguyễn Hiến Lê (1912–1984) là một nhà văn, dịch giả, nhà ngôn ngữ học, nhà giáo dục và hoạt động văn hóa.

 

 

Đọc tiếp »

Posted in Miền Nam sau 30-4-1975, Sách-Hồi Ký-Bài Báo..., Tự Do ngôn Luận | Leave a Comment »

►Sài Gòn của tôi, 50 năm trước

Posted by hoangtran204 trên 10/02/2017

Sài Gòn của tôi, 50 năm trước

Nguyễn Ðạt – Giai Phẩm Người Việt Xuân Đinh Dậu

Ðặt chân tới Sài Gòn năm 1954, lúc ấy tôi là đứa bé 9 tuổi, theo gia đình từ miền Bắc di cư vào miền Nam tự do. Ký ức của đứa bé 9 tuổi hẳn nhiên không thể ghi nhận được gì nhiều; nhưng đứa bé lớn lên và sinh sống tại Sài Gòn từ thuở ấy tới bây giờ, đã giúp tôi dễ dàng gợi dậy trong ký ức, ít nhất là những hình ảnh đậm nét của Sài Gòn, 50 năm về trước.

Ấn tượng về Sài Gòn trong tôi từ lúc ấy tới bây giờ cũng không phai nhạt bao nhiêu, dù đã hơn nửa thế kỷ trôi qua. Ấn tượng sâu đậm, bởi Sài Gòn những ngày tháng ấy quá mới lạ trong tâm trí tôi, đứa trẻ đã trải qua một đoạn đời ấu thơ tại Hà Nội. 

Ðiều đầu tiên tôi nhận biết lúc ấy, tôi nói với cha tôi, là Sài Gòn có vẻ rất Tây so với Hà Nội. Cha tôi bảo, bởi vì một trăm năm Pháp thuộc, Sài Gòn và miền Nam là thuộc địa; trong khi Hà Nội của miền Bắc là bảo hộ.

Cha tôi làm thông ngôn trong quân đội Liên Hiệp Pháp, dạy tiếng Pháp cho các con từ nhỏ; nên tôi nhớ được rành rõ những tên Pháp ngữ đặt cho nhiều đường phố lớn của Sài Gòn lúc ấy. Căn nhà đầu tiên của gia đình chúng tôi khi vào Sài Gòn ở đường Bà Hạt, quận 10. Ðường Bà Hạt là đường phố nhỏ, một đoạn chạy ngang đường phố lớn mang tên Tây, là Lacaze – tức đường Nguyễn Tri Phương.

  

Vài năm sau, Tổng Thống Ngô Ðình Diệm cho thay thế tên Tây; vẫn giữ lại tên những danh nhân thế giới, dù danh nhân ấy là người Pháp, như Calmette, Pasteur, Alexandre de Rhodes… Những đường phố mang tên Tây, đa số là quan chức Pháp, được thay thế, như: Bonard – Lê Lợi; Charner – Nguyễn Huệ; Galliéni – Trần Hưng Ðạo; De la Grandrière – Gia Long; Catinat – Tự Do; Lacaze – Nguyễn Tri Phương… Tuy nhiên, nhiều năm sau đó, dân Sài Gòn vẫn nói: Ði bát phố Bô-na, Catinat; đi mua hàng ở thương xá Charner…, luôn là gọi tên Tây, cho 3 đường phố đẹp bậc nhất của Sài Gòn.

Phố phường Sài Gòn lúc ấy đa số là những con đường lớn rộng, dài dằng dặc. Và rất nhiều cổ thụ. Ðặc biệt loại cây có tên rất bình dân là cây dái ngựa – tên khoa học là Meliaceae – thân to nổi mấu gồ ghề, tỏa rộng cành lá, bóng mát ngợp đường Lê Ðại Hành, trước mặt Trường Ðua Phú Thọ, quận 11. Hàng cây me xanh mát mắt suốt con đường Gia Long, con đường có bệnh viện Grall do người Pháp lập nên, giữa vườn cây rộng rinh. Rừng cao su bát ngát, chạy dài theo con đường Nguyễn Văn Thoại, từ Trường Ðua Phú Thọ tới ngã tư Bảy Hiền…

Sài Gòn của tôi, 50 năm trướcNăm tôi còn nhỏ tuổi, cha vẫn dẫn đi chơi mỗi Chủ Nhật. Vào Vườn Ông Thượng, còn có tên Tây là Bờ-rô, sau đó mới gọi tên là Vườn Tao Ðàn; dẫn đi chơi ở Sở Thú-Thị Nghè… Cây trồng ở Sài Gòn phong phú là nhờ công sức của vị giám đốc Sở Thú đầu tiên, người Pháp; ông từng là chuyên viên nghiên cứu về cây trồng ở nhiều nơi trên thế giới; nhất là vùng nhiệt đới ở Phi Châu, có nhiều loại cây thích hợp với thổ nhưỡng Sài Gòn. Những năm sau này, lớn thêm vài tuổi, lại được anh cùng cho đi “bát phố Bô-na,” để thấy rõ Sài Gòn quả là rất Tây; tôi tha hồ thưởng ngoạn vẻ đẹp “Paris” của nó.

Tản bộ trên đường Catinat, từ nhà thờ Ðức Bà tới bến Bạch Ðằng, nhìn ngắm các cửa hiệu sang trọng thời thượng dọc con phố. Và Passage Eden, rất nên gọi là “Hành Lang Ði Bộ,” chính diện nhìn ra đường Catinat. Passage Eden gồm trong đó: bát phố; xem chiếu phim – trong rạp Eden giữa lòng hành lang; mua sắm; ăn kem uống cà phê ăn tối ở quán Givral liền bên… và để ngắm nhìn trai thanh gái lịch, quý ông quý bà Sài Gòn, cũng ở trong đó.

Trai thanh – quý ông thì áo sơ mi quần tây trắng lốp; mũ flechet; giày deux couleurs; đồng hồ quả quít đeo ở dây lưng. Gái lịch – quý bà thì áo dài Lemur-Cát Tường không thua phụ nữ Hà Nội, hoặc vận jupe như “bà đầm”; tay xách porte feuille, chân đi guốc cao gót; tóc búi cao hoặc uốn dợn sóng, cổ đeo kiềng vàng…

Sài Gòn của tôi, 50 năm trước

 

Ra vào Passage Eden nhiều lối, ưa thích ra vào lối nào cũng được. Anh tôi dẫn tôi vào lối cửa ở đường Charner, rồi đi vòng qua Bonard, rồi ra cửa Catinat… Rồi chúng tôi ghé hiệu sách Albert Portail – sau có tên là Xuân Thu – sát cạnh đó, toàn là sách từ bên Tây đưa sang, tha hồ mà đọc mà ngắm.

Rồi với bạn học cùng lớp cùng trường Chu Văn An, Trường-Trung-Học-Di-Chuyển-Bắc-Việt (có ghi ở bảng hiệu của trường như vậy, vì trường cũng di cư từ Hà Nội vào Sài Gòn) đi chơi và chụp ảnh lưu niệm Sài Gòn.

Bất cứ buổi sáng Chủ Nhật nào, góc thân thuộc nhất, tập trung nhiều nhất các “bác phó nhòm,” chính là quảng trường trước mặt quán Givral. Mái hiên cong kiều diễm của quán Givral, và con đường Catinat thẳng tắp, với hai hàng cây hai bên chạy dài ngút mắt, đã đi vào không biết bao nhiêu tấm ảnh lưu niệm Sài Gòn. Hoặc những tấm ảnh của cả gia đình, lưu niệm ngày đi mua sắm ở thương xá Charner; buổi dùng bữa cơm Tây ở một nhà hàng Pháp trên phố Bonard…

 

Sài Gòn của tôi, 50 năm trước

 

Những ngôi đền Ấn Ðộ giữa lòng Sài Gòn lúc ấy, cũng đi vào ký ức của đứa bé miền Bắc di cư khá đậm nét. Sao mà Sài Gòn nhiều đền đài của Ấn Giáo, với kiến trúc tinh tế kỳ công đến thế. Những ngôi đền uy nghi tọa lạc ở các con đường Tôn Thất Thiệp-Trương Ðịnh-Công Lý của quận 1, trung tâm Sài Gòn. Người Ấn Ðộ sinh sống tại Sài Gòn khá đông, chỉ không nhiều bằng người Hoa, ở cả một vùng Chợ Lớn. Tôi nghe dân Sài Gòn gọi họ là Chà Và. Sau này tôi mới hiểu, Chà Và là đọc trại từ Java, gọi chung cho người Ấn Ðộ và người Mã Lai; họ thường làm nghề mại bản, quản lý nhà đất, cho vay tiền, làm trung gian giữa người Việt và người Pháp…

Ðường Tôn Thất Thiệp, vào năm 1954 vẫn được xem là một tiểu Ấn Ðộ, với những ông Chà Và cho vay tiền, chủ quán cà ri nị, mở tiệm kim hoàn. Những người Ấn Ðộ gốc ở Bombay thường kinh doanh ngành vải; họ có nhiều cửa hiệu ở đường Catinat, Bonard, Hàm Nghi, Galliéni, và chợ Bến Thành. Từ lâu trước đó, cộng đồng người Ấn Ðộ ở quận 1 còn đông đảo hơn nhiều; đã có một đợt người Ấn Ðộ rời Sài Gòn sang định cư tại Pháp, vào năm 1945.

 

Sài Gòn của tôi, 50 năm trước

 

Có lẽ cái mới lạ, và thấy thân thương nhất, đối với người miền Bắc di cư vào Sài Gòn như tôi, là những quán tiệm bình dân, tiệm Hoa kiều. Hai thứ quán tiệm này khá giống nhau. Buổi sáng tới quán, những ông già Sài Gòn đọc-nhựt-trình (nhật báo), nói chuyện ưa chêm tiếng Pháp, xưng tôi là mỏa (moi); những bà già hút thuốc điếu; những anh tài xe xích lô máy chở cả vợ con trong lòng xe rộng bè, tới quán ăn hủ tíu uống cà phê, xong chở về nhà rồi mới đi chở khách.

Một thời gian trong năm 1954-55, khi có xài tiền 5 cắc bằng kim loại; thì tại Sài Gòn, cứ việc lấy giấy bạc một đồng – có hình Nam Phương Hoàng Hậu – mà xé làm hai, xài một nửa tương đương 5 cắc! Thật là thuận tiện, đơn giản.

Người Sài Gòn-Nam Bộ không cần thiết phải biết tên người mới quen; chỉ hỏi người này là con thứ mấy trong gia đình, để kêu anh Hai, anh Ba… Thân thương biết mấy!

Chuyện trò với người Sài Gòn-Nam Bộ, câu chuyện của họ giản dị, rõ ràng, không úp úp mở mở; không bắt người cùng trò chuyện với mình phải chịu đựng sự vòng-vo-tam-quốc, sự rào trước đón sau, như rất nhiều người miền Bắc và miền Trung, trong đó có dân di cư năm 1954 thường như vậy.

 

Tình thầy trò, đồng nghiệp nồng ấm đất Sài Gòn

Lê Ðại Anh Kiệt – Giai Phẩm Xuân Người Việt Đinh Dậu

Thầy Hệ thời trẻ (giữa) cùng các học sinh Marie Curie. (Hình tài liệu)

Người ta thường nói cuộc sống đô thị tình người lạt lẽo, con người khép kín. Thế nhưng, Sài Gòn, vùng đất bao dung cưu mang những người tứ xứ và nuôi dưỡng trong lòng đô thị những câu chuyện nghĩa tình.

Câu chuyện dưới đây như bài học mẫu mực cho đạo nghĩa thầy trò và tình đồng nghiệp. Bởi vì học trò và đồng nghiệp của ba ngôi trường cũ chung tay nuôi dưỡng, chăm sóc và tranh đấu đòi công lý cho một thầy giáo già đơn côi, mắc bệnh tâm thần, bị lừa lấy mất nhà. Những học trò nay đã là giáo viên hưu trí vẫn tương kính bạn của thầy như chính thầy mình.

Thầy Nguyễn Hữu Hệ từ miền Bắc một mình di cư vào Nam là giáo viên toán trải qua ba trường Trung Học Kiến Tường (Long An,1964-1968), Trung Học Kiểu Mẫu Thủ Ðức (1969-1975), sau 1975, trường Kiểu Mẫu giải thể thầy chuyển về trường Trung Học Marie Curie cho đến lúc về hưu.

Xưa nay, thầy sống một mình trong ngôi nhà thừa kế từ mẹ nuôi ở số 19 Duy Tân, quận Phú Nhuận, Sài Gòn.

Từ cuối năm 2015, thầy Hệ thuê cô Thu Huyền giúp việc và cho cô cùng hai con ở chung nhà. Cô Huyền tự giới thiệu mình là cháu của thầy, ai nghe cũng ngỡ thật.

Tháng Tư vừa rồi, nghe thầy bị va quẹt xe, bị đau chân, anh Quang Tuấn và chị Thủy Anh đại diện nhóm cựu học sinh Kiểu Mẫu Thủ Ðức mang đến tặng thầy $1,900. Bình thường, thầy luôn ăn mặc tươm tất khi tiếp khách nhưng lần này thầy mặc quần đùi, áo không cài nút. Chị Thủy Anh phải cài nút áo cho thầy và vẫn nghĩ là chuyện lơ đễnh bình thường.

Tình thầy trò, đồng nghiệp nồng ấm đất Sài Gòn
Từ trái: thầy Út, thầy Hệ, chị Thủy Anh. (Hình: Lê Ðại Anh Kiệt)

Ðầu Tháng Sáu, anh Bình Phương, cựu học sinh Marie Curie (định cư ở Canada) đến thăm thấy thầy có dấu hiệu hoang tưởng nên khuyên cô Huyền đưa thầy nhập viện Tâm Thần Chợ Quán. Cô Huyền cũng gọi điện báo tin cho nhóm cựu học sinh Marie Curie, nhóm này đã quyên góp giúp thầy 22 triệu đồng để điều trị.

Chị Thủy Anh cũng được tin và đến bệnh viện thăm thì biết thầy Hệ không còn nhận thức được nên báo tin cho các cựu học sinh và thầy cô trường Kiểu Mẫu. Từ Mỹ, thầy Nguyễn Ðình Loạt là đồng nghiệp với thầy Hệ ở cả hai trường Kiến Tường và Kiểu Mẫu đã email cho anh Trần Ngọc Bách, cựu học sinh Kiến Tường báo tin thầy Hệ bệnh.

Từ đây, ba nhóm cựu học sinh ba trường đã gặp nhau cùng hợp sức chăm sóc cho thầy. Anh Bách thuê người chăm sóc thầy 24/24. Chị Tuyết Nhung, cựu học sinh Marie Curie, hằng ngày lo cơm nước.

Ðiều kỳ lạ là bác sĩ điều trị khuyên nên đưa thầy về nhà điều trị ngoại trú sẽ tốt hơn nhưng cô Huyền cứ kiếm cớ nhà đang sửa, rồi đưa thầy Hệ hết bệnh viện này đến bệnh viện khác. Từ Tâm Thần Chợ Quán, sang Chợ Rẫy, Trung Tâm Phục Hồi Chức Năng quận 8 đến bệnh viện Bình Dân.

Không chỉ học trò cũ mà các đồng nghiệp cũ như thầy Bùi Quang Hân (Kiểu Mẫu Thủ Ðức, hiện là chuyên gia đào tạo học sinh giỏi, tác giả nhiều bộ sách giáo khoa Vật Lý), thầy Nguyễn Ngọc Long và thầy Nguyễn Văn Út (Marie Curie) cùng nhau lo lắng cho thầy Hệ.

Tình thầy trò, đồng nghiệp nồng ấm đất Sài Gòn
Chị Thủy Anh gài nút áo cho thầy Hệ trong lần đến nhà thăm và trao $1,900. (Hình: Lê Ðại Anh Kiệt)

Thầy Út đã vận động các cựu giáo viên Marie Curie năm triệu đồng và bỏ tiền túi hai triệu đồng giúp thầy Hệ.

Khi hình ảnh thăm viếng thầy Hệ đưa lên trang web trường Kiểu Mẫu, một cựu học sinh nhận ra và báo động là cô Thu Huyền giúp việc có nhiều tai tiếng bất hảo về tiền bạc.

Các cựu học sinh tìm hiểu thì hóa ra bằng cách nào đó cô Huyền đã làm giấy mua nhà thầy Hệ và đã bán, giao nhà cho người khác. Căn nhà trị giá 6 tỉ đồng đã “bán” cho cô Huyền 700 triệu đồng, sau đó cô Huyền bán lại 3.9 tỉ đồng ngay trong tháng. Tất cả tiền bạc giúp đỡ và cả giấy tờ tùy thân, sổ lương hưu của thầy Hệ cô ấy đều giữ.

Vì vậy, cựu học sinh và các thầy bàn nhau phải tìm chỗ ở an toàn cho thầy Hệ sau khi xuất viện. Việc bàn tính đưa thầy đến Trung Tâm Nuôi Dưỡng Người Già được đặt ra nhưng bất thành vì thầy không có người thân bảo lãnh.

Lúc đầu, mọi người dự định đưa thầy về nhà một cựu học sinh ở Hóc Môn nhưng người quản lý nhà lại không ở lại ban đêm nên không ổn. Ðêm đầu tiên sau khi xuất viện, thầy Hệ về nhà thầy Út. Do thầy Hệ không tự tiêu tiểu được, thầy Út (80 tuổi) đã tự tay chăm sóc tắm rửa lau dọn chất thải cho thầy Hệ. Tự tay thầy Út bón cơm cho bạn như người ruột thịt.

Tình thầy trò, đồng nghiệp nồng ấm đất Sài Gòn
Thầy Út bón cơm cho thầy Hệ ngày đầu tiên rời bệnh viện về nhà mình. (Hình: Lê Ðại Anh Kiệt)

Sau đó, chị Tuyết Nhung (Marie Curie) rước thầy Hệ về nhà mình chăm sóc hai tuần. Hằng ngày thầy Út chạy xe gắn máy hơn 20 phút từ nhà mình sang nhà Tuyết Nhung để tập thể dục dưỡng sinh cho bạn. Trong suốt thời gian ấy Tuyết Nhung và Bảo Nhân đã chăm sóc thầy như cha ruột.

Vào đầu Tháng Chín, có tin nhà thầy Hệ đang mở cửa, nhóm cựu học sinh quyết định đưa thầy về lại nhà. Nhưng chỉ ở đây được ba ngày, người mua nhà đã thuê côn đồ ném thầy Hệ ra đường. May mắn là khi xảy ra tranh chấp với người mới mua nhà, chòm xóm đã cung cấp cho họ số điện thoại của anh Nguyễn Hoài Ðức, cháu ruột thầy Hệ. Hóa ra, Thu Huyền còn giấu nhẹm việc thầy Hệ có cháu và giấu thông tin thầy Hệ bị bệnh với người cháu.

Các thầy và học trò cũ tiếp tục sát cánh với gia đình anh Ðức điều trị bệnh cho thầy và làm đơn tố cáo cô Huyền, đòi trả lại nhà và các giấy tờ tùy thân cho thầy.

Ba nhóm cựu học sinh của ba ngôi trường khác nhau đã quần tụ thành một nhóm. Những thầy đồng nghiệp của thầy Hệ trở thành thầy của cả ba nhóm cựu học sinh. Họ tự giác chia sẻ công việc dưới sự bảo ban của các thầy, những việc quan trọng đều xin ý kiến các thầy.

Anh Trần Ngọc Bách và Nguyễn Thanh Phong (Kiến Tường) chuyên trách đưa đón thầy Bùi Quang Hân và Nguyễn Văn Út, Nguyễn Ngọc Long trong mỗi lần hội họp. Chị Tuyết Nhung (Marie Curie) dù là giám đốc doanh nghiệp tư nhân, hào phóng đảm nhận hầu hết các chi phí cho thầy Hệ nhưng nhất nhất mọi việc đều trao đổi với các anh Bách, Phong hoặc anh chị Quang Tuấn, Thủy Anh (Kiểu Mẫu) như một người em út trong nhà.

Tình thầy trò, đồng nghiệp nồng ấm đất Sài Gòn
Từ trái: thầy Út, thầy Long, thầy Hân và anh Bách – những thầy trò từ ba trường khác nhau trở thành thân thiết. (Hình: Lê Ðại Anh Kiệt)

Ngay với các cựu học sinh đang định cư ở nước ngoài như Bình Phương, Phú (Marie Curie) cũng thường xuyên liên thông với Bách, Phong. Chỉ cần một người có thông tin là cả nhóm đều biết tin. Do uy tín và tình cảm của thầy Hệ sâu đậm với nhiều thế hệ cựu học sinh nên điều đáng ngại nhất là việc lợi dụng danh nghĩa và hoàn cảnh thầy Hệ để trục lợi.

Thực tế đã xảy ra. Một thanh niên tự xưng là công an viết giấy cam kết sẽ trả lại nhà trong vòng một tháng. Nhưng trước sự nhạy cảm của các cựu học sinh, họ đã giăng bẫy và báo tin cho công an quận 10 để bắt khi người này kèn cựa ra giá số tiền 15 triệu đồng.

Chuyện ông thầy bị lừa chiếm nhà rõ mười mươi nhưng với nền tư pháp Việt Nam sự vụ cứ đong đưa từ công an quận này sang quận khác mà không ai xử lý. Các cựu học sinh lại họp nhau tìm cách.

Trực tiếp tham dự hai cuộc họp của nhóm cựu học sinh, tôi bàng hoàng xúc động thấy mình như lạc trở về không gian của lớp học thời trung học 40 năm về trước. Từng anh chị, trong đó nhiều người đã là thầy giáo về hưu như Quang Tuấn, Thủy Anh (Kiểu Mẫu), Hòa, Bách, Phong (Kiến Tường) lần lượt trình bày với các thầy phần việc của mình và các đề xuất. Phần các thầy cũng hiền hòa khoan ái nhưng không thiếu trang nghiêm mực thước răn dạy dù đó là học trò của bạn mình.

Tôi như ngấm mãi lời dạy của thầy Bùi Quang Hân nói với cả ba nhóm trong cuộc họp ngày 18 Tháng Chín, 2016: “Ở đây có các em là cựu học sinh thế hệ 1963-1964 đến nay đã hơn 50 năm vẫn giữ tình cảm với thầy Hệ như thế thật đáng quý. Trên đời này hiếm có người hạnh phúc như thầy Hệ. Thay mặt bạn mình, thầy cám ơn các em. Với thầy Hệ chúng ta có ba việc cần lo là điều trị phục hồi sức khỏe, có chỗ trú ngụ an toàn, và đòi lại tài sản. Hai việc trước đã ổn, việc pháp lý thầy không rành tùy các em trù liệu. Nhưng thầy nhắc nhở việc thông tin chia sẻ chuyện thầy Hệ, phải chọn đúng người, đúng chỗ, thái độ cho đúng. Trên mạng, có một vài em bàn chuyện này như đàm tiếu chuyện tò mò là không nên, có em lại ‘like.’ Có gì vui mà ‘like’ chứ!”

Lời nói ngắn nhưng là tầm nhìn, tấm lòng của nhà mô phạm. Thầy Hân không chỉ chăm sóc bảo vệ sức khỏe, tài sản mà còn giữ gìn cho bạn cả giá trị tinh thần, danh dự, uy tín của người thầy.

Nguoi-viet.com

Posted in Miền Nam sau 30-4-1975, Miền Nam trước ngày 30-4-1975, Sách-Hồi Ký-Bài Báo... | Leave a Comment »

►Tạ Chí Đại Trường, một sử gia khiến chúng ta suy nghĩ rất nhiều

Posted by hoangtran204 trên 07/10/2016


Một sử gia khiến chúng ta suy nghĩ rất nhiều

Nam Phú
4-10-2016
 
Tọa đàm Sử của Tạ Chí Đại Trường (tại Trung tâm Văn hóa Pháp L’espace, Hà Nội, ngày 15/9/2016) chỉ phần nào nhìn lại, điểm mặt một vài chủ đề chính, một số độc đáo riêng có trong nhiều công trình nghiên cứu của ông.
 
Dĩ nhiên, với sử gia này, còn lâu nữa mới có thể ấn định những đánh giá, bàn luận xác quyết cuối cùng. Ông thuộc về số ít người viết sử khiến độc giả phải suy nghĩ rất nhiều.

Sự trở lại của Tạ Chí Đại Trường
Nói “trở lại” vì Tạ Chí Đại Trường (1938-2016) đã từng xuất hiện, gây tiếng vang trong một bối cảnh khác. Đấy là bối cảnh sử học, và rộng hơn, nghiên cứu-học thuật, của miền Nam trước 1975. TS Nguyễn Mạnh Tiến (Viện Văn học) nhận định đó là môi trường không chỉ đa dạng, phong phú các tiếng nói, phương pháp và quan điểm mà còn có sự tương thông với quốc tế.

 
Riêng trong lĩnh vực sử học, dân tộc học, có thể kể đến hai khuynh hướng nổi bật trong số nhiều tiếng nói:
 
Thứ nhất, được thiết lập bởi triết gia Kim Định (1915-1997), người thiên về tìm kiếm và khẳng định những giá trị, đặc trưng cốt lõi, nhấn mạnh tính chất cội gốc của dân tộc Việt, thậm chí thuần Việt. Hàng chục công trình của ông, đặc biệt l�Việt Lí Tố Nguyên (1970), Triết lí cái Đình (1971), Cơ cấu Việt Nho (1972), Nguồn gốc văn hóa Việt Nam (1973)… đều chủ yếu tập trung khẳng định tộc Việt là chủ nhân của văn hóa, tư tưởng, triết Việt chứ không phải là kết quả của sự Hán hóa. Quan điểm của Kim Định, cho đến nay, vẫn gây ảnh hưởng và tạo cảm hứng bàn luận mạnh mẽ, được coi như học thuyết1.
 
Khuynh hướng thứ hai, điển hình là sử gia Nguyễn Phương (1921-1993) trong công trình Việt Nam thời khai sinh (1965), ngược lại, coi hậu duệ của “thực dân Trung Hoa” đã hòa và tạo nên người Việt, vượt qua cái gọi là thuần chủng tộc người. Sự đối chọi quan điểm như lửa với nước, thực tế, là điều phổ biến và được duy trì khá lâu trong học thuật miền Nam khiến mỗi thế hệ đến sau càng có thêm cơ hội bộc lộ chính kiến.
 
Tạ Chí Đại Trường không ngả về Kim Định cũng chẳng theo Nguyễn Phương. Ông “chống lại” cả hai – TS Nguyễn Mạnh Tiến nhìn nhận, thông qua những diễn giải và cách tiếp cận vấn đề rất độc lập. 

“Sự hiểu biết quá khứ phải căn cứ trên những dấu vết để lại. Đó là khởi đầu bắt buộc. Và dù phải bồi đắp bằng suy luận, sự bám víu tài liệu – không lụy vì nó, không sử dụng tùy tiện nó, cũng là điều bắt buộc trong tiến trình làm việc. (Tạ Chí Đại Trường – Những bài dã sử Việt).
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Dấu ấn của thời kì trường ốc qui củ hàn lâm thể hiện khá rõ trong cách chọn vấn đề, triển khai và cả lối viết của Tạ Chí Đại Trường ngay ở công trình đầu tay: Lịch sử nội chiến ở Việt Nam từ 1771-1802. Được khởi thảo từ 1964, lúc vừa chớm 26 tuổi, công trình này là một thành tựu lớn, trong sử liệu lẫn quan điểm sử, về Việt Nam hậu bán thế kỉ XVIII, về cuộc xung đột, tranh chấp dẫn đến thất bại, vinh quang của ba lực lượng Lê, Tây Sơn, Nguyễn. Điểm nhấn trong công trình này, và sẽ là nguyên cớ khiến cuốn sách, như tác giả kể lại, “sau 1975 nó bị lao đao suốt mười năm vì những nhận định lịch sử về thời gian đó của tác giả khác với quan điểm chính thống đương thời”2, là những tri nhận mới về Tây Sơn.
 

Theo TS. Nguyễn Mạnh Tiến, trong khi cuộc khởi nghĩa Tây Sơn được sử học miền Bắc chuẩn định là khởi nghĩa nông dân, thì Tạ Chí Đại Trường cho rằng anh em nhà Nguyễn Huệ là những nhà buôn giàu có và cuộc khởi nghĩa có sự tham gia của nhiều tộc người (vùng miền Thượng, Lào) chứ không chỉ có nông dân (Việt). Mặt khác, đây cũng là công trình thay vì hạ thấp vai trò Nguyễn Ánh, lại cho người đọc cảm nhận khá rõ hình ảnh nhân vật này trong những nỗ lực lâu dài để có một kết quả “nhất thống” đất nước như là tất yếu.

Phong cách sử tư gia

Về chữ “dã sử” trong Những bài dã sử Việt, Tạ Chí Đại Trường đã giải thích: “Tôi dùng chữ dã sử theo nguyên gốc của nó, loại non-official history, đối kháng với chính sử là của triều đình làm ra”4.

Không theo lối mòn của sử quan phương, Tạ Chí Đại Trường trước sau là một sử tư gia, tự mình tìm kiếm, kiến giải các sự thật và cũng chính mình đứng ra bảo lãnh, chịu trách nhiệm về sai sót, khuyết thiếu. Đây là chủ đích, tư thế và phẩm cách khó lẫn của ông.

Sự lựa chọn phương pháp nghiên cứu và cách thức diễn đạt những kết quả thu lượm, như điều ông xác thực, đã làm tính cách các cuốn sách của ông trở nên nổi bật. Trước hết, là cái nhìn khác về một số vấn đề lịch sử, tránh tái lặp những mặc định có sẵn. Việc ông kiên quyết đi đến tận cùng chính kiến, với mục tiêu dựng lại hồ sơ quá khứ như nó là, chứ không phải như muốn là, đã tạo nên những kết luận hoặc giả thiết khác hết sức hấp dẫn.

Ông có một loạt những giải thích, kết luận khác về đình làng (Một trú sở Việt của thần linh: cái đình làng), về loạn thập nhị sứ quân (Dòng sử kí tăng đạo), về chế độ nội hôn thời Trần (Phổ hệ và chế độ nội hôn của họ Trần), lễ tịch điền (Những Hoàng đế – Điền chủ Đại Việt thế kỉ X-XIV)… Những kết luận ấy, trước khi có thể bàn đúng-sai, thì luôn khiến người đọc bị “nhập tâm” bởi lập luận sắc sảo, chứng cớ đa nguồn và đặc biệt, bởi tinh thần khảo cổ học tri thức nghiêm túc, tỉ mỉ vốn là yêu cầu cốt tử của người viết sử.

Trong buổi tọa đàm nêu trên, các diễn giả có điểm qua một số chủ đề độc đáo, phi quan phương trong sử học của Tạ Chí Đại Trường. TS. Trần Trọng Dương (Viện nghiên cứu Hán – Nôm) đánh giá cao tiểu luận Sex và triều đại. Theo anh, sử gia này đã diễn giải vấn đề sex (tình dục) trong các triều đại với con mắt của nhà khoa học, vượt qua những cấm kỵ, để giải mã những diễn ngôn lịch sử, những lẩn khuất đằng sau câu chữ được ghi lại.

TS Nguyễn Mạnh Tiến lại hứng thú với mối quan tâm của Tạ Chí Đại Trường về tộc người, vai trò miền núi, vùng biên, Tây tiến, và các trung tâm quyền lực. Rõ ràng, các diễn giải này đều có thể được nối tiếp khi có điều kiện thực địa, điền dã kĩ càng hơn. Nhà nghiên cứu Nguyễn Hùng Vỹ (ĐH Khoa học xã hội và Nhân văn – ĐH Quốc gia Hà Nội) thì bày tỏ lòng khâm phục đối với Thần, Người và đất Việt. Ông đọc nó như xem “quái mộc dị thạch” vì những chủ kiến táo bạo trong đó. “Mọi người thường nói ông là sử gia – TS Dương bổ sung, nhưng qua cuốn này, ông còn là nhà nghiên cứu văn hóa dân gian. Đây là cuốn sách về lịch sử tôn giáo tín ngưỡng Việt Nam hay nhất đến thời điểm hiện tại.”

Vị thế sử tư gia giúp Tạ Chí Đại Trường tránh được những ràng buộc, thúc ước nào khác ngoài nhu cầu xác thực sự thật lịch sử. Ông không phải không có chỗ nhầm lẫn hoặc đôi khi sa vào tư biện. Ông cũng chẳng có điều kiện để đi điền dã, khảo cổ, “xuống đồng” để kiểm chứng thực tế như các sử gia cán bộ. Nhưng điều quan trọng, theo ông, “không phải chỉ là tài liệu, phương tiện, mà còn là cách sử dụng những gì có dưới tay”5. Chính cách sử dụng mới toát lên bản lĩnh, trí thông minh của một sử gia. Tất nhiên, vẫn theo ông, không thể bù đắp sự khuyết thiếu hay sơ lược của chính sử bằng các suy diễn của hiện tại, nhất là khi các suy diễn ấy bị điều chỉnh hoặc thao túng bởi các thế lực, động cơ khác nhau. Chuyện bàn sử để “luận cổ suy kim” đương nhiên cần loại bỏ.

Có lẽ cũng phải nói thêm một điều mà mọi người đều nhất trí: Tạ Chí Đại Trường có văn phong lôi cuốn, giọng điệu cá nhân sắc nét. Ông hầu như xa lạ hẳn với lối viết sử theo trục công thức vít chặt (nguyên nhân-diễn biến-kết quả-bài học kinh nghiệm) của giáo khoa thư. Ông cũng chưa bao giờ thôi làm cho một sự kiện, một nhân vật trở nên sinh động, phức hợp, tính cách/tính chất hiện hữu trước mắt bằng những liên tưởng, so sánh, bình phẩm đích đáng. Lối viết đó khiến cuộc đọc trở nên hiện tại/đại hơn chứ không bị quá vãng đi, cổ xưa thêm. Khi cuộc viết sử lâu nay không làm giới học đường yêu thích thì sự xuất hiện của Tạ Chí Đại Trường có thể là một tham khảo hữu ích để đổi mới lối viết sử. Không có cái gọi là khô khan, đơn điệu trong sử học nếu người viết sử có một năng lực văn chương thực thụ, một vốn liếng ngôn từ đủ sâu dày, cá tính.
——-
1 Một hoạt động đáng kể gần đây nhằm đánh giá, nhìn nhận “hiện tượng Kim Định” là Tọa đàm Tưởng niệm cố triết gia Lương Kim Định do Trung tâm Nghiên cứu văn hóa minh triết và Trung tâm Lí học Đông phương tổ chức tại Văn Miếu (Hà Nội, 14/7/2012).
2 Tạ Chí Đại Trường trả lời phỏng vấn của Nhã Nam. Nguồn: http://www.talawas.org/?p=26278
3 Trong việc xuất bản trở lại sách của Tạ Chí Đại Trường, ngoài nỗ lực lúc đầu của Nhà sách Kiến Thức, NXB Công an Nhân dân, chủ yếu có công sức của Nhã Nam khi xuất/tái bản Những bài dã sử Việt (2011), Người lính thuộc địa Nam Kỳ (2011), Lịch sử nội chiến ở Việt Nam từ 1771 đến 1802 (2012), Chuyện phiếm sử học (2016).
4 Tạ Chí Đại Trường trả lời phỏng vấn, Tlđd.
5 Tạ Chí Đại Trường trả lời phỏng vấn, Tlđd.

Tia Sáng

Ghi chú: Nếu các bạn muốn đọc thêm về vị sử gia nầy, các bạn vào google.com, gõ (hoặc copy) dòng chữ (Tọa đàm Sử của Tạ Chí Đại Trường) vào hộp search, và click enter trên bàn phím.

Posted in Lịch Sử Việt Nam, Miền Nam trước ngày 30-4-1975, Nhan Vat, Sách-Hồi Ký-Bài Báo... | Leave a Comment »

►Vài Mối Liên Hệ Giữa Hai Ông HỒ CHÍ MINH và NGÔ ÐÌNH DIỆM

Posted by hoangtran204 trên 16/08/2016

Vài Mối Liên Hệ Giữa Hai Ông HỒ CHÍ MINH và NGÔ ÐÌNH DIỆM

1-11-2010

Diễn Đàn Thế Kỷ 
Tác giả Trần Ðông Phong
(Tiếp theo)

Bộ Trưởng Kiến Thiết Hoàng Hùng trùng tu ngôi mộ của Phó Bảng Nguyễn Sinh Huy
Trước năm 1975, trừ một số người sống trong vùng Sa Ðéc và Cao Lãnh, đa số người ở miền Nam đều gần như không biết gì về việc thân phụ của ông Hồ Chí Minh, Phó Bảng Nguyễn Sinh Huy, đã được an táng tại vùng Cái Tôm thuộc Cao Lãnh, được cải danh thành tỉnh Kiến Phong dưới thời Việt Nam Cộng Hòa. Sở dĩ có ít người biết là vì thân phụ của ông Hồ đã từ trần và được chôn cất tại vùng đất này từ năm 1929, dưới thời Pháp thuộc.

Ông Phó Bảng được an táng tại một nơi đất khách quê người, không bà con thân thích, rồi sau đó những người có quen biết ông tại vùng Cao Lãnh cũng lần lượt qua đời và ngôi mộ của ông trở thành vô chủ. Khoảng hơn một phần tư thế kỷ sau, ngôi mộ này được trùng tu lại mà người ra lệnh làm việc này cũng không hề có bà con thân thích gì với ông Phó Bảng Nguyễn Sinh Huy.

Một vị cựu giáo sư Trung Tâm Kỹ Thuật Phú Thọ, không muốn tiết lộ danh tánh, có tiết lộ với người viết về một chuyện mà thân phụ của ông có kể lại cho ông hồi năm 1956. Thân phụ của ông là một vị kiến trúc sư tốt nghiệp Trường Cao Ðẳng Mỹ Thuật Hà Nội và là bạn của kiến trúc sư Hoàng Hùng, lúc đó đang giữ chức vụ Bộ Trưởng Kiến Thiết. Thân phụ của ông hồi đó giữ chức vụ Giám Ðốc Nha Thiết Kế Thị Thôn thuộc Bộ Kiến Thiết nên vẫn thường xuyên đi công tác nhiều nơi trên toàn quốc.

Thân phụ của ông kể lại rằng vào năm 1956, TT Ngô Ðình Diệm đã ra lệnh cho Kiến trúc sư Hoàng Hùng, Bộ trưởng Bộ Kiến Thiết hướng dẫn một phái đoàn gồm nhiều chuyên viên của Bộ Kiến Thiết xuống vùng Cao Lãnh để giám sát và đôn đốc việc chỉnh trang hai tỉnh mới là Kiến Phong và Kiến Tường. Ngoài mục đích này, một nhiệm vụ khác nữa của phái đoàn là trùng tu lại Tháp Mười, một di tích lịch sử đã nổi tiếng khắp Nam Kỳ từ thời Cần Vương chống giặc Pháp hồi thế kỷ thứ 19. Việc chính phủ cử một phái đoàn do một ông bộ trưởng cầm đầu xuống công tác tại hai tỉnh tân lập trong vùng Ðồng Tháp Mười hồi đó đã được dân chúng hai tỉnh này hoan nghênh nhiệt liệt vì điều đó chứng tỏ sự quan tâm của Tổng Thống Ngô Ðình Diệm đối với việc phát triển hai tỉnh này.

Vị giáo sư Trung Tâm Kỹ Thuật Phú Thọ này nói rằng thân phụ của ông là một nhân viên trong phái đoàn đó và ông đã tiết lộ với người con trai rằng trong thời gian công tác ở vùng Ðồng Tháp, ông còn được Bộ Trưởng Hoàng Hùng chỉ thị phải làm thêm một nhiệm vụ nữa, đó là hướng dẫn một số nhân công, dường như là quân nhân chứ không phải là người địa phương vì họ nói giọng miền Trung và miền Bắc, lo việc trùng tu lại một ngôi mộ không được ai săn sóc trong một thời gian rất lâu, có thể nói đó là một nấm mồ vô chủ ở Cái Tôm, Cao Lãnh. Thân phụ của ông nói rằng khi trùng tu lại ngôi mộ này, ông được chỉ thị là chỉ sửa sang lại cho “đàng hoàng tươm tất” nhưng không được dùng vật liệu nặng như xây tường, dựng bia v.v. Ngôi mộ này không có mộ chí, tuy nhiên về sau, khi nói chuyện với một vài vị thân hào và bô lão địa phương thì ông mới biết đó là mộ của ông Phó Bảng Nguyễn Sinh Huy. Vị kiến trúc sư này nói rằng lúc đó ông không hiểu lý do tại sao ông Bộ Trưởng Hoàng Hùng lại chỉ thị cho trùng tu lại ngôi mộ của ông Phó Bảng Nguyễn Sinh Huy, nhưng sau này khi ông về công tác ở Huế và nghe việc gia đình Tổng Thống Ngô Ðình Diệm cải táng mộ của ông Ngô Ðình Khôi thì ông mới hiểu đó là sự trả ơn của ông Diệm.

Việc Tổng Thống Ngô Ðình Diệm ra chỉ thị cho ông Bộ Trưởng Hoàng Hùng trùng tu lại ngôi mộ của ông Phó bảng Nguyễn Sinh Huy sau đó không hề được tiết lộ vì có lẽ Tổng Thống Diệm không muốn để cho những người khác biết về mối liên hệ cũng như là mối “ân tình” giữa gia đình của ông với người lãnh đạo chế độ Cộng sản Hà Nội, một điều rất bất lợi cho tư thế chính trị của ông tại miền Nam. Kiến trúc sư Hoàng Hùng là một cấp chỉ huy nổi tiếng trong những ngày đầu kháng chiến chống lại quân đội Pháp trở lại Việt Nam vào năm 1945. Người Pháp hồi đó đã thù hận ông cho nên đã tịch thu ngôi nhà của ông (gần Tổng Nha Cảnh sát sau này) để làm một đồn cảnh sát, hồi đó được dân Sài Gòn gọi là “bót Hoàng Hùng.” Ông Hoàng Hùng là bạn thân của Kiến Trúc sư Huỳnh Tấn Phát, ông này là một trong những nhân vật đầu não của giới trí thức Miền Nam thân Cộng sản ngay từ sau khi Hiệp Ðịnh Genève được ký kết và dĩ nhiên là việc này đã được báo cáo về Hà Nội. Trước năm 1975, Kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát là thủ tướng cái gọi là “Chính Phủ Cách Mạng Lâm Thời Miền Nam Việt Nam.”

Người viết có nghe được một câu chuyện lý thú về các nhân vật này sau năm 1975. Sau khi đất nước đã được “thống nhất,” nhóm bạn cũ như Luật sư Nguyễn Hữu Thọ, Kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát, Bác sĩ Nguyễn Xuân Bái, thân phụ của Tiến Sĩ Nguyễn Xuân Oánh v.v. và Kiến trúc sư Hoàng Hùng có họp mặt với nhau. Những người theo Cộng sản có hỏi ông Hoàng Hùng, cựu anh hùng kháng chiến Nam Bộ, cựu Bộ Trưởng Kiến Thiết thời Ðệ Nhất Cộng Hòa rằng nếu được trở lại thời trước năm 1954 thì ông có thay đổi lập trường và có theo Cộng sản hay không? Kiến Trúc sư Hoàng Hùng đã bình thản trả lời rằng “bây giờ dù rằng Cộng sản đã thắng, nhưng nếu có trở lại hồi đó thì ông cũng vẫn không theo Cộng sản và ông không hề hối tiếc đã phục vụ cho chế độ Việt Nam Cộng Hoà cũng như là Tổng Thống Ngô Ðình Diệm…”

Con trai của ông Hoàng Hùng, hình như tên là Hoàng Hy, được đi du học tại Pháp nhưng đã tự ý trở về Việt Nam và tình nguyện gia nhập vào quân đội, rồi anh tình nguyện về phục vụ trong Tiểu Ðoàn Cọp Ba Ðầu Rằn thuộc binh chủng Biệt Ðộng Quân và đã tử trận hồi 1965-1966. Kiến trúc sư Hoàng Hùng sau đó vẫn được Cộng sản cho phép sang sinh sống tại Pháp và ông mới qua đời cách đây vài năm.

Ông Ngô Ðình Diệm bị cầm giữ ngay tại Bắc Bộ Phủ vào năm 1945
Gần đây, trong một cuốn “hồi ký chính trị” xuất bản vào năm 1997, ông Vũ Thư Hiên có tiết lộ một chuyện mà ông nói rằng đó là “một mẩu lịch sử ít người biết.” Thực ra, đối với người dân miền Nam thì sự tiết lộ của ông Vũ Thư Hiên không phải chỉ là “một mẩu lịch sử ít người biết” như ông nói mà đó là một sự tiết lộ “động trời.”

Vũ Thư Hiên là con trai của ông Vũ Ðình Huỳnh, một người trí thức thuộc gia đình Thiên Chúa Giáo, đã tham gia Việt Nam Thanh Niên Cách Mạng Ðồng Chí Hội từ năm 1925, gia nhập đảng Cộng sản Ðông Dương từ năm 1930 và đã giữ chức vụ bí thư cho Hồ Chí Minh khi còn ở chiến khu Tân Trào từ năm 1945 cho đến sau năm 1954, người được xem như là một trong những người rất gần gũi Hồ Chí Minh và được ông Hồ rất tin cậy. Tuy nhiên sau khi về hưu, ông Vũ Ðình Huỳnh đã bị phe Lê Duẫn và Lê Ðức Thọ còng tay đưa về tống giam vào nhà tù Hỏa Lò ngày 18 tháng 10 năm 1967, hai năm trước khi ông Hồ Chí Minh từ trần, vì có tội trong cái mà phe Lê Duẫn và Lê Ðức Thọ gọi là “Vụ Án Tổ Chức Chống Ðảng, Chống Nhà Nước Ta, Ði theo Chủ Nghĩa Xét Lại Hiện Ðại và Làm Tình Báo Cho Nước Ngoài.”

Theo tác giả Vũ Thư Hiên thì thân phụ của ông là Vũ Ðình Huỳnh đã cho ông biết về chuyện ông Ngô Ðình Diệm bị Hồ Chí Minh giam giữ ở Hà Nội như sau:
“Nhân chuyện thống nhất đất nước, tôi xin nói tới một mẩu chuyện lịch sử ít người biết. Sau Cách mạng Tháng Tám thành công, ông Ngô Ðình Diệm bị bắt. Tại Hà Nội, ông Diệm bị giam không phải ở (nhà tù) Hoả Lò mà ngay trong Bắc Bộ Phủ. Theo ông Chu Ðình Xương, nguyên Giám đốc Sở Liêm Phóng (Công an) Hà Nội, thì việc ông Diệm bị giam ở Bắc Bộ Phủ là do ông chính Hồ Chí Minh quyết định.

“Tại sao ông Hồ lại có quyết định đó thì ông Chu Ðình Xương không hiểu. Rất có thể do những dây mơ rễ má nào đó giữa gia đình ông Hồ với các quan lại triều Nguyễn trong quá khứ mà ông Hồ Chí Minh lo cho số phận của Ngô Ðình Diệm, không muốn để mặc tính mạng con người nổi tiếng chống Cộng này nằm trong tay những đồng chí nóng tính. Cha tôi là người giữ chìa khóa phòng giam. Ðến bữa, cảnh vệ lên lấy chìa khóa cho Ngô Ðình Diệm ăn xong thì nộp lại.

“Một hôm, ông Hồ bảo cha tôi: ‘Chú Huỳnh ạ, tôi tính nên thả ông Diệm. Mình làm ân cho người ta tốt hơn là làm oán.’ Cha tôi bàn với Lê Giản (lúc bấy giờ được Hồ Chí Minh cử làm Tổng Giám Ðốc Nha Công an Việt Nam) thì hai ông cho rằng để ngăn ngừa những hành động chống cách mạng của ông Diệm, cách tốt nhất là để cho ông ta được hưởng chế độ câu lưu tại Việt Bắc (tức là vùng thượng du mạn ngược, nơi thực dân Pháp đã từng đày ải những nhà cách mạng dưới thời Pháp thuộc,) ông ta sẽ sống như dân thường, chỉ bị hạn chế tự do đi lại mà thôi.

“Ông Hồ Chí Minh bỏ ngoài tai ý kiến phản bác, ông đã định thả là ông thả. Ông nói: “Các chú không ở Huế các chú không biết, chớ dân Huế có câu: ‘Ðày vua không Khả, đào mả không Bài’ là nói về cụ thân sinh ông Diệm đấy. Vị người cha thả người con là điều nên làm lắm chứ. Các chú không nên hẹp hòi!”

“Nhiều người nhận xét khi ở cương vị Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa, ông Ngô Ðình Diệm không bao giờ có những lời khiếm nhã với Chủ tịch Hồ Chí Minh. Một trong những nguyên nhân, theo tôi nghĩ, có thể là do ông Diệm không quên ơn ông Hồ đã tha mạng mình, là điều không phải khó hiểu.” (1)
Như vậy, qua sự tiết lộ của ông Vũ Ðình Huỳnh thì Hồ Chí Minh đã dành cho ông Ngô Ðình Diệm một cảm tình đặc biệt: tất cả những người làm cách mạng nhưng theo những đảng chính trị không phải là Cộng sản như Quốc Dân Ðảng, Ðại Việt, Duy Dân, Dân Xã Ðảng và nhóm Ðệ Tứ v.v. khi bị Việt Minh bắt vào năm 1945 đều bị giết một cách dã man vô nhân đạo như chôn sống, chặt đầu, thả trôi sông, cho đi mò tôm v.v. thế mà ông Ngô Ðình Diệm thì không bị giết.

Ngay sau ngày Cách Mạng Tháng Tám tức là ngày 19 tháng 8 năm 1945, nhà cách mạng Tạ Thu Thâu bị bắt và bị xử tử ngay trong tháng 9 tại Mỹ Khê ở tỉnh Quảng Ngãi, ông Phan Văn Hùm bị chôn sống tại Bình Thuận vào ngày 8 tháng 10 , ông Trần Văn Thạch cũng bị bắt cùng ngày và bị chôn sống cùng với 62 người khác, ông Bùi Quang Chiêu lúc đó đã trên 70 tuổi mà cũng bị thủ tiêu cùng với bốn người con vào tháng 9, Phan Văn Chánh bị giết chết ở Sông Mao tỉnh Phan Thiết, ông Hồ Văn Ngà bị đâm chết rồi thả trôi sông ở Rạch Giá, hai vợ chồng ông Hồ Vĩnh Ký và Bác sĩ Nguyễn Thị Sương bị giết ở Dĩ An tỉnh Biên Hòa, nhà báo Diệp Văn Kỳ, học trò của Phó Bảng Nguyễn Sinh Huy, thân phụ của Hồ Chí Minh, cũng bị thủ tiêu ở Lái Thiêu tỉnh Thủ Dầu Một v.v.

Ông Ngô Ðình Diệm cũng bị Việt Minh bắt trong khoảng thời gian đó tại Quảng Ngãi nhưng dường như Tỉnh Bộ Việt Minh Quảng Ngãi đã được Hồ Chí Minh ra lệnh phải đưa ông Diệm ra Hà Nội, nhờ đó mà ông Ngô Ðình Diệm may mắn được sống sót.

Ngoài chuyện đó, Hồ Chí Minh còn dành cho ông Diệm một sự đối xử đặc biệt khác, đó là đã không cho giam giữ ông Diệm như một người tù trong nhà ngục Hỏa Lò như những người chống lại Việt Minh khác mà chỉ giữ tại Bắc Bộ Phủ tức là Dinh Chủ Tịch của Hồ Chí Minh. Ông Hồ cũng không nghe lời của bí thư của ông là Vũ Ðình Huỳnh cũng như là Tổng Giám Ðốc Công an Lê Giản đề nghị đưa đi câu lưu trên vùng mạn ngược mà lại trả tự do cho ông Diệm, một việc mà sau này nhiều người trong phía Cộng sản Hà Nội đã gọi là “thả hổ về rừng” vì chỉ mười năm sau thì người lãnh đạo Miền Nam chống lại Hồ Chí Minh và Cộng sản Bắc Việt lại chính là ông Ngô Ðình Diệm.

Việc Hồ Chí Minh trả tự do cho ông Ngô Ðình Diệm vào năm 1945 hay 1946 có lẽ có nhiều nguyên do mà may ra chỉ có ông Hồ mới biết rõ, cũng có thể một trong những nguyên do đó là “do những dây mơ rễ má nào đó giữa gia đình ông Hồ với các quan lại triều Nguyễn trong quá khứ” như lời của ôngỳ Vũ Ðình Huỳnh, cũng có thể là ông Nguyễn Sinh Huy sau khi ông thi đậu phó bảng dưới thời Vua Thành Thái có được quen biết hay liên hệ gì đó với Thượng Thư Ngô Ðình Khả hay là một vài bạn đồng liêu của ông vì vào thời đó ông Khả còn làm quan tại triều, cũng có thể là vì Hồ Chí Minh có theo học ở trường Quốc Học Huế, ngôi trường mà Thượng Thư Ngô Ðình Khả sáng lập và cũng là nơi mà nghe nói ông Ngô Ðình Diệm cũng có theo học thời niên thiếu, như vậy thì giữa Hồ Chí Minh với Ngô Ðình Diệm còn có tình đồng môn. Ðối với người xưa, kể cả thời thế kỷ thứ 19, đầu thế kỷ thứ 20, người ta còn coi trọng “tình đồng môn hay nghĩa đồng môn” hơn sau này, do đó yếu tố này cũng có thể giải thích được nguyên nhân mà ông Hồ đã dành cho ông Ngô Ðình Diệm một cảm tình đặc biệt nào đó, nếu có.

Người viết có liên lạc với nhà văn Vũ Thư Hiên vào tháng 11 năm 2003 để tìm hiểu thêm về điều ông tiết lộ là Hồ Chí Minh đã giam giữ Ngô Ðình Diệm tại Bắc Bộ Phủ vào năm 1945. Ông Vũ Thư Hiên đã trả lời như sau:
“Tôi không biết gì nhiều về thời gian ông Ngô Ðình Diệm bị giam ở Bắc Bộ Phủ. Tuy có ra vào Bắc Bộ Phủ, nhưng tôi chưa từng gặp mặt ông ấy. Những gì tôi được nghe cha tôi kể lại, tôi đã ghi trong “Ðêm Giữa Ban Ngày.” Người có thể nói thêm là Cụ Lê Giản (giám đốc Nha Công An Việt Nam thời kỳ đó) thì lại vừa mới mất. Trong câu chuyện các cụ nói với nhau mà tôi nghe được thì quyết định của ông Hồ Chí Minh thả ông Ngô Ðình Diệm có quan hệ tới những thế hệ trước của hai giòng họ Ngô Ðình và Hồ Sĩ, theo các cụ suy luận, trên cơ sở những dữ kiện mà chỉ các cụ biết.” (2)

Giòng họ Hồ Sĩ mà ông Vũ Thư Hiên nói đến ở đây là giòng họ ông Hồ Sĩ Tạo.

Một học giả miền Bắc là Giáo Sư Trần Quốc Vượng có viết một bài báo nhan đề “Thật Mà Chưa Chắc Là Thật” vào đầu thập niên 1990 tại Hà Nội trong đó ông nói rằng sau nhiều ngày đi du khảo trong vùng Nghệ-Tĩnh thì ông được nghe dân chúng trong vùng quê quán của Hồ Chí Minh truyền kể lại rằng ông Nguyễn Sinh Sắc (sau này đổi tên thành Nguyễn Sinh Huy) là con ngoại hôn của Tiến sĩ Hồ Sĩ Tạo với cô Ðèn (Hà Thị Hy.) Người viết không đi sâu vào vấn đề này, tuy nhiên nếu quả thật Hồ Chí Minh là cháu nội của Tiến Sĩ Hồ Sĩ Tạo hay Hồ Sĩ Tảo thì rất có thể ông Tiến sĩ này có một vài liên hệ nào đó với ông Ngô Ðình Khả, thân phụ của ông Ngô Ðình Diệm vào thời thế kỷ thứ 19, do đó ông Vũ Thư Hiên đã nói rằng “trong câu chuyện các cụ nói với nhau mà tôi nghe được thì quyết định của ông Hồ thả ông Ngô Ðình Diệm có quan hệ tới những thế hệ trước của hai giòng họ Ngô Ðình và Hồ Sĩ.” Ðây cũng có thể là một nguyên nhân để giải thích cho việc tại sao ông Hồ Chí Minh đã trả tự do cho ông Diệm hồi năm 1945, nhất là khi ông Hồ nói rằng “vị người cha mà thả người con.”

Một điều thật đáng tiếc là hai người biết rõ về việc ông Hồ giam giữ ông Diệm tại Bắc Bộ Phủ và những chuyện có liên quan đến mối liên hệ giữa hai người này là ông Vũ Ðình Huỳnh đã từ trần cách đây đã lâu, nhưng ông Lê Giản thì còn sống cho đến tháng 10 năm 2003, nếu khi ông còn sống mà có cơ hội hỏi ông về việc này thì có lẽ ông có thể đã cho biết thêm nhiều chi tiết mà rất ít người biết đến. Tuy nhiên sự tiết lộ của nhà văn Vũ Thư Hiên đã làm sáng tỏ thêm một vấn đề, đó là việc ông Hồ Chí Minh bác bỏ đề nghị của hai ông Vũ Ðình Huỳnh và Lê Giản cho ông Ngô Ðình Diệm được “hưởng chế độ câu lưu” tại Việt Bắc, điều đó có nghĩa là những tin đồn nói rằng ông Diệm bị đưa đi an trí ở Thái Nguyên có thể là không đúng lắm.

Như vậy thì từ cảm tình đặc biệt và sự đối xử đặc biệt này đến việc hơn một thập niên sau Hồ Chí Minh lại cung cấp cho gia đình ông Ngô Ðình Diệm những tin tức để đi tìm ngôi mộ nơi hai người thân nhân ruột thịt của Tổng Thống Ngô Ðình Diệm đã bị đàn em của Hồ Chí Minh thủ tiêu, người ta thấy rằng đó là những sự kiện có thể tin được. Khi thả ông Diệm vào năm 1945, Hồ Chí Minh nói rằng “vị người cha” là Cụ Thượng Thư Ngô Ðình Khả, thì khi cho ông Diệm biết về nơi chôn vùi ông Tổng Ðốc Ngô Ðình Khôi, đối với ông Hồ, đó cũng là một việc đáng làm đối với một người đồng môn, hơn nữa ông Ngô Ðình Khôi cũng là con của vị “đày vua không Khả,” cũng là một nhân vật yêu nước, có tinh thần chống Pháp cho nên đã bị thực dân Pháp bắt phải về hưu trí vào năm 1943, có lẽ đối với ông Hồ thì đó là một việc phải làm, nhất là người đồng môn của ông lúc đó cũng đang giữ địa vị quốc trưởng tại miền Nam thì về phương diện chính trị lại rất có lợi cho ông.

(Còn tiếp)

*Các bạn có thể xem thêm chi tiết về việc này tại :
http://www.diendantheky.net/2010/11/vai-moi-lien-he-giua-hai-ong-ho-chi_01.html
Theo đó thì ông Hồ đã cho ông Diệm biết chỗ chôn ông Ngô Đình Khôi và ông Phạm Quỳnh.
Ngược lại ông Diệm cho tu bổ mộ phần cụ Nguyễn Sinh Sắc.
Người viết bài này là anh họ tôi, Trần Đông Phong (Trần Đức Thắng).
Còn người tu bổ phần mộ cụ Sắc chính là thân phụ tôi. Cụ không bao giờ nói việc này ra, chỉ có anh tôi là vị giáo sư kể trong bài được nghe cụ kể
________

TÔI ĐI CẢI TÁNG THẦY TÔI

Phạm Tuân

Phạm Tôn’blog 

Lời dẫn của Phạm Tôn: Ông Phạm Tuân là con trai út trong năm con trai của Phạm Quỳnh, sinh năm 1936 tại Huế, hiện định cư tại Mỹ.

…Năm 1948, anh Bích tôi (Phạm Tuân – PT ghi chú) lúc bấy giờ làm Bí thư cho Quốc trưởng Bảo Đại đã dò hỏi được nơi Thầy tôi bị giết và chôn nhưng không thực hiện được việc tìm kiếm. Phần vì địa điểm là một nơi xa xôi, hẻo lánh, hiểm trở, lại là một vùng “xôi đậu” thiếu an ninh. Phần vì nghe lời khuyên can của những người am hiểu tình hình: không nên mạo hiểm, vì rất có thể đây là cái bẫy…giăng ra để bắt và tiêu diệt những người có liên hệ với các nạn nhân…Một hình thức “nhổ cỏ phải nhổ cho sạch rễ” vậy.

Mãi cho đến năm 1956…bỗng một hôm gia đình chúng tôi được thông báo chuẩn bị sẵn sàng để đi nhận lãnh hài cốt Thầy tôi! Một niềm vui mừng khôn tả, đồng thời một nỗi xúc động vô biên tràn ngập trong lòng anh chị em chúng tôi. Lập tức chúng tôi đi tìm những tin tức chính xác hơn.

Được sự giới thiệu của ông Hoàng Hùng (Bộ trưởng Bộ Kiến Thiết) (là con trai một người bạn Phạm Quỳnh, từng ở nhà Phạm Quỳnh thời còn đi học ở Hà Nội – PT ghi chú) và ông Võ Văn Hải (Văn phòng Phủ Tổng thống), chúng tôi tìm đến gặp ông Võ Như Nguyện.

Được biết ông Võ Như Nguyện (nguyên Tỉnh trưởng Bình Định) cùng ông Hoàng Ngọc Trợ (Quận trưởng quận Phong Điền, Thừa Thiên) là những người được Tổng thống Ngô Đình Diệm trao cho việc tìm kiếm (hài cốt cha con Ngô Đình Khôi, anh của Ngô Đình Diệm – PT ghi chú).

Việc tìm kiếm hài cốt không đơn giản mà là một công tác lớn lao, đòi hỏi nhiều thời gian, nhân lực, phương tiện và an ninh tuyệt đối

Ngày 5 tháng 2 năm 1956 (cận Tết) tôi và chị Hảo (Phạm Thị Hảo, con gái thứ ba trong tám con gái của Phạm Quỳnh – PT ghi chú) tôi đi Huế để cùng với một phái đoàn của chính phủ tìm và nhận hài cốt các nạn nhân.

…Thật “nghịch đời”, lúc sinh thời, Thầy tôi và cụ Khôi vì khác chính kiến nên đã trở thành thù địch, thề “không đội trời chung”, thế mà khi thác lại nằm chung một hố.

Chúng tôi (tôi và chị Hảo) phải ở lại Huế lâu hơn dự định, vì như đã tả ở trên, địa điểm là một nơi xa xôi, khó đi lại nên chính phủ phải huy động công binh khai quang, ủi đất làm đường, bắc cầu cho xe hơi đi…trên mười lăm cây số. Ngoài ra còn phải điều động binh sĩ đến giữ an ninh quanh vùng. Nói tóm lại là cả một công trình nan giải mà chỉ có một chính quyền mới thực hiện được mà thôi…

…Nhưng đôi lúc tôi tự hỏi, giả sử như Thầy tôi không bị chôn vùi cùng huyệt với cụ Khôi và ông Huân, những người thân của Tổng thống, thì chúng tôi có được sự giúp đỡ này không?

Suốt ngày 8 tháng 2 năm 1956, đào xới đất, kết quả chỉ bới lên được một bộ hài cốt không phải là của một trong ba người. Mọi người đều thất vọng, lại lo rằng sau mười một năm, trải qua bao mùa lũ lụt, có thể các di hài bị nước lũ cuốn trôi đi chăng?

Đến chiều hôm sau, cận Tết, dưới trời mưa lâm râm, bỗng xuất hiện một cụ già đi ngang qua. Cụ hỏi toán dò tìm: “Đã tìm thấy các cụ chưa? Đào mương nào, mương cũ hay mương mới?”. Thì ra có hai mương…Cụ già nói tiếp: “Cách đây mười một năm tại đây tôi có đào một con mương để dẫn nước từ sông lên ruộng. Hôm sau, ra tát nước thì thấy mương bị lấp. Du kích trong làng cấm không cho tới gần. Vài năm sau, có người đến thầu mấy thửa ruộng của tôi, cũng đào mương, thì bị khuyến cáo không được đào thẳng mà phải đào chếch sang một bên”.

Thì ra đây là “mương mới”, chỗ tìm ra hài cốt độc nhất nói trên. Toán công binh tiếp tục đào sâu hơn, với chu vi rộng lớn hơn, thì quả nhiên tìm được ba bộ hài cốt ở vị thế đúng như những chi tiết thâu lượm được.

Gần đến hài cốt, để tránh đụng đến xương, đám người có phận sự ngưng sử dụng cuốc, xẻng mà chỉ dùng đũa cả khơi đất ra từng mảng. Sau cùng lộ ra rõ rệt ba bộ hài cốt nằm chồng lên nhau.

Hài cốt của Thầy tôi rất dễ nhận vì dài và ngay cạnh, tôi nhận ra được đôi mắt kính cận…Hài cốt của cụ Khôi và ông Huân thì ngắn và nhỏ bé. Thân nhân nhà họ Ngô còn nhận ra được hai chiếc răng vàng và cái thắt lưng to bản (quân phục Nhật) của ông Huân.

Ban tổ chức đã chuẩn bị sẵn ba cái tĩnh, vải liệm trắng đỏ, ba chậu tráng men lớn chứa đầy cồn 90 để rửa xương.

Việc thử nghiệm, rửa hài cốt và tẩm liệm kéo dài đến khi trời tối

Tại làng Văn Xá, quan tài cụ Khôi và ông Huân được quàn dưới một lều vải lớn, có thể chứa cả trăm người, có đèn điện thắp sáng choang, vòng hoa phúng viếng bày la liệt, lính mặc lễ phục túc trực hai bên, các bộ trưởng thứ trưởng âu phục trắng cà vạt đen, các đại biểu, cán bộ đủ mọi cấp ra vào tấp nập…Tiếng cầu kinh của giáo chúng thập phương vang rền suốt đêm. Được biết, ngày hôm sau sẽ di chuyển hai quan tài về Hiền Sĩ. Tại đây, một nhà thờ lớn đã được dựng lên để cử hành tang lễ trọng thể theo nghi thức quốc táng, có đông người tham dự và sau mồng ba Tết mới đưa về Phú Cam chôn cất.

Trong khi đó, trên một ngọn đồi thấp cách đấy không xa, trong một chiếc lều nhà binh nhỏ bé, dưới ánh sáng mờ ảo của mấy ngọn nến, hai chị em tôi cùng cụ bà Ưng Trình (thông gia với gia đình chúng tôi) thay phiên thắp nhang bên linh cữu Thầy tôi.

Chúng tôi có mời một thượng toạ trụ trì tại một ngôi chùa nhỏ trong làng đến làm lễ cầu siêu. Bên chính quyền cũng cử một đại diện đến phúng điếu và phân ưu. Sau đó, cắt cử hai quân nhân mặc lễ phục nghiêm chỉnh túc trực bên quan tài.

Như trên đã nói, ban tổ chức có cung cấp ba tĩnh bằng sành để đựng hài cốt…Cả ba có nắp in hình thánh giá của công giáo, nên chị tôi đã tế nhị từ chối để chỉ dùng cái tĩnh đã mua sẵn dành riêng cho đệ tử nhà Phật với chữ “Vạn” trên nắp.

Quá tủi thân trước sự khắc biệt, lòng ngậm ngùi thê thiết, chị em chúng tôi quyết định thuê đò chở quan tài Thầy tôi về Huế ngay đêm hôm ấy… Tám giờ sáng hôm sau thì đến chùa Vạn Phước. Thượng toạ trụ trì đã chờ sẵn. Sau nghi thức đơn giản, đúng chín giờ thì hạ huyệt. Một số đông bạn học cũ của các anh chị tôi tại hai trường Khải Định và Đồng Khánh đến chia buồn và tiễn đưa.

Thời gian dài kế tiếp sau đấy, người dân Sài Gòn được thấy một con đường lớn, rộng từ phi cảng Tân Sơn Nhất vào trung tâm thủ đô mang tên đại lộ Ngô Đình Khôi… Rồi đến thời Đệ nhị Cộng hoà của Tổng thống Thiệu “nghe nói” tên Thầy tôi đã được đặt cho một con đường nhỏ, gần đường Triệu Đà trong Chợ Lớn… Chị tôi và tôi lân la đi tìm, nhưng chẳng thấy tăm hơi…Tất cả chỉ là một “dự tính” mà thôi.

Ôi, thế thái nhân tình…

P.T.
__________

(Trích bài Sống lại với ký ức thuở ngày xưa, báo Ngày Nay (tiểu bang Minesota), số 385, ngày 30-6-2005 vàViệt Học tạp chí phổ thông, số 2 (Nam Califonia) tháng 6-2005).
__________
Ghi chú: Ở Huế có đường Phạm Quỳnh từ thời ông Diệm. Trần Hoàng đã từng đọc tên đường này trong tác phẩm…(quên tên, sẽ bổ sung sau)
Ý kiến

Vậy các bác có biết tại sao cụ Phạm Quỳnh mất sớm thế không?

Trả lời

  1. Tác giả P.T không có gì phải tủi hổ về sự khác biệt và về thế thái nhân tình.Như tác giả đã nói,cụ Phạm Quỳnh và cụ Ngô Đình Khôi là 2 người thù địch không đội trời chung,vậy mà chính quyền cụ Diệm vẫn cử 1 viên chức đến phân ưu và cử 2 quân nhân mặc lễ phục uy nghiêm đứng bên quan tài.

    Trả lời

     
     
  2. Cũng còn một chút may mắn cho gia tộc cụ Pham Quỳnh, rằng cụ bị giết ở Huế, chứ nếu bị giết ở bắc vĩ tuyến 17 thì có lẽ xương không còn. Cứ xem con cháu cụ Nguyễn Thị Năm bị giết ở Đồng Bẩm, Thái Nguyên đã phải vất vả như thế nào khi tìm mộ cụ sau khi đã xin được đủ các giấy tờ xác nhận cụ là “địa chủ yêu nước”, thì biết.

