Trần Hoàng Blog

Archive for the ‘Sách-Hồi Ký-Bài Báo…’ Category

►Bắc Kinh liệt vị, tác giả Mã Kiến (Đào Trung Đạo điểm sách)

Posted by hoangtran204 trên 22/07/2017

 

Đọc tiếp »

Advertisements

Posted in Chinh tri Trung Quoc, Chinh Tri Xa Hoi, Sách-Hồi Ký-Bài Báo... | Leave a Comment »

►Hồi ký Nguyễn Hiến Lê: Giới thiệu 40 trang bị cắt bỏ trong Chương XXXII (bị cắt 16.000 từ)

Posted by hoangtran204 trên 30/04/2017

NHỮNG CHƯƠNG BỊ KIỂM DUYỆT BỎ CỦA HỒI KÝ NGUYỄN HIẾN LÊ – 1

 

Đọc tiếp »

Posted in Miền Nam sau 30-4-1975, Sách-Hồi Ký-Bài Báo..., Tự Do ngôn Luận | Leave a Comment »

►Sài Gòn của tôi, 50 năm trước

Posted by hoangtran204 trên 10/02/2017

Sài Gòn của tôi, 50 năm trước

Nguyễn Ðạt – Giai Phẩm Người Việt Xuân Đinh Dậu

Ðặt chân tới Sài Gòn năm 1954, lúc ấy tôi là đứa bé 9 tuổi, theo gia đình từ miền Bắc di cư vào miền Nam tự do. Ký ức của đứa bé 9 tuổi hẳn nhiên không thể ghi nhận được gì nhiều; nhưng đứa bé lớn lên và sinh sống tại Sài Gòn từ thuở ấy tới bây giờ, đã giúp tôi dễ dàng gợi dậy trong ký ức, ít nhất là những hình ảnh đậm nét của Sài Gòn, 50 năm về trước.

Ấn tượng về Sài Gòn trong tôi từ lúc ấy tới bây giờ cũng không phai nhạt bao nhiêu, dù đã hơn nửa thế kỷ trôi qua. Ấn tượng sâu đậm, bởi Sài Gòn những ngày tháng ấy quá mới lạ trong tâm trí tôi, đứa trẻ đã trải qua một đoạn đời ấu thơ tại Hà Nội. 

Ðiều đầu tiên tôi nhận biết lúc ấy, tôi nói với cha tôi, là Sài Gòn có vẻ rất Tây so với Hà Nội. Cha tôi bảo, bởi vì một trăm năm Pháp thuộc, Sài Gòn và miền Nam là thuộc địa; trong khi Hà Nội của miền Bắc là bảo hộ.

Cha tôi làm thông ngôn trong quân đội Liên Hiệp Pháp, dạy tiếng Pháp cho các con từ nhỏ; nên tôi nhớ được rành rõ những tên Pháp ngữ đặt cho nhiều đường phố lớn của Sài Gòn lúc ấy. Căn nhà đầu tiên của gia đình chúng tôi khi vào Sài Gòn ở đường Bà Hạt, quận 10. Ðường Bà Hạt là đường phố nhỏ, một đoạn chạy ngang đường phố lớn mang tên Tây, là Lacaze – tức đường Nguyễn Tri Phương.

  

Vài năm sau, Tổng Thống Ngô Ðình Diệm cho thay thế tên Tây; vẫn giữ lại tên những danh nhân thế giới, dù danh nhân ấy là người Pháp, như Calmette, Pasteur, Alexandre de Rhodes… Những đường phố mang tên Tây, đa số là quan chức Pháp, được thay thế, như: Bonard – Lê Lợi; Charner – Nguyễn Huệ; Galliéni – Trần Hưng Ðạo; De la Grandrière – Gia Long; Catinat – Tự Do; Lacaze – Nguyễn Tri Phương… Tuy nhiên, nhiều năm sau đó, dân Sài Gòn vẫn nói: Ði bát phố Bô-na, Catinat; đi mua hàng ở thương xá Charner…, luôn là gọi tên Tây, cho 3 đường phố đẹp bậc nhất của Sài Gòn.

Phố phường Sài Gòn lúc ấy đa số là những con đường lớn rộng, dài dằng dặc. Và rất nhiều cổ thụ. Ðặc biệt loại cây có tên rất bình dân là cây dái ngựa – tên khoa học là Meliaceae – thân to nổi mấu gồ ghề, tỏa rộng cành lá, bóng mát ngợp đường Lê Ðại Hành, trước mặt Trường Ðua Phú Thọ, quận 11. Hàng cây me xanh mát mắt suốt con đường Gia Long, con đường có bệnh viện Grall do người Pháp lập nên, giữa vườn cây rộng rinh. Rừng cao su bát ngát, chạy dài theo con đường Nguyễn Văn Thoại, từ Trường Ðua Phú Thọ tới ngã tư Bảy Hiền…

Sài Gòn của tôi, 50 năm trướcNăm tôi còn nhỏ tuổi, cha vẫn dẫn đi chơi mỗi Chủ Nhật. Vào Vườn Ông Thượng, còn có tên Tây là Bờ-rô, sau đó mới gọi tên là Vườn Tao Ðàn; dẫn đi chơi ở Sở Thú-Thị Nghè… Cây trồng ở Sài Gòn phong phú là nhờ công sức của vị giám đốc Sở Thú đầu tiên, người Pháp; ông từng là chuyên viên nghiên cứu về cây trồng ở nhiều nơi trên thế giới; nhất là vùng nhiệt đới ở Phi Châu, có nhiều loại cây thích hợp với thổ nhưỡng Sài Gòn. Những năm sau này, lớn thêm vài tuổi, lại được anh cùng cho đi “bát phố Bô-na,” để thấy rõ Sài Gòn quả là rất Tây; tôi tha hồ thưởng ngoạn vẻ đẹp “Paris” của nó.

Tản bộ trên đường Catinat, từ nhà thờ Ðức Bà tới bến Bạch Ðằng, nhìn ngắm các cửa hiệu sang trọng thời thượng dọc con phố. Và Passage Eden, rất nên gọi là “Hành Lang Ði Bộ,” chính diện nhìn ra đường Catinat. Passage Eden gồm trong đó: bát phố; xem chiếu phim – trong rạp Eden giữa lòng hành lang; mua sắm; ăn kem uống cà phê ăn tối ở quán Givral liền bên… và để ngắm nhìn trai thanh gái lịch, quý ông quý bà Sài Gòn, cũng ở trong đó.

Trai thanh – quý ông thì áo sơ mi quần tây trắng lốp; mũ flechet; giày deux couleurs; đồng hồ quả quít đeo ở dây lưng. Gái lịch – quý bà thì áo dài Lemur-Cát Tường không thua phụ nữ Hà Nội, hoặc vận jupe như “bà đầm”; tay xách porte feuille, chân đi guốc cao gót; tóc búi cao hoặc uốn dợn sóng, cổ đeo kiềng vàng…

Sài Gòn của tôi, 50 năm trước

 

Ra vào Passage Eden nhiều lối, ưa thích ra vào lối nào cũng được. Anh tôi dẫn tôi vào lối cửa ở đường Charner, rồi đi vòng qua Bonard, rồi ra cửa Catinat… Rồi chúng tôi ghé hiệu sách Albert Portail – sau có tên là Xuân Thu – sát cạnh đó, toàn là sách từ bên Tây đưa sang, tha hồ mà đọc mà ngắm.

Rồi với bạn học cùng lớp cùng trường Chu Văn An, Trường-Trung-Học-Di-Chuyển-Bắc-Việt (có ghi ở bảng hiệu của trường như vậy, vì trường cũng di cư từ Hà Nội vào Sài Gòn) đi chơi và chụp ảnh lưu niệm Sài Gòn.

Bất cứ buổi sáng Chủ Nhật nào, góc thân thuộc nhất, tập trung nhiều nhất các “bác phó nhòm,” chính là quảng trường trước mặt quán Givral. Mái hiên cong kiều diễm của quán Givral, và con đường Catinat thẳng tắp, với hai hàng cây hai bên chạy dài ngút mắt, đã đi vào không biết bao nhiêu tấm ảnh lưu niệm Sài Gòn. Hoặc những tấm ảnh của cả gia đình, lưu niệm ngày đi mua sắm ở thương xá Charner; buổi dùng bữa cơm Tây ở một nhà hàng Pháp trên phố Bonard…

 

Sài Gòn của tôi, 50 năm trước

 

Những ngôi đền Ấn Ðộ giữa lòng Sài Gòn lúc ấy, cũng đi vào ký ức của đứa bé miền Bắc di cư khá đậm nét. Sao mà Sài Gòn nhiều đền đài của Ấn Giáo, với kiến trúc tinh tế kỳ công đến thế. Những ngôi đền uy nghi tọa lạc ở các con đường Tôn Thất Thiệp-Trương Ðịnh-Công Lý của quận 1, trung tâm Sài Gòn. Người Ấn Ðộ sinh sống tại Sài Gòn khá đông, chỉ không nhiều bằng người Hoa, ở cả một vùng Chợ Lớn. Tôi nghe dân Sài Gòn gọi họ là Chà Và. Sau này tôi mới hiểu, Chà Và là đọc trại từ Java, gọi chung cho người Ấn Ðộ và người Mã Lai; họ thường làm nghề mại bản, quản lý nhà đất, cho vay tiền, làm trung gian giữa người Việt và người Pháp…

Ðường Tôn Thất Thiệp, vào năm 1954 vẫn được xem là một tiểu Ấn Ðộ, với những ông Chà Và cho vay tiền, chủ quán cà ri nị, mở tiệm kim hoàn. Những người Ấn Ðộ gốc ở Bombay thường kinh doanh ngành vải; họ có nhiều cửa hiệu ở đường Catinat, Bonard, Hàm Nghi, Galliéni, và chợ Bến Thành. Từ lâu trước đó, cộng đồng người Ấn Ðộ ở quận 1 còn đông đảo hơn nhiều; đã có một đợt người Ấn Ðộ rời Sài Gòn sang định cư tại Pháp, vào năm 1945.

 

Sài Gòn của tôi, 50 năm trước

 

Có lẽ cái mới lạ, và thấy thân thương nhất, đối với người miền Bắc di cư vào Sài Gòn như tôi, là những quán tiệm bình dân, tiệm Hoa kiều. Hai thứ quán tiệm này khá giống nhau. Buổi sáng tới quán, những ông già Sài Gòn đọc-nhựt-trình (nhật báo), nói chuyện ưa chêm tiếng Pháp, xưng tôi là mỏa (moi); những bà già hút thuốc điếu; những anh tài xe xích lô máy chở cả vợ con trong lòng xe rộng bè, tới quán ăn hủ tíu uống cà phê, xong chở về nhà rồi mới đi chở khách.

Một thời gian trong năm 1954-55, khi có xài tiền 5 cắc bằng kim loại; thì tại Sài Gòn, cứ việc lấy giấy bạc một đồng – có hình Nam Phương Hoàng Hậu – mà xé làm hai, xài một nửa tương đương 5 cắc! Thật là thuận tiện, đơn giản.

Người Sài Gòn-Nam Bộ không cần thiết phải biết tên người mới quen; chỉ hỏi người này là con thứ mấy trong gia đình, để kêu anh Hai, anh Ba… Thân thương biết mấy!

Chuyện trò với người Sài Gòn-Nam Bộ, câu chuyện của họ giản dị, rõ ràng, không úp úp mở mở; không bắt người cùng trò chuyện với mình phải chịu đựng sự vòng-vo-tam-quốc, sự rào trước đón sau, như rất nhiều người miền Bắc và miền Trung, trong đó có dân di cư năm 1954 thường như vậy.

 

Tình thầy trò, đồng nghiệp nồng ấm đất Sài Gòn

Lê Ðại Anh Kiệt – Giai Phẩm Xuân Người Việt Đinh Dậu

Thầy Hệ thời trẻ (giữa) cùng các học sinh Marie Curie. (Hình tài liệu)

Người ta thường nói cuộc sống đô thị tình người lạt lẽo, con người khép kín. Thế nhưng, Sài Gòn, vùng đất bao dung cưu mang những người tứ xứ và nuôi dưỡng trong lòng đô thị những câu chuyện nghĩa tình.

Câu chuyện dưới đây như bài học mẫu mực cho đạo nghĩa thầy trò và tình đồng nghiệp. Bởi vì học trò và đồng nghiệp của ba ngôi trường cũ chung tay nuôi dưỡng, chăm sóc và tranh đấu đòi công lý cho một thầy giáo già đơn côi, mắc bệnh tâm thần, bị lừa lấy mất nhà. Những học trò nay đã là giáo viên hưu trí vẫn tương kính bạn của thầy như chính thầy mình.

Thầy Nguyễn Hữu Hệ từ miền Bắc một mình di cư vào Nam là giáo viên toán trải qua ba trường Trung Học Kiến Tường (Long An,1964-1968), Trung Học Kiểu Mẫu Thủ Ðức (1969-1975), sau 1975, trường Kiểu Mẫu giải thể thầy chuyển về trường Trung Học Marie Curie cho đến lúc về hưu.

Xưa nay, thầy sống một mình trong ngôi nhà thừa kế từ mẹ nuôi ở số 19 Duy Tân, quận Phú Nhuận, Sài Gòn.

Từ cuối năm 2015, thầy Hệ thuê cô Thu Huyền giúp việc và cho cô cùng hai con ở chung nhà. Cô Huyền tự giới thiệu mình là cháu của thầy, ai nghe cũng ngỡ thật.

Tháng Tư vừa rồi, nghe thầy bị va quẹt xe, bị đau chân, anh Quang Tuấn và chị Thủy Anh đại diện nhóm cựu học sinh Kiểu Mẫu Thủ Ðức mang đến tặng thầy $1,900. Bình thường, thầy luôn ăn mặc tươm tất khi tiếp khách nhưng lần này thầy mặc quần đùi, áo không cài nút. Chị Thủy Anh phải cài nút áo cho thầy và vẫn nghĩ là chuyện lơ đễnh bình thường.

Tình thầy trò, đồng nghiệp nồng ấm đất Sài Gòn
Từ trái: thầy Út, thầy Hệ, chị Thủy Anh. (Hình: Lê Ðại Anh Kiệt)

Ðầu Tháng Sáu, anh Bình Phương, cựu học sinh Marie Curie (định cư ở Canada) đến thăm thấy thầy có dấu hiệu hoang tưởng nên khuyên cô Huyền đưa thầy nhập viện Tâm Thần Chợ Quán. Cô Huyền cũng gọi điện báo tin cho nhóm cựu học sinh Marie Curie, nhóm này đã quyên góp giúp thầy 22 triệu đồng để điều trị.

Chị Thủy Anh cũng được tin và đến bệnh viện thăm thì biết thầy Hệ không còn nhận thức được nên báo tin cho các cựu học sinh và thầy cô trường Kiểu Mẫu. Từ Mỹ, thầy Nguyễn Ðình Loạt là đồng nghiệp với thầy Hệ ở cả hai trường Kiến Tường và Kiểu Mẫu đã email cho anh Trần Ngọc Bách, cựu học sinh Kiến Tường báo tin thầy Hệ bệnh.

Từ đây, ba nhóm cựu học sinh ba trường đã gặp nhau cùng hợp sức chăm sóc cho thầy. Anh Bách thuê người chăm sóc thầy 24/24. Chị Tuyết Nhung, cựu học sinh Marie Curie, hằng ngày lo cơm nước.

Ðiều kỳ lạ là bác sĩ điều trị khuyên nên đưa thầy về nhà điều trị ngoại trú sẽ tốt hơn nhưng cô Huyền cứ kiếm cớ nhà đang sửa, rồi đưa thầy Hệ hết bệnh viện này đến bệnh viện khác. Từ Tâm Thần Chợ Quán, sang Chợ Rẫy, Trung Tâm Phục Hồi Chức Năng quận 8 đến bệnh viện Bình Dân.

Không chỉ học trò cũ mà các đồng nghiệp cũ như thầy Bùi Quang Hân (Kiểu Mẫu Thủ Ðức, hiện là chuyên gia đào tạo học sinh giỏi, tác giả nhiều bộ sách giáo khoa Vật Lý), thầy Nguyễn Ngọc Long và thầy Nguyễn Văn Út (Marie Curie) cùng nhau lo lắng cho thầy Hệ.

Tình thầy trò, đồng nghiệp nồng ấm đất Sài Gòn
Chị Thủy Anh gài nút áo cho thầy Hệ trong lần đến nhà thăm và trao $1,900. (Hình: Lê Ðại Anh Kiệt)

Thầy Út đã vận động các cựu giáo viên Marie Curie năm triệu đồng và bỏ tiền túi hai triệu đồng giúp thầy Hệ.

Khi hình ảnh thăm viếng thầy Hệ đưa lên trang web trường Kiểu Mẫu, một cựu học sinh nhận ra và báo động là cô Thu Huyền giúp việc có nhiều tai tiếng bất hảo về tiền bạc.

Các cựu học sinh tìm hiểu thì hóa ra bằng cách nào đó cô Huyền đã làm giấy mua nhà thầy Hệ và đã bán, giao nhà cho người khác. Căn nhà trị giá 6 tỉ đồng đã “bán” cho cô Huyền 700 triệu đồng, sau đó cô Huyền bán lại 3.9 tỉ đồng ngay trong tháng. Tất cả tiền bạc giúp đỡ và cả giấy tờ tùy thân, sổ lương hưu của thầy Hệ cô ấy đều giữ.

Vì vậy, cựu học sinh và các thầy bàn nhau phải tìm chỗ ở an toàn cho thầy Hệ sau khi xuất viện. Việc bàn tính đưa thầy đến Trung Tâm Nuôi Dưỡng Người Già được đặt ra nhưng bất thành vì thầy không có người thân bảo lãnh.

Lúc đầu, mọi người dự định đưa thầy về nhà một cựu học sinh ở Hóc Môn nhưng người quản lý nhà lại không ở lại ban đêm nên không ổn. Ðêm đầu tiên sau khi xuất viện, thầy Hệ về nhà thầy Út. Do thầy Hệ không tự tiêu tiểu được, thầy Út (80 tuổi) đã tự tay chăm sóc tắm rửa lau dọn chất thải cho thầy Hệ. Tự tay thầy Út bón cơm cho bạn như người ruột thịt.

Tình thầy trò, đồng nghiệp nồng ấm đất Sài Gòn
Thầy Út bón cơm cho thầy Hệ ngày đầu tiên rời bệnh viện về nhà mình. (Hình: Lê Ðại Anh Kiệt)

Sau đó, chị Tuyết Nhung (Marie Curie) rước thầy Hệ về nhà mình chăm sóc hai tuần. Hằng ngày thầy Út chạy xe gắn máy hơn 20 phút từ nhà mình sang nhà Tuyết Nhung để tập thể dục dưỡng sinh cho bạn. Trong suốt thời gian ấy Tuyết Nhung và Bảo Nhân đã chăm sóc thầy như cha ruột.

Vào đầu Tháng Chín, có tin nhà thầy Hệ đang mở cửa, nhóm cựu học sinh quyết định đưa thầy về lại nhà. Nhưng chỉ ở đây được ba ngày, người mua nhà đã thuê côn đồ ném thầy Hệ ra đường. May mắn là khi xảy ra tranh chấp với người mới mua nhà, chòm xóm đã cung cấp cho họ số điện thoại của anh Nguyễn Hoài Ðức, cháu ruột thầy Hệ. Hóa ra, Thu Huyền còn giấu nhẹm việc thầy Hệ có cháu và giấu thông tin thầy Hệ bị bệnh với người cháu.

