Trần Hoàng Blog

Archive for Tháng Hai, 2014

►Vì viết bài trên mạng, công an liên tục khủng bố tinh thần gia đình tôi- Tôi quyết tâm đưa “chế độ khủng bố” này ra ánh sáng, hầu mang lại tương lai cho đất nước, cho dân tộc.

Posted by hoangtran204 trên 28/02/2014

Nguyễn Văn Thạnh

Tác giả gửi tới Dân Luận

27-2-2014

Câu chuyện số 1

Sáng nay mẹ tôi và tôi đến trụ sở Hội đồng nhân dân xã Hòa Phước. Ở đây không có phòng trực cơ quan, hai mẹ con đi lang thang, nhìn vào các phòng, không biết nên vô phòng nào. Cuối cùng mẹ tôi quyết định vô phòng phó chủ tịch, tôi đứng bên ngoài.

Sau một lát trao đổi, họ hướng dẫn mẹ tôi qua phòng CA. Bước vào phòng, tôi hết sức ngạc nhiên, người ngồi ghế trưởng CA xã Hòa Phước-Nguyễn Lân-chính là người đàn ông mặc áo sơ mi trắng trong ảnh, người lao vào đánh tôi tới tấp sau khi ra lệnh tôi không được chụp ảnh (tôi phản đối, ông ta giật máy ảnh và tôi giằng lại).

Chi tiết vụ việc xem tại đây: http://thanhstatus.blogspot.com/2014/02/tuong-trinh-vu-viec.html?m=1

Sau khi mẹ tôi xưng tên và đưa giấy CMND cho ông ta xem, ông ta hỏi đến làm việc với mục đích gì. Mẹ tôi nói “…là một người mẹ, tôi muốn biết sự thật vụ việc thế nào? Nếu con tôi sai thì tôi dạy,…”

Ông ta đồng ý làm việc, ông ấy gọi ông Đức, phó CA xã đến lập biên bản làm việc. Ông ta yêu cầu tôi đi ra, chỉ làm việc với mẹ tôi thôi. Tôi nói, tôi là người có liên quan muốn ở lại để nghe nhưng ông ta không đồng ý.

Hiện tôi ra ngoài uống nước, mẹ tôi làm việc bên trong.

Tôi có đề nghị mẹ tôi bỏ theo người một máy ghi âm nhưng bà không chịu. Bà bảo bà đủ bình tĩnh để đối đáp.

Tường trình xong lúc 8h54 27.2.2014.
Nguyễn Văn Thạnh

P.s: Xin nói thêm, mẹ tôi còn trẻ tầm 55 tuổi (tôi con đầu), khỏe mạnh. Mẹ tôi còn nhiều việc trên đời chưa làm xong, chưa có ý định tự tử.

Số điện thoại CA xã Hòa Phước 0511.3686.346.

Về mặt pháp lý, mẹ tôi không liên can gì. Vụ việc tôi cũng đã gửi cơ quan chức năng. Việc mẹ tôi ra đây là ý muốn của bà vì một số nhân viên an ninh nói là tôi sai, có sao mới bị vậy. Bà ra là để đối thoại, nắm bắt sự thật. Tôi nghĩ điều này là rất cần thiết trong một xã hội không phải pháp trị mà là “khủng bố trị”.

 

1979742_375587419249423_678444029_n.jpg 

 

1960041_375587435916088_2017629899_n.jpg

Ảnh: Trưởng CA xã Hòa Phước-Nguyễn Lân chính là người tấn công tôi hôm trước. 

Câu chuyện số 2

Tiếp theo chuyện mẹ tôi đến CA Hòa Phước sáng nay (8h 27.2.2014) để hỏi thông tin việc tôi và em tôi bị đánh hôm tối 14.2.2014.

Nhưng sự thật không phải vậy.

Đây là cuộc điện thoại sau đó của mẹ tôi sau đó (tầm 12h30), khi tôi đã chia tay mẹ tôi để ra Đà Nẵng.

Các bạn nghe để biết mức độ khủng khiếp của nó:

https://soundcloud.com/nguy-n-v-n-th-nh-4/me-toi-goi-lai-toi-sau-do

Và đây là cuộc gọi em dâu tôi sau đó:

https://soundcloud.com/nguy-n-v-n-th-nh-4/em-dau-goi.

Và đây là cuộc gọi thứ hai sau đó tầm 20 phút:

https://soundcloud.com/nguy-n-v-n-th-nh-4/em-dau-goi-2

Tôi xin nhường lại lời bình luận, cảm nhận cho các bạn.

Riêng tôi, phải nói tôi choáng váng và rất đau lòng. Tôi quyết tâm đưa “chế độ khủng bố” này ra ánh sáng, hầu mang lại tương lai cho đất nước, cho dân tộc.

Advertisements

Posted in Công An, Dân Chủ và Nhân Quyền | Leave a Comment »

►Công an Hà Nội xúi Công an Đồng Tháp bắt giam Bùi Hằng

Posted by hoangtran204 trên 28/02/2014

QUÁ ĐỐN MẠT!

THỨ TƯ, NGÀY 26 THÁNG 2 NĂM 2014

 

Chỉ có thể dùng 3 từ này để nói về 2 ngày trời lặn lội từ Vũng Tàu về Cao Lãnh xong lại xuống huyện Lấp Vò- Đồng Tháp để làm việc với trại giam An Bình và công an huyện Lấp Vò.

Ngày thứ nhất: Trại tạm giam An Bình-Đồng Tháp

Ngày 24-02-2014, ngày thứ 13 mẹ tôi bị bắt giữ, sau khi nghe được thông tin người nhà cô Thúy Quỳnh đã được thăm nuôi gặp mặt, tôi lập tức về trại giam An Bình Tp. Cao Lãnh – Đồng Tháp với hi vọng cũng sẽ được gặp mẹ.

Đến được trại giam cũng đã là đầu giờ làm việc buổi chiều. Xin được gặp trực ban và tiếp tôi ngày hôm đó là: thiếu tá Nguyễn Tấn Dũng- số hiệu 430-310 đã tiếp tôi. Tôi đặt ngay vấn đề thứ nhất về việc được thăm nuôi gặp mặt mẹ tôi, nhưng cũng như lần trước họ từ chối tôi việc đó. Tôi đặt ngay vấn đề vì sao gia đình cô Thúy Quỳnh được gặp mặt mà tại sao gia đình tôi không được gặp? Ông Nguyễn Tấn Dũng đã trả lời tôi như sau:

– Việc cho thân nhân gia đình gặp mặt là do bên cơ quan thụ lý hồ sơ, là phòng điều tra bên Lấp Vò cho phép trong nghiệp vụ điều tra để làm rõ vụ án.

(Như vậy hóa ra chỉ cần lấy cớ là đang làm nghiệp vụ điều tra thích cho ai gặp là gặp đấy à?)

Tôi hỏi ông trực ban ấy:

– Mẹ cháu hôm nay đã bị giam giữ quá hạn 4 ngày rồi, nhưng chưa có thông báo chính thức bằng văn bản nào của công an điều tra. Vậy chú có thể cho cháu biết lệnh tạm giam đã được tống đạt về trại giam này chưa? Vì nếu không có lệnh tạm giam thì Trại giam không được quyền giữ người thêm nữa.

Ông ta trả lời:

– Đã có lệnh tạm giam rồi, nếu không có lệnh tạm giam chúng tôi đã thả người.

Tôi có hỏi:

– Vậy chú có thể cho cháu biết được là trong lệnh tạm giam ghi mẹ cháu phạm lỗi gì, tội gì? Và lệnh tạm giam có thời hạn bao nhiêu tháng?

– Cái này, giờ mới chỉ là tạm giam làm rõ hành vi phạm tội chứ chưa phải là chính thức, với lại lệnh tạm giam có thể 2 tháng 3 tháng 4 tháng không biết được. – Ông ta trả lời

– Chú xem dùm cháu, cháu biết chú định nói gì? Bên Trại giam chỉ giữ người, còn mọi giấy tờ liên quan hay thắc mắc về bên cơ quan thụ lý hồ sơ đúng không? Cái này cháu biết nhưng lệnh tạm giam cũng phải được chuyển đến cho trại giam để tống đạt cho đương sự, vì vậy chú có thể cho cháu biết trong lệnh tạm giam ghi giam giữ vì hành vi gì?

– Cái này chỉ là lệnh tạm giam thôi, chưa phải kết luận chính thức. Sau này khi điều tra xong sẽ có bản kết luận rồi cáo trạng này nọ….. (Ông này hình như bị mắc bệnh thuộc lòng, lôi quy định ra nói chuyện nên tóm tắt lại ý chính vậy)

– Những cái đó cháu biết hết rồi, chú không cần giải thích. Cháu chỉ hỏi mẹ cháu đã có lệnh tạm giam, vậy lệnh tạm giam ghi mẹ cháu phạm tội gì? Chú xem dùm cháu được không? Đường xá đi lại xa xôi, đã đến trại giam rồi thì cháu hỏi chú luôn đỡ phải đi xuống Lấp Vò! Cháu nghĩ cái này trong khả năng thẩm quyền của chú mà!

Ông giám thị kia im lặng một lúc sau đó nói tôi: “Chờ chút” rồi đi vào văn phòng.

Một lúc sau ông ta ra trả lời:

– Trong lệnh ghi là mẹ của anh bị tạm giam để làm rõ hành vi gây rối trật tự công cộng nhé. Còn những việc khác thì lên công an huyện Lấp Vò để hỏi đi nhé.

Đã quá quen thuộc với câu nói này nên tôi chán nản ra căng tin trại mua ít bánh, sữa gửi vào. Và tại đây đã hiểu lý do vì sao những thực phẩm như bánh. sữa nước ngọt lại không được gửi vào. Tôi mua gửi vào cho mẹ tôi: 4 hộp cà phê hòa tan, 1 lốc trà xanh không độ, 1 hộp bánh, 2 lốc sữa milo (loại sữa uống như hộp cô gái hà lan). Thanh toán tiền 482.000. (Thảo nào tuy chỉ là trực trại giam, nhưng từ thằng trực cổng cũng đã dùng iphone 5s, mình thèm rỏ dãi mà còn chưa được sờ vào).

Gửi thêm cho mẹ ít tiền rồi thất vọng ra về như những lần trước, vì biết khi chúng nó đã nói chuyện bằng quy định và đùn đẩy hết trách nhiệm qua Lấp Vò hết như vậy thì cũng chả đòi hỏi gì thêm cả, ở lại vừa mất thời gian lại không được việc gì. Để hơi ngày hôm sau chiến bọn Lấp Vò.

Quay lại ráng nhìn vào khu nhà giam, im ắng, lụp xụp, bốn bề bí bách. ĐÚNG LÀ TÙ!! Không biết mẹ đang ở góc nhỏ nào? Hét lên không biết mẹ có nghe được không?

15h03, có đi xe ôm gấp cũng chả về kịp huyện Lấp Vò trước 17h. Đành ngủ lại một đêm sáng hôm sau làm việc sớm.

Ngày làm việc thứ hai: Công an huyện Lấp Vò-Đồng Tháp

Sáng ngày 25-02-2014, tôi có mặt tại công an huyện Lấp Vò- Đồng Tháp lúc 9h. Tôi cùng chị Diễm Thúy vợ anh Nguyễn Văn Minh (người bị bắt giam cùng mẹ tôi đến nay). Tiếp tục vào cổng xin được gặp mặt phó thủ trưởng phòng CSĐT( cảnh sát điều tra) ông Lê Hoàng Dũng, nhưng một lần nữa và như mọi lần trước anh công an trực cổng khi biết tôi là con trai bà Bùi Thị Minh Hằng đã không cho tôi vào. Tôi nói với anh ta:

– Em hôm nay đến đây là do 4 ngày trước, một anh cán bộ ở đây nói với em đang làm thủ tục bắt giam và khởi tố sẽ làm thông báo đến chính quyền địa phương để thông báo đến gia đình, nhưng em về nhà chờ đã 4 ngày rồi nhưng đến hôm nay vẫn chưa nhận được bất cứ một thông báo nào cả, vì vậy em muốn gặp chú Dũng để hỏi về giấy thông báo bắt giam và khởi tố mẹ em.

Anh ta nói:

– Giấy đã được làm và chuyển về, anh cứ về chờ đi.

– Chờ đến bao giờ nữa, hôm nay đã là ngày thứ 4, ngày thứ 4 rồi đó anh. Lần trước anh kia bảo em về chờ, em đã chờ nhưng hôm nay không chờ được nữa. Em qua trại giam An Bình, họ đã đùn đẩy trách nhiệm này qua bên các anh. Vì vậy, các anh không thể né tránh em mãi được, phải cho em một thông báo chính thức bằng văn bản.

Anh ta đuối lý nên quay sang hỏi:

– Thế anh có giấy mời không?

Tôi trả lời:

– Không

Anh ta nói:

– Không có giấy mời thì không được vào, khi nào có giấy mời thì anh mới được vào làm việc!

Quá bức xúc trước câu nói của anh trực trại, tôi không còn bình tĩnh được nữa:

– Để em nói cho anh nghe nè, cơ quan công an không những chỉ có quyền bắt giam ai đó để điều tra, mà còn phải có trách nhiệm giải đáp và trả lời những yêu cầu của người dân, đó là trách nhiệm “Tiếp Dân”, trong luật có quy định rõ ràng anh có biết không?

Anh ta không trả lời lại tôi và nói:

– Anh đứng sang bên để tôi gọi điện vào xin lệnh.

– Anh cứ gọi điện thông báo đi. Hôm nay tôi sẽ chờ ở đây đến khi được làm việc mới về, anh nhắn nguyên văn lại cho tôi. Và hôm nay tôi sẽ không chấp nhận làm việc ngoài cổng và không mặc sắc phục như lần trước nữa. Đây là cơ quan chính quyền chứ không phải cái chợ.

Cùng lúc đó, anh Nguyễn Hồng Nguyên người đã làm việc lần trước với tôi ở trước cổng và thông báo về việc đang làm thủ tục khởi tố mẹ tôi cho tôi bước từ ngoài bước vào. Cơ hội không có lần thứ 2, tôi chụp lấy anh ta và nói:

– Anh ơi, lần trước anh bảo với em đang làm thủ tục khởi tố mẹ em và sẽ thông báo về gia đình, vậy sao em chờ 4 ngày rồi không thấy gì, chính quyền địa phương cũng trả lời không nhận được bất kỳ thông báo nào từ công an huyện Lấp Vò.

Anh Nguyễn Hồng Nguyên nói tôi vào trong và chỉ thị một anh lính gác đưa tôi vào tổ điều tra gặp ông Luật thủ trưởng cơ quan điều tra. Tại đây một lần nữa họ bắt tôi và chị Thúy ngồi chờ, trong lúc họ cầm hồ sơ đi lại giữa phòng điều tra và phòng đánh máy. (Có lẽ thông báo tôi nhận được sau đó đến giờ phút đó mới được họ mang đi đánh máy và in ra)

Một lúc sau, họ mời chị Thúy vào làm việc trước, sau đó mới cho tôi vào. Tại đây tôi gặp một người thiếu tá, nhưng không đeo bảng tên mà sau này tôi mới được biết ông ta là Phạm Văn Tiền- ĐTV (điều tra viên) thuộc phòng CSĐT. Trước khi mời tôi ngồi, ông ta bắt tôi lôi hết điện thoại và bắt tôi cởi áo để xét xem có máy ghi âm không. Ông ta nói:

– Mày bỏ hết máy điện thoại ra và máy ghi âm ra đi, tao biết có (Ông ta xưng mày tao với tôi, đây có phải thái độ một người cảnh sát nhân dân tiếp dân không?). Sau đó ông ta tiếp tục bảo tôi cởi áo. Tôi chất vấn vì sao phải bỏ điện thoại ra ngoài cho ông ta kiểm tra và vì sao bắt tôi cởi áo ông ta trả lời:

– Ở đây là nơi làm việc, không cho sử dụng điện thoại. Không được ghi âm. (Nếu làm đúng luật tại sao sợ tôi ghi âm đến vậy). Tôi có hỏi ông ta bắt tôi cởi áo để khám người tôi không cho ghi âm đúng không. Ông ta quanh co một hồi rồi cũng bảo: “Đúng, không cho mày ghi âm”.

Sau khi đã xét người xong và cho người tắt hết 2 máy điện thoại của tôi, ông ta đưa tôi một bản thông báo về việc bắt giam mẹ tôi. Tôi đọc bản thông báo xong, tôi hỏi:

– Trong bản thông báo này, căn cứ vào đâu, dựa vào đâu để gán ghép mẹ cháu đánh người thi hành công vụ? Căn cứ vào đâu bảo mẹ cháu cản trở giao thông nghiêm trọng?

– Cái này thuộc về thẩm quyền điều tra, mày không được hỏi.

– Vậy đây mới chỉ là thông báo tạm giam, vậy biên bản khởi tố đã có chưa? Và nếu có gia đình có được quyền biết và nhận hay không?

– Đã khởi tố rồi, không biết đọc chữ à?

– Cháu đã đọc hết rồi, không có nêu vấn đề khởi tố nào cả?

– Trong đó có ghi đó có biết đọc không? Đã khởi tố rồi mới tạm giam chứ.

– Cháu đã đọc rồi, trong đây không ghi. Vì vậy cháu mới hỏi là biên bản khởi tố đã có chưa? Chú coi lại đi trong này không hề ghi 1 câu nào nhắc đến từ “khởi tố” cả?

Ông ta giằng lấy bản thông báo đọc lại xong, tôi nói: “thấy chưa? trong này không hề có 1 chữ “khởi tố” nào.

Ông ta trả lời tôi: “Đã bắt giam là khởi tố rồi, nãy giờ thông báo mấy lần rồi. (Xin thưa là thông báo bằng mồm không hề có văn bản, vậy ông ta bảo tôi đọc lại làm cái gì khi trong thông báo bắt giam không hề ghi rõ đã khởi tố??)

Tôi nói:

– Cháu hỏi chú vấn đề này, vì công an phải có trách nhiệm trả lời giải đáp rõ mọi thắc mắc của người dân. Đã có biên bản khởi tố theo như chú nói vậy gia đình có được quyền nhận thông báo hay lệnh khởi tố đó không?

– Không!! ông ta trả lời.

– Vậy tại sao nãy giờ cháu chỉ hỏi như vậy mà chú cứ trả lời vòng vo làm chi vậy, cháu chỉ cần biết như thế thôi mà chú cứ dắt cháu đi đâu thế!

Sau đó ông ta lập một biên bản về việc tôi nhận giấy thông báo tạm giam do ông ta đưa, chắc sợ sau này tôi lật lọng nói chưa đưa. (Cái này có thể nói là suy bụng ta ra bụng người được không ta?)

Sau khi lập biên bản xong ông ta nói: “Vậy là xong rồi kết thúc”. Tôi nói với ông ta:

– Hôm nay cháu đến đây ngoài yêu cầu được biết về thông báo tạm giam và khởi tố mẹ cháu. Cháu còn muốn biết về…. (tại sao công an Lấp Vò cho người nhà cô Thúy Quỳnh được gặp nhưng lại không cho gia đình cháu được gặp mặt, có thông tin nói ông Lê Hoàng Dũng là người đã đánh mẹ cháu lúc mẹ cháu bị còng trên xe yêu cầu được làm rõ vụ việc này) nhưng đã bị chặn họng ngày từ đầu “…”.

Ông ta liến thoắng:

– Hôm nay buổi làm việc chỉ đến đây thôi, không làm việc gì thêm nữa. Đã đưa thông báo cho mày rồi, còn mấy cái khác không biết, không trả lời đâu. Mời về!

Quá bức xúc trước thái độ vô trách nhiệm và bất hợp tác của ông ta, tôi nói:

– Những gì cháu thắc mắc chú chưa giải đáp hết cho cháu, giờ làm việc thì chưa kết thúc mà chú đã nói không làm việc nữa. Thái độ làm việc của chú như vậy đấy à?

Ông ta bỏ ra ngoài cửa, và nói với mấy anh công an đang đứng ngoài đó (Xin được nhấn mạnh là trong suốt buổi làm việc, bao quanh tôi và ông ta là ít nhất 3-5 người công an khác kè kè sau lưng tôi):

– Tao đã mời nó về rồi đó, mày vào tống nó ra đi.

Tôi nghe được câu nói đó của ông ta. Nên đứng dậy bước ra khỏi phòng. Trước khi ra cổng công an huyện, vì không giữ được bình tĩnh với thái độ BẤT HỢP TÁC, VÔ TRÁCH NHIỆM, VÔ NHÂN của công an huyện Lấp Vò nên tôi đã to tiếng ngay trong sân công an huyện. Nhưng thật ngạc nhiên tất cả bọn họ đều im lặng và lảng đi sang các phòng khác, chỗ khác. (Hôm nay hiền đột xuất. May quá, tưởng bị đánh bị đạp như đã làm với mẹ mình và các cô chú :v)

Cầm tờ giấy thông báo vô căn cứ của họ bước ra cổng, ngay lập tức có ngay một số người đi xe máy chạy ra theo tôi. Lúc đó đi cùng tôi chỉ toàn phụ nữ, lo sẽ có chuyện không hay xảy ra ngoài đường (với lại mình cũng nhát lắm, sợ bị các anh ấy đánh chả biết kêu ai :v) lập tức quay về thành phố.

* Qua 3 lần làm việc, đi đi về về giữa Vũng Tàu-Sài Gòn-Đồng Tháp, trải qua 10 ngày (tình từ lần đầu tiên xuống công an huyện), nay tôi không còn hi vọng gì để nói chuyện tử tế với họ (những người mặc sắc phục công an lên người, những người đại diện cho luật pháp bảo vệ công lý) khi mà họ đã chà đạp lên luật pháp, coi thường người dân, dựa vào quyền lực và luật pháp họ đang nắm giữ để đổi trắng thay đen, vu oan cho người vô tội. Vì vậy, một lần nữa, tôi khẳng định sẽ không để bị hút vào lối mòn đi-về làm việc với họ nữa vì: KHÔNG BAO GIỜ CÓ KẾT QUẢ!

Tôi sẽ ra Hà Nội, mang theo hình ảnh của MẸ TÔI. Tôi sẽ gửi đơn thư khiếu nại lên các cấp trung ương, mang lời kêu cứu đến dư luận quốc tế, tất cả những người quan tâm đến vấn đề nhân quyền ở Việt Nam. Đây là một trường hợp công an Đồng Tháp và có thể còn cao hơn COI THƯỜNG NHÂN QUYỀN!

Xin mọi người, những người bạn đã đồng hành sát cánh cùng với Mẹ Tôi trong những cuộc biểu tình đòi Dân Chủ, những người bạn quan tâm và ủng hộ mẹ Tôi giúp đỡ và hướng dẫn tôi khi tôi ở Hà Nội.

XIN HÃY GIÚP ĐỠ TÔI VÀ GIA ĐÌNH TRONG VIỆC TÌM LẠI TỰ DO CHO MẸ TÔI, GIÀNH LẠI QUYỀN LỢI CHO MẸ TÔI! VÌ MẸ TÔI….

Trần Bùi Trung
(Con trai chị Bùi Thị Minh Hằng)

 

Theo blog Nguyễn Tường Thụy

 

Posted in Công An, Dân Chủ và Nhân Quyền | Leave a Comment »

►Bài học từ Ukraine cho phong trào dân chủ VN là phải thành lập Hội, Nhóm

Posted by hoangtran204 trên 28/02/2014

Theo Diễn Đàn Sinh Viên Việt Nam

17-2-2014

Sự kiện tháng 02/2014, người dân Ucraina lật đổ thế chế độc tài có nhiều bài học mà những người đấu tranh cho dân chủ trên thế giới cần phải rút ra bài học lịch sử cho mình. Một số đặc trưng của xã hội Ukraina:

1 – Nhân dân Ukraina lật đổ được chế độ độc tài là do quân đội tuyên bố trung lập trong khủng hoảng chính trị ở đất nước này. Quân đội Ucraina không phải trung thành với đảng cầm quyền như Việt Nam (được ghi vào hiến pháp 2013) mà quân đội có nghĩa vụ bảo vệ tổ quốc, bảo vệ nhân dân theo đúng bổn phận của nó.

2- Quốc hội Ucraina là đại diện cho các đảng phái hay đại diện cho các tầng lớp nhân dân. Quốc hội không phải là công cụ của đảng cầm quyền.

3- Các đảng phái chính trị ở Ucraina đã biết liên kết, thống nhất với nhau mục tiêu lật đổ thể chế độc tài của Tổng thống đương nhiệm; đã tổ chức, lãnh đạo nhân dân thực hiện thành công mục tiêu đề ra.

Có thể còn nhiều nguyên nhân khác dưới con mắt, nhận thức khác nhau. Có nhiều người cho rằng: đến khi nền kinh tế đất nước rơi vào khủng hoảng, sụp đổ thì nhân dân sẽ nổi dậy lật đổ thể chế toàn trị. Bằng chứng một nền kinh tế nghèo đói, lạc hậu như Bắc Triều Tiên hoặc các nhà nước phong kiến trước đây thể chế độc tài vẫn tồn tại. Nếu chỉ hy vọng nền kinh tế sụp đổ để dẫn tới sụp đổ thế chế chính trị là không thực tế. Từ đó để thấy rằng vấn đề chính trị chịu sự ảnh hưởng trực tiếp từ chính trị. Muốn xóa bỏ một chế độ độc đảng, toàn trị để thiết lập chế độ dân chủ thì phải xây dựng một xã hội đa đảng và vận hành theo pháp luật. Đối chiếu tình hình hiện nay của Việt Nam với các đặc trưng như của Ucraina thì chưa đáp ứng được về lượng và về chất. Tôi cho rằng một trong những bài học quan trọng nhất đối với người đấu tranh hiện nay là phải liên kết thành những hội, nhóm để tiến xa hơn là thành lập các đảng phái chính trị. Việc liên kết thành hội, nhóm là quy luật khách quan và thực tế cuộc sống. Các cá nhân đơn lẻ không thể duy trì sự tồn tại mà độc lập quan điểm và hành động khác với ý chí của đảng cầm quyền. Các hội, nhóm được thành lập và hoạt động trong thức tế mới có thể tương trợ nhau, tạo nên sự cộng hưởng sức mạnh để phát triển, từng bước đương đầu với chế độ độc tài.

Posted in Quyền tự do lập Hội | Leave a Comment »

►Một số nhà văn Việt Nam với dự định thành lập tổ chức Văn Đoàn Việt Nam độc lập

Posted by hoangtran204 trên 28/02/2014

Một số nhà văn Việt Nam với dự định thành lập tổ chức Văn Đoàn Việt Nam độc lập

Theo FB Phạm Đình Trọng

Dự định của một số nhà văn ở Sài Gòn về một tổ chức độc lập của các nhà văn Việt Nam đã được cụ thể hóa trong cuộc gặp với nhà văn Nguyên Ngọc ở Sài Gòn ngày 21.1.2014.

Ngày đó, trên fb Phạm Đình Trọng đưa ảnh bảy người tham dự cuộc gặp, tôi chỉ dè dặt ghi lại thời gian và không gian cuộc gặp lịch sử đó với dòng chữ SÀI GÒN 21.1.2014. SAU CUỘC GẶP ĐÁNG NHỚ.

Sau đó nhà văn Nguyên Ngọc cũng đã có cuộc gặp với một số nhà văn ở Hà Nội.

Bản dự thảo TUYÊN BỐ CỦA BAN VẬN ĐỘNG THÀNH LẬP VĂN ĐOÀN ĐỘC LẬP VIỆT NAM đã được gửi bằng thư điện tử tới một số nhà văn người Việt ở trong nước, ngoài nước và đều nhận được hưởng ứng tích cực. Từ 7 người ban đầu đến nay đã có 35 nhà văn tham gia Văn đoàn chỉ với mục đích vì văn chương Việt, văn hóa Việt.

Trong buổi làm việc thứ hai của nhà văn Nguyên Ngọc với nhóm Văn đoàn Sài Gòn ngày 26.2.2014 đã xác định những điều quan trọng nhất của Văn đoàn để Văn đoàn từng bước có mặt trong đời sống văn chương Việt Nam.

Ảnh: Cuộc gặp lần 1 và lần 2 của nhóm Văn đoàn Việt Nam tại Sài Gòn

 

Posted in Quyền tự do lập Hội | Leave a Comment »

►Cách mạng màu Da cam tái sinh ở Ukraina 2014

Posted by hoangtran204 trên 23/02/2014

Ukraina: Cách mạng màu Da cam tái sinh

Tác giả: 

22-2-2014

Tymoszenko trước kia khi còn cầm quyền. Ảnh Gazeta.pl

Bà Tymoshenko hôm nay khi ra khỏi nhà tù

 

Ukraina là nước lớn ở vùng Đông Âu, rộng hơn 600 ngàn cây số vuông, với 45 triệu dân. Ukraina là nước lớn sau nước Nga trong Liên bang Xô viết trước đây.

Năm 2005, cuộc Cách mạng màu Da cam diễn ra  qua cuộc nổi dậy không bạo lực của nhân dân, chống cuộc bầu tổng thống gian lận năm 2004, đưa đến một cuộc bầu cử dân chủ đầu tiên năm 2005.

Tổng thống dân chủ Victor Ioutchtchenko  hồi ấy đã cử Thủ tướng mới là bà Ioula Timochenko  một nhà kinh doanh 45 tuổi có tinh thần cải cách và đổi mới, được Quốc hội mới thông qua. Bà nhận chức Thủ tướng Ukraina từ ngày 24 tháng 1 năm 2005, đến ngày 8 tháng 9 năm 2005 bà mất chức thủ tướng do sự phá hoại gây rối của cánh hữu trong và ngoài quốc hội. Sau đó bà trở thành người lãnh đạo của liên minh các lực lượng đối lập. Cuộc đấu tranh chịnh trị khá gay go, phức tạp, để đến hơn 2 năm sau, bà lại được cử làm Thủ tướng lần thứ hai, từ ngày 18 tháng 12 năm 2007 đến ngày 11 tháng 3 năm 2010, bà lại bị mất chức.

Cuộc Cách mạng Da cam ở Ukhaina đã trải qua những thăng trầm bi thảm. Đó là do nhiều nguyên nhân chính trị- kinh tế- địa lý. Di sản của thời kỳ Xô viết phụ thuộc vào nước Nga còn dai dẳng.  Đảng CS Ukraina vốn là bộ phận của đảng CS Liên Xô cũ vẫn tồn tại tuy chỉ còn là một đảng nhỏ, hoạt động ngăn cản trào lưu dân chủ. Chính quyền Putin ở Nga vẫn không muốn Ukraina ngả hẳn sang phía phương Tây, ngăn chặn mong muốn của đông đảo nhân dân Ukraina gia nhập khối Liên Âu và đồng Euro. Chính quyền Nga tận dụng tình hình Ukraina còn mắc nợ nước Nga, còn phải nhập dầu và hơi đốt từ nước Nga, tâm lý của một bộ phận nhân dân các tỉnh giáp nước Nga nói tiếng Nga và muốn gắn bó với nước Nga, để làm cho tình hình không ổn định.

Phái hữu dựng lên vụ án kinh tế mang tính vu cáo bà Ioula Timochenko trong thời kỳ trước và trong khi làm thủ tướng để hòng ám hại bà. Ngành tư pháp còn rơi rớt kiẻu cách cũ thời Xô viết ra lệnh quản thúc bà từ ngày 14/12/2010. Họ chụp cho bà tội cố tình vi phạm pháp luật về quản lý kinh tế, thiếu trách nhiệm để làm mất mát tài sản quốc gia. Phiên xử của Tòa án thủ đô Kiev ngày 11 tháng 10 năm 2011 tuyên án 7 năm tù giam. Bà bị đối xử rất tàn bạo trong tù, bị đánh đập thâm tím nhiều nơi trên cơ thể, rồi bị đau lưng, bà không còn đủ sức đến dự phiên tòa phúc thẩm ngày 1 tháng 12 năm 2012.  Bà nhiều lần tuyệt thực phản đối chế độ nhà giam tàn bạo như thời phát xít và xô viết. Tháng 5/2012 tổng thống CH LB Đức đã hủy bỏ chuyến thăm chính thức Ukraina vì vụ án chính trị mang hình thức kinh tế này.

 

Cũng vào dịp ấy ủy viên đối ngoại của Liên Âu là bà Catherine Ashton lên tiếng cảnh báo rằng sẽ hủy thỏa ước thương mại Liên Âu – Ukraina nếu đại sứ Liên Âu không được đến thăm bà I. Timochenko đang ốm nặng trong nhà tù và chính quyền Ukraina đã phải nhượng bộ. Sau đó bà được đưa vào bệnh viện ở Kharkiv để khám và chữa bệnh  do một bác sỹ Đức do bà lựa chọn đảm nhiệm.

Theo tin của các hãng tin AP, AFP từ Kiev, ngày 21/2/2014 Quốc hội Ukraina đã bỏ phiếu quyết định trả tự do tức thời cho bà I.Timochenko. Ngày 22 bà đã ra khỏi nhà giam. Ngày 22/2  Quốc hội cũng đã cử một nhà hoạt động chính trị, được coi là cánh tay phải của bà I.Timochenko làm Chủ tịch quốc hội  thay cho ông Vlodymyr Rybak, người thân tín của Tổng thống Victor Yanukovych. Có tin Tổng thống Victor Yanukovych –  rất thân với tổng thống Nga Putin, –  đã rời thủ đô Kiev đi Kharkiv.  Ông tuyên bố không từ chức và tố cáo đây là ‘’một cuộc đảo chính bất hợp pháp’’. Lập tức chiều thứ bảy 22/2  quốc hội họp bỏ phiếu phế truất tổng thống V. Yanukovitch và ấn định cuộc bầu cử mới sẽ diễn ra ngày 25 tháng 5 tới. Trong khi nhân dân vẫn tập trung ở quanh quảng trường Độc Lập để thẽo dõi tình hình, một bộ phận nhân dân tràn vào dinh Tổng thống đã bỏ ngỏ.

Có 2 sự kiện quan trọng nữa đồng thời diễn ra ngày 22/2, Bộ trưởng công an mới được cử là thuộc phe đối lập trước đây và người phát ngôn của quân đội Ukraina tuyên bố quân đội trung lập, không tham gia chính trị, không đàn áp nhân dân. Quân đội Ukraina là quân đội lớn70 vạn quân, và từng có vũ khí nguyên tử, hiện đã để lại vũ khí nguyên tử cho nước Nga và tham gia hiệp ước các nước không có vũ khí hạt nhân.

Tất cả sự chuyển biến có thể nói là hoành tráng, nhanh chóng trên đây là do cuộc xuống đường đông đảo của nhân dân thủ đô Kiev tại Quảng trường Độc Lập từ ngày thứ ba và thứ tư  (19/2 và 20/2) đòi tổng thống Yanukovych và chính phủ  từ chức, thả các tù nhân chính trị. Cảnh sát đã bắn vào người biểu tình,những người biểu tình đã dùng gậy đá chống lại, đốt xe, bắt giữ hàng chục nhân viên công an. Xung đột dữ dội đã gây nên 80 người chết .

Ngày 20/2  các ngoại trưởng Đức, Pháp và Ba Lan đã thay mặt khối Liên Âu đến Kiev dự họp cùng tổng thống và đại diện phe đối lập để đi đến thỏa thuận giải quyết cuộc xung đột  là phía chính quyền rút lực lượng đàn áp, những người biểu tình giải tán , sẽ sửa đổi hiến pháp theo hướng dân chủ hóa và sẽ tổ chức bàu cử trong năm 2014. Ngày 22 và 23/2/2014 là 2 ngày lễ tang tưởng nhớ những người đã chết trong những ngày vừa qua.

Hãng tin AP và AFP cho biết nhiều sỹ quan và nhân viên bộ công an Ukraina đã đứng về phía nhân dân, tán thành cuộc xuống đường của dân thủ đô và từ chối không đàn áp người biểu tình. Nhiều đoạn phim tả cảnh đoàn kết giữa nhân dân và lực lượng công an giữa quảng trường Độc Lập được truyền đi trên màn ảnh thời sự quốc tế.

Lực lượng đối lập ở Ukraina đã giành thắng lợi nổi bật trong thời gian rất ngắn, khi lòng dân đã quyết và khi cả khối Liên Âu hết lòng ủng hộ.  Cuộc cách mạng màu da cam trải qua thăng trầm đã tái sinh qua một cuộc đấu tranh quyết liệt chống đàn áp, đòi quyền dân chủ và nhân quyền. Lực lượng đối lập đã lớn mạnh đang có thế thượng phong vì hợp lòng dân và có sự ủng hộ của cả khối Liên Âu cũng như của toàn thế giới dân chủ. Điều rất quan trọng là nước Nga đã cử phái viên Vladimir Loukine đến Kiev, tuy ông này không tham gia ký thỏa thuận chung nói trêNhữngn nhưng tuyên bố điều ấy không có nghĩa là Nga phản đối. Tuy Nga không hài lòng, nhưng rất khó lòng can thiệp vì chính ông Putin cũng đang gặp khó khăn trước phong trào đối lập đang phát triển ở Nga.

Các nhà bình luận thời sự quốc tế ở Paris, Berlin, London …  đều cho rằng các nước CS cũ ở Trung Âu như Ba Lan, Tiệp, Đông Đức thuộc CH LB Đức phát triển và ổn định  đã có tác động lớn đối với tình hình Ukraina. Cả khối Liên Âu sẽ giúp Ukraina về vật chất khắc phục những tổn thất do những ngày rối loạn vừa qua gây nên.

Màn truyền hình không ngừng truyền đi cảnh giữa quảng trường thanh niên nam nữ ca hát mừng cuộc ‘’ Cách mạng của Nhân dân ‘’, chào mừng bà I. Timochenko được tự do,  quyết giữ vững thành quả của cuộc Cách mạng màu Da cam đã có bước phát triển mạnh mẽ mới.

Blog Bùi Tín   (VOA)

nguồn: danchimviet.info

*Những bài được nhiều người đọc trong tuần qua

►CHỊ RUỘT của Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng “CHÊ” TIỀN BỒI THƯỜNG HƠN 10 TRIỆU ĐÔ LA KHI BỊ THU HỒI 185 hecta ĐẤT VƯỜN CAO SU

►Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đe dọa tướng Giáp: “Đại tướng đừng vin là người có công để yêu cầu nọ kia đối với Trung Ương Đảng, những người có công với đất nước nhất đều đang nằm ở nghĩa trang Trường Sơn”.

►Hội Nghị Thành Đô ngày 3 và 4-9-1990- Những sự thật cần phải biết (Phần 27)

►Vụ Án xét lại chống đảng CSVN 1956-1967 (phần 1 và 2)- mở đầu cho Chiến tranh Việt Nam

►Ai là Anh Cả Quânđội Nhânzân Xứ Lừa?

►Tướng Giáp trong “Bên Thắng Cuộc”- Vụ án Năm Châu -Sáu Sứ 1991

►Điều gì đã khiến TBT Nguyễn Văn Linh tìm cách trả thù ông Võ Văn Kiệt cho đến cuối đời?

Posted in Dân Chủ và Nhân Quyền, Thời Sự | Leave a Comment »

►Công an và Mật vụ Urkrania đang đốt tài liệu trước khi bỏ trốn

Posted by hoangtran204 trên 23/02/2014

Mật vụ tại thành phố Kharkiv, ở Ukraine đã và đang đốt tài liệu. Dấu hiệu cho thấy chế độ chỉ còn tồn tại những giờ phút cuối cùng. Ảnh ngày 21-2-2014.

Công an VN nên lấy đó mà làm gương nhé. Làm ác, thì coi chừng có ngày sẽ gặp cảnh này. Sẽ không còn xa nữa đâu. 

http://www.bbc.co.uk/news/world-europe-26299495

Posted in Dân Chủ và Nhân Quyền | Leave a Comment »

►Hoc sinh phải sắp hàng hai bên đường giữa mưa lạnh chào đón bọn quan chức từ Hà Nội đến thăm!

Posted by hoangtran204 trên 23/02/2014

Bắt học sinh đứng dưới trời lạnh cắt da

vẫy cờ đón thứ trưởng

Bắt học sinh đứng dưới trời lạnh cắt da vẫy cờ đón thứ trưởng

ĐĂNG BỞI MỘT THẾ GIỚI – 20:19 —19-02-2014

Ngày 19.2, tại Quảng Bình trời lạnh cắt da, người đi đường tranh thủ công việc rồi cũng phải vào nơi trú rét thì Trường trung cấp luật Đồng Hới lại buộc hàng chục học sinh đứng làm “tiêu binh” đón Thứ trưởng Bộ tư pháp Nguyễn Thúy Hiền. Thời gian đứng gần một giờ đồng hồ.

Từ lâu, các trường trung cấp ở Quảng Bình đã bỏ hình thức lễ tiết rườm rà này nhưng giữa giá lạnh 13-15 độ, Trường trung cấp luật Đồng Hới thuộc Bộ Tư pháp lại bắt học sinh ra làm hai hàng “tiêu binh”, dương cờ vẫy chào thứ trưởng khiến người dân không hài lòng.

Cuộc đón tiếp này, theo ban giám hiệu nhà trường là để triển khai các nhiệm vụ trọng tâm của đơn vị trong năm 2014.

Trả lời phóng viên, ông Đỗ Đức Hồng Hà, Hiệu trưởng nhà trường cho rằng, học sinh chỉ đứng một tí, không lạnh lẽo gì! Còn về phần cờ quạt rườm rà, ông Hà cho biết đó là của nhà trường có từ khi mới thành lập từ hai năm trước.

Ông Hà cho rằng, ông sẽ có văn bản gửi cho phụ huynh học sinh để giải thích rõ lý do đưa các cháu làm “tiêu binh” đón Thứ trưởng Bộ Tư pháp giữa trời rét cắt da.

Giải thích với chúng tôi lý do học sinh đứng giữa trời rét thành hai hàng đón Thứ trưởng, ông Hà cho rằng, đây là truyền thống tôn sư trọng đạo, Thứ trưởng cũng là cô giáo, mà cô giáo như mẹ hiền nên cử các cháu ra đón.

Lời cuối cùng cuộc trao đổi qua điện thoại trước câu hỏi liệu năm sau nếu có Thứ trưởng đến có tổ chức học sinh làm “tiêu binh” đón nữa không, ông Hà nói sẽ cân nhắc.
 Hai hàng học sinh “tiêu binh” đứng đợi – Ảnh: Hải Tarzan

Vẫy cờ đón xe thứ trưởng bộ tư pháp- Ảnh: Hải Tarzan

—————————–

*”Tại sao phải tổ chức đón tiếp kiểu quan lại như vậy. Quan chức – dù cấp nào – đi làm việc là công việc của họ, không thể bắt dân chúng mất thì giờ để đón tiếp. Đi làm việc thì phải làm cho tốt, việc gì phải băngrôn, khẩu hiệu, cờ xí long trọng.

*Hãy dẹp gấp những trò đón tiếp hình thức, tốn kém, mất thì giờ và mất lòng dân!

*Đây không phải là thái độ xu nịnh, thượng đội hạ đạp sao?”

*Học sinh trường luật của bộ tư pháp đứng giữa rét làm tiêu binh đón bà thứ trưởng.

Vì thành tích bơi lội Phù Đổng cấp huyện, hơn 300 lượt em học sinh bị đưa ra giữa đồng không mông quạnh để thi bơi trong cái rét tái tê.

Nhiều em quấn chăn mấy lớp mà vẫn vì tinh thần thể thao của đám quản lý giáo dục cấp huyện.

Gần 300 lượt học sinh phải thi bơi lội trong giá rét ở Quảng Bình

Cu Làng Cát

http://sggp.org.vn/giaoduc/2014/2/340930/

 

 

Posted in Thời Sự | Leave a Comment »

►Chúng tôi muốn tự do- thoát khỏi bọn độc tài làm chính trị chỉ biết lo cho bản thân chúng và gia đình…

Posted by hoangtran204 trên 23/02/2014

Quan chức Ukraine tháo chạy

Thứ Sáu, 21/02/2014

nld.com.vn

Đã xuất hiện thông tin một loạt nghị sĩ, trong đó có Chủ tịch quốc hội Volodymyr Rybak và chính khách Ukraine đang vội vã chạy khỏi đất nước.

Thậm chí, có tin các con trai Tổng thống Viktor Yanukovych cũng sắp lên máy bay.

64 chuyến bay dành cho các nhân vật đặc biệt đã được đăng ký ở sân bay Zhulyany tại thủ đô Kiev.

Trong khi đó, theo hãng tin Reuters, Tổng thống Yanukovych hôm 21-2 tuyên bố đã đạt được thỏa thuận giải quyết cuộc khủng hoảng chính trị với phe đối lập.

Sau cuộc đàm phán với 3 ngoại trưởng Ba Lan, Đức và Pháp, ông Yanukovych đồng ý 3 điểm chính sau:

-Hiến pháp năm 2004 (hạn chế quyền lực của tổng thống) được khôi phục trong vòng 48 giờ và chính phủ thống nhất dân tộc được thành lập trong vòng 10 ngày;

-cải cách hiến pháp theo hướng cân bằng quyền lực giữa tổng thống, chính phủ và quốc hội phải được tiến hành ngay và hoàn tất trước tháng 9 tới;

tổ chức bầu cử tổng thống sau khi hiến pháp mới được ban hành nhưng không trễ hơn tháng 12-2014. (Dân chúng trực tiếp bầu cử tổng thống).

Đài truyền hình ICTV của Ukraine xác nhận thỏa thuận này đã có chữ ký của tất cả các bên liên quan.

Phản ứng trước những diễn biến ở Ukraine, Canada cho biết sẽ không hoan nghênh ông Yanukovych và các bộ trưởng bị xem là có liên hệ đến hành động trấn áp đẫm máu người biểu tình.

Thủ tướng Stephen Harper nói các biện pháp trừng phạt nêu trên “nhằm gửi một thông điệp mạnh mẽ đến chính quyền Yanukovych rằng chính phủ không thể hành động mà không bị trừng phạt”.

Trong khi đó, EU cũng thông báo các biện pháp trừng phạt nhằm vào những bộ trưởng và quan chức an ninh Ukraine “có bàn tay vấy máu”.

Bộ Nội vụ Ukraine cho biết đã có 77 người thiệt mạng và 571 người bị thương trong các vụ bạo lực tính từ ngày 18 đến 21-2. Tuy nhiên, phe chống đối chính phủ lại đưa ra con số tử vong là 100 người. 

Huệ Bình

Nhân viên Bộ Nội vụ mặc thường phục bị người biểu tình giải đi hôm 21-2 Ảnh: REUTERS

Trong hai ngày 21-22 tháng 02- 2014, người biểu tình đã kéo đổ tượng Lenin ở các thành phố khác nhau.

Có ít nhất ba pho tượng Lenin nữa ngoài Kiev, đã bị kéo đổ và đập phá tại Bila Tserkva, Khmelnitsky và Zhytomyr.

Hiện các trang mạng đang đăng tải nhiều đoạn video cho thấy đêm 21 sang ngày 22/2, người dân Zhytomyr đã kéo đổ tượng Lenin ở trung tâm thành phố.

Còn tại hai nơi kia, tượng Lenin, biểu tượng của Liên Xô một thời bị kéo đổ giữa ban ngày.

Hồi tháng 12/2013, tượng Lenin ở thủ đô Kiev đã bị người biểu tình kéo đổ vì cho rằng đó là biểu tượng của chủ nghĩa Đại Nga.

Posted in Dân Chủ và Nhân Quyền | Leave a Comment »

►Ông Bí Thư tỉnh ủy Bến Tre, cựu Ủy viên Trung Ương Đảng CSVN, cựu Tổng Thanh tra CP có bao nhiêu căn nhà?

Posted by hoangtran204 trên 22/02/2014

Ông Trần Văn Truyền cựu Tổng Thanh tra Chính phủ có bao nhiêu biệt thự?

Trần Tiến Công

Theo báo Người Cao Tuổi

Trang THƯ GIÃN CUỐI TUẦN kì này trân trọng kính mời bạn đọc “chiêm ngưỡng” một số hình ảnh về “của nổi” là những dinh thự, biệt thự, nhà đất, một phần trong khối tài sản của ông Trần Văn Truyền, cựu Ủy viên Trung ương Đảng, cựu Bí thư Tỉnh Ủy Bến Tre, cựu Tổng Thanh tra Chính phủ (TTCP),.

Ngoài một số biệt thự, lô đất sở hữu trước đây, ông Trần Văn Truyền đang triển khai một “dự án gia đình” trên lô đất khoảng 30.000m2 (3 héc-ta) tại xã Sơn Đông, TP Bến Tre. Trong khuôn viên đó, ông Truyền đã và đang xây dựng một biệt dinh hoành tráng (ảnh 1) và 4 căn nhà gỗ lợp ngói đỏ (ảnh 3), nghe nói có cả tốp thợ Nam Hà thi công nhiều tháng qua.

Những căn nhà gỗ thuộc nhóm gỗ đặc biệt không dùng đến một cái đinh sắt. Nguồn tin từ một số cán bộ ở TTCP và cán bộ ở Bến Tre, ông Truyền còn có 3 cơ ngơi ở TP Hồ Chí Minh là phường Thảo Điền (Quận 2), ở Quận 5, ở khu đô thị “5 sao” Phú Mỹ Hưng do người thân đang quản lí, sử dụng. Người ta còn đồn rằng cái giường “đặc biệt” của vợ chồng ông có giá trị khoảng nhiều tỉ đồng, v.v…

Dinh thự của ông Trần Văn Truyền trong khuôn viên 3 héc-ta tại xã Sơn Đông, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

Cổng chính đi vào dinh thự và “dự án gia đình” của ông Trần Văn Truyền màu sắc như sơn son thếp vàng.

Nhà gỗ nhìn từ phía bên hông, “dự án gia đình” ông Truyền phía trong có 4 căn nhà gỗ kiểu biệt thự nhỏ, đều lợp ngói đỏ.

Một góc dinh thự chính.

Căn biệt thự trước đây Tỉnh ủy Bến Tre cấp cho ông Trần Văn Truyền lúc còn làm Bí thư Tỉnh ủy ở Trung tâm phường 1, TP Bến Tre rộng 300m2 vốn đây là trụ sở Hội VHNT tỉnh bị đập đi để xây biệt thự cho ông Trần Văn Truyền nay cho doanh nghiệp tư nhân thuê.

Ngôi nhà cấp 4 đất rộng 200m2 trước cổng chùa Bạch Vân, phường 5, TP Bến Tre gia đình ông Truyền vẫn cho thuê.

Thông tin thì nhiều, có thể chưa đầy đủ hoặc có chi tiết chưa chính xác, song những tấm ảnh mà độc giả mục sở thị trong trang này là hiện thực nhãn tiền.

Nhiều người bảo làm cán bộ thanh tra thì nhanh chóng giàu có, nhưng không phải ai cũng làm giàu bất chính cả đâu! Chỉ có điều, người có nhiều nhà như ông Trần Văn Truyền có lẽ trở thành “tấm gương” cho cấp dưới. Chỉ ví dụ một trường hợp ông Lê Sỹ Bảy, Phó Vụ trưởng Vụ I TTCP có 6 nhà như Báo Người cao tuổi đã đưa tin.

Bài và ảnh Trần Tiến Công

——————————————-

Ông Bí Thư tỉnh ủy Bến Tre, cựu Ủy viên Trung Ương Đảng CSVN, cựu Tổng Thanh tra chính phủ,  đạo đức giả…

Chuyện của Tổng thanh tra Chính Phủ

2-2-2011

vnexpress.net

Ở cương vị phải giữ mình đến mức gần như là “ép xác”, gương mặt lúc nào cũng phảng phất buồn, Tổng thanh tra Chính phủ Trần Văn Truyền bộc bạch dù thế nào, ông vẫn là con người bằng xương bằng thịt chứ đâu phải là gỗ đá.
Khóc cười chuyện biếu Tết sếp

– Từng có nhiều câu chuyện “truyền kỳ” về việc người ta mang đến nhà tặng ông hàng cặp tiền đôla?

 – Có lần, cũng chỉ mới đây thôi, một người quen với một họ hàng của tôi qua nhà chơi, nói là vừa đi Trung Quốc vừa, có chút quà nhỏ thăm tôi. Đó là một chiếc cặp, nhìn cũng rất giản dị thôi, nhưng khi yêu cầu mở cặp ra thì bên trong chứa hàng xấp tiền toàn là đôla. Người này sau đó đã xin lỗi và cầm tiền về.

d

Tổng Thanh tra Chính phủ – Trần Văn Truyền.

– Ông đã từng lập biên bản “tại trận” trường hợp nào mang quà thái quá, như cái cặp đầy đôla kia?

– Thực tế là những người nào có cơ hội đến tận nhà mình biếu quà như vậy, đều là có quen biết với người thân của mình. Ai đến chơi để lại quà kèm theo tiền thì tôi bảo họ cầm về và nhắc nhở nghiêm khắc không được làm thế. Những trường hợp như vậy, người ta đều xin lỗi, nhận lại. Nếu người ta cố tình không chịu nhận lại thì mình phải lập biên bản, báo cáo cơ quan chức năng xem xét chứ nếu lập biên bản ngay khi người ta vừa mang quà đến thì thật tình không nỡ.

Còn có nhiều lúc họ đến tôi chơi, mang quà nhưng nói không phải biếu tôi mà gửi biếu mẹ tôi ở quê. Tôi vẫn nói thẳng: “Mấy ông thương tôi thì không nên làm vậy. Dùng tiền quan hệ với nhau, mai mốt không vướng chuyện này cũng dính việc khác nên thôi đành mất lòng trước vậy”. Riêng đối với những người đang là đối tượng thanh tra của mình thì dứt khoát một xu quà cũng không được nhận và phải xử lý đúng quy định.

– Thay bằng hình thức như gửi quà cho mẹ, họ không cần qua ông mà gửi quà cho vợ con ông và nhờ họ thuyết phục thì sao?

– Thú thực là từ khi làm Tổng thanh tra, không chỉ cá nhân mà tôi cũng phải “trông coi” đến cả vợ con, bởi đúng là nhiều khi người ta tác động đến cả vợ con mình.

– Thường xuyên phải đối diện với những sự việc gay cấn như vậy, có lẽ đã tạo cho ông phản xạ nhìn tất cả các gói quà đều bằng ánh mắt rất “cảnh giác” và những người yêu quý ông thật sự, chắc cũng khó có cơ hội để bày tỏ?

Quy chế quà biếu, tặng Chính phủ ban hành đã quy định rõ trường hợp nào, giá trị bao nhiêu thì được nhận, khi nào phải trả lại… chứ không phải không bao giờ được phép nhận quá. Trong quan hệ tình nghĩa bình thường, giá trị quà tặng cũng bình thường thì không nên đánh giá, quy kết thái quá. Chẳng hạn các bạn tới nhà tôi chơi nhân chuyến công tác, có chút quà thì có gì tôi lại phải từ chối, nhất là quan hệ giữa chúng ta không liên quan gì tới công việc. Tôi nghĩ rằng điều quan trọng nhất để giữ mình trong chuyện này là người được tặng quà phải hiểu đối tượng mình đang tiếp xúc là ai, việc tặng quà có bình thường không.

– Như vậy là rất có lý khi người ta vẫn truyền tai nhau rằng “mua” Tổng thanh tra Chính phủ bằng tiền là rất khó. Nhưng còn mua bằng… mỹ nhân thì sao, thưa ông?

– Thực tế, cũng có những cuộc gọi đến tôi, đầu tiên là lấy lý do gọi nhầm số, rồi làm quen, giọng nói rất dễ thương. Họ gửi tin nhắn cũng rất tình cảm, tha thiết. Rồi có những cuộc thăm hỏi tình cờ. Tôi nghĩ, họ ứng xử lịch thiệp thì mình cũng phải ứng xử lịch thiệp, cũng không nên quá sắt đá và cứng nhắc, miễn là trong giới hạn cho phép và không vì mục đích vụ lợi. Cũng như ứng xử với chuyện nhận quà thôi.

Theo tôi, điều quan trọng nhất để giữ mình trong chuyện này là người được quý phải hiểu đối tượng quý mình là ai và việc họ quý mình có bình thường không. Thực sự là cũng có người họ quý mình thật lòng chứ không phải họ đều làm quen với mục đích này hay mục đích khác không chính đáng. Chẳng lẽ là Tổng thanh tra Chính phủ thì không được phép có bạn bè?

– Nhưng giữa quà tặng tình cảm và quà tặng vụ lợi còn dễ phân biệt chứ giữa mỹ nhân tình cảm và mỹ nhân vụ lợi, hẳn là ranh giới khó hơn nhiều và ông làm thế nào để có thể phân biệt được?

– Tôi nghĩ thời gian sẽ làm rõ việc người ta muốn thực sự là bạn với mình hay chỉ muốn lợi dụng.

– Nhưng ông có khi nào thấy e ngại về việc thời gian chưa kịp làm rõ thì đã bị lợi dụng?

– Điều đó thì thuộc về bản lĩnh của những người công tác trong những lĩnh vực như tôi mà.

– Trong 5 năm qua, với vai trò là một người chuyên đi truy tìm dấu vết của các vụ án tham nhũng, những điều mà ông cảm thấy còn nhiều trăn trở?

– Đảng và Nhà nước đang khuyến khích chống tham nhũng và chúng ta phải bắt đầu từ các cá nhân. Bởi vì tham nhũng diễn ra trong từng cá nhân, và người chống tham nhũng cũng phải có hành động ở từng cá nhân. Nếu chúng ta cứ hô hào chống tham nhũng nhưng rồi không ai dám làm gì, mà nếu làm rồi cũng bị chùn bước vì chịu quá nhiều áp lực, đe dọa thì bao giờ mới chấm dứt được nạn tham nhũng?

Mình phải chấp nhận khi đã dấn thân vào cuộc chiến này thì đương nhiên sẽ có những tổn thương và nguy hiểm. Vì vậy, trước hết chúng ta phải có bản lĩnh, dám đương đầu. Ngay như bản thân tôi, mỗi khi có kết luận thanh tra chỗ này, chỗ khác thì ít hay nhiều vẫn bị ảnh hưởng về mặt tình cảm, quan hệ, ứng xử với nhau. Nhưng như từ tôi hay dùng là “đã dấn thân thì phải có sự hy sinh”. Tuy có thể mất mát về phía mình nhưng được cho việc chung thì vẫn phải làm.

– Thực tế cho thấy, không phải tất cả các vụ bê bối mà Thanh tra Chính phủ phát hiện ra đều được làm đến cùng. Khi đó, cảm nghĩ của ông là gì?

– Tất nhiên, là người làm công tác thanh tra, không ai là không muốn đi đến cùng sự việc, không thể bỏ dở. Nhưng đôi khi vẫn gặp phải những tình huống như vậy thì phải xem xét kỹ và cố gắng tìm cách làm sao để giải quyết, thực hiện cho đến cùng. Nhưng không thể cực đoan, làm lấy được, làm đến cùng theo kiểu bằng ý kiến chủ quan của mình mà phải khách quan, thực tế để mang lại hiệu quả tích cực nhất.

– Theo ông, đâu là chìa khóa mở ra cánh cửa dẫn đến thành công của công cuộc chống tham nhũng ở VN?

– Công khai minh bạch chính là chìa khóa, là vấn đề xương sống. Có công khai, minh bạch mới kiểm soát được bộ máy nhà nước, công việc của cán bộ, công chức nhà nước. Đặc biệt là công khai về tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức… Tiếp đến là phát huy vai trò tổng hợp của toàn dân, tìm sự đồng thuận của xã hội trong công tác phòng chống tham nhũng. Các cơ chế, chính sách nhằm phát huy vai trò của công dân, làm cho người dân vừa ý thức được trách nhiệm công dân phải được triển khai mạnh mẽ.

Công việc sau đó, Thủ tướng đã góp ý với chúng tôi là tiếp tục cải cách chế độ tiền lương bởi điều này cũng liên quan đến việc phòng ngừa và chống tham nhũng. Chúng ta không dùng tiền lương để giải quyết mọi thứ, nhưng đồng lương là một động lực để thôi thúc cán bộ, công nhân viên cống hiến nhiều hơn…

Sinh năm 1950 ở Bến Tre, ủy viên Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa IX, X, đại biểu Quốc hội khóa X, XII và từng là Phó chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương, tháng 6/2006, ông Trần Văn Truyền được Quốc hội phê chuẩn vào cương vị Tổng thanh tra Chính phủ. Một năm sau đó, ông tái đắc cử với số phiếu lên đến 93%.Chia sẻ với báo giới khi đó, ông đã nói: “Trong nhiệm kỳ mới, vấn đề tôi quan tâm hàng đầu là nâng chất lượng đội ngũ cán bộ, không để xảy ra tiêu cực làm mất uy tín, đồng thời, xây dựng thể chế để hoạt động thanh tra có hiệu quả hơn”.

(Theo TBKTVN)

 —————————————————-

Tổng Thanh tra Chính phủ: Nhiều cán bộ có tài sản rất lớn

15/06/2010 07:47 (GMT + 7)
 
 

TT – Sáng 14-6, bên hành lang Quốc hội, Tổng Thanh tra Chính phủ Trần Văn Truyền đã có cuộc trao đổi với báo chí về một số vấn đề liên quan đến việc kê khai tài sản của ông Ðặng Hạnh Thu, người vừa bị cho thôi chức tổng cục trưởng Tổng cục Thuế (Bộ Tài chính)

Tổng Thanh tra Chính phủ Trần Văn Truyền trả lời các nhà báo sáng 14-6 – Ảnh: VIỆT DŨNG

* Công an nhân dân: Thưa ông, dư luận và báo chí phản ánh ông Ðặng Hạnh Thu có nhiều lô đất ở Ðồng Nai, nơi ông này từng làm cục trưởng Cục Hải quan (trước khi làm tổng cục trưởng Tổng cục Thuế, ông Thu là phó tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan). Về việc này, Thanh tra Chính phủ đã xem xét bản kê khai tài sản của ông Thu, vậy bản kê khai đó có đầy đủ?

– Trong việc này, sở dĩ đặt vấn đề xem xét vì người ta có tố cáo anh Thu, nói rằng anh là cán bộ mà có nhiều đất nên Thủ tướng Chính phủ giao các cơ quan chức năng xem và đã có kết luận rồi.

Thứ nhất, về đất mua như vậy là đúng pháp luật, công khai, minh bạch. Thứ hai là có kê khai tài sản, và nói chung trong việc này nếu xét trên nhiều góc độ cũng không có vấn đề gì gọi là sai trái nghiêm trọng. Thế nhưng có việc anh là cán bộ mà mua quá nhiều đất.

* Công An Nhân Dân: Câu hỏi đặt ra là: tiền đâu mà ông Thu mua được nhiều đất vậy?

– Việc đó lại là việc khác. Nếu cơ quan chức năng có yêu cầu giải trình thì anh Thu sẽ giải trình. Bây giờ tiền thì thiếu gì nguồn, chứ đâu phải mình hỏi lấy tiền đâu chung chung vậy. Hơn nữa vì gia đình vợ anh Thu làm doanh nghiệp, làm ăn kinh tế, có khả năng thì mua cũng là điều bình thường. Chỉ có chuyện trong thời điểm đó mà mua nhiều nền đất như thế thì người ta không đồng tình thôi. Chứ còn về tiền nong thì không có vấn đề gì khuất tất.

* Tuổi Trẻ: Thưa ông, có phải bộ trưởng Bộ Tài chính vừa có quyết định điều ông Ðặng Hạnh Thu về cơ quan Bộ Tài chính chờ phân công công tác và chính thức thôi giữ chức vụ tổng cục trưởng Tổng cục Thuế?

– Tôi cũng có nghe thông tin này nhưng đó là theo yêu cầu bố trí công tác của các cơ quan chức năng đã bàn, còn theo tôi hiểu thì nó không phải do lỗi từ chuyện đất đai này.

* Tiền Phong: Chúng ta khuyến khích cán bộ kê khai tài sản, ông Ðặng Hạnh Thu đã có bản kê khai, phải chăng cũng chính vì vậy mà có dư luận?

– Không nên suy luận từ việc này sang việc kia. Ở đây anh Thu bị tố cáo, tố cáo cái gì thì xem việc đó.

Kê khai tài sản thì nhiều hay ít là do tài sản, khai phải trung thực chứ không lo khai nhiều thì sẽ có ý kiến này ý kiến khác. Bởi vì ngay trong trung ương hoặc ngay trong Quốc hội này cũng có nhiều người đã trình bày có tài sản rất lớn, rất nhiều, chẳng ai có đối xử gì, có ý kiến gì, đúng không?

Ở đây, trong trường hợp này (ông Thu), người ta nói là mua đất nhiều bởi “cậy quyền cậy chức” để mua đất trái pháp luật nhằm vụ lợi cá nhân, nhưng khi xem thì không phải như thế.

* Tuổi Trẻ: Trong quá trình Thanh tra Chính phủ xem xét các bản kê khai tài sản, đã bao giờ thấy có bản kê khai nào nhiều tài sản như bản kê khai của ông Ðặng Hạnh Thu?

– Nói chung thì có nhiều nhưng tôi không được phép nói lúc này vì muốn công khai tài sản của cán bộ phải theo quy định chứ không thể hỏi và trả lời (như thế này) được. V.V.

Thành ghi

Báo Tuổi Trẻ 

—————————————

Đường quan lộ của ông Trần Văn Truyền

6-3-2014

(Soha.vn) – Ông Trần Văn Truyền, cựu Tổng thanh tra Chính phủ từng tái đắc cử vị trí này năm 2007 với số phiếu lên đến 93%.

Ông Trần Văn Truyền (SN 1950, quê xã Mỹ Nhơn, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre), cựu Ủy viên Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa IX, X, cựu đại biểu Quốc hội khóa 10, 12, cựu Tổng Thanh tra Chính phủ.

Mấy ngày qua, thông tin về nhiều biệt thự “khủng” của ông ở ấp 3, xã Sơn Đông (TP. Bến Tre, tỉnh Bến Tre) đang được dư luận hết sức quan tâm.

Tốt nghiệp cử nhân luật, trải qua qua một số vị trí, ông Truyền giữ chức Bí thư Tỉnh ủy Bến Tre. Sau đó ông giữ cương vịPhó Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương.

Tháng 6/2006, ông Trần Văn Truyền được Quốc hội phê chuẩn vào cương vị Tổng thanh tra Chính phủ.

Ngày 29/7/2006, tại Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa X, Ban Chấp hành Trung ương nhất trí để đồng chí Trần Văn Truyền, Ủy viên Trung ương Đảng, Tổng Thanh tra Chính phủ, thôi giữ chức Ủy viên, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương.

Năm 2007, ông tái đắc cử chức vụ Tổng Thanh tra Chính phủ với số phiếu lên đến 93%.

Tờ Thời báo Kinh tế Việt Nam dẫn lời ông Truyền khi chia sẻ với báo giới tại thời điểm tái đắc cử với số phiều cao này như sau: “Trong nhiệm kỳ mới, vấn đề tôi quan tâm hàng đầu là nâng chất lượng đội ngũ cán bộ, không để xảy ra tiêu cực làm mất uy tín, đồng thời, xây dựng thể chế để hoạt động thanh tra có hiệu quả hơn”.

Ngay khi tái đắc cử, ông Trần Văn Truyền đã chọn lĩnh vực đất đai và tài sản công để ưu tiên thanh tra.

Được biết, vị này giữ chức Tổng Thanh tra Chính phủ trong hơn 5 năm (từ 27/6/2006 – 3/8/2011).

Trước thời điểm tháng 6/2006, ông Truyền chuyển từ cơ quan Đảng sang Thanh tra Chính Phủ và tham gia hàng loạt vụ thanh tra nổi cộm ở Vietnam Airlines, Ngân hàng Nhà nước…

Ông từng nhận Huân chương Quyết thắng hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến Cách mạng hạng Hai, Huân chương Lao động hạng Ba và hạng Hai, 10 Huy chương, 24 Bằng khen, 1 danh hiệu.

Diễn biến quanh thông tin về dinh thự “khủng” của ông Trần Văn Truyền

Theo thông tin từ báo giới, ông Trần Văn Truyền sở hữu những dinh thự, nhà đất với giá trị “khủng” và đang triển khai một “dự án gia đình” trên lô đất khoảng 30.000m2 (3 héc-ta) tại xã Sơn Đông, TP Bến Tre. Trong khuôn viên đó, ông Truyền đã và đang xây dựng một biệt dinh hoành tráng và 4 căn nhà gỗ lợp ngói đỏ, gỗ thuộc nhóm gỗ đặc biệt không dùng đến một cái đinh sắt. ông Truyền còn có 3 cơ ngơi ở TP Hồ Chí Minh là phường Thảo Điền (Quận 2), ở Quận 5, ở khu đô thị “5 sao” Phú Mỹ Hưng do người thân đang quản lí, sử dụng.

Trao đổi với chúng tôi về thông tin trên, ông Truyền khẳng định: “Tôi xác định rất nhiều thông tin trong bài báo đó không chính xác”.

Phó Chủ tịch tỉnh Bến Tre Cao Văn Trọng nói: “Đồ đạc trong nhà anh Trần Văn Truyền cũng bình thường và đâu có chiếc giường quý nào như phản ánh đâu. Anh Ba Truyền (ông Trần Văn Truyền – PV) chỉ còn có 2 chỗ ở Bến Tre thôi”.

Tìm về tận nơi, theo quan sát của chúng tôi, căn biệt thự của ông Trần Văn Truyền được thiết kế với cổng sắt, tường rào bao quanh xen họa tiết rồng bay, mặt trống đồng tinh xảo…

Chị Trần Thị Ngọc Huệ, con gái ông Truyền khẳng định: “Ba tôi có người em kết nghĩa ở quận 9, người này có xây cho ba một ngôi nhà nhưng ba không ở sau đó cô biếu ba một số tiền để xây nhà đó”.

Liền sau đó, ông Truyền bị cáo buộc đã ký quyết định “bổ nhiệm cán bộ ồ ạt” trước khi nghỉ hưu.

——————————————————————————-

Thật đáng xấu hổ! Lẻ ra đi điều tra tham nhũng, thì thanh tra chính phủ THAM NHŨNG!  

Chỉ 1 năm, mà tài sản của thanh tra chính phủ gia tăng 4 căn nhà. 

Vụ trưởng Thanh Tra Chính Phủ có 6 căn nhà

30-12-2013

Ngày 26 tháng 12 năm 2013, ông Huỳnh Phong Tranh, Tổng Thanh tra Chính phủ (TTCP) kí quyết định số 3157/QĐ-TTCP “Bổ nhiệm có thời hạn ông Lê Sĩ Bảy, Thanh tra viên cao cấp, Phó Vụ trưởng Vụ Thanh tra khối Kinh tế ngành (vụ I) giữ chức Vụ trưởng vụ I”.

Theo đơn tố cáo ngày 26/12/2013 của một TTVC thuộc Vụ I TTCP gửi Tổng Biên tập Báo Người cao tuổi thì đảng viên Lê Sỹ Bảy, Phó Vụ trưởng Vụ I vi phạm trong việc kê khai không đúng văn bằng chứng chỉ, vi phạm trong việc không giao nộp trực tiếp bản kê khai tài sản, thu nhập, có biểu hiện chưa minh bạch về hồ sơ, lí lịch và cho đến nay các vi phạm của ông Bảy vẫn chưa xử lí kỉ luật mà còn được  Lãnh đạo TTCP nhanh chóng thực hiện quy trình bổ nhiệm chức danh Vụ trưởng Vụ I.

“Tại cuộc họp ngày 15/7/2013, Ủy ban Kiểm tra Đảng ủy khối thông báo trước Chi bộ Vụ I, ông Bảy có tới 6 căn nhà (một số căn đã chuyển nhượng), tổng giá trị tài sản khoảng trên 16 tỉ đồng và trong thông báo kết luận ghi: “Đ/c Bảy không giao nộp trực tiếp bản tự kê khai tài sản  thu nhập với Vụ tổ chức cán bộ là không đúng với quy định tại Điều 9 Nghị định 37/CP ngày 09/03/2007 của Chính phủ, việc làm này của Đ/c Bảy có biểu hiện chưa minh bạch về kê khai tài sản, thu nhập, các cơ quan chức năng cần xem xét làm rõ”

Ngày 26 tháng 12 năm 2013, ông Huỳnh Phong Tranh, Tổng Thanh tra Chính phủ (TTCP) kí quyết định số 3157/QĐ-TTCP “Bổ nhiệm có thời hạn ông Lê Sĩ Bảy, Thanh tra viên cao cấp, Phó Vụ trưởng Vụ Thanh tra khối Kinh tế ngành (vụ I) giữ chức Vụ trưởng vụ I”.

Báo nguoicaotuoi.vn

Posted in Tham Nhung-Hoang Phí- Ăn Cắp | Leave a Comment »

►Đặng Tiểu Bình và quyết định của Trung Quốc tiến hành chiến tranh với Việt Nam

Posted by hoangtran204 trên 20/02/2014

Lưu ý: Ở đây có bản gốc tiếng Anh dài 29 trang, do nhà xuất bản The MIT press ấn hành. http://myweb.rollins.edu/tlairson/china/chivietwar.pdf

Có điều tác giả cho rằng:  Ba sự kiện diễn ra tại Bắc Kinh trong tháng 12 năm 1978 đã có tác động quan trọng đến quyết định chiến tranh của Trung Quốc: …

Theo Trần Hoàng, nếu không chuẩn bị hậu cần và chuyến quân từ trước 6 tháng, khó lòng để TQ điều một lực lượng quân đội 600.000 người đến khu vực biên giới trong khoảng thời gian rất ngắn, (khoảng 2 tháng), tính từ lúc 3 sự kiện mà tác giả cho là xảy ra vào tháng 12-1978 ở TQ cho đến ngày TQ bắt đầu tấn công Việt Nam ngày 17-2-1979.   Bởi vậy, Trần Hoàng cho rằng TQ đã có ý định và chuẩn bị tấn công VN chí ít là tháng 6-1978, có như thế, thì họ mới có đủ thời gian chuẩn bị kịp hậu cần, chuẩn bị tập trung quân đội và đạn dược, lvà ên kế hoạch hành động chung để tấn công vào VN qua 6 địa điểm vùng biên giới cách xa nhau hàng trăm km.

Bởi vậy, quan điểm của tác giả về 3 nguyên do diễn ra trong tháng 12-1978 ở  Bắc Kinh đã dẫn tới việc TQ tấn công qua biên giới VN ngày 17-2-1979 cần phải được nghiêm túc xem xét lại. 

Kế đó, Trần Hoàng có câu hỏi đặt ra: TQ đã điều một số lượng quân đội lớn lao từ nhiều hướng tiến về biên giới Việt Trung, nhưng tại sao cả VN và LX đều không hay biết gì cả? Nếu hay biết sớm, thì VN đã di chuyển quân đội từ các nơi khác về bảo vệ biên giới trước tháng 12-1979 cùng lúc với thời gian chuẩn bị cuộc tấn công qua Kampuchia 25-12-1978 (coi thêm BBC).

Đặng Tiểu Bình và quyết định của Trung Quốc tiến hành chiến tranh với Việt Nam

Biên dịch: Vũ Minh Hải | Hiệu đính: Nguyễn Thị Nhung

Tác giả: Xiaoming Zhang (2010). “Deng Xiaoping and China’s Decision to go to War with Vietnam”, Journal of Cold War Studies, Volume 12, Number 3 (Summer), pp. 3-29

Nguồn: nghiencuuquocte.net

18-2-2014

Trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh, Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa (từ đây viết tắt là Trung Quốc) đã tham gia hai chiến dịch quân sự lớn – một ở Triều Tiên chống lại Hoa Kỳ từ tháng 10 năm 1950 đến tháng 7 năm 1953, và hai là chiến tranh với Việt Nam năm 1979. Không may là ở Trung Quốc, cuộc chiến tranh với Việt Nam đã bị lịch sử lãng quên. Sự kiện này hiếm khi được thảo luận trên phương tiện truyền thông và các học giả ở Trung Quốc bị cấm nghiên cứu vấn đề này. Đến giữa những năm 1970, Trung Quốc và Việt Nam vẫn còn là những đồng minh thân cận trong Chiến tranh Lạnh. Vậy tại sao vào cuối năm 1978 Trung Quốc lại quyết định tiến hành chiến tranh với Việt Nam? 

Những nguồn tư liệu chính thức từ Trung Quốc đều không đưa ra được câu trả lời thoả đáng cho câu hỏi này. Lý do ban đầu của Bắc Kinh đưa ra bao gồm “Giấc mộng xưng bá” tại Đông Nam Á của Hà Nội; hành vi xâm phạm biên giới Trung Quốc và cuộc tấn công sau đó vào lãnh thổ Trung Quốc; việc Hà Nội ngược đãi cộng đồng người Hoa sống ở Việt Nam; và quan hệ mật thiết của Việt Nam với Liên Xô vào thời điểm cường quốc này đang mở rộng ảnh hưởng đến Đông Nam Á.[1]

Những nhà quan sát đương thời cũng như một vài nghiên cứu sau đó cho rằng mục tiêu thật sự của Bắc Kinh là chuyển hướng tập trung sức mạnh quân sự của Hà Nội khỏi Campuchia và giữ chân lực lượng Việt Nam ở mặt trận thứ hai.[2]

Những nhà quan sát khác lại cho rằng việc Bắc Kinh sử dụng lực lượng quân đội tấn công Việt Nam là nhằm làm mất uy tín Liên Xô trong vai trò là một đồng minh đáng tin cậy của Việt Nam, đáp trả lại việc Việt Nam hợp tác với Liên Xô bao vây Trung Quốc từ phía Đông Nam Á.[3]

Quyết định gây chiến với Việt Nam của Trung Quốc được hình thành một phần do mối quan hệ xấu đi giữa Hà Nội với Bắc Kinh, bởi liên minh mới giữa Việt Nam với Liên Xô, và bởi vị thế bá quyền khu vực của Việt Nam, đồng thời nó cũng nảy sinh từ nỗ lực của Trung Quốc nhằm nâng cao vị trí chiến lược trên thế giới và đẩy mạnh chương trình cải cách kinh tế trong nước. Ba sự kiện diễn ra tại Bắc Kinh trong tháng 12 năm 1978 đã có tác động quan trọng đến quyết định chiến tranh của Trung Quốc: Đặng Tiểu Bình trở lại hàng ngũ lãnh đạo cấp cao tại Hội nghị TW ba Khóa 11 của Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ), Bắc Kinh thông qua quyết định đưa cải cách kinh tế làm ưu tiên hàng đầu của quốc gia, và việc Trung Quốc bình thường hoá quan hệ với Hoa Kỳ. Đặng được xem là kiến trúc sư trưởng của Trung Quốc về chiến lược quốc gia trong thời kỳ hậu Mao, đóng vai trò chính trong quyết định tấn công Việt Nam của Trung Quốc. Các học giả hiện nay cũng thừa nhận vai trò của Đặng trong quyết định chiến tranh của Trung Quốc, nhưng đưa ra rất nhiều giả thuyết khác nhau cho quyết định này.