    Trả lời

     
     
  3. Trích: ” Thầy tôi và cụ Khôi vì khác chính kiến nên đã trở thành thù địch, thề “không đội trời chung”, thế mà khi thác lại nằm chung một hố.”….
    Và: “… Bên chính quyền cũng cử một đại diện đến phúng điếu và phân ưu. Sau đó, cắt cử hai quân nhân mặc lễ phục nghiêm chỉnh túc trực bên quan tài.”. Trích tiếp: “…Nhưng đôi lúc tôi tự hỏi, giả sử như Thầy tôi không bị chôn vùi cùng huyệt với cụ Khôi và ông Huân, những người thân của Tổng thống, thì chúng tôi có được sự giúp đỡ này không?”. Rồi kết: “Ôi, thế thái nhân tình…”.
    Cụ Phạm Quỳnh bị Việt Minh Cộng Sản giết (có người nói là bị chôn sống), thế mà trong bài viết không nghe tác giả con trai cụ Phạm Quỳnh có một lời than trách hay kết án nào. Trái lại, tác giả đã phê phán cách ứng sử không “công bằng” trong việc cải táng cụ Phạm Quỳnh và cụ Huân cùng con trai.
    Tôi thật không thể hiểu nổi. Quả là “sống sao cho vừa lòng người” thực rất khó, trường hợp này thì gần giống như kiểu “làm ơn mắc oán”. Thật ra, chính quyền Ngô Đình Diệm không hề có trách nhiệm gì trong việc giết hại cụ Phạm Quỳnh. Chính quyền này cũng chẳng có “nghĩa vụ” phải cải táng cho cụ Phạm. Đây hoàn toàn là vấn đề nhân nghĩa, đạo lý, tình người và tình đồng bào… huống chi như tác giả đã viết: ” Cụ Phạm Quỳnh và cụ Ngô Đình Khôi đã “là kẻ thù không đội trời chung”, thì được như vậy cũng quí lắm rồi. Lẽ ra con trai ông Phạm Quỳnh (tác giả bài viết) không nên so bì như thế nếu không có được một tiếng cám ơn để chứng tỏ là người tử tế.
    Ông Phạm Tuyên có bài “Như có Bác…”, còn ông Phạm Tuân thì có bài này: Anh em họ thật hợp nhau lắm!
    Cụ Phạm Quỳnh không biết vui hay buồn bên kia thế giới đây!?

    Đối với NS Phạm Tuyên, đảng- bác là trên hết. Hơn cả cha mẹ, tổ tiên, ông bà. Có nịnh nọt tốt như vậy, thì từ con của một viên quan Thượng thư của một triều đình bị cho là làm tay sai cho ngoại xâm, mà cách mạng gọi là trùm phản quốc, phản cách mạng, Phạm Tuyên mới “leo” lên được chức vụ Phó Tổng GĐ Đài Tiếng nói Việt Nam, khi mà xã hội thời đó coi chủ nghĩa lí lịch là trên hết.Trong sách giáo khoa về Văn và Sử của miền Bắc những năm sáu mươi của thế kỷ trước, Phạm Quỳnh và Nguyễn Văn Vĩnh là hai nhân vật được cách mạng dùng những ngôn từ xấu xa nhất để nói về họ, nào là tên bồi bút đê tiện, tên phản động nguy hiểm nhất về lĩnh vực văn hóa, vì họ đã “đầu độc” bao thế hệ trẻ với những tư tưởng xấu xa..vv.
    Với nhà nước CSVN, Phạm Tuyên được cho là “một trong những nhạc sĩ có nhiều sáng tác thành công nhất viết về đảng và Bác”. Trong đó, nổi bật nhất là hai bài: “ Đảng đã cho ta Mùa Xuân” và bài “ Đảng đã cho tôi sáng mắt sáng lòng”. Hãy nghe con vẹt Phạm Tuyên “hót” ca ngợi đảng, bác của ông ta như thế nào nhé.
    Bài “Đảng đã cho tôi sáng mắt sáng lòng” có những câu như sau:
    “Đảng đã cho tôi sáng mắt sáng lòng
    Trước như tuổi thơ tôi nào biết đường
    Máu tôi đỏ và tim tôi yêu nước
    Tôi chỉ biết là đêm tối mênh mông
    Đảng đã cho tôi sáng mắt sáng lòng
    Đảng ta ơi, cám ơn người dạy dỗ
    Từ đây lòng tôi sướng vui đau khổ
    Và tình yêu căm giận hóa lời ca
    Đảng cho tôi màu sắc nước non nhà
    Đảng của tôi ơn, người đã cho tôi sáng mắt sáng lòng”.

    Bài “ Đảng đã cho ta mùa xuân” có những đoạn như sau:
    “Đảng đã cho ta một mùa xuân đầy ước vọng
    Một mùa xuân tươi tràn ánh sáng khắp nơi nơi
    Đảng đã đem về tuổi xuân cho nước non
    Vang tiếng hát ca chứa chan niềm yêu đời
    Bao năm khổ đau đất nước ta không mùa xuân
    Cuộc đời tăm tối chốn lao tù bao hờn căm
    Vừng dương hé sáng khi khắp nơi ta có Đảng
    Bóng tối lui dần tiếng chim vui hót vang
    Và rồi từ đây ánh dương soi đời mới”

    Một khi đã tôn thờ đảng-bác trên hết mọi sự, thì phải từ bỏ quá khứ của mình thì mới làm đẹp lòng đảng được. Và để phấn đấu được nhận các giải thưởng, như Giải thưởng Nhà nước năm 2001, và Giải thưởng Hồ Chí Minh năm 2012, thì Phạm Tuyên phải có một “thành tích chói lọi”. Mà một trong những việc để lập thành tích và để được đảng tin tưởng và ghi công, thì không gì bằng đoạn tuyệt quá khứ, đoạn tuyệt với cha ông mình.
    Chắc không bao giờ Phạm Tuyên muốn nhắc đến tên người cha quá cố của ông- Phạm Quỳnh. Vì như vậy sẽ làm phật lòng đảng.
    Không biết ở dưới suối vàng, Thượng thư Phạm Quỳnh có biết con mình là một đảng viên của cái đảng đã giết và vứt xác mình xuống cái mương và lấp lại vị sợ hôi thối? Và “ đảng đã cho tôi sáng mắt sáng lòng”, có nghĩa là Phạm Tuyên đã đồng lõa cùng kết tội những “tội ác” của Phạm Quỳnh mà đảng đã tuyên khi giết Phạm Quỳnh?

    Đối với nhân dân Việt Nam, thì đảng CSVN là “ căn bệnh dịch hạch” đã làm ô nhiễm môi trường đạo đức văn hóa và truyền thống tốt đẹp bao đời của cha ông ta. Nhưng đối với Phạm Tuyên, thì đảng “ đã đem về tuổi xuân cho nước non”, và đảng” là ánh dương soi đời mới”. Có lẽ đây là tột đỉnh của sự lố bịch. Và với hai câu này, Phạm Tuyên xứng đáng là VUA của các loài vẹt.

    Nguồn:

xuandienhannom

Posted in Nhan Vat Chinh tri, Sách-Hồi Ký-Bài Báo... | Leave a Comment »

►Ngày 21-6: Một nhà báo bị thu thẻ và đình chỉ công tác

Posted by hoangtran204 trên 21/06/2016

21.6: MỘT NHÀ BÁO BỊ THU THẺ VÀ ĐÌNH CHỈ CÔNG TÁC

 xuandienhannom.blogspot.com.de
21-6-2016
Tạm đình chỉ chức vụ, công việc của ông Mai Phan Lợi
Thứ Hai, ngày 20/6/2016 – 20:28(PLO)- Ngày 20-6-2016, Tổng Biên tập báo Pháp Luật TP.HCM đã ra quyết định tạm đình chỉ chức vụ, công việc đối với ông Mai Phan Lợi, Phó Tổng TKTS, Trưởng Văn phòng đại diện báo Pháp Luật TP.HCM tại Hà Nội. Việc đình chỉ nhằm làm rõ những dấu hiệu vi phạm của ông Mai Phan Lợi. Trước đó, ngày 17-6-2016, ông Lợi có đăng status trên Facebook Diễn đàn nhà báo trẻ về việc máy bay Casa 212 rơi khi làm nhiệm vụ tìm kiếm cứu nạn. Trong status đó, có những từ ngữ và giả thuyết gây bức xúc, tổn thương đến tình cảm của công chúng, bị dư luận phản ứng gay gắt.

Ông Mai Phan Lợi có trách nhiệm kiểm điểm về sự việc trên, báo cáo để các cơ quan chức năng xử lý theo luật định.

Ông Mai Phan Lợi bàn giao việc quản lý văn phòng cho người phụ trách cho đến khi có quyết định mới của Ban Biên tập.

Cùng ngày, Bộ Thông tin và Truyền thông đã ban hành Quyết định số 1063/QĐ-BTTTT do Bộ trưởng Trương Minh Tuấn ký về việc thu hồi thẻ nhà báo của ông Mai Phan Lợi do vi phạm Điều 9 Thông tư 07/2007/TT-BVHTT, xúc phạm nghiêm trọng danh dự của Quân đội Nhân dân Việt Nam, gây tổn thương sâu sắc đến gia đình, đồng đội, người thân của những cán bộ chiến sĩ gặp nạn khi đang làm nhiệm vụ, tổn hại đến uy tín đội ngũ những người làm báo.

 

BÁO PHÁP LUẬT TP.HCM

 
Báo Tuổi trẻ đưa tin:
 

Thu hồi thẻ nhà báo, đình chỉ chức vụ của Mai Phan Lợi

Tuổi trẻ
20/06/2016 20:14 GMT+7

TTO – Báo Pháp Luật TP.HCM đã ra quyết định đình chỉ chức vụ của ông Mai Phan Lợi, Phó Tổng TKTS, Trưởng Văn phòng đại diện Báo Pháp Luật TP.HCM tại Hà Nội. 

Diễn đàn Nhà báo trẻ – Ảnh chụp màn hình

Ngày 20-6, Bộ Thông tin và Truyền thông đã ban hành quyết định 1063 do Bộ trưởng Trương Minh Tuấn ký về việc thu hồi thẻ nhà báo của ông Mai Phan Lợi, do “xúc phạm nghiêm trọng danh dự của Quân đội Nhân dân Việt Nam, gây tổn thương sâu sắc đến gia đình, đồng đội, người thân, đồng đội của những cán bộ chiến sĩ gặp nạn khi đang làm nhiệm vụ, tổn hại đến uy tín đội ngũ những người làm báo”.

Cùng ngày, Tổng biên tập Báo Pháp Luật TP.HCM đã ra quyết định đình chỉ chức vụ của ông Mai Phan Lợi, Phó tổng TKTS, Trưởng Văn phòng đại diện Báo Pháp Luật TP.HCM tại Hà Nội nhằm làm rõ những dấu hiệu vi phạm của ông Mai Phan Lợi.

Trước đó, ngày 17-6, ông Lợi có tạo một thăm dò trên trang Facebook Diễn đàn Nhà báo trẻ về việc máy bay Casa 212 rơi khi làm nhiệm vụ tìm kiếm cứu nạn.

Tuổi trẻ Online.

 

@Ông Mai Phan Lợi là admin của một trang mạng với hơn 12000 thành viên, Facebook Diễn Đàn Nhà Báo Trẻ, ông cũng là một trong sáu người, đại diện cho Tổ chức Xã Hội Dân sự, đã gặp Tổng thống Mỹ Barack Obama ở Hà Nội 23-5-2016 (để đấu tranh cho tự do ngôn luận và quyền tự do sáng tác và biểu diễn). Hoạt động của ông là một cái gai trong mắt nhà cầm quyền Hà Nội. Ông đã bị thu hồi thẻ nhà báo ngày 20-6-2016. (Trần Hoàng)

Posted in Bắt bớ-Tù Đày-Đánh đập-Đàn Áp, Chinh Tri Xa Hoi, Sách-Hồi Ký-Bài Báo..., Tự Do ngôn Luận | Leave a Comment »

►Ngày “Báo chí Cách mạng Việt Nam” 21-6-2016, một nhà báo không “cách mạng” đã bị xử?

Posted by hoangtran204 trên 21/06/2016

@Ông Mai Phan Lợi là admin của một trang mạng với hơn 12000 thành viên, Facebook Diễn Đàn Nhà Báo Trẻ, ông cũng là một trong sáu người, đại diện cho Tổ chức Xã Hội Dân sự, đã gặp Tổng thống Mỹ Barack Obama ở Hà Nội 23-5-2016 (để đấu tranh cho tự do ngôn luận và quyền tự do sáng tác và biểu diễn). Hoạt động của ông là một cái gai trong mắt nhà cầm quyền Hà Nội. Ông đã bị thu hồi thẻ nhà báo ngày 20-6-2016. (Trần Hoàng)

Ngày “Báo chí Cách mạng Việt Nam” 21-6-2016, một nhà báo không “cách mạng” đã bị xử?

Ngọc Thu

anhbasam.wordpress.com

20-6-2016

Nhà báo Mai Phan Lợi. Ảnh: internet

Nhà báo Mai Phan Lợi. Ảnh: internet

17/6/2016, trên Fanpage Facebook Diễn đàn Nhà báo Trẻ, do nhà báo Mai Phan Lợi làm admin, đã đăng một status có nội dung như sau:

Vì sao CASA tan xác?

Thật đau xót đến giờ này vẫn chưa tìm được 9 cán bộ trên máy bay CASA, nhưng thắc mắc thật khó lý giải thuyết phục là tại sao máy bay tan xác? Theo bạn?

– Máy bay bị tác động từ bên ngoài nên vỡ

– Máy bay rơi từ cao xuống biển nên vỡ vụn

– Không biết lý do

– Bị bắn

– Bị giông lốc làm rơi xuống biển và vỡ khi đập vào mặt nước

– Không loại trừ bị bắn vỡ

– Máy bay chất lượng kém do tham nhũng trong ngành quốc phòng luôn bị đóng dấu mật”.

Ngày hôm sau, tờ Petro Times do “nhà báo chó” Nguyễn Như Phong làm Tổng Biên tập đã đăng bài: Nhà báo mà thế này thì… vô đạo đức! Trong bài, tác giả viết:

Chúng ta chỉ nghe đến từ “tan xác” khi nói về việc bắn rơi máy bay quân thù. Một từ ngữ hàm chỉ thái độ như vậy được dùng trong ngữ cảnh những đồng đội, chiến sỹ của mình đang mất mát hi sinh, thì rõ ràng, đầu óc của người viết đang “có vấn đề” hoặc là quá tàn nhẫn.

Hơn nữa, trong Poll (bình chọn), Mai Phan Lợi còn đưa ra các giả thuyết để lựa chọn (vote) như: Bị bắn/ – Không loại trừ bị bắn vỡ/ – Máy bay chất lượng kém do tham nhũng trong ngành quốc phòng luôn bị đóng dấu mật.

Những “gợi ý” này vô tình tạo ra nhiều hoài nghi giữa một không gian tưởng niệm thành kính. Có lẽ người vốn mang danh nhà báo này không vô tình, mà rõ ràng có toan tính”.

Sau đó, nhà báo Mai Phan Lợi có đưa ra “Lời xin lỗi“, nội dung như sau:

“Tối hôm qua khi làm 1 cuộc khảo sát ý kiến các thành viên Diên đàn về nguyên nhân máy bay rơi xuống biển, tôi có sử dụng ngôn ngữ không chính xác, gây tổn thương tình cảm anh em. Được một số thành viên góp ý, tôi đã sửa chữa và sau đó quyết định xoá poll thăm dò ý kiến này do nhiều thành viên đã thêm vào các phương án không thích hợp.

Bằng stt này tôi chân thành xin lỗi mọi người, quyết không thực hiện các cuộc thăm dò ý kiến và sử dụng ngôn ngữ quá nhạy cảm như vậy nữa”.

Mấy ngày qua, các tờ báo “cách mạng” đã đồng loạt ra quân nã đạn vào nhà báo Mai Phan Lợi.

Hôm qua, ngày 19-6, báo Petro Times đăng bài “Một ngòi bút ác độc“.

Hôm nay, Petro Times đăng tiếp 6 bài nữa, bài của Đại tá Bùi Đức Toàn: “Không thể để kẻ này cầm thẻ nhà báo“; “Tiến sỹ Khuất Việt Hùng phản ứng mạnh với Mai Phan Lợi“; “Tướng Lê Mã Lương: Phải kỷ luật thật nặng Mai Phan Lợi“; “Đề nghị kiểm tra toàn diện Diễn đàn Nhà báo trẻ“; “Quan điểm của Hội Nhà báo Việt Nam về Phan Lợi“; “Thu hồi Thẻ nhà báo, đình chỉ công tác Mai Phan Lợi“.

Báo Người Đưa Tin tiếp tục nã “pháo cối” vào nhà báo Mai Phan Lợi. Hôm qua có bài: “Bơi ngược … ‘dòng đạo đức’!” Hôm nay, NĐT đăng tiếp 4 bài: “Hóa thân của kền kền“; “Gửi anh Lợi, người hỏi ‘vì sao máy bay CASA tan xác’?“; “Thái Thùy Linh nói gì về Mai Phan Lợi ở những cuộc thăm dò toan tính“; “Tướng Thệ: Cơ quan chức năng phải xem xét, xử lý nghiêm Mai Phan Lợi“.

Các báo khác như báo Tuổi Trẻ, NLĐ chỉ dừng lại ở mức đưa tin, chứ không tiếp tục nã đạn vào nhà báo Mai Phan Lợi như PetroTimes, Người Đưa Tin. Báo Tuổi Trẻ đưa tin: “Thu hồi thẻ nhà báo, tạm đình chỉ chức vụ của ông Mai Phan Lợi“; báo Người Lao Động: “Thu hồi Thẻ nhà báo của ông Mai Phan Lợi“.

Như vậy là sau bài báo “khai hỏa” trên tờ báo Petro Times do Đại tá Nguyễn Như Phong làm TBT, nhà báo Mai Phan Lợi đã bị mang ra “xử trảm”.

Nhà báo Mai Phan Lợi vừa có thông báo trên trang Diễn đàn Nhà báo Trẻ, như sau:

THÔNG BÁO VỀ VIỆC LIÊN QUAN ĐẾN CÁ NHÂN ADMIN

Mấy ngày hôm nay có hàng trăm lượt thành viên hỏi ad về các bài báo viết về stt liên quan đến máy bay CASA, thậm chí có thành viên còn gửi cho tôi stt của một số tk FB nói rõ rằng tôi đã bị đuổi việc, bị tước thẻ nhà báo…

Thực sự thì đã có quyết định của cơ quan quản lý tạm đình chỉ công tác để kiểm điểm và đây là việc cần thiết đối với sai lầm mà tôi đã mắc phải, và tôi đã thừa nhận, đã viết lời xin lỗi như mọi người đã biết. Vì thế tôi sẽ kiểm điểm một cách thành khẩn, nghiêm túc như nhận thức của mình, kể cả việc sẽ chờ đợi những hậu quả khác mà sai lầm do tôi gây nên.

Nhân đây cũng xin báo cáo thêm là từ lâu tôi đã suy nghĩ về việc chuyên tâm hơn, dành thời gian nhiều hơn cho công việc nghiên cứu, đào tạo truyền thông cũng như duy trì các hoạt động cho Diễn đàn như Chống Thực phẩm bẩn, Xanh & Sạch, Khuyên Club… Vì thế tôi cũng đã bộc lộ ý định này với cơ quan nhưng chưa được chấp thuận. Là người của tổ chức tôi sẽ chấp hành đầy đủ các yêu cầu của tổ chức, nhưng trách nhiệm với thành viên tôi phải nêu rõ những vấn đề này để tránh những đồn thổi sai lệch, gây phân tán, hoang mang cho thành viên.

Xin mọi người yên tâm và tin tưởng. Trân trọng cảm ơn!
(P/s: mọi người cmt kiềm chế, ko quy kết kích động nhá)”

Một thành viên của diễn đàn này,Facebooker Nghia Duc Pham đã nêu quan điểm cá nhân của mình về sự cố này, như sau:

“Trong chuyện vừa xảy ra với adminLợi Mai Phan, cá nhân tôi với tư cách là thành viên của diễn đàn cảm thấy anh không hề sai bởi những lý do sau:

– Anh đăng post đó trên diễn đàn này là nơi sinh hoạt chung của một nhóm người trên mạng xã hội , tuân theo các điều lệ của Facebook cũng như bản thân nội quy diễn đàn một cách hoàn toàn hợp lệ. Nơi này không phải báo chí thuộc sự quản lý của cơ quan Nhà nước nào. Anh Lợi có quyền tự do ngôn luận, thể hiện ý kiến và suy đoán của mình. Trách nhiệm của Nhà nước là phải tôn trọng điều đó hoặc ít nhất chứng minh được anh nói sai và gây ra hậu quả thực sự với xã hội thì mới có quyền sử dụng quyền lực để trừng phạt.

– Nội dung anh đăng không có gì xúc phạm đến những người đã ra đi, ngược lại còn thể hiện trách nhiệm và lương tâm của một nhà báo chân chính khi muốn đưa ra những suy đoán về nguyên nhân của vụ tai nạn bất thường vừa xảy ra với 2 chiếc máy bay. Cũng giống như vụ cá chết, không có cơ quan nào chịu đi tìm nguyên nhân thực sự (tai nạn máy bay có tỉ lệ rất thấp, cùng lúc 2 chiếc đều rơi không thể là sự trùng hợp ngẫu nhiên, ắt nguyên nhân phải đến từ con người).

Vậy nhưng không những chẳng ai ủng hộ anh mà còn ra sức đưa ra những bình phẩm không hay xúc phạm anh làm tôi cảm thấy rất bức xúc. Chương trình Thời sự VTV 19h tối nay dành hẳn một phóng sự với tên “rút thẻ nhà báo của ông Phan Mai Lợi” với cáo buộc anh làm tổn thương tình cảm của hàng triệu người dân thì thật sự tàn nhẫn quá. Người ta có tâm , day dứt trước cái chết của các chiến sĩ chết không nhắm mắt vì không rõ nguyên nhân nên mới cất lên tiếng nói mà bị kết tội như vậy thì thật chua xót.

Cùng quan điểm với Facebooker Nghia Duc Pham, LS Trần Vũ Hải cho biết:

“Vụ máy bay chiến đấu rơi, 1 ngư dân là người đầu tiên cứu phi công còn sống và 1 ngư dân khác là người đâu tiên phát hiện thi thể của một phi công khác. Còn máy bay cứu nạn rơi tiếp, 9 người khác bị mất tích, vẫn đang tìm kiếm, dù đã tìm được xác máy bay cứu nạn.

Lẽ ra đây phải là dịp xem lại chính các lực lượng của mình, nhưng một số tướng tá lại chỉ trích và đòi kỷ luật một nhà báo đã “nhỡ lời” khi đặt vần đề về nguyên nhân vụ máy bay cứu nạn bị nạn, đúng dịp ngày “nhà báo Việt nam”.

Vụ chỉ trích nhà báo- admin của Diễn đàn nhà báo trẻ được khơi mào từ một báo của cựu đại tá công an thường xuyên được bầu làm Kền Kền trên Diễn đàn nhà báo này. Và nay một số báo cũng từng được vinh danh Kền Kền trên Diễn đàn này cũng tích cực tham gia “đánh hôi” đồng nghiệp.

Tôi xin chia buồn gia đình các quân nhân bị nạn và cũng xin chia buồn nhà báo “bị nạn”!

Posted in Báo chí- Quyền tự do ngôn luận, Bắt bớ-Tù Đày-Đánh đập-Đàn Áp, Chinh Tri Xa Hoi, Sách-Hồi Ký-Bài Báo... | Leave a Comment »

►Báo Thế giới Tiếp thị bị phạt tiền và đình bản 3 tháng vì đăng tin thời sự

Posted by hoangtran204 trên 15/05/2016

BBC

14-5-2016

Báo Thế giới Tiếp thị đăng nhiều bài viết của nhạc sĩ Tuấn Khanh bàn về thời cuộc. Ảnh: BBC chụp màn hình báo TGTT

Báo Thế giới Tiếp thị đăng nhiều bài viết của nhạc sĩ Tuấn Khanh bàn về thời cuộc. Ảnh: BBC chụp màn hình báo TTTG

Hôm 14/5, Cục Báo chí của Việt Nam ra quyết định phạt tiền 140 triệu đồng đối với báo Nông thôn Ngày nay và tờ báo này ‘xin tự đình bản’ ba tháng ấn phẩm Thế giới Tiếp thị của họ, theo truyền thông Việt Nam.

Thế giới Tiếp thị là một trong những ấn phẩm của báo Nông thôn Ngày nay, với một phần đội ngũ phóng viên chuyển từ báo Sài Gòn Tiếp thị từng bị đóng cửa từ trước.

Quyết định số 104/QĐ-XPVPHC xử phạt vi phạm hành chính của Cục Báo chí thuộc Bộ Thông tin và Truyền thông cho hay hai bài viết đăng trên ấn phẩm Thế giới tiếp thị là ‘Mãi mãi là người đến sau’ và ‘Lời than thở của các loài cá’ đã “vi phạm quy định Điểm b Khoản 6 Điều 8 Nghị định số 159/2013/N D-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động báo chí, xuất bản”.

Cả hai bài báo này hiện đã bị gỡ khỏi trang mạng của báo Thế giới Tiếp thị, nhưng vẫn có thể đọc được ở những trang mạng khác.

‘Phần đen đủi nhất’

Tác giả của bài báo ‘Mãi mãi là người đến sau’ là nhạc sĩ Tuấn Khanh và nội dung bài được cho là có liên quan đến vụ cá chết hàng loạt tại miền Trung.

“Như những con cá chết oan ức trên bờ biển, chỉ biết sau cùng rằng đại dương không còn là nhà, mà chỉ còn đầy độc dược, những người dân Việt Nam cũng chỉ biết được phần đen đủi nhất được gieo về phía mình, dù chung quanh đầy lâu đài và dự án vĩ đại, như đang phát triển cho ai khác”.

“Nếu như có một thiên đường để đến, có lẽ người dân Việt nhỏ bé như móng tay chúng ta, mãi cũng chỉ là người đến sau. Và đường đi đến đó, chẳng thong dong gì, mà có thể thông qua những ống dẫn chất thải như của Formosa”, nhạc sĩ viết.

Hôm 14/5, một số báo Việt Nam tường thuật “Báo Nông thôn Ngày nay đã nhận khuyết điểm và xử lý kỷ luật nghiêm khắc các cá nhân liên quan”.

“Cục Báo chí cũng đã đồng ý với đề nghị của Báo Nông thôn Ngày nay xin tự đình bản ba tháng đối với ấn phẩm Thế giới Tiếp thị từ ngày 14/5/2016 để kiện toàn đội ngũ cán bộ, xây dựng lại quy trình xuất bản ấn phẩm, tránh xảy ra các sai sót trong thời gian tới,” vẫn theo truyền thông Việt Nam cho biết.

Hôm 14/5, một phóng viên báo Nông thôn Ngày nay đề nghị không nêu danh tính nói với BBC:

“Tôi vừa bất ngờ vừa buồn, vì lệnh phạt được ban hành trong bối cảnh báo chí ngày càng khó khăn trong việc kiếm quảng cáo”.

“Hơn nữa, một trong hai bài bị lệnh phạt là bài viết của nhạc sĩ Tuấn Khanh, một tác giả có lượng bạn đọc nhất định do ông là người trăn trở với những vấn đề nóng bỏng của đất nước và bài của ông luôn được chia sẻ nhiều trên mạng xã hội,” phóng viên này nói với BBC.

____

FB Mạnh Kim

14-5-2016

Hệt như việc chặn các tuyến đường để vây người biểu tình vào “rọ”, việc đình bản tờ Thế Giới Tiếp Thị cũng tương tự: gom báo chí vào rọ để kiểm soát dòng chảy thông tin, đặc biệt với những dòng chảy thẳng, không uốn éo, dẫn vào các “điểm đầu cuối” thông tin mà xã hội đang cần và muốn đọc.

Thông tin trong thực tế đang chảy theo nhiều hướng và ngả trên mạng xã hội. Đình bản một tờ báo hoặc nhiều hơn, ở bối cảnh này, là hoàn toàn vô nghĩa đối với việc kiểm soát thông tin và “lọc” dư luận.

Báo chí và truyền thông nhà nước từ lâu đã không còn có thể “điều phối” và “định hướng” dư luận. Ngay cả khi siết thông tin chặt đến mức nào đi chăng nữa, cũng không thể kiểm soát tuyệt đối được suy nghĩ và nhận thức của từng cá nhân.

Sự kiện và thông tin là những ghi chép của thời cuộc. Thời cuộc là một phần lịch sử. Chẳng ai có thể chặn được lịch sử, đặc biệt với những dòng lịch sử đang được viết ở thì hiện tại.

 

Posted in Bắt bớ-Tù Đày-Đánh đập-Đàn Áp, Dân Chủ và Nhân Quyền, Kiểm Soát Thông Tin- Internet, Sách-Hồi Ký-Bài Báo..., Tự Do ngôn Luận | Leave a Comment »

►Nhà báo và sự nô lệ tự nguyện

Posted by hoangtran204 trên 11/09/2015

9-9-2015

nguyenthituhuy

Hôm nay tôi nhận được email từ một người bạn của nhà báo Đỗ Hùng. Câu chuyện phóng viên này bị tước thẻ nhà báo vì một status đùa nghịch trên facebook cá nhân vẫn đang còn là thời sự. Chưa có phản ứng gì từ đồng nghiệp của Đỗ Hùng trong giới báo chí chính thống.

Tôi viết bài này như một sự chia sẻ với phản ứng của người bạn của Đỗ Hùng. Và cũng để nói rằng tôi rất đồng tình với các nhận định của nhà báo độc lập Huỳnh Ngọc Chênh về vụ việc này.

Trước khi nói tiếp xin mời độc giả xem bức biếm họa dưới đây

tongthongphap.png

Nhân vật bị đả kích, xuất hiện trong bức tranh này với dương vật thòi ra, là đương kim tổng thống Pháp, François Hollande, và tờ báo đăng bức tranh này là Charlie Hebdo.

Chúng ta đều biết, mặc dù bị châm biếm đến mức như vậy, Hollande chẳng những không ra lệnh tịch thu thẻ nhà báo, không ra lệnh cách chức tổng biên tập hay phạt tiền hay đóng cửa tòa soạn, theo cách thức mà chính quyền Việt Nam sẽ làm (dĩ nhiên luật pháp cũng không cho phép ông ta làm điều đó), mà Hollande hẳn còn tự hào khi ở Pháp có một tờ báo như vậy. Bằng chứng là khi tờ báo bị tấn công, các nhà báo bị sát hại, Hollande còn kêu gọi toàn dân Pháp biểu tình để tượng niệm các nhà báo, và để bảo vệ tinh thần Pháp, tinh thần tự do tư tưởng, tự do ngôn luận, tự do biểu đạt. Không những chỉ dân Pháp, rất nhiều lãnh đạo các quốc gia khác cũng tham dự.

Bây giờ, chúng ta hãy hình dung cảnh tưởng tượng này : các nhà báo của các tờ báo chính thống Việt Nam, khi đến tòa soạn đồng loạt giơ một tấm biểu ngữ « Tôi là Đỗ Hùng » (nghĩa là tương tự cảnh các nhà báo Pháp giơ tấm biển « Tôi là Charlie » sau vụ các nhà báo của tờ Charlie Hebdo bị ám sát). Thử hỏi Bộ 4T có thể tịch thu hết thẻ nhà báo của tất cả các nhà báo không ? Không thể, bởi nếu thế thì sẽ lấy ai làm công cụ tuyên truyền cho đảng ?

Đọc đến đây, độc giả sẽ bảo : « Chị này chỉ giỏi mơ tưởng hão huyền, phi thực tế ! ». Phản ứng ấy của độc giả hoàn toàn dễ hiểu và hoàn toàn hợp lý, dựa trên thực tế của chúng ta hiện nay : thay vì bảo vệ đồng nghiệp của mình, các nhà báo im lặng để cho bất công hoành hành.

Etienne de la Boétie, trong tiểu luận nổi tiếng, viết lúc ông chưa đến 20 tuổi,  « Luận về sự nô lệ tự nguyện » đưa ra một ý tưởng nổi tiếng : kẻ bạo chúa không thể tồn tại nếu không có sự cam chịu nô lệ của đa số dân chúng, chính là sự nô lệ đã tạo ra bạo chúa.

Bộ 4T có thể hoành hành như vậy bởi vì không gặp phản ứng nào. Chính là sự cam chịu của giới báo chí đã tạo ra sự chuyên chế và sự đàn áp của Bộ 4T.

Chẳng cần đi đâu xa xôi ở các nước văn minh hay nhìn đâu xa xôi trong lịch sử, chỉ cần nhìn ngay một sự kiện tương tự, vừa xảy ra tại Việt Nam, để thấy rằng, một phản ứng, dù rất lịch sự, cũng có thể ngăn ngừa bất công và tự bảo vệ quyền của mình. Độc giả có lẽ hiểu ngay rằng tôi đang nói về trường hợp Phạm Lê Vương Các. Sự phản ứng của Vương Các, cộng với sự phản ứng của cộng đồng mạng, đã khiến trường Đại học nơi Vương Các đang học thay đổi thái độ.

Phạm Lê Vương Các mới chỉ là một sinh viên.

Các nhà báo Việt Nam có lương tri:  quyền dân sự, quyền công dân, quyền con người chính là những gì tạo nên nhân phẩm của các anh chị, các anh chị sẽ chấp nhận hay từ chối việc người ta tước đoạt các quyền và nhân phẩm của mình ?

Paris, 9/9/2015

Nguyễn Thị Từ Huy

http://www.rfavietnam.com/blog/4359

Posted in Chinh Tri Xa Hoi, Sách-Hồi Ký-Bài Báo..., Tự Do ngôn Luận | Leave a Comment »

►Bốn mươi năm Dương Nghiễm Mậu và tự truyện Nguyễn Du

Posted by hoangtran204 trên 07/03/2015

Bốn mươi năm Dương Nghiễm Mậu và tự truyện Nguyễn Du

22-2-2015 

“… Kẻ có chữ bất mãn thường chọn cách viết sớ tâu lên… Những lá sớ lâm ly thảm thiết này thường không được nghe. Có kẻ dâng sớ nhiều lần nhưng không thấy cởi bỏ áo mũ trở lại làm phó thường dân mà vẫn ung ung tại vị hưởng bổng lộc của triều đình. Một đôi kẻ chấp bút có đôi chút tự trọng thì chọn con đường ở ẩn, không chọn con đường làm giặc nên không có tên trong Sưu Tặc K..” Từ Hải Ngoại Truyện, Dương Nghiễm Mậu, 2005.

1975_ Bùi Giáng và Dương Nghiễm Mậu
Sau 30 tháng 4, 1975 các văn nghệ sĩ không đi thoát, hoặc chọn ở lại như Dương Nghiễm Mậu, nếu không phải đám nằm vùng thì ai cũng chờ cái ngày đi vào nhà giam, các trại tù cải tạo. Giữa những ngày căng thẳng và ảm đạm ấy, có một người vẫn nhởn nhơ, đi tìm thăm bạn bè văn nghệ cũ. Không ai khác hơn đó là nhà thơ Bùi Giáng Lá Hoa Cồn. Trung niên thi sĩ lúc nào cũng gầy và già hơn tuổi, râu tóc xơ xác như từ bao giờ.

Giữa một Sài Gòn thảng thốt, không biết anh đã lượm ở đâu trên đường mà có được bộ quân phục nguỵ với quân hàm Đại tá, Bùi Giáng đem vận ngay vào người, chân thấp chân cao đi nghêu ngao như diễn binh trên hè phố. Có lẽ đây là hình ảnh tuyệt đẹp cuối cùng của cuộc chiến tranh Việt Nam, với một tân binh tình nguyện gia nhập đạo quân đã hoàn toàn rã ngũ.

Rồi Bùi Giáng cũng tới được khu nhà thờ Ba Chuông, nơi có căn nhà Dương Nghiễm Mậu. Bùi Giáng hồn nhiên đi sâu vào con hẻm chật chội ấy đã thấp thoáng màu cờ đỏ. Anh vẫn tỉnh táo nhớ đúng nhà, tới đập cửa rầm rầm đòi vào thăm cho được cố tri. Trầm tĩnh và bản lãnh như Nghiễm, mà trước tình huống ấy cũng vẫn như gái ngồi phải cọc; được cái lúc ấy chòm xóm còn là thân quen, mạng lưới công an chưa đủ dầy đặc để gây nỗi phiền hà. Ra khỏi nhà Dương Nghiễm Mậu, không biết Bùi Giáng còn đi gõ cửa tới thăm những ai khác, hay anh lại ra nơi đầu cầu Trương Minh Giảng như một người tỉnh táo đứng làm cảnh sát công lộ chỉ đường “trên dòng luân lưu hỗn mang của lịch sử”
và để rồi sau đó nếu anh không bị đám “cách mạng 30” hay bọn công an đánh tả tơi sưng mặt mũi thì rồi cuối cùng chắc anh cũng lại tìm về với “mẫu hậu” Kim Cương, ngồi trước cửa phóng bút làm thơ tặng nàng.

Phóng viên chiến tranh Dương Nghiễm Mậu đi qua nhịp cầu Tràng Tìền bị giựt sập trong Tết Mậu Thân, Huế 1968 [photo by Đinh Cường]
1975_ Toà Soạn Bách Khoa và anh Lê Ngộ Châu
Tuần lễ trước 30 tháng 4, 1975, nhân viên Đài Mẹ Việt Nam và những cây viết cộng tác đã được Mỹ lên kế hoạch di tản khỏi Việt Nam – để tránh bị trả thù. Trước ngày lên tàu ra đảo Phú Quốc, nhà văn Võ Phiến tới thăm toà soạn Bách Khoa, nơi vùng “xôi đậu” có Võ Phiến Bắt Trẻ Đồng Xanh ngồi chung với Vũ Hạnh Bút Máu; cũng là nơi mà Võ Phiến đã gắn bó suốt 18 năm cùng với tuổi thọ của tờ báo. Anh Lê Ngộ Châu chủ nhiệm Bách Khoa kể lại: Võ Phiến thì phải đi, nhưng linh cảm không có ngày về, vẻ mặt buồn thảm, anh chỉ ngồi khóc lặng lẽ không nói nổi lời giã từ và rồi đứng dậy bước ra khỏi toà soạn.Toà soạn báo Bách Khoa trước 1975, 160 Phan Đình Phùng, Sài Gòn, từ phải: chủ nhiệm Lê Ngộ Châu (2006), Vũ Hạnh, Nguyễn Hiến Lê (1984), Vi Huyền Đắc (1976), Lê Phương Chi, Võ Phiến [nguồn: internet]
Trước một ngày mất Sài Gòn, thì hầu như toàn bộ nhân viên Đài Mẹ Việt Nam trong đó có gia đình Võ Phiến Giã Từ, Lê Tất Điều Phá Núi, Viên Linh Hoá Thân, Tu. Hồng Tôi Nhìn Tôi Trên Vách, Thanh Nam Bóng Nhỏ Đường Dài từ Phú Quốc đã được đưa lên con tàu lớn Challenger đậu sẵn ngoài khơi. Khi bờ biển Phú Quốc xa mờ trong tầm mắt, lần này thì Lê Tất Điều thấy Võ Phiến khóc. Cùng với những con tàu thuộc Đệ Thất Hạm đội, họ lênh đênh trên Biển Đông trong cuộc hải trình nhiều ngày để tới đảo Guam.Guam đã từng là căn cứ xuất phát của các đoàn phi cơ B52 trong cuộc chiến tranh Việt Nam với những trận mưa bom trải thảm/ carpet
bombing có sức tàn phá của một cơn địa chấn. Đảo Guam chỉ rộng 550 km2 sau tháng Tư 1975, là chặng dừng chân đầu tiên của hàng trăm ngàn người Việt tỵ nạn trước khi vào đất Mỹ. Vũ Khắc Khoan Thần Tháp Rùa, Nghiêm Xuân Hồng Người Viễn Khách Thứ 10, Mặc Đỗ Siu Cô Nương nhóm Quan Điểm cũng đi thoát và trước sau đặt chân tới các trại tỵ nạn trên đất Mỹ.

Chưa đến một tuần lễ sau, ngày 5 tháng 5, 1975 một trong những cây viết lâu năm của Bách Khoa, Phạm Việt Châu Trăm Việt Trên Vùng Định Mệnh đã tuẫn tiết tại tư gia khi cộng sản hoàn toàn chiếm Miền Nam. Cái chết rất sớm và tức tưởi của một tác giả có viễn kiến về lịch sử dân tộc, sức sáng tạo đang sung mãn mới bước vào tuổi 43, đã như một hồi chuông báo tử cho bao
nhiêu tang thương diễn ra sau đó.
1975_ Chiến Dịch Đốt Sách
Những ngày sau 30 tháng 4, 1975, hai đứa con Vũ Hạnh trong bộ bà ba đen, tay cuốn băng đỏ, tới toà báo Bách Khoa cũng là nơi cư ngụ của anh chị Lê Ngộ Châu. Trước khách lạ, đứa con gái nói giọng hãnh tiến: “Tụi con mới từ Hóc Môn về, cả đêm qua đi kích tới sáng.” Người dân lành nào vô phước đi lạc trên đường ruộng đêm đó có thể bị tụi nó coi là nguỵ. Những tên nằm vùng cùng với đám “cách mạng 30” này chỉ như phó bản đám Hồng vệ binh của Mao nhưng lại sau cả thập niên. Cũng chính những đám này là thành phần kích động chủ lực trong chiến dịch lùng và diệt tàn dư văn hoá Mỹ Nguỵ, chúng dẫm đạp những cuốn sách, nổi lửa đốt từng chồng sách rồi tới cả tới những kho sách. Những cuốn sách mà đa phần chúng chưa hề đọc, trong đó có cả một tủ sách “Học Làm Người”. Sách của những “tên biệt kích văn nghệ” còn được trưng bày trong toà nhà triển lãm Tội ác Mỹ Nguỵ cùng với vũ khí chiến tranh và chuồng cọp, dĩ nhiên có sách của Dương Nghiễm Mậu, có cả cuốn Vòng Đai Xanh của người viết. Cảm khái với câu thơ Nguyễn Du trong Độc Tiểu Thanh kí: văn chương vô mệnh cũng tro than/ văn chương vô mệnh luỵ phần dư.

Hơn hai ngàn năm sau, chẳng ai quên chuyện “đốt sách chôn nho/ phần thư, khanh nho” của Tần Thuỷ Hoàng, nhưng không biết chỉ 100 năm tới đây, các thế hệ tương lai có ai còn giữ được“bộ nhớ” Đã Có Một Thời Như Thế – tên một bài viết của Nhật Tiến, về giai đoạn người Cộng sản Việt Nam đốt sách giam tù cả một thế hệ văn nghệ sĩ của Miền Nam?

 Chiến dịch lùng và diệt tàn dư văn hoá Mỹ Nguỵ sau 30-04-1975 với những vụ “đốt sách” [nguồn: internet]
1975_ Nhà hàng Givral và Phạm Xuân Ẩn
Trước 1975, La Pagode, Brodard, Givral là nơi tôi, Phạm Đình Vy [chủ nhiệm Tình Thương] và các bạn y khoa thỉnh thoảng có dịp lui tới kể cả khi đã ra trường. Givral cũng là nơi thường gặp gỡ các nhà báo như Phạm Xuân Ẩn, Cao Giao, Nguyễn Tú, Như Phong Lê Văn Tiến… Phạm Xuân Ẩn, là bạn đồng môn với nhà văn Sơn Nam thời trung học Cần Thơ, Ẩn gốc người Nam dáng chân quê mộc mạc.Trong suốt cuộc chiến tranh Việt Nam, Phạm Xuân Ẩn chỉ được biết tới như phóng viên của Reuters, sau đó chuyển sang tuần báo Times, trụ sở trong Continental Palace bên kia đường. Cũng không thể không nhắc tới khách sạn Caravelle, gần toà nhà Quốc hội cũ, nơi tập trung đông đảo nhà báo ngoại quốc, nơi đặt văn phòng của các hãng thông tấn và truyền hình Mỹ như ABC, NBC, CBS…

Cũng chính Morley Safer trong một buổi phát hình CBS Evening News ngày 5 tháng 8, 1965 chiếu cảnh lính Thủy Quân Lục Chiến Mỹ trong cuộc hành quân xua dân ra khỏi làng và sau đó bật quẹt Zippo đốt nhà của họ, những hình ấy đã làm rúng động Toà Nhà Trắng và cả nước Mỹ như một vết hằn sâu của một cuộc chiến bắt đầu thất nhân tâm. Bảy năm sau, Nick Ut phóng viên AP với bức hình “Napalm Girl” chụp trong trận giao tranh Trảng Bàng Tây Ninh ngày 8 tháng 6, 1972, cũng là thời điểm Quốc Hội Mỹ dứt khoát cắt viện trợ quân sự cho Miền Nam.
Đội quân báo chí hùng hậu ấy, trong suốt cuộc chiến tranh Việt Nam, có khả năng điều kiện hoá dư luận với “những tin tức xấu từ một phía”, đủ làm nản lòng dân Mỹ, cùng với đám GI’s đang cầm súng từ phía bên kia nửa vòng trái đất; truyền thông Mỹ có phần công lao không nhỏ gián tiếp đưa tới mất Miền Nam Tự Do và cũng là một thất trận đầu tiên trong lịch sử các cuộc chiến tranh của Hoa Kỳ. Và rồi, tất cả bọn họ cũng đã kịp tháo chạy trước khi Sài Gòn đổi chủ.

Và rồi mấy ngày đầu tháng 5, 1975, Givral lại như điểm hẹn của những người bạn còn kẹt lại, tới đó để biết ai ở ai đi và nghe ngóng tin tức. Từ những chiếc bàn nhìn qua khung kính trong suốt ấy, tình cờ gặp lại Phạm Xuân Ẩn. Ẩn cũng đã từng tới thăm toà soạn báo sinh viên Y khoa Tình Thương trên đường Nguyễn Bỉnh Khiêm ngày nào. Vợ con Phạm Xuân Ẩn đã được tuần báo Times cho di tản trước đó nhiều hôm, nhưng Ẩn thì ở lại. Với hơi chút ngạc nhiên và vẻ quan tâm, Ẩn hỏi tôi: “Vinh, tại sao toa không đi?” Lúc đó chỉ như một câu hỏi xã giao, nhưng phải sau này, khi đã ở trong vòng rào các trại tù cải tạo, tôi mới thấm thía vỡ lẽ được câu hỏi ấy của Phạm Xuân Ẩn, nó đã như lời báo bão về những năm tháng tù đầy từ một chính sách mà Ẩn thì biết rất rõ.

Trong vỏ bọc của một nhà báo làm cho tuần báo Times danh tiếng của Mỹ, thực chất trước đó nhiều năm Phạm Xuân Ẩn là một điệp viên chiến lược đơn tuyến của Cộng sản Hà Nội. Sau này cũng chính Phạm Xuân Ẩn tâm sự với Morley Safer chương trình 60 Minutes của CBS rằng khi Sài Gòn sụp đổ không dễ gì để nói với đám “cách mạng 30” đeo súng AK lúc đó rằng, tôi là đại tá quân đội của họ, không phải
CIA. Có thể tôi bị tụi nó giết và cả con chó của tôi cũng bị nướng sống.
[Flashback, Vietnam Revisited 1989, The Spy in Winter]

Từ trái: Cao Giao Newsweek, Phạm Xuân Ẩn Times, Robert Shaplen New Yorker, Nguyễn Hữu Vượng Newsweek, Nguyễn Tú Chính Luận, [photo by Richard Avedon, Continental Hotel Saigon April 17, 1971; “The Spy Who Loved Us”, Thomas A. Bass] 1975_ Nhà báo Như Phong

1975_ Nhà báo Như Phong
Chỉ sau cụ Hoàng Văn Chí Trăm Hoa Đua Nở Trên Đất Bắc, người hiểu rõ cộng sản sau này không ai hơn nhà báo Như Phong Lê Văn Tiến. Cô Thần cũng là bút hiệu khác của Như Phong Khói Sóng trên nhật báo Tự Do, một chuyên mục viết về cộng sản Miền Bắc. Hiểu cộng sản như vậy, với biết trước những tháng năm tù đầy, vậy mà anh vẫn chọn ở lại. Gặp lại anh tại nhà luật sư Mai Văn Lễ, trước bệnh viện Sùng Chính trên đường Trần Hưng Đạo. Anh Mai Văn Lễ có một thời làm Khoa trưởng Luật khoa Huế thời Phật giáo Tranh đấu, bây giờ chỉ còn lại mình anh, chị và hai con thì đã đi trước đó một tuần.
Trưa ngày 30 tháng Tư, ngay sau khi lệnh đầu hàng được phát đi, có thể thấy từ mấy tầng lầu cao là một cơn mưa confetti, chỉ một màu trắng của những mảnh vụn giấy tờ tuỳ thân của quân cán chính cần được xé huỷ trước khi cộng quân hoàn toàn kiểm soát Sài Gòn. Không kể những giày nón quân phục được cởi bỏ vội vàng vứt tả tơi trên đường phố. Là người đi trước thời cuộc, anh Như Phong tiên đoán đúng những gì sắp diễn ra: chiến dịch đánh tư sản, kế hoạch đổi tiền cho mỗi hộ khẩu và rồi những cuộn giấy bạc sau đó trở thành rẻ rách và rồi sẽ là quần đảo ngục tù / Gulag Archipelago một tên sách của Solzhenitsyn. Dư tiền cũ thiên hạ đổ xô đi mua vàng, đôla chợ đen không dễ gì có trong thời điểm này.Anh Như Phong thì chỉ gợi ý  mua những cuộn len qu. nhồi trong các bộ nệm sa lông giống như ngoài Bắc, sau này khi cần có thể gỡ dần ra bán để kiếm sống. Nói vậy thôi chứ thái độ của cả mấy anh em vẫn là “chờ xem”.

Và rồi vang lên tiếng xích sắt nghiến trên mặt nhựa, nhìn qua khung cửa là những chiếc tăng T54 treo cờ giải phóng hối hả chạy về phía trung tâm Sài Gòn.

1980_ Cũng đừng tới thăm
Ra tù ba năm sau, trở về một Sài Gòn đã đổi khác. Nếu còn chút gì thân quen thì là mấy người bạn, không nhiều còn ở lại. Anh ấy là một trong những cố tri đầu tiên tôi nghĩ tới thăm. Là giáo sư đại học, anh tốt nghiệp ở Mỹ, trở về Việt Nam từ cuối thập niên 1960, đầy l. tưởng, ôm mộng lớn về một cuộc cách mạng xã hội – theo anh công bằng xã hội/ social justice phải là giải pháp rốt ráo cho một cuộc chiến tranh bế tắc đang diễn ra khốc liệt giữa hai miền Bắc Nam.

Tôi cũng đã từng gặp anh ở Mỹ và cả những năm sau này ở Việt Nam. Sự xụp đổ mau chóng của Miền Nam với anh là cả một “giấc mộng lỡ”. Tuy không phải chịu những năm tháng tù đầy, nhưng cuộc sống gia đình anh, cũng như cả Miền Nam rõ ràng là khó khăn. Từng bước,
anh đã bán những bộ tự điển qu. lúc đó rất có giá, cho đám học giả đói sách từ Bắc vào mua; tiếp đến là đồ đạc tranh tượng, cuối cùng là còn lại là một tủ sách khoa-học-xã-hội đồ sộ mà anh đem từ Mỹ về thì nay trở thành vô giá – no value, chỉ có thể đem cân k. bán lạt-son để làm bột giấy.

Vợ anh là cô giáo cũng phải ra giữa chốn chợ trời tần tảo kiếm sống. Anh thì quá nhậy cảm để thấy nỗi đau và nhục.

Gặp lại anh, vẫn nét mặt trí thức và đôn hậu như ngày nào, nhưng trong ánh mắt thì lộ rõ vẻ bất an. Thoáng nét vui mừng nhưng anh kịp kìm hãm, vừa nói vừa canh chừng nhìn ra cửa : “Biết toa được ra trại thì mừng nhưng cũng xin toa đừng tới thăm”. Sự thẳng thắn rất trực tiếp của anh, thoáng như một gáo nước lạnh, nhưng tôi cảm thông và vẫn rất thương anh. Gia đình bên vợ anh ở Mỹ đang làm thủ tục bảo lãnh, nghĩ rằng việc có liên hệ với lính nguỵ với tù cải tạo có thể là cản trở cho cuộc hành trình hy vọng của gia đình anh tới bến bờ tự do ấy.

Anh phản ứng theo hoàn cảnh, không chút phán đoán tôi vẫn dành cho anh sự kính trọng, và mai mốt đây nếu có ngày gặp lại anh thì chắc chắn phải là trên một lục địa khác. Rất sớm trên toàn Miền Nam đã bắt đầu có một mạng lưới tai mắt tổ dân phố và công an đủ để
gây hoài nghi và cả sự sợ hãi.

Ra khỏi nhà anh, có lại được niềm vui ấm lòng khi gặp người bạn tấm cám Nghiêu Đề. Nghiêu Đề cho biết mới gặp Sao Trên Rừng đi xe gắn máy từ Đà Lạt xuống, ngạc nhiên thấy Nguyễn Đức Sơn lần đầu tiên ăn vận đồ lớn complet cravate, hỏi tại sao thì Sơn cười giọng khinh mạn: “có vậy mới khỏi lẫn với tụi nó”.
1980_ Trần Phong Giao ngoài chợ
Trần Phong Giao dáng vạm vỡ, da sậm có vẻ công nhân lao động ngoài nắng hơn là người làm việc chữ nghĩa văn phòng. Nổi tiếng là thư k. toà soạn báo Văn trong 8 năm từ 1963 tới 1971, một tờ báo có vị trí đặc biệt trong sinh hoạt văn học Miền Nam với phát hiện những cây bút mới và không ít sau này đã trở thành những tên tuổi. Sau Văn, anh thử làm nhiều công việc khác cũng trong lãnh vực báo chí, xuất bản, rồi thủ thư nhưng đã không để lại nhiều dấu ấn như ở Văn.

Không lâu sau 30 tháng 4, cả hai anh chị đã phải chạy chợ kiếm sống với chiếc xe ba bánh, đậu trên đường Lê Thánh Tôn đứng bán từng bó củi, mấy nải chuối hay những bó rau tươi để nuôi đàn con. Ngày ra tù, tới thăm anh, vẫn ở trong con hẻm gần Cầu Kiệu, bên Tân Định,
anh gầy sút đi nhiều hai chân đã rất yếu. Gia tài của anh đáng giá vỏn vẹn còn một tủ sách, quý nhất là trọn bộ báo Văn đóng bìa da, một sự nghiệp của Trần Phong Giao nhưng rồi anh cũng đã không giữ được và phải đem bán cho một Việt kiều từ Mỹ về để có tiền chạy gạo và thuốc men. Trần Phong Giao mất trong sự túng quẫn và bạo bệnh (2005), anh cũng bước qua được ngưỡng tuổi cổ lai hy.
1981_ Và những bữa cơm gia đình
Ngôi nhà Nghiễm trong con hẻm với mặt tiền hẹp nhưng khá sâu. Nghiễm mặc quần soóc, áo thun trắng, đôi mắt rất tinh anh lúc nào cũng như mỉm cười, trông trẻ hơn tuổi của một người sinh năm 1936.

Tuy sống gần khu Chợ Cũ, sẵn những quán ăn vỉa hè và nhà hàng, rất tiện cho nếp sống cơm hàng cháo chợ, nhưng thường sau một ngày làm việc, thay vì về nhà tôi ghé nhà Nghiễm, được chị Trang vợ Nghiễm cho thêm chén thêm đũa với những bữa ăn đạm bạc nhưng ngon miệng vì là bữa cơm hạnh phúc gia đình. Trong tù, tôi và Nghiễm thì đã quen với những bữa ăn đói ngày đêm, ra ngoài tuy rau đậu nhưng cũng là bữa tạm no.

Người lớn thì không sao, nhưng với trẻ nhỏ đang tuổi “mau ăn, chóng lớn” thì khẩu phần ấy phải xem là suy dinh dưỡng. Nếu không là ngày phải ra trễ, tôi ghé qua chợ mua một món ăn gì đó, đem tới bày thêm vào mâm cơm gia đình. Có thêm món thịt, thêm chút chất đạm thì hôm đó với hai đứa nhỏ như là bữa tiệc. Những lần gặp nhau, tôi và Nghiễm đều ít nói. Hình như Nghiễm có viết ở đâu đó là những điều không cần nói ra nhưng cũng đã hiểu nhau rồi.

Chỉ có cô giáo Trang vợ Nghiễm sau một ngày dạy học mệt nhọc nhưng lúc nào cũng có đôi chuyện vui từ trường đem về gia đình. Miền Nam tài nguyên thì vẫn nguyên vẹn, nhưng đã có chính sách bần cùng hoá kiểm soát từng bao tử của người dân qua khẩu phần và sổ lương thực của họ.
1982_ Dương Nghiễm Mậu và một Thanh Tâm Tuyền khác
Đã gặp Thanh Tâm Tuyền ở những ngày 30 tháng Tư 1975 nơi một căn nhà nhỏ bên Gia Định. Vợ Tâm lúc đó cũng vừa sinh đứa con trai út trong cảnh tán loạn bệnh viện Nguyễn Văn Học. “Một Chủ Nhật Khác” cuốn tiểu thuyết cuối cùng của “một thời để yêu một thời để chết” cũng vừa mới in xong, chưa kịp phát hành. Ra tù 1982, gặp lại Thanh Tâm Tuyền của Bếp Lửa, bằng tuổi Dương Nghiễm Mậu nhưng trông anh già hơn nhiều, da sậm đen sắc diện của một người bị bệnh sốt rét kinh niên.

Khó có thể tưởng tượng với vóc dáng mảnh mai ấy anh sống sót qua suốt bảy năm tù đầy ngày nào cũng đói lạnh nơi những vùng sơn lam chướng khí ấy ở các trại giam Miền Bắc. Bảy năm đốn tre trảy gỗ trên ngàn, bị tre nứa đâm xuyên đùi không giải phẫu thuốc men nhưng anh vẫn sống sót, trong tù chống rét anh tập hút thuốc lào, không giấy bút anh vẫn làm thơ qua trí nhớ nhưng là những bài thơ trở về với các thể thơ truyền thống.

Thơ ở Đâu Xa là tập thơ cuối cùng làm trong tù TTT cho xuất bản ở bên Mỹ (1990). Trong một cuộc phỏng vấn rất hiếm năm 1993, Thanh Tâm Tuyền đã giải thích sự chuyển biến trong thi ca của anh: “Làm thơ trong trại cải tạo, cũng là trở về với thi ca truyền thống dân gian/ Faire de la poésie dans un camp de redressement, c’est aussi retourner à la poésie de tradition populaire.”
[Thanh Tam Tuyen, la poésie entre la guerre et le camp; par Le Huu Khoa,
Publications de l’Université de Provence]
Trong chỗ rất riêng tư, anh tâm sự: Thái Thanh bạn anh đã dứt khoát không hát từ sau 1975. Khi biết Thanh Tâm Tuyền vừa ra tù đến thăm, cô ấy cầm đàn và hát lại những bài thơ phổ nhạc của anh: Đêm màu hồng, Nửa hồn thương đau, Lệ đá xanh… tuy ấm lòng gặp lại cố tri nhưng rồi anh đã không còn nguyên vẹn cảm xúc để nghe lại những thanh âm ngày cũ. Anh đã nói không với những người mới muốn gặp anh. Anh vẫn giữ thái độ đó khi sang định cư ở Mỹ. Sự khép kín ấy khiến Mai Thảo đôi khi cũng phản ứng giận
lẫy.

Từ phải: Thanh Tâm Tuyền và Doãn Quốc Sĩ trước nhà thờ Đức Bà, Sài Gòn 1985 [nguồn: internet]
Rồi cũng có một buổi gặp gỡ cuối 1982, từ nhà Nghiễm có Doãn Quốc Sĩ, Thanh Tâm Tuyền và tôi cùng đi bộ tới một quán cóc cũng trên đường Trương Minh Giảng nơi gần đường xe lửa. Thức uống của Nghiễm bao giờ cũng là một chai bia. Nhắc tới Tô Thuỳ Yên Trường Sa Hành thì vẫn còn ở trong tù. Rồi chẳng ai nhắc tới nỗi khổ hiện tại mà câu chuyện lại xoay quanh những người bạn may may mắn ở phương xa. Những người đi thoát trước 1975, vài tên tuổi được nhắc tới: Thanh Nam Tu. Hồng, Vũ Khắc Khoan, Mặc Đỗ, Võ Phiến, Lê Tất Điều, Viên Linh… Nhưng rồi tên Mai Thảo Bản Chúc Thư Trên Ngọn Đỉnh Trời vẫn như điểm hội tụ của những tin tức. Anh là nhà văn duy nhất hiếm hoi thoát các vụ ruồng bắt của cộng sản trong suốt hai năm sống lẩn lút ở Sài Gòn. Vẫn có nhiều người liều mạng che chở cho anh. Trần Dạ Từ Tỏ Tình Trong Đêm cùng với rất nhiều nhà văn nhà báo thì đang trong tù, Nhã Ca Giải Khăn Sô Cho Huế ra tù sớm phải cưu mang một đàn con nhỏ nhưng cũng chính mấy mẹ con Nhã Ca đã bất chấp hệ luỵ cất dấu bác Mai Thảo trong nhà, một căn phố lầu trên góc đường Tự Do, đây cũng là chặng ẩn náu cuối cùng của Mai Thảo cho đến khi anh vượt biển rất sớm thoát được tới đảo Pulau Besar Mã Lai đầu tháng 12, 1977.Hai năm sau Mai Thảo 1979, phải kể tới chuyến đi thừa sống thiếu chết của  81 thuyền nhân trong số đó có Nhật Tiến Người Kéo Màn và thầy Từ Mẫn Lá Bối, vợ chồng ký giả Dương Phục Vũ Thanh Thuỷ… và con tàu đã gặp nạn hải tặc Thái Lan trên biển rồi trên đảo Kra, và cũng rất sớm qua ngòi bút của người chứng Nhật Tiến đã ghi lại những thảm cảnh ấy và bắt đầu làm rúng động lương tâm thế giới. Cũng khởi đầu cho phong trào Cứu Người Vượt Biển về sau này.
Sau lần gặp gỡ nơi nhà Nghiễm, Thanh Tâm Tuyền chuẩn bị đi Mỹ theo diện HO, cho dù “tâm thái” – chữ của TTT, vẫn gắn bó với một quê hương mà anh không muốn xa rời, riêng tác giả Ba Sinh Hương Lửa lại vào tù tổng cộng 14 năm trước khi đi định cư 1995 và gặp lại Mai Thảo ở Quận Cam. Trên đường đi, tôi không thể không có . nghĩ nếu làm một con toán cộng những năm tù đầy của mỗi văn nghệ sĩ Miền Nam, con số ấy phải vượt trên nhiều thế kỷ. Không phải chỉ có oan nghiệt giam cầm huỷ hoại những thân xác, họ còn giết chết sức sáng tạo của văn nghệ sĩ trong khoảng thời gian sung mãn nhất. Một nỗ lực huỷ diệt cả một nền văn hóa đến tận gốc: trước lịch sử, ai phải nhận lãnh trách nhiệm cho những tội ác thiên thu ấy?

Tiểu sử:
Dương Nghiễm Mậu tên thật là Phí Ích Nghiễm, sinh năm 1936 tại Hà Đông, cùng năm sinh với Thanh Tâm Tuyền, Thảo Trường. Học tiểu học trường Hàng Than, trung học Chu Văn An Hà Nội. Cùng học 2 trường ấy nhưng Nghiễm hơn tôi 5 tuổi, có lẽ trên nhiều lớp nên không được biết anh. 1954 di cư vào Nam. Từ 1957 viết nhiều tùy bút, đoản văn, truyện ngắn, truyện dài cho Sáng Tạo, Thế Kỷ 20, Văn, Văn Học, Bách Khoa, Giao Điểm, Chính Văn. Có một giai đoạn ngắn, Nghiễm sinh hoạt nơi Đàm Trường Viễn Kiến của Nguyễn Đức Quỳnh Ai Có Qua Cầu. Từ 1962, làm tạp chí Văn Nghệ với L. Hoàng Phong, anh của nhà thơ Quách Thoại.

Tập truyện ngắn đầu tay Cũng Đành, Văn Nghệ xuất bản năm 1963. Truyện dài Gia tài Người Mẹ, giải thưởng Văn Chương Toàn Quốc 1966. Nhập ngũ 1966 với cấp bậc hạ sĩ đồng hoá, làm phóng viên chiến trường đến tháng
4/1975. Sau 1975 bị bắt, ra tù 1977, sống bằng nghề sơn mài tại Sài Gòn.

 

Nghiễm nhắm mắt mỉm cười dưới mặt đồng hồ kim phút kim giờ cùng rớt xuống [photo by Trần Cao Lĩnh]

2006_ Những Cơn Mưa Sài Gòn
Từ một khách sạn nhỏ gần đường Tự Do, để tới khu nhà thờ Ba Chuông, đi bộ thì quá xa, taxi thì nạn kẹt xe, tôi chọn Honda ôm, nhưng đã không tránh khỏi thót tim vì mấy tay lái xe quá liều mạng: chạy nhanh len lách, ngược dòng xe cộ, cắt cả lên vỉa hè đông người đi bộ mà anh ta cho là an toàn hơn đi theo luật giao thông. Tuy không có mẩu giấy địa chỉ trên tay, nhưng có trí nhớ tốt về hình ảnh / photographic memory, tôi nghĩ vẫn có thể tìm ra nhà Dương Nghiễm Mậu vẫn trong ngõ hẻm ấy cho dù đã nhiều năm không gặp.

Nhà đã được xây lại, cất thêm một từng lầu. Nghiễm nay là nghệ nhân sơn mài, chị Trang vợ Nghiễm thì vẫn dạy Anh văn ở Marie Curie, hai con Nghiễm đã trưởng thành tốt nghiệp đại học và đi làm. Cả gia đình đều làm việc cật lực để tạo được một cơ ngơi như hôm nay.
Khi Nhà Văn là Con Bệnh
Tháng 9, 2006 gặp lại Nghiễm sau bao năm, khi anh vừa bước vào ngưỡng tuổi cổ lai hy. Thanh Tâm Tuyền vừa mất trước đó 6 tháng [03/2006]. Như Phong Khói Sóng mất đã 5 năm [12/2001], Mai Thảo Ta Thấy Hình Ta Những Miếu Đền cũng mất trước đó 8 năm [01/1998], cùng năm với Nghiêu Đề Ngọn Tóc Trăm Năm [11/1998]. Họ là những nghệ sĩ Việt Nam chọn tự do phải sống lưu vong và vùi thân ở một nơi không phải quê nhà.

Nghiễm thì vừa gặp nạn ở cái tuổi 70, khi đang đi bộ trên lề anh bị một xe gắn máy chắc cũng lại xe ôm leo lên tông gẫy xương cổ chân, phải phẫu thuật bó bột gần 2 tuần lễ rồi mà còn sưng đau, vẫn phải chống nạng.

Nghiễm giỏi chịu đựng, không hề than đau chính điều ấy khiến tôi quan tâm. Nghiễm cần được tái khám để có một . kiến thứ hai / second opinion. Tôi nghĩ tới một bạn đồng môn còn ở lại, chuyên khoa chỉnh trực, giảng dạy ở Y khoa, bạn bè gọi anh là người có bàn tay vàng trong phẫu thuật chấn thương chỉnh hình. Anh cũng có phòng mạch tư ngoài giờ và tôi đề nghị đưa Nghiễm tới đó. Nghiễm thì lưỡng lự không muốn nhưng vì tình bạn anh đã không thể nói không.

Không có địa chỉ, nhưng biết phòng mạch Bs Võ Thành Phụng trên đường Lê Văn Duyệt, đối diện với trụ sở Tổng Liên Đoàn Lao Công cũ. Với một cổ chân bị gẫy còn rất xưng đau, thì lên và xuống taxi lúc này không phải là dễ dàng đối với Nghiễm. Cơn mưa nhiệt đới thì vẫn cứ tầm tã từ nhà cho tới khi Nghiễm bước chân được vào phía trong phòng mạch. Gặp chị Võ Thành Phụng, khi biết người bệnh là nhà văn Dương Nghiễm Mậu, thì tôi hầu như không còn vai trò gì nữa. Chị là độc giả lâu năm và rất quen thuộc với các tác phẩm của Dương Nghiễm Mậu, từ thời báo Văn, Văn Nghệ và cả Sáng Tạo ngày nào, không kể những cuốn sách của Nghiễm mà chị đã đọc.

Phòng mạch đông khách, do sắp xếp của chị Phụng, Nghiễm là bệnh nhân mới được ưu tiên khám trước. Anh Phụng cùng tôi đọc những tấm phim chỉ rõ xương cổ chân gẫy chưa lành nhưng không nhiều di lệch nên không cần thêm phẫu thuật mà là điều trị bảo tồn. Quá bận bịu với chuyên môn, anh Phụng có lẽ không là độc giả của Dương Nghiễm Mậu như chị Phụng nhưng Nghiễm đương nhiên trở thành người bệnh đặc biệt của phòng mạch anh chị hôm đó. Trời vẫn không ngớt mưa, trong taxi trên đường về, tôi nói đùa với Nghiễm, trong cuộc đời viết văn, tôi chưa bao giờ có hạnh phúc được gặp được một nữ độc giả tâm đắc và yêu văn chương đến như vậy. Rất ít bày tỏ, như từ bao giờ Nghiễm chỉ đáp lại bằng một nụ cười hiền.

 Dương Nghiễm Mậu gẫy chân, ngồi cười trước tủ sách, hai tay tựa trên khung đi / walker [photo by Ngô Thế Vinh 09/ 2006] 2012_ Từ Hải Ngoại Truyện.
Trước 1975, đọc Kinh Kha với con chủy thủ trên đất Tần bất trắc trong Nhan Sắc để thấy truyện Dương Nghiễm Mậu là những tình huống và thái độ lựa chọn, rất biểu tượng và nhiều ẩn dụ. Nghiễm viết truyện xưa mà nói tới nay. Kinh Kha qua sông Dịch, chàng lọt vào được cung điện, khi đã kề đoản đao vào cổ Tần Vương, nhưng thay vì run sợ, thì Tần Vương lại ngửa mặt cười. Và Kinh Kha chợt hiểu ra tất cả: giết bạo chúa này sẽ lại có một bạo chúa khác… Và hình ảnh Kinh Kha lầm lũi rời khỏi cung điện vẫn là nỗi đau không cùng, như một dự báo oan khiên cho ngày hôm nay.Từ Hải Ngoại Truyện được Dương Nghiễm Mậu viết khoảng 10 năm sau 1975, [Gia Định, 2005]. Từ Hải là nhân vật được Dương Nghiễm Mậu khá nâng niu. Phí Ích Bành em Nghiễm, trao cho tôi một phong bì với 16 trang chữ có ít dòng thủ bút của Nghiễm. Đọc ngay những trang viết ấy để thấy một Từ Hải Ngoại Truyện nửa anh hùng nửa thảo khấu, rất khác với nhân vật chính truyện khi chọn con đường bổng lộc giam thân về chốn triều đình.