Các thầy và học trò cũ tiếp tục sát cánh với gia đình anh Ðức điều trị bệnh cho thầy và làm đơn tố cáo cô Huyền, đòi trả lại nhà và các giấy tờ tùy thân cho thầy.

Ba nhóm cựu học sinh của ba ngôi trường khác nhau đã quần tụ thành một nhóm. Những thầy đồng nghiệp của thầy Hệ trở thành thầy của cả ba nhóm cựu học sinh. Họ tự giác chia sẻ công việc dưới sự bảo ban của các thầy, những việc quan trọng đều xin ý kiến các thầy.

Anh Trần Ngọc Bách và Nguyễn Thanh Phong (Kiến Tường) chuyên trách đưa đón thầy Bùi Quang Hân và Nguyễn Văn Út, Nguyễn Ngọc Long trong mỗi lần hội họp. Chị Tuyết Nhung (Marie Curie) dù là giám đốc doanh nghiệp tư nhân, hào phóng đảm nhận hầu hết các chi phí cho thầy Hệ nhưng nhất nhất mọi việc đều trao đổi với các anh Bách, Phong hoặc anh chị Quang Tuấn, Thủy Anh (Kiểu Mẫu) như một người em út trong nhà.

Tình thầy trò, đồng nghiệp nồng ấm đất Sài Gòn
Từ trái: thầy Út, thầy Long, thầy Hân và anh Bách – những thầy trò từ ba trường khác nhau trở thành thân thiết. (Hình: Lê Ðại Anh Kiệt)

Ngay với các cựu học sinh đang định cư ở nước ngoài như Bình Phương, Phú (Marie Curie) cũng thường xuyên liên thông với Bách, Phong. Chỉ cần một người có thông tin là cả nhóm đều biết tin. Do uy tín và tình cảm của thầy Hệ sâu đậm với nhiều thế hệ cựu học sinh nên điều đáng ngại nhất là việc lợi dụng danh nghĩa và hoàn cảnh thầy Hệ để trục lợi.

Thực tế đã xảy ra. Một thanh niên tự xưng là công an viết giấy cam kết sẽ trả lại nhà trong vòng một tháng. Nhưng trước sự nhạy cảm của các cựu học sinh, họ đã giăng bẫy và báo tin cho công an quận 10 để bắt khi người này kèn cựa ra giá số tiền 15 triệu đồng.

Chuyện ông thầy bị lừa chiếm nhà rõ mười mươi nhưng với nền tư pháp Việt Nam sự vụ cứ đong đưa từ công an quận này sang quận khác mà không ai xử lý. Các cựu học sinh lại họp nhau tìm cách.

Trực tiếp tham dự hai cuộc họp của nhóm cựu học sinh, tôi bàng hoàng xúc động thấy mình như lạc trở về không gian của lớp học thời trung học 40 năm về trước. Từng anh chị, trong đó nhiều người đã là thầy giáo về hưu như Quang Tuấn, Thủy Anh (Kiểu Mẫu), Hòa, Bách, Phong (Kiến Tường) lần lượt trình bày với các thầy phần việc của mình và các đề xuất. Phần các thầy cũng hiền hòa khoan ái nhưng không thiếu trang nghiêm mực thước răn dạy dù đó là học trò của bạn mình.

Tôi như ngấm mãi lời dạy của thầy Bùi Quang Hân nói với cả ba nhóm trong cuộc họp ngày 18 Tháng Chín, 2016: “Ở đây có các em là cựu học sinh thế hệ 1963-1964 đến nay đã hơn 50 năm vẫn giữ tình cảm với thầy Hệ như thế thật đáng quý. Trên đời này hiếm có người hạnh phúc như thầy Hệ. Thay mặt bạn mình, thầy cám ơn các em. Với thầy Hệ chúng ta có ba việc cần lo là điều trị phục hồi sức khỏe, có chỗ trú ngụ an toàn, và đòi lại tài sản. Hai việc trước đã ổn, việc pháp lý thầy không rành tùy các em trù liệu. Nhưng thầy nhắc nhở việc thông tin chia sẻ chuyện thầy Hệ, phải chọn đúng người, đúng chỗ, thái độ cho đúng. Trên mạng, có một vài em bàn chuyện này như đàm tiếu chuyện tò mò là không nên, có em lại ‘like.’ Có gì vui mà ‘like’ chứ!”

Lời nói ngắn nhưng là tầm nhìn, tấm lòng của nhà mô phạm. Thầy Hân không chỉ chăm sóc bảo vệ sức khỏe, tài sản mà còn giữ gìn cho bạn cả giá trị tinh thần, danh dự, uy tín của người thầy.

Nguoi-viet.com

Posted in Miền Nam sau 30-4-1975, Miền Nam trước ngày 30-4-1975, Sách-Hồi Ký-Bài Báo... | Leave a Comment »

►Tạ Chí Đại Trường, một sử gia khiến chúng ta suy nghĩ rất nhiều

Posted by hoangtran204 trên 07/10/2016


Một sử gia khiến chúng ta suy nghĩ rất nhiều

Nam Phú
4-10-2016
 
Tọa đàm Sử của Tạ Chí Đại Trường (tại Trung tâm Văn hóa Pháp L’espace, Hà Nội, ngày 15/9/2016) chỉ phần nào nhìn lại, điểm mặt một vài chủ đề chính, một số độc đáo riêng có trong nhiều công trình nghiên cứu của ông.
 
Dĩ nhiên, với sử gia này, còn lâu nữa mới có thể ấn định những đánh giá, bàn luận xác quyết cuối cùng. Ông thuộc về số ít người viết sử khiến độc giả phải suy nghĩ rất nhiều.

Sự trở lại của Tạ Chí Đại Trường
Nói “trở lại” vì Tạ Chí Đại Trường (1938-2016) đã từng xuất hiện, gây tiếng vang trong một bối cảnh khác. Đấy là bối cảnh sử học, và rộng hơn, nghiên cứu-học thuật, của miền Nam trước 1975. TS Nguyễn Mạnh Tiến (Viện Văn học) nhận định đó là môi trường không chỉ đa dạng, phong phú các tiếng nói, phương pháp và quan điểm mà còn có sự tương thông với quốc tế.

 
Riêng trong lĩnh vực sử học, dân tộc học, có thể kể đến hai khuynh hướng nổi bật trong số nhiều tiếng nói:
 
Thứ nhất, được thiết lập bởi triết gia Kim Định (1915-1997), người thiên về tìm kiếm và khẳng định những giá trị, đặc trưng cốt lõi, nhấn mạnh tính chất cội gốc của dân tộc Việt, thậm chí thuần Việt. Hàng chục công trình của ông, đặc biệt l�Việt Lí Tố Nguyên (1970), Triết lí cái Đình (1971), Cơ cấu Việt Nho (1972), Nguồn gốc văn hóa Việt Nam (1973)… đều chủ yếu tập trung khẳng định tộc Việt là chủ nhân của văn hóa, tư tưởng, triết Việt chứ không phải là kết quả của sự Hán hóa. Quan điểm của Kim Định, cho đến nay, vẫn gây ảnh hưởng và tạo cảm hứng bàn luận mạnh mẽ, được coi như học thuyết1.
 
Khuynh hướng thứ hai, điển hình là sử gia Nguyễn Phương (1921-1993) trong công trình Việt Nam thời khai sinh (1965), ngược lại, coi hậu duệ của “thực dân Trung Hoa” đã hòa và tạo nên người Việt, vượt qua cái gọi là thuần chủng tộc người. Sự đối chọi quan điểm như lửa với nước, thực tế, là điều phổ biến và được duy trì khá lâu trong học thuật miền Nam khiến mỗi thế hệ đến sau càng có thêm cơ hội bộc lộ chính kiến.
 
Tạ Chí Đại Trường không ngả về Kim Định cũng chẳng theo Nguyễn Phương. Ông “chống lại” cả hai – TS Nguyễn Mạnh Tiến nhìn nhận, thông qua những diễn giải và cách tiếp cận vấn đề rất độc lập. 

“Sự hiểu biết quá khứ phải căn cứ trên những dấu vết để lại. Đó là khởi đầu bắt buộc. Và dù phải bồi đắp bằng suy luận, sự bám víu tài liệu – không lụy vì nó, không sử dụng tùy tiện nó, cũng là điều bắt buộc trong tiến trình làm việc. (Tạ Chí Đại Trường – Những bài dã sử Việt).
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Dấu ấn của thời kì trường ốc qui củ hàn lâm thể hiện khá rõ trong cách chọn vấn đề, triển khai và cả lối viết của Tạ Chí Đại Trường ngay ở công trình đầu tay: Lịch sử nội chiến ở Việt Nam từ 1771-1802. Được khởi thảo từ 1964, lúc vừa chớm 26 tuổi, công trình này là một thành tựu lớn, trong sử liệu lẫn quan điểm sử, về Việt Nam hậu bán thế kỉ XVIII, về cuộc xung đột, tranh chấp dẫn đến thất bại, vinh quang của ba lực lượng Lê, Tây Sơn, Nguyễn. Điểm nhấn trong công trình này, và sẽ là nguyên cớ khiến cuốn sách, như tác giả kể lại, “sau 1975 nó bị lao đao suốt mười năm vì những nhận định lịch sử về thời gian đó của tác giả khác với quan điểm chính thống đương thời”2, là những tri nhận mới về Tây Sơn.
 

Theo TS. Nguyễn Mạnh Tiến, trong khi cuộc khởi nghĩa Tây Sơn được sử học miền Bắc chuẩn định là khởi nghĩa nông dân, thì Tạ Chí Đại Trường cho rằng anh em nhà Nguyễn Huệ là những nhà buôn giàu có và cuộc khởi nghĩa có sự tham gia của nhiều tộc người (vùng miền Thượng, Lào) chứ không chỉ có nông dân (Việt). Mặt khác, đây cũng là công trình thay vì hạ thấp vai trò Nguyễn Ánh, lại cho người đọc cảm nhận khá rõ hình ảnh nhân vật này trong những nỗ lực lâu dài để có một kết quả “nhất thống” đất nước như là tất yếu.

Phong cách sử tư gia

Về chữ “dã sử” trong Những bài dã sử Việt, Tạ Chí Đại Trường đã giải thích: “Tôi dùng chữ dã sử theo nguyên gốc của nó, loại non-official history, đối kháng với chính sử là của triều đình làm ra”4.

Không theo lối mòn của sử quan phương, Tạ Chí Đại Trường trước sau là một sử tư gia, tự mình tìm kiếm, kiến giải các sự thật và cũng chính mình đứng ra bảo lãnh, chịu trách nhiệm về sai sót, khuyết thiếu. Đây là chủ đích, tư thế và phẩm cách khó lẫn của ông.

Sự lựa chọn phương pháp nghiên cứu và cách thức diễn đạt những kết quả thu lượm, như điều ông xác thực, đã làm tính cách các cuốn sách của ông trở nên nổi bật. Trước hết, là cái nhìn khác về một số vấn đề lịch sử, tránh tái lặp những mặc định có sẵn. Việc ông kiên quyết đi đến tận cùng chính kiến, với mục tiêu dựng lại hồ sơ quá khứ như nó là, chứ không phải như muốn là, đã tạo nên những kết luận hoặc giả thiết khác hết sức hấp dẫn.

Ông có một loạt những giải thích, kết luận khác về đình làng (Một trú sở Việt của thần linh: cái đình làng), về loạn thập nhị sứ quân (Dòng sử kí tăng đạo), về chế độ nội hôn thời Trần (Phổ hệ và chế độ nội hôn của họ Trần), lễ tịch điền (Những Hoàng đế – Điền chủ Đại Việt thế kỉ X-XIV)… Những kết luận ấy, trước khi có thể bàn đúng-sai, thì luôn khiến người đọc bị “nhập tâm” bởi lập luận sắc sảo, chứng cớ đa nguồn và đặc biệt, bởi tinh thần khảo cổ học tri thức nghiêm túc, tỉ mỉ vốn là yêu cầu cốt tử của người viết sử.

Trong buổi tọa đàm nêu trên, các diễn giả có điểm qua một số chủ đề độc đáo, phi quan phương trong sử học của Tạ Chí Đại Trường. TS. Trần Trọng Dương (Viện nghiên cứu Hán – Nôm) đánh giá cao tiểu luận Sex và triều đại. Theo anh, sử gia này đã diễn giải vấn đề sex (tình dục) trong các triều đại với con mắt của nhà khoa học, vượt qua những cấm kỵ, để giải mã những diễn ngôn lịch sử, những lẩn khuất đằng sau câu chữ được ghi lại.

TS Nguyễn Mạnh Tiến lại hứng thú với mối quan tâm của Tạ Chí Đại Trường về tộc người, vai trò miền núi, vùng biên, Tây tiến, và các trung tâm quyền lực. Rõ ràng, các diễn giải này đều có thể được nối tiếp khi có điều kiện thực địa, điền dã kĩ càng hơn. Nhà nghiên cứu Nguyễn Hùng Vỹ (ĐH Khoa học xã hội và Nhân văn – ĐH Quốc gia Hà Nội) thì bày tỏ lòng khâm phục đối với Thần, Người và đất Việt. Ông đọc nó như xem “quái mộc dị thạch” vì những chủ kiến táo bạo trong đó. “Mọi người thường nói ông là sử gia – TS Dương bổ sung, nhưng qua cuốn này, ông còn là nhà nghiên cứu văn hóa dân gian. Đây là cuốn sách về lịch sử tôn giáo tín ngưỡng Việt Nam hay nhất đến thời điểm hiện tại.”

Vị thế sử tư gia giúp Tạ Chí Đại Trường tránh được những ràng buộc, thúc ước nào khác ngoài nhu cầu xác thực sự thật lịch sử. Ông không phải không có chỗ nhầm lẫn hoặc đôi khi sa vào tư biện. Ông cũng chẳng có điều kiện để đi điền dã, khảo cổ, “xuống đồng” để kiểm chứng thực tế như các sử gia cán bộ. Nhưng điều quan trọng, theo ông, “không phải chỉ là tài liệu, phương tiện, mà còn là cách sử dụng những gì có dưới tay”5. Chính cách sử dụng mới toát lên bản lĩnh, trí thông minh của một sử gia. Tất nhiên, vẫn theo ông, không thể bù đắp sự khuyết thiếu hay sơ lược của chính sử bằng các suy diễn của hiện tại, nhất là khi các suy diễn ấy bị điều chỉnh hoặc thao túng bởi các thế lực, động cơ khác nhau. Chuyện bàn sử để “luận cổ suy kim” đương nhiên cần loại bỏ.

Có lẽ cũng phải nói thêm một điều mà mọi người đều nhất trí: Tạ Chí Đại Trường có văn phong lôi cuốn, giọng điệu cá nhân sắc nét. Ông hầu như xa lạ hẳn với lối viết sử theo trục công thức vít chặt (nguyên nhân-diễn biến-kết quả-bài học kinh nghiệm) của giáo khoa thư. Ông cũng chưa bao giờ thôi làm cho một sự kiện, một nhân vật trở nên sinh động, phức hợp, tính cách/tính chất hiện hữu trước mắt bằng những liên tưởng, so sánh, bình phẩm đích đáng. Lối viết đó khiến cuộc đọc trở nên hiện tại/đại hơn chứ không bị quá vãng đi, cổ xưa thêm. Khi cuộc viết sử lâu nay không làm giới học đường yêu thích thì sự xuất hiện của Tạ Chí Đại Trường có thể là một tham khảo hữu ích để đổi mới lối viết sử. Không có cái gọi là khô khan, đơn điệu trong sử học nếu người viết sử có một năng lực văn chương thực thụ, một vốn liếng ngôn từ đủ sâu dày, cá tính.
——-
1 Một hoạt động đáng kể gần đây nhằm đánh giá, nhìn nhận “hiện tượng Kim Định” là Tọa đàm Tưởng niệm cố triết gia Lương Kim Định do Trung tâm Nghiên cứu văn hóa minh triết và Trung tâm Lí học Đông phương tổ chức tại Văn Miếu (Hà Nội, 14/7/2012).
2 Tạ Chí Đại Trường trả lời phỏng vấn của Nhã Nam. Nguồn: http://www.talawas.org/?p=26278
3 Trong việc xuất bản trở lại sách của Tạ Chí Đại Trường, ngoài nỗ lực lúc đầu của Nhà sách Kiến Thức, NXB Công an Nhân dân, chủ yếu có công sức của Nhã Nam khi xuất/tái bản Những bài dã sử Việt (2011), Người lính thuộc địa Nam Kỳ (2011), Lịch sử nội chiến ở Việt Nam từ 1771 đến 1802 (2012), Chuyện phiếm sử học (2016).
4 Tạ Chí Đại Trường trả lời phỏng vấn, Tlđd.
5 Tạ Chí Đại Trường trả lời phỏng vấn, Tlđd.

Tia Sáng

Ghi chú: Nếu các bạn muốn đọc thêm về vị sử gia nầy, các bạn vào google.com, gõ (hoặc copy) dòng chữ (Tọa đàm Sử của Tạ Chí Đại Trường) vào hộp search, và click enter trên bàn phím.

Posted in Lịch Sử Việt Nam, Miền Nam trước ngày 30-4-1975, Nhan Vat, Sách-Hồi Ký-Bài Báo... | Leave a Comment »

►Vài Mối Liên Hệ Giữa Hai Ông HỒ CHÍ MINH và NGÔ ÐÌNH DIỆM

Posted by hoangtran204 trên 16/08/2016

Vài Mối Liên Hệ Giữa Hai Ông HỒ CHÍ MINH và NGÔ ÐÌNH DIỆM

1-11-2010

Diễn Đàn Thế Kỷ 
Tác giả Trần Ðông Phong
(Tiếp theo)

Bộ Trưởng Kiến Thiết Hoàng Hùng trùng tu ngôi mộ của Phó Bảng Nguyễn Sinh Huy
Trước năm 1975, trừ một số người sống trong vùng Sa Ðéc và Cao Lãnh, đa số người ở miền Nam đều gần như không biết gì về việc thân phụ của ông Hồ Chí Minh, Phó Bảng Nguyễn Sinh Huy, đã được an táng tại vùng Cái Tôm thuộc Cao Lãnh, được cải danh thành tỉnh Kiến Phong dưới thời Việt Nam Cộng Hòa. Sở dĩ có ít người biết là vì thân phụ của ông Hồ đã từ trần và được chôn cất tại vùng đất này từ năm 1929, dưới thời Pháp thuộc.

Ông Phó Bảng được an táng tại một nơi đất khách quê người, không bà con thân thích, rồi sau đó những người có quen biết ông tại vùng Cao Lãnh cũng lần lượt qua đời và ngôi mộ của ông trở thành vô chủ. Khoảng hơn một phần tư thế kỷ sau, ngôi mộ này được trùng tu lại mà người ra lệnh làm việc này cũng không hề có bà con thân thích gì với ông Phó Bảng Nguyễn Sinh Huy.

Một vị cựu giáo sư Trung Tâm Kỹ Thuật Phú Thọ, không muốn tiết lộ danh tánh, có tiết lộ với người viết về một chuyện mà thân phụ của ông có kể lại cho ông hồi năm 1956. Thân phụ của ông là một vị kiến trúc sư tốt nghiệp Trường Cao Ðẳng Mỹ Thuật Hà Nội và là bạn của kiến trúc sư Hoàng Hùng, lúc đó đang giữ chức vụ Bộ Trưởng Kiến Thiết. Thân phụ của ông hồi đó giữ chức vụ Giám Ðốc Nha Thiết Kế Thị Thôn thuộc Bộ Kiến Thiết nên vẫn thường xuyên đi công tác nhiều nơi trên toàn quốc.