Phân tích của Gerald Segal năm 1985 cho rằng vận động chính trị trong giới lãnh đạo gần như không tác động đến quyết định của Trung Quốc, và những bất đồng cấp cao, nếu có, cũng không ảnh hưởng đến các chiến dịch quân sự của Trung Quốc.[4] King Chen lại đưa ra ý kiến trái chiều rằng quyết định đã được thực hiện sau “các cuộc tranh luận liên tục, kéo dài” tại Hội nghị Công tác Trung ương cuối năm 1978, và phong cách lãnh đạo của Đặng là “yếu tố không thể thiếu khi thuyết phục” Bộ Chính trị ĐCSTQ – khi đó đang bị chia rẽ sâu sắc – chấp thuận quyết định này.[5] Một nghiên cứu liên quan gần đây của Andrew Scobell khẳng định các nhà lãnh đạo dân sự và quân đội Trung Quốc đã chia thành phái ủng hộ và phản đối hành động quân sự chống Việt Nam và quá trình đưa ra quyết định chiến tranh là một phần của cuộc đấu tranh giành quyền kế thừa quyền lực trong giai đoạn chính trị hậu Mao của Trung Quốc.[6]

Nghiên cứu về quyết định của Trung Quốc tấn công Việt Nam gặp trở ngại do thiếu các tài liệu (chính thức) của Trung Quốc, nhưng khoảng trống này được bù đắp một phần nhờ số lượng nguồn tài liệu tiếng Trung (khác) tăng lên, đặc biệt là hồi ký của các quan chức quân đội cấp cao, cũng như các tài liệu được giải mật của Mỹ.[7] Phần đầu bài viết này tôi thảo luận về tiến trình một đề xuất của Bộ Tổng tham mưu Quân đội Giải phóng Nhân dân Trung Quốc (Giải phóng Quân Trung Quốc) về việc sử dụng vũ lực trong giải quyết tranh chấp biên giới với Việt Nam đã phát triển thành quyết định phát động một cuộc xâm lược quy mô lớn như thế nào. Sau đó, tôi đi vào nghiên cứu ảnh hưởng của các yếu tố trong nước và quốc tế đến tư duy chiến lược của các lãnh đạo Trung Quốc, đặc biệt là Đặng Tiểu Bình, và quá trình hình thành quyết định chiến tranh.

Những yếu tố này bao gồm nỗ lực mới của Bắc Kinh nhằm đẩy mạnh cải cách kinh tế và mở cửa ra thế giới, các chính sách chống Trung Quốc của Việt Nam, việc Việt Nam can thiệp vào Campuchia, và mối quan hệ liên minh Xô-Việt. Đặng dường như đã tin rằng quan hệ hợp tác chiến lược Xô-Việt là mối đe doạ đến Trung Quốc. Ông không chỉ hy vọng rằng quan hệ bình thường hoá với Hoa Kỳ sẽ cải thiện vị trí chiến lược của Trung Quốc và tạo điều kiện thuận lợi hơn trong cải cách kinh tế với sự hỗ trợ của Hoa Kỳ; mà ông ta còn trông đợi cuộc tấn công của Trung Quốc vào đồng minh của Liên Xô sẽ thuyết phục chính phủ Mỹ rằng Hoa Kỳ và Trung Quốc cùng có lợi ích chung. Thắng lợi chính trị của Đặng ở Hội nghị Trung ương ba của ĐCSTQ đã củng cố vị trí của Đặng tại Trung Quốc và ngăn cản bất cứ ai muốn thách thức quyết định của ông ta – một quyết định sau này đã dẫn đến cuộc chiến tranh tốn kém và chết chóc. Nếu như trước khi đưa quân vào Triều Tiên Trung Quốc đã tiến hành nhiều cuộc thảo luận, thì ngược lại không hề có tranh cãi nghiêm trọng nào trong giới lãnh đạo cấp cao ở Bắc Kinh về quyết định chiến tranh với Việt Nam.[8] Tuy nhiên, quá trình tranh giành quyền lực trong nội bộ lãnh đạo đảng thực sự cũng có ảnh hưởng đến quyết định này.

Trung Quốc đáp trả các sự kiện biên giới

Sau chiến thắng của quân đội Bắc Việt Nam trước Nam Việt Nam năm 1975, các lãnh đạo ĐCSTQ tỏ ra ngày càng lo lắng về chính sách đối ngoại của Hà Nội. Người Trung Quốc e ngại ảnh hưởng của Liên Xô tại Đông Dương khi Hà Nội trở lên gần gũi hơn bao giờ hết với Mátxcơva do nhận viện trợ vật chất và cùng ý thức hệ.[9] Các lãnh đạo Trung Quốc cũng khó chịu với những nỗ lực của Hà Nội trong việc thiết lập mối quan hệ đặc biệt với Lào và Campuchia, riêng Campuchia còn chịu áp lực quân sự gia tăng từ phía Việt Nam.[10] Có lẽ vấn đề quan trọng nhất là Bắc Kinh và Hà Nội đã xung đột về vấn đề lãnh thổ. Trong quá khứ, Trung Quốc đã vài lần xâm lược Việt Nam nhằm giành quyền thống trị khu vực nhưng không phải để chiếm giữ lãnh thổ (?). Về phần mình Việt Nam cho đến thời điểm đó chưa bao giờ thách thức các yêu sách về lãnh thổ của Trung Quốc (?). Tình hình bắt đầu thay đổi sau năm 1975 khi những tranh chấp biên giới trở thành vấn đề chính đối với Bộ Tổng tham mưu Giải phóng Quân Trung Quốc. Giải phóng Quân Trung Quốc đã ra lệnh cho hai tỉnh giáp biên giới và Bộ chỉ huy quân sự các tỉnh và quân khu đảm bảo ổn định tình hình biên giới.[11] Mặc dù Bắc Kinh tuyên bố muốn giải quyết tranh chấp biên giới bằng hoà bình nhưng bạo lực ở biên giới vẫn gia tăng trong năm 1978.

Về phương diện lịch sử, những tranh chấp lãnh thổ là lý do phổ biến nhất cho chiến tranh giữa các nước.[12] Tuy nhiên, quyết định của Trung Quốc tấn công Việt Nam được hình thành do nhiều yếu tố đan xen. Bước đi đầu tiên của Trung Quốc về phía chiến tranh là khi Bộ Tổng tham mưu Giải phóng Quân đáp trả các sự cố biên giới ngày càng gia tăng giữa lúc diễn ra những tranh cãi về cộng đồng người Hoa ở Việt Nam giữa năm 1978 (chuyện này cần coi lại, vì VN cũng tố cáo TQ leo thang đánh phá biên giới VN-TQ – post by Trần Hoàng). Vào ngày 12 tháng 8, quân đội Việt Nam đã bất ngờ tấn công một đội tuần tra biên giới của Trung Quốc gần Cửa khẩu Hữu nghị ở tỉnh Quảng Tây. Hai tuần sau đó cũng tại khu vực này, hơn 200 bộ đội Việt Nam đã chiếm đóng một đỉnh núi bên phía biên giới Trung Quốc và tăng cường thêm quân trấn giữ tại các cao điểm.[13] Các quan chức Trung Quốc xác định số lượng xung đột biên giới tăng từ 752 vụ năm 1977 lên 1.100 vụ năm 1978.[14] Quy mô của các vụ xung đột cũng lan rộng hơn. Đến trước tháng 8 năm 1978, hầu hết là những vụ đấu súng nhỏ với thương vong không đáng kể. Tính chất các vụ đụng độ vào tháng 8 tăng lên mức khốc liệt và chết người, cho thấy có sự tham gia của số lượng lớn quân đội Việt Nam. Từ tất cả những dấu hiệu trên cho thấy, xung đột biên giới leo thang là yếu tố đầu tiên thúc đẩy các nhà lãnh đạo Bắc Kinh xem xét phương án sử dụng lực lượng quân đội chống lại Việt Nam.

Vào tháng 9 năm 1978, Bộ Tổng tham mưu đã tổ chức một cuộc họp tại Bắc Kinh về vấn đề “làm thế nào giải quyết phần lãnh thổ của chúng ta bị quân đội Việt Nam chiếm đóng”. Phó Tổng tham mưu trưởng Trương Tài Thiên (Zhang Caiqian) đã chủ trì cuộc họp với các sĩ quan từ Quân khu Quảng Châu và Côn Minh cũng như Cục tác chiến và Cục tình báo của Bộ Tổng tham mưu. Ngay từ đầu, Trương đã lưu ý rằng Bộ Tổng tham mưu phải tư vấn cho các lãnh đạo ĐCSTQ về cách thức đối phó với hành vi ngược đãi Hoa kiều của Hà Nội cùng những động thái khiêu khích ngày một tăng từ quân đội Việt Nam và lực lượng an ninh dọc theo biên giới Việt-Trung.[15] Ông ta đã đề cập đến hàng loạt sự kiện vào mùa hè năm 1978. Vào ngày 8 tháng 7, Tổng cục Chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam đã ra lệnh cho lực lượng của mình theo đuổi một “chiến lược tấn công” chống lại Trung Quốc và phát động “cuộc tấn công và phản công trong và ngoài biên giới”.[16] Hai tuần sau đó, Hội nghị TW 4 của Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN) đã xác định chủ nghĩa đế quốc Mỹ là “kẻ thù lâu dài” nhưng gọi Trung Quốc là “kẻ thù trực tiếp, nguy hiểm nhất”, và là một “kẻ thù mới trong tương lai”. Cùng thời điểm, một quân khu mới được thành lập ở Tây Bắc Việt Nam dọc theo tỉnh Vân Nam của Trung Quốc.[17] Bộ Tổng tham mưu Giải phóng Quân Trung Quốc nhận thấy một sự tương quan chặt chẽ giữa tình trạng thù địch mới của Hà Nội và mức độ căng thẳng biên giới ngày càng gia tăng. Các tài liệu hiện có mô tả vấn đề biên giới giống như “một phương diện thể hiện sự đối đầu hơn là một tranh chấp nghiêm trọng”,[18] nhưng đối với Trung Quốc vấn đề biên giới là điểm kích hoạt cho những tính toán về một cuộc tấn công đối với Việt Nam.[19] (VN nói rằng, họ chỉ để lại 5 sư đoàn bảo vệ biên giới Việt Trung, còn đại bộ phận thì đã dồn quân qua Kampuchia, nên VN không dám gây chiến ở biên giới Việt Trung- post by Trần Hoàng). 

Từ thời điểm thành lập nước CHND Trung Hoa, các lãnh đạo Trung Quốc đã thể hiện khuynh hướng sử dụng lực lượng quân sự trong tranh chấp lãnh thổ với các nước khác. Giải phóng Quân Trung Quốc đã được sử dụng vũ lực để duy trì tuyên bố chủ quyền chống lại Ấn Độ năm 1962 và Liên Xô năm 1969. Bộ Tổng tham mưu Giải phóng Quân Trung Quốc đã tiếp tục truyền thống này khi đề xuất một chiến dịch quân sự chống lại một trung đoàn quân Việt Nam đóng ở Trùng Khánh, một huyện biên giới tiếp giáp tỉnh Quảng Tây. Đề xuất của Bộ Tổng tham mưu được tính toán cẩn thận để tránh khả năng leo thang, khi điều này có thể đe doạ đến tiến trình cải cách kinh tế của Trung Quốc. Châu Đức Lễ (Zhou Deli), Tham mưu trưởng quân khu Quảng Châu, sau này kể lại Bộ Tổng tham mưu tin rằng vị trí cô lập của Trùng Khánh sẽ cho phép quân đội Trung Quốc chia cắt tiền đồn này của Việt Nam khỏi quân tiếp viện và dễ dàng tiêu diệt nó. Sau một ngày xem xét kỹ thông tin tình báo về các khả năng Việt Nam đưa quân vào Campuchia và thảo luận tình hình chung, hầu hết những người tham dự cuộc họp đều kết luận vấn đề hiện nay với Việt Nam không chỉ là vấn đề biên giới mà rằng bất cứ hành động quân sự nào cũng phải tạo ra tác động mạnh đến Việt Nam và tình hình ở Đông Nam Á. Họ đề xuất một cuộc tấn công vào một đơn vị quân đội thường trực Việt Nam trên một vùng địa lý rộng hơn. Mặc dù không đi đến quyết định cụ thể nào, hội nghị cũng đã hình thành tinh thần chung cho cuộc chiến mà sau này Trung Quốc rốt cục đã tiến hành chống lại Việt Nam, liên kết kế hoạch tấn công với hành động của chính Việt Nam tại Đông Nam Á.[20]

Thật không may, không có nguồn tài liệu nào của Trung Quốc lý giải Bộ Tổng tham mưu Giải phóng Quân Trung Quốc đã thay đổi kế hoạch chiến tranh trong các tháng tiếp theo như thế nào. Rõ ràng, các quan chức tại Bắc Kinh lo ngại các tư lệnh địa phương của Giải phóng Quân Trung Quốc có thể trở nên hung hăng quá mức khi ứng phó với các diễn biến biên giới đang ngày càng gia tăng và sẽ gây tổn hại cho kế hoạch chiến tranh của trung ương. Vào ngày 21 tháng 11, Quân ủy Trung ương của ĐCSTQ đã ra lệnh cho các tư lệnh quân khu tuân thủ chiến lược chính chống bá quyền Liên Xô khi xử lý các sự cố biên giới và ra lệnh cho tất cả các đơn vị biên giới ghi nhớ phương châm “hữu lý, hữu lợi, hữu tiết” (youli, youli, youjie), nghĩa là phù hợp với khả năng, có lợi và biết cách tiết chế hợp lý, chỉ chiến đấu sau khi quân địch đã tấn công.[21]

Hai ngày sau đó, Bộ Tổng tham mưu triệu tập một cuộc họp khác để thảo luận về một kế hoạch chiến tranh mới. Xem xét đề xuất trước đó, Bộ Tổng tham mưu mở rộng phạm vi và thời gian cuộc chiến, mục tiêu là tiêu diệt một hoặc hai sư đoàn chính quy của Việt Nam trong một chiến dịch gần biên giới kéo dài 3 đến 5 ngày.[22] Một số người tham dự tin rằng tầm với của những chiến dịch này chưa đủ xa bởi vẫn chỉ giới hạn trong một vùng hẻo lánh và không đe doạ trực tiếp tới Hà Nội. Tuy nhiên, họ không lên tiếng phản đối mà tuân theo sự đánh giá của chỉ huy cấp cao. Bộ Tổng tham mưu đã ra lệnh cho Quân khu Quảng Châu và Côn Minh thực hiện chiến dịch và cho phép điều chuyển lực lượng dự bị chiến lược của Giải phóng Quân Trung Quốc, gồm hai tập đoàn quân của Quân khu Vũ Hán và Thành Đô, nhằm củng cố cho mặt trận Quảng Tây và Vân Nam.[23] Sau đó, kế hoạch chiến tranh đã được thay đổi đáng kể để đối phó với việc Việt Nam đưa quân vào Campuchia. Nhưng thực tế Bộ Tổng tham mưu Giải phóng Quân Trung Quốc phác thảo một chiến dịch quân sự lớn thậm chí trước cả khi lực lượng Việt Nam vượt sông Mekong đã cho thấy ý định ban đầu của cuộc chiến ít nhất là buộc Việt Nam chấp nhận các yêu sách của Trung Quốc về tranh chấp biên giới và trục xuất Hoa kiều. 

Đặng trở lại trung tâm quyền lực

Quan điểm của các nhà lãnh đạo Trung Quốc về kế hoạch chiến tranh như thế nào? Một bài phát biểu của Bí thư Quân ủy Trung ương Cảnh Tiêu (Geng Biao) vào ngày 16/1/1979 đã làm sáng tỏ suy tính của Bắc Kinh về cách thức đối phó với việc Việt Nam đưa quân vào Campuchia.

Vào tháng 11 năm 1978 Uông Đông Hưng (Wang Dongxing), Phó Chủ tịch ĐCSTQ, và Tô Chấn Hoa (Su Zhenghua), Chính uỷ thứ nhất của hải quân và Uỷ viên Bộ chính trị ĐCSTQ đưa ra ý kiến gửi binh sĩ Trung Quốc hoặc một đơn vị hải quân đến Campuchia. Hứa Thế Hữu (Xu Shiyou), tư lệnh của Quân khu Quảng Châu, đề nghị được phép tấn công Việt Nam từ Quảng Tây.[24] Cảnh Tiêu thuật lại rằng sau khi xem xét kỹ lưỡng, các lãnh đạo ĐCSTQ đã phản đối tất cả các đề xuất.[25] King Chen cho rằng Cảnh Tiêu chắc hẳn biết rõ Giải phóng Quân Trung Quốc đã bố trí quân đội dọc biên giới Việt Nam, và đã cố tình che dấu kế hoạch quân sự của Bắc Kinh.[26] Báo cáo của Cảnh Tiêu cũng không tiết lộ vai trò của Đặng Tiểu Bình trong quá trình ra quyết định vì Đặng đã củng cố quyền lực trong khi ảnh hưởng chính trị của Uông và Tô suy yếu ở giai đoạn này.[27] Quyết định ban đầu của Trung Quốc về Việt Nam trùng với thời điểm bắt đầu chu kỳ đấu tranh quyền lực mới trong nội bộ ĐCSTQ.

Đặng Tiểu Bình, một nhà lãnh đạo đảng lâu đời và là một chính khách của Trung Quốc, nổi lên trở lại đấu trường chính trị Trung Quốc vào tháng 7 năm 1977 với vai trò Phó chủ tịch ĐCSTQ, Phó chủ tịch Quân ủy Trung ương, Phó Thủ tướng, và Tổng tham mưu trưởng Giải phóng Quân Trung Quốc.

Ban đầu quyền lực của Đặng được khôi phục không đồng nghĩa với việc ông nắm uy thế áp đảo trong ĐCSTQ. Hoa Quốc Phong, chủ tịch của cả ĐCSTQ và Quân ủy Trung ương, được sự hậu thuẫn của Uông Đông Hưng, Phó Chủ tịch ĐCSTQ, vẫn còn kiểm soát Đảng và nhà nước và vẫn tiếp tục thực hiện nhiều ý tưởng và chính sách của cố lãnh đạo Mao Trạch Đông.[28] Diệp Kiếm Anh (Ye Jianying) vẫn còn phụ trách Quân ủy Trung ương. Đặng khi vừa trở lại cơ quan cấp cao đã tình nguyện phụ trách khoa học và giáo dục, lĩnh vực được xem như ít quan trọng hơn công tác Đảng và quân sự.[29]

Từ tháng 8/1977 đến tháng 12 năm 1978, cuộc đấu tranh quyền lực giữa Hoa và Đặng ngày càng căng thẳng.[30] Với vị trí Tổng tham mưu trưởng Giải phóng Quân Trung Quốc, Đặng nắm rõ kế hoạch chiến tranh, nhưng dường như ông ta không chắc chắn liệu tấn công Việt Nam sẽ nhận được sự ủng hộ của toàn bộ Bộ Chính trị ĐCSTQ hay không. Hơn nữa, Đặng cần xem xét các mục tiêu Giải phóng Quân Trung Quốc có khả năng đạt được thông qua hành động quân sự ngoài việc đơn giản là trừng phạt Việt Nam. Trong một chuyến thăm Singapore vào đầu tháng 11/1978, đáp lại câu hỏi của Thủ tướng Lý Quang Diệu về việc liệu Trung Quốc sẽ dùng vũ lực tấn công lực lượng quân đội Việt Nam tại Campuchia hay không, Đặng đã tỏ ra ngần ngại khi trả lời. Có lần, ông nói với ông Lý rằng Trung Quốc sẽ trừng phạt Việt Nam, nhưng trong lần khác ông chỉ trả lời “cũng còn tuỳ”.[31]

Cán cân chính trị nghiêng về phía Đặng ngay sau khi ông trở về Bắc Kinh. Từ ngày 10 tháng 11 đến ngày 15 tháng 12 1978,  Hội nghị công tác trung ương đã diễn ra với sự tham dự của lãnh đạo các tỉnh, các quân khu, và Trung ương Đảng, chính phủ, và cơ quan quốc phòng. Chương trình nghị sự ban đầu tập trung vào các vấn đề trong nước – phát triển nông nghiệp và chính sách kinh tế trong các năm 1979 và 1980 – và không bao gồm tình hình Đông Dương, trái với khẳng định đã nêu của King Chen.[32]

Cuộc họp đã có một bước ngoặt bất ngờ khi Trần Vân (Chen Yun), một nhà hoạch định kinh tế kế hoạch cho Mao, phát biểu vào ngày 12 tháng 11 nhấn mạnh họ trước tiên phải giải quyết các hậu quả để lại của Cách mạng Văn hoá. Chương trình nghị sự sau đó đã chuyển sang vấn đề phục chức cho các đảng viên cấp cao trước đây bị truy tố trong Cách mạng Văn hoá và sang hướng chỉ trích liên minh Hoa – Uông vì tiếp tục theo đuổi chính sách tư tưởng cực tả. Cuộc họp kết thúc với quyết định triệu tập Hội nghị TW ba của Đại hội Đảng khoá 11, ở đây Trần Vân đã trở thành Phó Chủ tịch ĐCSTQ, củng cố vị thế chính trị của Đặng Tiểu Bình. Với bầu không khí chính trị thay đổi ở Bắc Kinh, các quyết định của Đặng dần trở lên có ảnh hưởng cao tại Trung Quốc.[33]

Một trong những quyết định quan trọng đầu tiên của Đặng, công bố tại Hội nghị TW ba, là chuyển ưu tiên quốc gia của Trung Quốc sang hiện đại hoá kinh tế và mở cửa ra thế giới bên ngoài.[34] Theo chương trình này, Hoa Kỳ đã được xem là nguồn chính để học tập các ý tưởng và công nghệ tiên tiến, đồng thời là tấm gương thích hợp nhất về hiện đại hoá.

Cựu Thứ trưởng ngoại giao Trung Quốc Zhang Wenjin nhớ lại Đặng tin rằng nếu Trung Quốc chỉ mở cửa với các nước khác nhưng nói không với Hoa Kỳ thì chính sách mới sẽ không có hiệu quả.[35] Đến tháng 12 năm 1978, Bắc Kinh đã mời một số tập đoàn lớn của Hoa Kỳ để giúp đỡ phát triển tài nguyên thiên nhiên, dầu khí, và các nghành công nghiệp nặng khác ở Trung Quốc. Vấn đề chính sách đối ngoại không nằm trong chương trình nghị sự của Hội nghị công tác trung ương hay Hội nghị TW ba, nhưng tình hình chính trị trong nước và mối quan hệ xấu đi giữa Trung Quốc và Việt Nam (biểu trưng bởi liên minh mới Việt-Xô) thúc đẩy các nhà lãnh đạo sắp xếp một cuộc họp đặc biệt về vấn đề thiết lập quan hệ ngoại giao với Hoa Kỳ.[36] Nhân tố Mỹ đóng một vai trò quan trọng trong tư duy chiến lược của Trung Quốc trong gian đoạn trước khi tiến hành cuộc xâm lược Việt Nam. (?)

Nhân tố Liên Xô

Nghiên cứu của Qiang Zhai về mối quan hệ của Trung Quốc với Bắc Việt Nam trước tháng 4 năm 1975 lưu ý rằng nếu như các nhà lãnh đạo Trung Quốc trước đây luôn duy trì mối quan hệ cá nhân thân thiết với giới chức Việt Nam, thì Đặng ngược lại không có bất cứ sự “gắn bó cá nhân sâu nặng nào với Việt Nam”. Đến cuối năm 1978, vì cảm thấy bị xúc phạm quá mức trước những dấu hiệu mà ông ta cho rằng Hà Nội đang thách thức lợi ích của Bắc Kinh, Đặng đã không “ngần ngại tiến hành một cuộc chiến tranh để dạy cho Việt Nam một bài học.”[37] Năm 1979, các lãnh đạo Việt Nam cũng đã cáo buộc Đặng chống lại những lợi ích của Việt Nam ngay cả trong thời kỳ chiến tranh Việt Nam. Lê Duẩn tuyên bố Đặng đã không chỉ cố gắng thuyết phục miền Bắc Việt Nam giảm bớt cuộc cách mạng ở miền Nam, mà còn ngăn miền Bắc Việt Nam không được nhận viện trợ từ Liên Xô, coi đây là điều kiện để Trung Quốc tiếp tục viện trợ cho Hà Nội.[38] 

Tổng cộng Trung Quốc đã cung cấp cho Hà Nội 20 tỷ đô la viện trợ trong hai thập kỷ, nhiều hơn nguồn tiếp tế của bất kỳ quốc gia nào khác.[39]

Khi chính quyền Việt Nam bắt đầu trục xuất Hoa kiều ở miền bắc Việt Nam và xâm phạm lãnh thổ Trung Quốc dọc theo biên giới, nhiều người Trung Quốc đã tức giận trước những hành vi mà họ coi là sự vô ơn của Hà Nội sau những viện trợ và hy sinh của họ. Trung Quốc đã chứng kiến một làn sóng giận dữ của công chúng chống lại Việt Nam do bộ máy tuyên truyền chính thống kích động.[40]

Những người từng hỗ trợ những người cộng sản Việt Nam trong cuộc chiến tranh chống Pháp và Mỹ cảm thấy bị phản bội và sẵn sàng “dạy cho Việt Nam một bài học”. Phó Thủ tướng Lý Tiên Niệm đã mô tả hành động quân sự của Trung Quốc giống như “một cái tát vào mặt [Việt Nam] để cảnh cáo và trừng phạt họ.”[41] Đặng Tiểu Bình cũng không phải là ngoại lệ. Ông ta đã tỏ ý khó chịu với thái độ “vô ơn” của Việt Nam kể từ giữa những năm 1960.[42]

Mặc dù tình trạng thù địch giữa Trung Quốc và Việt Nam trở nên căng thẳng trong cuối những năm 1970, Đặng trở nên ngày càng nhạy cảm, thậm chí một lần đã gọi Việt Nam là wangbadan (một từ mang nghĩa chửi thề -NBT) trước mặt một nhà lãnh đạo nước ngoài.[43] Như Raymond đã chỉ ra, trong một tình huống mà “ý định thù địch [tồn tại] ở cả hai bên, sự giận dữ và lòng thù hận [có khả năng] nảy sinh”.[44] Điều mà Đặng nhìn nhận là “thái độ xấc xược” của Việt Nam, cùng với các xung đột biên giới leo thang và cuộc di tản đang diễn ra của Hoa kiều, tất cả đã tạo ra “sự giận dữ và lòng thù hận” ở Bắc Kinh, và thúc đẩy chính phủ cân nhắc đến các phương án quân sự. Việc sử dụng lực lượng quân sự cũng phù hợp với tư duy chiến lược của vị lãnh đạo cao nhất này của Trung Quốc. 

Sau khi quay lại nắm quyền lực, quan điểm chính sách đối ngoại của Đặng ban đầu vẫn chịu ảnh hưởng theo tư duy chiến lược của Mao Trạch Đông, tức là coi công cuộc bành trướng toàn cầu và lực lượng quân sự của Liên Xô là mối đe dọa chính đối với hòa bình. Mặc dù Matxcơva đã nỗ lực hòa giải với Trung Quốc trong năm 1977 và 1978, các nhà lãnh đạo Trung Quốc vẫn từ chối tin tưởng vào Liên Xô vì sự thù địch từ lâu giữa hai đất nước.[45] Liên Xô tiếp tục tăng cường quân đội mạnh mẽ gần Trung Quốc và thường xuyên tiến hành tập trận bằng đạn thật mô phỏng xung đột biên giới.[46]

Bắt đầu từ đầu những năm 1970, Mao theo đuổi chiến lược “một đường ngang” (yitiaoxian – nhất hoành tuyến) trên toàn cầu, tức là một đường phòng thủ chiến lược chống lại Liên Xô kéo dài từ Nhật Bản sang châu Âu đến Mỹ. Cơ sở chiến lược “hoành tuyến” của Mao là dựa vào hợp tác chặt chẽ giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ.

Tuy nhiên, Washington đã không hưởng ứng phương pháp này theo cách mà Bắc Kinh trông chờ. Các nhà lãnh đạo Trung Quốc đã kết luận rằng Mỹ vẫn chủ yếu quan tâm đến chính sách hòa dịu (détente) với Liên Xô.[47]

Nỗi thất vọng của Trung Quốc tiếp tục trong suốt những năm đầu của nhiệm kỳ tổng thống Jimmy Carter khi ông chính thức tuyên bố sẽ dành ưu tiên cao hơn cho hoà dịu Xô-Mỹ.

Đặng không thích chính sách cố gắng xoa dịu căng thẳng quốc tế thông qua đàm phán của Hoa Kỳ. Vào ngày 27 tháng 9 năm 1977, trong cuộc gặp với George H. W. Bush, cựu giám đốc văn phòng liên lạc của Mỹ tại Bắc Kinh, Đặng đã chỉ trích thỏa thuận kiểm soát vũ khí hạt nhân Xô-Mỹ vốn không ngăn được Liên Xô đạt được sức mạnh ngang bằng với Mỹ.[48]

Vài tháng sau đó, vị lãnh đạo Trung Quốc nhắc lại những lời chỉ trích đó với Zbigniew Brzezinski, cố vấn an ninh quốc gia của chính quyền Carter, khi vị này đến thăm Bắc Kinh tháng 5 năm 1978. Đặng cảnh báo Brzezinski về ý định của Liên Xô, cho rằng nước này sẽ gây hại cho Mỹ. Lãnh đạo Trung Quốc đã không tin rằng các thỏa thuận hoặc hợp tác với Liên Xô có thể ngăn chặn nước này bành trướng.

Tuy nhiên, Brzezinski cho rằng chính sách của Trung Quốc chỉ đơn giản là “nói suông”. Đặng không đồng ý và giải thích rằng Trung Quốc đã làm mọi điều trong khả năng của mình.[49] Khó có thể khẳng định rằng cuộc trao đổi này có ảnh hưởng tâm lý tới Đặng hay không, nhưng sau đó ông ta đã thừa nhận không muốn các nước khác nhận thức Trung Quốc yếu đuối khi đối đầu với liên minh Xô-Việt.[50] Hành động quân sự của Trung Quốc được dự kiến là nhằm chứng tỏ rằng Bắc Kinh không chỉ nói miệng nếu Trung Quốc và Hoa Kỳ thống nhất trong việc chống lại thái độ hung hăng của Liên Xô.[51]

Trong tháng 11, một số diễn biến phát sinh đã khiến Bắc Kinh càng thêm lo lắng. Đầu tiên, các nhà lãnh đạo Trung Quốc lo ngại về khả năng bình thường hoá hoặc cải thiện quan hệ giữa Hoa Kỳ và Việt Nam.

Nếu Lê Duẩn không khăng khăng đòi Mỹ 3 tỷ đô la về bồi thường chiến tranh (như đã hứa trong Hiệp Định Ba Lê 27-1-1979, và nếu như Lê Duẩn không tiến chiếm Kampuchia 1978, TQ sẽ không phá được việc Hà Nội bình thường hóa quan hệ giữa Hoa Kỳ và VN, VN không bị cấm vân suốt 10 năm (1979-1989)  (post by Trần Hoàng)

Vào ngày 03 tháng 11, Lý Tiên Niệm đã lên tiếng không hài lòng trong một cuộc trò chuyện với Bộ trưởng Năng lượng Mỹ James Schlesinger, tuyên bố mối quan hệ gần gũi hơn với Việt Nam sẽ không kéo Việt Nam khỏi Liên Xô.[52]

Trung Quốc tỏ ra nóng lòng muốn đẩy nhanh các cuộc đàm phán với Hoa Kỳ về việc thiết lập quan hệ ngoại giao và khôi phục các cuộc đàm phán vốn đã bị đình trệ hồi đầu tháng 7 năm 1978. Thứ hai, tăng cường quan hệ quân sự của Liên Xô với Việt Nam sau khi ký Hiệp ước Hòa bình và Hữu nghị Xô-Việt vào ngày 3 tháng 11 là tiếng chuông báo động với Bắc Kinh. Trung Quốc cho rằng Liên Xô đã hậu thuẫn Việt Nam đưa quân vào Campuchia và khuấy động căng thẳng biên giới phía Nam Trung Quốc.[53] Đối với Trung Quốc, Việt Nam đang trở thành một mối đe dọa quân sự nghiêm trọng, càng làm sâu sắc hơn mối đe dọa của Liên Xô từ phía Bắc. Trung Quốc cần tìm cách lập lại thế cân bằng chiến lược thông qua hành động quân sự chống lại “chủ nghĩa bá quyền khu vực” của Việt Nam.

Ngày 7 tháng 12 Quân ủy Trung ương đã nhóm họp trong vài giờ và quyết định phát động một cuộc chiến tranh hạn chế “đánh trả” Việt Nam.[54] Tại cuộc họp một số lo ngại rằng Liên Xô có thể phản ứng bằng một cuộc tấn công trả đũa từ phía Bắc, đẩy Trung Quốc sa vào một cuộc chiến tranh hai mặt trận.

Phân tích tình báo của Bộ Tổng tham mưu Giải phóng Quân Trung Quốc chỉ ra rằng Liên Xô sẽ có ba lựa chọn quân sự để đáp trả cuộc xâm lược này: (1) một cuộc tấn công quy mô lớn bao gồm cả tấn công trực tiếp vào Bắc Kinh, (2) xúi giục các phần tử dân tộc thiểu số lưu vong có vũ trang tấn công các vùng xa xôi của Trung Quốc ở Tân Cương và Nội Mông, và (3) sử dụng các vụ đụng độ nhỏ để kích động căng thẳng biên giới giữa hai nước. Mặc dù 54 sư đoàn của Liên Xô đã được triển khai dọc biên giới với Trung Quốc và Mông Cổ, Bộ Tổng tham mưu Giải phóng Quân Trung Quốc tính toán rằng hai phần ba trong những sư đoàn này thiếu quân số và trang bị không đầy đủ, Liên Xô không có đủ lực lượng để triển khai một cuộc can thiệp quân sự quy mô lớn ở Trung Quốc. Bất kỳ sự can thiệp nào cũng sẽ buộc Matxcơva không chỉ chuyển một số lượng lớn quân đội từ Châu Âu, mà còn đặt an ninh quốc gia của Liên Xô vào rủi ro lớn bởi khả năng đáp trả từ Hoa Kỳ là điều hoàn toàn có thể. Liên Xô không thể tấn công Trung Quốc từ phía Bắc mà không xem xét đến điều này.[55] Trong khi đó, VN cả tin Liên Xô sẽ hành động tham gia chiến tranh nếu TQ động đến VN, dựa theo hiệp định giữa VN và Liên Xô ký kết tháng 11-1978. (Trần Hoàng)

Ngày 8 tháng 12 Quân ủy Trung ương đã ra lệnh cho Quân khu Quảng Châu và Côn Minh chuẩn bị sẵn sàng cho hành động quân sự chống lại Việt Nam trước ngày 10 tháng 1 năm 1979.[56]

Ghi chú: Bài viết thể hiện quan điểm của tác giả, không phải quan điểm của người dịch và BBT Nghiencuuquocte.net. Do nhiều nguồn tư liệu mà tác giả trích dẫn trong bài là từ phía Trung Quốc nên tính chính xác và khách quan có thể không được đảm bảo. Tuy nhiên, trên tinh thần học thuật, tôn trọng tác giả và nhằm giúp bạn đọc hiểu được quan điểm tuyên truyền nội bộ Trung Quốc về cuộc chiến, chúng tôi dịch nguyên văn bài viết, bao gồm cả cách diễn đạt, dùng từ. Quyền nhận định và đánh giá nội dung bài viết thuộc về các độc giả.

* Ghi chú của Trần Hoàng: dưới đây là loạt 10 bài về chiến tranh biên giới Việt Trung

Tham Khảo:

[1] Renmin ribao [Nhân dân nhât báo], ngày 19 tháng 3 năm 1979. Bản dịch tiếng Anh, xem Bắc Kinh Review, ngày 23 tháng 3 năm 1979.

 

[2] Harlan W. Jencks, “China’s ‘Punitive’ War on Vietnam: A Military Assessment,” Asian Survey, Vol. 19, No. 8 (August 1979), pp. 802–803; Steven J. Hood, Dragons Entangled: Indochina and the China-Vietnam War (Armonk, NY: M. E. Sharpe, 1992), pp. 50–57; and Edward C. O’Dowd, Chinese Military Strategy in the Third Indochina War: The Last Maoist War (New York: Routledge, 2007), p. 6.

 

[3] Robert S. Ross, The Indochina Tangle: China’s Vietnam Policy, 1975–1979 (New York: Columbia University Press, 1988), p. 253; and Bruce Elleman, Modern Chinese Warfare, 1785–1989 (London: Routledge, 2001), p. 285.

 

[4] Gerald Segal, Defending China (New York: Oxford University Press, 1985), pp. 225–226.

 

[5] King Chen, China’s War with Vietnam, 1979 (Stanford, CA: Hoover Institution Press, 1987), pp. 85–86, 152.

 

[6] Andrew Scobell, China’s Use of Military Force beyond the Great Wall and the Long March (New York: Cambridge University Press, 2003), pp. 124–143.

 

[7] Những cuốn hồi ký đáng chú ý là Zhou Deli, Yige gaoji canmouzhang de zishu [Personal Recollections of a High-Ranking Chief of Staff ] (Nanjing: Nanjing chubanshe, 1992); Xu Shiyou de zuihou yizhan [The Last Battle of Xu Shiyou] (Nanjing: Jiangsu renmin chubanshe, 1990); and Zhang Zhen, Zhang Zhen huiyilu [Zhang Zhen’s Memoirs] (Beijing: Jiefangjun chubanshe, 2003). Ngoài ra, các trang web Internet Trung Quốc chứa các tài liệu, hồi ký, hồi ức cá nhân, và những đoạn trích từ các ấn phẩm của Trung Quốc liên quan đến cuộc chiến tranh năm 1979 với Việt Nam. Hữu ích nhất là “Zhongyue zhangzhen beiwanglu” [Memoranda of Sino-Vietnam War], http://bwl.top81.cn/war79/index.html.

 

[8] Đối với nghiên cứu về quyết định của Trung Quốc trong chiến tranh Triều Tiên, xem Shu Guang Zhang, Mao’s Military Romanticism: China and the Korean War, 1950–1953 (Lawrence, KS: University Press of Kansas, 1995), ch. 4; Chen Jian, Mao’s China and the Cold War (Chapel Hill: University of North Carolina Press, 2001), ch. 4; and Xiaoming Zhang, Red Wing over the Yalu: China, the Soviet Union, and the Air War in Korea (College Station: Texas A&M University Press, 2002), ch. 3.

 

[9] Ross, The Indochina Tangle, các trang 118–123, 127–128. Người Trung Quốc cho rằng Trung Quốc không thể giữ nguyên mức độ trợ giúp Việt Nam như đã làm trong chiến tranh bởi vì kinh tế Trung Quốc đang phải đối mặt với những khó khăn rất lớn trong thời gian này. Xem Guo Ming, ed., ZhongYue guanxi yanbian sishinian [The Development of Sino-Vietnamese Relations in Forty Years] (Nanning, China: Guangxi renmin chubanshe, 1992), p. 114.

 

[10] Chen, China’s War, các trang 35–36.

 

[11] Luo Yuansheng, Baizhan jiangxing Wang Shangrong [The Biography of GeneralWang Shangrong] (Beijing: Jiefangjun wenyi chubanshe, 1999), pp. 375–377; and Yang Qiliang et al., Wang Shangrong jiangjun [General Wang Shangrong] (Beijing: Dangdai Zhongguo chubanshe, 2000), p. 626.

 

[12] John Vasquez and Marie T. Henehan, “Territorial Disputes and the Probability of War, 1816– 1992,” Journal of Peace Research, Vol. 38, No. 2 (2001), pp. 123–138.

 

[13] Guo, ed., ZhongYue guanxi yanbian sishinian, trang 169; Zhou, Yige gaoji canmouzhang de zishu, các trang 241–242.

 

[14] Han Huanzhi, chief ed., Dangdai Zhongguo jundui de junshi gongzuo [Contemporary Chinese Military Affairs] (Beijing: Zhongguo shehui kexue chubanshe, 1989), Vol. 1, p. 659.

 

[15] Zhou, Yige gaoji canmouzhang de zishu, các trang 239–240.

 

[16] Han Lianlong, chief ed., Dangdai Zhongguo waijiao [Contemporary Chinese Diplomacy] (Beijing: Zhongguo shehui kexue chubanshe, 1990), pp. 285–286.

 

[17] Vietnamese National Defense Ministry, Military History Institute, Yuenan renminjun wushinian [Fifty Years of Vietnamese People’s Army], trans. by Liu Huanpu et al. (Beijing: Junshi Yiwen chubanshe, 1994), pp. 267–268.

 

[18] BrantlyWomack, China and Vietnam: The Politics of Asymmetry (New York: Cambridge University Press, 2006), p. 199.

 

[19] Một nghiên cứu gần đây lưu ý rằng từ năm 1949 đến năm 2007 Trung Quốc đã có 23 tranh chấp lãnh thổ với các nước láng giềng cả trên đất liền và dưới biển, đã sử sụng vũ lực trong 6 lần. Xem M. Taylor Fravel, Strong Borders, Secure Nation: Cooperation and Conºict in China’s Territorial Disputes (Princeton, NJ: Princeton University Press, 2008), pp. 1–2.

 

[20] Zhou, Yige gaoji canmouzhang de zishu, các trang 242–243.

 

[21] “Zhongguo Renmin Jiefangjun Tongjian” Editorial Committee, Zhongguo renming jiefangjun tongjian [A General Record of the PLA of China, 1927–1996], 3 vols. (Lanzhou, China: Gansu renmin chubanshe, 1997), Vol. 2, p. 2173.

 

[22] Trừ khi có trích dẫn khác, tất cả các thông tin chi tiết về kế hoạch xâm lược của Trung Quốc được cung cấp bởi Cai Pengcen, một sinh viên sau đại học ngành lịch sử tại Đại học Tây Nam ở Trung Quốc.

 

[23] Zhou, Yige gaoji canmouzhang de zishu, pp. 244–245; Zhang Zhen, Zhang Zhen junshi wenxuan [Selected Military Works of Zhang Zhen] (Beijing: Jiefangjun chubanshe, 2005), p. 298; and Wang Hancheng, Wang Hancheng huiyilu [Wang Hancheng Memoirs] (Beijing: Jiefangjun chubanshe, 2004), p. 535. Cả Zhang và Wang cho rằng quân đội từ Quân khu Vũ Hán và Thành Đô được xem là quân dự bị chiến lược của Giải phóng Quân Trung Hoa.

 

[24] Điều này có lẽ xảy ra vào cuộc họp tháng 11 năm 1978 của Quân ủy Trung ương. Xem Zhang, Zhang Zhen huiyilu, Vol. 2, pp. 165–66; and Jin Ye, Hu Juchen, and Hu Zhaocai, Baizhan jiangxing Xu Shiyou [Biography of General Xu Shiyou] (Beijing: Jiefangjun wenyi chubanshe, 1999), pp. 329–331.

 

[25] Geng Biao, “Secret Report,” 16 January, 1979, in Studies on Chinese Communism, No. 166 (15 October 1980), pp. 150–152.

 

[26] Chen, China’s War, trang 87.

 

[27] Ye Yonglie, Cong Hua Guofeng dao Deng Xiaoping: Zhongkang shiyijie sanzhong quanhui qianhou [From Hua Guofeng to Deng Xiaoping: Around the Third Plenum of the Eleventh Central Party Committee] (Hong Kong: Tiandi Books, 1998), pp. 526–527; Sun Dali, “A Historical Turning Point of New China: The Third Plenum of the Eleventh Central Committee,” in Lin Zhijian, ed., Xin Zhongguo yaoshi shuping [Review of the Important Events of New China] (Beijing: Zhongyang wenxian chubanshe, 1994), p. 498; and Xiao Jinguang, Xiao Jinguang huiyilu xuji [Xiao Jinguang Memoirs: Continuation Edition] (Beijing: Jiefangjun chubanshe, 1988), pp. 361–363.

 

[28] Hội nghị TW ba của Uỷ ban Trung ương Đảng khóa 10, diễn ra từ ngày 16 đến ngày 21 tháng 7 năm 1977, dự kiến Hoa là Chủ tịch ĐCSTQ với đầy đủ quyền kiểm soát Đảng, Nhà nước, và quốc phòng. Diệp vẫn chịu trách nhiệm về quân đội, và Uông, người được thăng chức Phó Chủ tịch Đảng sau đó 1 tháng, chịu trách nhiệm về tổ chức Đảng, tuyên huấn, và an ninh. Xem Ye, Cong Hua guofeng dao DengXiaoping, các trang 222, 227, 235–236, 240.

 

[29] Deng Xiaoping, Deng Xiaoping wenxuan [Selected Works of Deng Xiaoping] (Beijing: Renmin chubanshe, 1983), Vol. 2, p. 65.

 

[30] Ye, Cong Hua guofeng dao Deng Xiaoping, pp. 222–226; and Sun, “A Historical Turning Point of New China,” pp. 478–480.

 

[31] Lee Kuan Yew, From the Third World to First: The Singapore Story, 1965–2000 (New York: Anchor Press, 2000), pp. 601–602.

 

[32] Chen, China’s War, trang 85.

 

[33] Mặc dầu Uông vẫn còn giữ chức Phó Chủ tịch Đảng nhưng ông đã không còn kiểm soát Văn phòng TW Đảng hoặc Ban bảo vệ trung ương của Giải phóng Quân Trung Quốc. Ye, Cong Hua Guofeng, các trang 463–528.

 

[34] Deng Xiaoping, Deng Xiaoping wenxuan [Selected Works of Deng Xiaoping], Vol. 3 (Beijing: Renmin chubanshe, 1993), p. 269.

 

[35] Li Shenzhi, Li Shenzhi wenji [Collected Works of Li Shenzhi] (Beijing: n.p., 2004), p. 334.

 

[36] Qian Jiang, Deng Xiaoping yu ZhongMei jianjiao fengyun [Deng Xiaoping and the Establishment of Diplomatic Relationship between China and the United States] (Beijing: Zhonggong dangshi chubanshe, 2005), p. 153; Gong Li, Deng Xiaoping yu Meiguo [Deng Xiaoping and the United States] (Beijing: Zhonggong dangshi chubanshe, 2004), p. 236.

 

[37] Qiang Zhai, China and the Vietnam Wars, 1950–1975 (Chapel Hill: University of North Carolina Press, 2000), p. 214.

 

[38] “Comrade B on the Plot of the Reactionary Chinese Clique against Vietnam (1979),” trans. By Christopher E. Goscha, The Cold War International History Project Bulletin, No. 12/13 (Fall/Winter 2001), pp. 281, 284, 289. Xem thêm, Odd Arne Westad, et al, eds., “77 Conversations between China and foreign Leaders on the Wars in Indochina, 1964–1977,” CWIHP Working Paper No. 22, Cold War International History Project, Washington, DC, p. 57.

 

[39] Đây là thống kê chính thức của Trung Quốc nhưng cách thức tính toán thế nào thì chưa rõ ràng. Căn cứ theo nguồn tin có thẩm quyền của Trung Quốc, Trung Quốc cung cấp cho miền Bắc Việt Nam tổng cộng 4,26 tỷ nhân dân tệ bằng viện trợ quân sự từ năm 1950 đến năm 1974. Li Ke and Hao Shengzhang,Wenhua dagemin zhong de jiefangjun [The PLA in the Cultural Revolution] (Beijing: Zhonggong dangshi ziliao chubanshe, 1989), p. 409.

 

[40] Guo, ed., ZhongYue guanxi, trang106.

 

[41] Luo, Baizhan jiangxing Wang Shangrong, trang 377.

 

[42] Xem Westad et al., eds., “77 Conversations,” pp. 94–98, 194–195.

 

[43] Lee, From the Third World, trang 595.

 

[44] Raymond Aron, Peace and War: A Theory of International Relations (Garden City, NY: Anchor Press, 1973), p. 19.

 

[45] Ví dụ, trong tháng 3 năm 1978, lãnh đạo tối cao Liên bang Xô Viết gửi một tin nhắn cho Ủy ban Thường vụ Quốc hội Nhân dân Trung Quốc đề nghị Liên Xô và Trung Quốc đưa ra tuyên bố hữu nghị về các quy tắc định hướng quan hệ giữa hai quốc gia. Người Trung Quốc đã công khai từ chối đề nghị này.

 

[46] Đối với quan điểm của Đặng về Liên Xô, xem Memorandum of Conversation, Brzezinski-Deng, 21 May 1978, in China Vertical File, Jimmy Carter Library (JCL).. Xem thêm Wang Zhongchun, “The Soviet Factor in Sino-American Normalization, 1969–1979,” in William C. Kirby, Robert S. Ross, and Gong Li, eds., Normalization of U.S.-China Relations: An International History (Cambridge, MA: Harvard University Asia Center, 2005), pp. 165–166.

 

[47] Wang, “The Soviet Factor in Sino-American Normalization, 1969–1979,” pp. 158–164.

 

[48] PRC Ministry of Foreign Affairs Archives, Weiren de zuji: Deng Xiaoping waijiaohuodong dashiji [The Footprints of a Great Man: The Record of Deng Xiaoping’s Participation in Important Foreign Events] (Beijing: Shijie zhishi chubanshe, 1998), p. 158.

 

[49] Memorandum of Conversation, Brzezinski-Deng, 21 May 1978.

 

[50] Kyodo News, 26 February 1979, in U.S. Foreign Broadcast Information Service, Daily Reports: China (FBIS-PRC), 26 February 1979, p. A6.

 

[51] Đặng Tiểu Bình tin rằng chiến tranh Việt Nam sẽ chỉ ra “Trung Quốc không bao giờ bị lừa phỉnh bởi những điều ngụy biện [buxinxie].” Xem Deng Xiaoping, Deng Xiaoping junshi wenji [Collected Military Works of Deng Xiaoping] (Beijing: Junshi kexue chubanshe, 2004), Vol. 3, p. 177.

 

[52] Memorandum from Stansªeld Turner to Brzezinski, 21 November 1978, in NLC-26-57-1-6-4, JCL.

 

[53] Wang, “The Soviet Factor in Sino-American Normalization,” p. 166. Nghiên cứu hiện có của phương Tây không đưa ra được bằng chứng về vai trò của Liên Xô trong việc Việt Nam quyết định đưa quân vào Campuchia.  Xem Stephen J.Morris, Why Vietnam Invaded Cambodia: Political Culture and the Causes of War (Stanford, CA: Stanford University Press, 1999), pp. 215–217.

 

[54] Min Li, ZhongYue zhanzheng shinian [Ten Years of Sino-VietnamWar] (Chengdu, China: Sichuandaxue chubanshe, 1993), p. 15.

 

[55] Sách đã dẫn, các trang 16–17.

 

[56] Zhou, Yige gaoji canmouzhang de zishu, trang246

Posted in Chien Tranh Bien Gioi Viet Trung 1979 | Leave a Comment »

►Lê Quốc Quân – Chuyện bây giờ mới kể.

Posted by hoangtran204 trên 20/02/2014

Người Buôn Gió

nguồn: nguoibuongio1972

19-2-2014

 Hôm nay phiên phúc thẩm xử đã xong được vài ngày. Y án. Tôi để vài hôm suy nghĩ, đêm nay lúc 2 giờ sáng châu Âu mới quyết định viết cảm nghĩ về thân phận người bạn của mình. 

Với cá nhân tôi, tôi hài lòng với chuyện Quân y án. Nếu có mong thì mong Quân không bị bắt, nếu bị bắt thì mong được xử án treo. Còn khi đã xử Quân 30 tháng tù giam, rồi kéo dài thời hạn xử phúc thẩm một cách bất thường để qua phiên Việt Nam báo cáo nhân quyền tại Liên Hợp Quốc, khiến Quân phải chịu nhiều ức chế đến nỗi thể xác tiều tụy, thì tôi cũng không trông mong gì Quân được án treo thả về ở phiên tòa phúc thẩm.
 
Tất nhiên thì nhà cầm quyền VN sẽ chẳng bao giờ tuyên án Quân vô tội. Vì nếu Quân vô tội thì quãng thời gian anh ngồi tù, bao nhiêu mất mát anh phải chịu sẽ được tính thế nào. Và nếu xử Quân vô tội ở phiên phúc thẩm thì đã chẳng phải là cái nhà cầm quyền này rồi.
 
Ngại nhất nhà cầm quyền ở phiên phúc thẩm xử thời gian còn lại của Quân án treo, thử thách với thời gian vài chục tháng. Như thế họ được tiếng là đã nhượng bộ với quốc tế, nhưng họ vẫn trói buộc Quân bằng một án tù tại gia. Chúng ta hãy nhìn án treo, thử thách, quản chế của Phạm Thanh Nghiên, Nguyễn Phương Uyên thì biết điều đó không khác gì một hình phạt tù trá hình khác. Thời gian sống trong giang hồ, tôi thấy nhiều tay anh chị lọc lõi họ còn thích chọn án tù ngồi thời gian ngắn còn hơn án treo dài kèm cái đuôi thử thách, quản chế lê thê đến vài năm.
 
Về với gia đình ngày nào, tất nhiên tốt ngày đó, nhưng về với cái giá thế nào là cả một chuyện khác. Người khảng khái như Quân chắc hiểu được điều này. Chỉ cần Quân nhận tội trốn thuế, xin khoan hồng, bồi hoàn vài trăm triệu..để báo chí, truyền thông tung hô rằng nhà nước xử đúng người , đúng tội. Bọn thù địch bên trong và bên ngoài trước giờ xuyên tạc, lợi dụng, giờ đối tượng nhận tội rành rành, nhà nước cũng nhân đạo…abc.
 
Tôi mừng khi thấy ở phiên tòa phúc thẩm, dù tình trạng thể lực suy kiệt, anh vẫn cứng cỏi đối đáp và không chấp nhận lời cáo buộc của viện kiểm sát, tòa án.
 
Giờ là một nét khác về Lê Quốc Quân, đó là công việc của anh, điều mà ngay cả báo chí nhà nước, dư luận viên không nhắc tới, hoặc chỉ nhắc đôi dòng. Tôi chắc nhiều người có thiện cảm với Quân cũng không biết công ty của Lê Quốc Quân hành nghề gì. Chỉ một số ít người biết điều đó. Đó cũng chính là lý do tôi trước đây khuyên Quân bỏ công ty, giải thể và về quê tránh nạn. Tất nhiên không phải là tránh tội trốn thuế, vì tội đó có đâu mà tránh.
 
Công việc của Quân cực kỳ ảnh hưởng tới một số doanh nghiệp lớn. Đó là anh xếp hạng tín nhiệm các công ty lớn trong nước. Nhiều năm cần mẫn, làm việc khoa học, tỉ mỉ, Quân có đầy đủ số liệu để đánh giá năng lực của các doanh nghiệp lớn trong nước. Trước đây vài năm , Quân đã dự định phát hành một cuốn sách khái quát đánh giá năng lực doanh nghiệp, một vài ngân hàng lớn bị Quân đánh giá kém. Bây giờ thì thực tế chứng minh đánh giá của Quân đúng đến đâu, tôi vẫn nhớ rằng Viettinbank là một ngân hàng nằm trong số đó.
 
Chúng ta thử hình dung trước kế hoạch cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước mà thủ tướng đang thúc đẩy kia, sẽ ra sao khi các đối tác tìm hiểu mua cổ phần doanh nghiệp họ tham khảo tài liệu mà Quân cung cấp.?
 
Tôi khẳng định rằng, nghề mà hot nhất năm 2014 và 2015 tới đây là đánh giá tài sản, giá trị doanh nghiệp. Một nghề cần cho cả hai bên. Bên bán muốn biết mình đang ở giá trị thực sự là bao nhiêu vì sợ bị bán hớ. Bên mua cũng cần thông tin thực sự về doanh nghiệp để mua khỏi hớ.
 
Có lẽ vì lý do này, mà khi khám xét các văn phòng của Quân và em trai Lê Đình Quản, người ta thu sạch máy móc, giấy tờ …tất cả những gì có thể thu được, trong đó nhiều dữ liệu đánh giá tín nhiệm các doanh nghiệp lớn.
 
Nhưng chuyện đánh giá doanh nghiệp chưa hẳn là chuyện cuối cùng. Lê Quốc Quân còn làm một việc nữa khiến các ông chủ Trung Quốc và Việt Nam rất hận, có thể hận thấu xương tủy.
 
Một số doanh nghiệp Trung Quốc muốn lừa đảo bảo hiểm quốc tế. Họ ký hợp đồng xuất khẩu một lượng hàng A sang cho công ty X ở Việt Nam. Công ty TQ mang hợp đồng mua bán này để mua bảo hiểm rủi ro quốc tế, trường hợp bên công ty VN không trả tiền thì họ sẽ nhận được tiền bảo hiểm.
 
Công ty X ở Việt Nam có thể là công ty do ông chủ thực sự người TQ đứng giật dây cho một cá nhân VN hám tiền nào đó đứng tên công ty. Hoặc công ty TQ giao hẹn với công ty X ở VN là sẽ bán cho một số hàng trên giấy tờ, công ty VN không nhận hàng thực sự, không phải trả tiền, trái lại công ty TQ sẽ cho một ít tiền.
 
Chúng ta không lạ gì những công ty bán hóa đơn, trốn thuế, lừa đảo do những người hám tiền, thiếu hiểu biết bị bọn gian manh dựng lên. Những công ty như thế nhan nhản ở Việt Nam.
 
Lê Quốc Quân được công ty bảo hiểm quốc tế thuê để tìm hiểu, xác minh có chuyện mua bán này không. Có chuyện hàng hóa đã được giao, và bên mua không trả tiền không.? Tôi đã từng thấy những hồ sơ mà công ty TQ bán cho công ty VN với số tiền đến cả triệu usd ở văn phòng của Lê Quốc Quân. Những hồ sơ này do bên bảo hiểm quốc tế chuyển cho Quân để xác minh.
 
Việc mua bán ảo trên giấy tờ giữa công ty TQ và công ty VN để lừa bảo hiểm, số tiền thu về hàng triệu usd này vào túi ai ?. Thực chất phía TQ là người bán hàng, đứng ra mua bảo hiểm, họ nhận phần lớn số tiền. Phía công ty VN chỉ nhận được rất ít. Nhưng giá đổi lại là tín nhiệm của các công ty VN trên thương trường quốc tế sẽ bị xếp hạng thảm hại.
 
Nhiều khi ngồi cùng Quân trên phòng làm việc của anh. Quân giở cho tôi xem những hợp đồng, số liệu. Anh đau đáu ca thán rằng cứ thế này chúng ta sẽ mất chữ tín trên thương trường, chữ tín cũng là tài nguyên, làm thế này coi như bán rẻ tài nguyên cho bọn Trung Quốc nó ăn của mình.
 
Tôi giả vờ không hiểu chuyện làm ăn, giả bộ không quan tâm. Vì tôi biết nếu tôi nối máu lên, tôi sẽ theo Quân vào một cuộc chiến mà những kẻ thù đầy quyền lực là đối thủ, sẽ động đến thực tế đồng tiền của chúng. Tôi chọn mặt trận văn hóa, ở mặt trận đó đối thủ của tôi cũng chả rõ ràng. Nhờ thế tôi tồn tại. Đó là sự khôn lỏi của tôi. Cứ chửi, xỏ xiên nhưng đừng động đến túi tiền của kẻ nào, dù đó là tiền bất nghĩa, bất nhân. Nhiều người thấy tôi viết, họ tưởng tôi anh hùng lắm, thực ra tôi rất hèn, tôi né tránh nhiều vấn đề mà tôi thấy nguy hiểm.
 
Việc gì mà mình không đủ sức can trường chấp nhận đến cùng như Nguyễn Văn Hải ( điếu cày ) Lê Quốc Quân, Cù Huy Hà Vũ, Trần Huỳnh Duy Thức…thì mình tránh luôn từ đầu. Chứ dở dở ương ương đến lúc bị sao, không có gan chịu, lại khai báo tuốt tuột ra ai đó như anh Dương Chí Dũng thì còn tệ hại hơn nhiều. Lúc đó cúi đầu xin xỏ, van lạy cả cháu chắt chúng nó, chưa chắc nó tha cho yên lành.
 
Các bạn thử đặt mình vào đại sứ quán Trung Quốc đầy quyền lực ở Việt Nam, họ có cam lòng để một tên như Lê Quốc Quân cản trở hàng triệu usd đang dễ dàng  chảy về túi công ty nước họ hay không.?
 
Các bạn thử đặt mình vào người quản lý các doanh nghiệp nhà nước đang muốn cổ phần hóa có cam lòng để  những thông tin xếp hạng doanh nghiệp của tên Lê Quốc Quân cản trở không.?
 
Dù sao thì Lê Quốc Quân, người bạn thân của tôi, đã kiên cường trước hai phiên tòa của nhà nước Việt Nam. Đó là niềm tự hào với ai đã quen biết, đã làm bạn với anh. Tuy thời gian tù đầy còn mười mấy tháng nữa. Nhưng khí phách còn, danh dự còn trong lòng anh em, bè bạn. Đó mới là cái được muôn đời.
 
Viết mấy dòng này, để cho bạn đọc hiểu thêm một khía cạnh khác về vụ án Lê Quốc Quân. Có thể nguyên nhân đưa ra ở đây không phải là yếu tố chính để người ta xử tội Lê Quốc Quân. Nhưng cũng là một khía cạnh tham khảo.
 
Nếu gia đình Quân có gặp anh, nhắn hộ anh là Hiếu Gió không bao giờ đồng tình việc anh tuyệt thực. Vì những điều phía trước, có thể là còn lâu, mà càng lâu thì càng cần giữ sức.

Posted in Chinh Tri Xa Hoi | Leave a Comment »

►Hai bị cáo “đặc biệt”…được xe biển xanh đón về sau khi phiên toà đình hoãn phiên xử

Posted by hoangtran204 trên 20/02/2014

Báo cho biết, chiếc xe công đến đón bị cáo Lâm và Cảnh đang thuộc quyền quản lý của Văn phòng Huyện ủy Hồng Ngự!  Hai ông này “nguyên Bí thư và Phó Bí thư huyện Hồng Ngự” đang bị đình chỉ chức vụ, là bị cáo trong phiên tòa, lẻ ra phải bị xích tay, được xe công an chở tới theo luật pháp của công an. 

Hai bị cáo là đảng viên cao cấp ở địa phương, nên luật pháp không thể áp dụng như trường hợp của dân thường. Không bị công an bắt giam trong thời gian điều tra. Hai đồng chí này tuy đã bị lộ, nhưng đàn em cuả họ đang nắm giữ chức, quyền ở địa phương, nên vẫn cung phụng đưa đón các ông anh bằng xe công. Lỡ các ông anh ra tòa bị kỹ luật, về hưu thật sự, thì các ông anh nay mai sẽ biến thành các con cò, chuyên đi lo lót hợp đồng, chuyên lo chạy án…để kiếm chác thêm. 

Tin Đồng Tháp:

Hai bị cáo “đặc biệt”… được xe biển xanh đón về khi phiên toà hoãn

(Dân trí) – Khi phiên toà xét xử 11 bị cáo liên quan đến việc khai thác cát trái phép ở huyện Hồng Ngự tạm hoãn, 2 bị cáo Nguyễn Hồng Lâm, bị cáo Ngô Xuân Cảnh (nguyên Bí thư và Phó Bí thư huyện Hồng Ngự) được xe mang biển xanh đón về.

 >> Hoãn phiên xử vụ tiếp tay cho “cát tặc” vì thiếu nhân chứng

 >> Bảo kê cho “cát tặc”, Bí thư, Chủ tịch huyện… cùng hầu toà

Sáng 18/2, TAND tỉnh Đồng Tháp mở phiên toà hình sự sơ thẩm xét xử 11 bị cáo bị truy tố về tội “Vi phạm các quy định về nghiên cứu, thăm dò, khai thác tài nguyên”, gồm các bị cáo: 

Nguyễn Hồng Lâm (nguyên Bí thư Huyện ủy Hồng Ngự),

Ngô Xuân Cảnh (nguyên Phó Bí thư Thường trực Huyện ủy Hồng Ngự),

Dương Tân Quốc (giám đốc), Phan Thanh Dân (phó giám đốc), Lương Công Thành (kế toán trưởng) của Công ty TNHH Ngự Bình; Nguyễn Văn Mương (SN 1957), Phạm Thanh Sơn (SN 1966), Nguyễn Hoàng Hải (SN 1962), Nguyễn Minh Triết (SN 1949) về hành vi “Vi phạm các quy định về nghiên cứu, thăm dò, khai thác tài nguyên”. 

Và 2 bị cáo Nguyễn Quốc Hưng (nguyên Phó Bí thư, Chủ tịch UBND huyện Hồng Ngự) và Dương Trung Kỉnh (nguyên Trưởng phòng TN-MT huyện Hồng Ngự) bị truy tố về hành vi “Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng”.

 

Sau khi phiên toà được tạm hoãn, 2 bị cáo Nguyễn Hồng Lâm và Ngô Xuân Cảnh được xe biển xanh đón tại một quán cà phê. (Được biêt, chiếc xe công đến đón bị cáo Lâm và Cảnh đang thuộc quyền quản lý của Văn phòng Huyện ủy Hồng Ngự!)

Sau khi phiên toà được tạm hoãn, 2 bị cáo Nguyễn Hồng Lâm và Ngô Xuân Cảnh được xe biển xanh đón tại một quán cà phê

Tại phiên toà (18/02), 11 bị can bị truy tố trong vụ án đều có mặt tại phiên tòa, tuy nhiên chỉ có 15/25 nhân chứng được triệu tập có mặt. Ngoài ra, một số cá nhân có liên quan đến vụ án cũng không có mặt, một số khác chưa được triệu tập.

HĐXX xét thấy cần phải hoãn phiên toà để triệu tập đầy đủ các nhân chứng và những người liên quan để vụ việc được xét xử khách quan nên sau phần nghị bàn, HĐXX quyết định tạm hoãn phiên toà.

Nhưng điều làm người dân quan tâm đến vụ án hơn là sau khi phiên toà được tạm hoãn, 2 bị cáo Nguyễn Hồng Lâm và Ngô Xuân Cảnh được xe công mang biển kiểm soát 66A-0819 đón về. Được biết, chiếc xe công đến đón bị cáo Lâm và Cảnh đang thuộc quyền quản lý của Văn phòng Huyện ủy Hồng Ngự.

Trao đổi với PV Dân trí về sự việc này, ông Lê Minh Hoan – Chủ tịch UBND tỉnh Đồng Tháp cho biết: “Tôi vừa nghe văn phòng báo cáo vụ việc và Uỷ ban đang đợi VP huyện uỷ Hồng Ngự báo cáo sự việc này”. 

Nguyễn Hành

———————————————–

sau khi nhận tin báo của người dân về vụ trộm kéo đổ cây ATM, Phó trưởng Công an phường Giảng Võ đã không xử lý ngay mà lại… đi ngủ.

Đây là biện pháp kỷ luật, nhà báo viết tiếp:

“Giám đốc CATP Hà Nội nêu quan điểm: “Chúng tôi cho rằng thái độ khi tiếp nhận tin báo tố giác tội phạm rõ ràng là thiếu tinh thần trách nhiệm. Đồng chí này đã có 15 năm kinh nghiệm điều tra nhưng càng kinh nghiệm càng phải xử lý nghiêm”.

Thiếu tướng Nguyễn Đức Chung cho biết, Ban Giám đốc CATP Hà Nội trước đó đã nghiên cứu rất kỹ hồ sơ vụ trộm táo tợn trên. “Trong buổi giao ban, chúng tôi đã yêu cầu đồng chí đó báo cáo lại để rút kinh nghiệm toàn thành phố nhưng đồng chí này lại chối trách nhiệm. Với cương vị của mình, tôi đã yêu cầu Ban chỉ huy Công an quận Ba Đình họp kiểm điểm và rút đồng chí này về Đội Cảnh sát thi hành án và hỗ trợ tư pháp” – ”

http://dantri.com.vn/phap-luat/giam-doc-cong-an-ha-noi-tiet-lo-soc-ve-vu-tram-tuong-830522.htm

——————————————-

Bắt nguyên phó phòng TN&MT làm thất thoát tiền tỷ của nhà nước

19-2-2014

Dân Trí- Ông Đào Xuân Đan, Chủ tịch UBND TP Hạ Long, vừa cho biết, CQĐT Công an TP Hạ Long đã bắt khẩn cấp và thực hiện lệnh tạm giam có thời hạn đối với ông Đào Nam Thành, nguyên phó phòng TN&MT TP Hạ Long vì có liên quan đến tố cáo trước đó.

…đơn tố cáo hai vợ chồng ông này có dấu hiệu “cố ý làm trái” trong việc “móc ngoặc” hợp thức hoá đất làm thất thoát của nhà nước một số tiền rất lớn.

Cụ thể, với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BM 012326 ngày 18/1/2012 cấp cho hộ ông Lê Tiến Bộ, sau khi cho phép chuyển mục đích sử dụng đất 1.000m2 từ đất trồng cây lâu năm sang đất ở, ông Thành đã không báo cáo với lãnh đạo thành phố về các vấn đề vướng mắc, thửa đất không đủ điều kiện cấp giấy, trình không đúng giá đất…

Việc này, ông Thành đã “qua mặt” thủ tục trao “số đỏ” cho ông Bộ để lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho người khác (hợp đồng đã được công chứng) trong tình trạng “số đỏ” có nhiều sai phạm, không thực hiện nghĩa vụ tài chính là vi phạm pháp luật, làm thất thoát tiền sử dụng đất 9,6 tỷ đồng

Ông Đào Xuân Đan còn cho biết thêm, kết luận của UBND TP Hạ Long đã làm rõ những hành vi vi phạm pháp luật của ông Đào Nam Thành và nhiều cán bộ khác. Trong đó, có 1 cán bộ liên đới trách nhiệm nhưng không nghiêm trọng hiện đang giữ cương vị Phó chủ tịch thành phố một cán bộ nguyên là Phó chủ tịch thành phố nay được điều chuyển bổ nhiệm giữ cương vị tại UBND tỉnh Quảng Ninh.

Posted in Luật Pháp, Tham Nhung-Hoang Phí- Ăn Cắp | Leave a Comment »

►Các công ty nước ngoài đang tìm cách gỡ gạc và hù dọa về quyết định của Việt Nam Trì Hoãn Xây Dựng Nhà Máy Điện Hạt Nhân ở Bình Thuận

Posted by hoangtran204 trên 19/02/2014

Việc chính phủ Việt Nam thông báo:  Việt Nam Trì Hoãn Xây Dựng Nhà Máy Điện Hạt Nhân ở Bình Thuận   là sự thành công đầu tiên của các nhà khoa học VN và các blogger đã làm cho Bộ Chính Trị đảng CSVN, đặc biệt là Thủ tướng Dũng phải chùn chân, quyết định đình hoãn không xây nhà máy điện hạt nhân nữa, chuyển qua xây dựng nhà máy điện chạy bằng khí đốt trong thời gian tới.

VN sản suất hàng năm lên tới 9 nghìn tỷ tấn khí đốt (2013), nhu cầu cả nước dùng không hết, và hiện đang xuất khẩu bán khí đốt ra nước ngoài trong rất nhiều năm qua, hàng năm VN đã thu được rất nhiều tỷ đô la qua bán khí đốt. Nhiên liệu chạy máy phát điện cho cả nước dồi dào như thế, vậy thì cần gì phải dùng nhiên liệu hạt nhân!

Lý do nữa là hoạt động sản suất về công nghiệp của VN rất kém, hiện nay các công ty có vốn nước ngoài chiếm 60% sản suất và xuất cảng hàng hóa ở VN, còn các công ty quốc doanh và tư nhân vốn của VN chỉ sản suất và xuất khẩu có 40%. Chỉ tính riêng 1 công ty SAM SUNG VN  (SEV), vốn 100% của Nam Hàn, đóng địa bàn ở Bắc Ninh, đã xuất khẩu gần 20% GDP của năm 2013; đặc biệt là họ vận động với chính phủ và quốc hội VN ra luật để họ hưởng mức thuế giảm 99% so với năm 2012.

Kể từ năm 2013, Sam Sung VN (SEVN) chỉ đóng thuế cho chính phủ 150.000 đô la mỗi 2 tháng và không phải trả thuế cho VN trong 4 năm đầu tiên, sau đó giảm 50% thuế trong 5 tiếp theo. Thay vì như trước đây, năm 2012, Sam Sung VN đã đóng thuế cho VN là 750.000.000 đô la. Khi ấy, mức Sam Sung sản suất và xuất khẩu ra khỏi VN chưa bằng 2/3 so với năm 2013. Câu hỏi đặt ra là: khi giúp Sam Sung giảm thuế 99%, TT Dũng đã được đền đáp riêng tư như thế nào? Trước khi được giảm 99% thuế, Nam Hàn đã vinh danh thủ tướng Dũng như: viết nhiều bài báo khen tài quản lý kinh tế và điều hành đất nước của TT Dũng, tặng bằng tiến sĩ danh dự cho TT Dũng…

Cần biết rằng công ty Sam Sung VN cũng chỉ trả lương cho công nhân VN 4 triệu (chưa tới 200 đô mỗi tháng), trong khi họ đang trả cho công nhân TQ (làm chung một công việc) là 466 đô la-650 đô la/ 1 tháng/ 160 giờ làm. Và Sam Sung phải trả phí môi trường bị tàn phá và thuế lợi tức kinh doanh của tập đoàn nhiều tỷ đô la mỗi năm cho TQ. Đó là lý do họ rời bỏ TQ để qua VN đầu tư có lợi hơn. 

Nguyên nhân kế đó là việc điện bị thất thoát qua đường dây truyền tải quá lớn, chỉ cần chạy dây điện lại cho hợp lý, thì chắc chắn VN tiết kiệm điện rất nhiều, không bị thiếu điện tiêu dùng và sinh hoạt trong những năm sắp tới. 

Xây nhà máy điện hạt nhân để làm gì, chẳng lẻ để có lợi cho các công ty nước ngoài đang đóng địa bàn sản suất ở VN?  

Đã từ hơn 20 năm qua, mỗi khi nước ngoài đầu tư vào VN, thì chính phủ từ trung ương đến địa phương đều chấm mút 20-30% tính trên tổng dự án đầu tư và xây dựng. Hiện nay,  họ tưởng là ngon cơm, muốn tiếp tục làm theo lối cũ, mượn tiền xây nhà máy điên hạt nhân để qua đó nhận 20-30% tiền bôi trơn hợp đồng  như đã từng làm suốt từ 1990- đến nay. Nhưng thời bây giờ khác xưa, không thể làm như vậy nữa. Các hoạt động của blogger và các tiếng nói phản đối các kế hoạch và hành động của họ ngày càng lớn. Nhẻ không ăn được, và nhiệm kỳ thời gian về hưu gần kề, không thể ăn được nên họ đành tạm ngưng làm điện hạt nhân mà thôi.

Bài baó dưới đây cho thấy các bực mình (nhưng vẫn tiếp tục nói láo để vận động và dụ dỗ bọn tham nhũng và bán nước thay đổi quyết định) của các công ty nước ngoài bị mất ăn, mất dự phần vào việc ăn chia tiền bán hàng, và mất mối cho VN vay tiền làm lò hạt nhân, nhà máy điện, và bán các mặt hàng hạt nhân cho phía VN. 

2336. XUNG QUANH VIỆC VIỆT NAM TRÌ HOÃN XÂY DỰNG NHÀ MÁY ĐIỆN HẠT NHÂN

THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM (Tài liệu tham khảo đặc biệt)

Thứ Năm, ngày 13/02/2014

Theo mạng tin tình báo Stratfor (Mỹ), Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng đã tuyên bố việc xây dựng nhà máy điện hạt nhân đầu tiên 4.400 MW Ninh Thuận 1, dự kiên khởi công trong năm nay, sẽ bị hoãn đến năm 2020 do lo ngại về an toàn và hiệu quả.

Thủ tướng Dũng cũng đã yêu cầu Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PetroVietnam) sớm xây dựng nhà máy điện khí 5.000 MW để bù đắp cho lượng điện thiếu hụt do lùi thời gian xây nhà máy điện hạt nhân. Theo Stratfor, sự chậm trễ này có thể làm suy yếu an ninh năng lượng mà điện hạt nhân cuối cùng sẽ đem lại cho Việt Nam.

 

Trước mắt, Việt Nam sẽ phải tăng nhập khẩu nguồn thủy điện, than và khí tự nhiên hóa lỏng để bù đắp cho phần cung cấp từ điện hạt nhân. Bức tranh năng lượng này sẽ tạo áp lực lên khả năng của Việt Nam duy trì cán cân thương mại và bảo đảm an toàn chuỗi cung ứng năng lượng bằng đường hàng hải. Tuy nhiên, Hà Nội hy vọng rằng việc kéo dài thời gian sẽ giúp Việt Nam chuẩn bị tốt hơn cho kế hoạch theo đuổi năng lượng hạt nhân về dài hạn.

Ngày 15/1, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã yêu cầu Hội đồng quản trị PetroVietnam lập kế hoạch xây dựng thêm nhà máy điện chạy bằng khí tự nhiên để bù đắp lượng điện thiếu hụt do trì hoãn xây dựng nhà máy điện hạt nhân đầu tiên của nước này tại tỉnh Ninh Thuận. Thủ tướng cho biết nhu cầu về tính hiệu quả và an toàn đã khiến phải trì hoãn việc xây dựng nhà máy. Ông cũng nhấn mạnh rằng Việt Nam sẽ không đẩy nhanh tiến độ dự án nếu không đạt các tiêu chuẩn cần thiết. Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Nguyễn Quân cũng nói thêm rằng việc khởi công xây dựng nhà máy có thể bị trì hoãn cho tới năm 2016 hoặc 2017. Trước đó, Hà Nội đã tuyên bố sẽ bắt đầu xây dựng nhà máy vào năm 2014 để nhà máy bắt đầu hoạt động vào đầu những năm 2020, Việt Nam đã trì hoãn dự án điện hạt nhân này trước đó – sự trì hoãn là vấn đề phổ biến đối với những quốc gia mới tiếp cận năng lượng hạt nhân – và thông tin từ Hà Nội cho thấy việc xây dựng thực tế có thể bị trì hoãn thêm vài năm. Nghi ngờ về khả năng của Việt Nam trong đảm bảo an toàn năng lượng hạt nhân đã gia tăng thời gian gần đây. Mới đây, Giám đốc Cơ quan Năng lượng nguyên tử Quốc tế Yukiya Amano đã gặp gỡ giới chức tỉnh Ninh Thuận và ban quản lý dự án. Dù bày tỏ ủng hộ kế hoạch của Việt Nam, ông cũng khuyên Việt Nam không nên vội vã với dự án này. Đây là động thái mới nhất trong bối cảnh lo ngại trong nước và quốc tế gia tăng về việc Việt Nam thiếu kỹ năng, công nghệ và cơ sở hạ tầng để vận hành một nhà máy hạt nhân an toàn.

Nga, quốc gia có Tập đoàn điện hạt nhân Rosatom, trúng thầu xây dựng nhà máy, đang tìm cách giải quyết những mối lo ngại này nhằm hỗ trợ xuất khẩu hạ tầng và dịch vụ điện hạt nhân của mình. Các nhà khoa học Nga đang đào tạo các nhà nghiên cứu, nhà khoa học, kỹ sư và lực lượng quản lý để đảm bảo Việt Nam có đầy đủ kỹ năng cần thiết để vận hành một nhà máy hạt nhân dân sự, trong đó có cả bài học về cách thức phản ứng với một cuộc khủng hoảng như sự kiện nhà máy điện Fukushima số 1 tại Nhật Bản. Nga cũng có kế hoạch mở một trung tâm đào tạo khoa học hạt nhân ở Việt Nam.

An toàn hạt nhân là mối quan tâm hàng đầu đối với giới lãnh đạo Việt Nam cũng như cộng đồng quốc tế. Hà Nội cũng đã nhận thức được khó khăn rất lớn sẽ phải đối mặt trong việc quản lý bất kỳ cuộc khủng hoảng hạt nhân nào – thậm chí ngay cả một sự kiện nhỏ hơn nhiều so với Fukushima – vì nguồn lực và khả năng kém hơn nhiều so với Nhật Bản.