Từ Hải Ngoại Truyện với thủ bút của Dương Nghiễm Mậu Một trích đoạn về bối cảnh xã hội trong Từ Hải Ngoại Truyện: “một hôm thầy Khổng ngồi xe đi trên đường thì thấy một bô lão bước tới vái chào, thầy Khổng cho dừng xe lại, trong chốc lát cả một đám đông trẻ con gầy còm nhếch nhác vây quanh. Ông lão nói: nghe thiên hạ nói thầy nhiều chữ nên tới xin một ít. Khổng Tử liền mở cái hòm gỗ lấy ra một cuốn sách trao tận tay cụ già. Cụ già cầm lấy ngắm nghía rồi lật những trang sách nhìn trên nhìn dưới rồi gấp lại đứa trả thầy Khổng và nói: tôi không biết dùng cái này để làm gì. Có tiếng cười khả ố vang lên từ một người trung niên ở trần, đóng khố: sách chẳng có giá trị gì đối với những người không có cơm ăn và mù chữ. Ông hãy bước chân xuống ruộng, đi cày trồng lúa rồi lấy thóc mà cho họ thì có ích hơn. Chuyện chỉ kể tới đó không cho biết hành xử của thầy Khổng ra sao”.
Cũng trong Từ Hải Ngoại Truyện, Dương Nghiễm Mậu viết về giới quan lại khoa bảng: “Trong Sưu Tặc K. những kẻ nổi lên làm giặc thường xuất thân là dân thuyền chài, kẻ cầy ruộng, người chăn trâu, kẻ đốn củi; tuyệt nhiên không thấy có kẻ nào đậu tiến sĩ, trạng nguyên. Không tên giặc nào có làm thơ làm phú, hoặc từng làm quan, làm thầy giáo mà đi làm giặc. Ở những sách khác có viết về kẻ có chữ bất mãn thường chọn cách viết sớ tâu lên: khi thì đòi chém tham quan ô lại, khi kêu ca sưu cao thuế nặng khiền dân đen chết đói, khi kêu oan cho lương dân bị chết chém… Những lá sớ lâm ly thảm thiết này thường không được nghe. Có kẻ dâng sớ nhiều lần nhưng không thấy cởi bỏ áo mũ trở lại làm phó thường dân mà vẫn ung ung tại vị hưởng bổng lộc của triều đình. Một đôi kẻ chấp bút có đôi chút tự trọng thì chọn con đường ở ẩn, không chọn con đường làm giặc nên không có tên trong Sưu Tặc K..”

Dương Nghiễm Mậu viết những dòng cuối: “Từ những trang sách tới thực tế của chuyến đi làm ta hoài nghi những ghi chép của người xưa… nhiều sách truyện đã để cho Từ Hải chết đứng giữa trận tiền. Một anh hùng phải có cái chết anh hùng. Trong ngoại truyện Từ Hải, cuối cùng Từ Hải đã chết nhưng chết một cách khác, không phải cách chết đứng giữa trận tiền.”

Rồi từ chuyện xưa mà hóa ra nay, Dương Nghiễm Mậu viết tiếp: “Nhiều sách tạo ra những anh hùng như mô tả kẻ tự biến mình thành cây đuốc sống, lấy thân mình bịt họng súng thần công, ôm bom lao vào quân giặc mà chết. Hầu hết những anh hùng trong sách đó chẳng bao giờ người ta tìm ra tung tích.”
Tưởng cũng nên nói thêm, căn nhà của gia đình Nghiễm không xa cây cầu Nguyễn Văn Trổi trên đường Công L. thời chống Mỹ, rồi không thể không nhắc tới “cây đuốc sống” Lê Văn Tám đốt kho xăng Thị Nghè 1945 thời chống Pháp: một nhân vật mà sau này Trần Huy Liệu, bộ trưởng Bộ Thông tin Tuyên truyền của Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa vào những ngày cuối đời đã trối trăng lại với đám môn sinh: Lê Văn Tám chỉ là sản phẩm của tuyên truyền và không có thật.

Ba mươi hai năm sau 1975, qua liên lạc vận động của nhà thơ Nguyễn Quốc Thái, [cũng là người giới thiệu Phạm Duy đến với Công ty Phương Nam], nhà xuất bản Phương Nam đã tái bản 4 tập truyện ngắn của Dương Nghiễm Mậu (Đôi Mắt Trên Trời, Cũng Đành, Nhan Sắc, Tiếng Sáo Người Em Út), và truyện dài Nguyệt Đồng Xoài của Lê Xuyên. Ngay sau đó, Vũ Hạnh, tuổi đã ngoài 80, như một đao phủ đã không nương tay viết bài đấu tố Dương Nghiễm Mậu, Lê Xuyên, và quy tội Công ty Phương Nam.

Vũ Hạnh viết: “Sách của Dương Nghiễm Mậu thì nổi bật tính phản động tha hóa lớp trẻ hầu đưa đẩy họ vào sự chống phá cách mạng, chống lại sự nghiệp giải phóng đất nước khỏi sự thống trị của bọn đế quốc xâm lược, còn sách của Lê Xuyên là tính đồi trụy.” Vũ Hạnh viết tiếp: “Vì những lẽ đó, rất nhiều bức xúc, phẫn nộ của các bạn đọc khi thấy Công ty Phương Nam ấn hành sách của ông Dương Nghiễm Mậu… Đem những vũ khí độc hại ra sơn phết lại, rêu rao bày bán là một xúc phạm nặng nề đối với danh dự đất  nước.” Và rồi cũng Vũ Hạnh kể lể: “các tác giả Dương Nghiễm Mậu, Lê Xuyên sống lại ở thành phố này vẫn được đối xử bình đẳng, không hề gặp bất cứ sự quấy phiền nào.” [Sài Gòn Giải Phóng, 22/4/2007].
Tưởng cũng nên ghi nhận ở đây, trước 1975 đông đảo thế hệ văn nghệ sĩ Miền Nam không thiếu lòng nhân ái đã hơn một lần cùng vận động k. tên yêu cầu thả Vũ Hạnh. Vũ Hạnh cũng được Văn Bút Việt Nam che chở, và khi bị kết án tù thì chính linh mục Thanh Lãng, Chủ tịch Văn Bút đứng ra bảo lãnh, để rồi sau đó Vũ Hạnh lại công khai ra ngoài họat động.

Sau 1975, nhiều nhà văn nhà báo miền Nam ấy đã chết rũ trong tù như Hiếu Chân Nguyễn Hoạt, Hoàng Vĩnh Lộc, Nguyễn Mạnh Côn, Phạm Văn Sơn, Trần Văn Tuyên, Trần Việt Sơn, Vũ Ngọc Các, Anh Tuấn Nguyễn Tuấn Phát, Dương Hùng Cường… hay vừa ra khỏi nhà tù thì chết như Hồ Hữu Tường, Vũ Hoàng Chương. Nếu còn sống sót, đều nhất loạt phải gác bút: Dương Nghiễm Mậu sống bằng nghề sơn mài, Lê Xuyên ngồi bán thuốc lá lẻ ở đầu đường, Trần Lê Nguyễn tác giả kịch Bão Thời Đại thì phải đứng sạp bán báo để độ nhật, Nguyễn Mộng Giác Đường Một Chiều làm công nhân sản xuất mì sợi, Trần Hoài Thư Ngọn Cỏ Ngậm Ngùi ba năm ở tù ra trở thành Người Bán Cà Rem Dạo.
Nghiễm vốn tâm lành, nếu có ai nhắc đến chuyện Vũ Hạnh thì anh chỉ cười, giọng vẫn bao dung, anh tin trên đời người tốt nhiều hơn kẻ xấu, kẻ xấu như vậy rốt cuộc họ cũng tự thấy sai. Nghiễm có lạc quan quá không vì đã hơn 40 năm chịu khổ ải do họ gây ra, nay đã tới tuổi gần đất xa trời mà sao họ vẫn“chưa tự thấy sai” chưa hề biết sám hối. Một người bạn rất quen biết Vũ Hạnh nhận định: sự hung hãn ấy chỉ như tấm bình phong – một thứ raison d’être, biện minh cho sự hiện hữu của Vũ Hạnh còn như một người cộng sản.
“Ngày Xưa Vũ Hạnh” cộng sản nằm vùng vẫn được sống thênh thang, vẫn được đối xử như một nhà văn [L. Đợi, talawas 10.5.2007] “Ngày Nay Vũ Hạnh” bên thắng cuộc – tên bộ sách của Huy Đức, thì vô cảm vênh váo, là tiếng nói hung hãn nhất trong Hội đồng đánh giá Văn Học Miền Nam tại Thư Viện Quốc Gia. Vẫn một cliché, vẫn một khẩu hiệu tung hô không suy xuyển: “tác giả là gốc ngụy, nội dung tác phẩm là nô dịch phản động đồi trụy”. Vũ Hạnh xấp xỉ tuổi Võ Phiến, nay sắp bước vào cái tuổi 90 vẫn cứ nhân danh “đảng ta, chèo lái con thuyền chở đạo” vẫn không ngừng truy đuổi cả những thế hệ nhà văn trẻ nối tiếp có khuynh hướng tự do, điển hình qua bài viết phê phán Nhã Thuyên và Nhóm Mở Miệng với hai cây bút nổi trội là L. Đợi và Bùi Chát [Thấy gì từ một luận văn sai lạc, Văn Nghệ
29/2013].
Có lẽ tấn thảm kịch của Vũ Hạnh cũng như những người cộng sản tha hoá bước vào Thế Kỷ 21 là sự “nguỵ tín/ mauvaise foi” họ sống với hai bộ mặt, vẫn không ngừng hô hào cổ võ cho điều mà họ không còn chút tin tưởng. Vũ Hạnh vẫn không ngưng nặng lời chửi rủa Mỹ, nhưng rồi vẫn gửi con cái đi du học rồi trưởng thành sống ở Mỹ; Vũ Hạnh vẫn được ra vào nước Mỹ như một con người tự do.

Trở lại với Nghiễm, nhiều người vẫn nghĩ rằng, sau 1975, ngoài thời gian bị tù đày, đi làm sơn mài kiếm sống, Dương Nghiễm Mậu không còn viết gì. Điều này có lẽ không đúng. Nghiễm không có sách mới xuất bản trong nước suốt 40 năm từ sau 1975. Nhưng Dương Nghiễm Mậu như tôi biết, anh vẫn viết, trong đó có “Tự Truyện Nguyễn Du” như một tác phẩm lớn mà tôi tin là anh vẫn bền bỉ hoàn tất từng trang sách.

2015_ Mưa California Mưa Sài Gòn
California vẫn khô hạn, nhưng thản hoặc cũng có những cơn mưa đủ tầm tã để gợi nhớ những cơn mưa Sài Gòn, nhớ ngày tới thăm bạn cũng vào một buổi chiều mưa như vậy, với những khúc đường xá thì ngập lụt. Hạnh phúc ở xa là có được một người bạn như Nghiễm, cho dù ở đâu và bao giờ có biến động ra sao thì vẫn cứ là một Dương Nghiễm Mậu với Nhan Sắc ấy, nhất quán và xác tín như thuở nào: có cái dũng để nói không.

Tôi nghĩ tới Nghiễm, anh đã sống trong dòng chính sinh hoạt Văn Học Miền Nam, từ rất sớm cho tới 1975, và 40 năm sau anh vẫn thăng trầm với vận nước ngay trên quê nhà. Anh là một nhân chứng khả tín cho suốt thời kỳ ấy và điều anh viết ra được mọi người tin.
Lời Cuối Cho Bài Viết
Dự định khởi đầu là một bài viết về cố tri Dương Nghiễm Mậu, với cuộc hành trình 40 năm của anh. Bài viết chỉ với hơn bảy ngàn chữ, nhưng rồi không tránh được, như một flashback, có thêm những khúc phim trắng đen ngắn của hồi tưởng rất chung và cả rất riêng tư, khá rời rạc đổ tràn theo những trang viết.
Vậy mà đã 40 năm qua đi 1975-2015, với đời người như một cơn gió thoảng, với lịch sử chỉ là một chớp mắt, nhưng lại là một chặng đường rất dài trải nghiệm những tang thương. Thêm một chớp mắt nữa, thế hệ những người cầm bút 1954-1975 đều trở về với cát bụi, một số có thể còn được nhắc tới qua tác phẩm nhưng rồi cũng phải kể tới cuộc sống đầy đoạ và cả những cái chết tức tưởi của họ. Nói tới Văn Học Miền Nam, không thể không có một “cuốn sách trắng/ livre blanc” về thời kỳ đó, một Wikipedia mở, như một “bộ nhớ” cho các thế hệ Việt Nam tương lai.

Trong quá trình phục hồi di sản Văn Học Miền Nam, không thể không nhắc tới một tên tuổi: Trần Hoài Thư – Thư Quán Bản Thảo, anh có hùng tâm và đơn độc trong suốt nhiều năm nỗ lực khôi phục lại những văn bản của một thời kỳ văn học bị truy lùng và huỷ diệt.

Không phải là quá sớm để ghi lại một giai đoạn lịch sử trung thực, chứ không phải là “phiên bản” nguỵ tạo mà người cộng sản đã và đang làm. Trước khi lịch sử bước qua một trang khác.
NGÔ THẾ VINH
Sài Gòn 1975 – California 2015

(Tác giả gửi đăng)
23

Posted in Miền Nam sau 30-4-1975, Sách-Hồi Ký-Bài Báo... | Leave a Comment »

►Nguyễn Thái Bình: Khủng bố hay anh hùng?

Posted by hoangtran204 trên 28/02/2015

 

 

Trần Giao Thủy

26-2-2015


Khủng bố Al Quaeda tán công Tháp Đôi ở New York, USA, 11 tháng, 2001. Nguồn: OntheNet

Năm 2002 Bin Laden trong lá thư ngỏ gởi Hoa Kỳ (“Letter to America”) nêu rõ lý do tại sao không tặc Al Qaeda đã tấn công Tháp Đôi tại New York ngày 11 tháng 9, 2001 vì

  • Hoa Kỳ đã hỗ trợ Israel (Do Thái),
  • Hoa Kỳ đã hỗ trợ cho “các cuộc tấn công chống lại người Hồi giáo” ở Somalia,
  • Hoa Kỳ đã hỗ trợ các “tội ác chống lại người Hồi giáo”của Nga ở Chechnya,
  • Các chính phủ thân Mỹ ở Trung Đông (tay sai của Mỹ) đi ngược lại lợi ích người Hồi giáo,
  • Hoa Kỳ đã hỗ trợ Ấn Độ “đàn áp chống lại người Hồi giáo” ở Kashmir,
  • Sự hiện diện của quân đội Mỹ tại Saudi Arabia, và
  • Hoa Hỳ cấm vận Iraq.

Kết quả trực tiếp của cuộc khủng bố 911 năm 2001 tại New York đã là sự kiện lịch sử thế giới, nhiều người biết đến; tuy nhiên, phản ứng và phương án của chính phủ toàn cầu trước thách đố của khủng bố đến nay vẫn tiếp tục phát triển để thích ứng với biến động ở Montreal, Ottawa, Sydney, Paris, Nigeria… vì đe dọa của ISIS, Boka Haram, và của mọi loại khủng bố khác.

Ba mươi năm trước đó, 1972, ở miền Nam Việt Nam, hai phần ba lính Mỹ đã rút đi, còn lại khoảng 133.000 người tham chiến.

21 Tháng Hai, 1972 Nixon đến Bắc Kinh gặp Mao Trạch Đông. Mùa hè đỏ lửa 1972 ở miền Nam Việt Nam bắt đầu bằng cuộc rút quân của quân đồng minh Hoàng gia Thái Lan vào tháng Ba và chiến thắng của quân Công sản Bắc Việt ở mặt trận Quảng Trị, 30 tháng 3 đến 1 tháng 5.

Mua

Trung tá Phạm văn Đính, chỉ huy trưởng trung đoàn 56 bộ binh, và trung tá Vĩnh Phong cùng 600 binh sĩ dưới quyền đầu hàng quân Bắc VN tại căn cứ Carroll. Ngồn: OntheNet

Trong lúc tin chiến trường ở Việt Nam vẫn là tin tức thường ngày của giới truyền thông thế giới, một sinh viên 24 tuổi, vừa tốt nghiệp đại học, đã gởi một lá thư ngỏ đến “những người yêu chuộng hòa bình và công lý trên thế giới”(1).

Ngày 1 tháng 7, 1972, trong lá thư ngỏ gởi đến “những người yêu chuộng hòa bình và công lý trên thế giới” tác giả đã nêu ra những tội ác của chính phủ Mỹ chống lại quê hương của ông. Trong lá thư đó, ông cho rằng chính phủ Mỹ đã dùng Hiệp Định Geneva “làm bức bình phong che dấu cho sự can thiệp và sự xâm lược, cho các mục đích và tội ác của của Mỹ ở Việt Nam.”

Tác giả mô tả những tội ác của quân đội Mỹ tại Việt Nam, và để ngăn chặn điều này, tác giả cho rằng người Việt Nam phải đứng lên chống lại. Tác giả viết: “Chúng tôi thà hy sinh tất cả còn hơn là để mất nền độc lập và bị bắt làm nô lệ.” Tác giả viết tiếp,

“Tôi biết tiếng nói vì hòa bình của tôi không được nghe, không thể đánh bại tiếng gầm của máy bay B-52, trong các vụ Mỹ đánh bom, trừ khi tôi có hành động quyết liệt thế này. Đây là cuộc đấu tranh đầy khó khăn. Tuy nhiên, quả bom duy nhất của tôi là trái tim tôi; nó có thể nổ tung để kêu gọi tình yêu, niềm tin và hy vọng.”

Tác gỉa bức thư ngỏ gởi “những người yêu chuộng hòa bình và công lý trên thế giới” sinh năm 1948 tại Cần Giuộc, Long An, sau là học sinh trường trung học Petrus Trương Vĩnh ký ở Sài Gòn, đỗ Tú tài II năm 1966 và theo học ở trường Cao đẳng Nông Lâm Súc.

Tháng Ba năm 1968 tác giả “lá thư ngỏ” được Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ (USAID) cấp học bổng “lãnh đạo” (Leadership Sholarship) để du học ở Mỹ.

Sau một năm học tại Fresno, California, mùa hè 1969, ông chuyển đi Seattle theo học ở khoa Quản trị nghề cá tại Đại học Washington.

Sinh viên du học với học bổng Leadership. Nhóm II tại phi trường Los Angeles, 28 tháng 3, 1972. Nguồn: Học bổng Leadership.

Trong thời gian du học ở Mỹ, tác giả “lá thư ngỏ” đã tham gia phong trào phản chiến, tổ chức biểu tình, hội họp, diễn thuyết, hội thảo, viết báo (Thời-báo Gà), … chống chiến tranh ở Seattle và nhiều nơi khác.

Ông đã nhanh chóng trở thành một sinh viên hoạt động tích cực trong phong trào chống “đế quốc Mỹ xâm lược” ngay trên đất Mỹ và là một trong những sinh viên phản chiến đã bị bắt trong cuộc chiếm đóng Tòa Lãnh sự Việt Nam Cộng hòa tại New York vào tháng 2 năm 1972.

Về sinh viên du học ở Mỹ trước 1975, Ngô Vĩnh Long, chủ biên Thời-báo Gà – cơ quan ngôn luận của tổ chức phản chiến của người Việt Nam tại Mỹ – cho rằng(3)

quảng cáo ở Bulletin for concerned Asian Scholars. 2011.

“There are two different types of Vietnamese students working in this country. First, there are those who come here on private scholarships or on money from their families. Those on private scholarships are subjected to up to a year of investigations by the secret police in Vietnam and by the national police before they are cleared to come to this country. Those who come on their own money are usually rich people and therefore people who are working for the government, so the period of secret police investigation is much shorter.”

Lược dịch:

“Có hai loại sinh viên du học tại Hoa Kỳ, thứ nhất là những sinh viên du học tự túc bằng tiền của gia đình hay có học bổng tư nhân. Những sinh viên có học bổng tư nhân thường bị công an và cảnh sát quốc gia điều tra có khi tới cả năm. Sinh viên đi học tự túc là con cái thành phần giàu có, làm việc cho chính phủ, nên giai đoạn điều tra ngắn hơn nhiều.”

“Second are those who come here on government scholarships, mostly AID scholarships. These people are either sons or daughters of people who work for the government or people who have been in the army or for some other reason are trusted by the Saigon government. Right now, for example, you cannot get out unless you have completed your military duties, and a law passed on October 25, 1969 prohibits any male beyond the age of 18 from leaving the country. So Vietnamese students who come to this country are either from very conservative families or from governmental circles in which they cannot truly express their opinions about what’s happening in Vietnam – about the war.”

Lược dịch:

“Thứ hai là những sinh viên có học bổng của chính phủ, đa số là học bổng [Leadership] của USAID. Đây là những con em của những người làm việc cho chính phủ hay đã ở trong quân đội hay vì lý do nào đó được “chính quyền Sài gòn” tin tưởng. Thí dụ, ngay lúc này, không ai có thể xuất ngoại nếu chưa thi hành nghĩa vụ quân sự, và một đạo luật thông qua hôm 25 tháng Mười, 1969 cấm tất cả thanh niên trên 18 tuổi ra nước ngoài. Vì vậy, sinh viên Việt Nam đến đất nước này một là con nhà rất bảo thủ hay hai là thuộc thành phần trong chính phủ, do đó họ không hể thực sự bày tỏ quan điểm của họ về những gì đang xảy ra ở Việt Nam – về cuộc chiến.”

Như vậy, theo phân loại của Ngô Vĩnh Long, có phải tác giả “lá thư ngỏ” thuộc thành phần “con ông cháu cha” hay là người của “chính phủ Sài Gòn” hay ở trong quân đội và “không thể thực sự bày tỏ quan điểm của họ về những gì đang xảy ra ở Việt Nam – về cuộc chiến”?

Ngô Vĩnh Long đã đánh giá quá thấp khả năng trí tuệ và tư duy độc lập của nhóm du học sinh leadership đồng thời võ đoán về nhân thân của họ. Không phải chỉ có những người đã làm việc với Mỹ, và đã được chiếu khán sang Mỹ học nhờ cú điện thoại của bà Đại sứ Maxwell Taylor với một ông Tướng Mỹ như Ngô Vĩnh Long(4) mới có thể tự do bày tỏ quan điểm về cuộc chiến Việt Nam.

Không riêng gì trường hợp của tác giả lá thư ngỏ, hàng trăm sinh viên du học theo chương trình học bổng leadership của USAID thuộc những nhóm sinh viên xuất ngoại từ những năm 1967 đến 1970 là bằng chứng sống phủ nhận giọng điệu tuyên truyền của Ngô Vĩnh Long hồi đầu thập niên 1970.

Trở lại với tác giả “lá thư ngỏ”, sau sự kiện ở New York hồi tháng Hai năm 1972, đến tháng Tư, Cơ quan Di trú và Nhập tịch Mỹ quyết định rằng ông đã không vi phạm những điều kiện cho ông phép theo học tại Mỹ.

Ngày 26 tháng 5 năm 1972, ông tốt nghiệp cử nhân Quản trị Nghề cá hạng danh dự tại Đại học Washington. Trong lúc nhận bằng tốt nghiệp tác giả “lá thư ngỏ” định cướp máy vi âm, cướp diễn đàn, nhưng không thành. Sau đó ông đã đứng trên sân khấu, cởi bỏ áo mũ tốt nghiệp dán đầy những khẩu hiểu phản chiến, chống Mỹ và đã được đưa ngay về một văn phòng riêng trong khuôn viên Đại học. Đại úy cảnh sát Đại học, Robert Ingram, nói

Nguyễn Thái Bình phát truyền đơn phản chiến,  áo mũ tốt nghiệp đính đầy khẩu hiệu chống Mỹ. Đại học Washington, ngày 23 tháng 6, 1972. Nguồn:

“Ông ấy có vẻ bồn chồn, căng thẳng, và nói rằng có lấy mảnh bằng Nghề cá cũng là vô nghĩa vì nhân dân của ông đang chết mỗi ngày. Và đó là lỗi của Mỹ, mà chúng tôi (Đại học Washington) là một thành phần trong đó.”(5)

Vì sợ sẽ bị trả thù vì những hoạt động phản chiến, trước khi trở về Việt Nam vào đầu tháng Bảy năm 1972 khi không còn chiếu khán du học, tác giả lá thư ngỏ đã gởi hai thùng tư liệu cá nhân lại cho một người bạn ở Seattle, Richard Carbray, cũng là một chí hữu trong phong trào phản chiến, giữ với một bức thư ngắn viết,

“Làm ơn giữ những thứ này giùm tôi. Ngày nào đó khi Thanh bình đến với quê hương tôi và [nếu] tôi vẫn còn sống, tôi sẽ nhờ anh gởi chúng về cho tôi. Trong trường hợp khác (tôi không mong thế), chúng sẽ trở thành những món quà sau cùng cho gia đình tôi.”

Tác giả bức thư ngắn ký tên là Viet Thai-Binh. Hai thùng tư liệu gởi về cho cha mẹ, em, em họ và một người chú ở Sài Gòn gồm những băng nhựa thu lại những bài diễn văn của tác giả, những bài ca, hình ảnh gia đình, thư từ và một số ấn phẩm(6).

Thứ Hai, ngày 3 tháng 7, 1972, Trung tâm Tài nguyên Đông dương ở thủ đô Washington nhận được một phong thơ, đóng dấu bưu điện Hawaii (HI), bên trong là 2 bức thư ngỏ, đánh máy, đề ngày 1 tháng 7, 1972, gởi đến Tổng thống Mỹ Richard Nixon và bức thứ hai gởi “những người yêu chuộng hòa bình và công lý trên thế giới”, tác giả viết

“going home to stand in the line of Vietnamese people in the struggle of national salvation, to take part in the resistance against the U.S. aggression, to confirm the justness of our cause, to dedicate to the freedom fighters of Vietnam, living and dead, to strengthen the confidence in the eluctable victory of our people.”

Lược dịch”

“Trở về quê nhà để đứng trong hàng ngũ của người Việt trong cuộc đấu tranh cứu nước, tham gia kháng chiến chống xâm lược Mỹ, để khẳng định tính đúng đắn của chính nghĩa của chúng tôi, để hiến dâng cho các chiến sĩ tự do của Việt Nam, những người còn sống và đã chết, để củng cố niềm tin về một chiến thắng có thể giành được của nhân dân [Việt Nam] chúng tôi.”

Trong một khoảng trống đã chừa sẵn dưới đoạn văn trên là một hàng chữ viết tay bằng bút màu xanh, “I direct PANAM 841 to HANOI.” [Tôi sẽ ra lệnh cho PanAm 841 bay ra Hà Nội.”

Nguồn: “Viet Thai Binh open letter regarding resistance to the Vietnam War, July 1, 1972”, University of Washington Libraries. Special Collections, PNW03322

Ngoài lá thư chính, tác giả còn gởi kèm bức thư ngắn nhờ Trung tâm Tài nguyên Đông dương giúp phát hành lá thư ngỏ; người phát ngôn của Trung tâm Tài Nguyên Đông dương cũng xác nhận Việt Thái Bình chính là bút danh gần đây của sinh viên Nguyễn Thái Bình.

Trung tâm Tài nguyên Đông dương theo mô tả của tờ Washington Post là “Một dịch vụ thông tin liên minh với các phong trào phản chiến” và theo tạp chí Times thì đó là “một nhóm phản chiến có ảnh hưởng … vận động với Quốc hội để ngăn chặn viện trợ cho chiến tranh” mà Fred Branfman và Gareth Porter là hai người đồng sáng lập.

Một số khác cho là Indochina Resource Center đúng như định nghĩa của tờ Post và tạp chí Times, nhưng đúng hơn nữa thì đó chính là cơ quan vận động cho chính phủ Pol Pot trong giai đoạn diệt chủng ở Cambodia (1975-79)

Cả hai, Fred Branfman và Gareth Porter, không những chỉ là những người ủng hộ và biện giải cho Khmer Đỏ mà cho đến nay không bao giờ xin lỗi về quan điểm của họ về vấn đề này(7).

Chuyến bay đưa Nguyễn Thái Bình về Việt Nam, ngày 1 tháng 7, 1972 là chiếc Boeing 747 mang số 841 của hãng hàng không Pan-American (Pan-Am) với 136 hành khách và 17 nhân viên phi hành đoàn khởi hành từ San-Francisco qua những trạm Honnolulu, Guam, rồi Manila đến Sài Gòn.

Trên chặng đường sau cùng, Manila-Saigon, 45 phút sau khi máy bay rời Manila, Nguyễn Thái Bình đã bắt cô tiếp viên phi hành May Yuen, 23 tuổi, người Hong Kong làm con tin, giữ ở phần đuôi của phi cơ và gởi hai mẩu tin nhắn với phi công trưởng Eugene Vaughn hăm dọa sẽ cho bom nổ tung phi cơ nếu không bay ra Hà Nội.

Ngoài những tin nhắn, Nguyễn Thái Bình đã dùng điện thoại ở cuối máy bay để nói chuyện bằng tiếng Anh lưu loát với viên phi công trưởng(8). Trưởng đoàn tiếp viên, William Wilcox, cho biết một phần trong tin nhắn gởi phi công Eugene Vaughn, Nguyễn Thái Bình viết “sự trả thù sẽ thích đáng với những gì mà người Mỹ đã làm ở Việt Nam”. William Wilcox cho biết thêm, Nguyễn Thái Bình còn đem theo khoảng 60 đến 70 tấm hình hoạt động phản chiến ở Mỹ, nhiều tấm trong đó là hình của Nguyễn Thái Bình đang đọc diễn văn(9).

Trong tin nhắn thứ nhất Nguyễn Thái Bình viết,

“Tôi làm điều này để trả thù. Máy bay ném bom của các ông đang gây thương tật và giết nhân dân của chúng tôi ở nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Ông sẽ bay tôi ra Hà Nội và chiếc máy bay này sẽ bị phá hủy khi chúng ta đến đó.”

Phi công chuyến bay vẫn không thay đổi đường bay, Nguyễn Thái Bình gởi tin nhắn thư hai vấy máu,

“Ông đã không tuân theo đòi hỏi đầu tiên của tôi. [Thư vấy] máu cho thấy tôi không đùa về việc được đưa về Hà Nội.”

Với cớ để đổ thêm nhiên liệu và phải liên lạc với giới hữu trách miền Bắc trước khi bay qua vùng phi quân sự, chuyến bay Pan-Am 841 đã đáp xuống phi trường Tân Sơn Nhất(10).

Một trong nhiều bản tin cướp máy bay ngày 3 tháng 7, 1972 đăng trên báo chí Mỹ cùng lúc với tin chiến trường Quảng Trị.  Nguồn: Sarasota Herald-Tribune, July 3, 1972.

Đã quyết định và đã yêu cầu giới quân sự phi trường không để phi cơ cất cánh trong bất cứ trường hợp nào, phi công trưởng Eugene Vaughn rời phòng lái đi về phía đuôi máy bay để tiếp tục thương lượng với Nguyễn Thái Bình đang giữ con tin, trên tay cầm một gói bọc giấy nhôm, tay kia cầm dao.

Đó là lần đầu tiên viên phi công đối diện với Nguyễn Thái Bình, một thanh niên mảnh khảnh, khoảng 1m50, chừng 50Kg. Nguyễn Thái Bình hô lên, “Không được đến gần hơn nữa. Nếu ông tiến tới, tôi sẽ cho bom nổ.”

Tin rằng Nguyễn Thái Bình chỉ tháu cáy với bọc bom giả, Vaughn nói, “Chúng ta có vấn đề về ngôn ngữ; Tôi không hiểu anh rõ lắm”, và tiến đến gần Nguyễn Thái Bình hơn.

Vaugh, cao khoảng 1m80, nặng hơn 90Kg, lấy cơ hội đó ra tay, với sự trợ giúp của hai hành khách khác, vật và khóa cổ, giữ Nguyễn Thái Bình, vẫn vùng vẫy, trên sàn máy bay, cùng lúc Vaugh hét lên, “Giết thằng chó đẻ đi.” Người hành khách- mà viên phi công đã trao lại khẩu súng lục 9 ly gởi ông khi lên máy bay- đứng cạnh, lúc đó mới nã 5 phát đạn vào ngực của Nguyễn Thái Bình.

Khi nghe tiếng súng, tưởng rằng bom đã nổ, nhân viên phi hành đoàn mở cửa, bung thang cấp cứu để hành khách trượt thoát ra khỏi máy bay.

Người ta tin rằng người bắn súng là một cựu cảnh sát viên (Mỹ) sang Việt Nam nhận việc giữ an ninh cho một hãng của của Mỹ. Dao của Nguyễn Thái bình không gây thương tích mà chỉ làm rách áo của Eugene Vaughn; và quả bom Nguyễn Thái Bình vẫn ôm đã không nổ vì đó chỉ là những quả chanh bọc giấy nhôm.

Sau đó Eugene Vaughn quăng xác của Nguyễn Thái Bình qua cửa sau của phi cơ xuống đường bay. “Nhìn thấy nhân vật đó trên máy bay tôi rất là bất mãn,” viên phi công trưởng chuyến bay Pan Am 841 rất tiếc vụ cướp máy bay đã phải diễn tiến như thế nhưng

“đó không phải là hành động vì giận dữ. Tình cảnh đã quá là gai mắt. Hành khách đã phải chịu đựng nỗi sợ kinh hoàng. Tôi cảm thấy đó là một sự xúc phạm với loài người và tôi phải đưa hắn ra khỏi hiện cảnh.”(11)

Ngày thứ hai, trên chuyến bay về Việt Nam, Nguyễn Thái Bình viết một lá thư khác gởi cho gia đình(12):

Lá thư sau cùng của Nguyến Thái Bignh. Nguồn:  Tạp chí điện tử Hồn Việt

“Guam ngày 2/7/1972,
[…]
Sự đau khổ của đồng bào, quê hương suốt mấy chục năm qua dưới bom đạn đốt phá không gì sánh nổi. Đau khổ này của ba má ví bằng sự đớn đau của bao triệu cha mẹ Việt Nam mất đi đứa con yêu hay một ngày nào đó con cũng sẽ vùi thân trong tủi nhục mà không có một chút lý tưởng, nghĩa lý cho sự hy sinh.

Hôm nay, vì chính nghĩa, vì sự sinh tồn của cả một dân tộc, vì chân lý, lẽ công bằng, nhân đạo mà con có hy sinh thì cái chết này không phải là một sự chấm dứt mà là khởi đầu cho sự hồi sinh của các thế hệ tương lai.

Đường con đi nhất định theo chân anh hùng Việt Nam đi vào thanh sử chớ không bám gót ngoại xâm làm thân tôi đòi, nô lệ. Con hy vọng ba má đặt mình vào vị trí của cha mẹ Lê Lợi, Phạm Ngũ Lão, Nguyễn Trãi thì sự mất mát này không làm sự khổ đau, thương tiếc quá lớn, mà sẽ giảm thiểu để còn vun bồi, xây dựng cho lớp đàn em kế tiếp (Vì phi cơ xóc viết không rõ, xin ba má hiểu cho).

Con yêu của ba má
Anh của các em thương.”

Trong lá thư cuối cùng, Nguyễn Thái Bình đã sánh mình với Lê Lợi, Phạm Ngũ Lão, Nguyễn Trãi.

Những sự kiện theo sau vụ cướp máy bay

Một nhóm phản chiến tổ chức lễ tang cho Nguyễn Thái Bình ở Miami. Nguồn:

Nhiều người phản chiến ở Mỹ công khai thương nhớ Nguyễn Thái Bình; một vài người trong số đó đã đột nhập vào nhà của phi công Eugene Vaughn để lại lời đe dọa viết bằng máu thú vật,

“Con lợn Eugene Vaughn phạm tội giết người. Sẽ bị trừng phạt sau. Nguyễn Thái Bình muôn năm. Chiến thắng cho nhân dân Việt Nam. Chết đi bọn xâm lăng Mỹ.”(13)

Tương tự, ở Canada một nhóm người trong tổ chức “Hội Việt Kiều Yêu Nước tại Canada” đã dự định chiếm tòa lãnh sự Mỹ tại Montreal để trả thù cho Nguyễn Thái Bình. Kế hoạch này đã không thành vì bất đồng trong nội bộ(14).

Mặt khác theo tác giả cuốn “Skyjacker of the Day”, Brendan I. Koerner thì

“Khi trở về Mỹ, rất nhiều người ca ngợi Vaughn như một anh hùng, vì đây là một thời điểm mà công chúng tại Mỹ đã thực sự quá chán nản với nạn dịch cướp máy bay. Cướp máy bay đã thực sự hết thời. Nó không còn là lạ hay buồn cười khi người ta bị bắt cóc. Thực sự đã có nhiều trường hợp chết người và người ta đã phải chịu có rất nhiều khủng bố.

Đó là một bước ngoặt trong cơn đại dịch (cướp máy bay), khi nó đá quá rõ ràng là công chúng không còn chấp nhận điều này nữa.”(15)

Lể tang của Nguyễn Thái Bình ở Cần Giuộc, Long An, ngày 6 tháng 7, 1972. Nguồn: AP

Gân 38 năm sau, ngày 23 tháng 2, 2010 ông Nguyễn Minh Triết, Chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam, đã ký quyết định số 212/QĐ-CTN về việc truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân(16). Trong danh sách đính kèm ở phần II, “Truy tặng danh hiệu anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân thời kháng chiến chống Mỹ”, cùng với Nguyễn Văn Lém (Bảy Lớp), số 72 là

“Liệt sỹ Nguyễn Thái Bình, nguyên Sinh viên Việt Nam du hoc tại Mỹ. Quê: xã Tân Kim, huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An.”

Tuy vậy, hiện nay nước CHXHCN Việt Nam cũng đã tham gia một số công ước quốc tế trên lĩnh vực chống khủng bố và chống tài trợ khủng bố như:

  • Công ước Tokyo về các tội danh và hành vi phạm tội trên máy bay (1963),
  • Công ước Lahay về chống sở hữu máy bay bất hợp pháp (1970),
  • Nghị định thư Montreal về ngăn chặn hành vi bất hợp pháp chống lại an toàn hàng không dân dụng (1971),
  • Nghị định thư Montreal về ngăn chặn hành vi bạo lực bất hợp pháp tại các sân bay phục vụ công dân quốc tế (1988),
  • Công ước New York về phòng chống tội ác đối với những người được hưởng quy chế bảo vệ quốc tế, bao gồm cả nhà ngoại giao (1873),
  • Nghị định thư Rome về ngăn chặn hành vi bất hợp pháp chống lại an toàn các công trình xây dựng đáy biển (1988),
  • Công ước quốc tế về ngăn chặn tài trợ cho khủng bố (1999),
  • Công ước Liên hiệp quốc (LHQ) về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia (2000),
  • Công ước LHQ về chống tham nhũng (2003),
  • Công ước ASEAN về chống khủng bố (2007).

Trong bài “Khủng bố hàng không quốc tế là một loại hình của khủng bố quốc tế” đăng Trên Tạp Chí Khoa học Pháp luật Số 8/2002, tác giả Nguyễn Thị Yên viết,

“…chúng ta có thể khẳng định rằng: Khủng bố hàng không quốc tế là các hành vi khủng bố quốc tế có liên quan tới các loại hình hoạt động của hàng không dân dụng quốc tế.

Khủng bố hàng không quốc tế được xem là hành vi cực kỳ nguy hiểm cho xã hội, là một trong những loại hình nghiêm trọng nhất của khủng bố quốc tế.”

Và Điều 230a. Tội khủng bố ở chương Chương XIX, Các Tội Xâm Phạm An Toàn Công Cộng, Trật Tự Công Cộng, trong Bộ luật Hình sự Việt Nam 15/1999/QH10, sửa đổi bổ sung 2009/QH12 ngày 19/6/2009 viết,

1. Người nào nhằm gây ra tình trạng hoảng sợ trong công chúng mà xâm phạm tính mạng của người khác hoặc phá hủy tài sản của cơ quan, tổ chức, cá nhân, thì bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình.
2. Phạm tội trong trường hợp xâm phạm tự do thân thể, sức khỏe hoặc chiếm giữ, làm hư hại tài sản của cơ quan, tổ chức, cá nhân, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm.
3. Phạm tội trong trường hợp đe dọa thực hiện một trong các hành vi quy định tại khoản 1 Điều này hoặc có những hành vi khác uy hiếp tinh thần, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.
4. Người phạm tội còn có thể bị phạt quản chế, cấm cư trú từ một năm đến năm năm, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Đến năm 2013 đã có “Luật phòng chống khủng bố” mã văn bản là 28/2013/QH13, ban hành ngày 12/06/2013 và có hiệu lực từ ngày 01/10/2013. Ở Điều 3, phần giải thích từ ngữ, định nghĩa “Khủng bố” có đoạn

1. “là một, một số hoặc tất cả hành vi sau đây của tổ chức, cá nhân nhằm chống […] tổ chức nước ngoài, tổ chức quốc tế, […] hoặc gây ra tình trạng hoảng loạn trong công chúng:

a) Xâm phạm tính mạng, sức khỏe, tự do thân thể hoặc đe dọa xâm phạm tính mạng, uy hiếp tinh thần của người khác;

Như vậy, người khủng bố hàng không quốc tế, có hành vi cực kỳ nguy hiểm cho xã hội, một trong những loại tội phạm nghiêm trọng nhất của khủng bố quốc tế vẫn có thể là anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân của nước CHXHCN Việt Nam.

© 2015 DCVOnline

dcvonline.net


(1) Viet Thai-Binh, “Viet Thai-Binh open letter regarding resistance to the Vietnam War, July 1, 1972”, University of Washington Libraries. Special Collections, PNW03322
(2) TTXVN, “Long An kỷ niệm ngày mất của Nguyễn Thái Bình”, Tạp chí Cộng Sản, 1/7/2012
(3) Ngo Vinh Long, Vietnamese Students and the Center, Bulletin of Concerned Asian Scholars, Vol. 3. No. 2. February 1971, p.32-34.
(4) Chris Norlund, “The First Vietnamese To Attend Harvard”, Migration Letters, Transnational Press London, UK Vol. 2 (2005), Issue 1 (April), p.64-82
(5) Robert L. Campbell Washington (AP), “Antiwar Group Sends Letters To Nixon Allegedly From Hijacker”, The Danville Register from Danville, Virginia, July 4, 1972 · Page 6
(6) AP, Slain Hijacker Of Jet To Hanoi Quoted As Saying ‘Only Wanted Peace’”, The Danville Register from Danville, Virginia, July 4, 1972 · Page 6
(7) The Scrapbook, “Indochina Resource Center. Flacking for Polpot”, The Weekly Standard, OCT 20, 2014, Vol. 20, No. 06
(8) Tracy Wood, Ludington Daily News, Michigan, Monday, July 3, 1972; AP, Sarasota Herald-Tribune, July 3, 1972.
(9) Bangor Daily News, July 3, 1972.
(10) Brendan I. Koerner “Skyjacker of the Day”, trích từ The Skies Belong to Us: Love and Terror in the Golden Age of of Hijacking, Broadway Books, Jun 17 2014
(11) The Bulletin. Juky 3, 1972.
(12) Trầm Hương, “Những người con gái trong đời Nguyễn Thái Bình”. Tạp chí điện tử Hồn Việt. Truy cập 16/02/2015.
(13) Lewiston Morning Tribune, Phoenix, AZ, July 7, 1972.
(14) Trần Giao Thủy, “Chuyện kể trước năm Mùi”, nghe chuyện của người trong cuộc, đầu tháng Hai, 2015.
(15) Thom Patterson, “Skyjacked: A nation with no airline security”, CNN, June 24, 2013.
“Fatal Order Wins Praise”, Spokane Daily Chronicle, August 10, 1972.
(16) “Danh sách truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân”, Báo QĐND Online, 26/03/2010

———————

Lenin chủ trương đảng CS có thể có những hành vi không tôn trọng pháp luật trong khi tranh đấu, miễn sao đem lại thắng lợi cho đảng CS. Vì thế đảng CS có thể ca tụng những hành vi khủng bố, ca tụng những kẻ khủng bố khi những hành vi và cá nhân đó làm điều có lợi cho đảng CS.

Nguyễn Thái Bình và những trí thức phản chiến lúc đó, cả Mỹ lẫn Việt, không nhìn thấy cuộc chiến một cách toàn bộ mà chỉ nhìn thấy một góc nên họ cho rằng Mỹ là kẻ gây ra chiến tranh. Nếu họ có cái nhìn rộng hơn thì họ sẽ nhìn thấy các đảng CS theo sách lược của Lenin, dùng bạo lực chiếm toàn thế giới thì chính phe CS mới là kẻ gây ra chiến tranh.

——–

 

Ngô Vĩnh Long,

https://www.facebook.com/ngo.thanh.nhan

Bài liên quan

Ngày ấy chúng tôi đi – Nguyễn Khắc Phụng, Mar 12, 2015, dcvonline.net

Trí Thức phải là người biết ngượng– Nguyễn Văn Lục, Mar 12, 2015, dcvonline.net

 

 

Posted in Nhan Vat Chinh tri, Sách-Hồi Ký-Bài Báo... | Leave a Comment »

►Hậu Chuyện Kể Năm 2000 của Bùi Ngọc Tấn: Những Pavlov Mang Họa.

Posted by hoangtran204 trên 11/02/2015

Người Việt cả hai miền đã hòa hợp hòa giải từ lâu rồi vì cả hai cùng nhận ra họ là nạn nhân của chế độ độc tài cộng sản.  Đi tiên phong trong lãnh vực này là các nhà văn và nhà thơ đang sống ở các nước ngoài, và các nhà báo, nhà văn, nhà thơ,…đang sống ở trong nước (những người đã từng bị cs bắt bỏ tù, hoặc có tư tưởng và hành động phản kháng nhà cầm quyền trong nước). Điểm chung của họ ngày nay là không bao giờ muốn sống dưới chế độ cs và không muốn hòa hợp hòa giải với đảng CSVN.

Buổi tưởng niệm Nhà văn Bùi Ngọc Tấn do Tủ sách Tiếng Quê Hương và Nhật báo Người Việt tổ chức lúc 2 giờ ngày 7 tháng Hai năm 2015 tại phòng sinh hoạt Người Việt.

Sau đây là bài phát biểu của Chuyên gia Kinh tế Nguyễn Xuân Nghĩa.

Hậu Chuyện Kể Năm 2000 của Bùi Ngọc Tấn:
Những Pavlov Mang Họa.

Nguyễn Xuân Nghĩa, California

7-2-2015

Với tôi, đây là một sự vinh hạnh khi được mời lên diễn đàn này trình bày về tác phẩm cuối cùng, là di cảo mới nhất, của nhà văn Bùi Ngọc Tấn.

Sau cả vạn người đã đọc ông và cả trăm người đã phát biểu về con người và văn nghiệp của Bùi Ngọc Tấn, tôi là người muộn màng đẩy một cánh cửa đã mở sẵn. Vì vậy, xin quý vị thông cảm cho nếu chẳng nói điều mới lạ.

Hôm mùng năm vừa rồi và sáng nay lên chùa, tôi đã thắp một nén nhang cầu nguyện nhân dịp 49 ngày tạ thế của Bùi Ngọc Tấn. Nơi đây, hiển nhiên là quý vị cũng đã tưởng niệm như rất nhiều người Việt khác trên địa cầu trong thời gian qua.

Được yêu cầu giới thiệu cuốn Hậu Chuyện Kể Năm 2000 do nhà xuất bản Tiếng Quê Hương vừa phát hành, tôi đã có một kinh nghiệm cay đắng ngọt bùi.

Ngọt bùi là khi thưởng thức một tác phẩm văn chương khiến mình đọc rất chậm, rồi đọc lại, nhất là những đoạn bi thương về gia đình tác giả gồm có sáu người. Cay đắng là khi phải đặt sách xuống trong tiếng thở dài, có khi là sự phẫn nộ, về con người và đất nước thê thảm của mình. Nhưng những cảm giác riêng tư ấy thật ra hoàn toàn vô ích ở đây. Từng người trong quý vị sẽ có nhận thức riêng của mình sau khi đọc.

Tôi chỉ xin nói rằng đây là một tác phẩm nên đọc – và phải đọc.

***

Trước hết, một cách ý thức hay vô thức, mọi nhà văn đều tiếp nhận những gì đã được viết ra từ trước. Vì vậy, khi nói về một tác phẩm văn chương, chúng ta đều có thói quen đối chiếu, đó là so sánh tác phẩm này với tác phẩm kia, của cùng một nhà văn hay của nhiều tác giả khác. Tôi khó làm chuyện đó vì chẳng có cơ sở gì để đối chiếu hay so sánh. So sánh với Tolstoy, Dostoevsky hay Ghoerghiu sao?

Bùi Ngọc Tấn có chỗ đứng riêng với những tác phẩm lừng danh của ông, không vì số phận hẩm hiu của tác giả mà vì giá trị nghệ thuật của tác phẩm. Chúng ta nên tìm đọc để biết là vào hậu bán thế kỷ 20, người Việt viết văn ra sao. Cũng như phải đọc Vũ Trọng Phụng để nhìn một đỉnh cao của nghệ thuật văn chương Việt Nam trước khi có tai ách cộng sản. Hai cây bút viết trong hai hoàn cảnh với văn phong quá khác biệt, mà vẫn là tiêu biểu cho hai thời kỳ.

Và tiêu biểu nhất cho thời kỳ cộng sản là cả hai tác giả này đều bị chế độ đả kích!

***
Sau biến cố 1.9.7.5., những người ở miền Nam chúng ta có 20 năm gần như bị bão hòa với nhiều cuốn sách viết về kinh nghiệm tù đầy của chế độ cộng sản, mà người ta gọi là “cải tạo” – dù có tập trung hay không. Trong hoàn cảnh chính trị thời đó, những ai lạnh lùng tỉnh táo thì chịu đựng và kết luận rằng đó là luật chơi tàn khốc của lẽ thắng bại. Nó độc ác và vô ích. Thế thôi.

Nhưng sau đấy, từ những năm 1995 trở về sau, trong hàng ngũ của những người chiến thắng, từ bên trong xã hội cộng sản đã thống nhất trên cả nước, bỗng xuất hiện nhiều cuốn hồi ký về cái nạn tù đầy và cải tạo của những người đã góp phần tạo nên chiến thắng 1.9.7.5.

Tức là hơn 40 năm sau cuốn “Trăm Hoa Đua Nở Trên Đất Bắc” của Hoàng Văn Chí về nỗi oan khiên giành cho giới nghệ sĩ và trí thức trong nhóm “Nhân Văn Giai Phẩm” tại miền Bắc, chúng ta mới phát giác là qua gần nửa thế kỷ tương tàn ấy, nhiều người ở miền Bắc đã có kinh nghiệm về “cải tạo” rất sớm.

Mà họ lại không may mắn bằng những người tù ở trong Nam.

Tù cải tạo ở trong Nam còn có một lý do tự an ủi, dù mong manh, rằng mình chống họ thì khi thua trận tất nhiên là bị hành hạ. Những người tù ở miền Bắc không được như vậy. Họ thành thật dâng hiến tuổi thanh xuân cho “cách mạng”, và chẳng có tội gì như trường hợp Bùi Ngọc Tấn, vậy mà cũng bóc lịch hay chăn kiến trong tù.

Người miền Nam dùng chữ “bóc lịch” làm ta liên tưởng đến tư thế đứng. Chứ “chăn kiến” thì phải ngồi. Mà đứng hay ngồi thì cũng đều ở trong cũi cả! Tù trong hay tù ngoài, tù trước và tù sau, tù ta hay tù nó đều là tù cả! Sau đó thì gia nhập bộ lạc “Tà Ru”. Tù ra để sống trong một nhà tù lớn hơn, và rất dễ mắc bệnh tâm thần vì hàng ngày hàng giờ vẫn có cảm giác như bị theo dõi để lại trở về chốn cũ, là trại giam cũ.

Những phát giác ấy đến với người ở trong Nam khi đọc Đêm Giữa Ban Ngày của Vũ Thư Hiên, rồi Chuyện Kể Năm 2000 của Bùi Ngọc Tấn hay Đèn Cù của Trần Đĩnh. Nỗi ê chề đó càng khiến mình ân hận là không cố gắng nhiều hơn để đất nước có một kết cục khác.

Qua đến tác phẩm mới, và là cuối cùng, của Bùi Ngọc Tấn, Hậu Chuyện Kể, chúng ta còn được một di sản khác. Một bức tranh xã hội của miền Bắc trong những năm chiến tranh.

Nói như một kẻ vô tư và vô tâm của người thiên về xã hội học hay người chuyên về “ác học của nhân loại”, thì Chuyện Kể Năm 2000 là một cuốn phim hay.

Sau đó 15 năm, ta lại được xem nhiều trích đoạn hay trailers về việc thực hiện cuốn phim nổi tiếng này. Nếu chỉ như vậy thì tác phẩm mới chẳng quảng cáo gì thêm cho tuyệt tác kia. Nét nhân hậu của Hậu Chuyện Kể là vẽ ra chân dung của nhiều nhân vật đã góp phần hoàn thành cuốn phim. Tôi dùng chữ “nhân hậu” vì chú ý nhất đến sự kiện là trong xã hội cùn mằn độc ác đó vẫn có loại người bất thường đến siêu phàm.

Họ dám sống thật, nói thật và chật vật tranh đấu để một cuốn sách vừa phát hành đã bị cán thành bột – mà vẫn xuất hiện ở nơi khác. Xin hãy đọc để xem Bùi Ngọc Tấn cùng gia đình và bạn hữu đếm thế nào về 1.500 cuốn sách đã xuất bản, đã phát tán mà vẫn phải gom đủ cho chế độ thủ tiêu! Chung quanh ông vẫn còn chán vạn người tử tế nên ở bên ngoài chúng ta mới được đọc Chuyện Kể Năm 2000.

Vì vậy chúng ta không nên tuyệt vọng.

***

Là kẻ ngoại đạo của thế giới nghệ thuật, tôi cứ nghĩ rằng nghệ sĩ không thể là người trầm tư. Ta chẳng thể cứ ngồi Thiền mà thành Phật được! Cũng vậy, nghệ sĩ là người muốn làm một cái gì đó thật đẹp, và phải cố làm thì may ra mới biết cái đó là cái gì! Mà rồi đẹp hay xấu là thuộc quyền thẩm định của người khác.

Bùi Ngọc Tấn là nhà văn bị bẻ bút mất 20 năm sau năm năm tù đầy, mà vẫn cố làm một cái gì đó. Mất cả chục năm mới ra một chuyển kể cho hậu thế, của thế kỷ 21. Cuốn Hậu Chuyện Kể viết về sự cố gắng đó. Ngoài giá trị của một bức tranh xã hội, hay bối cảnh cho việc nghiên cứu về xã hội học của một chế độ tồi bại, cuốn sách mà chúng ta chào mừng hôm nay còn cho thấy tiến trình gian nan của sự cố gắng, sự sáng tạo.

Kinh khủng nhất là khi ông viết mà vẫn thấy bóng cây xoan dật dờ trong trí nhớ lại cũng mập mờ che khuất sự dòm ngó của chế độ! Nhiều khi các nghệ sĩ muốn làm đẹp cho đời thì cũng là những người bị đời hành hạ nhiều nhất.

Nén nhang cho Bùi Ngọc Tấn cũng phải là lời tri ân.

***
Sau cùng, tôi xin được nói về một chuyện ngoài văn chương, khi cảm được tiểu tựa của cuốn sách, là Thời Biến Đổi Gien.

Các nhà bác học về nhân chủng hay khảo cổ có thể giảng cho chúng ta rằng loài người đã mất cả triệu năm, rẻ nhất là mấy vạn năm, mới từ trạng thái bò bốn chân và suy nghĩ bằng cái bụng tiến dần lên trình độ đứng thẳng. Sau cả vạn năm vục mặt xuống đất, chúng ta mới dần dần đi bằng hai chân và suy nghĩ bằng cái đầu, với bộ não ngày càng lớn hơn theo tầm nhìn xa hơn và cao hơn.

Chế độ cộng sản lại hoàn thành một phép lạ – tôi gọi là phép lạ chứ không là một sự kỳ diệu – là chỉ trong một thế hệ là có vài chục năm đã khiến nhiều người đi bằng hai chân biến thành loài thú bốn cẳng. Đấy là hiện tượng đổi gien. Đám hậu sinh của Pavlov với thử nghiệm rất khoa học về phản xạ của con chó để điều kiện hóa con người lại tự biến thành con vật bốn chân có khả năng đánh hơi rất cao.

Những kẻ bò bốn chân là bọn khuyển ưng khuyển phệ xục xạo vào thế giới của con người bình thường để bảo vệ một chế độ bất thường. Họ là những kẻ suy nghĩ bằng bụng dạ hẹp hòi và được huấn luyện để áp bức người khác qua đủ loại bạo lực.

Trong cuốn sách, Bùi Ngọc Tấn còn cho biết thêm rằng cái loài bốn chân ấy vẫn có kẻ… nối dõi tông đường. Ông đã bị hai thế hệ theo nhau bách hại. Rồi tủm tỉm cười với vẻ hiền hòa cố hữu. Rằng ông có sống đến 120 tuổi đâu để trở thành đối tượng của thế hệ công an đời thứ ba!

Tôi trộm nghĩ rằng thế hệ thứ ba của loài thú bốn chân ấy sẽ sớm thất nghiệp chính là nhờ nhiều tác phẩm có khả năng cảm hóa như của Bùi Ngọc Tấn. Ông không còn ở với chúng ta nữa, nhưng ta nên tự chuẩn bị cho tiến trình “cải tạo ngược”.

Là với lòng nhân sẽ giúp cho đám người độc ác kia trở lại trạng thái bình thường, để dân ta được sống bình thường trong tự do như các xã hội văn minh khác. Đọc cuốn sách như một di cảo buồn, tôi vẫn thấy ra niềm hy vọng đó.

Nguyễn-Xuân Nghĩa
Nam California, Ngày 20150207

 

——-

Trước khi mất mấy tuần, nhà văn Bùi Ngọc Tấn, tuy rất đau, nhưng vẫn không giấu được sự phấn khích khi nói đến cuốn sách “Thời Biến Đổi Gen” khi ấy sắp được xuất bản ở California. Ông nói với chúng tôi: “Xin đảm bảo là không làm mất thời gian của các bạn”. Ông đi đã hơn 49 ngày. Thưa nhà văn Bùi Ngọc Tấn, ông chưa bao giờ làm mất thời gian của ai, chỉ có thời gian của ông – hàng chục năm – là đã từng bị đánh cắp. (nhà báo Huy Đức – Trương Huy San)

 
Buổi tưởng niệm Nhà văn Bùi Ngọc Tấn do Tủ sách Tiếng Quê Hương và Nhật báo Người Việt tổ chức lúc 2 giờ ngày 7 tháng Hai năm 2015 tại phòng sinh hoạt Người Việt.</p>
<p>Sau đây là bài phát biểu của Chuyên gia Kinh tế Nguyễn Xuân Nghĩa. </p>
<p>Hậu Chuyện Kể Năm 2000 của Bùi Ngọc Tấn:<br />
Những Pavlov Mang Họa.</p>
<p>Với tôi, đây là một sự vinh hạnh khi được mời lên diễn đàn này trình bày về tác phẩm cuối cùng, là di cảo mới nhất, của nhà văn Bùi Ngọc Tấn. </p>
<p>Sau cả vạn người đã đọc ông và cả trăm người đã phát biểu về con người và văn nghiệp của Bùi Ngọc Tấn, tôi là người muộn màng đẩy một cánh cửa đã mở sẵn. Vì vậy, xin quý vị thông cảm cho nếu chẳng nói điều mới lạ.</p>
<p>Hôm mùng năm vừa rồi và sáng nay lên chùa, tôi đã thắp một nén nhang cầu nguyện nhân dịp 49 ngày tạ thế của Bùi Ngọc Tấn. Nơi đây, hiển nhiên là quý vị cũng đã tưởng niệm như rất nhiều người Việt khác trên địa cầu trong thời gian qua.  </p>
<p>Được yêu cầu giới thiệu cuốn Hậu Chuyện Kể Năm 2000 do nhà xuất bản Tiếng Quê Hương vừa phát hành, tôi đã có một kinh nghiệm cay đắng ngọt bùi. </p>
<p>Ngọt bùi là khi thưởng thức một tác phẩm văn chương khiến mình đọc rất chậm, rồi đọc lại, nhất là những đoạn bi thương về gia đình tác giả gồm có sáu người. Cay đắng là khi phải đặt sách xuống trong tiếng thở dài, có khi là sự phẫn nộ, về con người và đất nước thê thảm của mình. Nhưng những cảm giác riêng tư ấy thật ra hoàn toàn vô ích ở đây. Từng người trong quý vị sẽ có nhận thức riêng của mình sau khi đọc. </p>
<p>Tôi chỉ xin nói rằng đây là một tác phẩm nên đọc - và phải đọc.</p>
<p>***</p>
<p>Trước hết, một cách ý thức hay vô thức, mọi nhà văn đều tiếp nhận những gì đã được viết ra từ trước. Vì vậy, khi nói về một tác phẩm văn chương, chúng ta đều có thói quen đối chiếu, đó là so sánh tác phẩm này với tác phẩm kia, của cùng một nhà văn hay của nhiều tác giả khác. Tôi khó làm chuyện đó vì chẳng có cơ sở gì để đối chiếu hay so sánh. So sánh với Tolstoy, Dostoevsky hay Ghoerghiu sao?</p>
<p>Bùi Ngọc Tấn có chỗ đứng riêng với những tác phẩm lừng danh của ông, không vì số phận hẩm hiu của tác giả mà vì giá trị nghệ thuật của tác phẩm. Chúng ta nên tìm đọc để biết là vào hậu bán thế kỷ 20, người Việt viết văn ra sao. Cũng như phải đọc Vũ Trọng Phụng để nhìn một đỉnh cao của nghệ thuật văn chương Việt Nam trước khi có tai ách cộng sản. Hai cây bút viết trong hai hoàn cảnh với văn phong quá khác biệt, mà vẫn là tiêu biểu cho hai thời kỳ. </p>
<p>Và tiêu biểu nhất cho thời kỳ cộng sản là cả hai tác giả này đều bị chế độ đả kích!</p>
<p>***<br />
Sau biến cố 1.9.7.5., những người ở miền Nam chúng ta có 20 năm gần như bị bão hòa với nhiều cuốn sách viết về kinh nghiệm tù đầy của chế độ cộng sản, mà người ta gọi là "cải tạo" – dù có tập trung hay không. Trong hoàn cảnh chính trị thời đó, những ai lạnh lùng tỉnh táo thì chịu đựng và kết luận rằng đó là luật chơi tàn khốc của lẽ thắng bại. Nó độc ác và vô ích. Thế thôi.</p>
<p>Nhưng sau đấy, từ những năm 1995 trở về sau, trong hàng ngũ của những người chiến thắng, từ bên trong xã hội cộng sản đã thống nhất trên cả nước, bỗng xuất hiện nhiều cuốn hồi ký về cái nạn tù đầy và cải tạo của những người đã góp phần tạo nên chiến thắng 1.9.7.5.</p>
<p>Tức là hơn 40 năm sau cuốn "Trăm Hoa Đua Nở Trên Đất Bắc" của Hoàng Văn Chí về nỗi oan khiên giành cho giới nghệ sĩ và trí thức trong nhóm "Nhân Văn Giai Phẩm" tại miền Bắc, chúng ta mới phát giác là qua gần nửa thế kỷ tương tàn ấy, nhiều người ở miền Bắc đã có kinh nghiệm về "cải tạo" rất sớm. </p>
<p>Mà họ lại không may mắn bằng những người tù ở trong Nam. </p>
<p>Tù cải tạo ở trong Nam còn có một lý do tự an ủi, dù mong manh, rằng mình chống họ thì khi thua trận tất nhiên là bị hành hạ. Những người tù ở miền Bắc không được như vậy. Họ thành thật dâng hiến tuổi thanh xuân cho "cách mạng", và chẳng có tội gì như trường hợp Bùi Ngọc Tấn, vậy mà cũng bóc lịch hay chăn kiến trong tù. </p>
<p>Người miền Nam dùng chữ "bóc lịch" làm ta liên tưởng đến tư thế đứng. Chứ "chăn kiến" thì phải ngồi. Mà đứng hay ngồi thì cũng đều ở trong cũi cả! Tù trong hay tù ngoài, tù trước và tù sau, tù ta hay tù nó đều là tù cả! Sau đó thì gia nhập bộ lạc "Tà Ru". Tù ra để sống trong một nhà tù lớn hơn, và rất dễ mắc bệnh tâm thần vì hàng ngày hàng giờ vẫn có cảm giác như bị theo dõi để lại trở về chốn cũ, là trại giam cũ.</p>
<p>Những phát giác ấy đến với người ở trong Nam khi đọc Đêm Giữa Ban Ngày của Vũ Thư Hiên, rồi Chuyện Kể Năm 2000 của Bùi Ngọc Tấn hay Đèn Cù của Trần Đĩnh. Nỗi ê chề đó càng khiến mình ân hận là không cố gắng nhiều hơn để đất nước có một kết cục khác.</p>
<p>Qua đến tác phẩm mới, và là cuối cùng, của Bùi Ngọc Tấn, Hậu Chuyện Kể, chúng ta còn được một di sản khác. Một bức tranh xã hội của miền Bắc trong những năm chiến tranh. </p>
<p>Nói như một kẻ vô tư và vô tâm của người thiên về xã hội học hay người chuyên về "ác học của nhân loại", thì Chuyện Kể Năm 2000 là một cuốn phim hay. </p>
<p>Sau đó 15 năm, ta lại được xem nhiều trích đoạn hay trailers về việc thực hiện cuốn phim nổi tiếng này. Nếu chỉ như vậy thì tác phẩm mới chẳng quảng cáo gì thêm cho tuyệt tác kia. Nét nhân hậu của Hậu Chuyện Kể là vẽ ra chân dung của nhiều nhân vật đã góp phần hoàn thành cuốn phim. Tôi dùng chữ "nhân hậu" vì chú ý nhất đến sự kiện là trong xã hội cùn mằn độc ác đó vẫn có loại người bất thường đến siêu phàm. </p>
<p>Họ dám sống thật, nói thật và chật vật tranh đấu để một cuốn sách vừa phát hành đã bị cán thành bột - mà vẫn xuất hiện ở nơi khác. Xin hãy đọc để xem Bùi Ngọc Tấn cùng gia đình và bạn hữu đếm thế nào về 1.500 cuốn sách đã xuất bản, đã phát tán mà vẫn phải gom đủ cho chế độ thủ tiêu! Chung quanh ông vẫn còn chán vạn người tử tế nên ở bên ngoài chúng ta mới được đọc Chuyện Kể Năm 2000. </p>
<p>Vì vậy chúng ta không nên tuyệt vọng.</p>
<p>***</p>
<p>Là kẻ ngoại đạo của thế giới nghệ thuật, tôi cứ nghĩ rằng nghệ sĩ không thể là người trầm tư. Ta chẳng thể cứ ngồi Thiền mà thành Phật được! Cũng vậy, nghệ sĩ là người muốn làm một cái gì đó thật đẹp, và phải cố làm thì may ra mới biết cái đó là cái gì! Mà rồi đẹp hay xấu là thuộc quyền thẩm định của người khác. </p>
<p>Bùi Ngọc Tấn là nhà văn bị bẻ bút mất 20 năm sau năm năm tù đầy, mà vẫn cố làm một cái gì đó. Mất cả chục năm mới ra một chuyển kể cho hậu thế, của thế kỷ 21. Cuốn Hậu Chuyện Kể viết về sự cố gắng đó. Ngoài giá trị của một bức tranh xã hội, hay bối cảnh cho việc nghiên cứu về xã hội học của một chế độ tồi bại, cuốn sách mà chúng ta chào mừng hôm nay còn cho thấy tiến trình gian nan của sự cố gắng, sự sáng tạo.</p>
<p>Kinh khủng nhất là khi ông viết mà vẫn thấy bóng cây xoan dật dờ trong trí nhớ lại cũng mập mờ che khuất sự dòm ngó của chế độ! Nhiều khi các nghệ sĩ muốn làm đẹp cho đời thì cũng là những người bị đời hành hạ nhiều nhất. </p>
<p>Nén nhang cho Bùi Ngọc Tấn cũng phải là lời tri ân.</p>
<p>***<br />
Sau cùng, tôi xin được nói về một chuyện ngoài văn chương, khi cảm được tiểu tựa của cuốn sách, là Thời Biến Đổi Gien.</p>
<p>Các nhà bác học về nhân chủng hay khảo cổ có thể giảng cho chúng ta rằng loài người đã mất cả triệu năm, rẻ nhất là mấy vạn năm, mới từ trạng thái bò bốn chân và suy nghĩ bằng cái bụng tiến dần lên trình độ đứng thẳng. Sau cả vạn năm vục mặt xuống đất, chúng ta mới dần dần đi bằng hai chân và suy nghĩ bằng cái đầu, với bộ não ngày càng lớn hơn theo tầm nhìn xa hơn và cao hơn.</p>
<p>Chế độ cộng sản lại hoàn thành một phép lạ - tôi gọi là phép lạ chứ không là một sự kỳ diệu - là chỉ trong một thế hệ là có vài chục năm đã khiến nhiều người đi bằng hai chân biến thành loài thú bốn cẳng. Đấy là hiện tượng đổi gien. Đám hậu sinh của Pavlov với thử nghiệm rất khoa học về phản xạ của con chó để điều kiện hóa con người lại tự biến thành con vật bốn chân có khả năng đánh hơi rất cao. </p>
<p>Những kẻ bò bốn chân là bọn khuyển ưng khuyển phệ xục xạo vào thế giới của con người bình thường để bảo vệ một chế độ bất thường. Họ là những kẻ suy nghĩ bằng bụng dạ hẹp hòi và được huấn luyện để áp bức người khác qua đủ loại bạo lực. </p>
<p>Trong cuốn sách, Bùi Ngọc Tấn còn cho biết thêm rằng cái loài bốn chân ấy vẫn có kẻ... nối dõi tông đường. Ông đã bị hai thế hệ theo nhau bách hại. Rồi tủm tỉm cười với vẻ hiền hòa cố hữu. Rằng ông có sống đến 120 tuổi đâu để trở thành đối tượng của thế hệ công an đời thứ ba!</p>
<p>Tôi trộm nghĩ rằng thế hệ thứ ba của loài thú bốn chân ấy sẽ sớm thất nghiệp chính là nhờ nhiều tác phẩm có khả năng cảm hóa như của Bùi Ngọc Tấn. Ông không còn ở với chúng ta nữa, nhưng ta nên tự chuẩn bị cho tiến trình "cải tạo ngược". </p>
<p>Là với lòng nhân sẽ giúp cho đám người độc ác kia trở lại trạng thái bình thường, để dân ta được sống bình thường trong tự do như các xã hội văn minh khác. Đọc cuốn sách như một di cảo buồn, tôi vẫn thấy ra niềm hy vọng đó.</p>
<p>Nguyễn-Xuân Nghĩa<br />
Nam California, Ngày 20150207
Nguyễn Xuân Nghĩa  (ngồi) và Bùi Ngọc Tấn

Posted in Hòa Hợp Hòa Giải, Sách-Hồi Ký-Bài Báo... | Leave a Comment »

►Đèn cù Tập II: Tư duy kinh tế của giới lãnh đạo VN, thái độ đối xử với kiều bào, và bị Tàu coi thường trong mối quan hệ

Posted by hoangtran204 trên 18/12/2014

 

Đèn cù Tập II: Tư duy, đối xử với kiều bào và quan hệ với Tàu

Theo FB Nguyễn Văn Tuấn

17-12-2014

Đèn Cù Tập II có dành vài chương để viết về sự sụp đổ của các chế độ XHCN bên Đông Âu, và một số suy nghĩ của giới lãnh đạo chóp bu. Qua đó, chúng ta cũng có thể có vài ý niệm về suy nghĩ của các vị đang nắm quyền lèo lái con thuyền đất nước thời đó. Không nói ra thì chắc nhiều người cũng có thể đoán được là tư duy của họ còn rất nhiều hạn chế.