Thân phụ của ông kể lại rằng vào năm 1956, TT Ngô Ðình Diệm đã ra lệnh cho Kiến trúc sư Hoàng Hùng, Bộ trưởng Bộ Kiến Thiết hướng dẫn một phái đoàn gồm nhiều chuyên viên của Bộ Kiến Thiết xuống vùng Cao Lãnh để giám sát và đôn đốc việc chỉnh trang hai tỉnh mới là Kiến Phong và Kiến Tường. Ngoài mục đích này, một nhiệm vụ khác nữa của phái đoàn là trùng tu lại Tháp Mười, một di tích lịch sử đã nổi tiếng khắp Nam Kỳ từ thời Cần Vương chống giặc Pháp hồi thế kỷ thứ 19. Việc chính phủ cử một phái đoàn do một ông bộ trưởng cầm đầu xuống công tác tại hai tỉnh tân lập trong vùng Ðồng Tháp Mười hồi đó đã được dân chúng hai tỉnh này hoan nghênh nhiệt liệt vì điều đó chứng tỏ sự quan tâm của Tổng Thống Ngô Ðình Diệm đối với việc phát triển hai tỉnh này.

Vị giáo sư Trung Tâm Kỹ Thuật Phú Thọ này nói rằng thân phụ của ông là một nhân viên trong phái đoàn đó và ông đã tiết lộ với người con trai rằng trong thời gian công tác ở vùng Ðồng Tháp, ông còn được Bộ Trưởng Hoàng Hùng chỉ thị phải làm thêm một nhiệm vụ nữa, đó là hướng dẫn một số nhân công, dường như là quân nhân chứ không phải là người địa phương vì họ nói giọng miền Trung và miền Bắc, lo việc trùng tu lại một ngôi mộ không được ai săn sóc trong một thời gian rất lâu, có thể nói đó là một nấm mồ vô chủ ở Cái Tôm, Cao Lãnh. Thân phụ của ông nói rằng khi trùng tu lại ngôi mộ này, ông được chỉ thị là chỉ sửa sang lại cho “đàng hoàng tươm tất” nhưng không được dùng vật liệu nặng như xây tường, dựng bia v.v. Ngôi mộ này không có mộ chí, tuy nhiên về sau, khi nói chuyện với một vài vị thân hào và bô lão địa phương thì ông mới biết đó là mộ của ông Phó Bảng Nguyễn Sinh Huy. Vị kiến trúc sư này nói rằng lúc đó ông không hiểu lý do tại sao ông Bộ Trưởng Hoàng Hùng lại chỉ thị cho trùng tu lại ngôi mộ của ông Phó Bảng Nguyễn Sinh Huy, nhưng sau này khi ông về công tác ở Huế và nghe việc gia đình Tổng Thống Ngô Ðình Diệm cải táng mộ của ông Ngô Ðình Khôi thì ông mới hiểu đó là sự trả ơn của ông Diệm.

Việc Tổng Thống Ngô Ðình Diệm ra chỉ thị cho ông Bộ Trưởng Hoàng Hùng trùng tu lại ngôi mộ của ông Phó bảng Nguyễn Sinh Huy sau đó không hề được tiết lộ vì có lẽ Tổng Thống Diệm không muốn để cho những người khác biết về mối liên hệ cũng như là mối “ân tình” giữa gia đình của ông với người lãnh đạo chế độ Cộng sản Hà Nội, một điều rất bất lợi cho tư thế chính trị của ông tại miền Nam. Kiến trúc sư Hoàng Hùng là một cấp chỉ huy nổi tiếng trong những ngày đầu kháng chiến chống lại quân đội Pháp trở lại Việt Nam vào năm 1945. Người Pháp hồi đó đã thù hận ông cho nên đã tịch thu ngôi nhà của ông (gần Tổng Nha Cảnh sát sau này) để làm một đồn cảnh sát, hồi đó được dân Sài Gòn gọi là “bót Hoàng Hùng.” Ông Hoàng Hùng là bạn thân của Kiến Trúc sư Huỳnh Tấn Phát, ông này là một trong những nhân vật đầu não của giới trí thức Miền Nam thân Cộng sản ngay từ sau khi Hiệp Ðịnh Genève được ký kết và dĩ nhiên là việc này đã được báo cáo về Hà Nội. Trước năm 1975, Kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát là thủ tướng cái gọi là “Chính Phủ Cách Mạng Lâm Thời Miền Nam Việt Nam.”

Người viết có nghe được một câu chuyện lý thú về các nhân vật này sau năm 1975. Sau khi đất nước đã được “thống nhất,” nhóm bạn cũ như Luật sư Nguyễn Hữu Thọ, Kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát, Bác sĩ Nguyễn Xuân Bái, thân phụ của Tiến Sĩ Nguyễn Xuân Oánh v.v. và Kiến trúc sư Hoàng Hùng có họp mặt với nhau. Những người theo Cộng sản có hỏi ông Hoàng Hùng, cựu anh hùng kháng chiến Nam Bộ, cựu Bộ Trưởng Kiến Thiết thời Ðệ Nhất Cộng Hòa rằng nếu được trở lại thời trước năm 1954 thì ông có thay đổi lập trường và có theo Cộng sản hay không? Kiến Trúc sư Hoàng Hùng đã bình thản trả lời rằng “bây giờ dù rằng Cộng sản đã thắng, nhưng nếu có trở lại hồi đó thì ông cũng vẫn không theo Cộng sản và ông không hề hối tiếc đã phục vụ cho chế độ Việt Nam Cộng Hoà cũng như là Tổng Thống Ngô Ðình Diệm…”

Con trai của ông Hoàng Hùng, hình như tên là Hoàng Hy, được đi du học tại Pháp nhưng đã tự ý trở về Việt Nam và tình nguyện gia nhập vào quân đội, rồi anh tình nguyện về phục vụ trong Tiểu Ðoàn Cọp Ba Ðầu Rằn thuộc binh chủng Biệt Ðộng Quân và đã tử trận hồi 1965-1966. Kiến trúc sư Hoàng Hùng sau đó vẫn được Cộng sản cho phép sang sinh sống tại Pháp và ông mới qua đời cách đây vài năm.

Ông Ngô Ðình Diệm bị cầm giữ ngay tại Bắc Bộ Phủ vào năm 1945
Gần đây, trong một cuốn “hồi ký chính trị” xuất bản vào năm 1997, ông Vũ Thư Hiên có tiết lộ một chuyện mà ông nói rằng đó là “một mẩu lịch sử ít người biết.” Thực ra, đối với người dân miền Nam thì sự tiết lộ của ông Vũ Thư Hiên không phải chỉ là “một mẩu lịch sử ít người biết” như ông nói mà đó là một sự tiết lộ “động trời.”

Vũ Thư Hiên là con trai của ông Vũ Ðình Huỳnh, một người trí thức thuộc gia đình Thiên Chúa Giáo, đã tham gia Việt Nam Thanh Niên Cách Mạng Ðồng Chí Hội từ năm 1925, gia nhập đảng Cộng sản Ðông Dương từ năm 1930 và đã giữ chức vụ bí thư cho Hồ Chí Minh khi còn ở chiến khu Tân Trào từ năm 1945 cho đến sau năm 1954, người được xem như là một trong những người rất gần gũi Hồ Chí Minh và được ông Hồ rất tin cậy. Tuy nhiên sau khi về hưu, ông Vũ Ðình Huỳnh đã bị phe Lê Duẫn và Lê Ðức Thọ còng tay đưa về tống giam vào nhà tù Hỏa Lò ngày 18 tháng 10 năm 1967, hai năm trước khi ông Hồ Chí Minh từ trần, vì có tội trong cái mà phe Lê Duẫn và Lê Ðức Thọ gọi là “Vụ Án Tổ Chức Chống Ðảng, Chống Nhà Nước Ta, Ði theo Chủ Nghĩa Xét Lại Hiện Ðại và Làm Tình Báo Cho Nước Ngoài.”

Theo tác giả Vũ Thư Hiên thì thân phụ của ông là Vũ Ðình Huỳnh đã cho ông biết về chuyện ông Ngô Ðình Diệm bị Hồ Chí Minh giam giữ ở Hà Nội như sau:
“Nhân chuyện thống nhất đất nước, tôi xin nói tới một mẩu chuyện lịch sử ít người biết. Sau Cách mạng Tháng Tám thành công, ông Ngô Ðình Diệm bị bắt. Tại Hà Nội, ông Diệm bị giam không phải ở (nhà tù) Hoả Lò mà ngay trong Bắc Bộ Phủ. Theo ông Chu Ðình Xương, nguyên Giám đốc Sở Liêm Phóng (Công an) Hà Nội, thì việc ông Diệm bị giam ở Bắc Bộ Phủ là do ông chính Hồ Chí Minh quyết định.

“Tại sao ông Hồ lại có quyết định đó thì ông Chu Ðình Xương không hiểu. Rất có thể do những dây mơ rễ má nào đó giữa gia đình ông Hồ với các quan lại triều Nguyễn trong quá khứ mà ông Hồ Chí Minh lo cho số phận của Ngô Ðình Diệm, không muốn để mặc tính mạng con người nổi tiếng chống Cộng này nằm trong tay những đồng chí nóng tính. Cha tôi là người giữ chìa khóa phòng giam. Ðến bữa, cảnh vệ lên lấy chìa khóa cho Ngô Ðình Diệm ăn xong thì nộp lại.

“Một hôm, ông Hồ bảo cha tôi: ‘Chú Huỳnh ạ, tôi tính nên thả ông Diệm. Mình làm ân cho người ta tốt hơn là làm oán.’ Cha tôi bàn với Lê Giản (lúc bấy giờ được Hồ Chí Minh cử làm Tổng Giám Ðốc Nha Công an Việt Nam) thì hai ông cho rằng để ngăn ngừa những hành động chống cách mạng của ông Diệm, cách tốt nhất là để cho ông ta được hưởng chế độ câu lưu tại Việt Bắc (tức là vùng thượng du mạn ngược, nơi thực dân Pháp đã từng đày ải những nhà cách mạng dưới thời Pháp thuộc,) ông ta sẽ sống như dân thường, chỉ bị hạn chế tự do đi lại mà thôi.

“Ông Hồ Chí Minh bỏ ngoài tai ý kiến phản bác, ông đã định thả là ông thả. Ông nói: “Các chú không ở Huế các chú không biết, chớ dân Huế có câu: ‘Ðày vua không Khả, đào mả không Bài’ là nói về cụ thân sinh ông Diệm đấy. Vị người cha thả người con là điều nên làm lắm chứ. Các chú không nên hẹp hòi!”

“Nhiều người nhận xét khi ở cương vị Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa, ông Ngô Ðình Diệm không bao giờ có những lời khiếm nhã với Chủ tịch Hồ Chí Minh. Một trong những nguyên nhân, theo tôi nghĩ, có thể là do ông Diệm không quên ơn ông Hồ đã tha mạng mình, là điều không phải khó hiểu.” (1)
Như vậy, qua sự tiết lộ của ông Vũ Ðình Huỳnh thì Hồ Chí Minh đã dành cho ông Ngô Ðình Diệm một cảm tình đặc biệt: tất cả những người làm cách mạng nhưng theo những đảng chính trị không phải là Cộng sản như Quốc Dân Ðảng, Ðại Việt, Duy Dân, Dân Xã Ðảng và nhóm Ðệ Tứ v.v. khi bị Việt Minh bắt vào năm 1945 đều bị giết một cách dã man vô nhân đạo như chôn sống, chặt đầu, thả trôi sông, cho đi mò tôm v.v. thế mà ông Ngô Ðình Diệm thì không bị giết.

Ngay sau ngày Cách Mạng Tháng Tám tức là ngày 19 tháng 8 năm 1945, nhà cách mạng Tạ Thu Thâu bị bắt và bị xử tử ngay trong tháng 9 tại Mỹ Khê ở tỉnh Quảng Ngãi, ông Phan Văn Hùm bị chôn sống tại Bình Thuận vào ngày 8 tháng 10 , ông Trần Văn Thạch cũng bị bắt cùng ngày và bị chôn sống cùng với 62 người khác, ông Bùi Quang Chiêu lúc đó đã trên 70 tuổi mà cũng bị thủ tiêu cùng với bốn người con vào tháng 9, Phan Văn Chánh bị giết chết ở Sông Mao tỉnh Phan Thiết, ông Hồ Văn Ngà bị đâm chết rồi thả trôi sông ở Rạch Giá, hai vợ chồng ông Hồ Vĩnh Ký và Bác sĩ Nguyễn Thị Sương bị giết ở Dĩ An tỉnh Biên Hòa, nhà báo Diệp Văn Kỳ, học trò của Phó Bảng Nguyễn Sinh Huy, thân phụ của Hồ Chí Minh, cũng bị thủ tiêu ở Lái Thiêu tỉnh Thủ Dầu Một v.v.

Ông Ngô Ðình Diệm cũng bị Việt Minh bắt trong khoảng thời gian đó tại Quảng Ngãi nhưng dường như Tỉnh Bộ Việt Minh Quảng Ngãi đã được Hồ Chí Minh ra lệnh phải đưa ông Diệm ra Hà Nội, nhờ đó mà ông Ngô Ðình Diệm may mắn được sống sót.

Ngoài chuyện đó, Hồ Chí Minh còn dành cho ông Diệm một sự đối xử đặc biệt khác, đó là đã không cho giam giữ ông Diệm như một người tù trong nhà ngục Hỏa Lò như những người chống lại Việt Minh khác mà chỉ giữ tại Bắc Bộ Phủ tức là Dinh Chủ Tịch của Hồ Chí Minh. Ông Hồ cũng không nghe lời của bí thư của ông là Vũ Ðình Huỳnh cũng như là Tổng Giám Ðốc Công an Lê Giản đề nghị đưa đi câu lưu trên vùng mạn ngược mà lại trả tự do cho ông Diệm, một việc mà sau này nhiều người trong phía Cộng sản Hà Nội đã gọi là “thả hổ về rừng” vì chỉ mười năm sau thì người lãnh đạo Miền Nam chống lại Hồ Chí Minh và Cộng sản Bắc Việt lại chính là ông Ngô Ðình Diệm.

Việc Hồ Chí Minh trả tự do cho ông Ngô Ðình Diệm vào năm 1945 hay 1946 có lẽ có nhiều nguyên do mà may ra chỉ có ông Hồ mới biết rõ, cũng có thể một trong những nguyên do đó là “do những dây mơ rễ má nào đó giữa gia đình ông Hồ với các quan lại triều Nguyễn trong quá khứ” như lời của ôngỳ Vũ Ðình Huỳnh, cũng có thể là ông Nguyễn Sinh Huy sau khi ông thi đậu phó bảng dưới thời Vua Thành Thái có được quen biết hay liên hệ gì đó với Thượng Thư Ngô Ðình Khả hay là một vài bạn đồng liêu của ông vì vào thời đó ông Khả còn làm quan tại triều, cũng có thể là vì Hồ Chí Minh có theo học ở trường Quốc Học Huế, ngôi trường mà Thượng Thư Ngô Ðình Khả sáng lập và cũng là nơi mà nghe nói ông Ngô Ðình Diệm cũng có theo học thời niên thiếu, như vậy thì giữa Hồ Chí Minh với Ngô Ðình Diệm còn có tình đồng môn. Ðối với người xưa, kể cả thời thế kỷ thứ 19, đầu thế kỷ thứ 20, người ta còn coi trọng “tình đồng môn hay nghĩa đồng môn” hơn sau này, do đó yếu tố này cũng có thể giải thích được nguyên nhân mà ông Hồ đã dành cho ông Ngô Ðình Diệm một cảm tình đặc biệt nào đó, nếu có.

Người viết có liên lạc với nhà văn Vũ Thư Hiên vào tháng 11 năm 2003 để tìm hiểu thêm về điều ông tiết lộ là Hồ Chí Minh đã giam giữ Ngô Ðình Diệm tại Bắc Bộ Phủ vào năm 1945. Ông Vũ Thư Hiên đã trả lời như sau:
“Tôi không biết gì nhiều về thời gian ông Ngô Ðình Diệm bị giam ở Bắc Bộ Phủ. Tuy có ra vào Bắc Bộ Phủ, nhưng tôi chưa từng gặp mặt ông ấy. Những gì tôi được nghe cha tôi kể lại, tôi đã ghi trong “Ðêm Giữa Ban Ngày.” Người có thể nói thêm là Cụ Lê Giản (giám đốc Nha Công An Việt Nam thời kỳ đó) thì lại vừa mới mất. Trong câu chuyện các cụ nói với nhau mà tôi nghe được thì quyết định của ông Hồ Chí Minh thả ông Ngô Ðình Diệm có quan hệ tới những thế hệ trước của hai giòng họ Ngô Ðình và Hồ Sĩ, theo các cụ suy luận, trên cơ sở những dữ kiện mà chỉ các cụ biết.” (2)

Giòng họ Hồ Sĩ mà ông Vũ Thư Hiên nói đến ở đây là giòng họ ông Hồ Sĩ Tạo.

Một học giả miền Bắc là Giáo Sư Trần Quốc Vượng có viết một bài báo nhan đề “Thật Mà Chưa Chắc Là Thật” vào đầu thập niên 1990 tại Hà Nội trong đó ông nói rằng sau nhiều ngày đi du khảo trong vùng Nghệ-Tĩnh thì ông được nghe dân chúng trong vùng quê quán của Hồ Chí Minh truyền kể lại rằng ông Nguyễn Sinh Sắc (sau này đổi tên thành Nguyễn Sinh Huy) là con ngoại hôn của Tiến sĩ Hồ Sĩ Tạo với cô Ðèn (Hà Thị Hy.) Người viết không đi sâu vào vấn đề này, tuy nhiên nếu quả thật Hồ Chí Minh là cháu nội của Tiến Sĩ Hồ Sĩ Tạo hay Hồ Sĩ Tảo thì rất có thể ông Tiến sĩ này có một vài liên hệ nào đó với ông Ngô Ðình Khả, thân phụ của ông Ngô Ðình Diệm vào thời thế kỷ thứ 19, do đó ông Vũ Thư Hiên đã nói rằng “trong câu chuyện các cụ nói với nhau mà tôi nghe được thì quyết định của ông Hồ thả ông Ngô Ðình Diệm có quan hệ tới những thế hệ trước của hai giòng họ Ngô Ðình và Hồ Sĩ.” Ðây cũng có thể là một nguyên nhân để giải thích cho việc tại sao ông Hồ Chí Minh đã trả tự do cho ông Diệm hồi năm 1945, nhất là khi ông Hồ nói rằng “vị người cha mà thả người con.”

Một điều thật đáng tiếc là hai người biết rõ về việc ông Hồ giam giữ ông Diệm tại Bắc Bộ Phủ và những chuyện có liên quan đến mối liên hệ giữa hai người này là ông Vũ Ðình Huỳnh đã từ trần cách đây đã lâu, nhưng ông Lê Giản thì còn sống cho đến tháng 10 năm 2003, nếu khi ông còn sống mà có cơ hội hỏi ông về việc này thì có lẽ ông có thể đã cho biết thêm nhiều chi tiết mà rất ít người biết đến. Tuy nhiên sự tiết lộ của nhà văn Vũ Thư Hiên đã làm sáng tỏ thêm một vấn đề, đó là việc ông Hồ Chí Minh bác bỏ đề nghị của hai ông Vũ Ðình Huỳnh và Lê Giản cho ông Ngô Ðình Diệm được “hưởng chế độ câu lưu” tại Việt Bắc, điều đó có nghĩa là những tin đồn nói rằng ông Diệm bị đưa đi an trí ở Thái Nguyên có thể là không đúng lắm.