Lựa chọn thay thế cho điện hạt nhân

Với kế hoạch chậm mà chắc về điện hạt nhân, Việt Nam phải tìm kiếm các nguồn năng lượng khác để đáp ứng nhu cầu điện cho tới năm 2020 và xa hơn. Hiện nay, phần lớn nguồn điện Việt Nam được tạo ra từ khí tự nhiên, thủy điện và than đá, với lượng điện tự sản xuất chiếm 52% mức tiêu thụ. Nhà máy điện hạt nhân của Việt Nam từng dự kiến sẽ giúp tăng nguồn điện hạt nhân thêm 2% vào năm 2020 và 10% vào năm 2030, trong khi giảm thị phần điện từ khí đốt từ 41% xuống còn 14% vào năm 2030 và thị phần thuỷ điện từ 28% xuống còn 9%. Sản lượng điện từ than đá lại dự kiến tăng từ 20% lên 58%. Kế hoạch của Việt Nam khai thác than đá tại chỗ, tận dụng chi phí thấp để sản xuất điện trong tương lai nhằm giảm nhập khấu năng lượng từ 6% hiện nay xuống còn 4% vào năm 2030.

Các kế hoạch này sẽ phải được điều chỉnh do sự trì hoãn điện hạt nhân, gây ảnh hưởng đến an ninh năng lượng mà Việt Nam đã hy vọng được cải thiện. Nhu cầu điện năng của Việt Nam đang tăng lên nhanh chóng (tốc độ tăng trung bình hàng năm đã vượt 12% trong thập kỷ qua) và bất kỳ sự trì hoãn nào thêm đối với điện hạt nhân sẽ càng buộc Việt Nam phải nhập khẩu năng lượng nhiều hơn đế đáp ứng nhu cầu điện ngày càng tăng. Hà Nội đã nhập khẩu thủy điện từ Lào và Trung Quốc, một sự phụ thuộc chiến lược mà Việt Nam muốn hạn chế tối đa. Hà Nội cũng đang nỗ lực tăng cường sản xuất điện từ than đá nhằm tăng công suất phát điện từ 6.000 MW lên 36.000 MW vào năm 2020. Trữ lượng than đá cũng đã tăng lên, dù chủ yếu tập trung ở phía Bắc, trái ngược với phía Nam, nơi có nhu cầu điện tăng nhanh. Việt Nam sẽ trở thành nước nhập khẩu than ròng trong nửa cuối thập kỷ này để đáp ứng nhu cầu điện than của mình.

Ngoài than, Việt Nam cũng cần phải tăng nhập khẩu khí đốt tự nhiên. Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng yêu cầu PetroVietnam phải bù đắp cho sự trì hoãn xây dựng nhà máy điện hạt nhân bằng một nhà máy điện khí tự nhiên mới với nguồn tiêu thụ khoảng từ 5 tỷ đến 7 tỷ m3 khí mỗi năm. Trong khi con số thực tế có thể sẽ ít hơn, tuyên bố của Thủ tướng Dũng muốn gây sức ép với Petro Vietnam phải đáp ứng mục tiêu sản xuất nội địa. Chi phí để xây dựng một nhà máy điện chạy bằng khí tự nhiên chỉ bằng một nửa so với nhà máy hạt nhân mà cụ thể trong trường hợp này dự kiến sẽ dao động từ 8 tỷ đến 10 tỷ USD. Các nhà máy khí tự nhiên có thể được xây dựng một cách nhanh chóng và với bí quyết công nghệ đã có sẵn trong nước. Tuy nhiên, nhu cầu ngày càng tăng của Việt Nam đối với khí tự nhiên đã gây ra sự thiếu hụt nguồn cung. Việc thiếu khí đốt tự nhiên sẽ ảnh hưởng không chỉ đến mạng lưới điện mà còn tới lĩnh vực tiêu dùng và phân phối. Việc tìm ra một giải pháp cho vấn đề này sẽ đòi hỏi phải có lượng đầu tư đáng kể để khai thác khí đốt ngoài khơi và cơ sở hạ tầng liên quan để đưa khí tự nhiên vào đất liền. Ngoài ra cần có nguồn đầu tư trong tương lai để xây dựng các nhà máy nhập khẩu khí tự nhiên hóa lỏng.

Như vậy, Việt Nam cần các khoản đầu tư rất lớn từ bên ngoài và các thỏa thuận phân chia đầu ra với các tập đoàn dầu khí quốc tế để tìm kiếm nguồn tài nguyên mới. Tuy nhiên, các chính sách kiểm soát chặt chẽ về giá khí đốt tự nhiên của Việt Nam đã cản trở nguồn đầu tư tiềm năng. Nguồn nhu cầu lớn nhất về khí đốt tự nhiên ở Việt Nam đến từ các lĩnh vực năng lượng và Hà Nội đã cố định giá khí tự nhiên cho các nhà máy điện năng cực thấp – khoảng một phần ba so với giá khí đốt tự nhiên hóa lỏng ở châu Á. Đối với nguồn tiêu thụ khác, đặc biệt là trong các lĩnh vực công nghiệp và nông nghiệp, Việt Nam đã cho phép giá khí tự nhiên tăng nhưng vẫn giữ giá dưới mức giá quốc tế.

Trước sự cổ trong đàm phán, Việt Nam dự kiến hầu hết nguồn tăng sản xuất khí tự nhiên trong tương lai là đến từ các lô khí ngoài khơi của Tập đoàn Chevron ở thềm lục địa giáp với Malaysia nhưng do Hà Nội không muốn trả hơn 6 USD cho một triệu Btu (đơn vị nhiệt lượng Anh) khí tự nhiên nên các cuộc đàm phán bế tắc. Tháng 11/2013, Chevron thông báo đang bán đi một số tài sản tại Việt Nam sau vụ tranh chấp giá cả. Nhà đâu tư tiềm năng của Việt Nam đang nổi lên là Tập đoàn dầu khí Ấn Độ, nhưng vẫn còn phải chờ xem việc đàm phán giá cả và tiềm năng khai thác các mỏ dầu khí ở thêm lục địa Việt Nam. Chỉ riêng lô B của Tập đoàn Chevron được dự kiến sẽ bổ sung thêm 5 tỷ m3 khí mỗi năm trước khi các cuộc đàm phán bị phá vỡ.

Tuy vậy, ngay cả khi tối đa nguồn khai thác, Việt Nam vẫn dự kiến thiếu nguồn khí đốt tự nhiên lên tới 6 tỷ m3 vào năm 2020 và 16 tỷ m3 vào năm 2025. Đó là lý do tại sao Hà Nội đã đề xuất xây dựng một số nhà máy phục vụ nhập khẩu khí hóa lỏng và đã ký một thỏa thuận nhập khẩu khí tự nhiên hóa lỏng từ Nga. Dự án đầu tiên Cái Mép – Thị Vải dự kiến sẽ đi vào hoạt động vào giữa năm 2016 với công suất hàng năm từ 1 đến 2 tỷ m3. Dự án thứ hai, Mỹ Sơn, sẽ hoạt động vào năm 2018 với công suất ban đầu 2,3 tỷ m3, tăng đến 8 tỷ m3 vào đầu những năm 2020. Tuy nhiên, điều đáng chú ý là chưa có dự án nào bắt đầu được khởi công sau khi bị trì hoãn nhiều lần. Khí tự nhiên hóa lỏng cùng đắt hơn khí tự nhiên trong nước, và mức giá sẽ vẫn như vậy ngay cả khi Việt Nam tăng giá khí trong nước.

Ý nghĩa chiến lược cho năng lượng Việt

Nhu cầu phải tăng nhập khẩu năng lượng đã làm nổi bật những lợi thế chiến lược mà Việt Nam hy vọng cuối cùng có thể đạt được từ chương trình hạt nhân dân sự. Nhập khẩu năng lượng tăng sẽ tạo ra áp lực lên cán cân thương mại và khả năng quản lý kinh tế của Việt Nam. Hơn nữa, việc khai thác dầu khí ngoài khơi và nhập khẩu năng lượng đều chịu rủi ro an ninh với Trung Quốc. Sức mạnh hải quân ngày càng tăng của nước này khiến Việt Nam lo ngại khi khai thác dầu khí ở các khu vực tranh chấp, đặc biệt là khi các mỏ dầu khí trên thềm lục địa cạn kiệt, buộc Việt Nam phải thúc đẩy thăm dò và sản xuất ở vùng biển xa hơn. Hà Nội không thể không cân nhắc các mối đe dọa chung cho toàn bộ nguồn cung cấp năng lượng trên biển của mình trong trường hợp có xung đột.

Trong khi đó năng lượng hạt nhân sẽ làm tăng cường nguồn năng lượng tự cung tự cấp cho Việt Nam. Sự trì hoãn sẽ ảnh hưởng đến các kế hoạch tăng xuất khẩu công nghệ hạt nhân của Nga và có khả năng ảnh hưởng tiêu cực đến các nhà sản xuất nhà máy điện hạt nhân Nhật Bản, quốc gia hy vọng sẽ xây dựng nhà máy Ninh Thuận 2 sau khi hoàn thành nhà máy đầu tiên.

Bộ Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp Nhật Bản cho biết sẽ theo dõi tình hình trong trường hợp sự trì hoãn vượt ngoài tầm dự án của Nga và có thể ảnh hưởng đến dự án 9,6 tỷ USD của Nhật Bản tại Vĩnh Hải, cũng dự kiến sẽ bắt đầu hoạt động vào năm 2020. Sự chậm trễ trong việc phát triển các nhà máy điện hạt nhân do nước ngoài đầu tư của Việt Nam cũng sẽ làm chậm lại chiến lược rằng buộc lợi ích kinh tế của các nước này đối với an ninh năng lượng và ổn định kinh tế của Việt Nam.

An ninh nguồn cung năng lượng và nhu cầu thu hút đầu tư nước ngoài sẽ tiếp tục thúc đẩy kế hoạch khởi động một chương trình hạt nhân trong dài hạn và thiết lập nền tảng cho việc xây dựng thêm nhiều các lò phản ứng hạt nhân và tăng nguồn cung cấp điện từ trong nước. Tuy nhiên, hiện nay bất kỳ kế hoạch điện hạt nhân nào dường như đều có khả năng bị trì hoãn. Điều này khiến Hà Nội phải tập trung đáp ứng nhu cầu năng lượng ngay lập tức càng nhanh, càng rẻ thì càng tốt, chờ thêm thời gian để xây dựng các nền tảng thể chế cho một chương trình hạt nhân trong tương lai. Bên cạnh đó, việc trì hoãn cũng cho thấy nhận thức của giới lãnh đạo Việt Nam về sự cần thiết phải điều chỉnh những tham vọng năng lượng và thấy trước những thách thức nghiêm trọng trong việc quản lý sản xuất năng lượng trong nước, cán cân thương mại và an ninh hàng hải.

(Đài RFI3/2)

Việt Nam đã dự trù bắt đầu xây dựng nhà máy điện hạt nhân đầu tiên Ninh Thuận I ngay từ năm 2014, với sự trợ giúp của tập đoàn hạt nhân Nga Rosatom. Ninh Thuận I dự kiến sẽ đi vào hoạt động vào năm 2023. Ngoài Ninh Thuận I, Chính phủ Việt Nam đã chọn các tập đoàn của Nhật Bản để xây dựng một nhà máy điện hạt nhân thứ hai cũng tại tỉnh Ninh Thuận, với hai lò phản ứng đầu tiên dự kiến sẽ đi vào hoạt động vào năm 2023-2024.

Thế nhưng, theo tờ Tuổi Trẻ số ra ngày 16/1/2014, trong một cuộc họp ngày 15/1, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã tuyên bố phải đình hoãn dự án nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận I cho đến năm 2020 nhằm bảo đảm “an toàn nhất, hiệu quả nhất” cho dự án.

Ông Nguyễn Tấn Dũng đã tuyên bố như trên sau khi trước đó một tuần, trong chuyến viếng thăm Việt Nam, Giám đốc Cơ quan Năng lượng Nguyên tử Quốc tế Yukiya Amano đã khuỵên Hà Nội không nên vội vàng tiến đến năng lượng nguyên tử và trước hết phải bảo đảm có đủ khả năng để vận hành nhà máy điện hạt nhân.

Trả lời phỏng vấn RFI Việt ngữ, giáo sư Phạm Duy Hiển, nguyên Viện trưởng Viện Nguyên tử Đà Lạt, hoan nghênh tuyên bố của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và theo giáo sư Hiển, nếu thật sự ông Dũng đình hoãn dự án nhà máy điện hạt nhân đầu tiên thì đây sẽ là một quyết định sáng suốt .

– Xin kính chào Giáo sư Phạm Duy Hiển. Là người từ lâu vẫn chủ trương Việt Nam chưa nên xây nhà máy điện hạt nhân, trước hết ông nghĩ gì về tuyên bố nói trên của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng.

+ về thông tin ấy, chúng tôi hiểu đó chưa phải là quyết định cuối cùng. Có nhiều người nói rằng quyết định cuối cùng phải thông qua Quốc hội. Tôi không rõ là việc đó có làm hay không, nhưng cách nói của Thủ tướng, người có quyết định khá lớn trong vấn đề này, cho chúng tôi và rất nhiều người khác có niềm tin rằng việc đó sẽ phải là như vậy.

Đó là một quyết định sáng suốt, hợp lòng dân và có thể nói nếu Thủ tướng quyết tâm thi hành quyết định này thì phải nói ông ấy là một nhà lãnh đạo có bản lĩnh chính trị rất cao.

Để hiểu được bối cảnh của việc thủ tướng nêu lên ý kiến như vậy thì chúng ta phải trở ngược lại từ cách đây hơn 10. Cách đây hơn 10 năm, khi bắt đầu nói đến chuyện điện hạt nhân Việt Nam mà chưa có quyết định gì cả, thì tôi có viết một bài đăng trên tờ Tuổi Trẻ: “Điện hạt nhân, tại sao phải vội?”, phân tích rõ là Việt Nam chưa đến mức cần phải làm vội như thế. Điện hạt nhân không phải muốn làm là được, mà phải xem có đủ điều kiện để làm hay không.

Điều lo ngại nhất đó là tính kỷ luật của người Việt mình, từ sản xuất tiểu nông đi lên công nghiệp hiện đại chưa cao. Điện hạt nhân cũng không an toàn, không rẻ như người ta tưởng. Lúc cao trào nhất là vào năm 2009, khi Bộ Công thương trình dự án nhà máy hạt nhân lên Quôc hội, Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam có gửi Quốc hội một kiến nghị, dựa trên cơ sở bài phát biểu của tôi tại Liên hiệp hội, phân tích rất nhiều khía cạnh cho thấy chưa nên làm vội như thế.

Rất tiếc là Quốc hội vẫn thông qua, và có lẽ đây là lần đầu tiên mà Quốc hội Việt Nam thông qua một quyết định với một phần tư số đại biểu Quốc hội không đồng tình.

– Vậy những lý do nào khiến Quốc hội thông qua dự án này mặc dù có nhiều người không đồng tình như vậy?

+ Lý do thứ nhất là chúng ta rất thiếu điện, và họ đưa ra con số là vào khoảng năm 2020, Việt Nam sẽ phải cân lượng điện tiêu thụ 340 tỷ Kwh. Lý do thứ hai là chúng ta sẽ không còn nguồn năng lượng nào cả, vì đến năm 2020, tất cả sẽ đều được khai thác hết, chỉ còn điện hạt nhân. Lý do thứ ba là điện hạt nhân rẻ so với các loại điện năng khác.

Sau khi có quyết định của Quốc hội, Thủ tướng Dũng đã đi thăm Nga và ký một hiệp định vời Nga vê nhà máy hạt nhân đầu tiên do Nga xây dựng. Tiêp theo là xảy ra thảm họa Fukushima đâu năm 2011, làm cả thế giới sững sờ, thấy rằng điện hạt nhân không an toàn và vấn đề xử lý tai nạn không dễ dàng chút nào. Việt Nàm cũng thầy điều đó, nhưng rất làm lạ là một số giới chức Việt Nam lúc đó vân dứt khoát nói sẽ làm như cũ, không có gì thay đổi. Cả Viện trưởng Viện Năng lượng Nguyên tử, cũng tuyên bô là chúng ta sẽ có công nghệ hiện đại rất nhiều.

Từ đó đến nay, chúng ta đã có những bước chuân bị làm điện hạt nhân nhưng cũng cảm thấy rất khó khăn, nhất là vấn đề đào tạo nhân lực. Nga có hứa giúp đào tạo, nhưng đây chỉ là những sinh viên đại học thôi, còn về vấn đề chuyên gia thì vô cùng lúng túng. Các nhà lãnh đạo Việt Nam cũng thấy là không đơn giản.

Nhưng một sự kiện có tác động cũng có ý nghĩa là chuyến viếng thăm gần đây của Tổng giám đốc Cơ quan Năng lượng Nguyên tử Quốc tế Amano Yukia. Cuối năm 2011, ông có đi thăm Việt Nam một lân, sau vụ Fukushima. Lúc dó, ông nói một cách đơn giản rằng  Việt Nam làm điện hạt nhân là tốt và ông tin tưởng là Việt Nam sẽ thành công. Cuối năm 2013, khi sang thăm lại Việt Nam thì ông nói khác: Không nên vội vàng làm điện hạt nhân mà phải chuẩn bị rất kỹ.

Ở trong nước mà nói thì các vị lãnh đạo khó mà nghe, nhưng một người có thẩm quỵền như ông Amano nói thì có tác động rất lớn. Vì sao sau hai năm ông ấy lại thay đổi ý kiến như vậy? Đó là vì trong hai năm qua, Cơ quan Năng lượng Nguyên tử Quốc tế và nhiều nước có cử chuyên gia sang Việt Nam đánh giá tình hình và trợ giúp Việt Nam. Nếu không vì những quyền lợi riêng, nếu không phải là đại diện cho các tập đoàn hạt nhân, thì tôi chắc rằng toàn bộ những người có tâm tốt đều thấy là chúng ta chưa đủ sức để làm điện hạt nhân.

Lực lượng của chúng ta quá mỏng. Luật pháp, cơ sở hạ tầng đều rất yếu kém. Nhiều cái phải được sửa lại toàn bộ, nêu không thì không giải quyết được. Ví dụ như cơ quan về an toàn hạt nhân, các nước yêu cầu phải tách ra, không thể để đi kèm với các Cơ quan quản lý hoặc cơ quan điều hành như ở Việt Nam hiện nay. Còn vê nhà máy hạt nhân ở Việt Nam vẫn là do Bộ Công Thương xét duyệt. Những cái đó họ thây không thể chấp nhận được.

Trở lại vấn đề nhân lực. Nga lúc nào cũng nói là họ sẽ đào tạo, song những người chỉ huy, những người có trách nhiệm khi xảy ra các sự cô, quyết định chuyện này chuyện khác thì chúng ta không có.

Cho nên, việc xây dựng nhà máy điện hạt nhân là hoàn toàn phó thác cho các chuyên gia nước ngoài. Thậm chí Bộ trưởng Bộ Khoa học Công nghệ có nói là giám sát thi cônệ cũng sẽ phải thuê chuyên gia nước ngoài.

Do đó, Thủ tướng nói rat đúng: Chúng ta làm điện hạt nhân là phải an toàn nhất và hiệu quả nhất thì mới làm. Chừng nào chưa đạt được thì chưa làm. Đó là chỉ mới nói về an toàn, còn vấn đề hiệu quả thì sao? Xây một nhà máy điện hạt nhân tốn rất nhiều tiền, ít nhất phải là 10 tỷ USD. Với cách kinh doanh như hiện nay thì làm sao có lãi được? Cho nên, Nhà nước phải bù giá. Trong khi đó, có nhiều nguồn năng lượng khác có thể thay thế được.

– Giáo sư có nói ở trên là nếu Thủ tướng quyết định hoãn xây nhà máy điện hạt nhân đầu tiên thì đây sẽ là một quyết định sáng suốt, nhưng điều này có nghĩa là chưa hoàn toàn chắc chắn là chính phủ sẽ ra quyết định tạm ngưng dự án này?

+ Có một số người không muốn chậm lại. Ngay như Rosatom là tổ chức cung cấp thiết bị nhà máy hạt nhân cho Việt Nam, một ngày sau khi Thủ tướng tuyên bố, đã khẳng định là họ vẫn khởi công vào năm 2017. Vậy thì phải chờ xem quyết định sắp tới phải như thế nào. Nhưng tôi nhắc lại rằng một quyết định như vậy sẽ là một quyết định rất sáng suốt, rât hợp lòng dân.

– Nếu hoãn xây nhà máy hạt nhân, chúng ta phải tìm những nguồn năng lượng nào khác để đáp ứng nhu cầu tiêu thụ điện ngày càng tăng của Việt Nam?

+ Việt Nam không thiếu điện. Có thể một số người không đồng ý với điều này, nhưng bây giờ ngày càng thấy là ý kiến của tôi đúng với thực tế. Dự báo sản lượng điện năm 2020 cân đạt 340 tỷ Kwh là một dự báo rất lớn, không đúng.

Thực tế là dẫu chúng ta có thể thu điện với tốc độ như hiện nay thì cũng không cần đến mức như thế. Tôi đã nói nhiều lần: Việt Nam sử dụng điện rất không hiệu quả. Người Việt Nam làm ra 1 USD thì tiêu thụ gần 1 Kwh điện, trong khi đó người Thái Lan với 1 Kwh điện họ làm ra được 2 USD, Philippines và Indonesia làm ra được gần 3 USD.

Điện dùng vào những công trình không mang lại hiệu quả và điện được tiêu thụ bởi những hãng nước ngoài vào Việt Nam với những công nghệ tiêu tốn rất nhiều năng lượng, cho nên mới xảy ra tình trạng như vậy. Nếu chúng ta biết giải quyết bài toán sử dụng năng lượng hiệu quả, thì nền kinh tế của chúng ta sẽ rất sáng sủa, bởi vì đầu tư sẽ có hiệu quả.

Trong những tháng gần đây, các nhà kinh tế có đưa ra những thông tin cho thấy đầu tư ở Việt Nam không có hiệu quả. Tôi về nông thôn cũng thấy như vậy, tức là người ta xây rất nhiều đường nhưng lại không có xe chạy! Đầu tư như vậy tốn rất nhiều điện. Xi măng, sắt thép đều tốn rất nhiều điện. Hiện nay rất khó giải quyết, vì Tổng công tỵ điện lực quản lý việc này.

Nhưng Thủ tướng cũng có nói là nếu từ nay đến năm 2020 mà thiếu điện thì sẽ xây những nhà máy chạy khí ở miền Nam, tống cộng 5.000 Mw, thay cho hai nhà máy điện hạt nhân. Như thế là hợp lý và đơn giản hơn rất nhiềù, rẻ hơn rất nhiều. Còn khí đốt thì chúng ta vẫn còn để tiêu thụ, Tại sao lại phải vội?

Nểu như Thủ tướng hoãn được trong 6 năm, quãng thời gian ấy sẽ là thời gian thử thách đối với điện hạt nhân trên toàn thế giới cũng như ở Việt Nam. Lý do là vì người ta đang chuyên về sử dụng năng lượng tái tạo, cụ thể ở Việt Nam là điện gió. Ở Việt Nam có một vài nhà máy điện gió. Đan Mạch gần đây có thông báo là điện gió kể từ nay chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng sản lượng điện của nước này.

Trong 5, 6 năm tới, sự tăng tốc của việc phát triển năng lượng tái tạo, như điện gió, sẽ càng cho thấy điện hạt nhân khó có thể cạnh tranh được. Ngay trong điện hạt nhân, công nghệ cũng sẽ được cải tiến theo hướng rất an toàn, như Mỹ và một số nược khác sản xuất các nhà máy điện hạt nhân, với công suất chỉ vài trăm Mw, nhưng làm thành từng modun, chở thẳng tới lắp tại nơi.

Đến năm 2020 chúng ta bắt đầu xây nhà máy hạt nhân thì cũng không muộn, bởi vì vẫn có đủ nguồn năng lượng. Thủ tướng đã nói là sẽ xây các nhà máy chạy khí, tức là ông bảo đảm sẽ có đủ khí để chạy. Không có gì phải lo lắng. Còn nếu mà từ đây đến đó đẩy mạnh chính sách sử dụng năng lượng có hiệu quả thì càng tuyệt vời hơn nữa, vì lúc đó lượng điện tiêu thụ sẽ giảm rât nhiêu.

Hai năm vừa qua, công nghiệp của Việt Nam đã chuyển sang công nghiệp cao, không phải là do Việt Nam, mà là do nước ngoài đầu tư vào, cụ thể là Hàn Quốc. Xuất khẩu của Việt Nam năm 2013 đạt 14 USD là từ các nhà máy của Hàn Quốc lắp ráp điện thoại di động thông minh, hầu như không tốn điện, so với những nhà máy luyện thép, nhà máy xi măng. Chính vì thế mà trong hai năm vừa qua, mỗi năm sản lượng điện tiêu thụ của Việt Nam chỉ tăng khoảng 9%, so với mấy năm trước là 15%.

Nhu cầu về điện củá Việt Nam từ nay đến năm 2020 sẽ không như trước đây theo như tính toán của những người làm kế hoạch (nhà máy điện hạt nhân). Với tình hình như hiện nay, giá thành của năng lượng ngày càng giảm, trong khi đó chưa có dấu hiệu gì cho thấy giá thành điện hạt nhân giảm. Nếu chúng ta vẫn cứ xây dựng nhà máy công suất rất lớn như thế, thì việc đầu tư để bảo đảm an toàn cho những nhà máy ấy sẽ rất tốn kém./.

Posted in Chinh Tri Xa Hoi, Dân Chủ và Nhân Quyền | Leave a Comment »

►Chuyện khó tin: Khi tướng Ngọ chưa chết, báo chí VN đã vội loan tin ông ta đã “từ trần”?

Posted by hoangtran204 trên 19/02/2014

7h35′: – Khi tướng Ngọ chưa chết, sao Đại tá Như Phong đã vội loan tin “từ trần”? Chuyện khó tin!(Chép Sử Việt).

Mãi tới 21:20 tối 18-2-2014, tướng Ngọ mới chết, nhưng trước đó lúc 19:58 báo chí VN vội loan tin ông Ngọ từ trần. Vậy là cái chết của ông Ngọ đã có sắp xếp định hướng cả rồi đấy. 

Một bạn đọc ghi comment: Rất là lạ? lạ ở chổ là các báo đều có chung một tấm hình của ông Ngọ(?!) cùng một nội dung đưa tin(?!) chỉ hơi khác về thời gian một tí. Cái lạ nữa là nơi ông Ngọ qua đời được canh phòng NGHIÊM MẬT(?!)

Sau khi tòa án Hà Nội tuyên bố hôm 8-1-2014 là khởi tố vụ án liên quan tới lời khai của Cục trưởng Hàng Hải Dương Chí Dũng về Ủy viên Trung Ương Đảng CSVN thượng tướng Phạm Quý Ngọ, hôm nay, cái chết của Tướng Ngọ đã ngưng cuộc điều tra vụ án. Thế là đàn em thân cận nhất đã chết, Đồng chí 3 X lại thoát nạn. Moị con đường dẫn tới các vụ vi phạm luật pháp của 3 X kể như đóng lại. 

 

——————————

 

Ông Phạm Quý Ngọ và thời gian sống sau ghép gan

Số Lượt Xem : 4262  blog của nguyenvantuan.org
22:02 – 21/02/2014

Chuyện ông Phạm Quý Ngọ đi gặp bác Hồ và các bác Mao Mác Lê đã được bàn nhiều, nên ở đây tôi chỉ quan tâm đến tuổi thọ. Theo thông tin chính thức thì ông Ngọ sinh năm 1954, vậy thì ông thọ 60 tuổi. Như vậy, tuổi thọ của ông Ngọ thấp hơn tuổi thọ trung bình dân số Việt Nam (~69 tuổi ở nam giới).

 

Nhưng dĩ nhiên cách so sánh đó không công bằng, vì ông Ngọ mắc bệnh gan. Không rõ chính xác là bệnh gì, nhưng ông đã qua một lần ghép gan ở Singapore. Câu hỏi đặt ra là tại sao ông phải sang Singapore để ghép gan, và bệnh nhân được ghép gan có thể sống bao lâu.  

Ông Phạm Quý Ngọ  

Việc ông Ngọ chọn đi ghép gan ở Singapore là đáng chú ý. Đáng chú ý vì ở VN, theo như bài báo dưới đây trên sgtt.vn, thì các bác sĩ ngoại khoa ở BV Việt Đức cũng cực kì giỏi về ghép gan. Khi được hỏi “Theo đánh giá của ông, trình độ ghép gan của các bác sĩ Việt Nam đã đạt được mức độ nào”, giám đốc bệnh viện cho biết: “Tôi có thể khẳng định kỹ thuật ghép tạng nói chung cũng như ghép gan của Việt Nam không thua bất cứ một nước nào. Từ ca ghép gan đầu tiên thành công cho bệnh nhi cách đây mười năm, đến nay kỹ thuật này đã được triển khai ở nhiều cơ sở.”

Ấy thế mà Ban bảo vệ sức khỏe trung ương lại để ông Ngọ sang ghép gan ở Singapore! Chẳng những thế, mà ông Ngọ còn được gửi đi điều trị ở Hồng Kông và Nhật. Chắc là “bụt nhà không thiêng” hay là một lí do nào khác? Nếu ông giám đốc cung cấp thêm dữ liệu để chứng minh cho câu phát biểu thì hay biết mấy.

Bệnh nhân được ghép gan có tuổi thọ bao lâu? Khi được hỏi “Có thông tin sau khi ghép gan bệnh nhân chỉ sống được khoảng sáu năm, đúng không”thì vị giám đốc bệnh viên trả lời là (trích): “Sau ghép gan, người bệnh sẽ có chức năng gan cũng như chất lượng cuộc sống tốt. Tuổi thọ phụ thuộc vào cơ địa, khả năng thích ứng cùng nhiều yếu tố khác nữa.”

Đúng là thời gian sống sót sau ghép gan tuỳ thuộc vào nhiều yếu tố, nhưng tôi không rõ “cơ địa” và “yếu tố khác” là gì. Theo tôi hiểu thì yếu tố quan trọng nhất, có ảnh hưởng lớn nhất đến thời gian sống là tuổi bệnh nhân khi ghép gan. Có lẽ ở VN không ai theo dõi các bệnh nhân sau khi ghép tạng nên ông không có dữ liệu để trả lời. Kể ra cũng đáng tiếc. Nếu đã thực hiện nhiều ca ghép gan mà không theo dõi bệnh nhân để có dữ liệu thì làm sao dám nói mình hơn hay bằng người ta.

Ở đây có vấn đề về diễn giải thông tin. Phóng viên nói “Có thông tin sau khi ghép gan bệnh nhân chỉ sống được khoảng sáu năm” là không đúng, vì trong thực tế có người sống trên 10 năm, câu hỏi đáng lí ra phải là “bao nhiêu bệnh nhân có thể sống đến 5 năm, 10 năm?” Tôi tò mò tìm thông tin thì thấy một phân tích ở Mĩ (VA Med Center) về tuổi thọ sau khi ghép gan rất dao động theo độ tuổi của bệnh nhân (2). Trung tâm này đã tiến hành ghép gan cho hơn 4000 bệnh nhân. Theo kết quả phân tích, nếu bệnh nhân dưới 20 tuổi thì trên 60% bệnh nhân sống qua 18 năm; nếu bệnh nhân tuổi từ 19-60 thì 60% sống qua 7 năm; nếu bệnh nhân 60+ tuổi thì trung bình sống được 6-7 năm. Do đó, con số mà phóng viên đưa ra có lẽ xuất phát từ nghiên cứu này. 

Những dữ liệu trên chỉ là chung chung và thu thập từ một trung tâm ở Mĩ nổi tiếng trên thế giới về ghép gan và chăm sóc sau khi ghép (rất quan trọng), chứ ở  Singapore hay VN thì chưa biết ra sao. Tuy nhiên, kết quả này cho thấy việc ông Ngọ ra đi cũng nằm trong khoảng tin cậy con số trên (ông Ngọ được ghép gan năm 2008). Giả dụ như ông Ngọ được thay gan ở Bv Việt Đức thì thời gian sống sót là bao lâu? Chúng ta không có câu trả lời cho câu hỏi này. Do đó, rất khó mà nói rằng trình độ ghép gan của các chuyên gia Việt Nam “không thua bất cứ nước nào trên thế giới”. Ở đây, cần phải phân biệt giữa ý kiến (opinion) và sự thật (fact). Bình tâm mà nói, nhận định rằng bác sĩ ghép gan ở bệnh viện Việt Đức không kém bất cứ nước nào trên thế giới là một ý kiến, chứ không phải sự thật. Chợt nhớ đến câu nổi tiếng “In god we trust, all others bring data” (tạm dịch: chỉ có Thượng đế là đáng tin, còn tất cả những cái khác phải dựa trên dữ liệu). 

Tham khảo:

(1) http://sgtt.vn/Khoe-va-Vui/187433/Sau-ghep-gan-song-co-tho.html

(2) http://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC1421181/

Posted in Tham Nhung-Hoang Phí- Ăn Cắp, Thời Sự | Leave a Comment »

►Thượng tướng Phạm Quý Ngọ đột ngột qua đời 18-2-2014-

Posted by hoangtran204 trên 18/02/2014

Cuộc điều tra của Ban Nội Chính trung ương Đảng coi như bị chấm dứt vì ông Ngọ đột tử. Ông ta được xem là đầu mắc xích, một đầu mối thu tiền cho một ông trùm  giấu mặt có uy quyền nhất trong Bộ Chính Trị.   

“Sự qua đời đột ngột của ông Ngọ cứu cho đảng một bàn thua trông thấy. Có thể nói, đây là quan chức bự nhất từ trước tới nay dính nghi án nhận hối lộ. Ông Ngọ không những là thứ trưởng bộ Công An, mà còn là Ủy viên Ban chấp hành Trung Ương đảng Cộng sản Việt Nam.” ( )

Tựa đề bài báo với chữ đột ngột…nói lên nhiều ý nghĩa. Ông Ngọ còn mạnh khoẻ, và mới ăn cưới tưng bừng với con trai  tổ chức ở  khách sạn Marriot Hotel ở Hà Nội. Thời điểm diễn ra đám cưới là ngày 11/12/2013, tức trước ngày tướng Ngọ bị ‘ngã ngựa’ khoảng độ một tháng. 

 

Thượng tướng Phạm Quý Ngọ đột ngột qua đời

18-2-2014

motthegioi.vn

Trao đổi với Báo điện tử Một Thế Giới, Thiếu tướng Đàm Văn Tâm, Phó chánh văn phòng bộ Công an xác nhận Thượng tướng Phạm Quý Ngọ, Thứ trưởng Bộ Công an đã qua đời vào lúc 21 giờ 20 ngày 18.2 tại Hà Nội. 

Vào lúc 16 giờ30, tim của tướng Phạm Quý Ngọ đã ngừng đập. Nhưng được các bác sĩ khoa cấp cứu A11 Bệnh viện Quân đội Trung ương 108 hồi sức tích cực, nên trái tim đã đập trở lại. Tuy nhiên, đến 21 giờ 20 thì tướng Ngọ đã qua đời.

Ông Ngọ qua đời tại bệnh viện Quân y 108 (Hà Nội) vì căn bệnh ung thư gan.

Thượng tướng Phạm Quý Ngọ sinh ngày 24.12.1954. Quê quán tại xã Đông Cường, huyện Đông Hưng tỉnh Thái Bình. Ông tốt nghiệp Đại học Cảnh sát nhân dân, được kết nạp vào Đảng ngày 19.4.1980.

Trước khi về công tác tại bộ Công an, ông Ngọ từng giữ chức Bí thư đảng ủy, Giám đốc công an tỉnh Thái Bình với hàm Đại tá. Ngày 14.2.2006, ông Ngọ được bổ nhiệm kiêm chức thủ trưởng cơ quan cảnh sát điều tra bộ Công an thay cho Thiếu tướng Cao Ngọc Oánh.

Ngày 28.1.2008, ông Ngọ giữ chức Tổng cục trưởng Tổng cục cảnh sát nhân dân, bộ Công An. Trên cương vị này, ông Ngọ giữ vai trò Chủ tịch Hội nghị cảnh sát các nước ASEAN lần thứ 29 diễn ra tại Hà Nội vào tháng 5.2009.

Từ ngày 1.1.2010, ông Ngọ chuyển sang làm Tổng cục trưởng Tổng cục cảnh sát phòng chống tội phạm, bộ Công an.

Ngày 12.8.2010, ông được bổ nhiệm chức vụ Thứ trưởng bộ Công an. Ngày 18.1.2011, ông Ngọ được bầu làm Ủy viên chính thức Ban chấp hành trung ương Đảng khóa 11.

Ngày 22.7.2013, ông Ngọ được chủ tịch nước Trương Tấn Sang phong hàm từ Trung tướng lên Thượng tướng.

Trước đó, trong vụ án xét xử nguyên Đại tá công an Dương Tự Trọng về tội tổ chức cho anh trai mình trốn ra nước ngoài, Dương Chí Dũng đã khai tại tòa rằng ông Ngọ chính là người mật báo cho mình trước khi có quyết định khởi tố mình vì những sai phạm trong vụ án tại Vinalines. Ông Dũng còn tố cáo ông Ngọ đã nhận của mình tổng cộng 510 ngàn USD để giúp “chạy án”. Từ những lời khai trên, ngày 8.1, TAND TP Hà Nội đã khởi tố vụ án cố ý làm lộ bí mật nhà nước.

Ngày 17.2, trả lời báo chí, ông Nguyễn Anh Tuấn, Phó ban nội chính Trung ương cho biết có một số ý kiến đề xuất tạm đình chỉ công tác với ông Ngọ để làm rõ những tình tiết liên quan đến những tố cáo của Dương Chí Dũng. Ông Tuấn cũng cho biết ông Ngọ đang bệnh nặng nên việc này “nhạy cảm”.

Song Sa – Nam Phong

————————————————

Hầu hết các bản tin chỉ nói về con đường quan lộ của tướng Ngọ, tuyệt nhiên không nhắc gì đến tai tiếng của ông này liên quan đến khoản hối lộ 1,5 triệu đô-la của ông Dương Chí Dũng.
Trong phiên tòa diễn ra hôm 7/1, cựu chủ tịch hội đồng quản trị Vinalines khai trước tòa việc hối lộ 500 ngàn đô-la Mĩ cho tướng Ngọ để được ông này ‘mật báo’ giúp bỏ trốn.
Ông Dũng nói: “Tối 2-5-2012, tôi có đến nhà anh Ngọ… Tôi mang theo túi 500.000 USD để biếu anh Ngọ”. 
Tiếp tục lời khai của mình, ông Dũng cung cấp thêm: “Vấn đề anh Ngọ nhận tiền, ngoài 500.000 USD thì còn khoản nữa. Liên quan đến việc đầu tư làm ăn nên tôi và bà Lan còn đưa cho anh Ngọ 1 triệu USD. Hôm đưa tiền tôi gọi cho anh Ngọ, anh nói 5g về đến nhà. Tôi mang túi vào phòng anh rồi để luôn hai cái túi ở phía bên trong nhà”. 
Tại thời điểm ông Dũng công bố lời khai chấn động này (7/1), tướng Ngọ được nói đang ‘dưỡng bệnh’.Ông Phạm Quý Ngọ sinh năm 1954 tại Thái Bình, là ủy viên Trung ương Đảng, thứ trưởng Bộ Công an, Trưởng ban chuyên án điều tra các sai phạm tại Vinalines (Tổng công ty Hàng hải Việt Nam). Ngày 22/7/2013, ông Ngọ được chủ tịch nước Trương Tấn Sang phong hàm thượng tướng.

CTV Danlambao
danlambaovn.blogspot.com

——————————————————-

Ông Dương Chí Dũng xác nhận hối lộ 1,5 triệu đô cho tướng CA Phạm Quý Ngọ

CTV Danlambao – Chiều ngày 7/1/2014, phiên tòa liên quan đến vụ án Dương Chí Dũng trốn đi nước ngoài tiếp tục diễn ra với những lời khai gây chấn động. Xuất hiện trước tòa trong vai trò nhân chứng, ông Dương Chí Dũng đã công bố thông tin về việc thứ trưởng bộ CA, thượng tướng Phạm Quý Ngọ nhận hàng triệu đô-la tiền hối lộ và chạy án.

Báo Thanh Niên cho biết, bắt đầu phiên xử buổi chiều, ông Dương Chí Dũng nói “Tôi là bị cáo trong một vụ án khác và phải chịu mức án cao nhất nên tôi chẳng có gì phải giấu giếm và sẽ khai thật”. Sau đó, ông Dũng khai nhận việc đã rải tiền hối lộ cho hàng loạt quan chức cao cấp bộ công an để chạy án, trong đó có việc mang đến nhà riêng của thứ trưởng bộ CA Phạm Quý Ngọ một túi tiền lên đến 500 ngàn đô-la mĩ. Ngoài ra, ông Ngọ còn bị tố cáo đã nhận hối lộ 1 triệu đô-la trong một vụ khác.

Ông Dương Chí Dũng nói trước tòa rằng: Chiều ngày 29-4-2012, vợ chồng ông này đã đến Tuần Châu, Quảng Ninh để thăm gia đình tướng Ngọ. Tại đây, ông Dũng gửi một phong bì tiền trị giá 10 ngàn đô-la Mĩ cho gia đình tướng Ngọ.

Theo báo Tuổi Trẻ, ông Dũng khai lý do buổi viếng thăm: “Tôi nói anh quan tâm giúp đỡ giúp tôi. Anh nói mọi việc để anh lo. Hôm đó tôi xuống có quà cho anh chị. Tôi biếu phong bì 10.000 USD. ” 

Bà Phạm Thị Mai Phương, vợ ông Dương Chí Dũng cũng xác nhận việc đưa tiền cho tướng Ngọ.

Để tránh bị phát hiện, tướng Ngọ còn yêu cầu ông Dũng sử dụng một số điện khác để liên lạc.

“Tối 2-5-2012, tôi có đến nhà anh Ngọ… Tôi mang theo túi 500.000 USD để biếu anh Ngọ” 

Sau đó, đến ngày 14/5/2013, tướng Phạm Quý Ngọ bí mật gặp ông Dương Chí Dũng để tiết lộ bí mật điều tra. Đến ngày 17/5/2012, tướng Ngọ tiếp tục mật báo để ông Dũng bỏ trốn.

Trước đó, tại phiên tòa sơ thẩm hồi tháng 12 năm ngoái, ông Dương Chí Dũng đều một mực không chịu khai báo danh tính của người đã mật báo để giúp ông này trốn thoát.

Dường như bản án tử hình về tội danh tham ô, cùng với sự xuất hiện của trưởng ban nội chính Nguyễn Bá Thanh tại ngày cuối phiên tòa sơ thẩm hồi tháng 12 năm ngoái đã khiến ông Dũng thay đổi quyết định. Ông Dũng cũng nói rằng ông lo sợ bị giết hại trong quá trình điều tra.

Ông Dũng cho rằng bản thân ông đã bị tướng Ngọ đã cố ý hãm hại bằng cách làm sai lạc quá trình điều tra để ghép tội tử hình, dù trước đó tướng Ngọ đã nhận hối lộ 500 ngàn đô để chạy án.

Tố cáo sự ‘trở cờ’ của tướng Ngọ, ông Dũng nói: “Oan cho tôi nên tôi không nhận. Việc này có có nguyên nhân sâu xa từ anh Ngọ. Việc điều tra không khách quan. Cố ý ép tội cho tôi chết”.

Đồng thời, tướng Phạm Quý Ngọ tiếp tục bị tố cáo nhận một khoản hối lộ khác lên đến 1 triệu đô-la do ông Dương Chí Dũng và bà Trương Mỹ Lan cùng đưa. Bà Trương Mỹ Lan là giám đốc công ty TNHH Vạn Thịnh Phát, một trong những người giàu có nhất Việt Nam.

Ông Dũng nói: “Vấn đề anh Ngọ nhận tiền, ngoài 500.000 USD thì còn khoản nữa. Liên quan đến việc đầu tư làm ăn nên tôi và bà Lan còn đưa cho anh Ngọ 1 triệu USD. Hôm đưa tiền tôi gọi cho anh Ngọ, anh nói 5g về đến nhà. Tôi mang túi vào phòng anh rồi để luôn hai cái túi ở phía bên trong nhà”.

Ngoài ra, nhiều quan chức cao cấp trong bộ CA cũng đã nhận tiền chạy án của ông Dũng gồm có: Đại tá Trần Duy Thanh, Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về tham nhũng (C48) nhận hối lộ 20 ngàn đô-la và 1 chai rượu; và một cán bộ điều tra thuộc cục C48 tên Sơn nhận 10 ngàn đô-la

Theo báo Thanh Niên, trước đó ông Dương Chí Dũng cũng đã xin gặp chủ tịch nước Trương Tấn Sang nhưng bị từ chối. Chủ tịch Sang cũng được nói là người đã yêu cầu phải “làm sớm, làm nghiêm vụ Vinalines trước kỳ họp Quốc hội cuối tháng 5.2012”

Posted in Tham Nhung-Hoang Phí- Ăn Cắp | Leave a Comment »

►Tường thuật trực tiếp phiên tòa xét xử Ls. Lê Quốc Quân 18-2-2014 – Y án 30 tháng tù giam

Posted by hoangtran204 trên 18/02/2014

Hôm nay, 18/2/2014, Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội (Số 262 Đội Cấn, Ba Đình) đưa ra xét xử phiên tòa phúc thẩm vụ án LS. Lê Quốc Quân bị buộc tội “trốn thuế”. 

Rất nhiều người đã đến khu vực tòa án từ hồi 5 giờ sáng.

Nhiều người đã từ Saigon bay ra Hà Nội từ mấy hôm trước.

Nhiều người khác từ Nghệ An, Vinh…đã về Hà Nội từ sáng sớm hôm nay, hoặc đến Hà Nội từ đêm hôm trước và ngũ lại nhà bạn bè để sáng nay kịp tham dự phiên tòa ủng hộ Ls Quân.

Lại có người có nhà ở Hà Nội, nhưng họ đã rời khỏi nhà từ đêm hôm qua, họ phải đi ra ngoài lang thang, thuê phòng trọ, hoặc tìm kiếm một nơi khác [ngủ qua đêm],  vì họ từng bị công an đóng chốt trước nhà ngăn cản họ đến tham dự phiên tòa trong các lần trước.  

Nhiều đồng bào (dân oan) từng được sự giúp đỡ của Ls Quân cũng đã có mặt hôm nay. Ls Quân đã từng giúp họ làm đơn khiếu kiện đòi lại đất đai mà nhà nước đã tịch thu của họ và giao lại cho các nhóm lợi ích (thuộc phe nhóm của các đảng viên và cán bộ cao cấp) xây dựng các cao ốc trị giá hàng trăm chục ngàn tỷ đồng. Hôm nay, họ, các dân oan, cũng tụ tập nơi đây để đòi nhà nước trả tự do cho Ls Quân. 

Đặc biệt, những giáo dân tham dự rất đông đảo.

Tổng cộng đến giờ phút  này có khoảng từ 500 người. 

Ls Lê Quốc Quân

Các ngã đường dẫn vào tòa án bị công an chận lại

chuacuuthe.com >>>

Tường thuật trực tiếp phiên tòa xét xử Ls. Lê Quốc Quân 

VRNs (18.02.2014) – Hà Nội – 

12h10: Luật sư Hà Huy Sơn cho VRNs biết qua điện thoại: Phiên tòa xử Ls. Lê Quốc Quân kết thúc cách đây 30 phút. Hội đồng xét xử đã tuyên y án đối với Ls. Lê Quốc Quân (30 tháng tù giam).

Luật sư Hà Huy Sơn cũng cho biết thêm: “Tại phiên tòa, tôi đã trình bày là hành vi của ông Lê Quốc Quân không cần thiết phải hình sự hóa sự việc mà có thể giải quyết nó theo thủ tục của luật quản lý thuế”. Về sức khỏe của Ls. Quốc Quân, Ls. Hà Huy Sơn cho biết: “Trong phiên tòa, Ls Quân rất yếu và mệt mỏi.” 

11h50: Nói về việc những người tới ủng hộ Ls. Quân chỉ bị gây khó dễ nhưng không bị bắt hay đánh đập.

Anh Nguyễn Trí Dũng, con của tù nhân lương tâm Điếu Cày Nguyễn Văn Hải, bình luận với VRNs: “Hiện nay, mọi người đang bị cô lập. Công an không đánh đập người dân nhiều hay bắt bớ người dân. Đây là một điểm khác so với các phiên tòa khác. Theo tôi đây là ảnh hưởng của UPR (Kiểm điểm định kỳ phổ quát về nhân quyền của Liên Hiệp Quốc). Hành động đó là một sự khác biệt nhưng không thể nói rằng, họ hoàn toàn chấp nhận đề nghị cải thiện nhân quyền của các nước tây phương, nhưng trước mắt hành động của họ đã thay đổi.”

An ninh không chỉ làm khó những người ủng hộ Ls. Quân, nhưng còn làm khó các phóng viên nước ngoài muốn đưa tin về sự kiện này. Cộng tác viên VRNs cho biết: “Hai phóng viên người nước ngoài bị an ninh giả dạng dân thường theo bám và dùng đầu hoặc tay che máy chụp hình và quay phim của họ.”

An ninh Hà Nội một tay che mặt, tay kia thì che ống kính của một nhà báo ngoại quốc ngăn cản không cho chụp hình

Hai phóng viên người nước ngoài đang săn tin trước Tòa án Hà Nội đang xử phúc thẩm vụ Ls Nguyễn Quốc Quân, 18-2-2014

*Vào lúc 12 giờ đêm ngày 17.02 và rạng sáng ngày 18.02, bà Trâm, mẹ Ls Lê Quốc Quân đã từ ngoại quốc trở về nhà sau những ngày tháng điều trần nhân quyền ở VN và kêu gọi các tổ chức nhân quyền thả tự do cho Ls Lê Quốc Quân cũng như các tù nhân lương tâm chính trị khác ở VN. Bà Trâm đã về nhà an toàn.

Bà Trâm, mẹ của Ls Lê Quốc Quân, mặc áo đen, khăn quàng ở cổ vừa từ Châu Âu đã về đến VN hồi 12 giờ đêm 17-2-2014

11h00: Bà Nguyễn Thị Trâm, mẹ của Ls. Lê Quốc Quân cho VRN khẳng định với VRNs:

“Sáng nay, hắn (công an) cho tôi và Hiền [vợ Luật sư Quân] vào bên trong tòa án. Nhưng anh Quân tuyệt thực được hơn 16 ngày rồi, anh Quân (yếu quá) gục xuống thì tôi hét lên, nên hắn (công an) nắm tay kéo tôi và chị Hiền ra. Bây giờ, chỉ có anh Quân và luật sư ở bên trong, không có ai ở bên trong đó cả. Tôi đang đứng ở ngoài đường bị mưa ướt hết người. Họ xử bất công quá!”

Những người ủng hộ Ls. Quân đứng ngoài phiên tòa hát bài: “Việt Nam Tôi Đâu” của nhạc sĩ, tù nhân lương tâm Việt Khang

10h30: Công an huy động thêm lực lượng và chặn hàng rào. Bên ngoài tòa án, những người ủng hộ Ls. Quân tiếp tục hô: “Đả đảo phiên tòa bất công, lén lút. Luật sư lê quốc quân vô tội.”

Audio Nguyễn Trí Dũng, con trai của tù nhân lương tâm Nguyễn Văn Hải (Điếu Cầy) tường thuật bên ngoài phiên tòa

10h10: Ông Lê Quốc Quyết vừa gọi điện cho VRNs báo tin: “Anh Quân gục [xỉu] ở trong tòa. Khi biết tin, những người ủng hộ bên ngoài tức giận và ồ lên phía trên tiến về khu vực tòa án nhưng lực lượng công an đã đè trẻ em và người già ra đánh đập.”

Nguyên nhân Ls Quân bị xỉu trong tòa án có thể do kiệt sức vì cho đến ngày hôm nay, Ls Quân đã tuyệt thực bước qua ngày thứ 17.

Ls Quân bắt đầu tuyệt thực từ ngày 02.02.2014 để yêu cầu cán bộ trại giam 3 điều: thứ nhất, cho ông được mang sách Kinh Thánh vào trong trại giam; Thứ hai, cho ông gặp linh mục để được xưng tội rước lễ sau hơn 1 năm bị cầm tù; Thứ ba, và sẽ tiếp tục tuyệt thực nếu như phiên tòa phúc thẩm diễn ra chỉ nhằm hợp thức hóa bản án sai trái trong phiên tòa sơ thẩm.

9h50: Dân oan Thúy Nga cho biết: “Hiện nay, trời mưa  nặng hạt hơn ban sáng. Một số người mặc áo mưa, số còn lại (không có áo mưa), họ chỉ mặc áo “tự do cho Luật sư Lê Quốc Quân”. Họ đứng giữa đường, dưới cơn mưa, cầm nhiều biểu ngữ trên tay nội dung phản đối phiên tòa và yêu cầu trả tự do cho Ls Quân.”

Dân oan Thúy Nga cho biết thêm: “Tinh thần của bà con rất vững tin và đứng dưới mưa đòi tự do cho Ls Quân. Hiện nay, có một số người đã đi mua áo mưa cho bà con.”

9h40: Tin từ cộng tác viên VRNs cho biết: Có 2 ô tô 50 chỗ và 1 xe bus 30 đến gần đoàn người ủng hộ Ls. Quân. Cũng xuất hiện nhiều công an chìm đi vào giữa đám đông khiêu khích để có cớ bắt bớ nhưng mọi người trong đoàn khá ôn hòa, và vẫn hát lời kinh Hòa Bình.

1903272_198650110345505_218974599_n

 

1907773_525961940853504_1080940933_o

9h24: Dân oan Triệu Thị Vy ở xóm Việt Tiến – Hà Đông đi tham dự phiên tòa chia sẻ:

“Tâm trạng tôi rất uất ức vì mất đất và yêu cầu nhà cầm quyền trả tự do cho Luật sư Lê Quốc Quân.”

Một sinh viên nói về việc không cho dân vào tham dự phiên tòa được cho là công khai: “Rất là uất ức khi phiên tòa công khai mà không cho dân vào. Tôi ở bên ngoài tòa án hô khẩu hiệu đòi trả tự do cho luật sư Quân”.

Bà Nguyễn Thị An, ở Nghệ An bức xúc nói: “yêu cầu Liên Hiệp Quốc [đòi buộc nhà cầm quyền] trả lại công bằng cho Việt Nam và luật sư Quân. Tôi đã đi bộ 5 ngày để ra tham dự phiên tòa mà không được vào.”

Hôm nay, Hội Tù Nhân Lương Tâm, đại diện cho hàng trăm tù nhân lương tâm, kêu gọi chính quyền Việt Nam trả tự do ngay lập tức và vô điều kiện cho Luật sư Lê Quốc Quân. Hội Tù Nhân Lương Tâm viết trên Facebook của Ls. Nguyễn Văn Đài: “Đặc biệt, Nhóm công tác Liên Hiệp Quốc về Giam giữ trái phép đã thẩm tra về trường hợp của Luật sư Lê Quốc Quân, và đã yêu cầu chính phủ Việt Nam trả tự do ngay lập tức cho ông. Đây là một phán quyết có giá trị pháp lý và mang tính khách quan, công bằng.

Tất cả các tổ chức bảo vệ nhân quyền quốc tế, chính phủ các nước, Liên Hiệp Quốc, người dân Việt Nam ở trong và ngoài nước đều cho rằng đây là một vụ án có động cơ chính trị. Bởi vì những hoạt động cổ võ cho dân chủ và nhân quyền của Luật sư Lê Quốc Quân đã thực hiện trong suốt những năm tháng trước khi ông bị bắt.”

1606985_528153817302944_1686688899_n

9h05: Ông Lê Quốc Quyết, em trai Luật sư Lê Quốc Quân cho biết, bà Trâm, phụ mẫu Luật sư Quân và bà Hiền, vợ Luật sư Quân được vào trong phiên tòa. Ông Quyết phẫn uất nói: “Chính nhà cầm quyền đã gây cản trở không cho tôi và những người yêu mến anh Quân vào bên trong xem phiên tòa xét xử công khai như thế nào.” Được biết, trong phiên tòa sơ thẩm diễn ra vào 02.10.2013 chỉ có bà Hiền là vợ Ls. Quốc Quân được vào bên trong.

9h00: Hiện nay, mọi người đang hát bài Kinh Hòa Bình. Cụ bà Phan Thị Nhung ở xứ Ngọc Long, Nghệ An bộc bạch: “Tôi rất cảm động vì khi mình hát sẽ được gặp Chúa và ý nghĩa lớn nhất là được an ủi, đồng hành cùng luật sư và muốn nhắn gửi tới luật sư là anh hy sinh chịu khổ vì có mọi người đồng hành với luật sư và anh can đảm chịu đựng như các thánh tử đạo ngày xưa.”

unnamed (2)

Mặc dù thời tiết Hà Nội rét và mưa nhưng nhiều cụ lớn tuổi vẫn đến ủng hộ Ls. Lê Quốc Quân

8h43: Mọi người không đến gần được tòa án nên đã cùng cất vang những bài hát: Việt Nam Tôi Đâu, Anh Là Ai?, Trả Lại Cho Dân… Bà Trần Thị Huệ sống ở Nghệ An đi tham dự phiên tòa, bình luận: “Những bài hát này sẽ đem lại hòa bình cho đất nước và tự do cho luật sư, tình hiệp nhất cho đất nước và tỏ nỗi lòng của những dân oan.”

1932414_255620477944564_1859408120_n

unnamed (1)

1920198_255620517944560_217868913_n

8h30: Anh Hồ Văn Lực, em trai anh Hồ Đức Hòa, trong số 14 thanh niên Công giáo bị bắt trước đây cho biết: Mọi người đang đứng ở phố Liễu Gia, gần ngay cổng phiên tòa và hô khẩu hiệu trả tự do của Luật sư Quân. Nhà cầm quyền cầm loa yêu cầu ông Lê Quốc Quyết và ông JB Nguyễn Hữu Vinh giải tán mọi người. Nếu có chuyện gì hai ông phải chịu trách nhiệm.

 
 
 
00:00
 
00:00
 
 
 

Audio: Ông Hồ Văn Lực tường thuật 

 

1779763_255620351277910_251604679_n

8h25: Thanh Nguyễn Công bình luận: “Chống Tàu cộng xâm lược Biến đảo Quê hương không phải là tội! Chống bạo quyền tham nhũng không phải là tội! Chống lại những vi phạm Dân chủ và Nhân quyền không phải là tội! Chống lại những hành động bất công và đàn áp trong sinh họat tôn giáo không phải là tội! Dư luận cũng không còn bất ngờ nếu phiên xử Anh Quân vẫn là phiên xử kín … như hàng chục vụ án chính trị khác. Vì bất chính nên không thể công khai – Vì không công khai phiên xử nên đây chỉ có thể là bản án bất minh của một nền tư pháp bất chính”.

1958537_528131517305174_497675289_n

Bà Nguyễn Thị Nhung, mẹ của cô Nguyễn Phương Uyên từ Bình Thuận ra ủng hộ Ls. Lê Quốc Quân

1920253_230359050503604_1378415434_n

Bà Dương Thị Tân, vợ ông Nguyễn Văn Hải (Điếu Cầy) giờ khẩu hiệu: “LS. LÊ QUỐC QUÂN, CHÚNG TÔI LUÔN BÊN ANH”

Trong đoàn người đến ủng hộ Ls. Lê Quốc Quân tại Hà Nội có nhiều người từ Miền Trung, Miền Nam ra. Trong đó có hai phụ nữ quen thuộc với những người dân oan cả nước, đó là bà Dương Thị Tân, vợ của ông Nguyễn Văn Hải (Điếu Cầy) và bà Nguyễn Thị Nhung, mẹ của cô Nguyễn Phương Uyên.

 1004966_230361623836680_526390350_n

Đoàn người giơ cao khẩu hiệu: Già, trẻ, gái, trai không còn sợ khi việc mình làm là đúng đắn

1958574_230359897170186_1482131823_n

Công an, cảnh sát không mặc quân phục ghi lại các khuôn mặt trong đoàn người

8h15: Cảnh sát, công an chìm nổi muốn ngăn những người đến ủng hộ Ls Lê Quốc Quân nhưng không thể ngăn nổi. Trời Hà Nội lạnh và mưa phùn nhưng không làm nản lòng những người yêu mến vị Luật sư người Công giáo đã và luôn hiên ngang lên tiếng, dấn thân cho tự do, dân chủ, công bằng cho Việt Nam. Trong đoàn người, ngoài những tấm băng rôn ủng hộ Ls. Lê Quốc Quân cũng có nhiều tấm băng rôn của những người dân oan tại các tỉnh thành trên cả nước.

8h00: Những người ủng hộ Ls. Lê Quốc Quân đang giơ khẩu hiệu và hô: “Đả đảo phiên tòa lén lút. Trả tự do cho Ls. Lê Quốc Quân”. 

1927219_217611618432435_1239962659_n

1957526_217611611765769_1506010753_n

1927024_217611615099102_919754499_n

1899197_217611621765768_1542426473_n

Các bạn trẻ tới khu vực tòa án ủng hộ Ls Lê Quốc Quân

 

07h45: Công an chặn hai đầu đường đi về phía tòa án. Đoàn đang bị chặn ở ngã 4 phố Đội Cấn.

07h30:  Theo Dân oan Thúy Nga cho biết, trước cổng tòa án có hơn 200 an ninh, công an mặc thường phục, sắc phục đứng xung quanh khu vực tòa án.

07h12:  Cộng tác viên VRNs tại Hà Nội cho biết: Hiện tại, bầu trời Hà Nội đang mưa phùn, rất lạnh. Đoàn đến ủng hộ phiên tòa Ls Lê Quốc Quân có khoảng hơn 500 người xuất phát từ Thái Hà, đi bộ thì bị công an chặn lại trên đường Nguyễn Lương Bằng.

06h30: Đoàn mặc những chiếc áo có dòng chữ “Tự do cho Ls Lê Quốc Quân” đã bắt đầu từ nhà thờ Thái Hà khởi hành ra tòa án.

140218-LQQ (5)

 

 06:10: Thánh lễ cầu nguyện cho Luật sư Lê Quốc Quân tại Thái Hà, do cha Phêrô Phạm Xuân Lộc chủ tế cho hơn 500 người tham dự đã kết thúc.

Trước cửa gia đinh Ls Quân tối 17.8 ở Yên Thành (quốc lộ 538), có một viên an ninh rình mò, đã bị người dân phát hiện và lập tức người này giả làm hỏng xe, rồi kêu hết xăng. Khi người dân tập trung một lúc mỗi đông giúp đỡ anh này thì anh đã nổ máy phóng đi.

01:00 Bạch Hồng Quyền chia sẻ: “Chỉ còn vài giờ nữa thôi là anh đối mặt với phiên toà phúc thẩm và với bản án ô nhục của chính quyền cộng sản việt nam với ý định cầm tù những người đấu tranh cho dân chủ-nhân quyền. Anh là người hay nhắn tin chia sẻ động viên vợ em khi em đang ở trong tù. Khi em ra tù thì đã không được gặp anh để nói lời cảm ơn vì anh đã bị bắt trước đó, hôm nay trước phiên xử phúc thẩm anh, vợ em là Linh Bùi rất muốn được đến tham dự phiên toà mà được gọi là công khai xử anh tại 262 Đội Cấn vì trước đây anh đã từng sát cánh cùng cả 2 vợ chồng em trong nhiều cuộc xuống đường. Nhưng vì con nhỏ nên em đã không cho vợ em đi, em nói hãy ở nhà và cầu nguyện cho anh, để tin rằng Chúa luôn che chở cho anh mạnh khỏe vững tin và vượt qua tất cả thử thách. Mong anh luôn bình an.

Theo nguồn tin từ Blogger Lâm Bùi: Vào lúc 12 giờ đêm ngày 17.02 và rạng sáng ngày 18.02, bà Trâm, mẹ Ls Lê Quốc Quân đã từ ngoại quốc trở về nhà sau những ngày tháng điều trần nhân quyền ở VN và kêu gọi các tổ chức nhân quyền thả tự do cho Ls Lê Quốc Quân cũng như các tù nhân lương tâm chính trị khác ở VN. Bà Trâm đã về nhà an toàn.

Đêm ngày 17.02, nhiều lực lượng chức năng chuyển hàng rào sắt về phố Đội Cấn, để ngăn chặn một cuộc biểu tình có thể nổ ra ngày 18.02, bên ngoài phiên tòa xét xử ls Lê Quốc Quân.

Facebook Nguyen Tri Dung: “Bây giờ, nhiều người có nhà ở Hà Nội nhưng đã không có tại nhà mà đã phải đi ra ngoài lang thang, tìm kiếm một nơi khác [để ngủ qua đêm] để có thể ra được phiên tòa ngày mai.

Facebook Từ Anh Tú nói: “Ngày mai tôi sẽ đi dự 1 phiên tòa xử 1 ngươi bạn tôi là anh Lê Quốc Quân. Nếu như anh thực sự vi phạm tôi tin rằng tòa sẽ mở rộng cửa để tất cả mọi người đều thấy. Còn nếu tòa không dám mở rộng cửa, CA chặn người đi dự thì điều đó chứng tỏ họ sai và anh Quân vô tội.”

Tối qua tại Nghệ An, Facebooker Tay Nguyen cho biết: “Để ngăn chặn người dân đi tham dự phiên tòa xử LS Lê Quốc Quân, công an huyện Yên Thành và công an xã Hợp Thành đã huy động một lực lương xuống rình mò ngăn cản người dân.”

Luật sư Jos Lê Quốc Quân, trước năm 2007, anh là nhà tư vấn cho Ngân hàng Thế giới và Quỹ Phát triển Liên Hiệp Quốc UNDP tại Việt Nam.

Là người dám lên tiếng bảo vệ quyền tự do tôn giáo và thể chế chính trị đa nguyên. Ngày 8 tháng 3 năm 2007, sau khi tham gia một khóa học của tổ chức Quốc gia Hỗ trợ Dân chủ (National Endowment for Democracy) ở Mỹ, anh bị bắt sau khi trở lại Việt Nam.

Phản ứng trước sự kiện này, ứng cử viên Tổng thống Mỹ John McCain, và nguyên ngoại trưởng Mỹ Madeline Albright, đã viết thư phản đối, và tổ chức Amnesty International gọi anh là tù nhân lương tâm. Đại sứ Mỹ Michael Marine đã mời vợ anh tới dùng trà tại tòa đại sứ nhưng bị nhà nước VN ngăn trở.

140218-LQQ (2)

140218-LQQ (1)

 Thánh lễ cầu nguyện cho Ls. Lê Quốc Quân tại Nhà thờ Thái Hà sáng nay, 18/2/2014

—————

Một vài nét về Luật sư Lê Quốc Quân:

Luật sư Giuse Lê Quốc Quân, một luật sư đấu tranh dân chủ nhân quyền, bảo vệ quyền tự do tôn giáo và thể chế chính trị đa nguyên ở VN. Ông được cộng đồng quốc tế quan tâm cách đặc biệt.

Trước năm 2007, Ls Lê Quốc Quân tư vấn cho Ngân Ngân hàng Thế giới và Quỹ Phát triển Liên Hiệp Quốc UNDP tại Việt Nam.

Ngày 08.03.2007, Ls Lê Quốc Quân bị bắt, sau khi từ Mỹ trở về VN với lý do ông tham gia một khóa học do Quốc gia Hỗ trợ Dân chủ (National Endowment for Democracy) ở Mỹ, tổ chức. Ngay sau đó, ông John McCain, và nguyên ngoại trưởng Mỹ Madeline Albright đã viết thư phản đối về việc bắt giam người tùy tiện này.

Nhà cầm quyền cáo buộc ls Lê Quốc Quân với tội danh “hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân. Sau 3 tháng giam giữ, không một phiên tòa xét xử, ông được phóng thích.

Năm 2009, Ls Lê Quốc Quân, một trong những nhà đấu tranh Dân chủ ở VN nhiệt thành trong việc đòi công lý và đồng hành với bà con dân oan, cụ thể ông đã tham dự cuộc diễu hành với bà con giáo dân Thái Hà tại Hà Nội, để đòi nhà cầm quyền Việt Nam trả lại khu đất thuộc quyền sở hữu của nhà thờ.

Hồi ngày 10.04.2011, diễn ra phiên tòa xử Ts Cù Huy Hà Vũ, tại đây, Ls Lê Quốc Quân và Bác sĩ Phạm Hồng Sơn bị bắt với lý do “gây rối trật tự công cộng”. Sau đó, chính phủ Hoa Kỳ và các tổ chức nhân quyền kêu gọi thả ngay lập tức Ls Lê Quốc Quân và Bác sĩ Phạm Hồng Sơn. Vào ngày 13.4.2011, hai người đã được thả.

Năm 2012, Ls Lê Quốc Quân luôn bị tấn công bởi an ninh mặc thường phục và côn đồ do chính nhà cầm quyền cs bảo kê, khi ông đang đi trên đường.

Cho đến cuối tháng 12.2012, Ls Lê Quốc Quân bị bắt và nhà cầm quyền cáo buộc ông với tội danh trốn thuế. Trong trại giam, ông đã tuyệt thực 15 ngày để phản đối hành vi bắt giam người sai trái của nhà cầm quyền cs VN.

Đầu tháng 7.2013, phiên tòa sơ thẩm của Ls Lê Quốc Quân sẽ diễn ra nhưng Tòa đã hoãn với lý do bà thẩm phán Lê Thị Hợp bị ốm. Mãi cho đến gần 3 tháng sau, tức vào ngày 02.10.2013, phiên tòa mới tái tục. Kết thúc phiên tòa, với bản án bỏ túi cho Ls Lê Quốc Quân 30 tháng tù giam, truy thu 600 triệu tiền thuế và phạt 1,2 tỉ đồng VN, tại Tòa án Nhân dân Hà Nội. Ông đã phản đối bản án này.

Hồi cuối tháng 1.2014 vừa qua, từ trại giam Hỏa Lò, Ls gửi bức tâm thư và xác quyết: “Tôi sẵn sàng ngồi tù cho đến chết nếu điều đó làm tốt đẹp hơn cho Tổ quốc và Nhân dân Việt Nam anh hùng.”

Trong suốt thời gian Ls Lê Quốc Quân bị bắt, nhiều nơi trên thế giới đã tổ chức cầu nguyện cho Ls Lê Quốc Quân. Và, các tổ chức nhân quyền trên thế giới đã kêu gọi nhà cầm quyền cs VN thả ngay lập tức Ls Lê Quốc Quân.

Đặc biệt, trong buổi Kiểm điểm định kỳ phổ quát (UPR) của nhà cầm quyền cs VN trước Hội đồng Nhân quyền LHQ, tại Thụy Sỹ, Phái đoàn Hoa Kỳ đã nêu đích danh và yêu cầu nhà cầm quyền cs VN phóng thích Ls Lê Quốc Quân.

Trước khi phiên tòa phúc thẩm Ls Lê Quốc Quân diễn ra khoảng 4 ngày, hồi ngày 14.02.2014, Dân biểu Quốc Hội Hoa Kỳ Zoe Lofgren, Loretta Sanchez, Frank Wolf, và Alan Lowenthal là những người bạn của cộng đồng VN, luôn quan tâm đến vấn đề nân quyền vừa gửi thư đến ông Nguyễn Tấn Dũng kêu gọi trả tự do vô điều kiện cho Ls Lê Quốc Quân.

Hiện nay, Ls Lê Quốc Quân đang tuyệt thực và đã bước qua ngày thứ 17. Ông tuyệt thực để phản đối và yêu cầu nhà cầm quyền cs VN 3 điều: thứ nhất, cho ông được mang sách Kinh Thánh vào trong trại giam; Thứ hai, cho ông gặp linh mục để được xưng tội rước lễ sau hơn 1 năm bị cầm tù; Thứ ba, và sẽ tiếp tục tuyệt thực nếu như phiên tòa phúc thẩm diễn ra chỉ nhằm hợp thức hóa bản án sai trái trong phiên tòa sơ thẩm.

Pv.VRNs tổng hợp

chuacuuthe.com

Từ trái: TNS Sheldon Whitehouse, LS Nguyễn văn Đài, TNS John McCain, BS Phạm Hồng Sơn, TNS Joseph Lieberman, LS Lê Quốc Quân và TNS Kelly Ayotte. Photo courtesy of NVD  – 22-1-2012

Đài RFA  4 Thượng Nghị Sĩ Mỹ gặp 3 nhà tranh đấu VN – 22-1-2012

(Ls Đài, Bs Sơn, Ls Quân đều đã từng bị nhà cầm quyền bắt giữ với các bản án tù 3-4 năm. Nay đến phiên Ls Quân) 

Posted in Bắt bớ-Tù Đày-Đánh đập-Đàn Áp, Dân Chủ và Nhân Quyền | Leave a Comment »

►Trận chiến núi Đất (Lão Sơn, cao điểm 1509) năm 1984 giữa Việt Nam và TQ

Posted by hoangtran204 trên 18/02/2014

Giao tranh đẫm máu tại cao điểm 1509 (Lão Sơn), Thanh Thủy, Hà Giang năm 1984

 

Nghiên cứu viên Nakamura Masanori (*)

Hà Minh Thành dịch 

Đăng bởi bvnpost on 30/07/2010

    Mất hai cao điểm chiến lược có giá trị khống chế con đường tiến sang xâm lược Việt Nam của kẻ thù truyền kiếp là một mất mát quá lớn. Thảo nào việc ký Hiệp định biên giới trên bộ (2009 – nguồn )cứ làm úp úp mở mở mà không công khai được với dân.

Hãy xem, giờ đây hệ thống ra-da của Trung Quốc sẽ từ các điểm cao ấy áp đảo mạng lưới thông tin của toàn bộ miền Bắc Việt Nam, còn đường nào mà xoay trở được? Rồi thì, công nhân Trung Quốc làm rừng trong những cánh rừng bạt ngàn mà 18 tỉnh dễ dãi cho thuê đến 50 năm sẽ đột ngột cởi áo công nhân ra để lộ nguyên tư thế một đạo binh, từ giữa núi rừng của người Việt đánh xuống.

(Báo Pháp Luật và Thanh Niên : Các tỉnh ở VN cho Trung Quốc thuê đất trong thời gian 50 năm, với giá:  180 000đồng/ 1 mẫu đất.   Giá thuê đất như thế chưa tới 10 đô / 1 mẫu.)

Trên cao nguyên Trung phần, một đội quân túc trực sẵn trong vai người đào quặng cũng sẽ chĩa súng áp đảo mặt Nam nếu quân Việt Nam từ phía này dám hó hé tiến ra Bắc.

Còn gì nữa? Các đập thủy điện trên ngọn nguồn sông Cửu Long và sông Hồng sẵn sàng tháo nước bất kỳ lúc nào họ muốn. Và Nhà máy điện hạt nhân sắp xây dựng sát tỉnh Quảng Ninh cũng có thể tung chất thải độc hại theo gió mùa Đông Bắc bay vào toàn bộ miền Bắc nước ta.

    Để đất nước rơi vào một tình trạng tứ bề thọ địch như thế thử hỏi ai là kẻ bán nước đây? Ai là kẻ không tính trước từng bước đi của một con sói xảo quyệt, để cho nó từ từ quây chặt lấy mình không còn cựa nổi? Đến nỗi từ một đội quân thiện chiến nhất Đông Nam Á, quân đội nhân dân Việt Nam giờ đây bị đánh giá là một đám người “thiên về làm kinh tế”, “đánh mất vị thế của mình ở Á Châu” – là con dân từng góp công sức máu xương dựng nên Tổ quốc này, quân đội này ai mà không tủi hổ? Thế mà còn ngang nhiên xóa bỏ lời dạy của Hồ Chí Minh “Quân đội ta trung với nước hiếu với dân” thì lý tưởng anh bộ đội cụ Hồ hiện nay phỏng còn lại mấy phần trăm là bảo vệ Tổ quốc? Hay chỉ còn là bảo vệ Đảng?

    Trong khi đó nhìn lên bộ sậu cầm chịch các cấp thì chỉ thấy toan tính những mơ ước hão huyền, mà hậu quả vỡ tan như bong bóng xà phòng mới là hiện thực. Không ít người lại buông thả nhân cách, rơi vào thác loạn, và rất giỏi lo đối phó với dân, dùng kiêu binh hoành hành dọc ngang, gây hàng loạt án mạng khiến người có lương tri nghe đến đều thấy nhức nhối, ê trệ. Lực lượng công an nhân dân bởi thế từ lâu cũng đã trở thành công cụ bảo vệ cho những “chiếc ghế”, và nếu hỏi họ đang đứng ở chỗ nào trong lòng dân chúng thì e là một câu hỏi mà ai cũng phải lảng tránh nếu không muốn tự dối lòng. 

    Liệu còn có phép thần nào để chúng ta thoát khỏi vận hạn này?

     Bauxite Việt Nam

Giao tranh đẫm máu tại cao điểm 1509 (Lão Sơn), Thanh Thủy, Hà Giang năm 1984  

Tài liệu nghiên cứu giảng dạy dành cho sinh viên sĩ quan của Tự vệ đội, Cục Phòng vệ Nhật Bản – Đại học Phòng vệ.

Tác giả: Nghiên cứu viên Nakamura Masanori.

Kế hoạch hành quân nhằm chiếm lại Cao điểm 1509 có mật danh là “MB84, thu hồi lãnh thổ” đã được vạch công phu. Tuy nhiên, cả Tướng Văn Tiến Dũng và các cố vấn quân sự Liên Xô cũng không ngờ là họ đã bị bán đứng bởi một sĩ quan cao cấp phản bội.

Trận chiến Lão Sơn, (phía Việt Nam gọi là Cao điểm 1509), được xem là trận chiến đẫm máu, khốc liệt nhất trong vùng Á Châu gần đây nhất. Cuộc chiến nổ ra tại một căn cứ quân sự của Việt Nam tại điểm cao 1509 và điểm cao 1250, hai cao điểm này nằm dọc theo biên giới Việt Trung mà phía Trung Quốc gọi là Lão Sơn và Giả Âm Sơn.

Để chiếm được 2 cao điểm này Giải phóng quân Trung Quốc đã tạo ra một cuộc xung đột võ trang với quy mô lớn. Lịch sử quân sự Trung Quốc gọi cuộc chiến chiếm 2 điểm cao này là Chiến dịch Lưỡng Sơn.

Trận chiến Lão Sơn bắt đầu vào ngày 2 tháng năm 1984 khởi màn bằng trận tấn công tổng lực bằng pháo binh vào căn cứ quân sự của quân đội Việt Nam. Cuộc giao tranh quân sự giữa quân đội 2 nước Việt Nam và Trung Quốc chia thành 3 giai đoạn.

Giai đoạn 1: Từ ngày 2 tháng 4 đến ngày 15 tháng 4 năm 1984

Giai đoạn 2: Từ ngày 2 tháng 6 đến ngày 10 tháng 7 năm 1984

Giai đoạn 3: Từ ngày 12 tháng 7 đến ngày 14 tháng 7 năm 1984 Trận chiến kết thúc vào ngày 14 tháng 7 năm 1984 bằng một trận đánh cảm tử xáp lá cà (bạch binh chiến) của các binh sĩ Việt Nam. Phía Trung Quốc đã phản công bằng pháo binh và hỏa lực mạnh để tử thủ Lão Sơn.