Chuyện tư duy

Chúng ta biết rằng ông Lý Quang Diệu được đánh giá cao ở Việt Nam và trên thế giới. Dù người ta không mặn mà với kỉ luật sắt của Singapore, nhưng ai cũng phải công nhận ông là một người có tài chiến lược. Có người tặng cho ông danh hiệu nhà độc tài tốt bụng (benevolent dictator). Nhưng có thời ở Việt Nam, ông Lý Quang Điệu là một đối tượng bị báo chí Nhà nước chửi như tát nước. Tay sai đế quốc. Chống cộng. Chống nhân dân Việt Nam. Ông Diệu được giới lãnh đạo VN tặng cho rất nhiều cái nón.

Nhưng đùng một cái, VN “mặn nồng” với ông Lý Quang Diệu. Ông Võ Văn Kiệt từng mời ông Diệu làm cố vấn và cộng tác. Nhưng ông Diệu từ chối, và nói rằng nếu không có Mĩ gật đầu thì VN vô phương phát triển. Ông Diệu nói rằng Mĩ là chìa khoá, Mĩ là động cơ để phát triển. Ngay cả Tàu cũng phải ôm lấy Mĩ mà phát triển, thì VN không nên xem thường Mĩ.

Sau 1975, một nhóm chuyên gia kinh tế báo cáo cho ông Lê Duẩn rằng các nước như Đài Loan, Hàn Quốc và Singapore tiến mạnh là nhờ làm gia công cho các nước giàu có. Nghe xong, Lê Duẩn nạt lại: Lại muốn học chúng làm nô lệ ư? Mà, chẳng phải ông Lê Duẩn mới có tư duy bảo thủ và ngạo mạn đó, ông Tố Hữu cũng thế. Khi một thứ trưởng Bộ Y tế trình rằng các hãng dược phẩm ở miền Nam lúc đó đang thất nghiệp, và ông đề nghị làm thuốc kháng sinh cho khối Comecon. Tố Hữu quát: Trẻ con! Độc lập mà đi gia công?! Anh tưởng Comecon mà không ngoạm nhau à? (Trang 282). Tư duy kinh tế của giới lãnh đạo VN thời mới thắng cuộc là như thế.

Mãi đến 1999, khi VN kí hiệp định thương mại với Mĩ, mà vẫn có vài người có tư duy chống Mĩ! Trong Đèn Cù, tác giả Trần Đĩnh kể rằng sau khi hiệp thương được kí 2 ngày thì Đỗ Mười chỉ thị phải nhớ rằng Mĩ vẫn là kẻ thù của VN và của thế giới. Đỗ Mười còn nói ai thò tay kí vào hiệp thương thì đáng tội “bán nước”. Bộ trưởng Trương Đình Tuyển, người tích cực vận động cho hiệp định, sau đó phải “ra đi”, nói đúng hơn là bị truất phế khỏi chức bộ trưởng.

Đối xử với Việt kiều và người ngoại quốc

Có thể nói rằng “thành tích” đối xử với Việt kiều và người ngoại quốc của VN không có gì đáng khoe. Nói đúng ra là họ có thái độ hai mặt, ngoài mặt thì nói hay, đằng sau lưng thì nói xấu. Có thể xem đó là thái độ xảo trá và tiểu nhân. Trong Đèn Cù tập II, Trần Đĩnh kể nhiều chuyện cho thấy thái độ xảo trá như thế.

Đặng Chấn Liêu là một quan chức của Liên Hiệp Quốc, theo tiếng gọi của cụ Hồ về Việt Nam đóng góp xây dựng XHCN. Ông trở thành chủ nhiệm bộ môn tiếng Anh của Đại học Sư phạm Hà Nội. Tuy nhiên, ông lại là nạn nhân của Hoàng Văn Hoan, người nghi ngờ ông Liêu là tình báo của Anh. Ông Liêu còn dính dáng vào vụ “án xét lại”, nên lao đao ở Hà Nội một thời gian dài. Những người đau khổ thường có khả năng đúc kết triết lí cuộc đời rất hay. Trong một cuộc trò chuyện cùng Trần Đĩnh và Gs Tôn Thất Tùng, ông Đặng Chấn Liêu tổng kết quan sát về qui luật hành xử của chế độ như sau:

“Chúng mình nhìn người bằng con mắt thân thiện vì chúng mình cảnh giác trước tiên với cái xấu ở trong bản thân; còn họ, tự nhận là cách mạng cao quí, họ luôn cảnh giác với người khác để kịp thời giáo dục, uốn nắn. Họ với chúng ta cơ bản ngược giò nhau, họ bắt buộc phải tự khẳng định vai trò lãnh đạo, dạy dỗ chúng ta. Cái mặc cảm ưu việt này dẫn tới đòi dân phải có mặc cảm tự ti với họ. Mặc cảm tự ti này là dấu hiệu dân tin tưởng đảng, yếu tố hàng đầu của thắng lợi, khốn nạn là thế đấy.” (Trang 297).

Một Việt kiều khác là Mỹ Điền, từ Anh về miền Bắc Việt Nam, cũng với ý đồ xây dựng XHCN. Ông là con của một địa chủ ở miền Nam. Ông được phân công đi làm cán bộ Cải cách ruộng đất ở Thái Bình. Người trong đoàn nói với ông rằng từ nay trở đi, ông phải gọi mẹ là “Con địa chủ”. Là người miền Nam rất thẳng thắn, ông dứt khoát phản đối và không chấp nhận cách gọi mất dạy đó. Ngày hôm sau, ông được cho về Hà Nội. Về Hà Nội, ông trở thành một giáo viên dạy tiếng Anh, và một trong những học trò của ông là Nguyễn Dy Niên, người sau này trở thành Bộ trưởng Bộ ngoại giao. Mỹ Điền nói với tác giả Trần Đĩnh rằng “Tôi đã ở trong quân đội Bình Xuyên sau Cách mạng tháng 8. Tôi cũng đã ở nội phủ cộng sản. Tôi thấy sao? Nội phủ phần lớn là hoạn quan. Bình Xuyên phần lớn là dân anh chị. Phải công bằng mà nói là dân anh chị lại quân tử, nói là giữ lời. Hoạn quan thì không à nha.” (Trang 304).

Một trí thức miền Nam khác là Phạm Trung Tương cũng bị đối xử không tốt. Ông Tương từng làm cò cảnh sát, nhưng lại là người có cảm tình với Việt Minh. Ông giúp Việt Minh trong cuộc tổng khởi nghĩa và được ghi nhận công trạng. Sau đó, ông được tập kết ra Bắc, rồi thất nghiệp do lí lịch đen. Mỹ Điền thấy thương nên “tâu” với Ung Văn Khiêm về tình trạng của Phạm Trung Tương, ông Khiêm giới thiệu cho ông Tương về làm ở nhà xuất bản Ngoại văn, chuyên dịch sách báo.

Sau 1975, ông Tương quay về quê Trà Vinh. Tỉnh uỷ Trà Vinh “đì” ông rất tận tình. Nhà ông bị cắt điện, sống tối om. Bệnh viện từ chối không điều trị cho ông. Một hôm, Lê Duẩn xuống Trà Vinh nói chuyện cùng giới trí thức. Duẩn đứng trên bục nhìn xuống thấy một người quen quen, ông bèn đi xuống gặp ông Tương, rồi nói trước hội trường: Người con ưu tú của miền Nam đây! Tối hôm đó, nhà ông Tương lập tức có điện, và bệnh viện đến nói với ông rằng từ nay luôn có một phòng cho ông đến điều trị bất cứ lúc nào.

Frida Cook là đảng viên Đảng cộng sản Anh, bà tình nguyện sang Bắc VN làm giáo viên dạy tiếng Anh. Sau 1975, bà lại sang VN, và nhờ Mỹ Điền dẫn đi thăm các trại cải tạo, đó là thứ hiếm mà bà nói thế giới không có được. Đến cổng trại, bà gặp một ông cụ, và hỏi sao ông vào đây. Ông cụ trả lời rằng ông là viên chức chế độ VNCH. Bà Cook kêu lên: “Ôi, tôi nghe giới thiệu thì toàn là những ác ôn!”

Khi VN sang chiếm Campuchea, bà Cook gửi trả VN những huy chương, bằng khen mà VN đã từng trao cho bà trong thời chiến. Bà nói “tôi từ lâu đã ngửi thấy ở họ một cái gì …”. Nhưng bà Cook không biết rằng cả chục năm trước, an ninh Việt Nam đã cho rằng bà ấy là một gián điệp Anh được gửi sang VN để phá hoại. Nhà nước VN gắn huy chương cho mụ ấy cốt để che mắt và mò phá tuyến của mụ ấy (trang 303).

Đèn Cù còn đề cập đến Gs Trịnh Xuân Thuận, một nhà vật lí thiên văn có tiếng qua những tác phẩm khoa học phổ thông. Thân phụ ông Thuận là Trịnh Xuân Ngạn, từng làm việc trong toà án dưới thời VNCH. Sau 1975, ông Ngạn bị chính quyền mới bắt đi tù cải tạo. Ông Thuận nhờ chính phủ Pháp can thiệp để cứu ông bố ra tù (Tran 315). Năm 2005, VN vinh danh ông Thuận cùng 14 nhà khoa học Việt kiều khác ở nước ngoài. Nhưng những người trong giới cầm quyền có lẽ chưa đọc cuốn “Hỗn độn và hài hoà” mà trong đó ông Thuận viết rằng “Tôi thông báo cái chết của chủ nghĩa duy vật biện chứng”.

Quan hệ với Tàu

Tháng 2/1999, ông Lê Khả Phiêu (lúc đó là tổng bí thư) đi thăm Tàu. Người ta ngạc nhiên vì sự chậm trễ này. Thường thì sau khi ai đó nhậm chức tổng bí thư, Tàu mời sang thăm ngay, còn đằng này, ông Phiêu nhậm chức từ năm 1997, mà mãi đến 1999 mới được mời sang thăm Tàu.

Buổi tiếp đón không có diễn văn, chỉ có hội đàm, rồi chiêu đãi, và hạ màn. Trong buổi chiêu đãi, Giang Trạch Dân ca bài “Bông hồng nhỏ của tôi”, còn Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Mạnh Cầm thì hát bài “Cây trúc xinh”, có lẽ ý nói trúc mọc một mình, không cần đến “bạn”.

Tiền Kỳ Tham, từng là phó thủ tướng Tàu có viết hồi kí, và ông dành 2 chương để viết về VN. Trong đó có nói về chuyến thăm của Lê Khả Phiêu. Theo hồi kí này, đoàn của ông Phiêu chờ mãi chẳng thấy phía chủ nhà Tàu nói gì cả. Xem lịch thì thấy 2 giờ chiều Giang Trạch Dân có lịch đón đoàn VN, ông Phiêu bèn dẫn đoàn đến nơi, nhưng thật ra giờ đó thì Giang tiếp thống đốc Hồng Kong, nên Tiền Kỳ Tham nói đoàn ông Phiêu phải chờ đến 5 giờ chiều! Ông Phiêu đưa cho họ Tiền một tờ giấy gồm một số chữ, và đề nghị Tiền đưa cho Giang. Giang Trạch Dân mở ra đọc, đọc xong, lẳng lặng vo lại và ném vào sọt rác. Giang lấy tờ giấy khác và viết theo ý của y (Trang 354). Nghe nói Giang viết 16 chữ: “Sơn thuỷ tương liên, lí tưởng tương thông, văn hoá tương đồng, vận mệnh tương quan.”

Nhận được giấy của Giang viết, ông Phiêu hỏi Tiền Kỳ Tham tại sao không có chữ “bình đẳng” hợp tác như ông Phiêu nêu ra. Tiền Kỳ Tham viết: “Tôi không trả lời Phiêu mà chỉ cười và nghĩ thầm rằng, người lãnh đạo cao nhất như Phiêu mà không hiểu nổi rằng: xưa nay có bao giờ Việt Nam được bình đẳng với Trung Quốc!

Nhưng khi về đến VN, đoàn ông Phiêu mở cuộc họp báo và tuyên bố chuyến đi thăm Tàu là “thành công tốt đẹp“!

Hồi kí của Tiền Kỳ Tham còn quan tâm đến văn học VN. Trong hồi kí, họ Tiền nhắc đến các tác phẩm văn học VN bị cấm lưu hành, trong đó có tập thơ của Nguyễn Duy. Họ Tiền dẫn câu thơ của Nguyễn Duy:

Điếm cấp thấp bán trôn nuôi miệng;
Điếm cấp cao bán miệng nuôi trôn.

Nói chung đọc qua những trang trong Đèn Cù Tập II, chúng ta dễ nhận ra rằng giới cầm quyền VN chẳng tin tưởng vào ai, kể cả chính người của họ, còn kiều bào và người nước ngoài thì chỉ là “hoa lá cành” cho họ mà thôi. Một điều cũng thể hiện khá rõ nét là những gì mà giới lãnh đạo Tàu và Mĩ hay nói về giới cầm quyền VN: đó là không đáng tin cậy, vì nói một đằng làm một nẻo.

——-

Tóm tắt:

1. Sau 1975, một nhóm chuyên gia kinh tế báo cáo cho ông Lê Duẩn rằng các nước như Đài Loan, Hàn Quốc và Singapore tiến mạnh là nhờ làm gia công cho các nước giàu có. Nghe xong, Lê Duẩn nạt lại: Lại muốn học chúng làm nô lệ ư?  1999, sau khi VN kí hiệp định thương mại với Mĩ, mà vẫn có vài người có tư duy chống Mĩ! Đỗ Mười chỉ thị phải nhớ rằng Mĩ vẫn là kẻ thù của VN và của thế giới. Đỗ Mười còn nói ai thò tay kí vào hiệp thương thì đáng tội “bán nước”. Bộ trưởng Trương Đình Tuyển, người tích cực vận động cho hiệp định, sau đó phải “ra đi”, nói đúng hơn là bị truất phế khỏi chức bộ trưởng.

2. “thành tích” đối xử với Việt kiều và người ngoại quốc của VN không có gì đáng khoe. Nói đúng ra là họ có thái độ hai mặt, ngoài mặt thì nói hay, đằng sau lưng thì nói xấu. Có thể xem đó là thái độ xảo trá và tiểu nhân.

3. người lãnh đạo cao nhất như Phiêu mà không hiểu nổi rằng: xưa nay có bao giờ Việt Nam được bình đẳng với Trung Quốc!

Posted in Chinh Tri Viet Nam, Sách-Hồi Ký-Bài Báo... | Leave a Comment »

►Trần Đỉnh, Đèn Cù tập 2: Bí ẩn cung đình đỏ và thân phận con người

Posted by hoangtran204 trên 27/11/2014

 

dencu-2-622.jpg

Bích chương quảng cáo Đèn Cù tập 2 của Trần Đĩnh.

.

Kính Hòa, phóng viên RFA
25-11-2014
.

Tác phẩm Đèn cù phần 2 của nhà văn Trần Đĩnh sẽ ra mắt bạn đọc trong thời gian tới đây. Những dòng tự sự về thân phận con người trong chế độ cộng sản cũng như những bí ẩn chính trị bị che dấu tiếp tục được phơi bày. Sau đây là góc nhìn của một trong những độc giả đầu tiên của Đèn cù phần hai.

Hồng cung bí sử

“Ông Lê Trọng Nghĩa xuất thân là một sinh viên khoa Luật, thông thạo nhiều thứ tiếng. Năm 23 tuổi (tức 1945) ông làm thuyết khách gặp gỡ Trần Trọng Kim, thuyết phục chỉ huy Nhật ở Trại Bảo an binh và tham gia đàm phán với Tổng chỉ huy quân đội Nhật ở Hà Nội. Chia sẻ về công việc của mình, ông nói: “Tôi theo dõi tất cả các vấn đề có quan hệ tới đối phương như Pháp, Mỹ, và các nước khác có liên quan đến cách mạng Việt Nam. Dựa vào những tin tức đó, Bộ Chính trị đưa ra chủ trương, quyết sách”. Giai đoạn Cách mạng Tháng 8, ông Nghĩa đại diện chính quyền Việt Minh liên hệ với quân đội Nhật. Chủ trương lúc đó của Việt Nam là chỉ huy quân giải phóng đánh vào quân Nhật đang co cụm ở Thái Nguyên để mở đường Nam tiến.”

Đó là đoạn trích từ bài báo ngày 11/10/2014 trên báo mạng Vnexpress tại Việt nam. Bài báo này ghi nhận cảm nghĩ của ông Lê Trọng Nghĩa về Đại tướng Võ Nguyên Giáp, đồng thời cũng ghi vắn tắt tiểu sử của ông Nghĩa, một người từng đứng đầu ngành tình báo Việt nam và giữ vai trò quan trọng nhất trong cuộc cướp chính quyền tháng Tám năm 1945.

Điều mà báo này không nhắc đến là chuyện ông Nghĩa bị bắt, không án trong cái gọi là vụ án xét lại chống Đảng.

Điều này lại được tác giả Trần Đĩnh ghi nhận rất chi tiết trong phần hai cuốn tự truyện Đèn Cù.“Nhưng thân phận cựu Đại tá tình báo Lê Trọng Nghĩa không quan trọng bằng tiết lộ của ông về cuộc cách mạng tháng tám mà Trần Đĩnh ghi lại”. Theo tiết lộ này thì trong tháng tám 1945 những người đứng đầu Việt minh, mà nòng cốt là đảng cộng sản đã ra quân lệnh số 1 tấn công quân đội Nhật bản đang chiếm đóng Đông dương lúc ấy. Trong khi đó thì bộ phận Việt minh ở Hà nội do ông Lê Trọng Nghĩa đứng đầu thương lượng thành công với quân đội Nhật để lên nắm chính quyền. Ông Hồ Chí Minh và các cố vấn của ông đều không biết việc này. Và khi những đội quân Việt minh đầu tiên tiến về Hà nội từ Việt bắc vẫn phải xin phép quân đội Nhật.

“Điều này có nghĩa là sự thành công của cách mạng tháng tám không phải là sự tổ chức sắc sảo từ đầu đến cuối của đảng cộng sản Việt nam mà là một khoảng trống về quyền lực lúc ấy trên bán đảo Đông Dương.

Những tiết lộ lịch sử ấy ắt hẳn là điều mà nhiều người quan tâm đến lịch sử và chính trị Việt nam mong đợi từ quyển sách Đèn Cù tập 2 sắp xuất bản, cũng như họ đã mong đợi từ phần một quyển tự truyện này.

Một điều có lẽ cũng sẽ gây ngạc nhiên cho người đọc khi Đèn cù 2 tiết lộ rằng Lê Duẫn đã từng tiếp xúc với tình báo Mỹ, mặc dù sau đó tại đại hội trung ương đảng lần thứ 9 ông là người đứng đầu phái thân Mao chủ trương dùng bạo lực để tiến đánh miền Nam.

Nhà văn nhà báo Trần Đĩnh, ảnh chụp năm 1998. Hình do ông cung cấp.

Nhà văn nhà báo Trần Đĩnh, ảnh chụp năm 1998. Hình do ông cung cấp.

Cũng liên quan đến ông Lê Duẫn, những điều Trần Đĩnh ghi chép lại cho biết rằng sự “bất kính” của ông Duẫn đối với ông Hồ đã bắt đầu từ khi ông được huấn luyện bởi các bậc đàn anh như Trần Phú, Hà Huy Tập, những người được Quốc tế cộng sản công nhận chứ không phải là ông Hồ, một kẻ bị thất sủng, dù ông cũng là người được Đệ tam quốc tế đào tạo từ rất lâu.

Người ta cũng sẽ ngạc nhiên khi biết rằng Trần Đĩnh nghi ngờ nhân vật Trần Xuân Bách khi ông này đề ra những ý tưởng cải cách chính trị cởi mở hơn cho Việt nam.

Và những câu chuyện thâm cung bí sử về những nhân vật chính trị một thời của đảng cộng sản Việt nam tiếp tục được ghi lại qua ngòi bút dí dỏm của Trần Đĩnh, người chỉ khiêm tốn đặt tên cho quyển sách đầy ắp tư liệu lịch sử của ông là “Truyện tôi”.

Những chi tiết lịch sử ấy Trần Đĩnh gọi là “Hồng cung bí sử”.

Thân phận con người

Những sự kiện lịch sử dù bị che dấu, cũng sẽ dần dần lộ ra trong thời đại thông tin toàn cầu này,“điều mà Trần Đĩnh đem đến nhiều nhất cho người đọc chính là sự mô tả thân phận con người trong và dưới chế độ cộng sản.”

Những nhân vật trong guồng máy như các ông Lê Liêm, Bùi Công Trừng, Đặng Kim Giang, Ung Văn Khiêm,… những người có công gầy dựng nên đảng cộng sản bị đối xử một cách tàn khốc khi sa cơ thất thế, bị chính các đồng chí ngày hôm qua của họ giáng xuống những bản án nặng nề. Trần Đĩnh viết:

“Đất nước bị mắc phải một giống vi trùng có tên là tính đảng. Nó kháng lại mọi yêu cầu tử tế của con người.

Ông viết thêm là ở nước Việt nam, nhờ có đảng mà cái gì cũng là hai mặt, hai mang. Và những tư tưởng giai cấp mà đảng cộng sản đem vào Việt nam đã để lại những sự đảo điên vô cùng nghiêm trọng cho xã hội Việt nam:

“Nó gây sốc đảo điên dân tộc, nó đem vào lập trường đấu tranh giai cấp, đi vào trong mọi quan hệ xã hội, họ hàng gia đình, bạn bè để đấu tố nhau, xin mạng nhau.

Tuy nhiên cuộc đấu đá quyền lực của những người lãnh đạo cộng sản không làm họ xao nhãng việc cai trị. Trần Đĩnh viết tiếp:

“Tôi lạ là các bộ óc đầy hằn học, nghi ngờ nhau như vậy vẫn nhất trí được với nhau trong việc trị dân.

Sự phản kháng của dân chúng trước sự toàn trị ngặt nghèo của đảng được Trần Đĩnh mô tả lại qua những buổi trò chuyện dài giữa ông và anh thanh niên vá xe đạp. Qua đó người đọc thấy sự phản ứng rất đặc biệt của người dân dưới chế độ cộng sản: Không có những cuộc biểu tình, những cuộc nổi dậy mà có sự châm biếm các giới lãnh đạo, sự biến thái của ngôn ngữ để chuyển tải những câu chuyện khôi hài đen.

Đọc Đèn cù tập 2 người ta cũng thấy một mối quan hệ đặc biệt giữa những người bất đồng chính kiến, những người bị chế độ lên án với những nhân viên an ninh theo dõi họ. Họ tồn tại song song nhau, khai thác nhau. Bộ máy an ninh dày đặt đã gieo rắc sự sợ hãi vào trong lòng dân chúng, và cả những người có cương vị trong xã hội. Trong xã hội ấy một khi người ta ngại tiếp xúc với các cơ cấu của bộ máy quyền lực chính là lúc người ta bắt đầu có biểu hiện của sự khủng hoảng tâm thần do bị đàn áp về tinh thần. Đó là nhận xét của Trần Đĩnh về những thân phận con người xung quanh mình và ông thường xuyên tự nhắc mình rằng trong cái sợ đó “phải ứng phó làm sao cho đúng cốt cách một con Người”.

Dù biết rằng bất cứ sự so sánh nào cũng khập khiễng, nhưng câu chuyện về những nhân vật cộng sản Việt nam mà Trần Đĩnh ghi lại, không khỏi gợi cho độc giả nhớ đến cuốn tiểu thuyết chính trị của nhà văn Pháp Andre Malraux mang tựa đề “Thân phận con người”, mô tả cuộc nổi dậy của lực lượng cộng sản tại Thượng hải, Trung quốc vào những năm 1930. Người ta thấy nhiều âm mưu, nhiều sự bội phản, nhiều sự cơ hội, và trên hết là sự ảo tưởng mà Trần Đĩnh gọi là sự Mộng tưởng. Sự mộng tưởng vào chủ nghĩa cộng sản ám ảnh tác giả lớn đến mức mà ông lập lại đến hai lần trong phần hai của tác phẩm Đèn cù:

“Mộng tưởng không trọng lượng nhưng đè sập biết bao đời người.

 

Posted in Sách-Hồi Ký-Bài Báo..., Đảng CSVN | Leave a Comment »

►Người ‘đẹp’ nhất trong Đèn Cù

Posted by hoangtran204 trên 18/10/2014

Người ‘đẹp’ nhất trong Đèn Cù

Bùi Tín | VOA   17-10-2014
.

Cuốn Đèn Cù của Trần Đĩnh đang được phổ biến ngày càng rộng trong và ngoài nước.

Với tôi cuốn sách giúp nhớ lại biết bao cảnh cũ người xưa. Do hoàn cảnh lịch sử tôi đã có một số cuộc gặp Hồ Chí Minh, khá nhiều lần gặp làm việc với Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Nguyễn Lương Bằng, Đỗ Mười, Nguyễn Cơ Thạch, Tố Hữu…, cũng rất nhiều lần làm việc với các tướng Võ Nguyên Giáp, Chu Huy Mân, Văn Tiến Dũng, Lê Trọng Tấn, Lê Đức Anh, Nguyễn Hữu An, Vũ Lăng…

Tôi cũng từng ở trong tòa soạn báo Nhân Dân 2 lần, lần đầu trong cả năm 1972, lần sau trong hơn 8 năm (tháng 2/1982 – 8/1990), cùng một cơ quan với nhà báo Trần Đĩnh, khi Trần Đĩnh đã bị kỷ luật khai trừ khỏi đảng rồi đi lao động cải tạo ở nhà in báo Nhân Dân, hàng ngày khuân các cuốn giấy in từ ngoài đường lên tầng 3 nhà in và đúc lại các chữ chì cho máy in. Trong 8 năm sau, tôi tham gia đảng ủy Ban biên tập, dự họp các buổi giao ban hằng tuần, họp Biên ủy hàng tháng, hằng năm, bàn bạc đủ chuyện – xem xét khen thưởng, kỷ luật, đảng viên tiên tiến, lên cấp, lên lương, xét đi học nước ngoài, đi họp quốc tế, cấp nhà mới, tuyển phóng viên…Tôi thận trọng, ngồi nghe, suy ngẫm, vì vẫn còn xa lạ, nhưng vẫn hiểu ra sự thật.

Tôi có thể chứng thực những điều Trần Đĩnh viết ra là chân thực, 2 tuyến nhân vật, một bên là bầy nịnh thần, bầy đàn «ngu trung» của chế độ độc đảng sùng bái Mao, sùng bái bạo lực, một bên là những người có tư duy độc lập, có tư duy đòi xét lại chủ nghĩa Mác – Lênin, xây dựng một kiểu chủ nghĩa xã hội có bộ mặt Người, chủ trương tranh đua hòa bình giữa các chế độ xã hội khác nhau. Số này bị lên án, bị vu cáo tay sai đế quốc, sợ gian khổ, sợ hy sinh. Phần lớn bị khai trừ ra khỏi đảng, bị tù không có án, bị đưa đi cải tạo lao động, chăn dê, chăn bò, đi lao động ở nhà in, mỏ than, con cái bị phân biệt đối xử.

Có một vài người lúc đầu hăng hái theo Xét lại, chống sùng bái cá nhân, ca ngợi con đường đấu tranh không bạo động, cổ vũ biện pháp đấu tranh của Mahatma Gandhi, của Nelson Mandela, nhưng về sau chuyển hẳn sang thành đồ đệ trung thành của Mao-ít. Nổi bật nhất là 2 anh em nhà báo, anh ruột là Thép Mới nhà báo cột trụ của báo Sự Thật và báo Nhân Dân. Trong loạt bài “Thời thắng Mỹ”, Thép Mới từng ca ngợi hết mức ông Lê Duẩn, rằng “anh Ba đã sáng láng hơn cả bác Hồ, bản lĩnh hơn bác Hồ”. Ông em Hồng Hà còn hơn ông anh nữa, xoay lập trường 180 độ, được lọt vào mắt nâu của cả 2 ông họ Lê, còn kế thừa ông Hoàng Tùng làm tổng biên tập báo Nhân Dân, từ đó lên chức Trưởng Ban đối ngoại trung ương. Hồng Hà là nhân vật trung tâm cùng tướng Lê Đức Anh mẫn cán thu xếp cuộc gặp lịch sử ở Thành Đô tháng 9/1990, “đánh dấu thời kỳ Bắc thuộc mới cực kỳ nguy hiểm”, như ông Nguyễn Cơ Thạch cảnh báo ngay lúc ấy. (Hội Nghị Thành Đô ngày 3 và 4-9-1990- Những sự thật cầnbiết)

Khuôn mặt thứ 3 đáng nhớ là nhà báo Hữu Thọ, một nhân vật thâm hiểm của phái “Mao-nhều” (theo cách gọi của Trần Đĩnh) ở báo Nhân Dân. Trần Đĩnh đã nhiều lần dùng ngòi bút trào lộng khắc họa lại nhân cách đáng thương của ông này, một tay cơ hội lắm mẹo vặt, leo lên đến chức tổng biên tập báo Nhân Dân, rồi Trưởng ban tư tưởng và văn hóa – để dạy bảo đạo đức bác Hồ cho toàn đảng vào dịp “45 năm học Bác” tháng 9 /2014 mới đây, khi ông đã về hưu hơn 10 năm nay.

Bên cạnh vài ba nhân vật “Mao-nhều” khá lý thú có thể nhận rõ mặt trên đây có một nhân vật đứng giữa, không theo Mao mà cũng không chống Mao, nhưng nổi bật, được tác giả Trần Đĩnh nói đến rất nhiều trong Đèn Cù với lòng quý mến đặc biệt. Tôi muốn nói riêng về ông trong bài báo này. Đó là ông Nguyễn Trung Thành (NTT), một thời là cánh tay phải của Lê Đức Thọ, nắm chức vụ then chốt về nhân sự – Vụ trưởng Vụ bảo vệ chính trị trong Ban Tổ chức trung ương do ông Thọ làm trưởng ban.

Ông NTT là nhân vật nắm trọn hồ sơ của 36 người dính vào vụ án “Xét lại chống đảng” mà danh sách có khá đầy đủ trong Đèn Cù, cùng với tất cả các vụ án chính trị khác. Sau khi đã về hưu vào năm 1990, ông NTT đọc lại toàn bộ hồ sơ của các vụ án, xem kỹ các lời phản cung, kêu oan, đặc biệt là các lời trần tình của các ông Hoàng Minh Chính, Hoàng Thế Dũng, Vũ Đình Huỳnh, Lê Liêm (khi 2 ông này còn sống), gặp và lắng nghe ông Lê Hồng Hà, từng là Chánh văn phòng bộ Công an, cũng bị bắt giam trong vụ án «Xét lại chống đảng làm gián điệp cho nước ngoài» .

Theo Trần Đĩnh thuật lại trong Đèn Cù, với lòng ngay thẳng NTT bắt đầu hoài nghi về kết luận vũ đoán của toàn vụ án, nhận ra bản thân đã mù quáng a dua theo định kiến của cấp trên là Lê Duẩn và Lê Đức Thọ, gây nên quá nhiều bất công.

Thức tỉnh, hối hận sâu sắc, năm 1993 ông thảo ra thư gửi cho Tổng bí thư Đỗ Mười và thường trực ban bí thư Phan Diễn, trình bày rành rọt những sai lầm của vụ án làm hàm oan 36 đảng viên cấp cao của đảng, những người không hề làm gián điệp cho nước ngoài, họ chỉ sử dụng quyền có ý kiến khác với lãnh đạo do có tư duy độc lập. Tất cả những lời kết tội đều mang tính chất định kiến, suy diễn, và khiên cưỡng. Nhưng Đảng vẫn một mực im lặng.

Năm 1996, NTT lại đến gặp Tổng bí thư Đỗ Mười, trình bày rõ ý kiến về vụ án do ông thụ lý và nói rõ chính kiến của mình là minh oan, xóa án cho người ngay là việc đúng đắn, nên làm, sẽ được lòng đông đảo đảng viên và toàn dân. NTT đề nghị lập một tiểu ban thẩm tra để đi đến kết luận lại vụ án. Đỗ Mười trừng mắt, lắc đầu buông ra một câu: «về hưu rồi sắp đi chơi với giun rồi, sao còn viết kiến nghị gửi vung lên?».

Vẫn theo Trần Đĩnh, NTT biết là hỏng rồi, nhưng vẫn cưỡng lại. Ông nói với Đỗ Mười: “Anh đã 78 tuổi, hơn tôi 6 tuổi còn làm việc mà. Tôi thấy đồng chí mình bị oan, không thể bỏ mặc được”. Ngay sau đó, NTT bị khai trừ, bị trả thù cay độc, bị đuổi ra khỏi đảng, tước mọi khen thưởng cũ, không còn lương, phụ cấp ngang cấp thứ trưởng, sống trong cô đơn đạm bạc đến tận nay. Không rõ nay NTT còn sống hay đã đi xa.

Điều quan trọng là NTT được Trần Đĩnh nói đến khá nhiều trong Đèn Cù. Thật rất hiếm trong đảng CS có một con người như vậy. Giữa một hồ đầy bùn vẫn giữ mình trong sạch. Con người có lương tri, không a dua theo quyền lực, danh vị, có lòng nhân ái sâu đậm, sống ngay thật, biết nhận ra sai lầm, hối hận và có ý chí sửa chữa sai lầm. Tôi mong rằng với cuốn Đèn Cù, vụ án “Xét lại chống đảng làm gián điệp cho nước ngoài” sẽ không bị dìm chết trong quên lãng. Nó sẽ bật dậy sống lại trong dư luận xã hội, trong lương tâm của đông đảo đảng viên CS bình thường khi Đại hội XII đang đến gần. Không thể để chậm nữa. Cho dù phần lớn nạn nhân đã chết uất ức oan uổng. Chậm vẫn còn hơn không.

Mong rằng trong đảng CS sẽ vang lên nhiều tiếng nói yêu cầu đảng CS thực hiện mong muốn cao đẹp của NTT, xem xét lại vụ án «Xét lại chống đảng» đã tồn tại quá lâu. Tuy thật đáng buồn là có tin NTT đã không còn nữa, nhưng cũng may là một số nhân vật khác vẫn còn sống, còn nhân chứng Lê Hồng Hà, và theo tôi được biết, còn các ông Lê Trọng Nghĩa, Phan Thế Văn, Phùng Mỹ đang sống ở Hà Nội. Ở nước ngoài còn có các ông Nguyễn Minh Cần, nguyên phó chủ tịch Ủy ban nhân dân Hà Nội, sống ở Nga; còn nhà văn Vũ Thư Hiên sống ở Pháp…Và vẫn còn những người lãnh đạo chịu trách nhiệm kế tiếp về vụ án cực lớn ấy như: Đỗ Mười, Lê Đức Anh, Lê Khả Phiêu, Nông Đức Mạnh, Nguyễn Phú Trọng… Họ không thể phủi trách nhiệm. Chính họ đã mù quáng theo đường lối của Mao, dẫn dắt đất nước vào thảm họa huynh đệ tương tàn, cố tình chà đạp “quyền tự quyết thiêng liêng của nhân dân miền Nam VN” được ghi rõ trên 2 Hiệp định Genève và Paris, mà họ đã long trọng ký kết. Để dẫn đến đất nước lạc hậu, tan hoang, không pháp luật ngày nay.

Vợ con, gia đình, con cháu, chắt, bạn bè của 36 nạn nhân vụ án chắc chắn sẽ cảm thấy vui lòng, được an ủi, xoa dịu niềm đau đã kéo dài hơn nửa thế kỷ, một khi vụ án được minh oan một cách công khai, theo «một nền pháp quyền nghiêm minh» mà Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã hứa hẹn từ đầu năm, nhưng đến nay vẫn chưa thấy tăm hơi. Đây có thể là dịp tốt.

Bùi Tín

 

Nhận định của ông Bùi Tín về việc một số lãnh đạo VN bị tố giác cộng tác với CIA, (22-7-2004),

(khám xét và bắt ông Lê Hồng Hà)

http://www.rfa.org/vietnamese/programs/VietnamPolitics/141853-20040722.html

 

Phỏng vấn Lê Hồng Hà – Đảng chỉ còn vai trò kìm hãm xã hội (3-6-2012)

http://www.procontra.asia/?author=11

————-

Đỗ Mười liên can đến chuyện Nhân Văn và Giai Phẩm…

LY RƯỢU TRƯA CHỦ NHẬT

28-9-2014

NGUYỄN TRỌNG TẠO

Sáng nay Chủ nhật, ông bạn là Lê Doãn Hợp (cựu Bộ trưởng) gọi điện muốn đến thăm mình ở nhà sàn, uống rượu và đàm đạo. Lâu lâu không gặp nhau, nay thấy bạn bảo thế thì mình OK và sang nhà sàn sớm, dọc đường ghé chợ mua mấy quả cà tím và bó rau muống, gọi là bữa nhậu có rau.

Ảnh, từ phải sang: Lê Doãn Hợp, Tám, Mai, Thiên Sơn, Hồng Đăng, Thu Hà, NTT, Khang Nguyễn _ Photo Hiếu

Gần trưa, chú Khang chở sếp cũ cùng 2 nhà báo Tám, Mai đến đúng hẹn, lại còn xách theo rượu Nhật, rượu tây. Nhóm Hà Đăng, Thiên Sơn đi taxi bị lạc đường đến muộn, nhưng cũng kịp vào bếp chung tay làm mấy món nhậu. Thế là bữa trưa rôm rả với những câu chuyện mà nếu không kể ra chắc là chẳng mấy ai biết.

Nhân thấy bức tượng thi sĩ Hoàng Cầm, Văn Cao… ngoài vườn, ông Hợp nhớ thời đang đương nhiệm, có lần làm Chủ tịch hội đồng Giải thưởng Nhà nước (GTNN), phải đi “kêu” cho Hoàng Cầm, Phùng Quán, Lê Đạt, Trần Dần… Chả là trong lúc đang xét GTNN, có điện thoại của cựu TBT Đỗ Mười và bà Thanh vợ ông Tố Hữu phản đối. Sau đó lại thêm lá thư của GS Hà Minh Đức không đồng tình. Thế là ông Hợp phải đi gặp từng người để giải thích, đại ý: Đây không phải là khơi lại câu chuyện Nhân văn – Giai phẩm, mà là ghi nhận những đóng góp xuất sắc về văn học nghệ thuật của các tác giả này đối với đất nước. Cuối cùng thì các vị “phản đối” cũng đồng ý. Và việc trao giải thưởng cho một số nhà văn trong nhóm NVGP đã ghi nhận một cách nhìn mới đối với tài năng và sự đóng góp của họ. Trong việc này, ông Hợp có ý tiếc là lúc đó không thông qua được Giải thưởng Nhà nước cho nhà thơ Hữu Loan, tác giả bài thơ “Màu tím hoa sim” và nhiều bài thơ nổi tiếng khác.

Có nhiều câu chuyện vui, nhưng riêng chuyện đó đã làm tôi thêm thán phục sự can đảm của ông Bộ trưởng trước những tình thế khó khăn cho anh em văn nghệ sĩ.

Nếu ai cũng vì những giá trị thực sự của trí thức văn nghệ sĩ như thế, thì cuộc đời của họ đâu phải khổ đau kéo dài trong những ngày hoạn nạn.

Và ly rượu vui trưa Chủ nhật bỗng thấm chút đắng chát về những phận người thua thiệt trong oan trái. Nhưng rồi vẫn phải cười, chứ sao, cười cũng là thang thuốc để sống vui với đời.

 

SÔNG CÓ THỂ CẠN

Thái Bá Tân

Trong “Đèn Cù” có đoạn
Nói về Chu Văn Biên,
Trùm cải cách Nghệ Tĩnh,
Bắc ghế ngồi trên thềm.

Hắn chỉ vào mặt mẹ
Chắp tay đứng dưới sân:
“Mày là đứa bóc lột,
Kẻ thù của nhân dân.

Không mẹ con gì hết.
Tao phải tiêu diệt mày.”
Vì cái thành tích ấy
Chu Văn Biên sau này

Được đề bạt thứ trưởng
Bộ nông nghiệp nước nhà.
Mẹ cắn lưỡi tự tử.
Thật tội nghiệp bà già.

*
Một chính quyền xúi giục
Con cái đấu mẹ cha,
Người ở đấu ông chủ,
Cháu chắt đấu ông bà,

Thử hỏi chính quyền ấy
Là thứ chính quyền gì?
Một tội ác man rợ
Thuộc vào hàng tru di.

Và sông có thể cạn,
Và núi có thể mòn,
Tội ác man rợ ấy
Sẽ được nhớ, trường tồn.

Posted in Nhan Vat Chinh tri, Sách-Hồi Ký-Bài Báo..., Đảng CSVN | Leave a Comment »

►GS Trần Đức Thảo: Sài Gòn đã làm tôi bàng hoàng đến cùng cực…Một chế độ để cho nghệ sĩ được tự do cất tiếng hát lên những nỗi niềm như thế không phải là một chế độ tồi tệ.

Posted by hoangtran204 trên 13/10/2014

Đọc tiếp »

Posted in Miền Nam trước ngày 30-4-1975, Sách-Hồi Ký-Bài Báo..., Uncategorized | Leave a Comment »

►Đèn cù soi tỏ u mê – Hà Văn Thịnh

Posted by hoangtran204 trên 28/09/2014

Giáo sư đại học khoa lịch sử HVT viết: “…Càng đọc thì càng phải toát mồ hôi để bụng bảo với dạ rằng thì ra mãi cho đến hôm nay mới biết mình ngu thậm ngu tệ, ngu không cho ai ngu cùng, ngu không biết đường về vì cái lẽ bị dối lừa suốt bấy nhiêu năm, đọc mòn sách mà cứ bán tin bán nghi về những điều xưng xưng hão…”

Đèn cù soi tỏ u mê

Nếu như Bên thắng cuộc đã khẳng định, một lần, dứt khoát rằng hầu như tất cả các nhà sử học chuyên về Lịch sử Việt Nam hiện đại chỉ là những “nhà” được phóng đại từ những cái lều theo nguyên tắc lều vẫn hoàn lều (trong đó có người viết bài này) thì Đèn cù đã đạt đến sự thăng hoa của cảm xúc, của rất nhiều những câu chuyện kể thật như đùa mà bất kỳ ai sau khi đọc cũng phải nghiến răng lại để cho mọi người biết rằng mình đang… cười ra nước mắt!

Cũng xin nhấn mạnh là tôi không dám đoan quyết những gì trình bày trong Đèn cù là hoàn toàn xác thực (lý do sẽ nói ở cuối bài này); do đó, cảm nhận của bài này chủ yếu dựa trên niềm tin vào sự trung thực của tác giả.

Lâu lắm rồi tôi mới được đọc một cuốn Hồi ký – tiểu thuyết giàu chất văn chương hay như thế về đời thường của các quan to, quan nhơ nhỡ, quan bé, quan dựa cột… dềnh dàng. Càng đọc thì càng phải toát mồ hôi để bụng bảo với dạ rằng thì ra mãi cho đến hôm nay mới biết mình ngu thậm ngu tệ, ngu không cho ai ngu cùng, ngu không biết đường về vì cái lẽ bị dối lừa suốt bấy nhiêu năm, đọc mòn sách mà cứ bán tin bán nghi về những điều xưng xưng hão…

Đèn cù kể mà như vẽ, như đẽo gọt một thớ gỗ xù xì để sau mỗi lần bóc tách từng sợi, từng mảnh gỗ, hình hài của những bức tượng nửa người nửa chưa phải…, có tên gọi đích thực là sự trơ tráo tàn nhẫn của dối lừa, tiểu nông, tham lam, thiển cận ngày càng hiện rõ trước cái nhìn tinh tế, sắc sâu của người viết.

Những sự thật từ trong bóng tối của lịch sử hiện nguyên hình là cái lẽ tít mù nó lại vòng quanh, theo sự sai khiến, độ nóng của… cố vấn TQ(!) Ôi chao là đớn đau cho số phận của cả một dân tộc được đặt vào tay của những người không thể làm gì hơn là trao vận mệnh quyền lực của họ vào… tay kẻ khác! Một câu hỏi nhức đến tận cơn đau răng trong… tim là: Tại sao Trung Quốc chỉ đi trước ta có mấy năm đánh du kích – nhưng lại đi sau ta 4 năm về mặt kinh nghiệm quản lý nhà nước, lại có quyền chỉ đạo, áp đặt tất tần tật, kể cả áp đặt cái chết, nỗi đau và vô số những sai lầm? Đến bây giờ, câu hỏi vẫn còn nguyên.

“Đời ta thành con rối/ Cho cuộc đời giật dây” là lời tiên tri có ý nghĩa huyền bí khi ta biết cả một giống nòi, truyền thống, sơn hà xã tắc chỉ gói gọn trong cụm từ vô cảm lạnh lẽo: “Stalin đã phân công Trung Quốc (tức Mao) ‘phụ trách’ Việt Nam”(!) Quả là không đủ ê chề để nghĩ rằng người ta nhân danh Quốc tế Cộng sản (mặc dù ngay cả cái Quốc tế đó cũng đã chết tự lâu rồi) để biến cả một đất nước thành con tin, thành sân chơi quyền lực và, thật thảm hại là trên cái sân chơi đó có quá nhiều kẻ nghiệp dư. Hàng triệu người cứ nhắm mắt chạy theo cái đèn cù đau đớn và nhục nhã ấy mà chẳng biết, chẳng hay rằng 5 năm, 10 năm hoặc lâu hơn nữa, hàng vạn người sẽ tìm đến cái chết với những vần thơ tự sướng như là máu thịt của chính mình: “Cầm cành hoa đi giữa loài người/ Vui nào bằng em nhỉ/ Cầm ngọn súng lên đường diệt Mỹ/ Ta đi qua thời gian” (Chế Lan Viên). Chao ôi, thời còn trẻ, tôi tự hào là học sinh thuộc nhiều thơ Tố Hữu, thơ Chế lan Viên nhất… thành phố Vinh (tính so với các bạn cùng khóa gồm 3 lớp 10 năm 1973, không phải vì tôi giỏi mà vì chúng nó chẳng đứa nào học khối C bởi xác tín rằng học khá khối C là một kẻ… ngu hề).

Cách hành văn độc đáo của Đèn cù không dễ gì học được bởi lịch sử, nỗi đau không bị biến thành gạch vỡ, ngói vụn mà như thể nó có hình hài thực sự làm cho ta nhức nhối, ta có cảm giác không phải nỗi đau ám ảnh ta mà thực ra ta đang đuổi theo nó, ta đang được sống cùng, sống thật với nó. Không ít những câu văn kể về cái chết của kẻ thù mà ta lại xót xa, xúc động đến lạ kỳ: “Xác lính Pháp nằm dài suốt hai vệ đường bốc mùi thối rữa. Cỏ lau mầu cốm non rạp xuống làm thảm đỡ mịn nhẵn đến không thể ngờ. Trên đó, trên tấm thảm ngỡ được là ủi đặc biệt công phu đó, những lồng ngực trống rỗng như đắp bằng bùn trộn trấu có những búi ruồi say sưa đánh vòng vo ve tíu tít ở bên trong”. Tác giả đã miêu tả thật độc đáo về thân phận ngu ngơ, thảm hại của những ông quan chỉ biết hoắng lên (từ của nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo nói tại Đại hội Hội Nhà văn Thừa Thiên Huế năm 1992/có thể tôi nhớ sai năm vì lúc đó mới được kết nạp vào Hội/ nhưng tuyệt đối không nhớ sai từ và ngữ cảnh vì sau phát biểu ấy, bác Tạo bay một nhát ra tận… Hà Nội) với những cái ghế quyền lực: “Hạnh phúc đúng là đang rịn ra ở trên những bộ mặt chợt mềm chảy xuống vì xúc động”. Người trí thức mơ ngủ hay mê ngủ chỉ cần đọc mấy chữ thôi là đủ để biết anh ta được “tôn trọng” đến cấp độ nào trong con mắt của những lãnh đạo vừa ít học, vừa có thân phận… đèn cù: “ngọn đuốc kị lửa trí tuệ”…

Tôi tin rằng, những gì Đèn cù muốn chuyển tải, phải một thời gian lâu nữa mới đủ thấm ít nhiều vào sự tăm tối của tôi bởi đến bây giờ tôi mới thực sự nhận ra mình u mê bền vững quá. Thật ra, tôi cũng như không ít người gọi là có học khác, luôn phải ngụp lặn trong một biển đời thực – hư lẫn lộn do sự lừa dối tinh vi đến mức tài tình, đúng như nhận xét của bác Trần Đĩnh: “Người ta lừa bịp đại trà được là nhờ khai thác những bản năng thấp hèn trong con người: sợ và tham lam”.

Nhân đây cũng nói luôn rằng, tôi không đồng ý với GS Nguyễn Văn Tuấn – mặc dù tôi vô cùng kính trọng GS ít nhất là hơn 10 lần qua hơn 10 bài của GS mà tôi đã đọc, kính trọng ở mức không đủ chữ để khen và cảm phục) khi ông cho rằng Đèn cù là “những câu chuyện cá nhân mang tính vụn vặt” (Quechoa, 23.09.2014).

Theo tôi nghĩ, những “vụn vặt” ấy có sức mạnh lột trần tất cả mọi thần tượng mà không dễ gì dùng cách khác diễn tả nổi. Ví dụ, chỉ cần đưa ra hai chi tiết rất ư là “vụn vặt” (nếu thực sự chính xác): Kể chuyện lãnh đạo cao nhất chỉ đạo Phạm Ngọc Thạch nghiên cứu xem rau muống luộc hay rau muống xào tốt hơn cho con người và chuyện về một vị tướng ‘nghiện’ sự đồng hành của bộ ba bún, thịt chó, mắm tôm lại đưa ra đề xuất – (và thực hiện thật, tôi còn nhớ rõ) cấm người dân làm bún để tiết kiệm… gạo(?) Trí tuệ của lãnh đạo như thế, đủ để biết rõ cái lý do vì sao đất nước mãi nghèo hèn…

Đèn cù có dăm bảy chỗ sai hoặc trùng lặp. Ví dụ, có cái sai làm người đọc khó hiểu: “tết Quý Dậu, 1957” (câu cuối cùng, chương 4). Bác Trần Đĩnh là người nói tiếng Trung giỏi đến mức người TQ nhầm là… người TQ, làm sao có thể lại sai ở kiến thức tối thiểu: Năm dương lịch có số sau cùng là số 7 phải Đinh (Đinh Dậu, 1957), số 4 là Giáp (Giáp Tý, 1984/Giáp Ngọ 2014), số 8 là Mậu (Mậu Thân, 1968), số 0 là Canh (Canh Ngọ, 1990)…? Ở một chỗ khác, tác giả nói “mưu lật đổ của Đảng cộng sản ở Indonesia rồi bị Sukarno trấn áp thảm sầu” là không đúng. TQ đã đạo diễn cho đảng CS Indonesia (PKI) tiến hành cuộc đảo chính tháng 9.1965 với sự đồng thuận của TT Sukarno và chính Tổng thống Sukarrno đã bị Shuharto (Shuharto được các nhà bình luận trên thế giới gọi là “viên tướng luôn mỉm cười” – The Smiling General) trấn áp. Sukarno đã sai lầm trầm trọng khi liên minh với PKI trong đất nước có tín đồ Hồi giáo đông nhất thế giới(!) để chống Mỹ dưới cái vỏ “trung lập”. Sau khi bị Ngoại trưởng Mỹ J.F. Dulles thẳng thừng cảnh cáo “trung lập là vô đạo đức” (Neutralism is immoral), TT Sukarno hiểu ngay về nguy cơ bị phái hữu lật đổ nên đã manh động… Tướng Shuharto đã tàn sát hơn nửa triệu đảng viên CS và làm tổng thống Indonesia từ 1967 tới tận tháng 5.1998…

Những chỗ thiếu chính xác trong Đèn cù làm cho người đọc có đôi chút băn khoăn về những chi tiết còn lại. Mặc dầu vậy, Đèn cù có lẽ, sẽ mãi là “quả hoả châu dập dềnh tròng (chòng?) ghẹo trên đầu” quan chức nước ta và… nghĩ suy của tất cả chúng ta!

Hà Văn Thịnh

——————–

Trần Hoàng: Tôi thích đọc các bài viết của tác giả Hà Văn Thịnh. Một số ý kiến của ông trong các bài viết trước đây chứng tỏ ông là người khá mặc dù ông ta chưa thoát khỏi ảnh hưởng cộng sản. 

Bài này có thể dẫn chứngcho nhận xét nói trên: Nhà sử học Hà Văn Thịnh nói về HCM (19-5-2010)

http://www.danchimviet.info/archives/8990/nha-s%E1%BB%AD-h%E1%BB%8Dc-ha-van-th%E1%BB%8Bnh-noi-v%E1%BB%81-hcm/2010/05

Nhưng qua Bài Đèn Cù Soi Tỏ U Mê (2014) cho thấy tác giả HVT  ngày càng tiến bộ hơn so với năm 2010.

Giáo sư HVT viết: “…Càng đọc thì càng phải toát mồ hôi để bụng bảo với dạ rằng thì ra mãi cho đến hôm nay mới biết mình ngu thậm ngu tệ, ngu không cho ai ngu cùng, ngu không biết đường về vì cái lẽ bị dối lừa suốt bấy nhiêu năm, đọc mòn sách mà cứ bán tin bán nghi về những điều xưng xưng hão…”

Trong bài về Đèn Cù Soi Tỏ U Mê, có đoạn tác giả Hà Văn Thịnh viết: “Cũng xin nhấn mạnh là tôi không dám đoan quyết những gì trình bày trong Đèn cù là hoàn toàn xác thực (lý do sẽ nói ở cuối bài này); do đó, cảm nhận của bài này chủ yếu dựa trên niềm tin vào sự trung thực của tác giả.”

Vậy thì mời giáo sư Hà Văn Thịnh nghe cảm tưởng của ông Bùi Tín về cuốn Đèn Cù. Ông Bùi Tín (sinh 1927) và ông Trần Đỉnh (sinh 1930) là hai người cùng sống ở miền Bắc, sống cùng giai đoạn lịch sử, cả hai đã từng phục vụ đảng trong giai đoạn đó, từng sống và làm việc với các nhân vật trong cuốn Đèn Cù…

https://www.youtube.com/watch?v=4lR30auiDrQ

 

 

Posted in Sách-Hồi Ký-Bài Báo... | Leave a Comment »

►Bùi Tín, cựu Phó TBT nhật báo Nhân Dân, nói về cảm nghĩ sau khi đọc Đèn Cù của Trần Đỉnh

Posted by hoangtran204 trên 27/09/2014

https://www.youtube.com/watch?v=4lR30auiDrQ

 

LINK DOWN LOAD sách ĐÈN CÙ – Trần Đĩnh: https://ia601402.us.archive.org/5/ite…

Ps: Nhằm mục đích giúp các bạn TRONG NƯỚC có thể đọc sách này vì không có nơi để mua và lưu hành sách này tại Việt Nam

 

Chính thức phát hành tác phẩm ‘Đèn Cù’ của Trần Đĩnh

*Số phận Việt Nam dưới chế độ cộng sản

20-8-2014

Báo Người-Việt: ‘Đèn Cù’ là cuốn sách ghi lại những cảm nghĩ, các sự kiện lịch sử, của một một nhà báo từng là Phó trưởng ban tuyên truyền Văn Nghệ báo Nhân Dân, nhằm nói lên sự thật cuộc sống của con người trong chế độ cộng sản tại Việt Nam.

“Đèn Cù, khi đọc xong mới hiểu tại sao tác giả không gọi nó là ‘hồi ký’, là ‘tự truyện’, mà cũng không phải là tiểu thuyết,” theo bình luận gia Ngô Nhân Dụng khi giới thiệu về cuốn sách mới này.

Nội dung cuốn sách không phải là tiểu thuyết vì chứa đầy những sự kiện được tác giả Trần Đĩnh mô tả mà những người đương thời có kinh nghiệm trải qua, biết chắc là sự thật. Cuốn sách ghi lại những nhân vật như Phan Kế An, như Thúy -người vợ nhà thơ Lê Đạt, bà Lợi Quyền -một nhà tư sản, v.v… qua những quan sát, những rung cảm, nhưng vẫn giữ nguyên sự thật của nhân vật và hoàn cảnh xung quanh.

Đọc ‘ Đèn Cù’ để biết về những “tiết lộ về Hồ Chí Minh khi tới quan sát cuộc đấu tố đầu tiên ở Đồng Bầm, hóa trang che bộ râu để không ai nhận ra,” hay “Trường Chinh đeo kiếng đen tới dự, để rút kinh nghiệm mà rèn luyện các đội cải cách cho đúng tiêu chuẩn thù ghét,” hay “các bài của Hồ Chí Minh ký tắt CB trên báo Nhân Dân để cổ động cán bộ học tập kinh nghiệm của Trung Cộng,” đều được tác giả ghi lại khiến người đọc không thể ngừng được.

Sách còn cho thấy tác giả “Trần Đĩnh là nhân chứng đầu tiên cho biết đã nghe Hồ Chí Minh nói thông thạo tiếng Hẹ và đoán rằng nhân vật chóp bu này đã hoạt động cùng các đảng viên cộng sản ở Móng Cái từ trước.”

Tác giả cho biết ông từng được Hồ Chí Minh, Trường Chinh nhờ viết hồi ký. Rồi câu chuyện Nguyễn Đức Thuận, người tù Côn Đảo tranh đấu trong tù, từ Nam ra Bắc và nhiều nhân vật khác và quan hệ  Việt Nam – Trung Cộng, và chứng kiến cảnh các tù binh Mỹ bị bắt, đi diễu trên đường phố Hà Nội.

Sách dày 600 trang do nhà xuất bản Người Việt ấn hành, giá bán $25/cuốn, có thể mua tại tòa soạn nhật báo Người Việt, 14771Moran St., Westminster, CA 92683.

Qua online tại Người Việt Shops hay tại các nhà sách Tự Lực (714) 531-5290, Văn Bút (714) 895-7080, hay Tú Quỳnh (714) 531-4284. (L.N.)

*Sau khi download, nếu có thể được, các bạn ghé nhà Bác Trần Đỉnh gởi lại phong bì để tỏ lòng kính trọng tác giả và chứng tỏ mình là người công chính…

————

Tác giả ‘Ðèn Cù’: Viết để giải thoát gông cùm ‘hận thù và dối trá’

21-8-2014

LTS Tác phẩm Ðèn Cù chính thức ra mắt độc giả sáng 20 Tháng Tám. Từ ba tuần nay, sau khi các trang mạng loan truyền bài viết của Ngô Nhân Dụng và Mặc Lâm, rất nhiều người đến tòa soạn Người Việt hoặc email hỏi mua sách. Ông Trần Ðĩnh năm nay 84 tuổi, sống ở Sài Gòn. Ông vào đảng Cộng Sản từ năm 18 tuổi, làm báo đảng và từng viết tiểu sử Hồ Chí Minh và nhiều lãnh đạo cao cấp khác như Nguyễn Lương Bằng, Phạm Hùng… Ông đã sáng tác và dịch nhiều tác phẩm Anh, Pháp và Hoa ngữ sang tiếng Việt.

Ông trả lời cuộc phỏng vấn này qua điện thoại sáng ngày 21 Tháng Tám.



Tác giả Trần Ðĩnh. (Hình: Trần Ðĩnh cung cấp)

Người Việt (NV): Thưa ông, Ðèn Cù đã chính thức ra mắt độc giả. Sáng hôm qua, quang cảnh tòa soạn Người Việt nhộn nhịp khác thường vì số đông độc giả đến mua Ðèn Cù. Xin ông cho biết cảm tưởng của ông ra sao khi đứa con tinh thần của mình được chào đón nồng nhiệt như vậy?

Trần Ðĩnh: Xin cảm ơn ông Ðinh Quang Anh Thái vừa phỏng vấn tôi bằng điện thoại và còn gửi hình cho thấy quang cảnh người đọc nhộn nhịp đến mua sách.

Ðèn Cù là một tiếng kêu đau thương dài cả hàng chục năm, ít nhất là của tôi, Hồng Linh (vợ tôi), Trần Châu (anh tôi) và các bạn bè gần gũi của tôi, phần lớn là nạn nhân chính trị như tôi.

Trong Ðèn Cù tôi có dành nhiều trang nói đến số phận bà con trong Nam sau năm 1975 – gồm có bố tôi và các em tôi – vậy thì có thể nói tôi cũng đã kêu hộ cả bà con trong đó, những số phận mà tôi thấy giống số phận tôi. Tại sao kêu? Có lẽ ở giữa sa mạc nếu bị đau con người ta cũng kêu. Kêu cho vợi nỗi đau. Và kêu với Trời. Mong Trời thấu. Nhu cầu nỗi niềm riêng được rọi thấu thực chất là nhu cầu được cứu giúp, chia sẻ, nó chính là nhằm vào cái kho báu sẵn sàng nhạy bén mở ra ban phát ở trong mỗi ai còn có lương tri: Tình thương đồng loại. Tôi cảm ơn nhà xuất bản Người Việt đã bắc một cây cầu nối tiếng kêu của tôi với người đọc. Và khi biết người đọc sẵn sàng chia sẻ, cứu giúp mình thì còn gì bằng được như thế nữa.
 
NV: Hẳn rằng tin tức Ðèn Cù đã về tới Việt Nam; ông có gặp khó khăn nào không với guồng máy an ninh – vì nội dung cuốn sách?

Trần Ðĩnh: Chưa thấy gì. Tôi hy vọng nhà cầm quyền đã thấy được lòng dân đang quá ư bồn chồn chờ thay đổi. Phải nói là dân bất bình lắm rồi. Càng đàn áp thì càng nung sôi lòng bất bình của dân lên.

NV: Trong Ðèn Cù ông viết: “Tôi đã tự nguyện làm thủ phạm tàn phá trước hết vào chính ngay mình. Tôi vốn yêu viết. Nhưng đã không viết nổi. Ðứa thủ phạm là tôi bắt tôi viết dưới bóng tối của “Hận Thù và Dối Trá.” Viết Ðèn Cù, ông đã vĩnh viễn thoát khỏi “Hận Thù và Dối Trá”; xin hỏi ông, số người như ông hiện nay tại Việt Nam có nhiều không?

Trần Ðĩnh: Thật ra, từ khi cầm bút viết, tôi chưa kêu gọi hận thù bao giờ. Còn viết Ðèn Cù là tôi đã thoát khỏi hai cái gông cùm kẹp: “Hận Thù và Dối Trá.” Còn câu hỏi của ông Thái là số người như tôi có nhiều không, thì khó trả lời nhỉ. Vì chả lẽ đổ vấy cho người khác cái mà họ không có, thí dụ bảo là họ sợ. Nhưng trong những người viết thực thụ thì động cơ hận thù và dối trá nay có lẽ đã nhạt đi nhiều rồi.

NV: Trong mắt ông, ông Hồ Chí Minh là người “Lòng trung của ông Hồ đối với Lê Nin, Stalin, Mao Trạch Ðông là vô bờ. Cho nên lòng trung của ông Hồ với nước Việt, dân Việt vơi đi.” Ông có thấy giới lãnh đạo hiện nay tại Việt Nam vẫn giữ nguyên “lòng trung” như ông Hồ đối với Bắc Kinh không?

Trần Ðĩnh: Ý thức hệ Mác xít kêu gọi đoàn kết – với khẩu hiệu “Vô sản toàn thế giới liên hiệp lại.” Nhưng đến Ðệ tam Quốc tế của Lê-nin thì khẩu hiệu ấy đã cõng thêm nội dung trung thành với Liên Xô, Stalin. Cần nói rõ, với người cộng sản, nguyên tắc tập trung dân chủ và đảng cộng sản của mỗi nước là chi bộ của quốc tế, mà quốc tế là Lê-nin, Stalin, Liên Xô và rồi dần dà thêm cả Mao Trạch Ðông. Người Cộng Sản Việt Nam không chỉ mang có chữ trung này mà phảng phất như còn mang cả chữ hiếu đễ nữa. Vì Cộng Sản Việt Nam vẫn dạy nhau “uống nước nhớ nguồn,” mà nguồn là Liên Xô, Trung Quốc (như câu ca dao “nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra”). Ðặc biệt ngoài ý thức hệ đòi phải trung thành lại còn thêm đủ các thứ ràng buộc chung thủy như “môi răng,” “anh em một nhà.” (Tất cả tội nợ là vì chúng ta quá xính ví von, hò vè, hình tượng hóa các phạm trù chính trị.) Chẳng hạn dân vẫn được dạy phải “trăm ơn, nghìn nghĩa, vạn tình” để ghi nhớ và đền đáp lại viện trợ to lớn của Liên Xô, Trung Quốc. Nhìn chung, có thể nói cho đến trước khi xẩy ra vụ giàn khoan HD 981 mà mới đây Trung Quốc đưa vào lãnh hải Việt Nam, thì giới lãnh đạo Hà Nội còn cố trung thành với Bắc Kinh, nhưng từ sau vụ sấp mặt đáng sợ đó thì Ðảng Cộng Sản bắt đầu có dấu hiệu khác. Nếu họ dám cương quyết “thoát Trung” như thế thì đó là hành động đáng khuyến khích.

NV: Trước tình hình Trung Quốc ngày càng ngang ngược lấn chiếm biển đảo của Việt Nam, đồng bào mình tại quê nhà đang kêu gọi đảng Cộng Sản phái “thoát Trung”; một số người còn cho rằng, muốn “thoát Trung” thì trước hết phải “thoát Cộng.” Xin nghe quan điểm của ông về vấn đề này.

Trần Ðĩnh: Trong những năm 90 của thế kỷ trước, tôi đã nói với anh em an ninh Hà Nội, rằng tôi không theo chủ nghĩa xã hội. Nghĩa là tôi muốn “thoát Cộng.” Bây giờ, đảng Cộng Sản sắp đại hội, các anh – như Nguyễn Chí Hùng, Lê Tiến, Ðoan, Tuấn. v.v… – hay hỏi tôi nghĩ gì về nhân sự lãnh đạo sắp tới của đảng, thì tôi lại nói tôi không nghĩ gì. Vì sao tôi dửng dưng thế? Vì, một: vẫn cứ là tiến lên chủ nghĩa xã hội, cái mục tiêu tôi không thích; hai: nhân sự vẫn chỉ là con súc sắc do một người tiện, rồi chính lại vẫn người ấy tung ra, ngửa ra số mấy thì số đó trúng.

Thế thôi. Trong Ðèn Cù tôi có viết: “Những ngày Tháng Tám 1945 tưng bừng, đứa thiếu niên 15 tuổi là tôi chỉ thấy đảng là chấp nhận tù đày, máu me, biểu tượng của hy sinh cao quý. Vào đảng để theo vị ‘Chúa Tể Tân Thời’, để được hy sinh, gian khổ chuộc lại những tháng năm nhởn nhơ của của mình. Và tôi đã có một thời đắm chìm trong cuồng ảo xóa bỏ chế độ tư hữu, dựng xây chế độ đại đồng cho loài người sung sướng với công hữu mà chuồng xí khi ấy cũng dát vàng…”

Nhưng rồi tôi bắt đầu thấy vị “Chúa Tể Tân Thời” phát hành bạc giả. Chấp nhận bạc giả thì tôi vinh hoa, từ chối thì tan nát. Hai ngả rõ như ban ngày.

Ðảng nói xây dựng xã hội công bằng, dân chủ nhưng đảng coi dân là quần chúng chỉ có sứ mệnh là tuân theo và vỗ tay hoan hô sự lãnh đạo của đảng mà thôi, bởi thế đảng mới đề ra “ý đảng lòng dân”, tức là dân chỉ có lòng nô nức làm theo ý đảng. Nói một cách dân dã, đảng không nghe “đằng ấy” đâu mà “đằng ấy” mở miệng. Hay thí dụ khẩu hiệu “đảng cử dân bầu,” lãnh đạo cả đến từng lá phiếu của dân thì hỏi ở đâu ra công bằng được nữa chứ. Tôi hy vọng đảng đang nhận ra chỗ so le đáng buồn giữa lời nói và việc làm này, giữa phận dưới đáy của dân và uy cao chót vót của đảng. Vị thế chót vót này tự nó làm cho mục tiêu công bằng đảng nêu ra trở thành trò cười.

NV: Ông có lạc quan vào tương lai Việt Nam không?

Trần Ðĩnh: Xưa nay tôi vẫn có máu lạc quan nhưng tôi luôn tự dặn mình chớ có lạc quan tếu.

NV: Cuối cùng, ông có tâm sự gì muốn nói với độc giả Người Việt.

Trần Ðĩnh: Người ta hay nói gợi hứng cho nhà thơ là một cô gái đẹp. Với tôi, kẻ kêu lên nỗi đau thì người đọc là bến bờ an ủi. Xin chân thành cảm ơn trước những bến bờ chìa tay đón nhận tôi.

NV: Cám ơn ông đã trả lời phỏng vấn của Người Việt.

————–

Đọc Đèn Cù của Trần Đĩnh

Nguồn anhbasam

30-8-2014

Việt Báo

Trần Đĩnh kể rằng ông Hồ và Trường Chinh tham dự buổi đấu tố cụ bà Nguyễn Thị Năm (Cát Hanh Long): ‘Cụ Hồ bịt râu đến dự một buổi và Trường Chinh thì đeo kính râm suốt’. Cũng như chi tiết áo quan rẻ tiền, không chứa nổi xác bà cụ Nguyễn Thị Năm, nên ‘Du kích mấy người bèn đặt bà ta nằm trên miệng cỗ áo rồi nhảy lên vừa giẫm vừa hô…’ (trang 86)“.

Phan Tấn Hải

30-08-2014

Trần Đĩnh không phải là một tác giả quen tên đối với người đọc sách Miền Nam Việt Nam, và cũng khá lạ với độc giả hải ngoại.

Nhưng ông là người đã từng cầm bút viết lên những trang sách nhiều triệu người đọc, ở Miền Bắc.

Trần Đĩnh là người chấp bút Tiểu sử chính thức đầu tiên của Hồ Chí Minh, năm 1960; và chấp bút các cuốn tự truyện, hồi ký cho Phạm Hùng, Lê Văn Lương… trong đó, nổi tiếng với dân Miền Bắc là cuốn “Bất Khuất” (hồi ký tù Côn Đảo của Nguyễn Đức Thuận, 1967). Trần Đĩnh cũng là dịch giả nhiều tác phẩm văn học…

Tại sao dân Miền Nam và hải ngoại ít biết tới Trần Đĩnh? Câu trả lời đơn giản: ông bị bắt, bị cải tạo lao động (trong một xưởng in), bị quản chế nhiều năm vì liên hệ trong “vụ án xét lại” — một vụ án được nhiều người gọi đơn giản là vụ án Hoàng Minh Chính, hay vụ án “tay sai Liên Sô”.

Tại sao ông dính vào “xét lai”?

Nơi trang 561 của “Đèn Cù,” tác giả Trần Đĩnh giải thích:

“Nhiều người không biết gốc tội chúng tôi là muốn đối thoại với bà con trong Nam chứ không xin máu họ. Cộng sản tồn tại nhờ chuyên chính bạo lực nhưng chúng tôi đòi giải vũ trang đảng, đòi đảng phải chụp bạo lực đi hay từ bỏ vai trò “bà đỡ của cách mạng” hay thôi con đường “chính quyền ra từ nòng súng.” Thực chất đòi dân chủ cho muôn người… chúng tôi đã xung phong làm nghịch tử. Không thích đổ máu người nữa. Thích quyền người.”