Như vậy thì từ cảm tình đặc biệt và sự đối xử đặc biệt này đến việc hơn một thập niên sau Hồ Chí Minh lại cung cấp cho gia đình ông Ngô Ðình Diệm những tin tức để đi tìm ngôi mộ nơi hai người thân nhân ruột thịt của Tổng Thống Ngô Ðình Diệm đã bị đàn em của Hồ Chí Minh thủ tiêu, người ta thấy rằng đó là những sự kiện có thể tin được. Khi thả ông Diệm vào năm 1945, Hồ Chí Minh nói rằng “vị người cha” là Cụ Thượng Thư Ngô Ðình Khả, thì khi cho ông Diệm biết về nơi chôn vùi ông Tổng Ðốc Ngô Ðình Khôi, đối với ông Hồ, đó cũng là một việc đáng làm đối với một người đồng môn, hơn nữa ông Ngô Ðình Khôi cũng là con của vị “đày vua không Khả,” cũng là một nhân vật yêu nước, có tinh thần chống Pháp cho nên đã bị thực dân Pháp bắt phải về hưu trí vào năm 1943, có lẽ đối với ông Hồ thì đó là một việc phải làm, nhất là người đồng môn của ông lúc đó cũng đang giữ địa vị quốc trưởng tại miền Nam thì về phương diện chính trị lại rất có lợi cho ông.

(Còn tiếp)

*Các bạn có thể xem thêm chi tiết về việc này tại :
http://www.diendantheky.net/2010/11/vai-moi-lien-he-giua-hai-ong-ho-chi_01.html
Theo đó thì ông Hồ đã cho ông Diệm biết chỗ chôn ông Ngô Đình Khôi và ông Phạm Quỳnh.
Ngược lại ông Diệm cho tu bổ mộ phần cụ Nguyễn Sinh Sắc.
Người viết bài này là anh họ tôi, Trần Đông Phong (Trần Đức Thắng).
Còn người tu bổ phần mộ cụ Sắc chính là thân phụ tôi. Cụ không bao giờ nói việc này ra, chỉ có anh tôi là vị giáo sư kể trong bài được nghe cụ kể
________

TÔI ĐI CẢI TÁNG THẦY TÔI

Phạm Tuân

Phạm Tôn’blog 

Lời dẫn của Phạm Tôn: Ông Phạm Tuân là con trai út trong năm con trai của Phạm Quỳnh, sinh năm 1936 tại Huế, hiện định cư tại Mỹ.

…Năm 1948, anh Bích tôi (Phạm Tuân – PT ghi chú) lúc bấy giờ làm Bí thư cho Quốc trưởng Bảo Đại đã dò hỏi được nơi Thầy tôi bị giết và chôn nhưng không thực hiện được việc tìm kiếm. Phần vì địa điểm là một nơi xa xôi, hẻo lánh, hiểm trở, lại là một vùng “xôi đậu” thiếu an ninh. Phần vì nghe lời khuyên can của những người am hiểu tình hình: không nên mạo hiểm, vì rất có thể đây là cái bẫy…giăng ra để bắt và tiêu diệt những người có liên hệ với các nạn nhân…Một hình thức “nhổ cỏ phải nhổ cho sạch rễ” vậy.

Mãi cho đến năm 1956…bỗng một hôm gia đình chúng tôi được thông báo chuẩn bị sẵn sàng để đi nhận lãnh hài cốt Thầy tôi! Một niềm vui mừng khôn tả, đồng thời một nỗi xúc động vô biên tràn ngập trong lòng anh chị em chúng tôi. Lập tức chúng tôi đi tìm những tin tức chính xác hơn.

Được sự giới thiệu của ông Hoàng Hùng (Bộ trưởng Bộ Kiến Thiết) (là con trai một người bạn Phạm Quỳnh, từng ở nhà Phạm Quỳnh thời còn đi học ở Hà Nội – PT ghi chú) và ông Võ Văn Hải (Văn phòng Phủ Tổng thống), chúng tôi tìm đến gặp ông Võ Như Nguyện.

Được biết ông Võ Như Nguyện (nguyên Tỉnh trưởng Bình Định) cùng ông Hoàng Ngọc Trợ (Quận trưởng quận Phong Điền, Thừa Thiên) là những người được Tổng thống Ngô Đình Diệm trao cho việc tìm kiếm (hài cốt cha con Ngô Đình Khôi, anh của Ngô Đình Diệm – PT ghi chú).

Việc tìm kiếm hài cốt không đơn giản mà là một công tác lớn lao, đòi hỏi nhiều thời gian, nhân lực, phương tiện và an ninh tuyệt đối

Ngày 5 tháng 2 năm 1956 (cận Tết) tôi và chị Hảo (Phạm Thị Hảo, con gái thứ ba trong tám con gái của Phạm Quỳnh – PT ghi chú) tôi đi Huế để cùng với một phái đoàn của chính phủ tìm và nhận hài cốt các nạn nhân.

…Thật “nghịch đời”, lúc sinh thời, Thầy tôi và cụ Khôi vì khác chính kiến nên đã trở thành thù địch, thề “không đội trời chung”, thế mà khi thác lại nằm chung một hố.

Chúng tôi (tôi và chị Hảo) phải ở lại Huế lâu hơn dự định, vì như đã tả ở trên, địa điểm là một nơi xa xôi, khó đi lại nên chính phủ phải huy động công binh khai quang, ủi đất làm đường, bắc cầu cho xe hơi đi…trên mười lăm cây số. Ngoài ra còn phải điều động binh sĩ đến giữ an ninh quanh vùng. Nói tóm lại là cả một công trình nan giải mà chỉ có một chính quyền mới thực hiện được mà thôi…

…Nhưng đôi lúc tôi tự hỏi, giả sử như Thầy tôi không bị chôn vùi cùng huyệt với cụ Khôi và ông Huân, những người thân của Tổng thống, thì chúng tôi có được sự giúp đỡ này không?

Suốt ngày 8 tháng 2 năm 1956, đào xới đất, kết quả chỉ bới lên được một bộ hài cốt không phải là của một trong ba người. Mọi người đều thất vọng, lại lo rằng sau mười một năm, trải qua bao mùa lũ lụt, có thể các di hài bị nước lũ cuốn trôi đi chăng?

Đến chiều hôm sau, cận Tết, dưới trời mưa lâm râm, bỗng xuất hiện một cụ già đi ngang qua. Cụ hỏi toán dò tìm: “Đã tìm thấy các cụ chưa? Đào mương nào, mương cũ hay mương mới?”. Thì ra có hai mương…Cụ già nói tiếp: “Cách đây mười một năm tại đây tôi có đào một con mương để dẫn nước từ sông lên ruộng. Hôm sau, ra tát nước thì thấy mương bị lấp. Du kích trong làng cấm không cho tới gần. Vài năm sau, có người đến thầu mấy thửa ruộng của tôi, cũng đào mương, thì bị khuyến cáo không được đào thẳng mà phải đào chếch sang một bên”.

Thì ra đây là “mương mới”, chỗ tìm ra hài cốt độc nhất nói trên. Toán công binh tiếp tục đào sâu hơn, với chu vi rộng lớn hơn, thì quả nhiên tìm được ba bộ hài cốt ở vị thế đúng như những chi tiết thâu lượm được.

Gần đến hài cốt, để tránh đụng đến xương, đám người có phận sự ngưng sử dụng cuốc, xẻng mà chỉ dùng đũa cả khơi đất ra từng mảng. Sau cùng lộ ra rõ rệt ba bộ hài cốt nằm chồng lên nhau.

Hài cốt của Thầy tôi rất dễ nhận vì dài và ngay cạnh, tôi nhận ra được đôi mắt kính cận…Hài cốt của cụ Khôi và ông Huân thì ngắn và nhỏ bé. Thân nhân nhà họ Ngô còn nhận ra được hai chiếc răng vàng và cái thắt lưng to bản (quân phục Nhật) của ông Huân.

Ban tổ chức đã chuẩn bị sẵn ba cái tĩnh, vải liệm trắng đỏ, ba chậu tráng men lớn chứa đầy cồn 90 để rửa xương.

Việc thử nghiệm, rửa hài cốt và tẩm liệm kéo dài đến khi trời tối

Tại làng Văn Xá, quan tài cụ Khôi và ông Huân được quàn dưới một lều vải lớn, có thể chứa cả trăm người, có đèn điện thắp sáng choang, vòng hoa phúng viếng bày la liệt, lính mặc lễ phục túc trực hai bên, các bộ trưởng thứ trưởng âu phục trắng cà vạt đen, các đại biểu, cán bộ đủ mọi cấp ra vào tấp nập…Tiếng cầu kinh của giáo chúng thập phương vang rền suốt đêm. Được biết, ngày hôm sau sẽ di chuyển hai quan tài về Hiền Sĩ. Tại đây, một nhà thờ lớn đã được dựng lên để cử hành tang lễ trọng thể theo nghi thức quốc táng, có đông người tham dự và sau mồng ba Tết mới đưa về Phú Cam chôn cất.

Trong khi đó, trên một ngọn đồi thấp cách đấy không xa, trong một chiếc lều nhà binh nhỏ bé, dưới ánh sáng mờ ảo của mấy ngọn nến, hai chị em tôi cùng cụ bà Ưng Trình (thông gia với gia đình chúng tôi) thay phiên thắp nhang bên linh cữu Thầy tôi.

Chúng tôi có mời một thượng toạ trụ trì tại một ngôi chùa nhỏ trong làng đến làm lễ cầu siêu. Bên chính quyền cũng cử một đại diện đến phúng điếu và phân ưu. Sau đó, cắt cử hai quân nhân mặc lễ phục nghiêm chỉnh túc trực bên quan tài.

Như trên đã nói, ban tổ chức có cung cấp ba tĩnh bằng sành để đựng hài cốt…Cả ba có nắp in hình thánh giá của công giáo, nên chị tôi đã tế nhị từ chối để chỉ dùng cái tĩnh đã mua sẵn dành riêng cho đệ tử nhà Phật với chữ “Vạn” trên nắp.

Quá tủi thân trước sự khắc biệt, lòng ngậm ngùi thê thiết, chị em chúng tôi quyết định thuê đò chở quan tài Thầy tôi về Huế ngay đêm hôm ấy… Tám giờ sáng hôm sau thì đến chùa Vạn Phước. Thượng toạ trụ trì đã chờ sẵn. Sau nghi thức đơn giản, đúng chín giờ thì hạ huyệt. Một số đông bạn học cũ của các anh chị tôi tại hai trường Khải Định và Đồng Khánh đến chia buồn và tiễn đưa.

Thời gian dài kế tiếp sau đấy, người dân Sài Gòn được thấy một con đường lớn, rộng từ phi cảng Tân Sơn Nhất vào trung tâm thủ đô mang tên đại lộ Ngô Đình Khôi… Rồi đến thời Đệ nhị Cộng hoà của Tổng thống Thiệu “nghe nói” tên Thầy tôi đã được đặt cho một con đường nhỏ, gần đường Triệu Đà trong Chợ Lớn… Chị tôi và tôi lân la đi tìm, nhưng chẳng thấy tăm hơi…Tất cả chỉ là một “dự tính” mà thôi.

Ôi, thế thái nhân tình…

P.T.
__________

(Trích bài Sống lại với ký ức thuở ngày xưa, báo Ngày Nay (tiểu bang Minesota), số 385, ngày 30-6-2005 vàViệt Học tạp chí phổ thông, số 2 (Nam Califonia) tháng 6-2005).
__________
Ghi chú: Ở Huế có đường Phạm Quỳnh từ thời ông Diệm. Trần Hoàng đã từng đọc tên đường này trong tác phẩm…(quên tên, sẽ bổ sung sau)
Ý kiến

Vậy các bác có biết tại sao cụ Phạm Quỳnh mất sớm thế không?

Trả lời

  1. Tác giả P.T không có gì phải tủi hổ về sự khác biệt và về thế thái nhân tình.Như tác giả đã nói,cụ Phạm Quỳnh và cụ Ngô Đình Khôi là 2 người thù địch không đội trời chung,vậy mà chính quyền cụ Diệm vẫn cử 1 viên chức đến phân ưu và cử 2 quân nhân mặc lễ phục uy nghiêm đứng bên quan tài.

    Trả lời

     
     
  2. Cũng còn một chút may mắn cho gia tộc cụ Pham Quỳnh, rằng cụ bị giết ở Huế, chứ nếu bị giết ở bắc vĩ tuyến 17 thì có lẽ xương không còn. Cứ xem con cháu cụ Nguyễn Thị Năm bị giết ở Đồng Bẩm, Thái Nguyên đã phải vất vả như thế nào khi tìm mộ cụ sau khi đã xin được đủ các giấy tờ xác nhận cụ là “địa chủ yêu nước”, thì biết.

    Trả lời

     
     
  3. Trích: ” Thầy tôi và cụ Khôi vì khác chính kiến nên đã trở thành thù địch, thề “không đội trời chung”, thế mà khi thác lại nằm chung một hố.”….
    Và: “… Bên chính quyền cũng cử một đại diện đến phúng điếu và phân ưu. Sau đó, cắt cử hai quân nhân mặc lễ phục nghiêm chỉnh túc trực bên quan tài.”. Trích tiếp: “…Nhưng đôi lúc tôi tự hỏi, giả sử như Thầy tôi không bị chôn vùi cùng huyệt với cụ Khôi và ông Huân, những người thân của Tổng thống, thì chúng tôi có được sự giúp đỡ này không?”. Rồi kết: “Ôi, thế thái nhân tình…”.
    Cụ Phạm Quỳnh bị Việt Minh Cộng Sản giết (có người nói là bị chôn sống), thế mà trong bài viết không nghe tác giả con trai cụ Phạm Quỳnh có một lời than trách hay kết án nào. Trái lại, tác giả đã phê phán cách ứng sử không “công bằng” trong việc cải táng cụ Phạm Quỳnh và cụ Huân cùng con trai.
    Tôi thật không thể hiểu nổi. Quả là “sống sao cho vừa lòng người” thực rất khó, trường hợp này thì gần giống như kiểu “làm ơn mắc oán”. Thật ra, chính quyền Ngô Đình Diệm không hề có trách nhiệm gì trong việc giết hại cụ Phạm Quỳnh. Chính quyền này cũng chẳng có “nghĩa vụ” phải cải táng cho cụ Phạm. Đây hoàn toàn là vấn đề nhân nghĩa, đạo lý, tình người và tình đồng bào… huống chi như tác giả đã viết: ” Cụ Phạm Quỳnh và cụ Ngô Đình Khôi đã “là kẻ thù không đội trời chung”, thì được như vậy cũng quí lắm rồi. Lẽ ra con trai ông Phạm Quỳnh (tác giả bài viết) không nên so bì như thế nếu không có được một tiếng cám ơn để chứng tỏ là người tử tế.
    Ông Phạm Tuyên có bài “Như có Bác…”, còn ông Phạm Tuân thì có bài này: Anh em họ thật hợp nhau lắm!
    Cụ Phạm Quỳnh không biết vui hay buồn bên kia thế giới đây!?

    Đối với NS Phạm Tuyên, đảng- bác là trên hết. Hơn cả cha mẹ, tổ tiên, ông bà. Có nịnh nọt tốt như vậy, thì từ con của một viên quan Thượng thư của một triều đình bị cho là làm tay sai cho ngoại xâm, mà cách mạng gọi là trùm phản quốc, phản cách mạng, Phạm Tuyên mới “leo” lên được chức vụ Phó Tổng GĐ Đài Tiếng nói Việt Nam, khi mà xã hội thời đó coi chủ nghĩa lí lịch là trên hết.Trong sách giáo khoa về Văn và Sử của miền Bắc những năm sáu mươi của thế kỷ trước, Phạm Quỳnh và Nguyễn Văn Vĩnh là hai nhân vật được cách mạng dùng những ngôn từ xấu xa nhất để nói về họ, nào là tên bồi bút đê tiện, tên phản động nguy hiểm nhất về lĩnh vực văn hóa, vì họ đã “đầu độc” bao thế hệ trẻ với những tư tưởng xấu xa..vv.
    Với nhà nước CSVN, Phạm Tuyên được cho là “một trong những nhạc sĩ có nhiều sáng tác thành công nhất viết về đảng và Bác”. Trong đó, nổi bật nhất là hai bài: “ Đảng đã cho ta Mùa Xuân” và bài “ Đảng đã cho tôi sáng mắt sáng lòng”. Hãy nghe con vẹt Phạm Tuyên “hót” ca ngợi đảng, bác của ông ta như thế nào nhé.
    Bài “Đảng đã cho tôi sáng mắt sáng lòng” có những câu như sau:
    “Đảng đã cho tôi sáng mắt sáng lòng
    Trước như tuổi thơ tôi nào biết đường
    Máu tôi đỏ và tim tôi yêu nước
    Tôi chỉ biết là đêm tối mênh mông
    Đảng đã cho tôi sáng mắt sáng lòng
    Đảng ta ơi, cám ơn người dạy dỗ
    Từ đây lòng tôi sướng vui đau khổ
    Và tình yêu căm giận hóa lời ca
    Đảng cho tôi màu sắc nước non nhà
    Đảng của tôi ơn, người đã cho tôi sáng mắt sáng lòng”.

    Bài “ Đảng đã cho ta mùa xuân” có những đoạn như sau:
    “Đảng đã cho ta một mùa xuân đầy ước vọng
    Một mùa xuân tươi tràn ánh sáng khắp nơi nơi
    Đảng đã đem về tuổi xuân cho nước non
    Vang tiếng hát ca chứa chan niềm yêu đời
    Bao năm khổ đau đất nước ta không mùa xuân
    Cuộc đời tăm tối chốn lao tù bao hờn căm
    Vừng dương hé sáng khi khắp nơi ta có Đảng
    Bóng tối lui dần tiếng chim vui hót vang
    Và rồi từ đây ánh dương soi đời mới”

    Một khi đã tôn thờ đảng-bác trên hết mọi sự, thì phải từ bỏ quá khứ của mình thì mới làm đẹp lòng đảng được. Và để phấn đấu được nhận các giải thưởng, như Giải thưởng Nhà nước năm 2001, và Giải thưởng Hồ Chí Minh năm 2012, thì Phạm Tuyên phải có một “thành tích chói lọi”. Mà một trong những việc để lập thành tích và để được đảng tin tưởng và ghi công, thì không gì bằng đoạn tuyệt quá khứ, đoạn tuyệt với cha ông mình.
    Chắc không bao giờ Phạm Tuyên muốn nhắc đến tên người cha quá cố của ông- Phạm Quỳnh. Vì như vậy sẽ làm phật lòng đảng.
    Không biết ở dưới suối vàng, Thượng thư Phạm Quỳnh có biết con mình là một đảng viên của cái đảng đã giết và vứt xác mình xuống cái mương và lấp lại vị sợ hôi thối? Và “ đảng đã cho tôi sáng mắt sáng lòng”, có nghĩa là Phạm Tuyên đã đồng lõa cùng kết tội những “tội ác” của Phạm Quỳnh mà đảng đã tuyên khi giết Phạm Quỳnh?

    Đối với nhân dân Việt Nam, thì đảng CSVN là “ căn bệnh dịch hạch” đã làm ô nhiễm môi trường đạo đức văn hóa và truyền thống tốt đẹp bao đời của cha ông ta. Nhưng đối với Phạm Tuyên, thì đảng “ đã đem về tuổi xuân cho nước non”, và đảng” là ánh dương soi đời mới”. Có lẽ đây là tột đỉnh của sự lố bịch. Và với hai câu này, Phạm Tuyên xứng đáng là VUA của các loài vẹt.