Sau trận chiến này, với số thương vong quá lớn, quân đội VN đã hoàn toàn bỏ cuộc. Lãnh thổ Việt Nam đã mất vùng Núi Đất (Lão Sơn) vào tay Trung Quốc từ đó. Sau hiệp định hoạch định biên giới Việt Trung thì 2 vùng núi này chính thức trở thành lãnh thổ của Trung Quốc.

1/ Tương quan lực lượng tham chiến Phía Trung Quốc: Tướng chỉ huy: Dương Đắc Chí Chiến lực: Quân đoàn 14, Quân đoàn 11,Quân đoàn 1, Tập đoàn quân 67, Tập đoàn quân 27, Tập đoàn quân 13. Số binh sĩ thương vong: Bất minh (có nguồn thông tin cho biết khoảng 939 binh sĩ tử trận). Phía Việt Nam: Tướng Chỉ huy: Tướng Văn Tiến Dũng Lực lượng tham chiến: Sư đoàn 313, Sư đoàn 316, Sư đoàn 356 chính quy, địa phương quân và dân binh. Số binh sĩ thương vong: Bất minh (theo nguồn tin Trung Quốc thì có 3700 binh sĩ Việt Nam tử trận còn lại trên chiến trường). Dự đoán binh sĩ tử trận khoảng 4000 binh sĩ. Theo nguồn tin của phóng viên chiến trường của NHK được biết chính xác là: Trung đoàn 174 thuộc Sư đoàn 316 VN sau 10 giờ giao tranh với Sư đoàn 119 của Trung Quốc tại điểm cao 142, 149 thuộc khu vực Na Lập vào ngày 12 tháng 7 năm 1984, phía VN bị tử thương 300 binh sĩ tại mặt trận.

2/ Quá trình đưa đến sự giao tranh Trong suốt thời gian trước hoạch định biên giới Việt Trung thì Lão Sơn và Giả Âm Sơn được công nhận là lãnh thổ của Việt Nam. Lão Sơn với cao độ 1422,2 m so với mặt biển là một vị trí chiến lược quan trọng trong phối trí quân lực trong suốt lịch sử vệ quốc của người Việt Nam. Từ đây có thể giám sát con đường huyết mạch nối từ Hà Giang của Việt Nam sang Trung Quốc. Năm 1979 trên đường tiến quân sang đánh Việt Nam, Tướng Dương Đắc Chí – Tư lệnh quân khu Côn Minh đã chiếm vùng này.

Sự tiến quân quá nhanh của Trung Quốc vào Việt Nam đã khiến Tướng Dương Đắc Chí khinh địch và đánh giá thấp Tướng Võ Nguyên Giáp – một thiên tài quân sự của Việt Nam. Trong một công điện báo công với Đặng Tiểu Bình, sau khi xâm nhập vào Việt Nam mà không bị tổn thất nhiều, Tướng Dương Đắc Chí đã xin phép cho thêm một tuần nữa để tiến quân đến Hà Nội, bắt sống toàn bộ Ban lãnh đạo Việt Nam.

Phía Việt Nam, Tướng Võ Nguyên Giáp đã áp dụng nhuần nhuyễn chiến thuật: dụ địch vào sâu nội địa; cắt đứt quân viện hậu cần; tổng phản công… một chiến thuật trong kinh nghiệm vệ quốc hàng ngàn năm qua của người Việt Nam đối với Trung Quốc.

Tướng Võ Nguyên Giáp với các lực lượng khinh binh và địa phương quân đã phá hủy toàn bộ các tuyến quân viện hậu cần của Tướng Dương Đắc Chí; hành động quân sự này khiến trên 500 chiến xa của Giải phóng quân Trung Quốc dưới quyền của Tướng Dương Đắc Chí trở thành những cục sắt chết không hoạt động được trên chiến trường vì thiếu nhiên liệu và trở thành các điểm tác xạ của Địa phương quân VN. Trước tình thế tan rã toàn bộ các quân đoàn tiến chiếm Việt Nam, Tướng Dương Đắc Chí buộc phải cấp tốc xin lệnh rút binh về nước.

Trên đường rút binh của Tướng Dương Đắc Chí, quân đội Trung Quốc đã bị tổn thất nặng nề bởi sự truy kích bằng pháo binh của quân đội Việt Nam từ điểm cao 1509 này.

Có một kỳ tích về hành quân mà đến thời điểm này, các nhà phân tích về chiến lược quân sự cũng không hiểu bằng cách nào, chỉ trong vòng một thời gian ngắn chưa đầy một ngày, Tướng Võ Nguyên Giáp của Việt Nam có thể phối trí một lực lượng pháo binh mạnh tại Cao điểm 1509, một căn cứ có địa hình hiểm trở để có thể truy kích tận diệt các binh đoàn của Trung Quốc trên đường rút chạy khỏi VN.

Mặc dầu Đặng Tiểu Bình tuyên bố đã dạy xong cho VN một bài học, nhưng trên thực tế thì có thể nói rằng gần như toàn bộ các quân đoàn của Quân khu Côn Minh dưới quyền Tướng Dương Đắc Chí đã hoàn toàn bị xóa sổ.

Từ sau bài học về sự đại bại chiến dịch quân sự đầu năm 1979, Đặng Tiểu Bình đã phải đi đến quyết định cải cách lại quân đội theo hướng hiện đại hóa. Tướng Dương Đắc Chí được sự ủng hộ của Đặng Tiểu Bình đã nắm chức Tổng Tham mưu trưởng kiêm Ủy viên Quân ủy Trung ương.

Để phục hận về trận đại bại 5 năm về trước, để có thể kiểm soát không phận và uy hiếp tỉnh Hà Giang, cũng như làm bàn đạp để tấn công bình định Việt Nam trong tương lai, đồng thời nhằm khôi phục lại uy tín của quân đội đã xuống đến tận đáy, Tướng Dương Đắc Chí đã lên kế hoạch chiếm lĩnh hai điểm cao của vùng núi Lưỡng Sơn này.

3) Quá trình giao tranh Ngày 2 tháng 4 năm 1984 quân đội Trung Quốc bắt đầu pháo kích đại quy mô vào điểm cao 1509 của Việt Nnam mở đầu cho trận giao tranh.

Cuộc pháo kích kéo dài 26 ngày cho đến ngày 27 tháng 4 năm 1984.

Ngày 28 tháng 4, qua thông tin tình báo biết được phía VN đang chuẩn bị thay quân tại điểm cao này. Vào lúc quân số của phía VN đồn trú ít nhất ở căn cứ 1509, Tướng Dương Đắc Chí đã ra lệnh cho Sư đoàn 40 và Sư đoàn 49 thuộc Quân đoàn 14 Quân khu Côn Minh bắt đầu tấn công căn cứ hiểm yếu này. Mặc dầu với số quân áp đảo là hai Sư đoàn, nhưng trước sự thiện chiến và quả cảm của lực lượng nhỏ quân đội Việt Nam đóng tại đó, phía Trung Quốc đã chịu nhiều tổn thất nặng nề.

Phải sau 18 ngày chiến đấu, quân đội Trung Quốc mới chiếm lĩnh được một phần của Lão Sơn và Giả Âm Sơn vào ngày 15 tháng 5 năm 1984.

Ngày 12 tháng 6 đến ngày 7 tháng 10 năm 1984 được xem là giai đoạn giao tranh thứ 2, quân đội VN đã cố gắng tổ chức tái chiếm lại Lão Sơn, trong giai đoạn giao tranh này, thương vong phía Việt Nam không xác định được, nhưng phía Trung Quốc thì 2 đại đội có nhiệm vụ tử thủ căn cứ này đã hoàn toàn bị tiêu diệt. Phía Việt Nam tạm thời chiếm lại Lão Sơn.

Rút kinh nghiệm từ lần giao tranh này, Tướng Dương Đắc Chí đã cho sử dụng hỏa tiễn liên trang để đối kháng và sau đó dùng bộ binh tái chiếm căn cứ.

Đối lại quân đội VN dùng súng cối và vũ khí hạng nhẹ, lưỡi lê với cách đánh cận chiến cảm tử bám sát vào quân đội Trung Quốc để đánh nhằm giảm nguy cơ thương vong vì hỏa tiễn đã gây thương vong khủng khiếp cho cả lực lượng hai bên.

Tuy nhiên trước sự áp đảo về lực lượng và vũ khí của Trung Quốc, phía Việt Nam đã chịu thất bại trong nỗ lực phòng thủ căn cứ. Sau trận giao tranh này Trung Quốc chiếm được cao điểm 1509.

4/ Giai đoạn 3 của cuộc giao tranh Bắt đầu từ ngày 12 tháng 7 đến ngày 14 tháng 7. Được thông tin tình báo chính xác từ một sĩ quan cao cấp trong Cục quân báo Việt Nam, Tướng Dương Đắc Chí đã nắm rõ toàn bộ kế hoạch hành quân tái chiếm căn cứ của VN.

Bằng cách bố trí pháo binh mạnh và hỏa tiễn đa liên tranh tập trung vào các điểm quân đội Việt sẽ tập kết bên mạn sườn núi ở cao độ 500 và 800, quân đội Trung Quốc chỉ còn chờ đợi quân đội Việt Nam bước vào cửa tử bằng trận địa bao vây bằng hỏa tiễn và pháo.

Phía Việt Nam lần này với sự trợ giúp của các cố vấn quân sự Liên Xô và trực tiếp Tướng Văn Tiến Dũng chỉ huy, lực lượng tấn công đã tổ chức nghi binh nhằm đánh lạc hướng theo dõi của tình báo Trung Quốc bằng cách: chọn ra 6 Trung đoàn từ các Sư đoàn 313, Sư đoàn 316, Sư đoàn 356. Kế hoạch hành quân nhằm chiếm lại Cao điểm 1509 có mật danh là “MB84, thu hồi lãnh thổ” đã được vạch công phu.

Tuy nhiên, cả Tướng Văn Tiến Dũng và các cố vấn quân sự Liên Xô cũng không ngờ là họ đã bị bán đứng bởi một sĩ quan cao cấp phản bội?

Ngày 12 tháng 7 năm 1984, sáu Trung đoàn quân Việt Nam lần lượt tập kết vào các địa điểm đã được Tướng Dương Đắc Chí đợi sẵn ở cao độ 500 và 800 bên dưới cao điểm 1509.

5 giờ sáng giờ Việt Nam ngày 12 tháng 7, quân đội VN bắt đầu men theo triền núi để tổng công kích và trận pháo kích bao vây tận diệt của Tướng Dương Đắc Chí cũng bắt đầu. Sau 17 tiếng đồng hồ pháo kích tập trung vào các điểm đã biết trước dựa theo kế hoạch hành quân mang tên MB84 của Việt Nam, Tướng Dương Đắc Chí hoàn toàn đại thắng. Quân đội VN buộc phải rút lui với số liệu thương vong do phía Trung Quốc công bố: khoảng 3700 thi thể binh sĩ Việt Nam đã bị bỏ lại trên đỉnh Lão Sơn…* (Theo nhiều nguồn tin từ phía Việt Nam thì tổn thất của Việt Nam trong trận dành điểm cao 1509 ( núi Đất) là khoảng 500-700 người.)

5/ Ảnh hưởng về mặt quân sự Trận chiến Lão Sơn là một trận chiến kinh điển trong các trận chiến hạn định phi quy ước.

Chiến thắng của phía Trung Quốc có thể kể công đầu là chiến thắng của mạng lưới tình báo Hoa Nam; lực lượng tình báo Hoa Nam đã cài cắm được điệp viên vào hàng ngũ sĩ quan cao cấp của Việt Nam.

Nếu không có thông tin tình báo từ Việt Nam, cục diện trận chiến Lão Sơn có khả năng sẽ đi theo một hướng khác. Chắc chắn số thương vong khủng khiếp sẽ đến với các Sư đoàn 40 và 49 của quân đội Trung Quốc bởi lối đánh cảm tử và thiện chiến của binh sĩ Việt Nam.

Trận chiến Lão Sơn đã làm thay đổi toàn bộ chiến thuật tấn công của quân đội Trung Quốc theo hướng hiện đại hóa.

Trong giai đoạn 3 của cuộc giao tranh có thể nói đây là một sự tái diễn lại cách đánh giữa quân đội Bắc Việt Nam với chiến thuật biển người, cận chiến với quân đội Mỹ; kết hợp với chiến thuật tập trung pháo binh nhằm giảm thương vong cho binh sĩ xung kích trong thời gian chiến tranh Việt Nam.

Từ chỗ tấn công theo chiến thuật biển người là chiến thuật quân sự cổ điển của Trung Quốc với Việt Nam; Tướng Dương Đắc Chí đã thành công trong việc mạo hiểm ứng dụng chiến thuật tấn công và phòng vệ tập trung bằng pháo binh, kết hợp với thông tin tình báo theo phong cách tác chiến hiện đại của Mỹ.

Từ trận đánh này cũng lộ rõ một điểm yếu của quân đội Trung Quốc, đó là công tác hậu cần, vận tải của quân đội, không có khả năng không vận để phục vụ cho việc tác chiến. Ví dụ để phục vụ cho cuộc chiến họ phải huy động cả xe của dân sự để tải đạn dược và thương binh.

Về phía quân đội Việt Nam, mặc dầu địa hình bất lợi nhưng với quyết tâm thu hồi lãnh thổ đã chọn chiến thuật tấn công bằng biển người. Với sĩ khí của quân đội Việt Nam lúc đó, khả năng thu hồi lại lãnh thổ trong trận chiến này rất cao nhưng đồng nghĩa với việc chấp nhận hàng ngàn binh sĩ phải hy sinh. Có thể coi đây là một chiến thuật hạ sách khi mà Tướng Văn Tiến Dũng không còn con đường để chọn lựa.

Tuy nhiên thất bại về phản gián của Việt Nam trong cuộc chiến này đã khiến Việt Nam phải chấp nhận thất bại với gần 4000 binh sĩ thương vong (theo số liệu phía Trung Quốc đưa ra). Đây là một bài học quan trọng trong công tác bảo mật mà các sĩ quan trẻ trong tương lai phải luôn tâm niệm trong quá trình cầm binh tác chiến. Một sơ sót của người chỉ huy sẽ phải đổi bằng máu xương của hàng ngàn binh sĩ trên mặt trận và mất đi lãnh thổ.

Về mặt ảnh hưởng quân sự thì, chiến thắng Lão Sơn đã nâng cao sĩ khí cho quân đội Trung Quốc, tạo cơ hội cho quân đội Trung Quốc chuyển mình từ một quân đội lạc hậu sang một đội quân hiện đại với kỹ thuật tác chiến hiện đại thay cho chiến thuật biển người cố hữu. Đây là đà tiến để giới quân sự Trung quốc tạo ảnh hưởng lên giới chính trị để hiện đại hóa quân đội.

Với việc chiếm lĩnh Lão Sơn và Giả Âm Sơn, việc đặt 2 căn cứ tại đó, Trung Quốc đã có khả năng kiểm soát và khống chế về mặt quân sự trên toàn bộ miền Bắc Việt Nam.

Trong một số lần hiếm hoi, các đài duyên hải của lực lượng Hải thượng Tự vệ đội Nhật Bản dọc theo quần đảo Okinawa, đã phát hiện bắt được các làn sóng phát theo hình thức nhiễu loạn số từ đài phát vô tuyến có tọa độ xác định đặt trên đỉnh Lão Sơn.

Theo đánh giá của các chuyên gia quân sự, nếu xảy ra một trận chiến phi quy ước giữa Việt Nam và Trung Quốc một lần nữa, thì với hệ thống rada và đài phá sóng vô tuyến mạnh như vậy của Trung Quốc ở căn cứ Lão Sơn, khả năng toàn bộ hệ thống thông tin của lực lượng phòng không không quân tại miền Bắc của Việt Nam kể cả hệ thống thông tin của Hàng không dân dụng sẽ bị tê liệt ngay tức khắc; nếu bị quân đội Trung Quốc tiến hành gây nhiễu từ cụm đài của căn cứ này.

Chưa kể đến lợi thế về mặt tác chiến pháo binh cũng như hỏa tiễn tầm xa, với vị trí Lão Sơn có khả năng khống chế quân đội Việt Nam trên một phần vùng miền Bắc Việt Nam trong một cuộc chiến hạn định từ căn cứ quân sự lớn này.

Về phía Việt Nam, trận chiến này đã khiến cho uy tín một số tướng lãnh quân đội với nhiều công trạng trong cuộc chiến Việt Nam bị suy sụp, thất sủng. Nhiều tướng lãnh kinh nghiệm dày dạn chiến trường bị thay thế bởi thế hệ tướng lĩnh trẻ chưa có kinh nghiệm tác chiến trên những mặt trận lớn.

Một mất mát lớn khác đối với quân đội VN trong thời kỳ này đó là: sự thất sủng của Tướng Võ Nguyên Giáp trước Ban lãnh đạo Chính phủ Việt Nam khi ông đưa ra yêu cầu giải quyết “Bài toán nước lớn”.

Tướng Võ Nguyên Giáp chủ trương mở một nền ngoại giao đa phương với phương Tây kể cả cựu thù là Mỹ và các nước xung quanh, cùng với việc dùng lực lượng quân chính quy Việt Nam tại Lào đánh quy hồi từ Lào sang Campuchia, giải phóng Campuchia xong thì rút hết quân về nước, giao lại Campuchia cho Liên hợp quốc để giảm bớt sự hy sinh của binh sĩ và ngân sách quốc gia. Tìm cách phá mở thế bao vây từ kinh tế cho đến quân sự bởi các nước xung quanh.

Chủ trương này của Tướng Võ Nguyên Giáp đã không được Ban lãnh đạo Chính phủ Việt Nam đương thời đồng ý. Sự thất sủng của một nhà chiến lược quân sự vĩ đại đã khiến giới quân đội của Việt Nam dần dần bị xem nhẹ, đồng thời thế lực thân Trung Quốc trong giới chính trị gia Việt Nam có cơ hội quật khởi trở lại.

Sau cái chết của Phạm Hùng – người được cho là kiên trì đường lối chống Trung Quốc, bị chết một cách mờ ám tại thành phố Hồ Chí Minh, có ý kiến nghi vấn có bàn tay của lực lượng tình báo Hoa Nam, chính sách của lãnh đạo Việt Nam đã bắt đầu thay đổi…

Các chính sách về công tác tuyên truyền chống Trung Quốc cũng dần dần bị loại bỏ từ dân chúng cho đến quân đội.

Cùng với chính sách đổi mới, quân đội Việt Nam đã thiên về làm kinh tế hơn đặt nặng trọng tâm quốc phòng.

Sau thất bại ở cuộc hải chiến Nam Sa (Trường Sa) vào tháng 3 năm 1989 thì có thể nói là quân đội Việt Nam đã đánh mất vị thế của mình ở Á Châu, Việt Nam đã bị các chuyên gia quân sự đánh giá không còn là một đội quân mạnh và thiện chiến nhất trong vùng Đông Nam Á nữa.

6) Ảnh hưởng về mặt chính trị Đối với Trung Quốc: Chiến thắng của trận chiến Lão Sơn trùng khớp với thời kỳ sĩ khí đang hồi phục lại ở Trung Quốc nhờ vào hiệu quả của chính sách cải cách, khai phóng.

Kết quả trận chiến đã chấp cánh, tăng thêm uy tín cho Đặng Tiểu Bình trong việc chỉ đạo thể chế cầm quyền của Trung Quốc. Hệ thống thông tin của Trung Quốc có thể nói đã tuyên truyền hết công suất về tin thắng lợi của quân đội Trung Quốc trong trận chiến Lưỡng Sơn này.

Báo chí Trung Quốc đã lợi dụng trận thắng này để phát dương quốc uy và ca ngợi công đức chỉ đạo của Đặng Tiểu Bình. Việc tuyên truyền này khiến cho dân chúng Trung Quốc phần nhiều đều chỉ biết đến Chiến tranh biên giới Việt – Trung qua chiến thắng Lão Sơn năm 1984 chứ không phải trận đại bại năm 1979.

Đối với Việt Nam: trận chiến Lưỡng Sơn đã khiến phía Việt Nam tái nhận thức về kẻ thù truyền kiếp của họ chính là Trung Quốc, tâm lý phục thù của người Việt đã trỗi dậy.

Cùng với sự sa lầy của quân đội Việt Nam tại chiến trường Campuchia đã gây tổn thất lớn về nhân mạng binh sĩ, sự gia tăng của thương phế binh, sự bao vây cấm vận kinh tế của thế giới, sự kiệt quệ về kinh tế đã khiến sĩ khí của quân đội Việt Nam suy giảm.

7/ Mối bang giao cải thiện quan hệ Trung – Việt

Tháng 3 năm 1988 Thủ tướng Phạm Hùng của Việt Nam đột tử. Ông được xem là người cuối cùng trong ban lãnh đạo của Việt Nam theo đường lối cứng rắn chống Trung Quốc. Ông là một trong những người đã đồng ý đưa quân sang tiến chiếm Campuchia bất chấp sự phản đối của nhà chiến lược quân sự, Tướng Võ Nguyên Giáp. Đồng năm đó quân đội Liên Xô cũng đại bại phải rút lui khỏi chiến trường Afghanistan.

Cùng với chính sách cải cách khai phóng thành công của Đặng Tiểu Bình, Trung Quốc đã tạo mối bang giao thân mật với Mỹ và Nhật Bản; chính sách này đã khiến cho quốc lực của Trung Quốc nhanh chóng hồi phục. Ngược lại mối quan hệ đồng minh của Việt Nam và Liên Xô bởi phái thân Liên Xô là Lê Duẩn ngày càng suy giảm khiến cho Chính phủ Việt Nam chuyển đổi chính sách sang cải thiện quan hệ với Trung Quốc. Sau 10 năm xảy ra giao tranh, vào ngày Tết âm lịch năm 1989, Việt Nam và Trung Quốc đột ngột mở cửa lại giao dịch ở vùng biên giới. Quan hệ Trung – Việt cấp tốc hồi phục. Sau đó Trung Quốc lần lượt triệt thoái các lực lượng quân sự lớn đóng ở Lão Sơn và Giả Âm Sơn.

Tháng 5 năm 1989 thì toàn bộ quân chính quy của Trung Quốc hoàn tất việc rút ra khỏi vùng Lưỡng Sơn này chỉ để lại một bộ phận nhỏ các Tiểu đoàn công binh và địa phương quân, dân binh để xây dựng căn cứ.

Xung đột võ trang biên giới Việt –Trung xảy ra lần cuối cùng vào năm 1989 khi Trung Quốc cho xây dựng các đài ra đa dọc theo các điểm cao mà họ đã chiếm được sau các lần xung đột. Một số lượng lớn công nhân xây dựng người Trung Quốc đã xâm nhập xây dựng nhà cửa, lán trại bất hợp pháp trên phía lãnh thổ Việt Nam.

Xung đột đã nổ ra khi lực lượng cảnh sát đương cục của Việt Nam đã tìm cách bài trừ, đuổi họ ra khỏi Việt Nam. Trong lần này quân đội hai nước không có nổ súng và sự kiện kết thúc khi phía Trung Quốc chịu đưa toàn bộ số công nhân đó về nước. Có thể coi sự kiện cuối cùng đó là bài thuốc thử của Trung Quốc đối với sự chân thành cải thiện bang giao của phía Việt Nam.

Nakamura MasanoriBổ sung thêm:Theo nhiều nguồn tin từ phía Việt Nam thì tổn thất của Việt Nam trong trận dành điểm cao 1509 ( núi Đất) là khoảng 500-700 người.

———————————————

Coi thêm về Núi Lão Sơn ở đây

 

Posted in Chien Tranh Bien Gioi Viet Trung 1979 | 1 Comment »

►Mâu thuẫn, xung đột trong quan hệ Việt – Trung và chiến tranh biên giới tháng 2/1979

Posted by hoangtran204 trên 17/02/2014

Mâu thuẫn, xung đột trong quan hệ Việt – Trung và chiến tranh biên giới tháng 2/1979 (1)

Nguyễn Thị Mai Hoa – Thứ bảy, 15 Tháng 2- 2014 15:19

Nguồn:  Theo Văn Hóa Nghệ An

danluan.org (đăng lại) 

Trong những năm đầu sau ngày giải phóng miền Nam Việt Nam (1975), Trung Quốc là nước tiếp tục giúp đỡ, viện trợ cho Việt Nam. Theo một logic thông thường, lý ra sự hợp tác, quan hệ truyền thống giữa hai nước càng phải được củng cố, phát triển.

Tuy nhiên, từ giữa năm 1975, do nhiều nguyên nhân lịch sử, chính trị…. quan hệ Việt Nam – Trung Quốc rạn nứt và trở nên không bình thường, rơi vào tình trạng thường xuyên căng thẳng dẫn đến đến đối đầu, xung đột với sự kiện đỉnh cao là cuộc tấn công của Trung Quốc dọc theo biên giới phía Bắc Việt Nam (2-1979).

1- “Khoảng lặng” trong quan hệ Việt – Trung

Sau năm 1975, điều bất thường là quan hệ Việt Nam – Trung Quốc bắt đầu bộc lộ nhiều “lỗ hổng” và mang dáng vẻ lạnh nhạt.

Dường như không phải ngẫu nhiên mà đúng lúc Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam Lê Duẩn bắt đầu chuyến thăm cấp Nhà nước tại Bắc Kinh, tờ Nhân dân nhật báo (của TQ) ngày 18-9-1975 đã đăng 6 ảnh lớn về các đơn vị quân đội Trung Quốc ở Hoàng Sa[1] .

Tương tự, một ngày sau khi phái đoàn Việt Nam rời khỏi Trung Quốc, các bức ảnh lớn về Hoàng Sa tiếp tục xuất hiện trong những tờ báo uy tín tại Bắc Kinh.

Nhìn chung, chuyến thăm Bắc Kinh tháng 9-1975 của Lê Duẩn được các nhà quan sát coi như một thất bại chính trị – ngoại giao [2], bởi mặc dù được tiếp đón có vẻ như trọng thị, song phái đoàn đã rút ngắn thời gian lưu lại tại Bắc Kinh và đã không mở tiệc chiêu đãi để cảm tạ lòng hiếu khách của người Trung Hoa như vẫn thường thấy trong thông lệ ngoại giao.

Phái đoàn VN đã rời Bắc Kinh đúng hai ngày trước khi kỷ niệm ngày Quốc khánh Trung Quốc (1-10), mà không đưa ra bất cứ một phát biểu hoặc thông cáo nào về cuộc viếng thăm.

Tiếp đó, ngày 26-11-1975, sau khi Đoàn Việt Nam kết thúc chuyến thăm hữu nghị Liên Xô, tờ Quang Minh Nhật báo (của TQ) có bài viết về Hoàng Sa và Trường Sa với lời báo động không giấu giếm: “Một số đảo vẫn chưa trở về trong tay nhân dân Trung Hoa… Tất cả các đảo thuộc về Trung Hoa đều phải trở về lãnh thổ của Tổ quốc” [3].

Tuy hai nước còn cố gắng kiềm chế, tránh xung đột, nhưng từ giữa những năm 1976, quan hệ Việt – Trung đã xấu đi rất nhanh chóng với các tranh cãi liên quan đến vấn đề biên giới, vấn đề người Việt gốc Hoa và đặc biệt về vai trò của Liên Xô trong các vấn đề thế giới, khu vực.

Trong bài phát biểu của Lê Duẩn tại Hội nghị lần thứ 25 Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (họp từ ngày 24-9 đến 24-10-1976) xuất hiện những cụm từ nhiều hàm ý: “Ta thắng là nhờ có sự giúp đỡ tích cực của Liên Xô, Trung Quốc, của phe ta, của thế giới, Liên Xô và Trung Quốc giúp ta rất nhiều. Không có sự giúp đỡ của họ ta khó lòng thắng được. Ta phải luôn luôn biết ơn Liên Xô, Trung Quốc và các nước anh em khác đã giúp ta; ta nói cho con cháu ta mãi mãi nhớ ơn họ. Nhưng chúng ta phải độc lập, tự chủ bởi vì trong quan hệ quốc tế, mỗi nước có lập trường riêng do vị trí và quyền lợi mỗi nước một khác, cho nên giữa các nước anh em, khó có sự nhất trí với nhau, có khi về những vấn đề rất quan trọng đối với một nước trong phe, cũng không nhất trí được”[4].

Tháng 2-1977, Trung Quốc ngỏ ý với Việt Nam rằng, không sẵn sàng cung cấp viện trợ cho Việt Nam trong công cuộc tái thiết đất nước sau chiến tranh [5].

Cũng vào thời kỳ này, biên giới Việt Nam – Campuchia liên tục có xung đột. Chính phủ Việt Nam không dưới một lần đề nghị Trung Quốc giúp đỡ dàn xếp, mong muốn thông qua hợp tác với Trung Quốc tác động tới phía Campuchia, song Trung Quốc đã im lặng. Việc Trung Quốc từ chối ủng hộ Việt Nam trong việc tìm kiếm các phương thức giải quyết căng thẳng biên giới với Campuchia càng cho thấy những vết nứt sâu hơn trong quan hệ hai nước.

Điều đáng chú ý là trong thời điểm phức tạp, nhạy cảm của quan hệ Việt Nam – Campuchia, Bộ trưởng Ngoại giao Trung Quốc Hoàng Hoa đã chính thức phát biểu (30-7-1977): “Chúng tôi ủng hộ lập trường chống đế quốc xét lại Liên Xô của Campuchia… và sẽ không thể ngồi nhìn bất cứ sự can thiệp nào đối với chủ quyền Campuchia hoặc thèm khát lãnh thổ nào bởi đế quốc xã hội. Chúng tôi sẽ ủng hộ Campuchia trong cuộc đấu tranh và có các hành động nhằm bảo vệ lãnh thổ, chủ quyền quốc gia Campuchia bằng mọi sự giúp đỡ có thể” [6]. Ngầm sau lời tuyên bố đó, người ta dễ dàng nhận thấy ẩn ý “chống lưng” của Ban lãnh đạo Trung Quốc đối với tập đoàn Polpot-Iêngxari.

Ngày 20-11-1977, Lê Duẩn sang thăm Trung Quốc một lần nữa.

Đây được coi như một nỗ lực nhằm hàn gắn những vết rạn nứt trong quan hệ với Trung Quốc, thực hiện việc cố gắng cân bằng quan hệ giữa Việt Nam – Liên Xô; Việt Nam – Trung Quốc. Tuy nhiên, giới quan sát nhận thấy rằng, người đứng đầu Nhà nước Việt Nam Lê Duẩn đã được đón tiếp với một thái độ vừa phải (nếu không muốn nói là lạnh nhạt), trái ngược với sự trọng thị và nồng nhiệt được dành cho Polpot trước đó một tháng [7].

Chuyến viếng thăm Trung Quốc lần này của Lê Duẩn chẳng những không làm cho quan hệ hai nước ấm lên, mà bộc lộ những bất đồng mới. Trong cuộc hội đàm giữa Lê Duẩn và Hoa Quốc Phong, mặc dù hai bên đều tránh nói đến một vấn đề tế nhị trong quan hệ hai nước là những tranh chấp về Hoàng Sa, Trường Sa, song sự khác biệt về quan điểm đối với việc nhìn nhận thế giới, chiến tranh và hòa bình… đã bộc lộ ngày càng rõ.

Lê Duẩn bày tỏ quan điểm không tham gia vào cuộc tranh cãi Trung – Xô thông qua việc “chân thành cảm ơn Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa khác về sự nhiệt tình, giúp đỡ to lớn đối với Việt Nam“. Không khí có vẻ căng thẳng hơn, khi Lê Duẩn đề nghị những nhà lãnh đạo Trung Quốc yêu cầu Campuchia Dân chủ chấp nhận một giải pháp cho cuộc xung đột trên tuyến biên giới Tây Nam, nhưng Trung Quốc đã không mấy mặn mà.

Cuối cùng, giống như chuyến thăm Trung Quốc vào tháng 9-1975, Lê Duẩn cũng đã ra về mà không mở tiệc khoản đãi “những người Trung Hoa anh em”.

Về phía Trung Quốc, từ cuối năm 1977, các văn kiện của Quân khu Quảng Châu luôn nhấn mạnh tinh thần “phải chuẩn bị các mặt để đánh Việt Nam”, tuyên truyền: “Việt Nam là tay sai của Liên Xô, có tham vọng xâm lược Campuchia, Lào, chiếm Đông Nam Á, thực hiện bá quyền khu vực, phải đánh cho bọn xét lại Việt Nam, không đánh là không thể được và phải đánh lớn. Việt Nam là tiểu bá ở châu Á, xâm lược Campuchia, xua đuổi người Hoa” [8].

Tháng 1-1978, Thủ tướng Phạm Văn Đồng yêu cầu các nước xã hội chủ nghĩa giúp đỡ giải quyết cuộc xung đột Việt Nam – Campuchia. Một lần nữa Trung Quốc không đáp ứng.

Trong khi đó, tháng 1-1978, Bà Đặng Dĩnh Siêu, Ủy viên Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Trung Quốc sang thăm Phnompenh và ký một hiệp định xúc tiến viện trợ quân sự cho Campuchia Dân chủ, bắt đầu chuyển vũ khí đến Campuchia. Thậm chí, trong chuyến thăm, bà Đặng Dĩnh Siêu đã tuyên bố, Trung Quốc sẽ không tha thứ cho một cuộc tấn công nào vào liên minh của họ (ngụ ý ám chỉ Việt Nam đã rõ, mặc dù không nêu đích danh).

2- Những đợt sóng mới

Sự rạn nứt trong quan hệ Việt – Trung trở nên sâu sắc và chuyển dần sang trạng thái căng thẳng, xung đột thể hiện qua hàng loạt sự kiện rắc rối khác, mà trước tiên là vấn đề người Việt gốc Hoa.

So với các khu vực khác trên thế giới, Đông Nam Á (trong đó có Việt Nam) là nơi có số lượng tương đối lớn Hoa kiều làm ăn, sinh sống, “lên tới hơn 20 triệu người (năm 1978)” [9]. Ở Việt Nam có khoảng 1,2 đến 2 triệu người Hoa đến lập nghiệp từ lâu đời, là một trong những thế lực kinh tế mạnh mẽ, nhất là ở miền Nam Việt Nam. Hoa kiều được gọi là “đội quân thứ năm” trong chính sách tăng cường ảnh hưởng của Trung Quốc ở khu vực.

Người Hoa là một bộ phận cùng hợp thành cộng đồng dân tộc Việt Nam với 54 dân tộc thống nhất trong đa dạng. Cư dân người Hoa ở Việt Nam có nguồn gốc từ Trung Quốc, thuộc nhóm ngôn ngữ Hán của ngữ hệ Hán – Tạng [10]. Dưới các triều đại phong kiến Việt Nam thế kỷ XVIII, XIX, quy chế đối với người Hoa ở Việt Nam không khác gì so với cư dân thuộc các cộng đồng dân tộc khác [11]. Trong chiến tranh và xây dựng đất nước thời bình, người Hoa đã “đồng cam cộng khổ”, sát cánh cùng các dân tộc Việt Nam.

Về phía Trung Quốc, trước năm 1949, Trung Quốc yêu cầu tất cả các Hoa kiều tiếp tục giữ quy chế công dân Trung Quốc, hoặc có hai quốc tịch. Điều đó đồng nghĩa với việc Trung Quốc đòi duy trì quyền lãnh ngoại (quyền có thể can thiệp vào nước khác để bảo vệ kiều dân của mình). Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, các quốc gia độc lập ở Đông Nam Á đã đưa ra những đạo luật hạn chế các hoạt động của người Hoa, đặc biệt là hạn chế quy chế hai quốc tịch. Năm 1950, theo sáng kiến của Chu Ân Lai, Cộng hòa nhân dân Trung Hoa chính thức từ bỏ yêu sách về quyền lãnh ngoại, coi như là sự chấp nhận những nguyên tắc bình đẳng giữa các quốc gia.

Năm 1955, ở miền Bắc Việt Nam, theo thỏa thuận của Đảng Lao động Việt Nam và Đảng Cộng sản Trung Quốc, “người Hoa cư trú ở miền Bắc Việt Nam phải được đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam” [12], sau dần dần chuyển thành công dân Việt Nam, được hưởng những quyền lợi như người Việt Nam và tự nguyện nhận quốc tịch Việt Nam. Cho đến năm 1975, giữa Việt Nam – Trung Quốc không có bất cứ một bất đồng nào trong vấn đề người Hoa ở miền Bắc Việt Nam. Còn ở miền Nam Việt Nam, từ năm 1956, dưới Chính quyền Ngô Đình Diệm, Hoa kiều đã gia nhập quốc tịch Việt Nam để có điều kiện dễ dàng làm ăn, sinh sống [13].

Tháng 4-1978, Việt Nam tiến hành cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh ở miền Nam. Vấn đề người Hoa được Trung Quốc nêu lên.

Trung Quốc coi việc Việt Nam tiến hành cải tạo công thương nghiệp, động chạm tới người Hoa ở một số thành phố lớn miền Nam như một sự công khai thách đố chính sách bảo vệ Hoa kiều hải ngoại mà Trung Quốc vừa công bố [14].

Một phong trào đòi lấy quốc tịch Trung Quốc trong người Hoa ở Việt Nam được dấy lên. Trung Quốc đưa ra chính sách “đoàn kết với giai cấp tư sản Hoa kiều“, kêu gọi chống lại chính sách “bài Hoa” của Việt Nam; đồng thời, loan truyền trong cộng đồng người Việt, gốc Hoa những luận điệu kích động [15] về một cuộc chiến tranh không thể tránh khỏi giữa Việt Nam – Trung Quốc, gây tâm lý hốt hoảng trong quần chúng người Hoa.

Do sự khuyến khích đó của Trung Quốc và với sự im lặng đồng tình ngầm của Việt Nam muốn tống xuất hiểm họa của “đội quân thứ năm”, trong năm 1978, các dòng người Hoa ở Việt Nam ồ ạt kéo về Trung Quốc [16].

Ngày 30- 4-1978, Chủ nhiệm Văn phòng Hoa kiều vụ đã phát biểu bày tỏ “sự quan tâm đối với hiện tượng Hoa kiều ở Việt Nam về nước hàng loạt“, hứa hẹn “sẽ sắp xếp thích đáng cho những Hoa kiều đã trở về một cách vội vàng“.

Để thu hút sự chú ý của dư luận thế giới về tình trạng “nạn kiều”, Trung Quốc lập ra các trạm đón tiếp dọc theo biên giới hai nước, tuyên bố sẽ gửi hai tầu chuyên chở sang Việt Nam để đón “nạn kiều” về nước, nói trắng ra rằng, tàu Trung Quốc sang Việt Nam không phải để đón người Hoa, người Việt gốc Hoa, hay Hoa kiều muốn đi Trung Quốc”, mà đón “nạn kiều” [17]. Tháng 5-1978, Trung Quốc đơn phương đưa tàu sang đón người Hoa về Trung Quốc [18].

Ngày 12-7-1978, Trung Quốc đóng cửa biên giới Việt Nam – Trung Quốc, làm cho hàng vạn người Hoa muốn đi Trung Quốc bị kẹt lại, tạo nên tình trạng mất an ninh ở khu vực biên giới.

Đến khi các đợt ra đi của người Hoa trở nên ồ ạt, Trung Quốc lại đưa ra điều kiện là người Hoa muốn về Trung Quốc phải chính thức xin giấy phép hồi hương do Đại sứ quán Trung Quốc ở Hà Nội cấp, cần có hộ chiếu xuất cảnh của Chính quyền Việt Nam. Trung Quốc chỉ đón nhận những “nạn kiều người Hoa” đang bị Chính quyền Việt Nam ngược đãi, chứ dứt khoát không nhận về “người Việt gốc Hoa”, hay người Hoa có quốc tịch Việt Nam.

Cũng cần nói thêm rằng, trong khi Trung Quốc khêu lên vấn đề bảo vệ Hoa kiều một cách mạnh mẽ, thì ở Campuchia, do chính sách khủng bố trong nước của Chính quyền Campuchia, hàng vạn Hoa kiều chạy khỏi Campuchia, song Trung Quốc đã không có bất cứ một động thái phản đối nào.

Sự ra đi đông đảo của cư dân người Hoa đã làm cho tình trạng kinh tế tại các vùng biên giới phía Bắc Việt Nam trở nên tồi tệ. Hàng vạn người Hoa vội vã bỏ nhà cửa, chuẩn bị “hồi hương” đã phá hoại nghiêm trọng nền kinh tế nhỏ trong các hộ gia đình, làm tăng thêm tình trạng khan hiếm hàng hoá tiêu dùng một cách gay gắt, đánh mạnh vào nền kinh tế Việt Nam vốn đã khủng hoảng. Vấn đề người Hoa ở Việt Nam và phong trào đòi trở lại quốc tịch Trung Quốc đã làm mối quan hệ giữa Việt Nam – Trung Quốc trở nên phức tạp. Đây là một trong những nguyên nhân làm căng thẳng quan hệ Việt Nam – Trung Quốc sau năm 1975.

Việc Trung Quốc đơn phương cắt viện trợ cho Việt Nam (1977) là một trong những nguyên nhân tiếp theo làm cho sự căng thẳng trong quan hệ Việt – Trung ngày càng gia tăng. Ngày 12-5-1978, Bộ Ngoại giao Trung Quốc gửi Công hàm cho Đại sứ quán Việt Nam ở Trung Quốc thông báo quyết định cắt 21 dự án ở Việt Nam, với lý do là để chuyển các khoản tiền cùng vật chất trong các dự án này cho người Hoa hồi hương sinh hoạt và lao động sản xuất.

Sau đó, Chính phủ Trung Quốc đã gửi Chính phủ Việt Nam Công hàm ngày 30-5-1978 hủy bỏ thêm thêm 51 dự án khác [19], cũng với lý do cách đối xử của Chính phủ Việt Nam đối với người Hoa là gánh nặng tài chính cho Trung Quốc, do Trung Quốc phải giải quyết vấn đề người Hoa nhập vào Trung Quốc từ Việt Nam [20]. Chỉ trong tháng 5-1978, Trung Quốc đã cắt 72 trong số 111 công trình viện trợ [21], gây cho Việt Nam nhiều khó khăn trong lĩnh vực kinh tế.

Ngày 3-7-1978, Trung Quốc gửi thêm một công hàm nữa cho Chính phủ Việt Nam thông báo chấm dứt mọi trợ giúp kinh tế, kỹ thuật [22] và rút tất cả các chuyên gia Trung Quốc đang làm việc ở Việt Nam về nước [23].

Ngày 22-12-1978, Trung Quốc đơn phương hủy bỏ việc chuyên chở trên tuyến đường sắt liên vận từ Hà Nội đến Bắc Kinh. Lý giải việc cắt toàn bộ viện trợ, ngoài lý do vì “gánh nặng rất lớn về tài chính của Trung Quốc trong việc sắp xếp sản xuất và đời sống cho nạn kiều” [24], Trung Quốc còn đưa thêm lý do “Việt Nam ngày càng chống Trung Quốc, bài Hoa một cách nghiêm trọng, phá hoại các điều kiện tối thiểu nhất để các chuyên gia Trung Quốc tiếp tục công tác tại Việt Nam” [25], nên “Chính phủ Trung Quốc mới buộc phải quyết định ngừng viện trợ kinh tế, kỹ thuật cho Việt Nam, điều cán bộ Trung Quốc ở Việt Nam về nước” [26].

Cần lưu ý rằng, từ chối viện trợ cho Việt Nam với lý do “gánh nặng kinh tế giải quyết vấn đề người Việt gốc Hoa”, nhưng trong dịp Vương Thượng Vĩnh, Phó Tổng tham mưu trưởng quân đội Trung Quốc đến Phnôm Pênh đàm phán với Son Sen (2-1976), những nhà lãnh đạo Trung Quốc đã ký viện trợ quân sự cho Campuchia một khoản tiền không hề nhỏ, trị giá 226 triệu nhân dân tệ (tương đương 1,5 tỷ USD) trong ba năm (1976-1978) [27].

Cắt viện trợ cho Việt Nam vào thời điểm Việt Nam mới ra khỏi khói lửa chiến trường, đang nỗ lực khắc phục hậu quả chiến tranh, kiến thiết đất nước và gồng mình bảo vệ tuyến biên giới Tây Nam, quả thật, Trung Quốc đã giáng một “đòn chí tử” có tính toán vào nền kinh tế của Việt Nam đang trong thời kỳ bấp bênh, khiến Việt Nam tiếp tục phải đối mặt với những thử thách mới.

Cùng với việc đơn phương cắt bỏ mọi khoản viện trợ mà hai bên đã ký kết, Trung Quốc hủy bỏ hiệp ước về lãnh sự. Ngày 17-6-1978, Trung Quốc yêu cầu các lãnh sự quán Việt Nam ở Côn Minh, Quảng Châu và Nam Ninh phải dời về nước. Quan hệ Việt – Trung tiếp tục đi xuống một bước.

Đi kèm với vấn đề người Hoa,“câu chuyện Campuchia” tiếp tục là một nhức nhối mới trong quan hệ Việt – Trung.

Ngay từ giữa những năm 60 (XX), các nhà lãnh đạo Trung Quốc đã có kế hoạch nắm trọn vấn đề Campuchia, phục vụ mục đích tạo vùng ảnh hưởng của mình tại khu vực Đông Nam Á, sau khi nhận thấy “những biểu hiện bướng bỉnh” của Việt Nam đi chệch quỹ đạo mà Trung Quốc muốn sắp đặt.

Từ năm 1973, Ban lãnh đạo Trung Quốc đã có chỉ thị: “Bề ngoài ta đối xử tốt với họ (Việt Nam – TG) như đối xử với đồng chí mình, nhưng trên tinh thần phải chuẩn bị họ trở thành kẻ thù của chúng ta” [28].

Nói như nhà báo Gareth Porter (tờ Dân tộc, New York), thì “Campuchia đóng vai trò trung tâm trong chiến lược của Trung Quốc, nhằm bao vây ảnh hưởng của Việt Nam tại Đông Nam Á” [29].

Thực hiện kế hoạch nắm Campuchia, Trung Quốc tăng cường viện trợ cho Campuchia Dân chủ. Theo tính toán của nhà nghiên cứu D.R.SarDesai, “từ năm 1975-1978, Trung Quốc cung cấp cho Campuchia súng đại bác, súng cối, súng bazoca, súng đại liên, súng trung liên, vũ khí các loại, xe cộ và xăng đầu đầy đủ để trang bị cho đội quân 200.000 người. Trung Quốc cũng viện trợ cho Campuchia một khoản tiền rất lớn. Thêm vào đó, Trung Quốc đã gửi khoảng 10.000 cố vấn và chuyên gia quân sự sang Campuchia để hỗ trợ và rèn luyện quân đội Pôn Pốt” [30].

Nhà báo Marish Chandona[31] cung cấp một thông tin: Nếu tháng 7-1977, Campuchia chỉ có 6 sư đoàn, thì vào tháng 1-1978, Campuchia có 25 sư đoàn, Trung Quốc đã cung cấp vũ khí để lập ra 19 sư đoàn mới trong ba năm [32].  (???)

Những năm 1975-1976, Trung Quốc vẫn còn muốn giữ quan hệ, duy trì ảnh hưởng của mình tại Việt Nam, muốn Việt Nam đứng về phía mình để chống Liên Xô, giảm ảnh hưởng của Liên Xô tại Việt Nam và vùng Đông Nam Á; do vậy, Trung Quốc vẫn đóng vai trò trung gian hoà giải khi những cuộc đụng độ quân sự giữa Việt Nam và Campuchia mới bắt đầu diễn ra.

Nhưng từ đầu năm 1977 trở đi, khi quan hệ giữa Việt Nam và Campuchia trở nên gay gắt, rồi dẫn đến tan vỡ ngoại giao vào cuối năm 1977 và tiếp diễn chiến tranh trong năm 1978, quan hệ Việt – Trung cũng chuyển sang một tình trạng xấu hơn, phức tạp hơn, nhất là khi Trung Quốc ủng hộ cả chính trị, lẫn quân sự cho chế độ Khơme Đỏ.

Từ tháng 9 đến tháng 10-1977, Pôn Pốt có chuyến thăm dài ngày tới Trung Quốc, nhằm thắt chặt thêm quan hệ liên minh được thiết lập.

Sau chuyến thăm này, tháng 12-1977, Phó Thủ tướng Trung Quốc Uông Đông Hưng đã tới thăm Campuchia và đi thị sát những vùng gần biên giới Việt Nam. Tuyên bố của Phó Thủ tướng Uông Đông Hưng cũng mạnh mẽ hơn và đầy hàm ý: “Không một lực lượng nào có thể đứng cản trở quan hệ hữu nghị giữa Trung Quốc và Campuchia, hai nước sẽ là đồng chí với nhau mãi mãi” [33].

Tháng 3-1978, các kỹ sư Trung Quốc xây dựng lại đường xe lửa Konpongthom – Phnôm Pênh và ở lại tại chỗ sau khi sửa xong.

Ngày 12-7-1978, lần đầu tiên, tờ Nhân dân Nhật báo – cơ quan ngôn luận của Đảng Cộng sản Trung Quốc, công khai buộc tội Việt Nam “tìm cách sáp nhập Campuchia vào một Liên bang Đông Dương dưới sự thống trị của Việt Nam” [34].

Ngày 4-11-1978 (một ngày sau khi Việt Nam và Liên Xô ký Hiệp ước hữu nghị và hợp tác giữa hai nước có giá trị 25 năm), Uỷ viên Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Trung Quốc Uông Đông Hưng đi Phnôm Pênh để tỏ sự ủng hộ của Bắc Kinh đối với chính sách của Campuchia [35]. Theo Cơ Bằng Phi, thì đó là sự trả lời trực tiếp của Trung Quốc đối với việc ký Hiệp ước Việt – Xô.

Tháng 1-1979, Việt Nam đưa quân vào Campuchia, lật đổ chế độ Pôn Pốt và đối với Trung Quốc, “việc không thể chấp nhận được đã thành sự thật” [36].

Một thời gian ngắn sau khi Phnompenh bị thất thủ, tờ Nhân dân Nhật báo (27-1-1979) đã có bài viết, trong đó chứa nhiều hàm ý: “Sự thất thủ của Phnompenh không có nghĩa là chiến tranh chấm dứt mà chỉ là khởi đầu”. Nói một cách cụ thể hơn, đối với Trung Quốc, “vấn đề Campuchia đóng vai trò vật xúc tác để đẩy các quan hệ với Việt Nam vượt quá một điểm không thể nào quay trở lại được nữa” [37].

Campuchia bị mất, Thái Lan trở nên một địa bàn quan trọng để Trung Quốc có thể tiếp tục giúp đỡ cho Khơme Đỏ.

Tháng 1-1979, Đặng Tiểu Bình bí mật cử Uỷ viên Bộ Chính trị Gừng Giao cùng Thứ trưởng Ngoại giao Hàn Niệm Long khẩn cấp sang Bangkok, hội đàm với Thủ tướng Thái Lan Kriangsak tại căn cứ không quân Utapao. Thái Lan lúc này không còn giữ thái độ trung lập nữa, đồng ý để Trung Quốc sử dụng lãnh thổ của mình làm nơi tiếp tế cho Khơme Đỏ.

Đồng thời, trước sự vận động của Trung Quốc, sau hơn mười năm vắng bóng trên chính trường, ông Hoàng Sihanouk xuất hiện, đại diện cho Campuchia đọc diễn văn trước Đại hội đồng Liên Hợp Quốc, yêu cầu Đại hội đồng ra nghị quyết buộc Việt Nam phải rút quân ra khỏi Campuchia [38]. (1-1979  Nghị quyết tuy được đại đa số tán thành, nhưng bị Liên Xô phủ quyết. Còn Sihanouk sau khi dự Đại hội đồng đã bí mật gặp Đại sứ Hoa Kỳ tại Liên Hợp Quốc Andrew yêu cầu được tị nạn chính trị, nhưng Hoa Kỳ không đồng ý bởi họ vừa mới thiết lập quan hệ ngoại giao với Trung Quốc được hai tuần và Đặng Tiểu Bình sắp sang thăm hữu nghị Hoa Kỳ.)

Trong thời gian này, bên cạnh những khúc mắc như đã nói ở trên, xung đột biên giới trên bộ và tranh chấp chủ quyền trên biển Đông là một trong biểu hiện cụ thể, tập trung nhất trạng thái bất bình thường trong quan hệ Việt – Trung, nó đẩy quan hệ Việt – Trung rơi xuống nấc thấp nhất.

Với Trung Quốc, Việt Nam có đường biên giới đất liền dài khoảng 1.406 km, từ ngã ba biên giới Việt Nam – Trung Quốc – Lào đến bờ biển vịnh Bắc Bộ (Quảng Ninh – Quảng Đông), đi qua 7 tỉnh biên giới phía Việt Nam, tiếp giáp với hai tỉnh phía Trung Quốc [39]. Đường biên giới đất liền Việt Nam – Trung Quốc là đường biên giới thực tế lịch sử, đến cuối thế kỷ XIX đã trở thành đường biên giới pháp lý (được luật pháp quốc tế thừa nhận). Theo R.V.Pretcot thì đây là “một trong những biên giới được xác định tốt nhất trong khu vực” [40].   (Công Ước Pháp Thanh 1887 và 1895)

[(Hòa ước Thiên Tân 1885 ) —> Rõ ràng là Pháp đã đuổi Tàu ra khỏi Việt Nam 1885.  Còn Việt Cộng tức Đảng CSVN đã mời Trung Cộng trở lại Việt Nam 1950 trong chuyến đi thăm TQ của ông HCM

Công Ước Pháp Thanh 1887 và Công Ước Pháp Thanh 1895 rõ ràng Pháp đã giúp VN lấy lại các vùng đất biên giới mà trước đó nằm trong tay Tàu:   

Vậy là nước VN dưới thời đô hộ của Pháp đã có diện tích lớn hơn nước VN dưới thời cai trị của Đảng CSVN 1954-2014 và còn đang tiếp tục – TH)]

 

Hòa ước này chấm dứt chiến tranh Pháp-Thanh, buộc quân Thanh phải rút khỏi Bắc Kỳ, và công nhận nền bảo hộ của Pháp với Việt Nam. Cũng theo đó thì Hòa ước này chấm dứt lệ triều cống của triều đình Huế ở địa vị phiên quốc đối với nhà Thanh.

Từ giữa năm 1975, tình hình biên giới Việt Nam – Trung Quốc trở nên căng thẳng do những hoạt động vũ trang từ phía Trung Quốc. Quan hệ Việt Nam – Trung Quốc ngày càng xấu đi với những xung đột ở biên giới Việt Nam – Trung Quốc tại khu vực Cao Bằng – Lạng Sơn vào cuối năm 1976. Tháng 3-1977, Việt Nam và Trung Quốc tiến hành đàm phán về vấn đề biên giới Cao Lạng – Quảng Tây. Đoàn Việt Nam yêu cầu bàn biện pháp chấm dứt các vụ vi phạm biên giới quốc gia và trở lại đường biên giới lịch sử, trong khi đó, Đoàn Trung Quốc chỉ đề nghị bàn biện pháp ngăn ngừa xung đột, giữ nguyên trạng trong khi chờ Chính phủ hai nước đàm phán giải quyết vấn đề biên giới Việt Nam – Trung Quốc.

Từ năm 1978 đến đầu năm 1979, mức độ xâm phạm lãnh thổ, vũ trang khiêu khích biên giới Việt Nam của Trung Quốc ngày càng nghiêm trọng. Đặc biệt, từ tháng 7-1978, Trung Quốc đã sử dụng hành động này phục vụ cho mục đích công khai và chuẩn bị tạo cớ, gây cuộc tấn công dọc theo toàn tuyến biên giới Việt Nam. Theo thống kê của Việt Nam, công bố trong Bị vong lục của Bộ Ngoại giao nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam ngày 15-2-1979, số vụ xâm phạm vũ trang của Trung Quốc vào lãnh thổ Việt Nam năm 1978 là 583 vụ, tháng 1 và những tuần lễ đầu tháng 2-1979 tăng lên 230 vụ [41]. Cùng với những hoạt động vũ trang trên vùng biên giới đất liền với quy mô ngày càng rộng lớn, nhịp độ ngày càng tăng, Trung Quốc còn cho máy bay chiến đấu xâm phạm vùng trời, cho tầu thuyền xâm phạm vùng biển của Việt Nam. Trong năm 1978, đã cho trên 100 lượt máy bay xâm phạm vùng trời và 481 lượt tầu thuyền hoạt động khiêu khích trên vùng biển Việt Nam [42].

Trên biển Đông, vấn đề tranh chấp quan trọng nhất của Trung Quốc đối với Việt Nam liên quan đến hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Ngày 10-9-1975, phía Trung Quốc gửi công hàm cho Việt Nam Dân chủ cộng hòa khẳng định chủ quyền của Trung Quốc đối với hai quần đảo Tây Sa và Nam Sa (Hoàng Sa và Trường Sa-TG). Trong chuyến viếng thăm Trung Quốc của Đoàn đại biểu Đảng và Chính phủ Việt Nam do Lê Duẩn dẫn đầu vào tháng 9-1975, phía Việt Nam nêu vấn đề chủ quyền của mình đối với hai quần đảo này. Trong cuộc gặp ngày 24-9-1975, nhà lãnh đạo Trung Quốc Đặng Tiểu Bình tuyên bố rằng, phía Trung Quốc có đầy đủ chứng cứ để khẳng định quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa từ xưa đến nay là lãnh thổ Trung Quốc, nhưng cần theo nguyên tắc hiệp thương hữu nghị để giải quyết bất đồng. Đặng Tiểu Bình cũng bày tỏ rằng, sau này hai bên có thể thương lượng, bàn bạc. Ngày 12-5-1977, Chính phủ Việt Nam ra tuyên bố về lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền kinh tế 200 dặm và thềm lục địa Việt Nam, bao gồm cả các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, Trung Quốc đã phản ứng mạnh mẽ. Ngày 30-7-1977, Ngoại trưởng Trung Quốc Hoàng Hoa tuyên bố: “Khi thời cơ đến chúng ta sẽ thu hồi toàn bộ quần đảo Nam Sa (quần đảo Trường Sa – TG) mà không cần phải thương lượng gì hết” [43].

Sau mỗi lần Trung Quốc xâm phạm lãnh thổ và vũ trang khiêu khích biên giới Việt Nam, Chính phủ Việt Nam, Bộ Ngoại giao Việt Nam đã nhiều lần ra tuyên bố và gửi công hàm phản đối tới Bộ Ngoại giao Trung Quốc.

————————————————————–

Mâu thuẫn, xung đột trong quan hệ Việt – Trung và chiến tranh biên giới tháng 2/1979 (2)

Nguyễn Thị Mai Hoa
H. Kissinger đánh giá về cuộc chiến tranh này như sau: “Yếu tố ý thức hệ đã biến mất khỏi xung đột. Các trung tâm quyền lực của cộng sản cuối cùng đã tiến hành chiến tranh giành thế cân bằng quyền lực không phải căn cứ vào ý thức hệ mà hoàn toàn xuất phát từ lợi ích dân tộc”[52]
 
Chia sẻ bài viết này

3- Chuẩn bị ngoại giao và tiến hành cuộc tấn công toàn tuyến biên giới phía Bắc Việt Nam tháng 2-1979

Song song với việc liên tục xâm phạm chủ quyền và lãnh thổ của Việt Nam, Trung Quốc cũng ráo riết chuẩn bị mọi mặt cho cuộc tấn công quy mô lớn trên toàn tuyến biên giới Việt Nam, tập trung những quân đoàn chủ lực lớn dọc theo biên giới Việt – Trung.

Theo nguồn tin từ Cục tình báo Trung ương Hoa Kỳ CIA (sau này được các báo chí Mỹ tiết lộ), thì từ giữa năm 1978, Trung Quốc đã hoàn chỉnh các phương án tác chiến, các đơn vị bộ đội Trung Quốc đã sẵn sàng mở cuộc tiến công quân sự quy mô lớn chống Việt Nam, “vấn đề còn lại là chỉ chờ đợi thời cơ là bật đèn xanh” [44].

Trong những buổi họp của Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc từ giữa năm 1978 – cuối năm 1978, nhiều biện pháp “trừng phạt” Việt Nam bằng quân sự được đưa ra [45].

Ngay cả thời cơ cũng được Trung Quốc tạo ra và chuẩn bị kỹ càng sau một loạt những sự kiện “nạn kiều”, “Việt Nam xâm chiếm, vũ trang khiêu khích biên giới Trung Quốc”. Cũng cần nói thêm rằng, một bước chuẩn bị quan trọng của Trung Quốc trước khi tiến hành tấn công Việt Nam là việc Trung Quốc đã kịp ký với Nhật Bản Hiệp ước hoà bình, hữu nghị (vào ngày 12-8-1978, có giá trị trong mười năm và sẽ tái ký sau đó), nhằm thu xếp, tạo thế cân bằng chiến lược ở khu vực Đông Bắc Á có lợi cho Trung Quốc, Trung Quốc có thể rảnh tay đối phó với Việt Nam.

Ngày 5-11-1978, Đặng Tiểu Bình đi thăm các nước ASEAN để tập hợp lực lượng cho bước đi sắp tới về Việt Nam. Việc Việt Nam – Liên Xô ký kết Hiệp ước Hữu nghị và Hợp tác toàn diện (3-11-1978)[46] là món quà bất ngờ cho Đặng Tiểu Bình trong chuyến đi này.

Tuyên truyền rằng, việc ký Hiệp ước Việt – Xô là mối de dọa đối với các nước ASEAN, Đặng Tiểu Bình kêu gọi thành lập Mặt trận chống Liên Xô và Việt Nam, bao gồm Trung Quốc, khối nước ASEAN để cân bằng lại quyền lợi của các nước Đông Nam Á và nói rõ quyết tâm của Trung Quốc không để khu vực Đông Nam Á rơi vào tay Việt Nam.

Tại Bangkok, theo yêu cầu của Đặng Tiểu Bình, Thái Lan đồng ý cho phép máy bay Trung Quốc quá cảnh qua vùng trời Thái Lan để đi Campuchia và trở về. “Liên minh giữa Bắc Kinh và Bangkok đã mở ra con đường mòn Đặng Tiểu Bình xuyên qua Thái Lan và biến Thái Lan thành một cái khoen chặn chiến lược an toàn của Trung Hoa tại Campuchia” [47].

Trong chuyến đi này, Đặng Tiểu Bình không giấu giếm ý định dùng biện pháp quân sự để đối phó với Việt Nam. Thái độ của từng nước ASEAN có điểm khác nhau, nhưng đều cho rằng cuộc xung đột Việt Nam- Campuchia và Việt Nam – Trung Quốc là “nhân tố không ổn định đối với hoà bình khu vực”. Tuy nhiên, khi Việt Nam nghiêng về phía Liên Xô, các nước ASEAN cũng nhận thấy cần phải nhích hơn chút nữa về phía Trung Quốc.

Chuyến đi Mỹ của Đặng Tiểu Bình tháng 1-1979, sau đó là tới thăm Nhật cũng là nằm trong mục đích chuẩn bị cho cuộc tấn công Việt Nam vào tháng 2-1979. Trong chuyến đi này, Đặng Tiểu Bình đã thông báo về ý định chuẩn bị tấn công Việt Nam, mong muốn là có được sự hỗ trợ về tinh thần từ phía Mỹ.

Khi tiếp xúc bí mật với Brzezinski. Đặng Tiểu Bình tuyên bố: “Đối với Việt Nam, Trung Quốc phải chịu trách nhiệm đối phó” và nhấn mạnh: “Các ngài nhớ kỹ một điều là những lời phát biểu của tôi trong chuyến thăm nước Mỹ sẽ hoàn toàn được chứng thực bằng những hành động” [48]. Đặng Tiểu Bình cũng bảo đảm rằng, cuộc tấn công Việt Nam sẽ giới hạn và nhanh chóng.

Chuyến đi của Đặng Tiểu Bình sang Mỹ là một chuyến đi thành công, “Đặng Tiểu Bình đã chuẩn bị tinh thần cho các đồng minh một cách chắc chắn rằng sẽ thực hiện sự trừng phạt như đã loan báo” [49] Hai tuần sau chuyến thăm, ngay trước khi Trung Quốc tấn công Việt Nam, Đại sứ Mỹ Malcolm kín đáo khuyến cáo Ngoại trưởng Gromutko là Liên Xô nên tự kiềm chế trong trường hợp Trung Quốc tấn công Việt Nam, để khỏi ảnh hưởng đến việc Quốc hội Mỹ sẽ thông qua Hiệp ước SALT mà Liên Xô rất mong muốn.

Trước dư luận trong nước và quốc tế, Trung Quốc công khai tuyên bố: “Việt Nam là tiểu bá theo đại bá Liên Xô”; “Trung Quốc quyết không để cho ai làm nhục”; cuộc tiến công của Trung Quốc vào Việt Nam sắp tới là nhằm “dạy cho Việt Nam một bài học”. Trước thái độ đó, báo chí và chính giới Mỹ không có phản ứng công khai, còn A.Kosyginthì nhận định: Tuyên bố của Đặng Tiểu Bình là một bản “tuyên bố chiến tranh với Việt Nam”.

Nhìn chung lại, thông qua các bước chuẩn bị ngoại giao, Trung Quốc thấy rằng, nếu đánh Việt Nam, Mỹ sẽ đồng tình, các nước ASEAN ít nhất cũng không lên tiếng phản đối, Liên Xô sẽ có phản ứng, nhưng không có khả năng mang hải quân can thiệp. Còn Việt Nam đang đứng trước những khó khăn nghiêm trọng, những thách thức về kinh tế, chính trị, nhất là sau cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam (với số lượng thương vong bằng 74% trong kháng chiến chống Pháp), đánh Việt Nam lúc này là thuận lợi.

Từ giữa tháng 12-1978, Trung Quốc đã chọn lực lượng quân đội từ năm quân khu và đưa áp sát biên giới Trung – Việt. Từ ngày 1 đến ngày 13 tháng 1-1979, phía Trung Quốc liên tiếp có nhiều phát biểu và bình luận mà nội dung là tố cáo Việt Nam xâm lược, lên án Việt Nam “chiếm” Phnôm Pênh. Trung Quốc kêu gọi Campuchia Dân chủ đánh lâu dài và hứa sẽ ủng hộ toàn diện. Trung Quốc đưa ra Hội đồng Bảo an Dự thảo nghị quyết đòi Việt Nam rút quân, kêu gọi các nước chấm dứt viện trợ cho Việt Nam.

Từ ngày 9 đến ngày 12-2-1979, Quân uỷ Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc họp hội nghị để nghe báo cáo của Đặng Tiểu Bình và đánh giá tình hình. Hội nghị quyết định tấn công Việt Nam và thành lập Bộ Chỉ huy chung [50].

Ngày 16-2-1979, Trung Quốc tổ chức cuộc họp phổ biến ý nghĩa của cuộc chiến tranh sắp tới chống Việt Nam cho cán bộ cao cấp các ngành. Trong cuộc họp này, Đặng Tiểu Bình nêu mục tiêu, cái lợi, hại của cuộc chiến tranh chống Việt Nam, nhấn mạnh đây là cuộc phản kích tự vệ, hạn chế về thời gian và không gian [51].

Ngày 17-2-1979, sau sự chuẩn bị kỹ lưỡng trên cả hai phương diện trong nước và quốc tế, Trung Quốc đưa 60 vạn quân cùng với gần 800 xe bọc thép, xe tăng, trọng pháo và máy bay các loại đồng loạt tấn công 6 tỉnh biên giới phía Bắc Việt Nam từ Pa Nậm Cúm (Lai Châu) đến Pò Hèn (Quảng Ninh) và đánh sâu vào lãnh thổ Việt Nam.

Các nhà bình luận phương Tây gọi cuộc tấn công của Trung Quốc dọc tuyến biên giới phía Bắc Việt Nam (1979) là “cuộc chiến giữa những người anh em Đỏ“, hay “cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ ba“.

H. Kissinger đánh giá về cuộc chiến tranh này như sau: “Yếu tố ý thức hệ đã biến mất khỏi xung đột. Các trung tâm quyền lực của cộng sản cuối cùng đã tiến hành chiến tranh giành thế cân bằng quyền lực không phải căn cứ vào ý thức hệ mà hoàn toàn xuất phát từ lợi ích dân tộc”[52].

Về phía Trung Quốc, biện minh cho hành động của mình, Trung Quốc tuyên bố đây chỉ là “một cuộc phản kích để tự vệ” (?!).

Thực chất, “đây là một cuộc chiến tranh xâm lược toàn diện bằng lực lượng chính quy của hầu hết các quân khu Trung Quốc” [53]. Trung Quốc “có sự chuẩn bị kỹ càng về các mặt“[54].

Mục đích của Trung Quốc trong cuộc chiến là xâm chiếm lãnh thổ Việt Nam, làm giảm tiềm lực quốc phòng, kinh tế, làm suy yếu Việt Nam, hạ uy thế chính trị, quân sự của Việt Nam, thể hiện vai trò nước lớn trong khu vực và củng cố đoàn kết nội bộ. Một chiến thắng quân sự sẽ đập tan huyền thoại chiến đấu của quân đội Việt Nam, thoả mãn tinh thần “Đại hán”, nâng cao uy tín nước lớn Trung Hoa.

Mặt khác, lợi dụng vào dân số và quân số đông đảo, số lượng vũ khí dồi dào, Trung Quốc dự định bằng cuộc hành quân chớp nhoáng, chiếm đóng một số thị xã dọc biên giới, phân tán mỏng lực lượng quân sự của Việt Nam, buộc Việt Nam phải rút bớt quân từ chiến trường Campuchia về nước, cứu nguy cho Khơme Đỏ.

Ngoài ra, Trung Quốc tấn công Việt Nam còn nhằm mục đích kiểm tra tính chặt chẽ của Hiệp ước phòng thủ Liên Xô – Việt Nam, thăm dò phản ứng của Liên Xô, thách đố “liên minh quân sự” Việt – Xô. Hành động quân sự để đối phó với Việt Nam sau khi Việt Nam vừa ký Hiệp ước hợp tác hữu nghị với Liên Xô là một thách đố liều lĩnh, nhưng có tính toán. Chấp nhận những hậu quả có thể xảy ra khi Liên Xô trả đũa, Trung Quốc muốn cho Liên Xô biết quyết tâm của Trung Quốc không thể để bị bao vây, không thể chấp nhận ảnh hưởng gia tăng của Liên Xô tại Đông Nam Á; đồng thời, chứng minh cho các quốc gia Đông Nam Á thấy có thể tin cậy vào Trung Quốc để ngăn chặn ảnh hưởng của Việt Nam và tham vọng của Liên Xô thông qua Việt Nam.

Nhà nghiên cứu Gilbert Padoul nhận định: Trung Quốc đánh trận 17-2-1979, còn mang tính chất thông điệp với Việt Nam và thế giới: “Trung Quốc không thể chấp nhận một Đông Dương dưới sự giám hộ của Liên Xô và Việt Nam” [55].

Nhận xét trên của Gilbert Padoul không phải là ngẫu nhiên, bởi Đặng Tiểu Bình đã không chỉ một lần tuyên bố: “Chúng tôi có thể dung thứ việc Liên Xô có 70% ảnh hưởng ở Việt Nam, miễn là 30% còn lại dành cho Trung Quốc”[56].

4- Việt Nam hành động

Cuộc tấn công dọc tuyến biên giới phía Bắc (1979) là nấc thang cao nhất thể hiện thái độ thù địch của Trung Quốc đối với Việt Nam.

Ngay sau khi Trung Quốc tấn công Việt Nam, trong ngày 17-2-1979, Chính phủ Việt Nam ra tuyên bố: “Nhân dân Việt Nam là một dân tộc kiên cường, anh dũng, bất khuất đã từng đánh thắng mọi kẻ xâm lược, tin tưởng sắt đá rằng, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, lại được bạn bè khắp năm châu đồng tình và ủng hộ mạnh mẽ, nhất định sẽ đánh thắng cuộc chiến tranh xâm lược của những người cầm quyền Trung Quốc, bảo vệ độc lập, chủ quyền của mình” [57].

Ngày 18-2-1979, Đoàn Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ra Lời kêu gọi toàn dân đoàn kết “kiên quyết bảo vệ Tổ quốc, chặn đứng và đập tan cuộc chiến tranh xâm lược đầy tội ác của bọn phản động Trung Quốc” [58]. Ngày 4-3-1979, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam ra Lời kêu gọi,trong đó có đoạn viết: “Quân thù đang giày xéo non sông đất nước ta (…). Dân tộc Việt Nam ta phải ra sức chiến đấu để tự vệ. Cuộc kháng chiến chống quân Trung Quốc xâm lược đang diễn ra(…) Đánh thắng quân xâm lược Trung Quốc lần này là nghĩa vụ dân tộc vẻ vang” [59].

Ngày 1-3-1979, Ban Bí thư ra Chỉ thị số 67, Về việc phát động và tổ chức toàn dân chuẩn bị chiến đấu và bảo vệ Tổ quốc, nêu bật nhiệm vụ “xây dựng thế phòng thủ vững chắc của đất nước, tăng cường sức mạnh chiến đấu, đánh bại quân xâm lược Trung Quốc” [60].

Tiếp đó, ngày 3-3-1979, Bộ Chính trị ra Nghị quyết số 16, Về cuộc kháng chiến chống bọn phản động Trung Quốc xâm lược, dự đoán chiến tranh có thể diễn biến theo hai tình huống: “Một là, địch bị chặn lại ở các vùng biên giới, bị tiêu diệt lớn, buộc phải rút quân về nước. Hai là, địch tạm thời chiếm được một số thị xã và huyện biên giới, mở rộng chiến tranh đến Hà Nội, vùng đồng bằng Bắc Bộ và lan ra cả nước” [61]. Trong bất kỳ tình huống nào, cũng phải giữ vững tư tưởng chủ đạo: “Nỗ lực vượt bậc, tranh thủ giành thắng lợi trong thời gian tương đối ngắn, đồng thời phải chuẩn bị mọi điều kiện để đánh lâu dài, lâu bao nhiêu cũng đánh, quyết đánh thắng hoàn toàn quân địch. Phải nắm vững phương châm “làm chủ đất nước, làm chủ chiến trường để tiêu diệt địch; tiêu diệt địch để làm chủ đất nước, làm chủ chiến trường” [62].

Về quân sự, Nghị quyết xác định: 1- Quyết tâm tiêu diệt quân xâm lược ở biên giới; 2- Cả nước ráo riết chống chiến tranh xâm lược, sẵn sàng, mạnh mẽ, vững chắc chiến đấu ở các tuyến trung du và đồng bằng; 3- Triển khai kế hoạch bảo vệ Thủ đô Hà Nội và thành phố Cảng Hải Phòng; 4-Tiến hành bố phòng, chuẩn bị chiến đấu ở khu vực hậu phương trực tiếp (từ Hà Nội đến Thanh Hoá-Nghệ Tĩnh) và trong cả nước [63].

Trên tinh thần “tất cả cho Tổ quốc quyết sinh”, quân dân Việt Nam đã anh dũng chiến đấu bảo vệ từng mảnh đất biên cương của Tổ quốc.

Trên các mặt trận dọc tuyến biên giới phía Bắc, chiến thuật “biển người” của Trung Quốc đã không thể phát huy tác dụng trước ý chí bảo vệ non sông, đất nước và lòng quả cảm của những con đất Việt. Máu đã đổ trên dải đất biên cương, quân xâm lược đã bị giáng trả thích đáng:

-Ở hướng Cao Bằng, các cánh quân Trung Quốc đều bị bộ đội địa phương, dân quân Cao Bằng đánh chặn, bị phản kích xé tan đội hình, bỏ chạy về bên kia biên giới;

-trên tuyến Hoàng Liên Sơn, sau 7 ngày bị dân quân, tự vệ cùng các lực lượng vũ trang đánh trả quyết liệt, hai quân đoàn Trung Quốc vẫn không qua nổi trận địa đánh chặn, phục kích;

-trên các hướng Lai Châu, Hà Tuyên, Quảng Ninh, qua hơn 20 ngày, quân Trung Quốc vẫn bị chặn ở Phong Thổ, hơn 1.000 lính Trung Quốc thiệt mạng ở Hà Tuyên, hai trung đoàn Trung Quốc đã bị đánh lui tại Quảng Ninh, tháo chạy sát về biên giới.

Ngay khi Trung Quốc tấn công Việt Nam, nhân dân yêu chuộng hoà bình trên thế giới đã đứng về phía nhân dân Việt Nam, đấu tranh đòi Trung Quốc rút quân.

Ngày 18-2-1979, Chính phủ Liên Xô ra tuyên bố lên án Trung Quốc xâm lược Việt Nam. Tuyên bố có đoạn viết: “Việc Trung Quốc tiến công xâm lược Việt Nam chứng tỏ một lần nữa rằng, Bắc Kinh có thái độ vô trách nhiệm biết nhường nào đối với vận mệnh của hoà bình và Ban lãnh đạo Trung Quốc sử dụng vũ khí một cách tuỳ tiện, đầy tội ác biết nhường nào!.. Những hành động xâm lược đó trái với những nguyên tắc của Liên Hợp Quốc, chà đạp thô bạo luật pháp quốc tế, càng vạch trần trước toàn thế giới thế giới thực chất chính sách bá quyền của Bắc Kinh ở Đông Nam Á” [64]. Nhiều nước trên thế giới ra tuyên bố lên án Trung Quốc , đòi Trung Quốc phải lập tức rút quân về nước (NGUỒN ?). Một số nước khác (kể cả Anh, Mỹ) yêu cầu Hội đồng Bảo an thảo luận về tình hình Đông Nam Á và tác động đối với hoà bình thế giới.  (NGUỒN ???)

Ngày 14-3-1979, trước sự chống trả của quân, dân Việt Nam ở biên giới, trước sức ép của dư luận và có lẽ tự cho là đã “dạy” cho Việt Nam một bài học, Trung Quốc tuyên bố rút quân khỏi Việt Nam. Trong điều kiện đó, ngày 6-3-1979, Ban Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam ra Chỉ thị số 69, nhận định về tình hình và đưa ra chủ trương trong điều kiện Trung Quốc rút quân.

Chỉ thị của Ban Bí thư ghi rõ: Tối 5-3-1979, Tân Hoa Xã (Trung Quốc) ra Tuyên bố về việc “Quân đội Trung Quốc đã bắt đầu rút quân từ 5-3-1979“, khẳng định: “Trong khi chấp nhận cho địch rút quân, chúng ta luôn luôn phải nâng cao cảnh giác, tăng cường quốc phòng, sẵn sàng giáng trả địch đích đáng, nếu chúng lật lọng, trở lại xâm lược nước ta lần nữa” [65]. Chỉ thị nhấn mạnh thêm: “Không được một chút mơ hồ nào đối với âm mưu cơ bản của bọn phản động Trung Quốc là thôn tính nước ta, khuất phục nhân dân ta (…) luôn luôn sẵn sàng chuẩn bị chiến đấu bảo vệ Tổ quốc, đập tan bọn xâm lược” [66].

Về mặt quốc tế, “cần giương cao chính nghĩa của ta, bảo vệ độc lập, tự do của Tổ quốc và bảo vệ hòa bình, xúc tiến việc hình thành mặt trận nhân dân thế giới ủng hộ, bảo vệ Việt Nam” [67]. Bên cạnh việc “chấp nhận cho Trung Quốc rút quân”, để trả lời, phía Việt Nam cũng phản kích đánh vào Malipô, Ninh Minh, hai thành phố biên giới của Trung Quốc [68].