Cuốn tự truyện của Trần Đĩnh dày 600 trang, đầy những chi tiết về bản thân ông, một chàng trai theo lý tưởng chống Pháp, tham dự tổng khởi nghĩa do Cộng sản lãnh đạo ngày 19-8-1945 khi mới 15 tuổi, và năm 19 tuổi được đưa vào An Toàn Khu để làm báo Sự Thật bên cạnh các lãnh tụ như Hồ Chí Minh, Trường Chinh…

Tuy là tự truyện, nhưng trước hết đây là một lối viết rất văn học, chú ý tới nhiều chi tiết dễ dàng làm độc giả hình dung ra người và cảnh một cách sinh động.

Thí dụ, nơi trang 84, Trần Đĩnh kể rằng ông Hồ và Trường Chinh tham dự buổi đấu tố cụ bà Nguyễn Thị Năm (Cát Hanh Long): “Cụ Hồ bịt râu đến dự một buổi và Trường Chinh thì đeo kính râm suốt.”

Cũng như chi tiết áo quan rẻ tiền, không chứa nổi xác bà cụ Nguyễn Thị Năm, nên “Du kích mấy người bèn đặt bà ta nằm trên miệng cỗ áo rồi nhảy lên vừa giẫm vừa hô…” (trang 86)

Đó là những chi tiết văn học, làm đôc giả thấy cảnh hiện ra rõ ràng.

Trần Đĩnh vào nghề làm báo và dược Trường Chinh (Tổng Bí Thư Đảng và là Chủ nhiệm bao Sự Thật) hướng dẫn.

Trần Đĩnh cũng kể về “mối tình” của ông Hồ với cô Phương Mai… Cách kể chuyện của Trần Đĩnh rất văn học, với những chữ như: tự nhiên, mang ba lô, chăn chiếu, tớ được xua về sớm, về muộn, máy Cụ…

Trích trang 30:

“Một dạo Phan Kế An ngày ngày đến vẽ Cụ Hồ. Một chiều về sớm hơn, An nói: À, cái P.M. (Phương Mai) tự nhiên mang ba lô, chăn chiếu đến chỗ Ông Cụ, tớ được xua về sớm. Vài tháng sau, An lại về muộn. Hỏi vì sao thì An nói không thấy P.M. (Phương Mai) đến nữa. Chắc máy cụ yếu, giải đáp thuần túy sinh học. Không tính đến sở thích, gu của cụ”. (hết trích)

Đó là văn học, kiệm lời nhưng đưa sâu vào trí nhớ độc giả.

Phương Mai là ai?

Không rõ có phải Phương Mai đươc Nguyễn Minh Cần (Cựu Phó Chủ Tịch Ủy ban Hành chính thành phố Hà Nội) kể trong bài “Vài mẩu chuyện về cuộc đời HCM”, trích:

“…Xin nói rõ chuyện như thế này: hồi đó, có ý kiến là ông Hồ cần có vợ để việc “giải quyết sinh lý” được điều hòa thì tốt cho sức khỏe. Và sau Hiệp định Genève 1954, người ta chọn một người “kháu” nhất trong số nữ cán bộ trẻ, đó là chị Nguyễn Thị Phương Mai, tỉnh ủy viên Tỉnh ủy Thanh Hóa và đưa chị từ Khu Bốn ra Hà Nội để tiến cử lên ông Hồ. Và như ta đã biết qua cuộc “loạn đàm,” chị đặt vấn đề phải có hôn nhân đàng hoàng. Thế là… việc không thành. Rồi chị được bổ nhiệm làm thứ trưởng Bộ thương binh và ở luôn tại Hà Nội.”(hết trích)

Chị Phương Mai đặt vấn đề? Hay là ông Hồ thấy dan díu đã đủ rồi? Dĩ nhiên, không ai có câu trả lời chỗ này…

Trần Đĩnh cũng kể về cô X. người đứng bên cạnh ông Hồ và đươc ông Hồ xem là “con nuôi.” Cô X. Những cảm xúc của Trần Đĩnh với cô X. đươc kể nơi trang 97-98 và:

“Tôi quả đang vút lên chín tầng mây… Mới hôm qua ở suối lên, dốc trơn, tôi giơ tay ra đỡ X. Bàn tay con gái tôi lần đầu nắm lâu trong đời. Và cảm giác rạo rực theo tôi mãi…”

Cô X. lúng túng, rơi chiếc thìa trên cỏ… Cô X. cũng là người làm Trần Đĩnh mơ mộng, có lúc ký tên với bút hiệu Hoàng X. là vì cô.

Nơi trang 375, Trần Đĩnh kể tiếp:

“…rồi cô cho tôi cái thìa, món kỷ niệm tôi đặt lên trên bụi lạc tiên đầy bụi ở giữa Na Sầm và Đồng Đăng, chờ vượt sang Trung Quốc. Tóm lại tình trong như đã, mặt ngoài còn e…”

Nhưng rồi Trần Đĩnh tiêt lộ, cô X. chính là cô Xuân, chết ở Hà Nội vì bị ô tô đè… (trang 183) Nhiều năm sau, người ta mới biết cô Xuân cũng là một phần giường chiếu của ông Hồ.

Đọc “Đèn Cù” của Trần Đĩnh, chúng ta nhìn rõ hơn về cach công an đàn áp những người “xét lại,” và thấy một sự thật nữa: mỗi lần chuyển biến chính sách đối ngoại, sẽ có một thành phần trong Đảng bị thanh trừng.

Bản “Đèn Cù” tôi đọc tuy có vài trang in nhầm, nhưng 600 trang sách đầy những chi tiết lịch sử đã lôi tôi vào một thế giới hiếm người Miền Nam biết tới: từ nơi An Toàn Khu, Trần Đĩnh làm báo với Trường Chinh, rồi đi Bắc Kinh nhiều năm để học, những cảm xúc của anh với cô diễn viên múa Hồng Linh có cha bị giết oan vì nghi là Tàu Tưởng (phe Tưởng Giới Thạch), rồi về nước làm báo tiếp, bị thanh trừng, đẩy vào một góc xưởng in để “lao động cải tạo” nhưng tất cả các thợ in đều thương cảm…

Nhiều chi tiết lịch sử đươc ghi lại mà chính sử sẽ bỏ qua, trong đó có chuyện Lê Duẩn “trình bày về đề cương về vấn đề con người” riêng cho triết gia Trần Đức Thảo nghe (trang 435-441) và khi xin Giaó sư Thảo có ý kiến… thì:

“Ngơ ngác một lát, Thảo nói: – Tôi không hiểu gì cả.”

Thế là, Lê Duẩn vòng ra sau GS Thảo, vòng tay ôm GS Thảo nhấc lên, giộng xuống đất mấy cái cho hả giận… rồi bỏ vào trong nhà.

Sau đó, GS Trần Đức Thảo kể lại với Trần Đĩnh, Duẩn chẳng hiểu gì về chủ nghĩa Mác… Rồi Trần Đức Thảo thì thầm vào tai Trần Đĩnh: “Làm sao Duẩn lại Mác-xít được?”

Có một chi tiết cũng đã bị chính sử Hà Nội xóa đi: nhà báo Bùi Tín vào Dinh Độc Lập ngày 30-4-1975. Bây giờ, Hà Nội không muốn nhắc tới tên của nhà báo Bùi Tín, người đã vào Dinh Độc Lập và đã tò mò mở cửa một tủ lạnh nơi này…

Đọc cuốn Đèn Cù, sẽ có một số người không hài lòng, vì một số nghi vấn lịch sử không đươc Trần Đĩnh chú ý nhiều.

Người đọc có cảm giác không nghi vấn gì về tập thơ trong tù ký tên ông Hô mà một số học giả nói là của một bạn tù khác, và độc giả cũng không nghi vấn gì về một ông Hồ sau này được nói là gián điệp Hoa Nam giả mạo để càì vàoVN.

Ông Hồ trong “Đèn Cù” là một nhà hoạt động với những tham sân si đời thường, và cũng tội nghiệp khi bị Lê Duẩn lấn ép.

Nhưng Trần Đĩnh viết theo trí nhớ, theo những gì ông thấy, ông nghe. Và khi ông viết (thập niên 1990s) lại chưa cóInternet để tra cứu tài liệu. Và cũng có thể nêu nghi vấn rằng ông nhớ không chính xác một số chi tiết.

Dù vậy, chúng ta không thể đòi như một tác phẩm nghiên cứu. Đây là một hồi ký, một tự truyện và tận cùng là một tác phẩm văn học; “Đèn Cù” đã ngay lập tức có một vị trí đôc đáo trong dòng văn học Việt Nam.

Trần Đĩnh đã cầm bút lên để viết như một chứng nhân của cách mạng, viết như một nạn nhân của vụ án xét lại, viết như một nhà văn trôi nổi với lịch sử dân tộc, và trong tận cùng là viết như một người con rất mực yêu thương đất mẹ.

Sách đề giá 25 Mỹ Kim, xuất bản bởi Người Việt Books. Có thể vào Amazon.com để mua.

Ngắn gọn, những ngươì quan tâm về lịch sử không thể không đọc sách này.

———————-

 

Posted in Sách-Hồi Ký-Bài Báo... | 1 Comment »

►Đèn Cù và Những Lời Trăng Trối

Posted by hoangtran204 trên 23/09/2014

Một cuốn phân tích những sai lầm của chủ thuyết từ cơ bản, và một cuốn thì mô tả sự ứng dụng của chủ thuyết đó bởi những con người cuồng tín, đầy ắp những bất cập và khiếm khuyết (của trí tuệ). Hệ quả là đất nước lâm vào cảnh điêu tàn trong một thời gian dài, và cho đến ngày nay vẫn còn nằm dưới đáy của bậc thang phát triển. (Nguyễn Tuấn)

Đèn cù và Những lời trăn trối

22-9-2-14

Nguyễn Tuấn

.

Tôi đọc 2 cuốn “Đèn cù” (của Trần Đĩnh) và ” Những lời trăng trối ” (Trần Đức Thảo) một lúc. Vì đọc chưa xong nên chỉ có thể viết linh tinh vài cảm nhận đầu tiên. Cả hai cuốn sách đều nói về chế độ cộng sản cùng những con người trong chế độ đó, và qua đó chúng ta có thể giải thích tại sao VN bị lệ thuộc vào Tàu suốt mấy mươi năm qua và tại sao VN vẫn còn ở dưới đáy của bậc thang phát triển như hiện nay và có thể cả tương lai.

Nhưng cách tiếp cận hay cấu trúc thì rất khác nhau giữa hai tác phẩm. Đèn cù có vẻ tập trung vào những cá nhân gầy dựng chế độ và những con người yểm trợ chế độ cộng sản ở VN. Tác giả được sống gần các nhân vật đó một thời gian dài và có thể tiếp cận nhiều thông tin có thể nói là thú vị. Chẳng hạn như tác giả được phân công viết một phần tiểu sử ông Hồ và có dịp tiếp cận thông tin về cá nhân ông ở địa phương, và ông cả Khiêm (anh ruột ông Hồ) cho biết ông Hồ sinh năm 1891 (chứ không phải 1890) nhưng tác giả không đào sâu phân tích chi tiết này. Tác giả cũng không viết một cách rạch ròi về gia phả của ông Hồ. Thật ra, hầu như bất cứ nhân vật nào, tác giả chỉ phác hoạ sơ sơ, bề mặt, chứ không hề có đào sâu. Tuy nhiên, cảm nhận của tôi khi đọc những đoạn trong Đèn cù, ông cụ Hồ là một người có vẻ thờ ơ và lạnh lùng với thân nhân, anh em của ông. Ông không hề nhắc đến cha mẹ, anh chị em, và từ ngày ông đạt được quyền lực tột đỉnh, cũng không về thăm và ở lại quê.

Lại có những đoạn mô tả các nhân vật chóp bu trong đảng làm cho độc giả ngạc nhiên về trình độ văn hoá và nhận thức của họ. Chẳng hạn như đoạn tác giả thuật lại chuyện Lê Duẩn hỏi Bs Phạm Ngọc Thạch rằng rau muống luột và rau muống xào cái nào tốt hơn. Một đoạn khác, tác giả cho chúng ta biết về quan điểm của Lê Duẩn liên quan đến in tiền. Chuyện kể rằng ông Duẩn phàn nàn với Thành uỷ Hà Nội sao không bán giường tủ cho công nhân viên và trừ lương hàng tháng, nhưng Thành uỷ nói không có tiền, ông Duẩn bèn phán không có tiền thì in tiền. Ông giảng giải thêm: “Không sợ lạm phát! Tư bản đế quốc in tiền mới lạm phát chứ ta, chuyên chính vô sản thì sao lại là lạm phát mà sợ?”

Ở một đoạn khác, tác giả thuật lại một chuyện khá bi hài về số phận của ông Trần Đức Thảo (TĐT). Chuyện kể rằng Lê Duẩn mới viết xong một đề cương về con người, và triệu tập TĐT đến để nghe và cho ý kiến. Khi ông Duẩn đọc xong đề cương, ông TĐT im lặng không nói gì, nhưng khi được đốc thúc thì ông Thảo nói ông chẳng hiểu gì cả. Thế là ông Duẩn đùng đùng nổi giận “hai tay quàng ôm lấy ngực triết gia, xốc lên, dội xuống mấy lần, rồi ‘buông thịch’ xuống một cái cho ông giáo sư rơi xuống ghế ngồi.”

Có lẽ điểm làm cho Đèn cù thu hút nhiều độc giả là ở cái tính cá nhân, mà theo đó, tác giả mô tả có vẻ rất thật cá tính của từng người mà ông có dịp tiếp xúc. Thỉnh thoảng trong sách tác giả còn chêm vào những câu chuyện sex hay có màu sắc sex, rất dễ thu hút những người Việt tò mò. Có những chi tiết buồn cười như tác giả chạy theo để dòm ông Hồ Chí Minh … đi tiểu, và khi bị phát hiện, tác giả “liếc nhanh vào chỗ kia của Cụ. Và chỉ thấy vùng ấy hơi tôi tối – nâu nâu hay hồng hồng? Ô, cũng như mọi người?” Đọc đoạn đó chỉ làm cho chúng ta tức cười. Nhưng cũng có vài đoạn làm cho người đọc phẫn nộ về sự dã man của quân du kích khi họ dẫm đạp thi thể bà Nguyễn Thị Năm xuống áo quan vốn quá hẹp so với thân thể của bà. Có lẽ chi tiết quan trọng nhất trong phần “Cải cách ruộng đất” là ông Hồ từng viết bài dưới bút hiệu “CB” tố cáo bà Nguyễn Thị Năm, và ông cũng bịt râu để xem đấu tố bà Năm. Chi tiết này cho thấy ông Hồ hoàn toàn đứng đằng sau vụ đấu tố chứ không phải chỉ làm theo áp lực của cố vấn Tàu như nhiều người nghĩ.

Qua cách mô tả rất sinh động của Trần Đĩnh, độc giả sẽ thấy được những con người trong hệ thống đảng đã và đang được hệ thống tuyên truyền đề cao (hay thậm chí thần thánh hoá) chỉ là những con người rất bình thường và rất tầm thường. Họ không tỏ ra là những người minh triết hay có những phát kiến gì đáng chú ý. Qua ngòi bút của tác giả, ai cũng có thể thấy họ là những người cực kì giáo điều, tin tưởng vào Mao và Stalin gần như tuyệt đối. Họ sẵn sàng chấp nhận “giáo lí” Mao – Stalin, và có vẻ háo hức tình nguyện được làm “tín đồ” của tôn giáo đó. Họ muốn đưa VN thành một thành viên trong cái thế giới đại đồng mà tôn giáo Mao-Stalin vẽ ra. Còn sự tầm thường của họ sẽ làm cho nhiều người hâm mộ cảm thấy thần tượng bị sụp đổ hay khó tin.

Khác với “Đèn cù” có xu hướng tập trung vào nhân vật trong hệ thống, cuốn “Những lời trăng trối” thì tập trung vào phân tích nền móng của chế độ và chủ thuyết cộng sản. Những lời trăng trối cũng có những đoạn mô tả cá nhân, nhưng đó chỉ là một chất liệu để tác giả TĐT phân tích và diễn giải thêm. Chẳng hạn như đoạn mô tả TĐT gặp ông Hồ trong An Toàn Khu (ATK cũng được Trần Đĩnh nhắc đến) đầy kịch tính. Người ta phải đến nói cho ông TĐT biết về qui tắc gặp lãnh tụ ra sao, như phải đứng cách lãnh tụ 3 mét, không được giơ tay bắt tay trước mà phải chờ, không được nói leo, phải xưng là “bác” và “cháu” chứ không được xưng “tôi”, v.v. Đến khi lãnh tụ đến nơi, cuộc diện kiến chỉ có 1-2 phút với chưa đầy 4 câu nói:

– À! Chào chú Thảo! Chú về đây đã được bao lâu rồi?
– Cháu xin kính cháo bác! Cháu về đây được 5 hôm rồi.
– À này chú Thảo! Bác biết ở bên Tây, chú đã đọc nhiều sách vở, nhưng bây giờ về đây, thì chú phải gắng mà học tập nhân dân, nghe không? Thôi bác có hẹn nên phải đi kẻo trễ.

Thế là “bác đi”. Nhưng cái câu “nhưng bây giờ về đây, thì chú phải gắng mà học tập nhân dân, nghe không” được TĐT bỏ ra gần chục trang để phân tích! Ông cảm thấy ông là một đối tượng có vấn đề, và vấn đề là nhiễm tư tưởng phương Tây. Ông cảm thấy mình bị răn đe. Ông phân tích rằng trong cái nhìn của đảng, nhân dân chính là đảng, thành ra học tập nhân dân tức là học tập đảng! Ông TĐT lật đi lật lại cái câu “học tập nhân dân” và lí giải trong bối cảnh của ông. Ông đi đến kết luận rằng ông Hồ là một người rất phức tạp, hành tung bí mật (lúc thì đóng vai tình báo, lúc là sĩ quan mang lon thiếu tá trong Bát bộ quân, lúc vận áo cà sa, v.v.), thái độ khó hiểu, lời nói có khi đầy mâu thuẫn. Ông TĐT kết luận rằng đó là một “con người có tung tích bí ẩn, có tâm thức đa nghi, có phản xạ đa diện, nhạy bén, sẵn sàng chụp bắt mọi cơ hội, dù là mâu thuẫn với lí tưởng, với học thuyết, đối nghịch với lương tri, nhưng điều cốt yếu là để đạt tới mục tiêu.”

Trong Những lời trăng trối không có những câu chuyện cá nhân mang tín vụn vặt như Đèn cù. Thay vào đó, Những lời trăng trối có những kiến giải theo tôi là sâu sắc về chế độ và những phân tích tâm lí rất đáng học hỏi. Những kiến giải đó chỉ để tác giả kết luận rằng “Chính ông Marx đã sai”, và “không một ai muốn phấn đấu để trở thành con người vô sản”. Tác giả lặp đi lặp lại 2 khẳng định đó như để nói rằng chủ thuyết cộng sản (mà tác giả từng có thời ủng hộ) là sai, là nguyên do của những thất bại và đau khổ cho một thế giới không nhỏ trong một thời gian dài. Ông giải thích:

“Chính vì lâu đài tư tưởng của Marx, mà từ đó đi ra nhữg lãnh tụ đã thành những ác quỉ tuỳ tiện, lộng hành quyền lực, khiến hàng vạn chiến sĩ cộng sản đã bị hi sinh một cách oan uổng và vô ích … và ở nước ta có hàng triệu người bỏ làng mạc, bỏ mổ mả tổ tiên để di tản vào Nam năm 1954, và rồi đã có hàng triệu người đã liều chết bỏ cửa bỏ nhà chạy ra biển gây thảm cảnh “thuyền nhân” sau 1975 … làm cả thế giới rơi lệ. Thành phần dân chúng khốn khổ ấy, vì đã hiểu, đã nếm mùi lâu đài ‘thế giới đại đồng’ của Marx, nên họ đã liều chết bỏ chạy! Là vì họ muốn đi tìm nơi có công bằng, bác ái, có tự do và hạnh phúc thật sự” (Trang 342).

Một đoạn khác, ông giải thích cái gọi là “quỉ” như sau:

“Quỉ ấy là thứ đầu óc đầy gian sảo, hung bạo của quyền lực. Quỉ ấy là ý thức đấu tranh giai cấp, là thứ cuồng tín bạo lực và hận thù, là những khái niệm sai trái, độc ác ở trong đầu con người, nó thúc đẩy con người lao vào đam mê tìm thắng lợi bằng mọi thủ đoạn của tội ác, bằng đủ thứ quỉ kế, để mưu đồ củng cố cho chế độ độc tài, độc đảng. Những vinh quang độc tài, độc đảng ấy đều là phù phiếm, vì chúng làm khổ con người! Xét như vậy là thấy rõ là quỉ nó vẫn ở với người, vẫn ở trong con người lãnh đạo.”

Còn rất nhiều đoạn như tôi vừa trích để cho thấy TĐT không quan tâm nhiều đến cá nhân, mà chỉ kiến giải hành vi của cá nhân. Một số người cho rằng một điểm yếu của Những lời trăng trối là do người khác ghi lại lời nói của ông TĐT, và nghi ngờ chẳng biết ghi chép có chính xác. Đến nay thì người ghi chép đã công bố cuốn băng có lời nói của ông TĐT:

http://bit.ly/Xe2fTC

Có thể nói rằng Những lời trăng trối có hàm lượng tri thức hơn hẳn cuốn Đèn cù. Nhưng trong thực tế, tôi thấy hai cuốn này bổ sung cho nhau. Một cuốn phân tích những sai lầm của chủ thuyết từ cơ bản, và một cuốn thì mô tả sự ứng dụng của chủ thuyết đó bởi những con người cuồng tín đầy ấp những bất cập và khiếm khuyết. Hệ quả là đất nước lâm vào cảnh điêu tàn trong một thời gian dài, và cho đến ngày nay vẫn còn nằm dưới đáy của bậc thang phát triển.

Posted in Cải Cách Ruộng Đất 1951-1956, Sách-Hồi Ký-Bài Báo... | Leave a Comment »

►Hồ Chí Minh qua ánh sáng Đèn Cù

Posted by hoangtran204 trên 21/09/2014

Hồ Chí Minh qua ánh sáng Đèn Cù

Tác giả:

dencu-1

 

Phó-mát và Phở

Cùng thời điểm cuối hè 2014, ở Paris, dư luận ồn ào, Điện Elysée chao đảo vì quyển Hồi ký «Cảm ơn cho lúc đó» của bà Valérie Trierweiler, bồ cũ của Ông Tổng thống François Hollande, độc giả Việt Nam hải ngoại và cả ở trong nước cũng một lúc xôn xao không kém vì quyển «Đèn Cù» của Ông Trần Đĩnh. Một thứ tự truyện mà tác giả gọi là «Chuyện của tôi».

Cái khác nhau của 2 quyển sách, thể loại cùng na ná nhau, là «Cảm ơn cho lúc đó» bán ngay trong mấy ngày hết 200 000 quyển. Và đang in thêm 270 000 quyển nữa. Tác giả tạm đút túi không dưới nửa trìệu euros. Còn «Đèn Cù» chắc in nhiều lắm là 4000 quyển ở 2 nhà xuất bản «Người Việt» ở Californie và «Tiếng Quê Hương» ở Virginie. Tác giả Trần Đĩnh nhận được bản quyền là bao nhiêu, không biết. Nhưng chắc không có tác quyền, mà chỉ có «chút ân tình với nhau». Phía tác giả không đòi hỏi. Phía nhà xuất bản cũng không thể làm «hơn» được. Cả hai bên đều vui lòng viết và in sách là chỉ nhằm phục vụ độc giả đồng bào những thông tin hữu ích.

Buồn cho người viết, mà buồn cho độc giả nhiều hơn vì cho tới nay vẫn chưa biết thương người viết! Cũng buồn không ít cho nửa triệu độc giả Pháp là thích tìm đọc chuyện giường chiếu hơn là những sách mở mang trí tuệ. Bởi sách về tư tưởng hay có giá trị thật thường không bán tới 50 000 quyển!

Cả hai quyển đều nhắc tới lãnh tụ. «Cảm ơn cho lúc đó» đã làm cho Tổng thống Phủ phải chới với, Ông Hollande phải công khai lên tiếng đính chánh. Nhưng đính chánh lại làm cho người ta hiều đó là thừa nhận sách nói đúng. «Đèn Cù» đưa thâm cung cộng sản Hà Nội ra ánh sáng. Hà Nội đã lật đật tổ chức triển lãm Cải Cách Ruộng Đất để nói cho dân chúng biết cái hay chỉ cộng sản mới có, đó là cuộc cách mạng long trời lở đất do Hồ Chí Minh vâng lời Staline và Mao-Trạch-Đông ban hành, nhằm tước đoạt bằng bạo lực ruộng đất của người giàu đem chia cho người nghèo để rồi năm sau, đưa người nghèo địa chủ mới vào Hợp tác xã, trở thành công nhơn nông nghiệp . Lao động tùy sức, hưởng thụ tùy khả năng!

«Đèn Cù» phát hành được nửa tháng. Cả trên internet miễn phí. Lời khen nhiều mà lời phê bình cũng có tuy ít. Có độc giả không đồng ý, nêu lên những điểm mà họ cho rằng làm lợi cho cộng sản. Tây có hơn 300 thứ phó-mát nên khó có được sự nhứt trí. Việt nam mình cũng có lắm thứ phở, tái, nạm, gầu, dòn, béo, …nên nếu vấn đề có được sự đồng ý nhưng cách đưa ra không thích hợp hay không bìết cách đưa vấn đề ra thì vẫn khó có được sự đồng thuận.

Vì vậy nhận xét «Đèn Cù» mà làm hài lòng hết mọi người là việc khó làm. Khó hơn việc đánh đổ được cộng sản hà nội hiện nay nữa.

Giờ đây, Cỏ May chỉ dám lướt qua, ghi lại vài nét về con người Hồ Chí Minh qua ánh sáng Đèn Cù .

Đèn cù 

Khi nhận được thông tin, vào cuối tháng 8/2014, nhựt báo Người Việt sẽ phát hành quyển sách «Đèn Cù» của Trần Đĩnh. Cỏ May chưa nghe nói tới tên Trần Đĩnh bao giờ nên chưa biết ông này là ai? Làm gì, ở đâu? Còn «Đèn Cù», Cỏ May ngờ ngợ phải chăng Đèn Cù là Đèn Kéo quân của ngày Tết Trung thu người ta treo trước nhà? Còn đèn ông sao, đèn bươm bướm, …mà trẻ con cầm đi vào tối vừa hát « Tết Trung Thu đốt đèn đi chơi … Đi khắp phố phường …*» có phải là biến thể của Đèn Cù không?

Khi biết chắc Đèn Cù đúng là Đèn Kéo quân, Cỏ May bỗng nhớ tới một giai thoại về Đèn Kéo quân mà ngày nay đọng lại ở chữ Song Hỉ thường thấy trong lễ cưới.

Vào thế kỷ XI đời nhà Tống ở bên Tàu, có một sĩ tử tên Vương An Thạch, 20 tuổi, sau này làm tới Tể tướng, trên đường đi tới Kinh đô dự thi Trạng Nguyên, dừng chơn lại ở một Thị trấn nghỉ qua đêm . Họ Vương trông thấy trước nhà Mã Viên ngoại có treo một lồng đèn, tức Đèn Cù hay Đèn Kéo quân, với một vế câu đối kẻ trên hông đèn « Tẩu mả đăng, đăng tẩu mã, đăng tức, mã đình bộ » (Đèn kéo quân, quân kéo đèn, đèn tắt, quân ngừng đi).

Liếc mắt đọc qua, Vương An Thạch buộc miệng «Câu này dể đối mà!». Nói rồi, ông bỏ đi cho kịp trường thi.

Đèn, Đèn Cù hay đèn gì cũng vậy, phải tỏa ánh sáng. Nhưng Đèn Cù hay Đèn Kéo quân chắc chắn không cho ánh sáng mạnh có thể đẩy lùi xa bóng tối hay làm cho người ta trông thầy rỏ ràng, rành mạch người và vật. Dưới ánh sáng của Đèn Cù, người ta chỉ trông thấy lờ mờ mà thôi. Mà Đèn Cù soi rọi vào chuyện củ, chuyện lịch sử, thì người và vật lại chỉ hiện ra mông lung lắm. Ai muốn nhận diện Hồ Chí Minh, có lẽ chỉ thấy được một con người lung linh mà thôi. Nhưng nếu thấy được con người đó, qua Đèn Cù, mặc dầu có mông lung nhưng đúng hắn, con người thật của hắn, thì cũng hay lắm rồi. Người làm nên Đèn Cù như vậy cũng đã đóng góp rất lớn cho vìệc đẩy lui được phần nào cái bóng đêm dày đặc bao trùm lên đất nước Việt Nam từ gần thế kỷ nay.

Hồ chí Minh dưới ánh sáng Đèn Cù 

Một nét mặt thật khá nổi cộm của riêng Hồ Chí Minh và của nhóm lãnh đạo cộng sản Hà Nội được Trần Đĩnh phơi bày ra trong vụ án Bà Nguyễn thị Năm Cát Hanh Long bị Tòa án Cải Cách Ruộng Đất hành quyết. Khi nghe Hoàng Quốc Việt về Hà nội báo cáo vụ xử tử Bà Nguyễn thị Năm, Hồ Chí Minh bảo; «Không ổn! Không thể mở đầu chiến dịch bằng cách nổ súng vào một phụ nữ, và lại là một người từng nuôi cán bộ cộng sản và mẹ một chính uỷ trung đoàn Quân đội Nhân dân đang tại chức.’ Ông hẹn sẽ can thiệp, sẽ nói với Trường Chinh về chuyện hệ trọng và cấp bách này”.

Nhưng trước đó, Hồ Chí Minh viết bài «Địa chủ ác ghê» cổ vũ tiến hành Cải Cách Ruộng Đất phải triệt để đối với địa chủ, dưới tên tác giả ẩn danh CB, tức «Của Bác», đăng trên báo Nhân Dân. Trong đó, Hồ Chí Minh còn bịa chuyện kể ra số nạn nhân của Bà Nguyễn thị Năm để xách động lòng căm thù của nông dân và giải thích lý do tử hình Bà Nguyễn thị Năm là chánh đáng.

Gian ác hơn nữa là cả hai người đầu não Cải Cách Ruộng Đất, Hồ Chí Minh và Trường Chinh, đều tới dự khán phiên xử án Bà Nguyễn thị Năm. Hồ Chí Minh bịt bộ râu cá chốt ngụy trang. Trường Chinh mang kiếng đen che bớt cái mặt.

Khi sửa sai, Hồ Chí Minh khóc và xin lỗi đã phạm những sai lầm. Nhưng theo kế hoạch, Cải Cách Ruộng đất đã hoàn tất.

Về quan hệ mật thiết với Tàu, Trần Đĩnh kể lại rất chi tiết. Lý Ban có mặt sát cánh và trong nội tình cộng sản Việt Nam ngay từ đầu kháng chiến. Tên này là người tàu 100%, có vợ cũng người tàu, làm Hoa kiều vận của đảng cộng sản Hà Nội, vừa là Tỉnh ủy viên Tỉnh Quảng đông của cộng sản tàu. Hắn ta hướng dẫn Hồ Chí Minh qua Tàu lần đầu tiên với tư cách Chủ tịch nước để yết kiến Mao trạch đông sau khi Mao chiếm được lục địa hai tháng. Cùng với Lý Ban có thêm mấy tên tàu nữa, Tắc Vầy, Trương Đức Duy, …với Tàu là vô danh tìểu tốt nhưng sau đó làm Đại sứ Tàu ở Hà nội và « lời lời vào tai Hà Nội đều nặng cân lạng vô cùng».

Hồ Chí Minh qua Tàu là để làm kiểm thảo với Mao trạch-đông, Lưu Thiếu kỳ và Châu Ân lai vì đảng cộng sản Hà Nội được thừa nhận là một Chi bộ của Quốc tế cộng sản. Được làm Chi bộ Quốc tế cộng sản là nhờ Mao giới thiệu Hồ chí Minh cho Staline và Staline phân công cho Mao phụ trách cộng sản Hà Nội. Hệ lụy của sự phân công này đã nằm sâu trong vô thức của đảng viên Việt Nam nên từ đó, Hà Nội luôn luôn ý thức rỏ địa vị của mình là đàn em, kẻ dưới, yên phận đời đời biết ơn Mao Chủ tịch, đã trở thành nền móng văn hóa cộng sản Hà Nội phục tùng Tàu.

Xuân Trường cho biết «bác nhà mình chủ động khẳng định với bác Mao quan hệ giữa hai nước theo phương châm môi hở răng lạnh».

Tôn ti này, chính Hồ Chí Minh tự đặt ra. Và cũng chính Hồ Chí Minh tự nguyện mình chỉ có thể nêu ra được tác phong, còn tư tưởng, lý luận thì để cho Mao. Hồ Chí Mình đề cao Mao, đem chủ trương phụ thuộc Tàu  làm bài học giáo dục cho đảng viên. Ông thêm vào Bản Điều lệ đảng câu «Lấy tư tưởng Mao trạch-đông làm kim chỉ nam». Còn gởi đìện văn cho đảng cộng sản tàu «Đảng Lao động Việt Nam nguyện học tập đảng cộng sản trung quốc, học tập tư tưởng Mao trạch-đông, tư tưởng lãnh đạo của nhân dân trung quốc».

Từ 1951, trên báo Nhân Dân, tuần nào cũng có vài mẫu chuyện của CB (Của Bác) phổ biến kinh nghiệm mọi mặt của Tàu. Đảng viên hảnh diện làm đàn em của Liên-xô, Anh Cả, và Tàu, Anh Hai. Sau đó, Việt Nam sẽ làm Anh Ba với các nước cộng sản ở Phi châu và Nam Mỹ.

Trần Đĩnh nói ra vài chi tiết rất thú vị. Từ tên Đảng Cộng sản Đông dương, Đảng Lao động, đều do Staline đặt cho. Mới thấy ở con người Hồ chí Minh, không có cái gì thật tình là của hắn ta, do chính hắn sáng tạo cả, ngoại trừ tình thần tuân phục và bản tánh gian ác cùng cực! Có thể nói trong đời, kẻ đánh cha, chém chú, lắt vú chị dâu, cạo đầu bà thím, cũng phải bái Hồ Chí Minh làm sư phụ!

Nhắc lại 2 tên tàu Lý Ban, sau này có lúc làm Chánh án, quyền uy tột bực, thủ tiêu không biết bao nhiêu đảng viên hà nội và Trương Đức Duy là người thu xếp hướng dẩn Đỗ Muời, Lê Đức Anh, Nguyễn văn Linh, Phạm văn Đồng tham dự Hội nghị Thành Đô năm 1990.

Hà Nội lệ thuộc Bắc kinh không phải ở ngày nay, mà đã bắt đầu từ ngày Hồ Chí Minh tự tuyên bố Chủ tịch nước Việt nam Dân chủ Cộng hòa. Và mối quan hệ «sông liền sông, núi lìền núi» đã ngấm sâu vào tiềm thức của cộng sản Hà Nội. Họ không có ý thức phân biệt Việt Nam là một nước riêng biệt, người Việt Nam là một dân tộc khác hơn người tàu. Nên trong suy nghĩ của người cộng sản Hà Nội không có vấn đề mất nước cho Tàu. Chỉ có những người Việt Nam không cộng sản hay không còn cộng sản nữa mới thấy đất nước bị mất.

Đọc Đèn Cù sẽ gặp nhiều chi tiết về ngôn ngữ lạ hoắc mà Cỏ May vì lúc nhỏ ham chơi, không chịu học kỹ, nên đành ngớ ra. Số những chữ lạ này không ít.

Và khó quên giai thoại về câu đối «Đèn kéo quân, quân kéo đèn, đèn tắt, quân ngừng đi» . Và vế đối «Cờ bay hổ, hổ bay cờ, cờ cuộn lại, hổ biến mất».

Không biét lúc nào Đèn Cù tắt để quân cộng sản ngừng đi, đi bán nước, đi cướp giựt tài sản của nhân dân. Và ngày nào lá cờ vẽ hình con hổ bị gió cuộn lại, hổ biến mất? Đảng cộng sản ác ôn sẽ biến mất!

Thi đậu Trạng nguyên và đối được câu đối, Vương An Thạch được vợ. Hai cái vui song song. Song Hỉ!

Hết cộng sản, Việt Nam sẽ có cả ngàn cái vui. Vạn cái Vui. Vạn Hỉ!

© Nguyễn thị Cỏ May

© Đàn Chim Việt

* Địa Chủ Ác Ghê – tác giả C.B,  nguồn   hoangtran204.wordpress.com/cac-van-ban-tai-lieu-lich-su/

* Để tôn trọng tác giả và chứng tỏ sự sòng phẳng, những ai đọc cuốn Đèn Cù của Trần Đỉnh, dù là đọc trên mạng, cũng nên tìm tìm cách trả tiền sách cho tác giả theo giá sách hoặc theo khả năng. 

Posted in Cải Cách Ruộng Đất 1951-1956, Sách-Hồi Ký-Bài Báo... | Leave a Comment »

►Trần Đức Thảo sống và chết như thế nào?

Posted by hoangtran204 trên 12/09/2014

“Bài viết của tôi mang tính cách tìm hiểu về một Con người…nhân bản của ông. Ông đã sống xứng đáng một con người có nhân cách và trách nhiệm của một người trí thức. Ông sống khổ mà chết đẹp và đã để lại cho mọi người một sứ điệp: chế độ cộng sản và Hồ Chí Minh đã tạo ra một thảm cảnh bất hạnh cho Việt Nam.

Ta phải tiêu diệt cả hai. Tiêu diệt cách nào? Đó không phải là công việc của Trần Đức Thảo mà của những người hiện nay đang sống dưới chế độ bất nhân và vô đạo ấy!!”

© Nguyễn Văn Lục

Trần Đức Thảo sống và chết như thế nào? [1]

Tác giả:

danchimviet.info

7-9-2014

tdthaos.

Tôi đã đọc Trần Đức Thảo, Những lời trăng trối qua lời ghi chép lại của Tri Vũ- Phan Ngọc Khuê với nhiều trăn trở, nhiều đêm mất ngủ, buồn cũng có và thương tiếc cũng có và cuối cùng chỉ còn biết thở dài với một thứ triết lý bi quan: Quả đúng là một kiếp người-. Quả đúng là một hành trình chữ nghĩa đầy gian lao và khổ cực phải đối đầu với nỗi sợ thường trực hầu như suốt đời. Cái đói no vốn là thiết thân với sự sinh tồn của con người, vậy mà so với nỗi sợ hãi bị theo dõi và ám hại xem ra còn nhẹ nhàng hơn nhiều.

Đọc từng đoạn, từng trang. Mỗi trang mỗi đoạn là mỗi vấn đề-vấn đề của vấn đề- mà rất khó để tổng kết lại.

Cuộc đời triết gia Trần Đức Thảo là khổ lụy trăm chiều. Vẫn biết rằng người ta ai cũng khổ, làm sao tránh được. Nhưng nỗi khổ của Trần Đức Thảo là những cặp đối kháng như đen với trắng, giữa lý tưởng và thực tế, giữa nhân cách và quyền lực, giữa bản năng sinh tồn và lý trí, giữa điều thiện và tội ác, giữa dối trá và sự thật, giữa ta và người. Và cuối cùng giữa mình và chính mình.

Cuộc đời triết gia Trần Đức Thảo phải nói là đầy những năm tháng khốn cùng. Sự khốn cùng ấy bắt đầu từ chính cái nhân cách con người ông. Nếu ông là hạng người chịu uốn lưng, chịu cúi đầu, chịu quỳ gối, chịu uốn lưỡi thì cái khổ chỉ có một phần. Nhưng chết nỗi ông sống thẳng, sống trung thực giữa một xã hội của bầy thú, gian manh, dối trá, lừa bịp, tàn bạo, bất nhân, ác độc, kìm kẹp nên nó đã nghiền nát ông.

Nó không để cho ông có cơ hội làm người sống trung thực. Nhiều lúc, ông cũng đã bị buộc phải nói tiếng nói của người phi nhân cách, phi ngã.( Impersonnalité).

Ở đây, tôi chỉ xin đưa ra một nhận xét của ông Hoàng Hoa Khôi phản ánh đúng con người Trần Đức Thảo, trước đó cũng ở trong nhóm Trôskyt vào những năm 1944-1946 khi ông Thảo còn ngụ ở nhà số 10 Sorbonne, quận 5, Paris, ông Khôi viết:

‘Những ai quen biết ông đều biết ông là người ‘kiêu hãnh’(fier), tự tin, tự trọng. Ông không kiêng sợ ai và không ai làm ông phải khâm phục. Con người ngang tàng và thông minh ấy đã bị bộ máy Stalinien bẻ gẫy, nghiền nát. Con người ấy đã phải sống khuất phục hàng chục năm, dưới một chế độ đầy quyền lực, tôn ti trật tự, sùng bái lãnh tụ’. [1]

Chính cái cá tính con người Trần Đức Thảo đã là nguyên cớ cho những hệ lụy cuộc đời ông. Và đó cũng là cuộc chiến đấu không ngừng nghỉ của riêng ông với chế độ để sống còn.

Và cuối cùng vào lúc cuối đời, vào lúc mọi hy vọng đều tắc nghẽn, ông đã vượt thắng được tất cả, vật ngã kẻ thù- vật ngã cái trục của điều xấu. Ông đã hối hận vì đã sai lầm, vì đã đồng lõa với điều xấu trong nhiều năm.

Và để chuộc lỗi lầm, ông đã dùng sự thông minh, tài nhận xét, sự lý luận để xô ngã được thần tượng Hồ Chí Minh và chà đạp dưới chân ông chủ nghĩa Mác xít mà ông từng đeo đuổi trong suốt cuộc hành trình chữ nghĩa của ông.

Cuộc sống của ông ngoài chuyện cầm bút, có thể chưa chắc ông đã làm được điều gì ích lợi cho bản thân mình, cho gia đình mình. Nhưng chết, ông đã chết xứng đáng, để lại cho đời sau một thông điệp rất rõ ràng: Hồ Chí Minh là một tên đại bịp như Tào Tháo và chủ nghĩa Mác là chủ nghĩa phi nhân, không có con người.

Theo tôi, chừng đó đủ rồi. Đừng đòi hỏi thêm nữa.

Nhưng nhiều lúc tôi tự hỏi một người thông minh trác tuyệt như ông, phải đợi đến cuối đời mới nhận ra mình sai lầm? Ông có bằng một tên thợ nề vô học không? Tôi còn nhớ bản thân tôi khi di cư vào miền Nam, tôi mới chập chững bước vào trung học. Chẳng bị ai tuyên truyền, chẳng bị ai xúi giục, chẳng tôn giáo nào rỉ tai vô Nam.. Vậy mà như một sự thúc đẩy bên trong- không phải bằng sự thông minh- mà bằng một bản năng sinh tồn- thúc dục phải đi thôi. Đi bằng mọi giá. Thầy tôi do dự không muốn đi có thể vì tiếc của. Phần tôi nhủ thầm, nếu gia đình không đi thì tôi sẽ một mình ra đi một mình.

Điều gì khác biệt giữa một trí thức cỡ Trần Đức Thảo và một thằng nhỏ 12-13 tuổi đầu như tôi. Ai là người sáng suốt, ai là người chọn đúng con đường phải đi?

Vào những năm 1950 sống ở bên Tây, lẽ nào ông không biết đến những biến cố chính trị xảy ra giữa Đông Đức- Tây Đức?[2]

Cho đến bây giờ, những câu hỏi ngờ vực này vẫn lẩn quẩn trong đầu chưa có một lời giải đáp thỏa đáng. Phải chăng ông sinh ra nhầm thời đại và chọn nhầm chỗ cư ngụ, nhầm chế độ? Nhiều người cũng hỏi giống như tôi. Tác giả Tri Vũ-Phan Ngọc Khuê cũng hỏi bác Thảo một câu tương tự. Câu trả lời của ông Thảo thật đơn giản: vì tôi có một lý tường muốn về để phục vụ đất nước.

Đã bao nhiêu trí thức, nhân tài của đất nước hy sinh và chết cả cuộc đời vì hai chữ yêu nước ?

Nói cho cùng, đó là cái dại của ông- chỗ đáng sống ông không chọn như Paris hay Saigon- lại chọn Hà Nội. Chọn Hà Nội là tự chọn vào cái chỗ chết.

Đúng như bố của ông than thở: Về như vậy là mày tự giết mày rồi! Mà cũng là giết cả mẹ mày và tao nữa. Thảo ơi! Phải chi mà mày học được cái nghề như thợ nề, thợ máy, thợ mộc gì.. thì đỡ khổ cho tao biết mấy…(..) Chúng nó đã xúi mày đi vào chỗ chết. Có là điên mới đi theo chúng nó. Mày về đây là mày giết mày giết cả tao đấy Thảo ơi là Thảo ơi! [3]

Chính cái mà ông gọi là lý tưởng đã hại chẳng những mình ông mà hại cả trăm, cả ngàn, cả vạn người sau này. Họ đã viết lên những lời tự thú tội mà danh sách những người này mỗi ngày mỗi dài. Người chót trong danh sách ấy hiện nay là một ông già 85 tuổi tên Trần Đĩnh trong cuốn Đèn Cù. [4]

Giả như ông cứ ở Paris hay về Sài Gòn thì cuộc sống và tương lai chữ nghỉa của ông sẽ như thế nào? Sẽ có 10 cuốn Phénoménologie thay vì chỉ có một cuốn.

Nếu ông ở lại bên Pháp, ông sẽ được chào đón bởi những người trí thức hàng đầu của Pháp về triết học như J.P Sartre và nhóm Les Temps modernes, hay nhóm chủ thuyết Hiện tượng luận như Merleau Ponty hay nhóm cộng sản trong Les enjeux, Révolution và nhất là người học trò đã nhận ông là bậc thầy duy nhất về triết thuyết cộng sản Althusser.

Chữ nếu ấy đã không bao giờ xảy ra mà chỉ vì lòng thương tiếc ông mà ta tự đặt ra thôi.

Và nếu ông về Sài gòn thì sao? Lại nếu. Thật là quá trễ để nói về điều ấy. Nhưng qua vài dòng ông thố lộ sau đây cho thấy Sài Gòn vẫn là mảnh đất dung thân cho đủ loại trí thức của dòng chảy di cư sau 1954.

Thật vậy, khi được Trần văn Giàu và Trần bạch Đằng thu xếp vận động cho ông Thảo vào sống ở Sài Gòn. Ông đã ngạc nhiên không ít khi nhìn thấy Sài Gòn lần đầu- một Sài gòn đã bị bần cùng hóa và tha hóa sau 1975- mà cái ông nhận ra chỉ là những rớt lại như những mảnh ván trôi bập bềnh trên biển sau khi con thuyền đã chìm:

‘Mới đặt chân xuống cái thủ đô của miền Nam này, mọi sự đã làm tôi kinh ngạc. Qua bao nhiêu năm chiến tranh gian khổ mà sao Sài Gòn nó lại khang trang hiện đại như vậy? Tôi cứ ngỡ cả miền Nam đói khổ vì bị Mỹ-Ngụy bóc lột đến nỗi miền Bắc đã phải ‘cắn hạt gạo làm tư’ để cứu giúp miền Nam cơ mà.. Và mọi người ở đây nói năng cởi mở thoải mái như vậy? Ngay những cán bộ Đảng ở đây cũng có thái độ tự do quá. Họ đãi đằng, giễu cợt tôi, coi tôi cứ như anh mán, anh mường ở rừng mới được về thành phố. Phải nói thẳng ra là có một điều của Sài Gòn đã làm tôi bàng hoàng đến cùng cực. Đó là những bài hát của một anh chàng nhạc sĩ trẻ của miền Nam, nói đúng ra là của Mỹ-Ngụy chứ không phải của Đảng. Tên anh ta là Trịnh Công Sơn. Các bài hát của anh ta mang nỗi niềm day dứt, oán trách chiến tranh. Cứ như anh ta khóc than thay cho cả dân tộc ở cả hai miền Nam Bắc. Giữa những năm tháng chiến tranh một mất một còn ác liệt như thế mà sao anh ta dám cất lên tiếng kêu than như vậy. Những lời ca của những bản nhạc đã làm tôi xúc động bồi hồi không cầm được nước mắt. . [5]

Cả một đất nước, cả một dân tộc đã bị nhiễm độc vì những lời tuyên truyền dối trá như thế- trước đây và bây giờ vẫn tiếp tục.- Tội cho con người, tội cho thế hệ mai sau mà chưa biết đến lúc nào, đến bao giờ chúng ta giải trừ được cái nọc độc ấy.

Có thể nói trong toàn bộ cuốn Những lời trăng trối, đây là lần đầu và cũng là lần duy nhất chỉ một lần thôi, Trần Đức Thảo có những lời khen trân trọng với niềm xúc động đối với miền Nam Việt Nam!!

Miền bắc cộng sản trong toàn bộ cuốn sách hầu như tuyệt đối không có trong mắt của Trần Đức Thảo.

Và nếu sự việc xảy ra chỉ khác một chút thôi- cái giây phút chóng vánh gặp Hồ Chí Minh- nếu ông đã nhận ra được cái dã tâm của con người ấy trong lần tiếp xúc đầu tiên- may ra ông sẽ tránh được những nghịch cảnh đau lòng sau này.

Làm gì sau này ông phải sống cái cảnh giữa chuột và Người. Cả một đàn chuộc đủ loại con lớn con nhỏ đã rúc rỉa ông, sói mòn ông sống như thằng điên, thằng khùng, tiêu tan sự nghiệp, mất cả vợ vào tay ngưới khác.

Ông nhớ lại như một hồi ức đau thương ở Hà Nội vào những năm ấy, họ nhất loạt tố cáo ông như trường hợp Phạm Huy Thông với bài: Mặt thật của Trần Đức Thảo.

Ông Trần Đức Thảo với nhân cách cao vời đã không chấp đám học trò. Nhưng được cật vấn về trường hợp Phạm Huy Thông, ông bất đắc dĩ bày tỏ như sau:

‘Anh chàng ấy hồi ở Pháp thì tôi có biết, nhưng không thân..Sau này nhân vụ đấu tố nhóm Nhân Văn Giai Phẩm thì Phạm Huy Thông đã ngả theo phe Tố Hữu để tố khổ tôi một cách hằn học thật là tồi tệ bất ngờ. Cách thức tố cáo, buộc tội tôi như thế đã làm cho y sau này bị xấu mặt cả đám văn nghệ sĩ cán bộ. Bởi lúc ấy, những gì mà mỗi trí thức đã viết ra, thì đều phơi bầy cái mặt trái, mặt thật xấu xa, hèn kém của họ’. [6]

Hay bội bạc hơn nữa, cảnh trò tố cáo thầy như trường hợp nhà phê bình Hoàng Ngọc Hiến. Nguyễn Đình Chú. Và chua chát nhất là bài của của một môn sinh phản thày: ông Khắc Thành trong bài Quét sạch nọc độc Trần Đức Thảo trong việc giảng dạy triết học.

Cảnh chuột và Người chỉ có thể xảy ra ở Hà Nội. Và chỉ ở Hà Nội. Ai là chuột ai là Người trong những tên tuổi sau đây trong giai đoạn đấu tố Trần Đức Thảo:

Có cả một chiến dịch nhằm đánh phá vào một mình ông với các tên tuổi như: Bác sĩ Hồ Đắc Di, giáo sư Phạm Hữu Tước, giáo sư Nguyễn Lân, giáo sư Nguyên Hoán. Trường Giang, Thiều Quang, Ngô Vi Luật, Chu Thiên, Lê Dân.

Cả một danh sách dài biên niên mà Lại Nguyên Ân đã ghi lại. Nay thì những đàn chuột ấy ở đâu?

Đấy là món nợ của trí thức Hà Nội mà không một ai trả nổi dù đây đó đã gióng lên những lời xin lỗi. Bởi vì ai là kẻ gây ra món nợ này? Cứ hỏi và cứ hỏi đi và câu hỏi cứ ‘ trèo “ lên cao mãi, phải chăng là Tố Hữu? Cũng không phải, Trường Chinh cũng không nốt mà trèo lên đến đỉnh điểm thì còn trơ trọi có một người. Người đó là Hồ Chí Minh- Đẹp mãi tên Người-. Chính con người ấy mới là thủ phạm chính- thủ phạm trù dập Trần Đức Thảo đến tận đất đen-. Hồ Chí Minh có thể tha tội chết cho ông, chứ không tha tội sống. Cũng chính Hồ Chí Minh là người đã dẫn đưa đất nước đến hố sâu của sự bần cùng và tụt hậu, phá sập trật tự pháp luậ, trật tự xã hội và trật tự đạo đức như hiện nay. Sau này, muốn khôi phục lại có thể mất hàng thế kỷ vị tất đã xong.

Trần Đức Thảo là người đã nhân danh con người tố cáo và vạch trần thủ phạm Hồ Chí Minh ngày hôm nay.

Vì thế nay chính quyền cộng sản muốn trả món nợ ấy cho Trần Đức Thảo thì thật không đơn giản và nhẹ nhàng thoải mái như khi trả nợ cho Lê Đạt, Trần Dần, ngay cả Nguyễn Hữu Đang hay bất cứ ai khác. Với Lê Đạt, Trần Dần, có khi chỉ cần cho họ trở lại biên chế, trả lương bổng, cấp cho vài cái bằng khen và cho phép cầm bút trở lại thì họ đủ bằng lòng và xóa nợ tất cả.

Nhưng đối với Trần Đức Thảo khi ông đã nhiều lần gọi tất cả lãnh đạo cộng sản là chúng nó- chúng nó tính từ Hồ Chí Minh trở xuống đến Phạm Văn Đồng, Lê Duẩn- thì những nhân sĩ, trí thức, nhà văn miền Bắc lấy tư cách gì mà đòi trả nợ cho Trần Đức Thảo? Cho dù nay ông còn sống, ông cũng không cần ai trả vì theo ông những kẻ tố cáo ông thì tự họ làm xấu mặt họ..

Kẻ tố cáo bỗng nhiên trở thành kẻ bị cáo.

Nhưng đối với ông chết là để sống trung thực. Và ông đã làm được điều ấy. Vậy thì có đáng gì một cái huân chương để trên nắp quan tài nhà triết học? Một thứ nghi lễ trang trí, dối trá và bịp bợm. Một thứ văn hóa cộng sản theo nghĩa hôm nay nó giết mình, mai nó cho người mang vòng hoa đến phùng điếu!! Hãy đọc đoạn văn sau đây của nhà văn Phùng Quán về tính bi hài kịch của thứ văn hóa cộng sản. Bài viết với nhan đề: Hành trình cuối cùng của một triết gia.

Lần này triết gia trở về Tổ Quốc trong khoang hành lý máy bay, chiếm một chỗ hết sức khiêm nhường. Triết gia đã hóa thân thành tro nằm trong cái bình bằng kim loại sơn mầu xanh thẫm hơi giống một chiếc cúp bóng đa và cũng to bằng cỡ đó…(..). Về đến Hà Nội vì không có gia đình vợ con, không có cơ quan nào nhận để thờ, hoặc để quàn….nên triết gia phải tạm trú dưới cái gầm cầu thang của nhà tang lễ thành phố 125 , đường Phùng Hưng Hà Nội.

Tôi được biết triết gia là người chiếm kỷ lục thời gian tạm trú ở đây. Năm mươi ngày đêm.Và mỗi ngày đêm tiền thuê phòng là 5000 đồng..Nhưng Trần Đức Thảo thuê phòng mà diện tích tranh thủ chưa đầy một mét vuông..Khách thuê phòng này lại không dùng đến giường, đệm, chăn màn, tivi, tủ lạnh, điện thoại riêng, máy điều hòa nhiệt độ, toa lét, nhân viên phục vụ.. tính chi li theo tôi còn đắt hơn cả khách sạn 5 sao.

Triết gia phải tạm trú lâu như vậy là phải chờ quyết định trên, có được đưa vào Mai Dịch hay phải về Văn Điển..

Sau 50 ngày chờ đợi, tốn mất 250 ngàn tiền phòng, triết gia đã được trên quy định đưa về mai táng tại khu A Văn Điển, khu vĩnh viễn hưởng thụ đúng tiêu chuẩn quy định.

Mộ của ông khá đặc biệt. Bình tro được đặt trong tiểu sành, tiểu sành được đặt dưới khuôn huyệt bên trên có nắp bê tông đậy kín. Như vậy là ông được mai táng theo quy cách các nhà giàu cổ xưa: trong quan ngoài quách.

Đây có lẽ là sự xa xỉ độc nhất trong cuộc đời triết gia quá ư thanh bạch của ông, mà nếu biết được, tôi tin chắc ông sẽ kịch liệt phản đối. [9]

 

Đoạn văn trên của Phùng Quán nói đến hành trình cuối cùng của triết gia- một hành trình được diễn ra với kịch tính, thô bỉ và không thiếu sự đểu cáng.

Nhưng sau đây là Hành Trình khởi đầu cho một cuộc đời bất hạnh với đầy gian khổ.

Con đường Paris-Luân Đôn-Praha-Moscou-Bắc Kinh- Việt bắc là con đường không bằng phẳng-chông gai, gập ghềnh ngay từ đầu- mà Trần Đức Thảo đã tự chọn. Hồ Chí Minh đã từ chối không cho ông về. Ông phải cậy cục đảng cộng sản Pháp đến cả lãnh đạo Liên Xô để được về chiến khu Việt Bắc. Đây là khúc nhạc khởi đầu cho một liên khúc kéo dài trong suốt 40 năm. Chọn ai không chọn lại chọn một người mà sau này chính ông gọi là một thứ gian hùng chẳng khác gì Tào Tháo..

Ông đã sống như thế- sống vất vưởng, tủi nhục- vì chính những chọn lựa của mình. Khó mà trách ai được. Nhiều lúc tưởng ông như một người đi trên mây, dở khùng, dở dại. Nhiều lúc tưởng chừng bộ máy nghiền cộng sản đã bẻ gẫy ông. Trong vụ Nhân Văn Giai phẩm, rõ ràng đảng sai ông đúng. Vậy mà ông cũng đã có lần cúi đầu thú tội: Ông đã xin lỗi trước đảng và trước nhân dân. Ông cũng đã thú nhận là trong nhiều lần học tập, ông cũng đã phải dơ tay như mọi người hô: Nhất trí, nhất trí.

Ông cũng biết nhẫn nhục, cũng biết sợ chết và hầu như cả đời ông bị ám ảnh về nỗi sợ hãi bị ám sát.

Nhưng khi chết, ông đã để lại một di sản tinh thần vô cùng quý báu- không phải những sách như Phénoménologie et matérialisme dialectique(1951)- Sách này đã làm nên danh phận ông- mặc dầu vậy nó có cũng được không có cũng không sao.

Bời vì, thứ chủ nghĩa mà ông đeo đẳng gần như suốt cả cuộc đời nay ông đã rũ sạch. Nó chỉ còn là một món hàng bị phá sản mà chính chủ nhân của nó đã tìm cách bán tống bán táng đi rồi.

Cuối cùng một điều tối quan trọng. Sống có thể ông không làm được gì-.

Ông đã tỏ ra ‘vô ích” khi còn sống.

Nhưng cái chết của ông chỉ đến lúc ông nằm xuống, người ta mới biết được tất cả sự thật. Đảng tưởng rằng đã loại trừ được một tên cộng sản quấy rầy- un communiste dérangeant. -Đảng mới bật ngửa ra là đã không khai trừ nổi được ông.

Lúc ông chết mới thật sự là lúc ông sống thật với ván bài lật ngửa.

Ông đã có thể thất bại suốt cuộc đời dù rất có thể, ngay cả cái cái chết của ông đã bị nghi ngờ là người ta đã ám toán ông bằng thuốc độc. Cứ như đọc diễn tiến mấy ngày cuối đời trong Những lời trăng trối của ông thì phải đi đến kết luận là ông đã bị đầu độc đến thượng thổ, hạ tả và khi được đưa vào bệnh viện cấp cứu thì ngày hôm sau, ông đã tắt thở.[10]

Mặc dầu vậy, vượt mọi toan tính đê tiện của những kẻ thù, ông đã để lại được chúc thư cuối đời qua cuốn Những lời trăng trối.

Đây là sự bất ngờ vượt mọi dự đoán của kẻ thù ông. Ông đã đánh lừa được tất cả mọi người. Đánh lừa bằng cách gỉả điên, giả ngu ngơ, giả khờ dại, giả câm điếc. Từ những kẻ muốn ám hại ông đến những người quý mến ông, những trí thức ở Paris đều tưởng ông đã hết thời, đã ăn nói lẩm cẩm.

Nhưng mọi người có thể đã lầm. Ông đóng kịch khéo quá, khéo đến như thật.

Nay tất cả mọi người đều ngỡ ngàng về tập sách Những lời trăng trối…

Ngỡ ngàng là phải, vì những lời trăng trối chết người này; những lời tâm huyết có thể quyết định sinh mạng Trần Đức Thảo và cũng có thể trở thành lưỡi liềm phạt cỏ dưới chân của Hồ Chí Minh và đảng cộng sản.

Đáng nhẽ, những lời trăng trối này phải được trao cho những trí thức thiên tả như Nguyễn Ngọc Giao mới phải. Nguyễn Ngọc Giao là người đã giúp đỡ ông nhiều trong thời gian trước đây ở Sài gòn trong việc in sách. Nguyễn Ngọc Giao cũng là người đã tìm nơi ăn chốn ở và tiền tài trợ mỗi tháng 10.000 fr cho Trần Đức Thảo- một mối giao tình vừa là tình bạn vừa theo nghĩa ‘đồng chí’. Hoặc chị X, cũng thuộc cánh trí thức tả thường đến thăm ông thường xuyên tại phố Le Verrier..

Tôi tự hỏi tại sao ông không chia sẻ tâm sự với các đồng chí của ông?

Không!! Trần Đức Thảo không tin ai cả, nhất là những thành phần cùng phe phái như cánh tả, dù có liên hệ bạn bè. Ông sợ họ và sợ lây lan đến những kẻ cầm quyển.

Trớ trêu và oái ăm thay! Ông lại tin và trút hết tâm sự cho hai người xa lạ, một người kể như chưa hề quen biết ông. Đó là giáo sư Canh và Tri Vũ- Phan Ngọc Khuê.(Tôi không được rõ Tri Vũ-Phan Ngọc Khuê là hai người hay một người)

Tôi đã tìm được câu trả lời. Với thói quen quán tính, cả đời ông chỉ gặp những kẻ thù lúc nào cũng sẵn sàng rình mò để sẵn sàng tố cáo ông.

Còn hai người khách lạ này đến với ông bằng một tấm lòng. Và nhất là họ là người Sài Gòn- người quốc gia-.Xin đọc:

‘Canh và tôi –(một người gốc gác ở Quy Nhơn, một người ở Sài Gòn)-đều rất xúc động khi phải chứng kiến cảnh một vị giáo sư từng một thời vang danh ở Paris, mà nay phải hạ mình bàn cách bán tiếng nói, bán chữ để kiếm sống qua ngày(…)Canh cũng bỏ vào túi áo nhà triết học một chút tiền. Chúng tôi rất ngạc nhiên và cũng rất ái ngại khi nhìn thái độ ngượng ngùng của bác Thảo khi tiếp nhận sự trợ giúp ấy. Phải cố cầm nước mắt, để gượng cười với nhau. Những tâm sự u buồn ấy đã làm chúng tôi im lặng khá lâu khi cùng nhau đi ra xe. [11]

Ở một chỗ khác, ‘Bác Thảo lắc đầu mỉm cười tê tái, mắt ngấn lệ. Chúng tôi nhìn bác thấy thảm thương quá, không cười theo được. [12]

Chính ở những tình tự con người xuất phát từ những con tim mà có tương giao con người mà có chia sẻ, có tín cẩn và có chỗ giãi bầy tâm sự mà cả cuộc đời 40 năm ở xã hội cộng sản, bác chưa hề một lần bắt gặp.

Cũng chính ở chỗ đó mà có được tập sách này. Xin cám ơn con người. Cám ơn tác giả gốc gác miền Nam.

Trong khi đó, phần đông trí thức thiên tả ở Paris chỉ muốn tìm lại ở Trần Đức Thảo – một cái hào quang quá khứ như chỗ dựa cho sự suy tàn của cánh tả- hoặc tìm lại một con người thông minh sắc sảo của thập niên 1950 như một đồng chí, như một niềm vinh hạnh.[13]  Nhưng Trần Đức Thảo đã làm họ thất vọng. Họ lẳng lặng bỏ rơi ông như một thứ món hàng bị phế thải. Sau khi nghe ông Thảo thuyết trình về Triết học của Staline ở trường đại học Denis Diderot thì mọi người đều thất vọng. Ông Lê Thành Khôi bỏ về nửa chừng. Nguyễn Ngọc Giao, một người có lòng muốn giúp đỡ ông Thảo nhiều trong việc tìm chỗ ăn, chỗ ở cho ông Thảo than:

‘Ông trình bày xong thì tôi ra về, không ở lại nghe phần hỏi đáp..(…) Nghe ông nói bữa ấy, tôi buồn quá. Dường như tôi không phải là người duy nhất cảm thấy buồn…[14]

Nay nếu có dịp đọc tập sách Những lời trăng trối thì Nguyễn Ngọc Giao sẽ buồn hay vui?

Bẽ bàng hơn cả có thể là viên Đại sứ Trịnh Ngọc Thái ở Pháp đã bị Trần Đức Thảo qua mặt sau cái chết có thể do chính y đạo diễn..tưởng rằng đã tịch thu được mọi tài liệu tại ngôi nhà số 2 Le Verrier ngay sau khi ông Thảo chết vào 2 giờ sáng ngày 24 tháng tư năm 1993. [15]

Y đã nhầm và tính sai một nước cờ. Nước cờ của ông Trần Đức Thảo đi xuất phát từ lòng nhân ái mà y không thể tiên đoán trước được. Y quen thủ đoạn, y quen lừa lọc nên không hiểu thế nào là tình con người.

Và tại Sài gòn, một nhân vật quyền thế nắm sinh mạng Trần Đức Thảo là Sông Trường, y chính là người đã trục xuất Trần Đức Thảo ra khỏi Việt Nam với một vé máy bay có đi mà không có về. Y bị Trần Đức Thảo lừa một cách tủi nhục. Hãy nghe y nói với Trần Đức Thảo:

‘Chúng tôi đã bố trí, đã chuẩn bị cho anh một lối thoát vừa danh dự vừa lý tưởng. Vì anh chưa nghĩ thấu đáo đấy thôi. Tất cả đã sẵn sàng rồi! Nhất định là anh không thể lưu lại cái đất Sài Gòn này như vậy nữa đâu! Đảng đã quyết định, nhất định là anh sẽ phải ra đi thôi!!! [16]

Sự thật theo lời ghi lại của ông Trần Đức Thảo thì ông đã bị trục xuất ra khỏi Việt Nam như một thứ vật dư thừa, thứ đồ phế thải.

Nhưng họ lại gọi đây là một chuyến đi công tác.

Vì thế, mới có bài viết: Về chuyến đi công tác tại Pháp của giáo sư Trần Đức Thảo tháng 3- năm 1991- 24 tháng 4 năm 1993 của ông Cù Huy Chử và Cù Huy Song Hà.[17] Chuyến đi công tác này có nhiệm vụ đi giải độc về những gì Georges Boudarel được coi là đã viết sai về Nhân Văn Giai Phẩm tại Việt Nam. Từ ông Phạm Văn Đồng đến Nguyễn Văn Linh và ông Hồng Hà đều bằng lòng bố trí cho Trần Đức Thảo sang Paris. Chính ông Hồng Hà đã ký công văn số 624-CV-TU cử giáo sư Trần Đức Thảo sang Pháp để nghiên cứu khoa học. Sau đó ông Thảo đã được cấp vé máy bay và ăn ở tại Paris trong thời gian 6 tháng..

Đọc những thông cáo chính thức trên cho thấy tính cách bịp bợm của lãnh đạo cộng sản. Một mặt gọi là chuyến công tác giải độc những điều viết sai trái của G. Boudarel. Nhưng trong công văn chính thức lại ghi là đi nghiên cứu khoa học!!

Khôi hài. Ông Trần Đức Thảo là triết gia biết gì về lãnh vực khoa học- khoa học gì mới được- mà nghiên cứu?

Phần Đức Thảo khi được hỏi về vấn đề này đã giải thích như sau:

– Thế bác không lo làm công tác vận độn sự ủng hộ cho chính sách của đảng và nhà nước à?
– Lúc mới qua thì buộc lòng phải nói thế thôi! Chứ có vận động khỉ gì đâu, Hôm ấy cứ bị chất vấn: vận động cái gì, vận động như thế nào, vận động những ai… làm tôi bối rối.(..). Chẳng lẽ lại nói tôi trở qua Paris là không có mục đích gì sao? Hoặc nói là qua đây để ngồi viết sách, để người ta cười cho à? [18]
Ông tiến sĩ Cù Huy Chử- một cánh tay của đảng-. Ông tự cho mình là người được ông Trần Đức Thảo tín nhiệm và đã trao hết di sản tinh thần cho ông nắm giữ. Và mới đây, vì chưa có cơ hội đọc cuốn Những lời trăng trối, ông đã tổ chức vinh danh Trần Đức Thảo theo kiểu ‘nhổ ra rồi lại liếm’.

Cho đến ngày hôm nay, cuốn sách của ông Trần Đức Thảo gây được tiếng vang lớn trên thế giới thì ở bên nhà, ông Cù Huy Chữ vẫn giữ im lặng.

Nội dung cuốn sách Những lời trăng trối bàng bạc từng chi tiết, từng sự việc, dù là chuyện lớn, chuyện nhỏ, dù là chuyện liên quan đến Trần Đức Thảo hay không chỉ tóm tắt vào hai chủ đề lớn: Hạ bệ thần tượng Hồ Chí Minh bằng chứng minh, bằng lý luận, bằng những nhận xét sâu sắc để vạch trần bộ mặt thật của Hồ Chí Minh.

Về điểm này, từ xưa đến nay, chưa ai có đủ tư cách cũng như can đảm làm được như ông.

Điểm thứ hai, ông chứng minh và cho thấy rằng Marx sai lầm. Staline sai lầm và trong chuỗi lý luận ấy Hồ Chí Minh chỉ là kẻ ăn theo hiển nhiên là sai lầm.

Theo tôi, cho dù có theo đuổi chủ thuyết Mác Xít thì qua những trải nghiệm đau thương về Cải cách ruộng đất, về Nhân Văn Giai Phẩm, Trần Đức Thảo nói cho cùng là một triết gia gia Mác Xít nhân bản( Humanisme Marxiste) theo như một số nhận định của nhiều người.

Với quan điểm nhìn ấy, dù ông không còn nữa, ông đã xóa sổ đảng cộng sản Việt Nam!!

Nói cho cùng sự trả giá của ông không phải là vô ích.

(Còn nữa)

Tác giả:

© Đàn Chim Việt

 

————————————————–

Chú thích:

[1] Hoàng Hoa Khôi, Một nhận định về Trần Đức Thảo, Paris, tháng 8.1993, Thông Luận 64, tháng 10.93

[2] Vào những năm 1950, có  khoảng ba triệu người Đông Đức bỏ trốn sang Tây Đức. Bỏ trốn bằng mọi cách như nhảy lầu, chui đường ống cống, đào đường hầm, chui qua hàng rào thép gai. Chả nhẽ Trần Đức Thảo chỉ chúi đầu vào sách?