    Nguồn:

xuandienhannom

Posted in Nhan Vat Chinh tri, Sách-Hồi Ký-Bài Báo... | Leave a Comment »

►Ngày 21-6: Một nhà báo bị thu thẻ và đình chỉ công tác

Posted by hoangtran204 trên 21/06/2016

21.6: MỘT NHÀ BÁO BỊ THU THẺ VÀ ĐÌNH CHỈ CÔNG TÁC

 xuandienhannom.blogspot.com.de
21-6-2016
Tạm đình chỉ chức vụ, công việc của ông Mai Phan Lợi
Thứ Hai, ngày 20/6/2016 – 20:28(PLO)- Ngày 20-6-2016, Tổng Biên tập báo Pháp Luật TP.HCM đã ra quyết định tạm đình chỉ chức vụ, công việc đối với ông Mai Phan Lợi, Phó Tổng TKTS, Trưởng Văn phòng đại diện báo Pháp Luật TP.HCM tại Hà Nội. Việc đình chỉ nhằm làm rõ những dấu hiệu vi phạm của ông Mai Phan Lợi. Trước đó, ngày 17-6-2016, ông Lợi có đăng status trên Facebook Diễn đàn nhà báo trẻ về việc máy bay Casa 212 rơi khi làm nhiệm vụ tìm kiếm cứu nạn. Trong status đó, có những từ ngữ và giả thuyết gây bức xúc, tổn thương đến tình cảm của công chúng, bị dư luận phản ứng gay gắt.

Ông Mai Phan Lợi có trách nhiệm kiểm điểm về sự việc trên, báo cáo để các cơ quan chức năng xử lý theo luật định.

Ông Mai Phan Lợi bàn giao việc quản lý văn phòng cho người phụ trách cho đến khi có quyết định mới của Ban Biên tập.

Cùng ngày, Bộ Thông tin và Truyền thông đã ban hành Quyết định số 1063/QĐ-BTTTT do Bộ trưởng Trương Minh Tuấn ký về việc thu hồi thẻ nhà báo của ông Mai Phan Lợi do vi phạm Điều 9 Thông tư 07/2007/TT-BVHTT, xúc phạm nghiêm trọng danh dự của Quân đội Nhân dân Việt Nam, gây tổn thương sâu sắc đến gia đình, đồng đội, người thân của những cán bộ chiến sĩ gặp nạn khi đang làm nhiệm vụ, tổn hại đến uy tín đội ngũ những người làm báo.

 

BÁO PHÁP LUẬT TP.HCM

 
Báo Tuổi trẻ đưa tin:
 

Thu hồi thẻ nhà báo, đình chỉ chức vụ của Mai Phan Lợi

Tuổi trẻ
20/06/2016 20:14 GMT+7

TTO – Báo Pháp Luật TP.HCM đã ra quyết định đình chỉ chức vụ của ông Mai Phan Lợi, Phó Tổng TKTS, Trưởng Văn phòng đại diện Báo Pháp Luật TP.HCM tại Hà Nội. 

Diễn đàn Nhà báo trẻ – Ảnh chụp màn hình

Ngày 20-6, Bộ Thông tin và Truyền thông đã ban hành quyết định 1063 do Bộ trưởng Trương Minh Tuấn ký về việc thu hồi thẻ nhà báo của ông Mai Phan Lợi, do “xúc phạm nghiêm trọng danh dự của Quân đội Nhân dân Việt Nam, gây tổn thương sâu sắc đến gia đình, đồng đội, người thân, đồng đội của những cán bộ chiến sĩ gặp nạn khi đang làm nhiệm vụ, tổn hại đến uy tín đội ngũ những người làm báo”.

Cùng ngày, Tổng biên tập Báo Pháp Luật TP.HCM đã ra quyết định đình chỉ chức vụ của ông Mai Phan Lợi, Phó tổng TKTS, Trưởng Văn phòng đại diện Báo Pháp Luật TP.HCM tại Hà Nội nhằm làm rõ những dấu hiệu vi phạm của ông Mai Phan Lợi.

Trước đó, ngày 17-6, ông Lợi có tạo một thăm dò trên trang Facebook Diễn đàn Nhà báo trẻ về việc máy bay Casa 212 rơi khi làm nhiệm vụ tìm kiếm cứu nạn.

Tuổi trẻ Online.

 

@Ông Mai Phan Lợi là admin của một trang mạng với hơn 12000 thành viên, Facebook Diễn Đàn Nhà Báo Trẻ, ông cũng là một trong sáu người, đại diện cho Tổ chức Xã Hội Dân sự, đã gặp Tổng thống Mỹ Barack Obama ở Hà Nội 23-5-2016 (để đấu tranh cho tự do ngôn luận và quyền tự do sáng tác và biểu diễn). Hoạt động của ông là một cái gai trong mắt nhà cầm quyền Hà Nội. Ông đã bị thu hồi thẻ nhà báo ngày 20-6-2016. (Trần Hoàng)

Posted in Bắt bớ-Tù Đày-Đánh đập-Đàn Áp, Chinh Tri Xa Hoi, Sách-Hồi Ký-Bài Báo..., Tự Do ngôn Luận | Leave a Comment »

►Ngày “Báo chí Cách mạng Việt Nam” 21-6-2016, một nhà báo không “cách mạng” đã bị xử?

Posted by hoangtran204 trên 21/06/2016

@Ông Mai Phan Lợi là admin của một trang mạng với hơn 12000 thành viên, Facebook Diễn Đàn Nhà Báo Trẻ, ông cũng là một trong sáu người, đại diện cho Tổ chức Xã Hội Dân sự, đã gặp Tổng thống Mỹ Barack Obama ở Hà Nội 23-5-2016 (để đấu tranh cho tự do ngôn luận và quyền tự do sáng tác và biểu diễn). Hoạt động của ông là một cái gai trong mắt nhà cầm quyền Hà Nội. Ông đã bị thu hồi thẻ nhà báo ngày 20-6-2016. (Trần Hoàng)

Ngày “Báo chí Cách mạng Việt Nam” 21-6-2016, một nhà báo không “cách mạng” đã bị xử?

Ngọc Thu

anhbasam.wordpress.com

20-6-2016

Nhà báo Mai Phan Lợi. Ảnh: internet

Nhà báo Mai Phan Lợi. Ảnh: internet

17/6/2016, trên Fanpage Facebook Diễn đàn Nhà báo Trẻ, do nhà báo Mai Phan Lợi làm admin, đã đăng một status có nội dung như sau:

Vì sao CASA tan xác?

Thật đau xót đến giờ này vẫn chưa tìm được 9 cán bộ trên máy bay CASA, nhưng thắc mắc thật khó lý giải thuyết phục là tại sao máy bay tan xác? Theo bạn?

– Máy bay bị tác động từ bên ngoài nên vỡ

– Máy bay rơi từ cao xuống biển nên vỡ vụn

– Không biết lý do

– Bị bắn

– Bị giông lốc làm rơi xuống biển và vỡ khi đập vào mặt nước

– Không loại trừ bị bắn vỡ

– Máy bay chất lượng kém do tham nhũng trong ngành quốc phòng luôn bị đóng dấu mật”.

Ngày hôm sau, tờ Petro Times do “nhà báo chó” Nguyễn Như Phong làm Tổng Biên tập đã đăng bài: Nhà báo mà thế này thì… vô đạo đức! Trong bài, tác giả viết:

Chúng ta chỉ nghe đến từ “tan xác” khi nói về việc bắn rơi máy bay quân thù. Một từ ngữ hàm chỉ thái độ như vậy được dùng trong ngữ cảnh những đồng đội, chiến sỹ của mình đang mất mát hi sinh, thì rõ ràng, đầu óc của người viết đang “có vấn đề” hoặc là quá tàn nhẫn.

Hơn nữa, trong Poll (bình chọn), Mai Phan Lợi còn đưa ra các giả thuyết để lựa chọn (vote) như: Bị bắn/ – Không loại trừ bị bắn vỡ/ – Máy bay chất lượng kém do tham nhũng trong ngành quốc phòng luôn bị đóng dấu mật.

Những “gợi ý” này vô tình tạo ra nhiều hoài nghi giữa một không gian tưởng niệm thành kính. Có lẽ người vốn mang danh nhà báo này không vô tình, mà rõ ràng có toan tính”.

Sau đó, nhà báo Mai Phan Lợi có đưa ra “Lời xin lỗi“, nội dung như sau:

“Tối hôm qua khi làm 1 cuộc khảo sát ý kiến các thành viên Diên đàn về nguyên nhân máy bay rơi xuống biển, tôi có sử dụng ngôn ngữ không chính xác, gây tổn thương tình cảm anh em. Được một số thành viên góp ý, tôi đã sửa chữa và sau đó quyết định xoá poll thăm dò ý kiến này do nhiều thành viên đã thêm vào các phương án không thích hợp.

Bằng stt này tôi chân thành xin lỗi mọi người, quyết không thực hiện các cuộc thăm dò ý kiến và sử dụng ngôn ngữ quá nhạy cảm như vậy nữa”.

Mấy ngày qua, các tờ báo “cách mạng” đã đồng loạt ra quân nã đạn vào nhà báo Mai Phan Lợi.

Hôm qua, ngày 19-6, báo Petro Times đăng bài “Một ngòi bút ác độc“.

Hôm nay, Petro Times đăng tiếp 6 bài nữa, bài của Đại tá Bùi Đức Toàn: “Không thể để kẻ này cầm thẻ nhà báo“; “Tiến sỹ Khuất Việt Hùng phản ứng mạnh với Mai Phan Lợi“; “Tướng Lê Mã Lương: Phải kỷ luật thật nặng Mai Phan Lợi“; “Đề nghị kiểm tra toàn diện Diễn đàn Nhà báo trẻ“; “Quan điểm của Hội Nhà báo Việt Nam về Phan Lợi“; “Thu hồi Thẻ nhà báo, đình chỉ công tác Mai Phan Lợi“.

Báo Người Đưa Tin tiếp tục nã “pháo cối” vào nhà báo Mai Phan Lợi. Hôm qua có bài: “Bơi ngược … ‘dòng đạo đức’!” Hôm nay, NĐT đăng tiếp 4 bài: “Hóa thân của kền kền“; “Gửi anh Lợi, người hỏi ‘vì sao máy bay CASA tan xác’?“; “Thái Thùy Linh nói gì về Mai Phan Lợi ở những cuộc thăm dò toan tính“; “Tướng Thệ: Cơ quan chức năng phải xem xét, xử lý nghiêm Mai Phan Lợi“.

Các báo khác như báo Tuổi Trẻ, NLĐ chỉ dừng lại ở mức đưa tin, chứ không tiếp tục nã đạn vào nhà báo Mai Phan Lợi như PetroTimes, Người Đưa Tin. Báo Tuổi Trẻ đưa tin: “Thu hồi thẻ nhà báo, tạm đình chỉ chức vụ của ông Mai Phan Lợi“; báo Người Lao Động: “Thu hồi Thẻ nhà báo của ông Mai Phan Lợi“.

Như vậy là sau bài báo “khai hỏa” trên tờ báo Petro Times do Đại tá Nguyễn Như Phong làm TBT, nhà báo Mai Phan Lợi đã bị mang ra “xử trảm”.

Nhà báo Mai Phan Lợi vừa có thông báo trên trang Diễn đàn Nhà báo Trẻ, như sau:

THÔNG BÁO VỀ VIỆC LIÊN QUAN ĐẾN CÁ NHÂN ADMIN

Mấy ngày hôm nay có hàng trăm lượt thành viên hỏi ad về các bài báo viết về stt liên quan đến máy bay CASA, thậm chí có thành viên còn gửi cho tôi stt của một số tk FB nói rõ rằng tôi đã bị đuổi việc, bị tước thẻ nhà báo…

Thực sự thì đã có quyết định của cơ quan quản lý tạm đình chỉ công tác để kiểm điểm và đây là việc cần thiết đối với sai lầm mà tôi đã mắc phải, và tôi đã thừa nhận, đã viết lời xin lỗi như mọi người đã biết. Vì thế tôi sẽ kiểm điểm một cách thành khẩn, nghiêm túc như nhận thức của mình, kể cả việc sẽ chờ đợi những hậu quả khác mà sai lầm do tôi gây nên.

Nhân đây cũng xin báo cáo thêm là từ lâu tôi đã suy nghĩ về việc chuyên tâm hơn, dành thời gian nhiều hơn cho công việc nghiên cứu, đào tạo truyền thông cũng như duy trì các hoạt động cho Diễn đàn như Chống Thực phẩm bẩn, Xanh & Sạch, Khuyên Club… Vì thế tôi cũng đã bộc lộ ý định này với cơ quan nhưng chưa được chấp thuận. Là người của tổ chức tôi sẽ chấp hành đầy đủ các yêu cầu của tổ chức, nhưng trách nhiệm với thành viên tôi phải nêu rõ những vấn đề này để tránh những đồn thổi sai lệch, gây phân tán, hoang mang cho thành viên.

Xin mọi người yên tâm và tin tưởng. Trân trọng cảm ơn!
(P/s: mọi người cmt kiềm chế, ko quy kết kích động nhá)”

Một thành viên của diễn đàn này,Facebooker Nghia Duc Pham đã nêu quan điểm cá nhân của mình về sự cố này, như sau:

“Trong chuyện vừa xảy ra với adminLợi Mai Phan, cá nhân tôi với tư cách là thành viên của diễn đàn cảm thấy anh không hề sai bởi những lý do sau:

– Anh đăng post đó trên diễn đàn này là nơi sinh hoạt chung của một nhóm người trên mạng xã hội , tuân theo các điều lệ của Facebook cũng như bản thân nội quy diễn đàn một cách hoàn toàn hợp lệ. Nơi này không phải báo chí thuộc sự quản lý của cơ quan Nhà nước nào. Anh Lợi có quyền tự do ngôn luận, thể hiện ý kiến và suy đoán của mình. Trách nhiệm của Nhà nước là phải tôn trọng điều đó hoặc ít nhất chứng minh được anh nói sai và gây ra hậu quả thực sự với xã hội thì mới có quyền sử dụng quyền lực để trừng phạt.

– Nội dung anh đăng không có gì xúc phạm đến những người đã ra đi, ngược lại còn thể hiện trách nhiệm và lương tâm của một nhà báo chân chính khi muốn đưa ra những suy đoán về nguyên nhân của vụ tai nạn bất thường vừa xảy ra với 2 chiếc máy bay. Cũng giống như vụ cá chết, không có cơ quan nào chịu đi tìm nguyên nhân thực sự (tai nạn máy bay có tỉ lệ rất thấp, cùng lúc 2 chiếc đều rơi không thể là sự trùng hợp ngẫu nhiên, ắt nguyên nhân phải đến từ con người).

Vậy nhưng không những chẳng ai ủng hộ anh mà còn ra sức đưa ra những bình phẩm không hay xúc phạm anh làm tôi cảm thấy rất bức xúc. Chương trình Thời sự VTV 19h tối nay dành hẳn một phóng sự với tên “rút thẻ nhà báo của ông Phan Mai Lợi” với cáo buộc anh làm tổn thương tình cảm của hàng triệu người dân thì thật sự tàn nhẫn quá. Người ta có tâm , day dứt trước cái chết của các chiến sĩ chết không nhắm mắt vì không rõ nguyên nhân nên mới cất lên tiếng nói mà bị kết tội như vậy thì thật chua xót.

Cùng quan điểm với Facebooker Nghia Duc Pham, LS Trần Vũ Hải cho biết:

“Vụ máy bay chiến đấu rơi, 1 ngư dân là người đầu tiên cứu phi công còn sống và 1 ngư dân khác là người đâu tiên phát hiện thi thể của một phi công khác. Còn máy bay cứu nạn rơi tiếp, 9 người khác bị mất tích, vẫn đang tìm kiếm, dù đã tìm được xác máy bay cứu nạn.

Lẽ ra đây phải là dịp xem lại chính các lực lượng của mình, nhưng một số tướng tá lại chỉ trích và đòi kỷ luật một nhà báo đã “nhỡ lời” khi đặt vần đề về nguyên nhân vụ máy bay cứu nạn bị nạn, đúng dịp ngày “nhà báo Việt nam”.

Vụ chỉ trích nhà báo- admin của Diễn đàn nhà báo trẻ được khơi mào từ một báo của cựu đại tá công an thường xuyên được bầu làm Kền Kền trên Diễn đàn nhà báo này. Và nay một số báo cũng từng được vinh danh Kền Kền trên Diễn đàn này cũng tích cực tham gia “đánh hôi” đồng nghiệp.

Tôi xin chia buồn gia đình các quân nhân bị nạn và cũng xin chia buồn nhà báo “bị nạn”!

Posted in Báo chí- Quyền tự do ngôn luận, Bắt bớ-Tù Đày-Đánh đập-Đàn Áp, Chinh Tri Xa Hoi, Sách-Hồi Ký-Bài Báo... | Leave a Comment »

►Báo Thế giới Tiếp thị bị phạt tiền và đình bản 3 tháng vì đăng tin thời sự

Posted by hoangtran204 trên 15/05/2016

BBC

14-5-2016

Báo Thế giới Tiếp thị đăng nhiều bài viết của nhạc sĩ Tuấn Khanh bàn về thời cuộc. Ảnh: BBC chụp màn hình báo TGTT

Báo Thế giới Tiếp thị đăng nhiều bài viết của nhạc sĩ Tuấn Khanh bàn về thời cuộc. Ảnh: BBC chụp màn hình báo TTTG

Hôm 14/5, Cục Báo chí của Việt Nam ra quyết định phạt tiền 140 triệu đồng đối với báo Nông thôn Ngày nay và tờ báo này ‘xin tự đình bản’ ba tháng ấn phẩm Thế giới Tiếp thị của họ, theo truyền thông Việt Nam.

Thế giới Tiếp thị là một trong những ấn phẩm của báo Nông thôn Ngày nay, với một phần đội ngũ phóng viên chuyển từ báo Sài Gòn Tiếp thị từng bị đóng cửa từ trước.

Quyết định số 104/QĐ-XPVPHC xử phạt vi phạm hành chính của Cục Báo chí thuộc Bộ Thông tin và Truyền thông cho hay hai bài viết đăng trên ấn phẩm Thế giới tiếp thị là ‘Mãi mãi là người đến sau’ và ‘Lời than thở của các loài cá’ đã “vi phạm quy định Điểm b Khoản 6 Điều 8 Nghị định số 159/2013/N D-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động báo chí, xuất bản”.

Cả hai bài báo này hiện đã bị gỡ khỏi trang mạng của báo Thế giới Tiếp thị, nhưng vẫn có thể đọc được ở những trang mạng khác.

‘Phần đen đủi nhất’

Tác giả của bài báo ‘Mãi mãi là người đến sau’ là nhạc sĩ Tuấn Khanh và nội dung bài được cho là có liên quan đến vụ cá chết hàng loạt tại miền Trung.

“Như những con cá chết oan ức trên bờ biển, chỉ biết sau cùng rằng đại dương không còn là nhà, mà chỉ còn đầy độc dược, những người dân Việt Nam cũng chỉ biết được phần đen đủi nhất được gieo về phía mình, dù chung quanh đầy lâu đài và dự án vĩ đại, như đang phát triển cho ai khác”.

“Nếu như có một thiên đường để đến, có lẽ người dân Việt nhỏ bé như móng tay chúng ta, mãi cũng chỉ là người đến sau. Và đường đi đến đó, chẳng thong dong gì, mà có thể thông qua những ống dẫn chất thải như của Formosa”, nhạc sĩ viết.

Hôm 14/5, một số báo Việt Nam tường thuật “Báo Nông thôn Ngày nay đã nhận khuyết điểm và xử lý kỷ luật nghiêm khắc các cá nhân liên quan”.