5- Từ quá khứ đến hiện tại

Quan hệ Việt Nam – Trung Quốc là một trong những mối quan hệ địa – chính trị tồn tại khá lâu đời so với nhiều mối quan hệ địa – chính trị khác trên thế giới. Trong suốt chiều dài quan hệ, Trung Quốc luôn ứng xử với Việt Nam theo tinh thần nước lớn – tư tưởng có nguồn gốc sâu xa trong xã hội Trung Quốc.

Từ sau năm 1975, Trung Quốc đẩy mạnh chiến lược chống Liên Xô, đặc biệt là chống ảnh hưởng của Liên Xô tại Đông Nam Á và phá hoà hoãn Xô – Mỹ.

Cũng từ năm 1975 trở đi, đối với những nhà lãnh đạo Trung Quốc, một Việt Nam thống nhất, thực hiện chính sách độc lập, tự chủ bị coi là trở ngại cho chiến lược chống Liên Xô và chiến lược mở rộng ảnh hưởng ở Đông Nam Á – địa bàn “mở nước” cổ truyền của Trung Quốc.

Hơn nữa, từ giữa năm 1976, Việt Nam đã dần dần rồi đi tới dứt khoát từ bỏ hình động đầy thận trọng giữa Liên Xô và Trung Quốc, một hành động được duy trì một cách tương đối trong suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ, ngả hẳn sang phía Liên Xô, từ chối những đòi hỏi mới của Trung Quốc.

Chính vì thế, chính sách của Trung Quốc đối với Việt Nam mang tính nước lớn và hai mặt rõ rệt: Vừa lôi kéo, vừa kiềm chế, chèn ép. Khi thấy Việt Nam vượt ra ngoài quỹ đạo của mình và quan hệ không như ý muốn, Trung Quốc lập tức tiến hành các biện pháp mang tính trừng phạt: Rút chuyên gia, cắt viện trợ, gây nên làn sóng tuyên truyền về vấn đề “nạn kiều”, lôi kéo người Hoa bỏ về nước; hậu thuẫn, ủng hộ Polpot – Iengxari tiến công Việt Nam từ hướng biên giới Tây Nam, dùng Campuchia như con đê ngăn chặn Việt Nam, gây ra các sự kiện khiêu khích vũ trang với mức độ xung đột ngày càng tăng ở biên giới Việt – Trung…

Hành động bộc lộ sự đối đầu cao độ trong một chuỗi những sự kiện này là cuộc tấn công ồ ạt với 60 vạn quân trên toàn tuyến biên giới phía Bắc của Việt Nam (17-2-1979), nhằm “dạy cho Việt Nam một bài học” – một hành động như các nhà phân tích nước ngoài nhận xét: Trước nhân dân thế giới, trước các dân tộc châu Á, “Trung Quốc hiện ra như một nước siêu cường, quân phiệt và bá quyền, hoàn toàn có khả năng áp bức các nước láng giềng yếu hơn” [69].

Với những điều vừa trình bày ở trên, có thể thấy quan hệ giữa Việt Nam, Trung Quốc luôn có hai mặt: Thực chất và hình thức – hai mặt này không phải bao giờ cũng tương đồng. Về mặt hình thức, quan hệ hai nước được thừa nhận trong một khuôn khổ có tính chuẩn tắc mà cả hai nước cùng công nhận, song về thực chất, quan hệ Việt Nam – Trung Quốc phản ánh tương quan lực lượng và lợi ích giữa hai quốc gia, nhưng là hai quốc gia láng giềng lớn và nhỏ, với các chỉ số so sánh cách biệt.

Về phía Trung Quốc, tăng cường, mở rộng ảnh hưởng, trở thành cường quốc khu vực và thế giới là cái lõi của mọi quá trình hoạch định và thực thi chính sách. Đối với khu vực, Việt Nam vẫn là một nhân tố chính yếu mà Trung Quốc cần quan tâm và kiềm chế, nhằm thực hiện mục đích của mình một cách ít trở ngại nhất. Chính sách kiềm chế Việt Nam của Trung Quốc là nhất quán và lâu dài, tồn tại song song với mục tiêu chiến lược nêu trên; vì vậy, nó vẫn tiếp tục là nguyên nhân của những khó khăn, thách thức trong quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc hiện nay.

Ở thời điểm hiện tại, vấn đề nổi cộm, có ý nghĩa trọng yếu đối với an ninh quốc gia và vị thế đất nước liên quan đến quan hệ Việt – Trung là tranh chấp trên biển Đông, liên quan đến hai quần đảoHoàng Sa và Trường Sa.

Với tầm quan trọng của biển Đông, Trung Quốc coi đây là “không gian sinh tồn” với ý định rõ ràng là phải sở hữu bằng được các quyền lợi sống còn của biển Đông, mở rộng cương vực sinh tồn, tạo thêm sức mạnh trong cán cân quyền lực ở châu Á – Thái Bình Dương. Trong các tranh chấp trên biển Đông, Trung Quốc luôn có các hành động khó lường và yêu sách lấn dần không định rõ. Nói cách khác, chiến lược của Trung Quốc dường như đồng thời: Củng cố khả năng hải quân, mở rộng khả năng hiện diện hiện thực, từ đó hợp thức hóaviệc chiếm đóng.Có vẻ như Trung Quốc đã phát triển một chính sách ba không để giải quyết các vấn đề trên biển Đông: Không định rõ yêu sách, không đàm phán nhiều bên, không quốc tế hóa vấn đề, bao gồm cả không có sự tham gia của các cường quốc ngoài khu vực [70]. Đó là cách, như Valencia M. J. bình luận: “Trung Quốc đang tìm cách viết nên luật lệ của chính mình cho trật tự thế giới, thay bằng việc chấp nhận các nguyên tắc đang tồn tại” [71]

Đối với các tranh chấp biển Đông, Việt Nam không thể và không bao giờ từ bỏ chủ quyền đối với lãnh hải và thềm lục địa của mình. Tuy nhiên, tồn tại bên cạnh và giải quyết tranh chấp với một người láng giềng khổng lồ luôn có khát khao thống trị thực sự là một áp lực đối với Việt Nam – Trung Quốc là một thực tế, là một câu chuyện “không bao giờ kết thúc“. Trung Quốc, Việt Nam núi biển liền nhau như môi với răng, có mối quan hệ không chia cắt về địa dư, khi muốn gây sức ép, Trung Quốc không thiếu cách thức và lý do.

Lịch sử là một dòng chảy liên tục nối quá khứ với hiện tại và định hình con đường đi tới tương lai, là cuộc đối thoại nghiêm khắc giữa hiện tại với quá khứ, kết nối ngày hôm qua với hôm nay. Cuộc chiến tranh biên giới năm 1979 đã lùi xa vào lịch sử 35 năm, thế giới đổi thay nhanh chóng, lịch sử đầy ắp các sự kiện, các thăng trầm khó đoán định trước. Tuy nhiên, lịch sử khách quan và công bằng, không thể đơn giản và dễ dàng xé bỏ trang này, hay trang kia theo ý muốn chủ quan. Cuộc chiến tranh biên giới 1979 đã là một dấu mốc khó phai mờ trong lịch sử Việt Nam hiện đại, trong ký ức và lương tri của loài người – của những ai đang phấn đấu cho công bằng và công lý. Nhiều câu hỏi của ngày hôm nay có thể có câu trả lời từ những bài học lịch sử xương máu đã qua.

(Hết)

*Các bạn cần đọc thêm các bài này để biết thêm các bí ẩn của lịch sử: 

 

  (Bài này ghi laị sự thật đáng kinh ngạc)

>>>Chuyện “anh hùng lực lượng vũ trang” Nguyễn Văn Bé trong loạt bài về chiến tranh tuyên truyền của CS   http://www.psywarrior.com/BeNguyen.html

Sự Thật về Liệt Sĩ Nguyễn văn Bé (không “Hy sinh” năm 1966 – mà Thật sự từ trần năm 2002)

Nguyễn Văn Bé 

Chú thích

[1] Marwyun S.Samules: Tranh chấp biển Đông, Bản dịch, Lưu tại Thư viện Quân đội, 1982, tr.127.

[2] Trong khi đó, cuộc đi thăm hữu nghị Liên Xô do Lê Duẩn dẫn đầu vào tháng 10-1975 lại được đánh giá là thành công. Việt Nam đã ký hiệp định phối hợp kinh tế quốc gia với Liên Xô trong 5 năm (1976-1980) và nhận được 500 triệu USD viện trợ với trên 400 hạng mục công trình.

[3] Marwyun S.Samules: Tranh chấp biển Đông, Tlđd, tr.7.

[4] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, t.37, tr. 333.

[5] Pao Min Chang: Cuộc tranh chấp Trung – Việt và vấn đề thiểu số người Hoa, Bản dịch, Lưu tại Thư viện Quân đội, Hà Nội, 1982, tr.16.

[6] Lưu Văn Lợi: 50 năm ngoại giao Việt Nam (1945-1995), Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 1998, t.2, tr.122.

[7] Hàng vạn người đã được huy động đứng dọc quãng đường từ sân bay về Thủ đô Bắc Kinh, vẫy cờ, hoa chào đón Polpot, còn cuộc đón tiếpLê Duẩn không khí lặng lẽ một cách bất thường. Tờ Nhân dân nhật báo đã đăng những bức ảnh đen trắng về chuyến thăm của Lê Duẩn, chứ không phải là các bức ảnh mầu như thông lệ khi có các vị thượng khách đến thăm.

[8] Bộ mặt thật, phản động, phản bội của tập đoàn cầm quyền Bắc Kinh và sự đầu độc của chúng đối với quân đội Trung Quốc, Báo cáo của Cục tuyên truyền đặc biệt, Tổng cục chính trị, Tập tài liệu văn kiện Trung ương, Lưu tại Tổng cục chính trị, Bộ Quốc phòng, tr.2.

[9] Bộ Ngoại giao: Sự thật về quan hệ Việt Nam – Trung Quốc trong 30 năm qua, Sách trắng, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1979, tr.19.

[10] Người Hoa di cư đến Việt Nam từ lâu đời, kéo dài trong nhiều thời kỳ khác nhau với nhiều thành phần xã hội khác nhau. Họ đến cư trú ở hầu hết các nơi, tập trung đông nhất ở vùng đồng bằng Bắc Bộ, đồng bằng Nam Bộ và các thị xã, thành phố lớn. Trải qua quá trình lịch sử, dần dần họ đã hoà nhập với cư dân bản địa và trở thành công dân của Việt Nam. Họ đã góp phần cùng các dân tộc khác trên lãnh thổ Việt Nam làm phong phú và phát triển nền văn hoá, giữ vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế của Việt Nam.

[11] Người Hoa được hưởng các quyền lợi dân sự giống như người Việt, được đối xử bình đẳng như người Việt. Từ đầu thế kỷ XIX, trẻ em do hôn nhân dị chủng giữa người Hoa và người Việt được coi là người Việt và được hưởng đầy đủ các quyền lợi chính trị như người Việt khác.

[12] Ramses Amer: Người Hoa ở Việt Nam và quan hệ Trung – Việt, Kuals Lumpur, Bản dịch, Lưu tại Thư viện Ban Biên giới Chính phủ, 1991, tr.8.

[13] Chính quyền Sài Gòn cũng có những quy định đưa Hoa kiều trở thành công dân Việt Nam. Ngày 7-12-1955, Chính quyền Sài Gòn đưa ra đạo luật số 10 quy định tất cả trẻ em sinh ra do hôn phối giữa người Hoa và người Việt đều được xem là công dân Việt Nam. Sau đó, ngày 21-8-1956, đưa tiếp Đạo luật số 48, theo đó tất cả người Hoa sinh ra tại Việt Nam đương nhiên trở thành công dân Việt Nam. Đạo luật này được áp dụng cho tất cả người Hoa sinh ra tại Việt Nam ở mọi thời điểm, kể cả trước đó (Nguồn: Ramses Amer, người Hoa ở Việt Nam và quan hệ Trung- Việt, Kuals Lumpur 1991, tr. 10).

[14] Từ cuối năm 1976 sang đầu năm 1977, ở Trung Quốc có sự thay đổi chínhsách đối với vấn đề gọi là “người Hoa ở hải ngoại”. Nếu trong thời kỳ “cách mạng văn hoá” người Hoa ở nước ngoài bị phân biệt đối xử và nghi ngờ, thì từ đầu năm 1977, Trung Quốc lại mong nhận được sự giúp đỡ của người Hoa ở nước ngoài để phát triển kinh tế đất nước. Chính sách đối với Hoa kiều ở hải ngoại lần đầu tiên được công bố qua một bài viết của Liêu Thừa Chí, Chủ tịch Uỷ ban Hoa kiều Hải ngoại vụ (đăng trên Nhân dân Nhật báo ngày 4-1-1978), trong đó tuyên bố: Trung Quốc sẽ giành quyền bảo vệ tất cả Hoa kiều hải ngoại còn mang quốc tịch Trung Quốc.

[15] Trung Quốc lan truyền tin rằng, “Chính phủ Trung Quốc kêu gọi người Hoa về nước xây dựng Tổ quốc”; “ai không về là phản bội Tổ quốc”.

[16] Tuy nhiên, bên cạnh dòng người Hoa đổ về Trung Quốc, với nhiều người Việt gốc Hoa thực dụng hơn đã coi đây là cơ may để đến được thế giới Tây phương – điều mà những người Hoa ở Đông Nam Á hẻo lánh không mơ tới được (BBCVetnamese.com, 10-2-2009).

[17] Tập tài liệu tổng kết công tác của Đảng (1975-1985),Cục lưu trữ, Văn phòng Trung ương Đảng.

[18] Chỉ trong vòng vài tháng, 17 vạn người Hoa đã rời Việt Nam đi Trung Quốc (Sự thật về quan hệ Việt Nam – Trung Quốc trong 30 năm qua, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1979,tr. 86). Sau khi Trung Quốc đóng cửa biên giới (12-7-1978), nhiều người Hoa vẫn cố vượt biên. Theo tính toán của Ramses Amer “thì con số người Hoa ra đi cụ thể từ tháng 4-1978 đến cuối tháng 12-1979 là khoảng trên dưới 25 vạn người” (Nguồn: Người Hoa ở Việt Nam và quan hệ Trung – Việt, Kuals Lumpur, 1991, tr. 46).

[19] Hội đồng tương trợ kinh tế COMECON đã nhận đảm đương giúp Việt Nam 21 công trình lớn mà Trung Quốc bỏ dở.

[20] Ramses Amer: “Sino-Vietnameses Normalization in the Light of Crisis of the late 1970s”, In: the “Pacific Affairs”, Vol.67, N3, Fall 1994, University of British Columbia Canada, 1994, tr. 360-361.

[21] Lưu Văn Lợi: 50 năm ngoại giao Việt Nam (1945-1995), Sđd, t. 2, tr. 113.

[22] Từ năm 1976, Trung Quốc giảm dần và đến năm 1978 thì cắt hẳn viện trợ: Khoảng 500 triệu đô la thiết bị và 300 triệu đô la/năm hàng hoá, vật tư, trong đó có 34 vạn tấn lương thực, 43 vạn tấn xăng dầu, 30 triệu mét vải và 1 vạn 5 tấn bông, 14 vạn tấn phân bón, 15 vạn tấn ximăng, 20 vạn tấn than mỡ v.v…(Nguồn: Phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế –xã hội trong 5 năm 1981-1985, Trình hội nghị lần thứ 11 của BCHTƯ Đảng CSVN, khoá IV, Văn phòng lưu trữ Trung ương Đảng).

[23] Ramses Amer: “Sino-Vietnameses Normalization in the Light of Crisis of the late 1970s”, In: the “Pacific Affairs”, Vol.67, N3, Ibid, tr.32.

[24] “Nghiên cứu vấn đề quốc tế”, Tạp chí Nghiên cứu vấn đề quốc tế, Sở nghiên cứu các vấn đề quốc tế của Trung Quốc, số 2, Bản dịch, Lưu tại Phòng Thông tin- tư liệu, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Bộ Quốc phòng, 1988), tr.12.

[25] “Nghiên cứu vấn đề quốc tế”, Tạp chí Nghiên cứu vấn đề quốc tế, Tlđd, tr.12.

[26] “Nghiên cứu vấn đề quốc tế”, Tạp chí Nghiên cứu vấn đề quốc tế, Tlđd, tr.12.

[27] Về kế hoạch viện trợ này, Vương Thượng Vĩnh đã tuyên bố: “Trung Quốc sẽ đưa sang Campuchia 13.300 tấn vũ khí, trong đó có 4.000 tấn súng đạn, 1.301 xe các loại. Trung Quốc sẽ đào tạo cho Campuchia một trung đoàn pháo binh, một trung đoàn rađa, xây dựng và trang bị một sân bay quân sự, cung cấp cho Campuchia bốn tầu hộ tống và bốn thuyền cao tốc phóng ngư lôi, trang bị một trung đoàn xe tăng, một trung đoàn thông tin liên lạc, ba trung đoàn pháp binh, đào tạo 471 phi công, 157 sĩ quan hàng hải và xây dựng căn cứ hải quân, mở rộng xưởng sửa chữa vũ khí và cảng kép”. Riêng năm 1977, Trung Quốc cấp cho Campuchia 450 khẩu pháo lớn, 244 xe tăng, 1200 xe các loại, 52 máy bay và hai vạn cố vấn trực tiếp nắm và chỉ đạo tất cả mọi lĩnh vực chính trị, kinh tế, quân sự, xây dựng cho Campuchia một lực lượng vũ trang từ 7 sư đoàn lên 23 sư đoàn

[28] Bộ mặt thật, phản động, phản bội của tập đoàn cầm quyền Bắc Kinh và sự đầu độc của chúng đối với quân đội Trung Quốc, Tl d, tr.2.

[29] Cuộc xung đột Trung Quốc –Việt Nam, Bản dịch, lưu tại thư viện quân đội. tr. 9.

[30] Dẫn theo Ngô Vĩnh Long; Vài câu hỏi về quan hệ giữa ngoại giao và công việc cải tạo xã hội chủ nghĩa trong thập kỷ sau khi miền Nam được giải phóng, Tạp chí Thời đại mới, số 6/tháng 12-2005.

[31] Phóng viên tờ “Tuần châu Á”.

[32] Cuộc xung đột Trung Quốc –Việt Nam, Tlđd, tr.23.

[33] Cuộc xung đột Trung Quốc –Việt Nam,Tlđd, tr.46.

[34] Cuộc xung đột Trung Quốc –Việt Nam, Tlđd, tr.47.

[35] Tuy Uông Đông Hưng chuyển chính thức ý kiến của lãnh đạo Trung Quốc là không đồng ý đưa quân Trung Quốc sang Campuchia trực tiếp chiến đấu, nhưng khuyên Campuchia kháng chiến lâu dài bằng chiến tranh du kích và hứa sẽ hết sức ủng hộ Campuchia Dân chủ, gửi qua Campuchia gần 3 vạn cố vấn quân sự. Pôn Pốt lên đài phát thanh ca ngợi “sự ủng hộ vô điều kiện” của Trung Quốc với Phnôm Pênh trong cuộc chiến đấu chống Việt Nam.

[36] Gilbert Padoul: Chính sách ngoại giao của Trung Quốc sau Mao Trạch Đông, Bản dịch, Lưu tại Thư viện Quân đội, tr.4.

[37] Michael Lelfer: Xét nghiệm lại cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ ba, Bản dịch, Lưu lại Thư viện Quân đội, 1979, tr.1.

[38] Nghị quyết tuy được đại đa số tán thành, nhưng bị Liên Xô phủ quyết. Còn Sihanouk sau khi dự Đại hội đồng đã bí mật gặp Đại sứ Hoa Kỳ tại Liên Hợp Quốc Andrew yêu cầu được tị nạn chính trị, nhưng Hoa Kỳ không đồng ý bởi họ vừa mới thiết lập quan hệ ngoại giao với Trung Quốc được hai tuần và Đặng Tiểu Bình sắp sang thăm hữu nghị Hoa Kỳ.

[39] Đường biên giới với Trung Quốc được phân định trong các Công ước ngày 26- 6-1887 và ngày 20-6-1895 giữa Chính quyền Pháp (đại diện cho Việt Nam lúc bấy giờ) và nhà Thanh (đại diện cho Trung Quốc). Công ước hoạch định biên giới Pháp – Thanh ngày 26-6-1887 đã hoạch định lại một số đoạn biên giới tiếp giáp giữa Bắc Kỳ với Vân Nam và nói rõ đường kinh tuyến 105°43′ là đường phân chia chủ quyền các đảo. Công ước bổ sung hoạch định biên giới Pháp – Thanh ngày 20-6-1895 thống nhất hoạch định các đoạn biên giới mà hai bên còn gác lại trong các văn bản hoạch định trước và hoạch định mới đoạn biên giới giữa Bắc Kỳ và Vân Nam từ sông Đà đến sông Mê Công. Trên cơ sở của các bản Công ước này, từ năm 1889 đến năm 1897, trên toàn bộ tuyến biên giới đất liền Việt Nam – Trung Quốc, Pháp và nhà Thanh đã hai bên đã tổ chức phân giới, xác định 314 vị trí mốc và đã cắm được 341 mốc giới trên thực địa. Nhìn chung, trong quá trình đàm phán thương lượng về biên giới, chính quyền Pháp và nhà Thanh đã vận dụng một số nguyên tắc phổ biến của pháp luật quốc tế cũng như thực tiễn quốc tế trong quá trình xác lập đường biên giới trên đất liền giữa Việt Nam và Trung quốc, thực hiện đầy đủ các bước từ xác định nguyên tắc, hoạch định, phân giới và tiến hành cắm mốc trên thực địa cũng như các thủ tục pháp lý khác. Về mặt pháp lý, Công ước năm 1887 và Công ước bổ sung năm 1895 cùng các biên bản, bản đồ phân giới cắm mốc thực hiện hai Công ước là một thể thống nhất các văn bản pháp lý bổ sung cho nhau, cung cấp khá đầy đủ các yếu tố về đường biên giới đất liền Việt Nam – Trung Quốc. Như vậy, về cơ bản, hai công ước Pháp – Thanh năm 1887 và 1895 thừa nhận đường biên giới lịch sử truyền thống giữa Việt Nam và Trung Quốc. Tuy nhiên, trong quá trình phân giới cắm mốc, phía Pháp đã nhân nhượng một số vùng lãnh thổ của Việt Nam cho Trung Quốc như Giang Bình, Bát Trang (Quảng Ninh), Đèo Luông (Cao Bằng), Tụ Long (Hà Giang). Trong giai đoạn chế độ Quốc dân đảng ở Trung Quốc, quan hệ biên giới giữa Pháp và Trung Quốc cơ bản ổn định, hệ thống mốc giới được bảo vệ, nhưng lợi dụng tình hình Pháp bị sa lầy và thất bại liên tiếp trong chiến tranh thế giới thứ hai, chính quyền Tưởng Giới Thạch đã có hành động di chuyển, phá hoại một số mốc giới, lấn chiếm quản lý nhiều khu vực đất đai sang phía Việt Nam.

[40] R.V.Pretcot : Những biên giới của Đông Nam Á, Nxb Membuốc, 1977, Bản dịch, Lưu tại Thư viện Ban Biên giới Chính phủ, tr. 60

[41] Bị vong lục Bộ Ngoại giao Việt Nam, Báo Nhân dân ngày 16-2-1979,tr.4.

[42] Bị vong lục Bộ Ngoại giao Việt Nam, Tlđd.

[43] D. Xtêphanov:Trung Quốc bành trướng trên hướng biển, Nxb Quan hệ quốc tế, Hà Nội,1980, tr. 144.

[44] Lê Kim: Một bước thất bại của bọn bành trướng Bắc Kinh, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1984, tr.12.

[45] Trong đó có đề nghị của Uỷ viên Bộ Chính trị Uông Đông Hưng đem quân tham gia trực tiếp tham chiến ở Campuchia; đề nghị của Tư lệnh quân khu Quảng Châu Hứa Thế Hữu[45] ào ạt tấn công Việt Nam; đề nghị của Chính uỷ Hải quân Sử Chấn Hoa đem hạm đội Đông Hải xuống vịnh Thái Lan yểm trợ vùng duyên hải Campuchia. Cuối cùng, Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc chấp thuận kế hoạch “phản công tự vệ giới hạn” của Đặng Tiểu Bình (Nguồn: Hoàng Dung: Cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ ba, Việt Nam thư quán Online).

[46] Ngày 3-11-1978, Việt Nam và Liên Xô đã ký Hiệp ước Hữu nghị và Hợp tác toàn diện. Bên cạnh những điều khoản về quan hệ chính trị, kinh tế, văn hoá, khoa học, điều 6 của Hiệp ước còn nhấn mạnh: “Trong trường hợp một trong hai bên bị tấn công hoặc bị đe doạ tấn công, hai bên sẽ trao đổi với nhau nhằm loại trừ mối đe doạ đó và áp dụng những biện pháp thích đáng có hiệu lực để đảm bảo hoà bình, an ninh của hai nước”. Cùng với Hiệp ước này, lực lượng hải quân Liên Xô tăng cường sự có mặt tại Vịnh Cam Ranh và biển Đông. Việt Nam trở thành một trọng điểm trong chiến lược châu Á- Thái Bình Dương của Liên Xô. Ở Cam Ranh, Liên Xô có khoảng 20-30 tầu chiến; 1 sân bay và một số tàu ngầm với lực lượng tổng cộng là 7.000 binh sĩ. Cam ranh trở thành căn cứ quân sự lớn nhất của Liên Xô ở nước ngoài trong so sánh với các căn cứ quân sự của Mỹ ở nước ngoài.Tuy biết rằng, Hiệp ước này được ký kết sẽ gây chấn động và bất lợi về chính trị, kinh tế, ngoại giao, nhưng tình thế lúc này khôngcho phép Việt Nam chần chừhơn được nữa.
[47] Nayan Chanda: Brother Enemy: The War After the War, 1988, p. 394.

[48] Lê Kim: Một bước thất bại của bọn bành trướng Bắc Kinh, Sđd, tr.12.

[49] Gilbert Padoul: Chính sách ngoại giao của Trung Quốc sau Mao Trạch Đông, Tlđd, tr.4.

[50] Tạp chí Sở nghiên cứu quốc tế Trung Quốc, số tháng 2-1981, Bản dịch, lưu tại thư viện quân đội.

[51] Có ít nhất hai lý do để Trung Quốc thực hiện kế hoạch “tấn công giới hạn”: Thứ nhất, Việt Nam cũng là một địch thủ đáng ngại. Trung Quốc không thể nào chịu nổi một cuộc chiến lâu dài, quy mô, bởi nó sẽ gây trở ngại cho chính sách “bốn hiện đại hoá”; thứ hai, một cuộc tấn công giới hạn, nhanh chóng sẽ không gây ra một phả ứng mạnh mẽ trong dư luận thế giới, hay một cuộc tấn công trả đũa từ Liên Xô

[52] Dẫn theo “Kissinger bàn về Trung Quốc”, Pháp luật, Trang thông tin điện tử báo Pháp luật T.P Hồ Chí Minh, ngày 12-2-2012.

[53] Bộ Ngoại giao: Sự thật về quan hệ Việt Nam – Trung Quốc trong 30 năm qua, Sđd, tr.91.

[54] Bộ Ngoại giao: Sự thật về quan hệ Việt Nam – Trung Quốc trong 30 năm qua, Sđd, tr.91.

[55] Gilbert Padoul: Chính sách ngoại giao của Trung Quốc sau Mao Trạch Đông, Tlđd, tr.8.

[56] Cuộc xung đột Trung Quốc –Việt Nam, Tlđd, tr.61.

[57] Báo Nhân dân, ngày 18-2-1979, tr. 1.

[58] Báo Nhân dân, ngày 19-2-1979, tr.1.

[59] Báo Nhân dân, ngày 5-3-1979, tr.1.

[60] Đảng Cộng sản Việt Nam: Chỉ thị số 67, ngày 1-3-1979, Về việc phát động và tổ chức toàn dân chuẩn bị chiến đấu và bảo vệ Tổ quốc,Văn phòng lư trữ Trung ương Đảng.

[61] Đảng Cộng sản Việt Nam: Nghị quyết số 16, ngày 3-3-1979 “Về cuộc kháng chiến chống bọn phản động Trung Quốc xâm lược”, Văn phòng lư trữ Trung ương Đảng.

[62] Đảng Cộng sản Việt Nam: Nghị quyết số 16, ngày 3-3-1979, Tlđd.

[63] Đảng Cộng sản Việt Nam: Nghị quyết số 16, ngày 3-3-1979, Tlđd.

[64] Báo Nhân dân, ngày 19-2-1979, tr.1.

[65] Ban Bí thư: Chỉ thị số 69, ngày 6-3-1979 “Về chủ trươngcủa ta trước tình hình bọn phản động Trung Quốc rút quân”, Lưu tại Cục lưu trữ, Văn phòng Trung ương Đảng.

[66] Ban Bí thư: Chỉ thị số 69, ngày 6-3-1979, Tlđd.

[67] Ban Bí thư: Chỉ thị số 69, ngày 6-3-1979, Tlđd.

[68] Lưu Văn Lợi: Ngoại giao Việt Nam (1945-1995), Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 1998, tr. 448.

[69] Những tác động chiến lược của cuộc chiến tranh Đông Dương, Bản dịch, Lưu tại Thư viện Quân đội, tr. 12.

[70] Valencia.M.J, Vandyke.J.M, Ludwig.N.A, “Chia sẻ tài nguyên ở biển Nam Trung Hoa”, Bản dịch, Lưu tại Thư viện Ban Biên giới Chính phủ, tr.59.

[71] Valencia.M.J, Vandyke.J.M, Ludwig.N.A, “Chia sẻ tài nguyên ở biển Nam Trung Hoa”, Tlđ d, tr.59.

—————————————————-

Các bạn cần đọc thêm các bài này để biết thêm các bí ẩn của lịch sử 

TOÀN BỘ 4 BÀI (ĐÃ KỊP LƯU LẠI VÀ POST Ở ĐÂY):
(HÃY ĐỌC ĐỂ THẤY VÀ CẢM NHẬN TIẾNG NẤC CỦA QUÁ KHỨ VÀ NƯỚC MẮT CỦA HÔM NAY!)
http://motthegioi.vn/xa-hoi/bai-1-hoi-uc-35-nam-44879.html

Hoa đào biên viễn
Bài 1: Biên giới, hồi ức 35 năm
ĐĂNG BỞI MỘT THẾ GIỚI – 16:30 12-02-2014

Tháng 2 năm nay, những cây đào Tổng Chúp, Hưng Đạo, Cao Bằng bỗng dưng đỏ loét trong cái nắng trái mùa. Trên đồn biên phòng Pha Long, Lào Cai, thật lạ, chỉ duy nhất một gốc đào đơm hoa. Còn ở pháo đài Đồng Đăng, Lạng Sơn, những cây đào khoe sắc vô duyên bên nền đá xám xịt và lau lách tùm lum của một pháo đài hoang phế đã đi vào quên lãng.

Một số phận

Trong ngôi nhà nhỏ ở dốc cầu Nà Rụa, phường Tân An, Cao Bằng, bà Nguyễn Thị Quỳ cũng có một cành đào nhỏ trước ban thờ chồng, người 35 năm trước bất đắc dĩ trở thành “tù binh chiến tranh”. Câu chuyện liên tục ngắt quãng khi đôi vai của người phụ nữ nhỏ nhắn run lên bần bật trước những hồi ức từ 35 năm trước. Chiến tranh đã lấy đi của bà một đứa con. Và sau 35 năm, vết thương ấy chưa bao giờ lành khi hàng đêm, hình ảnh đứa nhỏ tím tái chết trong mưa lạnh vẫn ùa về như một nỗi kinh hoàng không bao giờ phai nhạt. “Cô sinh cháu và gói trong một chiếc áo. Và rồi đó cũng là chiếc áo liệm”- người cựu binh chống Mỹ khốn khổ đưa tay lên dụi mắt.

Sáng 17.2.1979, trời rất mù và lạnh. Từ thị trấn Nước Hai, bà Quỳ chỉ còn biết cắm đầu cắm cổ chạy loạn khi tiếng pháo của lính Trung Quốc “như bom Mỹ rải thảm” khắp nơi. Bệnh viện Hòa An bị đánh sập, người sản phụ khốn khổ đang mang thai đến tháng thứ 9 chỉ còn biết vác bụng lặc lè để chạy.

“Cô chạy vào núi đá Mỏ Hách. Rồi từ Mỏ Hách chạy sang Đại Tiến. Chạy ngược với tiếng pháo”. Đám người chạy loạn bị lính Trung Quốc phát hiện, truy đuổi, và lại tứ tán khắp nơi. “Chúng nó đông lắm cháu ơi! Đâu đâu cũng thấy lính Trung Quốc”. Trong gần một tuần lễ trốn trên động đá, bà Quỳ đau đẻ trong cái đói, trong cái rét, trong trời mưa lạnh, trong tối tăm mò mẫm. Không một hạt gạo mang theo. Không một tấm chăn. Cả đám người đói khát, rét mướt và lo sợ đến hoảng loạn. Chỉ ngay phía dưới, lính Trung Quốc đông lúc nhúc, vây hãm khắp nơi.

Những con người khốn khổ lấy nước bằng cách hứng từ giọt gianh trong một tấm nilon rộng chừng 2 bàn tay. Ăn tất cả những gì mà ban đêm mấy người đàn ông mò mẫm được từ bờ cây, gốc sắn… ngay sát nơi lính Trung Quốc dựng trại.
Đến hôm đau đẻ, bà được đồng bào gom cho thìa đường cuối cùng, hòa với vốc nước “để có sức mà đẻ”. Đứa con đầu lòng được sinh ra trong hang đá nhưng 3 hôm sau thì qua đời.

“Cô sinh cháu và gói trong một chiếc áo. Và rồi đó cũng là chiếc áo liệm”- người cựu binh chống Mỹ khốn khổ đưa tay lên dụi mắt. Những giọt nước mắt mờ đục lăn dài trên khuôn mặt “một ngàn nếp nhăn” tưởng chừng đã không còn có thể đau khổ được nữa: “Lúc đó cô yếu quá, bỏ mấy đồng nhờ một ông già mang cháu đi. Chắc vứt nó ở một đâu đó”.

Nhưng bi kịch chưa dừng lại ở đó. Đêm ngày 25.2, người chồng nửa đêm đi kiếm ước uống bị sa vào tay lính Trung Quốc. Ông bị giam giữ cho đến ngày 3.6 và từ sau đó, những đồng nghiệp của ông ở Ty Thể thao Cao Bằng cho biết ông bỗng dưng có thói quen ăn cơm với nước lã. Còn bà Quỳ, quãng thời gian trong động đá và cái chết bi thảm của đứa con đầu lòng khiến bà trở nên trầm uất suốt 3 tháng. Tuyến sữa viêm tắc khiến sau đó người phụ nữ khốn khổ phải cắt đi một bên ngực.

35 năm, bằng đấy thời gian chưa đủ để bà Quỳ quên đi hình ảnh đứa con đầu lòng chết tím tái. “Đau xót lắm cháu ơi. Cô đi cúng, Thầy bảo nó không có nhà, lang thang ở một gốc cây nào đó”…

Không chỉ Bệnh viện Hòa An bị đánh sập, cả thị xã Cao Bằng lỗ chỗ tổ ong như vừa trải qua “một trận B52 mặt đất”, không còn thứ gì cao quá 1m. Bách hóa tổng hợp, một biểu tượng của Cao Bằng bị hủy hoại đến không còn một viên gạch lành.
Chị Hoài Phương, phóng viên của Đài truyền hình Cao Bằng, năm đó 9 tuổi, đến giờ vẫn không thể quên hình những xác người bị súng phun lửa đốt cháy trên mặt đất. Khắp nơi. Ông Nguyễn Duy, Phó Chủ tịch Hội cựu chiến binh Hòa An nhớ lại: Đến ngày 20.3, cả thị xã vẫn như một đụn khói lớn. Chiều 29.3. Không một chiếc xe, không một người dân đi trên đường. Kho lương thực còn cháy nghi ngút. Thị xã tan hoang khi lính Trung Quốc trước khi rút đã ốp mìn giật đổ từng cây cầu, từng cột điện. Cái gì lấy được thì lấy hết. Cái gì không lấy được thì phá hết.

Khi giặc đến nhà

Ngày 17.2.1979, Trung Quốc đã dùng một lực lượng quân sự chính quy lên tới 60 vạn quân tấn công Việt Nam trên khắp chiều dài 1.200 km biên giới 6 tỉnh phía Bắc. Cao Bằng chính là một trong những trọng điểm đánh phá của quân đoàn 41A với sự tham gia của xe tăng và pháo binh. Theo nhận định của Xiaoming Zhang trong một nghiên cứu đăng trên tạp chí China Quarterly tháng 12.2005, cuộc tấn công của Trung Quốc phụ thuộc phần lớn vào việc nhanh chóng chiếm được Cao Bằng.

Nhưng hai mũi tấn công không đến được mục tiêu trong vòng 24 tiếng. Khu vực đồi núi cùng kháng cự của dân quân Việt Nam tạo ra khó khăn lớn. Việc đi chậm khiến Xu Shiyou , lãnh đạo cánh quân Quảng Tây, phải hoãn cuộc tấn công vào Cao Bằng, mặc dù phó tướng Wu Zhong đã đến sát thành phố này ở mạn phía đông và nam.

Trong một bài phát biểu được nhà nghiên cứu Dương Danh Hy dịch ra tiếng Việt ít năm trước, nhà lãnh đạo Trung Quốc khi đó là Đặng Tiểu Bình đã xác nhận đó là cuộc chiến “giết gà đã phải dùng dao mổ trâu”. Cụ thể “vũ khí, quân số đều gấp mấy lần Việt Nam. Chiến đấu ở Cao Bằng chí ít là năm đánh một, sáu đánh một, chiến đấu ở Lạng Sơn, Lào Cai cũng đều gấp mấy lần, thậm chí sáu đánh một, bảy đánh một”. Vì sao ở Cao Bằng, chiến tranh lại đồng nghĩa với tàn phá như vậy? Trang mạng quân sự milchina.com của Trung Quốc 3 năm trước đã cho đăng thư của một cựu chiến binh Trung Quốc từng tham gia chiến tranh biên giới 1979 phần nào giải thích lý do: “Mục đích của cuộc chiến tranh này là tàn phá, hủy hoại quốc lực của Việt Nam chứ không phải là chiếm lĩnh lãnh thổ, nên sau hai ngày đánh nhau, lính tham chiến bắt đầu chấp hành mệnh lệnh bán chính thức là “không bắt tù binh”, “không để lại cho Việt Nam một lá cây ngọn cỏ”.

Cho đến cuối cuộc chiến tranh, ở Cao Bằng “không ai theo địch, không ai đầu hàng, không ai phản bội”- giọng người cựu bí thư tỉnh ủy rưng rưng nước mắt. Bao đời nay vẫn vậy, mỗi khi giặc đến nhà thì mỗi một người dân chính là một người lính. Ông Vương Dường Tường, nguyên bí thư tỉnh ủy Cao Bằng giai đoạn 1979-1992 nhớ lại: Bấy giờ, tình trạng tranh chấp, lấn chiếm và vấn đề người Hoa đã khá căng thẳng, nhưng không ai nghĩ là chiến tranh xảy ra. Chủ trương của ta là đưa thanh niên ra biên giới tổ chức các lâm nông trường. “TƯ xác định cũng phải đề phòng, nhưng là phòng xích mích biên giới thôi”- ông Tường nói.

Tỉnh ủy Cao Bằng bấy giờ chủ trương đưa một số bộ đội về một số xã để củng cố đội ngũ cán bộ. Quân đội không có ở Cao Bằng. Lực lượng công an vũ trang chỉ có ở cấp tỉnh chứ cấp huyện là không có người. Cả thị xã bấy giờ chỉ có 1 một trung đoàn bộ đội địa phương (E567), nhưng cũng chủ yếu là làm kinh tế. Đến đội ngũ dân quân tự vệ, “có thì có đấy, căng thì căng như thế nhưng đã được phát súng đâu”. Thậm chí khi chiến tranh đã nổ ra, có thêm một sư đoàn được thành lập, nhưng lúc đó cũng chưa có quân”.

Phó Chủ tịch UBND tỉnh Cao Bằng Trần Hùng, thời điểm 1979 đeo quân hàm trung sĩ, tiểu đoàn 40 Bộ đội địa phương còn nhớ như in là khi xe tăng Trung Quốc vượt cầu Sông Hiến vào đến tận dốc Nà Toòng, đại đội 3 phòng không của trung đoàn 567 phải thay đạn, chúc nòng pháo 37 ly xuống để bắn xe tăng bằng đạn xuyên.
Chính ông Hùng là một trong những người đầu tiên chạy bộ đạp lá sa mộc đến bên xác xe tăng còn nghi ngút khói.
“Chúng tôi chỉ có 3 khẩu súng AK để bảo vệ trận địa”, ông Hùng nói, “về sau, khi lính Trung Quốc lên quá đông, đơn vị đã phải tháo súng (pháo) để rút”.
Theo Xiaoming Zhang, đến ngày 23.2, Trung Quốc mới chiếm được Cao Bằng sau khi nhận ra nơi này chỉ có một số lượng nhỏ quân Việt Nam cố thủ. Nhưng sự chậm chân khi chiếm Cao Bằng đã ngáng trở kế hoạch ban đầu của Trung Quốc, vốn nhấn mạnh việc tác chiến nhanh và quyết liệt.

Cao Bằng có gì để chống lại 6 sư đoàn chính quy với xe tăng và pháo binh yểm trợ?
“Dân Cao Bằng sẵn biết Trung Quốc rồi. Ở đâu cũng đánh, gặp đâu cũng đánh, ai cũng đánh. Một, hai người cũng đánh. Chặn khắp nơi”- ông Vương Dương Tường nói.
Ở Hòa An, dù lúc đó mất hoàn toàn liên lạc, một nhóm cựu binh vẫn tự tập hợp nhau lại lập chốt đánh địch. Nhặt được cái gì thì đánh được bằng cái đó. Ở Trà Lĩnh, Quảng Hòa, Hà Quảng đều có những chốt đánh địch như vậy.
Người Cao Bằng sau phút bất ngờ đã chủ động trở lại. Cho đến cuối cuộc chiến tranh, ở Cao Bằng “không ai theo địch, không ai đầu hàng, không ai phản bội”- giọng người cựu bí thư già rưng rưng. Bao đời nay vẫn vậy, mỗi khi giặc đến nhà thì mỗi một người dân chính là một người lính.

Tháng 2 năm nay, trên nền bách hóa tổng hợp bị đánh sập năm xưa, một siêu thị mới đã được dựng lên, cho dù người Cao Bằng vẫn gọi đó là Tổng Hợp Đổ.
Còn người nữ cựu binh Nguyễn Thị Quỳ, đến giữa câu chuyện, bỗng bất ngờ hỏi lại chúng tôi: “Sao các cháu không hỏi vì sao tháng 2 năm ấy cô không đi tìm một cây súng? Và rồi, bà quả quyết tự trả lời: “Năm xưa, cô phải chạy giặc vì lúc đó đang mang bầu, không muốn ảnh hưởng đến anh em đồng chí. Còn nếu bây giờ giặc đến nhà, cô sẽ tìm một khẩu súng. Nếu cô già yếu không đánh được, những đứa con của cô sẽ cầm súng”.
Con gái bà, một cô gái niềng răng sinh năm 1988 sau đó nói sẽ đưa chúng tôi vào Tổng Chúp, dù ở Cao Bằng, không còn nhiều người biết đến những gì xảy ra tại Tổng Chúp 35 năm trước, dù theo lời cô bé: “nơi đó giờ đã hoang vắng lắm rồi anh ạ”.
………..

http://motthegioi.vn/xa-hoi/bai-2-dong-chi-voi-nhau-ai-nghi-se-danh-nhau-44864.html

Bài 2: “Đồng chí với nhau, ai nghĩ sẽ đánh nhau“
ĐĂNG BỞI MỘT THẾ GIỚI – 19:30 12-02-2014

“Ai cũng chỉ nói chỉ tranh chấp biên giới. Ai cũng chỉ xác định là giữ đất thôi. Tin là đồng chí với nhau, chỉ gây sự, chỉ ghen ghét thế thôi. Chứ anh em đồng chí, ai nghĩ là sẽ đánh nhau”- 35 năm sau, nguyên Bí thư tỉnh Cao Bằng vẫn còn khắc khoải câu chuyện xảy ra năm 1979.

Trận tập kích bất ngờ

Ở Bát Xát, Lào Cai, khi pháo Trung Quốc bắt đầu bắn sang từ phía bên kia biên giới, ông Nguyễn Văn Tuyến, đại đội trưởng tự vệ Đoàn địa chất 305 (Đoàn 5) đang ở Bản Vược, ngay trong tầm súng trường lính Trung Quốc.
“Chúng tôi vẫn pha trà uống. Chiến sự vẫn liên miên từ trước đó, đêm nào cũng có tiếng súng, cho nên không ai ngờ Trung Quốc đánh lớn”- ông nói.
Chỉ trước khi cuộc tấn công diễn ra 48 tiếng, cả dân lẫn lính Trung Quốc vẫn “sang bên này xem chiếu bóng bình thường”.
Ông Tuyến từng là lính trong chiến tranh với Mỹ, sau chiến tranh làm Phó Chủ tịch HĐND huyện Bát Xát, nhớ lại: “Khi pháo Trung Quốc chuyển làn, ông mới giật mình hô anh em vì cảm giác rằng bộ binh Trung Quốc sẽ sang. Mấy người hoảng hốt chạy ra đến đến ngã ba Bản Vược thì khắp nơi đã tràn ngập màu áo lính đang vận động từ phía trong ra điểm chốt của công an vũ trang. Chúng tôi tưởng bộ đội mình đã lên ngay thành thử súng cầm trong tay mà không bắn”.

Từ trong hậu phương, lính Trung Quốc tiến đánh từ phía sau đồn công an vũ trang và chốt tự vệ địa phương. Hỏa lực từ bên kia biên giới bắn sang như mưa rào. Đơn vị ông Tuyến cơ động ra đến chốt Cây 2 thì bị một khẩu đại liên chặn lại. Bấy giờ, anh em vẫn có người giơ súng, giơ cờ vẫy ra hiệu vì vẫn tưởng bộ đội mình bắn nhầm.
Chỉ một lát sau đó, từ khu vực bản Xèo, lính công binh Trung Quốc lao cầu phao và sau đó xe tăng Trung Quốc tiến sang. “Họ đã chuẩn bị sẵn hết rồi. Cây cầu phao thả ra trôi theo dòng nước là áp khít sang bờ bên này”, lời ông Tuyến.
Tự vệ bản Xèo hy sinh vô số kể. “Chúng tôi chỉ được trang bị trung liên và súng K63. Không có vũ khí chống tăng”- ông Tuyến nói.

Ông Nguyễn Mạnh Tường, Chủ tịch Hội Cựu Chiến binh Bát Xát thời điểm tháng 2.1979 đang là lính sư đoàn 316, một trong hai sư đoàn chủ lực duy nhất hiện diện ở biên giới phía Bắc.
Sáng đó, đang ở Than Uyên, đơn vị ông có lệnh báo động. Ai cũng tưởng chỉ báo động hành quân dã ngoại, thành thử “có người chỉ mang theo một quả đạn, có người trút lại tượng gạo, và có người, chỉ mang độc một bộ quần áo trên người”.
Đơn vị ông Trường hành quân lên đến Sapa thì những người lính mới biết chiến tranh đã xảy ra, và sau đó chạm địch ngay tại đèo Ô Quy Hồ. 218 đồng đội của ông đã hy sinh trong trận đánh đó.
Bát Xát là “nơi con sông Hồng chảy vào đất Việt” với những địa danh anh hùng và đau thương: A Mú Sung, Y tý.
Những người lính biên phòng A Mú Sung trong ngày 17 tháng 2 năm ấy, đã đánh đến viên đạn cuối cùng và hy sinh oanh liệt.

Cú đánh trộm của “người anh em”

Phó Chủ tịch UBND tỉnh Cao Bằng Trần Hùng nhớ lại, trưa ngày 17, khi một người dân chạy đến đơn vị báo tin xe tăng Trung Quốc đã vào đến Nước Hai, Hòa An, thủ trưởng của ông còn lệnh cho lính “trói nó lại” vì cho rằng người này phao tin đồn nhảm.
Vì sao quân dân ta lại bị bất ngờ trước một cuộc tấn công toàn tuyến với quy mô 32 sư đoàn?
Nguyên Bí thư Cao Bằng, Vương Dương Tường, nhớ lại ở Cao Bằng hôm ấy, quân khu còn đưa các chỉ huy quân sự tỉnh về họp. Không ai biết Trung Quốc đánh mình. Ngay cả khi tiếng súng đã nổ vang từ hướng Hà Quảng, Thông Nông, trưởng ty Thủy lợi băn khoăn nói tiếng súng nhiều lắm, không biết súng ta hay súng địch. Một lãnh đạo Cao Bằng khi đó nói anh em cứ yên trí. Đó là súng mình.
Ông Tường thừa nhận: “Cơ bản nhất là bấy giờ không ai tin anh em đồng chí lại đánh nhau”, ông Tường nói.
Cao Bằng bấy giờ vừa tách tỉnh. Đến 1 giờ đêm, pháo Trung Quốc bắn phá dồn dập. Sáng ngày 17.2, lính Trung Quốc đã đến chân đèo Minh Tâm. 2 tiếng sau, xe tăng chúng đã vào đến Cao Bình, rồi vào đến Nà Tàu. Pháo binh Trung Quốc dồn dập nã xuống Nà Tản.
Ngày 18.2, lính Trung Quốc đã vào đến Hòa An, Cao Bình. Đến ngày 19, khắp nơi đã bị đốt phá giết chóc.
“Ai cũng nghĩ là chỉ tranh chấp biên giới. Ai cũng chỉ xác định là giữ đất thôi. Tin là đồng chí với nhau, chỉ gây sự, chỉ ghen ghét thế thôi, ai nghĩ là sẽ đánh nhau” – ông Tường nói, và theo ông, 35 năm sau vẫn chưa hiểu nguyên nhân câu chuyện đã xảy ra.
Cho đến năm 1992, khi các cơ quan của Bát Xát, Lào Cai từ Mường Vi trở lại Bản Xèo thì “vẫn chỉ có cỏ may và đất đỏ”.

Chúng tôi trở lại Đồng Đăng, Lạng Sơn vào đúng ngày lễ Đền Mẫu, lễ lớn nhất Lạng Sơn, nằm ngay dưới chân pháo đài Đồng Đăng.
Từ 35 năm nay, mỗi dịp tháng hai, đại tá Triệu Quang Điện, Trưởng phòng cảnh sát truy nã Công an tỉnh Lạng Sơn vẫn đến đây thắp hương tưởng nhớ những người đồng đội của mình.
Ông Điện được phong Anh hùng lực lượng vũ trang sau cuộc chiến tranh biên giới 1979, và sau 35 năm, ông vẫn nhớ như in những cái tên Trần Văn Thái, Vi Văn Cao, những người đồng đội trong tổ tam tam và bữa cháo cơm nếp cuối cùng đêm 16.12.
……

http://motthegioi.vn/xa-hoi/bai-3-bia-tran-ai-noi-to-quoc-duoc-to-mau-do-44868.html

Bài 3: Bia trấn ải – nơi tổ quốc được tô màu đỏ
ĐĂNG BỞI MỘT THẾ GIỚI – 19:34 12-02-2014

Từ 35 năm nay, vào dịp tháng 2 mỗi năm, Đại tá Triệu Quang Điện, trưởng Phòng Cảnh sát truy nã Công an tỉnh Lạng Sơn đều đến đền Mẫu để thắp hương cho đồng đội của mình.

35 năm, thời gian chưa đủ để ông quên đi bữa cháo nếp cuối cùng. 35 năm, ông vẫn nhớ như in hình ảnh của những người đồng đội trong tổ tam tam: Những Trần Văn Thái. Những Vi Văn Cao.

Pháo đài Đồng Đăng và pháo hoa Trung Quốc

Năm đó, binh nhì Triệu Quang Điện vừa cưới vợ được 4 tháng, cũng vừa qua khóa huấn luyện 4 tháng ở Đông Khê, trở lại Lạng Sơn vào đúng buổi chiều ngày 16, khi phía Trung Quốc cho người đuổi trâu dò phá những bãi mìn biên giới.
5h sáng, khi pháo bắn cấp tập vào Đồng Đăng, ông cùng hai người đồng đội trong tổ thậm chí còn chưa kịp ăn nồi cháo gạo nếp đã đặt trên bếp để vội vã xách súng lên chốt ngay tại khu vực Đền Mẫu, pháo đài Đồng Đăng.
Tới 7h, sương còn chưa tan thì lính Trung Quốc đã kéo sang khắp nơi. Ba người kê súng bắn. Ông Điện, giữ súng trung liên bắn suốt 1 giờ đồng hồ.
“Hồi huấn luyện, tôi bắn bia được 3 điểm 9 – ông Điện nhớ lại – nhưng hôm đó, lính Trung Quốc lên quá đông, có lẽ là không cần bắn giỏi cũng có thể trúng”. Riêng tại chốt Đền Mẫu, binh nhì Điện đã tiêu diệt tới 30 lính Trung Quốc.
Lính Trung Quốc cứ theo tiếng kèn lớp lớp xông lên. Bị hắt ngược trở lại, rồi lại xông lên.

Trong một thời khắc, khi ông vừa nhảy xuống hào thay đạn thì chỉ nghe “bầm”. Ngoảnh lại, nơi 2 người đồng đội nằm chỉ còn lại một hố pháo đen xì. Không còn chút vết tích.
Tới 10h, xe tăng Trung Quốc đã tràn ngập khắp nơi. Pháo binh Trung Quốc nã đạn vào pháo đài trong suốt nửa ngày 18.
Bấy giờ trong hang Đền Mẫu, ngay phía dưới chốt của ông Điện có tới 300 – 400 dân tới tránh pháo.
Đến tối 18, đơn vị ông nhận được phương án đưa dân trong hang ra. Và chỉ trong một đêm, binh nhì Triệu Quang Điện trực tiếp đưa dân, ra ra vào vào 3 lần để cõng được ra 3 người đồng đội bị thương nặng.
Khẩu trung liên của ông giờ đang được trưng bày tại Viện Bảo tàng công an nhân dân.
Ít năm sau đó, khi gặp Thủ tướng Phạm Văn Đồng trong một buổi lễ, ông thậm chí không trả lời được vì sao chỉ trong 1 đêm, với quãng đường 17km, một người chỉ nặng chưa tới 49kg đã 3 lần bò vào cõng đồng đội bị thương ra nơi an toàn.
Chúng tôi theo lối mòn trèo lên pháo đài Đồng Đăng, nơi bị đánh phá ác liệt nhất trong cuộc chiến biên giới.

Vào ngày 17.2.1979, 2 sư đoàn bộ binh Trung Quốc dưới sự hỗ trợ của 1 trung đoàn xe tăng và 6 trung đoàn pháo binh đã tấn công ác liệt nơi này.
Trong cuốn Lịch sử sư đoàn 3 Sao Vàng còn ghi rõ: Ngày cuối cùng tại Pháo Đài, nơi có hệ thống phòng thủ kiên cố nhất, không gọi được đối phương đầu hàng, quân Trung Quốc chở bộc phá tới đánh sập cửa chính, dùng súng phun lửa, thả lựu đạn, bắn đạn hóa chất độc vào các lỗ thông hơi làm thiệt mạng cả thương binh và nhân dân tới đây trú ẩn.
Tháng 2 năm nay, pháo đài trở nên cô đơn, trơ trọi giữa sự náo nhiệt của lễ hội Đền Mẫu.
Hoặc như ở chính cái nơi mà lính Trung Quốc xả súng vào chiếc xe cứu thương 12A 04-35 của bệnh viện Lạng Sơn đi Đồng Đăng cứu nhân dân bị thương, giết chết cả người lái xe, cả BS Nguyễn Thu Thủy, y tá Trịnh Thị Sâm, giờ một con đường mới đã được mở ra dập dìu xe cộ, hàng hóa thông thương qua cửa khẩu Hữu Nghị.
Ở Tổng Chúp có tấm bia ghi bại vụ thảm sát này. Tấm bia giờ vẫn còn sau 35 năm, dù chiếc giếng cạn, nơi năm xưa chứa đầy xác phụ nữ, trẻ em bị hành quyết bằng rìu bổ củi giờ đã lấp đầy cây lá.

Quá khứ không dễ quên. Nhất là khi đó là những gì đau thương nhất. Cho dù theo thời gian, những nhân chứng chiến tranh giờ đã lần lượt ra đi. Ông Hoàng A Tỉn, nhân chứng thảm sát trong sân Bách hóa tổng hợp Bát Xát đã mất 2 năm trước.
Đến Tổng Chúp, lại nghe tin ông Nông Văn Ất, nguyên trưởng trại giống Đức Chính, người đã mất vợ và 4 đứa con trong vụ thảm sát Tổng Chúp giờ cũng không còn.
Lời vĩnh biệt nhói trời Pha Long
Nhưng cũng có những tấm bia trấn ải mới được dựng lên. Ngay bên tay phải đồn biên phòng tiền tiêu Pha Long, Mường Khương, Lào Cai, có những dòng chữ mới, được in trên bia đá:
Nguyên Thần Bổn Mệnh giữ núi non
Nam Sơn bốn cõi tựa sách trời định.
Thiên thiên nhật nguyệt linh linh ứng
Tuyệt tuyệt long phụng báo quốc an
Bình nhất hà Việt Nam Quốc thổ.
Thạc sĩ Đặng Vũ Cảnh Linh dịch: Nguyên Thần được giao sứ mệnh giữ núi non. Núi nam bốn cõi đã quy định trong sách trời. Nghìn nghìn mặt trời, mặt trăng linh thiêng và ứng nghiệm (điều đó). (Có) rồng phượng tuyệt vời bảo vệ an nguy tổ quốc. Đất Việt Nam yên bình nhất là ở đây.

Thiếu tá Phan Đức Mạnh, chính trị viên đồn Pha Long cho biết tấm bia trấn ải vừa được dựng hồi tháng 5, đúng vào điểm đối diện đài tưởng niệm các anh hùng liệt sĩ. Bên này từng hàng, từng hàng tên tuổi của 37 liệt sĩ đã hy sinh trong cuộc chiến tranh bảo vệ tổ quốc được khắc chìm trong đá xám.
Năm ấy, những chiến sĩ công an vũ trang còn trẻ măng đã đánh đến viên đạn cuối cùng, đã đâm gẫy đến chiếc lưỡi lê cuối cùng để bảo vệ tổ quốc.
Ngày 17.2.1979, sau khi bắn viên đạn cuối cùng, một người lính Pha Long đã gửi bức điện cuối cùng về hậu phương. Và cũng chỉ vài chữ, đại ý: Chúng tôi hết đạn. Xin Vĩnh biệt.
Chợt nhớ đến những câu thơ Vương Trọng:
Mắt rưng rưng, dò đọc từng dòng
Gặp điệp khúc Tháng Hai năm Bảy chín
Lời vĩnh biệt nhói trời Pha Long.

Đến lúc này tôi mới hiểu ra
Vì sao đường Biên giới bản đồ
Của Tổ quốc được tô màu đỏ!..

Năm nay, chỉ duy nhất một, trong số gần bảy chục gốc đào ở Pha Long đơm hoa.
Không xa Pha Long là điểm cao Tả Ngải Chồ, nơi một đồng nghiệp của chúng tôi, nhà báo, anh hùng liệt sĩ Bùi Nguyên Khiết đã tay bút tay súng hy sinh vào ngày 17.2.1979.
Có lẽ, chính những người lính biên phòng, chính những nhà báo liệt sĩ, chính nhân dân anh hùng, những người đã ngã xuống từ cả ngàn năm nay, những người đã hy sinh anh dũng trong cuộc chiến tranh chống quân xâm lược phương Bắc năm 1979 mới là những tấm “bia trấn ải” thiêng liêng nhất mà mỗi người làm báo chúng tôi cần phải nhắc lại để thế hệ con cháu còn có được cảm xúc thiêng liêng, tự hào khi nhắc đến hai chữ “Tổ Quốc”.

ĐÀO TUẤN
……

http://motthegioi.vn/xa-hoi/phut-bi-trang-o-po-hen-1721979-44878.html

Phút bi tráng ở Pò Hèn, 17.2.1979
ĐĂNG BỞI MỘT THẾ GIỚI – 15:01 12-02-2014

Đồn biên phòng Pò Hèn hay còn gọi là đồn 209 thuộc xã Hải Sơn, thành phố Móng Cái (Quảng Ninh) đã chứng kiến một trận chiến đấu bất khuất. Ở đó, đồn phó Đỗ Sỹ Họa và cô mậu dịch viên Hoàng Thị Hồng Chiêm cùng hầu hết những người lính đã hy sinh trong tư thế hiên ngang, không lùi bước.

Bị thương ngất đi, tỉnh lại tiếp tục chiến đấu

Nếu có một câu nói nào đó thể hiện được toàn bộ tinh thần chiến đấu của quân và dân các tỉnh biên giới những ngày chống quân Trung Quốc có lẽ câu nói của liệt sĩ, anh hùng Đỗ Sỹ Hoạ là câu nói tiêu biểu nhất: “Người Việt Nam không biết quỳ gối. Chúng mày tới đây, chúng mày sẽ chết”.
Đứng ở đài tưởng niệm liệt sĩ Pò Hèn, xây trên nền của chính đồn công an vũ trang Pò Hèn năm 1979. Một buổi sáng mùa xuân, đứng bên đài tưởng niệm, câu nói ấy của liệt sĩ Hoạ chợt văng vẳng khiến chúng tôi không khỏi sởn da gà và cay mắt. Nghe đồng đội của anh kể lại thời khắc anh chiến đấu ngoan cường ngay cả khi đã bị thương rất nặng, tất cả chúng tôi đều không cầm được nước mắt.
Ông Hoàng Như Lý, hiện sống tại thành phố Móng Cái, một trong số rất ít những người lính Pò Hèn còn sống sót sau trận chiến rạng sáng 17.2.1979, còn nhớ như in từng vị trí của đồn cũ.
Ông chỉ cho tôi đâu là khu nhà ăn nơi dính đạn pháo đầu tiên của địch, đâu là dãy nhà chỉ huy nhưng có một địa điểm ông Lý đặc biệt lưu ý và trầm ngâm hồi lâu: “Kia là đồi quế, nơi anh Họa hy sinh”.

Ngay đằng sau đài tượng niệm hiện nay là một quả đồi nho nhỏ, trông rất bình thường, không còn dấu tích gì của nơi từng diễn ra trận chiến tranh giành nhau từng tấc đất, nhưng 35 năm năm trước đó là nơi anh Họa đã chỉ huy và trực tiếp chiến đấu một trận bằng máu của mình.
“Tại đồi Quế, anh Họa bố trí đội hình đánh lại quân Trung Quốc khi đó đã chiếm được đồn. Phát hiện ra vị trí hỏa lực của ta, quân Trung Quốc nã pháo dồn dập vào đồi Quế, đồng đội chúng tôi hy sinh rất nhiều. Anh Họa cũng bị thương, mặt và người bê bết máu. Hỏa lực của địch mạnh hơn và cứ sau mỗi loạt pháo chúng lại bắc loa yêu cầu ta ra hàng nhưng anh Họa vẫn chỉ huy bắn trả”- ông Lý nhớ lại.
Chúng buộc phải dùng bộ binh với số lượng áp đảo xông lên để đánh giáp lá cà với quân ta và chiếm được đồi Quế. Đồn phó Đỗ Sỹ Họa cùng nhóm chiến sĩ của mình phải rút lui nhưng họ vẫn không đầu hàng mà lên ụ súng tổ chức lại lực lượng chiến đấu tiêu diệt 227 tên lính Trung Quốc, đến khi chiếm lại được đồi Quế.

Bị thương và mất máu quá nhiều anh Họa đã hy sinh nhưng khi trút hơi thở cuối cùng anh vẫn dặn đồng đội phải giữ vững trận địa. Ông Lý ngẹn lời: “Hình ảnh anh Họa bị thương ngất đi hai, ba lần liền nhưng cứ tỉnh lại là anh lại tiếp tục chiến đấu và chỉ huy rất dũng cảm”. Trong chiến tranh chống Mỹ ở Quảng Trị, anh Họa từng bị thương nhưng khi non sông thu về một mối dù quê ở Ân Thi (Hải Hưng) anh vẫn xung phong lên làm một người lính bảo vệ biên giới.
Nữ dũng sĩ Pò Hèn
Có một bài hát viết về một người con gái cũng có mặt ở đồn Pò Hèn vào ngày 17.2 của 35 năm trước. Người con gái đó không thuộc biên chế của đồn Pò Hèn nhưng chị tình cờ có mặt ở Pò Hèn đúng ngày giặc nổ súng.
Hoàng Thị Hồng Chiêm vốn là cô nhân viên thương nghiệp của cửa hàng bách hóa Pò Hèn. Đêm trước hôm 17.2, chị Chiêm nhận lệnh của trên phải sơ tán cửa hàng vì quân Trung Quốc có thể đánh sang bất cứ lúc nào. Không ngờ ngay trong đêm sơ tán cửa hàng, chị Chiêm cùng anh Vượng, cửa hàng trưởng lại phải đối mặt với đạn pháo liên hồi.

Trong tay cô gái Hoàng Thị Hồng Chiêm khi đó chỉ có một khẩu CKC và hai quả lựu đạn nhưng người con gái quê ở Bình Ngọc dõng dạc khẳng định với anh Vượng, anh Thắng, chủ tịch xã và anh Đinh, y sĩ của xã: “Các anh cứ đi trước để em yểm trợ. Trước ở trung đoàn 8 làm đường Ba Chẽ em được huấn luyện để dùng súng và lựu đạn rồi”.
Và chị Chiêm đã yểm trợ để một số người trốn thoát sau đó một mình chạy về chốt chiến đấu của đồn công an vũ trang 209.
Ông Hoàng Như Lý kể lại: “Lúc ấy, chị Chiêm và anh Bùi Anh Lượng, một người lính của đồn 209 đang yêu nhau. Thời điểm Chiêm có mặt, các chiến sĩ trong đồn cũng đang chiến đấu ác liệt với quân Trung Quốc, anh em ban đầu khuyên chị lui về tuyến sau nhưng chị kiên quyết xin đồn phó Đỗ Sỹ Họa cho chị sát cánh bên bộ đội chiến đấu”.
Được đồn phó Đỗ Sỹ Họa giao nhiệm vụ tiếp đạn và băng bó cho thương binh nhưng cứ mỗi lần lên tiếp đạn là chị lại phụ anh em chiến đấu. Đến khi địch phải dùng đến pháo 130 ly nã điên cuồng vào đồi Quế mới khiến chị Chiêm bị thương.

Khi đồn phó Họa đã hy sinh, chị Chiêm gần như là người thủ lĩnh tinh thần của bộ đội. Chị trực tiếp cầm khẩu K54 của anh Họa bắn về phía quân địch khi máu đã ướt đẫm áo. Chị dính loạt đạn trung liên và ngã xuống khi vừa tròn 25 tuổi. Ở xã Bình Ngọc, thành phố Móng Cái, quê hương người nữ dũng sĩ anh hùng có một bức tượng Hoàng Thị Hồng Chiêm đặt ở sân trường trung học mang tên chị.
Nhạc sĩ Trần Minh một lần đến Pò Hèn nghe về câu chuyện của chị đã viết ca khúc Người con gái trên đỉnh Pò Hèn với những lời ca: “Từ biên giới này tỏa tiếp lời ca thắng lợi/ Hương hồi thơm bay tỏa lan trên vách núi/ Có cánh đào tươi đẹp trời xuân mới trên đỉnh núi Pò Hèn/ Hoàng Thị Hồng Chiêm, Hoàng Thị Hồng Chiêm người con gái ấy/ Đã vào trang sách, đã thành bài ca” .

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng: Ðảng, Nhà nước và nhân dân mãi mãi ghi tạc và đời đời biết ơn sự hy sinh, cống hiến to lớn đó!

Trải qua hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước, biết bao thế hệ người Việt Nam với tinh thần yêu nước thương nòi, với ý chí kiên cường bất khuất và lòng thủy chung, nhân hậu đã đem cả máu xương, công sức, của cải của mình để gìn giữ độc lập tự do và thống nhất Tổ quốc, xây đắp giang sơn tươi đẹp cho muôn đời con cháu.
Kế thừa truyền thống quý báu đó của dân tộc ta, trong thời đại Hồ Chí Minh, dưới sự lãnh đạo của Ðảng, nhân dân ta đã viết nên những trang sử vẻ vang trong đấu tranh chống giặc ngoại xâm để giành độc lập – tự do và thống nhất đất nước, với Cách mạng Tháng Tám năm 1945, lập ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa; với Chiến thắng Ðiện Biên Phủ năm 1954 đánh đổ ách thực dân, giải phóng một nửa giang sơn. Và với ý chí “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”, nhân dân ta đã tiến hành cuộc kháng chiến trường kỳ gian khổ và đã làm nên Ðại thắng mùa Xuân năm 1975, giải phóng hoàn toàn miền nam, thống nhất đất nước, cả nước cùng đi lên xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Trong khi những vết thương nặng nề của chiến tranh xâm lược gây ra chưa kịp hàn gắn, chúng ta lại phải chịu đựng những hy sinh, tổn thất mới trong cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới tây-nam và biên giới phía bắc. Và ngay trong xây dựng hòa bình, vẫn có những người con của dân tộc ta phải hy sinh hoặc chịu thương tật để bảo vệ cuộc sống bình yên của nhân dân và sự phồn vinh của đất nước.
Vì nền độc lập, tự do và sự thống nhất, phồn vinh của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân, hàng triệu người con ưu tú của dân tộc ta, mà phần lớn là thanh niên đã hiến dâng tuổi thanh xuân và cả cuộc sống của mình cho đất nước, đã ngã xuống trên chiến trường, hoặc khi trở về đã mang trên mình thương tật suốt đời. Hàng triệu thân nhân liệt sĩ, những bậc ông bà, cha mẹ, những người chồng, người vợ và những người con đã mãi mãi không thể gặp lại những người thân yêu nhất của mình. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: Chính họ đã làm rạng rỡ dân tộc, vẻ vang giống nòi. Họ chết cho Tổ quốc sống mãi…, tinh thần của họ luôn sống với non sông Việt Nam. Ðảng, Nhà nước và nhân dân ta mãi mãi ghi tạc và đời đời biết ơn sự hy sinh, cống hiến to lớn đó. Các thế hệ người Việt Nam sẽ luôn luôn tự hào và nguyện sống xứng đáng với những hy sinh cao cả của các thế hệ cha anh.

(Trích phát biểu của thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng trong lễ kỷ niệm ngày Thương binh – Liệt sĩ 27.7.2007 tại Cung văn hoá Hữu nghị(Hà Nội)
Nguồn: Bộ ngoại giao

NGỌC UYÊN

(Mạnh Kim  February 13 )

Posted in Chien Tranh Bien Gioi Viet Trung 1979 | 1 Comment »

►Công an Hà Nội, cán bộ, đảng viên quậy phá buổi tưởng niệm đồng bào chiến sĩ bị bọn xâm lược TQ giết hại trong cuộc tấn công vào biên giới phía Bắc VN ngày 17-2-1979

Posted by hoangtran204 trên 16/02/2014

Sáng 16-2-2014, ngay trong công viên và cạnh chân tượng đài Lý Thái Tổ, các  cán bộ đảng viên được điều động ra công viên nhảy nhót khiêu vũ để quấy rối những cuộc tưởng niệm đồng bào chiến sĩ bị  bọn xâm lược TQ giết hại trong cuộc tấn công vào biên giới phía Bắc VN ngày 17-2-1979. 

 

https://www.youtube.com/watch?v=xO5daEqa-3o&list=UUV6wTnB8pvuCUyzfpPqQh4w

*Trần Nhật Quang – Quang Trần Nhật – chuyên gia làm càn phá rối các cuộc biểu tình và tưởng niệm tại Hà Nội.   https://www.facebook.com/quang.trannhat.351

 

*Đây chính là đoạn video người đàn ông này đang hùng hồn diễn thuyết với tôi, mời bà con xem và vào Facebook đồng chí ấy dạy dỗ thêm… (Nguyễn Lân Thắng)

http://www.youtube.com/watch?v=q-s8mkV050M&feature=youtu.be

Posted in Chien Tranh Bien Gioi Viet Trung 1979 | Leave a Comment »

►Đặng Tiểu Bình trong chiến tranh biên giới Việt Trung 1979

Posted by hoangtran204 trên 16/02/2014

16-2-2014

Trần Trung Đạo

Tác giả gửi đến Dân Luận

Trong chuyến công du các quốc gia Á Châu để chuẩn bị hậu thuẫn dư luận trước khi đánh Việt Nam, Đặng Tiểu Bình tuyên bố “Việt Nam là côn đồ, phải dạy cho Việt Nam bài học”. Câu “Việt Nam là côn đồ” được các đài truyền hình Trung Quốc phát đi và chính Dương Danh Dy, nguyên Tổng Lãnh Sự Quán Việt Nam tại Quảng Châu, đã xem đoạn phóng sự truyền hình đó “Tôi không bao giờ có thể quên vẻ mặt lỗ mãng và lời nói “bạo đồ” đầy giọng tức tối của ông ta qua truyền hình trực tiếp và tiếng người phiên dịch sang tiếng Anh là “hooligan” – tức du côn, côn đồ.”

Tại sao Đặng Tiểu Bình nói câu “lỗ mãng” đó?

Đảng CS Trung Quốc “hy sinh” quá nhiều cho đảng CSVN. Không nước nào viện trợ cho CSVN nhiều hơn Cộng Sản Trung Quốc (CSTQ). Trong cuộc chiến Việt Nam, Trung Quốc không chỉ viện trợ tiền của mà còn bằng xương máu. Trong tác phẩm Trung Quốc lâm chiến: Một bộ bách khoa (China at War: An Encyclopedia) tác giả Xiaobing Li liệt kê các đóng góp cụ thể của 320 ngàn quân Trung Quốc trong chiến tranh Việt Nam:

“Trong chiến tranh Việt Nam giai đoạn năm 1964 đến năm 1973, quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc (PLA) đã lần nữa can thiệp. Tháng Bảy năm 1965, Trung Quốc bắt đầu đưa quân vào Bắc Việt, bao gồm các đơn vị hỏa tiển địa-không (SAM), phòng không, làm đường rầy xe lửa, công binh, vét mìn, hậu cần. Quân đội Trung Quốc điều khiển các giàn hỏa tiển phòng không, chỉ huy các đơn vị SAM, xây dựng và sửa chữa đường sá, cầu cống, đường xe lửa, nhà máy. Sự tham gia của Trung Quốc giúp cho Việt Nam có điều kiện gởi thêm gởi nhiều đơn vị Bắc Việt vào Nam đánh Mỹ. Giữa năm 1965 và năm 1968, Trung Quốc gởi sang Bắc Việt 23 sư đoàn, gồm 95 trung đoàn, tổng số lên đến 320 ngàn quân. Vào cao điểm năm 1967, có 170,000 quân Trung Quốc hiện diện”.

Trong số năm nhân vật hàng đầu lãnh đạo Trung Quốc giai đoạn 1977 đến 1980 gồm Hoa Quốc Phong, Diệp Kiếm Anh, Lý Tiên Niệm, Uông Đông Hưng và Đặng Tiểu Bình thì Đặng Tiểu Bình là người có hoạt động gần gũi nhất với phong trào CSVN. Hơn ai hết, họ Đặng đã tiếp xúc, làm việc với các lãnh đạo CSVN, biết cá tính từng người và cũng biết một cách tường tận và chính xác những hy sinh của Trung Quốc dành cho đảng CSVN. Trong thập niên 1960, CSVN sống bằng gạo trắng của Trung Quốc nhưng cũng ngay thời gian đó quê hương Tứ Xuyên của Đặng Tiểu Bình chết đói trên 10 triệu người. Trong thời gian hai đảng CS cơm không lành canh không ngọt, bộ máy tuyên truyền CSVN ca ngợi Lê Duẩn như một nhân vật kiên quyết chống bành trướng Bắc Kinh nhưng đừng quên tháng 4, 1965, chính Lê Duẩn đã sang tận Bắc Kinh cầu khẩn Đặng Tiểu Bình để gởi quân trực tiếp tham chiến.

Xung đột biên giới và xô đuổi Hoa Kiều

Theo báo cáo Bộ Quốc Phòng Trung Quốc, các đụng độ quân sự trong khu vực biên giới giữa các lực lượng biên phòng hai nước đã gia tăng đáng kể sau 1975, gồm 752 vụ trong 1977 đến 1,100 vụ trong 1978. Không chỉ về số lượng mà cả tầm vóc của các vụ đụng độ cũng gia tăng. Dù không phải là lý do chính, những đụng độ quân sự cũng là cách gợi ý cho Bắc Kinh thấy giải pháp có thể phải chọn là giải pháp quân sự. Tháng 11, 1978 Phó Chủ Tịch Nhà nước Uông Đông Hưng và Tướng Su Zhenghua, Chính Ủy Hải Quân, đề nghị đưa quân sang Cambodia và Tướng Xu Shiyou, Tư lịnh Quân Khu Quảng Châu đề nghị đánh Việt Nam từ ngã Quảng Tây. Chính sách xô đuổi Hoa Kiều vào sáu tháng đầu 1978 cũng làm Trung Quốc khó chịu về bang giao và khó khăn về kinh tế.

Đánh Việt Nam để củng cố quyền lực

Đặng Tiểu Bình được phục hồi lần chót vào tháng 7, 1977 với chức vụ Phó Chủ Tịch BCH Trung Ương Đảng, Phó Chủ Tịch Quân Ủy Trung Ương, Phó Thủ Tướng, Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Giải Phóng Nhân Dân Trung Quốc. Tuy nhiên, tất cả chức vụ này không đồng nghĩa với việc tóm thu quyền lực. Hoa Quốc Phong vẫn là Chủ Tịch Nước và Chủ Tịch Đảng. Các ủy viên Bộ Chính Trị khác như Uông Đông Hưng, người ủng hộ Hoa Quốc Phong, Lý Tiên Niệm, Phó Chủ Tịch Nước và Phó Chủ Tịch Đảng CSTQ đều còn nhiều quyền hành. Sự đấu tranh quyền lực trong nội bộ đảng CSTQ ngày càng căng thẳng. Ảnh hưởng của họ Đặng chỉ gia tăng sau chuyến viếng thăm Đông Nam Á và đặc biệt sau Hội Nghị Công Tác Trung Ương từ ngày 10 tháng 11 đến ngày 15 tháng 12, 1978 cũng như Hội Nghị Trung Ương Đảng kỳ III, trong đó các kế hoạch hiện đại hóa kinh tế được đề xuất như chiến lược của Trung Quốc trong thời kỳ mới. Trong nội dung chiến lược này, Mỹ được đánh giá như nguồn cung cấp khoa học kỹ thuật tiên tiến để phục vụ các hiện đại hóa.

Nỗi sợ bị bao vây

Tuy nhiên, câu nói của họ Đặng không phải phát ra từ cá lý do trên mà chính từ nỗi sợ bị bao vây. Học từ những bài học cay đắng của mấy ngàn năm lịch sử Trung Hoa, nỗi sợ lớn nhất ám ảnh thường xuyên trong đầu các thế hệ lãnh đạo CSTQ là nỗi sợ bị bao vây. Tất cả chính sách đối ngoại của đảng CSTQ từ 1949 đến nay đều bị chi phối bởi nỗi lo sợ đó.