[3] Tri Vũ-Phan Ngọc Khuê, Trần Đức Thảo, Ibid, trang 160

[4]  Trích Trần Đĩnh,  Đèn Cù: Một hôm Trần Ðức Thảo được thư ký của Lê Duẩn là Nguyễn Ðức Bình đến đón, bằng xe hơi, trong khi nhà triết học đang sống trong cảnh nghèo nàn, túng thiếu, bị cả bạn bè bỏ rơi vì đã tham dự nhóm Nhân Văn-Giai Phẩm, viết những điều ngược lại với chủ trương văn hóa của Ðảng. Nguyễn Ðức Bình nói ông tổng bí thư muốn đọc cho giáo sư nghe để xin ông góp ý kiến về một bài đang viết: “Ðề cương về vấn đề con người.” Ngồi trong phòng khách, chỉ có ba người, Lê Duẩn độc thoại được mấy phút thì Nguyễn Ðức Bình nhắc Trần Ðức Thảo hãy ghi những lời ông tổng bí thư nói. Trần Ðĩnh cho biết một thói quen của các quan chức, cán bộ là khi nghe cấp trên nói gì thì họ cũng ghi chép chăm chú những lời vàng ngọc, chứng tỏ lòng kính cẩn và trung thành. Thấy triết gia cứ ngồi im, Bình chạy đi lấy giấy, bút đến đặt trước mặt. Triết gia vẫn không ghi chép gì cả. Khi Duẩn ngưng, Nguyễn Ðức Bình nhắc: “Tổng bí thư đã nói xong, xin giáo sư góp ý kiến.” Trần Ðức Thảo ngơ ngác một lát, rồi thú thật: “Tôi không hiểu gì cả.”

Ngay lập tức ông tổng bí thư chạy ra đằng sau Trần Ðức Thảo, hay tay quàng ôm lấy ngực triết gia, xốc lên, dội xuống mấy lần, rồi “buông thịch” xuống một cái cho ông giáo sư rơi xuống ghế ngồi. Lê Duẩn bỏ đi vào phòng trong. Bình trách mắng ông giáo sư tại sao “nói không hiểu gì cả,” rồi cũng đi vào. Trần Ðức Thảo còn một mình, không biết lối ra, phải hỏi mấy người hầu trong nhà đường nào đi ra cổng, rồi về nhà mình.

Trần Ðức Thảo nói thật lòng. Ông không hiểu Lê Duẩn nói cái gì. Trần Ðĩnh hỏi tại sao không hiểu. Triết gia trả lời: “Khái niệm không chuẩn gì cả!”

[5] Tri Vũ-Phan Ngọc Khuê, Trần Trần Đức Thảo, Những lời trăng trối, trang 210

[6] Tri Vũ-Phan Ngọc Khuê, Trần Đức Thảo, Những lời trăng trối, trang 346, Tổ hợp xuất bản miền Đông Hoa Kỳ.

[7] Hoàng Ngọc Hiến, trong bài viết Cách cho của giáo sư Trần Đức Thảo, phần chót của bài viết, ông thú nhận:Năm 1958, trong đợt  đấu tranh tư tưởng ở trường Đại Học Tổng Hợp, tôi đã phê phán Trần Đức Thảo hết sức gay gắt trong một bài tham luận. Cũng như mọi triết gia, ông Trần Đức Thảo là người độ lượng. Ở nhà trí thức lỗi lạc này, tôi còn cảm nhận một điều gì đó lớn hơn sự độ lượng. Trích trong báo Văn Nghệ, số 1, Bộ mới, tháng 7-1993, trang 2

[8] Lại Nguyên Ân, Món nợ với giáo sư Trần Đức Thảo, 5-5-2013

[9] Bút ký của Phùng Quán, Hành trình cuối cùng của một triêt gia, báo Người Hà Nội, trang 1-2 số 32 ( 332), ngày 8-8 đến ngày 14-8-1993.

[10] Ông Hoàng Hoa khôi viết :Theo lời kể lại của những bạn bè xung quanh ông Thảo, đảng vẫn cảnh giác đề phòng những việc ông làm, những bài ông viết tại quán trọ LeVerrier. Thậm chí nhiều người còn đặt nghi vấn về cái chết bất ngờ và nhanh chóng của ông. Ibid, Thông Luận 64

[11]  Trần Đức Thảo Ibid, trang 38-40

[12] Trần Đức Thảo, Ibid, trang 195

[13] Đám trí thức thiên tả này đã chót bám theo Đảng. Nay biết rõ bộ mặt thật thối tha của Đảng. Bỏ thì không nỡ, chống thì chống nửa vời thành ra một đám người lạc loài, một loại trí thức ‘cánh tả Caviar’ con nhà giàu ngồi nói thánh nói tướng, bất kế thực tại đất nước bên nhà ra sao..

[14] Nguyễn Ngọc Giao, Với Trần Đức Thảo, một chút duyên nợ, Diễn Đàn Xuân Tân Mão

[15] Trong bài Mort d’un philosophe militant, Jean-Paul Jouary tiết lộ cho biết Thảo đã kín đáo chuồn tất cả tài liệu viết bằng tiếng Pháp cho họ mà nay chưa có điều kiện để đăng lại tất cả.

[16] Tri Vũ-Phan Ngọc Khuê, Trần Đức Thảo, Ibid, trang 236

[17] Cù Huy Chử, Cù Huy Song Hà: Về chuyến đi công tác tại Pháp của giáo sư Trần Đức Thảo( tháng 3 năm 1991- 24 tháng tư năm 1993). Viet- Studies ngày 18-9-11

———————————————————————-

 

Tiếp theo phần I

GS Trần Đức Thảo

I- Giải mã bộ mặt thật của Hồ Chí Minh

Ngày 5 tháng sáu, năm 1946 đánh dấu lần đầu tiên ông Trần Đức Thảo được gặp Hồ Chí Minh tại Paris. Trong buổi chiêu đãi ‘phái bộ cụ Hồ’, ông Thảo đã hồn nhiên vội vã thân mật ra nắm chặt tay Hồ chủ tịch và nói:’ Tôi rất hân hạnh gặp cụ chủ tịch. Cụ Hồ cũng vui vẻ đáp: Chào chú Thảo.. Vào cuối bữa ăn, Hồ chủ tịch kêu gọi anh em Việt kiều về nước tham gia kháng chiến. Trần Đức Thảo hăng hái nhận lời ngay và nói ông Hồ: Tôi rất mong ước được về nước cùng cụ xây dựng thành công một mô hình cách mạng tốt đẹp tại quê hương ta. Và để đáp lại lời ông Thảo: ông cụ lúc ấy chỉ mỉm cười nhạt, nhưng nét mặt thì vẫn lạnh lùng khi nhìn tôi. Tới lúc Hồ chủ tịch lần lượt bắt tay từ biệt mọi người. Khi bắt tay tôi thì ông cụ nói với tôi một cách nghiêm nghị:

– Còn chú Thảo này thì cách mạng chưa cần tới chú lúc này đâu. Chú cứ ở lại Paris thì có lợi cho cách mạng và cho chú hơn. [19]

 

Và kết quả là có bốn Việt kiều cùng về với ông Hồ là: ba kỹ sư Phạm Quang Lể, Võ Quý Huân, Võ Đình Quỳnh và bác sĩ Trần Hữu Tước.

Sự loại trừ ông Trần Đức Thảo của ông Hồ rõ ràng đến như thế mà xem ra ông Thảo vẫn không nhận ra.

Hồ Chí Minh khi sang Pháp hẳn đã nắm hồ sơ Trần Đức Thảo trong việc ông cộng tác với nhóm Troskyt để thành lập Ủy ban Đại diện Việt kiều( Delégation Générale des Indochinois en France), đại diện cho 20.000 Việt kiều ở Pháp..Và năm 1946, ông cũng là người tuyên bố công khai bất đồng ý kiến với Hiệp Định sơ bộ mà ông Hồ ký. [20]

Số phận ông Thảo không giống số phận của Nguyễn An Ninh, Phan Văn Hùm và Tạ Thu Thâu thuộc nhóm cộng sản đệ tứ được kể là điều may rồi. Tạ Thu Thâu còn dại dột vì câu nói: Ngoài bắc có cụ trong Nam có tôi. Trần Đức Thảo cũng dại dột không kém khi nói với Hồ Chí Minh: Tôi rất mong về nước để cùng cụ xây dựng thành công.

Nói như thế là tự cho là ngang hàng với Hồ Chí Minh, một xúc phạm đến lãnh tụ đến không tha thứ được. Anh là cái thá gì mà đòi cộng tác, cùng cụ xây dựng!!

Ông Thảo cũng đã thừa nhận rằng, ông cụ phải là trên tất cả và không cho phép ai tỏ ra ngang hàng với Người.

Trong khi đó TS Cù Huy Chữ đã viết lại kỷ niệm ngày 27-7-1946 trong buổi gặp gỡ giữa ông Hồ Chí Minh và Phạm Văn Đồng có phần khác hẳn[21]. Ông không có dù một chữ nói về cuộc gặp vắn vỏi giửa Hồ Chí Minh và Trần Đức Thảo.

Sự che giấu ấy nay trở thành sự thật lộ liễu quá. Điều gì các ông ấy không nói ra, điều đó mới là sự thật.

Sự thật như Trần Đức Thảo tiết lộ là Hồ Chí Minh đã có ác cảm với ông ngay từ buổi gặp gỡ lần đầu tiên với Việt Kiều tại nhà ông Raymond Obrac, người đã có nhã ý cho mượn nhà để làm buổi tiếp tân.

Trần Đức Thảo cảm thức được rằng kể từ nay, thân phận người trí thức như ông sẽ bị bóng ma Bác Hồ phủ lên. Từ đó, Trần Đức Thảo suy luận thêm rằng trên bác Hồ có bóng ma của Mao Trạch Đông, trên Mao Trạch Đông có bóng ma của cụ tổ Marx.

Và dân chúng ở ngoài bắc cùng một lúc chịu bị đè bởi hai bóng ma: Bóng ma Liên Xô và bóng maTrung Quốc. Đấy là thảm cảnh đi căng giây cũng là thảm cảnh của cả dân tộc.

Trần Đức Thảo nói thêm: Vậy mà ông cụ cứ tưởng mình tài giỏi, cứ tưởng mình đã tạo ra những trang sử oai hùng cho dân tộc, cứ tưởng mình có tài khuynh đảo các nước lớn, tưởng mình xoay vần được lịch sử… theo ý mình, nhưng cuối cùng mới nhận ra là nước mình vẫn nằm trong vòng cương tỏa của mấy thế lực nước lớn.[22]

Mặc dù cả đời Trần Đức Thảo, ông chỉ được gặp Hồ Chí Minh một vài lần. Nhưng ông là một trong những người hiếm hoi nhận ra con người thực của Hồ Chí Minh. Chỉ cần một chút quan sát, một chút trải nghiệm, Trần Đức Thảo đã nhìn ra nhiều mặt trái của con người ấy. Đó là một con người tự tôn mình, tự coi là trên hết biến sự sùng bái cá nhân như một thứ giáo điều. Từ cách ăn mặc theo kiểu lãnh tụ áo bốn túi, có cổ, cái mũ đội đầu, chòm râu, cái gậy chống, phong cách đi đứng, nói cười giả lả bề ngoài, mặc cái áo mưa, cách xưng hô bác cháu, cách phát biểu, ngay cả cái phong cách bề ngoài xem ra bình dân đều là có chủ đích, có tính toán rất kỹ càng. Trần Đức Thảo kể lại trong lần gặp ra mắt Hồ Chủ tịch, cán bộ nghi lễ đã dặn kỹ ông, phải đứng cách xa bác ba thước, không được nói, khi nào Bác hỏi mới được nói. Phải xưng hô bác, bác, cháu cháu. Lê Duẩn có thể còn hơn tuổi Hồ Chí Minh cũng không ra ngoại lệ nói chi đến những Trường Chinh, Võ Nguyên Giáp.

Đó là cả một màn kịch mà đạo diễn chính là Hồ Chí Minh.

Ông tạo ra một phong cách của một lãnh tụ duy nhất, không giống ai và ở trên mọi người. Mọi quyết định lớn nhỏ đều do ông cả. Một việc nhỏ như kê khai lý lịch của Trần Đức Thảo, dưới không dám quyết định cũng phải trình lên lãnh tụ. Kiếm một việc làm cho Trần Đức Thảo, người nọ đùn người kia đến Phạm Văn Đồng cũng phải hỏi ý kiến Bác. Một chân thư ký cho Trần Đức Thảo cũng bị Hồ Chí Minh bác không cho. Cứ để cho nó đói rã họng mới hết kiêu căng. Việc cải cách ruộng đất làm chết hàng vạn người cũng do Hồ Chí Minh quyết định cả. Theo Trần Đức Thảo, Hồ Chí Minh đã che bộ râu, giả dạng làm người dân thường và đi dự những buổi đấu tố để xem xét và đưa những chỉ thị cần thiết như chỉ đấu tố vào ban đêm dưới ánh lửa bập bùng tạo ra không khí huyền bí, sợ hãi, gây được sự căm thù giai cấp, biến những nông dân hiền lành chất phác thành thứ côn đồ của đảng. Cho nên việc bắn một người phụ nữ có công với cách mạng như bà Nguyễn Thị Năm không thể không có sự đồng ý của Hồ Chí Minh. Chính Hồ Chí Minh quyết định giết bà Nguyễn Thị Năm, nhưng sau này cứ đổ thừa cho Tầu cộng sản.

Về điều này, ông Trần Đĩnh trong Đèn cũ cũng đã nói rõ.

Dự những cảnh đấu tố hãi hùng với tiếng hò hét của đám đông, ánh lửa bập bùng, thân người quằn quại sau một loạt súng cộng với tiếng kêu khóc, tiếng cầu kinh, tiếng than van của nạn nhân, Trần Đức Thảo rụng rời tay chân: Bỗng thân xác Thảo run lên lên lập cập vì xúc động, như một cơn sốt rét mãn tính bất ngờ ập tới, mồ hôi lạnh toát ra từ trán tới chân, nước mắt tuôn trào, hàm răng run lập cập..(…) Thật ra thì những tiếng súng chát chúa hạ sát mấy thân xác đồng bào tội nhân ấy đã như bắn vào chính thân xác Thảo, đã vĩnh viễn đập tan tành giấc mộng trở về góp công sức xây dựng một mô hình cách mạng mà nhân loại trông chờ. [23]

Nhưng mọi việc làm của Hồ Chí Minh đều được che đậy và nếu cần đổ trách nhiệm cho người khác. Bác đóng vai một người nhân từ, đóng vai một lãnh tụ hết lòng với đất nước. Bác chơi gái như mọi người- chơi nhiều gái mà phải là gái còn trẻ- nhưng vẫn đóng kịch là Cha già dân tộc, hy sinh cả đời, không vợ con. Đám cận thận từ một tên bảo vệ đến ông Tổng bí thư đều biết rõ con người thật của Bác: Một thứ gian manh, quỷ quyệt, độc ác, mất nhân tính. Nhưng bác vẫn dặn đám bầy tôi phải làm thế này, thế kia. Còn Bác làm cái gì thì kệ Bác.

Rồi tiếp theo từ cách tự đặt tên minh với những ý đồ đầy cao vọng như : Ái Quốc, Tất Thành, Chí Minhvv đến tự viết Hồi ký khen tặng chính mình là một thứ cao ngạo, giả dối cao độ. Khát vọng quyền lực, khát vọng một lãnh tụ được tôn sùng tuyệt đối là có thật noi con người Hồ Chí Minh. Và ông dùng mọi thủ đoạn, nếu cần, để đạt được. Di chúc viết ra thì như thể Bác không muốn bày vẽ tốn kém, xuềnh soàng cho xong. Nhưng trong bụng Bác thì biết rằng chúng nó sẽ làm cho long trọng, ướp xác để đời đời nhân dân nhớ ơn Bác.

Từng chi tiết một, từng lời ăn tiếng nói, từng việc làm, từng lời tuyên bố của Hồ Chí Minh đã bị Trần Đức Thảo bóc trần. Có thể nói, từ trước tới nay, chưa một ai dám viết lột tả hết mọi mọi điều gian dối, nói lên hết những thối tha, những bi kịch làm người như dưới ngòi bút của Trần Đức Thảo. Người đọc chia xẻ ngầm với những con chữ ấy, cho dù đó là một câu chuyện rất bình thường có thể chẳng liên quan gì đến Hồ Chí Minh như sau đây:

Thảo đứng nhìn bữa cơm chỉ có một đĩa rau muống duy nhất, bên cạnh nồi cơm trơ trọi y như bơ vơ, như thiếu vắng, nhớ tiếc một cái gì vừa mất. Y như Hà Nội đang nhớ tiếc một thời chưa xa, nhưng nay không còn nữa! Thảo lớn tiếng:

– Mời bố mẹ dạy xơi cơm.. Ông bố vẫn nằm im không trả lời. Nằm im lặng thêm một lúc, không biết nghĩ sao, ông bố ngồi dậy, từ từ đi sang một góc chiếu trõng che rồi nói:
– Mẹ ăn cháo chứ chưa ăn được cơm. Lát nữa bố sẽ nấu cháo cho mẹ. [24]

 

Câu chuyện bữa cơm trong một gia đình trung lưu như gia đình Trần Đức Thảo, chỉ bằng một vài việc phác họa đã là một lời tố cáo chế độ bất nhân không có cách gì bào chữa được.

Và để chấm dứt phần này, xin trích một đoạn mô tả cái thực trạng miền Bắc những năm sau 54 và ngày nay còn tồi tệ gấp bội phần. Nơi ấy, không còn ai dám nói tới nhân phẩm, đạo đức nữa. Cứ như thể cả một nền văn hóa đểu giả càng ngày càng phát triển đã tạo ra một xã hội tàn nhẫn đến mức thô bạo mà một Hà Nội mới với cảnh vừa bán, vừa chửi, vừa bán vừa xua đuổi khách hàng. Nói năng thô lỗ, giọng ba que xỏ lá:

– Chỉ có vậy thôi, mua thì mua không mua thì cút.

– Ông cút thì ông ‘đ’ mua!

– Mày về mà ‘đ’ mẹ mày ấy..

Đọc đoạn này không khỏi sót sa cho ông. Trần Đức Thảo không còn là một triết gia nữa mà là một nhà văn hiện thực phê phán như một Nam Cao!!

Phần hai: xoá bỏ chủ nghĩa Mac-Xít- Staline

Cái éo le nhất của cuộc đời cầm bút của Trần Đức Thảo là ông được nhìn nhận nơi xứ người như một nhà tư tưởng lớn. J.P. Sartre coi ông là một trong số hiếm hoi những người Mác Xít không chìm đắm trong tụng niệm mà dám xông pha- một thứ Marxiste combattant- để làm thế nào cuộc đời nhất quán với triết lý. Đem triết lý vào hành động như một thứ dấn thân của một người Mác Xít lý tưởng.

Paul Mus, trong Sociologie d’une guerre viết: Ngay từ 1946, không một ai nói hay hơn nhà tư tưởng có tương lai lớn này..(..) mà những phân tích tâm lý của ông trong những bài đăng trong Les temps modernes, dưới mắt tôi, là một thu hoạch hoàn tất.

Sự trở về Việt Nam của ông nằm trong ý nghĩa đó, đem cái hiểu biết, đem cái lý thuyết Mac Xít về áp dụng vào thực tế Việt Nam.

Nhưng tiếc thay, ông đã không được bất cứ lãnh đạo cộng sản cao cấp nào đón nhận vì nhiều lý do, trong đó có lý do trình độ quá thấp kém của họ. May ra có một người là cụ Cao Xuân Huy có thể chia xẻ về những quan điểm về Hiện tượng học Husserl- một chuyên ngành của Trần Đức Thảo- trong một chương nhan đề: Do lai của ý thức. [25]

Mặc dầu vậy, tôi khó chia sẻ với những thuật ngữ triết học có tinh chuyên ngành mà cụ dịch và sử dụng như vật thể kiên xác ( Solides), vật tự nó (en soi), có chỗ cụ dùng vật tự thân, nội chấp (Intentionnel)vv Những thuật ngữ này ở miền Nam trước 1975 hầu hết đã trở thành những chuẩn ngữ quen dùng cũa những người dạy và học triết ở miền Nam.

Thật khó cho Trần Đức Thảo có thể gieo trồng một cây triết học dù là triết học Mác Xít ở một vùng đất mà phần đông giới lãnh đạo đều vừa qua bậc tiểu học.

Ngay như có đủ vốn triết học và thông thạo tiếng Pháp, vị tất đọc đã hiểu được triết học. Tôi chỉ lấy trường hợp triết gia hàng đầu về chủ thuyết Mác Xít ở Paris như một thí dụ,- ông Louis Althusser tự thú như sau, xin lược dịch: Tôi có đọc chút ít về Hégel, đọc chút ít về Aristote. Kant thì không. Còn những Spinoza, Heidegger, Husserl; tôi đã chẳng hiểu họ viết gì. Freud cũng thế cũng như phần đông độc giả của ông ta. Nếu tôi biết chút ít là do suy đoán, tệ hơn nữa cứ nhận đại là mình biết đi.

Trần Đức Thảo lạc lõng giữa đám người ít học ấy. Ngay cả khi ngồi trước đám môn sinh sau 1954 ở Hà Nội, liệu có ai hiểu được ông thày muốn nói gì?

Tuy nhiên, cái khó khăn của Trần Đức Thảo không phải chỉ nằm ở chỗ đọc hiểu hay không hiểu. Một khó khăn đặt ra bây giờ và những thế hệ sau này muốn đọc là ông sử dụng hai thứ tiếng để biểu đạt tư tưởng của mình: Tiếng Pháp và tiếng Việt.

Chính ở chỗ này, cần phân biệt có hai Trần Đức Thảo.

Có một con người Trần Đức Thảo viết tiếng Pháp suôi chảy và con người viết tiếng Việt còn thiếu bộ danh từ triết học. Đã thế viết tiếng Việt lại phải qua hàng rào kiểm duyệt. Viết cây dừa có dấu huyền mà nó bỏ dấu huyền thành cây dưa là đời đi đoong rồi. Lại nữa chỗ nào ông viết thật, chỗ nào ông viết nịnh bợ?

Hai con người ấy phơi bầy hai lối nhìn, nhiều khi hai tư cách trái ngược nhau.

Viết tiếng Việt, có thể Trần Đức Thảo phải viết theo đơn đặt hàng hoặc viết sao để vừa lòng chế độ như các bài về: Tìm Hiểu giá trị văn chương cũ hay Nội dung xã hội truyện kiều. Cái gọi là Tấm biển chỉ đường của Trí tuệ..Bài Hịch Tướng sĩ của Trần Hưng Đạo và xã hội Việt Nam trong thời kỳ thịnh của chế độ phong kiến.

Đặc biệt trong đó có bài viết về Thằng Bờm trong Tìm hiểu giá trị văn chương cũ mà ông yêu cầu mọi người từ nay phải gọi Bờm là anh Bờm. Vì Bờm biểu tượng cho giai cấp nông dân chống lại địa chủ phong kiến. Hóa ra tranh đấu giai cấp đã có từ thời thượng cổ thì cần gì đến ông thầy Mác?

Đọc bài này của ông mà muốn chửi thề!! Hình như đây không phải là Trần Đức Thảo mà là bóng ma Hồ Chí Minh nhập vào Trần Đức Thảo.

Tuy nhiên, số lượng bài viết này không nhiều, cũng chẳng đáng nói tới so với số lượng các đề tài liên quan đến lãnh vực triết học mà ông để lại.

Một cái tuy nhiên nữa là trong số những tài liệu tiếng Việt ấy có cuốn Vấn đề con người và Chủ nghĩa ‘Lý luận không có con người’ được in và xuất bản khi ông vào ở trong Nam. Cuốn sách mỏng chỉ khoảng 140 trang này có thể được xuất bản là nhờ cái không khí chính trị miền Nam tương đối khoáng đạt hơn miền Bắc và nhờ có sự yểm trợ tinh thần của những người như Trần Văn Giàu, Trần Bạch Đằng. Vậy mà sau này nó cũng bị Hà Nội ra lệnh tịch thu.[27]

Về phần triết học Tây Phương của Trần Đức Thảo, tôi chỉ xin trích dẫn ý kiến của giáo sư H.L Van Breda, người có trách nhiệm bảo quản các tài liệu của nhà Hiện tượng học Husserl ở đại học Louvain bên Bỉ.. Husserl là người Đức, gốc Do Thái nên ông phải tẩu tán tài liệu của ông sang Bỉ  [28] khi Hitler lên nắm quyền. Có bốn trí thức ở Paris có quan tâm đến triết học Hiện tượng luận là Merleau-Ponty, J.Hyppolite, Lm Geigner và Trần Đức Thảo vào những năm 1942-1946. Vì thế, họ phải liên lạc với giáo sư H.L Van Breda để tiếp cận tài liệu Husserl. Chính vì thế mà Trần Đức Thảo mới có điều kiện viết cuốn triết học làm ông nổi tiếng. Đó là cuốn La Phénoménologie et le Matérialisme dialectique.( (Hiện tượng luận và chủ nghĩa duy vật biện chứng). [29]

Nội dung cuốn sách này là Trần Đức Thảo có tham vọng muốn trình bày thuyết Hiện tượng luận đem áp dụng vào chủ nghĩa duy vật biện chứng. Tham vọng này cũng giống như J.P Sartre muốn đem triết thuyết hiện sinh vào thuyết Mác Xít. Và đây cũng là đầu mối việc J.P Sartre mời Trần Đức Thảo trao đổi với J.P Sartre trong năm buổi trao đổi. Việc trao đổi này sau ở miền Bắc nhiều người phóng lên rằng J.P Sartre đã thua Trần Đức Thảo. Đã có mấy ai đủ trình độ và có tài liệu để nói đến chuyện thua được. Vả lại, trao đổi triết học mà nói đến thua được là trẻ con, chưa hiểu gì về tính chất của triết học.

Theo phần đông các triết gia Pháp cho rằng ông Thảo là người hiểu và trình bầy một cách sâu sắc và tương đối dễ hiểu về Hiện tượng luận hay phương pháp hiện tượng luận của Husserl.

Tuy nhiên phần hai của cuốn sách- phần áp dụng Hiện tượng luận vào chủ thuyết biện chứng duy vật biện chứng thì thật bất xứng với ông(indigne de lui), Có thể phần hai ông Thảo đã triển khai chưa đúng mức và có phần vội vã.[30]

Tôi chỉ trích dẫn lại ý kiến của các nhà triết học mà về phần tôi, chưa đủ trình độ để hiểu được đến nơi đến chốn.

Theo ý kiến thô thiển của tôi trong cái hiểu biết có giới hạn về Trần Đức Thảo, tôi vẫn cảm thấy gần gũi với ông mỗi khi ông cho rằng triết học dù là Mác Xít-Lênin đi nữa thì vẫn là thứ triết học về con người và lấy con người làm đối trọng.

Đây là một điều mà tôi cho là đáng trân quý nhất so với những luận thuyết trừu tượng với những thuật ngữ quá chuyên biệt ngoài tầm tay của mình.

Có muốn dựa cột mà nghe cũng không được.

Và phải chăng tôi tự hỏi vì thế ông viết cuốn Vấn đề con người và chủ nghĩa lý luận không có con người, trong đó ông phê phán nặng nề Louis Althusser. Althusser là một trong những triết gia, nhà tư tưởng cộng sản hàng đầu của Paris vào các năm từ 1965-1980. [31]

Tôi gọi cái phần ưu vượt của triết lý Trần Đức Thảo là một thứ chủ nghĩa nhân bản Mác Xít( Un humanisme marxiste). Một thứ chủ nghĩa hầu như xa lạ và đối nghịch với Staline, với Mao Trạch Đông và Hồ Chí Minh.

Tôi cũng cảm nhận ông có một bước tới gần với các triết gia nhân bản xã hội Âu Châu mặc dầu còn rất nhiều khoảng cách giữa họ.

Nhưng tôi cũng không thể đồng tình với tác giả Cù Huy Chử trong một bài viết Tư Duy triết học Trần Đức Thảo và tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh.

Đây là một gán ghép có tính áp đặt. Cho đến nay, chưa mấy ai có thể chỉ ra chỗ nào là tư tưởng Hồ Chí Minh. Tư tưởng Hồ Chí Minh nếu có chỉ là tư tưởng thuộc loại Luân lý Giáo Khoa thư hay tư tưởng công dân giáo dục dạy cho học sinh trong các trường trung-tiểu học.

Xin Tiến sĩ Cù Huy Chử nên từ bỏ những điều nghiên cứu ngoài lãnh vực của ông để xứng danh với danh xưng tiến sĩ của ông. Xin tha cho làm phước.

Nhưng nếu căn cứ vào cuốn sách Những lời trăng trối của ông, tôi nhận thấy Trần Đức Thảo muốn vứt bỏ hầu như toàn cái gia tài triết học của ông- gia tài sùng bái chủ nghĩa Mác Xít. Và Về phần này, xin nhường để ông hiển lộ tất cả những sâu kín đã chôn chặt, đã dấu kín và nỗi lòng của ông. Ông thố lộ :

‘Từ lúc tôi khám phá ra là tôi đã sai lầm, đã một thời đứng trong hàng ngũ tội ác, đã mù quáng cả tin vào ý thức đấu tranh giai cấp của Marx, thì sự tỉnh thức ấy làm tôi sung sướng. Bởi như thế là tôi đã tự giải thoát chính tôi, đã tự giải phóng chính tôi. Tôi đã trở thành con người tự do! Tôi đã đạt tới tâm trí thanh thản trong sáng của con người tự do, tư tưởng không còn bị gông cùm của ý thức hệ.

Và nay dĩ nhiên là tôi phải phủ nhận tất cả những gì đã viết lúc đang sùng bái Marx..

 

Xin tiếp tục đọc những lời trăng trối của ông :

Những gì đã viết mà dựa vào Marx thì vẫn bao hàm một định kiến, một ngộ nhận,một căn bản không tưởng, từ đó có thể dẫn đến những sai lầm khác, có thể phạm vào tội ác. Bởi vì một phần tư tưởng tranh đấu của Marx, lúc nào cũng như cái bóng ma quái, muốn thúc đẩy con người lao vào các hành động quá trớn, quá khích, do hận thù và bạo lực cách mạng, để giải quyết các vấn đề cơ bản của xã hội, của con người.

Thật sự là trong chiều dài lịch sử nhân loại, bạo lực cách mạng xã hội chủ nghĩa đã không hề giải quyết được vấn đề bất công trong xã hỗi loài người.

Và cũng chưa hề giải phóng ai![33]

 

Ông Trần Đức Thảo vốn là một người cầm bút cẩn thận. Đọc một vài trang bản thảo của ông, tôi thấy ông xóa gạch, sửa nhiều chỗ, thêm bớt từng chữ một. Vậy mà trong những dòng tâm sự cuối đời này, giọng văn như vỡ ra, tuôn trào, không kềm giữ được.. Hình như bao nhiêu nỗi oan ức, nỗi buồn, sự câm nín bấy lâu nay giống như một cái cửa đập nước được mở ra. Nó tuôn trào như một dòng thác nước!! Đúng như nhận xét của Tri Vũ Phan Ngọc Khuê viết :

Nói tới đó, rồi bác Thảo im lặng hồi lâu. Lúc này, chúng tôi thấy bác Thảo nổi bật như một người, lúc cuối đời, đầu óc nặng trĩu tâm tư, đầy ân hận, hối hận rất u buồn, đau đớn, và đang tìm cách gì đó để giải tỏa thảm kịch của chính mình.[34]

Rải rác đó đây trong sách, người đọc thấy đầy những giọng điệu bi phẫn như thế!

Không phải tôi đa mang đâu, sự thật là mình đã tự thân bước vào con đường của sai lầm, bế tắc. Nỗi khổ tâm là mình cũng đã làm cho nhiều người cùng với mình sa vào sai lầm và bế tắc. Nay mình đã tìm ra được lối thoát nên rất ân hận, phải sám hối, phải chuộc tội bằng hành động. Vào lúc hoàng hôn, thấy một ngày bị lãng phí là đáng tiếc, đáng buồn, huống chi bây giờ là hoàng hôn của cả một cuộc đời đã bị lảng phí. Nỗi ân hận, hối hận đang ngùn ngụt thiêu đốt tâm trí tôi… Bây giờ tôi chỉ thấy tội lỗi của cái thời câm nín của mình, đã biến thành một tên trí thức đồng lõa khốn nạn, đáng nguyền rủa..[35]

Còn tôi, đã bao phen biết mình phải nói một câu trái với lương tâm, làm một cử chỉ a dua, ca ngợi tội ác, lúc đó tôi đã ý thức ngay là mình phạm tội, tội giả dối, tội a dua, hoan hô cái xấu, cái ác, tội hèn nhát đã phản bội lý tưởng của mình, phản bội chính mình. Đã biết là tội như vậy mà vẫn cứ nói, cứ làm..[36]

Tôi đã chấp nhận ra đi, lúc tuổi già sức yếu, để có cơ hội thét lớn cùng thế giới rằng : Thủ phạm gây ra đại bi kịch này cho nhân loại, chính là Marx.

Tất cả là do đám trí thức hèn như tôi. Buồn lắm! Hèn lắm! Nhục lắm! Đau lòng lắm.

 

Phần tôi, xin được chấm dứt bài viết ở đây. Bài viết của tôi mang tínhcách tìm hiểu về một Con người, một tưởng niệm hơn là nhận thức. Điều mà tôi tâm đắc nhất khi viết về triết gia này, chính là tính cách nhân bản của ông. Ông đã sống xứng đáng một con người có nhân cách và trách nhiệm của một người trí thức.

Ông sống khổ mà chết đẹp và đã để lại cho mọi người một sứ điệp: chế độ cộng sản và Hồ Chí Minh đã tạo ra một thảm cảnh bất hạnh cho Việt Nam.

Ta phải tiêu diệt cả hai. Tiêu diệt cách nào? Đó không phải là công việc của Trần Đức Thảo mà của những người hiện nay đang sống dưới chế độ bất nhân và vô đạo ấy!!

© Nguyễn Văn Lục

© Đàn Chim Việt

——————————————————–

Chú thích:

[19]Tri Vũ-Phan Ngọc Khuê, Trần Đức Thảo, Ibid, trang 280
[20]Xem Hoàng Khoa Khôi, Một nhận định về Trần Đức Thảo IBId
[21]TS Cù Huy Chữ: Về mối quan hệ giữa giáo sư Trần Đức Thảo với ông Phạm Văn Đồng, một vài nét chấm phá.
[22]Trần Đức Thảo IBID, trang 350-352
[23]Tri Vũ- Phan Ngọc Khuê, Trần Đứ cThảo, Ibid, trang 142
[24]Tri Vũ- Phan Ngọc Khuê, Trần Đức Thảo, Ibid, trang 162
[25]Paul Mus: Sociologie d’une guerre, nxb Seuil, Paris, 1951, trang 185.
[26]Cao Xuân Huy, Tư tưởng phương Đông, Gợi những điểm nhìn tham chiếu, do Nguyễn Huệ Chi soạn và giới thiệu, nxb văn học từ trang 147-174
[27]Trần Văn Giàu: Trần Đức Thảo, nhà triết học, tạp chí Văn Nghệ nguyệt san, số 1, bộ mới, trang 2
[28]H.L Van Breda, Maurice Merleau Ponty et les archives de Husserl à Louvain, Revue de Métaphysique et de morale, 1962
[29]Trần Đức Thảo La phénomologie et le materialisme dialectique, Minh Tan, Paris, 1951
[30]Nguyễn Văn Trung, đôi điều ghi nhận về ông Trần Đức Thảo.
[31]Althusser đã giết vợ là Helene bằng cách bóp cổ vào năm 1980. Ong là tiêu biểu thứ tận cùng của thứ điên loạn triết học. Sau khi giết vợ xong, ông ghi lại như sau . Voila ce que j’ai fait, ce que j’ai pense, ce que je fus ( Đó là nhựng cái gì tôi đã làm, cái gì tôi đã suy nghĩ và đó là cái gì là tôi). và năm sau đến lượt ông chết ngồi trên ghế bành về bệnh tim..
[32]Ts Cù Huy Chử, Tư duy triết học Trần Đức Thảo và tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh.
[33]Tri Vủ Phan Ngọc Khuê, Trần Đức Thảo, Ibid, trabg 385
[34]Tri Vũ Phan Ngọc Khuê, Trần Đức Thảo, Ibid, trang 337
[35]Tri Vũ Phan Ngọc Khuê, Trần Dức Thảo, Ibid, trang 390
[36]Tri Vũ Phan Ngọc Khuê, Trần Đức Thảo, Ibid, trang 391

———————————–

Nguồn  danchimviet.info

  1. Đảng ký các hiệp định dưới mắt triết gia Trần Đức Thảo
  2. Trần Đức Thảo – Những lời trăn trối
  3. 17-10-1968: Thảo luận giữa Trần Nghị và Lê Đức Thọ
  4. 1968: Thảo luận giữa Chu Ân Lai, Phạm Hùng, Trần Nghị, Xuân Thủy
  5. Thảo luận giữa Chu Ân Lai và Trần Nghị
  6. Trần Đức Thảo: Những phủ định trớ trêu

 

Posted in Nhan Vat Chinh tri, Sách-Hồi Ký-Bài Báo... | 1 Comment »

►Trần Đỉnh: ‘Lúc đầu tôi đã rất mến ông Hồ’ trước khi ông Hồ thay đổi ‘lập trường’ và ngả theo ông Lê Duẩn cùng các đàn em.

Posted by hoangtran204 trên 08/09/2014

Trần Đỉnh bắt đầu viết cuốn ĐÈN CÙ vào 1991 “khi ông Nguyễn Văn Linh kêu gọi toàn dân cả nước là: chống im lặng đáng sợ và lúc ấy tôi đặt bút viết”. Và ông hoàn tất cuốn Đèn Cù dày 600 trang vào đầu tháng 3 tháng 4 năm  và thật sự kết thúc vào lúc có dàn khoan HD981, tháng 5-2014. Ông quyết định cho in cuốn Đèn Cù vì “Trung Quốc nhảy vào bắt nạt nước mình và cho rằng mình sai, họ đúng” và ông muốn in sách vào dịp này để gửi một thông điệp cho Đảng.

‘Lúc đầu tôi cũng rất mến ông Hồ’

5-9-2014

BBC

Cuốn Đèn Cù đưa ra nhiều chi tiết mới gợi ý ‘thâm cung bí sử’ về lãnh tụ và Đảng CS Việt Nam.

Tác giả cuốn tự truyện ‘Đèn Cù‘ nói với BBC lúc đầu ông đã ‘rất mến’ ông Hồ Chí Minh,trước khi vị cố Chủ tịch của Việt Nam thay đổi ‘lập trường’ và ngả theo ông Lê Duẩn cùng các lãnh đạo lớp đàn em. 

Trao đổi với BBC, nhà văn Trần Đĩnh, một cây bút từng viết cho các tờ Sự Thật, Nhân Dân của Đảng Cộng sản Việt Nam, nói:

“Ông Hồ mà tôi đi theo thì lúc đầu tôi rất mến ông ấy, nhưng mà cuối cùng tôi nói thật tôi tâm sự là ‘thất tình’ trong quyển ấy.”

Nhà văn giải thích lý do làm ông ‘thất vọng’ với vị cựu lãnh tụ cộng sản.

“Bởi vì tôi thấy cuối cùng ông Hồ thua ông Lê Duẩn. Ở ngoài cuộc rất khó hiểu. Mới đầu hội nghị Trung ương lần thứ 9, tức là Hội nghị Đảng Cộng sản Việt Nam, ông Lê Duẩn, Tổng Bí thư bắt đầu ngả theo đường lối Trung Quốc để đánh, phát động chiến tranh.

“Thì lúc đầu cụ Hồ, ông Hồ ông không tán thành. Cụ Hồ không biểu quyết mà đó bắt đầu bi kịch của cụ.

“Nhưng mà tôi đinh ninh cụ phải là người kiên cường đấu tranh chống lại, thì cụ không.”

Người từng được giao chấp bút tiểu sử chính thức hay các dự án hồi ký, tự truyện của nhiều lãnh đạo cao cấp của Đảng Cộng sản, trong đó có cố Chủ tịch Hồ Chí Minh, giải thích thêm về quan điểm riêng của ông về cố lãnh tụ.

“Thực ra đối với con người, tôi không có gì gọi là ác cảm, không có chuyện gì đâu, nhưng vấn đề bắt đầu là khi đứng trước những cái lớn, tôi đinh ninh cụ sẽ là người đứng ra cầm trịch, thì cuối cùng cụ cũng để cho bị ông Lê Duẩn ông kéo theo.”

Vẫn theo tác giả Đèn Cù, một số lãnh tụ khác của Đảng Cộng sản, như ông Trường Chinh, cố Tổng Bí thư Đảng Cộng sản VN, cũng ‘ngả’ lập trường như trường hợp của cố Chủ tịch Việt Nam.

Ông Trần Đĩnh nói thêm: “Ông Trường Chinh rủ tôi đi viết hồi ký cho ông ấy, mà lúc bấy giờ tôi quan niệm ông ấy viết hồi ký là ông ấy định tập hợp lực lượng, ông ấy không bằng lòng ngả theo Trung Quốc.

“Cuối cùng ông ấy chính ông ấy lại là người tán thành Trung Quốc đúng. Tôi cũng lại dứt tình với ông Trường Chinh.”

‘Thâm cung bí sử’

Trong cuốn sách mới được xuất bản ở hải ngoại, tác giả Trần Đĩnh đã đề cập nhiều chi tiết được cho là có tính ‘thâm cung bí sử’ về nội bộ Đảng Cộng sản, trong đó có nhiều thông tin liên quan các ‘góc khuất’ về nhân cách, đời tư của nhiều lãnh tụ, từ ông Hồ Chí Minh, tới ông Lê Duẩn, Trường Chinh, Lê Đức Thọ v.v…

Về cố Chủ tịch Hồ Chí Minh, một số thông tin trong cuốn sách gợi ý rằng ông Hồ chính là người đã cải trang ‘đeo râu’ theo dõi vụ đấu tố địa chủ đầu tiên ở Việt Nam.

Và chính lãnh tụ này là người đã trực tiếp ‘viết báo kết tội đích danh’ một nữ địa chủ kháng chiến, bà Nguyễn Thị Năm, cũng như đã đả kích giai cấp địa chủ, chứ không phải là ‘vô can’, hay ‘không hề biết’ như vẫn được báo chí và lịch sử đảng Việt Nam ‘tuyên truyền’, giải thích.

Một số chi tiết khác gợi ý cố lãnh tụ này có các mối quan hệ với một số phụ nữ, điều chưa bao giờ được các tài liệu, văn kiện, báo chí của Đảng Cộng sản Việt Nam công bố hoặc đề cập.

Khi được hỏi về tính chân thực và căn cứ của các ‘sự thực’ này, nhà văn Trần Đĩnh nói:

“Tôi sống lúc ấy thì tôi biết chứ, ví dụ như chuyện Cụ có những cái này, cái nọ thì bạn bè tôi nói, thì biết thôi. Chứ còn bây giờ nói lại thì thực là khó.

“Hiện nay tôi còn có người bạn là Phan Kế An, con cụ Phan Kế Toại, họa sỹ, anh ấy biết chuyện, anh ấy đến vẽ cho cụ.

“Anh đến vẽ cho cụ, thì anh ấy nói chuyện. Hiện nay anh Phan Kế An vẫn sống.”

Trao đổi BBC mới đây về Trần Đĩnh, nhân sự kiện cuốn Đèn Cù ra mắt ở hải ngoại, nhà văn Vũ Thư Hiên, tác giả “Đêm giữa ban ngày” và dịch giả “Bông Hồng vàng” nói:

“Ông Trần Đĩnh là một người viết báo từ trước, làm nhiều ở báo Nhân dân, có một thời gian ông ấy làm việc trong văn phòng của ông Trường Chinh.

“Chúng tôi quen nhau cũng khá lâu và sau khi có vụ Xét lại chống Đảng nảy ra thì ông Trần Đĩnh, lúc đó đang làm ở báo Nhân dân, cũng bị trấn áp, nhưng không bị đi tù như chúng tôi mà người ta chỉ bắt đi lao động, bắt đi làm những công việc khác thôi.

“Ông Trần Đĩnh là người viết nhiều mà thường thường viết cho những người cầm quyền cao cấp, đối với họ, ông Trần Đĩnh là một người được tín nhiệm, viết rất là tốt.”

‘Kiểm chứng sự thực’

Về tính chân thực và cơ sở của những ‘sự thực’ được ông Trần Đĩnh đề cập, như những chi tiết ‘góc khuất’ về đời tư của Hồ Chủ tịch, ông Vũ Thư Hiên bình luận:

“Thực sự ra tất cả những việc đó nó nằm trong vòng bí mật của Đảng, nếu chúng ta tìm văn bản thì không có đâu, nhưng với những người ở trong giai đoạn đó mà ở gần với các vị ở đỉnh cao quyền lực, thì chắc chắn ông Trần Đĩnh là người có thể đưa ra được những thông tin khá xác thực để mọi người có thể tin cậy rằng đấy là những nguồn đáng tin.

Hồ Chí Minh và các cán bộ

 

Hàng đầu từ trái qua: vợ Hà Xuân Trường, Lê Ðạt, Hồ Chí Minh, ngoài cùng bên phải là Trường Chinh,

hàng sau đứng đầu bên trái là Hà Xuân Trường. Hình do Tác giả cung cấp. 

Trần Đĩnh có nhiều cơ hội tiếp cận các lãnh tụ ở đỉnh cao quyền lực của Đảng CSVN một thời.

Trần Đĩnh (thứ năm, trái sang) từng được ông Trường Chinh (thứ sáu) mời viết hồi ký.

 

.

“Bởi vì thực sự bây giờ nếu chúng ta muốn tìm hiểu những con người ở trong giai đoạn đó thì chỉ có sự kể lại của các nhân chứng, chứ còn nếu chúng ta cứ đòi hỏi có một văn bản như là trong văn bản học, thì chúng ta sẽ chẳng bao giờ đạt được tới điều đó, với lại cách hành xử với lịch sử của Đảng Cộng sản.”

Có ý kiến cho rằng có thể không lâu nữa, nhiều bí mật được cho là “thâm cung bí sử”, “tuyệt mật” của Đảng, như góc khuất trong đời tư, nhân cách của nhiều cựu, cố lãnh đạo Đảng, cùng các cuộc ‘tranh chấp quyền lực’ nội bộ, hay những “sai lầm nghiêm trọng” của Đảng, Chính quyền theo nhiều con đường khác nhau sẽ được công bố, bạch hóa.

Trước câu hỏi, nếu có chuyện đó, thì khi ấy việc xác lập lại ‘sự thực lịch sử’, nhất là trong mắt các thế hệ trẻ, thế hệ tương lai và người dân Việt Nam có dễ dàng hay không, nhà phê bình văn học Phạm Xuân Nguyên, Chủ tịch Hội nhà Văn Hà Nội, nhân dịp này nói với BBC:

“Giống như ‘Đèn Cù’ hoặc là cuốn trước đây của Vũ Thư Hiên ‘Đêm giữa ban ngày’, rồi ‘Mặt thật’ và nhiều cuốn khác nữa, thì thứ nhất, tôi phải nói đến chữ ‘cần thiết’, vì được nói ra ở những người có thẩm quyền, ở những người gần với cơ chế quyền lực, gần với sự thật nhất.

“Cho nên tính khả tín, tính xác thực của nó là cao. Và một việc như vậy sẽ giúp soi rọi nhiều vấn đề của lịch sử, và nó cũng sẽ giúp cho việc bạch hóa cũng như là việc làm sáng tỏ, rõ ràng những vấn đề.

“Điều đó bây giờ là một nhu cầu, nhu cầu của thời đại, nhu cầu của người dân, nhu cầu được thông tin và tiếp cận thông tin, và các thông tin được nói ra ở những người hoặc những cấp có thẩm quyền,” nhà phê bình nói với BBC.

—————-

‘Đèn Cù là tiếng kêu đau’ của tôi

* Trao đổi với BBC hôm 01/9/2014 từ Việt Nam, ông Trần Đĩnh giải thích lý do và dự định viết và công bố cuốn sách, mà theo ông đã được khởi thảo từ năm 1991 để hưởng ứng lời kêu gọi của cố Tổng Bí thư ông Nguyễn Văn Linh về ‘phá tan sự im lặng đáng sợ’.

Tác giả cũng nói ông quyết định hoàn tất cuốn sách để gửi ra hải ngoại công bố, vào thời điểm Trung Quốc hạ đặt giàn khoan Hải Dương 981 ở Biển Đông vào đầu tháng 5 năm nay để gửi một thông điệp cho Đảng.

Sự thực

Ông Trần Đĩnh cũng nói do nội dung của cuốn sách có nhiều thông tin được cho là nhạy cảm, mà sách của ông không thể công bố trong nước, và ông buộc phải gửi ra hải ngoại, sau lần chỉnh sửa, bổ sung cuối cùng vào đầu tháng 5/2014.

Ông Trần Đĩnh, sinh năm 1930, ở Hải Hưng, nguyên nhà báo của các cơ quan báo chí của Đảng như Sự Thật, báo Nhân Dân.

Ông là cây bút chuyên được đặt hàng hoặc mời viết tiểu sử, tự truyện, hồi ký cho các nhân vật cao cấp trong Đảng, trong đó có ông Hồ Chí Minh, ông Trường Chinh, cố Tổng bí thư Đảng.

Nói với BBC, ông khẳng định những gì ông viết là sự thật từ chính những gì ông chứng kiến, hoặc được các nhân chứng lịch sử chia sẻ.

———-

Blogger  Nguyễn Văn Thạnh (30 tuổi, Đà Nẵng)

 

ĐỌC ĐÈN CÙ, THẤY QUYỀN CON NGƯỜI LÀ QUÍ GIÁ.

Được một người bạn tặng cho cuốn Đèn Cù, tôi đã ngấu nghiến nó trong 3 ngày dù cuốn sách đến 599 trang. Trước đó, tôi đã đọc nhiều cuốn hồi ký thuộc giai đoạn này như: đêm giữa ban ngày, một cơn gió bụi, trong gọng kềm lịch sử, từ thực dân đến phong kiến,…phần nào hiểu về sự thật của một giai đoạn lịch sử nhưng tôi thật sự cuốn hút khi bắt đầu với Đèn Cù. Đèn Cù cuốn hút không chỉ lối trình bày của một cây bút lão luyện mà còn cuốn hút vì nhiều thông tin mới mẻ.
Khác với các tác giả khác, ông Trần Đĩnh có vị trí đặc biệt để cung cấp cho những người hậu sinh như tôi có góc nhìn toàn cảnh, chân thực hơn giai đoạn lịch sử 1946-1975; giai đoạn lịch sử được phủ lớp sơn bóng bẩy có chủ ý của nhà cầm quyền.

Đèn Cù cho ta thấy: như hình ảnh voi giấy, ngựa giấy chạy vòng quanh tít mù trong đèn cù (đèn kéo quân), Đảng cộng sản VN cũng chạy quanh thế nào dưới sức ép của hai nước lớn trong phe XHCN-Liên Xô và Trung Quốc. Thú vị hơn nữa, ta thấy các giáo chủ của một chủ nghĩa thần bí-hứa hẹn đưa con người đến thiên đường trên mặt đất-chủ nghĩa Mac-Lenin đã độc quyền trong việc giải thích chủ nghĩa này như thế nào là trong sáng: để bảo vệ sự trong sáng của chủ nghĩa Mác Lenin thì phải không sợ Mỹ, phải đánh Mỹ.

Qua Đèn cù, ta thấy câu nói của tổng bí thư Lê Duẩn “ta đánh mỹ là đánh cả cho liên xô đánh cho trung quốc” rõ nghĩa hơn, sinh động hơn. Cuộc chiến mà mà sách giáo khoa hay nói là chiến tranh thần thánh chống Mỹ cứu nước chẳng qua là một cuộc chiến được thúc đẩy bỡi Mao Trạch Đông để phục vụ ý đồ của ông ta “Thiên hạ đại loạn, Trung Quốc được nhờ”. Ông ta muốn đánh Mỹ đến người Việt Nam cuối cùng. Tôi thật sự giật mình khi biết rằng Mao đã xui VN đánh Mỹ để giải phóng miền Nam mà Trung Quốc thì không đánh nhau để giải phóng Đài Loan hay họ kiên nhẫn để thống nhất Hồng Kông, Macao trong hòa bình. Ít nhất điều này đã thể hiện tâm và tầm lãnh đạo.

Thật là đau xót khi đọc câu nhận định của tác giả (Trần Đĩnh) “Máu Việt Nam mới có sức dịch chuyển địa chính trị mạnh mẽ và quý giá làm sao”. Mao muốn biến Việt Nam thành bãi chọi trâu để phục vụ mưu đồ tranh quyền đoạt bá với Liên Xô cũng như mưu đồ kéo Trung Quốc đến gần Mỹ hơn.
Đọc Đèn Cù tôi thấy phần nào ấm lòng vì số người biết xót xa cho phận người dân khốn khổ, hẩm hiu như tác giả còn rất nhiều. Chỉ có điều, những người tốt thường không quyết liệt, mạnh mẽ như những người hiếu chiến. Có lẽ do đặc tính này mà loài người còn nhiều đau khổ chăng?

Với lượng thông tin phong phú chứa đựng trong 599 trang sách hẳn sẽ thỏa mãn nhiều mối quan tâm khác nhau của độc giả. Là một người tham gia tranh đấu cho quyền con người, đọc Đèn Cù tôi thấy quyền tự do ngôn luận quí đến dường nào. Nếu ngày đó có tự do ngôn luận, hay có internet chắc chắn người dân miền Bắc sẽ không yêu nước đến cuồng nhiệt: lớp sống đói khổ, lớp chịu bom đạn, lớp đưa hàng triệu con em mình vào Nam chịu cảnh bi thảm: sinh bắc tử nam.
Tôi cũng thật bất ngờ khi biết rằng ở miền Bắc cũng có phe phản chiến như ở Mỹ, chỉ có điều họ bị bịt miệng quá nhanh chứ không được tự do nói như bên Mỹ.
Qua đây chúng ta cũng sẽ học được bài học vô cùng quí giá là: muốn có một xã hội tốt đẹp thì trước tiên và kiên quyết tranh đấu cho quyền tự do ngôn luận. Tuyệt đối, không cho nhà cầm quyền lũng đoạn tất cả các kênh thông tin. Vì như cha lập quốc nước Mỹ George Washington đã nói “một khi bị cướp đi quyền tự do ngôn luận, chúng ta trở nên câm lặng và ngu xuẩn, như những con cừu bị dẫn đến lò sát sinh”. Nhắc lại điều này, tôi nghĩ không mới nhưng thấy buồn là hiện còn nhiều người Việt Nam chưa ý thức được vấn đề này để góp một tay tranh đấu cho quyền thiêng liêng-TỰ DO NGÔN LUẬN.

Suy rộng ra, một xã hội mà quyền con người được bảo đảm là một xã hội tránh được nhiều nguy cơ, trong đó có nguy cơ chiến tranh, đổ máu. Một giá trị rất đáng để tranh đấu.

Đèn Cù là một cuốn sách tuyệt vời, chỉ có điều vì là một cuốn sách có bản quyền nên sẽ ít người được đọc nó. Hy vọng rằng có ai làm mạnh thường quân, mua tác quyền để có thể phổ biến rộng rãi hơn. Tôi nghĩ mạnh thường quân cho việc này là một người yêu nước vì cuốn sách giúp công chúng hiểu biết chân thực hơn một giai đoạn lịch sử. Như ai đó đã nói “Đèn Cù đã giải thiêng cho cuộc cách mạng Việt Nam”, sự giải thiêng này sẽ giảm đi tính thần thánh, đỉnh cao trí tuệ nhân loại mà ĐCS VN thường tự nhận về mình và nó góp phần thúc đẩy nền dân chủ cho Việt Nam.

Thế hệ trẻ như chúng tôi cần nhiều Đèn Cù hơn nữa để có hành trang chân thực góp sức mở ra một trang sử mới cho dân tộc.
Một lần nữa, xin cảm ơn tác giả Đèn Cù.

Xin cầu chúc tác giả nhiều sức khỏe để thấy một Việt Nam tươi đẹp như lý tưởng mà tác giả hy sinh cuộc đời mình để theo đuổi, bảo vệ.
Nguyễn Văn Thạnh

Để biết rõ hơn  về tác phẩm này, xin giới thiệu một bài review trên báo RFA.

http://www.rfa.org/vietnamese/programs/LiteratureAndArts/book-review-the-lantern-by-tran-dinh-ml-08092014080857.html

Sau năm năm du học tôi bắt đầu thấy đuợc một điều khôn lớn nhất: hãy cảnh giác với thần tượng và bỏ thần tượng! Do đó hãy tin trước hết ở lương tri, bản chất mình, gắng là chính mình, chớ nghe sai phái.
-Trần Đĩnh

Xóa dấu vết thần tượng Trung Quốc không quá khó đối với ông nhưng hai thần tượng khác bao vây trí tuệ nhà báo Trần Đĩnh thật không dễ xóa chút nào.

Người thứ nhất là Hồ Chí Minh và người thứ hai là Trường Chinh.

Hình ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh rơi xuống trong lòng Trần Đĩnh vì tuy ông không ký vào nghị quyết 9 ủng hộ Trung Quốc nhưng trong tư cách lãnh tụ ông đã bị phe Lê Duẩn khống chế để không dám lên tiếng khiến Trần Đĩnh tỉnh ra trước sự thật này. Nghị quyết 9 chỉ là giọt nước tràn ly khi trước đó qua Phạm Văn Khoa, một người bạn của tác giả tháp tùng với Hồ Chủ tịch sang Trung Quốc về kể lại nguyên văn rằng: “Ông Cụ sang kiểm thảo với Mao Trạch Đông, Lưu Thiếu Kỳ, Chu Ân Lai!”.

Trường Chinh cũng thế, tuy là bậc thầy trong nghề báo đối với Trần Đĩnh nhưng tư cách tránh né vấn đề Cải cách ruộng đất cũng như hành xử trong đời sống đã làm sự kính trọng của ông dành cho Trường Chinh hoàn toàn phá sản.

Và rồi những diễn biến trong hậu trường chính trị của Đảng cộng sản Liên Xô và Trung Quốc đối với Việt Nam đã gây đổ vỡ hoàn toàn trong con người nhà báo Trần Đĩnh. Ông phát hiện ra rằng Mao Trạch Đông là người vận động Stalin thôi không có thái độ phủ nhận đối với Hồ Chí Minh trong cái gọi là cộng sản quốc tế. Chính Stalin đã phân công cho Trung Quốc “phụ trách” Việt Nam, mà trong ngôn ngữ công sản “phụ trách” đồng nghĩa với chỉ đạo, định hướng, kể cả ra lệnh.

Tác giả Đèn Cù viết: “Hệ lụy đã nằm lại sâu bền trong vô thức đảng viên cộng sản Việt Nam: vị trí đàn em, bên dưới, yên phận biết ơn đã thành nền móng cho một tư thế ứng xử với Trung Quốc. Xuân Trường cho biết Bác nhà mình chủ động khẳng định với Bác Mao quan hệ môi răng giữa Việt Nam và Trung Quốc.”

Sự lệ thuộc vào Trung Quốc như một sợi chỉ đỏ xuyên suốt tác phẩm Đèn Cù. Do chạy theo một cách vô thức như những hình nhân mà nhiều đời Tổng bí thư sau Trường Chinh, Trung Quốc vẫn chiếm một vị trí cao chất ngất trong quan hệ giữa hai đảng kể cả sau cuộc chiến 1979 nhuốm đầy máu do Trung Quốc gây ra.

Mặc Lâm: Trong Đèn Cù có đoạn ông đã tỏ ra thất vọng và than rằng ông đã thất tình với Trường Chinh và cả Chủ tịch Hồ Chí Minh. Điều gì đã làm ông tuyệt vọng về họ đến nỗi phải dùng hai từ thất tình để mà miêu tả như vậy?

Trần Đĩnh: “Thứ nhất là ông Trường Chinh ấy nói với tôi là ông ấy hoàn toàn tán thành vấn đề sống hòa bình dân chủ. Ông ấy nói với tôi rằng đồng chí Krouchev chủ trương hòa bình thì làm sao mà chửi đồng chí ấy? Cho đến lúc ông ấy gọi tôi viết hồi ký tôi biết là ông ấy nhắm tôi vì tôi với ông ấy nhiều cái hợp nhau. Thứ nhất là ông ấy thích văn tôi. Thứ hai là ông biết lập trường của tôi là giống ông ấy chứ không theo Lê Duẩn, cứng rắn theo Trung Quốc.

Lúc bấy giờ đảng Cộng sản Việt Nam đứng trước hai ngả đường: theo Liên Xô hay theo Trung Quốc? Lúc đó Trung Quốc kéo mạnh lắm, kéo người bên cạnh với sức quyết tâm rất mạnh. Hơn nữa là ông Stalin nói là để Mao Trạch Đông phụ trách Việt Nam cho nên là đã có đường mòn thế rồi. Anh nên nhớ Nghị quyết 9 cụ Hồ không bỏ phiếu. Không bỏ phiếu tức là không tán thành, coi tư tưởng Mao Trạch Đông là tư tưởng Lenin thời đại này. Ông Lê Duẩn cũng đã xác định trong quyển sách coi tư tưởng Mao Trạch Đông là tư tưởng của Lenin trong thời đại cách mạng này. Thế mà cụ Hồ không bỏ phiếu là không tán thành rồi.

Ông Trường Chinh thì tán thành và nói rằng Trung Quốc đã đấm 9 cú đấm Thôi sơn, đánh tan chủ nghĩa Krouchev. Tôi thấy ông ấy đi ngược lại mình nên tôi có cảm giác là thất tình! Bây giờ thì mình có tuổi nên cũng hiểu là con người ta cũng có lúc lắt léo thế này thế nọ. Cuối cùng ông ấy mới kiến nghị nên mới có cái đổi mới sau này đấy chứ. Đổi mới được một tí thì ông Lê Đức Thọ lại bắt ông ấy phải về. Cụ Hồ cũng thế. Tôi thần thánh cụ Hồ vì tôi tôi nghĩ cụ sẽ nói ra sự thật. Ai ngờ đâu cụ cũng im nốt. Té ra mình là thằng bướng bỉnh cứ nói. Thất tình là như thế!”

Mặc Lâm: Sau khi Lê Duẩn bị Trung Quốc làm cho ê mặt trong chuyến đi xin Bắc Kinh cho phép hỏa tiến viện trợ từ Nga được thông cảng sang Việt Nam, phải chăng Lê Duẩn rất căm Bắc Kinh và tỏ thái độ chống Trung Quốc một cách mạnh mẽ sau này thưa ông?

Trần Đĩnh: “Ông ấy chưa chống đâu, nhất định chưa chống đâu. Sau này khi Cách mạng Văn hóa thì ông ấy mới giật mình. Ông bảo không cẩn thận thì lôi thôi nhưng ông ấy cũng chưa chống. Sau này Trung Quốc lớn giọng quá  ông ấy bắt đầu giật mình. Anh nên nhớ lúc bấy giờ tôi có viết là Việt Nam như gót giày Achilles, luôn luôn đứng dưới bóng đa bóng đề của Trung Quốc chứ không thể đứng một mình được. Chúng ta cứ nói là chúng ta anh hùng nhưng chúng ta thua thằng hèn là thế. Không thể đứng một mình được. Ngay đến bây giờ cần các ông ấy đứng một mình tức là anh dám đi một mình hay không, nhưng lại không dám nên vẫn nhìn ngó anh Trung Quốc. Cái bóng đó lớn đến nỗi chúng ta không thể ra khỏi nó được.”

Mặc Lâm: Lãnh đạo Việt Nam hôm nay có vẻ chưa rút ra được kinh nghiệm thân thiện với Trung Quốc cách nào đi nữa thì vẫn bị họ khinh thường, dẫn dắt theo quyền lợi của họ. Ông đã từng biết nhiều về việc Trung Quốc coi thường Võ Nguyên Giáp, Lê Duẩn thậm chí với chủ tịch Hồ Chí Minh, ông lý giải thế nào về hiện tượng lãnh đạo hôm nay?

Trần Đĩnh: “Lúc đầu cái chủ nghĩa Cộng sản Quốc tế nó làm cho người ta đinh ninh rằng phải có phe và có người đỡ lưng cho mình cho nên có gì thì cái xe vẫn phải chạy và có người lái vẫn phải đi tiếp. Vì vậy khi Đặng Tiểu Bình lên ta bắt đầu hy vọng. Đấy là những điều ảo tưởng hết. Đinh ninh rằng Việt Nam đã đứng trên cái xe thì phải có đầu tàu, hoặc Liên Xô hoặc Trung Quốc rồi thì chúng ta sẽ tiến lên. Trước mắt họ có làm xấu thì chắc họ sẽ phá ra được, cũng như Đặng Tiểu Bình đánh Mao Trạch Đông để lên đấy. Tất cả đều bị chủ nghĩa Quốc tế vô sản làm cho bị lóa đi. Cứ đinh ninh là như vậy nên không thể đứng một mình được.

Quả thật Việt Nam có bao giờ đứng một mình được đâu. Ngày xưa chưa có gì thì đảng Cộng sản Pháp phụ trách. Tất cả những ông lãnh đạo không biết tiếng Nga, tiếng Trung Quốc, chỉ biết tiếng Pháp thôi. Nga giúp tiền cho mình thì lại qua Pháp. Sau này năm 1949 thì đi sang xin  Trung Quốc. Mình không thể hiểu cái ràng buộc về ý thức hệ nó kinh khủng lắm. Con người ta không dám vượt khỏi cái  ranh giới của ý thức hệ  đã qui định được đâu. Anh phải có phe. Anh phải có đầu tàu, đầu tàu cách mạng ấy, Liên Xô lãnh đạo anh không được vi phạm không được phản bội. Anh nên nhớ ngày xưa trong đảng Cộng sản quốc tế, chi bộ của quốc tế là chi bộ của Liên Xô. Anh mà phản bội chi bộ ấy thì còn ra cái gì nữa, đúng không?

Cho nên cái tâm thức luôn luôn phục tùng, luôn luôn sợ hãi kỷ luật ấy làm cho người ta bị tù túng ghê lắm. Anh bị khống chế trước những quy luật tự anh đặt ra. Anh nên nhớ là bất kỳ một ông lãnh tụ cộng sản nào cũng đều không được phép tự lập ra đảng. Phải có Stalin bảo lập mới được lập. Anh mà tự lập anh chết ngay. Phải có sự xem xét của Stalin để nghiên cứu xem tay này được hay không. Ghê lắm. Đó là một uy lực kinh khủng.”

Mặc Lâm: Qua vụ án xét lại chống đảng, ông nhận xét thế nào về vai trò của hai ông Lê Duẩn và Lê Đức Thọ?

Trần Đĩnh: “Trước hết chính ông Duẩn xác định tư tưởng Lenin vào thời đại này. Ông Duẩn rất tán thành câu Mao Trạch Đông nói rằng “Thiên hạ đại loạn Trung Quốc được nhờ.” Có nghĩa là bạn bè mà đánh khắp thế giới, đại loạn thì chính Trung Quốc mới thoát được ra mà hưởng trong đại loạn ấy. Cái câu ấy đầy trong sách vở của Trung Quốc. Ngày xưa tôi ở Trung Quốc tôi biết. Ông Duẩn rất tâm đắc câu ấy. Bây giờ lái theo quĩ đạo ấy, chiến tranh các thứ… thì họ là người tổ chức còn ông ấy cứ theo đúng đường lối ấy. Tổ chức như vậy thì làm thế nào chống lại. Ông Thọ thì tính cách là người gian hùng làm dữ dằn lên. Bố vợ tôi do chính ông ấy giết chứ chả thấy xét lại gì cả. Có xét lại thì ông ấy cũng đã chết từ năm 46-47 rồi, Đảng viên đảng Cộng sản Trung Quốc ông ấy thịt hết. Ông Lê Giản chống tổng giám đốc công an xin khiếu nại mà không được.”

Anh hùng hay anh hèn?

Mặc Lâm: Trong gần cuối cuốn sách có một đoạn rất buồn: Ông khóc vì dân ta hèn và vì nghĩ như thế liên can tới cha mẹ nên ông bị mặc cảm là hỗn láo với tiền nhân, ông có thể chia sẻ thêm về việc này?

Trần Đĩnh: “Tôi nói dân ta hèn là vì như thế này: dân ta anh hùng nhưng sợ từ anh tổ trưởng sợ đi, sợ anh công an, sợ các thứ. Tôi cũng cảm thấy chính mình cũng hèn. Mình sợ nhiều thứ quá. Đấy là một tâm lý rất Việt. Bom đạn không sợ nhưng rất sợ quyền lực. Chính điều đó đẻ ra việc chúng ta khó có dân chủ là vì dân trí thấp. Chúng ta đinh ninh rằng chúng ta anh hùng trước mặt “kẻ thù” nhưng đụng đến chính quyền, đến nhà nước là ta im re hết. Tôi gọi hèn là vì vậy. Tại sao tôi khóc vì tôi cảm giác nhân dân như bố mẹ mình mà mình nói xúc phạm như vậy là mình có lỗi với bố mẹ mình. Bây giờ dần trưởng thành rồi mình cảm thấy không phải như vậy nữa.”

Mặc Lâm: Và nhìn lại hoàn cảnh sống hiện nay tại Việt Nam thì ông có cảm thấy sự hèn ấy có bớt đi phần nào hay không?

Trần Đĩnh: “Bây giờ bắt đầu khá lên đấy. Dân mình bắt đầu khá lên là vì sự thật đã được cởi tất. Theo tôi tất cả đều là sự thật hết. Người ta nhìn thấy ra sự thật, cái gì là nguyên nhân. Trước đây người ta thấy nguyên nhân là đế quốc nhưng dần dần thì không phải. Dần dần thì người ta thấy nguyên nhân chính là mất dân chủ nhân dân không được coi trọng. Nhân dân chỉ có tiếng là gốc, là chủ thôi chứ không hề có quyền lực gì hết. Người ta thấy ra sự thật thôi. Người ta thấy đảng đã tước quyền của người ta. Trong quyển sách, tôi có nói với anh cục trưởng cục A25 chuyên về an ninh văn hóa, tuyên truyền là đảng có yếu kém về trí tuệ. Tôi nói với các anh ấy là đảng rất yếu kém trí tuệ mà câu này không phải tôi sáng tạo ra mà chính đảng nhận như vậy. Đảng duy ý chí mà chính vì anh kém trí tuệ nên anh duy ý chí. Anh tưởng anh có thể cầm que diêm anh có thể đun nỗi ly nước, đó là anh duy ý chí hoặc là anh kém trí tuệ.