“Cục Báo chí cũng đã đồng ý với đề nghị của Báo Nông thôn Ngày nay xin tự đình bản ba tháng đối với ấn phẩm Thế giới Tiếp thị từ ngày 14/5/2016 để kiện toàn đội ngũ cán bộ, xây dựng lại quy trình xuất bản ấn phẩm, tránh xảy ra các sai sót trong thời gian tới,” vẫn theo truyền thông Việt Nam cho biết.

Hôm 14/5, một phóng viên báo Nông thôn Ngày nay đề nghị không nêu danh tính nói với BBC:

“Tôi vừa bất ngờ vừa buồn, vì lệnh phạt được ban hành trong bối cảnh báo chí ngày càng khó khăn trong việc kiếm quảng cáo”.

“Hơn nữa, một trong hai bài bị lệnh phạt là bài viết của nhạc sĩ Tuấn Khanh, một tác giả có lượng bạn đọc nhất định do ông là người trăn trở với những vấn đề nóng bỏng của đất nước và bài của ông luôn được chia sẻ nhiều trên mạng xã hội,” phóng viên này nói với BBC.

____

FB Mạnh Kim

14-5-2016

Hệt như việc chặn các tuyến đường để vây người biểu tình vào “rọ”, việc đình bản tờ Thế Giới Tiếp Thị cũng tương tự: gom báo chí vào rọ để kiểm soát dòng chảy thông tin, đặc biệt với những dòng chảy thẳng, không uốn éo, dẫn vào các “điểm đầu cuối” thông tin mà xã hội đang cần và muốn đọc.

Thông tin trong thực tế đang chảy theo nhiều hướng và ngả trên mạng xã hội. Đình bản một tờ báo hoặc nhiều hơn, ở bối cảnh này, là hoàn toàn vô nghĩa đối với việc kiểm soát thông tin và “lọc” dư luận.

Báo chí và truyền thông nhà nước từ lâu đã không còn có thể “điều phối” và “định hướng” dư luận. Ngay cả khi siết thông tin chặt đến mức nào đi chăng nữa, cũng không thể kiểm soát tuyệt đối được suy nghĩ và nhận thức của từng cá nhân.

Sự kiện và thông tin là những ghi chép của thời cuộc. Thời cuộc là một phần lịch sử. Chẳng ai có thể chặn được lịch sử, đặc biệt với những dòng lịch sử đang được viết ở thì hiện tại.

 

Posted in Bắt bớ-Tù Đày-Đánh đập-Đàn Áp, Dân Chủ và Nhân Quyền, Kiểm Soát Thông Tin- Internet, Sách-Hồi Ký-Bài Báo..., Tự Do ngôn Luận | Leave a Comment »

►Nhà báo và sự nô lệ tự nguyện

Posted by hoangtran204 trên 11/09/2015

9-9-2015

nguyenthituhuy

Hôm nay tôi nhận được email từ một người bạn của nhà báo Đỗ Hùng. Câu chuyện phóng viên này bị tước thẻ nhà báo vì một status đùa nghịch trên facebook cá nhân vẫn đang còn là thời sự. Chưa có phản ứng gì từ đồng nghiệp của Đỗ Hùng trong giới báo chí chính thống.

Tôi viết bài này như một sự chia sẻ với phản ứng của người bạn của Đỗ Hùng. Và cũng để nói rằng tôi rất đồng tình với các nhận định của nhà báo độc lập Huỳnh Ngọc Chênh về vụ việc này.

Trước khi nói tiếp xin mời độc giả xem bức biếm họa dưới đây

tongthongphap.png

Nhân vật bị đả kích, xuất hiện trong bức tranh này với dương vật thòi ra, là đương kim tổng thống Pháp, François Hollande, và tờ báo đăng bức tranh này là Charlie Hebdo.

Chúng ta đều biết, mặc dù bị châm biếm đến mức như vậy, Hollande chẳng những không ra lệnh tịch thu thẻ nhà báo, không ra lệnh cách chức tổng biên tập hay phạt tiền hay đóng cửa tòa soạn, theo cách thức mà chính quyền Việt Nam sẽ làm (dĩ nhiên luật pháp cũng không cho phép ông ta làm điều đó), mà Hollande hẳn còn tự hào khi ở Pháp có một tờ báo như vậy. Bằng chứng là khi tờ báo bị tấn công, các nhà báo bị sát hại, Hollande còn kêu gọi toàn dân Pháp biểu tình để tượng niệm các nhà báo, và để bảo vệ tinh thần Pháp, tinh thần tự do tư tưởng, tự do ngôn luận, tự do biểu đạt. Không những chỉ dân Pháp, rất nhiều lãnh đạo các quốc gia khác cũng tham dự.

Bây giờ, chúng ta hãy hình dung cảnh tưởng tượng này : các nhà báo của các tờ báo chính thống Việt Nam, khi đến tòa soạn đồng loạt giơ một tấm biểu ngữ « Tôi là Đỗ Hùng » (nghĩa là tương tự cảnh các nhà báo Pháp giơ tấm biển « Tôi là Charlie » sau vụ các nhà báo của tờ Charlie Hebdo bị ám sát). Thử hỏi Bộ 4T có thể tịch thu hết thẻ nhà báo của tất cả các nhà báo không ? Không thể, bởi nếu thế thì sẽ lấy ai làm công cụ tuyên truyền cho đảng ?

Đọc đến đây, độc giả sẽ bảo : « Chị này chỉ giỏi mơ tưởng hão huyền, phi thực tế ! ». Phản ứng ấy của độc giả hoàn toàn dễ hiểu và hoàn toàn hợp lý, dựa trên thực tế của chúng ta hiện nay : thay vì bảo vệ đồng nghiệp của mình, các nhà báo im lặng để cho bất công hoành hành.

Etienne de la Boétie, trong tiểu luận nổi tiếng, viết lúc ông chưa đến 20 tuổi,  « Luận về sự nô lệ tự nguyện » đưa ra một ý tưởng nổi tiếng : kẻ bạo chúa không thể tồn tại nếu không có sự cam chịu nô lệ của đa số dân chúng, chính là sự nô lệ đã tạo ra bạo chúa.

Bộ 4T có thể hoành hành như vậy bởi vì không gặp phản ứng nào. Chính là sự cam chịu của giới báo chí đã tạo ra sự chuyên chế và sự đàn áp của Bộ 4T.

Chẳng cần đi đâu xa xôi ở các nước văn minh hay nhìn đâu xa xôi trong lịch sử, chỉ cần nhìn ngay một sự kiện tương tự, vừa xảy ra tại Việt Nam, để thấy rằng, một phản ứng, dù rất lịch sự, cũng có thể ngăn ngừa bất công và tự bảo vệ quyền của mình. Độc giả có lẽ hiểu ngay rằng tôi đang nói về trường hợp Phạm Lê Vương Các. Sự phản ứng của Vương Các, cộng với sự phản ứng của cộng đồng mạng, đã khiến trường Đại học nơi Vương Các đang học thay đổi thái độ.

Phạm Lê Vương Các mới chỉ là một sinh viên.

Các nhà báo Việt Nam có lương tri:  quyền dân sự, quyền công dân, quyền con người chính là những gì tạo nên nhân phẩm của các anh chị, các anh chị sẽ chấp nhận hay từ chối việc người ta tước đoạt các quyền và nhân phẩm của mình ?

Paris, 9/9/2015

Nguyễn Thị Từ Huy

http://www.rfavietnam.com/blog/4359

Posted in Chinh Tri Xa Hoi, Sách-Hồi Ký-Bài Báo..., Tự Do ngôn Luận | Leave a Comment »

►Bốn mươi năm Dương Nghiễm Mậu và tự truyện Nguyễn Du

Posted by hoangtran204 trên 07/03/2015

Bốn mươi năm Dương Nghiễm Mậu và tự truyện Nguyễn Du

22-2-2015 

“… Kẻ có chữ bất mãn thường chọn cách viết sớ tâu lên… Những lá sớ lâm ly thảm thiết này thường không được nghe. Có kẻ dâng sớ nhiều lần nhưng không thấy cởi bỏ áo mũ trở lại làm phó thường dân mà vẫn ung ung tại vị hưởng bổng lộc của triều đình. Một đôi kẻ chấp bút có đôi chút tự trọng thì chọn con đường ở ẩn, không chọn con đường làm giặc nên không có tên trong Sưu Tặc K..” Từ Hải Ngoại Truyện, Dương Nghiễm Mậu, 2005.

1975_ Bùi Giáng và Dương Nghiễm Mậu
Sau 30 tháng 4, 1975 các văn nghệ sĩ không đi thoát, hoặc chọn ở lại như Dương Nghiễm Mậu, nếu không phải đám nằm vùng thì ai cũng chờ cái ngày đi vào nhà giam, các trại tù cải tạo. Giữa những ngày căng thẳng và ảm đạm ấy, có một người vẫn nhởn nhơ, đi tìm thăm bạn bè văn nghệ cũ. Không ai khác hơn đó là nhà thơ Bùi Giáng Lá Hoa Cồn. Trung niên thi sĩ lúc nào cũng gầy và già hơn tuổi, râu tóc xơ xác như từ bao giờ.

Giữa một Sài Gòn thảng thốt, không biết anh đã lượm ở đâu trên đường mà có được bộ quân phục nguỵ với quân hàm Đại tá, Bùi Giáng đem vận ngay vào người, chân thấp chân cao đi nghêu ngao như diễn binh trên hè phố. Có lẽ đây là hình ảnh tuyệt đẹp cuối cùng của cuộc chiến tranh Việt Nam, với một tân binh tình nguyện gia nhập đạo quân đã hoàn toàn rã ngũ.

Rồi Bùi Giáng cũng tới được khu nhà thờ Ba Chuông, nơi có căn nhà Dương Nghiễm Mậu. Bùi Giáng hồn nhiên đi sâu vào con hẻm chật chội ấy đã thấp thoáng màu cờ đỏ. Anh vẫn tỉnh táo nhớ đúng nhà, tới đập cửa rầm rầm đòi vào thăm cho được cố tri. Trầm tĩnh và bản lãnh như Nghiễm, mà trước tình huống ấy cũng vẫn như gái ngồi phải cọc; được cái lúc ấy chòm xóm còn là thân quen, mạng lưới công an chưa đủ dầy đặc để gây nỗi phiền hà. Ra khỏi nhà Dương Nghiễm Mậu, không biết Bùi Giáng còn đi gõ cửa tới thăm những ai khác, hay anh lại ra nơi đầu cầu Trương Minh Giảng như một người tỉnh táo đứng làm cảnh sát công lộ chỉ đường “trên dòng luân lưu hỗn mang của lịch sử”
và để rồi sau đó nếu anh không bị đám “cách mạng 30” hay bọn công an đánh tả tơi sưng mặt mũi thì rồi cuối cùng chắc anh cũng lại tìm về với “mẫu hậu” Kim Cương, ngồi trước cửa phóng bút làm thơ tặng nàng.

Phóng viên chiến tranh Dương Nghiễm Mậu đi qua nhịp cầu Tràng Tìền bị giựt sập trong Tết Mậu Thân, Huế 1968 [photo by Đinh Cường]
1975_ Toà Soạn Bách Khoa và anh Lê Ngộ Châu
Tuần lễ trước 30 tháng 4, 1975, nhân viên Đài Mẹ Việt Nam và những cây viết cộng tác đã được Mỹ lên kế hoạch di tản khỏi Việt Nam – để tránh bị trả thù. Trước ngày lên tàu ra đảo Phú Quốc, nhà văn Võ Phiến tới thăm toà soạn Bách Khoa, nơi vùng “xôi đậu” có Võ Phiến Bắt Trẻ Đồng Xanh ngồi chung với Vũ Hạnh Bút Máu; cũng là nơi mà Võ Phiến đã gắn bó suốt 18 năm cùng với tuổi thọ của tờ báo. Anh Lê Ngộ Châu chủ nhiệm Bách Khoa kể lại: Võ Phiến thì phải đi, nhưng linh cảm không có ngày về, vẻ mặt buồn thảm, anh chỉ ngồi khóc lặng lẽ không nói nổi lời giã từ và rồi đứng dậy bước ra khỏi toà soạn.Toà soạn báo Bách Khoa trước 1975, 160 Phan Đình Phùng, Sài Gòn, từ phải: chủ nhiệm Lê Ngộ Châu (2006), Vũ Hạnh, Nguyễn Hiến Lê (1984), Vi Huyền Đắc (1976), Lê Phương Chi, Võ Phiến [nguồn: internet]
Trước một ngày mất Sài Gòn, thì hầu như toàn bộ nhân viên Đài Mẹ Việt Nam trong đó có gia đình Võ Phiến Giã Từ, Lê Tất Điều Phá Núi, Viên Linh Hoá Thân, Tu. Hồng Tôi Nhìn Tôi Trên Vách, Thanh Nam Bóng Nhỏ Đường Dài từ Phú Quốc đã được đưa lên con tàu lớn Challenger đậu sẵn ngoài khơi. Khi bờ biển Phú Quốc xa mờ trong tầm mắt, lần này thì Lê Tất Điều thấy Võ Phiến khóc. Cùng với những con tàu thuộc Đệ Thất Hạm đội, họ lênh đênh trên Biển Đông trong cuộc hải trình nhiều ngày để tới đảo Guam.Guam đã từng là căn cứ xuất phát của các đoàn phi cơ B52 trong cuộc chiến tranh Việt Nam với những trận mưa bom trải thảm/ carpet
bombing có sức tàn phá của một cơn địa chấn. Đảo Guam chỉ rộng 550 km2 sau tháng Tư 1975, là chặng dừng chân đầu tiên của hàng trăm ngàn người Việt tỵ nạn trước khi vào đất Mỹ. Vũ Khắc Khoan Thần Tháp Rùa, Nghiêm Xuân Hồng Người Viễn Khách Thứ 10, Mặc Đỗ Siu Cô Nương nhóm Quan Điểm cũng đi thoát và trước sau đặt chân tới các trại tỵ nạn trên đất Mỹ.

Chưa đến một tuần lễ sau, ngày 5 tháng 5, 1975 một trong những cây viết lâu năm của Bách Khoa, Phạm Việt Châu Trăm Việt Trên Vùng Định Mệnh đã tuẫn tiết tại tư gia khi cộng sản hoàn toàn chiếm Miền Nam. Cái chết rất sớm và tức tưởi của một tác giả có viễn kiến về lịch sử dân tộc, sức sáng tạo đang sung mãn mới bước vào tuổi 43, đã như một hồi chuông báo tử cho bao
nhiêu tang thương diễn ra sau đó.
1975_ Chiến Dịch Đốt Sách
Những ngày sau 30 tháng 4, 1975, hai đứa con Vũ Hạnh trong bộ bà ba đen, tay cuốn băng đỏ, tới toà báo Bách Khoa cũng là nơi cư ngụ của anh chị Lê Ngộ Châu. Trước khách lạ, đứa con gái nói giọng hãnh tiến: “Tụi con mới từ Hóc Môn về, cả đêm qua đi kích tới sáng.” Người dân lành nào vô phước đi lạc trên đường ruộng đêm đó có thể bị tụi nó coi là nguỵ. Những tên nằm vùng cùng với đám “cách mạng 30” này chỉ như phó bản đám Hồng vệ binh của Mao nhưng lại sau cả thập niên. Cũng chính những đám này là thành phần kích động chủ lực trong chiến dịch lùng và diệt tàn dư văn hoá Mỹ Nguỵ, chúng dẫm đạp những cuốn sách, nổi lửa đốt từng chồng sách rồi tới cả tới những kho sách. Những cuốn sách mà đa phần chúng chưa hề đọc, trong đó có cả một tủ sách “Học Làm Người”. Sách của những “tên biệt kích văn nghệ” còn được trưng bày trong toà nhà triển lãm Tội ác Mỹ Nguỵ cùng với vũ khí chiến tranh và chuồng cọp, dĩ nhiên có sách của Dương Nghiễm Mậu, có cả cuốn Vòng Đai Xanh của người viết. Cảm khái với câu thơ Nguyễn Du trong Độc Tiểu Thanh kí: văn chương vô mệnh cũng tro than/ văn chương vô mệnh luỵ phần dư.

Hơn hai ngàn năm sau, chẳng ai quên chuyện “đốt sách chôn nho/ phần thư, khanh nho” của Tần Thuỷ Hoàng, nhưng không biết chỉ 100 năm tới đây, các thế hệ tương lai có ai còn giữ được“bộ nhớ” Đã Có Một Thời Như Thế – tên một bài viết của Nhật Tiến, về giai đoạn người Cộng sản Việt Nam đốt sách giam tù cả một thế hệ văn nghệ sĩ của Miền Nam?

 Chiến dịch lùng và diệt tàn dư văn hoá Mỹ Nguỵ sau 30-04-1975 với những vụ “đốt sách” [nguồn: internet]
1975_ Nhà hàng Givral và Phạm Xuân Ẩn
Trước 1975, La Pagode, Brodard, Givral là nơi tôi, Phạm Đình Vy [chủ nhiệm Tình Thương] và các bạn y khoa thỉnh thoảng có dịp lui tới kể cả khi đã ra trường. Givral cũng là nơi thường gặp gỡ các nhà báo như Phạm Xuân Ẩn, Cao Giao, Nguyễn Tú, Như Phong Lê Văn Tiến… Phạm Xuân Ẩn, là bạn đồng môn với nhà văn Sơn Nam thời trung học Cần Thơ, Ẩn gốc người Nam dáng chân quê mộc mạc.Trong suốt cuộc chiến tranh Việt Nam, Phạm Xuân Ẩn chỉ được biết tới như phóng viên của Reuters, sau đó chuyển sang tuần báo Times, trụ sở trong Continental Palace bên kia đường. Cũng không thể không nhắc tới khách sạn Caravelle, gần toà nhà Quốc hội cũ, nơi tập trung đông đảo nhà báo ngoại quốc, nơi đặt văn phòng của các hãng thông tấn và truyền hình Mỹ như ABC, NBC, CBS…

Cũng chính Morley Safer trong một buổi phát hình CBS Evening News ngày 5 tháng 8, 1965 chiếu cảnh lính Thủy Quân Lục Chiến Mỹ trong cuộc hành quân xua dân ra khỏi làng và sau đó bật quẹt Zippo đốt nhà của họ, những hình ấy đã làm rúng động Toà Nhà Trắng và cả nước Mỹ như một vết hằn sâu của một cuộc chiến bắt đầu thất nhân tâm. Bảy năm sau, Nick Ut phóng viên AP với bức hình “Napalm Girl” chụp trong trận giao tranh Trảng Bàng Tây Ninh ngày 8 tháng 6, 1972, cũng là thời điểm Quốc Hội Mỹ dứt khoát cắt viện trợ quân sự cho Miền Nam.
Đội quân báo chí hùng hậu ấy, trong suốt cuộc chiến tranh Việt Nam, có khả năng điều kiện hoá dư luận với “những tin tức xấu từ một phía”, đủ làm nản lòng dân Mỹ, cùng với đám GI’s đang cầm súng từ phía bên kia nửa vòng trái đất; truyền thông Mỹ có phần công lao không nhỏ gián tiếp đưa tới mất Miền Nam Tự Do và cũng là một thất trận đầu tiên trong lịch sử các cuộc chiến tranh của Hoa Kỳ. Và rồi, tất cả bọn họ cũng đã kịp tháo chạy trước khi Sài Gòn đổi chủ.