Cựu Ngoại trưởng Mỹ Henry Kissinger, trong tác phẩm Về Trung Quốc (On China) vừa xuất bản, đã trích lại một đoạn đối thoại giữa Phạm Văn Đồng và Chu Ân Lai trong cuộc viếng thăm Trung Quốc của họ Phạm vào năm 1968. Chu Ân Lai: “Trong một thời gian dài, Trung Quốc bị Mỹ bao vây. Bây giờ Liên Xô bao vây Trung Quốc, ngoại trừ phần Việt Nam”. Phạm Văn Đồng nhiệt tình đáp lại: “Chúng tôi càng quyết tâm để đánh bại đế quốc Mỹ bất cứ nơi nào trên lãnh thổ Việt Nam”. Chu Ân Lai: “Đó chính là lý do chúng tôi ủng hộ các đồng chí”. Phạm Văn Đồng phấn khởi: “Chiến thắng của chúng tôi sẽ có ảnh hưởng tích cực tại châu Á, sẽ đem lại những thành quả chưa từng thấy”. Chu Ân Lai đồng ý: “Các đồng chí nghĩ thế là đúng ”.

Chính sách của Đặng Tiểu Bình đối với Liên Xô kế thừa từ quan điểm của Mao, qua đó, sự bành trướng của Liên Xô được xem như “một đe dọa đối với hòa bình”. Khi Việt Nam rơi vào quỹ đạo Liên Xô sau Hiệp Ước Hữu Nghị và Hợp Tác Việt-Xô được ký ngày 3 tháng 11, 1978, nỗi sợ hãi bị bao vây như Chu Ân Lai chia sẻ với Phạm Văn Đồng không còn là một ám ảnh đầy đe dọa mà là một thực tế đầy nguy hiểm.

Cambodia, giọt nước tràn ly

Không những Trung Quốc sợ bao vây từ phía nam, vùng biên giới Lào mà còn lo sợ bị cả khối Việt Miên Lào bao vây. Để cô lập Việt Nam và ngăn chận khối Việt Miên Lào liên minh nhau, ngay từ tháng 8 năm 1975, Đặng Tiểu Bình cũng đã chia sẻ với Khieu Samphan, nhân vật số ba trong Khmer Đỏ “Khi một siêu cường [Mỹ] rút đi, một siêu cường khác [Liên Xô] sẽ chụp lấy cơ hội mở rộng nanh vuốt tội ác của chúng đến Đông Nam Á”. Họ Đặng kêu gọi đảng CS Campuchia đoàn kết với Trung Quốc trong việc ngăn chận Việt Nam bành trướng. Hoa Quốc Phong cũng lập lại những lời tương tự khi tiếp đón phái đoàn của Tổng bí thư đảng CS Lào Kaysone Phomvihane nhân chuyến viếng thăm Trung Quốc của y vào tháng Ba, 1976. Tháng Sáu, 1978, Việt Nam chính thức tham gia COMECON và tháng 11 cùng năm Việt Nam ký Hiệp ước Hữu nghị và Hợp tác có bao gồm các điều khoản về quân sự với Liên Xô. Tháng 12 năm 1978, Việt Nam xâm lăng Campuchia đánh bật tập đoàn Pol Pot vào rừng và thiết lập chế độ Heng Samrin thân CSVN. Đặng Tiểu Bình xem đó như giọt nước tràn ly và quyết định chặt đứt vòng xích bằng cách dạy cho đàn em phản trắc CSVN “một bài học”. Đặng Tiểu Bình chọn phương pháp quân sự để chọc thủng vòng vây.

Quyết định của Đặng Tiểu Bình

Hầu hết tài liệu đều cho thấy, mặc dầu có sự chia rẽ trong nội bộ Bộ Chính Trị, quyết định tối hậu trong việc đánh Việt Nam là quyết định của Đặng Tiểu Bình.

Tại phiên họp mở rộng ngày 31 tháng 12, 1978 Đặng Tiểu Bình chính thức đề nghị thông qua kế hoạch tấn công “trừng phạt” Việt Nam. Các thành viên tham dự chẳng những đồng ý với kế hoạch đầu tiên tấn công vào Lạng Sơn, Cao Bằng và Lào Cai mà cả kế hoạch được sửa đổi trong đó có việc phối trí hai binh đoàn có thể tấn công vào Điện Biên Phủ từ ngã Mengla và Vân Nam qua đường Lào để đe dọa trực tiếp đến Hà Nội. Cũng trong phiên họp này Đặng Tiểu Bình cử Tướng Hứa Thế Hữu, Tư lịnh cánh quân từ hướng Quảng Tây, Tướng Dương Đắc Chí, đương kiêm Tư Lịnh Quân Khu Vũ Hán, chỉ huy cánh quân từ hướng Vân Nam.

Soạn kế hoạch trên giấy tờ thì dễ nhưng với một người có đầu óc thực tiễn như Đặng Tiểu Bình, y biết phải đối phó với nhiều khó khăn. Trong điều kiện kinh tế và quân sự còn rất yếu của Trung Quốc vào năm 1979, đánh Việt Nam là một quyết định vô cùng quan trọng. Đặng Tiểu Bình nắm được Bộ Chính Trị CSTQ nhưng về mặt đối ngoại, Đặng Tiểu Bình phải thuyết phục các quốc gia Đông Nam Á, Á Châu và nhất là Mỹ.

Lên đường thuyết khách tìm đồng minh

Cuối năm 1978, Đặng Tiểu Bình, 74 tuổi, thực hiện một chuyến công du chính thức và lịch sử với tư cách lãnh đạo tối cao của Trung Quốc để vừa thúc đẩy Bốn Hiện Đại Hóa và vừa dọn đường đánh Việt Nam.

Họ Đặng viếng thăm hàng loạt quốc gia châu Á như Nhật, Thái Lan, Mã Lai, Singapore, Miến Điện, Nepal. Tại mỗi quốc gia thăm viếng, họ Đặng luôn đem thỏa ước Việt-Xô ra hù dọa các nước láng giềng như là mối đe dọa cho hòa bình và ổn định Đông Nam Á. Đặng Tiểu Bình phát biểu tại Bangkok ngày 8 tháng 11 năm 1978: “Hiệp ước [Việt Xô] này không chỉ nhắm đến riêng Trung Quốc… mà là một âm mưu Sô Viết tầm thế giới. Các bạn có thể nghĩ hiệp ước chỉ nhằm bao vây Trung Quốc. Tôi đã trao đổi một cách thân hữu với nhiều nước rằng Trung Quốc không sợ bị bao vây. Thỏa hiệp có ý nghĩa quan trọng hơn đối với Á Châu và Thái Bình Dương. An ninh và hòa bình châu Á, Thái Bình Dương và toàn thế giới bị đe dọa.” Ngoại trừ Singapore, họ Đặng nhận sự ủng hộ của hầu hết các quốc gia Đông Nam Á. ASEAN lên án Việt Nam xâm lăng Kampuchea. Nhật Bản cũng lên án Việt Nam.

Trong các chuyến công du nước ngoài, việc viếng thăm Mỹ đương nhiên là quan trọng nhất. Trong phiên họp của Bộ Chính Trị Trung Ương Đảng CSTQ ngày 2 tháng 11, 1978, Đặng Tiểu Bình chỉ thị cho Bộ Ngoại Giao Trung Quốc thông báo cho Mỹ biết ý định bình thường hóa ngoại giao. Đầu tháng 12, Đặng báo cho các bí thư đảng ủy một số tỉnh và tư lịnh các quân khu rằng Mỹ có thể thiết lập quan hệ ngoại giao với Trung Quốc vào đầu năm Dương Lịch 1979. Chính bản thân Đặng đàm phán trực tiếp bốn lần với Leonard Woodcock, Giám Đốc Văn Phòng Đại Diện Mỹ tại Bắc Kinh trong hai ngày 13 và 15 tháng 11, 1978. Trong các buổi đàm phán, Đặng đã nhượng bộ Mỹ bằng cách không đưa vấn đề Mỹ bán võ khí cho Đài Loan như một điều kiện tiên quyết để tiến tới bình thường hóa vì Đặng nóng lòng giải quyết quan hệ với Mỹ trước khi xăm lăng Việt Nam.

Chính thức viếng thăm Hoa Kỳ

Ngày 28 tháng Giêng 1979, Đặng Tiểu Bình lên đường chính thức viếng thăm Mỹ. Y nghĩ rằng Mỹ và Trung Quốc đang tiến tới một đồng minh chiến lược chống Sô Viết trên phạm vi toàn cầu nhưng không có gì chắc chắn Mỹ sẽ ủng hộ ra mặt trong cuộc chiến chống Việt Nam sắp tới. Trong thời gian ở Mỹ, Đặng Tiểu Bình gặp Tổng Thống Jimmy Carter ba lần. Chỉ trong vài giờ sau khi hạ cánh xuống Washington DC, Đặng yêu cầu được gặp riêng với Tổng thống Carter để thảo luận về vấn đề Việt Nam. Đề nghị của họ Đặng làm phía Mỹ ngạc nhiên. Chiều ngày 29 tháng Giêng, Đặng và phái đoàn gồm Ngoại Trưởng Hoàng Hoa, Thứ trưởng Ngoại Giao Zhang Wenjin đến gặp TT Carter tại Tòa Bạch Ốc. Phía Mỹ, ngoài TT Carter còn có Phó Tổng Thống Walter Mondale, Ngoại Trưởng Cyrus Vance và Cố Vấn An Ninh Quốc Gia Brzezinski. Trong buổi họp, Đặng Tiểu Bình thông báo cho TT Mỹ biết Trung Quốc đã quyết định chống lại sự bành trướng của Liên Xô bằng cách tấn công Việt Nam và cần sự ủng hộ của Mỹ. Trái với mong muốn của Đặng Tiểu Bình, TT Carter không trả lời ngay, ngoài trừ việc yêu cầu họ Đặng nên “tự chế khi đương đầu với tình trạng khó khăn”.

Ngày hôm sau, Đặng Tiểu Bình nhận lá thư viết tay của TT Carter, trong đó ông có ý cản ngăn họ Đặng vì theo TT Carter dù Trung Quốc có đánh Việt Nam, Việt Nam cũng không rút quân khỏi Cambodia mà còn làm Trung Quốc sa lầy. TT Carter cũng nhắc việc xâm lăng Việt Nam có thể làm cản trở nỗ lực của Trung Quốc cổ võ cho một viễn ảnh hòa bình trên thế giới.

TT Carter viết lại trong nhật ký Jimmy Carter, Keeping Faith, Memoirs Of A President, Ngô Bắc dịch:

“Sáng sớm hôm sau, họ Đặng và tôi một lần nữa hội kiến tại Văn Phòng Bàu Dục, chỉ có một thông dịch viên hiện diện. Tôi đã đọc to và trao cho ông ta một bức thư viết tay tóm tắt các lý luận của tôi nhằm ngăn cản một cuộc xâm lăng của Trung Quốc vào Việt Nam. Ông ta đã nhấn mạnh rằng nếu họ quyết định chuyển động, họ sẽ triệt thoái các bộ đội Trung Quốc sau một thời gian ngắn – và các kết quả của một cuộc hành quân như thế nhiều phần có lợi và có hiệu quả lâu dài. Hoàn toàn khác biệt với tối hôm trước, giờ đây ông ta là một lãnh tụ cộng sản cứng rắn, quả quyết rằng dân tộc ông không xuất hiện với vẻ yếu mềm. Ông ta tuyên bố vẫn còn đang cứu xét vấn đề, nhưng ấn tượng của tôi là quyết định đã sẵn được lấy. Việt Nam sẽ bị trừng phạt.”

Ngày 30 tháng Giêng, trong một buổi họp khác với TT Carter, Đặng Tiểu Bình cho biết việc đánh Việt Nam đã được quyết định và sẽ không có gì làm thay đổi. Tuy nhiên, họ Đặng cũng nhấn mạnh chiến tranh sẽ xảy ra trong vòng giới hạn.

Đặng Tiểu Bình không mua chuộc được sự ủng hộ công khai của Mỹ để đánh Việt Nam nhưng ít ra không phải về tay trắng. Tổng thống Carter để lấy lòng “khách hàng khổng lồ” và “đồng minh chiến lược chống Liên Xô” đã đồng ý cung cấp tin tức tình báo các hoạt động của 50 sư đoàn Liên Xô trong vùng biên giới phía bắc Trung Hoa. Mỹ cũng dùng vệ tinh để theo dõi trận đánh biên giới và cũng nhờ những tấm ảnh chụp từ vệ tinh mà các cơ quan truyền thông biết ai đã dạy ai bài học trong chiến tranh biên giới Việt Trung 1979. Trong buổi họp riêng với Tổng thống Carter trước khi lên máy bay, Đặng khẳng định “Trung Quốc vẫn phải trừng phạt Việt Nam”. Chuyến viếng thăm Mỹ là một thành công. Dù Mỹ không ủng hộ nhưng chắc chắc Đặng biết cũng sẽ không lên án Trung Quốc xâm lược Việt Nam. Trên đường về nước, Đặng ghé Tokyo lần nữa để vận động sự ủng hộ của Nhật.

Hai ngày sau khi trở lại Bắc Kinh, ngày 11 tháng 2, 1979 Đặng triệu tập phiên họp mở rộng của Bộ Chính Trị và giải thích đặc điểm và mục tiêu của cuộc tấn công Việt Nam. Ngày 17 tháng 2, 1979, Đặng Tiểu Bình xua khoảng từ 300 ngàn đến 500 ngàn quân, tùy theo nguồn ghi nhận, tấn công Việt Nam. Nhiều tài liệu Việt, Hoa và quốc tế đã phân tích về chiến tranh biên giới Việt Trung 1979.

Lãnh đạo CSVN ở đâu trong ngày quân Trung Quốc tràn qua biên giới?

Trong khi Đặng Tiểu Bình chuẩn bị một cách chi tiết từ đối nội đến đối ngoại cho cuộc tấn công vào Việt Nam, các lãnh đạo CSVN đã bị CSTQ tẩy não sạch đến mức nghĩ rằng người Cộng Sản đàn anh dù có giận cỡ nào cũng không nở lòng đem quân đánh đàn em CSVN. Dương Danh Dy, nguyên Tổng Lãnh Sự tại Quảng Châu nhắc lại “Trong tận đáy lòng chúng tôi vẫn hy vọng, có thể một cách ngây thơ rằng, Việt Nam và Trung Quốc từng quá gần gũi và hữu nghị, họ [Trung Quốc] chẳng lẽ thay đổi hoàn toàn với Việt Nam quá nhanh và quá mạnh như thế.”

Khi hàng trăm ngàn quân Trung Quốc tràn sang biên giới, Thủ Tướng CS Phạm Văn Đồng và Đại Tướng Tổng tham mưu trưởng Văn Tiến Dũng vẫn còn đang viếng thăm Campuchia. Tình báo Việt Nam không theo dõi sát việc động binh ồ ạt của Trung Quốc và cũng không xác định được hướng nào là trục tiến quân chính của quân Trung Quốc. Tác giả Xiaoming Zhang viết trong Tái đánh giá cuộc chiến Trung Việt 1979 “Rõ ràng tình báo Việt Nam thất bại để chuẩn bị cho việc Trung Quốc xâm lăng” và “Mặc dù Trung Quốc nhiều tháng trước đó đã có nhiều dấu hiệu chiến tranh, các lãnh đạo Việt Nam không thể nào tin “nước xã hội chủ nghĩa anh em” có thể đánh họ.

Dù bị bất ngờ, hầu hết các nhà phân tích quân sự, kể cả nhiều tác giả người Hoa, cũng thừa nhận khả năng tác chiến của phía Việt Nam vượt xa khả năng của quân đội Trung Quốc. Tạp chí Time tổng kết dựa theo các nguồn tin tình báo Mỹ, chỉ riêng trong hai ngày đầu thôi và khi các quân đoàn chính quy Việt Nam chưa được điều động đến, dân quân Việt Nam vùng biên giới đã hạ bốn ngàn quân chủ lực Trung Quốc. Tác giả Xiaobing Li, trong bài viết Quân đội Trung Quốc học bài học gì dựa theo khảo cứu A History of the Modern Chinese Army đã mô tả quân Trung Quốc chiến đấu tệ hại hơn cả trong chiến tranh Triều Tiên mấy chục năm trước.

Nếu ngày đó giới lãnh đạo CSVN không tin tưởng một cách mù quáng vào ý thức hệ CS và “tình hữu nghị Việt Trung”, nhiều ngàn thanh niên Việt Nam đã không chết, Lạng Sơn đã không bị san bằng, hai tiểu đoàn bảo vệ thị trấn Đồng Đăng chống cự lại hai sư đoàn Trung Quốc đã không phải hy sinh đến người lính cuối cùng.

Bài học lịch sử từ chiến tranh biên giới 1979

Từ đó đến nay, khi đánh khi đàm, khi vuốt ve khi đe dọa nhưng các mục tiêu của chủ nghĩa bành trướng Trung Quốc đối với Việt Nam từ chiến tranh biên giới 1979 đến Hội Nghị Thành Đô 1990 vẫn không thay đổi. Trung Quốc bằng mọi phương tiện sẽ buộc Việt Nam hoàn toàn lệ thuộc vào Trung Quốc về chế độ chính trị, là một phần không thể tách rời trong toàn bộ chiến lược an ninh châu Á của Trung Quốc và độc chiếm toàn bộ các quyền lợi kinh tế vùng biển Đôngbao gồm cả các vùng biển đảo Hoàng Sa, Trường Sa đang tranh chấp.

Đặng Tiểu Bình trước đây và các lãnh đạo CSTQ hiện nay sẳn sàng dùng bất cứ phương tiện gì để thực hiện các chủ trương đó kể cả việc xóa bỏ nước Việt Nam trong bản đồ thế giới bằng một chính sách đánh phủ đầu (preemptive policy).

Đừng quên họ Đặng đã từng chia sẻ ý định này với Tổng thống Jimmy Carter “Bất cứ nơi nào, Liên Xô thò ngón tay tới, chúng ta phải chặt đứt ngón tay đó đi”. Đặng Tiểu Bình muốn liên minh quân sự với Mỹ như kiểu NATO ở châu Âu để triệt tiêu Liên Xô tại châu Á. Cựu Ngoại trưởng Mỹ Henry Kissinger giải thích quan điểm này của họ Đặng trong tác phẩm Về Trung Quốc (On China) của ông: “Những gì Đặng Tiểu Bình đề nghị về căn bản là chính sách đánh phủ đầu, đó là một lãnh vực trong chủ thuyết quân sự ngăn chận tấn công của Trung Quốc… Nếu cần thiết, Trung Quốc sẽ chuẩn bị phát động các chiến dịch quân sự để phá vỡ kế hoạch của Liên Xô, đặc biệt tại vùng Đông Nam Á”. “Đông Nam Á” và “ngón tay” theo ý Đặng Tiểu Bình tức là Việt Nam và liên kết quân sự theo dạng NATO không phải là để dời vài cột mốc, dở một đoạn đường rầy xe lửa, đụng độ biên giới lẻ tẻ mà là cuộc tấn công phủ đầu, triệt tiêu có tính quyết định trước khi Việt Nam có khả năng chống trả.

Cựu Ngoại trưởng Mỹ bà Madeline Albright có câu nói rất hay “Lịch sử chưa bao giờ lập lại một cách chính xác nhưng chúng ta phải gánh lấy tai họa nếu không học từ lịch sử.” Với Chiến Tranh Lạnh đang diễn ra tại Châu Á hiện nay và với nền kinh tế Trung Quốc phát triển nhưng không lối thoát cho bộ máy chính trị độc tài toàn trị đang được chạy bằng nhiên liệu Đại Hán cực đoan, chiến tranh sẽ khó tránh khỏi dù các bên có muốn hay không.

Việt Nam, quốc gia vùng trái độn giữa hai quyền lực thế giới, chưa bao giờ đứng trước một chọn lựa sinh tử như hôm nay. Một người có trách nhiệm với tương lai đất nước, dù cá nhân có mang một thiên kiến chính trị nào, cũng phải biết thức tỉnh, biết đặt quyền lợi dân tộc lên trên, biết chọn hướng đi thích hợp với đà tiến văn minh dân chủ của thời đại, chấm dứt việc cấy vào nhận thức của tuổi trẻ một tinh thần bạc nhược, đầu hàng.

Lịch sử đã chứng minh, Trung Quốc giàu mạnh nhưng không phải là một quốc gia đáng sợ. Nỗi sợ hãi lớn nhất của người Việt Nam là sợ chính mình không đủ can đảm vượt qua quá khứ bản thân, không đủ can đảm thừa nhận sự thật và sống vì tương lai của các thế hệ con cháu mai sau.

Trần Trung Đạo

__________________________________________________

Tham khảo:

– Deng Xiaoping and China’s Decision to go to War with Vietnam, Xiaoming Zhang, MIT Press 2010
– China’s 1979 War with Vietnam: A Reassessment, Xiaoming Zhang
– Henry Kissinger, On China, The Penguin Press, New York 2011
– Graham Hutchings, Modern China, Harvard University Press, 2001
– Todd West, Failed Deterrence, University of Georgia
– Reuter, China admits 320,000 troops fought in Vietnam, May 16 1989
– Russell D. Howard, The Chinese People’s Liberation Army: “Short Arms and Slow Legs”, USAF Institute for National Security Studies 1999
– Wikipedia Đặng Tiểu Bình
– Wikipedia Chiến tranh biên giới Việt-Trung, 1979
– Vietnam tense as China war is marked, BBC, 16 February 2009
– A History of the Modern Chinese Armypp. P 255-256, 258-259 , Xiaobing Li (U. Press of Kentucky, 2007)
– Jimmy Carter, cựu Tổng Thống Hoa Kỳ, Ghi nhớ về chiến tranh Trung Quốc – Việt Nam năm 1979, Ngô Bắc dịch
– “Côn đồ” Đặng Tiểu Bình trong quan hệ Việt-Trung-Miên, Trần Trung Đạo
– Chu kỳ thù hận Việt-Trung-Miên, Trần Trung Đạo

————————–

Các bài liên quan:

  (bài này đã bị thất lạc)

►Liên Xô đã làm gì trong cuộc chiến tranh biên giới Việt Trung 17-2-1979

    (2-2014)

►Trung Quốc ép Việt Nam không được tưởng niệm Chiến tranh biên giới 1979?

(11-2-2014)

►Đặng Tiểu Bình trong chiến tranh biên giới Việt Trung 1979  (16-2-2014)

►Biên Giới Tháng Hai (2009-1979)  – Huy Đức   (2-2009)

Posted in Chien Tranh Bien Gioi Viet Trung 1979 | 1 Comment »

►Biên Giới, Hồi Ức 35 Năm- Biên Giới Tháng Hai (2009-1979)

Posted by hoangtran204 trên 16/02/2014

Bài vừa đăng trên Sài Gòn Tiếp Thị thì bị rút xuống 9-2-09

Biên Giới Tháng Hai (2009-1979)

Huy Đức

Tháng Hai, những cây đào cổ thụ trước cổng đồn biên phòng Lũng Cú, Hà Giang, vẫn chưa có đủ hơi ấm để đâm hoa; những khúc quanh trên đèo Tài Hồ Sìn, Cao Bằng, vẫn mịt mù trong sương núi.

Sáng 7-2 nắng lạnh, vợ chồng ông Nguyễn Văn Quế, 82 tuổi, nhà ở khối Trần Quang Khải 1, thị xã Lạng Sơn, ngồi co ro kể lại cái chết 30 năm trước của con trai mình, anh Nguyễn Văn Đài.

Năm ấy, Đài 22 tuổi. Ông Quế nói: “Để ghi nhớ ngày ấy, chúng tôi lấy Dương lịch, 17-2, làm đám giỗ cho con”. Năm 1979, vào lúc 5giờ 25 phút sáng ngày 17-2, Trung Quốc nổ súng trên toàn tuyến biên giới Việt Nam, đánh chiếm từ Phong Thổ, Lai Châu, tới địa đầu Móng Cái.

“Những đôi mắt”

Hôm ấy, ông Quế không có nhà, vợ ông, bà Dự, bị dựng dậy khi bên ngoài trời hãy còn rất tối. Bà nghe tiếng pháo chát chúa ở hướng Đồng Đăng và phía dốc Chóp Chài, Lạng Sơn. Bà Dự đánh thức các con dậy, rồi 4 mẹ con dắt díu nhau chạy về xuôi. Tới ki-lô-mét số 10, đã quá trưa, bà rụng rời khi hay tin, anh Đài đã bị quân Trung Quốc giết chết.

Anh Đài là công nhân đường sắt, thời điểm ấy, các anh đương nhiên trở thành tự vệ bảo vệ đoạn đường sắt ở Hữu Nghị Quan. Anh em công nhân trong đội của Đài bị giết gần hết ngay từ sáng sớm. Đài thuộc trong số 3 người kịp chạy về phía sau, nhưng tới địa bàn xã Thanh Hòa thì lại gặp Trung Quốc, thêm 2 người bị giết. Người sống sót duy nhất đã báo tin cho bà Dự, mẹ Đài.

Cùng thời gian ấy, ở bên núi Trà Lĩnh, Cao Bằng, chị Vương Thị Mai Hoa, một giáo viên cấp II, người Tày, mới ra trường, cũng bị giật dậy lúc nửa đêm rồi theo bà con chạy vào hang Phịa Khóa. Hàng trăm dân làng trú trong hang khi pháo Trung Quốc gầm rú ở bên ngoài, rồi lại gồng gánh theo nhau vào phía Lũng Pùa, chạy giặc. Chị Hoa không bao giờ có thể quên “từng đôi mắt” của dòng người gồng gánh ấy.

Giờ đây, ngồi trong một cửa hàng bán băng đĩa trên phố Kim Đồng, thị xã Cao Bằng, chị Hoa nhớ lại: “Năm ấy, tôi 20 tuổi. Tôi nghĩ, tại sao mình lại chạy!”. Chị quay lại, sau khi thay quần áo giáo viên bằng bộ đồ chàm vì được những người chạy sau cho biết, rất nhiều người dân ăn mặc như cán bộ đã bị quân Trung Quốc giết chết. Từ trên đồi, chị Hoa thấy quân Trung Quốc gọi nhau ý ới và tiến vào từng đoàn.

“Cuộc Chiến 16 Ngày”

Ngày 15-2-1979, Đại tá Hà Tám, năm ấy là trung đoàn trưởng trung đoàn 12, thuộc lực lượng Biên phòng, trấn ở Lạng Sơn, được triệu tập. Cấp trên của ông nhận định: “Ngày 22 tháng 2, địch sẽ đánh ở cấp sư đoàn”.

Ngay trong ngày 15, ông ra lệnh cấm trại, “Cấp chiến thuật phải sẵn sàng từ bây giờ”, ông nói với cấp dưới. Tuy nhiên, ông vẫn chưa nghĩ là địch sẽ tấn công ngay. Đêm 16-2, chấp hành ý kiến của Tỉnh, ông sang trại an dưỡng bên cạnh nằm dưỡng sức một đêm bởi vì ông bị mất ngủ vì căng thẳng sau nhiều tháng trời chuẩn bị. Đêm ấy, Trung Quốc đánh.

Ở Cao Bằng, sáng 16 tháng 2, tất cả các đồn trưởng Biên phòng đều được triệu tập về thị xã Cao Bằng nhận lệnh, sáng hôm sau họ tìm về đơn vị triển khai chiến đấu khi Trung Quốc đã tấn công rồi.

Sáng 17-2, Tỉnh Cao Bằng ra lệnh “sơ tán triệt để khỏi thị xã”; đại đội 22 của thị xã Cao Bằng được trang bị thêm 17 khẩu súng chống tăng B41.

Ngày 18-2, một chiếc tăng Trung Quốc có “Việt gian” dẫn đường lọt tới Cao Bằng và bị tiêu diệt. Nhiều nơi, chỉ khi nhìn thấy chữ “Bát Nhất”, người dân mới nhận ra đấy là tăng Trung Quốc. Đại tá Hà Tám công nhận: “Về chiến lược ta đánh giá đúng nhưng về chiến thuật có bất ngờ”. Tuy nhiên, Đại tá Hoàng Cao Ngôn, Tỉnh đội trưởng Cao Bằng thời kỳ 17-2, nói rằng, cho dù không có bất ngờ thì tương quan lực lượng là một vấn đề rất lớn. Phần lớn quân chủ lực của Việt Nam đang ở chiến trường Campuchia. Sư đoàn 346 đóng tại Cao Bằng nhiều năm chủ yếu làm nhiệm vụ kinh tế, thời gian huấn luyện sẵn sàng chiến đấu trở lại chưa nhiều. Lực lượng cầm chân Trung Quốc ở tuyến một, hướng Cao Bằng, chủ yếu là địa phương quân, chỉ có khoảng hơn 2 trung đoàn.

Trong khi, theo tài liệu từ Trung Quốc, chỉ riêng ở Cao Bằng trong ngày 17-2, Trung Quốc sử dụng tới 6 sư đoàn; ở Lạng Sơn 3 sư và Lào Cai 3 sư. Hôm sau, 18-2, Trung Quốc tăng cường cho hướng Cao Bằng 1 sư đoàn và 40 tăng; Lạng Sơn, một sư và 40 tăng; Lào Cai, 2 trung đoàn và 40 tăng. Lực lượng Trung Quốc áp sát Biên giới vào ngày 17-2 lên tới 9 quân đoàn chủ lực. Ngày 17-2, Trung quốc tiến vào Bát xát, Lao Cai; chiều 23-2, Trung Quốc chiếm Đồng Đăng; 24-2, Trung Quốc chiếm thị xã Cao Bằng; ngày 27-2, ở Lạng Sơn, Trung Quốc đánh vào thị xã.

Thế nhưng, bằng một lực lượng nhỏ hơn rất nhiều, các đơn vị Biên giới đã nhanh chóng tổ chức chiến đấu. Theo cuốn “10 Năm Chiến Tranh Trung Việt”, xuất bản lần đầu năm 1993 của NXB Đại học Tứ Xuyên, quân Trung Quốc đã gọi con đường tiến vào thị xã Cao Bằng của họ là những “khe núi đẫm máu”. Đặc biệt, tiểu đoàn Đặc công 45, được điều lên sau ngày 17-2, chỉ cần đánh trận đầu ở kilomet số 3, đường từ Cao Bằng đi về xuôi qua đèo Tài Hồ Sìn, cũng đã khiến cho quân Trung Quốc khiếp vía. Những người dân Biên giới cho đến hôm nay vẫn nhớ mãi hình ảnh “biển người” quân Trung Quốc bị những cánh quân của ta cơ động liên tục, đánh cho tan tác.

Đầu tháng 3-1979, trong khi hai sư đoàn 346, Cao Bằng và 338, Lạng Sơn, thọc sâu đánh những đòn vu hồi. Từ Campuchia, sau khi đuổi Pol Pốt khỏi Phnompênh, hai quân đoàn tinh nhuệ của Việt Nam được điều ra phía Bắc. Ngay sau khi Quân đoàn II đặt những bước chân đầu tiên lên Đồng Mỏ, Lạng Sơn; Quân Đoàn III tới Na Rì; Chủ tịch Nước ra lệnh “Tổng Động viên”… ngày 5-3-1979, Trung Quốc tuyên bố rút quân về nước.

Lào Cai, Sapa, Đồng Đăng, Lạng Sơn… bị phá tan hoang. Tại Cao Bằng, quân Trung Quốc phá sạch sẽ từng ngôi nhà, từng công trình, ốp mìn cho nổ tung từng cột điện. Nếu như, ở Bát Xát, Lao Cai, hàng trăm phụ nữ trẻ em bị hãm hiếp, bị giết một cách dã man ngay trong ngày đầu tiên quân Trung Quốc tiến sang. Thì, tại thôn Tổng Chúp, xã Hưng Đạo, huyện Hòa An, Cao Bằng, trong ngày 9-3, trước khi rút lui, quân Trung Quốc đã giết 43 người, gồm 21 phụ nữ, 20 trẻ em, trong đó có 7 phụ nữ đang mang thai. Tất cả đều bị giết bằng dao như Pol Pốt. Mười người bị ném xuống giếng, hơn 30 người khác, xác bị chặt ra nhiều khúc, vứt hai bên bờ suối.

Lặng Lẽ Hoa Đào

Ngồi đợi ông Nguyễn Thanh Loan, người trông giữ nghĩa trang Vị Xuyên, Hà Giang, chúng tôi nhìn ra xa. Tháng Hai ở đây mới là mùa hoa đào nở. Nghĩa trang có 1680 ngôi mộ. Trong đó, 1600 mộ là của các liệt sỹ hy sinh trong cuộc chiến tranh từ ngày 17-2.

Ở Vị Xuyên, tiếng súng chỉ thật sự yên vào đầu năm 1990. Năm 1984, khi Trung Quốc nổ súng trở lại hòng đánh chiếm hơn 20 cao điểm ở Thanh Thủy, Vị Xuyên, bộ đội đã phải đổ máu ở đây để giành giật lấy từng tấc đất. Rất nhiều chiến sỹ đã hy sinh, đặc biệt là hy sinh khi tái chiếm đỉnh cao 1509. Ông Loan nhớ lại, cứ nửa đêm về sáng, xe GAT 69 lại chở về, từng túi tử sỹ xếp chồng lên nhau. Trong số 1600 liệt sỹ ấy, chủ yếu chết trong giai đoạn 1984, 1985, có người chết 1988, còn có 200 ngôi mộ chưa xác định được là của ai. Sau khi hoàn thành việc phân giới cắm mốc, cái pháo đài trên đỉnh 1509 mà Trung Quốc dành được và xây dựng trong những năm 80, vẫn còn. Họ nói là để làm du lịch. Từ 1509, có thể nhìn thấu xuống thị xã Hà Giang. Năm 1984, từ 1509 pháo Trung Quốc đã bắn vào thị xã.

Trên đường lên Mèo Vạc, sương đặc quánh ngoài cửa xe. Từng tốp, từng tốp trai gái H’mông thong thả cất bước du xuân. Có những chàng trai đã tìm được cho mình cô gái để cầm tay. Một biên giới hữu nghị và hòa bình là vô cùng quý giá. Năm 1986, vẫn có nhiều người chết vì đạn pháo Trung Quốc nơi đoạn đường mà chúng tôi vừa đi, nơi các cô gái, hôm nay, để cho các chàng trai cầm tay kéo đi với gương mặt tràn trề hạnh phúc.

Quá khứ, rất cần khép lại để cho những hình ảnh như vậy đâm chồi. Nhưng cũng phải trân trọng những năm tháng đã thuộc về quá khứ. Tháng Hai, đứng ở bên này cửa khẩu Chi Ma, Lạng Sơn, nhìn sang bên kia, thấy lừng lững một tượng đài đỏ rực mà theo các sỹ quan Biên phòng, Trung Quốc gọi là “ đài chiến thắng”.

Trở lại Lạng Sơn, những chiếc xe tăng Trung Quốc bị quân và dân ta bắn cháy hôm 17-2 vốn vẫn nằm bên bờ sông Kỳ Cùng, giờ đã được bán sắt vụn cho các khu gang thép. Ở Cao Bằng, chúng tôi đã cố nhờ mấy người dân địa phương chở ra kilomet số 3, theo hướng đèo Tài Hồ Sìn, tìm tấm bia ghi lại trận đánh diệt 18 xe Trung Quốc của tiểu đoàn đặc công 45, nhưng không thấy.

Trở lại Tổng Chúp, phải nhờ đến ông Lương Đức Tấn, Bí thư Chi bộ, nguyên huyện đội phó Hòa An, đưa ra cái giếng mà hôm 9-3-1979, quân Trung Quốc giết 43 thường dân Việt Nam. Ông Tấn cũng chính là một trong những người đầu tiên trở về làng, trực tiếp đỡ từng xác phụ nữ, trẻ em, bị chặt bằng búa, bằng dao rồi quăng xuống giếng. Cái giếng ấy bây giờ nằm sâu trong vườn riêng của một gia đình, không có đường đi vào. Hôm ấy, anh Tấn phải kêu mấy thanh niên đi theo chặt bớt cành tre cho chúng tôi chụp hình bia ghi lại sự kiện mà giờ đây đã chìm trong gai tre và lau lách.

Huy Đức

Ảnh cùa Lê Quang Nhật

viet-studies.info

———————————————–

TOÀN BỘ 4 BÀI dưới đây đã bị xóa sau khi đăng trên tờ Một Thế Giới, nhưng (ĐÃ KỊP LƯU LẠI VÀ POST Ở ĐÂY): (HÃY ĐỌC ĐỂ THẤY VÀ CẢM NHẬN TIẾNG NẤC CỦA QUÁ KHỨ VÀ NƯỚC MẮT CỦA HÔM NAY!)

http://motthegioi.vn/xa-hoi/bai-1-hoi-uc-35-nam-44879.html

Hoa đào biên viễn
Bài 1: Biên giới, hồi ức 35 năm
ĐĂNG BỞI MỘT THẾ GIỚI – 16:30 12-02-2014

Tháng 2 năm nay, những cây đào Tổng Chúp, Hưng Đạo, Cao Bằng bỗng dưng đỏ loét trong cái nắng trái mùa. Trên đồn biên phòng Pha Long, Lào Cai, thật lạ, chỉ duy nhất một gốc đào đơm hoa. Còn ở pháo đài Đồng Đăng, Lạng Sơn, những cây đào khoe sắc vô duyên bên nền đá xám xịt và lau lách tùm lum của một pháo đài hoang phế đã đi vào quên lãng.

Một số phận

Trong ngôi nhà nhỏ ở dốc cầu Nà Rụa, phường Tân An, Cao Bằng, bà Nguyễn Thị Quỳ cũng có một cành đào nhỏ trước ban thờ chồng, người 35 năm trước bất đắc dĩ trở thành “tù binh chiến tranh”. Câu chuyện liên tục ngắt quãng khi đôi vai của người phụ nữ nhỏ nhắn run lên bần bật trước những hồi ức từ 35 năm trước. Chiến tranh đã lấy đi của bà một đứa con. Và sau 35 năm, vết thương ấy chưa bao giờ lành khi hàng đêm, hình ảnh đứa nhỏ tím tái chết trong mưa lạnh vẫn ùa về như một nỗi kinh hoàng không bao giờ phai nhạt. “Cô sinh cháu và gói trong một chiếc áo. Và rồi đó cũng là chiếc áo liệm”- người cựu binh chống Mỹ khốn khổ đưa tay lên dụi mắt.

Sáng 17.2.1979, trời rất mù và lạnh. Từ thị trấn Nước Hai, bà Quỳ chỉ còn biết cắm đầu cắm cổ chạy loạn khi tiếng pháo của lính Trung Quốc “như bom Mỹ rải thảm” khắp nơi. Bệnh viện Hòa An bị đánh sập, người sản phụ khốn khổ đang mang thai đến tháng thứ 9 chỉ còn biết vác bụng lặc lè để chạy.

“Cô chạy vào núi đá Mỏ Hách. Rồi từ Mỏ Hách chạy sang Đại Tiến. Chạy ngược với tiếng pháo”. Đám người chạy loạn bị lính Trung Quốc phát hiện, truy đuổi, và lại tứ tán khắp nơi. “Chúng nó đông lắm cháu ơi! Đâu đâu cũng thấy lính Trung Quốc”. Trong gần một tuần lễ trốn trên động đá, bà Quỳ đau đẻ trong cái đói, trong cái rét, trong trời mưa lạnh, trong tối tăm mò mẫm. Không một hạt gạo mang theo. Không một tấm chăn. Cả đám người đói khát, rét mướt và lo sợ đến hoảng loạn. Chỉ ngay phía dưới, lính Trung Quốc đông lúc nhúc, vây hãm khắp nơi.

Những con người khốn khổ lấy nước bằng cách hứng từ giọt gianh trong một tấm nilon rộng chừng 2 bàn tay. Ăn tất cả những gì mà ban đêm mấy người đàn ông mò mẫm được từ bờ cây, gốc sắn… ngay sát nơi lính Trung Quốc dựng trại.
Đến hôm đau đẻ, bà được đồng bào gom cho thìa đường cuối cùng, hòa với vốc nước “để có sức mà đẻ”. Đứa con đầu lòng được sinh ra trong hang đá nhưng 3 hôm sau thì qua đời.

“Cô sinh cháu và gói trong một chiếc áo. Và rồi đó cũng là chiếc áo liệm”- người cựu binh chống Mỹ khốn khổ đưa tay lên dụi mắt. Những giọt nước mắt mờ đục lăn dài trên khuôn mặt “một ngàn nếp nhăn” tưởng chừng đã không còn có thể đau khổ được nữa: “Lúc đó cô yếu quá, bỏ mấy đồng nhờ một ông già mang cháu đi. Chắc vứt nó ở một đâu đó”.

Nhưng bi kịch chưa dừng lại ở đó. Đêm ngày 25.2, người chồng nửa đêm đi kiếm ước uống bị sa vào tay lính Trung Quốc. Ông bị giam giữ cho đến ngày 3.6 và từ sau đó, những đồng nghiệp của ông ở Ty Thể thao Cao Bằng cho biết ông bỗng dưng có thói quen ăn cơm với nước lã. Còn bà Quỳ, quãng thời gian trong động đá và cái chết bi thảm của đứa con đầu lòng khiến bà trở nên trầm uất suốt 3 tháng. Tuyến sữa viêm tắc khiến sau đó người phụ nữ khốn khổ phải cắt đi một bên ngực.

35 năm, bằng đấy thời gian chưa đủ để bà Quỳ quên đi hình ảnh đứa con đầu lòng chết tím tái. “Đau xót lắm cháu ơi. Cô đi cúng, Thầy bảo nó không có nhà, lang thang ở một gốc cây nào đó”…

Không chỉ Bệnh viện Hòa An bị đánh sập, cả thị xã Cao Bằng lỗ chỗ tổ ong như vừa trải qua “một trận B52 mặt đất”, không còn thứ gì cao quá 1m. Bách hóa tổng hợp, một biểu tượng của Cao Bằng bị hủy hoại đến không còn một viên gạch lành.
Chị Hoài Phương, phóng viên của Đài truyền hình Cao Bằng, năm đó 9 tuổi, đến giờ vẫn không thể quên hình những xác người bị súng phun lửa đốt cháy trên mặt đất. Khắp nơi. Ông Nguyễn Duy, Phó Chủ tịch Hội cựu chiến binh Hòa An nhớ lại: Đến ngày 20.3, cả thị xã vẫn như một đụn khói lớn. Chiều 29.3. Không một chiếc xe, không một người dân đi trên đường. Kho lương thực còn cháy nghi ngút. Thị xã tan hoang khi lính Trung Quốc trước khi rút đã ốp mìn giật đổ từng cây cầu, từng cột điện. Cái gì lấy được thì lấy hết. Cái gì không lấy được thì phá hết.

Khi giặc đến nhà

Ngày 17.2.1979, Trung Quốc đã dùng một lực lượng quân sự chính quy lên tới 60 vạn quân tấn công Việt Nam trên khắp chiều dài 1.200 km biên giới 6 tỉnh phía Bắc. Cao Bằng chính là một trong những trọng điểm đánh phá của quân đoàn 41A với sự tham gia của xe tăng và pháo binh. Theo nhận định của Xiaoming Zhang trong một nghiên cứu đăng trên tạp chí China Quarterly tháng 12.2005, cuộc tấn công của Trung Quốc phụ thuộc phần lớn vào việc nhanh chóng chiếm được Cao Bằng.

Nhưng hai mũi tấn công không đến được mục tiêu trong vòng 24 tiếng. Khu vực đồi núi cùng kháng cự của dân quân Việt Nam tạo ra khó khăn lớn. Việc đi chậm khiến Xu Shiyou , lãnh đạo cánh quân Quảng Tây, phải hoãn cuộc tấn công vào Cao Bằng, mặc dù phó tướng Wu Zhong đã đến sát thành phố này ở mạn phía đông và nam.

Trong một bài phát biểu được nhà nghiên cứu Dương Danh Hy dịch ra tiếng Việt ít năm trước, nhà lãnh đạo Trung Quốc khi đó là Đặng Tiểu Bình đã xác nhận đó là cuộc chiến “giết gà đã phải dùng dao mổ trâu”. Cụ thể “vũ khí, quân số đều gấp mấy lần Việt Nam. Chiến đấu ở Cao Bằng chí ít là năm đánh một, sáu đánh một, chiến đấu ở Lạng Sơn, Lào Cai cũng đều gấp mấy lần, thậm chí sáu đánh một, bảy đánh một”. Vì sao ở Cao Bằng, chiến tranh lại đồng nghĩa với tàn phá như vậy? Trang mạng quân sự milchina.com của Trung Quốc 3 năm trước đã cho đăng thư của một cựu chiến binh Trung Quốc từng tham gia chiến tranh biên giới 1979 phần nào giải thích lý do: “Mục đích của cuộc chiến tranh này là tàn phá, hủy hoại quốc lực của Việt Nam chứ không phải là chiếm lĩnh lãnh thổ, nên sau hai ngày đánh nhau, lính tham chiến bắt đầu chấp hành mệnh lệnh bán chính thức là “không bắt tù binh”, “không để lại cho Việt Nam một lá cây ngọn cỏ”.

Cho đến cuối cuộc chiến tranh, ở Cao Bằng “không ai theo địch, không ai đầu hàng, không ai phản bội”- giọng người cựu bí thư tỉnh ủy rưng rưng nước mắt. Bao đời nay vẫn vậy, mỗi khi giặc đến nhà thì mỗi một người dân chính là một người lính. Ông Vương Dường Tường, nguyên bí thư tỉnh ủy Cao Bằng giai đoạn 1979-1992 nhớ lại: Bấy giờ, tình trạng tranh chấp, lấn chiếm và vấn đề người Hoa đã khá căng thẳng, nhưng không ai nghĩ là chiến tranh xảy ra. Chủ trương của ta là đưa thanh niên ra biên giới tổ chức các lâm nông trường. “TƯ xác định cũng phải đề phòng, nhưng là phòng xích mích biên giới thôi”- ông Tường nói.

Tỉnh ủy Cao Bằng bấy giờ chủ trương đưa một số bộ đội về một số xã để củng cố đội ngũ cán bộ. Quân đội không có ở Cao Bằng. Lực lượng công an vũ trang chỉ có ở cấp tỉnh chứ cấp huyện là không có người. Cả thị xã bấy giờ chỉ có 1 một trung đoàn bộ đội địa phương (E567), nhưng cũng chủ yếu là làm kinh tế. Đến đội ngũ dân quân tự vệ, “có thì có đấy, căng thì căng như thế nhưng đã được phát súng đâu”. Thậm chí khi chiến tranh đã nổ ra, có thêm một sư đoàn được thành lập, nhưng lúc đó cũng chưa có quân”.

Phó Chủ tịch UBND tỉnh Cao Bằng Trần Hùng, thời điểm 1979 đeo quân hàm trung sĩ, tiểu đoàn 40 Bộ đội địa phương còn nhớ như in là khi xe tăng Trung Quốc vượt cầu Sông Hiến vào đến tận dốc Nà Toòng, đại đội 3 phòng không của trung đoàn 567 phải thay đạn, chúc nòng pháo 37 ly xuống để bắn xe tăng bằng đạn xuyên.
Chính ông Hùng là một trong những người đầu tiên chạy bộ đạp lá sa mộc đến bên xác xe tăng còn nghi ngút khói.
“Chúng tôi chỉ có 3 khẩu súng AK để bảo vệ trận địa”, ông Hùng nói, “về sau, khi lính Trung Quốc lên quá đông, đơn vị đã phải tháo súng (pháo) để rút”.
Theo Xiaoming Zhang, đến ngày 23.2, Trung Quốc mới chiếm được Cao Bằng sau khi nhận ra nơi này chỉ có một số lượng nhỏ quân Việt Nam cố thủ. Nhưng sự chậm chân khi chiếm Cao Bằng đã ngáng trở kế hoạch ban đầu của Trung Quốc, vốn nhấn mạnh việc tác chiến nhanh và quyết liệt.

Cao Bằng có gì để chống lại 6 sư đoàn chính quy với xe tăng và pháo binh yểm trợ?
“Dân Cao Bằng sẵn biết Trung Quốc rồi. Ở đâu cũng đánh, gặp đâu cũng đánh, ai cũng đánh. Một, hai người cũng đánh. Chặn khắp nơi”- ông Vương Dương Tường nói.
Ở Hòa An, dù lúc đó mất hoàn toàn liên lạc, một nhóm cựu binh vẫn tự tập hợp nhau lại lập chốt đánh địch. Nhặt được cái gì thì đánh được bằng cái đó. Ở Trà Lĩnh, Quảng Hòa, Hà Quảng đều có những chốt đánh địch như vậy.
Người Cao Bằng sau phút bất ngờ đã chủ động trở lại. Cho đến cuối cuộc chiến tranh, ở Cao Bằng “không ai theo địch, không ai đầu hàng, không ai phản bội”- giọng người cựu bí thư già rưng rưng. Bao đời nay vẫn vậy, mỗi khi giặc đến nhà thì mỗi một người dân chính là một người lính.

Tháng 2 năm nay, trên nền bách hóa tổng hợp bị đánh sập năm xưa, một siêu thị mới đã được dựng lên, cho dù người Cao Bằng vẫn gọi đó là Tổng Hợp Đổ.
Còn người nữ cựu binh Nguyễn Thị Quỳ, đến giữa câu chuyện, bỗng bất ngờ hỏi lại chúng tôi: “Sao các cháu không hỏi vì sao tháng 2 năm ấy cô không đi tìm một cây súng? Và rồi, bà quả quyết tự trả lời: “Năm xưa, cô phải chạy giặc vì lúc đó đang mang bầu, không muốn ảnh hưởng đến anh em đồng chí. Còn nếu bây giờ giặc đến nhà, cô sẽ tìm một khẩu súng. Nếu cô già yếu không đánh được, những đứa con của cô sẽ cầm súng”.
Con gái bà, một cô gái niềng răng sinh năm 1988 sau đó nói sẽ đưa chúng tôi vào Tổng Chúp, dù ở Cao Bằng, không còn nhiều người biết đến những gì xảy ra tại Tổng Chúp 35 năm trước, dù theo lời cô bé: “nơi đó giờ đã hoang vắng lắm rồi anh ạ”.
………..

http://motthegioi.vn/xa-hoi/bai-2-dong-chi-voi-nhau-ai-nghi-se-danh-nhau-44864.html

Bài 2: “Đồng chí với nhau, ai nghĩ sẽ đánh nhau“
ĐĂNG BỞI MỘT THẾ GIỚI – 19:30 12-02-2014

“Ai cũng chỉ nói chỉ tranh chấp biên giới. Ai cũng chỉ xác định là giữ đất thôi. Tin là đồng chí với nhau, chỉ gây sự, chỉ ghen ghét thế thôi. Chứ anh em đồng chí, ai nghĩ là sẽ đánh nhau”- 35 năm sau, nguyên Bí thư tỉnh Cao Bằng vẫn còn khắc khoải câu chuyện xảy ra năm 1979.

Trận tập kích bất ngờ

Ở Bát Xát, Lào Cai, khi pháo Trung Quốc bắt đầu bắn sang từ phía bên kia biên giới, ông Nguyễn Văn Tuyến, đại đội trưởng tự vệ Đoàn địa chất 305 (Đoàn 5) đang ở Bản Vược, ngay trong tầm súng trường lính Trung Quốc.
“Chúng tôi vẫn pha trà uống. Chiến sự vẫn liên miên từ trước đó, đêm nào cũng có tiếng súng, cho nên không ai ngờ Trung Quốc đánh lớn”- ông nói.
Chỉ trước khi cuộc tấn công diễn ra 48 tiếng, cả dân lẫn lính Trung Quốc vẫn “sang bên này xem chiếu bóng bình thường”.
Ông Tuyến từng là lính trong chiến tranh với Mỹ, sau chiến tranh làm Phó Chủ tịch HĐND huyện Bát Xát, nhớ lại: “Khi pháo Trung Quốc chuyển làn, ông mới giật mình hô anh em vì cảm giác rằng bộ binh Trung Quốc sẽ sang. Mấy người hoảng hốt chạy ra đến đến ngã ba Bản Vược thì khắp nơi đã tràn ngập màu áo lính đang vận động từ phía trong ra điểm chốt của công an vũ trang. Chúng tôi tưởng bộ đội mình đã lên ngay thành thử súng cầm trong tay mà không bắn”. 

Từ trong hậu phương, lính Trung Quốc tiến đánh từ phía sau đồn công an vũ trang và chốt tự vệ địa phương. Hỏa lực từ bên kia biên giới bắn sang như mưa rào. Đơn vị ông Tuyến cơ động ra đến chốt Cây 2 thì bị một khẩu đại liên chặn lại. Bấy giờ, anh em vẫn có người giơ súng, giơ cờ vẫy ra hiệu vì vẫn tưởng bộ đội mình bắn nhầm.
Chỉ một lát sau đó, từ khu vực bản Xèo, lính công binh Trung Quốc lao cầu phao và sau đó xe tăng Trung Quốc tiến sang. “Họ đã chuẩn bị sẵn hết rồi. Cây cầu phao thả ra trôi theo dòng nước là áp khít sang bờ bên này”, lời ông Tuyến.
Tự vệ bản Xèo hy sinh vô số kể. “Chúng tôi chỉ được trang bị trung liên và súng K63. Không có vũ khí chống tăng”- ông Tuyến nói.

Ông Nguyễn Mạnh Tường, Chủ tịch Hội Cựu Chiến binh Bát Xát thời điểm tháng 2.1979 đang là lính sư đoàn 316, một trong hai sư đoàn chủ lực duy nhất hiện diện ở biên giới phía Bắc.
Sáng đó, đang ở Than Uyên, đơn vị ông có lệnh báo động. Ai cũng tưởng chỉ báo động hành quân dã ngoại, thành thử “có người chỉ mang theo một quả đạn, có người trút lại tượng gạo, và có người, chỉ mang độc một bộ quần áo trên người”.
Đơn vị ông Trường hành quân lên đến Sapa thì những người lính mới biết chiến tranh đã xảy ra, và sau đó chạm địch ngay tại đèo Ô Quy Hồ. 218 đồng đội của ông đã hy sinh trong trận đánh đó.
Bát Xát là “nơi con sông Hồng chảy vào đất Việt” với những địa danh anh hùng và đau thương: A Mú Sung, Y tý.
Những người lính biên phòng A Mú Sung trong ngày 17 tháng 2 năm ấy, đã đánh đến viên đạn cuối cùng và hy sinh oanh liệt.

Cú đánh trộm của “người anh em”

Phó Chủ tịch UBND tỉnh Cao Bằng Trần Hùng nhớ lại, trưa ngày 17, khi một người dân chạy đến đơn vị báo tin xe tăng Trung Quốc đã vào đến Nước Hai, Hòa An, thủ trưởng của ông còn lệnh cho lính “trói nó lại” vì cho rằng người này phao tin đồn nhảm.
Vì sao quân dân ta lại bị bất ngờ trước một cuộc tấn công toàn tuyến với quy mô 32 sư đoàn?
Nguyên Bí thư Cao Bằng, Vương Dương Tường, nhớ lại ở Cao Bằng hôm ấy, quân khu còn đưa các chỉ huy quân sự tỉnh về họp. Không ai biết Trung Quốc đánh mình. Ngay cả khi tiếng súng đã nổ vang từ hướng Hà Quảng, Thông Nông, trưởng ty Thủy lợi băn khoăn nói tiếng súng nhiều lắm, không biết súng ta hay súng địch. Một lãnh đạo Cao Bằng khi đó nói anh em cứ yên trí. Đó là súng mình.
Ông Tường thừa nhận: “Cơ bản nhất là bấy giờ không ai tin anh em đồng chí lại đánh nhau”, ông Tường nói.
Cao Bằng bấy giờ vừa tách tỉnh. Đến 1 giờ đêm, pháo Trung Quốc bắn phá dồn dập. Sáng ngày 17.2, lính Trung Quốc đã đến chân đèo Minh Tâm. 2 tiếng sau, xe tăng chúng đã vào đến Cao Bình, rồi vào đến Nà Tàu. Pháo binh Trung Quốc dồn dập nã xuống Nà Tản.
Ngày 18.2, lính Trung Quốc đã vào đến Hòa An, Cao Bình. Đến ngày 19, khắp nơi đã bị đốt phá giết chóc.
“Ai cũng nghĩ là chỉ tranh chấp biên giới. Ai cũng chỉ xác định là giữ đất thôi. Tin là đồng chí với nhau, chỉ gây sự, chỉ ghen ghét thế thôi, ai nghĩ là sẽ đánh nhau” – ông Tường nói, và theo ông, 35 năm sau vẫn chưa hiểu nguyên nhân câu chuyện đã xảy ra.
Cho đến năm 1992, khi các cơ quan của Bát Xát, Lào Cai từ Mường Vi trở lại Bản Xèo thì “vẫn chỉ có cỏ may và đất đỏ”.

Chúng tôi trở lại Đồng Đăng, Lạng Sơn vào đúng ngày lễ Đền Mẫu, lễ lớn nhất Lạng Sơn, nằm ngay dưới chân pháo đài Đồng Đăng.
Từ 35 năm nay, mỗi dịp tháng hai, đại tá Triệu Quang Điện, Trưởng phòng cảnh sát truy nã Công an tỉnh Lạng Sơn vẫn đến đây thắp hương tưởng nhớ những người đồng đội của mình.
Ông Điện được phong Anh hùng lực lượng vũ trang sau cuộc chiến tranh biên giới 1979, và sau 35 năm, ông vẫn nhớ như in những cái tên Trần Văn Thái, Vi Văn Cao, những người đồng đội trong tổ tam tam và bữa cháo cơm nếp cuối cùng đêm 16.12.
……

http://motthegioi.vn/xa-hoi/bai-3-bia-tran-ai-noi-to-quoc-duoc-to-mau-do-44868.html

Bài 3: Bia trấn ải – nơi tổ quốc được tô màu đỏ
ĐĂNG BỞI MỘT THẾ GIỚI – 19:34 12-02-2014

Từ 35 năm nay, vào dịp tháng 2 mỗi năm, Đại tá Triệu Quang Điện, trưởng Phòng Cảnh sát truy nã Công an tỉnh Lạng Sơn đều đến đền Mẫu để thắp hương cho đồng đội của mình.

35 năm, thời gian chưa đủ để ông quên đi bữa cháo nếp cuối cùng. 35 năm, ông vẫn nhớ như in hình ảnh của những người đồng đội trong tổ tam tam: Những Trần Văn Thái. Những Vi Văn Cao.

Pháo đài Đồng Đăng và pháo hoa Trung Quốc

Năm đó, binh nhì Triệu Quang Điện vừa cưới vợ được 4 tháng, cũng vừa qua khóa huấn luyện 4 tháng ở Đông Khê, trở lại Lạng Sơn vào đúng buổi chiều ngày 16, khi phía Trung Quốc cho người đuổi trâu dò phá những bãi mìn biên giới.
5h sáng, khi pháo bắn cấp tập vào Đồng Đăng, ông cùng hai người đồng đội trong tổ thậm chí còn chưa kịp ăn nồi cháo gạo nếp đã đặt trên bếp để vội vã xách súng lên chốt ngay tại khu vực Đền Mẫu, pháo đài Đồng Đăng.
Tới 7h, sương còn chưa tan thì lính Trung Quốc đã kéo sang khắp nơi. Ba người kê súng bắn. Ông Điện, giữ súng trung liên bắn suốt 1 giờ đồng hồ.
“Hồi huấn luyện, tôi bắn bia được 3 điểm 9 – ông Điện nhớ lại – nhưng hôm đó, lính Trung Quốc lên quá đông, có lẽ là không cần bắn giỏi cũng có thể trúng”. Riêng tại chốt Đền Mẫu, binh nhì Điện đã tiêu diệt tới 30 lính Trung Quốc.
Lính Trung Quốc cứ theo tiếng kèn lớp lớp xông lên. Bị hắt ngược trở lại, rồi lại xông lên.

Trong một thời khắc, khi ông vừa nhảy xuống hào thay đạn thì chỉ nghe “bầm”. Ngoảnh lại, nơi 2 người đồng đội nằm chỉ còn lại một hố pháo đen xì. Không còn chút vết tích.
Tới 10h, xe tăng Trung Quốc đã tràn ngập khắp nơi. Pháo binh Trung Quốc nã đạn vào pháo đài trong suốt nửa ngày 18.
Bấy giờ trong hang Đền Mẫu, ngay phía dưới chốt của ông Điện có tới 300 – 400 dân tới tránh pháo.
Đến tối 18, đơn vị ông nhận được phương án đưa dân trong hang ra. Và chỉ trong một đêm, binh nhì Triệu Quang Điện trực tiếp đưa dân, ra ra vào vào 3 lần để cõng được ra 3 người đồng đội bị thương nặng.
Khẩu trung liên của ông giờ đang được trưng bày tại Viện Bảo tàng công an nhân dân.
Ít năm sau đó, khi gặp Thủ tướng Phạm Văn Đồng trong một buổi lễ, ông thậm chí không trả lời được vì sao chỉ trong 1 đêm, với quãng đường 17km, một người chỉ nặng chưa tới 49kg đã 3 lần bò vào cõng đồng đội bị thương ra nơi an toàn.
Chúng tôi theo lối mòn trèo lên pháo đài Đồng Đăng, nơi bị đánh phá ác liệt nhất trong cuộc chiến biên giới.

Vào ngày 17.2.1979, 2 sư đoàn bộ binh Trung Quốc dưới sự hỗ trợ của 1 trung đoàn xe tăng và 6 trung đoàn pháo binh đã tấn công ác liệt nơi này.
Trong cuốn Lịch sử sư đoàn 3 Sao Vàng còn ghi rõ: Ngày cuối cùng tại Pháo Đài, nơi có hệ thống phòng thủ kiên cố nhất, không gọi được đối phương đầu hàng, quân Trung Quốc chở bộc phá tới đánh sập cửa chính, dùng súng phun lửa, thả lựu đạn, bắn đạn hóa chất độc vào các lỗ thông hơi làm thiệt mạng cả thương binh và nhân dân tới đây trú ẩn.
Tháng 2 năm nay, pháo đài trở nên cô đơn, trơ trọi giữa sự náo nhiệt của lễ hội Đền Mẫu.
Hoặc như ở chính cái nơi mà lính Trung Quốc xả súng vào chiếc xe cứu thương 12A 04-35 của bệnh viện Lạng Sơn đi Đồng Đăng cứu nhân dân bị thương, giết chết cả người lái xe, cả BS Nguyễn Thu Thủy, y tá Trịnh Thị Sâm, giờ một con đường mới đã được mở ra dập dìu xe cộ, hàng hóa thông thương qua cửa khẩu Hữu Nghị.
Ở Tổng Chúp có tấm bia ghi bại vụ thảm sát này. Tấm bia giờ vẫn còn sau 35 năm, dù chiếc giếng cạn, nơi năm xưa chứa đầy xác phụ nữ, trẻ em bị hành quyết bằng rìu bổ củi giờ đã lấp đầy cây lá.

Quá khứ không dễ quên. Nhất là khi đó là những gì đau thương nhất. Cho dù theo thời gian, những nhân chứng chiến tranh giờ đã lần lượt ra đi. Ông Hoàng A Tỉn, nhân chứng thảm sát trong sân Bách hóa tổng hợp Bát Xát đã mất 2 năm trước.
Đến Tổng Chúp, lại nghe tin ông Nông Văn Ất, nguyên trưởng trại giống Đức Chính, người đã mất vợ và 4 đứa con trong vụ thảm sát Tổng Chúp giờ cũng không còn.
Lời vĩnh biệt nhói trời Pha Long
Nhưng cũng có những tấm bia trấn ải mới được dựng lên. Ngay bên tay phải đồn biên phòng tiền tiêu Pha Long, Mường Khương, Lào Cai, có những dòng chữ mới, được in trên bia đá:
Nguyên Thần Bổn Mệnh giữ núi non
Nam Sơn bốn cõi tựa sách trời định.
Thiên thiên nhật nguyệt linh linh ứng
Tuyệt tuyệt long phụng báo quốc an
Bình nhất hà Việt Nam Quốc thổ.
Thạc sĩ Đặng Vũ Cảnh Linh dịch: Nguyên Thần được giao sứ mệnh giữ núi non. Núi nam bốn cõi đã quy định trong sách trời. Nghìn nghìn mặt trời, mặt trăng linh thiêng và ứng nghiệm (điều đó). (Có) rồng phượng tuyệt vời bảo vệ an nguy tổ quốc. Đất Việt Nam yên bình nhất là ở đây.

Thiếu tá Phan Đức Mạnh, chính trị viên đồn Pha Long cho biết tấm bia trấn ải vừa được dựng hồi tháng 5, đúng vào điểm đối diện đài tưởng niệm các anh hùng liệt sĩ. Bên này từng hàng, từng hàng tên tuổi của 37 liệt sĩ đã hy sinh trong cuộc chiến tranh bảo vệ tổ quốc được khắc chìm trong đá xám.
Năm ấy, những chiến sĩ công an vũ trang còn trẻ măng đã đánh đến viên đạn cuối cùng, đã đâm gẫy đến chiếc lưỡi lê cuối cùng để bảo vệ tổ quốc.
Ngày 17.2.1979, sau khi bắn viên đạn cuối cùng, một người lính Pha Long đã gửi bức điện cuối cùng về hậu phương. Và cũng chỉ vài chữ, đại ý: Chúng tôi hết đạn. Xin Vĩnh biệt. 
Chợt nhớ đến những câu thơ Vương Trọng:
Mắt rưng rưng, dò đọc từng dòng
Gặp điệp khúc Tháng Hai năm Bảy chín
Lời vĩnh biệt nhói trời Pha Long.

Đến lúc này tôi mới hiểu ra
Vì sao đường Biên giới bản đồ
Của Tổ quốc được tô màu đỏ!..

Năm nay, chỉ duy nhất một, trong số gần bảy chục gốc đào ở Pha Long đơm hoa. 
Không xa Pha Long là điểm cao Tả Ngải Chồ, nơi một đồng nghiệp của chúng tôi, nhà báo, anh hùng liệt sĩ Bùi Nguyên Khiết đã tay bút tay súng hy sinh vào ngày 17.2.1979.
Có lẽ, chính những người lính biên phòng, chính những nhà báo liệt sĩ, chính nhân dân anh hùng, những người đã ngã xuống từ cả ngàn năm nay, những người đã hy sinh anh dũng trong cuộc chiến tranh chống quân xâm lược phương Bắc năm 1979 mới là những tấm “bia trấn ải” thiêng liêng nhất mà mỗi người làm báo chúng tôi cần phải nhắc lại để thế hệ con cháu còn có được cảm xúc thiêng liêng, tự hào khi nhắc đến hai chữ “Tổ Quốc”.

ĐÀO TUẤN
……

http://motthegioi.vn/xa-hoi/phut-bi-trang-o-po-hen-1721979-44878.html

Phút bi tráng ở Pò Hèn, 17.2.1979
ĐĂNG BỞI MỘT THẾ GIỚI – 15:01 12-02-2014

Đồn biên phòng Pò Hèn hay còn gọi là đồn 209 thuộc xã Hải Sơn, thành phố Móng Cái (Quảng Ninh) đã chứng kiến một trận chiến đấu bất khuất. Ở đó, đồn phó Đỗ Sỹ Họa và cô mậu dịch viên Hoàng Thị Hồng Chiêm cùng hầu hết những người lính đã hy sinh trong tư thế hiên ngang, không lùi bước.

Bị thương ngất đi, tỉnh lại tiếp tục chiến đấu

Nếu có một câu nói nào đó thể hiện được toàn bộ tinh thần chiến đấu của quân và dân các tỉnh biên giới những ngày chống quân Trung Quốc có lẽ câu nói của liệt sĩ, anh hùng Đỗ Sỹ Hoạ là câu nói tiêu biểu nhất: “Người Việt Nam không biết quỳ gối. Chúng mày tới đây, chúng mày sẽ chết”.
Đứng ở đài tưởng niệm liệt sĩ Pò Hèn, xây trên nền của chính đồn công an vũ trang Pò Hèn năm 1979. Một buổi sáng mùa xuân, đứng bên đài tưởng niệm, câu nói ấy của liệt sĩ Hoạ chợt văng vẳng khiến chúng tôi không khỏi sởn da gà và cay mắt. Nghe đồng đội của anh kể lại thời khắc anh chiến đấu ngoan cường ngay cả khi đã bị thương rất nặng, tất cả chúng tôi đều không cầm được nước mắt.
Ông Hoàng Như Lý, hiện sống tại thành phố Móng Cái, một trong số rất ít những người lính Pò Hèn còn sống sót sau trận chiến rạng sáng 17.2.1979, còn nhớ như in từng vị trí của đồn cũ.
Ông chỉ cho tôi đâu là khu nhà ăn nơi dính đạn pháo đầu tiên của địch, đâu là dãy nhà chỉ huy nhưng có một địa điểm ông Lý đặc biệt lưu ý và trầm ngâm hồi lâu: “Kia là đồi quế, nơi anh Họa hy sinh”.

Ngay đằng sau đài tượng niệm hiện nay là một quả đồi nho nhỏ, trông rất bình thường, không còn dấu tích gì của nơi từng diễn ra trận chiến tranh giành nhau từng tấc đất, nhưng 35 năm năm trước đó là nơi anh Họa đã chỉ huy và trực tiếp chiến đấu một trận bằng máu của mình.
“Tại đồi Quế, anh Họa bố trí đội hình đánh lại quân Trung Quốc khi đó đã chiếm được đồn. Phát hiện ra vị trí hỏa lực của ta, quân Trung Quốc nã pháo dồn dập vào đồi Quế, đồng đội chúng tôi hy sinh rất nhiều. Anh Họa cũng bị thương, mặt và người bê bết máu. Hỏa lực của địch mạnh hơn và cứ sau mỗi loạt pháo chúng lại bắc loa yêu cầu ta ra hàng nhưng anh Họa vẫn chỉ huy bắn trả”- ông Lý nhớ lại.
Chúng buộc phải dùng bộ binh với số lượng áp đảo xông lên để đánh giáp lá cà với quân ta và chiếm được đồi Quế. Đồn phó Đỗ Sỹ Họa cùng nhóm chiến sĩ của mình phải rút lui nhưng họ vẫn không đầu hàng mà lên ụ súng tổ chức lại lực lượng chiến đấu tiêu diệt 227 tên lính Trung Quốc, đến khi chiếm lại được đồi Quế. 

Bị thương và mất máu quá nhiều anh Họa đã hy sinh nhưng khi trút hơi thở cuối cùng anh vẫn dặn đồng đội phải giữ vững trận địa. Ông Lý ngẹn lời: “Hình ảnh anh Họa bị thương ngất đi hai, ba lần liền nhưng cứ tỉnh lại là anh lại tiếp tục chiến đấu và chỉ huy rất dũng cảm”. Trong chiến tranh chống Mỹ ở Quảng Trị, anh Họa từng bị thương nhưng khi non sông thu về một mối dù quê ở Ân Thi (Hải Hưng) anh vẫn xung phong lên làm một người lính bảo vệ biên giới.
Nữ dũng sĩ Pò Hèn
Có một bài hát viết về một người con gái cũng có mặt ở đồn Pò Hèn vào ngày 17.2 của 35 năm trước. Người con gái đó không thuộc biên chế của đồn Pò Hèn nhưng chị tình cờ có mặt ở Pò Hèn đúng ngày giặc nổ súng.
Hoàng Thị Hồng Chiêm vốn là cô nhân viên thương nghiệp của cửa hàng bách hóa Pò Hèn. Đêm trước hôm 17.2, chị Chiêm nhận lệnh của trên phải sơ tán cửa hàng vì quân Trung Quốc có thể đánh sang bất cứ lúc nào. Không ngờ ngay trong đêm sơ tán cửa hàng, chị Chiêm cùng anh Vượng, cửa hàng trưởng lại phải đối mặt với đạn pháo liên hồi.

Trong tay cô gái Hoàng Thị Hồng Chiêm khi đó chỉ có một khẩu CKC và hai quả lựu đạn nhưng người con gái quê ở Bình Ngọc dõng dạc khẳng định với anh Vượng, anh Thắng, chủ tịch xã và anh Đinh, y sĩ của xã: “Các anh cứ đi trước để em yểm trợ. Trước ở trung đoàn 8 làm đường Ba Chẽ em được huấn luyện để dùng súng và lựu đạn rồi”.
Và chị Chiêm đã yểm trợ để một số người trốn thoát sau đó một mình chạy về chốt chiến đấu của đồn công an vũ trang 209.
Ông Hoàng Như Lý kể lại: “Lúc ấy, chị Chiêm và anh Bùi Anh Lượng, một người lính của đồn 209 đang yêu nhau. Thời điểm Chiêm có mặt, các chiến sĩ trong đồn cũng đang chiến đấu ác liệt với quân Trung Quốc, anh em ban đầu khuyên chị lui về tuyến sau nhưng chị kiên quyết xin đồn phó Đỗ Sỹ Họa cho chị sát cánh bên bộ đội chiến đấu”.
Được đồn phó Đỗ Sỹ Họa giao nhiệm vụ tiếp đạn và băng bó cho thương binh nhưng cứ mỗi lần lên tiếp đạn là chị lại phụ anh em chiến đấu. Đến khi địch phải dùng đến pháo 130 ly nã điên cuồng vào đồi Quế mới khiến chị Chiêm bị thương.

Khi đồn phó Họa đã hy sinh, chị Chiêm gần như là người thủ lĩnh tinh thần của bộ đội. Chị trực tiếp cầm khẩu K54 của anh Họa bắn về phía quân địch khi máu đã ướt đẫm áo. Chị dính loạt đạn trung liên và ngã xuống khi vừa tròn 25 tuổi. Ở xã Bình Ngọc, thành phố Móng Cái, quê hương người nữ dũng sĩ anh hùng có một bức tượng Hoàng Thị Hồng Chiêm đặt ở sân trường trung học mang tên chị.
Nhạc sĩ Trần Minh một lần đến Pò Hèn nghe về câu chuyện của chị đã viết ca khúc Người con gái trên đỉnh Pò Hèn với những lời ca: “Từ biên giới này tỏa tiếp lời ca thắng lợi/ Hương hồi thơm bay tỏa lan trên vách núi/ Có cánh đào tươi đẹp trời xuân mới trên đỉnh núi Pò Hèn/ Hoàng Thị Hồng Chiêm, Hoàng Thị Hồng Chiêm người con gái ấy/ Đã vào trang sách, đã thành bài ca” .

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng: Ðảng, Nhà nước và nhân dân mãi mãi ghi tạc và đời đời biết ơn sự hy sinh, cống hiến to lớn đó!

Trải qua hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước, biết bao thế hệ người Việt Nam với tinh thần yêu nước thương nòi, với ý chí kiên cường bất khuất và lòng thủy chung, nhân hậu đã đem cả máu xương, công sức, của cải của mình để gìn giữ độc lập tự do và thống nhất Tổ quốc, xây đắp giang sơn tươi đẹp cho muôn đời con cháu.
Kế thừa truyền thống quý báu đó của dân tộc ta, trong thời đại Hồ Chí Minh, dưới sự lãnh đạo của Ðảng, nhân dân ta đã viết nên những trang sử vẻ vang trong đấu tranh chống giặc ngoại xâm để giành độc lập – tự do và thống nhất đất nước, với Cách mạng Tháng Tám năm 1945, lập ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa; với Chiến thắng Ðiện Biên Phủ năm 1954 đánh đổ ách thực dân, giải phóng một nửa giang sơn. Và với ý chí “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”, nhân dân ta đã tiến hành cuộc kháng chiến trường kỳ gian khổ và đã làm nên Ðại thắng mùa Xuân năm 1975, giải phóng hoàn toàn miền nam, thống nhất đất nước, cả nước cùng đi lên xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Trong khi những vết thương nặng nề của chiến tranh xâm lược gây ra chưa kịp hàn gắn, chúng ta lại phải chịu đựng những hy sinh, tổn thất mới trong cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới tây-nam và biên giới phía bắc. Và ngay trong xây dựng hòa bình, vẫn có những người con của dân tộc ta phải hy sinh hoặc chịu thương tật để bảo vệ cuộc sống bình yên của nhân dân và sự phồn vinh của đất nước.
Vì nền độc lập, tự do và sự thống nhất, phồn vinh của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân, hàng triệu người con ưu tú của dân tộc ta, mà phần lớn là thanh niên đã hiến dâng tuổi thanh xuân và cả cuộc sống của mình cho đất nước, đã ngã xuống trên chiến trường, hoặc khi trở về đã mang trên mình thương tật suốt đời. Hàng triệu thân nhân liệt sĩ, những bậc ông bà, cha mẹ, những người chồng, người vợ và những người con đã mãi mãi không thể gặp lại những người thân yêu nhất của mình. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: Chính họ đã làm rạng rỡ dân tộc, vẻ vang giống nòi. Họ chết cho Tổ quốc sống mãi…, tinh thần của họ luôn sống với non sông Việt Nam. Ðảng, Nhà nước và nhân dân ta mãi mãi ghi tạc và đời đời biết ơn sự hy sinh, cống hiến to lớn đó. Các thế hệ người Việt Nam sẽ luôn luôn tự hào và nguyện sống xứng đáng với những hy sinh cao cả của các thế hệ cha anh.

(Trích phát biểu của thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng trong lễ kỷ niệm ngày Thương binh – Liệt sĩ 27.7.2007 tại Cung văn hoá Hữu nghị(Hà Nội)
Nguồn: Bộ ngoại giao

NGỌC UYÊN

Mạnh Kim February 13

 

———————————————-

Trận đánh núi Lão Sơn, cao điểm 1509

http://mmo4me.com/threads/cao-diem-1509-lao-son-chuong-buon-cua-quan-doi-viet-nam-hien-dai.67489/

Posted in Chien Tranh Bien Gioi Viet Trung 1979 | Leave a Comment »

►Trung Quốc ép Việt Nam không được tưởng niệm Chiến tranh biên giới 1979?

Posted by hoangtran204 trên 16/02/2014

Trung Quốc ép Việt Nam không được tưởng niệm Chiến tranh biên giới 1979?

11-2-2014

Hoàng An Vĩnh

Cuộc trao đổi qua đường dây nóng giữa ông Tập Cận Bình và ông Nguyễn Phú Trọng là lý do khiến Việt Nam đột ngột chấm dứt các hoạt động tưởng niệm 40 năm hải chiến Hoàng Sa và 35 năm Chiến tranh chống xâm lược biên giới phía Bắc 1979?

Đèn xanh

2014 đánh dấu “năm chẵn” một loạt những sự kiện liên quan đến lịch sử bảo vệ chủ quyền quốc gia của Việt Nam. Trong số này có 35 năm Ngày Chiến thắng chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam (7/1/1979), 40 năm sự kiện Trung Quốc đánh chiếm toàn bộ quần đảo Hoàng Sa từ tay chính quyền Việt Nam Cộng Hòa (19/1/1974) và 35 năm ngày Trung Quốc tung 60 vạn quân quân nổ súng tấn công Việt Nam trên toàn tuyến biên giới phía Bắc (17/2/1979).

Trong khi sự kiện gắn với biên giới Tây Nam (cuộc chiến VN và Kampuchia 1979-1989) được tuyên truyền tương đối bình thường thì việc báo chí chính thống của Việt Nam nhắc tới Hoàng Sa 1974 và Chiến tranh biên giới 1979 là điều gần như không có nếu không tính quãng thời gian từ 2009 trở lại đây.