Đảng nhận, và tôi nói theo, đảng nhận nhưng đảng không bao giờ làm, đấy là bi kịch lớn nhất của đảng. Đảng nhận dân là gốc, là chủ nhưng không bao giờ coi dân là gốc, là chủ. Đảng nói là nhìn thẳng vào sự thật và nói thẳng sự thật nhưng đảng không bao giờ làm. Ai nói thẳng với đảng là bị đàn áp.

Tôi tin là nếu đảng có một tí khôn ngoan thì sẽ thấy cái nguy hiểm của mình. Cứ tiếp tục cái đà này thì không ai chịu nỗi. Anh nói một đàng, anh làm một nẻo. Anh thử tưởng tượng một show về thời của thế giới New York, Paris mà anh đưa ra người mẫu toàn bằng tre bằng nứa thì ai người ta chịu được. Ở cuộc đời, anh phải luôn luôn làm cho người ta tin. Tôi nghĩ đảng phải rút cái bài học này đấy. Nói thẳng sự thật mà ai người ta nói ra thì đàn áp luôn rồi nói rằng mày nói láo!”

Mặc Lâm: Xin cám ơn ông.

Posted in Nhan Vat Chinh tri, Sách-Hồi Ký-Bài Báo..., Đảng CSVN | Leave a Comment »

►Một cuốn sách rất cần tìm đọc: “Trần Đức Thảo – Những lời trăn trối”

Posted by hoangtran204 trên 07/09/2014

Một cuốn sách rất cần tìm đọc: “Trần Đức Thảo – Những lời trăn trối”

Blog / Bùi Tín

voatiengviet

2-7-2014

Cuốn Trần Đức Thảo – Những lời trăn trối của Tri Vũ Phan Ngọc Khuê, một nhà báo sống Pháp được Tổ hợp Xuất bản Miền Đông Hoa Kỳ phát hành hơn 1 tháng nay. Sách in đẹp, dày 428 trang, gồm 16 phần, thêm phụ lục.

Tôi đã đọc cuốn sách này một mạch trong 2 ngày. Rồi đọc lại 1 lần nữa, để rồi suốt 1 tuần lễ ngẫm nghĩ về nội dung của nó.

Trần Đức Thảo (1917 – 1993), con một nhà tư sản Phố Cổ đất Hà Thành, là một trí thức được đào tạo tại Pháp và cũng là một triết gia trẻ uyên bác khá nổi tiếng, từng tranh luận tay đôi với nhà triết học Jean Paul Sartre.

Năm 1951, khi 34 tuổi, Trần Đức Thảo tự nguyện về nước qua con đường Moscow với thiện chí“mang hiểu biết của mình về góp phần xây dựng đất nước”. Nhưng tai họa đã sớm đến với ông. Lãnh đạo VN, từ Hồ Chí Minh đến Trường Chinh (Tổng Bí thư Đảng lúc bấy giờ) đều tỏ ý không cần đến “một anh trí thức mọt sách do đế quốc đào tạo”, còn coi ông là một kẻ reo rắc tư tưởng phản động nguy hiểm. Ông suýt chết 2 lần, một lần khi tham gia đội cải cách ruộng đất ở Chiêm Hóa đã nói lên nhận xét là tòa án nhân dân trong xét xử địa chủ là không ổn, mang tính cưỡng bức phi pháp, làm cho cố vấn Trung Quốc phật lòng và ông suýt toi mạng về chuyện này; hai là khi Hà Nội được giải phóng, ông tham gia bằng 2 bài viết trên báo Nhân Văn cùng Trần Dần, Lê Đạt, Hoàng Cầm, Nguyễn Hữu Đang, bị coi là “tên đầu sỏ nguy hiểm”. Từ đó ông bị giám sát, bỏ rơi trong cuộc sống, mất việc, mất vợ, sống lay lắt, lập dị, đi đôi guốc mộc, nói, khóc và cười một mình, cưỡi chiếc xe đạp trẻ con mang nhãn hiệu nước Nga giữa phố phường Hà Nội.

Đến nay, khi cuốn sách ra rồi, mọi bí ẩn, đồn đoán nhiều khi sai lạc về con người ông mới được giải mã khá là đầy đủ.

Thì ra sau khi bị đe dọa, trù úm, cô lập, đầy ải về cả tinh thần và vật chất, triết gia sinh bất phùng thời này quyết sống một cuộc sống 2 mặt, một mình mình biết một mình mình hay, cảnh giác cao, và nhiều khi phải đóng kịch với mọi người để tồn tại. Cái con người mà thiên hạ cho là lẩn thẩn, có khi như mất trí ấy thật ra vẫn cực kỳ minh mẫn, ghi nhớ, nghiền ngẫm, suy tư, với chủ tâm sẽ có ngày được phơi bày mọi sự ra ánh sáng, khi bản thân được tự do.

Và cái ngày tự do ấy đã đến, khi người ta muốn đuổi ông già 74 tuổi vô tích sự – và có thể là vô hại cho họ – ấy đi xa cho khỏi vướng víu. Tháng 3 năm 1991, ông được cấp một vé máy bay một đi không trở lại để sống nốt những ngày cuối đời trên đất Pháp.

Năm đầu trên đất Pháp, ông sống trong cơ sở của sứ quán đầy công an, an ninh, mật vụ CS, nên vẫn phải mang “mặt nạ”, cả khi họ cho phép ông nói chuyện về triết học, về phép biện chứng duy vật, về chủ nghĩa Mác. Để giữ mạng sống, ông vẫn phải đóng kịch, như một anh trí thức sơ cấp mụ mị, dở hơi, làm cho những anh chị em trí thức chờ đợi ở ông những phản biện sâu sắc đều ngỡ ngàng thất vọng, trong đó có chính người viết bài này (vào tháng 6/1992).

Một điều may mắn là anh Tri Vũ Phan Ngọc Khuê, một người Hà Nội du học ở Pháp, vốn có cảm tình với triết gia Trần Đức Thảo, đã cùng giáo sư toán học Bùi Doãn Khanh thăm dò được mong muốn thầm kín của ông, và được ông cho biết ý định viết một cuốn sách trong vòng 6 tháng nhằm trình bày tất cả những suy nghĩ chân thực của ông suốt 40 năm qua để cống hiến cho nhân dân VN đau khổ, lầm than. Khi ông đột ngột qua đời ngày 23 tháng 4 năm 1993 trong nhà khách sứ quán CS, cuốn sách tâm huyết ông chưa viết xong, mới chỉ là những ghi chép, phác thảo, dàn bài, ý vụt đến… đã bị an ninh sứ quán thu lượm sạch. Nhưng họ đã bỏ sót một kho tư liệu quan trọng: những cuốn băng ghi âm của ông Thảo.

Suốt trong gần 6 tháng, cứ đến cuối tuần, khi an ninh và viên chức sứ quán lo vui gia đình, hai ông Tri Vũ và Bùi Doãn Khanh lại lặng lẽ đón ông Thảo đến một quán cà phê kín đáo, đặt ra những câu hỏi và ghi âm những câu trả lời của ông. Ngay sau khi ông Thảo đột ngột từ trần – một cái chết vẫn còn nhiều nghi vấn – hai ông Tri Vũ và Bùi Doãn Khanh đã bỏ công ghi lại thành 16 đoạn trên máy điện toán, rồi biên soạn lại thành cuốn sách Trần Đức Thảo – Những lời trăng trối.

Cuốn sách đã giải mã đầy đủ con người và nhân cách Trần Đức Thảo. Cho đến khi gần vĩnh biệt chúng ta ông đã dùng tư duy bén nhạy của một học giả và triết gia để soi sáng một đoạn hệ trọng của lịch sử dân tộc, thay thế cho những trang lịch sử chính thống trong đó con người và sự kiện đã bị xuyên tạc, bóp méo.

Trong sách, Trần Đức Thảo có nhắc đến ông Hồ vài chục lần, kể từ cuộc gặp ở Pháp, đến cuộc gặp ở chiến khu Việt Bắc, khi quy định phải đứng xa Bác 3 mét, khi được hỏi mới được nói, phải gọi ông Hồ là Bác và nhiều lần gặp sau ở Hà Nội, khi ông chỉ còn là một bóng người vật vờ, tồn tại mà như không tồn tại.

Xin mời bạn đọc thưởng thức vài đoạn ngắn trong cuốn sách nói đến “ông Cụ”, để thấy nhà triết học vẫn minh mẫn sâu sắc tinh anh đến mức nào.

… “Đáng chú ý là từ khi tự đổi tên là Tất Thành (1911) (với khát vọng khiêm tốn là sẽ là kẻ thành đạt…) rồi cho đến sau này bỏ hẳn họ Nguyễn, lấy lại họ gốc là họ Hồ, và chọn cái tên cực kỳ kiêu sa, coi mình là bậc CHÍ MINH (1945)… Nói chung tên giả thường là rất tiêu biểu tâm thức như thế đã phản ánh chân thực những bước chuyển biến trong đầu óc của ‘ông Cụ’. Mỗi lần thay tên đổi họ là một bước có ý nghĩa trong hành trình vươn lên, đi tới để trở thành lãnh tụ. Đây là quá trình diễn biến của sự hình thành một cuồng vọng. Phải phân tích cặn kẽ từng cái biệt danh ấy như là một dấu hiệu tâm lý chính trị, từ lúc chi mong có cơ hội thành đạt, cho tới lúc quyết tâm, bằng mọi giá, mọi cách để đạt tới tột đỉnh của quyền lực như là một ông vua (Vương), là một người yêu nước chân chính (‘Ái Quốc’), là một lãnh tụ thông minh bậc nhất trong thiên hạ (CHÍ MINH)! Một nhà túc nho, một người trí thức có đầu óc tỉnh táo, có liêm sỷ, một bộ não minh triết không bao giờ tự ý xưng mình là ‘Vương’, là ‘Ái Quốc’, là ‘CHÍ MINH’ như thế…”.

Và đây là một đoạn trích nữa nhận định tổng hợp về “ông Cụ” của triết gia họ Trần:

“Cụ Hồ là một nhân vật vô cùng phức tạp, vô cùng thông minh, rất mưu trí, một con người sắt đá đến mức vô cảm, vô tình, sẵn sàng chụp bắt mọi cơ hội để thành đạt. Một ý chí thành đạt không gì lay chuyển. Đấy là một Tào Tháo muôn mặt của muôn đời, một con người không có tình bạn, không có tình yêu gia đình, tình yêu con cái, một bộ óc nung đúc một cuồng vọng, với một ưu tư duy nhất là phải leo lên đến tột đỉnh quyền lực để đạt tới mục tiêu của mình… Vì thế ông Cụ không chấp nhận một ai trong đám chung quanh là ngang mình. Vì thế mà không cần trợ lý, cố vấn, vì thế không lắng nghe một ai. Bởi lãnh tụ chỉ chăm chú tìm chiến thắng vinh quang, của giấc mơ thế giới đại đồng, chứ không cảm nhận được nỗi đau đầy máu và nước mắt của dân trong thực tại. Một con người chỉ nghĩ và sống với khát vọng chiến thắng, chứ không muốn sống bình thường như mọi người. Riêng đối với tôi, cái nhìn đầu tiên của lãnh tụ là để đánh giá tôi trong tương quan chiến thắng ấy, và cách đánh giá ấy là một bản án không nơi kháng cáo. Vì thế tôi đã suy nghĩ nhiều về nhân vật lịch sử này! Bởi Người là một cái bóng ma quyền lực đã đè nặng lên thân phận tôi.

“Những điều tôi nói đây không phải để oán trách ‘ông Cụ’, bởi tôi biết đây là một nhân vật bi thảm, luôn bị chi phối bởi nhiều thế lực trong và ngoài. Nào là cuồng vọng của một lãnh tụ chính trị, nào là sức ép của Mao, nào là những ý đồ phức tạp trong Bộ Chính trị với nhiều phe phái kình chống nhau. Những sức ép ấy đã tiêu diệt hết tình cảm của con người bình thường nơi ‘ông Cụ’ và ‘ông Cụ’ bị đưa vào thế phải chấp nhận sống cô đơn, phải thủ vai ông thánh, ông thần, giữa bao thế lực quỷ quái, quá khích, lúc tả khuynh, lúc hữu khuynh… để đạt tới, để nắm vững đỉnh cao quyền lực…”.

Còn có rất nhiều đoạn lý thú độc đáo khác nói về “Hà Nội giải phóng” năm 1955 và “Miền Nam giải phóng” năm 1975, về những buổi dự “hát cô đầu” cùng nhà văn Nguyễn Tuân, nhận xét về lực lượng Công an là bạn dân ra sao dưới một chế độ CS cảnh sát trị. Trong đọan kết, triết gia Trần Đức Thảo bộc bạch rằng vào lúc cuối đời ông đã nhận rõ chủ nghĩa Mác là một học thuyết sai lầm từ gốc, chứ không phải là nó đúng nhưng đã bị vận dụng sai, và nó sai cả về vũ trụ quan lẫn nhân sinh quan do cổ vũ đấu tranh giai cấp, bạo lực, chiến tranh, sai cả về phương pháp luận lô gích biện chứng duy vật – hiện tượng học. Theo ông, Liên Xô, Đông Âu, Trung Quốc, Việt Nam, Cuba, Bắc Triều Tiên đều là nạn nhân bi thảm của chủ nghĩa Mác. Rất tiếc là ông đang say mê lý giải thì tai họa ập đến. Người ta thoáng biết ý định thâm sâu của ông cùng bè bạn thân thiết, và ông đã bị họ bịt mồm khi đang thổ lộ tâm tình thầm kín nhất. Dù sao ông đã mãn nguyện phần lớn khi đã trút gần hết bầu tâm sự giữ kín 40 năm ròng.

Chính do những lẽ ấy mà cuốn Trần Đức Thảo – Những lời trăn trối là cuốn sách quý, rất nên tìm đọc, phổ biến rộng và bàn luận để tăng thêm hiểu biết về lịch sử và những nhân vật nước ta. Tuy tác phẩm này đã ra đời chậm hơn 20 năm, nhưng dù sao nó vẫn là một cuốn sách rất có giá trị với thời cuộc hiện tại.

Bùi Tín

voatiengviet.com/author/16655.html

Y Kien

1. Trần Đức Thảo xứng đáng mang danh là philosophe (triết gia) vì là người đã đề ra một học thuyết triết học dung hòa Hiện tượng học của Husserl với Duy vật biện chứng của Marx trong cuốn “Phénoménologie et matérialisme dialectique” viết năm 1951. Cuốn sách này có ảnh hưởng rất lớn với những triết gia nổi tiếng thế giới của Pháp sau này như Louis Althusser, Jacques Derrida, Pierre Bourdieu, Paul Ricoeur… Trong những năm đầu thập niên 50, Trần Đức Thảo còn được nổi tiếng vì đã chỉ trích phiên bản “hiện sinh” của Alexandre Kojeve trong tập san “Les Temps modernes” (Thời Mới) và nhất là đã thắng J.P. Sartre trong một cuộc tranh luận.

…Việt Nam có Phạm Duy Khiêm (anh ruot nhac si Pham Duy), cùng khóa học với 2 tổng thống là Georges Pompidou và Léopold Ségar Senghor. Trần Đức Thảo còn nổi tiếng là người đậu đầu kỳ thi thạc sĩ Triết. (Phong Uyen)

2. “Sartre mời tôi trao đổi ý kiến vì ông muốn chứng minh rằng chủ nghĩa hiện sinh rất có thể cùng tồn tại hoà bình với học thuyết Mác”

(Nhưng trong tranh luận Sartre khẳng định: chỉ chủ nghĩa hiện sinh mới khả dĩ có giá trị về mặt triết học, chủ nghĩa Mác chỉ có thẩm quyền trong chừng mực nào đó về các vấn đề xã hội. (1) Vì thế, TD Thảo mới tìm cách lập luận để chứng tỏ học thuyết Mác-Xít có vai trò rộng lớn hơn trong một số phương pháp diễn giải triết học nói chung, không cứ phải là lãnh vực phân tích hiện tượng xã hội, chẳng hạn như, theo triết gia Thảo, duy vật biện chứng có thể giải quyết được một số nghịch lý bắt nguồn từ hiện tượng luận theo cái nhìn của Husserl.

Nhưng , khi cần viện dẫn đến khái niệm “Ý thức đầu tiên” khởi sinh trong con người được trình bày trong cuốn Trải nghiệm và luận giải của Husserl thì vì J. P. Sartre không nắm rõ cuốn đó nên cuộc tranh luận phải tạm ngừng lại. (1)

(1) Góp phần xây móng cho triết học Mác-xít

 

3. Kể thêm: bà Nhất, sau thành vợ một trí thức kiệt hiệt khác là Nguyễn Khắc Viện, vẫn cứ hàng tuần đến thăm nom ông Thảo trong suốt gần 20 năm. Tôi xin đi theo, và khi thấy ánh mắt bà Nhất nhìn ông Thảo, tôi ngộ ra ý thức làm người với nhau. Ý thức này phủ định gì? Giữa 2 con người, nó có thể phủ định toàn xã hội với cái ngày nay ta gọi là cơ chế (quyền lực) chăng?

Hình ảnh bà Nhất ngồi kỳ cọ đám xoong nồi nhọ nhem, ông Thảo lim dim hứng nắng, thỉnh thoảng lại xua tay như đuổi một điều gì vô hình nhưng có thật… tôi vẫn chưa quên, và sẽ chẳng quên được. Đó là hình ảnh những con người, trong một thế giới cứ mãi mãi ”quá độ” lên thế giới con người, bằng cách vẽ ra thiên đường, tung hô mệnh lệnh, và vung gậy tầm vông ”làm” cách mạng.

Quá độ đến bao giờ?

Vài dòng tưởng nhớ triết gia TDT, để lại hỏi, như đã bao lần, tại sao đất nước ta cứ mang chôn sống những đứa con lỗi lạc nhất. Xưa, Nguyễn Trãi… và nay, Trần Đức Thảo. Tại sao? ( TRẦN ĐỨC THẢO – NHỮNG PHỦ ĐỊNH TRỚ TRÊU, Nguyễn Thanh Giang, 

http://amvc.free.fr/Damvc/GioiThieu/NguyenThanhGiang/TranDucThaoNhungPhuDinhTroTreuNTGiang.htm#_ftnref2

 

 

Posted in Nhan Vat Chinh tri, Sách-Hồi Ký-Bài Báo... | Leave a Comment »

►Chuột và người

Posted by hoangtran204 trên 18/08/2014

Trần Ðĩnh nhận xét: “Người ta lừa bịp đại trà được là nhờ khai thác những bản năng thấp kém của con người: Sợ và tham.”

Chuột và Người

18-8-2014

Ngô Nhân Dụng 

nguoi-viet.com

Như Trần Ðĩnh nhận xét: “Người ta lừa bịp đại trà được là nhờ khai thác những bản năng thấp kém của con người: Sợ và tham.” Nhưng các cụ ta vẫn dạy: Thực thà là cha quỷ quái. Tấm gương nhà Tần cho thấy quỷ quái đến mấy cũng tiêu vong.

Tư Mã Thiên kể sự tích Lý Tư, Thừa tướng nước Tần, giới thiệu: Lý Tư, người đất Thượng Sái, nước Sở, lúc còn thiếu thời, làm một chức viên lại, nhìn thấy trong nhà xí của lại xá, chuột ăn đồ bẩn, khi người hoặc chó lại gần thì chuột sợ hãi.

Lý Tư vào kho lẫm, thấy chuột ăn thóc dự trữ, dưới mái đình, thấy người, thấy chó, chuột không chút kinh sợ.

Lý Tư thở dài than “Con người ta tốt xấu, sang hèn cũng như chuột, tùy chỗ mà cư xử”. Ðoạn này trích từ Sử Ký, số 87, Lý Tư liệt truyện, nằm trong phần liệt truyện.(*)

Tình cờ chiều hôm qua gặp lại đoạn văn kỳ thú trên, tôi chợt liên tưởng tới đảng Cộng Sản Việt Nam. Vì tuần trước mới được biết thêm về hành trạng của quý vị lãnh đạo đảng sau khi đọc Ðèn Cù của Trần Ðĩnh. Nếu đặt đoạn này vào trang mở đầu cho Ðèn Cù thì thú lắm. Cũng những người đó, khi ở trong rừng thì họ cư xử với nhau một cách, khi về thành phố họ đối đãi với nhau khác hẳn.

Ở trong rừng Việt Bắc, 1946, Trần Ðĩnh kể, lãnh tụ với thuộc cấp không xa cách. Trường Chinh vừa là tổng bí thư đảng, vừa làm chủ nhiệm báo Sự Thật, khi thấy mấy anh em trong tòa báo đùa giỡn ồn ào, ông nói một câu thì họ nói lại, ông phải dịu giọng yêu cầu: “Các cậu ra ngoài đùa với nhau cũng được, ở đây tôi đang làm việc.” Nói vậy thì ai cũng hiểu, vui vẻ nghe lời; mà không khí thấy thân mật, không phân biệt cao, thấp, trên dưới.

Khác hẳn cảnh sau này, Trường Chinh bị Lê Duẩn gạt ra ngoài, đưa Lê Ðức Thọ, Nguyễn Chí Thanh lên làm vây cánh.

Trần Ðĩnh được lệnh của Thọ viết tiểu sử chính thức của Hồ Chí Minh (1960). Sau khi viết xong, đem in rồi, Lê Ðức Thọ mới bảo đem một bản cho Trường Chinh đọc. Trần Ðĩnh tới, “Xin anh cho ý kiến.” Trường Chinh hỏi: “In xong cả rồi, còn hỏi ý kiến tôi làm gì?” Trần Ðĩnh chỉ biết nói rằng anh Thọ bảo em đưa, có gì anh cứ hỏi anh Thọ.

Bị coi thường đến như vậy, trước mặt một người vốn là đàn em thân cận của mình từ mấy chục năm trước, vậy mà Trường Chinh vẫn chịu nhục, nhận cuốn sách mới in để mà đọc. Như người có khí phách, thì ông sẽ đưa trả lại cuốn sách, nói rằng nếu có góp ý cũng quá muộn rồi. Nhưng Trường Chinh biết rằng mình chỉ là chủ tịch Quốc Hội, mà cả cái Quốc Hội đó cũng chỉ làm bù nhìn, đóng vai cây cảnh thôi. Ông không quyền hành bằng ông trưởng Ban Tổ Chức (Thọ), càng sợ ông tổng bí thư (Lê Duẫn) lên thay chân mình. Quan hệ giữa hai, ba lãnh tụ đảng đã thay đổi, cách người ta đối xử với nhau đã khác.

Trần Ðĩnh nhớ lại lời Nguyễn Cơ Thạch khoe, một ngày mùa Ðông ở chiến khu Thạch ghé thăm ban biên tập báo Sự Thật: Sáng nay Chủ Nhật, tớ ra suối giặt cho anh Giáp (Võ Nguyên Giáp) biết bao nhiêu quần áo… Này, tay còn nhợt đi đây này!”

Ðèn tắt, chiếu ngay sang cảnh khác: Trong đại hội đảng kỳ thứ bẩy, Võ Nguyên Giáp đã bị đánh bật ra khỏi Trung Ương Ðảng, còn lên phát biểu ý kiến rằng đảng cần phát huy dân chủ, thì cậu thư ký (Nguyễn Cơ Thạch) giặt áo quần cho Trường Chinh ngày nào, nay [đã vào] Bộ Chính Trị và đang ngồi trên chủ tịch đoàn, liền giơ tay cắt:

“Ðồng chí nói quá mất mấy phút rồi, xin thôi. Ðồng chí hãy chú ý cho là đảng ta rất chú ý phát huy dân chủ!”

Chuột ở thahnh phố. Nguồn: OntheNet.

.

Cách cư xử thay đổi, không phải trong việc ngắt lời người phát biểu ý kiến, bởi vì trong một cuộc họp ai nói quá giờ cũng nên cắt. Hành vi thay đổi đổi quan trọng ở đây là cậu học trò lên giọng dạy dỗ ông thầy cũ của mình, mà lại dạy một điều rất sơ đẳng. “Ðồng chí hãy chú ý cho nhé!” “Ðảng ta rất chú ý phát huy dân chủ mà đồng chí nghe không thủng hay sao?”

Vì đâu mà các cán bộ, đảng viên và lãnh tụ cộng sản thay đổi nhiều như vậy?

Nói vắn tắt như Tư Mã Thiên thuật lời Lý Tư: “Tại sở tự xử nhĩ,” tùy chỗ mà thay đổi cách cư xử đó thôi. Loài chuột sống dưới hầm nhà xí, hoặc sống trong kho thóc, đổi chỗ ở chúng thay đổi cả hành vi (bây giờ hay gọi là động thái).

Vậy trong đời sống của các đảng viên cộng sản, cái gì là “tại sở,” là cái “chỗ ở” đã thay đổi?

Mới đầu, có thể nghĩ rằng đời sống trong rừng nó khác, thành phố nó khác. Hoặc giả, sống khi nghèo khó, thiếu thốn khác với lúc sung túc, thừa thãi. Muốn giữ lập trường thì nói rằng khi vào thành phố, từ đảng viên đến các lãnh tụ đều bị nhiễm “nọc độc tư bản, phong kiến,” cho nên “biến chất.” Làm như tác phong tư bản nó bay ở trong không khí, hay ngấm vào trong đất, trong nước! Giải thích như vậy thì trút được hết tội lỗi lên đầu người khác, còn mình lại tiếp tục ngồi bát ăn bát vàng!

Nhưng chúng ta không nên chỉ nhìn thấy nhà xí và kho lúa trong truyện Lý Tư. Loài chuột ở đâu thì cũng là chuột; mà cuộc sống thay đổi hành vi, cách cư xử của chúng không hoàn toàn do nơi chúng sống và kiếm ăn. Chính công việc kiếm ăn của loài chuột đổi khác. Ở một nơi kín đáo tối tăm như nhà kho, khác ở ngoài trời như trong hầm xí. Nơi này thì sinh nhai khó khăn, người và chó qua lại đông, nơi kia (trong kho) thì chẳng mấy khi thấy bóng một sinh vật nào, ngoài giống chuột. Lại thêm số lượng chuột khác nhau, một nơi lèo tèo mấy ổ chuột sống chui nhủi, nơi kia họ hàng nhà chuột đông hàng đoàn hàng lũ, giống chuột chúng ta tự do tung hoành, dọc ngang nào biết trên đầu có ai! Sống cách khác, hành vi loài chuột cũng khác.

Cho nên cũng khó dùng các điều kiện địa dư cũng như kinh tế để giải thích hành vi con người thay đổi. Có lẽ thay đổi lớn nhất trong cuộc sống của các lãnh tụ và đảng viên cộng sản khi từ rừng về thành, rồi từ Bắc vào Nam, là quyền hành của họ đã thay đổi với thời gian.

Ở trong rừng thì Trường Chinh cũng không biết ngày nào mình còn sống, hay sẽ trúng bom, trúng đạn; mà nhìn người chung quanh cũng thấy họ sống chết dễ như mình. Mình có thể sai khiến họ vì được họ thỏa thuận, nếu họ rút ra khỏi cái “hợp đồng ngầm” đó thì họ bỏ về thành phố, chẳng ai làm gì được ai. Quyền hành, dù được xác định hay chỉ hiểu ngầm, là do người dưới thỏa thuận cho người trên được hưởng.

Nhưng trong đời sống chính trị ở Hà Nội những năm 1960 thì quyền hành của đảng Cộng sản đối với dân chúng đã bám rễ, khó ai lay chuyển được. Hậu quả là quyền hành của các lãnh tụ trên các đảng viên của họ cũng kiên cố hơn. Tất cả đã được định chế hóa. Các cấp bậc được xác định, quyền sinh sát không bị ai kiểm soát.

Yếu tố giúp củng cố quyền hành cho các lãnh tụ là chế độ độc tài toàn trị. Trong một quốc gia tự do dân chủ thì mỗi chức vụ, mỗi cơ quan có quyền hành bao giờ cũng được một hay nhiều cơ quan, chức vụ khác kiểm soát. Việc kiểm soát có tính chất thường xuyên, định kỳ, do pháp luật yêu cầu và bảo đảm. Vì thế, quyền hành nào cũng có phạm vi giới hạn. Một chức vụ được phép sử dụng quyền hành trong một lãnh vực nào đó thôi, bước ra ngoài là thuộc quyền của chức vụ khác.

Trong chế độ độc tài toàn trị, đảng Cộng sản nắm toàn quyền trên tất cả mọi lãnh vực của cuộc sống con người và xã hội. Ðiều 4 bản Hiến Pháp Cộng Sản Việt Nam ghi rằng đảng lãnh đạo nhà nước và xã hội. Bên trong nội bộ, đảng cũng lãnh đạo cuộc sống của từng đảng viên, trên tất cả các mặt. Không chỉ có lập trường chính trị, sinh hoạt kinh tế, mà ngay cả nhà anh ở, quần áo anh mặc, anh được phép yêu ai, cưới ai, đọc sách, coi phim nào, cũng phải nghe lời đảng lãnh đạo hết! Tự nhiên, hành vi con người, cách người ta cư xử với nhau cũng thay đổi. Lý thuyết chuyên chính vô sản của Lê Nin làm thay đổi hành vi con người, từ lúc đảng cộng sản chưa có quyền tới lúc nắm quyền sinh sát trong tay.

Phải công nhận Tư Mã Thiên là tay cự phách. Ông mở đầu Lý Tư liệt truyện bằng câu chuyện chuột. Rồi sau đó, không bao giờ nhắc tới nữa. Chúng ta theo dõi cuộc đời Lý Tư, sau khi quan sát loài chuột, cho là mình đã hiểu loài người rồi, bèn đi học “đạo làm đế làm vương” với Tuân Tử (Nãi tùng Tuân Khanh học đế vương chi đạo). Sự nghiệp lên như diều từ khi đầu quân cho nước Tần. Nhiều lần bị chống, lại biết phản bác, lần nào cũng lọt tai Tần Thủy Hoàng. Khi Tần Thủy Hoàng chết dọc đường, bị Triệu Cao thuyết phục tham dự âm mưu phế trưởng lập thứ. Cuối cùng, cũng tiêu vong với cơ nghiệp nước Tần. Suốt cuộc đời Lý Tư biết dùng thuật giúp Tần Thủy Hoàng trị quốc dựa trên tâm lý con người, qua bài học về chuột.

Ðảng Cộng Sản Việt Nam cũng nắm được cái thuật cai trị nhờ học từ các ông Stalin và Mao Trạch Ðông. Như Trần Ðĩnh nhận xét: “Người ta lừa bịp đại trà được là nhờ khai thác những bản năng thấp kém của con người: Sợ và tham.” Nhưng các cụ ta vẫn dạy: Thực thà là cha quỷ quái. Tấm gương nhà Tần cho thấy quỷ quái đến mấy cũng tiêu vong.


Chú thích: (*) Người dịch: Ngọc Dung.
Sau đây là nguyên văn trong Sử Ký của Tư Mã Thiên:
李斯者,楚上蔡人也。年少時,為郡小吏,見吏舍廁中鼠食不絜,近人犬,數驚恐之。斯入倉,觀倉中鼠,食積粟,居大廡之下,不見人犬之憂。

於是李斯乃嘆曰:「人之賢不肖譬如鼠矣,在所自處耳
Lý Tư giả, Sở Thượng Thái nhân dã. Niên thiếu thời, vi quận tiểu lại, kiến lại xá xí trung thử thực bất khiết, cận nhân, khuyển, sổ kinh khủng chi. Tư nhập sương, quan sương trung thử, thực tịch túc, cư đại vũ chi hạ; bất kiến nhân khuyển chi ưu. Ư thị Lý Tư nãi thán viết: Nhân chi hiền bất tiếu thí như thử hĩ, tại sở tự xử nhĩ.

Nguồn: Chuột và người. Ngô Nhân Dụng. Diễn đàn Thế kỷ, 16 tháng 8 năm 2014.

dcvonline.net/2014/08/18/chuot-va-nguoi/

——–

 

Nguyễn Đức Thành

south-china-seaVợ chồng Tiến ở một căn phòng nhỏ trong Khu tập thể của Nhà máy. Tiến người gày gò, đeo kính cận, nhưng được cái trắng trẻo. Vợ Tiến còn trẻ, dễ nhìn.

Không lời. NGuồn:

Sát vách nhà Tiến có cậu Xe tính tình phóng dật, mất dạy và ranh mãnh. Xe làm bảo vệ ở Nhà máy, người to khoẻ lực lưỡng. Xe hay ăn cắp vặt và gây sự với hàng xóm vì những chuyện lăng nhăng. Trong khu ai cũng khinh, nhưng Xe khỏe và láo, nên mọi người thường tránh va chạm.

Qua một quãng sân, là gia đình cậu Bảnh. Nhà Bảnh có điều kiện vì bố ngày trước làm ở phòng tài vụ của Nhà máy. Hồi bé Bảnh được ăn uống đầy đủ, nên thân hình cao lớn, đầu óc lanh lợi. Bảnh tính khoáng đạt, chơi rộng và hay tụ tập thanh niên trong khu ra phố đánh nhau.

Mỗi lần vợ Tiến đi làm về là Xe cứ nhìn chòng chọc khiến nàng phải buông tay chạm nhẹ vào cạp quần như để kiểm tra xem cái quần của nàng còn ở đó hay không. Những lần như thế, Tiến chỉ biết bặm môi, cáu cẳn vào nhà mắng vợ.

Đến một hôm, trời mới vào hè, vợ Tiến đi làm về đang dắt xe vào sân, liền bị Xe chặn lại, nhất định đòi sờ nàng.

Vợ Tiến hét ầm lên. Tiến đang luộc rau trong nhà, hớt hải chạy ra, vẫn bận cái quần đùi hoa. Chàng vốn lẻo khẻo, giờ lại thở dốc nhìn rất tội. Chàng đứng ú ớ mà không dám đến gần. Xe quay ra nhìn Tiến trợn mắt đe doạ, khiến chàng thậm chí không dám mở mồm. Trong khi ấy vợ Tiến vẫn tiếp tục chống cự.

Thấy ầm ĩ, Bảnh ở bên kia sân thò đầu nhìn qua cửa sổ. Bảnh hỏi Tiến: “Có việc gì đấy? Cần anh giúp không?”

Tiến len lén nhìn Xe rồi lại cụp ngay mắt xuống, lí nhí bảo Bảnh: “Dạ, anh Xe anh ý làm gì ý, để em xem. Em tự lo được.”

Vợ Tiến thét lên: “Anh còn đứng đấy à! Ít nhất anh cũng bảo nó thôi đi chứ.”

Tiến nhích thêm một bước, gọi: “Anh Xe ơi…”

Xe quay đầu lại, quắc mắt quát: “Gì?” Tay của Xe vẫn luồn vào áo vợ Tiến mặc kệ cho nàng cố gạt ra.

Tiếng quát của Xe làm Tiến gần như khuỵ xuống, nhưng chàng vẫn cố đứng thẳng, tay bấu vào cái chốt cửa. Chàng định mở miệng ra mà sao quai hàm cứ cứng đơ như bị kẹp.

Bảnh nãy giờ chứng kiến câu chuyện từ đầu đến cuối, ngứa mắt không chịu được, thò hẳn đầu ra cửa sổ, quát:

– Tiên sư thằng Xe, mày bỏ ngay cái tay ra.

Tiếng quát của Bảnh khiến Xe giật nảy mình, tay rụt về như phản xạ của một thằng ăn cắp.

Thấy ồn ào, bà con trong khu cùng ngó ra, trố mắt nhìn. Cậu Phi ở dãy đối diện, đang gấp quần áo cho vợ, nghển hẳn đầu ra, hết nhìn ra phía Xe rồi lại ngoái sang Bảnh, chân khều khều đôi dép tông như chực lao ra. Phi hay đi với Bảnh những lúc đánh nhau với thanh niên ngoài phố. Tính Phi hiền lành, da ngăm đen lại bị bệnh gan mãn tính nên xạm như da trâu. Phi nghèo và hơi cẩu thả, nhưng được cái thành thật, không tỏ ra trí thức như Tiến, nên Bảnh thường cho đứng trông dép mỗi lần đi đánh nhau.

Đúng lúc ấy trời bắt đầu lác đác mưa, cơn mưa đầu mùa hạ. Xe ngẩng mặt nhìn lên trời, rồi tranh thủ lúc cúi xuống lấm lét lia nhanh mắt một vòng qua phía nhà Bảnh, Phi và mấy đứa trẻ con đang đứng quanh trố mắt nhìn.

Xe buông cái ghi đông của vợ Tiến ra, khoát tay như thể vì trời mưa nên hắn phải quay vào nhà. Tiến thở phào, ton tón chạy về phía vợ. Chàng nghĩ nàng sẽ oà khóc và buông xe ra cho chàng dắt. Nhưng nàng vẫn nắm chặt ghi đông, dắt xe né sang một bên để tránh không chạm vào chàng. Tiến cố nhìn vào mắt nàng nhưng không kịp.

Giữa sân chỉ còn lại một mình Tiến. Mưa bắt đầu nặng hạt.

(Viết nhân ngày Tầu rút giàn khoan)


Nguồn: Chuyện ở khu tập thể. Nguyễn Đức Thành. Facebook. 15 tháng 7, 2014.

Nguồn:  http://dcvonline.net/2014/08/17/chuyen-o-khu-tap-the/

Posted in Nhan Vat Chinh tri, Sách-Hồi Ký-Bài Báo... | Leave a Comment »

►Trong cuốn Đèn Cù, Trần Đĩnh tiết lộ: Hồ Chí Minh đã tới quan sát cuộc đấu tố đầu tiên ở Đồng Bẩm, hóa trang che bộ râu để không ai nhận ra

Posted by hoangtran204 trên 11/08/2014

Trần Đĩnh là người được tuyển chọn viết tiểu sử cho HCM 1960. Ông sống thân cận và gần gủi với Hồ Chí Minh, Trường Chinh,…trong nhiều năm và ông rất cảm mến hai người nầy. “Trần Đĩnh cũng viết hồi ký cho Phạm Hùng, Lê Văn Lương, Bùi Lâm (một trong vài ba đảng viên cộng sản đầu tiên)”

“Xưa nay nhiều người vẫn kể rằng Hồ Chí Minh không muốn giết bà Nguyễn Thị Năm, nhưng bị cố vấn Trung Cộng ép buộc nên phải giết. Trần Đĩnh đưa ra một bài báo ngắn do Hồ Chí Minh viết kết tội đích danh bà Năm đồng thời đả kích cả giai cấp địa chủ. Bài báo này, được dẫn chứng đầy đủ, dùng một bút hiệu, ký tắt, cho nên chỉ người bên trong tòa báo mới biết người viết là Hồ Chí Minh.”

Bài báo này có tên là Địa Chủ Ác Ghê, ký tên C.B.  (nguồn)

 

Ngô Nhân Dụng – Giới thiệu

“ÐÈN CÙ, Số Phận Việt Nam Dưới Chế Ðộ Cộng Sản” của TRẦN ÐĨNH

(Tự truyện của người từng viết tiểu sử Hồ Chí Minh)

Thứ Năm, ngày 07 tháng 8 năm 2014

Quý vị phải lắng yên nghe bài Đèn Cù. Tự mình hát lên, hát cho thấm thía vào lòng, cho những câu dân ca văng vẳng trong đầu trong khi đọc Đèn Cù của Trần Đĩnh.

Khen ai khéo vẽ (ối a) đèn cù.

Voi giấy (ối a) ngựa giấy, tít mù nó chạy vòng quanh…

Voi giấy (ối a) ngựa giấy, vòng quanh nó chạy tít mù.

Đèn Cù, cũng gọi là đèn kéo quân, là một trong số đèn Trung Thu, đồ chơi cho trẻ em và cho cả người lớn. Quý vị sẽ dần dần nhìn thấy hoạt cảnh xã hội Việt Nam những hình nhân voi giấy, ngựa giấy tít mù nó chạy vòng quanh trên màn ảnh đèn cù trong hơn nửa thế kỷ. Trong đó có Trần Đĩnh. Một nhân chứng, một người tham dự trong đám Voi giấy (ối a) ngựa giấy lần lần hồi tưởng lại những cảnh cùng nhau chạy vòng quanh (ối a) tít mù.

Nhiều tác giả đã viết về xã hội miền Bắc Việt Nam dưới chế độ cộng sản, dưới dạng hồi ký, tiểu thuyết, biện thuyết và lý luận, vân vân. Đèn Cù nổi bật lên trong tủ sách đó. Nếu không phải là kho chứng liệu quan trọng và đầy đủ nhất thì đây là cuốn sách đọc lý thú nhất. Rất nhiều chuyện mới nghe lần đầu. Rất nhiều chuyện cũ được nhìn dưới con mắt khác, thấy những khía cạnh chưa ai từng thấy. Quý vị sẽ cười, sẽ khóc, sẽ thắc mắc, sẽ dằn vặt, thao thức, kinh tởm, giận dữ, sót thương, khi bị cuốn theo những Voi giấy (ối a) ngựa giấy chạy quanh trong cái đèn cù.

Dưới cái tựa Đèn Cù, Trần Đĩnh gọi cuốn sách này là “truyện tôi.” Đọc xong thì hiểu tại sao tác giả không gọi nó là một “hồi ký” hay “tự truyện,” những loại văn quen thuộc khi người ta kể chuyện cuộc đời mình đã sống. Cuốn sách không viết theo phong cách hồi ký hay tự truyện, khi người viết có sẵn một bản đồ để viết theo, một mục tiêu muốn đạt tới. Đây cũng không phải là tiểu thuyết, tác giả không kể những chuyện mình tưởng tượng ra. “Truyện tôi” là một thể loại văn suôi mới, do Trần Đĩnh tạo ra. Mai mốt có thể sẽ không còn ai viết “truyện tôi” nữa. Mà có ai viết thì chăc chắn cũng không viết giống như Trần Đĩnh. Đèn Cù là một cuốn sách độc đáo.

 

 

Trần Ðĩnh, 1998, Trần Ðộ chụp – (hình: tác giả cung cấp)

https://hoangtran204.files.wordpress.com/2014/08/e5529-trandinh-1998.jpg

Nhưng Trần Đĩnh vẫn giữ nguyên cái đức của người viết báo, là kể sự thật, kể những chuyện thật. Ông dùng một lối viết mà đọc tới đâu người ta cũng cảm thấy ngay: Đây là những chuyện thật, sự thật được bày ra, sự thật ròng, như thịt xương còn sống, tàu lá còn xanh, như gỗ mộc không sơn phết. Những suy tư, thao thức của tác giả được trình bày riêng, bên ngoài các sự kiện. Người viết không thêm thắt tình cảm, suy tư, phê phán, như thêm mắm muối, tiêu, hành, vào cho món ăn thêm mùi vị. Như khi ông thuật lời nhà báo Tiêu Lang đã chứng kiến cảnh mấy anh du kích đặt cái xác bà Nguyễn Thị Năm vào áo quan, áo quan nhỏ quá không vừa. Mấy anh bèn đứng lên trên xác bà đẩy cho lọt xuống. “Nghe xương kêu răng rắc mà tớ không dám chạy, sợ bị quy là thương địa chủ.”

Hay khi ông kể chuyện về họa sĩ Phan Kế An, một trong bốn năm người cùng phụ trách báo Sự Thật lúc đầu. “Một dạo Phan Kế An ngày ngày đến vẽ Cụ Hồ. Một chiều về sớm hơn, An nói: À, cái Z. tự nhiên mang ba lô, chăn chiếu đến chỗ Ông Cụ, tớ được xua về sớm. Vài tháng sau, An lại về muộn. Hỏi vì sao thì An nói không thấy Z. đến nữa. Chắc ‘máy’ cụ yếu, giải đáp thuần túy sinh học. Không tính đến sở thích, ‘gu’ của cụ.” Trần Đĩnh cũng nhớ trong lớp học “chuẩn bị cải cách ruộng đất” tháng Bảy năm 1953, “Cụ Hồ đến giảng cách nhật, có lúc cụ đùa hô lên trong hội trường Hồ Chí Minh Muốn Nằm!” “Rồi tay chỉ vào đầu [nói]: Từ đây thì Bác già, nhưng từ đây (tay chỉ vào bụng) thì Bác trẻ.”   (Bó tay. Hết thuốc chữa!)

Trần Đĩnh vốn là một thi sĩ, loại người thích sáng tạo ngôn ngữ, bầy đặt, đùa rỡn, vui chơi với ngôn ngữ. Đẽo gọt, mài rũa, “như thiết như tha, như trác như ma,” rùng mình sảng khoái hay quằn quại đau khổ với ngôn ngữ. Trước khi gia nhập tòa soạn báo Sự Thật, ở chiến khu Việt Bắc vào năm 1949, tuổi 19, ông đã viết báo rồi. Nhưng cuốn sách này tuyệt nhiên không dùng lối văn viết báo. Nhà báo không ai mở đầu một bài bằng mấy chữ: “Viết này vất vả,” rồi chấm câu. “Lười là rõ,” lại chấm câu. Cái khí văn đó tràn suốt tác phẩm. Có thể gọi đó là Khí văn Trần Đĩnh. Cũng như chúng ta có thể nhận ra Khí văn Phùng Quán, Khí văn Thanh Tâm Tuyền, vân vân, các thi sĩ có lúc viết văn suôi. Nó riêng biệt, văn đó đúng là người, mỗi người một vẻ.

Trần Đĩnh kể chuyện vợ nhà thơ Lê Đạt, ông bị đưa đi lao động “cải tạo” vì tham gia nhóm Nhân Văn Giai Phẩm. Người đàn bà mang tội là “vợ Nhân Văn”… bị “cơ quan, tập thể liên tục ép bỏ chồng” nhưng bà không bỏ…” [N]hững đêm giá buốt Thúy diễn kịch ở Hải Phòng, Đạt từ chỗ lao động cải tạo xuống tìm vợ. Không có giấy chứng minh nhân dân, Đạt không thuê được nhà trọ, hai đứa ngồi ghế vườn hoa suốt đêm nghe còi tàu thủy hú thi với gió biển.” Một câu văn ngắn cho chúng ta sống cả một đêm dài nghe tiếng tầu thủy vang vọng trong tiếng gió hú. Tác giả đóng vai một nhân chứng, một người quan sát, chỉ thuật lại những gì mình nghe, mình thấy.

Thời sau chiến tranh, báo Nhân Dân có cuộc họp năm sáu chục người “ôn lại thành tích tuyên truyền chiến tranh chống Mỹ. Nguyễn Sinh, xưa phóng viên thường trú Vĩnh Linh, Vĩnh Mốc lên nói. Lại tố cáo những chiến công giả người ta gán cho Mẹ Suốt, Trần Thị Lý sông Lấp Quảng Bình. Sông đã lấp thành tên [tên Sông Lấp] mà nhà báo cứ ca ngợi cô Lý oằn lưng chèo lái… Hầu hết nghe đều cười. Tự giễu và rộng lượng. Nhưng khi Sinh nói ở Vĩnh Linh, anh đã chứng kiến người bên kia bị ta bắt sang chôn sống kêu rất lâu dưới huyệt, tôi lại thấy mọi người mặt lạnh tanh.”

Thêm một chuyện ngôi nhà của bà Lợi Quyền, một nhà tư sản đã nổi tiếng đóng góp nhiều vàng cùng với nhà cửa trong “Tuần Lễ Vàng” thời trước kháng chiến. Sau chiến tranh Lợi Quyền vẫn còn một ngôi nhà tại Hà Nội. Đầu thập niên 1980 “được ban Tuyên Huấn Trung ương đến hỏi. Chê đắt [không mua]. Đùng một cái! Một hôm xe tuyên huấn chở mấy bao tải tiền đến mua, đắt cũng được. Ba ngày sau đổi tiền.” Tác giả ghi thêm: “Tố Hữu [phó thủ tướng đổi tiền], nguyên trưởng ban tuyên huấn đã hạ thời cơ tuyệt hảo…” Và ông nhắc lại bài Quốc Tế Ca hát rằng: “Bao nhiêu lợi quyền tất qua tay mình!” Phê: “Quá giỏi!”   (lừa gạt quá đểu và gian trá)

 

Ở văn phòng mới dọn đến của Tổng bí thư mùa thu 1949. Hàng đầu toàn ngồi xổm, từ trái qua, vợ Hà Xuân Trường, Lê Ðạt, Hồ Chí Minh. Ngoài cùng bên phải là Trường Chinh, áo blu dông Mỹ trắng. Hàng sau đứng đầu bên trái là Hà Xuân Trường, thư ký tòa soạn báo – (hình do tác giả Trần Đĩnh cung cấp)

Đèn Cù đầy rẫy những “đoạn phim” ngắn như vậy. Rất nhiều “clip” chợt hiện trên màn ảnh trong nửa phút, rồi chuyển ngay sang cảnh khác, liên tiếp chạy nhanh qua não bộ. Đoạn phim lưu đọng trong óc mình mãi mãi, trộn lẫn cùng những đoạn phim ngắn khác, không theo thứ tự thời gian, cũng không theo một dòng lý luận nào. Tất cả cho người đọc một toàn cảnh sống động về xã hội nước Việt Nam trong hơn nửa thế kỷ, trước và sau khi tác giả đặt bút viết cuốn sách để đời này. Tất cả là “truyện tôi.” Nếu không có cái tôi sống, tôi quan sát, tôi rung động, tôi ghi nhớ, tôi suy nghĩ, thì không có “truyện tôi.”

Trong trí não con người đời sống vốn không có trật tự, nó chợt hiện, chợt tắt, ngổn ngang, chắp nối, không xếp đặt theo không gian cũng không theo dòng thời gian đơn tuyến và trực tuyến. Đời sống thật vẫn như vậy. Đó là cảnh Voi giấy (ối a) ngựa giấy, tít mù nó chạy vòng quanh. Cho nên Đèn Cù là một tác phẩm nghệ thuật. Đây là một sáng tác văn nghệ. Thử tưởng tượng có một người trước khi đọc không hề biết gì về bối cảnh lịch sử ở nước Việt Nam, chưa bao giờ nghe tên những nhân vật như Nguyễn Tư Nghiêm, Văn Cao, Lê Đức Thọ, Hồng Linh, Thép Mới, Lê Trọng Nghĩa, Hồ Chí Minh, Lê Đạt, Tô Hoài, Hồng Hà, vân vân; khi đọc Đèn Cù người đó cứ nghĩ đây là những nhân vật hoàn toàn do tác giả bịa ra. Độc giả nghĩ Trần Đĩnh sáng tác một cuốn truyện, sẽ thấy Đèn Cù là một thể loại tiểu thuyết mới, rất mới.

 

Tại tòa soạn báo Sự Thật: (từ trái) Diên Hồng, Nguyễn Địch Dũng, Kỳ Vân, Lê Quang Đạo, Trần Đĩnh, Trường Chinh, Lê Xuân Kỳ, Thép Mới, Hồng Vũ (sau này tự tử ở bệnh viện Nam Ninh, Trung Quốc)-(hình do tác giả Trần Đĩnh cung cấp)

 

Suốt cuộc đời cầm bút (ông mới tập dùng máy vi tính khi đã về già), Trần Đĩnh nói, “Tôi vẫn mong rồi có một quyển sách thật sự của tôi, của chính tôi.” Bởi vì, gần suốt cuộc đời viết, lách “tôi đã tự nguyện làm thủ phạm tàn phá trước hết vào chính ngay mình. Tôi vốn yêu viết. Nhưng đã không viết nổi. Đứa thủ phạm là tôi bắt tôi viết dưới bóng tối của Thù Hằn và Dối Trá…”

Trần Đĩnh biết rất nhiều chuyện. Trần Đĩnh coi Trường Chinh là thầy trong nghề báo, được ông tổng biên tập báo Sự Thật (Trường Chinh) dậy từng chữ khi anh nhà văn 19 tuổi mới vào trong A Tê Ka (An Toàn Khu), năm 1949. Anh ngủ chung lều với Lê Quang Đạo, nhiều lần phải hất tay Lê Quang Đạo ra, và nghe lời xin lỗi, “Chúng tớ ở tù lâu ngày sinh hư.”

Anh ngồi sau lưng Hồ Chí Minh trong buổi lễ truy điệu Stalin chết; nhìn cảnh Tố Hữu diễn vai đau khổ ôm bức hình Stalin đặt lên ban thờ, sau nay nghĩ có lẽ ông ta khóc Stalin là khóc thật. Rồi nhìn thấy hộp thuốc lá Trung Hoa Bài do Hồ Chí Minh bỏ quên trên ghế bên cạnh, anh cầm lấy mang đến tận phòng, “Dạ, thưa bác, Bác để quên ạ!” Và nhìn thấy “Mặt cụ xưng lên, đầm đìa nước mắt, hai mắt húp lại… Cụ ngơ ngẩn nhìn tôi, nhìn hộp thuốc lá như không hiểu tôi vào làm gì…”

Trong lớp chỉnh huấn chuẩn bị cải cách ruộng đất năm 1953, một hôm “Cụ Hồ nói: Các chú các cô không sợ người ta kêu mình kém trí thức, ít lý luận. Họ kêu thì bảo họ rằng tôi lú nhưng chú tôi khôn. Chú tôi là Stalin, Mao Trạch Đông…”

Trần Đĩnh chắc là người đầu tiên tiết lộ Hồ Chí Minh đã tới quan sát cuộc đấu tố đầu tiên ở Đồng Bẩm, hóa trang che bộ râu để không ai nhận ra. Và Trường Chinh thì đeo kính đen tới dự, để rút kinh nghiệm mà rèn luyện các đội cải cách đấu tố cho đúng tiêu chuẩn thù ghét. Xưa nay nhiều người vẫn kể rằng Hồ Chí Minh không muốn giết bà Nguyễn Thị Năm, nhưng bị cố vấn Trung Cộng ép buộc nên phải giết.

Trần Đĩnh đưa ra một bài báo ngắn do Hồ Chí Minh viết kết tội đích danh bà Năm đồng thời đả kích cả giai cấp địa chủ. Bài báo này, được dẫn chứng đầy đủ, dùng một bút hiệu, ký tắt, cho nên chỉ người bên trong tòa báo mới biết người viết là Hồ Chí Minh.

Trần Đĩnh cũng là tác giả đầu tiên đã gặp cô Xuân (nhân vật đã được Vũ Thư Hiên kể trong Đêm Giữa Ban Ngày) ở trên chiến khu từ năm 1953, cô là “Con nuôi Bác.” Có lúc Trần Đĩnh đã nắm tay cô Xuân, khoe đã lấy tên cô làm bút hiệu viết trên báo.

Ông cũng kể chuyện đi theo Hồ Chí Minh dự mít tinh rồi “đi lượn phố, thăm trường học” ở Móng Cái, năm 1960. Hồ viết lên bảng một chữ Hán “nhân,” rồi hỏi: “Trây sấn mà chề” nghĩa là “Đây là chữ gì?” nói bằng tiếng Khách Gia, Hakka, miền Nam gọi là tiếng Hẹ; là thổ ngữ của người gốc Hoa ở địa phương này. Tác giả thắc mắc, “tại sao đến đây Cụ đi chơi phố nhiều như thế? Khéo [cụ] đã ở đây thật?” Và có lúc đi trong phố “Cụ chỉ vào một ngôi nhà phía bên kia đường nói với tôi, đi bên cạnh: Ở nhà này ngày xưa có một chị bí thư chi bộ. Tôi ngợ ngay. Có quan hệ tình cảm gì [giữa cô đó] với Bác?”

Trần Đĩnh là người đầu tiên cho biết đã nghe Hồ Chí Minh nói thông thạo tiếng Hẹ, và đoán rằng ông đã hoạt động cùng các đảng viên  cộng sản ở Móng Cái từ thời trước. Chưa có một tác giả hay một người nghiên cứu lịch sử nào biết đến chi tiết này. Độc giả sẽ không ngạc nhiên khi đọc những tình cảm thân mến của tác giả với nhân vật Hồ Chí Minh; vì đã sống rất gần gũi trong nhiều năm. Trong lần đi thăm khu gang thép Thái Nguyên, “Sau bữa cơm trưa, thấy Cụ quần áo cánh nâu đi vòng ra sau dẫy nhà tranh đến rặng chuối thay hàng rào, tôi đi theo. … Thấy tôi gần như ở ngay bên, cụ quay ngoắt lại hỏi, điếu thuốc khẽ lật bật ở môi: ‘Người ta đái cũng theo à?’ ‘Không ạ, cháu …!’ ‘Thế đứng sát vào người ta nhòm gì?’” Rồi Trần Đĩnh kể tiếp, “Chiều ấy, khoảng bốn giờ về tới chủ tịch phủ, tha thẩn ở sân chờ lấy xe đạp … bất thần chợt nhớ đến Xuân, cô con gái nuôi của Bác. Hỏi mấy người đứng tuổi nom có vẻ quen từ trên rừng. A, cô Xuân ấy hả? Lấy chồng rồi. Chồng lái xe. Nhưng chết rồi. … bị ô tô đè …”

Trong chương chót, Trần Đĩnh nêu một nhận định chung về Hồ Chí Minh: Lòng trung của Hồ Chí Minh đối với Lê Nin, Stalin, Mao Trạch Đông là vô bờ. Cho nên lòng trung với nước Việt, dân Việt vơi đi.

Người thứ hai mà Trần Đĩnh có lòng cảm mến là Trường Chinh. Năm 1962 Trường Chinh đã nhờ Trần Đĩnh viết hồi ký, nhắc lại từ những ngày đi họp ở Pắc Bó năm 1941, với ý định dùng quá khứ vinh quang “phất một ngọn cờ tập hợp” phe mình. Nhưng sau đó tập hồi ký không dùng đến vì biết mình đã thua hẳn phe cánh Lê Duẩn, Lê Đức Thọ, Nguyễn Chí Thanh rồi. Nhiều người cũng muốn nhờ, vì Trần Đĩnh nổi tiếng khi viết hồi ký giúp cho người khác. Anh kể chuyện những người tù Côn Đảo, văn sống và khích động, như chính anh đã trải qua các gian khổ đó. Cuốn Bất Khuất (viết năm 1965) kể chuyện Nguyễn Đức Thuận, một người tù Côn Đảo tranh đấu trong tù, được đưa ra ngoài Bắc. Lê Đức Thọ, Tố Hữu, Hoàng Tùng chủ trương dùng câu chuyện Nguyễn Đức Thuận để tuyên truyền khích động cho người miền Bắc ủng hộ cuộc tấn công vào miền Nam. Viết Bất Khuất, cái tên do Tố Hữu đặt, Trần Đĩnh không ký tên, tiền nhuận bút cũng nhường cho Thuận. “Vì không thích nói dối.” Nhưng được những độc giả như Trần Dần khen thì vẫn thích: “Mày viết cái Bất Khuất ấy, tao thích cái grammaire.” Nguyên Hồng thì bậm môi, vuốt râu nói: “Mày, Trần Đĩnh à, mày có tâm hồn, mày có nghệ thuật nên mày viết cái ấy cho Thuận hay.”

Một lần năm 1960 gặp Vũ Kỳ (thư ký riêng của Hồ Chí Minh): “Vũ Kỳ bảo tôi sẽ cộng tác với anh viết hồi ký về Bác ‘khi Bác hai năm mươi.’ Viết xong tiểu sử, tôi (Trần Đĩnh) gửi lên cho Cụ một bản để duyệt. Cụ chữa từng trang. Có những đoạn viết ra ngoài lề: Xem lại? Hỏi lại? Bản thảo này tôi giữ.” Sau đó sách in ra, “Mừng tiểu sử chính thức đầu tiên của Hồ chủ tịch ra đời, Tố Hữu khao một bữa thịt chó thịnh soạn tại nhà” (Tố Hữu được lãnh nhuận bút 200 đồng vì có công đọc và kiểm duyệt, người viết chỉ được 400 đồng; còn “Huy Tưởng, Hoài Thanh chả [được] tẹo nào).

Trần Đĩnh cũng viết hồi ký cho Phạm Hùng, Lê Văn Lương, Bùi Lâm (một trong vài ba đảng viên cộng sản đầu tiên). Lê Đức Thọ cũng có lúc muốn nhờ. “Cậu viết giỏi lắm, tớ rất thích. Không ở tù mà viết y như thằng đã ở tù… Tớ sẽ nhờ cậu viết hồi ký cái đoạn tớ chuẩn bị tổng khởi nghĩa rất hay.” Và Thọ hứa hẹn sẽ đem Trần Đĩnh theo phái đoàn sang Paris đàm phán. Sau Trần Đĩnh không viết, “Hú vía!” Lê Thanh Nghị, Nguyễn Duy Trinh nhờ viết hồi ký, đều từ chối.

Trần Đĩnh làm việc gần với các lãnh tụ cộng sản Việt Nam từ năm 19 tuổi, cho nên biết nhiều chuyện. Như đến nhà Sáu Thọ, ngồi ngoài sân bên cạnh cái hầm tránh bom, thì nhận ra cái hầm này sâu 10 mét, trong khi cái hầm nhà Lê Thanh Nghị (anh đã nhiều lần xuống ẩn trong hầm này), chỉ sâu có tám mét, dù cả hai đều trong Bộ Chính Trị. Gần gũi họ, cho nên mới biết cảnh trong nhà Lê Đức Thọ một ông tướng chào Sáu Thọ xong, bước ra về mà cứ thế đi giật lùi, đến nửa cái sân mới dám quay lưng rồi tiến ra cổng. Nhìn mặt, thì ra Lê Đức Anh.

 

Tô Hoài (áo trắng) và Trần Đĩnh (quần xanh)

 

Trần Đĩnh sống trong cái đèn cù đó, trong lòng không yên. Anh bắt đầu nẩy mối bất nhẫn trong lòng khi chứng kiến những tội ác trong cuộc cải cách ruộng đất. Nhưng anh vẫn tin tưởng vào đảng, tin vào những động cơ tốt của các lãnh tụ. Chuyển biến tâm lý mạnh nhất phát sinh trong năm năm du học ở Bắc Kinh, sống qua thời kỳ các phong trào bước nhảy vọt, đánh hữu phái, công xã nhân dân, vân vân, từ 1955 đến 1959.

Trong thư viện Đại học Bắc Kinh, một góc bày các sách cũ tiếng ngoại quốc, anh được đọc cuốn “Từ số không đến vô định” của Arthur Koestler; câu chuyện một người bị Stalin bỏ tù. Anh cũng được đọc báo Le Monde trong thư viện đại học, và biết chuyện tố cáo tội ác của Stalin trong đại hội thứ 20 đảng Cộng sản Liên xô. Nhưng ảnh hưởng quan trọng nhất là do anh sống bên người Trung Hoa, anh trực tiếp gặp nhiều sinh viên cùng tuổi, được nghe, được thấy, để biết chế độ Mao Trạch Đông giả dối, tàn bạo và coi khinh mạng sống dân chúng như thế nào. Khi Mao Trạch Đông cho phép “trăm hoa đua nở” báo Nhân Dân (Bắc Kinh) cũng đăng những bài phê phán đích đáng, mở mắt anh du học sinh người Việt “được thấy trí thức Trung Quốc sôi sục chống đảng.” Quan sát thực tế, lại thấy “dân Trung Quốc khốn khổ vì đảng.” Cho nên, “Tôi bắt đầu ‘hư hỏng’ (nghi ngờ đảng) vì đã nhận ra chân tướng đại bịp.

Người ta lừa bịp đại trà được là nhờ khai thác những bản năng thấp kém của con người: Sợ và tham.” Từ đó, Trần Đĩnh chống Mao, kinh tởm Mao, sau khi về nước vẫn tiếp tục. Vì thế anh là đối thủ của đám các đồng nghiệp thần phục Mao trong báo Nhân Dân, mà anh gọi là bọn “Mao nhều.” Kiểu như Hồng Hà, người từng nghẹn ngào nói như mếu: “Tôi xin cảm ơn Mao Chủ tịch vĩ đại đã mở mắt ra cho tôi thấy Liên xô, Kroutchev là phản bội, đầu hàng, xét lại…”

Trần Đĩnh ghê sợ âm mưu lợi dụng của Mao Trạch Đông, vì nhớ mãi câu ông ta nói: “Thiên hạ đại loạn, Trung Quốc được nhờ.” Chủ trương này dẫn đến cuộc chiến tranh Việt Nam. Mao chấp nhận chiến tranh nguyên tử. Tại Bắc Kinh, Trần Đĩnh được hai người bạn Trung Hoa làm báo tiết lộ về cuộc họp chi bộ trong Văn Nghệ Báo để nghe chỉ thị tối quan trọng. Hai anh kể, chỉ thị được ban xuống cho dân Trung Quốc thấu triệt là họ không phải sợ bom nguyên tử. “Vì dù Mỹ có ném xuống một nghìn quả bom nguyên tử, dẫu trái đất có bị tàn hoang đi nữa thì ít nhất cũng còn sót lại một huyện dân Trung Quốc, huyện ấy sẽ ương lại giống người trên trái đất này.” Thiên hạ đại loạn, Trung Quốc được nhờ. Cho nên Mao muốn phát động chiến tranh, “đánh Mỹ tới người Việt cuối cùng.” Mao cũng muốn đứng đầu phong trào cộng sản thế giới, sau khi thần tượng Stalin bị đàn em lật đổ. Lê Duẩn ngả theo chủ trương Mao; ghét những người muốn theo Cộng sản Nga muốn chung sống hòa bình với Mỹ và giảm bớt ách độc tài trong nước. Lê Duẩn từng ca ngợi Mao Trạch Đông là “Lê Nin của thời đại ba dòng thác cách mạng châu Á, châu Phi và châu Mỹ La Tinh.”

Đối nội, Duẩn tạo ra vụ án “xét lại, chống đảng;” đánh vào những người bị coi là thân Liên Xô. Lần đầu chỉ đánh giằn mặt bằng phê bình, kiểm thảo. Năm sau Chu Ân Lai sang Hà Nội phổ biến tin tức Mao đánh các đồng chí lãnh tụ trong đảng của ông ta rồi, Duẩn mở chiến dịch thứ hai, tống giam hết cả đám. Giống như đem họ ra làm vật “thế chấp” để được Mao ủng hộ. Trần Đĩnh cũng bị nghi ngờ, bị hạ tầng công tác, bị bắt giam và hỏi cung. Có lúc anh hãnh diện kéo chiếc xe hai bánh “diễu hành giữa thanh thiên bạch nhật, ở trung tâm Hà Nội, tươi tỉnh đi trình đường phố, nhận minh bạch đường hoàng mình chống đảng.” Lê Đức Thọ gọi Trần Đĩnh tới, kể tội đám xét lại cho nghe: “Vừa ở Paris về nghe an ninh nó nói cậu dính vào vụ chúng nó tớ… tiếc lắm… Tớ đã nói là tớ mến cậu vì cậu trẻ, cậu có tài…”

Đối với bên ngoài, Lê Duẩn bám sát chủ trương của Mao gây cuộc chiến tranh xâm chiếm miền Nam. Theo Trần Đỉnh thì Hồ Chí Minh và Võ Nguyên Giáp không muốn đánh, nhưng không chiếm được đa số nên chịu phục tùng. Khi cuộc Cách mạng Văn hóa gây lo lắng Trung Quốc sẽ loạn lớn, Lê Duẩn thấy phải đánh ngay, đánh trước khi Bắc Kinh tan vỡ không còn chỗ dựa. Cho nên mở cuộc tấn công Tết Mậu Thân. Sau này, Lê Duẩn theo Nga, chống Trung Cộng, thì lại hết lời mạt sát từ Mao Trạch Đông tới Đặng Tiểu Bình.

Đèn Cù đưa chúng ta vào một xã hội điên đảo, “sáng đúng, chiều sai, mai lại đúng.”Voi giấy (ối a) ngựa giấy, tít mù nó chạy vòng quanh…. Những đoạn phim thú vị nhất rút ra từ cuộc sống của những con người bình thường, các nhà văn, nhà báo, các cán bộ, những người qua đường.

 

Ở nhà Trần Đĩnh, trong khu văn công Cầu Giấy. Từ trái sang: vợ chồng Đoàn Viết Hoạt, Trần Đĩnh, Mây, con gái TĐ và Thiếu Khanh, con út vợ chồng Hoạt. (hình do tác giả Trần Đĩnh cung cấp)

 

Nhà báo Minh Tường từ Hà Nội, theo đoàn quân chiến thắng vào Sài Gòn. Anh tìm được đến nhà mẹ mình, bấm chuông. Bà mẹ mở cửa ra, chấp hai tay vái lạy: “Thôi, tôi xin anh, anh đi với các đồng chí của anh đi cho mẹ con tôi yên.” Trần Đĩnh đứng với Tô Hoài trên lề đường nhìn toán tù binh Mỹ bị đưa diễn trên đường phố Hà Nội cho dân chửi rủa, ném đá. Khi người phi công cuối cùng qua trước mặt, bỗng Tô Hoài chạy ra với tay đấm vào mặt (đấm hụt). Tô Hoài giải thích, mình phải bày tỏ lập trường; nếu không có đứa nào nó báo cáo mình đứng ngoài coi trong lúc “nhân dân căm thù” thì nguy. Có ai được nghe lời Trần Độ tâm sự, sau khi đã tỉnh ngộ, viết Nhật Ký Rồng Rắn: “Này, nói thật chứ bây giờ… hễ nghe thấy cái gì là sự thật thì trong người sướng ghê lắm ấy!” Có ai được nghe một nữ nhân viên báo Nhân Dân đã về hưu bày tỏ nỗi oán hận: “Ông cha đổ bao xương máu giành được độc lập nhưng nô lệ vẫn hoàn nô lệ!” Trần Đĩnh rất gần Lê Đạt. “Một hôm Lê Đạt bảo tôi: Nhà thơ có lẽ là người yêu nước nhất. Họ chăm lo nhất đến tiếng mẹ đẻ…. Đạt nhiều lần giục tôi viết: Tiểu thuyết về mày, gia đình mày – Tôi im lặng. Biết viết là cực kỳ cô đơn. Và quả tình tôi đã thật sự cô đơn – đúng ta là bí mật – trong bao nhiêu năm với cuốn sách này.”

Sống hầu hết cuộc đời trong một xã hội mà Đảng Cộng sản và lãnh tụ chiếm “đặc quyền viết, đặc quyền nói;” chỉ dùng các nhà văn làm đầy tớ, “Ôi đã làm đầy tớ thì có đời thuở nào còn dám sáng tạo?” Bây giờ Trần Đĩnh đã viết. Lúc đầu, ông chỉ định viết để “tố cáo tội gây nội chiến Nam Bắc là sai lầm;” trong khi viết thì đổi ra hướng “phê phán toàn diện.”

“Vâng, tôi xin đối mặt với công luận đây. Tôi ăn gian nói dối thì các ông cứ việc vạch ra.” Đó là lời Trần Đĩnh, tác giả Đèn Cù. Xin mời quý vị bước vào, cùng sống trong cảnh Voi giấy (ối a) ngựa giấy, vòng quanh (ối a) nó tít mù.

Ngô Nhân Dụng

Tháng Tám, 2014

————-

Trương Huy San (Huy Đức)  Yesterday
30-8-2014
Đọc bài của bác Ngô Nhân Dụng hết sức tò mò về tác giả Đèn Cù, gặp người mới hay cụ Trần Đĩnh là người chấp bút Nguyễn Đức Thuận Bất Khuất, cuốn sách không ai “lớn lên dưới mái trường xã hội chủ nghĩa” mà không phải “gối đầu giường”. Cụ Trần Đĩnh còn là người đầu tiên viết tiểu sử Hồ Chí Minh, làm việc bên cạnh Trường Chinh và nhiều nhà cộng sản. Bất ngờ hơn, cụ chính là dịch giả cuốn Linh Sơn của Cao Hành Kiện và là dịch giả của hàng chục cuốn tiểu thuyết từ tiếng Hoa, Anh và Pháp. Đã 84 tuổi nhưng sức làm việc còn như thanh niên, trí nhớ tuyệt vời và rất dí dỏm. Rất tiếc đã không gặp được nhân vật Trần Đĩnh trước khi viết Sách Bên Thắng Cuộc.