Và rồi mấy ngày đầu tháng 5, 1975, Givral lại như điểm hẹn của những người bạn còn kẹt lại, tới đó để biết ai ở ai đi và nghe ngóng tin tức. Từ những chiếc bàn nhìn qua khung kính trong suốt ấy, tình cờ gặp lại Phạm Xuân Ẩn. Ẩn cũng đã từng tới thăm toà soạn báo sinh viên Y khoa Tình Thương trên đường Nguyễn Bỉnh Khiêm ngày nào. Vợ con Phạm Xuân Ẩn đã được tuần báo Times cho di tản trước đó nhiều hôm, nhưng Ẩn thì ở lại. Với hơi chút ngạc nhiên và vẻ quan tâm, Ẩn hỏi tôi: “Vinh, tại sao toa không đi?” Lúc đó chỉ như một câu hỏi xã giao, nhưng phải sau này, khi đã ở trong vòng rào các trại tù cải tạo, tôi mới thấm thía vỡ lẽ được câu hỏi ấy của Phạm Xuân Ẩn, nó đã như lời báo bão về những năm tháng tù đầy từ một chính sách mà Ẩn thì biết rất rõ.

Trong vỏ bọc của một nhà báo làm cho tuần báo Times danh tiếng của Mỹ, thực chất trước đó nhiều năm Phạm Xuân Ẩn là một điệp viên chiến lược đơn tuyến của Cộng sản Hà Nội. Sau này cũng chính Phạm Xuân Ẩn tâm sự với Morley Safer chương trình 60 Minutes của CBS rằng khi Sài Gòn sụp đổ không dễ gì để nói với đám “cách mạng 30” đeo súng AK lúc đó rằng, tôi là đại tá quân đội của họ, không phải
CIA. Có thể tôi bị tụi nó giết và cả con chó của tôi cũng bị nướng sống.
[Flashback, Vietnam Revisited 1989, The Spy in Winter]

Từ trái: Cao Giao Newsweek, Phạm Xuân Ẩn Times, Robert Shaplen New Yorker, Nguyễn Hữu Vượng Newsweek, Nguyễn Tú Chính Luận, [photo by Richard Avedon, Continental Hotel Saigon April 17, 1971; “The Spy Who Loved Us”, Thomas A. Bass] 1975_ Nhà báo Như Phong

1975_ Nhà báo Như Phong
Chỉ sau cụ Hoàng Văn Chí Trăm Hoa Đua Nở Trên Đất Bắc, người hiểu rõ cộng sản sau này không ai hơn nhà báo Như Phong Lê Văn Tiến. Cô Thần cũng là bút hiệu khác của Như Phong Khói Sóng trên nhật báo Tự Do, một chuyên mục viết về cộng sản Miền Bắc. Hiểu cộng sản như vậy, với biết trước những tháng năm tù đầy, vậy mà anh vẫn chọn ở lại. Gặp lại anh tại nhà luật sư Mai Văn Lễ, trước bệnh viện Sùng Chính trên đường Trần Hưng Đạo. Anh Mai Văn Lễ có một thời làm Khoa trưởng Luật khoa Huế thời Phật giáo Tranh đấu, bây giờ chỉ còn lại mình anh, chị và hai con thì đã đi trước đó một tuần.
Trưa ngày 30 tháng Tư, ngay sau khi lệnh đầu hàng được phát đi, có thể thấy từ mấy tầng lầu cao là một cơn mưa confetti, chỉ một màu trắng của những mảnh vụn giấy tờ tuỳ thân của quân cán chính cần được xé huỷ trước khi cộng quân hoàn toàn kiểm soát Sài Gòn. Không kể những giày nón quân phục được cởi bỏ vội vàng vứt tả tơi trên đường phố. Là người đi trước thời cuộc, anh Như Phong tiên đoán đúng những gì sắp diễn ra: chiến dịch đánh tư sản, kế hoạch đổi tiền cho mỗi hộ khẩu và rồi những cuộn giấy bạc sau đó trở thành rẻ rách và rồi sẽ là quần đảo ngục tù / Gulag Archipelago một tên sách của Solzhenitsyn. Dư tiền cũ thiên hạ đổ xô đi mua vàng, đôla chợ đen không dễ gì có trong thời điểm này.Anh Như Phong thì chỉ gợi ý  mua những cuộn len qu. nhồi trong các bộ nệm sa lông giống như ngoài Bắc, sau này khi cần có thể gỡ dần ra bán để kiếm sống. Nói vậy thôi chứ thái độ của cả mấy anh em vẫn là “chờ xem”.

Và rồi vang lên tiếng xích sắt nghiến trên mặt nhựa, nhìn qua khung cửa là những chiếc tăng T54 treo cờ giải phóng hối hả chạy về phía trung tâm Sài Gòn.

1980_ Cũng đừng tới thăm
Ra tù ba năm sau, trở về một Sài Gòn đã đổi khác. Nếu còn chút gì thân quen thì là mấy người bạn, không nhiều còn ở lại. Anh ấy là một trong những cố tri đầu tiên tôi nghĩ tới thăm. Là giáo sư đại học, anh tốt nghiệp ở Mỹ, trở về Việt Nam từ cuối thập niên 1960, đầy l. tưởng, ôm mộng lớn về một cuộc cách mạng xã hội – theo anh công bằng xã hội/ social justice phải là giải pháp rốt ráo cho một cuộc chiến tranh bế tắc đang diễn ra khốc liệt giữa hai miền Bắc Nam.

Tôi cũng đã từng gặp anh ở Mỹ và cả những năm sau này ở Việt Nam. Sự xụp đổ mau chóng của Miền Nam với anh là cả một “giấc mộng lỡ”. Tuy không phải chịu những năm tháng tù đầy, nhưng cuộc sống gia đình anh, cũng như cả Miền Nam rõ ràng là khó khăn. Từng bước,
anh đã bán những bộ tự điển qu. lúc đó rất có giá, cho đám học giả đói sách từ Bắc vào mua; tiếp đến là đồ đạc tranh tượng, cuối cùng là còn lại là một tủ sách khoa-học-xã-hội đồ sộ mà anh đem từ Mỹ về thì nay trở thành vô giá – no value, chỉ có thể đem cân k. bán lạt-son để làm bột giấy.

Vợ anh là cô giáo cũng phải ra giữa chốn chợ trời tần tảo kiếm sống. Anh thì quá nhậy cảm để thấy nỗi đau và nhục.

Gặp lại anh, vẫn nét mặt trí thức và đôn hậu như ngày nào, nhưng trong ánh mắt thì lộ rõ vẻ bất an. Thoáng nét vui mừng nhưng anh kịp kìm hãm, vừa nói vừa canh chừng nhìn ra cửa : “Biết toa được ra trại thì mừng nhưng cũng xin toa đừng tới thăm”. Sự thẳng thắn rất trực tiếp của anh, thoáng như một gáo nước lạnh, nhưng tôi cảm thông và vẫn rất thương anh. Gia đình bên vợ anh ở Mỹ đang làm thủ tục bảo lãnh, nghĩ rằng việc có liên hệ với lính nguỵ với tù cải tạo có thể là cản trở cho cuộc hành trình hy vọng của gia đình anh tới bến bờ tự do ấy.

Anh phản ứng theo hoàn cảnh, không chút phán đoán tôi vẫn dành cho anh sự kính trọng, và mai mốt đây nếu có ngày gặp lại anh thì chắc chắn phải là trên một lục địa khác. Rất sớm trên toàn Miền Nam đã bắt đầu có một mạng lưới tai mắt tổ dân phố và công an đủ để
gây hoài nghi và cả sự sợ hãi.

Ra khỏi nhà anh, có lại được niềm vui ấm lòng khi gặp người bạn tấm cám Nghiêu Đề. Nghiêu Đề cho biết mới gặp Sao Trên Rừng đi xe gắn máy từ Đà Lạt xuống, ngạc nhiên thấy Nguyễn Đức Sơn lần đầu tiên ăn vận đồ lớn complet cravate, hỏi tại sao thì Sơn cười giọng khinh mạn: “có vậy mới khỏi lẫn với tụi nó”.
1980_ Trần Phong Giao ngoài chợ
Trần Phong Giao dáng vạm vỡ, da sậm có vẻ công nhân lao động ngoài nắng hơn là người làm việc chữ nghĩa văn phòng. Nổi tiếng là thư k. toà soạn báo Văn trong 8 năm từ 1963 tới 1971, một tờ báo có vị trí đặc biệt trong sinh hoạt văn học Miền Nam với phát hiện những cây bút mới và không ít sau này đã trở thành những tên tuổi. Sau Văn, anh thử làm nhiều công việc khác cũng trong lãnh vực báo chí, xuất bản, rồi thủ thư nhưng đã không để lại nhiều dấu ấn như ở Văn.

Không lâu sau 30 tháng 4, cả hai anh chị đã phải chạy chợ kiếm sống với chiếc xe ba bánh, đậu trên đường Lê Thánh Tôn đứng bán từng bó củi, mấy nải chuối hay những bó rau tươi để nuôi đàn con. Ngày ra tù, tới thăm anh, vẫn ở trong con hẻm gần Cầu Kiệu, bên Tân Định,
anh gầy sút đi nhiều hai chân đã rất yếu. Gia tài của anh đáng giá vỏn vẹn còn một tủ sách, quý nhất là trọn bộ báo Văn đóng bìa da, một sự nghiệp của Trần Phong Giao nhưng rồi anh cũng đã không giữ được và phải đem bán cho một Việt kiều từ Mỹ về để có tiền chạy gạo và thuốc men. Trần Phong Giao mất trong sự túng quẫn và bạo bệnh (2005), anh cũng bước qua được ngưỡng tuổi cổ lai hy.
1981_ Và những bữa cơm gia đình
Ngôi nhà Nghiễm trong con hẻm với mặt tiền hẹp nhưng khá sâu. Nghiễm mặc quần soóc, áo thun trắng, đôi mắt rất tinh anh lúc nào cũng như mỉm cười, trông trẻ hơn tuổi của một người sinh năm 1936.

Tuy sống gần khu Chợ Cũ, sẵn những quán ăn vỉa hè và nhà hàng, rất tiện cho nếp sống cơm hàng cháo chợ, nhưng thường sau một ngày làm việc, thay vì về nhà tôi ghé nhà Nghiễm, được chị Trang vợ Nghiễm cho thêm chén thêm đũa với những bữa ăn đạm bạc nhưng ngon miệng vì là bữa cơm hạnh phúc gia đình. Trong tù, tôi và Nghiễm thì đã quen với những bữa ăn đói ngày đêm, ra ngoài tuy rau đậu nhưng cũng là bữa tạm no.

Người lớn thì không sao, nhưng với trẻ nhỏ đang tuổi “mau ăn, chóng lớn” thì khẩu phần ấy phải xem là suy dinh dưỡng. Nếu không là ngày phải ra trễ, tôi ghé qua chợ mua một món ăn gì đó, đem tới bày thêm vào mâm cơm gia đình. Có thêm món thịt, thêm chút chất đạm thì hôm đó với hai đứa nhỏ như là bữa tiệc. Những lần gặp nhau, tôi và Nghiễm đều ít nói. Hình như Nghiễm có viết ở đâu đó là những điều không cần nói ra nhưng cũng đã hiểu nhau rồi.

Chỉ có cô giáo Trang vợ Nghiễm sau một ngày dạy học mệt nhọc nhưng lúc nào cũng có đôi chuyện vui từ trường đem về gia đình. Miền Nam tài nguyên thì vẫn nguyên vẹn, nhưng đã có chính sách bần cùng hoá kiểm soát từng bao tử của người dân qua khẩu phần và sổ lương thực của họ.
1982_ Dương Nghiễm Mậu và một Thanh Tâm Tuyền khác
Đã gặp Thanh Tâm Tuyền ở những ngày 30 tháng Tư 1975 nơi một căn nhà nhỏ bên Gia Định. Vợ Tâm lúc đó cũng vừa sinh đứa con trai út trong cảnh tán loạn bệnh viện Nguyễn Văn Học. “Một Chủ Nhật Khác” cuốn tiểu thuyết cuối cùng của “một thời để yêu một thời để chết” cũng vừa mới in xong, chưa kịp phát hành. Ra tù 1982, gặp lại Thanh Tâm Tuyền của Bếp Lửa, bằng tuổi Dương Nghiễm Mậu nhưng trông anh già hơn nhiều, da sậm đen sắc diện của một người bị bệnh sốt rét kinh niên.

Khó có thể tưởng tượng với vóc dáng mảnh mai ấy anh sống sót qua suốt bảy năm tù đầy ngày nào cũng đói lạnh nơi những vùng sơn lam chướng khí ấy ở các trại giam Miền Bắc. Bảy năm đốn tre trảy gỗ trên ngàn, bị tre nứa đâm xuyên đùi không giải phẫu thuốc men nhưng anh vẫn sống sót, trong tù chống rét anh tập hút thuốc lào, không giấy bút anh vẫn làm thơ qua trí nhớ nhưng là những bài thơ trở về với các thể thơ truyền thống.

Thơ ở Đâu Xa là tập thơ cuối cùng làm trong tù TTT cho xuất bản ở bên Mỹ (1990). Trong một cuộc phỏng vấn rất hiếm năm 1993, Thanh Tâm Tuyền đã giải thích sự chuyển biến trong thi ca của anh: “Làm thơ trong trại cải tạo, cũng là trở về với thi ca truyền thống dân gian/ Faire de la poésie dans un camp de redressement, c’est aussi retourner à la poésie de tradition populaire.”
[Thanh Tam Tuyen, la poésie entre la guerre et le camp; par Le Huu Khoa,
Publications de l’Université de Provence]
Trong chỗ rất riêng tư, anh tâm sự: Thái Thanh bạn anh đã dứt khoát không hát từ sau 1975. Khi biết Thanh Tâm Tuyền vừa ra tù đến thăm, cô ấy cầm đàn và hát lại những bài thơ phổ nhạc của anh: Đêm màu hồng, Nửa hồn thương đau, Lệ đá xanh… tuy ấm lòng gặp lại cố tri nhưng rồi anh đã không còn nguyên vẹn cảm xúc để nghe lại những thanh âm ngày cũ. Anh đã nói không với những người mới muốn gặp anh. Anh vẫn giữ thái độ đó khi sang định cư ở Mỹ. Sự khép kín ấy khiến Mai Thảo đôi khi cũng phản ứng giận
lẫy.

Từ phải: Thanh Tâm Tuyền và Doãn Quốc Sĩ trước nhà thờ Đức Bà, Sài Gòn 1985 [nguồn: internet]
Rồi cũng có một buổi gặp gỡ cuối 1982, từ nhà Nghiễm có Doãn Quốc Sĩ, Thanh Tâm Tuyền và tôi cùng đi bộ tới một quán cóc cũng trên đường Trương Minh Giảng nơi gần đường xe lửa. Thức uống của Nghiễm bao giờ cũng là một chai bia. Nhắc tới Tô Thuỳ Yên Trường Sa Hành thì vẫn còn ở trong tù. Rồi chẳng ai nhắc tới nỗi khổ hiện tại mà câu chuyện lại xoay quanh những người bạn may may mắn ở phương xa. Những người đi thoát trước 1975, vài tên tuổi được nhắc tới: Thanh Nam Tu. Hồng, Vũ Khắc Khoan, Mặc Đỗ, Võ Phiến, Lê Tất Điều, Viên Linh… Nhưng rồi tên Mai Thảo Bản Chúc Thư Trên Ngọn Đỉnh Trời vẫn như điểm hội tụ của những tin tức. Anh là nhà văn duy nhất hiếm hoi thoát các vụ ruồng bắt của cộng sản trong suốt hai năm sống lẩn lút ở Sài Gòn. Vẫn có nhiều người liều mạng che chở cho anh. Trần Dạ Từ Tỏ Tình Trong Đêm cùng với rất nhiều nhà văn nhà báo thì đang trong tù, Nhã Ca Giải Khăn Sô Cho Huế ra tù sớm phải cưu mang một đàn con nhỏ nhưng cũng chính mấy mẹ con Nhã Ca đã bất chấp hệ luỵ cất dấu bác Mai Thảo trong nhà, một căn phố lầu trên góc đường Tự Do, đây cũng là chặng ẩn náu cuối cùng của Mai Thảo cho đến khi anh vượt biển rất sớm thoát được tới đảo Pulau Besar Mã Lai đầu tháng 12, 1977.Hai năm sau Mai Thảo 1979, phải kể tới chuyến đi thừa sống thiếu chết của  81 thuyền nhân trong số đó có Nhật Tiến Người Kéo Màn và thầy Từ Mẫn Lá Bối, vợ chồng ký giả Dương Phục Vũ Thanh Thuỷ… và con tàu đã gặp nạn hải tặc Thái Lan trên biển rồi trên đảo Kra, và cũng rất sớm qua ngòi bút của người chứng Nhật Tiến đã ghi lại những thảm cảnh ấy và bắt đầu làm rúng động lương tâm thế giới. Cũng khởi đầu cho phong trào Cứu Người Vượt Biển về sau này.
Sau lần gặp gỡ nơi nhà Nghiễm, Thanh Tâm Tuyền chuẩn bị đi Mỹ theo diện HO, cho dù “tâm thái” – chữ của TTT, vẫn gắn bó với một quê hương mà anh không muốn xa rời, riêng tác giả Ba Sinh Hương Lửa lại vào tù tổng cộng 14 năm trước khi đi định cư 1995 và gặp lại Mai Thảo ở Quận Cam. Trên đường đi, tôi không thể không có . nghĩ nếu làm một con toán cộng những năm tù đầy của mỗi văn nghệ sĩ Miền Nam, con số ấy phải vượt trên nhiều thế kỷ. Không phải chỉ có oan nghiệt giam cầm huỷ hoại những thân xác, họ còn giết chết sức sáng tạo của văn nghệ sĩ trong khoảng thời gian sung mãn nhất. Một nỗ lực huỷ diệt cả một nền văn hóa đến tận gốc: trước lịch sử, ai phải nhận lãnh trách nhiệm cho những tội ác thiên thu ấy?

Tiểu sử:
Dương Nghiễm Mậu tên thật là Phí Ích Nghiễm, sinh năm 1936 tại Hà Đông, cùng năm sinh với Thanh Tâm Tuyền, Thảo Trường. Học tiểu học trường Hàng Than, trung học Chu Văn An Hà Nội. Cùng học 2 trường ấy nhưng Nghiễm hơn tôi 5 tuổi, có lẽ trên nhiều lớp nên không được biết anh. 1954 di cư vào Nam. Từ 1957 viết nhiều tùy bút, đoản văn, truyện ngắn, truyện dài cho Sáng Tạo, Thế Kỷ 20, Văn, Văn Học, Bách Khoa, Giao Điểm, Chính Văn. Có một giai đoạn ngắn, Nghiễm sinh hoạt nơi Đàm Trường Viễn Kiến của Nguyễn Đức Quỳnh Ai Có Qua Cầu. Từ 1962, làm tạp chí Văn Nghệ với L. Hoàng Phong, anh của nhà thơ Quách Thoại.

Tập truyện ngắn đầu tay Cũng Đành, Văn Nghệ xuất bản năm 1963. Truyện dài Gia tài Người Mẹ, giải thưởng Văn Chương Toàn Quốc 1966. Nhập ngũ 1966 với cấp bậc hạ sĩ đồng hoá, làm phóng viên chiến trường đến tháng
4/1975. Sau 1975 bị bắt, ra tù 1977, sống bằng nghề sơn mài tại Sài Gòn.