Cũng cần phải nói rằng câu chuyện về cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới 1979 mới được hâm nóng trở lại trên các kênh truyền thông chính thức ở Việt Nam được vài năm nay mà bắt đầu là bài viết “Biên Giới Tháng Hai” của ký giả nổi tiếng Huy Đức (http://www.viet-studies.info/kinhte/HuyDuc_BienGioiThangHai.htm) trên báo Sài Gòn Tiếp thị ra ngày 9/2/2009.

Lác đác trong những năm sau đó một số tờ báo như Thanh Niên, Tuổi Trẻ, Pháp luật Tp.HCM…đã có một số bài viết trực tiếp hoặc gián tiếp nói đến sự kiện này trong đó nổi bật là báo Thanh Niên, tờ báo của Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam.

Tháng 2/2011, báo Thanh Niên có bài viết về liệt sĩ Lê Đình Chinh (http://tinyurl.com/pm76349) và bài về chiến công chống quân Trung Quốc xâm lược của một đơn vị bộ đội tại Lạng Sơn năm 1979 (http://tinyurl.com/cas56wk) gây được sự chú ý của dư luận đặc biệt với hình ảnh về tấm bia ghi dấu chiến công bị đục bỏ.

Năm 2013, đúng vào ngày 17/2, báo Thanh Niên cũng cho đăng tải bài phỏng vấn tướng công an Lê Văn Cương về việc phải công bố và đưa câu chuyện chiến tranh biên giới 1979 vào sách giáo khoa (http://tinyurl.com/n6cwr8w). Sau bài viết mang tính mở đường này nhiều tờ báo khác như Tuổi Trẻ, VietnamNet…cũng đã liên tiếp lên tiếng.

Theo một nhà nghiên cứu, những diễn biến nóng trên Biển Đông trong những năm qua, nỗ lực của báo giới và những sức ép từ dư luận đã buộc chính quyền có độ mở nhất định đối với các thông tin về vụ Hoàng Sa 1974, Trường Sa 1988, chiến tranh biên giới 1979 trên các kênh chính thức của Việt Nam.

Từ cuối tháng 12/2013 đầu 1/2014 một số tờ báo “lề phải” của Việt Nam bắt đầu đăng tải các bài viết về sự kiện Hoàng Sa 1974 với một sự thận trọng nhất định. Khởi đầu là Giaoduc.net.vn, tiếp sau đó là Tuổi Trẻ, Infonet.vn, PetroTimes, Vietnamnet…Tờ báo điện tử có lượng truy cập hàng đầu Việt Nam là Vnexpress.net đến gần sát thời điểm 19/1 cũng có một số bài. Các tờ báo chính thống như Nhân dân, Quân đội Nhân dân…như thường lệ không hề đả động gì đến những vấn đề vốn được mặc định là “nhạy cảm” này.

Thanh Niên, nhập cuộc muộn hơn, nhưng tổ chức khá bài bản loạt bài về Hoàng Sa trên báo điện tử thành một chuyên đề (http://tinyurl.com/nlm6tql) với nhiều bài viết đa dạng. Sự kiện Hoàng Sa 1974 được tờ báo này nhìn nhận vấn đề từ nhiều góc cạnh khá mạnh dạn so với báo chí chính thống trong nước.

Việc báo chí có thể đăng tải thoải mái các tin bài về sự kiện Trung Quốc đánh chiếm Hoàng Sa năm 1974, thậm chí động đến những chuyện khá “nhạy cảm” và gây tranh cãi mà trước nay mới chỉ được đề cập trên các kênh phi chính thống. Trong số này có thể kể đến việc đòi đánh giá lại sự kiện Hoàng Sa, ca ngợi những hy sinh của binh lính Việt Nam Cộng Hòa và coi họ như những anh hùng liệt sĩ chống ngoại xâm…đã tạo dư luận cho rằng chính quyền đã bật đèn xanh cho việc tuyên truyền này.

Tưởng niệm hay không tưởng niệm?

Chiều 30/12/2013, báo Thanh Niên điện tử đã xuất hiện bản tin về việc “Sẽ kỷ niệm sự kiện 40 năm Hoàng Sa và chiến tranh bảo vệ biên giới phía Bắc” (http://tinyurl.com/nfn9tgp).

Bản tin này sau đó đã bị gỡ bỏ sau đó chỉ vài giờ đồng hồ. Tuy nhiên nội dung của nó đã được nhiều website đăng tải lại.

Theo bản tin này, trong cuộc làm việc với Hội Khoa học lịch sử VN, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cho biết, hiện Bộ Ngoại giao Việt Nam đang lên kế hoạch tưởng niệm 40 năm sự kiện Trung Quốc đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam (1/1974) và 35 năm sự kiện Chiến tranh bảo vệ biên giới phía Bắc (2/1979).

Bản tin của Thanh Niên còn cho biết Thủ tướng đã trả lời trực tiếp tại Hội Khoa học Lịch sử rằng : “Phải kỷ niệm. Nhưng kỷ niệm thế nào để ổn định. Rồi còn biên giới Tây Nam thế nào. Chứ không phải Bộ Chính trị không quan tâm”.

Ông Nguyễn Tấn Dũng cũng cho biết hiện Bộ Ngoại giao Việt Nam đang soạn thảo đề án kỷ niệm sự kiện: biên giới phía Bắc, Hoàng Sa.

“Kỷ niệm thế nào cho vừa đạt yêu cầu đối nội, vừa đạt yêu cầu đối ngoại. Đó cũng là lợi ích của nhân dân. Bộ Chính trị rất quan tâm đến việc kỷ niệm này”, ông Dũng được Thanh Niên điện tử trích dẫn.

Cú phanh đột ngột

Trong khi nhiều người tin rằng đúng ngày 19/1/2014 hàng loạt các bài viết về sự kiện Hoàng Sa 1974 sẽ được hàng loạt tờ báo bung ra thì một điều bất ngờ xảy đến : hầu hết các tờ báo đều đột ngột ngừng việc đưa tin về sự kiện này từ 18/1.

Sáng 18/1, trang web của UBND huyện Hoàng Sa cũng bất ngờ đăng lời cáo lỗi (http://tinyurl.com/ox8kf9w) của ông Đặng Công Ngữ, Chủ tịch UBND huyện, về việc hủy chương trình tưởng niệm, thắp nến tri ân Hướng về Hoàng Sa dự kiến sẽ được tổ chức vào 19h00 cùng ngày tại tại Công viên Biển Đông, thành phố Đà Nẵng.

Lý do được đưa ra là “do công tác chuẩn bị chưa được chu đáo” nên chương trình ca nhạc hát về biển đảo quê hương và Lễ thắp nến tri ân Hướng về Hoàng Sa đã không thể diễn ra theo kế hoạch.

Cũng trong sáng 18/1, báo Thanh Niên điện tử cho đăng tải bài phỏng vấn cựu Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Dy Niên (http://tinyurl.com/nvzs2hl) liên quan đến chủ đề Hoàng Sa 1974 và Chiến tranh biên giới 1979.
Tuy nhiên bài viết này sau đó cũng nhanh chóng bị gỡ xuống.

Đến thời điểm ấy người ta chỉ có thể lờ mờ phỏng đoán đã có một quyết định được đưa ra vào giờ chót, ngay trước 19/1/2014, nhằm ngăn cản việc tưởng niệm sự kiện Hoàng Sa 1974 đồng thời “bịt miệng” báo chí trong nước.
Điều khó hiểu là quyết định này dường như được đưa ra khá bất ngờ chứ không phải như chủ trương “đèn xanh” như trước đó. Dường như đã có một sự thay đổi vào phút chót trong việc kiểm soát thông tin của sự kiện này từ giới lãnh đạo Việt Nam.

Ngày 21/1, sau cuộc giao ban báo chí định kỳ hàng tuần của lãnh đạo Ban Tuyên giáo, Bộ Thông tin và Truyền thông với lãnh đạo các báo, đài, trên một số diễn đàn báo chí đã lan truyền thông tin lãnh đạo báo Thanh Niên và Infonnet.vn đã bị “cạo” ra trò tại cuộc giao ban này. Cũng xuất hiện thông tin nói rằng báo Thanh Niên và báo Infonet.vn sẽ bị kỷ luật do không chấp hành chỉ đạo liên quan đến việc tuyên truyền về sự kiện Hoàng Sa 1974.

Chỉ thị mật

Điều có lẽ không nhiều người biết biết đó là vào ngày 16/1/2014, các tổng biên tập, giám đốc các cơ quan báo chí, phát thanh, truyền hình đã bất ngờ được Ban Tuyên giáo triệu tập đến trụ sở của cơ quan này tại 2 Hoàng Văn Thụ, Ba Đình, Hà Nội.

Họ được gọi lên để nhận tận tay một chỉ thị mật liên quan đến việc tuyên truyền về Hoàng Sa 1974 và Chiến tranh biên giới 1979.

Theo một cựu lãnh đạo báo chí thì việc gọi các Tổng biên tập đến để trao tận tay một văn bản chỉ đạo mật là điều ít khi xảy ra. Thông thường các vụ việc thế này Ban Tuyên giáo chỉ cho người gọi điện/gửi tin nhắn hoặc qua đường công văn.

Nội dung chính của chỉ đạo mật này đó là theo yêu cầu trực tiếp từ Bộ Chính trị, các cơ quan báo chí phải tuân thủ nghiêm “kỷ luật thông tin” trong tuyên truyền về Hoàng Sa, Trường Sa và chiến tranh biên giới phía Bắc năm 1979.

Cụ thể, dưới sự chỉ đạo của Bộ Chính trị, Ban Tuyên giáo đã ra lệnh cho các báo không được đưa tin về các hoạt động kỷ niệm, tưởng niệm các sự kiện nêu trên nếu chưa có sự chỉ đạo của Ban Tuyên giáo TƯ. Các báo, đài nào đã đăng thì được yêu cầu phải “dừng ngay” và “tuyệt đối không được đăng tiếp”.
Chỉ thị mật này cũng nêu rõ khi cần báo, đài nào lên tiếng, Ban Tuyên giáo TƯ sẽ có sự chỉ đạo cụ thể đồng thời răn đe, dọa dẫm, yêu cầu một cách khá gay gắt rằng các cơ quan báo chí “không được tự tiện, manh động”.
Bên cạnh đó chỉ thị đồng thời cũng yêu cầu “thông tin, tư liệu về chủ quyền của Việt Nam đối với 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa vẫn giữ mức độ, nội dung, cách thức tuyên truyền như lâu nay” (?!) và không đẩy việc tuyên truyền lên mức cao hơn.

Đặc biệt, chỉ thị mật này yêu cầu báo chí “tuyệt đối không đưa thông tin kích động, gây tâm lý dân tộc cực đoan, làm nóng dư luận, gây bất lợi về đối nội, đối ngoại” và chú ý đến các nội dung liên quan đến “đấu tranh phản bác thông tin, luận điệu sai trái, xuyên tác đường lối, chủ trương của Đảng, Nhà nước tạo chia rẽ, tạo mâu thuẫn trong quan hệ Việt Nam- Trung Quốc”.

Trưởng ban TGTU Đinh Thế Huynh. Nguồn: tapchicongsan.org.vn

Trong chỉ thị này Ban Tuyên giáo TƯ cho biết họ cùng Bộ Thông tin và Truyền thông sẽ thành lập một “Tổ công tác đặc biệt” để chỉ đạo, theo dõi việc thực thi chỉ thị và các các báo, đài vi phạm sẽ bị xử lý nghiêm khắc.

Đường dây nóng

Một nguồn thạo tin tại Hà Nội cho biết ngày 15/1/2014 phía Trung Quốc đã bất ngờ nêu yêu cầu trao đổi giữa Chủ tịch, Tổng Bí thư Trung Quốc Tập Cận Bình với Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng qua đường dây nóng nhân dịp kỷ niệm 64 năm Ngày thiết lập quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và Trung Quốc (18/1/1950-18/1/2014).

Nguồn tin không nói rõ thời điểm cuộc điện đàm được thực hiện, nhưng nhiều khả năng thời gian điện đàm từ 15-16/1/2014.

Điều đáng chú ý là theo thông tin công khai trên báo chí thì có một cuộc điện đàm với lý do tương tự (http://tinyurl.com/pww2foa) nhưng được thực hiện vào ngày 22/1/2014 cũng giữa ông Nguyễn Phú Trọng và ông Tập Cận Bình. Thông tin công khai này không cho biết cuộc điện đàm bình thường hay được thực hiện qua đường dây nóng.

Không rõ đây chính là cuộc điện đàm được thực hiện trước thời điểm 16/1/2014 nhưng được ém thông tin và đăng tải thành ngày 22/1/2014 hay là một cuộc điện đàm khác. Theo dự đoán của người viết thì nhiều khả năng chỉ có một cuộc điện đàm nhưng thời gian công bố đã có sự điều chỉnh.

Nguồn tin cũng cho biết nhiều khả năng trong cuộc điện đàm này phía Trung Quốc đã đưa ra yêu cầu và được ông Nguyễn Phú Trọng đồng ý về việc Việt Nam hủy bỏ chương trình tưởng niệm Hoàng Sa 1974 và Chiến tranh biên giới 1979 mà trước đó được dự kiến thực hiện.

Nếu điều này là sự thật thì có thể thấy một lần nữa Trung Quốc lại cho thấy sự cao tay trong việc “dắt mũi” giới lãnh đạo Việt Nam khi đặt Hà Nội vào thế bị động. Nó cũng cho thấy những nhà lãnh đạo chủ chốt của Việt Nam thiếu tầm nhìn trong việc ứng xử với Trung Quốc như thế nào, nguồn tin bình luận.

Hẳn là Hà Nội chưa quên bài học vừa mới xảy ra năm ngoái khi họ đón Thủ tướng Trung Quốc Lý Khắc Cường ngay trong thời điểm lễ Quốc tang Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Việc những lá cờ rủ đã buộc phải thay đổi cấp tập thành cờ mừng đã gây ra một làn sóng dư luận phẫn nộ trong dân chúng.

Một chuyên gia về chính trị Việt Nam cho rằng những ứng xử mang tính chất đối phó và dường như có phần quá nể sợ Trung Quốc của giới lãnh đạo Việt Nam cho thấy họ sẽ chẳng bao giờ có được sự tôn trọng từ phía người láng giềng “khó chơi”.

“Người Trung Quốc vốn kính nể những đối thủ cứng rắn. Họ muốn các chư hầu thần phục nhưng cũng coi thường những kẻ thần phục. Đó là văn hóa của họ”.

“Điều mà tôi lo lắng là không biết đến bao giờ chúng ta mới có những thủ lĩnh đủ tầm trong ứng xử với Trung Quốc Nếu những nhà lãnh đạo quốc gia của chúng ta cứ mãi “trẻ con” thế này thì đất nước sẽ còn tiếp tục bị đè nén và sỉ nhục”.

Hà Nội ngày 4/2/2014

(Kỷ niệm 225 Chiến thắng Ngọc Hồi – Đống Đa, Xuân Kỷ Dậu 1789)

*dcvonline.net

————————————————-

Các bài liên quan:

  (bài này đã bị thất lạc)

►Liên Xô đã làm gì trong cuộc chiến tranh biên giới Việt Trung 17-2-1979

    (2-2014)

►Trung Quốc ép Việt Nam không được tưởng niệm Chiến tranh biên giới 1979?

(11-2-2014)

►Đặng Tiểu Bình trong chiến tranh biên giới Việt Trung 1979  (16-2-2014)

►Biên Giới Tháng Hai (2009-1979)  – Huy Đức   (2-2009)

Posted in Chien Tranh Bien Gioi Viet Trung 1979 | Leave a Comment »

►Đi Thăm Thày Giáo Đinh Đăng Định ngày 13-2-2014

Posted by hoangtran204 trên 16/02/2014

ĐI THĂM THÀY GIÁO ĐINH ĐĂNG ĐỊNH

Tác giả: Người Việt Yêu Nước

Chiều tối ngảy 13-2-2014, tôi và một bạn trẻ vào thăm thầy Đinh Đăng Định. Vợ của Thầy thấy chúng tôi và chị định đỡ Thầy ngồi dậy. Tôi vội ngăn lại: Chị cứ để anh ấy nằm.

Ngay lập tức một cậu Công An Nhân Dân còn trẻ ngồi ở một cái bàn gần giường thày đứng dậy hỏi chúng tôi: Quan hệ thế nào với Thầy Định?.

Thày trả lời rất nhanh: Đây là học trò cũ của tôi.

Anh công an yêu cầu chúng tôi ra ngoài hành lang nói chuyện.  Anh ta nói: Theo “qui định” không cho phép ai ngoài gia đình của ông Định được thăm hỏi.

Cậu bạn trẻ đi cùng tôi nói: Thày tôi không còn bao ngày nữa, tôi là học trò, cho tôi vào gặp Thầy 5 phút thôi.

Anh công an kia nói: Thế thì để đến “lúc đó” đến nhà mà thăm ( ý là khi Thầy chết), ở đây chúng tôi không cho thăm.

Tôi rùng mình khi nghe câu nói này.  Câu nói tàn nhẫn và nét mặt thản nhiên của một anh công an còn trẻ mà tâm hồn đã trui luyện đến mức như vậy đã khiến tôi gai người và ám ảnh mãi đến bây giờ.

Cậu bạn trẻ  cố gắng gỡ gạc: “Vậy cho chúng tôi vào chào Thầy một tiếng rồi đi ngay“.

Cậu CA kia chần chừ, chúng tôi cứ thế đi vào. Anh ta lập tức đi theo, đứng sát cạnh. và luôn mồm nhắc chúng tôi, chào thế đủ rồi đấy.

Cậu bạn trẻ nắm tay thầy và nói nhanh: “Thầy ơi, gia đình em cũng là giáo viên, em sẽ dạy cho con em, học trò em về tấm gương của Thầy, mọi người luôn nhớ đến Thầy, Thầy cứ yên tâm“.

Hoàng Bui nói nghẹn ngào, mắt cậu ấy ướt nhòe. Còn tôi thì không kìm được cứ đứng nhìn mà khóc.

Thầy Định nắm chặt tay hai chúng tôi, thầy cười rất tươi và giọng thầy sang sảng: “Tôi có chết cũng theo phù hộ anh chị em và các bạn. Hồn Thiêng Sông Núi sẽ phù hộ các bạn, phù hộ cho Nhân dân VN. Tôi không sợ chết đâu,” thầy cười.

Tôi vừa khóc vừa nói: Anh hãy yên tâm, còn nhiều người bên anh, nhiều người tiếp bước.

Thầy trả lời: TÔI TIN.

Nụ cười của Thày Đinh Đăng Định làm tôi  nhớ đến tựa đề một cuốn sách mô tả đúng với mẫu người của thầy Đinh Đăng Định: “Trông CHẾT cười ngạo nghễ”.

Tôi còn nhớ lời Ba tôi dạy tôi hồi nhỏ: Con à, một đời người sống phải có ý nghĩa. “Lúc con ra đời, con khóc thì mọi người xung quanh con đều cười. Nhưng khi con chết, con cười còn mọi người xung quanh con lại rơi nước mắt”.

Thày Đinh Đăng Định là một Thầy giáo tại Đắc Nông – một người tù chính trị với bản án 6 năm. Thày Đinh Đăng Định bị kết án với tội danh tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam theo điều 88 Bộ Luật hình sự.  Phiên tòa phúc thẩm kéo dài 45 phút (ngày 21/11/2012) cũng xử y án 6 năm.  

Ai hay theo dõi tin tức trên mạng internet cũng biết thầy Định chỉ  viết một số bài có nội dung phê phán nhiều sai lầm của đảng cộng sản và nhà nước Việt Nam; trong đó nổi bật là lọat bài kêu gọi dừng dự án khai thác Bauxit Tây Nguyên. Hiện nay Thầy giáo Định đang mắc bệnh ung thư bao tử  giai đoạn cuối.

Một bạn viết trên Facebook:  Mặc dù theo đúng lịch là ngày mồng 10 tháng 2 mới là ngày bắt đầu làm việc sau kỳ nghỉ tết dài hơi, nhưng chắc do thày giáo Định bị đau liên tiếp trong những ngày nghỉ tết và thể trạng ngày một yếu đi trông thấy do không ăn được gì, chỉ uống nước yến và một ngày cố nhồi nhét được 1 bình sữa 250 ml, nên các đồng chí công an trại giam cầm lòng không đặng nên quyết định đưa thày Định trở lại bệnh viện ung bướu Sài Gòn từ hôm mồng 7 tháng 2, sớm hơn dự kiến là 3 ngày. Qủa là một việc làm phúc đức đáng ca ngợi .

Và sau đó đã rất nhiều người đến và thăm Thày, mặc dù có sự giám sát chặt chẽ của CA. Thế nhưng…

Một bạn trên facebook (Luu Gia Lạc) sau khi ghé thăm Thày Đinh Đăng Định về đã viết:

Xuống bệnh viện ung bướu Gia Định Sài Gòn từ hôm mồng 6 tháng 1 năm 2014 với tình hình sức khỏe ở mức báo động thì mãi đến cuối tuần vừa rồi các bác sĩ ở bệnh viện mới dám bạch hóa thông tin về bệnh tình thày giáo Đinh Đăng Định. Cuộc nói chuyện ( bạch hóa ) giữa các bác sĩ với gia đình thày Định và cả bên phía công an trại giam là một sự thanh minh muộn màng.
Nếu các anh đưa bệnh nhân đến đây ngay từ những ngày đầu thì mọi thứ đâu đến nỗi, đâu dẫn đến tình trạng như hiện nay .

Tình trạng gì ?

Gần đây thày Định đã không còn ăn được, có thể cực kỳ mỏi mệt, thường bị ói mửa cả ngày, sau khi khám xét , chiếu chụp đến khi không còn có thể giấu được nữa thì các bác sĩ cho truyền nước mỗi ngày và bệnh nhân không được ăn mà chỉ được uống nước yến, lý do là do vết cắt dạ dày bị viêm và phù nề, thức ăn trong dạ dày có khi nằm đó cả chục ngày không tiêu, khả năng co bóp của dạ dày cực yếu … và cần phải trong trạng thái chăm sóc đặc biệt .

Cuộc nói chuyện của các bác sĩ cho thấy họ cũng chẳng tốt lành gì, chẳng qua là họ muốn chối bỏ trách nhiệm bằng cách bạch hóa mọi vấn đề. Khi cần thì họ đâu phải sợ mấy ông công an làm gì, nhưng điều đó càng cho thấy sự đớn hèn và chỉ biết đến lợi ích của riêng mình họ mà thôi, còn bệnh nhân thì họ bỏ mặc, chỉ khi lợi ích, trách nhiệm của họ bị xâm phạm hoặc bị ảnh hưởng, họ mới cất tiếng nói. Điều đó không có gì là lạ trong ngành y, nhưng trong trường hợp này thì quả thật họ đốn mạt hết sức .

Thầy Định cần phải được chăm sóc đặc biệt sau giải phẩu, nhưng ngày tết đã cận kề, ngày của xum họp , ngày của bánh chưng, ngày của quà cáp và biếu xén, ngày của … xả hơi sau một năm lao động, công tác, cống hiến miệt mài … nên người ta quyết định tạm ngưng mọi thứ để dành cho tết. Hưởng Tết đã, rồi tính sau .

Chính vì thế nên họ quyết định cho thày Định được về ăn tết, nhưng mà về cái nơi quen thuộc là phòng giam trên trại tù An Phước. Họ sẵn sàng bất chấp tất cả, tất nhiên họ nắm trong tay hồ sơ bệnh án, họ nắm trong tay các bác sĩ để họ có thể biết chắc chăn một điều rằng ” nó không chết ngay đâu mà phải lo ” , mà có chết hay có bị làm sao thì họ cũng đã ” tận tình cứu chữa ” hết sức rồi, bằng chứng sẽ là những thước phim được chắt lọc, dàn dựng lại từ nhưng máy quay camera 24/24, từ những đợt sắp xếp để ghi hình lưu trữ . Nếu có phản ứng của công luận và của quốc tế ư? Thì đây, những hình ảnh đã được chuẩn bị sẵn để chờ có dịp để tung ra và sẽ dán chặt vào miệng lưỡi dư luận.

Trưa nay, người ta đưa thày Định về lại trại tù An Phước trong tình trạng cần và phải chăm sóc đặc biệt. Có lẻ về lại trại giam cũng là một hình thức chăm sóc đặc biệt. 
Họ đưa người tù nhân lương tâm đi để lại sự ngơ ngác, đớn đau và tuyệt vọng nơi những người phụ nữ mỏng manh và yếu đuối, thẫn thờ và tất cả như đổ sụp xuống với họ. Tết đối với họ không là gì cả trong khi chồng và cha của họ đang trong cơn trọng bệnh như thế này .

Giết người đâu cần phải bằng bom rơi đạn nổ, bằng dùi cui và dao găm, có rất nhiều cách khác nhau để giết người … ai muốn biết, muốn học thì hãy đi theo đảng cộng sản, và hãy nhanh chóng trở thành người Cộng sản Việt Nam .
Cách nhanh nhất để học cách giết người là trở thành chiến sĩ Công an Nhân dân .

Tôi không muốn viết gì thêm.

SG ngày 15-2-2014.
Người Việt Yêu Nước

—————————————————-

Thầy giáo Đinh Đăng Định bệnh nặng trong tù

10-8-2013

Thanh Trúc, phóng viên RFA

Thầy giáo bất đồng chính kiến Đinh Đăng Định, đang thụ án 6 năm tù ở An Phước Bình Dương, được chuyển từ nhà tù ra bệnh viện trong tình trạng sức khỏe nguy ngập sau khi bị cắt đi ba phần tư dạ dày.

Thanh Trúc cập nhật tin tức mới nhất về người tù lương tâm từng có những bài viết bày tỏ sự không đồng tình với sự lãnh đạo của đảng cộng sản Việt Nam, kêu gọi đa nguyên đa đảng đồng thời yêu cầu ngưng dự án khai thác bô xít ở Tây Nguyên:

Với những tội danh vừa kể, phiên Tòa Phúc Thẩm ngày 21 tháng Mười Một 2012 phán quyết y án 6 năm tù của Tòa Sơ Thẩm đối với nhà giáo Đinh Đăng Định vì những hành vi và tư tưởng mất quan điểm thể hiện qua những bài viết nội dung chống đảng, tuyên truyền chống phá nhà nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam.

Khi đó, sau phiên phúc thẩm, người bào chữa cho ông Đinh Đăng Định là luật sư Nguyễn Thanh Lương, phát biểu:

“Dễ hiểu hơn thì tôi có thể nói rằng vắn tắt rằng anh Đinh Đăng Định trở thành tù nhân vì những công Ứơc quốc tế, cụ thể là Công Ứơc Quốc Tế Về Nhân Quyền. Chính đây là những cơ sở mà anh Định dựa vào đó, đưa ra những bất đồng trong quan điểm giữa cái suy nghĩ của anh Định và pháp luật hiện hành, làm cho anh Định phải chịu hình phạt 6 năm. Tôi thấy tất cả những người bị cáo trở thành có tội là do họ dựa vào các Công ứơc Quốc Tế Về Quyền Dân Sự Và Chính Trị, rồi dựa vào Tuyên Ngôn Về Nhân Quyền. Chính đây là những cơ sở họ căn cứ vào đó họ giữ lập trường thì vô tình trở thành tù nhân. Tôi cho đó là, nói theo kiểu gọi của tôi, đó là tù nhân của Công Ứơc Quốc Tế.”

Cùng lúc đó, phó giám đốc chuyên trách khu vực Châu Á của Human Right Watch Giám Sát Nhân Quyền, ông Phil Robertson, nhận định:

“Sự thật khiến nhà giáo Đinh Đăng Định lâm cảnh tù tội và bị kêu án 6 năm là vì dám bày tỏ trên mạng Internet những ý kiến mà chính quyền Hà Nội không muốn người dân nghe biết.”

Tình trạng nguy kịch

Đến hôm mùng 2 tháng Mười tôi hỏi thì bác sĩ mổ cho anh ấy nói là anh ấy bị ung thư dạ dày và đã chuyển tới các hạch rồi. 
-Bà Đặng Thị Dinh

Tính đến lúc này, thầy giáo Đinh Đăng Định đã thụ án được hai năm tại trại giam An Phước tỉnh Bình Dương.

Trước đó, từ ngày 8 tháng Mười Một năm 2012, tù nhân lương tâm Đinh Đăng Định có triệu chứng chảy máu trong dạ dày.

Vợ ông, bà Đặng Thị Dinh, đã làm đơn xin giám thị trại giam cho phép ông được ra ngoài chữa trị tại bệnh viện.

Tuy nhiên Công An giám thị trại giam An Phước Bình Dương chỉ cho phép ông Đinh Đăng Định chạy chữa và uống thuốc trong khuôn viên nhà tù mà thôi.

Hôm thứ Hai vừa qua, bà Đặng Thị Dinh, vợ nhà giáo Đinh Đăng Định, báo cho biết do sức khỏe nguy kịch nên từ tháng Chín 2013, thì chồng bà được chuyển từ trại giam An Phước về bệnh viện 30 tháng Tư thành phố Hồ Chí Minh:

“Ngày 5 tháng Chín thì họ cho đi khám, mùng 9 tháng Chín thì nhập viện và đến ngày 18-9-2013 thì phẫu thuật. Chính xác thì hiện tại người ta đã cắt đi ba phần tư dạ dày. Đến hôm mùng 2 tháng Mười tôi hỏi thì bác sĩ mổ cho anh ấy nói là anh ấy bị ung thư dạ dày và đã di chuyển tới các hạch rồi. Tôi hỏi xin kết quả xét nghiệm thì bác sĩ nói là người ta còn đang phân tích tiếp nên người ta chưa cho, người ta chỉ nói thế thôi.”

Tuy nằm trong bệnh viện, bà Đặng Thị Dinh nói tiếp, lúc nào bên giường bệnh của ông Đinh Đăng Định cũng có công an túc trực:

“Họ có năm người công an lúc nào cũng bên cạnh. Nói chung là người đi thăm thì người ta cho giờ thôi, còn tôi thì người ta cho lâu hơn.”

Hiện tại sức khỏe nhà giáo Đinh Đăng Định rất yếu:

“Nói chung là anh vẫn tỉnh, ăn cháo được mấy hôm nay rồi, sức khỏe thì nói chung vẫn còn yếu, mỗi lần chỉ ăn một chén cháo nhỏ. Trò chuyện thì anh cũng nói là cảm ơn tất cả mọi người, những ai quan tâm hỏi thăm…”

Vốn ít lời mà lý do là vì sợ hãi, chưa kể hay bị công an đe dọa là không được trò chuyện trao đổi gì với người bên ngoài, lần này bà Đặng Thị Dinh nói rõ sở dĩ bà quyết định loan báo về tình trạng tù nhân lương tâm Đinh Đăng Định là vì:

Nói chung là anh vẫn tỉnh, ăn cháo được mấy hôm nay rồi, sức khỏe thì nói chung vẫn còn yếu, mỗi lần chỉ ăn một chén cháo nhỏ. 
-Bà Đặng Thị Dinh

“Anh ấy mắc bịnh hiểm nghèo, coi như tôi thấy tình trạng của anh ấy nguy ngập quá, anh quá yếu nên tôi rất lo không biết làm sao, không biết có qua được cơn nguy kịch này không.”

Để biết thêm chi tiết về bệnh trạng của nhà giáo Đinh Đăng Định, chúng tôi liên lạc bằng điện thoại đến bà Đặng Thị Dinh vào lúc 19 giờ tối thứ Ba nhưng bà không bắt máy. Đến 22 giờ tối cùng ngày, từ nhà trọ bà báo cho biết:

“Lúc nãy chị gọi cho tôi nhưng vì ở trong bệnh viện có mấy ông công an ở đấy nên tôi không nghe máy được, các anh công an nói là không được nghe điện thoại trong phòng bệnh nhân. Mang điện thoại vào thì phải tắt đi hoặc có khi phải nộp cho công an.

Từ hôm anh nằm bệnh viện đến giờ, ngoài bốn mẹ con tôi ra thì có anh trai, cháu và một em gái cũng đến thăm anh ấy một hai lần, bạn bè người quen thì không ai được thăm cả, chỉ đứng nhìn từ ngoài qua của kính thôi chứ còn không ai được vào thăm.

Hôm nay thì có một bác sĩ ở bên Trung Tâm Ung Bướu sang nói với chồng tôi là từ bốn đến sáu tuần sau khi phẫu thuật thì họ sẽ kê đơn và vào thuốc để chữa trị bệnh ung thư.”

Vì không mấy hy vọng ông Đinh Đăng Định sớm bình phục, bà Đặng Thị Dinh đã gởi đơn lên ban giám thị trại giam An Phước, Bình Dương, để một lần nữa xin cho ông được tạm ngưng án tù và về nhà chữa bệnh. Câu trả lời của trại giam hôm nay là:

“Chồng tôi kỳ này tôi thấy yếu lắm, ăn ít lắm mà nói thì như là không có hơi. Cái đơn mà tôi đề nghị là xin miễn chấp hành phạt tù anh ấy thì giám thị trại giam đã nhận được rồi. Tức là tôi thảo đơn gởi đi các nơi, gởi cả lên ông Trương Tấn Sang rồi ông bộ trưởng Bộ Công An Trần Đại Quang, các nơi cả chứ không phải riêng ông giám thị trại giam. Hôm nay ông phó giám thị trại giam đã gặp tôi ở bệnh viện, ông nói đã trình đơn ấy lên cấp trên để xin ý kiến.”

Chúng tôi sẽ tiếp tục theo dõi để cập nhật tin tức về nhà giáo, tù nhân lương tâm Nguyễn Đăng Định đến quý vị.

Ý kiến bạn đọc

Dương Kim Oanh

nơi gửi Hà – nội

Đề nghị chính quyền giải quyết yêu cầu chính đáng của gia đình thầy giáo Định cũng như những tù nhân lương tâm khác đang bị bệnh nặng.Mong các vị nghe tiếng lương tâm của mình, ” mình muốn điều gì cho mình thjf hãy làm điều ấy cho người khác”

01/12/2013 22:53

THUY HANG

nơi gửi VIET NAM

Cong San VN la bon vo nhan dao, la bon cuop cua giet nguoi. Hanh dong doi xu voi tù nhân nhu the đã chung to cho nhan dan tren the gioi biet rang chung la 1 bon cam quyen man rợ, ngu dot va thieu van minh. Hay đi chet đi dang CSVN va bon đồ tể Ha Noi.

—————————————————

Trần Hoàng- Trích bài báo của RFA

Trước đó, từ ngày 8 tháng Mười Một năm 2012, tù nhân lương tâm Đinh Đăng Định có triệu chứng chảy máu trong dạ dày.

Vợ ông, bà Đặng Thị Dinh, đã làm đơn xin giám thị trại giam cho phép ông được ra ngoài chữa trị tại bệnh viện.

Tuy nhiên Công An giám thị trại giam An Phước Bình Dương chỉ cho phép ông Đinh Đăng Định chạy chữa và uống thuốc trong khuôn viên nhà tù mà thôi.

Hôm thứ Hai vừa qua, bà Đặng Thị Dinh, vợ nhà giáo Đinh Đăng Định, báo cho biết do sức khỏe nguy kịch nên từ tháng Chín 2013, thì chồng bà được chuyển từ trại giam An Phước về Bệnh viện 30 tháng Tư thành phố Hồ Chí Minh…

“Ngày 5 tháng Chín thì họ cho đi khám, mùng 9 tháng Chín thì nhập viện và đến ngày 18-9-2013 thì phẫu thuật. Chính xác thì hiện tại người ta đã cắt đi ba phần tư dạ dày. Đến hôm mùng 2 tháng Mười tôi hỏi thì bác sĩ mổ cho anh ấy nói là anh ấy bị ung thư dạ dày và đã di chuyển tới các hạch rồi. Tôi hỏi xin kết quả xét nghiệm thì bác sĩ nói là người ta còn đang phân tích tiếp nên người ta chưa cho, người ta chỉ nói thế thôi.”

————————————————-

Trần Hoàng: Lẻ ra, sau khi nhận được Đơn xin giám thị trại giam cho phép ông được ra ngoài chữa trị tại bệnh viện của vợ thầy Định, công an trại giam An Phước phải cho thầy Định đi khám bệnh và chữa trị vào tháng 11-2012 và tiến hành cắt bỏ khối u trong năm 2012. 

Vì công an trại giam không cho phép thầy Định ra bệnh viện khám và chữa trị, nên thầy Định đã không được khám bệnh và điều trị suốt năm 2012-2013. Trong thời gian này, tế bào ung thư đã di căn qua các hạch bạch huyết chung quanh bao tử và mầm ung thư hiện nay có khả năng đã lan đến Gan, Thận, Phổi, và Não…

Lúc bệnh đã nặng, công an trại giam mới đem thầy Định về Bệnh Viện 30/4 để bác sĩ cắt 3/4 bao tử vào ngày 18-9-2013. Lẻ ra, sau khi cắt xong, công an phải để cho bác sĩ làm xạ trị và chemotherapy vào cuối tháng 9 hoặc đầu tháng 10-2013, chứ tại sao lại bắt Bs  ký giấy xuất viện để cho bệnh nhân về lại trại giam An Phước từ đó cho đến tháng 1 2014?  

Rồi  4 tháng sau, khi mà bệnh nhân bị bệnh nặng hơn, đến tháng 1-2014, công an trại giam mới chở vào bệnh viện, và Bs mới bắt đầu làm xạ trị và làm chemotheapy? 

—————————————————-

Trích bài báo của Nguoi Yeu Nuoc Viet ngày 13-2-2014:

“Xuống bệnh viện ung bướu Gia Định Sài Gòn từ hôm mồng 6 tháng 1 năm 2014 với tình hình sức khỏe ở mức báo động thì mãi đến cuối tuần vừa rồi các bác sĩ ở bệnh viện mới dám bạch hóa thông tin về bệnh tình thày giáo Đinh Đăng Định.

Cuộc nói chuyện ( bạch hóa ) giữa các bác sĩ với gia đình thày Định và cả bên phía công an trại giam là một sự thanh minh muộn màng.

 Nếu các anh đưa bệnh nhân đến đây ngay từ những ngày đầu thì mọi thứ đâu đến nỗi, đâu dẫn đến tình trạng như hiện nay.

Tình trạng gì ?

Gần đây thày Định đã không còn ăn được, cơ thể cực kỳ mỏi mệt, thầy thường bị ói mửa cả ngày, sau khi khám và làm xét nghiệm, chiếu chụp…và đến khi không còn có thể giấu được nữa, thì các bác sĩ cho truyền nước mỗi ngày và bệnh nhân không được ăn mà chỉ được uống nước yến, lý do là do vết cắt dạ dày bị viêm và phù nề, thức ăn trong dạ dày có khi nằm đó cả chục ngày không tiêu, khả năng co bóp của dạ dày cực yếu … và cần phải trong trạng thái chăm sóc đặc biệt .

Cuộc nói chuyện của các bác sĩ cho thấy họ cũng chẳng tốt lành gì, chẳng qua là họ muốn chối bỏ trách nhiệm bằng cách bạch hóa mọi vấn đề. Tại sao họ không bạch hóa cho gia đình thầy Định biết từ trước?

Khi cần thì họ đâu phải sợ mấy ông công an làm gì, nhưng điều đó càng cho thấy sự đớn hèn và chỉ biết đến lợi ích của riêng mình họ mà thôi, còn bệnh nhân thì họ bỏ mặc, chỉ khi lợi ích, trách nhiệm của họ bị xâm phạm hoặc bị ảnh hưởng, họ mới cất tiếng nói (bạch hóa). Điều đó không có gì là lạ trong ngành y, nhưng trong trường hợp này thì quả thật họ đốn mạt hết sức .”

Sau khi chiếu chụp, có lẻ các bác sĩ đã nhìn thấy di căn của ung thư đến các nơi khác bên trong cơ thể của thầy Định, và họ tiên lượng bệnh tình của thầy Định sẽ rất xấu, thời gian sẽ không còn bao lâu nữa…bởi vậy:

Mời các bạn đọc bài báo kế tiếp ngày 15-2-2014

>>>►Thầy ĐINH ĐĂNG ĐỊNH được tạm hoãn thi hành án 12 tháng tù để tiếp tục điều trị bệnh

Posted in Dân Chủ và Nhân Quyền, Tù Chính Trị | Leave a Comment »

►Thầy ĐINH ĐĂNG ĐỊNH được tạm hoãn thi hành án 12 tháng tù để tiếp tục điều trị bệnh

Posted by hoangtran204 trên 15/02/2014

TIN VUI VỚI CỘNG ĐỒNG – THÀY ĐINH ĐĂNG ĐỊNH TỰ DO!

15-2-2014

Gia đình thày Định vừa thông báo thày Đinh Đăng Định đã được trả tự do ( tạm thời ), hiện nay thày Định vẫn đang ở trong bệnh viện nhưng các anh công an ” bảo vệ ” thày đã rút về hết .

Vợ chồng thầy Định trong bệnh viện

Xin thông báo tin này đến toàn thể cộng đồng và đích thân thày Định xin được gửi gắm tấm lòng tri ân đến toàn thể cộng đồng, đến các cơ quan đoàn thể của các quốc gia, đến UBNQLHQ … đã quan tâm, đã lên tiếng can thiệp với chính quyền Việt Nam để đem đến sự tự do cho thày .

Một lần nữa xin được nắm chặt tay toàn thể anh em, bạn bè xa gần đã cùng nhau luôn quan tâm, giúp đỡ, luôn hướng về người thày giáo can đảm , yêu nước Đinh Đăng Định …

Muốn nói nhiều hơn nữa nhưng xin phép mọi người tôi phải lên đường đây .
Thanks all !
Fb Lưu Gia Lạc.
Hình thày Định ngày 12/02/2014 tại Bệnh viện Ung bướu, Nơ Trang Long, Bình Thạnh.
——————————————–

Huỳnh Công Thuận đã chia sẻ ảnh của Phambahai Ttl.

5g chiều nay 15/2/2014 mới đi thăm thầy Định với Vinh Le vàQuoc Pham , tuy có một an ninh hoạch họe mượn CMND ghi vào sổ nhưng không hề gì… xem thấy sức khỏe thầy tương đối tốt và tinh thần thì càng tốt hơn, thầy ngồi dậy nói chuyện vui vẻ thoải mái.
Giờ lại được tin Thầy được tạm hoãn thi hành án cầu mong bệnh thầy sẽ qua khỏi…

Tin Nóng:Thầy giáo Đinh Đăng Định đã được hoãn thi hành án 12 tháng. Tin từ con gái ông, Đinh Phương Thảo thông báo qua điện thoại. Ông Định vẫn nằm tại bệnh viện Ung Bướu Sài Gòn để tiếp tục chữa trị. Ngay sau khi đọc lệnh hoãn thi hành án, các nhân viên an ninh đã rút khỏi phòng bệnh nơi ông đang điều trị.

Posted in Dân Chủ và Nhân Quyền, Tù Chính Trị | Leave a Comment »

►Có chiến dịch “phá đám” không cho Việt Nam xích lại gần phương Tây?

Posted by hoangtran204 trên 15/02/2014

Thụy My

Trong thời gian gần đây trên mạng lại ồn ào lên một số vụ việc trấn áp các nhà hoạt động dân chủ, sách nhiễu giới tôn giáo tại Việt Nam, thậm chí việc kỷ niệm cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc lúc Trung Quốc xua quân sang xâm lược Việt Nam ngày 17/02/1979 cũng ít thấy các tờ báo chính thức đề cập. RFI Việt ngữ đã mời nhà bình luận Phạm Chí Dũng ở thành phố Hồ Chí Minh, một nhà quan sát thời sự cẩn trọng phân tích về vấn đề này.

RFIThân chào nhà bình lun Phm Chí Dũng. Thưa anh, gđây có mt lot các s kin xy ra, chng hn như bn thân anh b ngăn chn không cho đi Thy Sĩ d hi tho, ri vic bt ông Nguyn Bc Truyn, hay sách nhiu nhà th Thái Hà… Phi chăng chính quyđang có nhng du hiu cng rn hơn?

Nhà bình lun Phm Chí Dũng: Để đánh giá vấn đề này, chúng ta cần phải nhìn lại biện chứng lịch sử của năm ngoái. Quả là ngay sau Tết nguyên đán năm 2014, đã nổi lên một loạt sự kiện không bình thường và có thể nói là rất, rất không bình thường. Tôi thống kê có năm vấn đề như vậy.

Thứ nhất là việc ngăn chận tôi đi Thụy Sĩ dự một hội thảo về nhân quyền với tư cách một diễn giả chính thức, khách mời của tổ chức UN Watch Liên Hiệp Quốc. Hoàn toàn chính danh, không có lý do nào để ngăn cản tôi.

Sự kiện thứ hai là như đài RFI vừa nhắc, là việc bắt ông Nguyễn Bắc Truyển – một cựu tù nhân lương tâm và 24 tiếng đồng hồ sau thả ra, với một lý do không đâu vào đâu liên quan tới vấn đề công nợ. Nhưng thật lạ lùng là một người bị tình nghi chỉ vì vấn đề công nợ thôi, mà lại bị hàng trăm công an và những côn đồ mặc thường phục xông vào nhà đè xuống, bịt mắt, đấm đá, quẳng lên xe thùng chở đi và di lý tới cả trại giam Chí Hòa ở Saigon.

Liên quan đến trường hợp Nguyễn Bắc Truyển, chúng ta đều biết là chị Bùi Hằng – một người thân của anh Truyển đến đòi thả anh và những người khác, đã bị bắt giam cùng một số người. Có thể nói là họ bị câu lưu vô cớ, và nghe nói là bị đánh đập.

Sự kiện thứ ba là cùng lúc diễn ra việc công an lọt vào nhà thờ Thái Hà, và có hành vi mang tính chất sách nhiễu đối với linh mục và giáo dân, đến mức linh mục phải rung chuông báo động và giáo dân phải kéo đến chi viện đồng thời đóng cổng. Cuối cùng công an phường khu vực đó đã phải ngỏ lời xin lỗi thì mới được ra về.

Đồng thời có một sự việc nữa rất vô lý và vô cớ, là nhà ông Huỳnh Ngọc Tuấn ở Tam Kỳ, Quảng Nam bị một số côn đồ mặc thường phục ném gạch đá vào, gia đình ông đã phải kêu cứu. Chúng ta nhớ rằng mới tháng 12 năm ngoái thôi, ông Huỳnh Ngọc Tuấn đi cùng với một đoàn anh em tới thăm gia đình tù nhân lương tâm Phạm Văn Trội ở khu vực Hà Nội, thì ông Tuấn đã bị công an khu vực đánh. Nghe nói là gãy xương ức, có cả hình chụp X quang.

Sự việc cuối cùng xảy ra là đã không có một lễ tưởng niệm nào cho ngày Trung Quốc xâm lược Việt Nam, ngày 17 tháng Hai sắp tới. Trong khi đó mới tháng Giêng thôi, sự việc tưởng niệm Hoàng Sa trước đó đã được thống nhất là cho Đà Nẵng tưởng niệm. Đà Nẵng đã hoàn thành đến 99% toàn bộ công trình, nhưng đến giây phút cuối cùng bị ngăn lại. Còn lần này có một sự dứt khoát, từ một chỉ thị mật nào đó của Ban Tuyên giáo trung ương là các báo không được đưa tin. Mới đây thôi, tờ Một Thế Giới đã phải gỡ bài đưa tin kỷ niệm ngày 17 tháng Hai xuống. Trong khi đó các báo khác gần như lắng tiếng.

Mặc dù ông Nguyễn Thế Kỷ là trưởng ban Tuyên giáo trung ương gần như thề thốt với đài BBC rằng ông không biết gì về chuyện ra lệnh để ngưng những bài báo kỷ niệm ngày 17 tháng Hai, nhưng dư luận cho rằng đây là việc đã xảy ra tới một trăm lần, nhiều đến mức người ta không còn tin vào bất kỳ lời lẽ của một quan chức tuyên giáo nào ở Việt Nam.

RFI: Nhng động thái này có v không phù hp vi vic Vit Nam đang gi mt chiếc ghế trong Hđồng Nhân quyn Liên Hip Quc?

Chỉ sau ngày Kiểm điểm Định kỳ Phổ quát về nhân quyền (UPR) đối với Việt Nam tại Thụy Sĩ 5/2 mới vừa qua thôi, thì tình hình vi phạm nhân quyền lập tức nóng lên, và nóng lên một cách bất thường.

Điều đó làm cho tôi nhớ lại vào tháng Chín năm ngoái cũng đã xảy ra một loạt vụ việc vi phạm nhân quyền, liên quan tới khá nhiều tôn giáo như Cao Đài, Tin Lành, Công giáo ở Mỹ Yên cũng xô xát dữ dội. Và cũng có cả những dấu hiệu gần tương tự như vụ Nguyễn Bắc Truyển vừa rồi ở Đồng Tháp, xảy ra ở nhà ông Nguyễn Tường Thụy – một nhà văn đồng thời là blogger ở Hà Nội.

Khi đó gia đình Phương Uyên ra chơi Hà Nội, đến thăm ông Nguyễn Tường Thụy, thì đột ngột vào buổi tối trước khi gia đình chuẩn bị lên máy bay về Saigon, có khoảng hai chục công an và côn đồ nhào vào nhà bắt họ đi và đánh đập khá tàn nhẫn. Bắt một cách vô cớ, nhưng sau sáu tiếng đồng hồ thì thả ra, cũng không đưa ra một lý lẽ nào đủ thuyết phục.

Điều đó làm rùm beng công luận kể cả báo đài quốc tế. Và dường như có một sự cố ý để làm rùm beng như vậy, thông tin cho báo đài quốc tế để quốc tế thông tin lại cho dư luận trong nước, khuấy động dư luận quốc tế, tạo ra phản ứng đáng kể của phương Tây đối với Việt Nam về vấn đề vi phạm nhân quyền.

Thì lần này cũng vậy. Sự việc bắt và thả Nguyễn Bắc Truyển chỉ vì vấn đề công nợ, và sau đó bắt Bùi Hằng cùng một số người khác cũng đang gây ra một làn sóng phẫn nộ khác từ giới chức quan ngại về vấn đề nhân quyền của phương Tây.

Hai thời điểm tháng Hai năm nay và tháng Chín năm ngoái lại có một điểm chung liên quan đến Hiệp định Đối tác Kinh tế xuyên Thái Bình Dương (TPP). Vào tháng Chín năm ngoái, nếu tôi nhớ không lầm thì những vụ việc vi phạm nhân quyền xảy ra trước khi diễn ra vòng đàm phán thứ 18 cấp bộ trưởng tại Brunei về vấn đề TPP. Còn lần này vào cuối tháng Hai, theo dự kiến sẽ diễn ra cuộc đàm phán vòng thứ 21 cấp bộ trưởng, cũng về TPP.

Một điểm nữa không thể không nói tới, là tháng Chín năm trước, cùng với sự việc sắp diễn ra vòng đàm phán về TPP tại Brunei, cũng là một chuyến đi của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tới New York, gặp Bộ trưởng Bộ Thương mại Hoa Kỳ, và cũng đề cập tới vấn đề TPP.

RFI: Còn ln này thì sao, thưa anh?

Có lẽ người ta cũng đang đặt dấu hỏi đối với Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng. Vì ngay từ đầu năm, chính Thủ tướng đã đưa ra một thông điệp , khác hẳn với các thông điệp của các nguyên thủ khác ở Việt Nam từ trước đến nay, liên quan tới những cụm từ «nắm chắc ngọn cờ dân chủ», «Nhà nước kiến tạo phát triển», kể cả «người dân có quyền được làm những gì mà pháp luật không cấm».

Như vậy sau hai sự biến từ tháng Chín năm ngoái cho tới tháng Hai năm nay có một điểm chung liên quan tới TPP, và có lẽ cũng có một điểm chung liên quan tới Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, thì không thể tránh được việc dư luận đang rất hoài nghi. Và còn hơn nữa là nghi ngờ, liệu những hành vi được coi là vi phạm nhân quyền vừa rồi của một số giới chức ở các địa phương và ngay tại Hà Nội, là chỉ vì thái độ phản kháng đối với nhân quyền, hay còn lý do nào khác?

Một khả năng mà dư luận cũng đang đặt ra, là liệu có đang diễn ra một chiến dịch của một lực lượng nào đó, ngăn trở một lực lượng khác? Có dư luận còn cho cụ thể hơn: liệu đó có phải là một chiến dịch của lực lượng được gọi là phe bảo thủ, để cản trở phe lợi ích trong việc ngả về phương Tây, xích lại gần hơn với phương Tây hơn?

Gần đây, sau Tết lại có một vài dấu hiệu nóng lên, liên quan tới chính trường Việt Nam, đặc biệt là liên quan tới vụ xử án Dương Chí Dũng trước Tết. Và nếu như lời khai của ông Dương Chí Dũng được điều tra nghiêm túc thì có nhiều khả năng là cả con trai của ông Phạm Quý Ngọ là Phạm Mạnh Hùng sẽ bị truy tổ về tội danh môi giới hối lộ.

Ngoài ra dư luận Việt Nam trong những ngày qua cũng rất quan tâm tới một sự việc dường như có vẻ đứng bên lề tất cả những sự kiện chính trị, nhưng lại có mối liên hệ không thể đặc biệt hơn với những sự kiện chính trị. Đó là việc khai trương nhà hàng McDonald’s của ông Nguyễn Bảo Hoàng. Vietnamnet là một trong những tờ báo ăn khách nhất Việt Nam, thậm chí có truyền thống, uy tín nữa, mà lại đăng một bài về ông Nguyễn Bảo Hoàng «Lý lch trong sáng, s nghip huy hoàng».

Riêng về «sự nghiệp huy hoàng» của ông Nguyễn Bảo Hoàng thì giới doanh nhân có thể ở chừng mực nào đó chấp nhận được. Nhưng tựa đề «lý lịch trong sáng» có lẽ là một tựa đề rất lạ. Vì «lý lịch trong sáng» thường chỉ đặt ra trong nội bộ, trong việc xét nhân thân, tổ chức hoặc là kỷ luật mà thôi. Việc một tờ báo phải đưa «lý lịch trong sáng» của một người không phải là đảng viên lên trên mặt báo, là để thanh minh, hay để làm gì?

Chúng ta có lẽ nên nhìn lại lời bình của giới quan sát ở phương Tây: việc con rể của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, tức nhà kinh doanh Nguyễn Bảo Hoàng vừa khai trương McDonald’s, như một dấu hiệu cho thấy quyền lực của ông Dũng vẫn chiếm ưu thế ở Việt Nam. Tham vọng phát triển kinh doanh của ông Nguyễn Bảo Hoàng có thể xem là một chỉ dấu cho thấy rằng trong cuộc chạy đua quyền lực nước rút 2014, giữa ông Dũng và bộ sậu chính trị còn lại ở Việt Nam, không có gì là khó khăn với ông.

Việc tiếp tục phát triển mạnh mẽ các thương hiệu của con rể ông Dũng, như báo Forbes, quỹ đầu tư IDC Venture ở Việt Nam, và nay là thương hiệu McDonald cho thấy ông Dũng và các thành phần thân cận hoàn toàn tự tin vào một tương lai chính trị của mình.

Còn về phía người dân, trên thực tế hình ảnh của các nhà lãnh đạo Việt Nam nghiêng về phương Tây vẫn làm cho họ thú vị hơn là đồng minh với Trung Quốc – dù chỉ là thức ăn nhanh McDonald’s.

RFI: Tr li vi vic anh b ngăn chn không cho đi Thy Sĩ, bây gi nhìn li anh có th lý gii như thế nào?

Sau khi tôi bị ngăn chặn ở sân bay thì đã có dư luận nhiều chiều. Một luồng dư luận đánh giá có lẽ là người ta e ngại vấn đề nhân quyền nên ngăn chận tôi, e ngại «sẽ bị những thế lực thù địch lợi dụng» ở Thụy Sĩ. Nhưng cũng có một luồng dư luận không đồng ý quan điểm đó. Họ thấy hình như có một bàn tay kín đáo đã sắp xếp việc này. Họ cho đó là một thế lực không muốn Việt Nam có khuynh hướng xích lại gần phương Tây.

Vậy thế lực đó là ai? Và dư luận còn cho rằng đó là một thế lực khoác một cái áo phá đám phương Tây, thường gây rối trong thời gian qua. Sau đó tôi tự nhiên nghe được một luồng thông tin – dường như cố ý để đến tai tôi rằng- có một sự thống nhất giữa ông Trương Tấn Sang và ông Nguyễn Tấn Dũng về việc không cho tôi đi Thụy Sĩ.

Tôi ngạc nhiên, về hai khía cạnh. Một, là tôi không nghĩ vụ việc của tôi lại lên tới tầm cỡ Bộ Chính trị. Thứ hai, nếu có lên tới tầm cỡ đó, thì ông Sang và ông Dũng phải cùng thống nhất với nhau – một việc đáng ngạc nhiên, nếu xét từ Hội nghị trung ương 6 vào tháng 10/2012 cho đến nay. Đó là một thông tin mà tôi thấy ngẫu nhiên, kỳ quặc và có vẻ cố ý.

Nhưng sau đó tôi lại nhận được một luồng thông tin khả tín, cho biết ông Trương Tấn Sang đã khẳng định ông hoàn toàn không biết gì về việc tôi bị ngăn chận ở sân bay, thậm chí còn nói rằng, trong một nền dân chủ pháp quyền như ở Việt Nam hiện nay, tôi có thể kiện về việc tôi bị ngăn chận.

Những thông tin này làm cho tôi suy nghĩ rất nhiều. Tôi cho rằng nếu ông Sang không biết gì về vụ việc của tôi, thì có lẽ ông Nguyễn Tấn Dũng cũng không phải là người quá quả quyết, hoặc có lẽ cũng không có ý kiến gì trong việc ngăn chận tôi. Như vậy giả thiết ông Dũng và ông Sang bắt tay thống nhất không cho tôi đi Thụy Sĩ có vẻ không vững chắc, không có thật. Đó là những suy nghĩ của tôi về vấn đề cỏn con này.

[Vậy là phải có một thế lực khác đã ra lệnh cho công an không cho Phạm Chí Dũng đi Thụy Sĩ- ]

RFISp ti s x phúc thm lut sư Lê Quc Quân, theo d đoán ca anh phiên tòa ln này sra sao?

Vụ việc của Lê Quốc Quân sẽ tùy thuộc vào một số yếu tố. Vấn đề nhân quyền ở Việt Nam có lẽ chúng ta cần nhìn lại biện chứng một chút. Vào tháng Chín năm ngoái, những vụ hành xử vi phạm nhân quyền của một số địa phương đã diễn ra trong ba tuần lễ liên tục.

Nếu quả thực có một thế lực nào đó can thiệp kín đáo và đạo diễn cho những vụ việc này, với động cơ không hẳn là nhắm vào nhân quyền, mà mượn nhân quyền để tạo ra những xung khắc, mâu thuẫn nội bộ, hạn chế đà luân chuyển của Việt Nam ngả về phương Tây, thì tôi cho rằng kỳ này cũng có thể như vậy. Tức là những vi phạm nhân quyền như vừa rồi có thể kéo dài hai tới ba tuần.

Chúng ta cần nhớ lại, tháng Chín năm ngoái cũng đã xảy ra năm, sáu vụ việc liên quan đến vi phạm nhân quyền, và thời gian vừa qua cũng xảy ra bốn, năm vụ. Vấn đề là thời gian diễn biến của các vụ này kéo dài bao lâu. Sau những vụ trong đầu tháng Hai này, liệu còn những vụ nào xảy ra?

Có một điểm trùng hợp: những vụ vi phạm nhân quyền xảy ra vào tháng Chín năm trước, là trước chuyến đi của Ngoại trưởng Mỹ John Kerry đến Việt Nam khoảng hai tháng rưỡi. Còn những hiện tượng liên quan tới vấn đề nhân quyền vào đầu tháng Hai năm 2014, lại xảy ra trước chuyến đi của Tổng thống Barack Obama đến châu Á, cũng khoảng hai tháng đến hai tháng rưỡi.

Những điểm tương đồng khó mà bỏ qua được, và tôi cho là có liên quan mật thiết đến số phận của Lê Quốc Quân, vì ông sẽ được đưa ra xử phúc thẩm vào ngày 18/2. Cuối tháng Hai là thời điểm một cuộc đàm phán về TPP cấp bộ trưởng, nhưng cho tới nay vấn đề TPP gần như chưa ngã ngũ.

Theo một thông báo của Ủy hội Nhân quyền Tom Lantos Hoa Kỳ mới đây, đòi trả tự do cho Đỗ Thị Minh Hạnh, Đoàn Huy Chương, Nguyễn Hoàng Phước Hùng, họ nói thẳng ra là Việt Nam cần phải đạt được những tiến bộ có thể chứng minh, như lời của Ngoại trưởng John Kerry và ông Scott Bubby, thì lúc đó mới có thể thỏa mãn những điều kiện về TPP.

Vào lúc phiên xử sơ thẩm Lê Quốc Quân, vòng đàm phán Brunei đã kết thúc. Lúc đó tôi nhớ là lại có thêm một điều kiện nữa về nghiệp đoàn lao động do phía Mỹ đặt ra, mặc dù phái đoàn thường trực của Việt Nam nhận được một ưu ái là có ân hạn 5 năm trong việc cải cách các doanh nghiệp và tập đoàn kinh tế nhà nước, nhưng họ không làm sao có thể thỏa mãn được vấn đề nghiệp đoàn lao động và quyền được lập hội.

Lần này cũng vậy thôi. Cho tới nay vấn đề TPP gần như chưa được thỏa mãn một điều kiện nào từ phía Việt Nam. Mà nếu Việt Nam không đáp ứng được những yêu sách của các nước trong TPP và đặc biệt là Hoa Kỳ, thì làm sao có thể được chuẩn y một cách dễ dàng vào Hiệp định Đối tác Kinh tế xuyên Thái Bình Dương, giống như lọt một cách dễ dàng vào Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp Quốc.

Tôi cho rằng Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp Quốc và TPP khác nhau hoàn toàn, đặc biệt giữa tính chính trị và tính kinh tế. Giữa cái « hữu danh vô thực » về mặt quyền lợi, và một điều rất thiết thân về quyền lợi đối với kinh tế Việt Nam, đặc biệt trong bối cảnh nền kinh tế đang sa sút thảm hại như hiện nay.

Cho nên cùng với những dấu hiệu vi phạm nhân quyền của một số cơ quan, giới chức Việt Nam trong thời gian đầu tháng 2/2014, đặc biệt nổi lên ngay sau kỳ UPR tại Thụy Sĩ, tôi cho rằng khả năng đối với Lê Quốc Quân hiện nay, giữa kết quả xấu và kết quả tốt, là 50/50. Thậm chí có một chút nào đó nghiêng về khả năng xấu hơn.

Trước phiên xử phúc thẩm này cũng đã có một số thông tin cho rằng khả năng kết quả phúc thẩm có thể y án 30 tháng tù giam ; như vậy đó là một kết quả tồi ! Một kết quả thật không may mắn đối với Lê Quốc Quân. Nếu may mắn hơn, phải được như Phương Uyên, tức là trả tự do ngay tại tòa vào tháng 8/2013.

Cho nên nếu đưa Lê Quốc Quân ra xử ngay vào thời điểm này, tôi e rằng thế bất lợi thuộc về ông. Tốt nhất thời điểm xử Lê Quốc Quân nên dời lại vào khoảng tháng 5, tháng 6 năm nay. Vì khi đó số phận của Hiệp định Đối tác Kinh tế xuyên Thái Bình Dương đối với Việt Nam có lẽ cũng đã rõ hơn, thậm chí sau chuyến đi châu Á của ông Obama, có thể có những kết quả được Việt Nam mong đợi đã xuất hiện.

Như lời của đại sứ Việt Nam tại Mỹ – ông Lê Quốc Cường, mong rằng sẽ có kết quả tốt qua chuyến đi châu Á của Tổng thống Obama về vấn đề TPP đối với Việt Nam. Đồng thời vào khoảng giữa năm 2014 tôi cho là cũng có thể dứt điểm về vụ điều tra những tình nghi đối với ông Phạm Quý Ngọ, và với cả bầu Kiên nữa. Như vậy có thể đến lúc đó những điều kiện thuận lợi sẽ thuộc về Lê Quốc Quân nhiều hơn, và biết đâu đấy, trong một xu thế cởi mở hơn về mặt chính trị, thân thiện hơn đối với phương Tây, Nhà nước Việt Nam sẽ quyết định tha bổng Lê Quốc Quân.

RFITóm li, như dư lun vn thường nói, s phn ca các nhà dân ch  Vit Nam ch là nhng con c để chính quyn mc c

Dư luận rất hoài nghi, và bản thân tôi cũng không thể tránh được nghi ngờ. Có một sự thật hiển nhiên xảy ra trước Tết vừa rồi, là trường hợp ông Nguyễn Hữu Cầu – một cựu sĩ quan quân lực Việt Nam Cộng Hòa, đã ở tù ròng rã 38 năm. Chúng ta nhớ là Nelson Mandela ở Nam Phi chỉ có 27 năm thôi. Ông Nguyễn Hữu Cầu ở tù 38 năm, không biết còn được một chút sinh khí nào của con người hay không. Trước Tết vài tuần, gia đình ông Cầu được thông báo là ông sẽ được về, nhưng mãi đến sát thời điểm giao thừa, cả nhà tuyệt vọng. Những người thân và hàng xóm mô tả là gia đình không cầm được nước mắt, vì không thấy người thân của mình sau 38 năm được trở về nhà như lời hứa hẹn của công an.

Như vậy nghĩa là sao? Dường như có những động thái không trùng khớp với nhau, thậm chí mâu thuẫn hoàn toàn trong việc định đoạt số phận của ông Nguyễn Hữu Cầu. Người ta cũng cho rằng có thể một ai đó, hoặc một số ai đó muốn thả ông Cầu, nhưng sau đó một ai đó hoặc một số ai đó khác lại không muốn thả.

Và tại sao lại không muốn thả ông Nguyễn Hữu Cầu? Ông không còn sức nữa, vậy thì họ muốn giữ ông để làm gì? Và cũng không thể tránh được một dư luận đồn đoán lâu nay là dường như ở Việt Nam đang tồn tại một thứ tài nguyên rất đặc thù, đó là tài nguyên nhân quyền. Đây là một thứ tài nguyên chỉ dùng để trao đổi trên bàn đàm phán, đổi lấy những lợi ích kinh tế.

Một luồng dư luận nữa đánh giá sâu sắc hơn, trong những liên đới lịch sử cận đại của Myanmar. Nếu vào đầu năm 2011 Myanmar vẫn còn tồn đến gần 300 tù chính trị, thì trong suốt năm 2011, 2012 và 2013, chế độ của ông Thein Sein đã liên tục thả các tù chính trị, và đến cuối 2013 là thả sạch, không còn một tù nhân lương tâm nào.

Đổi lại, Myanmar được gì? Được Câu lạc bộ Paris xóa nợ 6 tỉ đô la, Nhật Bản cũng xóa nợ gần 2 tỉ đô la, và gần đây nhất là Đức xóa nợ 500 triệu đô la v.v. Họ có những quyền lợi kinh tế đổi lại rất lớn, và cái để trao đổi chính là tài nguyên nhân quyền.

Người ta cho là chẳng lẽ giờ đây một số lãnh đạo nào đó của Việt Nam đang sử dụng thủ pháp của Myanmar hay sao?

RFI: Chúng tôi xin chân thành cơn nhà bình lun Phm Chí Dũng đã vui lòng dành thì gi phân tích v tình hình gđây ti Vit Nam.

T.M.

Ngun: Viet.rfi.fr

Posted in Chinh Tri Viet Nam | Leave a Comment »

►Các cán bộ đảng viên làm gì trước ngày lễ Tình Yêu năm nay!

Posted by hoangtran204 trên 15/02/2014

Đến dự hội nghị về mại dâm để chơi…game

13-2-2014

infonet.vn

Phó Chủ tịch UBND TP Đà Nẵng Nguyễn Xuân Anh nhiều lần đề nghị, kêu gọi đóng góp thêm ý kiến cho công tác phòng chống HIV/AIDS, ma túy, mại dâm trên địa bàn nhưng các đại biểu chỉ… chơi game, đọc báo!

Như tin đã đưa, tại hội nghị tổng kết công tác phòng chống HIV/AIDS, ma túy, mại dâm năm 2013 và triển khai nhiệm vụ năm 2014 do UBND TP Đà Nẵng tổ chức ngày 13/2, ngoài 4 tham luận được cơ cấu sẵn, Phó Chủ tịch UBND TP Đà Nẵng Nguyễn Xuân Anh còn nhiều lần đề nghị, kêu gọi các đại biểu đóng góp thêm ý kiến để bổ sung hoàn chỉnh báo cáo năm 2013 cũng như thống nhất các công việc sẽ triển khai trong năm 2014.

Theo ông Nguyễn Xuân Anh, hội nghị lần này được tổ chức trong bối cảnh khác xa với những năm khác: “Cách thức quản lý bây giờ khác rồi, không còn như những năm trước nữa. Công tác phòng chống ma túy bây giờ rất là khó. Nghị định của Chính phủ ban hành cuối tháng 12/2013 hướng dẫn thi hành luật xử lý người nghiện đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc bây giờ đòi hỏi quy trình rất là khác để phù hợp với việc hội nhập quốc tế”.

Do sự nan giải này nên sau khi 4 tham luận chính thức được trình bày và mấy chục phút nghỉ giải lao, thoải mái điểm tâm, café sáng, ông Nguyễn Xuân Anh đề nghị các đại biểu đóng góp thêm ý kiến cho báo cáo tổng kết năm 2013 cũng như phương hướng nhiệm vụ năm 2014. Tuy nhiên cả hội trường chỉ có tiếng rầm rì, không ai đứng dậy phát biểu, dù ông Nguyễn Xuân Anh nhắc: “Các đồng chí ở địa phương có ai tham gia ý kiến không?”.

Phó Chủ tịch UBND TP Đà Nẵng Nguyễn Xuân Anh tỏ ra khá căng thẳng sau nhiều lần đề nghị, kêu gọi các đại biểu tham dự hội nghị đóng góp thêm ý kiến cho công tác phòng chống HIV/AIDS, ma túy, mại dâm trên địa bàn nhưng đều vấp phải sự im lặng! (Ảnh: HC)

(Nguyễn Xuân Anh là con của Ủy Viên Bộ Chính Trị Nguyễn Xuân Chi, được cha đưa vào vị trí này khi mới 29 tuổi.)

Thế là ông Nguyễn Xuân Anh xử lý tình huống: “Để đỡ trống thời gian, xin mời anh Hiệp (ông Nguyễn Hùng Hiệp, Phó Giám đốc Sở LĐ-TB-XH Đà Nẵng) tham gia ý kiến trước”. Thực ra, việc ông Nguyễn Hùng Hiệp lên phát biểu đã được cơ cấu sẵn trong chương trình chứ không phải là ý kiến bổ sung thêm. 

Ông Hiệp nói: “Lẽ ra là chờ các đại biểu phát biểu, có gì liên quan tới ngành thì kết hợp trao đổi, giải trình luôn. Nhưng trong khi chờ đợi thì xin phát biểu một số nội dung”.

Sau khi ông Nguyễn Hùng Hiệp phát biểu, ông Nguyễn Xuân Anh lại tiếp tục đề nghị, thậm chí “kêu gọi” các đại biểu tham gia thêm ý kiến vì: “Ma túy, mại dâm, HIV/AIDS là một vấn đề rất hệ trọng, rất nóng trên các diễn đàn. Trước những quy định mới như thế, mình phải làm cái gì đây? Các đồng chí có thể nghiên cứu đề xuất của anh Hiệp, có cái cách quản lý riêng để làm sao giảm thiểu các tệ nạn bùng phát mà không trái với luật, chứ bây giờ dân chủ được mở rộng, mình làm trái luật người ta kiện chứ không đùa!”.

Thêm khoảng 15 – 20 phút nữa trôi qua, vẫn không có ai lên tiếng. 

Chờ mãi không thấy ai nói năng gì, ông Nguyễn Xuân Anh hỏi: “Các đồng chí thống nhất hết à?”. Đến lúc này mới bật lên mấy tiếng cười từ dưới hội trường. Lọt vào máy ghi âm của chúng tôi là câu nói của một đại biểu nào đó: “Thôi được rồi đó! 10h rồi!”. 

Lại tiếp tục chờ đến khi không thể chờ thêm nữa, Ban tổ chức đành phải tiếp tục bằng… chương trình trao bằng khen cho các tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc trong năm 2013. 

Rồi ông Nguyễn Xuân Anh lên phát biểu kết luận hội nghị.

Câu hỏi đặt ra là gần 200 đại biểu từ TP đến xã, phường ngồi kín cả hội trường UBND TP Đà Nẵng sáng 13/2 làm gì trong suốt mấy tiếng đồng hồ diễn ra hội nghị. 

Xin mời bạn đọc xem những hình ảnh mà PV Infonet ghi nhận được dưới đây sẽ rõ:

Nhiều người xúm nhau nói chuyện riêng…

Người khác mãi mê chơi game…

Say sưa đọc báo

Say sưa đọc báo…

Bận rộn chơi với smartphone

Đang bận rộn với smartphone và máy tính bảng

HẢI CHÂU

Posted in Thời Sự | Leave a Comment »

►Chiến Tranh Biên Giới Việt Trung 1979 ( 10 bài viết)

Posted by hoangtran204 trên 15/02/2014

  (bài này đã bị thất lạc)

►Liên Xô đã làm gì trong cuộc chiến tranh biên giới Việt Trung 17-2-1979

    (2-2014)

►Trung Quốc ép Việt Nam không được tưởng niệm Chiến tranh biên giới 1979?

Hoàng An Vĩnh (11-2-2014)

►Mâu thuẫn, xung đột trong quan hệ Việt – Trung và chiến tranh biên giới tháng 2/1979   Nguyễn Thị Mai Hoa, 15-2-2014

►Đặng Tiểu Bình trong chiến tranh biên giới Việt Trung 1979 – Trần Trung Đạo (16-2-2014)

►Biên Giới Tháng Hai (2009-1979)  – Huy Đức   (2-2009)

►Trận chiến núi Đất (Lão Sơn, cao điểm 1509) năm 1984 giữa Việt Nam và TQ

Nguyễn Thông

February 11

Lạ ở chỗ, khi lên tiếng “bào chữa” cho công hàm của ông Phạm Văn Đồng thì ông Trần Công Trục bảo rằng Hoàng Sa cũng như Trường Sa bấy giờ do Nhà nước Việt Nam cộng hòa- một chính thể được quốc tế công nhận- quản lý. Nhưng với các cán bộ tuyên giáo và dư luận viên, khi phê phán báo Thanh Niên đăng loạt bài về hải chiến bảo vệ Hoàng Sa năm 1974, hoặc miệt thị những người thực hiện chương trình “Nhịp cầu Hoàng Sa” (do anh Osin HuyDuc khởi xướng) nhằm giúp đỡ vợ con những chiến binh đã hy sinh trong trận bảo vệ Hoàng Sa, thì họ (cán bộ tuyên giáo, dư luận viên, các tác giả trên báo Nhân Dân, QĐND, CAND chống diễn biến hòa bình) lại nằng nặc lên án việc “dựng dậy cái thây ma ngụy quyền, chính quyền Sài Gòn bù nhìn bán nước”. Khổ, lề phải mà cứ rối tinh rối mù, mâu thuẫn như thế thì làm sao thuyết phục được ai. Hãy vì đại cuộc, bỏ thói tiểu nhân thù dai vô lý đi, các ông ạ.

Đình Ấm Nguyễn Khi vận động nhân dân tham gia chiến tranh thì khẳng định nước VN là một chỉ có chế độ cộng sản làm chủ còn miền nam là ngụy quyền, tay sai Mỹ nhưng khi bỏ mất Hoàng Sa, một phần Trường Sa thì lại bảo hai quần đảo này do chế độ VNCH quản lý…Con nít cũng không nghe được

Doan Hoa Hay nhỉ, bây giờ họ lại dùng tay tự tát vào miệng mình à? Trước đây toàn tuyên truyền là VNCH là chỉnh phủ bù nhìn, không hợp pháp mà giờ lại là “Nhà nước Việt Nam cộng hòa- một chính thể được quốc tế công nhận”???? Đúng là miệng quan trôn trẻ. ĐAng tìm cách bao biện cho chính quyền Bắc Kinh cùng bản thân mình và đổ tội cho chính quyền VNCH đây. Bẩn quá.

Posted in Chien Tranh Bien Gioi Viet Trung 1979 | Leave a Comment »

►Lấp Vò: người trong cuộc kể lại sự thật- Về chuyến Đi thăm ông Nguyễn Bắc Truyển, hàng chục người bị bắt

Posted by hoangtran204 trên 14/02/2014

Cập Nhật 13-2-2014

https://www.youtube.com/watch?list=UUikBuQDhcIJ2y7-pFCTye2g&v=ip-T1slBdag#t=168

 

Đi thăm ông Nguyễn Bắc Truyển, hàng chục người bị bắt

Mặc Lâm, biên tập viên RFA, Bangkok

2014-02-11

Lúc 11 giờ 30 trưa hôm nay một nhóm bạn và đồng đạo Phật Giáo Hòa Hảo của tù nhân lương tâm Nguyễn Bắc Truyển từ Sài Gòn về ấp Hưng Nhơn, xã Long Hưng, huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp để thăm gia đình anh thì bị công an bao vây và bắt giữ đem về trụ sở công an huyện.

Tin cho biết ít nhất 10 người đã bị bắt trong đó có bà Bùi Minh Hằng, anh Huỳnh Minh Trí cùng nhiều đạo hữu Phật Giáo Hòa Hảo cũng như một vài thành viên thuộc Dòng Chúa Cứu Thế.

Chúng tôi được chị Bùi Thị Kim Phượng là vợ của anh Nguyễn Bắc Truyển cho biết:

Sáng ngày hôm nay tôi được nghe các anh chị ở Sài Gòn kéo xuống trong đó có chị Bùi Thị Minh Hằng và một số tín đồ Phật giáo Hòa Hảo cùng với phái đoàn trên Sài Gòn xuống để thăm nhà tôi ở Lấp Vò, Đồng Tháp. Trên đoạn đường đi thì họ bị công an Lấp Vò bắt đánh rất dữ dội trong đó có thầy trụ trì chùa Quang Minh Tự là thầy Võ Văn Thanh Liêm bị đánh và chị Bùi Thị Minh Hằng cũng bị đánh rất dữ dội,c ó người bị ngất xỉu. Hiện nay họ đang bị áp giải về đồn công an Lấp Vò.

Anh Nguyễn Bắc Truyển hiện đã được công an thả ra (tối ngày 10-2-2014) và ở nhà với mẹ ruột tại quận 4 thành phố Hồ Chí Minh. Việc đàn áp đánh đập những người tới thăm anh đang được rất nhiều người theo dõi. Chúng tôi sẽ tiếp tục tìm hiểu, cập nhật tin sớm nhất.

Lấp Vò: người trong cuộc kể lại sự thật

Mặc Lâm, biên tập viên RFA, Bangkok
2014-02-13

Lúc 10 giờ sáng ngày 11 tháng 2 vừa qua, một nhóm bạn bè và đồng đạo của gia đình anh Nguyễn Bắc Truyển từ Sài Gòn về Lấp Vò (tỉnh Đồng Tháp) để thăm gia đình anh nhưng đã bị công an chặn xe hành hung bắt giữ 21 người trên xe mà không cho biết họ vi phạm vào điều gì của luật pháp Việt Nam. Mặc Lâm có cuộc trao đổi với những nạn nhân này để tìm hiểu thêm chi tiết.

Công an bảo vệ dân hay giết dân?