— with Do Thai Binh.

Chiều 29-8-2014 với cụ Trần Đĩnh.
Cụ Trần Đĩnh và các đồng nghiệp bên cạnh Hồ Chí Minh.
"Z", nhân vật mà họa sĩ Phan Kế An gặp... tên thật là Phương M. về sau từng làm tới thứ trưởng.

————–

—————

Võ Nguyễn Giáp bị Lê Duẩn gạt bỏ và sai Hoàng Tùng đấu đá như thế nào:

Trích TRẦN ÐĨNH, ÐÈN CÙ: Trong vụ lột lon Giáp phải nói tới công mở đường lột ngầm dai dẳng của báo đảng. Bản tin Thông tấn xã vẫn viết đại tướng Võ Nguyên Giáp như thường lệ. Một hôm, Thịnh, tay súng thiện xạ của Hà Nội, một anh sửa mo – rát nhà in bảo tôi dạo này em thấy trên bản tin Việt Nam thông tấn xã tòa soạn đưa sang cứ chỗ nào có đại tướng Võ Nguyên Giáp thì thủ trưởng Hoàng Tùng lại giập hai chữ “đại tướng” đi!

Tôi hỏi sao biết là Hoàng Tùng?

– Ô, lâu nay lệnh là chỉ tổng biên tập mới chữa bài bằng mực đỏ thôi mà…

Quá siêu! Ít lâu, nhận ra hiệu lệnh, các báo nhất tề lột nhẵn.

Quả đấm này xảy ra sau buổi Lê Duẩn đến báo Nhân Dân nói với các trưởng phó ban trở lên, rủa Giáp là đồ hèn, nghe tôi nói đánh Mỹ là tay cứ run lên như thế này (giơ tay ra run, minh họa sống động. )
Đến chiếc mũ phớt Giáp đội từ lúc dạy học ở trường Thăng Long rồi tha sang Tàu để cuối cùng diện trái khóay trong lễ ra mắt Giải phóng quân cũng bị chê nốt. Sáng ấy, báo Nhân Dân đăng bài kỷ niệm thành lập quân đội, có bức ảnh đơn vị Giải phóng quân đầu tiên với Giáp đội mũ phớt. Họp toàn cơ quan, Hoàng Tùng giơ bức ảnh lên nói với tất cả hội trường: “Lại còn đi bê cái mũ phở này lên làm gì nữa đây?” Giọng đầy miệt thị.

Dân có những ca dao hay vào bậc nhất trong kho tàng ca dao Dân chủ Cộng hòa:
Chiến trận ba mươi năm, Tướng võ không còn nguyên mảnh giáp


Trước kia đại tướng cầm quân, Bây giờ đại tướng lột quần chịem.

Hay
Ngày xưa đại tướng công đồn,

Nay thì đại tướng bít l. chị em.

Giá trị hai câu thơ này bị giảm quá nhiều vì văn hóa đòi phải viết tắt một chữ vốn là linh hồn, hơi thở, lá cờ soái của tác phẩm.

Một thày giáo ở Nam Định bảo tôi: – Không ngờ ông tướng này lại Vỡ Vụn Giáp. Có thơ rồi đấy: Nhờ Tây thành nguyên giáp. Nhờ Duẩn, Giáp vụn tan…

Sau này dân Quảng Bình tổng kết năm 1963 hai “thánh nhân” của mảnh đất này bắt đầu lụn bại. Đó là Võ Nguyên Giáp và Ngô Đình Diệm. Diệm bị mất mạng, Giáp còn mạng nhưng nhục. Diệm bị Mỹ không ưa nên quân tướng của ông xơi, Giáp bị Mao Chủ tịch ghét nên các đồng chí thân thiết của ông bôi nhọ cho bằng đủ kiểu. Sáng kiến cải tạo thủy lợi, đào kênh Đại Phong cho Quảng Bình lên 5 tấn là của ông Nguyễn Chí Thanh phụ trách nông nghiệp – việc này có thật – nhưng con kênh này về mặt phong thủy đã chặt đứt mất long mạch ở quê của hai vị Diệm và Giáp (việc này thì dân đồn).

Đánh bằng đường âm nữa thế này thì liệu có phải nhờ thày Tàu?

Tran Triet

—————

Cô Nông thị Xuân, vợ bác Hồ bị thủ tiêu ra sao ??

Ðêm Giữa Ban Ngày (ch. 34) –

tác giả Vũ Thư Hiên


Tôi sững sờ. Lại thêm một bí mật tôi được biết trong những bí mật cung đình được giữ rất kín.
– Như vậy, có thể coi như bà Xuân là bà hoàng hậu cuối cùng trong lịch sử Việt Nam ?
Ông cười chua chát :
– Có thể coi là như vậy. Và là bà hoàng hậu bất hạnh nhất trong lịch sử Việt Nam. Bất hạnh vì không một ngày được thừa nhận là hoàng hậu, vì đẻ ra đứa con không được gọi cha ruột của nó bằng cha… Tất cả diễn ra trong sự lén lút nhục nhã, như thể đó là tội lỗi.
– Ai đã giết bà Xuân ?
– Ðừng vội. Ta hãy ghi nhận sự việc này : vào một buổi sáng mùa xuân năm 1957, người ta thấy có xác một người đàn bà bị xe ô tô đụng chết ở dốc Cổ Ngư lên Chèm(14). Xác chết được đưa vào bệnh viện Việt Ðức, được nhận dạng. Ðó chính là cô Xuân. Nhưng xác không được mổ theo thường lệ, mà bị chôn cất vội vã, theo lệnh của Trần Quốc Hoàn.
– Tại sao lại Trần Quốc Hoàn ?
– Bởi vì cô Xuân là người của cơ quan trực thuộc Trung ương, việc xảy ra phải báo cáo ngay cho Trần Quốc Hoàn biết.
– Rồi sau thì sao ?
– Chưa hết. Sau, em ruột của cô Xuân bị điều đi học một lớp y tá ở Thái Nguyên, rồi bị đưa về Cao Bằng điều trị bệnh… thần kinh. ớt lâu sau xác cô nổi lên ở một cây cầu trên sông Bằng Giang… Cô em gái họ cũng biến mất. Như vậy là cùng một thời gian, cùng một sự việc, có tới ba người thiệt mạng.
– Những đầu mối đều bị bịt ?
– Tất nhiên. Nhưng những lý do dẫn tới những cái chết đã bị lọt ra ngoài.
– Về những cái chết này không có ai điều tra hết ?
Ông Tạo cúi mặt xuống.
– Không.
– Tại sao, thưa bác ?
– Tại vì thủ phạm là một nhân vật quá to để có thể đụng tới.
– Trần Quốc Hoàn ?
– Phải. – ông thở dài – Tất cả những người biết việc này đều có lỗi với hương hồn cô Xuân và hai cô em, tất cả đã không dám làm gì để rửa mối hận cho họ. Tất cả đã cúi đầu trước guồng máy, trước uy tín của Ðảng có thể bị mất đi vì vụ bê bối này. Mọi người đều lầm khi nghĩ như vậy…
– Vì sao Trần Quốc Hoàn giết bà Xuân ?
– Ðó là một câu chuyện dài. Khi Bộ Nội Vụ, vì công tác bảo vệ, bố trí cho mấy chị em cô Xuân ở ngôi nhà của Bộ ở phố Hàng Bông Thợ Nhuộm, thì chỉ có vài người biết họ là ai. Trong ngôi nhà này còn hai gia đình cấp vụ khác ở cùng. Thời gian trước khi cô Xuân bị giết ít lâu, Trần Quốc Hoàn thường tới đó. Việc Trần Quốc Hoàn tới thăm rồi cưỡng hiếp cô Xuân, cô em của cô Xuân biết, có nói lại cho người yêu của mình ở quê. Anh này về sau có làm đơn tố cáo gửi Trung ương.
– Và Trung ương im lặng ?
– Không phải anh ta gửi ngay lập tức. Ngay lập tức thì anh ta cũng bị giết ngay, mà mãi về sau này…
– Cụ Hồ không có ý kiến gì về mấy cái chết oan khuất đó ?
Ông Nguyễn Tạo đăm chiêu suy nghĩ.
– Có nhiều điều chúng ta không biết được. – ông nói, giọng bùi ngùi – Tôi nghĩ thân phận Bác lúc ấy cũng tội nghiệp lắm. Biết nói với ai ? Với Lê Duẩn chăng ? Hay Lê Ðức Thọ ? Hay nói thẳng với Trần Quốc Hoàn ? Tôi nghĩ Bác là con người, Bác cũng biết đau khổ. Nhưng cái thế của Bác buộc Bác phải im lặng…
– Nghĩa là, theo bác, ông Hồ không có lỗi ?
– Trong mấy cái chết nói trên ? Không.
– Nhưng sự im lặng trước cái chết của họ ? Ông Hồ cũng không có lỗi ? – tôi gặng – Bỏ ra ngoài mối quan hệ tình cảm, chỉ nói tới cái chết oan khuất của một con người, với tư cách đồng bào ?
– Thế hệ các anh khắc nghiệt trong sự phán xét. – ông thở dài – Tôi hiểu các anh. Các anh vô can. Chúng tôi thì không. Chúng tôi tự đặt mình trong sự ràng buộc với Ðảng, với những quyết định của nó, dù sai dù đúng. Chúng tôi lo lắng cho uy tín của Ðảng. Chúng tôi cảm thấy nhục nhã nếu Ðảng bị phỉ báng. Ðảng là cuộc sống tinh thần của chúng tôi, là danh dự của chúng tôi. Bác cũng vậy. Ông Cụ cũng đau đớn lắm chứ. Ông cũng là con người. Như mọi người. Các anh khác. Các anh chỉ nhìn thấy một lẽ công bằng, đòi phải có nó, đòi mọi sự phải sòng phẳng. Cái đó là phải thôi. Ðúng, chứ không sai. Nhưng có nên như vậy không nhỉ ? Hay là cần phải độ lượng hơn, thông cảm hơn với sự yếu đuối của con người ? Dù họ có là ai đi chăng nữa…

http://dactrung.net/truyen/noidung.aspx?BaiID=uE5lKxEEpl1ZHH6WVhyEHA%3D%3D ch 34

——————————————————————————–

CÔ XUÂN BỊ GIẾT NHƯ THẾ NÀO ?

Bây giờ xin quay trở lới câu chuyện những cô gái ở Cao Bằng. Theo những điều người ta kể cho tôi trong những năm gần đây và được xác minh qua tài liệu đã xem thì có hai chi tiết hơi khác (các cô họ Nguyễn và cô Xuân chỉ có một con với ông Hồ), ngoài ra, các chi tiết khác về cơ bản đều giống nhau. Sự việc cụ thể như sau:

Cô Nguyễn Thị Xuân (tên gọi trong gia đình là Sang) và em họ, cô Nguyễn Thị Vàng, 22 tuổi, quê làng Hà Mạ, xã Hồng Việt, huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng, cuối năm 1954, đã tình nguyện vào làm công tác hộ lý trong một đơn vị quân nhu. Được mấy tháng thì ủy viên Trung ương đảng, chủ nhiệm Tổng Cục Hậu cần Trần đặng Ninh, gặp cô Xuân nói chuyện vài lần, rồi đầu năm 1955 cho xe đón cô Xuân về Hà Nội, “nói là để phục vụ Bác Hồ”. Mấy tháng sau, cô Xuân cũng xin cho cô Vàng và cô Nguyệt (con gái của ông Hoàng Văn Đệ, cậu ruột của cô Xuân) về Hà Nội ở trên gác nhà 66 Hàng Bông Nhuộm. “Vì các vị lãnh đạo không cho chị Xuân ở cùng với Bác trên nhà Chủ tịch phủ, giao cho ông Trần Quốc Hoàn, bộ trưởng Bộ công an, trực tiếp quản lý chị Xuân, cho nên chị Xuân mới được đem về 66 Hàng Bông Nhuộm, nhà của công an. Cuối năm 1956, chị Xuân sinh được một cậu con trai. Cụ Hồ đặt tên là Nguyễn Tất Trung.

“Em có nhiệm vụ bế cháu”, đấy là lời Vàng kể lới cho người chồng chưa cưới của mình trước khi cô bị giết. Và cũng nhờ Vàng đã kể lại, nên chúng ta biết được những sự việc sau đây. Khoảng mồng 6, mồng 7 tháng 2 năm 1957, Trần Quốc Hoàn đến, nói chuyện vu vơ một lúc, rồi giở trò … kéo cô Xuân vào cái buồng xép, định hãm hiếp. Cô Xuân ú ớ la lên. Vàng hoảng sợ tru tréo, còn Nguyệt khiếp sợ quá co rúm lại ngồi ở trong góc. May lúc đó có tiếng cửa sổ nhà dưới xô sầm vào tường, Hoàn sợ, bỏ cô Xuân ra, rút súng lục ra dọa: “Chúng mày im mồm, không ông cho chết hết”. Rồi xuống thang, ra ô tô chuồn. Mấy hôm sau, Hoàn lại đến, lên gác, đi thẳng vào phòng, ôm ghì cô Xuân hôn. Cô Xuân xô nó ra: “Không được hỗn, tôi là vợ ông Chủ tịch nước”. Nó nói: “Tôi biết bà to lắm, nhưng tính mạng bà nằm trong tay tôi” Rồi lấy súng dí vào ngực cô Xuân, nó rút ra sợi dây dù đã thắt sẵn thòng lọng tròng vào cổ cô Xuân kéo cô lên giường, tự tay lột hết quần áo, ngắm nghía, rồi hiếp cô. Cô Xuân xấu hổ lấy tay che mặt. Nó kéo tay cô và nói: “Thanh niên nó phục vụ không khoái hơn ông già, lại còn vờ làm gái”.

Từ đó cô Xuân trở thành thứ đồ chơi trong tay Hoàn. Nó bảo cô Xuân dặn cho hai em phải biết câm cái miệng, nếu bép xép thì mất mạng cả lũ. Mấy chị em lúc bấy giờ rất sợ bị giết, bàn nhau. Vàng đề nghị mấy chị em trốn đi thì cô Xuân nói: “Sau ngày sinh cháu Trung, chị thưa với Bác: bây giờ đã có con trai, xin Bác cho mẹ con ra công khai. Bác nói: cô xin như vậy là hợp tình hợp lý. Nhưng phải được Bộ chính trị đồng ý, nhất là mấy ông Trường Chinh, Lê đức Thọ, Hoàng Quốc Việt đồng ý mới được. Do đó cô đành phải chờ một thời gian nữa …

Mấy tuần trước, Bác lới hỏi chị: các cô ở đây có nhiều người lạ mặt tới thăm phải không? Chị thưa: ba chị em không có ai quen biết ở Hà Nội, còn bà con ở Cao Bằng thì không có ai biết chị em ở đâu. Bác nói không nhẽ ông bộ trưởng công an nói dối ? Chị suy nghĩ mãi mới thấy rõ, nó muốn vu cáo chị em ta liên hệ với gián điệp hoặc đặc vụ gì đó, để định kế thoát thân nếu việc của nó bị bại lộ. Bây giờ ta trốn cũng không làm sao thoát tay nó, mà nó còn vu cáo giết hại anh chị em chúng ta. Chị bị giết cũng đáng đời, chỉ rất hối hận đã xin hai em về đây để chịu chung số phận với chị.”

Đến ngày 11 tháng 2 năm 1957, vào bảy giờ tối, một chiếc xe com măng ca thường đón cô Xuân lên gặp ông Hồ đỗ trước nhà. Tên Ninh, biệt danh là Ninh Xồm, bảo vệ viên của ông Hồ, vào gặp cô Xuân nói “lên gặp Bác.” Cô Xuân mặc quần áo, xoa nước hoa rồi ra xe. Xe do Tạ Quang Chiến (tên này trong đội bảo vệ ông Hồ, về sau làm tổng cục phó Tổng cục Thể dục thể thao) lái đi. Sáng hôm sau, 12 tháng 2, một nhân viên công an Hà Nội đến báo tin cô Xuân bị chết vì tai nạn ô tô, hiện còn để ở nhà xác bệnh viện Phú Doãn. Vàng vội vã đưa cháu Trung cho Nguyệt bế, lên xe công an vào bệnh viện, nhưng không được vào nhà xác. Chờ độ một tiếng sau thì có người bác sĩ ra đọc biên bản, đại ý: trên thân thể tử thi không có thương tích gì, cũng không phải bị đánh chém gì. Mổ tử thi, trong lục phủ ngũ tạng cũng không có thương tích gì, dạ dày không có thuốc độc, tử cung không có tinh trùng, chứng tỏ không bị hiếp dâm. Duy chỉ có xương đỉnh đầu bị rạn nứt, nước nhờn chảy ra. Bác sĩ nói: đây có thể là nạn nhân bị trùm chăn lên đầu, rồi dùng búa đánh vào giữa đỉnh đầu. Vàng nghe xong chạy về kể lại cho Nguyệt. Hai chị em cùng khóc …

Ít lâu sau, một cán bộ công an đến bế cháu Trung đi, hai chị em không biết đem đi đâu. Sau đó, Vàng được đưa đi học lớp y tá của Khu tự trị Việt Bắc ở Thái Nguyên, còn Nguyệt thì Vàng không biết người ta đưa đi đâu, sống chết ra sao. Học được mấy tháng thì Vàng được chuyển về bệnh viện Cao Bằng và may mắn được gặp người chồng chưa cưới ở đây, kể hết mọi chuyện cho anh nghe. Cô nói với người yêu: “Em nghĩ anh chỉ bị thương nhẹ, anh còn sống được lâu, anh sẽ nói rõ cho toàn dân biết vụ bê bối này. Còn em thì chắc chắn sẽ bị chúng giết, vì em đã nói vụ này cho nhiều chị em bà con biết. Bọn hung thủ còn theo dõi em. Ở Cao Bằng, có hôm em còn thấy thằng Ninh Xồm tới gặp ông bác sĩ bệnh viện trưởng, được ít lâu họ tuyên bố em bị thần kinh, được chuyển về điều trị tới bệnh viện Hòa An.”

Đây là lời người yêu, chồng chưa cưới của cô Vàng: “Tôi chỉ được gặp Vàng có một tháng, đến ngày mồng 2 tháng 11 năm 1957, cô Vàng về thăm ông cậu Hoàng Văn Đệ, hung thủ đi theo, giết chết, rồi quẳng xác xuống sông Bằng Giang, đến ngày mồng 5 tháng 11 mới nổi lên ở Hoàng Bồ. Được tin, tôi chạy về cầu Hoàng Bồ, thì thi hài đã được kiểm nghiệm và chôn cất rồi. Nghe dư luận bàn tán, cô bị đánh vỡ sọ, tiền, đồng hồ vẫn còn nguyên và người nhà đã nhận về chôn cất. Vụ này nhiều người bị giết: cô Xuân vợ Cụ Hồ Chí Minh, cô Vàng vợ chưa cưới của tôi, cô Nguyệt, còn nhiều người ở trường y tá Thái Nguyên, nghe chuyện Vàng đi nói chuyện lại cũng bị giết lây. Mấy chục năm nay, tôi tím gan thắt ruột nghĩ cách trả thù cho em tôi, nhưng sức yếu thế cô, đành ngậm hờn chờ chết …”

Tiện đây, xin phép kể qua một chuyện ngoài lề có ý nghĩa. Hồi Vũ Thư Hiên còn ở Moskva, “người ta” dò biết là anh đang viết hồi ký, và hình như cũng đoán biết là anh có trong tay “những mẩu chuyện” nào đó. Thế là một hôm, “bọn trấn lột” người Việt đến nhà, chờ Hiên vào thang máy thì chúng ùa theo, đâm anh vào mông, giật chùm chìa khóa, rồi xông vào nhà. Chúng không đụng đến tiền bạc gì hết, mà chỉ tìm kiếm tài liệu và lấy các đĩa mềm máy tính, trong đó có phần hồi ký anh đang viết dở dang. Khi chúng đi rồi, Hiên gọi điện ngay cho tôi. Mấy hôm sau, anh lại báo tin rằng một tên gọi điện cho anh, bảo nếu muốn lấy lại đĩa mềm thì hãy “đến đấy, đến đấy” ở Moskva, mà theo lời anh, chỗ ấy là … ngôi nhà chung cư của cán bộ nhân viên sứ quán Việt Nam tại Nga. Hiên nói để trấn an tôi: “Cũng may là tôi đã dự phòng trường hợp này rồi. Anh yên tâm”. Sau đó không lâu, Hiên đến nhà đưa cho tôi đọc 74 trang hồi ky của anh. Và một thời gian sau nữa, anh lặng lẽ rời khỏi nước Nga, tìm nơi khác an toàn hơn để “đậu” … Tôi kể chuyện này để thấy tính nhạy cảm cao độ của những-người-nào-đó đối với “những mẩu chuyện” không chảy theo luồng lạch của “lãnh đạo” và “người ta” sẵn sàng lao vào những hành động tội ác, điên cuồng, cực kỳ phiêu lưu, chỉ cốt để … bưng bít sự thật.

——

Ban Tuyên Giáo của đảng CSVN chỉ thị Bộ Giáo Dục dạy cho các thế hệ trẻ miền Bắc những điều tàn ác

.

còn "dựng lại người " bở hơi tai nhỉ anh Doan Khac Xuyen

—–

Đèn Cù, Chương 5, trang 82 và 83 nội dung như sau:

Để có phát pháo mở đầu cuộc cải cách ruộng đất, Trường  Chinh chỉ thị báo Nhân Dân tường  thuật vụ đấu Nguyễn Thị Năm  –  Cát Hanh Long.  Tôi nhận nhiệm vụ.  Trường Chinh nói phân công tôi vì cần một bài báo viết nổi bật lên khung cảnh sôi sục, sinh động của cuộc đấu tố để ca ngợi sức mạnh của bần cố nông được phát động, còn tội ác thì tôi cứ theo tài liệu, cáo trạng của đội.  

Tôi nói tôi không dự đấu tố thì anh bảo tôi khai thác Văn, người cấp dưỡng theo anh tới tận Đồng Bẩm và đã chứng kiến các buổi đấu tố.  Sở dĩ báo chí không dự đấu là vì giữ bí mật, ngại Đồng Bẩm cách Hà Nội có vài chục cây số đường chim bay, Pháp có thể nhảy dù xuống đó. Cụ Hồ bịt râu đến dự một buổi và Trường Chinh thì đeo kính râm suốt. 

Có lẽ để phối hợp với bài báo của tôi, CB  (Bác Hồ)  gửi đến bài  “Địa chủ ác ghê.” Thánh hiền dạy rằng:  “Vi phú bất nhân.” Ai cũng biết rằng địa chủ thì ác:  như bóc lột nhân dân, tô cao lãi nặng, chây lười thuế khóa  –  thế thôi.  Nào ngờ có bọn địa chủ giết người không nháy mắt. Đây là một thí dụ: Mụ địa chủ Cát – Hanh – Long cùng hai đứa con và mấy tên lâu la đã kể các tội cụ thể và con số cụ thể. 

(Trong hồi ký nói về mười nỗi buồn của Bác Hồ, viết Bác không  tán  thành  đấu  Nguyễn  Thị  Năm  nhưng  phải  nghe  cố vấn Trung Quốc, Hoàng Tùng vô tình hay cố tình quên bài báo Bác  gây  căm  thù  cao  độ  này.  Đâm  ra  lại  đổ  cho  Bác  cái  lỗi không kiên định – nghe cả điều sai vốn trái với ý mình.) 

Dăm bữa sau bài  “phóng sự nghe kể lại,”  tôi xuống Đồng Bẩm.  Tình cờ Tiêu Lang, báo Cứu Quốc, trong đội cải cách về đây  còn  ở  lại  lo  hậu  sự.  Tôi  hỏi  chuyện  bắn,  anh  lè  lưỡi  lắc đầu mãi rồi mới kể lại. 

“Sợ  lắm,  tội  lắm,  đừng  có  nói  với  ai,  chết  tớ.  Khi  du  kích đến đưa bà ta đi, bà ta đã cảm thấy có gì nên cứ lạy van”  các anh  làm  gì  thì  bảo  em  trước  để  em  còn  tụng  kinh.”  

Du  kich quát:  “đưa  đi  chỗ giam  khác  thôi,  im!.”  Bà ta vừa quay người thì mấy loạt tiểu liên nổ ngay sát lưng.  

Mình được đội phân công ra Chùa Hang mua áo quan, chỉ thị chỉ mua áo tồi nhất. Và không được lộ là mua chôn địa  chủ.  Sợ như thế sẽ đề cao uy thế uy lực địa chủ mà.  

Khổ tớ, đi mua cứ bị nhà hàng thắc mắc chưa thấy ai đi mua áo cho người nhà mà cứ đòi cái rẻ tiền nhất.  Mua áo quan được thì không cho bà ta vào lọt.  Du kích mấy người bèn đặt bà ta nằm trên miệng cỗ áo rồi nhảy lên  vừa  giẫm  vừa hô:  “Chết  còn  ngoan  cố  này,  ngoan  cố  nổi với các ông nông dân không này?”  Nghe xương kêu răng rắc mà  tớ  không  dám  chạy,  sợ  bị  quy  là  thương  địa  chủ.  Cuối cùng bà ta cũng vào lọt, nằm vẹo vọ như con rối gẫy vậy…”  

Hình ảnh cuộc triển lãm CCRĐ ở Hà Nội 9-2014  ghi rằng: Bữa cơm của bần cố nông sau khi CCRĐ. Nhưng quan sát tấm hình ngụy tạo “thời thập niên 1950s” chén, đĩa đũa làm bằng nhựa, nồi cơm không có dính nhọ nồi vì nấu bằng trấu,…

——

Posted in Sách-Hồi Ký-Bài Báo... | 4 Comments »

►Gặp con gái cụ Đề Thám ở Hà Nội- Phải chăng Nguyễn Ái Quốc muốn làm rể Hùm Thiêng Yên Thế Hoàng Hoa Thám

Posted by hoangtran204 trên 14/02/2014

Phải chăng Nguyễn Ái Quốc muốn làm rể hùm thiêng Yên Thế

Một số nhà sử học cho rằng, bà Thế từng đóng phim và có nhiều người cầu hôn

13-2-2014

Tác giả: 

Ngày 30-7-1909, Pháp cử Lê Hoan, tổng đốc Hải Dương, cầm quân Việt cùng quân Pháp tấn công căn cứ của Đề Thám tức Hùm Thiêng Yên Thế Hoàng Hoa Thám. Yên Thế nằm ở tây-bắc tỉnh Bắc Giang ngày nay. Lê Hoan ngăn chận những nguồn tiếp liệu của Đề Thám, trừng phạt thật nặng những làng nào tình nghi chứa chấp hay yểm trợ cho Đề Thám, nên dần dần dân chúng giảm việc giúp đỡ Đề Thám.

Đề Thám rút lên gần Tam Đảo giữa Vĩnh Yên và Thái Nguyên.

Một trận đụng độ lớn xảy ra ngày 5-10-1909 tại núi Lang, gần Tam Đảo. Quân Pháp chết 7 người, bị thương 21 người. Quân Lê Hoan thiệt mạng 9 người, bị thương 10 người. Đề Thám chỉ còn khoảng 20 quân. Cả Rinh và Đội Sơn, hai thủ hạ thân cận của Đề Thám đầu hàng Lê Hoan.

Tối 30-11 rạng sáng 1-12-1909, bà Ba Nhu, tức bà vợ thứ ba của Đề Thám, cùng con gái là Hoàng Thị Thế, bị bắt.

Quân Pháp tiếp tục đeo bám Đề Thám hết sức gắt gao, nhưng vẫn không bắt được Hùm Thiêng Yên Thế. Ông ẩn hiện khắp nơi vùng Yên Thế thượng và Yên Thế hạ, giữa Thái Nguyên, Nhã Nam và Phủ Lạng Thương. Pháp không biết cách nào bắt cho được Đề Thám, liền nhờ đến Lương Tam Kỳ

Lương Tam Kỳ là một dư đảng của Thái Bình Thiên Quốc ở Trung Hoa, tràn sang nước ta làm thổ phỉ. Sau hòa ước Thiên Tân lần thứ hai ngày 9-6-1885 giữa Pháp và Trung Hoa về vấn đề Việt Nam, quân Trung Hoa rút về nước, Lương Tam Kỳ ở lại hoạt động vùng Chợ Chu (bắc Thái Nguyên), xuống tới Tam Đảo (giữa Thái Nguyên và Phúc Yên). Năm 1889, Pháp đem quân tấn công. Lương Tam Kỳ xin hàng với điều kiện được chia đất cai trị và được trả lương. Phủ toàn quyền Pháp đồng ý, giao cho Lương Tam

Kỳ cai quản 4 tổng gần Chợ Chu và 42,000 đồng Đông Dương một năm. Lương Tam Kỳ ở yên trong 4 tổng đó và quân Pháp cũng không được vào 4 tổng đó. Lương Tam Kỳ giữ đúng lời hứa cho đến khi chết già.

Được Pháp thuyết phục, Lương Tam Kỳ gởi ba “khách trú” (chỉ người Trung Hoa), giả làm người của tướng Liên bên Quảng Tây (Trung Hoa), đến liên lạc với Đề Thám ở Yên Thế thượng vào ngày 10-1-1913. Tuy đang cần sự giúp đỡ từ bên ngoài, nhưng Đề Thám cũng rất cẩn thận đề phòng, nên mãi đến một tháng sau, ngày 9-2-1913, ba người nầy mới ra tay, hạ thủ được Đề Thám trong lúc ông đang ngủ. (Paul Chack, Hoang-Tham Pirate, Paris: Les Éditions de France, 1933, tt. 261-263.) Lúc đó, Đề Thám 52 tuổi (tuổi ta). Thế là Hùm Thiêng Yên Thế bị sa cơ, chấm dứt một cuộc đời oanh liệt, và chấm dứt luôn cuộc kháng chiến chống Pháp dai dẳng nhất từ khi Pháp chiếm nước ta năm 1884.

Về phần bà Ba Nhu, trước đây, các tài liệu đều ghi rằng bà tên là Đặng Thị Nhu, vợ thứ ba của Hoàng Hoa Thám và là một tướng lãnh giỏi của nghĩa quân Yên Thế, giúp chồng rất đắc lực. Theo tài liệu của một ký giả đã lên Yên Thế, và gặp cháu của Hoàng Hoa Thám là bà Hoàng Thị Hải, con của ông Cả Phồn, thì bà Ba Nhu có tên là Nguyễn Thị Nho, còn được gọi là bà Ba Cẩn. (Lê Xuân Sơn, “Con gái ông Đề Thám”, Tuổi Trẻ Chủ Nhật, số 50-94, TpHCM: ngày 18-12-1994.)

Sau khi bị bắt, bà Ba Nhu bị giam ở Hỏa Lò, Hà Nội và bị kết án đày đi Guyanne thuộc Pháp ở Trung Mỹ. Trên đường đi, bà nhảy xuống biển tự tử ngày 25-12-1910.

Con gái của bà Ba Nhu với Hoàng Hoa Thám là Hoàng Thị Thế, được người Pháp gởi qua Pháp nuôi ăn học (1909 ?). Bà Thế trở về Việt Nam năm 1923, và qua Pháp trở lại vào đầu năm 1927. (Charles P. Keith, “The Curious Case of Hoàng Thị Thế”, đăng trên tập san Journal of the Vietnamese Studies, số 8, hè 2013, University of California, Berkeley, tr. 91.)

Theo bài báo nầy, vào đầu năm 1929, khi làm giấy tờ xin đi Việt Nam, bà Hoàng Thị Thế khai với nhân viên phụ trách rằng vào tháng 3-1928, Nguyễn Ái Quốc gởi một phái viên đến gặp bà ta và thuyết phục bà ta thành hôn với Nguyễn Ái Quốc. Bà Thế cũng cho biết rằng lúc đó Nguyễn Ái Quốc đã cưới một phụ nữ Nga và Quốc đã đến thành phố Lille trong hai năm 1927 và 1928. Từ đó Quốc thường đến Lille bằng một bí danh. (Charles P. Keith, báo đã dẫn, tr. 99.) Lille là một thành phố kỹ nghệ nằm ở phía bắc nước Pháp, gần sát biên giới với nước Bỉ (Belgium)

Bà Thế còn thêm rằng đây không phải là lần đầu tiên bà là mục tiêu bị Nguyễn Ái Quốc theo dõi. Bà nói rằng khi còn ở Đông Dương, năm 1927 “bốn người bản xứ đến tìm bà ở Sài Gòn để ép bà đừng lên tàu thủy. Họ sẽ đưa bà qua Xiêm La [Thái Lan] bằng xe hơi và kết hôn với Nguyễn Ái Quốc…” (Charles P. Keith, báo đã dẫn, tr. 100.)

Trong thời gian nầy, Nguyễn Ái Quốc, ủy viên Đông phương bộ của Đệ tam Quốc tế Cộng sản (ĐTQTCS), qua Trung Hoa tháng 10-1924, hoạt động tình báo cho Liên Xô với bí danh mới là Lý Thụy.

Tại Quảng Châu, Lý Thụy hợp tác với Lâm Đức Thụ bán tin cho Pháp bắt Phan Bội Châu khi Phan Bội Châu từ Hàng Châu đến ga Thượng Hải ngày 1-7-1925. (Hoàng Văn Chí, Từ thực dân đến cộng sản, nguyên bản bằng tiếng Anh (From colonianism to communism), Mạc Định dịch, Paris, 1962, tr. 38. Tưởng Vĩnh Kính, Nhất cá Việt Nam dân tộc chủ nghĩa đích ngụy trang giả, Đài Bắc: Nxb. Truyện Ký Văn Học, 1972, bản dịch của Thượng Huyền, Hồ Chí Minh tại Trung Quốc, California: Nxb. Văn Nghệ, 1999, tt. 84-85.) Lý Thụy bán tin cho Pháp bắt Phan Bội Châu nhắm mục đích vừa để lãnh thưởng, vừa để loại bỏ nhà lãnh đạo cách mạng dân tộc uy tín nhất ở hải ngoại và giành lấy tổ chức của ông.

Sau vụ nầy, có thể nhờ có tiền lãnh thưởng, Lý Thụy tức Nguyễn Ái Quốc tổ chức lễ kết hôn với một nữ đảng viên cộng sản Trung Hoa là Tăng Tuyết Minh (1905-1991) vào tháng 10-1926.

Lễ kết hôn diễn ra tại nhà hàng Thái Bình, thành phố Quảng Châu, có mặt các bà Đặng Dĩnh Siêu (vợ Châu Ân Lai), Bào La Đình, Thái Sướng. Lý Thụy và Tăng Tuyết Minh chia tay khi chiến tranh Quốc Cộng Trung Hoa bùng nổ ngày 12-4-1927. (Hoàng Tranh (Huang Zheng), “Hồ Chí Minh với bà vợ Trung Quốc Tăng Tuyết Minh”, tạp chí Đông Nam Á Tung Hoành tháng 11-2001. Báo Diễn Đàn, Paris, số 121, tháng 9-2002 dịch đăng lại, tt. 17-20.)

Hồ Chí Minh và người vợ Trung Quốc Tăng Tuyết Minh (ảnh và bài báo)

Lúc đó, Tưởng Giới Thạch (Quốc Dân Đảng Trung Hoa) chẳng những tấn công đảng Cộng Sản Trung Hoa, mà cả những nhóm cộng sản các nước khác. Nguyễn Ái Quốc bỏ trốn đi Vũ Hán, đến Thượng Hải, theo đường biển lên Vladivostok, qua Moscow khoảng giữa tháng 6 năm 1927. (Chính Đạo, Hồ Chí Minh, Con Người và Huyền Thoại 1892-1924, tập 2: 1825-1945, Houston: Nxb. Văn Hóa, 1993, tr. 85.)

Tháng 11-1927, Nguyễn Ái Quốc được ĐTQTCS gởi từ Moscow qua Berlin (Đức), và xâm nhập Pháp.

Theo tin tình báo Pháp, Quốc rời Paris ngày 15-12-1927, qua Berlin, rồi qua Bruxelles (Bỉ) đầu năm 1928, tham dự Hội nghị Quốc tế Liên đoàn chống đế quốc. Sau Hội nghị, Nguyễn Ái Quốc qua Đức, chờ quyết định của ĐTQTCS.

Cuối tháng 5-1928, ông đến Ý, và xuống tàu Nhật ở hải cảng Naples, qua Viễn Đông (Chính Đạo, sđd. tt. 93-94.) Nguyễn Ái Quốc đến Xiêm La tháng 8-1928, lập tỉnh uỷ U-đon, thống nhất việc lãnh đạo Việt Nam Cách Mạng Thanh Niên Hội ở Xiêm La. (Hoàng Văn Hoan, Giọt Nước Trong Biển Cả, Portland, OR, U.S.A.: Nhóm Tìm Hiểu Lịch Sử, 1991, tr. 43.) Giọt nước trong biển cả, Lời nói đầu – Việt Nam thư quán

So sánh lời khai của bà Hoàng Thị Thế với lịch sinh hoạt của Nguyễn Ái Quốc hay Lý Thụy trong thời gian nầy, hai bên có nhiều điểm gần nhau tuy không khít khao với nhau.

Lúc đó, nhân viên C.A.I. (Contrat d’acceuil et d’intégration) không mấy tin vào lời khai nầy, và cả tiến sĩ Charles P. Keith, giáo sư Sử học tại Michigan State University trích dẫn nguồn tin trên đây trong bài báo đã dẫn, cũng cho rằng lời khai của bà Thế thiếu xác thực. Lời khai của bà Thế với nhà chức trách Pháp được lưu trữ theo hồ sơ C.A.I. về Hoàng Thị Thế, thuộc L’Office français de l’immigration et de l’intégration (OFII), là cơ quan đảm trách việc di dân mới đến đất Pháp cần được hướng dẫn về đời sống tại Pháp.

Dầu nhà chức trách Pháp lúc đó và cả giáo sư Charles P. Keith đều nghi ngờ mức xác tín trong lời khai của bà Hoàng Thị Thế, nhưng có vài câu hỏi cần được đặt ra là:

Tại sao lúc đó bà Thế biết được, dầu không chính xác, hành trình sinh hoạt của Nguyễn Ái Quốc?

Ví dụ bà Thế nói rằng vào đầu năm 1927, trước khi bà xuống tàu thủy rời Sài Gòn đi Pháp, thì có bốn người đến gặp bà và yêu cầu bà bỏ chuyến đi Pháp để họ đưa bà sang Xiêm La và kết hôn với Nguyễn Ái Quốc.

Thực tế cho thấy sau khi cưới bà Tăng Tuyết Minh tháng 10-1926, Nguyễn Ái Quốc còn ở lại Trung Hoa cho đến tháng 6-1927 mới bị truy nã và bỏ trốn qua Liên Xô; tức trong thời gian đầu năm 1927, Quốc có mặt ở Trung Hoa và có thể liên lạc với Việt Nam.

Bà Hoàng THị Thế từng đóng phim  La Donna Bianca (1930)và Le secret de l Emeraude (1935)

Bà Thế cũng nói rằng tháng 3-1928 Nguyễn Ái Quốc gởi người đến gặp bà tại Pháp và lăp lại lời cầu hôn.

Thực tế cho thấy sau khi Nguyễn Ái Quốc trốn từ Trung Hoa qua Liên Xô tháng 6-1927, thì Quốc được ĐTQTCS gởi qua Đức, rồi qua Pháp tháng 11-1927. Sau đó, Quốc qua Bỉ (Belgium) tham dự Hội nghị Quốc tế Liên đoàn chống đế quốc. Nước Bỉ nằm ở vùng biên giới phía bắc nước Pháp. Chắc chắn Quốc đi lại hoạt động ở vùng giáp ranh Pháp-Bỉ vào đầu năm 1928, giữa Paris (thủ đô Pháp) và Bruxelles (thủ đô Bỉ) cho đến khi qua Ý và xuống tàu thủy từ thành phố Naples (Ý) vào cuối tháng 5-1928 qua Viễn đông.

Bà Thế còn nói rằng Nguyễn Ái Quốc đã đến thành phố Lille trong hai năm 1927 và 1928. Từ đó Quốc thường đến Lille bằng một bí danh. (Charles P. Keith, báo đã dẫn, tr. 99.) Lille là một thành phố kỹ nghệ nằm ở phía bắc nước Pháp, gần sát biên giới với nước Bỉ, giữa vùng Paris và Bruxelles.

Như thế phải chăng lúc đó nếu Nguyễn Ái Quốc không gởi người tới đề nghị cưới bà Hoàng Thị Thế, thì bà Thế cũng có một mối liên lạc nào đó với Nguyễn Ái Quốc mới biết được hành trình của Nguyễn Ái Quốc?

Câu hỏi thứ hai là tại sao bà Hoàng Thị Thế không khai cho người khác đã theo dõi và xin kết hôn với bà, mà lại khai cho Nguyễn Ái Quốc? 

Tại Việt Nam và trên thế giới, có biết bao nhiêu là đàn ông, kể cả những đàn ông nổi tiếng, mà bà Thế không khai, lại đi khai cho Nguyễn Ái Quốc, lúc đó đang là đối tượng truy nã của mật thám Pháp, trong khi bà Thế muốn xin đi Việt Nam. Bà khai như vậy thì có lợi gì cho bà?

Vậy giữa Hoàng Thị Thế và Nguyễn Ái Quốc (tức Hồ Chí Minh tương lai) thực sự có mối liên hệ gì chăng? Phải chăng để thu hút quần chúng, Nguyễn Ái Quốc muốn kết hôn với bà Hoàng Thị Thế nhằm giúp Nguyễn Ái Quốc thêm uy tín từ ảnh hưởng của Hùm Thiêng Yên Thế Hoàng Hoa Thám. Đó là câu hỏi xin đặt ra để những nhà nghiên cứu lưu tâm tìm hiểu thêm.

Ở trong nước hiện nay cũng có báo đề cập đến mối liên lạc giữa bà Hoàng Thị Thế và Nguyễn Ái Quốc, nhưng không đề cập gì đến chuyện Nguyễn Ái Quốc xin kết hôn với bà Hoàng Thị Thế. Ví dụ bài “Gặp con gái cụ Đề Thám ở Hà Nội” của Phạm Quang Đẩu đăng trên báo Quân Đội Nhân Dân, đưa lên Internet ngày Thứ Bảy 26-01-2013.

Khi nhà báo đặt câu hỏi là bà Thế đã gặp gỡ Nguyễn Ái Quốc lần nào chưa, thì theo bài báo nầy bà Thế trả lời như sau: “Có một lần đến giờ bà vẫn chưa quên- bà Thế nói. Đó là vào mùa xuân năm 1920. Bà lúc đó chưa đến hai mươi, vừa đóng được một bộ phim ở Pháp, vai phụ thôi…”

Bài báo không nói gì đến chuyện Nguyễn Ái Quốc xin cưới bà Hoàng Thị Thế, nhưng cũng xác nhận là bà Hoàng Thị Thế đã gặp Nguyễn Ái Quốc, đồng thời có một điểm sai căn bản. Đó là bà Thế đóng phim lần đầu vào năm 1930 là phim La lettre, chứ không phải năm 1920. Tài liệu về phim nầy hiện còn ở Pháp và niên đại ghi rõ ràng là 1930.

Như thế có thể xảy ra hai trường hợp: 1) Hoặc bà Thế nhớ lầm từ 1930 thành 1920. 2) Hoặc chính cán bộ Phạm Quang Đẩu cố tình đổi từ 1930 thành 1920 cho phù hợp với tuyên truyền của cộng sản về những hoạt động của Nguyễn Ái Quốc ở Paris. Sửa đổi lịch sử cho phù hợp với đường lối của đảng Cộng Sản là việc làm bình thường của cán bộ cộng sản từ trước cho đến nay.

Vào năm 1920, Nguyễn Tất Thành đang ở Paris, cộng tác với các ông Phan Châu Trinh, Phan Văn Trường, Nguyễn Thế Truyền. Cả bốn ông (Trinh, Trường, Truyền, Thành) cùng dùng một bút hiệu chung là Nguyễn Ái Quốc (Daniel Hémery, Ho Chi Minh, de l ‘ Indochine au Vietnam, Paris: Nxb. Gallimard, 1990, tt. 44-45), đồng ký tên vào bản “Revendications du peuple annamite” [Thỉnh nguyện thư của dân tộc Việt], bằng Pháp văn, do Phan Văn Trường viết (Trần Dân Tiên [tức Hồ Chí Minh], Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ chủ tịch, Hà Nội: Nxb. Sự Thật, 1976, tr. 32).

Bản thỉnh nguyện thư nầy gởi cho các cường quốc trên thế giới, đang họp Hội nghị Versailles sau thế chiến thứ nhất, bắt đầu từ 18-1-1919. Thỉnh nguyện thư của các ông xuất hiện lần đầu trên báo L’Humanité [Nhân Đạo] ngày 18-6-1919. Về sau, Nguyễn Tất Thành chiếm dụng danh xưng Nguyễn Ái Quốc làm tên riêng của Nguyễn Tất Thành.

Hồ Chí Minh (tức Nguyễn Tất Thành, Nguyễn Ái Quốc…) và những người cộng sản luôn luôn đề cao rằng Hồ Chí Minh suốt đời sống độc thân, không lập gia đình để có thể toàn tâm toàn ý phục vụ nhân dân. Vì vậy báo chí trong nước tránh né không bao giờ nói đến chuyện phụ nữ trong đời sống của Hồ Chí Minh, nên không đả động gì đến mối liên lạc tình cảm giữa bà Hoàng Thị Thế và Nguyễn Ái Quốc. Trong khi đó, dù Nguyễn Ái Quốc tức Hồ Chí Minh, đi đâu, ở nơi nào, đều có bóng dáng một người đàn bà trong suốt cuộc đời hoạt động của ông. Đây là chuyện bình thường của một người đàn ông, nhưng Hồ Chí Minh và cộng sản luôn luôn che giấu. Vì vậy, chuyện bà Hoàng Thị Thế kể về việc Nguyễn Ái Quốc xin kết hôn với bà cũng có thể xảy ra, nhưng cộng sản cố tình dập bỏ đi.

Riêng bà Hoàng Thị Thế, tại Pháp, bà trở thành diễn viên điện ảnh và có mặt trong ba phim là La lettre (1930), La donna Bianca (1931) và Le secret de l’éméraude (1935).

Vào đầu thập niên 30 thế kỷ trước, nền điện ảnh Pháp bắt đầu chuyển từ phim câm qua phim có tiếng nói, và lúc đó chính phủ Pháp muốn tuyên truyền về sự thành công của Pháp ở các nước thuộc địa Pháp. Vì vậy người ta mời những người bản xứ đóng phim, trình chiếu quang cảnh thuộc địa cho dân chúng Pháp xem. Phim La lettre do Mercanton thực hiện, phỏng theo phim The Letter của Hoa Kỳ dựa trên câu chuyện của Somerset Maugham (1874-1965) viết về một đồn điền cao su ở Mã Lai Á.

Sau phim đầu tiên năm 1930 (La lettre), bà Thế kết hôn vào mùa hè năm 1931 với Robert Bourgès, con môt gia đình sản xuất rượu vang giàu có ở Bordeaux. Năm 1935, bà sinh một con trai, đặt tên là Jean-Marie Albert Arthur Bourgès. Năm sau (1936), do những bất đồng với bà mẹ chồng về việc chăm sóc đứa con, bà Thế ly dị Robert Bourgès, nhưng không được quyền nuôi con. (Charles P. Keith, báo đã dẫn, tr. 107.)

Khi Việt Nam bị chia hai sau năm 1954, cả hai chế độ của hai miền Bắc và Nam Việt Nam đều mời bà Thế về nước năm 1959. Về phần Việt Nam Cộng Hòa, nhân một chuyến công du sang Pháp năm 1959, bà Ngô Đình Nhu được tổng thống Ngô Đình Diệm uỷ nhiệm mời bà Thế hồi hương. (Charles P. Keith, báo đã dẫn, tr. 107.)

Cuối cùng, bà Hoàng Thị Thế chọn lựa trở về Bắc Việt Nam năm 1961 vì bà muốn về sống tại vùng kỷ niệm của song thân ở Yên Thế. Lúc đầu, bà ở Yên Thế, Bắc Giang (Hà Bắc). Tại đây, năm 1963 bà hoàn tất tập hồi ký bằng tiếng Pháp. Năm 1974, bà Thế 74 tuổi, chuyển về Hà Nội, sống ở Khu tập thể ngõ Văn Chương, quận Đống Đa. Cuối cùng bà từ trần ngày 9-12-1988, thọ 88 tuổi, an táng tại Yên Thế, Bắc Giang.

Tập hồi ký của bà Hoàng Thị Thế được Lê Kỳ Anh dịch qua tiếng Việt, nhan đề là Kỷ Niệm Thời Thơ Ấu, Nxb. Hà Bắc ấn hành năm 1975. Lúc đó bà Thế đã lớn tuổi và đã rời Hà Bắc về Hà Nội.

Lê Kỳ Anh tức thi sĩ Hoàng Cầm, vì lúc đó Hoàng Cầm bị treo bút, không được ghi tên tác giả những sáng tác bằng bút danh chính của mình. Không có nguyên bản Pháp văn để so sánh bản dịch của Lê Kỳ Anh, nhưng dù dịch giả cố gắng dịch đúng theo nguyên bản của tác giả, nhưng chưa chắc bản dịch được trung thực theo ý tác giả và dịch giả vì còn phải qua cửa ải kiểm duyệt của nhà xuất bản nhà nước cộng sản. Ai cũng biết tất cả những nhà xuất
bản cộng sản đều chỉ được ấn hành những sách theo đúng chủ trương chính sách đường lối chính trị của đảng Cộng sản mà thôi.

Hiện nay không ai biết số phận nguyên bản cũng như nội dung tập hồi ký bằng chữ Pháp của bà Hoàng Thị Thế như thế nào, nằm trong tay ai hay đã bị đốt cháy? Phải chăng tập hồi ký nầy có liên hệ đến việc Nguyễn Ái Quốc muốn xin kết hôn với bà Hoàng Thị Thế, nghĩa là xin làm rể Hùm Thiêng Yên Thế Hoàng Hoa Thám, nên đã bị cộng sản thủ tiêu mất tích? Nhân tài còn bị cộng sản giết hàng loạt, thì cộng sản sá gì tập hồi ký của một phụ nữ, chỉ nổi danh vì là con của Hùm Thiêng Yên Thế và bà Ba Nhu bất khuất..

TRẦN GIA PHỤNG
(Toronto, 1-2-2014)

© Đàn Chim Việt

—————————————————————

Gặp con gái cụ Đề Thám ở Hà Nội

 
Nguồn QĐND – Thứ Bẩy, 26/01/2013, 14:33 (GMT+7)
 

QĐND – Có thể mỗi chúng ta từng gặp một hay nhiều “nhân chứng lịch sử”. Với tôi, việc được gặp bà Hoàng Thị Thế là nhân chứng lịch sử đáng nhớ nhất. Bởi bà là con gái út của người anh hùng nông dân Hoàng Hoa Thám đã phất cờ khởi nghĩa chống Pháp bền bỉ suốt gần 30 năm từ cuối thế kỷ 19 đến đầu thế kỷ 20. Dù hồi đó còn rất nhỏ tuổi, song trong ký ức bà vẫn in đậm những sự việc của cha, mẹ, các anh ruột cùng nghĩa quân ngày ấy. Có những sự việc bà chứng kiến chưa từng được sử sách ghi lại.

Tôi gặp bà tại Hà Nội vào cuối năm 1977, lúc bà đã ở tuổi gần 80, song còn minh mẫn, khỏe mạnh, đặc biệt rất đẹp lão. Dường như cái nhan sắc thời con gái từng là minh tinh màn bạc ở Pháp và Anh còn đọng lại chút nào đó lúc mãn chiều xế bóng nơi bà. Dẫn tôi đến gặp bà là người bạn cùng đơn vị, anh Tôn Gia Khai, con trai thứ của nhà sử học, nhà hoạt động cách mạng Tôn Quang Phiệt, lúc đó là Tổng thư ký Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Ông Tôn Quang Phiệt từng có một công trình nghiên cứu khá công phu về cuộc khởi nghĩa nông dân Hoàng Hoa Thám, có mối thâm giao với bà Thế.

Bà Nguyễn Thị Nho (Đặng Thị Nho, bà Ba Cẩn) và con gái Hoàng Thị Thế.

Bà Hoàng Thị Thế từ Pa-ri về nước năm 1965, được Nhà nước phân cho một căn hộ khoảng 18 m2 ở tầng 3, khu tập thể ngõ Văn Chương, Đống Đa, Hà Nội. Trong điều kiện khó khăn về nhà cửa lúc đó, có căn hộ vậy cũng là ưu ái lắm. Chồng bà là người Pháp, trước khi về nước hai người đã chia tay nhau, có một con trai. Bà ở một mình, có một người cháu gái giúp việc.

– Cháu nghe nói Bác Hồ đã mời bà trở về quê hương. Vậy thời trẻ tuổi, Bác từng sống và hoạt động ở Pa-ri, bà đã gặp Người lần nào chưa ạ? – Tôi hỏi chuyện bà.

– Có một lần đến giờ bà vẫn chưa quên-bà Thế nói. Đó là vào mùa xuân năm 1920. Bà lúc đó chưa đến hai mươi, vừa đóng được một bộ phim ở Pháp, vai phụ thôi, nhưng đã có người hâm mộ, có lẽ do bà đang độ xuân sắc chứ không phải có tài diễn xuất.

Hôm đó bà vào thăm Bảo tàng Lu-vrơ, thấy đi ngược chiều với mình là một người Việt Nam trạc ba mươi tuổi, dáng cao, gầy, có đôi mắt sáng. Người đó nhìn bà mỉm cười, bà cũng chào đáp lễ. Bỗng người đó nói giọng xứ Nghệ: “Cô Thế ơi, cô có biết cha mẹ cô là ai không?”.

Một câu hỏi lạ lùng, sao bà lại không biết cha mẹ mình cơ chứ. Bà chỉ mỉm cười và khẽ gật.

Người đó nói tiếp: “Mọi người Việt Nam yêu nước thương nòi đều khâm phục tinh thần quả cảm, anh dũng của cụ Đề Thám và bà Ba Cẩn, thưa cô”.

Lúc đó, bà cảm thấy rất tự hào về cha mẹ mình và nhìn người đó khẽ nói: “Cảm ơn! Xin anh cho biết quý danh?”.

Người đó nở một nụ cười thân thiện, trả lời: “Tôi là Nguyễn Ái Quốc”. Và người đó chào, đi ngay.

Nguyễn Ái Quốc là người Việt Nam nổi tiếng bởi anh đã vừa đưa một bản thỉnh nguyện, đòi cho dân Việt Nam được hưởng độc lập, gửi tới các cường quốc đang họp tại lâu đài Véc-xây sau Thế chiến thứ nhất. Người Việt ta ở Pháp ngày đó còn rất ít và việc làm của anh Nguyễn Ái Quốc đã gây được tiếng vang lớn.

 
Cụ Đề Thám và các con. 

Thế rồi ngay khi về nước, bà được gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh và Thủ tướng Phạm Văn Đồng. Bác Hồ vẫn còn nhớ cuộc gặp tình cờ ngày ấy, dù đã 45 năm trôi qua và Bác cũng khuyến khích bà viết hồi ức về cha mẹ. Có thời gian bà được giao làm Giám đốc Bảo tàng Yên Thế trên Bắc Giang.

– Ở sách giáo khoa lịch sử bậc phổ thông có viết về cuộc khởi nghĩa Hoàng Hoa Thám, bà thấy thế nào ạ? Tôi hỏi.

– Cũng đúng cả đấy, nhưng chưa đủ-bà Thế nói. Cuốn sách của anh Tôn Quang Phiệt đã bổ sung được một số điều, cũng chưa hết đâu, nhất là phần nói về giai đoạn cuối của cuộc khởi nghĩa, về cái chết của cha, mẹ, các anh trai bà. Giờ bà kể cụ thể thế này cho cháu nghe về một số điều cần bổ sung.

Cha bà họ Trương, Trương Văn Thám, sau lên Bắc Giang mới đổi là Hoàng Hoa Thám. Ông nội bà là Trương Văn Thận, bà nội là Lương Thị Minh, sinh thời đều là những người chuộng nghĩa khí. Hai người từng tham gia cuộc khởi nghĩa nông dân của Nguyễn Văn Nhàn và Nông Văn Vân ở Sơn Tây, song cuộc khởi nghĩa bị đàn áp ngay. Cha bà noi gương bố mẹ, năm 16 tuổi đã tham gia khởi nghĩa của ông Đại Trận (1870-1875).

Rồi khi Pháp chiếm Bắc Ninh tháng 3-1884 thì ông gia nhập nghĩa binh của ông Lãnh Loan. Năm sau, ông lại tham gia nghĩa binh của Cai Kinh ở Lạng Giang. Sau khi Cai Kinh chết năm 1888, cha bà đứng dưới cờ Đề Nắm, trở thành một tướng chỉ huy dũng mãnh. Như thế, trước khi phất cờ khởi nghĩa, cha bà đã có hàng chục năm “thực tập” đánh giặc trong nhiều cuộc khởi nghĩa nhỏ.

 
Bà Hoàng Thị Thế và nhà quay phim Nguyễn Đăng Bảy. Ảnh: Sách Le Đề Thám (Pháp).

Tháng 4-1892, Đề Nắm bị thủ hạ là Đề Sặt sát hại, Đề Thám mới chính thức nắm lấy ngọn cờ đứng đầu nghĩa binh, lập căn cứ và trở thành “Hùm xám Yên Thế”. Trong gần 30 năm khởi nghĩa, cha bà đã đánh nhiều trận, có hai trận lớn nhất là ở Hố Chuối và Đồng Hom. Nhiều chí sĩ như: Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Phạm Văn Ngôn, Lê Văn Huân… đã liên hệ với ông bàn kế hoạch phối hợp hành động, nhưng đều không đi đến kết quả.

Vụ “Hà thành đầu độc” giữa năm 1908 với sự tham gia vạch kế hoạch của Phan Bội Châu, Đội Nhân thực hiện bị thất bại là một thí dụ. Pháp đã treo thưởng 30.000 phờ-răng cho ai lấy được đầu Đề Thám.

Ngày 29-1-1909, có tới 15.000 quân Pháp và 400 lính dõng do Đại tá Batay chỉ huy đồng loạt đánh vào đồn điền Phồn Xương. Nghĩa quân đánh trả quyết liệt, anh ruột bà là Cả Trọng, tướng giỏi nhất bị tử trận, cha bà cùng mấy thủ hạ thoát được vòng vây, lẩn khuất ở vùng Hố Lầy thêm 4 năm nữa, rồi bị sát hại. Đó là sáng Mồng 5 Tết Quý Sửu (1913).

Còn trong trận ở đồn điền Phồn Xương, bà lúc đó mới khoảng 8 tuổi, chạy theo mẹ và bị Pháp bắt. Mẹ bà tên là Nguyễn Thị Nho, nhưng sử sách sau này cứ gọi là Đặng Thị Nho, ngay cả sách của anh Tôn Quang Phiệt cũng gọi như vậy, chẳng nhẽ bà quên cả họ của mẹ hay sao?

Mẹ bà kể, quê làng Vạn Vân, hồi thiếu nữ xinh giòn, gặp ông Đề Thám đang lánh nạn tại đấy đem lòng yêu, ông đã có hai bà, cưới về gọi là bà Ba Cẩn. Trong các bà, mẹ bà vừa là vợ, vừa là đồng chí của Đề Thám, đã cùng chồng và ba người con trai là Cả Trọng, Cả Dinh, Cả Huỳnh vạch nhiều kế hoạch đánh giặc. Bà Ba Cẩn còn phụ trách hậu cần của nghĩa quân. Khi bà Thế bị bắt sang Pháp làm con nuôi, thì nghe tin năm sau, trên đường đi đày sang nhà tù Guy-dan (Nam Mỹ), mẹ bà đã nhảy xuống biển tự tử, nhằm ngày 25-12 năm Canh Tuất (1910).

Còn chuyện này nữa: Anh Cả Trọng có một con chó rất khôn, khi anh bị Pháp giết, nó cứ ngồi ở mộ anh canh chừng, không ăn không uống, một tuần sau chết gục bên mộ chủ…

Bà Hoàng Thị Thế kể chuyện cho chúng tôi nghe suốt buổi sáng hôm đó. Rồi bà còn “đoán” hậu vận cho chúng tôi nữa (sau khi rút khỏi màn bạc, ở Pa-ri ngày ấy bà nổi tiếng về cách bói theo một kiểu riêng, nhiều người, trong đó có các chính khách đã đến nhờ bà xem hậu vận).

Bà qua đời vào mùa hè năm 1992 tại Bệnh viện Hữu Nghị, hưởng thọ 91 tuổi. Thể theo nguyện vọng được yên nghỉ tại nơi cha mẹ và các anh đã ngã xuống, mộ bà được mai táng tại Yên Thế.

PHẠM QUANG ĐẨU

Cụ Đề Thám và các con.

* Trần Hoàng

Kỷ niệm thời thơ ấu [Texte imprimé] / Hoàng Thị Thế

Language:vietnamien, 1975.  Nguồn

————————————————————–

Hoàng Cầm, người dịch hồi ký của con gái Đề Thám

15-3-2013

by 

Có khá nhiều điều trùng hợp để hôm nay nói về cuốn sách này: sách nói về người anh hùng Yên Thế hy sinh cách nay tròn 100 năm; người viết ra nó là con gái của người anh hùng ấy; sách được viết đã 50 năm. Tuy thế, khá ít người biết đến cuốn sách này và người dịch nó – nhà thơ Hoàng Cầm…

IMG_0997 (Custom)

Điều này trước đây tôi chưa từng biết. Và hình như chính nhà thơ Hoàng Cầm trong sinh thời dường như cũng ít kể với ai về điều này. Người ta chỉ biết, những năm bị “treo bút”, tức là không được công bố sáng tác dưới bút danh chính của mình, từ 1958 đến 1987, Hoàng Cầm đã có lúc dùng bút danh Lê Kỳ Anh. Đó là khi ông đưa in một số thơ ca trên một số sách báo của ngành Văn hóa văn nghệ Hà Nội.

Lần theo bút danh Lê Kỳ Anh trong Thư viện Quốc gia ở Hà Nội, thấy có ít nhất 2 tập thơ văn do Sở Văn hóa Hà Nội in trong năm 1968 có tác phẩm của ông, đó là các tập Lời Bác vang dội núi sông (tập thơ ca kịch, gồm tác phẩm của Huyền Tâm, Việt Dung, Lê Kỳ Anh, Xuân Bình, Dân Huyền, Nguyễn Đỗ Lưu…), và Trận địa bên sông Hồng (tập kịch, gồm các tác phẩm của Xuân Phước, Lê Kỳ Anh, Nguyễn Dậu, Nguyễn Thành, Phùng Thái…). Bên cạnh đó, có một tập hồi ký nhan đề Kỷ niệm thời thơ ấu của bà Hoàng Thị Thế, con gái Đề Thám, Ty Văn hóa Hà Bắc xuất bản năm 1975, là bản dịch của Lê Kỳ Anh. Lê Kỳ Anh này chắc chắn là bút danh của Hoàng Cầm. Nhưng hãy nói đôi chút về tác giả và cuốn hồi ký.

IMG_0999 (Custom)

Bà Hoàng Thị Thế (1901-1988) là con gái thủ lĩnh nghĩa quân Yên Thế Hoàng Hoa Thám (1858-1913). Mẹ bà là Đặng Thị Nhu, tục gọi là bà Ba Cẩn (? – 1910), vợ ba đồng thời là cộng sự của thủ lĩnh Đề Thám. Cuối năm 1909, trong chiến dịch tấn công cuối cùng của quân Pháp vào Yên Thế, bà Ba Cẩn và con gái Hoàng Thị Thế bị quân Pháp bắt. Bà Ba Cẩn cùng trên 70 nghĩa quân bị đem về giam tại Hỏa Lò, Hà Nội, rồi bị kết án đày sang đảo Guyane (Nam Mỹ) thuộc Pháp; trên đường đi, nhân lúc quân canh sơ ý, bà Ba Cẩn nhảy xuống biển tự tử. Cô bé Hoàng Thị Thế được đưa từ Phủ Lạng Thương về Hà Nội; cựu Toàn quyền Đông Dương là Paul Doumer nhận đỡ đầu cho cô Thế sang Pháp ăn học. Năm 1925 cô Thế về Hà Nội làm việc tại Phủ thống sứ Bắc Kỳ; năm 1927 lại được đưa sang Pháp. Cô được mời đóng một số bộ phim nói tiếng Pháp như La Lettre (1930), La Donna Bianca (1930), Le secret de l’ Emeraude (1935) và được xem là người phụ nữ Việt Nam đầu tiên đóng phim. Năm 1930, cô Thế kết hôn với doanh gia chuyên sản xuất rượu vang vùng Bordeaux là Robert Bourge, hai người có chung một con trai là Jean Marie.

Các báo đương thời kể rằng khi Tổng thống Pháp Paul Doumer bị một tay súng Nga lưu vong bắn trọng thương (6/5/1932), cô Thế đang có mặt bên cạnh, đã tự tay lau máu cho vị Tổng thống, ông mất sau đó một ngày do vết thương quá nặng.

Năm 1961, bà Hoàng Thị Thế trở về Việt Nam, sống ở Hà Nội và Bắc Giang. Cuốn hồi ký kể về những kỷ niệm thời thơ ấu đã được bà Thế viết vào chính thời gian này, theo Ty Văn hóa Hà Bắc (1975) thì bà Thế viết hồi ký này ở Hà Bắc vào năm 1963.

Có hai điểm đáng chú ý về cuốn hồi ký. Ấy là việc tác giả viết nó bằng chữ Pháp, và chỉ dồn mọi ký ức vào 3 năm cuối cùng trước khi rời khỏi lãnh địa Yên Thế, như trong lời giới thiệu của Lê Hồng Dương ở đầu sách nói rõ: “…bà quyết định ghi lại bằng chữ Pháp những điều tai nghe mắt thấy, những tình cảm ấm nồng về mẹ cha, anh em và các thân bằng cố hữu của mình từng sống và chiến đấu trên đất Phồn Xương từ năm 1906 đến năm 1909” (sách trên, tr. 13).

 

Cuộc đời Hoàng Thị Thế 50 năm sau kể từ năm 1909, cuộc đời một cô bé mồ côi, bản thân được nuôi dưỡng bởi chính thế lực đã trừ diệt cha mẹ, lớn lên tại xứ sở xa lạ, được ăn học nên người, hơn thế, còn trở nên nổi tiếng, tức là một cuộc đời thành đạt, quả thật, cuộc đời ấy chứa đựng rất nhiều nghịch lý của những mối quan hệ con người ở tầm liên dân tộc, ở tầm thời đại, thời đại thực dân và hậu thực dân. Nhưng bà Thế đã hầu như không kể về quãng đời 50 năm của bà trên đất Pháp. Bà chỉ tập trung nói về cha mẹ, về cuộc kháng cự cuối cùng của nghĩa quân Yên Thế, về chuyện chính mình bị bắt lúc 8 tuổi khi đang được người chị dâu cõng đi lánh nạn. Khoảng gián cách thời gian khá lớn có lẽ đã khiến bà không còn giữ giọng căm hờn đối với những người Pháp thực dân, nhưng ngay khi dẫn lại lời họ, bà cũng luôn luôn khẳng định họ thừa nhận tinh thần thượng võ, vị tha của Đề Thám, nhắc lại việc Đề Thám nhiều lần tha bổng các quan chức Pháp, trong khi chính những người ấy luôn luôn mưu toan trừ diệt ông.

Kể về những hồi ức của mình thời thơ ấu trên đất Việt, nhưng bà Hoàng Thị Thế lại dùng chữ Pháp, đó có lẽ là vì bà đã sống ở Pháp quá lâu, đến già nửa đời người (từ 1909 đến 1961), có thể nói là bà đã được nuôi dưỡng, lớn lên và sống phần lớn cuộc đời trong văn hóa Pháp ngữ. Những ký ức ở thời bà chưa can dự Pháp ngữ, tuy còn giữ được đến suốt đời, nhưng để kể lại chúng thì bằng tiếng Pháp, đối với bà, lại thuận tiện hơn bằng tiếng Việt.

 IMG_1048 (Custom)

Theo ghi chú trong sách in Kỷ niệm thời thơ ấu thì nguyên bản của thiên hồi ký này là bản viết tay bằng chữ Pháp, lưu trữ tại Ty Văn hóa Hà Bắc. Bản in năm 1975 của thiên hồi ký này là bản dịch của Lê Kỳ Anh, có sự hiệu đính của Khổng Đức Thiêm. Trong lời giới thiệu, người phụ trách Ty Văn hóa tỉnh không quên “cảm ơn dịch giả Lê Kỳ Anh đã hết lòng làm cho bản dịch tiếng Việt thêm trong sáng”. Như vậy, cuốn sách được in 6.200 cuốn khổ 13×19 cm tại Xí nghiệp in Hà Bắc, in xong trong tháng 10/1975 và nộp lưu chiểu tháng 10/1975 dưới nhan đề Kỷ niệm thời thơ ấu này, chung quy mới chỉ là bản dịch. Người ta chưa biết nguyên dạng chữ Pháp của bản thảo kia ra sao.

Sau những lần tách nhập đia phương, số phận cuốn hồi ký viết tay của con gái Đề Thám không rõ bây giờ ra sao

Điều đáng lưu ý là sau khoảng 30 năm cùng nằm chung trong một tỉnh Hà Bắc (1962-1996), hai tỉnh Bắc Ninh và Bắc Giang lại tách ra, trở về ranh giới địa lý cũ. Không rõ trong sự bàn giao việc quản lý các hồ sơ di sản, nguyên bản viết tay cuốn hồi ký nói trên của bà Hoàng Thị Thế hiện ở tình trạng thế nào, thuộc cơ quan văn hóa của Bắc Giang hay Bắc Ninh? Liệu những người quản lý có định xuất bản nó dưới dạng nguyên văn chữ Pháp?

Liên quan đến dịch giả Hoàng Cầm, từng đứng tên Lê Kỳ Anh trong bản dịch in năm 1975 kể trên, tôi nghĩ có lẽ ông đã làm công việc dịch thuật một cách có trách nhiệm, thậm chí đã gửi không ít xúc cảm vào bản dịch ấy. Tuy vậy, nếu được biết nguyên bản cuốn sách, các giới nghiên cứu và dịch thuật mới có thể đánh giá thực sự về lao động của ông hồi ấy. Đó là chưa nói, bản thảo ấy cũng có thể được dịch mới bởi một dịch giả khác

Nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân

Theo TTVHCT

————————————————————

 

 

Posted in Nhan Vat Chinh tri, Sách-Hồi Ký-Bài Báo... | Leave a Comment »