 

Nghiễm nhắm mắt mỉm cười dưới mặt đồng hồ kim phút kim giờ cùng rớt xuống [photo by Trần Cao Lĩnh]

2006_ Những Cơn Mưa Sài Gòn
Từ một khách sạn nhỏ gần đường Tự Do, để tới khu nhà thờ Ba Chuông, đi bộ thì quá xa, taxi thì nạn kẹt xe, tôi chọn Honda ôm, nhưng đã không tránh khỏi thót tim vì mấy tay lái xe quá liều mạng: chạy nhanh len lách, ngược dòng xe cộ, cắt cả lên vỉa hè đông người đi bộ mà anh ta cho là an toàn hơn đi theo luật giao thông. Tuy không có mẩu giấy địa chỉ trên tay, nhưng có trí nhớ tốt về hình ảnh / photographic memory, tôi nghĩ vẫn có thể tìm ra nhà Dương Nghiễm Mậu vẫn trong ngõ hẻm ấy cho dù đã nhiều năm không gặp.

Nhà đã được xây lại, cất thêm một từng lầu. Nghiễm nay là nghệ nhân sơn mài, chị Trang vợ Nghiễm thì vẫn dạy Anh văn ở Marie Curie, hai con Nghiễm đã trưởng thành tốt nghiệp đại học và đi làm. Cả gia đình đều làm việc cật lực để tạo được một cơ ngơi như hôm nay.
Khi Nhà Văn là Con Bệnh
Tháng 9, 2006 gặp lại Nghiễm sau bao năm, khi anh vừa bước vào ngưỡng tuổi cổ lai hy. Thanh Tâm Tuyền vừa mất trước đó 6 tháng [03/2006]. Như Phong Khói Sóng mất đã 5 năm [12/2001], Mai Thảo Ta Thấy Hình Ta Những Miếu Đền cũng mất trước đó 8 năm [01/1998], cùng năm với Nghiêu Đề Ngọn Tóc Trăm Năm [11/1998]. Họ là những nghệ sĩ Việt Nam chọn tự do phải sống lưu vong và vùi thân ở một nơi không phải quê nhà.

Nghiễm thì vừa gặp nạn ở cái tuổi 70, khi đang đi bộ trên lề anh bị một xe gắn máy chắc cũng lại xe ôm leo lên tông gẫy xương cổ chân, phải phẫu thuật bó bột gần 2 tuần lễ rồi mà còn sưng đau, vẫn phải chống nạng.

Nghiễm giỏi chịu đựng, không hề than đau chính điều ấy khiến tôi quan tâm. Nghiễm cần được tái khám để có một . kiến thứ hai / second opinion. Tôi nghĩ tới một bạn đồng môn còn ở lại, chuyên khoa chỉnh trực, giảng dạy ở Y khoa, bạn bè gọi anh là người có bàn tay vàng trong phẫu thuật chấn thương chỉnh hình. Anh cũng có phòng mạch tư ngoài giờ và tôi đề nghị đưa Nghiễm tới đó. Nghiễm thì lưỡng lự không muốn nhưng vì tình bạn anh đã không thể nói không.

Không có địa chỉ, nhưng biết phòng mạch Bs Võ Thành Phụng trên đường Lê Văn Duyệt, đối diện với trụ sở Tổng Liên Đoàn Lao Công cũ. Với một cổ chân bị gẫy còn rất xưng đau, thì lên và xuống taxi lúc này không phải là dễ dàng đối với Nghiễm. Cơn mưa nhiệt đới thì vẫn cứ tầm tã từ nhà cho tới khi Nghiễm bước chân được vào phía trong phòng mạch. Gặp chị Võ Thành Phụng, khi biết người bệnh là nhà văn Dương Nghiễm Mậu, thì tôi hầu như không còn vai trò gì nữa. Chị là độc giả lâu năm và rất quen thuộc với các tác phẩm của Dương Nghiễm Mậu, từ thời báo Văn, Văn Nghệ và cả Sáng Tạo ngày nào, không kể những cuốn sách của Nghiễm mà chị đã đọc.

Phòng mạch đông khách, do sắp xếp của chị Phụng, Nghiễm là bệnh nhân mới được ưu tiên khám trước. Anh Phụng cùng tôi đọc những tấm phim chỉ rõ xương cổ chân gẫy chưa lành nhưng không nhiều di lệch nên không cần thêm phẫu thuật mà là điều trị bảo tồn. Quá bận bịu với chuyên môn, anh Phụng có lẽ không là độc giả của Dương Nghiễm Mậu như chị Phụng nhưng Nghiễm đương nhiên trở thành người bệnh đặc biệt của phòng mạch anh chị hôm đó. Trời vẫn không ngớt mưa, trong taxi trên đường về, tôi nói đùa với Nghiễm, trong cuộc đời viết văn, tôi chưa bao giờ có hạnh phúc được gặp được một nữ độc giả tâm đắc và yêu văn chương đến như vậy. Rất ít bày tỏ, như từ bao giờ Nghiễm chỉ đáp lại bằng một nụ cười hiền.

 Dương Nghiễm Mậu gẫy chân, ngồi cười trước tủ sách, hai tay tựa trên khung đi / walker [photo by Ngô Thế Vinh 09/ 2006] 2012_ Từ Hải Ngoại Truyện.
Trước 1975, đọc Kinh Kha với con chủy thủ trên đất Tần bất trắc trong Nhan Sắc để thấy truyện Dương Nghiễm Mậu là những tình huống và thái độ lựa chọn, rất biểu tượng và nhiều ẩn dụ. Nghiễm viết truyện xưa mà nói tới nay. Kinh Kha qua sông Dịch, chàng lọt vào được cung điện, khi đã kề đoản đao vào cổ Tần Vương, nhưng thay vì run sợ, thì Tần Vương lại ngửa mặt cười. Và Kinh Kha chợt hiểu ra tất cả: giết bạo chúa này sẽ lại có một bạo chúa khác… Và hình ảnh Kinh Kha lầm lũi rời khỏi cung điện vẫn là nỗi đau không cùng, như một dự báo oan khiên cho ngày hôm nay.Từ Hải Ngoại Truyện được Dương Nghiễm Mậu viết khoảng 10 năm sau 1975, [Gia Định, 2005]. Từ Hải là nhân vật được Dương Nghiễm Mậu khá nâng niu. Phí Ích Bành em Nghiễm, trao cho tôi một phong bì với 16 trang chữ có ít dòng thủ bút của Nghiễm. Đọc ngay những trang viết ấy để thấy một Từ Hải Ngoại Truyện nửa anh hùng nửa thảo khấu, rất khác với nhân vật chính truyện khi chọn con đường bổng lộc giam thân về chốn triều đình.

Từ Hải Ngoại Truyện với thủ bút của Dương Nghiễm Mậu Một trích đoạn về bối cảnh xã hội trong Từ Hải Ngoại Truyện: “một hôm thầy Khổng ngồi xe đi trên đường thì thấy một bô lão bước tới vái chào, thầy Khổng cho dừng xe lại, trong chốc lát cả một đám đông trẻ con gầy còm nhếch nhác vây quanh. Ông lão nói: nghe thiên hạ nói thầy nhiều chữ nên tới xin một ít. Khổng Tử liền mở cái hòm gỗ lấy ra một cuốn sách trao tận tay cụ già. Cụ già cầm lấy ngắm nghía rồi lật những trang sách nhìn trên nhìn dưới rồi gấp lại đứa trả thầy Khổng và nói: tôi không biết dùng cái này để làm gì. Có tiếng cười khả ố vang lên từ một người trung niên ở trần, đóng khố: sách chẳng có giá trị gì đối với những người không có cơm ăn và mù chữ. Ông hãy bước chân xuống ruộng, đi cày trồng lúa rồi lấy thóc mà cho họ thì có ích hơn. Chuyện chỉ kể tới đó không cho biết hành xử của thầy Khổng ra sao”.
Cũng trong Từ Hải Ngoại Truyện, Dương Nghiễm Mậu viết về giới quan lại khoa bảng: “Trong Sưu Tặc K. những kẻ nổi lên làm giặc thường xuất thân là dân thuyền chài, kẻ cầy ruộng, người chăn trâu, kẻ đốn củi; tuyệt nhiên không thấy có kẻ nào đậu tiến sĩ, trạng nguyên. Không tên giặc nào có làm thơ làm phú, hoặc từng làm quan, làm thầy giáo mà đi làm giặc. Ở những sách khác có viết về kẻ có chữ bất mãn thường chọn cách viết sớ tâu lên: khi thì đòi chém tham quan ô lại, khi kêu ca sưu cao thuế nặng khiền dân đen chết đói, khi kêu oan cho lương dân bị chết chém… Những lá sớ lâm ly thảm thiết này thường không được nghe. Có kẻ dâng sớ nhiều lần nhưng không thấy cởi bỏ áo mũ trở lại làm phó thường dân mà vẫn ung ung tại vị hưởng bổng lộc của triều đình. Một đôi kẻ chấp bút có đôi chút tự trọng thì chọn con đường ở ẩn, không chọn con đường làm giặc nên không có tên trong Sưu Tặc K..”

Dương Nghiễm Mậu viết những dòng cuối: “Từ những trang sách tới thực tế của chuyến đi làm ta hoài nghi những ghi chép của người xưa… nhiều sách truyện đã để cho Từ Hải chết đứng giữa trận tiền. Một anh hùng phải có cái chết anh hùng. Trong ngoại truyện Từ Hải, cuối cùng Từ Hải đã chết nhưng chết một cách khác, không phải cách chết đứng giữa trận tiền.”

Rồi từ chuyện xưa mà hóa ra nay, Dương Nghiễm Mậu viết tiếp: “Nhiều sách tạo ra những anh hùng như mô tả kẻ tự biến mình thành cây đuốc sống, lấy thân mình bịt họng súng thần công, ôm bom lao vào quân giặc mà chết. Hầu hết những anh hùng trong sách đó chẳng bao giờ người ta tìm ra tung tích.”
Tưởng cũng nên nói thêm, căn nhà của gia đình Nghiễm không xa cây cầu Nguyễn Văn Trổi trên đường Công L. thời chống Mỹ, rồi không thể không nhắc tới “cây đuốc sống” Lê Văn Tám đốt kho xăng Thị Nghè 1945 thời chống Pháp: một nhân vật mà sau này Trần Huy Liệu, bộ trưởng Bộ Thông tin Tuyên truyền của Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa vào những ngày cuối đời đã trối trăng lại với đám môn sinh: Lê Văn Tám chỉ là sản phẩm của tuyên truyền và không có thật.

Ba mươi hai năm sau 1975, qua liên lạc vận động của nhà thơ Nguyễn Quốc Thái, [cũng là người giới thiệu Phạm Duy đến với Công ty Phương Nam], nhà xuất bản Phương Nam đã tái bản 4 tập truyện ngắn của Dương Nghiễm Mậu (Đôi Mắt Trên Trời, Cũng Đành, Nhan Sắc, Tiếng Sáo Người Em Út), và truyện dài Nguyệt Đồng Xoài của Lê Xuyên. Ngay sau đó, Vũ Hạnh, tuổi đã ngoài 80, như một đao phủ đã không nương tay viết bài đấu tố Dương Nghiễm Mậu, Lê Xuyên, và quy tội Công ty Phương Nam.

Vũ Hạnh viết: “Sách của Dương Nghiễm Mậu thì nổi bật tính phản động tha hóa lớp trẻ hầu đưa đẩy họ vào sự chống phá cách mạng, chống lại sự nghiệp giải phóng đất nước khỏi sự thống trị của bọn đế quốc xâm lược, còn sách của Lê Xuyên là tính đồi trụy.” Vũ Hạnh viết tiếp: “Vì những lẽ đó, rất nhiều bức xúc, phẫn nộ của các bạn đọc khi thấy Công ty Phương Nam ấn hành sách của ông Dương Nghiễm Mậu… Đem những vũ khí độc hại ra sơn phết lại, rêu rao bày bán là một xúc phạm nặng nề đối với danh dự đất  nước.” Và rồi cũng Vũ Hạnh kể lể: “các tác giả Dương Nghiễm Mậu, Lê Xuyên sống lại ở thành phố này vẫn được đối xử bình đẳng, không hề gặp bất cứ sự quấy phiền nào.” [Sài Gòn Giải Phóng, 22/4/2007].
Tưởng cũng nên ghi nhận ở đây, trước 1975 đông đảo thế hệ văn nghệ sĩ Miền Nam không thiếu lòng nhân ái đã hơn một lần cùng vận động k. tên yêu cầu thả Vũ Hạnh. Vũ Hạnh cũng được Văn Bút Việt Nam che chở, và khi bị kết án tù thì chính linh mục Thanh Lãng, Chủ tịch Văn Bút đứng ra bảo lãnh, để rồi sau đó Vũ Hạnh lại công khai ra ngoài họat động.

Sau 1975, nhiều nhà văn nhà báo miền Nam ấy đã chết rũ trong tù như Hiếu Chân Nguyễn Hoạt, Hoàng Vĩnh Lộc, Nguyễn Mạnh Côn, Phạm Văn Sơn, Trần Văn Tuyên, Trần Việt Sơn, Vũ Ngọc Các, Anh Tuấn Nguyễn Tuấn Phát, Dương Hùng Cường… hay vừa ra khỏi nhà tù thì chết như Hồ Hữu Tường, Vũ Hoàng Chương. Nếu còn sống sót, đều nhất loạt phải gác bút: Dương Nghiễm Mậu sống bằng nghề sơn mài, Lê Xuyên ngồi bán thuốc lá lẻ ở đầu đường, Trần Lê Nguyễn tác giả kịch Bão Thời Đại thì phải đứng sạp bán báo để độ nhật, Nguyễn Mộng Giác Đường Một Chiều làm công nhân sản xuất mì sợi, Trần Hoài Thư Ngọn Cỏ Ngậm Ngùi ba năm ở tù ra trở thành Người Bán Cà Rem Dạo.
Nghiễm vốn tâm lành, nếu có ai nhắc đến chuyện Vũ Hạnh thì anh chỉ cười, giọng vẫn bao dung, anh tin trên đời người tốt nhiều hơn kẻ xấu, kẻ xấu như vậy rốt cuộc họ cũng tự thấy sai. Nghiễm có lạc quan quá không vì đã hơn 40 năm chịu khổ ải do họ gây ra, nay đã tới tuổi gần đất xa trời mà sao họ vẫn“chưa tự thấy sai” chưa hề biết sám hối. Một người bạn rất quen biết Vũ Hạnh nhận định: sự hung hãn ấy chỉ như tấm bình phong – một thứ raison d’être, biện minh cho sự hiện hữu của Vũ Hạnh còn như một người cộng sản.
“Ngày Xưa Vũ Hạnh” cộng sản nằm vùng vẫn được sống thênh thang, vẫn được đối xử như một nhà văn [L. Đợi, talawas 10.5.2007] “Ngày Nay Vũ Hạnh” bên thắng cuộc – tên bộ sách của Huy Đức, thì vô cảm vênh váo, là tiếng nói hung hãn nhất trong Hội đồng đánh giá Văn Học Miền Nam tại Thư Viện Quốc Gia. Vẫn một cliché, vẫn một khẩu hiệu tung hô không suy xuyển: “tác giả là gốc ngụy, nội dung tác phẩm là nô dịch phản động đồi trụy”. Vũ Hạnh xấp xỉ tuổi Võ Phiến, nay sắp bước vào cái tuổi 90 vẫn cứ nhân danh “đảng ta, chèo lái con thuyền chở đạo” vẫn không ngừng truy đuổi cả những thế hệ nhà văn trẻ nối tiếp có khuynh hướng tự do, điển hình qua bài viết phê phán Nhã Thuyên và Nhóm Mở Miệng với hai cây bút nổi trội là L. Đợi và Bùi Chát [Thấy gì từ một luận văn sai lạc, Văn Nghệ
29/2013].
Có lẽ tấn thảm kịch của Vũ Hạnh cũng như những người cộng sản tha hoá bước vào Thế Kỷ 21 là sự “nguỵ tín/ mauvaise foi” họ sống với hai bộ mặt, vẫn không ngừng hô hào cổ võ cho điều mà họ không còn chút tin tưởng. Vũ Hạnh vẫn không ngưng nặng lời chửi rủa Mỹ, nhưng rồi vẫn gửi con cái đi du học rồi trưởng thành sống ở Mỹ; Vũ Hạnh vẫn được ra vào nước Mỹ như một con người tự do.

Trở lại với Nghiễm, nhiều người vẫn nghĩ rằng, sau 1975, ngoài thời gian bị tù đày, đi làm sơn mài kiếm sống, Dương Nghiễm Mậu không còn viết gì. Điều này có lẽ không đúng. Nghiễm không có sách mới xuất bản trong nước suốt 40 năm từ sau 1975. Nhưng Dương Nghiễm Mậu như tôi biết, anh vẫn viết, trong đó có “Tự Truyện Nguyễn Du” như một tác phẩm lớn mà tôi tin là anh vẫn bền bỉ hoàn tất từng trang sách.

2015_ Mưa California Mưa Sài Gòn
California vẫn khô hạn, nhưng thản hoặc cũng có những cơn mưa đủ tầm tã để gợi nhớ những cơn mưa Sài Gòn, nhớ ngày tới thăm bạn cũng vào một buổi chiều mưa như vậy, với những khúc đường xá thì ngập lụt. Hạnh phúc ở xa là có được một người bạn như Nghiễm, cho dù ở đâu và bao giờ có biến động ra sao thì vẫn cứ là một Dương Nghiễm Mậu với Nhan Sắc ấy, nhất quán và xác tín như thuở nào: có cái dũng để nói không.

Tôi nghĩ tới Nghiễm, anh đã sống trong dòng chính sinh hoạt Văn Học Miền Nam, từ rất sớm cho tới 1975, và 40 năm sau anh vẫn thăng trầm với vận nước ngay trên quê nhà. Anh là một nhân chứng khả tín cho suốt thời kỳ ấy và điều anh viết ra được mọi người tin.
Lời Cuối Cho Bài Viết
Dự định khởi đầu là một bài viết về cố tri Dương Nghiễm Mậu, với cuộc hành trình 40 năm của anh. Bài viết chỉ với hơn bảy ngàn chữ, nhưng rồi không tránh được, như một flashback, có thêm những khúc phim trắng đen ngắn của hồi tưởng rất chung và cả rất riêng tư, khá rời rạc đổ tràn theo những trang viết.
Vậy mà đã 40 năm qua đi 1975-2015, với đời người như một cơn gió thoảng, với lịch sử chỉ là một chớp mắt, nhưng lại là một chặng đường rất dài trải nghiệm những tang thương. Thêm một chớp mắt nữa, thế hệ những người cầm bút 1954-1975 đều trở về với cát bụi, một số có thể còn được nhắc tới qua tác phẩm nhưng rồi cũng phải kể tới cuộc sống đầy đoạ và cả những cái chết tức tưởi của họ. Nói tới Văn Học Miền Nam, không thể không có một “cuốn sách trắng/ livre blanc” về thời kỳ đó, một Wikipedia mở, như một “bộ nhớ” cho các thế hệ Việt Nam tương lai.

Trong quá trình phục hồi di sản Văn Học Miền Nam, không thể không nhắc tới một tên tuổi: Trần Hoài Thư – Thư Quán Bản Thảo, anh có hùng tâm và đơn độc trong suốt nhiều năm nỗ lực khôi phục lại những văn bản của một thời kỳ văn học bị truy lùng và huỷ diệt.

Không phải là quá sớm để ghi lại một giai đoạn lịch sử trung thực, chứ không phải là “phiên bản” nguỵ tạo mà người cộng sản đã và đang làm. Trước khi lịch sử bước qua một trang khác.
NGÔ THẾ VINH
Sài Gòn 1975 – California 2015

(Tác giả gửi đăng)
23

Posted in Miền Nam sau 30-4-1975, Sách-Hồi Ký-Bài Báo... | Leave a Comment »