Theo ông Huỳnh Anh Trí, một người tham gia cuộc viếng thăm đầy bất trắc này kể lại thì trên xe có 21 người và tất cả đều cùng chung mục đích đến thăm gia đình vợ của anh Nguyễn Bắc Truyển, ông Trí kể:

Chúng tôi ở Sài Gòn lên khoảng 6 người kết hợp thêm những anh chị em Phật giáo Hòa Hảo tổng cộng khoảng 21 người trong đó có thầy trụ trì tên là Võ Văn Thanh Liêm của Quang Minh Tự. Tất cả chúng tôi đi tới nhà của anh Nguyễn Bắc Truyển. Tới ngã ba Nông trại thuộc xã Mỹ An Hưng B huyện Lấp Vò.

Đến ngay chân cầu thì công an giao thông chận xe lại. Xe vừa ngừng thì một công an xã nhảy tới bóp cổ anh Bửu. Họ mai phục đâu không biết nữa, cả trăm người nào là gậy nào là cây tầm vông đánh tới tấp, đánh vào chị Hằng và tất cả mọi người đều bị đánh vừa bị cướp. Nào là điện thoại, túi xách hay chìa khóa xe họ đều lấy hết. Sau đó họ tách chúng tôi ra, nam họ dồn về một xe và nữ một xe.

Xe vừa ngừng thì một công an xã nhảy tới bóp cổ anh Bửu. Họ mai phục đâu không biết nữa, cả trăm người nào là gậy nào là cây tầm vông đánh tới tấp, đánh vào chị Hằng và tất cả mọi người đều bị đánh vừa bị cướp (ông Huỳnh Anh Trí – vừa mãn án tù nhân lương tâm 14 năm)

Họ đưa chúng tôi về công an huyện Lấp Vò họ đối xử rất tệ không cho ăn uống gì trong suốt một ngày một đêm. Sau đó chúng tôi mới đòi hỏi thì một công an trong đó tuyên bố: các anh không chấp hành thì tôi bỏ đói các anh.

Tu sĩ Võ Văn Thanh Liêm trụ trì chùa Quang Minh Tự kể lại những gì ông chứng kiến cũng như xảy ra cho chính ông:

Trong xe có 21 người đi được hơn nửa đường thì công an giao thông chận xe lại. Công an mặc sắc phục đâu mấy chục người còn thì bọn mặt đồ trắng thường phục rất nhiều, nữ nam gì có hết. Mới vừa chận xe lại thì họ nhảy lên nào là bóp cổ nào là dùng cây vuông, cây tròn đánh bể mấy cái nón cối hết (nón bảo hiểm).

 

Những người đi thăm anh Nguyễn Bắc Truyển bị bắt trói như tù hình sự
Những người đi thăm anh Nguyễn Bắc Truyển bị bắt trói như tù hình sự. Courtesy binhtrung.org

 

Họ đánh Út Bửu cái xương sống nó lòi ra. Năm Mãnh thì năm mười người vừa đánh vừa đè một hơi, nhồi tới nhồi lui năm mười lần. Rồi tới Bảy Long họ đánh rồi trói thúc ké nằm tại chỗ. Rồi tới cô Hằng! Trời ơi cô Hằng nó đánh rồi nó giựt đồ nó cướp…tám người nữ không tha người nào họ đánh trên đầu bể nón cối luôn. Bảy Long thì vừa còng vừa đánh vừa lên gối.

Người nam thì như vậy còn người nữ thì họ vạch áo sút nút áo còn hơn đám ăn cướp trong rừng nữa, Khi nó đưa lên xe nó còn đánh một tiếng đồng hồ. Nó đánh sưng mặt mấy người nữ và nằm xỉu hết mấy người còn cô Hằng thì thôi nó đánh như trái banh vậy, lăn tới lăn lui.

Ông Huỳnh Anh Trí nói lại những diễn tiến xảy ra trong đồn công an Lấp Vò mà ông chứng kiến:

Họ đánh Út Bửu cái xương sống nó lòi ra. Năm Mãnh thì năm mười người vừa đánh vừa đè một hơi, nhồi tới nhồi lui năm mười lần. Rồi tới Bảy Long họ đánh rồi trói thúc ké nằm tại chỗ. Rồi tới cô Hằng! Trời ơi cô Hằng nó đánh rồi nó giựt đồ nó cướp…tám người nữ không tha người nào họ đánh trên đầu bể nón (Tu sĩ Võ Văn Thanh Liêm)

Một nữ tu Phật giáo Hòa Hảo tên Nhạn khi đang làm việc công an cứ bắt cô này khai mà cô này không khai cương quyết không nói gì cả vì cổ nói cổ không vi phạm pháp luật và không có gì để khai hết. Chắc có lẻ công an lớn tiếng hay đe dọa cổ như thế nào nên cổ quyết định cắn lưỡi. Tại sao tôi biết là cắn lưỡi? vì khi công an đưa cổ ra khỏi phòng làm việc thì thấy trên môi cổ có một vết máu và đôi mắt của cổ rất là căm thù.

Chị Võ thị Thu Ba một đồng đạo Phật Giáo Hòa Hảo cùng bị bắt trong vụ này kể lại:

A Di Đà Phật, tôi tên Võ Thị Thu Ba tôi tuyệt thực tại công an thành ra hơi mệt. Khi xe chạy tới Lấp Vò mới bước xuống xe thì những người phụ nữ bị lôi lại còng tay rồi công an tới đánh mình. Họ dùng cây táng vào mặt, thoi vào trong mình đủ thứ hết. Nói chung nó làm những chuyện không còn chút đạo đức gì hết. Họ nói họ là người dân nhưng tất cả đều là công an hết. Mình theo đạo Phật giáo Hòa Hảo nên về đây thăm đồng đạo của mình chứ không làm việc gì có lỗi hết. Trên đường đi anh chị em đều mang đủ giấy tờ nhưng mấy ông ấy vô cớ đánh đập người ta.

Theo ông Huỳnh Anh Trí thì ngoài việc thăm viếng gia đình anh Nguyễn Bắc Truyển lý do khiến công an hành hung tín đồ Phật giáo Hòa hảo vì sợ họ gây náo loạn trước hành vi của công an khi tấn công vào nhà vợ anh Truyển trước đây, ông Trí cho biết:

Cô Minh Hằng bị đánh đập dữ dằn lắm. Áo rách, tay chân mặt mày trầy trụa đủ thứ. Đầu cô bị nhiều chỗ đánh sưng, nói chung rất tội nghiệp cô ấy. Cô rất mạnh mẽ và cương trực nói ra những lời mà công an không cãi lại được  (Chị Võ Thị Thu Ba)

Tín đồ Phật giáo Hòa Hảo họ hay tin công an tới nhà vợ anh Truyển đạp đổ bàn thờ của Đức Huỳnh Giáo chủ nên họ phẫn nộ họ tình nguyện đi xem sự việc như thế nào.

Theo những đồng đạo Phật giáo Hòa hảo có mặt trong cuộc tấn công này cho biết công an đã đánh ngất xỉu ông Võ Văn Thanh Liêm và sau đó chở ông Liêm vào bệnh viện cấp cứu. Những người như anh Võ Văn Bửu anh Thường và Tám Mãnh đang lên Sài Gòn vào nhà thương khám bệnh riêng anh Bửu thì tình hình rất nghiêm trọng, cột sống của anh đã lòi lên giống như bị gãy đi một mình không được. Anh Mãnh ho ra máu không ăn uống được.

Chị Võ Thị Thu Ba kể lại chuyện xảy ra trong nhà giam và hoàn cảnh của họ:

Cô Minh Hằng, Thúy Quỳnh cùng các chị em trong nhóm mấy chị em ai cũng tuyệt thực hết, không ăn có người chỉ uống chút đỉnh nước mà thôi. Cô Minh Hằng bị đánh đập dữ dằn lắm. Áo rách, tay chân mặt mày trầy trụa đủ thứ. Đầu cô bị nhiều chỗ đánh sưng, nói chung rất tội nghiệp cô ấy. Cô rất mạnh mẽ và cương trực nói ra những lời mà công an không cãi lại được.

Trường hợp bà Bùi Minh Hằng thì khác, sở dĩ công an đánh đập bà rất dã man theo lời kể của mọi người vì bà là người rất cứng rắn. Bà có mặt gần như hầu hết trong tất cả các cuộc biểu tình, các bất công của dân oan hay bắt giữ người trái phép của công an đều bị bà lên tiếng vạch trần.

Chị Võ Thị Ánh Tuyết nạn nhân bị bắt trong lần này khi được hỏi công an có cho những người bị bắt biết là họ can tội gì hay không, chị Tuyết kể lại:

Họ nói cô Hằng là chống người thi hành công vụ còn anh chị em chúng tôi đây thì nói không nói tội gì hết. Vô can vô cớ bắt mà không kết tội cũng không nói lý do tội gì mà bị bắt, Họ đánh dập anh chị em chúng tôi rất là dã man. Có thể chúng tôi sẽ khởi kiện công an huyện Lấp Vò đã có những hành vi đánh đập và đàn áp tôn giáo.

Hiện nay vẫn còn ba người chưa được thả ra, đó là bà Bùi Minh Hằng, Thúy Quỳnh và một tín đồ Phật giáo Hòa hảo. Nhiều bạn bè của bà Hằng cho rằng công an đã thành lập xong hồ sơ truy tố bà về tội chống người thi hành công vụ.

Bà Bùi Thị Minh Hằng tuy bị bắt và bị đánh đập như vậy nhưng tinh thần bất khuất của bà đã làm cho những người cùng cảnh ngộ nể phục. Bà hiên ngang hát trong phòng giam bài hát Anh là ai của Việt Khang. Giọng hát của bà đã làm cho cả nhà giam phải rơi nước mắt.

——————————————————————

Posted in Công An, Dân Chủ và Nhân Quyền | Leave a Comment »

►Ban tuyên giáo “không tác động gỡ bài” ! Các bài báo bị tháo gỡ – VN đứng “gần chót bảng về tự do báo chí”

Posted by hoangtran204 trên 14/02/2014

Ban tuyên giáo ‘không tác động gỡ bài’

Cập nhật: 11:20 GMT – thứ năm, 13 tháng 2, 2014

BBC

Ông Nguyễn Thế Kỷ

Ông Nguyễn Thế Kỷ nói quyền quyết định bài thuộc Tổng biên tập các báo.

Một chùm phóng sự về cuộc Chiến Biên giới Việt – Trung năm 1979 trên tờ Một Thế Giới hôm 12/2/2014 vừa bị gỡ xuống làm dấy lên nghi vấn liệu truyền thông Việt Nam có chịu áp lực, hạn chế hoặc kiểm soát gì trong dịp đánh dấu cuộc chiến 35 về trước giữa hai quốc gia láng giềng cộng sản hay là không.

BBC đã có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Thế Kỷ, Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương và câu hỏi đầu tiên được đặt ra với ông Kỷ là liệu tờ Một Thế giới gỡ bài phóng sự được chuẩn bị công phu có phải do mắc sai phạm gì hay không.

Ông Nguyễn Thế Kỷ:Tôi nói rất thực là tôi không biết về việc này. Việc họ đưa lên hay đưa xuống thì chắc chắn là việc của họ. Còn tôi không có tác động bất cứ gì vào chuyện đấy.

BBC: Về cuộc chiến năm 79, nếu báo chí đưa thông tin đúng sự thật, có kiểm chứng thì có được đưa tin thoải mái, hay có hạn chế gì không?

Ông Nguyễn Thế Kỷ: Tôi nghĩ cái này là suy nghĩ của Tổng Biên tập các báo.

Tôi nghĩ là thế này, ví dụ như chỉ vì một ai đó có thời kỳ có gì đó trong quan hệ trong quá khứ có điều gì đó không ổn chẳng hạn, nhưng trong hiện tại khi hai bên đang cố gắng có thiện chí để thiết lập quan hệ tốt hơn thì thường người ta cũng có cân nhắc xem ngồi với nhau thì có nên kể lại những chuyện ngày xưa hay không.

Thì đó là cái ứng xử tôi nói là của cá nhân với nhau để rồi mình nói rộng ra hơn là giữa các quốc gia với nhau.

‘Có chỉ đạo gì không?’

BBC: Từ phía nhà nước có chủ trương hay có chỉ thị gì về đưa tin bài về sự kiện này không?

Nguyễn Thế Kỷ:

“Trong hiện tại khi hai bên đang cố gắng có thiện chí để thiết lập quan hệ tốt hơn thì thường người ta cũng có cân nhắc xem ngồi với nhau thì có nên kể lại những chuyện ngày xưa hay không.” Ông Nguyễn Thế Kỷ

Việt Nam với Trung Quốc vẫn là hai nước láng giềng với nhau.

Mà chúng tôi vẫn mong muốn hai bên, đặc biệt là từ phía Việt Nam, có quan hệ tốt hơn theo tinh thần tôn trọng nhau, láng giềng hữu nghị, hợp tác thân thiện, ổn định lâu dài hướng tới tương lai.

Thì đây là mong muốn không phải chỉ của nhà nước đâu, mà của cả người dân Việt Nam. Ai cũng muốn rằng những nước láng giềng với nhau sống yên ổn, hòa bình.

Còn những chuyện quá khứ thì không ai làm lại được lịch sử, nhưng nếu nghĩ lại thì có lẽ là người ta có những bài học từ lịch sử để cuộc sống hôm nay được tốt hơn.

BBC: Gần đây có những tâm lý về tranh chấp biển đảo, tranh chấp lãnh hải, một số người cho rằng TQ từ trước đến nay vẫn có ý bành trướng, xâm lược VN, vậy đưa những thông tin lịch sử, những câu chuyện như vậy liệu có phải là điều có lợi cho người dân?

Tôi nghĩ điều này thì cơ quan truyền thông tự cân nhắc lấy, xem việc đó có lợi hay không, với sự bình tĩnh, tỉnh táo, sáng suốt, với trách nhiệm với đất nước.

BBC: Như vậy có thể hiểu là các báo, Tổng biên tập hoàn toàn có tự quyền tự quyết trong việc đưa tin?

Tôi xin nói là Việt Nam có luật báo chí, thì các cơ quan báo chí, đặc biệt là các ông tổng biên tập hoạt động theo luật báo chí. Và họ có quyền đăng cái gì, không đăng cái gì theo luật.

Ông Nguyễn Thế Kỷ từng đảm nhiệm vị trí Vụ trưởng Vụ Báo chí xuất bản thuộc Ban Tuyên giáo Trung ương, nguyên Giám đốc Đài PTTH Nghệ An, Tổng biên tập báo Nghệ An, Phó ban Tuyên giáo tỉnh Nghệ An, Bí thư huyện ủy Nam Đàn (Nghệ An)

Các bài liên quan

 

———————————————————————

TIN KHÔNG LỀ

13-2-2014

Loạt bài tưởng niệm sự kiện chiến tranh biên giới Việt – Trung của nhà báo Đào Tuấn, đăng trên báo Một Thế Giới, lên mạng chỉ được vài tiếng thì bị gỡ bỏ. 

Đảng và nhà nước có thể quên, Bộ Chính trị, Ban Tuyên giáo Trung ương, Bộ 4T… không muốn nhớ, nhưng người dân không thể nào quên sự hy sinh của các anh. Bằng chứng là gần tới ngày tưởng niệm sự kiện này, nhiều nhóm, hội đoàn đang chuẩn bị tổ chức lễ tưởng niệm. Trên mạng, rất nhiều blogger, facebooker đưa tin, tưởng niệm trên mạng qua việc đổi Avatar hình hoa sim với dòng chữ “17-2-1979 – Nhân Dân Sẽ Không Quên”. 

Xin đăng lại tại đây: 

———-

Hoa đào biên viễn

Bài 1: Biên giới, hồi ức 35 năm

Đăng Bởi Một Thế Giới – 19:30 12-02-2014

Tháng 2 năm nay, những cây đào Tổng Chúp, Hưng Đạo, Cao Bằng bỗng dưng đỏ loét trong cái nắng trái mùa. Trên đồn biên phòng Pha Long, Lào Cai, thật lạ, chỉ duy nhất một gốc đào đơm hoa. Còn ở pháo đài Đồng Đăng, Lạng Sơn, những cây đào khoe sắc vô duyên bên nền đá xám xịt và lau lách tùm lum của một pháo đài hoang phế đã đi vào quên lãng.

Một số phận

Trong ngôi nhà nhỏ ở dốc cầu Nà Rụa, phường Tân An, Cao Bằng, bà Nguyễn Thị Quỳ cũng có một cành đào nhỏ trước ban thờ chồng, người 35 năm trước bất đắc dĩ trở thành “tù binh chiến tranh”.

Câu chuyện liên tục ngắt quãng khi đôi vai của người phụ nữ nhỏ nhắn run lên bần bật trước những hồi ức từ 35 năm trước. Chiến tranh đã lấy đi của bà một đứa con. Và sau 35 năm, vết thương ấy chưa bao giờ lành khi hàng đêm, hình ảnh đứa nhỏ tím tái chết trong mưa lạnh vẫn ùa về như một nỗi kinh hoàng không bao giờ phai nhạt.
 
Sáng 17.2.1979, trời rất mù và lạnh. Từ thị trấn Nước Hai, bà Quỳ chỉ còn biết cắm đầu cắm cổ chạy loạn khi tiếng pháo của lính Trung Quốc “như bom Mỹ rải thảm” khắp nơi. Bệnh viện Hòa An bị đánh sập, người sản phụ khốn khổ đang mang thai đến tháng thứ 9 chỉ còn biết vác bụng lặc lè để  chạy.
“Cô chạy vào núi đá Mỏ Hách. Rồi từ Mỏ Hách chạy sang Đại Tiến. Chạy ngược với tiếng pháo”. Đám người chạy loạn bị lính Trung Quốc phát hiện, truy đuổi, và lại tứ tán khắp nơi. “Chúng nó đông lắm cháu ơi! Đâu đâu cũng thấy lính Trung Quốc”.

Trong gần một tuần lễ trốn trên động đá, bà Quỳ đau đẻ trong cái đói, trong cái rét, trong trời mưa lạnh, trong tối tăm mò mẫm. Không một hạt gạo mang theo. Không một tấm chăn. Cả đám người đói khát, rét mướt và lo sợ đến hoảng loạn. Chỉ ngay phía dưới, lính Trung Quốc đông lúc nhúc, vây hãm khắp nơi.

Những con người khốn khổ lấy nước bằng cách hứng từ giọt gianh trong một tấm nilon rộng chừng 2 bàn tay. Ăn tất cả những gì mà ban đêm mấy người đàn ông mò mẫm được từ bờ cây, gốc sắn… ngay sát nơi lính Trung Quốc dựng trại.

Đến hôm đau đẻ, bà được đồng bào gom cho thìa đường cuối cùng, hòa với vốc nước “để có sức mà đẻ”. Đứa con đầu lòng được sinh ra trong hang đá nhưng 3 hôm sau thì qua đời.

 

Bia thảm sát tại Tổng Chúp, Hưng Đạo, Hòa An, Cao Bằng. Bà Hậu, một người dân Tổng Chúc xưa từng cắp con chạy loạn bảo rằng: Bà không thể quên những ngày tháng 2 năm ấy

“Cô sinh cháu và gói trong một chiếc áo. Và rồi đó cũng là chiếc áo liệm”- người cựu binh chống Mỹ khốn khổ đưa tay lên dụi mắt. Những giọt nước mắt mờ đục lăn dài trên khuôn mặt “một ngàn nếp nhăn” tưởng chừng đã không còn có thể đau khổ được nữa: “Lúc đó cô yếu quá, bỏ mấy đồng nhờ một ông già mang cháu đi. Chắc vứt nó ở một đâu đó”.

Nhưng bi kịch chưa dừng lại ở đó. Đêm ngày 25.2, người chồng nửa đêm đi kiếm ước uống bị sa vào tay lính Trung Quốc. Ông bị giam giữ cho đến ngày 3.6 và từ sau đó, những đồng nghiệp của ông ở Ty Thể thao Cao Bằng cho biết ông bỗng dưng có thói quen ăn cơm với nước lã.

Còn bà Quỳ, quãng thời gian trong động đá và cái chết bi thảm của đứa con đầu lòng khiến bà trở nên trầm uất suốt 3 tháng. Tuyến sữa viêm tắc khiến sau đó người phụ nữ khốn khổ phải cắt đi một bên ngực.

35 năm, bằng đấy thời gian chưa đủ để bà Quỳ quên đi hình ảnh đứa con đầu lòng chết tím tái. “Đau xót lắm cháu ơi. Cô đi cúng, Thầy bảo nó không có nhà, lang thang ở một gốc cây nào đó”…

Không chỉ Bệnh viện Hòa An bị đánh sập, cả thị xã Cao Bằng lỗ chỗ tổ ong như vừa trải qua “một trận B52 mặt đất”, không còn thứ gì cao quá 1m. Bách hóa tổng hợp, một biểu tượng của Cao Bằng bị hủy hoại đến không còn một viên gạch lành. 

Chị Hoài Phương, phóng viên của Đài truyền hình Cao Bằng, năm đó 9 tuổi, đến giờ vẫn không thể quên hình những xác người bị súng phun lửa đốt cháy trên mặt đất. Khắp nơi.

Ông Nguyễn Duy, Phó Chủ tịch Hội cựu chiến binh Hòa An nhớ lại: Đến ngày 20.3, cả thị xã vẫn như một đụn khói lớn. Chiều 29.3. Không một chiếc xe, không một người dân đi trên đường. Kho lương thực còn cháy nghi ngút. Thị xã tan hoang khi lính Trung Quốc trước khi rút đã ốp mìn giật đổ từng cây cầu, từng cột điện. Cái gì lấy được thì lấy hết. Cái gì không lấy được thì phá hết.

Khi giặc đến nhà

Ngày 17.2.1979, Trung Quốc đã dùng một lực lượng quân sự chính quy lên tới 60 vạn quân tấn công Việt Nam trên khắp chiều dài 1.200 km biên giới 6 tỉnh phía Bắc. Cao Bằng chính là một trong những trọng điểm đánh phá của quân đoàn 41A với sự tham gia của xe tăng và pháo binh.

Theo nhận định của Xiaoming Zhang trong một nghiên cứu đăng trên tạp chí China Quarterly tháng 12.2005, cuộc tấn công của Trung Quốc phụ thuộc phần lớn vào việc nhanh chóng chiếm được Cao Bằng. 

Nhưng hai mũi tấn công không đến được mục tiêu trong vòng 24 tiếng. Khu vực đồi núi cùng kháng cự của dân quân Việt Nam tạo ra khó khăn lớn. Việc đi chậm khiến Xu Shiyou, lãnh đạo cánh quân Quảng Tây, phải hoãn cuộc tấn công vào Cao Bằng, mặc dù phó tướng Wu Zhong đã đến sát thành phố này ở mạn phía đông và nam.

Trong một bài phát biểu được nhà nghiên cứu Dương Danh Hy dịch ra tiếng Việt ít năm trước, nhà lãnh đạo Trung Quốc khi đó là Đặng Tiểu Bình đã xác nhận đó là cuộc chiến “giết gà đã phải dùng dao mổ trâu”. Cụ thể “vũ khí, quân số đều gấp mấy lần Việt Nam. Chiến đấu ở Cao Bằng chí ít là năm đánh một, sáu đánh một, chiến đấu ở Lạng Sơn, Lào Cai cũng đều gấp mấy lần, thậm chí sáu đánh một, bảy đánh một”.

Vì sao ở Cao Bằng, chiến tranh lại đồng nghĩa với tàn phá như vậy?

Trang mạng quân sự milchina.com của Trung Quốc 3 năm trước đã cho đăng thư của một cựu chiến binh Trung Quốc từng tham gia chiến tranh biên giới 1979 phần nào giải thích lý do: “Mục đích của cuộc chiến tranh này là tàn phá, hủy hoại quốc lực của Việt Nam chứ không phải là chiếm lĩnh lãnh thổ, nên sau hai ngày đánh nhau, lính tham chiến bắt đầu chấp hành mệnh lệnh bán chính thức là “không bắt tù binh”, “không để lại cho Việt Nam một lá cây ngọn cỏ”.

Ông Vương Dường Tường, nguyên bí thư tỉnh ủy Cao Bằng giai đoạn 1979-1992 nhớ lại: Bấy giờ, tình trạng tranh chấp, lấn chiếm và vấn đề người Hoa đã khá căng thẳng, nhưng không ai nghĩ là chiến tranh xảy ra. Chủ trương của ta là đưa thanh niên ra biên giới tổ chức các lâm nông trường. “TƯ xác định cũng phải đề phòng, nhưng là phòng xích mích biên giới thôi”- ông Tường nói.

Tỉnh ủy Cao Bằng bấy giờ chủ trương đưa một số bộ đội về một số xã để củng cố đội ngũ cán bộ. Quân đội không có ở Cao Bằng. Lực lượng công an vũ trang chỉ có ở cấp tỉnh chứ cấp huyện là không có người. Cả thị xã bấy giờ chỉ có 1 một trung đoàn bộ đội địa phương (E567), nhưng cũng chủ yếu là  làm kinh tế. Đến đội ngũ dân quân tự vệ, “có thì có đấy, căng thì căng như thế nhưng đã được phát súng đâu”. Thậm chí khi chiến tranh đã nổ ra, có thêm một sư đoàn được thành lập, nhưng lúc đó cũng chưa có quân”.

Ông Vương Dường Tường, nguyên bí thư tỉnh ủy Cao Bằng

Phó Chủ tịch UBND tỉnh Cao Bằng Trần Hùng, thời điểm 1979 đeo quân hàm trung sĩ, tiểu đoàn 40 Bộ đội địa phương còn nhớ như in là khi xe tăng Trung Quốc vượt cầu Sông Hiến vào đến tận dốc Nà Toòng, đại đội 3 phòng không của trung đoàn 567 phải thay đạn, chúc nòng pháo 37 ly xuống để bắn xe tăng bằng đạn xuyên.
Chính ông Hùng là một trong những người đầu tiên chạy bộ đạp lá sa mộc đến bên xác xe tăng còn nghi ngút khói.

“Chúng tôi chỉ có 3 khẩu súng AK để bảo vệ trận địa”, ông Hùng nói, “về sau, khi lính Trung Quốc lên quá đông, đơn vị đã phải tháo súng (pháo) để rút”.

Theo Xiaoming Zhang, đến ngày 23.2, Trung Quốc mới chiếm được Cao Bằng sau khi nhận ra nơi này chỉ có một số lượng nhỏ quân Việt Nam cố thủ. Nhưng sự chậm chân khi chiếm Cao Bằng đã ngáng trở kế hoạch ban đầu của Trung Quốc, vốn nhấn mạnh việc tác chiến nhanh và quyết liệt.

Cao Bằng có gì để chống lại 6 sư đoàn chính quy với xe tăng và pháo binh yểm trợ?

“Dân Cao Bằng sẵn biết Trung Quốc rồi. Ở đâu cũng đánh, gặp đâu cũng đánh, ai cũng đánh. Một, hai người cũng đánh. Chặn khắp nơi”- ông Vương Dương Tường nói.

Ở Hòa An, dù lúc đó mất hoàn toàn liên lạc, một nhóm cựu binh vẫn tự tập hợp nhau lại lập chốt đánh địch. Nhặt được cái gì thì đánh được bằng cái đó. Ở Trà Lĩnh, Quảng Hòa, Hà Quảng đều có những chốt đánh địch như vậy.

Người Cao Bằng sau phút bất ngờ đã chủ động trở lại. Cho đến cuối cuộc chiến tranh, ở Cao Bằng “không ai theo địch, không ai đầu hàng, không ai phản bội”- giọng người cựu bí thư già rưng rưng. Bao đời nay vẫn vậy, mỗi khi giặc đến nhà thì mỗi một người dân chính là một người lính.

Tháng 2 năm nay, trên nền bách hóa tổng hợp bị đánh sập năm xưa, một siêu thị mới đã được dựng lên, cho dù người Cao Bằng vẫn gọi đó là Tổng Hợp Đổ.

Còn người nữ cựu binh Nguyễn Thị Quỳ, đến giữa câu chuyện, bỗng bất ngờ hỏi lại chúng tôi: “Sao các cháu không hỏi vì sao tháng 2 năm ấy cô không đi tìm một cây súng? Và rồi, bà quả quyết tự trả lời: “Năm xưa, cô phải chạy giặc vì lúc đó đang mang bầu, không muốn ảnh hưởng đến anh em đồng chí. Còn nếu bây giờ giặc đến nhà, cô sẽ tìm một khẩu súng. Nếu cô già yếu không đánh được, những đứa con của cô sẽ cầm súng”.

Con gái bà, một cô gái niềng răng sinh năm 1988 sau đó nói sẽ đưa chúng tôi vào Tổng Chúp, dù ở Cao Bằng, không còn nhiều người biết đến những gì xảy ra tại Tổng Chúp 35 năm trước, dù theo lời cô bé: “nơi đó giờ đã hoang vắng lắm rồi anh ạ”.
Đào Tuấn

—–

Bài 2: “Đồng chí với nhau, ai nghĩ sẽ đánh nhau“

Đăng Bởi Một Thế Giới – 19:30 12-02-2014

“Ai cũng chỉ nói chỉ tranh chấp biên giới. Ai cũng chỉ xác định là giữ đất thôi. Tin là đồng chí với nhau, chỉ gây sự, chỉ ghen ghét thế thôi. Chứ anh em đồng chí, ai nghĩ là sẽ đánh nhau”- 35 năm sau, nguyên Bí thư tỉnh Cao Bằng vẫn còn khắc khoải câu chuyện xảy ra năm 1979.

 
Trận tập kích bất ngờ

Ở Bát Xát, Lào Cai, khi pháo Trung Quốc bắt đầu bắn sang từ phía bên kia biên giới, ông Nguyễn Văn Tuyến, đại đội trưởng tự vệ Đoàn địa chất 305 (Đoàn 5) đang ở Bản Vược, ngay trong tầm súng trường lính Trung Quốc.

“Chúng tôi vẫn pha trà uống. Chiến sự vẫn liên miên từ trước đó, đêm nào cũng có tiếng súng, cho nên không ai ngờ Trung Quốc đánh lớn”- ông nói.

Chỉ trước khi cuộc tấn công diễn ra 48 tiếng, cả dân lẫn lính Trung Quốc vẫn “sang bên này xem chiếu bóng bình thường”.

Ông Tuyến từng là lính trong chiến tranh với Mỹ, sau chiến tranh làm Phó Chủ tịch HĐND huyện Bát Xát, nhớ lại: “Khi pháo Trung Quốc chuyển làn, ông mới giật mình hô anh em vì cảm giác rằng bộ binh Trung Quốc sẽ sang. Mấy người hoảng hốt chạy ra đến đến ngã ba Bản Vược thì khắp nơi đã tràn ngập màu áo lính đang vận động từ phía trong ra điểm chốt của công an vũ trang. Chúng tôi tưởng bộ đội mình đã lên ngay thành thử súng cầm trong tay mà không bắn”. 

Từ trong hậu phương, lính Trung Quốc tiến đánh từ phía sau đồn công an vũ trang và chốt tự vệ địa phương. Hỏa lực từ bên kia biên giới bắn sang như mưa rào. Đơn vị ông Tuyến cơ động ra đến chốt Cây 2 thì bị một khẩu đại liên chặn lại. Bấy giờ, anh em vẫn có người giơ súng, giơ cờ vẫy ra hiệu vì vẫn tưởng bộ đội mình bắn nhầm.

Chỉ một lát sau đó, từ khu vực bản Xèo, lính công binh Trung Quốc lao cầu phao và sau đó xe tăng Trung Quốc tiến sang. “Họ đã chuẩn bị sẵn hết rồi. Cây cầu phao thả ra trôi theo dòng nước là áp khít sang bờ bên này”, lời ông Tuyến.

Tự vệ bản Xèo hy sinh vô số kể. “Chúng tôi chỉ được trang bị trung liên và súng K63. Không có vũ khí chống tăng”- ông Tuyến nói.

Ông Nguyễn Mạnh Tường, Chủ tịch Hội Cựu Chiến binh Bát Xát thời điểm tháng 2.1979 đang là lính sư đoàn 316, một trong hai sư đoàn chủ lực duy nhất hiện diện ở biên giới phía Bắc.

Sáng đó, đang ở Than Uyên, đơn vị ông có lệnh báo động. Ai cũng tưởng chỉ báo động hành quân dã ngoại, thành thử “có người chỉ mang theo một quả đạn, có người trút lại tượng gạo, và có người, chỉ mang độc một bộ quần áo trên người”.

Đơn vị ông Trường hành quân lên đến Sapa thì những người lính mới biết chiến tranh đã xảy ra, và sau đó chạm địch ngay tại đèo Ô Quy Hồ. 218 đồng đội của ông đã hy sinh trong trận đánh đó.

Bát Xát là “nơi con sông Hồng chảy vào đất Việt” với những địa danh anh hùng và đau thương: A Mú Sung, Y tý.

Những người lính biên phòng A Mú Sung trong ngày 17 tháng 2 năm ấy, đã đánh đến viên đạn cuối cùng và hy sinh oanh liệt.

Một góc pháo đài Đồng Đăng

 

Cú đánh trộm của “người anh em”

Phó Chủ tịch UBND tỉnh Cao Bằng Trần Hùng nhớ lại, trưa ngày 17, khi một người dân chạy đến đơn vị báo tin xe tăng Trung Quốc đã vào đến Nước Hai, Hòa An, thủ trưởng của ông còn lệnh cho lính “trói nó lại” vì cho rằng người này phao tin đồn nhảm.

Vì sao quân dân ta lại bị bất ngờ trước một cuộc tấn công toàn tuyến với quy mô 32 sư đoàn?

Nguyên Bí thư Cao Bằng, Vương Dương Tường, nhớ lại ở Cao Bằng hôm ấy, quân khu còn đưa các chỉ huy quân sự tỉnh về họp. Không ai biết Trung Quốc đánh mình. Ngay cả khi tiếng súng đã nổ vang từ hướng Hà Quảng, Thông Nông, trưởng ty Thủy lợi băn khoăn nói tiếng súng nhiều lắm, không biết súng ta hay súng địch. Một lãnh đạo Cao Bằng khi đó nói anh em cứ yên trí. Đó là súng mình.

 

Ông Tường thừa nhận: “Cơ bản nhất là bấy giờ không ai tin anh em đồng chí lại đánh nhau”, ông Tường nói.

Cao Bằng bấy giờ vừa tách tỉnh. Đến 1 giờ đêm, pháo Trung Quốc bắn phá dồn dập. Sáng ngày 17.2, lính Trung Quốc đã đến chân đèo Minh Tâm. 2 tiếng sau, xe tăng chúng đã vào đến Cao Bình, rồi vào đến Nà Tàu. Pháo binh Trung Quốc dồn dập nã xuống Nà Tản.

Ngày 18.2, lính Trung Quốc đã vào đến Hòa An, Cao Bình. Đến ngày 19, khắp nơi đã bị đốt phá giết chóc.

“Ai cũng nghĩ là chỉ tranh chấp biên giới. Ai cũng chỉ xác định là giữ đất thôi. Tin là đồng chí với nhau, chỉ gây sự, chỉ ghen ghét thế thôi, ai nghĩ là sẽ đánh nhau” – ông Tường nói, và theo ông, 35 năm sau vẫn chưa hiểu nguyên nhân câu chuyện đã xảy ra.

Cho đến năm 1992, khi các cơ quan của Bát Xát, Lào Cai từ Mường Vi trở lại Bản Xèo thì “vẫn chỉ có cỏ may và đất đỏ”.

Chúng tôi trở lại Đồng Đăng, Lạng Sơn vào đúng ngày lễ Đền Mẫu, lễ lớn nhất Lạng Sơn, nằm ngay dưới chân pháo đài Đồng Đăng.

Từ 35 năm nay, mỗi dịp tháng hai, đại tá Triệu Quang Điện, Trưởng phòng cảnh sát truy nã Công an tỉnh Lạng Sơn vẫn đến đây thắp hương tưởng nhớ những người đồng đội của mình.

Ông Điện được phong Anh hùng lực lượng vũ trang sau cuộc chiến tranh biên giới 1979, và sau 35 năm, ông vẫn nhớ như in những cái tên Trần Văn Thái, Vi Văn Cao, những người đồng đội trong tổ tam tam và bữa cháo cơm nếp cuối cùng đêm 16.12.

Đào Tuấn

————

Bài 3: Bia trấn ải – nơi tổ quốc được tô màu đỏ

Đăng Bởi báo mạng Một Thế Giới – 17:34 12-02-2014

Từ 35 năm nay, vào dịp tháng 2 mỗi năm, Đại tá Triệu Quang Điện, trưởng Phòng Cảnh sát truy nã Công an tỉnh Lạng Sơn đều đến đền Mẫu để thắp hương cho đồng đội của mình.

35 năm, thời gian chưa đủ để ông quên đi bữa cháo nếp cuối cùng. 35 năm, ông vẫn nhớ như in hình ảnh của những người đồng đội trong tổ tam tam: Những Trần Văn Thái. Những Vi Văn Cao.

Pháo đài Đồng Đăng và pháo hoa Trung Quốc

Năm đó, binh nhì Triệu Quang Điện vừa cưới vợ được 4 tháng, cũng vừa qua khóa huấn luyện 4 tháng ở Đông Khê, trở lại Lạng Sơn vào đúng buổi chiều ngày 16, khi phía Trung Quốc cho người đuổi trâu dò phá những bãi mìn biên giới.

5h sáng, khi pháo bắn cấp tập vào Đồng Đăng, ông cùng hai người đồng đội trong tổ thậm chí còn chưa kịp ăn nồi cháo gạo nếp đã đặt trên bếp để vội vã xách súng lên chốt ngay tại khu vực Đền Mẫu, pháo đài Đồng Đăng.

Tới 7h, sương còn chưa tan thì lính Trung Quốc đã kéo sang khắp nơi. Ba người kê súng bắn. Ông Điện, giữ súng trung liên bắn suốt 1 giờ đồng hồ.

“Hồi huấn luyện, tôi bắn bia được 3 điểm 9 – ông Điện nhớ lại – nhưng hôm đó, lính Trung Quốc lên quá đông, có lẽ là không cần bắn giỏi cũng có thể trúng”. Riêng tại chốt Đền Mẫu, binh nhì  Điện đã tiêu diệt tới 30 lính Trung Quốc.

Lính Trung Quốc cứ theo tiếng kèn lớp lớp xông lên. Bị hắt ngược trở lại, rồi lại xông lên.

Trong một thời khắc, khi ông vừa nhảy xuống hào thay đạn thì chỉ nghe “bầm”. Ngoảnh lại, nơi 2 người đồng đội nằm chỉ còn lại một hố pháo đen xì. Không còn chút vết tích.

Tới 10h, xe tăng Trung Quốc đã tràn ngập khắp nơi. Pháo binh Trung Quốc nã đạn vào pháo đài trong suốt nửa ngày 18.

Bấy giờ trong hang Đền Mẫu, ngay phía dưới chốt của ông Điện có tới 300 – 400 dân tới tránh pháo.

 Đến tối 18, đơn vị ông nhận được phương án đưa dân trong hang ra. Và chỉ trong một đêm, binh nhì Triệu Quang Điện trực tiếp đưa dân, ra ra vào vào 3 lần để cõng được ra 3 người đồng đội bị thương nặng. 

Khẩu trung liên của ông giờ đang được trưng bày tại Viện Bảo tàng công an nhân dân.

Bia trấn ải ở Pha Long, Mường Khương, Lào Cai

Ít năm sau đó, khi gặp Thủ tướng Phạm Văn Đồng trong một buổi lễ, ông thậm chí không trả lời được vì sao chỉ trong 1 đêm, với quãng đường 17km, một người chỉ nặng chưa tới 49kg đã 3 lần bò vào cõng đồng đội bị thương ra nơi an toàn.

Chúng tôi theo lối mòn trèo lên pháo đài Đồng Đăng, nơi bị đánh phá ác liệt nhất trong cuộc chiến biên giới.

Vào ngày 17.2.1979, 2 sư đoàn bộ binh Trung Quốc dưới sự hỗ trợ của 1 trung đoàn xe tăng và 6 trung đoàn pháo binh đã tấn công ác liệt nơi này.

Trong cuốn Lịch sử sư đoàn 3 Sao Vàng còn ghi rõ: Ngày cuối cùng tại Pháo Đài, nơi có hệ thống phòng thủ kiên cố nhất, không gọi được đối phương đầu hàng, quân Trung Quốc chở bộc phá tới đánh sập cửa chính, dùng súng phun lửa, thả lựu đạn, bắn đạn hóa chất độc vào các lỗ thông hơi làm thiệt mạng cả thương binh và nhân dân tới đây trú ẩn.

Tháng 2 năm nay, pháo đài trở nên cô đơn, trơ trọi giữa sự náo nhiệt của lễ hội Đền Mẫu.

Hoặc như ở chính cái nơi mà lính Trung Quốc xả súng vào chiếc xe cứu thương 12A 04-35 của bệnh viện Lạng Sơn đi Đồng Đăng cứu nhân dân bị thương, giết chết cả người lái xe, cả BS Nguyễn Thu Thủy, y tá Trịnh Thị Sâm, giờ một con đường mới đã được mở ra dập dìu xe cộ, hàng hóa thông thương qua cửa khẩu Hữu Nghị.

Ở Tổng Chúp có tấm bia ghi bại vụ thảm sát này. Tấm bia giờ vẫn còn sau 35 năm, dù chiếc giếng cạn, nơi năm xưa chứa đầy xác phụ nữ, trẻ em bị hành quyết bằng rìu bổ củi giờ đã lấp đầy cây lá.

Quá khứ không dễ quên. Nhất là khi đó là những gì đau thương nhất. Cho dù theo thời gian, những nhân chứng chiến tranh giờ đã lần lượt ra đi. Ông Hoàng A Tỉn, nhân chứng thảm sát trong sân Bách hóa tổng hợp Bát Xát đã mất 2 năm trước.

Đến Tổng Chúp, lại nghe tin ông Nông Văn Ất, nguyên trưởng trại giống Đức Chính, người đã mất vợ và 4 đứa con trong vụ thảm sát Tổng Chúp giờ cũng không còn.

Lời vĩnh biệt nhói trời Pha Long

Nhưng cũng có những tấm bia trấn ải mới được dựng lên. Ngay bên tay phải đồn biên phòng tiền tiêu Pha Long, Mường Khương, Lào Cai, có những dòng chữ mới, được in trên bia đá:

Nguyên Thần Bổn Mệnh giữ núi non

Nam Sơn bốn cõi tựa sách trời định.

Thiên thiên nhật nguyệt linh linh ứng

Tuyệt tuyệt long phụng báo quốc an

Bình nhất hà Việt Nam Quốc thổ.

Thạc sĩ Đặng Vũ Cảnh Linh dịch: Nguyên Thần được giao sứ mệnh giữ núi non. Núi nam bốn cõi đã quy định trong sách trời. Nghìn nghìn mặt trời, mặt trăng linh thiêng và ứng nghiệm (điều đó). (Có) rồng phượng tuyệt vời bảo vệ an nguy tổ quốc. Đất Việt Nam yên bình nhất là ở đây.

Thiếu tá Phan Đức Mạnh, chính trị viên đồn Pha Long cho biết tấm bia trấn ải vừa được dựng hồi tháng 5, đúng vào điểm đối diện đài tưởng niệm các anh hùng liệt sĩ. Bên này từng hàng, từng hàng tên tuổi của 37 liệt sĩ đã hy sinh trong cuộc chiến tranh bảo vệ tổ quốc được khắc chìm trong đá xám.

Năm ấy, những chiến sĩ công an vũ trang còn trẻ măng đã đánh đến viên đạn cuối cùng, đã đâm gẫy đến chiếc lưỡi lê cuối cùng để bảo vệ tổ quốc.

Ngày 17.2.1979, sau khi bắn viên đạn cuối cùng, một người lính Pha Long đã gửi bức điện cuối cùng về hậu phương. Và cũng chỉ vài chữ, đại ý: Chúng tôi hết đạn. Xin Vĩnh biệt. 

Chợt nhớ đến những câu thơ Vương Trọng:

Mắt rưng rưng, dò đọc từng dòng

Gặp điệp khúc Tháng Hai năm Bảy chín

Lời vĩnh biệt nhói trời Pha Long.


Đến lúc này tôi mới hiểu ra

Vì sao đường Biên giới bản đồ

Của Tổ quốc được tô màu đỏ!..

Năm nay, chỉ duy nhất một, trong số gần bảy chục gốc đào ở Pha Long đơm hoa. 

Không xa Pha Long là điểm cao Tả Ngải Chồ, nơi một đồng nghiệp của chúng tôi, nhà báo, anh hùng liệt sĩ Bùi Nguyên Khiết đã tay bút tay súng hy sinh vào ngày 17.2.1979.

Có lẽ, chính những người lính biên phòng, chính những nhà báo liệt sĩ, chính nhân dân anh hùng, những người đã ngã xuống từ cả ngàn năm nay, những người đã hy sinh anh dũng trong cuộc chiến tranh chống quân xâm lược phương Bắc năm 1979 mới là những tấm “bia trấn ải” thiêng liêng nhất mà mỗi người làm báo chúng tôi cần phải nhắc lại để thế hệ con cháu còn có được cảm xúc thiêng liêng, tự hào khi nhắc đến hai chữ “Tổ Quốc”.

Đào Tuấn

 

 

 

VN ‘gần chót bảng về tự do báo chí’

Cập nhật: 08:59 GMT – thứ năm, 13 tháng 2, 2014

BBC

Chính quyền Việt Nam luôn khẳng định rằng báo chí trong nước được tự do phát triển

Việt Nam đứng thứ 174 trên tổng số 180 quốc gia được tổ chức Phóng viên Không Biên giới, (Reporters sans Frontieres – RSF) , xếp hạng về tự do báo chí năm 2014, theo một phúc trình mà RSF vừa mới loan báo.

Việt Nam đứng ngay trước Trung Quốc, đất nước láng giềng có cùng chế độ Đảng trị, trong khi hai quốc gia cộng sản khác là Cuba và Lào xếp trên Việt Nam vài bậc – lần lượt ở các vị trí 170 và 171.

Một quốc gia cộng sản nữa là Bắc Hàn có vị trí áp chót: hạng 179/180.

Xếp sau Trung Quốc lần lượt là Somalia, Syria, Turkmenistan. Eritrea là nước có tự do báo chí tồi tệ nhất trên thế giới theo đánh giá của RSF.Trên bản đồ của RSF, bốn nước Việt Nam, Lào, Trung Quốc và Bắc Hàn tạo thành một khối được tô màu u tối nhất.

‘Theo kịp anh cả’

Trong phần nhận xét, RSF viết rằng “Việt Nam đã tăng cường kiểm soát thông tin đến mức gần bắt kịp với người anh cả Trung Quốc.”

Các dẫn chứng RSF đưa ra để chứng minh cho lập luận này là các trang tin độc lập ‘bị giám sát trên Internet’, các chỉ thị khắc nghiệt, làn sóng bắt bớ và các phiên tòa giả tạo.

“Việt Nam tiếp tục là nhà tù lớn thứ hai trên thế giới giam giữ các bloggers và các công dân mạng.”

Phúc trình của RSF

“Việt Nam tiếp tục là nhà tù lớn thứ hai trên thế giới giam giữ các bloggers và các công dân mạng,” bản phúc trình viết và cho biết có đến 25 trong tổng số 34 cây viết blog đang bị giam cầm là bị bắt giữ dưới thời ông Nguyễn Phú Trọng làm tổng bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam.

Nghị định 72 do Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng ban hành với mục đích cấm các trang cá nhân tổng hợp thông tin cũng được RSF nêu ra để khẳng định rằng ‘Đảng Cộng sản đã tăng cường kiểm duyệt lên một mức độ mới’.

“Nó [Nghị định 72] cho thấy Đảng đang phát động một cuộc tấn công toàn diện vào những người dùng Internet thế hệ mới mà họ xem như là đối trọng nguy hiểm đối với truyền thông truyền thống [của Nhà nước].”

Nhận xét này cũng được Ủy ban Bảo vệ Ký giả (CPJ), một tổ chức cổ súy cho tự do báo chí quốc tế, chia sẻ trong báo cáo thường niên của họ về tình hình báo chí thế giới với tiêu đề ‘Tấn công và Báo chí’ được đưa ra hôm thứ Tư ngày 13/2.

“Tình trạng đàn áp các cây viết blog ở Việt Nam ngày càng tồi tệ và quốc gia này (Việt Nam) chỉ đứng thứ hai sau Trung Quốc về số lượng nhà báo bị cầm tù với 18 người.”

Chú ý Trung Quốc

Trưởng Ban Tuyên giáo vẫn kiểm soát chặt chẽ nội dung của báo chí Việt Nam. Hình Đinh Thế Huỳnh (áo trắng), Ủy viên BCT, Trưởng Ban Tuyên Giáo. 

Bản phúc trình của RSF dành nhiều sự chú ý cho Trung Quốc, quốc gia mà họ đánh giá là đã ‘bắt giữ thêm nhiều nhà báo và blogger, đàn áp khốc liệt hơn những nhà bất đồng chính kiến trên mạng, tăng cường kiểm soát và kiểm duyệt trên mạng và xiết chặt hơn nữa những hạn chế đối với báo chí nước ngoài’.

“Thật khốn khổ cho bất cứ nhà báo nào cứ tưởng (lời kêu gọi của ông Tập Cận Bình khi lên làm tổng bí thư) là ‘hãy khắc họa hiện thực u ám của Trung Quốc’ trong khi câu nói của ông Tập có ý là ‘tuyệt đối tuân theo hướng dẫn của Ban Tuyên giáo’,” RSF bình luận.

“Chỉ thị hàng ngày của Ban Tuyên giáo gửi đến các cơ quan báo chí, việc tiếp tục kiểm duyệt mạng, số lượng các vụ bắt bớ vô cớ và việc giam giữ nhiều nhà báo và công dân mạng nhất trên thế giới (bao gồm Khôi nguyên Nobel Hòa bình Lưu Hiểu Ba) đã khiến Trung Quốc trở thành một hình mẫu kiểm duyệt và đàn áp,” phúc trình của RSF viết.

Trong số các nước lớn, ngoài Trung Quốc thì Nga cũng có thứ hạng thấp khi đứng thứ 148, trong khi các nước Đức, Anh, Pháp lần lượt xếp hạng 14, 33 và 39 còn Mỹ xếp hạng 46.

Các vị trí đầu bảng thuộc về các nước Bắc Âu lần lượt là Phần Lan, Hà Lan và Na Uy.

“Thật khốn khổ cho bất cứ nhà báo nào cứ tưởng (lời kêu gọi của ông Tập Cận Bình khi lên làm tổng bí thư) là ‘hãy khắc họa hiện thực u ám của Trung Quốc’ trong khi câu nói của ông Tập có ý là ‘tuyệt đối tuân theo hướng dẫn của Ban Tuyên giáo.”

Phúc trình của RSF

Ở khu vực đông nam Á, Thái Lan có thứ hạng cao nhất (130), theo sau là Indonesia (132), Campuchia (144), Miến Điện (145), Malaysia (147), Philippines (149) và Singapore (150).

Mỹ bị phê phán

Còn trong báo cáo của mình, CPJ cũng nói rằng các hoạt động do thám là ‘mối đe dọa đối với báo chí trong kỷ nguyên kỹ thuật số’ trong bối cảnh Mỹ bị cáo buộc nghe lén các đồng minh.

Theo CPJ thì các hoạt động do thám của Mỹ đã ‘làm tổn hại đến vị trí đứng đầu thế giới của họ về tự do biểu đạt và tự do Internet nhất là khi nói về những quốc gia chuyên chế như Trung Quốc hay Iran vốn luôn giới hạn Internet’.

CPJ cũng cho biết hai năm vừa qua đã chứng kiến ‘con số khủng khiếp’ các nhà báo bị sát hại và cầm tù. Trong đó, Syria là quốc gia nguy hiểm nhất đối với các phóng viên trong khi Thổ Nhĩ Kỳ là nước bỏ tù nhiều nhà báo nhất.

Ông Joel Simon, giám đốc điều hành của CPJ ở New York, cho biết trong năm 2013 đã có 70 nhà báo bị sát hại và 211 người bị bỏ tù – chỉ ít hơn năm 2012 một chút.

———————————————————-

CHUYỆN RẤT THẤT KINH

13-2-2014

Nguyễn Thông
Một nhà văn đáng kính (từng có truyện đăng trên báo Thanh Niên) vừa biên cho tôi ít dòng, than rằng:

“Bác có stt về Rằm tháng Giêng, mệt với các nhà thơ. Có lẽ tôi mệt với họ hơn cả. Ngày Thơ năm nao tôi cũng được quay phim các lễ lạt về Ngày Thơ. Năm nay có thông tin thế này, biếu bác: Đầu tiên dự định đặt tiêu đề cho Ngày thơ 2014 là “Từ Điện Biên đến Trường Sa”.

Sau khi họp báo lần 1, các nhà báo hỏi: Thế Hoàng Sa thì sao?

Ban Tổ chức (bác Hữu Thỉnh) bèn đặt lại: Từ Điện Biên đến Hoàng Sa, Trường Sa.

Mọi người tưng bừng chuẩn bị thơ phú về biển đảo, về chống bành trướng, nhớ 17/2… vân vân.

Đùng cái, có “chỉ đạo”, rằng không được nói đến Hoàng Sa.

Họp lần 2, các nhà văn đều bực, bị ép, đành chuyển thành “Mùa Xuân- Đất Nước” như mọi năm.

Đa số muốn giữ lại cái tên “Ngày Thơ VN 2014, Từ Điện Biên đến Hoàng Sa, Trường Sa”, nhưng chắc là ai cũng biết không được. Chính thức thì Chánh văn phòng Hội Nhà văn thông báo có “chỉ đạo” chỉ được đọc 01 bài thơ về Hoàng Sa, và duy nhất 1 bài thơ về chủ đề chiến tranh biên giới phía Bắc 17/2, còn lại thì cứ “mùa xuân – đất nước” mà diễn.

Chúng tôi cũng ngao ngán. Tâm trạng của bác cũng giống chúng tôi thôi. Nhưng có lẽ chúng tôi còn phải làm việc với lũ chúng nó, nên bi kịch và đau khổ là không kêu lên được. Năm nay sẽ chỉ làm lễ lạt ở Văn Miếu rất thường, ngắn gọn và không tổ chức đêm. Có chỉ đạo cả. Chúng nó sợ nhất là có biến”.

Sau khi nghe thở than của ông bạn văn, tôi suýt ngất.

Kinh thật. Văn chương thời nay như mớ giẻ rách. Ông bà nào có ý định tham gia Ngày Thơ 2014 thì nên nghĩ lại.

Nguyễn Thông

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

►35 năm cuộc chiến biên giới phía Bắc – Ai nhắc tới là bị tù – Kissinger bàn về cuộc chiến Việt- Trung

Posted by hoangtran204 trên 14/02/2014

35 năm cuộc chiến biên giới phía Bắc

Thứ sáu, 14/2/2014 00:01 GMT+7

vnexpress.net

Tháng 1/1979, Việt Nam mở chiến dịch Tây Nam lật đổ chế độ diệt chủng Khmer đỏ thân Trung Quốc tại Campuchia, Phó Thủ tướng Trung Quốc Đặng Tiểu Bình tuyên bố “dạy cho Việt Nam một bài học”.

Quan hệ Việt – Trung bắt đầu rạn nứt năm 1968 khi Việt Nam đồng thời giao hảo với cả Liên Xô và Trung Quốc trong bối cảnh mối quan hệ 2 nước này xuất hiện nhiều xung đột căng thẳng. Năm 1972, Tổng thống Mỹ Nixon tới thăm Bắc Kinh và đạt được thỏa thuận với Trung Quốc  [ thỏa thuận gì giữa Mỹ và TQ?]. Ba năm sau đó, Việt Nam từ chối tham gia liên minh chống Liên Xô của Trung Quốc.

Bắc Kinh xem đó như mối đe dọa. Tháng 5/1975, Khmer Đỏ cho quân đánh chiếm các đảo Phú Quốc và Thổ Chu, thọc sâu vào lãnh thổ Việt Nam, tàn sát hàng nghìn dân thường. Đứng sau viện trợ cho Khmer Đỏ về vũ khí, khí tài cũng như cố vấn quân sự là Trung Quốc. Tranh chấp Trường Sa và Hoàng Sa cũng nổi lên rõ hơn khi Việt Nam tuyên bố chủ quyền với hai quần đảo.

TQ2-8774-1392045894-7179-1392174334.jpg
Những người lính đầu tiên bảo vệ đất nước là bộ đội địa phương, công an vũ trang (bộ đội biên phòng), dân quân tự vệ và nhân dân 6 tỉnh biên giới. Ảnh tư liệu.

Ngày 3/11/1978, Việt – Xô ký hiệp ước hữu nghị 25 năm – chính thức xác nhận Việt Nam đứng về phía Liên Xô. Gần 2 tháng sau, quân đội Việt Nam tổng phản công trên biên giới Tây Nam, đánh sang Campuchia lật đổ chính quyền Khmer Đỏ. Trung Quốc quyết định dừng viện trợ cho Việt Nam.

Phó thủ tướng Trung Quốc Đặng Tiểu Bình khi ấy đã tuyên bố  “phải dạy cho Việt Nam một bài học”.

Cuộc chiến 30 ngày

Rạng sáng 17/ 2/1979, Trung Quốc bất ngờ đưa quân tràn qua biên giới, đồng loạt tấn công 6 tỉnh biên giới lãnh thổ Việt Nam từ Pa Nậm Cúm (Lai Châu) đến Pò Hèn (Quảng Ninh) với chiều dài 1.200 km.

Dù từng tuyên bố về ý định trừng phạt trước đó, cuộc tấn công của Trung Quốc vẫn bất ngờ với Việt Nam và cả thế giới.

Theo Niên giám châu Á năm 1980, thời điểm Trung Quốc tấn công, tổng lực lượng phòng thủ của Việt Nam tại các tỉnh biên giới phía Bắc có khoảng 50.000 quân (xem chi tiết).

Trong khi đó, Trung Quốc sử dụng 9 quân đoàn chủ lực và 32 sư đoàn bộ binh độc lập, 6 trung đoàn xe tăng, 4 sư đoàn và nhiều trung đoàn pháo binh, phòng không cùng hàng trăm khẩu pháo, hàng nghìn súng cối và dàn hỏa tiễn. Quân Trung Quốc ước lượng có 600.000 người, gấp hơn 10 lần lực lượng tham chiến thực tế của Việt Nam.

Trên mặt trận Lạng Sơn, các cánh quân lớn của Trung Quốc chia làm nhiều mũi đánh vào Bản Chất (Đình Lập), Chi Ma, Ba Sơn (Lộc Bình), Tân Thanh, Tân Yên (Văn Lãng) và khu vực thị trấn Đồng Đăng (Lạng Sơn). Dù bị bất ngờ song với lực lượng dân quân địa phương, Việt Nam đã chặn đánh, ghìm chân quân Trung Quốc nhiều ngày.

Ngày 20/2, Trung Quốc tăng cường lực lượng chi viện, mở các đường tấn công mới vào điểm cao nhằm tiến xuống phía nam Đồng Đăng. Quân và dân Lạng Sơn bám trụ trận địa, đánh trả mạnh mẽ các mũi tấn công phía trước, phía sau của địch, buộc quân Trung Quốc phải co về đối phó và bị đẩy lùi ở nhiều nơi.

Sau 10 ngày chiến đấu không đạt được mục tiêu, ngày 27/2, Trung Quốc tung thêm một quân đoàn nhằm vào thị xã Lạng Sơn. Cuộc chiến diễn ra quyết liệt giữa 2 quân đoàn tăng cường của Trung Quốc và lực lượng vũ trang địa phương Việt Nam. Ở điểm cao 417, đoàn An Lão đã đánh bật hàng chục đợt tấn công, loại khỏi vòng chiến đấu trung đoàn 850 của Trung Quốc. Đặc biệt, ở khu vực cầu Khánh Khê trên đường 18, chiến sĩ đoàn Tây Sơn đã chặn đứng  một sư đoàn quân và một tiểu đoàn xe tăng Trung Quốc.

TQ3-7880-1392045894-3800-1392174334.jpg
Hàng vạn thanh niên Việt Nam mới 18, đôi mươi đã nằm lại nơi biên giới phía Bắc, giữ vững chủ quyền dân tộc. Ảnh tư liệu.

Ở hướng Cao Bằng, hai quân đoàn tăng cường của Trung Quốc hình thành hai cánh quân lớn từ phía tây bắc theo đường Thông Nông đánh xuống và từ phía đông bắc qua Thạch An, Quảng Hòa đánh lên nhằm hợp điểm ở thị xã Cao Bằng.

Cả hai cánh quân đều bị bộ đội địa phương và dân quân Cao Bằng đánh chặn. Cánh quân tây bắc dựa vào sức đột phá của xe tăng bị chặn tại Hòa An. Cánh quân đông bắc cũng bị đánh quyết liệt ở Thạch An và Quy Thuận, bị chặn đứng trên đường số 4. Mũi đánh vào Trà Lĩnh, Phục Hòa gồm 2 sư đoàn nhằm chiếm đèo Mã Phục, Khâu Chia cũng bị lực lượng vũ trang địa phương phản kích làm tan đội hình, bỏ chạy về bên kia biên giới.

3 ngày đầu, quân Trung Quốc tại Cao Bằng đã bị thiệt hại 4 tiểu đoàn, bị phá hủy hàng chục xe tăng, xe bọc thép và buộc phải đưa lực lượng dự bị vào vòng chiến. Trên trận địa phòng ngự tại đồi Khâu Chia, các lực lượng của Việt Nam đã chặn đứng một sư đoàn Trung Quốc trong 12 ngày, diệt hơn 4.000 lính. Ngày 12/3, quân Trung Quốc tháo chạy.

Trên tuyến Hoàng Liên Sơn, từ mờ sáng 17/2, các sư đoàn tuyến 1 của hai quân đoàn Trung Quốc ồ ạt tấn công toàn biên giới Hoàng Liên Sơn từ phía tây bắc đến đông bắc thị xã Lào Cai. Cùng với việc đánh nhiều mũi vào các huyện Bát Xát, Mường Khương, bắn pháo dữ dội vào thị xã, quân Trung Quốc đồng thời bắc cầu qua sông Nậm Thi, cho xe tăng và bộ binh tiến vào thị xã Lao Cai và khu vực Bản Phiệt. Dân quân, tự vệ thị xã cùng các lực lượng vũ trang ở đây đánh trả quyết liệt. Sau 7 ngày, hai quân đoàn Trung Quốc không qua nổi trận địa đánh chặn, phục kích của quân và dân Hoàng Liên Sơn.

Trên các hướng Lai Châu, Hà Tuyên, Quảng Ninh, cùng một lúc quân Trung Quốc chia các hướng đánh vào nhiều điểm. Hai sư đoàn Trung Quốc tiến công theo đường 10 vào Nậm Cúm, Phong Thổ (Lai Châu) và đụng độ với lực lượng vũ trang địa phương. Qua hơn 20 ngày, quân Trung Quốc vẫn bị chặn ở Phong Thổ.

Ở Hà Tuyên, một sư đoàn Trung Quốc tấn công vào các đồn chốt biên phòng đã vấp phải sự kháng cự quyết liệt của công an vũ trang, dân quân, bộ đội các huyện Đồng Văn, Thanh Thủy, Mèo Vạc và đồng bào các dân tộc. Hơn 1.000 lính Trung Quốc thiệt mạng.

Tại Quảng Ninh, Trung Quốc dùng hai sư đoàn bộ binh tiến công vào Pò Hèn, Móng Cái, Cao Ba Lanh, huyện Bình Liêu. Trong hai ngày 19 và 20/2, hai trung đoàn Trung Quốc đã bị đánh lui, tháo chạy sát về biên giới.

Trung Quốc rút quân

Ngày 5/3/1979, Chủ tịch nước Việt Nam Tôn Đức Thắng ra lệnh tổng động viên toàn quốc. Cùng ngày, Trung Quốc tuyên bố “hoàn thành mục tiêu chiến tranh” và bắt đầu rút quân. Các nhà quan sát lúc đó cho rằng rút lui là hành động rất khó, có thể gây cho Trung Quốc nhiều tổn thất nếu bị quân tinh nhuệ Việt Nam phản công.

Ngày 7/3, Việt Nam tuyên bố cho phép Trung Quốc rút quân, thể hiện thiện chí hòa bình. 18/3, Trung Quốc hoàn thành việc rút quân.

Trải qua 30 ngày chiến đấu, các lực lượng vũ trang tại chỗ và đồng bào dân tộc 6 tỉnh biên giới Việt Nam đã dựa vào thế trận chiến tranh nhân dân, đánh trả quyết liệt. 

Việt Nam công bố, tiêu diệt 62.500 lính Trung Quốc (hơn 1/10 tổng số được huy động), đánh tan hoặc gây thiệt hại nặng 3 trung đoàn, 18 tiểu đoàn, bắn cháy và phá hủy 550 xe quân sự trong đó có 220 xe tăng, xe bọc thép (hơn một nửa số tham chiến), phá hủy 115 đại bác và súng cối hạng nặng…

Tuy nhiên, cuộc xâm chiếm của Trung Quốc đã gây ra những thiệt hại nặng cho Việt Nam: các thị xã Lạng Sơn, Cao Bằng, thị trấn Cam Đường bị hủy diệt hoàn toàn, 400.000 gia súc bị giết và bị cướp, hàng chục nghìn ha hoa màu bị tàn phá. Khoảng một nửa trong số 3,5 triệu dân các tỉnh biên giới phía Bắc bị mất nhà cửa, tài sản.

Kết thúc môt tháng giao tranh, giới phân tích nhận định, thay vì dạy cho Việt Nam một bài học, Trung Quốc đã học được bài học của chính mình.

Sau thời điểm 18/3/1979 đến tận 1988, Trung Quốc đã không rút hết quân như tuyên bố. Suốt gần 10 năm đó, chiến sự vẫn tiếp diễn, cao điểm nhất là năm 1984-1985. Nhiều đơn vị quân đội của Trung Quốc đã được luân chuyển tới biên giới, biến Việt Nam thành thao trường.

Việt Nam vì thế buộc phải thường xuyên duy trì một lực lượng quân sự lớn dọc biên giới. Tình trạng chiến tranh khiến kinh tế Việt Nam thiệt hại nặng nề. 

Năm 1992, Việt Nam, Trung Quốc bình thường hóa quan hệ.

Hoàng Thùy – Nguyễn Hưng

http://vnexpress.net/tin-tuc/thoi-su/35-nam-cuoc-chien-bien-gioi-phia-bac-2950346.html

————————————————-

Chú Thích: 

 Thỏa thuận gì giữa Mỹ và TQ năm 1972? 

-Mỹ sẽ rút khỏi VN 1973 để bắt tay với TQ chống lại Liên Xô. Việc này gây thêm bất hòa giữa 2 nước CS, làm khối cộng sản tách làm hai, giảm đi sức mạnh của khối cộng sản. Liên Xô phải dàn triệu quân đội ở biên giới để đối đầu với 1 triệu quân Trung Cộng. Do đó, cả hai nước CS cùng bị yếu đi vì phải chu cấp cho 1 đạo quân khổng lồ. 

Đổi lại, Mỹ sẽ giúp TQ thoát khỏi nạn đói đe dọa thường trực và giúp TQ xây dựng kinh tế…

Mỹ cắt đứt viện trợ cho Miền Nam, giảm viên trợ quân sự từ 1,5 tỷ đô la xuống còn 700 triệu rồi 300 triệu đô la trong năm 1973, 1974, và 1975. Kết quả, quân đội Miền Nam VN không đủ vũ khí đạn dược để chiến đấu chống lại bộ đội Miền Bắc. 

Cùng khoảng thời gian này, TQ và Liên Xô đã thi nhau gia tăng số viện trợ cho Miền Bắc…

►Năm 1989, Trung Quốc lần đầu tiên thừa nhân gởi 320.000 quân qua tham chiến ở Việt Nam trong năm 1965-1968 và viện trợ Hà Nội 20 tỷ đô la và Liên Xô viện trợ 11 tỷ đô la 

Mục lục các bài được độc giả đọc nhiều nhất trong tuần qua

* THƯ VIỆN CÁC BÀI ĐƯỢC ĐỌC NHIỀU NHẤT

—————————————————————–

Cộng sản là bọn vô ơn. 

Bất thường vụ bắt khẩn cấp anh Phạm Viết Đào

14-6-2013

Nguồn caunhattan

Tối qua, 13/6/2013, nhiều Công an tiến hành phong tỏa khu vực bên ngoài nhà riêng anh Đào ở ngõ 460 Thụy Khuê, phường Bưởi (Tây Hồ, HN) để một lực lượng vào bắt khẩn cấp anh Phạm Viết Đào và thực hiện lệnh khám xét chỗ ở của anh.

Anh Phạm Viết Đào quê Tân Kỳ (Nghệ An), từng du học ở Rumani, sau về công tác tại Thanh tra Bộ Văn hóa, anh nói rất sõi tiếng Ru. Anh còn là hội viên Hội nhà văn Việt Nam và là dịch giả nhiều cuốn sách. 

Gần 30 năm qua, anh dành nhiều tâm huyết vào nghiên cứu về Trung Quốc, dành nhiềucông sức vào tập hợp, thu thập tư liệu về cuộc chiến chống Trung Quốc xâm lược, bảo vệ biên giới phía Bắc – một cuộc chiến đã thật sự bị lãng quên. Nhiều tư liệu anh có trong tay thuộc loại “giật mình” nếu được công bố. Trên cơ sở các tư liệu và nghiên cứu khoa học, cùng nhiều tướng lĩnh, anh đã có những kiến nghị lên lãnh đạo Đảng, Nhà nước trong công tác giáo dục lịch sử, tư tưởng về cuộc chiến chống Trung Quốc xâm lược. Những nội dung kiến nghị, những đề xuất đánh giá lại về cuộc chiến này mang đầy tính thời sự và đặc biệt hữu ích trong bối cảnh Trung Quốc đang gia tăng xâm chiếm biển đảo của ta.

Cần nói thêm, anh Đào có người em ruột là liệt sỹ Phạm Hữu Tạo đã hy sinh anh dũng trong trận đánh ác liệt nhất của lịch sử chiến tranh Việt Nam. Ngày 12/7/1984, chú Tạo xung phong chỉ huy một đơn vị cảm tử gồm những người con ưu tú nhất, quả cảm nhất của Nghệ An (E356) thực hiện nhiệm vụ áp sát, đánh mở chốt tái chiếm cao điểm 772 trong chiến dịch chiếm lại điểm cao 1509 tại mặt trận Hà Tuyên. Riêng đêm 12 rạng 13/7/1984, để đánh bật quân Trung Quốc, ta tung 4 sư đoàn thiện chiến tinh nhuệ nhất vào trận và đây là trận chiến đấu quy mô lớn nhất, ác liệt nhấttrong lịch sử quân sự Việt Nam qua 4 cuộc chiến (chống Pháp, chống Mỹ, đánh Campuchia và chống Trung Quốc bảo vệ biên giới phía Bắc). Các cán bộ bước ra từ khói lửa và máu của trận đánh này đều được tôi luyện thành những lãnh đạo, tướng lĩnh cao cấp: tướng Lê Trọng Tấn, tướng Lê Ngọc Hiền, tướng Phạm Văn Trà, tướng Nguyễn Hữu An, tướng Vũ Lập, tướng Lê Duy Mật, tướng Hoàng Đan, tướng Phùng Quang Thanh, tướng Đỗ Bá Tỵ, tướng Nguyễn Văn Được, tướng Nguyễn Đức Soát, tướng Phùng Khắc Nghiên …

Về vụ bắt anh Đào, theo một đồng chí đảng viên sinh hoạt tại chi bộ cụm dân cư số 4, phường Bưởi, Tây Hồ,  tuy CA ập vào đọc lệnh bắt khẩn cấp và khám nhà anh Đào theo điều 258 Bộ luật Hình sự (lợi dụng các quyền tự do dân chủ) nhưng họ đặc biệt quan tâm tới việc thu giữ các tài liệu về chiến tranh chống Trung Quốc, truy tìm những mối liên hệ với một số tướng lĩnh, cán bộ … Tiếng là PA92 của Sở C.A. Hà Nội làm án, nhưng kỳ thực mọi việc khám xét thu giữ đều do các cán bộ trên Bộ Công An chỉ đạo. Hoạt động ”gí án” này trong ngành CA chỉ thấy ở các vụ án chính trị quan trọng, gần đây nhất là vụ bắt Tiến sỹ Cù Huy Hà Vũ. Tức, Bộ Công an (thậm chí có chỉ đạo cao hơn nữa) lên kế hoạch, chỉ đạo từng bước đánh án, chủ trì huy động phối hợp từ các cơ quan khác (Ngoại giao, Tuyên giáo, Tư pháp, báo chí …), rồi giao xuống cho Công an Hà Nội “hót” nốt công đoạn cuối nhằm làm giảm tai tiếng. Còn những cáo buộc mà CA đưa ra đối với anh Đào thì chẳng có gì là khẩn cấp cả. Có những việc diễn ra cách đây 2 năm rồi và anh Đào làm rất công khai.

Thời điểm bắt giữ anh Đào thì đặc biệt nhạy cảm. Trung Quốc từng giờ lấn tới, gia tăng xâm chiếm biển đảo của ta. Phản ứng của Việt Nam thì hầu hết vẫn chỉ dừng lại ở … đưa ra tuyên bố từ bàn giấy. Tuần tới, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đi gặp Tập Cận Bình (từ 19/6 – 21/6/2013) “nhằm tăng cường sự tin cậy chính trị và hợp tác hữu nghị giữa hai Đảng, hai nhà nước, định ra phương hướng lớn cho mối quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Trung Quốc – Việt Nam“. Đây là chuyến đi TQ đầu tiên của đ/c Trương Tấn Sang trên cương vị Chủ tịch nước. Như vậy, thời điểm bắt anh Đào rất gần với chuyến thăm hữu nghị Trung Quốc của đ/c Sang. Phái nào và động cơ gì đằng sau vụ bắt anh Đào thì chưa rõ.

Ngày giỗ nữa của chú Tạo đang đến rất gần nhưng anh Đào lại phải ra đi. Kỷ niệm trận chiến đấu ác liệt nhất bảo vệ biên giới phía Bắc năm nay, đồng đội của chú Tạo lại vắng đi người anh vẫn thường giữ lửa cuộc chiến này cho đất nước và các thế hệ mai sau.

Được biết, khi đối mặt các điều tra viên cao cấp của An ninh, cũng với khí tiết ngoan cường như chú Tạo lúc xung trận mở chốt đánh quân bành trướng bá quyền Trung Quốc năm xưa, anh Đào rất hiên ngang kiên cường bảo vệ quan điểm của mình.

———————————————-

Kissinger bàn về Trung Quốc: Chiến tranh biên giới với Việt Nam

13-2-2014

Phạm Đoan Trang 

Kissinger nhận thấy khi Việt Nam đương đầu với Trung Quốc, cả hai bên đều chịu một thách thức không hề nhỏ về địa chính trị và tâm lý, ấy là họ ở quá gần nhau và họ quá giống nhau. “Các nhà lãnh đạo Việt Nam đều quen thuộc với binh pháp Tôn Tử và họ đã từng áp dụng đáng kể các nguyên tắc của binh pháp này để chống Pháp và Mỹ” – Kisssinger viết. Đây có lẽ là một điều ít người phát hiện ra hoặc đề cập đến khi bàn về cuộc chiến tranh biên giới Việt-Trung.

Tháng 2-1976, Trung Quốc cắt đứt tất cả chương trình viện trợ cho Việt Nam. Việc này chỉ đẩy Việt Nam về phía Liên Xô hơn: Tháng 6-1978, Việt Nam gia nhập Hội đồng Tương trợ Kinh tế (COMECON) của khối XHCN. Tháng 11-1978, Liên Xô và Việt Nam ký Hiệp ước Hữu nghị và Hợp tác, trong đó có cả các điều khoản về quân sự. Tháng 12-1978, quân đội Việt Nam tiến vào giải phóng Campuchia, lật đổ chính quyền Khmer Đỏ. Trước đó, một thời gian dài, lính Pol Pot đã không ngừng quấy phá Việt Nam.

Suốt từ năm 1975, chính quyền Khmer Đỏ nhiều lần tấn công biên giới phía tây nam Việt Nam, tàn sát thường dân, đánh phá các cơ sở kinh tế và quân sự dọc biên giới. Tuy nhiên, điều này không được Kissinger nhắc tới trong cuốn sách của mình…

* Trước khi các bạn đọc tiếp bài báo này, Trần Hoàng có ý kiến tại sao “Suốt từ năm 1975, chính quyền Khmer Đỏ nhiều lần tấn công biên giới phía tây nam Việt Nam,…”.

Có thể trong Chiến tranh VN 1954-1975, Cộng sản Bắc Việt muốn đánh Miền Nam thì phải mượn đường đi qua Kampuchia. Vì thế, có thể là họ đã hứa với Kampuchia rằng sau khi chiếm được Miền Nam họ sẽ trả lại cho Kampuchia các vùng đất thuộc các tỉnh Miền Tây (Sóc Trăng, An Giang,  Châu Đốc, Đảo Phú Quốc…(các vùng đất này thuộc Kampuchia mấy trăm năm trước). Nhưng sau khi thôn tính xong Miền Nam 1975, thì đảng CSVN im hơi lặng tiếng và vờ như không biết gì. Thế là chính quyền Khmer Đỏ (dưới sự hổ trợ của Trung Cộng) đã tấn công đòi đất đai.

*Ý kiến khác là đảng CSVN muốn thành lập Liên Bang Đông Dương (gồm VN, Lào, Kampuchia) vì từ hồi thành lập đảng ngày 3-2-1930 đã lấy tên này. Sau khi chiếm xong Miền Nam 1975, các đảng viên cao cấp lo tịch thu và chia nhau chiến lợi phẩm nên tạm quên nhiệm vụ. Theo tiết lộ của Thủ tướng Hun Sen đầu năm 2014, Bộ đội Việt Nam đã đánh và vào tới gần Nam Vang năm 1977, nhung sau đó đã rút về. Sau khi ký hiệp ước với Liên Xô 1978 và nhận được sự bảo trợ về giúp đỡ, thì VN mới đánh qua Kampuchia. Chiếm xong Kampuchia thì Lê Đức Thọ, Lê Đức Anh và một số tướng lãnh mê say và cướp vàng bạc trong các đền thờ, chùa chiền người Kampuchia, và đồng thời khai thác các mỏ vàng chạy dọc theo sông suối. Chuyện Bộ đội VN đi Kampuchia trở về đeo vàng trên tay, đeo lắc vàng trên cổ là quá phổ biến. Số thương vong của Bộ đội VN và Thanh Niên Xung Phong rất lớn, 70.000 người chết và 200 ngàn người bị thương trong cuộc chiến kéo dài 1978-1989. Và VN chỉ chịu rút quân về khi (1) hoàn toàn kiệt quệ không còn được Liên Xô giúp đỡ về nhiên liệu, tiền bạc (2) Cả nước thiếu gạo ăn từ 1976-1985, và dân chúng cả nước thật sự  ở bên lề nạn đói 1985-1988 và nhiều vùng dân chúng nổi lên chống lại chính quyền địa phương, (3) cũng là lúc mà Lê Duẩn chết vào tháng 7-1986,  (4) cùng lúc bị cả thế giới lên án và Mỹ cấm vận…

>>> Đọc tiếp 

——————————————————————–

Phó Thủ tướng phát động Tết trồng cây tại trung tâm sản xuất ma túy

Posted in Thời Sự | 3 Comments »